Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2023



 

 

CHƯƠNG V: MƯỜI BA NHÀ VUA CỦA VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN.

(Có 17 trang và 10.294)  

 

A. THỜI KỲ CAI TRỊ ĐỘC LẬP.

Tám vị Vua của Vương triều Nhà Nguyễn trong thời kỳ cai trị độc lập là: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu trị, Tự Dức, Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Hàm Nghi.

1. VUA GIA LONG.

1. Vua Gia Long (1802-1820). Năm 1777, khi gần như toàn bộ gia tộc chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn  bắt giết, chỉ một mình Nguyễn Phúc Ánh chạy trốn được, và bắt đầu cuộc chiến 25 năm với Tây Sơn để khôi phục lại cơ nghiệp của dòng tộc. Và, sau khi đánh bại Nhà Tây Sơn, Ông lên ngôi Hoàng đế ngày 1 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802) lúc ông 40 tuổi. Vương triều nhà Nguyễn có công lớn là thống nhất Việt Nam  sau nhiều trăm năm nội chiến và chia cắt. Triều đại của Gia Long chính thức sử dụng quốc hiệu Việt Nam với cương thổ rộng lớn, kéo dài từ biên giới Trung Quốc tới vịnh Thái Lan bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Dưới sự cai trị của ông, Việt Nam trở thành một thế lực quân sự hùng mạnh ở Đông Dương, cùng Xiêm La phân chia ảnh hưởng đối với Chân Lạp. Vua Gia Long tổ chức lại Cơ cấu quốc gia: Nội cung, không đặt Hoàng hậu; quan lại, không đặt chức Tể tướng. Triều đình gồm có Lục bộ là: bộ Lại, bộ Công, bộ Lễ, bộ Hộ, bộ Binh, và bộ Hình, mỗi Bộ do một Thượng thư đứng đầu. Ngoài lục bộ còn có Đô sát viện do Ngự sử đứng đầu để can gián nhà vua và đàn hặc các quan; Ấn định quyền hạn các chức tước, lương bổng, văn võ theo các cấp bậc; ban hành chế độ tiền dưởng liêm để phòng trừ tệ nạn tham nhũng. 

2. Về hành chính, Gia Long phân chia Việt Nam thành 2 tổng trấn, và 2 vùng: Tổng trần Bắc Hà: gồm 5 Nội trấn là Hải Dương, Kinh Bắc, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Sơn Tây; Và 6 Ngoại trấn là Cao Bằng, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Quảng Yên, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Tổng trấn Nam Hà: gồm 5 Trấn là Biên Hòa, Hà Tiên, Phiên An, Vĩnh Thanh, Vĩnh Tường. Hai vùng: Vùng miền Trung: gồm 7 Trấn độc lập là Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận. Vùng Kinh Kỳ:  gồm 4 Doanh là Trực Lệ Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị, và Quảng Nam. Tổng trấn Bắc Hà và Nam Hà sẽ do hai quan Tổng trấn đứng đầu, sẽ nắm toàn quyền về luật pháp, kinh tế lẫn quân sự. Về các Trấn thì có quan Lưu trấn. Dưới Trấn là phủ, huyện, châu với các vị quan đứng đầu lần lượt là Tri Phủ, Tri Huyện, Tri Châu. 

Về Nông nghiêp: dưới thời Gia Long ruộng đất được quản lý bằng các điền bạ ghi rõ về tình trạng, vị trí thứ hạng đất ruộng. Mỗi làng làm 3 quyển gửi lên bộ đóng dấu, 1 quyển sẽ lưu lại bộ, 1 quyển lưu lại tỉnh và 1 quyển gửi trả về làng. Để bảo đảm ruộng đất cho mọi người nông dân cày cấy. Ngay từ khi lên ngôi, vua Gia Long đã ra lệnh cấm buôn bán ruộng đất công. Gia Long còn cho ban hành Lệ quân điền, trong đó thời hạn chia ruộng đất công được rút xuống ba năm, và “đối tượng chia ruộng” trước hết nhằm “ưu đãi quan lại và quân lính”. Thời vua Gia Long rất đề cao và khuyến khích nông nghiệp, nhà vua đã cho đầu tư đắp rất nhiều đê ngăn mặn, trị thuỷ.

3. Về giáo dục, thấy các quan đầu triều của mình đều chỉ là quan võ, vua Gia Long đặc biệt quan tâm đến việc học hành thi cử để tuyển lựa quan văn. Ông cho thành lập Quốc Tử Giám ở Phú Xuân để dạy con quan, tổ chức thi Hương theo định kỳ để tuyển chọn nhân tài. Ngoài ra, ông còn đặt thêm chức đốc học ở các trấn, và cho dùng những người có công danh ở đời nhà Lê, để coi việc dạy dỗ ở địa phương. Về luật pháp, Gia Long cho soạn bộ luật mới có tên gọi là Hoàng Việt luật lệ còn được gọi là "luật Gia Long", do Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành chủ biên bao gồm 22 quyển và 398 điều. Gia Long thường xuyên phải đối mặt với các phong trào chống đối ở khắp ba miền Việt Nam (đặc biệt ở khu vực Bắc Hà) với khoảng 73 phong trào trong suốt thời kỳ ông trị vì.

Về tôn giáo, Gia Long ưa chuộng Nho giáo, nhưng Thiên Chúa giáo cũng được khoan thứ vì mối quan hệ giữa ông với người Pháp, và các giáo sĩ không bị cấm đoán và được tự do đi truyền đạo khắp nơi. Tuy vậy, Gia Long vẫn cảnh giác và ra các biện pháp phòng ngừa vấn đề truyền bá đạo Công giáo xâm hại tới trật tự xã hội, văn hóa truyền thống; nguy cơ các thế lực phương Tây thâm nhập Việt Nam thông qua các giáo sĩ.. 

4. Giết hại công thần: trước khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã giết Đỗ Thành Nhơn người có công lớn, được Ánh phong Ngoại hữu Phụ chính Thượng tướng quân, tước Quận công... Khi ở ngôi hoàng đế, Gia Long cũng đã giết hại Nguyễn Văn Thành người theo Nguyễn Ánh từ ngày đầu ông khởi binh chống Tây Sơn lập được nhiều công to đứng đầu hàng công thần; Và, Đặng Trần Thường, người cuối đời nhà Lê từ chối giúp Tây Sơn, đi theo Nguyễn Ánh, lập được nhiều công trạng làm lên tới chức Tán Lý.

2. VUA MINH MẠNG.

1. Vua Minh Mạng (1820-1841) là vị Hoàng đế thứ 2 của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi Hoàng đế tháng giêng năm Canh Thìn (1820) lúc ông 29 tuổi. Ông được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở Kinh đô Huế, bãi bỏ chức Tổng trấn Bắc Hà và Tổng trấn Nam Hà, đổi trấn thành tỉnh. Quân đội được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo thủ binh. Minh Mạng đã đánh tan nhiều cuộc nổi loạn của Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân… ở miền Bắc, và Lê Văn Khôi ở miền Nam. 

Ngoài việc dẹp trừ nội loạn, Minh Mạng còn chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài. Ông đổi tên Việt Nam thành Đại Nam. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945. Nhà vua lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao, và thực sự kiểm soát Chân Lạp đổi Nam Vang thành Trấn Tây thành. Kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả. Quan lại Đại Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị. Minh Mạng không có thiện cảm với các nước phương Tây, khước từ mọi tiếp xúc với họ. Minh Mạng cũng không thích đạo Cơ đốc bởi các Cố đạo thường cung cấp thông tin tình báo cho các nước phương Tây đi xâm lược. 

2. Trong việc dùng người, Minh Mạng chú trọng cả tài, đức và đặc biệt là học vấn. Ông cho rằng người không học thì không rõ pháp luật, lỡ khi xử đoán sai thì pháp luật khó dung, như thế sẽ làm hại dân. Việc dùng người không ngoài mục đích muốn yên dân. Muốn yên dân thì quan phủ huyện không được phiền nhiễu dân, tham nhũng. Vì vậy, nhà Vua đã nghiêm trị nhiều viên quan tham nhũng. Từ thời Minh Mạng giai chế phẩm trật được xác định rõ ràng, từ Cửu phẩm tới Nhất phẩm, mỗi phẩm chia làm 2 bậcchánh và tòng. Trừ khi có chiến tranh, loạn lạc còn bình thường “Quan võ phải dưới Quan văncùng phẩm với mình. Quan Tổng đốc (Văn) vừa trị vì Tỉnh vừa chỉ huy Đội quân của tỉnh nhà. 

Minh Mạng còn định mức lương bổng cho quan lại, định tiền gạo cho mỗi cấp cùng thời hạn lãnh lương. Ngoài ra ông còn cấp tiền dưỡng liêm để tranh sự tham nhũng của quan lại. Từ cuối năm 1831 Minh Mạng cho bỏ các Dinh, Trấn và thành lập các Tỉnh. Năm 1832 cả nước có 31 tỉnh, gồm: Bắc Kỳ có 13 tỉnh: Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Hóa Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Nguyên. Trung Kỳ có 12 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận. Nam Kỳ có 06 tỉnh: Phiên An (năm 1836 đổi tên thành Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên

3. Nhà vua đặt các quan Tổng Đốc đối với tỉnh lớnhoặc Tuần Vũ đối với tỉnh nhỏ, riêng tỉnh Thừa Thiên gọi là Phủ doãn”. Đặt các quan Bố Chánh sứ, Án sát, cùng Lãnh binh để trông coi mọi việc tại từng tỉnh. Trong triều, Thị Thư Viện được đổi thành Văn Thư Phòng vào năm 1820, rồi thành Nội Các vào năm 1829. Năm 1830, ông đặt ra Cơ Mật viện để trông coi những việc quốc quân trọng yếu. Đối với vùng thượng du, chủ yếu là 6 ngoại trấn của Bắc Thành cũ, nhà vua quyết định nhất thể hóa về mặt hành chánh cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829, ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ tri, cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương thanh liêm, tài năng, cần mẫn, dân tin phục" làm Thổ tri các Châu, huyện.

Minh Mạng rất quan tâm đến nền khoa cử, học vấn. Ông nói: ”Đạo trị nước phải gây dựng nhân tài”. Minh Mạng còn đặt ra lệ rằng ai được thăng quan, bổ nhiệm đều phải lên kinh gặp Vua trước khi nhậm chức. Đây là cơ hội để nhà vua kiểm tra đức độ, năng lực và khuyên bảo điều hay lẽ phải, cốt sao cho “ích nước, lợi nhà”.Ông thường nói rằng:”Lâu nay cái học khoa cử làm cho người ta sai lầm, Trẫm nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những văn cử-nghiệp chỉ câu nệ cái hư sáo khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp do tự đó. Khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi. Song tập tục đã quen rồi, khó đổi ngay được, về sau dần dần đổi lại”.

4. Minh Mạng chú trọng việc khẩn hoanglập ấp, cho quan lại mộ dân đi “lập ấp mới”. Hoàn chỉnh hệ thốngĐê điều oả Bắc Bộ, khai hoang ven cận biển, lập các huyện Kim Sơn và Tiền Hải. Minh Mạng còn thử nghiệm giải pháp bỏ đê phía nam Hà Nội, đào sông thoát lũ Cửu An (Hưng Yên)Ở Nam Bộ, thì đẩy mạnh việc. Khi bị thiên tai, mất mùa, quan lại ở các tỉnh phải xuất lúa giống ở kho cho dân nghèo vay để làm mùa sau. Nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạo bao gồm: máy cưa, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu và sức nước.  Năm 1834, Nguyễn Văn Tuý  chế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng. 

Năm 1837 và 1838, chế tạo được máy hút nước tưới ruộng, xe chữa lửa. Năm 1839, dựa trên các kiểu mẫu phương Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khen ngợi. Quân đội thời Minh Mạng gồm bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, kỵ binh và pháo thủ binh. Bộ binh gồm Kinh binh và Cơ binh. Kinh binh là lính riêng của Triều đình, được chia làm Doanh, VệĐội, đóng ở Kinh thành hoặc đóng ở các tỉnh. Cơ binh là lính riêng của từng tỉnh, cũng được chia làm Cơ và Đội. Cơ có các quản cơ, đội có các suất đội cai quản.

5. Về ngoại giao, Với Trung quốc, Minh Mạng tiếp tục triều cng, nhưng vẫn duy trì quan hệ tự chủ, triều cống chỉ có ý nghĩa tượng trưng, giá trị vật chất không đáng kể. Tuy nhiên các đoàn đi sứ đều được lệnh ghi chép cẩn thận tình hình bên Trung Quốc để báo cáo lại cho nhà vua. Các sứ thần không hoàn thành nhiệm vụ này đều bị trách phạt. Dưới thời Minh Mạngnhiều vùng ở Ai Lao đã xin thuộc quyền bảo hộ của Đại Nam. Các vùng nay là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam MônSavannakhet giáp với các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị đều được sáp nhập và trở thành các châu, phủ của Đại Nam. Với Chân Lạp, sau khi phá được quân Xiêm, Trương Minh Giảng ng Tham tán Lê Đại Cương lập đồn Đại Nam gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp. 

Vua Minh Mạng không luôn cảnh giác với người phương TâyVới những người Pháp đã từng giúp Gia Long trước kia, không còn được trọng dụng. Khi Chaigneau trở lại Đại Nam, mang theo Quốc thư nước Pháp xin cho Chaigneau làm Lãnh sự đại diện chính phủ Pháp ở Đại Nam, và xin ký thương ước giữa hai chính phủ. Minh Mạng trả lời không cần phải ký thương ước, người Đại Nam vẫn đối xử tử tế với người Pháp là đủMinh Mạng đếm xỉa đến Quốc thư nước Pháp. Các năm 1832 và 1836, Tổng thống Hoa Kỳ Andrew Jackson đã gửi đại sứ Edmund Robert sang đàm phán với Minh Mạng về quan hệ mậu dịch song phương giữa hai nướcnhưng không thành công. 

6. Từ khi lên ngôi, Minh Mạng đã có ý không cho người nước ngoài vào Đại Nam giảng đạo. Năm Ất Dậu (1825) khi chiếc tàu Thetís vào cửa Đà Nẵng, có tên Rogerot, giáo sĩ tự ý ở lại đi giảng đạo khắp nơi mà không xin phép, Minh Mạng liền ra dụ cấm đạo, và truyền cho quan quân phải khám xét các tàu thuyền của ngoại quốc ra vào cửa bể. Dụ nêu rõ: “Đạo phương Tây là tà đạo, làm mê hoặc lòng người và huỷ hoại phong tục, cho nên phải nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo”. Minh Mạng ra dụ truyền cho “những ai trót lỡ theo đạo” phải bỏ đạo, và ai bắt được giáo sĩ đem nộp thì sẽ được thưởng. 

Từ năm Giáp Ngọ (1834)  đến năm Mậu Tuất (1838) có nhiều giáo sĩ và giáo dân bị giết, nhất là từ khi bắt được giáo sĩ Joseph Marchand (Cố Du), người tham gia vào cuộc nổi dậy của Lê văn Khôi.. Vua Minh Mạng không hài lòng thói lộng quyền của Tả quân Lê Văn Duyệt đã dung nạp tên phản loạn Nguyễn Hữu Khôi, từ Cao Bằng, nhận Khôi làm con nuôi với tên mới Lê Văn Khôi, đem về Gia Định cất nhắc cho làm đến chúc Phó Vệ uý. Nhưng do Duyệt có công lớn với triều đình, nên vua Minh Mạng vẫn tin dùng cho đến khi qua đời năm 1832. Năm 1833, Lê Văn Khôi (? – 1834) dấy loạn chiếm thành Phiên An (thành Gia Định) Minh Mạng mới hài tội Lê Văn Duyệt. 

7. Năm 1835, sau khi dẹp xong cuộc nổi dây của Lê Văn Khôi, Minh Mạng giao cho nhóm Nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Quýnh nghị tội Lê Văn Duyệt, có bảy tội phải chém, hai tội phải thắt cổ, một tội phải sung quân. Bản án quyết định truy đoạt quan chức, phá bỏ quan quách giết thây. Mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định bị cuốc bằng và bị xiềng xích, phía trên khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ: Đây chỗ tên lại cái lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phép nước”. Sang năm sau (1836), Minh Mạng lại sai đình thần làm án Lê Chất, một công thần từ thời Gia Long, đã qua đời năm 1826. 

Bài dụ về tội trạng Chất có đoạn viết:”Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết”.”Vậy cho Tổng đốc Bình Phú Võ Xuân Cẩn san phẳng mộ của hắn, khắc bia dựng lên trên đề to mấy chữ "Chỗ này là nơi Lê Chất phục pháp" để làm gương cho kẻ gian tặc muôn đời. 

3. VUA THIỆU TRỊ.

1. Vua Thiệu Trị (1841-1847) là vị Hoàng đế thứ ba của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 20 tháng giêng năm Tân Sửu (1841) khi ông 34 tuổi. Ông là một người hiền hoà, siêng năng cần mẫn nhưng không có tính hoạt động như vua cha. Vả chăng, mọi định chế  pháp luật, hành chánh, học hiệu, điền địa, và binh bị đều được sắp đặt khá quy củ từ thời Minh Mạng, không có sự cải cách, thay đổi gì mới. Bầy tôi lúc bấy giờ có Trương Đăng Quế, Lê Văn Đức, Doãn Uẩn, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, và Lâm Duy Hiệp ra sức giúp việc. Dưới thời vua Thiệu Trị, ở Chân Lạp có nhiều cuộc nổi dậy, quan quân nhà Nguyễn tại Trấn Tây Thành đánh dẹp mãi mà vẫn không yên.

Nhà Vua phải ra lệnh cho Trương Minh Giảng rút quân về trấn thủ An Giang. Đất Nam Kỳ lại có nhiều giặc giã, triều đình phải dùng binh đi đánh dẹp mãitới năm Thiệu Trị thứ bảy 1847 mới yên được. Năm Ất Tỵ 1845, Giám mục tên Lefèbvre phải án xử tử. Thiếu tướng Pháp là Cécile xin triều đình tha mạng, và sai quân đem tàu Alcmène vào Đà Nẵng đón giám mục Lefebvre ra khỏi nước. Năm Đinh Mùi 1847, khi biết ở Huế không còn giáo sĩ bị giam nữa, Pháp lại sai đại tá De Lapierre và trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiếc chiến thuyền vào Đà Nẵng, yêu cầu bỏ chỉ dụ cấm đạo và để cho người trong nước được tự do theo đạo mới.

2. Khi hai bên còn đang thương nghị thì quân Pháp nổ súng đánh đắm thuyền của Đại Nam, rồi nhổ neo chạy ra biển. Vua Thiệu Trị tức giận, ra dụ cấm người ngoại quốc vào giảng đạo và trị tội những người trong nước theo đạo. Khi Thiệu Trị lâm bệnh nặngđể di chiếu truyền ngôi cho con thứ là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Thiệu Trị qua đời ngày 27 tháng 9 năm Đinh Mùi, tức ngày 4 tháng 10 năm 1847, hưởng thọ 41 tuổi.

4. VUA TỰ ĐỨC.

1. Vua Tự Đức (1847-1883) là vị Hoàng đế thứ 4 của Vương triều nhà NguyễnÔng lên ngôi Hoàng đế tháng 10 năm Đinh Mùi (1847) lúc ông 19 tuổi. Triều đại của ông đánh dấu nhiều sự biến đổi của vận mệnh đất nước Đại Nam. Vua Tự Đức cũng là một vị vua thông minh, năng nổ, quyết đoán. Quan thần dưới thời Tự Đức, phần lớn là những người giỏi dang, giàu kinh nghiệm, không phải “là những người có tầm nhìn hủ bại” như nhiều người “đã bôi bác”. Có tới 4 vị Đại quan dưới thời Tự Đức là Võ Duy Ninh, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, và Hoàng Diệu tuẫn tiết (tự tử để giữ khí tiết, để khỏi rơi vào tay giặc) trong chống giặc ngoại xâm, đánh Pháp xâm chiếm nước Đại Nam.

Ngay khi mới lên ngôi vua, Tự Đức đã sai Nguyễn Tri Phương làm Kinh lược 6 tỉnh Nam Kỳ; Phan Thanh Giản Kinh lược Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà và Nguyễn Đăng Giai làm Kinh lược Hà Tỉnh, Nghệ An, và Thanh Hoá để xem xét công việc cai trị của các quan lạivà sự làm ăn trong dân gian, có điều gì hay dở phải dâng sớ tâu về kinh đô cho vua biết.Dù vậy, chỉ có vài ba năm đầu còn hơi yên trị, từ năm 1851 trở đi trong nước ngày càng có nhiều cuộc nổi loạn: bắt đầu từ vụ mưu giành ngôi báu của Hồng Bảo, kế đến giặc Tam đường, Giặc Châu chấu, giặc Chày vôi, cuôc nổi loạn của Tạ Văn Phụng, rồi tàn quân của Thái bình Thiên quốc cướp phá các tỉnh cực Bắc… 

2. Sử nhà Nguyễn chép lời trăn trối của vua Thiệu Trị với các đại thần Trương Đăng Quế, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, và Lâm Duy Hiệp rằngTrong các con ta, Hồng Bảo tuy lớn, nhưng vì thứ xuất, mà lại ngu độn ít học, chỉ ham vui chơi, nối nghiệp không đặng. Con thứ hai là Phước Tuy công Hồng Nhậm thông mẫn ham họcgiống in như ta, đáng nối ngôi làm vua. Hôm qua ta đã phê vào tờ Di chiếu để trong long đồng. Các ngươi phải kính noi đó! Đừng trái mạng ta! Dù vậy, Hồng Bảo không tin đây là ý vua chamà do Trương Đăng Quế sắp đặt, nên mưu giành lại ngôi báu. 

Trong thư ngày 26 tháng 11 năm 1848, Giám mục Pellerin lúc bấy giờ đang ở Huế viết: Theo tôi biết thì Hồng Bảo đã nhiều lần tìm cách lấy lại ngôi báu, và ông muốn lôi cuốn những người Công giáo về phe ônghứa hẹn với họ không những được tự do hành đạo, mà còn dùng ảnh hưởng của mình để biến vương quốc của ông thành một quốc gia Thiên chúa giáo...

3. Trong một tuyên cáo của vua Tự Đức có viết:“Đạo Chúa hiển nhiên là trái với tự nhiên, bởi nó không tôn trọng các tổ tiên đã khuất. Các thầy giảng đạo gốc Âu Châu, là các kẻ đáng tội nhất, sẽ bị ném ra biển, với đá cột quanh cổ. Các thầy giảng gốc Việt Nam ít tội hơn, bắt họ từ bỏ những sai lầm của mình, nếu từ chối, đày họ đến những vùng rừng thiêng nước độc. Còn những ngu-dân thì các quan phải ngăn-cấm, đừng để cho đi theo đạo mà bỏ sự thờ-cúng cha ông.” Năm 1851, nhân vụ Hồng Bảo mưu loạn sự khoan dung này dành cho các linh mục bản xứ đột nhiên bị bãi bõ. Từ đó dụ cấm đạo càng khắt khe hơn trước. 

Trong năm đóvà năm kế tiếp, bốn vị giáo sĩ truyền đạo người Pháp đã bị chém đầuvà thi thể bị ném trôi sông hay ra biển. Báo chí Công Giáo tại Pháp miêu tả về sự kinh hoàng của các nạn nhân trong đó có một vị tu sĩ Tây Ban Nhamà Hoàng Hậu Pháp Eugenie có quen biết khi còn là một thiếu nữ. Cũng năm 1851, có nhóm giặc khách là Quảng Nghĩa Đường, Lục Thắng Đường, Đức Thắng Đường, quấy nhiễu ở mặt Thái Nguyên. Giữa năm 1854, có một nhóm người tự xưng hậu duệ của triều Lê, tôn Lê Duy Cựlàm minh chủ; Và, Cao Bá Quát tự xưng là Quốc sư khởi sự nổi loạn, Cao Bá Quát bị giết trong một trận đánh năm 1855.

4. Vua Tự Đức luôn xem Quốc phòng là vấn đề trọng đai, ông ra lệnh cho các tỉnh thành chọn lấy những thành niên trai tráng khỏe mạnh để đi lính. Ông tổ chức khoa thi võ tiến sĩ. Nhưng theo sách Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn, công tác quốc phòng thời Tự Đức, có sự tương phản rõ rệt với các triều trước. Một trong những lý do làm quân đội sa sút là vấn đề tài chánh. Quân đội Đại Nam có nhiều tướng giỏinhưng vũ khí và trang thiết bị thì quá thô sơ. Trang bị cho bộ binh, thì vừa lạc hậu, vừa thiếu thốn, đại bộ phận quân Đại Nam vẫn còn phải  dùng gươm giáo. Trang bị vũ khí mới gần như không có, vẫn cứ mười người lính mới có một khẩu súng cũ, phải châm ngòi bắn mới được. 

Về thuỷ binh, không có tàu hơi nước nào được đóng mới, thủy quân thậm chí không đủ khả năng để bảo vệ bờ biển chống hải tặc. Đó là lý do quân Pháp đánh chiếm Đà NẳngSài Gòn, các tỉnh Nam Bộ, các tỉnh Bắc Bộ không gặp nhiều khó khăn.  Năm 1856, chiến thuyền Catinat Pháp vào cửa Đà Nẵng đem thư đến trách cứ việc triều đình Đại Nam giết giáo sĩ Thiên chúa giáo. Không được trả lời, quân Pháp bắn vào đồn lũy ta rồi bỏ đi. Giám mục Pellerin trốn được lên tàu, về Pháp thuật lại cho triều đình Pháp cảnh các giáo sĩ Công giáo bị đàn áp. Pellerin nói rằng chỉ cần có loạn là các tín đồ Công giáo sẽ nổi lên đánh giúp. 

5. Năm 1858Hoàng đế Pháp Napoleon III chỉ định trung tướng Pháp là Charles Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và tàu Tây Ban Nha gồm 14 chiếc đánh chiếm Đà Nẵng. Tại Đà Nẵng, các quân sĩ Pháp  gặp khó khăn, không thể  tiến quân ra Huế. Quân sỉ Pháp lại mắc bệnh dịch tả, kiết lỵ, và các chứng bệnh nhiệt đới khácTướng Rigault de Genouilly đổi ý đánh vào Gia Định. Đầu năm 1859, Rigault de Genouilly dẫn quân Pháp và Tây Ban Nha vào cửa Cần Giờ, đánh thành Gia Định. Chỉ trong 2 ngày thì thành vỡ, Tổng đốc thành Võ Duy Ninh tự vận. Rigault de Genouilly lại đem quân trở ra Đà Nẵng đánh đồn Phúc Ninh, quân của Nguyễn Tri Phương  thua phải rút về giữ đồn Nại Hiên và Liên Trì.

Năm 1862, quân đánh Pháp chiếm Biên Hoà, và Vĩnh Long. Triều đình Huế phái Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Nam giảng hoà, và ký hòa ước với PhápĐó là Hòa ước Nhâm Tuất ngày 9 tháng 5 năm 1862. Bản hoà ước gồm 12 khoản có những khoản như sau: Việt Nam phải để cho giáo sĩ Công giáo người Pháp và người Tây Ban Nha được tự do giảng đạo và để dân gian được tự do theo đạo.Việt Nam phải nhượng đứt cho nước Pháp các tỉnh Biên Hoà, Gia Định và Định Tường và phải để cho chiến thuyền của Pháp ra vào tự do ở sông Mê KôngPháp thuận trả Vĩnh Long cho Triều đình Huế”.

6. Tại thời điểm nầy, bọn nội phản Tạ Văn Phụng ở phía Bắc, cũng đang ra sức chống triều đình. Sách Quốc triều sử toát yếu chép: “Tháng 12 năm Tân Dậu (1861), tại tỉnh Quảng Yên nổi giặc biển. Cố đạo Trường làm chủ mưu giặc, tôn Tạ Văn Phụng làm Minh chúa”. Phụng sinh tại huyện Thọ Xương, Hà Nội, trong một gia đình theo Thiên chúa giáo. Phụng được một giáo sĩ đưa ra nước ngoài nuôi dạy, sau đó theo đoàn quân viễn chinh Pháp về đánh chiếm Quảng Nam, đến tháng Chạp năm Tân Dậu thì Phụng ra Bắc Kỳ. Trường và Phụng lãnh đạo cuộc nổi loạn chống triều đình ở vùng ven biển Bắc Kỳ ừ năm 1861 đến 1865.

Cuộc nổi dậy đã được các lực lượng nông dân bất mãn, các nhóm giặc cỏ ở khắp Bắc Kỳ, từ Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Thanh Hoá Nghệ An, cũng như hải tặc ngoài biển ủng hộ. Mục đích của chúng là cầm chân quân triều đình ở Bắc Kỳ, để cho quân Pháp rảnh tay đánh chiếm Nam Kỳ. Phụng bị bắt và xử tử năm 1865. Ngày 16 tháng 9 năm 1866, tại kinh thành Huế, có cuộc nổi dậy do Đoàn Trưng, Đoàn Trực cầm đầu, có thể gọi đó là cuộc đảo chính lần thứ hai của Nguyễn Phúc Hồng Bảo. Những người lãnh đạo cuộc nổi dậy mưu định đưa Đinh Đạo, con trai trưởng của Hồng Bảo lên ngôi thay Tự Đức.  

7. Theo sử gia Phạm Văn Sơn thì ...Binh sĩ và dân chúng đi theo họ Đoàn bấy giờ chỉ có tính cách tạm bợ, nên sau tiếng quát mắng của Hồ Oai, họ rời ngay hàng ngũ. Ví thử bọn Đoàn Trưng có thành công cũng chỉ được nhất thời mà thôi. Nắm được kinh thành Huế đâu phải là đã nắm được toàn quốc. Lực lượng của vua Tự Đức còn nhiều võ tướng đại thần trung thành...Bảo rằng Trưng dựa vào uy tín của Hồng Bảo, của Tùng Thiện Vương và lòng căm phẫn của dân chúng tại Huế đối với việc xây dựng Khiêm Lăng, là đủ sức mạnh để lôi cuốn nhân tâm cả ba Kỳ thì thật quá nông cạn...

Cuối thập niên 1860, khi quân nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc bên Tàu bị nhà Thanh đánh tan vỡthì tàn quân của nó tràn sang Việt Nam cướp phá ở miền thượng du, quan quân nhà Nguyễn phải đi đánh dẹp nhiều lần vẫn chưa yên. Ở trong nước thì vào thời điểm nầy thiên tai, lũ lụt gần như thường xuyên... Chỉ tại Hưng Yên đê Văn Giang vỡ 18 năm liền, cả huyện Văn Giang trở thành bãi cát bỏ hoang, nhân dân đói khổ, nghề nghiệp không có cũng là nguyên nhân khiến miền Bắc có nhiều loạn lạc. Về phía Pháp thì sau khi chiếm trọn Nam Kỳ, cũng đang ngắm nghé Bắc Kỳ. Năm Quý Dậu 1873, thiếu tướng Dupré sai Đại uý hải quân Francis Garnier đem quân đánh chiếm thành Hà Nội.  

8. Chỉ một giờ thì thành vỡ, tướng Nguyễn Tri Phương bị thương nặng. Bị Pháp bắt, Phương không cho băng bó và nhịn ăn đến chết. Trong 20 ngày tiếp theoĐại Nam mất bốn tỉnh là Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hải DươngTheo lệnh Hoàng Kế Viêm, Lưu Vĩnh Phúc thủ lỉnh quân Cờ Đen (hàng Phục triều đình) đưa quân tái chiếm thành Hà Nội. Francis Garnier mang quân nghênh chiến thì bị Lưu Vĩnh Phúc phục kích giết chết ở cầu GiấyHai bên thương thảo, ký hoà ước Giáp Tuất 1874, theo đó “Pháp trả lại thành Hà Nội, và bốn tỉnh đã bị chiếmtriều đình Huế công nhận cả miền Nam là thuộc về Phápvà Pháp cũng bồi thường lại cho Việt Nam bằng tàu bè và súng ống.

Năm 1882, thống đốc Le Myre de Vilers gởi thư cho triều đình Huế nói rằng vua Đại Nam bất lực không có khả năng quản lý để đất nước loạn ly, Pháp phải bảo vệ quyền lợi kiều dân của mình ở Hà Nội. Le Myre de Vilers phái Đại tá hải quân HenrRivière ra Hà Nội. Tới nơi, hắn đưa tối hậu thư cho quan Tổng đốc Hoàng Diệu buộc phải giao thành Hà Nội cho Pháp. Đúng 8 giờ sáng thì quân Pháp tấn công, 11 giờ thành đổ, Hoàng Diệu treo cổ tự tử. Không lâu sau đó, Đại tá Henri Rivière lại bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc giết chết cũng tại Cầu Giấy. Khâm sai Pháp ở Huế là Rheinart sang thương thuyết, đòi nước Việt Nam phải nhận nước Pháp bảo hộ và nhường thành thị Hà Nội cho Pháp. 

9. Vua Tự Đức cho người sang cầu cứu Trung Quốc. Triều đình nhà Thanh nhân cơ hội đưa quân qua đóng hết các tỉnh Bắc Ninh, và Sơn Tây. Quân Pháp quân Trung Quốc quân triều đình đang đánh nhau nhiều nơi trên miền BắcGiữa lúc chiến sự đang sôi động thì ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi tức ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức qua đời để di chiếu cho Hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Ưng Chân lên nối ngôi. 

5. VUA DỤC ĐỨC.

1. Vua Dục Đức (1883-1883) là vị Hoàng đế thứ năm của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1888 khi ông 31 tuổi. Tự Đức mất để di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, trong di chiếu có đoạn viết: "... Nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám, sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều chẳng tốt. chưa chắc đã đảm đương được việc lớn. Nước có vua lớn tuổi là điều may cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây." Các quan Phụ chính Trần Tiển Thành, Nguyễn Văn Tường, và Tôn Thất Thuyết dâng sớ lên vua Tự Đức xin bỏ mấy đoạn có liên quan đến tính nết xấu của tự quân và câu "không chắc đảm đương nổi việc lớn" nhưng vua Tự Đức từ chối.

Thọ lãnh di chiếu của Tự Đức, Lúc làm lễ lên ngôi Vua,Ưng Chân đã cho đọc lướt đoạn này. Hai Phụ chính Đại thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết bèn dâng lên Hoàng Thái hậu Từ Dụ (mẹ vua Tự Đức) và Hoàng hậu Lê Thiên Anh, tờ hạch tội buộc cho vua Dục Đức bốn tội lớn: Muốn sửa di chiếu của vua cha; Có đại tang mà mặc áo màu; Tự tiện đưa một giáo sĩ vào Hoàng thành; Thông dâm với nhiều cung nữ của vua cha. Hai quan Phụ chính Tường và Thuyết liền sai người bắt giam vua Dục Đức ở Dục Đức Đường, rồi Thái Y Viện, và cuối cùng là ngục Thừa Thiên. Ở đây, nhà vua bị bỏ đói cho đến chết ngày 6 tháng 10 năm 1883. 

2. Đồng thời với việc truất phế Dục Đức, hai Phụ chính Đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đề nghị Hoàng Thái hậu Từ Dũ, đưa Lãng Quốc công Hồng Dật con trai út vua Thiệu Trị lên ngôi, hiệu Hiệp Hoà.

6. VUA HIỆP HOÀ.

1. Vua Hiệp Hoà (1883-1883) là vị Hoàng đế thứ sáu của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 30 tháng 7 năm 1883 khi ông 36 tuổi. Vua Hiệp Hoà tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Dật, sinh 1847 tại Huế, là trai con thứ 29 và là con út của Vua Thiệu Trị, và bà Đoan tần Trương Thị Thuận. Lợi dụng việc hai quan phụ chính Tường và Thuyết vừa phế truất và bắt giam vua Dục Đức. Để dương oai, ngày 18 tháng 8 năm 1883, tướng Courbet đem hạm đội đánh chiếm đồn Biên phòng Thuận An. Triều đình Huế phải đề nghị hưu chiến. VàTổng ủy Harmand tới Huế thương lượng, và một hòa ước được ký gọi là Hòa ước Harmand ngày 25 tháng 8 năm 1883

Theo đó, nước Đại Nam phảichấp nhận sự bảo hộ của PhápPháp sẽ thay mặt nước Đai Nam lập quan hệ với các quốc gia khác, kể cả Trung Hoa; và tỉnh Bình Thuận hải nhập vào Nam Bộ do Pháp chiếm làm thuộc địa. Từ đây, Tôn Thất Thuyết ra mặt chống đối nhà vua, không chịu quì lậy và to tiếng với nhà vua. Sự thù nghịch này làm vua Hiệp Hòa lo ngại cho tính mạng của mình, nên tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía Công sứ Pháp ChampeauxKhông may cho vua Hiệp Hòa, sự việc bị Tôn Thất Thuyết phát hiện, nên ra tay trước. 

2. Sách Việt Nam sử lược chép:Trong Huế thì vua Hiệp Hòa cũng muốn nhận chính sách bảo hộ để cho yên ngôi vua, nhưng các quan có nhiều người không chịu, và lại thấy Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chuyên chế thái quá, muốn dùng kế mà trừ bỏ đi, bèn đổi Nguyễn Văn Tường sang làm Binh bộ Thượng thư, Tôn Thất Thuyết làm Lại bộ Thượng thư, để bớt binh quyền của Tôn Thất Thuyết.Hai người thấy vua có lòng nghi, sợ để lâu thành vạ, bèn vào tâu với bà Từ Dụ Thái hậu để lập ông Dưỡng Thiện là con nuôi thứ ba vua Dực Tông, rồi bắt vua Hiệp Hòa đem ra phủ ông Dục Đức cho uống thuốc độc chết. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã giết vua Hiệp Hòa rồi, lại thấy quan Phụ chính Trần Tiễn Thành không theo ý mình, cũng sai người giết nốt”.

7. VUA KIẾN PHÚC.

1. Vua Kiến Phúc (1883-1884) là vị Hoàng đế thứ bảy của Vương triều nhà Nguyễn. Ông là con nuôi thứ ba của Tự Đứclên ngôi ngày 3 tháng 11 năm Quý Mùi 1883, lấy hiệu Kiến Phúc, lúc 14 tuổiLúc nầy, ở Bắc Kỳ, lực lượng của Hoàng Kế Viêm, Trương Quang Đản còn đang phối hợp với quân nhà Thanh đánh nhau với quân Pháp. Viên Khâm sứ Pháp ở Huế lấy điều đó ra trách cứ, yêu cầu triều đình lệnh cho hai viên tướng Viêm, và Đản về Kinh. Ngày 18 tháng 4 Âm lịch năm Giáp Thân 1884, Pháp ký kết hòa ước Thiên Tân với nhà Thanh. Theo đó, nhà Thanh thuận rút quân ở Bắc Kỳ về Trung Quốc, để cho nước Pháp được tự do xếp đặt mọi việc ở Đại Nam

Thắng thế, ngày 6 tháng 8 năm 1884, ông Patenôtre đại diện Pháp buộc triều đình Huế ký hòa ước mới. Đó là Hoà ước Giáp Thân 1884công nhận cuộc bảo hộ của Pháp và chia nước Đại Việt ra làm hai khu vực là Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân 1884vua Kiến Phúc qua đời. Sử nhà Nguyễn chép vua Kiến Phúc mất vì bệnh. 

2. Viên Khâm sứ Pháp Rheinart cũng cho rằng nhà vua mất vì bệnh. Ông kể:"...Cái chết của vua [Kiến Phúc] là một cái chết tự nhiên [mort naturelle], nhưng nó đã đến một cách quá bất ngờ làm cho mọi người kinh ngạc. Đứa trẻ đáng thương đã làm vua một cách miễn cưỡng: nó sống trong sự kinh hoàng, luôn luôn lo sợ bị một số phận như người tiền nhiệm, buồn bực, trầm mặc, trốn tránh mọi người. Trong một thời gian khá lâu nó không dậy nổi, tôi không biết nó có thể đứng lên mà không cần người đỡ không, từ lúc bị bịnh, nghĩa là từ ba tháng nay..."

Tuy nhiên, có lời đồn rằng nhà vua chết là do Nguyễn Văn Tường đầu độc. Sách Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam kể: "Nguyên bà Học phi Nguyễn thị (vợ vua Tự Đức) là mẹ nuôi của Kiến Phúc, tư tình với Nguyễn Văn Tường. Nhân một hôm vua bệnh, ông Tường vào thăm có trò chuyện riêng với bà, vua nghe thấy. Ông Tường thấy có thể nguy hiểm liền xuống Thái y viện bốc một thang thuốc dâng vua uống, ngày hôm sau thì vua mất...".

8. VUA HÀM NGHI.

1. Vua Hàm Nghi (1884-1885) là vị Hoàng đế thứ tám của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 2 tháng 8 năm 1884, lấy hiệu Kiến Phúc, lúc 13 tuổiÔng có tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, sinh ngày 3 tháng 8 năm 1871, là em ruột của Nguyễn Phúc Ưng Đăng (vua Kiến Phúc), và Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (vua Đồng Khánh). Ưng Lịch từ nhỏ sống trong cảnh bần hàn, dân dã với mẹ chứ không được nuôi dạy tử tế như hai người anh ruột ở trong cung. Sáng ngày 12 tháng 6 Giáp Thân, tức ngày 2 tháng 8 năm 1884, Ưng Lịch được dìu đi giữa hai hàng thị vệ, tiến vào điện Thái Hoà để làm lễ lên ngôi Hoàng đế.  

Đây là một người có đủ tư cách về dòng dõi, nhưng chưa bị cuộc sống giàu sang của kinh thành làm vẩn đục tinh thần tự tôn dân tộc, và quan trọng hơn hết là hai ông Tường và Thuyết có thể định hướng nhà vua về đại cuộc của đất nước. Công việc đầu tiên mà vua Hàm Nghi phải thủ vai, dưới sự hướng dẫn của Tôn Thất Thuyết là tổ chức đón phái đoàn Pháp từ tòa Khâm sứ ở bờ Nam sông Hương sang điện Thái Hoà làm lễ tôn vương cho nhà vua. Lúc 9 giờ sáng ngày 17 tháng 8 năm 1884, phái đoàn Pháp gồm Đại tá Guerrier, Khâm sứ Rheinart, Thuyền trưởng Wallarrmé cùng 185 sĩ quan binh lính từ Khâm sứ sang Hoàng thành Huế. 

2. Guerrier yêu cầu Triều đình Huế cho đoàn quân Pháp tiến vào Ngọ Môn bằng lối giữa, nhưng Tôn Thất Thuyết khăng khăng cự tuyệt, vì đây là “lối đi” chỉ dành riêng cho vua đi. Cuối cùng, chỉ có 3 sứ giả được vào cổng chính, còn lại các thành phần khác thì đi cổng hai bên. Cả Triều đình Huế và phái đoàn Pháp đều mang tâm trạng không vừa lòng nhau, nhưng buổi lễ thọ phong cuối cùng cũng kết thúc êm thấm. Lúc phái đoàn Pháp cáo từ, Tôn Thất thuyết đã ngầm cho quân lính đóng cửa chính ở Ngọ Môn lại, nên đoàn Pháp phải theo hai lối cửa bên để về. 

Năm sau 1885, Thống tướng de Courcy được chính phủ Pháp cử sang Việt Nam để phụ lực vào việc đặt nền bảo hộ. Tướng de Courcy muốn vào yết kiến vua Hàm Nghi nhưng lại muốn là toàn thể binh lính của mình, 500 người, đi vào cửa chánh là cửa dành riêng cho đại khách. Triều đình Huế xin để quân lính đi cửa hai bên, chỉ có các bậc tướng lĩnh là đi cửa chánh cho đúng nghi thức triều đình, nhưng de Courcy nhất định không chịu. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, thấy người Pháp khinh mạn vua mình như vậy, nên quyết định ra tay trướcĐêm 22 rạng 23 tháng 4 Âm lịch (tức 5, 6 tháng 7 năm 1885), Tường và Thuyết đưa quân tấn công trại binh của Pháp ở đồn Mang Cá. 

3. Đến sáng thì quân Pháp phản công, quân triều Nguyễn thua chạy, rời bỏ Kinh thành Huế. Tôn Thất Thuyết vào cung báo lại việc giao chiến trong đêm và mời vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi cùng Tam cung lên đường. Nghe chuyện phải rời khỏi thành, vua Hàm Nghi đã thảng thốt nói: "Ta có đánh nhau với ai mô mà phải chạy". Nguyễn Văn Tường cho người rước vua Hàm Nghi tới thành Quảng Trị để lánh nạn. Nhưng sau đó Nguyễn Văn Tường lại ra trình diện với quân Pháp. Tướng de Courcy hẹn cho Tường hai tháng phải tìm cách để rước vua về. Tường viết sớ ra Quảng Trị xin rước vua về nhưng ông Tôn Thất Thuyết cản thư không cho vua biết. 

Hết hạn hai tháng, cả gia đình Nguyễn Văn Tường bị de Courcy đày ra Côn Đảo, sau đó đưa tới đảo Tahiti trên Thái Bình Dương. Một thời gian sau Tường qua đời. Ngày 9 tháng 7, dưới áp lực của Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi đành từ biệt Tam cung, lên đường đi Tân Sở. Tại Tân Sở, vua Hàm Nghi tuyên hịch Cần Vương kêu gọi sĩ phu và dân chúng nổi dậy chống Pháp giành độc lập. Th chủ nhậtáng 9 năm1888, suất đội Nguyễn Đình Tình ra đầu thú với Pháp tại đồn Đồng Cá. Nguyễn Đình Tình lại dụ được Trương Quang Ngọc về đầu thú. Sau đó Nguyễn Đình Tình và Trươ.ng Quang Ngọc tình nguyện dẫn đường quân Pháp đến vây bắt vua Hàm Nghi. 

4. Đêm khuya 26 tháng 9 1888, vua Hàm Nghi đang ngủ thì bị bắt, Tôn Thất Thiệp bảo vệ nhà Vua bị đâm chết. Khi đó, vua Hàm Nghi mới 17 tuổi, và chống Pháp được ba năm. Nhà vua đã chỉ thẳng vào mặt Trương Quang Ngọc mà nói rằng: "Mi giết ta đi còn hơn là mi mang ta ra nộp cho Tây". Chiều chủ nhật ngày 13 tháng 1 năm 1889, cựu hoàng Hàm Nghi bị đày đến thủ đô Alger của Algérie. Lúc này nhà vua vừa bước qua tuổi 18.

 

B. THỜI KỲ THUỘC TRỊ NƯỚC PHÁP.

Năm vị Vua của Vương triều Nhà Nguyễn thời thuộc trị nước Pháp là: Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo  Đại. 

1. VUA ĐỒNG KHÁNH.

1. Vua Đồng Khánh (1885-1889) là vị Hoàng đế thứ chín của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 19 tháng 9 năm 1885, lấy hiệu Đồng Khánh, lúc 21 tuổiSau khi vua Hàm Nghi rời bỏ Kinh thành Huế. Triều đình Huế đưa Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, con nuôi thứ hai vua Tự Đức được đưa lên ngôi, nhà Vua phải thân hành sang bên Khâm sứ Pháp làm lễ thụ phong. Hay tin vua Hàm Nghi đang trốn lánh ở vùng Quảng Bình, vua Đồng Khánh đích thân ra tận Quảng Bình khuyên bảo vua Hàm Nghi về Triều, hứa sẽ cho cai trị 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, và Hà Tỉnh nhưng không thành. Đồng Khánh là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn thừa nhận nền Bảo hộ của Pháp.

Khi Pháp cho thành lập Liên bang Đông Dương ngày 17 tháng 10 năm 1887, đến năm 1888, vua Đồng Khánh bị buộc phải cắt ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẳng làm nhượng địa (concession) cho Pháp. Đồng Khánh được xem là một ông vua không chống Pháp. Sách của Trần Trọng Kim viết: "Vua Đồng Khánh tính tình hiền lành, hay trang sức và cũng muốn duy tân, ở rất được lòng người Pháp. Vua Đồng Khánh ở ngôi được bốn năm thì bệnh và mất vào ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tý, tức ngày 28 tháng 1 năm 1889, lúc ông mới 25 tuổi. Khi đó con trai lớn vua Đồng Khánh là Bửu Đảo (Sau nầy là vua Khải Định), mới 4 tuổi không nối ngôi được. 

2. VUA THÀNH THÁI.

1. Vua Thành Thái (1889-1907) là vị Hoàng đế thứ mười của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 2 tháng 2 năm 1889, lấy hiệu Thành Thái, lúc 10 tuổiÔng có tên thật là Bửu Lân, con trai thứ bảy của vua Đục Đức và bà Từ minh hoàng Hậu Phan thị Điểu, năm 4 tuổi, Vua cha Dục Đức bị phế, và chết trong tù. Năm 1889, Đồng Khánh băng hà, con trai lớn của nhà Vua là Bửu Đảo mới 4 tuổi, nên triều đình Huế trình xin ý kiến của Khâm sứ Pierre Paul Rheinart. Lúc nầy, ở tòa Khâm sứ có ông Diệp Vǎn Cương (chồng bà cô ruột của Bửu Lân) làm thông ngôn, vì thương hại vua Dục Đức, nên ông cố dịch cho Khâm sứ Rheinart nghe khác với ý của Viện Cơ s, mật với dụng ý để cho Bửu Lân lên ngôi.

Thế là, Bửu Lân được chọn lên ngai vàng. Tuy là vua nhưng vì còn bé nên ông vẫn thích chơi bời, nghịch ngợm. Một số quan phụ chính như Tuy Lý Vương, Nguyễn Trọng, Trương Quang Đản, thường có lời can ngǎn ông, nhưng ông không nghe lời. Các bà hậu ở Lưỡng cung đã bắt ông ra ở đảo Bồng Dinh trên hồ Tịnh Tâm, và quản thúc ông rất ngặt. Một thời gian sau, ông mới trở về Đại Nội. Vua Thành Thái dần dần bộc lộ tinh thần dân tộc rất cao. Ông khinh ghét những bọn quan lại xu nịnh. Một viên quan lớn là Nguyễn Thân đã tiến con gái là đệ nhất giai phi của Thành Thái, song cũng không được nhà Vua trọng đãi. Những người Pháp thường xuyên gần gũi không được ông trọng thị. 

2. Thành Thái là vị vua gần gũi với dân chúng, ông thường xuyên đi vi hành. Dân gian có “câu vè” về sự vi hành của vua Thành Thái: “Kim Long có gái mỹ miều. Trẫm thương, Trẫm nhớ, Trẫm liều, Trẫm đi.” Dưới triều Thành Thái tuy vẫn còn có những cuộc vận động chống Pháp, nhưng nhìn chung Việt Nam cũng đã đi vào ổn định, nên đã có nhiều công trình mới được xây dựng. Ở kinh đô Huế, bệnh viên Trung ương Huế, trường Quốc học, chợ Đông Ba, cầu Trường Tiền ... đều được xây dựng vào thời kỳ này. Một số tài liệu ghi rằng, vua Thành Thái bí mật chiêu nạp 4 đội nữ binh, mỗi đội 50 người, đội trước huấn luyện xong trở về nhà, và nạp đội mới, chờ thời cơ sẽ nổi dậy chống Pháp. 

Nhưng sự việc cuối cùng bị lộ khi Thượng thư Bộ Lại và Cơ mật viện báo cho Khâm sứ Pháp Levécque.Trước các ý tưởng khác thườngcủa vua Thành Thái, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Thành Thái giả điên, cào cấu các bà cung phi,và làm nhiều điều không bình thường khác. Người Pháp cho rằng ông bị điên, ép ông thoái vị.

3. VUA DUY TÂN.

1. Vua Duy Tân (1907-1910) là vị Hoàng đế thứ mười một của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 5 tháng 9 năm 1907, lấy hiệu Duy Tân, lúc 7 tuổiÔng có tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh San, con trai thứ tám của vua Thành Thái và bà Hoàng phi Hoàng Thị Định. Ngày 29 tháng 7 năm 1907,  khi Thành Thái không phê chuẩn việc bổ nhiệm một số quan lại đã được Khâm sứ Lévêque và Hội đồng Thượng thư thỏa thuận, Lévêque tuyên bố truất quyền ngôi vua, và quản thúc trong Đại nội. Con ngài, nhà Vua trẻ Duy Tân kế nhiệm, người Pháp phải lập một Phụ chính gồm: Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, Miên Lịch, Lê Trinh, và Cao Xuân Dục để cai trị dưới sự điều khiển của Khâm sứ Pháp.

Khoảng năm 1912, Khâm sứ Georges Marie Joseph Mahé mở một chiến dịch tìm vàng: lấy tượng vàng trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, đào lăng Vua Tự Đức, và đào xới lung tung trong Đại Nội để tìm vàng. Vua Duy Tân ra lệnh đóng cửa cung không tiếp ai. Toà Khâm sứ Pháp làm áp lực, thì Duy Tân đe đọa sẽ tuyệt giao với các nhà đương cục ở Huế. Toàn quyền Albert Pierre Sarrau từ Hà Nội phải vào giải quyết vua Duy Tân mới cho mở Hoàng thành. Biết vua Duy Tân là người yêu nước chống Pháp, nên Việt Nam Quang Phục Hội phái Trần Cao Vân, và Thái Phiên vận động người tài xế riêng của vua Duy Tân xin thôi việc,để đưaPhạm Hữu Khánh, một thành viên của Hộivào thay thế.

2. Năm 1916, khi vua Duy Tân ra nghỉ máttại bãi tắm Cửa Tùng, Phạm Hữu Khánh trao cho nhà vua bức thư của hai lãnh tụ Trần Cao Vân và Thái Phiên. Duy Tân đọc thư rồi nói muốn gặp hai người này. Ngày hôm sau, ba người cùng đến câu cá ở Hậu hồ, vua Duy Tân đồng ý cùng tham gia khởi nghĩa. Khởi nghĩa dự định được tổ chức vào 1 giờ sáng ngày 3 tháng 5. Đêm 2 tháng 5, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa thuyền đến bến Thương Bạc đón vua Duy Tân. Nhà vua cải trang, đi cùng hai người hộ vệ là Tôn Thái Đề và Nguyễn Quang Siêu. Họ tới làng Hà Trung, chờ đến ba giờ sáng, không nghe hiệu lệnh, biết đã thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa vua Duy Tân tới vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi. 

Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1916, họ bị bắt. Khâm sứ tại Huế và Toàn quyền thuyết phục vua Duy Tân trở lại ngai vàng nhưng ông không đồng ý, ông nói:“Các ngài muốn bắt buộc tôi phải làm vua nước Nam, thì hãy coi tôi như là một ông vua đã trưởng thành, và có quyền tự do hành động, nhất là quyền tự do trao đổi tin tức và ý kiến với chính phủ Pháp”. Không thuyết phục được vua Duy Tân, họ quyết định đày ông sang Châu Phi. Ngày 3 tháng 11 năm 1916, Vua Duy Tân, vua cha Thành Thái, và gia đình hai nhà Vua lên tàu Guadiana ở Cap Saint Jacques để bị đày đến đảo La Réunion ở Châu Phi. 

4. VUA KHẢI ĐỊNH.

1. Vua Khải Định (1916-1925) là vị Hoàng đế thứ mười hai của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 18 tháng 5 năm 1916, lấy hiệu Khải Định, lúc 31 tuổi. Ông có tên thật là Nguyễn Phúc Bữu Đảo, con trai trưởng của vua Đồng Khánh, khi vua Đồng Khánh băng hà, Bữu Đảo mới 4 tuổi nên không được lên ngôi. Sau khi buộc tội và lưu đày vua Duy Tân, người Pháp muốn xóa bỏ chế độ Quân chủ ở Việt Nam, nhưng Triều thần, đặc biệt là thượng thư Nguyễn Hữu Bài không chịu nên Pháp phải chiều ý. Dưới thời vua Khải Định, triều đình Huế không có gì xích mích với Pháp. Mọi việc đều do Toà Khâm sứ định đoạt. 

Khải Định cũng kết thân với Khâm sứ Trung Kỳ Jean Francois Eugène Charles và gửi gắm con trai mình là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy cho vợ chồng Khâm sứ. Ngày 20 tháng 5 năm 1922. Khải Định sang Pháp dự Hội chợ thuộc địa ở Marseille. Đây là lần đầu tiên một vị vua triều Nguyễn ra nước ngoài. Thời vua Khải Định có xây cất nhiều công trình, trong đó có công trình nổi tiếng là lăng của chính ông ta "Lăng Khải Định". Khải Định ở ngôi được hơn 9 năm thì bị bệnh, và mất vào ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu 1925 lúc ngài 40 tuổi. Con trai duy nhất của ngài là Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ lúc đó đang du học ở Pháp trở về thọ tang vua cha, và sau đó kế vị ngôi vua Đại Nam, hiệu Bảo Đại.

5. VUA BẢO ĐẠI.

1. Vua Bảo Đại (1926-1945) là vị Hoàng đế thứ mười ba cũng là vị Vua cuối cùng của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi Hoàng đế ngày 8 tháng 1 năm 1926, lấy hiệu Bảo Đại, lúc 13 tuổi. Tháng 3 cùng năm 1926, Bảo Đại trở lại Pháp để tiếp tục việc học. Từ niên khóa 1930, Bảo Đại theo học trường Khoa học Chính trị (Sciences Po). Ngày 16 tháng 8 năm 1932, sau 10 năm đào tạo ở "Mẫu quốc Pháp" ngày 16 tháng 8 năm 1932, Bảo Đại về nước. Ngày 19 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại ra đạo dụ số một tuyên cáo “đích thân cầm quyền”.Ngày 8 tháng 4, năm 1933, Bảo Đại ban hành đạo dụ cải tổ nội các, quyết định “tự mình chấp chính” và sắc phong “5 thượng thư mới” xuất thân từ giới học giả và hành chính. 

Đó là các ông Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm, và Bùi Bằng Đoàn thay thế các thượng thư già yếu Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm, và Vương Tứ Đại. Năm 1933, Bảo Đại đề xướng hai điểm cần tu chính với chính quyền Bảo bộ Pháp: một là thống nhất Trung Kỳ và Bắc Kỳ theo Hoà ước Giáp Thân 1884, yêu cầu chính quyền Bảo hộ Pháp bãi bỏ Khâm sứ Trung Kỳ và THống sứ Bắc Kỳ gộp lại làm một gọi là Viện Tổng trú sứ (résident général) ở Huế mà thôi; Và hai là canh tân lối cai trị cũ, để cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các vấn đề kể cả vấn đề chính trị sự vụ

2. Chính phủ Bảo hộ phớt lờ cả hai đề xướng trên, bởi Chính phủ Bảo hộ Pháp muốn duy trì Hoà ước Quý Mùi 1883, và Hoà ước Giáp Thân 1884 theo kiểu củ, với vua nhà Nguyễn chỉ còn cai quản Trung Kỳ theo chế độ bảo hộ: không quân đội, không tài chính, không ngoại giao. Nhà Vua chỉ còn lo việc cúng tế; nhóm họp thì dưới quyền chỉ huy của Khâm sứ người Pháp, không mang triều phục. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Bảo Đại ra đạo dụ "Tuyên cáo Việt Nam độc lập", hủy bỏ Hoà ước bảo Patenôtre với Pháp năm 1884, Việt Nam khôi phục chủ quyền, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. 

Ngày 17/3/45, vua Bảo Đại tuyên chiếu từ nay sẽ đích thân cầm quyền, theo nguyên tắc “Dân vi quý” để chỉnh đốn lại quốc gia. Đại sứ Nhật Yokoyama được cử làm Khâm sứ, thay Khâm sứ Pháp tại Huế. Học giã Trần Trọng Kim được uỷ thành lập Chính phủ. Ngày17/4/45, vua Bảo Đại chấp nhận thành phần Nội các Chính phủ Trần Trọng Kim. Ngày 8/5/45, Vua Bảo Đại tuyên chiếu kêu gọi quốc dân tham gia việc nước; hứa triệu tập một Hội nghị Lập Hiến; lập ngay một Ủy ban Cải Cách, và Hội đồng Tư vấn Địa phương. Ngày 11/6/45, Lễ kỷ niệm ngày vua Gia Long đăng quang gọi là “Hưng quốc Khánh niệm” được tổ chức tại trụ sở Thanh niên Thể thao ở Sài Gòn. 

3. Cùng ngày nầy, Bộ trưởng Phan Anh cổ võ thanh niên tham gia việc công ích tại nhà hát lớn Hà Nội. Ngày 20/6/45, vua Bảo Đại phục hồi quyền công dân cho các cựu chính trị phạm chưa được miển tội danh. Ngày 20/7/45, Nhật trao trả Việt Nam các cựu nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẳng kể từ 12g trưa nay. Nguyễn Khoa Phong được cử làm Thị trưởng Đà Nẳng, Vũ Trọng Khánh được bổ Thị trưởng Hải phòng, Ngày 14/8/45, Nhật trao trả Nam Bộ cho Triều đình Huế. Vua Bảo Đại tuyên chiếu hủy bỏ các Hiệp ước đã ký với Pháp về sự đô hộ Trung, Bắc, và Nam Kỳ; bổ nhiệm Nguyễn Văm Sâm làm Khâm sai Nam Bộ. 

Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, ngày 17/8/45, Vua Bảo Đại gởi điện văn kêu gọi Tổng thống Mỹ Truman, Đồng minh, và cả De Gaulle, yêu cầu bảo vệ nền độc lập của Việt Nam, rằng dân chúng Việt Nam nhất quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước. Cùng ngày 17/8/45, công chức Hà Nội tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tuần hành qua các đường lớn, để tỏ ý chí bảo vệ đất nước. Cộng sản len vào dòng người biểu tình hô khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Ngày 18/8/45, Bắc bộ phủ bị quần chúng ùa tới bao vây, Khâm sai Phan Kế Toại vắng mặt rồi tuyên bố từ chức. Ngày 19/8/45, Biểu tình trước nhà hát lớn, để nghe tuyên bố của Mặt trận Cứu quốc Việt Minh. 

4. Cùng ngày 19/8/45 nầy, Dân quân Giải phóng và cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi, chiếm đóng các công sở. Đê Đông Lao ở Hà Đông bị vỡ, nước tràn ngập nhiều vùng. Ngày 20/8/45, Việt Minh chiếm đài Vô tuyến điện Bạch Mai Hà Nội, và phát thanh cổ động trên làn sóng 32 thước. Ngày 21/8/45, một số thanh niên trí thức nhóm họp tại Đại học xá Hà Nội biểu quyết gởi điện văn yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 22/8/45, Mặt trận Việt Minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn Thanh niên Tiền Phong do Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lãnh đạo tuyên bố gia nhập. Ngày 23/8/45, một Chính phủ Lâm thời được thành lập tại Hà nội, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. 

Ngày 25/8/45, Lễ thoái vị của vua Bảo Đại trước cửa Ngọ Môn, Huế: nhà Vua trao kiếm vàng cùng ấn ngọc cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, chấm dứt Vương triều nhà Nguyễn. Và, Chính phủ Trần Trọng Kim tự giải thể.

(Hết chương 5)

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét