CHƯƠNG III: THỜI KỲ VƯƠNG TRIỀU CAI TRỊ ĐỘC LẬP 1802 1884.
(Có 24 trang và 15.538)
1. Ngay sau khi chiến thắng quân Tây Sơn, tái chiếm Phú Xuân, nguyên là kinh đô của các Chúa Nguyễn, ngày 1 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802) Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Hoàng đế, lập ra Vương triều nhà Nguyễn. Nguyễn Ánh chọn niên hiệu là Gia Long chữ Gia lấy từ Gia Định và Long lấy từ Thăng Long. Vương triều nhà Nguyễn tồn tại 143 năm.
A. TỔ CHỨC CAI TRỊ.
I. Quan chế và chính quyền trung ương.
1. Ngay từ năm 1780, lúc xưng Vương Nguyễn Phúc Ánh đã đặt quan lại cho những người theo phò tá mình. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và trở thành hoàng đế Gia Long, ông tiếp tục kiện toàn hệ thống hành chính và quan chế của chính quyền mới. Nhà Nguyễn về cơ bản vẫn giữ nguyên hệ thống quan chế và cơ cấu chính quyền trung ương giống như các triều đại Phong kiễn trước đó. Đứng đầu nhà nước là vua, nắm mọi quyền hành. Giúp việc nhà Vua giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng (năm 1829 đổi là Nội các. Về việc “Quốc quân quan trọng sự” thì có 4 vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần, đến năm 1834 trở thành viện Cơ mật.
Ngoài ra, còn có Tôn nhân phủ phụ trách các công việc của Hoàng gia. Bên dưới, triều đình lập ra 6 Bộ, đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng Thư chịu trách nhiệm chỉ đạo công việc của bộ gồm: Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình, và Bộ Công. Bên cạnh 6 Bộ còn có Đô Sát viên, gọi là Ngự Sử đài bao gồm 6 Khoa chịu trách nhiệm thanh tra quan lại. Hàn Lâm viện phụ trách các sắc dụ, công văn. 5 Tự phụ trách một số sự vụ. Phủ Nội vụ coi sóc các kho tàng. Quốc Tử giám phụ trách giáo dục. Thái Y viện chịu trách nhiệm về việc chữa bệnh và thuốc thang,... cùng với một số Ti và Cục khác. Quan chức của triều đình chỉ phân bổ tới phủ, huyện, từ tổng trở xuống thuộc về “quyền tự trị của dân”.
2. Người dân tự lựa chọn lấy người của mình mà cử ra quản trị mọi việc tại đia phương. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cái tổng, và một phó tổng, do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng. Ngạch quan lại chia làm 2 ban Văn và Võ. Kể từ thời vua Minh Mạng được xác định rõ rệt giai chế phẩm trật từ Cửu phẩm tới Nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra 2 bậc Chánh và Tòng. Trừ khi chiến tranh loạn lạc, còn bình thường quan Võ phải dưới quan Văn cùng phẩm với mình. Quan Tổng đốc (Văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân lính của tỉnh nhà. Lương bổng của các quan tương đối ít.
Nhưng quan lại được hưởng nhiều quyền lợi, cha họ được khỏi đi lính, làm sưu và miễn thuế tùy theo quan văn hay võ, hàm cao hay thấp. Ngoài ra con cái các quan còn được hưởng lệ tập ấm. Tuy bộ máy không cồng kềnh, nhưng tệ tham nhũng vẫn là một trong những vấn đề lớn. Trong bộ luật triều Nguyễn có những hình phạt rất nghiêm khắc đối với tội này. Những thành quả của vương triều Nguyễn trong việc xây dựng nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền thống nhất trên toàn lãnh thổ cũng được ghi nhận từ việc quản lý đất nước. Đặc biệt là những thành tựu trong cải cách hành chánh dưới triều Minh Mạng còn có nhiều giá trị.
II. Phân chia địa giới hành chính.
1. Năm 1802, trong khi đã quyết định Phú Xuân là quốc đô, Nguyễn Ánh vẫn tạm đặt 11 trấn phía Bắc (tương đương khu vực Bắc Bộ ngày nay, thành một Tổng trấn với tên cũ Bắc Thành, do một Tổng trấn đứng đầu. Đến thời Minh Mạng năm 1831-1832, nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh. Đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam. Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh và vùng còn lại ở phía Nam được chia làm 12 tỉnh. Thừa Thiên, nơi toạ lạc của kinh đô Phú Xuân, là phủ trực thuộc Trung ương. Cả nước được chia làm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên.
Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (phụ trách 2-3 tỉnh, nhưng chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (dưới Tổng đốc, chỉ phụ trách 1 tỉnh). Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức Lãnh binh. Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm, và thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn. Hệ thống chính quyền được phân biệt rõ rệt giữa Trung ương và địa phương, và trong hệ thống này nhà vua, người đứng đầu đất nước, nắm nhiều quyền lực hơn hẳn so với các thời kỳ trước. Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã.
2. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng. Nhìn chung, cơ cấu hành chính của các tổng, xã được tổ chức khá chặt chẽ để triều đình dễ dàng quản lý và phản ứng mau lẹ khi có sự biến xảy ra. Đối với vùng thượng du và với các khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số, Minh Mạng thực hiện nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829 ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti mà cho quan lại lựa chọn “những thổ hào ở địa phương”làm Thổ ti các châu huyện.
Sau đó, Minh Mạng còn đặt thêm “một chức lưu quan” và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi. Do phản ứng của người dân địa phương, vua Tự Đức đã bãi bỏ chế độ lưu quan. Tính đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam có 98 Phủ bao gồm 342 Huyện và Châu. Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vua Gia Long từ năm 1816, đã chính thức ra lệnh tiếp thu Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Sang triều Minh Mạng, nhà Nguyễn cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.
3. Từ thập niên 1890 chính quyền Bảo hộ nhân danh triều đình Huế của nhà Nguyễn cũng có dự định dựng ngọn hải đăng để khẳng định chủ quyền của Pháp trên quần đảo Hoàng Sa nhưng đồ án chưa thực hiện được và mãi đến năm 1938 mới có lực lượng chính thức chiếm đóng quần đảo này. Dù vậy, khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạm Hoàng Sa vào những năm đầu thế kỷ 20 thì Bộ Ngoại giao Pháp đã có công văn phản đối. Cuộc tranh chấp này kéo dài cho đến khi người Pháp mất chủ quyền ở Đông Dương và vẫn chưa kết thúc.
III. Tổ chức Quân đội.
1. Một trong những thành quả Gia Long đạt được sau nhiều năm nội chiến với Tây Sơn là quân đội tương đối mạnh với trang bị và tổ chức kiểu phương Tây. Sau khi quản lý làm chủ toàn bộ quốc gia, nhà Nguyễn xây dựng quân đội hoàn thiện hơn, chính quy hơn. Để sung binh ngạch mới, vua Gia Long cho thực hiện phép giản binh, theo hộ tịch tuỳ nơi mà định, lấy 3, 5 hay 7 suất đinh tuyển 1 người lính. Quân chính quy đóng tại kinh thành và những nơi xung yếu; các địa phương đều có lực lượng vũ trang tại chỗ làm nhiệm vụ trị an. Quân chính quy có 14 vạn người, ngoài ra còn có quân trừ bị. Quân đội còn được tổ chức thành 4 binh chủng: bộ binh, tượng binh, thuỷ binh, và pháo binh.
2. Trình độ chính quy thống nhất cao. Ngoài vũ khí cổ truyền, quân chính quy được trang bị hoả khí mua của phương Tây như đại bác, súng trường, thuyền máy, thuốc nổ. Các loại súng thần công, đại bác được đúc với kích thước, trọng lượng thống nhất; thành luỹ, đồn to nhỏ cũng được quy định cho từng cấp với số lượng quân nhất định. Sự quan tâm tới khoa học quân sự phương Tây của Gia Long được xem là do tình thế bắt buộc thì với Minh Mạng lại hoàn toàn tự nguyện. Minh Mạng lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội, hướng đến việc quân cần tinh nhuệ, không cần nhiều, bỏ bớt số lượng người cầm cờ từ 40 người xuống 2 người trong đội ngũ đơn vị 1 vệ (500 người).
Phương thức tác chiến được các học giả Mãn Thanh ghi nhận là giống hệt kiểu Pháp, do trong quân đội Minh Mạng có thuê các sĩ quan huấn luyện Tây Dương. Có thể nói, quân đội nhà Nguyễn thời bấy giờ là lực lượng quân sự tân tiến hiện đại nhất ở khu vực Đông Á, vượt xa các nước láng giềng như Trung Hoa, Thái Lan, Campuchia. Sang thời Tự Đức, công tác quốc phòng của nhà Nguyễn có sự tương phản rõ rệt với các triều trước. Một trong các lý do khiến tình hình quân đội suy sút là vấn đề tài chính. Vũ khí và trang thiết bị làm mới gần như không có. Trang bị bộ binh rất lạc hậu: 50 người mới có 5 súng, mỗi năm chỉ tập bắn 1 lần 6 viên đạn.
3. Về thuỷ binh, không tàu hơi nước nào được đóng mới, thuỷ quân thậm chí không đủ khả năng bảo vệ bờ biển chống hải tặc. Việc giảng dạy binh pháp không chú trọng tới sách vở phương Tây nữa mà quay trở lại với Binh thư Yếu lược của Trần Hưng Đạo. Đời sống quân lính không được quan tâm thoả đáng. Do đó,tinh thần chiến đấu của quân sĩ không cao. Quan điểm khoa học quân sự không vượt quá khuôn khổ của khoa học quân sự phong kiến. Do việc không bắt kịp với thành tựu mới của khoa học phương Tây, nên khi người Pháp vào xâm lược Việt Nam (1858), khoảng cách về trang thiết bị giữa quân đội nhà Nguyễn và quân Pháp đã quá xa.
IV. Thuế khóa và lao dịch.
1. Việc sinh hoạt quốc gia đòi hỏi phải có tài chính để duy trì bộ máy triều đình. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long tổ chức lại “vấn đề đăng tịch” bắt buộc mỗi làng xã phải ghi vào sổ đinh số đàn ông từ 18-60 tuổi. Thế nhưng, các đinh bộ không bao giờ kê khai hết tất cả số đàn ông trong làng, vì ngoài dân đinh còn có một số người là dân ngoại tịch, dân lậu, những người bần cùng, vô sản, không thể đánh thuế cũng như những người mới tới làng định cư. Do tổ chức xã hội Việt Nam cơ bản là làng xã, nên triều đình giao cho làng xã lo việc thuế má và sưu dịch, không cần biết làng xã sẽ phân chia trách nhiệm giữa các dân làng ra sao.
Mỗi làng được quyền tự trị, tự cai trị theo tục lệ riêng được ghi biên trong Hương ước của làng. Hội đồng Kỳ mục trông coi tất cả công sản, thuế khóa, đê điều, và trị an. Họ cũng phải lo phân phối công điền giữa các dân đinh mỗi kỳ quân cấp, và chỉ định thanh niên đi lính.
2. Về thuế nhân đinh và thuế ruộng, vua Gia Long cho sửa lại hộ tịch và điền tịch đã hư hỏng qua thời nội chiến. Hộ tịch “phân ra 9 hạng”, tuỳ từng hạng mà nộp thuế toàn bộ hay được miễn giảm một nửa hoặc miễn trừ cả sưu thuế lẫn sai dịch. Thuế đinh nhà Nguyễn đặc biệt đánh nặng lên dân Thanh, Nghệ và Bắc Hà. Dân công nghệ thì nộp thuế sản vật. Thời Minh Mạng thì định lại thuế điền, chia cả nước ra 3 khu vực để đánh thuế. Thuế điền thì dân Thanh Nghệ và Bắc Hà cũng bị nặng hơn ở các miền khác. Theo thống kê của bộ Hộ thì số đinh năm đầu đời Gia Long là 992.559 người, cuối đời Thiệu Trị là 1.024.380 người. Về điền thổ thì đầu đời Tự Đức có 3.398.584 mẫu ruộng và 502.672 mẫu đất.
Mỗi người dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch cho triều đình. Lao dịch thường là để làm các việc: xây sửa hệ thống đê điều, kênh rạch, sông ngòi; xây đắp các thành lũy; xây dựng các cung điện cho hoàng gia. Trên thực tế, người dân phải lao dịch khá nặng trong thời gian vương triều nhà Nguyễn xây dựng các cung điện, lăng tẩm, dinh thự,... Ví dụ năm 1807, ngay khi kinh thành Huế vừa được xây xong, vua Gia Long lại huy động hàng nghìn dân đinh và binh lính tiếp tục sửa chữa và tu bổ thêm trong một thời gian dài. Vua Minh Mạng cũng tiếp tục công việc xây dựng kinh đô. Vua Thiệu Trị thì không tập trung xây dựng kinh đô nữa.
3. Nhưng, trong một cuộc tuần du lớn ra Bắc Kì năm 1842, người dân đã phải xây 44 hành cung cho một phái đoàn đông đến 17.500 người, 44 con voi và 172 con ngựa của nhà vua. Trong dân gian đã xuất hiện các bài vè, bài ca miêu tả sự nặng nề của chế độ lao dịch, ví dụ bài "Tố khuất khúc" của dân Sơn Nam Hạ có câu: Binh tài hai việc đã xong; Lại còn lực dịch thổ công bao giờ; Một năm ba bận công trình; Hỏi rằng mọt sắt dân tình biết bao...
V. Luật pháp.
1. Lúc đầu, nhà Nguyễn chưa có một bộ luật rõ ràng, chi tiết. Vua Gia Long chỉ mới lệnh cho các quan tham khảo bộ luật Hồng Đức để rồi từ đó tạm đặt ra 15 điều luật quan trọng nhất. Năm 1811, theo lệnh của Gia Long, tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành đã chủ trì biên soạn một bộ luật mới và đến năm 1815 thì nó đã được vua Gia Long ban hành với tên Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là luật Gia Long. Bộ luật Gia Long gồm 398 điều chia làm 7 chương và chép trong một bộ sách gồm 22 cuốn, được in phát ra khắp mọi nơi. Theo lời tựa, bộ luật ấy hình thành do tham khảo luật Hồng Đức và luật nhà Thanh nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều.
Chương "Hình luật" chiếm tỉ lệ lớn, đến 166 điều trong khi những chương khác như "Hộ luật" chỉ có 66 điều còn "Công luật" chỉ có 10 điều. Trong bộ luật có một số điều luật khá nghiêm khắc, nhất là về các tội phản nghịch, tội tuyên truyền "yêu ngôn, yêu thư". Bộ luật cũng đặt ra nhiều điều luật nghiêm khắc để trừng trị tham quan, nhũng lạm. Tất nhiên, đến các đời vua sau Gia Long, bộ luật này cũng được chỉnh sửa và cải tiến nhiều, nhất là dưới thời Minh Mạng.
VI. Ngoại giao.
1. Với các nước lân bang.
1. Cũng như các triều đại trước, nước đầu tiên mà Gia Long tiến hành ngoại giao là Trung Quốc. Tháng 5 năm 1802, sau khi lên ngôi vua, Gia Long cho đoàn sứ giả đem đồ cống sang Quảng Đông cầu phong triều đình Trung quốc. Dẫn đầu đoàn sứ giả là Trịnh Hoài Đức chánh sứ, Ngô Nhân Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn là phó sứ. Khi đoàn sang đến Quảng Tây, quan nhà Thanh nhận chuyển đồ cống chuyễn lên Bắc Kinh, còn đoàn sứ ở lại Quảng Tây chờ lệnh triều đình Bắc Kinh. Cuối năm đó, vua Gia Long cử tiếp đoàn thứ hai, do Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định làm chánh sứ, được vua Gia Khánh nhà Thanh tiếp. Gia Long đề nghị đặt tên nước là “Nam Việt”.
Nhưng, nhà Thanh ngại trùng với nước “Nam Việt xưa” nằm ở Lưỡng Quảng nên đề nghị đổi lại thành “Việt Nam”, vua Thanh cử Tổng đốc Quảng Tây là Tề Bố Xâm sang dự lễ tấn phong “quốc vươngViệt Nam Gia Long”, ấn định thể lệ tiến cống hai năm một lần, và cứ bốn năm Việt Nam sẽ phái sứ bộ sang làm lễ triều cống. Ngoài Trung Quốc, nhà Nguyễn còn qua lại với Xiêm La. Dù có xung đột từ thời kỳ trước đó đến khi Gia Long nắm quyền, việc giao thiệp giữa triều Gia Long và Xiêm La vẫn giữ được sự hòa hảo. Từ năm 1802 trở đi hai bên vẫn có Sứ bộ qua lại trao đổi thân thiện và tặng phẩm. Tại Ai Lao, Việt và Xiêm cùng đặt ảnh hưởng, Quốc vương Ai Lao xin thần phục cả Việt lẫn Xiêm.
2. Dân vùng Cam Lộ, các vùng cao nguyên hai tỉnh hanh- Nghệ, người Thượng ở các nước Thuỷ Xá và Hoả Xá cũng có cống phẩm, tỏ lòng tuân phục Triều đình. Thời vua Minh Mạng, nhiều xứ ở Ai Lao xin thuộc quyền bảo hộ của Việt Nam. Các vùng Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn và Savannakhet giáp tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, đều xin làm nội thuộc, và trở thành các châu, phủ của Việt Nam. Còn với Chân Lạp, khi vua Gia Long lên ngôi, nước Cao Miên tuy mất Thuỷ Chân Lạp cho người Việt nhưng vẫn phải chịu thần phục. Thời Minh Mạng, sau khi phá được quân Xiêm, Tướng Trương Minh Giảng và tham tán Lê Đại Cương lập đồn đóng quân ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp.
2. Với các nước phương Tây.
1. Năm 1803, Anh Quốc sai sứ là Robert sang xin cho mở cửa hàng buôn bán ở Trà Sơn thuộc Quảng Nam. Vua Gia Long không nhận đồ, và cũng không cho mở cửa hàng. Sau người Anh còn đưa thư sang hai ba lần nữa, nhưng vẫn bị từ chối. Đối với nước Pháp, vua Gia Long có thiện cảm hơn do khi ông còn gian truân có nhờ ông Bá Đa Lộc giúp đỡ. Khi chiến tranh kết thúc, các ông Chaigneau, Vannier và Despiau làm quan tại triều, Năm 1817, chính phủ Pháp phái tới Việt Nam chiếc tàu Cybèle để thăm dò bang giao. Thuyền trưởng là Achille Kergariou nói rằng, vua Louis XVIII sai ông sang xin thi hành những điều ước do Bá Đa Lộc ký năm 1787 về việc nhường cửa Đà Nẵng và đảo Côn Lôn.
Vua Gia Long sai quan ra trả lời rằng những điều ước ấy nước Pháp trước đã không thi hành thì nay bỏ, không nói đến nữa. Tuy nhiên, nhà Vua cũng thấy rằng cần phải giao hảo với người Tây phương, nhưng không thể biệt đãi một quốc gia nào. Năm 1819, Jhon White, một thương gia Hoa Kỳ tới Gia Định, được hứa hẹn sẽ dành cho sự dễ dàng khi buôn bán ở Việt Nam. Vua Minh Mạng không có cảm tình với người Pháp như thái độ chung của người Á Đông lúc đó, coi người Âu Châu là bọn man di, là quân xâm lược. Trong thời kỳ Minh Mạng nắm quyền, tín đồ Công giáo bị đàn áp quyết liệt và các giáo sĩ nước ngoài đã so sánh ông với hoàng đế Nero của đế quốc La Mã.
2. Với những người Pháp đã từng giúp vua Gia Long, Minh Mạng tỏ thái độ lạnh nhạt. Khi Chaigneau đề nghị ký thương ước Việt- Pháp, Minh Mạng cho Chaigneau hay rằng, không cần phải ký thương ước giữa hai chính phủ, người Việt Nam vẫn đối xử tốt đẹp với người Pháp là đủ, ông chỉ thỏa thuận mua bán với người Pháp, nhưng không chấp nhận xây dựng đặt quan hệ ngoại giao chính thức với nước Pháp, quốc thư của Pháp xin cho ông Chaigneau làm Lãnh sự Pháp ở Việt Nam không được nhà vua đếm xỉa đến. Cũng theo đường lối của hai triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, khước từ mọi việc giao thiệp với các nước ngoài, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm phục vụ thương mại.
Năm 1850, có tàu của nước Mỹ vào cửa Hàn có quốc thư xin thông thương nhưng không được tiếp nhận. Từ năm 1855 các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha nhiều lần có tàu vào cửa Hàn, cửa Thị Nại, và Quảng Yên xin thông thương cũng không được. Sau khi Gia Định bị người Pháp chiếm, việc ngoại giao giữa triều đình với các nước phương Tây khó khăn, Tự Đức mới thay đổi chính sách, đặt ra Bình Chuẩn Ty để lo buôn bán và Thương Bác Viện để giao dịch với người nước ngoài nhưng không có kết quả vì những người được ủy thác vào các việc này không được học gì về giao.
VII. Kinh tế.
1. Thương mại.
1. Thương mại Việt Nam sau khi đất nước được thống nhất vẫn không phát triển lắm, tổ chức thương mại của người Việt sơ sài, trong phạm vi gia đình. Nếu có những hội buôn lớn thì cũng chỉ là những phường họp vài thương gia hùn vốn với nhau để kinh doanh rồi chia tiền ngay, không liên kết lại thành những hội buôn làm ăn lâu dài. Nhiều người Việt Nam dùng tiền của để mua ruộng đất chứ không đầu tư kinh doanh, khuếch trương thương mại hay công nghệ. Việc buôn bán ở các chợ quy mô lớn do thương nhân Hoa kiều chi phối. Các mặt hàng tiêu dùng họ kinh doanh gồm có: mua thổ sản như gạo lúa, bắp đường, hạt tiêu... và bán các hàng nhập cảng trà, thuốc Bắc, vải, đồ đồng, giấy.
Trong vùng nông thôn, hoạt động thương mại cũng chỉ nhằm trao đổi nông sản và hàng tiểu thủ công ở các chợ. Ở đó, ngoài những cửa hàng tạp hoá quy mô nhỏ hay các cửa tiệm bán thuốc Bắc, còn có những nông dân bán thổ sản và nông sản địa phương và một số thương nhân nhỏ bán vải vóc, hàng xén, cau thuốc, đi rong từ chợ này sang chợ khác. Theo sử gia Trần Trọng Kim,“người Việt Nam chỉ quanh quẩn trong nước, buôn bán những hàng hóa lặt vặt, nên bao nhiêu mối lợi lớn về tay người ngoài mất”. Triều đình đã tổ chức nhiều chuyến đi công cán đến các nước trong khu vực để thực hiện giao dịch buôn bán.
2. Năm 1824, Minh Mạng đã sai người đi công cán ở Hạ Châu (Singapore) và Giang Lưu Ba (Indonesia). Năm 1825, vua Minh Mạng phái người sang Hạ Châu mua vải và đồ thủy tinh. Sau đó, mỗi năm đều có quan viên được phái đi tới các trung tâm mậu dịch của người Âu ở khắp Đông Nam Á. Từ 1831-1832 trở đi, các chuyến công cán càng lúc càng nhiều, điểm đến cũng khá đa dạng: Hạ Châu, Lữ Tống (Luzon-Philippines) đảo Bornero, Quảng Đông, Giang Lưu Ba,... Trong khoảng 1835-1840 đã có 21 chiếc được cử đi. Hàng bán ra chủ yếu là gạo, đường, lâm thổ sản quý, hàng mua về là len, da và vũ khí, đạn dược.
Các hoạt động này gần như là độc quyền của triều đình cho dù tư nhân không bị cấm. Tuy thế, nhiều thương nhân cũng lợi dụng các chuyến buôn bán này để buôn lậu gạo và thổ sản sang Hạ Châu hay Quảng Châu. Hàng năm, thuyền buôn Trung Hoa thường đi lại giữa Việt Nam và Singapore. Trong những năm 1820-1830, giao dịch với Singapore rất hạn chế, do hàng hóa của Việt Nam phù hợp với thị trường ở đây. Khi người Pháp sắp chiếm hết Nam Kỳ, các bảng lược kê tài chính cho thấy quan thuế hàng năm tương đương 3.000.000 france vàng trên tổng ngân sách 40.000.000 mà các quan viên đã giữ lại gấp đôi số tiền thuế kia, như vậy, số tiền thu được vượt quá số tiền chuyển về triều đìn rất nhiều.
3. Từ thời Thiệu Trị, do xung đột với phương Tây từ nguyên nhân tôn giáo, quan hệ buôn bán với các nước này bị tổn hại. Năm 1850, Tự Đức không phái thuyền đi buôn ở Hạ Châu nữa. Triều đình cũng tìm cách cản trở dân thường buôn bán với người Tây nên cuối cùng, thương gia ngoại quốc chủ yếu là Hoa kiều, Xiêm, và Mã Lai, trong đó người Hoa chiếm tỷ lớn nhất.
2. Thủ công nghiệp.
1. Thủ công nghiệp Nhà nước thời Nguyễn chế tạo tất cả những đồ dùng cho hoàng gia, tham gia đóng thuyền cho quân đội, đúc vũ khí, đúc tiền,... Nhà Nguyễn cũng tập trung xây dựng hệ thống các xưởng thủ công Nhà nước, nhất là ở kinh đô và các vùng phụ cận. Năm 1803, Gia Long thành lập xưởng đúc tiền Bắc Thành tiền cục ở Thăng Long. Nhà Nguyễn cũng lập các Ti trông coi các ngành thủ công, như ti Vũ khố chế tạo quản lý nhiều ngành thủ công khác nhau, gồm 57 cục: làm đất, đúc, làm đồ vàng bạc, vẽ tranh, làm ngói, làm đồ pha lê, khắc chữ, đúc súng, làm trục xe, luyện đồng,... Ti Thuyền chịu trách nhiệm về các loại thuyền công và thuyền chiến, gồm 235 sở trên toàn quốc.
Ngoài ra còn có các ti Doanh kiến, ti Tu tạo, ti Thương bác hoả dược. Phần lớn nhân lực trong các xưởng thủ công Nhà nước là do triều đình trưng dụng thợ khéo trong các ngành như khảm xà cừ, kim hoàn, thêu thùa... tới làm việc để cung cấp đồ dùng cho triều đình. Đối với nghề đóng tàu, năm 1820 sĩ quan người Mỹ, John White đã nhận xét: " Người Việt Nam quả là những người đóng tàu thành thạo. Họ hoàn thành công trình của họ với một kỹ thuật hết sức chính xác."Ngoài các thuyền gỗ, người thợ thủ công Việt Nam còn đóng cả các loại tàu lớn bọc đồng.
2. Ngoài ra họ đã sáng chế được nhiều máy móc tiên tiến và có chất lượng vào thời đó, ví dụ các máy cưa xẻ gỗ, máy tưới ruộng... và cả máy hơi nước. Trong ngành khai mỏ, đến nửa đầu thế kỷ 19, triều đình đã quản lý 139 mỏ, và năm 1833 có 3.122 nhân công trong các mỏ Nhà nước, tuy nhiên, phương thức khai mỏ thời bấy giờ vẫn kém phát triển so với thế giới.
3. Nông nghiệp.
1. Về vấn đề ruộng đất, ngay khi mới lên ngôi, Gia Long đã phải ra lệnh cấm bán ruộng đất công, để bảo đảm đất cày cho mọi người nông dân.Trải qua nội chiến, nhân dân lại gặp mất mùa liên tiếp. Triều đình thường phải giảm thuế, miễn thuế và phát chẩn. Thời Minh Mạng định lại phép quân cấp ruộng khẩu phần, quan lại, binh lính, công tượng (thợ làm quan xưởng) cùng các hạng dân đinh, không kể phẩm trật cao thấp đều được hưởng 1 phần khẩu phân nhưng quan lại, cường hào cũng giành được những phần tốt hơn. Người già, người tàn tật thì được nửa phần. Cô nhi, quả phụ được 1/3. Nhà Nguyễn vẫn tiếp tục việc khai hoang và phục hóa, từ thời các chúa Nguyễn để lại.
Ở Nam Kỳ, người dân đã tự do đến khẩn hoang với tư cách cá nhân hoặc tập thể dưới sự giúp đỡ của triều đình. Hai vị quan tổ chức khẩn hoang nổi tiếng nhất là Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Tri Phương; trong đó Nguyễn Công Trứ nổi lên vì là tác giả của ba chính sách khẩn hoang lớn: đồn điền, doanh điền và khai khẩn ruộng hoang. Đồn điền là chính sách chủ yếu dựa vào việc mộ dân nghèo, đi cùng với tội phạm, binh lính để thực hiện việc khai khẩn đất hoang. Trong thời gian khẩn hoang số dân này sẽ được quản lý theo cung các đồn điền sau từ 6-10 năm để cuộc sống ổn định sẽ chuyển sang hình thức làng xã. Đồn điền xuất hiện nhiều nhất ở vùng Gia Định.
2. Đợt lập đồn điền lớn nhất do Kinh lược sứ Nam Kì là Nguyễn Tri Phương tổ chức vào năm 1853-1854, lập được 21 cơ, 124 ấp phân phối ở cả 6 tỉnh. Doanh điền là hình thức khai hoang có sự kết hợp giữa triều đình và nhân dân, thực hiện di dân để lập ấp mới. Hình thức này bắt đầu được thực hiện từ năm 1828 dưới thời vua Minh Mạng theo đề nghị của Tham tán quân vụ Bắc thành Nguyễn Công Trứ. Theo đó, triều đình sẽ bỏ vốn ban đầu và cử ra một quan chức sẽ dứng ra chiêu mộ và chỉ đạo dân chúng đưa đi khai hoang. Chính sách đồn điền và doanh điền được triều đình kèm theo một loạt luật lệ thưởng phạt phân minh để khai thác triệt để đất, không để hiện tượng ruộng hoang.
Ngoài ra, triều đình nhà Nguyễn còn khuyến khích người dân tự do khai hoang kết hợp phục hóa. Việc đinh điền cũng có chỉnh đốn và kiểm soát chặt chẽ hơn. Ruộng đất ở Nam Việt thời vua Minh Mạng được đo đạc lại, tính ra được 630.075 mẫu. Tổng số đinh toàn quốc là 970.516 suất, và 4.063.892 mẫu ruộng đất. Triều đình nhà Nguyễn dành cho việc khai hoang, phục hóa rất nhiều sự quan tâm, họ đã cho tiến hành nhiều chính sách khai khẩn hoang khác nhau và đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp. Diện tích ruộng đất thực trưng tăng lên nhiều: năm 1847 là 4.273.013 mẫu.
3. Tuy nói trên toàn diện, đất công điền không quá 1/5 diện tích canh tác, nhưng phần đất còn lại được phân phối giữa các nông dân mà đa số chỉ làm chủ tới 5 mẫu là nhiều. Hạng người có 100 mẫu trở lên thì rất ít, mỗi tỉnh có nhiều nhất là 5, 3 người.
VIII. Văn hóa và giáo dục.
1. Giáo dục.
1. Vua Gia Long rất đề cao Nho học, cho lập Văn miếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinh thành Huế, để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan. Cũng trong năm này, Gia Long cũng cho ban hành hai đạo dụ về việc mở các trường ở các tỉnh, ấn định nhân viên giáo giới và chương trình học chế đồng thời tái lập lại các khoa thi ở các trấn. Ở mỗi trấn có một quan Đốc Học, một phó Đốc Học hay Trợ Giáo. Cứ tháng 10 hàng năm triều đình mở một kỳ thi. Theo thông lệ cứ ba năm triều đình mở khoa thi Hương ở các địa phương.
Những người trúng cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, trúng thấp gọi là tú tài. Năm sau ở Kinh đô mở khoa Thi Hội tại Bộ Lễ, những cử nhân năm trước được ứng thí, nếu trúng cách thì được tiếp tục Thi Đình ở trong điện nhà vua để lấy các bậc Tiến sĩ. Trong dân chúng, việc học tập có tính chất tự do hơn. Bất kỳ người nào có học lực kha khá cũng có thể mở trường Tư thục để dạy học. Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học. Theo Trần Trọng Kim thì “người Việt Nam vốn chuộng sự học, cho nên người đi học cũng nhiều”. Dù vậy, việc học tập càng lúc càng thoái hóa. Nhiều người học chỉ để ra làm quan.
2. Trần Trọng Kim cho rằng:”Bao nhiêu công phu của người đi học chú trọng vào sự học cho nhớ những sách Tứ thư Ngũ kinh cùng những lời thể chú của tiền nho trong những sách ấy và học thêm mấy bộ sử nước Tàu. Còn sự luyện tập hàng ngày, thì cốt tập cho thạo thuộc các lề lối ở chỗ khoa trường là: kinh nghĩa, tứ lục, thi phú, văn sách. Ấy là dùng hư văn mà xét tài thực dụng, đem sự hoa mỹ làm mực thước đo tài kinh luân. “Bởi vậy ai hay kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người, ai tài thi phú đã tưởng mình giỏi nghề trị nước. Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh.
Sự học của mình đã hư hỏng như thế, những hủ tục lại ăn sâu vào trí não, thành ra một thứ cố tật không sao chữa được...Đại khái, cái trình độ của bọn sĩ phu ở nước ta lúc bấy giờ là thế, cho nên vận nước suy đến nơi mà hồn người vẫn mê muội ở chỗ mơ màng mộng mị. Bọn sĩ phu là người có học, làm tai làm mắt cho mọi người mà còn kém cỏi như thế, thì bảo dân gian khôn ngoan làm sao được”.
3. Thời Minh Mạng, nhà Vua muốn canh tân việc học hành thi cử nhưng lại không biết tiến hành ra sao bởi triều thần của ông phần nhiều chỉ là những hũ nho lạc hậu, không giúp đỡ được nhà vua một kế hoạch nào cho quốc phú dân cường, nhà Vua nói rằng: “Lâu nay cái học khoa cử làm cho người ta sai lầm, Trẫm nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những văn cử-nghiệp chỉ câu nệ cái hư sáo khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp do tự đó. Khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào mà nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi. Song tập tục đă quen rồi, khó đổi ngay được, về sau nên dần dần đổi lại”
2. Văn học.
1. Cảnh vườn Thư quang trong cuốn Ngư đê Đồ Hội Thi Tập, tập thơ ngự chế Thần kinh nhị thập cảnh của vua Thiệu Trị. Văn học nhà Nguyễn có thể chia làm các thời kỳ như sau: thời Nguyễn sơ, thời kỳ nhà Nguyễn còn độc lập và thời kỳ nhà Nguyễn thuộc Pháp. Thời Nguyễn sơ là thời kỳ của các nhà thơ thuộc hai nguồn gốc chính là quan của vua Gia Long và các cựu thần nhà Hậu Lê bất phục nhà Nguyễn. Tiêu biểu cho thời kỳ này là các tác giả: Phạm Quy Thích, Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định. Nội dung tiêu biểu cho thời kỳ này là nói về niềm tiếc nhớ Lê triều cũ và một lãnh thổ văn chương Việt Nam mới hình thành ở phương Nam.
Thời nhà Nguyễn độc lập là thời của các nhà thơ thuộc đủ mọi xuất thân trong đó có các vua như Minh Mạng, THiệu Trị, Tự Đức, và các thành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm. Các nho sĩ thì gồm có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Trương Quốc Dung, Phan THanh Giản, Phạm Phú Thứ. Hai thể kiểu thơ chủ yếu của thời kỳ này là thơ ngự chế của các vị vua và các thi tập của nho sĩ. Thời nhà Nguyễn thuộc Pháp là thời kỳ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử đương thời tác động rất lớn vào văn chương, các nhà thơ sáng tác nhiều về cảm tưởng của họ đối với quá trình Pháp chiếm Việt Nam.
2. Tác giả tiêu biểu thời kỳ này gồm Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Thông, Nguyễn Khuyễn, Dương Lâm, Nguyễn Thượng Hiền. Thời kỳ nhà Nguyễn, văn học phát triển trong cả Hán văn, lẫn một cách mạnh mẽ ở chữ Nôm với nhiều thành tựu lớn, trong đó tác phẩm chữ nôm tiêu biểu nhất là Truyện Kiều và Hoa Tiên. Hai thể thơ được dùng phổ biết ở thời kỳ này là lục bát và lục bát gián cách, sử dụng một thứ tiếng Việt mới có một trình độ rất cao. Ở miền Nam Việt Nam, thành hình một lãnh thổ văn chương mới với nhiều nét độc đáo riêng so với các vùng cũ.
Về nội dung, ngoài các nội dung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con người và phụ nữ cũng được đề cập đến.
IX. Lịch sử và địa lý.
1. Sử học.
1. Ngay từ cuối thế kỷ XVIII, Sử học là một trong những ngành khoa học rất phát triển. Sang đầu thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn, ngành này lại càng phát triển hơn, có thể nói đó là ngành phát triển nhất thời vương triều nhà Nguyễn. Đặc biệt là cơ quan phụ trách Sử học là Quốc sử quán ra đời năm 1820 dưới thời vua Minh Mạng với nhiệm vụ thu thập các bộ sử xưa, in lại Quốc sử thời Lê và biên soạn các bộ sử mới. Quốc sử quán phải nói là được tổ chức kỷ cương, hoạt động một cách đầy hiệu quả. Vương triều nhà Nguyễn cũng cho lập các kho tàng lưu trữ các sáng tác từ cổ chí kim.Sử học nhà Nguyễn có các thành tựu đáng kể.
Tìm kiếm, lưu trữ và cho in lại các tác phẩm sử học của các triều đại trước. Biên soạn nhiều bộ sử rất lớn và các công trình sử học có giá trị lớn như: Khâm định Việt sử, Thông giám Cương mục, Đại nam liệt truyện, Đại nam thực lục, Tiên biên và chính biên; Khâm định tiễu bình lưỡng kỳ phỉ khẩu phương lược, Bản triều bạn nghịch liệt truyện... Các nhà sử học cũng cho ra đời nhiều công trình của cá nhân như Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lăng, Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bản, Quốc sử dĩ biên của Phan Thúc Trực,... và nhất là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Trong đó, Đại Nam thực lực chính biên có tới 587 quyển.
2. Các công trình địa phương chí, và gia phả các dòng họ cũng xuất hiện rất nhiều. Việc biên soạn các bộ địa phương chí gần như thành phong trào: từ các tỉnh lớn cho đến tận các huyện xã cũng có chí. Trong đó có rất nhiều bộ chí được biên soạn khá công phu với nhiều chi tiết quý mà các bộ sử lớn không có. Tiêu biểu cho địa phương chí là Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch. Thể loại Gia Phả thì có Mạc thị Gia phả của Vũ Thế Dinh. Ngoài ra còn có các tác phẩm soạn theo kiểu quy cách nhiều vấn đề khác nhau của lịch sử, nổi bật của thể loại này là bô Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú.
Năm 1942, Giám đốc Nhà lưu trữ Đông Dương Paul Boude cho cho biết rằng các tài liệu trước thế kỷ XIX (thời Nguyễn) chỉ còn lưu lại được khoảng 20 bản bởi ngoài lý do chiến tranh, môi trường... còn bởi các triều trước không đặt các chức quan, cơ quan trông coi công tác lưu trử, thiếu ý thức bảo tồn di sản quá khứ. Từ triều vua Minh Mạng, công tác lưu trữ mới được quan tâm. Cũng năm 1942, số lượng địa bạ ở Tàng thư lâu giữ được có tới 12.000 quyển.
2. Địa lý và Địa lý Lịch sử.
1. Thời Nguyễn cũng là thời có nhiều tác phẩm địa lý học lớn như bộ Hoàng Việt Nhất thống địa dư chí do Thượng thư Lê Quang Định soạn theo yêu cầu của vua Gia Long. Sau đó cơ quan Quốc sử quán triều Nguyễn cũng soạn tiếp nhiều công trình khác khác gồm Đại Nam nhất thống toàn đồ, Đại Nam nhất thống chí. Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm có giá trị cao khác ngoài Quốc sử quán như Bắc Thành địa dư chí và Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú; Phương Đình địa dư chí của Nguyễn Văn Siêu; Đại Việt cổ kim duyên cách địa chí khảo và Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức; Nam Hà tiệp lục của Quốc sử quán,...
Đến thời Minh Mạng, cũng xuất hiện rất nhiều bản đồ về các địa phương của nước Đại Nam thời kỳ đó. Theo nhận xét của Dương Quảng Hàm thì tuy có nhiều công trình có giá trị,nhưng do thiếu phương pháp nghiên cứu khoa học tốt nên các tác phẩm về sử học và địa lý thời kỳ này vẫn cònnhiều khuyết điểm. Dù vậy, nhà Nguyễnvẫn khá hơncác triều đại trước trong việc này.
X. Khoa học và kỹ thuật.
1. Kỹ thuật và công nghệ.
1. Từ các cuộc nội chiến ở Đại Việt trước, kỹ thuật công nghệ của phương Tây đã được các vua chúa đem vào Việt Nam rất nhiều, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự. Nhiều công trình được xây dựng theo kiểu kiến trúc Vauban của phương Tây như thành Bát Quái, kinh thành Huế, thành Hà Nội...Thời Gia Long đã từng cho đóng một loại thuyền lớn bọc đồng để tuần tra biển. Sang đến thời Minh Mạng, nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạo gồm: máy cưa chạy bằng sức trâu và sức nước, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu. Cụ thể là, năm 1834, Nguyễn Viết Tuý với sự đồng ý của vua Minh Mạng, ông đã chế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng bằng sức nước mang tên Thuỷ hoả kí tế.
Đến những năm 1837-38, theo mẫu của phương Tây, thợ thủ công Nhà nước đã chế tạo được máy cưa văn gỗ, xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tưới ruộng,... và còn có cả xe cứu hoả. Đặc biệt là năm 1839, dựa theo các kiểu phương Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khen ngợi. Năm sau, Minh Mạng lại chỉ đạo cho họ đóng một chiếc kiểu mới tân tiến hơn,và sửa chữa một chiếc bị hỏng. Điều không vui là sau đó, mọi việc dường như bị đình lại. Thời Tự Đức, nhiều sách kỹ thuật phương Tây được dịch sang tiếng Hán như Bác Vật tân biên, Khai Môi yếu pháp, Hàng hải Kim châm.
2. Nhưng lại đáng tiếc là những tiến bộ này vẫn chưa kịp tác động vào quá trình phát triển của xã hội Việt Nam. Đến giữa thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn là một quốc gia với nền sản xuất nông nghiệp chậm tiến so với thế giới phương Tây.
2. Kiến trúc.
1. Đặc biệt triều đại nhà Nguyễn là triều đại có nhiều đóng góp lớn vào kho tàng kiến trúc Việt Nam mà tiêu biểu và đồ sộ nhất là quần thể kinh thành Huế. Kinh thành Huế nằm ở bờ Bắc sông Hương với tổng diện tích hơn 500 ha và 3 vòng thành bảo vệ. Kinh thành Huế do chính vua Gia Long khởi công xây dựng năm 1805, được vua Minh Mạng tiếp tục, và hoàn thành năm 1832 theo kiến trúc của phương Tây kết hợp kiến trúc thành quách phương Đông. Năm 1947, với chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh, nhiều công trình trong Kinh thành Huế bị triệt phá. Cho đến năm 2018, một số công trình mới “được tái phục”.
Khu Kinh thành Huế có tới 140 công trình xây dựng lớn nhỏ. Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống thời Lý, Trần, Lê đồng thời tiếp thu tinh hoa của Mỹ thuật Trung Hoa, nhưng đã được Viết Nam hoá. Huế cũng đã được hiện đại hóa bởi những công trình sư người Pháp phục vụ dưới thời vua Gia Long. Khi xây dựng hệ thống thành quách và cung điện, các nhà kiến trúc dưới sự chỉ đạo của nhà vua đã bố trí trục chính của công trình theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Yếu tố Ngũ hành quan trọng trong bố cục mặt bằng của kiến trúc cung thành tương ứng với ngũ phương.
2. Thành Gia Định là một công trình phòng thủ quân sự, được Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh xây dựng tại làng Tân Khai, huyện Bình Dương đất Gia Định, sau này là Sài Gòn, kể từ ngày 4 tháng 2 năm 1790 theo kiến trúc hỗn hợp Đông-Tây, dựa trên một bản thiết kế của một người Pháp là Olivier dr Puymanel (Việt danh là Ông Tín). Thành được xây có 8 cạnh nên gọi là "Bát Quái". Thành còn có tên khác là "Thành Quy". Thành có 8 cửa, phía nam là cửa Càn Nguyên và cửa Li Minh, phía bắc là cửa Khôn Hậu và cửa Khảm Hiền, phía đông là cửa Chấn Hanh và cửa Cấm Chí, phía tây là cửa Tốn Thuận và cửa Đoài Duyệt.
Thời Minh Mạng đổi tên các cửa: phía nam là cửa Gia Định và cửa Phiên An, phía bắc là cửa Củng Thần và cửa Vọng Thuyết, phía đông là cửa Phục Viễn và cửa Hoài Lai, phía tây là cửa Tĩnh Biên và cửa Tuyên Hóa. Ngày 18 tháng 3 năm 1859, quân Pháp đốt cháy kho tàng, phá hủy thành Sài Gòn và rút ra để tránh quân triều đình nhà Nguyễn tấn công đánh chiếm lại thành. Dấu tích duy nhất ngày nay còn lại là bức tranh vẽ ảnh thực dân Pháp tấn công thành và những tàn tích dọc đường Đinh Tiên Hoàng về phía gần xưởng Ba Son.
B. ĐÁNH DẸP NỘI LOẠN.
1. Triều Nguyễn là triều đại có nhiều cuộc nổi dậy chống triều đình nhất. Từ năm 1802 cho tới năm 1862, có gần 400 vụ, trong đó khoảng 50 vụ diễn ra dưới thời Gia Long (1802-1820), 254 vụ dưới thời Minh Mạng (1820-1840), 58 vụdưới thời Thiệu Trị (1840-1847) và 40 vụ dưới thời Tự Đức (1847-1862). Ngoài ra, còn có đám tàn quân Thái Bình Thiên quốc của Hồng Tú Toàn bị nhà Thanh đánh dẹp tràn sang cướp phá các vùng Thượng du. Rồi quân Tam Đường của Quảng Nghĩa Đường, Lục Thắng Đường, Đức Thắng Đường nổi lên cướp phá ở Thái Nguyên. Quân triều đình phải đi đánh dẹp nhiều lần vẫn chưa yên.
Nạn thiên tai lũ lụt triền miên làm dân chúng đói khổ kéo dài. Đê Văn Giang vỡ liên tiếp 18 năm liền, lại nằm trong tỉnh Hưng Yên là tỉnh đông dân nhất ở Bắc Kỳ, nên cũng rất dể phát sinh rối loạn. Rồi, các tộc người thiểu số nghèo khó, các cộng đồng Thiên Chúa giáo bị bức hại. Cố đạo Trường cùng với Tạ Văn Phụng tay sai thực dân Pháp, nắm lấy cơ hội kích động, dụ dỗ, mua chuộc nổi dậy chống triều đình kéo dài tới 4 năm, triều đình Huế phải hết sức vất vả mới đánh dẹp được.
2. Trong các cuộc nổi dậy, có Phan Bá Vành ở Nam Định (1821-1827); Lê Duy Lương ở Ninh Bình (1833-1834); Lê Văn Khôi ở Nam Kỳ (1833-1835); Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1833-1835); Lê Duy Cự và Cao Bá Quát ở Hà Nội (1854-1856); Tạ Văn Phụng ở Bắc Kỳ (1861-1865). Ngoài ra, còn có các cuộc nổi dậy của người thiểu số Khmer ở Ba Xuyên, Thất Sơn, Hà Tiên. Riêng vụ nổi dậy Lê Duy Lương vì là con cháu của nhà Lê nên ngoài Lê Duy Lương bị bắt giải về Kinh trị tội, con cháu nhà Lê ở Ninh Bình cũng bị lưu đày vào Quảng Nam, Bình Định. Đặc biệt hai cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, dưới thời Minh Mạng, và Tạ Văn Phụng, dưới thời Tự Đức là nổi trội hơn cả.
I. Cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi (1833-1835).
1. Lê Văn Khôi, trước có tên là Nguyễn Hữu Khôi, người ở Cao Bằng, khởi binh làm loạn, bị quân triều đình truy đuổi, Khôi chạy vào Thanh Hoá, lúc Lê Văn Duyệt làm kinh lược ở đấy, Khôi xin đầu thú. Lê Văn Duyệt tin dùng nhận cho Khôi làm con nuôi, đổi họ từ Nguyễn Hữu Khôi thành Lê Văn Khôi, rồi đem về Gia Định cất nhắc cho làm đến chức phó vệ úy. Năm 1831-1832, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chánh, bãi bỏ tổng trấn, đổi dinh trấn thành tỉnh, trực thuộc vào triều đình Huế. Triều đình cử Nguyễn Văn Quế làm tổng đốc, Bạch Xuân Nguyên làm bố chính, Nguyễn Chương Đạt làm án sát Gia Định.
Với chức năng quan Bố chánh, Nguyên báo cáo các việc tham nhũng, lạm dụng quyền hành của Lê Văn Duyệt. Nhận được mật chỉ từ triều đình, Nguyên cho bắt giam nhiều thủ hạ của Lê Văn Duyệt trong đó có Lê Văn Khôi. Đêm 18 tháng 5 năm Quý Tỵ (1833), Lê Văn Khôi ngầm liên hệ được với 27 “lính hồi lương” bên ngoài, cùng đồng mưu đột nhập dinh giết cả nhà Bạch Xuân Nguyên và Nguyễn Trương Hiệu, người trực tiếp lo vụ án Lê Văn Duyệt. Lê Văn Khôi nhanh chóng tập hợp những người có tội ở Bắc Kỳ bị đày, hoặc vào đây làm ăn, hoặc bị bắt làm lính gọi là “lính hồi lương” theo Khôi nổi dậy. Quân Khôi chiếm được Thành Bát Quái
2. Lê Văn Khôi tuyên bố bất phục triều đình, ủng hộ An Hòa, con trai của Nguyễn Phúc Cảnh. Tối cùng ngày, quân nổi dậy giết quan tổng đốc mới Nguyễn Văn Quế. Nhiều quan lại do triều đình bổ nhiệm đều bị giết chết, và hoặc chạy khỏi thành Gia Định. Quân nổi dậy nhanh chóng tràn đi đánh chiếm các tỉnh đồng bằng Nam Bộ. Trong vòng 3 ngày lục tỉnh Nam Kỳ đã nằm trong tay lực lượng nổi dậy. Lê Văn Khôi làm chủ thành Phiên An, nhiều tướng văn võ của triều đình đầu hàng. Trong tháng 6 năm đó, quân nổi dậy đánh chiếm Biên Hoà. Tuần phủ Võ Quýnh, án sát Lê Văn Trác, lãnh binh Hồ Kim Truyền đều bỏ chạy.
Minh Mạng lệnh cho tổng đốc Long Tường là Lê Phúc Bảo, tổng đốc An Hà là Lê Đại Cương đốc quân cùng đến Phiên An đánh Lê Văn Khôi. Nhưng khi quân triều đình chưa kịp điều quân, thì quân nổi dậy dưới sự chỉ huy của Thái Công Triều lại đánh chiếm Định Tường. Từ Định Tường, Triều mang quân đến đánh chiếm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Quân nổi dậy chia nhau đi giữ các huyện và đặt quan chức cai trị tại đó. Gia đình Lê Văn Khôi còn nhiều người ở Cao Bằng, bị triều đình bắt giữ. Nông Văn Vân đang làm tri châu ở Bảo Lạc, Tuyên Quang là anh vợ của Khôi cũng khởi binh nổi dậy, tự xưng là Thiết chế thượng tướng quân.
3. Vua Minh Mạng liền cử Tống Văn Lương, Nguyễn Xuân, Phan Văn Thuý, Trương Minh Giảng, và Trần Văn Năng đem thủy bộ binh tượng vào đánh Khôi. Ngay trong tháng 8 năm 1833, quân triều đình đã phản công và bắt đầu lấy lại các tỉnh Nam Bộ. Trong tháng, Án sát Vĩnh Long là Doãn Uẫn chiếm lại được thành Vĩnh Long. Sau đó Án sát An Giang là Bùi Văn Lý cũng chiếm lại An Giang và Hà Tiên. Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thuận lấy lại được Biên Hoà. Lê Văn Khôi nhờ một giáo sĩ phương Tây đi sang cầu viện Xiêm La, và cho mời một giáo sĩ người Pháp tên Marchand đến và ở luôn trong thành với Khôi.
Khôi còn kêu gọi những người Việt theo Thiên Chúa giáo vào thành hợp lực với y chống quân triều đình, Năm 1834, quân triều đình đánh bại quân Xiêm, chiếm lại toàn bộ các tỉnh miền Nam, rồi chuyển sang vây quân nổi dậy trong thành Bát Quái. Lê Văn Khôi chết bệnh trong thành Phiên An khi thành đang bị vây ngặt. Con trai Khôi là Lê Văn Cù mới 8 tuổi được cử lên thay. Đến tháng 9 năm 1835 quân triều đình chiếm lại thành Phiên An. Quân nổi dậy cả thảy 1.831 người đều bị giết chết và chôn chung một chỗ, sau này gọi là Mả Ngụy hay Mả Biền Tru.
II. Cuộc nổi dậy của Tạ Văn Phụng (1861-1865).
1. Tạ Văn Phụng ( ? - 1865), còn có tên Lê Duy Phụng, hoặc Lê Duy Minh. Tạ Văn Phụng sinh tại Thọ Xương, Hà Nội trong một gia đình theo Thiên Chúa giáo. Phụng được một giáo sĩ đưa đi nuôi dạy ở nước ngoài, sau lại theo đoàn quân viễn chinh Pháp về đánh Quảng Nam. Tháng Chạp năm Quý Dậu (1861), Phụng ra Bắc cùng với Cố đạo Trường dấy loạn ở Quảng Yên. Cố đạo Trường làm chủ mưu giặc, tôn Tạ Văn Phụng làm Minh chúa; Phụng mạo xưng con cháu nhà Lê lấy tên Lê Duy Minh. Phụng đã chiêu mộ được một đạo quân đông đảo, đa phần là những người dân đói khổ lưu vong, rồi từ Quảng Yên kéo nhau đi đánh phá các nơi.
Sau đó Phụng hiệp với thổ phỉ Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An lại thông với giặc Thổ phỉ Tàu. Tháng giêng năm Nhâm Tuất (1862) vua Tự Đức sai Tổng đốc Định An Nguyễn Đình Tân sung chức Hải Yên Kinh lược Đại thần, Nguyễn Tư Giản làm Tham tán quân vụ, nhưng chỉ được ít lâu thì bị cách chức, vì không làm tròn bổn phận. Lúc bấy giờ, Tạ Văn Phụng đã làm chủ được vùng Hải Ninh. Tháng 3 Âm lịch (1862) năm nầy Cai Vàng ở Bắc Ninh cũng lấy danh nghĩa phù Lê, tôn Lê Duy Uẩn làm minh chủ để nổi loạn. Liền ngay sau đó, Phụng và Vàng hợp tác với nhau để tăng thanh thế.
2. Tháng 5 (Âm lịch), sau khi đã đánh chiếm phủ Hải Ninh, Phụng cho quân bao vây và uy hiếp thành tỉnh Hải Dương. Cùng lúc, Tạ Văn Phụng cử người vào Nam Kỳ nhờ tướng Pháp là Bonard trợ lực, với lời hứa hẹn, sẽ lập một vương quốc Thiên Chúa giáo dưới sự bảo hộ của Pháp sau khi đánh đổ được nhà Nguyễn. Nhận tin báo nguy, vua Tự Đức liền cử Thượng thư bộ Hộ Trương Quốc Dụng làm Thống đốc Hải An quân vụ Đại thần, Thị lang bộ Hộ Phan Tam Tỉnh làm Hộ lý tổng đốc, Chưởng vệ Đặng Hạnh, Lê Xuân đều sung chức Đề đốc, rồi đem lính ở Huế và Thanh Nghệ đi đánh quân Phụng.
Nhà vua lại điều thêm Kinh lý đại thần Đào Trí đang làm nhiệm vụ ở Trung Kỳ ra làm Tham tán quân thứ Hải Yên. Tháng 6 (Âm lịch), nhà vua còn truyền cho Nguyễn Bá Nghi từ quân thứ Bình Thuận về lãnh chức Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên. Tháng 7 (Âm lịch), các tướng là Trương Quốc Dụng, Đào Trí, Phan Tham Tĩnh từ Hưng Yên dẫn quân qua lấy lại được phủ Bình Giang và giải vây cho tỉnh thành Hải Dương. Tháng 11 (Âm lịch), đạo quân thứ tỉnh Đông Hai Dương lại đụng độ với quân Phụng tại phủ Nam Sách và phủ Kinh Môn (đều thuộc tỉnh Hải Dương). Quân triều thắng trận, liền kéo thẳng đến tỉnh thành Quảng Yên, đuổi quân Tạ Văn Phụng chạy ra Đồ Sơ, Cát Bà.
3. Tháng 3 năm Quý Hợi (1863), Phó đề đốc Vũ Tảo đánh lấy lại thành Tuyên Quang và bắt sống được Lê Duy Uẩn (minh chủ của quân Cai Vàng). Tháng 5 (Âm lịch) năm ấy, vua Tự Đức điều động Nguyễn Tri Phương sang làm Tổng thống Hải Yên quân vụ, Trương Quốc Dụng làm Hiệp thống để cùng hiệp lực đi đánh dẹp Phụng. Thống chế Lê Quang Tiến đuổi được quân Phụng ra khỏi Hà Nam. Sau nhiều lần thua trận, tháng 9 (Âm lịch), Phụng thay đổi chiến lược, tập hợp toàn bộ lực lượng khoảng 500 chiến thuyền, từ Cát Bà và Đồ Sơn tiến thẳng vào kinh đô Huế.
Phụng cho rằng quân lực của triều đình đã chuyển hết ra Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Ở đấy quân đơn tướng ít có thể đánh úp dễ dàng. Nhưng chẳng may kế hoạch này không thành vì binh thuyền của Phụng bị bão tan vỡ gần hết. Đề đốc Lê Quang Tiến và Tuần phủ Bùi Huy Phan bắt được tin ấy vội đem quân ra định tiêu diệt nốt, không ngờ quân của Phụng tuy không còn khả năng tấn công Huế, nhưng vẫn còn đủ sức đánh tập hậu, khiến quân triều bị thua đậm. Thất bại, cả hai võ quan trên đều nhảy xuống biển tự tận.
4. Tháng 6 năm Giáp Tý (1864), đạo quân thứ Hải Yên lại tổ chức tấn công quân Phụng ở tại La Khê, Hà Bắc. Lần này, quân triều bị thua to, biền binh bị thương và thất lạc rất nhiều. Các tướng nhà Nguyễn là Hiệp thống Trương Quốc Dụng, Tán lý Phạm Văn Khuê, Tán tương Trần Huy Sách đều tử trận. Riêng Chưởng vệ Hồ Thiện bị bắt sống, nhưng sau đó cũng bị giết chết. Nhận được tin đại bại, vua Tự Đức liền sai người đi "thuê tàu khách đánh giặc" (tức tàu của hải quân nhà Thanh). Tháng 4 năm Ất Sửu (1865), Tạ Văn Phụng đem hơn 300 chiến thuyền từ đảo Phù Long, quần đảo Cát Bà, đến quấy phá ở mạn Hải Dương.
Cũng trong tháng này, quân Tạ Văn Phụng lại tràn vào sông Võ Định thuộc tỉnh Hải Dương, dùng kế hỏa công đánh tan tác đạo quân thủy ở nơi sông Cấm, bắt sống được Thống chế Nguyễn Doãn rồi giết chết. THáng 5 năm Ất Sửu (1865), Tạ Văn Phụng lại đem quân tấn công đồn Quỳnh Lâu và An Trì thuộc Quảng Yên. Tán lý Đặng Trần Chuyên đánh đuổi được. Đốc binh là Ông Ích Khiêm lại đánh được quân nổi dậy tại khe Vị Dương. Đề đốc Mai Thiện chia quân đến các xứ Hạ Đoan, Lang Thâm, đánh hơn 10 trận lớn nhỏ đều thắng.Bị đánh thua ở nhiều nơi, Tạ Văn Phụng buộc phải cho quân lui về giữ Hải Ninh.
5. Đến tháng 6 (Âm lịch) năm ấy, quân Phụng bị các tướng Nguyễn Tri Phương, Phạm Chi Hương, Nguyễn Văn Vĩ, Mai Thiện mangquân thủy bộ đến vây đánh tan tác. Thàng 7 (Âm lịch), khoảng trăm chiếc tàu của Phụng đang neo đậu ở sông Thác Hàn ngoại thành Hải Ninh, cũng bị Đốc binh Ông Ích Khiêm và Phó vệ úy Phan Đình Thảo hiệp đồng với quan nhà Thanh là Lý Văn Yên đến đánh. Trận diễn ra vào buổi tối, đến sáng thì quân triều lấy lại được thành Hải Ninh, đuổi đoàn tàu chiến (ước chừng 70, 80 chiếc) của quân nổi dậy chạy đến vũng Ngọc Sơn. Bị truy đuổi, Phụng cùng tùy tướng tên là Ước lại đem đoàn thuyền chạy vào tới vùng biển Thanh Hoá, Nghệ An.
Tháng 8 năm Ất Sử (1865), đạo quân thứ Hải Yên do tướng Nguyễn Tri Phương chỉ huy lại truy đuổi một đội tàu của Phụng tại sông Gia Luận thuộc xứ Hà Lai. Tại đây, ông sai Tri huyện Nghiêu Phong là Nguyễn Hữu Thuận đem binh thuyền đi tuần trađịa phận sông, thì bắt gặp thuyền của quân nổi dậy là Đô thống Hậu quân Phạm Văn Khương và Oánh, bèn vây bắt. Tên Oánh bị giết ngay, còn Phạm Văn Khương thì bị nhốt cũi giải về Kinh đô Huế. Sang tháng 9 (Âm lịch), thì đoàn thuyền của Tạ Văn Phụng bị "bang thuyền nước Tàu" đánh tan ở ngoài Hải Ninh và hòn Thảo Dự ở Quảng Bình. Đến lúc ấy quân nổi dậy, người thì phải bắt, người thì chạy trốn được. Tạ Văn Phụng và tùy tướng tên Ước, cũng bị bắt sống giải về Huế. Tháng 10 năm 1865, Tạ Văn Phụng bị xử lăng trì.
6. Theo sử gia Phạm Văn Sơn các vụ nổi dậy do nhiều nguyên nhân: Về phía ngoại bang, nước Tiêm La vẫn giữ thái độ hằn học về vấn đề Chân Lạp nên ngoài mặt tuy êm dịu nhưng bên trong Tiêm La vẫn tìm cơ hội để quấy rối Việt Nam. Ngoài Bắc, một phần nhân tâm còn luyến tiếc Lê triều, vẫn chờ dịp nổi lên chống lại nhà Nguyễn và để khôi phục lại dòng họ Lê. Bọn quan lại hay nhũng nhiễu dân chúng, dèm pha nhau, tâng công, nịnh hót mà nhà vua lại thường không minh, nhất là đối với kẻ công thần. Thực dân Pháp kích động, mua chuộc, dụ dổ một số người, nhất là những người theo Thiên Chúa giáo bị bức hại xúi họ nổi dậy chống triều đình, để chúng rảnh tay chiếm Việt Nam”.
Còn cuộc nổi dậy của Tạ Văn Phụng, theo Phạm Văn Sơn thì “Tạ Văn Phụng và cuộc nổi dậy của ông ta là đáng kể hơn cả. Nó đã khiến triều Tự Đức phải dốc toàn lực để đàn áp bằng binh hùng tướng mạnh. Tính ra từ năm 1861 đến 1865, Tạ Văn Phụng đã làm cho vua quan nhà Nguyễn hao tổn tinh thần và tổn hại biết bao sinh mạng cùng tiền tài mới bắt sống được ông ta”. Còn Sử gia Trần Trọng Kim thì cho rằng chính Tạ Văn Phụng là một trong số nguyên nhân đã góp phần làm cho nhà vua phải vội vã sai Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia Định giảng hoà với thực dân Pháp.
C. ĐÁNH CHỐNG NGOẠI XÂM.
I. Ý đồ xâm lược Đại Nam của Pháp.
1. Khi Tự Đức lên cầm quyền, An Phong Công Hồng Bảo liên hệ với các giáo sĩ đạo Thiên chúa mưu phản, soán đoạt ngôi vua, Tự Đức cho công bố 2 Đạo dụ năm 1848, và 1851 cấm đạo gắt gao hơn,từ 1848-1860, đã có hàng ngàn giáo dân bị tàn sát hay lưu đày. Ngày 16 tháng 9 năm 1856, tàu chiến Catinat của Pháp đến Đà Nẵng, dưới danh nghĩa trao quốc thư phản đối việc triều đình Huế bức hại đạo Thiên chúa, nhưng đích thực là điều tra tình hình Việt Nam nhằm phục vụ ý đồ xâm lược. Triều đình Huế không tiếp. Âm mưu thất bại, ngày 26 tháng 9 năm 1856, chúngbắn phá các đồn biên phòng trên bờ, rồi nhổ neo bỏ đi.
Một tháng sau, ngày 24 tháng 10 năm 1956, chiến hạm Capricieuse lại cập bến cảng Đà Nẵng xin được gặp các quan lại trong triều để thương lượng, nhưng cũng bị cự tuyệt. Ngày 23 tháng 1 năm 1857, một phái viên của Napoleon III tên là Montigny cập bến Đà Nẵng yêu cầu triều đình phải cho các giáo sĩ tự do truyền đạo và buôn bán. Montigny tỏ thái độ hung hăn, nhưng triều đình Huế vẫn cương quyết cự tuyệt không tiếp. Khi xuống tàu về nước, y đe dọa sẽ dùng vũ lực để trừng phạt, nếu không đình chỉ việc cấm đạo. Montigny còn lén lút đưa tên giáo sĩ gián điệp Pellerin lên tàu về Pháp.
2. Về đến Pháp, Pellerin điều trần lên Hoàng đế Napoleon III cảnh giáo sỉ bị bức hại, và giáo dân bị đàn áp, và xin Napoleon cử binh sang Việt Nam để bênh vực những người theo đạo. Pellerinnói, nếu quân Pháp vào, thì giáo dân sẽ đứng dậy giúp Pháp chống lại triều đình. Ngày 22 tháng 4 năm 1857, Napoleon III lập ra Hội đồng Nam Kì để xem xét lại Hiệp ước Versailles năm 1787 đã kí kết giữa Pigneau de Behaine, đại diện cho Nguyễn Ánh và Montmorin, đại diện cho vua Louis XVI.
Kỳ thực, hiệp ước đó đã bị thủ tiêu ngay sau khi kí kết, bởi Chính phủ Pháp lúc đó không có điều kiện thi hành, vì còn lo đối phó với ngọn sóng cách mạng (1789) kéo dài tới 10 năm, cho đến khi Napoleon lật đổ Hội đồng Cách mạng năm 1799. Thâm ý của Pháp là muốn dựa vào Hiệp ước Versailles để "hợp pháp hóa" việc mang quân sang đánh chiếm Đại Nam. Trong khi đó, Uỷ hội nghiên cứu Nam Kỳ (Commission de la Cochinchine) gồm nhiều nhân vật thông thạo vùng Viễn Đông gợi ý rằng nước Pháp nên chiếm ba thương cảng Sài Gòn, Đà Nẳng, Kẻ Chợ để thuận lợi cho Pháp trên cả 3 phương diện tinh thần, chính trị và thương mại. Hoàng đế Napoléon III tâm đắc với “gợi ý” của Ủy hội.
II. Pháp đánh chiếm Đà Nẳng, Gia Định.
1. Đầu năm 1858, Đô đốc Charles Rigault de Genoouilly được lệnh mang quân đánh chiếm Đà Nẵng. Ý định của Pháp lúc này là chiếm 1 căn cứ, phục vụ cho việc thương nghị. Đô đốc Charles Rigault de Genoouilly thấy triều đình Huế không muốn thương nghị mà lại chuẩn bị kháng cự, quân Pháp lại nhiễm dịch tả, sốt rét nên ông gởi báo cáo về Paris, xin thay đổi mục tiêu xuống phía Nam. Ngày 18 tháng 2 năm 1859, Rigault de Genouilly đánh chiếm thành Gia Định, Tổng đốc thành Võ Duy Ninh tuẫn tiết (tự tử để giữ khí tiết). Năm 1860, cuộc xung đột với nhà Thanh bên Tàu, hai chính phủ Anh và Pháp phải điều quân sang Trung Hoa, lúc đó Chính phủ Pháp muốn rút khỏi Nam Kỳ.
Nhưng, Đô đốc Rigault de Genoouilly để lại một ít quân tại Nam Kỳ, và trao quyền chỉ huy cho tướng Francois Page trở về Paris giải trình sự cần thiết phải chiếm đóng Gai Định làm đầu cầu. Bộ trưởng Hải quân Pháp là ông Chasseloup-Laubat tán thành ý kiến của Rigault de Genouilly. Sau khi ký Hoà ước với Trung Hoa, đô đốc Pháp là Léonard Charner sang thay Francois Page. Charner mang theo 1 Hạm đội gồm 70 chiến hạm và 3.500 người tới Nam Việt Nam.Tháng 2 năm 1861, quân Pháp đánh chiếm Đại đồn Kỳ Hoà rồi Mỹ Tho cũng thất thủ hai tháng sau đó.
2. Trong suốt năm 1861, Đô đốc Charner mở rộng việc chiếm đóng quanh vùng Gia Định, Mỹ Tho và bắt đầu xây dựng bộ máy hành chính để quản lý khu vực chiếm đóng.
III. Pháp đánh chiếm Biên Hoà, Bà Rịa, Vĩnh Long và Hòa ước Nhâm Tuất (1862).
1. Sau khi Đại đồn Kỳ Hòa thất thủ, triều đình bổ ông Nguyễn Bá Nghi làm Khâm sai Đại thần thay Nguyễn Tri Phương. Bá Nghi thấy thế không chống đỡ nổi với quân Pháp nên gởi tấu về xin giảng hòa. Thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard vừa thay thế Charner tiếp tục cho quân Pháp đánh chiếm Biên Hoà, Bà Rịa tháng 12 năm 1861, Vĩnh Long tháng 3 năm 1862. Lúc nầy ở Bắc Kỳ đang có các cuộc nổi dậy của Tạ Văn Phụng và Cai Tổng Vàng, Nông Hùng Thạc đánh phá khắp nơi, trong khi Nam Kỳ thì Pháp đã chiếm bốn tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hoà và Vĩnh Long.
So sánh hai mối nguy, cuối cùng triều đình Tự Đức sai Phan Thanh Giảng và Lâm Duy Hiệp và Sài Gòn giảng hòa với Pháp, để có thể đưa đại quân ra tiêu diệt các cuộc nổi dậy ở đất Bắc, cũng đang uy hiếp vương triều nhà Nguyễn. Kết quả là Hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862) được ký kết giữa đại diện ba nước Đại Nam, Pháp, và Tây Ban Nha gồm 12 điều khoản, theo đó: Giáo sỉ Pháp và Tây Ban Nha được tự do truyền đạo Gia Tô ở nước Đại Nam; 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường cũng như đảo Côn Lôn, được nhượng cho Pháp; Thành Vĩnh Long sẽ trả cho triều đình Đại Nam; Triều đình Huế phải bồi thường chiến phí 4.000.000 đồng bạc trong 10 năm, cùng việc mở cửa thông thương ở Đà Nẵng, Ba Lat và Quảng Yên.
2. Đất Gia Định là quê ngoại, vùng khai nghiệp,và là nguồn lương thực của cả nước, nên vua Tự Đức sai Phan Thanh Giản làm Chánh sứ cùng các ông Phạm Phú Thứ và Nguỵ Khắc Đản sang Pháp thương nghị, xin chuộc lại. Tại Pháp lúc này, ngoại trừ Bộ trưởng Hải quân Pháp, là Chasseloup-Laubat. Thiếu tướng de la Grandiere thì không mấy ai quan tâm tới xứ Nam Kỳ, kể cả Hoàng đế Napoleon III, nhưng Hoàng đế Napoleon III, hứa với đoàn sứ của ta là sẽ trả lời sau. Tháng 7 năm 1867, thiếu tướng De la Grandière viện cớ các tỉnh miền Tây có liên hệ với các tổ chức chống Pháp ở miền Đông, nên tập kết quân ở Mỹ Tho mở cuộc tấn công 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Biết không chống nổi, Phan Thanh Giản khuyên các quan ở 3 tỉnh nên đầu hàng, còn ông viết sớ về triều tạ tội, di chúc cho con cháu quyết không được nhận quan chức gì của Pháp ở Nam Kỳ, rồi nhịn ăn mà chết ngày 5 tháng 7 năm 1867. Phan Thanh Giản là vị Đại quan thứ hai dưới Triều vua Tự Đức tuẫn tiết. Vậy là, không cần có Hiệp ước mới, Lục tỉnh Nam Kỳ đã biến thành thuộc địa của nước Pháp.
IV. Pháp đánh chiếm thành Hà Nội và Hòa ước Giáp Tuất 1874
1. Chiếm xong Nam Kỳ, người Pháp ngắm nghé Bắc Kỳ, cho rằng sông Cửu Long không thuận tiện cho việc giao thông với Vân Nam. Năm 1868, Đại úy Garnier gặp một thương nhân Pháp là Jean Dupuis tại Hán Khẩu. Dupuis cho Garnier biết, rằng theo sông Hồng ở Bắc Kỳ có thể tới được Vân Nam. Năm 1872, Dupuis tổ chức 1 đoàn thuyền chở hàng vào Hà Nội, thuê thuyền nhỏ chuyễn đi Vân Nam. Khi trở về, Jean Dupuis bị các quan địa phương ngăn cản, Bất chấp lệnh ác quan địa phương, Dupuis cho rằng, hắn ta được phép của các quan Trung Hoa. Nguyễn Tri Phương ra yết thị cấm cho chở hàng đi Vân Nam và đòi Jean Dupuis phải rời khỏi Bắc Kỳ, nhưng Dupuis kiên quyết ở lại.
Triều đình yêu cầu phía Pháp bắt Dupuis,vì theo Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862, thì Hà Nội không phải nơi thông thương, hay trung chuyển hàng hoá. Cùng lúc, Triều đình cử quan Khâm sai Lê Tuấn cùng Nguyễn Văn Tường, và Nguyễn Tăng Doãn vào Sài Gòn thương nghị. Đô đốc Marie Jules Dupré phái Đại úy Francis Garnier ra Bắc để giải quyết vụ việc Dupuis. Ra đến Hà Nội, Garnier gặp Nguyễn Tri Phương đề nghị ký một bản thương ước mở sông Hồng cho việc thông thương, nhưng Nguyễn Tri Phương từ chối do chưa rõ ý kiến của triều đình Huế. Đại úy Garnier lại gửi cho các quan chức Việt Nam một tối hậu thư, yêu cầu phải giải giáp quân, và cho Jean Dupuis tự do đi lại.
2. Đúng hẹn, không được thư trả lời, ngày 20 tháng 11 năm 1873, quân Pháp tấn công thành Hà Nội, chẳng bao lâu thì thành thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, bị bắt, ông nhịn ăn và chết sau đó. Nguyễn Tri Phương là vị Đại quan thứ ba dưới Triều vua Tự Đức tuẫn tiết. Lấy được thành Hà Nội, quân Pháp chia nhau đi đánh chiếm các thành Nam Định, Phủ Lý, Hải Dương và Ninh Bình. Khi ấy có Lưu Vĩnh Phúc là đầu đảng của quân Cờ Đen về hàng triều đình Huế, vua Tự Đức phong cho chức Đề đốc để phụ đánh quân Pháp. Lưu Vĩnh Phúc đưa quân đến đánh thành Hà Nội. Francis Garnier đem quân ra nghênh thì bị quân Lưu Vĩnh Phúc phục kích giết chết ở cầu Giấy.
Việc quyết định đưa Đại Garnier ra giải quyết vụ việc Jean Dupuis đánh chiếm thành Hà Nội, cùng bốn tỉnh Bắc Kỳ chưa được chính phủ Pháp chấp nhận. Cho nên, trong cuộc thương nghị với sứ thần của triều đình Huế là Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường. Đô đốc Marie Jules Dupré dể dàng đồng ý ký với Nguyễn Văn Tường Hòa ước Giáp Tuất (1874), trong đó có hai điểm chính là: Triều đình Huế công nhận cả lục tỉnh Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp; Pháp đồng ý trao trả Hà Nội và các tỉnh đã bị chiếm ở Bắc Kỳ cho triều đình Huế.
3. Nhưng đó chỉ là giải quyết nhất thời vụ việc. Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, Pháp xúc tiến đánh chiếm những phần còn lại của Việt Nam qua cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ. Năm 1879, thượng tướng Bernard Jaureguiberry yêu cầu Pháp gởi thêm 6.000 quân sang Bắc Kỳ để áp đặt nền bảo hộ, nhưng bấy giờ chính phủ Pháp chưa có quyết định gì. Phía triều đình Huế cũng cử các tướng giỏi từ Huế ra tăng cường mặt trận phía Bắc. Năm 1882, thống đốc Le Myre de Vilers gởi thư cho triều đình Huế trách cứ nhà vua bất lực, để đất nước loạn ly, rằng Pháp phải bảo vệ quyền lợi của kiều dân Pháp tại miền Bắc.
Đồng thời phái Đại tá Henry Riviere ra Bắc với 233 binh sĩ để bảo vệ các thương gia Pháp bị quân cướp người Hoa tống tiền. Khi tới Hà Nội ngày 3 tháng 4 năm 1882, Henry Rivière đã có ý chiếm thành.
V. Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ hai và Hoàng Diệu tuẫn tiết.
1. Được tin quân Pháp động binh, quan binh Bắc Kỳ lo phòng bị chống giữ. Trước đó, triều đình Huế đã phái Tả thị lang bộ Hộ Nguyễn Thành Ý vào Sài Gòn phản đối việc Pháp điều động binh ra Bắc, đồng thời cũng gửi khẩn thư lệnh cho quan binh Bắc Kỳ phải giữ nguyên trạng thành Hà Nội như hiện trạng. Ngày 25 tháng 4 năm 1883, vào lúc 5 giờ sáng. Henry Rivière gởi tối hậu thư cho Tổng đốc Hoàng Diệu, hạn đến 8 giờ sáng thì trong thành phải giải giáp, và các quan lại phải đến trình diện tại Đồn Thủy. Đúng 8 giờ, các pháo thuyền Fanfare, Surprise, Massue và Carbine từ bờ sông Hồng bắn đại bác vào thành. Tới 10 giờ 45, quân Pháp đổ bộ tấn công vào thành.
Lúc 11 giờ thì quân Pháp chiếm được thành. Thiếu tá Berthe des Villers và 3 binh sĩ Pháp bị thương, quân triều đình có 40 tử trận và 20 bị thương, binh lính hoảng sợ bỏ chạy khỏi thành. Ở cửa Đông và cửa Nam, Lê Văn Trinh và Nguyễn Đình Đường cũng sợ hãi bỏ trốn. Tổng đốc Hoàng Diệu cố gắng chống cự nhưng quân Pháp đã tràn vào thành, đành treo cổ tự vẫn dưới một cái cây trước Võ Miếu, thọ 54 tuổi. Hoàng Diệu là vị Đại quan thứ tư dưới Triều vua Tự Đức tuẫn tiết. Chiếm được thành Hà Nội, quân của Pháp tiếp tục đánh chiếm nhiều nơi như Hòn Gai, Nam Định.
2. Quân triều đình do Trương Quang Đản, Bùi Ân Niên, Hoàng Kế Viêm ra sức đánh trả, đồng thời đưa quân bao vây thành Hà Nội. Đại tá Rivièrechỉ huy một đội quân xuất thành phá vây, thì bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc hạ sát sáng ngày 19 tháng 5 năm 1883 tại Cầu Giấy, nơi mà 10 năm trước đây, ngày 21 tháng 12 năm 1873, đại úy Francis Garner cũng đã bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc giết chết. Bốn ngày trước đó, Quốc hội Pháp thông qua 1 khoản ngân sách 5.500.000 franc cho phép gởi thêm quân lực tới xứ Bắc Kỳ. Rheinart khâm sai Pháp sang thương thuyết, với triều đình Huế, đòi nước Việt Nam phải nhận nước Pháp bảo hộ và nhường thành thị Hà Nội cho Pháp.
Triều đình cho người sang cầu cứu Trung Quốc. Lúc nầy, triều đình nhà Thanh cũng đang chuẩn bị một cuộc chiến tranh chống Pháp, cho nên một mặt nhà Thanh cho tăng cường phòng bị biên ải, và mặt khác đưa quân vượt biên giới chiếm đóng hết các tỉnh Bắc Ninh, và Sơn Tây với danh nghĩa theoyêu cầu cứu viện của triều đình Huế.
VI. Vua Tự Đức băng hà, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lộng quyền.
1. Quân triều đình tại các tỉnh Bắc Kỳ, đang phối hợp với quân Thanh cùng đánh Pháp. Giữa khi tình hình nước Đại Nam đang rối rắm, thì ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi, tức ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức băng hà, hưởng thọ 54 tuổi. Vua Tự Đức lúc bé bị bệnh đậu mùa nên không có con. Ông nhận ba người cháu làm con nuôi: Hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Ưng Ái (vua Dục Đức); Hoàng tử thứ hai Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (vua Đồng Khánh); Hoàng tử thứ ba Nguyễn Phúc Ưng Đăng (vua Kiến Phúc). Năm 1869, Nguyễn Phúc Ưng Ái, được vua Tự Đức chọn làm con nuôi, lúc Ưng Ái 17 tuổi và đổi tên là Nguyễn Phúc Ưng Chân.
Năm 1883, Ưng Chân được phong làm Thụy Quốc công. Nguyễn Phúc Ưng Chân được vua Tự Đức để lại di chiếu truyền ngôi, trong di chiếu có đoạn viết: "... Nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều chẳng tốt chưa chắc đã đảm đương được việc lớn. Nước có vua lớn tuổi là điều may cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây." Các quan Phụ chính Trần Tiễn Thành, Nguyên Văn Tường, và Tôn Thất Thuyết dâng sớ lên vua Tự Đức xin bỏ mấy đoạn có liên quan đến tính nết xấu của tự quân và câu "không chắc đảm đương nổi việc lớn" nhưng vua Tự Đức từ chối.
2. Thọ lãnh di chiếu của Tự Đức, Ưng Chân kế vị lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1883. Lúc làm lễ lên ngôi, Ưng Chân đã cho đọc lướt đoạn này. Hai Phụ chính Đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường bèn dâng lên Hoàng Thái hậu Từ Dụ (mẹ vua Tự Đức) tờ hạch tội buộc cho vua Dục Đức bốn tội lớn: Muốn sửa di chiếu của vua cha; Có đại tang mà mặc áo màu; Tự tiện đưa một giáo sĩ vào Hoàng thành; Thông dâm với nhiều cung nữ của vua cha. Sau khi nhận được sự đồng ý của Hoàng Thái hậu Từ Dụ và Hoàng hậu Lê Thiện Anh, hai quan Phụ chính liền sai người giam vua Dục Đức ở Dục Đức Đường, rồi Thái Y viện, và cuối cùng là ngục Thừa Thiên.
Ở đây, nhà vua bị bỏ đói cho đến chết. Dục Đức chỉ ở ngôi vua có 3 ngày. Đồng thời với việc truất phế Dục Đức, hai Phụ chính Tường. và Thuyết đề nghị lên Hoàng Thái Hậu Từ Dụ (mẹ vua Tự Đức), đưa Lãng Quốc công Nguyễn Phúc Hồng Dật, con thứ 29 và là con út của vua Thiệu Trị lên làm vua. Nhà Hồng Dật ở Kim Long. Theo Phạm Khắc Hoè (1902-1995), nguyên là Ngự tiền văn phòng đổng lý của Bảo Đại, khi đình thần ra đó rước, dù năn nỉ mấy, Hồng Dật cũng không đi, nên cuối cùng phải dùng đến vũ lực mới đưa được ông vào Cấm thành. Hai hôm sau ngày 30 tháng 7 năm 1883, Hồng Dật lên ngôi vua, lấy niên hiệu Hiệp Hòa.
VII. Vua Hiệp Hoà và Hòa ước Quý Mùi 1883
1. Vua Hiệp Hoà vừa lên ngôi được hơn hai tuần, thì ngày 20 tháng 8 năm 1883, quân Pháp tấn công đánh chiếm cử Thuận An, khống chế cửa ngõ thủy lộ chính vào kinh đô Huế. Trong trận tấn công nầy, quân Đại Nam tuy đánh trả quyết liệt, nhưng đến cuối ngày các pháo lũy đều bị đạn pháo Pháp phá hủy, lực lượng phòng thủ bị tổn thất rất nghiêm trọng mà quân Pháp không bị thiệt hại gì, quan trấn thành là Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận, Lâm Hoành, Trần Thúc Nhẫn nhảy xuống sông tự tử. Trong hoàn cảnh nguy ngập, quân Pháp uy hiếp sát kinh thành, triều đình Huế cử Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp ra Thuận An điều đình với Pháp.
Tổng ủy Jules Harmand đưa ra dự thảo Hòa ước với những điều khoản ngang ngược, nặng nề, và hạn cho triều đình Huế phải trả lời trong 24 giờ, nếu không, quân Pháp sẽ khai hỏa đánh chiếm kinh thành Huế. Harmand còn đe dọa rằng: "Đế quốc Đại Nam, hoàng triều, cùng các vương công, đại thần sẽ tự tuyên án tử hình cho chính mình. Cái tên Việt Nam sẽ bị xóa khỏi lịch sử..." nếu vua quan nhà Nguyễn không chấp nhận toàn phần những điều kiện nêu ra. Lúc này, triều đình Huế đang ở thế thua, không làm được gì hơn ngoài việc phải ký chấp nhận nhữngđiều khoản do Pháp đưa ra.
2. Đó là Hoà ước Quý Mùi (1883) còn gọi là Hoà ước Harmand được hai bên ký kết ngày 23 tháng 7 năm Quý Mùi, tức ngày 25 tháng 8 năm 1883 dưới thời vua Hiệp Hòa. Theo đó: Đại Nam phải chấp nhận sự bảo hộ của Pháp, và Pháp có quyền kiểm soát quan hệ của Đại Nam với các quốc gia khác, kể cả Trung Hoa. Tỉnh Bình Thuận phải nhập vào Nam Bộ thuộc địa của Pháp. Sau Hòa ước Quý Mùi 1883, Tôn Thất Thuyết chống đối nhà vua ra mặt, không chịu quì lạy và to tiếng với nhà vua. Sự thù nghịch này, làm vua Hiệp Hòa lo ngại cho tính mạng, nên tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía Công sứ Pháp Champeaux. Không may, việc này bị Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết phát hiện nên ra tay trước.
Tường và Thuyết tâu với bà Từ Dụ lập Nguyễn Phúc Ưng Đăng, con nuôi thứ ba vua Tự Đức lên ngôi, rồi bắt vua Hiệp Hòa đem ra phủ ông Dục Đức cho uống thuốc độc chết 29 tháng 11 năm 1883. Giết vua Hiệp Hòa rồi, lại thấy quan Phụ chính Trần Tiễn Thành không theo ý mình, Tường và Thuyết cũng sai người giết nốt. Tuy Lý Vương sợ quá, dẫn vợ con chạy ra cửa Thuận An nương nhờ Picard Destelan, chỉ huy tàu Vipère, nhưng rồi cũng bị bắt đày vào Quảng Ngãi. Cuộc khủng hoảng chính trị này đã làm cho phe chủ hòa mất tinh thần. Làn không khí “khủng bố bao trùm khắp kinh thành Thuận Hoá.
VIII. Vua Kiến Phúc và Hòa ước Giáp Thân 1884.
1. Nguyễn Phúc Ưng Đăng, sinh ngày 12 tháng 2 năm 1869 tại Huế, là con của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Lúc 2 tuổi, Ưng Đăng được vua Tự Đức truyền đem vào cung làm con nuôi thứ ba, giao cho bà Học Phi nuôi dạy. Hoàng tử Ưng Đăng được hai quan Phụ chính Tường, và Thuyết đưa lên ngôi ngày mùng 3 tháng 11 năm Quý Mùi (1883) lấy niên hiệu Kiến Phúc lúc ông mới 15 tuổi, nên mọi việc trong triều đều do Tường, và Thuyết quyết định cả. Lúc bấy giờ, ở Bắc Kỳ lực lượng của Hoàng Kế Viêm, Trương Quang Đản đang phối hợp với quân Thanh đánh Pháp.
Viên Khâm sứ Pháp lấy điều đó ra trách cứ triều đình, buộc triều đình Huế phải triệu hồi hai viên tướng ấy về Kinh. Ít lâu sau quân Pháp đánh chiếm các tỉnh Sơ Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên và Tuyên Quang. Ngày 18 tháng 4 năm Giáp Thân (1884) Pháp ký kết hòa ước Thiên Tân với nhà Thanh, nhà Thanh thuận rút quân khỏi Bắc Kỳ, để cho nước Pháp được tự do xếp đặt mọi việc trên đất Đại Nam.. Ngày 13 tháng 5 tức ngày 6/6/1884, ông Patenôtre đến Huế thương thảo, và ký hòa ước mới với triều đình nhà Nguyễn. Đó là Hoà ước Giáp Thân (1884) còn gọi là Hòa ước Patenôtre. Theo đó: Triều đình nhà Nguyễn công nhận cuộc bảo hộ của Pháp. Và nước Đại Nam chia ra làm hai khu vực là Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
2. Đất nước đang rối ren thì ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân (31/7/1884), vua Kiến Phúc mất vì bệnh, hưởng dương 15 tuổi. Viên Khâm sứ Pháp Rheinart kể: “Đứa trẻ đáng thương đã làm vua một cách miễn cưỡng: nó sống trong sự kinh hoàng, luôn luôn lo sợ bị một số phận như hai người tiền nhiệm, buồn bực, trầm mặc, trốn tránh mọi người. Trong một thời gian khá lâu nó không dậy nổi, tôi không biết nó có thể đứng lên mà không cần người đỡ không, từ lúc bị bịnh, nghĩa là từ ba tháng nay..."
IX. Vua Hàm Nghi và Hịch Cần vương.
1. Mặc dù hai phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nắm trọn quyền hành trong việc phế bỏ vua này, truất ngôi vua khác. Nhưng họ lại rất bị động trong việc tìm người trong Hoàng gia có cùng chí hướng để đưa lên ngôi. Trước thời Hàm Nghi, cả ba vua Dục Đức, Hiệp Hoà và Kiến Phúc đều lần lượt đi ngược lại ý đồ của Tường và Thuyết, và trở thành những phần tử phải bị Tường, và Thuyết loại bỏ, hoặc bị mất sớm. Vua Kiến Phúc mất, đáng lẽ con nuôi thứ hai của vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Ưng Kỹ lên ngôi, nhưng Tường và Thuyết sợ lập một vị vua lớn tuổi sẽ mất quyền hành,và hai ông dứt khoát chọn Nguyễn Phúc Ưng Lịch.
Đây là một người có đủ tư cách về dòng dõi, nhưng chưa bị cuộc sống giàu sang của kinh thành làm vẩn đục tinh thần tự tôn dân tộc,và quan trọng hơn hết là hai ông có thể định hướng nhà vua về đại cuộc của đất nước một cách dễ dàng. Nguyễn Phúc Ưng Lịch, sinh ngày 17 tháng 6 năm Tân Mùi (8/3/1871) Ông là em ruột của Ưng Đăng (vua Kiến Phúc) và Ưng Kỷ (vua Đồng Khánh). Từ nhỏ Ưng Lịch sống trong cảnh bần hàn, dân dã với mẹ chứ không được nuôi dạy tử tế như hai người anh ruột ở trong cung. Khi thấy sứ giả đến đón, cậu bé Ưng Lịch hoảng sợ và không dám nhận áo mũ. Ngày 12 tháng 6 Giáp Thân (2/8/1884), Nguyễn Phúc Ưng Lịch lên ngôi lấy hiệu Hàm Nghi, lúc mới 13 tuổi.
2. Năm 1885, Thống tướng de Courcy được chính phủ Pháp cử sang Việt Nam để phụ lực vào việc đặt nền bảo hộ theo Hoà ước Giáp Thân (1884). Tướng de Courcy vào yết kiến vua Hàm Nghi, nhưng lại muốn cả 500 binh lính cùng đi vào cửa chánh là cửa dành riêng cho đại khách. Triều đình Huế xin theo đúng nghi thức là các bậc tướng lĩnh đi cửa chánh, còn quân lính đi cửa hai bên, nhưng de Courcy nhất định không chịu. Vì thấy người Pháp xem thường nghi thức triều đình, khinh mạn vua quan ta, nên đêm 22 rạng 23 tháng 4 năm Ất Dậu (5 rạng 6/7/1885), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, mang quân tấn công trại binh Pháp ở đồn Mang Cá.
Đến sáng thì quân Pháp phản công, quân triều Nguyễn thua chạy, Tôn Thất Thuyết vào cung báo lại sự việc, đưa Hàm Nghi cùng Tam cung rời bỏ Kinh thành Huế đi lánh nạn. Nghe chuyện phải rời khỏi thành, vua Hàm Nghi đã thảng thốt nói:"Ta có đánh nhau với ai mô mà phải chạy". Chiều ngày 6 tháng 7 thì cả đoàn tới Quảng Trị. Nguyễn Văn Tường trở lại ra trình diện với quân Pháp. Tướng de Courcy hẹn cho Tường hai tháng phải tìm cách đưa vua về. Tường viết sớ ra Quảng Trị xin rước vua về lại triều đình, nhưng bị Tôn Thất Thuyết cản không cho vua biết. Hết hạn hai tháng Tường bị đày ra Côn đảo, rồi đưa tới đảo Tahiti ở Thái Bình Dương. Ít lâu sau Tường qua đời.
3. Ngày 9 tháng 7 năm 1885, dưới áp lực của Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi đành từ biệt Tam cung, lên đường đi Tân Sở. Tại Tân Sở, vua Hàm Nghi tuyên hịch Cần Vương kêu gọi sĩ phu và dân chúng nổi dậy chống Pháp giành độc lập. Nhân danh ông, Tôn Thất Thuyết đã phát động phong trào Cần Vương kêu gọi văn thân, nghĩa sĩ giúp vua, giúp nước. Phong trào này kéo dài đến năm 1888 thì Hàm Nghi bị bắt. Sau đó, ông bị đem an trí ở Alger (Thủ đô xứ Algerie). Ông qua đời tại đây năm 1943 vì bệnh ung thư dạ dày.
(Hết chương 3)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét