Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2023


 

Chương 10: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ: 1964-1975

Có 43 trang và 28.738) 

Chính quyền Việt Nam dân chủ Cộng hoà 1964-1975 là Chính quyền Quản lý miền Bắc sau Hiệp định Genève 1954.  

 

1.   CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: 

1964-1971

I. Bối cảnh thành lập. 

Chính phủ Phạm Văn Đồng Thời kỳ 1964-1971 gọi là Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá III. 

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Cước chú

1

 Phạm Văn Đồng

 Thủ tướng Chính phủ

 

2

Võ Nguyên Giáp 

Phan Kế Toại 
Lê Thanh Nghị 
Phạm Hùng 
Nguyễn Duy Trinh 
Nguyễn Côn  (từ 11-1967)
Đỗ Mười (từ 12-1969)
Hoàng Anh (từ 4-1971)

 Phó Thủ tướng

 

3

Trần Hữu Dực (đến 4-1965)
Hoàng Anh (4/1965 - 12/1969)

 Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp

 

4

 Lê Thanh Nghị (đến 2-1967)
Trần Danh Tuyên (1967 – 12/1969)

 Chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp

 

5

 Phạm Hùng (kiêm đến 4/1966)
Nguyễn Thanh Bình (4/1966-12/1969)

 Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính-Thương nghiệp

 

6

 Trần Quốc Hoàn (đến 10-1965)
Nguyễn Văn Tạo (từ 10-1965)

 Chủ nhiệm Văn phòng Nội chính

 

7

 Lê Liêm (đến 10-1965)
Trần Quang Huy (từ 10-1965)

 Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáo

 

8

 Đỗ Mười (kiêm từ 12-1969

 Chủ nhiệm Văn phòng Kinh tế Phủ Thủ tướng

 

9

 Nguyễn Khang (đến 4-1965) 
Trần Hữu Dực (từ 4-1965)

 Bộ trưởng Phủ Thủ tướng

 

10

 Xuân Thủy (từ 1968) 

 Bộ trưởng Chính phủ

 

11

 Ung Văn Khiêm

 Bộ trưởng Bộ Nội vụ

 

12

 Xuân Thủy (đến 4-1965)
Nguyễn Duy Trinh (kiêm từ 4-1965)

 Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

 

13

 Võ Nguyên Giáp (kiêm chức)

 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

 

14

 Trần Quốc Hoàn

 Bộ trưởng Bộ Công an

 

15

Dương Quốc Chính (đến 4-1965)

Hoàng Anh (4/1965 – 11/1967)
Nguyễn Văn Lộc (11/1967 - 4/1971)

 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp

 

16

 Nghiêm Xuân Yêm (đến 4-1971)

 Bộ trưởng Bộ Nông trường

 

17

 Hà Kế Tấn

 Bộ trưởng Bộ Thủy lợi

 

18

 Nguyễn Văn Trân (đến 2-1967)
Lê Thanh Nghị (kiêm 2/1967-11/1967)

Nguyễn Hữu Mai (11/1967-12/1969)

 Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng

 

19

 Kha Vạng Cân 

 Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ

 

20

 Bùi Quang Tạo 

 Bộ trưởng Bộ Kiến trúc

 

21

 Phan Trọng Tuệ 

 Bộ trg Bộ Giao thông vận tải

 

22

 Nguyễn Văn Tạo (đến 10-1965) 
Nguyễn Hữu Khiếu (từ 10-1965)

 Bộ trưởng Bộ Lao động

 

23

 Hoàng Anh (đến 4-1965)
Đặng Việt Châu (từ 4-1965)

 Bộ trưởng Bộ Tài chính

 

24

 Nguyễn Thanh Bình (đến 10-1966)

Hoàng Quốc Thịnh (từ 11/1967)

 Bộ trưởng Bộ Nội thương

 

25

 Phan Anh 

 Bộ trưởng Bộ Ngoại thương

 

26

 Hoàng Minh Giám 

 Bộ trưởng Bộ Văn hóa

 

27

 Nguyễn Văn Huyên 

 Bộ trưởng Bộ Giáo dục

 

28

 Phạm Ngọc Thạch (đến 3-1969)

Nguyễn Văn Hưởng (từ 3-1969)

 Bộ trưởng Bộ Y tế

 

29

 Nguyễn Duy Trinh (kiêm đến 4/1965)

Nguyễn Côn (từ 4-1965)

 Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

 

30

 Nguyễn Văn Kha (từ 12-1969)
Đặng Thí (từ 12-1969)
Nguyễn Lam (từ 12-1969)

 Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

 

31

 Nguyễn Duy Trinh (đến 10-1965)

 Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước

 

32

 Trần Đại Nghĩa (từ 10-1965)

 Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước

 

33

 Lê Quảng Ba 

 Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc

 

34

Nguyễn Lương Bằng (đến 9-1969)

 Tổng Thanh tra Ủy ban Thanh tra của Chính phủ

 

35

 Nguyễn Thanh Bình (từ 12-1969)

 Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủ 

 Mới lập

36

 Nguyễn Văn Vịnh

 Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất

 

37

 Trần Đại Nghĩa 

 Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước

 

38

 Tạ Hoàng Cơ 

 Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

 

39

 Nguyễn Hữu Mai (từ 12-1969)

 Bộ trưởng Bộ Điện và Than

 Mới lập

40

 Đinh Đức Thiện (từ 12-1969)

 Bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim

 Mới lập

41

 Tạ Quang Bửu (từ 10-1965)

 Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp

 Mới lập

42

 Ngô Minh Loan (từ 12-1969)

 Bộ trưởng Bộ Lương thực và Thực phẩm

 Mới lập

43

 Trần Danh Tuyên (từ 12-1969)

 Bộ trưởng Bộ Vật tư

 Mới lập

44

Phạm Hùng (kiêm 4/1965-10/1966)
Nguyễn Thanh Bình (10/66 -11/1967)
Đỗ Mười (từ 11-1967) 

 Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước

 Lập tháng

10/1966

45

 Nghiêm Xuân Yêm (đến 4-1971)
Nguyễn Văn Lộc (từ 4-1971)

 Bộ trưởng Phó Chủ nhiệm thường trực Ủy ban Nông nghiệp Trung ương

 

46

 Hoàng Anh (kiêm từ 4-1971)

 Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương

 Mới lập

III. Sự kiện liên quan, và việc đã làm.

1. Đây là giai đoạn (1964-1971) ác liệt nhất của Chiến tranh Việt Nam. Sự kiện Vịnh Bắc Bộ vào ngày 4 tháng 8 năm 1964 tạo ra lý do khiến Quốc hội Mỹ ủy nhiệm cho chính phủ Mỹ tiến hành mọi hoạt động chiến tranh nếu thấy cần thiết mà không cần có sự phê chuẩn của Quốc hội. Ngay sau đó, Mỹ bắt đầu các cuộc ném bom trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Để thực hiện các cuộc ném bom, Mỹ phải đưa máy bay và lính không quân vào các sân bay tại miền Nam, lập căn cứ tại đó. Rồi để bảo vệ các căn cứ ở sân bay, Mỹ cần gửi thêm Thuỷ quân lục chiến vào.  

Sau đó, lại xuất hiện vấn đề phải phòng thủ từ xa. Và, cuối cùng, là phải tìm-diệt đối phương sâu trong các căn cứ của họ. Thế là quân Mỹ tăng nhanh, các nước Đồng minh của Mỹ như Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi, Thái Lan, nhất là Đại Hàn và Úc Đại Lợi cũng dồn dập đưa quân vào Nam Việt Nam. Và dần dần trực tiếp đánh thay cho quân đội Việt Nam Cộng hòa, quân đội Việt Nam Cộng hòa, chỉ còn là lực lượng thứ yếu, chủ yếu là bình định giữ an ninh tại các vùng họ kiểm soát.

2. Trong cuộc họp ngày 5 tháng 10 năm 1964, Mao Trạch Đông nói với Phạm Văn Đồng: "Theo đồng chí Lê Duẩn, các đồng chí có kế hoạch gửi một sư đoàn vào Nam. Có lẽ các đồng chí chưa cần gửi sư đoàn đó đi ngay. Khi làm việc này, chọn đúng ngày giờ rất là quan trọng." Cuối năm 1964, Chủ tịch Mao Trạch Đông của Trung Quốc ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc xâm nhập miền Nam Việt Nam giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nâng các lực lượng tấn công lên cấp sư đoàn. Tháng 4 năm 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký hiệp định với Trung Quốc, theo đó, Trung Quốc đưa một lực lượng quân đội vào miền Bắc Việt Nam. 

Tổng số quân Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng 6-1965 đến tháng 3-1973 là gần 320.000 người trong đó có khoảng 1000 binh sĩ tử trận. Tại thời điểm đông nhất có khoảng 130.000 người, bao gồm các đơn vị tên lữa đất đối không, pháo phòng không và các đơn vị công binh làm đường, dò mìn và vận tải. Tham chiến tại thời điểm nầy, còn có các Đội quân của Liên Xô như Đội tên lửa, Đội đặc nhiệm GRU, Đội Tình báo quân sự... Các Đội tên lửa vừa huấn luyện cách sử dụng tên lửa phòng không, vừa cùng với quân đội Việt Nam tham gia bắn máy bay Mỹ. Các đội đặc nhiệm GRU Tình báo quân sự vừa huấn luyện, vừa cùng với lực lượng nầy thực hiện các vụ đột kích vào căn cứ quân sự của đối phương.

3. Trong thời gian nầy, cuộc sống của người dân miền Bắc ngày càng khó khăn và căng thẳng, ngay cả bộ đội cũng bị thiếu ăn. Ở thành thị, dân chúng tản cư về nông thôn để tránh bom, nhu yếu phẩm cho thị dân được bán theo chế độ tem phiếu rất nghiêm ngặt. Nông thôn vắng bóng nam thanh niên. Nữ thanh niên vừa lao động sản xuất vừa được điều động tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ bảo vệ trật tự và tham gia huấn luyện quân sự, bắn máy bay. Chính phủ huy động hàng vạn nữ thanh niên đi Thanh niên xung phong vào tuyến lửa tại các tỉnh bị đánh phá nặng nề nhất như Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, và vào tuyến đường Trường Sơn sang Lào để làm nhiệm vụ hậu cần, làm đường và đảm bảo giao thông. Tỷ lệ thương vong khá lớn vì bom đạn và bệnh tật.

Về xã hội, chính quyền địa phương cố gắng tạo điều kiện cho thanh niên lập gia đình trước khi nhập ngũ. Nhà nước tìm mọi cách nâng cao tinh thần của dân chúng cho kháng chiến. Tất cả mọi người đều tham gia các tổ chức quần chúng của đảng Lao động Việt Nam. Các tổ chức quần chúng nầy có vai trò nhất định trong việc giữ vững tinh thần, niềm tin trong dân chúng và thi hành các đường lối chính sách của Đảng trong dân. Những tin tức ác liệt của chiến trường, số thương vong nặng nề ở miền Nam và chết bom ở miền Bắc không được công bố hoặc với số lượng giảm đi rất nhiều, chủ yếu trên thông tin báo đài là các tin chiến thắng lẫy lừng. Nhiều bài hát được các nhạc sĩ sáng tác ca ngợi mục tiêu giải phóng miền Nam, ca ngợi người lính, cổ vũ thanh niên nhập ngũ.

4. Nhân dân miền Bắc được phổ biến đời sống kinh tế tại miền Nam rất bấp bênh, nhân dân miền Nam nhất là ở vùng nông thôn bị khốn khổ bởi những cuộc bắn phá, càn quét, rải chất độc hóa học phá hoại mùa màng và chính sách lược "thực tế là trại tập trung" của Mỹ Ngụy. Xã hội miền Bắc xuất hiện nhiều tấm gương về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Các nguồn lực được huy động tối đa và có hiệu quả để phục vụ mục tiêu giải phóng miền Nam. Một nhà báo Pháp nhận xét: "Mọi lối sống cá nhân đều biến mất để cố gắng cùng xây dựng một tập thể tuyệt vời, điều hành bởi một bộ máy thống nhất và quy củ"

IV. Về đời sống xã hội, Phan Cẩm Thường ghi lại.

1. Hòa bình lập lại năm 1954, sau đó cuộc cải cách công thương nghiệp tư doanh bắt đầu. Những nhà sản xuất và thương mại cũ phải hiến những tài sản của mình cho Nhà nước theo hình thức công tư hợp doanh. Kinh tế tư nhân dần dần bị xóa bỏ và tài sản cá nhân cũng dần dần biến vào sở hữu công cộng. Tất cả mọi thứ đều như vậy. Một số gia đình đặc biệt, hoặc không quá giàu có, còn có thể giữ lại nhà, còn phần lớn bị sung công và chia lại từ đầu cho nhân dân và cán bộ công nhân viên, theo tiêu chuẩn mỗi người bốn thước vuông. Gia đình cán bộ, như Nhà tôi gồm bố mẹ và chín anh em được thuê một căn phòng rộng chừng 30 - 50 thước vuông, cả nhà chỉ có một hai cái gường, còn tất cả thường xuyên nằm trên nền nhà. 

Cán bộ đi làm bình quân được mua 13 kg gạo một tháng, giá 4 hào/kg không thay đổi cho đến suốt thời bao cấp. Người không đi làm và tuổi nhỏ hơn, được tiêu chuẩn gạo từ 13 kg trở xuống tùy theo, ví dụ một tuổi sẽ được mua 3 kg. Những người làm việc nặng nhọc, độc hại sẽ được mua trên 13 kg, từ 14 - 19 kg. Bộ đội sẽ được mua 21 kg và được cấp 6,8 hào tiền ăn một ngày, cho binh lính. Nông dân tùy theo vùng, được cấp thóc theo đầu người như vậy, tính ra gạo cũng từ 11 - 15 kg, về cơ bản lương thực gạo của nông dân thấp hơn dân thành phố, nhưng họ có thể tăng gia hoa màu, ngô khoai và mót thóc. 

2. Cán bộ thông thường được mua 3 lạng thịt/ tháng, nếu mua thịt thì thôi mua mỡ. Nước mắm một lít rưỡi, muối cân rưỡi, rau 3-5 cân, dầu hỏa 4 lít trong một tháng. Tiêu chuẩn này cũng thay đổi theo lương và tuổi lao động, nghề nghiệp lao động. Hàng ít, khan hiếm nên xếp hàng trở thành hiện tượng thông thường hàng ngày, mua bán cái gì cũng xếp hàng cả. Nên người ta gọi đùa chủ nghĩa xã hội là xếp hàng cả ngày. Đó là những phân phối đều đặn hàng tháng nếu tình hình chiến sự và kinh tế còn đảm bảo được. Cuộc chiến chống Mỹ ngày một gian khó, lương thực khan hiếm dần, và người ta phải phân phối nhiều loại khác thay cho gạo, như bột mì, hạt bo bo, ngô khoai sắn. 

Cơm độn các loại trên là phổ biến trong mỗi bữa ăn, đôi khi nồi cơm chỉ có 30% là gạo. Vải may quần áo cũng dần trở nên khan hiếm, theo tiêu chuẩn thì cán bộ được 4 thước vải/năm, nhân dân được 2-2,5 thước/năm. Nhưng có những năm chẳng có chút vài nào, người ta sẽ bán thay vào đó chút kim chỉ, sách giấy, đường, hay phụ tùng xe đạp. Thời gian đó không ít người ăn mặc theo kiểu nhất bộ, tức là quanh năm chỉ có một bộ quần áo mà thôi, về nhà là cởi trần trùng trục. Nhiều nam thanh nữ tú cũng phải mặc quần áo vá chằng vá đụp. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng Bài 2: Trích “Phân phối và Đồng lương” Thứ Bảy, 17/05/2014).

3. Từng làm kế toán trong quân độitôi cũng nhớ ít nhiều về các mức lương mà cán bộ binh sĩ được hưởng, còn đồng lương của cán bộ nhà nước bên ngoài thì chỉ biết theo những gì qua bố mẹ anh chị mình. Mức lương thấp nhất của người cán bộ, trong ngành kế toán là 36 đồng vào những năm 1960. Song quãng thời gian trước chiến tranh phá hoại, năm 1960, đời sống tương đối ổn định, 36 đồng người ta có thể tạm đủ sống cho mình và nuôi một đứa con, đại khái chi phí từ 2 - 5 đồng tiền thuê nhà, tiền điện nước từ 1 - 2 đồng, 1 - 2 đồng cho con đi học, ăn hai người hết 20 đồng, mặc hết 5 đồng, ngoài ra vài chi tiêu lặt vặt, là không còn gì, nên không ai dám nghĩ gì khác ngoài cái ăn. 

Nếu là gia đình, có hai vợ chồng một đứa con, lương chồng 65 đồng theo hệ đại học, vợ 36 đồng theo hệ trung cấp, thì cũng có cuộc sống ổn định, hàng tuần có thể đi xem phim, mua một hai cuốn sách, cho con đi chơi công viên. Nếu chỉ xét riêng đồng lương, người ta sẽ không hiểu vấn đề này. Nhân dân bình thường được mua 1,5 lạng thịt/tháng, nhưng cán bộ cao cấp tới 6 cân/tháng, cho nên sự chênh lệch do giá thị trường chợ đen tới 100 đồng, ngoài ra tiêu chuẩn ưu tiên đường sữa, chè thuốc, hàng phân phối cũng tạo ra sự chênh lệch đến 100 đồng nữa. Nếu cán bộ thông thường tương đối đông con, bình thường là ba con, đông là bảy đến chín con, với hai người đi làm đồng lương cán bộ thì chỉ là sao cho đủ ăn, không còn đầu óc nào cho việc khác. 

4. Trong sinh hoạt cơ quan, người ta vay nhau điếu thuốc, lạng chè, vài hào, và đòi nhau đến vài xu, cũng như sinh hoạt xóm giềng, vay nhau vài thìa nước mắm, muôi mỡ, nhúm muối, một hai bát gạo, lạng đường là hết sức thông thường. Điều mà nhiều người bây giờ không thể tưởng tượng được. Mẹ tôi làm ở một cửa hàng ăn uống, người ta rán bánh rán và quẩy nhiều lần trong một chảo dầu mỡ, cho đến khi chảo dầu cặn này đen kịt lại, thì mới bán rẻ cho nhân viên. Nhà tôi thường dùng mỡ dầu đen đó vừa xào rán vừa thắp đèn lúc mất điện, đến giờ mà không bị ung thư thì phải nói là trời thương. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 4: Trích “Phân phối và Đồng lương” Thứ Hai, 26/05/2014).

Những năm đầu hòa bình, từ 1955, Nhà nước hoàn toàn nắm độc quyền về sản xuất và phân phối hàng hóa, cho nên hầu như không có hàng hóa nào không thuộc về Nhà nước. Những tư nhân và các hợp tác xã nhỏ lẻ nếu có sản xuất gì đó cũng phải bán cho quốc doanh, từ đó quốc doanh sẽ phân phối lại cho người tiêu dùng, không ai được phép tự bán hàng hóa do mình sản xuất. Trong đời sống hàng ngày các mặt hàng như: xe đạp, áo quần, chăn màn, quạt máy, xô chậu, nồi niêu, phích nước, ấm chén… được coi là những đồ dùng tối thiểu nên được phân phối tùy theo cơ quan và dân sự theo lối phân hàng hàng năm, hàng quý, hàng tháng. 

5. Nhà cửa là chương trình lâu dài, cả đời người vài chục năm đi làm mới mong được phân nhà, nhưng xe đạp thì hàng năm được xét cấp, ít nhất mỗi gia đình cán bộ phải được mua từ một đến hai chiếc - đó là phương tiện di chuyển duy nhất của cả nhà trong chiến tranh. Nếu bạn lấy vợ thì sẽ được mua hai tút thuốc lá, bốn bao chè, bốn cân bánh kẹo, một bộ chăn màn và gường chiếu, một cái phích, một cái chậu và một cái mâm. Giải cờ tướng các làng hàng năm hội lễ phần thưởng cao nhất cũng là một cái phích nước. Nồi niêu xô chậu quạt phân phối hàng tháng từ các cơ quan, người ta tiến hành bắt thăm lần lượt. Ai mua tháng này thì thôi tháng sau. Những người mới lập gia đình, mới sinh con được ưu tiên mua trước. 

Tất cả các mặt hàng phân phối đều có thể mua được ở chợ đen với giá cao hơn. Lúc đó, theo nguyên tắc mọi hàng sản xuất đều ưu tiên cho Nhà nước thu mua trước, nhưng giá thu mua thường không hợp lý so với giá thành sản xuất, thậm chí còn thấp hơn sự đầu tư. Ví dụ chúng tôi trồng một ruộng rau muống, hàng ngày thu hoạch phải bán cho bộ đội giá năm xu một cân, trong khi mua giống và tắm tưới hàng ngày tốn gấp đôi số tiền đó. Nhiều ngành sản xuất phá sản dần, nông dân không chăn nuôi, trồng hoa màu nữa, thợ thủ công bỏ hợp tác xã. Bắt đầu có hiện tượng các hợp tác xã và tư nhân sản xuất một số hàng cho Nhà nước thu mua còn phần nhiều tuồn ra chợ đen. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 6: Trích “Hàng phân phối và chợ đen” Thứ Bảy, 07/06/2014).

6. Chợ đen không phải là một cái chợ theo đúng nghĩa, mà là cách phân mua bán hàng hóa chui cố gắng tránh sự kiểm soát của Nhà nước. Nó diễn ra đủ mọi nơi, mọi thời điểm, thậm chí ngay cả những người quản lý thị trường cũng không phải không có lúc dùng hàng chợ đen. Một nhà nuôi con lợn sẽ lẳng lặng giết thịt sao cho lợn không kêu, những người gần đó cũng lẳng lặng đến mua từng gói nhỏ một vài người một. Cả con lợn bị phân tán lặng lẽ như chưa từng được nuôi. Đó là chợ đen, những hình thức mua bán chuyền tay phát triển hơn bao giờ hết thời hậu chiến tạo thành một mạng lưới dân gian sôi nổi không kém gì thời hoạt động bí mật. 

Ở nông thôn, do hầu hết các mặt hàng thiết yếu không được cung cấp như thành thị, người ta có xu hướng tự cung tự cấp trở lại. Những bà già dựng lại khung cửi, thợ mộc, thợ nề, và thợ thủ công nói chung âm thầm hoạt động nghề trở lại sau thời kỳ hợp tác xã không thành công. Các chợ phiên ở nông thôn sau năm 1965 có thể nói vẫn hoạt động bình thường, rau quả củ, lợn gà, đồ mây tre đan, vải mộc, chút gạo thóc, nhất là khi những người thành thị về nông thôn sơ tán chiến tranh phá hoại không thể không cần đến chợ phiên. Ngày nào cũng có cuộc giằng xé giữa những anh quản lý thị trường và mấy bà già buôn thúng bán mẹt, đôi khi rổ rá quăng quật lung tung, rau cỏ ném bừa bãi, nhưng rồi chợ vẫn họp, rồi lại đùng một cái máy bay ném bom, tất cả quăng thúng mẹt thoát thân. 

7. Lời lãi ở chợ phiên nông thôn rất thấp, có mất cả gánh hàng cũng chỉ là vài đồng bạc. Mớ rau, nải chuối, gói kẹo bột, rổ tép riu… nhưng cũng là đồng quà tấm bánh cho phong tục sống của người Việt. Từ sau năm 1973, ngày càng có nhiều thương binh,bộ đội giải ngũ, việc đầu tiên của họ là củng cố lại kinh tế gia đình. Chủ nghĩa công thần bắt đầu nổi lên và những thương binh, bộ đội dùng ảnh hưởng của mình trong việc buôn bán giằng co với thương nghiệp. Họ họp thành từng đoàn, thậm chí có cả đoàn thương binh hỏng mắt nắm ba lô nhau đi buôn gạo, quế, thuốc lá, chè, rượu… - cảnh tượng không khỏi khiến người ta rơi nước mắt huống chi còn bắt hàng. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 7: Trích “Chợ đen” Thứ Bảy, 14/06/2014).

Đời sống của người dân suốt thời chiến tranh và bao cấp là vô cùng khó khăn, đó là điều không ai không nhận thấy, nhưng có nhiều điều ngoài sức tưởng tượng và cái chính là nó ảnh hưởng đến tâm tư con người cho đến tận bây giờ, ngay cả những người thời đó còn là trẻ con hay chưa sinh. Điển hình nhất là hai tính cách tham ăn và ham chuyện tình dục - hai cái đói vô cùng của thời bao cấp, khiến ngày nay hình như người ta hối hả bù đắp, một sự phản chiều tâm lý, hơn 40 năm bị dồn nén, nếu tính từ năm 1945 - 1985. 

8. Khi những ngôi nhà riêng bị chia cho nhiều gia đình, mỗi gia đình theo tiêu chuẩn 4 m2/người trở nên quá chật chội. Rồi mỗi gia đình tự nở ra thành hai, ba, bốn gia đình, khi đàn con lớn lên và lấy vợ, lấy chồng, nhưng tất cả vẫn sinh hoạt trong một diện tích cũ. Buổi tối nhìn vào một căn nhà, thực chất chỉ là một căn phòng người ta có cảm giác như một doanh trại quân đội dã chiến, nó được ngăn nhỏ ra bằng các tấm Ri-đô (màn quây), mỗi một khoang ri-đô là một đôi vợ chồng. Sáng ra tất cả Ri-đô được kéo gọn và căn phòng trở nên công cộng như cũ. Vài cái giường không đủ cho tất cả, còn lại nằm đất, đám thanh niên chưa vợ, tụ tập kéo nhau ra đường ngủ, vỉa hè, hoặc các con ngõ, hoặc chui lên các gác thượng, chưa bị lấn chiếm. 

Đời sống tính dục phải rất tế nhị, hoặc hầu như không có, nhiều người nói rằng: Đó là thời không có tình dục. Không ai trông thấy bạn đời của mình ra làm sao, ngoài khuôn mặt. Bạn tôi mãi đến khi được phân căn hộ tập thể riêng mới thốt lên rằng: Bây giờ (sau 15 năm cưới) tôi mới biết chân vợ mình cực đẹp. Sau đó anh chết sớm vì ung thư, chúng tôi thường đùa rằng vì ông ấy ngắm chân đẹp nhiều quá nên chết sớm. Ở Hà Nội lúc đó, việc phân chia các gia đình trở nên quá phức tạp. Cái bếp chung của xóm ngõ không đủ cho vài chục gia đình, thậm chí có những căn nhà với nhiều hộ khác nhau, lên đến 70 gia đình nhỏ. Kết cục là từ hàng chục đến 70 cái bếp dầu, lò than cùng hun khói một lúc vào giờ nấu ăn. 

9. Nan giải nhất trong mỗi căn nhà có nhiều hộ là khu vệ sinh chung và nước sinh hoạt. Thời bao cấp mỗi lần phải đi vệ sinh giống như bị đi tra tấn, mùi hôi thối còn bám vào người và quần áo rất lâu, khiến có người chế riêng một bộ (áo mưa) để đi vệ sinh. Từ năm 1967, nước sinh hoạt trong thành phố luôn thiếu, do nguồn cung cấp điện không thường xuyên. Mất điện và mất nước đi đôi với nhau. Ngay cả khi có nước thì nước cũng không chảy được vào trong từng gia đình. Ở các thành phố giếng thường không được tốt lắm, do nguồn nước ngầm bị ô nhiễm lâu đời, nên nước sinh hoạt là vấn đề rất căng thẳng. Thời đó, chúng tôi thường giặt giũ từ 1 đến 3 giờ sáng, và cũng bơm nước vào bể chung vào quãng thời gian đó, nhưng phải ngồi suốt đêm canh máy bơm, nếu không mất ngay. 

Những cuộc “chiến tranh nước" xảy ra thường xuyên trong các khu tập thể, nhất là những nhà ở tầng cao thì càng khó khăn có được nước sinh hoạt. Trong nhà luôn có chum, vại, xô chậu tích đầy nước. Người ta tranh thủ đến cơ quan tắm giặt, đi vệ sinh, thay vì làm việc đó ở nhà. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 16: Trích “Ri-đô và tương cà mắm muối” Chủ nhật, 17/08/2014).

10. Cùng với sự xóa bỏ tư hữu cá nhân, độc tôn sở hữu tập thể, sinh hoạt tập thể là một nét đặc trưng trong lý tưởng Chủ nghĩa Xã hội. Sinh hoạt tập thể ban đầu mang dấu ấn của cách tổ chức quân đội, mọi việc đều thống nhất trong sinh hoạt Đảng và tập thể quần chúng nói chung. Nhỏ nhất là mô hình tổ ba người - còn gọi là tổ tam tam - có lẽ theo lối của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, nghĩa là đi đâu, làm gì, thậm chí ăn gì chơi gì, cũng có ba người và ba người này tự giám sát nhau, sau đó kiểm điểm và báo cáo lên cấp trên. Về sau, chúng tôi không còn thấy sinh hoạt tổ ba người nữa, mà thay vào đó là sinh hoạt tổ đội, có thể là 10 người, hoặc ít nhiều hơn tùy thuộc vào biên chế cơ quan hay cách thức tổ chức cụ thể.

Từ nhỏ, thiếu nhi được vào Đội thiếu niên nhi đồng, đeo khăn quàng đỏ và phù hiệu, cùng huy hiệu Đội. Huy hiệu Đội có hình tượng búp măng non trên nền cờ đỏ, sao vàng còn huy hiệu Đoàn do họa sĩ Tôn Đức Lượng thiết kế có bàn tay phất lá cờ đỏ sao vàng trên nền xanh. Phù hiệu thì màu trắng, gạch đỏ, đeo ở vai có ba gạch là liên đội trưởng, hai gạch là đội trưởng, còn một gạch là phân đội trưởng. Liên đội trưởng đứng đầu toàn khối thiếu niên thiếu nhi trong trường cấp hai và cấp một, đội  trưởng thì tính theo đơn vị lớp, phân đội là đơn vị tổ. Tất cả mọi sinh hoạt hè, vui chơi, học văn nghệ, đi thăm quan, Tết Trung thu đều được bao cấp và bắt đầu được tập đi hành quân như bộ đội, có đội trống chỉ huy tập riêng. 

11. Vào ngày 2/9 - Tết độc lập, mùng 1/5 - Ngày Quốc tế Lao động, rằm Trung thu, ngày thành lập Đoàn - Đội 26/3, những đội thiếu niên nhi đồng hàng trăm em mặc quần xanh, áo trắng, đeo khăn quàng đỏ đánh trống diễu hành vang trời. Ở Trung Quốc, thời Cách mạng Văn hóa, đám trẻ con này được tổ chức thành Hồng tiểu binh cũng tham gia đập phá, dẫn đám cán bộ bị chụp mũ đi rong ngoài đường. Học sinh cấp ba, lớn hơn, vào mùa Hè phải xuống các khối phố, nông thôn làm anh phụ trách Đội, sau Hè nếu không có giấy chứng nhận làm phụ trách họ sẽ khó được vào Đoàn. Cũng như thiếu niên có những bài hát Đội ca, thì Đoàn cũng có Đoàn ca. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là một trong những lực lượng tập thể mạnh nhất thời chiến tranh và bao cấp ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). 

Thanh thiếu niên từ 14 tuổi đến 25 tuổi được coi là tuổi vào Đoàn. Họ hàng tuần, hàng tháng phải sinh hoạt tập thể, kiểm điểm, thi đấu thể thao, làm báo tường, đi lao động XNCN, từ lực lượng này có thể tham gia trực tiếp vào quân đội. Tất cả những ai không vào Đoàn đều không được vào trường đại học, đó là nguyên tắc. Trong nhân dân, thì ở thành phố chỉ có hình thức sinh hoạt duy nhất là họp tổ dân phố, còn gọi là các khối phố. Khối phố có trưởng khổi, phó trưởng khối và cũng thường là đảng viên, họ có trách nhiệm phố biến nghị quyết của Đảng và Chính phủ, đọc báo Nhân dân và Quân đội hàng tuần cho bà con nghe, tổ chức kiểm điểm thanh niên trộm cắp và vi phạm nếp sống văn minh. 

12. Ở nông thôn, có Hợp tác xã, là một tổ chức tập thể chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp. Hàng tuần, thậm chí hàng tối, đều tổ chức họp hợp tác xã tại đình làng, hay một nhà dân nào đó. Đầu tiên là đọc báo Nhân dân, phổ biến tin miền Nam chiến thắng, tình hình quốc tế, sau đó kiểm điểm sản xuất, phân công lao động từng đội đến từng cánh đồng nào đó, phân phối giống, phân và trâu cày, chia thịt lợn vào dịp Tết và đón khách trung ương. Việc ăn tập thể ở hợp tác xã chỉ vào dịp lễ Tết. Trong các cơ quan còn nhiều hình thức sinh hoạt tập thể hơn. Họp Công đoàn, họp toàn thể đại hội công nhân viên, họp Đảng, họp Đoàn thanh niên, họp Chi hội phụ nữ, và tất nhiên là họp Giao ban việc cơ quan chỉ định vào sáng thứ Hai. 

Tất cả các cuộc họp này nội dung đều giống nhau, tức là nghị quyết sẽ được nhắc lại tới năm bảy lần, cuối cùng là bình bầu người tốt việc tốt, lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, còn bầu anh hùng lao động thì là việc hy hữu có tính chất quốc gia rồi. Những sinh hoạt tập thể này đã tạo ra xã hội Việt Nam trong hơn 50 năm từ năm 1945 đến sau đó. Và dư âm của nó có lẽ còn rất lâu mới phai nhạt. Con người thời XHCN có lẽ rất cô đơn, rời tập thể ra nó chẳng còn ý nghĩa gì? (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 17: Trích “Sinh hoạt tập thể” Chủ nhật, 31/08/2014).

V. Chiến sự các nơi.

1. Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phải đối phó với chiến tranh trên không rất ác liệt của Không quân và Hải quân Mỹ. Đầu tiên là chiến dịch Mũi Tên Xuyên  (Pierce Arrow) ngày 5 tháng 8 năm 1964, hành động trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ do máy bay của Hải quân Mỹ thực hiện, đánh phá các căn cứ hải quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Lạch Trường, Hòn Gai. Tiếp đến là chiến dịch Sấm Rền đầu năm 1965 đánh phá các tỉnh từ Thanh Hoá trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt Nam. Chiến tranh không quân nhắm vào hệ thống đường sá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự. 

Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị đánh. Bị đánh phá nặng nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tỉnh, Quảng Bình là cuống họng tiếp tế vào Nam và tại khu vực Linh giáp sông Bến Hải  Vĩnh - nơi dân chúng phải sống trong địa đạo. Lực lượng phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể đua tranh với Không quân và Hải quân Mỹ nên dồn sức bảo vệ các mục tiêu rất quan trọng như Hà Nội, Hải Phòng, các thành phố lớn, các điểm giao thông quan trọng và các nơi máy bay địch hay qua lại nhiều. Những nơi còn lại được phân cho các lực lượng dân quân tự vệ trang bị pháo và súng máy phòng không đảm trách. 

2. Đến năm 1965, lực lượng phòng không tại miền Bắc có một số trang bị khá hiện đại do Liên Xô cung cấp, gồm nhiều trung đoàn pháo phòng không các tầm cỡ (có loại điều khiển bằng   radar), hệ thống radar cảnh giới và dẫn đường cho không quân, hệ thống tên lửa phòng không và không quân tiêm kích. Các lực lượng phòng không không quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu khá sáng tạo, vô hiệu hóa được các ưu thế công nghệ của đối phương, chống trả quyết liệt và gây thiệt hại đáng kể cho Không quân và Hải quân Mỹ.

Ngay sau khi quân đội Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, tình hình chiến sự thay đổi có lợi cho phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Quân Giải phóng miền Nam bị đẩy lui vào thế phòng thủ, bị không quân và kỵ binh bay của Mỹ truy tìm ráo riết. Các đơn vị lớn phải rời bỏ vùng đồng bằng trống trải để lui về miền nông thôn hoặc núi rừng. Ở đồng bằng, họ chỉ để lại các đơn vị nhỏ và phát động chiến tranh nhân dân đánh du kích. Ngày 18 tháng 8 năm 1965 có trận đánh quy mô đầu tiên giữa quân đọi Mỹ và Trung đoàn chính quy Ba Gia, tại thôn Vạn Tường, tỉnh Quảng Ngãi. Trận đánh kết thúc đêm 18 rạng ngày 19/8/1965 khi Trung đoàn Ba Gia đã rút được ra khỏi vòng vây, với thương vong lớn, Đại đội trinh sát bị tổn thất hầu hết quân số.

3. Tháng 11 năm 1965 đã xảy ra một trận ác liệt khác tại vùng thung lũng sông Ia Drang gần biên giới Campuchia thuộc tỉnh Kontum. Hai trung đoàn chính quy Quân Giải phóng miền Nam và một lữ đoàn thuộc Sư đoàn I Kỵ binh bay của Mỹ đã dàn quân đánh nhau để thử sức. Thực chất đây là hai trận đánh liên tiếp, trận Xray và trận Albany diễn ra trong bốn ngày đêm. Hai bên đều bị thương vong lớn và tuy cùng tuyên bố thắng lợi, đều biết được thực lực đối phương là đáng gờm.

Sau trận này, quân Giải phóng đã tìm ra cách hạn chế ưu thế quân sự áp đảo của Mỹ, Phía Mỹ  có ưu thế là hỏa lực cực mạnh và trang bị rất nhiều vũ khí hiện đại. Đặc biệt, quân Mỹ có yểm trợ không quân rất mạnh mà vũ khí khủng khiếp nhất của họ là máy bay B52, bom Napalm, và trực thăng vũ trang. Quân Giải phóng miền Nam bỏ tham vọng đánh tiêu diệt các đơn vị Mỹ cấp trung đoàn, họ tránh đánh những trận dàn quân đối đầu trực tiếp mà chỉ áp dụng chiến thuật đánh tập kích. 

4. Quân của họ luôn bám sát những toán quân Mỹ nhưng không giao chiến, chỉ khi đối phương dựng trại hoặc sơ hở thì họ tập kích hoặc phục kích, đánh xong thì nhanh chóng rời chiến trường trước khi pháo binh và máy bay địch kịp đáp trả. Một khi xung phong thì luôn áp sát đánh gần, dùng lối cận chiến "Nắm thắt lưng địch mà đánh" để không cho đối phương sử dụng pháo binh và không quân. Dù rất hiện đại nhưng quân đội Mỹ không quen chiến đấu trong địa hình rừng núi quen thuộc của đối phương và vũ khí của họ cũng không phát huy hết tác dụng khi bị đối phương dùng lối đánh áp sát cận chiến.

Quân Mỹ và đồng minh mở các "chiến dịch tìm diệt" để truy lùng và tiêu diệt các đơn vị quân Giải phóng, nhưng chẳng thấy đối phương đâu trong khi bất cứ lúc nào họ cũng có thể bị tấn công. Các chiến dịch tìm diệt thường gây thương vong cho dân thường vì nhầm lẫn người dân là quân Giải phóng, thậm chí gây ra các vụ thảm sát thường dân tại các khu vực quân Giải phóng thường hoạt động hoặc do người dân ở khu vực đó che giấu và cung cấp nhân lực, vật lực, tài chính cho quân Giải phóng.

5. Lực lượng du kích quân Giải phóng cũng mở rộng tầm tấn công, không những với mục tiêu quân sự mà còn tấn công vào cơ cấu tổ chức hành chính địa phương của Việt Nam Cộng hòa bằng việc thuyết phục, đe dọa, đôi khi là ám sát những viên chức hành chính, sĩ quan quân đội và chỉ điểm viên chuyên lùng bắt du kích. Chủ trương này ngoài hiệu quả triệt hạ nguồn nhân sự điều hành chính quyền địa phương mà còn tác động đến tâm lý đại chúng ở Miền Nam.Ngoài ra họ còn sử dụng lực lượng biệt động hoạt động tại các thành phố lớn chuyên ném lựu đạn vào quân Mỹ tại nơi công cộng, ám sát các chính trị gia của Việt Nam Cộng hòa và tấn công gây thương vong các sĩ quan, quan chức Mỹ và Việt Nam Cộng hòa để tạo tiếng vang. 

Trong hai năm 1966 và 1967 chiến sự giữa hai bên diễn ra chủ yếu tại miền Đông Nam Bộ, nơi có các căn cứ và kho tàng lớn của quân Giải phóng. Bộ chỉ huy chiến trường của Mỹ đã tung ra ba chiến dịch lớn để đánh vào các căn cứ này, đó là các chiến dịch: Chiến dịch Cedar Falls đánh vào khu Tam giác sắt Củ Chi, nơi có hệ thống địa đạo mà Quân Giải phóng dùng làm bàn đạp thâm nhập Sài Gòn; Chiến dịch Attlebro đánh vào chiến khu Dương Minh Châu; Và Chiến dịch Junction City đánh vào chiến khu C nơi đặt Bộ chỉ huy của Quân Giải phóng miền Nam. 

6. Đặc biệt là Chiến dịch Junction City khi Mỹ huy động tới 45.000 quân và hàng trăm trực thăng với ý định bao vây để diệt gọn cơ cấu lãnh đạo chiến tranh của Mặt trân Dân tộc Giải phóng miền Nam phá hủy khu căn cứ đầu não của Trung ương Cục miền Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Các cuộc tiến công tuy đã huy động rất lớn các lực lượng của Mỹ nhưng không đem lại kết quả: các cơ cấu lãnh đạo, kho tàng, căn cứ của Quân Giải phóng vẫn an toàn. Trong khi đó, quân Mỹ bị tiến công liên tục trong thế trận đối phương đã bày sẵn ở địa bàn quen thuộc, lực lượng Mỹ bị tiêu hao liên tục mà không thu được kết quả gì nên phải bỏ dở các cuộc hành quân.

VI. Phong trào Thanh niên 3 Sẵn sàng.

1. Đêm 7/8/1964, tại phòng họp của cơ quan Thành đoàn Hà Nội - Số 43 Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội (nay là trụ sở Thành ủy Hà Nội), Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội đã họp bất thường và quyết định phát động Phong trào “Ba sẵn sàng” với các nội dung: Sẵn sàng chiến đấu; sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang; sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội, hàng vạn thanh niên Thủ đô đã xuống đường diễu hành trên phố Hai Bà Trưng, vòng quanh Hồ Hoàn Kiếm và tụ họp tại Quảng trường Nhà hát Lớn lên án hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ, ghi tên tình nguyện “Ba sẵn sàng” và xung phong ra trận. 

Đêm 09/8/1964 đã đi vào lịch sử phong trào thanh niên Thủ đô như một dấu son tự hào của tuổi trẻ; hàng ngàn thanh niên Hà Nội đã xung phong ra trận; nhiều khẩu hiệu xuất hiện trên đường phố: “Đâu có giặc là ta cứ đi”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”...Cả Hà Nội như rực lửa, tòng quân, đi TNXP trở thành nguyện vọng thiết tha của tuổi trẻ Thủ đô và trên mọi miền đất nước lúc bấy giờ. Đó là những ngày mà thanh niên Hà Nội không ai muốn ngủ, không ai muốn đứng ngoài, ai cũng thiết tha muốn được góp sức mình cho đất nước. Những chàng trai, cô gái của Thủ đô dường như chỉ nghĩ duy nhất một việc: Xung phong ra trận, đánh đuổi giặc Mỹ, tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

2. Hình ảnh hàng ngàn chàng trai, cô gái Hà Nội hào hoa, duyên dáng giữa phơi phới tuổi xuân nửa đêm lên đường xuất quân tại Quảng trường Ngân hàng Trung ương, Quảng trường Nhà hát Lớn rực ánh lửa, âm vang tiếng cồng chiêng; tiếng những thanh niên dõng dạc đọc lời thề “Ba sẵn sàng” trong buổi tiễn đưa những chàng trai, cô gái Hà thành vào Nam chiến đấu, “chia lửa với miền Nam ruột thịt”, tiễn đưa các đội TNXP chống Mỹ cứu nước... là dấu ấn không thể xóa nhòa của tuổi trẻ Hà Nội trong một giai đoạn lịch sử rất đỗi vẻ vang, oanh liệt. Từ đất thiêng Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, phong trào “Ba sẵn sàng” đã nhanh chóng lan rộng ra cả nước và trở thành cao trào cách mạng của tuổi trẻ. 

Thậm chí, phong trào nhanh chóng vượt qua khỏi biên giới, nhiều thanh niên Việt Nam du học ở nước ngoài đã viết đơn xin về nước chiến đấu nếu Tổ quốc cần. Hàng trăm người chấp nhận tạm dừng việc học, kể cả ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh, nóng lòng mong được ra trận cầm súng chiến đấu. Đó là khao khát, là lý tưởng, là lẽ sống và danh dự của lớp thanh niên “Ba sẵn sàng”. Từ thực tế đó, tháng 3/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã chính thức kêu gọi thanh niên cả nước hưởng ứng phong trào “Ba sẵn sàng”, với những nội dung được bổ sung và nâng cao. Lúc này, nhiệm vụ trung tâm của cả nước là tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ, vì vậy “Ba sẵn sàng” gồm cả chiến đấu, sản xuất, học tập, xây dựng cuộc sống.

3. Khi Trung ương Đoàn phát động phong trào “Ba sẵn sàng” trên toàn quốc thì phong trào như triều dâng thác đổ; hơn 26.000 đoàn viên thanh niên Thủ đô và hàng triệu thanh niên miền Bắc nhập ngũ. Phong trào đã khơi dậy và cổ vũ lớp lớp thanh niên miền Bắc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, gợi mở phong trào “Phụ nữ ba đảm đang” và phong trào “Năm xung phong” của tuổi trẻ miền Nam. Kể từ đó, “Ba sẵn sàng” đã trở thành một trong những phong trào hành động cách mạng lớn nhất của tuổi trẻ Thủ đô và tuổi trẻ Việt Nam trong thế kỷ XX, tạo nên một đội quân tình nguyện đông đảo nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Hơn 5 triệu lượt đoàn viên thanh niên tham gia, trong đó gần 1,5 triệu người con ưu tú đã ngã xuống, hiện đang yên nghỉ tại 265 nghĩa trang dọc chiều dài đất nước; hàng vạn thanh niên đã để lại một phần xương máu của mình nơi chiến trường khốc liệt. Chính lớp thanh niên “Ba sẵn sàng” ra đi ngày ấy đã sát cánh chiến đấu quên mình cùng với lớp thanh niên “Năm xung phong” từ các vùng nông thôn, thành thị đã góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là dấu son trong lịch sử chiến đấu vẻ vang của thanh niên Hà Nội và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với những đóng góp to lớn, những hy sinh cống hiến của một thế hệ thanh niên “Ba sẵn sàng” cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ Tổ quốc. (Trích Ba sẵn sàng – Bản hùng ca bất diệtTrang Thông tin Điện tử, Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố Hà Nội, 16:15 07/08/2019)   

VII. Phong trào Phụ nữ 3 Đảm đang

1. Trước bối cảnh lịch sử đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động Phong trào "Ba đảm nhiệm" trong phụ nữ miền bắc. Ngày 23-3-1965, chỉ thị số 3 của Hội nêu rõ ba nội dung của Phong trào là: (1) Đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho nam giới đi chiến đấu. (2) Đảm nhiệm gia đình khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu. (3) Đảm nhiệm phục vụ chiến đấu khi cần thiết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa tên "Ba đảm nhiệm" mà Hội Phụ nữ dự kiến, thành "Ba đảm đang". Với cái tên độc đáo đó, phong trào càng có thêm sức mạnh cuốn hút phụ nữ tham gia. Chỉ sau hơn một tháng phát động đã có 1.750.000 phụ nữ đạt "Ba đảm đang" xuất sắc. 

Phong trào phụ nữ "Ba đảm đang" kết hợp chặt chẽ với cuộc vận động thanh niên "Ba sẵn sàng", vững vàng đi lên thành cao trào cách mạng sôi nổi, liên tục, phát huy hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Phụ nữ nông dân "Ba đảm đang" dũng cảm tiễn đưa chồng con đi chiến đấu, đồng thời phấn đấu sản xuất giỏi, ổn định kinh tế gia đình, nuôi dạy con ngoan, học hành tiến bộ; chăm sóc chu đáo cha mẹ già yếu; đoàn kết gắn bó với tập thể, xóm làng. Bảo đảm sự ổn định, vững vàng của hậu phương lớn miền bắc, hỗ trợ đắc lực miền nam tiền tuyến lớn. Khẩu hiệu "Gạo không thiếu một cân, quân không thiếu một người vì miền nam ruột thịt"là lời hứa danh dự thiêng liêng của phụ nữ "Ba đảm đang” miền bắc. 

2. Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, hơn 70% số phụ nữ nông dân "Ba đảm đang" với khí thế "tay cày, tay súng",vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu. Chị em đào hầm trú ẩn bên bờ ruộng, lũy tre, ngụy trang, nghi trang dũng cảm làm ruộng dưới bom đạn địch. Ðịch đến thì bắn hạ máy bay Mỹ, bắt giặc lái; địch đi lại tiếp tục bám  đồng ruộng sản xuất. Chị em ra sức học tập ứng dụng các biện pháp khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cải tiến công cụ, hăng hái thay thế nam giới làm tốt  việc cày, bừa, thu hái; bảo đảm công tác thủy lợi, xây dựng đồng ruộng, hoàn thành xuất sắc ba mục tiêu phát triển nông nghiệp toàn diện; thâm canh tăng năng suất đạt 5 tấn thóc/ha. 

Trên mặt trận sản xuất công nghiệp, để thay thế nam giới đi chiến đấu, phụ nữ phấn đấu "Giỏi một nghề, biết nhiều việc" 70% số nữ công nhân dệt vừa đứng máy vừa kiêm bảo dưỡng, sửa chữa máy.Chị em ra sức thi đua tăng năng suất, chất lượng cao, hạ giá thành sản phẩm "luyện tay nghề thi thợ giỏi". Mỗi nhà máy là một "pháo đài", công nhân giữ vững "tay búa, tay súng"vừa kiên trì sản xuất dưới mưa bom, bão đạn, vừa dũng cảm bắn hạ máy bay địch khi chúng đến đánh phá. Nhà máy Dệt 8-3, Dệt kim Ðông Xuân, Thuốc lá Thăng Long... mặc dù bị địch đánh phá ác liệt, công nhân vẫn duy trì sản xuất, hoàn thành vượt mức kế hoạch. Nữ công nhân ngành may thi đua tiết kiệm, tận dụng dư phế liệu tạo thêm nhiều mặt hàng tiêu dùng, tăng thu nhập.

3. Trên mặt trận giao thông vận tải, địch đánh phá cực kỳ ác liệt, hòng cắt đứt những tuyến đường chiến lược huyết mạch của cuộc chiến đấu. Nhưng lực lượng bảo đảm giao thông với hàng triệu nữ thanh niên xung phong; hàng vạn nữ công nhân lao động "Ba đảm đang" đã thật sự là những chiến sĩ kiên cường, dũng cảm trước bom đạn địch với ý chí sắt đá. "Sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm". Trong lửa đạn, chị em vẫn liên tục đắp đường, sửa cầu, bám trụ vững chắc các tuyến trọng điểm, nối liền mạch máu giao thông để chuyển quân, đưa hàng ra tiền tuyến... Trong gian khổ, các đơn vị nữ công nhân bảo đảm giao thông (đội 9, đội 600, đội 104) lập thành tích xuất sắc, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng. 

Tiêu biểu là tiểu đội nữ Anh hùng 10 cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông tại Ngã ba Ðồng Lộc (Hà Tĩnh). Gần 200 ngày đêm  trụ bám tuyến lửa, chị em vẫn không rời vị trí chiến đấu. Bình tĩnh theo dõi hoạt động của máy bay địch, đếm từng quả bom rơi, cắm cờ báo hiệu bom nổ chậm, xông pha sửa đường... để xe ta đi qua an toàn. 10 cô gái kiên trung, bất khuất đó đã hy sinh vô cùng oanh liệt trong khi làm nhiệm vụ. Trưa ngày 24 tháng 7 năm 1968, như mọi ngày 10 cô ra làm nhiệm vụ. Vào 16h30', trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống Đồng Lộc. Một trong số những quả bom đã rơi xuống ngay sát miệng  hầm nơi các cô đang tránh bom. Tất cả đã qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ, phần lớn trong số họ chưa lấy chồng. (Trích Phong trào phụ nữ Ba đảm đang- một mốc son lịch sử chói lọi. Chủ Nhật, 27-02-2005, 03:24 LÊ CHÂN PHƯƠNG Nguyên Phó Bí thư Ðảng đoàn, Ủy viên thường trực Hội LHPN Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động).

VIII. Thanh niên Xung phong chống Mỹ cứu nước

1. Tháng 3 năm 1965, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Lao động Việt Nam phát động trong đoàn viên, thanh niên Phong trào tình nguyện gia nhập Đội TNXP chống Mỹ cứu nước. Tháng 5/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa III họp Hội nghị lần thứ 9 ra Nghị quyết về “Tổ chức các Đội TNXP chống Mỹ cứu nước, phục vụ sản xuất và chiến đấu”. Ngày 21/5/1965, Bộ Lao động ra Công văn số 659- LĐ phân bổ chỉ tiêu tuyển TNXP ở 12 tỉnh, thành phố. Ngày 25 tháng 5 năm 1965, “Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước” đầu tiên được thành lập tại tỉnh Thanh Hóa, Đội gồm 9 đại đội với 1.200 cán bộ, đội viên. Lãnh đạo Đội là: Đội trưởng Nguyễn Thuần, Đội phó kiêm Bí thư Đảng uỷ Dương Phước Tú, Đội phó kiêm Bí thư Đoàn Lê Văn Sông và Đội phó Nguyễn Đức Hợp. 

Lúc 10 giờ tối ngày 25/5/1965, Đội làm lễ xuất quân tại sân kho làng Vệ Yên, xã Quảng Thắng; đến dự có đồng chí Võ Nguyên Lượng, Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Nguyễn Văn Đệ, Bí thư Trung ương Đoàn, các đồng chí chỉ huy Tỉnh đội, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Đoàn… Mỗi cán bộ, đội viên TNXP được cấp một xe Phượng Hoàng mới và tư trang cần thiết như chăn, màn, ni lông, dày dép, mũ…. “Đội quân xe đạp Phượng Hoàng”bắt đầu cuộc hành quân “Thần tốc” bí mật, thầm lặng, đêm đi, ngày nghỉ, sau 13 ngày đêm ròng rã vào đến căn cứ “R” trình diện Ban chỉ huy tư lệnh Đoàn 559 Trường Sơn do Thượng tướng Nguyễn Văn Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ huy nhận nhiệm vụ. 

2. Ngày 19/6/1965  Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước Bắc Hà và Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước Nam Hà cũng được thành lập tại tỉnh Hà Tĩnh với 2.400 cán bộ đội viên. Ngày 21/6/1965, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 71/TTg-CN tổ chức các “Đội Thanh niên Xung phong phục vụ công tác giao thông vận tải, thì Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước được Trung ương Đoàn đổi tên thành Đội TNXP 21, phiên hiệu là N21. Ngay khi vào đến chiến trường, Đội TNXP 21 được Ban chỉ huy Tư lệnh Đoàn 559 giao nhiệm vụ tổ chức vận chuyển hàng hóa bằng xe đạp thồ; đóng thuyền vận tải hàng hóa trên sông; và tham gia mở đường trên Công trường 128 ở Nam Lào, đông và tây Trường Sơn. 

Ngày 30/6/1965, Bộ Lao động ban hành Thông tư số 07-LĐ và 10 văn bản khác hướng dẫn cụ thể về chế độ đối với TNXP chống Mỹ cứu nước, trong đó quy định: Hàng tháng mỗi cán bộ đội viên được cấp tiền ăn từ 21 – 23 – 25 đồng (tùy theo khu vực phụ cấp đắt đỏ do Nhà nước quy định), 21 kg gạo, 0,35 đến 0,5 kg đường và 5 đồng tiêu vặt; Một năm mỗi cán bộ đội viên được cung cấp 02 bộ quần áo dài, 02 bộ đồ lót, 02 đôi bít tất, 02 khăn mặt, 02 đôi giầy vải, 01 đôi dép; Ba năm mỗi cán bộ đội viên được cung cấp 01 chăn bông hoặc 02 chăn sợi, 01 áo trấn thủ, 01 ba lô, 01 mũ, 01 thắt lưng, 01 bi đông đựng nước uống, 1,5 m vải áo mưa; ở vùng rét được cấp thêm 01 mũ, 01 khăn quàng, phụ nữ được cấp tiền vệ sinh phí. 

3. Chỗ ở, các phương tiện sinh hoạt tập thể, cơ quan sử dụng TNXP cung cấp theo tiêu chuẩn hiện hành. Cụ thể, nhà ở, nếu không có điều kiện ở nhà dân thì làm lán trại, trang bị bếp ăn tập thể, dụng cụ sinh hoạt cá nhân cho người ốm và khách đến công tác; Tổ chức trạm xá, phương tiện sinh hoạt, học tập: dụng cụ y tế, đồ dùng dạy và học tập, dụng cụ cắt tóc. Ngày 11/8/1965, Bộ Nội thương ban hành Chỉ thị số 552-NT hướng dẫn việc cung cấp định lượng đối với TNXP chống Mỹ cứu nước. Hàng tháng TNXP được hưởng: 0,6 kg thịt, 0,2 kg dầu mỡ, 0,6 kg muối, 0,008 kg mì chính, 0,8l nước chấm, 0,5 kg đậu phụ, 10kg rau quả, 0,5kg cá khô, 0,3kg mắm tôm, 0,1kg vừng lạc. 

Các Đội TNXP chống Mỹ cứu nước nhanh chóng đáp ứng nhiệm vụ đặt ra, thành lập được 41 Đội TNXP gồm 337 đại đội với tổng số 52.000 cán bộ, đội viên. Đội, và Đại đội TNXP được bàn giao cho các ngành theo yêu cầu công tác: Tổng cục đường sắt: 5.000 người; Cục Công trình I và Cục Công trình II: 23.000; Ty Giao thông vận tải Quảng Bình: 3.500 (đảm bảo giao thông đường 12A, đường 12B); Ty giao thông vận tải Hà Tĩnh: 1.200 (đảm bảo giao thông đường 1A, đường 21); Ty Giao thông Thanh Hóa và Ty Giao thông vận tải Nghệ An: 10.300 (đảm bảo giao thông đường 1A, đường 15, đường 7); Đoàn 559 và sân bay Yên Bái thuộc Bộ Quốc phòng: 7.000. 

4. Tổng kết nhiệm kỳ I (6/1965 – 12/1967) đã thực hiện 25 lần tuyển quân, huy động 73.851 cán bộ, đội viên TNXP (nữ chiếm tỷ lệ 44%) ở 20 tỉnh, thành phố. Giữa năm 1968, số TNXP tuyển năm 1965 đã đáo hạn nhiệm kỳ, để có đủ lực lượng đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, ngoài một số đơn vị được gia hạn thêm thời gian và số lượng TNXP nhiệm kỳ I chưa hết hạn. Tháng 3/1968 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định giao cho Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam tuyển TNXP nhiệm kỳ II (1968 - 1971) bổ sung cho Đoàn 559, Tổng cục đường sắt, các đơn vị của Bộ Giao thông vận tải và Ty Giao thông vận tải các địa phương. Trong nhiệm kỳ II đã tổ chức 15 lần tuyển, với số lượng 27.770 cán bộ, đội viên, (nữ chiếm 64%) ở 15 tỉnh, thành phố.

Toàn bộ lực lượng TNXP nhiệm kỳ II tập trung tham gia chiến dịch vận tải VT5 (Chiến dịch vận tải tranh thủ thời gian ngừng bắn), khẩn trương lao động không kể ngày đêm, tranh thủ hoàn thành mọi công việc: xây dựng, sửa chữa và nâng cấp đường, cầu để tăng chuyến, tăng trọng tải, tăng tốc độ vận chuyển của tàu, xe trên các tuyến giao thông chiến lược từ Bắc vào Nam, như: tuyến đường sắt Bắc – Nam, quốc lộ 1A, các tuyến đường 15A, 15B, 15C, 21, 7, 8, 12A, 20, 10, 22A, 22B, 16, 18... Đến đầu năm 1972, số lượng TNXP còn khoảng trên dưới 13.000, không đủ lực lượng đáp ứng trước yêu cầu khả năng Mỹ có thể trở lại tiếp tục đánh phá miền Bắc.

5. Chính phủ quyết định giao cho Trung ương Đoàn tuyển TNXP nhiệm kỳ III 1972 - 1975) để tăng cường lực lượng TNXP cho quân đội và ngành giao thông vận tải để chủ động đối phó với tình hình mới. Trong nhiệm kỳ III tổ chức 35 lần tuyển quân với số lượng 43.370 cán bộ, đội viên (nữ chiếm tỷ lệ 52,9%) ở 18 tỉnh, thành phố. Tổng cộng 3 nhiệm kỳ đã có 144.991 cán bộ đội viên TNXP tình nguyện gia nhập 170 Đội và 60 đại đội độc lập TNXP chống Mỹ cứu nước tập trung. (Trích Thanh niên Xung phong Những mốc son lịch sử TNXP Việt Nam”, Thứ 4, 8/11/2017).

Tại miền Nam, ngày 20/4/1965, đơn vị Thanh niên Xung phong đầu tiên được thành lập, phát triển thành Tổng đội TNXP để phục vụ các Sư đoàn bộ đội chủ lực và làm nhiệm vụ hậu cần cho quân giải phóng ở miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1971, tổng số nam nữ TNXP đã lên tới 45.000 phục vụ ở các chiến trường. TNXP đã lập nhiều chiến công: mở được 102 con đường chiến lược với tổng chiều dài 4.130 km; Vận chuyển 10 vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực cho chiến trường; Trực chiến, chốt giữ, bảo đảm 3.000 trọng điểm giao thông quan trọng thường xuyên bị địch đánh phá ác liệt; San lấp trên 100.000 hố bom; đào 1135 km hầm hào, xây dựng 8 bệnh viện dã chiến và 272 kho tàng; 

6. Phá, gỡ thu gom trên 100.000 quả bom các loại; Bắn rơi 15 máy bay Mỹ; bắt sống 13 phi công và gần  1.000 tên địch (trong đó có 286 lính Mỹ); Phá hủy 20 xe tăng và xe bọc thép, phục vụ bộ đội 1000 trận đánh; Trực tiếp chiến đấu 40 trận. Đã có 16.000 người bổ sung sang quân đội; 15.000 người được kết nạp vào Đảng; 52 người là Dũng sĩ diệt Mỹ; 1.432 người là Dũng sĩ Quyết Thắng; Nhưng cũng đã có 6.051 TNXP hy sinh; 42.455 TNXP bị thương, 18.000 TNXP và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam. (Trích Thanh niên Xung phong: 70 năm nhìn lại. Thứ Hai, 13/7/2020 10:3'(GMT+7) TS. NGUYỄN CAO VÃNG, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam).

IX. Bác Hồ với Thanh niên Xung phong.

1. Hoàn cảnh ra đời Bài thơ: "Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên". Câu chuyện diễn ra trong một đêm lửa trại ở rừng Nà Tu (Bắc Cạn) vào tháng 3/1951, khi Bác Hồ đến thăm Liên phân đội thanh niên xung phong 321. Theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch ngày 15/7/1950, Đội thanh niên xung phong đầu tiên thành lập để phục vụ chiến dịch biên giới. Sau đó, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường quan trọng: Cao Bằng - Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đội đã tổ chức thành nhiều Liên phân đội rải rác quân dọc tuyến đường và nhận nhiệm vụ bám trụ những nơi hiểm yếu. Liên phân đội TNXP 321 của chúng tôi được nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù, nằm trên tuyến đường từ thị xã Bắc Kạn đi Cao Bằng. Cầu Nà Cù lúc này không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.

Theo lời kể của đồng chí Việt Thi, đêm 28/03/1951, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu, Bắc Kạn để đón Bác Hồ đến thăm. Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, chiếc khăn quàng cổ che kín cả chòm râu. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh. Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu: Các cháu ngồi cả xuống. Chúng tôi đều răm rắp nghe theo lời Bác, im lặng ngồi xuống. Bác hỏi: -Các cháu ăn uống có đủ no không?- Thưa Bác có ạ!- Các cháu có đủ muối ăn không?- Thưa Bác đủ ạ!- Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?- Thưa Bác đủ ạ! Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn rất thiếu thốn. 

2. Bác lại hỏi: - Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không? - Thưa Bác có ạ! Sau đó Bác lại hỏi tiếp: - Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào? Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng. Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:- Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt.

Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp: Đào núi có khó không? Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó, người sợ nói khó bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó. Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm. Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi: Có ai dám đào núi không? Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa: Thưa Bác có ạ! thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ!

3. Nghe xong, Bác cười: Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì? Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao”, có người “cần kiên gan bền chí”, “cần vượt khó vượt khổ”, có người “cần xung phong dũng cảm”, toàn là những khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó.  Bác động viên chúng tôi: Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ: Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên. 

Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào. Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ đã là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc... (Trích Nguyễn Thị Diệu Trang, Tổ tuyên truyền Đảng ủy cơ quan VKS TP, (16/01/2019) Nội dung sinh hoạt dưới Cờ kỳ 1 tháng 01/2019).

4. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngay từ khi thành lập, Bác đã thường  xuyên quan tâm theo dõi, chỉ đạo và dành nhiều tình cảm đối với Lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước: Ngày 12-7-1965, Bác đã trực tiếp nghe TƯ Đoàn báo cáo tình hình nam nữ thanh niên tham gia TNXP. Bác nhắc Trung ương Đoàn phải thường xuyên báo cáo với Bác, nhất là những thành tích, để Bác khen thưởng. Ngày 26-9-1966, Bác đã gửi thư khen ngợi TNXP: “Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu thanh niên gái và trai đang cố gắng vượt mọi khó khăn, gian khó lập nhiều thành tích. Bác mong các cháu đoàn kết chặt chẽ, dũng cảm lao động và chiến đấu, giữ gìn sức khỏe, cố gắng học tập, lập nhiều thành tích chống Mỹ, cứu nước để xứng đáng là thanh niên anh hùng của dân tộc anh hùng”.

Ngày 19 tháng 10 năm 1966, phát biểu ý kiến tại buổi Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Bác nói: “Trong phong trào TNXP chống Mỹ cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái đã nêu gương dũng cảm trong sản xuất và chiến đấu. Nhiều thanh niên gái Vĩnh Linh vừa sản xuất giỏi vừa chiến đấu giỏi. Tổ cầu đường Trần Thị Lý ở Quảng Bình và tiêu biểu là tiểu đội 9 - Đại đội 814 đã đảm bảo giao thông dưới làn bom đạn”. 

5. Ngày 12-1-1967, Đại hội thi đua các đội TNXP chống Mỹ cứu nước tập trung đã khai mạc tại Hà Nội, Bác đến dự và nói chuyện thân mật với Đại hội, Bác nói: Bác rất vui lòng với thanh niên Việt Nam anh hùng. Việt Nam càng ngày càng anh hùng, càng đánh càng anh hùng. Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua lần thứ nhất (1952) chúng ta mới có 7 người được tuyên dương là Anh hùng. Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua lần thứ hai có 95 Anh hùng. Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua lần thứ ba có ít Anh hùng hơn. Đại hội thứ tư lần này có 111 Anh hùng. Thế là ngày càng nhiều Anh hùng. Trong số 111 Anh hùng vừa được tuyên dương ở Đại hội, có 44 Anh hùng là thanh niên. Bác càng vui lòng hơn nữa là trong 44 Anh hùng là thanh niên, có 12 Anh hùng là thanh niên gái. 

Thế là ngày càng có nhiều Anh hùng và ngày càng có nhiều thanh niên gái trở thành Anh hùng.… Nhờ có Đảng giáo dục, có Đoàn giúp đỡ, có nhân dân bồi dưỡng cho nên chúng ta mới có Anh hùng. Anh hùng ấy không phải là Anh hùng của một cá nhân. Vì dân tộc ta Anh hùng, nước ta Anh hùng, nhân dân ta Anh hùng, Đảng ta Anh hùng, cho nên mới nảy sinh nhiều đơn vị và nhiều người Anh hùng. Vì vậy, những đơn vị và người được tặng danh hiệu Anh hùng trước đây đã có cố gắng, nay lại phải khiêm tốn học tập và cố gắng hơn. Các cháu nào đã là Anh hùng thì phải cố gắng tiến lên nữa, các cháu nào chưa là Anh hùng thì cố gắng phấn đấu để trở thành Anh hùng”

6. Trước sự đánh phá ác liệt của kẻ thù, Đại đội 333 vẫn kiên cường bám trụ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Khi biết sự chiến đấu kiên cường, anh dũng của C333, Bác Hồ đã gửi tặng lẵng hoa và viết thư khen ngợi. Thư Bác viết ngày 27/1/1969, có đoạn ghi rõ: “Suốt bốn năm nay, Đội TNXP số 333 nhận nhiệm vụ làm đường, sửa cầu ở một nơi địch thường đánh phá ác liệt, có nhiều khó khăn gian khổ. Đội phần lớn là các cháu gái đã dũng cảm chiến đấu, tích cực lao động, có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, bảo đảm cầu đường được thông suốt luôn. Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu. Bác mong các cháu mạnh khỏe, vui vẻ, lập nhiều thành tích mới”. 

Đây cũng là bức thư và lời căn dặn cuối cùng của Bác Hồ đối với TNXP trước lúc Người đi xa. Tình cảm và sự quan tâm của Bác đã khiến TNXP trong đội 333 nói riêng và TNXP toàn lực lượng TNXP nói chung rất cảm động và càng hăng hái hơn trong thực hiện nhiệm vụ đầy gian khổ, hy sinh. Thư của Bác  đã trở thành động lực không chỉ của C333 mà còn để thanh niên thực hiện lý tưởng của mình - Lý tưởng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Trích Thanh niên Xung Phong “Những mốc son lịch sử TNXP Việt Nam”, Thứ 4, 8/11/2017).

X. Thanh niên xung phong với Đường mòn Hồ Chí Minh

1. Giai đoạn Chiến tranh Việt Nam (1965-1975). Tính trên toàn bộ tuyến Đường Hồ Chí Minh  huyền thoại, lực lượng thanh niên xung phong với quân số bằng 10 sư đoàn đã xây dựng, bảo dưỡng và đảm bảo hoạt động của 67.700 km đường. Nếu chia ra đầu người, mỗi thanh niên xung phong đã đảm bảo duy trì sự thông suốt của gần nửa cây số đường vượt rừng, vượt đèo, vượt sông, suối bất chấp bom đạn Mỹ đánh phá ác liệt suốt ngày đêm. Tổng cộng đã có 530.000 thanh niên xung phong tham gia qua các thời kỳ. Trên 130.800 thanh niên xung phong tham gia trong chiến tranh Việt Nam trong đó hơn 40.000 thanh niên xung phong của 15 tỉnh miền Bắc làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn và ở mặt trận Quảng Bình.

Trong bốn tỉnh miền Trung bao gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình đã cung cấp tới gần 90.000 nam nữ thanh niên xung phong - chiếm 55% tổng số thanh niên xung phong toàn miền Bắc. Tỉnh Hải Hưng cũng có gần 10.000 người tham gia Thanh niên xung phong. Khẩu hiệu: "Sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm". “Nơi đâu chiến trường cần, thanh niên xung phong có mặt, nơi nào có giặc, thanh niên xung phong xuất quân. “Phục vụ quên mình, anh dũng xung phong, lập công xuất sắc"

2. Một số thành viên TNXP tiêu biểu: 10 nữ thanh niên xung phong hi sinh ở ngã ba Đồng Lộc. 8 liệt sĩ (4 nam, 4 nữ) thanh niên xung phong hi sinh ở hang Tám Cô. Trên 300 thanh niên xung phong hy sinh ở cung đường 1C, tuyến vận tải chi viện từ Campuchia vào Kiên Giang, U Minh. 13 nữ thanh niên xung phong hy sinh tại Truông Bồn, Đô Lương, Nghệ An. Tổn thất: Khoảng 10.000 người hy sinh. 46.000 người bị thương, 10.000 người bị nhiễm chất độc màu da cam. 4.500 nữ thanh niên xung phong cô đơn không nơi nương tựa khi về già. Nhiều nữ thanh niên xung phong bị mắc bệnh hysteria một chứng bệnh tâm lý do sống cô đơn quá lâu hoặc do bị chấn thương tâm lý, lo lắng cao độ kéo dài, triệu chứng là thỉnh thoảng khóc cười không lý do, la hét điên loạn. (Trích Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Trang này được sửa đổi lần cuối vào ngày 4 tháng 1 năm 2021 lúc 09:44). 

XI. Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968

1. Qua 3 năm chiến đấu trực tiếp với quân Mỹ, tuy vẫn đứng vững trên chiến trường và khiến quân Mỹ sa lầy, nhưng thương vong của quân Giải phóng cũng tăng lên, nếu cục diện này tiếp tục kéo dài thì không thể giành được thắng lợi quyết định. Để xoay chuyển tình thế tạo đột phá cho cuộc chiến tranh, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 nhằm tạo ra cái nhìn mới về cuộc chiến theo hướng có lợi cho mình, ("Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị" – Lê Duẩn) buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán. 

Cuộc tiến công đã đồng loạt nổ ra vào đêm 30 Tết Mậu Thân, tức ngày 30 tháng 1 năm 1968  trên khắp các đô thị miền Nam, và các căn cứ quân sự của đối phương. Hầu hết người Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng hòa của họ hoàn toàn bất ngờ và bị động trước cuộc tấn công này. Để khuếch đại tiếng vang đến mức tối đa, các lãnh đạo Quân Giải phóng đã lựa chọn phương án mạo hiểm nhất là đánh thẳng vào hậu phương của đối phương. Ngay đêm đầu tiên, lực lượng biệt động Sài Gòn đã nhằm vào các mục tiêu khó tin nhất trong thành phố: Toà Đại sứ Mỹ, dinh Tổng thống, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất. 

2. Sau đó quân tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tiến công đã tạo bất ngờ lớn, gây chấn động dư luận thế giới cũng như gây tổn thất đáng kể cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, quân Giải phóng cũng mắc phải những sai lầm trong kế hoạch tác chiến. Quân Giải phóng đã có những đánh giá không đúng với thực tế tình hình và duy ý chí, nhận định thấp về khả năng của đối phương và đánh giá quá cao khả năng của mình, nên Quân Giải phóng đã phải chịu thương vong lớn. Các chỉ huy địa phương của Quân Giải phóng miền Nam đã không tách bạch rõ đâu là “mục tiêu chính trị” của cuộc tiến công, và đâu là mục tiêu được phổ biến để “cổ vũ khí thế” chiến đấu. 

Mục tiêu thứ nhất là đánh lớn, gây tiếng vang hướng tới dư luận và chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, ngồi vào đàm phán. Còn khi phổ biến tuyên truyền để “cổ vũ khí thế” trong cán bộ binh sĩ, được coi trận "đánh dứt điểm" đối phương. Quân Giải phóng cũng đã không linh hoạt thay đổi tuỳ theo tình hình. Cho nên đã phát động tiếp đợt 2 vào tháng 5; đợt 3  vào tháng 8 khi mà kế hoạch đã bại lộ và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại bị tăng thêm. Sau Tổng tiến công Mậu Thân, Quân Giải phóng bị đánh bật khỏi các đô thị. Các đơn vị quân sự chịu nhiều thương vong, nhiều lực lượng chính trị nằm vùng ở đô thị bị lộ và bị triệt phá.

3. Do chịu quá nhiều thương vong, thậm chí đã có ý kiến trong giới lãnh đạo Quân Giải phóng đã cho giải tán các đơn vị cỡ sư đoàn, quay trở về lối đánh cấp trung đoàn trở xuống. Họ tránh giao chiến lớn tại miền Nam và rút lui về các chiến khu tại vùng nông thôn, miền núi hoặc đi ẩn náu tại bên kia biên giới Lào và Campuchia, phải tới năm 1970 lực lượng của họ mới hồi phục lại được, trong khi Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hoà lại có đủ thời gian bổ sung những thiệt hại trong năm 1968, đồng thời tiến hành các chiến dịch bình định nông thôn, đặc biệt là chiến dịch Phượng Hoàng nhằm triệt phá phong trào chính trị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ở nông thôn và thành thị. 

Đó là cơ sở để giới quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa cho rằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã thất bại. Tuy nhiên, nhận định của Hoa Kỳ bị xem là quá lạc quan. Trên thực tế, phần lớn Quân giải phóng vẫn bảo toàn được lực lượng, vẫn là thành phần quan trọng trong cuộc chiến, vẫn kiểm soát đồng bằng sông Cửu Long. Mặt khác, Quân Giải phóng cũng có cơ sở để cho rằng Mậu Thân 1968 là một thắng lợi chiến lược trong chiến tranh của họ, bởi họ đã đạt mục tiêu đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có vị thế ngang với Việt Nam Cộng hòa, bắt buộc Mỹ phải xuống thang và bắt đầu rút khỏi Việt Nam. 

4. Lực lượng quân Giải phóng bị suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn quân Mỹ một khi đã ra đi thì khó mà trở lại. Ngày 31 tháng 3 năm 1968, lần đầu tiên kể từ đầu cuộc chiến, chính phủ Mỹ   buộc phải xuống thang chiến tranh. Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh. Tất cả những điều trên tạo cơ sở cho Quân Giải phóng thấy rằng họ đã đạt được mục tiêu đề ra của cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 cho dù phải hy sinh nhiều lực lượng. Tổn thất về lực lượng đã được bù đắp bằng thắng lợi quan trọng hơn ở tầm chiến lược, bởi nó tác động toàn diện đến tình hình quân sự, chính trị, tâm lý xã hội, chiến lược chiến tranh của cả nước Mỹ.

Tại mặt trận Khe Sanh, sau 170 ngày đêm chiến đấu, Chiến dịch đường 9 Khe Sanh đã kết thúc thắng lợi, buộc quân Mỹ phải rút khỏi căn cứ quân sự này. Về mặt chiến lược, kế hoạch xây dựng Hàng rào Điện tử McNamara nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ coi như phá sản và không còn căn cứ nào của Mỹ có thể uy hiếp trực tiếp tuyến đường chiến lược này. Quân Giải phóng miền Nam nhanh chóng tận dụng kết quả thu được: Từ cuối năm 1968, thêm một tuyến đường Trường Sơn được mở, thường gọi là đường Trường Sơn đông để phân biệt với các tuyến ở phía Tây. So với các tuyến phía Tây, đường Trường Sơn đông ngắn hơn và ít khúc khuỷu hơn, nên việc đưa hàng hóa và bộ đội vào miền Nam nhanh hơn đáng kể. 

5. Đến năm 1969, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng cường đưa quân vào đồng bằng sông Cửu Long để chi viện cho lực lượng bộ đội địa phương bị thương vong nhiều trong Tết Mậu Thân, khiến bộ đội hành quân vào từ miền Bắc đóng vai trò quan trọng hơn tại khu vực này. Trong năm 1968 và đầu năm 1969, Mỹ vẫn tiếp tục tăng thêm quân từ 498.000 lên 537.000, số bom ném xuống Việt Nam tăng từ 83.000 tấn/tháng lên 110.000 tấn/tháng. Bằng chiến dịch Mậu Thân, Quân Giải phóng đã tạo ra bước ngoặt quan trọng cho cả cuộc chiến, đưa họ gần hơn tới chiến thắng chung cuộc.

XII. Vây ép Căn cứ Mỹ ở Cồn Tiên

1. Ngày 13/3/68, sau trận chiến đấu tại làng Phúc Sa, Chính trị viên Cù Huy Đường, và Trung đội trưởng Nguyễn Văn Chấp đã anh dũng hy sinh. Tôi được Tiểu đoàn giao nhiệm vụ thay anh Chấp chỉ huy Trung độiNgày 1 tháng 5 năm 1968, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 ra lệnh cho Trung đoàn 27 vây lại căn cứ Cồn Tiên. Ban chỉ huy đại đội sau khi cân nhắc đã quyết định chọn trung đội của tôi thực hiện vây ép Cồn Tiên. Nhiệm vụ của trung đội là vừa đánh địch gây tiếng nổ, vừa bảo vệ tổ bắn tỉa được bố trí cách căn cứ Cồn Tiên khoảng 1 ki-lô-mét. Trung đội 25 người gồm cả tổ thông tin vô tuyến điện. Sau khi xây dựng công sự, hầm hào chiến đấu thực hành vây ép, trên sẽ tăng cường một tổ bắn tỉa từ Hà Nội vào, ngày nào cũng phải nổ súng. 

Cồn Tiên là cao điểm 158 mét so với mặt nước biển. Mặt đồi khá bằng phẳng. Đứng ở Cồn Tiên có thể quan sát một khu vực rộng lớn, thậm chí nhìn ra tận bắc sông Bến Hải. Do vị trí quan trọng của nó nên quân Mỹ đã xây dựng Cồn Tiên thành căn cứ quân sự mạnh, có lô cốt bê tông cốt thép xen lẫn hầm lát bằng những tấm ghi và xếp những bao cát. Trong căn cứ có một tiểu đoàn lính Mỹ và một đại đội pháo 105 ly. Quanh căn cứ chúng bố trí chín lớp hàng rào dây kẽm gai, với nhiều loại mìn giữa các lớp rào. Cồn Tiên đã bị quân ta vây đánh nhiều lần nên địch rất cảnh giác.  

2. Tối ngày 8 tháng 5 năm 1968, Trung đội 3 do tôi làm trung đội trưởng được lệnh xuất kích. Trang bị ngoài súng đạn, gạo, lương khô, bông băng cá nhân, chúng tôi còn phải mang mìn định hướng, bộc phá ống, cuốc xẻng. Khoảng 21 giờ thì đến Cồn Tiên. Xung quanh căn cứ pháo phát quang dọn sát hàng rào. Tôi phân công ba người đào một hầm khoét xuống lòng đất rồi đào hàm ếch vào sâu đủ khoảng rộng để nằm nghỉ trong đó. Riêng tiểu đội bảo vệ tổ bắn tỉa thì ra bờ suối Lăng Gô, cách hàng rào thứ nhất khoảng 1 ki-lô-mét, cũng đào hầm hàm ếch. 

Cả ngày anh em chúng tôi nằm dưới hầm. Trời tối tôi dẫn hai chiến sĩ dùng mìn định hướng và bộc phá ống vòng lên phía tây căn cứ phá rào để địch tưởng ta tiến công thật. Đánh xong, đợi im tiếng pháo anh em lại về hầm. Máy bay trực thăng vũ trang, máy bay trinh sát OV10, L19 quần lượn suốt ngày, chỗ nào chúng nghi ngờ có quân ta là phóng rốc-két. Sáng ngày 10 tháng 5 năm 1968, tôi điện báo cáo cho tiểu đoàn đưa tổ bắn tỉa vào chiến đấu. Tôi cử hai chiến sĩ hoạt bát ra đón tổ bắn tỉa. Tối hôm sau, năm chiến sĩ bắn tỉa với năm cây súng trường Hung-ga-ri đã vào vị trí ở suối Lăng Gô. 

3. Tôi nói với anh em: Xung quanh căn cứ địch không còn một cây cỏ, các cậu phải lợi dụng những bụi tre hóa đã bị bom cháy rụi đào công sự dưới đó, rồi ngụy trang bằng than, tro để địch không phát hiện được. Phải chuẩn bị nhiều điểm bắn. Bắn xong phải di chuyển ngay.Anh em có ý kiến gì không? Mọi người đều nhất trí với ý kiến của tôi. Anh em tiểu đội bảo vệ và các chiến sĩ tổ bắn tỉa đã đào hầm dưới những bụi tre hóa, những chiếc hầm này thật vững chắc. Pháo bắn trúng cũng không thể phá được. Ngày đầu tiên tổ bắn tỉa ra quân đã thu được thắng lợi. Gần chục tên Mỹ đã trúng đạn bắn tỉa. Bọn địch không biết đạn từ đâu bay đến làm gần chục tên lăn ra chết. 

Chúng rất hoang mang. Thế là chúng tập trung pháo cối bắn như vãi đạn. Tổ bắn tỉa hoạt động có hiệu quả. Cứ tên địch nào ngóc đầu lên là anh em tiêu diệt. Các chốt vây ép của ta là chốt cơ động. Nếu ở cố định một chỗ thì trước sau gì địch cũng phát hiện ra. Đến ngày 12 tháng 5 năm 1968, tôi bàn với anh em luồn sâu vào hàng rào thứ 5 căn cứ Cồn Tiên. Chúng tôi gỡ được 31 quả mìn các loại trong khu dự kiến xây dựng công sự hầm hào và tổ chức trận địa chết ở trong đó. Rất may là ở hàng rào có dù pháo sáng do chúng bắn ra, cả dù từ máy bay thả xuống phủ gần như kín những gốc cây, hàng rào, kín cả khu vực. 

4. Dù trắng và cả màu đỏ loại 18 chéo. Tôi cho rằng không có ngụy trang nào hay như ngụy trang bằng dù của Mỹ. Địch đã "giúp" ta giữ bí mật, quả là "gậy ông đập lưng ông". Hầm nằm dưới dù vừa mát vừa kín đáo. Khi đào hầm hàm ếch, đất được cho vào ba lô rồi đổ rải ra những hố bom, hố pháo địch vừa bắn gần đó. Chuyến cuối cùng chúng tôi phải đi giật lùi, chỗ đất đỏ thì ngụy trang đất đỏ, chỗ lá khô thì rải lá khô để che mắt địch. Dưới mỗi cái dù là ba người. Chúng tôi lấy hòm gỗ do máy bay địch thả xuống ghép lại thành những căn hầm kiên cố, có thể ngủ nghỉ thoải mái. Hàng ngày địch tung thám báo và xe tăng đi tuần ở ngoài hàng rào. Chúng đâu biết rằng ở trong hàng rào lại có Quân giải phóng.

Tối nào chúng tôi cũng đánh mìn, đánh bộc phá, tập kích quân địch, vừa tiêu hao sinh lực, vừa gây tiếng nổ làm cho địch trong căn cứ ăn không ngon, ngủ không yên, luôn trong trạng thái lo nơm nớp. 20 ngày đầu, tổ bắn tỉa diệt được rất nhiều tính Mỹ. Bọn địch rút kinh nghiệm vừa đánh phá ác liệt vừa thực hiện nghi binh, giơ hình nộm đội mũ sắt để lừa ta, từ đó phát hiện các tổ bắn tỉa. Địch dùng máy bay bắn rốc-két, dùng pháo cối bắn tập trung vào một khu vực. Một số anh em trong tổ bắn tỉa hy sinh, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 cho lệnh rút tổ bắn tỉa ra ngoài củng cố. Tiểu đội bảo vệ tổ bắn tỉa trở lại đội hình của trung đội. Mấy ngày sau địch mở cuộc càn ra khu vực tổ bắn tỉa đã từng trú ẩn, phá các hầm hố, hào giao thông.

5. Tính đến ngày 30 tháng 6 năm 1968, trung đội tôi đã vây ép căn cứ Cồn Tiên 52 ngày đêm, giam chân một lực lượng lớn quân địch trong căn cứ, làm cho chúng căng thẳng, tinh thần bạc nhược. Đây cũng là một hình thức chi viện kịp thời nhất, hiệu quả nhất đối với các đơn vị bạn. Mỹ - ngụy không thể tập trung quân lớn để giải tỏa cho hướng Khe Sanh, Làng Vây. Nắm rõ hoàn cảnh khó khăn của anh em, đã gần hai tháng không tắm rửa, sức khỏe giảm sút, Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định cho chúng tôi rút ra cứ củng cố rồi vào đánh tiếp. Tối hôm chúng tôi rút, địch cho xe M113 và một trung đội Mỹ ra phục hướng tây bắc. 

Tôi bảo anh em không đánh mìn và bộc phá nữa mà bí mật hành quân rút ra hướng tây bắc về căn cứ cho gần. Theo đường xe tăng đi ra, chúng tôi phát hiện địch trước mặt. Tôi quyết định đánh từ phía sau quân địch để mở đường. Địch hoàn toàn bất ngờ vì chúng tôi từ trong căn cứ địch đi ra. Tôi lấy khẩu B40 của một chiến sĩ và nói với hai chiến sĩ B40 còn lại: "Khi tôi bắn vào chiếc xe M113 các cậu cũng nhằm vào hai xe còn lại mà bắn nhé!". Nói rồi tôi giương khẩu B40 nhằm chiếc xe bóp cò. Một tiếng nổ lớn kèm theo là chớp lửa trùm lên chiếc M113. Hai chiến sĩ B40 cũng bắn hai quả đạn nữa vào hai chiếc xe M113 còn lại. Cả trung đội tập trung AK, lựu đạn, thủ pháo tiến công quân địch. 

6. Sau 15 phút chiến đấu trung đội tôi tiêu diệt hoàn toàn trung đội Mỹ, bắn cháy ba xe M113. Tôi lệnh cho anh em còn bao nhiêu mìn, bộc phá dùng phá rào bằng hết. Trận đánh kết thúc khoảng 12 giờ đêm. Cả trung đội an toàn. Sau trận đánh xuất sắc đó tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và được chỉ định làm đại đội trưởng thay anh Tiến vì anh Tiến bị thương. Tuy thất bại phải rút khỏi Khe Sanh, nhưng quân địch tập trung lực lượng phản kích điên cuồng gây cho ta nhiều khó khăn: quân số thiếu hụt, lương thực, vũ khí, đạn dược đều thiếu, quần chúng bị địch khủng bố triền miên phong trào lắng dần. 

XIII. Trộm lương thực của Mỹ tại Cao điểm 710.

1. Đến tháng 8 năm 1968, các đơn vị chủ lực của ta bị đánh bật ra khỏi đồng bằng. Sau khi bộ đội chủ lực rút lên vùng rừng núi để củng cố, thì Trung đoàn 27 cùng bộ đội địa phương của tỉnh và du kích bám địa bàn tiệp tục chiến đấu để chiến trường lúc nào cũng có tiếng súng. Lúc dồn dập, lúc cầm canh ri rả. Chúng tôi lợi dụng lúc mưa lũ để hành quân, vận tải tránh thương vong, chúng tôi cũng lợi dụng lúc trời nổi cơn giông để đưa bộ đội tiềm nhập. Những lúc như thế là những lúc bất ngờ nhất. Trong mưa gió, người chiến sĩ chiến đấu tuy có vất vả hơn nhiều, song đó lại là những đòn bất ngờ giáng xuống đầu quân địch, làm cho chúng kinh hoàng. 

Những ngày cuối năm 1968, tình hình càng trở nên khó khăn, việc tiếp tế từ hậu phương vào bị cản trở do gặp phải nước lũ các sông, suối ở bắc Quảng Trị và bị địch đánh phá. Có kẻ bạc nhược, đầu hàng địch đã khai báo việc ta cho gạo vào bao nylon thả từ đầu nguồn sông Ba Lòng, các đơn vị ở dọc bờ sông cứ thế mà vớt. Thế là bọn địch cho máy bay trực thăng cán gáo bay dọc sông, cứ thấy bao gạo nổi là bắn làm nguồn tiếp tế duy nhất trên sông của bộ đội ta bị gián đoạn. Trước tình hình đó, Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 của tôi căng óc nghĩ các phương án làm thế nào để có lương thực, thực phẩm nuôi cả trăm con người, trong đó có gần sáu mươi thương binh. 

2. Tôi bàn với ban chỉ huy, cử tổ trinh sát ba người và năm chiến sĩ khỏe, hoạt bát lên cao điểm 710, nơi địch vừa đổ quân và hàng hóa xuống để moi nguồn lương thực, thực phẩm. Hôm đầu anh em mò vào kho quân lương của địch lấy được tám gùi hàng, có cả thịt hộp, thuốc lá. Ba đêm sau, cũng phương thức như vậy anh em lấy được 24 gùi nữa. Đêm thứ năm, khi đã cho thịt hộp vào gùi, trên đường ra bất ngờ anh em gặp tên Mỹ đi tuần tra, nó kêu: Vi xi! Vi xi! Vi xi! Thế là anh em đeo cả ba lô lăn xuống dốc. Đến lưng chừng anh em vướng vào mấy bụi chuối rừng mắc lại. Không ai việc gì. Địch cho pháo bắn một hồi lâu dọc theo khe suối rồi thôi.

Cả đại đội lấy rau môn thục, rau tàu bay, rau dớn, rau sam đá về nấu với thịt hộp. Mỗi nồi anh em còn cho thêm một bánh lương khô. Thế là bằng số thực phẩm lấy được của địch, anh em cũng nuôi nhau được gần một tháng cho đến khi Mặt trận cử chín trinh sát mang theo gạo vào Đại đội 2. Sau đợt này tôi cho anh em lấy thịt hộp chôn giấu ở Kiềng và các điểm dừng chân để đến khi gặp khó khăn bị bao vây phong tỏa, có cái để dùng, để sống và chiến đấu. (Trích Sách Một thời Quảng Trị, của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, NXB Quân đội Nhân dân, 2008). 

XIV. Giai đoạn sau Mậu Thân: 1969-1971.

1. Đây là giai đoạn "sau Mậu Thân" hay giai đoạn "Việt Nam hoá chiến tranh" giai đoạn Mỹ rút dần khỏi chiến trường Việt Nam tùy theo khả năng tự mình đảm nhận cuộc chiến của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Để đồng minh đứng vững, Mỹ đẩy nhanh viện trợ quân sự giúp Việt Nam Cộng hòa xây dựng quân đội mạnh, với các loại vũ khí tối tân, cùng với chiến cụ và cơ sở hậu cần phục vụ chiến tranh mà quân đội Mỹ sẽ để lại. Mỹ cũng yểm trợ về không lực tối đa cho quân đội Việt Nam Cộng hòa trong các giao tranh với Quân Giải phóng. Mùa hè năm 1969, tại quần đảo Hawaii, Tổng thống Mỹ mới đắc cử Richard Nĩon gặp Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu để bàn về việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam. 

Tình hình miền Nam tương đối yên lặng trong các năm 1969–1971. Quân Giải phóng tích cực dự trữ lương thực, đạn dược tại các căn cứ ở Lào, Campuchia và các vùng rừng núi mà quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa chưa với tới được. Quân Giải phóng sử dụng vùng biên giới Lào và Campuchia, được xem là vùng trung lập, làm bàn đạp tấn công vào lực lượng Mỹ-Việt Nam Cộng hòa, sau đó rút lui trở lại bên kia biên giới. Tổng thống Mỹ Nixon muốn chấm dứt tình trạng đó, tháng 3 năm 1970, Mỹ ủng hộ Lon Nol thủ tướng chính phủ Campuchia triệu tập Quốc hội bỏ phiếu phế truất hoàng thân Norodom Sihanouk khỏi vị trí Quốc trưởngsau đó phát động chiến tranh chống cộng tại Campuchia.

2. Tháng 4 năm 1970, khoảng 40.000 lính Việt Nam Cộng hòa và 31.000 lính Mỹ được huy động mở chiến dịch tấn công vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại biên giới Tây Ninh giáp ranh Campuchia. Do được chuẩn bị trước, ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam và phần lớn lực lượng Quân Giải phóng đã di chuyển sâu vào lãnh thổ Campuchia và tiến hành các trận phản công, gây cho đối phương những thiệt hại đáng kể. Ngày 30 tháng 6 năm 1970 cuộc hành quân chấm dứt, Mỹ tuyên bố tiêu diệt khoảng 2.000 quân Giải phóng, nhưng họ đã không tiêu diệt được ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam. Quân chính phủ Lon Nol và quân đồn trú của Việt Nam Cộng hòa ở Campuchia sau chiến dịch không thể đương đầu với Quân Giải phóng.

Nguyên trước đây Quân Giải phóng chỉ đóng trên đất Campuchia ở một số vùng sát biên giới với Việt Nam, họ cố gắng lôi kéo, chiều lòng chính quyền Sihanouk và tự kiềm chế để không mất lòng chủ nhà. Chính quyền Sihanouk thỏa thuận với Trung Quốc và Việt Nam Dân vhur Cộng hoà cho phép sự hiện diện của các căn cứ Việt Nam ở sát biên giới Campuchia - Việt Nam, đồng thời cho phép viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam thông qua các cảng Campuchia. Đổi lại Campuchia được đền bù bằng cách Trung Quốc mua gạo của Campuchia với giá cao. Nay với diễn biến chính trị như trên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quay ra lên tiếng ủng hộ Sihanouk và phong trào Khmer Đỏ chống lại Lon Nol.

3. Các sư đoàn 5, 7, 9 của Quân Giải phóng cùng quân Khmer Đỏ đánh lui quân chính phủ Lon Nol, và quân đồn trú của Việt Nam Cộng hòa giành kiểm soát các tỉnh Đông và Đông Bắc Campuchia mở rộng căn cứ nối thông với Lào. Việt Nam Dân chủ cộng hòa cũng cung cấp vũ khí, quân trang quân dụng giúp Khmer Đỏ xây dựng nhiều đơn vị quân sự mới. Vùng lãnh thổ do Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Khmer Đỏ kiểm soát tại Campuchia trở thành hậu cứ lớn, Quân Giải phóng đã có thể thu mua nhu yếu phẩm, thuốc men ngay trên đất Campuchia trang bị cho quân đội của mình một cách hiệu quả mà trước đó nguồn này phải chờ vào chi viện của miền Bắc cách xa hàng ngàn cây số. 

Tiến trình Việt Nam hoá chiến tranh ban đầu đã diễn ra tương đối thuận lợi. Quân lực Việt Nam Cộng hoà sau Mậu Thân được trang bị hiện đại đã tỏ ra tự tin hơn và đã nắm thế chủ động trên phần lớn chiến trường miền Nam từ năm 1969 đến tận cuối năm 1971. Nhưng điều đó chưa nói lên điều gì lớn vì Quân Giải phóng trong thời kỳ này vẫn chưa hồi phục sau Mậu Thân và không chủ trương đánh lớn. Sự yên tĩnh trên chiến trường tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút quân Mỹ mà không gây ra một sự xấu đi trầm trọng nào. Tranh thủ thời gian yên tĩnh, Việt Nam Cộng hòa đổ công sức tiến hành bình định nông thôn. Một chương trình lớn tái thiết nông thôn được thi hành với viện trợ kinh tế lớn của Mỹ. 

4. Chiến dịch Phượng Hoàng  với sự giúp đỡ của CIA, đã được triển khai, nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Các toán nhân viên Phượng hoàng áo đen do tình báo Mỹ huấn luyện được phái xuống các xóm ấp, họ ở cùng trong dân nghe ngóng thu thập tình báo, bắt các phần tử nghi ngờ là cộng sản hoặc thân cộng sản tra khảo để phanh ra tổ chức, nếu không khai thác được và vẫn nghi là Cộng sản thì thủ tiêu. Tính tới năm 1972, Mỹ tuyên bố đã "loại bỏ" 81.740 người ủng hộ quân Giải phóng, trong đó 26.000 tới 41.000 đã bị giết. Số người bị thủ tiêu lên đến hàng ngàn người. Các biện pháp này đã có hiệu quả tốt về an ninh, tình hình nông thôn trở nên an toàn hơn. 

Việc Quân Giải phóng cùng quân Khmer Đõ giành kiểm soát các tỉnh Đông Bắc Campuchia đã mở rộng căn cứ nối thông với Lào giúp Quân Giải phóng thiết lập một hệ thống kho tàng tại Hạ Lào nhận quân dụng từ miền Bắc, rồi chuyển đến các tỉnh Đông Bắc Campuchia và đổ vào các căn cứ Tây Ninh.  

5. Tháng 2 năm 1971, hơn 21.000 binh lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa, dưới sự yểm trợ của 10.000 lính Mỹ và không quân Mỹ mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, từ căn cứ Khe Sanh, Quảng Trị đánh vào Hạ Lào nhằm phá hủy hệ thống kho tàng, cắt đứt nguồn tiếp tế của Bắc Việt cho Quân Giải phóng miền Nam. Quân Giải phóng đã dự đoán và chuẩn bị đón đánh từ trước. 

Kết quả cuộc hành quân Liên quân Việt-Mỹ bị thiệt hại nặng nề, hơn nữa các lực lượng hành quân Lam Sơn 719 bị tiêu diệt là các đơn vị dự bị chiến lược tốt nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Cuộc hành quân còn thất bại ở chỗ tuy có phá được một số kho tàng hậu cần nhưng về cơ bản đã không làm hại gì được cho hệ thống tiếp tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho Quân Giải phóng miền Nam. Sau các cuộc hành quân bất thành của đối phương đánh vào Campuchia và Hạ Lào, đến đầu năm 1972, Quân Giải phóng đã chuẩn bị xong lực lượng để tung ra một đợt tổng tiến công có quy mô lớn.

 

 


2.   CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: 

1971-1975

I. Bối cảnh thành lập.

Quốc hội Việt Nam khóa 4 (1971 - 1975), được bầu ngày 11/4/1971, họp lỳ thứ nhất từ ngày 6 đến 10-6-1971, tại Hà Nội, đã bầu: Chủ tịch nước: Tôn Ðức Thắng; Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Trường Chinh. Thủ tướng Chính phủ: Phạm Văn Ðồng. 

II. Thành viên Chính phủ.

Th tự

Họ và tên

Chức vụ

Ghi chú

1

Phạm Văn Đồng

 Thủ tướng

 

2

Võ Nguyên Giáp 

Phan Kế Toại 
Lê Thanh Nghị 
Nguyễn Duy Trinh 
Nguyễn Côn (từ 11-1967)
Đỗ Mười (từ 12-1969)
Hoàng Anh (từ 4-1971)

Trần Hữu Dực (Từ 3-1974 ).

Phan Trọng Tuệ (Từ 3-1974)

Đặng Việt Châu (Từ 3-1974 )

 Phó Thủ tướng

 

3

Võ Nguyên Giáp  

 Bộ trưởng Quốc phòng

 

4

Nguyễn Duy Trinh  

 Bộ trưởng Ngoại giao

 

5

Trần Quốc Hoàn 

 Bộ trưởng Công an

 

6

Xuân Thuỷ 

 Bộ trưởng không Bộ

 

7

Dương Quốc Chính 

 Bộ trưởng Nội vụ

 

8

Nguyễn Lam

Nguyễn Văn Kha (đến 6-1974).

 Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

 

9

Đặng Việt Châu (đến 3-1974)

Đào Thiện Thi (Quyền từ 3-1974).  

 Bộ trưởng Tài chính

 

10

Nguyễn Văn Lộc (đến 3-1974).

Nghiêm Xuân Yêm

 Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệ Trung ương

 

11

Hà Kế Tấn (đến 6-1973).

Nguyễn Thanh Bình (từ 6-1973)

 Bộ trưởng Thủy lợi

 

12

Nguyễn Hữu Mai (đến 4-1974)

Nguyễn Chấn (từ 4-1974).

 Bộ trưởng Điện và Than

 

13

Đinh Đức Thiện (đến 3-1974)

Nguyễn Côn (từ 3-1974). 

 Bộ trưởng Cơ khí và Luyện kim

 

14

Kha Vạng Cân 

 Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ

 

15

Ngô Minh Loan 

 Bộ trưởng Lương thực Thực phẩm

 

16

Bùi Quang Tạo

(đến 6-1973).

 Bộ trưởng Kiến trúc

 

17

Phan Trọng Tuệ (đến 3-1974).

Dương Bạch Liên (từ 3-1974). 

 Bộ trưởng Giao thông vận tải

 

18

Nguyễn Hữu Khiếu (đến 4-1974).

Nguyễn Thọ Chân (từ 4-1974).

 Bộ trưởng Lao động

 

19

Trần Danh Tuyên

 Bộ trưởng Vật tư

 

20

Hoàng Quốc Thịnh 

 Bộ trưởng Nội thương

 

21

Phan Anh

 Bộ trưởng Ng. thương

 

22

Hoàng Minh Giám

 Bộ trưởng Văn hoá

 

23

Nguyễn Văn Huyên

 Bộ trưởng Giáo dục

 

24

Tạ Quang Bửu 

 Bộ trưởng ĐH và Trg học chuyên nghiệp

 

25

Nguyễn Văn Hưởng (đến 4-1974).

Vũ Văn Cẩn (từ 4-1974).

 Bộ trưởng Y tế

 

26

Trần Hửu Dực 

 Bộ trưởng Phủ Thủ tướng

 

27

Trần Quang Huy

 Bộ trưởng Chuyên trách Văn giáo

 

28

Đặng Thí (đến 4-1973). 

Phan Mỹ (từ 4-1973).

 Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng

 

29

Đỗ Mười (từ 6-1973 khi mới lập)

 Bộ trưởng Bộ Xây dựng

 

30

Hà Kế Tấn (từ 6-1973). 

 Bộ trưởng Phụ trách Công trình Sông Đà

 

31

Lê Quảng Ba

 Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc

 

32

Nguyễn Côn (đến 6-1973)

Nguyễn Lam (từ 6-1973 đến 3-74

Lê Thanh Nghị (từ 3-1974).

 Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

 

33

 Nguyễn Lam (đến 3-1974).

 Chủ nhiệm UB Vật giá

 

34

 Đỗ Mười (kiêm đến 6-1973).  

 Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết cơ bản.

 

35

Hoàng Anh (kiêm đến 4-1974).

Võ Thúc Đồng (Quyền từ 4-1974),

 Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp.

 

36

Trần Đại Nghĩa

 Chủ nhiệm Ủy ban KHKT Nhà nước

 

37

Nguyễn Thanh Bình (đến 3-1974).

 Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủ

 

38

Đặng Thí (từ 3-1974).

 Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất.

 

39

Tạ Hoàng Cơ

 Tổng Giám đốc NHNN/Việt Nam

 

III. Chiến dịch Xuân-Hè 1972.

1. Sau các cuộc hành quân bất thành của Quân đội Việt Nam Cộng hoà đánh vào Campuchia năm 1970, và Hạ Lào năm 1971. Đến đầu năm 1972, Quân Giải phóng đã chuẩn bị xong lực lượng mở một cuộc tổng tiến công có quy mô lớn mang tên Chiến dịch Xuân-Hè 1972, còn được biết đến với tên gọi Mùa hè đỏ lửa, diễn ra từ ngày 30 tháng 3 năm 1972 đến ngày 31 tháng 1 năm 1973. Đây là cuộc tổng tấn công chiến lược bằng các chiến dịch tiến công quy mô lớn, hiệp đồng binh chủng, tiến công sâu vào hệ thống phòng ngự tại những hướng chiến lược quan trọng: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; Bắc Tây Nguyên; Đông Nam Bộ, và đồng bằng Khu V, và Khu VIII (Nam Bộ). 

Tháng 3 năm 1972 quân Giải phóng bắt đầu tổng tiến công và nổi dậy chiến lược mùa Xuân 1972.  Tuy rằng tên và kế hoạch như vậy nhưng rút kinh nghiệm từ năm 1968, quân du kích và cán bộ nằm vùng sẽ không "nổi dậy" tại vùng địch hậu mà chỉ đóng vai trò chỉ đường và tải đạn, họ sẽ chỉ ra mặt tại những nơi chủ lực Quân Giải phóng đã kiểm soát vững chắc. Điều đó cho thấy các nỗ lực bình định của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa trong thời gian 1969-1971 đã có những hiệu quả nhất định. Trong 2 tháng đầu, quân Giải phóng liên tiếp chọc thủng cả ba tuyến phòng ngự, tiêu diệt hoặc làm tan rã nhiều sinh lực đối phương, gây kinh ngạc cho cả Mỹ lẫn Việt Nam Cộng hòa. 

2. Tại Bắc Tây Nguyên, sau các thắng lợi ban đầu của Quân Giải phóng tại trận Đắc Tô - Tân Cảnh chiến sự mau chóng êm dịu trở lại sau khi đội quân này bị chặn lại trong Trận Kon Tum. Tại Đông Nam Bộ, ở tỉnh Bình Long sau khi thắng lợi tại trận Lộc Ninh, Quân Giải phóng tiến công theo đường 13 để giành quyền kiểm soát thị xã An Lộc. Trong trận An Lộc, Quân Giải phóng dùng xe tăng và pháo binh tấn công dữ dội. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng quyết tâm cố thủ thị xã và đưa quân lên ứng cứu. Không quân Mỹ dùng B 52  đánh phá ác liệt các khu vực tập kết gây thiệt hại lớn cho Quân Giải phóng. Cuối cùng, Quân Giải phóng không thể lấy nổi thị xã phải rút đi. Và, sau 3 tháng đánh nhau, chiến sự đi vào ổn định. 

Chiến trường chính của năm 1972 là tại tỉnh Quảng Trị. Tại đây có tập đoàn phòng ngự dày đặc của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nơi tuyến đầu giáp với miền Bắc. Cuộc tiến công của Quân Giải phóng tại Quảng Trị đã thành công to lớn, 40.000 quân Việt Nam Cộng hòa phòng ngự tại đây đã hoảng loạn và tan vỡ, thậm chí Trung tá Phạm Văn Đính, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 đã đầu hàng mà không chiến đấu. Chỉ sau một tháng và qua 2 đợt tấn công, Quân Giải phóng đã giành quyền kiểm soát toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế . Mỹ phản ứng bằng cách ném bom trở lại miền Bắc với cường độ rất ác liệt, dùng máy bay B 52 rải thảm bom xuống Hải Phòng, đưa hải quân vào thả thuỷ lôi phong tỏa các hải cảng tại miền Bắc Việt Nam.

IV. Đối đầu với Quân lực Việt Nam Cộng hoà tái chiếm Quảng Trị.

1Ngày 25 tháng 5 năm 1972, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố bằng mọi giá sẽ tái chiếm Quảng Trị. Từ ngày 26 tháng 6 năm 1972, Không quân Hoa Kỳ bắt đầu ném bom rải thảm xuống Quảng Trị. Ngày 28 tháng 6 năm 1972, tướng Ngô Quang Trưởng phát lệnh khởi binh Chiến dịch Lam Sơn 72, với các đại đơn vị Lữ đoàn Dù 1, 2, 3; Liên đoàn 81/Biệt kích dù; Thiết đoàn 7, 18 kị binh; 3 Lữ đoàn Thuỷ quân lục chiến và các tiểu đoàn pháo, công binh trực tiếp tham chiến. Chiều 28 tháng 6, sau khi vượt sông Mỹ Chánh, QLVNCH đã cô lập được một bộ phận của các sư đoàn 304 và 308 của Quân Giải phóng ở hướng Nam Sông Mỹ Chánh. 

Hướng Đông, ngày 29 tháng 6, các lữ TQLC 147 và 258 tấn công các khu vực Diên Khanh, Xuân Viện, Kim Giao, phối hợp với Lữ TQLC 369 từ Mỹ Thủy và Cổ Lũy đánh ra. Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 7, sau khi nhổ từng chốt chặn của Quân Giải phóng trên khoảng cách từng hecta một, bất chấp các thương vong lớn, Lữ dù 1 và Liên đoàn 1 Biệt động quân đã có mặt ở ngoại vi thị xã Quảng Trị, nhưng không lọt vào được. Ngay lập tức, Quân Giải phóng điều động Sư đoàn 325 và Sư đoàn 312 vào tham chiến cùng với các lực lượng tại chỗ giữ vững được Quảng Trị. Ngày 29 tháng 6, trong cuộc họp nội các, Tổng thống Thiệu thừa nhận Chiến dịch Lam Sơn 72 mới chỉ làm chậm bước tiến của Quân Giải phóng. 

2. Ngày 7 tháng 7, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48) Quân Giải phóng sử dụng Đại đội 9, tăng cường 1 trung đội của Đại đội 10, với một trung đội địa phương và 3 xe tăng được Trung đoàn pháo 45 chi viện tiến hành phản kích đối phương ở phía Đông La Vang Hữu. Thấy xe tăng Quân Giải phóng xuất hiện bất ngờ, đội hình quân VNCH rối loạn, Kết quả hàng trăm binh lính bị thương vong, hai xe tăng bị bắn cháy, quân VNCH bị đánh bật ra khỏi khu vực La Vang Hữu. Phía quân Giải phóng bị hỏng hai xe tăng một chiếc do bắn nhầm và một chiếc bị phá do bom. Quân Mỹ lại tăng cường hỏa lực, nâng tổng số đạn pháo đánh phá thị xã từ 8.000 viên/ngày lên 15.000 viên/ngày, cao điểm có ngày lên tới 30.000 viên/ngày, và từ 40 đến 60 lần/ngày máy bay phản lực, dùng bom khoan đánh phá hầm hào tường thành. 

Ngày 13 tháng 7, máy bay trực thăng chở đại tá Nguyễn Trọng Bảo, tham mưu phó sư dù bị bắn hạ tại thị xã Quảng Trị. Rạng sáng 14 tháng 7, một đội biệt kích quân VNCH đột nhập vào phía đông Thành cổ định cắm cờ, thì bị đại đội 14 trung đoàn 48 QGP phát hiện, một số bị tiêu diệt, số còn rút chạy bỏ lại lá cờ. Cùng ngày 14 tháng 7 nầy, Sư dù và Sư TQLC tổ chức tấn công đợt 2 đánh chiếm thị xã.Lữ dù 1 đánh Quy Thiện, Trì Bưu, Lữ dù 2 đánh Tích Tường, Như Lệ. Các lữ TQLC 147 và 369 tiến sát sông Vĩnh Định, chiếm An Tiêm, Nại Cửu và Bích La Đông. Đến ngày 16 tháng 7, Lữ dù 1 đã chiếm được các làng Trì Bưu, Cổ Thành.

3. Trung đoàn 18 (Sư 325) QGP bị tổn thất nặng phải rút ra Ái Tử - Đông Hà, Bộ tư lệnh B5 điều Trung đoàn 95 (Sư 325) vào thay. Quân VNCH đã hình thành thế bao vây ba mặt quanh thị xã Quảng Trị, nhưng chưa vào được nội đô. Ngày 22 tháng 7, quân VNCH ồ ạt sử dụng xe tăng và pháo binh tấn công chính diện kết hợp máy bay ném bom để chọc thủng tuyến phòng thủ này của quân Giải phóng. Từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 7, tướng Lê Quang Lưởng đã tung Liên đoàn biệt kích dù 81 vào chiến đấu. Tiểu đoàn biệt kích dù 27 tiến sát góc Đông Nam Thành cổ, nhiều lần lao lên định cắm cờ trên tường thành Cổ, nhưng đều bị Trung đoàn 48 đẩy lùi. Hai bên tổn thất lớn về sinh mạng.

Lúc này, trận chiến diễn ra trong mùa mưa khiến cho các chiến sỹ quân Giải phóng phải chiến đấu trong điều kiện cực kỳ khó khăn khi bên ngoài là bóng đêm và hỏa lực của đối phương, bên trong là những căn hầm ngập nước, khiến cho nguy cơ các vết thương bị nhiễm trùng tăng lên. Giao tranh diễn ra dữ dội, có nơi trên trận địa có ba lớp người chết, có cả lính quân Giải phóng, lính quân VNCH và cả cố vấn Mỹ. Hai bên giao tranh với tinh thần không khoan nhượng. Không khí chiến trường trở nên ngột ngạt và căng thẳng.

4. Trung tuần tháng 8 năm 1972, Bộ Tư lệnh B5 quân Giải phóng quyết định giao nhiệm vụ cho sư đoàn 325 chỉ huy lực lượng phòng thủ Thành cổ Quảng Trị. Lúc này, Sở chỉ huy Thành cổ ở ngay sát mép sông, dưới một căn hầm rượu của dinh tỉnh trưởng Quảng Trị đã bị bom đạn làm đổ nát, quân Giải phóng tận dụng, cải tạo khu hầm thành ba ngăn, có giao thông hào chạy ra bên ngoài. Một ngăn cho chỉ huy và trực ban tác chiến; một ngăn cho thông tin trinh sát; và một ngăn làm khu phẫu thuật. Quân Giải phóng tập trung thương binh về đây, trước khi vận chuyển khỏi chiến trường. Tại bến Vượt, nơi chuyển quân giữa hai bờ Thạch Hãn cũng là nơi hứng chịu nhiều trận pháo kích nhất. 

Nhiều thương binh của Quân Giải phóng đã bị thiệt mạng bởi bom và pháo kích khi đang được vận chuyển khỏi chiến trường. Khúc sông ở bến Vượt chính là nguồn tiếp vận duy nhất của Quân Giải phóng trong Thành cổ, khi chiếc cầu sắt đã bị đối phương phá hủy. Bom và đạn pháo có ngày đã gây thương vong cho cả một Đại đội Quân Giải phóng ở bến sông. Thế trận thực sự nghiêng về Hoa Kỳ và VNCH khi họ kiểm soát được cả ba mặt của Thành cổ lẫn kiểm soát trên không, nhưng Quân Giải phóng vẫn giữ được Thành cổ trong suốt ba tháng.

5. Quân Giải phóng được bổ sung vào Thành đều đặn theo kế hoạch. Mỗi đêm vào trung bình được 40-50 người (đã trừ số người đào ngũ, lạc ngũ hoặc bị thương từ bên kia bờ sông, chiếm khoảng 30-40%). Hàng ngày thuyền gắn máy hậu cần từ Tả Kiên bí mật bơi vào thành, tiếp tế lương thực, đạn dược, thuốc men, kể cả quà Quốc khánh từ hậu phương tới. Dù vậy, do áp lực liên tục từ đối phương, giao thông hào chiến đấu bị bom đạn bắn phá liên tục, nên hệ thống phòng thủ ngày càng lỏng dần. Tân binh được tăng cường cho các đơn vị phòng thủ chỉ đủ để bù đắp số thương vong trong chiến đấu. Cuối tháng 8, quân VNCH lại được tăng cường thêm. Hai bên giành nhau từng mét đất. Tới trung tuần tháng 9, cả hai bên đều gồng mình khiến cuộc giao tranh cực kỳ khốc liệt.

Từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 9 năm 1972, trời mưa to, nước sông Thạch Hãn lên nhanh, chảy xiết, ảnh hưởng đến tăng cường cung cấp và quân số. Có đêm trôi dạt hàng chục chiến sĩ vượt sông. Công sự chốt bị sụt lở nhiều. Ngày 4/9/1972, Trung đoàn phó Phan, và nhiều thành viên Trung đoàn 88 bị thương đưa về Khu phẩu thuật, Sở chỉ huy Thành cổ quyết định đưa số này vượt sông lũ ra hậu phương. Cùng ngày 4/9/72 nầy, Trung đoàn 88 sư đoàn 308 quân Giải phóng rút khỏi khu Thạch Hãn tây làm sườn phía Nam bị hở. Để đối phó với tình hình quan trọng này, một bộ phận tiểu đoàn 7, trung đoàn 18 và tiểu đoàn 4, trung đoàn 95 được điều động đến thay thế trung đoàn 88 giữ sườn phía Nam thị xã. 

6. Ngày 7 tháng 9 năm 1972, quân VNCH tiến công đợt 6, mở đầu bằng trận tập kích hỏa lực "Phong lôi 2". Không quân, hải quân Hoa Kỳ, pháo binh Việt Nam Cộng hòa bắn suốt 48 giờ liền vào tất cả các trận địa quân Giải phóng khu Thành cổ, các bến vượt sông, đường cơ động lực lượng và vận chuyển. Oanh tạc cơ B-52 của Mỹ rải thảm tả ngạn sông Thạch Hãn, tập trung vào khu Nhan Biều-Ai Tử và các trận địa pháo của đối phương. Đêm 7 tháng 9, tiểu đoàn K2  Trung đoàn 48 quân Giải phóng tập kích khu Hành Hoa, chiếm một số công sự, cải thiện thế phòng thủ ở Tri Bưu. Tiểu đoàn 5 trung đoàn 95 tập kích khu nhà thờ Tin Lành, thương vong một số (tiểu đoàn trưởng đơn vị này cũng chết) nhưng đã chiếm được. 

Sáng ngày 9 tháng 9 năm 1972, lữ đoàn 147 và 259 Thủy quân Lục chiến bắt đầu cuộc tấn công lớn: hai lữ đoàn TQLC với năm mũi, tiến công từ ba hướng vào thị xã, để tái chiếm thành cổ, cùng lúc tiến công khu La Vang-Tích Tường-Như Lệ để chặn sư đoàn 308 phản kích từ hướng này; Liên đoàn 1 Biệt động quân tiến công hướng Bích Khê-Nại Cửu để chặn sư đoàn 320 Quân Giải phóng từ bắc sông Vĩnh Định. Nhiều trận phản kích ác liệt của bộ đội ở ngay sát chân Thành cổ đã đánh bật nhiều mũi tiến công của quân VNCH. Một trung đội quân VNCH lọt vào thành cổ, bị K3 Tam Đảo phản kích dữ dội phải tháo chạy, để lại 11 xác chết. 

7. Tiểu đoàn địa phương K8 quân Giải phóng củng cố đội hình và ém quân bên ngoài. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 chặn đánh 3 tiểu đoàn đối phương ở khu Tin Lành, quyết liệt giành đi giật lại từng công sự. Quân VNCH chiếm được khu Mỹ Tây. Đến đêm 9 tháng 9, tiểu đoàn 4 cùng tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 Quân Giải phóng tập kích chiếm lại khu Mỹ Tây, đẩy quân VNCH chạy về Nam sông con. Tiểu đoàn địa phương K8 từ nơi ém quân len lỏi được vào thành. Ngày 10, tháng 9 năm 1972, quân VNCH được tăng cường thêm 2 sư đoàn từ Huế, tổ chức tấn công trực diện Thành cổ, lấn dũi mạnh từ hướng Nam-Đông-nam. Nhiều toán nhảy vào thành nhưng đều bị quân Giải phóng tiêu diệt. Quanh Thành cổ, dưới hào nước, xác chết nằm rải rác. 

Dưới sự yểm trợ của xe tăng, quân VNCH tấn công lấn dũi phía khu Mỹ Tây, Trường Nữ, Trại giam, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95, quân Giải phóng đánh trả ác liệt, bắn hỏng một xe tăng, hai đại liên, thu một M79 và nhiều lưu đạn nhưng cũng bị chết 6, bị thương 49. Tính chung trong ngày 10-9, cả ở hướng Nam-Đông Nam, Bắc-Đông Bắc, trên toàn khu vực Thị xã, quân Giải phóng diệt hơn 200 binh lính đối phương, bắn cháy 1 xe tăng, nhưng cũng bị thương vong 126 người và để mất khu trại giam và Mỹ Tây. Đêm 10 tháng 9, Quân Giải phóng cho tiểu đoàn 4 ra ngoài củng cố, dùng tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 vào thay thế, chiến đấu ở phía Tây-nam Thành cổ.

8. Đêm 12, Quân Giải phóng tăng cường vào thành tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 (201 người) và 70 tân binh. Ngày 13-9-1972, trời mưa to, lũ lớn, hạn chế nhiều đến việc tăng cường lực lượng (quân số, vật chất kỹ thuật cho Thị xã). Quân VNCH sau 4 ngày liên tục tiến công lấn dũi, vẫn chưa chiếm được Thành, nhưng 6 tiểu đoàn thuộc 2 lữ đoàn Thủy quân lục chiến đã áp sát ba góc Thành cổ: Nam, Đông Nam, Đông Bắc. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 quân Giải phóng chiến đấu quyết liệt, giằng co với đối phương từng khu vực, góc tường, mảnh vườn. Kết quả trong ngày, quân Giải phóng diệt 123 lính, bắn cháy 1 xe tăng, bị thương vong 34 chiến sĩ.

Rạng sáng ngày 13 tháng 9/1972, đại đội 5 tiểu đoàn 2 QLVNCH từ ngã tư Quang Trung-Trần Hưng Đạo mở cuộc tấn công vào khu vực chợ Quảng Trị. Trận chiến đã diễn ra quanh khu vực chợ, dọc theo đường Trần Hưng Đạo ra đến bờ sông. Hai bên đã quần thảo nhau quanh các đống bê tông đổ nát mà Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã biến thành các điểm kháng cự. Cuối cùng tiểu đoàn TQLC này đã chiếm được mục tiêu, sau đó khai triển thanh toán các chốt phòng ngự dọc hai bên đường Phan Đình Phùng, cơ quan USOM và Tòa án tỉnh Quảng Trị. Mục tiêu sau cùng trong ngày 13/9 của tiểu đoàn 2 TQLC là tòa Hành chánh tỉnh Quảng Trị nơi 1 Trung đoàn Quân Giải phóng đặt bộ chỉ huy. 

9. Do các chốt bảo vệ xung quanh đã bị TQLC triệt hạ, nên bộ chỉ huy Quân Giải phóng tại đây đã phải dời ra hướng sông. Khoảng 23 giờ ngày 13 tháng 9, Bộ Tư lệnh B5 Quân Giải phóng lệnh cho trung đoàn phó trung đoàn 48, và sau đó 1 giờ sáng 14 tháng 9 lệnh cho Đại tá Nguyễn Việt chỉ huy trưởng Thành ra ngay Nhan Biều để cùng sư phó sư đoàn 325 tổ chức lực lượng còn lại của trung đoàn bộ binh 18 vào phản kích trong thành. Tiểu đoàn 7 Trung đoàn18 đã vào thành chiến đấu. Ngày 14 tháng 9 năm 1972, từ hướng Đông-nam, quân VNCH tiến sát khu chùa Bà Năm, khu trại giam, chợ. Từ hướng Nam, họ vào khu Mỹ Tây, Trường Nữ. Quân Giải phóng chống trả quyết liệt, vẫn giữ vững các chốt, nhưng bị thương vong nhiều. 

Sau 4 ngày dùng bộ binh tấn công liên tục từ ba hướng, quân VNCH vẫn không chiếm được thành. Cuối cùng, họ dùng xe tăng phun lửa dữ dội vào các chốt  quân Giải phóng. Tiểu đoàn phòng thủ lúc này chỉ còn gần 20 tay súng, quyết tâm thực hiện lời thề danh dự: "K3-Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn", họ đánh trả quyết liệt vào các đội hình của TQLC và khiến họ phải rút chạy. Đến 18 giờ, lợi dụng lúc trời chạng vạng tối, từ ba góc, TQLC lại tiếp tục mở đợt tấn công dữ dội vào thành. Được sự chi viện của Tiểu đoàn Địa phương K8 và các tay súng của Trung đoàn 48 Sư đoàn 320, quân Giải phóng đã đánh bật quân VNCH ra khỏi thành. 

10. Khoảng 4 giờ sáng ngày 15 tháng 9, được yểm trợ tối đa hỏa lực từ không quân, pháo binh, xe tăng, súng phun lữa các loại, Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 và 147 tập trung lực lượng tổng công kích từ ba hướng vào Cổ thành: Ở hướng Đông, 4 đại đội của tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 6 TQLC đã dàn hàng ngang đồng loạt xung phong đánh vào Sở chỉ huy K1, Trung đoàn 48 Quân Giải phóng chiếm một góc khu đông bắc Thành cổ. Các chốt của Quân Giải phóng còn lại tiếp tục chiến đấu mặc dù sức chiến đấu đã giảm, quân số bị thương vong nhiều. Tiểu đoàn địa phương K8, tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 mới vào cũng đã bị tổn thất nặng. 

Trung đoàn bộ binh 18 Sư đoàn 325 quân Giải phóng vẫn chưa đến được nơi quy định để vượt sông vào Thành cổ. Đêm 15 tháng 9 năm 1972, các chỉ huy của Quân Giải phóng trong thành nắm lại tình hình, thấy QLVNCH đã chiếm một số góc thành cổ, nên thống nhất ra lệnh rút khỏi thị xã, và thành cổ từ 22 giờ ngày 15 tháng 9. Quân Giải phóng pháo kích vào cánh quân của tiểu đoàn 3 và 6 TQLC, yểm trợ cho quân Giải phóng đang cố thủ ở đây chuẩn bị rút lui. Gần rạng sáng, các đơn vị TQLC đồng loạt xung phong, những tổ kháng cự của Quân Giải phóng chống trả mãnh liệt, nhằm giữ chân QLVCH cho đồng đội rút lui. Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 được lệnh dừng lại, không vượt sông sang phản kích nữa.

11. Sau 81 ngày đêm cố thủ tại Cổ Thành và thị xã Quảng Trị, 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam rút lui khỏi Thành cổ. Riêng trung đoàn Triệu Hải (Trung đoàn 27 Quân Giải phóng, Trung đoàn trưởng sau này là thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, người gắn bó với Trung đoàn 27 lúc mới thành lập, từ lính nghĩa vụ, chỉ huy tổ 3 người, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, rồi Trung đoàn trưởng) với 1.500 quân đưa vào thành cố thủ là đơn vị tổn thất nặng nhất. Các chốt chiến đấu vòng ngoài đều bị xóa sổ, trung đoàn 48B thuộc sư đoàn 390 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam - đơn vị chiếm giữ trung tâm thị xã, cũng đã bị thiệt hại hơn 80% quân số. 

Trong một hồi ký phổ biến vào năm 1997, trung tướng Lê Tụ Đồng nguyên tư lệnh lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại mặt trận tỉnh Quảng Trị ghi nhận là các sư đoàn và trung đoàn tham chiến đã bị tổn thất quá nửa quân số. Tướng Lê Phi Long của quân Giải phóng năm 2008 nói: "Chiến dịch Quảng Trị kéo dài, thương vong rất lớn, có thể nói là lớn nhất so với tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến. Mỗi lần nghĩ lại tôi rất đau lòng. Mãi đến bây giờ (2008), tôi và nhiều đồng nghiệp vẫn chưa hiểu vì sao ta phải cố thủ Cổ thành với một giá đắt như vậy? Có cán bộ cấp trên giải thích rằng do “yêu cầu của đấu tranh ngoại giao, cần giữ vững Cổ thành để phối hợp với cuộc đàm phán tại hội nghị Paris...".

12. Bài thơ “Lời gọi bên sông” của Lê Bá Dương một chiến binh tham gia trận đánh Quảng Trị viết:

Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ. 
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm. 
Có tuổi hai mươi thành sóng nước.
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.

V. Hoà đàm và Hiệp định Paris năm 1973.

1. Cần lưu ý là sau Mậu Thân, các bên đã ngồi vào thương lượng cho tương lai chiến tranh Việt Nam. Đó là việc phải xảy ra khi chẳng ai dứt điểm được ai bằng quân sự. Hội đàm bắt đầu tại Paris kéo dài từ ngày 3 tháng 5 năm 1968 đến ngày 27 tháng 1 năm 1973  ký Hiệp đinh, mang tên Hiệp định Paris về Việt Nam. Hội đàm ban đầu chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ;  sau mở rộng ra thành hội nghị bốn bên, thêm Việt Nam  Cọng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Về mặt công khai có 4 bên tham gia đàm phán, nhưng thực chất chỉ có 2 bên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ tiến hành đàm phán bí mật với nhau để giải quyết các bất đồng giữa hai bên.

Khi một bên đang thắng thế trên chiến trường thì đàm phán thường bế tắc và đó là những gì diễn ra Hội nghị Paris suốt thời kỳ từ năm 1968 đến năm 1972. Các bên dùng hội nghị như diễn đàn đấu tranh chính trị. Trong suốt quá trình hội nghị các cuộc họp chính thức chỉ mang tính tố cáo nhau, tranh luận vài điều mà không thể giải quyết được rồi kết thúc mà không đi vào thực chất. Chỉ có các cuộc tiếp xúc bí mật của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn của tổng thống Mỹ, là đi vào thảo luận thực chất nhưng không đi được đến thỏa hiệp.

2. Mục đích của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi tham gia đàm phán là buộc Mỹ rút quân về nước và buộc chính phủ Việt Nam Cộng hòa dù do bất kỳ ai lãnh đạo cũng phải giải tán vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho rằng chính phủ Việt Nam Cộng hòa không muốn độc lập và hòa bình mà chỉ muốn nắm quyền vì lợi ích của họ. Phía Mỹ cho rằng phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm ra vẻ muốn thành lập chính quyền liên hiệp nhưng thực tế chẳng khác nào ép Mỹ phải làm mọi cách khiến lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa từ chức rồi để cho những người này đám phán với người cộng sản và kết quả là một liên minh mà người cộng sản nắm toàn quyền.

Lập trường ban đầu của các Mỹ: quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam phải đồng thời với việc rút Quân đội Nhân dân Việt Nam khỏi miền Nam Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hòa bình. Tổng tuyển cử trước, ngừng bắn sau. Lập trường ban đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam, không đả động tới sự có mặt tại miền Nam của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu không được tồn tại trong giải pháp hòa bình. Thành lập Chính phủ liên hiệp tại miền Nam thông qua Tổng tuyển cử. Ngừng bắn trước, Tổng tuyển cử sau.

3. Cuối năm 1972 chính phủ Mỹ, dưới áp lực dư luận và việc Trận Thành cổ Quảng Trị kéo dài hơn dự kiến, chính quyền Mỹ đã nhận ra họ không thể khuất phục đối phương bằng vũ lực cũng như không đủ nguồn lực để duy trì chiến tranh nên buộc phải chấp nhận xuống thang trên bàn đàm phán. Hai bên đi đến thỏa hiệp chung: Quân Mỹ và các đồng minh nước ngoài rút khỏi Việt Nam chấm dứt mọi can thiệp quân sự vào vấn đề Việt Nam; không đả động tới việc có hay không Quân đội Nhân dân Việt Nam ở chiến trường Nam Việt Nam; và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu được phép tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hòa bình.

Sau khi văn kiện hiệp định đã được ký tắt, Henry Kissinger đi Sài Gòn để thông báo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu văn bản đã đạt được. Phía Việt Nam Cộng hòa phản đối dự thảo này và tuyên bố sẽ không ký kết hiệp định như dự thảo. Sau đó, chính phủ Mỹ tuyên bố chưa thể ký được hiệp định và đòi thay đổi lại nội dung chính liên quan đến vấn đề quy chế về Quân đội Nhân dân Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ sửa đổi của Mỹ. Mỹ tiến hành ném bom lại miền Bắc Việt Nam để buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam chấp nhận ký theo phương án Mỹ đề nghị.

4. Tháng 12 năm 1972, Mỹ mở Chiến dịch Linebacker II cho máy bay ném bom chiến lược B 52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác ở miền Bắc Việt Nam trong 12 ngày. Trong chiến dịch này, Mỹ đã huy động cả không quân chiến lược với gần 200 chiếc mát bay B 52 để ném bom rải thảm xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên trong 12 ngày đêm. Đây chỉ là cách để Mỹ thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ đối với đồng minh. Bởi dự thảo hiệp định ký tắt với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã phản đối kịch liệt và không chấp nhận, Mỹ quyết định dùng bước này để chứng tỏ họ đã cố gắng đến mức cuối cùng cho quyền lợi của Việt Nam Cộng hòa rồi.

Mục tiêu mà Mỹ đặt ra trong chiến dịch Linebacker II là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng, ngoại trừ cố gắng để "giảm thiểu nguy hiểm cho dân thường tới mức có thể cho phép mà không ảnh hưởng hiệu quả" và "tránh các khu giam giữ tù binh, bệnh viện và khu vực tôn giáo". Ở Hà Nội, tại phố Khâm Thiên bom trải thảm đã phá sập cả dãy phố và sát hại hàng trăm dân thường. Tại bệnh viện Bạch Mai, nhiều tòa nhà quan trọng đã bị phá hủy, cùng với các bệnh nhân và bác sĩ, y tá bên trong. Nhiều cơ sở vật chất, kinh tế, giao thông, công nghiệp và quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng bị phá huỷ.

5. Không lực Mỹ quá tin tưởng vào các biện pháp kỹ thuật gây nhiễu điện tử để vô hiệu hóa radar và tên lửa phòng không của đối phương. Nhưng, các lực lượng tên lửa phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giải quyết vấn đề bằng những biện pháp chiến thuật sáng tạo, họ đã bắn các máy bay B-52 theo các chiến thuật mới và đã thành công vượt xa mức trông đợi, hàng chục chiếc pháo đài bay B 52 đã bị bắn hạ. Lần đầu  pháo đài bay B 52 bị bắn hạ bởi một máy bay tiêm kích do Phạm Tuân điều khiển. Sách báo Việt Nam gọi chiến dịch này là Điện Biên Phủ trên không, như một cách nêu bật thắng lợi của lực lượng phòng không Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến dịch.

Ngày 30 tháng 12, chấm dứt ném bom, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quay lại đàm phán, sau một số sửa đổi, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý ký kết Hiệp định Paris, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không tán thành hiệp định nhưng vì áp lực nếu không chấp nhận thì Mỹ sẽ đơn phương ký với Hà Nội và cắt đứt viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa nên phải chấp nhận ký. Ngày 27/1/1973, tại Paris, bốn bên tham chiến Mỹ, Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký kết Hiệp định Paris là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

6. Đối với Mỹ, Hiệp định Paris ngày 27/3/1975, là cách họ rút ra khỏi cuộc chiến một cách chính đáng và không bị mất mặt.  Đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng thì Hiệp định Paris là bước thứ nhất, bước đánh cho “Mỹ cút”, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng còn tiếp tục bước thứ hai, đánh cho “Nguỵ nhào” để đi đến thắng lợi cuối cùng. Còn đối với Việt Nam Cộng hòa thì Hiệp định Paris ngày 27/3/1975, là một tai ương lớn, một mối nguy hiểm cận kề trong một tương lai gần. 

Để trấn an Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống Nixon đã hứa riêng với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là trong trường hợp quân Giải phóng phát động chiến tranh tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa, Mỹ sẽ phản ứng một cách thích hợp để bảo đảm an ninh cho Việt Nam Cộng hòa. Lời hứa này về sau không trở thành hiện thực vì sau đó Quốc hội Mỹ đã ra nghị quyết không cho phép Tổng thống đưa lực lượng vũ trang trở lại Đông Dương. Với các áp đặt như vậy thì dù không có sự kiện Watergate, dù Tổng thống Nixon có tại vị thì cũng không thể giữ lời hứa với Tổng thống Thiệu và Việt Nam Cộng hoà được. Vì, đối với người Mỹ, họ thực sự muốn thoát khỏi cuộc chiến, quên nó đi và mở sang một trang sử mới.

7. Về việc thành lập Hội đồng Hoà giải và Hoà hợp Dân tộc ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris, giải thích "Lúc đầu đàm phán Paris, tư tưởng của ta là giành thắng lợi, buộc Mỹ rút, lập chính phủ liên hiệp và sau đó chính phủ sẽ đoàn kết toàn dân... Lúc đó chưa có khái niệm hòa hợp dân tộc. Lúc đầu mình tính chính phủ liên hiệp nhưng sau sự kiện Mậu Thân 1968 và sau đó năm 1972, ta không có những thắng lợi quyết định... 

Năm 1972 ta mới đề ra đường lối tìm cách mở đường cho Mỹ rút. Ta mới đưa ra khẩu hiệu là "Mỹ rút, Sài Gòn còn, miền Nam giữ nguyên trạng". Để liên kết các lực lượng miền Nam thì đặt ra vấn đề hòa hợp dân tộc. Vấn đề ấy được đặt ra trong lúc ta tính tới phương án giữ nguyên trạng miền Nam. Vì vậy ta đưa vào dự thảo Hiệp định và bàn kỹ vấn đề hòa hợp dân tộc. Lúc đầu ta gọi là chính phủ liên hiệp ba thành phần. Chính phủ Mỹ không chấp nhận được vì chính phủ mới có nghĩa là thủ tiêu Sài Gòn. 

8. Ta mới hạ thấp xuống là "một chính quyền hòa hợp dân tộc", gần với lập trường của Mỹ. Mỹ đề xuất một "body" - một tổ chức để tổng tuyển cử. Mỹ dùng chữ "body" thì mình cũng dịu bớt đi, đề xuất là trong lúc chính quyền hai bên tồn tại, thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc để tiến tới tổ chức tổng tuyển cử thành lập chính quyền (đưa thêm khái niệm hòa giải, vì là hai kẻ địch). Nhưng Mỹ không chấp nhận chữ "chính quyền". Chữ "chính quyền" có gì đó mang ý nghĩa thủ tiêu Sài Gòn. 

Vì thắng lợi của mình năm 1972 cũng có mức độ thôi, chưa thể lấn át Mỹ được, nên ta lấy yêu cầu Mỹ rút là chính. Mỹ nhận rút và quân miền Nam ở lại là đạt yêu cầu cao nhất rồi, ta mới chấp nhận thành lập một hội đồng quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc. Hiệp định có điều khoản thành lập một hội đồng quốc gia hòa giải hòa hợp dân tộc để tổ chức tổng tuyển cử và đôn đốc thi hành Hiệp định. Lúc đó hình thành khái niệm hòa giải hòa hợp dân tộc... 

9. Dù lập chính phủ hai thành phần, ba thành phần hay giữ nguyên trạng thì cũng vẫn phải có hòa giải, hòa hợp. Không có cách nào khác. Không có bên nào thắng bên nào. Thực tế miền Nam có ba lực lượng, hai chính quyền thì phải giải quyết với nhau như vậy. Nhờ những sách lược mềm dẻo của ta, mà trong đó có việc tạm gác vấn đề xóa Sài Gòn, thực hiện một hình thức hòa giải, hòa hợp dân tộc mà tổ chức ấy chỉ là hội đồng thôi chứ không phải chính quyền, chính phủ gì nên Mỹ chấp nhận."

VI. Nội dung Hiệp định Paris 27/1/1973.

Điều 1: Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi hiệp định GenevaĐiều 2: Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27 tháng 1 năm 1973. Và ở miền Nam tất cả các đơn vị quân sự Mỹ và đồng minh, hai bên miền Nam Việt Nam ở nguyên vị trí. Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển, chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi và sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi miền Bắc Việt Nam. Uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng quân sự hai bên miền Nam sẽ quy định vùng của hai lực lượng quân sự do mỗi bên kiểm soát, và những thể thức trú quân.

Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ, kể cả cố vấn quân sự tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát của các nước nói trên ra khỏi miền nam Việt Nam, huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và các nước đó ở nam Việt Nam. Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hành động tấn công nhau. Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển, mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên. Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập chính phủ thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế, hai bên miền Nam Việt Nam không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. 

Trong thời gian này, hai bên miền Nam, được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự kiểm soát của Ban liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam

Điều 8: Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân trong vòng 60 ngày. Vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của Điều 21(b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20/7/1954. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm điều đó trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực..

Điều 9: Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua "tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế". Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoăc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hòa bình ở miền Nam Việt Nam, giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực. 

Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. 

Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam trong vòng chín mươi ngày. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thương mà thỏa thuận. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phương theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận. 

Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam  sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, "phù hợp với tình hình sau chiến tranh". Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thảo luận về việc giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm càng sớm càng tốt. Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị..

Điều 15: Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam Việt Nam thỏa thuận. Trong khi chờ đợi thống nhất, ranh giới và khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không được tính là biên giới quốc gia theo như quy định tại Hiệp định Genève. Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt bao gồm có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự trên đất mình.

Điều 16: Để bảo đảm và giám sát việc thực hiện hiệp định, một Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế và Ban liên hợp quân sự bốn bên, Ban liên hợp quân sự hai bên sẽ được thành lập. Ban liên hợp quân sự bốn bên phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện về việc ngừng bắn, việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và quân đội đồng minh, việc hủy bỏ các căn cứ quân sự của họ...và chấm dứt hoạt động trong thời gian sáu mươi ngày, sau khi Hoa Kỳ và đồng minh rút quân. 

Ban liên hợp quân sự hai bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình, về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam, việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập chính phủ mới,...Các bên thỏa thuận về việc triệu tập một Hội nghị quốc tế trong vòng ba mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết.

Điều 20: Các bên tham gia Hội nghị phải triệt để tôn trọng Hiệp định Geneva năm 1954 về Campuchia và Hiệp định Geneva năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân hai nước về độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ các nước đó. Các bên phải tôn trọng nền trung lập của hai nước. Các bên tham gia Hội nghị cam kết không dùng lãnh thổ của hai nước để xâm phạm chủ quyền và an ninh của nhau và của các nước khác. Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở hai nước, rút hết và không đưa trở lại vào hai nước đó quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.

Điều 21: Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công việc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trên toàn Đông Dương để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh. Điều 23: Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định. Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc tế thông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam.

VII. Những năm sau Hiệp định Paris: 1973 – 1975.

1. Sau khi quân đội Mỹ rút hết vào cuối tháng 3 năm 1973, Ngày 14 tháng 7 năm 1973, Tổng thống Thiệu nói: "Việt Cộng  hiện đang cố biến các khu vực nằm dưới sự kiểm soát của họ thành một nhà nước với một chính phủ mà họ gọi nói là giống kiểu thể chế thứ hai ở miền Nam. Họ cũng có thể hy vọng rằng khi chính phủ này được quốc tế công nhận, dư luận quốc tế sẽ buộc hai chính quyền sáp nhập vào một chính phủ liên minh. Nếu điều đó xảy ra, họ sẽ chỉ đồng ý với một chính phủ liên minh hời hợt, chính phủ mà sau đó sẽ tìm cách dễ dàng đàm phán với Hà Nội... Trước tiên, chúng ta phải cố hết sức để Việt Cộng (Mặt trận Cân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam) không thể được xây dựng thành một nhà nước, một nhà nước thứ hai ở miền Nam”.

Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam kiên trì tiếp tục các vận động chính trị nhằm khiến Việt Nam Cộng hoà tuân thủ Hiệp định, ngừng bắn trước khi tổ chức Tổng tuyển cử. Thế nhưng, phía Việt Nam Cộng hoà không có thiện chí thực thi Hiệp định, liên tục có các hoạt động vũ trang nhằm chiếm đất lấn dân. Tới tháng 10 năm 1973, sau khi nhận thấy các nỗ lực chính trị không có hiệu quả Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam chuyển sang chiến lược kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, sẵn sàng đáp trả các hoạt động vi phạm Hiệp định của Việt Nam Cộng hoà

2. Tháng 5 năm 1974, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đưa một sư đoàn đến đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng Nam, Quân lực Việt Nam Cộng hoà liền điều sư đoàn dù tổng trừ bị đến tái chiếm. Hai bên đánh nhau ác liệt trong vòng 3 tháng; kết quả Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị buộc phải rút lui, và quân Giải phóng vẫn giữ vững và kiểm soát hoàn toàn chi khu Thượng Đức. Một quận lỵ quan trọng nằm gần các căn cứ quân sự lớn Quân đoàn I, Vùng I chiến thuật, mà cả quân đoàn cũng không đủ lực lượng cơ động đến giải vây, phải dùng đến lực lượng tổng dự bị chiến lược sư đoàn Dù. Quân Giải phóng đã kết luận là sức chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã giảm đi nhiều so với 1972, không còn khả năng để chiến đấu lâu dài. 

Giữa tháng 12 năm 1974, tại Vùng III, Quân khu III, Việt Cộng mở chiến dịch Đường 14- Phước Long, và chỉ sau 3 tuần đã đánh chiếm được tỉnh lỵ Phước Long toàn bộ lãnh thổ tỉnh này. Tuy mất một tỉnh ngay tại đòng bằng Nam Bộ cách Sài Gòn chỉ khoảng 100 km, nhưng Việt Nam Cộng hoà không có phản ứng thích đáng nào để khôi phục lại. Họ không còn quân trừ bị cơ động để phản kích tái chiếm. Và quan trọng nhất là Mỹ chỉ phản ứng ở mức không có dấu hiệu là sẽ can thiệp mạnh. Điều này củng cố tin tưởng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, rằng Mỹ sẽ ít có khả năng can thiệp trở lại.

VIII. Cuộc tấn công cuối cùng.

1. Nhận thấy tương quan lực lượng thay đổi theo hướng có lợi cho mình, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nhằm buộc chính quyền Việt Nam Cộng hoà thành lập chính phủ liên hiệp 3 thành phần. Cuộc tấn công diễn ra trong 55 ngày đêm bắt đầu từ ngày 5 tháng 3 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nó còn được gọi là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Cơ quan tham mưu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lập kế hoạch tiến công đã phân cuộc tiến công này thành các chiến dịch nối tiếp nhau. họ gọi là chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch giải phóng Huế-Đa Nẳng, và cuói cùng chiến dịch Hồ Chí Minh.

Chiến dịch Tây Nguyên: với mục tiêu là giành quyền kiểm soát Tây nguyên mà trận mở đầu then chốt là thị xã Ban Mê Thuột tại Nam Tây Nguyên. Tại đây có hậu cứ của sư đoàn 23 của Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Ngày 10 tháng 3 quân Giải Phóng tiến công Ban Mê Thuột. Sau hơn một ngày tiến công rất ác liệt, quân đồn trú đã kháng cự rất quyết liệt nhưng với ưu thế áp đảo quân Giải Phóng đã giành quyền kiểm soát được thị xã. Liên tiếp trong các ngày sau đó họ đã chủ động tiến công quân phản kích, tái chiếm. Quân của Quân đoàn II của QLVNCH vừa đổ xuống chưa kịp đứng chân đã bị đánh tiêu diệt, không thực hiện được việc tái chiếm. 

2. Mất Ban Mê Thuột, chính quyền Sài Gòn không có đủ lực lượng cơ động dự bị phản kích tái chiếm, các lực lượng phòng thủ Bắc Tây Nguyên cũng đang bị uy hiếp nặng nề, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu  đã ra lệnh bỏ Tây Nguyên rút các lực lượng còn lại về cố thủ giải đồng bằng ven biển miền Trung. Đường rút lui sẽ là theo đường 14 từ Pleiku đi xuống phía nam sau đó đi vào đường số 7 đã bị bỏ từ lâu không sử dụng để xuống thị xã Tuy Hoà tỉnh Phú Yên. Đây là một thảm họa chết người cho Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Cuộc rút lui đã không bảo toàn được số quân mà trái lại nó làm thành làn sóng hoảng loạn lan khắp các vùng lại còn làm rệu rã hết tinh thần binh sĩ Việt Nam Cộng hòa trên toàn quốc. 

Việc rút một số lượng quân lớn như thế trong một thời gian chuẩn bị gấp gáp 2–3 ngày đã diễn ra trên đoạn đường dài hàng trăm km không có kế hoạch, trong khi tinh thần binh sĩ Việt Nam Cộng hoà đã xuống rất thấp và, quan trọng hơn cả, binh sĩ mang gia đình và người chạy nạn theo cùng. Tất cả những cái đó đã biến dòng người cùng xe cộ khổng lồ ùn tắc thành một dòng náo loạn không thể chỉ huy và chiến đấu, lại bị đối phương chặn tại Cheo Reo - Phú Bổn, khi về đến Tuy Hoà, không còn tập hợp lại được nữa. Tây Nguyên vào tay quân Giải phóng, hơn 12 vạn quân đồn trú bị tan rã. Sư đoàn 23 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa hơn 1 vạn quân về đến Tuy Hòa tập hợp đếm lại được còn 36 người.

3. Chiến dịch Huế-Đà Nẳng: Kể từ sau cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên tin thất bại đã bay khắp miền Nam, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa mất hết tinh thần, quân đội gần như không chiến đấu mà bỏ chạy. Các nhà lãnh đạo chiến tranh của Mặt Trận Giải Phóng nhận định ra quân đội Cộng hòa đã không còn chiến đấu có tổ chức chặt chẽ được nữa; họ liền tiến hành phương án thời cơ tung ngay quân đoàn 2 (hay Binh đoàn Hương Giang được thành lập từ các đơn vị của quân khu Trị – Thiên và khu 5) nhanh chóng tiến công giành quyền kiểm soát cố đô Huế và thành phố lớn thứ hai của Việt Nam Cộng hoà, Đà Nẳng.  

Quân đội Việt Nam Cộng hòa vội vã rút lui khỏi Quảng Trị về Huế và trước sức ép của đối phương, họ lại quyết định bỏ Huế, nhưng đường núi về phía nam đã bị quân Giải phóng cắt mất, họ chỉ còn một con đường chạy ra biển để chờ tàu hải quân vào cứu. Cũng giống như cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên, cuộc rút chạy khỏi Huế đã trở thành một cuộc và tranh cướp hỗn loạn. Số nào được cứu lên tàu hải quân thì khi lên đến bờ cũng không thể tập hợp lại thành đơn vị chiến đấu được nữa, số còn lại bỏ vũ khí tự tan vỡ. Ngày 26 tháng 3  quân Giải Phóng vào Huế, thừa thắng xông lên, quân Giải Phóng tiếp tục tiến về Đà Nẵng. 

4. Khi quân đoàn 2 của Quân Giải phóng tiến đến Đà Nẵng, cảnh hỗn loạn tại đây cũng lại tái hiện như đã diễn ra tại Huế, quân lính Việt Nam Cộng hòa hoảng loạn cùng với dân chúng tranh nhau thoát khỏi thành phố bằng tàu hải quân, các đơn vị vòng ngoài không còn tinh thần chiến đấu nữa; Quân Giải phóng bỏ qua vòng ngoài thọc sâu đánh giành quyền kiểm soát thành phố mà không có kháng cự đáng kể. Tại đây 10 vạn binh lính và sĩ quan đã ra hàng (ngày 29 tháng 3). Quân khu 1 Việt Nam Cộng hòa đã bị xoá bỏ. Trong hai tuần đầu tháng 4 các tỉnh thành phố miền trung lần lượt rơi vào tay Quân Giải phóng. 

Họ từ phía Bắc tràn vào (với Quân đoàn 2) và từ Tây nguyên tràn xuống (với Quân đoàn 3). Bây giờ thì không còn sức mạnh nào có thể ngăn nổi sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa. Quân lực Việt nam Cộng hoà dồn hết các toán quân còn sót lại của Quân đoàn 2 của họ chuyển sang cho Quân đoàn 3 chỉ huy, để cố lập một phòng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang, nhưng cũng không chặn được quân Giải phóng, trong đó tư lệnh chiến trường tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cũng bị bắt. Quân khu 1 và 2 của  Việt Nam Cộng hoà đã bị xoá bỏ. Bây giờ quân Giải phóng đã tấn công xuống đồng bằng Đông Nam Bộ của Quân đoàn và quân khu 3 Việt Nam Cộng hòa, chỉ còn hơn 100 km là đến Sài Gòn.

5. Nỗ lực cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là trông vào tuyến phòng thủ từ xa của Sư đoàn 18 tại thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Quân đoàn 4 (hay Binh đoàn Cửu Long) của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập từ các sư đoàn và đơn vị tại miền Đông Nam Bộ dự định giành quyền kiểm soát Xuân Lộc trên đường tiến quân. Nhưng sư đoàn 18 đã chống cự có tổ chức, đây là nỗ lực chiến đấu có tổ chức dài ngày cuối cùng của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Quân đoàn 4 của quân Giải phóng không vượt qua được Xuân Lộc, họ cũng không phải để mất thì giờ với Xuân Lộc, nên đi vòng qua vòng vây tiến về phía Biên Hoà.  

Ngày 21/4/75, sau 12 ngày cầm cự, Sư đoàn 18 của Quân lực Việt Nam Cộng hoà bỏ Xuân Lộc rút lui có tổ chức về bên kia sông Đòng Nai cố thủ. Vậy là tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng bảo vệ Sài Gòn không còn. Tối ngày 21 tháng 4 năm 1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trong diễn văn từ chức, Nguyễn Văn Thiệu chỉ trích nước  Mỹ là "một đồng minh thất hứa, thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo, trốn tránh trách nhiệm". Phó tổng thống Trần văn Hương kế nhiệm, tân Tổng thống tuyên bố sẽ ở lại Việt Nam chiến đấu đến cùng. Tối 25/4/75, Nguyễn Văn Thiệu, rời Việt Nam với “lý do” là đặc sứ của Việt Nam Cộng hoà đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch. 

6. Chiến dịch Hồ Chí Minh: Ngày 26/4/75, sau khi tập hợp đủ lực lượng gồm 15 sư đoàn và rất nhiều trung đoàn, lữ đoàn độc lập khác để đảm bảo áp đảo chắc thắng, Quân Giải phóng tổ chức 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232 tương đương 1 quân đoàn, đánh 5 mũi từ 5 hướng vào Sài Gòn. Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn còn hơn 400.000 quân đã kháng cự ác liệt trên một số hướng. Giữa lúc đó, sĩ quan, binh lính, quan chức, chính trị gia Việt Nam Cộng hòa cùng dân chúng đang hoảng loạn tranh nhau di tản ra nước ngoài. Đến cuối ngày 28 tháng 4 thì QGP đã đến được cửa ngõ Sài Gòn và có thể đi thẳng vào thành phố. Để tránh mọi rắc rối với Mỹ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dừng lại bên ngoài thành phố 1 ngày để người Mỹ tổ chức di tản. 

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, với sự dàn xếp của các lực lượng thứ ba, Tổng thống Trần Văn Hương từ chức, và Quốc hội trao quyền Tổng thống cho Đại tướng Dương Văn Minh đứng ra thương thuyết trên căn bản vãn hối hòa bình, trên tinh thần Hiệp đinhj Paris để tránh việc Sài Gòn sẽ bị tàn phá. Tướng Dương Văn Minh nhậm chức tổng thống với tuyên bố không thể lấy hận thù đáp trả lại hận thù, ông chủ trương hòa giải với đối phương, đó không những là đòi hỏi của nhân dân, mà còn là điều kiện thiết yếu để tránh được nguy cơ sụp đổ, thực hiện ngưng bắn, mở lại đàm phán nhằm đạt đến một giải pháp chính trị trong khuôn khổ hiệp định Paris.

7. Ông đã làm việc này bằng tuyên bố "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào.

Đối với hoàn cảnh chiến sự và chính trị lúc đó có lẽ đây là một giải pháp đúng đắn. Cùng với việc ra mệnh lệnh đơn phương ngừng chiến, thực tế từ sáng sớm 30 tháng 4, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã ngừng kháng cự và Quân Giải Phóng Miền Nam vào Sài Gòn mà không gặp kháng cự có tổ chức nào. Việc làm chủ Sài Gòn kết thúc chiến tranh của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã diễn ra khá ôn hòa, không có đổ máu và thành phố nguyên lành, quả có đóng góp nhiều của lực lượng thứ ba và vai trò không nhỏ của Dương Văn Minh và các phụ tá, tại bối cảnh đó, với cách nhìn thực tế và không cực đoan. 

8. Ông Dương Văn Minh được các lực lượng chính trị thứ ba đưa lên làm tổng thống để đảm bảo một cuộc chuyển giao chế độ êm thấm không đổ máu và không trả thù là việc làm mang tính dân tộc sâu sắc. Tất nhiên sự đầu hàng của Việt Nam Cộng hòa là kết quả của sức mạnh quân sự áp đảo của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng việc kết thúc chiến tranh ôn hòa, với trang thiết bị quân sự không bị phá huỷ, dân chúng không đổ máu, và cả bên thắng cuộc không tốn thêm xương máu, đó là điều không ai có thể phủ nhận được. Thế nhưng, Bên Thắng cuộc đã không nghĩ tới điều đó, không chấp nhận làm lễ bàn giao mà buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 

Với tư cách Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn, Thượng tướng Trần Văn Trà nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh "giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà dân tộc Việt Nam chúng ta thắng đế quốc Mỹ" cơ mà!. Tom Polgar nhân viên cao cấp tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản, đã ghi lại ngày hôm ấy: “Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Lịch sử Hoa Kỳ chắc sẽ không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng... Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử”.

(Hết chương 10).

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét