CHƯƠNG VII: ĐÁNH GIÁ VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN.
(Có 10 trang và 6.592)
Muốn đánh giá Vương triều nhà Nguyễn hay bất cứ Chế độ Chính trị nào, người ta phải căn cứ vào các bối cảnh lịch sử, những sự kiện liên quan cùng với những việc Vương triều hay Chế độ Chính trị đó đã làm tại các thời điểm trách nhiệm. Tác giả sách Việt Nam Sự Kiện chỉ ghi lại được “đôi điều, đôi việc” theo sự hiểu biết của mình về Vương triều, còn “đánh giá thế nào” tác giả xin nhường để mỗi bạn đọc “tự đánh giá”. Tuy nhiên, tác giả cũng ghi lại “một số đánh giá” từ các Sử gia, nhà Nghiên cứu và cả Sách Giáo khoa về Lịch sử… trên “Bách khoa toàn thư mở năm 2018” để bạn đọc tiện tham khảo...
A. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ TỪ CÁC...
I. Về tổ chức bộ máy cai trị và sách lược trị quốc.
Bách khoa toàn thư mở 2018, viết: “Nhà Nguyễn là vương triều đã hoàn thành việc chấm dứt chia cắt, phân chia Đàng ngoài, Đàng trong dù rằng phong trào Tây Sơn là những người đầu tiên thực hiện quá trình này (thậm chí cuối thời Tây Sơn cũng đang có nguy cơ phân liệt). Triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng đều lo củng cố vương quyền đồng thời củng cố chủ quyền dân tộc, chống mọi sự vi phạm, xâm phạm từ bên ngoài và bên trong, kể cả bằng những biện pháp như trấn áp quyết liệt Công giáo thời kỳ Minh Mạng và Tự Đức”.
Học giả Trần Trọng Kim viết: “người ta thường hiểu mấy chữ quân chủ chuyên chế theo nghĩa của các nước Tây Âu ngày nay, chứ không biết mấy chữ ấy theo cái học Nho giáo có nhiều chỗ khác nhau, rằng“Theo tổ chức của nhà Nguyễn, khi có việc gì quan trọng, thì Vua giao cho đình thần các quan cùng nhau bàn xét. Quan lại bất kỳ lớn bé đều được đem ý kiến của mình mà trình bày. Việc gì đã quyết định, đem dâng lên để vua chuẩn y, rồi mới thi hành. Hoàng đế tuy có quyền lớn, nhưng lại không được làm điều gì trái phép thường. Khi vua có làm điều gì sai thì các quan Giám Sát Ngự Sử có quyền can ngăn vua và thường là vua phải nghe lời can ngăn của những người này”.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân viết: “Nhà Nguyễn có nhiều chính sách hay. Chính sách Đình Nghị: Đã đi họp là phải phát biểu. Ý kiến trong Đình Nghị phải được ghi chép. Nếu không phát biểu trong kỳ họp trước, kỳ sau sẽ không được đi họp nữa. Hay chủ trương Hầu trị: Người của địa phương không được đứng đầu trong địa phương. Phải đi nơi khác làm quan, khi đến địa phương khác, không được lấy vợ, mua đất ở đó. Giám khảo chấm thi không được tham gia khi có người nhà đi thi, hoặc phải trình báo… Đây là những chính sách mà ngày nay chúng ta cần học tập”.
Nhưng, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) lại viết: "Triều Nguyễn là chế độ quân chủ chuyên chế cực kỳ phản động "rằng, nhà Nguyễn đã "tăng cường bộ máy đàn áp", "bộ máy quan lại hủ lậu mục nát". Nhiều nhà sử học về sau viết: bộ máy quan lại triều Nguyễn không thực sự hủ bại, thối nát, từ đời vua Gia Long (1802–1820) đến Minh Mang (1820–1840), nhà Nguyễn đã "thực hiện công cuộc cải cách Hành chánh theo xu hướng đơn giản, hợp lý, hiệu quả, chú trọng xây dựng đội ngũ quan lại có năng lực, đáp ứng yêu cầu của đất nước".
Nguyễn Quang Trung Tiến (Trường Đại học Khoa học Huế) viết:“đối với những đề xướng cải cách, thái độ của nhà Nguyễn là tiếp nhận các điều trần chứ không quay lưng. Vua Tự Đức và triều thần dường như đã đọc không bỏ sót một bản điều trần nào của các nhà cải cách gửi về Huế;... đồng thời đã tổ chức thực hiện việc cải cách ở một số lĩnh vực. Tuy nhiên, nhà Nguyễn đã thất bại trong việc cải cách, nguyên nhân là: không có hậu thuẫn về xã hội; thiếu hẳn một giai cấp đủ năng lực tiến hành cải cách; chưa có khuynh hướng tư sản hóa; số đông triều thần năng lực bản thân hạn chế, tầm nhìn hạn hẹp, thủ cựu; không có người biết tổ chức, quản lý, tay nghề yếu, kỹ thuật kém”.
II. Về giáo dục và đào tạo nhân tài
Theo Trần Trọng Kim thì:”Bao nhiêu công phu của người đi học chú trọng vào sự học cho nhớ những sách Tứ thư, Ngủ kinh cùng những lời thể chú của tiền nho trong những sách ấy và học thêm mấy bộ sử nước Tàu. Còn sự luyện tập hàng ngày, thì cốt tập cho thạo thuộc các lề lối ở chỗ khoa trường là: kinh nghĩa, tứ lục, thi phú, văn sách. Ấy là dùng hư văn mà xét tài thực dụng, đem sự hoa mỹ làm mực thước đo tài kinh luân.
“Bởi vậy ai hay kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người, ai tài thi phú đã tưởng mình giỏi nghề trị nước. Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh. Sự học của mình đã hư hỏng như thế, những hủ tục lại ăn sâu vào trí não, thành ra một thứ cố tật không sao chữa được...Đại khái, cái trình độ của bọn sĩ phu ở nước ta lúc bấy giờ là thế, cho nên vận nước suy đến nơi mà hồn người vẫn mê muội ở chỗ mơ màng mộng mị. Bọn sĩ phu là người có học, làm tai làm mắt cho mọi người mà còn kém cỏi như thế, thì bảo dân gian khôn ngoan làm sao được”.
Ngay cả Vua Minh Mạng muốn canh tân việc học hành thi cử, nhưng triều thần của ông phần nhiều chỉ là những hủ nho lạc hậu, không giúp được nhà vua, đề ra được một kế hoạch làm cho quốc phú, dân cường, nhà Vua nói: “Lâu nay cái học khoa cử làm cho người ta sai lầm, Trẫm nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những văn cử-nghiệp chỉ câu nệ cái hư sáo khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp do tự đó. Khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào mà nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi. Song tập tục đă quen rồi, khó đổi ngay được, về sau nên dần dần đổi lại”.
III. Phê phán và lên án Vương triều nhà Nguyễn.
Từ năm 1945 đến trước năm 1975, đã có những ý kiến đánh giá phê phán nhà Nguyễn rất gay gắt trong giới sử học ở miền Bắc Việt Nam. Ngay cả từ năm 196, trước khi cho ấn hành tập đầu tiên của bộ Đại Nam tực lục, Viện sử học Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã viết nhận định: “Những sự kiện lịch sử xảy ra trong khoảng thời gian từ Nguyễn Hoàng đến Đồng Khánh 1558–1888, những công việc mà các vua [chúa] nhà Nguyễn đã làm trong khoảng thời gian 330 năm ấy,... tự chúng tố cáo tội ác của nhà Nguyễn trước lịch sử của dân tộc chúng ta.
Theo lệnh của các vua nhà Nguyễn, bọn sử thần của nhà Nguyễn làm công việc biên soạn Đại Nam thực lục đã cố gắng rất nhiều để tô son vẽ phấn cho triều đại nhà Nguyễn..." và "Nhưng bọn sử thần ấy vẫn không che giấu nổi các sự thật của lịch sử. Dưới ngòi bút của họ, sự thật của lịch sử... vẫn phơi bày cho mọi người biết tội ác của bọn vua chúa phản động, không những chúng đã cõng rắn cắn gà nhà, mà chúng còn cố tâm kìm hãm, đày đọa nhân dân Việt Nam trong một đời sống tối tăm đầy áp bức”.
Sách Lịch sử Việt Nam do Viện Khoa học Xã hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xuất bản năm 1971 cũng cho rằng: “Triều Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng dựng lên bằng một cuộc chiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực xâm lược của người nước ngoài. Gia Long lên làm vua lập ra triều Nguyễn sau khi đàn áp cuộc chiến tranh cách mạng của nông dân... Triều Nguyễn là vương triều tối phản động... Bản chất cực kỳ phản động của chế độ nhà Nguyễn bộc lộ rõ ngay từ đầu qua những hành động khủng bố, trả thù vô cùng đê hèn của Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ nông dân và những người thuộc phái Tây Sơn kể cả phụ nữ và trẻ em...
Chính quyền nhà Nguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc. Nó chỉ đại diện cho quyền lợi của những thế lực phong kiến phản động, tàn tạ, nó không có cơ sở xã hội nào khác ngoài giai cấp địa chủ. Vì vậy, các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802–1819) đến Ming Mạng (1820–1840), Thiệu Trị (1841–1847), Tự Đức (1847–1883) đều rất sợ nhân dân và lo lắng đề phòng các hành động lật đổ. Chính vì khiếp nhược trước phong trào nhân dân mà nhà Nguyễn không dám đóng đô ở Thăng Long, phải dời vào Huế”.
Ngoài ra, còn các nhận định trong các tiểu mục khác như "Tăng cường bộ máy đàn áp", "Bộ máy quan lại hủ lậu mục nát", "Chế độ áp bức bóc lột nặng nề", "Chính sách kinh tế lạc hậu và phản động", "Chính sách đối ngoại mù quáng", v.v...và trong tập II của bộ Lịch sử Việt Nam xuất bản vào năm 1985, các tác giả thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội còn dùng những từ ngữ "khó nghe" như: "triều đình nhà Nguyễn thối nát và hèn mạt", "Vương triều Nguyễn tàn ác và ngu xuẩn", "cực kỳ ngu xuẩn", "tên chúa phong kiến bán nước số 1 là Nguyễn Ánh cầu cứu các thế lực ngoại bang giúp hắn thỏa mãn sự phục thù giai cấp",...
Trong quyển Đại cương Lịch sử Việt Nam tập II do Đinh Xuân Lâm biên soạn gần đây (bản năm 2007) khẳng định "triều Nguyễn thành lập là sự thắng thế của tập đoàn phong kiến tối phản động trong nước có tư bản nước ngoài ủng hộ". Ông Lâm cũng cho rằng nhà Nguyễn "là 1 nhà nước quân chủ chuyên chế tuyệt đối, tập trung cao độ với 1 chế độ chính trị lạc hậu, phản động". "Mọi chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội triều Nguyễn ban hành đều nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn"... và rằng các biện pháp khai hoang hay mộ dân lập ấp đều "xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị".
Ông Lâm còn nói thêm “Để duy trì chế độ xã hội thối nát nhằm bảo vệ đặc quyền đặc lợi, phong kiến nhà Nguyễn ra sức củng cố trật tự bằng mọi cách. "Đối nội, chúng ra sức đàn áp khủng bố các phong trào của quần chúng" và "Đối ngoại, chúng ra sức đẩy mạnh thủ đoạn xâm lược đối với các nước láng giềng như Cao Miên, Lào làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia và tài lực nhân dân bị khánh kiệt. Còn đối với các nước tư bản phương Tây thì chúng thi hành ngày một thêm gắt gao chính sách bế quan tỏa cảng và cấm đạo, giết đạo...Với những chính sách phản động nói trên, nước Việt Nam đã suy yếu về mọi mặt và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây”.
Nhà nghiên cứu Chu Giang cho rằng: nhà Nguyễn có một số công lao, nhưng có tội làm mất nước, đây là cái tội lớn nhất, nên một số công lao của nhà Nguyễn cũng không thể bù đắp được. Mặt khác, cũng cần phân biệt rõ giữa thời kỳ "chúa Nguyễn" (có công mở mang bờ cõi) và thời kỳ "vương triều Nguyễn" (có lỗi làm đất nước trì trệ) để không lẫn lộn công – tội giữa 2 giai đoạn khác nhau này. Không phủ nhận nhà Nguyễn có những vị vua yêu nước và có công (Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân), nhưng cũng không thể phủ nhận có những vị vua Nguyễn đã cầu viện ngoại bang hoặc đầu hàng giặc, có tội với đất nước (Gia Long, Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại.)
Ông Giang nói thêm, Ai có công thì khen, ai có tội thì chê chứ không thể đánh đồng các vấn đề này với nhau, lấy công mở mang của cha ông (các chúa Nguyễn) để xóa tội cho con cháu (các vua Nguyễn đã cầu viện hoặc đầu hàng ngoại quốc) nhằm biện hộ cho nhà Nguyễn theo cảm tính như một số nhà sử học có tư tưởng “hoài niệm triều Nguyễn” hiện nay. Ông Giang nói, Giáo sư Phan Huy Lê cho rằng công của Nguyễn Ánh là chính, tội chỉ là tỳ vết, là điểm mờ. Biện luận đó là đúng theo quan điểm của người Pháp, của con cháu nhà Nguyễn và phái “hoài niệm triều Nguyễn”. Nhưng xét trên bình diện quốc gia thì tội bán nước, đầu hàng ngoại bang là vô cùng nặng nề, công lớn bao nhiêu cũng không chuộc lại được.
Nguyễn Ánh khởi đầu hành động bán nước và đến đời các cháu, từ Tự Đức cho đến Bảo Đại, đã bán hoàn toàn, đầu hàng hoàn toàn. Nếu không có cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại độc lập, thống nhất thì giờ này có gì để mà nói nữa. Cho nên, các "chúa Nguyễn" có công mở cõi thì rõ rồi, không thể phủ nhận. Còn "vương triều Nguyễn" đã làm tổn hại quốc gia, làm chậm bước tiến của dân tộc. Đó là một thực thể lịch sử tồn tại hàng thế kỷ, là nguyên nhân của những diễn biến lịch sử dân tộc, không thể đặt ra ngoài lịch sử dân tộc.
Cần phê phán các nhân vật, các yếu tố phản lịch sử, phản dân tộc của vương triều Nguyễn nhưng không đánh đồng với những vị vua yêu nước, chống ngoại xâm, đã chịu biết bao đau khổ, hi sinh trong cảnh tù đày như các Đức vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Các Hoàng thân quốc thích như Bửu Đình, Văn Tập, Nguyễn Minh Vỹ và biết bao thế hệ con cháu nội ngoại của vương triều Nguyễn đã đứng vào hàng ngũ đấu tranh giải phóng dân tộc. Lý phải có tình, Tình phải có lý. Không thể biện luận lịch sử bằng chủ nghĩa tình cảm được.
IV. Về sự trì trệ và không chịu canh tân.
Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng sự lạc hậu, trì trệ trong cách cai trị của nhà Nguyễn là: Tình trạng phân liệt, phân tranh kéo dài từ giữa thế kỷ 16 đến hết thế kỷ 18 đã làm suy thoái ý thức dân tộc và tư tưởng yêu nước truyền thống Việt Nam. Nhà Nguyễn viết sử với quan điểm hạ thấp chiến tích chống ngoại xâm của các triều đại trước, làm mất rất nhiều tác dụng giáo dục tư tưởng yêu nước, ý thức dân tộc đang lúc cần phải được phục hồi để đối đầu với kẻ xâm lược. Nhà Nguyễn còn giữ mãi cái học, cái thi lạc hậu theo lối khoa bảng thời xưa, cho nên tinh thần thủ cựu, luôn cho rằng xưa hơn nay. Vào thế kỷ 19, bảo thủ là con đường chết. Triều đình cứ tranh luận việc có nên cải cách hay không, cuối cùng thì không làm gì cả. Ban đầu có mời chuyên gia phương Tây qua dạy kỹ thuật được ít tháng, cử người qua phương Tây học hỏi, nhưng được ít lâu đều dẹp bỏ hết.
Ông Giàu nói thêm, Nhà Nguyễn thống nhất đất nước, nhưng khi cai trị lại mất lòng dân. Triều Nguyễn tồn tại dài chưa đến 60 năm mà có tới 400 cuộc khởi nghĩa nông dân, trung bình một năm 7 cuộc (Đời Gia Long 33 cuộc, đời Minh Mạng 234 cuộc, đời Thiệu Trị chỉ 7 năm 58 cuộc, đời Tự Đức chỉ tính đến năm 1862, nghĩa là trước khi Pháp chiếm 3 tỉnh Đông Nam kỳ là 40 cuộc. Do đó, triều đình nhà Nguyễn không thể huy động sức mạnh nhân dân chống ngoại xâm được.Triều đình không dự kiến cuộc xâm lăng từ phương Tây, không chuẩn bị sẵn sàng bảo vệ đất nước. Triều đình bỏ ra rất nhiều tiền bạc để xây lăng tẩm đồ sộ, xây dựng cung điện nguy nga nhưng không chịu bỏ tiền mua súng đạn do các tàu buôn nước ngoài đem tới chào bán. Việc trang bị vũ khí mới bị bỏ bê, vũ khí có trong kho thì bảo dưỡng kém. Quân đội Nhà Nguyễn khá đông nhưng trang bị chỉ nhằm chống nội loạn hơn là chống xâm lăng, vũ khí dư thừa để đánh dẹp nhân dân khởi nghĩa nhưng lại cực kỳ thô sơ khi so với vũ khí của các nước phương Tây.
Giáo sư Trần Văn Giàu kết luận: “Nhà Nguyễn lập nên bằng cầu viện quân sự nước ngoài, nên tính chính thống và uy tín kém hẳn so với các triều đại khác. Vì lợi ích cá nhân, lợi ích gia tộc, Gia Long đã phạm tội “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ”. Gia Long ban đầu cầu viện Xiêm, được Xiêm giúp cho 3 vạn quân (có sách nói là 6 vạn), nhưng bị Tây Sơn đánh bại. Gia Long lại quay sang cầu viện Pháp, cam kết cắt đất Đà Nẵng và Côn Lôn để Pháp đồng ý cho quân sang đánh Tây Sơn, đó chính là Hiệp ước Versailles 1787. Cầu viện Pháp bằng Hiệp ước Versailles đã tạo thành một “nghiệp chướng” cho triều đình Nguyễn. Do nhiều yếu tố, đặc biệt là cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 lật đổ Hoàng gia, nên nước Pháp đã không thi hành Hiệp ước Versailles 1787. Tuy nhiên, Hiệp ước Versailles do Gia Long đặt bút ký vẫn trở thành một di họa đối với Việt Nam. Về sau, Pháp đã dựa vào hiệp ước này để làm cớ yêu cầu nhà Nguyễn cắt đất, và sau đó xâm lược Việt Nam vào năm 1858”.
V. Về nguyên nhân mất nước
Trong Việt sử Tân biên, Phạm Văn Sơn cho rằng “Việt Nam mất vào tay thực dân Pháp là một tất yếu lịch sử, hoặc ít ra cũng do trình độ dân trí Việt Nam quá thấp kém so với người Pháp. Do nhà Nguyễn không thực hiện cải cách nên Việt Nam thời đó vẫn là nước nông nghiệp phong kiến trình độ lạc hậu, kém xa các nước phương Tây đã thực hiện công nghiệp hóa".
Tuy nhiên, Nguyễn Phan Quang lại cho rằng “triều Nguyễn thua Pháp không phải là tất yếu mà do lúng túng về đường lối chính trị được thể hiện qua mặt quân sự và vấn đề tôn giáo và các mâu thuẫn nội bộ. Việc ngăn cấm Công giáo đồng nghĩa với việc ngăn chặn phương Tây có mặt tại Việt Nam đã gây phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc và là lý do khiến phương Tây nổ súng xâm lược. Suốt hơn 20 năm kể từ khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), triều Nguyễn đã không thể giải quyết mâu thuẫn giữa cải cách mới có thể chống Pháp thành công và muốn chống Pháp thành công thì phải cải cách nên đã để mất dần lãnh thổ.
Theo Phan Huy Lê thì nguyên nhân mất nước của nhà Nguyễn là rất đa dạng, từ tư duy bảo thủ của vua quan, khoa học kỹ thuật lạc hậu cho tới việc không thu được lòng dân, không nên quy trách nhiệm cho duy nhất một nguyên nhân nào: “Tự Đức và triều Nguyễn đã tìm mọi cách bảo vệ đất nước và cũng là bảo vệ vương triều đến cùng, nhưng do năng lực và nhãn quan chính trị nên không đề ra được đối sách đúng để giành thắng lợi trước một thế lực xâm lược hoàn toàn mới, mà lịch sử trước đây chưa để lại kinh nghiệm.Trong cả khu vực Đông Nam Á,và Đông Á, tất cả các quốc gia đều mất nước, hoặc thành thuộc địa, hoặc thành nữa thuộc địa. Chỉ riêng Nhật Bản và Thái Lan giữ được độc lập... Nhật Bản thời Minh trị Thiên hoàng thực hiện cuộc cải cách lớn, nhưng tình hình kinh tế xã hội của Nhật có khác các nước phương Đông. Thái Lan thì có cách ứng xử rất khôn ngoan, tận dụng được vị thế vùng đệm nằm giữa 2 thế lực đế quốc rất mạnh, Anh ở phía Ấn Độ, Pháp ở phía Đông Dương, lợi dụng được mâu thuẫn và cạnh tranh gay gắt này để duy trì thế độc lập tương đối...
Ông Lê nói thêm, không thể phủ nhận trách nhiệm của triều Nguyễn là nhà nước quản lý đất nước, nhưng lúc phân tích nguyên nhân mất nước thì phải hết sức khách quan, toàn diện, đặt trong bối cảnh lịch sử mới của khu vực và thế giới, không nên quy kết một cách giản đơn. Chế độ nhà Nguyễn vẫn là quân chủ, trên hệ tư tưởng Nho giáo, kinh tế xã hội vẫn mang tính tiền tư bản – tiền công nghiệp, nên trên bình diện phát triển của thời đại đã bộc lộ sự chậm tiến, nếu không canh tân thì không đưa đất nước vượt ra khỏi tình trạng lỗi thời, không đủ tiềm lực để tồn tại độc lập... Những đề nghị canh tân (thời Tự Đức) sẽ tạo nên những chuyển biến về kinh tế xã hội để đưa đất nước vượt qua tình trạng lạc hậu và mở ra xu thế phát triển mới, nhưng rất tiếc những đề nghị đó không được chấp nhận... Hay việc nhà Nguyễn có những thành tựu trong việc thống nhất đất nước, cải cách bộ máy hành chính... nhưng lại không thu phục được lòng dân, tình hình xã hội bất ổn định triền miên, khởi nghĩa nông dân nhiều nhất so với các thời kỳ trước đây... Hay chính sách của nhà Nguyễn với tôn giáo thế nào? Còn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu”. (Phan Huy Lê).
Theo nhà Sử học Dương Trung Quốc “Kết cục của triều Nguyễn có thể gọi là sự đầu hàng để mất nước. Nhưng đừng quá lời coi đó là sự bán nước vì không thể không nói đến gần 20 năm phản kháng chống xâm lược không chỉ của dân chúng mà cả triều đình. Những cuộc chiến đấu dũng mãnh của quan quân triều đình cùng nhân dân trên cửa biển Sơn Trà trên thành Điền Hải, của quân dân Nam Bộ trên chiến lũy Kỳ Hoà trên cổng thành Cửa Bắc Hà Nội với cái chết anh hùng của hai vị Tổng đốc thành Hà Nội là Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu là bằng chứng”. (Dương Trung Quốc).
Còn Nguyễn Khắc Thuần. “Việc Pháp đánh Việt Nam là một tất yếu khách quan; việc nhà Nguyễn để mất nước có phải là tất yếu khách quan hay không, đó là một dấu hỏi lớn, là chủ đề của nhiều hội thảo khoa học của nhiều thế hệ nhà sử học. Thực tế cho thấy không phải nhà Nguyễn buông súng từ đầu và không phải các hoàng đế nhà Nguyễn đều bạc nhược. Chúng ta có quyền nhìn nhận việc mất nước từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng nhìn từ góc độ nào thì nhà Nguyễn cũng phải chịu trách nhiệm về thảm họa mất nước”. (Nguyễn Khắc Thuần)
Bách khoa toàn thư mở 2018, viết: Nếu phân tích kỹ thì đúng là quân Pháp có trang bị vũ khí vượt trội so với quân nhà Nguyễn, nhưng sự vượt trội này không phải là quá lớn, và có những khó khăn mà quân Pháp thời đó không giải quyết được: Thời bấy giờ chưa có không quân và xe tăng, bộ binh Pháp thời đó cũng chưa có súng máy mà chỉ có súng trường bắn phát một, uy lực không hơn quá nhiều so với súng hoả mai của quân Nguyễn. Pháo binh Pháp tuy hiện đại hơn, nhưng trước năm 1873 thì vẫn còn khá thô sơ (pháo nạp đạn đầu nòng, không có rãnh xoắn, tầm bắn không quá mấy km).
Tiêu biểu như Trận Đà Nẳng 1858-1859, quân Pháp có tàu chiến yểm trợ mà đánh suốt 1 năm vẫn không thắng được, hoặc trận Đại đồn Kỳ Hoà, quân Pháp tuy thắng nhưng cũng bị tổn thất khá lớn. Quân Pháp tác chiến ở xa chính quốc, thời đó chỉ có tàu biển nên việc vận chuyển lương thực và thuốc men đều thiếu thốn, lính Pháp lại không quen thời tiết nóng ẩm nên số bị dịch bệnh khá nhiều. Nếu nhà Nguyễn sử dụng chiến lược vườn không nhà trống, tiêu thổ kháng chiến thì quân Pháp tất yếu sẽ bị kiệt sức.
Lực lượng xâm chiếm của Pháp có quân số khá nhỏ, mỗi chiến dịch Pháp chỉ huy động khoảng mấy ngàn quân là tối đa, trong khi quân nhà Nguyễn trên toàn quốc có ít nhất 20 vạn quân chính quy và dân binh, ưu thế hàng chục lần về quân số hoàn toàn có thể bù đắp cho sự thua kém về trang bị. Tiêu biểu như trận Isandwana (năm 1879), 15.000 quân Zulu chỉ với vũ khí thô sơ "giáo, cung tên, và khiên gỗ" nhưng nhờ sử dụng chiến thuật đánh gọng kềm mà đã tiêu diệt hoàn toàn 1.850 quân Anh trang bị hiện đại (phía Zulu tổn thất 3.000 người, xét về tỷ lệ thì tổn thất như vậy là không lớn).
Vũ khí thời đó chưa phải là tinh xảo tới mức không bắt chước được. Tiêu biểu như Cao Thắng đã chế tạo được súng trường phỏng theo khẩu Fusil Gras Nle 1874 của Pháp dựa theo chiến lợi phẩm thu được, chỉ trong vài tháng đã chế tạo được cả ngàn khẩu chỉ bằng các lò rèn địa phương. Nếu triều đình nhà Nguyễn biết huy động cả nước sản xuất vũ khí bắt chước theo chiến lợi phẩm thì ưu thế vũ khí của Pháp sẽ không còn là bao...
Bách khoa toàn thư mở 2018, viết tiếp: Sự lạc hậu của nước Việt thời nhà Nguyễn là một nguyên nhân mất nước vào tay Pháp. Tuy nhiên, nguyên nhân này không phải là duy nhất, một nguyên nhân khác được phân tích tỉ mỉ là thái độ bạc nhược, chỉ mong cắt đất cầu hòa của vua quan nhà Nguyễn thời Tự Đức. Vua Tự Đức khiếp nhược, cho rằng đem quân đội đánh Pháp thì không có cơ hội thắng. Thế là chính sách của nhà Nguyễn đi vào sự khiếp nhược: chỉ lo cắt đất cầu hòa với Pháp, khi có thời cơ cũng không dám chủ động tiến công địch…
Năm 1858 ở Đà Nẳng chỉ còn gần 1.000 quân Pháp, quân Việt Nam có hàng vạn mà tướng Nguyễn Tri Phương không thừa thế tấn công tiêu diệt, để Pháp an toàn rút vào Gia Định. Năm sau, ở Gia Định, khi phần lớn quân Pháp đã rút sang Trung Quốc trong chiến tranh Nha phiến chỉ có độ 300 lính, mà Nguyễn Tri Phương có 30.000 quân chính quy và dân quân mà cũng không dám tiến công diệt hết quân Pháp. Đến khi Pháp được tăng viện thì quân Nguyễn nhanh chóng vỡ trận, Pháp chiếm cả bốn tỉnh miền Đông Nam Kỳ.
Một số triều thần muốn Việt Nam liên kết với các nước Đông Á để cùng đối phó với Tây Âu, nhưng Tự Đức không nghe, sợ Pháp ngờ vực. Nhiều nước châu Âu như Đức, Anh, Tây Ban Nha muốn giao thương và bán vũ khí Việt Nchoam, triều đình cũng không chấp nhận. Nhà Nguyễn đã không biết lợi dụng sự mâu thuẫn giữa các nước châu Âu với Pháp để mua vũ khí hoặc gây áp lực ngoại giao với Pháp. Cuối năm 1870, chiến tranh Pháp-Phổ nổ ra, nước Pháp đại bại, quân Pháp ở Việt Nam như rắn mất đầu. Có người đề nghị TTuwj Đức hãy thừa cơ tiến công lấy lại Nam Kỳ Lục tỉnh, đánh thì chắc chắn thắng. Nhưng triều đình Tự Đức chẳng những không tiến công, mà lại cử một phái đoàn chính thức vào Sài Gòn để "chia buồn việc Pháp bại trận".
Năm 1870 Pháp đánh ra miền Bắc. Quân Nguyễn bạc nhược, thất thủ nhanh chóng. Chỉ huy Garnier chỉ với 100 quân và 3 tàu chiến nhỏ, với sự trợ lực của một số giáo dân bản xứ mà cũng lấy được Hà Nội khi đó có 7.000 quân Nguyễn phòng thủ. Tại Ninh Bình, với chỉ 10 lính Pháp trên một chiếc tàu chiến nhỏ, Pháp đã dọa được quan Tổng đốc nộp thành mà không kháng cự. Trong trận Cầu Giấy, Garnier bị đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc giết chết tại chiến trường, quân Pháp tháo chạy. Quân Pháp mất chỉ huy, chỉ còn biết co cụm chờ chết, người người đều tin rằng sẽ phản công thắng lợi, đuổi Pháp chạy khỏi đất Bắc. Nhưng Tự Đức lại mặc kệ cuộc phản công thắng lợi ở Hà Nội. Đáng lẽ phải khuyến khích quân dân ở phía Bắc đánh địch mạnh hơn, lấy chiến thắng làm đà thương thuyết, thì Tự Đức lại hạ lệnh cho tư lệnh chiến trường Hoàng Tá Viêm phải ngưng chiến để hiệp ước với Pháp được ký kết.
Hiệp ước năm 1874 đã gần như khẳng định quyền bá chủ của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Năm 1884, quân Pháp lại kéo ra Bắc, chiếm Hà Nội lần này cũng dễ dàng như lần trước. Quân Việt Nam ở Sơn Tây, Bắc Ninh tiến về bao vây Hà Nội. Cũng như Garnier, Đại tá Henri Rivière dẫn quân Pháp trong thành ra ứng chiến, và cũng y như lần trước, quân Pháp đại bại ở Cầu Giâý, Henri Rivière cũng chết trận ở đây. Hạm đội Pháp tập trung pháo kích dữ dội hệ thống pháo đài Thuận An, cửa ngõ của Huế, đưa tối hậu thư cho Tự Đức bảo phải đầu hàng. Giữa lúc chiến cuộc rộ lên thì vua Tự Đức băng hà. Triều đình Huế bối rối đã chấp nhận ký Hiệp ước Harmand, công nhận tất cả các quyền nội trị ngoại giao đều về tay Pháp, tức là chính thức đầu hàng và dâng nước Việt cho Pháp.
VI. Về các cuộc nổi dậy chống Triều đình
Theo Phạm Văn Sơn thì, Về phía ngoại bang, nước Tiêm La vẫn giữ thái độ hằn học về vấn đề Chân Lạp nên ngoài mặt tuy êm dịu nhưng bên trong Tiêm La vẫn tìm cơ hội để quấy rối Việt Nam. Ngoài Bắc, một phần nhân tâm còn luyến tiếc Lê triều, vẫn chờ dịp nổi lên chống lại nhà Nguyễn và để khôi phục lại dòng họ Lê. “Bọn quan lại hay nhũng nhiễu dân chúng, dèm pha nhau, tâng công, nịnh hót mà nhà vua lại thường không minh, nhất là đối với kẻ công thần. Thực dân Pháp kích động, mua chuộc, dụ dổ một số người, nhất là những người theo Thiên Chúa giáo bị bức hại xúi họ nổi dậy chống triều đình, để chúng rảnh tay chiếm Việt Nam”.
Riêng cuộc nổi dậy của Tạ Văn Phụng, thì Phạm Văn Sơn cho rằng “Tạ Văn Phụng và cuộc nổi dậy của ông ta là đáng kể hơn cả. Nó đã khiến triều Tự Đức phải dốc toàn lực để đàn áp bằng binh hùng tướng mạnh. Tính ra từ năm 1861 đến 1865, Tạ Văn Phụng đã làm cho vua quan nhà Nguyễn hao tổn tinh thần và tổn hại biết bao sinh mạng cùng tiền tài mới bắt sống được ông ta”. Còn sử gia Trần Trọng Kim thì cho rằng“chính Tạ Văn Phụng là một trong số nguyên nhân đã góp phần làm cho nhà vua phải vội vã sai Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia Định giảng hoà với thực dân Pháp.
B. QUAN ĐIỂM CỦA TÁC GIẢ ...
Theo tác giả “Sách Việt Nam Sự Kiện” thì một số “đánh giá Vương triều nhà Nguyễn” như ở trên, có nhiều chỗ CHƯA THOẢ ĐÁNG không chỉ “nội dung đánh giá” mà còn cả “sự kiện liên quan” cũng chưa thoả đáng. Rằng, “thái độ bạc nhược, chỉ mong cắt đất cầu hòa của vua quan nhà Nguyễn thời Tự Đức” là không khách quan. Ngược lại, công cuộc chống Pháp xâm lược dưới thời Tự Đức là rất quyết liệt kéo dài đến 25 năm, từ 1858 cho tới khi nhà Vua băng hà ngày 19/7/1883. Có tới 4 vị quan lớn dưới thời Tự Đức tuẩn tiết: ngày 18/2/1859, Võ Duy Ninh tuẩn tiết tại thành Gia Định; ngày 5/7/1867, Phan Thanh Giãn tuẩn tiết tại các tỉnh ba tỉnh miền Tây; ngày 20/11/1873, Nguyễn Tri Phương tuẩn tiết tại thành Hà Nội, và ngày 25/4/1883, Hoàng Diệu cũng tuẩn tiết tại thành Hà Nội.
Hoặc như Viện Sử học Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rằng “Những sự kiện lịch sử xảy ra trong khoảng thời gian từ Nguyễn Hoàng đến Đồng Khánh 1558–1888, những công việc mà các vua [chúa] nhà Nguyễn đã làm trong khoảng thời gian 330 năm ấy,... tự chúng tố cáo tội ác của nhà Nguyễn trước lịch sử của dân tộc chúng ta”. Sự thật khác hẵn, xin đọc Bối cảnh Thế giới và Tình cảnh Việt Nam (Chương 1); Nguyễn Phúc Ánh đánh Tây Sơn (Chương 2); Những việc đã làm trong 143 năm của Vương triều nhà Nguyễn (Chương 3 và chương 4) để thấy những sự kiện xẩy ra không giống như Viện Sử học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã viết!!!.
Xin lưu ý rằng, Bản đồ chính trị thế giới năm 1900, ghi nhận lục địa châu Âu có 18 quốc gia độc lập. 8 trong số 18 quốc gia này là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh, Pháp, Ðức, Ý và Bỉ từ năm 1500 đến năm 1900 đã đi xâm lược, và chiếm cứ 5 lục địa còn lại của thế giới. Họ chiếm toàn bộ Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Châu Úc kể cả New Zealand rồi đưa người đến “định cư vĩnh viễn” ở ba lục địa này. Đối với châu Á và châu Phi, nơi có nhiều cư dân sinh sống thì họ thiết lập chế độ cai trị thuộc địa, bằng cách cử người da trắng đến nắm hết chức vụ chủ chốt và điều hành chính quyền. Cần thiết lắm thì duy trì ngôi vua của người bản xứ để làm bù nhìn, không có chút quyền hành… Liệu Vương triều nhà Nguyễn (1802-1945) tại thời điểm đó có đủ mạnh để nằm ngoài bối cảnh lịch sử thế giới ấy được không?
Và, Việt Nam mất nước vào tay thực dân Pháp vào nữa sau những năm 1800 có phải là do Gia Long đã phạm tội “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ” rằng Hiệp ước Versailles (1787) đã tạo thành một “nghiệp chướng” cho triều đình nhà Nguyễn, rằng Hiệp ước Versailles do Gia Long đặt bút ký vẫn trở thành một di họa đối với Việt Nam. Về sau, Pháp đã dựa vào hiệp ước này để làm cớ yêu cầu nhà Nguyễn cắt đất, và sau đó xâm lược Việt Nam vào năm 1858” như nhận định và phê phán của Trần Văn Giàu không?
Việc quân Pháp lại kéo ra Bắc, chiếm Hà Nội, lần này cũng dễ dàng như lần trước. Hạm đội Pháp tập trung pháo kích dữ dội hệ thống pháo đài Thuận An, cửa ngõ của Huế, đưa tối hậu thư cho Tự Đức bảo phải đầu hàng. Triều đình Huế bối rối đã chấp nhận ký Hiệp ước Harmand, công nhận tất cả các quyền nội trị ngoại giao đều về tay Pháp, tức là chính thức đầu hàng và dâng nước Việt cho Pháp” là những việc xãy ra sau khi vua Tự Đức băng hà, Tự Đức mất ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi, tức ngày 19 tháng 7 năm 1883, trong khi Hiệp ước Harmand thì ký ngày 25 tháng 8 năm 1883 dưới thời vua Hiệp Hoà.
Nhà Nghiên cứu Chu Giang lại cho rằng: nhà Nguyễn có một số công lao, nhưng có tội làm mất nước, đây là cái tội lớn nhất. Rằng cần phân biệt rõ giữa thời kỳ Chúa Nguyễn “có công mở mang bờ cõi” và thời kỳ Vương triều Nguyễn “có lỗi làm đất nước trì trệ”… Rằng nhà Nguyễn có những vị vua yêu nước và có công như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, nhưng có những vị vua Nguyễn đầu hàng giặc, có tội với đất nước như Gia Long, Đồng Khánh, Khải Định, và Bảo Đại. Xin đọc Nguyễn Kim và các Chúa Nguyễn (Chương 1); Việc đã làm của Vương triều nhà Nguyễn (Chương 3) 13 nhà Vua của Vương triều nhà Nguyễn (Chương 5) để thấy “lời luận công, kết tội”của ông Chu Giang lố bịch đến mức nào!!!
Cần lưu ý vua Hàm Nghi lên ngôi lúc 13 tuổi, trị vì gần 1 năm: từ 2/8/1884 đến 6/7/1885. Thành Thái lên ngôi lúc 10 tuổi, trị vì hơn 18 năm: từ 2/2/1889 đến 29/7/1907. Và, Duy Tân lên ngôi lúc 7 tuổi, trị vì hơn 8 năm: từ 5/9/1907 đến 2/5/1916. Cả 3 vị Vua ấy, còn quá bé bỏng, quá trẻ, hoặc ít nhất là thiếu kinh nghiệm trong việc chăn dân trị nước thế mà ông Chu Giang lại đánh giá là 3 vị Vua "yêu nước, có công" đủ thấy khả năng của nhà nghiên cứu Chu Giang như thế nào?
(Hết chương 7)
(Việt Nam Sự Kiện I từ chương 1 đến hết chương 7)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét