Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2023

 

 

 

 

Chương XII: 28 CHUYỆN KỂ VỀ CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG CỦA HỌ TẠI VIỆT NAM, QUỐC GIA THỨ TƯ TỪNG BỊ PHÂN RANH QUỐC GIA-CỘNG SẢN (THỜI KỲ 1965-1970).

(52 trang và 32.742 chữ).

 

I. VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

 

Bài 273: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1965-1970.

Lê Xuân Đỗ

Ngày 1 tháng 1 năm 1965 Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Ngày 18/1/1965, sau nhiều vận động hậu trường và nhiều thoả hiệp chia ghế, chính phủ Trần Văn Hương tuy chưa bị lật đổ nhưng phải cải tổ, với sự tham gia của bốn tướng trong đó, tướng Nguyễn Văn Thiệu là Đệ nhị Phó thủ tướng. Ngày 20 tháng 1, tướng Thiệu bàn giao chức Tư lệnh Quân đoàn IV cho Thiếu tướng Đặng Văn Quang. Ngày 23/1/65, Thủ tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân kêu gọi mọi người tránh các vụ xách động, rằng ông sẽ lãnh trách nhiệm trước tình thế, rồi lên án "lũ lưu manh cạo đầu rồi mặc sắc phục tăng ni”.

Tối 23/1/65, tại Huế, một đoàn biểu tình kéo tới phòng Thông tin Hoa kỳ ném đá và đốt cháy thư viện Mỹ với 5.000 cuốn sách. Sinh viên đại học Huế đặt chướng ngại vật chặn các lối vào lớp học. Các cuộc biểu tình của Phật giáo, Hội đồng Nhân dân Cứu quốc và sinh viên vẫn tiếp diễn cho đến ngày 27 tháng giêng năm 1965 mới tạm thời lắng dịu. 

Ngày 27/1/1965, Hội đồng Quân lực tuyên cáo "Quân đội đã trả quyền từ ngày 27 tháng 10 năm 1964, cho phía dân sự nhưng tình thế mỗi ngày mỗi rối ren. Sau ba ngày thảo luận, Hội đồng Quân lực quyết định uỷ nhiệm tướng Nguyễn Khánh triệu tập ngay một Hội đồng quân dân gồm 20 đại diện các tôn giáo, nhân sĩ, và quân đội giải quyết cuộc khủng hoảng. Ngày 28/1/65, Hội đồng Quân lực quyết định Quốc trưởng Phan Khắc Sửu được lưu nhiệm, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử làm quyền Thủ tướng. 

Ngày 16/2/1965, thừa Uỷ nhiệm Hội đồng Quân lực, Trung tướng Nguyễn Khánh Tổng tư lệnh Quân đội VNCH ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bổ nhiệm ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng Chính phủ thay thế Thủ tướng Trần Văn Hương. Cùng ngày 16/2/65, Thủ tướng Phan Huy Quát trình diện Nội các lên Quốc trưởng. Ngày 17/2/65, Hội đồng quân lực ra quyết định thành lập Hội đồng Quốc gia Lập Pháp gồm 20 người đại diện đủ thành phần tôn giáo và sáu tướng tá. Chủ tịch Hội đồng là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu.

Ngày 19/2/65, đại tá Phạm Ngọc Thảo kéo một lực lượng bộ binh và chiến xa về Sài gòn chiếm đóng trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh và bến Bạch Đằng. Các tướng lĩnh họp ở phi trường Tân Sơn Nhất, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân bay trên thủ đô ra lệnh cho quân nổi dậy phải rút nếu không sẽ bị ném bom. Trên đài phát thanh Ba Xuyên, Tổng Tư lệnh Quân đội Trung tướng Nguyễn Khánh ra lệnh cho các binh sĩ bị lôi cuốn vào cuộc nổi dậy hãy trở về đơn vị. Tại Huế, lực lượng sinh viên học sinh lên án những "phần tử Cần lao" trong cuộc nổi dậy của Phạm Ngọc Thảo. 

Ngày 20/2/65, Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi Tư lệnh Quân đoàn I từ Đà Nẳng vào Sài gòn đảm nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn giải phóng thủ đô, ra lệnh cho đại tá Thảo và 13 sĩ quan khác phải trình diện trong 24 giờ, nhưng Thảo và một số sĩ quan cùng những nhân vật Công giáo đều đã trốn. Cùng ngày Ngày 20/2/65 này, Hội đồng Quân lực nhóm họp và quyết định cử Trung tướng Trần Văn Minh làm Tổng tư lệnh quân đội, thay thế Trung tướng Nguyễn Khánh, rằng Tướng Khánh âm mưu tạo ra xáo trộn để trở lại nắm chính quyền. 

Ngày 21/2/65, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ và Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi bắt đầu kết hợp với nhau để chống Trung tướng Nguyễn Khánh. Ngày 22/2/65, Trung tướng Nguyễn Khánh được thăng Đại tướng, bổ nhiệm chức đại sứ lưu động. Theo Phạm Bá Hoa trong “Đôi Dòng Ghi Nhớ” thì Quân lực Việt Nam cho đến ngày hôm đó có bốn vị đại tướng, một ông chết và ba ông ra đi, dù ra đi với chức đại sứ, nhưng sự thật đã bị nhóm tướng trẻ đuổi ra khỏi Việt Nam. Việc tướng Khánh ra đi đã đặt Quân lực Việt Nam Cộng hoà nằm trong tay nhóm tướng trẻ Young Turk. 

Các "tướng già" còn lại như Trung tướng Trần Văn Minh, Trung tướng Phạm Xuân Chiểu, Trung tướng Linh Quang Viên, Trung tướng Phạm Văn Đống... là chỉ để cho các tướng trẻ điều động đặt đâu ngồi đó, việc quốc gia đại sự, việc lãnh đạo chiến tranh này hoàn toàn nằm trong tay các tướng trẻ, đặc biệt là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Ngày 3/3/65, Hội đồng Quân lực công bố thành phần Uỷ ban Thường vụ: Tổng thư ký, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu; Uy viên Ngoại giao, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ; Uỷ viên Chính trị, Thiếu tướng Linh Quang Viên; Uỷ viên An ninh, Thiếu tướng Phạm Văn Đống; Phụ tá Tổng thư ký, Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. 

Ngày 5/5/65, Hội đồng quân lực tuyên bố tự giải tán để các tướng lĩnh trở về nhiệm vụ quân sự thuần tuý. Ngày 21/5/65, Phủ Thủ tướng thông cáo rằng cơ quan an ninh đã bắt được 17 quân nhân và 12 dân sự âm mưu đảo chính ngày hôm qua. Những quân nhân trên đây cũng đã từng liên can đến vụ biểu dương lực lượng của Phạm Ngọc Thảo ngày 19/2/65. Ngày 25/5/65, Thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ. Giữa buổi trình diện Chính phủ, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu cho biết không thể ký bổ nhiệm các ông Nguyễn Văn Thoàn và Nguyễn Trung Trinh vì lẽ các ông Nguyễn Hoà Hiệp và Nguyễn Văn Vinh không từ chức. 

Ngày 26/5, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát bày tỏ những bất đồng quan điểm về quyền hạn thay thế Bộ trưởng. Ngày 27/5/65, một phái đoàn đại diện lực lượng Đại đoàn kết Công giáo do Linh mục Hoàng Quỳnh hướng dẫn yết kiến Quốc trưởng cùng Hội đồng Quốc gia lập pháp, đưa kiến nghị không tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát. Ngày 3/6/65, Thủ tướng Phan Huy Quát cùng các tướng lĩnh sang yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Trong lúc đó một số nhân vật khác nhân danh 11 đoàn thể  gởi kiến nghị lên Quốc trưởng và Hội đồng Quốc gia lập pháp chống chia rẽ và tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát. 

Ngày 4/6, nhiều truyền đơn chống chính phủ Quát được tung ra trên nhiều ngả đường. Đêm mồng 5/6/65, vài trăm người Công giáo chống đối chính phủ Quát tụ họp trên đường Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký, Gia định. Họ đốt xe hơi, hành hung 5 người, và gây thương tích cho hai cảnh sát viên.  Ngày 7/6/65, hơn 200 cụ già thuộc các đoàn thể công giáo tới dinh Gia Long yết kiến Quốc trưởng cùng Chủ tịch Hội đồng quốc gia lập pháp, rồi ngồi lại trong Dinh từ 16 đến 22 giờ mới chịu ra về. Ngày 8/6, hơn 100 thanh niên Đại đoàn kết và sinh viên học sinh Tự dân tới dinh Gia Long yêu cầu giải quyết cuộc khủng hoảng và cũng ở lại đó từ 10 giờ đến 16 giờ mới về. 

Ngày 9/6, Thủ tướng Phan Huy Quát họp báo giải thích về cuộc khủng hoảng. Ông thuật lại các nỗ lực hoà giải của ông mà vẫn không thành, trình bày chi tiết về âm mưu đảo chính đêm 20/5/65, của phe Công giáo và âm mưu lập chính phủ Liên hiệp Trung lập của phe "Hoà bình", đồng thời ông cũng trả lời các luận điệu chỉ trích rồi kết luận rằng ông yêu cầu quân đội đứng ra lãnh vai trò trung gian để giữ thế quân bình cho đến khi có một chính quyền dân cử. 

Sydney ngày 18 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.418 chữ)

 

Bài 274: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1965-1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Ngày 11/6/65, Các tướng lĩnh (Hội đồng Quân lực đã giải tán) nhóm họp tại Sài gòn để xét thư của Thủ tướng Phan Huy Quát, kết quả là Các tướng lĩnh đồng ý nhận lời yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát, quyết định thành lập một “Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia” để lãnh đạo đất nước theo nguyên tắc “Ủy Ban quyết định, thành viên thi hành” Thành viên Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia căn cứ vào các chức vụ đương nhiệm trong quân đội gồm 11 vị: Chủ Tịch; Tổng Thư Ký; Thủ Tướng; Tổng Trưởng Quốc Phòng; Tổng Tham Mưu Trưởng; Tư Lệnh Hải Quân; Tư Lệnh Không Quân; Tư Lệnh Quân Đoàn I; Tư Lệnh Quân Đoàn II; Tư Lệnh Quân Đoàn III; và Tư Lệnh Quân Đoàn IV. 

Kết quả bầu chọn: (1) Chủ Tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu; (2) Tổng Thư Ký: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu; (3) Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tức Thủ Tướng: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Kỳ còn kiêm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Không Quân; (4) Tổng Ủy Viên Chiến Tranh tức Tổng Trưởng Quốc Phòng: Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng Có còn kiêm nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa; (5) Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân; (6) Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I; (7) Thiếu Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II; (8) Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tư Lệnh Quân Đoàn III; (9) và Thiếu Tướng Đặng Văn Quang, Tư lệnh Quân Đoàn IV. 

Ngày 19 tháng 06 năm 1965, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ trình diện Chính phủ, lên Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, với danh xưng Ủy ban Hành pháp Trung ương.

Từ những tháng đầu năm 1965, hầu hết viên chức trong chính quyền Mỹ đều đánh giá tình hình Nam Việt Nam đang xấu đi, Tổng thống Johnson và các quan chức chủ chốt Nhà trăng, Lầu Năm góc, CIA đã tranh cãi gay gắt về các giải pháp của Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hoà, tướng Maxel Taylor, và một số người khác đưa ra. Cuối cùng, họ đi đến quyết định là Mỹ phải đảo ngược chiều hướng xuống dốc này của Nam Việt Nam bằng cách sử dụng quân Mỹ, và quân các nước đồng minh của Mỹ, trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, đồng thời mở rộng việc ném bom miền Bắc Việt Nam cho đến khi đạt được thắng lợi, dự kiến trong vòng hai năm rưỡi. 

Ngày 1-5-1965, tướng Westmoreland trình lên Nhà Trắng kế hoạch thực hiện quyết định trên mang tên “Chiến lược Tìm và Diệt” với ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Từ tháng 7-1965 đến tháng 12-1965 đưa nhanh quân Mỹ và quân Đồng minh vào Nam Việt Nam để ngăn chặn tình hình đang xấu đi, bảo đảm an ninh cho những khu vực đông dân cư; triển khai các cuộc “hành quân phản công giành lại quyền chủ động chiến trường”. Giai đoạn 2: Từ đầu năm 1966 đến tháng 6-1966, quân Mỹ và lực lượng Đồng minh mở các cuộc hành quân “tìm và diệt ở những khu vực ưu tiên đã được xác định”, hỗ trợ cho chương trình bình định. 

Giai đoạn 3: Từ tháng 7-1966 đến giữa hoặc cuối 1967, dốc toàn bộ lực lượng mở các cuộc hành quân tiến công “tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân giải phóng” và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định. Giai đoạn “Hành quân phản công giành lại quyền chủ động chiến trường” trong năm 1965, có hai trận đánh đáng chú ý là trận Chu Lai tại Vùng I và tiếp đó là trận Pleime tại Vùng II chiến thuật. 

TRẬN CHU LAI TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Phát hiện sự di chuyển của đối phương, Tư lệnh Vùng I, Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi báo cho các chỉ huy quân đội Mỹ tại Vùng I và lưu ý vị trí tập kết của Trung đoàn 1 Chủ lực của Quân khu 5 Việt Cộng thường gọi là Trung đoàn Ba Gia, mà ông dự đoán sẽ rất gần Căn cứ Chu Lai. Tướng Lewis W.Walt chỉ huy trưởng quân Mỹ tại Vùng I, quyết định lập kế hoạch cho một cuộc hành quân tiêu diệt Trung đoàn nầy, xóa bỏ sự uy hiếp đối với căn cứ Chu Lai, đồng thời biểu dương sức mạnh của quân Mỹ trong khu vực. 

Sáng ngày 18 tháng 8 năm 1965, không quân của TQLC Mỹ cho ném bom sát thương, bom napalm xuống Vạn Tường và các địa điểm lân cận. Các pháo hạm trên biển bắn phá dọn bãi cho một cánh quân TQLC đổ bộ bằng máy bay trực thăng, và tàu LCU đổ bộ lên An Cường, hình thành vòng vây phía Nam; Một cánh TQLC khác đổ bộ bằng máy bay trực thăng xuống 3 thôn Bình Phước, Bình Long, và Bình Thạnh Tây hình thành cánh quân bao vây phía Tây. Một cánh TQLC khác từ Chu Lai, với xe tăng M41 và 18 xe bọc thép M113 đột kích theo đường bộ vượt sông Trà Bồng đánh xuống, hình thành cánh quân bao vây phía Bắc. Các cánh TQLC Mỹ nầy tiến dần siết chặt vòng vây, vây chặt Trung đoàn Ba Gia. 

Chiều 18/8/1965, Đại đội 21 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi mở mũi đột kích sâu từ Tây Hy, qua Thượng Hòa xuống Lệ Thủy, cùng với du kích các xã Đồng Lễ và Bình Trị đánh vào sau lưng một cánh quân của TQLC Mỹ, buộc cánh quân này phải quay lại đối phó. Lợi dụng vòng vây bị đứt đoạn giữa cánh Bắc và cánh Nam của TQLC Mỹ, đêm 18 rạng ngày 19/8/1965. Trung đoàn Ba Gia đã rút được phần lớn sở chỉ huy nhẹ và tiểu đoàn 40 ra khỏi vòng vây. Riêng đại đội trinh sát phòng ngự độc lập tại Cao điểm 45 núi Đầm Tái, thôn Vạn Tường bị tổn thất gần hết quân số. Phía quân đội Mỹ tuyên bố theo cách đếm xác của họ thì có 614 du kích bị tiêu diệt trong trận này. 

Sydney ngày 19 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.118 chữ)

 

Bài 275: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1965-1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

TRẬN PLEIME TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Tháng 8 năm 1965, Sư đoàn 304 nhận lệnh đi tới vùng Cao Nguyên Trung Phần, cùng với chiến trường miền Nam mở rộng vùng giải phóng. Tháng 9 năm 1965, Bộ chỉ huy quân Mỹ đưa Sư đoàn Không Kỵ số 1 lên án ngữ ở An Khê, Gia Lai. Quân đội VNCH thành lập biệt khu 24 gồm 2 tỉnh Kon Tum - Gia Lai; và chuyển giao nhiệm vụ tác chiến chủ yếu ở Tây Nguyên cho quân Mỹ. Trung đoàn 320 đã hoạt động tại vùng Cao nguyên từ đầu năm; Trung đoàn 33 mới xâm nhập vào tháng 9; Trung đoàn 66 cuối tháng 10 mới xuất quân. Trận Plei Me gồm ba trận đánh nối tiếp: trận đánh Pleime, trận đánh Chuprong, và trận đánh Iadrang, kéo dài 38 ngày.

(a) Trận Pleime. Ngày 19/10/65, Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 Tây Nguyên ra lệnh bao vây trại Pleime của Lực lượng đặc biệt Mỹ và Lực lượng Dân sự Chiến đấu (CIDG) người Thượng, đồng thời tiến công đồn Chư Ho. Quân đội VNCH đưa lực lượng từ Plây-cu đến giải cứu, bị quân phục kích gây thiệt hại cho một bộ phận biệt động quân, bộ binh, và chiến đoàn thiết giáp trên đường số 21. Tức thời, từng toán phi cơ ném bom, oanh kích nhắm vào các ổ phục kích gây thiệt hại đáng kể cho quân Việt Cộng. Ngày 20 tháng 10, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II mở cuộc hành quân Dân Thắng đẩy quân Việt Cộng ra xa, và để lại hai đại đội Lực lượng Đặc Biệt hỗn hợp VNCH-Mỹ tăng phái cho đồn Pleime. 

Ngày 25-10, Bộ tư lệnh Mặt trận B3 Tây Nguyên ra lệnh “mở vây đồn Pleime” để tập trung lực tượng đánh Mỹ. Tuy nhiên, việc điều dụ quân Mỹ vào các địa bàn rừng núi lựa chọn, xa căn cứ của chúng, nhằm hạn chế mặt mạnh, khoét sâu điểm yếu để đánh thắng quân Mỹ, nói thì nghe dể, nhưng thực sự không như thế. Với một đội quân nhà nghề, lực lượng áp đảo, phương thức tác chiến nhanh, phương tiện trinh sát hiện đại, lại rất linh động thay đổi, thì khó điều dụ đối phương theo ý của mình, thậm chí còn bị mắc bẩy. Cụ thể là trận Ia Đrăng Mỹ đã cho đổ quân xuống Bầu Cạn và Plâyngo để thăm dò, rồi đánh úp quân chủ lực của Mặt trận B3.

(b) Trận Chuprong. Dựa vào tin tình báo, Việt Cộng có thể tấn công trại Pleime lần nữa, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II của VNCH đề nghị Sư đoàn 1 Kỵ Binh Mỹ mở cuộc hành quân Long Reach để lùa hai Trung đoàn 32 và 33 về rặng núi Chuprong. Từ ngày 27/10/65 đến ngày 9/11/65, Lữ đoàn 1 Không Kỵ Mỹ với cuộc hành quân All the Way đã tuần tự đẩy lùi các toán quân Việt Cộng từ Pleime về Chuprong. Ngày 9 tháng 11, với thế nghi binh hoán chuyển, Lữ đoàn 3 Không Kỵ mở cuộc hành quân Silver Bayonet I, đến thay thế vùng hoạt động của Lữ đoàn 1 Không Kỵ, nhằm đẩy nhanh đối phương tập trung quân tiến đánh Pleime. 

Bị trúng kế, ngày 11 tháng 11, Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 ra lệnh cho ba trung đoàn tập trung: Trung đoàn 32 tại toạ độ YA820070, Trung đoàn 33 tại toạ độ YA 940011, và Trung đoàn 66 tại toạ độ quanh YA 9104 để sẵn sàng tiến đánh Pleime vào ngày 16 tháng 11. Đúng 4 giờ chiều ngày 15 tháng 11, Mỹ bắt đầu ném bom trải thảm B-52 trút xuống rặng núi Chu Prông, và tiếp tục trong 6 ngày liền: ngày 15 (YA 8607, 9007, 8702, 8600, 9000), ngày 16 (YA 8305, 8505, 8400), ngày 17 (YA 9201, 9401, 9208, 9408), ngày 18 (YA 9301, 8900, 8901), ngày 19 (YA 9009, 9209, 9006, 9206), và ngày 20 (YA 8306, 8506, 8303, 8503). Cả ba Trung đoàn 32, 33 và 66 chịu thiệt hại lớn.

(c) Trận Iadrang: Bộ Tư lệnh Quân đoàn II thẩm định là đối phương đã mất 2/3 tổng số lực lượng trong trận Plei Me và Chu Prông, nên quyết định đánh dứt điểm bằng cách tung Lữ đoàn Dù VNCH gồm 5 tiểu đoàn, vào chiến trường mang tên hành quân Thần Phong 7, với sự yểm trợ pháo binh tại căn cứ tân lập LZ Crooks; Và Lữ đoàn 2 Không Kỵ Mỹ, cũng thực hiện một cuộc hành quân khác tảo thanh, săn tìm và diệt sâu vào vùng hoạt động của đối phương. Chiến dịch Pleime kết thúc ngày 26/11/1965, khi không còn bóng dáng Cộng quân trong vùng hành quân của Liên quân Việt-Mỹ tại Quân đoàn II. 

Kết quả, theo tuyên bố của Mỹ - VNCH tổn thất phía Việt Cộng: chết đếm xác 4.254, bị thương 1.293, bị bắt 179, mất 169 súng cộng đồng và 1,027 súng cá nhân. Tổn thất phía HK: chết 300, bị thương 524, mất tích 4. Không lực Mỹ mất 6 HU-1B, 2 B-57, 3 A-1E bị bắn hạ và 3 C-123 bị trúng đạn hư hỏng ít nhiều. Tổn thất phía VNCH: chết 132, bị thương 248, mất tích 18. Không rõ tổn thất về trang bị vũ khí. Phía Việt Cộng, họ tuyên bố loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 địch, phá huỷ 89 xe quân sự (có 42 xe tăng và xe bọc thép), bắn rơi 59 máy bay.

Sydney ngày 20 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có .1587 chữ)

 

Bài 276: CHUYỆN KỂ VỀ MÂU THUẪN GIỮA TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI TƯ LỆNH VÙNG I CHIẾN THUẬT VÀ CÁC TƯỚNG CẦM QUYỀN Ở TRUNG ƯƠNG SÀI GÒN. 

Lê Xuân Đỗ

Sách "Đôi Dòng Ghi Nhớ, Phạm Bá Hoa viết: sau khi bàn giao chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn II xong, Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có về Sài Gòn nhậm chức Tổng trưởng Quốc phòng, và Tổng Tư lệnh Quân Đội. Ngày 15/7/65, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, chủ tọa buổi lể bàn giao Tổng Tư lệnh giữa Trung tướng Trần Văn Minh và Thiếu tướng Nguyễn Hũu Có. Giao nhận xong, Bộ Tổng Tư Lệnh trở lại với danh xưng “Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”. Ngày 15 tháng 10 năm 1965, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu lại chủ tọa buổi lễ bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng giữa Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có và Thiếu Tướng Cao Văn Viên. 

Đây là lần bàn giao thứ 6: Lần thứ nhất, Trung Tướng Trần Văn Đôn nhận chức ngày 02/11/1963 sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ và bị giết chết; Lần thứ hai, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, nhận chức ngày 31/01/1964 sau khi Trung Tướng Trần Văn Đôn bị bắt giam; Lần thứ ba, Trung Tướng Nguyễn Khánh nhận chức ngày 08/10/1964 sau khi Đại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong; Lần thứ tư, Trung Tướng Trần Văn Minh, nhận chức ngày 26/02/1965 sau khi Đại Tướng Nguyễn Khánh lưu vong; Lần thứ năm (15/07/1965), Trung Tướng Minh bàn giao cho Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có Tổng trưởng Quốc phòng, kiêm nhiệm. Và lần thứ sáu là ngày 15/10/1965 này, bàn giao giữa Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có và Thiếu Tướng Cao Văn Viên. 

Từ giữa năm 1965 là thời gian bắt đầu và dồn dập có nhiều đơn vị Đồng Minh -nhất là Hoa Kỳ- lần lượt đổ quân vào Việt Nam. Tướng Viên thường được cử thay mặt Chánh Phủ và nhân danh Tổng Tham Mưu Trưởng, có mặt tại các địa điểm đổ bộ để chào đón quân bạn. Đơn vị đầu tiên mà Tướng Viên chào đón kể từ sau ngày nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng, là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Chu Lai, còn gọi là vịnh Dung Quất. Ngày 01/11/1965, Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa, Thiếu Tướng Cao Văn Viên được thăng cấp Trung Tướng. Cùng thăng cấp Trung Tướng với ông còn có nhiều vị nữa, và trong số đó có Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Thiếu Tướng Đặng Văn Quang. 

Nội các chiến tranh của Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ có một Bộ mới thành lập, đó là Bộ Xây Dựng Nông Thôn, để bình định nông thôn nhằm tách dân ra khỏi sự kiểm soát của cộng sản. Dư luận trong giới chính trị cũng như trên báo chí quốc nội, quốc tế, khi nói đến những vị lãnh đạo quốc gia tại thời điểm nầy, thường nhắc đến “bộ ba” gồm Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, tức Quốc Trưởng + Thủ Tướng + Tổng Trưởng Quốc Phòng. Tổng Tham mưu trưởng Trung Tướng Viên nghiêng về Thiếu Tướng Kỳ hơn là Trung Tướng Thiệu. Lực lượng có khả năng trực tiếp tham gia đảo chánh là Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến thì đứng về phía Thiếu Tướng Khang và Trung Tướng Viên.

Lễ Giáng Sinh 1965, Trung Tướng Viên tổ chức buổi tiếp tân tại võ đình trường trước tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu. Khách mời các vị trong Ngoại Giao đoàn, và Tùy Viên quân sự; Các vị Tư Lệnh lực lượng Đồng Minh Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi, Thái Lan, và Hoa Kỳ; Các đơn vị trưởng cùng các sĩ quan tham mưu trực thuộc lực lượng này.  Phía Việt Nam, các vị trong Chánh Phủ, trong Quốc Hội; Các vị Tướng Lãnh tại thủ đô và lân cận; Các vị Chỉ Huy Trưởng binh chủng, Tổng Cục Trưởng, Cục Trưởng, và các sĩ quan cao cấp phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đều có mặt.

Đầu tháng 2-1966. Hội Nghị thượng đỉnh Honolulu, phái đoàn VNCH cầm đầu bởi Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch UBLĐQG, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương (UBHPTƯ). Phái đoàn Mỹ do Tổng Thống Lyndon B. Johnson lãnh đạo. Mục đích của Hội nghị, Về phía Hoa Kỳ, chính thức xác nhận việc quân bộ chiến Mỹ có mặt tại Nam Việt Nam là thực hiện lời cam kết của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tại Việt Nam. Về phía VNCH, đây là cơ hội để trình bày với công chúng Hoa Kỳ và cả thế giới về mục tiêu chống Cộng, và đường lối của Nội Các Chiến Tranh tiến dần đến dân chủ, soạn thảo hiến pháp mới và tổ chức bầu cử. 

Trong năm 1965 và đầu năm 1966, sinh hoạt ở trung ương tương đối yên ắng, tuy phần lớn trong giới chính trị lão thành cũng như giới thân hào nhân sĩ tỏ ra không ủng hộ Thiếu Tướng Kỳ. Điều làm cho các vị Tướng lãnh đạo ở trung ương và Thiếu Tướng Kỳ lo ngại là Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm Đại Biểu Chánh Phủ tại Trung Phần, về một số “lời nói, việc làm” có khi “trái ngược với chính sách” của trung ương. Đầu tháng 3 năm 1966, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ -Thủ Tướng- và Trung Tướng Cao Văn Viên -Tổng Tham Mưu Trưởng- ra Đà Nẳng tìm cách giải quyết những bất đồng giữa Thiếu Tướng Kỳ với Trung Tướng Thi, nhưng cuối cùng vẫn không giải quyết được gì!. 

Sydney ngày 21 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.587 chữ)

 

Bài 277: CHUYỆN KỂ VỀ CÁC MÂU THUẪN GIỮA TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI TƯ LỆNH VÙNG I CHIẾN THUẬT VÀ CÁC TƯỚNG CẦM QUYỀN Ở TRUNG ƯƠNG SÀI GÒN (Tiếp theo). 

Lê Xuân Đỗ

Ngày 08/03/1966, buổi họp thu hẹp của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia gồm Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi. (Không có Trung tướng Phạm Xuân Chiểu, Tổng Thu ký, và hai vị thành viên trong Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp là Tư lệnh Không quân, và Tư lệnh Hải Quân không được dự họp). Đến 1 giờ trưa, Trung Tướng Viên bước ra với nét mặt đầy ưu tư:“Chú (tức Phạm Bá Hoa) lo ăn trưa ngay và mang vào ăn tại chỗ”. Buổi họp chấm dứt khi trời tối hẳn, từ lúc bắt đầu họp cho đến lúc kết thúc, không một vị nào bước ra ngoài. 

Lúc 5 giờ sáng ngày 9/3/1966, điện thoại reo:“Trung Tá Hoa tôi nghe”. “Chú tìm xem Trung Tướng Có ở đâu và cho tôi biết ngay”.“Vâng”…Tìm được Trung tướng Có tại Phòng VIP Phi trường, tôi trình với Trung Tướng Viên. Và, ông ra lệnh:“Chú vào văn phòng ngay. “Vâng”...Trời hãy còn tối, Trung Tướng Viên đến, một lúc thì xe của Thiếu Tướng Kỳ, rồi xe của Trung Tướng Thiệu đến. Các vị lần lượt vào phòng Trung Tướng Viên. Trung Tướng Viên sang phòng tôi ra lệnh: “Chú xuống lầu đón Trung Tướng Có và Trung Tướng Thi, dẫn vào phòng họp hôm qua. Chỉ một mình Trung Tướng Thi vào đó thôi, sĩ quan tùy viên và cận vệ của Trung Tướng Thi ngồi ở phòng chú và chú trách nhiệm”.  

Tôi xuống lầu. Trời vẫn chưa sáng. Xe Trung Tướng Có dừng trên thềm tầng trệt, trong khi sĩ quan tùy viên chưa mở cửa xe thì toán cận vệ của Trung Tướng Có từ xe Jeep phía sau nhảy xuống, súng cầm tay trong tư thế sẳn sàng sử dụng. Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi xuống xe, toán cận vệ kèm hai bên, và sau lưng Trung Tướng Thi một khoảng ngắn là Trung Tướng Có.  Trung Tướng Có bảo tôi đi trước, như là dẫn đường lên phòng họp hôm qua. Ông nói khẽ:“Vào xong, anh khóa cửa lại và cho Quân Cảnh gác cẩn thận”.

Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau đó, tôi vào trình Trung Tướng Viên về vấn đề ăn sáng. Tôi nghe các vị nói chen kẻ, và qua đó tôi hiểu phần nào mục đích của các vị thuộc trung ương, nhằm thuyết phục Trung Tướng Thi chấp nhận giải pháp sang Hoa Kỳ chữa bệnh một thời gian, nhưng Trung Tướng Thi không đồng ý. Âm thanh của Trung Tướng Thi rất rõ ràng và không kém phần mạnh mẽ, cho phép tôi suy đoán là ông không dễ dàng chịu áp lực của bốn vị Tướng đứng đầu chánh phủ và quân đội.  

Cuối cùng, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp quyết định "quản thúc" Trung Tướng Thi, lúc đầu dự trù tại câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng sau đó đưa về quản thúc tại nhà ông với sự canh giữ của An Ninh Quân Đội và Quân Cảnh. Lúc bấy giờ là buổi chiều, trong phòng làm việc của Trung Tướng Viên, cả 4 vị Tướng đều mệt mỏi với nét mặt đăm chiêu, và trong nhiều phút không vị nào lên tiếng. Trước khi ra về, Trung Tướng Viên tạt vào phòng tôi: “Chú mời "Đại Hội Đồng Quân Lực" họp lúc 10 giờ sáng mai (10/3/1966). Không mời Tư Lệnh Sư Đoàn 1 (Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, tại Huế) và Sư Đoàn 2 (Chuẩn Tướng Hoàng Xuân Lãm, tại Quảng Ngãi). Lý do sẽ cho biết khi họp”. 

Đại Hội Đồng Quân Lực có 36 vị, gồm: Tất cả các vị trong Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Các vị Tướng Lãnh. Chỉ Huy Trưởng binh chủng Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin, Quân Vận, và Biệt Động Quân. Các vị Tư Lệnh Quân Chủng, Tư Lệnh Nhẩy Dù, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Ngày 10 tháng 3 năm 1966. Tại phòng họp số 2, còn có tên là "Tân Sinh Nông Thôn", Đại Hội Đồng Quân Lực họp dưới sự chủ tọa của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Vào phòng họp, tôi cảm nhận ngay bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt, vì tất cả các vị đều im lặng. 

Mở đầu, Trung Tướng Thiệu tuyên bố lý do. Tiếp đến là Thiếu Tướng Kỳ, rồi Trung Tướng Có, rằng trong thời gian qua, Trung Tướng Thi đã lạm quyền trung ương và chống lại trung ương. Thiếu Tướng Kỳ và Trung Tướng Có nói nhiều nhất, nói hăng nhất. Đúng ra là hai vị luân phiên "hài tội" Trung Tướng Thi, chẳng hạn như Trung Tướng Thi nhân danh Đại Biểu Chánh Phủ, đã ấn định giá biểu từ Huế vào Sài Gòn cho chi nhánh Hàng Không Việt Nam  tại Huế và Đà Nẳng. Đến chuyện Trung Tướng Thi tự ý bổ nhiệm Thiếu Tá Nghĩa vào chức vụ Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Tín... Nhưng Trung Tướng Thi thì lại đang bị quản thúc tại nhà ông, nghĩa là không có mặt trong phòng họp.

Sau nhiều tiếng đồng hồ thảo luận gay gắt, đến phần bỏ phiếu kín: "Thuận hay không thuận cách chức Trung Tướng Thi?". Khi kiểm phiếu có 1 phiếu trắng, còn lại đều thuận. Trung Tướng Có, đẩy ghế ra sau, đứng dậy, và lên tiếng:  “Trong phòng họp này, chúng ta là những người có trách nhiệm trong Đại Hội Đồng Quân lực, với tư cách thay mặt toàn quân, bỏ phiếu thuận hoặc không, còn phiếu trắng trong trường hợp này là "lưng chừng", không dứt khoát lập trường. Vậy, ai là người bỏ phiếu trắng nên giải thích cho anh em rõ? 

Vừa dứt câu, có tiếng ghế đẩy thật mạnh, tất cả cặp mắt của những vị có mặt gần như đồng loạt quay nhìn, và một người dỏng dạc đứng lên. Đó là Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhẩy Dù: “Kính thưa Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, kính thưa quí vị. Tôi là người bỏ phiếu trắng. Trung Tướng Thi đã một thời là cấp chỉ huy của tôi trong binh chủng Nhẩy Dù, nên tôi không thể hành động chống Trung Tướng Thi cho dù Trung Tướng Thi có sai trái với quân đội. Tôi vẫn biết rằng, hành động của tôi không làm thay đổi được quyết định chung cuộc, nhưng tôi vẫn làm vì lẽ đó. Và nếu sau này, có điều gì xảy ra với Trung Tướng Viên, tôi vẫn hành động như tôi vừa làm. Và bây giờ, quí vị toàn quyền quyết định về tôi: "Ở lại hay ra khỏi Nhẩy Dù, tôi thi hành ngay". Xin cám ơn”. 

Cả phòng họp im phăng phắc. Cuối cùng cũng không có quyết định gì về Chuẩn Tướng Đống, có lẽ các vị thừa nhận tính khẳng khái của vị Tướng Tư Lệnh Nhẩy Dù mà không bàn gì về ông chăng? Tôi rất khâm phục nghĩa khí và lòng dũng cảm của Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, ông xứng đáng là vị Tư Lệnh binh chủng Nhẩy Dù. Đành rằng, nếu Đại Hội Đồng Quân Lực có cách chức ông và để ông "ngồi chơi xơi nước" đi nữa, ông vẫn là Tướng Lãnh, nhưng thử hỏi có được bao nhiêu vị Tướng khẳng khái như ông. Sau buổi họp, tôi đến chào Chuẩn Tướng Đống và xin được bắt tay ông, chỉ vì hành động vừa rồi của ông.

Thế là quyết định cách chức Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I và Đại Biểu Chánh Phủ tại miền Trung của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp ngày hôm qua, hôm nay đã trở thành quyết định chung cuộc của Đại Hội Đồng Quân Lực. Trung Tướng Viên gọi tôi về văn phòng gặp ông: “Chú tìm Chuẩn Tướng Nhuận và mời đến gặp tôi ngay”.  Chuẩn Tướng Nhuận đang là Chỉ Huy Trưởng binh chủng Biệt Động Quân. Vào văn phòng Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng một lúc, khi trở ra Chuẩn Tướng Nhuận tạt vào phòng tôi và nói là ông hy vọng tôi giúp ông cho kịp. Nói xong, ông đi ngay. 

Sydney ngày 22 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.587 chữ)

 

Bài 278: CHUYỆN KỂ VỀ CÁC MÂU THUẪN GIỮA TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI TƯ LỆNH VÙNG I CHIẾN THUẬT VÀ CÁC TƯỚNG CẦM QUYỀN Ở TRUNG ƯƠNG SÀI GÒN (Tiếp theo). 

Lê Xuân Đỗ

Trung Tướng Viên bấm chuông gọi tôi:“Chú làm ngay mấy việc. Thứ nhất, chú thu xếp lấy chiếc C47 đưa Chuẩn Tướng Nhuận và các sĩ quan tháp tùng ông ra Huế ngay chiều nay (10/3/1966). Thứ hai, điện thoại ra Huế yêu cầu Thiếu Tướng Chuân bàn giao chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh cho Chuẩn Tướng Nhuận ngay khi ông Nhuận đến Huế. Sáng ngày mai (11/3/1966), Thiếu Tướng Chuân vào Đà Nẳng nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I. Thứ ba, điện thoại Đại Tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn I, đón Thiếu Tướng Chuân và trình bày tình hình mới nhất để ông Chuân nắm vững tình hình. Và Thứ tư, gởi công điện "hỏa tốc" xác nhận lệnh đó với Quân Đoàn I/Quân Khu I và Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Chú có gì cần hỏi thêm không? “Dạ không, thưa Trung Tướng”.

Ngày 11/3/66, một Thông Cáo của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia phổ biến trên các làn sóng phát thanh vào buổi tối, theo đó, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia đã chấp thuận cho Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I, xuất ngoại chữa bệnh mũi một thời gian… Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia xem như giải quyết được sự chống đối của Trung Tướng Thi. Nhưng, vấn đề của Trung Tướng Thi là vấn đề lớn, vì nếu không lớn hà tất phải triệu tập Đại Hội Đồng Quân Lực, nhưng vấn đề phát sinh thì lớn hơn nhiều và lâu hơn nhiều. 

Trung Tướng Thi rất được lòng của khối Phật Giáo miền Trung, sinh viên, quân nhân Phật tử, và giới chính trị nữa. Tất cả họ đều hiểu rằng, Trung Tướng Thi bị trung ương cách chức và đưa đi lưu vong. Thế là Phật Giáo có phản ứng, tổ chức cuộc mít tinh biểu tình tại Đà Nẳng, đòi phục chức cho Trung Tướng Thi. Các cuộc mít tinh biểu tình nhanh chóng lan ra Huế và vài tỉnh lân cận phía nam Đà Nẳng. Khí thế các cuộc mít tinh biểu tình ngày càng đông, càng mạnh. Số người tham gia đông đến độ khó ước lượng được là bao nhiêu. Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, với Trung Tướng Viên, họp liên miên, không giờ giấc gì cả. Chúng tôi lo ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, và ăn tối luôn. 

Việc Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, và Trung Tướng Viên, nhân danh Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (thu hẹp) cử Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, vào chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, có thể vì Chuẩn Tướng Nhuận sinh trưởng tại miền Trung và là một Phật tử, hy vọng ông ta có thể thuyết phục được những thành phần chống đối. Nhưng ngay khi nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 1, ông đã tuyên bố đứng vào "hàng ngũ lực lượng tại Huế chống lại trung ương". 

Ngày 17/3/1966, Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, và Trung Tướng Viên lại quyết định cho Trung tướng Thi trở ra Đà Nẳng để giải thích sự việc với đồng bào, yêu cầu đồng bào chấm dứt những xáo trộn trong khi chánh phủ cần tập trung nỗ lực vào tình hình quân sự. Chiếc C47 của Không Quân đưa Trung tướng Thi ra Đà Nẳng. Trước khi lên phi cơ tại phi trường Tân Sơn Nhất, ông tuyên bố với báo chí rằng: “Tôi chẳng có bệnh mũi gì cả, mà cho dù có bệnh đi nữa thì tôi cũng điều trị tại Việt Nam chớ không đi nước nào hết. Sự thật là như vậy”. Tôi (Phạm Bá Hoa) nghĩ, các vị trung ương chắc đã phải cảm nhận "cái tát" khi xem câu trả lời ngắn ngủi đó trên các báo tại thủ đô Sài Gòn. 

Rồi sau đó, cứ mỗi lần Trung Tướng Thi xuất hiện ở Đà Nẳng, Huế, hay Quảng Nam đều được sự ủng hộ nồng nhiệt của đám đông mít tinh biểu tình. Và những lời tuyên bố của ông đều chung một ý là ông cùng với đồng bào nơi đây chống lại các Tướng Lãnh cầm quyền tại trung ương. Thế là cuộc "khủng hoảng miền Trung" - báo chí thường gọi như vậy - tự dưng được "trung ương" tăng cường thêm hai Tướng Lãnh, do đó mà khí thế càng thêm mạnh! Tiếp đến, Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu, Tổng Thư Ký Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia bay ra Huế, cũng với hy vọng trong một chừng mực nào đó, ông có thể thuyết phục được Trung Tướng Thi. 

Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu đến tòa đại biểu chánh phủ (Huế) cùng với Trung Tướng Thi, trong khi bên ngoài đông nghẹt thanh niên sinh viên. Từ trong đám đông đó có người bước ra hỏi Trung Tướng Chiểu: “Trung Tướng có công nhận hành động của chúng tôi là đúng không? “Đúng”. Trung Tướng Chiểu trả lời.“Trung Tướng công nhận là đúng. Vậy Trung Tướng có ở lại Huế với chúng tôi không? “Có”. Lập tức, một nhóm thanh niên ùa vào hoan hô Trung Tướng Chiểu và công kênh ông ra xe đưa đến khách sạn bên khu chợ Đông Ba. Họ “túc trực” bên cạnh Trung Tướng Chiểu và ông cần gì cứ gọi họ. 

Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan -cánh tay phải của Thủ Tướng Kỳ- Tổng Giám Đốc Cảnh Sát kiêm Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội, cử nhiều toán Cảnh Sát, An Ninh, Tình Báo dưới quyền ông ra Huế và Đà Nẳng, bám sát tình hình. Mỗi ngày báo cáo hai lần về Phủ Thủ Tướng và thông báo văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Còn chính ông, sự đi lại giữa Đà Nẳng với Sài Gòn bất cứ lúc nào mà ông cho là cần thiết.

Tổng đài điện thoại Cộng Hòa trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, được lệnh thu băng toàn bộ các cuộc nói chuyện của bất cứ là ai, bất cứ từ đâu đến, mà ngang qua hệ thống viễn liên này và trình lên văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng vào đầu giờ buổi sáng, và cuối giờ buổi chiều. Đây là nguồn cung cấp thông tin xác thật nhất về những lời đối thoại giữa các tỉnh miền Trung với Sài Gòn, bất luận người nói chuyện là ai cũng đều thu vào và trình lên tất cả. Nhờ đó mà tôi biết được những lời đối thoại giữa các vị Tướng từ trung ương với vị Tư Lệnh Quân Đoàn I cũng như với các vị Tư Lệnh khác. 

Sydney ngày 23 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.175 chữ)

 

Bài 279: CHUYỆN KỂ VỀ CÁC MÂU THUẪN GIỮA TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI TƯ LỆNH VÙNG I CHIẾN THUẬT VÀ CÁC TƯỚNG CẦM QUYỀN Ở TRUNG ƯƠNG SÀI GÒN (Tiếp theo). 

Lê Xuân Đỗ

Trung Tướng Thiệu gọi tôi bảo:“Chú liên lạc với Thiếu Tướng Chuân, hỏi tình hình hôm nay ra sao rồi cho tôi biết”. “Vâng. Tôi gọi ngay, thưa Trung Tướng”.Tôi điện thoại ra Đà Nẳng và Thiếu Tướng Chuân đang có mặt tại văn phòng: “Tôi Hoa đây thưa Thiếu Tướng. Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia muốn biết sự thật của tình hình bây giờ ra sao. Hoặc là Thiếu Tướng tiếp chuyện trực tiếp với Trung Tướng, hoặc tôi sẽ chuyển trình lại Trung Tướng, thưa Thiếu Tướng”.“Anh trình với Trung Tướng Chủ Tịch là tình hình không có gì đáng ngại đâu. Như thế là được rồi, tôi khỏi phải trình nữa”. 

Tôi trình lại Trung Tướng Thiệu thì Trung Tướng Có bảo tôi gọi cho ông nói chuyện trực tiếp với Thiếu Tướng Chuân. Kết quả cuộc đàm thoại đó cũng là những thông tin mà tôi nhận lúc nảy thôi. Một tháng sau ngày cách chức Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, hầu như tất cả sinh hoạt  tại Đà Nẳng, Huế, và vài tỉnh lân cận, nói chung là rất xáo trộn, đôi lúc được xem là hỗn loạn nữa. Vì vậy mà phòng làm việc của Trung Tướng Viên trở thành nơi làm việc hằng ngày của Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, và Trung Tướng Có. Hội họp liên tục và những quyết định về tình hình miền Trung cũng như liên quan đến các đại đơn vị khác, đều xuất phát từ đây.

Trung Tướng Có quyết định, chính ông phải ra Đà Nẳng để biết rõ tình hình, chớ mờ mờ ảo ảo như thế này thì không thể giải quyết được mà có thể ngày càng trầm trọng đến mức nguy hiểm. Trung Tướng Thiệu và Trung Tướng Viên, khuyên Trung Tướng Có không nên mạo hiểm, vì rất có thể là Thiếu Tướng Chuân đã bị phía chống đối quản thúc canh giữ nên Thiếu Tướng Chuân không thể trình bày sự thật được. Nếu sự thể xảy ra như vậy thì Trung Tướng Có sẽ tự mình dấn thân vào thế bị động của Thiếu Tướng Chuân luôn. Nhưng Trung Tướng Có vẫn giữ nguyên quyết định, và ông đi Đà Nẳng.

Đến căn cứ Không Quân Đà Nẳng, Trung Tướng Có gọi về cho biết, con đường từ căn cứ Không Quân đến bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I đầy chướng ngại vật, nhưng phía chống đối mở lối cho xe của Quân Đoàn đến đón ông. Rồi cũng không khác Thiếu Tướng Chuân về cách trình bày tình hình, và Trung Tướng Thiệu tin là Trung Tướng Có đã bị quản thúc cùng với Thiếu Tướng Chuân. Trung ương, nói cho thật đúng là Thiếu Tướng Kỳ quyết định sử dụng biện pháp mạnh chuyển quân ra Đà Nẳng để giải quyết tình hình. Trung Tướng Thiệu không phản đối nhưng cũng không hẳn là đồng ý, Trung Tướng Viên vẫn như từ ngày đầu, ông cho rằng đây là vấn đề chính trị, của chánh phủ mà ông chỉ thi hành lệnh thôi.

Ngày 14/4/1966, Trước khi ra về, Trung Tướng Viên gọi tôi vào phòng: “Sáng sớm mai tôi và bộ chỉ huy hành quân ra Đà Nẳng, chú lo mấy việc sau đây: Chuẩn bị giường xếp và lương thực 7 ngày cho 10 người ăn. Chú Có và vài chú trong toán an ninh theo tôi. Chú tìm ngay Trung Tá Mã Sanh Nhơn cùng đi với tôi. Trung Tá Nhơn sẽ là Thị Trưởng Đà Nẳng thay cho Bác Sĩ Mẫn đã theo phía chống đối. Chú liên lạc với văn phòng Thiếu Tướng Kỳ để biết giờ phi cơ Caravelle cất cánh. Chú lo ngay cho kịp”.

Lo xong mọi chuyện, tôi liên lạc với chánh văn phòng của Thủ Tướng Kỳ được biết, bộ chỉ huy hành quân sẽ đi bằng phi cơ Caravelle của Hàng Không Việt Nam và cất cánh lúc 3 giờ sáng trước phòng VIP. Điều tôi lo nhất, và cuối cùng tôi cũng tìm được Trung Tá Mã Sanh Nhơn. Tại phi trường, tôi được biết Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong, Trưởng Phòng 3/Tổng Tham Mưu, đã điều động Thủy Quân Lục Chiến và Nhẩy Dù vào cuộc hành quân này. Ngoài Thủ Tướng Kỳ, Trung Tướng Viên, còn có Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến và Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhẩy Dù. 

Từ căn cứ Không Quân Đà Nẳng, Đại Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, điện thoại về tôi: “Trung Tướng và bộ chỉ huy đã đến nơi và trú đóng trong căn cứ Không Quân. Theo tin tức thì ngoài đường phố đầy nghẹt bàn thờ và người của phía chống đối khi họ biết lực lượng tổng trừ bị ra đây giải quyết tình hình. Có vẻ rắc rối lắm. Trung Tướng Có (tại bộ tư lệnh Quân Đoàn I) tức giận về việc Nhẩy Dù với Thủy Quân Lục Chiến có mặt ngoài này đó anh. Có gì lạ tôi sẽ gọi về anh”. 

Vậy là "không khí chiến tranh" giữa trung ương với địa phương rất sẳn sàng xảy ra, nếu như phía trung ương có một hành động nào đó mà phía chống đối cho là khiêu khích. Trong ngày đầu tiên, lực lượng trung ương án binh bất động, phía chống đối củng cố công tác bố trí lực lượng trên đường phố trong tư thế "nghênh chiến". Trung Tướng Có điện thoại về phòng Tổng Tham Mưu Trưởng nói chuyện với Trung Tướng Thiệu: “Tại sao trong khi tôi đang dàn xếp với bên kia thì anh lại đưa quân ra thế này? Bây giờ không còn cách nào nói chuyện với họ được vì họ không tin tôi nữa! “Ông Kỳ đó”.“Anh cho rút về ngay đi. Nếu không thì tình hình sẽ nguy hiểm lắm”.“Được. Tôi sẽ cho lệnh rút về”.

Trung Tướng Thiệu ngồi tại bàn viết của Trung Tướng Viên, tự ông viết công điện ra lệnh chuyển lực lượng tổng trừ bị về Sài Gòn và ký ngay trên bản thảo đó. Ông gọi tôi: “Chú đánh máy xong, trình Trung Tướng Viên ký và gởi đi ngay cho tôi. Xong, trình lại tôi”. “Vâng, tôi làm ngay thưa Trung Tướng”. Ngay đêm hôm đó (15/4/1966) Thủ Tướng Kỳ và Trung Tướng Viên về lại Sài Gòn. Tôi thuật lại cuộc nói chuyện giữa Trung Tướng Thiệu với Trung Tướng Có, đồng thời trình công điện "hỏa tốc" cho Trung Tướng Viên mà tôi đã đánh máy xong. Ông không nhìn vào mà nói:“Chú để trên bàn cho tôi”. 

Sydney ngày 24 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.176 chữ)

 

Bài 280: CHUYỆN KỂ VỀ CÁC MÂU THUẪN GIỮA TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI TƯ LỆNH VÙNG I CHIẾN THUẬT VÀ CÁC TƯỚNG CẦM QUYỀN Ở TRUNG ƯƠNG SÀI GÒN (Tiếp theo). 

Lê Xuân Đỗ

Ngày 16/4/1966, Trung Tướng Thiệu đến sớm trong khi Trung Tướng Viên chưa đến, khi đi ngang bàn tôi ông ra hiệu tôi theo ông vào phòng:“Chú làm xong chưa? “Thưa Trung Tướng, xong rồi, nhưng Trung Tướng Viên chưa ký”. “Tại sao? “Tôi không rõ, thưa Trung Tướng”. “Khi Trung Tướng Viên tới là chú trình ngay cho tôi. “Vâng”.  Trung Tướng Viên đến, và sau khi ông điện thoại với Thiếu Tướng Kỳ, tôi không rõ là Thiếu Tướng Kỳ nói gì mà Trung Tướng Viên duyệt ký công điện đó. Lực lượng rút về xong thì Trung Tướng Có cũng được phía chống đối cho “tự do” sang căn cứ Không Quân về Sài Gòn. Trung Tướng Chiểu từ Huế cũng vậy.

Trung Tướng Đính ngỏ ý với bà Cao Văn Viên mà ông tin chắc là đến tai Trung Tướng Viên, và rồi Trung Tướng Thiệu với Thiếu Tướng Kỳ cũng biết. Theo đó, Trung Tướng Đính bắn tiếng rằng: “Nếu được tín nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I, ông có khả năng giải quyết được tình hình một cách êm dịu”. Bà Viên nói cho tôi nghe như vậy. Và chắc là nghe xuôi tai, với lại trong khi chưa chọn được vị nào khác, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp, quyết định cử Trung Tướng Tôn Thất Đính vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I  thay Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, và tôi được lệnh lo phi cơ đưa ông và các sĩ quan tháp tùng ra Đà Nẳng. 

Ngày hôm sau, một mẫu tin trên nhiều nhật báo tại thủ đô Sài Gòn có nội dung vắn tắt như thế này: “Trước khi lên phi cơ, Trung Tướng Đính tuyên bố là cọp về rừng”. Đúng là “cọp lại về rừng”, vì sau khi Trung Tướng Đính nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I thì ông tuyên bố tại Đà Nẳng cũng như sau đó tại Huế, là ông chờ ngày này đã lâu lắm rồi. Đồng thời ông nói thẳng ra rằng ông đứng về phía lực lượng chống đối trung ương. Thế là không khí đấu tranh trong hàng ngũ chống đối chánh phủ càng thêm hăng hái, vì có thêm một Tướng lãnh vừa từ trung ương ra là chống lại trung ương ngay.  

Lúc này hầu hết vũ khí dự trữ trong các kho Tiếp Vận tại Huế và Đà Nẳng, đều bị phía chống đối lấy trang bị cho lực lượng của họ. Tư Lệnh lực lượng chống đối tại Huế là Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Tại Đà Nẳng, phía chống đối tổ chức một Quân Đoàn lấy tên là “Quân Đoàn Trần Hưng Đạo” do Đại Tá Đàm Quang Yêu giữ chức Tư lệnh. Nói là Quân Đoàn nhưng thật ra chỉ là một số quân nhân và cảnh sát Phật tử tập hợp lại thôi, chớ có tổ chức Sư Đoàn Trung Đoàn gì đâu. Còn Đại Tá Đàm Quang Yêu, đang là Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Quảng Đà, được phía chống đối đưa ông vào chức Tư Lệnh Quân Đoàn Trần Hưng Đạo.

Về phía Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, từ khởi đầu đến bây giờ đều ở trong thế bị động. Tất cả các giải pháp đều không thành công, khiến nội bộ rạn nứt hình thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất: Trung Tướng Thiệu, Trung Tướng Có, và Trung Tướng Đặng văn Quang, Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Và nhóm thứ hai: Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Viên, Thiếu Tướng Khang, và Chuẩn Tướng Đống. Phía Chống đối, bước đầu họ đòi phục chức cho Trung Tướng Thi, khi Trung Tướng Thi về lại Đà Nẳng thì chuyển sang bước thứ hai là đấu tranh đòi Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, và Trung Tướng Có từ chức, và bây giờ là bước thứ ba đòi xây dựng một chế độ dân cử. 

Dù thế nào đi nữa thì Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, cũng phải tìm một vị Tướng khác ra thay Trung Tướng Đính, và vị đó là Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao. Thiếu Tướng Cao là tín đồ Thiên Chúa Giáo, rất được Tổng Thống Ngô Đình Diệm tín cẩn, nên thất sủng từ sau ngày 1/11/1963. Bây giờ được cử vào chức vụ có trách nhiệm giải quyết cuộc khủng hoảng với Phật Giáo, thì liệu mức độ thành công có được bao nhiêu! Khi Thiếu Tướng Cao từ phòng Trung Tướng Viên bước ra, chẳng những không có được nụ cười như thường lệ, mà trái lại, trên nét mặt của ông hiện rõ, rằng ông rất lo âu về chức vụ mà Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia vừa giao cho ông. Đúng ra là Thiếu Tướng Cao rất sợ hãi! 

Chỉ vài ngày sau khi Thiếu Tướng Cao có mặt tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, sau giờ làm việc chiều trở về, điện thoại nhà tôi reo: “Trung Tá Hoa tôi nghe”.  “Chú liên lạc tìm sĩ quan tùy viên của Thống Tướng Westmoreland hỏi xem giờ nào phi cơ cất cánh và bãi đậu ở đâu? “Thưa Trung Tướng, tôi chưa rõ việc này, xin Trung Tướng cho lệnh rõ hơn”.“Tôi cần đi Đà Nẳng ngay bây giờ. Ông Westmoreland cho tôi mượn chiếc phi cơ U 21 của ổng. Chú hỏi rồi cho tôi biết ngay”.

Thống Tướng William C. Westmoreland, đang là Tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam. U 21 là chiếc phi cơ phản lực, dường như 8 chỗ ngồi mà Không Lực Hoa Kỳ dành riêng cho ông. Mọi thu xếp xong xuôi, và phi cơ cất cánh lúc 8 giờ tối tại bãi đậu của Không Quân Hoa Kỳ, và trên phi cơ chỉ một hành khách duy nhất là Trung Tướng Cao Văn Viên, Trước khi lên phi cơ, Trung Tướng Viên dặn tôi: “Chú chờ tôi ở đây và rất có thể là tôi về khuya lắm”.

Tôi muốn biết chuyện gì xảy ra, nên điện thoại hỏi bà Viên vì tôi tin là bà biết. Và đúng như vậy, bà Viên cho biết: “Thiếu Tướng Cao nói ổng bị ông Loan (Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan) cho người mưu sát ổng ngay tại văn phòng, nên ổng đã bỏ Quân Đoàn chạy sang tị nạn bên Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ. Trung Tướng ra đó giải quyết ngay trong đêm”. Trung Tướng Viên về đến lúc 3 giờ sáng. Trước khi lên xe, ông đưa tôi cái thơ không niêm, và nói: “Tôi về nhà luôn. Chú ghé đưa thư này cho bà Cao và nói rằng, Thiếu Tướng Cao nhờ trao tận tay. Ngoài ra ông Cao không có dặn gì thêm”.

Nhà Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao ở trong cư xá Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng tôi không ghé ngay mà tôi vào luôn văn phòng. Tôi muốn biết tình hình xảy ra như thế nào và tôi nghĩ là thư của Thiếu Tướng Cao có thể có những thông tin liên quan đến. Thế là tôi sao chụp một bản trước khi ghé nhà Thiếu Tướng Cao trao cho bà ấy. Sỡ dĩ tôi hành động như vậy là vì từ cái đêm Tổng Thống Diệm ra lệnh thiết quân luật 20/8/1963 để lùng bắt Thượng Tọa Thích Trí Quang cho đến nay, tôi ghi chép những sự kiện xảy ra, và đồng thời sao chụp các bản tài liệu kèm theo bản văn ghi chép theo câu “nói có sách mách có chứng”, để sau này cung cấp cho những sử gia hoặc giả tôi sẽ đăng báo hoặc viết thành sách. 

Trở lại thư của Thiếu Tướng Cao. Tôi biết hành động như vậy là không đúng, nhưng tôi muốn có dữ kiện ghi chép chính xác. Tôi không biện minh cho việc tôi làm, nhưng rõ ràng là tôi không hề có ý định gì ngoài điều tôi vừa trình bày. Thư ông chưa đầy trang giấy, chỉ vắn tắt rằng :  “..... Vì có người ám hại nên ông phải ra ngoại quốc tìm kế mưu sinh và sẽ gởi tiền về giúp đỡ gia đình. Cuối cùng, ông cầu xin Đức Mẹ che chở cho vợ con ông”. 

Sydney ngày 25 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.436 chữ)

 

 

 

Bài 281: CHUYỆN KỂ VỀ CÁC MÂU THUẪN GIỮA TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI TƯ LỆNH VÙNG I CHIẾN THUẬT VÀ CÁC TƯỚNG CẦM QUYỀN Ở TRUNG ƯƠNG SÀI GÒN (Tiếp theo). 

Lê Xuân Đỗ

Ngày hôm sau, tôi được bà Viên cho biết thêm như thế này: “Nhận chức xong, Thiếu Tướng Cao duyệt lại tình hình từng nơi, đặc biệt là ông chú trọng đến Đà Nẳng và Huế. Ông thấy cần ra Huế để nắm vững tình hình tại đây về lực lượng dưới quyền ông cũng như lực lượng của phía chống đối. Thiếu Tướng Cao đến Huế bằng trực thăng của Hoa Kỳ, khi chuẩn bị đáp thì từ đám đông phía dưới có người bắn lên và xạ thủ trên trực thăng đã bắn chết người đó. Ông quay về Đà Nẳng. Rồi ngay trong phòng làm việc của ông tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, bất ngờ ông phát hiện kịp thời một sĩ quan của ông Loan (Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan) dí súng vào đầu ông từ phía sau, nhưng đúng lúc có một sĩ quan Hoa Kỳ bước vào nên hắn không hành động được. 

Ông Cao quá tức giận và nói cho ông Loan biết là ông sẽ rời bỏ Quân Đoàn. Ông Loan quì xuống ôm chân Thiếu Tướng Cao và nói trong vội vàng: 'Thiếu Tướng hiểu lầm rồi, không có chuyện mưu sát gì đâu. Tôi lạy Thiếu Tướng, xin Thiếu Tướng đừng bỏ Quân Đoàn. Ngay sau đó, ông Cao sang Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ xin Tướng Waltz -Tư Lệnh- giúp cho ông sang Hoa Kỳ tị nạn chính trị. Thiếu Tướng Cao viết thư đó tại văn phòng Tướng Waltz”.

Trở lại văn phòng của Trung Tướng Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng. Từ sau ngày Thiếu Tướng Cao bỏ Quân Đoàn I, các vị Tướng lãnh đạo quốc gia và quân đội, gần như làm việc bất kể ngày đêm tại phòng làm việc của Trung Tướng Viên, có hôm đến nửa đêm mới rời nơi đây. Trong một buổi tối, vẫn là Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, và Trung Tướng Viên, và đây là lần đầu tiên Trung Tướng Viên trình bày quan điểm của ông một cách mạnh mẽ, ông nhân danh Tổng Tham Mưu Trưởng, ông không chấp nhận một quân đội trong một quân đội như tình trạng hiện nay. 

Và, ông đề nghị với các vị có mặt là phải dùng biện pháp quân sự để giải quyết dứt khoát tình hình. Buổi họp đi đến quyết định là chấp thuận kế hoạch của Trung Tướng Viên, và ngày 15/5/1966 là ngày chuyển quân ra Đà Nẳng. Lần chuyển quân này được phía Hoa Kỳ trực tiếp cung cấp vận tải cơ hạng nặng C130 và vận tải hạm chở chiến xa từ Sài Gòn ra phi cảng và hải cảng Đà Nẳng. Vẫn Thủy Quân Lục Chiến và Nhẩy Dù như lần trước, cộng thêm lực lượng Thiết Giáp. Và rồi diễn tiến cuộc “hành quân” giải tỏa tình hình hỗn loạn tại Đà Nẳng được thực hiện rất thuận lợi, không một cuộc nổ súng nào xảy ra giữa lực lượng chánh phủ với lực lượng chống đối. 

Tại Huế cũng trong một tình hình tương tự như vậy. Đại Tá Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Phó Nhẩy Dù, được cử ra phía bắc Huế tiếp xúc với một Trung Đoàn của Sư Đoàn 1 Bộ Binh ủng hộ trung ương, tiến vào thành phố Huế với nhiệm vụ giải tỏa lực lượng chống đối. Nhiệm vụ hoàn thành trong yên tịnh. Sự kiện gần như trái ngược với dự đoán của giới truyền thông cũng như của nhiều thành phần khác trong xã hội khi được biết trung ương lại đưa quân ra Đà Nẳng. Bởi vì trước đó một tháng, ngày 15/4/1966, trung ương đã chuyển quân ra Đà Nẳng, và đã thất bại nên rút quân về. 

Dưới quyền của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, các thành phần Cảnh Sát và An Ninh Quân Đội lần lượt bắt giữ Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Trung Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao, và Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Riêng Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân đã theo lệnh về Sài Gòn họp và bị giữ từ hạ tuần tháng 4/1966. Ngoài ra, lực lượng an ninh còn bắt giữ nhiều người nữa, trong số đó có Đại Tá Đàm Quang Yêu, Tư Lệnh Quân Đoàn Trần Hưng Đạo của phía chống đối, và bác sĩ Mẫn, Thị trưởng Đà Nẳng. 

Cuối tháng 5 năm 1966, song song với công tác bắt giữ một số nhân vật, là công tác bổ nhiệm các nhân vật khác thay thế: (1) Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I. (2) Đại Tá Ngô Quang Trưởng, nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh. (3) Đại Tá Phan Hòa Hiệp, nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh. (4) Trung Tá Lê Chí Cường, đang là Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu, nhận chức Thị Trưởng Đà Nẳng. Tiếp đó là nhiều chức vụ trưởng cơ quan đơn vị tại Đà Nẳng và Huế đã tích cực tham gia lực lượng chống đối trung ương, đều bị thay thế.

Đầu tháng 7 năm 1966, Trung Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, gọi tôi vào văn phòng và ra lệnh: “Chú mời các vị trong Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt về họp trong hai ngày 8 và 9 (7/1966) tại phòng họp số 2. Chú liên lạc với An Ninh Quân Đội tổ chức thu băng để làm biên bản. Không một ai được vào phòng khi đang họp. Chú lo thức ăn trưa tại chỗ”. “Thưa Trung Tướng, về an ninh phòng họp có cần tổ chức đặc biệt hay như thường lệ? “Không cần đặc biệt lắm đâu, tùy chú xem tình hình mà thích ứng. Chú mời các vị Tướng bị giữ vào phòng bên cạnh, chú phải luôn luôn có mặt tại chỗ và lo ăn sáng ăn trưa cho các ổng. Chú lần lượt mời từng vị vào phòng họp của Hội Đồng mỗi khi tôi thông báo”.

Sydney ngày 26 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.077 chữ)

 

Bài 282: CHUYỆN KỂ VỀ CÁC MÂU THUẪN GIỮA TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI TƯ LỆNH VÙNG I CHIẾN THUẬT VÀ CÁC TƯỚNG CẦM QUYỀN Ở TRUNG ƯƠNG SÀI GÒN (Tiếp theo). 

Lê Xuân Đỗ

Thành phần Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt, không phải là thành phần của Hội Đồng Quân Lực, vì chỉ gồm các Tướng Lãnh mà thôi. Ngày họp. Bàn ghế trong phòng họp được xếp theo hình chữ U, đáy chữ U là bàn của chủ tọa đoàn, gồm: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Linh quang Viên trong chức vụ Thư Ký của Hội Đồng, phụ trách đọc các bản cáo trạng. 

Còn trên đầu chữ U có bục gỗ dành cho vị Tướng “bị cáo”, tạm gọi là “vành móng ngựa”. Bên góc trái cuối phòng họp có cái phòng nhỏ được thiết trí máy thu băng và máy khuếch đại âm thanh. Chỉ có chuyên viên truyền tin và sĩ quan An Ninh được ra vào phòng này. Trước cửa có Quân Cảnh gác. Phía sau lưng phòng họp là một phòng khá rộng dành cho 5 vị Tướng “bị cáo” ngồi chờ đến lượt, đồng thời cũng là nơi mà văn phòng tôi lo ăn sáng ăn trưa cho quí vị ấy. Tôi được ra vào phòng họp lẫn phòng thu băng. 

Buổi họp bắt đầu. Trung Tướng Thiệu, rồi Thiếu Tướng Kỳ, trình bày lý do với các vị Tướng Lãnh thành viên của Hội Đồng, cũng là cách cung cấp cho các thành viên nắm được nguyên nhân và sẳn sàng thực hiện nhiệm vụ đặc biệt trong hai ngày họp này. Khi phòng họp sẳn sàng, theo lệnh Trung Tướng Viên, tôi mời Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi vào trước và hướng dẫn đến bục gỗ. Ông bước vào “vành móng ngựa” với thái độ thản nhiên như một vị chủ tọa đã từng đứng lên bục gỗ này để ban huấn thị vậy. 

Trung Tướng Thiệu: “Hôm nay, Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt họp để nghe Trung Tướng trình bày về những việc làm của Trung Tướng trong thời gian xáo trộn chính trị tại Miền Trung, vì có những điều mà Hội Đồng chưa biết chắc là Trung Tướng có phải đã hành động như thế hay không, để Hội Đồng có quyết định không nhầm lẫn. Mong rằng, Trung Tướng cho biết sự thật”.  Sau đó, Trung Tướng Linh Quang Viên, với tư cách Thư Ký của Hội Đồng đã đọc bản cáo trạng với từng lời tuyên bố cũng như những hành động của Trung Tướng Thi trong thời gian nói trên. Đọc xong, Trung Tướng Thiệu mời Trung Tướng Thi biện minh về những lời cáo trạng vừa nêu. 

Trung Tướng Thi, vẫn bình thản tự nhiên, và nói một cách mạnh mẽ rằng: “Bây giờ tôi có nói như thế nào đi nữa thì quí vị cũng không tin tôi, do đó mà tôi không có điều gì để trình bày với quí vị. Quí vị quyết định như thế nào thì tùy quí vị”. Trung Tướng Thi dùng chữ rất hay. Ông nói “quí vị quyết định thế nào là tùy quí vị” chớ ông không nói “quí vị quyết định thế nào thì tôi thi hành thế ấy”.

Thiếu Tướng Vĩnh Lộc -Tư Lệnh Quân Đoàn II- nói gần như tha thiết với Trung Tướng Thi là nên trình bày sự thật để anh em trong Hội Đồng hiểu rõ được sự việc. Trung Tướng Thi vẫn giữ nguyên câu nói của ông vừa rồi, và ông xin ra khỏi phòng họp. Có thể thừa nhận là Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi có dũng khí của người làm Tướng, điều mà không phải vị Tướng nào cũng có được như ông. Nhưng cũng có thể là ông thấy không có cách nào để biện minh nên thà tỏ ra cứng rắn vẫn hơn chăng? Theo tôi, Trung Tướng Thi quả là có dũng khí của vị Tướng.

Vị kế tiếp là Trung Tướng Tôn Thất Đính. Rất dễ dàng trông thấy Trung Tướng Đính có cố gắng bình tỉnh nhưng ông đã không nén được nỗi lo âu trên nét mặt khi bước vào “vành móng ngựa”. Trung Tướng Thiệu cũng nói những lời như đã nói với Trung Tướng Thi, và rồi Trung Tướng Viên đọc cáo trạng của ông. Trung Tướng Đính dần dần lấy lại bình tỉnh, rồi bắt đầu ồn ào với những lời biện minh, nhưng là biện minh một cách gượng gạo, không đủ lý lẽ để xóa bỏ được câu cáo trạng nào cả. Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao là vị thứ ba vào “vành móng ngựa”. Tiếp đến Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, và sau cùng là Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. 

Trung Tướng Thiệu và Trung Tướng Viên (Linh Quang Viên), theo điệp khúc như đã nói đối với Trung Tướng Thi, Trung Tướng Đính, nghĩa là một vị giới thiệu mục đích buổi họp và vị kia thì kê khai những “tội” của từng vị bị cáo. Bản cáo trạng của Trung Tướng Thi, Trung Tướng Đính, và Chuẩn Tướng Nhuận rất dài, vì các vị này chống đối trung ương từ đầu, còn cáo trạng của Thiếu Tướng Cao với Thiếu Tướng Chuân thì ngắn thôi, vì không chống nhưng cũng không làm tròn nhiệm vụ trong chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I. Thiếu Tướng Cao với Thiếu Tướng Chuân khá bình tỉnh khi biện minh và biện minh ngắn gọn, trong khi Chuẩn Tướng Nhuận khóc sướt mướt với những lời trình bày toàn kêu oan... 

Ngày hôm sau, Hội Đồng Kỷ Luật thảo luận gần như suốt ngày để đạt đến một kết luận thống nhất, kết luận đó trở thành “bản án” và bản án này làm cho “một loạt những vì sao rơi rụng”. Bản án trừng phạt mỗi vị “60 ngày trọng cấm” và giải ngũ bắt buộc. Riêng Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận bị giáng xuống cấp Đại Tá, và giải ngũ. “Cuộc khủng hoảng miền Trung” kết thúc bằng bản án nói trên, nhưng với nét nhìn chung cuộc thì các vị Tướng Lãnh lãnh đạo quốc gia đã phải chấp nhận tiến đến xây dựng cơ cấu dân chủ, mà bước đầu là bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào hạ tuần tháng 9/1966, Như vậy: Theo quí vị quí bạn, “ai thắng và ai thua” trong cuộc khủng hoảng này? (Hết trích).

Sydney ngày 27 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.112 chữ)

 

Bài 283: CHUYỆN KỂ VỀ CÁC MÂU THUẪN GIỮA TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI TƯ LỆNH VÙNG I CHIẾN THUẬT VÀ CÁC TƯỚNG CẦM QUYỀN Ở TRUNG ƯƠNG SÀI GÒN (Tiếp theo). 

Lê Xuân Đỗ

Theo Lâm Vĩnh Thế trong “Nghiên cứu Lịch sử” thì nguyên nhân sâu xa vụ “Biến động miền Trung năm 1966” là: (1) Các chính phủ kế tiếp nhau từ sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đỗ đều hứa hẹn sẽ triệu tập Quốc Dân Đại Hội để soạn thảo Hiến Pháp mới nhưng đều không giữ đúng lời hứa nầy; (2) Các chính phủ nầy đều, không nhiều thì ít, đã sử dụng trở lại một số phần tử Cần Lao của chế độ Ngô Đình Diệm mà Phật Giáo hoàn toàn không thể chấp nhận được; Và, (3) Nội Các Chiến Tranh của Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã tích cực ủng hộ sự kiện Hoa Kỳ ồ ạt đổ quân tác chiến vào Miền Nam, mở rộng chiến tranh ra Miền Bắc, đã làm cho cuộc chiến trở nên khốc liệt gấp bội, và làm đảo lộn đời sống của nhân dân Miền Nam. 

Về phần Tướng Nguyễn Chánh Thi, ông là một khuôn mặt tướng lãnh rất đặc biệt và quan trọng trong giai đoạn lịch sử nầy của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Khi còn mang cấp bậc Đại Tá, Tư  lịnh Lữ Đoàn Nhảy Dù, ông đã lãnh đạo cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 nhằm lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Cuộc đảo chánh thất bại, ông phải sống lưu vong 3 năm tại Cao Miên.  Sau khi cuộc đảo chánh 1-11-1963 thành công lật đổ được chế độ Ngô Đình Diệm, ông trở về nước, được phục hồi cấp bậc và được bổ nhiệm làm Tư Lệnh phó Vùng I, dưới quyền Trung Tướng Nguyễn Khánh. Ông tham gia vào cuộc Chỉnh Lý ngày 30-1-1964 của Tướng Khánh. 

Ngày 29-5-1964, Đại tá Nguyễn Chánh Thi được Tướng Khánh thăng cấp Chuẩn Tướng rồi thăng cấp Thiếu Tướng ngày 21-10-1964, và trở thành một thành viên quan trọng của nhóm Tướng trẻ mà báo chí Mỹ thường gọi chung là Young Turks. Cùng với nhóm nầy, ông đã tham gia vào việc chống lại cuộc đảo chánh ngày 13-9-1964 của hai tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát, và cuộc đảo chánh ngày 19-2-1965 của Đại Tá Phạm Ngọc Thảo, cũng như việc lật đổ Tướng Nguyễn Khánh và buộc Tướng Khánh phải rời khỏi Việt Nam ngày 25-2-1965.  Sau các vụ nầy, ông trở thành một trong các tướng lãnh có thế lực nhứt. Ông được thăng cấp Trung tướng ngày 1/11/1965.  

Sau khi Chính phủ Phan Huy Quát giao lại chính quyền cho Quân Đội, ông đã được các tướng lãnh đề nghị làm Thủ Tướng, nhưng ông đã từ chối, sau đó các tướng lãnh đã đề cử Tướng Kỳ. Trong vai trò Tư Lệnh Vùng I kiêm Đại Biểu Chính Phủ, ông đã có những bất đồng ý kiến về chính trị với chính quyền trung ương tại Sài Gòn. Ngoài ra, với việc gia tăng ồ ạt quân số Hoa Kỳ tại VNCH, tướng Thi cũng không tránh được những đụng chạm với người Mỹ trong cương vị Tư Lệnh vùng của ông. 

Tướng Thi được hậu thuẩn rất lớn của phe Phật Giáo cũng như đồng bào tại Vùng I làm cho các tướng lãnh ở Trung ương rất e ngại thế lực của ông. Ngoài ra, với bản tánh nóng nảy, bộc trực, phê bình thẳng những chuyện sai quấy của người khác, nhất là đối với các tướng lãnh tham nhũng (số nầy lại là đa số), ông dần dần bị cô lập trong Hội đồng các tướng lãnh. Trong hoàn cảnh bị cô lập như vậy, chính Tướng Thi lại tạo thêm những lý do cho phe chống ông thành công dễ dàng trong việc loại ông ra khỏi bộ máy cầm quyền. Trước hết, là vụ từ chối tham dự Hội Nghị Honolulu vào đầu tháng 2-1966.

Đây là hội nghị thượng đĩnh đầu tiên giữa Tổng Thống Lyndon B. Johnson của Hoa Kỳ và phái đoàn cao cấp của VNCH cầm đầu bởi Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch UBLĐQG, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương (UBHPTƯ). Mục đích của Hội nghị, Về phía Hoa Kỳ, chính thức xác nhận việc quân bộ chiến Mỹ có mặt tại Nam Việt Nam là thực hiện lời cam kết của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tại Việt Nam.  Về phía VNCH, đây là cơ hội để trình bày với công chúng Hoa Kỳ và cả thế giới về mục tiêu chống Cộng, và đường lối của Nội Các Chiến Tranh tiến dần đến dân chủ, chính phủ VNCH cam kết sẽ tổ chức soạn thảo hiến pháp mới, tổ chức bầu cử. 

Việc ông từ chối không đi dự Hội Nghị Thượng Đĩnh Mỹ-Việt tại Honolulu vào đầu tháng 2-1966 càng làm cho người Mỹ thiếu thiện cảm với ông hơn. Trong hồi ký của mình, Tướng Thi viết: Một hôm anh trùm CIA tên là Robinson đến gặp tôi ở văn phòng. Anh ta than phiền, rằng CIA được báo cáo là tôi đã hiểu sai lầm về vai trò của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Anh ta nói thẳng những ghi nhận của Hoa Kỳ về tôi: Tinh thần chống Mỹ mỗi ngày mỗi rõ rệt, cụ thể là phản đối Hội nghị Honolulu; Khuyến khích dân chúng miền Trung không hợp tác với chính phủ trung ương Saigon; Nhiều lần không tuân lệnh Saigon một cách bướng bỉnh”. 

Hơn ai hết, có lẽ Tướng Kỳ nghĩ rằng, ông loại Tướng Thi khỏi chức vụ Tư Lệnh Vùng I, lúc nầy chắc Hoa Kỳ không có phản ứng gì, Hoa Kỳ lại sẽ xem như đó là “chuyện nội bộ của Việt Nam Cộng hoà” (Hết trích) 

Sydney ngày 28 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.013 chữ)

 

Bài 284: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ CHIẾN SỰ NĂM 1966 VÀ 1967.

Lê Xuân Đỗ

Trước cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng ở Nam Việt Nam, tại buổi họp ngày 9 tháng Tư 1966, các cố vấn cao cấp của Tổng Thống Lyndon B. Johnson là Tổng Trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, Giám Đốc CIA –Central Intelligence Agency, Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ–, và Tham Mưu Trưởng Liên Quân, đã đưa ra 3 giải pháp: Giải Pháp A: tiếp tục chính sách đang thực hiện, với hy vọng “khó khăn hiện tại” chỉ là tạm thời; Giải Pháp B: tiếp tục gần giống như hiện trạng, hy vọng chiến sự sẽ giảm bớt khi quân Mỹ vào Việt Nam tăng lên, và tích cực hơn là thúc đẩy chính phủ VNCH mở những cuộc tiếp xúc với các thành phần trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN); 

Các cuộc tiếp xúc nầy có thể bắt đầu bằng việc chính phủ VNCH công khai kêu gọi thương thuyết hoặc là những thăm dò trong bí mật; Sau khi đã nắm được những điểm then chốt trong lập trường của MTGPMN, chính phủ Hoa Kỳ sẽ quyết định hoặc thúc đẩy chính phủ VNCH tiếp tục việc thương thuyết, hay ủng hộ chính phủ VNCH trong việc gạt bỏ những đòi hỏi quá đáng của phe Cộng sản; Giải Pháp C: quyết định rằng những cơ may giúp mang lại một chính quyền không Cộng sản tại Miền Nam đã giảm bớt đến mức độ mà, trên toàn bộ, nổ lực của Hoa Kỳ không còn đáng duy trì nữa; điều nầy có nghĩa là phải chuẩn bị, để khi đến thời điểm thích hợp, có thể tiến hành rút quân.

Ngoại Trưởng Dean Rusk khuyến cáo nên chọn Giải Pháp A. Tổng Thống Johnson đồng ý với khuyến cáo nầy. Vào đầu tháng 5/1966, Đại sứ Lodge (kế nhiệm Đại sứ Maxwell D. Taylor) được triệu hồi về Hoa Thịnh Đốn để tham khảo. Tổng Thống Johnson muốn Đại sứ Lodge phải nói cho các nhà lãnh đạo VNCH rõ, là họ phải thực hiện lời cam kết bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, nếu không việc viện trợ của Hoa Kỳ cho VNCH sẽ bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Cách giải quyết tốt nhứt là chính phủ nầy (tức Nội Các Chiến Tranh của Tướng Kỳ), nên từ chức và giao quyền hành cho Quốc Hội Lập Hiến (QHLH) khi cơ cấu nầy đã được dân chúng bầu ra xong.  

Quốc Hội Lập Hiến sẽ bỏ phiếu tín nhiệm và giữ lại chính phủ hiện nay, hay là chọn ra một chính phủ mới… Phương cách nầy, phù hợp với các khuyến cáo của Đại Hội Chính Trị Toàn Quốc kết thúc tại Sài Gòn hồi giữa tháng Tư, và được chính quyền hiện nay đồng ý thực hiện. Giữa lúc mọi việc đang diển tiến tốt đẹp, thì ngày 5/6/66, tại buổi lễ khánh thành căn cứ Không Quân mới tại Bình Thủy, Cần Thơ, Tướng Kỳ tuyên bố là chính phủ của ông sẽ ở lại một năm nữa cho đến khi nào tất cả các cơ cấu của chính quyền do hiến pháp mới quy định được thiết lập xong. Chính phủ Hoa kỳ bị bất ngờ với lời tuyên bố nầy, vì không được tham khảo trước. Họ không thích, nhưng quyết định không can thiệp vào việc nầy.

Tại thời điểm nầy, Ngoài quân bộ chiến Mỹ, còn có 20.500 quân đồng minh gồm Sư đoàn bộ binh Mãnh hổ, Lữ doàn lính thuỷ đánh bộ Rồng xanh Hàn Quốc, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Australia, Trung đoàn Thái Lan, Đại đội pháo binh New Zealand, Tây Ban Nha, Đài Loan cũng đưa sang Nam Việt Nam 43 cố vấn quân sự và chuyên gia, cùng với 520.000 quân VNCH, biên chế thành 10 sư đoàn và 5 trung đoàn độc lập. Đây cũng là Giai đoạn quân Mỹ và Đồng minh dốc toàn bộ lực lượng mở các cuộc hành quân “tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân giải phóng” và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định.

Chiến trường lúc nầy tập trung vào Vùng III Chiến thuật. Tháng 8 năm 1966, Lữ đoàn khinh binh Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam, Bộ tư lệnh Hoa Kỳ chỉ định Lữ đoàn nầy đóng quân hoạt động khu vực ven Chiến khu C, nơi mà Sư đoàn 9 Cộng quân mới tập trung trở lại, cùng với một Trung đoàn cơ động biệt lập từ miền Bắc vừa xâm nhập vào. Ngày 14, tháng 9 năm 1966,  Bộ tư lệnh Dã chiến số 2 Hoa Kỳ tại Vùng 3, đã cùng với Thiếu tướng Lê Nguyên Khang Tư lệnh Quân đoàn III tổ chức cuộc hành quân Attleboro. Không gian của cuộc hành quân là từ  Trảng Bàng đến Gò Dầu Hạ nằm trên đường số 1 và Trại Đèn trên đường 13, với quân số tham chiến trên dưới 20 ngàn Liên quân Việt-Mỹ, cùng với pháo binh, thiết giáp và không quân có cả B52  chi viện. 

Trong 6 tuần đầu của cuộc hành quân, không có trận đụng độ lớn. Nhưng trận chiến đã bùng nổ vào ngày 3 tháng 11 năm 1966 tại một địa điểm cách tỉnh lỵ Tây Ninh 27 km về hướng Đông-Bắc, khi Lữ đoàn 196 Hoa Kỳ kịch chiến với 3 trung đoàn Việt Cộng. Lực lượng bộ binh Việt Nam Cộng hòa và một số tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 và 25 Bộ binh Hoa Kỳ đến tiếp ứng Lữ đoàn 196 để cố đẩy lùi Cộng quân ra khỏi trận địa. Đến ngày 6 tháng 11 năm 1966, theo ước tính của Mỹ, cái giá để bảo vệ bộ chỉ huy Việt Cộng phải đổi lấy là thiệt mạng lên đến 270. Hôm sau Liên quân Việt-Mỹ tuyên bố đã hạ thêm 319 quân Việt Cộng, chiếm được 35 pháo đài kiên cố. 

Ngày 7 tháng 11, Cộng quân mở nhiều đợt xung phong tấn công trở lại, nhưng phi cơ Hoa Kỳ đã dội napalm xuống sát ngay cả vị trí quân bộ chiến Mỹ, đẩy lùi cuộc tiến công. Tổng số quân Việt Cộng thiệt mạng được Mĩ tuyên bố là 758. Ngày 9 tháng 11, liên quân Việt Nam Cộng hòa - Mỹ bung rộng lục soát chiến trường, tìm thấy thêm 95 xác nữa, đưa tổng số Cộng quân tử thương lên 828 người. Từ 10 đến ngày 26 tháng 11, các đơn vị Việt-Mỹ tiếp tục truy tìm, nhưng không có cuộc đụng độ nào đáng kể. Ngày 27 tháng 11, cuộc hành quân kết thúc, tổn thất của quân Việt Cộng theo phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa là: 1.101 chết, 44 tù binh, 149 vũ khí bị tịch thu và khoảng 1.000 tấn gạo bị tìm thấy. Sau trận nầy này, quân Việt Cộng rút lui về bên kia biên giới Việt-Campuchia.

Sydney ngày 29 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 1.211 chữ)

 

Bài 285: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ CHIẾN SỰ NĂM 1966 VÀ 1967 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Từ ngày 8 tháng 1 đến 16 tháng 1 năm 1967, Liên quân Việt-Mỹ, mở cuộc hành quân cấp quân đoàn thứ hai, hành quân Cedar Falls, đánh vào vùng "tam giáp sắt" Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát, là nơi có cơ quan đầu não của Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Lực lượng hành quân, gồm Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ, Lữ đoàn 3 Sư đoàn bộ binh số 4, Lữ đoàn 2 Sư đoàn bộ binh số 25, Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 196, Lữ đoàn dù 173, Trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ và một bộ phận Sư đoàn 5 chủ lực quân VNCH, cùng một số quân New Zealand với hơn 400 xe tăng, xe bọc thép, 800 tàu xuồng chiến đấu trên sông, hơn 100 khẩu pháo các loại và nhiều máy bay, kể cả B-52.

Bị áp đảo về quân số và hỏa lực, quân Việt Cộng lẫn tránh, không giao chiến, phân tán rút vào rừng và ẩn nấp trong các địa đạo, chỉ sử dụng các nhóm nhỏ để đánh phục kích. Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hoà tuyên bố đã tiêu diệt 750 quân Giải phóng và bắt 280 tù binh, thu 23 vũ khí hạng trung, 590 vũ khí cá nhân và 200 mìn, lựu đạn, đạn pháo và súng cối. Hơn 100 công trình kiên cố, 250 hầm và hơn 500 công trình khác bị phá hủy. 60 ngàn băng đạn cho vũ khí cá nhân, 7.500 bộ quân phục, 3,7 ngàn tấn gạo và khoảng nửa triệu trang tài liệu bị thu giữ cùng nhiều vật liệu chiến tranh khác. 

Thương vong về phía Mỹ là 72 thiệt mạng và 337 bị thương; phía Việt Nam Cộng hòa là 11 chết và 8 bị thương; 2 xe tăng, 5 xe bọc thép bị phá huỷ; hư hại 3 xe tăng, 9 xe bọc thép, 1 xe tăng hạng nặng, 2 xe ô tô và 2 trực thăng trinh sát nhẹ. Phía Cộng quân thì họ cho rằng, rất ít quân du kích thiệt mạng, về cơ bản các đơn vị của họ không bị đánh bật ra ngoài. Hệ thống hầm ngầm không bị triệt phá mà chỉ bị hư hại một phần. Hố bom loang lổ, hàng mảng đất bị cày xới lên bằng máy xúc. Song không có quả bom nào, không có máy xúc nào khoét đủ sâu để phá hoại được hầm ngầm. 

Từ ngày 22/2-14/5/1967, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân Junction City đánh vào Chiến khu C Tây Ninh, nơi không chỉ là căn cứ của Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền, Mặt trận Dân tộc giải phóng, mà còn là nơi tích trữ vật chất, có nhiều kho dự trữ chiến lược; là địa bàn đóng quân của Sư đoàn 9 chủ lực Việt Cộng. Về phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, tổng số quân và thiết bị quân sự tham chiến trên 30 quân gồm 9 lữ đoàn bộ binh Mỹ; 1 Lữ đoàn Thuỷ quân Lục chiến VNCH, trên 1.000 xe tăng, xe bọc thép, hàng trăm khẩu pháo các loại, 300 trực thăng; 3 phi đoàn máy bay vận tải... do tướng 3 sao Jonathan Seaman, Tư lệnh Dã chiến II trực tiếp chỉ huy. 

Về phía quân Việt Cộng bao gồm chủ lực, địa phương, du kích các cơ quan là 10.000 bộ đội, được chia làm hai bộ phận, một bộ phận phân tán mỏng cùng với du kích các cơ quan lo bảo vệ các căn cứ, kho tàng; một bộ phận được ẩn giấu chờ đối phương sơ hở sẽ tổ chức phản công. Chỉ huy quân Việt Cộng là Lê Đức Anh, Tham mưu trưởng đảm trách. Với ưu thế áp đảo về mọi mặt, cuộc hành quân của Liên quân Việt-Mỹ tiến hành thuận lợi. Đến ngày 15/4/1967, sau 53 ngày hành quân, Liên quân Việt-Mỹ thu được một lượng đáng kể vũ khí, đạn dược, lương thực... nhưng đã không có một trận giao tranh nào lớn với quân Việt Cộng. 

Cộng quân luôn tránh né, chỉ đánh tập kích khi Mỹ sơ hở, rồi rút lui nhanh. Các cơ quan đầu não như Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền, Mặt trận Dân tộc giải phóng, đều thoát khỏi được vòng vây của quân Mỹ. Ngày 14/5/1967, cuộc hành quân Junction City chính thức kết thúc, Hoa Kỳ tuyên bố có 2.728 quân Giải phóng tử trận. Phía Việt Cộng thì cho rằng, con số này là phóng đại; rằng họ đã hạ 282 lính Mỹ chết và hơn 1.500 bị thương, chưa kể thương vong của quân VNCH. Bắc Việt cũng tuyên bố là trong trận này, họ đã loại khỏi vòng chiến 11.000 quân của Mỹ và Việt Nam Cộng hoà, đã phá hủy hoặc gây hư hại 900 xe quân sự, phá hủy 119 súng đại bác hoặc súng cối của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa. 

Sydney ngày 30 tháng 6 năm 2023

(Bài viết có 881 chữ)

 

Bài 286: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1966 VÀ 1967.

Lê Xuân Đỗ

Ngày 11/8/1966, bầu cử Quốc hội lập hiến, có 532 ứng cử viên, và 117 đắc cử. Quốc hội có một nhiệm vụ duy nhất là soạn thảo Hiến pháp. Sau 6 tháng làm việc Quốc hội Lập hiến đã soạn thảo xong Hiến pháp. Ngày 1/4/1967, Hiến pháp được ban hành. Năm 1967, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia quyết định tăng lương đồng đều cho tất cả quân nhân các cấp thuộc chủ lực quân, mỗi quân nhân 100 đồng. Dư luận từ các nhà hoạt động chính trị cho rằng, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia tăng lương chỉ nhằm mục đích lấy lòng quân nhân chuẩn bị cho Liên danh quân đội ra ứng cử Tổng Thống-Phó Tổng Thống. 

Và, rồi quí vị Tướng Lãnh ra ứng cử thật. Không phải một liên danh mà đến hai liên danh: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu một liên danh và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ một liên danh khác. Cũng may, các vị Tướng Lãnh đã vận động thành công hai vị đứng đầu hai liên danh đến sát cạnh ngày hết hạn nộp đơn ứng cử, thì Thiếu Tướng Kỳ bằng lòng đứng chung liên danh với Trung Tướng Thiệu, sau cuộc họp khá gay gắt tại Câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu có hứa nếu đắc cử Tổng Thống, ông sẽ tham khảo các vị trong Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia về đường lối chính sách quốc gia. Đồng thời ông cũng thỏa thuận với Thiếu Tướng Kỳ là sẽ mời giáo sư Nguyễn Văn Lộc thành lập chánh phủ. 

Ngày 3-9-1967, bầu cử Tổng Thống và Thượng Nghị Viện: Có 11 liên danh ứng cử Tổng Thống - Phó Tổng Thống. Kết quả: Liên danh Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ thắng cử, với 34%. số phiếu bầu. Về nhì là Trương Đình Dzu-Trần Văn Chiêu (17%). Về ba là Phan Khắc Sửu-Phan Quang Đán (13%). Và thứ tư là Liên danh Trần Văn Hương-Mai Thọ Truyền (12%). Có 48 liên danh (480 người) ra ứng cử Thượng viện. Sáu liên danh (60 người) đắc cử là: Liên danh I do Trần Văn Đôn Thụ uỷ; Liên danh II do Nguyễn Văn Huyền Thụ uỷ; Liên danh III do Nguyễn Gia Hiến Thụ uỷ; Liên danh IV do Huỳnh văn Cao Thụ uỷ; Liên danh V do Nguyễn Ngọc Kỷ Thụ uỷ; Và, Liên danh VI do Trần Văn Lắm Thụ uỷ.

Ngày 3-10-1967, bầu cử Hạ nghị viện: có 1.500 người ứng cử để tranh 137 ghế ở Hạ viện. Tổng thống và Quốc hội, nền Đệ Nhị Cộng hòa khác với nền Đệ Nhất Cộng hòa ở chỗ Tổng thống không cầm đầu Chính phủ, mà phải bổ nhiệm một Thủ tướng cầm đầu Chính phủ. Quốc hội của Đệ nhị Cộng hoà Việt Nam chia thành hai viện: Thượng viện và Hạ viện: Thượng viện có 60 Nghị sĩ, bầu theo Liên danh 10 người, và Hạ viện có 137 Dân biểu, do người dân trực tiếp đầu phiếu căn cứ theo từng Khu vực bầu cử. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ đúng lời hứa với Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ mời giáo sư Nguyễn Văn Lộc thành lập chánh phủ. Ngày 1/11/1967, Trung Tướng Viên thăng cấp Đại Tướng nhân lễ Quốc Khánh.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa hoan nghênh việc quân đội Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam vì điều này đã phần nào đẩy lui quân Việt Cộng, mở ra một hy vọng chiến thắng. Từ 1965 đến cuối 1967, Cộng quân gồm cả bộ đội chủ lực từ miền Bắc đã không thể đương đầu với hoả lực và tính di động của quân đội Mỹ và có nguy cơ bị tiêu diệt, nếu kéo dài tình trạng cầm cự bằng chiến tranh tiêu hao. Mặc dù Chính trị xã hội miền Nam trong thời kỳ nầy trải qua nhiều bất ổn, rối ren, cho đến cuối năm 1967, quân đội Sài-gòn và quân Mỹ luôn ở thế chủ động, mở nhiều chiến dịch tiến công.

Cộng quân thường ở thế đối phó, giữ lực lượng, rút ra xa và mất nhiều khu vực đông dân. Giới lãnh đạo miền Bắc nghĩ đến một “hoạt động đột phá” vào năm 1968 để giành lại thế chủ động, cải tiến thế trận. 

Sydney ngày 1 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 771 chữ)

 

Bài 287: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ TRẬN TỔNG CÔNG KÍCH MẬU THÂN NĂM 1968.

Lê Xuân Đỗ

Sách lịch sử miền Bắc viết: Trung ương Đảng ta, tại Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 12-1967) và Hội nghị toàn thể ban Chấp hành lần thứ 14 (tháng 1-1968), thông báo quyết định lịch sử: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kì mới, thời kì giành thắng lợi quyết định.” Nghị quyết của Đảng còn chỉ rõ: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích-tổng khởi nghĩa (TCK/TKN) để giành thắng lợi quyết định”. Chiến dịch TCK/TKN chia làm 3 đợt:

ĐỢT 1: Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền (B2) quyết định thành lập hai Bộ Tư lệnh Tiền phương (BTL/TP): BTL/TP ở cánh Bắc gồm các hướng Bắc, Tây Bắc và Đông thành phố Sài Gòn do Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh phụ trách; Và BTL/TP ở cánh Nam: gồm các hướng phía Nam, Tây Nam, các lực lượng biệt động ở nội thành Sài Gòn, do Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng phụ trách. Ở Quân khu 5, Võ Chí Công làm Bí thư Quân khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu, Chu Huy Mân làm Tư lệnh. Ở mặt trận Huế. Trung ương chỉ định Lê Minh làm Chỉ huy trưởng, Lê Chưởng làm Chính ủy. Lưu ý, lúc này Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Văn Quang là Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Ở mặt trận Đường 9 – Bắc Quảng Trị do Trần Quý Hai, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.

Theo kế hoạch, chiến dịch TCK/TKN được phát động vào nửa đêm ngày 31.1.1968 tức vào giờ Giao thừa mồng Một Tết Mậu Thân, nhưng do việc Hà Nội thay đổi âm lịch sớm hơn một ngày từ tháng Tám 1967 nên cuộc tấn công diễn ra không đồng loạt ở nhiều nơi. Tại Đà Nẵng, Hội An, Qui Nhơn, Nha Trang, Kontum, Pleiku và Ban-mê-thuột, cuộc tấn công bắt đầu vào 00:15 ngày 30.1.68. Hai mươi bốn giờ sau, Sài-gòn, Huế và các thành phố, tỉnh và thị trấn khác trên toàn lãnh thổ miền Nam mới bị tấn công. Thủ đô Sài-gòn và cố đô Huế là hai địa điểm chính cần được chiếm đóng mau chóng để làm cơ sở cho cuộc “tổng nổi dậy” của dân chúng phá đổ “ngụy quyền” và đón mừng đoàn quân giải phóng. 

Tuy nhiên, trừ Huế và Chợ Lớn, mọi cuộc tấn công vào Sài-gòn và các nơi khác đều bị đẩy lui chỉ sau vài ngày tác chiến. Trận công kích Sài-gòn bị thất bại mau chóng, Quân Việt Cộng không lọt được vào Dinh Độc lập, toán tấn công Đại Sứ quán Mỹ thì bị tiêu diệt khi mới lọt vào sân trước. Những toán quân đã lọt vào thành phố không liên lạc được với nhau và bị tiêu diệt hay phải rút lui vào Chợ Lớn. Tại Chợ Lớn, Cộng quân chiếm được truờng đua ngựa Phú Thọ làm trung tâm chỉ huy các cuộc chiến đấu với các lực lượng phòng vệ thủ đô, nhưng đến ngày 7 tháng Ba cũng phải bỏ chạy. 

Mặt trận ở Huế diễn ra ác liệt nhất. Chỉ trong vài ngày đầu tiên, cố đô đã bị Cộng quân chiếm gần hết. Quân đội VNCH và Hoa Kỳ phải chiến đấu rất khó khăn để giành lại từng căn nhà, từng góc phố như hình ảnh chiến tranh trong các thành phố ở châu Âu thời đệ nhị Thế chiến. Ngày 25 tháng Hai, sau khi Cộng quân hoàn toàn rút khỏi Huế, thành phố đã bị phá hủy gần một nửa, 116,000 người trong tổng số trên 140,000 dân không có nơi trú ngụ. Tài liệu của Mỹ về thiệt hại nhân sự tại Huế cho thấy có trên 5,000 quân Việt Cộng bị giết, 89 bị bắt, còn con số bị thương rất lớn nhưng không biết rõ. Phía VNCH có 384 chết và 1.830 bị thương, Mỹ có 216 chết và 1.354 bị thương. 

Đáng nói hơn hết là những nạn nhân dân sự bị giết gồm công chức, trí thức, lãnh tụ tôn giáo, chính trị và các “phần tử phản động”, tổng số tìm thấy trong các mồ chôn tập thể là 2,810 người, không kể hàng ngàn người khác bị mất tích. Theo Douglas Pike, một chuyên gia về Việt Nam, số nạn nhân bị giết có thể lên tới 5,700 người. Một số giáo sư ngoại quốc hợp tác với Viện Đại Học Huế cũng bị tàn sát trong trận này. Sau trận tổng công kích trên toàn thể miền Nam, lực lượng quân Việt Cộng bị tiêu diệt gần hết, và việc tuyển quân để bù đắp rất khó khăn. Từ nay cho đến khi chiến tranh chấm dứt quân Việt Cộng từ miền Bắc là thành phần chủ lực trong tất cả các trận đánh. 

Ngày 1/3/68, Cố vấn Clark Clifford được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng thay thế Robert S. McNamara sang làm Giám đốc Ngân hàng Thế giới. Clark Clifford, chỉ thị cho Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam thực thi ba biện pháp cấp bách: một là, ra sức xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc ở trong và xung quanh các thành phố, các căn cứ, các tiểu khu, chi khu quân sự các điểm chốt trên các trục đường giao thông. Hai là, lập những vành đai đủ sức ngăn chặn các cuộc tiến công mới của Cộng quân. Đẩy chiến tranh ra xa các thành phố, thị xã quan trọng có ý nghĩa chiến lược. Ba là, mở các cuộc hành quân càn quét để giải toả các thành thị, căn cứ, đường giao thông, ngăn chặn triệt để các cuộc tấn công của Việt Cộng.

Tính đến cuối tháng Ba 1968, tổng số binh sĩ tử trận: phía quân Việt Cộng 58,000 người; phía quân VNCH 4,954; Hoa Kỳ 3,895 và các nước Đồng Minh 214. Tổng số thường dân miền Nam bị chết là 14.300 người. Tuy nhiên, trận Tết Mậu Thân đã đem lại cho Hà Nội một thắng lợi chính trị. Hình ảnh tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn bị tấn công cùng những cảnh tượng xung đột và xác chết nạn nhân được phơi bày trên màn ảnh truyền hình và báo chí mỗi ngày, kèm theo những lời bình luận chỉ trích chính quyền đã khiến cho uy tín của Tổng thống Johnson bị suy giảm trầm trọng. Sự bế tắc trong các nỗ lực chấm dứt chiến tranh bằng thương thuyết, cùng với những khó khăn trong nội bộ đã khiến Johnson phải quyết định rời bỏ chính trường. 

Sydney ngày 2 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1591 chữ)

 

Bài 288: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ TRẬN TỔNG CÔNG KÍCH MẬU THÂN NĂM 1968

(tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Ngày 25.3.68, nhóm cố vấn đặc biệt lại được triệu tập, nhưng lần này thì đa số đồng ý phải giải quyết cuộc chiến bằng thương thuyết vì không thể chặn được đường xâm nhập của Bắc Việt vào miền Nam và địch quân dù thiệt hại rất nặng vẫn có thể chiến đấu lâu dài. Ngày 31/3/1968, Johnson lên đài truyền hình loan báo quyết định ngưng các cuộc tấn công trên lãnh thổ Bắc Việt, trừ khu vực phía dưới vĩ tuyến 20, và muốn mở cuộc hòa đàm với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). Cuối bài diễn văn, Johnson loan báo thêm một tin bất ngờ là ông sẽ không ứng cử và cũng không chấp nhận Đảng Dân chủ đề cử ông tái tranh cử Tổng thống vào tháng Mười Một. 

Ngày 3/4/68, Việt Nam Dân chủ Công hoà (VNDCCH) cho biết sẵn sàng nói chuyện với Hoa Kỳ. Hôm sau 4/4/68, các Đại sứ của sáu quốc gia đồng minh (Hoa Kỳ, Đại Hàn, Thái Lan, Phi-líp-pin, Úc và Tân Tây-Lan) được mời đến họp tại Dinh Độc lập, đồng ý với Việt Nam Cộng hoà (VNCH) đưa ra Bản Thông cáo Chung “nhấn mạnh rằng những cuộc thương thuyết song phương giữa Washington và Hà Nội, không có sự tham dự của VNCH, sẽ chỉ có tính cách thăm dò. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đọc diễn văn về việc ném bom hạn chế miền Bắc Việt Nam và đề nghị nói chuyện với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Ngày 21/4/1968, truyền thông Hà Nội loan tin một Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà Bình Việt Nam vừa được thành lập do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch. Ngày 2/5, sau gần một tháng tiếp xúc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ thỏa thuận lấy thành phố Paris làm nơi đàm phán. Ngày 13/5/68 Hội nghị Paris giữa phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ chính thức bắt đầu tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, phố Kléber. Mỹ cử Averell Harriman và Cypruc Vance, làm Trưởng và Phó đoàn. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có Xuân Thuỷ và Hà Văn Lâu làm Trưởng đoàn, Phó đoàn. 

Tại phiên họp đầu tiên nầy, Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra yêu cầu: Mỹ chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam, ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện; rằng Đất nước Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt chờ Tổng tuyển cử để bầu chính quyền thống nhất cho cả hai miền. Phái đoàn Hoa Kỳ không đề cập tới các vấn đề thống nhất cho cả hai miền, mà đưa ra đòi hỏi về việc Tôn trọng khu phi quân sự ở Vỹ tuyến 17; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải xuống thang; Và rằng Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải cùng rút quân. Phái đoàn liên lạc của Việt Nam Cộng hòa đưa ra tuyên bố nếu Việt Nam Cộng hòa không được tham gia hòa đàm sẽ không có hòa bình.

Sau Sự kiện Tết Mậu Thân 1968, Thủ tướng Nguyễn văn Lộc bị chỉ trích và ép từ nhiệm. Người được bổ lên thay là Trần Văn Hương, ông nhậm chức Thủ tướng  ngày 28 tháng 5 năm 1968.

ĐỢT 2 của cuộc tổng tiến công Mậu Thân (từ 5/5-13/6/68), các tiểu đoàn "cảm tử" của Cộng quân thọc sâu trong thành phố, tiếp tục chiến đấu, gây một số thiệt hại nhất định cho Liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, quân Việt Cộng cả bộ đội chủ lực, lẫn bộ đội địa phương phải chiến đấu trong khi yếu tố bí mật không còn, Liên quân Việt-Mỹ tăng cường đối phó, khiến hầu hết các cuộc tấn công đều bị ngăn chặn, Cộng quân phải chịu tổn thất lớn. Ngày 19 tháng 6 năm 1968, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh tổng động viên. Mỹ đưa thêm một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh hiện đại vào Nam Việt Nam để bù đắp số mất mát, hư hỏng, đồng thời thay thế một số chủng loại vũ khí cũ bằng vũ khí hiện đại hơn. 

Súng trường M 16 đã được trang bị cho tất cả các tiểu đoàn chính quy bộ binh, nhảy dù, biệt động, thủy quân lục chiến. Trong tháng 7 và 8/1968, liên quân Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hoà đã thực hiện 1.929 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên, 156.000 phi xuất, trong đó B52 tiến hành 6.922 phi vụ oanh tạc miền Bắc. Về phía Cộng quân, qua hai đợt tổng tiến công liên tục Tết và tháng 5 lực lượng vũ trang, vũ khí, đạn dược đã bị tổn thất nặng nề. Lực lượng bí mật ém trong nội thành, và phần lớn nơi cất giấu vũ khí, trang bị, chỗ đứng chân, dùng làm nơi xuất phát các cuộc tiến công đã bị lộ, hoặc bị đánh phá mất gần hết. 

ĐỢT 3, Riêng mặt trận Quảng - Đà (Khu V) và một số nơi khác, do vẫn giữ được thế và lực còn mạnh, nên Bộ Tư lệnh Cộng quân Khu V đã đề nghị Trung ương Hà Nội cho mở tiếp đợt 3 tổng tiến công và nổi dậy. Ngược lại, cũng có nhiều nơi xin tạm dừng tiến công để xốc lại đội hình, bổ sung, củng cố lực lượng, vũ khí trang bị. Ngày 24 và 25/7/1968, Thường trực Quân uỷ Trung ương, gồm: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Trần Quý Hai, Hoàng Anh, Lê Trọng Tấn, họp bàn kế hoạch tấn công đợt 3, mục tiêu Tổng tiến công vẫn được Bộ Chính trị xác định: chiến trường Sài Gòn, Gia Định và miền Đông Nam Bộ, Khu V là hướng trọng điểm, phối hợp là Quảng Đà. 

Nhưng, tại Sài Gòn, Chợ Lớn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Liên quân Viêt Nam Cộng hoà-Mỹ đang tập trung lực lượng tới 61 tiểu đoàn VNCH, 38 tiểu đoàn Mỹ, 4 tiểu đoàn quân các nước phụ thuộc Mỹ, tổng cộng 90.000 quân cùng lực lượng Địa phương quân tổ chức hệ thống phòng thủ bảo vệ Sài Gòn, chiều sâu khoảng 100 km. Đứng trước tình hình này, Bộ Chính trị chuyển trọng tâm tiến công ra vòng ngoài, hướng chủ yếu là địa bàn hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long. 

Sydney ngày 3 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1591 chữ)

 

Bài 289: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ TRẬN TỔNG CÔNG KÍCH MẬU THÂN NĂM 1968

(tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Ngày 17/8/1968, Đợt 3/TCK chính thức mở màn. Sau gần 20 ngày liên tục giữ thế chủ động bằng các chiến thuật: phục kích, tập kích, đánh bồi, đánh nhồi vào các cụm quân, tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng và phương tiện chiến tranh của Mỹ, hoàn thành cơ bản các mục tiêu chiến dịch đặt ra. Ngày 28/9/1968, kết thúc giai đoạn 3, cũng là kết thúc toàn bộ chiến dịch Tổng công kích Mậu Thân. Các sư đoàn 5, 7, 9 chủ lực Miền và du kích Tây Ninh, Bình Long đã đánh 315 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 13 tiểu đoàn, 55 đại đôi, tiêu hao nặng 7 tiểu đoàn, lên tới 18.406 quân, phá huỷ 1.507 xe quân sự, 112 máy bay, 107 khẩu pháo, thu được 24 máy vô tuyến điện, 282 súng các loại.

Đến cuối năm 1968, sau ba giai đoạn tiến công liên tục quân số, vũ khí đạn dược của Cộng quân đã cạn kiệt, những bộ phận còn lại của các đơn vị được lệnh rút lên các căn cứ để củng cố và bổ sung quân số. Nhưng để lên được căn cứ, cán bộ và chiến sĩ phải tiếp tục đột phá mở đường qua các tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn từ xa của Mỹ với chiều sâu hàng trăm km, nên lực lượng lại tiếp tục bị tiêu hao thêm. Tình hình chung sau sự kiện Tết Mậu Thân, quân Cộng sản đã phải chịu tổn thất rất lớn, mất đi 1 thế hệ quân kháng chiến, mất đa phần khí tài chiến tranh, cũng như nhiều đơn vị du kích bị suy yếu trầm trọng. 

Một số đơn vị cấp sư đoàn, trung đoàn Cộng quân phải phân tán tạm thời hoặc rút bộ chỉ huy khỏi địa bàn. Các đơn vị chính quy còn "sống sót" phải co cụm về căn cứ cũ cố thủ để bảo vệ các sở chỉ huy và đội cán bộ, trong khi các đơn vị ở vùng biên giới đều rút hẳn ra để bảo toàn lực lượng. Cộng quân phải mất một thời gian dài đưa thêm quân bổ sung từ miền bắc vào để trám chỗ trống, hồi phục chậm chạp trong nhiều điều kiện ngặt nghèo. Thời gian năm 1969 quân đội Mỹ tiếp tục tăng cường quân số, Quân lực VNCH tuyển thêm lính và hồi phục lực lượng tương đối nhanh. Cán cân lực lượng trở nên bất lợi về phía Cộng quân.

Trung ương Cục miền Nam Cộng sản đã phải tổ chức lại chiến trường, và quyết định tái lập Khu 7 gồm phân khu 4, tỉnh Biên Hoà, Bà Rịa, Long Khánh và Đặc khu rừng Sác. Các quận nội thành Sài Gòn trước kia tách về các phân khu, nay nhập lại như cũ. Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục kiêm Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Miền Tây Nam Bộ cũng được tăng cường lãnh đạo chỉ huy. Võ Văn Kiệt được cử làm Bí thư Khu ủy, Lê Đức Anh làm Tư lệnh Quân khu 9. Tổng số quân Giải phóng thiệt hại trong năm 1968 là 113.295 gồm: 44.824 chết, bị thương 61.267, mất tích 4.511, bị bắt 912, đi lạc 1.265, đầu hàng 416. 

Hơn 40 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân, Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, tướng Lê Khả Phiêu lúc đó là chính uỷ kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, đơn vị chủ lực đánh vào thành Huế và giữ Huế 25 ngày, hồi tưởng: Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, chúng tôi ở chiến trường lao đao mất 2 năm rưỡi, đến năm 1971 ta mới có được những chuyền biến tích cực. Vinh quang có thật, tinh thần chiến đấu thì anh dũng tuyệt vời, nhưng đúng là có khó khăn. Giữ được Huế 25 ngày như thế đã là "ghê" lắm rồi. Khi rút ra ngoài, cả trung đoàn chỉ còn đúng 5 cân gạo.

Nhìn lại diễn biến và kết quả của đợt 2 và đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Trung ương Đảng Lao động nhận định: "Chúng ta đã mắc một số khuyết điểm, chủ quan trong việc đánh giá tình hình cho nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó, nhất là không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm ngay, nhằm đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời", nên để mất đất, mất dân, lực lượng vũ trang, cơ sở cách mạng và vật chất chiến tranh bị tổn thất nghiêm trọng, gây những khó khăn rất lớn cho phong trào đấu tranh năm 1969. Song, thắng lợi trong đợt 2 và 3 tổng tiến công và nổi dậy cũng rất lớn, buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom phá hoại miền Bắc, chấp nhận đoàn đại biểu của Mặt trân Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một trong bốn thành viên chính thức tham gia hoà đàm tại Paris. 

Ngày 18-20/6/1968, Tổng thống Mỹ, Johnson và Tổng tống VNCH Nguyễn Văn Thiệu gặp nhau tại Honolulu thảo luận sách lược hoà đàm Mỹ-Hà Nội. Trong quá trình đàm phán, phía Mỹ đã thường xuyên thông báo cho Việt Nam Cộng hoà. Nhưng, khi Mỹ-Hà Nội đạt được sự dàn xếp về các bên cho cuộc họp sắp đến, thì lại nảy sinh sự bất hoà giữa Mỹ và Sài Gòn. Ngày 29/10/68, Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn báo cáo về Toà Bạch Ốc cho biết, Nguyễn Văn Thiệu đã rất phẫn nộ với Hoa Kỳ khi nhận tin phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ tới Paris dự tham dự đàm phán. Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố VNCH sẽ tiến hành đàm phán riêng với VNDCCH. 

Ngày 31/10/68, Tổng thống Johnson tuyên bố ngưng oanh tạc toàn diện Bắc Việt. Khi đưa ra quyết định nầy, cũng như quyết định từ bỏ chính trường và tìm giải pháp hòa bình cho cuộc chiến, Tổng thống Johnson cũng muốn tạo điều kiện thắng lợi cho Phó Tổng thống Humphrey trong cuộc chạy đua vào Toà Bạch Ốc. Tuy nhiên, những cố gắng của Tổng thống Johnson không thuyết phục Hà Nội và Sài Gòn: Hà Nội không cam kết điều gì về quyết định ngưng oanh tạc toàn diện Bắc Việt; trong khi VNCH thì chống lại sự hiện diện của MTGPMN tham dự hòa đàm với tư cách một phái đoàn độc lập ngang hàng với VNCH. 

Ngày 02-11-1968, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố chỉ đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chứ không nói chuyện với MTDTGPMN, cương quyết không thành lập chính phủ Liên hiệp tại miền Nam, Tổng thống Thiệu còn tuyên bố Việt Nam Cộng hoà sẽ đàm phán riêng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà độc lập với cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 04-11-1968, phía Hoa Kỳ tiếp tục đưa ra lập trường cứng rắn, buộc chính quyền Sài Gòn phải chấp nhận tham gia đàm phán với MTDTGPMN. Ngày 05-11-1968, Hoa Kỳ tuyên bố hoãn họp do phía Việt Nam Cộng hoà thiếu thiện chí trong việc tham gia hòa đàm.

Sydney ngày 4 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1.288 chữ)

 

Bài 290: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1968, 1969 VÀ 1970.

Lê Xuân Đỗ

Ngày 06-11-1968, Nguyễn Văn Thiệu đưa ra công thức đàm phán mới gồm Liên minh Việt Nam Cộng hoà-Hoa Kỳ và Liên minh Việt Nam Dân chủ Cộng hoà-Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam; trong đó Việt Nam Cộng hoà và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ đứng đầu mỗi bên; Hoa Kỳ và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam chỉ tham gia với tư cách một phần của mỗi phái đoàn, Ngày 7/11/68, Nixon đắc cử Tổng thống Mỹ, đánh bại đối thủ Humphrey của đảng Dân chủ. Ngày 04/12/1968, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa nhóm họp thông qua quyết định chấp nhận để Chính phủ VNCH cử một phái đoàn tham gia đàm phán tại Paris. 

Ngày 05/12/1968, Nguyễn Văn Thiệu cử Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa là Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ làm cố vấn. Ngày 7/12, Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa rời Sài Gòn do Nguyễn Cao Kỳ và Phạm Đăng Lâm cầm đầu đi Paris dự hội nghị. Ngày 10/12, MTGPMN cũng cử Phái đoàn đi dự Hội nghị Paris do Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, Nguyễn Thị Bình làm Phó Trưởng đoàn. Ngày 25/1/1969, chỉ 5 ngày sau khi Nixon nhậm chức Tổng thống, Phái đoàn Việt Nam Cộng hoà cùng với phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam bắt đầu tham dự đàm phán Paris, theo công thức “phe các anh, phe chúng tôi” từ đó có tên “hai bên, bốn phái đoàn.” 

Lập trường của các bên có sự khác nhau rõ rệt. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam muốn mọi hình thức đều phải thể hiện là đàm phán 04 bên, trong khi phía Koa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà muốn thể hiện là đàm phán hai bên. Tới tháng 5-1969, Hội nghị 04 bên đã trải qua 14 phiên tranh luận, nhưng không đạt được tiến triển. Ngày 08-05-1969, phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đưa ra "giải pháp hòa bình 10 điểm". Ngày 14-05-1969, Hoa Kỳ đưa ra giải pháp 08 điểm, rằng tất cả các lực lượng không thuộc miền Nam Việt Nam đều phải rút quân. 

Ngày 6/6/69, thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam, Nguyễn Thị Bình là Bộ trưởng Ngoại giao, Trần Bửu Kiếm là Bộ trưởng Phủ Chủ tịch Chính phủ. Ngay sau đó, Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình được cử làm trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thay thế Trần Bửu Kiếm. Lúc nầy, Hoa Kỳ bắt đầu có những động thái xích lại với Trung Quốc để cô lập Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Hậu quả là, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà lại chiếm ưu thế trên bàn đàm phán và gây sức ép lên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam.  

Ngày 8/6/1969, Tổng thống Mỹ mới Richard Nixon và Tổng thống Thiệu gặp nhau tại đảo Midway để bàn về sách lược Việt Nam hoá, lịch trình rút quân Mỹ. Theo đó, Mỹ sẽ bắt đầu rút dần quân bộ chiến khỏi chiến trường Việt Nam tùy theo khả năng tự mình đảm nhận cuộc chiến của quân đội VNCH; Mỹ tiếp tục đẩy mạnh viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa để họ đủ sức chống lại quân Giải phóng; Mỹ sẽ phản kích ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam (sang Lào và Campuchia), chặn đứng các nguồn tiếp tế chi viện cho quân Giải phóng miền Nam; Không lực Mỹ cũng sẽ yểm trợ tối đa cho QĐVNCH trong các cuộc giao tranh; Tăng cường viện trợ kinh tế, kỹ thuật, giúp VNCH hoàn thành chương trình bình định.

Thời gian sau đó, với thế thượng phong trên thực địa, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà sử dụng chiến thuật lãng tránh các vấn đề chính trong đàm phán, chỉ đưa ra một vấn đề cho một phiên thảo luận mà không đi vào các nội dung cốt lõi, với ý đồ chờ tới thời điểm nhất định sẽ đánh gục hoàn toàn Cộng quân tại miền Nam và đến kết thúc đàm phán. Để phản đối hành động của Hoa Kỳ, Phái đoàn Dân chủ Việt Nam Cộng hoà đã tẩy chay tới 35 phiên họp, và Phái đoàn Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng tẩy chay 33 phiên họp. Tháng 8-1969, cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn Henry Kissinger bắt đầu đối thoại trực tiếp.

Ngày 1 tháng 9 năm 1969, nội các của Trần Văn Hương bị giải tán. Tổng trưởng Nội vụ Đại tướng Trần Thiện Khiêm được uỷ thành lập Nội các mới. Đây là giai đoạn sau Mậu Thân, giai đoạn "Việt Nam hoá chiến tranh" . Giai đoạn Hoa Kỳ bắt đầu rút quân dần khỏi chiến trường Việt Nam. Tiến trình Việt Nam hóa chiến tranh ban đầu đã diễn ra tương đối thuận lợi. Quân lực Việt Nam Cộng hòa, được trang bị hiện đại đã tỏ ra tự tin hơn và đã nắm thế chủ động trên phần lớn chiến trường miền Nam từ năm 1969. 

Bình định nông thôn, là một trong các mục tiêu trụ cột của Việt Nam hoá chiến tranh. Mỹ và Việt Nam Cộng hòa xem bình định nông thôn, cải thiện đời sống trong các Ấp Tân sinh là biện pháp chiến lược quyết định sự tồn vong của chế độ Việt Nam Cộng hoà. Bình định nông thôn được thực hiện qua các giai đoạn: Bình định nông thôn cấp tốc từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 6 năm 1969; bình định phát triển nông thôn từ tháng 7 năm 1969 đến tháng 6 năm 1970; bình định nông thôn đặc biệt từ tháng 7-1970 đến tháng 2-1971; rồi chương trình "cộng đồng tự vệ" và "phát triển nông thôn" từ tháng 3-1971 đến tháng 3-1972.

Các Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn được thành lập từ Cán bộ tân tuyển, Cán bộ cải tuyển, các bộ phận mà môi trường hoạt đông là địa bàn Nông thôn như Cán bộ Hành Chánh Lưu động, Cán bộ Ấp Tân sinh v.v.. Hầu hết được gửi đi huấn luyện tại Trung Tâm Huấn Luyện Cán bộ Xây dựng Nông thôn Vũng Tàu cấp tốc 3 tháng. Cán bộ Xây dựng Nông thôn là lực lượng nồng cốt để thực hiện chương trình Xây dựng Nông thôn mới, cải tổ H ành chánh Xã Ấp; thực thi dân chủ pháp trị; canh tân đời sống nông thôn, xây dựng “Ấp Đời Mới“ thanh bình, thạnh trị cho nông thôn Việt Nam trong tinh thần tự quản, tự phòng và tự phát triển...



Chiến lược quân sự "tìm và diệt" của tướng Westmoreland  trước đây được người kế nhiệm tướng Creigton Williams Abrams Jr, thay thế bằng Chiến lược quân sự "Quét và giữ" hổ trợ tích cực cho công cuộc Bình định nông thôn. Các cuộc hành quân “quét và giữ” của quân đội Mỹ-Việt Nam Cộng hòa tăng lên đáng kể, nhất là chiến trường Nam Bộ. Năm 1968 có 2.192 cuộc hành quân càn quét, năm 1969 tăng lên 4.344 cuộc. Chỉ riêng 10 tháng đầu năm 1970 đã có tới 745 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên. Nếu tính cả hoạt động dưới cấp tiểu đoàn, thì năm 1969 có 10.980 cuộc, năm 1970 tăng lên 23.783 cuộc hành quân quét và giữ. 

Song song với đó, Việt Nam Cộng hòa còn sử dụng Chiến dịch Phượng Hoàng nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Các toán nhân viên Phượng hoàng với phương thức hoạt động rất đa dạng, được phái xuống các xóm ấp, họ cùng ăn, cùng ở với dân để phanh phui ra tổ chức; sử dụng các tổ chức tình báo, cảnh sát chìm kết hợp khai thác những đối tượng đầu hàng, đầu thú, điều tra phân loại cán bộ nằm vùng tại hạ tầng cơ sở của Việt cộng. Tính tới năm 1972, Hoa Kỳ tuyên bố đã "loại bỏ" 81.740 người ủng hộ Việt Cộng, trong đó từ 26.000 tới 41.000 đã bị giết. Các biện pháp này đã mang lại hiệu quả tốt về an ninh, tình hình nông thôn trở nên an toàn hơn. 

Ngày 18 tháng 3, 1970, lúc Sihanouk đang ở nước ngoài, Thủ tướng Lon Nol triệu tập Quốc hội Campuchia bỏ phiếu phế truất Norodom Sihanouk và trao quyền khẩn cấp cho Thủ tướng Lon Nol. Sau đó Lon Nol, phát động chiến tranh chống Cộng tại Campuchia. Một thoả thuận nhanh chóng đạt được giữa Lon Nol và chính quyền Mỹ. Cuối tháng 4 năm 1970, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân tấn công vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại biên giới Campuchia giáp Tây Ninh, tập trung vào các hướng đông và đông nam Sway Rieng, Memot-Snoul, Taheo-đông Kam pốt trọng tâm là căn cứ Ba Thu (Bến Lức-Lonh An) và vùng Lưởi Câu ở Kampong Cham. 

Việt Cộng rút ngay khi Liên quân Viêt-Mỹ tiến vào, nhưng họ lại kháng cự quyết liệt ở Thị trấn Snoul. Hơn 90% thị trấn bị xóa sổ sau hai ngày bị oanh tạc bằng bom na-pan và pháo. Liên quân Viêt-Mỹ tiến hành lục soát, thấy có hơn 400 lán trại, nhà kho và boong ke, chứa đầy lương thực, quần áo, và thuốc men, 182 hầm vũ khí và đạn dược. Có hầm chứa tới 480 khẩu súng, và một hầm khác có hơn 6 triệu rưởi viên đạn các loại, hàng ngàn rốc két, và súng tiểu liên, một số xe vận tải và cả 1 Tổng đại điện thoại. Chỉ tại đây, Liên quân Việt-Mỹ đã thu được 4.793 vũ khí cá nhân, 730 súng cối, hơn 3 triệu viên đạn dành cho vũ khí cá nhân, 7.285 rốc két, 124 xe tải và 2 triệu pound gạo. 

Người Mỹ cho rằng đây chính là trung tâm đầu não của Trung ương Cục miền Nam.  Cuộc hành quân kết thúc ngày 30/6/1970, Liên quân Việt-Mỹ triệt phá được phần lớn căn cứ, kho tàng, bệnh viện và các tuyến tiếp tế hậu cần của Việt Cộng, nhưng không tiêu diệt các cơ quan đầu nảo của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Miền. Liên quân Việt-Mỹ để lại 20 tiểu đoàn, trợ giúp cho quân đội bạn. Các Tiểu đoàn Việt-Mỹ thường là những đơn vị hoạt động lưu động nhắm vào các nơi nghi ngờ là điểm xuất phát để thâm nhập vào Việt Nam Cộng hoà.

Sydney ngày 5 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1.862 chữ)

 

II. VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

 

Bài 291: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN BẮC 1965-1970.

Lê Xuân Đỗ

Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phải đối phó với chiến tranh trên không rất ác liệt của Không quân và Hải quân Mỹ. Đầu tiên là chiến dịch Mũi Tên Xuyên  (Pierce Arrow) ngày 5 tháng 8 năm 1964, hành động trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ do máy bay của Hải quân Mỹ thực hiện, đánh phá các căn cứ hải quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Lạch Trường, Hòn Gai. Tiếp đến là chiến dịch Sấm Rền đầu năm 1965 đánh phá các tỉnh từ Thanh Hoá trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt Nam. Chiến tranh không quân nhắm vào hệ thống đường sá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự. 

Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị đánh. Bị đánh phá nặng nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tỉnh, Quảng Bình là cuống họng tiếp tế vào Nam và tại khu vực giáp sông Bến Hải  Vĩnh Linh - nơi dân chúng phải sống trong địa đạo. Lực lượng phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể đua tranh với Không quân và Hải quân Mỹ, nên dồn sức bảo vệ các mục tiêu rất quan trọng như Hà Nội, Hải Phòng, các thành phố lớn, các điểm giao thông quan trọng và các nơi máy bay địch hay qua lại nhiều. Những nơi còn lại được phân cho các lực lượng dân quân tự vệ trang bị pháo và súng máy phòng không đảm trách. 

Đến năm 1965, lực lượng phòng không tại miền Bắc có một số trang bị khá hiện đại do Liên Xô cung cấp, gồm nhiều trung đoàn pháo phòng không các tầm cỡ (có loại điều khiển bằng   radar), hệ thống radar cảnh giới và dẫn đường cho không quân, hệ thống tên lửa phòng không và không quân tiêm kích. Các lực lượng phòng không không quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu khá sáng tạo, vô hiệu hóa được các ưu thế công nghệ của đối phương, chống trả quyết liệt và gây thiệt hại đáng kể cho Không quân và Hải quân Mỹ.

Ngay sau khi quân đội Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, tình hình chiến sự thay đổi có lợi cho phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Quân Giải phóng miền Nam bị đẩy lui vào thế phòng thủ, bị không quân và kỵ binh bay của Mỹ truy tìm ráo riết. Các đơn vị lớn phải rời bỏ vùng đồng bằng trống trải để lui về miền nông thôn hoặc núi rừng. Ở đồng bằng, họ chỉ để lại các đơn vị nhỏ và phát động chiến tranh nhân dân đánh du kích. Ngày 18 tháng 8 năm 1965 có trận đánh quy mô đầu tiên giữa quân đội Mỹ và Trung đoàn chính quy Ba Gia, tại thôn Vạn Tường, tỉnh Quảng Ngãi. Trận đánh kết thúc đêm 18 rạng ngày 19/8/1965 khi Trung đoàn Ba Gia đã rút được ra khỏi vòng vây, với thương vong lớn, Đại đội trinh sát bị tổn thất hầu hết quân số.

Tháng 11 năm 1965 đã xảy ra một trận ác liệt khác tại vùng thung lũng sông Ia Drang gần biên giới Campuchia thuộc tỉnh Kontum. Hai trung đoàn chính quy Quân Giải phóng miền Nam và một lữ đoàn thuộc Sư đoàn I Kỵ binh bay của Mỹ đã dàn quân đánh nhau để thử sức. Thực chất đây là hai trận đánh liên tiếp, trận Xray và trận Albany diễn ra trong bốn ngày đêm. Hai bên đều bị thương vong lớn và tuy cùng tuyên bố thắng lợi, đều biết được thực lực đối phương là đáng gờm.

Sau trận này, quân Giải phóng đã tìm ra cách hạn chế ưu thế quân sự áp đảo của Mỹ, Phía Mỹ  có ưu thế là hỏa lực cực mạnh và trang bị rất nhiều vũ khí hiện đại. Đặc biệt, quân Mỹ có yểm trợ không quân rất mạnh mà vũ khí khủng khiếp nhất của họ là máy bay B52, bom Napalm, và trực thăng vũ trang. Quân Giải phóng miền Nam bỏ tham vọng đánh tiêu diệt các đơn vị Mỹ cấp trung đoàn, họ tránh đánh những trận dàn quân đối đầu trực tiếp mà chỉ áp dụng chiến thuật đánh tập kích. 

Quân của họ luôn bám sát những toán quân Mỹ nhưng không giao chiến, chỉ khi đối phương dựng trại hoặc sơ hở thì họ tập kích hoặc phục kích, đánh xong thì nhanh chóng rời chiến trường trước khi pháo binh và máy bay địch kịp đáp trả. Một khi xung phong thì luôn áp sát đánh gần, dùng lối cận chiến "Nắm thắt lưng địch mà đánh" để không cho đối phương sử dụng pháo binh và không quân. Dù rất hiện đại nhưng quân đội Mỹ không quen chiến đấu trong địa hình rừng núi quen thuộc của đối phương và vũ khí của họ cũng không phát huy hết tác dụng khi bị đối phương dùng lối đánh áp sát cận chiến.

Quân Mỹ và đồng minh mở các "chiến dịch tìm diệt" để truy lùng và tiêu diệt các đơn vị quân Giải phóng, nhưng chẳng thấy đối phương đâu trong khi bất cứ lúc nào họ cũng có thể bị tấn công. Các chiến dịch tìm diệt thường gây thương vong cho dân thường vì nhầm lẫn người dân là quân Giải phóng, thậm chí gây ra các vụ thảm sát thường dân tại các khu vực quân Giải phóng thường hoạt động hoặc do người dân ở khu vực đó che giấu và cung cấp nhân lực, vật lực, tài chính cho quân Giải phóng.

Lực lượng du kích quân Giải phóng cũng mở rộng tầm tấn công, không những với mục tiêu quân sự mà còn tấn công vào cơ cấu tổ chức hành chính địa phương của Việt Nam Cộng hòa bằng việc thuyết phục, đe dọa, đôi khi là ám sát những viên chức hành chính, sĩ quan quân đội và chỉ điểm viên chuyên lùng bắt du kích. Chủ trương này ngoài hiệu quả triệt hạ nguồn nhân sự điều hành chính quyền địa phương mà còn tác động đến tâm lý đại chúng ở Miền Nam. Họ còn sử dụng lực lượng biệt động hoạt động tại các thành phố lớn chuyên ném lựu đạn vào quân Mỹ tại nơi công cộng, ám sát các chính trị gia của Việt Nam Cộng hòa và tấn công gây thương vong các sĩ quan, quan chức Mỹ và Việt Nam Cộng hòa để tạo tiếng vang. 

Sydney ngày 6 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1.191)

 

Bài 292: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM TỪ NĂM 1965 ĐẾN 1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đ ỗ

Trong hai năm 1966 và 1967 chiến sự giữa hai bên diễn ra chủ yếu tại miền Đông Nam Bộ, nơi có các căn cứ và kho tàng lớn của quân Giải phóng. Bộ chỉ huy chiến trường của Mỹ đã tung ra ba chiến dịch lớn để đánh vào các căn cứ này, đó là các chiến dịch: Chiến dịch Cedar Falls đánh vào khu Tam giác sắt Củ Chi, nơi có hệ thống địa đạo mà Quân Giải phóng dùng làm bàn đạp thâm nhập Sài Gòn; Chiến dịch Attlebro đánh vào chiến khu Dương Minh Châu; Và Chiến dịch Junction City đánh vào chiến khu C nơi đặt Bộ chỉ huy của Quân Giải phóng miền Nam. 

Đặc biệt là Chiến dịch Junction City khi Mỹ huy động tới 45.000 quân và hàng trăm trực thăng với ý định bao vây để diệt gọn cơ cấu lãnh đạo chiến tranh của Mặt trân Dân tộc Giải phóng miền Nam phá hủy khu căn cứ đầu não của Trung ương Cục miền Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Các cuộc tiến công tuy đã huy động rất lớn các lực lượng của Mỹ nhưng không đem lại kết quả như dự tính: các cơ cấu lãnh đạo, kho tàng, căn cứ của Quân Giải phóng bị tổn thất không đáng kể. Quân Mỹ bị bất ngờ tiến công làm tiêu hao lực lượng khiến phải bỏ dở các cuộc hành quân.

Lúc này, tại miền Bắc dấy lên Phong trào Thanh niên 3 Sẵn sàng. Đêm 7/8/1964, tại phòng họp của cơ quan Thành đoàn Hà Nội - Số 43 Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội đã họp bất thường và quyết định phát động Phong trào “Ba sẵn sàng” với các nội dung: Sẵn sàng chiến đấu; sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang; sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội, hàng vạn thanh niên Thủ đô đã xuống đường diễu hành trên phố Hai Bà Trưng, vòng quanh Hồ Hoàn Kiếm và tụ họp tại Quảng trường Nhà hát Lớn lên án hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ, ghi tên tình nguyện “Ba sẵn sàng” và xung phong ra trận. 

Đêm 09/8/1964 hàng ngàn thanh niên Hà Nội đã xung phong ra trận; nhiều khẩu hiệu xuất hiện trên đường phố: “Đâu có giặc là ta cứ đi”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”...Cả Hà Nội như rực lửa, tòng quân, đi TNXP trở thành nguyện vọng thiết tha của tuổi trẻ Thủ đô và trên mọi miền đất nước lúc bấy giờ. Đó là những ngày mà thanh niên Hà Nội không ai muốn ngủ, không ai muốn đứng ngoài, ai cũng thiết tha muốn được góp sức mình cho đất nước. Những chàng trai, cô gái của Thủ đô dường như chỉ nghĩ duy nhất một việc: Xung phong ra trận, đánh đuổi giặc Mỹ, tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

Hình ảnh hàng ngàn chàng trai, cô gái Hà Nội hào hoa, duyên dáng giữa phơi phới tuổi xuân nửa đêm lên đường xuất quân tại Quảng trường Ngân hàng Trung ương, Quảng trường Nhà hát Lớn rực ánh lửa, âm vang tiếng cồng chiêng; tiếng những thanh niên dõng dạc đọc lời thề “Ba sẵn sàng” trong buổi tiễn đưa những chàng trai, cô gái Hà thành vào Nam chiến đấu, “chia lửa với miền Nam ruột thịt”, tiễn đưa các đội TNXP chống Mỹ cứu nước... là dấu ấn không thể xóa nhòa của tuổi trẻ Hà Nội trong một giai đoạn lịch sử rất đỗi vẻ vang, oanh liệt. 

Từ đất thiêng Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, phong trào “Ba sẵn sàng” đã nhanh chóng lan rộng ra cả nước và trở thành cao trào cách mạng của tuổi trẻ. Thậm chí, phong trào nhanh chóng vượt qua khỏi biên giới, nhiều thanh niên Việt Nam du học ở nước ngoài đã viết đơn xin về nước chiến đấu nếu Tổ quốc cần. Hàng trăm người chấp nhận tạm dừng việc học, kể cả ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh, nóng lòng mong được ra trận cầm súng chiến đấu. Đó là khao khát, là lý tưởng, là lẽ sống và danh dự của lớp thanh niên “Ba sẵn sàng”. 

Từ thực tế đó, tháng 3/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã chính thức kêu gọi thanh niên cả nước hưởng ứng phong trào “Ba sẵn sàng”, với những nội dung được bổ sung và nâng cao. Lúc này, nhiệm vụ trung tâm của cả nước là tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ, vì vậy “Ba sẵn sàng” gồm cả chiến đấu, sản xuất, học tập, xây dựng cuộc sống. Hơn 26.000 đoàn viên thanh niên Thủ đô và hàng triệu thanh niên miền Bắc nhập ngũ. Phong trào đã khơi dậy và cổ vũ lớp lớp thanh niên miền Bắc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, gợi mở phong trào “Phụ nữ ba đảm đang” và phong trào “Năm xung phong” của tuổi trẻ miền Nam. 

Kể từ đó, “Ba sẵn sàng” đã trở thành một trong những phong trào hành động cách mạng lớn nhất của tuổi trẻ Thủ đô và tuổi trẻ Việt Nam trong thế kỷ XX, tạo nên một đội quân tình nguyện đông đảo nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Hơn 5 triệu lượt đoàn viên thanh niên tham gia, trong đó gần 1,5 triệu người con ưu tú đã ngã xuống, hiện đang yên nghỉ tại 265 nghĩa trang dọc chiều dài đất nước; hàng vạn thanh niên đã để lại một phần xương máu của mình nơi chiến trường khốc liệt. (Trích Ba sẵn sàng – Bản hùng ca bất diệtTrang Thông tin Điện tử, Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố Hà Nội, 16:15 07/08/2019)

Sydney ngày 7 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1.060 chữ)

 

Bài 293: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM TỪ NĂM 1965 ĐẾN 1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Phong trào Phụ nữ 3 Đảm đangTrước bối cảnh lịch sử đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động Phong trào "Ba đảm nhiệm" trong phụ nữ miền Bắc. Ngày 23-3-1965, chỉ thị số 3 của Hội nêu rõ ba nội dung của Phong trào là: (1) Đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho nam giới đi chiến đấu. (2) Đảm nhiệm gia đình khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu. (3) Đảm nhiệm phục vụ chiến đấu khi cần thiết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa tên "Ba đảm nhiệm" thành "Ba đảm đang". Với cái tên độc đáo đó, phong trào càng có thêm sức mạnh cuốn hút phụ nữ tham gia. Chỉ sau hơn một tháng phát động đã có 1.750.000 phụ nữ đạt "Ba đảm đang" xuất sắc. 

Phong trào phụ nữ "Ba đảm đang" kết hợp chặt chẽ với cuộc vận động thanh niên "Ba sẵn sàng", vững vàng đi lên thành cao trào cách mạng sôi nổi, liên tục, phát huy hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Phụ nữ nông dân "Ba đảm đang" dũng cảm tiễn đưa chồng con đi chiến đấu, đồng thời phấn đấu sản xuất giỏi, ổn định kinh tế gia đình, nuôi dạy con ngoan, học hành tiến bộ; chăm sóc chu đáo cha mẹ già yếu; đoàn kết gắn bó với tập thể, xóm làng. Bảo đảm sự ổn định, vững vàng của hậu phương lớn miền bắc, hỗ trợ đắc lực miền nam tiền tuyến lớn. Khẩu hiệu "Gạo không thiếu một cân, quân không thiếu một người vì miền nam ruột thịt" là lời hứa danh dự thiêng liêng của phụ nữ "Ba đảm đang” miền bắc. 

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, hơn 70% số phụ nữ nông dân "Ba đảm đang" với khí thế "tay cày, tay súng",vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu. Chị em đào hầm trú ẩn bên bờ ruộng, lũy tre, ngụy trang, nghi trang dũng cảm làm ruộng dưới bom đạn địch. Ðịch đến thì bắn hạ máy bay Mỹ, bắt giặc lái; địch đi lại tiếp tục bám đồng ruộng sản xuất. Chị em ra sức học tập ứng dụng các biện pháp khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cải tiến công cụ, hăng hái thay thế nam giới làm tốt việc cày, bừa, thu hái; bảo đảm công tác thủy lợi, xây dựng đồng ruộng, hoàn thành xuất sắc ba mục tiêu phát triển nông nghiệp toàn diện; thâm canh tăng năng suất đạt 5 tấn thóc/ha. 

Trên mặt trận sản xuất công nghiệp, để thay thế nam giới đi chiến đấu, phụ nữ phấn đấu "Giỏi một nghề, biết nhiều việc" 70% số nữ công nhân dệt vừa đứng máy vừa kiêm bảo dưỡng, sửa chữa máy. Chị em ra sức thi đua tăng năng suất, chất lượng cao, hạ giá thành sản phẩm "luyện tay nghề thi thợ giỏi". Mỗi nhà máy là một "pháo đài", công nhân giữ vững "tay búa, tay súng" vừa kiên trì sản xuất dưới mưa bom, bão đạn, vừa dũng cảm bắn hạ máy bay địch khi chúng đến đánh phá. Nhà máy Dệt 8-3, Dệt kim Ðông Xuân, Thuốc lá Thăng Long... mặc dù bị địch đánh phá ác liệt, công nhân vẫn duy trì sản xuất, hoàn thành vượt mức kế hoạch. Nữ công nhân ngành may thi đua tiết kiệm, tận dụng dư phế liệu tạo thêm nhiều mặt hàng tiêu dùng, tăng thu nhập.

Trên mặt trận giao thông vận tải, địch đánh phá cực kỳ ác liệt, hòng cắt đứt những tuyến đường chiến lược huyết mạch của cuộc chiến đấu. Nhưng lực lượng bảo đảm giao thông với hàng triệu nữ thanh niên xung phong; hàng vạn nữ công nhân lao động "Ba đảm đang" đã thật sự là những chiến sĩ kiên cường, dũng cảm trước bom đạn địch với ý chí sắt đá. "Sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm". Trong lửa đạn, chị em vẫn liên tục đắp đường, sửa cầu, bám trụ vững chắc các tuyến trọng điểm, nối liền mạch máu giao thông để chuyển quân, đưa hàng ra tiền tuyến... 

Trong gian khổ, các đơn vị nữ công nhân bảo đảm giao thông (đội 9, đội 600, đội 104) lập thành tích xuất sắc, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng. Tiêu biểu là tiểu đội nữ Anh hùng 10 cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông tại Ngã ba Ðồng Lộc (Hà Tĩnh). Gần 200 ngày đêm  trụ bám tuyến lửa, chị em vẫn không rời vị trí chiến đấu. Bình tĩnh theo dõi hoạt động của máy bay địch, đếm từng quả bom rơi, cắm cờ báo hiệu bom nổ chậm, xông pha sửa đường... để xe ta đi qua an toàn. 10 cô gái kiên trung, bất khuất đó đã hy sinh vô cùng oanh liệt trong khi làm nhiệm vụ. 

Trưa ngày 24 tháng 7 năm 1968, như mọi ngày 10 cô ra làm nhiệm vụ. Vào 16h30', trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống Đồng Lộc. Một trong số những quả bom đã rơi xuống ngay sát miệng  hầm nơi các cô đang tránh bom. Tất cả đã qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ, phần lớn trong số họ chưa lấy chồng. (Trích Phong trào phụ nữ Ba đảm đang- một mốc son lịch sử chói lọi. Chủ Nhật, 27-02-2005, 03:24 LÊ CHÂN PHƯƠNG Nguyên Phó Bí thư Ðảng đoàn, Ủy viên thường trực Hội LHPN Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động).

Sydney ngày 8 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 982 chữ)

 

Bài 294: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM TỪ NĂM 1965 ĐẾN 1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Thanh niên Xung phong chống Mỹ cứu nước. Tháng 3 năm 1965, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Lao động Việt Nam phát động trong đoàn viên, thanh niên Phong trào tình nguyện gia nhập Đội TNXP chống Mỹ cứu nước. Tháng 5/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa III họp Hội nghị lần thứ 9 ra Nghị quyết về “Tổ chức các Đội TNXP chống Mỹ cứu nước, phục vụ sản xuất và chiến đấu”. Ngày 21/5/1965, Bộ Lao động ra Công văn số 659- LĐ phân bổ chỉ tiêu tuyển TNXP ở 12 tỉnh, thành phố. 

Ngày 25 tháng 5 năm 1965, “Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước” đầu tiên được thành lập tại tỉnh Thanh Hóa, Đội gồm 9 đại đội với 1.200 cán bộ, đội viên. Lãnh đạo Đội là: Đội trưởng Nguyễn Thuần, Đội phó kiêm Bí thư Đảng uỷ Dương Phước Tú, Đội phó kiêm Bí thư Đoàn Lê Văn Sông và Đội phó Nguyễn Đức Hợp. Lúc 10 giờ tối ngày 25/5/1965, Đội làm lễ xuất quân tại sân kho làng Vệ Yên, xã Quảng Thắng; đến dự có đồng chí Võ Nguyên Lượng, Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Nguyễn Văn Đệ, Bí thư Trung ương Đoàn, các đồng chí chỉ huy Tỉnh đội, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Đoàn… 

Mỗi cán bộ, đội viên TNXP được cấp một xe Phượng Hoàng mới và tư trang cần thiết như chăn, màn, ni lông, dày dép, mũ…. “Đội quân xe đạp Phượng Hoàng” bắt đầu cuộc hành quân “Thần tốc” bí mật, thầm lặng, đêm đi, ngày nghỉ, sau 13 ngày đêm ròng rã vào đến căn cứ “R” trình diện Ban chỉ huy tư lệnh Đoàn 559 Trường Sơn do Thượng tướng Nguyễn Văn Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ huy nhận nhiệm vụ. 

Ngày 19/6/1965  Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước Bắc Hà và Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước Nam Hà cũng được thành lập tại tỉnh Hà Tĩnh với 2.400 cán bộ đội viên. Ngày 21/6/1965, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 71/TTg-CN tổ chức các “Đội Thanh niên Xung phong phục vụ công tác giao thông vận tải, thì Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước được Trung ương Đoàn đổi tên thành Đội TNXP 21, phiên hiệu là N 21. Ngay khi vào đến chiến trường, Đội TNXP 21 được Ban chỉ huy Tư lệnh Đoàn 559 giao nhiệm vụ tổ chức vận chuyển hàng hóa bằng xe đạp thồ; đóng thuyền vận tải hàng hóa trên sông; và tham gia mở đường trên Công trường 128 ở Nam Lào, đông và tây Trường Sơn. 

Ngày 30/6/1965, Bộ Lao động ban hành Thông tư số 07-LĐ và 10 văn bản khác hướng dẫn cụ thể về chế độ đối với TNXP chống Mỹ cứu nước, trong đó quy định: Hàng tháng mỗi cán bộ đội viên được cấp tiền ăn từ 21 – 23 – 25 đồng (tùy theo khu vực phụ cấp đắt đỏ do Nhà nước quy định), 21 kg gạo, 0,35 đến 0,5 kg đường và 5 đồng tiêu vặt; Một năm mỗi cán bộ đội viên được cung cấp 02 bộ quần áo dài, 02 bộ đồ lót, 02 đôi bít tất, 02 khăn mặt, 02 đôi giầy vải, 01 đôi dép; Ba năm mỗi cán bộ đội viên được cung cấp 01 chăn bông hoặc 02 chăn sợi, 01 áo trấn thủ, 01 ba lô, 01 mũ, 01 thắt lưng, 01 bi đông đựng nước uống, 1,5 m vải áo mưa; ở vùng rét được cấp thêm 01 mũ, 01 khăn quàng, phụ nữ được cấp tiền vệ sinh phí. 

Chỗ ở, các phương tiện sinh hoạt tập thể, cơ quan sử dụng TNXP cung cấp theo tiêu chuẩn hiện hành. Cụ thể, nhà ở, nếu không có điều kiện ở nhà dân thì làm lán trại, trang bị bếp ăn tập thể, dụng cụ sinh hoạt cá nhân cho người ốm và khách đến công tác; Tổ chức trạm xá, phương tiện sinh hoạt, học tập: dụng cụ y tế, đồ dùng dạy và học tập, dụng cụ cắt tóc. Ngày 11/8/1965, Bộ Nội thương ban hành Chỉ thị số 552-NT hướng dẫn việc cung cấp định lượng TNXP chống Mỹ cứu nước. Hàng tháng TNXP được hưởng: 0,6 kg thịt, 0,2 kg dầu mỡ, 0,6 kg muối, 0,008 kg mì chính, 0,8l nước chấm, 0,5 kg đậu phụ, 10kg rau quả, 0,5kg cá khô, 0,3kg mắm tôm, 0,1kg vừng lạc. 

Các Đội TNXP chống Mỹ cứu nước nhanh chóng đáp ứng nhiệm vụ đặt ra, thành lập được 41 Đội TNXP gồm 337 đại đội với tổng số 52.000 cán bộ, đội viên. Đội, và Đại đội TNXP được bàn giao cho các ngành theo yêu cầu công tác: Tổng cục đường sắt: 5.000 người; Cục Công trình I và Cục Công trình II: 23.000; Ty Giao thông vận tải Quảng Bình: 3.500 (đảm bảo giao thông đường 12A, đường 12B); Ty giao thông vận tải Hà Tĩnh: 1.200 (đảm bảo giao thông đường 1A, đường 21); Ty Giao thông Thanh Hóa và Ty Giao thông vận tải Nghệ An: 10.300 (đảm bảo giao thông đường 1A, đường 15, đường 7); Đoàn 559 và sân bay Yên Bái thuộc Bộ Quốc phòng: 7.000. 

Tổng kết nhiệm kỳ I (6/1965 – 12/1967) đã thực hiện 25 lần tuyển quân, huy động 73.851 cán bộ, đội viên TNXP (nữ chiếm tỷ lệ 44%) ở 20 tỉnh, thành phố. Giữa năm 1968, số TNXP tuyển năm 1965 đã đáo hạn nhiệm kỳ, để có đủ lực lượng đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, ngoài một số đơn vị được gia hạn thêm thời gian và số lượng TNXP nhiệm kỳ I chưa hết hạn. Tháng 3/1968 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định giao cho Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam tuyển TNXP nhiệm kỳ II (1968 - 1971) bổ sung cho Đoàn 559, Tổng cục đường sắt, các đơn vị của Bộ Giao thông vận tải và Ty Giao thông vận tải các địa phương. 

Trong nhiệm kỳ II đã tổ chức 15 lần tuyển, với số lượng 27.770 cán bộ, đội viên, (nữ chiếm 64%) ở 15 tỉnh, thành phố. Toàn bộ lực lượng TNXP nhiệm kỳ II tập trung tham gia chiến dịch vận tải VT 5 (Chiến dịch vận tải tranh thủ thời gian ngừng bắn), khẩn trương lao động không kể ngày đêm, tranh thủ hoàn thành mọi công việc: xây dựng, sửa chữa và nâng cấp đường, cầu để tăng chuyến, tăng trọng tải, tăng tốc độ vận chuyển của tàu, xe trên các tuyến giao thông chiến lược từ Bắc vào Nam, như: tuyến đường sắt Bắc – Nam, quốc lộ 1A, các tuyến đường 15A, 15B, 15C, 21, 7, 8, 12A, 20, 10, 22A, 22B, 16, 18... Đến đầu năm 1972, số lượng TNXP còn khoảng trên dưới 13.000. 

Chính phủ quyết định giao cho Trung ương Đoàn tuyển TNXP nhiệm kỳ III 1972 - 1975) để tăng cường lực lượng TNXP cho quân đội và ngành giao thông vận tải để chủ động đối phó với tình hình mới. Trong nhiệm kỳ III tổ chức 35 lần tuyển quân với số lượng 43.370 cán bộ, đội viên (nữ chiếm tỷ lệ 52,9%) ở 18 tỉnh, thành phố. Tổng cộng 3 nhiệm kỳ đã có 144.991 cán bộ đội viên TNXP tình nguyện gia nhập 170 Đội và 60 đại đội độc lập TNXP chống Mỹ cứu nước tập trung. (Trích Thanh niên Xung phong Những mốc son lịch sử TNXP Việt Nam”, Thứ 4, 8/11/2017).

Tại miền Nam, ngày 20/4/1965, đơn vị Thanh niên Xung phong đầu tiên được thành lập, phát triển thành Tổng đội TNXP để phục vụ các Sư đoàn bộ đội chủ lực và làm nhiệm vụ hậu cần cho quân giải phóng ở miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1971, tổng số nam nữ TNXP đã lên tới 45.000 phục vụ ở các chiến trường. TNXP đã lập nhiều chiến công: mở được 102 con đường chiến lược với tổng chiều dài 4.130 km; Vận chuyển 10 vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực cho chiến trường; Trực chiến, chốt giữ, bảo đảm 3.000 trọng điểm giao thông quan trọng thường xuyên bị địch đánh phá ác liệt; San lấp trên 100.000 hố bom; đào 1135 km hầm hào, xây dựng 8 bệnh viện dã chiến và 272 kho tàng; 

Phá, gỡ thu gom trên 100.000 quả bom các loại; Bắn rơi 15 máy bay Mỹ; bắt sống 13 phi công và gần 1.000 tên địch (trong đó có 286 lính Mỹ); Phá hủy 20 xe tăng và xe bọc thép, phục vụ bộ đội 1000 trận đánh; Trực tiếp chiến đấu 40 trận. Đã có 16.000 người bổ sung sang quân đội; 15.000 người được kết nạp vào Đảng; 52 người là Dũng sĩ diệt Mỹ; 1.432 người là Dũng sĩ Quyết Thắng; Nhưng cũng đã có 6.051 TNXP hy sinh; 42.455 TNXP bị thương, 18.000 TNXP và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam. (Trích Thanh niên Xung phong: 70 năm nhìn lại. Thứ Hai, 13/7/2020 10:3'(GMT+7) TS. NGUYỄN CAO VÃNG, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam).

Sydney ngày 9 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1.589 chữ)

 

Bài 295: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM TỪ NĂM 1965 ĐẾN 1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Bác Hồ với Thanh niên Xung phong. Hoàn cảnh ra đời Bài thơ: "Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên". Câu chuyện diễn ra trong một đêm lửa trại ở rừng Nà Tu (Bắc Cạn) vào tháng 3/1951, khi Bác Hồ đến thăm Liên phân đội thanh niên xung phong 321.  Đội thanh niên xung phong đầu tiên thành lập ngày 15/7/1950 để phục vụ chiến dịch biên giới, Sau đó, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường quan trọng: Cao Bằng - Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đội tổ chức thành nhiều Liên phân đội rải rác quân dọc tuyến đường và nhận nhiệm vụ bám trụ những nơi hiểm yếu. Liên phân đội TNXP 321 của chúng tôi được nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù, nằm trên tuyến đường từ thị xã Bắc Kạn đi Cao Bằng. 

Theo lời kể của đồng chí Việt Thi, đêm 28/03/1951, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu, Bắc Kạn để đón Bác Hồ đến thăm. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh. Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu: Các cháu ngồi cả xuống. Bác hỏi: -Các cháu ăn uống có đủ no không?- Thưa Bác có ạ!- Các cháu có đủ muối ăn không?- Thưa Bác đủ ạ!- Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?- Thưa Bác đủ ạ! Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn rất thiếu thốn. 

Bác lại hỏi: - Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không? - Thưa Bác có ạ! Sau đó Bác lại hỏi tiếp: - Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào? Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng. Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:- Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt.

Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp: Đào núi có khó không? Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó, nhiều TNXPchúng tôi sợ nói khó bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó. Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm. Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi: Có ai dám đào núi không? Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa: Thưa Bác có ạ! thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ!

Nghe xong, Bác cười: Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì? Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao”, có người “cần kiên gan bền chí”, “cần vượt khó vượt khổ”, có người “cần xung phong dũng cảm”, toàn là khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó.  Bác động viên chúng tôi: Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. 

Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ: Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên. Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào. Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ đã là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc... (Trích Nguyễn Thị Diệu Trang, Tổ tuyên truyền Đảng ủy cơ quan VKS TP, (16/01/2019) Nội dung sinh hoạt dưới Cờ kỳ 1 tháng 01/2019)

Ngay từ khi thành lập, Bác đã thường  xuyên quan tâm theo dõi, chỉ đạo và dành nhiều tình cảm đối với Lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước: Ngày 12-7-1965, Bác đã trực tiếp nghe TƯ Đoàn báo cáo tình hình nam nữ thanh niên tham gia TNXP. Bác nhắc Trung ương Đoàn phải thường xuyên báo cáo với Bác, nhất là những thành tích, để Bác khen thưởng. Ngày 26-9-1966, Bác đã gửi thư khen ngợi TNXP: “Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu thanh niên gái và trai đang cố gắng vượt mọi khó khăn, gian khó lập nhiều thành tích. Bác mong các cháu đoàn kết chặt chẽ, dũng cảm lao động và chiến đấu, giữ gìn sức khỏe, cố gắng học tập, lập nhiều thành tích chống Mỹ, cứu nước để xứng đáng là thanh niên anh hùng của dân tộc anh hùng”.

Ngày 19 tháng 10 năm 1966, phát biểu ý kiến tại buổi Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Bác nói: “Trong phong trào TNXP chống Mỹ cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái đã nêu gương dũng cảm trong sản xuất và chiến đấu. Nhiều thanh niên gái Vĩnh Linh vừa sản xuất giỏi vừa chiến đấu giỏi. Tổ cầu đường Trần Thị Lý ở Quảng Bình và tiêu biểu là tiểu đội 9 - Đại đội 814 đã đảm bảo giao thông dưới làn bom đạn”. 

Ngày 12-1-1967, Đại hội thi đua các đội TNXP chống Mỹ cứu nước tập trung đã khai mạc tại Hà Nội, Bác đến dự và nói chuyện thân mật với Đại hội, Bác nói: Bác rất vui lòng với thanh niên Việt Nam anh hùng. Việt Nam càng ngày càng anh hùng, càng đánh càng anh hùng. Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua lần thứ nhất (1952) chúng ta mới có 7 người được tuyên dương là Anh hùng. Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua lần thứ hai có 95 Anh hùng. Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua lần thứ ba có ít Anh hùng hơn. Đại hội thứ tư lần này có 111 Anh hùng. Thế là ngày càng nhiều Anh hùng. Trong số 111 Anh hùng vừa được tuyên dương ở Đại hội, có 44 Anh hùng là thanh niên. Bác càng vui lòng hơn nữa là trong 44 Anh hùng là thanh niên, có 12 Anh hùng là thanh niên gái. 

Thế là ngày càng có nhiều Anh hùng và ngày càng có nhiều thanh niên gái trở thành Anh hùng.… Nhờ có Đảng giáo dục, có Đoàn giúp đỡ, có nhân dân bồi dưỡng cho nên chúng ta mới có Anh hùng. Anh hùng ấy không phải là Anh hùng của một cá nhân. Vì dân tộc ta Anh hùng, nước ta Anh hùng, nhân dân ta Anh hùng, Đảng ta Anh hùng, cho nên mới nảy sinh nhiều đơn vị và nhiều người Anh hùng. Vì vậy, những đơn vị và người được tặng danh hiệu Anh hùng trước đây đã có cố gắng, nay lại phải khiêm tốn học tập và cố gắng hơn. Các cháu nào đã là Anh hùng thì phải cố gắng tiến lên nữa, các cháu nào chưa là Anh hùng thì cố gắng phấn đấu để trở thành Anh hùng”

Trước sự đánh phá ác liệt của kẻ thù, Đại đội 333 vẫn kiên cường bám trụ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Khi biết sự chiến đấu kiên cường, anh dũng của C333, Bác Hồ đã gửi tặng lẵng hoa và viết thư khen ngợi. Thư Bác viết ngày 27/1/1969, có đoạn ghi rõ: “Suốt bốn năm nay, Đội TNXP số 333 nhận nhiệm vụ làm đường, sửa cầu ở một nơi địch thường đánh phá ác liệt, có nhiều khó khăn gian khổ. Đội phần lớn là các cháu gái đã dũng cảm chiến đấu, tích cực lao động, có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, bảo đảm cầu đường được thông suốt luôn. Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu. Bác mong các cháu mạnh khỏe, vui vẻ, lập nhiều thành tích mới”. 

Đây cũng là bức thư và lời căn dặn cuối cùng của Bác Hồ đối với TNXP trước lúc Người đi xa. Tình cảm và sự quan tâm của Bác đã khiến TNXP trong đội 333 nói riêng và TNXP toàn lực lượng TNXP nói chung rất cảm động và càng hăng hái hơn trong thực hiện nhiệm vụ đầy gian khổ, hy sinh. Thư của Bác  đã trở thành động lực không chỉ của C333 mà còn để thanh niên thực hiện lý tưởng của mình - Lý tưởng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Trích Thanh niên Xung Phong “Những mốc son lịch sử TNXP Việt Nam”, Thứ 4, 8/11/2017).

Sydney ngày 10 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1.694 chữ)

 

Bài 296: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC Đà LÀM TỪ NĂM 1965 ĐẾN 1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Thanh niên xung phong với Đường mòn Hồ Chí Minh. Tổng cộng đã có 530.000 thanh niên xung phong tham gia qua các thời kỳ. Tính trên toàn bộ tuyến Đường Hồ Chí Minh  huyền thoại, lực lượng thanh niên xung phong với quân số bằng 10 sư đoàn đã xây dựng, bảo dưỡng và đảm bảo hoạt động của 67.700 km đường. Nếu chia ra đầu người, mỗi thanh niên xung phong đã đảm bảo duy trì sự thông suốt của gần nửa cây số đường vượt rừng, vượt đèo, vượt sông, suối bất chấp bom đạn Mỹ đánh phá ác liệt suốt ngày đêm.  

Trên 130.800 thanh niên xung phong tham gia trong chiến tranh Việt Nam trong đó hơn 40.000 thanh niên xung phong của 15 tỉnh miền Bắc làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn và ở mặt trận Quảng Bình. Trong bốn tỉnh miền Trung bao gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình đã cung cấp tới gần 90.000 nam nữ thanh niên xung phong - chiếm 55% tổng số thanh niên xung phong toàn miền Bắc. Tỉnh Hải Hưng cũng có gần 10.000 người tham gia Thanh niên xung phong. 

Khẩu hiệu: "Sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm". “Nơi đâu chiến trường cần, thanh niên xung phong có mặt, nơi nào có giặc, thanh niên xung phong xuất quân. “Phục vụ quên mình, anh dũng xung phong, lập công xuất sắc"Một số thành viên TNXP tiêu biểu: 10 nữ thanh niên xung phong hi sinh ở ngã ba Đồng Lộc. 8 liệt sĩ (4 nam, 4 nữ) thanh niên xung phong hi sinh ở hang Tám Cô. Trên 300 thanh niên xung phong hy sinh ở cung đường 1C, tuyến vận tải chi viện từ Campuchia vào Kiên Giang, U Minh. 13 nữ thanh niên xung phong hy sinh tại Truông Bồn, Đô Lương, Nghệ An. 

Tổn thất: Khoảng 10.000 người hy sinh. 46.000 người bị thương, 10.000 người bị nhiễm chất độc màu da cam. 4.500 nữ thanh niên xung phong cô đơn không nơi nương tựa khi về già. Nhiều nữ thanh niên xung phong bị mắc bệnh hysteria một chứng bệnh tâm lý do sống cô đơn quá lâu hoặc do bị chấn thương tâm lý, lo lắng cao độ kéo dài, triệu chứng là thỉnh thoảng khóc cười không lý do, la hét điên loạn(Trích Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Trang này được sửa đổi lần cuối vào ngày 4 tháng 1 năm 2021 lúc 09:44). 

Sydney ngày 11 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 461 chữ)

 

Bài 297: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC Đà LÀM TỪ NĂM 1965 ĐẾN 1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Qua 3 năm chiến đấu trực tiếp với quân Mỹ, tuy vẫn đứng vững trên chiến trường và khiến quân Mỹ sa lầy, nhưng thương vong của quân Giải phóng cũng tăng lên, nếu cục diện này tiếp tục kéo dài thì không thể giành được thắng lợi quyết định. Để xoay chuyển tình thế tạo đột phá cho cuộc chiến tranh, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 nhằm tạo ra cái nhìn mới về cuộc chiến theo hướng có lợi cho mình, ("Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị" – Lê Duẩn) buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán. 

Cuộc tiến công đã đồng loạt nổ ra vào đêm 30 Tết Mậu Thân, tức ngày 30 tháng 1 năm 1968  trên khắp các đô thị miền Nam, và các căn cứ quân sự của đối phương. Hầu hết người Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng hòa của họ hoàn toàn bất ngờ và bị động trước cuộc tấn công này. Để khuếch đại tiếng vang đến mức tối đa, các lãnh đạo Quân Giải phóng đã lựa chọn phương án mạo hiểm nhất là đánh thẳng vào hậu phương của đối phương. Ngay đêm đầu tiên, lực lượng biệt động Sài Gòn đã nhằm vào các mục tiêu khó tin nhất trong thành phố: Toà Đại sứ Mỹ, dinh Tổng thống, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất. 

Cuộc tiến công đã tạo bất ngờ lớn, gây chấn động dư luận thế giới cũng như gây tổn thất đáng kể cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, quân Giải phóng cũng mắc phải những sai lầm trong kế hoạch tác chiến. Quân Giải phóng đã có những đánh giá không đúng với thực tế tình hình và duy ý chí, nhận định thấp về khả năng của đối phương và đánh giá quá cao khả năng của mình, nên Quân Giải phóng đã phải chịu thương vong lớn. Các chỉ huy địa phương của Quân Giải phóng miền Nam đã không tách bạch rõ đâu là “mục tiêu chính trị” của cuộc tiến công, và đâu là mục tiêu được phổ biến để “cổ vũ khí thế” chiến đấu

Mục tiêu thứ nhất là đánh lớn, gây tiếng vang hướng tới dư luận và chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, ngồi vào đàm phán. Còn khi phổ biến tuyên truyền để “cổ vũ khí thế” trong cán bộ binh sĩ, được coi trận "đánh dứt điểm" đối phương. Quân Giải phóng cũng đã không linh hoạt thay đổi tuỳ theo tình hình. Cho nên đã phát động tiếp đợt 2 vào tháng 5; đợt 3  vào tháng 8 khi mà kế hoạch đã bại lộ và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại bị tăng thêm. Sau Tổng tiến công Mậu Thân, Quân Giải phóng bị đánh bật khỏi các đô thị. Các đơn vị quân sự chịu nhiều thương vong, nhiều lực lượng chính trị nằm vùng ở đô thị bị lộ và bị triệt phá.

Do chịu quá nhiều thương vong, thậm chí đã có ý kiến trong giới lãnh đạo Quân Giải phóng đã cho giải tán các đơn vị cỡ sư đoàn, quay trở về lối đánh cấp trung đoàn trở xuống. Họ tránh giao chiến lớn tại miền Nam và rút lui về các chiến khu tại vùng nông thôn, miền núi hoặc đi ẩn náu tại bên kia biên giới Lào và Campuchia, phải tới năm 1970 lực lượng của họ mới hồi phục lại được, trong khi Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hoà lại có đủ thời gian bổ sung những thiệt hại trong năm 1968, đồng thời tiến hành các chiến dịch bình định nông thôn, đặc biệt là chiến dịch Phượng Hoàng nhằm triệt phá phong trào chính trị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. 

Đó là cơ sở để giới quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa cho rằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã thất bại. Tuy nhiên, nhận định của Hoa Kỳ bị xem là quá lạc quan. Trên thực tế, phần lớn Quân giải phóng vẫn bảo toàn được lực lượng, vẫn là thành phần quan trọng trong cuộc chiến, vẫn kiểm soát đồng bằng sông Cửu Long. Mặt khác, Quân Giải phóng cũng có cơ sở để cho rằng Mậu Thân 1968 là một thắng lợi chiến lược trong chiến tranh của họ, bởi họ đã đạt mục tiêu đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có vị thế ngang với Việt Nam Cộng hòa, bắt buộc Mỹ phải xuống thang và bắt đầu rút khỏi Việt Nam. 

Lực lượng quân Giải phóng bị suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn quân Mỹ một khi đã ra đi thì khó mà trở lại. Ngày 31 tháng 3 năm 1968, lần đầu tiên kể từ đầu cuộc chiến, chính phủ Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh. Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh. Tất cả những điều trên tạo cơ sở cho Quân Giải phóng thấy rằng họ đã đạt được mục tiêu đề ra của cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 cho dù phải hy sinh nhiều lực lượng. Tổn thất về lực lượng đã được bù đắp bằng thắng lợi quan trọng hơn ở tầm chiến lược, bởi nó tác động toàn diện đến tình hình quân sự, chính trị, tâm lý xã hội, chiến lược chiến tranh của cả nước Mỹ.

Tại mặt trận Khe Sanh, sau 170 ngày đêm chiến đấu, Chiến dịch đường 9 Khe Sanh đã kết thúc thắng lợi, buộc quân Mỹ phải rút khỏi căn cứ quân sự này. Về mặt chiến lược, kế hoạch xây dựng Hàng rào Điện tử McNamara nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ coi như phá sản và không còn căn cứ nào của Mỹ có thể uy hiếp trực tiếp tuyến đường chiến lược này. Quân Giải phóng miền Nam nhanh chóng tận dụng kết quả thu được: Từ cuối năm 1968, thêm một tuyến đường Trường Sơn được mở, thường gọi là đường Trường Sơn đông để phân biệt với các tuyến ở phía Tây. So với các tuyến phía Tây, đường Trường Sơn đông ngắn hơn và ít khúc khuỷu hơn, nên việc đưa hàng hóa và bộ đội vào miền Nam nhanh hơn đáng kể. 

Đến năm 1969, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng cường đưa quân vào đồng bằng sông Cửu Long để chi viện cho lực lượng bộ đội địa phương bị thương vong nhiều trong Tết Mậu Thân, khiến bộ đội hành quân vào từ miền Bắc đóng vai trò quan trọng hơn tại khu vực này. Trong năm 1968 và đầu năm 1969, Mỹ vẫn tiếp tục tăng thêm quân từ 498.000 lên 537.000, số bom ném xuống Việt Nam tăng từ 83.000 tấn/tháng lên 110.000 tấn/tháng. Bằng chiến dịch Mậu Thân, Quân Giải phóng đã tạo ra bước ngoặt quan trọng cho cả cuộc chiến, đưa họ gần hơn tới chiến thắng chung cuộc.

Sydney ngày 12 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1.318 chữ)

 

Bài 298: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC Đà LÀM TỪ NĂM 1965 ĐẾN 1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Vây ép Căn cứ Mỹ ở Cồn TiênNgày 13/3/68, sau trận chiến đấu tại làng Phúc Sa, Chính trị viên Cù Huy Đường, và Trung đội trưởng Nguyễn Văn Chấp đã anh dũng hy sinh. Tôi được Tiểu đoàn giao nhiệm vụ thay anh Chấp chỉ huy Trung độiNgày 1 tháng 5 năm 1968, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 ra lệnh cho Trung đoàn 27 vây lại căn cứ Cồn Tiên. Ban chỉ huy đại đội quyết định chọn trung đội của tôi thực hiện. Nhiệm vụ của trung đội là vừa đánh địch gây tiếng nổ, vừa bảo vệ tổ bắn tỉa được bố trí cách căn cứ Cồn Tiên khoảng 1 ki-lô-mét. Trung đội 25 người gồm cả tổ thông tin vô tuyến điện. Trên sẽ tăng cường một tổ bắn tỉa từ Hà Nội vào, ngày nào cũng phải nổ súng. 

Cồn Tiên là cao điểm 158 mét so với mặt nước biển. Mặt đồi khá bằng phẳng. Đứng ở Cồn Tiên có thể quan sát một khu vực rộng lớn, thậm chí nhìn ra tận bắc sông Bến Hải. Do vị trí quan trọng của nó nên quân Mỹ đã xây dựng Cồn Tiên thành căn cứ quân sự mạnh, có lô cốt bê tông cốt thép xen lẫn hầm lát bằng những tấm ghi và xếp những bao cát. Trong căn cứ có một tiểu đoàn lính Mỹ và một đại đội pháo 105 ly. Quanh căn cứ chúng bố trí chín lớp hàng rào dây kẽm gai, với nhiều loại mìn giữa các lớp rào. Cồn Tiên đã bị quân ta vây đánh nhiều lần nên địch rất cảnh giác.  

Tối ngày 8 tháng 5 năm 1968, Trung đội 3 do tôi làm trung đội trưởng được lệnh xuất kích. Trang bị ngoài súng đạn, gạo, lương khô, bông băng cá nhân, chúng tôi còn phải mang mìn định hướng, bộc phá ống, cuốc xẻng. Khoảng 21 giờ thì đến Cồn Tiên. Xung quanh căn cứ pháo phát quang dọn sát hàng rào. Tôi phân công ba người đào một hầm khoét xuống lòng đất rồi đào hàm ếch vào sâu đủ khoảng rộng để nằm nghỉ trong đó. Riêng tiểu đội bảo vệ tổ bắn tỉa thì ra bờ suối Lăng Gô, cách hàng rào thứ nhất khoảng 1 ki-lô-mét, cũng đào hầm hàm ếch. 

Cả ngày anh em chúng tôi nằm dưới hầm. Trời tối tôi dẫn hai chiến sĩ dùng mìn định hướng và bộc phá ống vòng lên phía tây căn cứ phá rào để địch tưởng ta tiến công thật. Đánh xong, đợi im tiếng pháo anh em lại về hầm. Máy bay trực thăng vũ trang, máy bay trinh sát OV10, L19 quần lượn suốt ngày, chỗ nào chúng nghi ngờ có quân ta là phóng rốc-két. Sáng ngày 10 tháng 5 năm 1968, tôi điện báo cáo cho tiểu đoàn đưa tổ bắn tỉa vào chiến đấu. Tôi cử hai chiến sĩ hoạt bát ra đón tổ bắn tỉa. Tối hôm sau, năm chiến sĩ bắn tỉa với năm cây súng trường Hung-ga-ri đã vào vị trí ở suối Lăng Gô. 

Tôi nói với anh em: Xung quanh căn cứ địch không còn một cây cỏ, các cậu phải lợi dụng những bụi tre hóa đã bị bom cháy rụi đào công sự dưới đó, rồi ngụy trang bằng than, tro để địch không phát hiện được. Phải chuẩn bị nhiều điểm bắn. Bắn xong phải di chuyển ngay. Mọi người đều nhất trí với ý kiến của tôi. Anh em tiểu đội bảo vệ và các chiến sĩ tổ bắn tỉa đã đào hầm dưới những bụi tre hóa, những chiếc hầm này thật vững chắc. Pháo bắn trúng cũng không thể phá được. Ngày đầu tiên tổ bắn tỉa ra quân đã thu được thắng lợi. Gần chục tên Mỹ đã trúng đạn bắn tỉa. Bọn địch không biết đạn từ đâu bay đến làm gần chục tên lăn ra chết. 

Tổ bắn tỉa hoạt động có hiệu quả. Cứ tên địch nào ngóc đầu lên là anh em tiêu diệt. Các chốt vây ép của ta là chốt cơ động. Nếu ở cố định một chỗ thì trước sau gì địch cũng phát hiện ra. Đến ngày 12 tháng 5 năm 1968, tôi bàn với anh em luồn sâu vào hàng rào thứ 5 căn cứ Cồn Tiên. Chúng tôi gỡ được 31 quả mìn các loại trong khu dự kiến xây dựng công sự hầm hào và tổ chức trận địa chết ở trong đó. Rất may là ở hàng rào có dù pháo sáng do chúng bắn ra, cả dù từ máy bay thả xuống phủ gần như kín những gốc cây, hàng rào, kín cả khu vực. 

Dù trắng và cả màu đỏ loại 18 chéo. Tôi cho rằng không có ngụy trang nào hay như ngụy trang bằng dù của Mỹ. Địch đã "giúp" ta giữ bí mật, quả là "gậy ông đập lưng ông". Hầm nằm dưới dù vừa mát vừa kín đáo. Khi đào hầm hàm ếch, đất được cho vào ba lô rồi đổ rải ra những hố bom, hố pháo địch vừa bắn gần đó, chỗ đất đỏ thì ngụy trang đất đỏ, chỗ lá khô thì rải lá khô để che mắt địch. Chúng tôi lấy hòm gỗ do máy bay địch thả xuống ghép lại thành những căn hầm kiên cố, có thể ngủ nghỉ thoải mái. Hàng ngày địch tung thám báo và xe tăng đi tuần ở ngoài hàng rào. Chúng đâu biết rằng ở trong hàng rào lại có Quân giải phóng.

Tối nào chúng tôi cũng đánh mìn, đánh bộc phá, tập kích quân địch, vừa tiêu hao sinh lực, vừa gây tiếng nổ làm cho địch trong căn cứ ăn không ngon, ngủ không yên, luôn trong trạng thái lo nơm nớp. 20 ngày đầu, tổ bắn tỉa diệt được rất nhiều tính Mỹ. Bọn địch rút kinh nghiệm vừa đánh phá ác liệt vừa thực hiện nghi binh, giơ hình nộm đội mũ sắt để lừa ta, từ đó phát hiện các tổ bắn tỉa. Địch dùng máy bay bắn rốc-két, dùng pháo cối bắn tập trung vào một khu vực. Một số anh em trong tổ bắn tỉa hy sinh, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 cho lệnh rút tổ bắn tỉa ra ngoài củng cố. 

Tính đến ngày 30 tháng 6 năm 1968, trung đội tôi đã vây ép căn cứ Cồn Tiên 52 ngày đêm, giam chân một lực lượng lớn quân địch trong căn cứ, làm cho chúng căng thẳng, tinh thần bạc nhược. Đây cũng là một hình thức chi viện kịp thời nhất, hiệu quả nhất đối với các đơn vị bạn. Mỹ - ngụy không thể tập trung quân lớn để giải tỏa cho hướng Khe Sanh, Làng Vây. Nắm rõ hoàn cảnh khó khăn của anh em, đã gần hai tháng không tắm rửa, sức khỏe giảm sút, Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định cho chúng tôi rút ra cứ củng cố rồi vào đánh tiếp. 

Tối hôm chúng tôi rút, địch cho xe M113 và một trung đội Mỹ ra phục hướng tây bắc. Theo đường xe tăng đi ra, chúng tôi phát hiện địch trước mặt. Tôi quyết định đánh từ phía sau quân địch để mở đường. Địch hoàn toàn bất ngờ vì chúng tôi từ trong căn cứ địch đi ra. Tôi lấy khẩu B40 của một chiến sĩ và nói với hai chiến sĩ B40 còn lại: "Khi tôi bắn vào chiếc xe M113 các cậu cũng nhằm vào hai xe còn lại mà bắn nhé!". Nói rồi tôi giương khẩu B40 nhằm chiếc xe bóp cò. Một tiếng nổ lớn kèm theo là chớp lửa trùm lên chiếc M113. Hai chiến sĩ B40 cũng bắn hai quả đạn nữa vào hai chiếc xe M113 còn lại. 

Cả trung đội tập trung AK, lựu đạn, thủ pháo tiến công quân địch. Sau 15 phút chiến đấu trung đội tôi tiêu diệt hoàn toàn trung đội Mỹ, bắn cháy ba xe M113. Trận đánh kết thúc khoảng 12 giờ đêm. Cả trung đội an toàn. Sau trận đánh xuất sắc đó tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và được chỉ định làm đại đội trưởng thay anh Tiến vì anh Tiến bị thương. 

Sydney ngày 13 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1.440 chữ)

 

Bài 299: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC Đà LÀM TỪ NĂM 1965 ĐẾN 1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Trộm lương thực của Mỹ tại Cao điểm 710. Đến tháng 8 năm 1968, các đơn vị chủ lực của ta bị đánh bật ra khỏi đồng bằng rút lên vùng rừng núi để củng cố, thì Trung đoàn 27 cùng bộ đội địa phương của tỉnh và du kích bám địa bàn tiệp tục chiến đấu để chiến trường lúc nào cũng có tiếng súng. Lúc dồn dập, lúc cầm canh ri rả. Chúng tôi lợi dụng lúc mưa lũ để hành quân, vận tải tránh thương vong, chúng tôi cũng lợi dụng lúc trời nổi cơn giông để đưa bộ đội tiềm nhập. Những lúc như thế là những lúc bất ngờ nhất. Trong mưa gió, người chiến sĩ chiến đấu tuy có vất vả hơn nhiều, song đó lại là những đòn bất ngờ làm cho địch khiếp đảm, kinh hoàng. 

Những ngày cuối năm 1968, tình hình càng trở nên khó khăn, việc tiếp tế từ hậu phương vào bị cản trở do gặp phải nước lũ các sông, suối ở bắc Quảng Trị và bị địch đánh phá. Có kẻ bạc nhược, đầu hàng địch đã khai báo việc ta cho gạo vào bao nylon thả từ đầu nguồn sông Ba Lòng, các đơn vị ở dọc bờ sông cứ thế mà vớt. Thế là bọn địch cho máy bay trực thăng cán gáo bay dọc sông, cứ thấy bao gạo nổi là bắn làm nguồn tiếp tế duy nhất trên sông của bộ đội ta bị gián đoạn. Trước tình hình đó, Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 của tôi căng óc nghĩ các phương án làm thế nào để có lương thực, thực phẩm nuôi cả trăm con người, trong đó có gần sáu mươi thương binh. 

Tôi bàn với ban chỉ huy, cử tổ trinh sát ba người và năm chiến sĩ khỏe, hoạt bát lên cao điểm 710, nơi địch vừa đổ quân và hàng hóa xuống để moi nguồn lương thực, thực phẩm. Hôm đầu anh em mò vào kho quân lương của địch lấy được tám gùi hàng, có cả thịt hộp, thuốc lá. Ba đêm sau, cũng phương thức như vậy anh em lấy được 24 gùi nữa. Đêm thứ năm, khi đã cho thịt hộp vào gùi, trên đường ra bất ngờ anh em gặp tên Mỹ đi tuần tra, nó kêu: Vi xi! Vi xi! Vi xi! Thế là anh em đeo cả ba lô lăn xuống dốc. Địch cho pháo bắn một hồi lâu dọc theo khe suối rồi thôi. Không ai việc gì. 

Cả đại đội lấy rau môn thục, rau tàu bay, rau dớn, rau sam đá về nấu với thịt hộp. Mỗi nồi anh em còn cho thêm một bánh lương khô. Thế là bằng số thực phẩm lấy được của địch, anh em cũng nuôi nhau được gần một tháng cho đến khi Mặt trận cử chín trinh sát mang theo gạo vào Đại đội 2. Sau đợt này tôi cho anh em lấy thịt hộp chôn giấu ở Kiềng và các điểm dừng chân để đến khi gặp khó khăn bị bao vây phong tỏa, có cái để dùng, để sống và chiến đấu. (Trích Sách Một thời Quảng Trị, của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, NXB Quân đội Nhân dân, 2008). 

Sydney ngày 14 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 587 chữ)

 

Bài 300: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC Đà LÀM TỪ NĂM 1965 ĐẾN 1970 (tiếp theo).

Lê Xuân Đỗ

Giai đoạn sau Mậu Thân: 1969-1971. Mùa hè năm 1969, tại quần đảo Hawaii, Richard Nixon gặp Nguyễn Văn Thiệu để bàn về việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam.  Đây là giai đoạn "Việt Nam hoá chiến tranh” giai đoạn Mỹ rút quân dần tùy theo khả năng tự mình đảm nhận cuộc chiến của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Để đồng minh đứng vững, Mỹ đẩy nhanh viện trợ quân sự giúp Việt Nam Cộng hòa xây dựng quân đội mạnh, với các loại vũ khí tối tân, cùng với chiến cụ và cơ sở hậu cần phục vụ chiến tranh mà quân đội Mỹ sẽ để lại. Mỹ cũng yểm trợ về không lực tối đa cho quân đội Việt Nam Cộng hòa trong các giao tranh với Quân Giải phóng. 

Tình hình miền Nam tương đối yên lặng trong các năm 1969–1971. Quân Giải phóng tích cực dự trữ lương thực, đạn dược tại các căn cứ ở Lào, Campuchia và các vùng rừng núi mà quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa chưa với tới được. Quân Giải phóng sử dụng vùng biên giới Lào và Campuchia, được xem là vùng trung lập, làm bàn đạp tấn công vào lực lượng Mỹ-Việt Nam Cộng hòa, sau đó rút lui trở lại bên kia biên giới. Tổng thống Mỹ Nixon muốn chấm dứt tình trạng đó, tháng 3 năm 1970, Mỹ ủng hộ Lon Nol thủ tướng chính phủ Campuchia triệu tập Quốc hội bỏ phiếu phế truất hoàng thân Norodom Sihanouk khỏi vị trí Quốc trưởngsau đó phát động chiến tranh chống cộng tại Campuchia.

Tháng 4 năm 1970, khoảng 40.000 lính Việt Nam Cộng hòa và 31.000 lính Mỹ được huy động mở chiến dịch tấn công vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại biên giới Tây Ninh giáp ranh Campuchia. Do được chuẩn bị trước, ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam và phần lớn lực lượng Quân Giải phóng đã di chuyển sâu vào lãnh thổ Campuchia và tiến hành các trận phản công, gây cho đối phương những thiệt hại đáng kể. Ngày 30 tháng 6 năm 1970 cuộc hành quân chấm dứt, Mỹ tuyên bố tiêu diệt khoảng 2.000 quân Giải phóng, nhưng họ đã không tiêu diệt được ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam. 

Nguyên trước đây Chính quyền Sihanouk thỏa thuận với Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho phép các căn cứ Việt Nam ở sát biên giới Campuchia - Việt Nam, đồng thời cho phép viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam thông qua các cảng Campuchia. Đổi lại Campuchia được đền bù bằng cách Trung Quốc mua gạo của Campuchia với giá cao. Nay với diễn biến chính trị như trên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quay ra ủng hộ Sihanouk và phong trào Khmer Đỏ chống lại Lon Nol.

Lực lượng Quân Giải phóng gồm các sư đoàn 5, 7, 9 của cùng quân Khmer Đỏ đánh lui quân chính phủ Lon Nol, và quân đồn trú của Việt Nam Cộng hòa giành kiểm soát các tỉnh Đông và Đông Bắc Campuchia mở rộng căn cứ nối thông với Lào. Việt Nam Dân chủ cộng hòa cũng cung cấp vũ khí, quân trang quân dụng giúp Khmer Đỏ xây dựng nhiều đơn vị quân sự mới. Vùng lãnh thổ do Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Khmer Đỏ kiểm soát tại Campuchia trở thành hậu cứ lớn, Quân Giải phóng đã có thể thu mua nhu yếu phẩm, thuốc men ngay trên đất Campuchia không phải chờ vào chi viện của miền Bắc cách xa hàng ngàn cây số. 

Tiến trình Việt Nam hoá chiến tranh ban đầu đã diễn ra tương đối thuận lợi. Quân lực Việt Nam Cộng hoà sau Mậu Thân được trang bị hiện đại đã tỏ ra tự tin hơn và đã nắm thế chủ động trên phần lớn chiến trường miền Nam từ năm 1969 đến tận cuối năm 1971. Nhưng điều đó chưa nói lên điều gì lớn vì Quân Giải phóng trong thời kỳ này vẫn chưa hồi phục sau Mậu Thân và không chủ trương đánh lớn. Sự yên tĩnh trên chiến trường tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút quân Mỹ mà không gây ra một sự xấu đi trầm trọng nào. Tranh thủ thời gian yên tĩnh, Việt Nam Cộng hòa đổ công sức tiến hành bình định nông thôn. Một chương trình lớn tái thiết nông thôn được thi hành với viện trợ kinh tế lớn của Mỹ. 

Chiến dịch Phượng Hoàng được triển khai, nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Các toán nhân viên Phượng hoàng áo đen do tình báo Mỹ huấn luyện được phái xuống các xóm ấp, họ ở cùng trong dân nghe ngóng thu thập tình báo, bắt các phần tử nghi ngờ là cộng sản hoặc thân cộng sản tra khảo để phanh ra tổ chức, nếu không khai thác được và vẫn nghi là Cộng sản thì thủ tiêu. Tính tới năm 1972, Mỹ tuyên bố đã "loại bỏ" 81.740 người ủng hộ quân Giải phóng, trong đó 26.000 tới 41.000 đã bị giết. Số người bị thủ tiêu lên đến hàng ngàn người. Các biện pháp này đã có hiệu quả tốt về an ninh, tình hình nông thôn trở nên an toàn hơn. 

Việc Quân Giải phóng cùng quân Khmer Đỏ giành kiểm soát các tỉnh Đông Bắc Campuchia đã mở rộng căn cứ nối thông với Lào giúp Quân Giải phóng thiết lập một hệ thống kho tàng tại Hạ Lào nhận quân dụng từ miền Bắc, rồi chuyển đến các tỉnh Đông Bắc Campuchia và đổ vào các căn cứ Tây Ninh.  

Sydney ngày 15 tháng 7 năm 2023

(Bài viết có 1.018 chữ)

Hết Chương XII gồm 28 bài: 273 – 300

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét