CHƯƠNG II: NHÀ NGUYỄN TÂY SƠN VÀ NGUYỄN ÁNH ĐÁNH TÂY SƠN.
(Có 17 trang và 10.312)
Nhà Nguyễn Tây Sơn hay Vương triều Tây Sơn kéo dài từ 1778 đến 1802, là triều đại tồn tại trong thời kỳ khởi nghĩa của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ ở làng Tây Sơn. Vương triều này tồn tại không lâu, thì bị Nguyễn Phúc Ánh tiêu diệt. Nguyễn Phúc Ánh thống nhất lãnh thổ, lập ra vương Triều nhà Nguyễn.
A. TRIỀU NHÀ NGUYỄN TÂY SƠN.
I. Hình thành.
1. Nhà Tây Sơn vốn họ HỒ ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, theo chân chúa Nguyễn vào lập nghiệp miền Nam. Ông cố Nguyễn Nhạc là Hồ Phi Long, vào giúp việc cho nhà họ Đinh, cưới vợ họ Đinh và định cư tại đó, sinh Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn đi buôn trầu ở ấp Sơ Tây, lấy vợ là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương ở Phú Lạc. Từ đây, con Hồ Phi Tiển đổi sang họ NGUYỄN tức họmẹ. Nguyễn Phi Phúc (con Hồ Phi Tiễn) cũng chuyên nghề buôn trầu.
Nguyễn Phi Phúc có 8 người con, trong đó có ba người con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Lớn lên, ba anh em được thụ giáo với thầy Trương Văn Hiến. Chính người thầy này đã phát hiện được khả năng khác thường của Nguyễn Huệ và khuyên ba anh em khởi nghĩa để xây dựng đại nghiệp. Trong những năm đầu tiên, Nguyễn Nhạc đóng vai trò quan trọng nhất.
II. Dấy binh khởi nghĩa.
1. Sau khi Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát chết, quyền thần Trương Thúc Loan thao túng triều chính, tự xưng là "Quốc phó", giết Nguyễn Phúc Luân (cha Nguyễn Phúc Ánh), và lập Nguyễn Phúc Thuần, lúc đó mới 12 tuổi lên ngôi Chúa. Chính sự chúa Nguyễn thời Nguyễn Phúc Khoát đã mang mầm mống tiêu cực thuế khoá thì nặng nề, quan dưới lại lạm thu khiến dân phải nộp nhiều hơn quy định. Sang thời Trương Phúc Loan, người nổi tiếng là tham lam, vơ vét của công, khiến dân Đàng Trong điêu đứng trăm bề. Đây chính là thời cơ, ba anh em Tây Sơn dấy binh khởi nghĩa chống lại chúa Nguyễn.
Năm 1771, tại ấp Tây Sơn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ tập hợp lực lượng, chủ yếu là người Thượng thiểu số, đứng lên khởi nghĩa, dưới danh nghĩa chống quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ Nguyễn Phúc Dương cháu đích tôn của Nguyễn Phúc Khoát . Khẩu hiệucủa Nghĩa quân là:"Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo".Tây Sơn nhanh chóng được sự ủng hộ của nông dân, và người Hoa từ hai đạo quân của Lý Tài, Tập Đình. Lực lượng của Nghĩa quân còn nhận được sự giúp đỡ của người dân quanh vùng, và cả người trí thức như Huyền Khê dâng tiền giúp, phú nông như Nguyễn Thung khuyến dụ mọi người gia nhập Nghĩa quân. Năm 1773, Nguyễn Nhạc tự xưng là Đệ nhất trại chủ, cai quản hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn, Nguyễn Thung xưng là Đệ nhị trại chủ, Huyền Khê xưng Đệ tam trại chủ, coi việc quân lương.
III. Chiếm thành Quy Nhơn, mở rộng lãnh địa.
1. Năm 1773, quân Tây Sơn dùng mưu đánh chiếm được thành Quy Nhơn. Tương truyền Nguyễn Nhạc tự ngồi vào cũi cho quân lính của mình khiêng đến trá hàng, nộp quân họ Nguyễn. Nửa đêm, ông phá cũi, cùng quân trá hàng làm nội ứng và quân bên ngoài tới phối hợp đánh chiếm thành. Sau khi hạ thành Quy Nhơn, quân Tây Sơn nhanh chóng đánh xuống phía nam, kiểm soát vùng đất từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận. Tháng 10 năm 1774, chúa Trịnh Sâm, sai Quận Việp Hoàng Ngũ Phúc, một viên tướng lão luyện, mang 4 vạn quân vào nam tấn công Phú Xuân, cũng dưới danh nghĩa trừng phạt Trương Phúc Loan.
Loan bị triều thần bắt trói nộp cho Hoàng Ngũ Phúc, nhưng quân Trịnh vẫn tiếp tục tiến đánh. Quân Nguyễn không chống nổi, phải bỏ chạy vào Quảng Nam, lại bị quân Tây Sơn đánh ra, bắt được hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Phúc Thuần phải vượt biển chạy vào Gia Định.
IV. Đầu hàng chúa Trịnh, đưa quân đánh chúa Nguyễn.
1. Tháng 5 năm 1775, quân Nguyễn do Tống Phúc Hiệp chỉ huy tiến đánh Phú Yên, Hoàng tôn Dương dùng kế trốn thoát. Nguyễn Nhạc mất Phú Yên, chỉ còn giữ Quy Nhơn và Quảng Ngãi. Quân Trịnh tiếp tục tiến về phía nam vượt đèo Hải Vân đánh quân Tây Sơn ở Quảng Nam. Quân Tây Sơn thua trận. Nguyễn Nhạc xin đầu hàng chúa Trịnh, tự nguyện làm tiên phong đưa quân Trịnh đi đánh chúa Nguyễn ở Gia Định. Chúa Trịnh bằng lòng và phong chức cho Nguyễn Nhạc.Tháng 7 năm 1775, Nhạc sai Nguyễn Huệ đánh Phú Yên, Tống Phúc Hiệp phải rút về Hòn Khói. Búi Công Khế và Tống Văn Khôi từ Khánh Hòa đem quân ra chiếm lại Phú Yên, nhưng thất bại, Kế bị bắt sống, Khôi tử trận.
Thế lực của Tây Sơn được củng cố. Hoàng Ngũ Phúc xin chúa Trịnh phong cho Nguyễn Nhạc chức Tây Sơn Hiệu Trưởng tiên phong tướng quân, rồi dâng biểu xin về Thuận Hóa, trên đường về Ngũ Phúc bị bệnh, mất. Từ đó, toàn bộ khu vực đèo Hải Vân trở xuống đều thuộc về nghĩa quân Tây Sơn. Trịnh Sâm phải phong cho Nguyễn Nhạc trấn thủ Quảng Nam. Tạm yên mặt Bắc, Tây Sơn tiếp tục việc chinh phục phía Nam. Tháng 3 năm 1776, Nguyễn Lữ lại đem quân đánh Gia Định, chúa Nguyễn thất bại, chạy ra Trấn Biên. Nguyễn Lữ cướp hết lương thực chở về Quy Nhơn. Được sự tiếp sức của Mạc Thiên Tứ, thế lực chúa Nguyễn ở Gia Định được củng cố.
2. Nhưng sau khi Tống Phúc Hiệp mất, giữa Đỗ Thành Nhơn và Lý Tài phát sinh mâu thuẫn. Lý Tài thế lực mạnh hơn nên tháng 11 năm 1776, Tài ép chúa Nguyễn Phúc Thuần nhường ngôi cho hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương. Tháng 3 năm 1777, Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ đánh Gia Định lần thứ 2. Lý Tài thua trận, bỏ chạy khỏi thành, mang chúa Nguyễn về Hóc Môn, bị quân Tây Sơn truy đuổi Tài đưa tàn quân chạy về Ba Giồng, tại đây Tài bị quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhân giết. Nguyễn Huệ bắt được chúa Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Dương, và anh ruột Nguyễn Phúc Ánh là Nguyễn Phúc Đồng, tất cả đều bị xử tử vào cuối năm 1777. Chỉ còn một mình Nguyễn Phúc Ánh, mới 15 tuổi, chạy thoát ra đảo Thổ Chu.
V. Vua Thái Đức, mở đầu Triều đại nhà Tây Sơn
1. Năm 1778, sau khi giết chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Nhạc tự xưng Vương hiệu Thái Đức, lập triều đại nhà Nguyễn Tây Sơn, đóng đô tại thành Quy Nhơn, phong Nguyễn Lữ làm Tiết chế, Nguyễn Huệ Long Nhương tướng quân, từ đây quân Tây Sơn không còn ràng buộc với chúa Trịnh nữa. Chỉ một thời gian ngắn, quân của chúa Nguyễn phục hồi, chiếm lại nhiều vùng ở Nam Bộ. Tướng Đỗ Thanh Nhơn đón Nguyễn Phúc Ánh về lập lên làm chúa Nguyễn mới lúc Ánh 16 tuổi. Từ Long Xuyên, Ánh tập hợp lực lượng, khởi binh đánh quân trấn thủ Tây Sơn tại Gia Định, lấy lại thành Sài Gòn. Bấy giờ Nguyễn Ánh mới được các tướng tôn làm Đại nguyên súy, Nhiếp quốc chính.
Tháng 5 năm năm 1778, Ánh chiếm Bình Thuận. Năm 1780, Nguyễn Phúc Ánh xưng vương lúc 18 tuổi. Từ đây, quân Tây Sơn nhiều lần tấn công Gia Định, Nguyễn Ánh thua trận chạy về Ba Giồng, rồi về Hậu Giang, sau trốn ra đảo Phú Quốc. Thông qua giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) Nguyễn Ánh cầu viện người Pháp, nhưng không thu được nhiều kết quả. Do đó, Ánh chuyển sang cầu viện Xiêm La. Vua Xiêm sai hai tướng là Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền tiến sang Chân Lạp dưới danh nghĩa giúp vua Chân Lạp, nhưng thực sự có ý đồ tạo gọng kìm phía Tây, chờ cơ hội tiêu diệt quân Tây Sơn.
2. Quân Xiêm nhanh chóng chiếm được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc. Do cậy thế đi đến đâu quân Xiêm cũng quấy nhiễu dân lành, làm điều tàn ác, khiến dân chúng oán hận. Tướng Tây Sơn giữ Gia Định là phò mã Trương Văn Đa, thấy quân Xiêm thế lực mạnh, bèn cố thủ ở Gia Định và sai người về Quy Nhơn cấp báo. Vua Tây Sơn sai Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đem quân vào, bố trí trận địa nhử quân Xiêm đến gần Rạch Gầm và Xoài Mút ở phía trên Mỹ Tho. Đêm 9 rạng 10 tháng 12 năm Giáp Thìn (1885), quân Xiêm tấn công Mỹ Tho phá vỡ đội thuyền phòng thủ của Tây Sơn.
Quân Tây Sơn giả thua trận rút dần về hướng Mỹ Tho, chờ đối phương lọt vào trận địa phục sẵn ở đoạn Rạch Gầm - Xoài Mút. Khi quân Xiêm lọt vào trận mai phục, quân Tây Sơn bắn pháo ở Cù lao Thới Sơn và bờ sông Tiền, khóa chặt hai đầu, dồn quân Xiêm vào thế "tiến thoái lưỡng nan". Hỏa lực ở hai bên bờ nã đạn tới tấp quân Xiêm rối loạn bỏ chạy. Một đội thuyền cảm tử chở đầy rơm và vật liệu dễ cháy đâm thẳng vào thuyền quân Xiêm làm chìm, cháy gần hết. Cánh quân bộ của Xiêm, cũng bị quân Tây Sơn chặn đánh, không còn đường cứu viện. Trận chiến diễn ra không đầy một ngày đã tiêu diệt được hầu hết quân Xiêm, chỉ còn vài nghìn người, chạy theo đường thượng đạo về nước.
3. Các tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương và Nguyễn Ánh cũng chạy theo đường bộ về Xiêm La, 4000 quân chỉ còn lại 800. Đánh dẹp xong, Nguyễn Huệ đem quân về Quy Nhơn để đô đốc Đặng Văn Trấn ở lại trấn đất Gia Định.
VI. Bắc Hà binh biến, Nguyễn Hửu Chỉnh trốn chạy đầu quân cho Tây Sơn.
1. Tại Bắc Hà, năm 1782, Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm chết. Con nhỏ Trịnh Cán được lập kế vị. Phe người con lớn là Trịnh Tông (Trịnh Khải) làm binh biến, giết quan phụ chính là quận Huy Hoàng Tố Lý (cháu lão tướng Hoàng Ngũ Phúc đưa Trịnh Tông lên ngôi, tức là Đoan Nam vương (1782-1786). Một tướng cùng phe với quận Huy là Nguyễn Hữu Chỉnh không hợp tác với Trịnh Tông, bỏ chạy vào Nam đầu quân với Tây Sơn và được Nguyễn Nhạc tín nhiệm. Bắc Hà ngày một suy yếu. Kinh thành Thăng Long bị quân kiêu binh - những kẻ có công tôn lập chúa Trịnh - càn quấy, tàn phá.
VII. Tây Sơn đánh Phú Xuân, chiếm Thăng Long.
1. Nguyễn Nhạc quyết định đánh chiếm Phú Xuân. Thành Phú Xuân do Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể trấn giữ. Nguyễn Huệ lập kế lung lạc chủ tướng Phạm Ngô Cầu. Nguyễn Hữu Chỉnh lại dùng kế ly gián Cầu và phó tướng Hoàng Đình Thể. Quân Tây Sơn bất ngờ đánh úp thành Phú Xuân. Cầu bỏ mặc cho Thể chết trận, dâng thành hàng Tây Sơn. Thừa thắng Nguyễn Hữu Chỉnh khuyên Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc đánh chiếm Thăng Long diệt chúa Trịnh. Mặc dù chưa được lệnh của Nguyễn Nhạc, vua Thái Đức. Nguyễn Huệ sai Nguyễn Hữu Chỉnh làm tiên phong Bắc tiến dưới danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh".
Quân Trịnh rệu rã nhanh chóng thua trận, chạy dài. Chúa Trịnh cũng chạy khỏi thành Thăng Long. Trên đường trốn chạy, Chúa Trịnh bị dân chúng bắt đem nộp cho Tây Sơn. Trên đường áp giải, Trịnh Tông tự sát. Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long yết kiến vua Lê Hiển Tông. Về danh nghĩa Nguyễn Huệ trao trả quyền chính lại cho vua Lê, và nhận phong Nguyên súy Dực chính phù vận Uy quốc công, nhưng thực tế, Nguyễn Huệ mới là người nắm toàn bộ quyền bính ở Bắc Hà. Do sự sắp xếp của Nguyễn Hữu Chỉnh, vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Tháng 7 năm 1786, vua Lê Hiển Tông qua đời, thọ 70 tuổi.
2. Công chúa Ngọc Hân đề nghị lập hoàng thân Lê Duy Cận (anh ruột của Ngọc Hân) lên ngôi, khiến Nguyễn Huệ phải hoãn lễ đăng quang của Lê Duy Kỳ. Nhưng, do áp lực của tôn thất nhà Lê đối với Ngọc Hân, Nguyễn Huệ đành thu xếp cho Lê Duy Kỳ lên ngôi vua, đó là vua Lê Chiêu Thống.
VIII. Nhà anh em Tây Sơn mâu thuẫn.
1. Việc Nguyễn Huệ đem quân Bắc tiến là trái ý của vua Thái Đức. Ngay khi biết tin Nguyễn Huệ đánh Thăng Long, Nguyễn Nhạc vội mang quân ra Bắc, như “để trách cứ gọi em về” đưa vào cương kỷ. Từ chiều sâu của nó, Nguyễn Nhạc không yên tâm với sự phát triển thế lực riêng của Nguyễn Huệ, còn Nguyễn Huệ thì lại muốn “tự mình phát triển” vượt ra ngoài tầm kiềm chế của Vua anh. Đây mới chính là nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn của anh em Tây Sơn. Ít lâu sau, Nguyễn Huệ đem công chúa Ngọc Hân, cùng Nguyễn Nhạc rút quân về Nam.
Sau khi quân Tây Sơn rút đi, các thế lực của chúa Trịnh như Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ trỗi dậy, lập Trịnh Bồng lên ngôi vương, tức là Án Đô vương, tái lập chính quyền chúa Trịnh. Vua Lê Chiêu Thống đang muốn chấn hưng nhà Lê bèn mời Nguyễn Hữu Chỉnh đang trấn ở Nghệ An ra dẹp Trịnh Bồng. Chỉnh nhanh chóng đánh tan quân Trịnh, đốt phủ chúa, nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh lại lộng hành như chúa Trịnh trước kia.
2. Nguyễn Huệ giải quyết mâu thuẫn anh em nhà Tây Sơn, bằng cách mang quân vào đánh Nguyễn Nhạc. Đầu năm 1787, Nguyễn Huệ mang 60.000 quân vây thành Quy Nhơn. Theo thư của một số Linh mục Pháp, để có đủ 6 vạn quân vây bọc thành Quy Nhơn, Nguyễn Huệ bắt toàn bộ đàn ông ở Thuận-Quảng làm lính, khiến nhiều vùng không còn đàn ông nữa. Nguyễn Nhạc gọi Đặng Văn Trấn, đang trấn thủ Gia Định ra cứu. Trấn vâng lệnh mang quân ra, nhưng đến Phú Yên đã bị Nguyễn Huệ bắt sống. Nguyễn Huệ nã pháo tới tấp vào thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc bị đánh bức quá phải lên thành khóc xin em đừng đánh thành nữa.
Nguyễn Huệ bằng lòng giảng hòa có điều kiện với vua anh. Sau đó, Nguyễn Nhạc phong vương cho hai em, mỗi người chia nhau giữ một khu vực từ tháng 4 năm 1787: Nguyễn Nhạc là Trung ương Hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn. Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất Gia Định. Phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất từ Bản Tân trở ra Bắc. Nguyễn Huệ đồng ý nhận chức Bắc Bình vương của vua anh phong. Hai anh em lấy Bản Tân làm ranh giới, từ Thăng Hoa, Điện Bàn ra Bắc thuộc Nguyễn Huệ, từ Quảng Ngãi trở vào thuộc vua Thái Đức. Như vậy vua Thái Đức đã thoả mãn yêu cầu được cai quản Quảng Nam của vua em. Còn Nguyễn Lữ trấn thủ Gia Định, có thái bảo Phạm Văn Tham giúp sức.
IX. Nguyễn Phúc Ánh trở về, Nguyễn Lữ rời Gia Định.
1. Việc bất hòa giữa anh em Tây Sơn để lại hậu quả nghiêm trọng và lập tức bị kẻ địch từ hai phía tận dụng. Sau 3 năm lưu vong ở Xiêm, Nguyễn Ánh nhận ra cơ hội,đã tập hợp lực lượng trở về nước tháng 8 năm 1787. Nguyễn Lữ nghe tin Nguyễn Ánh trở về, vội lánh đi nơi khác để thành Gia Định cho Phạm Văn Tham trấn giữ. Nguyễn Ánh đánh chiếm nhiều nơi, mở rộng vùng kiểm soát. Thế quân Nguyễn Ánh càng đánh càng mạnh, khiến Nguyễn Lữ sợ hãi mang quân bản bộ rút chạy về Quy Nhơn. Phạm Văn Tham ra sức chống trả, nhưng vì không được viện binh, nên Tham phải bỏ thành chạy ra ngoài, Nguyễn Ánh chiếm lại thành Gia Định tháng 8 năm 1788.
Ra ngoài, Tham vẫn cố đơn độc chiến đấu, đến đầu năm 1789 Tham bị buộc phải đầu hàng, bởi lúc đó Nguyễn Nhạc chỉ lo đề phòng Bắc Bình vương Nguyễn Huệ ở phía Bắc, không còn đoái hoài đến việc cứu viện phía Nam nữa. Tây Sơn lại mất Nam Bộ. Đông Định vương Nguyễn Lữ cũng lâm bệnh qua đời. Tại Bắc Hà, nhân lúc Tây Sơn lục đục, Nguyễn Hữu Chỉnh không còn theo lệnh nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhiệm, con rể của Nguyễn Nhạc, ra tiêu diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Tuy nhiên, đến lượt Vũ Văn Nhậm cũng lại chuyên quyền chống lại Nguyễn Huệ. Tháng 4 năm 1788, Lê Chiêu Thống rời kinh đô Thăng Long lưu vong sang Trung Quốc.
2. Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc giết Vũ Văn Nhậm. Ông tổ chức lại hệ thống cai trị ở Bắc Hà, đưa các danh sĩ có tên tuổi như Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích ra đảm đương công việc. Sau khi đã lập Sùng nhượng công Lê Duy Cận làm Giám quốc, Nguyễn Huệ lại rút quân về Phú Xuân. Cuối năm 1788, vua Thanh là Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân, từ Vân Nam và Quý Châu hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam với danh nghĩa phù Lê, vào chiếm đóng Thăng Long. Quân Tây Sơn do Đại Tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy, theo mưu kế của Ngô Thì Nhậm, chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp- Biện Sơn (Ninh Bình) cố thủ chờ lệnh.
X. Nguyễn Huệ xưng vua, đánh quân Thanh.
1. Để có danh nghĩa chính thống bởi vua Lê đã bỏ nước, và rước giặc về, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), tại Phú Xuân, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ tự xưng Hoàng đế, lấy hiệu Quang Trung Nguyễn Huệ cầm quân tiến ra Bắc Hà. Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), đại quân Quang Trung tới Nghệ An, dừng tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ngoài ra còn có một đội tượng binh với hơn 100 voi chiến. Để khích lệ ý chí quyết chiến, quyết thắng của tướng sĩ thuộc cấp, Quang Trung tổ chức duyệt binh ngay tại Nghệ An.
Ngay sau lễ duyệt binh, Quang Trung tiến quân ra Bắc Hà. Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, Ninh Bình. Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung nói với toàn quân rằng “chỉ trong 10 ngày quân ta sẽ quét sạch quân Thanh”. Sớm hơn cả dự kiến, trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh bằng hàng loạt trận đánh tập kích, mai phục, thần tốc và chớp nhoáng mà trận Ngọc Hồi-Đống Đa là tiêu biểu. Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu - 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống chạy thoát về Trung Quốc.
2. Ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu, Quang Trung trở lại Phú Xuân trao lại binh quyền cho Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm. Trở về Phú Xuân, vua Quang Trung lo sắp đặt lại việc “nội trị”: khuyến khích người hiền tài ra giúp nước; phân phối đất đai cho nông dân nghèo; thúc đẩy thủ công nghiệp; cho phép tự do tôn giáo; mở cửa ngoại thương; và chọn chữ viết chính thức của quốc gia là chữ Nôm thay cho chữ Hán. Về “ngoại giao”, Quang Trung nhanh chóng bình thường hóa bang giao với nhà Thanh. Vua Thanh là Càn Long đã cho sứ giả vào tận Phú Xuân để phong vương cho Nguyễn Huệ.
Với sự giúp sức của các tù trưởng Hoàng Văn Đồng, Nông Phúc Tấn, Em Lê Duy Chỉ (em vua Lê Chiêu Thống) tiếp tục tấn công Cao Bằng, Tuyên Quang, kết nối được với các tù trưởng người Vạn Tượng, và vua Xiêm, là Intharavong Setthathirath III. Vua Xiêm bàn tính với Nguyễn Ánh lập kế hoạch đánh Nguyễn Huệ-Quang Trung. Theo đó, quân của Lê Duy Chi đánh vào từ Cao Bằng, Nguyễn Ánh đánh ra từ Gia Định, còn quân Vạn Tượng và Xiêm sẽ đánh xuống Thanh Hoá, Nghệ An. Đứng trước nguy cơ bị tấn công từ ba mặt, Quang Trung sai sứ sang Trấn Ninh, Quy Hợp để thăm dò tình hình, nhưng các sứ đều bị quân Vạn Tượng bắt giữ, và nộp cho Xiêm La. Xiêm La sai sứ mang cờ và trống của Tây Sơn đến Gia Định trao cho Nguyễn Ánh, khích lệ Nguyễn Ánh ra quân.
XI. Tấn công để phòng thủ, Nguyễn Huệ qua đời.
1. Quang Trung quyết định ra quân. Ông sai hoàng tử Nguyễn Quang Thùy đang trấn thủ Thăng Long cùng các tướng Bắc Hà mang quân đánh Lê Duy Chi; sai Trần Quang Diệu và Lê Trung mang quân đánh Trấn Ninh, Quy Hợp. Quang Thùy đánh Cao Bằng bắt được Lê Duy Chi, Hoàng Văn Đồng và Nông Phúc Tấn mang về Thăng Long xử tử. Ở phía Tây, Trần Quang Diệu cũng diệt được Trần Phương Bính ở núi Hồng Lĩnh. Tới tháng 6 năm 1791, Quang Diệu mang 3 vạn quân sang Trấn Ninh bắt được các tù trưởng Thiệu Kiểu, Thiệu Đế. Tháng 8 năm đó, Quang Diệu đánh bại Quy Hợp. Tháng 10, quân Tây Sơn tiến sang Vạn Tượng.
Vua Vạn Tượng là Chao Nan (Chao Nanthasen) không chống nổi phải bỏ trốn sang Xiêm, các tướng Vạn Tượng là tả Phan Dung, hữu Phan Siêu tử trận. Giữa năm 1792, Quang Trung đã gửi thư đến Càn Long cầu hôn một nàng công chúa nhà Thanh, và "xin lại" hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Ông cũng sai đô đốc Vũ Văn Dũng làm chánh sứ sang triều kiến vua Càn Long. Nhưng, vì cái chết đột ngột và bí ẩn của vua Quang Trung, mọi dự định đều dang dở. Con vua Quang Trung là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, hiệu Cảnh Thịnh.
XII. Quang Toản vào cứu viện, chiếm luôn cơ nghiệp
của vua Bác.
1. Nội bộ tranh chấp, quyền hành rơi vào tay ngoại thích Bùi Đắc Tuyên. Năm 1793, Nguyễn Ánh từ Gia Định đem quân đánh Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn. Vua Thái Đức cầu cứu Phú Xuân. Quang Toản sai Ngô Văn Sở, Phạm Công Hưng đem 17.000 quân và 80 thớt voi vào cứu viện, quân Nguyễn Ánh rút lui. Quân Phú Xuân nhân đó lại đánh chiếm luôn đất đai của vua Thái Đức. Lúc đó, Nguyễn Nhạc đang trên giường bệnh, nghe tin cơ nghiệp của mình bị Quang Toản chiếm mất, tức quá thổ huyết mà chết. Quang Toản còn bắt con vua Thái Đức là Nguyễn Văn Bảo đưa ra an trí tại huyện Phù Ly, phế làm Hiếu Công, Toản cai quản toàn bộ đất đai của vua bác.
Nội bộ Tây Sơn lại mâu thuẫn: Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở. Lê Trung ở Phú Xuân bị nghi ngờ, và bị giết, Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết, mà Quang Toản không làm gì được. Trần Quang Diệu đang đi đánh Nguyễn Ánh, nghe tin bị nghi oan đành rút quân về, suýt bị đánh nhau với Vũ Văn Dũng. Nguyễn Văn Bảo từ Phù Ly cùng các tướng cũ nổi dậy chiếm Quy Nhơn, nhưng bị dập tắt và giết chết. Biến loạn tạm thời dẹp yên nhưng chính quyền Tây Sơn lại suy sụp. Do Quang Toản đã giết Lê Trung tại Phú Xuân nên con rể Trung là Lê Chất bỏ sang hàng Nguyễn Phúc Ánh. Ánh nhân thời cơ đó ra sức Bắc tiến.
2. Năm 1800, Nguyễn Ánh chiếm được Quy Nhơn, tướng Vũ Tuấn đầu hàng. Quang Toản sai Trần Quang Diệu vầ Vũ Văn Dũng đem quân vào chiếm lại. Tướng giữ thành Vó Tánh tử thủ cầm chân hai danh tướng Tây Sơn, để Ánh rảnh tay đánh Phú Xuân.
XIII. Nguyễn Phúc Ánh chiếm Phú Xuân, Thăng Long, chấm dứt nhà Tây Sơn.
1. Năm 1801, Nguyễn Ánh mang quân chủ lực vượt biển ra đánh Phú Xuân. Quang Toản thua trận bỏ chạy ra Bắc. Đầu năm 1802, quânTây Sơn chiếm lại thành Quy Nhơn, Võ Tánh tự vẫn. Ngày 1 tháng 6 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1802) sau khi chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Gia Long biểu trưng cho sự thống nhất Nam Bắc: chữ Gia có nghĩa Gia Định và Long có nghĩa Thăng Long. Rồi, ông sai Lê Văn Duyệt tiến quân ra Bắc Hà diệt toàn bộ nhà Tây Sơn. Nghe tin, Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân, và đang trên đường tiến ra Bắc hà, Trần Quang Diệu vội mang quân ra cứu, bị quân Nguyễn chặn đường, phải vòng qua đường Vạn Tượng (Lào).
Khi Trần Quang Diệu tới Nghệ An thì thành đã mất, quân sĩ bỏ chạy gần hết, vợ chồng Trần Quang Diệu - Bùi Thị Xuân bị bắt, Vũ Văn Dũng không biết trốn đi đâu. Giữa năm 1802 quân Nguyễn Ánh đánh chiếm Thăng Long, Quang Toản không chống nổi, bỏ chạy và bị bắt.
B. NGUYỄN ÁNH ĐÁNH TÂY SƠN.
I. Vài hàng về Nguyễn Phúc Ánh.
1. Nguyễn Phúc Ánh sinh ngày 15 tháng giêng năm Nhâm Ngọ (8/2/1762) tại Gia Định, là con trai thứ 3 của Nguyễn Phúc Luân và bà Nguyễn Thị Hoàn. Năm Ánh 4 tuổi, cha Ánh bị quyền thần Trương Phúc Loan bắt giam và chết trong ngục. Năm ông 9 tuổi (1771), Tây Sơn khởi nghĩa. Năm ông 13 tuổi (1775), chúa Nguyễn bị chúa Trịnh và quân Tây Sơn đánh kẹp từ hai mặt, Ánh cùng chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Quảng Nam rồi vượt biển vào Gia Định.
Năm 1777, cả Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương, cùng anh ruột Nguyễn Phúc Đồng,và một số người trong gia tộc khác bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ bắt giết, chỉ có một mình Ánh thoát nạn chạy về Long Xuyên. Ông ra đảo Thổ Chu và được Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine), một giám mục người Pháp, che chở.
II. Tổ chức đánh Tây Sơn.
1. Sau chừng một tháng trốn chạy, khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã về Quy Nhơn thì Nguyễn Ánh lại từ Long Xuyên tiến về Sa Đéc với Đỗ Thành Nhơn và Lê Văn Quân; ông ra hịch cáo quân và thu nhận được thêm một đội quân cùng các tướng Nguyễn Văn Hoằng, Tống Phước Khuông, Tống Phước Luông, và Hồ Văn Lân... củng cố lại lực lượng đánh trả Tây Sơn. Tháng 11 năm 1777, cùng với các tướng của mình, ông đưa một đạo quân mặc toàn áo tang bất ngờ tấn công chiếm dinh Long Hồ. Và sau đó, tháng 12 cùng năm, mang quân tiến về đánh Gia Định, Tống Văn Chu tướng Tây Sơn bỏ chạy, chiếm lại thành Sài Gòn.
Năm1778, khi Nguyễn Nhạc tự phong vua hiệu Thái Đức ở Quy Nhơn thì Nguyễn Phúc Ánh được 16 tuổi, các tướng tôn ông làm Đại nguyên súy Nhiếp quốc chính. Ánh nhanh chóng tổ chức cai trị vùng đất Gia Định, xây dựng chiến lũy phòng thủ, củng cố lực lượng thủy bộ, đặt quan hệ ngoại giao với Xiêm La và sai binh đi chiếm Châu Lạp, biến quốc gia này thành chư hầu năm 1779. Tháng 1 năm 1780, Nguyễn Ánh xưng Vương lấy hiệu Cảnh Hưng, và Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh Trấn chi bửu làm Quốc ấn, truyền phong cho Đỗ Thanh Nhơn chức Ngoại hữu, Phụ chính, Thượng tướng công.
2. Sau đó ông ra sức củng cố và mở mang Phiên An trấn (vùng Sài Gòn-Gia Định-Long An hiện giờ) với mục đích,biến vùng này thành căn cứ địa chống Tây Sơn. Cùng năm, người Chân Lạp nổi lên chống Nguyễn Ánh, ông sai Đỗ Thanh Nhơn, và Dương Công Trừng đi đánh dẹp. Đỗ Thanh Nhơn vì có nhiều công lớn nên được Nguyễn Ánh đãi trọng, nhưng lại có biểu hiện hung bạo, cậy công lấn lướt quyền hành với Nguyễn Ánh, tạo thêm vây cánh thậm chí muốn giành quyền lực. Thấy vậy, tướng Tống Phúc Thiêm bèn bày mưu giết Đỗ Thanh Nhơn. Tháng 3 năm 1781, Nguyễn Ánh giả bệnh, gọi Nguyễn Thanh Nhơn đến, rồi sai võ sĩ giết chết.
Việc làm đã để lại nhiều di hại cho Nguyễn Ánh sau đó: dù ông có nhanh chóng đưa ra chính sách làm suy yếu quân Đông Sơn Đông Sơn của Nhơn, nhưng họ vẫn phản lại ông, khiến Nguyễn Ánh phải đánh dẹp nhiều lần, quân Ánh mất cả Thống binh Tống Văn Phước (tử trận).
III. Biến thù thành bạn.
1. Tháng 10 năm 1781, Xiêm La xua quân đánh Chân Lạp. Nguyễn Ánh cho quân sang giải cứu. Khi quân Việt và quân Xiêm còn đang đánh nhau thì ở vương quốc Xiêm La có loạn, vua Xiêm La là Trịnh Quốc Anh bắt vợ con hai tướng Xiêm đang trên chiến trường Chân Lạp là Chất Tri là và Sô Si. Tướng Chất Tri và Sô Si bèn thỏa hiệp với quân Việt, thề cứu nhau trong lúc hoạn nạn, rồi rút về nước dẹp loạn Phan Nha Văn Sản, giết quốc vương Trịnh Quốc Anh. Chất Tri lên ngôi, tức vua Rama I. Chính biến ở chính trường Xiêm khiến quan hệ giữa Nguyễn Ánh và Xiêm La từ chỗ đối kháng trở thành đồng minh.
Lúc nầy quân đội của Nguyễn Ánh đã mạnh lên đến khoảng 3 vạn người với 80 chiến thuyền đi biển, 3 thuyền lớn, và 2 tàu Bồ Đào Nha do giám mục Bá Đa Lộc thuê giúp. Ông tổ chức tấn công Tây Sơn, đánh tới tận Phú Yên, nhưng sau cùng phải rút chạy vì gặp bộ binh quá mạnh của Tây Sơn. Tức giận vì tốn kém mà không thu được kết quả, quan lại Gia Định để cho cai cơ Manuel, lập mưu giết chết các tay lính đánh thuê Bồ Đào Nha và cướp tàu của họ.
IV. Yếu thế trước Tây Sơn.
1. Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Huệ, cùng vua Thái Đức mang quân thuỷ bộ Nam tiến. Tây Sơn đụng trận dữ dội ở sông Ngã Bảy, cửa Cần Giờ, quân Nguyễn do chính Nguyễn Ánh chỉ huy bị thua trận Manuel tự sát, Nguyễn Ánh phải chạy về Ba Giồng, rồi trốn sang tận rừng Romdoul, Chân Lạp. Khi chiếm lại Nam Bộ, quân Tây Sơn gặp phải sự chống đối mạnh của người Hoa ủng hộ Nguyễn Ánh, làm cản chân Tây Sơn trong việc truy bắt Ánh, và gây nhiều thương vong cho quân sỉ trong đó có Đô đốc Phạm Ngạn, thân tướng của Nguyễn Nhạc tử trận. Nguyễn Nhạc tức giận ra lệnh tàn sát người Hoa ở Gia Định để trả thù.
Nguyễn Ánh chạy về Giồng Lữ, một đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Học đem quân đuổi theo, bị quân Nguyễn bắt giết khiến cho Nguyễn Ánh có được 80 thuyền của Tây Sơn. Nguyễn Ánh tổ chức binh lực kéo quân về tái chiếm Gia Định, nhưng đụng Nguyễn Huệ đánh trả, rồi truy đuổi gay gắt, Ánh phải chạy về Hậu Giang, Rạch Giá, Hà Tiên rồi theo thuyền nhỏ trốn ra Phú Quốc. Thấy Nguyễn Ánh đã hết sức phản kháng, anh em Tây Sơn rút quân về Qui Nhơn, để lại hai hàng tướng của quân Đông Sơn là Đỗ Nhàn Trập và Hộ bộ Lãnh trấn giữ Gia Định.
2. Châu Văn Tiếp, một tướng trước đây từng theo Tây Sơn, cùng Nguyễn Phước Mân từ Bình Thuận mang quân vào đánh chiếm được Gia Định, và đón Nguyễn Ánh trở về. Nguyễn Ánh tìm cách tổ chức lại Gia Định, nhưng quân của ông quá yếu, bởi các thất bại trước. Ánh sai sứ Lê Phước Điển và Lê Phước Bình sang nhờ vua Xiêm giúp đở. Ánh cũng ủy thác Bá Đa Lộc lo thuyền bè sẵn, phòng khi Tây Sơn quá mạnh có phương tiện mà thoát. Tháng 2 năm 1783, Nguyễn Nhạc lại sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ mang quân Nam tiến. Dù Nguyễn Ánh đã lập tuyến phòng thủ trước, vẫn bị quân Tây Sơn phá tan, tướng của Nguyễn Ánh là Nguyễn Phước Mân bị giết chết, Dương Công Trừng bị bắt.
Nguyễn Ánh buộc phải bỏ chạy về Phú Quốc. Chỉ một tháng sau, ông lại tụ tập được một đạo quân người Chân Lạp dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huỳnh Đức quay về Đồng Tuyên. Nguyễn Huệ đem quân tiến đánh Đòng Tuyên, bắt hoặc giết hầu như toàn bộ tướng của Nguyễn Ánh, Ánh phải chạy ra đảo Phú Quốc, ở tại đảo Diệp Thạch. Sau trận Đồng Tuyên, quân binh người Hoa trở mặt làm phản, chiếm Hà Tiên, giết chết tướng của Ánh là Nguyễn Kim Phẩm và công chúa Ngọc Hoa. Ở vùng đảo thuộc Vịnh Thái Lan, Nguyễn Ánh thu nạp một số hải tặc Xiêm La, rồi ông tổ chức các đợt cướp vùng Hà Tiên để kiếm khí giới và lương thực cho binh lính, khiến cho nơi trú ẩn của Nguyễn Ánh bị lộ.
3. Tháng 6 âm lịch năm 1783, Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy kích, Nguyễn Ánh phải cưỡi trâu lội qua sông chạy trốn, rồi đem mẹ và vợ con ra Phú Quốc. Quân Tây Sơn truy tới nơi, nhờ tướng Lê Phước Mân mặc áo ngự đóng giả Nguyễn Ánh khiến Tây Sơn bắt nhầm; Ánh chạy thoát chạy ra được đảo Cổ Long, mất hết thuộc tướng. Một tháng sau, dò biết được Ánh đang ở Phú Quốc, Nguyễn Huệ sai phò mã Trương Văn Đa của Tây Sơn kéo quân vây đánh 3 vòng trùng trùng điệp điệp, nhưng lúc đó có bão biển, các thuyền Tây Sơn phải giãn ra và một số bị đánh đắm. Nguyễn Ánh thừa cơ lên thuyền trốn chạy, sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, ông quay ra hòn Cổ Cốt rồi về đảo Phú Quốc.
Tình cảnh bị đát, vì thiếu lương thực, binh sĩ ông phải đi hái cỏ, đào củ để ăn. Nguyễn Ánh tìm cách quay lại Gia Định, ông cùng một cai cơ tên Nguyễn Văn Chính trở về Long Xuyên, bắt giết được một viên tướng của Tây Sơn tên Quản Nguyệt. Việc này đánh động đến quân Tây Sơn, khiến cho ông suýt bị bắt, lại phải trốn qua các đảo Thổ Chu, Cổ Long, Cổ Cốt sống cuộc đời lưu vong "phẫn chí của một viên bại tướng" với vài trăm binh và thân cận.
V. Cầu viện nước Pháp.
1. Với những khó khăn gặp phải, mối quan hệ của Nguyễn Ánh với Bá Đa Lộc ngày càng khắn khít, hình ảnh nước Pháp ngày càng lớn dần trong tâm trí của Nguyễn Ánh, kèm theo lời bày của Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh nảy sinh ý định cầu viện nước Pháp. Vào cuối năm 1783, Nguyễn Ánh giao cho Bá Đa Lộc một tờ quốc thư, và quốc ấn để vị giám mục này được toàn quyền thay mặt Nguyễn Ánh sang Pháp cầu viện triều đình vua XVI. Đi kèm với Bá Đa Lộc là Nguyễn Phúc Cảnh, con cả Nguyễn Ánh, và các tướng Nguyễn Văn Liêm.... Sinh mạng của cậu bé về sau trở thành hoàng tử trưởng nhà Nguyễn, khi ấy mới lên 4 tuổi bị đưa ra "thế chấp" "làm con tin" trong cuộc cầu viện này. Sau đó ông từ biệt gia quyến đi nơi khác.
VI. Cầu viện Xiêm La.
1. Khi Bá Đa Lộc chưa kịp đi vì trái mùa gió, thì Nguyễn Ánh liên tiếp gặp những thất bại trước quân Tây Sơn, do đó ông có ý chuyển sang cầu viện Xiêm La. Khi Nguyễn Ánh còn phải lênh đênh trốn chạy, tướng của ông là Châu Văn Tiếp chạy thẳng qua Xiêm cầu cứu. Đến tháng 2 năm Giáp Thìn (1884), vua Xiêm La là Rama I cho tướng Thạt Xỉ Đa đem thuyền sang Hà Tiên đón Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh tới Long Xuyên hội kiến tướng Xiêm, rồi cùng quan tướng sang Xiêm La hội kiến vua Xiêm tại Vọng Các vào tháng 3 năm 1784. Vua Xiêm nhân cũng đang có chiến tranh với Tây Sơn nên đồng ý giúp Nguyễn Ánh để phân tán lực lượng của Tây Sơn.
Hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương nhận lệnh đem 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền sang giúp. Quân Xiêm còn có 3 vạn bộ binh ở Chân Lạp, có thể dùng tạo gọng kìm phía Tây, để tiêu diệt quân Tây Sơn. Quân Xiêm nhanh chóng lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc, tướng Nguyễn Ánh là Châu Văn Tiếp bị tử trận tại Mân Thít. Tướng Tây Sơn giữ đất Gia Định là phò mã Trương Văn Đa, thấy quân Xiêm quá mạnh, sai người về Quy Nhơn cấp báo. Vua Tây Sơn sai Nguyễn Huệ đem quân vào cứu viện. Không đầy một ngày, quân Tây Sơn đã tiêu diệt gần 2 vạn quân Xiêm tại trận Rạch Gầm-Xoài Mút. Các tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương chạy theo đường bộ về Xiêm; còn Nguyễn Ánh phải chạy theo đường thủy qua Thổ Chu rồi về Cổ Cốt, nhờ binh Xiêm đưa về Vọng Các.
VII. Lưu vong ở Xiêm và Hiệp ước với Pháp.
1. Sau một năm chuẩn bị, tháng 12 năm 1784, giám mục Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh và phái đoàn đem quốc thư của Nguyễn Ánh xuống thuyền đi Malacca rồi Pondichery Ấn Độ (thuộc Pháp). Còn Nguyễn Ánh đưa mẹ và vợ sang trú ở Long Kì (Đông Khoai, Vọng Các). Nguyễn Ánh cũng thu nhận được thêm một số binh tướng từ Đại Việt sang, ông tổ chức lại lực lượng trên đất Xiêm, lâu lâu cho quân đột kích về Gia Định. Đồng thời, ông cũng giúp vua Xiêm đánh Miến Điện và Mã Lai, nên được vua Xiêm La hậu đãi. Khoảng năm 1787, Bồ Đào Nha từ Ma Cao sang Xiêm gặp Nguyễn Ánh, và đặt vấn đề giúp Ánh.
Ánh sai sứ đi thương thảo, nhưng việc không thành vì những đòi hỏi quá đáng của Bồ Đào Nha, cùng với nó là sự không vừa lòng của vua Xiêm trong cuộc giao hảo nầy. Do một số vấn đề rắc rối tại Pondichéry, mãi đến tháng 2 năm 1787, Bá Đa Lộc và Nguyễn Phúc Cảnh mới tới hải cảng Lorien ở Pháp. Phải mất một thời gian vận động, đầu tháng 5 năm 1787, họ mới được gặp vua Louis XVI. Và, ngày 28 tháng 11 năm 1787, tại cung điện Versailes, Bá Đa Lộc với tư cách là đại diện của Nguyễn Ánh đã ký với Thượng thư Bộ Ngoại giao Pháp là Armand Marc, bản hiệp ước "Tương trợ tấn công và phòng thủ", tức Hiệp ước Versailes.
2. Theo đó“ vua Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến loại Frégates; 1.200 bộ binh; 200 pháo binh; và 250 lính da đen châu Phi. Đổi lại, Nguyễn Ánh nhường cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Cô Lôn; để cho người Pháp được quyền buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài tại Việt Nam; mỗi năm Ánh đóng trả cho Pháp một chiếc tàu giống với loại tàu Pháp viện trợ; cam kết cung cấp lương thực và quân nhu thiết yếu khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông.
Các sử gia về sau cho rằng tuy ký kết dưới danh nghĩa Nguyễn Ánh, nhưng người chịu trách nhiệm soạn ra các điều khoản có lợi cho phía Pháp trong hiệp ước này, là Giám mục Bá Đa Lộc, chứ không phải là chính Nguyễn Ánh; nếu “không có lệnh đình chỉ việc thực thi điều ước” thì khi trao đổi văn kiện chưa chắc Nguyễn Ánh đã chịu chấp nhận một hiệp ước bất bình đẳng như thế. Nhưng dù như thế nào, Hiệp ước Versailes năm 1787 “không thành hiện thực”.
VIII. Củng cố thế lực và về nước.
1. Sau 3 năm lưu vong ở Xiêm, thấy vua Xiêm ngày càng tỏ ra “không vừa lòng vì lực lượng của Nguyễn Ánh trở nên quá mạnh”, ông viết thư cảm ơn rồi ban đêm lặng lẽ trở về vùng Gia Định,vào tháng 8 năm 1787 để tập hợp lực lượng; đóng quân tại Nước Xoáy (Hồi Oa), Sa Đéc thuộc vùng Hậu Giang. Thời gian này ông cũng nhận được sự giúp đỡ mạnh mẽ hơn của người Pháp thông qua giám mục Bá Đa Lộc. Trong lúc Nguyễn Huệ bận đối phó với quân Thanh tại Bắc Hà (1788-1789), vùng Gia Định dưới quyền Tây Sơn cũng không ổn định, quân Tây Sơn bị cô lập trước dân chúng địa phương vốn có nhiều cảm tình với Chúa Nguyễn nói chung và Nguyễn Ánh nói riêng.
Tướng Tây Sơn giữ Long Xuyên là Chưởng cơ Nguyễn Văn Trương hàng quân Nguyễn, và Nguyễn Ánh lại thu nhận được nhiều binh lính địa phương; sau đó ông bắt đầu tổ chức tấn công Tây Sơn. Đông Định vương Nguyễn Lữ nghe tin Nguyễn Ánh trở về vội vã tránh đi nơi khác để Gia Định cho Phạm Văn Tham chống giữ. Sau đó, thế quân Nguyễn Ánh ngày càng mạnh khiến Nguyễn Lữ sợ hãi mang quân bản bộ chạy về Quy Nhơn. Và cuối cùng là cái chết vì bệnh của Nguyễn Lữ đã làm thế Tây Sơn ở Gia Định ngày càng suy yếu. Phạm Văn Tham vẫn cố đơn độc chiến đấu, nhiều lần đẩy lùi quân Nguyễn, có lần đã buộc Nguyễn Ánh và thuộc hạ phải chạy tới tận Cù lao Hổ.
2. Nguyễn Ánh củng cố thế đứng ngay khi chiếm được Mỹ Tho, ông thành lập các dinh trấn, tổ chức lại quân đội. Quân tướng theo Nguyễn Ánh ngày càng đông. Từ Cù lao Hổ, Nguyễn Ánh mang quân phản công Phạm Văn Tham, Tham vẫn cố chống cự, chờ viện binh, nhưng lúc đó “Thái Đức Hoàng đế chỉ lo phòng bị Bắc Bình vương Nguyễn Huệ” ở phía Bắc mà không đoái hoài đến việc cứu viện cho phía Nam. Không nhận được viện binh, Quân Tây Sơn càng “thế cùng sức kiệt” lại bị quân Ánh bao vây chia cắt, chiêu hàng làm suy yếu tinh thần tướng sĩ. Đến năm 1788, Võ Tánh, tướng Tây Sơn, đem hơn 1 vạn quân theo Nguyễn Ánh.
Cùng năm, Nguyễn Ánh tấn công và lấy được Gia Định, Phạm Văn Tham rút ra ngoài tiếp tục chống trả. Đầu năm 1789, Phạm Văn Tham bị Nguyễn Ánh vây chặt, lại bịt đường ra biển về Quy Nhơn nên buộc phải đầu hàng. Tây Sơn lại mất Nam Hà.
IX. Bá Đa Lộc, Nguyễn Phúc Cảnh và Cách mạng
Pháp 1789.
1. Ngày 27 tháng 12 năm 1787, Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh rời Pháp trở lại Pondichery chờ sự chi viện từ phía chính quyền Louis. Nhưng ngày 14 tháng 7 năm 1789, giai cấp tư sản Pháp đã làm cuộc cách mạng lật đổ triều đại phong kiến Louis, thiết lập nền cộng hòa tư sản, cộng thêm việc Bá tước nhận trách nhiệm chi viện là De Conway vốn có hiềm khích với Bá Đa Lộc đã sàm tấu, khiến nước Pháp tỏ ra không muốn nhắc đến hiệp ước ấynữa. Chờ mãi không nhận được sự chi viện từ Bá tước De Conway, Bá Đa Lộc đã tự quyên góp tiền từ các thương gia có ý định đặt cơ sở buôn bán ở Đại Việt; cùng với số tiền 15.000 franc Pháp của gia đình mình cho, giám mục đem mua súng đạn và tàu chiến.
Tháng 7 năm 1789, Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh về Sài Gòn. Súng đạn, tàu chiến và tiền bạc từ Bá Đa Lộc đã giúp Nguyễn Ánh có phương tiện đánh Tây Sơn, sửa sang thành Gia Định, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Biên Hoà, Bà Rịa, huấn luyện cơ đội pháo thủ, tổ chức bộ binh,và luyện tập binh lính theo lối châu Âu. Lưu ý rằng, sự giúp đỡ của giám mục Bá Đa Lộc cho Nguyễn Ánh kể cả trang thiết bị quân sự, không phải là sự trợ giúp của chính phủ Pháp mà là từ một nhóm người Pháp do sự vận động cá nhân của Bá Đa Lộc. Thực tế cuộc cách mạng 1789 Pháp đã vô hiệu hóa Hiệp ước Versailes năm 1787.
2. Thế nhưng, nước Pháp lại biến nó thành một "sự nhập nhằng không rõ ràng", để hơn nửa thế kỷ sau nuôi hy vọng hão huyền về “những quyền lợi tại Việt Nam mà họ nghĩ lý ra là họ phải được nhận”. Chính phủ Pháp hoàn toàn không đưa ra được một bằng cớ nào “về việc thực hiện hiệp ước” đó.
X. Đánh chiếm Gia Định và ổn định Nam Hà.
1. Việc làm đầu tiên của Nguyễn Ánh sau khi chiếm Gia Định là nhờ các sĩ quan Pháp xây dựng một tòa thành kiểu châu Âu trên đất Gia Định. Tòa thành khởi công năm 1789, do hai sĩ quan Pháp là Theodore Leburn và de Puymanel và de Puymanel thiết kế, với tổng nhân công là 30.000 người. Việc xây dựng tốn kém này buộc quan lại Gia Định phải áp một mức thuế cao, và nhân công phải làm việc hết sức cực nhọc, nên đã có một cuộc nổi loạn xảy ra. Đến năm 1790, tòa thành hoàn tất với chu vi 4176 mét, xây theo theo kiểu Vauban, có ba mặt sông nước che chở, mang tên thành Bát Quái, Nguyễn Ánh còn cho đổi tên từ Phiên An trấn thành Gia Định kinh (kinh thành hay thủ phủ Gia Định).
Việc xây dựng tòa thành này mang lại cho Nguyễn Ánh một lợi thế quân sự trước kẻ thù chính của ông, từ đây quân Tây Sơn không bao giờ tìm cách chiếm lại Gia Định được nữa. Cũng trong thời gian này, ông tổ chức lại chính quyền bằng cách lựa các viên tham mưu quân đội chuyển qua các bộ lập thành một triều đình, đồng thời cho tăng cường phát triển giáo dục, mở khoa thi, thu dùng các nhân sĩ người Việt và Minh Hương đã theo ông trước đó. Từ năm 1788, Nguyễn Ánh đã cho lập kho Bốn Trấn làm kho chung cho các trấn Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Thanh, và Định Tường để thu thuế và làm ngân quỹ cấp lương bổng cho quan lại.
2. Đến tháng 6 năm 1789, ông đưa ra chính sách lấy sản xuất nông nghiệp làm trọng. Đất đai thì phì nhiêu, nhưng đã bị hoang hóa vì một phần do chiến tranh, phần khác cộng đồng di dân chưa định hình. Nguyễn Ánh cho đặt các nhóm quan điền, mỗi toán gồm 12 người do Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, và Hoàng Minh Khánh cầm đầu, đến bốn dinh là Phiên Trấn, Trấn Biên, Trấn Vĩnh, Trấn Định đốc thúc nhân dân sản xuất, ai lười biếng bị bắt sung quân. Người hoặc nhóm người nào làm ruộng thu được trên 100 thùng lúa trên đất tốt, và trên 70 thùng trên đất xấu sẽ được miễn việc xâu một năm; nếu là binh lính thì sẽ được miễn đi đánh trận một năm.
Người dân ở lậu thì làm ruộng dưới sự chăm sóc của quan điền toán như là một người lính; nếu như họ thiếu vốn thì cũng có thể được cho vay trả sau. Từ tháng 10 năm 1790, binh lính cũng được huy động vào việc sản xuất nông nghiệp. Nhóm trung quân và các nhóm thủy quân được cử đến khai thác vùng Thảo Mộc Câu (sông Vàm Cỏ ngày nay) lập ra Trại đồn điền dưới sự chỉ huy của chánh cơ Nguyễn Bình. Trại này được nhà nước trợ cấp dụng cụ và giống cây, phần thu hoạch được sẽ sung vào kho công.Số lúa gạo thu được từ các đồn điền này được giữ trong một kho gọi là kho Tích Trữ.
3. Để có thêm lúa gạo phục vụ chiến tranh, Nguyễn Ánh cho đặt thêm thuế phụ ngoài thuế ruộng (thuế điền) một năm hai kỳ thu là thuế thị túc và thị nạp. Mức thu như sau: Năm 1792, từ một tới năm phương lúa trên một người; Năm 1799, vùng Bình Định và Phú Yên nộp 17 thăng gạo cho mỗi mẫu ruộng; Năm 1800, mỗi người ở Gia Định nộp hai phương gạo (riêng người già và tàn tật thì chỉ nộp một nửa). Ruộng mỗi mẫu sẽ nộp 1 phương gạo. Tới năm 1791, Nguyễn Ánh cho đặt một lệ về việc khẩn hoang rằng ba năm đầu từ ngày khẩn hoang sẽ miễn thuế. Ai muốn khẩn hoang phải nộp đơn trước 20 ngày, sau hạn này ruộng sẽ giao cho binh lính, dân chúng không được quyền tranh chấp nữa.
Các chính sách cải cách nông nghiệp này đã khiến việc sản xuất lúa gạo ở vùng Gia Định tăng cao giúp Nguyễn Ánh tiến hành chiến tranh với Tây Sơn. Trong thời gian này, ông có thể nuôi được một đội quân lên đến 30.000 lính và 1.200 thuyền chiến (ước tính năm 1800), cũng như đáp ứng nhu cầu quân nhu cho các lần ông đi đánh nhau với Tây Sơn ở Diên Khánh (năm 1795 và 1796) và Quy Nhơn (năm 1799) một cách "không hề thiếu thốn". Năm 1802 có nạn đói lớn ở Gia Định, Nguyễn Ánh lấy kho gạo quân ra phát cho dân,và cho giảm thuế ruộng ở Gia Định. Khi Xiêm La có hạn hán, Nguyễn Ánh cho xuất 8.800 vuông gạo để giúp.
4. Nguyễn Ánh gặp khó khăn với cư dân bản địa vùng Gia Định, vì tính “nay đầu mai đánh” của người Khmer, ông cử hai tướng người Khmer về coi các vùng có đông dân Khmer, lập các khu tự trị, đề ra chính sách và luật lệ ít nghiêm khắc hơn. Đối với người Hoa ở khu vực Hà Tiên, ông lập chức Tổng phủ người Hoa cai quản hai vùng Ba Thắc, và Trà Vinh. Ngoài ra, ông cũng cho kiểm tra dân số để tiện việc bắt lính và thu thuế, đưa ra các chính sách chống trộm cướp và gìn giữ an ninh; các hình thức tệ nạn như phù thuỷ, đổ bác, đồng bóng, hát xướng đều bị cấm. Đồng thời đưa ra chính sách hạn chế việc nấu rượu để tiết kiệm gạo, cho thuộc quan tổ chức các hoạt động mua vui cho dân chúng.
Từ tháng 10 năm 1788, Nguyễn Ánh cho bắt tráng đinh thành lập các phủ binh. Ông khuyến khích và kiểm soát chặt chẽ việc mua bán với nước ngoài, nhất là đối với các mặt hàng có liên quan tới quân sự như kẻm, sắt, đồ đồng, diêm, lưu huỳnh. Đối với vũ khí mà các thuyền buôn của người Châu Âu mang đến, Nguyễn Ánh giao cho các quan chỉ huy quân sự ở Trấn Biên mua lại bằng đường cát. Ở Cần Giờ, Đồng Trang, Vũng Tàu, ông cho dựng các phong hỏa đài, các Thành Cá Trê, Thành Vàm Cỏ được xây lại, để đóng quân và tuần kiểm. Kỷ luật quân đội được siết chặt,thực hiện luân chuyển "binh luôn theo tướng" để đảm bảo khả năng chỉ huy luôn ở mức tốt nhất.
5. Nguyễn Ánh còn cho lựa ra các quân tinh nhuệ, hăng hái để luyện tập kỹ hơn, lập thành một đạo quân đặc biệt, gọi là “quân chiến tâm”. Ông quan tâm đến việc phong thưởng và đãi ngộ binh sĩ tử trận, có công. Lập sở Hoạn Dưởng để chăm sóc thương binh, các đền Hiển Trung, Sinh Trung để thờ cúng binh sĩ tử trận. Nhận thấy địa thế Gia Định có nhiều sông ngòi và gần biển, ông lập các xưởng đóng thuyền và Thủy Sư cho đóng thuyền với nhiều kiểu, mà quan trọng nhất là chiến thuyền để phát triển hải quân: thuyền hải đạo, đại hiệu dùng đi biển, thuyền chiến với hình thức tàu buôn cải tiến phần mui, kích thước, độ sâu của thuyền.
Đến năm 1797 có cho đóng thuyền lớn kiểu Tây Dương. Đồng thời với các việc trên là công cuộc giao thiệp với ba nước lớn Xiêm La, Chân Lạp, Vạn Tượng: ông cho quân “chiếm đóng Chân Lạp”, giữ quan hệ hòa hiếu với Xiêm La để yên ổn với Vạn Tượng (khi này trong tầm khống chế của Xiêm La), Ngoài ra còn có quan hệ với một ít quốc gia nhỏ khác. Kết quả, là cả ba quốc gia lớn đều có sự giúp đỡ ít nhiều cho Nguyễn Ánh trong cuộc chiến chống Tây Sơn của mình.
XI. Tây Sơn suy yếu, Bắc tiến thắng lợi.
1. Năm 1790, Nguyễn Ánh sai tướng đem 5000 quân thủy bộ ra đánh chiếm được Phan Rí, và Bình Thuận. Đến năm 1792, nương theo gió Nam, ông sai hai tướng Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thành cùng hai sĩ quan đánh thuê người Pháp là Dayot và Vannien đánh mọt trận và đốt phá thủy trại Tây Sơn tại Thị Nại rồi rút về. Sau khi chiến thắng quân Thanh về, Quang Trung đột ngột qua đời (1792) Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi nối ngôi, hiệu Cảnh Thịnh. Loạn lạc nổ ra khắp nơi ở Bắc Hà: sĩ phu trung thành với nhà Lê nổi dậy tôn Lê Duy Cận làm minh chủ, Duy Cận liên lạc với Nguyễn Ánh để cùng đánh Tây Sơn.
Nguyễn Ánh dồn lực mở các đợt tấn công ra Quy Nhơn theo nguyên tắc đã định trước đó: "Gặp nồm thuận thì tiến, vãn thì về, khi phát thì quân lính đủ mặt, về thì tản ra đồng ruộng". Lợi dụng sự có mặt của Lê Chiêu Thống còn ở Trung Quốc, Nguyễn Ánh cho sứ sang để nhờ Trung Quốc giúp mình, nhưng khi sứ của Nguyễn Ánh là Ngô Nhơn Tĩnh, và Phạm Thận sang đến nơi thì Lê Chiêu Thống đã mất. Năm 1793, Nguyễn Ánh cùng các tướng Võ Di Nguy, Nguyễn Văn Trương, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Phước Hội, Philippe Vannier, Nguyễn Văn Hoà, Chưởng cơ Cố đem quân đánh Nha Trang, Diên Khánh, Phú Yên tới tận Quy Nhơn.
2. Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc cầu cứu Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh sai Ngô Văn Sở, Phạm Công Hưng, đô đốc Hố, và Chưởng cơ Thiêm đem 17.000 quân, 80 thớt voi, và 30 chiếc thuyền chia nhiều đường tiến vào Quy Nhơn cứu viện. Quân Nguyễn Ánh rút lui, trên đường về ông sai quân đắp thành Diên Khánh, lợi dụng địa thế nơi này làm bàn đạp phản công Tây Sơn. Từ năm 1794 đến năm 1795, quân Tây Sơn của Phú Xuân nhiều lần vào đánh Phú Yên, vây thành Diên Khánh, quân Nguyễn cũng ra sức chống cự, đánh lại được quân Tây Sơn. Lúc nầy, nội bộ Tây Sơn lại mâu thuẫn, các tướng tranh quyền. Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở mà Quang Toản không làm gì được.
Mối bất hoà giữa Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng càng sâu sắc. Quang Toản nghe lời gièm pha tước mất binh quyền của Trần Quang Diệu. Từ đó Tây Sơn cứ lục đục mãi, các quan nghi kị giết hại lẫn nhau. Một bộ phận tướng lĩnh bất mãn đã bỏ sang theo Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh nhân thời cơ đó ra sức Bắc tiến. Năm 1797, Nguyễn Ánh cho quân ra đánh Phú Yên, riêng Ánh thì cùng Nguyễn Phúc Cảnh mang thủy binh ra đánh Quy Nhơn, giao tranh với tướng Tây Sơn là Lê Trung tại cửa Thị Nại thu được nhiều khí giới, nhưng khi tới Quy Nhơn thấy thế Tây Sơn phòng thủ quá mạnh, ông vòng lên đánh Quảng Nam nhưng được mấy tháng lại rút về.
3. Nguyễn Ánh chiêu dụ Quang Bảo, nhưng việc chưa thành thì Quang Toản đã bắt và giết Quang Bảo. Năm 1799, Nguyễn Ánh gởi sứ sang Xiêm La, yêu cầu vua Xiêm La cho một đạo quân từ Chân Lạp, và Vạn Tượng đến sát biên giới Nghệ An nghi binh, để Nguyễn Ánh rảnh tay đánh chiếm các nơi khác.
XII. Chiếm Quy Nhơn, Phú Xuân, lên ngôi Hoàng đế.
1. Cũng trong năm 1799, Nguyễn Ánh tự cầm quân đi đánh thành Quy Nhơn, Quang Toản sai Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân vào cứu, đến nơi thì tướng giữ thành Vũ Tuấn đã đầu hàng. Nguyễn Ánh đổi tên thành Quy Nhơn thành thành Bình Định, rồi đưa quân Võ Tánh tới trấn giữ thành. Ánh rút về Nam. Tây Sơn tìm cách chiếm lại, tháng 1 năm 1800, hai danh tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng kéo quân đến vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Ánh cho quân ra cứu, nhưng bị bộ binh Tây Sơn chặn lại, ông chia quân đi đánh các nơi và thắng nhiều trận, trong đó có một trận lớn ở Thị Nại.
Thấy thế Tây Sơn vây Quy Nhơn còn mạnh, Nguyễn Ánh cho người lẻn mang thư đến bảo tướng Võ Tánh mở đường máu mà thoát ra, nhưng Võ Tánh quyết tử thủ, tạo đều kiện cho Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân. Sự việc này đã cầm chân hai danh tướng Tây Sơn ở Quy Nhơn hơn một năm. Năm 1801, Nguyễn Ánh nhận thấy tinh binh Tây Sơn đều tập trung cả ở chiến trường Quy Nhơn, mang quân chủ lực vượt biển ra đánh Phú Xuân. Đầu tháng 5 năm 1801, quân Ánh đánh nhau dữ dội với quânTây Sơn ở Tư Dung, và đánh Quang Toản ở cửa Eo, Quang Toản thua trận bỏ chạy ra Bắc. Ngày 3 tháng 5 Nguyễn Ánh đánh chiếm được Phú Xuân.
2. Nghe tin Phú Xuân bị đánh, Trần Quang Diệu đang vây thành Quy Nhơn sai binh về cứu, nhưng bị quân Nguyễn chặn đánh nên quân không về được, ông chỉ còn cách cố gắng đốc binh chiếm thành. Đầu năm 1802, Tây Sơn chiếm được thành Quy Nhơn, Võ Tánh tự vẫn để xin tha mạng binh sĩ. Trần Quang Diệu tha cho binh Nguyễn, an táng Võ Tánh và thuộc tướng, rồi bỏ thành Quy Nhơn; cùng Vũ Văn Dũng mang quân cứu viện ra Nghệ An, bị quân Nguyễn chặn đường, phải vòng qua đường Van Tượng (Lào). Lúc tới Nghệ An thì thấy thành đã mất, quân sĩ bỏ chạy gần hết, vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân bị bắt, Vũ Văn Dũng không rõ số phận.
Cũng trong thời gian này, sau khi chiến thắng quân Tây Sơn, hoàn toàn chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế ngày 1 tháng 6 (Âm lịch) năm Nhâm Tuất (1802). Để tượng trưng sự thống nhất Nam-Bắc lần đầu tiên sau nhiều năm, Nguyễn Ánh chọn niên hiệu là Gia Long, chữ Gia lấy từ Gia Định và Long lấy từ Thăng Long. Rồi sai Lê Văn Duyệt kéo quân tiếp ra Bắc Hà diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn. Nguyễn Ánh không hề che đậy sự tàn bạo của mình trong việc trả thù Tây Sơn. Ông tuyên bố: "Trẫm vì chín đời mà trả thù".
(Hết chương 2)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét