Chương VIII: 24 CHUYỆN KỂ VỀ CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG CỦA HỌ TẠI 4 NƯỚC TỪNG LÀ THUỘC ĐỊA CỦA ĐẾ QUỐC ANH: HOA KỲ, ÚC ĐẠI LỢI, CANADA VÀ ẤN ĐỘ.
(42 trang và 25.681 chữ).
Bài 155: CHUYỆN KỂ VỀ ĐẾ QUỐC ANH VÀ ĐẾ QUỐC PHÁP THỜI HIỆN ĐẠI.
Lê Xuân Đỗ
Chủ nghĩa đế quốc được định nghĩa là "một mối quan hệ bất bình đẳng về mặt con người và lãnh thổ, thường là sự thống trị, bao gồm việc mở rộng quyền lực và sự kiểm soát của một quốc gia hoặc dân tộc lên quốc gia hay dân tộc khác." Chủ nghĩa đế quốc đặc biệt chú trọng đến việc quản lý, kiểm soát, điều khiển mà một nhóm, thường là một cường quốc, áp đặt lên nhóm hay dân tộc khác thông qua các hình thức phân biệt căn cứ vào chủng tộc, tôn giáo hay khuôn mẫu văn hóa.
Đế quốc Anh. Tham vọng đế quốc của Anh có thể thấy ngay từ thế kỷ XVI. Vào năm 1599 công ty Đông Ấn Anh thành lập và được nữ hoàng Elizabeth trao đặc quyền trong năm tiếp theo. Với sự thành lập của các trạm mậu dịch tại Ấn Độ, người Anh đã có thể duy trì sức mạnh trước các đế quốc khác như Bồ Đào Nha, nước cũng đã thiết lập những trạm mậu dịch tại Ấn Độ từ trước. Cho tới năm 1670, Anh đã trở thành đế quốc lớn với các thuộc địa ở Virginia, Bermudas, Hoduras, Antigua, Barbados, Jamaica và Nova Scotia. Tham vọng đế quốc vô bờ của các nước châu Âu là nguyên nhân dẫn tới những cuộc đụng độ giữa bon họ.
Anh đã có những sự cạnh tranh với Pháp, ví dụ như trong quá trình thực dân hóa vùng lãnh thổ mà nay biết tới là Canada. John Cabot đòi vùng Newfoundland cho Anh trong khi người Pháp tạo ra các thuộc địa dọc sông St. Lawrence và tuyên bố đó là "New France" (nước Pháp mới). Người Anh cũng đã sáng tạo các chủ trương, biện pháp thích nghi với các lãnh thổ mới để thuộc địa hóa các quốc gia như Australia và New Zealand, bởi ở đây không phải là những vùng đất trống, mà là các quốc gia, có nền văn hóa và cư dân địa phương. Việc sáng lập các quốc gia thịnh vượng chung được xem như có sự chia sẻ bản sắc dân tộc đã minh chứng cho các phong trào dân tộc của Anh.
Trong thời kỳ đầu, Đế quốc Anh có nền tảng là chủ nghĩa trọng thương, các thuộc địa liên quan và đất đai chủ yếu ở Bắc Mỹ, vùng Caribe, và Ấn Độ. Sau khi đánh mất các thuộc địa ở Bắc Mỹ vào năm 1776, quá trình phát triển của Anh bị đảo lộn. Họ kiếm lại các khoản bù đắp từ Ấn Độ, Australia; và Mỹ Latinh nhờ việc thiết lập một đế quốc kinh tế không chính thức thông qua kiểm soát thương mại và tài chính sau khi các thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trở nên độc lập vào khoảng năm 1820. Tới thập niên 1840, Anh lại chuyển qua chủ trương thương mại tự do và đã rất thành công giúp họ thống lĩnh các hoạt động thương mại của hầu khắp thế giới.
Từ các thành quả đó, đế quốc Anh bành trướng sang châu Á, châu Phi, và Thái Bình Dương. Sự thất bại của Pháp năm 1815, giúp nước Anh được tận hưởng một thế kỷ thống trị và mở rộng các vùng đất khác trên toàn cầu mà gần như không gặp phải thách thức nào. Tinh thần đế quốc chủ nghĩa của Anh được biểu hiện bởi Joseph Chamberlain, Lord Rosebury, và được Cecil Rhodes thực thi tại châu Phi. Mức độ tự trị của những thuộc địa có người da trắng tới định cư tăng lên trong thế kỷ XX. Vào giai đoạn đỉnh cao của nó, đây là đế quốc lớn nhất trong lịch sử và là cường quốc hàng đầu thế giới trong hơn một thế kỷ.
Đến năm 1913, Đế quốc Anh cai trị khoảng 412.224.526 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt tới đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.
Đế quốc Pháp. Vào thế kỷ XVI, hoạt động thuộc địa hoá châu Mỹ của Pháp khởi đầu với sự thành lập của nước Pháp mới. Kế đến là việc nước này thiết lập các trạm mậu dịch ở châu Á và châu Phi trong thế kỷ XVII. Đến thế kỷ XIX và XX, Pháp đã là đế quốc thực dân lớn thứ hai trên thế giới sau Đế quốc Anh. Tại thời điểm đỉnh cao trong các thập niên 1920 và 1930, diện tích của đế quốc là hơn 4.767.000 dặm² (12.347.000 km²). Trước thế chiến thứ hai, Pháp kiểm soát gần 1/10 diện tích đất trên Trái Đất cùng 110 triệu cư dân (chiếm 5% dân số thế giới tại thời điểm đó).
Pháp nắm quyền quản lý Algeri từ năm 1830 và bắt đầu tái thiết đế quốc toàn cầu của mình một cách nghiêm chỉnh kể từ sau năm 1850, tập trung chủ yếu ở Bắc Phi, Tây Phi, Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương. Những người cộng hòa ban đầu thù địch với đế quốc, họ chỉ trở nên ủng hộ khi Đức cũng bắt đầu xây dựng đế quốc thực dân của nước này. Khi đã phát triển, đế quốc mới nắm vai trò giao thương, cung ứng nguyên liệu thô, mua các mặt hàng được sản xuất, và cho vay uy tín với mẫu quốc, cũng như truyền bá nền văn minh, ngôn ngữ, và Công giáo.
Đế quốc Pháp là nguồn cung nhân lực cốt yếu trong hai cuộc chiến tranh thế giới. Người Pháp mang tới Kitô giáo và văn hóa Pháp kèm lý lẽ bào chữa về mặt đạo đức đó là nâng tầm thế giới tới trình độ của Pháp. Vào năm 1884 Jules Ferry, người đi đầu dẫn giải về chủ nghĩa thực dân, tuyên bố nước Pháp có sứ mệnh khai hoá. Theo đó, “những chủng tộc cao cấp có quyền đứng trên những chủng tộc thấp kém hơn, họ có nhiệm vụ khai hóa cho những thành phần thấp kém". Các quyền công dân đầy đủ – ‘’sự đồng hóa’’ – được đem ra, dù trên thực tế đồng hóa luôn luôn là một chân trời xa xôi.
Trái ngược với Anh, Pháp chỉ gửi một số lượng nhỏ người di cư tới các thuộc địa, ngoại lệ đáng chú ý duy nhất là Algeri, nơi luôn duy trì một cộng đồng thiểu số người Pháp di cư. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Charles de Gaulle và những người Pháp Tự do đã sử dụng các thuộc địa hải ngoại làm căn cứ để từ đó họ chiến đấu vì độc lập của nước Pháp. Tuy nhiên kể từ sau năm 1945 đế quốc bắt đầu bị đe dọa bởi các phong trào chống thực dân. Pháp đã chiến đấu và thất bại trong một cuộc chiến tại Việt Nam vào thập niên 1950, nhưng họ lại thắng cuộc chiến ở Algeri.
Dẫu sao, Charles de Gaulle, nhà lãnh đạo Pháp thời điểm đó, đã quyết định trao độc lập cho Algeria vào năm 1962. Cho đến thập niên 1960, gần như toàn bộ các thuộc địa của Pháp đã giành độc lập, tuy nhiên quốc gia này vẫn giữ được tầm ảnh hưởng ngoại giao và tài chính lớn. Họ đã nhiều lần gửi quân đội tới hỗ trợ các thuộc địa cũ của mình trước đây ở châu Phi để đàn áp các cuộc nổi dậy và đảo chính.
Sydney ngày 20 tháng 2 năm 2023
(Bài viết có 1.385 chữ)
Bài 156: CHUYỆN KỂ VỀ LIÊN BANG HOA KỲ QUỐC GIA ĐỘC LẬP ĐẦU TIÊN TỪ THUỘC ĐỊA ANH QUỐC.
Cư dân đầu tiên sống trên lục địa Bắc Mỹ từ thời Đồ đá, nhưng cho đến thế kỷ 12 mới lập ra những nơi định cư cố định tại vài khu vực phía Đông. Người Châu Âu đặt chân lên Bắc Mỹ trước hết là Tây Ban Nha. Họ lập cơ sở ở Florida rồi thăm dò về phía Bắc và phía Tây, lập ra thuộc Santa Fe ở New Mexico năm 1610. Trước đó, vào giữa thế kỷ 16 đã có sự tranh giành giữa người Tây Ban Nha và người Pháp đang lập thuộc địa dọc theo sông Lawrence, mà trung tâm là Quebec.
Cho đến năm 1607, người Anh mới đến Bắc Mỹ và lập thuộc địa đầu tiên ở Jamestown, nơi bây giờ là Nam Virginia. Đa số trong bọn họ đến đây là tín đồ Thiên chúa giáo La Mã trốn lánh sự đàn áp của nhà cầm quyền Anh đương thời. Sau buổi ban đầu đầy nguy hiểm bệnh tật, thiếu đói, hầu hết người định cư đã vượt qua thử thách. Virginia đã phát triển mạnh nhờ việc sản xuất và buôn bán thuốc lá. Và, do nhu cầu sản xuất thuốc lá cung cấp cho thị trường Châu Âu đưa đến sự khan hiểm sức lao động.
Và, thế là người nô lệ da đen được nhập khẩu vào Bắc Mỹ từ Châu Phi làm dân số ở đây tăng nhanh. Năm 1620, hơn một trăm tín đồ Thanh giáo Anh đổ bộ vào Plymonth Rock, Thanh giáo Anh lập nên một vùng định cư riêng trở thành thuộc địa Massachusetts. Năm 1664, Anh quốc từng bước mở rộng lãnh địa, chiếm đất của người Hoà Lan láng giềng, và New Armsterdam nơi trở thành New York. Tại thời điểm nầy, hầu như người định cư người Anh đã thâu tóm được bờ phía Đông, đang mở rộng thám hiểm tìm kiếm vào bên trong nội địa.
Đối thủ của họ là người Pháp, đòi quyền lợi một vùng rộng lớn xung quanh đến tận phía Tây nam các hồ lớn (Great Lakes). Nhiều trận đánh nhau giữa Anh và Pháp có lúc rất khốc liệt trong năm 1744 và 1748. Thế nhưng, phải trong thập kỷ 1750 lực lượng Anh mới đánh thắng và chiếm hầu hết cứ điểm trọng yếu của Pháp. Sau Hiệp định Paris năm 1763, Anh nắm toàn bộ phía Đông Mississippi của Bắc Mỹ. Sau đó, Tây Ban Nha giao nộp Florida. lực lượng Anh còn chiếm thêm Louisiana từ Pháp.
Mẩu quốc Anh cũng muốn cộng đồng định cư Anh ở Bắc Mỹ hậu thuẩn cho lợi ích thương mại từ Luân Đôn, buộc hàng hoá các thuộc địa định cư phải được vận chuyển bằng tàu Anh, áp đặt luật thuế mới lên các thuộc địa mà không hề tham khảo ý kiến của họ. Những người đi “xâm chiếm thuộc địa định cư” cảm nhận đủ tự tin để thách thức mệnh lệnh từ Anh Quốc, cái mệnh lệnh không, hoặc ít quan tâm đến lợi ích của họ. Họ đứng lên phản đối luật hàng hải, phản đối các sắc thuế áp đặt lên các thuộc địa của Anh quốc…
"Không đại diện, không đóng thuế" đã trở thành khẩu hiệu của đám đông người tập hợp lại, la hét, nói lên sự bất mãn của người định cư. Trung tâm của sự phản đối là Boston nơi những người quá khích đã phá hoại một tàu hàng của Công ty Đông Ấn. Năm 1775, những người cầm đầu cuộc bạo loạn bị bắt, và chỉ lúc đó mới khơi dậy sự hợp tác của 13 thuộc địa trong hành động bạo loạn xa rộng hơn, kể cả việc thành lập một "Chính quyền defacto". Chính quyền này bổ nhiệm George Washington cầm đầu lực lượng quân nổi dậy Bắc Mỹ.
Cuộc chiến tranh cho độc lập của các thuộc địa kéo dài. Quân đội Anh có trên dưới 50.000 quân, vẫn còn trung thành với Hoàng gia. Năm 1776, "Chính quyền defacto" của George Washington tuyên bố thành lập Liên bang Hoa Kỳ độc lập tách khỏi Anh quốc. Chiến tranh tiếp tục với cả hai bên có lúc gần như đều đạt tới chiến thắng. Ý nghĩa quyết định từ việc đầu hàng của tướng Burgoyne và 8.000 quân của ông ta ở thượng New York trong tháng 10 năm 1777. Chiến thắng này thuyết phục Pháp cùng tham gia chiến tranh chống Anh Quốc.
Sau 7 năm chiến tranh, năm 1783, một Hiệp ước hoà bình được ký, theo đó Anh Quốc giữ lại Canada, còn vùng lãnh thổ kéo dài từ Đại Tây Dương tới Mississippi thuộc về Liên hiệp Quốc gia mới gọi là Liên bang Hoa Kỳ.
Sydney ngày 21 tháng 2 năm 2023
(Bài viết có 837 chữ)
Bài 157: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ BÀNH TRƯỚNG LÃNH THỔ VÀ NỘI CHIẾN HOA KỲ: 1860-1865.
Lê Xuân Đỗ
Năm 1789, Hoa Kỳ ban hành Hiến pháp Lời mở đầu ghi rõ "Chúng tôi, nhân dân Hợp chúng quốc", ứng hợp Tuyên ngôn Độc lập. Hiến pháp nhắm tới hai mục đích: "để dựng Liên bang hoàn hảo hơn" và để "bảo đảm tự do" không những cho thế hệ nay mà còn cho "thế hệ sau". Chính quyền Liên bang cầm đầu bởi một Tổng thống nắm quyền Hành pháp, một Quốc hội Lưỡng viện nắm quyền Lập pháp, và một cơ quan Tư pháp nắm quyền giải thích Hiến pháp, bởi một toà án tối cao.
Vị Tổng thống đầu tiên của Liên bang Hoa Kỳ là George Washington được bầu năm 1789. Và năm 1800, Washington D.C chính thức công bố là thủ đô của quốc gia Liên bang Hoa Kỳ. Vị Tổng thống thứ 6 của Hoa Kỳ là James Monroe, công khai tuyên bố “học thuyết Monroe”, rằng mọi sự can thiệp từ thế giới cũ (chỉ Phương Tây) vào các vấn đề liên quan đến phía “Tây Bán cầu” sẽ không được tha thứ. Nó xác định về lòng tự tin, như một lời cảnh cáo đanh thép được phát ra trong năm 1823.
Hoa Kỳ từng bước mở rộng lãnh thổ qua các bước: Mua Louisiana từ Pháp. Năm 1836, giúp cộng đồng Texas tách khỏi Mêxico, đến năm 1845 thì Texas sáp nhập vào Liên bang Hoa Kỳ. Năm 1848, sau chiến tranh với Mêxico, Hoa Kỳ có thêm các nơi bây giờ là tiểu bang Califonia, Arizona, Colorado, Utah, Nevada, và New Mexico. Hoa Kỳ tiếp tục bành trướng về phía Tây với tốc độ nhanh hơn khi triệt hạ được lực lượng hùng mạnh nhất của người bản xứ Indian, và đuổi họ tới một nơi định dành riêng cho người bản xứ.
Năm 1846, sau một cuộc tranh chấp với Anh kéo dài, Hoa Kỳ xác định quyền sở hữu Oregon và khuyến khích người ta vào định cư ở California. Hai năm sau, năm 1848, người ta phát hiện ra mỏ vàng đầu tiên và thế là dòng người đổ vào California tìm vàng. Đến thập niên 1850, hệ thống xe lửa đã đưa sự hưng thịnh kinh tế tới tận miền Trung và Tây Hoa Kỳ. Năm1860 dân số nước Mỹ tăng gấp 4 lần từ 8 triệu (năm 1815) lên thành 31 triệu. Các nhân tố về kinh tế và tôn trọng nhân quyền cũng có vai trò nhất định.
Nó vừa tăng trưởng kinh tế lại vừa nảy sinh mâu thuẩn giữa các tiểu bang phía Bắc và phía Nam, bởi vì nhiều tiểu bang phía Bắc không bằng lòng giá công nhân rẻ mạc ở phía Nam. Ngược lại các tiểu bang phía Nam nơi cung cấp bông sợi lớn nhất thế giới, lại phụ thuộc vào người nô lệ cho sự sống còn, và phát triển kinh tế. Sự trái ngược đó đưa tới việc các tiểu bang Phía Nam ly khai, lập ra Liên minh mới gọi là Liên minh phía Nam năm 1860-1861. Từ đó thỉnh thoảng có đánh nhau.
Nhưng nội chiến chỉ bắt đầu khi quân đội phía Nam triệt hạ, và đốt cờ Liên bang tại Fort Sumeter. Tổng thống Lincoln ra lệnh phong toả Liên minh phía Nam và sau đó cả hai bên ráo riết tuyển quân. Năm 1862, đạo luật về trang trại (Homestead Act) ban cấp 160 mẫu Anh cho bất cứ ai muốn thành lập đồn điền. Cùng năm 1862, Tổng thống Abraham Lincoln ban hành bản sơ bộ của Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ (Emancipation Proclamation), giải phóng cho hơn 3 triệu nô lệ da đen ở Mỹ, đồng thời tuyên bố Nội chiến Mỹ là cuộc đấu tranh chống lại chế độ nô lệ.
Chiến tranh mở rộng, và máu đổ nhiều hơn. Số thương vong của hai bên nhiều hơn cả hai cuộc chiến tranh thế giới sau này cộng lại. Sự tương quan lực lượng kéo dài cho đến khi phía Bắc siết chặt vòng vây, và đạt chiến thắng tại trận đánh Gettysburg. Tuy nhiên, chiến tranh còn tiếp tục cho đến khi tướng Robert E. Lee cùng với 27.800 quân đầu hàng tướng Uysses S.Grant tại Appromatox Conrthouse ở Virginia ngày 9/4/1865. Ngày 18/4/1865, tướng J.E. Johnston đầu hàng với 31.200 quân tại căn cứ Durham ở Bắc Carolinia.
Và cuối cùng quân Liên minh phía Nam đầu hàng ngày 26/5/1865. Xin lưu ý rằng, chỉ 5 ngày sau khi tướng Lee đầu hàng thì ngày 14/4/1865, Tổng thống Lincoln bị ám sát. Nhưng sự kiện ấy không hề ảnh hưởng đến việc đầu hàng của tướng Johnston và toàn bộ quân Liên minh phía Nam trong tháng 4 và tháng 5 năm 1865.
Sydney ngày 22 tháng 2 năm 2023
(Bài viết có 830 chữ)
Bài 158: CHUYỆN KỂ VỀ CHIẾN TRANH THẾ GIỚI I VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TẠI MỸ: 1929-1933.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 30/3/1867, thông qua của Bộ trưởng William.H.Seward, Hoa Kỳ đã mua được vùng Alaska của Nga (Russian) với giá 7,2 triệu USD, nay là tiểu bang Alaska phía Tây bắc của Canada. Hoa Kỳ có lợi ích trên việc mở rộng đường biên giới, đó là nguyên nhân đưa đến chiến tranh với Tây Ban Nha năm 1898. Và kết quả là Hoa Kỳ trở thành thế lực mạnh nhất thống trị vùng Caribbean. Tây Ban Nha bị buộc phải nhường quyền cai trị thuộc địa Philippines, quốc gia đảo phía Đông Nam Châu Á cho Hoa Kỳ.
Năm 1900, Hoa Kỳ bắt đầu cạnh tranh với Anh, và Đức về quyền lực thống trị thế giới. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên rộng lớn và năng lực sản xuất chiếm 11% hàng hoá trao đổi trên thế giới, nó chỉ cho người ta thấy rằng không bao lâu nữa Châu Âu sẽ bị thu hẹp trên các vấn đề quốc tế sự vụ. Mặc dù vậy, mỉa mai thay Châu Âu là người cung cấp lao động cho Hoa Kỳ như một nguồn lực cần thiết khác để thực hiện các dự án đầy hứa hẹn của nó. 28 triệu người Châu Âu nhập cư vào Hoa Kỳ từ năm 1881 đến 1920 minh chứng cho điều này.
Sự pha trộn chủ nghĩa quốc gia đã tạo thành một Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong những năm đầu của thế kỷ 20. Tất cả điều này cộng lại đã không làm cho người ta ngạc nhiên chút nào, khi công chúng Hoa Kỳ chống lại việc can dự vào chiến tranh Thế giới lần thứ I. Cho đến năm 1917, khi tàu chiến Đức tấn công thương thuyền Mỹ, thì Hoa Kỳ mới quyết định tham chiến cùng với phe Đồng minh chống lại Đức Quốc. Quân viễn chinh Hoa Kỳ đi vào cuộc chiến làm cho phe Đồng minh phục hồi sức mạnh.
Bằng các trận đánh đột phá, trận chiến xoay chiều nghiêng hẵn về phía Đồng minh. Và, phe Đồng minh đã giành được thắng lợi cuối cùng năm 1918. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ không còn hấp dẫn lắm bởi các sự xung đột với Châu Âu. Người ta nghi ngờ rằng, quốc gia hùng mạnh này như muốn hướng đến một sự độc lập về chính trị, khi đưa ra các đề nghị dự thảo tại Hội nghị hoà bình Versailles. Nhưng, Tổng thống Wilson đã vượt qua được nhờ kế hoạch 14 điểm về an ninh chính trị thế giới, theo đó các quốc gia thắng trận lập ra một tổ chức mới gọi là Hội Quốc Liên.
Nhiệm vụ chính Hội Quốc Liên là giúp các quốc gia có tranh chấp với nhau, đạt tới một giải pháp giải quyết vấn đề thông qua thương thảo hoà bình. Hội Quốc Liên đi vào hoạt động cho tới khi nó được thay thế bởi Liên Hiệp Quốc. Tổng thống Wilson là sáng lập viên của Hội Quốc Liên, thế nhưng, năm 1920 Thượng viện Hoa Kỳ đã phản đối việc nước này trở thành thành viên của Hội và Hoa Kỳ lại đi vào cô lập với thế giới bên ngoài. Dĩ nhiên, sự thiếu vắng của một quốc gia hùng mạnh như Hoa Kỳ đã làm cho Hội Quốc Liên gặp khó khăn ít nhiều.
Hội Quốc Liên mất đi một nguồn lực cần thiết để làm tròn chức năng duy trì hoà bình thế giới. Thế là mâu thuẩn thế giới lại phát sinh và chiến tranh Thế giới lần thứ II bùng nổ 19 năm sau đó. Cùng với việc phát triển kinh tế trở lại, Hoa Kỳ cũng đã đạt tới một sự biến đổi ngoạn mục về giá trị xã hội. Nhằm nâng cao sức khoẻ công dân, chính quyền Liên bang ban hành các luật lệ an sinh xã hội, bảo hiểm xã hôi, bảo hiểm y tế… Luật cấm uống rượu, đặt những người say sưa ra khỏi vòng pháp luật.
Giấc mơ về sự giàu có của Liên bang Hoa Kỳ bị phá vỡ khi thị trường chứng khoán sụp đổ năm 1929. Tiếp đó một loạt các ngân hàng phá sản bởi các công ty kinh doanh không thành công. Hàng hoá bị ứ đọng, công nhân thất nghiệp làm cho nền kinh tế đi vào khủng hoảng trầm trọng. Sự đau khổ của công chúng đến cùng cực, và được bắt đầu cải thiện khi Frankin D.Roosevelt được bầu vào chức vụ Tổng thống. Ông ta thúc đẩy Quốc hội thông qua một loạt các biện pháp cải cách triệt để.
Nhiều chủ trương rộng lớn gọi là “giải pháp tổng hợp” giải quyết tình hình, hướng tới sự hồi sinh quốc gia. Hạ thấp lãi suất giúp các nhà máy và nông trại tái hoạt động, đầu tư nhiều hơn cho các công trình công cộng. Giải pháp tổng hợp quả đã phục hồi được nền kinh tế, dù vậy tình trạng thất nghiệp vẫn còn cao, cho đến khi nền sản xuất tăng nhanh lên bởi yêu cầu của một cuộc chiến tranh Thế giới khác, chiến tranh Thế giới lần thứ II.
Sydney ngày 23 tháng 2 năm 2023
(Bài viết có 906 chữ)
Bài 159: CHUYỆN KỂ VỀ CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II VÀ HOA KỲ GIÚP CHÂU ÂU TÁI THIẾT.
Lê Xuân Đỗ
Roosevelt được cảnh báo về sự an nguy của Hoa Kỳ, nếu chế độ độc tài phát xít Đức đạt tới sự "khải hoàng" của nó. Nhưng cũng như chiến tranh Thế giới lần thứ I, Roosevelt khó mà vượt qua được sự chống đối của nhân dân Mỹ, nên ông ta đã chọn giải pháp cung cấp trang thiết bị quân sự cho Anh Quốc với những điều kiện đặc ân. Hoa Kỳ áp cũng đặt lệnh cấm vận dầu hoả và phong toả tài sản của Nhật Bản tại nước Mỹ, nhằm chống lại việc Nhật Bản xâm lăng Trung Quốc và Đông Nam Á.
Để trả đủa sự việc này, ngày 7/12/1941, Nhật Bản tung ra một cuộc hành quân thần tốc, đánh phá hầu hết tàu chiến của Mỹ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbour) giết chết 2.300 quân Mỹ. Ngày 8/12/1941, Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật. Ngày 11/12/1941 Đức, Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ. Lúc đầu quân đội Mỹ nhắm vào Thái Bình Dương, nhưng sau năm 1942, Hoa Kỳ được giao trách nhiệm mặt trận Bắc Phi và Châu Âu. Ngày 8.11/1942 quân Anh-Mỹ chiếm Bắc Phi, ngày 9/7/1943 quân Anh Mỹ chiếm Sicily, và chiếm nội địa Italy ngày 3/8/1943.
Ngày 6/6/1944 Liên quân Hoa Kỳ và Đồng minh đổ bộ lên bờ biển Nomandy, phía Tây bắc nước Pháp, từ đó đẩy quân chiếm đóng Đức ra khỏi nước Pháp. Ngày 4-10/2/1945, Hội nghị Yalta họp tại Grimea, Liên Xô, cả ba nhà lãnh đạo Mỹ, Anh, và Liên Xô đi đến sự thống nhất là ba quốc gia cùng với Pháp sẽ đánh chiếm Đức. Ngày 12/4/1945, Tổng thống Roosevelt từ trần, Phó Tổng thống Harry S. Truman trở thành Tổng thống. Ngày 7/5, Đức đầu hàng Đồng minh ở Châu Âu, nhưng tại Châu Á, Nhật Bản vẫn còn kháng cự.
Ngày 6/8/1945, quả bom nguyên tử đầu tiên do Mỹ sản xuất ném xuống thành phố Hiroshima giết 75.000 người, và quả thứ hai ném xuống thành phố Nagasaki ngày 9/8 giết 46.000 người. Nhật Bản chính thức đầu hàng vô điều kiện ngày 14/8/1945. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ có ý định giúp các nước Châu Âu tái thiết. Năm 1947, theo đề nghị của Bộ trưởng Ngoại giao George C.Marshall. Quốc hội Hoa Kỳ đã chuẩn cấp 14 tỷ tái thiết Châu Âu. Tại thời điểm nầy, Liên Xô chi phối mạnh mẽ vào các nước Đông Âu và Trung Âu.
Hoa Kỳ cảm thấy cần thiết phải nhận trách nhiệm lãnh đạo thế giới tự do, ngăn chặn sự đe doạ của Liên Xô bằng cách thành lập Khối Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương gọi tắt là NATO vào ngày 24/8/1949. Hoa Kỳ cũng trợ giúp Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ chống lại sự tấn chiếm của Cộng sản tại 2 nước nầy. Các việc làm này không được công chúng Hoa Kỳ ủng hộ, cho nên, khi cuộc chiến Quốc-Cộng nổ ra tại Trung Quốc, Hoa Kỳ không có động thái gì tích cực. Nước Mỹ có nguy cơ đi vào sự cô lập, tách ra khỏi các vấn đề sự vụ của thế giới như trước Đệ I và Đệ II thế chiến.
Cho đến tháng 9 năm 1949, khi Trung Quốc bị rơi vào tay Cộng sản mới thức tỉnh được dân chúng Mỹ. Năm 1950, Hoa Kỳ gởi quân đội trợ giúp Nam Triều Tiên khi nước này bị Cộng sản Bắc Triều Tiên xâm lăng. Tuy dưới danh nghĩa lực lượng Liên Hiệp Quốc, cuộc hành quân đánh trả hoàn toàn do quân đội Hoa Kỳ lãnh đạo bởi tướng Douglas Mac Arthur. Khi thấy quân đội Trung Quốc trở thành lực lượng chính của cuộc xâm lăng, Mac Arthur tuyên bố sẽ mở rộng chiến tranh vào nội địa Trung Quốc. Vì lời đe doạ đó mà Mac Arthur bị buộc từ chức.
Cuộc thương thảo hoà bình chấm dứt chiến tranh Triều Tiên ngày 27/7/1953. Hoa kỳ lại phải can dính vào một cuộc chiến tranh khác liên quan đến Cộng sản ở Đông Dương, bằng cách viện trợ 60 triệu USD cho Pháp. Năm 1954, trong khi Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Quốc gia Việt Nam, Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên Xô đang họp Hội nghị tại Geneve tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh Đông Dương, thì quân đội Pháp bị quân Cộng sản Việt Nam đánh bại tại Điện Biên Phủ.
Sự kiện này, ảnh hưởng lên chính sách Mỹ trong một thời gian dài.
Sydney ngày 24 tháng 2 năm 2023
(Bài viết có 798 chữ)
Bài 160: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC HOA KỲ CAN DÍNH VÀO CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Lê Xuân Đỗ
Hội nghị Geneve đạt tới việc ký Hiệp định tháng 7 năm 1954, kết thúc chiến tranh Đông Dương, quân đội Pháp rút khỏi Việt, Miên, Lào, Việt Nam tạm thời chia thành hai miền lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, hai năm sau Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Trong thời gian chờ đợi, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hồ chí Minh lãnh đạo quản lý miền Bắc và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo quản lý miền Nam.
Ngày 8/9/1954, một tổ chức phòng thủ Đông Nam Á (SEATO), tương tự tổ chức NATO được ký kết tại Manila, Phi Luật Tân gồm 8 nước: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Pakistan, và Thái Lan. Ngày 12/2/1955, Hoa kỳ đồng ý trợ giúp huấn luyện và viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. Ủng hộ Thủ tướng chống cộng Ngô Đình Diệm với ý định dùng Nam Việt Nam như một tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Mỹ cung cấp tiền bạc, và phương tiện đưa gần 1 triệu người theo Thiên Chúa giáo từ Bắc vào Nam.
Tại trong nội địa nước Mỹ, các quyền dân sự được đưa lên hàng đầu. Quyền “tự do dân chủ” không chỉ bảo đảm bởi Hiến Pháp mà còn được mở rộng ra cho cả những người chưa mang quốc tịch Mỹ. Quốc hội ban hành nhiều đạo luật tạo thêm cơ hội bình đẳng trong việc làm, và về giáo dục. Phong trào vận động các quyền dân sự đạt tới đỉnh cáo đầu thập niên 1960, dẫn tới các hành động bạo loạn chống lại những người “phản đối tự do”.
Sự căng thẳng xã hội trở nên xấu hơn khi phải đối đầu với "cuộc chiến tranh lạnh" và cũng là một trong những thử thách lớn nhất của Tổng thống Kennedy. Đó là năm 1962, lúc Liên bang Xô viết đặt các tên lửa có đầu đạn hạt nhân tại Cuba, đe doạ nền an ninh nước Mỹ. Tại thời điểm ấy, người ta nghĩ rằng cuộc chiến tranh thế giới như đã gần kề. Nhưng rồi một thoả ước giữa hai cường quốc cũng đạt được.
Theo đó, Liên Xô phải rút các tên lửa có đầu đạn hạt nhân ra khỏi Cuba, và đổi lại Hoa Kỳ cũng phải rút tên lửa có đầu đạn hạt nhân ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, tổng thống Kennedy còn phải cam kết sẽ không xâm lăng Cuba. Thật ra "chiến tranh lạnh" bắt đầu từ cuối thập niên 1940, và kéo dài tới cuối thập niên 1980, nhưng chỉ có bốn sự kiện dể thấy là cuộc chiến tranh Triều Tiên, xung đột Đông-Tây Berlin, tên lửa hạt nhân Cuba, và chiến tranh Việt Nam.
Hoa Kỳ can dính vào Nam Việt Nam đầu thập niên 1950, đạo diễn "trưng cầu dân ý" truất phế Bảo Đại; hậu thuẩn Ngô Đình Diệm chống Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam; cấp viện trợ kinh tế; đặt cố vấn quân sự, nhưng chỉ sau cái gọi là “sự kiện vịnh Bắc Bộ” thì ngày 7/8/1964, Quốc hội Hoa Kỳ mới cho phép Tổng thống Mỹ toàn quyền quyết định các biện pháp đối phó tại Việt Nam.
Từ đó, Hoa Kỳ bắt đầu ném bom bắn phá Bắc Việt Nam, đến ngày 29/6/1966, thì máy bay Mỹ ném bom vào khu vực Hà Nội. Cuối năm 1966, có tới 385.300 quân sĩ Mỹ tại Nam Việt Nam, cùng với 60.000 quân ở ngoài khơi bờ biển, và 33.000 quân đóng trú ở Thái Lan. Trong hai ngày 21-22/7/1967, có trên 50.000 người biểu tình chống chiến tranh Việt Nam tại Washington.
Ngày 30.01.1968, quân Cộng sản tấn công vào Sài Gòn và Thành phố của 30 tỉnh, lực lượng Hoa Kỳ và Nam Việt Nam phản công đẩy quân đối phương ra khỏi các thành phố với tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Johnson ra lệnh hạn chế ném bom Bắc Việt Nam, và ngày 10/5/1968 cuộc thương thảo hoà bình Hoa Kỳ - Bắc Việt Nam bắt đầu tại Paris.
Ngày 31/10/1968, Mỹ ngưng ném bom Bắc Việt Nam. Ngày 18/1/1969, hoà hội Việt - Mỹ tại Paris, mở rộng thành bốn bên: thêm Việt Nam Cộng hoà và chính phủ Lâm thời Nam Việt Nam.
Sydney ngày 25 tháng 2 năm 2023
(Bài viết có 774 chữ)
Bài 161: CHUYỆN KỂ VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ 2 NHIỆM KỲ TỔNG THỐNG CỦA NIXON
Lê Xuân Đỗ
Tháng 1/1969, Richard Nixon tuyên thệ nhậm chức Tổng thống, đánh bại ứng cử viên Hubert Humphrey trong cuộc bầu cử ngày 5/10/1968. Tháng 4/1969, quân số Hoa kỳ tham chiến tại Việt Nam đạt tới đỉnh cao 543.400, và trên 50.000 quân đồng minh của Mỹ là Nam Triều Tiên, New Zealand, Australia, Philippiness. Ngày 15/11/1969, cuộc biểu tình lớn nhất chống chiến tranh Việt Nam ở Washington có tới 250.000 người tham dự.
Hôm sau, ngày 16/11/1969 một phúc trình về cuộc tàn sát hàng trăm người tại làng Mỹ Lai, tỉnh Quãng Ngãi, Nam Việt Nam. Trung uý William Calley bị cáo buộc giết 22 người ở Mỹ Lai bị kết án tù chung thân ngày 31/3. Ngày 30/4/1970 quân đội Hoa Kỳ, và Nam Việt Nam tấn công căn cứ quân sự của Cộng sản Việt Nam bên trong nội địa Campuchia. Ngày 21/2/1972, Tổng thống Nixon thăm viếng Trung Quốc, trong điều người ta gọi là "Hành trình tìm kiếm hoà bình".
Ngày 30/3/1972, lực lượng Bắc Việt Nam vượt qua ranh giới phi quân sự tấn công tỉnh biên giới Quảng Trị, Kontum ở Cao nguyên và miền Nam. Hoa Kỳ đáp trả bằng cách tái ném bom Hà Nội, Hải Phòng và cài thuỷ lôi cửa cảng Hải Phòng. Ngày 22/5/1972, Nixon thăm Liên bang Xô viết họp thượng đỉnh với các nhà lãnh đạo Liên Xô về hiệp ứơc chiến lược quân sự. Ngày 7/11/1972, tổng thống Nixon tái đắc cử nhiệm kỳ 2 Nixon với vẻ tự hào đắc thắng.
Ngày 18/12/1972, dưới cái gọi là để giải toả bế tắc trong cuộc thương thảo hoà bình tại Paris, Hoa Kỳ tái ném bom Bắc Việt Nam với mức độ ác liệt hơn, nhất là tại Hà Nội. Ngày 27/1/1973, tại Paris bốn bên tham dự hoà đàm Paris chính thức ký kết Hiệp ước hoà bình tại Việt Nam. Và ngày 1/4/1973, Bắc Việt Nam phóng thích 590 tù binh Mỹ bị bắt trong chiến tranh.
Ngày 30/4/1973, ba trợ lý hàng đầu của Nixon và Bộ trưởng Tư pháp phải từ chức để bị điều tra về vụ Watergate. Ngày 10/10 người Phó của ông ta Sprio T.Agnew phải từ chức Phó Tổng thống, vì bao che cho một nhà thầu trốn thuế khi Agnew còn làm Thống đốc Maryland. Ngày 24/4/1974, Toà án tối cao ra phán quyết yêu cầu Nixon phải giao nộp cho toà 24 cuộn băng ghi âm liên quan đến Watergate được lưu trữ tại toà Bạch Ốc.
Ngày 9/5/1974, từ kết quả điều tra Ủy ban Tư pháp Hạ viện tiến hành thủ tục truy tố Tổng thống Nixon. Từ ngày 24 đến 30/7, căn cứ vào điều 3 Hiến pháp, Ủy ban Tư pháp Hạ viện tiến hành xét xử Tổng thống Nixon về 3 tội trạng: (1) tội có âm mưu bất chính cản trở công lý, giấu giếm bao che vụ Watergate (27/38), (2) tội lạm dụng quyền hành (28/38, (3) tội bất tuân trát đòi hầu toà của Uỷ ban (21/38).
Sau đó Hạ viện nghe tường trình của Uỷ ban Tư pháp trong đó có kết luận buộc tội Tổng thống Nixon, và đã chấp nhận với 412/414 dân biểu hiện diện. Ngày 8/8/1974, Nixon tuyên bố từ chức. Cùng ngày, Phó Tổng thống Gerald R. Ford tuyên thệ nhận chức Tổng thống thứ 38 của nước Mỹ. Ngày 8/9/1974, Tổng thống Ford ban hành sắc lệnh đặc xá cho cựu Tổng thống Nixon về tất cả các tội hình sự mà ông ta đã phạm trong thời gian làm Tổng thống.
Vị Tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ, Gerald R. Ford không phải do dân bầu, ông ta đảm nhiệm Phó Tổng thống do hành vi bất chính của Phó tổng thống Agnew, và bây giờ nhậm chức Tổng thống cũng tại do hành vi phạm pháp của tổng thống Nixon. Từ vị thế đó, người đứng đầu ngành hành pháp có vẻ yếu thế so với ngành lập pháp.
Tháng 3/1975, Nam Việt Nam tiền đồn chống Cộng của Mỹ bị Cộng sản tấn công, Ford không có quyền đáp trả như hai Tổng thống tiền nhiệm: Johnson trong Mậu Thân năm 1968, và Nixon Mùa hè Đỏ lửa năm 1972. Đề nghị chuẩn cấp 300 triệu mua đạn dược tiếp tế khẩn cấp cho Nam Việt Nam của Ford không được Quốc hội chấp thuận, khiến chính phủ Việt Nam Cộng hoà phải rút khỏi Cao nguyên.
Ngày 29/4/1975, Hoa Kỳ tung ra một cuộc hành quân khẩn cấp sơ tán tất cả người Mỹ còn lại ở Nam Việt Nam và một số người Nam Việt Nam ra khỏi Sài Gòn. Và hôm sau 30/4/1975, Cộng sản chiếm Sài Gòn, chính quyền Nam Việt Nam tuyên bố đầu hàng. Ngày 16/5/1975, Quốc hội chấp thuận chi 405 triệu tài trợ cho 140.000 người tị nạn Nam Việt Nam chạy trốn Cộng sản vào nước Mỹ.
Đối với công chúng Hoa Kỳ vụ Watergate chưa lắng đọng, giờ lại dằn vặt bởi mặc cảm thua trận. Họ bỏ ra nhiều trăm tỷ đôla, và 54.000 mạng sống của công dân Mỹ cho cuộc chiến Việt Nam.
Sydney ngày 26 tháng 2 năm 2023
(Bài viết có 904 chữ)
Bài 162: CHUYỆN KỂ VỀ 4 VỊ TỔNG THỔNG CỦA NƯỚC MỸ KẾ TIẾP SAU NIXON - FORD.
Lê Xuân Đỗ
1. Tổng thống Jimmy Carter: Đảng Dân chủ giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11/1976. Sau khi nhậm chức ngày 21/1/1977, Jimmy Carter, ban hành lệnh ân xá cho những người trốn tránh tòng quân trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Ngày 4/11/1979, dân quân Hồi giáo quá khích của Khơmeini xâm nhập Toà đại sứ Mỹ ở Tehran, Iran, bắt giữ 90 người làm con tin, trong đó có 63 người Mỹ.
Giáo chủ Ayatollah Khomeini đòi Mỹ phải giao trả nhà vua Iran là Shah Muhammad Reze Pahlavi đang trị bệnh ở thành phố New York về Iran. Ngày 24/4/1980, trong một nỗ lực giải cứu con tin Hoa Kỳ đang bị giam ở Iran không thành công, làm 8 người Mỹ chết và 5 người bị thương.
2. Tổng thống Ronald Reagon: Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 4/11/1980, Ronald Reagan của đảng Cộng hoà thắng cử trước đương kim Tổng thống Carter. Ngày 20/1/1981, vài phút sau khi Tổng thống Ronald Reagon tuyên thệ nhậm chức, 52 con tin người Mỹ bị giam ở Iran được trả tự do sau 444 ngày bị giam cầm. Ngày 30/3/1981, Reagon bị bắn trọng thương, nghi can John W. Hinekley Jr bị bắt nhưng được xem là vô tội vì anh ta bị điên loạn.
Ngày 23/10/1983, một người mang bom tự sát vào tận Bộ tư lệnh Thuỷ quân Lục chiến Hoa Kỳ tại sân bay quốc tế Beirut ở Lebanon kích nổ giết chết 241 Thuỷ quân Lục chiến. Ngày 3/2/1984, tàu con thoi Challenger được phóng lên không trung trong chuyến hành trình lần thứ 4 của nó, và ngày 7/2, Đại tá hải quân Bruce Mc Candless và Trung tá lục quân Robert Steward trở thành những người đầu tiên của con tàu con thoi bay trong vũ trụ không hạn chế thời gian.
Tháng 11/1984, Tổng thống Reagon tái đắc cử nhiệm kỳ 2 (1985-1988). Tại thời điểm này, ở Liên Xô, Mikhail Gorbachev được bầu làm Tổng bí thư đảng Cộng sản ngày 10/3/1985, bắt đầu tiến trình cải cách và đổi mới, nên quan hệ Liên Xô - Hoa Kỳ cũng được cải thiện. Ngày 8/12/1987, Tổng thống Reagon và Chủ tịch Mikhail Gorbachev họp thượng đỉnh, ký hiệp ước phá huỷ các tên lửa có tầm bắn từ 300 đến 3400 milies gồm 1.752 của Hoa Kỳ và 850 của Liên Xô.
3. Tổng thống George H.W. Bush: Ngày 8/11/1988, Phó tổng thống George H.W. Bush được bầu làm Tổng thống nhiệm kỳ (1989-1992). Ngày 10/8/1989, Bush bổ nhiệm Tướng lục quân da đen Colin Powell làm Chủ tịch Uỷ ban Tham mưu Liên quân. Ngày 20/12/1989, quân Mỹ xâm lăng Panana lật đổ chính quyền Monuel Noriego bị Mỹ tố cáo liên quan đến ma tuý. Ngày 17/1/1991, Mỹ và đồng minh Anh đánh bại Iraq trong chiến tranh vùng vịnh, đẩy Iraq ra khỏi Kuwait, quốc gia bị Iraq xâm chiếm từ tháng 8/1990.
4. Tổng thống Bill Clinton: Ngày 3/11/1992, Bill Clinton ứng cử viên của đảng Dân chủ đắc cử Tổng thống, sau 3 nhiệm kỳ chức vụ này nằm trong tay đảng Cộng hoà. Ngày 19/7/1993, Clinton tuyên bố không đề nghị, không cản trở, không khuyến khích đồng tính luyến ái trong quân đội. Ngày 10/8, tổng thống Clinton đưa ra kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách 496 tỷ cho 5 năm tới, thông qua chương trình giảm chi và thuế khoá. Ngày 1/1/1994, Hiệp ước Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ có hiệu lực thi hành.
Ngày 21/2/1994, viên chức CIA thâm niên Aldrick Arons và vợ ông ta bị buộc tội làm gián điệp, ông ta nhận án tù chung thân và vợ 63 tháng tù. Ngày 21/11, các bên tham chiến ở Bosnia và Herzegovinia đạt tới thoả thuận chấm dứt xung đột chính thức ký hiệp ước ngày 14/12/1995. Ngay sau đó, 20.000 quân giữ gìn hoà bình của Mỹ đầu tiên đến Bosinia. Ngày 26/9, Shannon Lucid hoàn thành cuộc du hành vũ trụ 188 ngày, là phi hành gia phụ nữ Hoa Kỳ đầu tiên được ghi nhận.
Ngày 5/11/1996, Tổng thống Clinton tái đắc cử nhiệm kỳ II (1997-2000). Ngày 21/1/1998, Kenneth Starr điều tra viên độc lập điều tra vụ tai tiếng Whitewater, trong báo cáo của mình ông đưa ra bằng chứng về mối quan hệ tình dục giữa Tổng thống Clinton và thư ký tập sự Monica Lewinsky trong khuôn viên toà Bạch Ốc. Clinton chối bỏ chuyện tình này. Ngày 28/7, Monica Lewinsky đồng ý cung khai trước bồi thẩm đoàn những gì liên quan đến vụ Whitewater để được ban cấp đặc ân miễn tố.
Ngày 6/8/1998, cô tự nhận mình có quan hệ tình dục với Tổng thống Clinton, nhưng chưa bao giờ cô ta được đề nghị "làm tình nằm", nằm xuống để làm tình. Ngày17/8, khai với bồi thẩm đoàn và cả trong lời nói xin lỗi công chúng, Clinton thừa nhận có quan hệ tình dục không chính đáng với Monica Lewinsky. Ngày 9/9/1998, Kenneth Starr gởi cho Hạ viện một tập hồ sơ liên quan, để từ đó hạ viện buộc tội Clinton.
Ngày 5/10, Uỷ ban Tư pháp Hạ viện thông qua đề nghị buộc tội Clinton với 21/37 thành viên. Ngày 8/10, Hạ viện đồng ý tiến hành thủ tục buộc tội Clinton theo đề nghị của Uỷ ban Tư pháp với 258/434 dân biểu hiện diện. Ngày 19/12, Hạ viện chấp thuận hai cáo buộc của Bồi thẩm đoàn hai tội của Tổng thống Mỹ: (1) tội man khai hữu thệ (228/434), (2) tội cản trở công lý (221/434) liên quan tới việc che dấu quan hệ tình dục của ông ta với nguyên thư ký tập sự Monica Lewinsky trong khuôn viên toà Bạch Ốc.
Ngày 7/1/1999, phiên xử buộc tội Tổng thống Bill Clinton lần thứ 2 được diễn ra tại Thượng viện trên 2 cáo buộc của Hạ viện. Ngày 12/2 Thượng viện biểu quyết: (1) tội man khai hữu thê (45/100) nghị sĩ hiện diện, (2) tội cản trở công lý (50/50). Cả hai tội trạng đều không đủ 2/3 số phiếu cần thiết để buộc tội. Ngày 7/2/2000, Tổng thống Clinton đệ trình Quốc hội ngân sách thu chi Liên bang 2000-2001 thặng dư tới 184 tỷ là ngân sách thặng dư liên tục trong 3 năm và là ngân sách thặng dư cao nhất chưa hề có trước đó.
Sydney ngày 27 tháng 2 năm 2023
(Bài viết có 1.120 chữ)
Bài 163: CHUYỆN KỂ VỀ 3 VỊ TỔNG THỔNG MỸ TRONG HAI THẬP NIÊN ĐẦU CỦA THẾ KỶ XXI.
Lê Xuân Đỗ
1. Tổng thống George W.Bush: Cuộc bầu cử Tổng thống thứ 43 (nhiệm kỳ 2001-2004) ngày 7/11/2000, còn lại 25 phiếu bầu của tiểu bang Florida vẫn chưa được xác định. Ngày 8/12, toà án tối cao Florida ra lệnh đếm lại tất cả phiếu bầu bằng tay bởi vì sự trục trặc của máy đếm phiếu. Ngày 12/12, toà án tối cao Liên bang đảo ngược quyết định đó. Ngày 13/12, Phó Tổng thống Gore chấp nhận thất bại trên truyền hình.
Ngày 6/1/2001, Quốc hội xác nhận George W.Bush chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống với số phiếu 271 chọi 266. Ngày 26/5, Quốc hội chấp thuận chương trình cắt giảm ngân sách 1.350 tỷ, kéo dài trong 10 năm. Ngày 9/9, Tổng thống Bush tuyên bố ông ta sẽ giới hạn việc cấp ngân quỹ cho công trình nghiên cứu, và sử dụng các phôi thai cơ thể con người.
Sáng 11/9/2001, 2 máy bay thương mại bị không tặc cướp đâm vào phá sập toà nhà song lập của Trung tâm Thương mại Thế giới ở thành phố New York. Chiếc máy bay bị cướp thứ ba phá sập một phần Ngũ giác đài, và chiếc thứ tư bị nổ tung ở Pennsylvinia, sau khi vài tên không tặc là hành khách xông vào buồng lái. Đây là vụ tấn công khủng bố tệ hại nhất chưa hề có trên đất Mỹ.
Ngày 21/9 Quốc hội chuẩn cấp 15 tỷ trợ cấp đặc biệt cho công nghiệp hàng không bị tạm hoãn các chuyến bay, và công nhân mất việc. Ngày 7/10, Mỹ và Anh tung ra một chiến dịch oanh kích nhắm vào các cứ điểm của tổ chức khủng bố al-Qaeda và dân quân Taliban đang thống trị Afghanistan. Ngày13/11, lực lượng Taliban tại Kabul thủ đô Afghanistan đầu hàng, và ngày 7/12/2001, rút chạy khỏi Kandahar, cứ điểm cuối cùng của họ.
Ngày 25/12/2001, Tổng thống Bush chính thức công bố bình thường hoá về thương mại với Trung Quốc có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2002. Đầu năm 2002, Tổng thống Bush tuyên bố Bắc Triều Tiên, Iran, và Iraq là “một trục ma quỷ” (“an axis of evil”). Đến tháng 9/2002, ông ta còn gây sức ép với Liên Hiệp Quốc thông qua Luật chống Iraq. Chính sách ngoại giao cứng rắn của Bush tạo ra những bất đồng ngay cả trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Ngày 20/3/2003, Tổng thống Bush ra lệnh tấn công vào Iraq, quân Anh và Úc cùng tham chiến với Mỹ chiếm thủ đô Baghdad ngày 9/4/2003, và chính quyền Sađam Hussein chấm dứt sự tồn tại. Ngày 22/7/2003, trong một cuộc chạm súng quân đội Hoa Kỳ đã giết chết 2 con trai của Saddam Hussein ở Mosul phía Bắc Iraq. Ngày 13/12/2003, Saddam Hussein bị quân đội Mỹ bắt khi ông ta đang trốn dưới một hầm nhỏ ở phía Đông nam Tikrit.
Cuộc bầu cử Tổng thống ngày 2/11/2004, ứng viên George W. Bush tái đắc cử nhiệm kỳ 2 (2005-2008) với 62.028.285 phiếu bầu, chiếm 50,73%, trên chân ứng viên Jhon Kerry chiếm 59.028.109 phiếu bầu, tương đương 48,27%. Ngày 20/1/2005, bà Codoleezza Rice trở thành người phụ nử da đen đầu tiên trở thành Ngoại trưởng trong nhiệm kỳ 2 vủa Tổng thống Bush.
Ngày 13/6/2006, trong cuộc thăm viếng Iraq, Tổng thống Bush tái xác nhận sẽ không rút quân khỏi Iraq cho đến khi nào chính quyền mới ở Iraq tự ổn định được về an ninh. Ngày 24/5/2007, trong một phiên họp lưởng viện Thượng viện và Hạ viện chấp nhận đề nghị của chính phủ về chi phí cho cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq, mà không đưa ra thời biểu rút quân.
2. Tổng thống Barack Obama: Cuộc bầu cử tổng thống ngày 4/11/2008, ứng viên Barack Obama đắc cử, với 67.066.915 phiếu bầu, chiếm 53%, trên chân ứng viên John McCain chiếm 57.421.377 phiếu bầu tương đương 46%. Ngày 20/1/2009, Barack Obama tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 44 của nước Mỹ giữa lúc quốc gia đang lâm vào cảnh suy thoái kinh tế. Ngày 17/2, Tổng thống Barack Obama tuyên bố điều chỉnh sách lược đánh bại al-Qaeda ở Pakistan và Afghanistan.
Ngày 1/6, chính quyền Liên bang tài trợ 30,1 tỷ cho công ty General Motor giải quyết dứt điểm việc phá sản của công ty nầy. Trong báo cáo hàng năm đề ngày 29/10 cho thấy nền kinh tế Mỹ tăng 3,5% trong quý 3 (tháng 7-9) dấu hiệu của sự phục hồi từ sự suy thoái. Và ngày 30/10 Nhà trắng cho rằng quỷ tài trợ kích thích kinh tế trong tháng 2 đã có tác dụng tạo thêm hoặc giữ được 650.000 chỗ làm tinh đến cuối tháng 9 trong đó 350.000 của ngành giáo dục và 80.000 ngành xây dựng.
Ngày 1/12, trong bài phát biểu tại Đại học West Point, Obama công bố tăng thêm 30.000 quân cho chiến trường Afghanistan, nâng số quân tham chiến tại đây 100.000, và sẽ rút về trong vòng 18 tháng. Và ngày 10/12/2009, khi nhận giải Nobel Hòa bình Obama giải thích, Hoa Kỳ lãnh đạo cuôc chiến tại Afghanistan như là một bên của cuộc chiến, và mô tả cuộc chiến tại Irad như cơn gió đã qua (“winding down”).
Tại cuộc bầu cử tổng thống ngày 6/11/2012, ứng viên Barack Obama của đảng Dân chủ tái đắc cử nhiệm kỳ 2 (2013-2016), với 332 phiếu bầu của cử tri đoàn, trên chân ứng viên Mitt Romney của đảng Cộng hòa chỉ có 206 phiếu bầu. Sau bầu cử đảng Cộng hòa chiếm 54 ghế tại Thượng viện, đảng Dân chủ chỉ có 44 ghế, và 3 độc lập. Tại Hạ viện đảng Cộng hòa chỉ giành được 246 ghế, trong khi đảng Dân chủ cũng chỉ có 188 ghế.
3. Tổng thống Donald Trump: Trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 9/11/2016, ứng viên Đảng Cộng hoà Donald Trump đắc cử trên chân ứng viên Đảng Dân chủ là bà Hillary Clinton. Ngày 20.1.2017, Donald Trump tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ, Trump theo đuổi chương trình nghị sự “Nước Mỹ trên hết”, ông rút Mỹ khỏi các cuộc đàm phán về thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương (PTT), về thoả thuận biến đổi khí hậu Paris, và về thoả thuận hạt nhân Iran.
Trump cũng áp đặt thuế nhập khẩu gây ra cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, rút quân Mỹ khỏi miền bắc Syría và ba lần đàm phán với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un. Vào cuối nhiệm kỳ, Trump phản ứng chậm trễ trước đại dịch COVID-19: hạ thấp mối đe dọa của đại dịch, phớt lờ nhiều khuyến nghị của các giới chức y tế, truyên bố và quảng bá thông tin sai lệch về các phương pháp điều trị chưa được xét nghiệm chứng minh.
Trump tái tranh cử Tống thống nhiệm kỳ II đại diện cho Đảng Cộng hòa, và thua cử sau ứng viên Đảng Dân chủ Joe Biden. Trump cho rằng cuộc bầu cử đã có gian lận, kích động những người ủng hộ ông ta xông vào phá hoại và chiếm giữ một phần trụ sở Quốc hội Mỹ ngày 6 tháng 1. Sau vụ việc, Tổng thống Trump bị đề nghị luận tội vào ngày 13 tháng 1 năm 2021, khiến ông là Tổng thống Mỹ duy nhất từng bị luận tội hai lần.
Sydney ngày 28 tháng 2 năm 2023
(Bài viết có 1.296 chữ)
Bài 164: CHUYỆN KỂ VỀ OSAMA BIN LADEN VỚI
HAI TỔNG THỔNG MỸ: BUSH VÀ OBAMA
Lê Xuân Đỗ
Osama bin Laden người sáng lập tổ chức al-Qaeda và chủ mưu các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ dưới thời tổng thống George W. Bush, gần Mười năm sau dưới thời tổng thống Barack Obama mới bị lực lượng biệt kích Mỹ giết chết bằng các phát súng bắn vào đầu và ngực ngày 2 tháng 5 năm 2011, lúc 01:00 sáng trong một cuộc đột kích với mật danh Operation Neptune Spear kéo dài 40 phút vào ngôi nhà nơi Osama bin Laden ẩn náu tại Thị trấn Bilal, Abbottabad, Parkistan.
Các giới chức tình báo Mỹ khám phá ra nơi ở của Osama bin Laden bằng cách theo dõi một trong số những người đưa tin cho bin Laden. Năm 2002, người thẩm vấn có nghe qua lời khai không được kiểm chứng về một người đưa tin của al-Qaeda có bí danh là Abu Ahmed al-Kuwaiti. Năm 2003 Khalid Sheik Mohammed, người được cho là trưởng nhóm hành động của al-Qaeda, tiết lộ khi bị thẩm vấn rằng ông ta có quen với al-Kuwaiti nhưng người này không hoạt động trong tổ chức al-Qaeda.
Năm 2004 một tù nhân al-Qaeda tên Hassan Ghul cho người thẩm vấn hay rằng al-Kuwaiti là người gần gũi với bin Laden. Ghul tiết lộ thêm rằng al-Kuwaiti đã không được thấy một thời gian, khiến các giới chức Mỹ nghi ngờ rằng người này đã di chuyển cùng với bin Laden. Khi đối chất lời khai của Ghul, Khalid Sheik Mohammed vẫn cho rằng al-Kuwaiti không hoạt động trong tổ chức al-Qaeda.
Năm 2005, Abu Faraj al-Libi bị bắt và cho các nhà thẩm vấn CIA biết rằng người đưa tin của bin Laden là một người đàn ông có tên là Maulawi Jan. Tháng 9 năm 2006, Al-Libi được chuyển đến trại tù Guantánamo, Ali-Libi từ chối là hắn biết al-Kuwaiti. Vì cả Mohammed và al-Libi đều cố ý giảm thiểu tầm quan trọng của al-Kuwaiti nên các giới chức Mỹ suy đoán rằng người này là một phần trong nhóm thân cận bên trong của bin Laden.
Năm 2007 các giới chức Mỹ biết được tên thật của al-Kuwait nhưng họ không tiết lộ tên cũng như không cho biết làm sao họ đã có thể biết được tên thật của người này. CIA cũng chưa bao giờ tìm ra bất cứ ai có tên là Maulawi Jan và tin rằng al-Libi đã dựng ra cái tên này để đánh lạc hướng các nhà thẩm vấn. Năm 2010, một cuộc nghe lén một nhân vật tình nghi khác vô tình nghe được một cuộc nói chuyện giữa người này và al-Kuwaiti.
Các giới chức CIA tìm ra vị trí của al-Kuwaiti và theo dõi hắn đến khu nhà của bin Laden. Một cuộc nói chuyện điện thoại giữa al-Kuwaiti và một phần tử khủng bố khác bị CIA theo dõi, giúp cho cơ quan này lần theo dấu vết của al-Kuwaiti đến khu nhà tại Abbottābad vào tháng 8 năm 2010. Sau khi xem các hình ảnh chụp qua vệ tinh và các bản báo cáo tình báo, CIA nhận dạng được những người sống trong khu nhà mà người đưa tin thường đến.
Tháng 9.2010, CIA kết luận rằng khu nhà này "được xây đặc biệt để giấu người quan trọng nào đó" và rất có thể đây là nơi cư ngụ của bin Laden. Khu nhà này có tòa nhà chính cao ba tầng, được xây năm 2005, nằm "ở cuối một con đường đất hẹp", cách trung tâm thành phố Abbottābad khoảng 2,5 dặm về hướng đông bắc. Abbottābad cách biên giới Afghanistan khoảng 100 dặm và ở phía cận Đông của Pakistan, cách biên giới Ấn Độ khoảng 20 dặm.
Khu nhà nằm cách Học viện Quân sự Pakistan, được coi là "West Point" của Pakistan, khoảng 0,8 dặm về hướng tây nam. Nằm trong một khu đất rộng gấp tám lần những khu đất của những ngôi nhà lân cận, khu nhà được bao quanh bởi các bức tường bê tông cao từ 12 đến 18 bộ (3,7–5,5 mét) phía trên có giăng dây kẽm gai. Có hai cổng an ninh và ban công tầng ba có một bức tường cá nhân cao 7 bộ (2,1 mét), có thể che khuất chiều cao 6 bộ 4 inch (1,93 mét) của bin Laden.
Các bản đồ Google Earth cho thấy khu nhà này chưa có ở đó vào năm 2001, nhưng nó hiện trên những hình ảnh chụp vào năm 2005. Khu nhà này không được nối cáp điện thoại hay Internet. Người sống trong khu nhà đốt rác của mình, không mang rác ra ngoài cho dịch vụ thu gom. Cư dân địa phương gọi khu nhà này là Dinh thự Waziristan và nghĩ rằng chủ nhân của ngôi nhà này là một người làm nghề chuyên chở đến từ vùng Waziristan. Bin Laden có thời gian sống tại khu vực Waziristan của Afghanistan.
Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia Hoa Kỳ, sử dụng tình báo do máy bay không người lái thu thập được, để phát triển ra "bản đồ" chi tiết bốn-chiều về khu nhà của bin Laden và các mô hình về sinh hoạt bên trong đó". Bản đồ này được dùng để tạo ra một mô hình khu nhà cho các thành viên biệt kích diễn tập trước khi thật sự tiến hành cuộc đột kích.
Ngày 14 tháng 3 năm 2011, tổng thống Obama họp các cố vấn an ninh của mình để lên kế hoạch hành động. Nhiều kế hoạch khả dĩ đã được đệ trình cho tổng thống Obama trong tháng 3. Phương án đầu tiên được các viên chức Hoa Kỳ xem xét là dội bom khu nhà bằng oanh tạc cơ tàng hình B-2 Spirit mà có thể trút xuống 32 quả bom JDAM nặng 2.000 cân Anh. Obama bác bỏ phương án này, gợi ý lựa chọn một cuộc đột kích nếu có bằng chứng chắc chắc rằng bin Laden ở trong đó, và hạn chế những thương vong về dân sự.
Bộ Tư lệnh Hành quân Đặc biệt Hỗn hợp (JSOC) đề nghị "một cuộc đột kích chung có sự tham gia của giới tình báo Pakistan”. Rồi, lần lượt các phương án khác cũng được đưa ra thảo luận như “sử dụng phi cơ không người lái” cũng khó thực hiện vì giới hạn hỏa lực, bởi vị trí của khu nhà nằm trong vùng đánh chặn phòng không bảo vệ thủ đô của Pakistan. “Hành động kiểu biệt kích” cũng có nhiều rủi ro vì thời gian huấn luyện cần thiết làm cho việc chuẩn bị kéo dài dễ làm thông tin rò rỉ ra ngoài…
Sau cuộc họp an ninh quốc gia ngày 22 tháng 3, các thành viên của Nhóm Phát triển Chiến tranh Đặc biệt Hải quân (viết tắt là DEVGRU) được lệnh huấn luyện cho cuộc đột kích.. Họ luyện tập sơ khởi ở các cơ sở huấn luyện nằm ở cả hai phía bờ biển của Hoa Kỳ. Các cơ sở này được tạo dựng giống như khu nhà ở Pakistan. Suốt tháng 4, bắt đầu các buổi huấn luyện chi tiết hơn trên một khu đất mô hình của Dinh thự Waziristan rộng 1 mẫu Anh, được xây bên trong Trại Alpha, một khu vực hạn chế trong Căn cứ quân sự Bagram tại Afghanistan.
Ngày 29 tháng 4, lúc 8:20 sáng, Tổng thống Obama nhóm họp cùng Brennan, Thomas E. Donilon và các cố vấn an ninh quốc gia khác tại Phòng Lễ tân Ngoại giao và đưa ra lệnh tối hậu cho cuộc đột kích vào khu nhà ở Abbottābad, Parkistan. Sau khi Tổng thống Obama cho phép thực hiện sứ mệnh giết hoặc bắt sống Osama bin Laden, Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ Leon Panetta ra tín hiệu bắt đầu vào giữa ngày 1 tháng 5 năm 2011.
Cuộc đột kích được thực hiện bởi 24 thành viên biệt kích hải quân SEAL trong Nhóm Phát triển Chiến tranh Đặc biệt Hải quân Hoa Kỳ (DEVGRU) thuộc quyền Bộ Tư lệnh Hành quân Đặc biệt Hổn hợp Hoa Kỳ nhưng tạm thời được đặt dưới quyền chỉ huy của Cục Tình báo Trung ương. Đội biệt kích SEAL di chuyển đến mục tiêu bằng máy bay trực thăng và chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm có 12 người.
Các biệt kích SEAL bay vào Pakistan từ căn cứ tập họp tại Jalalabad Afghanistan sau khi xuất phát tại Căn cứ Không quân Bagram. Trung đoàn Không vận Đặc nhiệm 160, một đơn vị không vận của Bộ Tư lệnh Hành quân Đặc biệt Lục quân Hoa Kỳ với biệt danh "Night Stalkers", đã cung cấp hai chiếc trực thăng Black Hawk cải tiến, và hai trực thăng dự phòng Boeing CH-47 Chinook. Nhiều máy bay hỗ trợ khác như phản lực tiêm kích, máy bay không người lái và một phi đội máy bay trực thăng tác chiến sẵn sàng 'tìm kiếm và giải cứu'."
Cuộc đột kích được dự tính vào thời gian có ít ánh trăng để các máy bay trực thăng có thể vào không phận Pakistan "thấp gần mặt đất và không bị phát hiện,". Các biệt kích DEVGRU thoát nhanh xuống đất bằng dây thừng khỏi các máy bay Black Hawk. Sau khi họ chạm đất, một trong hai chiếc máy bay trực thăng bị mất kiểm soát, vì rơi vào trạng thái nhiễu loạn không khí do nhiệt độ không khí cao bất ngờ và chiều cao các bức tường của khu nhà. Chiếc trực thăng "lăn sang một bên" trong lúc đáp khẩn cấp.
Khoảng 1:00 sáng địa phương (20:00, ngày 1 tháng 5, giờ UTC), các biệt kích hải quân SEAL dùng trái nổ phá các bức tường của khu nhà. Theo NBC News và New York Times, cuộc đọ súng duy nhất xảy ra giữa toán biệt kích hải quân SEAL đầu tiên và người đưa tin sống trong nhà khách. Một người phụ nữ, được nhận dạng là vợ của người đưa tin, bị giết chết trong lúc hai phía khai hỏa. Thân nhân của người đưa tin và con trai của bin Laden đều bị toán biệt kích hải quân SEAL thứ hai giết chết.
Bin Laden và nhóm biệt kích chạm mặt nhau trên tầng hai hay tầng ba của khu nhà; bin Laden lúc đó "mặc bộ quần áo địa phương gọi là shawar kameez ". Sau đó người ta tìm thấy tờ giấy bạc €500 và hai số điện thoại được khâu vào trong bộ quần áo. Tuy trong phòng có vũ khí gồm có một khẩu súng AK-47 và súng ngắn Makarow, nhưng bin Laden không mang trong người lúc bị bắn. Theo tờ báo Politico "Cuộc chạm mặt với bin Laden kéo dài chỉ vài giây" và xảy ra trong "5 hoặc 10 phút cuối cùng" của cuộc đột kích.
Bin Laden bị giết chết bởi ít nhất một và có thể là hai viên đạn từ phía biệt kích Mỹ. Một viên bắn trúng bên trái, đầu của bin Laden và viên đạn kia được nhiều báo chí tường trình là bắn trúng ngực. Ngoài bin Laden, 3 người đàn ông và một phụ nữ có mặt trong khu nhà được tường thuật là đã bị giết chết trong chiến dịch này. Xác Osama bin Laden được đưa đến Afghanistan để nhận dạng rồi thủy táng ở biển trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Xác bốn người còn lại bị bỏ lại tại khu nhà này.
Sydney ngày 1 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.982 chữ)
Bài 165: CHUYỆN KỂ VỀ DONAL TRUMP VÀ CUỘC BẦU CỬ TỔNG THỐNG MỸ NĂM 2020.
Lê Xuân Đỗ
Cuộc bầu cử tổng thống thứ 59 theo chu kỳ bốn năm một lần tại Mỹ ngày 3 tháng 11 năm 2020, liên danh Đảng Dân chủ gồm cựu Phó tổng thống Joe Biden và Thượng nghị sĩ Kamala Harris đã đánh bại liên danh Đảng Cộng hòa gồm tổng thống và phó tổng thống đương nhiệm Donal Trump và Mike Pence. Đây là cuộc bầu cử đầu tiên kể từ năm 1992 mà tổng thống đương nhiệm thất cử nhiệm kỳ thứ hai.
Điều 2 của Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rằng để một người làm Tổng thống Hoa Kỳ, cá nhân đó phải là công dân Hoa Kỳ lúc chào đời, ít nhất 35 tuổi và là cư dân Hoa Kỳ trong ít nhất 14 năm. Các ứng cử viên cho chức tổng thống thường tìm kiếm sự đề cử của một trong các đảng chính trị khác nhau của Mỹ, trong trường hợp đó, mỗi đảng phát triển một phương thức (như bầu cử sơ cấp) để chọn ứng cử viên mà đảng cho là phù hợp nhất để tranh cử.
Trump và Phó Tổng thống Mike Pence đã được Đảng Cộng hòa đề cử sau khi không gặp nhiều đối thủ đáng kể trong các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng. Cựu Phó Tổng thống Joe Biden đã được Đảng Dân chủ đề cử sau khi đánh bại đối thủ mạnh nhất là Thượng nghị sĩ Bernie Sanders trong các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng mà trong đó có số lượng ứng cử viên cao nhất trong bất cứ đảng nào trong thời kỳ hiện đại.
Ngày 11.10.2019, Uỷ ban tranh luận Tổng thống (Commission on Presidential Debates CPD) tuyên bố ba cuộc tranh luận sẽ được tổ chức vào mùa thu 2020. Cuộc tranh luận thứ nhất, do Chris Wallace chủ trì, diễn ra vào ngày 29 tháng 9, bởi Đại học Case Western và Cleveland Clinic đồng tổ chức tại Cleveland, Ohio. Cuộc tranh luận được miêu tả là "hỗn loạn và gần như vô nghĩa" vì Trump liên tục ngắt lời Biden và người chủ trì là Wallace. Biden nhìn chung được cho là đã thắng.
Cuộc tranh luận thứ hai dự kiến được tổ chức tại Trung tâm biểu diễn Adrienne Arsht Miami vào ngày 15.10, nhưng do Donald Trump dương tính với COVID-19, nên ngày 8.10, Uỷ ban tranh luận Tổng thống (CPD) đã tuyên bố rằng cuộc tranh luận này sẽ được diễn ra trên hình thức ảo với mỗi ứng cử viên tham gia từ mỗi địa điểm khác nhau. Nhưng, Trump không chịu tham gia cuộc tranh luận ảo, nên CPD tuyên bố hủy bỏ cuộc tranh luận.
Cuộc tranh luận thứ ba được tổ chức vào ngày 22.10 tại Đại học Belmont ở Nashville, Tennessee. Những thay đổi về điều lệ đã khiến cuộc tranh luận này được xem là hòa nhã hơn cuộc tranh luận đầu tiên. Biden được xem là đã thắng cuộc trong tranh luận, nhưng cuộc tranh luận cũng được xem là sẽ không thay đổi cuộc đua nhiều.
Thăm dò ý kiến đã miêu tả vị thế của mỗi ứng cử viên giữa hai đối thủ chính theo các dịch vụ kết hợp thăm dò ý kiến kể từ tháng 9 năm 2019 đến nay. Cựu phó tổng thống Joe Biden Joe, ứng cử viên Dân chủ, bình quân dẫn đầu 7,7% so với tổng thống đương nhiệm Donal Trump 4,4% ứng cử viên Cộng hòa. Tuy nhiên, thăm dò ý kiến này chỉ đo mức phiếu phổ thông, trong khi kết quả bầu cử dựa vào tổng số phiếu đại cử tri mà mỗi ứng cử viên giành được.
Trong suốt quá trình tranh cử, và ngay cả vào đêm bầu cử, Trump nhiều lần đưa ra những tuyên bố sai trái nhằm gây ngờ vực về sự chính thống của cuộc bầu cử, cũng như từ chối cam kết chuyển giao quyền lực trong hòa bình. Qua các phát biểu trên Twitter, ông ta cho rằng cuộc bầu cử sẽ bị gian lận chống lại ông và tuyên bố rằng ông sẽ không chấp nhận thua cuộc, đã khiến nhiều bài báo đã đưa giả thuyết Trump sẽ không chấp nhận kết quả bầu cử.
Trong một sự kiện vận động tại Oshkosh, Wisconsin, Trump nói "cách duy nhất chúng ta thua cuộc bầu cử này là nếu nó bị gian lận". Ông lặp lại nhiều lần, rằng "Chúng ta phải xem thế nào đã", rằng bỏ phiếu bằng thư có nhiều gian lận, rằng "lá phiếu là thảm họa, rằng thật ra sẽ không có sự chuyển giao, sẽ chỉ có sự tiếp tục”. Những lời bóng gió và răn đe của Trump đã được miêu tả là một mối đe dọa "lật đổ chế độ lập hiến".
Đêm bầu cử ngày 3 tháng 11, sau 12:30 khuya, Biden đọc một đoạn diễn văn ngắn, kêu gọi những người ủng hộ kiên nhẫn chờ kiểm phiếu, và cho rằng ông đang "trên đường đi đến chiến thắng cuộc bầu cử này." Khoảng 2:30 giờ khuya, Trump cũng đọc diễn văn trước nhiều người ủng hộ, tuyên bố sai sự thật rằng ông đã thắng cử và kêu gọi ngừng kiểm phiếu nữa, cho rằng việc tiếp tục kiểm phiếu là "sự gian lận đối với người Mỹ" và rằng "chúng ta sẽ kiện đến Tòa án Tối cao."
Đến tối ngày 4 tháng 11, hãng thông tấn Associated Press đưa tin Biden đã nhận được 264 phiếu đại cử tri, chỉ còn lại các tiểu bang Pennsylvania, North Carolina, Georgia, và Nevada là chưa dự đoán được kết quả trong lúc đang kiểm phiếu. Đến ngày 5 tháng 11, Biden đã dẫn đầu 1% tại Nevada; và dẫn đầu 2,3% tại Arizona. Nếu Biden thắng cả Nevada và Arizona, ông sẽ có đủ 270 phiếu đại cử tri cần thiết để thắng cử. Vào ngày 6 tháng 11, Biden đã giành vị trí dẫn đầu ở Pennsylvania và Georgia.
Kết quả cuộc bầu cử tại mỗi tiểu bang và Quận Columbia đã được chứng nhận vào ngày 9 tháng 12. Các đại cử tri đã chính thức bỏ phiếu cho tổng thống và phó tổng thống vào ngày 14 tháng 12, và theo quy định Quốc hội chính thức kiểm phiếu đại cử tri vào ngày 6 tháng 1 năm 2021. Đến khi Quốc hội chứng nhận kết quả, Trump vẫn chưa chịu thua cuộc và cứ khăng khăng tuyên bố sai sự thật rằng ông mới là người thắng cử.
Quốc hội khóa 117 được triệu tập lần đầu vào ngày 3 tháng 1 năm 2021, dự kiến sẽ kiểm phiếu và chứng nhận kết quả bầu cử Đại cử tri Đoàn vào ngày 6 tháng 1 năm 2021. Là phó tổng thống, Pence sẽ chủ trì cuộc họp lưỡng viện vào ngày 6 tháng 1 năm 2021 để kiểm phiếu Đại cử tri Đoàn, vốn là một sự kiện không có tranh cãi và chỉ mang tính nghi thức. Thế nhưng, từ tháng 1.2021, Trump bắt đầu gây áp lực cho Pence, cả trên phương diện công khai lẫn riêng tư.
Trump đòi Pence dùng địa vị của mình để lật ngược kết quả tại các tiểu bang chiến trường và tuyên bố liên danh Trump/Pence là phe thắng cử. Pence cho rằng luật pháp không cho mình quyền hạn này. Trước đó, bắt đầu từ tháng 12, Trump đã kêu gọi những người ủng hộ mình tổ chức một cuộc biểu tình lớn tại Washington, D.C. vào ngày 6 tháng 1 để chống lại cuộc chứng nhận phiếu đại cử tri.
Trump đã đưa ra những lời tweet như "Biểu tình lớn ở D.C. vào ngày 6 tháng 1. Hãy đến đó, rất là náo nhiệt!" Ngày 6 tháng 1, những người ủng hộ Trump đã xông vào Điện Capitol, làm gián đoạn cuộc kiểm phiếu đang diễn ra, khiến những nghị sĩ và nhân viên báo chí phải sơ tán. Những người nổi loạn đột nhập vào cả Hạ viện và Thượng viện và phá hoại các văn phòng; một người bị cảnh sát bắn chết, một cảnh sát cũng chết do bị thương nặng sau khi xô xát với những người bạo loạn, và ba người khác chết vì những lý do y tế.
Tối hôm đó Quốc hội họp mặt lại sau khi những kẻ xâm phạm đã bị tống ra khỏi. Thượng viện tiếp tục cuộc họp vào khoảng 8:00 giờ tối để kết thúc cuộc tranh luận về cuộc phản đối đối với đại cử tri đoàn từ Arizona. Đại cử tri đoàn từ Pennsylvania cũng bị tranh luận. Vào khoảng trước 4 giờ sáng ngày hôm sau, lưỡng viện đã kết thúc công việc và chính thức xác nhận Biden đắc cử.
Ứng cử viên tổng thống và phó tổng thống Đảng Dân chủ Joe Biden và Kamala Harris chiếm 81.268.867 Phiếu phổ thông đạt 51,31% và 306 Phiếu đại cử tri đạt 56,88%. Ứng cử viên tổng thống và phó tổng thống Đảng Cộng hoà (đương nhiệm) Donal Trump và Mike Pence chiếm 74.216.747 Phiếu phổ thông đạt 46,86% và 232 Phiếu đại cử tri đạt 43.12% .
Sydney ngày 2 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.584 chữ)
Bài 166: CHUYỆN KỂ VỀ ÚC ĐẠI LỢI QUỐC GIA ĐỘC LẬP THỨ HAI TỪ THUỘC ĐỊA ANH QUỐC.
Lê Xuân Đỗ
Úc Đại Lợi (Australia) là một quốc gia đảo cũng là một lục địa, là nơi có nhiều loại động vật, thực vật không tìm thấy bất cứ lục địa nào. Chẳng hạn, Kangaroos, Koalas, thú mỏ vịt, chó hoang, gấu dữ Tasmania, gấu có túi mang con và vô số loại tắc kè, kỳ nhông. Thổ dân (Oborigines) đã sống ở đây khoảng 50.000 năm trước khi người Châu Âu đặt chân lên lục địa nầy. Sau khi 13 thuộc địa người Anh định cư ở Bắc Mỹ đứng lên làm bạo loạn thành lập Liên bang Hoa Kỳ (1776), thì Anh Quốc quyết định chiếm Úc Đại Lợi làm nơi giam giữ tù nhân.
Năm 1786, sĩ quan hải quân hồi hưu Arthur Philip được hoàng gia chỉ định thực hiện công việc này. Tháng 5/1787, Philip chỉ huy một đoàn tàu buồm gồm 11 chiếc, chở 730 tù nhân rời Anh Quốc. Sau 8 tháng lênh đênh trên biển cả, đoàn tàu cập bến Bontany Bay ngày 19/1/1788. Bảy ngày sau ngày 26/1/1788, tại Sydney với tư cách Toàn quyền Arthur Philip tuyên bố thành lập thuộc địa New South Wales (NSW). Sau đó các thuộc địa Tasmania, Western Australia, South Australia, Victoria, và Queensland tuần tự được thành lập vào các năm 1825, 1829, 1836, 1851, và 1859.
Đến năm 1868, Anh Quốc đã chuyển vào Australia 160.020 tù nhân. Bằng chính sách diệt chủng từ đế quốc Anh, các thuộc địa ra sức bắn giết đàn áp và tách ly trẻ em Thổ dân ra khỏi gia đình họ khiến thổ dân từ trên 500.000 người năm 1788 là năm người Anh vào Úc, đến năm 1920 chỉ còn 55.000 người. Từng nhóm người Anh tự do bắt đầu vào Úc định cư năm 1793, đến cuối thập niên 1840, lên tới 400.000 người. Họ cũng đưa vào Úc hàng trăm công nhân người Trung Quốc để làm việc ở trang trại sâu bên trong nội địa.
Năm 1851, vàng được tìm thấy ở New South Wales và Victoria, hàng ngàn người Anh chen chúc nhau trên các tàu buồm đổ xô vào Úc tìm vàng. Làn sóng người đến Úc tìm vàng còn có cả người Châu Âu, Bắc Mỹ, và Đông Á làm cho dân số Úc tăng vọt từ 500.000 năm 1851 lên thành hơn 1 triệu người năm 1860. Dân số Úc đạt tới triệu người thứ Hai năm 1877, và triệu người thứ Ba năm 1889. Để đối phó với sự đe doạ từ Đức Quốc và Nhật Bản ở Nam Thái Bình Dương, năm 1885 Anh Quốc thành lập Hội đồng Liên bang Úc Đại Lợi bao gồm cả New Zealand, và Fiji.
Đầu thập niên 1890, một cuộc vận động thành lập Liên bang Úc Đại Lợi hình thành. Tháng 3/1891, lãnh đạo các thuộc địa họp Hội nghị quốc gia đưa ra một dự thảo Hiến pháp cho Liên bang. Hội nghị tái nhóm vào các năm 1897,1898 bổ sung và hoàn chỉnh, đưa ra "trưng cầu dân ý" trên tất cả các thuộc địa, và được cử tri chấp thuận trong năm 1999. Dự thảo Hiến pháp gởi sang Anh Quốc, sau một vài tu chỉnh nhỏ, Quốc hội hoàng gia Anh thông qua và ban hành dưới đạo luật 63 & 64 Vict C.12 vào tháng 9/1900.
Hiến pháp Liên bang Úc Đại Lợi có hiệu lực ngày 1/1/1901, ngày mà 6 thuộc địa Anh trở thành 6 Tiểu bang của Liên bang Úc Đại Lợi độc lập. Tuy nhiên sẽ là sai lầm khi nghĩ rằng, Úc Đại Lợi hoàn toàn độc lập sau ngày 1/1/1901. Quốc gia này vẫn còn phụ thuộc Anh Quốc nhiều mặt, cả đối nội lẫn đối ngoại. Hiến pháp Liên bang trao cho Nữ hoàng Anh đứng đầu ngành Hành pháp, Lập pháp, và Tư pháp ở cả cấp chính quyền Liên bang lẫn Tiểu bang. Quốc hội hoàng gia Anh có quyền ban hành luật áp dụng cho cả Liên bang lẫn Tiểu bang Úc Đại Lợi.
Sydney ngày 3 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 714 chữ)
Bài 167: CHUYỆN KỂ VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA ÚC ĐẠI LỢI VÀ MẪU QUỐC ANH.
Lê Xuân Đỗ
Khi nổ ra chiến tranh thế giới lần thứ Nhất (1914-1918), Anh Quốc tuyên chiến với Đức, Úc Đại Lợi tự xem mình có nghĩa vụ phải tham chiến cạnh Anh Quốc. Có hơn 400.000 công dân Úc phục vụ quân đội trong chiến tranh, và trên 50.000 tử trận. Tại thời điểm này dân số Úc Đại Lợi ở mức trên 4 triệu người. Có nghĩa cứ 10 ngưới Úc thì có 1 người phục vụ quân đội. Và, hơn 1% dân số Úc tử trận trong chiến tranh thế giới lần thứ Nhất. Chiến tranh thế giới lần thứ Hai (1939-1945), Anh Quốc lại tuyên chiến với Đức, Úc Đại Lợi một lần nữa gởi quân sang Châu Âu tham chiến cạnh Anh Quốc.
Ngày 19/2/1941, Nhật Bản ném bom lãnh thổ Bắc Úc, đổ bộ lên đảo Papua New Guinea đe doạ xâm lăng Úc Đại Lợi, khiến Úc phải rút quân khỏi chiến trường Châu Âu về phòng thủ đất nước và Liên minh với Hoa Kỳ đánh Nhật. Bằng trận hải chiến quyết liệt tại vùng biển Coral, phía Đông Bắc Úc, quân đội Hoa Kỳ và Úc buộc Nhật Bản phải triệt thoái khỏi Fiji, và các đảo lân cận. Gần 1 triệu người Úc phục vụ quân đội trong chiến tranh, và 29.000 người Úc bị thương vong. Lúc này, dân số Úc đạt 7 triệu.
Giữa hai cuộc chiến, cuối thập niên 1920 đầu thập niên 1930, kinh tế thế giới suy thoái trầm trọng, Úc Đại Lợi cũng không thoát khỏi tình cảnh ấy. Hình ảnh 1.600 người Úc đang chen chúc nhau giành xin 50 chỗ làm việc, một người từ Tây Úc về Sydey với tấm bảng mang dòng chữ "tôi muốn làm việc, bất cứ việc gì" đeo trước ngực đi dọc theo đường Lawson, Redfern, cùng với đoàn người đứng xếp hàng trước cơ quan nhà nước xin lãnh trợ cấp thất nghiệp là những hình ảnh đầy ấn tượng. Rồi, Úc Đại Lợi cũng tự mình vượt qua thử thách.
Sau chiến tranh từ năm 1945, Úc Đại Lợi đề ra chương trình nhập cư đặc biệt. Trước hết, thâu nhận cư dân từ Châu Âu bị tiêu tan nhà cửa trong chiến tranh. Kế đến, là người có kỹ năng nghề nghiệp trên các lục địa khác. Và sau cùng, là người tỵ nạn phải rời khỏi quê hương vì chiến tranh, vì bị đe doạ về chính trị hoặc tôn giáo. Chương trình nhập cư mới này đã chấm dứt chính sách nhập cư dành cho người da trắng tồn tại hàng trăm năm trên lục địa. Nó cũng làm thay đổi ít nhiều về cấu trúc dân số.
Chẳng hạn năm 1947, có tới 98,6% người Úc gốc Châu Âu trong đó 90,2% gốc Anh, 1,4% còn lại là gốc Thổ dân, Châu Á, Châu Phi, và Châu Đại Dương. Đến năm 2002, người Úc gốc Châu Âu chỉ còn 89,3%, trong đó 70,6% gốc Anh, 10,7% còn lại thì Châu Á chiếm 8%, Châu Phi, Châu Mỹ và châu Đại Dương 1,2%. Thổ dân nay tăng thành 1,5% trên tổng dân số Liên bang. Ba dự án tăng dân số Úc Đại Lợi đến năm 2051: dự án I ở mức dưới 24 triệu, dự án II ở mức 25 triệu, và dự án III trên 26 triệu. Tuỳ theo nhu cầu, chính quyền Liên bang ấn định mức độ, số lượng nhập cư hằng năm.
Cũng từ sau thế chiến thứ Hai, từng bước Úc Đại Lợi tách khỏi sự phụ thuộc vào Anh Quốc. Năm 1968, Quốc hội Liên bang ban hành luật bãi bỏ quyền xử kháng án của đại diện hoàng gia Anh trên các vấn đề thuộc thẩm quyền của Liên bang, và liên quan đến Hiến pháp. Năm 1975, bằng một đạo luật khác, Quốc hội bãi bỏ quyền xử kháng án của Hội đồng này trên tất cả các vấn đề của Tiểu bang đã được Toà án tối cao Liên bang xét xử. Đầu thập niên 1980, hội nghị Thủ hiến các Tiểu bang ra nghị quyết cắt đứt mọi ràng buộc về Hiến pháp với hoàng gia Anh.
Năm 1986, Quốc hội Anh và Quốc hội Úc thông qua một đạo luật có văn bản giống nhau gọi là "Australia Acts". Theo đó, từ nay Quốc hội Anh, không còn giữ quyền Lập pháp cho các Tiểu bang và Liên bang Úc nữa. Hội đồng đại diện hoàng gia Anh xử kháng án tại Úc cũng bị bãi bỏ. Trong thập niên 1990, nhiều người Úc mong muốn Liên bang Úc Đại Lợi trở thành một nước cộng hoà. Và vị Tổng thống của nước cộng hoà Liên bang Úc Đại Lợi sẽ thay thế Nữ hoàng Anh trong vai trò nguyên thủ quốc gia.
Năm 1998, một hội nghị bàn về Hiến pháp đã ủng hộ giải pháp cộng hoà, phát thảo nội dung "tu chính Hiến pháp" đưa ra “trưng cầu dân ý” năm 1999, nhưng kết quả cử tri Úc không ủng hộ giải pháp này.
Sydney ngày 4 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 887 chữ)
Bài 168: CHUYỆN KỂ VỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC CỦA ÚC ĐAI LỢI.
Lê Xuân Đỗ
Về quan hệ quốc tế, phải mất 42 năm sau khi thành lập, năm 1942, Úc Đại Lợi mới có vị đại sứ đầu tiên trình uỷ nhiệm thư lên Tổng thống Hoa Kỳ. Đến nay, Liên bang Úc Đại Lợi có 69 sứ quán, và lãnh sự đại diện trên khắp thế giới: 26 nước tại Châu Á, 9 nước tại Châu Âu, 5 nước tại Châu Phi, 4 nước tại Bắc Mỹ, 4 nước tại Nam Mỹ và 11 nước tại Nam Thái Bình Dương. Úc Đại Lợi cũng viện trợ cho các quốc gia đang, và chậm phát triển tới 1.560 triệu AUSD. Úc Đại Lợi còn đóng góp với các tổ chức quốc tế qua chương trình đa phương và song phương 467 triệu.
Khi mới thành lập năm 1901, dân số dưới 4 triệu người, Quốc hội Liên bang có 111 đại biểu, gồm 75 dân biểu và 36 nghị sĩ, các đại biểu không có lương chỉ nhận 400 bảng Anh phụ cấp hàng năm. Năm 2002 dân số Liên bang gần 20 triệu, Quốc hội Liên bang tăng thành 224 đại biểu gồm 148 dân biểu và 76 nghị sĩ, và lương hằng năm của các vị đại biểu là 81.856 AUSD, cộng với từ 26.469 đến 38.380 AUSD phụ cấp tuỳ theo khu vực bầu cử. Còn chính phủ năm 1901 gồm 7 bộ trưởng, và tiền lương của các vị này không quá 12.000 bảng Anh 1 năm.
Đến năm 2002, tăng thành 28 bộ trưởng, và tiền lương Thủ tướng 123.309 AUSD, Bộ trưởng Ngân khố 65.200, Bộ trưởng trong Hội đồng Nội các 53.919, và Bộ trưởng thường 43.163 AUSD. Tất cả các thành viên trong chính phủ đều được lãnh lương dân biểu, nghị sĩ và phụ cấp bầu cử tuỳ theo khu vực bầu cử như các dân biểu, nghị sĩ khác trong Quốc hội Liên bang. Về kinh tế và an sinh, sản xuất nội địa ba năm qua tăng đều đặn. Nhưng cân thương mại lại thâm hụt: năm 1997 thâm 66 triệu, năm 1998 thâm 2.915 triệu, và năm 1999 mức thâm hụt lên đến 11.623 triệu.
Bạn hàng thương mại của Úc trong ba năm 1997-1999 có 142 nước gồm 20 nước Châu Á - Thái Bình Dương chiếm 73% tổng số hàng xuất nhập khẩu, 14 nước Châu Âu chiếm 14%, và 108 nước còn lại chiếm 13%. Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc là 3 bạn hàng lớn nhất, kế đó là Anh Quốc, Đức, New Zealand. Úc Đại Lợi có 11 ngành công nghiệp then chốt: ngân hàng tài chánh, hoá học chất dẻo, thông tin bưu chính, xây dựng, thực phẩm thức uống, bảo hiểm, luyện kim, khai thác hầm mỏ, in ấn phát hành, bán lẻ, và dịch vụ chuyên chở. 500 công ty hàng đầu của Úc đều có tăng doanh vụ và lợi tức đáng kể.
Chẳng hạn Công ty Broken Hill Proprietary (BHP) năm 1999, có doanh vụ 22.320 triệu tăng 2.506 triệu so với năm trước, và lãi ròng 2.539 triệu tăng 115 triệu so với năm trước. Trong tài khoá 1995-1996, chính quyền Liên bang dành cho ngành y tế 19.400 triệu AUSD chiếm 15% ngân sách. Quỹ Liên bang nhắm vào 4 loại trợ cấp: (1) cấp cho các tiểu bang và lãnh thổ để điều hành bệnh viện công; (2) bao cấp bồi hoàn cho bác sĩ khám và chữa bệnh; (3) trợ cấp thuốc men thông qua các dược phòng; (4) trả cho các tổ chức, người đã cung cấp dịch vụ y tế.
Chính quyền Liên bang còn có dịch vụ y tế đặc biệt, máy bay đưa bác sĩ đến tận các nơi xa xôi hẻo lánh bên trong nội địa để khám và điều trị bệnh nhân. 12 sân bay dành riêng cho dịch vụ này nằm rải rác trên khắp các tiểu bang và lãnh thổ. Tài khoá 1997-1998, chính quyền Liên bang và Tiểu bang cấp 25.000 triệu cho giáo dục. Với 7.629.000 km2 và trên 19 triệu cư dân Úc Đại Lợi có tới 38 trường Đại học. Các trường đại học lớn biên chế hơn 5.000 cán bộ giảng dạy và nhân viên quản lý, thường xuyên có trên dưới 30.000 sinh viên.
Niên học 1997-1998, toàn Liên bang có 671.853 sinh viên đại học. Riêng về an sinh xã hội thì chương trình trợ cấp dựa vào thu nhập cá nhân. Nếu tổng hợp lợi tức của bạn dưới mức “sinh hoạt tối thiểu” chính quyền sẽ trợ cấp tài chánh bổ sung. Năm tài chánh 1995-1996, chính quyền Liên bang dành 51.000 triệu cho “an sinh xã hội” trên tổng chi ngân sách của chính phủ 127.200 triệu, chiếm 39,6%. Luật an sinh xã hội năm 1991 lập ra 3 loại trợ cấp: trợ cấp hữu dương, trợ cấp gia đình, và trợ cấp khác. Mỗi loại trợ cấp nhằm vào nhiều đối tượng khác nhau, tổng cộng lên tới 21 đối tượng.
Về an ninh và quốc phòng, tài khoá 1999-2000, ngân sách quốc phòng là 11.000 triệu AUSD. Nhưng các tài khoá kế tiếp từ năm 2000 đến 2003, ngân sách này có thể tăng lên tới 18.000 triệu. Mười một năm trước đây, lực lượng quốc phòng Úc Đại Lợi có 130.750 nhân viên, gồm 70.0005 quân chính quy, 28.243 quân trừ bị và 32.502 nhân viên dân sự. Đến tài khoá năm 1999-2000, lực lượng này chỉ còn 97.166 nhân viên gồm 50.000 quân chính quy, 30.695 quân trừ bị và 16.471 nhân viên dân sự.
Riêng an ninh nội chính, tính đến tháng 7/1998, lực lượng cảnh sát cấp Liên bang có 2.045 nhân viên, Tiểu bang New South Wales 13.407, Tiểu bang Victoria 9.750, Tiểu bang Queensland 6.813, Tiểu bang Western Australia 4.705, Tiểu bang South Australia 3.437, Tiểu bang Tasmania 1.018, Northern Territary 866, và Australian Capital Territary có 666 nhân viên. Tổng cộng cả cấp Liên bang, Tiểu bang, và Lãnh thổ có 42.707 nhân viên cảnh sát.
Một đất nước có diện tích 7.629.000km2 và 20 triệu cư dân mà lực lượng quốc phòng có 50.000 quân thường trực, cùng với trên 42.000 nhân viên cảnh sát, quả chính quyền Úc Đại Lợi đã đạt tới một năng lực “quản lý xã hội tuyệt vời, và một chính sách ngoại giao khôn khéo” xứng đáng được xếp vào một trong các nước có nền an ninh tốt nhất thế giới.
Sydney ngày 5 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.121 chữ)
Bài 169: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ PHÂN QUYỀN GIỮA LIÊN BANG VÀ CÁC TIỂU BANG ÚC ĐAI LỢI.
Lê Xuân Đỗ
Hiến pháp Liên bang Úc Đại Lợi năm 1901, xác định việc phân chia quyền hành giữa các Tiểu bang và Liên bang. Điều 51 chỉ rõ 39 tiêu đề mà từ đó Quốc hội Liên bang có thể có quyền làm luật bao gồm các vấn đề về thuế khoá, quốc phòng, an sinh, nhập cư, và ngoại giao. Ngoài ra nhằm quản lý tốt xã hội, bảo đảm quyền dân sự và an toàn cho cư dân Quốc hội Liên bang có vài đặc quyền làm luật theo quy định của điều 52. Tất cả vấn đề còn lại ngoài các tiêu đề chỉ rõ nêu trên, đều thuộc thẩm quyền làm luật của các Tiểu bang.
Các Tiểu bang đảm trách về y tế, giáo dục, an ninh nội địa, dịch vụ hành chánh, giao thông, bưu chính và hoạt động kinh doanh. Trong thực tế, cả 2 cấp Liên bang và Tiểu bang có thể làm luật trên cùng một tiêu đề, chẳng hạn luật hình sự, luật kinh doanh, luật chống phân biệt chủng tộc… Trong trường hợp có mâu thuẩn giữa luật Liên bang và luật Tiểu bang thì điều 109 Hiến pháp minh thị: "Luật Liên bang có hiệu lực thi hành trên vấn đề mâu thuẫn còn các vấn đề khác luật Tiểu bang vẫn có hiệu lực”.
Ngoài hai cấp chính quyền Liên bang và Tiểu bang, Úc Đại Lợi còn có chính quyền địa phương, gọi là Hội đồng Thành phố hay Hội đồng Nông thôn. Nó là cấp chính quyền thấp nhất trong hệ thống hành chánh với chức năng: (1) xây dựng duy tu hệ thống cầu đường, cấp thoát nước tại địa phương, (2) cung cấp các dịch vụ, và sức khoẻ, (3) lập dự án phát triển giám sát thị trấn, thôn quê, (4) cấp phép, giám định việc xây cất theo quy định, (5) cung cấp các dịch vụ tiện ích công cộng như nhà trẻ, xe lăn, và mang thức ăn đến tận nhà cho người tàn tật, già yếu, neo đơn, (6) cung cấp nơi ở cho người già, thư viện, thể thao và trung tâm sinh hoạt cộng đồng.
Mỗi cấp chính quyền có ngân sách thu chi độc lập, chẳng hạn tài khoá 1995-1996, tại cấp Liên bang: Phần thu: 130.200 triệu, thì thuế thu nhập cá nhân chiếm 65.900 triệu tương đương 51%. Phần chi: 127.700 triệu thì trợ cấp an sinh xã hội 51.400 triệu chiếm 39,6%. Cấp Tiểu bang: Phần thu: chính quyền Liên bang trợ cấp 44%, thuế, lệ phí, và tiền phạt 29%. Phần chi: giáo dục 27%, Y tế 21%, trả tiền lãi do vay nợ 21%. Cấp chính quyền địa phương: PHẦN THU: thuế đất, lệ phí, và tiền phạt 55%, Liên bang và Tiểu bang cấp 25%, lợi tức từ tài sản, và công ty thương mại 15%.
PHẦN CHI: trả tiền lãi do vay nợ 21%, dịch vụ và quản lý hành chánh 19%, tu bổ đường xá 18%, tu bổ tiện ích công cộng 17%, Y tế: 8%, điện nước, gas 6%, bảo vệ môi sinh 6%, và chi phí khác 5%. Úc Đại Lợi là một trong những quốc gia giàu, đã phát triển. Nhưng không giống các quốc gia phát triển khác của thế giới bằng con đường sản xuất công nghiệp. Úc Đại Lợi nhập khẩu nhiều hàng hoá công nghiệp hơn là xuất khẩu. Hầu hết các nhà máy Úc chú trọng đến công nghiệp nhẹ, lắp ráp, và chế biến sơ khởi sản phẩm nông nghiệp, hầm mỏ đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.
Sản phẩm công nghiệp hàng đầu của Úc là chế biến thực phẩm, luyện kim, trang thiết bị vận tải, xe hơi, dược phẩm, giấy, vải vóc, quần áo, giày dép và đồ dùng gia đình. Úc Đại Lợi cũng là quốc gia có trữ lượng hầm mỏ hàng đầu thế giới. Úc đứng đầu thế giới về sản xuất quặng nhôm, đá kim cương, chì và kim loại trắng, và cũng là nước hàng đầu sản xuất than đá, đồng, vàng, quặng sắt, mangan, nikel, bạc, thiếc, kim loại xám, và tinh thể đá ngọc. Gần như tất cả đá Opals có chất lượng cao của thế giới đều được khai thác từ hầm mỏ Úc Đại Lợi.
Tuy nhiên, Úc Đại Lợi có cái bất lợi là thiếu tư bản, tức là thiếu tiền đề phát triển công nghiệp và hoạt động kinh doanh. Và kết quả là, quốc gia này trở thành một trong những nước có số nợ nước ngoài cao nhất thế giới. Nhiều công ty hầm mỏ, nhà máy Úc được làm chủ, hoặc điều hành bởi người Mỹ, người Anh, người Nhật. Ngay cả việc tàu biển thường xuyên mang một lượng lớn hàng hoá nông sản, và hầm mỏ từ các bến cảng Úc xuất khẩu đến tất cả các quốc gia trên thế giới đều do các tàu lớn nước ngoài thực hiện. Bởi vì Úc chỉ có một đội tàu thương mại nhỏ.
Đất đai Úc Đại Lợi bên trong nội địa phần lớn bằng phẳng, có thể sử dụng tới 60% cho khai thác nông nghiệp, nhưng hầu hết sử dụng cho chăn nuôi. Chỉ có khoảng 10% trong số “đất có thể” ấy được gieo trồng cây lương thực vì lượng nước tưới tiêu hạn chế. Nông nghiệp Úc trang bị kỷ thuật hiện đại, do vậy yêu cầu lao động trong lĩnh vực này rất thấp dưới 5% công nhân làm nông nghiệp. Tuy vậy, họ sản xuất ra gần như tất cả thực phẩm chẳng những đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn thoả mãn cho xuất khẩu nữa.
Úc Đại Lợi là quốc gia xuất khẩu lượng len lớn nhất thế giới. Sản phẩm nông nghiệp hàng đầu của Úc theo định kì thì có các đàn gia súc cấp thịt và con giống nuôi. Còn sản phẩm hàng ngày thì có trái cây, rau quả, sửa tươi và bông sợi. Các sản phẩm nông nghiệp khác của Úc gồm lúa mạch, thịt gà, và trứng, hạt ngũ cốc, khoai, thịt cừu, cừu con và rau quả. Công nghiệp cá của Úc tuy nhỏ nhưng có lời, thu nhập công nghiệp cá hầu hết từ tôm hùm, cua, sò, hàu, và tôm. Hầu hết hải sản xuất khẩu đều có vỏ bọc cứng như tôm hùm, cua, sò, hàu. Một số nơi người ta còn nuôi sò để lấy ngọc trai.
Sydney ngày 6 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.128 chữ)
Bài 170: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN VÀ VAI TRÒ CÁC ĐẢNG CHÍNH TRỊ TẠI ÚC ĐAI LỢI.
Lê Xuân Đỗ
Cũng như các quốc gia đã phát triển khác, chính quyền Liên bang Úc Đại Lợi đóng vai trò chính trong việc điều hành nền kinh tế quốc dân, và mang lại sự an lạc cho cư dân. Úc Đại Lợi có nhiều đảng chính trị, nhưng chỉ có đảng Lao động, và Liên đảng (Tự do-Quốc gia) mới là đảng mạnh thay nhau nắm chính quyền. Đảng Lao động giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử tháng 2/1983, và được tái bầu cử năm 1984, 1987, 1990 và 1993. Sau một cuộc vận động bầu cử nhắm vào các vấn đề liên quan đến kinh tế, Liên đảng Tự do-Quốc gia đánh bại đảng Lao động ngày 2/3/1996.
Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 3/10/1999, Thủ tướng John Howard (lãnh tụ Liên đảng) vẫn còn nắm quyền nhưng với một đa số ít hơn. Tháng 8/1999, Úc cầm đầu lực lượng giữ gìn hoà bình quốc tế vào Đông Timor vãn hồi trật tự liên quan đến việc bạo loạn, sau khi có "trưng cầu dân ý" xác định độc lập cho cựu thuộc địa Bồ Đào Nha này. Trong cuộc “trưng cầu dân ý” ngày 6/11/1999, cử tri không chấp nhận Úc trở thành một nước Cộng hoà. Thế vận hội mùa hè từ ngày 15/9 đến 1/10/2000 do thành phố Sydney tổ chức thành công tốt đẹp.
Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 10/11/2001, Liên đảng Tự do-Quốc gia thắng lợi, và John Howard vẫn giữ chức Thủ tướng. Úc Đại Lợi đã gởi quân cùng với Hoa Kỳ tham gia chiến tranh chống khủng bố tại Afghanistan (2001) và Iraq (2003). Ngày 24/7/2003, Úc gởi 2.000 quân đến vản hồi trật tự tại đảo quốc Solomon, đến tháng 4 năm 2006 thì quân đội Úc rút khỏi Solomon. Ngày 11-12/ 2005, bạo loạn sắc tộc vùng ngoại ô Sydney, khi hàng ngàn thanh niên da trắng tấn công những người có nguồn gốc Trung Đông.
Ngay sau đó những người nầy huy động lực lượng tấn công trả thù người da trắng. Cuộc bạo loạn không lan ra và được giải quyết trong thời gian cực ngắn. Cơn hạn hán kéo dài làm nguồn nước dự trử xuống thấp trong năm 2006-2007. Trong cuộc vận động bầu cử Quốc hội ngày 24/11/2007, đảng Lao động cam kết sẽ rút quân khỏi Iraq, phê chuẩn Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải hâm nóng địa cầu, đã giành thắng lợi, và Keven Rudd lãnh tụ đảng trở thành Thủ tướng. Ngày 12/2/2008, quân đội Úc một lần nữa được gởi đến làm nhiệm vụ vãn hồi trật tự tại đảo quốc Đông Timor.
Ngày 31/7, quân đội Úc rút khỏi chiến trường Iraq. Ngày 5/9, bà Quentin Bryce là phụ nử đầu tiên được bổ nhiệm làm Toàn quyền Liên bang Úc Đại Lợi, đại diện Nử hoàng Anh. Ngày 24/6/2010, sau một loạt chủ trương sai lầm làm sút giảm niềm tin trong dân chúng, thủ tướng Rudd bị truất quyền, và Phó của ông ta bà Julia Gillard trở thành thủ tướng. Không chiếm được đa số ghế tại quốc hội trong cuộc bầu cử quốc hội tháng 6/2010, nhưng nhờ sự ủng hộ của 3 Hạ nghị sỉ độc lập, ngày 21/8/2010, Gillard thành lập chính phủ thiểu số, Rudd trở thành Bộ trưởng Ngoại giao.
Mâu thuẫn giữa thủ tướng Julia Gillard và bộ trưởng Ngoại giao Rudd, khiến Rudd từ chức, rồi thách thức quyền lãnh đạo đảng tại Hạ viện với Julia Gillard, Julia Gillard đưa ra điều kiện, rằng nếu một trong hai người thua cuộc, thì phải “cam kết sẽ không thách thức lần nữa”. Rudd đồng ý và Rudd thua cuộc. Ngày 26/6/2013, do yếu kém trong việc điều hành chính quyền, Julia Gillard bị truất quyền, và Rudd lại được chọn làm lãnh đạo đảng cũng là Thủ tướng thay Julia Gillard.
Cuộc bầu cử Quốc hội thứ 44 ngày 7/8/2013, Liên đảng Tụ do-Quốc gia đối lập dưới sự lãnh đạo của Tony Abbott giành chiến thắng với 90 ghế tại Hạ viện, đảng Lao động đương quyền của Keven Rudd chỉ chiếm được 55 ghế . Abbott đã tốt nghiệp cử nhân kinh tế và cử nhân luật và sau đó là thạc sĩ chương trình học bổng Rhodes tại Queen’s Oxford. Abbott từng theo học để trở thành mục sư là một nhân vật rất bảo thủ và trải qua nhiều chức Bộ trưởng trong chính phủ John Howard..
Sau một vài mâu thuẫn nội bộ và chủ trương sai lầm làm sút giảm niềm tin trong dân chúng, tháng 9 năm 2015, Tony Abbott bị Malcolm Turnbull đảo chánh, Malcolm Turnbull trở thành thủ tướng. Xin nói thêm, rằng Malcolm Turnbull từng lãnh đạo Liên đảng ở tư thế đảng đối lập, trong các suộc thăm dò Liên đảng ở vị thế “quá thua xa” so với đảng Lao động đương quyền. Tony Abbott thách thức và được bầu làm lãnh tụ Liên đảng thay thế Malcolm Turnbull. Và, Abbott đã đưa Liên đảng đối lập chiến thắng trong cuộc bầu Quốc hội năm 2013.
Tháng 8 năm 2018, do bất mãn Peter Dutton Bộ trưởng Nội vụ cánh bảo thủ, thách thức Turnbull về sự lãnh đạo Đảng Tự do, Turnbull đã đánh bại Dutton trong một cuộc bỏ phiếu lãnh đạo, nhưng căng thẳng vẫn tiếp tục và đảng đã bỏ phiếu ủng hộ thực hiện một cuộc bỏ phiếu thứ nhì, Turnbull buộc phải từ chức. Trong cuộc bỏ phiếu lần thứ nhì, Morrison nổi lên như một ứng cử viên thỏa hiệp, đánh bại Dutton và Julie Bishop để trở thành lãnh đạo của Đảng Tự do và thủ tướng thứ 30 của Úc Đại Lợi.
Morrison học địa lý kinh tế tại Đại học New South Wales, được bầu vào Hạ viện Úc năm 2007. Sau chiến thắng của Liên minh trong cuộc bầu cử năm 2013, ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Di trú và Bảo vệ Biên giới trong Chính phủ Abbott. Morrison được bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Tài chính vào tháng 9 năm 2015, khi Malcolm Turnbull thay thế Tony Abbott làm thủ tướng. Anthony Norman Albanese học Đại học Kinh tế tại Đại học Sydney. Albanese được bầu vào Hạ viện năm 1996, trở thành Bộ Trưởng Kinh tế Đối lập vào năm 2006.
Tháng 6 năm 2013, Albanese được bầu làm Phó thủ lĩnh Đảng Lao động Úc và Phó Thủ tướng Úc. Sau thất bại của Đảng Lao động Úc trong cuộc bầu cử năm 2013, Bill Shorten trở thành Lãnh tụ Đảng. Năm 2019, sau ba lần bầu cử giành quyền thành lập chính phủ không thành công, Shorten đã từ chức. Albanese trở thành người lãnh đạo của Lao động Úc, và cũng là Lãnh tụ đối lập Úc. Trong cuộc bầu cử ngày 21/5/2022, Đảng Lao động của Albanese giành chiến thắng.
Anthony Albanese cùng một số thành viên trong nội các chính phủ mới dự kiến sẽ tuyên thệ nhậm chức vào ngày 23/5/2022.
Sydney ngày 7 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.237 chữ)
Bài 171: CHUYỆN KỂ VỀ CANADA QUỐC GIA ĐỘC LẬP THỨ BA TỪ THUỘC ĐỊA ANH QUỐC.
Lê Xuân Đỗ
Nhà thám hiểm người Pháp Jacque Cartier tới được vịnh Lawrence năm 1534, là người sáng lập ra nước Canada. Nhưng một người đi biển Anh john Cabot đã nhìn thấy Newfoundland năm 1497, và người Vikings (Bắc Âu) tin rằng họ đã tới bờ Đại Tây Dương trong hàng thế kỷ trước, sớm hơn các nhà thám hiểm. Người Châu Âu định cư tại Canada đầu tiên là người Pháp. Họ xây dựng thành phố Quebec năm 1608, thành phố Montreal năm 1642, và tuyên bố thuộc địa Pháp mới (New France) năm 1683.
Người Anh chiếm Acadia năm 1717. Thông qua chiến thắng quân sự trên lực lượng Pháp ở Canada, Anh chiếm Quebec năm 1759 và giành được quyền kiểm soát phần còn lại của New France năm 1763. Thế nhưng, người Pháp vẫn duy trì quyền có ngôn ngữ, tôn giáo và luật dân sự của họ dưới đạo luật Quebec năm 1774. Người Anh tại đây tăng nhanh, trong thời kỳ diễn ra cách mạng thành lập Liên bang Hoa Kỳ độc lập, từ các thuộc địa Bắc Mỹ họ di chuyển về Canada. Họ thường tự nhận với vẻ kiêu hãnh là người trung thành với đế quốc Anh.
Buôn bán lông thú và thăm dò tìm kiếm đã dẫn người Canada đi về hướng tây băng qua lục địa. Sir Alexander Mackenzie tới được bờ Thái Bình Dương năm 1793, và khắc vội lên một bờ đá cạnh Đại Dương "Tôi đến đây từ Canada bằng đường đất liền" ("From Canada by land"). Hội đồng Lập pháp xuất hiện vào thế kỷ 18 ở vùng cao, vùng thấp Canada (Ontario và Quebec), và các vùng ven biển. Hội đồng có một bộ phận gọi là trách nhiệm chính quyền, tổ chức và trách nhiệm quản lý xã hội.
Nhưng chiến tranh năm 1812 đã làm gián đoạn. Các trận đánh nhau giữa Anh và Mỹ chủ yếu diễn ra ở vùng cao Canada và được giải quyết năm 1814. Năm 1837, một cuộc vận động chính trị cho một chính quyền dân chủ hơn bắt đầu, và đỉnh cao của nó khi có nhiều cuộc bạo loạn diễn ra trên cả vùng cao lẫn vùng thấp Canada. Năm 1839, chính phủ Anh gởi Lord Durham đến nơi nghiên cứu tình hình. Trong một phúc trình nổi tiếng ông ta đề nghị hợp nhất cả hai phần thành một thuộc địa với tên gọi Canada. Năm 1840, các thuộc địa Canada đã có chính quyền tự quản.
Ngày 01/07/1867, khi Anh quốc ban hành Đạo luật (gọi là Luật Hiến Pháp 1867) thành lập một chính quyền Liên bang Canada tự trị, bao gồm Ontario, Quebec và các thuộc địa củ Nova Scotia và New Brunswick. Tổ chức chính quyền Liên bang Canada tự trị phỏng theo mô hình Quốc hội và Nội các Anh dưới chế độ Quân chủ trong đó vua Anh nắm cả quyền Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp. Năm 1914, khi nổ ra Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất, Anh quốc là một bên của cuộc chiến Canada cũng phải gởi quân tham chiến cạnh Anh Quốc.
Xấp xỉ 625.000 người Canada phục vụ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, có khoảng 60.000 bị giết và 173.000 bị thương. Năm 1919, Canada gia nhập Hội Quốc Liên với tư cách là quốc gia độc lập. Những năm đầu của thập kỷ 1930, do kinh tế suy thoái, Canada lâm vào cảnh vô cùng khốn khó, Canada cũng đã nổ lực vượt qua. Năm 1931 Canada được chính thức thừa nhận là một chính quyền tự trị trong đế quốc Anh. Ngày 3 tháng 9 năm 1939, Anh tuyên chiến với Đức bắt đầu Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ba hôm sau, Canada cũng tuyên chiến với Đức.
Mặc dù có một cuộc khủng hoảng tòng quân tại Québec vào năm 1944, khi chiến tranh kết thúc năm 1945, Canada đạt tới một quân đội lớn và kinh tế mạnh. Ngày 24 tháng 10 năm 1945, Liên Hợp Quốc chính thức thành lập, Canada cũng là một trong 50 quốc gia thành viên sáng lập. Tăng trưởng kinh tế thời hậu chiến của Canada là sự kết hợp các chính sách của các chính phủ Tự do kế tiếp nhau, dẫn đến hình thành một bản sắc Canada mới, đầu tiên là thay đổi quốc kỳ củ bằng “quốc kỳ lá phong” mới năm 1965.
Tiếp đến là các cải tiến giáo dục, thực hiện việc dạy và học song ngữ tiếng Anh và tiếng Pháp năm 1969, và lập thể chế đa nguyên văn hóa chính thức vào năm 1971. Các chương trình dân chủ xã hội cũng được tiến hành, chẳng hạn như Medicare (bảo hiểm y tế), Kế hoạch Trợ cấp và cho sinh viên vay tiền học đại học… Dù vậy, chính quyền Canada cũng bị chính phủ các tỉnh, đặc biệt là tại Quebec và Alberta, phản đối nhất là các vấn đề việc liên quan đến phạm vi quyền hạn của họ. Một loạt các hội nghị hiến pháp dẫn đến Canada có Hiến pháp mới.
Tháng 11/1981, Chính quyền các Tỉnh trong Liên bang Canada thông qua đề nghị Luật tu chỉnh Hiến pháp thay thế Hiến pháp Anh dành cho Bắc Mỹ. Đề nghị nầy được Quốc Hội Canada chấp nhận, và Quốc hội Anh ban hành năm 1982. Nó chấm dứt việc Quốc hội Anh ban hành Luật có hiệu lực trên Canada. Từ đó đến nay Hiến pháp được tu chỉnh bổ sung nhiều lần. Hiến pháp Canada trao quyền Lập pháp cho Quốc hội, bao gồm cả Nử hoàng Anh được đại diện bởi Toàn quyền, một Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện.
Hạ viện có 308 đại biểu được bầu từ các khu vực bầu cử có nhiệm kỳ 4 năm. Thượng viện có 105 nghị sỉ từ các Tỉnh không đồng đều như Ontario, Quebec mổi tỉnh 24 nghị sỉ, nhưng Tỉnh Edward Island có 4, và mỗi Vùng lãnh thổ có 1 nghị sỉ. Toàn quyền Canada đại diện Nử hoàng Anh là nguyên thủ quốc gia mang tính hình thức, không có nhiều thực quyền. Điều hành chính quyền được trao cho Thủ tướng chính phủ, lãnh tụ đảng chiếm da số ghế đại biểu tại Hạ viện. Từ đây, Canada chính thức kết thúc sự ràng buộc với Anh quốc trong các vấn đề lập pháp.
Ngày 3/6/1987, Canada ký thoả ước Meech Lake, theo đó văn hoá, ngôn ngữ Pháp sẽ được duy trì ở Quebec. Những quyền mà từ đó người Quebec có thể được đặt cao hơn cả quyền tự do và nhân quyền ghi trong Hiến pháp năm 1982. Các nhà bình luận chỉ trích thoả ước và nêu câu hỏi: tại sao nó không ban thêm quyền cho các sắc tộc thiểu số khác lại cứ trao cho Quebec nhiều quyền đến thế. Câu hỏi này được nhiều giới trong xã hội tỏ ý đồng tình. Ngày 22/6/1990 thoả ước Meech Lake bị huỷ bỏ.
Những người chủ trương ly khai lại kêu gọi thừa nhận Quebec như là "một cộng đồng xã hội đặc trưng" khác với với các cộng đồng xã hội trong Liên bang Canada. Họ đề nghị phục hồi chính quyền riêng của Quebec mà đỉnh cao là thoả ước Charlottetown 1992, đòi thay đổi Hiến pháp. Nhưng một lần nữa lại thất bại, khi cuộc “trưng cầu dân ý” toàn Liên bang ngày 26/10/1992, cử tri Canada không chấp nhận đề nghị này.
Sydney ngày 8 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.308 chữ)
Bài 172: CHUYỆN KỂ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA CANADA.
Lê Xuân Đỗ
Kể từ đầu thế kỷ XX, sự phát triển của các ngành chế tạo, khai mỏ, và các lĩnh vực dịch vụ đã chuyển đổi Canada từ một nền kinh tế nông thôn mức độ lớn sang nền kinh tế đô thị hóa, công nghiệp. Giống như nhiều quốc gia phát triển khác, ngành công nghiệp dịch vụ chi phối kinh tế Canada, cung cấp việc làm cho khoảng ba phần tư lực lượng lao động toàn quốc. Tuy nhiên, Canada có sự khác biệt về tầm quan trọng của khu vực sơ khai, trong đó các ngành đốn gỗ và dầu mỏ là hai trong số các thành phần nổi bật nhất.
Canada là quốc gia phát triển xuất khẩu ròng năng lượng. Đại Tây Dương thuộc phần đất Canada có các mỏ khí đốt ngoài khơi rộng lớn, và Alberta cũng có các tài nguyên dầu khí lớn. Các mỏ cát dầu Athabasca và các tài sản khác khiến Canada sở hữu 13% trữ lượng dầu toàn cầu, và lớn thứ ba trên thế giới, sau Venezuala và Ả Rập Xê Út. Canada cũng là một trong các quốc gia lớn nhất về cung cấp nông sản trên thế giới; Các thảo nguyên Canada là một trong những nơi sản xuất có tầm quan trọng toàn cầu nhất về lúa mì, cải dầu, và các loại hạt khác.
Các mặt hàng tài nguyên tự nhiên xuất khẩu chính của nước Canada là thiếc và urani, và quốc gia này cũng là nhà xuất khẩu hàng đầu về nhiều loại khoáng sản khác như vàng, niken, nhôm, thép, quặng sắt, than cốc, và chì. Tại nhiều thị trấn tại bắc bộ Canada, nơi mà nông nghiệp gặp khó khăn, kinh tế của họ dựa vào các mỏ khoáng sản lân cận hoặc các nguồn gỗ. Canada cũng có một ngành chế tạo tương đối lớn tập trung tại nam bộ Ontario và Québec, các ngành công nghiệp quan trọng đặc biệt gồm có ô tô và hàng không.
Sự hội nhập của kinh tế Canada với Hoa Kỳ tăng lên đáng kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Hiệp định Mậu dịch các sản phẩm ô tô (APTA) năm 1965 mở cửa biên giới cho mậu dịch trong ngành sản xuất ô tô. Trong thập niên 1970, các mối quan tâm về sự độc lập năng lượng và sở hữu ngoại quốc trong lĩnh vực chế tạo thúc đẩy chính phủ Tự do của Thủ tướng Pierre Trudeau ban hành Chương trình Năng lượng quốc gia (NEP) và Cơ quan Đánh giá đầu tư nước ngoài (FIRA), khuyến khích đầu tư trong nước.
Trong thập niên 1980, Thủ tướng Brian Mulroney thuộc Đảng Cấp tiến Bảo thủ đã bãi bỏ NEP và đổi tên FIRA thành cơ quan "Đầu tư Canada", nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài. Hiệp định Thương mại tự do Canada – Hoa Kỳ (FTA) năm 1988 đã loại trừ thuế quan giữa hai quốc gia, trong khi Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) mở rộng thành một khu vực bao gồm cả México. Ngày 23/6/1993, Canada là quốc gia đầu tiên phê chuẩn "Hiệp ước Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ” giữa Canada, Mexico và Hoa Kỳ. Hiệp ước có hiệu lực thi hành từ 01.01.1994.
Đảng tự do giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 10 năm 1993 và thủ lĩnh Jean Chretian trở thành Thủ tướng. Trong một cuộc “trưng cầu dân ý” trên đề nghị của Quebec ly khai tách khỏi Liên bang Canada ngày 30/10/1995 bị đánh bại sít sao. Vào giữa thập niên 1990, chính phủ Tự do của Thủ tướng Jean Chrétien bắt đầu thông báo thặng dư ngân sách hàng năm, và dần trả bớt nợ quốc gia. Cuộc bầu cử ngày 2/6/1997, đảng tự do giành thắng lợi với một đa số mỏng manh, Jean Chretian vẫn ở cương vị Thủ tướng.
Năm 1997, Tối cao pháp viện phán quyết rằng ly khai đơn phương của một tỉnh là điều vi hiến, và Nghị viện Canada thông qua Đạo luật Rõ ràng (Clarity Act), phác thảo các điều khoản về một xuất phát điểm đàm phán từ Liên minh. Ngày 7/1/1998 chính quyền Canada công khai "Xin lỗi" người dân bản địa về các cung cách xử sự không đúng trong hơn 150 năm qua, và lập ra một "quỹ phục hồi" cho người bản địa. Ngày 20/8 trong một phán quyết của toà án tối cao Liên bang Canada rằng, Quebec không thể đơn phương ly khai ngay cả nếu đa số cử tri trong tỉnh chấp nhận.
Canada tham gia và hoạt động trong một số sứ mệnh gìn giữ hòa bình trong thập kỷ 1990, bao gồm sứ mệnh UNPROFORtại Nam Tư cũ. Thắng lợi của đảng Tự do trong cuộc bầu cử toàn quốc ngày 27/11/2000 làm cho Chrétian là Thủ tướng đầu tiên trong hơn 50 năm qua, cầm đầu chính phủ trong ba nhiệm kỳ liên tục. Tháng 10/2001, Canada gởi 5 tàu chiến, và tháng 2/2002 gởi 850 quân vào Liên minh do Hoa Kỳ cầm đầu hành quân chống khủng bố ở Afghanistan. Ngày 17/4, bốn binh sĩ Canada bị thiệt mạng trong khi đang thực tập huấn luyện tại Kadahar bởi quân sĩ Hoa Kỳ.
Tháng 2/2002, Canada đóng góp 100 triệu cho trợ giúp nhân đạo, tái thiết Afghanistan và tháng 3/2003, hứa sẽ đóng góp thêm 250 triệu. Quan hệ Hoa Kỳ - Canada bị lạnh nhạt sau khi Thủ tướng Chretien từ chối gởi quân cùng với Hoa Kỳ xâm lăng Iraq trong tháng 3/2003. Nột hỏa tiển SARS phát nổ tại một vùng ngoại ô gần Toronto, giết chết hơn 40 người và làm thiệt hại hàng triệu đô la về vật chất. Ngày 10/6 trong một phán quyết của tòa án tối cao, rằng chính quyền Tiểu bang (tỉnh) phải mở rộng quyền kết hôn cho những cặp tình nhân đồng tính luyến ái.
Ngày 14/8/ do trục trặc kỷ thuật bị mất điện trên một diện rộng phía Đông bắc vùng Ontario và Manitoba kể cả Ottawa và Toronto. Ngày 12/12/2003, Chretian từ chức, và Paul Martin trở thành Thủ tướng.
Sydney ngày 9 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.081 chữ)
Bài 173: CHUYỆN KỂ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA CANADA (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Sự tai tiếng do việc chi ra những khoảng tiền lớn để làm những bộ phim quảng cáo, và bảo trợ cho các sự kiện thể thao ở Quebec là những yếu kém trong quản lý của đảng Tự do, khiến cho cuộc bầu cử ngày 28/6/2004, đảng Tự do chỉ giành được 135/308 ghế tại Hạ viện, nhưng Martin vẫn còn giữ chức Thủ tướng. Ngày 19/7/2005, Quốc hội thông qua đạo luật cho phép kết hôn trong giới đồng tính. Ngày 27/9, Michaelle Jean, một phóng viên truyền hình, sinh tại Haiti là người da đen đầu tiên tuyên thệ nhậm chức Tổng Toàn quyền Canada.
Đảng Tự do rời khỏi chính quyền sau cuộc bầu cử ngày 23/1/2006, đảng Bảo thủ đối lập dẩn đầu chiếm 124 ghế, kế đến là đảng Tự do 103 ghế. Lãnh đạo đảng Bảo thủ là Stephen Harper phải Liên minh với đảng nhỏ để thành lập chính phủ. Ngày 2 và 3/6, cảnh sát đã nhanh tay bắt 17 người, chận đứng một âm mưu khủng bố nhắm vào các toà nhà Quốc hội và Văn phòng Thủ tướng. Ngày 23/2/2007 toà án tối cao đã nhất trí xoá bỏ luật, theo đó những người tình nghi khủng bố sinh ở nước ngoài sẽ bị giam giữ không cần chứng cứ buộc tội.
Sau cuộc bầu cử Quốc hội ngày 14/10/2008, đảng Bảo thủ của Stephen Harper phải Liên minh với đảng nhỏ để thành lập chính phủ. Tại phiên họp Quốc hội ngày 27/1/2009, đảng Tự do đã ủng hộ đề nghị của Harper cấp 32,6 tỷ để cứu vãn suy thoái kinh tế. Năm 2009, kinh tế Canada chịu tổn thất trong Đại suy thoái toàn cầu, song đã phục hồi một cách khiêm tốn. Năm 2008, lượng hàng hóa nhập khẩu của Canada có giá trị trên 442,9 tỷ. Tổng thâm hụt thương mại của Canada vào năm 2009 là 4,8 tỷ CAD, trong khi vào năm 2008 quốc gia này thặng dư 46,9 tỷ CAD.
Canada sẽ là nước chủ nhà đứng ra tổ chức Thế Vận Hội mùa Đông vào ngày 12-28/2/2010 tại Vancouver, và Hội nghị Nhóm G8 và G20 vào ngày 25-27/6 tại Ontario. Năm 2011, các lực lượng của Canada tham gia vào cuộc can thiệp do NATO dẫn đầu trong Nội chiến Libya. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 2/5/2011, đảng Bảo thủ dẫn đầu với 167/308 ghế tại Hạ viện, kế là đảng Tân Dân chủ 102 ghế ... Sở giao dịch chứng khoán Toronto của Canada là sở giao dịch chứng khoán lớn thứ bảy trên thế giới với 1.577 công ty niêm yết vào năm 2012.
Canada là nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới, với GDP danh nghĩa năm 2012 là khoảng 1.532.340 tỷ đô la Mỹ và cũng là một trong mười quốc gia mậu dịch đứng đầu thế giới, với một nền kinh tế toàn cầu hóa cao độ. Canada có một nền kinh tế hỗn hợp. Năm 2013, phần lớn kinh tế Canada đã ổn định. Canada được công nhận là một cường quốc bậc trung do vai trò của quốc gia này trong các quan hệ quốc tế với một xu hướng theo đuổi các giải pháp đa phương.
Ngoài việc là một thành viên của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Canada còn là một thành viên của các tổ chức và diễn đàn khu vực và quốc tế khác trên các vấn đề kinh tế và văn hóa. Canada tham gia vào Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị từ năm 1976. Canada đang sử dụng một lực lượng quân sự chuyên nghiệp, tình nguyện gồm 68.250 nhân viên và khoảng 47.081 quân dự bị. Quân đội Canada (CF) gồm có Lục quân Canada, Hải quân Hoàng gia Canada, và Không quân Hoàng gia Canada.
Năm 2017, tổng chi tiêu quân sự của Canada là khoảng 27,6 tỷ đô la Canada. Canada và Hoa Kỳ chia sẻ đường biên giới không được bảo vệ dài nhất thế giới, hợp tác trong các chiến dịch và tập luyện quân sự, và là đối tác thương mại lớn nhất của nhau.
Sydney ngày 10 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 754 chữ)
Bài 174: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ PHÂN QUYỀN VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA LIÊN BANG CANADA.
Lê Xuân Đỗ
Canada là một Liên bang gồm có mười tỉnh và ba lãnh thổ. Các đơn vị hành chính này có thể được chia thành bốn vùng chính: Tây bộ Canada, Trung bộ Canada, Canada Đại Tây Dương, và Bắc bộ Canada. Các tỉnh có quyền tự trị lớn hơn các lãnh thổ, chịu trách nhiệm đối với các chương trình xã hội như chăm sóc y tế, giáo dục, và phúc lợi. Tổng thu nhập của các tỉnh nhiều hơn của chính phủ liên bang. Sử dụng quyền hạn chi tiêu của mình, chính phủ liên bang có thể bắt đầu các chính sách quốc gia tại các tỉnh, như Đạo luật Y tế Canada.
Các tỉnh có thể chọn ở ngoài chúng, song hiếm khi làm vậy trên thực tế. Chính phủ liên bang thực thi thanh toán cân bằng nhằm bảo đảm các tiêu chuẩn thống nhất hợp lý về các dịch vụ và thuế được thi hành giữa các tỉnh giàu hơn và nghèo hơn. Các tỉnh và lãnh thổ của Canada chịu trách nhiệm về giáo dục. Độ tuổi bắt buộc đến trường từ 5–7 đến 16–18 tuổi, đóng góp vào tỷ lệ người trưởng thành biết chữ là 99%. Năm 2011, 88% người trưởng thành có tuổi từ 25 đến 64 đã đạt được trình độ tương đương tốt nghiệp trung học, trong khi tỷ lệ chung của OECD là 74%.
Theo một tường thuật của NBC năm 2012, Canada là quốc gia có nền giáo dục tốt nhất thế giới. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) chỉ ra rằng học sinh Canada biểu hiện tốt hơn mức trung bình của OECD, đặc biệt là trong toán học, khoa học, và đọc. Canada có hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh và tiếng Pháp. Tiếng Anh và tiếng Pháp có địa vị ngang nhau trong các tòa án liên bang, Nghị viện, và trong toàn bộ các cơ quan liên bang. Các công dân có quyền nhận các dịch vụ của chính phủ liên bang bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp.
Văn hóa Canada là văn hoá của các dân tộc thành phần, đa nguyên văn hóa được bảo vệ theo hiến pháp. Québec là nơi có bản sắc mạnh hóa mạnh, và nhiều nhà bình luận cho rằng tiếng Pháp nói về một văn hóa Québec khác biệt với văn hóa Canada Anh ngữ. Tuy nhiên, Canada ở trong thuyết một khảm văn hóa – một tập hợp của vài tiểu văn hóa vùng miền, thổ dân, và dân tộc. Trong tổng thể, các chính sách của chính phủ áp thuế cao hơn để tái phân phối của cải, xóa bỏ tử hình, loại trừ nghèo khổ, kiểm soát súng nghiêm ngặt, và hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính.
Về mặt lịch sử, Canada chịu ảnh hưởng của các văn hóa và truyền thống Anh Quốc, Pháp, và thổ dân. Nhiều người Canada xem trọng đa nguyên văn hóa và nhìn nhận Canada vốn đã đa nguyên văn hóa. Thông qua ngôn ngữ, nghệ thuật và âm nhạc, các dân tộc thổ dân tiếp tục có ảnh hưởng đến bản sắc Canada. Nghệ thuật thị giác Canada chịu sự chi phối của các cá nhân như Tom Thomson họa sĩ nổi tiếng nhất của quốc gia – hay Group of Seven (nhóm 7 họa sĩ). Sự nghiệp hội họa phong cảnh Canada của Tom Thomson kéo dài một thập kỷ cho đến khi ông mất vào năm 1917 ở tuổi 39.
Ngành công nghiệp âm nhạc của Canada sản sinh ra những nhà soạn nhạc, nhạc sĩ, ban nhạc nổi tiếng ở tầm quốc tế. Âm nhạc ái quốc tại Canada đã có từ trên 200 năm, khi đó là một thể loại riêng biệt với chủ nghĩa ái quốc Anh Quốc, trên 50 năm trước khi có các bước pháp lý đầu tiên hướng đến độc lập. Tác phẩm ái quốc sớm nhất là The Bold Canadian (người Canada Dũng cảm), được viết vào năm 1812. Quốc ca của Canada là "O Canada" ban đầu do Phó tổng đốc Québec Théodore Robitaille đặt sáng tác cho ngày lễ Thánh Jean-Baptiste năm 1880, và được chấp thuận chính thức vào năm 1980.
Các biểu tượng quốc gia của Canada chịu ảnh hưởng từ các nguồn tự nhiên, lịch sử, và Thổ dân. Việc sử dụng “LÁ PHONG” làm một biểu tượng của Canada bắt đầu từ đầu thế kỷ XVIII. Lá phong được mô tả trên các quốc kỳ hiện nay và trước đây, trên tiền xu, và trên quốc huy. Các biểu tượng đáng chú ý khác gồm có hải ly, ngỗng Canada, chim lặng mỏ đen, vương vị, Kị cảnh vương thất Canada, và gần đây hơn là 'cột vật tổ' và cột hay ụ đá nhân tạo Inuksut.
Sydney ngày 11 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 843 chữ)
Bài 175: CHUYỆN KỂ VỀ ẤN ĐỘ QUỐC GIA ĐỘC LẬP THỨ TƯ TỪ THUỘC ĐỊA ANH QUỐC.
Lê Xuân Đỗ
Ấn Độ, tên gọi chính thức là Cộng hòa Ấn Độ là quốc gia lớn thứ 7 về diện tích và đông dân đứng thứ 2 trên thế giới trên 1,410 tỷ người. Tiểu lúc Ấn Độ là nơi khởi nguồn của nền văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, sớm hình thành nên các tuyến đường mậu dịch mang tính quốc tế cùng những Đế quốc rộng lớn. Tiểu lục Ấn Độ cũng là nơi khởi nguồn của 4 tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sihk giáo, trước Do Thái giáo, Cơ đốc giáo, và Hồi giáo. Khoảng năm 7000 TCN, các khu định cư thời đại đồ đá mới đầu tiên được biết đến đã xuất hiện trên tiểu lục địa.
Tại Mehrgarh và các di chỉ khác ở đông bộ Pakistan. Chúng dần phát triển thành văn minh thung lũng sông Ấn là nền văn hóa đô thị đầu tiên tại Nam Á; và phát triển hưng thịnh trong khoảng thời gian 2500–1900 TCN tại Pakistan và tây bộ Ấn Độ. Nền văn minh này tập trung quanh các thành thị như Mohenjo-daro, Harappa, Dholavira, và Kalibangan, và dựa trên các hình thức sinh kế đa dạng, nền văn minh này có hoạt động sản xuất thủ công nghiệp mạnh cùng với mậu dịch trên phạm vi rộng. Nhiều khu vực tại tiểu lục địa chuyển đổi từ thời đại đồ đồng đá sang thời đại đồ sắt.
Khoảng năm 1500 TCN, người Aryans từ bán đảo Châu Âu vào định cư ở Ấn Độ. Từ đồng bằng miền Trung họ băng qua núi tới Hindu Kush đến những năm 1000 TCN, họ chiếm hầu hết lưu vực Thượng sông Ganges, phía Bắc Ấn Độ. Văn hoá Aryan ảnh hưởng lên nền văn hoá Ấn Độ. Tiếng Phạn (Sanskrit) ngôn ngữ nói của người Aryans là nền tảng của ngôn ngữ nói ở Ấn Độ. Đạo Hindu, còn gọi là Ấn Độ giáo, có nguồn gốc niềm tin của người Aryans từ bán đảo Châu Âu.
Bốn trụ cột của Đạo Hindu là: đạo đức-bổn phận (Pháp); thịnh vượng-công việc (Artha); (mong muốn-đam mê (Kama); và (giải thoát-cứu rỗi (Mossha). Cách hành đạo bao gồm các nghi thức như “thờ phượng, tụng kinh, thiền, nghi lễ gia đình, lễ hội hàng năm, và hành hương thường xuyên”. Người Aryans chia xã hội của họ thành bốn giai cấp chính và nó trở thành một phần trong hệ thống đẳng cấp (Caste System) của xã hội Ấn Độ theo tứ tự: (1) các tăng lữ và học giả; (2) các nhà cai trị và chỉ huy quân đội; (3) thương nhân và người chuyên môn; (4) dân lao động và người hầu hạ.
Tại các thời điểm khác nhau, vùng cư trú của người Aryans chia ra thành nhiều quốc gia (States) nhỏ. Một trong các quốc gia ấy có vị Thái tử tên Siddhartha Gautama, sinh khoảng năm 563 TCN. Gautama rời bỏ đời sống xa hoa trong cung điện đi tìm sự giải thoát nơi niềm tin tôn giáo. Ông ta trở thành một nhà truyền giáo lớn, và người theo ông ta thường được gọi là tín đồ Phật giáo (Buddha). Lời giảng của Gautama là nền tảng của đạo Phật, một trong các tôn giáo chính của thế giới.
Gautama cho rằng sự vật vận động theo chu kỳ lập lại. Vị trí của con người và sự tốt đẹp trong đời sống của họ được xác lập bởi mối quan hệ trước đó. Ví dụ, người có ý thức làm điều tốt sẽ tái sinh thành một người thông minh, giàu có. Ngược lại, người có hành vi độc ác, sẽ tái sinh ra người bệnh hoạn, nghèo nàn... Rằng, từng cá nhân con người đều phải nằm trong chu kỳ lập lại ấy, và họ không bao giờ thoát khỏi cảnh đau thương, bất hạnh. Chỉ có một cách là dứt bỏ bất cứ sự gắn bó, quyến luyến nào về sự giàu có vật chất để đạt tới một sự “an bình và hạnh phúc”.
Chandragupta Maurya người cai trị Ấn Độ khoảng 321 - 298 TCN, lần đầu tiên thống nhất các khu vực tự trị thành một Vương quốc Ấn Độ. Vương triều Maurya tồn tại trên dưới 140 năm (321 - 185 TCN), mở rộng vùng thống trị đến Bắc Ấn Độ, Tây Pakistan, và một phần Afghanistan. Đế quốc Maurya đạt tới đỉnh cao của nó dưới thời Hoàng đế Asoka trong những năm 200 TCN. Từ thủ đô Pataliputra phía Bắc Ấn Độ, Asoka kiểm soát hầu hết tiểu lục Ấn Độ, và một phần Trung Á. Asoka hậu thuẩn đạo Phật, đạo Phật được truyền bá rộng rãi và thăng hoa trong vùng cai trị của ông ta.
Asoka còn gởi nhiều sứ giả đạo Phật tới Seylon (nay là Sri-Lanka) và nhiều quốc gia khác truyền bá đạo Phật. Các thành tựu của đế quốc Maurya được xem như là nền tảng văn minh của Ấn Độ, với nhiều công trình tưới tiêu ruộng đồng, làm tăng sản lượng nông phẩm lên nhiều lần. Thợ thủ công khéo tay làm ra vãi vóc, vàng bạc, nữ trang, sản phẩm từ gỗ. Nhà nước làm chủ các cơ sở sản xuất, thuê mướn công nhân làm nông nghiệp, khai thác rừng, và hầm mỏ. Tù nhân chiến tranh, tá điền bị bắt đi khai hoang các vùng đất mới để trồng trọt.
Một hệ thống mật vụ, và giám sát của hoàng gia hoạt động khắp nơi, để bảo đảm rằng tất cả các viên chức, và công dân trong đế quốc đều phải tuân theo ý muốn của Hoàng đế. Đế quốc Maurya giao thương với Ceylon, Greece, Malaysia, Persia và Mesopotamia
Sydney ngày 12 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.008 chữ)
Bài 176: CHUYỆN KỂ VỀ CÔNG TY ĐÔNG ẤN VÀ ANH QUỐC CAI TRỊ TRỰC TIẾP ẤN ĐỘ.
Lê Xuân Đỗ
Triều đại Maurya chấm dứt năm 185 TCN, bởi vụ ám sát vị Hoàng đế sau cùng của dòng họ Maurya. Hầu như 500 năm kế tiếp, Ấn Độ đi vào bất ổn, các Lãnh chúa tự tung tự tác cai trị thần dân trong vùng kiểm soát của mình. Không một lãnh chúa nào đủ mạnh để lập ra được một chính quyền trung ương cai trị toàn bộ đất nước. Năm 320 SCN, Gupta, từ một gia đình địa chủ giàu có mới lên nắm quyền phía Bắc Ấn Độ, cai trị Magadda là vương quốc nhỏ ở lưu vực sông Ganges, Gupta, lớn mạnh dần qua việc chiếm cứ nhiều vùng lân cận, bành trướng lãnh thổ về phía Tây và phía Nam.
Triều đại Gupta tồn tại gần 200 năm, và là thời kỳ văn hoá Ấn Độ phát triển, được mô tả như một “thời vàng son” của sự an lạc, với chính quyền tốt, và đời sống văn hóa phong phú. Các thành phố xinh đẹp ra đời với các trường đại học tân lập. Văn chương, kịch nghệ thăng hoa. Các vị Hoàng đế Gupta đều là người theo đạo Hindu, nhưng đạo Phật cũng được tiếp tục phát triển dưới thời Gupta. Khoảng những năm 500 SCN, sau khi vương triều Gupta sụp đổ, Ấn Độ vở ra thành nhiều vương quốc nhỏ.
Từ đó cho đến những năm 1500, Ấn Độ trải qua nhiều cuộc xâm lăng từ phía Bắc. Đầu những năm 700, quân Hồi giáo à Rập tràn qua phía Tây Bắc, nhưng bị quân đội Ấn Độ đẩy lùi. Trong những năm 1100, Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ từ Trung Á xâm chiếm lưu vực sông Indus. Đến năm 1206, họ đã thành lập được một chính quyền Hồi giáo tại Delhi, cai quản luôn toàn bộ phía Bắc Ấn Độ. Trong thời gian nầy, nhiều người theo đạo Hồi từ Trung Đông đến Ấn Độ. Họ đảm trách các phần vụ như binh lính, viên chức chính quyền, thương nhân, và tăng lữ.
Các tăng lữ Hồi giáo biến cải nhiều người Ấn Độ thành tín đồ Hồi giáo. Năm 1398, quân Mông Cổ tràn vào Ấn Độ lật đổ vua Hồi, chiếm Delhi. Nhưng chẳng bao lâu sau họ rút lui, vua Hồi tái chiếm Delhi, nhưng các vùng còn lại phía Bắc thì bị chia thành nhiều vương quốc nhỏ. Năm 1526, một Thái tử Hồi giáo tên Babar, từ nơi nay là Afghanistan xâm lăng Ấn Độ, đánh bại lực lượng cuối cùng của vua Hồi ở Delhi. Babar thành lập đế quốc Mogul, tự phong Hoàng đế. Hoàng đế Babar là một nhà cai trị lớn, nhưng Babar chỉ cai trị có 4 năm.
Sau khi ông ta chết năm 1530, những người kế vị tiếp tục mở rộng lãnh thổ đế quốc Mogul từ Afqhanistan đến tận cửa sông Ganges nơi bây giờ là Bangladesh. Các vị Hoàng đế Mogul cai trị Ấn Độ từ 1526 đến 1857. Từ năm 1498-1503, người Bồ Đào Nha lập các trạm buôn bán với Ấn Độ, sau đó là người Hoà Lan. Năm 1609, công ty Đông Ấn của Anh gởi thuyền trưởng William Hawkins đến thương lượng với Hoàng đế Mogul xin ban cấp đặc quyền mua bán trầm hương và tơ lụa. Thông qua hoạt động của công ty Đông Ấn, Anh quốc từng bước kiểm soát Ấn Độ.
Quốc hội Anh điều hành chính sự Ấn Độ từ năm 1825 đến 1835 dưới thời cai trị của Lord Bentinck. Nhà vua Ấn Độ vẫn còn tại vị, nhưng như một kẻ bù nhìn không chút quyền hành. Năm 1848, Anh Quốc bổ nhiệm James Broun-Ramsay làm Toàn quyền của Công ty Đông Ấn chuẩn bị cho những thay đổi lớn cho một quốc gia vương tới hiện đại. Các biến đổi về công nghệ như đường sắt, kênh đào, và điện báo được đưa đến Ấn Độ không lâu sau khi chúng được giới thiệu tại châu Âu. Tuy nhiên, sự bất mãn đối với Công ty Đông Ấn của Anh cũng tăng lên.
Năm 1857, bùng nổ khởi nghĩa Ấn Độ, cuộc khởi nghĩa bắt nguồn từ những oán giận và nhận thức đa dạng, bao gồm cải cách xã hội kiểu Anh, thuế đất khắc nghiệt, và đối đãi tồi của một số địa chủ giàu có và phiên vương, nó làm rung chuyển nhiều khu vực ở bắc bộ và trung bộ Ấn Độ và làm lung lay nền móng của Công ty Đông Ấn. Mặc dù cuộc khởi nghĩa bị đàn áp vào năm 1858, nhưng nó lại đưa tới kết quả là Công ty Đông Ấn bị giải thể và Chính phủ Anh Quốc từ đó trực tiếp quản lý Ấn Độ.
Những người cai trị mới công bố một nhà nước nhất thể và một hệ thống nghị viện từng bước theo kiểu Anh song có hạn chế, nhưng họ cũng bảo hộ các phó vương và quý tộc địa chủ nhằm tạo ra một thế lực hộ vệ phong kiến để chống lại bất ổn trong tương lai. Trong các thập niên sau đó, hoạt động quần chúng dần nổi lên trên khắp Ấn Độ, cuối cùng dẫn đến việc thành lập Đảng Quốc đại Ấn Độ vào năm 1885.
Sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật cùng với thương mại hóa nông nghiệp trong nửa sau thế kỷ XIX gây nên các khó khăn kinh tế: nhiều nông dân nhỏ trở nên phụ thuộc vào các nhu cầu của các thị trường xa xôi. Số lượng nạn đói quy mô lớn gia tăng, và có ít công việc công nghiệp được trao cho người Ấn Độ. Tuy nhiên, nó cũng có những tác động tích cực: trồng trọt mang tính thương mại, đặc biệt là ở vùng Punjab mới được khơi kênh, khiến sản lượng lương thực dành cho tiêu dùng nội địa gia tăng.
Hệ thống đường sắt giúp cung cấp đồ cứu tế đến những nơi bị nạn đói nguy cấp, giảm đáng kể chi phí vận chuyển hàng hóa, và giúp ích nhiều cho ngành công nghiệp non trẻ của Ấn Độ.
Sydney ngày 13 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.075 chữ)
Bài 177: CHUYỆN KỂ VỀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG CỦA NGƯỜI ẤN ĐỘ.
Lê Xuân Đỗ
Có khoảng một triệu người Ấn Độ phục vụ cho Anh Quốc trong Chiến tranh thế giới thứ Nhất, và sau cuộc chiến là một thời kỳ mới. Thời kỳ này mang dấu ấn với các cải cách từ Anh Quốc và có thêm nhiều ràng buộc về luật pháp. Người Ấn Độ cũng có những phản ứng mãnh liệt hơn trong việc đòi quyền tự trị, bắt đầu bởi một phong trào bất bạo động bất hợp tác - trong đó Mohandas Karamchand Gandhi trở thành lãnh tụ và biểu tượng. Đầu thập niên 1920, những người theo chủ nghĩa quốc gia phát triển mạnh.
Hội nghị Quốc gia Ấn Độ và Liên đoàn Hồi giáo đòi sửa đổi Hiến pháp tăng nhiều quyền tự trị hơn cho Ấn Độ. Nhà lãnh đạo nổi tiếng ở Mohandas là K. Gandhi thường gọi là Thánh Gandhi (1869-1948), lãnh đạo “cuộc đấu tranh bất bạo động” đòi chính quyền tự trị, xoá bỏ hệ thống đẳng cấp xã hội. Năm 1930, Gandhi đề kêu gọi quần chúng tẩy chay hàng hoá Anh quốc, và phản đổi các sắc thuế không phù hợp. Năm 1935, Anh quốc thông qua một Hiến pháp về Ấn Độ cho phép nước này có một Quốc hội lưỡng viện Liên bang.
Trong khi đó thì Muhammad Ali Jinnah, người cầm đầu Liên đoàn Hồi giáo vận động thành lập quốc gia Hồi giáo Pakistan. Chính quyền Anh phân chia thuộc địa Anh trên đất Ấn Độ thành hai chính quyền tự trị Ấn Độ và Pakistan. Ấn Độ trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc năm 1945. Ngày 15 tháng 8 năm 1947, Độ trở thành quốc gia độc lập trong Khối Thịnh vượng Anh và thuộc địa này bị phân chia thành hai quốc gia: Ấn Độ và Pakistan. Tuy được Anh trao trả độc lập trong hòa bình, nhưng mâu thuẫn nội bộ tại Ấn Độ khiến đổ máu vẫn xảy ra.
Trước khi có sự chia cắt các tỉnh Punjab và Bengal, bạo động giữa người Sikh, Hindu và Hồi giáo đã bùng nổ ở một vài nơi, bao gồm Punjab, Bengal và Delhi, làm 500.000 người thiệt mạng. Ngày 30 tháng 1 năm 1948, trên đường đến một nơi thờ tụng, Mahatma Gandhi, người lãnh đạo phong trào giành độc lập, bị bắn chết bởi một môn đồ Ấn giáo cực đoan.Hiến pháp Ấn Độ năm 1950, xác định Ấn Độ là một nền cộng hòa thế tục và dân chủ. Trong 60 năm kể từ đó, Ấn Độ trải qua cả những thành công và thất bại.
Đất nước này vẫn duy trì một chế độ dân chủ với các quyền tự do dân sự, một Tòa án tối cao hoạt động tích cực, và một nền báo chí độc lập ở mức độ lớn. Tự do hóa kinh tế bắt đầu tạo ra một tầng lớp trung lưu thành thị, biến Ấn Độ thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh tăng cường ảnh hưởng địa chính trị của mình. Tuy nhiên, Ấn Độ phải đương đầu với các vấn đề như tình trạng nghèo nàn ở cả thành thị lẫn nông thôn; các xung đột tôn giáo và đẳng cấp; từ quân nổi dậy Naxalite có bóng dáng của Mao Trạch Đông đến chủ nghĩa ly khai tại Jammu và Kashmir và tại Đông Bắc.
Tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, từng leo thang thành Chiến tranh Trung-Ấn vào năm 1962. Các cuộc chiến tranh biên giới với Pakistan bùng phát vào các năm 1947, 1965. Hơn 12 triệu người tỵ nạn Hồi giáo và Hindu băng qua biên giới Ấn Độ-Pakistan, do các cuộc đánh nhau vì sắc tộc giết hại trên 200.000 người. Tháng 1/1966, Indira Gandhi được bầu làm Thủ tướng. Ngày 25/3/1971, sau khi quân đội Pakistan tấn công vào người ly khai Bangladesh phía Đông Pakistan, khoảng 10 triệu người tỵ nạn chạy vào Ấn Độ.
Ngày 3/12/1971, Ấn Độ và Pakistan khởi sự chiến tranh trên cả hai mặt trận phía Đông và phía Tây. Sau 2 tuần chiến đấu khốc liệt ngày 16/12, quân Pakistan trên mặt trận phía Đông đầu hàng, và hôm sau Pakistan đồng ý ngưng chiến trên mặt trận phía Tây. Do mâu thuẫn chính trị và gia tăng bạo loạn, tháng 6/1975, Indira Gandhi ban bố tình trạng khẩn cấp, hàng ngàn chính trị gia đối lập bị bắt. Các đảng phái đối lập hợp nhất với nhau trong liên minh Janata đẩy đảng Quốc đại của Gandhi khỏi quyền lực trong cuộc bầu cử Quốc hội Liên bang và Tiểu bang năm 1977.
Ngày 14/1/1980, Gandhi trở thành Thủ tướng lần thứ hai, và bị ám sát ngày 31/10/1984 bởi hai vệ sĩ người Sikh của bà, trong một hành động như để đáp trả việc đàn áp người Sikh trong cuộc nổi dậy ở Punjab, và cả việc tấn công vào ngôi đền vàng tại Amritsar, nơi để thánh cốt linh thiêng nhất của người Sikh. Bạo loạn nổi lên khắp nơi theo sau vụ ám sát, hàng ngàn người Sikh bị giết và khoảng 50.000 phải rời bỏ nhà cửa của họ. Con trai của Gandhi, là Rajiv Indira thay thế bà ta trong chức vụ Thủ tướng cho đến giữa năm 1989, thì bị cáo buộc thiếu khả năng và tham nhũng.
Rajiv Indira bị ám sát ngày 21/5/1991, trong khi đang vận động để được tái giữ chức Thủ tướng Ấn Độ. Việc rò rỉ hơi độc tại nhà máy hoá chất tổng hợp Carbide ở Bhopal tháng 12/1984, giết chết khoảng 14.000 người. Năm 1989, toà án ra phán quyết nhà máy phải bồi thường 470 triệu USD cho các nạn nhân. Chủ tịch Hội đồng quản trị nhà máy là Warren Anderson kháng án. Và, trong phiên xử phúc thẩm (năm 2002), Toà án tối cao bác đơn kháng án. Nhiều cuộc bạo loạn của người Sikh nổi lên đập phá trong suốt thập niên 1980.
Sydney ngày 14 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1007 chữ)
Bài 178: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG KHÓ KHĂN CÒN TỐN TẠI TRONG QUỐC GIA ẤN ĐỘ.
Lê Xuân Đỗ
Tháng 5/1987 một quyết định của chính quyền đưa tiểu bang Punjab đặt dưới sự cai trị của Chính quyền trung ương lại dấy lên một cuộc bạo loạn mới. Tháng 5/1988, chính quyền mở cuộc bao vây đền vàng làm nhiều người chết. Tháng 2/1993, trong một cuộc bạo loạn sắc tộc tại Assam hàng ngàn người bị giết. Các cuộc đập phá lan nhanh sau vụ dân quân Hindu đập phá một ngôi đền Cổ từ thế kỷ 16. Làn sóng người bạo loạn lớn nhất lịch sử Ấn Độ là các vụ nổ bom gây kinh hoàng hai thành phố Bombay và Calcutta từ ngày 12-19/3/1993, giết chết trên 300 người.
Vụ tai tiếng tham nhũng nổi lên trong giới chính trị gia Ấn Độ trong vào giữa thập niên 1990 khiến đảng Quốc gia chủ nghĩa Ấn Độ không đủ tỷ số để thành lập chính phủ. Liên minh cánh tả nắm chính quyền ngày 1/6/1996. Ngày 25/7/1997, một người có đẳng cấp thấp trong xã hội đầu tiên được bầu làm Tổng thống là ông K.R Narayanan. Cuộc bầu cử Quốc hội tháng 2/1998, đảng Quốc gia chiến thắng, và Atal Bihari VaJpayee nhận chức Thủ tướng ngày 19/3. Trong cuộc bầu cử cơ quan Lập pháp ngày 5/9 và 3/10/1999, Liên minh do Vajpayee lãnh đạo chiếm đa số ghế.
Ngày 29/10, một cơn lốc mạnh ập vào tiểu bang Orissa phía Đông Ấn Độ làm gần 10.000 người thiệt mạng. Và, ngày 26/1/2001, một trận động đất cực mạnh tại tiểu bang Gujarat làm hơn 20.000 người chết và hơn 166.000 người bị thương. Ấn Độ cáo buộc Pakistan bảo trợ cho các nhóm khủng bố trong vụ ôm bom tự sát tấn công Quốc hội tiểu bang Jammu ngày 1/10/2001, và tại Kashmir giết chết gần 40 người. Ngày 13/12, một vụ tấn công khác nhắm vào Quốc hội Ấn Độ ở New Delhi giết chết 13 người.
Các cuộc đụng độ giữa người theo đạo Hồi và người theo Ấn giáo ở Gujarat từ ngày 27/2 đến ngày 11/3/2002 làm hơn 800 người chết. Ông A. P.J Abdul Kalam, một khoa học gia Hồi giáo cầm đầu chương trình vũ khí hạt nhân Ấn Độ trở thành Tổng thống ngày 25/7/2002. Ngày 25/8/2003, tại Mumbai nhóm dân quân Hồi giáo quá khích gây ra hai vụ nổ bom giết chết trên 50 người. Trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 4 và tháng 5/2004, đảng Quốc đại lãnh đạo bởi quả phụ Rajiv Ganhi, thắng lợi với đa số ghế.
Bà Sonia sinh trưởng tại Ý, nên bị những người theo chủ nghĩa Quốc gia phản đối, bà Sonia đã từ chối chức Thủ tướng. Và Manmohan Singh một kinh tế gia người Sikh trở thành Thủ tướng. Trận lụt gió mùa Nam Á trong tháng 7-8/2004, tại hai tiểu bang Assam và Bihar giết chết hơn 930 người. Trận sóng thần vùng Ấn Độ Dương ngày 26/12/2004, làm 10.700 người chết, 5.600 người mất tích, và trên 647.000 người không còn nơi cư trú. Ba vụ đánh bom tại New Delhi ngày 29/10/2005 bởi nhóm Hồi giáo cực đoan giết chết 60 người.
Và 7 vụ tấn công các đoàn xe lửa vào giờ công nhân đi làm ngày 11/7/2006 giết trên 200 người. Trong cuộc bầu chọn Tổng thống ngày 21/7/2007, Pratibha Patil là người phụ nử đầu tiên thuộc Liên minh Tiến bộ đương quyền được Quốc hội bầu làm Tổng thống với 65,8% phiếu bầu. Trận lụt gió mùa Nam Á tháng 7 và tháng 8 cướp đi 2.600 mạng sống, và tàn phá hơn 575.000 ngôi nhà. Vụ đánh bom xe sứ quán Ấn Độ tại Kabul ngày 7/7/2008, giết chết 58 người, và 147 người bị thương.
Các vụ đánh bom ngày 25-26/7/2008 tại Bangalore và Ahmadabad giết chết 46 người, và ngày 13/9 tại New Delhi làm 20 người thiệt mạng. Các trận lụt gió mùa Nam Á từ tháng 6-9 làm hơn 2.200 người chết và ảnh hưởng trên 21,8 triệu người khác. Có ít nhất 224 người chết nghi là tự sát tại một đền thờ đạo Hindu ở Jodhpur ngày 30/9. Ngày 1/10/2008, Thượng viện Mỹ đã phê chuẩn hiệp ước, theo đó Hoa Kỳ sẽ bán cho Ấn Độ năng lượng và lò phản ứng hạt nhân, đổi lại Ấn Độ phải để cho thanh sát viên quốc tế kiểm tra các chương trình hạt nhân dân sự.
Vào đêm 26/11/2008, bọn khủng bố đã đồng loạt tấn công 10 nơi ở Mumbai làm chết ít nhất 171 người trong đó có 27 người nước ngoài và 294 người bị thương. Trong số 10 tên khủng bố, thì 9 tên bị giết và 1 tên bị bắt sống khai tên Ajmal Kasab. Ajmal Kasab bị kết án tử hình ngày 6/5/2010. Trong cuộc bầu cử Quốc hội từ 16/4 đến13/5/2009, Liên minh Cấp tiến cầm quyền do đảng Nghị viện của Thủ tướng Manmohan Singh cầm đầu giành chiến thắng. Trong cuộc bầu cử Quốc hội từ 7/4 đến12/5/2014, Liên minh Quốc gia Dân chủ (NDA) dẫn đầu chiếm 336....
Kể từ sau khi ban hành các cải cách kinh tế mới cũng như hình thành kinh tế thị trường hoàn chỉnh vào năm 1991, Ấn Độ trở thành một trong những nền kinh tế lớn có tốc độ tăng trưởng (hàng năm 8,5%) nhanh trên thế giới, được công nhận là một nước công nghiệp mới. Ấn Độ là quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và là một cường quốc có quân đội thường trực với số lượng lớn thứ 3 trên thế giới, đứng thứ 4 về sức mạnh quân sự tổng hợp, Ấn Độ được đánh giá là một siêu cường tiềm năng.
Mặc dù vậy, vẫn còn 400 triệu người dân Ấn Độ sống trong tình trạng nghèo đói.
Sydney ngày 15 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.016 chữ)
Hết Chương VIII gồm 24 bài: 155 - 178.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét