Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2023


 

Chương 7: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ: THỜI ĐỆ NHẤT 1955-1963.

(Có 62 trang và 42.348) 

Chính quyền Việt Nam Cộng hoà là Chính quyền Quản lý miền Nam sau Hiệp định Genève 1954. Ngày 23 tháng 10 năm 1955, dưới sự bảo trợ của Mỹ, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tổ chức một cuộc Trưng cầu Dân ý, truất phế Quốc trưởng Bảo Đại. Ở cương vị Quốc trưởng, Ngô Đình Diệm đổi tên Chính quyền Quốc gia Việt Nam, thành Chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Và, chức Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam của ông ta đổi thành Tổng thống Việt Nam Cộng hoà.    

 

1. CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM:

29.10.1955 – 28.5.1961.

I. Bối cảnh thành lập.

1. Từ kết quả “Trưng cầu Dân ý”, ngày 26/10/55, Ngô Đình Diệm tuyên bố Hiến ước Tạm thời: “Việt Nam là một nước Cộng hòa”; Quốc trưởng lấy danh hiệu là “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa”; Một Ủy ban được thiết lập để sọan thảo “Dự án Hiến pháp”; Một “Quốc dân Đại hội Dân cử” sẽ xét định Hiến Pháp”; Các “Luật lệ hiện hành” vẫn tạm giữ nguyên. Cũng ngày, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành 2 Sắc lệnh: Sắc Lệnh số 1/TTP “Chính phủ cũ được lưu lại Xử lý Thường vụ”; và Sắc Lệnh số 2/TTP “Ngày 26/10 sẽ là ngày Quốc khánh”. Ngày 29/10/1955, thành lập Chính phủ Ngô Đình Diệm, là Chính phủ đầu tiên của thể chế mới “Việt Nam Cộng hòa”.

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Ngô Đình Diệm

Tổng thống kiêm Bộ trưởng Quốc phòng

2

Bùi Văn Thinh

Tổng trưởng Nội vụ

3

Nguyễn Văn Sĩ

Tổng trưởng Tư pháp

4

Vũ Văn Mẫu

Tổng trưởng Ngoại giao

5

Trần Hữu Phương

Tổng trưởng Tài chánh Kinh tế

6

Trần Chánh Thành

Tổng trưởng Thông tin

7

Nguyễn Dương Đôn

Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục và Thanh niên

8

Vũ Quốc Thông

Tổng trưởng Y tế và Xã hội

9

Huỳnh Hữu Nghĩa

Tổng trưởng Lao động

10

Nguyễn Công Viên

Tổng trưởng Canh nông

11

Trần Văn Mẹo

Tổng trưởng Công chánh kiêm Bộ trưởng Kinh tế

12

Nguyễn Văn Thời

Tổng trưởng Điền thổ và Cải cách Điền địa

13

Nguyễn Hữu Châu

Bộ trưởng đại diện Phủ Thủ tướng

14

Trần Trung Dung

Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng

III. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 17/12/55, Lào và Mên được thâu nhận vào Liên Hiệp Quốc. Ngày 28/1/56, Quân đội của Sơn Ngọc Thành bị Quân đội Hoàng gia Cao Mên tấn công 108 chết, 55 bị thương, nhiều võ khí bị tịch thu. Ngày 2/2/56, Quân Pathet Lào cùng quân Bắc Việt đánh mạnh vào Mương Péum và Ban Honei Sai, quân đội Hoàng gia Lào phản công. Ngày 25/2/56, tại Đại hội đảng Cộng sản Liên Xô, Kroutchev đã kích kịch liệt thân thế và chính sách Staline. Ngày 18/3/56, báo chí Âu Mỹ bình luận nhiều về bài diễn văn của Kroutchev mạt sát thậm tệ Staline, và đả kích chính sách tôn thờ cá nhân. Ngày 17/5/56, Lý Thừa Vãn tái đắc cử Tổng thống Đại Hàn lần thứ 3, với 4.958.256 phiếu trong số 8.899.882 phiếu bầu... 

Ngày 20/5/56, Mỹ thí nghiệm bom khinh khí tại đảo Bikini, bom do Phi cơ B52 ném, trái nấm cao 3.000 thước có bầu lửa hồng và xanh tỏa rộng chừng 5 cây số. Ngày 28/6/56, thợ thuyền Poznan, Ba Lan nhân dịp Hội chợ Quốc tế, nổi lên chống  chính quyền Cộng sản. Quân đội đàn áp làm 70 người chết và hơn 300 bị thương. Có vài nơi binh sĩ tiếp tay với nhóm bạo động. Ngày 26/7/56, Tổng thống Ai Cập Nasser tuyên bố quốc hữu hóa kênh đào Suez cùng Công ty Suez, để lấy phương tiện xây đập Assouan sau khi việc xin vay tiền bị Quốc hội Mỹ bác bỏ. Ngày 1/8/56, nhiều bộ lạc Tây Tạng nổi lên chống Trung Cộng. 

2. Ngày 10/8/56, Thủ tướng Lào Souvanna Phouma và Hoàng thân Pathet Lào Souvannouvong ký tuyên ngôn chung: “sẽ tổ chức Tổng tuyển cử tự do; sẽ lập một Chính phủ Liên hiệp có đại diện Pathet Lào”. Ngày 3/9/56, Cộng sản Hung Gia Lợi thiết lập tường ngăn biên giới Hung-Áo bằng lưới sắt có dẫn điện để cản dân Hung trốn qua Áo. Ngày 1/10/56, Văn nghệ sĩ Hung Gia Lợi đòi tự do; đòi Imre Nagy một người cởi mở trở lại cầm quyền; đòi bãi bỏ dạy tiếng Nga trong các trường; đòi Nga Xô không được can thiệp quá mạnh vào nội bộ nước Hung Gia Lợi. 

Ngày 12/10/56, Do Thái vẫn bị mấy xứ Ã Rập gây hấn, Liên Hiệp Quốc bất lực, quân Do Thái đánh phá một đồn Jordanie, Anh dọa can thiệp, bênh vực Jordanie theo Hiệp ước tương trợ. Nasser cũng dọa đánh. Ngày 23/10/56, Thanh niên thợ thuyền biểu tình lớn tại Thủ đô Budapest của Hung Gia Lợi đòi Imre Nagy trở lại Chính quyền và trục xuất hết Nga Xô ra khỏi Hung; giật đổ tượng Staline ở Thủ đô. Ngày 24/10/56, thợ thuyền chiếm đóng nhiều Thị trấn và lập ra Chính quyền riêng chống đối chính phủ Hung, Imre Nagy được trở lại cầm quyền. Ngày 25/10/56, quân Nga đàn áp các nhóm nổi dậy ở Budapest, hai bên kịch chiến trong thành phố. 

3. Ngày 28/10/56, Thủ tướng Imre Nagy yêu cầu các nhóm nổi loạn ngưng bạo động, đóng cửa các nhà máy chờ thương thuyết, chờ quân đội Nga rút lui. Song Phe nổi dậy vẫn đánh mạnh, quân Nga Xô từ Ukrain kéo sang. Phong trào khởi nghĩa lập một mặt trận toàn quốc. Phi cơ Nga ném bom vào các ổ kháng chiến. Ngày 29/10/56, quân đội Do Thái tiến sang vùng Sinai đánh quân Ai Cập để ngăn chận Ai Cập tiếp viện cho Jordanie. Ngày 30/10/56, Anh và Pháp gởi tối hậu thư cho Do Thái và Ai Cập đòi quân hai bên phải rút xa cách Kênh đào Suez 16 cây số, và đòi chiếm đóng vùng nầy để bảo vệ tự do giao thông. 

Ngày 30/10/56, quân Nga chịu rút khỏi Budapest, nhưng Hội đồng Cách mạng còn đòi quân Nga phải rút khỏi lãnh thổ Hung. Kadar chủ tịch đảng Công sản Hung cũng chịu cho các đảng phái khác tái lập. Ngày 31/10/56, Imre Nagy tuyên bố trước dân chúng Budapest “Cách mạng đã thắng, Hiệp ước Varsovie không còn; quân đội Nga sẽ rút khỏi Hung; chế độ độc đảng bị thủ tiêu; nhiều đảng sẽ tham gia chính phủ”. Ngày 31/10/56 Anh và Pháp chuyển lực lượng Hải, Lục, Không quân tới Suez và đổ bộ lên Ai Cập, Phi cơ Anh oanh tạc Thủ đô Ai Cập, các nước Syrie, Liban, Iraq tuyên bố tình trạng khẩn trương. Ngày 1/11/56, Do Thái và Ai Cập vẫn đánh nhau trên mặt trận Sinai.

4. Ngày 1/11/56, Hội đồng Cách mạng Hung và Thủ tướng Nagy yêu cầu quân Nga rút ngay và gởi Phái đoàn thương thuyết, Hung tuyên bố trở thành nước Trung Lập. Ngày 2/11/56, tại Ai Cập, tài sản Anh, Pháp bị phong tỏa, 450 kỹ thuật viên Anh bị bắt giam. Vợ con kiều dân Anh, Pháp không được rời khởi Ai Cập. Anh và Pháp đoạn giao với Ai Cập. Cùng ngày 2/11/56, Quân đội Syrie tấn công quân Jordanie, Jordanie tổng động viên. Hội Đồng Bảo An Liên hiệp Quốc biểu quyết đòi ngưng bắn tại Ai Cập. Ngày 2/11/56, tại Hungary hơn 400 chiến xa Nga tiến vào đất Hung, và quân đội Nga chiếm đóng Phi trường Budapest. Ngày 3/11/56, tướng Kiraly được cử làm Tư lệnh Vệ Binh Hung. 

Ngày 4/11/56, Imre Nagy lại làm Thủ tướng Hung tuyên bố, quân Nga chiếm đóng Budapest, chúng ta chống lại. Cùng ngày, Nagy và nhiều Bộ trưởng bị bắt, thiết giáp Nga bắn phá giết hại nhiều người nổi dậy, Kadar chủ tịch đảng Công sản Hung được cử làm Thủ tướng. Ngày 5/11/56, Ai Cập cho phá các cầu bắc qua kênh Suez, và đánh chìm 32 chiếc tàu để ngăn cản giao thông. Quân nhảy dù Anh Pháp đổ xuống Port Said tỏa ra chiếm đóng quanh vùng Suez. Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc biểu quyết lập một lực lượng Quốc tế giám sát thi hành ngưng bắn ở Kênh đào Suez. 

5. Ngày 7/11/56, quân Nga tiếp tục tiến đánh các ổ kháng cự của quân kháng chiến ở Budapest. Số người bị sát hại ở Hung lên tới 15.000 người. Tại nhiều Thủ đô Mỹ và Châu Âu dân chúng biểu tình bênh vực nghĩa quân Hung. Nhiều quốc gia gởi thuốc men quần áo tới Vienne để giúp dân tị nạn Hung. Ngày 10/11/56, ngưng bắn ở Ai Cập, Do Thái bắt đầu rút quân. Quân Liên Hiệp Quốc giám sát ngừng bắn đã tới Ai Cập. Ngày 13/11/56, tướng Gruenther, Tổng Tư lệnh Bắc Đại Tây Dương (NATO) tuyên bố sẽ tàn phá Nga Xô nếu Nga bắn hỏa tiển vào một trong các nước Thành viên NATO ở Tây Âu. 

Ngày 19/11/56, có hơn 32.000 người Hung trốn qua Áo, và 172 người xin tỵ nạn ở Ba Lê. Đến giờ nầy quân Nga có mặt tại Hung lên tới 200.000. Ngày 21/11/56, thợ thuyền các ngành kỷ nghệ Hung biểu quyết tổng đình công, đòi Nagy trở lại cầm quyền, và đòi rút hết quân Nga. Ngày 28/11/56, chính phủ Kadar cố tỏ ra hòa hoãn trong cuộc điều đình với Hội đồng thợ thuyền và Nông đân để xoa dịu tình thế tai Hung. Ngày 28/11/56, theo tài liệu Liện Hiệp Quốc có 92.325 người tị nạn Hung qua Áo, 24.916 được đưa qua các xứ khác. Hoa Kỳ nhân 5.000 người. Việt Nam gởi Hội Cứu trợ quốc tế 2.450.000$ tiền quyên giúp tị nạn Hung Gia Lơi. 

6. Ngày 30/11/56, tin từ Áo có thêm 3.000 người Hung chạy sang Áo tị nạn. Ngày 30/11/56, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc biểu quyết đòi Anh, Pháp, Do Thái rút khỏi Ai Cập. Ngày 3/12/56, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, Hammarskjold ra lênh cho tướng Burns Tư lệnh quân đội Liên Hiệp Quốc, xúc tiến việc triệt thoái quân Anh, Pháp ra khỏi Ai Cập. Ngày 4/12/56, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc biểu quyết với đa số thuận yêu cầu Nga Xô rút khỏi Hung và ngưng ngay các biện pháp trừng phạt. Quân Anh và Pháp rút hết khỏi Ai Cập. Ngày 12/12/56, Liên Hiệp Quốc lên án Nga Xô vụ đàn áp ở Hung Gia Lợi với 55 phiếu thuận. 

Ngày 12/12/56, theo tin báo chí Ba Lê, tại Hung có 120.000 bị sát hại, 300.000 bị thương, và 132.000 người tị nạn. Tình hình Hung vẫn rối ren. Chính phủ Kadar chưa trấn tĩnh nổi thợ thuyền. Tại Ba Lan cũng có biểu tình bênh vực Hung. Ngày 17/12/56, thợ thuyền ở Hung trở lại làm việc. Ngày 24/1/57, Hàng ngàn dân Hung Gia Lợi vẫn tiếp tục trốn sang Áo. Ngày 10/3/57, Chu Ân Lai đọc diễn văn đã kích Nga Xô muốn nắm quyền bá chủ nhiều nước Cộng sản. Ngày 15/3/57, có tới 5 cuộc dấy loạn ở 5 đảo ở Nam Dương, Phe dấy loạn đòi Chính  phủ từ chức, và yêu cầu cựu Thủ tướng Hatta trở lại cầm quyền để thi hành chính sách chống Cộng. 

7. Ngày 17/3/57, tổng thống Phi Luật Tân, Magsaysay đi kinh lý ở Cebu, trên đường về bị tại nạn phi cơ. Di hài tổng thống Magsaysay được chở về Manilla để làm quốc táng vào ngày 22/3/57. Ngày 25/3/57, Pháp, Tây Đức, Lục Xâm Bảo, Bỉ, Ý, Hòa Lan, ký Hiệp ước về “năng lượng nguyên tử và Thị trường chung” (Traité sur le Marché Commun Européen et l’Euratom). Ngày 11/4/57, Chính phủ Lào điều đình để quân Hoàng gia tới kiểm soát Phong Saly và Sam Neua do Pathet Lào chiếm đóng, không kết quả. Ngày 11/4/57, Tân Gia Ba trở thành Quốc gia Tự trị. Ngày 15/4/57, Ai Cập cho tàu biển các nước qua kênh Suez, nhưng phải nộp thuế cho chính quyền. 

Ngày 28/4/57, tình hình Trung Cận Đông căng thẳng Syrie dọa đánh Jordanie, Nga muốn can thiệp, Mỹ phái hạm đội tới cảnh cáo Nga, Syrie lui quân. Mỹ tuyên bố viện trợ Jorrdanie và bảo vệ Do Thái. Ngày 24/5/57, dân chúng biểu tình đập phá Tòa Đại sử Mỹ ở Đài Bắc, vì Tòa án Mỹ tha bổng trung sĩ Reynolds can tội giết một lính Tàu. Ngày 29/5/57, Ngoại trưởng Mỹ, Foster Dulles tuyên bố mặc dù có vụ biểu tình 24/5 vừa qua, việc bang giao Mỹ-Hoa không thay đổi. Ngày 21/6/57, Nghị sĩ Katay Sasorith lập Chính phủ Lào, hạn cho Pathet Lào trong 2 tháng phải trả lại Phong Saly và Sâm Neua. Hôm sau 22/6, Quốc hội Lào không thừa nhận Chính phủ Katay Sasorith. 

8. Ngày 28/6/57, Trung Cộng bắn 9.395 trái phá vào đảo Kim Môn và Hạ Môn, Đài Bắc chuẩn bị đối phó. Ngày 30/6/57, các cơ quan Chính phủ Đài Bắc tản cư đề phòng Trung Cộng xâm lăng. Ngày 5/7/57, Nhiều lãnh tụ Nga bị khai trừ: Molotov, Malenkov, Kaganovictch, Chepilov. Kroutchev, cùng với Joukov, và Boulganine nắm toàn quyền. Ngày 9/7/57, Kroutchev chánh thức đề nghị chung sống hòa bình với Phương Tây, kêu gọi Mỹ mở Hội nghị Tối cao chấm dứt Chiến tranh lạnh. Ngày 30/7/57, Kroutchev gởi thông điệp cho Chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận trao đổi “Vô tuyến Truyền hình với Mỹ, và yêu cầu xét luôn nhiều vấn đề khác để mở rộng bang giao. Ngày 5/8/57, Sinh viên biểu tình tại Hung Gia Lợi, và cả Lỗ Ma Ni đòi bỏ chương trình học tiếng Nga, và thuyết Mac-xít, hơn 300 người bị bắt... 

Ngày 7/8/57, Sau 10 tuần lễ khủng hoảng, hết Katay Sasorith đến Phouma chưa ai được Quốc hội thừa nhận, vì các đảng phái chia rẽ. Ngày 8/8/57, Hoàng thân Souvanna Phouma lập Chủ phủ mới và được Quốc hội thừa nhận. Ngày 15/8/57, Chính phủ Phi Luật Tân muốn điều đình với lãnh tụ Cộng sản (Huks) Phi là Jesus Lava. Các cuộc điều đình không thành, 8 Tiểu đoàn quân Chính phủ tấn công quân Huks ở Quezon. Ngày 15/8/57, Pháp định lại đồng France một cách gián tiếp. Hàng nhập cảng bị đánh thuế 20%; hàng xuất cảng trợ cấp 20%; du khách ra ngoại quốc mua France đắc hơn 20%; du khách tới Pháp mua France rẽ hơn 20%. 

9. Ngày 21/8/57, thiết quân luật tại Vọng Các, Thống chế Sarit Thanarat, cùng các Bộ trưởng Quốc phòng và Nội vụ từ chức. Ngày 24/8/57, lại có 3 Bộ trưởng nửa từ chức tại Vọng Các. Ngày 31/8/57, Mã Lai ăn mừng độc lập, tuyên bố độc lập đúng 12 giờ đêm 31. Ngày 12/9/57,Thống chế Sarit Thanarat và 46 Sĩ quan có chân trong Nghị viện, từ chức Nghị sĩ, rút khỏi đảng ủng hộ chính quyền. Ngày 14/9/57, lại vài chục Nghị sĩ Thái Lan, cùng 4 Tổng trưởng từ chức, trong 18 Tổng trưởng chỉ còn 3 trong chính phủ. Ngày 14/9/57, 60 nước tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc bỏ thăm lên án Nga Xô về vụ đàn áp Hung Gia Lợi. 

Ngày 16/9/57, Thủ tướng Thái Lan Phibul Songgram, chịu thải tướng Phao Tổng Giam đốc Cảnh sát, nhưng nhất định không từ chức. Buổi sáng, 58 Sĩ quan cùng Thống chế Sarit Thanarat tới yêu cầu Phibul rút lui. Buổi tối, hàng ngàn người biểu tình tràn vào Dinh Thủ tướng đòi Phibul rút lui nhường chổ cho Sarit Thanarat. Lúc 23 giờ, Thống chế Sarit Thanarat cho quân canh gác trong Đô thành, chiếm Sở Cảnh sát. Ngày 18/9/57, Quốc vương Thái Lan tuyên bố giải tán Quốc hội, cử một Nghị viện Lâm thời, giao quân đội lập Nội các. Pote Sarrasin một nhà Ngoại giao được ủy lập Chính phủ, Phibul lánh sang Cao Mên. 

10. Ngày 1/10/57, vài tháng nay, Pháp khủng hoảng Nội các, các đảng phái chia rẽ về vấn đề Algérie. Hôm nay Thủ tướng Bourges Maunoury lại từ chức. Ngày 4/10/57, Nga phóng vệ tinh Spoutnik, bay vào quỷ đạo với vận tốc 8.000 thước 1 giây, cao 900 km. Ngày 19/10/57, Ai Cập đem quân qua Syrie, hai nước cùng đánh Do Thái, bắn nhau ở biên giới Syrie-Thổ. Nga tố cáo Mỹ gây hấn, dùng Thổ để khiêu chiến. Ngoại trưởng Mỹ tuyên bố, Mỹ đủ lực lượng ở Trung Đông để đối phó, tình hình căng thẳng, Liên Hiệp Quốc cố hòa giải. Ngày 3/11/57, Nga phóng Vệ tinh thứ 2, mang theo con chó Laika. Chó vẫn sống. Ngày 4/11/57, Thông cáo Nga các Thống chế Joukov, Sokolovski, và nhiều tướng lãnh khác bị thanh trừng do chống đối sự kiểm soát của Đảng Cộng sản trong quân đội. Ngày 5/11/57, Quốc hội Pháp đã thừa nhận Chính phủ mới của Félix Gailard. 

Ngày 5/11/57, Hoàng thân Souphanouvong tuyên thệ trước Thái tử Lào về hợp tác với Chính phủ, trả lại 2 tỉnh Phong Saly và Sam Nuea, để quân Pathet Lào sát nhập vào quân đội Hoàng Gia. Ngày 11/11/57, Vệ tinh thứ 2 của Nga biệt vô âm tín. Có tin chó Laika đã chết. Ngày 20/11/57, Phó tổng thống Carlos Garcia đắc cử Tổng thống Phi Luật Tân. Ngày 6/12/57, Hoa Kỳ phóng Vệ tinh thứ nhất, nhưng thất bại, bắn lên lại rớt xuống. Dư luận Mỹ xôn xao. Ngày 7/12/57, Nam Dương quốc hữu hóa các xí nghiệp, phong tỏa các Tài khoản, đóng cửa 8 Tòa Lãnh sự và trục xuất hàng vạn kiều dân Hà Lan, vì Hà Lan không chịu trả đất Nouvelle Guinée. Ngày 15/12/57, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Mã Lai, và Úc kêu gọi Hà Lan và Nam Dương hòa giải để tránh chiến tranh. 

11. Ngày 5/1/58, Pathet Lào đã chịu hợp tác với Chính phủ Lào, Hoàng thân Souvanna Phouma sang Ba Lê đàm phán về sự cộng tác Pháp-Lào. Ngày 5/1/58, tại Nam Dương quân đội chuẩn bị đánh vào Nouvelle Guinée còn do Hòa Lan cai trị. Ngày 8/1/58, Quốc vương Cao Mên giải tán Quốc hội, vì nhiều Nghị sĩ chống đối Chính phủ. Ngày 18/1/58, Hoa Kỳ viện trợ cho Lào 45 triệu Mỹ kim. Ngày 19/1/58, Quân đội Hoàng gia Lào tới tiếp quản Phong Saly và Sầm Nứa hơn 7.000 quân Pathet giải giáp. Ngày 19/1/58, Nam Dương và Nhật ký Hiệp ước bồi thường chiến tranh, theo đó, Nhật sẽ trả cho Nam Dương “mỗi năm 12 triệu Mỹ kim hàng hóa và trả 12 năm. 

Ngày 25/1/58, Quốc hội Mỹ chấp thuận cho tổng thống Eisenhower toàn quyền hành động và xử dụng các lực lượng để bảo vệ Đài Loan và quần đảo Bành Hồ. Ngày 28/1/58, Mỹ và Nga ký Hiệp ước về “Văn hóa, và giao thông hàng không”, và sẽ trao đổi vô tuyến truyền thanh, truyền hình phim ảnh, các chuyên viên, giáo sư, nghệ sĩ, thể thao.v.v; sẽ lập đường bay thẳng Nga-Mỹ. Ngày 31/1/58, Mỹ phóng lên không gian Vệ tinh đầu tiên Explorer, nặng 13 kg 365 do Von Braun chế tạo. Ngày 1/2/58, Ai Cập và Syrie ký Hiệp ước hợp nhất hai nước thành Cộng hoà Thống nhất à Rập (R.A.U). Ngày 7/2/58, Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến thành lập 11/6/1954, chuyển trụ sở từ Hà Nội vào Sài Gòn. 

12. Ngày 10/2/58, Đại tá Hussein tư lệnh vùng Sumatra, gởi tối hậu thư yêu cầu Chính phủ Djuanda ở Nam Dương từ chức nhường quyền cho “nhóm Chống Cộng Hatta” nếu không sẽ nổi loạn và ly khai. Ngày 11/2/58, Nhân viên Ủy hội Quốc tế rời khỏi Lào vì xong nhiệm vụ, nước Lào đã thống nhất. Ngày 19/2/58, Chu Ân Lai tuyên bố sẽ rút hết 350.000 quân Tàu Cộng khỏi Bắc Cao Ly. Ngày 24/2/58, Chính phủ Nam Dương mở cuộc hành quân đánh quân ly khai của Đại tá Hussein, oanh tạc dữ dội vùng Sumattra. Ngày 24/2/58, Bourguiha huy động quân đội ở Tunisie bao vây Tổng hành dinh Pháp, đòi Pháp phải rút quân khỏi quân cảng Bizerte. Ngày 5/3/58, Mỹ phóng Vệ tinh Explorer II, nhưng có tin không thành công. 

Ngày 13/3/58, hơn 10 Tiểu đoàn quân đội Nam Dương tiếp tục tấn công mạnh vào loạn quân ở Sumattra và đã tiến mạnh nhiều nơi. Ngày 13/3/58, Pháp cho Bắc Việt đặt Phái đoàn Thương mại ở Paris. Ngày 17/3/58, Mỹ phóng được lên quỷ đạo Vệ tinh Vanguard I. Ngày 23/3/58, tuyển cử Quốc hội Mên, đảng của Sihanouk lại đại thắng. Ngày 27/3/58, Kroutchev, Tổng Thư ký đảng Cộng sản lật đổ Boulganine, và kiêm nhiệm Thủ tướng Nga. Ngày 3/4/58, Phù thủy Burnah người Ấn Độ làm phép ở Nantes nhịn đói trong áo quan bằng kính 106 ngày mà vẫn còn sống. 

13. Ngày 10/4/58, Ở Hà Nội, một số người liên can đến vụ Nhân Văn 1956 bị ghép tội “Gián điệp” bắt giam gồm: Nữ sĩ Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Lê Nguyên Chí.v.v. Ngày 14/4/58, chiến sự ở Nam Dương rất kịch liệt giữa quân chính phủ và quân Cách mạng, hai bên xuất trận hàng vạn quân. Ngày 17/4/58, ở Bắc nhiều nhà văn nghệ bị lên án phản động, phản đảng, phản Mác-Lê. Tổng cục Chính trị kết tội Đào Duy Anh, Văn Cao, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Từ Phác, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Cầm, Trần Duy, Trần Dần, Thụy An, Hoàng Tích Linh.v.v 

Ngày 3/5/58, ông Pesik, Tổng Lãnh sự Nam Dương tại Sài gòn họp báo tuyên bố từ chức và đi theo quân cách mạng chống Cộng, sau đó đã cùng gia đình sang Tân Gia Ba. Ngày 7/5/58, kết quả bầu cử Quốc hội Lào: nhóm Neo Lào Haksak tức Pathet Lào thắng ở Vạn Tượng và Luang-Prabang, Hoàng thân Souphanouvong đắc cử. Ứng cử viên phái Hữu thắng ở hai tỉnh Phong-Saly và Sầm Nuea. Số Nghị sĩ tăng từ 38 lên 59 vì có thêm 2 tỉnh Phong Saly và Sâm Nuea mới sáp nhập. Ngày 13/5/58, biểu tình của kiều dân Pháp tại Alger chống chủ trương nghị hòa. Ở Ba Lê cũng có biểu tình chống phe chủ hòa. 

14. Và hôm sau 14/5, tướng Massu kêu gọi De Gaulle ra cầm quyền, tổng thống Coty kêu gọi các tướng ở Alger tuân kỷ luật, Pflimlin được Quốc hội công nhận làm Thủ tướng. Ngày 14/5/58, xung đột giữa Nam Tư và Nga Xô, hai bên đả kích nhau dữ dội vì Nam Tư không chịu theo đường lối Nga Xô. Ngày 15/5, tướng De Gaulle tuyên bố, vì tình thế sẵn sàng trở lại cầm quyền. Tướng Massu, Salan ủng hộ De Gaulle. Quốc hội Pháp sôi nổi vì thái độ của De Gaulle, các đảng phái lo sợ nạn độc tài quân sự. 

Ngày 19/5/58, Pháp chia 2 phe rõ rệt “phe Quốc hội gồm các chính đảng và phe Quân nhân. Quốc hội nhất định chống phe Quân nhân, ban bố tình trạng khẩn cấp, cách chức nhiều tướng lãnh, ra lệnh cấm trại, động viên Hiến binh, bắt giam các phần tử chống đối, lập Ủy ban Bảo vệ Tự do và Cộng hòa. Phe Quân nhân mở rộng Ủy ban Cứu quốc Alger, Soustelle trốn sang Alger hô hào kiều dân Pháp ủng hộ De Gaulle. Ngày 21/5/58, quân Pháp và quân Tunisie bắn nhau, phi cơ Pháp oanh tạc vì quân Tunisie toan chiếm Phi trường Ramada. Ngày 24/5 Quốc hội Pháp sửa đổi Hiến pháp tăng quyền cho Chính phủ. 

15. Ngày 27/5/58, De Gaulle lên Paris tiếp xúc với nhiều chính khách, Thủ tướng Pflimlin yêu cầu vị tướng nầy dùng uy tín kêu gọi tôn trọng trật tự. Mỹ ca ngợi De Gaulle. Các tả phái biểu tình rầm rộ chống De Gaulle. Tổng thống Coty nhờ các Chủ tịch Quốc hội và Hội đồng Cộng hòa đến bàn với De Gaulle về thể thức lập ra chính phủ. Ngày 31/5/58, Tổng thống Coty gởi thông điệp cho Quốc hội Pháp lưu ý các Nghị sĩ họa Nội chiến, và dọa từ chức nếu Quốc hội không thuận để De Gaulle ra cầm quyền. Do sự can thiệp của Vincent Auriol, đảng Xã hội bằng lòng ủng hộ De Gaulle, De Gaulle nhận lập Chính phủ và hứa sẽ đưa Hiến pháp ra Trưng cầu Dân ý. 

Ngày 1/6/58, Quốc hội Pháp với 329 phiếu thuận 224 phiếu chống thừa nhận Chính phủ De Gaulle và giao cho Chính phủ nầy toàn quyền hành động trong 6 tháng. Ngày 2/6/58, tại Tunisie, tổng thống Bourguiba đòi Pháp rút hết quân khỏi Tunisie. Ngày 16/6/58, Tướng Pal Maleter nguyên bộ trưởng Quốc phòng Hung Gia lợi và nguyên Thủ tướng Imre Nagy, cầm đầu cuộc khởi nghĩa Hung Gia Lợi bị Nga hành quyết, báo chí Âu Mỹ cực lực đã kích Nga. Ngày 17/6/58, Pháp nhượng bộ Tunisie rút quân về Quân cảng Bizerte. Cùng ngày 17/6 ại Liban, Chính phủ thân Phương Tây của Thủ tướng Chamoun bị loạn quân đe doạ lật đổ. Phe dấy loạn được Ai Cập giúp đở. Anh Mỹ sửa soạn can thiệp. 

16. Ngày 20/6/58, Biểu tình chống Nga ở nhiều thành phố Châu Âu. Ngày 21/6/58, Nội chiến dữ dội ở Liban, Liên Hiệp Quốc quyết định đưa quân Quốc tế sang giữ trật tự. Ngày 14/7/58, đảo chánh ở Irak, Quốc vương Faycal bị giết. lãnh tụ đảo chánh là tướng Kassem, có khuynh hướng bài Phương Tây. Ngày 16/7/58, quân Mỹ đổ bộ vào Liban, quân Anh đổ bộ vào Jordanie. Hạm đội VI Hoa Kỳ đặt trong tình trạng báo động. Ngày 19/7/58, quân Anh đổ bộ thêm ở Lybie, quân Mỹ kéo 10.000 tới Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 19/7/58, Kassem nhượng bộ tuyên bố không đụng chạm đến các mỏ dầu và vẫn tôn trọng Hiệp ước bảo vệ Trung Đông. Ngày 31/7/58, tướng Chehab được bầu làm Tổng thống Liban, làm vừa lòng cả 2 phe đối lập. Anh và Mỹ cũng tán thành và hứa rút quân. 

Ngày 15/8/58, quân Trung Công tập trung ở Phúc Kiến và pháo kích dữ dội vào các đảo Kim Môn và Mã Tổ của Đài Loan. Ngày 15/8/58, Ở Lào, Nghị sĩ Sananikone lập Chính phủ thay Hoàng thân Souvanna Phouma. Ngày 16/8/58, Trung Đông lại căng thẳng, trong nội địa Liban hai phe lại tấn công nhau. Jordan cũng rối loạn. Ngày 16/8/58, không chiến giữa Phi cơ Quốc- Cộng ở eo biển Đài Loan, Đệ thất Hạm đội Mỹ kéo về phía đảo nầy. Ngày 19/8/58, Thái và Mên họp Hội nghị giải quyết tranh chấp biên giới nhưng không thành. Ngày 19/8/58, Trung Cộng phát động ồ ạt Phong trào lập ra Công xã trên toàn quốc.

17. Ngày 21/8/58, Các nước à Rập Trung Đông cam kết không xâm phạm lãnh thổ, và xen lấn vào công việc nội bộ của mỗi nước, chấp thuận Quan sát viên Liên Hiệp Quốc tai Liban và Jordan, để Anh Mỹ rút quân. Liên Hiệp Quốc chấp thuận. Ngày 22/8/58, trọng pháo Trung Cọng bắn dữ dội sang đảo Kim Mon, Mã Tổ, đe doà xâm lăng Đài Loan. Ngày 24/8/58, Không chiến và Thủy chiến ở eo biển Đài Loan, hai bên đều thiệt hại nặng, đánh nhau suốt tuần, mỗi ngày Kim Môn bị hàng chục ngàn đạn đại bác. Ngày 25/8/58, trong 3 giờ Trung Cộng bắn 80.000 trái phá vào Kim Môn. 

Ngày 27/8/58, Mỹ đưa nhiều Phi đội tăng cường cho Đê thất Hạm đội, phòng Trung Cộng đổ bộ lên Đại Loan. Ngày 28/8/58, Trung Cộng báo cho Đài Bắc biết sẽ chiếm Kim Môn. Ngày 31/8/58, Đài Bắc đổ thêm quân lên Kim Môn. Có trên 500 người ở đảo nầy tử vong do các cuộc oanh tạc. Ngày 6/9/58, Trung Cộng tuyên bố mở rộng hải phận ra 12 hải lý. Cùng ngày 6/9/58, Ngoại trưởng Mỹ, Foster Dulles tuyên bố Kim Môn, Mã Tổ thuộc Đài Loan, rằng Mỹ-Hoa đã ký Hiệp ước 2/12/1954, về việc bảo vệ Đài Loan và quần đảo Pescadores, rằng Mỹ được quyền bảo vệ, các đoàn tàu chiến Mỹ, nếu Trung Cộng xâm phạm các đoàn tàu, Mỹ sẽ đánh. 

18. Tuy nhiên, Mỹ bằng lòng để Đại sứ Mỹ và Đại sứ Tàu nói chuyện tại Varsovie. Ngày 19/9/58, quân Kháng chiến Algérie thành lập một Chính phủ Algérie. Ngày 28/9/58, Tại Miến Điện, Thủ tướng U Nu sửa soạn nhường quyền cho tướng Ne Win để chống Cộng mạnh hơn, và tổ chức Tổng tuyển cử. Ngày 30/9/58, tại Vasovie, Trung Cộng đòi Mỹ và Đài Loan rút khỏi Kim Môn Mã Tổ. Ngày 7/10,58, Thiết quân luật khắp Hồi Quốc vì hiện tình chính trị rối ren. Ngày 20/10/58, tình hình Thái Lan vẫn rối ren, Thủ tướng Kittikachorn từ chức, Thống chế Sarit Thanarrat ở Anh được mời về lập Chính phủ.

Ngày 22/10/58, cuốn sách “Dr Jivago” của Văn sĩ Nga Pasternak được giải Nobel, nhưng phải khước từ ngay. Ngày 23/10/57, De Gaulle tuyên bố sẵn sàng điều đình với Kháng chiến Algérie. Ngày 29/10/58, Tổng thống Hồi Quốc là Mirza từ chức, Thống chế Tổng Tư lệnh Ayub Khan lên thay. Ngày 10/11/58, Kroutchev tuyên bố “Đồng minh đã vi phạm Hiệp ước Posdam 2/8/1945 đã để cho Tây Đức tái lập quân đội, Nga sẽ coi Hiệp ước không còn giá trị, rằng Bá Linh phải thuộc Đông Đức, Đồng Minh vô quyền. Ngày 10/11/58, Đồng Minh bác bỏ lập trường của Kroutchev. 

19. Ngày 22/11/58, Nga gởi thông điệp cho Tây Phương báo tin sẽ trả quyền cho Chính phủ Đông Đức, kiểm soát giao thông Bá Linh. Anh, Pháp, Mỹ quyết đối phó. Ngày 22/11/58, Cao Mên đoạn giao với Thái Lan, Thái đóng cửa biên giới. Ngày 30/11/58, Trung Cộng chính thức đề nghị với Ấn Độ hoạch định lại biên giới Hoa-Ấn. Ngày 3/12/58, Thái đề nghị với Mên cử Đại sứ họp Hội nghị dàn xếp các vụ rắc rối về biên giới. Ngày 16/12/58, Mao Trạch Đông từ chức Chủ tịch Trung Cộng, chỉ còn giữ chức Chủ tịch Đảng mà thôi. Có tin Lưu Thiếu Kỳ sẽ lên thay. Ngày 30/12/58, Đồng Minh tuyên bố nhất định không bỏ Bá Linh, Nga đe dọa dùng võ lực.

Ngày 1/1/59, tại Cuba quân Cách mạng của Fidel Castro, tiến mạnh nhiều nơi, tổng thống Batista bị lật đổ và bỏ trốn, một Ủy Ban Lâm thời được thành lập với Biedra làm Tổng thống. Nhưng phe Castro đòi trao quyền cho họ. Ngày 5/1/59, Fidel Castro lên nắm quyền. Có tin vài Tiểu đoàn Bắc Việt tràn qua Ai Lao. Ngày 6/1/59, Chính phủ Lào tuyên bố sẽ đánh nếu Bắc Việt không chịu rút quân, Hà Nội nêu cớ “Lào vi phạm biên giới và lãnh thổ Bắc Việt”. Ngày 12/1/59, quân Bắc Việt tiến sâu vào lãnh thổ Lào, chính phủ Lào kêu gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp, thủ tướng Sananikone được ủy toàn quyền hành động. 

20. Ngày 12/1/59, tại Pháp, De Gaulles nhậm chức Tổng thống, Michel Debré lập Chính phủ. Ngày 20/1/59, lãnh tụ đối lập Sam Sary bị lùng bắt ở Cao Mên, Chánh phủ Mên e ngại đảo chánh. Ngày 27/1/59, sau khi viếng Mỹ, Phó Thủ tướng Nga Mykoyan tỏ vẻ lạc quan, và báo tin sẽ họp Hội nghị tứ cường. Ngày 27/1/59, Kroutchev tuyên bố Nga Mỹ phải hòa hoản và chấm dứt chiến tranh lạnh. Ngày 29/1/59, Trung Cộng có vẻ bất mãn, Mao Trạch Đông sẽ không đi dự khoá 21 Hội nghị Cộng sản Nga. Ngày 17/2/59, tại Cuba, Fidel Castro lập Chính phủ, quyết định đầu tiên là trừ một nửa lương Thủ tướng và các Bộ trưởng, và bãi bỏ các quỷ Mật. 

Ngày 9/3/59, tại Irak, tướng Chouaf nổi lên chống Chính phủ Kassem. Có tin 2.000 quân khởi nghĩa của tướng Chouaf ở Mosoul đã bị quân chính phủ Kassem tàn sát. Ngày 21/3/59, dân Tây Tạng nổi lên chống Trung Cộng, Cả các nhà sư cũng tham chiến. Nhiều trận kịch chiến ở Thủ đô Lhassa. Ngày 26/3/59, có tin Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trốn thoát sang Ấn Độ, cùng với Đoàn tùy tùng. Trung Cộng phá Cung điện của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Lhassa. Ngày 30/3/59, Trung Cộng tuyên bố, một Đạt Ma (Ban Thiền Đạt Ma) sẽ lập Chính phủ khác hợp tác với Trung Cộng. Số người bị giết tới 15.000, số tu sĩ bị bắt chừng 13.000. 

21. Dân Tây Tạng tiếp tục kháng chiến hoặc chạy qua Ấn. Ngày 3/4/59, Thủ tướng Ấn Độ Nehru dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma quyền tá túc Chính trị tại Ấn Độ. Ngày 11/4/58, Ban Thiền Đạt Ma (Panchem Lama) ở lại Lhassa, hợp tác với Trung Cộng lập Chính phủ mới, chiến sự vẫn lan rộng ở Tây Tạng. Nghĩa quân nhất là bộ lạc Khampa, kháng chiến rất hăng. Ngày 26/4/59, Lưu Thiếu Kỳ được bầu làm Chủ tịch Trung Cộng thay Mao Trạch Đông. Ngày 11/5/59, Hội nghị Tứ cường họp tại Genève để giải quyết vấn đề Châu Âu, ngoài Nga, Mỹ, Pháp, Anh còn có hai Phái đoàn Đông Đức và Tây Đức. Ngày 12/5/59, Nga đòi cho Đông Đức dự họp Chính thức chứ không phải dự thính, Anh, Pháp, Mỹ không chịu, Gromyko dọa bỏ Hội nghị. 

Ngày 16/5/59, Chính phủ  Lào thông cáo “Chính phủ đã hết sức rộng rãi trong sự xếp hạng quân nhân Pathet Lào vào quân đội Quốc gia, nhưng Pathet Lào tìm mọi cách cản trở, đã thuận rồi lại từ chối bổ nhiệm, nên Chính phủ cương quyết đòi quân Lào giải giáp, về quê làm ăn. Ngày 17/5/59, một Đoàn quân Pathet Lào về hợp tác với Chính phủ, lại trốn ra bưng. Ngày 26/5/59, quân đội Bắc Việt tràn sang Lào giải vây cho quân Pathet Lào đang bị quân Hoàng gia chận đánh. Ngày 28/5/59, tại Mỹ, hỏa tiển Jupiter phóng lên không gian với hai con khỉ. Khỉ vẫn mạnh khỏe. 

22. Ngày 1/6/59, Tây phương cương quyết giữ vững lập trường “Hội nghị tứ cường phải giải quyết Đức quốc toàn diện, chớ không bàn riêng quy chế Bá Linh, Đồng Minh không rút quân khỏi Bá Linh và không thừa nhận Đông Đức theo đề nghị của Nga. Ngày 3/6/59, Sau khi Quốc hội Nam Dương bác đề nghị của chính phủ là trở lại Hiến pháp tập quyền năm 1945, tướng Nasution tuyên bố cấm chỉ mọi hoạt động chính trị tại Nam Dương. Ngày 4/6/59, nhiều lãnh tụ Pathet Lào, cả Hoàng thân Souvannouvong bị giam lỏng ở Vạn Tượng và sẽ bị truy tố xúi giục làm loạn. Ngày 14/6/59, tại Ấn Độ, dân chúng Tiểu bang Kerala, biểu tình chống Chính quyền do Cộng sản điều khiển. 

Ngày 19/6/59, Hội nghị tứ cường Nga đòi thay đổi quy chế Berlin, Đồng minh muốn giữ nguyên. Nga muốn Tây phương thừa nhận quyền của Đông Đức tại Bá Linh. Mỹ, Anh, Pháp không chịu. Trong các phiên họp, Nga đổi đề nghị nhiều lần. Hội nghị tạm hoãn họp ba tuần. Ngày 25/6/59, Tại Tiểu bang Kerala, nhiều cuộc biểu tình đẩm máu chống Chính quyền Cộng sản vẫn tiếp tục. Ngày 29/6/59, hơn 300.000 thợ thuyền tổng đình công, sau vụ Cảnh binh bắn vào đoàn biểu tình. Ngày 5/7/59, tại Nam Dương, tổng thống Soekarno tuyên bố, áp dụng trở lại Hiến pháp 1945, trung ương tập quyền. Tướng Nasution và quân đội ủng hộ viêc giải tán Quốc hội. Ngày 6/7/59, Miến Điện lại chịu nhận viện trợ Mỹ, 37 triệu Mỹ kim để làm đường Ranhoon-Mandalay, sau 6 năm từ chối. 

23. Ngày 13/7 – 8/5/59, tại Genève, Hội nghị Tứ cường họp lại, bàn vấn đề Đức và Bá Linh, vẫn không ký thỏa ước với Đức và vấn đề Bá Linh. Ngày 18/7/59, tại Cuba, Fidel Castro từ chức Thủ tướng để buộc Tổng thống Urrutia cũng phải từ chức. Thợ thuyền biểu tình đòi Castro trở lại, và Cartro rút đơn từ chức. Ngày 28/7/59, các lãnh tụ Pathet Lào, Neo Lao Haksat đã bị bắt tại Vạn Tượng. Quân Pathet Lào mấy hôm nay tấn công mạnh ở Sâm Neua. Ngày 29/7/59, Hoàng thân Souvanouvong (Pathet) bị bắt. Ngày 30/7/59, Chính phủ Trung ương Ấn Độ giải tán Chính phủ Cộng sản tại tiểu bang Kerala. 

Ngày 2/8/59, Pathet Lào yêu sách “lập Chính phủ Liên hiệp; phóng thích các lãnh tụ Pathet Lào bị cầm tù; bỏ chánh sách thân Mỹ”. Lào kêu gọi Liên Hiệp Quốc, tố cáo Bắc Việt và Pathet Lào vi phạm Hiệp định Genève. Ngày 5/8/59, Tổng thống Mỹ mời Krouchev sang thăm Hoa Kỳ. Ngày 5/8/59, Tại Lào, Chính phủ ban hành tình trạng khẩn trương tại Phong Saly; Sâm Nuea; Viên Khouang; và Sanavakhet. Ngày 10/8/59, có 6 Tiểu đoàn Bắc Việt kéo tới vùng Sâm Nuea, Mỹ gởi khí giới cho quân đội Hoàng Gia, và cử tới Lào 100 Cố vấn quân sự. Ngày 15/9/59, Đạt Lai Lạt Ma được giải thưởng Magsaysay 1959 vì đã đấu tranh cho Dân tộc Tây Tạng. Giải thưởng là 10.000 Mỹ kim. 

24. Ngày 25/8/59, Hoa Kỳ viện trợ cho Chính phủ Lào 5 triệu Mỹ kim để tăng cường quân đội Hoàng gia. Ngày 25/8/59, có tin quân Trung Cộng tràn vào xứ Sikkim và Bhoutan của Ấn Độ  Ngày 26/8/59, Hoa kỳ quyết định giúp Lào tăng quân số từ 25.000 lên thành 30.000 quân. Ngày 28/8/59, Nehru tuyên bố tại Quốc hội Ấn rằng quân đội Trung Cộng chiếm một phần khu Ladakh thuộc lãnh thổ Ấn, và nhất định không chịu rút, mặc dù Ấn đã phản đối nhiều lần. Ngày 29/8/59, quân Trung Cộng tràn vào lãnh thổ Ấn và chiếm 3 địa điểm, đánh lui quân Ấn sau nhiều giờ nổ súng. Quốc hội Ấn sôi nổi, nhiều cuộc biểu tình chống Trung Cộng tại Ấn, Nehru vẫn chủ trương hòa hiếu. 

Ngày 1/9/59, Tại Nam Vang, Hoàng hậu Cao Mên nhận được một gói quà do một hãng từ Hương Cảng gởi tặng. Hoàng thân Vakrivan mở ra, thì bom nổ phá cả gian phòng, Hoàng thân tan xác, Vua Mên và Hoàng hậu không việc gì vì đã ra phòng ngoài tiếp khách. Ngày 12/9/59, Nga phóng một hỏa tiển lên Mặt trăng. Ngày 15/9/59, Krouchev sang thăm Hoa Kỳ và sẽ lưu lại tới 28/9/59. Ngày 25/9/59, Thủ tướng Tích Lan Bandaranaike bị 2 người bận đồ tăng ni bắn chết tại dinh. Ngày 28/9/59, thông cáo chung sau cuộc viếng thăm Hoa Kỳ của Krouchev rằng “mọi vấn đề khó khăn sẽ phải giải quyết theo đường lối hòa bình”

25. Ngày 21/10/59, quân Trung Cộng bắn chết 17 quân tuần tiểu Ấn tại biên giới gần Colakronka, Ấn phản kháng quyết liệt, nhưng chưa thấy phản công. Quân Trung Cộng lại tiến sâu 16 cây số vào vùng Ladakh. Ngày 3/11/59, Thái tử Lào lên ngôi kế vị vua cha Sisavang-Vong, với Vương hiệu Savang Vathana. Ngày 27/11/59, Tại Nhật, thợ thuyền và thanh niên Nhật, do đảng Xã hội kích động, biểu tình xông vào Quốc hội “đả kích Hiệp ước An ninh Mỹ Nhật”. Cảnh binh can thiệp, hàng trăm người bị thương. Ngày 6/12/59, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn tuyên bố sẽ gọi 250.000 nhập ngũ để đối phó với Trung Cộng. 

Ngày 1/1/1960, Tại Vạn Tượng, tướng Phoumi Nosavan, Tổng Tham Mưu trưởng Lào tuyên bố, Quân đội Lào phải tạm nắm Chính quyền, không công nhận Quốc hội quá chia rẽ, hết nhiệm kỳ từ 25/12/59, vẫn không chịu rút lui. Ngày 1/1/60, tại Cameroon, sau 40 năm thuộc Pháp, hôm nay chính thức tuyên bố độc lập. Ngày 5/1/60, Quốc vương Lào can thiệp, quân đội chịu trả lại quyền. Ngày 7/1/60, nhà Vua đề cử Nghị sĩ Abhay lập chính phủ mới, nhưng vì tuổi cao, nhường bớt quyền cho em là tướng Abhay Phó thủ tướng. Ngày 13/2/60 tại Hy Mã Lạp Sơn, quân Trung Cộng Mao ngày càng lấn thêm một ít phần đất thuộc Ấn, dư luận Ấn sôi nổi chống đối. 

26. Ngày 14/1/60, nhiều quân Bắc Việt xâm nhập Nam Lào, Thủ tướng Lào phản đối. Ngày 23/1/60, tại Algerie, thành lập Chính phủ Lâm thời để thương thuyết với Pháp. Ngày 26/1/60, Dân Pháp ở Algérie nổi lên chống Chính phủ De Gaulles, phản đối sự điều đình với Kháng chiến Algérie. Ngày 28/1/60, Chu Ân Lai và Ne Win ký Hiệp ước bất tương xâm Hoa-Miến. Ngày 2/2/16, De Gaullé tuyên bố “Algérie sẽ thành lập một quốc gia độc lập”. Ngày 3/2/60, tại Ấn Độ, tuyển cử ở Kerala, đảng Cộng sản thất bại lớn, chỉ còn 28 ghế, mất 39. Đảng Quốc hội của Nehru đại thắng, chiếm đa số 94 ghế. Ngày 3/2/60 Tunisie đòi Pháp trả lại Quân cảng Bezerte. 

Ngày 13/2/60, Pháp thí nghiệm bom nguyên tử tại sa mạc Sahara. Ngày 13/1/60, De Gaulles được Quốc hội Pháp cho toàn quyền hành động trong 1 năm để giải quyết vấn đề Algérie. Ngày 14/2/60, tổng tuyển cử tại Miến Điện, đảng của U Nu đại thắng. Ngày 15/2/60, Tại Hồi Quốc (Pakistan) thống chế Agub Khan được bầu làm Tổng thống theo Hiến pháp mới. Ngày 17/2/60, tại Đại Hàn, tổng thống Lý Thừa Vãn lại ra tranh cử, ứng viên đối lập là Chough Byng Ok, đột nhiên chết. Ngày 20/2/60, trước Đại hội toàn quốc, thái tử Sihanouk tố cáo Cộng sản gây loạn. Ngày 21/2/60, Một Bác sĩ ở Vọng Các bị bắt giam vì mở xưởng làm thịt chó. 

27. Ngày 24/2/60, Thành phố Đông kinh quyết định trồng 10.000 cây đỗ quyên, để kỷ niệm ngày sinh của Hoàng tôn, con Thái tử Akihito. Ngày 7/3/60, Chính phủ Lào quyết định đưa Hoàng thân Pathet Souvannouvong và đồng đảng ra trước tòa án quân sự. Ngày 10/3/60, tại Nam Dương, 2 phi cơ phản lực của Quân đội oanh kích Dinh tổng thống Nam Dương, tổng thống Soekarno thoát nạn. Ngày 11/3/60, Một Thiếu úy trong nhóm phi công oanh kích vào Dinh tổng thống bị bắt. Tư lệnh Không quân Nam Dương phải từ chức. Ngày 14/3/60, lại phát giác một âm mưu ám sát tổng thống Soekarno. 

Ngày 15/3/60, tổng thống Lý Thừa Vãn, 85 tuổi tái đắc cử với 91% phiếu bầu. Ngày 15/3/60, thanh niên Hán thành biểu tình phản đối cuộc tuyển cử mà họ cho là gian lận, 7 người bị Cảnh binh bắn chết. Ngày 23/3/60, Tưởng Giới Thạch lại đắc cử Tổng thống Trung hoa Dân quốc. Ngày 19/4/60, Sinh viên, thanh niên Hán thành lại biểu tình lớn, quân đội bắn chết 1 người, nhưng nhiều Cảnh sát lại bắt tay nhóm biểu tình. Ngày 20/4/60, ban hành lệnh thiết quân luật ở Hán thành và nhiều thành phố khác. Ngày 20/4/60, Chính phủ Đại Hàn từ chức. Nhiều cuộc biểu tình tiếp tục, có tới 150 sinh viên thiệt mạng. Ngày 21/4/60, Tổng thống Lý Thừa Vãn giải tán Ban Chấp Hành đảng Tự Do của ông. 

28. Ngày 23/4/60 Lý Thừa Vãn lại nhượng bộ chỉ còn giữ chức Tổng thống, từ bỏ chức Chủ tịch Hành pháp, chức lãnh đạo đảng Tự do, hứa sẽ bỏ chính sách đảng trị. Ngày 25/4/60, Chu Ân Lai sang Ấn Độ hội đàm với Nehru, giải quyết được vụ tranh chấp biên giới, theo đề nghị của Nehru. Ngày 26/4/60, Lý Thừa Vãn hứa sẽ tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội mới. Ngày 27/4/60, Lý Thừa Vãn từ chức Tổng thống. Một Chính phủ Lâm thời được thành lập gồm các chuyên viên. Ngày 28/4/60, người tâm phúc của Lý Thừa Vãn, Phó tổng thống Lee Ki Pong và cả gia đình đều tự sát. Ngày 29/4/60, ông và bà Lý Thừa Vãn rời khỏi Dinh Tổng thống, dọc đường vẫn được dân chúng hoan hô. 

Ngày 29/4/60, Tổng thống Eisenhower ca ngợi công nghiệp Lý Thừa Vãn, nhưng tạm ngưng viện trợ cho Đại Hàn. Ngày 29/4/60, tại Thổ Nhĩ Kỳ, sinh viên nổi lên chống đối Chính phủ Menderès, đòi quyền tự do dân chủ, nhiều trường học bị đóng cửa. Ngày 30/4/60, Chính phủ ban hành thiết quân luật ở Ankara và Istamboul. Sinh viên vẫn biểu tình rầm rộ. Ngày 30/4/60, Chính phủ Cách mạng Đại Hàn quyết định “giải tán Ban Đặc vụ; kiểm soát các đảng phái; cử một Ủy ban Tu chính Hiến pháp; bãi bỏ luật lệ báo chí cũ”. Ngày 30/4/60, Sinh viên Hán thành vẫn biểu tình đòi Bắc tiến, diệt Cộng, giải tán Quốc hội, phá trụ sở đảng Tự Do của Lý Thừa Vãn. 

29. Ngày 1/5/60, một phi cơ thám thính U-2 của Hoa Kỳ bị Nga bắn rớt gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 3/5/60, Kroutchev tố cáo Mỹ cho Phi cơ thám thính, và tuyên bố đã bắt sống được viên phi công. Ngày 5/5/60, lại có biểu tình lớn ở Ankara, tướng Gursel Tư lệnh không quân bị Chính phủ giải nhiệm. Ngày 9/5/60, Phi công Mỹ Power của chiếc U-2 bị bắn rơi, sẽ phải ra Tòa án Nga Xô. Dư luận Hoa Kỳ sôi nổi. Ngày 11/5/60, tổng thống Mỹ tuyên bố “đã phải cho phi cơ U-2 thám thính để bảo vệ Thế giới tự do. Ngày 16/5/60, Krouchev đưa cho De Gaulles một Công hàm đặt điều kiện tiên quyết, rằng “Mỹ phải xin lỗi vụ U-2, và cam kết chấm dứt mọi phi vụ thám thính”. 

Ngày 15/5/60, tại Hội nghị Tối cao khai mạc, Kroutchev đòi nói trước, ông ta đọc lại Công hàm đã gởi cho De Gaulles, rồi đề nghị Hội nghị hoãn họp từ 6 đến 8 tháng. Ngày 17/5/60, Kroutchev bỏ Hội nghị Tối cao, rời Ba Lê đi thăm vùng Marne. Hội nghị Tối cao ngưng họp, và tuyên bố không thể tiếp tục vì thái độ của Thủ tướng Nga. Ngày 18/5/60, Kroutchev vẫn nổi giận và, rằng Tổng thống Mỹ không được mời qua thăm Nga nữa. Ngày 19/5/60, vẫn có nhiều cuộc biểu tình lớn ở Ankara. Ngày 23/5/60, thủ tướng Do Thái Ben Goution tuyên bố đã bắt được cựu Đại tá Đức quốc Xã Adolf Eichman, kẻ phạm tội giết 6 triệu dân Do Thái trong Thế chiến II tại Argentine.  

30. Ngày 24/5/60, Hoàng thân Pathet Lào Souvannouvong và nhiều lãnh tụ Pathet Lào bị bắt giam từ 1959, đã trốn thoát khỏi Vạn Tượng. Ngày 27/5/60, Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố “chấm dứt viện trợ cho Cuba”. Ngày 27/5/60, tại Thổ Nhỉ Kỳ, tướng bị giải nhiệm Djemal Gursel được quân đội ủng hộ lên nắm Chính quyền, Tổng thống Bayar, Thủ tướng Menderès bị bắt, Quốc hội bị bải tán, một Ủy ban Soạn thảo hiến pháp được thành lập. Ngày 29/5/60, Cựu tổng thống Đại hàn Lý Thừa Vãn đi Hawai dưởng lão. Ngày 2/6/60, Pathet lào đánh nhau dữ dội với quân Hoàng gia Lào. Ngày 7/6/60, Chính phủ Somsanith ở Lào quyết định không thương thuyết với Pathet Lào. 

Ngày 11/6/60, Fidel Castro quốc hữu hóa các Khách sạn Hoa Kỳ tai Cuba. Ngày 14/6/60, tại Cao Mên, Hiến pháp mới được tu chỉnh, Thái tử Sihanouk đảm nhiệm chức vụ Quốc trưởng. Ngày 16/6/60, tại Nhật, Chính phủ yêu cầu Tổng thống Mỹ hoãn cuộc thăm viếng, vì sinh viên và thợ thuyền của đảng Xã hội nhiều lần biểu tình và đình công phản đối “Hiệp ước An ninh Mỹ Nhật”. Ngày 18/6/60, Fidel Castro ký Hiệp ước Thương mại với Nga Xô. Ngày 19/6/60 Liên bang Mali gồm Sénégal và Soudan tuyên bố độc lập. Ngày 19/6/60, ký kết Hiệp ước Tương trợ An ninh Mỹ-Nhật. Ngày 20/6/60, tại Mã Lai, tuyên bố thành lập Liên bang Mã Lai. Ngày 25/6/60, sau 12 năm chống Cộng, Ma Lai có tới 11.013 người bị sát hại. 

31. Ngày 25/6/60, tại Châu Phi, 2 nước Madargasca, và Somalie tuyên bố độc lập. Ngày 27/6/60, để trả đủa, Quốc hội Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Mỹ giảm số đường nhập cảng từ Cuba. Ngày 30/6/60, Congo được Bỉ thừa nhận độc lập, Kasavubu được bầu làm Thổng thống, lãnh tụ thân Nga Lumumba thành lập Chính phủ; Xứ Katanga nơi có nhiều hầm mỏ do Tchombé cai quản, lại thân Bỉ chống Cộng muốn tự trị. Ngày 1/7/60, Nga tuyên bố, vừa bắn rớt một U-2 của Mỹ nữa. Ngày 4/7/60, Hawai trở thành Tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ. Ngày 4/7/60, tại Đại hội Cộng sản tổ chức ở Bucarest, Trung Cộng và Nga Xô đã kích nhau dữ dội, theo Nga “có thể tránh chiến tranh”, còn theo Trung Cộng thì “không thể”. 

Ngày 6/7/60, binh lính Congo dấy loạn đòi đuổi hết Sĩ quan Bỉ, còn Tchombé thân Bỉ tuyên bố xứ Katanga độc lập, và hợp tác kinh tế với Bỉ. Ngày 11/7/60, quân Bỉ còn lại tại Congo phản công, Tổng thống Kasavubu kêu gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp. Ngày 13/7/60, Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc quyết định gởi quân Mũ Xanh sang Congo giữ trật tự để quân Bỉ rút về nước. Ngày 16/7/60, bãi bỏ thiết quân luật ở Đại Hàn. Ngày 19/7/60, Các nhà chức trách quân sự Nam Dương hạn chế hoạt động của đảng Cộng sản. Ngày 30/7/60, đảng Dân chủ thắng lợi trong cuộc Tổng tuyển cử ở Đại Hàn. Ngày 1/8/60, Xứ Dahomey tuyên bố độc lập. 

32. Ngày 2/8/60, quân Liên Hiệp Quốc tiến vào xứ Katanga, nơi Tchombé thân Bỉ đòi tự trị, đe dọa chống cự đến cùng. Ngày 3/8/60, Xứ Nigeria tuyên bố độc lập. Ngày 6/8/60, một Tiểu đoàn Nhảy dù do Đại úy Không Le chỉ huy chiếm đóng Vạn Tượng. Các Bộ trưởng bỏ trốn về Luang Prabang, Không Le tuyên bố chống Chính phủ thân Mỹ của Somsanith và chống phái hữu của tướng Phoumi Nosavan. Ngày 10/8/60, Tchombé thuận cho Liên Hiệp Quốc vào Katanga, với điều kiện tôn trọng quyền lợi của xứ nầy. Ngày 11/8/60, Nhóm Không Le ở Vạn Tượng rắc nhiều truyền đơn kêu gọi theo Chính sách trung lập. Ngày 12/8/60, Yoon Bo Sun đắc cử Tổng thống Đại Hàn. 

Ngày 17/8/60, Hoàng thân Souvanna Phouma thành lập Chính phủ ở Lào, Không Le chịu theo. Nhưng quân Phái hữu của Nousavan ở Savannakhet dọa chiếm Vạn Tượng. Ngày 21/8/60, tướng Phoumi Nousavan đem quân tiến về Vạn Tượng, Mỹ kiều tản cư. Ngày 21/8/60, Chang Myon được cử thành lập Chính phủ Đại Hàn. Ngày 21/8/60, Phi công Powers bị Nga kêu án 10 năm tù. Ngày 28/8/60, tại Congo, quân Chính phủ và quân của Tchombé giao chiến. Chính phủ Lumumba đòi quân Liên Hiệp Quốc và quân Bỉ rút khỏi Congo. Quân Mũ Xanh của Liên Hiệp Quốc không chịu. Quân Chính phủ cho tấn công quân Mũ xanh (lính Gia Nã Đại) và tiến vào Katanga. 

33. Ngày 29/8/60, tại Lào, Phouma (Trung lập) chống Phoumi (Phái hữu), Quốc hội họp gấp, Thủ tướng Somsanicth từ chức, nhường cho Phouma. Ngày 30/8/60, Giải pháp được chấp nhận ở Lào, Phouma làm Thủ tướng, Phoumi Phó thủ tướng. Ngày 31/8/60, Không Le tuyên bố chấp nhận thành phần Chính phủ. Ngày 5/9/60, tại Congo, hàng ngàn người bị giết ở Kasai, khi quân Chính phủ Lumumba tiến vào hạt nầy. Ngày 5/9/60, đảng Cộng sản cấm hoạt động ở Nam Dương. Ngày 6/9/60, Nga Xô gọi về nước 5.000 Chuyên viên sang giúp Trung Cộng. Ngày 6/9/60, Trung Cộng cũng gọi Sinh viên Tàu ở Nga về. Ngày 10/9/60, Thủ tướng Lumumba bị tổng thống Kasalubu cất chức, sau những vụ tàn sát ở Kasai. 

Ngày 13/9/60, Chính phủ Phouma tuyên bố tình trạng khẩn cấp trên khắp lãnh thổ. Hoàng thân Boun Oum (Phái hữu) lập Ủy ban Tự trị tại Hạ Lào. Ngày 14/9/60, Đại tá Mobutu nắm hết quyền hành ở Congo, loại trừ Cộng sản, nguyên Thủ tướng Lumumba bị bắt. Ngày 17/9/60, quân của Nousavan tấn công quân Trung lập của Không Le tại Chinamo. Ngày 19/9/60, quân Nousavan (Phái hữu) pháo kích Vạn Tượng. Ngày 19/9/60, Quân Pathet Lào thừa dịp chiếm nhiều nơi ở Bắc Lào, Sâm Nuea bị 5 Tiểu đoàn Pathet đe dọa. Ngày 22/9/60, quân của Phoumi Nousavan đẩy lui quân Pathet Lào tại Sâm Nuea và Phong Saly, đồng thời giao chiến với quân Trung lập Phouma. Vua Lào kêu gọi các tướng lãnh về giải hòa. 

34. Ngày 30/9/60, tại Liên Hiệp Quốc, Kroutchev đập ầm ầm xuống bàn khi nghe Thủ tướng Anh ca ngợi Tổng thơ ký Hammarjoeld. Ngày 30/9/60, Chính phủ Phouma và Ủy ban Cách mạng Savannakhet thuộc Boun Oum quyết định ngưng bắn. Ngày 1/10/60, Nigeria tuyên bố độc lập. Ngày 9/10/60, có tin Mỹ đình chỉ viện trợ cho Lào, Thủ tướng Phouma tuyên bố không cần, Lào có thể tự túc, và sẽ xin viện trợ Nga. Ngày 27/10/60, Vương quốc Lào không chấp thuận viện trợ Nga do Chính phủ Phouma xin. Ngày 10/11/60, khi được tin Thủ tướng Phouma sắp tiếp nhận Đại sứ Nga Xô và thỏa hiệp với Pathet Lào, đạo quân đồn trú tại Luang Prabang do tướng Rathikene chỉ huy, kéo đi theo Phe chống Cộng của tướng Phoumi Nosavan. Ngày 22/12/60, Hoàng thân Boun Oum lập Chính phủ chống Trung lập thân Cộng. Ngày 22/12/60, Nga tiếp tục chở võ khí cho quân của Khong Le. 

Ngày 2/1/61,Tổng thống Mỹ Eisenhower cảnh cáo Nga Xô và Trung Cộng đừng can thiệp giúp Pathet Lào. Phi cơ Nga vẫn tiếp tế cho Pathet Lào tại Đồng Chum. Nhiều phi cơ Mỹ chở thêm quân tới Thái Lan. Ngày 3/1/61, Mỹ đoạn giao với Cuba. Ngày 4/1/61, quân Hoàng gia Lào tái chiếm Xiêng Khoang. Ngày 10/1/61, quân Trung lập của Không Le giao tranh với quân Hoàng gia ở nhiều nơi. Anh và nhiều nước đề nghị tái lập Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến tại Lào. Ngày 25/1/61, Kroutchev tuyên bố phóng thích 2 phi công U-2 đã bị bắt. Sẽ thả cả Powers. Tân Tổng thống Kennedy, hứa sẽ chấm dứt các phi vụ thám thính. 

35. Ngày 2/2/61, quân Hoàng gia và quân Pathet Lào giao tranh kịch liệt tại Bản Tha Ngon. Ngày 6/2/61, Pathet Lào chuyển nhiều quân xuống Hạ Lào, giao tranh dữ dội với quân Hoàng gia ở Đồng Chum. Ngày 9/2/61, tại Đại Hàn, Chính phủ Chang Myon cất chức nhiều nhân viên có vợ lẽ hoặc nhân tình, cho rằng đó là nguyên nhân của tham nhũng. Ngày 11/2/61, Thủ tướng Lào Phouma đòi triệu tập lại Hội nghị Genève để giải quyết vấn đề Lào. Ngày 13/2/61, có tin Cựu thủ tướng Lumumba ở Congo bị giết, không biết do nhóm nào. Ngày 4/3/61, Mỹ yêu cầu Tưởng Giới Thạch đưa về Đài Loan những Đội quốc quân còn trú ẩn ở Miến-Lào. 

Cũng ngày 4/3/61, Nga vẫn cho máy bay tiếp tế Pathet Lào. Ngày 11/3/61, kịch chiến tại Đồng Chum giữa quân Phái hữu Nosavan và quân Pathet Lào. Ngày 1/4/61, Nga chấp thuận đề nghị tái lập Ủy hội Quốc tế ở Lào, và triệu tập lại Hội nghị Genève. Ngày 7/4/61, Pháp và Kháng chiến quân Algérie đàm phán nghị hòa tại Evians. Ngày 12/4/61, Phi thuyền Spoutnik Orient của Nga, do Phi hành gia Gagarine điều khiển bay quanh trái đất trong 1 giờ 45 phút. Ngày 15/4/61, Tại Cuba chừng 3.000 quân, tự xưng là Cách mạng của José Mirose Cardona ném bom La Havan và đổ bộ nhiều nơi, kịch chiến giữa quân Cách Mạng và quân chính phủ Fidel Castro. Đến ngày 20/4/61, thì quân Cách mạng đại bại. 

36. Cũng ngày 20/4/61, có hơn 300 Cố vấn và Chuyên viên Mỹ tới Lào hoạt động. Ngày 23/4/61, vì không muốn cho Algerie độc lập, nhiều tướng lãnh Pháp, đứng đầu là tướng Salan, làm loạn chống De Gaulles tại Alger, De Gaulle ra lệnh quân đội đánh trả nhóm phản loạn. Ngày 24/4/61, tại Congo, lãnh tụ Tschombé cùng nhiều thân tín bị Đại tá Mobutu bắt giam. Ngày 26/4/61, De Gaulles huy động Hải quân tái chiếm Alger, Ngày 27/4/61, tướng Salan bỏ trốn, tướng Challe ra nộp mình. Ngày 27/4/61, tại Châu Phi, Sierra Leon tuyên bố độc lập. Ngày 29/10/61, Pathet Lào chiếm được Mường Lai. Ngày 4/5/61, Pathet Lào tấn công Thakhet. 

Ngày 5/5/61, tại Mỹ, Phi thuyền Liberty VII, do Phi Hành gia Shepard điều khiển được phóng lên không gian. Ngày 6/5/61, Ủy hội Quốc tế sang Lào kiểm soát ngưng bắn. Chính phủ Lào để nghị ba phe nhóm họp. Ngày 15/5/61, lại đảo chánh ở Đại Hàn, Thủy quân Lục chiến đóng ở Kimpo, cách Hán Thành 15 cây số kéo về chiếm đóng Thủ đô, tước khí giới Cảnh sát, tướng Chang Do Yun cầm đầu đảo chánh, lập Hội Đồng Cách Mạng. Ngày 17/5/61, tướng Chang Do Yun đòi các Bộ trưởng củ từ chức, nhưng Thủ tướng Chang Myon còn lánh mặt nên chưa lập được Chính phủ mới. Tướng Nam Lim Yee, tư lệnh Sư đoàn ở vĩ tuyến 38, ra lệnh cho Quân đội không tham gia đảo chánh. 

37. Tướng Mỹ Magruder Tổng Tư lệnh Quân đội Mỹ khuyên quân đội Đại Hàn nên đứng trung lập. Ngày 18/5/61, Thủ tướng Đại Hàn Chang Myon cùng tất cả các Bộ trưởng từ chức. Có 9 tướng bị bắt. Ngày 19/5/61, cựu Thủ tướng Chang Myon cùng các cựu Bộ trưởng đều bị bắt, cùng với 1.000 người bị coi là thân Cộng. Tổng thống Yon Bo Sun cũng từ chức. Ngày 22/5/61, Hội Đồng Cách Mạng Đại Hàn quyết định: “Giải tán Quốc hội, dùng kinh phí trả lương Nghị sĩ để giúp đở dân nghèo; đóng cửa các tiệm khiêu vũ; bài từ buôn lậu; bắt công chức làm việc cả ngày chủ nhật; giải tán các đảng phái chính trị; sa thải 3.000 nhân viên, đóng cửa 60 tờ báo và 160 chi cuộc thông tấn; đưa du đảng đi làm việc tại các hầm mỏ”. 

Ngày 24/5/61, tướng Chang Do Yun định sang Mỹ tiếp xúc với chính phủ Hoa Kỳ, nhưng Phủ tổng thống Mỹ cho biết, Tổng thống còn mắc bận chưa thể tiếp. Hội đồng Cách mạng Đại Hàn chịu để quân đội thuộc quyền kiểm soát của Bộ Tư Lệnh Liên Hiệp Quốc.  

IV. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 29/10/55, Chính phủ Việt Nam thông báo cho Chính phủ Pháp rằng Chính phủ Việt Nam không triển hạn Hệp định Thương mại sẽ hết hạn ngày 31/12/1955. Ngày 7/12/55, Tòa thánh Vatican thừa nhận nước Việt Nam Cộng hòa, và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Ngày 12/12/55, Đại sứ Trần Văn Chương tuyên bố tại Hoa Kỳ “sẽ không có Tổng Tuyển cử năm 1956 ở Việt Nam”. Hiệp định Genève không bắt buộc. Chính phủ Mỹ ủng hộ lập trường nầy. Ngày 20/12/55, Hiệp định Thương mại với Pháp đáng lẽ hết hạn 31/12/55 được triển hạn tới 29/2/56. 

Ngày 5/1/56, Chương trình viện trợ kỷ thuật do Đại học Michigan State University, Mỹ bắt đầu thi hành ở Việt Nam. Ngày 26/1/56, gần 3.000 người lính Liên hiệp Pháp rời Việt Nam sang Châu Phi. Ngày 7/2/56, Phái đoàn Chuyên viên Liên Hiệp Quốc đến nghiên cứu Kinh tế Xã hội Việt Nam từ 18/11/55, đã hoàn tất công việc, thảo tờ trình khuyến cáo về sự phát triển kế hoạch, hôm nay rời Việt Nam. Ngày 8/2/56, Hội nghị Lào, Thái, Mỹ, và Việt Nam nhóm họp tại Bộ Ngoại giao để cứu xét về việc mở mang Sông Mê Kông. Sẽ thành lập một cơ quan quốc tế chuyên trách vấn đề nầy. Ngày 3/3/56, Tổng số quân Pháp ở Việt Nam còn trên 20.000 và sẽ triệt thoái dần. 

2. Ngày 14/3/56, Dạo nầy báo chí Pháp sôi nổi vụ tiết lộ những bí mật quốc phòng của Pháp cho Việt Minh. Ngày 25/3/56, một nhóm thân hữu Việt-Pháp được thành lập tại Quốc hội Pháp gần 60 nghị sĩ, trong đó có Antoine Pinay, Robert Schuman, Naegelen, F Dupont. Devinat. Ngày 30/3/56, ký kết thỏa hiệp Việt Pháp, theo đó quân Pháp sẽ triệt thoái khỏi Việt Nam trước ngày 30/6/56. Ngày 6/4/56, Chính phủ Việt Nam tuyên bố “không có Tổng tuyển cử 1956, nhưng bằng lòng giúp đở Ủy hội Quốc tế làm tròn nhiệm vụ". Ngày 24/4/56, Tướng Jacquot và Đô đốc Jozan, được Tổng thống Ngô Đình Diệm gắn Đệ nhất và Đệ nhị Bảo Quốc Huân chương, rồi thết tiệc đãi tiễn. Pháp tổ chức cuộc diễn Thuỷ quân lần cuối cùng tại bến Bạch Đằng. Ngày 28/4/56, Bộ Tư lệnh Pháp tại Đông Dương giải thể. 

Ngày 29/5/56, Bộ trưởng Ngoại giao Trung hoa Dân quốc tuyên bố các đảo Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spratley) thuộc Trung Quốc. Ngày 6/6/56, Một Phái đoàn Nghị sĩ Pháp gồm Frédéric, Gupont, André, Mẻcier, Montalat… được chính phủ Pháp cử sang tỏ tình thân hữu với chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 8/6/56, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu tuyên bố các đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn thuộc chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam. Ngày 6/7/56, Phó tổng thống Mỹ Richard Nixon sang thăm thiện chí Việt Nam. Ngày 17/9/56, Đại sứ Pháp Jean Payart trình ủy nhiệm thư với tư cách là Đại sứ. Ngày 22/9/56, Việt Nam trở thành Hội viên của Quỷ Tiền tề Quốc tế và Ngân hàng Quốc tế Khuếch trương Kiến thiết. Ngày 6/11/56, Tổng thống Mỹ Eisenhower tái đắc cử (34.751.000 phiếu, Stevenson 27.315.000 phiếu). 

3. Ngày 20/1/57, Eisenhower, nhậm chức Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ II. Ngày 23/1/1957, Có 13 Quốc gia ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc tại Đại Hội đồng, Nga Xô đòi cho cả Bắc Việt gia nhập. Ngày 2/3/57, tai Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc biểu quyết việc Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc “40 thuận, 8 chống, 16 không có ý kiến. Hội đồng Bảo An sẽ xét và trình lại. Ngày 13/4/57, Tân Đại sứ Mỹ, Elbridge Durbrow tới Sài Gòn nhậm chức. 

Ngày 23/5/57, Phái đoàn Ai Lao sang trao đổi hàng hóa giữa hai nước, và việc vận chuyển hàng hóa qua Hải cảng Đà Nẳng. Ngày 29/5/57, hai Chính phủ Việt Nam và Đài Bắc đạt được thỏa thuận cho hồi hương 630 Hoa kiều sinh tại Việt Nam, nhưng không nhập Việt tịch. Ngày 21/6/57, Chính phủ Cao Mên cấm ngoại kiều làm 18 nghề, nhiều Việt kiều thất nghiệp phải hồi hương. Ngày 18/7/57, từ nay người Việt qua Mên, Lào và ngược lại phải có giấy thông hành thay vị giấy “chu lưu” như trước. Ngày 18/7/57, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi thơ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm yêu cầu Hiệp thương. 

4. Ngày 27/7/57, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố trả lời Phạm Văn Đồng rằng “khi nào miền Bắc chấm dứt khủng bố, phá hoại, và thực thi dân chủ tự do, khi đó mới có thể tổng tuyển cử và thống nhất đất nước”. Ngày 10/9/57, Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc bỏ 10 phiếu thuận cho Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc, Nga chống. Ngày 21/10/57, khai mạc Kế hoạch Colombo tại Hội trường Diên Hồng, Sài Gòn. Ngày 28/10/57, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc lại đề nghị cho Việt Nam gia nhập, 49 thuận, 9 chống, 23 không bỏ thăm. Ngày 7/11/57, Việt Nam và Mỹ ký Hiệp ước đầu tư. Tư nhân Mỹ đem vốn đầu tư ở Việt Nam được Chính phủ Hoa Kỳ bảo đảm về sự thay đổi Hối xuất đồng bạc Việt Nam và các bất trắc về chiến tranh. 

Ngày 3/1/1958, tại Bộ Ngoại giao, hai Phái đoàn Kinh tế Việt Nam và Lào đã thỏa hiệp về thương mại, quá cảnh, kiều cư, và kiểm soát biên giới. Ngày 7/2/58, Chính phủ Việt Nam yêu cầu trục xuất Phái đoàn Liên lạc của Bắc Việt trong Ủy hội khỏi Sài Gòn. Ngày 7/3/58, Ngoại trưởng Pháp Christian Pineau, sang Sài Gòn, nhân danh Tổng thống Pháp mời Tổng thống Ngô Đình Diệm qua thăm Pháp. Ngày 7/3/58, Phạm Văn Đồng gởi công hàm phản đối chính sách can thiệp của Mỹ, và đề nghị thiết lập quan hệ bình thường. Ngày 15/3/58, dưới sự bảo trợ của Chính phủ Mỹ, Chuyên viên Johnstone thuộc hãng Day et Zimmerman đã hoàn thành 50 Dự án kỹ nghệ cho Chính phủ Việt Nam, hôm nay rời Sài Gòn. 

5. Ngày 26/4/58, chính phủ Việt Nam tuyên cáo bác bỏ các đề nghi Hiệp thương của Bắc Việt, và trả lời từng điểm: tổng tuyển cử; tự do đi lại; giảm quân số; buôn bán; thư tín và bưu thiếp. Kết luận, rằng miền Bắc hãy thực thi các quyền tự do dân chủ. Ngày 9/5/58, Chính phủ Thái Lan thông báo sẽ cho hồi hương chừng 40.000 Việt kiều. Ngày 15/5/58, kể từ hôm nay, Phái đoàn Việt Minh cạnh Ủy hội Quốc tế chấm dứt hoạt động và rời Sài Gòn. Lý do theo chính phủ, vì Phái đoàn đó chỉ do Bộ Tư lệnh Pháp thoả hiệp với Chính quyền miền Bắc mà được thành lập. Ngày 11/6/58, De Gaulle gởi Thông điệp cho Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm báo tin nhậm chức và tỏ tình thân thiện. 

Ngày 2/7/58, người Mên ở Nam Vang biểu tình đả kích Việt Nam, nhiều Việt kiều bị hành hung. Ngày 2/7/58, Tổng thống Ngô Đình Diệm mời Sihanouk sang Sài Gòn hội đàm. Ngày 4/7/58, một Phái đoàn Chuyên viên Kinh tế Đài Loan sang Việt Nam nghiên cứu hợp tác kinh tế Việt-Hoa. Ngày 5/8/58, Cố vấn Ngô Đình Nhu sang Nam Vang gặp Sihanouk để bàn về cuộc đàm phán Việt-Mên. Ngày 8/8/58, Sihanouk nhận lời mời sang Việt Nam. Ngày 10/9/58, ký thỏa ước Việt-Pháp mua lại ruộng của Pháp kiều để cấp cho dân. Pháp bỏ ra 1.490 triệu quan mua lại 246.094 mẫu để giao cho Chính phủ Việt Nam. Ngày 24/10/58, Tân Đại sứ Pháp tại Việt Nam, Roger Lalouctte trình Uỷ nhiệm thư. 

6. Ngày 6/11/58, Tổng thống Lý Thừa Vãn, sang thăm Việt Nam đến Sài Gòn, và tối nay 7/11/58, Lý Thừa Vãn về Đại Hàn. Ngày 25/11/58, ký thỏa ước Việt-Pháp chuyển nhượng các Viện Pasteur cho Việt Nam, và xác định sự liên lạc chuyên môn giữa Viện Pasteur Việt Nam và Viện Pasteur Pháp. Ngày 30/11/58, Leland Barrows Giám đốc Viện trợ Mỹ rời Việt Nam. Ngày 9/12/58, Nga lại dùng quyền phủ quyết ngăn cản không cho Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc. Ngày 21/12/58, tại Pháp, bầu cử tổng thống theo Hiến pháp mới De Gaulles đắc cử với 62.338 phiếu trong 81.233 phiếu. Ngày 29/12/58, Chính phủ Pháp quyết định sụt giá đồng Franc từ 14,93% đến 17,55% đối với đồng Mỹ kim, đặt đồng Franc mới “1 mới=100 củ. 

Ngày 24/1/59Chính phủ Việt Nam công nhận Chính phủ Cuba, do Urrutia lãnh đạo (Urrutia thuộc phe Castro). Ngày 23/2/59, Chính phủ Cao Mên bắt tướng Choun, tỉnh trưởng Xiêm Reap do nghi ngờ mưu phản, Tướng Choun nguyên thuộc lực lượng Khmer Issrak về quy thuận. Ngày 26/2/59, Chính phủ Mên truyên bố, bắt được 2 Sĩ quan Việt Nam với nhiều tiền Franc và võ khí của Việt Nam tai nhà tướng Choun ở Xiêm Reap, và ngờ vực Đại diện Việt Nam có dính díu tới vụ mưu loạn. Bộ Thông tin Việt Nam cải chính tin nầy. Ngày 1/3/59, Đại diện Việt Nam tại Cao Mên Ngô Trọng Hiếu được triệu hồi. 

7. Ngày 13/3/59, Chính phủ Việt Nam phản kháng Chính phủ Mên về việc tịch thu 5.000 mẫu ruộng vẫn do người Việt canh tác từ lâu đời, ở Xã An Phú và Nhân Hưng ranh giới Long Xuyên và Mên. Ngày 18/3/59, Tổng thống Ấn Độ Prasad tới Sài Gòn thăm chính thức Việt Nam Cộng hoà và sau đó ra Hà Nội. Ngày 18/3/59 Trung hoa Dân quốc (Đài Loan) ký thỏa ước viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa, và sẽ cử chuyên viên sang giúp. Ngày 25/3/59, Chính phủ Mên từ chối không hợp tác với Việt Nam, và không nhận cho các nhà chức trách của hai bên tiến sâu vào lãnh thổ của bên kia 10 cây số. 

Ngày 6/4/59, Chuyên viên Lapeyre thuộc Bộ Tài chánh Pháp sang điều đình với chính phủ Việt Nam về vấn đề bồi thường cho Việt Nam vì sự thiệt hại gây ra cho Việt Nam, sau các vụ “sụt giá đồng Franc” vào tháng 78/57 và tháng 12/58. Ngày 10/4/59, Bộ Ngoại giao xác nhận Quần đảo Hoang Sa thuộc Việt Nam. Ngày 22-24/4/59, tổng thống Phi Luật Tân Carlos Gacia sang thăm Việt Nam. Ngày 26/4/59, Ký kết Hiệp ước thân thiện Việt-Phi tại Bộ Ngoại giao. Dân hai nước đi lại, buôn bán, cư trú, và mua bất động sản. Ngày 28/4/59, Kết quả đàm phán Việt-Pháp về tiền tệ và Tài chánh, chi phó giữa Pháp và Việt sẽ giao dịch bằng đồng Franc đoái hoán trên thị trường Hối đoái Ba Lê. 

8. Ngày 6/5/59, Đô đốc Felix Stump trao cho Tổng thống Ngô Đình Diệm giải thưởng Danh dự “Lãnh dạo Tự do” của Hội Bảo vệ Tự do Pensylvanie Hoa Kỳ. Ngày 13/5/59, ký kết Thỏa ước Việt-Nhật, theo đó “Nhật bồi thừơng chiến tranh cho Việt Nam 39 triệu Mỹ kim, và cho Việt Nam vay thêm 7,5 triệu Mỹ kim. Ngày 14/5/59, Khánh thành Trung tâm Văn hoá Tây Đức tại Sài Gòn.Ngày 21-24//5/59, một Phái đoàn Lào tới Sài Gòn thương thuyết về Kinh tế giữa hai nước, hai Phái đoàn đã đạt thỏa hiệp 8 vấn đề: “xuyên quá; chi phó; lập nghiệp ở hai xứ; biên giới; dẫn độ và tương trợ tư pháp; bài trừ buôn lậu; thâu thuế”. Ngày 27/5/59, ký kết thỏa ước Việt-Đức về viện trợ kỷ thuật. Ngày 11/6/59, ký kết tại Vạn Tượng các Hiệp ước Kinh tế Việt Lào. 

Ngày 22/6/59, Đại diện Bắc Việt hội đàm với nhà chức trách Thái Lan việc: Bắc Việt muốn Việt kiều ở lại Thái; Thái muốn cho hồi hương. Nhưng đa số Việt kiều không muốn về Bắc. Ngày 26/6/59, phê chuẩn Thỏa ước Việt-Mỹ về nguyên tử năng, xây dựng Trung Tâm Nguyên Tử với 350.000 Mỹ kim viện trợ. Ngày 20/7/59, Chính phủ Việt Nam triển hạn cho đến hết tháng 6/1962, thỏa ước viện trợ kỹ thuật hành chánh với Đại học Michigan. Ngày 3/8/59, Thái tử Sihanouk sang thăm Việt Nam với tư cách riêng, nhưng được tiếp đón trọng thể. Ngày 3/8/59, Quốc hội Mỹ sôi nổi về loạt bài phê phán viện trợ Mỹ, có tính tố giác của phóng viên Colegrove thuộc hãng thông tin Seripps-Howard. Nhân viên cao cấp Mỹ bị gọi về chất vấn mầy lần. 

9. Ngày 14/8 59, Hạ Nghị viện Mỹ, biểu quyết, ủy Nghị sĩ Mansfield cùng một Phái đoàn sang điều tra tại chỗ. Đại sứ Mỹ Durbrow, Giám đốc USOM Gardiner về Mỹ phúc trình các vấn đề liên quan từ tố cáo của Colegrove. Ngày 11/11/59, Bộ trưởng Tài chánh Pháp, Antoine Pinay đến Việt Nam đàm phán các vấn đề Pháp-Việt còn tồn đọng như “nợ của Pháp đối với Việt Nam và ngược lại; các nhà cửa Pháp còn giữ chưa trả lại; hưu bổng của một số nhân viên Đông Dương củ”. Các chuyên viên Việt-Pháp sẽ bàn thảo từ 15/11. Ngày 18/11/59, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu tuyên bố tại Tân Gia Ba rằng “Nam Dương tăng thân thiện với Việt Nam, và ký một Hiệp ước thân hữu về Văn hóa”. 

Ngày 2/1/60, từ hôm nay, mọi giao dịch Việt-Pháp tính bằng đồng Phật-lăng mới (1 F mới bằng 100 F củ). Hối xuất chính thức của đồng bạc Việt Nam. Đối với Mỹ kim vẫn 35$=1 Mỹ kim. Các hối xuất dối với các ngoại tệ khác sẽ tính theo căn bản trên (SL 1/TC). Ngày 12/1/60, Bộ Ngoại giao Nhật và toà Đại sứ Việt Nam tại Đông kinh trao đổi chính thức các văn kiện bồi thường chiến tranh cho Việt Nam. Ngày 22/1/60, Phê chuẩn Hiệp ước thân thiện Việt Nam-Phi Luật Tân. Ngày 2/2/60, Sihanouk mời Việt Nam cử đại diện sang Mên thương thuyết các vấn đề Việt-Mên. Ngày 27/2/60, nhiều chính khách Mên xác nhận rằng bang giao Việt-Mên hiện nay rất tốt đẹp... 

10. Ngày 24/3/60, Ký kết thoả ước Việt-Pháp thanh toán những vấn đề còn đọng: tài chánh, tiền tệ, hợp tác Kinh tế, công sản… Ngày 10/6/60, Chính phủ Việt Nam phản đối Thỏa ước Pháp-Bắc Việt việc hồi hương về Bắc các Kiều bào Việt Nam tại Nouvelle-Calédonie và Nouvelles-Hébrides. Ngày 5/7/60, trong số ruộng của Pháp kiều nhượng lại để bán cho dân theo Thoả hiệp Pháp-Việt ngày 10/9/1058, đã có 154.546 mẫu do các sở hữu chủ làm văn tự nhượng. Ngày 10/8/60, Việt Nam ký kết Hợp đồng vay của Quỷ Phát triển (Development Loan Fund) 9,7 triệu Mỹ Kim để mua đầu máy và Toa Xe lửa. Ngày 1/9/60, tướng Samuel Williams Trưởng Phái đoàn Quân sự Mỹ rời Sài Gòn, tướng Lionel Mc Garr sang thay. 

Ngày 2/11/60, Quỷ Tín dụng Khuếch trương Kinh tế cho Việt Nam vay 17.500.000 Mỹ kim để canh tân hệ thống nước từ sông Đồng Nai. Ngày 10/11/60, John F. Kennedy đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ. Ngày 16/11/60, Hội nghị Lương nông Quốc tế F.A.O nhóm họp tại Hội trường Diên Hồng. Ngày 18/11/60, Việt Nam ký Thỏa ước vay Quỷ Phát triển Kinh tế 12,7 triệu Mỹ kim lập nhà máy nhiệt điện Thủ Đức. Ngày 8/12/60, Tòa thánh Vatican thiết lập hệ thống Giáo phẩm Việt Nam, có các Tổng Giám Mục và một Tổng quản Giám Mục. Ngày 14/12/60, Quỷ đặc biệt Liên hiệp quốc chịu đài thọ 246.700 Mỹ kim, và Việt Nam chịu 9.825.000$ cho Dự án sưu tầm khoáng sản. 

11. Ngày 28/1/61, ký thỏa ước Việt-Pháp hợp tác nguyên tử lực phụng sự hòa bình... Ngày 2/3/61, Cựu Thủ tướng Pháp Antoine Pinay tới Sài Gòn giải quyết các vấn đề Pháp-Việt còn đọng. Ngày 3/4/61, ký kết Hiệp ước Việt-Mỹ thân hữu và liên lạc kinh tế xác nhận sự hợp tác vẫn có. Ngày 8/5/61, Đại sứ Mỹ Frederick Nolting, tới Sài Gòn thay Elbridge Durbrow. Ngày 11/5/61, Phó tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson sang thăm Việt Nam, đi quan sát tình hình ở nhiều nơi. Ngày 13/5/61, Phó tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson rời Việt Nam. Thông cáo chung Việt-Mỹ: “Hoa Kỳ sẽ tăng viện trợ quân sự; nhận trang bị cho Bảo An; cử một Phái đoàn Nghiên cứu Kế hoạch tăng viền trợ và chống du kích”. 

V. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 28/10/55, kết thúc “Chiến dịch Hoàng Diệu” với kết quả: thu được 1.500 súng các loại, phá hủy nhiều kho đạn; Bảy Môn, Lại Hữu Tài, Lại Hữu Sang, lánh sang Pháp cùng lãnh tụ Bảy Viễn. Ngày 29/10/55, Mở “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” bình định miền Tây Nam Phần. Ngày 6/11/55, tại Sài Gòn, biểu tình hoan hô các chiến sĩ từ Rừng Sác trở về, các Đại tá Dương Văn Minh, Lê Văn Nghiêm được thăng Thiếu tướng. Các cấp chỉ huy “Chiến dịch Rừng Sát” được nhiều giới thết tiệc mừng tại trường Pétrus Ký. Ngày 9/12/55, Bảo An hành quân quanh Cái Vồn bắt được Thiếu tá Võ Hùng Vương em của Phàn Lê Hoa vợ tướng Trần Văn Soái. Ngày 29/12/55, kết thúc Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng ở miền Tây, thu được 1.600 súng, phá hủy nhiều căn cứ. 

Ngày 1/1/56, mở Chiến dịch Nguyễn Huệ bình định miền Tây, do Tướng Dương Văn Minh làm Tư lệnh. Ngày 18/1/56, Bảo An Long Xuyên đã bắt 30 binh sĩ cuả tướng Lê Quang Vinh, với hơn 100 súng, và 3 tấn đạn. Ngày 25/1/56, 1 Thiếu uý, 1 Trung uý và 21 binh sĩ của tướng Trần Văn Soái về với chính phủ tại Châu Đốc. Ngày 2/3/56, tướng Trần Văn Soái tuyên bố sẽ trở về hợp tác với Chính phủ. Hôm sau 3/3, Thiếu tướng Dương Văn Minh họp báo nói về Chiến dịch bình định miền Tây, và sự hợp tác của tướng Trần Văn Soái, ông cho hay rằng chiến dịch đã tịch thu 20 ký vàng, và 16,5 tiệu rưởi bạc, số tiền nầy sẽ dùng để xây cất một Cô Nhi Viện Quốc gia. 

2. Ngày 8/3/56, Tướng Trần Văn Soái với 1.056 sĩ quan và 4.600 binh sĩ Hòa Hảo dự lễ hợp tác tại Cái Vồn, trước Thiếu tướng Dương Văn Minh. Ngày 13/4/56, tướng Hoà Hảo Dân Xã, Lê Quang Vinh (Ba Cụt) bị 1 tiểu đội Bảo An bắt tại Chắc Cà Dao cách Long Xuyên 15 km cùng với 5 hộ vệ. Các ngày sau đó quân của của tướng Lê Quang Vinh tuần tự về với Chính phủ: ngày 28/4/56 có 286 binh sĩ; ngày 6/5/56, có 110 binh sĩ; đặc biệt ngày 8/5/56, Chỉ huy trưởng Trung đoàn Lê Lợi của tướng Lê Quang Vinh cũng về hợp tác với Chính phủ. Ngày 25/5/56, có tin Thiếu  tướng Ba Bụng thân tín của tướng Lê Quang Vinh, cùng với Bộ Tham mưu bị tử thương tại Cù lao Ma Ba, Long Xuyên. 

Ngày 26/5/56, mở Chiến dịch Chiêu An miền Tây do Đại tá Nguyễn Hữu Có chỉ huy. Ngày 10/6/56, mở cuộc hành quân miền Đông vùng Ratum Bà Đen, Tây Ninh do Đại tá Đỗ Cao Trí chỉ huy thu được nhiều võ khí. Ngày 31/5/56, chấm dứt Chiến dịch Nguyễn Huệ bình định miền Tây do tướng Dương Văn Minh chỉ huy, kết quả, quân của Trần Văn Soái và Lê Quang Vinh 681 tử trận, 1.005 bị bắt, thu gần 5.000 súng đủ loại trong đó có 142 bích kích pháo, 50 đại liên, 291 trung liên, 1.163 tiểu liên. Một số lớn bộ đội của Trần Văn Soái và Lê Quang Vinh về hợp tác với Chính phủ. Lập được 4 Tỉnh: Phong Thạnh, Mộc Hóa, Tam Cần, và Cà Mâu... 

3. Ngày 10/6/56, Đại tá Đỗ Cao Trí chỉ huy cuộc hành quân vùng Ratum Bà Đen, Tây Ninh thu được nhiều võ khí. Ngày 30/6/56, mở Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu bình định các tỉnh Tiền giang và Hậu giang, do Thiếu tướng Dương Văn Minh chỉ huy. Ngày 13/7/56, mở Chiến dịch Trương Tấn Bửu tại miền Đông do Thiếu tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy. Ngày 2/8/56, Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu bắt được 221 tù binh, tịch thu vài trăm vũ khí. Ngày 17/8/56, tư thất của tướng Nguyễn Thành Phương bị cảnh sát khám xét. 

Ngày 30/10/56, kết thúc chiến dịch Thoại Ngọc Hầu bình định các tỉnh Tiền giang và Hậu giang (từ 30/6/56) kết quả: 441 địch tử trận, 948 quy thuận, 1.169 bị bắt, hơn 1.000 súng bị tịch thu; Và cũng hôm nay, kết thúc Chiến dịch Trương Tấn Bửu tại miền Đông (từ 13/7/56) kết quả: địch 102 tử trận 412 quy thuận, 470 bị bắt với nhiều súng ống trong đó có 4 đại bác, 33 bích kích pháo, 17 đại liên, 42 trung liên, 2 tấn thuốc nổ. Ngày 30/11/56, Khám phá một hầm vũ khí của Việt Minh. Suốt năm, tuần nào cũng có thông cáo nói nơi nầy, nơi khác tìm ra vũ khí, đạn dược của bộ đội Việt Minh chôn dấu trước khi tập kết ra Bắc, hôm nay là hầm vũ khí được khám phá lớn nhất từ trước đến nay... 

4. Ngày 2/2/57, Kho đạn Gò Vấp nổ lớn, bốc cháy từ trưa đến 5 giờ chiều. Ngày 22/10/57, một xe chở Sĩ quan Mỹ bị gài mìn nổ lúc 7g 45 làm 3 người chết, 8 người bị thương ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Và lúc 8g15, mìn lại nổ ở một Khách sạn có Mỹ ở gần Chợ An Đông làm 4 người Mỹ 1 người Việt bị thương, ngôi nhà bị hư hai nặng. Ngày 7/11/57, hành quân ở Ô Môn, Cần Thơ, bắt 12 Việt Cộng và nhiều vũ khí. 

Ngày 10/3/58, hơn 80 lính Mên vượt biên giới sang cướp phá 2 làng ở Định Tường và bắn vào lính Bảo An Việt. Ngày 21/3/58, Lính Mên lại vượt biên giới sang cướp phá một làng quận Tuyên Bình, Kiến Tường. Ngày 3/5/58, quân đội Mên tự ý lùi biển ranh giới Việt-Mên sang phía Việt Nam gần 3 cây số tại địa phận Pleiku. Ngày 5/5/58, có 30 tên cướp Mên lại tràn sang cướp làng Phước Vinh, Tây Ninh. Ngày 8/5/58, hơn 300 quân Hoà Hảo Dân Xã, do Đại tá Nguyễn Mạnh Tân chỉ huy cùng 9 sĩ quan về hợp tác với chính phủ tai Long Xuyên. Ngày 7/6/58, quân đội Mên tràn qua Pleiku đánh tháo cho một số tù nhân. Ngày 15/6/58, quân Mên lại bắn sang đội Bảo An đi tuần ở Pleiku, và lui cột biên giới vào 3 km phía Việt Nam. Ngày 19/8/58, Phạm Văn Liễu, tức Bởi Liễu chúa đảng Rừng Xanh bị hạ sát tại Bình Chánh, Bình Dương. 

5. Ngày 17/1/59, Một số lính Mên sang cướp làng Mỹ Quý, Long An. Ngày 4/4/59, Bảo an đang đi tuần tiểu gần Hồng Ngự, Kiến Phong bị khoảng 80 lính Mên tràn sang nổ súng đánh nhau gần 2 giờ, Mên có một số bị thương phải rút lui. Ngày 10/4/59, 20 binh sĩ Mên ngăn chận quân đội Việt Nam truy kích Việt Cộng tại xã Phước Lợi, Tây Ninh. Ngày 8/7/59, tại Biên Hòa, ném mìn vào 1 biệt thự Mỹ 2 quân nhân Mỹ chết, 1 hung thủ bị bắn tử thương. Ngày 24/12/59, tại Mương Vũ, Châu Đốc một toán Việt Cộng chừng 3 Trung đội, bị Bảo An xua đuổi chạy qua đất Mên bị quân Mên chận đánh. Ngày 31/12/59, ba hung thủ ném lựu đạn sát hại 2 Sĩ quan Mỹ ở Tân Mai ngày 8/7/59, bị tòa án quân sự kết án tử hình...

Ngày 4/1/60, chạm súng Quân Bảo An ở Đức Huệ, đánh tan 1 Đại đội Việt Cộng, đại đội trưởng và 7 Việt cộng tử thương. Ngày 26/1/60, trại Sùng thuộc Trung đoàn Lam Sơn của quân đội tại Tây Ninh cách biên giới 20 cây số bị đột kích mạnh. Quân đội truy kích hạ 37 Việt Cộng, bắt 11 tên, với một số vũ khí. Ngày 10/2/60, có 26 Hoa kiều vượt tuyến vô Nam. Ngày 14/2/60, có 12 người đi thuyền vượt tuyến tới Đà Nẳng. Ngày 17/2/60, có 194 Hoa kiều vượt tuyến tới Đà Nẳng. Ngày 6/3/60, Trại Cùi tại Cái Sắn bị Việt Cộng tấn công và cướp phá. Ngày 13/4/60, trong một cuộc chạm súng tại Kiến Hòa 29 Việt Cộng bị tử thương. Ngày 14/4/60, quân Mên chiếm 2 đảo Kiến Vàng và Keo Ngựa. Việt Nam phản kháng. 

6. Ngày 25/5/60, quân Việt Nam Cộng hòa đột nhập khu U Minh Hạ, Cà Mâu, và phá hủy nhiều căn cứ Việt Cộng. Ngày 28/5/60, Quận lỵ Đức Hoà bị tấn công mạnh, nhưng đối phương bị thiệt hại nặng. Ngày 8/6/60, trong một cuộc chạm súng tại Thái Lai, Phong Dinh, quân đội VNCH hạ 60 Việt Cộng. Ngày 10/6/60, Hành quân vùng Bầu Răm, Long An hạ 20 Việt Cộng Ngày 15/6/60, Hành quân vùng Phong Phú, Kiến Tường hạ 12 Việt Cộng. Ngày 18/6/60, Tỉnh trưởng Vĩnh Long bị phục kích và tử thương. Ngày 22/6/60, Hành quân vùng Cốc Rinh, Đức Huệ, Biệt Động quân đánh tan rã Tiểu đoàn 506 Việt Cộng. Ngày 23/6/60, Hành quân ở Gia Rai, Ba Xuyên hạ 12 Việt Cộng, và 12 tên khác bị thương. 

Ngày 5/7/60, hành quân ở Bàu Sen, Tây Ninh, hạ 14 Việt Cộng. Ngày 15/7/60, hành quân ở Phong Dinh, hạ 76 Việt Cộng, bắt 28, và hơn 100 Việt Cộng bị thương. Ngày 17/7/60, hành quân ở Cai Lậy, Định Tường, chạm súng với hơn 300 Việt Cộng, hạ 46 Việt Cộng. Ngày 3/8/60, hành quân ở Phước Tân, Tây Ninh, hạ 10 Việt Cộng. Ngày 10/8/60, đồn Dân Vệ Long Thành bị tấn công, 5 Dân Vệ, đẩy lui hơn 50 Việt Cộng. Ngày 17/9/60, Hành quân ở Long An, hạ 14 Việt Cộng. Ngày 21/10,60, các đồn Dakpet, Daksut, Daksé ở Kontum bị tấn công và tràn ngập. Ngày 22/10/60, các Tiểu đoàn Nhảy dù được gởi lên cứu viện đã giải vây được các đồn ở Pleiku và tiếp tục tảo thanh. 

7. Ngày 28/10/60, một công trường gần Kontum bị đột kích, quân Chính phủ chống trả, Việt Cộng bỏ lại 36 xác. Ngày 30/11/60, hành quân tại Cao Lãnh, Kiến Phong, 22 xác Việt Cộng bỏ lại. Ngày 20/12/60, Việt Cộng thành lập Mặt trận Giải Phóng Miền Nam. Ngày 24/12/60, Hành quân tảo thanh ở Chà Lan, quận Thường Đức, Quảng Ngãi hạ 16 Việt Cộng, tịch thu một số súng đạn. Ngày 31/12/60, Có tin 5 Tiểu đoàn Bắc Việt tràn qua Lào. 

Ngày 2/2/61, hành quân ở Bình Đại, Kiến Hòa, bắt 13 quân chính quy, 16 cán bộ nằm vùng với võ khí. Cùng Ngày 2/2/61, tại Cần Đước, Long An, 1 Trung đội Thủy Quân Lục chiến đất lui hơn 100 Việt Cộng. Ngày 10/3/61, hành quân tảo thanh ở An Đức, Vĩnh Long, hạ 34 Việt Cộng, bắt sống 1 Huyện ủy, và nhiều võ khí. Ngày 16/3/61, Quận lỵ Hiếu Liêm, Phước Thành bị tấn công mạnh, nhà cửa bị hư hại, Việt Cộng bỏ lại 30 xác. Ngày 28/3/61, tại Cao Lãnh, Kiến Phong 2 Tiểu đoàn Việt Cộng vây đánh 1 Tiểu đoàn Việt Nam Cộng hòa, 200 Việt Cộng chết và bị thương, Việt Nam Cộng hòa 11 chết 23 bị thương... 

8. Ngày 1/4/61, Tỉnh lỵ Kiến Hòa bị đột kích, nhà máy điện bị phá, hơn 500 thước đường bị đào trên đường Kiến Hòa-Mỹ Tho, 63 Việt Cộng bị bắt cùng với vũ khí. Ngày 3/4/61, tại khu rừng An Điền, Bình Dương, rất đông Việt Cộng có kèn thúc quân tấn công Biệt Động Quân. Nhảy dù tiếp viện Việt Cộng bỏ lại 10 xác. Ngày 8/4/61, một đặc công Việt Cộng đạp xích lô ném lựu đạn vào nhà lầu của nhân viên Mỹ trên đường Trần Hưng Đạo làm 2 người Mỹ và 9 người Việt bị thương. Ngày 21/4/61, Quận lỵ Đức Lập, Quảng Đức bị chừng 3.000 Việt Cộng tấn công, trụ sở bị phá hủy, nhiều vũ khí và lương thực bị chiếm đoạt. 

Ngày 11/5/61, Quận lỵ Định Quán, Long Khánh bị Việt Cộng tấn công nhiều đợt, Việt Cộng thổi kèn thúc quân ồ ạt, nhưng bị đẩy lui. Ngày 15/5/61, quận Di Linh bị tấn công, nhưng địch bị đẩy lui bỏ lại 8 xác. Cùng ngày 15/5/61, Công trường Danhim cũng bị tấn công, một số xe và dụng cụ bị phá. Quận trưởng Đơn Dương bị bắt và bị hạ sát.  

VI. Những việc đã làm.

1. Ngày 6/11/55, tại Sài Gòn, biểu tình hoan hô các chiến sĩ từ Rừng Sác trở về, các Đại tá Dương Văn Minh, Lê Văn Nghiêm được thăng Thiếu tướng. Ngày 12/11/55, Các cấp chỉ huy “Chiến dịch Rừng Sát” được nhiều giới thết tiệc mừng tại trường Pétrus Ký (12/11/55). Ngày 12/11/55, lần đầu tiên một Luận án Tiến sĩ Luật về “Đồng bạc Việt Nam” của Trịnh Xuân Ngạn được trình tại Hội đồng Sài Gòn, Việt Nam. Ngày 14/11/55, ba Tổng Nha quan trọng vừa thành lập hôm nay là Ngân sách, Công vụ, và Kế hoạch được đặt trưc thuộc Phủ Tổng thống (SL17/TTP). Ngày 18/11/55, Phủ Đặc ủy Công Dân vụ mới thành lập cũng đặt trực thuộc Phủ Tổng thống (SL22/TTP). Ngày 19/11/55, Bảo An Đoàn cũng trực thuộc Phủ Tổng thống. Ngày 7/12/55, Đảng Thanh niên Dân chủ của Ngô Quang Châu bị giải tán vì hoạt động trái lệ. 

Ngày 7/12/55, Quốc tịch Việt Nam được quy định (Dụ số 10). Ngày 15/12/55, Cấm tháo gở, đem khỏi lãnh thổ Việt Nam những dụng cụ Kỹ nghệ và Công nghệ. Ngày 17/12/55, Hối xuất chính thức của Đồng bạc Việt Nam là: 10 quan Pháp bắng 1$ Việt Nam; 1 bảng Anh bằng 98$ Việt Nam; 1 Mỹ kim bằng 35$ Việt Nam (Dụ 15). Ngày 17/12/55, Liên đoàn Công chức Cách mạng kêu gọi Công chức có Pháp tịch nên trở lại Việt tịch. Ngày 21/12/55, lễ tuyên thệ trung thành của 300 đại diện đồng bào Thượng, tại vườn Dinh Độc lập, các đại diện Thượng biếu một con voi, một đầu trâu, và một vò rượu. Ngày 24/12/55, các Ngân sách Phần đều bị bãi bỏ, và sáp nhập vào Ngân sách Quốc gia. Các đại biểu Chính phủ chỉ đại diện Chính phủ trong những lãnh vực được chỉ định (Dụ 17). 

2. Ngày 5/1/56, số báo hàng ngày tại Sài Gòn hiện có: 16 báo Việt ngữ; 2 báo Pháp ngữ; 10 báo Hoa ngữ. Ngày 12/1/56, thành lập Hội đồng Quốc gia Ngoại viện (SL số 5/TTP). Ngày 13/1/56, tòa án quân sự xử phạt các lãnh tụ Bình Xuyên Lê Văn Viễn, Lại Văn Sang, Lại Hữu Tài, và Jean Léon Leroy tử hình, tước đoạt binh quyền, và tịch thu tài sản. Cũng trong phiên tòa nầy, Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ, Đại tá Nguyễn Tuyên cũng bị phạt như trên. Ngày 14/1/56, Đã có 43.000 người xin đi lập nghiệp ở Khu định cư Cái Sắn. Tại đây có thể định cư 100.000 người. 

Ngày 23/1/56, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 8 thành lập Quốc hội; và Dụ số 9 ấn định thể thức bầu cử. Ngày 19/2/56, Phủ Tổng thống thông cáo Giáo chủ Cao Đài, Hộ Pháp Phạm Công Tắc rời bỏ Tòa Thánh Tây Ninh, tình hình nơi đây rất rối ren. Nên Chính phủ theo lời yêu cầu của các vị Chức sắc Cao Đài, và tướng Văn Thành Cao ra lênh cho quân đội tới bảo vệ Tòa Thánh và trấn an Tây Ninh. Ngày 25/2/56, Có tin Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc đã lánh sang Cao Mên. Thượng sanh Cao Hoài Sang được bầu lên điều khiển Tòa thánh Cao Đài (11/5/57). Hộ pháp Phạm Công Tắc từ trần tại Bệnh viện Calmette, Nam Vang (17/5/59). 

3. Ngày 4/3/1956, hôm nay chủ nhật tổng tuyển cử bầu Quốc hội Lập hiến. Ngày 15/3/56, Khai mạc Quốc hội Lập hiến, Niên trưởng là ông Dư Phước Thiện, 67 tuổi (sinh 1889). Ít tuổi nhất là ông Đinh Thế Sĩ. Trong Quốc hội có các nhóm: Trong trào Cách mạng Quốc gia, Tập doàn Công dân, Phong trào Tranh thủ Tự do. Ngày 22/3/56, Dân biểu Trần Văn Lắm được bầu làm Chủ tịch Quốc hội. Ngày 1/4/56, Tổng hội Phật giáo Việt Nam họp Đại hội lần II, tai trụ sở chùa Ấn Quang, thông qua nhiều “Quy lệ Nghi thức và Huấn luyện”, và yêu cầu Chính phủ đặt ngày “Ngày lễ chính thức” Đức Phật Giáng sinh. Ngày 4/4/56, thành lập Dân Vệ đoàn để thay thế các Tự vệ Hương thôn và bảo vệ an ninh Xã-Ấp. 

Ngày 12/4/56, khánh thành Học viện Quốc gia Hành chánh tại đường Alexandre de Rhodes. Ngày 18/4/56, Quốc hội cử 15 Đại biểu vào Ủy ban Hiến pháp gồm: Nguyễn Hữu Châu, Vũ Quốc Thông, Trương Vĩnh Lễ, Trần Văn Trai, Nguyễn Phương Thiệp, Trần Chánh Thành, Huỳnh Ngọc Nữ, Trần Sĩ Đôn, Tôn Thất Toại, Hà Huy Liêm, Hà Huy Chi, Y Kré, Trần Quang Ngọc, Nguyễn Văn Liên, Nguyễn Cao Thăng. Ngày 30/4/56, Bộ trưởng Phủ Tổng thống Nguyễn Hữu Châu được cử kiêm nhiệm Bộ trưởng Nội vụ thay thế Bộ trưởng Bùi Văn Thinh; Tại Khu định cư Cái Sắn, 110 máy cày Viện trợ Mỹ đã cày 150.000 mẫu, sẽ dành 1/2 cho dân định cư, và 1/2 cho dân địa phương và tị nan. 

4. Ngày 30/4/56, Các đất ruộng bỏ hoang phải được khai khẩn (Dụ 28). Ngày 30/4/56, Sơ kết về tổ chức Dư cư: Người di cư vô Nam bằng xe nhà binh Pháp: mỗi người đước cấp 35$, 1 gói quà, 1 tả lót cho con nít; Đi tàu biển của Pháp và của Mỹ; Hoặc máy bay nhà binh đáp xuống Sài Gòn được dẫn đến các Trại  Tạm trú, và đươc trợ cấp như sau: mỗi ngày 12$ cho người lớn, và 6 $ cho trẻ nhỏ (tới 20/10/54); 100$, 1 gói quà, 1 bánh xà phòng, 1 gói thuốc khi tới bến; Và được cấp gạo, mắm, củi ở khu tạm trú (cho tới 19/3/55); 800$ 1 lần ngay khi tới bến, từ 11/3/55; sau đó được đưa tới các trại Định cư, từng làng hoặc từng Tổng một. 

Tới Trại Định cư được ở tạm trong các lều vải rồi dược giúp đở để dựng lấy nhà ở: mỗi gia đình được 3.000$ chia làm 3 kỳ để mua vật liệu cất nhà, hoặc mua ghe làm nghề chài; ngoài ra còn được cấp chiếu, chăn, mùng. Rồi được cấp ngưu canh, điền khí, phân hoá học, hạt giống. Số Trại Định cư cho tới 30/10/55 là ngày chấm dứt di cư là 255 trại (156 tai Nam Phần, 65 tai Trung phần, 34 tại Cao nguyên). Tổng số dân được định cư là 596.031 người. Ngoài ra, còn có số Di cư sống rãi rát khắp nơi (140.039 người). Gia đình binh sĩ (125.393 người)…. Tổng số người Di cư Tị nạn là 887.890 người.

5. Ngày 4/5/56, khánh thành trường Cao đẳng Mỹ thuật tại Sài Gòn. Ngày 8/5/56 Nha Ngân sách được tổ chức lại và đặt trực thuộc Phủ tổng thống (NĐ 1245/PTT/NS). Ngày 16/5/56, Nguyên Đại sứ Nguyễn Ngọc Thơ được cử giữ chức Bộ trưởng Tài chánh thay Bộ trưởng Trần Văn Mẹo. Ngày 23-29/5/56, các Giáo sư Đại học Michigan thuyết trình các môn “Hành chánh và Tổ chức” tại Toà Đô Sảnh. Rất đông thính giả. Ngày 30/5/56, Tù nhân ở khám Chí Hòa nổi loạn từ 24/4 bạo động bằng võ chai và thanh sắt, mãnh bất đĩa…ngăn cấm người được tha không cho ra về, ngăn không cho đưa ra tòa nhiều phạm nhân khác. Hôm nay đã dẹp yên sau 40 ngày rối ren. 

Ngày 6/6/56, tòa Đại hình họp tại Cần Thơ xử tướng Lê Quang Vinh (bị bắt 13/4/56). Ngày 10/6/56, Thiếu tướng Dương Văn Đức đi nhận chức Đại sứ tại Hán Thành. Ngày 11/6/56, Lê Quang Vinh bị tuyên án tử hình. Bị cáo  chống án. Ngày 21/6/56, Các nhà nhập cảng phải ký quỷ 350.000$, chỉ được làm nghề nầy tối đa là 3 ngành, và phải có kho chứa hàng. Ngày 25/6/56, toà Thượng thẩm họp tại Cần Thơ xử Phúc thẩm án tử hình Lê Quang Vinh. Ngày 28/6/56, tòa Thượng thẩm “Y án tử hình” của tòa Đại hình Cần Thơ. Ngày 29/6/56, thành lập Cơ quan Mãi dịch để mua sắm các vật liệu, dụng cụ cần thiết cho Chính quyền (SL 88/TC). 

6. Ngày 30/6/56, thị trường ngoại tệ tự do được thiết lập để cung cấp ngoại tệ cho những vụ chuyễn ngân không được hưởng hối xuất chính thức (Dụ 36). Ngày 3/7/56, lễ đặt đá xây dựng Trung tâm Văn hóa và Thư viện Quốc gia tại khu đất cạnh Dinh Gia Long. Kinh phí xây cất do Viện trợ Mỹ đài thọ. Ngày 3-4/7/56, Tòa án Quân sự họp tại Cần Thơ xét xử tướng Lê Quang Vinh về khía cạnh “an ninh quốc gia”, tuyên án Lê Quang Vinh “tử hình, tước đoạt binh quyền và tịch thu tài sản”. Ngày 6/7/56, Đại hội Không quân kỷ niệm đệ nhất chu niên, ngày chuyễn giao Căn cứ Không quân cho Việt Nam. Phi công Việt Nam biểu diễn máy bay Beereat do Pháp chuyễn giao. 

Ngày 12/7/56, ký kết Hiệp định vay của Ngân hàng Xuất Nhập Cảng Eximbank 25 triệu Mỹ kim để khuyếch trương kinh tế. Ngày 13/7/56, sáng nay lúc 5g40, tướng Lê Quang Vinh bị hành quyết tại nghĩa địa đường Hòa Bình, Cần Thơ khi ông 32 tuổi trối trăn dặn vợ nuôi con cái nên người, và xin chôn tại Núi Sam, Châu Đốc. Ngày 29/8/56, Thiếu tướng Dương Văn Minh được bổ Tổng thơ ký Thường trực Quốc phòng, Chỉ huy Phân khu Sài Gòn Chợ Lớn, và vẫn Chỉ huy Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Ngày 5/9/56, tại Bộ Giáo dục, khai mạc Hội nghị thống nhất ngôn ngữ với nhiều tiểu ban: Pháp âm. Chính tả, Đồng nghĩa, Đồng âm dị nghĩa, Thổ âm, Danh từ địa lý, Danh từ khoa học, kỹ thuật. 

7. Ngày 6/9/56, Ngoại kiều từ nay không được làm 11 nghề, nếu đang làm thì phải giải nghệ từ 6-12 tháng. Đó là các nghề: cá, thịt, chạp phô, than củi, dầu nhớt, cầm đồ, vải lụa, sắt đồng, than vụn, xay lúa, ngủ cốc, chuyên chở, làm trung gian ăn hoa hồng (Dụ 53). Ngày 13/9/56, Bộ trưởng Công chánh Trần Văn Mẹo từ chức. Ngày 14/9/56, Kỹ sư Trần Lê Quang được bổ nhiệm Bộ trưởng Công chánh. Ngày 15/9/56, Chánh Thanh tra Hành chánh Hà Văn Vượng được bổ nhiệm Bộ trưởng Tài chánh thay thế Kỹ sư Trần Hữu Phương.Ngày 22/9/56, Việt Nam trở thành Hội viên của Quỷ Tiền tề Quốc tế và Ngân hàng Quốc tế Khuếch trương Kiến thiết.

Cùng ngày 22/9/56, Hội nghị toàn quốc chủ điền và tá điền nhóm họp tại Bộ Cải cách Đièn Địa để thoả hiệp các điểm chính yếu trong sự tương quan giữa hai giới. Ngày 15/10/56, khai giảng các trường Cao Đẳng thuộc Trung Tâm Kỷ thuật Phú Thọ, thành lập theo Sắc lệnh (SL 213/GD ngày 29/6/56). Theo lời yêu cầu của Bộ trưởng Nguyễn Hữu Châu, trong đợt đầu tiên có 16 Chuyên viên Việt Nam từ nước ngoài về nước giảng dạy; Viện Đại học Việt Nam được phép tặng bằng Doctor (Tiến sĩ) Danh dự cho Nhân vật ngoại quốc (SL 140/GD). Ngày 17/10/56, Quốc hội tuyên bố không chọn được bản Quốc ca hay mẩu Quốc kỳ nào dự thi trong số 350 mẩu cờ, và 50 bài nhạc. Cùng ngày 17/10/56, thành lập trường Thương mại (NĐ 2577/TTP/CV); và trường Sinh ngữ (NĐ 2576/TTP/CV).

8. Ngày 22/10/56, sau 1 tháng, Hội nghị toàn quốc chủ điền và tá điền nhóm họp tại Bộ Cải cách Điền Địa (22/9/56) để thoả hiệp các điểm chính yếu trong sự tương quan giữa hai giới, Hôm nay Chính phủ ban hành Chế độ Cải cách Điền địa, theo đó, mỗi địa chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất, và 15 ha ruộng hương hoả. Ruộng bị truất hữu sẽ được đem bán lại cho những người thiếu ruộng, mỗi hộ không quá 5 ha, người mua sẽ trả tiền trong thời gian 6 năm. Trong thời gian đó ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu của chính quyền. Trong 10 năm kế tiếp, người được phát ruộng không được cho mướn hay đem bán lại. Địa chủ sẽ được bồi thường 10% tiền mặt, số còn lại được trả bằng trái phiếu trong 12 năm, mỗi năm lời 5%. (Dụ 57). 

Kể từ ngày 22/10/56 nầy, tên mới các Tỉnh được thay đổi như sau: Sài Gòn/Chợ Lớn thành Sài Gòn. Bà Rịa/Vũng Tàu thành Phước Tuy. Biên Hòa thành Long Khánh, Phước Long, Bình Long, và Biên Hòa. Chợ Lớn/Tân An thành Long An. Mộc Hóa thành Kiến Tường. Phong Thạnh thành Kiến Phong. Mỹ Tho/Gò Công thành Định Tường. Bến Tre thành Kiến Hòa. Vĩnh Long/Sa Đéc thành Vĩnh Long. Trà Vinh thành Vĩnh Bình. Long Xuyên/Châu Đốc thành An Giang. Cần Thơ thành Phong Dinh. Bạc Liêu/Sóc Trăng thành Ba Xuyên. Rạch Giá/Hà Tiên thành Kiên Giang. Cà Mâu thành An Xuyên. Thủ Dầu Một thành Bình Dương. Đồng Nai Thượng/Bình Thuận thành Bình Tuy. Côn Đảo thành Côn Sơn (SL 143/NV)...

9. Ngày 23/10/56, Nam Việt, Trung Việt, Bắc Việt đổi thành Nam Phần, Trung Phần, và Băc Phần (SL 113a/TTP); Ban hành “Quy chế Y sĩ, Nha sĩ, và Hộ sinh” (Dụ 57/3); và “Quy chế các Trường Tư Thục” (Dụ 57/4). Ngày 24/10/54, nền Hành chánh toàn quốc được cải tổ, các Phần bị bãi bỏ, tăng quyền hạn của Tỉnh trưởng, nhiệm vụ của các Đại biểu Chính phủ bị thu hẹp (Dụ 57a). Trung Phần chia làm Cao nguyên Trung Phần, và Trung nguyên Trung Phần (Dụ 57b). Công dân có thể được trưng tập để làm những việc cứu tế xã hội (Dụ 57b). Ngày 26/10/56, Công bố Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. Ngày 5/11/56, Tổng thống chấp thuận việc xin từ chức của 4 Bộ trưởng: Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Nguyễn Hữu Châu; Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng, Trần Trung Dung Bộ trưởng Thông tin, Trần Chánh Thành; Bộ trưởng Y tế Xã hội, Vũ Quốc Thông. 

Ngày 7/11/56, Giáo sư Trần Vỹ, Thạc sĩ Y khoa được bổ Bộ trưởng Y tế. Đốc phủ sứ Đỗ Văn Công được bổ Bộ trưởng Cải cách Điền địa. Ngày 9/11/56, khai mạc Quốc hội Lập Pháp. Ngày 1/12/56, Giải tán Tiểu đoàn An ninh Phủ Tổng thống, và tổ chức lại thành Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống. Ngày 8/12/56, Trung tướng Lê Văn Tỵ được thăng Đại tướng; Đại tá Phạm Xuân Chiểu được bổ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an thay tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Ngày 9/12/56, các Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lễ, Trần Văn Đôn được thăng Trung tướng. Ngày 10/12/56, các Thiếu tướng Trần Văn Minh, Thái Quang Hoàng được thăng Trung tướng; Đại tá Lê văn Kim được thăng Thiếu tướng.

10. Ngày 24/12/56, kể từ 8/1/2957, Giấy bạc củ do Viện phát hành Liên Quốc với dấu hiệu Việt Nam, sẽ không còn hiệu lực hoàn trái, Giấy bạc củ có thể đem đổi giấy bạc mới từ ngày 4/1/57 (SL 196/TC). Ngày 28/12/1956, Quốc hội chấp thuận (97 thuận, 1 chống, 3 không hợp lệ) bổ nhiệm Ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Ngày 29/12/56, có 800 người ở Quảng Ngãi lên lập nghiệp tại Pleiku. 

Ngày 12/1/57, giá vàng 5.700$ một lạng tài Sài Gòn. Ngày 24/1/57, 150 Sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Liên quân Đà Lạt (người thuộc các Giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, Thiên chúa). Ngày 6/2/57, có 2.400 kiều bào từ Mên về được đưa tới lập nghiệp ở Rạch Giá. Ngày 20/2/57, Bộ Ngoại giao xác nhận, các quần đảo Tây Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam, và vẫn được Chính phủ kiểm soát. Ngày 1/3/57, Viện Đại Học Huế được thành lập (SL 45/GD). Ngày 22/3/57, khánh thành Hội chợ Ban Mê Thuột, lúc 8g30 Tổng thống Ngô Đình Diệm tới gần đến khán đài bị một thanh niên bắn bằng Tiểu liên Mas 49 dấu dưới áo Blouson, nhưng đạn lại trúng Bộ trưởng Cải cách Điền địa Đỗ Văn Công. Lễ khánh thành vẫn tiếp tục. Người bắn bị bắt ngay, tên là Hà Minh Chi tức Phạm Ngọc Phú từng làm việc ở Ty Thông tin Tây Ninh. 

11. Ngày 1/3/57, Viện Đại Học Huế được thành lập (SL 45/GD). Ngày 23/4/57, thành lập Phủ Tổng ủy Dinh Điền thay thế Phủ Tổng ủy Di cư (SL 103/TTP). Ngày 2/5/57, thanh niên tuổi từ 20 đến 21 tuổi phải thi hành quân dịch trong 12 tháng (NĐ 183/QP). Ngày 6/5/57, các ông Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán, Nghiêm Xuân Thiện, và một số chính khách họp báo tuyên bố thành lập “Khối Dân chủ” đối lập với Chính quyền. Cùng ngày 6/5/57, Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Mỹ 2 tuần. Ngày 11/5/57, Thượng sanh Cao Hoài Sang được bầu lên điều khiển Tòa thánh Cao Đài. Ngày 19/6/57, tại vùng Đồng Tháp Mười dân cư đông gấp đôi trước 1954, quân đội xây lại Tháp Mười tầng theo kiểu Chàm cao 36 thước. 

Ngày 29/6/57, thành lập Trung tâm Kỷ thuật Phú Thọ, để tập trung các trường Kỷ thuật Chuyên môn (SL 213/GD). Ngày 3/7/57, thành lập Nha Công tác Xã hội miền Thượng trực thuộc Phủ Tổng thống, (NĐ 302/NV). Ngày 6/7/57, Theo chương trình giải toả Đô thành, nhiều vựa than, vựa củi, nhà lá ở Bến Chương Dương phải dọn đi nơi khác, cả các ghe, thuyền cũng phải dời đi. Ai về quê được trợ cấp 500$, ai sang ở trú khu Chánh Hưng được mua nhà trả góp trong 5 năm. Ngày 8/8/57, Sắc lệnh 278/KT, thiết lập đường Xa Lộ Sài Gòn- Biên Hòa. Ngày 13/8/57, Toà án Quân sự xử tử hình và tước đoạt binh quyền, tướng Nguyễn Văn Thành, nguyên Tư lệnh Quân đội Cao Đài, vì đã liên kết với Bình Xuyên. 

12. Ngày 15/8/57, Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Thái Lan 3 ngày. Ngày 20/8/57, tòa án quân sự xử 23 người liên can đến biến cố Bình Xuyên 1955: Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hữu Thuần, Trịnh Khánh Vàng, Nguyễn Thành Nghi, Nguyễn Văn Hớn, Nguyễn Triệu Phương, Nguyễn Văn Hiếu. Ngày 22/8/57, Cố vấn Ngô Đình Nhu, và bà Nhu đăng báo cải chính tin đồn “không hề chuyển ngân ra ngoại quốc; không tham gia vào thương mại, kỹ nghệ, tài chánh ở Việt Nam cũng như nước ngoài; không bao giờ nhận đồ lễ để can thiệp cho ai; chưa có ai đề nghị làm những việc bất hợp pháp”. Ngày 1/9/57, tổng Ngô Đình Diệm sang thăm Nam Hàn 1 tuần lễ. 

Ngày 25/9/57, thành lập 6 Vùng Dinh Điền: Cao nguyên Trung Phần; Đồng Tháp Mười; An Xuyên; Ba Xuyên; Cái Sắn; và Vùng số 1, số 2  Nam Phần (NĐ 1502, và 1503/TTP/VP). Ngày 28/9/57, Tòa tuyên án 8 tử hình, 3 khổ sai chung thân, 1 khổ sai 20 năm. Ngày 2/10/57, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Ngọc Bích, và một số trí thức ở Pháp viết thư yêu cầutổng thống Ngô Đình Diệm khoan hồng đối với những người liên can đến vụ Bình Xuyên. Ngày 23/10/57, khai mạc Hội chợ Thi Nghè, rất đông người xem. Ngày 26/10/57, tại nạn khủng khiếp ở Hội chợ Thị Nghè, vì chen nhau ở cầu nổi, 45 người rớt xuống nước chết, 50 người bị thương phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Ngày 31/10/57, Chính phủ trợ cấp 1 triệu đồng cho gia đình các nạn nhân. 

13. Ngày 1/11/57, Uỷ ban Tổ chức Hội chợ Thị Nghè dành tiền thâu trong 1 tuần để bồi thường cho gia đình nạn nhân. Ngày 4/11/57, tổng thống Ngô Đình Diệm thăm Ấn Độ 1 tuần. Ngày 12/11/57, Khánh thành Viện Đại học Huế. Ngày 7/12/57, Giá gạo tại Sài Gòn, gạo số 1 có 25% tấm 550$ một tạ. Gạo xuất khẩu trong năm 200.000 tấn. Ngày 13/12/57, Quốc hội họp bàn về Dự án Luật Gia đình của bà Dân biểu Ngô Đình Nhu. Ngày 16/12/57, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Dụ 17/57, nội dung “Tất cả tài sản hiện hữu hay vị lai của Cựu Quốc trưởng Bảo Đại và một số người thân tín đều bị tịch thu; Ai giữ phải khai với Nha Trước bạ Công sản; những người có của bị tịch thu là ông Vĩnh Thụy, bà Nam Phương, các bà bé, Vĩnh Cẩn và các vợ, ông Nguyễn Đệ và vợ. Ngày 18/12/57, Bộ giáo dục thông báo chưa thể dạy hết các môn bắng tiếng Việt ở bậc Đại học.

Ngày 10/1/58, Luật quy định hành nghề Dược sĩ, một Dược sĩ Đoàn được thành lập (Luật 1/56). Ngày 18/1/58, Hối xuất mới của đồng bạc Việt Nam “35$=1 Mỹ kim; 1$=12 quan Pháp 98$=1 Anh kim (SL 37/TC). Cùng ngày 18/1/58, Bộ Ngoại giao tuyên bố sẽ đặt nhiều Tòa Lãnh sự tại Lào. Ngày 19/1/58, tại Quốc hội vài dân biểu tỏ ý phẩn nộ, bởi bà Nhu chê trách nhiều Dân biểu muốn làm ngơ không muốn biểu quyết Luật Gia đình chỉ vì muốn lấy nợ lẽ, có thái độ “thật hèn”. Các Dân biểu giận dữ cho rằng, đó là lời “xúc phạm Quốc hội”, phải xin lỗi thì Quốc hội. 

14. Ngày 22/1/58, bà Nhu cho đăng báo thanh minh dài dòng rằng bà ta đã nói “thất hẹn” chứ không nói “thật hèn”. Ngày 31/1/58, Tòa án Quân sự xử 53 đảng viên Bình Xuyên, 1 án khổ sai chung thân, còn thì khổ sai có hạn, và tủ ở. Ngày 20/2/58, Cháy lớn ở Khu Định cư Gia Kiệm, gần 3.000 nóc nhà bị thiêu rụi, 3 trẻ em chết, 85 người bị thương. Số thiệt hại ước độ 60 triệu. Ngày 27/2/58, các Đại tá Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Văn Là, Trần Ngọc Tám được thăng Thiếu tướng. Ngày 2/3/58, Chính phủ quyết định đưa 20.000 người nghèo miền Trung lên Cao nguyên (Pleiku) khai khẩn. 

Ngày 5/3/58, ông Hoàng Văn Đáp tự thiêu phản đối việc bắt giữ vợ ông điều tra trong ba ngày Tết, về một vụ kiện bội tín, dư luận xôn xao, Đô trưởng Sài Gòn họp báo, cho biết đã ngưng chức viên Cảnh sát làm quá. Ngày 7/3/58, Thiếu tướng Nguyễn Văn Là dược cử giữ chức Tổng Giám đốc Cảnh sát. Ngày 13/3/58, ông Nghiêm Xuân Thiện chủ báo Thời Luận bị tòa phạt 10 ngày tù treo, 100.000$ tiền vạ, và rút giấp phép Xuất bản, vì đã đăng bài “Thư gởi ông Nghị cửa tôi” xúc phạm Chính quyền. Ngày 19/3/58, Tổng thống Ngô Đình Diệm qua thăm Phi Luật Tân 5 ngày.

15. Ngày 15/4/58, Bác sĩ Phan Quang Đán tuyên bố tái lập đảng Dân chủ, Hoàng Cơ Thụy làm Tổng Thư ký. Lưu ý, các ông Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán, Nghiêm Xuân Thiện, và một số chính khách đã tuyên bố thành lập “Khối Dân chủ” đối lập với Chính quyền (từ 6/5/57). Ngày 16/4/58, tàu Hà Giang chở nhiều tù nhân ra Côn Đảo, trong đó có những người bị kết án tử hình vụ Bình Xuyên. Ngày 5/5/58, Bộ trưởng Nguyễn Hữu Châu từ chức. Ngày 20/5/58, tại Quốc hội bà Ngô Đình Nhu đưa ra đề nghị lập Phong trào Liên đới Phụ nữ và yêu cầu Liên đoàn Công chức cho vợ Công chức tham gia. 

Ngày 29/5/58, tại Quốc hội Dân biểu Nguyễn Huy Chương đã kích kịch liệt Dự luật Gia đình của bà Nhu, rằng Dự luật nầy muốn bảo vệ gia đình thì trái lại chống Cộng có một chân, lại trái với luật thiên nhiên khiến vợ chồng kiện nhau gây nhiều bất công và xui ra rối loạn. Ngày 2/6/58, một rừng quế tốt tìm thấy trên đường Ba Tơ-Kontum. Ngày 14/6/58, đấu lý trước 2.000 thính giả trong 6 giờ liền giữa Tỉnh trưởng Mỹ Tho Nguyễn Trân với 11 ký giả và 3 cán bộ cao cấp Việt Cộng, có Nguyễn Văn Hiếu và vợ là bà Mã Thị Chu. Ngày 27/6/58, Nguyễn Tường Tam xuất bản “Văn hóa Ngày nay” số đầu tiên bán ngay 10.000 số. Ngày 3/7/58, thành lập Toà án Thiếu nhi. (Luật 11/58).Ngày 7/7/58, số thí sinh Tú tài I khóa I là 8.402 trên toàn quốc. 

16. Ngày 22/7/58, kết quả gần 1000 thí sinh được vào vấn đáp trên 8.402 dự thi. Cùng ngày 22/7/58, hai mạc Hội nghị Giáo dục toàn quốc để xét lại các chương trình học. Ngày 28/7/58, Bộ Kinh tế xác nhận ấn định giá gạo sỉ loại 1 với 25% tấm 500$ mỗi tạ. Ngày 21/8/58, thành lập trường Đại học Sư phạm Sài Gòn (SL 426/GD); Ngày 22/8/58, khánh thành đường xe lửa Tuy Hòa- Quy Nhơn. Ngày 24/9/58, bải bỏ Tòa Đại biểu Chính phủ tại Nam Phần (SL 480/TTP). Ngày 25/9/56, Lễ phát thưởng Văn chương 1957 tại Dinh Độc Lập, không ai được Ưu hạng: 2 giải 40.000$, 2 giải 30.000$, và 9 giải 20.000$. Các tác phẩm trúng giải: Văn chương bình dân của Linh mục Thanh Lãng; Xây dựng Nhân vịcủa Bùi Tuân; Người xưa của Trần Đình Khải; Đem tâm tình viết Lịch sử của Nguyễn Mạnh Côn. v.v. Tìm về sinh lộ của Kỳ Văn Nguyên. 

Ngày 3/10/58, Ban hành thể lệ Xuất, Nhập cảnh và cư trú của ngoại kiều (SL 13/58). Ngày 7/10/58, Tòa án Quân sự Nha Trang xét xử vụ Đại Việt của Trương Tử Anh ở Phú Yên, 54 bị cáo mà chỉ nhờ một Luật sư biện hộ. Ngày 11/10/58, thành lập Cuộc Nguyên tử lực (SL507/TTP). Ngày 28/11/58, Lệnh Đô trưởng, các nhà khiêu vủ không được nhận khách dưới 21 tuổi. Ngày 2/12/58, Tỉnh lỵ Lâm Đồng ở Di Linh được dời về Blao, và Blao được chỉnh thức gọi là Bảo Lộc. Ngày 17/12/58, thành lập và tổ chức những Hiệp hội Nông dân, mục đích gây tinh thần tương trợ, trau dồi kiến thức chuyên môn, giúp tăng gia sản xuất nông nghiệp và cải tiến sinh hoạt nông thôn (SL 569/TTP). Ngày 19/12/58, Luật 15/58 quy định chế độ cân lường. Ngày 29/12/58, Ấn định quy chế các Viện Paster Việt Nam (SL 569/TTP). 

17. Ngày 1/1/1959, ấn định hối xuất chính thức của đồng bạc đối với đồng Franc là: 1$ Việt Nam=14,10 Franc (SL số 1/TC). 2/1/59, ban hành Luật Gia đình, số 1/59, gồm 135 điều, theo đó cấm li dị; cấm đa thê; truất quyền lợi của con ngoại hôn.v.v. Ngày 5/1/58, Phủ Tổng Ủy Dinh Diền cho biết đã có hơn 80.000 đồng bào nghèo ở miền Trung lên lập nghiệp tại 47 Địa điểm trồng trỉa ở Cao Nguyên. Ngày 18/1/59, tại Sài Gòn trong đêm có 2.000 nam nữ bị bắt vì tội mãi dâm. Có người tự tử vì bị bắt oan. Ngày 23/1/59, tại Cao nguyên, thành lập tỉnh Quảng Đức trên phần đất quận Dak-Song, một phần quận Di Linh, và quận Phước Hòa, tỉnh lỵ đặt tại Gia Nghĩa (SL 24/NV). 

Và, tại Nam Phần, thành lập tỉnh Phước Thành một phần đất của Bình Dương, Long Khánh, Biên Hòa, và Phức Long, tỉnh lỵ đặt tại Phước Vĩnh (SL 25/NV). Ngày 1/2/59, Sài Gòn chuẩn bị ăn Tết khá tưng bừng. Chính phủ cho phép đốt pháo ngày 30 và mồng một Tết. Ngày 14/2/59, Cấm không cho mang ra ngoại quốc những sản phẩm Văn hoá có giá trị Lịch sử, Sách cổ, đồ mỹ thuật… (SL 34/GD). Ngày 16/2/59, Hồng Y Agagiannian khâm mạng Giáo hoàng tới Việt Nam chủ lễ Đại hội Thánh mẫu. Nhân dịp nầy nhà thờ Đức Bà Sài Gòn được Toà thánh thăng lên hàng Vương cung Thánh đường (Basilique). 

18. Ngày 21/2/59, tại Viện Đại học Huế, các trường Đại học Văn khoa, Luật khoa, Khoa học, Sư phạm, và Cao đẳng Mỹ thuật thành lập (SL51/GD). Ngày 27/2/59, Phủ Tổng uỷ Nông tín và Hợp tác xã được thành lập. (SL42/TTP).Ngày 7/3/59, Quy chế Lâm Phần, bảo vệ, khai thác đươc ấn định. (Sắc lệnh 51, 52, 53, 54/CN). Ngày 8/3/59, số thí sinh nộp đơn xin học bổng Du học Hoa Kỳ là 384, nhưng chỉ có 15 xuất Học bổng Du học. Ngày 11/3/59, Quy chế các Hợp tác Xã được ấn định: nông nghiệp tiểu công nghệ, sản xuất, kiến ốc.v.v..(SL 58/TTP). Ngày 14/3/59, Nhân ngày lễ Hai bà Trưng, có lễ tặng thưởng “Chương Mỹ Bội tinh” cho 3 Hiền mẩu có công ở vậy nuôi con là Lê Thị Quý (Bình Thuận), Trần Thị Ngân, (Đà Nẳng), Lê Thị Giỏi (Tuyên Đức). 

Ngày 23/3/59, Đô thành Sài Gòn được cải tổ và chia thành 8 quận, Đô trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và trực thuộc Phủ Tổng thống. Ngày 27/3/59, Toà Đại hình tuyên phạt những người cầm đầu vụ nổi loạn tại khám Chí Hoà (từ 24/4/56-30/5/56) từ 2 năm tù đến 8 năm khổ sai. Ngày 1/4/59, Hội nghị Giáo dục toàn quốc nhóm họp tại Sài Gòn. Ngày 3/4/59, Hội nghị Giáo dục đề nghị miển thi Tiểu học. Ngày 13/4/59, Văn khố và Thư viện Quốc gia được tổ chức lại thuộc một Nha Chuyên trách. (SL 86/GD). Ngày 15/4/59, thành lập chức vụ Đại biểu Chính phủ Miền Tây Nam Phần (SL 67/TTP). 

19. Ngày 18/4/59, Luật số 9/59, ấn định hình phạt về các tội oa trử của công, biển thủ, thiện thủ, hoặc làm tiêu tán tài vật, do nhân viên công quyền vi phạm. Ngày 23/4/59, Trường Quốc gia Bưu điện được thiết lập (NĐ 268/BCC/NV). Ngày 6/5/59, thành lập Công quản Mỏ than Nông Sơn (SL 101/KT); Một Trung úy Hải quan 50 tuổi giận vợ bị ra tòa về tội lường gạt, đương đêm dìm đầu 5 con nhỏ vào nước, cả 5 đứa đều bị chết ngạt. Ngày 17/5/59, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc từ trần tại Bệnh viện Calmete, Nam Vang... Ngày 6/5/59, thành lập Công quản Mỏ than Nông Sơn (SL 101/KT). Ngày 7/5/59, Xi-măng tăng giá từ 72-75$ lên thành 135$ một bao. 

Ngày 11/6/59, Luật 14/59, trừng phạt các vụ mạo hóa, và biến tạo các sản phẩm. Ngày 15/6/59, lễ đặt đá xây dựng nhà máy Thủy tinh. Công ty Thủy Tinh có vốn 100 triệu, chính phủ 51%, và 41% hãng rượu bia BGI. Ngày 18/6/59, thành lập Chức vụ Đại biểu Chính phủ tại Miền Đông Nam Phần (SL138/TTP). Ngày 26/6/59, phê chuẩn Thỏa ước Việt-Mỹ về nguyên tử năng, xây dựng Trung Tâm Nguyên Tử với 350.000 Mỹ kim viện trợ. Ngày 29/6/59, Bộ Thông tin, và Nội vụ ra lệ nạp bản báo chí trước khi phát hành (NĐ Liên bộ 151/BTT/NĐ). Ngày 30/6/59, ban hành Luật 19/59, ấn định thể thức bầu cử Quốc hội. 

20. Ngày 15/7/59, Luật 22/59, trừng phạt việc Xuất ngoại và Nhập nội bất hợp pháp. Ngày 2/8/59, Nguyễn Văn Ba 13 tuổi chăn bò ở Xã Hiệp Hòa Đức, Hòa, Long An, đem trả lại sở hữu chủ cái cặp đựng 1 triệu đồng em đã bắt gặp. Em Ba được thưởng 1.000$ và chụp ảnh đăng báo. Ngày 7/8/59, khánh thành đường xe lữa xuyên Viêt, từ Sài Gòn ra Đồng Hà, Quảng Trị sau nhiều năm sửa chửa. Theo Bộ Công Chánh, từ 1948 đến 1954, đường nầy đã bị phá hoại 3.407 lần. Ngày 20/8/59, Trung úy Hải quan thuế giết 5 con bị kêu án tử hình. Ngày 21/8/59, thành lập trường Đại học Y khoa ở Huế (NĐ340/GD). Ngày 25/8/59, Bộ Giáo dục quyết định đồng phục cho học trò “Nam: quần xanh nước biển, sơ mi trắng cộc tay; Nữ: áo dài trắng, quần trắng; Lễ phúc áo dài xanh Lam. 

Ngày 30/8/59, bầu cử Quốc hội Lập pháp khóa II, có 460 ứng cử viên cho 123 đơn vị. Ngày 31/8/59, kết quả đầu tiên, tại Đô thành, 6 Độc lập, 3 Phong trào Cách mạng trúng cử. Được nhiều phiếu nhất, Bác sĩ Phan Quang Đán (32.166), Nguyễn Phương Thiệp, Phan Khắc Sửu. Có 9 Phụ nữ đắc cử, bà Ngô Đình Nhu, Hồ Thị Chi, Nguyễn Thị Minh, Phan Thị Nguyệt Minh, Nguyễn Thị Vinh, Huỳnh Ngọc Nữ, Ngô Thị Hòa, Nguyễn Thị Xuân Lan, Nguyễn Kim Anh... Ngày 5/9/59, Bộ Công Chánh cho biết sẽ xây một cầu ở Mỹ Thuận bắt qua sông Cửu Long. Ngày 8/9/59, Nha Địa Dư trước thuộc Bộ Quốc phòng nay thuộc Phủ Tổng thống. Ngày 9/9/59, Bộ trưởng Cải cách Điền địa Đỗ Văn Cung từ chức, Bộ trưởng Lao động Huỳnh Hữu Nghĩa được cử tạm kiêm thay. 

21. Ngày 5/10/59, Khai mạc Quốc hội khóa II. Ngày 8/10/59, Viện Hán học được thiết lập tại Huế. (NĐ 389/GD). Ngày 14/10/59, Ủy ban Hợp thức hóa  bầu cử Dân biểu không thừa nhận hai ông Phan Quang Đán và Nguyễn Trân. Ngày 31/10/59, Toà Đại hình tuyên án vụ Huyện Thung biển thủ, có 3 tử hình, Còn lại khổ sai và tù ở. Ngày 30/11/59, Quân nhân bị hạ sát, tử nạn, hy sinh, mất tích, bị bắt được trợ cấp 12 tháng lương (SL 360/QP); Phát hành vé số Kiến thiết loại Đặc biệt 4 kỳ để lấy tiền xây Thư viện Quốc gia. Ngày 31/12/59, Có 3.586 Đông Y đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Bộ Y tế. Cùng ngày 31/12/59, ba hung thủ ném lựu đạn sát hại 2 Sĩ quan Mỹ ở Tân Mai ngày 8/7/59, bị tòa án quân sự kết án tử hình...

Ngày 2/1/60, từ hôm nay, mọi giao dịch Việt-Pháp tính bằng đồng Phật-lăng mới. Hối xuất chinh thức của đồng bạc Việt Nam. Đối với Mỹ kim vẫn 35$=1 Mỹ kim. Các hối xuất dối với các ngoại tệ khác sẽ tính theo căn bản trên (SL 1/TC). Ngày 3/1/60, số đồng bào nghèo miền Trung lên Cao Nguyên hoặc miền Nam lập nghiệp: 544 người từ Quảng Ngãi vào khai khẩn tại Bình Tuy; 907 người ở Thừa Thiên vào Bình Long; 729 người ở Quảng Nam vào Kiến Tường; 3.000 người ở Bình Định lên Cao Nguyên. Ngày 13/1/60, thành lập Trung tâm Cải huấn để trông nom các trại giam và nhà lao (SL số 4/NV). Ngày 15/1/60, tổng thống Ngô Đình Diệm, và Phái đoàn Văn hóa Kinh tế sang thăm Đài Loan 5 hôm. 

22. Ngày 23/1/60, Chính phủ Việt Nam mua lại những lô pháo còn trử để dân chúng khỏi đốt trong dịp Tết nầy. Ngày 5/2/60, Đô trưởng Sài Gòn tuyên bố thành lập các Liên gia, 20 nhà; Nhiều Liên gia họp thành Khóm; Mỗi Khóm có khóm trưởng để liên lạc với Phường. Ngày 8/2/60, có 1.000 người nữa từ Quảng Nam lên lập nghiệp tại Ban Mê Thuột. Ngày 8/2/60, Số Hợp Tác xã hiện nay là 257, nhưng có tới 96 không hoạt động, chỉ có tên mà thôi. Ngày 15/2/60, tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Mã Lai 5 ngày. Ngày 6/4/60, một Phái đoàn Việt Nam phụ trách việc Nhật bồi thường chiến tranh được thiết lập. Ngày 17/2/60, năm nay có 3.158 thí sinh dự thi Tú Tài Pháp. 

Cùng ngày 17/2/60, có 584 người ở Bình Định lên Pleiku lập nghiệp. Ngày 19/2/60, có 1.102 người ở Quảng Nam, Bình Định đến lập nghiệp ở Bình Tuy, và Pleiku. Ngày 23/2/60, có 750 người ở Bình Định lên lập nghiệp tại Darlac. Ngày 14/3/60, Khánh thành Khu Trù mật Vị Thanh, Phong Dinh. Ngày 26/3/60, Các tỉnh miền nam năm nay trúng mùa. Ngày 31/3/60, bế mạc triển lãm Hội hoạ mùa Xuân Canh tý: Huy chương Vàng: tĩnh vật của Văn Đen; Huy chương bạc: Người suối bạccủa Phan Đăng Tín; và Chân dung của Nguyễn Văn Trung. Ngày 6/4/60, một Phái đoàn Việt Nam phụ trách việc Nhật bồi thường chiến tranh đước thiết lập tại Đông Kinh. 

23. Ngày 12/4/60, Nhân dịp lễ Phật đản tại Sài Gòn có cuộc rước đuốc trên nhiều đường phố. Ngày 13/4/60, trong một cuộc chạm súng tại Kiến Hòa 29 Việt Cộng bị tử thương. Ngày 27/4/60, Quốc hội Việt Nam lập một Ủy ban Thống nhất Lãnh thổ và Giải phóng Miền Bắc. Ngày 28/4/60, khánh thành tại Sài Gòn “ngôi nhà tiền chế” đầu tiên bằng ván Aérolith do chính phủ Tây Đức tặng. Ngày 4/5/60, thành lập Trường Quốc gia Thương Mại (NĐ 755/GD). Ngày 5/5/60, Có thông tư của Phủ tổng thống về việc xưng hô với ông Tổng thống, không được gọi là Cụ nữa, chỉ gọi là Tổng thống mà thôi. Ngày 11/5/60, Đại hội các Ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử toàn quốc được tổ chức tại Nha Trang. Ngày 22/5/60, Cây viết Bic bắt đầu được chế tại tại Việt Nam. 

Ngày 29/5/60, Khánh thành Quốc lộ mới mở rộng Ninh Hoà-Ba-Mê-Thuột. Ngày 29/5/60, tại khu Trù mật Vị Thanh và Hỏa Lựu, Phong Dinh đã có 1.035 gia đình tới lập nghiệp. Ngày 2/6/60, Hiện nay đã có 38.000 mẩu lúa tại các Địa điểm Dinh điền. Ngày 3/6/60, thành lập Cơ quan Quản trị Chương trình Danhim, phụ trách thực hiện Dự án Thủy điện Danhim (NĐ 488/CT/GT). Ngày 6/6/60, bắt đầu phát Thẻ Căn cước bọc nhựa tại Sài Gòn. Ngày 6/6/60, lễ đặt đá xây dựng Trường Võ Bị Quốc gia mới tại Đà Lạt. Ngày 10/6/60, các Lý sự Hội quán Trung Hoa và các Bang A-Kiều bị giải tán (SL 133/NV). Ngày 14/6/60, Mở chiến dịch diệt trừ sốt rét (83 triệu bạc Việt Nam, 900.000 Mỹ kim viện trợ Mỹ). 

24. Ngày 25/6/60, tổng số Dinh Điền hiện nay là 127, và 200.000 người, 66.000 mẫu tây đã được khai khẩn. Ngày 30/6/60, Từ đầu năm đến nay số gạo xuất cảng là 192.158 tấn với số tiền 563.227.000$. Ngày 3/7/60, Một Câu lạc bộ Văn hoá được lập tại đường Tự do để văn nghệ sĩ hội họp hàng ngày.Ngày 7/7/60, một đồ án chỉnh trang khu vực Sài Gòn Chợ Lớn được trưng bày tại tòa Đô Sảnh, do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người được Giải thưởng hạng nhất La Mã thiết kế. Ngày 22/7/60, Theo Bộ Canh nông số lúa thu hoạch vụ mùa nầy trội hơn vụ mùa năm ngoái 1.146.150 tấn. Ngày 10/8/60, Việt Nam ký kết Hợp đồng vay của Quỷ Phát triển (Development Loan Fund) 9,7 triệu Mỹ Kim để mua đầu máy và Toa Xe lửa.

Ngày 22/8/60, Quy chế Thương cảng Đà Nẳng được ấn định (SL 188/CC/GT). Ngày 25/8/60, nhân dịp khánh thành Khu Trù Mật Cái Sơn, Vĩnh Long, tổng thống Ngô Đình Diệm tuyên bố, từ nay chỉ kiện toàn 19 Khu Trù mật đã làm, không xây dựng thêm nữa, lý do thiếu chuyên viên. Ngày 21/9/60, Bộ Công Chánh mở kỳ thi dự án xây dựng câu Mỹ Thuận trên đường Hậu Giang dài 650 thước tốn chừng 250 triệu. Ngày 28/9/60, một làng Đại học được thiết lập tại Thủ Đức. Ngày 30/9/60, Hải quân Công xưởng được thiết lập, gồm những cơ sở do Pháp chuyễn giao. (SL217/QP). 

25. Ngày 1/10/60, có 1.331 Sinh viên Việt Nam đang học Đại học và Cao Đẳng ở Pháp. Ngày 10/10/60, có 9.314 Sinh viên học tại Viện Đại học Sài Gòn. Ngày 18/10/60, Có sự thay đổi 3 Bộ: Bộ Tư Pháp: Bộ trưởng Nguyễn Văn Lượng thay Nguyễn Văn Sĩ; Bộ Nội vụ: Bộ trưởng Bùi Văn Lương thay Lâm Lễ Trinh; Bộ Quốc Phòng: Nguyễn Đình Thuần thay Trần Trung Dung. Bộ Thông tin được thay bằng Nha Tổng Giám đốc Thông tin. Ngày 2/11/60, Quỷ Tín dụng Khuếch trương Kinh tế cho Việt Nam vay 17.500.000 Mỹ kim để canh tân hệ thống nước Ngày 5/11/60, Đốc Phủ sứ Vũ Tiến Huân được bổ Quyền Đô trưởng thay Đốc Phủ Nguyễn Phú Hải. 

Ngày 11/11/60, (23 tháng 9 năm Canh Tý) Đêm qua 1 giờ 30 nhiều tiếng súng nổ phía Sở thú, tới 2 giờ có tin đảo chánh. Đại tá Nguyễn Chánh Thi Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù, cùng một số sĩ quan đem quân vây Dinh Độc lập đòi Ngô Đình Diệm rút lui. Dân chúng vẫn đi lại như thường trừ ở khu gần Dinh Độc lập. 10 giờ sáng 12/11/60, Ngô đình Diệm đọc hiệu triệu phát thanh gọi quân ở Mỹ Tho về. Buổi trưa súng ngớt. Trên Đài phát thanh nghe tiếng Bác sĩ Phan Quang Đán hô hào quốc dân hưởng ứng Cách mạng. Chiều nghe tiếng Đại tướng Lê Văn Tỵ đọc Nhật lệnh “Tổng thống Ngô Đình Diệm trao quyền cho các tướng lãnh để lập Chính phủ khác”. 

26. Một Hội đồng Cách mạng kêu gọi dân chúng đi biểu tình sáng mai. Có tin các Sư đoàn 7 ở Biên Hòa và Sư đoàn 21 ở Mỹ Tho đã bắt đầu kéo về giải vây Dinh Độc lập. Ngày 12/11/60, buổi sáng đoàn quân vây Dinh Độc lập, định tiến vào nhưng lại rút lui. Súng nổ nhiều. Đài phát thanh bị Quân Chính phủ chiếm lại. Trung tá Vương Văn Đông một trong các lãnh tụ đảo chánh, họp báo giải thích tại Bộ Tổng Tham Mưu. Các đội quân thuộc Sư đoàn 21 và Sư đoàn 7 tiến về phía Tân Sơn Nhất, và vườn Tao Đàn. Nhiều đoàn Nhảy Dù trước Dinh Độc lập bỏ đi nơi khác vào hồi 16 giờ. Buổi tối, có tin Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông rời khỏi Việt Nam. 

Ngày 13/11/60, Trung tướng Thái Quang Hoàng bị ép lên máy bay sang Cao Mên đã trở về Sài Gòn. Ngày 13/11/60, Quốc hội ngỏ lời trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm. Biểu tình tại Công trường Lam Sơn mừng các Đoàn quân giải vây Dinh Độc lập. Liên đoàn Công chức Cách mạng tặng 300.000$ cho các đoàn quân giải vây ding Độc lập. Ngày 14/11/60, các công sở lại mở cửa làm việc. Dân biểu Trần Văn Thọ được bổ Tổng Giám đốc Thông tin. Ngày 15/11/60, Trung tướng Thái Quang Hoàng bị ép lên máy bay sang Cao Mên đã trở về Sài Gòn. Số thương vong trong vụ biến cố là 214 quân nhân và 54 dân thường; số thiệt mạng là 20 dân thường và 23 quân nhân trong đó có Trung tá Nguyễn Triệu Hồng.

27. Ngày 21/11/60, Bảo An Đoàn nay trực thuộc Bộ Quốc phòng. Ngày 3/12/60, tại Sài Gòn đặt xong 39 địa điểm có đèn xanh đèn đỏ báo hiệu giao thông trên các ngã đường. Ngày 8/12/60, Khánh thành nhà máy Thuỷ tinh Khánh Hội. Ngày 19/12/60, Việt Nam giúp dân Lào bị nạn một số gạo đáng giá 300.000 Mỹ kim. Ngày 19/12/60, Tại Sài Gòn khai mạc Hội nghị Kinh tế Việt-Hoa. Ngày 26/12/60, tại Sài Gòn, Luật 7/60 tổ chức Viện Bảo Hiến. Ngày 26/12/60, tại Sài Gòn, Luật 7/60 tổ chức Viện Bảo Hiến. Ngày 28/12/60, Một số người lập Uỷ ban Nhân dân để tổ chức lễ Khánh thọ Lục tuần tổng thống Ngô Đình Diệm. 29/12/60, một khu kỹ nghệ được thiết lập ở Thủ Đức gồm: nhà máy Nhiệt điện; trạm biến điện Danhim; sân dự trử than Nông Sơn; nhà máy ciment; và một cơ sở Giang thuyền (SL 317/CC/GT). 

Ngày 15/1/61, Tổ chức Hội chợ Nội hoá tại Sài Gòn phí tổn 6 triệu. Ngày 18/1/61, một số chính khách, nhân sĩ như Bác sĩ Phan Huy Quát, Bác sĩ Lý Trung Dung, Đặng Văn Sung.v.v. nhóm họp bàn việc lập Nghị hội Đoàn kết Toàn dân chống Cộng. Ngày 22/1/61, Lễ tấn phong 4 tân Giám mục Việt Nam: Đức cha Nguyễn Văn Thiện (Vĩnh Long); Nguyễn Khắc Ngữ (Long Xuyên); Trần Văn Thiên (Mỹ Tho); Nguyễn Văn Điền (Cần Thơ). Ngày 24/1/61, Lễ kỷ niệm Thích ca thành đạo cử hàng trọng thể trên toàn quốc. Ngày 31/1/61, Toà Phá án bác đơn thượng tố của nhà SACEM kiện Ưng Thị vì đã cho sử dụng các bản nhạc ngoại quốc trước giờ chiếu bóng tại Rạp Đại Nam mà không trả tác quyền. 

28. Ngày 1/2/61, Trung Tâm Kỹ thuật Quốc Gia Phú Thọ cải tổ gồm: Trường Công Chánh, Điện học, Công nghệ, Hàng hải (NĐ 189/GD/PC). Ngày 8/2/61, Hôm nay thấy 3 Liên danh ứng cử Tổng thống: Ngô Đình Diệm-Nguyễn Ngọc Thơ; Nguyễn Đình Quát-Nguyễn Thành Phương; Hồ Nhật Tân-Nguyễn Thế Truyền. Ngày 11/2/61, thành lập Viện Đại học Đà Lạt (NĐ 261/GD). Ngày 15/2/61, một số người bị bắt sau vụ đảo chánh hụt 11,11,60, như Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, Phạm Văn Huyến, Tạ Chương Phùng.v.v. được tha về. Ngày 26/2/61, một khu đất rộng ở Suối Lồ Ồ được dành làm Trại Huấn luyện Thanh niên Cộng hòa. Ngày 6/3/61, Luật sư Vương Quang Nhường, nguyên Tổng trưởng được cử làm Chủ tịch Viện Bảo hiến. 

Ngày 6/3/61, Người Thượng bắt được một coi voi trắng ở Bandoun, Darlac. Ngày 7/3/61, Thiếu tướng Văn Thành Cao, nguyên phụ tá tướng Cao Đại Liên Minh Trình Minh Thế được bổ Đại biểu Chính phủ Miền Đông Nam Phần.  Ngày 10/3/61, Sài Gòn bắt đầu có sửa tươi của trại chăn nuôi bò Bến Cát, giá từ 1.000-2.000$ chai nữa lít. Ngày 15/3/61, thành lập Thượng Hội đồng Kinh tế Quốc gia (Luật 5/61). Thành lập Thượng Hội đồng Thẩm phán (Luật 6/61). Bà Ngô Đình Nhu đi các tỉnh cổ vũ cho Phong trào Phụ nữ Liên đới, và Phụ nữ Bán quân sự. Ngày 16/3/61, Liên danh II Nguyễn Đình Quát-Nguyễn Thành Phương họp báo. 

29. Ngày 23/3/61, Liên danh III, Hồ Nhật Tân-Nguyễn Thế Truyền họp báo. Các toà Hành chánh Tỉnh và Văn phòng Quận từ nay có tổ chức đồng nhất (NĐ 217/NV). Cùng ngày 23/3/61, Thanh nữ Cộng hòa đi dự lễ Hai Bà Trưng về trên đường Biên Hòa-Phước Tuy bị giựt mìn 2 chết, 14 bị thương. Ngày 24/3/61, Liên danh I Ngô Đình Diệm-Nguyễn Ngọc Thơ họp báo. Ngày 29/3/61, Ba Liên danh ứng cử Tổng thống ra thông cáo chung cám ơn Cảnh sát Công an đã giữ trật tự trong những ngày vận động tranh cử. Ngày 1/4/61, Lễ khởi công xây Đập Danhim tại Công trường Đơn Dương, Tuyên Đức. Ngày 2/4/61, Tổng số cử tri vụ bầu cử Tổng thống là 7.231.137 theo danh sách niêm yết lần thứ hai. 

Ngày 4/4/61, Ứng cử viên Ngô Đình Diệm nói chuyện tại tòa Đô Chánh. Bàn cải sôi nổi tại Rạp Thống nhất. Ứng cử viên Nguyễn Đình Quát hứa “sẽ đòi ngưng bắn ngay” nếu đắc cử. Ngày 7/4/61, Ban Cao đẳng Nông Lâm Mục được tổ chức đào tạo Kỹ sư (NĐ 104/BCN). Ngày 9/4/61, bầu cử Tổng thống. Có chừng 2.500 người từ các tỉnh do Việt Cộng xua lên Sài Gòn biểu tình phá bầu cử, bị chận lại ở Bình Đông. Kết quả bầu cử Tổng thống: Liên danh Ngô Đình Diệm-Nguyễn Ngọc Thơ tái đắc cử với 88% số phiếu; Liên danh Hồ Nhựt Tân-Nguyễn Thế Truyền 7%; và Liên danh Nguyễn Đình Quát-Nguyễn Thành Phương 4%. Có 75% cử tri tham gia bầu cử. 

30. Ngày 12/4/61, khởi công xây cất Trung tâm Nguyên Tử năng Đà Lạt. Ngày 13/4/61, bãi bỏ các Quân khu lập từ 1952, và chia lãnh thổ thành 3 Vùng Chiến thuật và Biệt khu Thủ Đô (SL 98/QP). 28/4/61, khánh thành Xa Lộ Sài Gòn-Biên Hòa. Ngày 29/4/61, Ngô Đình Diệm tuyên thệ nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ II trước Quốc hội. Ngày 9/5/61, thành lập Khu Đại học Thủ Đức, gồm Tòa Viện trưởng, và các Trường Đại học (SL (SL 110/GD). Ngày 12/5/61, Có 4 sư sải và 752 đồng bào Việt gốc Miên bị Việt Cộng dồn sang Mên, được nhà chức trách Mên đưa trở về An Giang.

  

 

2. CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: 

28.5.1961 – 2.11.1963.

I. Bối cảnh thành lập.

Ngày 28/5/61, sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ 2, Tổng thống Ngô Đình Diệm thành lập Nội các mới. Cũng ngày 28/5/61 này, Tổng thống ban hành 3 Sắc lệnh: thành lập hai Bộ mới là Bộ Công Dân Vụ và Cải tiến Nông thôn (SL 120 và 121/TTP); lập thêm 3 chức Bộ trưởng “Đặc nhiệm An ninh; Phát triển Kinh tế; Văn hóa và xã hội (SL 122/TTP); giao trả về các Bộ 11 Cơ quan đã đặt trực thuộc Phủ Tổng thống (SL 123/TTP) trước đây.

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Ngô Đình Diệm

Tổng thống kiêm Bộ trưởng Quốc phòng

2

Nguyễn Ngọc Thơ

Phó tổng thống kiêm Bộ trưởng Đặc nhiệm Phát triển Kinh tế

3

Nguyễn Đình Thuần

Bộ trưởng Phủ tổng thống, kiêm Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng, và Bộ trưởng Đặc nhiệm An ninh

4

Trương Công Cừu

Bộ trưởng Đặc nhiệm Phối hợp Văn hóa Xã hội.

5

Bùi Văn Lương

Bộ trưởng Nội vụ

6

Vũ Văn Mẫu

Bộ trưởng Ngoại giao

7

Nguyễn Văn Lượng

Bộ trưởng Tư pháp

8

Ng. Quang Trình

Bộ trưởng Giáo dục

9

Ngô Trọng Hiếu

Bộ trưởng Công dân vụ

10

Hoàng Khắc Thành

Bộ trưởng Kinh tế

11

Nguyễn Lượng

Bộ trưởng Tài chánh

12

Trần Lê Quang

Bộ trưởng Cải tiến Nông thôn

13

Trần Đình Đệ

Bộ trưởng Y tế

14

Huỳnh Hữu Nghĩa

Bộ trưởng Lao Động

15

Nguyễn Văn Dinh

Bộ trưởng Công chánh và Giao thông

III. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 30/5/61, Ba phe Lào họp tại Bản Na Mon bàn về Chính trị, quân sự và ngưng bắn. Thủ tướng Mã Lai, Abdul Rahman đề xướng thành lập Liên bang Đại Mã Lai gồm: Mã Lai, Sarawak, Bornéo, và Singapoure. Ngày 2/6/61, Chính phủ Quân sự Đại Hàn do tướng Chang Do Yun cầm đầu tuyên bố sẽ trả quyền cho chính phủ dân sự vào ngày 15/8/61. Ngày 4/6/61, có 1.385 công chức cao cấp Đại Hàn có vợ bé, nhiều người bị sa thải vì tội nầy. Tại Vienne (Áo), tổng thống Mỹ Kennedy và Thủ tướng Nga Kroutchev sau 6 giờ hội kiến, ra thông cáo chung “ủng hộ độc lập và trung lập Lào, tùy dân Lào chọn Chính phủ, hoan nghênh các thỏa ước bảo đảm độc lập và trung lập Lào. 

Ngày 7/6/61, Fidel Castro thuận đổi 1.500 tù binh quân Cách mạng lấy 500 máy kéo. Ngày 16/6/61, Chính phủ Quân nhân Đại Hàn khám phá “26 thương gia đã sang đoạt 34 tỷ đồng dưới hai Chính phủ trước. Ngày 19/6/61, ba Hoàng thân Lào Phouma, Boun Oun, và Souvannouvong nhóm họp tại Zurich, và ngày 23/6/61, thoả thuận lập Chính phủ Liên Hiệp. Ngày 26/6/61, Thủ tướng Irak là Kassem đòi xứ Koweit sáp nhập vào Irak, Koweit ban bố tình trạng khẩn trương, Anh, Mỹ ủng hộ Koweit, Anh đưa quân sang ứng cứu. Ngày 1/7/61, Quân Anh tiếp tục đổ vào Koweit. 

2. Ngày 3/7/61, lại đảo chánh ở Đại Hàn, tướng Pak Chung Hi, lật đổ tướng Chang Do Yun, lên làm Chủ tịch Hội đồng Cách mạng. Pak Chung Hi cử tướng Song Yo Chân làm Thủ tướng và loại trừ 40 tướng lãnh khác. tướng Chang Do Yun bị bắt giam. Ngày 9/7/61, thủ tướng Nga, Kroutchev lên tiếng “đe dọa sẽ làm dữ” nếu phương Tây không sớm giải quyết vấn đề Bá Linh và Đông Đức. Ngày 13/7/61, Nga huy động thêm quân đến Đông Đức, Mỹ tăng cường các Phi đội tại Pháp, và tập trận lớn ở Bắc Đại Tây Dương. Ngày 18/7/61, tại Tunisie, chính phủ Bourguiba ra lệnh phong toả căn cứ Hải quân Pháp ở Bizerte, Pháp ném bom vào các đoàn chí nguyện Tunisie, nhiều cuộc đụng độ quanh Bizerte. Ngày 20/7/61, Tunisie đoạn giao với Pháp. 

Ngày 22/7/61, Hội đồng Bảo An Liên hiệp quốc họp khẩn cấp, kêu gọi các bên rút quân về vị trí củ. Tunisie thiệt hại nặng trong những cuộc giao phong với Pháp: 670 chết 1.155 bị thương. Ngày 29/7/61, tổng thống Hoa Kỳ xin Quốc hội cho phép gọi nhập ngũ 250.000 quân. Ngày 30/7/61, Liên Đoàn Quốc gia à Rập quyết định cho quân đến bảo vệ Koweit để quân Anh rút lui. Ngày 11/8/61, có 33.000 dân Tây Tạng lánh nạn sang Ấn Độ. Ngày 13/8/61, Nga ra lệnh đóng cửa Đông Bá Linh. Đồng minh phản kháng. Ngày 28/8/61, Kroutchev đề nghị với Anh, Pháp, Mỹ lập quy chế tự do cho Bá Linh, thuận cho Tây Đức và Đông Đức có Chính phủ riêng; ký với Đông Đức một thỏa ước về sự đi lại của Đồng Minh. 

3. Ngày 10/9/61, De Gaulle công nhận chủ quyền Tunisie ở Bizerte. Ngày 18/9/61, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Hammarskjoeld bị tử nạn phi cơ ở Bắc Rhodésie. Ngày 20/9/61, đình chiến ở Congo giữa Chính phủ và xứ Katanga. Ngày 30/9/61, Quân đội Syrie đảo chánh ở Damas, và đòi tách khỏi Cộng hoà Ã Rập thống nhất do Nasser lãnh đạo. Ngày 2/10/61, Chính phủ mới Syrie trục xuất các nhân viên Ai Cập, triệu hồi các Sĩ quan đang tu nghiệp ở Nga và tuyên bố chống Cộng. Ngày 15/10/61, Một phi công Trung Cộng lái máy bay sang Đài Loan tìm tự do, được tiếp đón nồng hậu và thưởng 500 lạng vàng. Ngày 18/10/61, Hoàng thân Phouma được ủy lập Chính phủ Trung lập Lào. 

Ngày 23/10/61, Cao Mên đoạn giao với Thái Lan. Ngày 2/11/61, Sihanouk bắt dân đào hầm trú ẩn, tập trận và phao tin Thái Lan và Việt Nam sắp xâm lăng. Ngày 13/12/61, Quốc hội Phi Luật Tân xác nhận Diosdado Macapagal đắc cử Tổng thống. Ngày 18/12/61, Bế mạc Hội nghị Geneve về vấn đề Lào. Ngày 19/12/61, Ấn Độ đem quân chiếm lại tỉnh Goa do Bồ Đào Nha đô hộ từ mấy thế kỷ nay. Ngày 24/12/61, Nga đặt các giàn Hỏa tiển tại Cuba. 

4. Ngày 10/2/62, Tại Đại Hàn, tướng Chang Do Yun, cựu Tham Mưu trưởng, nguyên Chủ tịch Hội đồng Cách mạng, bị tòa án Quân sự kết án tử hình vì đã trở ngại cuộc Cách mạng. Ngày 11/2/62, Hoa Kỳ lại viện trợ cho Lào, trao Ngân phiếu 4 triệu Mỹ kim. Ngày 15/2/62, Nam Dương vẫn xung đột với Hoà Lan, đòi lại đảo Nouvelle-Guinee. Hôm nay có thuỷ chiến, vài tàu Indonesia bị đánh chìm. Hoà Lan cho tản cư kiều dân. Ngày 16/1/62, ba Hoàng thân Lào họp tại Geneve đồng ý lập Chính phủ Liên hiệp. Ngày 18/1/62, quân Bắc Việt tiếp tục tràn qua Lào, phi cơ Nga tiếp tế cho Pathet Lào. Ngày 25/1/62, Chánh phủ Indonesia quốc hữu hóa các Công ty kinh doanh của người Hòa Lan. Ngày 27/1/62, Phi hành gia Jhon Glenn của Mỹ chưa được phóng lên quỷ đạo, vì lý do kỹ thuật. Ngày 28/1/62, quân Pathet Lào uy hiếp Nam Tha, dân chúng Lào tản cư. 

Ngày 28/1/62, tại Pháp, cả Thống chế Juin cũng chống De Gaulle, muốn giữ Algerie thuộc Pháp. De Gaulle tăng cường lực lượng đánh trả đội quân của tướng Salan (O.A.S). Ngày 31/1/62, Hội nghị Liên Mỹ khai trừ Cuba với đa số 2/3 Hội viên. Ngày 3/2/62, Tổng thống Kennedy quyết định phong tỏa Cuba, cấm xuất cảng hàng hóa sang xứ nầy, trừ thuốc men. Ngày 9/2/62, tại Pháp, các đảng và đoàn thể chống đối Mặt trận của Salan, biểu tình rầm rộ ở Ba Lê. Nhiều cuộc xô xác, 8 chết, 240 bị thương. Ngày 13/2/62, ở Lào, Nam Tha bị vây hãm, quân Bắc Việt ước tới 10 Tiểu đoàn. 

5. Ngày 20/2/62, Pháp và Kháng chiến Quân Algérie đã thỏa hiệp, theo đó, “Algérie được độc lập, quyền lợi của Pháp được bảo đảm; Thủ đô Alger tạm thời do Pháp quản trị; sẽ trưng cầu dân ý về độc lập của Algérie; Quân Pháp sẽ ở lại 3 năm dù Algérie độc lập. Ngày 20/2/62, Phi hành gia John Glenn được phóng lên quỷ đạo, bay ba vòng trái đất, trở về bình an. Ngày 2/3/62, đảo chánh tại Miến Điện, lúc gần sáng, quân đội bắt giữ Thủ tướng U Nu, các Bộ trưởng và cả Tổng thống U Win Maung, Hội đồng Cách mạng thành lập do tướng Ne Win cầm đầu. Ngày 5/3/62, tướng Ne Win lập Chính phủ mới ở Miến Điện, ông ta giữ chức Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng, Tài chánh, và Tư pháp, bắt giữ 45 chính khách, tuyên bố trung lập. 

Ngày 16/3/62, chính phủ Hoàng gia và Quốc hội Lào chống đối việc thành lập một Chính phủ Liên hiệp do Hoàng thân Phouma lãnh đạo. Ngày 19/3/62 ngừng bắn tại Algérie giữa quân Pháp và quân Kháng chiến. Salan vẫn tuyên bố sẽ chiến đấu đến cùng. Ngày 20/3/62, tại Hội nghị Geneve họp về vấn đề Lào, Nga đề nghị của đem vấn đề Việt Nam ra bàn cải, Anh bác bỏ. Ngày 22/3/62, tổng thống Đại Hàn Kim Bo Sun từ chức để phản đối Chính phủ Quân nhân, tướng Phác Chinh Hy Quyền nhiếp Tổng thống. Ngày 22/3/62, Hải quân Hoà Lan ở Nouvelle Guinee chận đánh tàu của Nam Dương. Cuộc xung đột vẫn quyết liệt. Ngày 28/3/62, Quân đội chiếm chính quyền ở Syrie và tuyên bố chống Cộng. 

6. Ngày 20/4/62, tướng Salan bị bắt ở Alger và giải về Pháp. Vợ và con gái cũng bị giữ. Ngày 22/4/62, tại Lào, 6 Tiểu đoàn Bắc Việt và Pathet Lào vây đánh Nam Tha. Ngày 28/4/62, Phi thuyền Ranger IV của Hoa Kỳ được phóng lên Mặt Trăng. Ngày 4/5/62, Pathet Lào chiếm đóng Mường Sing. Ngày 5/5/62, Thủ tướng Boun Oun và tướng Nosavan sang Sài Gòn vận động ủng hộ chống Cộng. Quân du kích Indonesia, bắt đầu đổ bộ lên phần Borneo thuộc Mã Lai. Quân Ấn ở biên giới vùng Ladakh bị đặt trong tình trạng báo động. Ngày 6/5/62, Pathet Lào chiếm đóng Nam Tha. 

Ngày 12/5/62, Pathet Lào và Bắc Việt chiếm đóng Saravane, đe dọa Vạn Tượng và cả Luang Prabang, Chính phủ Hoàng gia ban bố tình trạng khẩn trương. Ngày 14/5/62, Hoàng thân Phouma được mời về nước lập Chính phủ. Ngày 16/5/62, dân Lào chạy sang Thái Lan khá nhiều. Quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương bị đặt trong tình trạng báo động, Mỹ yêu cầu Nga can thiệp để chấm dứt các cuộc tấn công ở Lào. Thủy quân Lục chiến Mỹ chuẩn bị đổ bộ vào Thái Lan. Ngày 22/5/62, Phi đội Sabre-jet của Úc tới Thái Lan. Nhiều phi cơ Mỹ cũng đến căn cứ Oudom. Thủ tướng Thái tuyên bố sẽ kêu gọi cả quân đội của các nước trong Khối Liên phòng Đông Nam Á (SEATO) trợ giúp. 

7. Ngày 24/5/62, Tân Tây Lan gởi 300 quân, và Anh gởi 250 quân tới Thái Lan. Phi hành gia Mỹ Carpenter phóng lên quỷ đạo bay từ 12g45 đến 17g18. Ngày 29/5/62, tại Congo, Lãnh tụ Tschombé bị Đại tá Mobutu bắt giam trong trại lính. Ngày 1/6/62, tại Do Thái, cựu Đại tá Đức Quốc Xã Eichmann, bị kết án xử giảo, vì chịu trách nhiệm về việc sát hại 6 triệu dân Do Thái trong Thế chiến II. Ngày 12/6/62, Hoàng thân Phouma lập được Chính phủ Liên Hiệp, Nosavan Phó thủ tướng kiêm tài chánh, Souvannouvong cũng Phó thủ tướng kiêm Kinh tế và Kế hoạch. Anh, Mỹ, Pháp lạc quan. Ngày 14/6/62, theo giới hữu quyền Pháp, 450.000 kiều dân Pháp ở Algérie sẽ về nước. 

Ngày 18/6/62, sau khi Song Yo Chan từ chức Thủ tướng, Hội đồng Cách mạng Đại Hàn cử tướng Phac Chính Hi lập Chính phủ. Ngày 1/7/62, hai xứ Urundi và Ruanda thuộc địa Bỉ ở Châu Phi tuyên bố độc lập. Ngày 2/7/62, Hội nghị Genève về Lào lại nhóm họp, sau 5 tháng đình chỉ, Đại diện Lào cho biết sẽ thừa nhận 5 Chính phủ Cộng sản trong đó cả Bắc Việt. Ngày 9/7/62, bế mạc Hội nghị Genève về Lào. Theo bản Tuyên ngôn chung: Độc lập và Trung lập của Lào được công nhận; Lào sẽ không tham gia một Liên minh Quân sự nào; Không cho ngoại quốc lập căn cứ trên lãnh thổ; Quân đội ngoại quốc sẽ triệt thoái hết. Ngày 10/7/62, Lệnh ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Lào. 

8. Ngày 25/7/62, Nội chiến bùng nổ ở Algérie, Phe Thủ tướng Ben Khedda, và phe Lãnh tụ Cách mạng Ben Bella chiếm 3 phần 4 lãnh thổ. Pháp dọa sẽ can thiệp để bảo vệ kiều dân. Ngày 26/7/62, Chính phủ Quân nhân Miến Điện cấm sinh viên hoạt động chính trị. Ngày 8/8/62, có 2.000 quân Nga tới Cuba. Ngày 15/8/62, Tại trụ sở Liên hiệp quốc, Hoà Lan-Nam Dương ký kết Hiệp ước sẽ chuyễn giao xứ Nouvelle Guinee cho Nam Dương trong 8 tháng nữa. Trong thời gian chờ đợi tổ chức “trưng cầu dân ý” Liên hiệp quốc tạm thời quản lý. Ngày 20/8/62, hết hạn 30 ngày triệt thoái quân đội ngoại quốc ở Lào, Pathet Lào vẫn không chịu nhận có quân Bắc Việt tại Lào, tướng Nosavan chưa chịu bàn giao công việc cho các Bộ thuộc Pathet. 

Ngày 2/9/62, Nga Xô và Cuba ra tuyên bố “Nga sẽ cung cấp võ khí và Huấn luyện viên cho Cuba. Ngày 7/9/62, Cuba nhận nhiều khí giới của Nga, tổng thống Kennedy yêu cầu Quốc hội cho gọi 150.000 quân trừ bị. Ngày 7/10/62, Trung hoa Quốc gia đoạn giao với Lào, vì Lào thừa nhận Trung Cộng. Nhiều Hoa kiều ở Lào xin sang Thái Lan. Ngày 21/9/62, chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố ở Cuba hiện có 4.200 cố vấn Nga, và 12 giàn Hỏa tiển do Nga đặt phiá Tây đảo. Ngày 29/9/62, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ ra lệnh cho Thống đốc Mississipi phải để cho Sinh viên da đen Meredith vào Đại học đường của Tiểu bang. Thống đốc không chịu. Nhiều vụ xung đột đã xẩy ra, chính phủ Trung ương phái quân đội tới giữ trật tự và bảo vệ Meredith. 

9. Ngày 1/10/62, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố tiếp tục viện trợ cho các Bộ tộc Mèo chống Cộng ở Lào. Ngày 3/10/62, Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận cho Tổng thống Kennedy, có thể dùng võ lực nếu Cuba gây hấn, và gọi 150.000 quân trừ bị. Ngày 4/10/62, Thi hành Hiệp định Geneve về Lào, Mỹ đã rút các cố vấn khỏi Lào, chỉ còn 115 người cũng sắp về nước, Bắc Việt chỉ rút có 5 người. Ngày 5/10/62, Sinh viên da đen Meredith đã được vào học. Ngày 18/10/62, Tổng thống Kennedy nhận được các ảnh chụp các giàn hỏa tiển đặt tại Cuba. Ngày 18/10/62, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố không cho cập bến Hoa Kỳ những tàu chở hàng cho Cuba. 25 tàu Nga có tiềm thủy đỉnh hộ tống chở võ khí tới Cuba. 

Ngày 22/10/62, Tổng thống Mỹ Kennedy hiệu triệu dân chúng rằng “Cuba đặt nhiều giàn  hỏa tiển có thể tiêu hủy các thành phố Hoa Kỳ; Nga Xô muốn biến Cuba thành một Căn cứ phá hoại Mỹ châu; Nên Mỹ cương quyết đối phó và Nga phải chịu trách nhiệm cùng hậu quả”. Ngày 23/10/62, các tấm hình chụp hỏa tiển ở Cuba được chính phủ Mỹ trưng bày cho các ký giả xem. Các gia đình Mỹ ở căn cứ Guantanamo phải tản cư về Mỹ, quân đội Mỹ được huy động tới bờ biển Floride, các khách sạn bị trưng dụng vì nhu cầu quân sự. Tất cả lực lượng Mỹ trên thế giới bị đặt trong tình trạng báo động. Quốc hội Hoa Kỳ ủng hộ quyết định của tổng thống Kennedy. 

10. Cùng ngày 23/10/62, Cuba tổng động viên. Ngày 24/20/62, kể từ hôm nay, Hải quân Hoa Kỳ sẽ “chận xét” các tàu đi về phía Cuba, và sẽ tịch thu các thứ võ khí. Có tới 25 tàu Nga được lênh quay trở về. Kroutchev gởi công hàm cho Kennedy đại ý “phải ngăn cản chiến tranh”. Ngày 24/10/62, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc họp khẩn cấp, 40 Quốc gia yêu cầu Tổng Thơ Ký U Than dàn xếp êm thắm vụ Cuba. Quân Trung Cộng lại kéo sâu vào đất Ấn, Thủ tưởng Nehru kêu gọi dân Ấn kháng chiến. Ngày 25/10/62, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, U Than yêu cầu Nga và Mỹ hội đàm trên căn bản “Nga ngừng gởi vũ khí tới Cuba, Mỹ không tấn công Cuba. Kroutchev thuận, Kennedy cũng thuận. 

Ngày 27/10/62, Kroutchev thuận gở các Giàn hỏa tiển ở Cuba dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Ngày 28/10/62, Kennedy ca ngợi sự hiểu biết và lòng yêu chuộng hòa bình của Kroutchev. Ngày 30/10/62, Trung Cộng lại bị Liên Hiệp Quốc gạt bỏ không cho gia nhập, với 42 phiếu thuận 58 phiếu chống, và 12 phiếu trắng. Ngày 31/10/62, Trụ sở đảng Cộng sản, tại New Delhi, Ấn Độ, bị phá. Quân đội từ biên giới Ấn-Hồi được rút về, chuyển lên tăng cường Hy Mã Lạp Sơn chống Trung Cộng. ”. Ngày 31/10//62, Tổng thư ký LHQ, U Than vẫn chưa thuyết phục được Fidel Castro ưng thuận cho tháo gở các giàn hỏa tiển. 

11. Ngày 2/11/62, Phó Thủ tướng Nga, Mikoyan phải sang Cuba khuyên dụ Castro; Bắt đầu tháo gở các giàn hỏa tiển ở Cuba, nhưng Fidel Castro không thuận cho Liên Hiệp Quốc vào kiểm soát; Nga hẹn sẽ gở xong hoả tiển trong 10 ngày. Ngày 4/11/62, tàu Hồng Thập tự quốc tế được uỷ quyền “kiểm soát việc Nga tháo gở hỏa tiển ở Cuba”. Ngày 8/11/62, Hải quân Hoa Kỳ được kiểm soát số hoả tiển do Nga chở từ Cuba về nước. Ngày 12/11/62, Các hỏa tiển đã được gở xong ở Cuba, nhưng Mỹ chưa chịu chấm dứt phong tỏa vì còn các máy bay phóng pháo Illyoutchine của Nga tại Cuba. Ngày 18/11/62, Fidel Castro dọa bắn phi cơ thám thính cử Hoa Kỳ, nhưng Mỹ tuyên bố vẫn tiếp tục bay.

Cùng ngày 18/11/62, Trung Cộng tấn công ồ ạt ở biên giới Hoa-Ấn, chiếm đóng thị trấn Walong và thị trấn Bombila, Ấn thiệt 1.623 người vừa chết vừa mất tích. Ngày 20/11/62, Fidel Castro thuận trả Nga các phi cơ phóng pháo, Mỹ chấm dứt phong tỏa Cuba. Ngày 28/11/62, ba phe Lào đã thỏa hiệp thống nhất quân đội. Ngày 8/12/62, tại Bắc Bornéo nhiều đội võ trang của lãnh tụ Azahari nổi lên chiếm đóng nhiều nơi, uy hiếp khu mỏ dầu, đòi tự trị, chống đối thành lập Đại Mã Lai, quân đội Anh phải can thiệp. Ngày 12/12/62, tại Hội đồng Tối cao Xô viết, Kroutchev đọc diển văn tuyên bố: phải sống chung hòa bình với Mỹ; vì Mỹ không phải là “Cọp giấy” mà là Cọp giấy có răng nanh nguyên tử. Ngày 12/12/62, Có tới 3000 chuyên viên Nga rời khỏi Cuba. Có tới 6.277 quân nhân Ấn bị Trung Cộng bắt làm tù binh. 

12. Ngày 17/12/62, Quân Trung Cộng đột nhiên rút khỏi nơi đã chiếm đống ở biên giới Hoa-Ấn. Ngày 18/12/62, hơn 12 triệu cử tri Đại Hàn bỏ phiếu “Trưng cầu Dân ý’ Hiến pháp mới 78% thuận. Ngày 21/12/62, số 1.113 người bị bắt làm tù binh trong cuộc đổ bộ vào Cuba thất bại năm 1961, được Castro phóng thích, đổi lấy thuốc men và thực phẩm trị giá 53 triệu Mỹ kim. Ngày 22/12/62, Đài Hàn ban hành Hiến pháp mới. Ngày 28/12/62, tại Congo, Quân của Tschombé giao tranh với quân Mũ Xanh, Liên Hiệp Quốc, nhất định bảo vệ xứ Kutanga tư trị chống lại chính phủ Trung ương. Ngày 30/12/62, quân Liên Hiệp Quốc kiểm soát hoàn toàn thành phố Elizabeth Ville, Tschombé trốn sang Rhodésie. Ngày 31/12/62, Nam Dương bắt đầu thay Liên hiệp quốc quản trị xứ Nouvelle Guinee. 

Ngày 2/1/63, tại Congo, Quân Liên Hiệp Quốc chiếm đóng miền mỏ Katanga, đòi Tschombé cùng quân đội ông ta ra hàng, còn các viên chức địa phương phải về tiếp xúc với chính quyền Trung ương. Ngày 9/1/63, Souvannouvong tố cáo phe Hữu Nosavan tăng cường lực lượng riêng với viện trợ Mỹ. Ngày 29/1/63, Sáu nước Thị trường chung Châu Âu họp bàn về việc Anh xin Gia nhập Thị trường. Đức, Ý, Bỉ, Hoà Lan, Lục Xâm Bảo thuận, một mình Pháp nhất định chống. Ngày 3/2/63, Các nước Tây Âu công kích De Gaulles gây chia rẽ và muốn làm bá chủ Âu Châu. Ngày 8/2/63, đảo chánh ở Irak, thủ tướng Kassem bị giết, 600 vệ binh bị bắt, thành lập Hội đồng Cách mạng do tướng Addel Aref cầm đầu, Mỹ thừa nhận chính phủ mới do Aret lập. Ngày 12/2, các chuyên gia Nga ở Irak bỏ về nước. 

13. Ngày 16/2/63, Hoa Kỳ triệt thoái các giàn hỏa tiển Jupiter tại các căn cứ không quân Mỹ ở Thổ Nhĩ Kỳ, để yên lòng Nga. Ngày 26/3/63, Nga và Mỹ ký thoả ước trao đổi Văn hoá, chuyên viên... Ngày 8/3/63, Quân đội Syrie lật đổ chính phủ, vì muốn tái lập sự liên kết vơi à Rập. Ngày 16/3/63, tại Đại Hàn, tướng Phác Chinh Hi tuyên bố quân nhân cần cầm quyền 4 năm nữa để ổn định tình thế. Cựu tổng thống Yum Po Sun cùng nhiều chính khánh cực lực phản đối, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngỏ ý duyệt lại chính sách viện trợ đối với Đại Hàn. Ngày 22/3/63, Chính phủ Hoa Kỳ báo cho tướng Phác Chinh Hi, rằng Hoa Kỳ không tán thành ý kiến để quân nhân cầm quyền thêm 4 năm nữa. 

Ngày 25/3/63, Mỹ thúc dục Phác Chinh Hi và các chính khách đối lập tìm giải pháp đưa tới một Chính quyền Dân sự. Ngày 7/4/63, tướng Phac Chinh Hi hứa sẽ trả quyền vào cuối năm và tổ chức Tổng tuyển cử. Ngày 8/4/63, quân Pathet Lào tấn công mạnh, Khong Le phải rời Xiêng Khoang, thủ tướng Phouma kêu gọi Ủy hội Quốc tế can thiệp. Ngày 18/4/63, Lần đầu tiên Thủ tướng Phouma tố cáo Pathet Lào và Bắc Việt phá hoại Trung lập Lào, đòi Bắc Việt rút khỏi Đồng Chum, và chấm dứt các cuộc tấn công vào quân của Không Le. Ngày 19/4.63, Khong Le bỏ đi đâu mất. Pathets Lào chiếm đóng Phong Savane. Cùng ngày 19/4/63 nầy, Quân hữu phái cuả Nosavan bao vây Bộ Thông tin, định bắt Bộ trưởng Pathet Vongvichit, ông nầy bỏ trốn, Thủ tướng Phouma kêu gọi Anh, Nga can thiệp. 

14. Ngày 26/4/63, quân Trung lập và Pathet Lào giao phong kịch liệt ở Đồng Chum. Hoa Kỳ lại chuẩn bị cho quân đổ bộ vào Thái lan. Ngày 12/5/63, Tại Birmingham, Hoa Kỳ, dân da trắng biểu tình đã kích da đen phá phách, đốt nhà, ném chất nổ…Tổng thống Kennedy lệnh cho quân đội tới giữ trật tự. Ngày 13/5/63, Tại Indonesia trong 6 thành phố kể cả thủ đô, có Phong trào bài xích Hoa kiều, thanh niên phá phách nhiều nhà và tiệm buôn Tàu. Ngày 14/5/63, Chính quyền Đông Đức cho xây kín bức tường ngân cách Đông và Tây Bá Linh. Ngày 20/5/63, tai Nam Dương, theo kiến nghị của Đại hội Nhân dân, Soekarno nhận làm Tổng thống trọn đời. 

Ngày 27/5/63, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ quyết định: bác đơn của Thống đốc Wallace kiện Tổng thống; Tổng thống có quyền cử binh tới Tiểu bang; buộc phải chấm dứt mọi sự kỳ thị chủng tộc. Ngày 27/5/63, Có 12.000 người có cả người da trắng biểu tình chống kỳ thị chủng tộc tại San-Francisco. Ngày 28/5/63, quân Pathet Lào vẫn tấn công quân Trung lập ở Đồng Chum. Ngày 31/5/63, nhiều đội quân Mỹ, Úc, Tân Tây Lan đổ bộ vào Thái Lan “để tập trận”. Ngày 5/6/63, Dư luận bên Anh rất sôi nổi về vụ Bộ trưởng Quốc phòng Jhon Profumo từ chức, bởi dan díu với nhân tình là đào Christine Keeler, một Tuỳ viên Nga. Ngày 16/6/63, Nữ Phi hành gia người Nga Valentina Terechkova, được phóng lên không gian. Ngày 19/6/63, Pathet Lào pháo kích mạnh Attopeu. 

15. Ngày 20/6/63, Nga và Mỹ ký thoả ước đặt đường điện thoại đỏ giữa lãnh đạo tối cao hai nước, để phòng trường hợp chiến tranh bùng nổ vì sự hiểu lầm. Ngày 21/6/63, Hồng Y Giovanni Battita Montini Tổng Giám mục Milan được bầu lên ngôi Giáo hoàng, thánh hiệu Paul VI. Ngày 23/6/63, tổng thống Mỹ Kennedy sang thăm Tây Đức được hoan hô nhiệt liệt. 

Ngày 29/6/63, Pathet Lào đánh mạnh ở Đồng Chum. Ngày 25/7/63, Anh, Mỹ, Nga họp Hội nghị tại Moscou, thoả hiệp về việc đình chỉ thí nghiệm bom nguyên tử, hạt nhân. Ngày 30/7/63, tại Hội nghị Tối cao Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Tổng thống Soekarno phản đối việc thành lập Liên bang Đại Mã Lai, một sản phẩm của Thực dân... Ngày 5/8/63, Anh, Mỹ, Nga ký kết tại Kremlin hiệp ước đình chỉ thí nghiệm bom Nguyên tử trên không và dưới nước. Trung Cộng đột nhiên tái chiếm vùng lãnh thổ sâu bên trong Ấn Độ 20 cây số, nơi mà năm 1962, họ đã rút khỏi. Ngày 28/8/63, hơn 100.000 người biểu tình ở Hoa Thịnh Đốn chống “kỳ thị chủng tộc”.  Ngày 16/9/63, Liên bang Đại Mã Lai tuyên bố thành lập. Ngày 8/10/63, Dân số Thế giới theo F.A.O hiện có 3.180.000.000 người. Ngày 16/10/63, tướng Phác Chinh Hy đắc cử Tổng thống Đại Hàn.

IV. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 8/5/61, Đại sứ Mỹ Frederick Nolting, tới Sài Gòn thay Elbridge Durbrow. Ngày 13/5/61, Phó tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson sang thăm Việt Nam (11/5/61), hôm nay, rời Việt Nam. Thông cáo chung Việt-Mỹ: “Hoa Kỳ sẽ tăng viện trợ quân sự; nhận trang bị cho Bảo An; cử một Phái đoàn Nghiên cứu Kế hoạch tăng viền trợ và chống du kích”. ). Ngày 19/6/61, một Phái đoàn chuyên viên Mỹ do Giáo sư Statley cầm đầu tới Sài Gòn ở lại 3 tuần để nghiên cứu tình hình, đề nghị “Phương án phát triển Kinh tế, Xã hội”, và tăng Viện trợ chống Cộng. Hoa Kỳ quyết định giúp Việt Nam để tăng quân số từ 150.000 lên thành 170.000, và trang bị cho 60.000 Bảo An. Ngày 27/6/61, Tướng Maxwell D. Taylor được cử làm Cố vấn quân sự cho Tổng thống Kennedy. 

Ngày 14/7/61, Tòa Thượng thẩm Cao Mên y án tịch thu 2 tàu của hãng Meteco Việt Nam, phạt tù 32 thủy thủ, và phạt vạ 12 triệu Riels vì vi phạm luật Hàng hải (hai tàu dạt vào bờ vì sóng gió). Ngày 29/7/61, tổng thống Hoa Kỳ xin Quốc hội cho phép gọi nhập ngũ 250.000 quân. Ngày 2/8/61, Bản Phúc trình và các đề nghị của Phái đoàn Statley được Tổng thống Mỹ cứu xét. Ngày 11/10/61, tại Hoa Kỳ nhận định tình hình Việt Nam nghiêm trọng hơn trước nhiều, nên tổng thống Kennrdy cử tướng Maxwel Taylor sang xem xét tại chỗ. Ngày 13/10/61, ông U Than đại diện Miến Điện tại Liên Hiệp Quốc được bầu làm Tổng Thư Ký Liên hiệp quốc. Ngày 26/10/61, tổng thống Mỹ Kennedy xác nhận tăng viện trợ cho Việt Nam để đối phó với tình trạng khẩn trương. Ngày 4/11/61, tướng Taylor trở về Mỹ đề nghị tăng viện trợ cho Việt Nam. 

2. Ngày 6/1/62, sau cuộc nghiên cứu của Phái đoàn Statley, thông cáo chung Việt-Mỹ nhắm vào 11 mục tiêu: Cải tiến hành chánh; Huấn luyện hương chức; Khuyếch trương y tế hương thôn; Giáo dục nông thôn; Hệ thống phát thanh, truyền thông và liên lạc với các xã; Phát triển miền Thượng; Trùng tu miền bị lụt; Thực hiện những công trình lớn.v.v. Ngày 8/2/62, thành lập Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ MAC.V tại Việt Nam. Ngày 13/2/62, tướng Paul D. Harkins được cử làm Trưởng Phái đoàn Quân sự Mỹ thay tướng Lionel C. McGarr. Ngày 15/2/62, tổng thống Kennedy xác nhận Quân nhân Mỹ ở Việt Nam có quyền nổ súng, nếu bị tấn công. 

Ngày 19/2/62, tại Hội nghị quân sự Honolulu, Hoa Kỳ quyết định viện trợ cho Việt Nam nhiều phi cơ trực thăng để vận chuyển hành quân. Bộ Ngoại giao Anh giải thích việc thành lập Phái đoàn Thompson giúp Việt Nam không trái Hiệp định Genève vì chỉ giúp hành chánh và nội an. Ngày 28/2/62, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố tình hình Việt Nam vẫn vững. Ngày 31/3/62, Chính phủ Việt Nam gởi Thông điệp cho 92 quốc gia tố giác Cộng sản miền Bắc xâm lược miền Nam, yêu cầu ủng hộ Việt Nam Cộng hòa chống xâm lăng Cộng sản. Ngày 6/5/62, hai nhân viên Gia Nã Đại trong Ủy hội Quốc tế bị án tù vì buôn lậu ma túy Ngày 9/5/62, Hoa Kỳ thuận cấp 2.500 máy Thu thanh cho các Xã. 

3. Ngày 12/5/62, Tổ chức Liên Phòng ANZAS gồm Mỹ, Úc, Tân Tây Lan quyết định ủng hộ Việt Nam Cộng hòa chống Cộng. Ngày 16/5/62, Tướng Harkins, trưởng Phái đoàn Quân sự Mỹ được cử làm Tư lệnh Mỹ ở cả Việt Nam lẫn Thái Lan. Ngày 22/5/62, Phi đội Sabre-jet của Úc tới Thái Lan. Nhiều phi cơ Mỹ cũng đến căn cứ Oudom. Thủ tướng Thái tuyên bố sẽ kêu gọi cả quân đội của các nước trong Khối Liên phòng Đông Nam Á (SEATO). Ngày 24/5/62, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Mc Namara tuyên bố phải từ 3 đến 5 năm mới ổn định tình thế ở Việt Nam. Ngày 30/6/62, Phái đoàn Giáo sư Đại học Michigan (MSU) hết thời hạn nghiên cứu rời Sài Gòn về Mỹ. 

Ngày 23/7/62, ký kết Hiệp định Genève về Lào cùng với bản Tuyên ngôn chung, 14 đoàn đã ký, kể cả Phái đoàn Việt Nam. Ngày 25/7/62, Joseph L. Brent được cử làm Trưởng phái đoàn Viện trợ Kinh tế Mỹ tại Việt Nam. Ngày 3/8/62, Úc gởi sang giúp Việt Nam đợt đầu 30 Sĩ quan Huấn luyện viên. Ngày 21/8/62, ký kết thỏa ước Việt-Mỹ, Mỹ bỏ ra 10 triệu Mỹ kim “mua” đồng bạc Việt Nam theo hối xuất tự do, để Việt Nam có tiền tài trợ các “Dự án Ấp Chiến Lược”, và giúp đở đồng bào Thượng tị nạn. 

4. Ngày 30/1/63, theo Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Mc Namara, hiện có 11.000 quân Mỹ tại Việt Nam. Ngày 1/4/63, thành lập một Phái đoàn để liên lạc với Việt kiều Pháp ở Nouvelle-Calédonie và Nouvelles-Hébrides. Bắc Việt đang vận động với nhà chức trách Pháp cho Việt Kiều về Bắc. Ngày 17/5/63, thông cáo Việt-Mỹ về việc tăng viện trợ để thực hiện Chương trình Chống Cộng “Ấp Chiến Lược” trên 2 tỷ bạc; Mỹ góp thêm 55 triệu Mỹ kim gồm: nông phẩm, phân bón, kẻm gai, xi măng, võ khí cho Dân vệ.v.v. Ngày 21/5/63, Một khu Kỹ nghệ được thiết lập tại Biên Hoà (SL 49/KT); Hai viện Bảo tàng ở Tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ tặng Viện Bảo tàng Việt Nam 150 hiện vật đồ cổ Việt Nam như: đồ sành, tiền cổ, trống đồng… 

Ngày 22/5/63, Tổng thống Kennedy họp báo tuyên bố rành mạch và dứt khoát: Một, Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam bất cứ lúc nào nếu Chính phủ Việt Nam yêu cầu. Hai, hy vọng rằng tình thế ở Việt Nam sẽ cho phép rút một số quân vào cuối năm nay, song e rằng cuộc đấu tranh còn gay go. Ngày 16/8/63, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk ngõ ý lo ngại về tình hình chính trị ở Việt Nam. Cùng ngày 22/8/63, Đại sứ Cabot Lodge tới Sài Gòn và tuyên bố với báo chí “không muốn phát biểu ý kiến gì trong lúc này về tình hình Việt Nam”. Ngày 26/8/63, tân Đại sứ Mỹ, Cabot Lodge trình Ủy nhiệm thư. Ngày 27/8/63, Cao Mên thông báo đoạn giao với Việt Nam Cộng hòa. 

5. Ngày 20/9/63, Khối Á-Phi yêu cầu Việt Nam trình bày vấn đề Phật giáo trước Liên Hiệp Quốc. Ngày 21/9/63, có nhiều tin đồn, nhân viên Tòa Đại sứ Mỹ chia làm hai phe một phe bênh vực tổng thống Ngô Đình Diệm, một phe chống đối muốn lật đổ. Ngày 24/9/63, Đại sứ Bửu Hội phản đối ý kiến đưa vụ Phật giáo Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc. Ngày 8/10/63, Đại sứ Bửu Hội đề nghị với Liên Hiệp Quốc cử một Phái đoàn sang Việt Nam xem xét vụ Phật giáo. Ngày 9/10/63, Liên Hiệp Quốc hoãn cuộc bàn cải vấn đề Phật giáo Việt Nam. Ngày 16/10/63, Tổng thống Hoa Kỳ được Quốc hội giao quyền cắt đứt viện trợ nếu cần đối với Việt Nam. 

Tuy nhiên, Ủy ban Ngoại giao Quốc hội không đề nghị cắt, mặc dù có vụ Phật giáo và lời đả kích của bà Ngô Đình Nhu. Ngày 25/10/63, Phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến điều tra vụ Phật Giáo gặp tổng thống Ngô Đình Diệm, và họp báo nói qua về nhiệm vụ. Ngày 26/10/63, Cố vấn Ngô Đình Nhu phân trần khá lâu với Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc. Có tin đồn nhân viên Phái đoàn được chiều chuộng đặc biệt. Ngày 31/10/63, Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc ra Huế viếng Tăng Ni.

V. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 1/6/61, hàng trăm Việt Cộng từ biên giới Mên-Việt kéo qua tấn công quận lỵ Tịnh Biên và Châu Phú, nhưng bị đẩy lui để lại 30 xác. Ngày 9/6/61, có 2 tiểu đoàn Việt Cộng tấn công đồn Bình Sơn, Biên Hòa, giật sập cầu, nhưng bị Biệt Động quân và Bảo An đẩy lui. Ngày 21/6/61, hành quân dọc kênh Tháp Mười, Mỹ An, Kiến Phong, giao tranh với 200 Việt Cộng, hạ 11 tên. Ngày 23/6/61, chạm súng với Đại đội 266 Việt Cộng tại Phú Túc, Kiến Hòa. Ngày 28/6/61, hành quân vào mật khu Tô Hạp, đánh với 1.500 Việt Cộng, hạ hơn 200 tên trong đó có 1 Thượng tá. Ngày 30/6/61, hành quân tại Ô Kha cách Khánh Hòa 30 cây số hạ 39 Việt Cộng. 

Ngày 8/7/61, Đại sứ Mỹ, Nolting đang đi xe trên đường phố Sài Gòn, bị hai Việt Cộng ném lựu đạn, nhưng không nổ. Chạm súng dữ dội tại An Khánh, Kiến Hòa giữa Bảo An, Dân Vệ và Đại đội 265 Việt Cộng, để lại 9 xác và vũ khí của Việt Cộng. Ngày 16/7/61, giao chiến suốt 6 giờ liền ban ngày tại Mỹ Quý, Kiến Phong giữa 1 Tiểu đoàn Nhảy dù và Tiểu đoàn 502 Việt Cộng, hạ 182, bắt sống 9 Việt Cộng và 80 súng các loại. Ngày 24/7/61, Quận trưởng Ba Mê Thuột bị phục kích tử thương, Phó Tỉnh trưởng Darlac và 2 Dân biểu Thượng bị bắt rồi bị hạ sát. Ngày 30/7/61, một quân xa tuần tiểu trên đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn bị ném lựu đạn 1 chết, 5 bị thương, và 7 thường dân khác cũng bị thương. 

2. Ngày 13/8/61, Việt Cộng giật mìn phục kích Biệt Động Quân ở Thủy Đông, Kiến Tường, 27 Việt Cộng bị hạ. Ngày 15/8/61, hành quân Quyết Tiến, Kiến Tường, hạ 37 Việt Cộng và phá nhiều căn cứ của các Tiểu đoàn 514 và 506 Việt Cộng. Ngày 28/8/61, hành quân Lam Sơn tại Rừng Tràm, Rau Răm đánh lui Tiểu doàn 506 Việt Cộng. Ngày 1/9/61, hơn 1.000 Việt Cộng tấn công hai đồn Poko, và Toumorong, Kontum, Đồn Poko được tái chiếm, Việt Cộng bỏ lại hơn 100 xác. Ngày 2/9/61, hành quân Quang Trung, Phong Dinh hạ 125 Việt Cộng của Tiểu đoàn Tây Đô, thu được nhiều dụng cụ Y tế của Trung Cộng. Ngày 4/9/61, Đồn Toumorong, Kontum được tái chiếm, Việt Cộng bỏ lại hơn 150 xác. 

Ngày 18/9/61, tỉnh lỵ Phước Thành bị tấn công, nhiều cơ sở bị phá, Thiếu tá tỉnh trưởng Nguyễn Minh Mãng và Phó tỉnh trưởng Nguyễn Thành Tiết đều bị tử thương. Ngày 24/9/61, ở Nhơn Minh, Kiến Tường, Biệt Động quân đẩy lui 200 Việt Cộng, hạ sát 20 tên. Ngày 1/10/61, Đại tá giả định Hoàng Thụy Năm Trưởng Phái đoàn Liên lạc Việt Nam với Ủy hội Quốc tế Kiểm soát đình chiến lên thăm trang trại gần Thủ Đức, bị Việt Cộng bắt đem đi mất tích. Ngày 2/10/61, hơn 100 Việt Cộng đang di chuyển về Vàm Nước Đục, Phong Dinh, bị Bảo An Dân vệ chận đánh 29 tên chết tại chỗ. Ngày 4/10/61, tại Dĩ An, Biên Hoà, Bảo an Dân vệ hạ 11 Việt Cộng địa phương. 

3. Ngày 6/10/61, Tiểu đoàn Đồng Tháp của Việt Cộng tấn công một đồn ở Kiến Hòa bị đẩy lui để lại 46 xác. Ngày 17/10/61, xác Đại tá Hoàng Thụy Năm nổi lên trên sông gần trạm xăng cầu Bình Lợi. Thân nhân đã nhận ra. Ngày 25/10/61, Huyện ủy Việt Cộng Nguyễn Văn Chẳng chỉ huy cuộc bắt cóc Đại tá Hoàng Thụy Năm bị lực lượng an ninh hạ sát gần Thủ Đức. Ngày 26/10/61, Hành quân tảo thanh mật khu Tô Hạp, Khánh Hòa hạ 80 Việt Cộng. Ngày 27/10/61, Tại An Giang, quân Mên xâm nhập sâu vào bên trong lãnh thổ Việt nam 10 cây số, 3 tên bị bắt. Ngày 30/10/61, tại xã Nhơn Ninh, Kiến Tường, hành quân hạ 30 tên Việt Cộng thuộc Tiểu đoàn Đồng Tháp. 

Ngày 1/11/61, Hành quân ở Tân Uyên, Phước Thành, một Tiểu đoàn Nhảy dù chạm súng với hơn 1.000 Việt Cộng, hơn 100 Cộng quân chết, quân Việt Nam Cộng hòa 20 chết, 54 bị thương. Ngày 4/11/61, Cộng quân toan đánh úp đồn Phú Hữu, Thạnh Mỹ, Ba Xuyên bị đẩy lui bỏ lại 28 xác. Ngày 6/11/61, một Công binh xưởng lớn của Việt Cộng bị phá hủy ở Vĩnh Bình. Ngày 7/11/61, tại Phước Thành, hơn 50 Cộng quân thuộc Tiểu đoàn Đồng Nai bị hạ, và 100 súng các loại bị tịch thu. Cùng ngày 7/11/61, Quận trưởng Cầu Kè, Vĩnh Bình bị phục kích hạ sát cùng vợ và 2 con nhỏ, cùng 2 Bảo An. Ngày 21/11/61, tại Long Hưng và Tân Bằng, Kiên Giang, Bảo An và Dân Vệ phá 2 Công binh xưởng, hạ 22 Việt Cộng. 

4. Ngày 24/11/61, quân Mên lại vượt qua biên giới, bắt 18 thanh niên tại quận An Phú, An Giang. Ngày 27/11/61, tại Giồng Quýt, Kiến Hòa, 40 Việt Cộng thuộc Tiểu đoàn 516 bị Bảo An hạ sát. Ngày 28/11/61, tại Kiến Phong, 50 Việt Cộng thuộc Tiểu đoàn 502 bị hạ sát. Ngày 30/11/61, tại Tây Ninh, 3 Đại đội Việt Cộng tấn công đồn Phước Tân, Tây Ninh, nhưng bị hạ 40 tên, và bắt sống 10 tên. Ngày 2/12/61, tại Ba Xuyên, giao phong ở Hòa Tú, Đại đội 32 thuộc Tiểu đoàn 308 Việt Cộng, bỏ lại 43 xác với nhiều súng. Ngày 4/12/61, tại Tây Ninh, 2 Đại đội Việt Cộng bị đánh bỏ lại 52 xác, 10 bị bắt. Tai An Giang, 30 Việt Cộng bị hạ ở Thành Mỹ Tây, Châu Phú. 

Ngày 8/12/61, kết quả hành quân tại khu rừng Giao Thạnh và Thạnh Phong cách Trúc Giang 65 cây số từ 3 hôm nay, Việt Cộng bỏ lại 100 xác, không kể số chở trên 13 xuồng đem đi. Ngày 13/12/61, tại Kiến Hòa, hành quân ở Mỹ Chánh Hòa, Ba Tri hạ hơn 100 Việt Cộng. Ngày 19/12/61, hành quân tại Quảng Nam hạ 57 Việt Cộng. Ngày 23/12/61, tại Cà Mâu, kịch chiến tại Vĩnh Lộc, gần U Minh Thượng 2 Đại đội của Tiểu đoàn Thăng Long Việt Cộng bỏ lại 57 xác. Ngày 30/12/61, tại An Xuyên, giữa ban ngày Tiểu đoàn U Minh Việt Cộng vây đánh Chợ Khánh Bình Tây, quận Sông Ông Đốc, quân Việt Nam Cộng hòa 13 chết, 33 bị bắt với 16 súng và 1 súng cối. 

5. Ngày 10/1/62một tiểu đoàn Việt Cộng tấn công đồn Bình Phú, Bình Long, Biệt Động quân đến giải vây 4 tử thương, 1 bị thương. Ngày 11/1/62, tiểu đoàn U Minh Việt Cộng đánh đồn Khánh Lâm, An Xuyên, Biệt Động quân đến đẩy lui bỏ lại 27 xác. Ngày 12/1/62, hành quân ở Củ Chi, Bình Dương hạ 21 Việt Công. Ngày 19/1/62, hành quân Trần Cao Vân, Quảng Nam hạ 47 Việt Cộng. Đột kích mật khu Việt Cộng ở quận Kiến An, Rạch Giá, hạ 5 huyện ủy viên, 30 cán bộ, và 40 tân binh. Ngày 8/2/63, một Trung đội Biệt Kích bị Tiểu đoàn Cửu Long Việt Cộng chận đánh ở Vĩnh Long 8 tử thương, 11 mất tích. Ngày 11/2/62, Một phi cơ C47 bị cháy và rớt gần Đà Nẳng, 2 quân nhân Việt và 8 quân nhân Mỹ tử nạn; Hành quân lớn ở Kiến Phong hạ hơn 100 Việt Cộng. Ngày 15/2/62, Hành quân Mỹ Quới, Kiên Phong hạ 22 tên Việt Cộng. 

Ngày 25/2/61, hành quân phá mật khu Đá Hang, Phan Rang hạ 20 Việt Cộng 20 bắt sống. Ngày 27/2/62, hai phi cơ của Không quân Việt Nam ném bom và bắn phá Dinh Độc lập từ 7g15 đến 7g25, một chiếc bị Hải quân bắn rơi ở Nhà Bè lúc 7g35, Phi công Phạm Phú Quốc bị bắt, chiếc thứ hai bay thoát sang Cao Mên. Trong Dinh, 1 binh sĩ, và 1 chị bếp tử thương. Bom rơi đúng căn lầu nơi ở của gia đình Cố vấn Ngô Định Nhu, và Phòng giấy của Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần, các nơi nầy bị đổ và cháy. Ngày 1/3/62, hành quân ở Thạnh Phú Đông, Kiến Hòa hạ 29 bắt 42 Việt Cộng. Ngày 5/3/62, Đồn Bảo An Bổ Túc cách Tây Ninh 50 cây số bị 1 Tiểu đoàn Việt Cộng vây đánh, quân Nhảy Dù tới ứng cứu, giao tranh 9 giờ liền, Việt Cộng bỏ lại 59 xác và một số súng ống, quân Việt Nam 10 tử thương. 

6. Ngày 10/3/62, Tiểu đoàn Cửu Long Việt Cộng tấn công đồn Mé Láng, Vĩnh Bình, Bảo An tới giải vây, hạ 60 Việt Cộng, bên ta 5 người chết. Ngày 13/3/62 kết quả hành quân tảo thanh Mật khu Hối Hóa, Kiến Hòa, tử 6/3/62 có 48 Việt Cộng bị bắt hơn 100 bị thương. Ngày 16/3/62, tại An Giang, 1 Tiểu đoàn Hoà Hảo Dân Xã về hợp tác với Chính phủ. Hành quân vào Mật khu Tân Uyên, Phước Thành hạ 50 Việt Cộng, phá 200 căn nhà, giải thoát hơn 1.000 đồng bào. Ngày 19/3/62, hành quân ở quận Bình Sơn, Quảng Ngãi từ 16/3 hạ 50 Việt Cộng, bắt sống 100, tịch thu nhiều súng đạn. Ngày 28/3/62, Việt Cộng tấn công đoàn xe Ủy hội Quốc tế trên đường Sài Gòn-Vũng Tàu. 

Ngày 1/4/62, hành quân ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, hạ 30 Việt Cộng. Ngày 2/4/62, Quận lỵ Vĩnh Thạnh, Bình Định bị tấn công, Quận  trưởng và 16 binh sĩ tử thương, trụ sở quận bị phá. Cùng ngày, Quận trưởng Phong Phú, Phong Dinh cùng 15 binh sĩ bị tử thương trong một cuộc phục kích của Việt Cộng. Ngày 6/4/62, đồn An Hòa, Trà Bồng, Quảng Ngãi bị vài trăm Việt Cộng tấn công. Các đợt tấn công đều bị quân phòng thủ đẩy lui, địch bỏ lại 40 xác với nhiều súng trong đó có cả đại bác 57 và đại liên. Bảo An, Dân vệ tảo thanh Cù lao Long Hòa, Vĩnh Bình từ 3 hôm nay hạ 28 Việt Cộng, bắt 5, phá 30 cơ sở, 7 kho lương, 4.000 giạ lúa. 

7. Ngày 9/4/62, hai Tiểu đoàn Việt Cộng tấn công đồn Bảo An Long Khánh và trụ sở Long Toàn, Vĩnh Bình, bị đánh lui, bỏ lại 12 xác, mang đi 15 xuồng xác khác; Hơn 300 Việt Cộng giao chiến với Bảo An, Dân Vệ ở Thạch Hưng, Cái Bè, Định Tường hạ 40 địch, phía Việt Nam Cộng hòa 9 chết, 8 bị thương. Ngày 16/4/62, quân đội tấn công một Mật khu ở Ninh Thuận hạ 52 Việt Cộng. Ngày 20/4/62, Khoảng 200 lính Mên tràn qua xã Vĩnh Gia, Tịnh Biên, An Giang, bắt 19 đàn ông, 12 đàn bà, 17 con nít, bắn bị thương 20 người khác, đốt 30 nhà, bắt hơn 100 con bò. Chính phủ Việt Nam cực lực phản đối với Chính phủ Mên. 

Ngày 24/4/62, hành  quân Họa My, Phong Dinh hạ 87 Việt Cộng và thu nhiều võ khí, phía Việt Nam 3 Bảo An chết, 6 bị thương. Ngày 25/4/62, Biệt Động quân và Bảo An hạ 69 Việt Cộng tại Kênh Chệt, Phong Dinh. Ngày 26/4/62, Bảo An và Dân Vệ phá Căn cứ tai Giồng Trôm, Kiến Hòa, bắt 1 Huyện ủy, hạ 20 Việt Cộng.  Ngày 1/5/62, Việt Cộng phục kích, giật mìn tấn công cướp tù binh tại Kiến Hòa, 52 tên bị hạ. Ngày 9/5/62, Đồn Bảo An Cần Dừa, An Giang, bị Việt Cộng tấn công, nhưng bị đẩy lui để lại 30 xác. Bảo An, Dân Vệ tấn công một Mật khu ở Ba Xuyên, hạ 57 Việt Cộng, phá hủy 1 Công binh xưởng. 

8. Cũng ngày 9/5/62, tại Hưng Nhân, An Lão, Bình Định, Biệt kích Thượng hạ 21 Việt Cộng, thu nhiều vũ khí. Ngày 11/5/62, chuyến xe lửa Quảng Ngãi-Đông Hà bị giật mìn làm chết 27 hành khách và trên 30 bị thương. Ngày 15/5/62, hành quân tảo thanh Mật khu Bảo Thạnh, Kiến Hòa hạ 27 Việt Cộng. Ngày 17/5/62, hành quân tại Cù lao Chà Và, Kiến Phong hạ 15 Việt Cộng, bắt 1 Huyện ủy, phá Công binh xưởng và 1 trại giam. Ngày 18/5/62, hành quân Đồng Tâm, Vĩnh Long hạ 16 Việt Cộng, 96 bị bắt sống. Ngày 20/5/61, tại Sài Gòn, Việt Cộng ném lựu đạn vào nhà quân nhân Mỹ ở đường Trần Hưng Đạo 3 Mỹ và 8 Việt bị thương. 

Ngày 23/5/62, hành quân Phụng Phước, Mỹ An, Kiến Phong hạ 72 Việt Cộng cử Trung đoàn 504, bắt sống 24 và nhiều súng ống có cả súng cối; Phía Việt Nam 4 chết, 8 bị thương. Ngày 27/5/62, hành quân Không lực giữa ranh giới 3 tỉnh Kontum-Quảng Ngãi-Quảng Nam, 60 phi cơ ném hơn 100 tấn bom phá hủy cơ sở của Liên Khu V phá hủy hàng trăm trại, làm nổ kho thuốc súng. Ngày 4/6/62, một Tiểu đoàn Việt Cộng tấn công Quận lỵ Thạnh Trị, Ba Xuyên, 50 Việt Cộng bị hạ; Phía Việt Nam 15 Bảo An, Dận Vệ và Cán bộ địa phương tử thương. 

9. Ngày 6/6/62, hành quân ở Rạch Đốc-Vàng Hạ, Kiến Phong hạ 32 Việt Cộng, bắt sống 24 thuộc Tiểu đoàn 502 Việt Cộng. Ngày 9/6/62, Bảo An bị phục kích cách quận lỵ Tịnh Biên 9 cây số 8 chết, 14 bị thương, Biệt Động Quân tới tiếp viện truy kích hạ 18 Việt Cộng lấy lại số súng đã bị cướp. Ngày 25/6/62, hành quân Trực thăng vận tảo thanh nhiều Xã thuộc quận Ba Tri, Kiến Hòa hạ 21 Việt Cộng, bắt sống 31, phá hủy 7 cơ sở. Ngày 5/7/62, Hành quân ở Sơn Lợi, Quế Sơn, Quảng Nam hạ 63 Việt Cộng. Ngày 7/7/62, Bảo An canh giữ Công trường Trại Láng, Phan Rang bị tấn công 10 chết, 12 bị thương, mất 41 súng. Ngày 12/7/62, hành quân ở Sùng Hiếu, Khiêm Ích, Định Tường, hạ 16 Việt Cộng, 41 bị bắt.

Ngày 14/7/62, một đoàn quân xa trên (Quốc lộ 13) đường Bình Dương-Bình Long bị phục kích 1 Đại ủy Mỹ, 47 Nhảy Dù tử thương, 14 bị thương, 4 mất tích, 3 xe hư hại nặng. Ngày 17/7/62, một phi cơ C47 của Không quân Việt Nam bị rớt ở Kontum, 23 tử nạn, trong đó có 1 Trung tá Mỹ, 1 Đại úy Việt Nam. Ngày 20/7/62, hành quân tại Bến Lức và Cần Đước, Long An, hạ 32 Việt Cộng. Hành quân “Dân Tiến 27” của Khu Chiến thuật 32 ở ranh giới hai tỉnh Kiến Phong-Kiến Tường hạ 131 Việt Cộng, bắt sống 18, thu nhiều súng có cả đại liên và súng cối.

10. Ngày 4/8/62, hành quân “Dân tiến 30” tại Quản Long ranh giới Định Tường-Long An, hạ 70 Việt Cộng có 1 Tiểu đoàn trưởng, bắt sống 17 cũng có 1 Tiểu đoàn trưởng cùng nhiều quân trang, và 36 lạng vàng. Ngày 5/8/62, Việt Cộng đột kích Quận lỵ Hàm Tân, Bình Tuy bị đẩy lui, bỏ lại 20 xác. Ngày 9/8/62, hành quân Rừng Chồi, Phú Chánh, Bình Dương, hạ 32 Việt Cộng, phá hủy 4 căn trại. Ngày 12/8/62, hành quân Trực thăng vận “Dân Tiến 35” tại Kênh Láng Cùng, Kiến Tường hạ 35 Việt Cộng. Cùng ngày 16/8/62, hành quân “Bình Tây” ở U Minh Hạ, hạ 124 Việt Cộng, bắt sống 73; Phía Việt Nam Cộng hòa 1 chết 4 bị thương. 

Ngày 18/8/62, hành quân ở Củ Chi, Bình Dương, hạ 50 Việt Cộng; Và hành quân giữa Đức Hòa-Hóc Môn, hạ 36 Việt Cộng, bắt sống 36, phá 20 hầm chông; Phía Việt Nam Cộng hòa 2 chết 2 bị thương. Ngày 21/8/62, Hành quân “Bình Tây” tiếp tục giao tranh với Tiểu đoàn Phú Lợi Việt Cộng tại Bàu Sáng; Tại Gia Rai, Ba Xuyên sau 7 giờ kịch chiến, hạ 166 Việt Cộng, bắt sống 25; Phía Việt Nam Cộng hòa 6 chết 14 bị thương. Ngày 24/8/62, tại Gò Quao, Chương Thiện, hạ 233 Việt Cộng trong đó 190 do phi cơ bắn. Ngày 30/8/62, hành quân “Lam Sơn II” ở Trà Bồng, Quảng Ngãi, hạ 37 Việt Cộng, phá hủy nhiều kho, trại; Phía Việt Nam Cộng hòa 11 chết 22 bị thương, 2 mất tích, 2 trực thăng bị trúng đạn bị hủy tại chỗ. 

11. Ngày 3/9/62, hành quân “Dân Tiến 42” ở quận Bến tranh, Định Tường, hạ 116 Việt Cộng, 8 bị bắt sống. Hành quân ở núi Cô Tô, Thất Sơn, hạ 35 tên của tiểu đoàn 512  Việt Cộng. Chạm súng với 250 Việt Cộng tại Cầu Kè, Vĩnh Bình; Phía Việt Nam Cộng hòa 42 chết, 34 bị thương. Ngày 5/9/62, hành quân trực thăng vận ở Mỹ Lạc Thanh, Long An, hạ 21 Việt Cộng. Ngày 10/9/62, hành quân “Dân Tiến 42” tại Hộng Ngự, Kiến Phong, hạ 70 Việt Cộng, bắt sống 13 thuộc Tiểu đoàn 502. Ngày 13/9/62, hành quân tại Sơn Dương, Binh Thuận, hạ 44, phá hủy một mật khu. Ngày 28/9/62, một mật khu ở Ninh Thuận bị phá, hạ 36 Việt Cộng, một Tỉnh ủy bị bắt. 

Ngày 30/9/62, theo tài liệu chính thức trong tháng 9/1962: Việt Cộng chết 1.700, bị bắt 1.600; Phía Việt Nam Cộng hòa 400 chết, 700 bị thương. Ngày 1/10/62, hành quân ở Cao Lãnh, Kiến Phong chạm súng với Đại đội 209 Việt Cộng, hạ 65, bắt sống 23, tịch thu nhiều súng, 1 tấn đạn, phá 1 công binh xưởng. Ngày 5/10/62, hành quân “Đân Tiến 46” ở Cai Lậy, và Long Định, Định Tường, hạ 100 Việt Cộng; Phía Việt Nam Cộng hòa 18 tử thương. Hơn 200 Việt Cộng tấn công Ấp Chiến Lược Ô Lâm, Tri Tôn, An Giang, nhưng bị đẩy lui để lại 33 xác. Hàng trăm Việt Cộng tấn công đồn Lộc Xuyên, Lộc Ninh, Phi cơ oanh kích giải vây cho đồn nầy. 

12. Ngày 10/10/62, Chiếc phi cơ chở tướng tá đảo chánh ngày 11/11/1960 bay qua Mên, được Mên trả lại cho chính phủ Việt Nam. Hành quân quy mô “Sao Mai” ở Đức Hòa, Phú Đức ranh giới hai tỉnh Tây Ninh-Long An. Ngày 19/10/62, Kết quả hành quân “Sao Mai” ở Đức Hoà, Phú Đức hạ 50 Việt Cộng, bắn chìm 20 ghe tải lương thực, phá hủy 1.000 giạ lúa. Ngày 22/10/62, hành quân tại Cao Lãnh và Thanh Bình, Kiến Phong hạ 80 Việt Cộng, 29 bị bắt sống. Ngày 26/10/62, Lựu đạn ném vào Khu triển lảm Chiến lợi phẩm của Quân đội trước tòa Đô Chánh làm 7 người chết, 29 bị thương. Ngày 27/10/62, Lại chạm súng dữ dội ở Hồng Ngự, 26 Việt Cộng bị hạ. 

Ngày 30/10/62, Hành quân tại Bình Thạnh, Phong Mỹ, Kiến Phong, hạ 77 Việt Cộng, bắt sống 14 tên. Ngày 31/10/62, Không phận Việt Nam bị phi cơ Miên xâm phạm 3 lần. Đồn Lâm Phú, Long Mỹ, Chương Thiện bị 2 Tiểu đoàn Việt Cộng tấn công, Việt Nam Cộng hòa 10 chết 20 bị thương; Việt Cộng bỏ lại 37 xác có 1 Tiểu đoàn trưởng, 1 Đại đội trưởng. Ngày 2/11/62, hành quân tại Vĩnh Long, Phong Dinh, hạ 51 Việt Cộng, 10 bị bắt. Hành quân vào mật khu Xẻo Mát, Vĩnh Long, hạ 42 Việt Cộng. Ngày 3/11/62, hành quân ở Mỹ An, Vĩnh Long, hạ 42 Việt Cộng, bắt 29, phá 1 công binh xưởng. Ngày 4/11/62, Việt Cộng tấn công đồn Tân Hội, cai Lậy, Định Tường bị đẩy lui, bỏ lại 18 xác, 7 bị bắt. 

13. Ngày 7/11/62, hành quân ở Bình Hạnh Tây và Bình Hạnh Trung, quận Kiến Văn, Kiến Phong, hạ 42 Việt Cộng, bắt 12; Phía Việt Nam Cộng hòa 1 chết, 1 bị thương. Ngày 8/11/62, Chạm súng tại Mỏ Cày, Kiến Hòa giữa 1 trung đội Bảo An và 800 quân Việt Cộng, quân tiếp viện bị lọt vào ổ phục kích, quân ta 4 chết, 12 bị thương, 1 xe thiết giáp bị phá. Ngày 10/11/62, Một phi cơ DC3 của hàng không Việt Nam, bị rớt gần Lăng Cô, phía đèo Hải Vân 27 hành khách tử nạn. Ngày 12/11/62, hành quân “Dân Tiến 52” ở Kiến Hòa, hạ 33 Việt Cộng, bắt 49, phá 500 hầm chông và 33 cơ sở. Ngày 13/11/62, Đã tìm thấy xác phi cơ và thi thể hành khách bị nạn ở Lăng Cô. Số tiền phải bội thường là 300.000$ cho mỗi nhân viên, và 609.021$ cho mỗi hành khách nạn nhân. 

Ngày 18/11/62, hành quân ở Minh Đức, Kiến Hòa, bắt 51 Việt Cộng, phá 5 cơ sở. Ngày 23/11/62, tại Ba Xuyên Biệt kích chạm súng với Tiểu đoàn 296 Việt Cộng, cách Sóc Trăng 30 cây số, phi cơ tới bắn yểm trợ hạ 65 Việt Cộng. Ngày 24/11/62, hai Tiểu đoàn Việt Cộng tấn công mạnh vào đồn Phước Châu, quận Hậu Đức, Quảng Tín, bị hạ 107 tên trong đó có 2 tiểu đoàn trưởng, thu 3 đại bác, 21 Trung liên và đại liên; Phía Việt Nam Cộng hòa 8 bị thương. Toàn thể các cấp ở đồn nầy đồn nầy được thưởng Anh dũng Bội tinh. Ngày 1/12/62, một Đại đội Việt Cộng tấn công Ấp Chiến Lược Mé Láng và Cây Xoài ở Cầu Ngang, 17 tên hị hạ.  

14. Ngày 4/12/62, hành quân Phú Hòa ở Sông Ba, Phú Bổn, hạ 30 Việt Cộng, bắt sống 22, khám phá 1 hầm súng đạn, cả súng lớn, tịch thu 5 tấn gạo, 2 tấn bắp, 1 tấn lúa, 100 con bò và giải thoát 600 đồng bào bị giữ. Ngày 6/12/62, hành quân “Dân Tiến 57” ở Cai Lậy, Định Tường, hạ 35 Việt Cộng, trong đó có 1 Tỉnh ủy và 1 Trung tá tên Đỗ Văn Giộng, bắt 12 tên; Phía Việt Nam Cộng hòa 4 bị thương. Ngày 13/12/62, Quận trưởng Cầu Ngang, Vĩnh Bình bị phục kích cách quận lỵ 8 cây số, tử thương, 12 Bảo An bị thương. Ngày 15/12/62 hành quân Hải thuyền ở Mỏ Cày, Kiến Hòa, hạ 30 Việt Cộng; Hai Đại đội Việt Cộng tấn công Ấp Chiến Đấu Phước Hậu, Tây Ninh, bỏ lại 30 xác. 

Ngày 28/12/62, kết quả hành quân Đồng Tiến tại quận An lão, Bình Định mở từ 18/12 phá hủy hơn 100 trại Huấn luyện và cơ sở khác, với 41 tấn thóc và nhiều gia súc của Việt Cộng. Ngày 31/12/62, đồn Bu Brang, Quảng Đức bị vài trăm Việt Cộng kéo từ biên giới Việt-Miên sang tấn công, 2 Bảo An chết, 10 bị thương, 6 mất tích. Quân tiếp viện tới truy kích hạ 19 Việt Cộng... 

15. Ngày 2/1/63, giao phong lớn gần Ấp Bắc cách Mỹ Tho 16 cây số với 2 tiểu đoàn Việt Cộng, hạ 101 tên, bắt sống 36; Phía Việt Nam Cộng hòa 65 chết, 100 bị thương. Ngày 2-3/1/63, hành quân vào mật khu Bàu Trăm, cách Tây Ninh 25 cây số nơi đóng bản doanh Trung ương Cục Miền Nam. Kết quả hành quân nầy, hạ 76 Việt Cộng, thiêu hủy 120 tấn gạo, 6.000 lít xăng, máy phát điện và công binh xưởng, cùng 400 căn nhà; Phía Việt Nam Cộng hòa 9 chết, 42 bị thương. Cùng ngày 3/1/63, hành quân “Thu Đông 5” vào mật khu cách Phước Thành 19 cây số, hạ 60 Việt Cộng; Phía Việt Nam Cộng hòa 1 chết, 7 bị thương;  Một trại Huấn luyện ở Plei M’Rong cách Pkeiku 24 cây số bị tấn công làm 30 khóa sinh chết, 26 bị thương, nhiều súng bị cướp, Việt Cộng để lại 1 xác.. Ngày 9/1/63, hành quân tại Lấp Vò và Sedec, hạ 31 Việt Cộng. 

Ngày 13/1/63, hành quân tảo thanh vùng núi Miên, Phú Yên, bắt 27 Việt Cộng, phá 37 nhà và 16 tấn thóc, thu 300 tấn thóc và 3.000 con trâu đưa ra khỏi mật khu. Ngày 18/1/63, hành quân vào mật khu Ông Đốc, Phước Thành, hạ 11 Việt Cộng, bắt sống 16, phá 10 tấn lúa gạo. Ngày 23/1/63, Kết quả chiến dịch “Hải Yến” tại nhiều làng quận Tuy An, Phú Yên bắt đầu từ 8/1 loại trừ 92 Việt Cộng, phá hủy một số cơ sở, giải thoát 1.626 đồng bào bị giữ. Ngày 3/2/63, hàng trăm Cộng quân tấn công đồn Dân Vệ Lương Tâm, Long Mỹ, Chương Thiện, Bảo An và phi cơ tới giải vây, hạ 65 Việt Cộng; Phía Dân vệ 13 chết, 4 bị thương, mất 1 súng cối. 

16. Ngày 9/2/63, hành quân “Đức Thắng 4” ở quận Kiến An, Kiên Giang, hạ 42 Việt Cộng. Ngày 12/2/63, hành quân “Lam Sơn 2” gần Tam Kỳ, Quảng Tín, hạ 48 Việt Cộng, phá nhiều cơ sở, 7 tấn gạo, 35 tần thóc, một Thiếu tá Việt Cộng quy thuận. Ngày 13/2/63, hành quân tảo thanh ở Hậu Bối, Mỹ An, cách Cao Lãnh 30 cây số. Ngày 3/3/63, Việt  Cộng đánh đồn Bảo An Chừ Nổi, Mộc Hóa bị đẩy lui để lại 23 xác. Ngày 6/3/63, khoảng 150 Việt Cộng đánh đồn Bảo An Dân vệ Châu Phú quân ta đẩy lui để lại 29 xác. Ngày 9/3/63, Một đoàn quân xa bị phục kích cách Cheo Reo, Phú Bổn 25 cây số, 3 xe hư hại, 7 binh sĩ chết 10 bị thương, mất 15 súng. 

Cùng ngày 9/3/63, Một đội Dân vệ bị phục kích ở Giồng Trôm, Kiến Hòa, 26 chết, 15 bị thương, mất 28 súng. Ngày 11/3/63, hành quân tảo thanh ở Giồng Trôm hạ 54 Việt Cộng. Ngày 12/3/63, tại Cai Lậy, Định Tường chạm súng với Việt Cộng, Việt Nam Cộng hòa 15 chết, 19 bị thương, mất 20 súng. Cùng ngày 12/3/63, hành quân tại Liên ranh Quảng Tín-Quảng Ngãi hạ 48 Việt Cộng, Việt nam Cộng hòa 2 chết, 7 bị thương. Ngày 25/3/63, Hành quân “Đức Thắng 9” ở Long Định, Định Tường hạ 33 Việt Cộng, quân ta 10 chết, 14 bị thương, mất 10 súng. Ngày 28/3/63, hành quân “Phi Hỏa” đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu từ 21/3 hạ 47 Việt Cộng, hủy 200 tấn lúa gạo. 

17. Ngày 1/4/63, Không quân oanh kích núi Cô Tô, Tri Tôn, An Giang, hạ 120 Việt Cộng, giải thoát 1.200 đồng bào. Ngày 14/4/63, hành quân “Đại Phong 12” giữa Trảng Bàng-Gò Dầu Hạ, hạ 46 Việt Cộng, 34 bị bắt sống. Ngày 22/4/63, khoảng 200 Việt Cộng đột nhập Long Hải, đánh cướp khu chợ, đồn Bảo An, kịch chiến suốt 3 giờ, Việt Cộng bỏ lại 3 xác. Ngày 23/4/63, Hành quân “Dân Thắng 106” tiếp tục ở Quảng Ngãi hạ 263 Việt Cộng, tịch thu 8 trung liên, 17 tiểu liên, 10 các bin, 48 súng trường. Ngày 27/4/63, hai Tiểu đoàn Việt Cộng tấn công Công trường Klum cách Pleiku 65 cây số, Ta, 32 chết, 19 bị thương, 43 mất tích, mất 52 súng; Địch, 42 chết, 38 bị thương. Ngày 29/4/63, tại Sài Gòn, 1 tổ Việt Cộng 14 người chuyên đi ám sát bị bắt. 

Ngày 1/5/63, hành quân “Dân Thắng 99” vào mật khu Đỗ Xá, phía bắc Kontum-Quảng Ngãi để phá các căn cứ của Liên Khu V Việt Cộng. Ngày 8/5/63, hành quân ở Thăng Bình, Quảng Tín, hạ 25 Việt Cộng. Ngày 19/5/63, hành quân “Đức Thắng 23” cách Mộc Hóa 33 cây số, hạ 90 Việt Cộng, bắt 25, phá hủy một số trại Huấn luyện và tịch thu nhiều súng; Ta 1 chết 12 bị thương. Ngày 25/5/63, kết quả hành quân “Đức Thắng 99” vào mật khu Đỗ Xá (bắt đầu 1/5/63), 86 Việt Cộng chết, 16 bị bắt, trong đó có 1 Bác sĩ Y khoa, tịch thu vài chục võ khí, phá hủy 74 mẫu hoa màu, 127 tấn lúa, 19 tấn bắp.v.v; Phía ta, 4 chết 83 bị thương, 2 trực thăng bị hủy. 

18. Ngày 16/6/63, Hành quân “Đức Thắng 38” ở Tây Nam, Vĩnh Long, hạ 26 Việt Cộng. Ngày 20/6/63, hành quân ở Kênh Năm Ngàn, Kiến Tường, hạ 20 Việt Cộng. Ngày 27/6/63, lựu đan nổ ở rạp Chiếu bóng Vĩnh Lợi đường Lê Lợi, 5 chết, 5 bị thương vì mảnh đạn, 51 bị thương vì xô đẩy nhau. Ngày 27/6/63, hành quân ở Cù lao Băng Cùng, quận Thạnh Phú, Kiến Hòa, hạ 47 Việt Cộng, bắt 7 tên.  Ngày 29/6/63, hành quân “Đức Thắng 32” tại xã Tam Thường, Hồng Ngự, Kiến Phong, hạ 110 Việt Cộng, bắt 3 tên. Ngày 1/7/63, hành quân “Dân Tiến 25” tại Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú, hạ 19 Việt Cộng. Bảo An tảo thanh tại quận Vĩnh Thành, Bình Định, đốt 200 căn trại và 100 tấn lúa. 

Ngày 2/7/63, hành quân tảo thanh tại quận Hiếu Liêm, Phước Thành, hạ 25 Việt Cộng. Phía ta 7 chết, 25 bị thương. Ngày 5/7/63, theo thông cáo, từ đầu năm nay Không quân Việt Nam đã bắn chết 3.500 Việt Cộng, phá 12.318 nhà, 88 trại, 61 kho lương. Ngày 13/7/63, Hành quân “Dân Tâm 21/63” tại Thanh Đước và Cần Đước, Long An, hạ 63 tên của Tiểu đoàn 506 Việt Cộng. Ngày 20/7/63, Hành quân “Đức Thắng 38/TG” tại quận Chợ Gạo, Định Tường hạ 58 Việt Cộng, bắt 18, tịch thu nhiều súng đạn; Phía ta 15 chết, 50 bị thương. Ngày 22/7/63, hành quân “Nhân Thắng” tại ấp Phó Bình, quận Tri Tâm, Bình Dương hạ 112 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng đạn; Phía ta 8 chết, 34 bị thương. 

19. Ngày 24/7/63, Một Ấp Chiến Lược bị tấn công ở Suối Kiết, Tánh Linh, Quận trưởng đem quân đến cứu lọt ở phục kích, tử thương cùng với 12 binh sĩ, mất 22 súng. Ngày 27/7/63, hành quân “Đức Thắng 27” tại quận Thạnh Trị, Ba Xuyên, hạ 53 Việt Cộng, 20 tên bị bắt sống. Ngày 28/7/63, hành quân “Dân Tâm 23/63” giữa Nhà Bè, Gia Định-Thạnh Đức, Long An, hạ 32 Việt Cộng; Phía ta 10 chết, 4 bị thương. Ngày 1/8/63, hành quân tại quận Cái Nước, An Xuyên, 74 Việt Cộng, tịch thu 14 súng; Phía ta 2 bị thương. Ngày 2/8/63, nhiều cơ sở của Liên Tỉnh Ủy miền Tây tại Đầm Cùng, An Xuyên, bị phá hủy cùng với máy điện, máy phát thanh. 

Ngày 8/8/63, Việt Cộng đánh Ấp Chiến Lược Bình Phú Long, quận Kiến Văn, Kiến Phong, 57 tên bị hạ; Phía ta 9 chết, 15 bị thương, trong đó có Quận trưởng tới ứng cứu. Ngày 21/8/63, Hành quân tại Đông Xuân, Phú Yên, khám phá một Công binh xưởng lớn thu 1.000 trái mìn và 510 lựu đạn cùng một số súng. Ngày 26/8/63, hành quân “Đức Thắng 51” tại Ấp Nhất Phú An, Vĩnh Long, hạ 35 Việt Cộng, 85 bị bắt. Ngày 29/8/63, hành quân “Đức Thắng 42” gần Cao lãnh Kiến Phong, hạ 29 Việt Cộng, bắt 7 tên cúng võ khí; Phía ta 3 bị thương. Ngày 31/8/63, hành quân “Dân Thắng 136” ở thung lũng Đại Lộc, Quảng Nam, hạ 59 Việt Cộng của 4 Tiểu đoàn chính quy, tịch thu nhiều súng có cả 2 đại bác 57 ly. 

20. Ngày 10/9/63, hành quân “Đức Thắng 48” tại Gò Công hạ 83 Việt Cộng, tịch thu cả đại bác. Ngày 12/9/63, hành quân tại quận Đầm Dơi, An Xuyên, hạ 122 Việt Cộng, tịch thu được đại bác, súng cối và nhiều súng khác. Ngày 18/9/63, hành quân ở Cần Đước, Long An, hạ 122 Việt Cộng của Tiểu đoàn 506. Ngày 20/9/63, Mìn nổ ở chợ Bến Thành Sài Gòn, 5 người bị thương. Ngày 23/9/63, hành quân “Đức Thắng 48” tại Gò Công loại trên 100 Việt Cộng. Ngày 9/10/63, Hành quân ở Hoài Sơn, Bình Định, hạ 64 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng. Ngày 23/10/63, hành quân tại Vĩnh Bình, hạ 63 Việt Cộng. Ngày 25/10/63, Hành quân tại Định Tường hạ 41 Việt Cộng. 

VI. Những việc đã làm.

1. Ngày 1/6/61, Giải trí trường Thị Nghè bị đóng cửa hẵn, vì viên quản đốc thiếu nhiều triệu bạc thuế. Ngày 8/6/61, Thành lập Trung tâm Khảo cứu Khoa học (SL 151/GD). Ngày 26/6/61, hơn 8.000 thí sinh thi vào trường Quốc gia Sư phạm 700 trúng tuyển. Và 600 thi vảo trường Nữ Hộ sinh Quốc gia, 50 trúng tuyển. Ngày 28/6/61, Khánh thành Quốc lộ 19 Quy Nhơn-Pleiku dài 149 cây số tốn 17 triệu Mỹ kim và 7 triệu đồng Việt Nam. Ngày 1/7/61, Đội người Nhái đầu tiên của hải quân Việt Nam trình diện tại Nha Trang. Ngày 2/7/61, tại Sài Gòn Đại hội Đại Đoàn kết quyết nghị “Công khai hóa hoạt động của các chính đảng; Lập một diễn đàn chính trị, xét lại chính trị phạm; Lập một Hội đồng chính trị có nhiệm vụ phê bình và chất vấn chính quyền; Cử một Ủy ban Vận động Đại doàn kết gồm 11 người. 

Ngày 5/7/61, Thiết lập Uỷ hội Quốc gia bảo tồn thiên nhiên (NĐ 65/BTTN). Ngày 13/7/61, Đảo Hoàng Sa được đặt thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam (SL 174/NV). Ngày 22/7/61, Bộ Quốc phòng Việt Nam gọi nhập học trường Sĩ quan trừ bị (Khoá 12 Thủ Đức) các thanh niên từ 20 đến 33 tuổi có bằng Tú tài I trở lên (SL 177/QP). Ngày 18/8/61, ban hành thể lệ hành nghề Y sĩ, Nha sĩ, Dươc sĩ. Các sinh viên tốt nghiệp các ngành nầy phải làm việc cho Chính phủ 2 hoặc 3 năm trước khi làm việc tư (SL 11/61). Ngày 4/9/61, Mở Hộp thơ Dân ý tại Phủ Tổng thống (NĐ 888/PTT/VP). Ngày 5/9/61, Thành lập một Ngân sách đặc biệt về an ninh với số tiền 11 tỷ (SL 196/TTP). Áp dụng Điện cơ kế toán trong việc lập Ngân phiếu và Lệnh Phát ngân (SL 197/TTP). 

2. Ngày 2/10/61, bảo Wilda thổi mạnh, mưa to gió lớn ở miền Tây Nam Phần. An Giang, Kiến Tường, Kiến Phong bị ngập sâu. Số người bị lụt trên 400.000. Thiệt hại rất lớn chưa thể ước lượng. Ngày 6/10/61, Đê Châu Phú bị vỡ, hơn 300 nhà phải tản cư. Ngày 13/10/61, Bão Wilda thổi ra Huế, Đà Nẳng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, mưa lớn nhiều cây to và nhà đổ. Ngày 14/10/61, Trận lụt miền Tây làm thiệt hại chừng 800.000 mẫu ruộng. Ngày 15/10/61, ban bố tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa (SL209/TTP). Ngày 16/10/61, Nước bắt đầu rút ở An Giang. Cùng ngày 16/10/61, Hoa Kỳ thuận viện trợ đặc biệt cho vùng bị lụt. Thực phẩm sẽ được gởi sang, một chương trình tái thiết sẽ được cứu xét. 

Một Uỷ ban Cứu trợ được thành lập và mở cuộc lạc quyên trên toàn quốc. Công chức biếu một ngày lương. Ngày 19/10/61, Quốc hội ủy quyền đặc biệt cho Tổng thống ban hành các Sắc luật trong tình trạng khẩn cấp (luật 13/61). Ngày 1/11/61, Phi cơ Mỹ đã chở nhiều thực phẩm từ Hoa Kỳ sang cho dân bị bão lụt. Ngày 2/11/61, Phong trào Quốc gia tương trợ đồng bào bị bảo lụt được thành lập để thay cho Uỷ ban cứu trợ. Ngày 3/11/61, Đã quyên được 5 triệu cho cho miền bị lụt. Cùng ngày 3/11/61, mở các lớp Phụ nữ Bán quân sự. Lớp đầu làm nòng cốt gồm 1.500 học viên (SL217/TTP). Ngày 6/11/61, Đô thành đặt 4 nơi bán gạo lẻ 5,8$ mỗi kg, mỗi người chỉ mua được 10 kg. Chính phủ sẽ cho nhập cảng 5.000 tấn gạo. 

3. Ngày 8/11/61, Thiết lập Phủ Đặc uỷ Tương trợ và Kiến thiết các vùng bị lụt (SL 119/TTP). Ngày 10/11/61, nước đã rút khá nhiều tại Kiên Giang, Kiến Tường. Ngày 13/11/61 Đại tá Nguyễn Văn Y được bổ Tổng Giám đốc Cảnh sát. Ngày 20/11/61, tiền quyên cho cho các miền bị lụt là 15.877.967$. Ngày 25/11/61, Quốc hội lại ủy cho Tổng thống toàn quyền về ngân sách, an ninh, và các biện pháp Tài chánh (Luật 15/61). Ngày 27/11/61, khai giảng lớp Huấn luyện khóa I Phụ nữ Bán quân sự với 786 học viên tại “Giải trí trường Thị Nghè”. Ngày 1/12/62, Việt Nam nhập 5.000 tần gạo Thái Lan. Ngày 5/12/61, Bộ Y tế buộc phải có toa Bác sĩ, mới mua được một số thuốc cần kiểm soát, như trụ sinh. 

Ngày 8/12/61, thành lập Hội đồng hàng Tỉnh do dân bầu, từ 6-18 Hội viên có quyền biểu quyết hành chánh và tài chánh. Nhưng trong tình trạng khẩn cấp, Hội viên do Bộ Nội vụ cử (SL 237/NV). Ngày 9/12.61, Số tiền quyên giúp các miền bị lụt được 31 triệu đã chi hơn 20 triệu. Ngày 14/12/61, Đô trưởng Sài Gòn báo trước cho các chủ tiệm khiêu vũ lo liệu vì có thể chính phủ cấm hành nghề vũ nữ. Ngày 15/12/61, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam “trao đổi văn kiện xác định những đặc điểm trong kế hoạch chống Cộng”. Ngày 16/12/61, Viện thống kê cho biết, dân số Việt Nam Cộng hòa hiện nay là 14.081.000 người. Ngày 22/12/61, Đô thành quyết định thành lập 7 Thí điểm Khóm Chiến lươc ở Quận II. Ngày 24/12/61, thành lập Tỉnh Chương Thiện, tỉnh lỵ đặt tại Vị Thanh (SL 244/NV). 

4. Ngày 27/12/61, tại Sài Gòn, ký kết tại Bộ Kinh tế Hợp đồng nhập cảng 50.000 tấn gạo trả bằng bạc Việt Nam trong khuôn khổ viện trợ Mỹ về thực phẩm. Ngày 29/12/61, Chính phủ chính thức chấp thuận “Cải cách thuế vụ” theo chương trình Stanley-Vũ Quốc Thúc” theo đó: Bãi bỏ nhiều sắc thuế đánh vào một số hàng nhập nội (SL 17/61); Đặt đảm phụ Quốc phòng và khuếch trương Kinh tế (SL 18/61); Tu chỉnh quan thuế biểu (SL 19/61); Đặt thuế Kiệm ước đánh vào hàng nhập cảng (SL 20/61); Ấn định trợ cấp đặc biệt về chuyển ngân (SL 21/61); Đặt thuế Xuất cảng mới (SL 22/61); Ấn định trợ cấp tạm thời cho một số hàng xuất cảng (SL 23/61); Thiết lập ngân sách đặc biệt 1.200 triệu cho Khuếch trương Kinh tế (SL 25/61). 

Ngày 30/12/61, Tiền quyên cho trận bảo Wilda, và các miền bị bão lụt là 32 triệu. Ngày 31/12/61, Số nhật báo tại Sài Gòn năm 1961: 17 báo Việt, 11 báo Tàu, 1 báo Pháp. Sài Gòn Mới phát hành 70-80.000 số mỗi ngày nhiều hơn các báo khác. Ngày 1/1/62, Vàng Kim Thành bán ra 5.450$ 1 lượng, mua vào 5.300$ 1 lạng. Ngày 2/1/62, vé vào tham quan Sở thú Sài gòn, 2$ mỗi người (NĐ 5/BCTNT). Ngày 5/1/62, Khánh thành Viện Dược khoa Đại học, đường Công lý. Ngày 8/1/62, ban hành quy chế Luật sư và Luật sư đoàn (Luật 1/62). Ngày 18/1/62, Ban hành Luật Liên đới Quốc gia, tương trợ cựu chiến sĩ và Cô nhi Quả phụ (Luât 3/62). 

5. Ngày 21/1/62, Bộ Giáo dục xác nhận có vụ chuyển ngân ma, từ tháng 6/61, nhiều chứng chỉ giả đã được tìm ra tại tòa Đại sứ Việt Nam ở Ba Lê. Cuộc điều tra đang tiến hành. Ngày 27/1/62, Lễ phát bằng cho Khoá 1 Phụ nữ Bán quân sự mang tên khoá Quyết Thắng. Ngày 1/2/62, có 5.000 tấn gạo Viện trợ Mỹ được phân phát cho các tỉnh bị lụt miền Tây Nam phần, và Trung Phần. Ngày 1/2/62, khánh thành trường Sư phạm và trường Kỹ thuật Vĩnh Long. Ngày 2/2/62, Nữ cán bộ quân sự có quy chế riêng (NĐ 178/CDV). Ngày 3/2/62, thành lập Ủy ban Trung ương Đặc trách Ấp Chiến Lược, Ủy ban mỗi tuần họp 1 lần, do Cố vấn Ngô Đình Nhu chủ tọa gồm đa số các Bộ trưởng và Cao cấp quân dân chính (SL11/TTP). 

Ngày 18/2/62, trong năm 1961, Việt Nam đã dự 87 Hội nghị quốc tế. Ngày 27/2/62, hai phi cơ Việt Nam ném bom và bắn phá Dinh Độc lập từ 7g15 đến 7g25, phía tay trái Dinh bị hư hại nặng, một chiếc bị Hải quân bắn rơi ở Nhà Bè lúc 7g35, Phi công Phạm Phú Quốc bị bắt, chiếc thứ hai bay thoát sang Cao Mên. Trong Dinh, 1 binh sĩ, và 1 chị bếp tử thương. Bom rơi đúng căn lầu nơi ở của gia đình Cố vấn Ngô Định Nhu, và Phòng giấy của Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần, các nơi nầy bị đổ và cháy. Ngày 28/2/62, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố tình hình Việt Nam vẫn vững. Ngày 6/3/62, Tiểu Công nghệ Việt Nam được phân ra 5 ngành chính với 90 loại nghề (NĐ 107/BKT).

6. Ngày 6/3/62, Hội nghị Kinh tế Việt Nam-Đài Loan ra thông cáo chung tăng liên lạc mậu dịch giữa hai nước. Ngày 11/3/62, khánh thành tượng đài hai bà Trưng ở Công trường Mê Linh, tác phẩm của nhà Điêu khắc Nguyễn Văn Thế giải đệ nhị La Mã. Ngày 12/3/62, Thương cảng Đà Nẳng được cải tổ. (NĐ 62/71/CC). Ngày 13/3/62, Có 132 Sĩ quan được cử đi học chống du kích tại Mã Lai. Ngày 15/3/62, ban hành Sắc luật 7/62 trừng trị đầu cơ vé số kiến thiết. Ngày 31/3/62, Chính phủ Việt Nam gởi Thông điệp cho 92 quốc gia yêu cầu ủng hộ Việt Nam Cộng hòa chống xâm lăng Cộng sản, tố giác Miền Bắc giật dây Cộng sản miền Nam. Ngày 13/4/62, Phong trào Phụ nữ Liên đới được thừa nhận là một Hội Công ích (SL 84/NV). 

Ngày 20/4/62, Khoảng 200 lính Mên tràn qua xã Vĩnh Gia, Tịnh Biên, An Giang, bắt 19 đàn ông, 12 đàn bà, 17 con nít, bắn bị thương 20 người khác, đốt 30 nhà, bắt hơn 100 con bò; Chính phủ Việt Nam cực lực phản đối với Chính phủ Mên. Ngày 25/4/62, Quốc hội Việt Nam lên án vụ tàn sát của lính Mên ở An Giang. Ngày 5/5/62, Các Y sĩ tư ở Việt Nam có thể bị trưng tập để giúp việc Chính phủ trong thời hạn 1 năm, có thể triển hạn (SL 8/62). Cũng ngày 9/5/62 nầy, Hoa Kỳ thuận cấp 2.500 máy Thu thanh cho các Xã. Ngày 10/5/62, thành lập trường Sư Phạm tại Quy Nhơn đào tạo Giáo viên Tiểu học (NĐ 701/GD).Ngày 10/5/62, thành lập trường Sư Phạm tại Quy Nhơn đào tạo Giáo viên Tiểu học (NĐ 701/GD). 

7. Ngày 16/5/62, Các cuộc hội họp quá 20 người, dù hôn, tang, tế đều phải xin phép trước, hoặc khai báo trước. (Luật 10/62). Ngày 17/5/62, Lễ Phật đãn tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn, có hàng chục ngàn người tham gia. Kể từ năm nay, lễ Phật Đãn được tổ chức vào ngày 15 thánh 4 Âm lịch theo Quyết định của Hội nghị Phật giáo Thế giới. Ngày 21/5/62, thành lập Tóa án Quân sự mặt trận tại mỗi Vùng Chiến Thuật (SL 11/62). Ngày 22/5/62, Cấm vị thành niên Việt Nam dưới 18 tuổi, hút thuốc lá, uống rượu trên 12 độ, xem các phim và tấn tuồng đã bị kiểm duyệt cấm. Cấm cả nhảy đầm, đấu võ trục lợi, đồng bóng, phù phép, mãi dâm, phá thai.v.v.(Luật 12/62 Bảo vệ Luân lý). 

Ngày 23/5/62, Tòa án Quân sự đặc biệt xử tử hình 4 Việt Cộng, và phạt khổ sai 8 Việt Cộng can tội khủng bố, thuôc Liên hiệp Sinh viên Học sinh Sài Gòn-Gia Định Ngày 25/5/62, kể từ hôm nay các vũ trường đều bị đóng cửa. Nghị định 772/GD, tổ chức lớp Dự bị Y khoa. Ngày 31/5/62, Tổ chức việc kiến điền và quản thủ điền địa tại các Xã, và các Thành phố (SL 124/CTNT). Ngày 7/6/62, thành lập các trường Trung học Kỹ thuật tại Quy Nhơn và Đà Nẳng (NĐ 954 và 955/GD). Ngày 18/6/62, Tổ chức các trường Sư phạm Sài Gòn, Vĩnh Long, Quy Nhơn. (NĐ 1.006/GD). Ngày 20/6/62, Tân chủ tịch Viện Bảo hiến Đinh Văn Huân làm lễ tuyên thệ. Ngày 27/6/61, các ngành Cảnh sát Công An cải tổ và hợp nhất thành “Cảnh sát Quốc gia” thuộc Tổng Nha Cảnh Sát (SL 146/NV). 

8. Ngày 3/7/62, sửa đổi thuế thổ trạch, theo đó “Tư sản cơ bản cho gia đình được hưởng đặc khoản; Nhà cho thuê giá cao chịu thuế 40% đánh trên phần quá mức (Sluật 13/62). Ngày 5/7/62, tại Sài Gòn, Chính phủ phản kháng việc Chính phủ Lào thừa nhận Bắc Việt, Đại sứ Kỳ Quan Thân ở Vạn Tượng bị triệu về Sài Gòn. Ngày 8/7/62, nhiệm kỳ Dân biểu Quốc hội tăng từ 3 năm lên 4 năm (Luật Hiến pháp 1/62-HP). Ngày 13/7/62, Tổ chức lớp Dự bị Nha khoa (NĐ 1.246/GD). Ngày 14/7/62, Thành lập Uỷ ban Quốc gia nghiên cứu mở mang Hạ lưu vực sông Mê Kong thay thế cho Uỷ ban Phối hơp công tác nghiên cứu ((SL 154/CC/GT). 

Ngày 15/7/62, Phái đoàn Quốc hội do Trương Vĩnh Lễ dẫn đầu sang thăm Đại Hàn,  trường Đại học Hán Thành tặng Ông Lễ Tiến sĩ Danh dự (Docteur Honoris Causa). Ngày 17/7/62, Tượng đồng Hai Bà Trưng tiêu tốn 6 triệu đồng Việt Nam đặt lên bệ ba chân, thay cho tượng xi măng tạm thời, được nhiều người cho là giống hệt bà Nhu, và con gái là Lệ Thuỷ. Ngày 25/7/62, Khánh thành đường bay cho phản lực cơ tại sân bay Tân Sơn Nhất mới mở rộng. Ngày 31/7/62, thành lập tỉnh Quảng Tín, từ một phần tỉnh Quảng Nam, Tỉnh lỵ đặt tại Tam Kỳ (SL 162/NV); Các vụ đại tu bổ, tân tạo không có giấp phép bị trừng phạt nặng, nhà xây bị phá hủy (Luật 16/62).

9. Ngày 10/8/62, Tổng hội Sinh viên Việt Nam được công nhận là Hội viên Tổng hội Sinh viên Quốc tế. Ngày 13/8/62, Thành lập trường Trung học Kỹ thuật Nha Trang (NĐ 1.295/GS). Ngày 16/8/62, Thiếu tướng Nguyễn Khánh họp báo tại Kontum cho biết, hiện có 125.000 đồng bào Thượng tỵ nạn Cộng sản, vì Cộng sản lấy mất thực phẩm của họ, hiện đã định cư được 64.233 người. Ngày 28/8/62 khánh thành Trường Trung học Kỷ thuật tại Đà Nẳng. Ngày 2/9/62, thành lập tỉnh Phú Bổn gồm 3 Quận trên phần đất thuộc Pleiku, Bình Định, và Phú Yên, tỉnh lỵ đặt tại Cheo Reo (Hậu Bổn) (SL 186/NV). 

Ngày 25/9/62 từ nay Quốc hội có thể yêu cầu các Bộ trưởng tới giải thích các vấn đề liên quân đến Bộ mình phụ trách (Luật Hiến pháp 2/62). Ngày 3/10/62, Khánh thành các trường Trung học Kỹ thuật và Sư phạm Quy Nhơn. Ngày 26/10/62 nầy, Tại vườn Tao Đàn Sài Gòn, Triển lãm Quốc tế Hội hoạ và Điêu khắc 20 Quốc gia tham dự, 400 bức tranh và mọt số tượng được trưng bày. Có 4 huy chương vàng, 5 bạc và 10 đồng. Huy chương vàng và danh dự Hội hoạ là Gian phòng dọi nắng của Hoạ sĩ Pháp Legueult. Việt Nam được Huy chương bạc Điêu khắc Cột trụ Hoà bình của Lê Ngọc Huệ; Triển lãm Quốc tế Nhiếp ảnh kỳ III tại Phòng Thong tin Đô thành trưng bày 1.858 ảnh đen trắng, và 99 ảnh màu. 

10. Ngày 27/10/62, Đặc quyền của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà ban hành Sắc luật do tình trạng chiến tranh được gia hạn thêm 1 năm kể từ 19/10/62 (Luật số 18/62). Ngày 10/11/62, Một phi cơ DC3 của hàng không Việt Nam, bị rớt gần Lăng Cô, phía đèo Hải Vân 27 hành khách tử nạn. Đã tìm thấy xác phi cơ và thi thể hành khách bị nạn ở Lăng Cô. Số tiền phải bồi thường là 300.000$ cho mỗi nhân viên, và 609.021$ cho mỗi hành khách nạn nhân (13/11/62). Ngày 1/12/62, Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV khai mạc tại Chùa Xá Lợi, Sài Gòn với 45 Đại diện các Tập đoàn Phật giáo Trung, Nam, Bắc. Ngày 3/12/62, khai giảng tại Thị Nghè khóa 7 Huấn luyện Cán bộ Ấp Chiến Lược. Lần nầy nhiều Dân biểu và Tỉnh trưởng theo học. 

Ngày 8/12/62, Trung tướng Dương Văn Minh thôi giữ chức Tư lệnh hành quân để làm Cố vấn Quân sự Phủ tổng thống; Trung tướng Trần Văn Đôn Tư lệnh Vùng 1 giữ chức Tư lệnh Lục quân vừa mới thành lập. Ngày 14/12/62, Du học sinh và Sinh viên Việt Nam tại Pháp được hưởng quy chế an sinh xã hội của Pháp theo thỏa hiệp giữa 2 Bộ Ngoại giao Việt-Pháp. Ngày 19/12/62, ký kết tại Hán thành thương ước Hàn-Việt. 

11. Ngày 9/1.63, Khánh thành nhà máy đầu nhớt tại nhà Bè sản xuất 1.000 tấn mỗi tháng, đủ cung ứng cho thị trường trong nước. Việt Nam vừa có thêm 9 Thạc sĩ Y khoa. Ngày 15/1/63, Vài ngàn kg pháo được chính phủ phát cho đồng bào Thượng ở Cao nguyên Trung phần để đốt trong dịp Tết Nguyên đán. Ngày 21/3/63, quỷ Chống Cộng đã thu được ngót 30 triệu, đem dùng vào việc xây dựng Ấp Chiến Lược. Ngày 14/2/63, Chế độ đầu tư được quy định với nhiều đặc khoản khuyến khích tư bản ngoại quốc vào Việt Nam đầu tư cho phát triển kinh tế (SL 2/63). Ngày 26/2/63, lập Viện Luật học đối chiếu tại trường Đại học Luật... Ngày 20/3/63, Tại khu Vĩnh Hội Sài Gòn cháy lớn từ buổi chiều tới nữa đêm mới tắt. Hàng ngàn nhà bị thiêu rụi, hàng chục người bị thương nặng. 

Ngày 21/3/63, Nha Thông tin giải thích thuốc phát quang bụi rậm dọc đường lớn để Việt Cộng không có chỗ ẩn nấp và phục kích, không có hại gì cho mùa màng như Việt Cộng đã tuyên truyền. Cùng ngày 21/3/63, Hội đồng Chính phủ họp xét các biện pháp cứu nạn nhân vụ hoả hoạn, phát thực phẩm, lập trại tạm trú, cử một Uỷ ban Liên bộ cứu trợ. Ngày 23/3/63, tổng số nhà bị cháy ở Khánh Hội là 2.893 nhà. Ngày 26/3/63, khánh thành Trại Nhân Trí Dũng ở suối Lồ Ồ, trung tâm Huấn luyện cán bộ Áp Chiến Lược. Ngày 1/4/63, Các đoàn thể, các tỉnh tổ chức lạc quyên giúp nạn nhân vụ cháy Vĩnh Hội. Nhiều Quốc gia cũng gởi giúp đồ vật hoặc tiền. 

12. Ngày 7/4/63, Theo thông cáo đã có 101.514 phụ nữ được huấn luyện bán quân sự. Ngày 8/4/63, Dịch hạch phát hiện nhiều nơi, Viện trợ Mỹ cấp 300.000 liều thuốc chích ngừa. Bộ Y tế bảo không phải là chứng dịch “Peste” mà là bệnh “Pestis”. Ngày 8/4/63, Cải tổ Viện Hối đoái thiết lập ngày 31/12/54. (SL 34/TTP). Ngày 9/4/63, tại Sài Gòn, hơn 300 nhà cháy ở Xóm Chiếu, 100 nóc nhà khác bị kéo sập làm 2 người chết 20 người bị thương, 3 kẻ khả nghị bị bắt. Có tin đồn rằng nhiều bọn khủng bố dùng cả trẻ nhỏ đi châm lữa đốt nhà. Ngày 11/4/63, hơn 1.400 căn nhà cháy trong 3 giờ ở dường Trần Quốc Toản, 30 nhà cháy ở đường Trương Minh Giảng, và 3 vụ cháy khác được dập tắt ở Khánh Hội. 

Ngày 12/4/63, Cảnh sát bắt được 3 tên khủng bố, chuyên đốt nhà và đưa ra trước các nhà báo. Ngày 13/4/63, Mét-tinh lớn đả đảo bọn phá hoại đốt cháy Khu Vĩnh Hội và Xóm Chiếu. Riêng ở Vĩnh Hội, 2.138 gia đình bị thiệt hại. Ngày 17/4/63, lể kỷ niệm Đệ nhất chu niên “Quốc sách Ấp Chiến Lược”. theo tường trình đã lập xong 5.917 Ấp quy tụ 8 triệu dân. Tổng thống Ngô Đình Diệm tuyên bố “Chính sách Chiêu hồi” kêu gọi những người lạc lối trở về xây dựng Xã hội mới. Ngày 23/4/63, tòa án Quân sự đặt biệt xử tử hình 2 kẻ đốt nhà ở Vĩnh Hội. Ngày 26/4/63, Vẫn còn nhiều trường hợp dịch hạch ở Sài Gòn, Nha Trang. Theo Bộ Y tế tới nay có 53 người mắc bệnh, 6 người chết. 

13. Ngày 27/4/63, Dư luận xôn xao đề thi Trung học Đệ nhất cấp bị lộ, một số thí sinh có bài giải sẵn đã bị bắt giữ. Ngày 30/4/63, trường Cao Đẳng Công Chánh được tổ chức lại để đào tạo cả Kỹ sư lẫn Cán sự (NĐ 627/GD). Ngày 3/5/63, Tổ chức Xã và Ấp được quy định lại, theo đó, Hội đồng Xã gồm 4 Hội viên do một cử tri đoàn bầu; Ban trị Sự Ấp với 4 Ủy viên do dân bầu (SL 45/NV). Ngày 7/5/63, Tăng ni Phật tử ở Huế treo cờ Phật giáo chào mừng lễ Phật Đản, Cảnh sát tới hạ cờ. Vài ngàn tín đồ kéo tới Tòa Tỉnh trưởng yêu cầu can thiệp, Tỉnh trưởng giải thích có sự hiểu lầm lệnh cấp trên, và ra lệnh treo lại cờ Phật giáo. 

Ngày 8/5/63, tại Sài Gòn lễ Phật Đản cử hành trọng thể tại chùa Ấn Quang, rất đông người tham dự. Tại Huế, buổi sáng, hàng ngàn người tham dự lễ rước Phật từ chùa Từ Đàm đến chùa Diệu Đế; buổi tối nhiều ngàn Phật tử tới Đài Phát thanh, đón nghe phát thanh lại buổi lễ ban sáng. Cuộc tụ họp bị lực lượng an ninh mạnh tay giải tán: 7 thường dân chết, 1 người bị thương, lực lượng giải tán 5 bị thương. Ngày 9/5/63, Đặt đá xây dựng Trung tâm Y khoa tại đường Nguyễn Trải, Chợ Lớn. Ngày 10/5/63, Tăng ni Phật tử họp ở chùa Từ Đàm, yêu cầu Chính phủ “bãi bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo; cho phép Phật giáo hưởng chế độ đặc biệt như Thiên Chúa giáo chiếu theo Dụ số 10 về Hiệp Hội; chấm dứt các vụ khủng bố; bồi thường cho những người bị nạn. 

14. Ngày 15/5/63, một Phái đoàn Phât giáo gồm 6 Thượng tọa và Đại đức yết kiến Tổng thống Ngô Đình Diệm từ 10g30 đến 13 giờ để bày tỏ 5 nguyện vọng. Đức Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình ra thông cáo, nhắc Giáo dân chỉ được treo cờ của Tòa thánh trong nhà thờ, hoặc trong những cơ sở thuộc Hội thánh. Ngày 16/5/63, họp báo tại chùa Xá Lợi, có Bộ trưởng Công Dân Vụ Ngô Trọng Hiếu, Thượng tọa Thích tâm Châu, nhắc lại 5 nguyện vọng đã đưa lên tổng thống Ngô Đình Diệm trong buổi Hội kiến là: bãi bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo; cho Phật giáo hưởng chế độ ngang hàng với các Hội Truyền giáo Thiên Chúa; chấm dứt khủng bố và các vụ bắt bớ Phật tử; để Tăng ni và Phật tử tự do truyền Đạo và hành Đạo; bồi thường cho các gia đình nạn nhân, và trừng trị nhân viên có lỗi gây đổ máu”. Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu giải thích Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ muốn cho Quốc Kỳ được tôn trọng. 

Ngày 21/5/63, thiết lập khu Kỹ nghệ Biên Hoà (SL 49/KT). Ngày 27/5/63, Bộ Y tế công bố: tại Sài Gòn và Khánh Hoà có bệnh dịch “Pestis”. Ngày 29/5/63, Chính phủ ra thông tri xác nhận cho các Công chức quan điểm về tôn giáo: không kỳ thị; tôn trọng tư do tín ngưởng, chỉ quy định việc treo cờ vì tôn trọng Quốc Kỳ. Ngày 30/5/63, tại Sài Gòn, Lễ cầu siêu cho các nạn nhân ngày 8/5/ ở Huế tại chùa Xá Lợi và chùa Ấn Quang. Các Tăng ni Phật tử tuyệt thực 48 giờ. Từ 14g đến 18 giờ hơn 300 Tăng ni Phật tử biểu tình trước trụ sở Quốc hội, với biểu ngữ đòi thỏa mãn 5 nguyện vọng. Ở Huế, các lực lương an ninh canh giữ chùa Từ Đàm. Có tin điện và nước ở chùa nầy bị cắt. 

15. Ngày 30/5/63, gần 200 giáo sư Đại học, và Khoa trưởng tham gia khóa Huấn luyện Cán bộ “Ấp Chiến Lược” tại Suối Lồ Ồ (Tác giả là một Học viên của Khoá này). Cùng ngày 30/5/63, tại Sài Gòn, Lễ cầu siêu cho các nạn nhân ngày 8/5/ ở Huế tại chùa Xá Lợi và chùa Ấn Quang, các Tăng ni Phật tử tuyệt thực 48 giờ. Từ 14g đến 18 giờ hơn 300 Tăng ni Phật tử biểu tình trước trụ sở Quốc hội, với biểu ngữ đòi thỏa mãn 5 nguyện vọng. tại Huế, các lực lương an ninh canh giữ chùa Từ Đàm. Có tin điện và nước ở chùa nầy bị cắt.

Ngày 1/6/63, Tổng Giám đốc Điền địa Nguyễn Xuân Khương được bổ Đại biểu Chính phủ tại Trung Phần thay Thẩm phán Hồ Đắc Khương, Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, Phó tỉnh trưởng Nội an Thiếu tá Đặng Sĩ, bị triệu về Bộ Nội vụ đợi lệnh. Ngày 3/6/63, vài trăm thanh niên biểu tình ở Bến Ngự, Huế bị giải tán bằng lựu đạn cay mắt. Ngày 4/6/63, thành lập một Ủy ban Liên bộ để giải quyết các vấn đề Phật giáo gồm Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương, Bộ trưởng tại Phủ tổng thống Nguyễn Đình Thuần. Phật tử biểu tình ở Huế có xô xát, một số bị thương. 

16. Ngày 5/6/63, một Thanh tra Trung học, 3 công chức, 1 tuỳ phái Bộ Giáo dục bị bắt giam vì tội bán đầu bài thi Trung học Đệ nhất cấp. Ngày 5/6/63, Ủy ban Liên Bộ nhóm họp với Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo gồm các Thượng tọa Thích Thiện Minh, Thích Tâm Châu, Thích Thiện Hoa, Thích Huyền Quang, Thích Đức Nghiệp. Ngày 7/6/63, Ủy ban Liên phái gởi thư cho Ủy ban Liên bộ khiếu nại việc các chùa ở Huế bị phong tỏa. Ủy ban Liên bộ trả lời “đã cấp lại điện nước cho chùa Từ Đàm, quân đội không chận đường vào chùa nữa. Từ đây, 2 Ủy ban trao đổi rất nhiều thư từ, và mỗi bận đều cho đăng báo. Ngày 10/6/63, theo các tài liệu chính thức số chùa hiện nay trên toàn quốc là 4.766 chùa  trong đó có 1.275 mới xây từ năm 1954, và 1.295 chùa đã trùng tu từ năm ấy. 

Ngày 11/6/63, trước vài trăm Tăng ni tại ngã tư đường Lê văn Duyệt-Phan Đình Phùng, Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu bằng dầu xăng lấy ở một chiếc xe hơi chạy tới. Các nhà báo có chụp nhiều ảnh. Bộ trưởng Ngô trọng Hiếu viết thư cho Thượng tọa Thích Tâm Châu giải thích không hề tuyên bố điều gì vu khống hay công kích Phật giáo. Sau vụ hỏa thiêu, Tổng thống Ngô Đình Diệm gởi thông điệp kêu gọi dân chúng thủ đô bình tỉnh, rằng mọi sự khó khăn sẽ được giải quyết trên “căn bản lương tri và ái quốc, trong thình đoàn kết huynh đệ”; rằng không nên tin có âm mưu trì hoãn giải quyết vấn đề; rằng “sau lưng Phật giáo trong nước, hãy còn Hiến pháp nghĩa là có tôi”. 

17. Ngày 12/6/63, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết từ Huế vô Sài Gòn, Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ mời tới họp với Ủy ban Liên Bộ, Thượng tọa tâm Châu trả lời “sau 5 ngày tuyệt thực Hòa thượng còn mệt”. Ngày 14/6/63, Ủy ban Liên Phái Bảo vệ Phật Giáo và Ủy ban Liên Bộ họp lần thứ hai tại toà nhà Diên Hồng. Hội đồng các Tướng lãnh thông cáo kêu gọi đoàn kết, bình tỉnh, tránh hiểu lầm, đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết, mong các vần đề được giải quyết “trong Tình Huynh đệ”. Ngày 16/6/63, hơn 300 tăng ni biểu tình trước nhà Đại sứ Hoa Kỳ yêu cầu ủng hộ 5 nguyện vọng đề đạt. 

Cùng ngày 16/6/63, vài ngàn người tới chùa Giác Minh dự tang Thượng tọa Quảng Đức, khi biết đám tang được dời lại ngày khác, nhưng không chịu giải tán. Cảnh sát can thiệp bằng lựu đạn cay mắt, xẩy ra xô xát, 251 người bị bắt, 12 Cảnh sát bị thương. Hai Uỷ ban Liên bộ và Liên phái, sau 3 ngày và đêm thảo luận, ra thông cáo chung xác định những điểm đã “thỏa hiệp” về: cách treo cờ Phật giáo và Quốc kỳ; xét lại Dụ số 10 về quy chế Tôn giáo; điều tra các vụ bắt bớ, và khoan hồng với những người đấu tranh cho Phật giáo; dành mọi sự dể dàng cho hoạt động Tôn giáo; trừng trị nhân viên có lỗi, bồi thường các gia đình nạn nhân.

18. Ngày 17/6/63, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đặt tấm bia đá lên đảo Trường Sa, đánh dấu là đất của Việt Nam. Ngày 17/6/63, Đường bị khan hiếm, Bộ Kinh tế phải cho tăng giá, đưởng trắng tinh 18$7 một kí lên thành 31$9, trắng ngà từ 16$5 lên 30$23 (Chợ den 40$). Ngày 17/6/63, Số tiền quyên cho nạn nhân hoả hoạn Khánh Hội, Vĩnh Hội được 10.157.716$. Ngày 17/6/63, sau vụ lộn xộn 16/3/63, tòa Đô Chánh kêu gọi Hòa thượng Hội chủ Phật giáo can thiệp để Phật tử tôn trọng trật tự. Ngày 19/6/63, Ủy ban Liên Phái quyết định hạn chế số Tăng ni và phật tử đi đưa đám Hòa thượng Quảng Đức. Chỉ có chừng 200 người và các nhà báo. Sau khi hỏa thiêu tại lò An Dưởng Địa Phú Lâm, xá lợi của Hòa thượng đựng trong bình và mang về chùa Xá Lợi. 

Ngày 19/6/63, Quốc hội Việt Nam họp xét lại Dụ số 10 về Hiệp hội. Ngày 20/6/63, Các Tăng ni Cổ Sơn Môn họp tại Phú Thọ Hòa ủng hộ chính phủ. Ngày 22/6/63, theo thông cáo của Chính phủ trong số 251 người bị bắt hôm 16/6/63, chỉ còn giữ lại 10 người vì chống nhân viên công lực. Ngày 26/6/63, Thượng tọa Thiện Minh gởi thư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm cho hay thông cáo chung chưa được thi hành, cụ thể: tại Phú Yên, Bình Định.v.v. chính quyền tổ chức Meeting lên án Phật giáo; nhiều chuà ở Quảng Trị vẫn còn bị phong tỏa; tăng ni bị Công An ngăn chặn trên các ngã đường; Thanh niên Cộng hòa sắp tổ chức biểu tình đòi xét lại Thông cáo chung; Cổ Sơn Môn được nâng đỡ để chống lại Tổng hội Phật giáo. 

19. Ngày 28/6/63, Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ trả lời Thượng tọa Thiện Minh rằng: Bộ Nội vụ sẽ ra Nghị định việc treo cờ; Dụ số 10 được áp dụng linh động; 4 Sinh viên bị bắt ở Huế đã được thả; 12 bị bắt ở Sài Gòn sẽ ra tòa; Bộ Nội vụ sẽ kiểm tra các Chùa Làng; hồ sơ tạo mãi được xét mau lẹ; Việc bồi thường đợi điều tra. Ngày 2/7/63, thành lập 7 Nha Cảnh sát Quốc gia, Bắc Trung Nguyên, Nam Trung Nguyên, Cao Nguyên, Đô Thành, Miền Đông Nam Phần, Miền Tiền Giang, Miền Hậu Giang (NĐ 522/NV). Ngày 6/7/63, đến nay có 7.204 Ấp Chiến Lược đã lập xong. Ngày 7/7/63, Nhà Văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc ngũ tự tử để phản đối việc truy tố ông ra trước tòa án.

Ngày 8/7/63, Tòa Án Quân sự đặc biệt tuyên án 19 Quân nhân can vụ 11/11/60 là 13 án tù khổ sai, 6 tha bổng. (Bản Án nầy về sau được Phòng tái thẩm Toà Thượng thẩm Sài Gòn huỷ bỏ do Phán quyết ngày 19/2/1964). Ngày 11/7/63, Tòa Án Quân sự đặc biệt xử 34 Nhân sĩ liên can đến vụ 11/11/60 gồm: Phan Khắc Sửu, Phan Quang Đán, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Tường Tam.v.v Tòa tuyên 20 án cấm cố, 14 tha bổng, Nguyễn tường Tam vô tội (Bản Án nầy về sau được Phòng tái thẩm Toà Thượng thẩm Sài Gòn huỷ bỏ do Phán quyết ngày 19/2/1964).

20. Ngày 12/7/63, Tòa Án Quân sự đặc biệt xử vắng mặt 9 quân nhân và nhân sĩ đã khởi vụ 11/11/60, Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, Thiếu tá Trần văn Đô, Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc, các Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Quốc Tuấn, Luật sư Hoàng Cơ Thụy, và ông Nguyễn Bảo Toàn, tòa tuyên án tử hình. (Bản Án nầy về sau được Phòng tái thẩm Toà Thượng thẩm Sài Gòn huỷ bỏ do Phán quyết ngày 19/2/1964). Cùng ngày 12/7/63 nầy, Đại tá Đỗ Cao Trí được thăng Thiếu tướng, và 106 sĩ quan khác cũng được thăng. Ngày 13/7/63, Tòa Án Quân sự xét xử 19 Nhân sĩ của nhóm Caravell, đã ký giấy đòi cải cách. Tất cả đều được tha bổng.  

Ngày 16/7/63, Tăng ni và Phật tử biểu tình trước nhà Đại sứ Hoa Kỳ từ 9 g đến 11 giờ nêu lý do “Thông cáo chung không được Chính phủ thi hành”. Ngày 17/7/63, Tăng ni và Phật tử biểu tình trước chùa Giác Minh đường Phan Thanh Giản và trước chợ Bến Thành, Cảnh sát can thiệp bắt lên xe, đưa xuống An Dưởng Địa Phú Lâm, đòi các Tăng ni khai lý lịch. Ngày 20/7/63, các tăng ni từ An Dưởng Địa trở về chùa Xá Lợi. Cùng ngày 20/7/63, ký kết thỏa ước Việt-Đức về viện trợ kỹ thuật và tài chánh “vay 50 triệu Đức Mã cho Khu kỹ nghệ An Hòa, Nông Sơn, và 15 triệu để phát triển nông thôn”. Ngày 22/7/63, Ủy ban Liên Phái họp báo tại chùa Xá Lợi phản đối việc không thi hành thông cáo chung và các vụ bắt bớ. Có tin Sư bà Diệu Huệ thân mẩu Đại sứ Bửu Hội tuyên bố sẽ tự thiêu. 

21. Ngày 23/7/63, vài trăm Dân vệ và Thương Phế binh biểu tình trước chùa Xá Lợi. Ngày 24/7/63, Trung tá Trần Thanh Chiêu Thanh Tra Dân vệ Đoàn bị cất chức vì cuộc biểu tình trước chùa Xá Lợi của Dân vệ hôm qua. Ngày 24/7/63, Thành lập Quốc gia Nghĩa Tử cuộc để nuôi con quân nhân bỏ mình vì nước (SL 72/QP). Ngày 27/7/63, Đại tướng Lê Văn Tỵ sang Mỹ chửa bệnh ung thư phổi. Ngày 30/7/63, Lễ Chung thất Cố Hoà thượng Thích Quảng Đức tại chùa Xá Lợi, có đông người đến dự. Ngày 2/8/63, Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đề nghị một lập Uỷ ban Hổn hợp để giải quyết các vướng mắc trong việc thi hành thông cáo chung. Ngày 2/8/63, Quân đội góp 2.120.509$ giúp nạn nhân hoả hoạn Vĩnh Hội, Khánh Hội. 

Ngày 3/8/63, bà Ngô Đình Nhu hiệu triệu Phụ nữ Bán Quân sự khóa III và lên án những vụ đấu tranh về Tôn giáo. Ngày 4/8/63, tính đến nay, 12.211 mẫu ruộng và rẫy đã được trồng trỉa tại các Vùng Dinh Điền Cao Nguyên Trung Phần. Ngày 4/8/63, Đại đức Minh Hương tự thiêu tại Phan Thiết. Ngày 7/8/63, Văn phòng Phó tổng thống thông cáo, sẵn sàng tiếp nhận thân nhân những người bị bắt giữ về vụ Phật giáo. Ngày 8/8/63, bà Ngô Đình Nhu lại tuyên bố gián tiếp trả lời cha bà là Đại sứ Trần Văn Chương, vì theo Đài V.O.A, Đại sứ đã trách bà “thiếu lễ độ” với Phật giáo. Bà nói, nhận là “thiếu lễ độ” nhưng thấy “cần phải lên tiếng” đồng thời cám ơn Đại sứ đã cho bà một dịp để “bày tỏ ý kiến”.

22. Ngày 9/8/63, bà Ngô Đình Nhu lại tuyên bố với báo New York Times “phải quyết liệt đối với cuộc đấu tranh hiện nay của Phật giáo. Ngày 12/8/63, Ban Nha khoa của trường Y khoa Sài Gòn được đổi thành Trường Đại học Nha khoa (SL 63/GD). Ngày 12/8/63, lễ cầu siêu tại chùa Xá Lợi cho Đại đức Nguyên Hương. Sau khi lễ Phật tại chùa Xá Lợi, hơn 12giờ đêm, Nữ sinh Mai Tuyết An 18 tuổi, ngụ ở đường Hùng Vương, Thị Nghè, cầm dao chặt bàn tay trái, phải đưa vào Bệnh viện. Theo dư luận, nữ sinh phản đối bà Nhu đã xúc phạm tới các vị tu hành. Ngày 13/8/63, Đại đức Thích Thanh Tuệ 17 tuổi đã tự thiêu trước chùa Phước Duyên, Hương Trà, Thừa Thiên. Biểu tình lớn tại Huế, và lệnh Giới nghiêm được ban hành tại Thừa Thiên. 

Ngày 14/8/63, họp báo tại chùa Xá Lợi, Thượng tọa Thiện Minh cho biết ba điều kiện tiên quyết để lập Ủy ban Hỗn Hợp: chấm dứt mưu mô phá Phật Giáo; phóng thích các Phật tử còn bị giam; công bố vụ tàn sát ở Huế”. Cũng ngày 14/8/63, Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ trả lời: trong số 23 người bị bắt, chỉ giữ lại 15 người để điều tra, còn thì đã tha hoặc không hề bị bắt. Ngày 14/8/63, Khánh thành Đợt I Quốc gia Nghĩa tử Cuộc, đường Võ Tánh, Tân Sơn Hoà, Sài Gòn. Ngày 15/8/63, Ni cô Diệu Quang, 20 tuổi tự thiêu ở quận Ninh Hòa, Khánh Hòa. Lệnh giới nghiêm ban hành ở Nha Trang. Các Nam công chức phải ở lại công sở, Nữ công chức phải tới Sở làm ngày nghĩ. 

23. Ngày 16/8/63, Chấm dứt chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Huế của Linh Mục Cao Văn Luận, cựu Bộ trưởng Trần Hữu Thế được cử ra thay. Ngày 16/8/63, Đại Đức Thích Tiêu Diêu, tức Thích Thiện Huệ, 71 tuổi tự thiêu tại chùa Từ Đàm, Huế. Ngày 18/8/63, lễ cầu siêu cho các Tăng Ni tử vì Đạo tại chùa Xá Lợi. Rất đông người tham dự. Ngày 19/8/63, Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ cùng nhiều nhà báo và Ủy ban Liên Bộ ra Phú Yên xem xét tình hình Phật giáo. Ngày 20/8/63, biểu tình lớn ở Đà Nẵng và trước chùa Xá Lợi ở Sài Gòn. Lệnh giới nghiêm ban hành ở Đà Nẵng. 

Quá nữa đêm 20/8/63, Cảnh sát Chiến đấu bao tới vây chùa Xá Lợi, xông vào lục soát. Có xô xát kịch liệt. Súng nổ nhiều. Các Tăng Ni bị bắt, nhiều người bị thương. Hòa thượng Thích Tịnh Khiết bị xô ngã, và bị thương ở gần mắt. Các chùa Ấn Quang, Kỳ Viên Tự đều bị khám xét. Ngày 21/8/63 Hội đồng Chính phủ được triệu tập gấp vào lúc gần sáng, Tổng thống Ngô Đình Diệm tuyên bố phải hành động cương quyết, và lãnh trách nhiệm trước lịch sữ, vì có tin Cộng sản sắp tràn vào Thủ đô; đã ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn lãnh thổ, giao quân đội bảo vệ an ninh trật tự (SL84/TTP). Bộ trưởng Ngoại giao Vũ văn Mẩu xuống tóc phản đối Ngô Đình Diệm. Thiếu tưởng Tôn Thất Đính được cử làm Tổng trấn Đô thành Sài Gòn-Gia Định. Cấm đi lại ban đêm từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng. 

24. Ngày 22/8/63, Đại sứ Trần Văn Chương tại Hoa Thịnh Đốn (Hoa Kỳ) bị chấm dứt nhiệm vụ. Tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa Ngô Đình Nhu kêu gọi Thanh niên Cộng hòa làm “rạng tỏ chính sách”. Phi trường Tân Sơn Nhất bị đóng hôm qua, nay lại được mở. Thông cáo được đăng hôm nay rằng “thi hành Sắc lệnh 20/8/63, đêm hôm ấy các chùa Xá Lợi, Ấn Quang, và Theravada đã bị khám xét, một số khí giới và dụng cụ bị tịch thâu. Ngày 24/8/63, Bộ Giáo dục tạm đóng cửa tất cả các trường học ở Sài Gòn Gia Định. Một phái đoàn Tăng ni và báo giới vào Bệnh viện Cộng hòa thăm Hòa thượng Thích Tịnh Khiết. Cả Sư bà Diệu Huệ cũng được đưa về đây. 

Ngày 25/8/63, sinh viên học sinh biểu tình rất đông trước chợ Bến Thành ủng hộ Phật giáo, Cảnh sát can thiệp, có xô xát, một thiếu nữ tên Quách Thị Trang chết, một số bị thương, 1.380 người bị bắt đưa về trại Huấn luyện Quang Trung. Ngày 26/8/63, Một “Ủy ban Liên hiệp Bảo vệ Phật giáo Thuần túy” được thành lập do Thượng tọa Thích Thiện Hòa chủ tọa để chăm lo Phật sự. Ngày 27/8/63, các Đoàn thể và các Tỉnh gởi kiến nghị trung thành và ủng hộ Tổng thống. Ngày 28/8/63, Bộ trưởng Vũ văn Mẫu được nghỉ 3 tháng lên đường hành hương sang Ấn Độ. 

25. Ngày 30/8/63, Theo thông cáo của Tổng trấn Đô thành, hầu hết thanh niên bị bắt giữ đã được trả lại cho thân nhân, chỉ còn 10 người chưa được gia đình tới nhận. Ngày 31/8/63, sáng sớm hôm nay tổng thống Ngô Đình Diệm viếng một ngôi chùa ở Phú Nhuận, Gia Định. Thanh niên Cộng hòa tổ chức một cuộc biểu tình lớn ở Công trường Lê Lợi để ủng hộ Chính phủ và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày 1/9/63, có nhiều tin đồn, ảnh của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị tháo gở ở vài Công sở và thay bằng ảnh Cố vấn Tổng Thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa; rằng Cố vấn Ngô Đình Nhu sắp đảo chánh để thi hành một chính sách độc tài đanh thép hơn. 

Ngày 2/9/63, Tổng Trấn Sài Gòn Gia Định họp báo tại trại Lê văn Duyệt cho biết chỉ còn vài Tăng Ni chưa được thả về, có 2 vị Sư trú ẩn trong Tòa Đại sứ Mỹ. Ngày 4/9/63, theo Thông cáo, chỉ còn 67 Sinh viên học sinh bị giữ. Các trường Trung học được mở cửa lại ở Sài Gòn-Gia Định. Ngày 5/9/63, Có 61 tăng ni bị bắt ở Huế được tha về. Ngày 7/9/63, Các học sinh trường Trưng Vương, Võ Trường Toản.v.v.. chưa chịu vào lớp học. Ngày 10/9/63, bà Ngô Đình Nhu dẫn một Phái đoàn Dân biểu đi dự Hội nghị Quốc tế Nghị sĩ tại Nam Tư, nhân tiện sẽ ghé qua nhiều nước Âu Mỹ để “giải độc” dư luận Quốc tế về vấn đề Phật giáo. 

26. Ngày 12/9/63, Tòa Tổng Giám mục Huế cải chính tin đồn Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục không được bệ kiến Đức Giáo hoàng. Ngày 13/9/63, Thượng tọa Thích Thiện Hoà xác nhận tinh thần tôn trọng kỷ luật của Phật tử. Ngày 14/9/63, chấm dứt tình trạng giới nghiêm trên toàn quốc từ 12 giờ trưa hôm nay (SL104/TTP). Ngày 17/9/63, theo tin Việt Nam Press thì tín đồ Phật giáo nhiều tỉnh ủng hộ Ủy ban Liên hiệp Bảo vệ Phật giáo thuần túy. Ngày 20/9/63, Khối Á-Phi yêu cầu Việt Nam trình bày vấn đề Phật giáo trước Liên Hiệp Quốc. Ngày 24/9/63, Đại sứ Bửu Hội phản đối ý kiến đưa vụ Phật giáo Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc.

Ngày 25/9/63, có tin bà Ngô Đình Nhu tới La Mã bị một số người đón đường phản đối. Ngày 27/9/63, bầu cử Quốc hội Nhiệm kỳ III, đáng lẽ bầu 31/8/63, nhưng hoản lại. Ngày 4/10/63, có tin bà Ngô Đình Nhu qua Ba Lê bị nhiều sinh viên biểu tình phản đối. Ngày 5/10/63, Đại đức Thích Quang Hương tự thiêu trước chợ Bến Thành. Ngày 7/10/63, Quốc hội nhiệm kỳ III khai mạc khóa đầu tiên. Ngày 8/10/63, Dân số Thế giới theo F.A.O hiện có 3.180.000.000 người; Đại sứ Bửu Hội đề nghị với Liên Hiệp Quốc cử một Phái đoàn sang Việt Nam xem xét vụ Phật giáo. Ngày 9/10/63, Liên Hiệp Quốc hoãn cuộc bàn cải vấn đề Phật giáo Việt Nam. 

27. Ngày 10/10/63, bà Ngô Đình Nhu diễn thuyết và họp báo tại Hoa Kỳ, công kích chính sách Mỹ tại Việt Nam, và phủ nhận sự đàn áp Phật giáo. 14/10/63, thành lập tỉnh Hậu Nghĩa, lấy một phần từ các tỉnh Long An, Bình Dương, và Tây Ninh, tỉnh lỵ là Khiêm Cương, ở Bàu Trai củ (SL 124/NV). Ngày 17/10/63, một số ký giả ngoại quốc bị Công An đánh vì chụp hình các vụ rối ren trên đường phố, và các vụ xô xát với Tăng Ni. Ngày 18/10/63, có tin bà Ngô Đình Nhu không được Tổng thống Kennedy tiếp kiến. Ngày 19/10/63, Cảnh sát Đô thành khám phá một tổ “Liên đoàn Sinh viên Học sinh Tự do Việt Nam”. Ngày 21/10/63, cựu Đại sứ Trần Văn Chương chỉ trích bà Ngô Đình Nhu làm rối tình hình Việt Nam. 

Ngày 22/10/63, Quốc hội triển hạn thêm 2 năm nữa việc Ủy quyền cho Tổng thống ban hành Sắc luật (Luật 20/63).. Ngày 23/10/63, có 70 chiến sĩ được coi như là “Anh hùng Diệt Cộng” từ các tỉnh được về dự lễ “Quốc khánh tại Thủ đô”. Cùng ngày 23/10/63, có nhiều tin đồn sẽ phá tòa Đại sứ Mỹ, ám sát nhân viên Ngoại giao Mỹ, và cả Đại sứ Cabot Lodge; Đơn xin từ chức của Bộ trưởng Ngoại giao Vũ văn Mẫu được chấp nhận; Cựu Đại sứ Trần Văn Chương công kích chính sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày 25/10/63, Phái đoàn của Liên Hiệp Quốc vào điều tra vụ Phật Giáo đến gặp tổng thống Ngô Đình Diệm, và họp báo nói qua về nhiệm vụ. 

28. Cũng ngày 25/10/63, bỏ Tòa án quân sự đặc biệt thành lập do Luật 10/59 ngày 5/5/1959 (SL 17/SL); Theo Việt tấn Xã, không có cuộc vận động thỏa hiệp ngầm giữa Sài Gòn và Hà Nội như tin đồn ít lâu nay. Ngày 26/10/63, Cố vấn Ngô Đình Nhu phân trần khá lâu với Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ Phật giáo; Có tin đồn nhân viên Phái đoàn được chiều chuộng đặc biệt bằng đủ mọi cách. Ngày 27/10/63, Đại đức Thích Thiện Mỹ vị sư thứ 7 tự thiêu, trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. Ngày 29/10/63, Phê chuẩn và ban hành Thỏa ước Pháp-Việt về xử dụng Nguyên tử phụng sự hòa bình (SL 135/NG, chữ ký cuối cùng của ông Diệm).

Ngày 30/10/63, Đô thành lập xong các Khóm Chiến Lược trong 4 Quận. Ngày 31/10/63, Cố Vấn Ngô Đình Nhu tiếp kiến Ủy ban Liên hiệp Bảo vệ Phật Giáo; Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc ra Huế viếng Tăng Ni; Cảnh sát ngăn kịp 3 vụ tự thiêu. Cùng ngày 31/10/63, Quốc hội mới mở tiệc tiếp tân. Chuyên viên xây hầm trú ẩn trong Dinh Gia Long cho biết đã hoàn tất công việc, bom hơn 500 cân ném xuống cũng không việc gì, Tổng thống Ngô Đình Diệm sắp xuống coi...

VII. Chấm dứt Chế độ Ngô Đình Diệm.

1. Ngày 1/11/1963, Các công sở nghỉ lễ: Buổi sáng thứ Sáu Ngô Đình Diệm tiếp kiến Đô đốc Mỹ Harry D. Felt, Tổng Tư lệnh Mỹ tại Thái Bình Dương. Xe thiết giáp vẫn canh gác như từ ít lâu nay trước Dinh Gia Long và Dinh Độc Lập đề phòng các cuộc biểu tình; 13 giờ 30, tiếng súng nổ ran ở nhiều nơi trong Đô Thành, Quân đội chiếm đóng Tổng Nha Cảnh sát, Đại Phát thanh, Nha Thông tin, Bộ Nội vụ.v.v. Các Lực lượng tấn công gồm 1 đội Pháo binh 105, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 4 Thủy quân Lục chiến, các Đại đội khác chuyển từ Biên Hòa, Thủ Đức, Long An, Bình Dương; 14g30, có xung đột tại Đài Phát Thanh, nhưng chiến xa của Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống bị đánh lui; 

16g45, Đài Phát thanh loan tin Quân đội đứng lên lật đổ Chế độ Ngô Đình Diệm. Hội đồng các Tướng lãnh yêu cầu ông Ngô Đình Diệm từ chức, và cùng ông Ngô Đình Nhu ra khỏi Việt Nam. hai người không chịu; 20 giờ hơn Quân đội Cách mạng tấn công mạnh vào thành Cộng hòa, và chiếm được thành nầy hồi 22 giờ. Nhiều sinh viên và học sinh được phóng thích; 24 giờ, theo lời kêu gọi trên Đài Phát thanh, 4 Bộ trưởng ra trình diện tai Bộ Tổng Tham mưu. 

2. Ngày 2/11/63, Sự kiện nối tiếp: 3 giờ sáng, quân đội Cách mạng tấn công vào Dinh Gia Long, kịch chiến cho tới 4 giờ sáng thì quân Phòng vệ Dinh đầu hàng. Anh em ông Diệm đã thoát khỏi Dinh đến nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn; Trung tướng Dương Văn Minh Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn quốc, kể từ hôm nay (Quân lệnh số 1); Số người bị đạn lạc là 20 người chết, 145 bị thương tại các bệnh viện Đô thành; 7 giờ sáng, Đài Phát thanh báo tin, Dinh Gia Long đã bị chiếm, hai anh em, ông Diệm, ông Nhu đã tự tử. Buổi trưa có tin hai anh em ông Diệm bị hạ sát chớ không phải tự sát.

Tiếng súng đã im. Dân chúng đổ xô ra các ngã đường đi xem coi, và nghe ngóng tin tức. Phần đông nô nức vui thích như ngày hội; Hàng ngàn người các giới cả phụ nữ, thanh niên, nhất là thanh niên hoan hô Quân đội, mua quà bánh tặng các chiến sĩ, và đua nhau hỏi chuyện; Nhiều đoàn Thanh niên tới phá các trụ sở Việt Tấn Xã, và 9 tòa báo ủng hộ chế độ củ. 26 trụ sở của các cá nhân và đoàn thể ủng hộ chế độ cũ cũng bị phá; Tượng hai bà Trưng, vì giống bà Nhu và con gái bị kéo đổ và chặt đầu lôi qua nhiều đường.

 (Hết chương 7)

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét