Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2023

 

 

 

Chương III: 32 CHUYỆN KỂ VỀ CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG CỦA HỌ TẠI CHÂU Á.

(40 trang và 23.489 chữ).

 

Bài 37: CHUYỆN KỂ VỀ BA NỀN VĂN MINH TẠI CHÂU Á.

Lê Xuân Đỗ

Bốn nền văn minh sớm nhất của thế giới, đôi khi còn gọi nó là bốn cái nôi của nền văn minh nhân loại, một nằm ở Châu Phi, và ba ở Châu Á. Đó là văn minh Tigris-Euphrates tại Tây Nam Á, văn minh Indus tại Nam Á, và văn minh Huang He tại Đông Á. (1). Văn minh Tigris-Euphrates là nền văn minh đầu tiên của nhân loại, nằm gần phần trên cửa vịnh Persia. Nó là một trung tâm rộng lớn, gọi là khu vực "lưởi liềm phì nhiêu" (fertile crescent), chạy dọc theo sông Tigris và Euphrates tại phía bắc và phía tây bờ vịnh Persia. 

Sau đó, nó quẹo về phía nam xuyên qua lưu vực sông Jordan nơi bây giờ là Iraq, Israel, Jordan, Lebanon, và Syria. Từ tàn tích của thành phố cổ ghi nhận tại khu vực này, các nhà khảo cổ khám phá thêm nhiều điều về nền văn minh cổ tồn tại trong khu vực giữa khoảng năm 3500 và 539 Trước công nguyên (TCN) gồm: Văn minh Sumer, Vương quốcBabylone, Vương quốcAssyria và Vương quốcPersia. Văn minh Sumer phát triển như là nền văn minh sơ khai của thế giới khoảng 3500 TCN. 

Họ phát minh ra một kiểu chữ viết gọi là hình nêm (cuneiform). Văn minh Sumer truyền bá đến nhiều nơi tới tận Ai Cập (Egypt) ở Bắc Phi. Người Sumer còn phát triển một hệ thống luật khá tinh vi để quản lý việc cân đo, đong, đếm trong trao đổi thương mại. Khoảng 1900 TCN, từ khu vực phía bắc, vương quốc Babylone trở nên hùng mạnh, phát triển một nền văn minh cao hơn nổi tiếng về luật pháp, tôn giáo, và tường thành trong các thành phố. 

Năm 883 TCN, một vương quốc khác, vương quốc Assyria cũng từ phía bắc bành trướng lãnh thổ đến năm 625 TCN, Assyria thống trị gần như toàn bộ vùng cai trị của Babylone. Năm 627 TCN, Sau cái chết của hoàng đế Assyria là Ashurbanipal, vương quốc Babylone tái thâu hồi độc lập. Năm 539 TCN, vương quốc Babylon lại rơi vào tay nước láng giềng Persia. Vương quốc Persia đạt tới đỉnh cao của nó khoảng 520 TCN. Lúc này vùng thống trị của Persia gồm hầu hết Tây Nam Á, nhiều nơi ở Nam Á, Nam Nga và Bắc Phi. 

(2). Văn minh Indus xuất hiện khoảng 2500 TCN. Đó là nền “văn minh đồ đồng” (bronze Age). Nền văn minh này bành trướng khắp lưu vực sông Indus, nơi bây giờ là Pakistan. Các học giả không biết xã hội Indus bắt đầu như thế nào, và cũng không biết người của Indus có liên quan gì với người Tây Á không. Khoảng 1500 TCN, người du mục Aryans xâm lăng Ấn Độ. Họ đến đây từ đồng bằng phía bắc bờ biển Caspian. Người Aryans truyền bá văn hoá của họ sang phía đông đến tận lưu vực sông Ganges.

Họ phát triển tôn giáo, và tôn giáo của họ là nền tảng của đạo Hindu tức Ấn Độ giáo ngày nay. Năm 517 TCN, đế quốc Persia tràn qua lưu vực sông Indus, biến nó thành một phần của Persia và cai trị gần 200 năm. Giữa những năm 327 và 325 TCN, Alexander xâm chiếm Indus. Nhưng chẳng bao lâu sau đó Alexander từ bỏ vùng này, và Ấn Độ được đặt dưới quyền cai trị của những người theo đạo Phật. Vị Hoàng đế lớn nhất trong thời kỳ này là Asoka, ông ta thống trị tới hai phần ba khu vực Nam Á. Nghệ thuật và chữ viết phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ này. 

(3) Văn minh Hoàng Hồ bắt đầu ở phía bắc và trung của Trung Quốc và là trung tâm văn minh thứ ba ở Châu Á xuất hiện khoảng 1700 TCN. Vương triều nhà Thương (Shang) là vương triều đầu tiên của nền văn minh Đông Á. Các dinh thự, nhà cửa và thành phố thủ đô của vương quốc được xây dựng ở An-yang. Các tăng lữ dưới thời Thương sáng tạo ra kiểu chữ viết "hình tượng" (pictographs) bằng cách gạch những nét giản đơn tượng trưng cho chữ viết, ghi nhận các sự kiện và lưu trử các sự kiện đó. 

Các hình thức chữ viết ban sơ này tạo thành nền tảng chữ viết của Trung Quốc ngày nay. Đến năm 1122 TCN, nhà Chu (Zhou) từ lưu vực sông Giang Tử (Yangtze) lớn mạnh thay thế vương triều Thương. Suốt thời kỳ nhà Chu cai trị, kiến thức văn học, nghệ thuật Trung Quốc phát triển rực rỡ. Các nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử (Confucius) và Lão Tử (Lao tzu) đưa ra nguyên lý triết học Đông Phương trong những năm 500 TCN. Đến năm 256 TCN, triều đại nhà Chu chấm dứt cai trị. 

Các lãnh chúa Phong kiến lại nổi lên tranh giành quyền lực, cho đến khi nhà Tần (Ch'in) thâu tóm quyền lực năm 221 TCN. Triều Tần chỉ kéo dài trên 20 năm, nhưng các vị hoàng đế cho xây dựng nhiều tường thành lớn trong một nổ lực phòng thủ, chống lại sự xâm lăng từ các bộ tộc phương Bắc. Các cuộc bạo loạn của những kẻ hiếu chiến trong nội địa đã lật đổ vương triều Tần vào cuối những năm 200 TCN. 

Triều đại kế của Trung Quốc là nhà Hán (Han), các vua Hán từng bước mở rộng lãnh thổ, cai trị một đế quốc rộng lớn gần 500 năm từ năm 202 TCN đến năm 220 SCN.

Triều Thuỷ ngày 12 tháng 10 năm 2022

(Bài viết có 976 chữ)

 

Bài 38: CHUYỆN KỂ VỀ NGƯỜI DÃ MAN 

TỪ PHÍA BẮC XÂM LƯỢC CHÂU Á.

Lê Xuân Đỗ

Các nhóm người du mục từ phía Bắc tràn vào phía Nam Bắc Á và Trung Á hàng trăm năm. Đến những năm 300 SCN, họ phá huỷ tất cả các nền văn minh Cổ ở Châu Á. Cũng tại thời điểm nầy, quân đội nhà Huns của Mông Cổ xâm lăng phía bắc Trung Quốc, rồi chiếm Châu Âu, tại đây họ góp phần đánh đổ đế quốc La Mã. Năm 500, nhà Huns xâm lăng Ấn Độ chấm dứt vương triều Gupta, Đế quốc từng cai trị xứ này hơn 180 năm. Người du mục yếu dần qua các cuộc chiến tranh lấn chiếm, và chiến tranh tôn giáo tại nhiều khu vực Tây Á. 

Nhờ vậy, Đông Á được sống yên ổn từ những năm 600 đến những năm 1100. Triều đại nhà Đường (T'ang), rồi nhà Tống (Sung) kế tục cai trị Trung Quốc. Hồi giáo à Rập đánh chiếm Tây Á những năm 600, cai trị một vùng rộng lớn bao gồm cả Bắc Phi và một phần Nam Âu. Giữa những năm 300 và 1100, khi Byzantine cai trị phía đông Địa Trung Hải, Thiên chúa giáo tại Tây Á cũng chỉ ảnh hưởng rất nhỏ, lúc Hồi giáo từ Trung Á đánh bại đế quốc Byzantine thì ảnh hưởng của Thiên chúa giáo ở đây cũng chấm dứt. 

Người xâm lược dã man từ Trung Á lại nổi lên khi Genghis Khan thống nhất được các bộ lạc Mông Cổ. Năm 1206, Khan đánh chiếm bắc Trung Quốc, bắc Ấn Độ, Persia (Iran ngày nay) đến tận ở Châu Âu. Mông Cổ thống trị Trung Quốc, Triều Tiên tới tận sông Danube miền trung Châu Âu. Tại thời điểm đó, Mông Cổ là thế lực mạnh nhất. Từ những năm đầu 1200 đến năm 1368, Mông Cổ cũng là đế quốc cai trị vùng đất rộng lớn nhất trong lịch sử loài người, mà đỉnh cao của nó dưới thời hoàng đế Kublai Khan giữa những năm 1200. 

Sau khi Mông Cổ sụp đổ, triều đại nhà Minh (Ming) nắm quyền thống trị Trung Quốc và bành trướng thế lực rộng khắp Đông Á. Năm 1526, Mông Cổ một lần nửa xâm lăng Ấn Độ lập ra đế quốc Mogul. Cùng thời gian này, Hồi giáo Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ từ Tây Nam Á mở rộng vùng tới Bắc Phi và đông nam Châu Âu, trở thành đế quốc Ottoman tồn tại trong một thời gian dài. Tuy nhiên, những năm về sau thì không đủ mạnh vùng thống trị bị mất dần. 

Và những người Châu Âu bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ phát triển rực rỡ về kinh tế, và văn hoá. Kết quả của sự phát triển này đưa tới việc họ xâm lược Châu Á./.

Triều Thuỷ ngày 14 tháng 10 năm 2022

(Bài viết có 498 chữ)

 

Bài 39:CHUYỆN KỂ VỀ ĐẾ QUỐC PHƯƠNG TÂY

XÂM LƯỢC VÀ CAI TRỊ CHÂU Á.

Lê Xuân Đỗ

Sự phong phú và đa dạng tài nguyên thiên nhiên của Châu Á, kích thích sự thèm khát nơi người Châu Âu. Và thế là “những tên thực dân” phương Tây tiến hành xâm lược Châu Á. Bồ Đào Nha nắm quyền kiểm soát Ấn Độ Dương, và chiếm Ma Cao trong những năm 1500. Tây Ban Nha khởi sự buôn bán với Philippines năm 1569. Sau năm 1600, Hoà Lan và Anh Quốc mới nhảy vào Châu Á. Hoà Lan chiếm Java, Melaka (nay là Malaysia) từ tay Bồ Đào Nha năm 1619. 

Nhưng tại Nhật Bản, triều đại Tokugawa đang thời kỳ sung sức, buộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha phải rời khỏi xứ nầy năm 1639. Tàu buôn Hoà Lan một năm một lần được phép cập cảng Nagasaki. Tại Trung Quốc, việc buôn bán với phương Tây chỉ được thực hiện tại bến cảng Canton. Không buôn bán được với Trung Quốc và Nhật Bản, Anh Quốc và Hoà Lan quay về hướng Nam, và Đông Nam Á. Anh Quốc từng bước xâm chiếm Ấn Độ và hầu hết vùng Nam Á. Hoà Lan chiếm tất cả các quần đảo Indies (nay là Indonesia). 

Năm 1842, Trung Quốc chấp thuận cho Anh Quốc buôn bán tại 5 hải cảng của nước này. Hai năm sau Hoa Kỳ cũng bắt đầu buôn bán với Trung Quốc. Năm 1854, thuyền trưởng tàu hải quân Hoa Kỳ là Matthew C. Perry ký với Nhật Bản một Hiệp ước trao đổi thương mại có giới hạn giữa hai nước. Nga mở rộng lãnh thổ bằng cách lấn chiếm Trung Á và Manchu. Pháp chiếm Đông Dương. Hoa Kỳ tiếp nhận Philippines từ Tây Ban Nha.Đến cuối những năm 1800, Châu Âu kiểm soát và đặt ách thống trị lên hầu hết các quốc gia Châu Á. 

Anh Quốc trở thành thế lực mạnh nhất vùng Tây Nam Á, Nam Á và nam Trung Quốc. Bằng sự chi phối mạnh mẽ từ phương Tây, Châu Á cũng có được một số thay đổi nhất định. Sự cai trị thuộc địa, cởi bỏ được phần nào các rào cảng văn hoá, cái từng gây chia rẽ giữa phương Đông với phương Tây. Nghệ thuật, kiến trúc phương Tây ảnh hưởng vào Châu Á. Nhiều toà nhà lớn trong hầu hết các thành phố thuộc địa được xây dựng theo các đường nét, và kiểu dáng phương Tây. 

Tuy nhiên, đa số các nhà cai trị phương Tây nắm giữ vai trò chủ chốt trong các hoạt động kinh tế, và đời sống chính trị tại quốc gia thuộc địa ở Châu Á. Những người này đã thâu được nhiều mối lợi lớn lao, nhưng lại không đầu tư trở lại cho các quốc gia thuộc địa này, khiến đa số người dân thuộc địa Châu Á sống trong cảnh nghèo đói, và không hề có tiếng nói của họ trong các chính quyền. Điều này dẫn đến nhiều người Châu Á bất mãn với chủ nghĩa thực dân phương Tây, và đòi hỏi rằng Châu Á phải được cai trị bởi người Châu Á. 

Chủ nghĩa quốc gia được cảm nhận từ đó, và lan rộng ra trên nhiều phần đất của lục địa, nhưng kết quả đạt được rất hạn chế, nếu không muốn nói hầu hết bị dìm vào biển máu. Mãi cho đến tận sau đệ nhị Thế chiến, Phong trào vận động chủ nghĩa quốc gia phát triển mạnh trở lại và ngày càng được nâng cao. Kết quả là chủ nghĩa thực dân chấm dứt sự tồn tại ở Châu Á./.

Sydney ngày 16 tháng 10 năm 2022

(Bài viết có 638 chữ)

 

Bài 40: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ TRỔI DẬY CỦA 

ĐẾ QUỐC NHẬT BẢN.

Lê Xuân Đỗ

Năm 1889, sau khi phá bỏ hệ thống chính quyền của triều đại Tokugawa, Nhật Bản chấp nhận thể chế Quân chủ lập hiến. Và từ đó Nhật Bản trổi dậy như một thế lực mạnh nhất Đông Á. Giữa năm 1894 và 1905, Nhật Bản tiến hành hai cuộc chiến với Trung Quốc, và đế quốc Nga. Nhật Bản chiến thắng Trung Quốc tại Đài Loan, đứng vững tại Manchu và Triều Tiên. Cần nhớ rằng, vào thời điểm giữa những năm 1500 và 1900, các thế lực Châu Âu đã khuynh đảo 5 lục địa còn lại của thế giới.

Họ chiếm toàn bộ Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Úc, Châu Phi và hầu hết Châu Á kể cả một phần Trung Quốc, nhưng họ phải "kiên dè" Nhật Bản. Đến cuối những năm 1800, quân đội Nhật Bản lớn mạnh, được trang bị hiện đại, và cả tinh thần "quyết chiến quyết thắng", kiểu "võ sĩ đạo Nhật Bản” truyền thống. Tại Trung Quốc thể chế Cộng hoà thay thế triều đại nhà Thanh năm 1912. Nhưng Trung Quốc còn quá khó khăn trong việc xây dựng chính quyền và kiến thiết quốc gia. Các lãnh chúa Phong kiến lại không ngừng đánh nhau để tranh quyền kiểm soát đất nước. 

Đến năm 1927, Tưởng Giới Thạch (Chiang kai-shek), mới thành lập được chính quyền Trung ương tại Nam Kinh. Các nhóm chính trị đối lập tiếp tục tranh phá làm suy yếu chính quyền, Nhật Bản nhân cơ hội đó xua quân đánh chiếm nước đệm Mauchu năm 1931. Sáu năm sau, năm 1937 họ đánh chíếm miền trung Trung Quốc. Quân đội Trung Quốc phải từ bỏ vùng nầy, rút chạy về phía Đông, và phía Nam. Thế là Nhật Bản tiếp tục mở rộng các vùng đất bị chiếm đóng.

Năm 1941, Nhật Bản Liên minh với “Phe trục” là Đức Quốc, và Ý Đại Lợi trong chiến tranh thế giới lần thứ II (1939-1945). Tại đỉnh cao của Liên minh quyền lực này năm 1943, Nhật Bản kiểm soát toàn bộ Đông Á, Đông Nam Á và vùng biển Thái Bình Dương. Các chính quyền thuộc địa của phương Tây như Anh, Pháp, Mỹ, Hoà Lan, Bồ Đào Nha lập ra dưới dạng trong khu vực hòan tòan bị phá bỏ. Khẩu hiệu "Châu Á phải được cai trị bởi người Châu Á" do Nhật Bản khởi xướng, được dân chúng tại đây đón nhận với nhiều thiện cảm.

Và, các chính quyền mới của người bản xứ bắt đầu hình thành, trong đó có chính quyền Đế quốc Việt Nam của Hoàng đế Bảo Đại với Học giả Trần Trọng Kim làm Thủ tướng. Tháng 5/1945 tại mặt trận Châu Âu, Phe trục là Đức, và Ý đã đầu hàng Đông minh, nhưng tại mặt trận Đông Á và Đông Nam Á, Nhật Bản vẫn còn bám trụ. Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên “Little Boy” thả xuống thành phố Hiroshima. Sau đó 3 hôm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên “Fat Man” đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki, Nhật Bản.

Ngày 10 tháng 8 năm 1945,Nhật hoàng họp Nội các và quyết định xin hàng, cậy đại sứ Thụy Điển làm trung gian. Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ chấp nhận cho Nhật đầu hàng Đồng minh.

Sydney ngày 18 tháng 10 năm 2022

(Bài viết có 604 chữ)

 

Bài 41: CHUYỆN KỂ VỀ KẾT THÚC CHỦ NGHĨA THỰC DÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ.

Lê Xuân Đỗ

Sau chiến thắng của phe Đồng minh trong đệ II thế chiến, một số nước phương Tây muốn quay trở lại cai trị thuộc địa. Lúc nầy cảm nhận “chủ nghĩa quốc gia” đang phát triển mạnh tại Châu Á, họ đứng lên đấu tranh đòi đòi độc lập dưới nhiều hình thức khác nhau, đã dẫn đến việc chấm dứt “cai trị thuộc địa” của các nước phương Tây tại lục địa này bằng nhiều cách khác nhau. Sau đế I thế chiến tại Tây Nam Á nguyên thuộc địa của Ottoman, Hội Quốc Liên uỷ trị cho Anh, và Pháp quản lý bằng các chính quyền tư trị cũng đã tuyên bố độc lập. 

Từ giữa năm 1946 và 1949 các thuộc địa Jordan, Lebanon, Pakistan, Ấn Độ, Sri-Lanka, Miến Điện, Philippines, Indonesia trở thành các quốc gia độc lập. Năm 1948, Liên Hiệp Quốc cũng chấp nhận cho Israel được thành lập. Riêng tại xứ Đông Dương: Việt, Miên, Lào thì Pháp vẫn bám lấy và muốn tái lập chế độ cai tri thuộc địa. Sau nhiều năm chiến đấu khốc liệt, Việt, Miên, Lào cũng trở thành quốc gia độc lập năm 1954. Sự chấm dứt chủ nghĩa thực dân, đã mang lại cho Châu Á cơ hội tự mình đề ra đường lối phát triển kinh tế - xã hội cho chính mình. 

Nhưng, sau quá nhiều năm dưới sự cai trị thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây, nó đã để lại cho Châu Á, một sự nghèo nàn, lạc hậu, khó tìm ra phương cách đối đầu với thế giới hiện đại cho việc phát triển. Kinh tế Châu Á đang có một khoảng cách tụt hậu quá xa so với các nước phương Tây. Cách mạng công nghệ ra đời cuối những năm 1700 tại Châu Âu, đã giúp họ thành công trong việc tạo ra đủ việc làm, đáp ứng được đà dân số đang tăng nhanh. 

Cách mạng công nghệ hình thành các các doanh nghiệp lớn, cải tiến công cụ sản xuất, và phương pháp canh tác nông nghiệp. Chính quyền phương Tây cũng đề ra được phương sách quản lý xã hội tốt hơn, nâng cao tiêu chuẩn sống cho cư dân. Trái lại, bằng chính sách cai trị thuộc địa, phương Tây chỉ xem Châu Á như là nơi cung cấp nguyên liệu thô và thị trường tiêu thụ hàng công nghệ của họ. Nhưng bản thân Châu Á thì tự nó không trở thành công nghiệp hoá được. 

Và lục điạ này cũng không bao giờ có kinh nghiệm, hay vốn liếng nào nhiều để cải thiện nông nghiệp. Đất nông nghiệp thì nơi nào có thể khai thác kinh doanh lập đồn điền, trồng cây công nghiệp đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho "mẫu quốc" thì họ ra sức chiếm đoạt, bằng nhiều cách khác nhau. Tất cả các lý do này là nguyên nhân của sự nghèo đói, và trở thành một khoảng cách lớn giữa Châu Á và phương Tây, khi chủ nghĩa thực dân chấm dứt. 

Chủ nghĩa thực dân cũng ngăn cản sự phát triển chính trị, và quân sự tại đây. Trong thời kỳ Châu Á bị cai trị từ bên ngoài, các quốc gia phương Tây phát triển chính quyền Trung ương tập trung mạnh. Sau khi các nước Châu Âu rời khỏi vùng này, nhiều nhóm chính trị khác nhau trong nhiều quốc gia ở Châu Á xâu xé nhau để tranh giành quyền lực. Trong nhiều trường hợp khi đến với quyền lực, thì họ lại gặp quá nhìêu khó khăn trong việc thiết lập quyền cai trị, và cải thiện đời sống cho người dân. 

Cộng sản và các hoạt động bạo lọan khác, luôn chống đối chính quyền mới trong nhiều quốc gia vừa thu hồi độc lập, làm rối ren thêm xã hội vốn đã khó khăn. Trong thời kỳ chiếm trị thuộc địa, những nhà cai trị phương Tây đảm trách hết các vị trí chỉ huy quân đội, phòng thủ quốc gia và điều hành chính quyền. Cho khi họ rời khỏi xứ này, nhiều quốc gia Châu Á đều nhận ra rằng quân đội của họ không đủ sức phòng thủ đất nước.

Tình này cộng với các vấn đề khác tạo thành "tình huống của châu Á".

Sydney ngày 20 tháng 10 năm 2022

(Bài viết có 761 chữ)

 

Bài 42: CHUYỆN KỂ VỀ CHÂU Á VỚI 

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN.

Lê Xuân Đỗ

Hai quốc gia Châu Á trở thành Cộng sản khá lâu trước chiến tranh thế giới thứ II là Liên bang Xô viết năm 1917 và Mông Cổ năm 1921. Năm 1939 khi chiến tranh thế giới nổ ra, đảng Cộng sản mở rộng hoạt động trên nhiều vùng ở lục địa Châu Á. Cộng sản công khai tuyên bố chống lại sự cai trị của chủ nghĩa thực dân tại các thuộc địa. Và ở vị thế chống chủ nghĩa thực dân ấy có nhiều người theo họ. Trong thời kì tiếp diễn đệ II thế chiến người Cộng sản chiến đấu sát cánh với phe Đồng minh. 

Nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, Cộng sản tái kêu gọi chấm dứt ngay chủ nghĩa thực dân, mở rộng ảnh hưởng chi phối quyền lực Cộng sản lên các nước chư hầu. Sau 22 năm lãnh đạo đảng Cộng sản, Mao Trạch Đông (Mao zedong) đạt tới quyền cai trị toàn bộ Trung Quốc sau khi đánh thắng chính quyền Quốc Dân Đảng năm 1949. Với sự chiến thắng này, Cộng sản nắm quyền thống trị 2 quốc gia lớn nhất Châu Á là Liên bang Xô viết (có trên 12.000.000 km2/17.000.000 km3 tại Châu Á) và Trung Quốc. 

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Hàn Quốc thành lập hai chính quyền chính quyền Cộng ở Bắc Hàn và chính quyền Không cộng sản ở Nam Hàn. Năm 1950, Cộng sản Bắc Hàn xua quân đánh chiếm 4/5 lãnh thổ Nam Hàn, nổ ra chiến tranh đầu tiên giữa hai phe Cộng sản và Không Cộng sản thế giới. Hoa Kỳ và các nước Không cộng sản chiến đấu cạnh Nam Hàn. Cộng sản Trung quốc gởi quân chiến đấu, và Liên Xô cung cấp tiếp vận cho Bắc Hàn. Chiến tranh kết thúc năm 1953, nhưng Hàn Quốc vẫn còn bị chia đôi, Cộng sản ở phía Bắc, và Không cộng sản ở phía Nam. 

Cộng sản cũng có vị trí nhất định ở Đông Nam Á. Tại Việt Nam, tháng 8/1945, ngay khi Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Cộng sản Việt Nam huy động dân chúng Hà Nội dấy loạn cướp chính quyền tại Hà Nội, gây sức ép lên Hoàng đế Bảo Đại buộc nhà Vua phải thoái vị. Tháng 9/1945, Cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo, tuyên bố Việt Nam độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Thực dân Pháp đưa quân tái chiếm Việt Nam. 

Sau nhiều thương thảo và cũng đã ký với nhau 2 Hiệp ước 6 tháng 3 và 14 tháng 9 năm 1946 vẫn không ngăn chận được chiến tranh Đông Dương nổ ra vào cuối tháng 12 năm 1946. Chính quyền Hồ Chí Minh và các đồng chí cộng sản của ông ta lãnh đạo cuộc chiến. Do bất đồng với những người Cộng sản, những người Quốc gia tập hợp lực lượng tiến hành đàm phán với Pháp. Kết quả là ngày 20/5/48, tại Sài Gòn, Chính quyền Quốc gia Việt Nam được thành lập. 

Ngày 8/3/1949, tại điện Elysée, Tổng thống Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại ký kết Thỏa ước Việt-Pháp, theo đó, Pháp thừa nhận Việt Nam có tổ chức hành chánh riêng, tư pháp riêng, tài chánh riêng, quân đội riêng, có quyền quan hệ ngoại giao... Sau gần 9 năm chiến đấu gian khổ (1946-1954), Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và lực lượng Việt Minh của Hồ Chí Minh đã đánh bại thực dân Pháp tại Căn cứ Điện Biên Phủ, và ký kết Hiệp định Geneve 1954, theo đó khu vực Đông Dương chia thành 4 quốc gia độc lập. 

Bắc Việt Nam Cộng sản, Nam Việt Nam không cộng sản, Lào, và Campuchia Trung lập. Pháp bị đánh bại, rút quân khỏi Đông Dương, Mỹ nhảy vào thay thế, làm cho cuộc chiến tại đây vẫn không chấm dứt. Cộng sản miền Bắc Việt Nam lại đứng ra tổ chức và chỉ đạo cộng sản miền Nam, Lào và Campuchia tiếp tục chiến đấu chống lại các chính quyền mới Không cộng sản. Bắc Việt Nam gửi quân, Liên Xô và Trung Quốc trợ giúp trang thiết bị quân sự cho các đồng chí cộng sản của họ cuộc chiến tăng dần lên. 

Vào những năm đầu thập niên 1960, miền Nam Việt Nam như muốn rơi vào tay cộng sản. Hoa Kỳ và đồng minh của họ gửi quân đội, và các trợ giúp khác bảo vệ Nam Việt Nam. Tại đỉnh cao của nó năm 1969, Hoa Kỳ đã gửi trên 500 nghìn quân sĩ tham chiến tại Nam Việt Nam. Cuộc chiến kéo dài đến năm 1973, khi Hoa Kỳ như là một bên trong cuộc chiến, ký với Bắc Việt Nam Cộng sản, một hiệp ước chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Nam Việt Nam. 

Nhưng tiếng súng vẫn nổ giữa những người Cộng sản và Không cộng sản tại Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Năm 1975, Cộng sản chiếm được Nam Việt Nam, Lào và Capuchia. Cộng sản cũng ráo riết hoạt động bạo loạn để tranh chiếm quyền lực trong nhiều quốc gia khác ở Châu Á như Miến Điện, Thái Lan, Malaysia, Philipinnes và Indonesia, nhưng các hoạt động nầy đã không thành công như họ mong muốn. Tại Afghanistan, năm 1978, với sự hậu thuẩn của Liên Xô, các nhà lãnh đạo quân sự cánh tả làm một cuộc đảo chánh đẩm máu chiếm quyền lực. 

Nhiều người Afghanistan nổi lên làm bạo loạn chống lại chính quyền mới. Tháng 12/1979, máy bay Liên Xô ném bom thủ đô Kabul, và đỗ quân vào Afghanistan hậu thuẩn cho một cuộc đảo chánh khác, gọi là để đập tan các cuộc nổi dậy chống đối của phe nhóm Mujahideen. Nhưng chính phủ mới Afghanistan, và đồng minh Liên Xô của họ cũng không đánh bại được phe nhóm bạo loạn. Cuộc chiến kéo dài, trong đó 15.000 quân Liên Xô đựơc ghi nhận là tử thương. 

Sau 10 năm can tính vào cuộc chiến, qua sự trung gian hoà giải của Liên Hiệp Quốc, một thoả ước được ký kết vào tháng 4/1988, theo đó Liên Xô sẽ rút hết quân đội của họ khỏi Afghanistan trong năm 1988 và 1989. Chiến tranh Afghanistan vẫn tiếp tục và tăng lên giữa phe nhóm bạo loạn và chính quyền. Năm 1992, phe nhóm bạo loạn đánh bại chính quyền. Sau chiến thắng, phe bạo loạn lại xảy ra mâu thuẩn giữa những người Hồi giáo ôn hoà và Hồi giáo cực đoan. 

Nhiều phe nhóm chính trị của Mujahideen bầu Burhamuddin người cầm đầu lực lượng du kích làm Tổng thống ngày 28/6/1992. Mâu thuẩn giữa phe Hồi giáo “ôn hoà” và “cực đoan” lại tăng lên, và tiếng súng vẫn tiếp tục nổ quanh Kabul và nhiều nơi khác. Taliban một trong các phe nhóm nỗi dậy của Hồi giáo cực đoan, gia tăng vùng kiểm soát đến tháng 9/1996, đánh chiếm Kabul và lập ra một chính quyền mới. 

Tại Liên Xô, Gorbachev được bầu làm Tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên Xô tháng 3/1985, họp thượng đỉnh với Tổng thống Hoa kỳ Regean 4 lần. Năm 1987, ông khởi đầu một chương trình “Cải tổ và Đổi mới” (Glasnost và Perestroika) sâu rộng, mở rộng quyền tự do dân chủ về chính trị, và tái cấu trúc nền kinh tế. Chương trình Glasnost và Perestroika của Gorbachev bị vài nước cộng sản Đông Âu và những người theo đường lối cực đoan trong đảng Cộng sản Liên Xô chống đối. 

Ngày 19 tháng 8 năm 1991, một nhóm tự gọi mình là Ủy ban Khẩn cấp Nhà nước gồm 8 thành viên chủ tịch KGB Vladimir Kryuchkov, Bộ trưởng Nội vụ Boris Pugo, Bộ trưởng Quốc phòng Dmitriy Yazo, và Thủ tướng Valentin. Phó chủ tịch Liên bang Xô viết Gennady Yanayevđược chỉ định làm Chủ tịch tạm quyền. Gennady Yanayev cùng các lãnh đạo của cuộc đảo chính lên đài truyền hình và radio đưa ra một tuyên bố buộc tội rất đanh thép chính quyền trước đó, nhưng dáng điệu yếu ớt và giọng nói run rẩy khiến mọi người có cảm giác ông không phải là người có thể mang lại trật tự xã hội. 

Sau tuyên bố của Yanayev, Tổng thống Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga lúc đó là Yeltsin phản đối mãnh liệt cuộc đảo chính, Boris Yelsin dẫn đầu lực lượng phản đối từ trụ sở quốc hội Nga, được gọi là Nhà Trắng, ông ta đứng trên nóc xe tăng cầm loa kết tội Uỷ ban khẩn cấp (ГКЧП). Màn trình diễn mạnh mẽ của Yeltsin đã tạo ra một hình ảnh tương phản rõ rệt so với sự xuất hiện yếu ớt của Yanayev. Vụ đảo chính chấm dứt chỉ sau ba ngày, Gorbachev lại quay về với chức vụ Tổng thống.

Nhưng, Boris Yelsin mới là người nắm quyền hành thực sự. Tháng 12/1991, Gorbachev từ chức Tổng thống và Boris Yelsin chính thức ra lệnh cấm Đảng Cộng sản Liên Xô hoạt động. Sự kiện này là dấu chấm hết những hy vọng cuối cùng của các nhà lãnh đạo Xô viết trong việc duy trì nhà nước Liên Xô, ít nhất ở hình thức phân quyền.

Sydney ngày 22 tháng 10 năm 2022

(Bài viết có 1.606 chữ)

 

 

Bài 43: CHUYỆN KỂ VỀ CHÂU Á VỚI 

CÁC CUỘC TRANH CHẤP KHÁC.

Lê Xuân Đỗ

Cuộc chiến ở Châu Á không chỉ là cuộc tranh chấp giữa Cộng sản và Không cộng sản, mà còn là cuộc tranh chấp giữa các nhóm sắc tộc, giữa các bất đồng chính kiến, tranh chấp quỳên lực giữa các nhóm trong nội bộ quốc gia, tranh chấp biên giới giữa các quốc gia, và nhiều nguyên nhân khác dẫn đến những cuộc chiến đấu không ngừng nghĩ giữa các người Châu Á với nhau. Tại Tây Nam Á, bắt đầu từ năm 1948, tranh chấp giữa Israel và những người à Rập Hồi giáo ở Trung Đông và Bắc Phi. 

Người à Rập cho rằng, Israel không được quyền thành lập quốc gia Do Thái, ở nơi mà người à Rập gọi là phần đất của họ. Và giữa họ, người à Rập và người Israel tiến hành tới 4 cuộc chiến tranh kể từ năm 1948. Cuối thập niên 1970, mối quan hệ giữa Do Thái và các nước à Rập được cải thiện phần nào. Tuy nhiên, các vấn đề tranh chấp giữa Israel và à Rập thì chưa bào giờ được giải quyết. Đầu thập niên 1990, tưởng chừng như quan hệ giữa Israel và Jordan cùng với Palestine xích lại gần nhau hơn.

Nhưng cho đến cuối thập niên và tận năm 2001, cuộc xung đột Israel và Palestine lại trở nên căng thẳng. Các cuộc xung đột cũng xẩy ra giữa các nhóm Hồi giáo khác nhau ở Tây Nam Á. Trong thập niên 1960, nổ ra nhiều cuộc bạo loạn kể cả các cuộc đánh nhau với quân đội chính phủ tại 3 nước Iraq, Syria, và Yemen. Ai Cập ủng hộ nhóm bạo loạn Yemen, trong khi Saudi Arabia lại hậu thuẩn cho chính phủ Yemen. Cuối thập niên 1970, bạo loạn bùng nổ lớn ở Iran, buộc nhà vua Shak phải đào thoát sang Hoa Kỳ rồi tới Ai Cập. 

Và, lực lượng nổi dậy thành lập chính quyền mới. Thế nhưng, bạo loạn ở đây vẫn còn tiếp tục bởi các cuộc nổi dậy của sắc tộc thiểu số, và các cuộc đấu tranh giữa thế lực tăng lữ và lực lượng tự do thân phương Tây trong giới trí thức. Năm 1980, Iran và Iraq bắt đầu chiến tranh. Qua sự trung gian hoà giải của Liên Hiệp Quốc, hai quốc gia ký thoả ước chấm dứt chiến tranh năm 1988, sau 8 năm đánh nhau quyết liệt. Tại Lebanon chiến tranh tôn giáo giữa các người theo đạo Hồi và những người theo đạo Thiên chúa trong suốt thập niên 1970. 

Đến thập niên 1980, các nhóm Hồi giáo trong nội địa Lebanon lại nổi lên đánh nhau do bất đồng quan điểm. Cho tới năm 1991, một đề nghị chấm dứt xung đột nội chiến bởi tôn giáo cho Lebanon mới được hình thành. Năm 1990, Iraq xâm lăng Kuwait. Nhiều quốc gia phương Tây và Tây Nam Á Liên minh đánh đuổi Iraq ra khỏi Kuwait năm 1991. Tại Nam Á, trong thập niên 1960, Ấn Độ dính líu tới 3 cuộc chiến tranh. Năm 1961, Ấn Độ đánh chiếm lại 3 vùng đất từng bị Bồ Đào Nha chiếm trị là Daman, Diu, và Goa. 

Đầu năm 1962, Trung Quốc xâm lăng Ấn Độ nhưng bị đánh bật ra khỏi Ấn Độ cuối năm. Năm 1965, Pakistan và Ấn Độ lại đánh nhau ở vùng tranh chấp Kashmir. Một cuộc ngừng bắn cho 2 quốc gia này được Liên Hiệp Quốc làm trung gian hòa giải, nhưng vấn đề tranh chấp vẫn chưa được giải quyết. Nội chiến Pakistan bắt đầu năm 1971, khi chính quyền trung ương phía Tây đưa quân đến vùng phía Đông dẹp bạo loạn. Nhờ sự hổ trợ của quân đội Ấn Độ, quân bạo loạn phía Đông đã đánh bại quân chính phủ Pakistan phía Tây.

Tháng 12/1971, vùng phía Đông Pakistan trở thành quốc gia độc lập mang tên Bangladesh. Cũng trong thập niên 1960, các nước Cộng sản bắt đầu các mối bất hoà giữa họ. Trung Quốc và Liên Xô, mỗi quốc gia đều cho rằng quốc gia kia không theo đúng “giáo điều Cộng sản” buộc tội chỉ trích lẫn nhau. Năm 1969, quân đội 2 nước có các cuộc đánh nhau ở biên giới. Từ năm 1977 đến năm 1979, Việt Nam và Campuchia cũng buộc tội lẫn nhau về các đưởng phân ranh vùng biên giới. 

Tháng 1/1979, Việt Nam đánh thẳng vào Campuchia, chiếm Phnom Pênh ngày 7, và hôm sau dựng lên một chính phủ Campuchia do Việt Nam hậu thuẩn. Trong thời gian này, Trung Quốc và Việt Nam nổ ra các mối bất hoà nghiêm trọng. Trung Quốc cho rằng Việt Nam đã kỳ thị sắc tộc có nguồn gốc Trung Quốc, cắt đứt viện trợ. Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc xua quân xâm lăng 4 tỉnh cực bắc Việt Nam ngày 17, dưới cái gọi là "trừng phạt" sự xâm lăng của Việt Nam vào Campuchia.

Sydney ngày 24 tháng 10 năm 2022

(Bài viết có 868 chữ)

 

Bài 44: CHUYỆN KỂ VỀ CHÂU Á

TRƯƠC KỶ NGUYÊN MỚI CỦA THẾ KỶ XXI.

Lê Xuân Đỗ

Những năm đầu của thế ký 21 Châu Á vẫn còn đối diện với nhiều vấn đề nghèo đói, và mù chữ. Các cuộc tranh chấp giữa họ vẫn còn tiếp tục, đe doạ hoà bình trong nhiều khu vực. Tuy nhiên, một số học giả thấy rằng Châu Á có tiến bộ. Điều đó có ý nghĩa lục địa này đang bắt đầu một kỷ nguyên mới của sự phát triển. Hiện nay phần lớn khu vực ở Đông Á và Đông Nam Á có nhiều tiến bộ về kinh tế. Các giống lúa mới tăng nhanh làm năng suất, sản lượng nông nghiệp tăng đáng kể, và điều này giúp giảm được nạn đói trong nhiều khu vực. 

Tại Tây Nam Á, Israel phát triển vượt bật về kinh tế, thu nhập từ dầu khí đã giúp cải thiện kinh tế các quốc gia khác trong vùng. Sự tiến bộ về kinh tế giúp chính quyền các nước xây thêm nhiều trường học mới, huấn luyện được nhiều giáo viên hơn trong nổ lực nâng cao trình độ văn hóa. Tỷ lệ trẻ em đến trường học tăng cao hơn so với vài 3 năm trước đó. Trong bán thập kỷ sau của 1990, nhiều quốc gia giảm nạn mù chữ xuống dưới 50%. Nhưng các tiến bộ về kinh tế, và giáo dục tại Châu Á không đồng đều. 

Một số quốc gia như Campuchia, và Lào cho thấy ít có dấu hiệu tiến bộ. Các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan có vài sự khởi đầu mà họ tin rằng sẽ đưa đến tiến bộ. Tuy nhiên, việc tăng dân số quá nhanh cũng tạo ra các khó khăn nhất định, ngay cả việc làm thế nào để cung cấp đủ lương thực cho tất cả mọi người ở Châu Á cũng đã là một vấn đề. Một số học giả tiên đoán rằng, một Châu Á vẫn còn tồn tại các quốc gia nghèo bên cạnh một số ít quốc gia giàu. 

Các cuộc chiến tranh và bạo loạn cũng là nguyên nhân tạo thêm khó khăn cho việc xây dựng và tiến bộ. Các giải pháp giải quyết tranh chấp trong nội bộ quốc gia, và quốc tế đầu kỷ nguyên mới sẽ giúp lục địa Châu Á thuận lợi hơn như giảm sự chi phối từ bên ngoài vào các vấn đề nội bộ của họ. Các mục tiêu khác cho Châu Á như các nước giàu sẽ cung cấp hoặc trợ giúp giáo dục, kỹ thuật kinh tế, và quân sự cho Châu Á. Nhiều người Châu Á muốn thấy rằng cần phải chấm dứt ngay các sự can thiệp từ bên ngoài.

Họ đang hướng về một ngày mai, khi các người Châu Á tự do liên kết, cùng làm việc với nhau để mang lại những tương đồng trong các vấn đề của chính họ. Nhưng hoà bình và thống nhất tinh thần, niềm tin giữa những người Châu Á cũng như giữa họ với người khác có vẽ như vượt qúa tầm tay, hãy còn quá xa vời.

Sydney ngày 26 tháng 10 năm 2022

(Bài viết có 552 chữ)

 

Bài 45: CHUYỆN KỂ VỀ VÀI NÉT  ĐẶC TRƯNG

RIÊNG CÓ TẠI CHÂU Á.

Lê Xuân Đỗ

Châu Á có 48 quốc gia độc lập, và có tới 5 loại chính quyền: chính quyền Cộng sản cai trị Trung Quốc, Bắc Hàn, và Việt Nam. Nhà Vua cai trị ở Bhutan, Saudi Arabia. Giáo chủ Hồi giáo cai trị Bahrain Qatar, Arab Emirates. Chính quyền Cộng hòa thì có Ấn Độ, Israel, Nhật Bản. Một số quốc gia ở Châu Á, người cầm đầu Quân đội còn nắm cả quyền cai trị đất nước như ở Miến Điện, và ở các thời điểm có biến động chính trị như Thái Lan chẵng hạn. Dân số Châu Á thay đổi nhanh nhất hơn bất cứ sự thay đổi nào khác. 

Châu Á có nhiều nguồn gốc sắc tộc, văn hóa khác nhau. Thành viên của một nhóm sắc tộc có thể cùng nguồn gốc văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, và vài đặc trưng khác. Một quốc gia cũng có thể có nhiều nhóm sắc tộc. Nhóm sắc tộc lớn nhất ở Châu Á là China về phía Đông, Hindus phía Nam, và Arab phía Tây nam. Các nhóm sắc tộc giáo dục cho thành viên của họ nhận thức về sự phụ thuộc, và liên thuộc. Họ cũng lập ra nguyên tắc xử sự, đạo đức, bảo tồn phong tục, niềm tin tôn giáo, và các truyền thống khác. 

Nhiều khu vực ở Châu Á, các nhóm sắc tộc láng giềng không thích nhau, hoặc hay ngờ vực lẫn nhau. Cảm giác này thường đưa đến các cuộc bạo loạn giữa các sắc tộc trong một quốc gia, hoặc giữa các quốc gia khác nhau. Chẳng hạn từ giữa những năm 1900, nhiều cuộc chiến tranh giữa nhóm sắc tộc Ả Rập và Do Thái, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, người theo Ấn Độ giáo và Hồi giáo, người Mã Lai và người Trung Quốc, người Amenian và người Azerbaijan. 

Có quá nhiều ngôn ngữ, và phương ngữ hiện đang sử dụng tại Châu Á. Nó cũng là một trong những lực cản chính về phương diện truyền thông. Trong một số nơi của lục địa, người trong một làng không thể nói chuyện, và hiểu được ngôn ngữ của làng bên cạnh, chỉ cách nhau có năm ba cây số. Chẳng hạn, trong vùng Madhya, Pradesh, một tiểu bang của Ấn Độ, người ta sử dụng tới hơn 375 ngôn ngữ, và phương ngữ khác nhau. Thế giới có 9 nhóm ngôn ngữ, thì tại Châu Á sử dụng tới 8 nhóm, ngoại trừ ngôn ngữ Châu Phi (Black African). 

Tất cả các tôn giáo chính của thế giới đều ra đời từ Châu Á. Đạo Do Thái, đạo Shinto, đạo Hindus, đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão, đạo Thiên chúa, và đạo Hồi. Đạo Hindus có nhiều tín đồ nhất ở Châu Á. Kế đến là đạo Hồi. Hầu hết cư dân các nước phía Tây Nam, và Trung Á là tín đồ Hồi giáo. Nó cũng chiếm đa số ở Indonesia, và Malaysia. Đạo Phật cũng có nhiều người theo và là tôn giáo chính của một số nước như Sri Lanka, Thái Lan, Cam Bốt, Lào, và Việt Nam. Lamaism, một hệ phái của đạo Phật là tôn giáo chính ở Mông Cổ, và nhiều nơi ở Trung Á. 

Đạo Khổng, và đạo Lão được nhiều người theo ở Trung Quốc. Đạo Shinto là tôn giáo chính ở Nhật Bản. Thiên chúa giáo, mặc dù được nhiều người theo trên thế giới, nhưng chẳng bao giờ là niềm tin chính ở Châu Á. Đa số người theo đạo này là ở Cyprus, và Phillipines. Tại Lebanon, Armenia, Georgia, và Liên bang Nga cũng có một số tín đồ Thiên chúa giáo. Đạo Do Thái là tôn giáo chính của quốc gia Israel.

Sydney ngày 28 tháng 10 năm 2022

(Bài viết có 659 chữ)

 

 

Bài 46: CHUYỆN KỂ VỀ VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG

RIÊNG CÓ TẠI TÂY NAM Á.

Lê Xuân Đỗ

Khu vực Tây Nam Á chiếm 7.124.212 km2 hay 16% lục địa, và 353.914.000 cư dân. Có 19 quốc gia trong khu vực, gồm 7 quốc gia trên Bán đảo Arabian, 12 quốc gia phía Bắc, và phía Đông bán đảo. Saudi Arabia là quốc gia lớn nhất chiếm khoảng 2/3 bán đảo, các nước còn lại trên bán đảo là Bahrain, Kuwait, Qatar, United Arab Emirate, Oman, và Yemen. Các quốc gia nằm ngoài bán đảo gồm Turkey, Georgia, Armenia, Azerbaijan, Cyprus, Syria, Lebanon, Israel, Jordan, Iraq, Iran, và Afghanistan. 

Tây Nam Á còn bao gồm cả Bán đảo Sinai, phía Đông bắc Châu Phi thuộc Ai Cập (Egypt) dải Gaza (Gaza Strip), và phần đất phía Tây (West Bank) giữa sông Jordan, và Biển Chết (Dead Sea). Gaza Strip, và West Bank phía Tây sông Jordan do Israel chiếm đóng, quản lý, và là nơi cư trú của người Palestine. Tây Nam Á có nhiều sa mạc, ít mưa, và khan hiếm nước. Dù vậy, người Tây Nam Á vẫn sống, và làm việc trên các nông trại của họ. Nông gia sống chen chúc dọc theo bờ biển, bờ sông, và các lưu vực nơi có đủ nước cho việc trồng trĩa của họ. 

Các vùng sa mạc cư dân thưa thớt hơn, trung bình 37 cư dân trên một cây số vuông ở khu vực Tây Nam Á. Không có công nghiệp lớn ở thành phố, và nạn thiếu hàng hóa ở nông thôn làm cho quá trình phát triển kinh tế gặp nhiều khó khăn, trong hầu hết các quốc gia Tây Nam Á. Nhưng trong lòng đất, ngay cả ở sa mạc, chứa đựng nhiều triển vọng cho tương lai. Nó sản sinh ra một số lượng khổng lồ sản phẩm dầu khí. Hầu hết khu vực đều có trữ lượng các nguồn tài nguyên có giá trị. 

Chính quyền nhiều nước đều sử dụng các nguồn thu về dầu khí để đẩy lùi nạn nghèo khó. Họ cũng đang cố gắng làm việc để gia tăng sản lượng nông nghiệp, và đưa nền công nghiệp quốc gia tiến đến hiện đại hóa. Có trên 353 triệu người, hoặc 8% người Châu Á sống ở khu vực Tây Nam Á, trong đó nhóm sắc tộc Ả Rập chiếm đa số tại 11 quốc gia trên 19 nước trong khu vực. 11 quốc gia này gồm 7 nước trên Bán đảo Arabia, và 4 nước bên ngoài bán đảo là Jordan, Iraq, Siria, và Lebanon. 

Nhiều triệu người Tây Nam Á, và Bắc Phi thống nhất về ngôn ngữ, (Arabian) và tôn giáo (Islam). Họ cũng có cùng văn hóa, và nguồn gốc, lịch sử. Người Ả Rập đầu tiên sống trên Bán đảo. Người Do Thái cũng sống ở Tây Nam Á. Buổi đầu tổ tiên của người Ả Rập và người Do Thái sống hòa thuận với nhau trong khu vực. Theo thời gian, người  Do Thái rời bỏ quê hương đến định cư ở Châu Âu, Bắc Mỹ, và những nơi khác. Cuối những năm 1800, người Do Thái bắt đầu một cuộc vận động tái thành lập quốc gia Do Thái, nơi tổ tiên họ từng sống ở Tây Nam Á.

Công cuộc vận động của họ được Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho tái lập quốc gia Israel ở giữa các nước Ả Rập trong khu vực Trung Đông ở Tây Nam Á. Những người Ả Rập phản đối việc thành lập quốc gia Do Thái trong vùng đất mà họ tự cho là đất của người Ả Rập. Từ đó, các quốc gia Ả Rập, và Do Thái có bất hòa, và nổ ra bốn cuộc chiến tranh trong các năm 1948, 1956, 1967, và 1973. Đến nay, trên 50 năm mà chưa có được một giải pháp chung cuộc cho là Israel - Ả Rập. 

Mâu thuẫn xung đột cũng nổ ra giữa các người theo Hồi giáo giữa hệ phái này và hệ phái khác. Cũng như những người theo đạo Hồi với người theo đạo Thiên chúa. Tây Nam Á vẫn còn là điểm nóng của thế giới.  Sự thật là người à Rập, và người Do Thái có chung bộ tộc “Semitic” cùng nhóm ngôn ngữ Hebrew-Arabic thuộc họ ngôn ngữ Afro-Asiatic. Nó khác xa với các quốc gia phía bắc Tây Nam Á như Afghanistan, Azerbaijan, Cyprus, Georgia, Iran, và Turkey. 

Chẳng hạn, tổ tiên của người Afghanistan, Azerbaijan, Iran, và Turkey đều đến từ Trung Á. Người Armenian, người Georgia đến từ người Cổ vùng núi Caucasus. Khoảng 80% người trên đảo Cyprus là người Hy Lạp (Greek), người Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) chỉ chiếm 20%. Về tôn giáo thì đạo Do Thái (Jewism) có trước, kế đến là Thiên chúa giáo, rồi sau đó mới đến Hồi giáo. Cả ba đều ra đời ở Tây Nam Á. Ngày nay, hầu hết người trong các quốc gia Tây Nam Á là tín đồ Hồi giáo.

Còn Thiên chúa giáo là tôn giáo chính ở Armenia, Cyprus, và Georgia. Do Thái giáo là tôn giáo chính ở Israel.

Sydney ngày 30 tháng 10 năm 2022

(Bài viết có 884 chữ)

 

 

Bài 47: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG Ở 

NÔNG THÔN TẠI  TÂY NAM Á.

Lê Xuân Đỗ

Có khoảng một nửa cư dân Tây Nam Á sống ở nông thôn. Họ làm việc trên đồng ruộng, và hàng ngàn người du mục (Nomads) sống bằng nghề chăn nuôi. Những người này đi xuyên qua các sa mạc, và núi rừng Châu Á theo đàn gia súc của họ như dê, cừu, và lạc đà. Hầu hết người nông dân, và dân du mục sống theo lối sống cổ truyền. Nhiều người ăn mặc giống tổ tiên họ từng mặc như đàn ông Ả Rập mặc áo dài cùng với váy, và một tấm vải màu phủ đầu và cổ. Cũng như tổ tiên họ, đa số nông dân không có đất riêng để canh tác. 

Họ phải thuê nó từ các chủ đất giàu có. Họ sử dụng công cụ bằng tay, và chỉ sản xuất đủ lương thực cho gia đình. Thực phẩm của họ là hạt ngũ cốc như lúa mạch, lúa mì, cùng với quả chà là, quả olives, và các loại trái cây khác. Hầu hết nông dân Tây Nam Á sống trong các làng nhỏ gần đất canh tác. Một làng tiêu chuẩn thường khoảng từ 50 đến 100 nhà, chen chúc nhau dọc theo một đường nhỏ. Bùn khô, và gạch không nung là vật liệu xây dựng phổ biến. 

Một số làng có nhà tắm công cộng, và một nhà uống trà nơi các người đàn ông tụ tập để bàn công việc chung. Nhưng đa số các làng chỉ có một nhà chung như là nơi thờ phượng. Người du mục Tây Nam Á, hoàn toàn dựa vào đàn gia súc để thỏa mãn các nhu cầu đời sống của họ. Họ sống trong các lều che, dệt từ các lông lạc đà, và lông dê. Thức ăn của họ gồm phôma, thịt, và sữa. Tất cả đều lấy từ đàn gia súc. Nhiều người du mục tạo ra quần áo từ lông, và da súc vật. Họ vừa di chuyển, vừa tìm kiếm các đồng cỏ cho gia súc. 

Thỉnh thoảng có lẽ một lần cho một năm, người du mục đến viếng một thị trấn, hoặc một thành phố để bán phôma, thịt, da thú, len, đồng thời mua các vật dụng tiếp tế. Nhiều phụ nữ vùng quê Tây Nam Á, nhất là phụ nữ Ả Rập sống theo lối cấm cung như tổ tiên họ từng sống. Những phụ nữ này thường ở nhà, và che mặt với tấm khăn khi xuất hiện trước đám đông. Quan hệ xã hội ở nông thôn Tây Nam Á cũng dựa vào truyền thống. Đa số nông dân, và người du mục tổ chức gia đình, kiểu mở rộng như cha ông họ. 

Ông bà, cha mẹ, trẻ em chưa lập gia đình, và con trai trưởng đã lập gia đình thì vợ con họ cũng sống chung dưới cùng mái nhà. Người đàn ông lớn nhất trong gia đình có quyền định đoạt tất cả các vấn đề của gia đình. Ông ta cũng có trách nhiệm lo cho sự an vui, hạnh phúc của toàn thể gia đình. Bên ngoài gia đình, người nông dân và người du mục còn bị ràng buộc bởi xóm làng, hoặc nhóm người du mục của anh ta. Người trưởng làng và một hội đồng bô lão quản lý việc làng, các người này giải quyết tranh chấp giữa các gia đình. 

Đa số các gia đình du mục còn có mối quan hệ liên quan với người đàn ông bên ngoài gia đình. Đó là người lãnh đạo nhóm, đoàn du mục là “Sheik” trong các quốc gia Ả Rập. Thường thủ lãnh là người giàu nhất nhóm. Ông ta giải quyết tranh chấp giữa các gia đình, và thường hay giúp đỡ các cái cần thiết cho tất cả các thành viên trong nhóm. Nhiều nông dân và người du mục không biết, hoặc biết rất ít quan hệ với chính quyền nhà nước. Nhân viên chính quyền được xem như là người ngoài cuộc.

Họ không có quyền hạn gì đối với các vấn đề của làng, của nhóm, hoặc đoàn du mục. Nhiều chính quyền trong các quốc gia Tây Nam Á đang làm hết sức mình, để xác lập các cuộc giao tiếp nhiều hơn với cư dân ở nông thôn. Trong vài khu vực, chính quyền chỉ dẫn cho người ta phương pháp canh tác, và kỹ thuật mới cho việc sản xuất nông nghiệp. Họ cũng lập ra trường học và các cộng đồng ở nông thôn, giúp mang những ý tưởng mới và lối sống mới về nông thôn. 

Riêng cộng đồng người Do Thái, có vẻ khác xa với cộng đồng người Ả Rập ở Tây Nam Á. Xã hội nông thôn của người Do Thái sống trong cộng đồng được gọi là Công xã “Kibbutz”. Ở đó, người nông dân lao động tập thể, và chia của cải. Một số nông dân Do Thái khác, lại sống trong các cộng đồng gọi là Hợp tác xã “Moshav”. Tại đây, cộng đồng mua trang thiết bị và hàng hóa chung cho tập thể, nhưng các nông dân vẫn làm chủ đất, và nhà của họ. 

Sydney ngày 1 tháng 11 năm 2022

(Bài viết có 903 chữ)

 

 

Bài 48: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG Ở THÀNH THỊ TẠI  TÂY NAM Á.

Lê Xuân Đỗ

Ba thành phố lớn nhất của Tây Nam Á là Baghdad ở Iraq, Tehran ở Iran, và Istabul ở Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng một phần lớn ở Istabul lại nằm trong đất Châu Âu. Thành phố Riyadh của Saudi Arabia là thành phố lớn nhất ở Bán đảo Arabia. Cư dân trong các nước Tây Nam Á sống ở nông thôn ít hơn ở thành thị ngoại trừ Afghanistan, Yemen. Các thành phố Tây Nam Á có nhiều tương phản giữa tân và cổ. Có nhiều cấu trúc cổ cách đây hàng trăm năm, bên cạnh cấu trúc hiện đại, mới xây cất trong cùng một thành phố. 

Phần cổ của thành phố là những trung tâm thương mại, nơi người nông dân, người du mục, và người làm thợ thủ công đến trao đổi hàng hóa. Nhiều hoạt động bên trong, và bên ngoài các cửa tiệm tạp hóa " Bazaars" luôn tấp nập. Nhà cửa trong khu vực cổ thường nhỏ, có cửa sát nhau. Trong thành phố cổ, các nước theo đạo Hồi, thánh đường Hồi giáo "Mosques" là những công trình đẹp nhất. Trong khu vực hiện đại ở nhiều thành phố Tây Nam Á, phỏng theo kiểu dáng của phương Tây. 

Các cao ốc, và tòa nhà văn phòng xây dựng dọc theo các đường phố lớn. Khu vực này bao gồm sân bay, nhà hát, đài truyền thanh, truyền hình, và khách sạn. Sự thay đổi về mặt xã hội cũng đến với các thành phố Tây Nam Á. Nhiều công việc mới đáp ứng nhu cầu xã hội tạo thêm cơ hội việc làm cho các nhà kinh doanh, công nhân trong nhà máy, công chức trong chính quyền. Rồi bác sĩ, dược sĩ, luật sư, giáo viên, và nhiều nghề khác đang tăng nhanh. 

Chính quyền mở rộng hệ thống đào tạo chuyên viên, kỹ thuật viên, và nhiều người có cơ hội cải thiện nghề nghiệp tốt hơn. Các loại gia đình mở rộng trở nên không phù hợp, và có vẻ như không bình thường trong các thành phố. Phụ nữ trong thành phố được tự do hơn nông thôn. Trong hầu hết các thành phố, lối ăn mặc cổ truyền với khăn che mặc ở nơi đông người phần lớn không còn. Cư dân trong các thành phố có sự ràng buộc nhiều hơn với chính quyền nhà nước. 

Họ xem chính quyền là người có liên hệ thân thiết với họ, không như ở nông thôn xem chính quyền là người ngoài cuộc./.

Sydney ngày 3 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 454 chữ)

 

 

Bài 49: CHUYỆN KỂ VỀ GIÁO DỤC VÀ 

NGHỆ THUẬT TẠI  TÂY NAM Á.

Lê Xuân Đỗ

Người trên 15 tuổi biết đọc biết viết chiếm tỷ lệ khá thấp trong nhiều quốc gia Tây Nam Á. Tính chung tỷ lệ ấy dưới 50%. Nhưng có một khoảng cách khá lớn từ quốc gia này đến quốc gia khác. Chẳng hạn Israel, Armenia, Azerbaijan, Georgia, hầu như tất cả những người trên 15 tuổi đều biết đọc, biết viết. Ngược lại, Afghanistan, và Yemen mỗi quốc gia có trên dưới 65% không biết chữ. Trong quá khứ, trải qua các thời kỳ lịch sử, trẻ em ở Tây Nam Á không có, hoặc có rất ít trường học. 

Trẻ em nam học nghề chạm trổ, nghề nông, hoặc chăn nuôi từ cha mẹ. Trẻ em nữ học nghề nội trợ từ người mẹ. Nhưng đến giữa những năm 1900, hầu hết các quốc gia tây nam Á bắt đầu xây dựng trường học nhất là tại các thành phố. Ngày nay, đa số trẻ em trong thành phố đều được đến trường học ít nhất cũng được vài năm. Phần lớn các em không được vào trường Cao đẳng, hoặc kỹ thuật. Trong nhiều quốc gia Tây Nam Á, giáo dục ở các vùng quê thấp hơn nhiều so với các thành phố. 

Tây Nam Á từng nổi tiếng về nghệ thuật, nhất là nghệ thuật Hồi giáo. Nó là thời kỳ các thể loại nghệ thuật được thể hiện phong phú nhất qua các nghệ nhân người Ả Rập. Nghệ thuật Hồi giáo hưng thịnh từ những năm 700, đến năm 1700 bắt đầu suy thoái. Ngành kiến trúc, đặc biệt là kiến trúc thánh đường Hồi giáo, đạt tới trình độ mẫu mực của nghệ thuật Islam. Các nghệ nhân Hồi giáo còn sáng tạo ra cách trình bày, và đóng sách tuyệt đẹp. Gạch men, kính xây dựng, vật liệu, kim khí, thảm, hàng dệt, và nghệ thuật điêu khắc từng là các mặt hàng nổi tiếng của Tây Nam Á. 

Các nhà lãnh đạo Hồi giáo ngăn cấm tả chân con người, và súc vật, nhưng có thể vẻ các loại trang sức cho con người, các loại hình, cây cỏ, hoa lá, và các đối tượng khác. Nhiều nghệ nhân Tây Nam Á có những nét vẻ độc đáo về trang trí trên các tấm thảm, gạch men được xem là truyền thống. Nhưng ngày nay, họ cũng đã canh tân hóa cách vẽ của họ. Trong quá khứ, nghệ nhân chỉ vẽ về đời sống của các vua chúa, giới quý tộc. Bây giờ thì họ vẽ cả đời sống dân thường nơi họ đang sống.

Sydney ngày 5 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 464 chữ)

 

Bài 50: CHUYỆN KỂ VỀ VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG TẠI NAM Á.

Lê Xuân Đỗ

Khu vực Nam Á chiếm khoảng 4.478.839 km2, hoặc 10% diện tích lục địa, và 1.652.656.000 cư dân. Ấn Độ chiếm 3/4 toàn khu vực. Pakistan phía Tây chiếm 1/6. Các quốc gia còn lại là Bangladesh phía Đông, Bhutan, và Nepal vùng rừng núi, và cao nguyên phía Đông bắc. Sri Lanka, và Maldives là hai quốc gia đảo phía Nam trong lòng Ấn Độ Dương. Nam Á được xem là nơi có cư dân đông đúc nhất thế giới. Trên 1.652triệu người, chiếm 40% dân số Châu Á, hoặc gần 25% dân số thế giới sống ở nam Á.

Mức độ cư dân ở đây 300 người trên một cây số vuông, cao hơn 7 lần mức cư dân bình quân của thế giới. Họ sống chen chúc trong các làng quê như ở thành thị vậy. Calcutta, thành phố thủ đô của Ấn Độ có khoảng 42.000 người/km2. Thành phố Dhaka, thủ đô của Bangladesh 29.000 người/km2. Công việc đồng án là nghề chính của cư dân vùng đồng bằng Bắc Ấn. Nam Á có nhiều đất đai gieo trồng tốt. Và ở đó cũng có nhiều thành phố, thuận lợi cho người ta làm việc. Dù thế, khu vực Nam Á cũng đang đương đầu với nạn nghèo đói nghiêm trọng. 

Mỗi quốc gia tại Nam Á đang ra sức giải quyết vấn đề bằng cách trợ giúp kỹ thuật, cải cách phương pháp canh tác ở nông thôn, và tạo thêm nhiều việc làm hơn trong thành phố. Việc gia tăng dân số quá nhanh, vượt quá sự đông đúc vốn có của vùng này, làm cho cuộc chiến chống nghèo đói trở nên phức tạp hơn. Có trên 75% cư dân Nam Á sống ở Ấn Độ. Hơn 10% ở Pakistan, và 10% ở Bangladesh. 4 quốc gia còn lại là Bhutan, Nepal, Sri Lanka, và Maldives chỉ chiếm khoảng 3% dân số trong khu vực. 

Hai tộc người lớn nhất ở Ấn Độ là Indo-Aryans, và Dravidians. Đa số người Indo-Aryans sống ở Bắc Ấn. Hầu hết người Dravidians sống ở phía Nam. Tổ tiên của người Indo-Aryans đến Ấn Độ từ Trung Á (có tài liệu nói từ Bán đảo Châu Âu) khoảng 1500 Trước công nguyên (TCN). Họ là người "Aryans" đánh chiếm Bắc Ấn của người Dravidians, đẩy những người này chạy về phía Nam. Còn cư dân Pakistan thì có nhiều tộc người tạo thành người Afghanistan, Arabic, Aryan, Dravidians, Persian, và người gốc Thổ Nhĩ Kỳ. 

Ở Sri Lanka, và Maldives thì có người Sinhalese, tổ tiên của họ từ Bắc Ấn. Tộc Tamils ở Sri Lanka là con cháu của người Nam Ấn. Cư dân ở Nepal là người có nguồn gốc Aryans, người Tây Tạng, và người Mông Cổ. Sự phân ranh của người Nam Á có thể theo tôn giáo, ngôn ngữ, hoặc giai cấp xã hội. Có nhiều sự khác nhau giữa người theo đạo Hindus và người theo đạo Islam. Anh Quốc trong tư cách người cai trị thuộc địa trên bán đảo Ấn Độ đã có nhiều nổ lực hoá giải nhằm chấm dứt sự đổ máu giữa hai nhóm sắc tộc, cũng là hai tôn giáo này, nhưng kết quả còn hạn chế.

Năm 1947, khi trao trả độc lập cho bán đảo Ấn Độ, Anh quốc đã phải chia thành hai nước: Ấn Độ cho người theo đạo Hindus, và Pakistan cho người theo đạo Muslims, nhưng những người theo đạo Muslims lại sống tại hai phần phía Đông và phía Tây của Ấn Độ. Năm 1971, những người theo đạo Muslims ở phía Đông ly khai khỏi Pakistan thành lập quốc gia Bangladesh. Sự khác biệt về ngôn ngữ cũng tạo ra sự ngăn cách, chẳng hạn hầu hết các tiểu bang trong quốc gia Ấn Độ, không có chung ngôn ngữ với nhau. 

Nỗ lực của chính quyền trung ương là thành lập các tiểu bang mới, và thay đổi ranh giới để các nhóm sắc tộc có thể có cùng ngôn ngữ sống chung trong một tiểu bang. Bên cạnh ngôn ngữ, Ấn Độ còn có sự cách biệt về giai cấp xã hội. Vị trí xã hội đối với người Hindus có tầm quan trọng hơn hết thảy trong xã hội Ấn Độ. Có khoảng 3000 đẳng cấp trong đó mỗi người Hindus ở một đẳng cấp nhất định. Người Hindus phụ thuộc vào đẳng cấp của gia đình họ. Tạo thành một đẳng cấp mới cao hơn là điều cực kỳ khó khăn. 

Mỗi đẳng cấp xã hội Ấn Độ có một truyền thống riêng, hạn chế sự giao tiếp với đẳng cấp khác. Kết hôn giữa các thành viên khác đẳng cấp là điều hiếm thấy. Có khoảng 80% người Ấn Độ theo đạo Hindus, và 10% theo đạo Islam. Hầu hết người Pakistan, Bangladesh, Maldives là tín đồ Islam. Đa số người Sri Lanka là tín đồ Phật giáo. Khoảng 90% người Nepal theo đạo Hindus, số còn lại theo đạo Phật. Khoảng 70% người Bhutan tín đồ Phật giáo, còn lại theo đạo Hindus. 

Bởi vì đạo Hindus là tôn giáo chính của Ấn Độ, và dân số Ấn Độ chiếm 75% dân số Nam Á nên người ta cho rằng đa số người Nam Á là tín đồ đạo Hindus. Khác với Do Thái giáo, Thiên chúa giáo, và Hồi giáo, Ấn Độ giáo (Hindus) không đơn thuần tin vào một thượng đế duy nhất. Người theo đạo Hindus có thể tin nhiều thượng đế dưới nhiều dạng khác nhau của đấng sáng tạo “Brahman”, vị thần tối cao của đạo Hindus. Giới tăng lữ vốn là đẳng cấp cao nhất của xã hội Ấn Độ. 

Và vị cao tăng theo lý luận của Ấn Độ giáo là người cao cấp trong giới tăng lữ. Ông ta là biểu tượng của các linh hồn hoàn hảo nhất, cái mà Brahman đã tạo ra nơi ông ta. Đạo Hindus tin tất cả các cái tạo ra sự sống có linh hồn. Mục đích của họ là mong muốn đến gần Brahman, đấng sáng tạo là vị thần tối cao của họ. Theo họ, sau khi chết linh hồn của một người sẽ thoát khỏi cơ thể họ và chuyển sang một cơ thể khác. 

Quá trình này tiếp diễn cho đến khi linh hồn (Souls) trở nên hoàn thiện để đến gần với đấng tối cao Brahman.

Sydney ngày 6 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 1.103 chữ).

 

 

Bài 51: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG Ở NÔNG THÔN VÀ THÀNH THỊ TẠI NAM Á.

Lê Xuân Đỗ

Có khoảng 75% cư dân Nam Á sống ở thôn quê, làm việc trên đồng ruộng gần làng. Đa số nông dân Nam Á có một mảnh đất nhỏ gieo trồng ngũ cốc để nuôi sống gia đình, nhưng cũng có một số phải thuê đất từ các địa chủ giàu có. Phương pháp canh tác nông nghiệp trong khu vực có cả hiện đại lẫn cổ truyền. Bên cạnh một số công cụ máy móc hiện đại, nhiều nông dân Nam Á còn sử dụng công cụ cầm tay, và làm theo cách cha ông họ từng làm cách đây hàng trăm năm. 

Một số lớn nông dân Nam Á phải vất vã lắm mới mong gieo trồng đủ lương thực nuôi sống gia đình họ. Hầu hết các gia đình Nam Á sống theo kiểu “gia đình mở rộng”. Người Nam Á sử dụng thực phẩm từ các loại hạt ngũ cốc như lúa mạch, lúa mỳ, lúa gạo, hạt dẻ, hạt kê, cùng với các loại rau quả, loại đậu, và cả đậu Hòa Lan. Nhiều người theo đạo Hindus không ăn thịt, ngay cả thịt kiếm được. Họ tin rằng, tất cả các sinh vật nhất là giới động vật đều có linh hồn, không được giết nó. 

Cách ăn mặc của người Nam Á khác nhau từ vùng này đến vùng khác. Nhiều người mặc bằng một tấm vải quấn quanh thân mình. Quần áo của phụ nữ gọi là “Saris” cùng loại. Một số lớn đàn ông còn bịt khăn trên đầu. Các làng ở Nam Á nhà cửa gần sát nhau, hầu hết là nhà nhỏ làm bằng bùn khô, hoặc gạch không nung (phơi khô). Mỗi nhà đều có tường bao quanh, để cho người ta có được một chút riêng tư. Có nhiều sự giao lưu giữa khu vực nông thôn, và thành thị. 

Nhiều nhân viên chính quyền từ thành phố đến nông thôn hướng dẫn cho dân làng sử dụng cách bón phân hóa học, cày bừa, và gieo hạt. Họ cũng chỉ bày cho dân làng cách làm thế nào để xây dựng trường học, bệnh viện, đường xá, hệ thống tưới tiêu, và canh tân hóa đời sống của nông thôn, bằng cách cải tiến cả suy nghĩ lẫn việc làm. Hầu hết các chính quyền Nam Á đang phấn đấu cải thiện đời sống cho cư dân, nhưng họ đang gặp phải những lực cản ghê ghớm, một phần chính quyền không đủ tiền và phần khác là việc gia tăng dân số qua nhanh.

Cho nên, việc chấm dứt được sự nghèo đói kinh niên đã là may mắn lắm rồi. Hơn nữa, nhiều người Nam Á thường tự hào về truyền thống, tập tục của họ. Họ cảm nhận rằng không cần thiết phải thay đổi lối sống cố hữu của họ. Mặc dù đa số cư dân sống ở nông thôn, Nam Á cũng có nhiều thành phố lớn ở Ấn Độ như Delhi trên 24 triệu cư dân, Bombay trên 20 triệu cư dân, và Karachi của Pakistan hơn 16 triệu người. Chín thành phố khác ở Ấn Độ, và 2 thành phố ở Pakistan mỗi thành phố từ 3 đến hơn 14 triệu người. 

Anh Quốc từng xây dựng, và tôn tạo hầu hết những thành phố ấy từ thời cai trị thuộc địa. Họ thống trị gần như toàn bộ khu vực Nam Á, tiểu lục Ấn Độ từ cuối những năm 1700 đến giữa những năm 1900. Suốt thời kỳ chiếm khu vực làm thuộc địa người Anh luôn có mặt tại vùng này. Họ cho thiết kế và xây dựng nhiều khu vực với loại kiến trúc tân kỳ. Khi trở thành độc lập, chính quyền nhiều quốc gia Nam Á tiếp tục xây dựng thêm một số thành phố mới. Ngày nay, một số người trong các thành phố trở thành giai cấp trung lưu giàu có. 

Họ gồm những nhà doanh nghiệp, kỹ sư, luật sư, bác sĩ, và viên chức nhà nước. Họ sống trong các khu vực đẹp nhất, nơi người Anh từng sống trước đó. Khu vực cổ của các thành phố Nam Á có hàng ngàn căn nhà ổ chuột tồi tàn. Nhiều triệu người sống trong các khu vực này. Các chung cư đông đúc, và nhà lều đủ loại với mái che bằng vải dày, hoặc tấm thiết dựng lên quanh nó, tạo ra sự hỗn độn như là đặc trưng của Nam Á. Những khu nhà ổ chuột chen chúc nhau trong các thành phố đang lâm vào cảnh thiếu thốn đến cùng cực. 

Sự thiếu đói cũng được nhân rộng ra với nhiều người. Người vô gia cư sống lang thang trên các hè phố. Họ ngủ trên ngưỡng cửa, cạnh bờ tường, hoặc bất cứ nơi nào họ có thể đặt lưng xuống được. Tất cả các chính quyền ở Nam Á, đang cố gắng hết sức mình nhằm cải thiện đời sống cư dân ở thành phố cũng như ở nông thôn. Nỗ lực của họ là triệt tiêu các căn nhà ổ chuột bằng một kế hoạch xây dựng các căn nhà khá hơn, rồi cấp không hoặc bán với giá ưu đải cho cư dân trong khu vực. 

Họ cũng có các dự án đầy trách nhiệm là mở rộng công nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm mới. Bên cạnh đó, họ cho xây dựng nhiều trường dạy nghề đào tạo kỹ năng, kỹ thuật cho công nhân, nhằm đáp ứng nhu cầu cho dự án và phát triển xã hội. Nhưng việc cải thiện của bất cứ thành phố nào ở Nam Á, đều gặp phải những cản ngại. Bởi vì hầu hết thành phố đều có sinh suất cao, cư dân từ thôn quê kéo vào thành phố tăng thêm hàng năm, làm nảy sinh nhiều vấn đề vốn đã phức tạp. 

Riêng ở nông thôn mặc dù có xây thêm trường học, trạm y tế, đường sá, và cải tiến phương pháp canh tác nông nghiệp, nông dân vẫn còn ùn ùn đổ vào thành phố với hy vọng sẽ tìm được việc làm, và đời sống tốt hơn. Nhưng thực tế nó không đến như ý nghĩ của họ, và đa số đi đến kết luận “chẳng có gì tốt hơn trước đó”.

Sydney ngày 7 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 1.094 chữ)

 

Bài 52: CHUYỆN KỂ VỀ GIÁO DỤC VÀ 

NGHỆ THUẬT TẠI NAM Á.

Lê Xuân Đỗ

Cũng giống như khu vực Tây Nam Á, ngoại trừ Sri Lanka, hầu hết các nước Nam Á, người trên tuổi 15 biết đọc biết viết rất thấp chỉ có 27%. Nhưng cũng có sự khác nhau giửa các nước chẳng hạn Pakistan, Bangladesh là 38%, Bhutan 42%, và Ấn độ tới 52%. Trong quá khứ, phần lớn trẻ em khu vực Nam Á không bao giờ được đến trường học. Hoặc vì không có trường gần nhà, hoặc vì các em phải làm việc giúp gia đình kiếm sống. Tâm lý làm việc kiếm sống đang tồn tại khá phổ biến chung ở Nam Á.

Từ những năm 1900, các chính quyền Nam Á xây thêm nhiều trường học mới, trẻ em có cơ hội đi học nhiều hơn trước đó, và tỷ lệ mù chữ đã giảm dần. Việc gia tăng dân số cũng tạo ra nhiều việc phải làm trong ngành giáo dục. Trong quá khứ Nam Á có một nền nghệ thuật khá phong phú, và đa dạng. Bộ tộc Aryans từng sáng tạo ra nhiều loại chữ viết đầu tiên trước công nguyên. Việc sáng tạo ra chữ viết này góp phần giúp người Hindus phát triển. Các áng văn, anh hùng ca “Mahabharata”, và “Ramayana”, công trình triết học “Vedas”, và “Upanishads” đều được sáng tạo ra bởi dạng chữ viết này. 

Bộ tộc Aryans còn góp phần sáng tạo ra tiếng Phạn “Sanskrit”, dạng ngôn ngữ đầu tiên thuộc nhóm ngôn ngữ “Indo-European”. Ba tôn giáo lớn Hindus, Phật giáo, và Hồi giáo có ảnh hưởng sâu xa vào nghệ thuật Nam Á. Đền thờ Hindus với nhiều trang hoàng lộng lẫy bằng các công trình điêu khắc, nét vẽ các vị thần phản ảnh nghệ thuật độc đáo của Nam Á. Các công trình nghệ thuật của Phật giáo gồm các phù điêu, tượng Phật, người tạo ra niềm tin Phật giáo. 

Công trình kiến trúc là đóng góp chính của nghệ thuật Hồi giáo. Các đền thờ Hồi giáo, lăng mộ khổng lồ, tranh vẽ trên công trình kiến trúc thể hiện tính nghệ thuật cao. Và một trong các công trình ấy là lăng mộ khổng lồ “Taj-Mahal” được xếp vào một trong những công trình đẹp nhất thế giới. Nghệ thuật đáng quan tâm khác ở Nam Á là thể điệu ca múa, và âm nhạc cùng với các truyện kể linh hoạt trong các vở kịch đầy ấn tượng. Âm điệu ca nhạc Nam Á từng hấp dẫn nhiều người phương Tây, vì nó sử dụng một hệ thống thang bậc khác hẳn với phương Tây. 

Người Nam Á cũng chơi nhiều nhạc cụ dây độc đáo như đàn Lute, Sitar, và đàn Vina cùng với sáo trúc, và các loại trống. Thời kỳ chiếm Nam Á làm thuộc địa, người Anh đã mang vào đây các loại hình nghệ thuật phương Tây như tiểu thuyết hư cấu, kiểu dáng kiến trúc hiện đại. Nhiều người Nam Á lo sợ rằng nghệ thuật cổ truyền của họ sẽ đi vào quên lãng. Trong những năm 1900, họ kêu gọi các nhà sáng tạo nghệ thuật Nam Á nên trở về với nghệ thuật truyền thống. 

Ngày nay, nghệ thuật Nam Á chỉ ra cho người ta thấy rằng nó đang kết hợp cả hai nền nghệ thuật Nam Á cổ truyền, và nghệ thuật hiện đại phương Tây. Giữa những năm 1900, nghệ thuật và triết học Nam Á ảnh hưởng vào phương Tây, hấp dẫn được nhiều người. Nhạc cụ Sitar, các hình thức luyện tập Yoga, và cả các nhà truyền giáo vào giảng niềm tin Hindus gọi là Gurus được một số lớn người yêu thích. 

Sự cuốn hút của văn hóa Nam Á đang lan rộng trong những người trẻ ở phương Tây.

Sydney ngày 8 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 667 chữ)

 

Bài 53: CHUYỆN KỂ VỀ VÀI NÉT 

ĐẶC TRƯNG TẠI ĐÔNG NAM Á.

Lê Xuân Đỗ

Khu vực Đông Nam Á chiếm 4.494.495 km2, hoặc 9% lục địa và 637.709.000 cư dân. Đông Nam Á gồm một bán đảo phía Đông Ấn Độ và Nam Trung Quốc, và hàng ngàn đảo phía Đông, phía Nam bán đảo nầy. 11 quốc gia độc lập tạo thành Đông Nam Á. Năm nước trên bán đảo là Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia, và Việt Nam. Malaysia nằm một phần trên bán đảo, và một phần trên đảo Borneo. Brunei cũng nằm trên đảo Borneo. Indonesia, và Philippines mỗi quốc gia có hàng ngàn đảo.

East Timor chiếm một nữa phía Đông đảo Timor, nữa phía Tây thuộc lãnh thổ Indonesia. Và Singapore được lập ra trên hơn 50 đảo nhỏ. Các nhà địa lý cho rằng phía Đông Indonesia là một phần của Châu Đại Dương hơn là Châu Á. Đông Nam Á có nhiều tài nguyên thiên nhiên. Rừng phủ nhiều khu vực, trữ lượng dầu mỏ có giá trị nằm dưới lòng đất, và nhiều cá ở vùng bờ biển. Đất đai có nhiều màu mỡ nhờ lượng mưa hàng năm, và sông ngòi có nhiều nước. 

Bắt đầu từ những năm 1500, một số nước Châu Âu đã xâm lược Đông Nam Á. Đến cuối những năm 1800, Thái Lan là quốc gia duy nhất còn giữ được độc lập. Cho đến cuối thập niên 1940 mới có Philippines, Miến Điện, Lào, và Indonesia; thập niên 1950 thì có Việt Nam, Cambodia, thập niên 1960 có Malaysia, Singapore, và thập niên 1980 có Brunei mới được độc lập. Năm 2002, thì có Đông Timor. Cũng từ sau đệ II thế chiến, những người Cộng sản bám chặt vào Đông Nam Á. 

Cộng sản tăng nhanh các hoạt động ở Miến Điện, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Việt Nam, Lào, và Campuchia. Nhưng họ đã không thành công trong mục tiêu nắm chính quyền, ngoại trừ Việt Nam. Những người Cộng sản Việt Nam nắm chính quyền tại Bắc Việt Nam 1954. Và, sau 21 năm chiến đấu cam go năm 1975, họ đã chiếm được Nam Việt Nam. Họ cũng giúp Cộng sản Campuchia, và Lào chiếm quyền bính. Năm 1976, Bắc và Nam Việt nam thống nhất dưới một chính quyền Cộng sản gọi là “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Có trên 637triệu người, hoặc 14% dân số Châu Á sống tại Đông Nam Á. Hầu hết tổ tiên đến từ Trung Á, phía Bắc Trung Quốc thời tiền sử, và thời Cổ đại. Buổi đầu họ sống lang thang từ nơi này đến nơi khác theo kiểu “du canh du cư”. Ngày nay, con cháu họ vẫn còn sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh ấy. Họ hơi đen một chút so với người ở vùng đồng bằng. Trải qua năm tháng, hàng ngàn người từ Trung Quốc, và Ấn Độ cũng đến định cư ở Đông Nam Á. Những người này thường hoạt động trong lãnh vực kinh doanh, và thương mại. 

Trong quá khứ từng xảy ra các trận đánh giữa các quốc gia hoặc các phe nhóm chính trị để tranh quyền cai trị là nguyên nhân chia rẽ giữa các nước, và trong nội tình mỗi quốc gia. Tình hình nầy được cải thiện từ thập niên 1980, khi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN thâu nhận thêm Brunei, và Việt nam. Và trong thập niên 1990, Hiệp hội thâu nhận 3 quốc gia còn lại ở Đông Nam Á là Campuchia, Lào, và Miến Điện. Ngày nay, Hiệp hội Đông Nam Á là diễn đàn (ngoại trừ Đông Timor) chính thức của 10 quốc gia Đông Nam Á. 

Phật giáo là tôn giáo chính trong các quốc gia trên bán đảo như Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, và Việt Nam. Phật giáo thuyết giảng rằng, người ta có thể tìm thấy an bình bằng cách đạt tới sự giải thoát các ham muốn của họ. Rằng, một người theo đạo Phật có thể có ít, hay không muốn đạt tới sự giàu có. Có lẽ do niềm tin này mà nhiều người Đông Nam Á, hình như dể tiếp cận với văn hóa, và người phương Tây hơn. Đạo Hồi bắt đầu từ Ã Rập, mở rộng bằng nhiều cách tới được Đông Nam Á. 

Nó là tôn giáo chính ở Indonesia, Malaysia, và Brunei. Thiên chúa giáo được Tây Ban Nha mang vào và trở thành tôn giáo chính của Philippines từ những năm 1500. Nhiều người Đông Nam Á, nhất là ở vùng thôn quê thường pha trộn niềm tin tôn giáo với “vật tổ”. Họ cảm nhận rằng mọi thứ trong tự nhiên đều có linh hồn, và linh hồn tốt hay xấu đều có căn nguyên từ “phúc đức”. Phần lớn người nông thôn dâng lễ vật cúng với hy vọng các thần linh sẽ mang nhiều cơ may tốt cho họ, hoặc sẽ không làm hại họ. 

Một số trong bọn họ xây lập các am miếu nhỏ, bỏ thức ăn, hương đèn, vàng mã, và các đồ vật khác dâng cúng thần linh vào các vụ mùa.

Sydney ngày 9 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 894 chữ)

 

Bài 54: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG Ở NÔNG THÔN VÀ THÀNH THỊ TẠI ĐÔNG NAM Á.

Lê Xuân Đỗ

Đời sống ở nông thôn. Đa số cư dân Đông Nam Á sống trong các làng nhỏ, và làm việc trên các cánh đồng gần nhà. Nông dân Đông Nam Á sử dụng phương pháp canh tác cổ truyền. Họ gieo trồng, và thu hoạch bằng lưỡi liềm, và các dụng cụ bằng tay khác. Máy móc cho nông nghiệp như máy cày, máy kéo không nhiều. Nhiều nông dân dùng trâu bò kéo cày, bừa trên các thửa ruộng nhỏ của họ. Lúa gạo là hạt ngũ cốc chính dùng làm thức ăn khắp các nước Đông Nam Á. 

Một làng ở nông thôn có trên dưới năm mươi nhà, có làng lên tới trăm nhà, một số ít nhà xây tường gạch lợp ngói hoặc tấm kim loại, đa số làm bằng cây, tre, lợp mái rơm, hoặc cỏ khô. Ở vùng cao, hoặc một số nơi, họ cất nhà “trên gác cao” để tránh mối mọt, hoặc ngập nước. Khoảng trống dưới sân nhà sẽ là nơi ngủ, hoặc nhốt gia súc, gia cầm. Hầu như tất cả các làng trên bán đảo Đông Nam Á, đều có đền thờ, hoặc tượng Phật. Có sự khác nhau rất lớn về cách ăn mặc ở Đông Nam Á. 

Tại Indonesia, nông dân đội nón như các nước phương Tây, và mặc váy gọi là Sarons có màu sắc rực rỡ. Tại các quốc gia khác mặc pha trộn một phần theo cổ truyền, và một phần khác theo kiểu phương Tây. Một số nhất là tại các hải đảo, công nhân làm việc trong các đồn điền do chính phủ, hoặc những người giàu có làm chủ. Đồn điền sản xuất một số lượng lớn cà phê, copra, trái cây, rau quả, dầu cọ, cao su, mía đường, trà, và thuốc lá. Hầu hết các sản phẩm này được xuất khẩu. Nhìn chung, nông dân trên bán đảo có đời sống tốt hơn ở các hải đảo.  

Phần nhiều nông dân ở đất liền làm chủ một mảnh đất nhỏ. Đất đai có độ phì nhiêu cao, và do vậy các vụ mùa đều tốt. Người nông dân có thể gia tăng sản lượng chẳng những đủ thực phẩm cho gia đình mà còn dư thừa để bán. Đất làm nông nghiệp tốt trên các hải đảo rất hiếm. Hơn nữa phần lớn nông dân tại đó, cày cấy trên những mảnh đất do người khác làm chủ. Đại thể đời sống ở nông thôn Đông Nam Á vẫn duy trì tập tục cổ truyền, theo kiểu gia đình mở rộng. Nhưng so với Tây Nam Á, và Nam Á thì Đông Nam Á quan hệ già - trẻ ít rập khuôn, khắt khe hơn.

Đời sống ở thành thị. Tất cả các quốc gia Đông Nam Á, ít nhất mỗi quốc gia đều có một thành phố lớn. Dĩ nhiên, một số quốc gia có nhiều thành phố lớn hơn, Jakarta của Indonesia là thành phố lớn nhất trong khu vực. Thành phố lớn chủ yếu ở Đông Nam Á được xem như là trung tâm của chính quyền, và cũng là "gạch nối" giữa các vùng quê, và các phần còn lại của thế giới. 

Sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản, hầm mỏ, và các hàng hóa khác từ thôn quê đưa lên thành phố, rồi xuống tàu bán ra nước ngoài. Hàng hóa từ các quốc gia khác, ngược lại, chuyển vào các thành phố trước khi được bán về nông thôn. Chỉ có một ít thành phố như Singapore chẳng hạn, mới có khả năng sản xuất hàng hóa với một số lượng lớn. Người nước ngoài từng có vai trò quan trọng trong các thành phố Đông Nam Á. Hàng trăm năm, người Trung Quốc, và Ấn Độ nắm ngành bán lẻ trong các thành phố. 

Ngày nay, trong vài nước họ vẫn còn ở vi trí hàng đầu của ngành này. Người Châu Âu cai trị thuộc địa lập ra các chính quyền thành phố, và cũng tham gia hoạt động kinh doanh. Họ xây dựng thành phố hiện đại theo kiểu Châu Âu. Sau khi thu hồi độc lập, các quốc gia Đông Nam Á tiếp tục tiến trình hiện đại hóa. Nhiều thành phố có khách sạn sang trọng, khu nhà cao tầng, và nhiều công thự văn phòng. Rạp chiếu bóng, và các hình thức tiện ích hiện đại khác đang ngày càng gia tăng. 

Nhưng cũng giống như nơi khác, các thành phố ở đây bao gồm cả khu nhà ổ chuột, và nhiều sự xuống cấp, tiêu cực xã hội khác.

Sydney ngày 10 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 808 chữ)

 

Bài 55: CHUYỆN KỂ VỀ GIÁO DỤC VÀ 

NGHỆ THUẬT TẠI ĐÔNG NAM Á.

Lê Xuân Đỗ

Nhìn chung, khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ người lớn biết đọc biết viết cao. Nhưng có sự khác nhau rất lớn từ quốc gia này đến quốc gia khác. Hơn một nửa người trên 15 tuổi ở Campuchia, và Lào không biết đọc, biết viết. Ngay sau khi thâu hồi độc lập, chính quyền trong mỗi quốc gia xây dựng nhiều trường học mới. Họ cũng đề ra các chương trình khác nhằm gia tăng người biết đọc biết viết. Indonesia chẳng hạn, tỷ lệ người biết đọc biết viết dưới 10% trong năm 1945 thì nay tăng người biết đọc biết viết lên tới 80%.

Hiện số người mù chữ Lào, Campuchia vẫn ở mức trên dưới 40%, Miến Điện, Indonesia, Malaysia, Brunei dưới 20%, Singapore, Philippines, Việt Nam, Thái Lan dưới 10%. Nhưng ở cấp Cao đẳng, và Đại học thì Phillipines, và Thái Lan người trong độ tuổi có đăng ký đi học trên 20%, Indonesia, Việt Nam 11%, Lào trên dưới 5%. Nghệ thuật Đông Nam Á chịu ảnh hưởng cách thể hiện nghệ thuật Trung Quốc, Ấn Độ. Phần lớn là nghệ thuật cung đình, gồm nhiều cung điện, đền đài, lăng tẩm, thành quách, tượng Phật, và các hình tượng liên quan đến Phật giáo. 

Sự cai trị của phương Tây đã đưa vào đây các dạng kiến trúc, cùng với "chữ viết". Cư dân trên các đảo ở Indonesia, Malaysia thuần có nghệ thuật Đông Nam Á. Chẳng hạn, tại đảo Bali, và Java của Indonesia đạt tới trình độ cao về về nhạc kịch và nhảy múa. Mỗi động tác nhảy múa của họ giúp ta hiểu được chuyện kể. Một số công trình kiến trúc nổi tiếng xếp vào loại kỳ quan của thế giới. 

Chẳng hạn đền Angkor Wat ở Siem Reap, phía tây bắc Campuchia, khu đền bao trùm hơn 2,6 km2được xây dựng từ những năm 1100.

Sydney ngày 11 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 351 chữ)

 

Bài 56: CHUYỆN KỂ VỀ VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG TẠI ĐÔNG Á.

Lê Xuân Đỗ

Khu vực Đông Á chiếm khoảng 10.231.114 km2, hoặc 15% diện tích của lục địa, và 1.571.044.000 cư dân. Tibet, Qinghai, và Xinjian, ba vùng phía Tây của Trung Quốc tuy thuộc lãnh thổ của Trung Quốc nhưng nằm ở khu vực Trung Á. Trung Quốc chiếm hơn 90% diện tích Đông Á, và 85% dân số trong khu vực. Bốn quốc gia còn lại là Bắc Triều Tiên, Nam Triều Tiên, Nhật Bản, và Đài Loan. Có trên 1.571 triệungười sống ở khu vực Đông Á, hoặc trên 40% dân số lục địa, và một hơn phần tư dân số thế giới. 

Mật độ cư dân 223 người/km2, cao gần sáu lần hơn mức độ cư dân bình quân của thế giới. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, Trung Quốc từng cai trị nhiều phần đất của Đông Á. Họ mở rộng, và khuynh đảo cả những nơi họ không trực tiếp cai trị. Nghệ thuật, niềm tin, và triết lý Trung Quốc được tiếp nhận, và chi phối khắp khu vực. Hệ thống triết lý đạo đức Khổng Tử là đóng góp to lớn, và quan trọng nhất trong đời sống hàng ngày ở Đông Á. Nó chỉ cho người ta thấy các nghĩa vụ, và phương cách trị quốc. 

Các mối quan hệ công dân với công dân, nhà vua với cận thần, cha mẹ với con cái, và các quan hệ thầy trò, bạn bè. Khổng Tử còn quan tâm sâu sắc về “phẩm hạnh” và sự “vâng lời" đối với người có thẩm quyền. Tất cả điều nầy hiện vẫn còn tồn tại như đặc tính cơ bản trong xã hội Đông Á. Thế nhưng, ngày nay khu vực này đã và đang thay đổi khá nhanh theo đường lối kinh tế - chính trị hiện đại. Trung Quốc, và Nhật Bản là 2 quốc gia lớn nhất Đông Á lại có hai hệ thống kinh tế - chính trị hoàn toàn khác nhau. 

Chính quyền Cộng sản cai trị từ Trung Quốc, và người dân nước này có rất ít tự do về chính trị. Còn ở Nhật Bản, chính quyền Quân chủ lập hiến hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, nên người dân có nhiều tự do hơn. Kinh tế Trung Quốc là kinh tế chỉ huy, nên phát triển rất chậm. Trong khi Nhật Bản là quốc gia có nền công nghiệp hiện đại vượt xa bất cứ quốc gia nào ở Châu Á. Người dân Nhật có tiêu chuẩn sống cao nhất thế giới, còn tại Trung Quốc đại đa số cư dân sống trong tình trạng trên mức nghèo đói một chút. 

Sự khác nhau chính trị làm phân ranh giữa Trung Quốc với Đài Loan, Bắc Triều Tiên với Nam Triều Tiên. Năm 1949, Cộng sản Trung quốc đánh bại chính quyền Quốc Dân Đảng, chính quyền nầy phải di dời ra đảo Đài Loan. Trước Thế chiến II, Triều Tiên là một thuộc địa của Nhật Bản, với tư cách là nước thắng trận, quân Liên Xô và Hoa Kỳ đưa quân vào Triều Tiên giải giới Nhật Bản. Liên Xô hậu thuẩn những người Cộng sản Triều Tiên thành lập chính quyền Cộng sản ở phía Bắc. Hoa Kỳ hậu thuẩn những người không Cộng sản thành lập chính quyền ở phía Nam. 

Năm 1950, với dự hổ trợ của Trung Quốc và Liên Xô, Bắc Triều Tiên xua quân đánh chiếm Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ và Đồng minh Phương Tây đưa quân vào cứu viện, và chiến tranh Triều Tiên kết thúc năm 1953. Cả hai chính quyền Nam và Bắc vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Đặc trưng của hầu hết người Đông Á là da vàng hơi sậm nâu, tóc đen khô, có nếp nhăn xếp thành lằn ở đuôi mắt. Người Trung Quốc có nền văn minh khá sớm, ngoại trừ các vùng xa về phía Bắc, và phía Tây thuộc khu vực Trung Á, ngày nay con cháu họ chiếm đa số trong nội địa Trung Quốc, và ở Đài Loan. 

Người Triều Tiên thuộc tộc người Cổ từng chịu sự cai trị của Trung Quốc. Một tộc người khác gọi là "Ainu" từng là cư dân đầu tiên trên các đảo, nay thuộc quốc gia Nhật Bản, nhưng hầu như tất cả người Nhật hiện tại là con cháu của người Châu Á. Họ đến định cư ở Nhật cách đây khoảng 2000 năm. Về tôn giáo, chính quyền Cộng sản Trung Quốc ra sức xoá bỏ niềm tin tôn giáo, nhưng nhiều người vẫn còn thực hiện các nghi thức theo niềm tin cổ truyền của họ, đó là niềm tin tổng hợp gồm Phật giáo, Khổng giáo, và Lão giáo. Nó cũng là niềm tin chính ở Đài Loan. Người Triều Tiên thờ Phật giáo, nhưng cũng còn ảnh hưởng ít nhiều bởi Khổng giáo. 

Đạo Phật, và đạo Thiên chúa chiếm vị trí quan trọng ở Nam Triều Tiên, nhưng chính quyền Cộng sản Bắc Triều Tiên cũng giống như Trung Quốc ngăn cấm tôn giáo. Đạo Phật, và đạo Shinto là niềm tin chính của người Nhật. Ảnh hưởng của Khổng giáo ở Nhật Bản vẫn còn khá sâu đậm như bất cứ quốc gia nào ở Đông Á.

Sydney ngày 12 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 914 chữ)

 

Bài 57: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG 

Ở TRUNG QUỐC.

Lê Xuân Đỗ

Trung Quốc có nhiều thành phố lớn: 11 thành phố trên từ 7 triệu đến gần 23 triệu, và 35 thành phố có 1 triệu đến 7 triệu cư dân. Ngay cả như thế, Trung Quốc vẫn là một quốc gia nông nghiệp. Có tới 3/4 cư dân Trung Quốc sống ở nông thôn, và làm việc trên đồng ruộng. Hầu hết gia đình nông dân sống trong căn nhà từ 2 đến 3 phòng. Nhà thường làm bằng đất bùn, hoặc đất sét phơi khô với mái lợp bằng rơm, cỏ khô, hoặc tấm thiết. Người ở thành phố thì ngoại trừ các quan chức Cộng sản, sống trong các căn nhà lớn với những tiện nghi hiện đại.

Một số lớn sống trong các tòa nhà tập thể lớn, chung cư, hoặc nhà nhỏ cạnh nơi làm việc. Số người còn lại sống trong các căn nhà cũ kỹ từ thời thơ ấu, mới sửa sang lại trong những năm gần đây. Người Trung Quốc ăn rau quả, và nhiều thức ăn làm từ gạo, bột mỳ, và các loại hạt ngũ cốc khác. Chỉ có 4% người Trung Quốc theo đảng Cộng sản, nhưng đảng này kiểm soát toàn bộ quốc gia, và họ có quyền ra lệnh thay đổi toàn bộ đời sống của người Trung Quốc. 

Chẳng hạn, các loại hình sở hữu tài sản, và đời sống gia đình được thay đổi theo hướng đầy kịch tính dưới chế độ Cộng sản. Mục đích chính của họ là xóa bỏ giai cấp xã hội, và hiện đại hóa nền kinh tế công hữu Trung Quốc. Sau khi Cộng sản nắm quyền lực trong nội địa Trung Quốc năm 1949, họ tịch thu các nhà máy, và mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Họ thay đổi hoàn toàn hình thức sở hữu đất đai. Suốt những năm 1950, chính quyền Cộng sản tước đoạt toàn bộ đất đai, và tiến hành cái họ gọi là "tập thể hóa nông nghiệp". 

Họ tổ chức nông dân thành từng “nhóm, đội" trực thuộc hợp tác xã. Và hợp tác xã làm chủ tập thể đất nông nghiệp và điều hành bởi một ban quản lý. Từ thập niên 1980, Trung Quốc cải tổ hợp tác xã, bằng cách chuyển đất làm chủ tập thể của hợp tác xã sang cho hộ gia đình nông dân sản xuất, và phải trả một phần sản phẩm cho hợp tác xã như thuê đất canh tác. Chính quyền còn cho phép tư nhân thành lập các doanh nghiệp nhỏ như cửa hàng tạp hóa, cửa hàng ăn uống, sản xuất, và sửa chữa đồ gia dụng. 

Nhưng chính quyền vẫn làm chủ hầu hết các doanh nghiệp lớn, và ngành nghề quan trọng khác. Từ khi Cộng sản nắm quyền, gia đình “mở rộng" kiểu truyền thống trong đó người đàn ông lớn tuổi nhất có toàn quyền, người chồng có quyền điều khiển người vợ, cha mẹ kiểm soát con cái bị thu hẹp dần. Ngày nay, hầu hết các gia đình chỉ gồm có cha mẹ và con cái. Một vài trường hợp còn bao gồm cả ông bà, nhưng ông bà không còn quyền lực như xưa. Quan hệ gia đình nay ít nghiêm khắc hơn. 

Người chồng và người vợ trong các cách giải quyết vấn đề của gia đình bình đẳng hơn. Cha mẹ không còn trông mong vào sự vâng lời, tuân lệnh của con cái nhất là khi con cái đã trưởng thành. Học thuyết Khổng Tử đánh giá cao người “có học vấn”. Trước thập niên 1950, những người có học phần lớn phục vụ trong chính quyền, phẩm hàm của bản thân và gia đình họ đều được xã hội tôn trọng. Để trở thành một người "có học vấn", họ phải học triết lý Khổng Tử, và phải được "chấm đậu" trong các kỳ thi tuyển về cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề hết sức khó khăn. 

Các nhà chuyên môn như kỹ sư, bác sĩ, luật sư, giáo viên cũng ở vị trí cao trong xã hội. Ngày nay dù ở cương vị thống trị toàn xã hội, Cộng sản giáo dục cho mọi người nguyên tắc "bình đẳng xã hội". Theo họ, nguyên tắc này nhắm vào tất cả mọi người, không phân biệt nghề nghiệp, chức vụ. Trong một thời gian dài “nhiều thập niên”, Trung Quốc chỉ là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Trung Quốc có nhiều đất đai phì nhiêu, sản lượng nông nghiệp của Trung Quốc đứng đầu thế giới. 

Nhưng Trung Quốc lại quá đông người, nên họ phải vật lộn ngay cả việc sản xuất lương thực đủ cho nhu cầu của mọi người đã là một nỗ lực lớn đối với họ. Những người Cộng sản hy vọng rằng, họ sẽ xóa bỏ được nạn nghèo đói ở Trung Quốc bằng cách hiện đại hóa nông nghiệp, và công nghiệp của họ. Thế nhưng, do tổ chức, quản lý yếu kém, kỷ thuật chưa cao, công nhân và kỹ thuật viên tay nghế còn thấp, nên nền công nghiệp không phát triển như mong muốn. 

Ngoại trừ các thành phố và những nơi công nghiệp phát triển, hầu hết nông dân ở Trung Quốc vẫn còn sử dụng công cụ thô sơ, và phương pháp canh tác lạc hậu nên năng xuất không cao.

Sydney ngày 13 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 934 chữ)

 

Bài 58: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG Ở NHẬT BẢN, 

TRIỀU TIÊN VÀ ĐÀI LOAN.

Lê Xuân Đỗ

Tại Nhật Bản. Có một sự khác biệt rất xa giữa Nhật Bản, và các quốc gia còn lại ở Châu Á. Nhật Bản là một quốc gia hiện đại theo cảm nhận của nhiều người. Hơn 75% cư dân Nhật Bản sống ở thành phố. Các thành phố lớn của Nhật Bản đều bận rộn với nhiều trung tâm thương mại, và công nghiệp hiện đại. Thành phố Tokyo thủ đô của Nhật Bản là thành phố lớn nhất, cũng là thành phố đông dân cư nhất của khu vực Tokyo-Yokohama. 

Sản xuất hàng hóa ngay bên trong, hoặc gần thành phố Nhật Bản, đã làm cho quốc gia này trở thành một quốc gia công nghiệp khổng lồ. Nhờ sản xuất nhiều, và tốt, nó đã mang lại cho kinh tế vào Nhật Bản vượt trội so với nhiều quốc gia tiên tiến khác. Nông thôn Nhật Bản cũng biểu hiện một cuộc sống tân tiến. Đa số nông dân nếu không muốn nói là tất cả, đều làm chủ đất canh tác. Họ sử dụng phân hóa học, máy móc, và phương pháp canh tác thường tốt hơn bất cứ nơi nào khác ở Châu Á. 

Phương pháp làm nông nghiệp hiện đại, cho phép họ có nhiều thì giờ rỗi rảnh. Do vậy, có nhiều nông dân làm việc bán thời gian trong các thành phố, hoặc thị trấn gần đó sau vụ mùa thu hoạch. Con người Nhật Bản cũng có kỹ năng cao hơn bất cứ người của quốc gia nào khác của Châu Á. Họ cũng tiếp nhận dễ dàng lối sống của phương Tây. Chẳng hạn, hầu hết người Nhật Bản ăn mặc theo kiểu phương Tây. Chỉ có một số ít, phần nhiều là người già Nhật Bản ăn mặc "kimono” truyền thống tại nhà, và trong các dịp lễ đặc biệt. 

Người Nhật vẫn giữ nhiều truyền thống cổ, trong đó có cả việc cảm nhận sâu sắc, và tôn quý "cái đẹp". Đạo Shinto, tôn giáo chính của Nhật Bản dạy cho người ta yêu cái đẹp của tự nhiên. "Zen", một hệ phái của Phật giáo cũng được thực hiện ở Nhật Bản. Sự nổi tiếng của môn phái này nhờ chỗ nó nhấn mạnh, và đề cao "cái đẹp", ngay cả trong sự vật giản đơn. Cách đây khá lâu, tăng lữ trong các "tu viện Zen" đã từ các sinh hoạt trong đời sống hàng ngày mà sáng tạo ra dạng nghệ thuật như "tắm rửa, cắm hoa, làm vườn, và uống trà". 

Các dạng nghệ thuật này cùng với các loại nghệ thuật cổ truyền khác đã trở thành một phần của đời sống ở con người Nhật Bản ngày nay. Một số rất lớn người Nhật sống trong các căn nhà gỗ Nhật Bản đơn giản có vườn, và tường cao bao quanh. Màu sắc, chất lượng và hình thức mỗi món ăn của người Nhật được họ quan tâm. Gạo là thực phẩm chính. Kiểu gia đình mở rộng gần như không thường có ở Nhật Bản trong những năm 1900. Nhưng người Nhật vẫn có mối ràng buộc mạnh mẽ, và kính trọng sâu sắc đối với quyền lực. 

Các cá nhân như sẵn sàng tuân lệnh bất cứ người nào có vai vế bên trên họ gồm cha mẹ, anh chị lớn, và nhân viên chính quyền. Đồng thời mỗi người trong vai trò thẩm quyền phải hành động ân cần, lịch sự đối với người khác. Nguyên tắc này đến từ niềm tin truyền thống, rằng một người không bao giờ làm điều gì gây khó khăn, phiền toái cho người khác. Họ sẵn sàng chia xẻ niềm tin, và điều tốt lành với người khác. Kinh tế Nhật Bản canh tân, và phát triển bắt đầu giữa những năm 1800, thời điểm mà các nước phương Tây xâm chiếm nhiều phần Tây Nam Á, toàn bộ Nam Á, và Đông Nam Á. 

Các nhà cai trị Nhật Bản ra sức giữ vững sự tự chủ, không để bên ngoài chi phối quốc gia. Lối sống của người Nhật Bản đã là ấn tượng sâu sắc từ cơ bản trong quá khứ. Thập niên 1850, Nhật Bản bắt đầu giao thương với Hoa Kỳ, chấm dứt sự cô lập với người bên ngoài. Nhật Bản tiếp nhận phương cách điều hành kinh tế của phương Tây, và tự nó, nó tạo ra được thế mạnh cho chính mình. Nhưng quá trình này bị đẩy ngược trở lại, khi Nhật Bản tham gia Chiến tranh Thế giới II, và bị thua trận năm 1945. 

Tuy nhiên, với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, Nhật Bản tái xây dựng, và phát triển kinh tế với tốc độ nhanh làm kinh ngạc mọi người trên khắp thế giới.Tại Bắc Triều Tiên. Có khoảng một phần ba người Bắc Triều Tiên sống ở thôn quê, và làm việc trong các hợp tác xã được quản lý bởi chính quyền. Bắc Hàn cũng có nhiều nhà máy công nghiệp. Cũng như ở Trung Quốc, hầu hết công nhân công nghiệp sống trong các khu chung cư ở thành phố, và làm việc trong các nhà máy do nhà nước làm chủ, và điều hành bởi chính quyền. 

Tại Nam Triều Tiên, và Đài Loan. Thế nhưng, Nam Triều Tiên, và Đài Loan nguyên là hai quốc gia nông nghiệp, và hiện nông nghiệp vẫn còn có vai trò quan trọng ở hai nước này. Nhưng từ thập niên 1950 Nam Triều tiên, và Đài Loan đã phát triển thành các quốc gia công nghiệp. Kinh tế của hai nước này phát triển nhanh, và tiêu chuẩn sống của người dân cũng tăng cao lên nhiều lần so với Bắc Triều Tiên và Trung Quốc.

Sydney ngày 14 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 1.000 chữ)

 

Bài 59: CHUYỆN KỂ VỀ GIÁO DỤC VÀ 

NGHỆ THUẬT TẠI ĐÔNG Á.

Lê Xuân Đỗ

Có sự khác biệt khá lớn về giáo dục tại Đông Á. Hầu hết người Nhật Bản, Nam, và Bắc Triều Tiên trên 15 tuổi đều biết đọc, biết viết. Đa số trẻ em Nhật Bản, Nam Triều Tiên đã hoàn tất chương trình giáo dục cơ bản, và trung học. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cao đẳng, và đại học ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên khá cao, trên dưới 50%. Còn tại Trung Quốc cho đến thập niên 1940, chỉ có một số ít người biết đọc, biết viết. Khi Cộng sản nắm chính quyền trong nội địa, họ mở rộng giáo dục cơ bản. 

Đến nay khoảng ba phần tư người Trung Quốc trên 15 tuổi biết đọc biết viết. Nhưng hiện Trung Quốc đang còn thiếu trường ốc nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốc đã đề ra phương cách học bán thời, và đào tạo từ xa. Họ cũng kêu gọi nhiều người Trung Quốc được học hành, dạy kèm cho các người chưa, hoặc không được đi học. Có một số trẻ em dạy cho cha mẹ, và ông bà cách đọc, cách viết. Ở Đài Loan, tỷ lệ người biết đọc biết viết cao hơn Trung Quốc. 

Cả học sinh tốt nghiệp trung học, cao đẳng, và đại học cũng cao hơn nhiều so với Trung Quốc, nhưng không bằng Nhật Bản, và Nam Triều Tiên. Nghệ thuật Đông Á rất đa dạng, và phát triển khá sớm. Người Trung Quốc sáng tạo ra nhiều công trình nghệ thuật, trước khi sáng tạo ra chữ viết. Xuyên suốt các thời kỳ, nghệ nhân Trung Quốc trở thành bậc thầy nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau gồm kiến trúc, đồ sứ, chạm trổ, họa hình trang trí, và điêu khắc. 

Các nghệ nhân Trung Quốc cũng vẽ chân dung, hoặc miêu tả người, cây cỏ thiên nhiên với nhiều màu sắc, và nét đẹp độc đáo. Nghệ nhân Nhật Bản, Triều Tiên thường kết hợp các loại hình nghệ thuật Trung Quốc cùng với nét đặc trưng của nghệ thuật riêng họ. Ngày nay, nghệ nhân Trung Quốc còn phản ánh những gì họ "cảm nhận" được từ thế giới bên ngoài, hoặc chính ngay bên trong bản thân họ. Nhưng chính quyền Trung Quốc ngăn cấm nghệ thuật phê bình, chỉ trích Cộng sản. 

Nghệ nhân Nhật Bản thì tiếp tục loại hình nghệ thuật cổ truyền phong phú của mình, nhưng cũng tiếp thu các loại hình nghệ thuật phương Tây. Chẳng hạn người Nhật ưa thích các hình thức kịch của phương Tây trên truyền hình, và điện ảnh. Những người làm phim Nhật Bản sản xuất được hàng trăm cuộn phim hàng năm, trong đó có nhiều phim truyện chiếm giải thưởng của thế giới.

Sydney ngày 15 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 498 chữ)

 

Bài 60: CHUYỆN KỂ VỀ VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG 

TẠI BẮC Á.

Lê Xuân Đỗ

Khu vực Bắc Á chiếm khoảng 12.900.000 km2, hoặc 30% diện tích lục địa. Nó là khu vực lớn nhất trong 6 khu vực của Châu Á, mở rộng từ núi Ural đến biển Thái Bình Dương. Bắc Á bao gồm toàn bộ Siberia, và chiếm tới 75% diện tích Liên bang Nga. Phần còn lại của nước Nga nằm phía Tây núi Ural thuộc lục địa Châu Âu. Tuy Bắc Á chiếm nhiều đất hơn các khu vực khác, nhưng lại có dân số ít nhất. Trên dưới 40 triệu cư dân sống trong khu vực, hoặc chưa tới 1% dân số lục địa. 

Mật độ dân cư 3 người/km2. Thời tiết khắc nghiệt đẩy Bắc Á tụt hậu cả phát triển kinh tế lẫn tăng dân số. Khu vực Bắc Á có nhiều trữ lượng tài nguyên thiên nhiên lớn gồm vô số hầm mỏ, và dầu khí. Rừng nguyên sơ, và các đồng cỏ chạy dài tới Tây nam là nơi thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, nông nghiệp. Giá lạnh, và băng tuyết bao phủ toàn vùng tới 6 tháng trong năm. Nhiệt độ có khi lên tới 60 độ âm. Nước đông đá trên các bờ biển, sông ngòi, và ao hồ quá lâu trong năm.

Bởi vì sự cách ly của Bắc Á, các chính quyền Nga, và Liên bang Xô viết trước đây đều dùng nó như một nơi giam giữ, và lưu đày tù nhân. Liên bang Xô viết thành lập năm 1922, tồn tại cho đến năm 1991. Cuối năm 1991, các Cộng hòa trong Liên bang tự tuyên bố độc lập, Trong số 15 thành viên Cộng hòa của Liên bang, có Liên bang Nga. Thời Liên bang Xô viết còn tồn tại, họ đã đưa hàng triệu tội phạm, và tù nhân chính trị tới vùng cách ly Siberia này như để đày ải. 

Nhiều tù nhân bị cưỡng bức lao động, làm đường sá, khai thác hầm mỏ, xây dựng hầm mỏ, và công việc nặng nhọc khác. Việc sử dụng lao động cưỡng bức xây dựng vùng Siberia này chấm dứt sau khi Stalin, nhà độc tài Xô viết chết năm 1953. Từ đó, chính quyền bắt đầu quan tâm đến công nhân ở Bắc Á, bằng cách đề nghị trả lương cao, và thời gian nghỉ có lương hàng năm dài hơn. Tuy vậy, nhiều công nhân cũng chỉ ở lại đây được một ít năm, rồi rời khỏi vùng nơi đèo heo hút gió, điều kiện sống cực kỳ khó khăn hơn bất cứ nơi nào khác.

Trong một thời gian dài, ngay cả hiện tại, nhiều người rời khỏi Siberia hơn là di chuyển tới đó.

Sydney ngày 16 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 479 chữ)

 

Bài 61: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG, GIÁO DỤC, NGHỆ THUẬT BẮC Á.

Lê Xuân Đỗ

Đa số cư dân Siberia là người Nga, tổ tiên của họ là bộ tộc Slav-Nga. Họ sống ở Đông Âu hàng ngàn năm nay. Cùng với người Nga sắc tộc Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ, Buryads, Tuvinians, và Yakuts cũng từng sống ở khu vực này từ thời ban sơ. Và giờ đây, con cháu họ vẫn còn sống ở nơi này. Phần lớn họ theo Chính thống giáo Nga, một hệ phái của Thiên chúa giáo. Trước đó hàng trăm năm, họ là tín đồ Phật giáo, và Hồi giáo. Khi còn Liên bang Xô viết, chính quyền Cộng sản ra sức triệt hạ các tôn giáo, nhưng một số vẫn còn thực hiện nghi lễ theo niềm tin của họ. 

Cuối thập niên 1980, tôn giáo được thừa nhận và bắt đầu gia tăng tín đồ. Các buổi lễ tôn giáo, cũng có nhiều người tham gia hơn. Hầu hết người Bắc Á ở Siberia làm ruộng, đánh cá, khai thác hầm mỏ, và làm việc trong các nhà máy. Đa số nhà máy nằm dọc theo đường xe lửa Trans-Siberia trong các thành phố. Cũng cuối thập niên 1980, các nhà máy, nông trường do chính quyền làm chủ không còn độc chiếm nền kinh tế vùng Bắc Á. Họ bắt đầu cho phép các nhà doanh nghiệp tư nhân thành lập, và điều hành các công ty kinh doanh của mình, trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. 

Có khoảng 70% cư dân Siberia sống ở thành thị. Phần lớn họ sống trong các chung cư nhỏ, chật chội. Còn người nông dân ở thôn quê thì sống đạm bạc, đơn giản trong các căn nhà gỗ của họ tương đối rộng rãi hơn. Thành phố Novosibirsk, là thành phố lớn nhất với khoảng 1.5 triệu cư dân. Hầu như tất cả người Bắc Á đều biết đọc, biết viết. Giáo dục miễn phí, và giáo dục cưỡng bức đến lớp 11, hay từ 6 đến 17 tuổi. Thời Liên bang Xô viết tổ chức, và điều hành nền giáo dục với nhận thức "giáo dục phải vận hành theo quy trình của phát triển xã hội". 

Họ không cho phép thành lập các trường tư thục. Sau khi Liên Xô tan rã, chính quyền Liên bang Nga cho phép lập trường tư thục do tư nhân điều hành theo chương trình giáo dục của bộ sở quan. Và các nhà giáo dục bắt đầu làm việc để xóa bỏ ký ức Cộng sản chủ nghĩa xung quanh trường học. Nhiều loại hình nghệ thuật Bắc Á cho thấy, họ chịu ảnh hưởng hai loại nghệ thuật Trung Quốc, và Hồi giáo. Một số khác chịu ảnh hưởng của Thiên chúa giáo.

Sydney ngày 17 tháng 11 năm 2022

 (Bài viết có 486 chữ)

 

Bài 62: CHUYỆN KỂ VỀ VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG TẠI TRUNG Á.

Lê Xuân Đỗ

Trung Á chiếm  5.567.567 km2, hoặc 20% lục địa, và 68.658.000 cư dân. Trung Á gồm Tibet, Qinghai, và Xinjian thuộc lãnh thổ Trung Quốc; Và, các quốc gia độc lập là Kazakstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Turkmenistan, Tajikistan, và Mongolia. Năm 1991, khi Liên bang Xô viết tan rã, 5 Cộng hòa thành viên Kazakstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Turkmenistan, Tajikistan tách ra thành lập chính quyền dân chủ. Mông Cổ thành lập chính quyền Cộng sản năm 1921, và chuyển sang chính quyền dân chủ năm 1990. 

Qinghai là một tỉnh của Trung Quốc. Tibet, và Xinjian được gọi là hai vùng tự trị của Trung Quốc. Trung Á là khu vực cao nguyên, và rừng núi. Sa mạc rộng lớn không cây cỏ. Hầu hết đất đai khô cằn không phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp. Đa số người Trung Á kiếm sống bằng nghề chăn nuôi. Hoạt động công nghiệp tập trung trong một ít thành phố. Có trên 68 triệucư dân sống ở Trung Á, hoặc 2% dân số lục địa. Mật độ cư dân ở Trung Á là 10 người/km2. 

Người Mông Cổ gọi là Mongol, dưới thời Genghis Khan nhà cai trị đầy quyền uy thống nhất được nhiều bộ tộc Mongols du mục đầu những năm 1200. Ông ta, và cháu nội ông ta là Kublai Khan đã mở rộng lãnh thổ bằng cách xâm chiếm các vùng đất xung quanh, và thống trị trong một thời gian dài. Đế quốc của ông ta gồm toàn bộ khu vực Trung Á, Đông Á (trừ Nhật bản), nhiều phần của nước Nga, và một phần của Châu Âu. Các sắc dân trong những nước như Kazakstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Turkmenistan, và Tajikistan đều có các đặc tính riêng không giống sắc dân Mông Cổ. 

Ngay cả Qinghai, Tibet, và Xinjian thuộc lãnh thổ Trung Quốc nhưng hầu hết không phải sắc dân Trung Quốc. Sắc dân Tibetans tạo thành dân số Tibet sống ở đây từ thời Cổ đại. Sắc dân Uygurs gốc Thổ Nhĩ Kỳ chiếm tới một nửa dân số ở Xinjian. Đa số người Trung Á theo Hồi giáo, các chính quyền Cộng sản kiểm soát nghiêm ngặt. Ngày nay đạo Hồi là tôn giáo chính ở Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Turkmenistan, và Tajikistan. Nó cũng là tôn giáo chính ở khu vực tự trị Xinjian thuộc Trung Quốc. 

Một môn phái của đạo Phật gọi là "Lamaison" là tôn giáo chính ở Mông Cổ, Tibet, Qinghai. Chính quyền Trung Quốc xem tôn giáo là "điều mê tín không đáng có", ra sức khuyến khích người ta tập trung giải quyết các vấn đề thực tế của cuộc sống hơn là mơ tưởng giải pháp không tưởng trong tôn giáo.

Sydney ngày 18 tháng 11 năm 2022

(Bài viết có 484 chữ)

 

 

Bài 63: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG Ở QUINGHAI, XINJIAN, VÀ TIBET.

Lê Xuân Đỗ

Hiện Quinghai là một tỉnh của Trung Quốc. Hầu hết cư dân tỉnh này sống ở nông thôn, đời sống cư dân Qinghai không có gì khác so với đời sống ở Trung Quốc. Nhưng tại Xinjian, và Tibet có vài đặc trưng của riêng vùng. Chẳng hạn ở Xinjian, đa số cư dân làm nghề chăn nuôi sống gần như các “ốc đảo” trong sa mạc mênh mông. Họ có kinh nghiệm sống trên sa mạc nên một số trong bọn họ còn cải tạo đất, để làm nông nghiệp. Còn tại Tibet, trước khi Cộng sản Trung Quốc chiếm vùng này năm 1950, phần nhiều đất đai trong vùng đặt dưới sự cai quản của vị lãnh đạo tôn giáo. 

Tăng lữ Phật giáo cai trị đất nước, và làm chủ hầu hết đất đai. Tăng lữ, và một nhóm nhỏ quý tộc tạo thành giới thượng lưu của xã hội Tibet. Nông dân, và người du mục chăn nuôi tạo thành giai cấp hạ lưu. Nông dân làm việc trên đồng ruộng, và người du mục thì trông coi các đàn gia súc do tăng lữ, và quý tộc làm chủ. Ngay sau khi chiếm Tibet, chính quyền Cộng sản Trung Quốc tước bỏ đặc quyền, và sự giàu có của giới tăng lữ, và quý tộc. Nhà nước chiếm đoạt toàn bộ tài sản, và đất đai của họ. 

Nông dân, và người du mục vẫn làm việc trên đồng ruộng, và chăm sóc các đàn gia súc. Đời sống của họ có thay đổi chút ít, nhưng nười nông dân, và người chăn nuôi phải giao nông sản phẩm cho chính quyền còn nhiều hơn là cho các chủ đất, tăng lữ quý tộc trước đó.

Sydney ngày 19 tháng 11 năm 2022

(Bài viết có 318 chữ)

 

Bài 64: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG Ở MÔNG CỔ, VÀ CÁC NƯỚC CỘNG HOÀ LIÊN XÔ CỦ.

Lê Xuân Đỗ

Tại Mông Cổ, trước khi Cộng sản nắm chính quyền năm 1921, xã hội Mông Cổ gần giống xã hội Tibet. Các tăng lữ, và thế lực chính trị nắm hầu hết quyền hành, và tài sản. Họ làm chủ các đàn gia súc lớn do tín đồ và nhân dân dâng hiến. Mỗi gia đình đều mong muốn có ít nhất là một thành viên trong gia đình trở thành tăng lữ. Giới tăng lữ, và một nhóm nhỏ quý tộc tạo thành giai cấp thượng lưu của xã hội Mông Cổ. Giai cấp thấp nhất của xã hội, hầu hết là các nhà chăn nuôi, sống du cư cùng với đàn gia súc của họ. 

Sau năm 1921, chính quyền Cộng sản thành lập các trại chăn nuôi lớn, và cưỡng bức các nhà chăn nuôi vào sống trong các “nông trại” mới thành lập. Họ làm việc như những công nhân nông nghiệp do nhà nước trả lương. Đầu thập niên 1990, khi Liên Xô, và các nước Cộng sản Đông Âu không còn thì chính quyền Mông Cổ cho phép các nhà chăn nuôi rời khỏi nông trại. Ngày nay, người Mông Cổ vẫn sống trên các cánh đồng chăn nuôi. Đây là những cánh đồng khổng lồ, với các trại chăn nuôi bao quanh. Ở giữa là một thị trấn nhỏ, trong đó có các tòa nhà công cộng, văn phòng, các tiệm bán hàng, và trung tâm y tế. 

Đầu những năm 2000, đất nông nghiệp, và các đàn gia súc lại do tư nhân làm chủ, nhưng không phải giới tăng lữ, và quý tộc mà là các nhà doanh nghiệp mới. Năm quốc gia khác của Trung Á Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Turkmenistan, Tajikistan, đang trong quá trình chuyển đổi từ xã hội Cộng sản do Liên Xô chi phối, sang xã hội tự do dân chủ. Có tới 60% cư dân trong khu vực nông thôn sống bằng nghề chăn nuôi. Thu nhập bình quân đầu người của họ có tăng lên chút ít. 

Năm 2015, ba nước Uzbekistan, Kyrqyzstan, Tajikistan thu nhập (2015) chỉ trên dưới 3000 USD/người/năm. Hai nước Kazakhstan, Turkmenistan trên dưới 10.000 USD/người/năm. Thành phố lớn nhất của các nước này là Tashken, thủ đô Uzbekistan với khoảng 2 triệu cư dân. Các thành phố khác đều dưới 1 triệu người. Cư dân thành phố sống trong các căn nhà riêng độc lập, hoặc trong các khu chung cư. Người ở nông thôn sống trong các căn nhà gạch phơi khô. 

Cũng có một số người ở nông thôn sống trong các căn lều di động, làm bằng khung gỗ tròn kết nối lại, và phủ mái bằng một tấm vải dệt chắc, dày để che mưa che nắng. 

Sydney ngày 20 tháng 11 năm 2022

(Bài viết có 494 chữ)

 

Bài 65: CHUYỆN KỂ VỀ GIÁO DỤC, VÀ NGHỆ THUẬT Ở TRUNG Á.

Lê Xuân Đỗ

Tại Mông Cổ, và Tây Tạng (Tibet) trước khi Cộng sản nắm quyền, trọng tâm của việc giáo dục chỉ bao quanh đến vấn đề tôn giáo. Ngoại trừ giới tăng lữ và quý tộc, ít có người được cắp sách đến trường trong một ít năm. Cộng sản mở rộng việc giáo dục đến cho nhiều người hơn. Nhưng cũng lại bao quanh bởi nguyên lý Cộng sản thay cho nguyên lý tôn giáo. Nó là chương trình giáo dục bắt buộc cho đến năm 1990 tại Mông Cổ. Và ngày nay còn tiếp tục ở Qinqhai, Tibet, và Xinjian. 

Phần còn lại ở Trung Á, các quốc gia nguyên là thành viên của Liên bang Xô viết cũng áp đặt chương trình giáo dục kiểu Cộng sản, nặng nguyên lý cộng sản hơn kiến thức phổ thông. Từ khi Liên Xô tan rã năm 1991, các chính quyền mới đang làm hết sức mình, từng bước xóa bỏ nguyên lý cộng sản ra khỏi nhà trường. Cưỡng bức gíáo dục từ 11 năm, hoặc từ 6 đến 17 tuổi. Dệt thảm là loại hình nghệ thuật phổ biến nhất ở Trung Á. Thêu đan, và làm nữ trang cũng phát triển mạnh trong khu vực. 

Riêng tại Kazakhstan, và Kyrqyzstan có một loại hình nghệ thuật độc đáo mà ít có nơi nào có được. Đó là kể chuyện bằng thơ về lịch sử. Nó là một phần văn hóa của hai quốc gia này. Các vùng do Trung Quốc cai trị Qinqhai, Tibet, và Xinjian, và Mông Cổ nghệ thuật cũng như giáo dục đặt trọng tâm vào các vấn đề tôn giáo trong một thời gian dài. Rồi sau đó tập trung vào các vấn đề cộng sản hơn 50 năm. 

Ngày nay nghệ thuật ở Mông Cổ có cải tiến chút ít, nhưng trong phần đất của Trung Quốc ở Trung Á, nghệ thuật vẫn còn phục vụ chủ trương của nhà nước.

Sydney ngày 21 tháng 11 năm 2023

(Bài viết có 356 chữ)

 

Bài 66: CHUYỆN KỂ VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Ở CHÂU Á.

Lê Xuân Đỗ

Nông nghiệp là hoạt động kinh tế quan trọng nhất ở Châu Á. Có khoảng 60% cư dân Châu Á làm việc trên các đồng ruộng, và kiếm sống bằng nghề nông. Sản phẩm nông nghiệp cũng là nguồn xuất khẩu chính ở Châu Á. Trong nhiều quốc gia ở Châu Á, hầu hết nông dân sử dụng công cụ bằng tay, và dùng trâu bò kéo cày, làm đất. Việc thiếu công cụ hiện đại, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, hoặc các trợ giúp kỹ thuật khác cho sản xuất nông nghiệp, và phương pháp canh tác lạc hậu khiến sản lượng tăng rất ít so với sự gia tăng dân số. 

Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh sản xuất được một lượng lớn hạt ngũ cốc. Nhưng các quốc gia này lại quá đông dân, nên sản lượng nông nghiệp cũng chỉ đủ cho nhu cầu thực phẩm hàng năm của họ. Các quốc gia như Israel, Nhật Bản, Liên bang Nga, và một số ít nước khác có sử dụng máy móc nông nghiệp, và phương pháp canh tác hiện đại, nhưng cũng chỉ nhằm giảm lao nhọc, bớt nhân công để chuyển họ vào hoạt động công nghiệp, và dịch vụ, chứ không có ý định sản xuất nông nghiệp như một loại sản xuất hàng hóa xuất khẩu khác. 

Cuộc cách mạng xanh tạo ra các giống lúa mới. Lúa mì, lúa mạch, lúa gạo, có thể tăng gấp đôi, hoặc gấp ba sản lượng hạt ngũ cốc đang diễn ra trên thế giới, nó sẽ là những hứa hẹn cho nông nghiệp Châu Á, giúp các nước này thoát khỏi nạn đói kinh niên. Có ba dạng canh tác nông nghiệp ở Châu Á. Tư nhân làm chủ đất canh tác, thuê đất của địa chủ để canh tác, và đất canh tác tập trung do nhà nước quản lý. Nhiều nơi ở Châu Á, nông dân có làm chủ một phần đất canh tác. 

Tuy nhiên, trên các phần đất chính của khu vực Tây Nam Á, và Nam Á, phần nhiều do các chủ đất giàu có lập trang trại. Nông dân hai khu vực này chỉ làm chủ một mảnh đất nhỏ, hoặc thuê đất của các địa chủ để gieo trồng. Họ phải trả cho chủ đất một số lượng hạt ngũ cốc, hoặc bằng tiền. Canh tác tập trung do nhà nước quản lý là hình thức quản lý trong các quốc gia Cộng sản ở Châu Á trước thập niên 1990. Chính quyền Cộng sản Trung Quốc gọi nông nghiệp tập trung là “công xã nông thôn”, bắt đầu thực hiện nó từ năm 1958, và từ bỏ vào thập niên 1980. 

Hiện nay, Trung Quốc cho phép các gia đình nhận một phần đất để canh tác, và giao nộp cho chính quyền một số sản lượng nào đó như tiền thuê đất. Số còn lại, một phần bán cho nhà nước theo giá vừa phải. Riêng tại Israel cũng có dạng nông nghiệp tập trung gọi là công xã, hoặc hợp tác xã, nhưng hình thức phân phối cho các thành viên công xã, hoặc xã viên hợp tác xã, hoàn toàn khác với các nước Cộng sản. Nam Á, Đông Nam Á, Đông Á, và phía Tây nam của Bắc Á được xếp vào các khu vực gieo trồng các hạt ngũ cốc chính của lục địa. 

Còn hầu hết khu vực Tây Nam Á, Trung Á, và Bắc Á, khí hậu, và đất đai không phù hợp cho việc gieo trồng cây lương thực. Hạt ngũ cốc chính của Châu Á là lúa gạo, và lúa mỳ. Các nước Châu Á đứng đầu Trung Quốc và Ấn Độ xuất hơn 90% lượng gạo tiêu dùng của thế giới. Lúa mì được sản xuất tại Trung Quốc, Ấn Độ, Liên bang Nga, Thổ nhĩ kỳ, và Ukrain. Hầu hết cao su thiên nhiên, và trà đến với các nước trên thế giới đều từ Châu Á. Malaysia, và Thái Lan sản xuất cao su đứng đầu thế giới. Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, và Indonesia đứng hàng đầu lục địa về lượng trà xuất khẩu. 

Các loại nông sản quan trọng khác của Châu Á là sợi bông, và mía đường. Đứng đầu cây bông sợi là Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Uzbekistan, Turkmenistan. Đứng đầu sợi đay thì có Bangladesh, Ấn Độ, và Trung Quốc. Ấn Độ còn là nước sản xuất mía đường đứng hàng thứ hai thế giới, chỉ sau Brazil ở Nam Mỹ. Nông dân Nam Á xem việc chăn nuôi là nghề chính của họ. Ở mức độ thấp hơn một chút là Tây Nam Á, và miền Trung của Bắc Á ngành chăn nuôi cũng là công việc mưu sinh của nhiều người.

Họ lấy phoma, sữa, và thịt từ đàn gia súc. Họ cũng dùng lông, và da cho việc may mặc, và làm chỗ ở (tấm lợp). Một số súc vật còn được sử dụng như một phương tiện chuyên chở. Các chủ trang trại, chủ đàn gia súc du cư, bán gia súc hoặc sản phẩm từ súc vật để mua các loại hàng hóa khác cho tiêu dùng, hoặc tiếp tế. Lạc đà, dê, và cừu là các con vật thường nuôi, và cũng là đàn gia súc quan trọng nhất ở Tây Nam Á. Tại Trung Á, nhiều đàn gia súc là lạc đà hai cục u, trâu bò, dê, ngựa, heo, cừu, và trâu rừng. 

Vùng phía Bắc của Bắc Á, người ta thường chăn nuôi nai sừng dài. Nó là con vật chăn nuôi chính của vùng này. Gia cầm, và heo thịt dùng làm thực phẩm được nuôi trên hầu hết các nước Đông Nam Á.

Sydney ngày 22 tháng 11 năm 2022

(Bài viết có 998 chữ)

 

Bài 67: CHUYỆN KỂ VỀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP

Ở CHÂU Á.

Lê Xuân Đỗ

Sự cai trị thuộc địa của Châu Âu để lại nhiều dấu ấn của nó trên nền công nghiệp Châu Á. Trong thời kỳ cai trị thuộc địa, Châu Á phục vụ như một nguồn cung cấp thực phẩm cho người Châu Âu, và cũng là nguồn nguyên liệu thô cho các nhà máy của họ. Vì vậy, mà cho đến hôm nay, chế biến thực phẩm, và các sản phẩm tiêu dùng khác đang là sản phẩm công nghiệp quan trọng của nhiều quốc gia Châu Á. Chẳng hạn, công nghiệp tinh chế mía đường, và chế biến thực phẩm trên gạo, và thuốc lá đang là hoạt động chính của nền kinh tế trong nhiều nơi trên khắp lục địa. 

Hầu hết công nghiệp nặng của Châu Á tập trung vào các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Liên bang Nga, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan. Tất cả các quốc gia này đều có các nhà máy lớn, và hiện đại. Sản phẩm công nghiệp gồm xe hơi, trang thiết bị điện, máy móc cho nhà máy, kim loại, và thép, vũ khí cho quân đội, máy bay, tàu thủy, y dược, dụng cụ cho y tế, và hàng dệt. Israel, Bắc Triều tiên, Singapore, và Thổ Nhĩ Kỳ cũng có một số công nghiệp nặng. Ngoại trừ Nhật Bản, các mặt hàng công nghiệp của Châu Á, chất lượng thấp hơn của phương Tây, và Hoa Kỳ. 

Đó là đánh giá chung của người tiêu dùng trên thế giới. Khai thác nguyên liệu thô từ hầm mỏ, xuất khẩu có tầm quan trọng trong nhiều quốc gia Châu Á. Tây Nam Á cung cấp phần lớn dầu khí cho thế giới. Đông Nam Á, cung cấp nhiều thiết. Trung Quốc xuất khẩu một lượng lớn kim loại trắng, và nguyên tố kim loại nặng. Tinh thể khoáng chất, và oxid, mangan đen từ Trung Quốc, Ấn Độ. Hợp chất crome từ Philippines, và Thổ Nhĩ Kỳ được bán ra trên khắp thế giới. 

Giá như Châu Á có thêm nhà máy chế biến nguyên liệu thô thành sản phẩm hoàn chỉnh trước khi bán ra nước ngoài, có lẽ nền kinh tế của lục địa sẽ được cải thiện. Châu Á còn có nhiều sông, hồ, biển, và hàng triệu người đánh cá để kiếm sống. Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Liên bang Nga, và Thái Lan được xếp vào loại các nước có công nghiệp đánh cá lớn hàng đầu của thế giới. Công nghiệp du lịch, và ngành thủ công mỹ nghệ cũng có vai trò quan trọng. 

Hàng năm, du khách nước ngoài đến tham quan, họ thường mua nhiều hàng thủ công mỹ nghệ làm ra bởi các nghệ nhân người Châu Á. Hàng thủ công mỹ nghệ này gồm hàng chạm, trổ, điêu khắc, hàng da, hàng nữ trang, kim loại, hoặc đá, đồ gốm, thảm lót sàn nhà, tranh vẽ, tranh sơn mài, và hàng dệt. Công nghiệp du lịch được chú trọng nhiều ở Israel, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, và Ấn độ. Đa số quốc gia châu Á đang cố gắng cải thiện nền kinh tế quốc dân bằng cách lập thêm công nghệ mới, mở rộng và cải tiến công nghệ cũ. 

Họ thực hiện nhiều bước khác nhau tiến đến công nghiệp hóa, và hiện đại hóa nền kinh tế. Những bước này bao gồm đề nghị giảm thuế cho đầu tư nước ngoài vào lục địa, sử dụng quỹ riêng cùng với trợ giúp từ các nước khác xây dựng công nghệ trang thiết bị. Cũng có nhiều sự thay đổi khác trong lãnh vực giáo dục đào tạo chuyên viên, kỹ thuật viên, và huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân. Các chính quyền Cộng sản còn lại ở Châu Á như Trung quốc, và Việt Nam cũng đang chuyển đổi nền kinh tế Cộng sản của mình thành nền kinh tế hỗn hợp.

Một phần do nhà nước nắm giữ, và phần khác do tư nhân đứng ra đảm trách, hoạt động theo cơ chế vừa do nhà nước kiểm soát, vừa do tư nhân điều hành. Một số quốc gia Châu Á đã thành công trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế của họ, đứng đầu là Nhật Bản, đạt tới hiện đại hóa công nghiệp ở mức độ cao, và đã trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về sản phẩm công nghiệp, và xuất khẩu hàng công nghiệp chỉ sau Hoa Kỳ. Israel, Nam Triều tiên, Đài Loan cũng đạt tiến bộ lớn trong phát triển công nghiệp. 

Một số quốc gia khác cũng có một vài tiến bộ đáng kể trong phát triển công nghiệp. Trung Quốc, và Ấn Độ có các nhà máy khổng lồ, và sản xuất hàng hóa với số lượng lớn trong nhiều dạng khác nhau. Các nước như Iraq, Malaysia, Pakistan, Philippines, Thái Lan, và Thổ Nhĩ Kỳ đang phát triển công nghiệp hiện đại. Nhiều nhà máy mới với trang bị máy móc tối tân đang được xây dựng, và hoạt động. Ả Rập Saudi, Iran, Kuwait, và các nước sản xuất dầu khí có nhiều nhà máy lọc dầu lớn. 

Các quốc gia từng một thời là thành viên của Liên bang Xô viết nằm trong lục địa Châu Á đang đương đầu với sự cần thiết phải thay thế các trang thiết bị công nghệ cũ, và tìm kiếm thị trường mới cho hàng hóa của họ. Hệ thống vận chuyển, và thông tin ở Châu Á có sự tương phãn rõ rệt giữa các thành phố, và vùng thôn quê. Hầu hết, các thành phố đều có trang thiết bị hiện đại như các thành phố phương Tây. Nhưng nhiều vùng thôn quê thì thông tin, và vận chuyển, chỉ khác một chút so với hàng trăm năm trước đây.

Sydney ngày 23 tháng 11 năm 2022

(Bài viết có 1.019 chữ)

 

 Bài 68: CHUYỆN KỂ VỀ VẬN CHUYỂN VÀ

TRUYỀN THÔNG Ở CHÂU Á.

Lê Xuân Đỗ

Có nhiều loại xe dùng chuyên chở hàng hóa, và người trong các thành phố Châu Á. Xe hơi, xe buýt, xe gắn máy, và xe vận tải. Về lực đẩy thì tùy theo loại động cơ cho xe hơi, sức người cho xe xích lô, xe đạp, và bằng súc vật kéo cho xe trâu, xe bò, xe ngựa chở người, hoặc hàng hóa nhẹ chạy trong thành phố. Xe hơi khá hiếm ở các vùng quê. Đường làng ít khi được trải nhựa, hoặc rải đá. Dân làng một số nơi còn chuyển vận hàng hóa bằng xe hai bánh do súc vật, hoặc người kéo. 

Đi qua các bãi cát của sa mạc thường bằng xe hai bánh, do lạc đà, trâu, bò, hoặc ngựa kéo. Hầu hết dân làng nay đã mang giày dép, rất ít người còn đi bằng chân không. Sông ngòi là lộ trình vận chuyển chính trong nhiều vùng quê châu Á. Người ta sử dụng đủ loại thuyền mành, thuyền chèo, ghe tam bản, thuyền nhẹ, ca nô, xà lan, tàu lớn vào việc vận chuyển hàng hóa, và hành khách. Thuyền mành, và vài loại thuyền khác có thiết kế hệ thống buồm tận dụng sức gió cho chuyển dịch. Nhiều nơi phải chèo tay, và chống đẩy ở những vùng nước cạn. 

Trong thời kỳ Châu Á bị Châu Âu chiếm làm thuộc địa, các nhà cai trị thuộc địa có xây dựng một hệ thống xa lộ ở Châu Á giữa các khu trong nội địa, và các thành phố gần bờ biển. Từ khi kết thúc cai trị thuộc địa, các quốc gia Châu Á tiếp tục quá trình xây dựng và cải thiện nó, khiến xe tải, xe buýt có thể sử dụng an toàn hơn. Máy bay được sử dụng trong hầu hết các thành phố lớn nối liền với các thành phố trong nội địa, và nhiều nơi khác trên thế giới. Nhưng xe lửa vẫn là phương tiện vận chuyển chính trong di chuyển đường dài của lục địa. 

Các nhà cai trị Châu Âu xây dựng hệ thống đường sắt này trong những năm 1800. Họ dùng xe lửa chở nguyên liệu thô từ bên trong nội địa đến bờ biển hoặc hải cảng, rồi cho xuống tàu chở về chính quốc. Ngày nay, tất cả các quốc gia Châu Á có ít nhất là một đường xe lửa chính. Nhưng hầu hết đường sắt không đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng, cả trong vận chuyển hành khách lẫn hàng hóa. Đa số các nước ở Châu Á đều thiếu nhân viên quản lý đường sắt có kinh nghiệm như kỹ thuật viên, thẩm định viên, và thợ sửa chữa xe lửa lành nghề. 

Nhật Bản có hệ thống đường sắt hiện đại nhất thế giới là một ngoại lệ ở Châu Á. Tàu biển vượt đại dương mang theo hàng hóa đến, và đi tại các hải cảng ở Châu Á đều được chở trên các con tàu hiện đại khổng lồ của nước ngoài. Các phương tiện thông tin liên lạc như đài truyền hình, truyền thanh, sách báo, tạp chí, và nhật báo được hoạt động, phát hành rộng rãi như nhiều thành phố phương Tây. Các thành phố lớn đều có đài truyền hình, truyền thanh, và nhật báo phát tin hàng ngày. 

Hệ thống điện báo, điện thoại, chuyển thư nhanh, và các phương tiện truyền thông khác khá phổ biến trong hầu hết các thành phố, và thị trấn. Vùng thôn quê nhật báo, radio. truyền hình cũng tới được. Một số quốc gia người dân có máy truyền hình, radio, điện thoại. Chẵng hạn, Nhật Bản có tới 95/100 người có máy truyền hình, nhưng tại Campuchia và Miến Điện số người có máy truyền hình ít hơn. Điện thoại, điện báo, chuyển thư nhanh trong nột số ít khu vực ở Châu Á cũng đã tới được vùng nông thôn./.

Sydney ngày 24 tháng 11 năm 2022

(Bài viết có 696 chữ)

(Hết Chương III gồm 32 bài: 37 – 68)

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét