Chương 2: CHÍNH QUYỀN ĐẾ QUỐC
VIỆT NAM: 11.3.1945 – 25/8/1955.
(Có 6 trang và 3.050)
Chính quyền Đế quốc Việt Nam là Chính quyền Việt Nam Độc lập do Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập ngày 11/3/1945, chấm dứt 60 năm đô hộ Pháp. Chính quyền Đế quốc Việt Nam tồn tại 5 tháng từ tháng 3 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945.
1. CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM:
17.4.1945 - 25.8.1945.
I. Bối cảnh thành lập.
1. Ngày 17/3/45, Hoàng đế Bảo Đại tuyên chiếu từ nay sẽ đích thân cầm quyền, theo nguyên tắc “Dân vi quý” để chỉnh đốn lại quốc gia. Đại sứ Nhật Yokoyama được cử làm Khâm sứ, thay Khâm sứ Pháp tại Huế. Ngày 17/4/45, Trần Trọng Kim được Hoàng đế Bảo Đại uỷ thành lập Chính phủ, trình diện Nội các lên nhà Vua, và được chấp thuận. Nội các của ông gồm những người học thức, yêu nước, được xã hội kính trọng, gồm: 2 Giáo sư, 4 Luật sư, 4 Bác sĩ, và 1 Kỹ sư. Giáo sư Học giả Trần Trọng Kim là Tổng trưởng Nội các.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Trần Trọng Kim (1883 – 1953) | Tổng trưởng Nội các (Thủ tướng) | Học giả |
2 | Trần Văn Chương (1898 – 1986) | Phó Tổng trưởng Nội các kiêm Bộ trưởng Ngoại giao | Tiến sĩ Luật |
3 | Trần Đình Nam (1896-1974) | Bộ trưởng Nội vụ | Y sỉ Đông Dương |
4 | Trịnh Đình Thảo (1901-1986) | Bộ trưởng Tư pháp | Tiến sĩ Luật |
5 | Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) | Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ | Thạc sĩ Toán |
6 | Vũ Văn Hiền (1911-1963) | Bộ trưởng Tài chính | Tiến sĩ Luật |
7 | Phan Anh (1911-1990) | Bộ trưởng Thanh niên | Luật sư |
8 | Lưu Văn Lang (1880-1969) | Bộ trưởng Công chính | Kỹ sư |
9 | Vũ Ngọc Anh (1901-1945) | Bộ trưởng Y tế | Bác sĩ Y khoa |
10 | Hồ Tá Khanh (1908-1996) | Bộ trưởng Kinh tế | Bác sĩ |
11 | Nguyễn Hữu Thí (1899-?) | Bộ trưởng Tiếp tế | Y sĩ, Thương gia |
Ngoài 11 thành viên Nội các, lần lượt nhiều nhà trí thức có tiếng tăm cũng được mời tham gia công việc của chính quyền như: Khâm sai Bắc bộ Phan Kế Toại; Khâm sai Nam bộ Nguyễn Văn Sâm; Đốc lý Hà Nội Bác sĩ Trần Văn Lai; Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn Kỹ sư Kha Vạng Cân; Thị trưởng Hải Phòng Luật sư Vũ Trọng Khánh; Thị trưởng Đà Nẳng Nguyễn Khoa Phong; Thị trưởng Huế Giáo sư Nguyễn Lân; Tỉnh trưởng Nghệ An Phó bảng Đặng Văn Hướng; Tỉnh trưởng Hà Tĩnh Phó bảng Hà Văn Đại; Tỉnh trưởng Thanh Hóa Giáo sư Đặng Thái Mai. Các ông Hoàng Đạo Thuý, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Nguyễn Xiển, Vũ Văn Cẩn, Nguỵ Như Kontum được mời ra thành lập Hội đồng Thanh niên. Tạ Quang Bửu còn mời làm Cố vấn đặc vụ Ủy viên Bộ Thanh niên và Kỹ sư Lê Duy Thước làm Chánh văn phòng Bộ.
III. Sự kiện bên ngoài.
1. Ngày 20/1/45, Quân Đức và Hung đầu hàng Đồng Minh ở mặt trân Hung Gia Lợi. Ngày 7/2/45, quân Mỹ tiến vào Manila kịch chiến với quân Nhật. Ngày 14/2/45, Hội nghị tối cao Đồng Minh họp tại Yalta, Nga gồm Staline, Churchill và Roosevelt thỏa hiệp việc phân chia khu vực ảnh hưởng của ba nước tại Châu Âu và Á Đông; thành lập Hội đồng Bảo an, và Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Ngày 25/4/45, Bá Linh bị quân Nga bao vây. Ngày 28/4/45, Thủ tướng Ý, Mussolini bị cựu thuộc hạ hạ sát gần Hồ Crôm Bắc Ý. Ngày 1/5/45, Thủ tướng Đức Hitler tự tử ở hầm trú ẩn riêng tại Bá Linh. Ngày 2/5/45, Đức đầu hàng Đồng Minh tại Ý.
Từ ngày 17-25/7/45, Truman, Staline và Churchill họp Hội nghị tại Postdam, bàn việc ký kết hòa ước với các nước Đông Âu, và Đức. Ngày 26/7/45, Hội nghị Postdam ra Thông cáo chung, đòi Nhật đầu hàng vô điều kiện, Nhật sẽ mất hết thuộc địa, bài trừ phái quân phiệt, những kẻ phạm tội gây chiến tranh sẽ bị Tòa án đặc biệt xét xử. Ngày 15/8/45, Đại tướng Mỹ, Mac Arthur được cử làm Tổng tư lệnh tại Thái Bình Dương. Ngày 16/8/45, Nga tuyên chiến với Nhật và cho quân tràn qua Mãn Châu. Ngày 17/8/45, Nam Dương tuyên bố độc lập, lãnh tụ Soekarno được bầu làm Tổng thống.
IV. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 12/1/45, Các tri huyện mới, khóa 1944, được Toàn quyền Pháp Decoux phát bằng ở Hà Nội. Ngày 1/3/45, Nhiều người chết đói quá, nhiều địa phương dân chết cả hàng vạn. Tại duyên hải Bắc Kỳ, nhiều nơi chết cả nhà, cả xóm, hay gần hết cả làng. Nhiều dân quê kéo về thành phố mong kiếm được gạo. Xác chết năm ngay nhiều ngã đường ở Hà Nội. Ngày 4/3/45, nhiều đoàn thể từ thiện quyên tiền, quyên gạo giúp đồng bào đói, từ Tết, riêng tại bải Phúc xá, bờ sông Hà Nội, đã cấp 2.500 xuất cơm, 850 nắm xôi, 850 áo chẽn.
Ngày 19/3/45, Sinh viên Khu Đại học Xá Bạch Mai, Hà Nội, tổ chức biểu tình lớn, cổ võ tinh thần đấu tranh bảo vệ nền độc lập. Ngày 21/4/45, đoàn “Thanh niền Tiền phong” dưới sự bảo trợ của Nhật, được thành lập tại Sai gòn và các tỉnh Nam Bộ, Ban lãnh đạo gồm Kha Vạng Cân, Kiều Công Cung, bà Hồ Vĩnh Ký, và Phạm Ngọc Thạch. Ngày 24/3/45, Hội nghị Brazzaville (châu Phi) bàn về các thể chế Pháp tại Đông Dương, De Gaulle tuyên bố “các xứ Đông Dương sẽ có quy chế tự trị: một chính phủ địa phương, và các Hội đồng địa phương, nhưng nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp.
2. Ngày 3/7/45, Quyền Thống đốc Nam Bộ, Minoda thành lập một Hội Nghị Nam Kỳ với nhiệm vụ tư vấn. Các Hội viên gồm Ký giả Trần văn Ân, Nha sĩ Nguyễn Văn Bái, Kỹ sư Lưu Văn Lang, Giáo sư Hồ Văn Ngà, Kỹ Nghệ gia Kha Vạng Cân.v.v. Ngày 6/8/45, thành phố Hiroshima, Nhật Bản bị tàn phá bằng trái bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ, giết chết 66.000 người. Ngày 9/8/45, thành phố Nagasaki, lại bị ném bom nguyên tử lần thứ hai. Ngày 10/8/45, Nhật hoàng họp Nội các và quyết định xin hàng, cậy đại sứ Thụy Điển làm trung gian.
Ngày 13/8/45, Đảng Cộng sản Đông Dương họp tai Tuyên Quang quyết định Tổng khởi nghĩa, đoạt khí giới quân Nhật, chiếm chính quyền trước khi Đồng minh tới Đông Dương và lập chế độ Dân chủ Cộng hòa. Tại Hà Nội biểu tình đả đảo Pháp, và Thực dân Pháp. Tại Sài gòn, “Ủy ban Cứu quốc” phát truyền đơn kêu gọi đoàn kết và chống Pháp. Ngày 14/8/45, Hoa Kỳ chấp nhận cho Nhật đầu hàng.
3. Cùng ngày 14/8/45, tại Sài Gòn các đảng phái, đoàn thể gồm Việt Nam Quốc Dân đảng, Hòa Hảo, Cao Đài, Tịnh Độ, Cư sĩ, Liên đoàn Công chức, Thanh niên Tiền Phong, nhóm họp Đại hội thành lập “Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất” hô hào đoàn kết chống Pháp. Ngày 15/8/45, Tướng Pháp, Leclere de Hautecloque được De Gaulle cử làm Tư lệnh Lục quân Pháp tại Đông Dương. Ngày 17/8/45, De Gaulle cử Đô đốc Thierry d’Argenlieu làm Cao Ủy Pháp kiêm Tổng Tư lệnh ở Đông Dương. Ngày 22/8/45, Đại tá Cédille cũng được De Gaulles cử làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Bộ.
V. Chiến sự các nơi.
1. Ngày 12/1/45, Hai phi cơ Mỹ ném bom Sài Gòn bị Nhật bắn rớt. Chiến hạm Lamotte-Picquet của Pháp bị máy may Mỹ đánh chìm. Ngày 7/2/45, Sài Gòn Chợ Lớn cũng bị ném bom mạnh 151 người chết, 54 người bị thương. Ngày 12/6/45, hai B 24 của Mỹ, lại bị Nhật bắn rơi ở Đức Hòa, gần Sài Gòn, 2 phi công bị bắt. Ngày 24/7/45, quân Nhật mở cuộc hành quân ở Hà Giang-Lai Châu xua đuổi quân Tàu gần biên giới Việt-Hoa, phía Hà giang và Lai châu.
VI. Những việc đã làm.
1. Ngày 8/5/45, Vua Bảo Đại tuyên chiếu kêu gọi quốc dân tham gia việc nước; hứa triệu tập một Hội nghị Lập Hiến; lập ngay một Ủy ban Cải Cách, và Hội đồng Tư vấn Địa phương. Chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố “Chương trình Hưng quốc, Quốc kỳ và Quốc ca”. Ngày 7/6/45, Khâm sai Bắc Bộ ra Nghị định bãi lệ nộp thóc cho chính quyền. Cấm tích trử trên 2 tấn thóc hoặc 1 tấn gạo. Cho hàng sáo chuyên chở và bán gạo tự do. Giá thóc ấn định từ 100$ đến 130$ mỗi tạ. gạo từ 150$ đến 225$ một tạ. Ngày 11/6/45, Bộ trưởng Phan Anh cổ võ thanh niên biểu tình trước nhà hát lớn Hà Nội.
Ngày 11/6/45, Lễ kỷ niệm ngày vua Gia Long đăng quang gọi là “Hưng quốc Khánh niệm” cũng được tổ chức tại trụ sở Thanh niên Thể thao ở Sài Gòn. Ngày 20/6/45, vua Bảo Đại phục hồi quyền công dân cho các cựu chính trị phạm chưa được miển tội danh. Trung tuần tháng 7 năm 1945, sau gần 2 tháng tiến hành hợp nhất hai chính quyền Bảo hộ và Nam triều thành một chính phủ Việt Nam duy nhất, đích thân Thủ tướng Trần Trọng Kim đi Hà Nội trực tiếp thương thảo với Toàn quyền Nhật đòi lại 3 thành phố nhượng địa và thuộc địa Nam Kỳ. Kết quả là Nhật trả cho Đế quốc Việt Nam các cựu nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng kể từ 12 giờ trưa hôm nay (20 tháng 7 năm 1945), và sẽ trả thuộc địa Nam Kỳ vào đầu tháng 8/45.
2. Nguyễn Khoa Phong được cử làm Thị trưởng Đà Nẳng, Vũ Trọng Khánh được bổ Thị trưởng Hải phòng. Ngày 23/7/45, Bác sĩ Vũ Ngọc Anh, Bộ trưởng Y tế bị phi cơ Mỹ bắn tử thương trên đường Hà Nôi-Hải Phòng. Ngày 1/8/45, Đốc lý Trần Văn Lai cho phá các tượng Pháp ở Hà nội: tượng Paul Bert, Jean Dupuis, Đầm xóa cửa Nam, đài kỷ niệm lính Khố xanh, Khố đỏ... Ngày 14/8/45, Nhật trả Nam Bộ cho Triều đình Huế. Vua Bảo Đại tuyên chiếu hủy bỏ các Hiệp ước đã ký với Pháp về sự đô hộ Trung, Bắc và Nam Bộ, cử Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam Bộ. Ngày 15/8/45, Bộ Tư lệnh Nhật trao trả toàn bộ dinh thự Phủ Toàn quyền củ ở Hà Nội cho Phủ Khâm sai Bắc Bộ, và tha nhiều người đã bị Hiến binh bắt giam vì lý do an ninh.
Ngày 17/8/45, Vua Bảo Đại gởi điện văn kêu gọi tổng thống Mỹ Truman, Đồng minh, và cả De Gaulle, yêu cầu bảo vệ nền độc lập của Việt Nam, rằng dân chúng Việt Nam nhất quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước. Cùng ngày 17/8/45, công chức Hà Nội tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tuần hành qua các đường phố, tỏ ý chí bảo vệ đất nước, Cộng sản len vào dòng người biểu tình hô khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Giải phóng, biến cuộc biểu tình tỏ ý chí “bảo vệ đất nước” thành cuộc biểu tình ủng hộ “Mặt trận Giải phóng” của Việt Minh. Ngày 18/8/45, Bắc bộ phủ bị quần chúng bao vây, Khâm sai Phan Kế Toại vắng mặt rồi tuyên bố từ chức.
VII. Những ngày cuối cùng.
1. Ngày 19/8/45, dân chúng biểu tình trước nhà hát lớn, để nghe tuyên bố của Mặt trận Cứu quốc cũng của Việt Minh. Dân quân Giải phóng và cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi, chiếm đóng các công sở. Ngày 20/8/45, Việt Minh chiếm đài Vô tuyến điện Bạch Mai Hà Nội và phát thanh cổ động trên làn sóng 32 thước. Ngày 21/8/45, một số thanh niên trí thức nhóm họp tại Đại học xá Hà Nội biểu quyết gởi điện văn yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 22/8/45, Mặt trận Việt Minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn Thanh niên Tiền Phong tuyên bố gia nhập. Ngày 23/8/45, một Chính phủ Lâm thời được thành lập tại Hà Nội, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Và, ngày 25/8/45, một Uỷ ban Hành chánh Lâm thời Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch cũng được thành lập tại Sài Gòn.
Trong “Một Cơn Gió Bụi” Trần Trọng Kim viết: “Trong tình thế nguy ngập như thế, ở Huế còn có người bàn sự chống cự. Tôi muốn biết rõ sự thực, liền gọi Trung úy Phan Tử Lăng người đứng coi Đoàn Thanh niên Tiền tuyến ở Huế, hỏi xem có thể trông cậy bọn ấy được không. Trung úy Phan Tử Lăng (sau nầy là cha Dượng của Phan Lương Cầm, vợ kế Thủ tướng Võ Văn Kiệt) nói: "Tôi có thể nói riêng về phần tôi thì được. Còn về phần các thanh niên tôi không dám chắc". Trần Trọng Kim viết tiếp: Bọn Thanh niên Tiền tuyến trước rất nhiệt thành nay còn thế, huống chi những lính Bảo an và lính Hộ thành tất cả độ vài trăm người; những lính để canh giữ công sở, súng ống không ra gì, đạn dược không đủ, còn làm gì được, cũng bị Việt Minh tuyên truyền xiêu lòng hết cả rồi.
2. Lúc ấy chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả. Tôi vào tâu vua Bảo Ðại: "Xin ngài đừng nghe người ta bàn ra bàn vào. Việc đã nguy cấp lắm rồi, ngài nên xem lịch sử của vua Louis XVI bên Pháp và vua Nicholas II bên Nga mà thoái vị ngay là phải hơn cả. Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và đang hăng hái về việc cách mệnh như nước đang lên mạnh, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả. Mình thế lực đã không có, bọn Việt Minh lại có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của nước nhà". Vua Bảo Ðại là ông vua thông minh, hiểu ngay và nói: "Trẫm có thiết gì ngôi vua đâu, miễn là bọn Việt Minh giữ được nền tự chủ của nước nhà là đủ. Trẫm muốn là người dân của một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ".
Nhờ ngài có tư tưởng quảng đại nên có tờ chiếu thoái vị. Khi tờ chiếu ấy tuyên bố ra, nhân dân có nhiều người ngậm ngùi cảm động, nhưng lúc ấy phần tình thế nguy ngập, phần sợ hãi, còn ai dám nói năng gì nữa. Ðến bọn thanh niên tiền tuyến, người chính phủ tin cậy cũng bỏ theo Việt Minh, bọn lính hộ thành của nhà vua cũng giao động. Còn các quan cũ lẫn nấp đâu mất cả. Tình cảnh thật tiều tụy. Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: "Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Ðồng Minh đến thay. Nếu chính phủ Việt Nam có lời mời giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự". Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Ðồng Minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa. Tôi từ chối không nhận.
3. Sáng ngày 23 tháng 8, hai phái viên của Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Guy Cận đến cung điện Huế. Theo lời yêu cầu của hai ông này, chiều ngày 25 tháng 8 năm 1945, Bảo Đại đã đọc Tuyên ngôn thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ Môn và sau đó trao ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho ông Trần Huy Liệu. TUYÊN NGÔN THOÁI VỊ, Hoàng đế Bảo Đại viết: "Hạnh phúc của dân Việt Nam, độc lập của nước Việt Nam, muốn đạt mục đích ấy, Trẫm đã sẵn sàng hy sinh hết tất cả mọi phương diện, và cũng vì mục đích ấy nên Trẫm muốn sự hy sinh của Trẫm phải có lợi cho Tổ quốc. Xét thấy điều bổ ích nhất cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc dân, Trẫm đã tuyên bố ngày 22 tháng 8 vừa rồi rằng trong giờ nghiêm trọng này đoàn kết là sống mà chia rẽ là chết.
Nay thấy nhiệt vọng dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi Quốc hội thì không thể nào tránh khỏi nạn Nam Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân lại thuận tiện cho người ngoài lợi dụng. Cho nên mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ tới công lao Liệt Thánh vào sinh ra tử trong gần bốn trăm năm để mở mang giang sơn đất nước từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong hai mươi năm mới gần gũi quốc dân được mấy tháng chưa làm được gì ích lợi cho quốc dân như lòng Trẫm muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một Chính phủ dân chủ Cộng hòa...".
4. Ông cũng yêu cầu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "Đối với các đảng phái đã từng phấn đấu cho nền độc lập quốc gia, nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng, Trẫm mong chính phủ mới sẽ lấy sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng Chính phủ dân chủ cộng hòa nước ta đã xây đắp ở trên sự đoàn kết của toàn thể nhân dân.".
Chính phủ Trần Trọng Kim tự giải thể.
(Hết chương 2)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét