Chương 12: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM (1969-1976).
(Có 6 trang và 3.484)
Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam 1969-1976 là Chính quyền của những người Cộng sản miền Nam chống lại chính quyền Việt Nam Cộng hoà giành quyền Quản lý miền Nam. Nhưng thực chất, nó là “cái vỏ bọc” của chính quyền Cộng sản miền Bắc trong quá trình đấu tranh giành quyền Quản lý toàn bộ đất nước Việt Nam. Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam tồn tại 7 năm 1 tháng từ tháng 6 năm 1969 đến tháng 7 năm 1976.
1. CHÍNH PHỦ LÂM THỜI HUỲNH TẤN PHÁT: 1969 - 1976.
I. Bối cảnh thành lập
1. Hiệp định Genève 1954, quy định Việt Nam tạm thời phân chia thành hai vùng tập kết quân sự. Phía Bắc vỹ tuyến 17 là nơi tập kết của Quân đội Nhân dân Việt Nam; Và phía Nam vỹ tuyến 17 là nơi tập kết của Quân đội Pháp cùng quân đội Quốc gia Việt Nam. Tại miền Nam, với sự hổ trợ của người Mỹ, chỉ trong một thời gian ngắn Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã làm được nhiều việc hơn cả mong đợi, lên nắm quyền trong vòng 10 tháng vượt qua các cuộc chính biến, ổn định tình hình, thành lập một nhà nước mới Việt Nam Cộng hoà vào năm 1955 được 36 quốc gia công nhận, soạn thảo một hiến pháp, và mở rộng kiểm soát tới các khu vực do Giáo phái, hoặc Việt Minh kiểm soát trong Chiến tranh Đông Dương...
Tháng 1-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố không có Tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp định Genève với lý do là tại miền Bắc được cai trị bởi "nhà nước cảnh sát". Tháng 6 năm 1956, Ngô Đình Diệm hủy bỏ cuộc bầu cử hội đồng làng, xã. Năm 1956, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiết lộ rằng khoảng 15.000-20.000 người cộng sản đang được học tập trong các "trại cải huấn". Tháng 4 năm 1960, một nhóm các nhà lãnh đạo dân tọc chủ nghĩa không Cộng sản ra Tuyên ngôn Caravelle biểu lộ sự bất bình đối với quyền Ngô Đình Diệm. Tháng 11 năm 1960, một cuộc đảo chánh quân sự lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm bất thành những người cầm đầu đảo chánh phải đào thoát sang Cao Mên.
2. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) chính thức thành lập, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương. Đồng thời, Mặt trận đưa ra Chương trình 10 điểm. Các phương tiện truyền thông miền Bắc ban đầu không nhắc đến vai trò của Đảng Lao động và chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chỉ hoan nghênh Mặt trận được thành lập.
Về mặt pháp lý, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một Liên minh của các đảng phái, tổ chức chính trị - xã hội tại miền Nam và có lập trường, chủ quyền kiểm soát riêng. Từ khi ra đời, Mặt trận DTGPMN đã thu hút được nhiều nhà hoạt động chính trị chống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, bao gồm cả những người theo và không theo chủ nghĩa cộng sản, với mục tiêu kết nối tất cả những người đối nghịch với "Mỹ Diệm". Theo ước tính của Mỹ, trong vòng vài tháng thành lập, số thành viên của Mặt trận tăng gấp đôi, gấp đôi một lần nữa vào mùa thu năm 1961, và sau đó tăng gấp đôi vào đầu năm 1962, ước tính khoảng 300.000 người.
3. Ngày 15-2-1961 (mồng một Tết Tân Sửu), tại vùng giải phóng Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập Quân Giải phóng, bằng cách thống nhất các lực lượng du kích là những người từng tham gia Việt Minh, và cả những người từng là thành viên Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên. Quân Giải phóng được kết nạp làm thành viên chính thức của Mặt trận DTGPMN. Hàng chục ngàn thanh thiếu niên tại miền Nam đã gia nhập Giải phóng quân mỗi năm. Trong suốt thời gian chiến tranh Miền Bắc luôn khẳng định chỉ chi viện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chứ không can thiệp trực tiếp vào chính sách đối nội, đối ngoại của Mặt trận.
Quân Giải phóng phát triển dần bao gồm cả lực lượng tình nguyện ngoài Bắc vào, và lực lượng được tuyển mộ tại chỗ ở miền Nam, tất cả đều do sự chỉ đạo từ Tổng quân ủy ngoài Bắc thông qua Trung ương Cục miền Nam, tiền thân là Xứ uỷ Nam Bộ. Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam, một bộ phận của đảng Lao động Hà Nội trực tiếp chỉ huy, nắm giữ các vị trí quan trọng trong Quân Giải phóng, giám sát tất cả các hoạt động đến cấp thôn, bản. Đảng Lao động Việt Nam chia chiến trường miền Nam thành 5 khu vực: B-5: Quảng Trị; B4: Bình Trị Thiên - Huế; B3: Tây Nguyên, B1: Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. B2: Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, và Khu VI, VII, VIII, IX, X, Sài Gòn - Gia Định.
4. Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam nhận chỉ đạo từ Trung ương Cục miền Nam, chỉ huy quân Giải phóng trên toàn miền Nam (B2). Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Hà Nội chỉ đạo, giám sát trên toàn chiến trường miền Nam từ Vỹ tuyến 17 đến mủi Cà Mâu; Và trực tiếp chỉ huy các khu Quảng Trị, Trị Thiên, Khu V và Tây Nguyên, tức B 5, B4, B3 và B1. Tại mỗi Khu, Khu ủy thực hiện chỉ đạo đối với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn Khu. Trên thực tế cơ cấu tổ chức của phía cách mạng phức tạp và linh động, uyển chuyển hơn các tin tức từ phía đối phương khai thác được.
Ngày 16 tháng 2 năm 1962, Đại hội lần thứ nhất khai mạc tại Tân Biên, Tây Ninh chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Huỳnh Tấn Phát, Ybil Aleo, Đại đức Sơn Vọng, Trần Nam Trung, và Nguyễn Văn Hiếu Tổng thư ký Mặt trận. Ủy viên Đoàn Chủ tịch gồm có: Trần Bạch Đằng, Phan Văn Đáng, Nguyễn Hữu Thế, Trần Bửu Kiếm, bà Nguyễn Thị Định, Hoà thượng Thích Thiện Hào, Ngọc đầu sư Nguyễn Văn Ngợi, Lê Quang Thành, và ông Đặng Trần Thi. Mặt trận đã ra "Tuyên ngôn" và "Chương trình hành động 10 điểm". Mặt trận cũng quyết định lấy lá cờ nửa đỏ, nửa xanh có ngôi sao vàng năm cánh và bài "Giải phóng miền Nam" làm cờ và bài hát chính thức của Mặt trận...
5. Ngày 1-11-1964, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam họp Đại hội lần thứ 2, với 150 đại biểu tham dự. Đoàn Chủ tịch Mặt trận: Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ, đại diện liên minh các đảng yêu nước; Các Phó chủ tịch: Abil Aleo, đại diện dân tộc Êđê, chủ tịch Phong trào tự trị các dân tộc Tây Nguyên; Phùng Văn Cung, đại diện liên minh các đảng yêu nước; Võ Chí Công, chủ tịch Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam!; Huỳnh Tấn Phát, Tổng thư ký Đảng Dân chủ; Thích Thơm Mê Thế Nhêm, đại diện người Khmer yêu nước; Trần Nam Trung, đại diện Quân giải phóng Miền Nam; Các ủy viên: Nguyễn Thị Định, Trần Bạch Đằng, Thích Thiện Hào, Trần Bửu Kiếm… Ban Thư ký: Huỳnh Tấn Phát (TTK), Lê Văn Huân, Hồ Thu, Ung Ngọc Kỳ, Hồ Xuân Sơn (phó TTK).
Ngày 8-1-1967, Mặt trận DTGPMN họp Đại hội bất thường, công bố Cương lĩnh mới, kế tục và phát triển chương trình hành động 10 điểm, nhằm thu hút rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia đánh đuổi đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam, mà nòng cốt là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch, đã bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam do Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ do Luật sư Nguyễn Hữi Thọ làm Chủ tịch.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Huỳnh Tấn Phát. | Chủ tịch | |
2 | Phùng Văn Cung, Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Đoá | Phó chủ tịch | |
3 | Trần Bửu Kiếm | Bộ trưởng Phủ chủ tịch | |
4 | Nguyễn Thị Bình | Bộ trưởng Ngoại giao | |
5 | Phùng Văn Cung | Bộ trưởng Nội vụ | |
6 | Cao Văn Bổn | Bộ trưởng Kinh tế Tài chánh | |
7 | Lưu Hữu Phước | Bộ trưởng Thông tin Văn hoá | |
8 | Bộ trưởng Giáo dục và Thanh niên | Nguyễn Văn Kiết | |
9 | Bộ trưởng Thương binh Xã hội | Dương Quỳnh Hoa | |
10 | Bộ trưởng Tư pháp | Trương Như Tảng | |
III. Hội đồng Cố Vấn Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Nguyễn Hữu Thọ. | Chủ tịch | |
2 | Trịnh Đình Thảo | Phó chủ tịch | |
3 | Y-bih Alê-ô Thích Đôn Hậu Huỳnh Cương Huỳnh Văn Trí Ng. Công Phương Võ Oanh Lê Văn Giáp Huỳnh Thanh Mừng Phạm Ngọc Hùng Lâm Văn Tết Bà Nguyễn Đình Chi. | Uỷ viên | |
IV. Sự kiện liên quan, việc đã làm
1. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) có quyền lực hành pháp. Hội đồng Cố vấn ban đầu có nhiệm vụ góp ý kiến với Chính phủ. Chính phủ CMLTCHMNVN không công khai chịu sự chỉ đạo từ ngoài Bắc hay của cấp ủy Đảng trong Nam, chỉ xem miền Bắc là "hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn" miền Nam. Các chỉ đạo chính sách trong Nam của Đảng Lao động Việt Nam là bí mật. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là 1 trong 4 bên tham gia hòa đàm tại Paris và ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973. Sau Hiệp định Paris, thị xã Đông Hà trở thành nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Ngày 19/10/1973, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam công bố chính sách gồm 8 điểm dấu nhẹm sự chi phối của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và cũng không cho thấy bóng dáng nào của chủ nghĩa xã hội: (1) Thực hiện bình đẳng dân tộc, đoàn kết các lực lượng dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam; (2) Ra sức bảo tồn và phát triển các dân tộc anh em; (3) Thực hiện đầy đủ quyền tự do dân chủ; (4) Tôn trọng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc; (5) Tôn trọng phong tục, tập quán tín ngưỡng, tôn giáo; (6 ) Chăm lo quyền lợi về ruộng đất, nương rẫy cho đồng bào; (7) Ra sức phát triển y tế, vệ sinh phòng bệnh, chữa bệnh bảo vệ bà mẹ trẻ em; (8) Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đông đảo đội ngũ cán bộ của dân tộc anh em.
2. Ngày 30/4/1975, sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà, Ủy ban Quân quản, nhân danh Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra Mệnh lệnh số 1: yêu cầu quân cán chính Việt Nam Cộng hòa ra trình diện chính quyền mới, đăng ký và nộp vũ khí bắt đầu từ ngày 8/5 đến 31/5, quân nhân cấp Tướng và Tá phải trình diện ở địa chỉ 213 Đại lộ Hồng Bàng, Sài Gòn. Cấp Úy thì trình diện ở quận.Cảnh sát, tình báo thì phải đến Ủy ban An ninh Nội chính ở Sài Gòn. Hạ sĩ và binh lính thì đến Ủy ban phường. Sang tháng 6 thì mở đợt bắt giam các đối tượng trên trong các trại học tập cải tạo.
Sau ngày 30/4/1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng ra tuyên bố: “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam hiện nay thực hiện chủ quyền của mình trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam, là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam, có đầy đủ quyền hành giải quyết những vấn đề quốc tế của miền Nam Việt Nam”. Thông qua tuyên bố này và việc tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã khẳng định Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức thực hiện quyền kế thừa quốc gia đối với Việt Nam Cộng hòa, kế thừa chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
3. Tất cả những kế thừa nầy của Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đều được thực hiện theo đúng thông lệ quốc tế và Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước Quốc tế năm 1978. Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng đã có 1 loạt tuyên bố khẳng định quyền thừa kế đối với tài sản quốc gia của miền Nam Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ như: Tuyên bố ngày 1/5/1975, của Bộ Ngoại giao Cộng hoà miền nam Việt Nam khẳng định mọi tài sản, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ lưu trữ, tài khoản ngân hàng, trụ sở, phương tiện giao thông và tất cả những tài sản khác của các cơ quan đại diện của Việt Nam Cộng hòa ở nước ngoài (Đại sứ quán, Lãnh sứ quán, Cơ quan đại diện bên cạnh cac tổ chức quốc tế...) là tài sản của nhân dân miền Nam Việt Nam và phải do Cộng hòa Miền Nam Việt Nam quản lý...
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã đòi quyền đại diện tại hầu như tất cả các tổ chức quốc tế trong và ngoài hệ thống Liên Hợp Quốc mà trước đó Việt Nam Cộng hòa đã tham gia WHO, ILO, UNESCO, ICAO, IAEA, IMF, Ngân hàng Thế giới.... Việc Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản các cơ quan đại diện và tài sản của chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng như quy chế hội viên tại các tổ chức quốc tế diễn ra thuận lợi, không gặp 1 trở ngại nào về pháp lý vì các quốc gia và tổ chức quốc tế đều quan niệm rằng theo luật pháp quốc tế đây chỉ là sự thay đổi chính quyền trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, không làm phát sinh chủ thể mới.
4. Theo họ đây là thừa kế chính phủ chứ không phải thừa kế quốc gia. Việc tuyệt đại đa số thành viên Hội đồng Bảo an, và Đại Hội đồng Liên hiệp quốc khoá XXX (1975) biểu quyết ủng hộ kết nạp Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm thành viên Liên Hợp Quốc càng chứng minh rõ việc này. Nhưng, không được kết nạp là do phiếu phủ quyết của Mỹ vào ngày 30 tháng 9. Tới cuối năm 1975, Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã có hơn 50 nước trên thế giới, có cả các nước tư bản chủ nghĩa công nhận và lập quan hệ ngoại giao.
V. Hội nghị Hiệp thương chính trị hai miền 1975
1. Trong quan hệ với Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền ở miền Nam Việt Nam. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chính quyền hợp pháp ở miền Nam Việt Nam, do đó các văn kiện của nhà nước này có lúc khẳng định có 2 chính thể độc lập nhau, nhưng có lúc vẫn khẳng định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là của cả nước. Vấn đề này chỉ được rõ ràng khi các văn kiện tại Hội nghị hiệp thương 1975, khẳng định Cộng hoà Miền Nam Việt Nam thi hành quyền lực pháp lý ở miền Nam, còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thi hành quyền lực ở miền Bắc.
Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã tổ chức các cuộc bầu cử ở cấp địa phương, và ra các văn bản pháp luật quản lý theo thẩm quyền. Tháng 9/1975, Hội nghị Trung ương lần thứ 24 của đảng Lao động Việt Nam xác định mục tiêu thống nhất đất nước về mọi mặt. Từ ngày 15 đến ngày 21/11/1975, Hội nghị Hiệp thương Chính trị được tổ chức tại Sài Gòn, giữa đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Trường Chinh đứng đầu, và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, do Phạm Hùng đứng đầu, đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội Thống nhất.
2. Hội đồng Bầu cử theo Hội nghị Hiệp thương, và Bộ Chính trị chỉ đạo, gồm: 11 đại biểu miền Bắc: Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan, Xuân Thuỷ, Nguyễn Xiển, Trần Đăng Khoa, Chu Văn Tấn, Trần Đình Tri, Nguyễn Thị Minh Nhã, Linh mục Võ Thành Trinh, Hoà thượng Trần Quảng Dung, Trương Tấn Phát. Và, 11 đại biểu miền Nam: Phạm Hùng, Trần Lương, Bùi Dan, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, và 6 người khác hoặc nhân sĩ do Ban đại diện chỉ định. Chủ tịch: Trường Chinh, Phó Chủ tịch: Phạm Hùng. Tháng 1/1976, cuộc họp liên tịch của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Việt Nam Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra quyết định: cuộc Tổng tuyển cử sẽ tiến hành vào chủ nhật 25/4/1976.
Hội đồng bầu cử toàn quốc được thành lập do Trường Chinh làm Chủ tịch và Phạm Hùng làm Phó Chủ tịch. Ngày 25/4/1976, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiến hành tổ chức cuộc Tổng tuyển cử để tái thống nhất Việt Nam theo đúng các điều khoản về tiến hành các biện pháp chính trị để tái thống nhất Việt Nam trong Hiệp định Paris. Có 492 đại biểu được bầu ra của Quốc hội Việt Nam thống nhất.
VI. Xoá sổ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Chính quyền Công hoà miền Nam Việt Nam.
1. Từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, thông qua các nội dung: Xóa bỏ Khu phi quân sự theo Vỹ tuyến 17; Quốc Kỳ, Quốc huy, và Cờ đỏ sao vàng; Lấy tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Quốc ca là bài Tiến quân ca; Thủ đô Hà Nội; Đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Với sự kiện này, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chính thức hợp nhất thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Và, năm 1988, khi trào lưu đa nguyên đa đảng bắt đầu nảy nở ở một số nước cộng sản Đông Âu, với lý do đã kết thúc sứ mạng lịch sử, Đại hội đại biểu Đảng Xã hội họp từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 7 năm 1988, ra tuyên bố giải thể Đảng. Ngày 13 tháng 10 năm 1988, Đảng Dân chủ Việt Nam cũng tuyên bố tự giải thể.
(Hết Chương 12)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét