Chương 11: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ: THỜI ĐỆ NHỊ: 1967-1965.
Có 54 trang và 36.705 chữ)
Chính quyền Việt Nam Cộng hoà thời Đệ Nhị là Chính quyền kế nhiệm Chính quyền Việt Nam Cộng hoà thời Quân quản sau cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội năm 1967. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà thời Đệ Nhị tồn tại 7 năm 5 tháng từ tháng 11 năm 1967 đến tháng 4 năm 1975, trải qua 5 chính phủ: (1) Chính phủ Nguyễn Văn Lộc; (2) Chính phủ Trần Văn Hương; (3) Chính phủ Trần Thiện Khiêm; (4) Chính phủ Lâm thời Nguyễn Bá Cẩn; (5) Chính phủ Vũ Văn Mẫu (chưa trình diện Nội các).
1. CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN LỘC:
9/11/1967 – 28/5/1968.
I. Bối cảnh thành lập.
Kết quả bầu cử, Liên danh Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ thắng cử, với 34%. số phiếu bầu. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ đúng lời hứa với Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tổng thống Thiệu đã mời giáo sư Nguyễn Văn Lộc thành lập chánh phủ.
II. Thành viên Chính phủ.
Th.tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Nguyễn Văn Lộc | Thủ tướng | Luật sư |
2 | Trần Văn Đỗ | Tổng trưởng Ngoại giao | Bác sĩ |
3 | Nguyễn Văn Vỹ | Tổng trưởng Quốc phòng | Trung tướng |
4 | Linh Quang Viên | Tổng trưởng Nội vụ | Trung tướng |
5 | Nguyễn Đức Thắng | Tổng trưởg Xây dựng Nông thôn | Trung tướng |
6 | Lưu Văn Tính | Tổng trưởng Tài chánh | |
7 | Trương Thái Tôn | Tổng trưởng Kinh tế | |
8 | Tăng Kim Đồng | Tổng trưởng Văn hóa Giáo dục | Giáo sư |
9 | Tôn Thất Trình | Tổng trưởng Canh Nông Điền địa | |
10 | Nguyễn Xuân Phong | Tổng trưởng Chiêu hồi | |
11 | Lương Thế Siêu | Tổng trưởng Giao thông Vận tải | |
12 | Bửu Đôn | Tổng trưởng Công chánh | |
13 | Trần Lữ Y | Tổng trưởng Y tế | Bác sĩ |
14 | Nguyễn Phúc Quế | Tổng trưởng Xã hội và Tỵ nạn | Bác sĩ |
15 | Nguyễn Tấn Hồng | Tổng trưởng Cựu chiến binh | Bác sĩ |
16 | Phó Bá Long | Tổng trưởng Lao động | Giáo sư |
17 | Paul Nur | Tổng trưởng Phát triển Sắc tộc | |
18 | Huỳnh Đức Bửu | Tổng trưởng Tư pháp | |
19 | Đoàn Bá Cang | Bộ trưởng Phủ Thủ tướng | |
20 | Cao Văn Tường | Bộ trưởng liên lạc Quốc hội | |
21 | Phạm Đăng Lâm | Thứ trưởng Ngoại giao | |
22 | Trần Lưu Cung | Thứ trưởng Giáo dục đặc trách Đại học và Chuyên môn | |
23 | Lê Trọng Vinh | Thứ trưởng Giáo dục đặc trách Đệ nhị, Đệ nhất và Phổ thông | |
24 | Hồ Thới Sang | Thứ trưởng Giáo dục đặc trách Thanh niên học đường | |
25 | Bùi Xuân Bào | Thứ trưởng Văn hóa | |
26 | Nguyễn Chánh Lý | Thứ trưởng Thương mại | |
27 | Võ Văn Nhung | Thứ trưởng Công kỹ nghệ | |
III. Sự kiện liên quan, việc đã làm.
1. Việt Nam Cộng hòa hoan nghênh việc quân đội Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam vì điều này đã phần nào đẩy lui quân Việt Cộng, mở ra một hy vọng chiến thắng. Từ 1965 đến cuối 1967, Cộng quân gồm cả bộ đội chủ lực từ miền Bắc đã không thể đương đầu với hoả lực và tính di động của quân đội Mỹ và có nguy cơ bị tiêu diệt, nếu kéo dài tình trạng cầm cự bằng chiến tranh tiêu hao. Mặc dù Chính trị xã hội miền Nam trong thời kỳ nầy trải qua nhiều bất ổn, rối ren, cho đến cuối năm 1967, quân đội Sài-gòn và quân Mỹ luôn ở thế chủ động, mở nhiều chiến dịch tiến công, Cộng quân thường ở thế đối phó, giữ lực lượng, rút ra xa và mất nhiều khu vực đông dân. Giới lãnh đạo miền Bắc nghĩ đến một “hoạt động đột phá” vào năm 1968 để giành lại thế chủ động, cải tiến thế trận.
Sách lịch sử miền Bắc viết: Trung ương Đảng ta, tại Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 12-1967) và Hội nghị toàn thể ban Chấp hành lần thứ 14 (tháng 1-1968), thông báo quyết định lịch sử: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kì mới, thời kì giành thắng lợi quyết định.” Nghị quyết của Đảng còn chỉ rõ: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích-tổng khởi nghĩa (TCK/TKN) để giành thắng lợi quyết định”. Chiến dịch TCK/TKN chia làm 3 đợt:
2. Đợt 1: Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền (B2) quyết định thành lập hai Bộ Tư lệnh Tiền phương (BTL/TP): BTL/TP ở cánh Bắc gồm các hướng Bắc, Tây Bắc và Đông thành phố Sài Gòn do Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh phụ trách; Và BTL/TP ở cánh Nam: gồm các hướng phía Nam, Tây Nam, các lực lượng biệt động ở nội thành Sài Gòn, do Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng phụ trách. Ở Quân khu 5, Võ Chí Công làm Bí thư Quân khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu, Chu Huy Mân làm Tư lệnh. Ở mặt trận Huế. Trung ương chỉ định Lê Minh làm Chỉ huy trưởng, Lê Chưởng làm Chính ủy. Lưu ý, lúc này Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Văn Quang là Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Ở mặt trận Đường 9 – Bắc Quảng Trị do Trần Quý Hai, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.
Theo kế hoạch, chiến dịch TCK/TKN được phát động vào nửa đêm ngày 31.1.1968 tức vào giờ Giao thừa mồng Một Tết Mậu Thân, nhưng do việc Hà Nội thay đổi âm lịch sớm hơn một ngày từ tháng Tám 1967 nên cuộc tấn công diễn ra không đồng loạt ở nhiều nơi. Tại Đà Nẵng, Hội An, Qui Nhơn, Nha Trang, Kontum, Pleiku và Ban-mê-thuột, cuộc tấn công bắt đầu vào 00:15 ngày 30.1.68. Hai mươi bốn giờ sau, Sài-gòn, Huế và các thành phố, tỉnh và thị trấn khác trên toàn lãnh thổ miền Nam mới bị tấn công. Thủ đô Sài-gòn và cố đô Huế là hai địa điểm chính cần được chiếm đóng mau chóng để làm cơ sở cho cuộc “tổng nổi dậy” của dân chúng phá đổ “ngụy quyền” và đón mừng đoàn quân giải phóng.
3. Tuy nhiên, trừ Huế và Chợ Lớn, mọi cuộc tấn công vào Sài-gòn và các nơi khác đều bị đẩy lui chỉ sau vài ngày tác chiến. Trận công kích Sài-gòn bị thất bại mau chóng, Quân Việt Cộng không lọt được vào Dinh Độc lập, toán tấn công Đại Sứ quán Mỹ thì bị tiêu diệt khi mới lọt vào sân trước. Những toán quân đã lọt vào thành phố không liên lạc được với nhau và bị tiêu diệt hay phải rút lui vào Chợ Lớn. Tại Chợ Lớn, Cộng quân chiếm được truờng đua ngựa Phú Thọ làm trung tâm chỉ huy các cuộc chiến đấu với các lực lượng phòng vệ thủ đô, nhưng đến ngày 7 tháng Ba cũng phải bỏ chạy.
Mặt trận ở Huế diễn ra ác liệt nhất. Chỉ trong vài ngày đầu tiên, cố đô đã bị Cộng quân chiếm gần hết. Quân đội VNCH và Hoa Kỳ phải chiến đấu rất khó khăn để giành lại từng căn nhà, từng góc phố như hình ảnh chiến tranh trong các thành phố ở châu Âu thời đệ nhị Thế chiến. Ngày 25 tháng Hai, sau khi Cộng quân hoàn toàn rút khỏi Huế, thành phố đã bị phá hủy gần một nửa, 116,000 người trong tổng số trên 140,000 dân không có nơi trú ngụ. Tài liệu của Mỹ về thiệt hại nhân sự tại Huế cho thấy có trên 5,000 quân Việt Cộng bị giết, 89 bị bắt, còn con số bị thương rất lớn nhưng không biết rõ. Phía VNCH có 384 chết và 1.830 bị thương, Mỹ có 216 chết và 1.354 bị thương.
4. Đáng nói hơn hết là những nạn nhân dân sự bị giết gồm công chức, trí thức, lãnh tụ tôn giáo, chính trị và các “phần tử phản động”, tổng số tìm thấy trong các mồ chôn tập thể là 2,810 người, không kể hàng ngàn người khác bị mất tích. Theo Douglas Pike, một chuyên gia về Việt Nam, số nạn nhân bị giết có thể lên tới 5,700 người. Một số giáo sư ngoại quốc hợp tác với Viện Đại Học Huế cũng bị tàn sát trong trận này. Sau trận tổng công kích trên toàn thể miền Nam, lực lượng quân Việt Cộng bị tiêu diệt gần hết, và việc tuyển quân để bù đắp rất khó khăn. Từ nay cho đến khi chiến tranh chấm dứt quân Việt Cộng từ miền Bắc là thành phần chủ lực trong tất cả các trận đánh.
Ngày 1/3/68, Cố vấn Clark Clifford được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng thay thế Robert S. McNamara sang làm Giám đốc Ngân hàng Thế giới. Clark Clifford, chỉ thị cho Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam thực thi ba biện pháp cấp bách: một là, ra sức xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc ở trong và xung quanh các thành phố, các căn cứ, các tiểu khu, chi khu quân sự các điểm chốt trên các trục đường giao thông. Hai là, lập những vành đai đủ sức ngăn chặn các cuộc tiến công mới của Cộng quân. Đẩy chiến tranh ra xa các thành phố, thị xã quan trọng có ý nghĩa chiến lược. Ba là, mở các cuộc hành quân càn quét để giải toả các thành thị, căn cứ, đường giao thông, ngăn chặn triệt để các cuộc tấn công của Việt Cộng.
5. Tính đến cuối tháng Ba 1968, tổng số binh sĩ tử trận: phía quân Việt Cộng 58,000 người; phía quân VNCH 4,954; Hoa Kỳ 3,895 và các nước Đồng Minh 214. Tổng số thường dân miền Nam bị chết là 14.300 người. Tuy nhiên, trận Tết Mậu Thân đã đem lại cho Hà Nội một thắng lợi chính trị. Hình ảnh tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn bị tấn công cùng những cảnh tượng xung đột và xác chết nạn nhân được phơi bày trên màn ảnh truyền hình và báo chí mỗi ngày, kèm theo những lời bình luận chỉ trích chính quyền đã khiến cho uy tín của Tổng thống Johnson bị suy giảm trầm trọng. Sự bế tắc trong các nỗ lực chấm dứt chiến tranh bằng thương thuyết, cùng với những khó khăn trong nội bộ đã khiến Johnson phải quyết định rời bỏ chính trường.
Ngày 25.3.68, nhóm cố vấn đặc biệt lại được triệu tập, nhưng lần này thì đa số đồng ý phải giải quyết cuộc chiến bằng thương thuyết vì không thể chặn được đường xâm nhập của Bắc Việt vào miền Nam và địch quân dù thiệt hại rất nặng vẫn có thể chiến đấu lâu dài. Ngày 31/3/1968, Johnson lên đài truyền hình loan báo quyết định ngưng các cuộc tấn công trên lãnh thổ Bắc Việt, trừ khu vực phía dưới vĩ tuyến 20, và muốn mở cuộc hòa đàm với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). Cuối bài diễn văn, Johnson loan báo thêm một tin bất ngờ là ông sẽ không ứng cử và cũng không chấp nhận Đảng Dân chủ đề cử ông tái tranh cử Tổng thống vào tháng Mười Một.
6. Ngày 3/4/68, Việt Nam Dân chủ Công hoà (VNDCCH) cho biết sẵn sàng nói chuyện với Hoa Kỳ. Hôm sau 4/4/68, các Đại sứ của sáu quốc gia đồng minh (Hoa Kỳ, Đại Hàn, Thái Lan, Phi-líp-pin, Úc và Tân Tây-Lan) được mời đến họp tại Dinh Độc lập, đồng ý với Việt Nam Cộng hoà (VNCH) đưa ra Bản Thông cáo Chung “nhấn mạnh rằng những cuộc thương thuyết song phương giữa Washington và Hà Nội, không có sự tham dự của VNCH, sẽ chỉ có tính cách thăm dò. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đọc diễn văn về việc ném bom hạn chế miền Bắc Việt Nam và đề nghị nói chuyện với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 21/4/1968, truyền thông Hà Nội loan tin một Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà Bình Việt Nam vừa được thành lập do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch. Ngày 2/5, sau gần một tháng tiếp xúc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ thỏa thuận lấy thành phố Paris làm nơi đàm phán. Ngày 13/5/68 Hội nghị Paris giữa phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ chính thức bắt đầu tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, phố Kléber. Mỹ cử Averell Harriman và Cypruc Vance, làm Trưởng và Phó đoàn. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có Xuân Thuỷ và Hà Văn Lâu làm Trưởng đoàn, Phó đoàn.
7. Tại phiên họp đầu tiên nầy, Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra yêu cầu: Mỹ chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam, ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện; rằng Đất nước Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt chờ Tổng tuyển cử để bầu chính quyền thống nhất cho cả hai miền. Phái đoàn Hoa Kỳ không đề cập tới các vấn đề thống nhất cho cả hai miền, mà đưa ra đòi hỏi về việc Tôn trọng khu phi quân sự ở Vỹ tuyến 17; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải xuống thang; Và rằng Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải cùng rút quân. Phái đoàn liên lạc của Việt Nam Cộng hòa đưa ra tuyên bố nếu Việt Nam Cộng hòa không được tham gia hòa đàm sẽ không có hòa bình./.
2. CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG:
28/5/1968 – 1/9/1969.
I. Bối cảnh thành lập.
Sau Sự kiện Tết Mậu Thân 1968, Thủ tướng Nguyễn văn Lộc bị chỉ trích và ép từ nhiệm. Người được bổ lên thay là Trần Văn Hương, ông nhậm chức Thủ tướng ngày 28 tháng 5 năm 1968.
II. Thành viên Chính phủ.
Th.tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Trần Văn Hương | Thủ tướng kiêm Tổng trưởng XDNT | Giáo sư |
2 | Phan Quang Đán | Quốc vụ khanh kiêm Tổng trưởng Chiêu hồi | Bác sĩ |
3 | Vũ Quốc Thúc | Quốc vụ khanh | |
4 | Trần Chánh Thành | Tổng trưởng Ngoại giao | |
5 | Trần Thiện Khiêm | Tổng trưởng Nội vụ | Đại tướng |
6 | Nguyễn Văn Vỹ | Tổng trưởng Quốc phòng | Trung tướng |
7 | Lê Văn Thu | Tổng trưởng Tư pháp | |
8 | Nguyễn Văn Thơ | Tổng trg Giáo dục và Thanh niên | |
9 | Trần Lữ Y | Tổng trưởng Y tế và Xã hội | |
10 | Âu Ngọc Hồ | Tổng trưởng Kinh tế | |
11 | Lưu Văn Tính | Tổng trưởng Tài chánh | |
12 | Tôn Thất Thiện | Tổng trưởng Thông tin | |
13 | Trương Thái Tôn | Tổng trưởng Cải cách Điền địa | |
14 | Lương Thế Siêu | Tổng trưởng Công chánh và Giao thông | |
15 | Đàm Sỹ Hiến | Tổng trưởng Lao động | |
16 | Paul Nur | Tổng trưởng Phát triển Sắc tộc | |
17 | Huỳnh Văn Đạo | Tổng trưởng Phủ thủ tướng | |
18 | Hoàng Văn Lạc | Thứ trưởng Xây dựng Nông thôn | Đại tá |
III. Sự kiện liên quan, việc đã làm
1. Giai đoạn hai của cuộc tổng tiến công Mậu Thân (từ 5/5-13/6/68), các tiểu đoàn "cảm tử" của Cộng quân thọc sâu trong thành phố, tiếp tục chiến đấu, gây một số thiệt hại nhất định cho Liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, quân Việt Cộng cả bộ đội chủ lực, lẫn bộ đội địa phương phải chiến đấu trong khi yếu tố bí mật không còn, Liên quân Việt-Mỹ tăng cường đối phó, khiến hầu hết các cuộc tấn công đều bị ngăn chặn, Cộng quân phải chịu tổn thất lớn. Ngày 19 tháng 6 năm 1968, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh tổng động viên. Mỹ đưa thêm một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh hiện đại vào Nam Việt Nam để bù đắp số mất mát, hư hỏng, đồng thời thay thế một số chủng loại vũ khí cũ bằng vũ khí hiện đại hơn.
Súng trường M 16 đã được trang bị cho tất cả các tiểu đoàn chính quy bộ binh, nhảy dù, biệt động, thủy quân lục chiến. Trong tháng 7 và 8/1968, liên quân Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hoà đã thực hiện 1.929 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên, 156.000 phi xuất, trong đó B52 tiến hành 6.922 phi vụ oanh tạc miền Bắc. Về phía Cộng quân, qua hai đợt tổng tiến công liên tục Tết và tháng 5 lực lượng vũ trang, vũ khí, đạn dược đã bị tổn thất nặng nề. Lực lượng bí mật ém trong nội thành, và phần lớn nơi cất giấu vũ khí, trang bị, chỗ đứng chân, dùng làm nơi xuất phát các cuộc tiến công đã bị lộ, hoặc bị đánh phá mất gần hết.
2. Riêng mặt trận Quảng - Đà (Khu V) và một số nơi khác, do vẫn giữ được thế, và lực còn mạnh, nên Bộ Tư lệnh Cộng quân Khu V đã đề nghị Trung ương Hà Nội cho mở tiếp đợt 3 tổng tiến công và nổi dậy. Ngược lại, cũng có nhiều nơi xin tạm dừng tiến công để xốc lại đội hình, bổ sung, củng cố lực lượng, vũ khí trang bị. Ngày 24 và 25/7/1968, Thường trực Quân uỷ Trung ương, gồm: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Trần Quý Hai, Hoàng Anh, Lê Trọng Tấn, họp bàn kế hoạch tấn công Giai đoạn 3, mục tiêu Tổng tiến công vẫn được Bộ Chính trị xác định: chiến trường Sài Gòn, Gia Định và miền Đông Nam Bộ, Khu V là hướng trọng điểm, phối hợp là Quảng Đà.
Nhưng, tại Sài Gòn, Chợ Lớn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Liên quân Viêt Nam Cộng hoà-Mỹ đang tập trung lực lượng tới 61 tiểu đoàn VNCH, 38 tiểu đoàn Mỹ, 4 tiểu đoàn quân các nước phụ thuộc Mỹ, tổng cộng 90.000 quân cùng lực lượng Địa phương quân tổ chức hệ thống phòng thủ bảo vệ Sài Gòn, chiều sâu khoảng 100 km. Đứng trước tình hình này, Bộ Chính trị chuyển trọng tâm tiến công ra vòng ngoài, hướng chủ yếu là địa bàn hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long. Ngày 17/8/1968, giai đoạn 3/TCK chính thức mở màn. Các lực lượng pháo binh, đặc công, biệt động đã phối hợp đồng loạt tiến công trên 27 thành phố và thị xã, hơn 100 thị trấn, quận lỵ, chi khu quân sự, 47 sân bay các loại, 3 tổng kho hàng hoá quân sự 6 bộ tư lệnh cấp sư đoàn.
3. Sau gần 20 ngày liên tục giữ thế chủ động bằng các chiến thuật: phục kích, tập kích, đánh bồi, đánh nhồi vào các cụm quân, tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng và phương tiện chiến tranh của Mỹ, hoàn thành cơ bản các mục tiêu chiến dịch đặt ra. Ngày 28/9/1968, kết thúc giai đoạn 3, cũng là kết thúc toàn bộ chiến dịch Tổng công kích Mậu Thân. Thành quả giành được sau 43 ngày đêm chiến đấu liên tục của chiến dịch Tây Ninh - Bình Long, các sư đoàn 5, 7, 9 chủ lực Miền và du kích Tây Ninh, Bình Long đã đánh 315 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 13 tiểu đoàn, 55 đại đôi, tiêu hao nặng 7 tiểu đoàn, lên tới 18.406 quân, phá huỷ 1.507 xe quân sự, 112 máy bay, 107 khẩu pháo, thu được 24 máy vô tuyến điện, 282 súng các loại.
Song những thắng lợi trong giai đoạn 3 ở miền Đông cũng không làm thay đổi được tình hình. Đến cuối năm 1968, sau ba giai đoạn tiến công liên tục quân số, vũ khí đạn dược của Cộng quân đã cạn kiệt, những bộ phận còn lại của các đơn vị được lệnh rút lên các căn cứ để củng cố và bổ sung quân số. Nhưng để lên được căn cứ, cán bộ và chiến sĩ phải tiếp tục đột phá mở đường qua các tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn từ xa của Mỹ với chiều sâu hàng trăm km, nên lực lượng lại tiếp tục bị tiêu hao thêm. Tình hình chung sau sự kiện Tết Mậu Thân, quân Cộng sản đã phải chịu tổn thất rất lớn, mất đi 1 thế hệ quân kháng chiến, mất đa phần khí tài chiến tranh, cũng như nhiều đơn vị du kích bị suy yếu trầm trọng.
4. Một số đơn vị cấp sư đoàn, trung đoàn Cộng quân phải phân tán tạm thời hoặc rút bộ chỉ huy khỏi địa bàn. Các đơn vị chính quy còn "sống sót" (thật ra là bị tan rã và cố sức tập hợp lại được) phải co cụm về căn cứ cũ cố thủ để bảo vệ các sở chỉ huy và đội cán bộ, trong khi các đơn vị ở vùng biên giới đều rút hẳn ra để bảo toàn lực lượng. Cộng quân phải mất một thời gian dài đưa thêm quân bổ sung từ miền bắc vào để trám chỗ trống, hồi phục chậm chạp trong nhiều điều kiện ngặt nghèo nên sức tiến công không đủ mạnh. Thời gian năm 1969 quân đội Mỹ tiếp tục tăng cường quân số, Quân lực VNCH tuyển thêm lính và hồi phục lực lượng tương đối nhanh. Cán cân lực lượng trở nên bất lợi về phía Cộng quân.
Trung ương Cục miền Nam Cộng sản đã phải tổ chức lại chiến trường, và quyết định tái lập Khu 7 gồm phân khu 4, tỉnh Biên Hoà, Bà Rịa, Long Khánh và Đặc khu rừng Sác. Các quận nội thành Sài Gòn trước kia tách về các phân khu, nay nhập lại như cũ. Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục kiêm Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Miền Tây Nam Bộ cũng được tăng cường lãnh đạo chỉ huy. Võ Văn Kiệt được cử làm Bí thư Khu ủy, Lê Đức Anh làm Tư lệnh Quân khu 9. Tổng số quân Giải phóng thiệt hại trong năm 1968 là 113.295 gồm: 44.824 chết, bị thương 61.267, mất tích 4.511, bị bắt 912, đi lạc 1.265, đầu hàng 416.
5. Hơn 40 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân, Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, tướng Lê Khả Phiêu lúc đó là chính uỷ kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, đơn vị chủ lực đánh vào thành Huế và giữ Huế 25 ngày, hồi tưởng: Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, chúng tôi ở chiến trường lao đao mất 2 năm rưỡi, đến năm 1971 ta mới có được những chuyền biến tích cực. Vinh quang có thật, tinh thần chiến đấu thì anh dũng tuyệt vời, nhưng đúng là có khó khăn. Giữ được Huế 25 ngày như thế đã là "ghê" lắm rồi. Khi rút ra ngoài, cả trung đoàn chỉ còn đúng 5 cân gạo.
Nhìn lại diễn biến và kết quả của đợt 2 và đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Trung ương Đảng Lao động nhận định: "Chúng ta đã mắc một số khuyết điểm, chủ quan trong việc đánh giá tình hình cho nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó, nhất là không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm ngay, nhằm đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời", nên để mất đất, mất dân, lực lượng vũ trang, cơ sở cách mạng và vật chất chiến tranh bị tổn thất nghiêm trọng, gây những khó khăn rất lớn cho phong trào đấu tranh năm 1969. Song, thắng lợi trong đợt 2 và 3 tổng tiến công và nổi dậy cũng rất lớn, ta không chỉ tiêu diệt được một lực lượng chiến lược của Mỹ - ngụy, mà điều quan trọng là ta đã đánh bồi liên tiếp, đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom phá hoại miền Bắc, chấp nhận đoàn đại biểu của Mặt trân Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một trong bốn thành viên chính thức tham gia hoà đàm tại Paris. Những thắng lợi này góp phần cho ta thế mạnh, chủ động đấu tranh ở Hội nghị Paris."
6. Ngày 18-20/6/1968, Tổng thống Mỹ, Johnson và Tổng tống VNCH Nguyễn Văn Thiệu gặp nhau tại Honolulu thảo luận sách lược hoà đàm Mỹ-Hà Nội. Trong quá trình đàm phán, phía Mỹ đã thường xuyên thông báo cho Việt Nam Cộng hoà, và Nguyễn Văn Thiệu luôn tỏ ra chấp nhận lập trường của phía Mỹ. Nhưng, khi Mỹ-Hà Nội đạt được sự dàn xếp về các bên cho cuộc họp sắp đến, thì lại nảy sinh sự bất hoà giữa Mỹ và Sài Gòn. Ngày 29/10/68, Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn báo cáo về Toà Bạch Ốc cho biết, Nguyễn Văn Thiệu đã rất phẫn nộ với Hoa Kỳ khi nhận tin phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ tới Paris dự tham dự đàm phán. Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố VNCH sẽ tiến hành đàm phán riêng với VNDCCH.
Ngày 31/10/68, Tổng thống Johnson tuyên bố ngưng oanh tạc toàn diện Bắc Việt. Khi đưa ra quyết định nầy, cũng như quyết định từ bỏ chính trường và tìm giải pháp hòa bình cho cuộc chiến, Tổng thống Johnson cũng muốn tạo điều kiện thắng lợi cho Phó Tổng thống Humphrey trong cuộc chạy đua vào Toà Bạch Ốc. Tuy nhiên, những cố gắng của Tổng thống Johnson không thuyết phục Hà Nội và Sài Gòn: Hà Nội không cam kết điều gì về quyết định ngưng oanh tạc toàn diện Bắc Việt; trong khi VNCH thì chống lại sự hiện diện của MTGPMN tham dự hòa đàm với tư cách một phái đoàn độc lập ngang hàng với VNCH.
7. Ngày 02-11-1968, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố chỉ đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chứ không nói chuyện với MTDTGPMN, cương quyết không thành lập chính phủ Liên hiệp tại miền Nam, Tổng thống Thiệu còn tuyên bố Việt Nam Cộng hoà sẽ đàm phán riêng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà độc lập với cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 04-11-1968, phía Hoa Kỳ tiếp tục đưa ra lập trường cứng rắn, buộc chính quyền Sài Gòn phải chấp nhận tham gia đàm phán với MTDTGPMN. Ngày 05-11-1968, Hoa Kỳ tuyên bố hoãn họp do phía Việt Nam Cộng hoà thiếu thiện chí trong việc tham gia hòa đàm.
Ngày 06-11-1968, Nguyễn Văn Thiệu đưa ra công thức đàm phán mới gồm Liên minh Việt Nam Cộng hoà-Hoa Kỳ và Liên minh Việt Nam Dân chủ Cộng hoà-Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam; trong đó Việt Nam Cộng hoà và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ đứng đầu mỗi bên; Hoa Kỳ và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam chỉ tham gia với tư cách một phần của mỗi phái đoàn, Ngày 7/11/68, Nixon đắc cử Tổng thống Mỹ, đánh bại đối thủ Humphrey của đảng Dân chủ. Ngày 30-11-1968, Nguyễn Văn Thiệu có cuộc họp thu hẹp với Lưỡng viện Quốc hội Việt Nam Cộng hòa. Ngày 04/12/1968, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa nhóm họp thông qua quyết định chấp nhận để Chính phủ VNCH cử một phái đoàn tham gia đàm phán tại Paris.
8. Ngày 05/12/1968, Nguyễn Văn Thiệu cử Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa là Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ làm cố vấn. Ngày 7/12, Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa rời Sài Gòn do Nguyễn Cao Kỳ và Phạm Đăng Lâm cầm đầu đi Paris dự hội nghị. Ngày 10/12, MTGPMN cũng cử Phái đoàn đi dự Hội nghị Paris do Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, Nguyễn Thị Bình làm Phó Trưởng đoàn. Ngày 25/1/1969, chỉ 5 ngày sau khi Nixon nhậm chức Tổng thống, Phái đoàn Việt Nam Cộng hoà cùng với phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam bắt đầu tham dự đàm phán Paris, theo công thức “phe các anh, phe chúng tôi” từ đó có tên “hai bên, bốn phái đoàn.” Trước đó, VNCH chỉ có một phái bộ liên lạc bên cạnh phái đoàn Mỹ tại hội nghị.
Lập trường của các bên có sự khác nhau rõ rệt. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam muốn mọi hình thức đều phải thể hiện là đàm phán 04 bên, trong khi phía Koa Kỳ và Việt Nam Cọng hoà muốn thể hiện là đàm phán hai bên. Ngày 23/2/69, Richard Nixon ra lệnh ném bom "Đất thánh" của "Việt Cộng" ở Campuchia. Tới tháng 5-1969, Hội nghị 04 bên đã trải qua 14 phiên tranh luận, nhưng không đạt được tiến triển. Ngày 08-05-1969, phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đưa ra "giải pháp hòa bình 10 điểm". Ngày 14-05-1969, Hoa Kỳ đưa ra giải pháp 08 điểm, rằng tất cả các lực lượng không thuộc miền Nam Việt Nam đều phải rút quân.
9. Ngày 6/6/69, thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam, trong đó, Nguyễn Thị Bình là Bộ trưởng Ngoại giao, Trần Bửu Kiếm là Bộ trưởng Phủ Chủ tịch Chính phủ. Ngay sau đó, Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình được cử làm trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thay thế Trần Bửu Kiếm. Lúc nầy, Hoa Kỳ bắt đầu có những động thái xích lại với Trung Quốc để cô lập Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Hậu quả là, trong năm 1969, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ co cụm phòng thủ, vùng giải phóng bị thu hẹp. Và, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà lại chiếm ưu thế trên bàn đàm phán và gây sức ép lên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam.
Ngày 8/6/1969, Tổng thống Mỹ mới Richard Nixon và Tổng thống Thiệu gặp nhau tại đảo Midway để bàn về sách lược Việt Nam hoá, lịch trình rút quân Mỹ. Theo đó, Mỹ sẽ bắt đầu rút dần quân bộ chiến khỏi chiến trường Việt Nam tùy theo khả năng tự mình đảm nhận cuộc chiến của quân đội VNCH; Mỹ tiếp tục đẩy mạnh viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa để họ đủ sức chống lại quân Giải phóng; Mỹ sẽ phản kích ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam (sang Lào và Campuchia), chặn đứng các nguồn tiếp tế chi viện cho quân Giải phóng miền Nam; Không lực Mỹ cũng sẽ yểm trợ về tối đa cho quân đội Việt Nam Cộng hòa trong các cuộc giao tranh với Quân Giải phóng. Ngoài ra, Mỹ cũng sẽ tăng cường viện trợ kinh tế, kỹ thuật, giúp VNCH hoàn thành chương trình bình định.
10. Tháng 8-1969, cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn Henry Kissinger bắt đầu đối thoại trực tiếp. Và, vấn đề tù binh Hoa Kỳ được nêu ra từ cuối năm 1969. Thời gian sau đó, với thế thượng phong trên thực địa, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà sử dụng chiến thuật lảng tránh các vấn đề chính trong đàm phán, chỉ đưa ra một vấn đề cho một phiên thảo luận mà không đi vào các nội dung cốt lõi, với ý đồ chờ tới thời điểm nhất định sẽ đánh gục hoàn toàn Cộng quân tại miền Nam và đến kết thúc đàm phán. Để phản đối hành động của Hoa Kỳ, Phái đoàn Dân chủ Việt Nam Cộng hoà đã tẩy chay tới 35 phiên họp, và Phái đoàn Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng tẩy chay 33 phiên họp./.
3. CHÍNH PHỦ TRẦN THIỆN KHIÊM:
I. Bối cảnh thành lập.
Ngày 1 tháng 9 năm 1969, nội các của Trần Văn Hương bị giải tán. Tổng trưởng Nội vụ Đại tướng Trần Thiện Khiêm được uỷ thành lập Nội các mới. Ông làm Thủ tướng chính phủ gần 6 năm (1969-75) cho đến khi nền Đệ nhị Cộng hòa sắp chấm dứt.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Trần Thiện Khiêm | Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ | Đại tướng |
2 | Nguyễn Lưu Viên | Phó Thủ tướng | Bác sĩ |
3 | Mai Thọ Truyền | Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa | Cư sĩ |
4 | Vũ Quốc Thúc | Quốc vụ khanh đặc trách Tái thiết Phát triển | Giáo sư |
5 | Nguyễn Tiến Hỷ | Quốc vụ khanh | Bác sĩ |
6 | Phan Quang Đán | Quốc vụ khanh | Bác sĩ |
7 | Trần Văn Lắm | Tổng trưởng Ngoại giao | Dược sĩ |
8 | Nguyễn Văn Vỹ | Tổng trưởng Quốc phòng | Trung tướng |
9 | Lê Văn Thu | Tồng trưởng Tư pháp | Luật sư |
10 | Phạm Kim Ngọc | Tổng trưởng Kinh tế | |
11 | Nguyễn Bích Huệ | Tổng trưởng Tài chánh | |
12 | Trần Thanh Phong | Tổng trưởng Xây dựng Nông thôn | Thiếu tướng |
13 | Ngô Khắc Tỉnh | Tổng trưởng Thông tin | Luật sư |
14 | Hồ Văn Châm | Tổng trưởng Chiêu hồi | Bác sĩ |
15 | Cao Văn Thân | Tổng trưởng Cải cách Canh nông | |
16 | Dương Kích Nhưỡng | Tổng trưởng Công chánh | |
17 | Trần Văn Viễn | Tổng trưởng Giao thông | |
18 | Trần Minh Tùng | Tổng trưởng Y tế | Bác sĩ |
19 | Trần Ngươn Phiêu | Tổng trưởng Xã hội | Bác sĩ |
20 | Tăng Kim Đông | Tổng trưởng Văn hóa Giáo dục | Giáo sư |
21 | Đàm Sĩ Hiến | Tổng trưởng Lao động | |
22 | Phạm Văn Đổng | Tổng trưởng Cựu Chiến binh | Thiếu tướng |
23 | Paul Nur | Tổng trưởng Phát triển Sắc tộc | |
24 | Nguyễn Văn Vàng | Bộ trưởng tại Phủ thủ tướng | |
25 | Cao Văn Tường | Bộ trưởng Liên lạc Quốc hội | |
III. Sự kiện liên quan, việc đã làm.
1. Đây là giai đoạn sau Mậu Thân, giai đoạn "Việt Nam hoá chiến tranh" . Giai đoạn Hoa Kỳ bắt đầu rút quân dần khỏi chiến trường Việt Nam, và gấp rút giúp Việt Nam Cộng hòa xây dựng một quân đội mạnh. Tiến trình Việt Nam hóa chiến tranh ban đầu đã diễn ra tương đối thuận lợi. Quân lực Việt Nam Cộng hòa, được trang bị hiện đại đã tỏ ra tự tin hơn và đã nắm thế chủ động trên phần lớn chiến trường miền Nam từ năm 1969 đến tận cuối năm 1971. Tháng 10-1971, Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ hai trong một cuộc bầu cử độc diễn. Quân lực Việt Nam Cộng hoà gia tăng quân số đều đặn từ 50.000 đến 100.000 mỗi năm theo đà rút quân của quân đội Hoa Kỳ. Đến cuối năm 1971 QLVNCH đã lên tới trên dưới 1 triệu quân, bao gồm cả ba quân chủng: Lục quân, Hải quân và Không quân.
Lục quân tổ chức thành Lực lượng lưu động và Lực lượng diện địa. “Lực lượng lưu động” làm nhiệm vụ an ninh lãnh thổ và biên giới, thường xuyên đánh phá các căn cứ, hệ thống tiếp vận của Cộng sản từ Bắc vào Nam, săn lùng đẩy lùi, ngăn chặn không cho quân Việt Cộng hoạt động trở lại; Còn "Lực lượng diện địa” làm nhiệm vụ an ninh nội địa, bảo đảm công tác bình định nông thôn. Các đơn vị biệt kích (do Mỹ tổ chức, chỉ huy) được cải tổ thành các tiểu đoàn Biệt động quân biên phòng (37 tiểu đoàn). Ngày 01 tháng 10 năm 1971, thành lập thêm Sư đoàn 3 Bộ binh, trách nhiệm an ninh khu vực giới tuyến, địa bàn tỉnh Quảng Trị.
2. Các sư đoàn Bộ binh được bổ sung quân số, hoàn thiện biên chế. Quân dụng, vũ khí trang bị cho Lục quân cũng được tăng lên: 1.300 khẩu pháo và 10.000 súng cối các loại, 30.000 súng phóng lựu, 10.000 đại liên, 700.000 súng M 16 là loại súng trường hiện đại nhất của quân Mỹ lúc bấy giờ. Khối bộ binh cơ động, như Nhày dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân năm 1968 mới có 50 tiểu đoàn, đến cuối năm 1970 tăng lên 90 tiểu đoàn. Tăng-thiết giáp từ 1.037 chiếc năm 1968 lên 1.879 chiếc năm 1972. Với sự phát triển Lục quân như trên, đến tháng 6 năm 1970, theo Mỹ, quân Việt Nam Cộng hòa có thể đảm nhiệm hầu hết nhiệm vụ chiến đấu trên bộ.
Cuối năm 1971, đầu năm 1972 lực lượng Hải quân đã lên đến gần 50.000 quân, với 1.600 tàu các loại hoạt động trên biển và trên sông. Không quân Việt Vam Cộng hoà cũng được củng cố và kiện toàn, tăng nhanh quân số từ 35.000 năm 1968 lên hơn 50.000 năm 1971. Năm 1970, không quân Việt Nam Cộng hòa được tổ chức lại thành 6 sư đoàn, 1 phi đoàn liên lạc, 1 phi đoàn vận tải, 5 phi đoàn trực thăng, 3 phi đoàn khu trục, tổng cộng gần 1.500 máy bay các loại. Từ năm 1968 đến năm 1972, quân số Việt Nam Cộng hòa tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1,05 triệu quân. Trong đó, Không quân tăng quân số tới 163%, Hải quân tăng 110%, Lục quân tăng gần 8% quân số.
3. Bình định nông thôn, là một trong các mục tiêu trụ cột của Việt Nam hoá chiến tranh. Mỹ và Việt Nam Cộng hòa xem bình định nông thôn, cải thiện đời sống trong các Ấp Tân sinh (đời mới) là biện pháp chiến lược quyết định sự tồn vong của chế độ Việt Nam Cộng hoà, là sự thành, bại của Việt Nam hóa chiến tranh. Bình định nông thôn được thực hiện qua các giai đoạn: Bình định nông thôn cấp tốc từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 6 năm 1969; bình định phát triển nông thôn từ tháng 7 năm 1969 đến tháng 6 năm 1970; bình định nông thôn đặc biệt từ tháng 7-1970 đến tháng 2-1971; rồi chương trình "cộng đồng tự vệ" và "phát triển nông thôn" từ tháng 3-1971 đến tháng 3-1972.
Các Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn được thành lập từ Cán bộ tân tuyển, Cán bộ cải tuyển, các bộ phận mà môi trường hoạt đông là địa bàn Nông thôn như Cán bộ Hành Chánh Lưu động, Cán bộ Ấp Tân sinh v.v.. Hầu hết được gửi đi huấn luyện tại Trung Tâm Huấn Luyện Cán bộ Xây dựng Nông thôn Vũng Tàu cấp tốc 3 tháng. Cán bộ Xây dựng Nông thôn là lực lượng nồng cốt để thực hiện chương trình Xây dựng Nông thôn mới, cải tổ H ành chánh Xã Ấp; thực thi dân chủ pháp trị; canh tân đời sống nông thôn, xây dựng “Ấp Đời Mới“ thanh bình, thạnh trị cho nông thôn Việt Nam trong tinh thần tự quản, tự phòng và tự phát triển...
4. Chiến lược quân sự "tìm và diệt" của Tư lệnh quân Mỹ tại Việt Nam tướng Westmoreland trước đây, được người kế nhiệm tướng Creigton Williams Abrams Jr, thay thế bằng Chiến lược quân sự "Quét và giữ" hổ trợ tích cực cho công cuộc Bình định nông thôn. Các cuộc hành quân “quét và giữ” của quân đội Mỹ-Việt Nam Cộng hòa tăng lên đáng kể, nhất là chiến trường Nam Bộ. Năm 1968 có 2.192 cuộc hành quân càn quét, năm 1969 tăng lên 4.344 cuộc. Chỉ riêng 10 tháng đầu năm 1970 đã có tới 745 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên. Nếu tính cả hoạt động dưới cấp tiểu đoàn, thì năm 1969 có 10.980 cuộc, năm 1970 tăng lên 23.783 cuộc hành quân quét và giữ.
Song song với đó, Việt Nam Cộng hòa còn sử dụng Chiến dịch Phượng Hoàng nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.Các toán nhân viên Phượng hoàng với phương thức hoạt động rất đa dạng, được phái xuống các xóm ấp, họ cùng ăn, cùng ở với dân để phanh ra tổ chức; sử dụng các tổ chức tình báo, cảnh sát chìm kết hợp khai thác những đối tượng đầu hàng, đầu thú, điều tra phân loại cán bộ nằm vùng tại hạ tầng cơ sở của Việt cộng. Tính tới năm 1972, Hoa Kỳ tuyên bố đã "loại bỏ" 81.740 người ủng hộ Việt Cộng, trong đó từ 26.000 tới 41.000 đã bị giết. Các biện pháp này đã mang lại hiệu quả tốt về an ninh, tình hình nông thôn trở nên an toàn hơn.
IV. Tấn công vào Trung ương Cục miền Nam 1970
1. Ngày 18 tháng 3, 1970, lúc Sihanouk đang ở nước ngoài, Thủ tướng Lon Nol triệu tập Quốc hội Campuchia bỏ phiếu phế truất Norodom Sihanouk khỏi vị trí Quốc trưởng và trao quyền khẩn cấp cho Thủ tướng Lon Nol, sau đó Lon Nol, phát động chiến tranh chống Cộng tại Campuchia. Một thoả thuận nhanh chóng đạt được giữa Lon Nol và chính quyền Mỹ. Cuối tháng 4 năm 1970, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân tấn công vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại biên giới Campuchia giáp Tây Ninh, tập trung vào các hướng đông và đông nam Sway Rieng, Memot-Snoul, Taheo-đông Kam pốt trọng tâm là căn cứ Ba Thu (Bến Lức-Lonh An) và vùng Lưởi Câu ở Kampong Cham.
Việt Cộng rút ngay khi Liên quân Viêt-Mỹ tiến vào, nhưng họ lại kháng cự quyết liệt ở Thị trấn Snoul. Hơn 90% thị trấn bị xóa sổ sau hai ngày bị oanh tạc bằng bom na-pan và pháo. Liên quân Viêt-Mỹ tiến hành lục soát, thấy có hơn 400 lán trại, nhà kho và boong ke, chứa đầy lương thực, quần áo, và thuốc men, 182 hầm vũ khí và đạn dược. Có hầm chứa tới 480 khẩu súng, và một hầm khác có hơn 6 triệu rưởi viên đạn các loại, hàng ngàn rốc két, và súng tiểu liên, một số xe vận tải và cả 1 Tổng đại điện thoại. Chỉ tại đây, Liên quân Việt-Mỹ đã thu được 4.793 vũ khí cá nhân, 730 súng cối, hơn 3 triệu viên đạn dành cho vũ khí cá nhân, 7.285 rốc két, 124 xe tải và 2 triệu pound gạo. Người Mỹ cho rằng đây chính là trung tâm đầu não của Trung ương Cục miền Nam.
2. Cuộc hành quân kết thúc ngày 30/6/1970, Liên quân Việt-Mỹ triệt phá được phần lớn căn cứ, kho tàng, bệnh viện và các tuyến tiếp tế hậu cần của Việt Cộng, nhưng không tiêu diệt các cơ quan đầu nảo của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Miền. Để ổn định tình hình ở Campuchia, giúp chính quyền Lon Nol củng cố và phát triển. Liên quân Việt-Mỹ để lại 20 tiểu đoàn, trợ giúp cho quân đội, và các lực lượng võ trang bạn hoạt động có hiệu quả. Các Tiểu đoàn Việt-Mỹ thường là những đơn vị lưu động, nhưng tập chú vào các nơi nghi ngờ Công quân trú ẩn, hoặc làm nơi xuất phát tấn công quân bạn trên đất Campuchia, hay để thâm nhập vào Việt Nam Cộng hoà.
V. Hành quân Lam Sơn 719 vào Hạ Lào.
1. Tháng 2 năm 1971, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, từ căn cứ Khe Sanh, Quảng Trị tiến vào Hạ Lào nhằm cắt đứt đường nối thông từ Lào vào Campuchia, và phá hủy hệ thống kho tàng trung tâm hậu cần của Việt Cộngtại Tchepone (Xê-pôn) Lào. Sau các đợt pháo kích của hàng trăm khẩu pháo từ 105 mm tới 175 mm, và các phi vụ ném bom B 52 dọc hai bên Đường 9 - Nam Lào, ngày 8 tháng 2, cánh quân chính của VNCH, gồm Lữ đoàn 3 Thiết giáp cùng các Tiểu đoàn 1 và 8 Nhảy dù, theo đường 9 tiến về phía Bản Đông. Ngày 10 tháng 2, quân Việt Nam Cộng hòa đã đến Bản Đông, nằm sâu 20 km trong địa phận Lào và ở khoảng giữa đường tới Tchepone. Bản Đông trở thành căn cứ, và là trung tâm chỉ huy cuộc hành quân.
Ngày 11 tháng 2, Tướng Abrams và Sutherland bay đến sở chỉ huy tiền phương của Hoàng Xuân Lãm tại Đông Hà, sau trao đổi, họ quyết định đưa Sư đoàn 1 Bộ binh ở phía Nam đường 9 về phía Tây để bảo vệ sườn phía tây cho hướng tiến quân vào Tchepone. Từ ngày 16-21 tháng 2, ở phía bắc Đường 9, Cộng quân tấn công vào Tiểu đoàn 39 Biệt động quân chiếm giữ Điểm cao 500, Tiểu đoàn nầy phải rút về cứ điểm Ranger South cách đó 6 km. Tại đây, một lần nữa quân phòng thủ phải rút về Cứ điểm 30 cách đó 5 km về phía đông Nam.
2. Từ ngày 21 tháng 2, Lữ đoàn 3 Dù tại Căn cứ 31 (điểm cao 543), bị bao vây, đường bộ từ Bản Đông lên căn cứ 31 cũng bị cắt đứt. Trưa 25 tháng 2, Cộng quân có xe tăng PT 76 yểm trợ tấn công vào căn cứ, cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Cuối cùng, Cứ điểm 31 thất thủ, Đại tá Nguyễn Văn Thọ Lữ đoàn trưởng, Bộ tham mưu và gần 100 binh sĩ Lữ đoàn 3 Dù bị bắt, trên 100 người chết. Phía Việt Cộng Mỹ ước tính là 250 người chết, 11 xe tăng PT-76 và T-54 bị cháy. Trong 5 ngày tiếp theo từ 25 tháng 2 đến 1 tháng 3, có 3 trận đánh lớn, quân Việt Cộng đã phải chịu thương vong nhiều từ bom, pháo, và cả từ trực thăng trang võ trang, có 17 xe tăng hạng nhẹ PT 76 và 6 xe T 54 bị bắn cháy. Phía quân VNCH mất 5 xe tăng M 41 và 25 xe bọc théo chở quân (APC).
Ngày 3/3/1971, Bộ Tư lệnh hành quân VNCH quyết định sử dụng Sư đoàn 1 Bộ binh đang ở phía nam Đường 9 làm nổ lực chính đánh chiếm Thị trấn Tchepone, thay vì giao cho Lữ đoàn Dù số 1, và 2 thiết đoàn đang đóng ở Bản Đông như dự tính ban đầu. Bộ Tư lệnh QLVNCH cũng quyết định đưa thêm Lữ đoàn Dù số 2, Lữ đoàn TQLC số 147 và 258 cùng tham chiến. Cuộc tấn công bắt đầu khi các đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ binh được không vận tới 2 căn cứ hỏa lực Lolo, Sophia, và bãi đổ bộ Liz. Tất cả đều ở phía nam Đường 9. Ba ngày sau, 276 trực thăng UH-1 được bảo vệ bởi các máy bay AH-1 Cobra mang rocket và máy bay tiêm kích đưa các tiểu đoàn 2 và 3 của Trung đoàn 2 từ Khe Sanh tới Tchepone.
3. Đây là cuộc đổ quân bằng trực thăng lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Chỉ có 1 trực thăng bị hỏa lực phòng không bắn rơi khi quân đổ xuống bãi đổ bộ Hope, cách Tchepone 4 km về phía đông bắc. Trong những ngày kế tiếp, các đội trinh sát của hai tiểu đoàn này lùng soát Tchepone và khu vực xung quanh trung tâm hậu cần của Việt Cộng, phá hủy được nhiều kho tàng, cơ sở vật chất, và khá nhiều xác chết Việt Cộng do trúng bom, đạn pháo quân Cộng sản chưa kịp mang đi. Cắt đứt đường nối thông từ Lào vào Campuchia, và phá hủy hệ thống kho tàng trung tâm hậu cần của Việt Cộngtại Tchepone (Xê-pôn) Lào, mục đích của cuộc hành quân Lam sơn 719 đã đạt. Ngày 9/3/71, Bộ Tư lệnh hành quân VNCH ra lệnh rút quân.
Ngay khi thấy dấu hiệu quân bộ chiến VNCH bắt đầu rút lui, Cộng quân tổ chức các ổ phục kích dọc Đường 9, có xe tăng yểm trợ, hỏa lực phòng không cũng được tăng cường để ngăn chặn, hoặc làm chậm các nỗ lực yểm trợ của trực thăng, nhằm gây thiệt hại lớn cho đoàn quân rút lui. Sáng 16/3/71, Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 QLVNCH đang rút khỏi điểm cao 723 đi về hướng Đông Bắc thì bị Sư đoàn 2 Cộng quân chận đánh gây thiệt hại nặng. Từ ngày 18-20 tháng 3, tất cả các đợn vị của QLVNCH tham dự hành quân Lam Sơn 719 đã hoàn toàn rút khỏi khu vực Bản Đông.
4. Trên đường rút quân, đoạn từ Bản Đông về Lao Bảo, bị Việt Cộng phục kích, chận đánh nhiều nơi, với cường độ cao, khốc liệt, khiến một số tăng, thiết giáp, pháo 105 mm và pháo 155 mm của VNCH đã phải bỏ lại. Máy bay Mỹ đến ném bom phá hủy số xe pháo này, để không cho đối phương chiếm và tái sử dụng. Lữ đoàn 1 Thiết giáp được giao nhiệm vụ bọc hậu Đường 9 bảo vệ cho cuộc rút quân. Khi được tù binh khai báo rằng trước mặt có 2 trung đoàn Việt Cộng đang mai phục, chỉ huy Lữ đoàn, Đại tá Nguyễn Trọng Luật lệnh cho đội hình bỏ đường chính, chỉ còn cách biên giới 5 km để đi vào đường mòn trong rừng, lại dẫn đến ngõ cụt bên bờ dốc của sông Tchepone, đội hình bị tắc lại ở đây, trong khi Cộng quân đang áp sát từ phía sau.
Cuối cùng, hai xe ủi đất phải được trực thăng cẩu vào, tạo ra một đoạn sông cạn để QLVNCH lội qua. Những binh lính cuối cùng về được Đông Hà vào ngày 23/3/1971. Kết quả, Hành quân 719, QLVNCH chiếm được Tchepone, phá hủy được nhiều kho tàng và cơ sở vật chất của Cộng quân. Nhưng, không cắt được tuyến tiếp vận từ Bắc vào Nam là đường mòn Hồ Chí Minh. Thiệt hại của QLVNCH lại rất lớn. Trong quá trình rút lui, gần một nửa số xe tăng, xe bọc thép chở quân (APC), cùng với 54 khẩu pháo 105mm và 28 khẩu 155mm đã bị phá hủy hoặc bị chiếm mất. Lực lượng tinh nhuệ của VNCH là Sư đoàn nhảy dù, Biệt động quân đã bị thiệt hại nặng. Tháng 10-1971, Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ hai trong một cuộc bầu cử độc diễn.
VI. Chiến trường Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.
1. Ngày 17/2/72, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đến thăm Trung Quốc. Sau đó Trung Quốc và Mỹ ra Thông cáo chung Thượng Hải. Cuối tháng 3 năm 1972, Cộng quân tung ra một cuộc tiến công chiến lược với quy mô lớn, tiến sâu vào hệ thống phòng ngự của Việt Nam Cộng hòa trên ba hướng: Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Trong những ngày đầu, Cộng quân liên tiếp chọc thủng cả ba tuyến phòng ngự của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tại Bắc Tây Nguyên, ngày 24/3/1972, Cộng quân đánh chiếm được Đắc Tô - Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh của Quân lực Việt Nam Cộng hoà ở Bắc Tây Nguyên. Nhưng, bị chặn lại trong trận Kon Tum bởi quân Phòng thủ Việt Nam Cộng Hoà. Chiến sự mau chóng êm dịu trở lại.
Ngày 6/4/72, Tổng thống Mỹ Richard Nixon hạ lệnh ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam. Tại Đông Nam Bộ, ngày 7 tháng 4 năm 1972, Cộng quân đánh chiếm được Lộc Ninh. Các tiền đồn Thiện Ngôn, Katum, Bổ Túc, Bù Gia Mập lần lượt bị bức rút trước áp lực của đối phương. Trên đà thắng thế Cộng quân bao vây và tấn công thị xã An Lộc. Tại đây, gặp phải sức kháng cự quyết liệt của quân Việt Nam Cộng hoà phòng thủ thị xã. Không quân Mỹ sử dụng B 52 liện tục ném bom rãi thảm vào các khu vực tập kết, gây thiệt hại lớn cho đối phương. Cuối cùng, Cộng quân phải rút lui.
2. Tại chiến trường Trị Thiên, Cộng quân đánh chiếm được nhiều cứ điểm phòng thủ từ xa của Quảng Trị kể cả Cứ điểm Tân Lâm, nơi Bộ Chỉ huy Trung đoàn 56, Sư đoàn 3 Bộ binh do Trúng tá Phạm Văn Đính làm Trung đoàn trưởng đã phải buông súng đầu hàng. Cộng quân từng bước lấn chiếm, và cuối cùng phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng thủ Quảng Trị. Đến ngày 2/5/72, chỉ sau hơn một tháng tiến đánh, Cộng quân đã vào Thị xã chiếm Toà Hành chánh Tỉnh, Thành cổ Quảng Trị (nơi Sư đoàn 3 Bộ binh di chuyển từ Căn cứ Ái Tử vào, đặt Sở Chỉ huy) giành được quyền kiểm soát toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế.
Ngày 8 tháng 5 năm 1972, Không lực Hoa Kỳ, ném bom đánh phá miền Bắc trên diện rộng, bằng lực lượng không quân chiến lược, thả mìn ngư lôi phong toả cảng Hải Phòng cùng các cửa sông, lạch, trên vùng biển miền Bắc Việt Nam. Ngày 28/6/1972, Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) mở cuộc hành quân Lam Sơn 72, tái chiếm thị xã và thành cổ Quảng Trị. Với sự hỗ trợ máy bay B 52 của Mỹ, các Sư đoàn Dù, và Thuỷ quân Lục chiến quyết tâm tái chiếm cho bằng được Cổ thành Quảng Trị. Cộng quân cũng quyết tâm cố thủ Cổ thành. Chiến sự diễn ra cực kỳ ác liệt, thương vong hai bên rất lớn để tranh chấp từng mẩu đất nhỏ, không dân đã bị tàn phá hoàn toàn.
3. Sau 12 tuần lễ (81 ngày) liên tục tổng công kích với sự hỗ trợ hỏa lực tối đa của quân đội Hoa Kỳ, đến giữa đêm ngày 15 rạng ngày 16 tháng 9 năm 1972, lực lượng Thủy quân Lục chiến đã tiến vào thị xã Quảng Trị và kiểm soát toàn bộ khu vực Cổ Thành. Rạng sáng ngày 16 tháng 9 năm 1972, hai tiểu đoàn 3 và 6 Thủy quân Lục chiến từ các vị trí vừa chiếm được trong Cổ Thành, đã bung ra lục soát và đánh các chốt còn lại của quân Cộng sản. Đến 8 giờ sáng ngày 16 tháng 9 năm 1972, một toán Cọp Biển của tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến đã dựng cờ của Việt Nam Cộng hòa trên cổng tường phía Tây Cổ Thành Quảng Trị, biểu tượng cho việc Quân lực VNCH đã hoàn tất cuộc tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị.
Trong trận chiến này, Hoa Kỳ đã ném xuống Quảng Trị khoảng 328 nghìn tấn bom, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) năm 1945 và đã phá hủy hoàn toàn 1 vạn ngôi nhà và tòa Thành cổ. Báo Quân đội Nhân dân số ra ngày (18-8?)1972 viết: “Mỗi mét vuông đất tại Thành cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngày đêm, từ ngày 28-6 đến 16-9-1972, Thành cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn bom đạn. Trung bình mỗi chiến sĩ phải hứng lấy 100 quả bom, 200 quả đạn pháo. Mỗi ngày có 1 đại đội vượt dòng Thạch Hãn để tiếp viện quân số, nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn lại vài người sống sót”.
4. Từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 7 năm 2005, tại một cuộc Hội thảo “Hoài niệm về Chiến trường xưa và đồng đội” ở Quảng Trị, trong một Tham luận, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị viết: “Quảng Trị chính là hình ảnh thu nhỏ của cuộc kháng chiến đầy hy sinh gian khổ của cả dân tộc. Từ bãi biển Cửa Tùng đến tận biên giới Việt - Lào không nơi nào không có vết tích của bom đạn Mỹ tàn phá. Máu của hàng vạn người đã đổ trên quê hương Quảng Trị. Chỉ tính số liệt sĩ đã hy sinh và đang yên nghỉ ở 72 nghĩa trang liệt sĩ trong tỉnh Quảng Trị, đã lên tới gần 60 nghìn người. Trong 72 nghĩa trang liệt sĩ thì có hai nghĩa trang Quốc gia: Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, hơn 10 nghìn mộ liệt sĩ, và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường 9 cũng hơn 10 nghìn mộ. Có đến 18.484 liệt sĩ là con em của tỉnh Quảng Trị.
Chỉ trong cuộc chiến đấu 81 ngày đêm để giữ Thành Cổ Quảng Trị, 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, nhiều người mãi mãi nằm lại dưới đáy sông Thạch Hãn. Tính bình quân cứ 8 người dân Quảng Trị, lo một phần mộ liệt sĩ. Nói cách khác cứ 8 người dân Quảng Trị được sống trong thanh bình hôm nay, phải đổi bằng sinh mạng của một chiến sĩ. Ngày xưa Quảng Trị là “vùng đất lữa”, ngày nay Quảng Trị là vùng của “đất tâm linh”… ( Hết trích)
VII. Diễn biến Hoà hội và Hiệp định Paris 1973
1. Ngày 31/5/1971, tại cuộc họp riêng giữa Bộ trưởng Xuân Thủy và Kissinger ở Paris, phía Mỹ đưa ra đề nghị “Bảy điểm”, giải pháp cho toàn Đông Dương, tách hai vấn đề quân sự và vấn đề chính trị riêng ra. Ngày 26/6/71, Phái đoàn VNDCCH đưa ra đề nghị “Chín điểm”. Ngày 16-8-1971, phía Mỹ đưa ra đề nghị “Tám điểm”. Về cơ bản Mỹ vẫn giữ lập trường cũ: Không muốn giải quyết toàn bộ vấn đề mà chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự, lấy được tù binh. Ngày 25/1/72, Tổng thống Mỹ Nixon đơn phương công bố nội dung các cuộc gặp riêng và đề nghị “Tám điểm” đưa ra ngày 16 tháng 8 năm 1971. Ngày 31/1/72, Phái đoàn VNDCCH công bố đề nghị “Chín điểm” đã trao cho ông Kissinger ngày 26 tháng 6 năm 1971 tố cáo Nhà Trắng vi phạm thỏa thuận giữa hai bên không công bố các nội dung cuộc họp riêng.
Ngày 24/3/1972, Tổng thống Nixon tuyên bố hoãn vô thời hạn các phiên họp công khai Hội nghị Paris về Việt Nam. Ngày 13/7/72, Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể bốn bên tại Paris. Ngày 11/9/72, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gợi ý rằng họ có thể sẽ chấp nhận một cuộc ngừng bắn tại Nam Việt Nam. Ngày 12/10/72, Kissinger và Lê Đức Thọ đi đến một bản nháp hiệp định gồm 9 điểm, đã tạo được một bước đột phá lớn. Bản nháp hiệp định đã tách các vấn đề quân sự khỏi các vấn đề chính trị. Nó cho phép một cuộc ngừng bắn tại chỗ, sự rút quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài về nước, sự trao trả tù binh Mỹ trong vòng 60 ngày, và thiết lập một quy trình mơ hồ mà người Việt Nam sau đó sẽ tự quyết định tương lai của mình.
2. Theo đó, chính quyền Việt Nam Cộng hoà của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hoà bình; Cộng sản miền Nam có một vị thế chính thức tại Nam Việt Nam; Theo Hà Nội, bản Dự thảo này đáp ứng được yêu cầu của Hoa Kỳ là ra đi trong danh dự, và đáp ứng được các yêu cầu của Hà Nội là bước một đánh cho “Mỹ cút” để tiến đến bước hai đánh cho “Nguỵ nhào”. Ngày 13-16/10/72, Tổng thống thống Rechard Nixon cử Kissinger đến Sài Gòn thuyết phục Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 18-23/10/72, Kissinger đến Sài Gòn gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tổng thống Thiệu không tỏ thái độ mà chỉ yêu cầu làm rõ và so sánh giữa hai bản tiếng Việt và tiếng Anh.
Ngày 23/10/72, tại cuộc gặp lần thứ năm, Tổng thống Thiệu đã tuyên bố chính thức các đánh giá của mình: ông phản đối kịch liệt bản dự thảo 9 điểm coi đây là hiệp định hy sinh quyền lợi của Việt Nam Cộng hoà, ông đòi quân đội Bắc Việt Nam phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, thiết lập vùng phi quân sự làm biên giới với miền Bắc. Ông Thiệu coi giải pháp Hội đồng hiệp thương là một hình thức chính phủ liên bang trá hình. Tổng thống Thiệu lên đài truyền hình tuyên bố bác bỏ nguyên tắc một nước Việt Nam thống nhất: "Bắc Việt Nam là Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam là Nam Việt Nam, mọi người phải chấp nhận thực tế là tồn tại hai nước Việt Nam, không bên nào được xâm lược bên nào".
3. Nixon gửi thông điệp cho Hà Nội nói rằng do các khó khăn với Sài Gòn, việc ký kết vào ngày 31 là không thể thực hiện, và đề nghị một vòng đàm phán mới. Ngày 25/10/72, được báo bởi việc Nixon rút lui khỏi ký kết và bởi phản đối của Thiệu, Hà Nội công bố tóm tắt nội dung bản dự thảo và cảnh báo về các hậu quả nghiêm trọng nếu Mỹ không ký kết vào ngày 31 tháng 10. Ngày 2/11/72, Nixon tuyên bố trên truyền hình rằng dự thảo còn có những phần "mập mờ" cần làm rõ trước khi ký kết bản hiệp định cuối cùng. Ông quyết định sẽ thỏa mãn mọi ngờ vực của Thiệu về vấn đề chủ quyền, và chỉ thị Kissinger tìm kiếm một nhượng bộ về khu phi quân sự, và nếu đạt được điều đó thì họ sẽ ép Thiệu ký.
Ngày 20-25/11/72, Kissinger quay lại Paris. Hai bên đi đến được đồng thuận về ngôn ngữ khẳng định rằng khu vực phi quân sự là đường phân chia chính trị khu vực. Ngày 29/11/72, Nguyễn Phú Đức, đặc phái viên của Thiệu, bay đến Washington D.C. báo với Nixon rằng nhượng bộ của Hà Nội là chưa đủ. Tổng thống Nixon vẫn chưa yên tâm về vấn đề quân đội Bắc Việt, và khu phi quân sự, và yêu cầu Kissinger đưa vấn đề này ra bàn lại tại Paris. Ngày 4-13/12/72, đàm phán tiếp tục tại Paris suôn sẻ cho đến khi phía Mỹ một lần nữa lật lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ thể là vấn đề quân đội Bắc Việt hiện diện tại Nam Việt Nam, và nêu vấn đề khu phi quân sự.
4. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản ứng, bằng cách thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước đó và đưa ra đòi hỏi mới, trong đó có việc lật lại vấn đề cơ bản về trao trả tù binh Mỹ hồi tháng 10/72, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đồng ý trao trả tù binh Mỹ vô điều kiện trong vòng 60 ngày. Nay lại muốn gắn việc trao trả tù binh với việc thả hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam. Tổng thống Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán. Ngày 14/12/72, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: trong 72 giờ đồng hồ để quay lại ký theo phương án Hoa Kỳ đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam. Không được Hà Nội phản hồi.
Ngày 18/12/72, Hoa Kỳ bắt đầu cho máy bay B 52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác, sau nầy gọi là Chiến dịch Linebacker II. Ngày 22 tháng 12, Hoa Kỳ gửi công hàm yêu cầu họp lại. Ngày 26/12, Việt Nam yêu cầu Mỹ trở lại tình hình trước ngày 18/12, tức ngưng ném bom, mới trở lại đàm phán. Ngày 30/12/72, Không lực Hoa Kỳ ngưng ném bom Hà Nội, Hải Phòng. Ngày 8/1/1973, nối lại đàm phán lúc 11 giờ trưa tại ngôi nhà ở Gif-sur-Yvette. Ngày 13/1/1973, trong cuộc gặp riêng lần cuối cùng hoàn thành hiệp định. Ngày 16/1/1973, Nixon cử Đại tướng Haig phụ tá Kissinger đến Sài Gòn gặp Tổng thống Thiệu, và trao cho Nguyễn Văn Thiệu bức thư của Nixon, trong thư có đoạn:
5. "Vì vậy chúng tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt Hiệp định ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần thiết, chúng tôi sẽ làm như thế một mình. Trong trường hợp đó, tôi phải giải thích công khai rằng Chính phủ của ông cản trở hoà bình. Kết quả là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức của viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự sắp xếp lại Chính quyền của ông cũng chẳng thay đổi được tình hình". Trước sức ép của Mỹ, Việt Nam Cộng hòa cuối cùng phải chấp nhận ký kết hiệp định.
Ngày 27 tháng giêng năm 1973, tại Khách sạn Majestic, Paris, trước sự hiện diện của Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, Các bên tham dự Hội nghị Paris về Việt Nam, đồng thoả thuận chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, và quyền tự quyết của nhân dân miền miền Nam Việt Nam, góp phần cũng cố hoà bình ở châu Á và thế giới. Hiệp định được ký bởi: Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, William P. Rogers, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà Trần Văn Lắm; Và, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà hoà miền Nam Việt Nam, Nguyễn Thị Bình.
VIII. Nội dung Hiệp định Paris 1973
1. Nội dung Hiệp định có 9 Chương, và 23 Điều: Chương 1: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam (Điều 1); Chương 2: Chấm dứt chiến sự, rút quân, (Điều 2, 3, 4, 5, 6 và 7); Chương 3: Việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt, và nhân viên dân sự và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ (Điều 8); Chương 4: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam (Điều 9, 10, 11, 12, 13, và 14); Chương 5: Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam (Điều 15); Chương 6: Các Ban Liên hợp Quân sự, Uỷ ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát, Hội nghị Quốc tế (Điều 16, 17, 18, và 19); Chương 7: Đối với Campuchia và Lào (Điều 20); Chương 8: Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ (Điều 21, và 22); Chương 9: Những điều khoản khác (Điều 23).
Điều 1: Hoa kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận. Điều 2: Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ hai mươi bốn giờ (giờ GMT) ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba. Cùng ngày giờ nói trên, Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa kỳ chống lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới, và sẽ chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hoa kỳ sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam ngay sau khi Hiệp định này có hiệu lực. Việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là vững chắc và không thời hạn.
Điều 3: Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc. Bắt đầu từ khi ngừng bắn: a) Các lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa kỳ và của Việt Nam Cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều 16 sẽ quy định những thể thức. b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân. c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hoạt động tấn công nhau và triệt để tuân theo những điều quy định sau đây: - Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển; - Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên.
Điều 4: Hoa kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Điều 5: Trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a). Cố vấn của các nước nói trên cho tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát cũng sẽ rút trong thời hạn đó. Điều 6: Việc huỷ bỏ tất cả căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa kỳ và của các nước khác đã nói ở điều 3 (a) sẽ được hoàn thành trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này.
Điều 7: Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến khi thành lập chính phủ nói ở điều 9 (b) và điều 14 của Hiệp định này, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỷ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. Hai bên miền Nam Việt Nam được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự giám sát của Ban liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát.
Điều 8: a) Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài bị bắt nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này. b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và bảo quản mồ mả của những người chết, nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt và có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người còn coi là mất tích trong chiến đấu. c) Vấn đề trao trả các nhân viên quân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ so hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của điều 21 (b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày hai mươi tháng bảy năm một nghìn chín trăm năm mươi tư. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm việc đó trên tinh thần hòa giải và hoà hợp dân tộc, nhầm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắn hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực.
Điều 9: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Hoa kỳ cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam sau đây: a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế. c) Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào đối với miền Nam Việt Nam.
Điều 10: Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hoà bình ở miền Nam Việt Nam giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực. Điều 11: Ngay sau khi ngừng bắn hai bên miền Nam Việt Nam sẽ: - Thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia; - Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.
Điều 12: a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lâp Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương về việc thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ kí một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và sẽ làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hoà bình, độc lập và dân chủ. b) Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hoà giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong điều 9 (b) và quy định thủ tục và thể thức của cuộc tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thương mà thoã thuận. Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phương theo như hai bên miền Nam Việt Nam thoả thuận.
Điều 13: Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có các biện pháp giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành việc đó càng sớm càng tốt.
Điều 14: Miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỷ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói trong điều 9 (b)
Điều 15: Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam Việt Nam thoả thuận. Trong khi chờ đợi thống nhất: a) Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không phải là một ranh giới về chính trị hoặc về lãnh thổ, như quy định trong đoạn 6 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ ne vơ năm 1954. b) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời. c) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lặp lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng, có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. d) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Việt Nam quy định.
Điều 16 :a) Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp định này: - Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; - Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này; - Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam; - Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và quân đội của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a); - Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a); - Điều 8 (a) về việc trao trả các nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt; - Điều 8 (b) về việc các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu. b) Ban liên hợp quân sự bốn bên sẽ làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát. c) Ban liên hợp quân sự bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký kết Hiệp định này và chấm dứt hoạt động trong thời hạn sáu mươi ngày, sau khi việc rút quân của Hoa kỳ và quân của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a) và việc trao trả nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt đã hoàn thành. d) Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về tổ chức, thể thức làm việc, phương tiện hoạt động và chi phí của Ban liên hợp quân sự bốn bên.
Điều 17: a) Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban liên hợp quân sự hai bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp định này: - Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; - Điều 3 (b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam; - Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; - Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tất cả những điều khoản khác của điều này. - Điều 8 (c) về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam. - Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên số quân đã giảm. b) Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát. c) Sau khi Hiệp định này được ký kết, Ban liên hợp quân sự hai bên sẽ thoả thuận ngay những biện pháp và tổ chức nhằm thực hiện ngừng bắn và giữ gìn hoà bình ở miền Nam Việt Nam.
Điều 18: a) Sau khi kí kết Hiệp định này, thành lập ngay Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát. b) Cho đến khi Hội nghị quốc tế nói ở điều 19 có những sắp xếp dứt khoát, Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với bốn bên những vấn đề kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều khoản sau đây của Hiệp định này: - Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; - Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này; - Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam; - Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa kỳ và quân đội của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a); - Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a); - Điều 8 (a) về việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt. Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát lập những tổ kiểm soát để làm những nhiệm vụ của mình. Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Các bên sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó. c) Cho đến khi Hội nghị quốc tế có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Nam những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều khoản sau đây của Hiệp định này: - Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; - Điều 3 (b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam; - Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; - Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tất cả các điều khoản khác của điều này; - Điều 8 (c) về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam; - Điều 9 (b) về tổng tuyển cử tự do và dân chủ ở miền Nam Việt Nam; - Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên số quân đã giảm. Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thoả thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó. d) Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ gồm đại diện của bốn nước: Ba lan, Canada, Hungari, Inđônêxia. Các thành viên của Uỷ ban quốc tế sẽ luân phiên làm Chủ tịch trong từng thời gian do Uỷ ban quốc tế quy định. e) Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành nhiệm vụ của mình theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam. f) Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. g) Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực ở Việt Nam. Đối với các điều khoản liên quan đến bốn bên nói trong điều 18 (b), Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình khi nhiệm vụ kiểm soát và giám sát của Ủy ban đối với các điều khoản đó đã hoàn thành. Đối với các điều khoản liên quan đến hai bên miền Nam Việt Nam nói ở điều 18 (c), Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói ở điều 9 (b). h) Bốn bên thoả thuận ngay về tổ chức, phương tiện hoạt động và chi phí của Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát. Mối quan hệ giữa Ủy ban quốc tế và Hội nghị quốc tế sẽ do Uỷ ban quốc tế và Hội nghị quốc tế thoả thuận.
Điều 19: Các bên thoả thuận về việc triệu tập một Hội nghị quốc tế trong vòng ba mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết; bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hoà bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam; góp phần vào hoà bình và bảo đảm hoà bình ở Đông dương. Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hoa kỳ, thay mặt các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam, sẽ đề nghị các bên sau đây tham gia Hội nghị quốc tế này: Cộng hòa nhân dân Trung hoa, Cộng hoà Pháp, Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa xô viết, Liên hiệp Vương quốc Anh, bốn nước trong Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát và Tổng thư ký liên hợp quốc, cùng với các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam.
Điều 20: a) Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam phải triệt để tôn trọng Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Campuchia và Hiệp định Giơ ne vơ năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Campuchia và nhân dân Lào: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước đó. Các bên phải tôn trọng nền trung lập của Campuchia và Lào. Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam cam kết không dùng lãnh thổ của Campuchia và lãnh thổ của Lào để xâm phạm chủ quyền và an ninh của nhau và của các nước khác. b) Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở Campuchia và Lào, rút hết và không đưa trở lại vào hai nước đó quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. c) Công việc nội bộ của Campuchia và Lào phải do nhân dân mỗi nước này giải quyết không có sự can thiệp của nước ngoài. d) Những vấn đề liên quan giữa các nước Đông dương sẽ do các bên Đông dương giải quyết, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệt vào công việc nội bộ của nhau.
Điều 21: Hoa kỳ mong rằng Hiệp định này sẽ mang lại một thời kỳ hoà giải với Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng như với tất cả các dân tộc ở Đông dương. Theo chính sách truyền thống của mình, Hoa kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam dân chủ cộng hoà và toàn Đông dương.
Điều 22: Việc chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam và việc thực hiện triệt để Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hoa kỳ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, những việc đó sẽ bảo đảm hoà bình vững chắc ở Việt Nam và góp phần giữ gìn hoà bình lâu dài ở Đông dương và Đông nam Á.
Điều 23: Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam sẽ có hiệu lực khi văn kiện này được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Hoa kỳ ký và khi một văn kiện cùng nội dung được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Hoa kỳ và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam cộng hoà ký. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành triệt để Hiệp định này và các Nghị định thư của Hiệp định.
Làm tại Pari ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba bằng tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh đều là những bản chính thức và có giá trị như nhau.
IX. Những năm sau Hiệp định Paris: 1973 - 1975.
1. Dù Hiệp định Paris đã được ký kết, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn kiên trì chính sách “4 không”: không chấp nhận; không thương lượng; không liên hiệp; không nhượng đất cho Cộng sản. Ông chủ trương "tràn ngập lãnh thổ" bằng cờ Việt Nam Cộng hòa để lấn thêm lãnh thổ, giành thêm dân. Chỉ trong đêm 27 tháng 1 rạng ngày 28 tháng 1 năm 1973, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện 15 cuộc hành quân “lấn chiếm” từ cấp tiểu đoàn trở lên và 19 cuộc hành quân cấp tiểu khu và chi khu. Lấn được xã nào, ấp nào, Việt Nam Cộng hòa đều cho vẽ cờ trên tường nhà dân, mặt tiền đình chợ, quán xá, để "đánh dấu" vùng "quốc gia kiểm soát".
Chỉ được một vài tháng đầu năm 1973 là có các tiếp xúc, binh sĩ hai bên được phép gặp mặt với nhau, nhưng sau đó là thời gian hai bên liên tục lên án nhau phá hoại hiệp định và đánh lấn chiếm vùng kiểm soát của nhau, dù ở quy mô nhỏ. Quân đội Việt Nam Cộng hoà, không đủ sức để đánh lớn và quân Giải phóng cũng không có chủ trương đánh lớn vào thời điểm nầy. Tháng 1 năm 1974, sau một trận hải chiến ngắn ngủi, Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa, Hạm đội 7 của Mỹ cũng không có động thái nào trợ giúp Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa khi được đề nghị. Sau đó, Quân đội Việt Nam Cộng hoà cũng không có kế hoạch phản công nhằm chiếm lại đảo.
2. Những năm 1973-1975, là giai đoạn kết thúc chiến tranh, cũng là lúc quân Mỹ rút hết ra khỏi Việt Nam, cùng với viện trợ Mỹ từng bước bị cắt giảm. Viện trợ cho Việt Nam Cộng hoà trong tài khóa 1974-1975 dù được Tổng thống Nixon đề xuất 1 tỷ đôla nhưng khi đưa ra Quốc hội xét duyệt, khoản viện trợ này bị cắt giảm chỉ còn 700 triệu. Quóc hội Mỹ còn đưa ra điều kiện Việt Nam Cộng hòa không được dùng Quỹ đối giá (tiền thu Viện Trợ Nhập Cảng (CIP) bù cho chi ngân sách) cho ngân sách Quốc phòng. Với một đội quân có thói quen chiến đấu theo kiểu Mỹ, tác chiến không tiếc bom đạn thì số tiền này vẫn là thiếu.
Quân đọi Việt Nam Cộng hoà ngày càng gặp khó khăn, tuy phương tiện chiến tranh còn nhiều trong kho, nhưng họ hạn chế về tài chính nên không thể duy trì được trang thiết bị trong tư thế sẵn sàng sử dụng. Tuy hơn hẳn đối phương về không quân, nhưng vì thiếu kinh phí nên chỉ phát huy non một nửa uy lực. So với đối thủ là Quân Giải phóng về quân số, trang bị hạng nặng như xe tăng, máy bay..., thì Việt Nam Cộng hòa vẫn có ưu thế 2 lần về quân số, 4 lần về xe tăng và pháo binh hơn hàng chục lần về Không quân và Hải quân. Nhưng về sức chiến đấu trên thực tế của hai bên trên chiến trường, thì ưu thế đã nghiêng dần sang phía Quân Giải phóng.
3. Việc họ nhanh chóng đè bẹp quân đội Việt Nam Cộng hòa trong những tháng cuối năm 1974, và chiến dịch mùa Xuân năm 1975 là phản ánh đúng cán cân lực lượng thực tế giữa hai bên. Tháng 5 năm 1974, tại Vùng 1, Quân khu I, Quân Giải phóng đưa một sư đoàn đến đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng Nam. Quân lực Việt Nam Cộng hoà liền điều Sư đoàn Dù tổng trù bị chiến lược đến tái chiếm. Hai bên đánh nhau ác liệt trong vòng 3 tháng; kết quả quân Giải phóng vẫn giữ vững và kiểm soát hoàn toàn chi khu Thượng Đức và Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị buộc phải rút lui.
Ngày 13 tháng 12 năm 1974, tại Vùng III, Quân khu III, Cộng quân tấn công quận lỵ Đôn Luân, bị quân trú phòng đẩy lui. Nhưng cuộc tấn công kế tiếp thì Đôn Luân thất thủ, tiếp theo là quận Bố Đức và các nơi khác trong tỉnh Phước Long và đường 14 đồng loạt bị tấn công. Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III/Quân Khu III, xin Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tăng cường lực lượng tổng trừ bị để giải toả Phước Long, nhưng Thổng thống Thiệu không chấp thuận, Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức. Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Tướng Nguyễn Văn Toàn được cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn III thay thế tướng Đống. Ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long kể cả Tỉnh lỵ đều rơi vào tay Cộng quân.
4. Khoảng 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, Cộng quân tấn công vào Thị xã Ban Mê Thuột, sân bay Hòa Bình, khu kho Mai Hắc Đế, khu hậu cứ của trung đoàn 53. Đến cuối ngày 10/3/75, thì toàn bộ Thị xã, Bộ chỉ huy Tiểu khu Darlac, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 BB đều bị thất thủ, Đại tá Nguyễn Trọng Luật Tỉnh trưởng và Tiểu khu trưởng Darlac, Đại tá Vũ Thế Quang, Sư đoàn phó Sư đoàn 23, thoát được ra ngoài nhưng sau đó bị Cộng quân bắt. Những nỗ lực tái chiếm Buôn Ma Thuột của Quân lực Việt Nam Cộng hoà (QLVNCH) trong các trận phản công ngày 11 và 12 tháng 3 đều thất bại.
Sách Việt Nam Nhân Chứng, Trần Văn Đôn viết: Ngày 12 tháng 03 năm 1975, vì có tin đồn bỏ Huế, Tướng Ngô Quang Trưởng ra Huế họp Hội Đồng Thành Phố, tuyên bố cương quyết giữ Huế. Ngày 13 tháng 03 năm 1975, Tướng Trưởng vào Sài Gòn gặp Tổng Thống Thiệu. Trong phiên họp tại Phòng Hành Quân ở dinh Độc Lập, gồm Đại Tướng Trần Thiện Khiêm Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng, Đại Tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng và Trung Tướng Đặng Văn Quang Phụ Tá Quân sự của Tổng Thống. Tổng thống Thiệu lấy cây viết gạch trên bản đồ Việt Nam xóa vùng Cao Nguyên và vùng Miền Trung.
5. Rồi, vẽ một đường từ Ban Mê Thuột đến Nha Trang, và nói, chúng mình sẽ giữ phần đất dưới đường nầy. Còn từ Đèo Cả trở ra Quảng Trị là phần đất dành cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông Thiệu nói với Ông Trưởng: Đây là chỉ thị của tôi, phải thi hành nhưng đừng có nói lại cho ai! Xong hội nghị, Trung Tướng Trưởng theo Đại Tướng Cao Văn Viên về văn phòng để trình bày thêm về vấn đề vừa rồi. Tai đây ông Trưởng nói: Tôi không thể thi hành lệnh vừa rồi của Tổng Thống vì tôi đã hứa với đồng bào Huế tôi sẽ giữ Huế. Tôi xin Đại Tướng chỉ định một tướng khác để làm việc đó.
Đại Tướng Viên nói việc đó ngoài thẩm quyền của ông ta, và đề nghị ông Trưởng nên trình lại cho Tổng Thống vào ngày sau, là 14 tháng 03 năm 1975, tại cuộc họp ở Cam Ranh. Trung Tướng Trưởng điện thoại cho Đại Tá Cầm, Chánh Văn Phòng Tổng Thống xin được đến Cam Ranh sáng hôm sau để gặp Tổng Thống. Trước khi từ giã Đại Tướng Cao Văn Viên, ông Trưởng nói: Nếu được, xin Đại Tướng trình lên Tổng Thống rằng tôi không thể thi hành vì tôi coi như ruột thịt với đồng bào xứ Huế sau tám năm sống với họ. Tôi không thể bỏ người Huế, nhất là gia đình quân nhân. Ông Trưởng trở ra Huế chờ điện thoại của Đại Tá Cầm nhưng không có, nên ngày 14/3 không thể vào Cam Ranh gặp ông Thiệu.
6. Ngày 14 tháng 03 năm 1975, ông Thiệu họp với Tư Lệnh Quân Đoàn II, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Thủ Tướng Trần Thiện khiêm, Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Tướng Đặng Văn Quang cùng các sĩ quan tùy viên tại Nhà Trắng ở Cam Ranh. Có lời đồn rằng ông Thiệu ra lịnh rút quân khỏi Cao Nguyên, nhưng tôi phối kiểm lại thì trong phiên họp nầy ông Thiệu ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải lấy lại Ban Mê Thuột. Tướng Phú xin thêm quân thì ông Viên nói: Tôi hết quân trừ bị để cấp cho anh. Tôi chỉ có phương tiện để yểm trợ hành quân mà thôi. Vậy thì lấy quân ở đâu? Họ bàn nhau chỉnh đốn lại quân ngũ của Quân Đoàn II, và lập một đoàn quân đặc nhiệm chiếm lại Ban Mê Thuột.
Vô chi tiết ông Thiệu hỏi Tướng Phú: Anh sẽ đi đường nào để đánh lấy lại Ban Mê Thuột? Ông Phú nói: Đường 14 đi thẳng từ Pleiku lên Ban Mê Thuột chắc chắn sẽ bị phục kích, đường 19 từ Pleiku đi Qui Nhơn cũng không được. Chỉ còn đường số 7 từ Củng Sơn đi Tuy Hòa và Nha Trang rồi đánh lên Ban Mê Thuột, nhưng đường số 7 là đường xấu ít khi sử dụng nên cần có phương tiện phá mìn và vượt sông. Tướng Viên chấp thuận: Tôi sẽ cấp công binh vượt sông, có máy bay yểm trợ để di chuyển quân, ngoài ra không còn gì hết.
7. Tướng Phú xin thăng cấp cho Đại Tá Hoàng Văn Tất lên Chuẩn Tướng để chỉ huy đoàn quân đó. Ông Thiệu xoay qua hỏi ý kiến ông Viên, ông Viên đồng ý: Được, không có gì trở ngại. Ông Thiệu nói: Cho mang một sao để đủ uy tín chỉ huy đoàn quân. Sau đó, Tướng Phú bay về Pleiku, họp lại các sĩ quan tham mưu gồm có các Đại Tá Lý, Tất, Sang, Tường, Cẩm và cho biết: Tổng Thống Thiệu ra lịnh rút khỏi Pleiku, đem tất cả lực lượng về Nha Trang để từ đó đánh lên Ban Mê Thuột. Tướng Phú ra lịnh cho Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II nội trong ba ngày phải chuyển mọi cơ cấu về Nha Trang để Tướng Phú tổ chức, chỉ huy tái chiếm Ban Mê Thuột.
Bộ chỉ huy nhẹ đi trước, bộ tham mưu đi sau. Tất cả mọi cơ cấu của Quân Đoàn rất qui mô không thể nào thu xếp trong ba ngày mà rút hết được. Việc làm gấp rút hối hả nầy làm náo động dân chúng Pleiku vì vợ con quân nhân vội vàng rút theo chồng thì dân chúng cũng thu xếp ít vật dụng của cải để chạy theo đoàn quân di tản. Trên đường từ Pleiku rút về Nha Trang cũng bị Việt Cộng phục kích. Thật ra các cuộc phục kích nầy không qui mô, nhưng vì binh sĩ mất tinh thần, phần thì gia đình bận bịu nên bỏ chạy nhiều hơn là chiến đấu. Đến Tuy Hòa thì đoàn quân đã tan rã nhiều, vào đến Nha Trang chẳng còn quân ngũ nữa! Kế hoạch tái chiếm Ba Mê Thuột trở thành bất khả thi.
8. Ngày 15 tháng 03 năm 1975, Trung Tướng Trưởng vô Sài Gòn gặp lại Tổng Thống và xin từ chức hoặc xin giữ Huế vì có đủ phương tiện giữ Huế. Ông Thiệu trả lời: Thôi thì giữ Huế! Trung Tướng Trưởng qua gặp Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Trưởng Quốc Phòng và cho biết quyết định chót của Tổng Thống về Huế và sẵn hỏi: Phải chăng có lệnh rút Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra khỏi Miền Trung? Đại Tướng Khiêm nói: Thằng Trưởng Phòng 3 Tổng Tham Mưu leak rồi! Đúng! Chiều đó Trung Tướng Trưởng trở ra Đà Nẵng để trình bày cho Bộ Tham Mưu dầu có lệnh của Tổng Thống đừng có nói cho ai! Nhưng, chiều tối có một phái viên của Đại Tướng Cao Văn Viên trao cho Trung Tướng Trưởng một văn thư khẩn đại ý thừa lệnh Tổng Thống bỏ Huế.
Trung Tướng Trưởng điên đầu vì trong một ngày tại Sài Gòn Tổng Thống đồng ý giữ Huế, tại Đà Nẵng thì có văn thư ra lệnh phải bỏ Huế! Ông Trưởng điện thoại vô Sài Gòn để hỏi lại chỉ thị đó là của Tổng Thống hay của Đại Tướng Thủ Tướng, nhưng chỉ gặp Thủ Tướng, ông xin Đại Tướng Khiêm ra Đà Nẵng để giải quyết vụ này, vì tin bỏ Cao Nguyên làm cho dân Miền Trung rất hoang mang lo sợ. Ngày 16 tháng 03 năm 1975, Đài BBC loan tin quân đội Việt Nam Cộng Hòa bỏ Cao Nguyên. Ngày 18 tháng 03 năm 1975, Thủ Tướng và phái đoàn chính phủ ra Đà Nẵng, sau khi họp cho phép gia đình công chức được tản cư vào Nam. Chỉ thị nầy được lan ra ngoài làm cho tất cả dân Miền Trung hoảng hốt.
9. Chiều ngày 18/3 đó ông Thiệu điện thoại cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: Tôi đã suy nghĩ kỹ, Cụ Hương là người không rành về quân sự mà cũng nói nếu chúng ta quyết giữ Huế thì phải hy sinh 30.000 quân. Thôi bỏ Huế, đừng có đánh! Tướng Trưởng chưa ra lệnh rút lui, nhưng Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Tiền Phương phụ trách phía Bắc đèo Hải Vân đã di tản rồi. Quân đội bỏ Huế. Thủy Quân Lục Chiến rút lui. Ngày 26 tháng 3 Cộng quân tiến vào thành phố Huế. Sư đoàn I Bộ binh thu quân về Đà Nẳng. Những ngày nầy, sườn phía Tây do Sư doàn 3 Bộ binh trấn giữ cũng đang bị chọc thủng. Về phía Nam hai tỉnh Quảng Ngải và Quảng Tín do Sư đoàn 2 Bộ binh cũng đang lui quân về hướng Đà Nẳng.
Vậy là, một cảnh hỗn loạn nối tiếp diễn ra, Quân lính và dân chúng tranh nhau để lên được tàu hải quân với mong muốn chạy khỏi thành phố. Ngày 29 tháng 3, Cộng quân tiến vào Đà Nẳng mà không có kháng cự đáng kể. Hàng ngàn binh lính và sĩ quan bị bắt. Tối 29 tháng 03 năm 1975, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tướng Bùi Thế Lân, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và một số sĩ quan còn nằm ở Sơn Trà trong khi quân Bắc Việt đã chiếm Đà Nẵng. Sĩ quan tùy viên của ông Hồ Văn Kỳ Thoại, người giữ mật mã để liên lạc với tàu, hôm ấy bị đau nên được cho đi trước, ông Thoại ở lại chờ Tướng Bùi Thế Lân cùng đi. Hai ông phải đi bộ qua rừng núi tìm tàu của Hồ Văn Kỳ Tường (em ruột ông Thoại), chỉ huy trưởng Hải Khu Đà Nẵng đang đậu ngoài khơi.
10. Nhưng hai tướng Thoại và Lân không có mật mã nên không liên lạc được với tàu (vì sĩ quan tùy viên mang mật mã đã đi trước rồi). May mắn là một lúc sau có ca nô của Hồ Văn Kỳ Tường vào “chạy dọc bờ tìm” nên ghé vào vớt được hai tướng Thoại và Lân ra tàu. Trong hai tuần đầu tháng 4 kế tiếp, các tỉnh, thành phố miền trung lần lượt rơi vào tay Cộng quân. Họ từ phía Bắc tràn vào, và từ Tây nguyên tràn xuống. Quân lực Việt Nam Cộng hoà tập hợp số quân còn lại của Quân đoàn 2 tăng cường cho Quân đoàn 3 để lập một phòng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang (Hết trích)./.
4. CHÍNH PHỦ NGUYỄN BÁ CẨN:
14/4/1975 - 27/4/1975.
I. Bối cảnh thành lập.
Đầu tháng 4 năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu uỷ Dân biểu Nguyễn Bá Cẩn Chủ tịch Hạ viên thành lập Chính phủ thay thế Chính phủ Trần Thiện Khiêm từ chức. Ngày 14 tháng 4 năm 1974, Thủ tướng Cẩn trình diện Nội các lên Tổng thống Thiệu. Chính phủ mới mang tên "Chính phủ Đoàn kết Quốc gia".
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Nguyễn Bá Cẩn | Thủ tướng | Dân biểu |
2 | Trần Văn Đôn | Phó Thủ tướng Tổng Thanh tra kiêm Tổng trưởng Quốc phòng | Trung tướng |
3 | Dương Kích Nhưỡng | Phó Thủ tướng phụ trách Cứu trợ và Định cư | Kỹ sư |
4 | Nguyễn Văn Hảo | Phó Thủ tướng đặc trách Sản xuất Tổng trưởng Canh nông và Kỹ nghệ | Tiến sĩ |
5 | Nguyễn Xuân Phong | Quốc vụ khanh đặc trách Hòa đàm | |
6 | Phạm Thái | Quốc vụ khanh | Giáo sư |
7 | Lê Trọng Quát | Quốc vụ khanh | Luật sư |
8 | Vương Văn Bắc | Tổng trưởng Ngoại giao | Luật sư |
9 | Ngô Khắc Tịnh | Tổng trưởng Tư pháp | Nghị sĩ |
10 | Bửu Viên | Tổng trưởng Nội vụ | |
11 | Nguyễn Văn Diệp | Tổng trưởng Kinh tế | |
12 | Nguyễn Tiến Hưng | Tổng trưởng Kế hoạch | Tiến sĩ |
13 | Phan Hòa Hiệp | Tổng trưởng Thông tin Chiêu hồi | Chuẩ tướng |
14 | Tôn Thất Niệm | Tổng trưởng Y tế | Nghị sĩ |
15 | Huỳnh Đức Bửu | Tổng trưởng Cựu Chiến binh | Thẩm phán |
16 | Vũ Công | Tổng trưởng Lao động | Dân biểu |
17 | Trần Văn Mãi | Tổng trưởng Xã hội | |
18 | Nay Luett | Tổng trưởng Phát triển Sắc tộc | |
III. Sự kiện liên quan, việc đã làm
1. Sách Việt Nam Nhân Chứng, Trần Văn Đôn viết tiếp: Lúc Tổng thống Thiệu mời tôi nhận chức Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng trong chính phủ Nguyễn Bá Cẩn, tôi đề nghị phải có một chính phủ mạnh để nói chuyện với Hà Nội, rõ hơn thành lập một Nội các Liên hiệp. Tôi vừa nói đến đó thì ông Thiệu lắc đầu cho biết: một số nghị sĩ và ông Trần Văn Lắm Chủ tịch Thượng viện, vừa ký một quyết nghị yêu cầu tôi lập một chính phủ Liên hiệp. Mà liên hiệp thế nào? Bây giờ liên hiệp mình ở thế yếu. Năm 1973, mình ở thế mạnh hơn! Ông Thiệu rất ghét Liên hiệp, dù ông biết đó là giải pháp ôn hoà nhất, nhưng không chịu chấp nhận.
Trong ngày trình diện Nội các, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn nhờ tôi thuyết trình tình hình quân sự, tôi nhờ Chuẩn tướng Thọ, Trưởng phòng 3/ hành quân và Đại tá Lung trưởng Phòng 2/ tình báo Bộ Tổng Tham mưu thuyết trình tình hình quân sự, hai ông Thọ, Lung đã trình bày rất rõ ràng, mạch lạc. Sau đó, tôi đến Bộ Tổng Tham mưu họp tất cả các tướng lãnh mà nhiều năm qua không có một cuộc họp nào. Nhiều vị tướng nói, mấy năm nay không ai mời họp để cho biết tình hình chính trị và chỉ thị phải giữ đất nào; Nếu có đình chiến thì thi hành ra sao, giữ Quân khu nào, giải pháp tương lai chính trị miền Nam ra sao… Tôi yêu cầu các Tướng cố gắng kháng cự để giữ thế, giữ đất. Sau đó tôi đi thăm các chiến trường.
2. Tôi có sẵn hai phi cơ, một trực thăng và một Dakota để hàng ngày đi thăm anh em quân sĩ ở các chiến trường. Ngày 15/4/75, sau khi họp các tướng, tôi báo với Đại tướng Tổng Tham Mưu trưởng Cao Văn Viên, rằng tôi sẽ lên Bộ tư lệnh Quân đoàn III gặp Trung tướng Tư lệnh Nguyễn Văn Toàn để bàn chuyện phòng thủ Thủ đô. Được biết Tướng Toàn đang ở Phan Rang. Tôi bảo tôi sẽ ra Phan Rang gặp ông Toàn. Đến đó, bốn ông Tướng đón chúng tôi là Trung tướng Toàn, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Chuẩn tướng Sang và Chuẩn tướng Nhựt, cùng các Đại tá Nhảy dù, Biệt Động quân. Tất cả chúng tôi đến Phòng họp nghe họ thuyết trình, tôi ghi nhận vài thứ quận dụng mà họ đang rất cần. Khi rời Phan Rang, ông Toàn cùng về trên máy bay của tôi để chúng tôi cùng bàn kế hoạch phòng thủ Sài Gòn.
Về đến Sài Gòn tôi cho mời Thiếu tướng Smith, Tuỳ viên quân sự Mỹ đến gặp tôi tại Văn phòng Bộ Quốc phòng, tôi yêu cầu ông ta cung cấp cho tôi hoả đạn CBU, và vài thứ quân dụng mà quân đội Việt Nam đang rất cần. Tướng Smith cho biết những món nầy, trong kho của Mỹ tại VN hiện không còn, ông sẽ hỏi lại BTL Thái Bình Dương, những kho bên ngoài Việt Nam. Chiều 16/4/75, tôi gặp Tư lệnh không quân Trần Văn Minh bàn cách làm sao có được CBU để giúp các đơn vị đang chiến đấu, rồi bay xuống Long An, gặp Sư đoàn 2, ra Vũng Tàu gặp các cấp chỉ huy Quân đoàn 1 và 2. Ngày 17/4/75 tôi thăm Bộ Tư lệnh Hải Quân. Ngày 18/4/75, tôi bay xuống miền Tây gặp tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Hai, tướng Lạc, chỉ huy Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh.
3. Ngày 18/4 Phan Rang mất, Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị Việt Cộng bắt. Tối 19/4 Phan Thiết bị mất. Nỗ lực cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là trông vào tuyến phòng thủ của Quân đoàn III, nhất là Sư đoàn 18 tại thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Chính Sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo đã tổ chức, chống cự có hiệu quả dài ngày gây nhiều tổn thất cho ba sư đoàn Việt Cộng (Sư đoàn 6, 7, và 341 thuộc Quân đoàn 4 Cộng quân), khiến họ phải điều chỉnh hướng tiến quân bằng cách đi vòng đường khác để tiến về phía Biên Hoà. Sau 12 ngày cầm cự, từ 9 tháng 4 đến 21 tháng 4, Sư đoàn 18 của Quân lực Việt Nam Cộng hoà cũng phải bỏ Xuân Lộc rút lui có tổ chức về bên kia sông Đồng Nai cố thủ. Vậy là tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng bảo vệ Sài Gòn không còn.
Ngày 20/4/2020, lúc 10 giờ sáng Đại sứ Mỹ Martin đến gặp Tổng thống Thiệu tại dinh Độc lập báo cho ông Thiệu rõ tình hình, rằng muốn chận cuộc tiến công của Việt Cộng phải có một giải pháp chính trị cần phải nói chuyện với Hà Nội. Đại sứ Martin cũng cho biết Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ sẽ ngưng viện trợ nếu ông Thiệu còn tại chức. Ông Thiệu hỏi: Nếu tôi là trở ngại, vậy tôi từ chức, Quốc hội Hoa Kỳ có tiếp tục viện trợ cho miền Nam không? Nếu Tổng thống từ chức, Quốc hội Mỹ có thể viện trợ trở lại. Sau nầy Đại sứ Martin kể lại mẩu đối thoại giữa ông và Tổng thống Thiệu, rằng chính phủ Hoa Kỳ không đòi Tổng thống Thiệu từ chức, nhưng Tổng thống nên đề cử một ông Thủ tướng toàn quyền như Bảo Đại đã làm hồi 1954, để ông Thủ tướng đó thương thuyết với phía bên kia.
4. Ông Thiệu hỏi, theo ông ai có thể làm Thủ tướng toàn quyền. Martin trả lời Đại tướng Dương Văn Minh. Ông Thiệu im lặng không đáp. Sau nói chuyện với Đại sứ Martin, ông Thiệu biết mình phải ra đi. 10 giờ sáng ngày 21/4/75, Tổng thống Thiệu triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia gồm: Phó tổng thống Trần Văn Hương; Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn; Tổng Tham mưu trưởng, tướng Cao Văn Viên; Tổng Giám đốc Cảnh sát, tướng Nguyễn Khắc Bình; Tư lệnh Quân đoàn III, tướng Nguyễn Văn Toàn; Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, tướng Nguyễn Văn Minh; Phụ tá Quân sự, tướng Đặng Văn Quang. Tại phiên họp này, ông Thiệu tuyên bố sẽ từ chức, vì Quân đội định đảo chánh; và vì để Mỹ viện trợ lại cho miền Nam. Ông sẽ trao quyền cho Phó tổng thống như Hiến Pháp quy định.
Lúc 19 giờ cùng ngày 21/4/75, thành viên chính phủ, Lưỡng viên Quốc hội, Thẩm phán Tối cao Pháp viện được mời đến dinh Độc lập. Ông Thiệu trình bày diễn tiến từ Hiệp định Ba Lê 1973 đến chiến tranh leo thang năm 1974, việc mất tỉnh Phước Long, trận đánh Ban Mê Thuột, rồi mất miền Trung mà Quốc tế, và các siêu cường quốc ký bảo đảm Hiệp định Ba Lê vẫn im hơi lặng tiếng. Ông Thiệu lên án đồng minh Mỹ không giữ lời hứa. Sau cùng, ông Thiệu tuyên bố “Tôi đã quyết định từ chức Tổng thống”. Theo Hiến pháp, người thay thế tôi là Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Lúc đó, ông Hương đã 71 tuổi, lời tuyên bố của ông Hương ngắn gọn, ông “kêu gọi anh em giữ vững tay súng, ông sẽ đóng góp xương máu và chia xẽ với anh em ở chiến trường”.
5. Không khí buổi lễ thật buồn tẻ, mọi người ngồi nhìn ông Thiệu lúng túng trong điều hành buổi lễ, ông Hương lọm khọm nói năng không rõ ràng, mạch lạc. Mọi người buồn không phải sự ra đi của ông Thiệu, mà ai cũng thấy ông Hương không đủ khả năng lèo lái con thuyền Quốc gia đang cơn nghiêng ngữa. Sau lễ, ông Thiệu mời ông Viên và ông Bình vào Phòng bên cạnh để trực tiếp truyền hình lời Tổng Tham mưu trưởng nhắn gởi anh em quân nhân, và lời Tổng Giám đốc Cảnh sát kêu gọi anh em cảnh sát giữ vững tinh thần chiến đấu, rằng việc ông Thiệu từ chức Tổng thống không ảnh hưởng gì đến hệ thống điều hành của quân đội và Cảnh sát Việt Nam Cộng hoà.
Chiều thứ ba ngày 22/4, Cố vấn chính trị toà đại sứ Pháp Brochand đến nhà tôi. Tôi quen ông tại Câu lạc bộ thể thao. Ông ta nói với tôi là Pháp có liên lạc với Hà Nội, họ cho biết nếu có thương thuyết thì chỉ có thương thuyết với ông Dương Văn Minh mà thôi, Brochand nói tiếp, ông Dương Văn Minh cần sự hợp tác của ông Đôn. Tôi thoái thác: Lâu nay tôi không có gặp ông Minh, nếu ông Minh trở thành Quốc trưởng, tôi không phải là người tiếp xúc với ông ta. Trước khi ra về Brochand hỏi: Ông Minh gọi điện cho ông được không? Được. Mười phút sau ông Minh điện thoại cho tôi. Moa có thể gặp toa lúc nào, ở đâu? Tôi trả lời: Tối nay tôi dùng cơm tại nhà ông Nguyễn Văn Hảo, khoảng 10 giờ tối tôi ghé lại nhà anh.
6. Sau bửa cơm, tôi ra về ghé nhà ông Minh. Lâu quá không gặp nên chúng tôi bàn nhiều chuyện quốc phòng, chính trị…Tôi hỏi: Anh có thể thương thuyết với bên kia được không? Được, nhưng phải thật lẹ, nếu không chúng ta không có hy vọng. Sau nầy nhớ lại câu nói trên tôi phục ông Minh tiên liệu sự việc rất đúng. Ông Minh cho biết Hà Nội chờ ông Minh nắm quyền rồi sẽ thương thuyết. Ông Minh chưa tiếp xúc với Tổng thống Trần Văn Hương, vì ông Hương đã chậm chạp, lại không thích ông Minh nên kéo dài thời gian. Việc nầy rất bất lợi, nhất là vừa có tin Xuân Lộc thất thủ, Việt Cộng đang tiến vào vây thủ đô Sài Gòn. Ông Minh đề nghị, bây giờ chỉ có Mỹ nói ông Hương mới nghe. Tôi tán thành. Vậy mình phải làm cho lẹ.
Tôi đi thẳng tới nhà Đại sứ Martin, dù đã gần 12 giờ khuya tôi vẫn vào xin gặp. Đại sứ Martin mời tôi vô. Tôi vừa ngồi, thì tuỳ viên đến nói nhỏ bên tai ông Martin, ông ta xin lỗi tôi, đi vào phòng riêng khi đi ra ông nói, có một Phi cơ xin đáp xuống Phi trường Manila, họ nghi trên phi cơ có Tổng thống Thiệu nên họ điện thoại hỏi thử có đúng không? Hỏi lại thì biết ông ấy còn ở trong dinh Độc lập. Tôi xin lỗi ông Martin, vì tình hình bắt buộc nên tôi phải đến gặp ông ta khuya như vậy. Tôi cho biết, tôi vừa gặp ông Minh, nếu muốn thương thuyết với Hà Nội thì ông Minh phải có chức vụ mới được. Tôi yêu cầu ông Martin đề nghị ông Hương giao quyền cho ông Minh đứng ra thương thuyết. Martin hứa với tôi sẽ thuyết phục ông Hương.
7. Ngày 23/4/75, Nội các Nguyễn Bá Cẩn từ chức. 10 giờ ngày 24/4/75, ông Minh gặp Tổng thống Hương tại nhà ông Khiêm trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu. Trưa hôm đó, tôi đến nhà ông Khiêm, tại đây Bác sĩ Viên, Phó Thủ tướng Hảo, cho tôi biết cuộc gặp giữa ông Minh và ông Hương hồi sáng thất bại, ông Minh từ chối chức Thủ tướng, ông Minh muốn ông Hương giao chức Tổng thống để có toàn quyền nói chuyện với bên kia. Ông Hương trả lời, ông không có quyền, Quốc hội mới có quyền. Ông Khiêm nói: Nếu vậy thì anh Đôn nên nhận chức vụ Thủ tướng để thương thuyết. Tôi kể lại lời ông Brochand, Cố vấn chính trị toà Đại sứ Pháp là “Hà Nội cho biết họ chỉ nói chuyện với ông Minh mà thôi” như vậy thì đừng đưa tên ai khác làm gì.
Tôi đến thẳng toà Đại sứ Pháp, họ lập lại ý trên và cho biết thêm rằng họ chờ đến ngày chủ nhật 27/4 nếu không có gì tiến triển thì họ sẽ pháo kích vào Sài Gòn. Sợ đổ máu cho dân chúng đang sống dày đặc trong thủ đô, tôi hứa sẽ cố gắng dàn xếp để tìm giải pháp. Chiều 24/4 ông Khiêm điện thoại cho tôi biết ông Hương sẽ chỉ định ông Nguyễn Ngọc Huy làm Thủ tướng. Theo ông Khiêm ông Huy là người chống Cộng triệt để nên khó có thể hoà giải được. Tôi điện thoại cho ông Minh biết tin nầy, ông Minh mời tôi lại nhà bàn tính công việc. Ông Minh tha thiết muốn“ông Hương trao chức vụ lại để ông Minh thương thuyết gấp”. Tôi nghĩ nên có áp lực từ quân đội, tôi điện thoại mời ông Khiêm, ông Viên đến nhà ông Minh, nhưng hai ông ấy được ông Hương mời trước, nên họ đến dinh Độc lập.
8. Tôi vào dinh Độc lập (lúc 5 giờ 55 phút 24/4) gặp ông Nguyễn Ngọc Huy đang nói chuyện với ông Nguyễn Xuân Phong từ Pháp mới về. Thoáng thấy ông Đại sứ Martin từ phòng Tổng thống ra, tôi hỏi: Có phải Tổng thống Hương chỉ định ông Nguyễn Ngọc Huy làm Thủ tướng không? Đại sứ Martin trả lời việc đó không có! Trong lúc đó, ông Khiêm vào gặp ông Hương trở ra xác nhận với tôi một lần nữa là ông Hương sẽ chỉ định ông Huy làm Thủ tướng. Đến lượt ông Huy vào nói chuyện với ông Hương. Sau đó, tôi và Cao Văn Viên vào trình bày tình hình quân sự: Vòng đai Sài Gòn đang bị thu hẹp, đạn dược thiếu, tinh thần binh sĩ quá sa sút. Ông Hương nhìn ông Viên nói: ông sẽ là Tổng Tư lệnh, rằng ông Hương chia xẻ với số phận anh em quân nhân tại chiến trường.
8 giờ 30 sáng thứ sáu 25 tháng 4, ông Thiệu điện thoại muốn gặp tôi tại dinh Độc lập, ông ấy nhờ tôi lấy cho bạn ông một giấy chiếu khán đi ngoại quốc. Tại đây, ông Thiệu cho biết, ông hiểu rõ những diễn biến chính trị. Nếu ông Hương mời ông Huy làm Thủ tướng thì đó là điều không tốt. Câu chuyện nữa chừng, ông Thiệu điện thoại cho ông Hương khuyên nếu có thi hành giải pháp thì đừng chỉ định ông Huy làm Thủ tướng.“Nếu ông Dương Văn Minh không chịu làm Thủ tướng toàn quyền, thì Cụ tìm một người khác có thể thương thuyết với bên kia, mà người đó theo tôi là ông Đôn”.Đặt điện thoại xuống, ông Thiệu nói với tôi: Theo tôi, ngoài ông Minh ra, ông là người có thể nhận trách nhiệm nầy.
9. Tôi đã nghĩ đến ông từ năm 1973, tôi biết ông từng tiếp xúc với nhiều giới chức, gặp nhiều nhân vật chính trị các nước Mỹ, Pháp, Nhật…Uy tín ông có nhiều trong giới chính trị, và quân đội trong nước. Nhưng vìtôi không thay đổi lập trường chống Cộng triệt để của tôi nên không thể ngồi chung với họ. Nếu chịu thương thuyết, tôi đã mời ông làm Thủ tướng từ năm 1973 rồi. Nhưng ngày nay thì tôi đề nghị với ông Hương mời ông làm việc. Ông có nghĩ là bây giờ đã trể không? Ông Thiệu im lặng không trả lời. Trước khi từ giã, tôi nói: Còn phần ông, chừng nào đi, tôi biết Mỹ không muốn xẩy ra chuyện như ông Diệm; Xung quanh ông đang bỏ ông, ông phải đi cho nhanh. Nếu tôi làm Thủ tướng, Nội các của tôi đòi bắt ông thì tôi phải làm theo thôi!
Sáng hôm sau tôi được biết, tối hôm 25/4 đó, Mỹ đã giúp ông Thiệu và ông Khiêm ra khỏi nước bằng máy bay DC4 đến Taipei. Khoảng 10 giờ sáng ngày thứ bảy 26 tháng 4, Tổng thống Hương mời Quốc hội họp phiên đặc biệt. Tôi dự họp với tư cách Dân biểu, và Quyền Tổng trưởng Quốc phòng. Ông Hương trình bày, diễn tiến cuộc họp với ông Minh, rằng ông ta mời ông Minh làm Thủ tướng toàn quyền, nhưng ông Minh không nhận, mà yêu cầu ông Hương từ chức, giao ghế Tổng thống để ông Minh có toàn quyền nói chuyện với Việt Cộng. Ông Hương cho biết ông không thể làm như vậy được, vì đó là quyền của Quốc hội, Hiến pháp còn đó, ông chỉ có quyền mời làm Thủ tướng, còn trao ghế Tổng thống không phải là chuyện nhỏ như trao một chiếc khăn tay…
10. Cuối cùng ông Hương đề nghị Quốc hội chấp nhận cho ông một trong hai biện pháp: (1) cho ông được quyền chỉ định một Thủ tướng toàn quyền; (2) bầu ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống. Nói xong ông Hương ra về, Quốc hội tiếp tục họp. Dư luận hành lang đa số dân biểu nghị sĩ nghiêng về biện pháp một, họ cho rằng ông Minh xem thường Quốc hội. Khi tôi ra về Quốc hội tiếp tục họp, về đến nhà có điện thoại ông Hương, ông nói: Anh Đôn, tôi sẽ chỉ định anh làm Thủ tướng khi Quốc hội biểu quyết cho tôi chỉ định Thủ tướng. Tôi cám ơn, rồi mời nhóm anh em chính trị theo đường lối “Dân tộc Tự tồn” gồm Bác sĩ Trần Văn Du, Giáo sư Nguyễn Xuân Oánh, Giáo sư Bùi Anh Tuấn, Đại tá Vũ Quang thảo luận và chuẩn bị nhiều vấn đề…
Tôi điện thoại cho Nguyễn Cao Kỳ, ông Kỳ nói được vậy thì tốt, và đề nghị tôi nên mời Nguyễn Đức Thắng làm Tổng trưởng Quốc phòng. Tôi nói với ông Kỳ: Các anh em Tổng Tham mưu về miền Tây để tiếp tục tổ chức phòng thủ và kháng cự. Tôi cố gắng tìm giải pháp thương thuyết đình chiến, nếu không được tôi sẽ bay về miền Tây lo việc phòng thủ với anh em. Ông Kỳ đồng ý. Tôi điện thoại cho ông Minh cho biết tôi có thể được chỉ định làm Thủ tướng, chức vụ mà ông từ chối với ông Hương. Ông Minh cười… hơi khinh… Anh em vẫn ngồi bàn thảo lời tuyên bố với quốc dân đồng bào, thì tôi gọi điện thoại đến toà Đại sứ Pháp (4 giờ chiều) để tìm hiểu và dò ý.
11. Khi biết tin Tổng thống Hương có thể chỉ định tôi làm Thủ tướng toàn quyền, ông Đại sứ Pháp ngần ngại: không thể được. Hà Nội chỉ muốn nói chuyện với ông Dương Văn Minh. Nếu người thương thuyết không phải ông Minh, thì họ sẽ pháo kích tối nay. Tại sao ông biết? Vì tôi có liên lạc với Hà Nội. Họ hạn định thời gian tối nay. Nếu sự thật như vậy thì Đại sứ nên trình bày lại cho Tổng thống Hương. Sau đó tôi điện thoại cho ông Đại sứ Mỹ, thì ông Martin cũng nói như vậy, tôi đề nghị: Nếu vậy yêu cầu ông Đại sứ trình bày lại cho Tổng thống Hương rõ. Tôi đến nhà ông Hương, vừa mở lời thì ông Hương nói hai ông Đại sứ Pháp và Mỹ vừa điện thoại tới, ông Hương nói tiếp: Qua hiểu rồi! Họ muốn Minh! Qua sẽ từ chức!
Sáng chủ nhật 27/4/75, ông Hương họp tại nhà riêng các ông: Trần Thúc Linh, Chủ tịch Tối cao Pháp viện; Trần Văn Lắm Chủ tịch Thương viện; Phạm Văn Út, Chủ tịch Hạ viện; Phụ tá Tư pháp của ông Hương; và Trần Văn Đôn để bàn “nên làm gì” khi Quốc hội biểu quyết trao quyền Tổng thống cho người khác. Buổi họp chấm dứt lúc 12 giờ trưa. Sẵn dịp đó, Đại tướng Viên xin ông Hương ký Sắc lệnh cho ông Viên nghĩ dài hạn không lương kể từ ngày 27/4 đó, với lý do “không thể làm việc dưới quyền ông Minh”. Ông Hương chấp thuận lời yêu cầu của ông Viên. Tôi là người ra khỏi nhà ông Hương sau cùng, thấy vẻ bất bình của ông Hương khi ông nói với tôi: Họ muốn ông Minh thì có ông Minh!
12. Vào lúc 3 giờ trưa hôm 27/4/75, Đại sứ Pháp điện thoại cho tôi biết: sáu giờ chiều nay nếu không có gì thay đổi thì Hà nội sẽ pháo kích vào Sài Gòn bằng súng 130 ly có tầm bắn xa 30 cây số. Tôi tìm ông Trần Văn Lắm, và ông Phạm Văn Út, Chủ tịch Thượng viện và Hạ viện yêu cầu thông báo nghị sĩ dân biểu đến họp vào buổi chiều. Theo lời yêu cầu của họ, tôi mời Đại tướng Cao Văn Viên Tổng tham mưu trưởng; Trung tướng Nguyễn Văn Minh Tư lệnh Biệt khu Thủ đô; Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không quân; Trung tướng Chung Tấn Cang Tư lệnh Hải quân; Chuẩn tướng Thọ Trưởng Phòng 3 Hành quân/Bộ TTM; Đại tá Lung Trưởng phòng 2 Tình báo/ Bộ TTM cùng đi với tôi lên họp với Quốc hội để trình bày tình hình quân sự, và vòng đai phòng thủ Sài Gòn.
7 giờ 30 (27/4) tối cuộc họp khẩn cấp Lưởng viện Quốc hội bắt đầu với số dân biểu nghị sĩ 138 vị trên tổng số dân biểu nghị sĩ 200. Phái đoàn chúng tôi trình bày tình hình quân sự: 16 Sư đoàn Việt Cộng đang bao vây Sài Gòn cùng với một số đông thiết giáp và súng pháo binh hạng nặng; Vòng đai phòng thủ của ta đang từ từ bị thu hẹp; Chúng ta chỉ còn miền Tây. Nghị sĩ Phạm Đình Ái và Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu hỏi: Tổng trừ bị của ta ở đâu? Còn hay không? Vòng đai phòng thủ Sài Gòn thế nào? Chúng tôi cho biết Tổng trừ bị đang ở vòng đai phòng thủ Sài Gòn. Trong nội đô còn có Biệt động quân và Cảnh sát Dã chiến. Các Sư đoàn tiền tuyến ở vòng đai bảo vệ Sài Gòn đang đối diện với các Sư đoàn Bắc Việt.
13. Phó Thủ tướng Phụ trách Kinh tế Nguyễn Văn Hảo trình bày việc các cơ quan rút tiền ở ngân hàng, đã tạo ra khủng hoảng trong dân chúng. Nghị sĩ Tôn Thất Đính đề nghị biểu quyết vụ trao quyền Tổng thống cho nhanh, tình hình kinh tế chưa thiết yếu bây giờ, nhưng ông Hảo cũng cho biết thêm “tất cả các ngân hàng đã đóng cửa, các cơ quan không còn ai lãnh đạo”. Xong phần thuyết trình chúng tôi ra về, Quốc hội tiếp tục họp. Tôi ghé lại nhà ông Hương trình bày công việc vừa rồi ở Quốc hội, thì Sĩ quan tuỳ viên đem tin 136/138 dân biểu, nghị sĩ biểu quyết định trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh, 2 người không biểu quyết là chủ tịch Thượng viện và Hạ viện. Ông Hương nhờ tôi nói với ông Minh là ông Hương sẵn sàng trao quyền bất cứ lúc nào.
Tôi và ông Nguyễn Xuân Oánh lại toà Đại sứ Pháp và Mỹ cho biết sự việc, rồi ghé qua ông Minh báo tin để ông chuẩn bị những việc cần làm sắp tới. Tôi đến nhà ông Minh thì ông đang tiếp cựu Đại tá Bùi Dinh, người rất trung thành với ông Diệm. Ông Minh nói với tôi và ông Oánh: Chính bên Thiên chúa giáo cũng yêu cầu tôi làm cho nhanh để cứu vãn tình thế phần nào. Đây, ông Bùi Dinh đây, trước kia chống đối tôi kịch liệt, nay đến nói lên ý kiến của một số anh em bên Thiên chúa giáo. Tôi sẽ cố gắng thi hành nhiệm vụ nầy. Chờ lâu quá, nhưng sẽ cố gắng lần cuối cùng nầy.
14. Tôi đề nghị ông Minh, bây giờ đã quá 12 giờ khuya, sang ngày thứ hai rồi, thì giờ không cho phép kéo dài nữa. Anh nên nhận nhiệm vụ liền để bắt tay vào việc đi. Ông Minh hẹn 5 giờ chiều mai. Tôi nghĩ không phải ông ấy trì hoãn, mà ông coi ngày giờ tốt trước khi nhận việc. Đã quá khuya, chúng tôi chia tay ra về sau khi nghe ông Minh nói thêm một câu bằng tiêng Pháp Nếu có xuống âm phủ mình đi càng nhiều càng vui! Nghe ông Minh nhận chức Tổng thống, dư luận chia làm hai: một số nghĩ rằng sắp có cơ hội thương thuyết để ngưng chiến, một số khác cho rằng chúng ta đang mở cửa cho Cộng sản nuốt trọn miền Nam.
Lúc 8 giờ sáng thứ hai ngày 28 tháng 4 tôi đến Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng gặp Đại tướng Cao Văn Viên để theo dõi tình hình quân sự. Ông Viên nói, ông Hương đã ký Sắc lệnh cho ông ta nghĩ, yêu cầu tôi cho người thay thế. Ngay lúc đó, có điện thoại ông Minh muốn nói chuyện với tôi, ông Minh dặn tôi giữ ông Viên ở lại chức vụ Tổng Tham mưu trưởng, đừng cho ông Viên đi. Tôi không biết xử sự làm sao, vì ông Viên đã được ông Hương cho nghỉ. Tôi hỏi ông Viên, nếu anh đi, thì theo anh ai có thể thay thế anh được? Ông Viên không trả lời câu hỏi mà hỏi lại tôi: Còn anh sẽ làm gì?
15. Tôi cũng chưa quyết định. Mấy ngày trước ông Minh và ông Mẫu muốn tôi tiếp tục giữ ghế Tổng trưởng Quốc phòng, nhưng tôi chưa trả lời, nay ông Minh cho tôi biết Hà Nội không muốn có một người nào trong Nội các củ ở lại trong Nội các mới. Về lại Văn phòng ông Minh gọi điện dặn huỷ bỏ Sắc lệnh mà ông Hương ký cho phép ông Viên nghỉ dài hạn không lương, nhưng Sắc lệnh đó ông Hương đã gởi thẳng cho ông Viên, khi ông Hương đương chức Tổng thống, một ngày trước khi bàn giao chức chưởng cho ông Minh.
5 giờ chiều thứ hai 28/4/1975, tại phòng họp, nơi ông Thiệu trao quyền cho ông Hương tuần trước, thì nay lại có cuộc lễ để ông Hương trao quyền Tổng thống lại cho ông Minh. Trong cuộc lễ nầy bên quân đội cử Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không quân và Trung tướng Đồng Văn Khuyên thay Đại tướng Cao Văn Viên đến dự lễ. Sau nghi lễ nhận chức vụ Tông thống, ông Minh giới thiệu ông Nguyễn Văn Huyền làm Phó Tổng thống và ông Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng. Ông Minh trầm tỉnh đọc bản tuyên bố đường lối của mình là chấm dứt chiến tranh bằng cách thương thuyết và hoà giải với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. 6 giờ chiều, cuộc lễ xong ông Minh tiễn ông Hương ra cổng.
16. Nhà tôi ở gần dinh độc lập, nên chỉ vài phút sau đã về đến nhà, lại nghe tiếng nổ ầm ầm, súng bắn lung tung, phi cơ bay trên nóc dinh Độc lập. Nữa giờ sau tiếng súng ngừng nổ, tiếng động cơ nhỏ dần rồi im lặng. Tôi điện thoại đến Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Không quân hỏi, thì được biết có ba phi cơ Việt Nam Cộng hoà làm phản, bay vào liệng bom ở phi trường Tân Sơn Nhất, phá huỷ vài máy bay và một kho xăng của chúng ta. Hai chiếc F5 đã bay đuổi theo họ. Sau mới biết máy bay đó là của Không quân Việt Nam Cộng hoà còn lại Đà Nẳng, Việt Cộng xúi dục, móc nối phi công bay vô dội bom Sài Gòn. May bay đó dội bom bắn phá xong rồi bay ra Đà Nẳng. Tối đến Việt Cộng pháo kích vào phi trường để phá phi đạo Tân Sơn Nhất.
8 giờ 15 sáng ngày 29 tháng 4, tôi đến Tổng Tham Mưu, nhưng vừa tới cổng, viên sĩ quan ở cổng chận tôi lại không cho vô vì bên trong đang bị pháo kích. 20 phút sau tôi vô thẳng văn phòng Tổng Tham mưu trưởng, gặp Trung tướng Đồng Văn Khuyên, người được Đại tướng Cao Văn Viên đề cử Xử lý thường vụ chức Tổng Tham mưu trưởng, tôi mới biết ông Viên đã ra khỏi nước bằng chiếc trực thăng riêng đến cơ quan DAO (Defense Attaché Ofice) từ đó Mỹ chở qua Bangkok, xong lấy vé phi cơ bay thẳng qua Mỹ. Ông Viên đi ngày 28/4, lúc đi ra khỏi nước ông Viên mặc quần Jean sơ mi thường. Đến Bangkok, ông Viên lấy vé phi cơ dân sự bay thẳng đến Hoa Thịnh Đốn như một du khách, không qua thủ tục như người tỵ nạn khác.
17. Vậy là trong vòng hai tuần, ba ông Tướng điều khiển miền Nam, suốt 9 năm trời đã từ chức và bay ra khỏi nước: Trung tướng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại tướng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Tổng Tham mưu trửng Cao Văn Viên! Tôi hỏi Tướng Đồng Văn Khuyên về tình hình hiện tại, ông Khuyên cho biết một số đặc công Việt Cộng xâm nhập vào phá phi đạo, đồng thời quân của họ ở gần vành đai Sài Gòn, bắt đầu pháo kích... Trong khi chúng tôi nói chuyện thì có tiếng của một sĩ quan gọi máy truyền tin trực tiếp vào Bộ Tổng Tham mưu hỏi: Có nên tuân lệnh của Tướng Kỳ bắn vào các xe tăng Việt Cộng đang tiến quân không? Tôi trả lời: Phải tuân lệnh! Lúc đó, Tướng Kỳ bay quan sát tình hình, thấy Việt cộng đang tiến quân nên ra lệnh như vậy.
Trao chức cho ông Khuyên, ông Viên rãnh tay ra đi giữa lúc quân đội đang khẩn trương nguy ngập, nên suốt đêm qua ông Khuyên không ngủ. Tại đây, tôi thấy có tướng Ngô Quang Trưởng và Đỗ Kế Giai đang nói chuyện, các sĩ quan khác thì hiện vẻ lo âu. Tôi gọi điện thoại cho ông Minh biết tình hình bi đát tại Bộ Tổng Tham Mưu: Ông Viên đi rồi, ông Tướng Xử lý thường vụ không đủ thì giờ, không đủ khả năng quán xuyến mọi việc đang rối ren. Anh chỉ định gấp một Tổng Tham mưu trưởng mới, Vĩnh Lộc hay Ngô Quang Trưởng đều được. Được. Moa không muốn mời Tướng chính trị. Anh cứ tìm ông Tướng nào có khả năng, can đảm để nắm lại tình hình.
18. Riêng ông Thủ tướng mới của anh, thì nên về Phủ Thủ tướng mà làm việc. Ông Nguyễn Bá Cẩn cựu Thủ tướng đã đi rồi! Tôi với tư cách Phó Thủ tướng cao niên, tôi sẽ bàn giao trao lại Phủ Thủ tướng để ông Thủ tướng mới có phương tiện làm việc. Ông Mẫu đang làm việc tại nhà tôi đây! Ông Minh hẹn 10 giờ 30 sẽ nhận bàn giao tại Phủ Thủ tướng. Nhìn đồng hồ mới 9 giờ, tôi xuống ghé phòng Ngô Quang Trưởng nói, tôi vừa điện đàm với ông Minh, yêu cầu Tổng thống chỉ định gấp một Tổng Tham mưu trưởng, tôi nghĩ anh có thể làm được. Nếu chỉ định thì tôi làm, nhưng Trung tướng đừng đề nghị tôi. Tôi báo cho ông Châu Bộ trưởng Phủ Thủ tướng chuẩn bị lập biên bản lễ bàn giao lúc 10 giờ 30.
10 giờ sáng ngày 29 tháng 4 tôi đến Phủ Thủ tướng, khi chạy ngang qua toà Đại sứ Mỹ thấy người ra vô vẫn tấp nập như thường ngày. Tôi đến Phủ Thủ tướng cùng với sĩ quan tuỳ viên, tại đây đã có một số Tổng, Bộ trưởng mới có mặt. Nội các cũ thì có Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, Tổng trưởng Giáo dục Dương Kích Nhưỡng, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Châu. Một lúc sau, ông Châu cho biết ông Vũ Văn Mẫu muốn điện đàm với tôi. Ông Mẫu xin lỗi đến trể một giờ, vì phải qua đài phát thanh đọc lời tuyên bố quan trọng. 11 giờ 30, ông Châu cho biết, ông Thủ tướng đến, tôi ra cầu thang đón. Ông Mẫu đến đúng nghi lễ, bằng xe Mercedes dành cho Thủ tướng có xe mô tô hộ tống.
19. Tôi mời ông Mẫu vào văn phòng Thủ tướng và bắt đầu cuộc lễ. Ông Mẫu ngồi bên tay mặt tôi. Ông Châu đưa biên bản bàn giao để ký. Tôi ký xong trao cho ông Mẫu ký, nhưng ông Mẫu ký hoài mà viêt của ông ấy không ra mực, nên tôi phải đưa viết của tôi cho ông ấy ký. Ký biên bản xong tôi nói vài lời cầu chúc, và ông Mẫu đáp từ. Sau đó, ông Mẫu nói chuyện với mấy ông Tổng trưởng, rằng ông ta vừa lên đài phát thanh tuyên bố yêu sầu Mỹ rút khỏi Việt Nam trong 24 giờ kể từ 5 giờ sáng nay. Nghe ông Mẫu nói, tôi dùng điện thoại màu xanh lá cây dành riêng cho Thủ tướng và Phó thủ tướng liên lạc với toà Đại sứ Mỹ. Có tiếng người bắt điện thoại tôi hỏi ngay: Có chuyện gì xảy ra đó? Tôi vừa nghe ông Tân Thủ tướng yêu cầu DAO rút khỏi Việt Nam trong 24 giờ phải không?
Không phải chỉ DAO mà tất cả những người Mỹ sẽ rút. Ông muốn đi thì lên toà Đại sứ trước 12 giờ trưa nay. Về đến nhà tôi được tin gia đình ông Kim cùng một nhóm người thân gần 120 người đã ra khỏi nhà, vì phi trường đang bị pháo kích, phải nằm tại nhà một người Mỹ chờ đợi. Tôi nhờ sĩ quan tuỳ viên Lê Văn Khấn đến nơi gia đình ông Kim đang trú ngụ đem con trai tôi là Đức về cùng đi với tôi. Đại tá Khấn đem con trai tôi và cả cháu Lê Văn Phúc. Sau đó, cháu Phúc liên lạc được với Mỹ, họ cho biết phi trường đang bị pháo kích, nên sẽ đưa nhóm người nầy ra tàu Mỹ bằng xà lan trên sông Sài Gòn. Tôi đinh ninh ông bà Kim đi được, không ngờ ông Kim từ chối đi xà lan, vì sợ lập lại cái cảnh chuyển vận bằng xà lan hồi tháng trước lúc Đà Nẳng rút chạy.
20. Lúc đến toà Đại sứ, tôi không vào được, vì người quá đông nên mọi cửa ra vô đều đóng chặt, tôi đi vòng ngã đưởng Hồng Thập Tự cũng không vào được. Tôi trở lại Bộ Quốc phòng điện thoại cho toà Đại sứ Mỹ, sau một hồi tôi liên lạc được với ông Polgar. Ông dặn tôi đến nhà riêng của ông, rồi ông sẽ bốc tôi đi. Đến nơi tôi thấy đông nghẹt người đang chờ. Cô thư ký của ông Polgar kêu chúng tôi đến tại khách sạn Mỹ Lee Hotel gần đài Chiến sĩ Tự do, chúng tôi đến đó thấy người chờ quá đông mà cửa đóng, đành trở lại nhà ông Polgar ngồi chờ. 4 giờ chiều chúng tôi trở lại khách sạn Lee Hotel cũng không vô được.
Cô thư ký của ông Polgar đến nới với tôi: Tôi là Hà Hiếu Lang, em của Đại tá Điệp. Gia đình tôi biết Trung tướng nhiều. Cô nói nhỏ với tôi: Mình đi chỗ khác! Ông lại góc đường Hai Bà Trưng chờ tôi! Ra đường, xe chúng tôi chạy theo xe cô đến đường Gia Long gần đường Tự Do, tai một cao ốc 9 tầng, tầng dưới là Alliance Francaise của Pháp, còn 8 tầng trên là Văn phòng của CIA. Chúng tôi lên trên sân thượng tầng lầu 9. Tại đó, đã có khoảng sáu chục người đang chờ trực thăng hạ xuống, nên tôi đành phải đứng phía sau. Thấy vậy cô Lang nói, đứng vậy làm làm Trung tướng đi được? Tôi phải đứng sau người đến trước tôi. Cô ấy nói to: Tôi nhường chỗ của tôi và các em tôi cho gia đình Trung tướng.
21. Nghe cô Lang đề nghị, con và cháu tôi chạy lên phía trước trên cầu thang chờ chiếc trực thăng sau, Tôi, Đức, cháu Phúc và Đại tá Khấn cùng lên chuyến trực thăng bốc cuối cùng nơi cơ sở CIA trên sân thượng lầu 9 đó. Về sau tôi được biết cô Hà Hiếu Lang và gia đình cô phải khó nhọc lắm mới vào được trong toà Đại sứ vào giờ chót và rời Sài Gòn bình an. 7 giờ 30 tối ngày 29 tháng 4 năm 1975, tôi từ giã Sài Gòn, lúc Sài Gòn đã lên đèn. Trực thăng chở chúng tôi đáp xuống chiến hạm Hancock.
Sách Việt Nam Nhân chứng, “Những điều nghe biết về sau”, Trần văn Đôn, viết tiếp: Ngày 29 tháng 4, ông Minh chỉ định Trung tướng Vĩnh Lộc làm Tổng Tham mưu trưởng. Khoảng 10 giờ sáng, Đề đốc Chung Tấn Cang, Tư lệnh Hải quân đến cho ông Minh biết, hiện tàu bè đủ chở chính phủ và binh sĩ xuống miền Tây, nhưng ông Minh cho biết còn đang thương thuyết. Vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, Cố vấn toà Đại sứ Pháp ông Brochand cho ông Minh biết là Hà Nội không muốn nói chuyện với ông Minh nữa. 5 giờ chiều ông Minh gọi ông Chung Tấn Cang đến gấp, nhưng ông Cang cử ông Phó Đề dốc Diệp Quang Thuỷ đến. Ông Minh nói với ông Thuỷ: Tôi trao cho Hải quân được toàn quyền hoạt động.
22. Rồi ông cho bà Minh đi với Hải quân, bà Minh nói nếu ông Minh không đi thì bà cũng ở lại. Ông Minh nhờ Đề đốc Diệp Quang Thuỷ dẫn rể ông là Đại tá Đài, và tướng Mai Hữu Xuân, Chuẩn tướng Hoàng và con gái ra khỏi nước. Biết không thể thương thuyết, nhưng ông Minh vẫn không cho tướng Vĩnh Lộc Tổng Tham mưu trưởng và Nội các hay, có lẽ sợ các ông ấy bỏ đi sẽ gây thêm xáo trộn. Tối 29/4, ông Minh nghĩ là thua rồi, nên đưa vợ và tất cả sĩ quan, bộ tham mưu chính trị vào dinh độc lập để gặp họ ngay tại đây. 8 giờ sáng ngày 30/4/75, Tổng Tham mưu trưởng Vĩnh Lộc, điện thoại hỏi ông Minh cuộc thương thuyết đi tới đâu rồi, ông Minh vẫn chưa cho biết.
Khoảng 9 giờ, đoàn xe Việt Cộng từ miệt lăng Cha Cả xuống nhà thờ Ba Chuông thẳng đường Trương Minh Giảng vào Trung tâm Sài Gòn. Dân chúng kẻ ra đường nhìn, người mở cửa đứng ngó, thẫn thờ và ngơ ngác vì thấy đa số những kẻ chiến thắng kia vẻ mặt ngớ ngẩn, non choẹt, xanh xao. Lúc 10 giờ thì tại Bộ Tổng Tham mưu có các Trung tướng Lộc, Trung tướng Trung, Đại tá Huyến và một số sĩ quan cấp Tá cấp uý khác thấy tình hình quá khẩn cấp, chiến xa của Việt Cộng đã ồ ạt vào thủ đô, nên họ quyết đinh phải ra đi. Từ cổng Bộ Tổng Tham mưu, đoàn xe của Tướng Lộc ra đường Cách mạng xuống phía Thị Nghè ra Hải cảng, Đoàn xe của tướng Lộc đến Công xưởng Hải quân, chỉ còn một chiếc tàu hư đang sửa, ông Lộc cũng phải lấy ra đi…
23. Ai cứu dân chúng Sài Gòn khỏi đổ máu? Không phải Kissinger. Không phải Đại sứ Mỹ. Không phải Đại sứ Pháp. Sài Gòn không đổ máu là nhờ Dương Văn Minh. Những ngày cuối tháng tư, tôi nghĩ ông Minh biết không hy vọng ở giải pháp thương thuyết. Ngày 24/4/75, tôi thấy cô Mai, con gái ông Minh đến toà Đại sứ Pháp xin Laissez-Passer do ông Cố vấn chính trị Brochand trao để ra khỏi nước. Ông Minh có thể ra đi lúc đó, lúc chưa nhận chức Tổng thống, hoặc có thể ngày 29 tháng 4 với Hải quân, nhưng ông can đảm ở lại. Nếu tất cả đi hết thì Sài Gòn sẽ hổn loạn. Không có chính quyền sẽ không có an ninh, du đảng sẽ lộng hành, cướp giật, giết nhau vì oán thù.v.v.. Còn nếu ông Minh ra lệnh chiến đấu, thì mấy ai còn gan dạ cầm súng, chỉ gây thêm đổ máu mà thôi! Thua là điều không tránh khỏi!!!
Ngày 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố: "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào." Tuy nhiên, những sĩ quan Cộng sản không chấp nhận làm lễ bàn giao mà buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng… (Hết trích)
IV. Những Tháng Cuối Cùng.
1. Tại chương 8 Sách “Đôi dòng ghi nhớ” Phạm Bá Hoa viết: Ngày 13 tháng 12 năm 1974, một đơn vị Cộng sản có thể là cấp Tiểu Đoàn, tấn công quận lỵ Đôn Luân, bị quân trú phòng đẩy lui. Nhưng cuộc tấn công kế tiếp thì Đôn Luân thất thủ. Sau đó, một lực lượng Cộng sản khác đánh chiếm quận Bố Đức. Sư Đoàn 5 Bộ Binh được Bộ Tổng Tham Mưu điều động tăng cường cho tỉnh lỵ Phước Long. Ngày 24 tháng 12 năm 1974, chiếc trực thăng Chinook 47 chở chuyên viên từ Sài Gòn lên tỉnh lỵ Phước Long sửa chữa chiếc phi cơ vận tải C.130 bị hư đang nằm tại phi trường ngoại ô tỉnh lỵ. Lượt về, chiếc Chinook 47 đã bị hỏa lực phòng không của quân cộng sản bắn hạ sau khi cất cánh chưa đầy 5 phút.
Đang trong tình hình hết sức nguy hiểm cho lực lượng trú phòng, thì sự bất đồng quan niệm hành quân giải tỏa Phước Long giữa Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III/Quân Khu III, với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong phiên họp tại Phủ Tổng Thống, Trung Tướng Đống xin tăng cường lực lượng tổng trừ bị nhưng Thổng thống Thiệu không chấp thuận. Theo lời của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu thì Trung Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức ngay trong buổi họp, nhưng Tổng Thống không chấp thuận. Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Tướng Nguyễn Văn Toàn được cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn III thay thế tướng Đống. Ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long vào tay quân Cộng sản.
2. Sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, khi tôi vào đến văn phòng thì điện thoai reo liên hồi: “Đại Tá Hoa tôi nghe”. “Lễ (Đại tá, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy III Tiếp Vận) đây anh. Tôi mới nghe nói là Ban Mê Thuột bị mất liên lạc hữu tuyến lẫn vô tuyến từ giữa đêm qua. Đâu anh xem lại có phải vậy không?Tôi gọi khắp các cơ quan phòng sở trong Bộ Tổng Tham Mưu, không cơ quan nào liên lạc được với bất cứ cơ quan đơn vị nào ở Ban Mê Thuột cả. Chợt nhớ ra bên Sở Liên Lạc có căn cứ của Lôi Hổ trên đó hoạt động dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt, có thể còn giữ liên lạc được. Và, đúng như vậy, Trung Tá Trần Đắc Trân, điện thoại gọi tôi sang để nói chuyện trực tiếp với nhân viên của Sở Liên Lạc tai Ba Mê Thuột.
Tôi trình Đại Tá Loan xong là chạy sang anh Trân ngay. Tôi hỏi:“Chào anh. Anh đang ở đâu đó?“Em đang ẩn trú ở đầu phi trường nhỏ trong thành phố Ban Mê Thuột. Chung quanh em tiếng súng nổ dữ lắm và xe tăng của tụi nó (quân cộng sản) đã vào đến cuối sân bay rồi Đại Tá ơi!“Theo anh thì tụi nó đã vào trung tâm thành phố chưa? “Xe tăng của nó tấn công kho đạn đêm qua, và tụi nó tiến vào thành phố rồi. Khu vực Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn (23 Bộ Binh) và bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đều có tiếng súng dữ lắm. Em chưa rõ lắm, nhưng em nghĩ là bị tụi nó chiếm hết rồi. Bây giờ em phải rút ra ngoại ô. Chào Đại Tá”. “Cám ơn anh, và cầu nguyện cho anh cùng các bạn vượt thoát bình an. Chào anh và các bạn”.
3. Tôi gọi lên Quân Đoàn II nói chuyện với Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn, được biết Quân Đoàn II đã cho phi cơ không thám trên không phận ngoại ô Ban Mê Thuột, chớ không vào sâu bên trong được vì hỏa lực phòng không của Cộng quân quá mạnh, tin tức ghi nhận khá ít, không đủ dữ kiện cho Quân Đoàn nhận định tình hình một cách rõ nét, để có phản ứng phù hợp. Sư Đoàn 23 Bộ Binh, có 2 Trung Đoàn hoạt động trên Kon Tum, và 1 Trung Đoàn giữ phi trường Phụng Dực, lực lượng phòng thủ Ban Mê Thuột chỉ gồm những đơn vị yểm trợ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và các đơn vị Địa Phương Quân Nghĩa Quân của Tiểu Khu nên sự chống trả yếu ớt.
Ngày 13 tháng 3 năm 1975, Ban Mê Thuột và toàn tỉnh Darlac vào tay quân cộng sản! Trước đó, ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long vào tay quân cộng sản. Thế là, hai tỉnh của Việt Nam Cộng Hòa đã vào tay Cộng quân. Ngày 15/3/1975, ngay đầu giờ buổi làm chiều, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe “Có ai ngồi gần anh không? “Dạ không, thưa Đại Tướng”. Đó là Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông tiếp:“Tuyệt đối là anh không cho ai biết lệnh này ngoài những sĩ quan trách nhiệm thi hành”. “Vâng, tôi rõ thưa Đại Tướng”.
4. Tổng Cục Tiếp Vận có bao nhiêu phi cơ vận tải C.130 khả dụng? Thông thường thì sử dụng 2 hoặc 3 chiếc, nhưng trường hợp tối cần thiết có thể sử dụng được 8 hoặc 9 chiếc. Nhưng tôi sẽ hỏi bên Không Quân và sẽ trình lại Đại Tướng con số chính xác hơn, thưa Đại Tướng. Thôi được. Điều cần thiết là anh phải sử dụng tối đa vì đây là nhu cầu khẩn cấp. Anh liên lạc ngay với Quân Đoàn II, xem họ cần bao nhiêu chiếc thì cho họ bấy nhiêu, còn sử dụng vào công tác gì thì tùy họ. Nhiệm vụ kể từ ngày mai. Anh rõ chưa?Thưa Đại Tướng, tôi rõ.“Phần anh, anh chuyển các quân dụng đắt tiền ra khỏi Pleiku và muốn đem về đâu thì tùy anh”.“Vâng. Tôi thi hành, thưa Đại Tướng”.
Tôi và cả Đại Tá Loan Tổng Cục phó, đều không ước tính được là chuyện gì sắp xảy ra. Nếu chuẩn bị đánh nhau với quân cộng sản thì tại sao không để quân dụng lại thay thế số tổn thất? Nếu không đánh nhau,..... mà không đánh nhau là thế nào? Thật không hiểu nỗi! Hai yếu tố chính của quân đôi, là "con người và quân dụng". Quân dụng do ngành Tiếp Vận quản trị. Mỗi quân nhân từ đỉnh đầu xuống đến gót chân, từ dinh dưỡng đến điều trị khi bị thương hay đau yếu, vấn đề mai táng và nghĩa trang, rồi doanh trại, phương tiện di chuyển, rồi súng đạn, xe tăng thiết giáp, đại bác hỏa tiển,...... đều là nhiệm vụ của ngành Tiếp Vận. Ấy vậy mà Tiếp Vận lại không được quyền biết đến kế hoạch hành quân, như lệnh của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa!
5. Tôi gọi lên Pleiku liên lạc với Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II: “Tôi Hoa đây anh Lý. Tôi được lệnh cấp C.130 cho anh nhưng không được biết là Quân Đoàn sử dụng vào công tác gì. Vậy anh có thể cho tôi biết để tôi tiện sắp xếp phi cơ theo đúng nhu cầu của anh không? Vì chắc anh cũng biết là số phi cơ khả dụng của chúng tôi giới hạn lắm”.Anh cứ đưa lên đây cho tôi, còn sử dụng vào công tác gì thì không thể nói được đâu. Đành vậy. Nhưng anh cần bao nhiêu chiếc? Cần vào lúc nào? Và chuyển vận từ đâu tới đâu? “Anh có bao nhiêu chiếc thì đưa lên tôi bấy nhiêu kể từ sáng mai (16/3/1975). Không trình có thể là từ Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sàigòn.
“Sao lại là có thể mà không rõ nơi đến?“Tôi không thể cho anh biết đâu.Vậy thì như thế này. Sáng mai tôi cho lên anh 2 chiếc, trong khi 2 chiếc kế tiếp túc trực tại phi trường Tân Sơn Nhất và anh cần là cất cánh ngay, vì một lúc anh đâu sử dụng được 4 chiếc. Được không? “Được. 8 giờ sáng mai anh cho có mặt tại phi trường Cù Hanh nghe. Xong. Mình thỏa thuận như vậy”.Tôi trình Đại Tá Loan là vẫn không biết được gì thêm ở Quân Đoàn II. Tôi cũng nêu thắc mắc với Đại Tá Loan, là tại sao Đại Tá Lý nói “không trình có thể là từ Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sài Gòn, mà không xác định điểm đến một cách rõ ràng.
6. Sáng ngày 16/3/1975, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Đại Tá. Trưởng phi cơ C.130 đang trên không phận phi trường Cù Hanh (Plei Ku), cho biết là không thể nào đáp xuống phi trường được, vì người ta đông không thể tưởng tượng nỗi. Chẳng biết là chuyện gì xảy ra vì không liên lạc được dưới đất. Và hai chiếc C.130 đang chờ lệnh Đại Tá.Anh chuyển đến Trưởng phi cơ là hãy chờ tôi vài phút để tôi liên lạc với Quân Đoàn II xem tình hình ra sao”.
Gọi Quân Đoàn II, và tôi nói chuyện với Đại Tá Lý: “Phi cơ tôi đang trên không phận của anh đó, nhưng không thể đáp được. Nếu anh muốn họ đáp xuống thì anh phải giải tỏa sân bay giùm đi. Nếu chậm quá thì họ sẽ về lại Sài Gòn đó. Mà chuyện gì xảy ra vậy Anh? Tại vì, người ta tranh nhau chờ lên phi cơ mới có chuyện tràn ngập đường băng như vậy. Để tôi cho Quân Cảnh giải tỏa, anh bảo phi cơ đáp xuống cho tôi đi.Thì phi hành đoàn đang chờ đường băng trống là đáp xuống, trừ khi anh không giải tỏa nỗi. Anh nhớ ưu tiên cho Liên Đoàn Trưởng Yểm Trợ Tiếp Vận của tôi ở Plei Ku, chở một số kiện hàng quan trọng xuống Qui Nhơn hoặc Nha Trang à nghe”.
7. Tôi lại nhờ Bộ Chỉ Huy Không Chiến chuyển đến phi hành đoàn C130. Và sau đó, phi cơ đáp xuống được tuy rất khó khăn vì đông nghẹt người là người hai bên đường băng. Theo lời thuật của Trưởng phi cơ, là cả một rừng người chen lấn xô đẩy, đạp lên nhau để tranh lên phi cơ, và hết sức khó khăn, phi hành đoàn mới cho phi cơ cất cánh được.
Sáng ngày 17/3/1975, trong lúc 2 chiếc C130 trên không phận Plei Ku thì điện thoại nhà tôi reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Đại Tá. Trưởng phi cơ cho biết là toàn thị xã Plei Ku hôm nay không có bóng một sinh vật nào cả, và bây giờ phi hành đoàn xin phép về lại căn cứ. Anh hỏi lại phi hành đoàn giùm tôi, nếu sự thực đúng như vậy, thì tôi đồng ý phi cơ quay về. Xin nhớ, đây là trách nhiệm rất quan trọng nghe anh.Tôi điện thoại qua nhà Đại Tá Phạm Kỳ Loan, và ngay sau đó Đại Tá Loan liên lạc Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ (Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu) nhưng Chuẩn Tướng Thọ vẫn không nhỏ được một giọt thông tin nào về tình hình đó cả.
8. Chiều 18/3/1975, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Khương đây anh Hoa. Đó là Đại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, đồn trú tại Qui Nhơn. Anh có tin gì về anh em mình trên Plei Ku chưa? “Liên Đoàn 2 Vận Tải mới liên lạc vô tuyến với đoàn xe bị kẹt trên Plei Ku rồi anh. Đoàn xe này đang cùng với hằng ngàn quân xa và dân xa rút bỏ Plei Ku và Kon Tum, đang di chuyển trên đường liên tỉnh số 7 để xuống Tuy Hòa. Toàn bộ lực lượng gồm nhiều đơn vị chiến đấu, cùng với Pháo Binh, Thiết Giáp, bị sa lầy sau khi vượt qua Cheo Reo. Phần thì đường hư cầu sập làm nhiều chiến xa M.48 và pháo binh 175 ly cơ động xuống hố, gây tổn thất rất nặng cho cả quân đội lẫn dân sự, nhưng chưa thấy phản ứng của Quân Đoàn. Anh em mất tinh thần lắm anh ơi!
“Được rồi. Bảo vệ đoàn quân và khi nào xuống đến Tuy Hòa, chắc chắn là trách nhiệm của Quân Đoàn. Bây giờ anh nên chuẩn bị tổ chức nhiều toán do một sĩ quan của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận chỉ huy và đặt tại Tuy Hòa, mỗi toán phụ trách một công tác, để khi đoàn quân xuống đến Tuy Hòa thì cấp phát ngay cho bất cứ đơn vị nào mà không cần theo thủ tục tiếp liệu thông thường, chỉ cần viết tay và ký nhận là đủ. Hàng mang theo cấp phát là: Lương khô đủ ăn 3 ngày, 1 bộ quần áo trận, đổ đầy xăng dầu cho xe chạy bánh và xe chạy xích. “Toán Quân Y thì cấp thuốc cho các bệnh thông thường và cấp cứu đầu tiên. Anh thấy được không?Được anh. Để tôi lo”. Anh nói Liên Đoàn 2 Vận Tải ráng giữ liên lạc và khi có bất cứ tin tức gì về đoàn quân này thì anh cho tôi biết ngay nghe anh Khương”.
9. Sở dĩ có đoàn xe hằng trăm chiếc bị kẹt ở Plei Ku, là vì sau khi Phước Long mất, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên ra lệnh cho tôi thực hiện kế hoạch chuyển tiếp liệu loại 1 (lương thực thực phẩm), loại 3 (nhiên liệu), loại 5 (đạn dược chất nổ), lên Plei Ku dự trữ cho 20.000 quân phòng thủ trong 30 ngày mới bổ sung. Do vậy, mà hằng ngày đoàn xe cả trăm chiếc đi đi về về giữa Qui Nhơn với Plei Ku để vận chuyển tiếp liệu từ Qui Nhơn lên Plei Ku. Tôi sang văn phòng Đại Tá Loan, và sau khi trình cho anh xong, tôi điện thoại lên văn phòng Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng:
“Tôi Hoa đây anh Nguyện (Đại Tá Nguyễn Kỳ Nguyện, chánh văn phòng), anh cho tôi trình vấn đề gấp với Đại Tướng. Anh chờ tôi một chút. Tôi đây (Đại tướng Viên).Thưa Đại Tướng, tôi Hoa đây. Có việc gì vậy? Thưa Đại Tướng, cách đây vài phút, Đại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, cho tôi biết về đoàn quân rút bỏ Plei Ku và Kon Tum đang bị sa lầy ... (tôi thuật lại chi tiết mà tôi với Đại Tá Khương đã nói với nhau).“Anh có chắc là đúng như vậy không? Từ chỗ đoàn xe bị kẹt đến Đại Tá Khương như thế nào thì tôi không dám chắc, nhưng từ Đại Tá Khương đến tôi là hoàn toàn chính xác, thưa Đại Tướng. Thôi được. Anh đừng nói với ai nữa nghe. Vâng”.
10. Đại Tá Loan và tôi đều ngẩn ngơ về câu nói sau cùng của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng. Chúng tôi ngẩn ngơ vì không hiểu tại sao tình hình đến như vậy mà vẫn muốn giấu kín chúng tôi nữa! Vài phút sau đó, Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu, điện thoại cho tôi: “Cưng ơi (Chuẩn Tướng Thọ thường gọi tôi như vậy), cưng có liên lạc với đoàn xe trên đường số 7 hả?. Tôi không trực tiếp liên lạc nhưng Liên Đoàn 2 Vận Tải của chúng tôi đã liên lạc được với đoàn xe chở tiếp liệu lên Plei Ku và bị kẹt trên đó, nay thì cùng trong đoàn quân sa lầy mà vừa rồi tôi đã trình Đại Tướng. Có. Đại Tướng mới gọi anh đây. Cưng cứ biết vậy thôi nghe”. Cũng lại giấu nhau!
Chiều tối hôm sau (19/3/1975) thì Trung Tướng Đồng Văn Khuyên từ Tokyo (Nhật Bản) về đến. Sau khi nghe chúng tôi trình bày về tình hình từ ngày ông vắng mặt đến nay, ông nói sáng mai (20/3/1975) sẽ trình diện Tổng Thống với Đại Tướng, chắc là sẽ có tin tức rõ ràng hơn. Và đây là những tin tức đó: "... Sau khi mất Ban Mê Thuột, áp lực của quân cộng sản rất mạnh. Tổng Thống nhận định là không đủ khả năng bảo vệ toàn bộ Cao Nguyên trong khi Ban Mê Thuột cần giữ hơn là Plei ku với Kon Tum, vì vậy mà trong buổi họp ngày 14/3/1975 tại Cam Ranh, Tổng Thống Thiệu đã quyết định rút bỏ Plei Ku, Kon Tum, Phú Bổn, để đem lực lượng về phản công lấy lại Ban Mê Thuột.
11. “Tổng Thống giao cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II, nhiệm vụ thực hiện cuộc hành quân triệt thoái khỏi 3 tỉnh đó, nhưng phải giữ bí mật tối đa và bảo vệ toàn vẹn lực lượng. Thiếu Tướng Phú trình kế hoạch là rút theo đường liên tỉnh số 7, dù rằng con đường này không sử dụng từ lâu nhưng đạt được yếu tố bất ngờ đối với lực lượng cộng sản. Với đề nghị của Thiếu Tướng Phú, Tổng Thống Thiệu thăng cấp Chuẩn Tướng cho Đại Tá Phạm Duy Tất. Lúc đầu, Tổng Thống không đồng ý, nhưng Thiếu Tướng Phú cố lặp lại đề nghị, và sau cùng thì Tổng Thống chấp thuận. Lúc bấy giờ, Đại Tá Phạm Duy Tất đang là Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân/Quân Đoàn II. Khi mang cấp bậc Chuẩn Tướng, ông được Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn giao phó trách nhiệm Tư Lệnh cuộc hành quân lui binh”...
Hết giờ buổi chiều khá lâu, Trung Tướng Khuyên gọi tôi lên văn phòng, và ông đưa tôi xem một xấp không ảnh đã được giải đoán đầy đủ. Toàn bộ xấp không ảnh cho thấy đoàn xe không phải theo một hình dài mà là một hình gần như tròn, vì khi phần đi đầu bị kẹt thì những chiếc sau cứ lấn qua bên trái hay bên phải với hy vọng tìm được lối đi, nhưng càng lấn vào rừng thì càng không lối thoát, và cứ như thế mà cả đoàn xe quá nhiều đó đã tạo nên dáng như vậy. Ghi chú bên cạnh những khoanh tròn bằng ngòi bút của chuyên viên giải đoán không ảnh, có gần 800 xe đã bị thiêu hủy. Nếu như giải đoán viên không ảnh chính xác hay ít ra cũng gần như vậy, thì chỉ mới 4 ngày dấn thân vào đường liên tỉnh số 7 mà số xe bị tổn thất trên dưới 1/3 trong tổng số xe các loại, quả là rất nặng.
12. Trong số tổn thất đó có “Tiểu Đoàn Pháo Binh 175 ly cơ động và Trung Đoàn Chiến Xa hạng nặng M48". Đây là hai loại vũ khí mới được Hoa Kỳ viện trợ năm 1973, lúc Hoa Kỳ chỉ rút quân về nước, và toàn bộ chiến cụ để lại cho quân đội chúng ta. Khi về đến Tuy Hòa thì tổn thất đến nỗi, không còn khả năng thực hiện kế hoạch phản công chiếm lại Ban Mê Thuột được nữa. Số dân thường bị chết dọc đường nhiều không kém số thương vong của quân đội. Chết vì súng đạn, chết vì xe cộ tranh giành lối đi mà gây tai nạn bừa bãi, chết vì tranh nhau miếng ăn nước uống, chết vì cướp giật, ..v..v...
Rút bỏ 3 tỉnh Cao Nguyên là Plei Ku, Kon Tum, và Phú Bổn, những tưởng bảo toàn được lực lượng gồm một phần của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh, Truyền Tin, và các ngành khác, để phản công chiếm lại thủ phủ Ban Mê Thuột, nhưng rồi toàn bộ Cao Nguyên miền Trung bỗng dưng rơi vào tay quân cộng sản. Tình trạng hỗn loạn bi đát trong cuộc hành quân lui binh trên đường liên tỉnh số 7, là khởi đầu cho sự hỗn loạn trong các cuộc hành quân lui binh của Quân Đoàn I, và các Sư đoàn 1, 2, 3, 22, 23 Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Hải Quân, Không Quân, dọc các tỉnh duyên hải từ Quảng Trị, Huế, Đà Nẳng, đến Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Cam Ranh.
13. Đến cuối tháng 3/1975, từ Quảng Trị đến Cam Ranh đều bỏ ngỏ, thì tại Biên Hòa, nơi có bản doanh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn gấp rút tổ chức Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, và Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi tình nguyện nhận trách nhiệm chỉ huy Bộ Tư Lệnh này. Ngay sau đó, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương/Quân Đoàn III di chuyển ra Phan Rang, đặt bản doanh ngay trong căn cứ Sư Đoàn 6 Không Quân tại phi trường Bửu Sơn (Phan Rang hay là Ninh Thuận), với nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy tuyến phòng thủ tại đây.
Lực lượng dưới quyền Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi thật là phức tạp, vì lực lượng còn lại của Sư Đoàn 2 Bộ Binh, Sư Đoàn Nhẩy Dù, và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến quá mệt mỏi, trong khi tái trang bị cũng như những nhu cầu tiếp liệu khác chưa hoàn chỉnh. Tái tổ chức và trang bị xong, Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh tức tốc chuyển quân ra Phan Rang, trong khi Chuẩn Tướng Phan Đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh chuyển quân theo quốc lộ 4 xuống trấn giữ Tân An. Quốc lộ nối liền Sài Gòn với các tỉnh đồng bằng Cửu Long.
14. Và rồi tuyến đầu Phan Rang thất thủ. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh chiến trường, và Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, cùng nhiều sĩ quan trực thuộc bị bắt làm tù binh. Tiếp đó là Đà Lạt, Lâm Đồng, Bình Thuận (tức Phan Thiết), và Bình Tuy (tức Hàm Tân), đều bỏ ngỏ, lui về Vũng Tàu và thủ đô Sài Gòn. Sư Đoàn 25 Bộ Binh của Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, từ Tây Ninh cũng lui về căn cứ Củ Chi, sát nách Sài Gòn. Lui xuống tuyến Xuân Lộc. Tại đây, Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo giữ chức Tư Lệnh, có khoảng 2 Sư Đoàn quân cộng sản mở cuộc tấn công vào Sư Đoàn 18 Bộ Binh tại Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh.
Cộng quân cứ tưởng trên đường tiến quân cứ như “chẻ tre” từ sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) xuống đến đây, nhưng chẳng may cho chúng là sức kháng cự mãnh liệt của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, cộng với quyết định sử dụng bom CBU -loại bom hút hết dưỡng khí trong một đường kính nhất định và những ai trong khu vực đó đều không có dưỡng khí để thở- và loại bom 10 tấn dùng khai phá bãi đáp cho trực thăng giữa rừng già, đã gây thiệt hại nặng nề cho quân cộng sản. Thiệt hại đến mức chúng phải rời mục tiêu Sư Đoàn 18 Bộ Binh để đi vòng xuống tấn công Biên Hòa. Sau 12 ngày chống giữ, ngày 21/4/75, Sư Đoàn 18 Bộ Binh được lệnh Quân Đoàn III rút về trấn giữ căn cứ Long Bình.
15. Với những cuộc rút lui hỗn loạn của Quân Đoàn I, Quân Đoàn II, và phần lớn của Quân Đoàn III, trong khi toàn lãnh thổ Quân Đoàn IV gồm 16 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, chưa có những trận đánh quan trọng nào, và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV, đã ra lệnh báo động cho Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Sư Đoàn 9 Bộ Binh, Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Sư Đoàn 4 Không Quân, cùng với Hải Quân, và các đơn vị tác chiến khác, kể cả Địa Phương Quân Nghĩa Quân sẳn sàng chống trả các cuộc tấn công của quân cộng sản. Đến 20/4/1975, chưa thấy chỉ dấu nào về một thảm trạng rút lui hay bỏ chạy trong phạm vi Quân Đoàn IV cả.
Những tin đồn đoán nào là Đại Tướng Dương Văn Minh đảo chánh, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh, nào là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị áp lực từ chức, ..v..v.. được truyền đi từ người này sang người khác, nhưng thật sự thì chẳng mấy ai biết những tin đó xuất phát từ đâu cả. Trong loạt tin đồn đoán lần này, có một tin xảy ra đúng như vậy, đó là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vị Tổng Thống thứ nhì của Việt Nam Cộng Hòa và là Tổng Thống thứ nhất của nền đệ nhị Cộng Hòa, tối 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức, sau khi ông mạnh mẽ cáo giác Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam.
16. Và, ông cũng tuyên bố rằng: "Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu bên cạnh anh em chiến sĩ”. Ý nói là Trung Tướng (Thiệu) sẽ tiếp tục phục vụ trong hàng ngũ quân đội. Trước đó, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm đã từ chức, và ngày 14/4/75 bàn giao chức vụ Thủ Tướng cho Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn đương nhiệm Chủ Tịch Hạ Nghị Viện. Bốn ngày sau khi từ chức, đêm 25/4/1975, cả hai cựu Tổng Thống Thiệu và cựu Thủ Tướng Khiêm lên phi cơ sang Đài Bắc.
Xin nhắc lại. Đại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong từ ngày 7 tháng 10 năm 1964, sau đó giữ chức Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Chuyển sang nhiệm sở tại Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) từ tháng 10 năm 1965. Đến tháng 5 năm 1968, về Việt Nam giữ chức Tổng Trưởng Nội Vụ. Đầu năm 1969, giữ chức Phó Thủ Tướng. Và đến đầu tháng 9 năm 1969, thay giáo sư Trần Văn Hương trong chức vụ Thủ Tướng. Rồi khi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ bị cách chức Tổng Trưởng Quốc Phòng năm 1972 vì vụ Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm kiêm nhiệm thêm chức Tổng trưởng Quốc phòng.
17. Ngày 27/4/1975, Đại tướng Cao Văn Viên, cũng xin giải ngũ, để ngày 28/4/1975, mang theo gia đình cùng với vợ, con Tổng thống Thiệu lên phi cơ sang Đài Bắc. Trong những năm chiến tranh chưa đến hồi khốc liệt và được viện trợ đầy đủ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên đã sát cánh với quân đội và toàn dân chiến đấu chống cộng sản, nhưng khi tổ quốc lâm nguy thì ba vị lãnh đạo cao nhất nước, kế tiếp nhau chuyển giao chức vụ cho người khác, rồi âm thầm ra đi. Các vị đã rời bỏ tổ quốc Việt Nam, nơi mà quí vị được sinh ra và lớn lên; quí vị đã bỏ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân đội đã từng đưa quí vị lên tột đỉnh quyền uy danh vọng.
Và, quí vị cũng đã bỏ gần 20 triệu đồng bào, mà chính họ đã từng hai lần bỏ phiếu bầu một trong ba vị vào chức vụ cao nhất nước: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tướng đã hai lần đặt tay lên Hiến Pháp tuyên thệ "bảo vệ quốc gia dân tộc, bảo vệ Hiến Pháp" khi nhận chức Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội;Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, hơn 5 năm trong chức vụ Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng; và Đại Tướng Cao Văn Viên, gần 10 năm trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nói chung, quí vị đã bỏ lại đằng sau tất cả, lặng lẽ rời khỏi Việt Nam trong đêm tối, trước ngày dân tộc Việt Nam bị cộng sản độc tài cai trị! Còn gì để nói đây!
18. Khoảng 11 giờ 30 phút sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên Tham Mưu trưởng và Tổng Cục trưởng Tổng cục Tiếp vận, Xử lý Thường vụ Tổng Tham mưu trưởng, rời Bộ Tổng Tham mưu. Lúc 3 giờ chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung Tướng Vînh Lộc, đã một thời là Tư Lệnh Quân Đoàn II, rồi Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, vào nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Cùng lúc, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhận chức Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Và một vài Đại Tá nhận chức Trưởng Phòng. Đại Tá Nguyễn Khắc Tuân, chánh văn phòng Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng. Đại Tá Tuân gọi tôi lên trình diện Trung Tướng tân Tổng Tham Mưu Trưởng.
Trung tướng Vĩnh Lộc nói: Những vị Tướng cầm quyền đã chạy hết rồi. Bây giờ chúng mình hãy cùng nhau cố gắng làm nhiệm vụ trọng đại của Quốc Gia. Vào giờ phút lâm nguy này mới thấy được giá trị của mỗi người như thế nào đối với Tổ Quốc”. “Thưa Trung Tướng, giờ này tôi có mặt ở đây và đang trình diện Trung Tướng, trong khi các cấp chỉ huy trên tôi đã rời khỏi nhiệm sở, và các cấp chỉ huy dưới tôi cũng vậy, có nghĩa là tôi vẫn tiếp tục trách nhiệm của tôi, thưa Trung Tướng”. “Nhiệm vụ yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị phòng thủ Sài Gòn, tôi trông cậy vào anh”.
19. Vâng. Tôi đã và đang làm tất cả những gì thuộc về trách nhiệm của tôi, và tôi vẫn tiếp tục như vậy. Và nếu không có vị nào khác thì xin Trung Tướng cử Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức vào chức vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, vì tôi được biết Chuẩn Tướng Chức sẳn sàng nhận chức vụ này, thưa Trung Tướng”. “Anh sẽ có vị Tổng Cục Trưởng ngay hôm nay”. “Vâng. Chào Trung Tướng”. Lúc 5 giờ chiều 29 tháng 4 năm 1975, Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, trước là Cục Trưởng Cục Công Binh, kế đến là biệt phái sang phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách khẩn hoang lập ấp, đến nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
Tôi trình bày tình hình chung và tình hình riêng của ngành Tiếp Vận như đã cung cấp cho các vị chỉ huy Tiếp Vận trong buổi họp ngắn ngủi lúc 2 giờ, và tình hình yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị chiến đấu. Chuẩn Tướng Chức viết tay lệnh bổ nhiệm Đại Tá Trần Văn Lễ, đang là Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp Vận trở lại chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Tiếp Vụ. Các vị Cục Trưởng đã bỏ nhiệm sở thì ông cử các vị Cục Phó giữ chức Quyền Cục Trưởng. Bây giờ xin phép anh tôi về nhà dùng cơm rồi trở lại ngay. Trong thời gian đó nếu có đơn vị nào xin yểm trợ thì anh bảo họ điện thoại cho tôi và tôi giải quyết”. “Được rồi, anh về đi.
20. Cơm xong tôi ra xe, nhưng đến 10 giờ đêm mà vẫn chưa ra đến đường Tô Hiến Thành mặc dù chỉ cách nhà tôi hơn 100 thước. Chừng như tất cả mọi người đều đổ xô ra khỏi nhà để tìm đường sống vậy! Tôi xuống xe và chen nhau từng bước giữa khối người là người, mới trở vào được trong khu cư xá do các thanh niên trong cư xá canh gác bảo vệ, vì ngay ngoài cổng trước của cư xá đã có vài nhà bị cướp giật rồi. Tôi điện thoại sang Tổng Cục Tiếp Vận: “Chào anh Chức, Hoa đây anh. Bây giờ tôi không có cách nào ra ngoài cư xá được vì hỗn loạn đến mức không sao tưởng tượng nỗi. Anh cho phép tôi ở nhà. “Được rồi. Có gì tôi gọi anh”.
Khoảng 2 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, điện thoại (nhà tôi) reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe”.“Trung Tướng Lộc đây anh. Lúc nảy, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh có xin tiếp tế xăng và đạn, không biết là họ liên lạc với anh chưa? “Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III có gọi tôi, và tôi đã cung cấp rồi, thưa Trung Tướng”. “Cố gắng nghe anh Hoa”. “Vâng. Tôi đã trình bày với Trung Tướng chiều qua rồi, tôi vẫn thi hành nhiệm vụ của tôi cho đến khi nào tôi không thể tiếp tục được nữa, thưa Trung Tướng”. Khoảng 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Thiếu Tá Ông Kim Miêng, chánh văn phòng Tổng Cục Phó, và từ chiều qua là chánh văn phòng Tổng Cục Trưởng, từ văn phòng Tổng Cục Tiếp Vận điện thoại tôi: Thưa Đại Tá, Chuẩn Tướng Chức đã lên xe đi rồi.
21. Chuẩn Tướng đi một mình hay đi với ai vậy anh? Dạ đi một mình. Chuẩn Tướng đi mà không xách cái cặp theo, và cũng không cho xe hộ tống (xe có còi hụ mà chiều qua ông mang đến) theo nữa”. Thôi được. Sáng sáng một chút, tôi tìm cách đến Tổng Cục hẳn hay. Vừa mờ sáng là tôi lên xe. Hướng ngã tư Bảy Hiền, nơi trở thành tiền tuyến có nhiều tiếng súng trường và tiểu liên, nên không có người đi lại bao nhiêu, và tôi cho xe chạy ngang chợ ông Tạ rồi rẽ sang Võ Tánh nối dài đến Tổng Tham Mưu, nhưng vào được. Bởi, Đại Tá Trần Văn Thăng, mới nhận chức Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu ra lệnh cho toán Quân Cảnh gác cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu, không cho bất cứ ai vào nếu không có thẻ an ninh do Sĩ quan an ninh Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã cấp.
Tôi có thẻ, nhưng không bao giờ mang trên túi áo mà là để trong cặp xách tay, và cái cặp thì tối qua tôi vẫn để trên bàn viết ở văn phòng. Đạn đại bác của quân cộng sản nổ nhiều ở Tân Sơn Nhất và bắt đầu nổ trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu trong lúc tôi đang nói chuyện với anh sĩ quan Quân Cảnh. Chúng tôi phải nép vào thân cây trước văn phòng Tổng Hành Dinh. Vậy là, tôi sang trại Lê văn Duyệt, ngồi tạm trong văn phòng Đại Tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu Trưởng Biệt Khu Thủ Đô. Tôi báo cho Thiếu Tá Ông Kim Miêng bên Tổng Cục Tiếp Vận biết vị trí của tôi và dặn anh chuyển tất cả điện thoại sang tôi nếu có ai gọi.
22. Tại Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh, đã bỏ chạy rồi. Thiếu Tướng Lâm Văn Phát, người đảo chánh Trung Tướng Khánh ngày 19 tháng 2 năm 1965 thất bại được Tổng Thống Dương Văn Minh cử giữ chức Tư Lệnh Biệt Khu. Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, giữ chức Tư Lệnh Phó. Thiếu Tướng Phát từ sáng sớm đã lên trực thăng quan sát tình hình, vừa đáp xuống là ông gọi Tư Lệnh Không Quân cho các phi tuần khu trục liên tục oanh kích quân cộng sản đang quanh quẩn dọc con đường từ phía trên ngã tư Bảy Hiền lên đến Hóc Môn. Vị Tư Lệnh Không Quân lúc bấy giờ là Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, vì Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân đã cao bay xa chạy rồi.
Và Bộ Tư Lệnh Không Quân cùng các phi đoàn còn lại, từ căn cứ Sư Đoàn 5 Không Quân Tân Sơn Nhất và căn cứ Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, rút xuống căn cứ Sư Đoàn 4 Không Quân tại Trà Nóc, cách Cần Thơ khoảng 7 cây số. Thiếu Tướng Lâm Văn Phát vừa đáp xuống sân Bộ Tư Lệnh, Chuẩn Tướng Lê Văn Thân bảo Đại Tá Ngô Văn Minh ghi lên bản đồ mà ông đang cầm trên tay, vị trí của các đơn vị bạn để ông bay quan sát và hướng dẫn các khu trục tấn công các đơn vị địch. Khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, chiếc trực thăng trở về nhưng không có Chuẩn Tướng Thân. Tôi hỏi: Chuẩn Tướng Thân đâu rồi các bạn? Chuẩn Tướng bảo tôi đáp xuống Cần Giờ, ổng xuống đó rồi bảo tôi về đi. Vậy là Chuẩn Tướng Thân cũng đã chạy!
23. Trung Tướng Vĩnh Lộc điện thoại cho tôi, ông đồng ý cho tôi ngồi ở Biệt Khu Thủ Đô điều hành công tác yểm trợ Tiếp Vận. Và ông cho biết là ông phải xuống dinh Độc Lập để dự lễ ra mắt chánh phủ lúc 9 giờ (sáng). Sau đó tôi mới biết là Trung Tướng Vĩnh Lộc cũng bỏ chạy. Nhưng nghĩ cho cùng, Trung Tướng Vĩnh Lộc chỉ ngồi ghế Tổng Tham Mưu Trưởng vỏn vẹn có 18 tiếng đồng hồ, và là 18 tiếng đồng hồ cuối cùng của cuộc chiến 20 năm 9 tháng 10 ngày. Tôi nghĩ ông không phải là vị Tổng Tham Mưu Trưởng góp phần trách nhiệm về cái chết tức tưởi của một quân đội hơn 1.000.000 người!
Lúc 10 giờ 15 ngày 30 tháng 4 năm 1975, từ máy thu thanh trong phòng Đại Tá Ngô Văn Minh, có âm thanh "... ông nói đi...., nhanh lên,.... chờ gì nữa,....". Một giọng nói gần như quát: "Ông tuyên bố nhanh lên..."Và đại ý lời của Tổng Thống Dương Văn Minh như là một mệnh lệnh đối với quân đội".... các đơn vị không được nổ súng, ở yên tại chỗ và bàn giao cho lực lượng giải phóng...".Đối với phía cộng sản, ông yêu cầu đừng nổ súng và ông hứa sẽ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự. Tôi xem đây là giây thứ 3.600, giây cuối cùng của giờ thứ 25, giờ cuối cùng của ngày thứ 7.583, và là ngày cuối cùng của một giai đoạn chiến đấu bảo vệ tự do dân chủ! Thế là hết!!! (Hết trích)./.
V. THÀNH QUẢ CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM VÀ VIỆT NAM CỘNG HOÀ: 1948-1976.
1. Hiến pháp 1967, xác lập cơ cấu tổ chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa rất hoàn chỉnh. Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội với 159 Dân biểu, do dân bầu, có nhiệm kỳ 4 năm; và 60 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm. Thượng viện được bầu theo liên danh cho nhiều vùng trong cả miền Nam. Hạ viện thì bầu theo từng địa phương căn cứ trên dân số. Mỗi dân biểu đại diện khoảng trên dưới 50.000 cử tri. Nhiệm kỳ cuối cùng của Hạ viện bắt đầu ngày 29 Tháng Tám năm 1971. Thượng viện thì phân nửa bắt đầu nhiệm kỳ Tháng Tám năm 1970. Trong 159 ghế Hạ viện thì có 6 ghế dành riêng cho người Việt gốc Miên, 6 ghế cho người Thượng, 2 ghế cho người thiểu số di cư từ thượng du miền Bắc, và 2 ghế cho người Chàm.
Quốc hội có những quyền hạn sau: (1) Biểu quyết các đạo luật. (2) Phê chuẩn cáchiệp ước và hiệp định quốc tế. (3) Quyết định việc tuyên chiến và nghị hòa, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh. (4) Kiểm soát chính phủ trong việc thi hành chính sách quốc gia. (5) Hợp thức hóa sự đắc cử của dân biểu hoặc nghị sĩ quốc hội. (6) Quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay toàn thể Chính phủ với đa số 2/3 tổng số dân biểu và nghị sĩ. Nếu Tổng thống không có lý do đặc biệt để khước từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu lực. Trong trường hợp Tổng thống khước từ, Quốc hội có quyền chung quyết sự khuyến cáo với đa số 3/4 tổng số dân biểu và nghị sĩ.
2. Tổng thống là người nắm quyền hành pháp. Tổng thống do bầu cử lên với nhiệm kỳ 4 năm và có những quyền hạn sau: (1) Ban hành các đạo luật. (2) Hoạch định chính sách quốc gia. (3) Bổ nhiệm Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ, cải tổ một phần hay toàn bộ Chính phủ (hoặc tự ý, hoặc sau khi có sự khuyến cáo của Quốc hội). (4) Bổ nhiệm các đại sứ, các tỉnh trưởng, thị trưởng, đô trưởng. (5) Chủ tọa Hội đồng Tổng trưởng. (6) Tổng tư lệnh tối cao của Quân lực Việt Nam Cộng hoà (7) Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia. (8) Ký kết và ban hành các hiệp ước và hiệp định quốc tế. (9) Tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm bằng sắc luật.
Theo lý thuyết thì Tổng thống không được quyền can thiệp vào nhánh lập pháp, nhưng trong thực tế thì khác. Ví dụ như năm 1969, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã vượt quyền hiến pháp, cụ thể là điều luật quy định sự bất khả xâm phạm của dân biểu, để bắt giữ và mở toà án quân sự kết án dân biểu Trần Ngọc Châu 10 năm khổ sai, sau khi vị dân biểu này đề nghị thành lập một đoàn gồm các nhà lập pháp Việt Nam Cộng hòa để đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
3. Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm, để điều khiển Chính phủ và các cơ cấu hành chính quốc gia. Thủ tướng chịu trách nhiệm về sự thi hành chính sách quốc gia trước Tổng thống. Chính quyền Trung ương được tổ chức thành 19 Bộ gồm: Bộ Ngoại giao; Bộ Quốc phòng; Bộ Nội vụ; Bộ Thông tin; Bộ Chiêu hồi; Bộ Tài chính; Bộ Kinh tế; Bộ Tư pháp; Bộ Phát triển Nông thôn; Bộ Cải cách Điền địa và Pháp triển Nông–Ngư nghiệp; Bộ Công chánh; Bộ Giao thông và Bưu điện; Bộ Giáo dục; Bộ Y tế; Bộ Xã hội; Bộ Lao động; Bộ Cựu chiến binh; Bộ Phát triển Sắc tộc; Bộ Đặc trách liên lạc Quốc hội. Ngoài ra còn có 3 Quốc vụ khanh: Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa; Quốc vụ khanh đặc trách tái thiết và phát triển; Văn phòng Quốc vụ khanh.
Đứng đầu các Bộ là các Tổng trưởng hoặc Bộ trưởng. Các Tổng trưởng và Bộ trưởng là các thành viên của Chính phủ, thành viên của Hội đồng Nội các (Hội đồng Tổng trưởng). Các Tổng trưởng, Bộ trưởng do Thủ tướng đề cử và, Tổng thống bổ nhiệm. Thủ tướng và các thành viên Chính phủ có thể tham dự các phiên họp của Quốc hội hoặc của các Uỷ ban để trình bày và giải quyết về các vấn đề liên quan đến chính sách quốc gia và sự thi hành các chính sách quốc gia do Tổng thống hoạch định. Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa được chia thành các Tỉnh. Thủ đô Quốc gia được gọi là Đô thành. Đứng đầu đô thành Sại Gòn là Đô trưởng, thị trưởng; đứng đầu tỉnh là Tỉnh trưởng. đứng đầu quận là Quận trưởng; đứng đầu xã là Xã trưởng
4. Luật pháp Việt Nam Cộng hòa được xây dựng căn cứ theo Bộ Hoàng Việt Hộ luật (1936-1939) do triều đình Nguyễn ban hành ở Trung Kỳ cùng Bộ Dân luật Giản yếu (1883) áp dụng ở Nam Kỳ, sau châm chước thêm một số điều khoản của Bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931). Hình luật thì có Bộ Hoàng Việt Hình Luật (1933), Tố tụng tu chính của Trung Kỳ (1935) và Hình luật Nam Kỳ Canh cải (1912). Di sản luật pháp từ thời Pháp thuộc dần được thống nhất thành một bộ luật cho toàn quốc năm 1972 với tên Bộ Hình luật Việt Nam ban hành ngày 20 tháng chạp năm 1972.
Việt Nam Cộng hòa có năm bộ luật: (1) Bộ luật Hình sự tố tụng; Bộ luật này đã được Tổng thống Việt Nam Cộng hoà ban hành qua Sắc luật số 027/TT-SLU. (2) Bộ Dân luật; Sắc luật số 028/TT/SLU. (3) Bộ Quân luật và các văn kiện thi hành của Bộ Quốc phòng. (4) Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng; Sắc luật số 030/TT/SLU. (5) Bộ luật Thương mại 1972. Phần này gồm 5 quyển và 1051 điều quy định các điều khoản tổng quát về nhà buôn, nhiệm vụ của các nhà buôn và các cửa hàng thương mại; thương hội; hành vi thương mại; thương mại hàng hải; khánh tận, phá sản và thanh toán tư pháp.
5. Tối cao Pháp việt Việt Nam Cộng hoà gồm 9 Thẩm phán, sau tăng thành 15 thẩm phán do Quốc hội tuyển chọn và Tổng thống bổ nhiệm. Nhiệm kỳ của thẩm phán Tối cao Pháp viện là 6 năm. Theo Hiến pháp 1967, Tối cao Pháp viện có những quyền hạn sau: (1) Giải thích Hiến pháp, phán quyết về tính hợp hiến hay không hợp hiến của các Đạo luật, Sắc luật, Sắc lệnh, Nghị định, Quyết định hành chính. (2) Phán quyết về việc giải tán một chính đảng có chủ trương và hành động chống lại chính thể cộng hòa. Những quyết định của Tối cao Pháp viện tuyên bố một đạo luật không hợp hiến hoặc giải tán một chính đảng phải được 3/4 tổng số thẩm phán tán thành.
Ở cấp Trung ương, ngoài Tối cao Pháp viện còn có Đặc biệt Pháp viện và Giám sát viện. Đặc biệt Pháp viện gồm có Chủ tịch Tối cao Pháp viện và 10 dân biểu, nghị sĩ, có thẩm quyền truất quyền Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, Tổng trưởng, Bộ trưởng, thẩm phán Tối cao Pháp viện trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác. Giám sát viện, gồm từ 9-18 giám sát viện, 1/3 do Quốc hội, 1/3 do Tổng thống và 1/3 do Tối cao Pháp viện chỉ định có thẩm quyền: (1) Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân can tội tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế; (2) Kiểm kê tài sản của nhân viên các cơ quan công quyền, kể cả Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, dân biểu, Nghị sĩ và Chủ tịch Tối cao Pháp viện. (3) Có quyền đề nghị các biện pháp chế tài và kỷ luật hoặc yêu cầu truy tố trước toà án có thẩm quyền những đương sự phạm lỗi. (4) Thẩm tra kế toán các cơ quan công quyền và hợp doanh.
6. Về tổ chức Tòa án: Ở địa phương, có các toà án thường (gồm các toà Thượng thẩm, toà Đại hình, toà Sơ thẩm, tòa Hòa giải, toà Vi cảnh) và các toà án đặc biệt gồm: toà án Hành chính, toà án Lao động, toà án Điền địa, toà án cho Thiếu nhi (thành lập năm 1958), toà án Cấp dưỡng, toà án Sắc tộc, toà án Quân sự đặc biệt - trong đó có các toà án Quân sự tại mặt trận. Cấp thấp nhất là Tòa Vi cảnh, ở nông thôn có khi do quận trưởng chủ tọa. Cao hơn thì có hệ thống Tòa Sơ thẩm có một chánh thẩm và ba phụ thẩm. Tòa Thượng thẩm thời Đệ nhất Cọng hoà có hai sở, một ở Sài Gòn, một ở Huế. Mỗi phiên tòa này có ba thẩm án ngồi xử án.
Cho đến năm 1975, Việt Nam Cộng hòa có 1 Đô thành Sài Gòn và 44 tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Bổn, Kon Tum, Pleiku, Darlac, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đức, Quảng Đức, Lâm Đồng, Phước Long, Bình Long, Bình Tuy, Long Khánh, Bình Dương, Tây Ninh, Phước Tuy, Biên Hoà, Hậu Nghĩa, Gia Định, Long An, Kiến Tường, Gò Công, Định Tường, Kiến Phong, Châu Đốc, Kiến Hoà, Vĩnh Long, Sa Đéc, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Bình, Phong Dinh, Ba Xuyên, Chương Thiện, Bạc Liêu, An Xuyên.
7. Về mặt quân sự, năm 1961, thành lập các vùng chiến thuật: Vùng 1 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Đà Nẳng gồm 5 tỉnh: Khu 11 chiến thuật, gồm 2 ,tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên; Khu 12 chiến thuật, gồm 2 tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi; Đặc khu Quảng Nam, gồm tỉnh Quảng Nam và Thị xã Đà Nẳng. Vùng 2 chiến thuật, Bộ tư lệnh vùng 2 chiến thuật ở Nha Trang, nhưng Bộ tư lệnh quân đoàn 2 ở Pleiku gồm 12 tỉnh: Khu 22 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn; Khu 23 chiến thuật, gồm 7 tỉnh Darlac, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đức, Quảng Đức, Lâm Đồng, và Thị Xã Can Ranh; Biệt khu 24 gồm 2 tỉnh Kon Tum, và Pleiku.
Vùng 3 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Biên Hoà gồm 10 tỉnh: Khu 31 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An; Khu 32 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Phước Long, Bình Long, Bình Dương; Khu 33 chiến thuật, gồm 4 tỉnh Bình Tuy, Phước Tuy, Long Khánh, Biên Hoà, và Thị xã Vũng Tàu. Đến năm 1964, lập thêm vùng chiến thuật 4. Vùng 4 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Cần Thơ, gồm 15 tỉnh: Khu 41 chiến thuật, gồm 4 tỉnh Kiến Tường, Định Tường, Gó Công, và Kiến Hoà; Khu 42 chiến thuật, gồm 6 tỉnh Kiến Phong, Châu Đốc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang, Kiên Giang, sau thêm Sa Đéc; Khu 43 chiến thuật, gồm 5 tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, và An Xuyên.
8. Đến tháng 7, 1970, khi 4 Vùng chiến thuật chuyển thành 4 Quân khu, thì bỏ cấp khu chiến thuật. Mỗi Quân khu do một Quân đoàn phụ trách. Các Quân khu có địa giới như sau: Quân khu 1 gồm 5 tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng. Quân khu 2 với diện tích 78.841 km vuông, chiếm gần một phần tư lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng chỉ có gần 3 triệu dân sinh sống trong 12 tỉnh. Quân khu 3 có thêm tỉnh Gia Định và Biệt khu Thủ đô (do Quân khu Thủ đô đổi thành), tổng cộng 11 tỉnh. Quân khu 4 có 16 tỉnh.Các thị xã về mặt quân sự là các tiểu khu, còn các quận là các chi khu.
Quân lực Việt Nam Cộng hoà là lực lượng quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, được trang bị hùng hậu với sức cơ động cao và hoả lực mạnh, được sự hỗ trợ tích cực của Mỹ và các đồng minh. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng là lực lượng chính trong cuộc đảo chính 1963 lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, và tham chính trong chính quyền cho đến ngày Việt Nam Cộng hòa sụp đổ. Quân lực Việt Nam Cộng hòa là một quân đội hiện đại, tốn kém, đòi hỏi kinh phí hoạt động gần 3 tỷ đôla Mỹ mỗi năm. Nền Kinh tế Việt Nam Cộng hoà không thể cáng đáng được kinh phí này, nên Việt Nam Cộng hòa đã gần như phải dựa hoàn toàn vào viện trợ của Mỹ để có thể chu cấp cho ngân sách quân sự.
9. Bắt đầu từ năm 1964, một số đồng minh của Việt Nam Cộng hòa ngoài viện trợ, còn trực tiếp tham chiến như Hoa Kỳ (1964), Nam Triều Tiên (03.1965), Úc Đại Lợi (06/1965), New Zealand (07/.1965), Thái Lan (02/1966), và Philippines (10.1966). Lực lượng quân sự nầy rút dần vào năm 1973. Năm 1974, khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ đô la, nền Kinh tế Việt Nam Cộng hoà lâm vào cuộc khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa không còn đủ kinh phí hoạt động, tình trạng thiếu đạn dược, vũ khí, xăng dầu đã dẫn đến hỏa lực yếu và giảm tính cơ động. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, lực lượng quân đội này đã tan rã hoàn toàn.
Tính đến năm 1975 thì Việt Nam Cộng hòa đã thiết lập ngoại giao với 87 quốc gia trên thế giới và 6 quốc gia ở cấp bán chính thức. Lập trường ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa là không chấp nhận bang giao với chính phủ nào đã công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng phóng miền Nam. Năm 1957, Việt Nam Cộng hòa đứng đơn gia nhập Liên hiệp quốc do Hoa Kỳ đề cử, nhưng, bị Liên Xô phủ quyết. Cho đến khi chấm dứt tồn tại (năm 1975), Việt Nam Cộng hòa vẫn không phải là thành viên của Liên Hiệp quốc.
10. Việt Nam Cộng hòa là thành viên của các tổ chức quốc tế: Tổ chức Hiệp ước Liên phòng Đông Nam Á (SEATO); Ủy ban Kinh tế của Liên hiệp quốc về Á châu và Viễn Đông ECAFE; Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực FAO (1950); Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA (1957); Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế ICAO (1954); Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA; Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (1950); Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (1956); Liên hiệp Viễn thông Quốc tế ITU (1951); Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO (1951); Quỹ Thiếu nhi Liên hiệp quốc UNICEF; Liên hiệp Bưu chính Quốc tế UPU (1951); Tổ chức Y tế Quốc tế WHO (1950); Tổ chức Khí tượng Thế giới WMO (1955); Ngân hàng Thế Giới (1956); và Ngân hàng Phát triển châu Á (1966).
Nền kinh tế Việt Nam Cộng hoà là nền kinh tế thị trường chưa phát triển. Nền kinh tế ổn định trong giai đoạn 1955-1960, sau đó do tác động của chiến tranh đã mất ổn định với những đặc trưng như tốc độ tăng trưởng kinh tế không đều, tỷ lệ lạm phát cao, thâm hụt ngân sách nhà nước, và thâm hụt thương mại. Mỹ đóng vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế của Việt Nam Cộng hòa thông qua viện trợ kinh tế cũng như hỗ trợ kỹ thuật. Trải qua 21 năm, khối lượng viện trợ kinh tế mà Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa là rất lớn, đạt hơn 10 tỷ USD (thời giá thập niên 1960). Đây là con số viện trợ kinh tế cao nhất của Hoa Kỳ so với bất cứ nước nào khác trên thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
11. Tại miền Nam Việt Nam, “thu nhập quốc dân chưa bao giờ vượt quá 2 tỷ USD/năm, nhưng trong 5 năm cuối cùng (1971 - 1975), viện trợ Hoa Kỳ hàng năm đạt hơn 2 tỷ USD/năm, tức là lớn hơn tổng số của cải do miền Nam Việt Nam làm ra”. Trước năm 1975, ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Đến cuối năm 1974, người Hoa kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ và 90% xuất nhập khẩu
Lợi tức quốc gia mỗi đầu người năm 1967 là 21.013 đồng, tính theo hối suất Mỹ kim là 176,87 USD. GDP bình quân đầu người năm cao nhất (1971) của Việt Nam Cộng hòa là 200 USD, tuy nhiên đến năm 1974 đã sụt xuống còn 54 USD do Mỹ cắt giảm viện trợ và tiền Việt Nam Cộng hòa mất giá khoảng 400% trong 2 năm. Theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nền kinh tế có nhiều triển vọng "nếu hội đủ điều kiện cần thiết để tiến tới chỗ thoát khỏi tình trạng lạc hậu", nhưng điều kiện chiến tranh khiến kinh tế thường xuyên bị đình trệ.
12. Theo Viện Quốc gia Thống kê của Việt Nam Cộng hòa thì tính đến ngày 30 tháng 6/1968, dân số là 16.259.334. Nông thôn là nơi cư trú của 71% dân số. Dân thành thị là 29%. Gia tăng tự nhiên là 2%-2,2% với lớp trẻ dưới 20 tuổi chiếm 57%. Phân chia theo sắc tộc thì có 394.463 người Việt gốc Miên, 23.819 người Chàm và, 464.354 người Thượng. Số liệu người Thượng không chính xác vì họ sống du canh ở những vùng hẻo lánh và việc kiểm tra bị hạn chế vì tình hình an ninh. Người Hoa chiếm khoảng một triệu người, tập trung ở Chợ Lớn, và một số thị xã. Đông nhất là người Kinh: 15.409.126, chiếm 94,7%. Thành phố lớn nhất là thủ đô Sài Gòn với 1.736.880 dân, nếu tính cả vùng phụ cận là 2.500.000.
Chính phủ đã hoàn tất việc xây dựng Thư viện Quốc gia Việt Nam, khởi công từ năm 1968 nhưng đến năm 1971, mới khánh thành. Lúc mở cửa, Thư viện có 121.000 đầu sách. Năm 1975 khi chính quyền mới tiếp thu thì thư viện này có 200.000 đầu sách. Dự tính của chính phủ sẽ tiến tới việc thành lập Hàn lâm Viện nhưng bước đầu chỉ có Ủy ban Điển chế Văn tự thuộc Bộ Văn hóa. Trước năm 1954, ở miền Nam có một chi nhánh của Viện Đại học Hà Nội (tiếng Pháp:Université de Hà Nội) đặt tại Sài Gòn. Sau Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước, chi nhánh này cùng với một bộ phận của Viện Đại học Hà Nội chuyển từ miền Bắc vào trở thành Viện Đại học Quóc gia Việt Nam.
13. Vào năm 1957, theo sau việc thành lập Viện Đại học Huế, Viện Đại học Quốc gia Việt Nam trở thành Viện Đại học Sài Gòn. Đến năm 1973, Viện Đại học Sài Gòn đã đứng vào hàng quốc tế. Sau này các bác sĩ Việt Nam di tản sang Mỹ, chỉ cần một hai năm đào tạo lại và học thêm tiếng Anh là hành nghề được ngay. Ngoài Viện Đại học Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa còn có 7 viện đại học khác như Viện Đại học Huế, Viện Đại học Đà Lạt, Viện Đại học Cần Thơ,, Viện Đạ học Vạn Hạnh, Viện Đại học Minh Đức, Viện Đại học Hòa Hảo, Viện Đại học Cao Đài.
Năm 1973, tổng số sinh viên đại học lên tới 98.832 người so với chỉ 2.900 người vào năm 1955. Số học sinh trung học trong cùng năm ấy là trên một triệu so với 43.000; và học sinh tiểu học, trên ba triệu so với 401.000. Ngoài ra còn các trường đại học cộng đồng (trường đại học hệ hai năm), trường huấn nghiệp và các chương trình công nghệ. Các trường đại học cộng đồng được thiết lập từ năm 1970 trở đi, đặt cơ sở ở Định Tường, Nha Trang, Sài Gòn, Đà Nẳng, Vĩnh Long. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa ghi rõ "nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí", "nền giáo dục đại học được tự trị", và "những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn".
14. Do chương trình có nhiều kỳ thi với tỷ lệ đánh trượt cao nên học sinh thời Việt Nam Cộng hòa phải chịu áp lực rất lớn về thi cử nên phải học tập rất vất vả, có bằng tú tài đã là một thành tích khá. Do thiếu trường học hoặc điều kiện kinh tế khó khăn nên chỉ khoảng 24% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18 là được đi học. Tới năm 1974, tỷ lệ người dân biết đọc và viết của Việt Nam Cộng hòa ước tính vào khoảng 70% dân số. Một thành tựu khác của Việt Nam Cộng hoà là về cơ sở hạ tầng, và giao thông vận tải. Xa lộ xây dựng đầu tiên là xa lộ Biên Hoà, khánh thành ngày 28 tháng 4 năm 1961.
Về hàng không, ngoài những phi trường lớn như Tân Sơn Nhất, Cam Ranh, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ và Biên Hòa có thể tiếp nhận phản lực đủ loại còn có những phi trường nhỏ ở Đà Lạt, Huế, Kontum, Phú Quốc. Pleiku, Rạch Giá, và Qui Nhơn. Cộng thêm vào là khoảng 100 sân bay nhỏ, rải rác khắp nơi, rất tiện cho việc liên lạc giữa các địa phương. Hãng Air Vietnam là công ty không vận chính. Về đường thủy, miền Nam có tới 4.780 cây số sông, rạch (3.000 dặm Anh). Hải cảng lớn gồm Sài Gòn, Cam Ranh, Đà Nẵng, Nha Trang, Rạch Giá. Còn về đường bộ, có tới 21.000 km, trong đó gần 12.000 km là đường trải nhựa, đi được quanh năm. Có gần 4.000 cây cầu, đang xử dụng tốt.
15. Xe Lam, xe xích lô máy và phương tiện di chuyển với động cơ dưới 49cc thì không thuộc dạng phải đăng ký. Tính đến năm 1974 thì có tổng cộng 258.514 xe lưu thông gồm 35.384 xe vận tải nặng, và 64.229 xe vận tải nhẹ, chưa kể có khoảng 800.000 xe gắn máy, tất cả được nhập khẩu từ Nhật và Ý. Về đường sắt, tuyến đường sắt Xuyên Đông Dương đã được Pháp làm xong từ năm 1936, nhưng đến thập niên 1950 thì khoảng 1/3 đã bị hư hại vì chiến tranh. Việc tái thiết kéo dài bốn năm cho đến năm 1959 thì xe lữa mới chạy được suốt từ Sài Gòn ra Đông Hà, lần đầu tiên sau 12 năm gián đoạn. Tính đến năm 1971-1972 thì Việt Nam Cộng hòa có 1.240 km đường sắt, nhưng chỉ có 57% sử dụng được.
Tính đến năm 1970, miền Nam có 20.000 điện thoại dân sự đăng ký, tính cả nước là 30.964. Mạng điện thoại và điện tín thuộc ty bưu điện có đường dây nối Sài Gòn với Đài Bắc, Calcutta, Manila, Osaka, Paris, Brussel, Bern, Bonn, Madrid, và New York. Trong nước hệ thống điện thoại nối Sài Gòn với 21 tỉnh lỵ. Hệ thống phát thanh quốc gia Việt Nam, vào giữa thập niên 1960 bao gồm đài trung ương ở Sài Gòn và tám đài khu vực phát sóng từ Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Ban Mê Thuột, Nha Trang, Đà Lạt, và Cần Thơ. Ngoài ra có những đài địa phương ở những tỉnh Quảng Nam, Phú Yên, Long An, Kiến Tường, và Định Tường.
16. Truyền hình thì bắt đầu ngày 7 tháng 2 năm 1966, lúc đầu chỉ phát hình một giờ mỗi ngày. Sau vào đầu thập niên 1970, thời lượng phát hình của Đài truyền hình Việt Nam là sáu giờ mỗi ngày vào buổi chiều. 80% dân chúng ở Miền Nam có thể bắt sóng xem được. Đến năm 1972 thì có tổng cộng 49 đài phát thanh và 5 đài truỳen hình đặt ở Sài Gòn, Huế, Quy Nhơn, Nha Trang và Cần Thơ. Toàn quốc (1967) có 1.300.000 radio. Có 48 tờ nhật báo được phát hành, đại đa số bằng tiếng Việt, nhưng cũng có nhật báo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hoa, và tiếng Miên. Đến năm 1964, có 170 rạp chiếu bóng, trong đó khoảng 100 rạp tập trung ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn./.
(Hết chương 11).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét