Chương 13: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ (1975-1976)
(Có 15 trang và 9.295)
Chính quyền Việt Nam dân chủ Cộng hoà 1964-1975 là Chính quyền Quản lý miền Bắc sau Hiệp định Genève 1954.
1. CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG
(Quốc hội V: 1975 – 1976)
I. Bối cảnh thành lập
Chính phủ Việt Nam giai đoạn 1975-1976 còn được gọi là Chính phủ Quốc hội khóa V. Chính phủ Quốc hội khóa V được xem là Chính phủ có thời gian tồn tại ngắn nhất, do sau khi hoàn thành thống nhất đất nước chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam muốn thống nhất cả mặt trận chính trị nên kết thúc sớm nhiệm kỳ.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Phạm Văn Đồng | Thủ tướng Chính phủ | |
2 | Võ Nguyên Giáp Lê Thanh Nghị Nguyễn Duy Trinh Nguyễn Côn Đỗ Mười Hoàng Anh Trần Hữu Dực Phan Trọng Tuệ Đặng Việt Châu | Phó thủ tướng Chính phủ | |
3 | Võ Nguyên Giáp | Bộ trưởng Quốc phòng | |
4 | Nguyễn Duy Trinh | Bộ trưởng Ngoại giao | |
5 | Trần Quốc Hoàn | Bộ trưởng ội vụ | |
6 | Nguyễn Hữu Mai Đinh Đức Thiện | Bộ trưởng Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước | |
7 | Nguyễn Chấn | Bộ trưởng Điện và Than | |
8 | Nguyễn Côn | Bộ trưởng Cơ khí và Luyện kim | |
9 | Đỗ Mười | Bộ trưởng Xây dựng | |
10 | Dương Bạch Mai | Bộ trưởng Giao thông vận tải | |
11 | Vũ Tuân | Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ | |
12 | Nguyễn Xuân Yêm Ngô Minh Loan | Bộ trưởng Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương | |
13 | Nguyễn Thanh Bình | Bộ trưởng Thủy lợi | |
14 | Hoàng Quốc Thịnh | Bộ trưởng Nội thương | |
15 | Phan Anh | Bộ trưởng Ngoại thương | |
16 | Đào Thiện Thi | Bộ trưởng Tài chính | |
17 | Nguyễn Thọ Chân | Bộ trưởng Lao động | |
18 | 1. Trần Danh Tuyên | Bộ trưởng Vật tư | |
19 | Hoàng Minh Giám | Bộ trưởng Văn hóa | |
20 | Nguyễn Văn Huyên | Bộ trưởng Giáo dục | |
21 | Tạ Quang Bửu | Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp | |
22 | Vũ Văn Cẩn | Bộ trưởng Y tế | |
23 | Dương Quốc Chính | Bộ trưởng Thương binh và Xã hội | |
24 | Hà Kế Tấn | Bộ trưởng Chuyên trách công trình sông Đà | |
25 | Trần Quang Huy | Bộ trưởng Chuyên trách Văn giáo | |
26 | Phan Mỹ | Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng | |
27 | Trần Hữu Dực | Bộ trưởng Phủ Thủ tướng | |
28 | Lê Quảng Ba | Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc | |
29 | Lê Thanh Nghị | Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước | |
30 | Võ Thúc Đồng | Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương | |
31 | Tô Duy | Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước | |
32 | Trần Đại Nghĩa | Chủ nhiệm Khoa học Kỹ thuật Nhà nước | |
33 | Nguyễn Văn Lộc | Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Chính phủ | |
34 | Đặng Thí | Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất của Chính phủ | |
35 | Đặng Việt Châu | Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam | |
III. Sự kiện liên quan, việc đã làm.
1. Sau ngày 30/4/1975, ở hai miền Nam-Bắc tồn tại hai nhà nước với hai chính phủ, đó là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhận định thống nhất nước nhà sẽ tạo ra sức mạnh mới để phát triển kinh tế, xã hội và củng cố quốc phòng, tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Từ ngày 15 đến ngày 21-11-1975, tại thành phố Sài Gòn, đại biểu hai miền Nam-Bắc đã tổ chức Hội nghị Hiệp thương chính trị để bàn việc thống nhất nước Việt Nam về mặt Nhà nước.
Hội nghị cho rằng, đó là điều kiện cơ bản để đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hội nghị cũng nhấn mạnh: “Cần tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam để bầu ra Quốc hội chung cho cả nước. Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và chủ nghĩa xã hội, Quốc hội đó sẽ xác định thể chế Nhà nước, bầu ra các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và quy định Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất”.
2. Ngày 3-1-1976, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 228-CT/TW chỉ rõ, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung sẽ được tiến hành trong cả nước cùng một ngày. Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cùng thống nhất việc thành lập Hội đồng bầu cử toàn quốc với số đại biểu ngang nhau của mỗi miền gồm 22 đại biểu. Mỗi miền cử 11 đại biểu. Chủ tịch Hội đồng bầu cử, Trường Chinh; Phó Chủ tịch Hội đồng bầu cử, Phạm Hùng. Căn cứ vào điều kiện cụ thể lúc đó, ở mỗi miền đã thành lập Hội đồng bầu cử riêng.
Ở miền Bắc, cơ quan chủ trì bầu cử là Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở miền Nam, cơ quan chủ trì bầu cử là Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngay từ tháng 2-1976, các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình đều tập trung vào việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia Tổng tuyển cử trong thời gian chuẩn bị và thực hiện bầu cử. Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về Tổng tuyển cử được tổ chức học tập rộng rãi trong nhân dân. Đối với các tỉnh, thành phố miền Nam, chính phủ có chính sách, tiêu chuẩn xác nhận quyền công dân và hướng dẫn việc lập danh sách cử tri.
3. Ở các vùng mới giải phóng, đây là một cuộc động viên chính trị sâu rộng. Do đó, giai cấp công nhân đã tỏ rõ vai trò tiên phong của mình trong cuộc vận động Tổng tuyển cử. Nhiều nơi, các công đoàn quận đã tổ chức đội tuyên truyền lưu động với sự tham gia của hàng nghìn công nhân. Mỗi công nhân phụ trách một số gia đình, đi sâu vào phường, khóm, tuyên truyền, giải thích chủ trương của Đảng, pháp luật bầu cử của Nhà nước và vận động đồng bào đi bỏ phiếu. Nhận thức rõ sự khác nhau giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản, tầng lớp trí thức nói chung đã tham gia bầu cử một cách tự nguyện, tự giác.
Tại nhiều địa phương ở miền Nam, chính quyền cách mạng còn quan tâm tạo điều kiện cho hơn 95% số người đã từng làm việc trong bộ máy chính quyền Sài Gòn và quân đội cũ, nhưng đã được học tập, cải tạo, có sự tham gia ý kiến của quần chúng ở cơ sở được thực hiện quyền công dân, tham gia bầu cử. Việc làm này vừa thể hiện chính sách khoan hồng, độ lượng của Nhà nước, vừa nâng cao uy thế của quần chúng cách mạng, vừa có tác dụng giáo dục đối với những người được khôi phục cũng như những người chưa được khôi phục quyền công dân.
4. Việc giới thiệu những người ra ứng cử đã được thực hiện dân chủ, theo Pháp lệnh bầu cử đại biểu Quốc hội ngày 20-2-1976 của Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, trong đó Mặt trận Dân tộc thống nhất cùng các đoàn thể quần chúng đóng vai trò quan trọng. Danh sách những người ra ứng cử đã được các tổ chức quần chúng ở cơ sở thảo luận để đưa lên Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Ủy ban Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thống nhất hiệp thương và chính thức giới thiệu.
Đối với các tỉnh, thành phố miền Bắc, việc giới thiệu những người ra ứng cử được áp dụng theo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 13-1-1960. Những người ra ứng cử đều do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu. Việc niêm yết danh sách cử tri và tổ chức các cuộc tiếp xúc giữa ứng cử viên đại biểu Quốc hội với cử tri ở các khu vực bầu cử được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm công khai và dân chủ để cử tri trao đổi ý kiến, tự mình lựa chọn bầu những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội.
5. Tổng số 605 người ra ứng cử đều là những người có thành tích trong chiến đấu, công tác và sản xuất, bao gồm các nhà hoạt động cách mạng lâu năm, các đại biểu công nhân, nông dân, quân nhân cách mạng, trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh, tư sản dân tộc, đại biểu các tộc người, các tôn giáo. Danh sách đó thật sự là hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên cơ sở liên minh công nông. Trước ngày bầu cử, hầu hết các thị xã, thành phố đều có mít tinh, diễu hành của quần chúng hoan nghênh Tổng tuyển cử. Riêng thành phố Sài Gòn, hàng chục vạn công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh đã xuống đường tuần hành.
Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được tổ chức ngày 25-4-1976. Trong không khí tưng bừng, trên 23 triệu cử tri, với tư thế của người làm chủ đất nước đã nô nức làm nghĩa vụ công dân của mình bầu những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam độc lập, thống nhất. Cuộc bầu cử được tiến hành nhanh, gọn và đạt kết quả tốt. Tỷ lệ cử tri đi bầu trong cả nước đạt 98,77%, trong đó miền Bắc 99,36%, miền Nam 98,59%. Có nhiều xã, huyện, thị, đơn vị vũ trang và khu vực bỏ phiếu đạt 100% cử tri đi bầu.
6. Số đại biểu trúng cử ở các tỉnh, thành phố như sau: Thành phố Hà Nội: 22 đại biểu; Thành phố Hồ Chí Minh: 35 đại biểu; Thành phố Hải Phòng: 13 đại biểu; Tỉnh Lai Châu: 3 đại biểu; Tỉnh Sơn La: 4 đại biểu; Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 7 đại biểu; Tỉnh Hà Tuyên: 7 đại biểu; Tỉnh Cao Lạng: 9 đại biểu; Tỉnh Bắc Thái: 8 đại biểu; Tỉnh Quảng Ninh: 8 đại biểu; Tỉnh Hà Sơn Bình: 21 đại biểu; Tỉnh Hà Bắc: 15 đại biểu; Tỉnh Vĩnh Phú: 16 đại biểu; Tỉnh Hải Hưng: 20 đại biểu; Tỉnh Thái Bình: 15 đại biểu; Tỉnh Hà Nam Ninh: 26 đại biểu; Tỉnh Thanh Hóa: 23 đại biểu; Tỉnh Nghệ Tĩnh: 27 đại biểu;
Tỉnh Bình Trị Thiên: 19 đại biểu; Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: 15 đại biểu; Tỉnh Nghĩa Bình: 18 đại biểu; Tỉnh Phú Khánh: 11 đại biểu; Tỉnh Gia Lai - Kon Tum: 6 đại biểu; Tỉnh Đắk Lắk: 5 đại biểu; Tỉnh Lâm Đồng: 4 đại biểu; Tỉnh Thuận Hải: 9 đại biểu; Tỉnh Đồng Nai: 13 đại biểu; Tỉnh Sông Bé: 6 đại biểu; Tỉnh Tây Ninh: 6 đại biểu; Tỉnh Long An: 8 đại biểu; Tỉnh Tiền Giang: 11 đại biểu; Tỉnh Bến Tre: 9 đại biểu; Tỉnh Cửu Long: 13 đại biểu; Tỉnh Đồng Tháp: 10 đại biểu; Tỉnh An Giang: 14 đại biểu; Tỉnh Hậu Giang: 19 đại biểu; Tỉnh Kiên Giang: 8 đại biểu; Tỉnh Minh Hải: 10 đại biểu.
7. Trong tổng số 492 đại biểu trúng cử: công nhân 16,26%; nông dân 20,33%; thợ thủ công 1,22%; cán bộ chính trị 28,66%; quân nhân cách mạng 10,97%; tri thức 18,50%; nhân sĩ dân chủ và tôn giáo 4,06%; đại biểu nữ 26,21%; đại biểu các dân tộc thiểu số 14,28%.
Ngày 24-6-1976, kỳ họp đầu tiên Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội, có 482 đại biểu về dự, 10 đại biểu vắng mặt. Đoàn Chủ tịch điều hành kỳ họp gồm 36 thành viên, trong đó có các đồng chí và các vị Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát... Thay mặt Đoàn Chủ tịch kỳ họp, Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã đọc diễn văn khai mạc. Thay mặt Hội đồng bầu cử toàn quốc, Chủ tịchTrường Chinh đã báo cáo trước Quốc hội về kết quả cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước ngày 25/4/1976.
8. Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã trình bày trước Quốc hội Báo cáo chính trị Toàn dân đoàn kết xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất xã hội chủ nghĩa. Báo cáo nêu rõ: Xuất phát từ tình hình mới của đất nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: “Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”.
IV. Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
1. Ngày 2-7-1976, sau khi thảo luận đề nghị của Đoàn Chủ tịch kỳ họp, Quốc hội đã nhất trí thông qua các nghị quyết về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô và Quốc ca của nước Việt Nam thống nhất:
· Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa lấy tên là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
· Quốc kỳ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.
· Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng cưa và dòng chữ “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
· Thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội.
· Quốc ca nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bài Tiến quân ca.
Để thể hiện tính liên tục của Nhà nước qua các giai đoạn đấu tranh cách mạng của nhân dân ta từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, theo đề nghị của Đoàn Chủ tịch kỳ họp, Quốc hội đã thảo luận và thông qua nghị quyết về tên gọi của Quốc hội được bầu trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 25-4-1976 là Quốc hội khoá VI với ý nghĩa kế tục sự nghiệp của 5 khoá Quốc hội trước. Trong khi chờ đợi có Hiến pháp mới, Quốc hội cũng đã thông qua nghị quyết về việc quy định Nhà nước Việt Nam sẽ tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
2. Tổ chức nhà nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở Trung ương gồm có: Quốc hội; Chủ tịch nước và hai Phó Chủ tịch nước; Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Hội đồng Chính phủ; Hội đồng Quốc phòng; Toà án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội giao cho Hội đồng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xúc tiến việc dự thảo các luật, pháp lệnh cần thiết trong tình hình mới trình Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Đối với các pháp luật hiện hành của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và của Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Hội đồng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ hướng dẫn việc thi hành cho sát với tình hình thực tế.
Tại kỳ họp ngày 2-71976 nầy, Quốc hội đã thông qua nghị quyết đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh. Quốc hội cũng đã thông qua nghị quyết thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và các ủy ban của Quốc hội gồm:
· Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách do ông Nguyễn Văn Trân làm Chủ nhiệm và 35 ủy viên.
· Ủy ban Dự án pháp luật do ông Trương Tấn Phát làm Chủ nhiệm và 17 ủy viên.
· Ủy ban Dân tộc do ông Chu Văn Tấn làm Chủ nhiệm và 26 ủy viên.
· Ủy ban Văn hóa và Giáo dục do ông Lưu Hữu Phước làm Chủ nhiệm và 27 ủy viên.
· Ủy ban Y tế và Xã hội do ông Nguyễn Văn Thủ làm Chủ nhiệm và 21 ủy viên.
· Ủy ban Đối ngoại do ông Hoàng Minh Giám làm Chủ nhiệm và 11 ủy viên.
3. Ngày 2-7-1976, Quốc hội bầu các vị lãnh đạo Nhà nước và thành lập Chính phủ mới để điều hành công việc của nước nhà. Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước: Chủ tịch: Tôn Đức Thắng; Phó Chủ tịch: Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Hữu Thọ. Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chủ tịch: Trường Chinh; Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký: Xuân Thuỷ; Phó Chủ tịch: Hoàng Văn Hoan, Phan Văn Đáng, Nguyễn Thị Thập, Chu Văn Tấn, Nguyễn Xiển, Trần Đăng Khoa. Các ủy viên: Lê Thành, Nguyễn Đức Thuận, Trần Đình Tri, Trương Tấn Phát, Võ Thành Trinh, Nguyễn Công Tâm, Đào Văn Tập, Hoà thượng Thích Thiện Hào, Nguyễn Thị Như, Phan Minh Tánh, Cầm Ngoan, Huỳnh Cương, Anh hùng Núp. Ủy viên dự khuyết: Vũ Định, Nguyễn Thị Được.
Hội đồng Chính phủ: Thủ tướng Chính phủ: Phạm Văn Đồng. Phó Thủ tướng Phạm Hùng; Huỳnh Tấn Phát; Võ Nguyên Giáp; Nguyễn Duy Trinh; Lê Thanh Nghị; Võ Chí Công; Đỗ Mười. Bộ trưởng các bộ, Chủ nhiệm các ủy ban nhà nước và thủ trưởng các cơ quan ngang bộ: Bộ trưởng Nội vụ: Trần Quốc Hoàn; Bộ trưởng Ngoại giao: Nguyễn Duy Trinh; Bộ trưởng Quốc phòng: Võ Nguyên Giáp; Bộ trưởng Nông nghiệp: Võ Thúc Đồng; Bộ trưởng Lâm nghiệp: Hoàng Văn Kiểu; Bộ trưởng Thuỷ lợi: Nguyễn Thanh Bình; Bộ trưởng Cơ khí và Luyện kim: Nguyễn Côn; Bộ trưởng Điện và Than: Nguyễn Chấn; Bộ trưởng Xây dựng: Đỗ Mười;
4. Bộ trưởng Giao thông vận tải: Phan Trọng Tuệ; Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ: Vũ Tuân; Bộ trưởng Lương thực và Thực phẩm: Ngô Minh Loan; Bộ trưởng Hải sản: Võ Chí Công; Bộ trưởng Nội thương: Hoàng Quốc Thịnh; Bộ trưởng Ngoại thương: Đặng Việt Châu; Bộ trưởng Tài chính: Đào Thiện Thi; Bộ trưởng Lao động: Nguyễn Thọ Chân; Bộ trưởng Vật tư: Trần Sâm; Bộ trưởng Văn hoá: Nguyễn Văn Hiếu; Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp: Nguyễn Đình Tứ; Bộ trưởng Giáo dục: Nguyễn Thị Bình; Bộ trưởng Y tế: Vũ Văn Cẩn; Bộ trưởng Thương binh-Xã hội: Dương Quốc Chính.
Chủ nhiệm các ủy ban: Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước: Lê Thanh Nghị; Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước: Nguyễn Hữu Mai; Bộ trưởng Phủ Thủ tướng: Đặng Thí; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng: Phan Mỹ; Bộ trưởng phụ trách công tác văn hoá, giáo dục ở Phủ Thủ tướng: Trần Quang Huy; Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí: Đinh Đức Thiện; Bộ trưởng phụ trách công trình sông Đà: Hà Kế Tấn; Bộ trưởng phụ trách công tác khoa học-kỹ thuật nông nghiệp: Nghiêm Xuân Yêm; Tổng Giám đốc Ngân hàng nhà nước: Hoàng Anh;
5. Chủ nhiệm Ủy ban vật giá nhà nước: Tô Duy; Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc: Lê Quảng Ba; Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước: Trần Đại Nghĩa; Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Chính phủ: Trần Nam Trung. Hội đồng Quốc phòng: Chủ tịch: Tôn Đức Thắng. Phó Chủ tịch: Phạm Văn Đồng. Các ủy viên: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Phạm Văn Bạch. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Trần Hữu Dực.
Thay mặt các vị được bầu vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, Chủ tịch Tôn Đức Thắng phát biểu và hứa với Quốc hội, với đồng bào ra sức đoàn kết, động viên toàn dân phấn đấu thực hiện đầy đủ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Thay mặt toàn thể Hội đồng Chính phủ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng bày tỏ với Quốc hội, quyết tâm phấn đấu làm tròn trách nhiệm của mình; ra sức hoàn thành việc thống nhất quản lý nhà nước về mọi mặt, nhằm thực hiện tốt kế hoạch nhà nước năm 1976 trên phạm vi cả nước, chuẩn bị cho kế hoạch nhà nước năm 1977 và kế hoạch nhà nước 5 năm (1976-1980).
6. Ngày 3-7-1976, Phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá VI, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh đã nhấn mạnh: “Với thắng lợi của kỳ họp này, chúng ta đã thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Nhân dân ta vô cùng phấn khởi. Anh em bầu bạn trên thế giới chia sẻ vui mừng với chúng ta... Chúng ta cần tiếp tục phấn đấu, ra sức khắc phục những khó khăn về thanh toán những ảnh hưởng còn lại của chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ; về phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân; về khôi phục kinh tế, ổn định đời sống; về cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; về tăng cường và cải tiến quản lý nền kinh tế quốc dân”.
Ngày 25-9-1976, Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về chính sách đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam. Đây là một chính sách lớn của Nhà nước nhằm hướng dẫn và cải tạo kinh tế tư bản tư doanh đi dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội thông qua con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa. Ngày 14-10-1976, Chính phủ Quyết định thành lập Tổng cục Khí tượng và Thuỷ văn trực thuộc Hội đồng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất Nha Khí tượng và Cục Thuỷ văn. Ngày 16-10-1976, Thủ tướng Chính phủ Quyết định huyện Côn Sơn (trên đảo Côn Sơn) thuộc tỉnh Hậu Giang.
7. Từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng - Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc, Đại hội đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội đã thảo luận và nhất trí quyết định những vấn đề lớn của đất nước: Quyết định đường lối Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn mới; Quyết định phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1976-1980); Quyết định đường lối xây dựng Đảng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới; đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội đã thông qua Điều lệ (sửa đổi) của Đảng và bầu Ban Chấp hành Trung ương mới do ông Lê Duẩn làm Tổng Bí thư.
V. THÀNH QUẢ CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ: 1945-1976.
1. Ngay khi mới thành lập, Chính phủ Cách mạng Lâm thời, ban hành các sắc lệnh giải tán một số đảng phái, với lý do các đảng này "tư thông với ngoại quốc", làm "phương hại đến nền độc lập Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam" như Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ký ban hành Sắc lệnh số 4 lập "Quỹ độc lập"để thu nhận các món tiền và đồ vật của nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập của Quốc gia.
Tiếp sau đó, Chính phủ đã đề ra biện pháp tổ chức "Tuần lễ Vàng" từ ngày 17 đến ngày 24 tháng 9 năm 1945. Chính quyền cách mạng còn tổ chức nhiều hình thức khuyến khích để nhân dân có điều kiện tham gia đóng góp cho tài chính đất nước với hình thức tự nguyện như lập "Quỹ Kháng chiến", "Quỹ Bình dân học vụ", "Quỹ Giải phóng quân", "Ngày Nam Bộ"...Sự đóng góp, ủng hộ nhiệt tình của nhân dân đã góp phần giải quyết khó khăn về tài chính của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
2. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời tổ chức cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội và thông qua Hiến pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến ký với đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp J. Sainteny bản Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt cho phép 15.000 quân Pháp ra Bắc thay thế cho 20 vạn quân Tưởng rút về nước. Từ ngày 19 tháng 4 đến ngày 11 tháng 5 năm 1946 chính phủ tổ chức Hội nghị dự bị, tại Đà Lạt, như một sụ gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt - Pháp chuẩn bị cho Hội nghị Fontainebleau chính thức vào tháng 7 năm 1946.
Ngày 31 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp theo lời mời của chính phủ nước này. Trước khi đi, Hồ Chí Minh giao cho Võ Nguyên Giáp và Trần Quốc Hoàn nhiệm vụ vô hiệu hóa các cuộc biểu tình do Việt Nam Quốc dân đảng, và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội tổ chức. Hội nghị Việt-Pháp tai Fontainebleau nhóm họp từ 6 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1946, không đem lại kết quả cụ thể nào, nên Phái đoàn Chính phủ Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu rời Hội nghị về nước. Ngày 14 tháng 9 năm 1946, tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện Pháp bản Tạm ước Việt-Pháp.
3. Ngày 15 tháng 6 năm 1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Võ Nguyên Giáp thấy có thể thực hiện nhiệm vụ Hồ Chí Minh giao, quyết định phải một mình Việt Minh điều khiển chính quyền. Một số thành viên trong chính phủ như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh theo quân Tưởng lưu vong sang Trung Quốc. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam cầm đầu phái đoàn Việt Nam tham gia Hội nghị trù bị Đà Lạt, nhưng do bất đồng đã không tham gia hầu hết các phiên họp, sau đó cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau và cuối cùng rời bỏ chính phủ chạy sang Trung Quốc.
Ngày 19 tháng 6 năm 1946, báo Cứu Quốc cuat Tổng bộ Việt Minh đăng xã luận kịch liệt chỉ trích "bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3". Ngay sau đó, Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập bằng lực lượng công an và quân đội do Việt Minh kiểm soát với sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Pháp. Một trong những sự kiện nổi tiếng nhất trong chiến dịch trấn áp các đảng phái đối lập là vụ án Ôn Như Hầu, lúc 7 giờ sáng ngày 12 tháng 7 năm 1946.
4. Chỉ đạo trực tiếp lực lượng Công an phá vụ án này là các ông Lê Giản, Giám đốc Nha Công an Bắc Bộ; Nguyễn Tuấn Thức, Giám đốc Công an Hà Nội; và Nguyễn Tạo, Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương. Lực lượng công an xung phong thực hiện khám xét, bắt tại chỗ nhiều thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng cùng nhiều tang vật như truyền đơn, vũ khí, dụng cụ tra tấn, đồng thời phát hiện nhiều xác chết tại đó,... Hơn 100 người bị bắt và một số người biến mất không dấu vết. Trong số các thành viên của Quốc dân Đảng bị bắt, có một đại biểu Quốc hội Việt Nam khoá I là Phan Kích Nam.
Tuy vậy, các ông Chu Bá Phượng (Việt Quốc), Trương Đình Tri, Bồ Xuân Luật (Việt Cách) vẫn là Bộ trưởng trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, kể cả khi lên Việt Bắc. Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội, vẫn có 37 đại biểu Việt Quốc, Việt Cách tham dự. Cung Đình Quỳ vẫn là thành viên Ban Thường trực Quốc hội, Chính phủ mới thay thế Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến là Chính phủ Liên hiệp Quốc dân.
5. Trong thời gian kháng chiến, bộ máy hành chính các cấp có nhiều biến đổi. Tổ chức đơn vị hành chính Khu và Liên khu. Thành lập các Ủy ban Kháng chiến các cấp. Cấp Trung ương, thành lập Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia (1947), sau đổi là Bộ Tổng Tư lệnh (1948) rồi Bộ Quốc phòng Tổng Tư lệnh. Các cơ quan Tư pháp cơ bản tổ chức theo cấp xét xử.
Sau năm 1954, Chính phủ Liên hiệp Quốc dân tiếp tục cải tổ mở rộng, nhưng chỉ quản lý từ Vĩnh Linh trở ra, nhà nước bắt đầu đặt ra các mục tiêu cải tạo xã hội chủ nghĩa. Giữa năm 1955 và 1956, một cuộc Cải cách Ruộng đất tiến hành với mục đích lấy ruộng đất của địa chủ, cường hào chia cho nông dân. Trong 3.563 xã thuộc 22 tỉnh và những vùng ngoại thành ở miền Bắc đã thực hiện cải cách ruộng đất, các đội cải cách ruộng đất đã chỉ ra 47.890 địa chủ, chiếm 1,87% tổng số hộ và 2,25% tổng số nhân khẩu ở nông thôn.
6. Trong số địa chủ đó, có 6.220 hộ là cường hào gian ác, chiếm 13% tổng số hộ địa chủ. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương đảng Lao động Việt Nam lần thứ 14 về tổng kết cải cách ruộng đất đã nêu rõ: "Những tên địa chủ có nhiều tội ác với nông dân và là phản động đầu sỏ cùng một số tổ chức của chúng đã bị quần chúng tố cáo và bị trừng trị theo pháp luật".
Số địa chủ bị tuyên án tử hình trong chương trình Cải cách ruộng đất không được thống kê chính xác và gây tranh cãi. Các nhà nghiên cứu phương Tây đưa ra các số liệu rất khác nhau và không thống nhất, theo Gareth Porte: từ 800 đến 2.500 người bị tử hình; theo Edwin E. Moise, sau một công cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn: vào khoảng 5.000; theo giáo sư sử học James P. Harrison: vào khoảng 1.500 người bị tử hình cộng với 1.500 bị giam giữ.
7. Qua cải cách ruộng đất ở miền Bắc, trên 810.000 hecta ruộng đất của đế quốc và địa chủ, ruộng đất tôn giáo, ruộng đất công và nửa công nửa tư đã bị tịch thu, trưng thu, trưng mua để chia cho 2.220.000 hộ nông dân lao động và dân nghèo ở nông thôn bao gồm trên 9.000.000 nhân khẩu. Như vậy là 72,8% số hộ ở nông thôn miền Bắc đã được chia ruộng đất. Chỉ tính đến tháng 4 năm 1953 số ruộng đất trực tiếp tịch thu của địa chủ chia cho nông dân bằng 67,67% tổng số ruộng đất mà địa chủ chiếm hữu nǎm 1945.
Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố: Thời kỳ khôi phục kinh tế đã kết thúc và mở đầu thời kỳ phát triển kinh tế một cách có kế hoạch. Tháng 11 năm 1958, đảng Lao động Việt Nam quyết định đề ra kế hoạch phát triẻn kinh tế, văn hoá trong 3 năm 1958-1960 và tiến hành Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa bao gồm hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo tư bản tư doanh. Kế hoạch phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 12 năm 1958.
8. Đến cuối năm 1960, ở miền Bắc có 84% số hộ nông dân đã gia nhập Hợp tác xã, chiếm 76% tổng diện tích canh tác, 520 hợp tác xã ngư nghiệp chiếm 77,2% tổng số hộ đánh cá, có 269 hợp tác xã nghề muối chiếm 85% tổng số hộ làm muối. Ở thàng thị 100% số cơ sở công nghiệp tư bản tư doanh thuộc diện cải tạo đã được tổ chức thành xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp tác, 1.553 doanh nhân thành người lao đông.
Có 90% tổng số thợ thủ công trong diện cải tạo đã tham gia các hợp tác xã thủ công nghiệp, trong đó hơn 70.000 thợ thủ công chuyển sang sản xuất nông nghiệp. Trong lĩnh vực thương nghiệp, đến 60% tổng số người buôn bán nhỏ, làm dịch vụ kinh doanh ngành ăn uống thuộc diện cải tạo đã tham gia hợp tác xã, tổ mua bán, làm đại lý cho thương nghiệp quốc doanh và trên 10.000 người đã chuyển sang sản xuất.
9. Bước vào thực hiện Kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961–1965), miền Bắc chuyển sang giai đoạn lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm. Nhiệm vụ cơ bản của Kế hoạch 5 năm là ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố và tăng cường thành phần kinh tế quốc doanh, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động, củng cố quốc phòng, tăng cường trật tự và an ninh xã hội.
Ngành Công nghiệp được ưu tiên đầu tư xây dựng. Với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, và các nước Xã hội chủ nghĩa từ năm 1961 đến năm 1964 vốn đầu tư xây dựng cơ bản dành cho công nghiệp là 48%, trong đó công nghiệp nặng chiếm gần 80%. Giá trị sản lượng ngành công nghiệp nặng năm 1965 tăng ba lần so với năm 1960. Trong những năm 1961–1965, 100 cơ sở sản xuất mới được xây dựng hoặc mở rộng như các nhà máy: cơ khí Hà Nội, cơ khí Trần Hưng Đạo, xe đạp Thống Nhất, đóng tàu Bạch Đằng, điện Uông Bí, khu gang thép Thái Nguyên,...
10. Các khu công nghiệp Việt Trì, Thượng Đình, Hà Nội, các nhà máy đường Vạn Điểm, Sông Lam, sứ Hải Dương, pin Văn Điển, dệt 8/3, dệt kim Đồng Xuân,... đã sản xuất nhiều mặt hàng phục vụ dân sinh và quốc phòng. Công nghiệp quốc doanh chiếm tỉ trọng 93% trong tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn miền Bắc, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp nhẹ cùng với tiểu thủ công nghiệp đã giải quyết được 80% hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân.
Trong nông nghiệp, sau khi đưa đại bộ phận nông dân vào các Hopwj tác xã. từ năm 1961, các địa phương thực hiện chủ trương xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc cao. Nông dân áp dụng khoa học-kỹ thuật vào sản xuất. Hệ thống thủy nông phát triển, nhiều công trình mới được xây dựng, tiêu biểu như công trình Bắc–Hưng–Hải. Nhiều hợp tác xã đạt và vượt năng suất 5 tấn thóc/ha cây trồng.
11. Thương nghiệp quốc doanh được Nhà nước ưu tiên phát triển nên đã chiếm lĩnh được thị trường, góp phần vào phát triển kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất mới, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường liên tỉnh, liên huyện, đường sông, đường hàng không được củng cố. Việc đi lại trong nước và giao thông quốc tế thuận lợi hơn trước.
Sự phát triển của nền kinh tế miền Bắc đã tạo điều kiện để miền Bắc tăng cường chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Trong 5 năm (1961–1965), một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc men được chuyển vào chiến trường. Nhiều cán bộ, chiến sĩ trong lĩnh vực quân sự, chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế được huấn luyện và đưa vào Nam tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng.
12. Mặc dù vẫn còn những khó khăn trong nền kinh tế như sản xuất hàng hóa phục vụ đời sống nhân dân còn thiếu, phải nhập khẩu từ các nước xã hội chủ nghĩa; các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cao còn chưa nhiều, song Kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961–1965) đã làm thay đổi to lớn bộ mặt xã hội miền Bắc. Đang thực hiện có kết quả thì ngày 7 tháng 2 năm 1965, Mỹ chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Việt Nam. Miền Bắc phải chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế cho phù hợp với điều kiện chiến tranh.
Mười năm từ 1966 đến 1976, thì Kinh tế nhà nước tập trung váo ba nguồn thu: Thuế nông sản, thuế gián tiếp, và đóng góp của nhân dân. Thuế nông sản: Loại thuế chính là thuế nông sản, đánh trực tiếp và tính theo đầu người chứ không phải theo năng suất. Dưới 70 kg nông sản/người thì được miễn thuế. Nhà nước đánh thuế 5% ở ngạch 70–95 kg/người và tăng lên thành 44% ở ngạch trên 1800 kg/người. Đất mới đưa vào canh tác thì được miễn 5 năm. Khoảnh đất 100 m² vườn cũng được miễn.
13. Thuế gián tiếp: Thuế nhập khẩu tùy thuộc vào mặt hàng; hàng hóa thuộc hàng xa xỉ phẩm chịu 100% thuế. Thuế mổ thịt gia súc là 10%. Ngoài ra có thuế chợ, thuế cầu, thuế đò, và thuế con niêm. Đóng góp: Nhà nước cũng huy động quyên góp cho các công trình và chi phí, chính thức là tự nguyện, nhưng người dân bị áp lực phải cung ứng.
Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Khóa I được bầu vào ngày 6 tháng 1 năm 1946, với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu là 89% và có 333 người trúng cử. Ngày 20 tháng 9 năm 1945, Ủy ban Dự thảo Hiến pháp được thành lập theo Sắc lệnh số 34-SL gồm có 7 thành viên: Hò Chí Minh, Vĩnh Thuỵ (Bảo Đại), Đặng Thái Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuan Khu ( Trường Chinh). Ngày 9 tháng 11 năm 1946, tại Kỳ họp thứ haiQuốc hội khoá I đã thông qua Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
14. Ngày 31 tháng 9 năm 1959, trong kỳ họp tại Hà Nội, Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp mới. Do tình hình chiến tranh, Hiến pháp 1946 chưa được chính thức công bố và theo một số người chưa từng có hiệu lực về phương diện pháp lý. Quốc hội Việt Nam khóa I cũng đã thông qua Hiến pháp năm 1959 và xem là kế thừa Hiến pháp năm 1946, là Hiến pháp của một nước Việt Nam thống nhất trên cơ sở khẳng định tính hợp hiến, hợp pháp của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Quốc hội khóa II được bầu năm 1960, các đại biểu miền Nam đủ tư cách được bầu trong khóa I được lưu nhiệm.Quốc hội khóa III được bầu năm 1964, các đại biểu miền Nam đủ tư cách được bầu trong khóa I được lưu nhiệm. Kỳ họp thứ 7 năm 1971 ra nghị quyết miễn nhiệm các đại biểu miền Nam, sau khi Đại hội quốc dân miền Nam bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn bên cạnh Chính phủ.Quốc hội khóa IV được bầu năm 1971.Và,Quốc hội khóa V được bầu năm 1975.
15. Về Tư pháp. Ngay sau khi thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời, Chính phủ ra lệnh giải tán một số đảng phái như Đại Việt Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng,... với lý do "tư thông với ngoại quốc", "phương hại đến nền độc lập Việt Nam". Chính phủ còn ra các sắc lệnh cho phép Ty Liêm phóng có thể bắt những hạng người bị quy là nguy hiểm cho nền Dân chủ Cộng hòa Việt Nam. Ngày 28 tháng 8 năm 1945, cùng với Chính phủ Cách mạng Lâm thời, Bộ Tư pháp được thành lập do luật sư Vũ Trọng Khánh (Thị trưởng Hải Phòng, thời Đế quóc Việt Nam) làm Bộ trưởng. Sau tháng 3 năm 1946 thì chuyển giao cho luật sư Vũ Đình Hoè. Đến năm 1960, Bộ Tư pháp giải thể.
Ngày 13 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành sắc lệnh thành lập các Toà án Quân sự để xử tất cả các người nào vi phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tòa án quân sự có thể tuyên án: tha bổng, tịch thu một phần hay tất cả tài sản, phạt tù từ 1 đến 10 năm, phạt khổ sai từ 5 đến 10 năm, xử tử. Những quyết nghị của tòa án quân sự sẽ đem thi hành ngay, không có quyền chống án, trừ trường hợp xử tử, tội phạm có quyền đề đơn lên Chủ tịch Chính phủ xin ân giảm. Bản án hoãn thi hành để chờ quyết nghị của Chủ tịch Chính phủ".
16. Ngày 12 tháng 4 năm 1953, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 150/SL thành lập Toà án Nhân dân đặc biệt ở những nơi phát động quần chúng thực hiện Cải cách Ruộng đất. Mục đích để đảm bảo việc thi hành chính sách ruộng đất, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố chính quyền nhân dân, thúc đẩy kháng chiến đến thắng lợi. Nhiệm vụ Tòa án: Trừng trị những kẻ phản cách mạng, những cường hào gian ác, những kẻ chống lại hoặc phá hoại chính sách ruộng đất
Thẩm quyền Tòa án Nhân dân Đặc biệt huyện hoặc liên huyện đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh và đi xử lưu động ở các xãcó phát động quần chúng. Việc thành lập Tòa án Nhân dân Đặc biệt ở huyện hay liên huyện do Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh quyết định và Ủy ban Kháng chiến Hành chính liên khu duyệt y. Tòa án Nhân dân Đặc biệt có Chánh án, 6 đến 10 thẩm phán, đa số là trung nông và bần cố nông, bần cố nông nhiều hơn trung nông.
17. Chánh án và một nửa số thẩm phán do Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh chọn lựa và Ủy ban Kháng chiến Hành chính liên khu duyệt y. Một nửa số Thẩm phán do Nông hội hoặc Hội nghị đại biểu nông dân ở Huyện hay Liên huyện cử ra. Khi đến xã nào xử thì lấy thêm đại biểu nông dân ở xã đó, nhưng số đại biểu lấy vào không được quá 1/3 tổng số thẩm phán. Sắc lệnh số 233/SL ngày 14 tháng 6 năm 1955 sửa lại quy định trong Sắc lệnh 150/SL: Khi phân tòa đến xã nào xử thì lấy thêm 5 đại biểu nông dân của xã đó. Số đại biểu này do Hội nghị đại biểu nông dân xã bầu ra, và phải là bần cố trung nông; số bần cố nông phải nhiều hơn trung nông. Các đại biểu này có quyền hạn và nhiệm vụ của những thẩm phán.
Tòa án này có quyền tuyên: tha bổng, cảnh cáo, bồi thường, tịch thu tài sản, tước quyền công dân, quản chế địa phương, phạt tù có thời hạn, phạt tù chung thân, xử tử hình. Đối với việc duyệt án, án tù dưới 5 năm do Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh duyệt và do Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh ký vào bản án. Án từ 5 năm tù trở lên chung thân và án tử hình thì do Ủy ban Kháng chiến Hành chính liên khu duyệt và do Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính liên khu ký vào bản án. Trong 10 ngày sau khi tuyên án, người bị án có quyền chống án.
18. Sau kháng chiến chống Pháp (1955-1976), Quốc hội khóa I đến khóa V đã thông qua nhiều bộ luật đóng góp vào hệ thống Văn bản Quy phạm Pháp luật của nền Tư pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngoài ra, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng ban hành các Sắc lệnh quy định những vấn đề mà Quốc hội chưa ban hành luật. Chẳng hạn, ngày 14 tháng 12 năm 1956, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh số 282/SL quy định về chế độ báo chí. Muốn xuất bản một tở báo phải xin phép trước, phải làm đầy đủ thủ tục khai báo. Sau khi được cơ quan phụ trách về báo chí của Chính phủ cấp giấy phép, tờ báo mới được hoạt động (Điều 8).
Năm 1958, Chính phủ cho thành lập Viện Công tố Trung ương, sau là Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Viện trưởng đầu tiên là ông Bùi Lâm. Tháng 5 năm 1959, Toà an Nhân dân Tối cao được thành lập với Chánh án Nhân dan Tối cao là luật sư Phạm Văn Bạch.
19. Sau Cách mạng đơn vị hành chính các cấp gồm: Kỳ, Tỉnh, Huyện, Xã. Thời kỳ kháng chiến, tổ chức thêm các đơn vị hành chính cấp Khu và Liên khu. Thủ đô kháng chiến đặt ở Bắc Việt. Theo Hiến pháp 1959, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa "phân cấp hành chánh" như sau: “Các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, khu tự tri, thành phố trực thuộc trung ương;Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn. Các đơn vị hành chính trong khu vực tự trị do luật định. (Điều 78, Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 19.
Từ năm 1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thiết lập Khu tự trị Thái Mèo (sau đổi là Khu tự trị Tây Bắc) gồm ba tỉnh Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, và năm 1956 thiết lập Khu tự trị Việt Bắc gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang. Khu tự trị là đơn vị hành chính đệm giữa Trung ương và cấp tỉnh. Năm 1975 cấp này bị bãi bỏ.
20. Trong 4 năm đầu (1945-1949), Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không được quốc tế công nhận. Họ vẫn coi Việt Nam là một lãnh thổ thuộc địa của Pháp. Năm 1950, có 10 nước trong phe Xã hội chủ nghĩa công nhận:Trung Quốc (18/1/1950); Liên Xô (30/1/1950); CHDCND Triều Tiên (31/1/1950); Đông Đức (2/2/1950); Tiệp Khắc (2/2/1950); Romania (3/2/1950); Ba Lan (4/2/1950); Hungary (4/2/1950); Bulgaria (8/2/1950); Albania (13/3/1950). Năm 1954, có thêm Mông Cổ.
Năm 1969, có Thuỵ Điển, Sénégal; Năm 1970, có Ceylon; Năm 1971, Thụy Sĩ; Năm 1972 có Ấn Độ; Chile và Pakistan. Tính đến hết tháng 12 năm 1972, có 49 quốc gia bang giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Pháp thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 12 tháng 4 năm 1973.
21. Năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Cộng hoà miền Nam Việt Nam đứng 2 đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng bị Mỹ phủ quyết cả hai. Tuy nhiên, cũng năm này, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được gia nhập 2 tổ chức quốc tế là WMO (World Meteorological Organization, Tổ chức Khí tượng Thế giới) ngày 7 tháng 8 năm 1975, và WHO (World Health Organization, Tổ chức Y tế Thế giới) ngày 22 tháng 10 năm 1975. Đây là hai tổ chức quốc tế đầu tiên quốc gia này tham gia.
Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban đầu gồm nhiều lực lượng độc lập, ở cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Sau nhiều lần sát nhập, tổ chức lại, các lực lượng quân sự Việt Minh và các nhóm chính trị khác thống nhất mang tên Vệ Quốc đoàn sau đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ở miền Nam, Vệ quốc đoàn có nhiều đơn vị của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên tuy chấp hành những chỉ thị quân sự của cấp trên nhưng lại từ chối tiếp nhận các Chính uỷ do cấp trên cử xuống.
22. Sau những xung đột quân sự giữa các đơn vị do giáo phái chỉ huy với những đơn vị do Việt Minh chỉ huy, nhất là sau khi giáo chủ Huỳnh Phú Sổ của Hoà Hảo mất tích, lực lượng quân sự của các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên ly khai khỏi Vệ quốc đoàn hợp tác với chính phủ Cộng hoà Tự trị Nam Kỳ và sau này với Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau đó, thành lập các đại đoàn 308, 304, 312, 320, 316, 325, 351 và giành Chiến thắng Điện Biên Phủ trước thực dân Pháp ngày 7 tháng 5 năm 1954.
Cho đến kết thúc cuộc Kháng chiến chống Pháp (năm 1954), Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có tổng quân số khoảng 29 vạn quân. Sau hiệp định Giơ - ne - vơ, bộ phận quân đội nhân dân ở miền Nam tập kết ra Bắc. Quân đội Việt Nam bắt đầu xây dựng chính quy, tinh nhuệ, biên chế thống nhất. Bộ Chính trị quyết định giảm 8 vạn quân, đưa 3 vạn quân sang làm kinh tế, chỉ giữ lại 17 vạn quân chiến đấu, đồng thời thành lập thêm các quân chủng Hải quân, Phòng không Không quân, binh chủng xe tăng, lực lượng biên phòng. Ngày 15 tháng 2 năm 1961, Quân Giải phóng miền Nam được thành lập, là 1 bộ phận của Quân đội nhân dân ở miền Nam.
23. Quân đội ta đã tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài và gian khổ, tiêu biểu là cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1968, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tháng 12 năm 1972; kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Trong thời kỳ 1961-1975, Mỹ thường phân biệt Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ gọi là "Việt Cộng" với Quân đội nhân dân Việt Nam Mỹ gọi là "Quân đội Bắc Việt Nam". Sự phân biệt này của Mỹ xuất phát từ việc Mặt trận Dân tộc giải phóng có sự độc lập tương đối với Việt Nam Dân chủ cộng hòa về bề ngoài, nhằm có đối sách trên bàn đàm phán tại Paris. Sau năm 1975, khi đã công khai sự lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ cộng hòa đối với Mặt trận Giải phóng và quân giải phóng trong suốt cuộc chiến, thì Quân giải phóng được xem là một phần Quân đội nhân dân Việt Nam đúng như bản chất khi thành lập nó.
24. Cho đến năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã có 1,24 triệu quân chủ lực và quân địa phương, đứng thứ 4 về tổng quân số trên thế giới. Năm 1977, Nhà nước Việt Nam chủ trương giảm quân số xuống còn 85 vạn người (60 vạn quân thường trực chiến đấu, 25 vạn quân tham gia sản xuất kinh tế), tuy nhiên, trước tình hình biên giới Tây Nam phức tạp, Việt Nam buộc phải chuyển các đơn vị kinh tế sang chiến đấu và tăng quân số lên trên 1 triệu người. Đồng thời hơn 5 vạn bộ đội được đưa sang Lào để đảm bảo sự ổn định tại Lào.
Ngày 23 tháng 12 năm 1978, Quân đội Việt Nam huy động 25 vạn quân mở cuộc phản công chiến lược, đập tan cuộc tiến công của Quân đội Campuchia Dân chủ (Khmer Đỏ). Sau đó đã phối hợp với các lực lượng vũ trang Cămpuchia, đánh tan 21 sư đoàn quân Campuchia Dân chủ, xoá bỏ chế độ diệt chủng tàn bạo. Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đem 60 vạn quân đánh vào biên giới phía Bắc Việt Nam, cuộc chiến chỉ diễn ra trong 30 ngày, nhưng sau đó 2 bên căng thẳng kéo dài suốt 10 năm. Trong năm 1979-1980, quân số trên 2 triệu người, đến năm 1983 giảm xuống còn 1,6 triệu người. Năm 1989, sau khi rút quân khỏi Lào, Campuchia, quân đội Việt Nam còn khoảng 60 vạn người.
25. Hiện nay, lực lượng thường trực Việt Nam gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với tổng quân số khoảng nửa triệu người, và lực lượng quân dự bị khoảng 5 triệu người.
(Hết Chương 13)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét