Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2023


 

Chương 6: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM (5.6.1948 - 23.10.1955)

(Có 68 trang và 37.499) 

1. Chính quyền Quốc gia Việt Nam là Chính quyền Việt Nam Độc lập thứ ba, sau Chính quyền Đế quốc Việt Nam (11.3.1945), và Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2.9.1945). Nó là kết quả của một quá trình thương thảo lâu dài giữa Chính quyền Pháp, Cao uỷ Đông Dương và Cựu hoàng Bảo Đại gồm: (1) Tuyên bố chung tại Vịnh Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948, giữa Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, ông Bollaert và Thủ tướng Chính phủ Nam Phần Nguyễn Văn Xuân. (2) Hiệp định Việt-Pháp được ký tại điện Elysée ngày 8/3/1949, giữa Tổng thống Cộng hoà Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại, trong đó Tổng thống Pháp tái xác định:

“Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ, dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế, không đưa ra bất cứ cản trở nào về việc Nam Kỳ sát nhập vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt)”.

Đến ngày 23/10/1955, chính quyền Quốc gia Việt Nam trải qua 12 chính phủ: (1) Chính phủ Lâm thời Nguyễn Văn Xuân; (2) Chính phủ Quốc trưởng Bảo Đại; (3) Chính phủ Nguyễn Phan Long; (4) Chính phủ Trần Văn Hữu; (5) Chính phủ Trần Văn Hữu Cải tổ; (6) Chính phủ Trần Văn Hữu Cải tổ lần 2; (7) Chính phủ Nguyễn Văn Tâm; (8) Chính phủ Nguyễn Văn Tâm Cải tổ; (9) Chính phủ Nguyễn Phúc Bữu Lộc; (10) Chính phủ Ngô Đình Diệm; (11) Chính phủ Ngô Đình Diệm Cải tổ; Và, (12) Chính phủ Ngô Đình Diệm Cải tổ lần 2.

 

1. CHÍNH PHỦ LÂM THỜI NGUYỄN VĂN XUÂN27.5.1948 - 1.7.1949.

I. Bối cảnh thành lập.

1. Ngày 20/5/48, Một Hội nghị đại diện các đảng phái và các Phần trong nước, nhóm họp tại Sài Gòn gồm: Hội đồng Thẩm nghị Trung Phần; Hội đồng Chấp chánh Bắc Phần và Trung Phần; Đại biểu các đoàn thể Chính trị, và các Xu hướng Lý tưởng như Đặng Hữu Chí, Hà Xuân Hải, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, Nguyễn Khoa Toàn, Trần Quang Vinh, Hà Xuân Tế, Lê Tấn Nẫm, Trần Thiện Vàng, Nguyễn Khắc Vệ, Đỗ Hữu Thinh, Phạm Văn Hai, Đỗ Quang Giai, Lương Danh Môn, Nguyễn Văn Tuế, Nguyễn Văn Tỵ, Ngô Quốc Côn, Nguyễn Thúc Loan, Phạm Đình Thuyên, Nguyễn Thức, Ngô Khánh Thực, Trương Vĩnh Tống, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Văn Dắn.v.v… Sau khi nghe Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân giải bày, và sau khi nhận bức chiếu thư của Cựu hoàng Bảo Đại “kính cẩn đồng thanh hưởng Thánh ý” và bầu Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam. 

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Nguyễn Văn Xuân

(1892-1989)

Chủ tịch Hội đồng Tổng trưởng Quốc phòng

Thiếu tướng

2

Trần Văn Hữu

(1895-1985)

Phó Chủ tịch, Quốc vụ khanh kiêm Tổng Trấn Nam Phần

Kỹ sư Canh nông Pháp

3

Phan Văn Giáo

(1901-?)

Quốc vụ khanh kiêm Tổng Trấn Trung Phần

Dược sỉ

4

Nghiêm Xuân Thiện

(1909-2003)

Quốc vụ khanh kiêm Tổng Trấn Bắc Phần

Kỹ sư Cambridge 

5

Lê Văn Hoạch

(1896-1978)

Quốc vụ khanh 

Bác sĩ Pháp 1923

6

Nguyễn Khoa Toàn

(1898-1965) 

Tổng trưởng Nghi lễ Giáo dục

Sư phạm Pháp 

7

Nguyễn Hữu Trí

(1903-1954)

Tổng trưởng Nội vụ

Cử nhân Tổng đốc.

8

Nguyễn Khắc Vệ

(1897- ?)  

Tổng trưởng Tư pháp

Tiến sĩ Luật, G. sư Paris

9

Nguyễn Trung Vinh

Tổng trưởng Kinh tế Tài chánh

10

Nguyễn Văn Tỷ

Tổng trưởng Công tác và Kế hoạch

11

Phan Huy Đán

(1918-2004)

Tổng trưởng Thông tin, Tuyên truyền, Báo chí

B.sỉ Harvard Mỹ

12

Trần Thiện Vàng

Tổng trưởng Canh nông

13

Đặng Hữu Chí

Tổng trưởng Y tế

Bác sĩ

14

Trần Quang Vinh

 (1897-1975)

Quốc vụ khanh tùng Bộ Quốc Phòng

Thông phán Pháp

15

Đinh Xuân Quảng

(1909-1971) 

Thứ trưởng tùng Dinh Chủ tịch

Cử nhân Luật, 

16

Hà Xuân Tế

Thứ trưởng tùng Bộ Giáo dục

III. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 24/6/48, trước Viện Lập pháp, Hà Ứng Khâm tuyên bố, Cộng quân của Mao đông và mạnh gấp năm lần (1.500.000 quân, và 22.800 đại bác) so với khi Nhật mới đầu hàng. Ngày 24/6/48, Tư lệnh Nga phong toả Tây Bá Linh, nơi có quân Anh, Pháp Mỹ chiếm đóng. Ngày 28/6/48, Anh, Pháp, Mỹ lập cầu không vận để tiếp tế Tây Bá Linh nơi 2.500.000 cư dân, số lượng hàng hóa trên 5.000 tấn/ngày. Đồng Minh cũng ngăn chận các lối vào Đông Bá Linh.Ngày 17/7/48, Nam Cao Ly ban hành Hiến pháp, là một nước Cộng hòa độc lập. Ngày 20/7/48, Lý Thừa Vãng được Quốc hội bầu làm Tổng thống. 

Ngày 12/8/48, Hoa Kỳ thừa nhận Cộng hoà Nam Cao Ly. Ngày 15/8/48, Tổng tư lệnh Hoa Kỳ tại Nam Cao Ly chuyễn giao chủ quyền nội trị cho Chính phủ Nam Cao. Ngày 7/10/48, quân Mao tiến chiếm Trường Xuân và Hoa Bắc. Ngày 17/10/48, Tướng Lâm Bưu chỉ huy 179.000 Cộng quân tấn công và chiếm đóng Trịnh Châu, bắt 100.000 tù binh Quốc Dân đảng. Ngày 1/11/48, quân Mao tiến chiếm Phụng Thiên, kiểm soát toàn thể Mãn Châu. Ngày 10/12/48, Bà Tưởng Giới Thạch sang Mỹ yết kiến Tổng thống Truman, trình báo tình hình nguy khốn của Quốc quân, và cầu viện. Ngày 16/12/48, Pháp thừa nhận nền độc lập của Cao Mên trong Liên Hiệp Pháp. 

2. Ngày 21/12/48, sau khi nghe đặc phái viên Hoffmann phúc trình tình hình Trung Hoa, Tổng thống Mỹ Truman quyết định “đình chỉ viện trợ kiến thiết” cho Chính phủ Tưởng Giới Thạch. Ngày 30/12/48, quân Cộng của Mao đã thắng ở khắp Hoa Bắc, và tràn xuống sát sông Dương Tử. Ngày 18/1//1949, Trung Cộng thừa nhận Chính phủ Hồ Chí Minh. Ngày 21/1/1949, Tưởng Giới Thạch từ chức tổng thống, và lui về Lư Sơn. Ngày 22/1/49, Tàu Cộng chiếm đóng Bắc Kinh. Bà Tống Mỹ Linh tức bà Tưởng Giới Thạch lại sang cầu viện Hoa Kỳ. Ngày 31/1/1949, Hồ Chí Minh thừa nhận Chính phủ Trung Cộng. 

Ngày 1/2/49, theo Bộ Quốc phòng Hoa kỳ, Quốc quân Trung hoa, sau nhiều trận đại bại đã bị thiệt hại 1.223.000 người, mất 400.000 súng, trong dó có 140.000 súng Mỹ, với 20 công binh xưởng lớn. Ngày 26/2/1949, lãnh tụ khuynh tả Pridi lại mưu đảo chánh ở Thái Lan, nhân đó Thủ tướng Phibul Songgram loại thêm một số chính khách đối lập. Ngày 7/3/49, hơn 4.000 Cộng quân (2.500 quân Mao, và 2.500 quân Hồ) bao vây hai đồn quân Pháp tại Lạng Sơn, nhưng Pháp giải vây được. Ngày 18/3/1949, sau 1 năm thảo luận các nước Tây Âu và Hoa Kỳ đồng ý nội dung Minh ước Bắc Đại Tây Dương gọi tắc NATO để phòng thủ chung, chống lại Công sản Nga Xô. 

3. Và, ngày 4/4/49, chính thức ký Hiệp ước NATO gồm 12 nước Tây Âu và Hoa Kỳ. 20/4/1949, Cộng quân của Mao đã vượt qua sông Dương Tử tràn xuống Hoa Nam. Ngày 23/4/49, quân Tàu Cộng chiếm Nam Kinh. Ngày 5/5/1949, sau 1 năm xung đột, Nga và Mỹ, Anh, Pháp đã thỏa thuận chấm dứt phong tỏa Tây Bá Linh. Ngày 2/6/49, Tướng Diêm Tích Sơn lập Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, lên thay Tướng Hà Ứng Khâm. Ngày 2/6/49, quân Mao đã tràn xuống Hoa Nam.    

IV. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 23/5/48, Cao ủy Pháp ghi nhận sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam. Ngày 5/6/1948, trên chiến hạm Duguay Trouin tại Hạ Long, công bố Tuyên ngôn Pháp-Việt theo đó, Pháp long trọng thừa nhận Việt Nam độc lập và thống nhất, Việt Nam tuyên bố gia nhập Liên hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết. Độc lập của Việt Nam là không giới hạn, ngoại trừ giới hạn trong Liên hiệp Pháp. Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân kêu gọi quốc dân đoàn kết, bày tỏ tinh thần với các quý bạn người Pháp. Ngày 14/6/48, Chính phủ Quốc gia ban hành Sắc lệnh số 5 tổ chức: Mỗi Phần thuộc một Tổng Trấn, có cơ quan Hành chánh, Hội nghị và ngân sách riêng. Tổng Trấn có chân trong Hội đồng Chính phủ. 

Ngày 15/8/48, Hội đồng Nam Kỳ yêu cầu Quốc hội Pháp chuẩn y Thoả ước Hạ Long. Ngày 19/8/48, Quốc hội Pháp thảo luận về thỏa hiệp Vịnh Hạ Long. Nhiều quan điểm khác nhau, một vài đảng không chấp thuận. Ngày 25/8/1948, Bảo Đại báo cho phía Pháp biết ông sẽ không về nước nếu chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ không bị hủy bỏ. Yêu sách nầy, khiến một số Bộ trưởng ở Paris phát biểu: "thật sự hắn đã bắt đầu bất chấp cả chúng ta"rằng Bảo Đại không phải là “một tên bù nhìn, một vua hộp đêm" như mọi người vẫn tưởng…Ngày 20/10/48, Leson Pignon được cử làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương. 

2. Ngày13/2/1949, Cựu hoàng Bảo Đại, Thủ tướng Trần Văn Hữu hội đàm với Cao ủy Đông Dương Leson Pignon, và Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Coste Floret về vấn đề thỏa ước Việt-Pháp. Ngày 21/2/49, dự thảo Thỏa ước Việt-Pháp được gởi lên Hội đồng Chính phủ Pháp rà soát và bổ sung. Ngày 2/3/49, còn mộtvấn đề gay go nhất trong cuộc đàm phán là Quy chế Nam Kỳ, Chính phủ dự định lập một Hội nghị Địa phương Nam Kỳ để định đoạt số phận Nam Kỳ, đưa ra Hội nghị Liên Hiệp Pháp xét duyệt. 

Ngày 8/3/1949, tại điện Elysée, trước sự hiện diện của Tổng thống Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại, một Thỏa ước Việt-Pháp được ký kết, theo đó, Pháp thừa nhận Việt Nam: Có tổ chức hành chánh riêng, tư pháp riêng, tài chánh riêng, quân đội riêng; Có quyền quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á; Pháp sẽ ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc; Việt Nam hứa sẽ tôn trọng quyền lợi kinh tế văn hóa của Pháp; Cho phép Pháp sử dụng các căn cứ quân sự; Cử đại diện vào Hội nghị, và Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp; Nam Kỳ sẽ tuỳ ý định đoạt số phận, nếu muốn tái nhập Việt Nam.

3. Ngày 9/3/49, sau một ngày bàn cải Hội nghị Liên Hiệp Pháp chấp nhận dự án lập Hội nghị Nam Kỳ của Chính phủ. Ngày 10/3/49, Hội đồng Cộng hoà Pháp đòi thay đổi một số điều khoản. Nhưng Hạ nghị viện Pháp lại cứ chấp thuận dự án đã xét với 348 thuận, 202 nghịch. Hội nghị Địa phương Nam Kỳ được thành lập gồm 64 người: 16 Hội viên Pháp và 48 Hội viên Việt, với một nhiệm vụ duy nhất là giải quyết vấn đề Nam Kỳ Tự trị hay Sáp nhập Quốc gia Việt Nam. Ngày 19/4/49, Hội nghị Địa phương Nam Kỳ gồm 26 Hội viên Pháp, 48 Hội viên người Việt nhóm họp chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là giải quyết việc “Nam Kỳ vẫn Tự trị hay sáp nhập nào Quốc gia Việt Nam”.

Đến ngày 23/4/49, Hội nghị vẫn tranh luận gay go, trong khi đó thì Cựu hoàng Bảo Đại cho biết chỉ chịu về nước nếu “Nam Kỳ tái nhập vào Việt Nam”. Hoàng thân Bửu Lộc can thiệp nhân danh Cựu hoàng rằng “Nam Kỳ sẽ tuỳ ý tự quyết, nếu một ngày kia Việt Nam thay đổi mối liên hệ với Liên Hiệp Pháp. Cuối cùng, ngày 24/3/49 Hội nghị biểu quyết với đa số phiếu “tái nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam”. Ngày 3/6/49 Quốc hội Pháp chuẩn y sự sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam. 

4. Ngày 14/6/49, tại Tòa Đô Sảnh, Cao Ủy Pignon và Cựu hoàng trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée. Sau đó, Cựu hoàng hiệu triệu quốc dân, tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được Tổng tuyển cử, và tạm giữ danh hiệu Hoàng đế, để có một địa vị quốc tế hợp pháp, nhưng rồi ra quốc dân sẽ định liệu về Hiến pháp. 

V. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 1/12/48, các Vùng do quân đội Pháp kiểm soát ở Bắc Phần gồm: các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh lỵ Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng phụ cận. Ngày 27/3/49, nhiều thổ phỉ Tàu tràn vào cướp phá ở Moncay. Bị Pháp đánh lui. 

VI. Những việc đã làm.

1. Ngày 2/6/1948, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành Hiến chương Lâm thời, gọi là Pháp quy Lâm thời (Statut provisoire): Quốc kỳ: cờ vàng ba sọc đỏ; Quốc ca: Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước; Hội nghị Lâm thời Việt Nam: sẽ do Chính phủ chỉ định; Mỗi Phần do một Tổng Trấn cai trị, và có Hội nghị Lâm thời địa phương (sắc lệnh số 3). Ngày 14/6/48, chính phủ ban hành Sắc lệnh số 5 tổ chức: Mỗi Phần thuộc một Tổng Trấn, có cơ quan Hành chánh, Hội nghị và ngân sách riêng. Tổng Trấn có chân trong Hội đồng Chính phủ.

Ngày 25/6/48, chính phủ ban hành Sắc lệnh số 6, lập “Tối cao Tư vấn Viện” gồm một số Tổng trưởng, chủ tịch các Hội nghị, và một số nhân sĩ giúp Thủ tướng điều hành Chính phủ. Ngày 2/7/48, Thiếu úy Vệ binh Nam Phần Nguyễn Khánh được thăng Trung úy, và Sĩ quan tập sự Trần Thiện Khiêm được thăng Thiếu úy. Ngày 4/7/48, các Phủ Tổng Trấn được thiết lập tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ngày 16/7/48, thành lập các các Tòa án đệ nhị cấp (Nghị định số 5). Ngày 19/7/48, Tổng trấn Trung phần, lập trại An trí những người có hại cho an ninh quốc gia. 

2. Ngày 20/7/48, Đại úy Lê Văn Tỵ được bổ Chánh Võ Phòng của Thủ tướng, Trung úy Trần Tử Oai Phó Võ Phòng, Trung úy Trần Văn Đôn Trưởng Phòng An Ninh. Ngày 2/8/48, Sắc lệnh số 48/SG thiết lập một “Ty Giám đốc Cảnh sát và Mật thám Quốc gia”. Ngày 11/8/48, Cai trị viên Pháp André Bauvais bổ làm Đổng lý Văn phòng Thủ tướng, Đổng lý thứ hai là Thái Lập Thành. Ngày 23/8/48, Chỉ Dụ 63/SG Thủ lãnh Bình Xuyên Lê Văn Viễn được đồng hóa Đại tá tạm thời, và đặt thuộc quyền Phó thủ tướng Tổng Trần Nam Phần Trần Văn Hữu. 

Ngày 8/10/48, một kỳ thi Trung học đệ nhất cấp được mở tại Hà Nội vào ngày 28/10/48. Ngày 22/10/48, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trợ cấp 100.000$ cho nạn nhân trận bảo ở Bắc phần. Ngày 11/11/48, Hộ pháp Phạm Công Tắc, giáo sư Trương Vĩnh Tống, Hà Xuân Hải, và cựu Tổng đốc Vũ Ngọc Oánh được cử vào Tối cao Tư vấn Viện. Ngày 29/11/48, một kỳ thi Tú tài Việt Nam đươc tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn vào ngày 20/12/48. Ngày 1/12/48, một Trường Võ Bị đào tạo Sĩ quan Hiện dịch Việt Nam được thiết lập tại Huế. Ngày 20/12/48, một kỳ thi Tú tài Việt Nam đươc tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn. Trước đó, ngày 28/10/48, một kỳ thi Trung học đệ nhất cấp được mở tại Hà Nội.

3. Ngày 14/2/49, Các bệnh viện Hà Nội và Nha bào chế Trung ương được trả lại cho Bộ Y tế Việt Nam. Ngày 8/3/49, thành lập một Uỷ ban để nghiên cứu quy chế công chức Việt Nam, nhưng phải trù liệu cho phù hợp với những điều khoản sắp ký kết với Pháp. Ngày 13/4/49, Sắc lệnh số 66/SG kể từ ngày 1/5/49, Nghĩa Dũng Binh Bắc Phần, Việt Binh Trung Phần, Vệ Binh Nam Phần được biến cải mang tên mới là “Vệ Binh Việt Nam Bắc Phần”, “Vệ Binh Việt Nam Trung Phần”, “Vệ Binh Việt Nam Nam Phần”. Ngày 21/4/49, bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội  được giao về cho chính phủ Việt Nam.

Cùng ngày 21/4/49, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành Sắc lệnh số 66/SG kể từ ngày 1/5/49, Vệ Binh Nam Việt (thành lập tháng 10 năm 1946); Việt Binh Đoàn Trung Việt (thành lập tháng 4 năm 1947); Bảo Chính Đoàn Bắc Việt (thành lập tháng 7 năm 1948) được cải đổi, mang tên mới “Vệ Binh Việt Nam Nam Phần”; “Vệ Binh Việt Nam Trung Phần”; “Vệ Binh Việt Nam Bắc Phần”. Ngày24/4/49, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, và nhiều nhân vật chính trị sang Singapore đón Cựu hoàng, và ngày 28/4/1949, Cựu hoàng Bảo Đại về tới Đà Lạt. Ngày 4/5/49, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân đươc thăng Trung tướng vì đã có công trạng “đặc biệt với Pháp và Việt Nam”. Ngày 30/5/49, tại Ba Mê Thuột, nhiều đại diện sắc dân sơ cước làm lể tuyên thệ trung thành với Cựu hoàng Bảo Đại. 

4. Ngày 3/6/49 Quốc hội Pháp chuẩn y việc sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam. Ngày 10/6/49, Các Bệnh viện Phủ Doãn (Yersin) Bạch Mai, Nhà thương chữa mắt Hà Nội được tổ chức thành một Liên đoàn Bệnh viện thuộc Bộ Y tế. Ngày13/6/49, Cựu hoàng Bảo Đại từ Đà Lạt về Sài Gòn. Ngày 14/6/49, tại Tòa Đô Sảnh, Cao Ủy Pignon và Cựu hoàng trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée. Sau đó, Cựu hoàng hiệu triệu quốc dân, tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức Tổng tuyển cử, và tạm giữ danh hiệu Quốc trưởng, để có một địa vị quốc tế hợp pháp, nhưng rồi ra quốc dân sẽ định liệu về Hiến pháp. Ngày 16/6/49, Phủ Toàn quyền củ ở Hà Nội được trả về Việt Nam, thành “Biệt Điện Quốc trưởng”. 

VII. Xung đột giữa Lê Văn Viễn và Nguyễn Bình.

1. Sách Phật giáo Hoà Hảo trong lòng Lịch sử Dân tộc, viết về Lê Văn Viễn như sau: Ngày 15/5/1948, Văn phòng Bảy Viễn được một mật điện của Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Nam bộ (UBKCNB) mời “anh Bảy” Tư lịnh Liên khu Bình Xuyên, đến họp với Nguyễn Bình, Ủy viên Quân sự UBKCNB tại chiến khu Đồng Tháp Mười. Ngày 20/5/48, Bảy Viễn rời rừng Sát đến Đồng Tháp phó hội, với một phái đoàn tùy tùng và một đơn vị Bình Xuyên võ trang 200 tay súng. 

Ngày 28/5/48, Bảy Viễn và và hai nhân vật tín cẩn đến chỗ họp. Phiên họp bắt đầu. Tướng độc nhãn Nguyễn Bình mở lời: Bây giờ ta xét đến vấn đề tổ chức quân sự và lãnh thổ. Từ khi đồng chí Bảy Viễn được bổ nhiệm làm Khu trưởng Chiến khu 7, đồng chí không còn là Tư lịnh Bình Xuyên hợp tác với kháng chiến nữa, mà là một Sĩ quan cao cấp của quân đội cách mạng. Có nghĩa đồng chí phải tuân hành mệnh lệnh của Uỷ ban Kháng chiến Nam bộ, và Ủy viên Quân sự. Chúng ta không thể chống giặc mà không thống nhứt hệ thống. Mọi đặc điểm riêng không còn tồn tại nữa.

2. Phía Bảy Viễn, một vị đại diện đứng lên xin nói: Tôi xin trình bày cho rõ một điểm. Tổ chức Bình Xuyên không đợi đến khi Trung tướng Nguyễn Bình tới chiến trường Nam Bộ mới bắt đầu chiến đấu. Từ ba mươi tháng nay, chúng tôi đã đánh nhau với Pháp và đã có hơn 300 chiến sĩ hy sinh tại các mặt trận. Suốt 1.000 ngày chiến đấu đó, chúng tôi không hề nhận được của Cục quân nhu Việt Minh một hột gạo tiếp tế, một con cá khô hay một khảu súng, một viên đạn nào cả. Không một chiến sĩ Bình Xuyên nào được lãnh một xu lương bổng. Cả UBKCNB lẫn Quân ủy không ai cung cấp cái gì cho Bình Xuyên… 

Tướng Nguyễn Bình lạnh lùng nói: “Các đồng chí đã có Maurice Thiên và người Tàu Chợ Lớn tiếp tế tiền bạc và nhu cầu rồi”! “Đúng vậy, chúng tôi phải thâu thuế trong khu vực chúng tôi kiểm soát, cũng như các đồng chí thâu thuế trong khu vực do quý cơ quan kiểm soát”! “Vậy đồng chí còn than phiền điều chi?” “Chúng tôi không than phiền, mà chỉ nói cho rõ vấn đề”. Tất cả chúng tôi đều tin tưởng nơi sự sáng suốt và lòng can đảm của đồng chí. Nhưng chúng tôi không hài lòng về cung cách đồng chí đối xử với Bình Xuyên chúng tôi, đồng chí không hề đề nghị giúp đỡ gì chúng tôi, mà chỉ hạ lịnh bắt chúng tôi phải thi hành. 

3. Tướng Nguyễn Bình cười gằn: Các đồng chí có tuân hành mệnh lệnh của tôi đâu, đồng chí hiểu chớ!Đồng chí nói sai rồi. Tất cả những nhiệm vụ mà đồng chí chỉ thị, chúng tôi đã thi hành trọn vẹn. Chúng tôi chỉ từ chối sự kiểm soát của những chánh trị viên mà đồng chí gửi tới, đồng chí có hiểu lý do tại sao không? “Tôi muốn nghe đồng chí nói rõ” Lời của Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ chủ toạ! “Đây là sự thực. Chúng tôi nghĩ rằng các chánh trị viên không có gì để dạy dỗ chúng tôi. Chúng tôi đã ý thức cầm súng chiến đấu vì nền độc lập của tổ quốc, và để đòi tự do. Chúng tôi không chiến đấu cho một chế độ đảng trị, hay để củng cố uy quyền lãnh đạo đã nhẫn tâm tàn sát đồng đội một cách ác độc hơn là đối với quân thù”…

Tướng Nguyễn Bình đã đặt tay lên bá súng lục đeo bên hông gằn tiếng hỏi: “Đồng chí muốn ám chỉ ai?”. “Là đồng chí Nguyễn Bình” đúng vậy! Tướng Nguyễn Bình vụt rút súng ra khỏi vỏ. Phía bên Bình Xuyên, người chỉ huy đội hộ vệ cũng lên cò cây tiểu liên tự động Thomson, nhắm ngay vào Nguyễn Bình, xin “Trung tướng bình tĩnh lại”!!! Vị Chủ tịch UBKCNB nhìn người chỉ huy Bình Xuyên, thấy nét mặt cương quyết, ngón tay đặt sẵn trên cò “sẵn sàng nổ súng”. Ông ta run giọng can gián: Tất cả bình tĩnh lại. Chúng ta đều là anh em đồng chí cả…Không khí bớt nặng nề, đôi bên bỏ súng xuống. Viên chủ tịch nói: “Đồng chí vừa phát biểu những điều kết tội, vậy đồng chí có thể chứng minh cho rõ trắng đen không”? 

4. Tức thì Bảy Viễn đứng lên tiến tới phía trước, bên hông đeo tòn ten khẩu súng lục, tôi xin nói. Và, Bảy Viễn nhìn thẳng về phía Nguyễn Bình: “Nếu tôi phải kể hết mọi tội ác mà đồng chí đã phạm đối với các chiến sĩ quốc gia, thì phải nói cả giờ đồng hồ mới hết. Tôi chỉ muốn nói đến một vụ: Tại sao đồng chí ám hại Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ”? “Đó là kẻ lúc nào cũng mưu tính diệt Cộng Sản và cá nhân tôi, cho nên phải tiêu diệt”, Nguyễn Bình đáp! “Nói láo”. Bảy Viễn gầm lên. Nguyễn Bình cũng nổi giận đùng đùng. Chủ tịch UBKCNB phải can gián. 

Bảy Viễn lại lên tiếng: “Đồng chí tự tin bởi đồng chí nghĩ rằng kẻ khuất mặt không thể nói lên sự thật được. Nhưng còn tôi đây, tôi còn sờ sờ đây, thì tôi phải nói. Tôi kết tội đồng chí đã hai lần âm mưu ám sát chính tôi”. Nguyễn Bình bậm môi cười, phản công: “Không thể kết án vô bằng chứng như thế. Tôi thách đồng chí trưng bằng cớ ra đây”. “Đồng chí lầm rồi: Tôi đang nắm trong tay một bằng cớ còn hùng biện hơn là nhân chứng nữa. Đó là tài liệu do chính tay đồng chí Nguyễn Bình ký tên chỉ thị cho ban ám sát”Bảy Viễn rút trong túi ra một mảnh giấy gấp tư, đã lấy được trong người của tên sát thủ năm 1947, và đặt tờ giấy đó lên mặt bàn. 

5. Nguyễn Bình lặng lẽ mở tấm giấy, nét mặt mờ đi, giận đến run lên. Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ cầm lấy tờ giấy, và chính ông cũng giận run. Một bầu không khí im lặng nặng nề đè trên phòng họp. Viên Chủ tịch quay sang hỏi Nguyễn Bình: Có phải đây là chữ ký và con dấu của đồng chí không? Nguyễn Bình quay mặt đi, nghiến răng nói: “Chính hắn đã nhiều lần mưu sát tôi, đoàn hộ vệ của tôi đã chết về tay hắn”.Viên Chủ tịch nói nhỏ:Chuyện này quan trọng lắm, phải báo cáo về Trung Ương. Yêu cầu các đồng chí chờ tôi.

Bảy Viễn không trả lời, từ từ đi ra khỏi phòng họp. Trên đường từ Đồng Tháp trở về Rừng Sát, Bảy Viễn và đoàn tùy tùng bị phục kích trong đêm tối. Nhưng vỏ quít dày có móng tay nhọn, Bình Xuyên đã đề phòng chuyện đó, biết rằng thế nào Nguyễn Bình cũng làm như thế, cho nên họ đã thoát vòng phục kích của Trung đoàn 306 do chính Nguyễn Bình bố trí…Sau lần đụng độ này, Bình Xuyên biết không còn cách nào cộng tác với Việt Minh được nữa, cho nên tìm cách liên lạc với Saigon, và ngày 17-6-1948, Lê Văn Viễn cùng toàn bộ binh sĩ Bình Xuyên về hợp tác với Chánh phủ Quốc gia của Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân. Lê Văn Viễn được Tướng De la Tour gắn lon Đại tá. (Hết trích)

VIII. Từ chức Thủ tướng.

Ngày 21/6/49, công bố Thoả ước Elysée 8/3/1949. Ngày 1 tháng 7 năm 1949, chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam tấn phong Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn xin từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố tạm kiêm nhiệm chức Thủ tướng, và cử nguyên Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. CHÍNH PHỦ QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI: 1.7.1949 - 21.1.1950.

I. Bối cảnh thành lập.

Sau khi Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân từ chức, ngày 1/7/1949, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Sắc lệnh số 1/QT/ SL thành lập Chính phủ Quốc gia Việt Nam chính thức. Quốc trưởng tạm kiêm nhiệm chức Thủ tướng Chính phủ.

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Cựu hoàng Bảo Đại

Quốc trưởng kiêm Thủ tướng

Khoa học Chính trị Pháp

2

Nguyễn Văn Xuân

Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng

Trung tướng Pháp

3

Nguyễn Phan Long

(1889-1960)

Tổng trưởng Ngoại giao

Đại hoc Pháp, Nhà báo

4

Nguyễn Khắc Vệ

Tổng trưởng Tư pháp

G.sư trường Luật Paris

5

Trần Văn Văn

(1907-1971)

Tổng trưởng Kinh tế, và Kế hoạch

Cao đẳng TM

Paris (HEC)

6

Vũ Ngọc Trân

Bộ trưởng Phủ Thủ tướng kiêm Nội vụ

7

Dương Tấn Tài

Bộ trưởng Tài chánh

8

Lê Thăng

Bộ trưởng Ngoại giao

9

Trần Quang Vinh

Bộ trưởng Quốc phòng

10

Hoàng Cung

Bộ trưởng Thương mại, và Kỹ nghệ

11

Phan Khác Sửu

(1905-1970)

Bộ trưởng Canh nông, Xã hội, Lao động.

Kỹ sư Canh nông, Pháp

12

Trần Văn Của

Bộ trưởng Công tác, Giao thông. Kiến thiết.

13

Phan Huy Quát

(1908-1979)

Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục

Bác sĩ, Tiến sĩ Y khoa

14

Nguyễn Tôn Hoàn

(1917-2001)

Bộ trưởng Thanh niên

Bác sĩ

15

Nguyễn Hữu Phiếm

Bộ trưởng Y tế

16

Trần Văn Tuyên

(1913-1976)

Tổng trưởng Thông tin

Luật sư

17

Đặng Trinh Kỳ

Tổng Thư ký Chính phủ.

III. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 20/7/1949, Lào ký với Pháp một thỏa ước thành lập một quốc gia Liên kết tương tự thỏa ước Việt-Pháp 8/3/49. Ngày 28/7/49, tướng Carpentier được cử làm Tổng Tư lệnh Pháp tại Đông Dương thay tướng Blaizot. Ngày 1/8/45, Hồ Chí Minh tuyên bố đình chỉ mọi hoạt động của Trưởng phái đoàn Việt Minh Trần Ngọc Danh. Ngày 18/9/49, tại Pháp, trong một cuộc xô xát ẩu đả giữa một Việt kiều và một số lính Pháp ở Đông Dương vừa hồi hương, cảnh sát Pháp bắt được một bản Phúc trình của Đại tướng Revers về tình hình quân sự Đông Dương, lúc vị tướng nầy là Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp được phái sang Đông Dương quân sát tình hình hồi tháng 5/49. 

Sau vụ xô xát trên, một nhân vật khá bí mật tên Roger Peyré bị bắt và khai rằng chính Hoàng Văn Cơ đã mua chuộc các tướng Mast và Revers để lấy một bản Phúc trình quân sự. Có nhiều thư từ chứng tỏ tên Peyré đi lại thân mật với hai tướng Mast và Rever. Tướng Mast thì đương vận động ráo riết để được cử làm Tổng Tư lệnh tại Đông Dương. Việc nầy khiến báo chí và Quốc hội Pháp sôi nổi. Ngày 22/9/49, Chính phủ Pháp nhóm họp để xét vụ tiết lộ phúc trình Revers. Ngày 23/9/49, Hoa Kỳ công nhận Liên xô đã có bom nguyên tử. Ngày 25/9/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Hạ Ninh, 6 Quân đoàn quân Tàu Tưởng quy hàng. 

2. Ngày 1/10/49, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc. Ngày 2/10/49, Nga Xô thừa nhận Trung Cộng. Ngày 14/10/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Quảng Châu. Ngày 14/10/49, Quốc hội Hoa Kỳ chấp nhận viện trợ quân sự cho các nước Tây Âu, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ 1.314.101.000 Mỹ kim. Ngày 8/11/1949, Mên ký với Pháp một thỏa ước thành lập một quốc gia Liên kết tương tự thỏa ước Việt-Pháp 8/3/49. Ngày 26/11/1949, Ấn Độ ban hành Hiến pháp đầu tiên sau 3 năm nghiên cứu và thảo luận. Ngày 29/11/49, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh gởi điện chúc mừng lẫn nhau. 

Ngày 30/11/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Trùng Khánh. Ngày 7/12/49, Đại tướng Revers bị cất chức Tổng Tham Mưu trưởng quân đội Pháp. Ngày 9/12/49, chính phủ Trung hoa Dân quốc chánh thức đặt Thủ đô tại Đài Bắc (Đài Loan). Ngày 9/12/49, Miến Điện thừa nhận Trung Cộng. Ngày 14/12/1949, tại La Haye Hòa Lan và Nam Dương ký Hiệp ước, theo đó, Hòa Lan thừa nhận Nam Dương độc lập. Ngày 27/12/49, Nam Dương tuyên bố độc lập. Ngày 30/12/49, Ấn Độ thừa nhận Trung Cộng. 

IV. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 28/7/49, tướng Carpentier được cử làm Tổng Tư lệnh Pháp tại Đông Dương thay tướng Blaizot.Ngày 7/8/49, Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Cose-Floret sang xem xét tình hình Việt Nam, đi thăm nhiều Tỉnh của cả ba Phần; và ngày 23/8/49 về Pháp phúc trình lên Chính phủ và Quốc hội, rằng chưa có gì khả quan sau Thỏa ước  Elysée, rằng các phần tử Quốc gia kháng chiến chưa chịu về quy thuận, rằng Quốc trưởng Bảo Đại muốn đòi nhiều quyền hơn để được lòng dân. Ngày 28/8/49, Chính phủ Việt Nam ra thông cáo sẽ gởi Đại diện sang dự Hội nghị Liên Hiệp Pháp, rằng với sự giúp đở của Pháp Việt Nam sẽ chống Cộng mạnh mẽ hơn. 

Ngày 21/10/49, Việt Nam được gia nhập Ủy hội Kinh tế Á Châu và Viễn Đông. Ngày 30/12/49, tại tòa Đô Sảnh Quốc trưởng Bảo Đại và Cao ủy Pignon ký các Hiệp định thi hành Thỏa ước 8/3/1949. Dân chúng được tập hợp đông đảo để tham dự lể nầy. Cờ Việt Nam được kéo lên trước Tòa Đô Sảnh. Theo các Hiệp ước nầy thì: các công sở như Tư pháp, Cảnh sát, Học chính được chuyển giao về chính phủ Việt Nam. Việt, Miên, Lào sẽ thoả hiệp đẻ tổ chức những Cơ quan Liên quốc. 

V. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 12/7/49, quân Pháp chiếm đóng Đáp Cầu, và Phủ Lạng Thương. Ngày 16/10/49, Quân Pháp tiến vào Phát Diệm, Bùi Chu... Ngày 3/12/49, bị quân Tàu Cộng đánh, nhiều Đoàn quân Tàu Tưởng chạy tràn qua Việt Nam. Ngày 11/12/49, Cao ủy Pignon tuyên bố nếu quân Tầu Tưởng tràn vào Bắc Việt, thì theo luật quốc tế tước khí giới, đuổi ra hoặc giam lại. Ngày 14/12/49, quân Tàu Tưởng chạy tràn qua Lạng Sơn chừng 20.000 với hơn 10.000 đi tỵ nạn Cộng sản, bị quân đội Pháp tước khí giới và đưa về tập trung tai Đông Triều, Hòn Gai. 

Ngày 22/12/49, lại có hơn 8.000 quân Tàu Tưởng chạy qua Thất Khê, Cao Bằng và cũng bị tước khí giới. Báo chí lo ngại có thể Trung Cộng viện cớ đánh đuổi quân Tàu Tưởng mà xâm lăng Việt Nam. 

VI. Những việc đã làm.

1. Cùng ngày 1/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành hai Đạo Dụ: Dụ số 1 “Tổ chức và điều hành các Cơ quan Công quyền Việt Nam khi chưa có Hiến Pháp". Dụ số 2 “Ấn định quy chế Công sở, Chính quyền địa phương”. Sẽ triệu tập Quốc hội Lập hiến; Quốc trưởng tạm thời giữ quyền Lập pháp, ban bố các Đạo Dụ, và giữ quyền Hành pháp ở cươnvị Quốc trưởng; Chánh phủ do Quốc trưởng bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Quốc trưởng; Một Hội đồng Tư vấn Quốc gia sẽ được thiết lập, gồm 45 nhân vật do Quốc trưởng bổ nhiệm; Quốc gia Việt Nam gồm có ba phần: Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt. Mỗi Phần có Ngân sách riêng, có tư cách Pháp nhân, do một Thủ Hiến cai trị, Thủ Hiến do Quốc trưởng bổ nhiệm; Sẽ lập một Viện Giám sát để kiểm soát Hành chánh; Trụ sở chính thức của Quốc trưởng là Sài Gòn. 

Ngày 3/7/49, Quốc trưởng bổ nhiệm: Thủ Hiến Bắc Việt: Nguyễn Hữu Trí; Thủ Hiến Trung Việt: Phan Văn Giáo; Thủ Hiến Nam Việt: Trần Văn Hữu. Ngày 12/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại về Huế. Ngày 14/7/49, Quốc trưởng hiệu triệu quốc dân, súng cồi từ đâu bắn nhiều phát vào thành phố Huế. Ngày 16/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại tới Hà Nội, tuyên bố chính sách của chính phủ. Ngày 17/7/49, đại diện các sắc dân Sơn cước miền Bắc làm lể tuyên thệ trung thành với Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 18/7/49, Quốc trưởng ký Sắc lệnh 52/QT thành lập Viện Giám sát để kiểm soát Hành chánh; Trụ sở chính thức của Quốc trưởng là Sài Gòn.

2. Ngày 19/7/49, Hội đồng Nội các họp phiên đầu tiên tại Hà Nội. Ngày 20/7/49, tại Biệt Điện, Quốc trưởng chủ tọa lể tựu chức Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Ngày 4/8/49, tại Sài Gòn, Quốc trưởng chủ tọa lể tựu chức Thủ hiến Nam Việt Trần Văn Hữu. Ngày 27/8/49, ấn định chương trình giáo dục Tiểu học (N.D 4/ND/GD). Ngày 5/9/49, ấn định chương trình giáo dục Trung học (N.D 9/ND/GD). Ngày 9/9/49, một Hội Cấp tế nạn nhân chiến tranh Bắc Việt được thành lập để giúp đở đồng bào hồi cư. Ngày 12/9/49, ấn định chương trình Giáo dục tráng niên (N.D 14/ND/GD). 

Ngày 19/9/49, Chức chưởng của các Tổng và Bộ trưởng được ấn định trong một sắc lệnh đươc ký ngày hôm nay. Ngày 26/9/49, Nghị định (2.265/THP) thành lập Bảo chính Đoàn tại Bắc việt thay Nghĩa Dũng Binh của phủ Tổng Trấn củ. Đoàn nầy có những ngạch binh và Hạ sĩ quan tương đương như của Quân đội, Nhưng sĩ quan thì gọi là Phó Đốc quân, Đốc quân, và Chánh Đốc quân. Ngày 28/9/49, Quốc trưởng Bảo Đại ra Bắc thăm nhiều tỉnh, và Hà Nội 10 ngày. Ngày 14/10/49, Một Uỷ ban điều tra được thiết lập tại Bộ Nội vụ để xét lại hồ sơ của những công chức bị thải hồi sau ngày Nhật đảo chánh 9/3/1045. 

3. Ngày 18/10/49, Quốc trưởng ban hành Dụ số 4 tổ chức “Tư pháp và Tòa án Việt Nam”, và Dụ số 5 thành lập “Tối Cao Pháp Viện” và tổ chức Tư pháp và Tòa án Việt Nam”. Ngày 16/11/49, chỉ thị 331/QT của Quốc trưởng, công chức không được phép tuyên bố về chính trị. Ngày 1/12/49, từ 3 tháng nay giá gạo tăng vọt tới 600$ 1 tạ. Phủ thủ hiến Bắc Việt đã can thiệp với chính phủ và yêu cầu chở gạo Nam phần ra Bắc bán chi dân chúng. Ngày 9/12/49, Du thuyền Hương Giang của Quốc trưởng Bảo Đại chở 300 tạ gạo từ Nam ra Bắc, giá gạo tại Hà Nội từ 600$ giảm xuống còn 400$ mỗi tạ. 

Ngày 12/12/49, Sắc lệnh 90/NV thành lập Ủy ban nghiên cứu các vấn đề “Tổ chức Hành chánh và Phân quyền địa phương. Ngày 24/12/49, một quỷ danh dự được thiết lập tại Bắc Việt để cho vay và khuyến khích tái lập công nghệ, canh nông. Ngày 29/12/49, Sắc lệnh số 96/GD, Cải tổ Học chính Việt Nam: bải bỏ bậc Cao đẳng Tiểu học, chỉ đề ra ba bậc học: Tiểu, Trung, và Đại học. Mỗi bậc đều có Ban Phổ thông, và Ban Chuyên nghiệp. Trung học, và Đại học thuộc Bộ Giáo dục; Tiểu học thuộc các Phủ Thủ Hiến về Hành chánh và thuộc Bộ về Chuyên môn.  

4. Ngày 4/1/50, Nghị định số 1/NĐ/GD, thành lập Trường Đại học Văn khoa tại Hà Nội. Và, Nghị định số 2/NĐ/GD, thành lập Sở Bảo tồn Di tích Việt Nam. Ngày 5/1/50, Quốc trưởng ký Dụ cố 2, thành lập một Tòa án Hành chánh chung cho cả nước tại Sài Gòn. Và bãi bỏ Tòa Đại diện Chính phủ Việt Nam tại Ba Lê. Quốc trưởng ban Sắc lệnh cử nhiệm một Phái đoàn Nghị sĩ Việt Nam tại Hội nghị Liên Hiệp Pháp, lớp đầu có 12 vị: Phạm Văn Bính, Bùi Thế Phúc, Trần Văn khá, Đỗ Hữu Tinh, Bửu Kính, Nguyễn Hữu Tuân, Nguyễn Huy Lai, Trần Văn Tuyên, Hà Văn Lan, Nguyễn văn Tỵ, Tôn Thất Cẩn, Trần Thiện vàng. Các Nghị sĩ lãnh Phụ cấp của Chính phủ Việt Nam, và lương bổng do Pháp trả. 

VII. Thôi kiêm nhiệm Thủ tướng.

Ngày 6/1/50, Tổng trưởng Ngoại Giao Nguyễn Phan Long được ủy lập Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân xin rút lui. Ngày 16/1/50, Nghị định số 102/TTP, hợp nhất Hội Khai Trí Tiến Đức, và Hội Văn Miếu Văn học để thành lập “Việt Nam Văn hóa Hiệp Hội”. 

 

 

3. CHÍNH PHỦ NGUYỄN PHAN LONG: 21.1.1950 - 27.4.1950.

I. Bối cảnh thành lập.

1. Ngày 6/1/50 được Quốc trưởng Bảo Đại uỷ nhiệm thành lập Chính phủ. Ngày 17/1/50, Ngoại trưởng Nguyễn Phan Long Lập xong Chính phủ. Ngày 21/1/50, Thủ  tướng Nguyễn Phan Long trình diện Nội các lên Quốc trưởng tại Đà Lạt. (Sắc lệnh số 6/QT ngày 21/1/50).

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Nguyễn Phan Long

Thủ tướng Kiêm Tổng trưởng Ngoại Giao và Nội Vụ

2

Nguyễn Khắc Vệ

Tổng trưởng Tư pháp

3

Phan Huy Quát

Tổng trưởng Quốc phòng

4

Dương Tấn Tài

Tổng trưởng Tài chánh

5

Vương Quang Nhường

(1902-  ?)

Tổng trưởng Giáo dục

Tiến sĩ Luật khoa

6

Lê Quang Huy

Tổng trưởng Giao thông Kiến thiết

7

Đinh Xuân Quảng

Bộ trưởng Phủ thủ tướng

8

Lê Thăng

Bộ trưởng Ngoại giao

9

Trần Văn Chỉ

Bộ trưởng Canh nông

10

Võ Duy Thưởng

Bộ trưởng Y tế

11

Hoàng Cung

Bộ trưởng Thươg mại Kỹ nghệ

12

Lê Văn Ngọ

Bộ trưởng Xã hội Lao động

13

Nguyễn Tôn Hoàn

Bộ trưởng Thanh niên Thể thao

14

Huỳnh Văn Trọng

Tổng thơ ký Chính phủ

III. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 9/1/50, Đan Mạch, Do Thái thừa nhận Trung Cộng. Ngày 10/1/50, Thuỵ Điễn thừa nhận Trung Cộng. Ngày 16/1/1950, Hồ Chí Minh chúc mừng chính phủ Trung Cộng mới thành lập ở Bắc Kinh. Ngày 31/1/50, Nga Xô thừa nhận chính phủ Hồ Chí Minh, Pháp phản kháng, Nga trả lại công hàm phản kháng... Ngày 14/2/1950, Nga-Trung Cộng ký Hiệp ước Liên minh Hổ tương. Ngày 1/3/50, thể theo yêu cầu của Quốc hội tại Đài Bắc, Thống chế Tưởng Giới Thạch trở lại chưc vụ Tổng thống.

IV. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 10/1/50, Báo Le Monde kể chi tiết về vụ tiết lộ quân sự của tướng Revers. Ngày 21/1/50, Hội nghị Liên Hiệp Pháp chấp thuận Thỏa ước Elysée 106 phiếu thuận, 38 phiếu chống. Ngày 25/1/50, Tổng thống Pháp Vincent Auriol lên án các vụ biểu tình phản đối Chiến tranh Đông Dương, yêu cầu chấm dứt việc ngăn cản tải vủ khí xuống tàu biển, bỏ việc trong các xưởng quân cụ. Ngày 28/1/50, sau một ngày thảo luận sôi nổi, bất chấp vài phản đối, Quốc hội Pháp vẫn chuẩn y các thoả ước với các Quốc gia Liên kết Việt Miên Lào với 401 thuận 193 nghịch. Ngày 31/1/50, Quốc hội Pháp cử một Uỷ ban điều tra vụ tướng Revers.

Ngày 7/2/50, Hoa Kỳ, Anh công nhận Việt Nam, Miên, và Lào, các Tòa Lãnh sự Mỹ, Anh tại Việt Nam nâng lên thành Sứ quán. Ngày 13/2/50, tại Vọng Các Đại sứ Mỹ, Jessup chủ toạ Hội nghị các Đại sứ Hoa Kỳ tại Viễn Đông để bàn về thái độ của Mỹ đối với chiến tranh Đông Dương. Ngày 23/2/50, Hoa Kỳ tuyên bố sẽ gởi sang Đông Dương một phái đoàn Kinh tế để xem xét tình hình và đề nghị cách Viện trợ theo kế hoạch của tổng thống Truman. Ngày 6/3/50, Phái đoàn Kinh tế Mỹ do Griffin cầm đầu tới Sài Gòn, và sẽ lưu lại đến 16/3/50. Ngày 9/3/50, một trái lựu đạn ném vào Phái đoàn Kinh tế Mỹ, không ai việc gì. Ngày 17/3/50, súng cối từ bên kia sông Sài Gòn bắn sang các chiến hạm Mỹ đậu, không có thiệt hại. 

2. Ngày 28/3/1950, Hội nghị Việt Miên, Lào bàn về vấn đề tổ chức chung của ba Quốc gia theo thỏa ước 1949, và các Hiệp định 30/12/1949. Ngày 2/3/50, Thái Lan công nhận Việt Nam. Ngày 6/3/50, Phái đoàn Kinh tế Mỹ do Griffin cầm đầu tới Sài Gòn, và sẽ lưu lại đến 16/3/50. Ngày 16/3/50, Hạm đội VII của Hoa Kỳ tới thăm Sài Gòn, 71 phi cơ Mỹ biểu diễn khắp bờ biển miền Trung. Ngày 17/3/50, Tướng Carpentier của Pháp phản đối viện trợ quân sự trực tiếp cho các quốc gia Liên kết, và tuyên bố rằng, nếu Mỹ muốn giúp phải gởi qua quân đội Liên hiệp Pháp.Ngày 4/4/50, Hoa Kỳ lại cử Chuyên viên Kenneth Landon sang tiếp xúc với Pháp và Việt Nam để xét lại vấn đề viện trợ.

V. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 2/1/1950, Chừng 200 Việt kiều ở Quảng Tây thuộc Phục Quốc Hội do ông Hoàng Nam Hùng dẫn về Hà Nội. Ngày 19/1/50, Sân bay Bạch Mai bị đột kích, một số máy bay bị phá hủy. Ngày 25/1/50, có hơn 5.000 quân Tàu Tưởng tràn sang Lào Kay. Ngày 5/2/50, có thêm 3.500 tràn sang Lai Châu. Ngày 12/2/50, quân Việt Minh tấn công đồn Phổ Lu, quân Pháp rút về thỉnh lỵ Lào Kay. Ngày 13/2/50, trên đường lên Đà Lạt một đoàn quân xa Pháp bị phục kích, nhiều xe bị cháy. Ngày 15/2/50, quân Pháp chiếm đóng Thái Bình. Ngày 25/3/50, nhiều đồn ở Trà Vinh bị tấn công, Pháp mở hành quân tảo thanh. 

Ngày 27/3/50, kết thúc hành quân tảo thanh ở Trà Vinh theo Pháp Việt Minh thiệt 400/3000 quân tham chiến. Ngày 1/4/50, một đoàn quân xa hơn 100 chiếc bị phục kích trên đường Đà Lạt đi Ban Mê Thuột bị thiệt hại nặng. Ngày 5/4/50, nhiều đồn ở Sóc Trăng bị tấn công mạnh, quân Pháp hành quân tảo thanh. Ngày 6/4/50, đồn Belvédère ở Hòa Bình bị tấn công mạnh. Ngày 12/4/50, nhiều đồn ở Sa-Đec bị tấn công. 13/4/50, nhiều đồn ở Biên Hòa bị tấn công. Ngày 23/4/50, đường xe lữa “Xuyên Việt” bị phá hủy nhiều nơi ở Nha Trang. Ngày 24/4/50, quân Pháp tái chiếm đồn Phố Lu (Lao-Kay).

VI. Những việc đã làm.

1. Ngày 4/1/50, ban hành Nghị định số 1/NĐ/GD, thành lập Trường Đại học Văn khoa tại Hà Nội. Và, Nghị định số 2/NĐ/GD, thành lập Sở Bảo tồn Di tích Việt Nam. Ngày 5/1/50, Quốc trưởng ký Dụ cố 2, thành lập Tòa án Hành chánh tại Sài Gòn; Và, ban Sắc lệnh cử nhiệm một Phái đoàn Nghị sỉ Việt Nam tại Hội nghị Liên Hiệp Pháp, lớp đầu có 12 vị: Phạm Văn Bính, Bùi Thế Phúc, Trần Văn khá, Đỗ Hữu Tinh, Bửu Kính, Nguyễn Hữu Tuân, Nguyễn Huy Lai, Trần Văn Tuyên, Hà Văn Lan, Nguyễn văn Tỵ, Tôn Thất Can, Trần Thiện vàng. Các Nghị sĩ lãnh Phụ cấp của Chính phủ Việt Nam, và lương bổng do Pháp trả. Ngày 9/1/50, Học sinh biểu tình ở Sài Gòn, Cảnh binh bắn chết trò Ơn, và trên 50 người bị thương trong các vụ xô xát.

Ngày 16/1/50, Nghị định số 102/TTP, thành lập “Việt Nam Văn hóa Hiệp Hội”. Ngày 24/1/50, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội gặp Đại sứ Hoa Kỳ Jessup, rồi đi thăm các tỉnh miền Bắc có cả Lạng Sơn và Lai Châu. Ngày 26/1/50, tỉnh Bắc Ninh đổi thành tỉnh Gia Lâm, tỉnh Bắc Giang đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Ngày 1/2/50, Sắc lệnh 10/TP, thiết lập ngành Thẩm phán Việt Nam, từ cấp Hòa giải, Sơ cấp, đến Thượng thẩm. Ngày 9/2/50, Quốc trưởng ký Dụ số 3, cho phép Thủ tướng, Bộ trưởng có quyền trưng tập những cá nhân cần thiết trong 6 tháng, hết hạn có thể trưng tập thêm. Ngày 21/2/50, Thủ hiến Bắc Việt ký Nghị định 471/THP thiết lập tạm thời mỗi Thị Xã một Hội đồng Quản trị, từ 6-12 Hội viên do Tỉnh trưởng chủ tọa. 

2. Ngày 24/2/50, nhiều Tòa án được Pháp chuyễn giao cho Việt Nam. Rất đông người tấp nập hồi cư về Hà Nội và các tỉnh lỵ sau ngày quân Pháp chiếm đóng Thái Bình. Ngày 27/2/50, Dược sĩ Thẩm Hoàng Tín được cử làm Thị trưởng Hà Nội; Và các ông Jacques Lê Văn Đức, Trần Thành Đạt, Nguyễn Văn Mùi, Bùi Quang Nam, Đoàn Nẫm, Nguyễn Duy Xương được bổ làm Giám sát. Ngày 10/3/50, Sở Cảnh sát được chuyển giao cho Việt Nam, nhưng việc tình báo chống Cộng vẫn thuộc cơ quan An ninh Pháp. Ngày 14/3/50, thiết lập trường Huấn luyện Bảo chính đoàn. Ngày 19/3/50, tại Sài Gòn có nhiều đám biểu tình chống Mỹ, nhưng bị giải tán, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị bắt. 

Ngày 22/3/50, Khu Phát Diệm-Bùi Chu giữ tổ chức tự trị, không chịu thuộc quyền Thủ hiến Bắc Việt. Quốc trưởng mặc nhiên thừa nhận tình trạng đặc biệt của Giáo Khu nầy, và cấp 300.000$ mỗi tháng cho Giáo Khu (NĐ 19/MF, Văn thư 14/3/50 của Quốc trưởng). Ngày 23/3/50, các Tổng, Bộ trưởng Phan Huy Quát , Lê Thăng, Nguyễn Tôn Hoàn từ chức. Ngày 4/4/50, Thủ hiến Phan Văn Giáo được cử kiêm nhiệm Tổng Thanh Tra Quân đội Quốc gia Việt Nam với hàm Trung tướng. Ngày 5/4/50, một Hội đồng gồm các Tổng, Bộ trưởng được thành lập, để nghiên cứu “Quy chế Công chức Việt Nam”. Ngày 11/4/50, Quốc trưởng triệu tập một Hội nghi Quân sự tại Đà Lạt để thống nhất các lực lượng vũ trang.

3. Ngày 15/4/50, Quốc trưởng ban hành Dụ số 6, quy định các Tỉnh có nhiều sắc dân Sơn cước trước thuộc Triều đình như Haut-Donnai, Lang-Bian, Pleiku, Darlac, Kontum, Phong-Thổ, Lạng-San, Hà-Giang, Lao-Kay, Bắc-Cạn, Cao-Bằng, Hòa-Bình, Hải-Ninh, nay trực thuộc Quốc trưởng Bảo Đại. Các Cố vấn, Công chức thuộc các tỉnh kể trên được lưu dụng, và sẽ có quy chế riêng. Ngày 24/4/50, Nghị định số 59/NĐ của Thủ tướng thành lập một Nha Tổng Giám Đốc Cảnh sát và Công an Quốc gia, mỗi Phần có một Sở Cảnh sát Công an, nhưng với một Phó Giám đốc mà thôi. Ngày 29/4/50, thành lập Hội Bảo trợ Đồng bào Hồi cư tại Bắc Việt. Ngày 2/5/50, quân Pháp chiếm đóng Phủ Lý và tỉnh lỵ Ninh Bình.

Ngày 27 tháng 4 năm 1950, Quốc trưởng Bảo Đại giải thể Chính phủ Nguyễn Phan Long và uỷ nhiệm Thủ hiến Trần Văn Hữu thành lập Chính phủ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4. CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HỮU (1):

6.5.1950 - 21.2.1951

I. Bối cảnh thành lập.

Được Quốc trưởng Bảo Đại uỷ nhiệm thành lập Chính phủ thay thế chính phủ Nguyễn Phan Long. Ngày 30/4/50, Trần Văn Hữu lập xong Chính phủ, và ngày 6/5/50, Thủ tướng Trần Văn Hữu  trình diện Nội các lên Quốc trưởng ở Đà Lạt. 

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Trần Văn Hữu

Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Ngoại giao và Quốc phòng

2

Nguyễn Khắc Vệ

Tổng trưởng Tư pháp

3

Dương Tấn Tài

Tổng trưởng Tài chánh

4

Trần Quang Vinh

Tổng trưởng Quân lực

5

Vương Qug Nhường

Tổng trưởng Giáo dục

6

Lê Quang Huy

Tổng trg Công chánh Kế hoạch

7

Hoàng Cung

Tổng trưởng Kinh tế

8

Đặng Hữu Chi

Tổng trưởng Y tế

9

Trần Văn Tuyên

Bộ trưởng Phủ thủ tướng

10

Đinh Xuân Quảng

Bộ trưởng Công chức

11

Nguyễn Tôn Hoàn

Tổng trg Thanh niên Thể thao

III. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 25/6/50, vì đòi Hiệp thương thống nhất không được, Chính phủ Cộng sản Bắc Cao Ly cho quân đội vượt qua Vỉ tuyến 38 xâm lăng Nam Cao Ly. Ngày 26/6/50, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhóm họp cấp tốc theo yêu cầu của Hoa Kỳ. Ngày 27/6/50, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc (vắng mặt Nga vì Nga tẩy chay LHQ) quyết định trừng phạt Bắc Cao về kinh tế và quân sự. Ngày 27/6/50, Hán Thành thất thủ, Chính phủ chạy về Pusan ở miền Nam. Ngày 27/6/50, Tổng thống Truman ra lệnh cho Không quân và Hải quân tiếp cứu Nam Cao Ly. Đệ thất Hạm đội Mỹ giữ eo biển Đài Loan không cho Trung Cộng và Đài Loan giao chiến.

Ngày 1/7/50, Tổng thống Truman cho phép Lục quân Mỹ, can thiệp chiến đấu cùng quân đội Nam Cao. Ngày 7/7/50, Hội Đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ủy cho Hoa Kỳ đề cử Tổng Tư lệnh quân đội Liên Hiệp Quốc tại Cao Ly. Mỹ cử tướng Mac Arthur Tổng Tư lệnh tại Thái Bình Dương kiêm nhiệm Tổng Tư lệnh quân đội Liên Hiệp Quốc. Ngày 25/7/50, tới nay chỉ có 3 nước Anh, Mỹ, Thổ gởi quân sang Cao Ly. Ngày 25/7/50, Nehru vẫn cố yêu cầu Nga Mỹ dàn xếp cho Trung Cộng vào Liên Hiệp Quốc. Ngày 8/8/50, quân Bắc Cao tiến công mạnh, và quân Nam Cao phải lùi mãi về phía Nam.

2. Đến ngày 11/8/50, Nam Cao và Liên Hiệp Quốc chỉ còn lại “một phần đất phía Đông Nam”. Nhưng không quân Hoa Kỳ oanh tạc rất dữ dội. Ngày 12/9/50, tướng Mac Arthur cho quân đổ bộ xuống Inchon, Bắc Cao Ly, và tổng phản công trên khắp các mặt trận. Ngày 19/9/50, Hoa Kỳ tái chiếm Hán Thành. Ngày 28/9/50, sợ bị cắt đường tiếp tế, quân Bắc Cao dồn dập chạy về phía Bắc. Ngày 29/9/50, tướng Mac Arthur đưa Chính phủ Lý Thừa Vãn trở lại Hán Thành. Cùng ngày quân Liên Hiệp Quốc vượt qua Vỹ tuyến 38 truy kích quân Bắc Cao Ly. Ngày 20/10/50, Bình Nhưỡng Thủ đô Bắc Cao Ly bị quân đội Liên Hiệp Quốc chiếm đóng.

Ngày 23/10/50, Quân Liên Hiệp Quốc tiến mạnh về phía Bắc cách biên giới Trung Cộng 85 cây số. Ngày 26/10/50, Bắc Cao Ly tuyên bố bảo vệ đến cùng các nhà máy thủy điện trên sông Yalu. Ngày 26/10/50, hơn 20.000 quân Trung Cộng tràn sang Bắc Cao. Ngày 1/11/50, Quân Bắc Cao Ly phản công tái chiếm Bình Nhưởng, nhiều trận ác chiến khốc liệt. Quân Liên Hiệp Quốc phải ngưng tiến. Ngày 3/11/50, tướng Mac Arthur báo cho Liên Hiệp Quốc rằng, có 56 Sư đoàn Trung Cộng với 868.000 quân đang tập hợp ở Mãn Châu. Ngày 6/11/50, tướng Mac Arthur tuyên bố, quân Trung Cộng đã tràn sang Cao Ly, rồi ra lệnh cho quân Liên Hiệp Quốc tiến về sông Yalu, biên giới Trung Cộng.

3. Ngày 24/11/50, quân Trung Cộng phản công phá vỡ tận tuyến tại Bắc Cao Ly, quân Liên Hiệp Quốc phải rút xuống dưới Vỹ tuyễn 38. Ngày 27/11/50, tướng Lâm Bưu nói, quân Trung Cộng tấn công mạnh vào Lộ quân III và IV của Hoa Kỳ, quân Mỹ phải rút lui, chịu mất 12.975 vừa chết, bị thương và bị bắt. Ngày 18/12/50, quân đội Liên Hiệp Quốc tại Cao Ly rút khỏi Bắc Cao. Ngày 25/12/50, Hán Thành lại thất thủ, dân chúng phải tản cư lần nữa. Ngày 1/1/51. quân Trung Cộng tấn công rất mạnh ở gần vỹ tuyến 38. Ngày 8/1/51, quân Liên Hiệp Quốc triệt thoái mãi ở Cao Ly về cách Hán Thành 50 cây số về phía Nam. 

Ngày 13/1/51, Liên Hiệp Quốc bàn về đình chiến ở Cao Ly. Ngày 17/1/51, Trung Cộng bác bỏ đề nghị điều đình của Liên Hiệp Quốc, và đòi quân Liên Hiệp Quốc rút khỏi Cao Ly, để mặc dân Cao Ly tự quyết.

IV. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 11/5/50, ba Bộ trưởng Ngoại giao Anh, Pháp, Mỹ họp ở Ba-Lê nghiên cứu vấn đề viện trợ quân sự và kinh tế cho Đông Dương. Ngày 12/5/50, Thủ tướng Trần Văn Hữu quyết định cử Sứ thần sang Mỹ, Anh, Vatican, Thái, Miên và Lào. Ngày 17/5/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Y tế Thế giới. Ngày 6/6/50, Robert Blum, trưởng Phái đoàn Kinh tế Mỹ tới Sài Gòn, họp báo cho biết, viện trợ của Mỹ cho các quốc gia Liên kết là 23.500.000 Mỹ kim trong tài khoá tháng 6/50-6/51. Ngày 12/6/50, thiết lập một Ủy ban Tiếp nhận và sử dụng Viện trợ Kinh tế Hoa Kỳ (NĐ 88/TP). Riêng viện trợ quân sự bằng võ khí quân vụ sẽ giao cho quân đội Liên Hiệp Pháp.

Ngày 12/6/50, Việt Nam được Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc mời tham dự Hội nghị quốc tế Viện trợ kỹ thuật tại Lake Success. Ngày 23/6/50, Hội nghị Liên quốc nhóm họp tại Ba-Lê dưới quyền chủ tọa của Tổng thống Pháp, Vincent Auriol gồm các Bộ trưởng Pháp, và Thủ tướng các Quốc gia Liên kết, Hội nghị chỉ soát qua tình hình chung, và quyết nghị lập Hội đồng Liên Hiệp Pháp. Ngày29/6/50, Hội nghị Liên quốc họp tại Pau. Chủ tịch là trưởng đoàn Pháp Albert Sarraut, cựu Toàn quyền Đông Dương; Trưởng đoàn Việt Nam Nguyễn Trung Vinh; cùng hai phái đoàn Lào và Mên, để bàn về các vấn đề “nhập cảnh, cư trú, trang bị kỷ thuật, ngoại thương, quan thuế, và tài chánh”. Đoàn Lào và Mên đòi ghi thêm vấn đề Thương cảng Sài Gòn và sông Cửu Long, nhưng Phái đoàn Việt Nam tỏ ý dè dặt.

2. Ngày 15/7/50, Phái đoàn Viện trợ Quân sự Mỹ do Melby và tướng Ershin cầm đầu sang xem xét tình hình tại Việt Nam trước khi Chánh phủ Hoa Kỳ quyết định viện trợ. Ngày 20/7/50, Hội nghị Liên Quốc tại Pau giải quyết được các vấn đề Bưu điện, Viễn thông, Nhập cảnh của ngoại kiều, thiết lập tại mỗi Quốc gia một Ủy ban Kế hoạch. Ngày 21/7/50, Phái đoàn tới Hà Nội. Ngày 22/7/50, hai chuyến bay đầu tiên của Hoa Kỳ chở đồ viện trợ tới Sài Gòn gồm thuốc Pénicillinne, bột DDT, và nhiều thuốc men khác. Ngày 9/8/50, Hội nghị Liên quốc ở Pau bế tắc, vì Miên đòi hỏi quá nhiều quyền về Thương cảng Sài Gòn, và sông Cửu Long. Ngày 11/8/50, chuyến tàu Mỹ đầu tiên chở vũ khí và đồ trang bị cho quân đội các nước Việt, Miên, Lào cập bến Sài Gòn hôm nay.

Ngày 19/8/50, Bộ trưởng Quốc phòng Letourneau, và Cao ủy Pignon Hội đàm với Quốc trưởng Bảo Đại tại Cannes việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ngày 30/8/50, Có tin Hoa Kỳ chấp thuận viện trợ kinh tế cho Việt Nam 8.650.000 Mỹ kim. Ngày 30/8/50, tại Hội nghị Liên quốc ở Pau, Phái đoàn Việt Nam nhất định đòi Giám đốc Thương cảng Sài Gòn phải do Việt Nam bổ nhiệm. Ngày 14/9/50, một Phái đoàn Việt Nam gồm Tổng trưởng Trần Quang Vinh, Thủ hiến Phan Văn Giáo, Thiếu tá Nguyễn Văn Hinh điều đình với Phái đoàn Hoa Kỳ về việc viện trợ cho Quân đội Quốc gia Việt Nam.Ngày 10/10/50, một Phái đoàn Viện trợ quân sự Hoa Kỳ do tướng Brinsk chỉ huy đặt trụ sở ở Sài Gòn. 

3. Ngày 11/10 nầy Thủ tướng Pleven cử Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jules Moch sang Hoa Kỳ yêu cầu gởi gấp vủ khí cho đoàn quân viễn chinh Pháp. Song chỉ nhận súng đạn mà thôi không yêu cầu gởi quân. Ngày 12/10/50, Hội đồng Quốc phòng Pháp quyết định gởi viện binh sang Đông Dương. Ngày 13/10/50, Pháp yêu cầu Mỹ viện trợ 3.170 triệu Mỹ kim để võ trang 18 tiểu đoàn Việt Nam và quân đội Mên, Lào. Ngày 16/10/50, Cao Ủy Pháp Leson Pignon ban bố tình trạng khẩn cấp tại Bắc Việt. Đàn bà, con nít Pháp phải tản cư, kiều dân Pháp phải nhập ngũ trong 3 tuần lể. Ngày 18/10/50, Đại tướng Juin và Bộ trưởng Quốc phòng Letourneau tới Sài Gòn quan sát tình hình. 

Cùng ngày 18/10/50, Mỹ tuyên bố sẽ xét lại chính sách ở Á Đông, nếu Trung Cộng xâm lăng Đông Dương, hoặc nếu quân Pháp rút hết. Ngày 20/10/50, Hoa Kỳ thuận cấp cho Pháp 275 triệu Mỹ kim quân phí. Ngày 23/10/50, Thủ tướng Pleven tuyên bố trước Quốc hội trong trận Thất Khê, Cao Bằng, Pháp đã mất 75 sĩ quan, 292 Hạ sĩ quan, và 2.949 lính. Ngày 28/10/50, Hàng không mẫu hạm Hoa kỳ chở tới Sài Gòn 40 phi cơ Helleat viện trợ cho Pháp. Ngày 31/10/50, tướng Jiun trình lên Chính phủ Pháp, tình hình chưa bi quan vẫn nắm vững được, nhưng cần gởi viện binh, và nhiều phi cơ hơn, không nên quốc tế hóa vấn đề Việt Nam, không nên kêu gọi quân ngoại quốc. 

4. Ngày 5/11/50, thêm 12 phi cơ Privateer do viện trợ Mỹ tới Sài Gòn. Binh sĩ Pháp mãn hạn tòng quân bị giữ lại Đông Dương. Ngày 15/11/50, Cao ủy Pignon cực lực cải chính tin đồn quân đội Liên Hiệp Pháp rút khỏi Bắc Việt. Ngày 24/11/50, đài phát thanh Bắc Kinh đả kích Pháp, buộc tội Pháp ném bom sát biên giới, xâm phạm không phận, và khiêu khích Trung Cộng. Ngày 27/11/50, Hội nghị Liên quốc Pau bế mạc. Ngày 17/12/1950, tướng 5 sao De Lattre de Tassigny được cử làm Tổng tư lệnh kiêm Cao ủy Pháp tại Đông Dương thay Leson Pignon tới Sài Gòn, cùng với Bộ trưởng Letourneau, tuyên bố, chúng tôi sang đây để giữ lời hứa của nước Pháp bảo vệ Đông Dương. 

Ngày 24/12/50, Hiệp ước viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp và các Quốc gia Liên kết được ký: phía Pháp có Bộ trưởng Letoureneau, tướng De Lattre de Tassigny; phía Mỹ có Đại sứ Hoa Kỳ Donald Heath; phía các Quốc gia Liên kết có Thủ tướng Trần Văn Hữu, và Đại diện Mên, và Lào. Thêm 30 phi cơ B26 của Mỹ viện trợ tới Sài Gòn. Cùng ngày 24/12/50, tại Sài Gòn ký kết Hiệp định về các vấn đề đã bàn cải tại Hội nghị Liên quốc Pau. Theo đó, các Công sở còn do Pháp giữ, sẽ được trao trả cho các Quốc gia Liên Kết trước ngày 1/1/1951; những Công sở của Liên bang Đông Dương củ do Pháp điều khiển, nay thuộc ba Quốc gia Việt, Mên, Lào. 

5. Ngày 1/1/51. De Lattre hủy bỏ lệnh tản cư kiều dân Pháp khỏi Hà Nội, và Bắc Việt do Cao ủy Pignon ban hành ngày 16/10 năm ngoái (1950). Ngày 1/2/51, Viện trợ Mỹ 40 phi cơ Beereat được chở tói Sài Gòn cho Pháp. 

V. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 22/5/50, Bộ tư lệnh Pháp quyết định đóng giữ Phủ Lý. Ngày 22/8/50, quân Pháp chiếm đóng Phú Thọ. Ngày 15/9/50, đồn Đông Khê trên đường 4 giữa Lạng Sơn Cao Bằng lại thất thủ, quân Pháp trên 3.000 chỉ còn lại 200 chạy trốn được về miền dưới. Quốc hội Pháp sôi nổi, thủ tướng Pleven cử Bộ trưởng Lettourneau cùng Đại tướng Juin sang điều tra. Ngày 18/9/50, quân Pháp nhảy dù xuống cứu nguy Đông Khê, nhưng không tái chiếm được. Hầu hết các đồn binh Pháp ở vùng Lao-Kay, Cao-Bằng, Thất-Khê đều bị áp lực mạnh. Ngày 29/9/50, quân Pháp chiếm đóng Thái Nguyên. Ngày 29/9/50, Tướng Carpentier tuyên bố tình hình khả quan ở Trung và Nam Việt, chỉ nghiêm trọng ở Bắc Việt. 

Ngày 1/10/50, quân Pháp phải bỏ đồn Bảo Hà ở Thượng Du. Ngày 3/10/50, Pháp bỏ đồn Hoàng Su Phi; rút khỏi tỉnh lỵ Cao Bằng theo đường 4 để được quân tiếp viện đón gặp ở Đông Khê. Ngày 3/10/50, quân đội Liên Hiệp Pháp giao lại 182 Đồn cho Bảo Chính Đoàn Bắc Việt, quân số của lực lượng nầy đã lên tới 14 Tiểu đoàn. Ngày 7/10/50, Bộ Tư lệnh Pháp thông báo tình hình khả quan. Ngày 7/10/50, Hộ pháp Phạm Công Tắc ra thăm Hà Nội, và hứa sẽ cho quân đội Cao Đài ra giúp, nếu Bắc Việt bị Trung Cộng xâm lăng. Ngày 8/10/50, quân Pháp từ Cao Bằng rút về bị chận đánh gần Đông Khê mất 2.000, gần 1.000 chạy thoát được. 

2. Ngày 18/10/50, Quân Pháp bắt đầu rút khỏi tỉnh lỵ Lạng Sơn. Lao-Kay vì bị áp lực mạnh. Ngày 27/10/50, Không quân Pháp oanh tạc dữ dội Cao Bằng và Lang Sơn, Cùng ngày nầy kịch chiến ở Chũ, Tiên Yên, Đình Lập. Ngày 1/11/50. quân Pháp rút khỏi tỉnh lỵ Lao-Kay, về giữ Lai Châu để bảo vệ vùng đông dân Thái, bởi có tới 6.000 binh sỉ Thái trong quân đội Liên Hiệp Pháp. Ngày 5/11/50, Binh sĩ Pháp mãn hạn tòng quân bị giữ lại Đông Dương. Ngày 11/10/50, Đồn Thất Khê lại thất thủ, Quân Pháp rút chạy thoát được khỏi tỉnh Thái Nguyên. Ngày 15/11/50, quân Pháp rút từ Lao-Kay về Lai Châu, đóng tại Bình Lu và Phong Thổ. Cao ủy Pignon cực lực cải chính tin đồn quân đội Liên Hiệp Pháp rút khỏi Bắc Việt. 

Ngày 23/11/50, vài ngàn viện binh Pháp tới Hà Nội, 7 Tiểu đoàn Bộ binh, 1 tiểu đoàn Cơ giới, 2 đội Pháo binh sẽ được gởi đến sau. Ngày 15/12/50, Pháp mở cuộc hành quân Đức Thắng và dọc Quốc lộ 1 để ngăn chận các vụ tấn công vào Đồng Văn, Bắc Ninh, và Thái Bình. Ngày 18/12/50, quân Pháp rút khỏi Đình Lập, và Bình Liêu cách Moncay 60 cây số, vì áp lực của Việt Minh quá mạnh. Ngày 26/12/50, Đồn Đa Phúc, Phúc Yên bị tấn công mạnh, rất nhiều quân Việt Minh tràn về phía Vĩnh Yên. Ngày 4/1/51, quân Pháp ở Tiên Yên, và Mongcay bị bao vây, nhưng phản công phá được vòng vây. Ngày 8/1/51, Việt Minh tấn công Tiên Yên, Hà Cối, Hải Dương, Việt Trì và Phúc Yên. 

3. Ngày 12/1/51, có tới 30 đến 40 Tiểu đoàn Việt Minh mở mặt trận dài 120 cây số và cùng tiến về Hà Nội. Ngày 14/1/50, đồn Bảo Chúc và Vĩnh Yên thất thủ, kế đến là các đồn quanh Sơn Tây. Trung đoàn Lưu động của Đại tá Vanuxem cũng phải rút lui. Giao tranh dữ dội tại Hương Canh. Đường từ Hà Nội đi Vĩnh Yên bị cắt đứt. Ngày 15/1/51, chừng 40.000 quân chính quy Việt Minh tấn công Vĩnh Yên và tiến về cách Hà Nội 50 cây số. De Lattre cho phi cơ chở quân tiếp viện từ trong Nam ra, và đích thân ông ta chỉ huy mặt trận Vĩnh Yên. Kịch chiến suốt đêm, bom Napalm của Pháp ném xuống rất nhiều. Cả hai bên cùng bị thiệt hại rất lớn. 

Hôm nay, 16/1/51, vì trời u ám, phi cơ phải bay rất thấp thả bom Napalm tới 92 lần. Quân Việt Minh rút về Tam Đảo rồi lại tấn công. Trung đoàn Lưu động của Đại tá Edon, được giữ làm trừ bị cũng được tung ra nốt. Nhiều trận xung phong, giáp lá cà tại Mai Sơn, Lục Nam, Đông Triều kéo dài trên 130 cây số. Ngày 17/1/50, trời vẫn âm u, các cuộc giao tranh còn tiếp diễn. Ngày 18/1/50, quân Pháp chiếm lại 4 đồn ở Vĩnh Yên. Việt Minh thiệt hại chừng 6 đến 7.000 người. Ngày 22/1/51, Mặt trận Vĩnh-Phúc-Yên yên tĩnh. Quân Việt Minh rút hết. Ngày 23/1/51, De Lattre phản công về Sơn Tây và Phủ-Lạng-Thương.

4. Ngày 4/2/51, quân Pháp mở cuộc tấn công gần Phủ Lý, tịch thu nhiều súng đạn. Ngày 13/2/51, quân Pháp hành quân tại Ninh Bình, thông báo hạ 80 Việt minh, bắt 106, đánh đắm 200 thuyền. Ngày 15/2/51, quân Pháp tái chiếm Phong Thổ, và Bình Lu. 

VI. Những việc đã làm.

1. Ngày 11/5/50, Thủ hiến Bắc Việt ra lệnh cấm đưa bà con, họ hàng vào các Công sở (thông tư số 13/VP7PTH). Ngày 12/5/50, ngoại trừ các công văn giao thiệp với nhà chức trách Pháp, tất cả các công văn khác phải dùng tiếng Việt. Ngày 17/5/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Y tế Thế giới. Ngày 27/5/50, Quốc trưởng ký Sắc lệnh số 3/QT/TD, thiết lập Hoàng triều Cương thổ miền Nam gồm các tỉnh Kontum, Pleihu, Darlac, Lâm Đồng, Đồng Nai thượng. Đại tá Dilelot, được cử Đại diện Quốc trưởng tại các tỉnh Sơn cước Tây Nguyên nầy. Ngày 1/6/50, thương gia Nguyễn Đệ được cử làm Văn, Võ phòng Quốc trưởng. Ngày 3/6/50, tái lập tỉnh Hà Nam. 

Ngày 4/6/50, Tổng trưởng Giáo dục Vương Quang Nhường bị kẻ lạ mặt bắn bị thương nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng. Ngày 9/6/50, Quốc trưởng ban Dụ số 6, trao cho Thủ tướng Trần Văn Hữu đặc quyền trong 6 tháng ban hành các biện pháp đối phó với các hoạt động có hại cho an ninh. Ngày 14/6/50, Sở Liêm phóng và Cảnh sát Pháp tại Hà Nội được chuyển giao cho Thủ hiến Bắc Việt. Ngày 17/6/50, Tổng trưởng Tài chánh Nguyễn Trung Vinh được bổ làm Thủ hiến Nam Việt. Ngày 20/6/50, Việt Nam được gia nhập “Tổ chức Lao động Quốc tế”. Cùng ngày Quốc trưởng và Thủ tướng sang Pháp để theo dỏi cuộc đàm phán Liên Quốc sắp họp. 

2. Ngày 3/7/50, nhiều vụ khủng bố xẩy ra tại Sài gòn, Chợ Lớn. Ngày 12/7/50, Cảnh sát Sài Gòn bắt được một tổ khủng bố hơn 30 người. Ngày 14/7/50, Quốc trưởng ký Dụ số 9 ban hành “Quy chế Công chức” gồm 10 chương, 105 điều khoản: tổng tắc, tổ chức, tuyển bổ ngạch quốc gia, lương bổng và phụ cấp, tập sự, thực thụ, thăng thưởng, kỷ luật. Ngày 25/7/50, Cảnh sát, Công an Sài Gòn, khám phá ra một tổ chức “kinh tài Việt Minh” bắt giữ nhiều người. Ngày 25/7/50, thiết lập Hoàng triều Cương thổ miền Nam gồm Darlac, Kontum, Pleiku, Lâm Viên, Đồng Nai thượng. Đại tá Đielot đước cử làm đại diện Quốc trưởng tại các tỉnh Sơn cước Tây nguyên. 

Ngày 6/8/50, Quốc trưởng ký Dụ số 10, ban hành Thể lệ lập Hội: phải xin phép trước; tư cách pháp nhân hạn chế; sẽ có thể lệ đặc biệt cho các Hội truyền giáo Thiên chúa-Gia tô, và Hoa kiều Lý sự vụ. Ngày 15/8/50, Quốc trưởng Bảo Đại ký Dụ số 10a và 10b đặt ra hai loại Bảo quốc Huân chương, và Anh dũng Bội tinh. Ngày 17/8/50, Cảnh sát, Công an Nam Việt bắt trên 1000 người để trừ khủng bố tại Sài Gòn-Chợ Lớn. Ngày 22/8/50, Cảnh sát, Công an bắt 30 người khủng bố tại Hà Nội. Ngày 12/10/50, một trường Thiếu Sinh Quân được thiết lập tại Hà Nội. Ngày 31/10/50, Quốc gia Việt Nam được gia nhập Hội đồng Hợp tác Kỹ thuật theo Kế hoạch Colombo. 

3. Ngày 5/11/50, khánh thành trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Hội nghi quân sự tại Đà Lạt phía Pháp có Bộ trưởng Quốc phòng Letoureneau, tướng Jiun; phía Việt Nam có Quốc trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Trần Văn Hữu, Trung tướng Phan Văn Giáo đi đến quyết định: Thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam 115.000 người với quân trang và võ khí Mỹ; Pháp cho mượn Sỉ quan trong giai đoạn đầu; kinh phí do Ngân sách Việt Nam và Mỹ đài thọ. Ngày 11/11/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Lương Nông Quốc tế. Ngày 14/11/50, Thành phố Đà Lạt được chuyễn giao cho Chính phủ Việt Nam, Bác sĩ Trần Đình Quế được bổ làm Thị trưởng. 

Ngày 16/11/50, thành lập một trường Cao Đẳng Sư Phạm tại Hà Nội (Nghị định 344/NĐ/GD). Ngày 21/11/50, Những Văn bằng do Chính phú đương thời cấp năm 1945,1946 được Công nhận. Ngày 25/11/50, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội họp bàn việc Phòng thủ Bắc Việt. Ngày 6/12/50, Tổng nha Thanh tra Thanh tra Lao động, được thành lập tai Phủ Thủ tướng. Ngày 8/12/50, Việt-Pháp ký Hiệp ước về quân sự, từ nay quân đội Việt Nam thuộc hẳn quyền Quốc trưởng Bảo Đại, nhưng có Cơ quan Liên lạc với Quân đội Liện Hiệp Pháp. Ngày 9/12/50, tại Sài Gòn lễ ký kết Phụ ước thi hành Hiệp định quân sự Việt- Pháp.  Ngày 21/12/50, Phủ Thủ hiến Bắc Việt ra thông cáo khuyên dân chúng bình tĩnh trước tình thế.

4. Ngày 10/1/51, Nha Bưu Điện Sài Gòn, và ngày 17/1/50, Nha Bưu Điện Hà Nội chuyễn giao về cho Chính phủ Việt Nam. Ngày 19/2/51, Quốc trưởng Bảo Đại ra Huế làm lể ở Thái Miếu, tuyên bố đoàn kết các lực lượng Quốc gia, và hợp tác thân thiện với Pháp. Ngày 21/1/51, Quốc trưởng Bảo Đại giải tán Chính phủ, nhưng vẫn ủy Thủ tướng Trần Văn Hữu lập Chính phủ mới. Ngày 22/1/51, Việt Nam Thông tấn xã được tổ chức thành cơ quan tự trị; Xuất bản mỗi ngày hai bản tin của Việt Nam Thông tấn xã (V.N Press) và của hảng A.F.P (Agence France-Press của Pháp). Ngày 27/1/51, Nghị định 465/NĐ/PTH tái lập tỉnh Ninh Bình. Ngày 30/1/51, kể từ ngày nầy Sĩ quan Quân đội Việt Nam có Quy chế riêng, y phục và lương bổng riêng (Dụ số 1-OD/VOP/DQT/TS, và hai Sắc lệnh cùng ngày). 

Ngày13/2/51, Trần Văn Hữu trình danh sách Nội các đã sửa đổi, vẫn chưa được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận. Ngày 19/2/51Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí được mời vào Sài Gòn để giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng, nhưng ông không nhận.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5. CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HỮU (2):

21.2.1951 - 7.3.1952.

Ngày 21/2/51, Trần Văn Hữu trình danh sách Nội các mới lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận (SL số 10/QT).

I. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Trần Văn Hữu

Thủ tướng, kiêm Ngoại Giao, Quốc Phòng, và Nội Vụ

2

Nguyễn Khắc Vệ

Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Tư pháp

3

Vương Quang Nhường

Tổng trưởng Phụ tá Thủ tướng kiêm Giáo dục

4

Nguyễn Trung Vinh

Tổng trưởng Tài chánh

5

Trần Văn Khá

Tổng trưởng Kinh tế

6

Dương Tấn Tài

Tổng trưởng Công vụ

7

Nguyễn Văn Tâm

Tổng trưởng An ninh

8

Lê Quang Huy

Tổng trg Viễn thôg Công chánh

9

Nguyễn Duy Thanh

Tổng trg Kế hoach Kiến thiết

10

Đặng Hữu Chí

Tổng trưởng Y tế

11

Lê Thăng

Tổng trưởng Xã hội

12

Trần Văn Tuyên

Bộ trưởng Phủ thủ tướng

13

Nguyễn Hữu Thuần

Bộ trưởng Ngoại giao

14

Đinh Xuân Quảng

Bộ trưởng Ngân sách

15

Phạm Văn Bính

Bộ trưởng Thanh niên Thẻ thao

16

Nguyễn Trí Độ

Bộ trưởng Lao động

II. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 27/1/51, Hoa Kỳ yêu cầu Liên Hiệp Quốc lên án Trung Cộng xâm lăng Cao Ly, nhưng hôm nay, ngày 30/1/51, Liên Hiệp Quốc biểu quyết lên án Trung Cộng một cách nhẹ nhàng thôi. Ngày 3/2/51, quân Mỹ phản công thắng lợi tiến tới gần sông Hàn và Hán Thành. Ngày 13/2/51, tướng Mac Arthur đòi vượt qua sông Yalu đánh sang Mãn Châu. Ngày 19/2/51, quân Liên Hiệp Quốc tái chiếm Hán Thành. Ngày 23/2/51, Anh, Pháp Mỹ gởi công hàm cho Trung Cộng đề nghị đàm phán về Cao Ly. Ngày 6/3/51, quân Liên Hiệp Quốc tiến mạnh về phía Bắc Cao Ly.

Ngày 14/3/51, quân Liên Hiệp Quốc tái chiếm nhiều địa điểm gần vỉ tuyến 38. Ngày 21/3/51, tái chiếm thành phố Chun-Chon. Ngày 5/4/51, tướng Mac Arthur tuyên bố có 630.000 quân Trung Cộng gần biên giới Bắc Cao Ly, và phàn nàn bị các nhà chính trị bó tay không cho oanh tạc. Ngày 10/4/51, dư luận ở Liên Hiệp Quốc và ở Âu Mỹ sôi nổi vê lời tuyên bố của Mac Arthur. Ngày 11/4/51, tướng Mac Arthur bị Tổng thống Truman cất chức Tổng tư lệnh tại Cao Ly. Tướng Ridway được cử thay Mac Arthur. Ngày 14/4/51, Trung Cộng vẫn mạt sát Mỹ và Liên Hiệp Quốc.

2. Ngày 18/4/51, hôm nay Liên Hiệp Quốc mới trừng phạt Trung Cộng về mặt Kinh tế. Ngày 22/4/51, quân Trung Cộng tấn công rất mạnh và tiến về Hán Thành. Ngày 27/4/51, Hán Thành thất thủ lần nữa. Chánh phủ Lý Thừa Vãn lại dời về Fusan. Hơn 6.000 đại bác bị phá trên các mặt trận. Ngày 14/5/51, Liên Hiệp Quốc biểu quyết cấm xuất cảng các khí giới, vật liệu và dụng cụ quân sự sang Trung Cộng. Ngày 16/5/51, quân Trung Công và Bắc Cao Ly mở cuộc tấn công rất mạnh, nhưng bị hỏa lực của quân liên Hiệp Quốc chặn đứng. Ngày 27/5/51, quân Liên Hiệp Quốc tái chiếm Thị trấn Ịnje. Ngày 11/6/51, tái chiếm vài Thị trấn ở bên trên Vỹ tuyến 38 phần đất Bắc Cao Ly.

Ngày 23/6/51, Malik đại biểu Liên xô tuyên bố tại Liên Hiệp Quốc, hai bên đối phương ở Cao Ly nên mở cuộc đàm phán, đình chiến và rút quân. Ngày 29/6/51, tướng Ridway Tổng Tư lệnh quân Liên Hiệp Quốc, gởi thông điệp mời các Tổng Tư lệnh Trung Cộng và Bắc Cao Ly tới họp tại cảng Wonsen trên một chiếc tàu của Đan Mạch. Ngày 29/6/51, Thủ tướng Thái Lan Phibul, đang dự lể trên một chiếc tàu, bị hải quân toan bắt vì mưu đảo chánh, nhưng Phibul nhảy xuống sông trốn thoát, chiếc tàu bị Không quân bắn chìm... Ngày 1/7/51, Tổng Tư lệnh Trung Cộng và Bắc Cao Ly nhận lời tới họp ngày 10/7/51, tại Thành phố Keason nguyên Thủ đô Bắc Cao Ly.

3. Ngày 26/7/51, sau nhiều lần họp, ngưng họp, họp lại, các Phái đoàn Quân sự Trung Cộng, Bắc Cao Ly, và Liên Hiệp Quốc đạt tới một thỏa hiệp về một số điều khoản. Ngày 10/8/51, Hội nghị Keason ngừng họp, vì Bắc Cao đòi triệt thoái hết quân LHQ khỏi vĩ tuyến 38, nhưng LHQ đòi đóng nguyên tại chỗ như hiện nay. Ngày 8/9/51, tại San-Francisco, các bên ký kết Hòa ước với Nhật Bản: Nhật mất hết các thuộc địa; để cho Mỹ Giám hộ vài đảo; phải bồi thường chiến tranh, nhưng được trả lại chủ quyền Chính trị và Kinh tế.  

Và, ngày 8/9/51, Nhật – Mỹ ký kết “Hòa ước Song phương” Nhật được Mỹ Viện trợ, và Mỹ được đóng quân tại Nhật. Ngày 29/9/51, tướng Bondis được cử làm Tư lệnh kiêm Ủy viên Cộng hòa tại Nam Kỳ.Ngày 29/10/51, De Raymon Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Cao Mên bị một bồi ám sát, sát nhân bị bắt, chính là một Cán bộ đặc công Cộng sản. Ngày 29/11/51, Hội nghị Bàn Môn Điếm (cách Keason 10 cây số) vẫn bàn về các thủ tục và chi tiết. Ngày 17/2/52, Hội nghị Bàn Môn Điếm đã đạt được Thỏa hiệp “3 tháng sau khi đình chiến phải họp Hội nghị Chính trị Nam-Bắc Cao Ly”. Các mặt trận tạm yên.

III. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 2/3/51, Hoa Kỳ giao thêm cho Pháp 1 tàu công binh xưởng, và 6 tàu tuần tiểu. Ngày 15/3/51, tướng De Lattre về Ba Lê xin 15.000 quân viện. Ngày 19/3/51, hơn 15.000 viện binh Pháp được gởi sang Sài Gòn. Ngày 23/3/51, ký Hiệp định Việt-Mỹ viện trợ 16 triệu Mỹ kim cho 3 quốc gia Liên kết Việt Mên Lào. Ngày 26/3/51, Mỹ giao thêm cho Pháp 46 phi cơ Beercats. Ngày 11/5/51, Thanh tra Mật thám Pháp tại Đà Lạt, ông Haaz bị một bọn khủng bố hạ sát bằng tiểu liên. Ngày 15/5/51, Hội nghị Liên Hiệp Pháp lên án vụ tàn sát ở Đà Lạt và yêu cầu trừng trị những kẻ có lỗi. 

Ngày 15/5/51, De Lattre sang Tân Gia Ba họp Hội nghị Quân sự Anh, Mỹ, Pháp để trù liệu các biện pháp Phòng thủ Đông Dương nếu Trung Công xâm lăng. Ngày 16/5/51, Hội nghị Liên Hiệp Pháp lên án vụ tàn sát ở Đà Lạt và yêu cầu trừng trị những kẻ có lỗi. Ngày 18/5/50, Hội nghị Tân Gia Ba đi đến quyết định “Không bỏ Bắc Việt nếu Trung Công xâm lăng” vì đây là “Tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á”. Ngày 21/5/51, Quốc hội Pháp chất vấn chính phủ Pleven về vụ sát hại ở Đà Lạt. Ngày 23/7/51, Thống chế Pestain, bị kết án tử hinh, nhưng vì tuổi cao không thi hành án, hôm nay “từ trần tại Giam thất thọ 96 tuổi”.

2. Ngày 21/8/51, Việt, Mên, Lào được Hoa Kỳ mời tham dự Hội nghị Quốc tế San-Francisco để xét về Hòa ước sắp ký với Nhật Bản. Phái doàn Việt Nam do Thủ tướng Trần Văn Hữu cầm đầu. Ngày 3/9/51, Hội nghị San-Francisco khai mạc. Ngày 7/9/51, De Lattre sang Hoa Kỳ, giải thích cho Chính phủ cùng Dân chúng Mỹ về tính cách chống Cộng của “Chiến tranh Đông Dương” và yêu cầu Mỹ tăng gấp Viện trợ. Ngày 9/9/51, De Lattre tuyên bố nếu Trung Cộng xâm lăng Đông Dương sẽ kêu gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp

Ngày 8/9/51, Kết thúc Hội nghị San-Francisco, 2 Hoà ước được ký kết với Nhật Bản, theo đó: (1) Nhật mất hết các thuộc địa; để cho Mỹ Giám hộ vài đảo; phải bồi thường các thiệt hại chiến tranh cho các nước liên quan, nhưng được trả lại chủ quyền Chính trị và Kinh tế. (2) Hoa Kỳ và Nhật còn ký một Hòa ước “Song phương Mỹ-Nhật” Nhật được Viện trợ, Mỹ được đóng quân tại Nhật (ngày 8/9/51).Ngày 19/9/51, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố, về phương diện tiếp vận khí giới, Việt Nam chỉ đứng sau Cao Ly. Ngày 21/9/51, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố, Chính phủ Hoa Kỳ đồng quan điểm với Pháp về công cuộc chống Cộng tại Đông Dương, nhưng Mỹ vẫn ngại “Pháp muốn tái lập Chế độ Thực dân”. 

3. Ngày 29/9/51, tướng Bondis được cử làm Tư lệnh kiêm Ủy viên Cộng hòa tại Nam Kỳ. Ngày 24/11/51, Williamson, trưởng phái đoàn Viện trợ Mỹ tuyên bố, trong Tài khóa 1951-1952, Hoa Kỳ Viện trợ cho Việt Nam 25 triệu Mỹ kim. Ngày 29/11/51, Khai mạc Thượng Hội đồng Liên Hiệp Pháp, Hội đồng chỉ xét tình hình chung, và ấn định thủ tục điều hành, chưa quyết định được vấn đề gì quan trọng, phía Việt Nam có Thủ tướng Trần Văn Hữu. Ngày 4/12/51, Thủ tướng Trần Văn Hữu gặp Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc ở Ba Lê nêu vấn đề gia nhập Liên Hiệp Quốc của Việt Nam. Ngày 16/12/51, ký kết Hiệp định Liên Quốc về Viện Phát Hành (Institut d’ Emission) chung cho ba Quốc gia, trụ sở đặt tai Nam Vang, sẽ hoạt động từ 1/1/1952, với ba Chi Nhánh ở ba Thủ Đô. 

Ngày 18/12/51, De Lattre bị đau về Pháp, hôm nay nhập viện. Ngày 20/12/51, De Lattre bị mổ nghe đồn khó qua khỏi. Ngày 28/12/51, Quốc hội Pháp thảo luận về Dự án Ngân sách Chiến tranh Đông Dương 326 tỷ quan. Dịp nầy các đảng phái tỏ rõ lập trường, có 3 giải pháp được nêu ra: Tái chiếm làm thuộc địa? không đảng nào dám chủ trương ra mặt! Rút khỏi Đông Dương? Chỉ có đảng Cộng sản đòi hỏi! Rút khỏi Bắc Việt? Daladier, Xã hội Cấp Tiến đề nghị bỏ Bắc, giữ Nam! Thủ tướng Pleven phản đối và viện dẫn một câu của cố Thống chế Galliéni rằng “Ai nắm Bắc Việt, nắm cả Đông Dương”. 

4. Ngày 6/1/52, tướng Raoul Salan được cử làm Quyền Tổng Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương. và Toàn quyền Gautier, một viên cai trị lâu năm tại Đông Dương làm Quyền Cao Ủy. Ngày 11/1/52, tướng Juin hội đàm với Chính phủ Mỹ, yêu cầu tiếp viện, rằng “nếu Không quân và Hải quân Anh-Mỹ không can thiệp thì Đông Dương sẽ mất”. Tổng Tham mưu trưởng quân đội Hoa Kỳ Bradley dè dặt vì Mỹ còn mắc ở Cao Ly. Ngày 11/1/52, De Lattre từ trần. Ngày15/1/52, Quốc hội và Hội đồng Cộng hòa biểu quyết truy tặng tước vị Thống chế cho De Lattre, và ngày mai 16/1 De Lattre sẽ được làm lễ Quốc táng. 

Ngày 17/1/52, Thủ tướng Pháp Edgar Paure tuyên bố trước Quốc hội, mặc dù De Lattre qua đời, chiến tranh cần được thúc đẫy mạnh. Ngày 23/1/52, Edgar cử Bộ trưởng Letourneau sang Đông Dương để trấn tỉnh quân đội sau khi De Lattre qua đời. Ngày 24/2/52, Bộ trưởng Quốc phòng Letourneau tuyên bố nếu có đình chiến ở Cao Ly thì vấn đề Đông Dương cũng phải đưa ra trước một Hội nghị Quốc tế. Ngày 1/3/51, Bộ Tài Chánh Pháp cho biết quân phí từ năm 1945 đến năm 1952 là: 1945: 3.200 triệu quan; 1946: 27.000 triệu quan; 1947: 53.000 triệu quan; 1948: 89.000 triệu quan; 1949: 130.400 triệu quan; 1950: 201.000 triệu quan; 1951: 308.000 triệu quan; 1952: 435.000 triệu quan.  

IV. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 22/1/51, Mặt trận Vĩnh-Phúc-Yên yên tĩnh. Quân Việt Minh rút hết. Ngày 23/1/51, De Lattre ra lệnh phản công Sơn Tây và Phủ-Lạng-Thương. Ngày 4/2/51, quân Pháp tấn công gần Phủ Lý, thu được nhiều súng đạn. Ngày 13/2/51, kết quả hành quân tại Ninh Bình, hạ 80 Việt minh, bắt 106, đánh đắm 200 thuyền. Ngày 15/2/51, tái chiếm Phong Thổ, và Bình Lu. Ngày 10/3/51, hành quân tại Hà Tiên phá nhiều cơ sở quân sự của Việt Minh. Ngày 16/3/51, Sa-Đec bị tấn công. Ngày 19/3/51, hơn 15.000 viện binh Pháp được gởi sang Sài Gòn. Ngày 29/3/51, kịch chiến tại vùng mỏ than Mạo Khê, Uông Bí với trên vài vạn quân Việt Minh.

Riêng đồn Mạo Khê cách Uông Bí 25 cây số, bị 2 Trung đoàn Việt Minh bao vây. Việt Minh cố dụ Pháp tới đường 18 hiểm trở để chận đánh, nhưng quân Pháp lánh. Việt Minh tiến vào Mạo Khê. De Lattre cho Trung đoàn Lưu động của Đại tá Sizaire tới cứu ứng, có phi cơ Pháp oanh tạc dữ dội, nhưng không cản nổi các cuộc xung phong của Việt Minh. Các đồn Đông Triều bắn hàng ngàn pháp đại bác yểm trợ suốt đêm. Hôm nay 31/1/51, Mặt trận Mạo Khê mới yên. Ngày 5/4/51, nhiều đồn Bê-tông từ Lục Nam đến Đông Triều đêm qua bị tấn công mạnh, nhưng giữ được. Ngày 8/4/51, một toán quân Tàu không rõ Tàu Tưởng hay Tàu Cộng tràn qua Lai Châu, Pháp cho phi cơ thả quân xuống ngăn chận. 

2. Ngày 10/4/51, quân Pháp bắt đầu tái chiếm Tsin Hô gần Lai Châu. Đồn Bình Lu lại thất thủ. Ngày 13/4/51, Pháp mở cuộc hành quân Đồng Tháp phá hủy nhiều cơ sở du kích và thuyền bè. Ngày 22/4/51, Pháp mở cuộc hành quân “Sứa biển-Méduse” tảo thanh vùng Ninh Giang-Vĩnh Bảo có cả “thủy, lục, không quân’ tham chiến. Ngày 23/4/51, Đạo quân Pháp tái chiếm Tsin Hô, bị đẩy lui, nhưng nhờ phi cơ dội bom xuống trên các lớp người xung phong, nên cuối cùng cũng chiếm lại được đồn nầy. Ngày 28/4/51, tướng Harteman Tư lệnh không quân đi máy bay B 26 từ Hà Nội ra Bắc bị rớt và mất tích vùng Tiên Yên. Ngày 1/5/51, đồn Gia Lộc, Hải Dương thất thủ, tướng De Berechoux gởi 12 Tiểu đoàn phản công và càn quét các vùng phụ cận. 

Đến ngày 7.5/51 Đồn Gia Lộc được tái chiếm, một Đại đội Việt Minh bị bắt sống cùng với vũ khí. Đường Kẻ Sặt-Ninh Giang được khai thông. Ngày 10/5/51, Pháp tái chiếm đồn Phong Thổ. Ngày 28/5/51, kịch chiến vùng Sông Đáy, Ninh Bình. Hơn 40.000 quân chính quy Việt Minh xuất trận, nhiều cuộc xung phong ào ạt tương tự ở Vĩnh Yên hồi đầu năm. Nhiều vị trí bị mất đi chiếm lại vài lần như ở Yên-Cư-Hạ. Riêng tỉnh lỵ Ninh Bình củ, Việt Minh chỉ chiếm và giữ được có 2 giờ, thì bị Pháp giành lại. Ngày 29/5/51, các cuộc tấn công và phản công vẫn tiếp tục ở Ninh Bình, Pháp huy động cả Thủy, Lục, Không quân tham chiến. Ngày 13/6/51, từ kết quả từ cuộc “hành quân Sứa Biển-Mesduse”, Thủ hiến Bắc Việt thiết lập Khu Bình định Vĩnh Ninh gồm một phần Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Phụ Dực, Đồng Quan.

3. Ngày 30/5/51, con trai độc nhất của De Lattre, là Trung úy Bernard bị tử thương gần Ninh Bình. Mặt trận vẫn còn nặng lắm, nhất là ở vùng giữa Phủ Lý và Phát Diệm. Ngày 1/6/51, mặt trận Ninh Bình tạm yên. Ngày 12/6/51, Linh mục Jeanson và tu sĩ Boulard, Tổng và Phó tổng Tuyên úy Quân đội Liên Hiệp Pháp, bị hạ sát ở Cái Tắc, gần Cà Mâu. Ngày 14/6/51, tại vùng Ninh Bình, quân Việt Minh rút vào núi. Không quân Pháp oanh tạc dữ dội. Lục quân Pháp phá hủy các làng chiến đấu như Thanh Hội, Chợ Cháy gần Phủ Lý, tịch thu hơn 100 tấn thóc. Ngày 18/6/51, De Lattre mở cuộc phản công lớn ở vùng Phủ Lý, Nam Định, và Sông Đáy. Ngày 25/6/51, De Lattre họp báo tuyên bố, trận Sông Đáy đã kết thúc, vùng lúa gạo ở Trung Châu, Bắc Việt không còn bị Việt Minh về thu thuế nữa. 

Ngày 4/7/51, Pháp hành quân tại khu Vĩnh Ninh phá hủy các làng chiến đấu; Cùng ngày, Quân Pháp chận bắt được một đoàn vận tải khí giới gần Đông Hới. Ngày 13/7/51, Kịch chiến tại Vân Đình, Hà Đông. Ngày 13/7/51, trong hai ngày qua gần 400 tù binh Pháp được Việt Minh thả về ở Vĩnh Yên, và Phủ-Lạng-Thương. Ngày 20/7/51, đồn Trảng Bom cách Sài Gòn 40 cây số bị tấn công và thất thủ. Ngày 21/7/51, quân Pháp tái chiếm đồn Trảng Bom. Ngày 31/7/51, Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành, và tướng Chanson, Tư lệnh kiêm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Việt đang duyệt binh ở Sadec bị ném lựu đạn, Thủ hiến chết tại chỗ, Chanson tắt thở sau vài giờ, 4 sĩ quan Pháp bị thương. 

4. Ngày 13/8/51, sau 4 ngày hành quân Pháp cho biết đã phá được Tổng hành dinh của Tướng Nguyễn Bình tai Chiến khu D; và Bản doanh của Chỉ huy Phó Trần Văn Trà; đài Phát thanh Nam Bộ và 21 căn trại bị thiêu hủy. Ngày 24/8/51, hành quân “Gió Lốc=Tourbillon” từ 4 hôm nay tại Đồng Tháp, tịch thu 80 tấn muối, 2.300 tấn thóc, phá hủy 3.700 nhà lá. Ngày 9/9/51, hành quân tảo thanh vùng Trà Lý, Thái Bình. Ngày 16/9/51, Pháp lập thêm 70 đồn từ Ba Đông, Cà Mâu tới Duyên hải Trung Việt. Ngày 25/9/51, Pháp mở cuộc hành quân “Trái chanh=Citron” vùng Thanh Miện và Ninh Giang phá hủy các làng chiến đấu. Nhiều trận kịch chiến, kết quả theo thông báo Việt Minh chết 428, và 3.000 bị bắt.

Ngày 2/10/51, Nghĩa Lộ bị tấn công mạnh, phi cơ Pháp đội bom, có hơn 300 xác chết. Từ ngày 3 đến 7/10/51, Pháp mở hành quân “Trái Quýt=Manderine” càn quét vùng Sông Đuống, Sông Trà Lý, Kết quả Việt Minh chết 1.200, bị bắt 5000, với nhiều thóc gạo và khí giới. Ngày 5/10/51, có hàng chục Tiểu đoàn Việt Minh từ mạn Thái Nguyên, Yên Báy chuyển về phía Lai Châu, Phong Thổ và Nghĩa Lộ. Nhiều trận đánh lớn, Pháp gởi nhiều viện binh lên Nghĩa Lộ. Tới hôm nay, Việt Minh mới rút, theo tin Pháp, Việt Minh chết hơn 1000, bị thương 2000, Pháp 60 chết, 200 bị thương. 

5. Ngày 6/10/51, Pháp mở cuộc hành quân ở Hưng Yên trên một vùng 60 cây số vuông. Kết quả 850 xác chết Việt Minh, 10.000 bị bắt làm tù binh. Ngày 12/10/51, sau 14 ngày kịch chiến ở quanh Nghĩa Lộ, số người chết 1.000 Việt Minh, và 300 Pháp. Ngày 22/10/51, nhiều đồn vùng Đồng Hới bị tấn công từ đầu tháng nay mới tạm yên. Ngày 31/10/51, Bộ trưởng Letourneau tuyên bố hiện có 1000 quân nhân Liên Hiệp Pháp bị bắt làm tù binh. Ngày 4/11/51, kịch chiến gần Đồng Hới, Pháp tấn công Trung đoàn 95 Việt Minh, hạ sát 250, và 500 bị thương. 

Ngày 10/11/51, Tướng De Linarès tổ chức thành ba đạo quân chiếm đóng Chợ Đồn, Hà Đông, và xây nhiều Pháo Đài phòng thủ. Ngày 13/11/51, từ đêm qua Pháp đem Đại quân gồm 12 Tiểu đoàn Bộ binh, 2 Tiểu đoàn Việt Nam, 3 Tiểu đoàn Nhảy dù, 2 Đại đội Thiết giáp chia làm hai cánh: một từ Hà Đông, một từ Sơn Tây tái chiếm Hòa Bình. Hàng vạn người Mường và Thổ theo Pháp về Trung Châu từ năm ngoái, giờ lại hồi cư lên núi. Ngày 27/11/51, tướng Salan mở cuộc hành quân vùng Lao Đông để giảm áp lưc Việt Minh về phía Hòa Bình. Kịch chiến, hai bên cùng bị thiệt hại lớn, vừa chết vừa bị thương lên tới vài ngàn người. 

6. Ngày 30/11/51, tại Nghĩa Lộ một Tiểu đoàn Thái phải chống hơn 4 Tiểu đoàn Việt Minh trong 3 ngày 3 đêm, Việt Minh để lại hơn 1000 xác chết. Ngày 3/12/51, đêm qua đồn Tu Vũ, Hòa Bình bị tấn công mạnh, nhưng không mất. Ngày 10/12/51, Pháp mở cuộc hành quân vùng Sông Đuống, Sông Thái Bình. Ngày 15/12/51, từ ngày 3/12 Việt Minh tấn công vào đồn Tu Vũ nhiều lần, có bận 4 hay 5 Tiểu đoàn Việt Minh xung phong, nhưng vẫn không chiếm được. Pháp phản công càn quét quanh núi Ba Vì. Ngày 30/12/51, đêm qua Chợ Bến bị nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tấn công. 

Ngày 6/1/52, Trung úy Leclere con trai Đại tướng Leclere bị thương và bị bắt làm tù binh trên Sông Đáy. Ngày 6/1/52, Vandanberghe Trung đoàn trưởng Quyết tử Lê Dương tử trận gần Nam Định. Ngày 7/1/52, quân Pháp tại Hòa Bình lại bị tấn công mạnh, nhưng các đồn không mất. Ngày 14/2/52, quân Pháp tảo thanh tại Trà Lý, Thái Bình. Ngày 22/2/52, vì áp lực nặng từ các Sư đoàn 304 và 320 của Việt Minh, quân Pháp rút khỏi Thái Bình, dọc đường số 6 bị nhiều trận phục kích. Trong 24 giờ qua, Pháp phải bắn 20.000 quả đại bác yểm trợ cho các đoàn quân rút về Hà Đông. Ngày 25/2/52, Pháp đã rút hết 22.000 quân đồn trú tại Hòa Bình. Nhiều dân Mường và Thổ một lần nữa lại theo về Hà Đông và Hà Nội.

V. Những việc đã làm

1. Ngày 23/2/51, Quốc trưởng Bảo Đại gởi thông điệp yêu cầu Chính phủ tổ chức Hội nghị Tư vấn Quốc gia, và Hội nghị các Địa phương. Ngày 24/2/51, lại có thay đổi nhân sự trong chính phủ: Tổng trưởng Công vụ Dương Tần Tài, kiêm nhiệm Tài chánh và Ngân sách, Bộ trưởng Ngân sách Đinh Xuân Quảng, phụ trách Công vụ. Ngày 2/3/51, một Ủy ban Nghiên cứu thành lập Quốc hội tại Sài Gòn. Ngày 3/3/51, Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa lễ tựu chức của Chính phủ tại Sài Gòn, có sự hiện diện của Cao ủy De Lattre, Thủ tướng Trần Văn Hữu xác nhận Việt Nam thành thật gia nhập Liên Hiệp Pháp. Cũng ngày 3/3/51 nầy Việt Nam đã thành lập xong 26 Tiểu đoàn. 

Ngày 15/3/51, Bác sĩ Đặng Hữu Chí Tổng trưởng Y tế, được bổ Thủ hiến Bắc Việt. Ngày 19/3/51, Đổng lý Phủ Thủ tướng Thái Lập Thành được bổ Thủ hiến Nam Việt thay Thủ hiến Nguyễn Trung Vinh lê giữ Bộ trưởng Tài chánh. Ngày 31/3/51, Thủ tướng Trần văn Hữu được gia hạn quyền ban hành các biện pháp đối phó với các hành động phá hoại an ninh. Ngày 2/4/51, thành lập một Đoàn Vệ binh Miền nam Trung Việt (NDD28/CP). Ngày 11/4/51, Quốc trưởng Bảo Đại tăng tiền cấp dưởng cho một số người Hoàng tộc: Vua Thánh Thái và gia quyến 10.000$ một tháng; Quả phụ vua Hàm Nghi và các con 900.000 quan một năm; bà Vương phi vua Thành Thái 1.500$ mỗi tháng; mỗi con vua Duy Tân 200$ mỗi tháng; hai bà Công chúa 1.000$ mỗi tháng. 

2. Ngày 12/4/51, Ngân sách ba Phần được chuẩn y: Bắc Việt 295.000.000$ (1949), 815.000.000$ (1950); Trung Việt 247.000.000$ (1949); Nam Việt 683.013.500$ (1950). Ngày 14/4/51, Lể tựu chức Thủ hiến Đặng Hữu Chí tại Hà Nội, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố “Chính phủ Trung ương cương quyết đưa phần đất nầy trở lại khuôn khổ bình thường của tổ chức Quốc gia. (có ý công kích Cựu Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí trước đây có khuynh hướng biệt lập với Chính phủ). Ngày 19/4/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 6 quy định “Quy chế tạm thời ngành Hàng Hải”; Và Sở Canh Nông và Mục súc tại Hà Nôi cũng được chuyên giao cho Việt Nam. 

Cũng ngày 19/4/51 nầy, Thủ tướng Trần Văn Hữu cùng Cao ủy tướng De Lattre tới viếng mặt trận Vĩnh-Phúc-Yên, De Lattre tuyên bố dùng võ lực để kiện toàn độc lập cho Việt Nam chớ không phải để hạn chế chủ quyền Việt Nam; Thủ tướng Hữu cũng tuyên bố “Việt Minh là kẻ thù của Dân tộc, sẽ cương quyết chống Cộng và tin tưởng ở nước Pháp. Ngày 6/5/51, Bác sĩ Trần Văn Đôn, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Anh Quốc trình Ủy nhiệm thư lên Anh Hoàng. Ủy nhiệm thư do Quốc trưởng Bảo Đại ký với sự thỏa hiệp của chủ tịch Liên Hiệp Pháp. Ngày 11/5/51, vài giờ sau vụ ông Haaz, Thanh tra Mật thám Pháp tại Đà Lạt, bị hạ sát, Phó Thanh tra Jumeau đòi Thị Trưởng Trần Đình Quế giao cho y 14 tù binh và 6 nữ cán bộ bị giam, Giám đốc Công An Việt Nam đi vắng, Jumeau cho bắn hết cả 20 người. 

3. Ngày 13/5/51, Quốc trưởng Bảo Đại huyền chức Thị trưởng Trần Đình Quế. Ngày 15/4/51, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Bộ Quân luật Việt Nam (Dụ số 8). Ngày 21/5/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 16/QT/TD quy định riêng cho các Sắc dân Sơn cước tại Hoàng triều Cương thổ Miền Nam; sẽ có một Hội đồng Kinh tế Xã hội, các tòa án Phong tục, kế hoạch phát triển thích hợp. Ngày 26/5/51, Thượng toạ Tố Liên được duy tôn làm Giáo chủ Tăng già Bắc Việt, buổi lễ cử hành long trọng tại chùa Sứ quán. Ngày 6/6/51, Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa lể Kỷ niệm long trọng ngày Thống nhất Việt Nam trước Đại diện các Phần, các Sắc dân. Mỗi Đại diện dâng một ít đất địa phương, Quốc trưởng trộn chung lại cho vào một chiếc bình để đặt trên “bàn thờ Tổ quốc”. 

Cùng ngày 6/6/51, Chính phủ ban hành Nghị định 264/Cab/SG thiết lập tỉnh Bùi Chu gồm các quận của tỉnh Nam Định củ: Hải Hậu, Giao Thủy, Xuân Trường, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Nam Trực. Ngày 9/6/51, Thủ hiến Bắc Việt ban hành Nghị định 2965/THP chỉ rõ các Quận Quản Oai, và Bất Bạt thuộc tỉnh Phú Thọ được sát nhập tỉnh Sơn Tây. Ngày 13/6/51, từ kết quả cuộc “hành quân Sứa Biển-Mesduse”, Thủ hiến Bắc Việt thiết lập Khu Bình định Vĩnh Ninh gồm một phần Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Phụ Dực, Đồng Quan, một Đại diện Thủ hiến được cử để lo việc bình định. 

4. Ngày 15/6/51, Thủ tướng chính phủ ký Nghị định 291/Cab/SG thiết lập Quốc gia Kiến ốc cuộc để xây nhà rẻ tiền bán cho dân chúng. Cùng ngày Tổng Nha Khoán chất và Kỹ nghệ được sát nhập vào Bộ Kế hoạch và Kiến thiết. Cũng ngày 15/6/51 nầy, Tổng trưởng An ninh Nguyễn văn Tâm được ủy quyền “tiện nghi hành sự” bình định ở những vùng mới được giải phóng ở Bắc Việt do kết quả cuộc hành quân Sứa Biển Méduse, và Bò Sát Reptile đưa lại. Ngày 17/6/51, Pháp-Việt thỏa hiệp việc thành lập một Công ty Hàng không Việt Nam. Ngày 18/6/51, Tổ chức Văn hóa Quốc tế (UNESCO) chấp thuận cho Việt, Mên, Lào gia nhập. 

Ngày 20/6/51, theo dự liệu hôm nay Việt-Mỹ ký “Hiệp định viện trợ Kinh tế”, nhưng Cao ủy Pháp đòi hoãn viện cớ chưa có thỏa hiệp của Thượng Hội đồng Liên Liệp Pháp, được ghi tại Thỏa ước 8/3/49. Ngày 25/6/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 9, Không quân Việt Nam chính thức thành lập kể từ 1/7/51. Ngày 11/7/51, tại buổi lể phát thưởng tại trường Trung học Chassloup Laubat, De Lattre kêu gọi thanh niên Việt Nam nên có thái độ rõ rệt trước thời cuộc. Ngày 13/7/51, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội xem xét tình hình. Ngày 15/7/51, Quốc trưởng ký Dụ số 12, ban bố “Chế độ Quân dịch”; tất cả các phương tiện và tài nguyên được huy động; các Y sĩ được trưng dụng. 

5. Ngày 20/7/51, Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo nghỉ dài hạn, Trần Văn Lý được cử lên thay. Ngày 27/7/51, Thủ tướng ban hành Nghị định số 9/ND/PTT, tư nhân có thể bị trưng dụng vì nhu cầu Quốc phòng; dân số được kiểm tra lại: 60.000 người sẽ được gọi nhập ngũ; trong hạn tuổi từ 16 đến 60 có thể được động viên hoặc trưng tập; các Y sĩ, Dược sĩ, Chuyên viên cũng vậy; thanh niên từ 18 đến 28 tuổi có bằng Cao đẳng Tiều học trở lên sẽ theo học các lớp Sĩ quan Trừ bi. 

Ngày 7/8/51, Cấm xuất ngoại trong thời kỳ kiểm tra thanh niên. Ngày 7/8/51, một trường Quân y được mở tại Hà Nội (Nghị định 111/QP/NĐ). Ngày 7/8/51, Sắc phục của Nhân viên Sứ quán và Lãnh sự được quy định: Quốc phục Đại lễ “nhung y” của Đại sứ: áo dài gấm, da cam, hoa chữ Thọ, quần luạ trắng, khăn đen, giàu láng, bài vàng có chữ Hán đeo ở nút áo, .v.v.. Ngày 16/8/51, Nghị định 399/NĐ vé số Kiến thiết được phép phát hành, sẽ xổ số lần đầu tiên vào ngày 15/11/1951, lô độc đắc là 1 triệu đồng. Ngày 28/8/51, Hội đồng các Thủ hiến họp tại Sài Gòn để ấn định thể thức gọi nhập ngũ 15.000 thanh niên. 

6. Ngày 15/9/51, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 747/Cab/SG, buộc các Thành phố, Thị xã, Tỉnh lỵ, phải lập “Đồ án tu chính, Khuếch trương và Mỹ thuật” hóa. Ngày 1/10/51, Pháp chuyễn giao Nha Ngân Khố cho Việt Nam. Ngày 3/10/51, Công ty Hàng Không Việt Nam (Air Việt Nam) chính thức thành lập 50% vốn của Việt Nam, và 50% vốn của Pháp: Air Việt Nam góp một số phi cơ, Air France cũng vậy (Nghị định 37/NĐ/Cab/Pres, duyệt y điều lệ 1/10/1951). Ngày 15/10/51, Khánh thành Hàng Không Việt Nam.

Ngày 16/10/51, có hơn 15.000 thanh niên gọi nhập ngũ, thụ huấn cấp tốc 2 tháng, 1.000 người có bằng Trung học đệ nhất cấp trở lên theo học Trường Sĩ quan Nam Định, và Trường Sĩ quan Thủ Đức. Ngày 8/11/51, hai trại Tân binh mới được thiết lập ở Bắc Ninh và Quảng Yên, mỗi nơi có khả năng Huấn luyện 3.000 người. Ngày 19/11/51, Thủ hiến Bắc Việt Đặng Hữu Chí nghỉ dài hạn dưởng bệnh, Tổng trưởng An ninh Nguyễn Văn Tâm được cử kiêm nhiệm Thủ hiến Bắc Việt. Ngày 22/11/51, Tòa án Quân sự được thiết lập tại Sài Gòn (SL79/QP).

7. Ngày 10/12/51, thiết lập Khâm mạng tại “Hoàng Triều Cương Thổ miền Bắc”, Nguyễn Văn Tâm Tổng trưởng An ninh, kiêm Thủ hiến Bắc Việt được cử Đại diện Quốc trưởng Bảo Đại tại các Tỉnh Sơn cước (SL24/QT/TD). Ngày 18/12/51, Việt Nam gởi đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc. Đơn do đại biểu Pháp Chauvel chuyễn cho Tổng Thơ Ký Trygve Lie. Ngày 19/12/51, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội dự cuộc duyệt binh lớn. Ngày 25/12/51, Quy chế Hội Hồng Thập Tự Việt Nam được duyệt y. Ngày 30/12/51, Điện Lực Cuộc được thiết lập, trùng tu, xây dựng lại các nhà máy Điện bị hư hại vì chiến tranh để sản xuất và phân phối điện (NĐ 665/Cab/SG). 

Ngày 26/1/52, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/Cab/SG từ nay một số hàng hóa và sản vật có tính cách quân sự phải có giấy phép đăc biệt mới được chuyên chở. Ngày 12/2/52, lương bổng, phụ cấp và dịch vụ của các Thủ hiến: lương 14.000$; Giao tế phí 8.000$. 2 tài xế, 2 bồi, 1 bếp, 1 gác cổng, 1 làm vườn; Nhà ở, đồ đạc, điện nước, xe cộ, giặt ủi. Lễ phục có tính cách Tôn giáo, Lịch sử: áo dài chẽn, khăn đen, quần lụa trắng; Các Lễ khác: âu phục trắng, cà vạc đen, sậm, hoặc âu phục đen, sậm. Ngày 1/3/52, lần đầu tiên có ngày lễ Phụ Nữ Việt Nam, bà Nam Phương Hoàng Hậu đọc thông điệp phát thanh kêu gọi Phụ nữ tham gia các công cuộc Xã hội. 

8. Ngày 6/3/52, Hải Quân Việt Nam được thành lập từ ngày 1/1/1952. Ngày 7/3/52, Trung tá Không quân Nguyễn Văn Hinh, Chánh Võ phòng Quốc trưởng Bảo Đại được thăng Thiếu tướng, và được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam.Để đáp ứng với tình hình mới, Thủ tướng Trần Văn Hữu cải tổ Nội các.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6. CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HỮU (3):

7.3.1952 - 25.6.1952.

Ngày 7/3/52, Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận danh sách “Nội các Cải tổ” của Thủ tướng Trần Văn Hữu (SL 21/QT).

I. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Trần Văn Hữu

Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng, và Tài chánh

2

Vương Qug Nhường

Tổng trưởng Tư pháp

3

Nguyễn Trung Vinh

Tổng trưởng Ngoại giao

4

Nguyễn Văn Tâm

Tổng trưởng Nội vụ

5

Lê Văn Hoạch

Tổng trưởng Canh nông

6

Nguyễn Chánh Hải

Tổng trưởng Lao Động, Xã hội

7

Ng. Thành Giung

Tổng trưởng Giáo dục

8

Lê Quang Huy

Tổng trg Công chánh, Giao thông

9

Nguyên Duy Thanh

Tổng trưởng Kế hoạch, Kiến thiết

10

Nghiêm Văn Tri

Tổng trưởng Phụ tá Quốc phòng

11

Nguyễn Trác

Quốc vụ khanh

12

Đinh Xuân Quảng

Bộ trưởng Phủ thủ tướng

II. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 9/3/52, Pháp kỷ niệm trọng thể ngày Nhật đảo chánh ở Đông Dương. Di hài viên Giám binh Grethen được đưa tới quàn tại Jhair Hoàng Môn Ba Lê, và được Tổng thống Pháp tới viếng trước khi đưa chôn. Ngày 10/3/52, tại Bàn Môn Điếm Trung Cộng tố cáo Mỹ dùng vũ khí có vi trùng. Ngày 11/3/52.  Sơn Ngọc Thành Cựu Thủ tướng Cao Mên mất tích, có tin là bỏ trốn ra bưng chống Pháp và chống cả Chính phủ Hoàng gia. Ngày 7/5/52, tướng Clark được bổ làm Tổng Tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Quốc tại Cao Ly thay tướng Ridway.

Ngày 26/5/52, Sinh viên theo Sơn Ngọc Thành biểu tình chống Pháp tại Cao Mên. Ngày 15/6/52 vì các đảng phái lục đục, lại có khuynh hướng chống Pháp, Mên hoàng Sihanouk giải tán chính phủ và đích thân cầm quyền. Ngày 23/6/52, có tới 500 phóng pháo Hoa Kỳ ném xuống các nhà máy Thủy điện bên sông Yalu. Có dư luận Quốc tế rằng Mỹ không đồng ý với Anh trong cuộc Nghị hòa ở Cao Ly.

II. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 10/3/52, Hoa Kỳ chuyển cho Pháp 52 phóng pháo B 26, và 12 Thủy phi cơ Grumann Goose. Ngày 12/3/52, Bộ trưởng Letourneau cải chính tin đồn Pháp sắp điều đình với Hồ Chí Minh, chưa phải lúc. Ngày 1/4/52, Bộ trưởng Quốc gia Liên kết Letourneau được cử kiêm nhiệm Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Giúp việc tại đây có Salan Tổng Tư lệnh, và Gautier Tổng Thư ký Phủ Cao ủy. Ngày 28/5/52, chuyến tàu thứ 150 của Mỹ chở vũ khí cho quân đội Liên Hiệp Pháp cập bến Sài gòn. 

Ngày 17/6/52, Bộ trưởng Cao Ủy Letourneau tuyên bố hiện nay ở Đông Dương chỉ còn 1.400 Công chức Pháp, so với 7.000 năm 1949. Việt Nam hiện có 40 Tiểu đoàn Bộ binh, và 1 Tiểu đoàn Không quân. Mên có 6 Tiểu đoàn. Lào cũng có 6 Tiểu đoàn. Ngày 18/6/52, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố Mỹ tăng viện trợ để giúp các Quốc gia Liên kết tăng cường Quân lực. hiện Mỹ gánh một phần ba kinh phí chiến tranh Đông Dương.

IV. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 12/3/52, tại Thái Bình, 5 Trung đoàn Lưu động với sự yểm trợ của Thủy quân và Không quân Pháp hành quân càn quét vùng Trà Lý và Sông Diêm Hồ. Ngày 6/5/52, tướng Salan, Tổng Tư lệnh tuyên bố sẽ dồn lực bình định Trung Châu Bắc Việt, không cho địch lấy thóc trong dân chúng. Ngày 15/5/52, từ cuối tháng trước, Pháp mở nhiều cuộc hành quân ở Trung Châu Bắc Việt như hành quân “Lạc Đà=Dromadaire” vùng Hưng Yên và Bùi Chu, hành quân “Tango” mạn Phúc Yên và Sông Đuống.v.v. Ngày 2/6/52, Pháp mở cuộc hành quân “Sơn Dương=Antilope” vùng Duy Tiên, Phủ Lý, Hưng Yên.

V. Những việc đã làm.

1. Ngày 18/3/52, Nguyên Bộ trưởng Phạm Văn Bính được bổ Thủ hiến Bắc Việt; và Giám đốc Tài chánh Hồ Quang Hoài được bổ Thủ hiến Nam Việt. Ngày 1/4/52, quyền “Phát minh Sáng chế” được bảo vệ, và được cấp bằng. Ngày 4/4/52, các Sắc dân Sơn cước thuộc Hoàng Triều Cương Thổ được quy chế đặc biệt: Tù trưởng, Hội đồng Hoàng Triếu Cương Thổ, Tòa án Phong tục (Dụ 27/QT/TD). Ngày 7/4/52, thành lập Trường Quốc gia Hành chánh ở Đà Lạt để đào tạo các cấp Chỉ huy Hành chánh (NĐ 246/Cab/SG). Ngày 12/4/52, thành lập Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Việt Nam (NĐ 147/QĐ/).

Ngày 24/4/52, hai Tòa Đại diện Quốc trưởng tại hai vùng Hoàng Triều Cương Thổ Bắc và Nam sáp nhập làm một mang tên mới là thành Tòa Khâm Mạng (SL 28/QT/TD). Và, Đổng lý Văn, Võ phòng Nguyễn Đệ kiêm nhiệm chức Khâm mạng. Ngày 8/5/52, Khánh thành Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang. Ngày 12/5/52, Đoàn Nữ Trợ Tá Quân đội Việt Nam được thành lập gồm Nữ Trợ Tá Quân Y, và Nữ Trợ Tá Chuyên môn khác. Ngày 16/5/52, giá gạo tăng nhanh tại Hà Nội gạo 1,25% tấm từ 250$ lên tới 530-559$ một tạ, tại Sài Gòn cũng lên tới 345$ một tạ. Ngày 23/5/52, Quốc hội Mỹ chấp thuận viện trợ kinh tế cho Việt Nam 23.500.000 Mỹ kim. Một Phái đoàn Kinh tế và Kỷ thuật được đặt tại sài Gòn.

2. Ngày 25/5/52, nhân “ngày Quốc Khánh”, Quốc trưởng Bảo Đại duyệt 5.000 quân Việt Nam tại Hà Nội. Ngày 26/5/52, Pháp chuyển giao “đường Hỏa xa và Sở Hỏa xa” cho Việt Nam và Cao Mên. Ngày 27/5/52, tại Lai Châu, Lễ sáp nhập miền Thái thuộc Đèo Văn Long vào Hoàng Triều Cương Thổ miền Bắc. Ngày 6/6/52, thành lập Hội đồng Phòng thủ Quốc gia, gồm: Thủ tướng, các Tổng trưởng Quốc phòng, Nội vụ, Tài chánh, Khâm mạng tại Hoàng Triều Cương Thổ (SL 50/CP). Ngày 14/6/52, Phủ Thủ hiến Bắc Việt vẫn “chọn Quận trưởng trong số những người tình nguyện” qua “Hội đồng xét năng lực” sẽ được thành lập.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

7. CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN TÂM (1): 25.6.1952 - 8.1.1953.

I. Bối cảnh thành lập.

Ngày 2/6/52, Quốc trưởng Bảo Đại triệu Tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm lên Đà Lạt ủy lập Chính phủ. Ngày 3/6/52, Quốc trưởng Bảo Đại giải tán Chính phủ Trần Văn Hữu. Ngày 25/6/52, Nguyễn Văn Tâm trình danh sách Nội các lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận trong một buổi lể tựu chức trang trọng (SL 49/QT).

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Nguyễn Văn Tâm

Thủ tướng, kiêm Nội Vụ

2

Phan Văn Giáo

Phó thủ tướng kiêm Thông tin, Tuyên truyền

3

Ngô Thúc Địch

Phó Thủ tướng kiêm Cựu binh, Phế binh

4

Nghiêm Văn Tri

Tổng trưởng Quốc phòng

5

Nguyễn Huy Lai

Tổng trưởng Tài chánh, Kinh tế

6

Trương Vĩnh Tống

Tổng trưởng Ngoại giao

7

Lê Tấn Nẫm

Tổng trưởng Tư pháp

8

Ng. Thành Giung

Tổng trưởng Giáo dục

9

Lê Quang Huy

Tổng trg Công chánh, Bưu điện

10

Lê Văn Hoạch

Tổng trưởng Y tế

11

Lê Thăng

Tổng trưởng Xã hội, Lao động

12

Cung Đình Quỳ

Bộ trưởng Canh nông

13

Hoàng Nam Hùng

Bộ trưởng Bình định, Quy thuận

14

Vũ Hồng Khanh

Quốc vụ khanh

15

Trần Văn Quế

Thứ trưởng Nghiên cứu, Cải cách

III. Sự hiện bên ngoài.

1. Ngày 11/7/52, có hơn 650 phóng pháo cơ oanh tạc Bình Nhưỡng Thủ đô Bắc Cao Ly. Ngày 13/7/52, Chu Ân Lai phản kháng Mỹ vụ oanh tạc Bình Nhưỡng. Ngày 14/7/52, tướng Mỹ Lawton Collins tuyên bố tại Tokyo rằng còn phải đánh dữ hơn nữa cho tới khi nào Cộng sản chịu điều đình thật sự. Ngày 17/7/52, Đô đốc Fechtler Tư lệnh Hạm đội 7 tuyên bố chỉ chờ lệnh tướng Clark để tấn công Mãn Châu. Ngày 28/9/52, từ hai tháng nay Hội nghị Bàn Môn Điếm bế tắc, Mỹ đưa đề nghị mới “tù binh có quyền trở về Bắc hay Nam Cao Ly. Ngày 8/10/52, quân Trung Cộng và Bắc Cao Ly tấn công mạnh trên khắp các mặt trận.

Ngày 29/11/52, tại Cao Ly, Trung Cộng và Nga Xô bác bỏ đề nghị của Hoa Kỳ về số phận các tù binh. Cộng sản đòi “tù bình bắt buộc phải trở về nguyên xứ, không thể tự do lựa chọn cư trú sau khi phóng thích. Dư luận chung trên báo chí Âu Mỹ, rằng Nga và Trung Cộng muốn kéo dài chờ xem chính sách của chính phủ mới ở Mỹ ra sao đã.

IV. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 27/6/52, Bộ trưởng Chiến tranh Pháp De Chevigné tuyên bố trước Hội đồng Cộng hòa, rằng từ 1945 đến 1/4/1952 số thiệt hại của Pháp tại Đông Dương là chết 30.060 quân sỉ gồm: 1.247 sĩ quan Pháp, 4.233 hạ sĩ quan Pháp, 5.488 Lê Dương, 5.024 Bắc Phi, 17.068 quân bản xứ Đông Dương. Ngày 24/7/52, Hội nghị Kinh tế Liên Quốc Pháp, Việt, Mên, Lào nhóm họp tai Sài Gòn thảo luận chương trình nhập cảng, xuất cảng; và ấn định sự điều hành một số Cơ quan chung như Viện Phát Hành, Túc Mể Cục, Ủy ban Sông Mê Kông, Trường Viễn Đông Bác Cổ.v.v..

Ngày 4/9/52, Hội nghị Kinh tế Liên quốc Pau bế mac. Kết quả: Chia thuế quan cho Việt Nam 75%; 21% cho Mên; Và 4% cho Lào; Chia phần Ngoại tệ để nhập cảng. Ngày 16/9/52, Cao uỷ Bửu Lộc trình uỷ nhiệm thư lên tổng thống Pháp Auriol. Ngày 19/9/51, các Hội viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho Việt, Mên, Lào gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng Nga Xô phủ quyết. Ngày 8/10/52, Pháp yêu cầu Mỹ viện trợ 650 triệu Mỹ kim, nhưng Quốc hội Mỹ chỉ chấp thuận 525 triệu. 

2. Ngày 5/11/52.. tướng Eisenhower đắc cử Tổng thống, vượt trội đối thủ Stevenson 6 triệu phiếu. Ngày 20/11/52, tại Pháp, Thượng Hội đồng Liên Hiệp Pháp họp lần thứ hai, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm tham dự. Hội đồng xác nhận “Không có Chiến tranh Đông Dương, chỉ có cuộc nổi loạn của Cộng sản chống một Quốc gia độc lập và thân hữu của Pháp”. Ngày 3/12/52, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ở Pháp về tuyên bố, cần thắt chặt tinh thần với Cao Mên, và sẽ đặt Tòa Đại sứ Việt Nam tại Nam Vang.

V. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 29/6/52, Pháp mở cuộc hành quân tảo thanh ở Đông Triều, Kinh Môn, và Bắc Phát Diệm. Ngày 4/7/52, Pháp mở cuộc hành quân “Làn gió mát=Zéphir ở vùng Giồng Riềng, Vị Thanh, Thới Lai (Hậu Giang) từ cuối tháng 6 tới nay, phá hủy nhiều căn cứ, tịch thu nhiều võ khí của Đại đoàn 307 Việt Minh. Cùng ngày 4/7, kịch chiến ở Thọ Lão, Kẻ Sặt một Trung đoàn Việt Minh chặn đánh một Đoàn Lưu động Pháp. Ngày 13/7/52, Pháp mở cuộc hành quân Quaddrille tảo thanh mạnh ở vùng Phú Vang, Thừa Thiên. Ngày 15/7/52, đồn Tondray cách Kontum 70 cây số bị quân Việt Minh tấn công mạnh. 

Ngày 20/7/52, tại Vũng Tàu, Việt Minh đột kích vào cư xá Pháp sát hại 5 sĩ quan, 3 Hạ sĩ quan, 2 phụ nữ, 6 nhi đồng Pháp, và 4 nhi đồng Việt. Ngày 24/8/52, Pháp mở cuộc hành quân “Châu chấu=Sauterelles” vùng Quảng Trị, Thừa Thiên là nơi Trung đoàn 101 vẫn lui tới. Ngày 11/10/52, Pháp mở cuộc hành quân vùng Ninh Bình, Phúc Nhạc, Điền Hộ với gần 10.000 quân tham chiến. Ngày 13/10/52, đồn Nghĩa Lộ bị tấn công mạnh, với hai Sư đoàn 302 và 308 vây đánh suốt ngày đêm. Ngày 14/10/52 một Tiểu đoàn nhảy dù Pháp được thả xuống cứu viên Nghĩa Lộ, một đơn vị khác được gởi tới Sơn La. Ngày 18/10/52, Nghĩa Lộ thất thủ, tất cả miền núi, Trung du bị bỏ ngỏ. 

2. Ngày 29/10/52, Pháp mở cuộc hành quân Lorraines phản công ở Hưng Hóa và Phú Thọ, đánh tập hậu hai Sư đoàn 302 và 308 của Việt Minh. Ngày 1/11/52, quân Pháp vào được Hưng Hóa và Phú Thọ. Ngày 9/11/52, quân Pháp vào được Phủ Đoan. Ngày 14/11/52, quân Pháp tới Yên Báy, nhưng bị phản công mạnh phải rút lui. Ngày 24/11/52, quân Pháp rút khỏi Sơn La, nhưng vẫn đóng ở Phi trường Nà-Sản. Ngày 27/11/52, quân Pháp từ Yên Báy rút được về Việt Trì, và cố thủ Nà-Sản, xây nhiều Pháo đài, Lô cốt. Nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tiến về Điện Biên Phủ, Pháp đưa một Tiểu đoàn tới ngăn chặn.

Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ đóng quân của Pháp tại Nà-Sản. Ngày 1/12/52, nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tấn công Nà-Sản, nhưng bị đẩy lui. Ngày 2/12/52, Nà-Sản lại bị tấn công, nhưng nhờ phi cơ và pháo binh nên giữ được. Buổi chiều Việt Minh rút lui để lại vài trăm xác chết. Ngày 8/12/52, mặt trận Nà-Sản yên hẵn. Ngày 17/12/52. Sâm Neua bị áp lực Việt Minh, Pháp đưa 2 Tiểu đoàn tới tăng cường. Ngày 26/12/52, quân Pháp từ Nà-Sản tiến về Sơn La, 5 tiểu đoàn tham chiến đã liên lạc được với 2 Tiểu đoàn khác từ Hà Nội tới.

3. Ngày 1/1/53. tính đến nay các bên tham chiến: Lưc lượng Việt Minh: 350.000 gồm: 125.000 chính quy, 75.000 chủ lực, 150.000 dân quân. Lưc lượng Liên Hiệp Pháp: 230.000 gồm: 54.000 Pháp, 30.000 Bắc Phi, 18.000 Phi, 20.000 Lê Dương, 53.000 Việt, Mên, Lào, 55.000 Phụ lực, Hải quân 5.000; Không quân 10.000 và 265 máy bay, gồm 90 phi cơ vận tải, 175 phóng pháo B26.  Quân đội Quốc gia: gồm Việt Nam: 200.000 (150.000 chủ lực, 50.000 Cảnh bị), Lào 15.000, Mên 10.000. Số Đồn ở Trung Châu Bắc Việt: 917 (gồm 80 tối tân, 25 canh tân, 810 lỗi thời) Cộng 100.000 nơi đồn trú. 

VI. Những việc đã làm.

1. Ngày 10/7/52, thành lập Hội đồng Quốc gia Lâm thời gồm 21 Hội viên do Quốc trưởng chỉ định với nhiệm vụ “Tư Vấn mọi vấn đề” (Dụ số 14) cho tới khi có Quốc Hội. Cùng ngày 10/7/52, ban hành Luật Lao động. Ngày 28/7/51, thành lập Ủy Ban Nghiên cứu “Cải cách Điền địa”. Ngày 30/7/52, Hoàng thân Bửu Lộc được bổ Cao ủy (Đại sứ) Việt Nam tại Pháp.Ngày 2/8/52, Chính phủ Nguyễn Văn Tâm chấp thuận “Dự án Ngân sách”, Đến bây giờ Việt Nam mới có một Dự án Ngân sách hợp lệ đầu tiên: PHẦN CHI: 8.600.000.000$ gồm: 4.700.000.000$ quân phí; 550.000.000$ an ninh; 400.000.000$ bình định; 300.000.000$ giáo dục; 475.000.000$ công chính; 270.000.000$ Y tế và Xã hội. 

PHẦN THU: 3.425.000.000$ từ ngoài gồm: 3.000.000.000$ do Pháp đóng góp về quân phí, và 425.000.000$ Viện trợ Kinh tế của Mỹ. Phần THU còn lại do các thứ thuế trong nước. Ngày 28/8/52, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ký bổ nhiệm 21 Hội viên Hội đồng Quốc gia Lâm thời; 8 Bắc, 8 Nam, 5 Trung. Ngày 1/9/52, Hội đồng Quốc gia Lâm thời nhóm họp phiên đầu tiên tại tòa Đô Sảnh Sài Gòn. Ngày 4/9/52, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Tổng thống Pháp Auroil tại nhà nghỉ Muret bàn thảo các vấn đề liên quan như Cao ủy Việt Nam nên được mang danh hiệu Đại sứ, Việt Nam nên được vào Liên Hiệp Quốc, Quân đội Việt Nam cần được phát triển nhanh hơn nữa. 

2. Ngày 16/9/52, Cao uỷ Bửu Lộc trình uỷ nhiệm thư lên tổng thống Pháp Auriol. Ngày 19/9/52, các Hội viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho Việt, Mên, Lào gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng Nga Xô phủ quyết. Ngày 1/10/52, Dân số Hà Nội năm 1952: người Việt 267.715; và 17.745 Pháp kiều. Ngày 8/10/52, thành lập Nha Chiến tranh Tâm lý tại Phủ Thủ tướng (NĐ 65/Cab/Press). Ngày 10/10/52, tại Pháp Quốc trưởng Bảo Đại hội đàm với Tổng thống Pháp Auroil, lần nầy có các Bộ trưởng Cao ủy Letourneau, Chévigné. Ngày 12/10/51, tại Hà Nội gạo lại tăng giá, tám thơm 1.650$ một tạ, Thành phố bắt đầu bán gạo cho dân chúng 6$ một ký. 

Ngày 20/10/52, giá gạo cho dân chúng tăng từ 6$ một ký lên thành 7$50 một ký, mỗi gia đình chỉ mua được 10 ký. Ngày 14/11/52, Cựu Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí được tái bổ chức vụ điều khiển Bắc Việt. Ngày 15/11/52, ba tỉnh Bến Tre, Gò Công, Tân An do nhà binh Pháp quản trị, được giao trả cho Chính phủ Việt Nam. Ngày 16/11/52, ban hành “Quy chế nghề nghiệp”. Nghiệp đoàn được thành lập sau khi nộp điều lệ, và cấp biên lai (Dụ số 23). Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ đóng quân của Pháp tại Nà-Sản. Ngày 1/12/52, Bộ Quốc phòng Việt Nam gọi nhập ngũ các thanh niên từ 20 đến 28 tuổi có bằng Cao đẳng Tiểu học để theo học các lớp Sĩ quan. 

3. Ngày 3/12/52, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ở Pháp về tuyên bố, cần thắt chặt tinh thần với Cao Mên, và sẽ đặt Tòa Đại sứ Việt Nam tại Nam Vang. Ngày 9/12/52, Ngân sách xây dựng dành cho Kiến Ốc Cục năm 1952 là 53 triệu đồng. Ngày 12/12/52, tại Sài Gòn, Hội đồng các Thủ hiến họp bàn về cách thức bầu cử các Hội đồng thành phố và Thị xã. 

Ngày 27/12/52, thành lập các Hội đồng Thành phố và Thủ đô: Hội đồng hàng Quận ở 7 Quận Đô thành tại Sài gòn-Chợ lớn; Hội đồng Quản trị Đô thành: 22 Hội viên Việt, Pháp, Tàu; Hội đồng Thành phố Hà Nội:18 Hội viên Việt, 6  Pháp; Hội đồng Thành phố Hải Phòng: 15 Hội viên Việt, 9 Pháp. Tại Huế: Hội đồng Thành phố Huế: 12 Hội viên Việt Nam; Hội đồng Thành phố Đà Nẳng:18 Hội viên Việt, 5 Pháp. Cách thức bầu cử do Thủ tướng ấn định. Hội viên Pháp do Thủ tướng chỉ định (SL105,106,107,108/NV). Ngày 31/12/52, Tại Đà Lạt: cũng có Hội đồng Thành phố Đà Lạt gồm 9 Hội viên Việt Nam, 1 Hội viên Cao nguyên, và 6 Hội viên Pháp (SL 35/QT/TD)...

4. Ngày 6/1/53. Ngân khố Trung Việt ở Huế được tái lập từ 1/1/53.

 

 

 

 

 

 

8. CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN TÂM (2): 8.1.1953 - 11.1.1954.

Ngày 8/1/53, Sau khi Phó thủ tướng Phan Văn Giáo, và Tổng trưởng Nghiêm Văn Tri từ chức, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cải tổ Nội các.Nguyễn Văn Tâm trình danh sách Nội các lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận.

I. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Nguyễn Văn Tâm

Thủ tướng, kiêm Nội Vụ

2

Lê Văn Hoạch

Phó thủ tướng kiêm Thông tin, Tâm lý chiến

3

Nguyễn Huy Lai

Phó Thủ tướng kiêm Tài chánh, Kế hoạch, Kiến thiết

4

Trương Vĩnh Tống

Tổng trưởng Ngoại giao

5

Phan Huy Quát

Tổng trưởng Quốc phòng

6

Nguyễn Văn Nhung

Tổng trưởng Kinh tế

7

Ng. Thành Giung

Tổng trưởng Giáo dục

8

Lê Tấn Nẫm

Tổng trưởng Tư pháp

9

Lê Quang Huy

Tổng trưởng Công chánh, Viễn thông

10

Hàm Tấn Nghiệp

Tổng trưởng Y tế

11

Cung Đình Quỳ

Tổng trưởng Canh nông

12

Lê Thăng

Tổng trưởng Lao động, Xã hội

13

Phan Văn Hy

Tổng trg Cựu binh, Phế binh

14

Đào Đăng Vỹ

Bộ trưởng Phủ thủ tướng

15

Lê Quang Hộ

Bộ trưởng Nội vụ

16

Vũ Hồng Khanh

Bộ trg Thanh niên, Thể thao.

II. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 5/3/53, tại Nga, Joseph Staline đứt mạch máu đầu tử 1/3 hôm nay tắt thở thọ 73 tuổi. Ngày 7/3/53, Georges Malenkov, được cử làm Thủ tướng kiêm Đệ nhất Bí thư đảng Cộng sản Nga, có 4 Phó thủ tướng là Béria, Molotov, Boulganine, Kaganovitch. Ngày 10/3/53, hai khu trục Nga Mig 15 bắn rớt một phi cơ Hoa Kỳ vì cho rằng xâm phạm không phận Đông Đức. Mỹ không phản ứng. Ngày 12/3/53, hai khu trục Nga Mig 15 lại bắn rớt một phi cơ Anh giữa Hambourg và Berlin làm 6 người chết. Và, Anh cũng không phản ứng mạnh. 

Ngày 14/3/53, Kroutchev được cử làm Bí thư thứ nhất đảng thay Malenkov. Ngày 15/3/53, Malenkov tuyên bố sẽ tôn trọng và bảo vệ hoà bình. Ngày 18/3/53, Nga Xô xin lỗi Anh về vụ phi cơ Anh bị bắn hạ  ngày12/3. Ngày 20/5/53, Hội nghị Bàn Môn Điếm, gặp khó khăn vì 48.000 tù binh không muốn trở về xứ củ Bắc Cao Ly. Tới nay hai bên mới đạt thỏa thuận “Số tù binh đó sẽ được giao cho một Quốc gia Trung lập trông nom, và liệu sau. Ngày 4/6/53, Hội nghị Bàn Môn Điếm giải quyết xong vấn đề tù binh “ai không muốn về xứ củ thì được giao cho một Ủy ban gồm 5 Quốc gia Trung lập”.

2. Ngày 17/6/53, Tổng thống Lý Thừa Vãn đột nhiên thả 27.000 tù binh Bắc Cao Ly với dụng ý phá vỡ cuộc thỏa hiệp với Cộng sản ở Bàn Môn Điếm. Ngày 17/6/53, Thợ thuyền Đông Bá Linh và nhiều thành phố Đông Đức nổi dậy chống chính phủ Cộng sản Ulbrich bởi chính phủ nầy buộc giới Lao động tăng năng xuất 10% mà không cho tăng lương; hàng ngàn người bị bắt giam, và 22 ngưới bị hành quyết. Ngày 9/7/53, Phó thủ tướng Béria bị cất chức Trưởng Cục Mật vụ, và trục xuất khỏi đảng Cộng sản Nga Xô. Ngày 14/7/53, đêm qua sau khi Lý Thừa Vãn tuyên bố sẽ không công nhận đình chiến, quân Trung Cộng và Bắc Cao tấn công rất mạnh vào 4 Sư đoàn quân Nam Cao. 

Ngày 16/7/53, quân Liên Hiệp Quốc phản công thắng lợi ở Cao Ly. Ngày 22/7/53, Bộ Ngoại giao Mỹ cam đoan với Trung Cộng và Bắc Cao Ly rằng “Nam Cao Ly sẽ tôn trọng Hiệp ước đình chiến”. Ngày 27/7/53, ký kết Hiệp ước đình chiến ở Bàn Môn Điếm, ấn định: “Một vùng Phi quân sự 2 cây số bên nầy và bên kia vĩ tuyến 38; Thành lâp một Ủy ban Kiểm soát đình chiến; Ấn Độ sẽ quản trị những tù binh không muốn trở về xứ củ; Trong vòng 3 tháng sẽ nhóm họp Hội nghị Chính trị để định việc rút quân ngoại quốc ra khỏi Cao Ly, và “bàn việc thống nhất Nam-Bắc”. 

III. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 20/1/53 Eisenhower nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ. Ngày 3/2/53, Quốc hội Pháp chấp thuận dự án Ngân sách 1954 cho chiến tranh Đông Dương là 569 tỷ quan (đồng Phrăng). Ngày 28/3/53, Thủ tướng Pháp René Mayer hội đàm với Tổng thống Mỹ Eisenhower và được nhận định rằng “cuộc chiến tranh ở Đông Dương cũng nhằm mục đích chống Cộng như ở Cao Ly”. Nếu nhân dịp đình chiến ở Cao Ly mà Trung Cộng tràn qua Đông Dương thì sẽ có hậu quả tai hại. Ngày 11/4/53, Mên hoàng Sihanouk sang Pháp yêu cầu Pháp trả thêm quyền, bực tức bỏ sang Mỹ, tuyên bố “nếu Pháp không trả thêm quyền, người Mên sẽ theo Cộng sản”. 

Ngày 13/4/1953, tại Lào, quân Pháp rút khỏi Sâm Neua về Đồng Chum, vì 3 Sư đoàn Việt Minh đang kéo tới vùng nầy. Ngày 15/4/53, Thủ tướng Lào Souvanna Phouma tố cáo Việt Minh xâm lăng Lào, và kêu gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp. Quốc vương Lào cũng gởi Công hàm cầu cứu Liên Hiệp Pháp. Ngày 19/4/53, Tại Đồng Chum, quân Pháp lập cầu không vận chở quân tiếp viện và vật liệu, xây dựng khu Phòng thủ kiên cố với 12.000 quân đồn trú. Ngày 20/4/53, Quân Pháp rút khỏi Xieng Khoang, quân Việt Minh chia thành 4 cánh tiến đánh đồn Mương Ngoi cách Luang Prabang 80 cây số, rồi đánh cả đồn Pak Song, và tràn khắp thung lũng sông Nam Pa và sông Nam Kham. 

2. Ngày 22/4/53, tại Miên, Hội đồng Nội các Mên biểu quyết ủng hộ lập trường cương quyết của Mên hoàng Sihanouk đối với Pháp. Ngày 27/4/53, Pháp cải tổ Cơ cấu Đại diện Đông Dương, để phù hợp với các Thỏa ước đã ký kết với các Quốc gia Liên Kết: bỏ “Cao ủy duy nhất” thay bằng “một Tổng Ủy Viên” bỏ các “Ủy viên Cộng hòa” tại mỗi Quốc gia hoăc mỗi Phần, thay bằng “Cao Ủy”. Cùng ngày 27 tháng 4, Gautier được cử làm Cao Ủy tại Việt Nam. Ngày 28/4/53, quân Việt Minh tới gần Luang Prabang, chỉ còn cách 20 cây số, vua Lào quyết định ở lại với dân. Dân chúng tham gia công cuộc phong thủ, võ khí được chở tới bằng cầu không vận. 

Ngày 10/5/53, Pháp phá giá đồng bạc Đông Dương, kể từ 11/5/53, mỗi 1$ Đông Dương từ 17 quan xuống còn 10 quan. Ba Chính phủ Việt, Mên, Lào cùng phản đối vì không được hỏi trước, trái với quy định tại các Thỏa ước đã ký ở trường hợp nầy phải hỏi ý kiến các Quốc Gia Liên Kết. Dân chúng xôn xao hoảng hốt, nhất là giới thương mại. Ngày 18/5/53, Việt Minh rút khỏi Luang Prabang, quân Pháp tỏa ra và tái chiếm Xieng Khoang. Ngày 28/5/53, tướng Henri Navarre, Tham mưu trưởng của thống chế Juin được cử sang làm Tổng Tư lệnh thay tướng Raoul Salan. 

3. Ngày 14/6/53, sau khi trao quyền cho Thủ tướng Penn Nouth, Sihanouk bỏ lánh sang Vọng Các, và gởi thông điệp: “kêu gọi dân chúng chờ ông đi vận động cho nền độc lập của Mên được hoàn toàn; ông trách Pháp giả dối trong sự “thực hiện độc lập của Cao Mên”. Ngày 20/6/53, Sihanouk trở về tỉnh Battambang, và tuyên bố chỉ về Thủ đô khi nào độc lập hoàn toàn. Ngày 27/6/53, Pháp gởi thêm quân sang Mên, Chính phủ Mên phản đối, và cho tăng cường quân canh gác các Công sở và Hoàng cung. Ngày 1/7/1953, tại Pháp, Joseph Laniel nhậm chức Thủ tướng, họp Hội đồng Nội các để “ấn định chính sách đối với Đông Dương”. 

Ngày 3/7/53, trong một bản Thông điệp gởi cho Việt, Mên, Lào, Laniel tuyên bố rằng “có nhiều tiến bộ trong các lãnh vực từ khi ký Thỏa ước năm 1949, và sửa đổi cho thích hợp với tình thế mới; Sự kiện độc lập của 3 Quốc gia Liên kết và chuyển giao nốt những thẩm quyền mà Pháp còn tạm giữ vì tình trạng chiến tranh; sẽ Thỏa hiệp với các Quốc gia Liên kết để thực hiện các điểm kể trên, và thắt chặt tình thân giữa các Quốc gia đó và Liên Hiệp Pháp. Ngày 16/7/53, Quốc hội Pháp cử một Ủy ban điều tra vụ “buôn lậu đồng bạc” nhân dịp phá giá ngày 11/5/53, vì có tin đồn một số nhân vật quan trọng có dính líu vào vụ nầy. 

4. Ngày 21/7/53, Chính phủ Pháp chấp thuận “Kế hoạch Navarre=Plan Navarre”, theo đó: “Giao trách nhiệm nhiều hơn cho quân đội Việt Nam; Tập trung lực lượng để chờ đánh mạnh; Gởi thêm quân viện cho Không quân và Hải quân; Cử thêm Chuyên viên cho Đoàn quân viễn chinh trong quân đội Pháp”. Ngày 28/7/53, Đại sứ Maurice De Jean được cử làm Tổng Ủy Pháp tại Đông Dương. Ngày 30/7/53, Quốc hội Mỹ chấp thuận viện trợ quân sự cho Đông Dương tài khóa 1953-1954 là 400 triệu Mỹ kim. 

Ngày 28/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại, sau khi gặp Bộ trưởng Marc Jacquet, hội kiến với Tổng thống Auroil. Nhân dịp nầy, Ngoại trưởng Georges Bidault tuyên bố “Pháp sẽ thừa dịp đình chiến ở Cao Ly mà tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương”. Nhưng, không mở cuộc điều đình nào mà không hỏi ý kiến và lấy thỏa hiệp với các Chính phủ Quốc gia Liên kết. Ngày 2/9/53, Chính phủ Mỹ thuận viện trợ thêm 385 triệu Mỹ kim nữa trước ngày 31/12/1954, với điều kiện Pháp phải tăng cường nổ lực chiến tranh và sớm hoàn bị tổ chức các Quân đội Quốc gia Việt, Mên, Lào. Ngày 15/10/53, ký Thỏa ước Lào-Pháp. 

5. Ngày 17/10/53, Pháp ký Thỏa hiệp với Mên chuyển giao cho chính phủ Mên 4 Khu Quân sự gồm 11 tỉnh. Ngày 8/11/53, Sihanouk được Quốc hội Mên suy tôn là “anh hùng dân tộc” hôm nay mới chịu hồi loan về Nam vang và được dân chúng hoan hô. Ngày 12/11/53, Thủ tướng Pháp Laniel tuyên bố, Chính phủ Pháp không nghĩ rằng vấn đề Đông Dương nhất thiết phải có giải pháp quân sự, rằng Pháp không đòi đối phương phải đầu hàng không điều kiện, Pháp mong muốn có hòa bình. Ngày 17/11/53, Sihanouk tuyên bố nay vấn đề chủ quyền Mên đã giải quyết, Mên cương quyết chống Cộng. 

Ngày 26/11/53, Thượng Hội đồng Liên hiệp Pháp họp lần thứ ba, Tổng thống Auliol xác định lại rằng Liên hiệp Pháp là “Đoàn thể Huynh đệ” gồm Pháp và những Quốc gia tự do gia nhập, độc lập, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, chung lưng góp sức để phát triển văn minh riêng, tăng hạnh phúc, cùng bảo vệ an ninh. Ngày 12/12/53, Hội nghị Liên Hiệp Pháp bầu Albert Sarraut cựu Toàn quyền Đông Dương làm Chủ tịch, Phó chủ tịch, Nguyễn Trung Vinh. Ngày 14/12/53, trong một Thông điệp gởi quốc dân, Hồ Chí Minh tuyên bố “nếu Pháp muốn chấm dứt chiến tranh, nếu Pháp muốn giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách hòa bình, thì Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, và nhân dân Việt Nam sẵn sàng tiếp chuyện.”  

6. Ngày 23/12/53, tại Pháp Quốc hội bỏ phiếu lần thứ 13 mới bầu được một chính khách ít người biết là René Coty làm Tổng thống nước Pháp kế nhiệm Tổng thống Auriol.

IV. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 1/1/53. tính đến nay các bên tham chiến:  Lưc lượng Việt Minh: 350.000 gồm: 125.000 chính quy, 75.000 chủ lực, 150.000 dân quân. Lưc lượng Liên Hiệp Pháp: 230.000 gồm: 54.000 Pháp, 30.000 Bắc Phi, 18.000 Phi, 20.000 Lê Dương, 53.000 Việt, Mên, Lào, 55.000 Phụ lực, Hải quân 5.000; Không quân 10.000 và 265 máy bay, gồm 90 phi cơ vận tải, 175 phóng pháo B26. Quân đội Quốc gia: gồm Việt Nam: 200.000 (150.000 chủ lực, 50.000 Cảnh bị), Lào 15.000, Mên 10.000. Số Đồn ở Trung Châu Bắc Việt: 917 (gồm 80 tối tân, 25 canh tân, 810 lỗi thời) Cộng 100.000 nơi đồn trú. 

Ngày 14/1/53, Đồn lớn An Khê thất thủ, hôm sau 15/1 quân Pháp tái chiếm. Ngày 29/1/53, Pháp mở cuộc hành quân lớn tảo thanh vùng Quy Nhơn, An Khê Ngày 6/2/53, chấm dứt cuộc hành quân vùng Quy Nhơn/ An Khê, kết quả phá hủy nhiều mật khu. Ngày 20/2/53, tại Bắc Việt hiện có 223 đồn Bảo Chính Đoàn, và 371 đồn Hương Dũng. Ngày 23/2/53, Tướng Cogny Tư lệnh Pháp tại Bắc Việt đích thân chỉ huy cuộc hành quân Nice ở vùng Gia Lâm, Lang Tài, Gia Bình, Đại Than, ba cánh quân xiết chặt vòng vây, cùng với máy bay ném bom napalm thiêu hủy các làng có quân Việt Minh chiếm đóng như Phú Dư, Phú Thọ, Lương Xá, Tử Nê, Ngọc Lục. 

2. Ngày 19/3/53, cuộc hành quân của 6 Tiểu đoàn Pháp tiến đánh chiếm Hòa Bình hôm 16/3, hôm nay sau khi phá hủy các cơ sở quân sự, đã rút khỏi Hòa Bình. Ngày 27/3/53 tướng Gilles chỉ huy cuộc hành quân tảo thanh “Hautes Alpes” đánh xuống vùng Phát Diệm, Thanh Hóa. Ngày 20/4/53, Tỉnh lỵ Kiến An bị đột kích, Tỉnh trưởng bị sát hại, tòa Tỉnh bị phá. Ngày 28/4/53, thành phố Nam Định bị đột nhập, kịch chiến từ 12 giờ đêm đến 2 giờ sáng. Các trại lính đều bị tấn công, một trại mất 400 tân binh. Bảo Chính đoàn và Cảnh sát kháng cự mạnh. 

Ngày 4/5/53, Khu Đồng Quan, Hà Đông bị 4 tiểu đoàn Việt Minh tấn công, đòn Tri Chỉ bị phá, nhiều Bảo Chính và Hương Dũng bị chết hoặc mất tích. Ngày 10/5/53, đồn Yến Vĩ cách Hà Nội 50 cây số bị nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tấn công, nhưng đứng vững. Ngày 15/5/53, đồn Yên Vĩ lại bị tấn công, quân Pháp tiếp viện giải vây. Ngày 28/5/53, Pháp phải bỏ đồn Yên Vĩ. Ngày 19/6/53, Kho xăng dầu của hảng Shell ở Thường Lý, Kiến An, bị đột kích đốt cháy 4 triệu thùng xăng dầu. 

3. Ngày 17/7/53, hai Tiểu đoàn Pháp lại đổ bộ xuống Lạng Sơn, một Tiểu đoàn chiếm đóng Thành phố, một Tiểu đoàn phá hủy các Cơ sở quân sự. Đến trưa, một Tiểu doàn nữa được thả xuống Lộc Bình cách 20 cây số để yểm trợ cho hai Tiểu đoàn kia rút lui. Một Phân đoàn khác được gởi đến Tiên Yên để tiếp đón các Đoàn trên. Pháp thông báo “đã phá hủy được một số đạn dược mà quân Việt Minh có thể dùng trong 3 tháng”. 

Ngày 28/7/53 đến 4/8/53, Pháp mở cuộc hành quân “Camargue” vùng Duyên hải Quảng Trị, nơi được coi là “Phố không vui=Rue sans Joie” để phá các làng chiến đấu và căn cứ của Trung đoàn 95. Kết quả, Pháp chết 17, bị thương hơn 100, Việt Minh chết 182, và 378 bị bắt. Ngày 8/8/53, theo đề nghị của tướng Cogny, Tư lệnh Bắc Việt, quân Pháp rút khỏi Căn cứ Nà Sản. Mấy toán đầu về Hà Nội bằng máy bay. Hàng ngàn dân Thái, Thổ, Nường cũng theo về Thủ đô. Đến hôm nay 12/8, Pháp hoàn toàn rút khỏi Căn cứ Nà Sản. Ngày 1/9/53, Tiểu khu Quân sự Bùi Chu được chuyễn giao cho Quân đội Việt Nam. 

4. Ngày 20/9/53, Theo tài liệu của Tổng Tư lệnh Navarre, tính đến ngày hôm nay lực lượng Việt Minh và Pháp tại Bắc Việt như sau: Pháp: 8 Đoàn Lưu động: Mỗi Đoàn Lưu động gồm: 1 Bộ Tham mưu, 3 Đại đội Bộ binh, 2 Đại đội Truyền tin, 1 Đại đội súng cối, 1 Đại đội Pháo binh, 1 Đại đội Khai thác; 2 Đoàn Thết giáp; 2 Đoàn Thủy Lục. Việt Minh: Sư đoàn 320 phía Phủ Lý, Hưng Yên; Sư đoàn 308 và 312 phía Vĩnh Phúc Yên và Bắc Ninh; Sư đoàn 304 và 316 phía Phát Diệm, Bùi Chu; Đại đoàn 351 ở Bắc Trung Châu; Trung đoàn 148 phía Lai Châu và Thượng Lào; Sư đoàn 325 đang thành lập ở Vinh. 

Ngày 20/9/53, Pháp mở cuộc hành quân “Brochet” tảo thanh vùng Thái Bình, Ninh Bình để phá hủy các căn cứ của Trung đoàn 52 Việt Minh. Ngày 3/10/53, Đã hết mùa mưa, Pháp cố tấn công trước. Hôm nay một đoàn Nhảy dù được thả xuống Côc Lếu gần Lào-Kay phà huỷ cầu sắt cũng các kho vũ khí. Ngày 15/10/53, Pháp mở cuộc hành quân “Hải Âu=Mouette” đánh vào các Sư đoàn 304 và 320 Việt Minh, một cánh tiến về Phủ Nho Quan và Thanh Hóa, một cánh đổ bộ ở vùng duyên hải gần Phát Diệm. Các Sư đoàn 304 và 320 không chịu giáp chiến chỉ phục kích quân Pháp nhiều nơi. Ngày 23/10/53, Kết quả, hành quân “Hải Âu=Mouette”, theo Bộ Tư lênh Pháp, Sư đoàn 320 Việt Minh 1.200 tử trận, 3.000 bị thương. 

5. Ngày 20/11/53, tướng Navarre mở hành quân “Castor” đổ bộ 6 Tiểu đoàn chiếm đóng Điện Biên Phủ để lập một căn cứ cố thủ ngăn chặn Việt Minh tràn qua Lào, đồng thời bảo vệ miền Trung Du. Căn cứ Điện Biên Phủ được xây dựng, có sức chứa từ 10 đên 12 Tiểu đoàn, gồm: Bộ phận Trung ương, có Phi trường và 5 đồn Claudine, Hugutte, Ann-Marie, Đominique, và Eliane; Cách 3 cây số về phía Bắc và Đông Bắc là những đồn Gabrielle và Besatrice có nhiệm vụ yểm trợ khu Trung ương; Về phía Nam cách 7 cây số là đồn Isabelle; Dây thép gai bao quanh các đồn bề rộng 50-70 thước. Ngoài ra còn có những khoảng đất gài mìn và chứa Napalm. 

Ngay sau đó, các tướng Ely, Blane, Bộ trưởng Pleven, Chesvigné, Mare Jacque tới thăm căn cứ, đều nhận là kiên cố. Trước đó, người tiền nhiệm là tướng Salan cũng đã từng chủ trương đóng tại đây. Ngày 22/11/53, quân Pháp ở Lai Châu đã liên lạc được với Điện Biên Phủ. Ngày 8/12/53, quân Pháp rút khỏi tỉnh lỵ Lai Châu về đóng cả ở Điện Biên Phủ. Đại tá Castries được cử làm chỉ huy Căn cứ nầy thay Thiếu tướng Gilles. Ngày 8/12/53, Các Sư đoàn Việt Minh 316, 304, 308, 312, và Đại đoàn 351, đều tiến về Điện Biên Phủ. Chừng 20.000 dân công cũng được huy động để làm công tác vận tải. Pháp được tin chắc chắn như vậy. Ngày 25/12/53, Pháp đã biết rõ các Sư đoàn Việt Minh bao vây căn cứ Điện Biên Phủ theo một vòng gần khép kín, Pháp chờ đợi cuộc tấn công vào thượng tuần tháng 1/1954. 

V. Những việc đã làm.

1. Ngày 25/1/53, bầu cử 18 ghế Đại biểu Hội đồng thành phố Hà Nội. Có 102 ứng viên dự tranh. Ngày 26/1/53, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh sang Pháp vận động phát triển Quân lực Việt Nam tuyên bố: Năm 1950 chỉ có 5 Tiểu đoàn, nay đã tổ chức xong 6 Sư đoàn, mỗi Sư đoàn gồm 9 Tiểu đoàn, 1 đội Pháo binh, và những đội chuyên môn Tình báo, Công binh, Truyền tin.v.v. Tổng số quân 167.000. Hiện có 3.500 Sĩ quan, mỗi năm đào tạo được 1.500, Còn tới 600 Sĩ quan Pháp trong quân đội Việt Nam. Ngày 28/1/53, thành lập Địa Phương Quân tại Bắc Việt để thay thế Tự Vệ Hương thôn (NĐ 314/PTH). 

Ngày 1/2/53, nhờ có gạo trong Nam chở ra và gạo mùa vừa rồi. Gía gạo Hà Nội: gạo thơm hơn 1.000$, gạo mùa 800$. Ngày 19/2/53, Hội đồng thành phố Hà Nội tựu chức. Hội viên Nguyễn Thế Truyền đọc diễn văn có tính cách chính trị, không nói đến công việc hành chánh, tài chánh thuộc nhiệm vụ của Hội đồng. Ngày 20/2/53, tại Bắc Việt hiện có 223 đồn Bảo Chính Đoàn, và 371 đồn Hương Dũng. Trong số 12 Tỉnh với 4.630 làng thì: có 1.442 làng có an ninh; 1.303 tạm yên; và 1.885 mất liên lạc. 

Th. Tu

Chỉ danh

Tổng số

Có an ninh

Tạm yên

Mất liên lạc

1

Tỉnh Hà Đông

700

216

406

78

2

Tỉnh Sơn Tây

253

247

 

6

3

Tỉnh Kiên An

444

444

 

 

4

Tỉnh Gia Lâm

482

241

122

119

5

Tỉnh Vĩnh Phúc Yên

415

92

177

146

6

Tỉnh Hưng Yên

569

52

133

384

7

Tỉnh Thái Bình

214

39

86

89

8

Tỉnh Vĩnh Ninh

471

31

92

348

9

Tỉnh Nam Định

352

24

201

127

10

Tỉnh Hà Nam

300

11

41

248

11

Tỉnh Bùi Chu

341

6

11

324

12

Tỉnh Quảng Yên

79

39

34

16

13

Tổng cộng

4.630

1.442

1.303

1.885

2. Ngày 24/2/53, tại Đà Lạt, Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa Hội nghị quân sự, có Bộ trưởng kiêm Cao Ủy Letourneau, tướng Salan, Gautier, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, Tổng trưởng Quốc phòng Lê Quang Huy, và tướng Nguyễn Văn Hinh. Hội nghị quyết định: thành lập 54 Tiểu đoàn Khinh Binh, trực thuộc Tổng Tham Mưu trưởng Việt Nam về mặt tổ chức; quản trị thì độc lập; và Tổng Tư lệnh tối cao là Quốc trưởng, nhưng vẫn chịu sự chỉ huy hợp nhất của Pháp. Ngày 27/2/53, Ngân sách Hà Nội năm 1952: 160.390.200$; Ngân sách Hải Phòng: 60.148.000$. 

Ngày 28/2/53, từ nay “ngày Quốc lễ Độc lập” là ngày 8 tháng 3 để kỷ niệm ngày ký Thỏa ước Elysée 8/3/1949. (Dụ số 3). Ngày 1/3/53, bầu cử Hội đồng Thị xã Dà Lạt. Ngày 19/3/53, từ nay các Xã sẽ có một Hội đồng Hương Chính do dân bầu gồm: 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 Tổng thơ ký, và một số Ủy viên, tối đa là 9 người. (SL34/NV). Ngày 29/3/53, Địa Phương Quân Bắc Việt được Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm thừa nhận, và cấp kinh phí. Ngày 1/4/53, Chính phủ ban hành Nghị định (NĐ200/Cab/SG) thành lập Ủy ban Quốc gia Khảo cứu Khoa học và Kỷ thuật. 

3. Ngày 2/4/53, ban hành chế độ thuê nhà và cho thuê: người thuê có quyền lưu cư, quyền đòi lại nhà bị hạn chế (Dụ số 4). Ngày 10/4/53, quân đội Việt Nam nhận được 13 tàu thủy cở nhỏ của Hoa Kỳ viện trợ. Ngày 13/4/53, ban hành các Bộ luật về thuế: Thuế Điền thổ; Thuế Môn bài; Thuế Giàn thu; Thuế Lợi tức (các Dụ số 7,8,9,và 10). Ngày 4/5/53, thành lập Hải cảng Đà nẳng, và Cơ cấu Tổ chức cho Hải cảng nầy (NĐ 281,và 283/SG). Ngày 5/5/53, thành lập Nha Thủy Vận tại Bộ Công Chánh (NĐ 53, và 55/BCC). 

Ngày 11/5/53, việc Pháp phá giá đồng bạc Đông Dương ngày 10/5/53, hôm nay giá vàng 2.700$ một lạng buổi sáng tăng vọt lên 3.800$ vào buổi chiều. Ngày 12/5/53, Chính phủ Việt Nam ban hành cấp tốc một số biện pháp ứng phó với sự phá giá đồng bạc: “Đình chỉ mọi xuất cảng; Kiểm tra số thóc gạo, thực phẩm, cùng hóa phẩm tối cần; Hạn chế các vụ nhập cảng không tối yếu; Đặt thuế quân bình giữa hai giá củ và mới đối với các mặt hàng nhập cảng; Giữ nguyên mức giá hàng và lương bổng, xét lại tháng lương sau; Xét lại giá biểu quan thuế, bưu điện”. 

4. Ngày 4/6/53, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ 19,20,21, và 22 quy định “Chế độ Cải cách Điền địa”: “Địa tô tối đa 15% hoa màu; Diện tích tối đa của Điền chủ từ 36 đến 100 mẩu tây tùy từng Phần và số con; Thu hồi những phần Đồn điền không khai khẩn để chia cho Tá điền; Người cấy ruộng hoang từ 3 năm trở lên, được quyền tiếp tục”. Ngày 6/6/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm đọc diễn văn công kích chế độ Liên Hiệp Pháp và đòi thay đổi: “bãi bỏ các tòa án hổn hợp; bãi bỏ các Hiệp định Liên quốc mà Việt, Mên, Lào bị ràng buộc Pháp về kinh tế, và quan thuế; trao lại cho Quân đội Việt Nam nhiều Tiểu khu Quân sự; trả về Quốc trưởng quyền hành Tổng Tư lệnh”. 

Ngày 22/6/53, mỗi tỉnh sẽ có một Hội Đồng hàng Tỉnh từ 10 đến 20 Hội viên do các Hội đồng Hương chính bầu lên với nhiệm kỳ 3 năm, có “Nhiệm vụ Tư vấn” cho tỉnh trưởng. Ngày 25/6/53, các Tiểu khu quân sự Vĩnh Long và Trà Vinh được chuyễn giao cho quân đội Việt Nam. Có một số Vệ binh bỏ ra bưng. Cùng ngày 25/6/53 nầy, thành lập một trường Cao Đẳng Võ Bị để đào tạo chỉ huy Cao cấp cho Quân đội Việt Nam (SL số 59/QP). Ngày 29/6/53, tất cả Công dân từ 20 đến 45 tuổi phải thi hành Quân dịch: “Một Quy chế ấn định cho Quân đội Hiện dịch và Trừ bị; Đặt lệ kiểm tra Trưng binh, Nhập ngũ, Miễn dịch, Hoãn dịnh, Trừ dịch, Đầu quân, Tái đăng, Động viên (Dụ số 29, với 109 điều). Thời hạn Quân dịch là 2 năm (Dụ số 30).

5. Ngày 6/7/53, trên 30 ngàn quân Tàu Tưởng xâm nhập Việt Nam trái phép bị đưa ra tạm trú đảo Phú Quốc từ năm 1949-1950, nay được 30 chiếc tàu của Chính phủ Tưởng Giới Thạch chở về Đài Loan. Ngày 1/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp để yêu cầu “kiện toàn độc lập theo bản tuyên ngôn 3/7/1953 của Chính phủ Laniel. Khi tới Nice, Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố rằng cần “Sửa đổi Tổ chức Liên Hiệp Pháp cho thích hợp với quyền lợi của Việt Nam và Pháp”. Ngày 12/8/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm gởi cho Tổng Ủy Gautier 4 bảng liệt kê những “thẩm quyền” Pháp cần giao lại cho Việt Nam, cùng với các Hiệp định cần sửa lại như: “Trưng dụng nhà cửa; Cơ quan phụ trách xăng dầu; Kiểm soát đường hỏa xa Vân Nam; Phòng thí nghiệm cảnh sát tư pháp; Điện lực; Ủy ban điều hòa vận tải; Và, các Hiệp định áp dụng Thỏa ước 8/3/1949.v.v.

Ngày 28/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại, sau khi gặp Bộ trưởng Marc Jacquet, hội kiến với Tổng thống Auroil. Nhân dịp nầy, Ngoại trưởng Georges Bidault tuyên bố “Pháp sẽ thừa dịp đình chiến ở Cao Ly mà tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương”. Nhưng, không mở cuộc điều đình nào mà không hỏi ý kiến và lấy thỏa hiệp với các Chính phủ Quốc gia Liên kết. Ngày 1/9/53, Tiểu khu Quân sự Bùi Chu được chuyễn giao cho Quân đội Việt Nam. Nhiều Tiểu đoàn Khinh quân Việt Nam hoạt động tại vùng nầy. Ngày 4/9/53, Quốc trưởng Bảo Đại triệu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm sang Pháp để hỏi về việc thành lập Phái đoàn thương thuyết với Pháp. Vấn đề gay go ở chỗ các đảng phái Việt Nam công kích chính phủ quá thân Pháp, và đòi hỏi triệu tập một quốc dân Đại hội….

6. Ngày 9/9/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ở Pháp về yêu cầu các đảng phái và đoàn thể đưa 20 người tham gia Phái đoàn thương thuyết. Ngày 10/9/53, Tổng Ủy viên De Jean tuyên bố “có những dư luận quá khích muốn Việt Nam từ bỏ Liên Hiệp Pháp” rằng Pháp chiến đấu thì ít ra cũng phải có quyền lợi, rằng phải có hiệp ước để bảo vệ kinh tế và văn hóa Pháp tại Đông Dương. Ngày 10/9/53, Quốc trưởng Bảo Đại phái Hoàng thân Bửu Lộc về với Đạo Sắc lệnh số 73/QT triệu tập Quốc dân Đại hội. Đại hội gồm 200 đại biểu chọn trong các đảng phái, đoàn thể, tôn giáo, kinh tế, xã hội… Đại hội sẽ phát biểu ý kiến 2 vấn đề: (a) Chủ quyền quốc gia phải được tới mức nào? (b) Thể thức hợp tác Việt Pháp?

Ngày 22/9/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cử một Ủy ban tổ chức Đại hội gồm đại diên 5 đoàn thể lớn “Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Công Giáo, Đại Việt, và một số nhân vật khác. Ngày 16/10/53, Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Sài Gòn và biểu quyết: “chống Liên Hiệp Pháp; đòi Việt Nam ra khỏi tổ chức này; chỉ ký với Pháp một Hiệp ước Liên minh bình đẳng mà thôi”. Cùng gày 16/10/53 nầy, Dư luận Pháp rất sôi nổi về thái độ của các Đại biểu dự Đại hội, Hoàng thân Bửu Lộc phải can thiệp cấp tốc với Đại hội, Đại hội chịu sửa lại bản Tuyên ngôn như sau: “Việt Nam độc lập không tham gia Liên Hiệp Pháp dưới hình thức hiện thời”.

7. Ngày 19/10/53, Quốc dân Đại hội yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại biến cải Đại hội thành Quốc hội Lập hiến. Ngày 20/10/53, Chính phủ Pháp gởi Công hàm chất vấn Quốc trưởng Bảo Đại về “lập trường của Quốc dân Đại hội”. Ngày 28/10/53, tại Pháp khi lên đường về nước, Quốc trưởng Bảo Đại bị chất vấn gắt gao về “lập trường của Quốc dân Đại hội”, Quốc trưởng hẹn trả lời sau. Ngày 17/12/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm từ chức. Cùng ngày 17/12 Quốc trưởng Bảo Đại ủy Hoàng thân Bửu Lộc lập Chính phủ mới. Ngày 1/1/54, tiền cấp dưởng cho 5 người con vua Duy tân, mỗi người 1 tháng 340$ (SL số 2/CT). 

9. CHÍNH PHỦ NGUYỄN PHƯỚC BỬU LỘC: 11.1.1954 - 6.7.1954.

I. Bối cảnh thành lập.

Ngày 17/12/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm từ chức. Cùng ngày 17/12 Quốc trưởng Bảo Đại ủy Hoàng thân Bửu Lộc lập Chính phủ mới.Ngày 24/12/53, Hoàng thân Bửu Lộc từ Ba Lê về nước để lập Chính phủ mới. Ngày 11/1/54, Hoàng Thân Bửu Lộc trình danh sách thành viên Chính phủ, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp nhận (SL4/CP).

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Nguyễn Ph. Bửu Lộc

Thủ tướng, kiêm Nội Vụ

2

Nguyễn Trung Vinh

Phó thủ tướng kiêm Canh Nông, Cải cách Điền địa

3

Nguyễn Đệ

Quốc vụ khanh

4

Phan Huy Quát

Tổng trưởng Cải cách Dân chủ

5

Nguyễn Đắc Khê

Tổng trưởng Quốc phòng

6

Nguyễn Quốc Định

Tổng trưởng Ngoại giao

7

Dương Tấn Tài

Tổng trưởng Tài chánh

8

Nguyễn Văn Tỵ

Tổng trưởng Kinh tế Kế hoạch

9

Nguyễn Văn Đạm

Tổng trưởng Tư pháp

10

Lê Thăng

Tổng trưởng Thông tin

11

Lê Quang Huy

Tổng trg G. thông, Công chánh

12

Tấn Hàm Nghiệp

Tổng trg Y tế, Cựu chiến binh

13

Phạm Văn Huyến

Tổng trưởng Xã hội, Lao động

14

Đinh Xuân Quảng

Phó Tổng trưởng Nội vụ

15

Vũ Quốc Thúc

Bộ trưởng Quyền Tổng trưởng Giáo dục

III. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 22/2/54, Thủ tướng Ấn Độ Nehru kêu gọi Pháp và Việt Minh đình chiến. Ngày 10/3/54, Thủ tướng Pháp Laniel tuyên bố tại Hạ Nghị viện cần giải quyết vấn đề Đông Dương bằng cách điều đình. Ngày 19/3/54, Quốc hội Pháp biểu quyết Ngân sách Chiến tranh Đông Dương 1954, là 146 tỷ quan, cộng với 155 tỷ viện trợ Mỹ, không kể 135 tỷ do Mỹ cấp để tăng cường Quân đội các Quốc gia Liên kết. Ngày 1/4/54, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Foster Dulles đọc diễn văn nói rõ chính sách Mỹ tại Đông Á “không thừa nhận Trung Cộng, và bảo vệ tự do cho Đông Nam Á”. 

Ngày 2/4/54, có tin Pháp đã thỏa thuận với Việt Minh: Việt Nam sẽ bị chia đôi.Ngày 24/4/54, Ngoại trưởng Pháp Georges Bidault thông báo cho các Chính phủ Việt, Mên, Lào rằng sẽ có một Hội nghị Quốc tế họp tại Genève để bàn về vấn đề Đông Dương. Ngày 26/4/1954, Khai mạc Hội nghị Quốc tế tại Genève về Cao Ly và Đông Dương, cứ một hôm họp về  Cao Ly, thì một hôm họp về Đông Dương. Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, Phái đoàn Quốc gia Việt Nam do Ngoại trưởng Nguyễn Định Định làm trưởng đoàn. 

2. Ngày 3/5/54, Tổng ủy Maurice Dejean nhân danh Chính phủ Pháp tuyên bố “không hề có ý điều đình bằng cách chia đôi Việt Nam”. Ngày 26/5/54, tại Hội nghị Genève Pháp và Việt Minh đã thỏa hiệp: ngưng bắn, thu quân về những khu vực chỉ định. Việt Minh muốn chia khu vực giản dị, nghĩa là cắt đôi Việt Nam, Việt Minh rút về Bắc, Pháp rút về Nam. Pháp chưa trả lời; Anh tán thành; Mỹ phản đối; Việt Nam giữ nguyên lập trường chỉ có một Việt Nam thống nhất. Ngày 3/6/54, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, tướng Paul Ely được cử làm Cao Ủy (Tổng uỷ viên) kiêm Tổng Tư lệnh Pháp ở Đông Dương thay Maurice Dejean. 

Ngày 8/6/54, Frédéric Dupont được cử giữ chức Bộ trưởng Liên Quốc thay Mac Jacquet. Cùng ngày 8/6/54, Theo Pleven quân của Pháp ở Đông Dương 52.000 (1945), 162.000 (1949), và hiện nay (1954) 216.000 cùng với 525 máy bay. Ngày 12/6/54, Hội nghị Genève bế tắc, Việt Minh không chịu kiểm soát Quốc tế, chỉ nhận kiểm soát Pháp và Việt Minh. Anh tỏ ý bất bình, tuy từ trước vẫn mềm dẻo. Ngày 13/6/54 Chính phủ Laniel đổ. Ngày 14/6/1954, Mendès-France lập Chính phủ. Ngày 3/7/54, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố không được Pháp thông báo gì về kế hoạch của Pháp đối với Đông Dương. 

IV. Chiến sự các nơi. 

1. Ngày 21/1/54, Tướng Navarre mở cuộc hành quân Atlante bình định miền duyên hải Nam Trung Việt. Ngày 26/1/54, Bộ trưởng các Quộc gia Kiên kết, cùng các tướng Blanc và Navarre bay lên thăm Căn cứ Điện Biện Phủ, nơi đồn trú để ngăn cản quân Việt Minh tràn qua Lào. Trước đó, các tướng Ely, Blane, Bộ trưởng Pleven, Chesvigné, Mare Jacque cũng đã tới thăm căn cứ, đều nhận là kiên cố. Ngày 8/2/54, Sư đoàn 308 Việt Minh tiến về Luang Prabang, còn cách 20 cây số, quân Pháp tới ngăn chặn. Ngày 14/2/54, Điện Biên Phủ bị bao vây; Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Pleven, tướng Ely Tổng Tham Mưu trưởng vừa mới qua thăm căn cứ. Đêm 3/3/54, Phi trường Gia Lâm bị đột kích, một số phi cơ bị phá. Đêm 6/3/54, Phi trường Cát Bi cũng bị đột kích, một số phi cơ bị phá. 

Ngày 13/3/53, Điện Biên Phủ bị tấn công mạnh, đồn Béatrice cách 3 cây số về phía Đông Bắc tiền đồn của Căn cứ bị tràn ngập. Ngày 16/3/54, đồn Ann Marie tại Khu Trung ương Điện Biên Phủ bị phá hủy, Đại bác Việt Minh từ các ngọn đồi bắn xuống rất mạnh. Ngày 19/3/54, Theo tướng Navare, đoàn quân Viễn chinh Pháp hiện có: Pháp 62.632; Lê dương 19.000; Phi châu 29.086; Quân lực Quốc gia 55.772. Cộng: 172.600 người. Ngày 20/3/54, tại Điện Biên Phủ, Việt Minh tiến sát chiến lủy khu Trung tâm, đào hào án ngữ, và bắn chặn phi cơ tiếp viện. Ngày 21/3/54, mặt trận Điện Biên Phủ tạm ngớt, một số thương binh Pháp được chở đi, Việt Minh chỉ nã đại bác vào căn cứ. 

2. Ngày 28/3/54, quân Pháp phản công ở Điện Biên Phủ giải tỏa được sân bay. Ngày 2/4/54, chiến sự ngày càng khốc liệt ở Điện Biên Phủ hai bên cùng chết rất nhiều. Cùng ngày 2/4 Việt Minh đưa 2 Tiểu đoàn vào đóng một làng ở Cao Mên, chính phủ Mên kêu gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp. Ngày 6/4/54, từ 30/4, đêm nào các đồn ở Điện Biên Phủ cũng bị tấn công, sân bay không sử dụng được, thương binh không thể chuyển đi, tiếp tế bằng Phi cơ rất khó khăn. Ngày 31/3/54, Việt minh tấn công kịch liệt, Pháp huy động tất cả Phi cơ ở Bắc Việt tham chiến và ném bom napalm, nhiều đồn lủy bị tràn ngập dưới các lớp sóng người xung phong ồ ạt, đại tá Castries vẫn cố giữ và đòi gấp viện binh. 

Ngày 8/4/54, Cao Mên tổng động viên để chống xâm lăng Việt Minh. Ngày 14/4/54, thương vong của Pháp tại Điện Biên Phủ đã lên tới 1.100. Việt Minh đóng chặt phía Bắc Phi trường, và bắn phá không ngớt. Đại tá De Castries được thăng Thiếu tướng, 2 sao do phi cơ ném xuống. Trời mưa tầm tã. Ngày 3/5/54, mưa lớn tại Điện Biên Phủ, hai bên đánh “xáp lá cà” rất kịch liệt, một đồn nữa bị thất thủ. Ngày 7/5/54, các đồn ở Điện Biên Phủ bị tràn ngập dưới lớp sóng người xung phong. Ngày 8/5/1954, quân Pháp đầu hàng ở Điện Biên Phủ sau 55 ngày cầm cự. Ngót 2 vạn quân Pháp chết, bị thương, hoặc bị bắt làm tù binh. 

3. Ngày 8/5/54, Tướng Navarre họp báo tuyên bố, trong trận Điện Biên Phủ, Việt Minh đã bắn 20.000 phát đại bác 105 ly, 20.000 phát đại bác 75 ly, 100.000 đạn súng cối, 60.000 phát cao xạ. Pháp chết và bị thương hơn 4.000, và 8.000 bị bắt; Việt Minh chết 2 Sư đoàn (trên dưới 15.000). Ngày 3/7/54, Tướng Salan tuyên bố, 8 Sư đoàn Việt Minh đương sửa soạn tấn công vào Trung Châu Bắc Việt; Hai Phái đoàn Pháp và Việt Minh gặp nhau ở Trung Giá để bàn về việc ngưng bắn; Quân đội và Chính quyền rút khỏi Phủ Lý, Việt Minh chặn đánh các đồn quanh tỉnh lỵ.  

V. Những việc đã làm.

1. Ngày 1/1/54, tiền cấp dưởng cho 5 người con vua Duy Tân, mỗi người 1 tháng 340$ (SL số 2/CT). Ngày8/1/54, Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo đươc toàn quyền dân chính và quân sự để bình định Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên (SL3a/QT). Ngày 14/1/54, Tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) chỉ huy lực lương Hòa Hảo Dân Xã, được gia nhập quân đội Quốc gia với cấp bậc Trung tá thực thụ trừ bị, và Đại tá giả định. Ngày 23/1/54, thủ tướng Bửu Lộc ra thông tư cho các cơ quan thảo công văn bằng tiếng Việt trừ khi giao thiệp với Pháp, hoặc có vấn đề “chưa dùng tiếng Việt được” vì có tính chuyên môn thuần tuý. 

Cùng ngày 23/1/54, Thủ hiến Trung Việt, Trung tướng Phan Văn Giáo đươc toàn quyền dân chính và quân sự để bình định Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên (SL3a/QT). Ngày 2 6/1/54, thành lập Nha Tổng Giám đốc Công vụ (NĐ số 58/VN). Ngày 30/1/54, thành lập Ủy ban Diệt Hối lộ tại Bộ Tư pháp gồm đại diện các Bộ và 2 nhân sĩ (NĐ 96/TP). Ngày 22/2/54, Quốc trưởng chỉ định một Phái đoàn Việt Nam đàm phán với Pháp các vấn đề “độc lập và chủ quyền của Việt Nam”. Chủ tịch Bửu Lộc, Phó Chủ tịch Nguyễn Trung Vinh, Ủy viên Nguyễn Quốc Định, Phan Huy Quát, Nguyễn Đắc Khê, Dương Tấn Tài, Nguyễn Văn Đạm, Nguyễn Văn Tỵ, và Vũ Quốc Thúc. 

2. Cùng ngày 22/2/54, một phái đoàn Nghị sĩ mới được cử vào Hội nghị Liên hiệp Pháp thay cho Phái đoàn năm 1950 gồm: Bà Trần Văn Chương, Phạm Văn Bính, Cao Văn Chiêu, Jacques Lê Văn Định, Bửu Kính Nguyễn Huy Lai, Phùng Bá Nghĩa, Nguyễn Khắc Sự, Đỗ Hữu Thành, Nguyễn Hữu Thuần, Nguyễn Văn Ty, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Trung Vinh, Bùi Thế Phúc, Đoàn Hửu Giám, Huỳnh Văn Chín, Nguyễn Kim Loan, Nghiêm Văn Trí. Ngày 8/3/54, Phái đoàn Việt Nam bắt đầu bàn thảo với Phái đoàn Pháp về “độc lập và chủ quyền của Việt Nam”. 

Ngày 10/3/54, Đại tá Nguyễn Văn Vỹ được cử làm Phụ tá Quân sự cho Thủ hiến Phan Văn Giáo trong việc bình định “Nam, Ngãi, Bình, Phú”. Ngày 14/3/54, Đại Hội Quốc Dân Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt v.v nhóm họp, yêu cầu thành lập một Chính phủ tiêu biểu cho dân chúng, triệu tập Quốc hội để đối phó với tình thế Ngày 18/3/54, có tin hai Phái đoàn Việt và Pháp đã thỏa hiệp được các vấn đề đại cương. Ngày 21/3/54, cuộc đàm phán Việt-Pháp gặp khó khăn: Việt Nam đòi ký riêng 2 hiệp ước “một công nhận Việt Nam hoàn toàn độc lập; một ấn định bang giao Việt Pháp, Pháp không nhận. Ngày 26/3/54, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội xem xét tình hình, duyệt binh ở sân Cột cờ, chứng kiến Quân đội Quốc gia tuyên thệ. 

3. Ngày 29/3/54, Quốc trưởng Bảo Đại lập một Nội các Chiến tranh thu hẹp, do Quốc trưởng chủ toạ, và hứa cử một Quốc Dân Đại Hội. Nội các Chiến tranh ở bên trên Chính phủ. Ngày 10/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp tuyên bố “không thể nào để một phần đất nước thành chư hầu Trung Cộng”.Ngày 10/4/54, Các Giáo phái tuyên bố ủng hộ Quốc trưởng. Ngày 10/4/54, Các lực lượng tôn giáo được gia nhập quân đội Quốc gia. Cao Đài 8.000, Trung tá Nguyễn Văn Huê 1.500, Văn Thành Cao (Liên Minh Cao Đài) 3.500, Thiếu tá Nguyễn Văn Đây 1.000 quân. Ngày 12/4/54, Chính phủ Việt Nam gọi 5 lớp thanh niên nhập ngũ. Ngày 16/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Tổng thống René Coty để thúc đẩy cuộc đàm phán Việt Pháp. 

Ngày 21/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại gặp riêng Thủ tướng Laniel. Ngày 23/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại viết thư cho Tổng thống René Coty yêu cầu triệu tập ngay Ủy ban Thường trực Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Ngày 25/4/54, tại Ba Lê, Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố, rằng “Độc lập và chủ quyền Việt Nam, quyền bình đẳng của Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp không được bảo đảm; rằng Việt Nam không thể chấp nhận giải pháp điều đình do Pháp thỏa hiệp với kẻ phản loạn, hoặc quốc gia nào chống đối dân tộc Việt Nam, mà lại gác bỏ các Quốc gia Liên kết hoặc hy sinh các Quốc gia nầy”(Le Việt Nam ne saurait admettre l’esventualité des négociations par lequelles la France, contrairement d’ailleurs au principe de l’Union Francaise don elle se réclam, traiterait avec des rebelles à la Nation Viêtnamienne ou vec de puissances rebelles à celle-ci). 

4. Ngày 28/4/54, Thủ tướng Laniel và Nguyễn Trung Vinh ký bản tuyên ngôn chung về sự Thỏa hiệp Việt Pháp, theo đó “Pháp tôn trọng lời cam kết ngày 3/7/1953 là kiện toàn nền độc lập của Việt Nam, Việt Nam tiếp tục và củng cố thân thiện với dân tộc Pháp. Sẽ ký 2 Thỏa ước một để thừa nhận Độc lập một để đặt bang giao Việt Pháp trên lập trường bình đẳng trong Liên Hiệp Pháp. Cùng ngày 28/4/54, Hội đồng Thành phố Hà Nội, yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại từ bỏ Liên hiệp Pháp và đình chỉ cuộc đàm phán ở Ba-Lê. Ngày 8/5/54, Dư luận Pháp và Quốc tế rất sôi nổi. Dân chúng Việt Nam vô cùng hoang mang trước việc Pháp thất thủ Điện Biên Phủ. Giá vàng từ 4.000 tăng thành 4.800$ một lạng.

Ngày 16/5/54, Quân đội Việt Nam được tổ chức thành: Lục quân, Thủy quân và Không quân. Lục quân gồm Địa Phương quân, Bảo Chính quân, và Vệ Quốc quân (Dụ số 9). Ngày 19/5/54, Chính phủ Việt Nam, Tổng Ủy viên Pháp và Hộ Pháp Phạm Công Tắc ký hiệp định để lực lượng Cao Đài gia nhập Quân đội Việt Nam. Cùng ngày 26/5 Quốc dân Đại hội nhóm họp ở Sài Gòn phản đối kịch liệt “Dự định chia đôi đất nước”.

5. Ngày 30/5/54, Quốc trưởng ban hành các Dụ số 11, 12, và 13, tổ chức lại các Đô Thị Việt Nam như sau: Tổ chức Đô thành Sài Gòn-Chợ Lớn, đặt “Đô trưởng và Hội đồng Đô thành”; Tổ chức Thị xã các Tỉnh, các Đô thị Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà nẳng đặt chức “Chủ tịch Hội đồng Đô thị” thay Thị trưởng và Hội đồng Đô thị. 

Ngày 4/6/54, Ký kết 2 Hiệp ước kiện toàn độc lâp giữa hai Thủ tướng Bửu Lộc của Việt Nam và Laniel của Pháp: “Hiệp ước Độc lập (Traité d’nidépendance)” Pháp thừa nhận Việt Nam là một Quốc gia hoàn toàn độc lập, có toàn vẹn chủ quyền, đầy đủ thẩm quyền theo Quốc tế Công Pháp, Pháp sẽ chuyển giao hết các quyền hành và công sở còn giữ. “Hiệp ước Liên kết Việt-Pháp (Traité d’association franco-viêtnamienne)”. Việt Nam thuận ở lại Liên Hiệp Pháp, Pháp và Việt Nam đều bình đẳng, hai bên hợp tác tại Thương Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Mọi vụ xung đột sẽ được xử tại Hội Đồng Trọng Tài do hai bên cử ra. 

6. Ngày 23/6/54, Kỹ sư Ngô Đình Luyện được cử làm Sứ thần phụ trách Sự vụ đắc biệt tại ngoại quốc. Cùng ngày 23/6/54, Chính quyền Địa phương bắt đầu rút khỏi Bùi Chu-Phát Diệm. Ngày 29/6/54, Chính quyền Địa phương triệt thoái khỏi Nam Định và Thái Bình. Ngày 2/7/54, Bộ Tư lệnh Pháp thông cáo: sự rút quân khỏi miền duyên hải Bắc Việt chỉ để xếp đặt lại hệ thống phòng thủ theo “kế hoạch hành quân Auvergne”. Chính phủ Việt Nam thông cáo “phản đối việc quân Pháp rút khỏi miền duyên hải Bắc Việt” khiến dân chúng các tỉnh Bùi Chu, Phát Diệm, Thái Bình, Nam Định, Phủ Lý có cảm giác như bị bỏ rơi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10. CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM (1):

6.7.1954 - 24.9.1954.

I. Bối cảnh thành lập.

Ngày 16/6/54, Thủ tướng và Chính phủ Bửu Lộc đệ đơn từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại ủy Ngô Đình Diệm lập Chính phủ với toàn quyền Dân sự và Quân sự (SL số 38/QT). Ngày 25/6/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước, Quốc trưởng Bảo Đại từ Paris lui về Cannes. Ngày 30/6/54, Ngô Đình Diệm ra Hà Nội xem xét tình hình, được tiếp đón trọng thể. Ngày 6/7/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập xong Chính phủ (SL43/CP).

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Ngô Đình Diệm

Thủ tướng kiêm Nội vụ và Quốc phòng

2

Trần Văn Chương

Quốc vụ khanh

3

Trần Văn Đỗ

Tổng trưởng Ngoại giao

4

Trần Văn Của

Tổng trưởng Tài chánh Kinh tế

5

Phan Khắc Sửu

Tổng trưởng Canh nông

6

Ng. Tăng Nguyên

Tổng trg Lao động Thanh niên

7

Trần Văn Bạch

Tổng trưởng Giao thông Công chánh

8

Nguyễn Dương Đôn

Tổng trưởng Giáo dục

9

Phạm Hữu Chương

Tổng trưởng Y tế Xã hội

10

Trần Chánh Thành

Bộ trưởng Phủ thủ tướng

11

Lê Quang Luật

Bộ trưởng Phụ trách Thông tin

12

Phạm Duy Khiêm

Bộ trưởng tại Phủ thủ tướng

13

Nguyễn Ngọc Thơ

Bộ trưởng Nội vụ

14

Lê Ngọc Chấn

Bộ trưởng Quốc phòng

15

Bùi Văn Thinh

Bộ trưởng Tư pháp

16

Nguyễn Văn Thoại

Bộ trưởng Kinh tế

17

Trần Hữu Phương

Bộ trưởng Tài chánh

III. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 8/9/54, tám nước Pháp, Mỹ, Anh, Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Thái Lan, và Pakistan (Hồi Quốc) ký Hiêp ước Manille thành lập Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á  gọi tắt là SEATO.

IV. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 20/7/54, tại hội nghị Genève, các bản Hiệp định đã soạn thảo xong. Ngày 21/7/54, Hội nghị họp phiên cuối cùng, để xác nhận những thỏa hiệp đã đạt trong những văn kiện gọi là Hiệp định Genève (Accords de Genève). Chủ tịch phiên họp là đại biểu Anh Anthony Eden. Trước khi ký kết Chủ tịch hỏi lại từng Phái đoàn xem có xác nhận không. Các phái đoàn lần lược tuyên bố xác nhận, ngoại trừ vài ý kiến dè dặt về một số điều khoản (Mên, Lào, Việt, Mỹ). Những ý kiến đó không làm thay đối các dự thảo Hiệp định, song được ghi trong các Phụ bản đính theo.

Hiệp định đình chiến tại Việt Nam gồm 47 điều, với một phụ lục. Các điều khoản chính, được tóm tắt:

  • Định một giới tuyến quân sự từ cửa sông Bến Hải, theo dòng sông đến làng Bồ Hô Su, và biên giới Lào Việt (không thấy nói đến vĩ tuyến 17).
  •  Lập một khu Phi quân sự 5 cây số bề rộng bên nầy và bên kia giới tuyến dể làm “khu đệm” theo nguyên văn Hiệp định.
  • Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày, kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực.
  • Ngày giờ ngưng bắn: Bắc Việt 8 giờ ngày 27/7/1954; Trung Việt 8 giờ ngày 1/8/1954; ở Nam Việt 8 giờ ngày 11/8/1954.
  • Trong khi chờ đợi Tổng tuyển cử, mỗi bên sẽ phụ trách quản trị hành chánh ở khu tập hợp quân đội thuộc quyền.
  • Cấm phá hủy trước khi rút lui; không trả thù hoặc ngược đãi những người đã hợp tác với bên đối phương.
  • Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do đi từ khu vực nầy sang khu vực bên kia.
  • Cấm đem thêm quân đội vủ khí đạn dược hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới.
  • Tù binh và thường dân bị giữ, được phóng thích trong hạn 30 ngày kể từ khi ngưng bắn thưc sự.
  • Sự giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định sẽ giao cho một Ban Quốc tế.
  • Thời hạn rút quân định riêng cho từng khu, kể từ ngày ngưng bắn; Hà Nội 80 ngày, Hải Dương 100 ngày, Hải Phòng 300 ngày, miền Nam Trung Việt 80 ngày, Đồng Tháp Mười 100 ngày, Cà Mâu 200 ngày.
  • Đợt chót ở khu tập kết Trung Việt 300 ngày.
  • Bản tuyên ngôn chung: “ghi nhân các kết quả, tỏ ý hoan hỉ và tin tưởng”. 

2. Hiệp định đối với Việt Nam có những điều đáng chú ý: (1) Xác nhận rằng không được lập căn cứ quân sự cho ngoại quốc, không được gia nhập một Liên minh quân sự nào; (2) Xác nhận rằng đường giới tuyến có tính cách tạm thời, không đươc coi như một biên giới Chính trị và lãnh thổ, mong rằng sự đình chiến sẽ tạo cơ hội cần thiết để sớm “Giải quyết vấn đề Chính trị tại Việt Nam”;  (3) Dân tộc Việt Nam phải được hưởng “Tự do Dân chủ” và Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956 dưới sự kiểm soát quốc tế, và hai miền Nam Bắc sẽ bắt đầu trao đổi ý kiến về vấn đề nầy từ 20/7/1955; (4) Cấm trả thù ngược đãi. (5)  Pháp sẽ rút quân theo yêu cầu của các Chính phủ liên hệ.  (6) Việt, Mên, Lào sẽ không xen lấn vào việc nội bộ của nhau.

Ngoại trưởng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Đỗ phản kháng “Sự hy sinh những vùng có quân đội quốc gia kiểm soát; Sự lạm quyền của Bộ Tổng Tư lệnh Pháp dám tự ý ấn định ngày Tổng tuyển cử; Sự ký kết Hiệp định Đình chiến trái với nguyện vọng độc lập và thống nhất của Dân tộc Việt Nam”. Tuy nhiên, Việt Nam cũng cố gắng và hoan nghênh mọi nổ lực để tái lập hòa bình, và sẽ không dùng võ lực để cản trở sự thi hành Hiệp định mặc dầu có sự dè dặt kể trên. Ngày 30/8/54, tướng Paul Ely, Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh Pháp ở Đông Dương tuyên bố “Chính sách Pháp ở Đông Dương không thay đổi”.

3. Ngày 31/8/54, Phi Luật Tân gởi sang giúp Quốc gia Việt Nam 7 Bác sĩ và 3 Y tá trong khuôn khổ “Chiến dịch Huynh đệ=Opération Brotherhood”. Các nhân viên nầy, thuôc Đoàn thể Jeycee gồm đại diện 52 Quốc gia, có trụ sở ở Manilla. Ngày 3/9/54, cựu Tư lệnh Pháp tại Điện Biên Phủ tướng de Castries được thả về. Ngày 24/9/54, Tướng Salan gắn cấp bậc Thiếu tướng cho Đại tá Hòa Hảo Lâm Thành Nguyên. 

V. Chiến sự các nơi.

1. Ngày 20/7/54, Tổng số thiệt hại của Pháp tại Đông Dương từ năm 1945: có 92.000 chết (1.900 sĩ quan, 6.300 hạ sĩ quan); 114.000 bị thương; 28.000 bị bắt; 3.000 tỷ quan quân phí (2.385 tỷ do Ngân sách chịu). Ngày 27/7/54, im tiếng súng ở Bắc Việt. Ngày 27/7/54, Số quân Pháp phải rút: 120.000. Ngày 1/8/54, im tiếng súng ở Trung Việt. Ngày 6/8/54, im tiếng súng ở Lào. Ngày 7/8/54, im tiếng súng ở Mên. 

VI. Những việc đã làm

1. Cùng ngày 6/7/54, Chính phủ ban hành Dụ 16, Sl 47/NV, theo đó, Phủ Thủ hiến Bắc Việt được thay bằng một Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt, gồm: 1 Đại biểu Chính phủ, 1 Ủy viên Dân sự, 1 Ủy viên Quân sự. Cũng ngày 6/7 nầy tướng Paul Ely tới Sài Gòn nhậm chức Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh Pháp ở Đông Dương. Ngày 9/7/54, Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí được từ chức; Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo bị chấm dứt nhiệm vụ; Nguyễn Đôn Duyến được cử làm Đại biểu tại Trung Việt. Ngày 12/7/54, Hoàng Cơ Bình được cử làm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt; Trần Trung Dung làm Ủy viên Dân sự; Thiếu tướng Nguyễn Văn Vận làm Ủy viên Quân sự. 

Ngày 20/7/54, Số Nghị viên các Hội đồng Đô thị Hà Nội và Hải Phòng là 22 và 15 (NĐ 782/NV). Ngày 28/7/54, các tội phù lạm, hối lộ, lợi dụng quyền thế, bị trừng phạt nặng (Dụ 18). Ngày 1/8/54, Thủ tướng, Tổng trưởng, Đại biểu Chính phủ được toàn quyền quyết định các công chức không phải đưa ra Hội đồng Kỷ luật (Dụ 20). Ngày 4/8/54, Dược sĩ Trần Văn Lắm được bổ Đại biểu Chính phủ tại Nam Việt; Các Phần trong nước không còn tính cách pháp nhân; Tại mỗi Phần đặt một Ủy ban gồm: 1 Chủ tịch, 1 Ủy viên Chính trị Hành chánh, 1 Ủy viên Quân sự chỉ huy Quân khu (Dụ 21). Cùng ngày 4/8/54, một cầu hàng không chở dân di cư Bắc Việt vô Nam.

2. Ngày 6/8/54, Đại sứ Trần Văn Khá tại Hoa Thịnh Đốn bị chấm dứt nhiệm vụ, Quốc vụ khanh Trần Văn Chương được cử sang thay; Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt bị bãi bỏ, Bộ trưởng Lê Quang Luật được cử làm Đại biếu Chính phủ “Phụ trách công việc ở Bắc Việt, đặc trách việc tản cư dân tị nạn (SL 61/NV). Ngày 7/8/54, một Ủy ban Hỗn hợp đã xét xong cách thức sáp nhập lực lượng Cao Đài vào quân đội quốc gia. Ngày 9/8/54, thành lập Phủ Tổng Ủy phụ trách đồng bào tị nạn, Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Thoại kiêm nhiệm chức Tổng uỷ trưởng, Kỹ sư Đinh Quang Chiêu phụ tá. 

Ngày 10/8/54, cầu hàng không bằng phi cơ quân sự Pháp chở dân di cư vô Nam tới Tân Sơn Nhất mỗi ngày có năm bảy chục phi cơ của quân đội Pháp tới Tân Sơn Nhất. Bộ Xã hội lo tiếp đón và giúp đở. Mỗi ngày có vài ngàn người về Hà Nội, nhưng không được đi máy bay, phải xuống Hải Phòng đi tàu biển của Pháp và của Mỹ vô Nam. Ngày 13/8/54, tướng Nguyễn Giác Ngộ, chỉ huy trưởng quân đội Nguyễn Trung Trực Hòa Hảo “được thăng cấp “Thiếu tướng quân đội Bổ túc Việt Nam”. Ngày 21/8/54, Giáo sư Nguyễn Ngọc Đối được cử làm Tổng uỷ Phụ trách đồng bào tị nạn, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thoại thôi kiệm nhiệm chức vụ trên.

3. Ngày 29/8/54, xuất hiện “Phong trào Bảo vệ Hòa bình” tại Sài Gòn. Ngày 30/8/54; Công chức phải kê khai tài sản. Một Uỷ ban Danh dự gồm 9 Uỷ viên thu nhận và kiểm soát các tờ khai với quyền điều tra rộng rãi (Dụ số 25); Các công chức tự nguyện biếu một ngày lương để cất nhà tạm trú cho các gia đình công chức di cư, thu được 3.300.000$. Ngày 31/8/54, Uỷ ban Quốc gia Cải cách Điền địa mở rộng cho 6 đại diện Đại diền chủ, và 6 đại diện Tá điền (NĐ 896/CN). Ngày 2/9/54, thành lập Tòa Phá Án thay thế Ban Tư Pháp Tối Cao Pháp Viện đặt ra từ năm 1949 và sửa đổi 1954 (Dụ 27). Ngày 7/9/54, Pháp giao trả Dinh Độc lập cho Việt Nam trong một buổi lễ trịnh trọng. các công sở được nghỉ.

Ngày 10/9/54, tướng Nguyễn Văn Hinh bị cử sang Pháp công cán 6 tháng, nhưng ông ta không chịu đi. Ngày 15/9/54, Pháp chuyển giao Nha Công chánh cho Việt Nam. Ngày 16/9/54, ký kết Thỏa hiệp Việt Pháp, Pháp giao trả quyền Tư pháp và Công An cho Việt Nam, bãi bỏ các Tòa án Hỗn hợp (Tribunaux Mixtes); Các Tòa án và Nha Cảnh sát Công An được chuyển giao cho Việt Nam. Cùng ngày 16/9, hai lực lượng Bảo Chính quân, và Địa Phương quân thành lập ngày 16/5/1954, không được gia nhập quân đội Quốc gia. (Xin lưu ý, Dụ số 9 ngày 16/5/54, Quân đội Việt Nam được tổ chức thành: Lục quân, Thủy quân và Không quân. Lục quân gồm Địa Phương quân, Bảo Chính quân, và Vệ Quốc quân).

4. Ngày 17/9/54, tướng Nguyễn văn Xuân lại được bổ Phó Thủ tướng kiêm Quốc Phòng (SL 84/CP). Và, hôm sau, ngày 18/9, tướng Xuân nhậm chức tại Bộ Quốc Phòng (SL 84/CP). Cùng ngày 18/9, tướng Nguyễn Văn Hinh điện sang Pháp yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại can thiệp giải quyết tranh chấp với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 20/8/54, Đổng lý Nguyễn Đệ gởi Diện văn cho tướng Nguyễn Văn Hinh, những điều chỉ trích chính phủ sẽ được cứu xét. Cùng ngày 20/9/54, Tướng Lê văn Viễn từ Pháp về được vài ngàn người đón tiếp tại Phi trường Tân Sơn Nhất, có cả nhiều nhân vật chính giới. 

Ngày 21/9/54, một số người biểu tình đòi trở ra Bắc, xô xát với Cảnh sát 2 chết một số bị thương. Ngày 23/9/54, các quân nhân từ Hạ sĩ quân trở lên phải kê khai tài sản; Các Ủy viên trong Ủy ban Danh Dự, được quyền “bất khả xâm phạm” và tự do ngôn luận (Dụ 31); Hơn 120 người mù ở Viện Tế bần Hà Nội vào tới Sài Gòn. Ngày 24/9/54, Vệ Quốc Binh được thành lập thuộc Bộ Nội Vụ để sát nhập Bảo Chính Đoàn Bắc Việt, Địa Phương Quân Bắc Việt và các Tỉnh (Dụ 32).

 

 

 

11. CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM (2): 24.9.1954 - 10.5.1955.

Ngày 24/9/54, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Xuân từ chức. Thủ tướng Ngô Đình Diệm quyết định cải tổ Chính phủ.  (SL94/CP).

I. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Ngô Đình Diệm

Thủ tướng kiêm Nội vụ và Quốc phòng

2

Trần Văn Soái

Quốc vụ khanh Ủy viên Quốc phòng

Trung tướng

3

Ng. Thành Phương

Quốc vụ khanh Ủy viên Quốc phòng

Thiếu tướng

4

Trần Văn Đỗ

Tổng trưởng Ngoại giao

5

Bùi Văn Thinh

Tổng trưởng Tư pháp

6

Phạm Xuân Thái

Tổng trưởng Thông tin Tâm lý

7

Trần Hữu Phương

Tổng trưởng Tài chánh

8

Lương Trọng Tường

Tổng trưởng Kinh tế

9

Nguyễn Công Hầu

Tổng trưởng Canh nông

10

Trần Văn Bạch

Tổng trưởng Công chánh

11

Nguyễn Văn Thoại

Tổng trg Kế hoạch Kiến thiết

12

Huỳnh Kim Hữu

Tổng trưởng Y tế

13

Nguyễn Dương Đôn

Tổng trưởng Giáo dục

14

Nguyễn Mạnh Bảo

Tổng trưởng Xã hội

15

Ng. Tăng Nguyên

Tổng trg Lao động Thanh niên

16

Nguyễn Đức Thuận

Tổng trưởng Cải cách

17

Hồ Thông Minh

Tổng trg Phụ tá Quốc phòng

18

Trần Ngọc Liên

Bộ trưởng Đặc nhiệm Công vụ

19

Phạm Duy Khiêm

Bộ trưởng Phủ thủ tướng

20

Bùi Kiện Tín

Bộ trưởng Đặc nhiệm Phủ Th.tg

21

Huỳnh Văn  Nhiệm

Bộ trưởng Nội vụ

22

Nguyễn Văn Cát

Thứ trưởng Nội vụ

II. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 8/2/55, có tin Thủ tướng Nga Malenkov từ chức. Ngày 11/2/55, Boulganine lên thay thay Malenkov làm Chủ tịch Chính phủ Nga. Ngày 23/2/55, hôm nay 8 nước ký Hiệp Ước Manila thành lập SEATO (South East Asia Treaty Organisation) nhóm họp đầu tiên tại Bangkok bàn việc Phòng thủ Đông Nam Á. Cùng ngày 4/3/55, Sihanouk thoái vị nhường ngôi cho Hoàng phụ là Norodom Suramarit, để rộng tay hoạt động và cầm quyền. 

II. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 29/9/54, Chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục viên trợ cho Pháp đến 1956 để duy trì quân đội viễn chinh tại Đông Dương trong khi chờ đợi thành lập các quân đội Quốc gia... Ngày 29/12/54 ngày, ký kết các Hiệp định chấm dứt cơ chế các Quốc gia Liên Kết (Quadripartisme) hủy bỏ các Hiệp định đã ký tại Pau 1950. Những công sở và chủ quyền trước kia ràng buộc vào tứ quốc nay được giao trả Việt, Mên, Lào. Ngày 30/12/54, ký kết các hiệp định Việt-Pháp về “tiền tệ, hối đoái, và thương Mại: Hiệp định I về tiền tệ, Việt Nam có toàn quyền, Pháp được chuyển ngân dể dàng, đồng bạc và đồng quan được định giá; Hiệp định II, về thương mại, hàng hóa Pháp và Việt Nam đều chịu thuế nhẹ, hai bên đều hưởng điều điện tối huệ quốc. 

Ngày 6/1/55, Giáo dân ở Ba Làng, Thanh Hóa ra Hải Phòng để di cư vô Nam, nhưng bị ngăn cản, 6 người chết hơn 40 người bị thương, chuyển giao Ủy hội Quốc tế đến điều tra. Ngày 20/1/55, quân Pathet Lào Cộng và quân Bắc Việt tấn công các đồn quân Hoàng gia Lào tại Nong Khay và Houei Thao. Ngày 1/2/55, tướng Lawton Colliins tuyên bố trước Hạ viện Hoa Kỳ rằng “có 50% hy vọng cứu được miền Nam, nếu chương trình của Chính phủ Ngô Đình Diệm được thực hiện, và nếu Việt cùng Pháp chịu hợp tác. Ngày 2/2/55, Chính giới Hoa Kỳ “sắp hoàn tất” một chương trình viện trợ, quân sự, và kinh tế chính trị gồm 6 điểm: (1) Lập một Quân đội Việt Nam 150.000 người; (2) Cải cách Điền Địa và Tư hữu hóa tiểu nông; (3) Định cư 500.000 dân Di cư; (4) Cải tiến thuế vụ; (5) lập những cơ cấu dân chủ; (6) Bình định, dẹp các lực lượng coi là phiến loạn. 

2. Ngày 8/2/55, hạn cuối cùng để Việt Minh rút khỏi vùng Cà Mâu. Ngày 17/3/55, ký Hiệp ước Thương mại và thuế quan với Pháp, để áp dụng Hiệp ước 30/12/54, Pháp mua một số hàng hoá Việt Nam và ngược lại. Hai bên chịu thuế nhẹ Hiệp định có hiệu lực 1 năm và có thể triển hạn. Ngày 15/2/1955, kể từ hôm nay lực lượng Giáo phái không được nhận trợ cấp từ Quân đội Liên Hiệp Pháp nữa. Ngày 17/2/55, Việt Minh đòi Hiệp thương và nối lại quan hệ bình thường. Ngày 18/2/55, hai Đại diện Việt Minh trong Ủy Ban Kiểm soát Đình chiến bị dân chúng ném đá nhiều lần định về Băc rồi lại thôi. Ngày 21/2/55, ký kết Thỏa ước Viêt Mỹ về viện trợ Kinh tế. 

Ngày 22/2/55, thành lập Cơ quan TRIM (Training Relation Instruction Mission) gồm hai Phái đoàn Quân sự Mỹ và Pháp để lo tổ chức và Huấn luyện cho Quân đội Việt Nam. Ngày 28/2/55, lần đầu tiên một phần viện trợ Mỹ 18 triệu Mỹ kim được giao thẳng cho Việt Nam không qua trung gian Pháp. Ngày 1/3/55, Ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles tới Sài Gòn gặp Thủ tướng Ngô Đình Diệm và tuyên bố triệt để ủng hộ Việt Nam. Và, hai hôm sau 4/3/55, Tống thống Mỹ Eisenhower gởi điệp văn cho Quốc trưởng Bảo Đại ở Cannes, xác nhận viện trợ chống Cộng. 

3. Ngày 22/3/55, tại Hội nghị Liên Hiệp Pháp, Nghị sĩ Bửu Kính đòi triệu tập Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp theo quy định 2 lần trong 1 năm. Cùng ngày 22/3/55, nhà chức trách Pháp tại Sài Gòn ra tuyên bố “không có chuyện chính phủ Ngô Đình Diệm yêu cầu quân đội Pháp can thiệp nếu có loạn; rằng Pháp không xen vào chuyện nội bộ của Việt Nam, chỉ bảo vệ Pháp kiều”.

Cũng ngày 28/3, Tướng Paul Ely hội kiến với Thủ tướng Ngô Đình Diệm, nói chuyện về tình hình, hứa sẽ gặp các Giáo phái để hòa giải, và tuyên bố “Phải tránh xung đột lớn, vì có lợi cho Cộng sản”. Ngày 15/4/55, hạn cuối cùng Việt Minh chuyển giao cho Pháp vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và rút khỏi vùng nầy. Ngày 23/4/55, có tin Pháp vận động với Mỹ để lật đổ Chính phủ Ngô Đình Diệm, Đại sứ Collins bị triệu về Mỹ trình ý kiến. Ngày 24/4/55, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. 

IV. Bất ổn chính trị và việc đã làm.

1. Ngày 27/9/54, Tổng trưởng thông tin họp báo, cho biết, nếu tướng Hinh sẵn sàng quên đi dĩ vãng và hợp tác, thì chính phủ sẽ dành cho chức vụ lớn. Tướng Hinh là dân Pháp, vậy là gạch nối rất có ích cho Pháp và Việt Nam. Ngày 1/10/54, một chương trình Tiểu học mới được ban hành. Ngày 3/10/54, Quốc trưởng Bảo Đại điện về yêu cầu Thủ tướng mở rộng Chính phủ để mời các tướng Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Hinh, và Lê Văn Viễn tham gia Chính phủ. Ngày 7/10/54, Pháp chuyễn giao Sở cảnh Sát, Tổng Giám đốc Lại Văn Sang tiếp nhận. 

Ngày 9/10/54, Thành lập một Quân đoàn Cao Đài trong Quân đội Quốc gia các đơn vị Cao Đài được mang cờ hiệu riêng, với biểu hiệu Quốc gia, nhưng thêm dấu hiệu “Vũ trụ Thần giáo” là “Bánh xe Tiến hóa” có một Sở riêng trông nom về Quân đoàn nầy, và một Ban Liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu (NĐ 93/QP); Thủ tướng Ngô Đình Diệm trả lời Quốc trưởng sẽ xét vấn đề mở rộng Chính phủ. Ngày 10/10/54, Quốc trưởng Bảo Đại lại yêu cầu Thủ tướng mở rộng Chính phủ cho các phần tử quân nhân và Giáo phái tham gia. Ngày 14/10/54, sau khi viếng thăm Nhật Bản và Đài Loan, Hộ pháp Phạm Công Tắc đã trở về Sài Gòn, và hôm nay ăn cơm với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. 

2. Ngày 19/10/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm gởi điện văn mừng Quốc trưởng Bảo Đại nhân dịp lễ Vạn thọ. Ngày 27/10/54, Giáo sư Trần Văn Hương được bổ Đô trưởng Sài Gòn Chợ Lớn thay Đốc phủ Nguyễn Phước Lộc. Ngày 29/10/54, Đài phát thanh phát lời tướng Nguyễn Văn Hinh kêu gọi bình tĩnh, để cấp trên dàn xếp ổn thỏa mọi sự khó khăn. Ngày 3/11/54, thành lập một Tổ chức Chính trị, có tên “Tập đoàn Công Dân”. Ngày 8/11/54, chấm dứt nhiệm vụ Cao Ủy tại Pháp cuả Hoàng thân Bửu Lộc, Luật sư Nguyễn Đắc Khê được cử Xử lý thường vụ toà Cao Uỷ. Ngày 9/11/54, thành lập Tham Chính Viện thay thế Ban Hành chánh Tối cao Pháp viện củ (Dụ số 38). Ngày 20/11/54, tướng Hinh đi Tây. 

Ngày 29/11/54, Quốc trưởng gởi điện văn về cất chức Tổng Tham Mưu trưởng của tướng Nguyễn Văn Hinh, lý do không tuân lệnh Quốc trưởng, cứ tuyên bố mãi những điều đáng tiếc. Ngày 1/12/54, Thiếu tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế tướng Nguyễn Văn Hinh; Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ, được cử làm Tổng Thanh tra Quân đội thay thế tướng Pháp Alessandri. Ngày 4/12/54, Bác sĩ Thú y Phạm Văn Huyến được cử giữ chức Tổng Ủy Phụ trách đồng bào tị nạn, thay thế Giáo sư Ngô Ngọc Đối từ chức. Bùi Văn Lương được cử làm Phụ tá thay Nguyễn Lưu Viên. Ngày 10/12/54, Bộ trưởng Phạm Duy Khiêm, được bổ Cao Ủy Việt Nam tại Pháp. 

3. Ngày 17/12/54, Bộ trưởng Bùi Kiện Tín từ chức, Trần Trung Dung được cử thay thế; Phụ tá Quốc phòng Hồ Thông Minh được bổ Tổng trưởng Quốc Phòng; Đinh Quang Chiêu, Tổng Ủy Nha Ngoại viện kiêm nhiệm Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng thay thế Phạm Duy Khiêm. Ngày 31/12/45, Pháp chuyển giao Viện Phát hành. Ngày 1/1/1955  Pháp chuyển giao Thương cảng Sài Gòn cho Việt Nam. Ngày 11/1/55, tướng Trịnh Minh Thế của Cao Đài Liên Minh tuyên bố sẽ đem 5.000 quân về hợp tác với Chính phủ, không đòi hỏi điều kiện nào. Ngày 15/1/55, Chính phủ ra lệnh đóng cửa vĩnh viễn sòng bạc Đại Thế Giới Chợ Lớn. 

Cùng gày 15/1/55, Đại tá Hòa Hảo Nguyễn Văn Huê tuyên bố ly khai lực lượng của tướng Hòa Hảo Trần văn Soái đem 3.000 quân về hợp tác với chính phủ. Ngày 20/1/55, Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thơ được bổ Đại sứ tại Nhật Bản. Ngày 21/1/55, cựu Thủ hiến Phan Văn Giáo bị Bộ Tài chánh kết khiếm 5.650.000$ và truy tố vì còn thiếu nhiều triệu nữa của Ngân sách. Ngày 31/1/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm thăm Thánh Thất Cao Đài ở Tây Ninh và gặp tướng Trịnh Minh Thế. Ngày 8/2/55, mở “chiến dịch Tự do” Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy tiếp thu vùng Cà Mâu khi Việt Minh rút khỏi vùng nầy. Kết thúc Chiến dịch tiếp thu vùng Cà Mâu (12/3/55). 

4. Ngày 9/2/55, Một số 26 người tham gia Phong trào Hòa bình thân Cộng bị bắt giữ tháng 10/54, được đưa ra Hải Phòng để cho họ lựa chọn ra Bắc hẵn hoặc trở lại miền Nam. Ngày 10/2/55, Pháp chuyển giao quyền chỉ huy Quân sự cho Quân đội Việt Nam. Ngày 11/2/55, Rất nhiều hầm súng đạn của Việt Minh, bị khám phá tại nhiều nơi ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Thuận từ ngày 6/10/54 đến nay. Ngày 12/2/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm họp báo tại Dinh Độc Lập tuyên bố, từ nay tổ chức và huấn luyện Quân đội Việt Nam do Mỹ đảm trách. Huấn luyện viên Pháp được lưu dụng nhưng sẽ rút dần.

Ngày 15/2/55, thành lập Quốc hội Lâm thời, để nghiên cứu thành lập Quốc hội Lập hiến, và Tư vấn cho Chính phủ. Nghị sĩ do các Hội đồng Thành phố, Tỉnh, Đô thành bầu lên từ 2 đến 4 cho mỗi Hội đồng, Chính phủ sẽ chỉ định một số trong các đoàn thể Tôn giáo và Chính trị (Dụ 11). Cũng ngày 15/2/55 nầy, Thủ tướng Ngô Đình Diệm khai mạc Hội nghị Quân Chính toàn quốc gồm các Tỉnh trưởng, và Chỉ huy Quân sự. Ngày 23/2/55, tướng Nguyễn Giác Ngộ Dân xã Hòa Hảo tuyên bố đem 8.000 quân về hợp tác với Chính phủ. Ngày 1/3/55, đảng Dân Xã phổ biến bản Tuyên cáo kêu gọi Quốc dân đoàn kết, và giải thích Chủ trương của Dân Xã. 

5. Ngày 4/3/55, trước nhiều đại diện các đảng phái, Hộ pháp Phạm Công Tắc tuyên bố rằng ngày 22/2/1955 đã thành lập Mặt trận Thống nhất (MTTN) gồm nhiều đoàn thể, và đòi hỏi lập một Chính phủ Liên hiệp Quốc Gia, Phạm Công tắc cho rằng, Chính phủ Ngô Định Diệm chưa thực thi dân chủ, và chưa hành động đúng Chính sách do các đảng phái đã chấp nhận trong Tuyên ngôn ngày 3/3/1955 của Mặt trận. Ngày 6/3/55, tướng Trình Minh Thế tuyên bố không đống ý về bản Tuyên ngôn của Hộ pháp Tắc, và kêu gọi các đảng phái ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. 

Ngày 7/3/55, thành lập tạm thời Công Dân Vụ, với nhiều Đoàn Cán Bộ Lưu động (Huấn thị 11/TTP/NV). Ngày 9/3/55, thành lập Trường Quốc Gia Sư Phạm (NĐ 237/GD). 7.Ngày 10/3/55, Thiếu tá Nguyễn Thành Đây (Hòa Hảo Quốc Gia Liên Hiệp) đem 1.500 quân về hợp tác với Chính phủ, và được Trung tá Nguyễn Khánh tiếp đón tại Cần Thơ. Ngày 14/3/55, kết quả hành quân tiêu hủy Chiến khu Ba Lòng, Quảng Trị, 30 địch bị hạ, 70 bị bắt, nhiều súng tự động và quân trang bị tịch thu. Ngày 16/3/55, Lễ chuyễn giao quyền chỉ huy Quân sự tại Cao Nguyên. 

6. Ngày 21/3/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố“Phải thống nhất quân đội, không thể có những lực lượng riêng biệt; Phải thống nhất hành chánh, không thể có địa phương tự trị; Phải thống nhất tài chánh, không thể để thâu những sắc thuế do địa phương tự động đặt ra”.Ngày 23/3/55, Tòa Đại biểu Chính phủ tại Nam Việt ra thông cáo yêu cầu dân chúng bình tĩnh, đừng nghe những tin đồn nhảm do Cộng sản tung ra, và tránh những vụ gây rối loạn. 

Ngày 24/3/55, thủ tướng Ngô Đình Diệm lại tuyên bố “Các Giáo phái vừa gởi tối hậu thư, hẹn trong 5 ngày phải cải tổ chính phủ theo đường lối của các nhóm. Như vậy cũng không giải quyết được gì vì “vấn đề chính trị chỉ có thể thu xếp nếu vấn đề thống nhất các lực lượng đã được dứt khoát. Chính phủ sẵn sàng thu nhận các lực lượng vào Quân đội, nhưng không thể dành cho những điều kiện rộng rãi hơn là đối với Quân đội Quốc gia”.Cùng ngày 24/3/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm bãi bỏ chức Khâm mạng Hoàng Triều Cương thổ, chấm dứt nhiệm vụ của Khâm mạng Nguyễn Đệ Tổng Thư ký miền Nam, và Didelot Tổng Thư ký miền Bắc. 

7. Ngày 25/3/55, Quốc trưởng Bảo Đại gởi Điện văn cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm và các Giáo Phái khuyên nên cố thực hiện đoàn kết để tình thế sáng sủa hơn. Ngày 26/3/55, thành lập một Sở Cảnh sát Đô thành không thuộc quyền Tổng Giám đốc Lại Văn Sang. Ngày 27/3/55, tướng Trịnh Minh Thế tuyên bố rút khỏi Mặt trận Thống nhất. Và hôm sau, 28/3/55, tướng Thế lại tuyên bố với báo chí “chỉ ở trong Mặt trận để làm Trung gian hòa giải, rằng Thủ tướng Diệm hứa sẵn sàng để những người thân tín rút ra khỏi Chính quyền, thì các Giáo phái cũng nên tôn trọng Quyền lợi Quốc gia”.

Ngày 29/3/55, Tổng trưởng Quốc Phòng Hồ Thông Minh từ chức, Ngô Đình Diệm kiêm nhiệm. Quá nữa đêm 29/3/55 nầy, Công An Xung Phong thuộc quyền Bình Xuyên, nổ súng đánh phá trụ sở Cảnh Sát Đô Thành và Tổng Tham Mưu, lại bắn vào Dinh Độc lập từ 12 giờ tới hơn 12 giờ 30. Cảnh sát Đô thành và quân Nhảy Dù đẩy lui nhóm tấn công. 

8. Ngày 30/3/55, các thành viên Chính phủ khác sau đây từ chức: Trần Văn Soái, Quốc Vụ Khanh, Ủy viên Quốc Phòng; Lương Trọng Tường, Tổng trưởng Kinh tế; Nguyễn Công Hầu, Tổng trưởng Canh nông; Huỳnh Văn Nhiệm, Bộ trưởng Nội vụ. Cùng ngày 30/3/55,Thủ tướng Ngô Đình Diệm cử: Tổng trưởng Cải cách Nguyễn Đức Thuận, Xử lý Bộ Canh nông; Tổng trưởng Tài chánh Trần Hữu Phương Xử lý Bộ Kinh tế; Bộ trưởng Phủ thủ tướng Trần Trung Dung, kiêm nhiệm Phụ tá Bộ Quốc phòng; Tổng trưởng Tư pháp Bùi Văn Thinh kiêm nhiệm Bộ Nội vụ. 

Ngày 31/3/55, các Tổng Bộ trưởng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Mạnh Bảo, Phạm Xuân Thái, Nguyễn Văn Cát từ chức. Tướng Lawton Collies, Đại sứ đặt phái viên của Tổng thống Mỹ tuyên bố, mặc dù tình hình còn rối ren, vẫn ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Lúc 13 giờ cùng ngày 31/3/55, tại Phòng ăn dinh Độc lập, các tướng Nguyễn Thành Phương, Lê Văn Tất, và 42 tướng tá Cao Đài, tuyên bố đem lực lượng bản bộ về hợp tác với Chính phủ Ngô Đình Diệm; Tướng Nguyễn Thành Phương, nhân danh Đức Hộ pháp và Quân đội Cao Đài, đặt toàn thể bộ đội dưới quyền Thủ tướng để phục vụ tổ quốc. Các tướng Pháp, Ngoại giao đoàn và báo giới được mời chứng kiến lễ nầy. 

9. Ngày 7/4/55, Đô trưởng Trần Văn Hương từ chức, Đốc phủ Nguyễn Phú Hải được cử thay thế. Ngày 8/4/55, thành lập Bảo An Đoàn để hợp nhất các các lực lượng Cảnh bị củ ở các Phần gồm: Bảo chánh đoàn, Địa phương quân Bắc Việt, Việt binh đoàn Trung Việt, Vệ binh Nam Việt (Dụ 26). Ngày 9/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm mời nhiều đảng phái đến họp bàn việc thành lập một Thượng Hội Đồng Chính trị. Ngày 11/4/55, Bộ Thông tin phát động “Phong trào Tố Cộng”. Ngày 12/4/55, Phái đoàn Việt Nam đi dự Hội nghị Bandoeng ở Nam Dương, Ngô Đình Diệm trưởng đoàn, Nguyễn Văn Thoại Phó đoàn. 

Ngày 13/4/55, Phong trào Cách mạng Quốc gia đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp để “Thống nhất các lực lượng và chấm dứt nạn Thập nhị Sứ quân”. Ngày14/4/55, Pháp chuyễn giao quyền chỉ huy Quân sự ở Trung Việt cho Việt Nam. Ngày 18/4/55, có 84 Công chức Nha Tổng Giám đốc Cảnh sát Công An xin Quy thuận Chính phủ; Trạm Công an Xung phong ở Gò vấp chịu quy thuận. Đến nay, Công an Xung phong quy thuận lên tới 1000 người. Ngày 19/4/55, Bộ Quốc phòng được phép cho một số Sỉ quan nghỉ giả hạn không lương, theo nhu cầu tình thế; Công an Xung phong, ném lựu đạn vào đoàn quân xa, vào trụ sở Tổng Thanh tra Quân đội, bắn phá Bộ Tổng Tham mưu, làm nhiều người bị thương. 

10. Ngày 23/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm hiệu triệu quốc dân, kêu gọi Công an Xung phong về quy thuận, và các lực lượng Giáo phái gia nhập Quân đôi, nhắn nhủ người Pháp đừng nuối tiếc dĩ vãng mà gây rối ở đây, hứa tổ chức Quốc hội và lập Thượng Hội đồng Chính trị, và đặt câu hỏi cho dân chúng: có ưng thuận Tổng tuyển cử không? thống nhất Quân đội không? kiện toàn độc lập và chủ quyền không? cải cách xã hội không? Thư trả lời gởi về Phủ Thủ tướng, giao cho Thừa Phát Lại Lâm Văn Sáu chứng kiến. Ngày 24/4/55, mở “Chiến dịch giải phóng-tiếp thu” Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam sau khi Việt Minh rút khỏi vùng nầy (15/4/55). Kết thúc “Chiến dịch giải phóng-tiếp thu Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam (31/5/55).

Cùng ngày 24/4/55, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 25/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấm dứt nhiệm vụ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an của Lại Văn Sang (Bình Xuyên) và giải tán Công An Xung Phong, cử Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ thay Đại tá Lại Văn Sang, Trung tá Trần Vĩnh Đắt thay Nguyễn Văn Tôn. Ngày 26/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm gởi thư mời tướng Trần văn Soái đến hội kiến. Trần Văn Soái không đến. 

11. Ngày 28/4/55, Văn phòng Quốc trưởng gởi Điện về cho biết: các Giáo phái và Bình Xuyên phản đối việc cất chức Lại Văn Sang, rằng Quốc trưởng đã ra lệnh cho các nhóm tôn trọng kỷ luật, tránh bạo động, yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm đừng có biện pháp gì trái với chính sách hòa hoãn của Quốc trưởng. Cũng ngày 28/4/55, một điện văn khác báo cho Thủ tướng biết, Quốc trưởng đã cử Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội Việt Nam, và yêu cầu Thủ tướng sang Pháp trình bày về tình hình. 

Lúc 13 g 15 cùng ngày 28/4/55 nầy, Công an Xung phong bắn phá vào trụ sở mới của Nha Cảnh sát Công an, và Bộ Tổng Tham Mưu, đường Trần Hưng Đạo, và bắn súng cối vào Dinh Độc Lập, làm một số người chết và bị thương. Quân đội phản công mạnh, Công an Xung phong chiếm, chốt giữ khu trường Pétrus Ký, đốt cháy trụ sở Phủ Tổng Ủy Di Cư. Quân đội đánh trả mảnh liệt, Công an Xung phong rút về khu Đại Thế Giới, Chợ Lớn, hơn 100 ra hàng. 

12. Ngày 29/4/55, Xung đột tiếp tục ở khu trường Pétrus Ký, Trần Hưng Đạo, khu Bàn Cờ, Cầu Ông Lãnh, Chợ cũ.v.v. Dân chúng tản cư chạy đầy các ngã đường; 2.000 dân di cư từ Bắc vào cập bến Sài Gòn; Chính phủ Hoa Kỳ xác nhận ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm; Thủ tướng Ngô Đình Diệm trả lời Quốc trưởng Bảo Đại vì tình thế không thể rời Việt Nam; Các tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương, Hòa Hảo Nguyễn Giác Ngộ, Cao Đài Liên minh Trình Minh Thế ra thông cáo lên án thực dân và phản loạn gây chia rẽ, phủ nhận tướng Nguyễn Văn Vỹ, không coi là Tổng Tham Mưu Trưởng; Các Đại tá Trần Văn Đôn, Trần Văn Minh được thăng Thiếu tướng.

Cùng ngày nầy, một nhóm Chính trị gia thành lập “Hội đồng Nhân dân Cách mạng” (HĐNDCM) do Nguyễn Bảo Toàn (Dân Xã Đảng Hòa Hảo) làm Chủ tịch cùng với các ông Văn Ngọc, Hà Huy Diễm, Nguyễn Phổ, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Hữu Khai, Huỳnh Minh Ý, Đoàn Trung Côn, Nguyễn Văn Quyền, nhóm họp tại Toà Đô chánh, và ngày 30/4/55, ra tuyên cáo: “truất phế Bảo Đại; giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm; và Ủy Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Chính phủ khác; dẹp phiến loạn; thu hồi chủ quyền; triệu tập Quốc hội. Hội đồng Nhân dân Cách mạng cũng kêu gọi Pháp nên hiểu biết, hứa tôn trọng quyền lợi của Pháp kiều, cùng với những Hiệp ước đã ký vơi các nước bạn”.

13. Ngày 30/4/55, tại Dinh Độc lập, tướng Nguyễn Văn Vỹ yêu cầu Ngô Đình Diệm ra lệnh cho tướng Lê văn Tỵ (đang có mặt tại đó) bàn giao chức Tổng Tham Mưu Trưởng cho ông ta. Ngô Đình Diệm trả lời “Hội đồng Chính phủ quyết định giữ nguyên tình trạng cũ”.Vài chính khách đứng quanh đó đòi bắt tướng Nguyễn Văn Vỹ. Các tướng Đôn, Minh… vừa tới. Thủ tướng Diệm mời tất cả các tướng ăn cơm; 3.000 dân di cư tới Sài Gòn; Ngày 1/5/55, 1 Đại đội Ngự Lâm quân từ Đà Lạt xuống, chiếm đóng Nha Bưu Điện, một Đại dội khác với 3 chiến xa chiếm Đài phát thanh Quân đội và Ngân hàng Quốc gia. Nhưng rút lui khi Bộ Tổng Tham Mưu đưa quân đến yêu cầu triệt thoái. 

Khoảng 12 giờ cùng ngày 1/5/1955, một Ủy ban Dân-Quân nhóm họp trong Dinh Độc lập, ra quyết nghị ủng hộ Quân đội; tướng Lê Văn Tỵ là Tổng Tham trưởng; tướng Nguyễn Văn Vỹ do Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm không có quyền Quân sự. Lúc 13 giờ 30, Tướng Nguyễn Văn Vỹ lên Đà Lạt. Các tướng lãnh họp tại Bộ Tổng Tham Mưu đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu: “giữ nguyên tình trạng, tướng Vỹ Tổng Thanh Tra, tướng Tỵ Tổng Tham Mưu Trưởng”, rằng “chỉ biết có Chính phủ Ngô Đình Diệm, nếu Chính phủ nầy không được công nhận nữa, thì Quân đội sẽ tuân lệnh Chính phủ nào do Nhân dân cử ra”; 

14. Ngày 2/5/55, Quân đội Chính phủ gồm Trung đoàn Quang Trung, 3 Tiểu doàn Nhảy dù, Trung đoàn 51 Bộ Binh, phản công Công an Xung phong Bình Xuyên  cả 3 mặt: Cầu Chữ Y; Cầu Nhị Thiên Đường, Xóm Củi; và Phú Lâm, súng nổ dữ dội. Tại Cầu Chử Y, quân đội Chính phủ chiếm Bản doanh Bình Xuyên, tàn quân Bình Xuyên chạy về Gò Công; Ở Xóm Củi Tiểu doàn 6 Dù chiếm Lộc Trung, Chánh Hưng; Ở Phú Lâm quân đội Chính phủ chiếm các Đồn Công an Xung phong. Cháy lớn ở đường Nancy và đường Nguyễn Tấn Nhiệm, nhà cửa vừa bị đạn cháy, vừa bị đốt. Hôm nay 10.000 dân di cư vẫn tới bến Sài Gòn trên 2 tàu Mỹ Marine Sepent và Marine Adler.

Ngày 3/5/55, trời mưa tầm tã, trước Tòa Đô Sảnh, Hội đồng Nhân dân Cách mạng biểu quyết: Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại kể từ 29/4/1955; Giải tán từ ngày đó Chính phủ Ngô Đình Diệm; Ủy Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Chính phủ mới”Lúc 14 giờ 3/5/55, súng nổ dữ dội phía Tân Thuận, tướng Trình Minh Thế, người đem 5.000 quân Cao Đài về hợp tác với Chính phủ ngày 11/1/55, đi xe Jeep tới chỉ huy trận đánh chiếm cầu Nhà Bè, khi xe qua cầu Lang To, bị quân Bình Xuyên bắn chết lúc 19 giờ. Hôm sau, ngày 4/5/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đến viếng di hài tướng Thế quàn tại đường Eyriaud des Vergnes. Sau đó, được đưa ra quàn tại toà Đô chính cho dân chúng tới viếng. 

15. Cùng ngày 4/5/55, Hơn 1.000 đại biểu các Tỉnh, và Thị Xã cùng các Đại biểu đoàn thể, được mời nhóm họp trong Dinh Độc lập để “bàn xét tình thế”. Ngày 5/5/55, Số thiệt hại trong mấy ngày qua: Quân Chính phủ chết 15, bị thương 200; Quân Bình Xuyên chết 34, bị thương 300, hàng 18 Sĩ quan 190 Binh sĩ; Số nhà cháy hơn 10.000, trên 30.000 người mất chỗ ở. Ngày 6/5/55, Lễ quân táng tướng Trịnh Minh Thế, ông được truy thăng Trung tướng, và truy tặng Bảo quốc Huân chương Đệ tam, Linh cữu đưa về an táng tại Tây Ninh. 

Cũng ngày hôm nay 6/5/55, Đại hội Đại biểu các Địa phương họp tại Dinh Độc lập biểu quyết 3 kiến nghị: (1) Chống Cộng, tỏ lòng thành kính các chiến sĩ và tín nhiệm Quân đội (2) Yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại hứa trả quyền cho Quốc hội khi nào Quốc hội được bầu: (3) Trong khi chờ đợi hãy để toàn quyền cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình thế và triệu tập Quốc hội trong 6 tháng. Thế là, có sự khác nhau giữa Hội đồng Nhân dân Cách mạng và Đại hội Đại biểu các Địa phương: Ngày 3/5/55, Hội đồng Nhân dân Cách mạng đòi “Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại”; Và hôm nay 6/5/55, Đại hội Đại biểu các Địa phương chỉ “Yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại hứa trả quyền cho Quốc hội khi nào Quốc hội được bầu”.

16. Ngày 8/5/55, Công an Xung phong bót Catina với 80 người, 20 xe, cùng với nhiều súng đạn chịu đầu hàng. Ngày 10/5/55, bót cuối cùng của Công an Xung phong Bình Xuyên ở Bar Théophile đường Legrand de la Liraye sáng nay bỏ trống, vủ khí còn để lại.

 

 

 

 

 

 

12. CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM (3): 10.5.1955 - 23.10.1955.

Sau những ngày rối ren, trong 3 ngày 29, 30, 31/3/55 có tới 9 Tổng, Bộ trưởng từ chức. Đến ngày 7/4/55 Đô trưởng Sài Gòn Trần Văn Hương cũng từ chức. Rồi ngày 3/5/55 tướng Trịnh Minh Thế bị tử trận tại cầu Láng To… Ngày 10/5/1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm quyết định Cải tổ Chính phủ. (SL145/CP). 

I. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

Ngô Đình Diệm

Thủ tướng kiêm Quốc phòng

2

Bùi Văn Thinh

Tổng trưởng Nội vụ

3

Nguyễn Văn Sĩ

Tổng trưởng Tư pháp

4

Vũ Văn Mẫu

Tổng trưởng Ngoại giao

5

Trần Hữu Phương

Tổng trưởng Tài chánh, Kinh tế

6

Trần Chánh Thành

Tổng trưởng Thông tin

7

Nguyễn Dương Đôn

Tổng trg Giáo dục, Thanh niên

8

Vũ Quốc Thông

Tổng trưởng Xã hội, Y tế

9

Huỳnh Hữu Nghĩa

Tổng trưởng Lao động

10

Nguyễn Công Viên

Tổng trưởng Canh nông

11

Trần Văn Mẹo

Tổng trưởng Công chánh

12

Nguyễn Văn Thời

Tổng trg Cải cách Điền địa

13

Nguyễn Hữu Châu

Tổng trg Phủ thủ tướng

14

Trần Trung Dung

Tổng trg Phụ tá Quốc phòng

II. Sự kiện bên ngoài.

1. Ngày 16/9/55, Nhiều đoàn quân Thủy, Lục nổi lên chống Tổng thống độc tài Péron ở Argentina. Nhiều trận giáp chiến kịch liệt, không quân trung thành với Péron ném bom xuống các đoàn quân khởi nghĩa. Ngày 19/9/55, sau 3 ngày cầm cự Péron từ chức vì thủ đô sắp bị oanh tạc. 

III. Sự kiện liên quan.

1. Ngày 28/5/55, Đại sứ Hoa Kỳ Frederick Rheinardt trình ủy nhiệm thư lên Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 29/6/55, hiện còn 65.000 quân của Liên Hiệp Pháp tại Việt Nam. Ngày 1/7/55, Đại sứ Mỹ Rheinardt trao cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm tấm ngân phiếu 11 triệu Mỹ kim của dân chúng Hoa Kỳ tặng dân Di cư tị nạn, tiếp theo phiếu 28.751.428 Mỹ kim do tướng Lawton Collins Đại sứ Đặc phái viên Tổng thống trao tặng hồi tháng 12/1954. Ngày 11/7/55, Vài trăm dân di cư biểu tình ở Sài Gòn, đòi trục xuất các phần tử Cộng sản. Ngày 13/7/55, sinh viên học sinh biểu tình ở đường Champagne, đả đảo Ủy hội Quốc tế vì có ý bênh vực Việt Minh, đòi thả binh sĩ còn bị Việt Minh bắt giữ. Uỷ hội hứa sẽ xét lại vấn đề. 

Ngày 16/7/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố “Việt Nam không ký kết Hiệp định Genève, nên không bị ràng buộc, song vẫn trung thành với chính sách hòa bình, và sẵn sàng tổ chức Tổng tuyển cử nếu có thể bầu được tư do. Ngày 20/7/55, biểu tình khổng lồ chống Công, và chống chia đôi đất nước. Dân chúng ập vào phá nhiều phòng của Khách sạn Majestic và khách sạn đường Trần Hưng Đạo thiệt hại khá nhiều, bởi hai nơi nầy thường có Sĩ quan Việt Minh lui tới với Ủy hội Quốc tế. Ngày 23/7/55, khánh thành Hội Việt Mỹ ở đường Audouit, Sài Gòn. Ngày Ngày 16/8/55, Ký kết Hiệp ước về quốc tịch Pháp Việt giải quyết người Pháp lai và người Việt có Quốc tịch Pháp. 

2. Ngày 16/8/55, Đại sứ Henry Hoppenot sang thay thế tương Paul Ély làm Cao uỷ Pháp tại Việt Nam trình Uỷ nhiệm thư. Tuy mang danh hiệu Cao uỷ Poppenot có địa vị như Đại sứ. Ngày 17/8/55, Ký kết Hiệp định Việt-Pháp về Ngân Khố, hai Ngân khố Việt và Pháp ở hai nước trả tiền Thu hộ nhau rồi Thanh toán sau. Ngày 20/8/55, một Phái đoàn gồm các Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Dương Đôn, Trần Trung Dung, và Cố vấn Ngô Đình Nhu sang Pháp điều đình các vấn đề văn hóa và quân sự, hội kiến với Thủ tướng Pháp Edgar Faure. 

Ngày 10/9/55, các báo bắt đầu đã kích “Chế độ củ và Quốc trưởng Bảo Đại”. Ngày 15/9/55, khánh thành đường Điện thoại Sài Gon-Manilla, Thủ tướng Ngô Đình Diệm nói chuyện với Tổng thống Phi Luật Tân Magsaysay. Ngày 12/10/55, tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương ra lệnh khám xét nhà và bắt giữ một số người ở Tây Ninh để thanh trừng hàng ngũ Cao Đài. 

IV. Những việc đã làm.

1. Ngày 11/5/55, lễ chuyễn giao Viện Đại học. Ngày 11/5/55, lễ tuyên dương công trạng các cấp chỉ huy quân sự trong vụ đánh dẹp Bình Xuyên. Ngày 12/5/55, tướng Nguyễn Văn Vỹ, bị cất chức Tổng Thanh tra Quân đội, Ngày 13/5/55, Đại sứ Nguyễn Khoa Toàn bị chấm dứt nhiệm vụ tại Vọng Các. Ngày 15/5/55, lễ sáp nhập Ngự Lâm quân vào quân đội Quốc gia. Ngày 15/5/55, có hàng vạn người biểu tình tại Huế đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 17/5/55, Bác sĩ Phạm Văn Huyến từ chức Tổng ủy Phụ trách đồng bào tị nạn, Phụ tá Bùi Văn Lương được cử thay thế. 

Ngày 21/5/55, bị truy tố trước Tòa án Quân sự các tướng: tướng Cao Đài Nguyễn Văn Thành; tướng Bình Xuyên Lê Văn Viễn; tướng Quốc gia Nguyễn Văn Vỹ. Các Đại tá: đại tá Quốc gia Nguyễn Tuyên; đại tá Bình Xuyên Lại Hữu Tài, đại tá Bình Xuyên Lại Hữu Sang về tội phá hoại an ninh và phản bội quốc gia. Ngày 23/5/55, Kết quả vụ đánh dẹp Bình Xuyên: 7.826 nhà cháy, 88 thường dân chết, 592 người bị thương; Tại Rừng Sát, tàn quân Bình Xuyên xin quy thuận 133 người với vủ khí; Tịch thu tài sản của Bình Xuyên trị giá 132 triệu, trong đó có 42 triệu tại Ngân hàng. Ngày 31/5/55, Hội đồng Nhân dân Cách mạng của Nguyễn Bảo Toàn, bắt mở cửa Ngọ Môn Huế, vào Đại Nội tịch thu ấn tín, và nhiều đồ đạt trong Văn phòng Quốc trưởng Bảo Đại. 

2. Ngày 2/6/55, Đồn Cái Răng bị súng Cối Hoà hảo bắn phá. Ngày 3/6/55, Bộ đội của tướng Trần Văn Soái tiến đánh một đồn gần Cái Vồn, quân Chính phủ 3 chết 3 bị thương, nhưng đồn vẫn giữ được. Ngày 5/6/55, mở “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” bình định miền Tây Nam Phần do Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy chiếm Cái Vồn, Cần Thơ nơi đặt bản doanh của tướng Soái, giải tỏa được đường Cần Thơ, Cái Vồn, Vĩnh Long. Các khu vực do Hòa Hảo kiểm soát hiện tại là: (1) Hoà Hảo Lâm Thành Nguyên vùng Châu Đốc, Cái Dầu; (2) Hoà Hảo Nguyễn Giác Ngộ vùng Chợ Mới; (3) Hoà Hảo Trần Văn Soái vùng Cần Thơ, Cái Vồn, Sa Đéc, Lai Vung; (4) Hoà Hảo Lê Quang Vinh vùng Thốt Nốt, Long Xuyên, Rạch Giá, Gò Quao, Ô Môn.v.v. 

Ngày 6/6/55, hơn 600 quân của tướng Trần Văn Soái về hợp tác với Chính phủ. Ngày 8/6/55 có thêm Tiểu đoàn 9 của tướng Soái về hợp tác với chính phủ. Ngày 10/6/55, Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, và Cố vấn Ngô Đình Nhu sang Pháp yêu cầu Chính phủ Pháp giải quyết những vấn đề còn đọng. Việt Nam đòi “triệt thoái quân đội khỏi Việt Nam; cử một Đại sứ thay Cao Ủy”. Ngày 10/6/55, Tài sản tịch thu của Bình Xuyên bị sung thác (Dụ 42). Ngày 10/6/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 43, đặt tướng Trần Văn Soái (Năm Lữa), và tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 16/6/55, Hội đồng Tôn Nhơn Phủ ở Huế tuyên bố truất phế Quốc trưởng Bảo Đại. 

3. Ngày 17/6/55, diễn biến “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” quân Chính phủ đánh vào 1 Trung đoàn của tướng Lê Quang Vinh, và 1 Tiểu đoàn của tướng Trần Văn Soái tại vùng Ô Môn, Thốt Nốt, Thạnh Lợi. Ngày 19/6/55 quân Chính phủ bắn 1.000 trái đại bác, và 1.000 trái súng cối vào các căn cứ của Tướng Vinh và tướng Soái, hơn 800 binh sĩ Hòa Hảo về hợp tác. Ngày 24/6/55, thành lập một Hội đồng Tối cao Tiền tệ và Tín dụng để xét định về chính sách Kinh tế, Tài chánh, và Tiền tệ (Dụ 44). Ngày 25/6/55, Tiểu đoàn 18 của tướng Lê Quang Vinh gồm 118 người với võ khí về hợp tác ở Cần Thơ. Ngày 28/6/55, Bao vây Trung đoàn Lê Lợi của Lê Quang Vinh tại Thất Sơn; Ngày 29/6/55, Đại tá Dương Văn Đức hiếm được núi Ba Chúc, mặc dù quân của tướng Lê Quang Vinh chống cự rất mảnh liệt. 

Ngày 1/7/55, Tổng kết Công cuộc di cư, theo tài liệu của Phủ Tổng uỷ Di cư: Tổng số dân Di cư vào Nam: 777.525 người gồm: bằng tàu biển 533.868; bằng máy bay 243.657; Số Trại định cư: 188 trại gồm: 122 trại ở12 tỉnh Nam Phần; 55 trại ở 8 tỉnh Trung Phần; 9 trại ở 6 tỉnh Cao Nguyên; Số nhà đã dựng: 47.051 nhà gồm: 43/288 nhà chắc chắn; 3.763 nhà tạm trú; Ngân khoản được cấp: 1.058.000.000$ gồm: 480 triệu trợ cấp định cư; 300 triệu cấp cho người định cư tự làm nhà. Mỗi người được cấp: 700$ trợ cấp tài chánh; 12$ tiền ăn mỗi ngày; Số dụng sụ, vật liệu đã phát: 124.813 dụng cụ canh nông; 861.585 kiện vải; 393.994 cân chỉ; 3.471 cân chỉ làm chài lưới. 

4. Cũng ngày 1/7/55, các lực lượng Hòa Hảo không được sáp nhập vào Quân đội Quốc gia nữa, mặc dầu đã dự định sáp nhập 3.000 người từ 3/11/54 (NĐ 416b/QP). Ngày 5/7/55, số nạn nhân vụ biến cố Bình Xuyên, ước chừng 81.445 người, 26.670 người có nhà cháy đã được cấp gạo, tiền, và đưa tới 13 trại tạm trú, 54.755 người ở ngoài các trạm được cấp 8.254.800$. Đã dựng 660 căn nhà tạm trú. Viện trợ Mỹ tặng 360 căn nhà làm sẵn. Viện trợ Pháp tặng 350 căn. Số tiên quyên được 21.351.195 $ (Theo Bộ Xã hội)...Ngày 6/7/55, Các Tiểu đoàn Bắc Tiến, Nguyên Huệ và Trung đoàn Lê lợi của Ba Cụt đều tan rã, 247 tử trận, 162 bị bắt làm tù binh, 827 về hợp tác. 

Ngày 11/7/55, quân đội chính phủ tiếp tục tiến về Rạch Giá, bao vây gây thiệt hại lớn cho Trung đoàn Lê Quang của tướng Lê Quang Vinh.Ngày 16/7/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố “Việt Nam không ký kết Hiệp định Genève, nên không bị ràng buộc, song vẫn trung thành với chính sách hòa bình, và sẵn sàng tổ chức Tổng tuyển cử nếu có thể bầu được tư do. Ngày 30/7/55, Phủ Tổng uỷ Di cư phát động Phong trào “Tự lực Mưu sinh” vì không thể trợ cấp mãi cho dân Di cư. Ngày 9/8/55, thành lập Học viện Quốc gia Hành chánh, thay thế trường Hành chánh Đà Lạt (NĐ 483/PTT/TTK). 

5. Ngày 20/8/55, một Phái đoàn gồm các Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Dương Đôn, Trần Trung Dung, và Cố vần Ngô Đình Nhu sang Pháp điều đình các vấn đề văn hóa và quân sự, hội kiến với Thủ tướng Pháp Edgar Faure. Ngày 10/9/55 nầy, các báo bắt đầu đã kích “Chế độ củ và Quốc trưởng Bảo Đại”. Ngày 17/9/55, Khánh thành Đập Đồng Cam, dẫn nước cho 23.000 mẩu ruộng. Ngày 21/9/55, mở “Chiến dịch Hoàng Diệu” truy kích tàn quân Bình Xuyên tại Rừng Sác, do Đại tá Dương Văn Minh làm Tư lệnh, Trung tá Nguyễn Khánh, Tư lệnh phó. 

Ngày 4/10/55, hơn 15 đoàn thể Chính trị, Tôn giáo, Thanh niên, Lao động thành lập một Ủy ban Trưng cầu Dân ý, đưa kiến nghị “đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm”. Ngày 6/10/55, Hội đồng Chính phủ quyết định tổ chức “Trưng cầu Dân ý”. Ngày 8/10/55 Bộ Nội vụ công bố ngày 23/10/1955 sẽ là ngày “Trưng cầu Dân ý”. Ngày 18/10/1955, Quốc trưởng Bảo Đại chấm dứt nhiệm vụ Thủ tướng của Ngô Đình Diệm. Ngày 23/10/55, Trưng cầu Dân ý “Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên chức vị Quốc trưởng. 

(Hết chương 6)

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét