Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2023


 

Chương 15: BẢY PHỤ BẢN ĐỌC THÊM.

(Có 31 trang và 16.111)

 

PHỤ BẢN 1: THAY LỜI DẪN NHẬP SÁCH VĂN MINH NHÂN LOẠI (2016)

I.

Theo cách hiểu của chúng tôi, ở hành tinh nào không biết chứ hành tinh “TRÁI ĐẤT” nơi chúng ta đang sống, mỗi CON NGƯỜI chỉ có một lần sinh, một lần chết, không lập lại, không tái sinh. Và, con người cũng chỉ là một SẢN PHẨM CỦA TỰ NHIÊN một loài của giới động vật. Nhưng, trong giới động vật, con người là một CON VẬT CÓ VĂN HOÁ. Văn hóa của con người được thể hiện trên “đời sống vật chất và “đời sống tinh thần” ở con người cao hơn và tiến bộ hơn so với con vật. 

Song, đó chỉ là cái bên ngoài, cái hiện tượng của văn hóa. Còn cái bên trong, bản chất của văn hóa chính là sự hiểu biết của con người, và các cách ứng dụng sự hiểu biết đó vào tổ chức đời sống. Đến giờ này thì hiểu biết loài người đã trải qua ba bước phát triển: hiểu biết từ thử và sai, hiểu biết từ kinh nghiệm, và hiểu biết từ khoa học.    

Hiểu biết từ THVÀ SAI là hiểu biết do chưa biết mà cứ làm, qua sai lầm “để có được hiểu biết”. Hiểu biết nầy, đã đưa bầy người nguyên thủy sống bằng hái lượm và săn bắt, lên thành xã hội loài người sống bằng trồng trọt và chăn nuôi. 

Hiểu biết từ KINH NGHIỆM là hiểu biết do bắt chước người khác, hoặc do kinh nghiệm của chính bản thân mình “mà có hiểu biết”. Hiểu biết nầy đã đưa con người đến sự phân công lao động xã hội: nông nghiệp thì cung cấp lương thực thực phẩm, tiểu thủ công nghiệp thì cung cấp hàng tiêu dùng, và thương nghiệp thì làm trung gian trao đổi. 

Hiểu biết từ KHOA HỌC là hiểu biết do kinh nghiệm, suy nghỉ, và hoạt động sáng tạo của con người “để đạt tới hiểu biết”. Hiểu biết nầy đã đưa người ta đến việc ứng dụng khoa học vào sản xuất, vào quản lý xã hội, làm cho đời sống con người ngày càng tốt hơn cả lãnh vực vật chất lẫn lãnh vực tinh thần.

II.

Lùi về quá khứ một chút, năm 1798, khi dân số thế giới chưa tới 700 trăm triệu, Malthus, Thomas Robert (1766-1834), nhà kinh tế học lỗi lạc người Anh trong một cuốn sách của ông được xuất bản, ông cho rằng dân số tăng nhanh, đất đai không tăng, nếu người ta không hạn chế sinh đẻ thì sẽ xẩy ra nạn nhân mãn, chiến tranh, dịch hoạ là điều khó tránh.

Đến nay năm 2016, dân số thế giới tăng hơn 10 lần so với thời điểm 1798, nhưng vẫn không xẩy ra nạn “nhân mãn”! Nhà Kinh tế học lỗi lạc cuối thế kỷ 18, Malthus không hình dung được sự “hiểu biết của loài người, và các cách ứng dụng hiểu biết đó vào tổ chức đời sống”. Malthus không thể hình dung được sự phát minh, sức sáng tạo của các nhà khoa học đã lai tạo biết bao loại “giống cây trồng, và con vật nuôi” để gia tăng nguồn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cả số lượng lẫn chất lượng.

Nhà kinh tế học người Anh, Malthus cũng không thể hình dung được sức sáng tạo của Bill Gate, nhà điện toán người Mỹ, đã đưa “năng xuất lao động xã hội” lên gấp ngàn lần ở cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 nầy. Và tất nhiên, chúng ta cũng không thể hình dung được sau Bill Gate người Mỹ, sẽ có bao nhiêu Bill Gate khác của thế giới sẽ kế tục sự nghiệp sáng tạo của anh ta!

11 chương trong cuốn sách nầy, nói về Lịch sử và Hiện trạng thế giới; Lịch sử và Hiện trạng châu Á; Lịch sử và Hiện trạng châu Âu; Lịch sử và Hiện trạng châu Phi; Lịch sử và Hiện trạng châu Mỹ; Lịch sử và Hiện trạng châu Đại Dương. Lịch sử và hiện trạng 48 Quốc gia tại châu Á; Lịch sử và hiện trạng 45 Quốc gia tại châu Âu; Lịch sử và hiện trạng 54 Quốc gia tại châu Phi; Lịch sử và hiện trạng 35 Quốc gia tại châu Mỹ; và Lịch sử và hiện trạng 14 Quốc gia tại châu Đại Dương sẽ giúp bạn hiểu quá trình tiến hoá của xã hội loài người” để bạn vững tin rằng dù hiện có đương đầu với biết bao khó khăn, vất vã, cuối cùng thì mỗi người trong chúng ta luôn có cuộc sống hôm nay tốt hơn hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay. 

Đó là ý nghĩa của cuốn sách mà tác giả muốn gởi đến bạn đọc./.

Sydney ngày 1 tháng 8 năm 2016


 

PHỤ BẢN 2: THAY LỜI KẾT SÁCH VĂN MINH NHÂN LOẠI (2016)

I.

Văn minh châu Âu, tuy “sinh sau đẻ muộn” so với châu Á và châu Phi, nhưng nhờ có phát minh, sáng tạo và biết cách ứng dụng phát minh sáng tạo ấy vào tổ chức đời sống mà từ những năm 1500 nền văn minh nầy “vượt trội” so với các nền văn minh đàn anh. Trong khi nền Văn minh Châu Âu “không ngừng phát triển” thì nền văn minh Châu Á, và Châu Phi lại luôn đề cao các “đặc trưng truyền thống”. 

Hiện nay, tại Bắc Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc Đại Lợi, và vài nước Đông Á như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, chính quyền tự đặt ra cho mình 2 chức năng là “điều hành nền kinh tế quốc dân”, và “lo phần an lạc cho dân chúng”. Chúng tôi gọi đó là nền “Văn minh Nhân loại những năm đầu của Thế kỷ 21”. Và, chúng tôi cũng dùng 2 tiêu chí nầy, để so sánh “mức độ văn minh” giữa các quốc gia, lục địa.

II.

Chức năng thứ nhất của chính quyền là "điều hành nền kinh tế quốc dân" được thể hiện trên “tổng sản lượng quốc gia, thu nhập bình quân, và xuất, nhập khẩu”. Năm 2016, châu Phi có 30.166.223 km2 diện tích đất, và 1.124 triệu cư dân, tổng sản lượng quốc gia 3.634,1 tỷ USD, thu nhập bình quân 4.992 USD,  nhập khẩu 582,4 tỷ, xuất khẩu 592,0 tỷ; so với nước Đức diện tích đất chỉ bằng 1,1% (357.022 km2), và dân số chỉ bằng 7,2% (80,9 triệu người), tổng sản lượng quốc gia Đức nhiều gần bằng tổng sản lượng cả lục địa Châu Phi cộng lại (3.200tỷ USD), thu nhập bình quân của người dân Đức nhiều gấp 8 lần (39.500 USD), nhập khẩu Đức nhiều gấp hơn 2 lần (1.200 tỷ), xuất khẩu Đức cũng nhiều hơn 2,5 lần (1.500 tỷ) so với cả lục địa Châu Phi cộng lại. 

Hoặc như tại châu Á có diện tích đất 31.896.227 km2, và 4.283,9 triệu cư dân, tổng sản lượng quốc gia 36.073,5 tỷ USD, thu nhập14.895 USD, nhập khẩu 6.428,4 tỷ, xuất khẩu 6.913,9 tỷ; so với Hoa Kỳ diện tích đất chỉ bằng 30,8% (9.826.675 km2), và dân số chỉ bằng 7,4% (318,8 triệu người). Nhưng, tổng sản lượng quốc gia của Hoa Kỳ bằng 46% (16.700 tỷ USD); và thu nhập bình quân đầu người của Hoa Kỳ nhiều gấp 3,5 lần (52.800 USD) thu nhập bình quân đầu người của châu Á. Nhập khẩu Mỹ bằng 35% (2.300 tỷ); và xuất khẩu bằng 23% (1.600 tỷ USD ) của cả lục địa châu Á cộng lại.

Hay như tại Ấn Độ có diện tích đất 3.287.263 km2, và 1.236,2 triệu cư dân, tổng sản lượng quốc gia 5.000 tỷ USD, thu nhập 4.000 USD, nhập khẩu 467,5 tỷ, và xuất khẩu 313,2 tỷ; so với Nhật Bản có diện tích đất chỉ bằng 11,4% (377.915 km2), và dân số chỉ bằng 10,2% (127,1 triệu người). Nhưng tổng sản lượng quốc gia Nhật Bản nhiều bằng 94% (4.700 tỷ), thu nhập người dân Nhật cao gấp 9,2 lần (37.100 USD). Nhập khẩu của Nhật gấp 1,6 lần (766,6 tỷ); và xuất khẩu gấp 2,2 lần (697,0 tỷ), so với Ấn Độ. 

Hoặc như tại Bắc Triều Tiên có diện tích đất 120.538 km2, và 24,8 triệu cư dân, tổng sản lượng quốc gia 40,0 tỷ USD, thu nhập 1.800 USD, nhập khẩu 4,8 tỷ, và xuất khẩu 4,0 tỷ; so với Nam Triều Tiên có diện tích đất chỉ bằng 82,7% (99.720 km2), và dân số gần gấp đôi (49,0 triệu người). Nhưng tổng sản lượng quốc gia Nam Triều Tiên nhiều gấp 42,5 lần (1.700,0 tỷ), thu nhập người dân Nam Triều Tiên 17,8 lần (32.200 USD). Nhập khẩu nhiều gấp 107,6 lần (516,6 tỷ); và xuất khẩu nhiều gấp 139,3 lần (557,3 tỷ), so với Bắc Triều Tiên

Chúng ta nghĩ gì về vai trò chính quyền tại mỗi nước, trong việc “điều hành nền kinh tế quốc dân”? Tất nhiên, chúng ta cũng phải quan tâm tới cả các yếu tố khác như lịch sử, địa lý, và các nguồn tài nguyên tại mỗi nước nữa. 

III.

Chức năng thứ hai của chính quyền là "lo phần an lạc cho cư dân" được thể hiện trên việc “phân phối và tái phân phối lợi tức quốc gia”. Nhà nước trong chức năng quản lý xã hội của mình, ban hành các “luật lệ” bảo vệ người lao động được quyền hưởng thành quả lao động của họ, đồng thời phải có “chính sách thuế khóa” phù hợp để người có “thu nhập thấp”, cũng được hưởng tiện ích của xã hội dưới dạng “tái phân phối lợi tức quốc gia”.

Ta lần lược xem xét, Trung Quốc có diện tích đất 9.596.961 km2, và 1.355,6 triệu cư dân, tổng sản lượng quốc gia 13.400  tỷ USD, và ngân sách quốc gia 2.300 tỷ USD (chiếm 17,1% TSL) so với Anh Quốc có diện tích đất chỉ bằng 2,5%  (243.610 km2) và cư dân chỉ bằng 4,6% (63,7 triêu). Nhưng tổng sản lượng quốc gia Anh bằng 17,9 (2.400 tỷ USD), và ngân sách quốc gia của Anh lên tới 47,8% (1.100 tỷ, chiếm 45,8% TSL) so với ngân sách quốc gia Trung Quốc. 

Hoặc như Liên bang Nga có diện tích đất 17.098.242 km2, và 142,4 triệu cư dân, tổng sản lượng quốc gia 2.600 tỷ USD, và ngân sách quốc gia 450,3tỷ USD (chiếm 17,3% TSL), so với Thụy Điển có diện tích đất chỉ bằng 2,6% (450.295 km2), và cư dân chỉ bằng 6,8% (9,7 triệu). Nhưng, tổng sản lượng quốc gia Thuỵ Điển bằng 15,1% (393,8t ỷ USD), và ngân sách quốc gia Thụy Điển bằng 54,4% (294,7 tỷ, chiếm 74,8% TSL) so với ngân sách quốc gia Liên bang Nga.   

Hay như Việt Nam, có diện tích đất 331.210 km2, và 93,4 triệu cư dân, tổng sản lượng quốc gia 358,9 tỷ USD, và ngân sách quốc gia 50,0 tỷ USD (chiếm 13,9% TSL); so với Na Uy có diện tích đất tương đương (323.802 km2); và dân số chỉ bằng 5,4% Việt Nam (5,1 triêụ người). Nhưng, tổng sản lượng quốc gia Thuỵ Điển bằng 78,6% (282,2t ỷ USD), và ngân sách quốc gia Na Uy cao gấp 4,5 lần (225,0 tỷ USD chiếm 79,7% TSL) so với ngân sách quốc gia Việt Nam.  

Hoặc như Congo-Zair có diện tích đất 2.344.858 km2, và 77,4 triệu cư dân, tổng sản lượng quốc gia 29,4 tỷ, và ngân sách quốc gia 6,5 tỷ (chiếm 0,9% TSL); so với Đan Mạch có diện tích đất chỉ bằng 1,7% (40.094 km2); và dân số chỉ bằng 7,1% (5,5 triệu người). Nhưng tổng sản lượng quốc gia Đan Mạch nhiều hơn 7,1 lần (211,3 tỷ), và ngân sách quốc gia Đan Mạch nhiều hơn 29,1 lần (189,7 tỷ USD, chiếm 89,7% TSL), so với ngân sách quốc gia Congo-Zair. 

IV.

Do yếu kém trong việc “điều hành nền kinh tế quốc dân”, cho nên gần 3/4 cư dân nghèo đói của thế giới hầu hết nằm trên lục địa Châu Á và Châu Phi. Và do làm tốt chức năng “lo phần an lạc cho cư dân”, nên cứ 100 đồng tổng sản lượng quốc gia, tại Anh Quốc có 45,8 đồng, tại Thụy Điển có 74,8 đồng, tại Na Uy có 79,7 đồng, và tại Đan Mạch có 89,7 đồng đưa vào “tái phân phối lợi tức quốc gia”. Trong khi đó tại Trung Quốc, thì 100 đồng tổng sản lượng quốc gia, chỉ đưa vào “tái phân phối lợi tức quốc gia” 17,1 đồng, tại Liên bang Nga 17,3 đồng, tại Việt Nam 13,9 đồng, và tại Congo-Zair chỉ có 2,2 đồng. 

Hệ quả là thanh niên trong độ tuổi đi học, học Cao đẳng và Đại học Anh Quốc tới 58%, trong khi Trung Quốc chỉ có 6%. Và, cứ 10 người Thụy Điển thì có hơn 9,4 người sử dụng Internet, trong khi tại Liên bang Nga thì 10 người có 6,1 người sử dụng Internet. Tương tự như thế, thanh niên Na Uy học bậc Cao đẳng và Đại học tới 63%, và cứ 10 người thì có 9,5 người sử dụng Internet, còn tại Việt Nam thanh niên học bậc Cao đẳng và Đại học có 11%, và 10 người mới có 4,3 người sử dụng Internet. 

Còn tại Đan Mạch thanh niên trong độ tuổi, học Cao đẳng và Đại học tới 55%, so với Congo-Zair thanh niên học bậc Cao đẳng và Đại học chỉ có 2%; và cứ 10 người Đan Mạch thì có 9,4 người sử dụng Internet, còn tại Congo-Zair thì 10 người mới có 2,2 người sư dụng Internet.                                                    

V.

Từ các sự kiện và số liệu ghi trên, chúng tôi nhận ra rằng, các nhà lảnh đạo quốc gia có vai trò rất lớn trong việc đóng góp vào nền “Văn minh Nhân loại những năm đầu Thế kỷ XXI”. Chính họ, ngoài việc hợp tác quốc tế để duy trì an ninh và hòa bình thế giới và quốc nội, họ còn có trách nhiệm “điều hành nền kinh tế quốc dân và lo phần an lạc cho dân chúng” nữa./. 

Sydney ngày 1 tháng 8 năm 2016

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. The World book Encyclopedia 1981, 1986, 2000, 2002, 2004, 2006, 2007, 2009, 2010 và 2015 USA by World Book Inc.

2. The Europa World Year Book 2000, 2003, 2004, 2007, 2009, 2010, và 2015 by Europa Publications Limited - London.

3. Whitaker’s Almanac 2001, 2003, 2008, 2010, 2011, và 2015 London by the Stationary Office Bookshops.

4. The World Almanac and book of Facts 2000, 2003, 2005, 2006, 2010, 2011 và 2015, USA by Primidia Reference Inc.

5. The Statement’s Year Book 2000, 2004, 2005, 2007, 2009, 2011, và 2015, London, edited by Barry Turner.

6. The World Guide 2000, và 2005 Victoria Australia, by Hardie Grant Publishing.

7. The World Guide 1997/1998, HongKong, by Institute del Tercer Mundo./.

 


PHỤ BẢN 3: LỜI DẪN NHẬP SÁCH THẾ GIỚI SỰ KIỆN (2006) VỚI TÊN “TỔNG QUAN VỀ THẾ GIỚI.

I

Hành tinh mà chúng ta đang sống thường gọi là thế giới hay trái đất. Trái đất được chúng ta xem như ngôi nhà chung của nhân loại và các loài có sự sống. Nó chỉ là một trong vô vàn hành tinh của khoảng không vũ trụ bao la. Từ rất sớm, con người đã sống trên trái đất. Họ biết thích nghi với điều kiện tự nhiên để tồn tại. Buổi đầu họ sống bằng hái lượm, săn bắt cỏ cây và thú vật hoang dã có sẳn trong tự nhiên. Họ dùng lông hoặc da thú để che thân và cây lá hoang dại làm nơi cư trú. 

Nhưng dần dà, thực phẩm tự nhiên trở nên khan hiếm. Họ bắt đầu tự sản xuất thực phẩm để nuôi sống mình bằng cách trồng trọt và chăn nuôi. Và chỉ khoảng 10 ngàn năm gần đây thôi, con người mới định cư ở một nơi nào đó thuận lợi để làm nông nghiệp. Họ sản xuất được nhiều thực phẩm hơn chẳng những đủ nuôi sống bản thân mà còn có thể nuôi sống thêm được nhiều người. Làng mạc ra đời, và người ta canh tân các cách sống của từng nhóm người lớn hơn. 

Trải qua năm tháng, con người sáng tạo được kỹ thuật tốt hơn và gia tăng các tiện nghi trong đời sống xã hội. Họ bắt đầu xây dựng thành thị, phát triển văn hóa, và tạo ra sức mạnh chế ngự được phần nào sự khống chế của tự nhiên. Các thành phố thường được xây dựng trên các bờ biển, bờ hồ và ven sông, nơi thuận lợi cho tàu bè đi lại và nó trở thành các trung tâm thương mại quan trọng. 

Hình thức quốc gia nhỏ ra đời. Quốc gia chi phối mạnh mẽ vào đời sống cư dân. Các tiểu quốc muốn bành trướng lãnh thổ, huy động dân chúng, võ trang đi xâm lược các nước láng giềng. Và luật rừng “mạnh được, yếu thua” bắt đầu xuất hiện. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, bản đồ chính trị thế giới nhiều lần thay đổi. Và hầu hết sự thay đổi là kết quả từ các cuộc chiến tranh. 

Suốt thời kỳ cổ đại các nhà lãnh đạo quân sự như Alexander đại đế và Julius Caesar đã đi xâm lược nhiều bộ tộc khác và thiết lập đế quốc khống chế nhiều vùng rộng lớn. Các đế quốc nổi lên và sụp đổ theo chiều dài lịch sử đến cả thời cận đại. Và kết quả là đường biên giới các quốc gia thay đổi rồi lại thay đổi.

II

Khởi đầu từ phong trào Phục Hưng ở Ý Đại Lợi cuối những năm 1300’s đến giữa những năm 1500 và 1900, loài người đạt tới sự thay đổi lớn lao. Dân số thế giới gia tăng với ấn tượng lo ngại từ 450 triệu năm 1500 lên thành 1500 triệu năm 1900. Các thành phố và thị trấn mọc lên đều đặn. Văn minh Âu châu thường gọi là văn minh phương Tây dẫn đầu thế giới trong phát triển văn hóa, kinh tế và kỹ thuật. 

Công cuộc thám hiểm trong những năm 1400's và 1500’s mở ra một thời kỳ mới, đưa đến việc châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Úc đều bị các nước châu Âu chiếm làm thuộc địa. Sau đó, hàng trăm ngàn người châu Âu đến ‘định cư’ tại châu Mỹ (Bắc Mỹ và Nam Mỹ) và châu Úc, và hàng ngàn người đến châu Á và châu Phi dựng nên chế độ cai trị thuộc địa. Một vài nơi bị chống đối, thì họ tạm thời cấu kết với nhà Vua bản xứ theo hướng “đôi bên cùng có lợi”.

Cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối những năm 1700's cũng bắt đầu từ châu Âu. Chẳng bao lâu Lục địa này trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp của thế giới. Các quốc gia châu Âu lập ngày càng nhiều, thuộc địa ở hải ngoại phục vụ như thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghệ của họ, và là nơi cung cấp nguyên liệu thô cho các nhà máy tại chính quốc. Việc gia tăng buôn bán với các thuộc địa mang lại sự giàu có, và sức mạnh quốc gia họ cũng theo đó mà tăng lên. 

Sự kình địch chính trị giữa các nước châu Âu càng khuyến khích họ tranh giành thuộc địa, mở rộng vùng thống trị ở hải ngoại. Các tiến bộ về kỹ thuật đã giúp châu Âu có tàu bè và vũ khí tốt hơn đi chiếm cứ các vùng đất mới. Chiếm được vùng nào, người châu Âu đến đó lập nghiệp, dựng lên chế độ cai trị thuộc địa. Họ mang theo văn hóa, nghệ thuật, kỹ thuật, luật pháp, chính quyền và nền giáo dục, cũng như tôn giáo áp đặt vào cư dân nơi họ thống trị. 

Vì vậy mà tư tưởng, kỹ năng, và văn hóa phương Tây trở thành phổ biến, chi phối rộng khắp trên tất cả các lục địa hơn bất cứ nền văn minh nào trước đó trong lịch sử.

III

Bản đồ chính trị thế giới năm 1900 ghi nhận lục địa châu Âu có 18 quốc gia độc lập. 8 trong số 18 quốc gia này là Tây Ban Nha, Bồ đào nha, Hòa lan, Anh, Pháp Ðức, Ý và Bỉ từ năm 1500 đến năm 1900 đã đi xâm lược và chiếm cứ 5 lục địa còn lại của thế giới. Họ chiếm toàn bộ Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Úc kể cả New Zealand rồi đưa người đến định cư vĩnh viễn ở ba lục địa này. Họ thi hành chính sách nhất quán của người da trắng là, tiêu diệt dần dần cư dân chủ nhân trên các lục địa ấy. 

Đối với châu Á và châu Phi, nơi có nhiều cư dân thì họ thiết lập chế độ cai trị thuộc địa bằng cách cử người da trắng đến nắm hết chức vụ chủ chốt và điều hành chính quyền. Cần thiết lắm thì họ duy trì ngôi vua của người bản xứ để làm bù nhìn, không có chút quyền hành. Tại châu Âu, các nước Nga, Đức, Liên minh Hung-Áo và đế quốc Ottoman còn xâm chiếm đất đai của các nước láng giềng. 

Các nhà nghiên cứu cho rằng, có 4 nguyên nhân đưa đến chiến tranh thế giới lần thứ I là: (1) Các thế lực châu Âu tranh giành thuộc địa ở hải ngoại; (2) Sự cạnh tranh kinh tế và thị trường trong các quốc gia châu Âu; (3) Các liên minh quân sự mờ ám trong nội bộ châu Âu, và (4) Sự mong muốn có được một quốc gia độc lập của người Âu châu trong chính phần đất họ đang sống.

IV

Chiến tranh thế giới lần thứ I khởi đầu năm 1914. Phe đồng minh gồm Anh, Pháp, Nga và Ý đánh với trung tâm quyền lực gồm Đức, Liên minh Hung-Áo và đế quốc Ottoman. Đây là một cuộc chiến ở mức độ các trận đánh lớn hơn bất cứ các trận đánh nào trong các cuộc chiến tranh trước đó. Hoa Kỳ gia nhập vào phe đồng minh năm 1917. Tháng 10 theo lịch Nga - tháng 11 theo lịch Tây cùng năm này, một cuộc bạo loạn chính trị ở Nga thành công và lập ra chế độ độc tài Cộng Sản ở quốc gia này. Cuối năm 1917, Nga rút ra khỏi cuộc chiến tranh. 

Chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc năm 1918, với sự chiến thắng của phe đồng minh. Đồng minh ký hiệp ước Versellers năm 1919 với Đức và nhiều hiệp ước riêng với các nước trong phe trung tâm quyền lực bại trận. Liên minh Hung-Áo và đế quốc Ottoman bị xóa sổ. Tại Đức, một nước Cộng Hòa mới thành lập thay thế cho chế độ quân chủ. 

Các quốc gia mới như Ba lan, Phần lan, Estonia, Latvia và Lithuania ra đời trên phần đất của nước Nga và nước Đức. Các quốc gia Czechoslovakia, Austria, Hungary được thành lập trên phần đất của liên minh Hung-Áo cũ. Yugoslavia tân lập bằng cách thêm vào nước Serbia, nhiều phần đất rộng lớn của liên minh Hung-Áo. Bulgaria, Montenegro, Rumania, Hy lạp và Ý đại lợi mở rộng diện tích trên phần đất của đế quốc Ottoman.

Chiến tranh thế giới lần thứ I là một cuộc chiến tốn phí khủng khiếp. Mười triệu đàn ông, đàn bà và trẻ em bị giết. Số người bị thương, bị giam cầm và bị mất tích nhiều gấp bốn lần. Nhiều thành phố bị hủy diệt, kinh tế hoàn toàn bị ngưng trệ, tê liệt. Các quốc gia thắng trận gồm Anh, Pháp, Ý, Nhật và Hoa Kỳ, thành lập Hội Quốc Liên năm 1919, với mục đích duy trì hòa bình thế giới và chống lại các cuộc xâm lăng từ bên ngoài. Do có sự bất đồng giữa các quốc gia thành viên chính, làm vô hiệu hóa tổ chức quốc tế này. 

Và thế là chiến tranh thế giới lần thứ II lại bùng nổ, cũng khởi đầu từ châu Âu. Năm 1938, Đức chiếm Áo và một phần Czechoslovakia. Tháng 3 năm 1939, họ đánh chiếm phần còn lại của nước này. Tháng 9 năm 1939, Đức lại đánh chiếm Ba lan và chiến tranh thế giới thứ II bắt đầu. Trong chiến tranh Ðức, Ý, Nhật và một số nước gọi là phe trục đánh phe đồng minh gồm Anh, Pháp, Canada, Liên bang Xô Viết (thành lập năm 1922) và một số nước khác trong đó có Trung Quốc. 

Hoa Kỳ tham gia phe đồng minh năm 1941, sau khi Nhật bản tấn công căn cứ quân sự Mỹ tại Trân Châu Cảng ở Hawaii. Nhật còn đánh chiếm các quần đảo Philippine, Indonesia, Malaysia, Singapore, Hong Kong, Việt Nam, Laos và Cambodia, là các thuộc địa của Mỹ, Hòa Lan, Anh và Pháp. Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc tại châu Âu tháng 5 năm 1945, khi quân đội Đức đầu hàng đồng minh. Nhưng tại châu Á, chiến tranh vẫn tiếp diễn cho đến tháng 8 năm 1945, khi Mỹ sử dụng hai quả bom nguyên tử ném xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, thì ngày 14 tháng 8 năm 1945, Nhật mới ký các điều khoản đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. 

Cái giá của đệ nhị thế chiến phải trả là quá lớn lao về cả nhân mạng lẫn tiền bạc. Chỉ riêng số người thiệt mạng của Liên Xô (phe đồng minh) và Đức Quốc (phe trục) cũng đã trên 10 triệu người. Người dân châu Âu chịu nhiều tan thương hơn cả so với đệ nhất thế chiến. Tình trạng đổ nát không chỉ ở thành thị mà cả ở các vùng thôn quê nơi lâm chiến bị san bằng không còn dấu vết của công trình kiến trúc.

Hậu quả của cuộc chiến về mặt chính trị càng lớn lao hơn. Đức Quốc từng là quốc gia mạnh nhất ở châu Âu bị chiếm đóng bởi quân đội Đồng minh: Liên Sô, Hoa Kỳ, Anh, và Pháp. Các quốc gia mạnh nhất châu Âu trở thành quá yếu không còn đủ sức cai trị thuộc địa. Hoa Kỳ và Liên Xô nổi lên từ chiến tranh như hai thế lực lãnh đạo thế giới: thế giới Cộng Sản, và thế giới không Cộng Sản. 

Nhờ sự vận động của Liên Hiệp Quốc, một tổ chức quốc tế mới thành lập sau chiến tranh, thay thế Hội Quốc Liên, hai thế lực mạnh nhất thế giới này mặc dù kình địch nhau dưới các danh nghĩa ‘thế giới Cộng Sản’ và ‘thế giới không Cộng Sản’, chiến tranh thế giới lần III vẫn không nổ ra. Thay vào đó, họ tiến hành một cuộc “chiến tranh lạnh”  Liên xô-Hoa Kỳ kéo dài tới bốn thập niên, từ cuối thập niên 1940's đến cuối thập niên 1980's.

V

Cuộc vận động của chủ nghĩa Cộng Sản thành công ở Nga năm 1917, phát triển mạnh tại Đông Âu sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Đức Quốc bị chia đôi, chính quyền do dân bầu ở Tây Đức và chính quyền độc tài Cộng Sản cai trị ở Đông Đức. Tại Đông Á, chính quyền Cộng Sản lập ra ở Việt Nam năm 1945. ở Bắc Hàn năm 1948 và ở Trung Quốc năm 1949. Cộng Sản hoạt động ráo riết với ý đồ chiếm chính quyền nhiều nơi ở Đông Nam Á, Trung, Nam Mỹ và Bắc, Trung Phi.

Lo sợ trước sự bành trướng của Cộng Sản, Hoa Kỳ và các nước đồng minh phương Tây bắt đầu đề ra các sự trợ giúp kinh tế và quân sự cho các quốc gia không Cộng Sản và cam kết sẽ trợ giúp cho bất cứ quốc gia nào có sự đe dọa của Cộng Sản. Thực hiện lời cam kết này, Hoa Kỳ đã hổ trợ tích cực Nam Hàn trong chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953) và Nam Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam (1957 - 1975). 

Một tổ chức quân sự gọi là Tổ chức Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO) gồm 15 nước không Cộng Sản ở châu Âu do Hoa Kỳ lãnh đạo được thành lập năm 1949. Và một tổ chức quân sự đối kháng có tên ‘Liên minh Quân sự Hổ tương (Warsaw)’ gồm 8 nước Cộng Sản Đông Âu do Liên xô lảnh đạo ra đời năm 1955.

Đỉnh cao của chiến tranh lạnh là vụ khủng hoảng tên lửa hạt nhân ở Cuba năm 1962. Nhờ hoạt động tích cực của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U-than, và vì lợi ích thiết thực của cả hai cường quốc, khủng hoảng vượt qua khi Liên xô triệt thoái các tên lửa hạt nhân của họ ra khỏi Cuba. Đổi lại, Hoa Kỳ cũng phải triệt thoái các đầu đạn hạt nhân của họ ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Tổng thống Kennedy còn phải hứa Hoa Kỳ sẽ không xâm lược Cuba. 

Năm 1987, Tổng thống Liên xô Mikhail Gorbachev và Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan ký hiệp ước phá hủy nhiều tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Hoa Kỳ và Liên xô. Gorbachev còn thực hiện tại Liên xô và cổ vủ các quốc gia Cộng Sản Đông Âu các thay đổi về kinh tế và chính trị. Và kết quả là chính quyền không Cộng Sản thay thế hầu hết chính quyền Cộng Sản ở Đông Âu. Đông Đức và Tây Đức thống nhất dưới một chính quyền duy nhất không Cộng Sản. Nhiều người tin rằng các sự kiện này là điểm mốc chấm dứt chiến tranh lạnh của thế giới. 

Tháng 7 năm 1991, Tổng thống Gorbachev và lảnh đạo 15 Cộng hòa trong Liên bang Xô viết thỏa thuận ký hiệp ước theo đó Liên bang Xô viết sẽ trao cho các Cộng hòa nhiều quyền tự trị hơn. Theo kế hoạch thì 5 trong 15 Cộng hòa này sẽ ký hiệp ước vào ngày 20 tháng 9. Nhưng vào ngày 19 tháng 9, các viên chức bảo thủ trong bộ chính trị Ðảng Cộng Sản Liên xô thực hiện một cuộc đảo chánh. Họ giam giữ Gorbachev và gia đình tại nhà nghĩ mát của ông ta. 

Tổng thống Cộng hòa Liên bang Nga, Boris Yeltsin, một lãnh tụ đối lập nổi tiếng chống lại cuộc đảo chánh, và đảo chánh thất bại ngày 21 tháng 9. Sau đảo chánh, Gorbachev vẫn còn ở chức vụ Tổng thống Liên xô, nhưng từ chức Tổng bí thư và giải tán Đảng Cộng sản Liên xô. Ngày 25 tháng 12 năm 1991, Gorbachev từ chức Tổng thống và chính quyền Cộng Sản của Liên bang Xô Viết cũng chấm dứt sự tồn tại.

VI

Về tình cảnh các thuộc địa thì - Tại Bắc Mỹ, do bất bình thuế khóa và mậu dịch bất công từ mẩu quốc Anh, 13 thuộc địa do người Anh định cư tại Bắc Mỹ đứng lên làm bạo loạn và thành lập liên bang Hoa Kỳ năm 1776. Theo gương Hoa Kỳ các thuộc địa người châu Âu định cư tại Trung Nam Mỹ cũng đấu tranh đòi độc lập. Và kết quả là các thuộc địa ở Trung Nam Mỹ đều được độc lập trong vài thập niên đầu của những năm 1800's. 

Riêng 6 thuộc địa người Anh định cư ở Úc châu, chính quyền Anh ban hành đạo luật cho phép sáu thuộc địa này trở thành sáu tiểu bang của liên bang Úc Đại Lợi độc lập từ ngày 01-01-1901. Còn thuộc địa định cư của người Anh ở Canada, Bắc Mỹ mãi đến năm 1931, Anh Quốc mới ban cấp độc lập.

Tại châu Á, nơi chịu sự cai trị thuộc địa của châu Âu mặc dù họ không ngừng đấu tranh chống lại sự cai trị đó, mãi đến sau đệ I thế chiến mới có 5 quốc gia được trả độc lập là Yemen (1919), Mông cổ (1924), Saudi Arabia (1926), Iraq (1932) và Lebanon (1943). Cuối thập niên 1940's sau đệ II thế chiến, có thêm 13 quốc gia là Miến diện, Ấn độ, Indonesia, Israel, Jordan, Bắc Triều Tiên, NamTriều Tiên, Lào, Pakistan, Philippines, Srilanka, Syria và Đài Loan được độc lập. 

Trong thập niên 1950's có 2 quốc gia là Việt Nam và Cambodia. Thập niên 1960's có 5 nước Cyprus, Kuwait,Malaysia, Maldives và Singapore. Thập niên 1970's có Bahrain, Bangladesh, Qatar và UnitedArab Emirate (5 nước). Thập niên 1980's có Brunei. Và thập niên 1990's khi Liên bang Xô Viết Cộng Sản tan rả, thì có 9 quốc gia độc lập là Armenia, Azerbaijan, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyztan,Russia, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan .

Đặc biệt tại châu Phi có vẽ bi đát hơn nhiều, trước đệ II thế chiến chỉ có 3 quốc gia được trả độc lập là Liberia(1847), Egypt (1922) và Cộng Hòa Nam Phi (1931). Trong thập niên 1950's có 6 nước Libya, Sudan, Tunisia, Ghana, Morocco và Guinea. Thập niên 1960's có 33 nước gồm Algeria, Benin,Botswana, Burkina Faso, Burundi, Cameron, Cộng hòa Trung Phi, Chad, Congo, EquatorialGuinea, Gabon, Gambia, Ivory Coast, Kenya, Lesotho, Madagascar, Malawi, Mali, Mauritania,Mauritius, Niger, Nigeria, Rwanda, Senegal, Sierra Leone, Somalia, Swezealand, Tanzania,Togo, Uganda, Zaire, Zambia, và Zimbabwe

Thập niên 1970's có 8 nước là Angola, Cape Verde,Comoros, Djibouti, Guinea Bissau, Mozambique, Sao Tomé và Seychelles. Và trong thập niên 1990's có hai quốc gia độc lập là Namibia và Eritrea.

VII

Bối cảnh lịch sử liên quan ở trên làm cho chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội thế giới trong những năm đầu của thế kỷ 21 có sự khác nhau nhất định, không chỉ giữa các quốc gia mà còn có sự khác nhau giữa các lục địa nữa. Hiện trạng 193 quốc gia độc lập của thế giới ‘Những năm đầu của thế kỷ 21’ sẽ phản ánh đầy đủ bối cảnh ấy tại mỗi nước./.

Sydney ngày 01 tháng 1 năm 2006



PHỤ BẢN 4: THỬ TÌM HIỂU CÁI TÔI “CON NGƯỜI” VÀ TÌM ĐỊNH HƯỚNG CHI NÓ.

(Tham luận tại Đại hội Chuyên gia Úc Châu năm 1997).

                                                                    Lê Xuân Đỗ

Trong nghiên cứu CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG của họ, chúng tôi xuất phát từ hai quan điểm:

·      Quan Điểm 1: Chân lý là cụ thể. Khoa học là phương pháp. Mối quan hệ giữa chân lý và khoa học là: không có chân lý, thì khoa học không có đối tượng nghiên cứu. Và, không có khoa học thì chân lý cũng không được phát hiện, không được làm sáng tỏ.

·      Quan Điểm 2: Lùi về quá khứ để hiểu hiện tại. Có hiểu đúng hiện tại, mới dự báo được tương lai. Và tương lai trong dự báo, dù có lạc quan đến thế mấy, cái hiện thực của tương lai vẫn đến nhanh đến sớm hơn là dự báo.

Đề tài “Thử Tìm Hiểu Cái Tôi - CON NGƯỜI - Và Tìm Định Hướng Cho Nó” chúng tôi sẽ trình bày dưới bốn ý nhỏ: Con người là gì, họ sống ra sao, tìm định hướng gì cho nó, và sau cùng là mục đích, ý nghĩa của một đời người là gì? 

CON NGƯỜI LÀ GÌ?

Theo cách hiểu của chúng tôi, ở hành tinh nào thì chúng tôi không biết, chứ hành tinh TRÁI ĐẤT, nơi chúng ta đang sống, mỗi CON NGƯỜI chỉ có một lần sinh, một lần chết, không lập lại, không tái sinh. Và, con người cũng chỉ là một SẢN PHẨM CỦA TỰ NHIÊN một loài của giới động vật. Nhưng trong giới động vật, con người là một con vật có văn hóa.

Văn hóa của con người được thể hiện trên đời sống vật chất và đời sống tinh thần ở con người cao hơn và tiến bộ hơn so với con vật. Song, đó chỉ là cái bên ngoài, cái hiện tượng của văn hóa. Còn cái bên trong, bản chất của văn hóa chính là sự hiểu biết của con người, và các cách ứng dụng sự hiểu biết đó vào tổ chức đời sống.

CON NGƯỜI SỐNG RA SAO?

Đến giờ này thì sự hiểu biết của loài người đã trải qua ba bước phát triển: hiểu biết từ thử và sai, hiểu biết từ kinh nghiệm, và hiểu biết từ khoa học. 

Hiểu biết từ THVÀ SAI là hiểu biết do chưa biết mà cứ làm, qua sai lầm “để có được hiểu biết”. Hiểu biết nầy đã đưa bầy người nguyên thủy sống bằng hái lượm và săn bắt, lên thành xã hội loài người sống bằng trồng trọt và chăn nuôi.

Hiểu biết từ KINH NGHIỆM là hiểu biết do bắt chước người khác, hoặc do kinh nghiệm của chính bản thân mình “mà có hiểu biết”. Hiểu biết nầy đã đưa con người đến sự phân công lao động xã hội: nông nghiệp thì cung cấp lương thực thực phẩm, tiểu thủ công nghiệp thì cung cấp hàng tiêu dùng, và thương nghiệp thì làm trung gian trao đổi. 

Hiểu biết từ KHOA HỌC là hiểu biết do suy nghỉ, hoạt động sáng tạo của con người “để đạt tới hiểu biết”. Hiểu biết nầy đã đưa người ta đến việc ứng dụng khoa học vào sản xuất, vào quản lý xã hội, làm cho đời sống con người ngày càng tốt hơn cả lãnh vực vật chất lẫn lãnh vực tinh thần.

***

Trong quá trình ứng dụng hiểu biết vào tổ chức đời sống con người đã để lại nhiều dấu ấn, chúng tôi gọi đó là DẤU ẤN VĂN HOÁ. Tấm lòng của người mẹ, thuỷ chung của người vợ, trách nhiệm của người cha, nghĩa vụ của người chồng, hiếu thảo của người con, chuẩn mực của đạo đức, quy tắc trong xử sự, truyền thống bất khuất, kim tự tháp, vạn lý trường thành, trống đồng Việt Nam, đều là những dấu ấn văn hoá. 

Dấu ấn văn hoá là các “giá trị vật chất, và giá trị tinh thần” là cái đã đưa lại sự an bình cho cuộc sống. Dấu ấn văn hoá là “niềm vui, niềm tự hào” trong quá trình sống. Dấu ấn văn hoá, còn là cái tự trong mình nó chứa đựng cả “sức sống và mầm sống” là cái tạo ra “tính tích cực” trong mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc, và cả nhân loại.

***

Bên cạnh các “Dấu ấn Văn hoá” con người cũng để lại nhiều CÁI MỐC ĐÁNG NHỚ. Chỉ riêng nước Mỹ thôi người ta cũng đã thấy: Năm 1492, Columbus, nhà thám hiểm Châu Âu khám phá ra Châu Mỹ. Năm 1607, cư dân Anh thành lập thuộc địa Jamestown, là thuộc địa đầu tiên của người Anh đến định cư tại Bắc Mỹ. Năm 1775, do bất bình về thuế khóa và mậu dịch bất công từ mẫu quốc Anh, 13 thuộc địa người Anh định cư tại đây đứng lên làm bạo loạn. Và năm sau, năm 1776, họ thành lập Liên Bang Hoa Kỳ độc lập, tách khỏi Anh Quốc. 

Năm 1789, chỉ 13 năm sau ngày độc lập, nước Mỹ ban hành Hiến Pháp, là Hiến pháp thành văn đầu tiên của loài người, dùng làm nền tảng để “tổ chức chính quyền”. Năm 1865, hơn 76 năm sau khi có Hiến Pháp, Tổng thống Lincoln mới xóa bỏ được chế độ NGƯỜI NÔ LỆ NGƯỜI. Năm 1875, Bell sáng chế ra điện thoại. Năm 1897, Edison sáng chế đèn điện. Năm 1903, nhà anh em WRIGHT sáng chế máy bay. Năm 1908, hãng Ford sản xuất xe vận tải. Năm 1927, Baird sáng chế ra máy truyền hình.

***

Cuộc CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ ĐẦU TIÊN của loài người là “máy hơi nước, khung dệt” ra đời năm 1791. Giai đoạn hưng thịnh của cuộc cách mạng từ năm 1791 đến năm 1814, và giai đoạn suy vong của nó từ năm 1815 đến 1847. Anh Quốc là quốc gia thống lĩnh cuộc cách mạng này. Cuộc cách mạng công nghệ thứ nhì là “hỏa xa, than đá, vật liệu xây dựng” ra đời từ năm 1848. Giai đoạn hưng thịnh của nó từ năm 1848 đến năm 1874 và giai đoạn suy vong từ năm 1875 đến năm 1895. Anh Quốc và vài nước Châu Âu thống lĩnh cuộc cách mạng này. 

Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba là “thép, điện tử, máy đốt năng lượng nội tại, cơ khí, hóa học, khoáng chất” bắt đầu từ năm 1896. Giai đoạn hưng thịnh từ năm 1896 đến năm 1919, và giai đoạn suy vong từ năm 1920 đến năm 1939. Hoa Kỳ và Đức Quốc là hai quốc gia thống lĩnh cuộc cách mạng công nghệ thứ ba này. Cuộc cách mạng công nghệ thứ tư là “dầu hỏa, động cơ nhỏ, điện tử, phi cơ, hóa học, các chất nhựa, vô tuyến truyền thanh, và vô tuyến truyền hình” ra đời năm 1940. Giai đoạn hưng thịnh từ năm 1940 đến năm 1967, và giai đoạn lỗi thời, thế hệ mới thay thế từ năm 1968. Quốc gia thống trị cuộc cách mạng này là Hoa Kỳ, Nhật Bản, và vài nước Tây Âu. 

Cuộc cách mạng công nghệ thứ năm là “vi điện tử, điện toán, viễn thông, người máy, điện nguyên tử, sinh học, không gian” ra đời năm 1969. Cuộc cách mạng này đang tiếp diễn. Quốc gia thống lĩnh là Hoa Kỳ, Nhật Bản, và một số nước Tây Âu.

***

Đáng lưu ý trong các cuộc cách mạng này là từ năm 1848, khi khởi đầu cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai, lúc mà Anh Quốc và vài nước châu Âu là các nước thống trị, thì Hoa Kỳ là nước phụ thuộc. Nhưng đến năm 1896, khi cuộc cách mạng công nghệ thứ ba ra đời, Hoa Kỳ đã vươn lên và trở thành nước thống trị. Hoa Kỳ đã duy trì sự thống trị nầy trong suốt các cuộc cách mạng lần thứ ba, thứ tư, thứ năm, dẫn đầu thế giới trong nhiều lãnh vực, đúng như tên gọi là cường quốc số 1 của thế giới.

Nhật Bản, quốc gia duy nhất trên trái đất bị hai quả bom nguyên tử tàn phá năm 1945, thua trận kiệt quệ, là quốc gia phụ thuộc trong thời kỳ tiến hành cách mạng công nghệ lần thứ tư thì, đến năm 1968 khởi đầu cuộc cách mạng công nghệ lần thứ năm, Nhật Bản đã vươn tới đứng hàng thứ hai chỉ sau Hoa Kỳ, thống lĩnh cuộc cách mạng lần này cho đến ngày nay. 

TÌM ĐỊNH HƯỚNG GÌ CHO CON NGƯỜI?

Hiểu con người là gì, biết được họ sống ra sao rồi, thì vấn đề tiếp theo là cần tìm định hướng nào cho nó. Đến giờ này tuổi thọ của loài người đang ở ngưởng cửa trên dưới 80. Vì vậy, chúng ta cũng nên định hướng 85 năm cho một đời người. Trong tám mươi lăm năm ấy, mỗi người chúng ta có ba thời kỳ sống khác nhau: trên dưới hai mươi năm đầu “còn non yếu thì sống phụ thuộc”, trên dưới bốn mươi lăm năm tiếp theo thì “lớn mạnh sống độc lập”, và trên dưới hai mươi năm sau cùng thì “già yếu, lại sống phụ thuộc”. Cho nên, bên cạnh các định hướng xuyên suốt, còn phải đặc biệt quan tâm đến định hướng cho các thời kỳ.

***

ĐỊNH HƯỚNG XUYÊN SUỐT là định hướng cho cả một đời người. Đó là định hướng về thể lực, định hướng về tâm lực, định hướng về trí lực, và định hướng về nghị lực. Định hướng thể lực là định hướng cho sức mạnh của cơ thể, là rèn luyện và nâng cao thể chất để đủ sức đương đầu với mọi gian khó, cam go trong đời sống hiện thực. Sức khỏe luôn là tiền đề đầu tiên, tiền đề số một của đời sống, đúng như cha ông ta từng đánh giá “sức khỏe là vàng”. 

Định hướng tâm lực là định hướng cho sức mạnh của lương tâm, là nâng cao tình cảm trong sáng, biết trọng công bằng, biết yêu khoa học, biết thích tiến bộ, và biết muốn tự do. Biết trọng công bằng là biết trọng lẽ phải, người nầy không dùng ưu thế có được để bắt chẹt, chèn ép người khác yếu thế hơn mình. Yêu khoa học là yêu giờ nào việc đó, là yêu thời biểu do chính mình đặt ra, và tuân thủ nó một cách vô điều kiện. Thích tiến bộ là thích điều mình nghĩ, việc mình làm ngày hôm nay phải tốt hơn hôm qua, và ngày mai phải tốt hơn hôm nay. Muốn tự do là muốn trong hoàn cảnh hiện có, tự mình suy nghĩ và chủ động trong hành động, không bị chi phối bởi bất cứ điều kiện nào và từ đâu đến.

Định hướng trí lực là định hướng cho sức mạnh của trí tuệ, biết phân biệt một cách biện chứng điều phải điều trái, điều đúng điều sai, việc cần làm và điều nên tránh. Định hướng trí lực còn là định hướng cách giải quyết vấn đề. Giải quyết thế nào để đừng “tự dồn mình vào thế bí”, để sau khi giải quyết, có được sự “vui tươi và thoải mái” mỗi ngày. 

Định hướng xuyên suốt sau cùng là định hướng về nghị lực. Định hướng nghị lực là định hướng cho sức mạnh của sự kiên trì. Xét đến cùng định hướng nghị lực là định hướng sức chịu. Bởi vì có chịu đựng được với mọi phong ba bão táp, có vượt qua được mọi thác ghềnh thì mới đưa “con thuyền đời mình” đến được bến vinh quang đã định. Định hướng nghị lực còn có nghĩa là định hướng về “sự siêng năng”, bởi lẽ mọi thành quả mà ta đạt được hầu hết đều do sự siêng năng chăm chỉ mà có.

***

ĐỊNH HƯỚNG THỜI KỲ. Nếu định hướng xuyên suốt là định hướng chủ đạo, định hướng tổng quát, thì định hướng thời kỳ là định hướng cụ thể, định hướng chi tiết, là định hướng của lúc thiếu thời, khi trưởng thành và cả lúc già yếu. Chúng tôi gọi nó với ba cái tên vui là thời kỳ chuẩn bị vào đời, thời kỳ thật sự vào đời, và thời kỳ chuẩn bị lìa đời. 

THỜI KỲ CHUẨN BỊ VÀO ĐỜI là thời kỳ còn non yếu, sống phụ thuộc. Thời kỳ này kéo dài trên dưới hai mươi năm, từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi làm được việc, lấy vợ lấy chồng. Cha mẹ, gia đình, dòng tộc, tôn giáo, tập quán địa phương, văn hóa dân tộc, và cộng đồng xã hội có vai trò hết sức to lớn trong thời kỳ chuẩn bị vào đời này. Sự giàu có của gia đình, và quốc gia sẽ là một môi trường đặc biệt thuận lợi mang tính quyết định sau “nỗ lực của bản thân”. 

Điều quan trọng ở thời kỳ chuẩn bị vào đời là cứ để cho trẻ “tự phát suy nghĩ, và hành động” như một con người trên đà trưởng thành có nhân cách. Cha mẹ phải theo dõi từng ngày, từng giờ tính tích cực và tiêu cực nơi trẻ, khuyến khích và cổ vũ kịp thời các mặt tích cực để tạo thành “thói quen tốt” cho trẻ. Ngăn chận và đẩy lùi tức khắc các hiện tượng tiêu cực vừa phát hiện, quyết không để hiện tượng tiêu cực trở thành “thói quen xấu” nơi trẻ.

Chuẩn bị vào đời cho con là một việc làm hết sức công phu, giống như người “chơi cây cá kiểng”, khi nào thì bón phân, tưới nước, lúc nào thì bắt sâu, uốn cành. Phải làm nó một cách thường xuyên, liên tục chứ không phải làm định kỳ theo kiểu người làm vườn. Có một điều tế nhị nếu không muốn nói là “cấm kỵ” là đừng bao giờ tranh công với con cái mình. Nghĩa là phải hiểu cho được rằng, tính tích cực nơi trẻ là do chính bản thân chúng nghĩ ra, làm nên, chứ không phải do ta áp đặt mà có. 

Cần gieo cho trẻ một nhận thức giản đơn là muốn sống phải “làm việc để kiếm sống”, muốn sống tốt hơn “phải làm việc tốt hơn”. Rằng, con người có được hạnh phúc hay gặp bất hạnh, có thành công hay bị thất bại đều có nguyên nhân từ thời kỳ chuẩn bị vào đời này: ta làm tốt nó, làm đầy đủ thì thuận lợi trong cuộc sống như là điều tất yếu, ngược lại khó khăn đến, hầu như là điều khó tránh. 

THỜI KỲ THỰC SỰ VÀO ĐỜI là thời kỳ trưởng thành, lớn mạnh. Thời kỳ này kéo dài trên dưới bốn mươi lăm năm. Đây là thời kỳ mỗi người tự tổ chức đời sống cho chính mình: “công ăn việc làm, lấy vợ lấy chồng, sinh đẻ con cái, tạo dựng sự nghiệp”. Phải hiểu cho được rằng người vợ người chồng của ta có vai trò hết sức quan trọng. Họ là “người bạn đời, người bạn chung chăn gối, là người cùng mình tạo dựng nghiệp, tạo ra các thế hệ kế tục nối dõi tông đường, kế thừa dòng giống”. 

Chính họ, người vợ, người chồng mới là người “mang lại hạnh phúc, hay tạo ra nỗi bất hạnh” cho ta. Việc chọn vợ, chọn chồng, bước đầu của thời kỳ thực sự vào đời là “thử thách đầu tiên” về sức mạnh của tình cảm và trí tuệ, là sự thống nhất giữa lý trí và tình cảm. Cố gắng chọn người “tâm đầu ý hợp, có sức khỏe, siêng năng, có khả năng làm việc và làm được nhiều việc khác nhau, có khả năng sinh và nuôi dạy con cái, sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm, và chia xẻ ngọt bùi với mình trong suốt cả cuộc đời”.  

Nên nhớ rằng, trên dưới tám mươi năm của một đời người, người ta chỉ sống với cha mẹ, anh chị em mình có hai mươi năm đầu, trên dưới sáu mươi lăm năm còn lại là sống với vợ với chồng. Và, hạnh phúc của con người xét đến cùng là “hạnh phúc gia đình, hạnh phúc trong tình chồng vợ, hạnh phúc trong tình thương yêu con cái, hạnh phúc nơi lòng hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, tổ tiên”. Hạnh phúc còn có thể có được do nơi niềm tin tôn giáo, niềm vui ở dòng tộc, và cả nơi truyền thống văn hóa của dân tộc mình nữa. Yêu cầu hàng đầu của thời kỳ thật sự vào đời là yêu cầu làm việc tích cực: làm việc là “cách duy nhất” tạo ra phương tiện để có hạnh phúc.

THỜI KỲ CHUẨN BỊ LÌA ĐỜI: Một thời kỳ khác, thời kỳ không vui, đó là thời kỳ chuẩn bị lìa đờiThời kỳ này kéo dài trên dưới hai mươi năm. Đây là thời kỳ không còn sức làm việc, thời kỳ già yếu. Thời kỳ mà nếu là người giàu có thì vui thú điền viên, đi đây đi đó, ngắm cảnh nhìn người trước khi nhắm mắt lìa đời sang bên kia thế giới. Còn nếu là người nghèo khó thì trở lại nương tựa vào con cái, sống “lây lất” chờ ngày nhắm mắt rời khỏi cõi trần. 

***

Ở Việt Nam ta, cha mẹ nào cũng thương yêu con cái, lo sao cho con mình lớn lên nên người mới an lòng khi bóng xế về chiều. Nhưng truyền thống gia đình, và tập tục văn hóa Việt Nam thì khi cha mẹ già yếu, thường được con trai mình chăm sóc như một bổn phận của lòng hiếu thảo. Còn con gái mình, khi đã đi lấy chồng thì phải có trách nhiệm nuôi nấng cha mẹ chồng, như con gái nhà người ta về nuôi nấng mình vậy. Đây là một sự phân công của “tập tục văn hóa”, chứ không hề có sự bất công, phân biệt đối xử “trọng nam khinh nữ” gì ở đây cả.  

Tất nhiên, điều này sẽ không còn phù hợp lắm với “tập tục văn hóa công nghiệp” đang hình thành. Phải tùy cơ ứng biến, ta phải “điều chỉnh mình” để thích nghi với môi trường, chứ không thể bắt môi trường thích nghi với ta được. Mọi sự chê bai, than vãng đều không mang lại lợi ích gì. Mặt khác, văn hóa công nghiệp, là một định hướng phát triển tích cực. Bằng cách nầy hay cách khác, nó đang cho ta một môi trường, và điều kiền sống thuận lợi hơn nhiều so với trước đây. Văn hóa công nghiệp là văn hóa tri thức, là văn hóa của ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay.

MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI LÀ GÌ?

Hiểu con người là gì, biết được họ sống ra sao, và tìm định hướng cho nó rồi, vấn đề đặt ra sau cùng vậy thì, mục đích ý nghĩa cuộc sống của con người là gì, nên như thế nào? Như trên đã nói, con người là một sản phẩm của tự nhiên, nhờ hiểu biết và ứng dụng sự hiểu biết vào tổ chức đời sống mà loài người có được một đời sống vật chất và đời sống tinh thần vượt trội đời sống muôn loài trên trái đất.

Thật vậy, nhờ hiểu biết ban đầu chúng tôi gọi là hiểu biết từ “Thử và Sai” mà nó đưa bầy người nguyên thủy sống bằng hái lượm săn bắt lên thành xã hội loài người sống bằng trồng trọt và chăn nuôi. Rồi nhờ hiểu biết từ “Kinh nghiệm” mà nó đưa người ta đến sự phân công lao động xã hội: nông nghiệp thì cung cấp lương thực thực phẩm, thủ công nghiệp thì cung cấp hàng tiêu dùng, thương nghiệp thì làm trung gian trao đổi. Và hiện nay, nhờ hiểu biết từ “Khoa học” mà người ta ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất, vào tổ chức quản lý xã hội làm cho đời sống con người ngày càng được nâng lên mãi, cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần.

Có thể nói rằng đến giờ này thì cơm ta ăn, áo ta mặc, nhà ta ở, chữ ta học, đồ vật ta dùng được thuận lợi, tốt đẹp như thế này là của cho của người khác: của cho của các thế hệ tiền nhân đã lao động sáng tạo ra để ta có mà hưởng. Nhận của cho và biết cho lại luôn luôn và mãi mãi là cơ sở, là tiêu chuẩn, là thước đo của đạo đức cả trong nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, cả trong nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng, cả trong hiện tại cho đến muôn thuở.

Ta đang nhận của cho từ các thế hệ trước, đến lượt mình, ta cũng phải làm cái gì để lại cho các thế hệ sau có mà hưởng. Tất nhiên, các thế hệ sau ta đến lượt họ, họ cũng làm như thế. Đó là quy luật phát triển tự nhiên của xã hội loài người, không theo ý đồ chủ quan, hay sự áp đặt từ một cá nhân, phe nhóm, quốc gia nào cả.

***

Là một nhà nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn, tôi ngạc nhiên đến thích thú khi phát hiện BỐN CẤP ĐỘ ĐẠO ĐỨC CỦA VĂN HOÁ VIỆT đó là đạo đức 9/1, đạo đức 7/3, đạo đức 6/4, và đạo đức 5/5. ĐẠO ĐỨC 9/1 là đạo đức được thể hiện nơi mối “quan hệ cha mẹ với con cái”, tại đây cha mẹ cho con cái tới 9 và nhận lại từ con cái có 1 mà không hề có sự tính toán được mất. ĐẠO ĐỨC 7/3  là đạo đức được thể hiện nơi mối “quan hệ vợ chồng”, tại đây người chồng (hay vợ) lo toan mọi chuyện gia đình tới 7 và người kia có 3 mà không bao giờ có ý so đo hơn thiệt. 

ĐẠO ĐỨC 6/4 là đạo đức được thể hiện nơi mối “quan hệ anh em”, tại đây người anh cho em (hay em cho anh) tới 6 và nhận lại từ em hay anh có 4, mà không hề chờ mong đáp trả. ĐẠO ĐỨC 5/5 là đạo đức được thể hiện nơi mối “quan hệ xã hội”, người nầy không dùng ưu thế, trí trá để bắt chẹt, lợi dụng, sống trên sức chịu của người kia. Phải chăng, đó là “tập tục văn hoá tích cực” và lẽ công bằng của tạo hóa! Tiếc thay, các cấp độ đạo đức trên đang xuống cấp đến mức khá trầm trọng!

Sau cùng, theo chúng tôi, mục đích cuộc sống của mỗi người nên cùng với người xung quanh đưa cuộc sống lên phía trước. Còn ý nghĩa của cuộc sống thì MỖI NGƯỜI nên tạo cho được “sự vui tươi thoải mái mỗi ngày”. Nhưng ý nghĩa của cuộc đời thì nên có sự nghiệp để lại. Chỉ một gương sáng về sự siêng năng thôi cũng đã là sự nghiệp để lại, huống là những phát kiến, sáng tạo ra cái mới đưa lại điều tốt lành hơn cho từng con người, và cả nhân loại. 

Sydney, mùa Xuân năm 1997

 

 

PHỤ BẢN 5: VIỆT NAM VỚI KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG.

(Tham luận tại Đại hội Chuyên gia Úc Châu năm 1996).

                                                                     Lê Xuân Đỗ

I.

Theo cách hiểu của chúng tôi, ở hành tinh nào thì chúng tôi không biết, chứ hành tinh TRÁI ĐẤT nơi chúng ta đang sống, mỗi CON NGƯỜI chỉ có một lần sinh, một lần chết, không lập lại, không tái sinh. Và, con người cũng chỉ là một SẢN PHẨM CỦA TỰ NHIÊN: một loài của giới động vật. Nhưng trong giới động vật, con người là một CON VẬT CÓ VĂN HÓA. Văn hóa của con người được thể hiện trên đời sống vật chất và đời sống tinh thần ở con người cao hơn và tiến bộ hơn so với con vật. 

Song, đó chỉ là cái bên ngoài, cái hiện tượng của văn hóa. Còn cái bên trong, bản chất của văn hóa chính là sự hiểu biết của con người, và các cách ứng dụng sự hiểu biết đó vào tổ chức đời sống. Đến giờ này thì sự hiểu biết của loài người đã trải qua ba bước phát triển: hiểu biết từ thử và sai, hiểu biết từ kinh nghiệm, và hiểu biết từ khoa học. 

Hiểu biết từ THỬ VÀ SAI là hiểu biết do chưa biết mà cứ làm, qua sai lầm “để có hiểu biết”. Hiểu biết nầy đã đưa bầy người nguyên thủy sống bằng hái lượm và săn bắt, lên thành xã hội loài người sống bằng trồng trọt và chăn nuôi. 

Hiểu biết từ KINH NGHIỆM là hiểu biết do bắt chước người khác, hoặc do kinh nghiệm của chính bản thân mình “mà có hiểu biết”. Hiểu biết nầy đã đưa con người đến sự phân công lao động xã hội: nông nghiệp thì cung cấp lương thực, thực phẩm; tiểu thủ công nghiệp thì cung cấp hàng tiêu dùng; thương nghiệp thì làm trung gian trao đổi.

Hiểu biết từ KHOA HỌC là hiểu biết do suy nghĩ, hoạt động sáng tạo của con người “để đạt tới hiểu biết”. Hiểu biết nầy đã đưa người ta đến việc ứng dụng khoa học vào sản xuất, vào quản lý xã hội, làm cho đời sống con người tốt hơn cả lãnh vực vật chất lẫn lãnh vực tinh thần.

II.

Trong quá trình ứng dụng hiểu biết vào tổ chức đời sống con người đã để lại nhiều dấu ấn, chúng tôi gọi đó là “dấu ấn văn hoá”. Tấm lòng của người mẹ, thuỷ chung của người vợ, trách nhiệm của người cha, nghĩa vụ của người chồng, hiếu thảo của người con, chuẩn mực của đạo đức, quy tắc trong xử sự, truyền thống bất khuất, kim tự tháp, vạn lý trường thành, trống đồng Việt Nam, đều là những dấu ấn văn hoá. 

Dấu ấn văn hoá là các “giá trị vật chất, và giá trị tinh thần” là cái đã đưa lại sự an bình cho cuộc sống. Dấu ấn văn hoá là “niềm vui, niềm tự hào” trong quá trình sống. Dấu ấn văn hoá, còn là cái tự trong mình nó chứa đựng cả “sức sống và mầm sống” là cái tạo ra “tính tích cực” trong mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc, và cả nhân loại.

III.

Mục tiêu của hoạt động kinh tế là sử dụng tài nguyên để thoả mãn nhu cầu của con người. Tài nguyên là những “nhập lượng cần thiết” để làm ra sản phẩm và dịch vụ. Có tài nguyên “cơ bản cho sản xuất” như tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, và tư bản. Và, cũng có tài nguyên “mang tính yểm trợ” làm cho sản xuất thuận lợi hơn, đó là kỷ thuật, khả năng quản trị, và óc kinh doanh.

Đặc tính chung của tài nguyên là “tính hửu hạn” trong khi nhu cầu của con người, lại có đặc trưng là tính tăng, và “tăng vô hạn”. Phát triển kinh tế chính là sử dụng tài nguyên hửu hạn ấy, tạo ra được nhiều của cải, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cuộc sống. 

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, người ta ghi nhận có “4 mô hình phát triển kinh tế” là: mô hình phát triển kinh tế một khu vực; mô hình phát triển kinh tế hai khu vực; mô hình phát triển kinh tế ba khu vực; và mô hình phát triển kinh tế bốn khu vực.

1. MÔ HÌNH KINH TẾ MỘT KHU VỰC.

Mô hình phát triển kinh tế một khu vực là mô hình phát triển kinh tế ở bậc thấp, khép kín trong phạm vi gia đình, cộng đồng, thôn xóm, làng xã. Tuỳ theo tài nguyên và trình độ, người ta chỉ sản xuất ra cái gì, nhằm thoả mản nhu cầu trực tiếp cho đời sống. Chúng tôi gọi đó là mô hình kinh tế tự cung, tự cấp.

2. MÔ HÌNH KINH TẾ HAI KHU VỰC.

Mô hình phát triển kinh tế hai khu vực là mô hình phát triển kinh tế khi có sự phân công lao động xã hội, và có nhu cầu trao đổi hàng hóa. Ở mô hình nầy thì: KHU VỰC SẢN XUẤT cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khu vực tiêu dùng, và nhận tiền bán sản phẩm và dịch vụ từ khu vực tiêu dùng. KHU VỰC TIÊU DÙNG thì mua hàng hóa, dịch vụ từ Khu vực sản xuất; bán tư liệu sản xuất, sức lao động, và nhận tiền bán tư liệu, và sức lao đông từ khu vực sản xuất.

Khu vực tiêu dùng qua trao đổi còn dư thừa, người ta gọi là tiết kiệm. Tiết kiệm có thể là “tiền, vàng, và tài sản” khác. Khu vực sản xuất cũng có dư thừa, nhưng do nhu cầu “mở rộng sản xuất”, nên luôn thiếu tiền. “Ngân hàng ra đời” là giúp “giải quyết việc thiếu tiền cho khu vực sản xuất”, bằng cách nhận tiền gởi từ khu vực tiêu dùng gọi là ký thác, rồi cho khu vực sản xuất vay, gọi là tín dụng. Tất nhiên, Ngân hàng cũng được hưởng phần chênh lệch giữa “tín dụng” và “ký thác”. Nhà nước trong vai trò, chức năng Quản lý Xã hội của mình, thu thuế gián thu từ khu vực sản xuất, và thuế trực thu từ khu vực tiêu dùng, trang trải cho Công chi gọi là Chi điều hành Nhà nước, hay còn gọi là chi thường xuyên.

3. MÔ HÌNH KINH TẾ BA KHU VỰC.

Đây là mô hình phát triển kinh tế khi có sự “can thiệp của nhà nước” vào nền sản xuất của xã hội. Ở mô hình nầy, “Khu vực sản xuất; Khu vực tiêu dùng; và Ngân hàng” cũng vận hành như mô hình kinh tế hai khu vực. Cái khác là VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC bây giờ ngoài chức năng quản lý xã hội, còn “tham gia vào hoạt động sản xuất”. Nhà nước thu “THUẾ TRỰC THU” từ khu vực tiêu dùng, trang trải cho “chi điều hành gọi là công chi”. Còn “THUẾ GIÁN THU” thu được từ khu vực sản xuất, Nhà nước “đầu tư trở lại vào sản xuất”.

4. MÔ HÌNH KINH TẾ BỐN KHU VỰC.

Mô hình phát triển kinh tế này ra đời khi nền sản xuất xã hội đạt tới trình độ cao, ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Và, việc “trao đổi hàng hoá mở rộng ra trên phạm vi thế giới”, mang tính phân công quốc tế. Ở mô hình nầy, “Khu vực sản xuất; Khu vực tiêu dùng; Ngân hàng; Khu vực nhà nước” cũng vận hành như mô hình kinh tế ba khu vực. Chỉ khác, là bây giờ có yếu tố NƯỚC NGOÀI THAM GIA trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động của nền kinh tế quốc dân. 

Đối với khu vực nhà nước, thì NƯỚC NGOÀI “cung cấp viện trợ và ngoại trái”. Đối với khu vực sản xuất, thì  NƯỚC NGOÀI “đầu tư khoa học, kỷ thuật, vốn liếng và khả năng quản lý”. Đối với khu vực tiêu dùng, thì NƯỚC NGOÀI “mua nguyên liệu, mướn nhân công, và bán hàng ngoại nhập”. Đối với ngân hàng, thì NƯỚC NGOÀI “cung cấp tín dụng, và ký thác”.

Tất cả đều là sự phát triển tự nhiên của “quá trình ứng dụng sự hiểu biết vào hoạt động kinh tế” không theo ý đồ chủ quan của một cá nhân, phe nhóm, hay một quốc gia nào. Chúng tôi gọi nó là mô hình “phát triển kinh tế từ thấp đến cao” hay còn gọi nó là mô hình “phát triển theo kinh tế thị trường”.

5. MÔ HÌNH KINH TẾ CỘNG SẢN.

Vào đầu thế kỷ 20 có một mô hình phát triển kinh tế mới xuất hiện. Mô hình nầy do Karl Marx khởi xướng vào nửa sau của thế kỷ 19, và được Lenin đưa vào áp dụng đầu thế kỷ 20 sau Cách mạng tháng Mười Nga năm1917. Chúng tôi gọi nó là MÔ HÌNH KINH TẾ MỘT KHU VỰC KIỂU CỘNG SẢN. Ở mô hình nầy, Nhà nước chỉ huy mọi hoạt động của nền kinh tế quốc dân: giao CHỈ TIÊU cho Khu vực sản xuất; ấn định TIÊU CHUẨN TIÊU DÙNG cho Khu vực tiêu dùng; Và, Thương mại quốc doanh làm TRUNG GIAN PHÂN PHỐI. Mọi quan hệ với Khu vực Nước ngoài đều do NHÀ NƯỚC QUYẾT ĐỊNH. Mô hình nầy hoàn toàn không hữu hiệu. Việc Liên Xô tan rã, các nước Đông Âu không còn là minh chứng cho sự thất bại đó!

IV.

Tại sao lại có mô hình kinh tế Cộng sản này? Trong Tuyên ngôn đảng Cộng sản năm 1848, Marx viết: Những người Cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình bằng một công thức duy nhất là “Xoá bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất”. Sau nầy Lenin còn bổ sung thêm “thực chất của Chủ nghĩa Xã hội chính là việc chuyển ruộng đất, công xưởng, và nói chung hết thảy mọi tư liệu sản xuất vào tay của Xã hội”.

Cách làm của họ là dùng thủ đoạn để cướp chính quyền, dùng mị dân để giữ chính quyền, và lừa mị giai cấp để lập nền chuyên chính vô sản. Rồi, dùng chuyên chính vô sản tức chính quyền độc tài của những người Cộng sản đi tước đoạt của cải của toàn xã hội, thâu tóm mọi tư liệu sản xuất vào tay nhà nước. Nhà nước độc quyền hoạt động kinh tế.

Về Chủ nghĩa Xã hội Marx viết: “Đó là việc tuyên bố cách mạng không ngừng, là nền chuyên chính của giai cấp vô sản, để đi đến chỗ thủ tiêu mọi sự khác biệt giai cấp nói chung, thủ tiêu các quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội không phù hợp”. Đối với chúng ta, vấn đề “không phải là biến đổi chế độ tư hữu mà là thủ tiêu chế độ đó; không phải là xoá nhoà mâu thuẫn giai cấp mà là thủ tiêu giai cấp; không phải là cải thiện xã hội hiện tồn mà là xây dựng một xã hội mới”.

Cương lĩnh thành lập Hội những người Cộng sản tháng 8 năm 1850, Marx viết: “Mục đích của Hội là đánh đổ các giai cấp có đặc quyền, bắt những giai cấp ấy phải phục tùng nền chuyên chính của những người vô sản, bằng cách duy trì một cuộc cách mạng không ngừng, cho đến khi thực hiện được chủ nghĩa Cộng sản là hình thức cuối cùng của thể chế loài người”. Và, Lenin còn nói thêm “đối với giai cấp có đặc quyền, giai cấp tư sản thì tước đoạt của cải, tống cổ chúng đi chưa đủ, chúng ta còn bắt chúng phục vụ không công cho giai cấp vô sản nữa”.

Với những người Cộng sản Việt Nam, do ít học nên xem những câu tuyên bố của Marx-Lenin như giáo điều, làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Khẩu hiệu hành động của họ ở miền Bắc trước năm 1975 là “Trí, Phú, Địa, Hào” phải đào tận gốc, phải trốc tận rễ. Không ít người bị gán là “Việt gian”, “phản động”, “địa chủ” bị bắt mang đi thủ tiêu, hành hình. Và, khi có được chính quyền trong cả nước, thì khẩu hiệu hành động của họ là “Nguỵ, Tư, Trí, Phú, Địa, Hào” phải tước hết của, phải đày người đi. Nghĩa là, từ 4 đối tượng phải đào bới, phải triệt tiêu ở miền Bắc trước năm 1975, nay nâng lên thành 6 đối tượng “phải bị tước của, phải đày người đi” ở miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

V.

Hậu quả là, Việt Nam hiện là một trong sáu nước nghèo nhất thế giới. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1993, thu nhập bình quân đầu người của Thuỵ Sĩ 36.410 USD một người một năm, của Lục Xâm Bảo 35.850 USD, còn của Việt Nam ta thì thu nhập bình quân chỉ có 170 USD một người một năm, thấp hơn người dân Thuỵ Sĩ tới 214 lần. Nghĩa là trung bình người Thuỵ Sĩ  thu nhập trên 100 USD/người/ngày thì người Việt Nam dưới 0,50 USD/người/ngày.

Công cuộc đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI đảng Cộng sản năm 1986, để vượt qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, lúc Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachev đang hô hào “Cải tổ, Đổi mới” cấu trúc ở Liên Xô. Đọc báo cáo tại Đại hội VI nầy, Quyền Tổng Bí Thư Trường Chinh nhấn mạnh “Đổi mới không có nghĩa từ bỏ Chủ nghĩa Xã hội, mà là tận dụng các khả năng của đất nước, sử dụng hiệu hiệu mọi sự giúp đở quốc tế với mục tiêu phát triển mọi lực lượng sản xuất, cùng với việc xây dựng, và làm lành mạnh hoá các tương quan sản xuất Xã hội Chủ nghĩa”.

Tại Đại hội VII đảng Cộng sản năm 1991, khi Liên Xô tan rã, các nước Cộng sản Đông Âu không còn, đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước một sự lựa chọn “hoặc là phát triển kinh tế-xã hội tư nhiên theo cơ chế thị trường; hoặc là duy trì sự tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam”. Và, họ đã quyết định “hy sinh sự phát triển kinh tế-xã hội tự nhiên của đất nước” để “duy trì sự tồn tại của đảng Cộng sản”. Họ đưa ra một mô hình gọi là “Phát triển kinh tế Thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa”. 

Đỗ Mười một nhân vật bảo thủ được bầu vào chức Tổng Bí thư thay thế Nguyễn Văn Linh. Để xoa dịu nhân dân và che mắt thế giới, họ đưa Võ Văn Kiệt gốc người miền Nam, ít bảo thủ hơn vào chức Thủ tướng. Đỗ Mười còn hô hào nào là “dân giàu nước mạnh” nào là “làm giàu chính đáng” nào là “Việt Nam sẽ là bạn của thế giới”, nhưng ông ta vẫn không quên cái đuôi “tiến lên Chủ nghĩa Xã hội theo Chủ nghĩa Marx-Lenin cùng vời tư tưởng Hồ Chí Minh”. 

VI.

Ở Đại hội VIII đảng Cộng sản sắp đến, chúng ta không nên trông chờ gì ở những người Cộng sản thủ cựu. Cái mà chúng ta gọi là sự “rạn nứt trong nội bộ lãnh đạo chóp bu của đảng Cộng sản Việt Nam sẽ nổ ra một vụ “Thiên An Môn như ở Trung Cộng” hoặc sẽ làm suy yếu đảng, và đi đến “sụp đổ” là điều tất yếu, như bao nhiêu sự tất yếu khác ở Đông Âu và Liên Xô. Tôi cho rằng đó là sự “lạc quan quá đáng không nên có”!

Đảng Cộng sản Việt Nam có rạn nứt, có bất hoà, thậm chí có thanh trừng. Nhưng, cách giải quyết vấn đề của họ không giống ai: không giống đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng không giống đảng Cộng sản Liên Xô. Họ đã học được bài học từ các nước đàn anh, và có cách “giải quyết không giống ai” của riêng họ.

Hãy cảnh giác, bớt chủ quan trong phân tích và đánh giá Cộng sản, nhất là khi phân tích đánh giá đảng Cộng sản Việt Nam!

Sydney, mùa Xuân năm 1996.

 

 

 


Kính gởi: Thầy Vủ Tất Bội Giám đốc Khóa học.

 

Xuất phát từ nhiệt tình khoa học của một học viên lớn tuổi, tôi xin bày tỏ suy nghĩ của mình về khóa học “Quản lí Kinh tế” nầy. 

Bài phát biểu (dự thảo) phía sau, nếu được thầy chấp nhận tôi sẽ đọc nó trứơc buổi lể bế giảng với mong muốn đó là một việc làm có ích.

Có gì cần thêm bớt xin thầy chỉ giáo thêm. Tôi sẽ sung sướng được đón nhận ý kiến của thầy.

 

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 12 năm 1991

Một học viên Dự thính

 

Lê Xuân Đỗ

 

 

 

 PHỤ BẢN 6: BÀI PHÁT BIỂU TẠI BUỔI LỂ BẾ GIẢNG LỚP “QUẢN LÝ KINH TẾ VĨ MÔ, VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG” DO NGÂN HÀNG THẾ GIỚI TÀI TRỢ, VÀ VĂN PHÒNG HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG TỔ CHỨC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NGÀY 4/11 ĐẾN NGÀY 14/12/1991 THEO DỰ ÁN V.I.E/88/543.

 

Kính thưa các vị giám đốc khóa học,

Kính thưa các vị giáo sư giảng dạy,

Kính thưa các vị quan khách,

Thưa các anh chị học viên.

I.

Là một học viên “dự thính” có qua các cấp học: Đại học Ngữ văn, Đại học Kinh tế, Đại học Luật khoa, Cao học Lịch sử, Cao học Kinh tế. Và có làm các việc: tài chánh, kế toán, dịch vụ, nghiên cứu, chúng tôi xin phát biểu suy nghĩ của mình về những điều nghe thấy tại lớp “Quản lí Kinh tế Vĩ mô, và Kinh tế Thị trường mà Ngân hàng Thế giới dành cho Việt Nam” này.

Tôi nghĩ rằng, đây là một lớp học bổ ích, cần thiết, giá trị mà nó mang lại hết sức to lớn. Chỉ trong vòng 6 tuần lể mà khóa học đã trang bị cho mỗi học viên chúng tôi một lượng thông tin khá lớn, cả tầm kinh tế vĩ mô lẫn tầm kinh tế vi mô, cả độ dày, bề rộng lẫn chiều sâu. Từ quá trình sản xuất, cách tính sản phẩm quốc dân đến thu nhập, tiêu dùng, đầu tư. Từ cơ chế thị trường, can thiệp của nhà nước đến chính sách tài chánh, tiền tệ, lạm phát. Từ kinh nghiệm phát triển của các nước quanh vùng như Đài Loan, Triều Tiên đến phân tích, thẩm định các dự án kinh tế, tài chánh...

Tôi cũng hiểu rằng, đến giờ nầy thì nhân loại đã cung cấp cho chúng ta ba mô hình phát triển kinh tế quốc dân: mô hình “kinh tế tự cung tự cấp”, mô hình “kinh tế thị trường”, và mô hình “kinh tế chỉ huy”. Việt Nam ta đang áp dụng mô hình “kinh tế chỉ huy” muốn chuyển sang “cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa”. 

Đây là “ý muốn” chưa hề có trong quá khứ lịch sử, và cũng chưa có ai định hướng cho tương lai. Cho nên, chúng ta nhờ Liên Hiệp Quốc, nhờ Ngân hàng Thế giới cử chuyên viên đến đây nói cho chúng ta nghe, chỉ cho chúng ta thấy các cách vận hành, các nguyên lí phải tuân, các công cụ chi phối của mỗi mô hình, để chúng ta xét xem, xem có thể vận dụng được gì từ tri thức nhân loại, kinh nghiệm của thế giới vào việc hoạch định chính sách cho “mô hình mới của chúng ta” với những biện pháp, bước đi thích hợp. 

Thế và chỉ có thế thôi! Cho nên, anh bạn tự cho mình có 31 năm trong ngành công nghiệp, trách cứ các vị giáo sư “không hiểu gì về Việt Nam”, tôi e rằng đó là lời trách quá đáng, không nên có!

II.

Chúng tôi cũng nghe thấy tại lớp học nầy qua các anh chị phát biểu, rằng trong công tác thực tiển giữa các ngành còn có những khoảng cách khá lớn. Anh ngân hàng Thành phố “kêu” vay tiền của dân phải trả lãi xuất cao, và cho các “xí nghiệp quốc doanh” vay lại nhận lãi xuất thấp, rồi lãi xuất không phù hợp với mức trược giá. Còn anh thương nghiệp Hậu Giang lại “than” vì lãi xuất ngân hàng quá cao nên sở anh ta điêu đứng. 

Chị xuất nhập khẩu “nói” Xí nghiệp của chị ta vừa Sản xuất hàng để xuất, vừa Nhập hàng để bán mà không khấm khá được cũng vì lãi xuất, tỷ giá ngân hàng. Còn chị chế biến hải sản lại “nói thật” rằng vay được tiền của ngân hàng là mừng lắm vì được hưởng lãi xuất thấp. Anh công nghiệp “cho rằng” tại giá nguyên liệu tăng mà từ năm 1980 đến năm 1985, mỗi năm xí nghiệp anh ta lổ tới bốn, năm trăm triệu. Và, nhờ “cơ chế đổi mới” mà từ năm 1986 đến năm 1990 mỗi năm xí nghiệp anh ta lời tới ba, bốn tỷ. 

Anh nghiên cứu “lại nói” việc sử dụng vốn không đúng chỗ, bố trí cán bộ không đúng nơi, nặng quản lí nhẹ kinh doanh là nguyên nhân làm các “xí nghiệp quốc doanh” hoạt động không hiệu quả. Còn anh địa phương Phú Yên “thì bảo” địa phương anh ta khó mà làm được gì khi tình trạng thiếu vốn, thiếu cán bộ điều hành, thiếu pháp luật nhất quán và chưa ổn định như hiện nay.

Rỏ ràng có quá nhiều vấn đề phải giải quyết, mà vấn đề nào cũng cần Nhà nước Trung ương tham gia góp sức. Có một câu hỏi không thể không đặt ra rằng, thế thì các địa phương, các xí nghiệp quốc doanh đã làm gì có lợi cho Nhà nước? Là chủ thể đang xử dụng nhà đất, máy móc, thiết bị, vốn liếng của Nhà nước để làm ăn, để kinh doanh, họ đã làm tròn, làm tốt nghĩa vụ nộp ngân sách, nộp thuế cho Nhà nước chưa? 

Tại trang nhất báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 5.12.1991 đăng tin “địa phương Quận 5” do các hành vi tham ô, cố ý làm trái chính sách, pháp luật để Nhà nước thất thoát tài sản tới 9,88 tỷ đồng. Và hôm sau, cũng trang nhất báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 6.12.1991 lại đăng trong hai tháng 10 và 11 năm 1991, qua 25 cuộc thanh tra Thành phố đã phát hiện tài sản Nhà nước bị thất thoát tới 57,94 tỷ đồng và hơn 1 triệu đô la (ÚSD), tức trên 70 tỷ do kinh doanh thua lỗ, nợ khó đòi, và trốn thuế. 

Chỉ riêng Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương từ năm 1989 đến giữa năm 1991 còn nợ thuế xuất nhập khẩu lên tới 25,29 tỷ đồng.

III.

Vậy thì, vấn đề đặt ra và cần giải quyết ở đây là cái gì? Thiếu vốn, thiếu chính sách, thiếu luật pháp ổn định ư! Quả có thiếu vốn thật, thiếu nghiêm trọng nữa là khác, nhưng cũng còn phải tính cả việc sử dụng đồng vốn có hiệu quả nửa chứ! Có thiếu chính sách thật, nhưng Nhà nước đã từng vay tiền của dân phải trả lãi xuất cao, mà cho các xí nghiệp quốc doanh vay với lãi xuất thấp rồi cơ mà! 

Có thiếu luật pháp nhất quán và ổn định thật, nhưng cũng còn phải thấy rằng có nhiều địa phương, xí nghiệp cố tình làm trái chính sách, pháp luật của Nhà nước nửa! Cái lỏi của vấn đề ở đây phải chăng là năng lực, là phẩm chất, là bản lỉnh của Nhà quản lí? 

Có lí biết bao ý kiến của anh bạn nghiên cứu cho rằng, nghề kinh doanh là một nghề đặt biệt không phải ai làm cũng được, nó đòi hỏi người quản lí phải có năng lực “vượt trội” mới mong thành công!

IV.

Nhà quản lí phải có “năng lực vượt trội” để khái quát được vấn đề kinh doanh, thấy được hướng phát triển của nó, để đề ra được “phương sách” tốt nhất, và tổ chức thực hiện phương sách tốt nhất ấy đạt mục tiêu mong muốn. Thiếu một trong các yếu tố trên, không thể gọi là nhà quản lí có năng lực vượt trội. 

Nhà quản lí còn phải có “phẩm chất tốt” để không làm gian, nói dối, để bảo đảm được sự ngay tình, trung thực, công bằng, trọng chữ tín. Nhà quản lí còn phải có “bản lỉnh, quyết đoán” biết lợi dụng thời cơ và không để lỡ mất cơ hội, dám hy sinh cái lợi trước mắt để mưu cầu cái lợi lâu dài… 

Năng lực vượt trội của nhà quản lí phải là năng lực được tạo ra bởi năng lực ‘VỀ SỰ HIỂU BIẾT” và năng lực “NHỜ SỰ HIỂU BIẾT”. Cái mà chúng tôi cho là bổ ích, cần thiết, giá trị nó mang lại hết sức to lớn của khóa học như nói trên được nhiều người đồng tình, đó chỉ mới là năng lực thứ nhất năng lực VỀ SỰ HIỂU BIẾT, năng lực lí thuyết, năng lực gián tiếp, năng lực tiềm năng. 

Nhà “quản lí vượt trội” phải từ sự hiểu biết nầy, qua kinh nghiệm của bản thân, hoàn cảnh kinh doanh của đời thực mà tự mình “TẠO RA” ra phương cách tốt nhất để giải quyết vấn đề. Chúng tôi gọi nó là năng lực thứ hai, năng lực NHỜ SỰ HIỂU BIẾT, năng lực vận dụng, năng lực sáng tạo, năng lực biến tiềm năng thành hiện thực.

V.

Công cuộc chuyển đổi nền kinh tế của đất nước đang ở phía trước. Có những vấn đề còn tồn tại, và nhiều vấn đề mới sẽ nảy sinh. Nó cần nhiều kiến giải, kiến nghị các biện pháp để hoàn thiện chủ trương, chính sách của Nhà nước. Học viên khóa “Quản lí Kinh tế vĩ mô và Kinh tế thị trường dành cho Việt Nam” nhận ra điều đó, và xin hứa trước các vị rằng, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức mình tùy sức, tùy môi trường làm việc, mỗi chúng tôi sẽ có những đóng góp cụ thể vào sự nghiệp chung của nước nhà.

Và, sau cùng để cho lời hứa của học viên không trở thành lời hứa suông, chúng tôi đề nghị các anh chị hãy phân tích, và lí giải việc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành quyết định số 693/QĐ/UB thành lập “Công ty Ngoại thương và Phát triển Đầu tư” gọi tắt là FIDECO với chức năng và hoạt động như sau:

Và, sau cùng để cho lời hứa của học viên không trở thành lời hứa suông, chúng tôi đề nghị các anh chị hãy phân tích, và lí giải việc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành quyết định số 693/QĐ/UB thành lập “Công ty Ngoại thương và Phát triển Đầu tư” gọi tắt là FIDECO với chức năng và hoạt động như sau:

1.     Tổ chức, nuôi trồng, đánh bắt, khai thác, chế biến thủy sản, nông sản, lâm sản, súc sản và tài nguyên khác đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, và tiêu dùng trong nước;

2.     Sản xuất, gia công, chế biến hàng công, mỷ nghệ xuất khẩu;

3.     Trực tiếp xuất khẩu hàng hóa, nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, vật liệu, thiết bị, hàng hóa cho nhu cầu sản xuất của các ngành, và các thành phần kinh tế;

4.     Được ủy thác xuất, nhập khẩu, kinh doanh chuyển khẩu, làm đại lí bán hàng cho các đơn vị trong và ngoài nước;

5.     Thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh phi hàng hóa, kinh doanh địa ốc, dịch vụ du lịch, khoa học kỉ thuật;

6.     Được Liên doanh, liên kết với các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước để mở rộng sản xuất, hợp tác với các đơn vị kinh tế nước ngoài theo luật đầu tư để tổ chức sản xuất, chế biến, kinh doanh xuất, nhập khẩu.

7.     (Báo Sài Gòn Giải Phóng số5178 ngày 9.12.1991)

Câu hỏi nêu lên là: 

1.     Liệu Công ty nầy có đủ LỰC và TÀI để hoạt động, kinh doanh bao trùm gần như toàn bộ nền kinh tế quốc dân như vậy không?

2.     Liệu nó có choáng sân, gây trở ngại cho các dự tính đầu tư khác sau nầy không?

3.     Cái LỢI và HẠI do việc không đủ “lực và tài” mà muốn bao biện gây ra?

VI.

Trong quản lí nói chung và quản lí kinh tế nói riêng trên thế giới, người ta thấy rằng TẦM HẠN QUẢN TRỊ là yếu tố quan trọng nhất của quản lí. Người ta thấy cái cách quản lí “đa chức năng” có phần kém hiệu lực, nên đang chuyển sang quản lí “đơn chức năng”, chuyên sâu một lảnh vực, thì Công ty Ngoại thương và Phát triển Thành phố lại mở rộng theo hướng “đa chức năng”. Việc làm ấy có phù hợp không? Triển vọng của nó?

Xin các anh chị học viên từ cấp quản lí Trung ương, quản lí Địa phương, Giám đốc trực tiếp kinh doanh kiến giải cho cái hiện tương kinh tế đang nóng hổi nầy. Chúng tôi tin rằng lời kiến giải của các anh chị sẽ có ích cho nhiều người.

Trân trọng kính chào quí‎ vị.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 12 năm1991

Lê xuân Đỗ

( Học viên Dự thính)

  


 PHỤ BẢN 7:  BÀI PHÁT BIỂU TẠI BUỔI LỂ BẾ GIẢNG KHOÁ II CAO HỌC LỊCH SỬ

Lê xuân Đỗ

Kính thưa quí vị giáo sư

Kính thưa quí vị khách quí

Sau hơn hai năm dưới sự dẫn dắt của giáo sư Viện trưởng MẠC ĐƯỜNG, và sự tận tâm giảng dạy của các vị giáo sư tôn kính, hôm nay Khóa II Cao học Lịch sử chúng tôi được chính thức làm lể bế giảng. Xin cho phép tôi thay mặt anh chị em học viên chân thành tri ân quí vị giáo sư, quí‎ vị khách quý đã dành cho chúng tôi sự hiện diện đầy khích lệ nầy.

Thưa quí vị.

Dù có nỗ lực từ bản thân mỗi học viên, kết quả học tập mà chúng tôi đạt được hôm nay không tách khỏi công sức của Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Đào tạo Sau đại học, của các vị giáo sư, các cán bộ nhà trường, trong đó nội dung, cách thiết kế chương trình giảng dạy của giáo sư Viện trưởng MẠC ĐƯỜNG có vai trò hết sức to lớn.

Thật vậy, từ những ngày đầu giáo sư đã trang bị lại cho chúng tôi các quan điểm của chủ nghĩa Duy vật Lịch sử, Duy vật Biện chứng. Các phương pháp của tư duy: tư duy Lô-gích, tư duy Biện chứng. Rồi thầy cho chúng tôi tiếp cận với khoa học liên ngành: Dân tộc học, Xã hội học, Khảo cổ học, Kinh tế học, Luật học…

Xong, thầy dẫn chúng tôi “vượt khỏi biên cương” tiếp xúc với Lịch sử, Văn hóa, Kinh tế, Xã hội của các nước quanh vùng như Thái Lan, Malaysia, Philippine, Indonesia; Xa hơn với Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Sau cùng, thầy cho chúng tôi vượt Đại Dương tiếp xúc với hai cường quốc thế giới là Liên Xô, và Hoa Kỳ.

Sau nhiều tháng chu du ngắm cảnh, nhìn người: quan sát, ghi nhận, suy nghĩ, so  sánh, rút ra được một cái gì đó “ở người”, rồi đưa chúng tôi trở về nước. Ở đây, một lần nữa thầy cho chúng tôi được nghe các bài giảng “chuyên sâu” về đất nước mình: Lịch sử chống ngoại xâm của giáo sư NGUYỄN PHAN QUANG; Lịch sử chế độ ruộng đất của thầy HUỲNH LỨA; Lịch sử tư tưởng của giáo sư TRẦN VĂN GIÀU; Lịch sử phát triển xã hội của thầy TRẦN BẠCH ĐẰNG; Lịch sử văn hóa của tiến sĩ PHAN LẠC TUYÊN, Lịch sử nền Văn minh cổ của giáo sư LÊ XUÂN DIỆM; Lịch sử tôn giáo của giáo sư BÙI THỊ KIM QUỲ; Lịch sử chiến tranh vệ quốc hiện đại của thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ… Và rất nhiều chuyên đề khác, kể cả các chuyên đề thầy có thể tranh thủ được từ các giáo sư lảnh đạo ngành ở Hà nội vào thành phố công tác.

Không kể các chuyên đề của khách thuyết trình, và 300 giờ Triết học phải nhờ trường Đại học Tổng hợp giảng dạy, 50 chuyên đề của chương trình chính khóa là rất đa dạng trong đó có nhiều công trình mới nghiên cứu hoặc mới bổ sung. Và cũng có không ít công trình mới tổng kết tri thức nhân loại từ thập kỉ 1970 và thập kỉ 1980. Theo chúng tôi, nội dung giảng dạy như vậy là phong phú, cách thiết kế chương trình như vậy là khoa học, nếu ít đi, hoặc khác đi chắc chúng tôi đã không đạt được kết quả như hôm nay.

Ở trên là phần của Viện, của nhà trường. Còn phần học viên chúng tôi thì trong quá trình học tập, chúng tôi được chủ động nghe, và cũng được chủ động nói: nghe khi thầy giảng và nói lúc thảo luận (seminar). Thầy trò chúng tôi có những cuộc trao đổi hết sức thâm tình, hết sức cởi mở, thẳng thắn trên tinh thần khoa học là “tìm tòi cái hay”, “phát hiện cái mới”. Chính nhờ những buổi thảo luận như vậy mà nhiều vấn đề mới trong các chuyên đề được phát hiện, được làm sáng tỏ thêm ra. Thực sự chúng tôi đã thoát khỏi cái cách tiếp thu thụ động một chiều để rồi trả bài như thường làm ở cấp Trung học và Đại học.

Thưa các vị giáo sư,

Thưa các vị khách quí,

Trong buổi lễ trang nghiêm kết thúc khóa học nầy, trước các vị giáo sư tôn kính, trước các vị khách quí, khóa II Cao học ngành Khoa học Lịch sử chúng tôi xin hứa trước các vị rằng, những gì Viện Khoa học Xã hội, Trung tâm Đào tạo sau Đại học đã trang bị cho chúng tôi, chúng tôi sẽ vận dụng, tận dụng để làm những việc có ích. Chúng tôi xác định đối tượng mà chúng tôi phải phục vụ là ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM, DÂN TỘC VIỆT NAM, CON NGƯỜI VIỆT NAM.

Tùy sức, tùy môi trường làm việc, mỗi chúng tôi có cách vận dụng và sử dụng vốn học khác nhau, nhưng chúng tôi xin đoan chắc trước quí vị rằng chúng tôi đều có một điểm xuất phát, điểm đó là LƯƠNG TÂM, TRÍ TUỆ, NHÂN CÁCH, VÀ DANH DỰ CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU SỬ HỌC VIỆT NAM. Và, chúng tôi cũng chỉ có một nguyên tắc làm việc, nguyên tắc đó là CHÂN LÝ LÀ CỤ THỂ, KHOA HỌC LÀ SÁNG TẠO. Chúng tôi sẽ sáng tạo từ cái “cụ thể của đất nước mình”, tiếp thu có chọn lọc “cái của người”, vận dụng nó phù hợp với đặc điểm của đất nước, của quy luật khách quan. Nhất định chúng tôi không “sao chép”, “cắp nhặt” lấy cái của người làm của mình!

Chuyên đề “đổi mới để hồi sinh, mở cửa để đổi mới” của giáo sư NGUYỄN PHAN QUANG đã gợi lên trong chúng tôi một suy nghĩ nghiêm túc. Chúng tôi phải chuẩn bị cho mình một “dạ dày tốt” để tiêu hóa được “cái mới, cái hay” của người mà không bội thực. Cái gương bội thực của những người đi trước luôn luôn là một bài học đối với chúng tôi.

Lĩnh vực Sử học là một lĩnh vực hoạt động khiêm nhường so với các lĩnh vực khác, nhưng không phải là không quan trọng. Không có điểm xuất phát đúng đắn, không có đối tượng phục vụ đích thực, không có nguyên tắc làm việc cụ thể, lĩnh vực Sử học là một lĩnh vực dể bội thực hơn hết thảy, bởi vì người ta có thể “nhầm lẫn, hoặc giã vờ nhầm lẫn”, người ta có thể “bỏ quên, hoặc giã vờ bỏ quên Lịch sử” để làm “méo mó Lịch sử” khi viết, khi bình luận, khi đánh giá Lịch sử.

Khóa II Cao học Lịch sử chúng tôi sẽ cố gắng hết sức mình để không lập lại những điều không vui ấy. Chúng tôi sẽ kiên trì với “điểm xuất phát”, với “đối tượng phục vụ”, với “nguyên tắc làm việc” như đã khẳng định ở trên. Rất mong được các vị giáo sư tôn kính, các vị khách quí, các bậc đàn anh hết lòng giúp đở chúng tôi để chúng tôi vững bước trên con đường nghiên cứu sử học.

Xin chân thành cám ơn quí vị, và xin cho phép chúng tôi - toàn thể khoá II Cao học Lịch sử gởi đến mỗi vị có mặt hôm nay lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Trân trọng kính chào quí vị.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31 tháng 8 năm 1991

(Việt Nam Sự Kiện II từ chương 1 đến hết chương 15)

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét