Chương X: 30 CHUYỆN KỂ VỀ CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG CỦA HỌ TẠI VIỆT NAM QUỐC GIA THỨ TƯ TỪNG BỊ PHÂN RANH QUỐC GIA-CỘNG SẢN THỜI 1945-1955.
(65 trang và 41.126 chữ).
Bài 209: CHUYỆN KỂ VỀ PHÁP XÂM CHIẾM VIỆT NAM VÀ SỰ CHỐNG TRẢ CỦA VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN.
Lê Xuân Đỗ
Nước Văn Lang của họ Hồng Bàng ở Vùng Ba Vì, Vỉnh Phú, nối tiếp được 18 đời thì nước rơi vào tay Thục Phán. Cùng với phần đất của mình Vua Thục lập nước Lac Viêt. Trị vì được 50 năm thì nước Lạc Việt rơi vào tay Triệu Đà. Cùng với phần đất của mình, Vua Triệu lập nước Nam Việt. Trị vì được 100 năm thì nước Nam Việt lại rơi vào tay Nam Hán. Từ đó, (năm 111 TCN) hơn 1000 năm nước Nam Việt trở thành một phần của Trung Quốc với tên mới là Giao Chỉ Bộ, và sau đó (năm 679) đổi tên thành An Nam.
Trong khi An Nam chịu sự thống trị của Trung Quốc, thì ở phía Nam, vào những năm 100 Sau Công nguyên (SCN), hai Vương quốc Phù Nan, và Champa phát triển rực rở. Phù Nan chiếm ngự vùng đồng bằng sông Mê Kông. Còn Champa thì chiếm ngự vùng giữa Giao Chỉ và Phù Nan. Những năm 500 và 600 SCN, người Du mục Khmer phía Tây Champa trở nên hùng mạnh xâm chiếm Vương quốc Phù Nan. Chỉ trong vài trăm năm người Khmer đã chiếm lĩnh, và xoá sổ nước Phù Nan.
Năm 939, Ngô Quyền thâu hồi độc lập cho nước, rồi tiếp đến là loạn Thập nhị Sứ quân. Đến năm 968, Đinh Bộ Lỉnh mới thống nhất được đất nước, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Năm 980, Lê Hoàn kế tục Nhà Đinh lên làm vua hiệu Lê Đại Hành. Nhà Lê đánh thắng quân Tống sang xâm lược, rồi quay sang đánh Champa. Đây là thắng lợi đầu tiên trên đường Nam tiến.
Suốt 900 năm sau đó, ngoại trừ 20 năm bị Trung Quốc chiếm trị (1507-1527), và phải trải qua nhiều sự thăng trầm “tranh chức đoạt ngôi”, quân dân Đại Việt từng bước lớn mạnh, mở rộng lảnh thổ về phía Nam: đánh chiếm và xoá sổ nước Champa, rồi đánh chiếm một phần nước Khmer. Việt Nam quả là một đế quốc nhỏ trong vùng vậy.
Từ những năm 1600, vài cố đạo đến nước Đại Việt, họ chiêu mộ được hàng ngàn người Việt theo đạo Ki-tô. Khi đánh nhau với Tây Sơn, Nguyễn Ánh có nhờ cố đạo Bá Đa Lộc mang con trai trưởng là Hoàng tử Cảnh qua Pháp cầu viện. Không may cho Ánh, nước Pháp lúc đó cũng đang nổ ra Cách mạng (1789-1799) nên không giúp đựoc gì cho Ánh. Dù vậy, khi Nguyễn Ánh lên ngôi Vua, cũng bị buộc phải thâu nhận người Pháp làm quan trong Triều đình.
Hội truyền giáo La Mã cũng nhân cơ hội đó “kéo vào Việt Nam cắm dùi” (chữ dùng của Bảo Đại), họ lập nhiều cơ sở nhà chung quan trọng. Cộng đồng nhà chung nầy gây cho Triều đình nhiều điều khó xử: họ không cho giáo dân thờ cúng tổ tiên ông bà, bắt giáo dân tuân theo luật lệ của nhà chung, xúi giáo dân tranh giành ruộng đất, vi phạm luật lệ của nhà nước, đẩy giáo dân đến chỗ “bất trung với vua với nước, bất hiếu với tổ tiên, dòng tộc”.
Trước hiểm hoạ làm băng hoạ xã hội từ nền móng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Năm 1833, vua Minh Mạng (1820-1840) ban hành Dụ “cấm đạo”. Giới quan lại tích cực thi hành, gây đổ máu hàng loạt giáo sĩ và hàng ngàn giáo dân. Các giáo sĩ truyền giáo kích động gây yếu tố cực đoan “tử vì đạo”. Từ năm 1843 đến năm 1847, dưới triều Thiệu Trị nhiều tàu chiến Pháp biểu dương lực lượng sát bờ biển nước ta, tưởng như có lúc phải dùng đến vũ lực. Những sự gây chiến ấy, cho thấy rằng Ki-tô-giáo chỉ là cái cớ bên ngoài, ý đồ bên trong chính là người Pháp muốn chiếm Việt Nam làm thuộc địa cho chúng.
Năm 1858, dưới thời Tự Đức (1847-1983) lấy cớ bảo vệ Hội Truyền Giáo, Pháp tấn công Đà Nẳng. Ngày 18 tháng 2 năm 1859, đánh chiếm thành Gia Định, Tổng đốc thành Võ Duy Ninh tuẫn tiết (tự tử để giữ khí tiết). Tháng 2 năm 1861, Pháp đánh chiếm Đại đồn Kỳ Hoà, rồi Mỹ Tho cũng thất thủ hai tháng sau đó. Pháp tiếp tục đánh chiếm Biên Hoà, Bà Rịa, Vĩnh Long, buộc Triều đình Tự Đức phải ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862), nhường cho Pháp ba tỉnh miền Đông, Pháp phải trả Vĩnh Long lại cho Triều đình Đại Nam. Năm 1867, Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền tây Vỉnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Phan Thanh Giản tuẫn tiết.
Năm 1873, đánh thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết, vài ngày sau đó, nhiều tỉnh phía Bắc cũng rơi vào tay giặc, Triều đình Tự Đức phải ký Hòa ước Giáp Tuất (1874), để Pháp trả lại Hà Nội và các tỉnh đã chiếm, Triều đình Huế phải cắt Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kỳ làm thuộc địa của Pháp. Ngày 25 tháng 4 năm 1883, Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai, Hoàng Diệu tuẩn tiết, ông là vị Đại quan thứ tư dưới Triều vua Tự Đức tuẫn tiết vì nghĩa lớn. Ngày 19 tháng 7, 1883, Vua Tự Đức băng hà.
Năm 1884, Pháp buộc Ấu vương Kiến Phúc (15 tuổi), ký Hiệp ước bảo hộ. Từ đây, dưới danh nghĩa bảo hộ, Pháp chia Việt Nam thành 3 miền với 3 chế độ cai trị khác nhau: trực trị ở miền Nam, tự trị ở miền Trung, và bảo hộ ở miền Bắc, nhưng thực tế Pháp cai trị toàn bộ Việt Nam bằng chế độ “cai trị thuộc địa”.
Xin lưu ý: Khi xâm chiếm nước Đại Nam, người Pháp tổ chức cai trị qua các bước: Từ 1861 đến 1879, thành lập Soái phủ Nam Kỳ (Gouvernement des Amiraux) do các đô đốc Hải quân Pháp đứng đầu, trông coi việc cai trị hành chính và binh bị. Từ năm 1879 Pháp đặt chức vụ Thống đốc Nam Kỳ (Gouverneur-général de la Cochinchine) cai trị trực tiếp thuộc địa này. Thống đốc Nam Kỳ trực thuộc bộ Thuộc địa và bộ Hải quân Pháp. Từ năm 1884, Sau khi áp đặt chế độ bảo hộ, Pháp đặt thêm chức vụ Khâm sứ Trung Kỳ (Résident supérieur d'Annam) và Thống sứ Bắc Kỳ (Résident supérieur du Tonkin). Hai người này trực thuộc bộ Ngoại giao Pháp.
Sydney ngày 15 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.137 chữ)
Bài 210: CHUYỆN KỂ VỀ LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI DÂN VIỆT.
Lê Xuân Đỗ
Năm 1887, Pháp lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp để cai trị 5 xứ: thuộc địa Nam Kỳ, và bốn xứ bảo hộ Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Ai Lao và Cao Mên. Đặc biệt Trung Kỳ kinh đô của nước Đại Nam thì Hoàng đế nhà Nguyễn vẫn là người có quyền tối thượng. Đứng đầu Liên bang là viên Toàn quyền người Pháp nắm cả quyền hành chính lẫn quân sự, với một Hội đồng Tối cao gồm: Toàn quyền, Tổng tư lệnh Quân đội, Chỉ huy trưởng Hạm đội Viễn Đông, Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, Thống sứ Ai Lao, Thống sứ Cao Miên.
Đứng đầu thuộc địa Nam Kỳ là Thống đốc người Pháp, với hai cơ quan Tư vấn là Hội đồng Tư mật và Hội đồng thuộc địa. Đứng đầu xứ Trung Kỳ là Khâm sứ cũng người Pháp. Khâm sứ Trung Kỳ chỉ giới hạn trong phạm vi tham gia Hội đồng Phụ chính của Vương triều, đến tháng 6 năm 1895 thì có thêm đặc quyền chủ tọa Hội đồng Cơ mật. Từ đây, chính phủ Nam triều không còn quân đội, không ngoại giao, không tài chính. Chính phủ Bảo hộ Pháp phụ trách thu thuế, và giao cho Nam Triều một số ngân sách cần thiết cho việc điều hành Triều chính
Đứng đầu xứ Bắc Kỳ là Thống sứ người Pháp, kiêm cả chức đại diện cho Nam Triều, gọi là Kinh lược sứ của vua nhà Nguyễn, nhưng sau tháng 6 năm 1895 lại không theo lệnh Vua. Các quan lại bản xứ, tuy là quan của triều đình Huế, nhưng thực sự thuộc quyền viên Thống sứ người Pháp. Khi chiến tranh thế giới lần thứ Nhất (1914-1918) nổ ra, chính phủ Pháp ban hành lệnh tuyển lính bản xứ Đông Dương sang Pháp chiến đấu. Lệnh ban hành vào tháng 11 năm 1915. Sang tháng 1 năm1916, triều đình nhà Nguyễn cũng có chỉ Dụ ban thưởng 80 đồng bạc Đông dương cho các thanh niên nhập ngũ. Đến năm 1918 khi có lệnh đình chiến thì đã có 1.548 thanh niên Việt tử vong tại chiến trường châu Âu.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ Hai (1939-1945) bùng nổ thì chính quốc Pháp lại có lệnh tuyển mộ người Việt sang làm lao công thuộc địa (viết tắt tiếng Pháp MOI: main-d'oeuvre indigène), nhưng lần này với dạng cưỡng bách. Năm 1939 đã có 93.000 người, cả lính thợ lẫn lính chiến, bị đưa sang Pháp sung vào quân ngũ hỗ trợ chính quốc theo "Kế hoạch Mandel". Ông Nguyễn Ngọc Châu, một trong những nhân chứng còn sống cuối cùng, nhớ lại, trước năm 1939, người ta nhìn thấy những tắm áp phích ghi rằng: "Mẫu quốc đang gặp nguy. Nghĩa vụ của bạn là giúp đỡ mẫu quốc".
Vì tôi học trường Pháp, nên tôi chấp nhận ra đi. Tôi gia nhập với tư cách là giám thị - phiên dịch. Chúng tôi, những người phiên dịch, cùng với các quan chức địa phương, tới nhiều ngôi làng khác nhau để tuyển mộ lính. Ví dụ một làng có 20 hộ gia đình, thì phải tuyển đủ 20 người. Các gia đình có 3 hay 4 người con trai, người anh trai cả 35 tuổi đã có gia đình, thì người thứ hai hoặc thứ ba phải đi thay. Nếu gia đình không có con trai thứ nào để thay thế, thì người con cả, dù đã 35 tuổi, có gia đình và con cái vẫn bị bắt buộc đi.
Theo ông Lê Hữu Thọ, tất cả lính thợ trên con tàu của ông được chuyển tới tạm trú tại nhà tù cũ Baumettes ở Marseille. Ngày 2/6/1940, nước Pháp thất bại trước phát xít Đức. Những người thợ Đông Dương phải tập trung hết trong Vùng Tự do (Zone libre). Ngày lịch sử này, cũng đánh dấu chính quyền Pháp mất các thuộc địa Đông Dương. Pháp không nhận được gạo từ Đông Dương nữa. Nước Pháp đói! Nước Pháp đầy người thất nghiệp! Chính lúc này, chính quyền Vichy đã sử dụng nguồn nhân lực Đông Dương đang có tại chỗ để gieo trồng giống lúa nước tại Pháp và làm việc trong nhiều hãng, xưởng khác nhau. Tiền công một ngày làm việc của người lao động Đông Dương chỉ tương tương khoảng 1/10 lương của một người lao động Pháp thời đó…
Ngày 19 tháng 6 năm 1940, Toàn Quyền Đông Dương, tướng Catroux nhận được điện văn của Đại sứ Pháp ở Tokyo là Arsène Henry chuyển tối hậu thư của Nhật yêu cầu Pháp phải đóng cửa biên giới Đông Dương, và phải để cho quân đội Nhật kiểm soát biên giới này. Ngày 20 tháng 7 năm 1940, Đô Đốc Jean Decoux vừa đến thay thế tướng Catroux thì lại nhận được một tối hậu thư khác, đòi Pháp phải để cho Nhật đưa quân vào Đông Dương. Cuộc điều đình đang diễn ra, thì ngày 22 tháng 9 năm 1940, Nhật tung quân đánh các Đồn biên giới Lạng Sơn, chỉ trong ba ngày quân Pháp đã đầu hàng.
Kết qủa là, Pháp chính thức nhìn nhận sự hiện diện của quân đội Nhật tại Đông Dương, và Nhật bằng lòng để cho Pháp tiếp tục cai trị về hành chánh. Khi tình hình Thái Bình Dương thay đổi, bất lợi cho Nhật, ngày 9/3/1945, lúc 18g đại sứ Nhật Matsumoto gởi "tối hậu thư" đòi Toàn quyền Pháp Decoux phải cam kết chống Đồng minh, nếu Anh, Mỹ đổ bộ, tất cả quân đội và công sở Pháp phải đặt dưới quyền điều động của Tổng tư lệnh Nhật, và hẹn trong 2 giờ phải trả lời.
Đúng 20 giờ cùng ngày, Nhật nổ súng dữ dội ở Hà nội và khắp Đông Dương đánh quân Pháp. Rất nhiều nơi quân Pháp đầu hàng. Trong đêm Toàn quyền Decoux và các viên chức cao cấp của Pháp đều bị bắt, Nhật làm chủ tình hình... Ngày 10/3/1945, Nhật thiết quân luật trên toàn cỏi Đông Dương, Bộ Tổng tư lệnh Nhật thông cáo, Nhật chỉ hạ Pháp, nhưng ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc Đông Dương. Chính phủ Nhật cũng tuyên bố, phải “lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương, vì đã vi phạm các Hiệp ước hợp tác Nhật-Pháp.
Nhật sẽ giúp các nước Đông Dương thực hiện độc lập. Ngày 11/3/45, Viện Cơ mật Triều đình Huế tuyên bố “Hiệp ước bảo hộ 1884 bị bãi bỏ, Việt Nam khôi phục chủ quyền”. Hôm sau, ngày 12/3/45 Cao Mên tuyên bố độc lập. Và, ngày 15/4/45 Lào tuyên bố độc lập. Liên bang Đông Dương thuộc Pháp chấm dứt sự tồn tại./.
Sydney ngày 16 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.177 chữ)
Bài 211: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN ĐẾ QUỐC VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ
TRẦN TRỌNG KIM
Lê Xuân Đỗ
Ngày 17/3/45, Hoàng đế Bảo Đại tuyên chiếu từ nay sẽ đích thân cầm quyền, theo nguyên tắc “Dân vi quý” để chỉnh đốn lại quốc gia. Đại sứ Nhật Yokoyama được cử làm Khâm sứ, thay Khâm sứ Pháp tại Huế. Cùng ngày 17/4/45, Trần Trọng Kim được Hoàng đế Bảo Đại uỷ thành lập Chính phủ, trình diện Nội các lên nhà Vua, và được chấp thuận. Nội các của ông gồm những người học thức, yêu nước, được xã hội kính trọng, gồm: 2 Giáo sư, 4 Luật sư, 4 Bác sĩ, và 1 Kỹ sư. Giáo sư Học giả Trần Trọng Kim là Tổng trưởng Nội các.
Ngoài 11 thành viên Nội các, lần lượt nhiều nhà trí thức có tiếng tăm cũng được mời tham gia công việc của chính quyền như: Khâm sai Bắc bộ Phan Kế Toại; Khâm sai Nam bộ Nguyễn Văn Sâm; Đốc lý Hà Nội Bác sĩ Trần Văn Lai; Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn Kỹ sư Kha Vạng Cân; Thị trưởng Hải Phòng Luật sư Vũ Trọng Khánh; Thị trưởng Đà Nẳng Nguyễn Khoa Phong; Thị trưởng Huế Giáo sư Nguyễn Lân; Tỉnh trưởng Nghệ An Phó bảng Đặng Văn Hướng; Tỉnh trưởng Hà Tĩnh Phó bảng Hà Văn Đại; Tỉnh trưởng Thanh Hóa Giáo sư Đặng Thái Mai. Các ông Hoàng Đạo Thuý, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Nguyễn Xiển, Vũ Văn Cẩn, Nguỵ Như Kontum được mời ra thành lập Hội đồng Thanh niên. Tạ Quang Bửu còn mời làm Cố vấn đặc vụ Ủy viên Bộ Thanh niên và Kỹ sư Lê Duy Thước làm Chánh văn phòng Bộ.
Ngày 8/5/45, Vua Bảo Đại tuyên chiếu kêu gọi quốc dân tham gia việc nước; hứa triệu tập một Hội nghị Lập Hiến; lập ngay một Ủy ban Cải Cách, và Hội đồng Tư vấn Địa phương. Chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố “Chương trình Hưng quốc, Quốc kỳ và Quốc ca”. Ngày 11/6/45, Bộ trưởng Phan Anh cổ võ thanh niên biểu tình trước nhà hát lớn Hà Nội. Ngày 20/6/45, vua Bảo Đại phục hồi quyền công dân cho các cựu chính trị phạm chưa được miển tội danh.
Ngày 3/7/45, Quyền Thống đốc Nam Bộ, Minoda thành lập một Hội Nghị Nam Kỳ với nhiệm vụ tư vấn. Các Hội viên gồm Ký giả Trần văn Ân, Nha sĩ Nguyễn Văn Bái, Kỹ sư Lưu Văn Lang, Giáo sư Hồ Văn Ngà, Kỹ Nghệ gia Kha Vạng Cân.v.v. Sau gần 2 tháng nổ lực, Trần Trọng Kim đã hợp nhất hai chính quyền Bảo hộ và Nam triều thành một chính phủ Việt Nam duy nhất, trung tuần tháng 7 năm 1945, đích thân Thủ tướng Trần Trọng Kim đi Hà Nội trực tiếp thương thảo với Toàn quyền Nhật đòi lại 3 thành phố nhượng địa và thuộc địa Nam Kỳ.
Kết quả là Nhật trả cho Đế quốc Việt Nam các cựu nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng kể từ 12 giờ trưa hôm nay (20 tháng 7 năm 1945) và thoả thuận sẽ trả thuộc địa Nam Kỳ vào đầu tháng 8. Nguyễn Khoa Phong được cử làm Thị trưởng Đà Nẳng, Vũ Trọng Khánh được bổ Thị trưởng Hải phòng. Ngày 26/7/45, Hội nghị Postdam ra Thông cáo chung, đòi Nhật đầu hàng vô điều kiện, Nhật sẽ mất hết thuộc địa, bài trừ phái quân phiệt, những kẻ phạm tội gây chiến tranh sẽ bị Tòa án đặc biệt xét xử.
Ngày 6/8/45, thành phố Hiroshima bị phá bằng trái bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ, giết chết 66.000 người. Ngày 7/8/45, Thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức, nhưng được lưu Xử lý thường vụ. Ngày 9/8/45, thành phố Nagasaki, bị ném trái bom nguyên tử thứ hai. Ngày 10/8/45, Nhật hoàng họp Nội các và quyết định xin hàng, cậy đại sứ Thụy Điển làm trung gian. Ngày 14/8/45, Thống chế Pestain, do Quốc hội Pháp cử làm Quốc trưởng năm 1940, bị Tối cao Pháp viện tuyên án tử hình, nhưng yêu cầu không hành quyết, vì tuổi cao (90 tuổi).
Ngày 14/8/45, Nhật trả Nam Bộ cho Triều đình Huế. Vua Bảo Đại tuyên chiếu hủy bỏ các Hiệp ước đã ký với Pháp về sự đô hộ Nam, Trung và Bắc Kỳ. Nhà Vua cử chính trị gia Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam Kỳ. Ngày 14/8/45, Một số đảng phái và đoàn thể gồm Việt Nam Quốc Dân đảng, Hòa Hảo, Cao Đài, Tịnh Độ, Cư sĩ, Liên đoàn Công chức, Thanh niên Tiền Phong, nhóm họp Đại hội ở Sài Gòn thành lập “Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất” hô hào đoàn kết chống Pháp. Ngày 14/8/45, Hoa Kỳ chấp nhận cho Nhật đầu hàng.
Ngày 15/8/45, Đại tướng Mac Arthur được cử làm Tổng tư lệnh tại Thái Bình Dương. Ngày 15/8/45, Tướng Leclere de Hautecloque được De Gaulle cử làm Tư lệnh Lục quân Pháp tại Đông Dương. Ngày 17/8/45, Vua Bảo Đại gởi điện văn kêu gọi tổng thống Mỹ Truman, Đồng minh, và cả De Gaulle, yêu cầu bảo vệ nền độc lập của Việt Nam, rằng dân chúng Việt Nam nhất quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước. Ngày 17/8/45, Đô đốc Thierry d’Argenlieu được De Gaulle cử làm Cao Ủy Pháp kiêm Tổng Tư lệnh ở Đông Dương.
Cùng ngày 17/8/45, công chức Hà Nội tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tuần hành qua các đường lớn, để tỏ ý chí bảo vệ đất nước. Cộng sản len vào dòng người biểu tình hô khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Cuộc biểu tình lại biến ra biểu tình ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Các đoàn Dân quân Giải phóng, chiếm đoạt chính quyền ở một số nơi. Ngày 18/8/45, Bắc bộ phủ bị quần chúng ùa tới bao vây, Khâm sai Phan Kế Toại vắng mặt rồi tuyên bố từ chức.
Ngày 19/8/45, Quân Nhật vẫn canh gác trên nhiều ngã đường Hà Nội. Biểu tình trước nhà hát lớn, để nghe tuyên bố của Mặt trận Cứu quốc Việt Minh. Dân quân Giải phóng và cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi, chiếm đóng các công sở. Đê Đông Lao ở Hà Đông bị vỡ, nước tràn ngập nhiều vùng. Ngày 20/8/45, Việt Minh chiếm đài Vô tuyến điện Bạch Mai Hà Nội, và phát thanh cổ động trên làn sóng 32 thước.
Ngày 21/8/45, một số thanh niên trí thức nhóm họp tại Đại học xá Hà Nội biểu quyết gởi điện văn yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 22/8/45, Đại tá Cédille được De Gaulles cử làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Bộ, nhảy dù xuống Tây Ninh được Nhật đưa về Sài gòn. Ngày 22/8/45, Mặt trận Việt Minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn Thanh niên Tiền Phong tuyên bố gia nhập.
Ngày 23/8/45, một Chính phủ Lâm thời tuyên bố thành lập tại Hà Nội, Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, nhưng chỉ do nhóm Cộng sản cướp chính quyền Hà Nội tuyên bố, chứ Hồ Chí Minh thì còn đang ở tại vùng rừng núi Việt Bắc. Ngày 25/8/45, một Uỷ ban Hành Chánh Lâm thời Nam Bộ (UBHCLTNB) cũng được thành lập tại Sài Gòn do nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu không trực thuộc Hà Nội làm Chủ tịch. Cùng ngày 25/8/45, Lễ thoái vị trước cửa Ngọ Môn, Huế: Vua Bảo Đại trao kiếm vàng cùng ấn ngọc cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu. Chính phủ Trần Trọng Kim tự giải thể.
Sydney ngày 17 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.316 chữ)
Bài 212: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CHÍNH PHỦ
HỒ CHÍ MINH
Lê Xuân Đỗ
Lúc tuyên bố thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Hồ Chí Minh ít được biết đến, trong khi Chính phủ Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam đang tồn tại. Hồ Chí Minh cảm thấy phải tìm cách làm cho Đồng Minh chú ý đến Chính phủ của ông trước khi quân đội Đòng minh vào Việt Nam giải giáp quân Nhật. Trước đó ngày 17/4/1945, Hoàng đế Bảo Đại cũng đã gửi lời kêu gọi đến lãnh đạo các nước Đồng Minh yêu cầu công nhận nền độc lập của Đế quốc Việt Nam. Lời kêu gọi này làm cho Hồ Chí Minh lo ngại về địa vị hợp pháp của Bảo Đại.
Một mặt nhóm Cộng sản Huế gây sức ép buộc Bảo Đại phải tuyên bố thoái vị và mặt khác Hồ Chí Minh phải tìm mọi cách làm cho Mỹ tin rằng, ông không phải là một phái viên của Quốc tế Cộng sản mà là một người Quốc gia - Xã hội mong muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Thông qua OSS, Hồ Chí Minh gửi 9 bức điện cho Chính phủ Mỹ, bao gồm cả bốn bức thư tay gửi trực tiếp cho Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đề nghị Mỹ đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Hồ Chí Minh hy vọng rằng, tranh thủ được sự có mặt của Mỹ ông sẽ có ưu thế trong các cuộc thương lượng với Trung Quốc và Pháp về Đông Dương. Hồ Chí Minh nói với chỉ huy OSS tại miền Bắc, Archimedes L.A Patti, rằng ông theo chủ nghĩa Lenin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và xin gia nhập Đệ Tam Quốc tế, vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Ông không thấy có sự lựa chọn nào khác. Nhưng trong nhiều năm sau đó những tổ chức Cộng sản này không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa.
Cho nên, ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ. Hồ Chí Minh giải thích, rằng người Mỹ xem ông là một người quốc tế cộng sản, "bù nhìn của Moscow" vì ông đã ở Moscow nhiều năm, nhưng ông khẳng định mình không phải là người cộng sản theo cách mà Mỹ hiểu, mà là nhà cách mạng hoạt động vì độc lập dân tộc… Thế nhưng, chính phủ Mỹ có nhiều thông liên quan biết rõ hơn về nhân vật nầy, cuối tháng 9 năm 1945, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo về nước.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngay sau khi tuyên bố Việt Nam độc lập và ra mắt chính phủ, Hồ Chí Minh ra lệnh giải tán Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng, giải tán các nghiệp đoàn. Ngày 4/9/1945, ban hành Sắc lệnh số 4 lập "Quỹ độc lập" quyên tiền trong dân chúng. Ngày 17/9, Chính phủ phát động "Tuần lễ Vàng" thu góm vàng ủng hộ nền độc lập Quốc gia. Sau các "Quỹ độc lập", “Tuần lễ vàng” Chính quyền Cách mạng còn tổ chức nhiều hình thức quyên tiền bạc của dân chúng như "Quỹ kháng chiến", "Quỹ bình dân học vụ", "Quỹ giải phóng quân", "Ngày Nam Bộ"...
Chính phủ cũng phát động Phong trào cứu đói. Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo"…
Theo sự phân công của các nước Đồng Minh quân Anh và Trung Hoa vào Việt Nam giải giáp quân Nhật: Anh từ Vỹ tuyến 16 trở vào Nam, và Trung Hoa Dân Quốc từ Vỹ tuyến 16 trở ra Bắc. Ngày 6/9/45, Phái bộ Quân sự Anh-Ấn tới Sài Gòn và ngày 9/9/45, quân Trung Hoa do tướng Lư Hán chỉ huy cũng vào Hà Nội. Nhân cơ hội, Pháp theo chân Anh vào Sài Gòn với ý đồ tái chiếm Đông Dương; Việt Cách, Việt Quốc cũng theo quân Trung Hoa trở về Hà Nội đòi tranh chia quyền lực với Hồ Chí Minh. Đến ngày 15/9/1945, tổng số quân đã có mặt tại Bắc Việt Nam 180.000 người.
Dưới sức ép của Tướng Lư Hán và Tiêu Văn (Phó của Lư Hán), sau một loạt các cuộc đàm phán giữa Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc, các bên đạt tới thoả thuận Hồ Chí Minh phải cải tổ chính phủ để cho một số nhân vật của Việt Quốc, Việt Cách tham gia Chính phủ. Ngoài ra, Việt Quốc được dành 50 Đại biểu và Việt Cách 20 Đại biểu trong Quốc hội không qua bầu cử. Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố tự giải tán. Ngày 1/1/1946, Hồ Chí Minh giải thể Chính phủ Lâm thời, để thành lập Chính phủ Liên Hiệp Lâm thời Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch.
Ngày 6/1/1946, bầu cử Quốc hội và ngày 2/3/46 Quốc hội họp phiên đầu tiên, công nhận 50 Đại biểu của Việt quốc, và 20 Đại biểu Việt cách không qua bầu cử; Quốc hội uỷ Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến; cử một Ban Cố vấn; và một Ủy ban Kháng chiến. Ngày 28/2/46, Trung Hoa ký với Pháp một Hiệp ước thân thiện, theo đó, quân Pháp sẽ thay quân Trung Hoa để giải giáp quân Nhật từ vỹ tuyến 16 trở ra. Ngày 5/3/46, quân Anh và Ấn rút khỏi Nam Bộ.
Sydney ngày 18 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.038 chữ)
Bài 213: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN LÂM THỜI NAM BỘ VÀ LÂM UỶ HÀNH CHÁNH CỦA TRẦN VĂN GIÀU.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 14/8/1945, Nhật trả Nam Kỳ lại cho Việt Nam, Hoàng đế Bảo Đại cử Chính trị gia Nguyễn Văn Sâm, làm Khâm sai đại thần Nam Kỳ. Cùng ngày 14/8/1945, tại Sài Gòn, các tổ chức chính trị, Việt Nam Quốc gia Độc lập đảng, Thanh niên Tiền phong, Tịnh độ cư sĩ, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Liên đoàn công chức, những người Troskist nhóm họp thành lập một tổ chức chung mang tên Mặt trân Quốc gia Thống nhất. Ban lãnh đạo Mặt trận là Hồ Văn Ngà, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Phú Sổ, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Trần Văn Thạch, v.v…
Ngày 16/8/1945, Trần Văn Ân nhân danh Chủ tịch Hội Đồng Tư vấn Nam Kỳ (do Nhật thành lập), cử Hồ Văn Ngà thành viên Hội Đồng Tư vấn Nam Kỳ, và cũng là thành viên Mặt trận Quốc gia Thống nhất, tiếp quản Chính quyền Nam Kỳ từ tay Nhật. Ngày 19/8/1945, Khâm sai Nguyễn Văn Sâm từ Huế về đến Sài Gòn, Hồ Văn Ngà giao lại chức chưởng cho Nguyễn Văn Sâm. Ngày 21/8/1945, Mặt trận Quốc gia Thống nhất tổ chức một cuộc biểu tình lớn, mừng sự kiện tiếp nhận Chính quyền Nam Kỳ và phô trương sức mạnh của Mặt trận trước khi Đồng Minh đến giải giáp quân Nhật.
Ngày 22/8/1945, Mặt trận Việt minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn, Phạm Ngọc Thạch, Thủ lãnh Thanh niên Tiền phong (cũng là thành viên Mặt trân Quốc gia Thống nhất) tuyên bố gia nhập. Nhờ uy thế của Thanh niên Tiền phong, nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu treo biểu ngữ "Chánh quyền về Việt Minh" khắp Sài Gòn, rải truyền đơn tuyên bố Việt Minh được phe Đồng Minh ủng hộ và kêu gọi nhân dân ủng hộ chính quyền Việt Minh. Mặt trận Quốc gia Thống nhất, bất ngờ trước sự kiện nầy, liền tổ chức một cuộc họp mở rộng, yêu cầu Trần Văn Giàu giải thích sự việc.
Tại cuộc họp nầy, Trần Văn Giàu ra sức thuyết phục, rằng nhiều vị lãnh đạo trong Mặt trận, từng cộng tác với Nhật, nên khó mà điều đình có hiệu quả với Đồng Minh khi họ vào “tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật”; Rằng, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất nên nhường quyền lãnh đạo cho Mặt trận Việt Minh, để tạo được thế mạnh trong đàm phán với Đồng Minh. Cuối cùng, thì Khâm sai Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm, với sự đồng ý của Mặt trận Quốc gia Thống nhất quyết định rút lui, nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh.
Ngày 25/8/1945, Trần Văn Giàu Bí thư Xứ uỷ Việt Minh Nam Kỳ công khai tuyên bố thành lập Ủy ban Hành Chánh Lâm thời Nam Bộ, thường gọi là Lâm uỷ Nam Bộ, do ông ta làm Chủ tịch. Nhận định về sự kiện nầy, Nguyễn Hữu Ðang nói: “…người ta biết các anh (Cộng sản) nhứt định sẽ gây nội chiến, nên đành phải nhường. Ngoài Bắc, trong Nam cũng vậy cả thôi”. Xin lưu ý rằng, Trần Văn Giàu là Bí thư Xứ uỷ Tiền phong tức xứ uỷ Việt Minh mới do ông ta làm Bí thư. Nam Kỳ còn có một Xứ ủy khác, Xứ ủy Giải phóng gọi là Xứ uỷ Việt Minh cũ trực thuộc Bắc Kỳ.
Ngày 2/9/1945, Trần Văn Giàu tổ chức một cuộc biểu tình lớn chào mừng Ngày Độc lập. Khi đoàn người biểu tình đến gần Nhà thờ Đức Bà thì có tiếng súng nổ từ phía Câu lạc bộ Pháp. Cuộc biểu tình biến thành một sự hỗn loạn. Cảnh sát tiến hành bắt ngay hàng trăm người Pháp và thân Pháp. Bọn lưu manh thừa cơ hội cướp bóc một số nhà hàng của người Hoa và người Pháp. Việt Minh và các đảng phái nghi ngờ, đổ lỗi cho nhau, hứa hẹn một viễn cảnh chính trị đầy thách thức cho Nam Bộ.
Ngày 7/9/1945, trên tờ Tranh đấu cơ quan ngôn luận của những người Trotskyist đăng một bài xã luận chỉ trích Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ không có những biện pháp bảo đảm an toàn cho cuộc biểu tình ngày 2/9/1945 khiến một số người chết. Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Lâm uỷ Trần Văn Giàu ra thông cáo tố cáo những kẻ khiêu khích ám chỉ những người Trotskyist và giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo đã phá hoại trật tự và gây đổ máu, kêu gọi người dân vì lợi ích quốc gia hãy tin cậy Ủy ban Hành chính Lâm thời, đừng để bọn phản bội tổ quốc lôi kéo làm mất đoàn kết dân tộc.
Ngay sau đó, những người Trotskyist, và các giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài tổ chức biểu tình, công khai thách thức Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, đòi Trần Văn Giàu từ chức. Ngày 9/9/1945, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ tổ chức cuộc họp mở rộng, do sự giới thiệu của Dương Văn Giáo và Trần Văn Ân, Luật sư Phạm Văn Bạch được bầu làm Chủ tịch, Trần Văn Giàu xuống làm Phó, kiêm Uỷ viên trưởng quân sự. Trong Ủy ban Hành chính Lâm thời mới có 4 Việt Minh, 1 Cao Đài, 1 Trotskyist, 2 Hòa Hảo, 3 không đảng phái, 2 thuộc các đảng phái quốc gia.
Ngày 12/9/45, Thiếu tướng Douglas Gracey, chỉ huy quân Đồng Minh Anh-Ấn ra lệnh cho quân đội Nhật đuổi Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra khỏi Dinh Toàn Quyền ở Sài Gòn và tước vũ khí của người Việt. Thống chế Terauchi, chỉ huy quân đội Nhật, điều 7 tiểu đoàn vào Sài Gòn yêu cầu Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ giao nộp vũ khí, nhưng "không làm được” bởi Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ chỉ có vài Đội tự vệ tượng trưng. Các Giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên mới có lực lượng vũ trang. Kết quả là, mệnh lệnh của tướng D. Gracey không thi hành được.
Sydney ngày 19 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1,069 chữ)
Bài 214: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN LÂM THỜI NAM BỘ VÀ LÂM UỶ HÀNH CHÁNH CỦA TRẦN VĂN GIÀU (tiếp theo)
Lê Xuân Đỗ
Cuộc đàm phán giữa Uỷ viên Cộng hoà Nam Bộ Pháp, Jean Cédile và Phạm Văn Bạch Chủ tịch Lâm uỷ mới ngày 16/9/1945, không đạt kết quả. Tướng Anh, Gracey lại triệu tập chỉ huy quân đội Nhật đến, và chỉ thị cho ông này phải có những biện pháp cấp bách và hiệu quả để khôi phục trật tự công cộng. Ngày 17/9/1945, Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ tổ chức một cuộc tổng bãi công phản đối điều mà họ gọi là âm mưu Pháp - Anh nhằm lật đổ Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ là chính phủ hợp pháp duy nhất ở Nam Kỳ. Phạm Văn Bạch gửi phái đoàn OSS một bức điện thông báo tình hình.
Tình hình Sài Gòn ngày càng hỗn loạn. Các toán vũ trang Bình Xuyên lùng bắt, đánh người Pháp bất kể lính hay dân thường. Mâu thuẫn Pháp-Việt leo thang đến cực độ, Uỷ viên Cộng hoà Nam Bộ Pháp, Cédile nhờ Thiếu tá A. Peter Dewey, chỉ huy OSS tại Sài Gòn, gặp các lãnh đạo Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ để thuyết phục họ khôi phục lại trật tự. Đêm 18/9/1945, A. Peter Dewey bí mật gặp Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch và Nguyễn Văn Tạo. Tất cả đều cho rằng đã quá muộn để thương lượng và hợp tác.
Sáng ngày 19/9/1945, Cédile tổ chức họp báo, tuyên bố Việt Minh không đại diện cho nguyện vọng của người Đông Dương và không đủ khả năng duy trì trật tự công cộng. Các cuộc thương lượng với người Việt sẽ dừng lại cho đến khi trật tự được lập lại. Ngày 20/9/1945, Thiếu tướng Anh Gracey ra bản Thông cáo số 1 tuyên bố sẽ duy trì pháp luật và trật tự ở Đông Dương phía Nam vĩ tuyến 16. Ông cấm tất cả các loại báo vì họ đưa tin sắp xảy ra nổi loạn và nội chiến. Tình hình trở nên cực kỳ tồi tệ. Các vụ phá hoại, cướp bóc, hành hung, bắt cóc,... do cả hai phía Pháp Việt gây ra bùng nổ đáng sợ.
Đêm 21/9/1945, tình báo Pháp SLFEO báo cho Cédile biết người Việt đang củng cố lực lượng vũ trang của họ. Cédile lại gặp Gracey để yêu cầu ông này trang bị vũ trí cho 1.400 tù binh Pháp (bị Nhật giam giữ từ ngày 9/3/1945) để hỗ trợ quân Anh giữ trật tự. Gracey đồng ý. Ngày 22/9/1945, Cédile cho lính Pháp thay thế lính Nhật chiếm giữ các đồn cảnh sát ở Sài Gòn, Kho bạc, Sở Mật thám, Bưu điện. Rạng sáng ngày 23/9/1945, quân Pháp tấn công Toà Thị chính Sài Gòn, nơi làm việc của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, bắt toàn bộ Ban lãnh đạo của cơ quan này. Pháp đã chiếm lại Sài Gòn.
Dân thường Pháp xem đây là dịp để trả thù. Từng toán đàn ông và đàn bà Pháp xông ra đường bắt và đánh đập bất cứ người Việt nào họ gặp. Số nạn nhân có thể lên tới hàng ngàn người. Chỉ huy OSS, A. Peter Dewey, gặp Gracey để phản đối Anh, Pháp đã để tình trạng này xảy ra. Ngày hôm sau, Dewey bị Gracey trục xuất khỏi Sài Gòn. Báo chí quốc tế phản ứng mạnh, người Anh bị chỉ trích gay gắt. Gracey ra lệnh cho Cédile thả tất cả người Việt Nam vừa bị bắt, tước vũ khí tù binh Pháp, đưa họ trở về trại và giao cho người Nhật trách nhiệm khôi phục lại trật tự.
Ngày 24/9/1945, sau khi được thả khỏi nhà giam, Việt Minh tập hợp người Việt lại, tiến hành chiến tranh. Phi trường Tân Sơn Nhất bị tấn công, một tàu Pháp ở cảng bị đốt, nhà máy, kho tàng bị đập phá, điện nước bị cắt hoàn toàn. Họ phá nhà giam thả hàng ngàn người Việt vừa bị bắt. Một số người Pháp bị giết. Đến trưa chợ Bến Thành bị đốt cháy. Chướng ngại vật được dựng lên khắp đường phố. Sài Gòn chìm trong tình trạng vô chính phủ. Đêm 24/9/1945, lực lượng Bình Xuyên tấn công khu Hérault kiều dân Pháp, tại Tân Định, Sài Gòn bắt 300 dân thường Pháp. Khoảng một nửa bị giết.
Để đối phó, một lần nữa tướng Anh Gracey chấp nhận yêu cầu của Cédile cấp vũ khí cho tù binh Pháp, nhưng tình hình đã quá muộn. Ngày 26/9/1945, Thiếu tá chỉ huy OSS A. Peter Dewey bị lực lượng Việt Minh bắn chết ở Tân Định. Tin này lan khắp thế giới làm xấu đi hình ảnh Việt Nam. Thiếu tá OSS Archimedes L.A Patti đang công tác tại miền Bắc Việt Nam nói: "Họ đã giết hại người bạn độc nhất của họ ở Nam Kỳ và chắc chắn những tin này sẽ chẳng đề cao được lý tưởng của họ trước nhân dân Mỹ.". Ngày 27-9-45, Saigon bị bao vây, lửa đỏ rực trời, thực phẩm khan hiếm.
Một Ủy ban phong tỏa Sài Gòn được thành lập do Nguyễn Văn Sâm, Kha Vạng Cân, Trần Văn Ân, Hồ Văn Ngà lãnh đạo. Uỷ ban ra lệnh tản cư đàn bà trẻ em và người già. Chiến tranh du kích nổ ra khắp nơi. Ngày 28/9/1945, Tư lệnh quân Đồng minh, tướng Mounbatten, triệu tập Gracey và Cédile đến Singapore để nhắc nhở hai người về việc quân đội Anh không được can thiệp vào tình hình chính trị Đông Dương và nhất là không được giao chiến với người Việt. Mounbatten đề nghị nên nối lại thương lượng với các lãnh đạo Việt Nam.
Ngày 1/10/1945, Gracey, và Cédile nối lại đàm phán với Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. Hai bên tạm thời ngừng bắn. Phía Anh nhấn mạnh thỏa thuận giữa các nước Đồng Minh, rằng Anh sẽ không công nhận bất kỳ sự thay đổi chủ quyền trên bất kỳ lãnh thổ nào đã bị Nhật chiếm bằng vũ lực trong thời kỳ chiến tranh. Người Pháp yêu cầu trả lại các con tin bị bắt, và xác của Thiếu tá Dewey trước khi tiếp tục thương lượng. Phía Việt Nam yêu cầu người Việt chỉ ngừng bắn với điều kiện Pháp trao trả quyền hành chính tại Sài Gòn cho Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ.
Lúc nầy, lực lượng võ trang của Dân quân Cách mạng chống Pháp đã triển khai quân đội tại các vị trí chiến lược phía Bắc và phía Nam thành phố Sài Gòn. Ngày 3/10/1945, hơn 10.000 quân Pháp do tướng Leclerc chỉ huy đổ bộ xuống Sài Gòn. Ngày 5/10/1945, Leclerc tuyên bố sẽ bình định Nam Bộ. Ngày 9/10/45, quân Pháp chiếm đóng Tây Ninh. Đêm 10/10/1945, bộ đội Việt Minh tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng Dân quân Cách mạng chống Pháp giao chiến với quân Anh, Pháp tại tất cả các cửa ngõ vào Sài Gòn.
Không quân Hoàng gia Anh liên tục ném bom vào các địa điểm bố trí quân của lực lượng Kháng chiến Nam, phá vỡ cuộc phong tỏa Sài Gòn. Ngày 16/10/1945, sau 6 ngày chiến đấu liên tục với nhiều tổn thất nặng nề, lực lượng Kháng chiến Nam Bộ ngừng bao vây Sài Gòn và rút quân về vùng nông thôn. Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ kêu gọi dân chúng sơ tán khỏi Sài Gòn thực hiện chiến lược dùng nông thôn bao vây thành thị bằng cách cắt đứt mọi hoạt động thương mại giữa nông thôn và thành thị. Anh, Pháp kiểm soát toàn bộ Sài Gòn.
Ngày 25/10/1945, Hoàng Quốc Việt tổ chức Hội nghị Thiên Hộ, Cái Bè, Mỹ Tho thống nhất hai Xứ uỷ Tiền Phong và Xứ uỷ Giải Phóng làm một, và cử Tôn Đức Thắng từ Côn Đảo về làm Bí thư. Ba lãnh tụ Xứ uỷ Tiền Phong-Việt Minh mới, là Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch và Dương Bạch Mai được đảng Cộng sản điều ra Hà Nội. Tại Hà Nội, Trần Văn Giàu đề đạt 2 nguyện vọng (1) cho phép ông trở lại chiến trường Nam Bộ chiến đấu, hoặc (2) cho ông sang Campuchia và Thái Lan lập một căn cứ hậu cần tiếp tế cho Nam Bộ. Nguyện vọng thứ hai được chấp thuận.
Sydney ngày 20 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.554 chữ)
Bài 215: CHUYỆN KỂ VỀ QUÁ TRÌNH TÁI LẬP LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG CỦA NƯỚC PHÁP.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 7 tháng 1 năm 1946, Pháp cho thành lập chính quyền Quốc gia Miên Tự trị do một Uỷ viên Cộng hoà (UVCH) Pháp đứng đầu. Ngày 28/1/46, Tướng Anh, Douglas Gracey, chuyễn giao quyền hành cho Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu Cao uỷ (Toàn quyền) Pháp tại Đông Dương, và rời khỏi Sài Gòn. Ngày 6/3/46, Pháp ký với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh Hiệp ước sơ bộ Việt-Pháp với nội dung:
1. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng.
2. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc Dân để giải giáp quân Nhật. Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 quân.
3. Pháp đồng ý thực hiện “trưng cầu dân ý” tại Nam Kỳ về việc tái thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
4. Hai bên thực hiện ngừng bắn, giữ nguyên quân đội tại vị trí hiện thời để đàm phán về chế độ tương lai của Đông Dương, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Việt Nam Cộng hoà và nước ngoài và quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
5. Quân đội Pháp có trách nhiệm hỗ trợ và huấn luyện cho Quân đội Việt Nam Dân chủ Việt Nam Cộng hoà.
Từ ngày 17/4 đến ngày 11/5/1946, hội nghị trù bị Pháp-Việt triển khai Hiệp ước sơ bộ 6/3 tại Đà Lạt không đạt tới tới kết quả nào. Ngày 1/6/46, tại Nam Bộ, Pháp cho thành lập chính quyền Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ do Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh cầm đầu. Từ ngày 6/7 đến ngày 13/9/1946, tại Pháp hội nghị Fontainebleau Việt-Pháp bàn định “những việc phải làm” để thi hành Hiệp ước 6/3/1946 cũng thất bại. Hôm sau, vào lúc nửa đêm 14/9/1946, Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh thân hành đến nhà riêng Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Pháp là Marius Moutet ký tạm ước Việt – Pháp 14 tháng 9 năm 1946 với những điểm chính sau đây:
1. Quyền bình đẳng cho Pháp kiều ở Việt Nam cũng như Việt kiều tại Pháp;
2. Tài sản của người Pháp bị tịch thu sẽ được hoàn trả và quyền sở hữu được tôn trọng;
3. Đồng bạc Đông Dương lệ thuộc vào đồng franc Pháp;
4. Thiết lập hệ thống thuế quan và tự do mậu dịch cho các xứ Đông Dương;
5. Tái lập trật tự và ngưng bắn ở Nam Kỳ, trao đổi tù binh, và ngưng tuyên truyền kích động dân chúng.
Như vậy, Hiệp ước sơ bộ Việt-Pháp 6/3, có tới hai Hội nghị để triển khai hoạt động đều bị thất bại. Và, cả Tạm ước tạm ước Việt – Pháp 14 tháng 9 năm 1946 cũng chỉ tồn tại trên giấy. Sau sự kiện Hải Phòng, rồi Hà Nội và cuối cùng chiến tranh Việt-Pháp. Vậy là, quá trình tái lập Liên bang Đông Dương của Pháp cho đến gần cuối tháng 12 năm 1946, Pháp chỉ lập ra được 3 Quốc gia Tự trị trong số 5 lãnh thổ của Liên bang Đông Dương củ. Đó là: Chính quyền Quốc gia Miên Tự trị (7/1/46), Chính quyền Cộng hoà Nam Kỳ Tự trị (1/6/46), và Chính quyền Quốc gia Lào Tự trị (27/8/46).
Hai lãnh thổ Trung Việt Nam và Bắc Việt Nam, Pháp phải đương đầu với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh trong gần một thập kỷ. Sau Hiệp định Geneve 1954, đến năm 1955, thì Liên bang Đông Dương mới chính thức xoá sổ.
Sydney ngày 21 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 694 chữ)
Bài 216: CHUYỆN KỂ VỀ VÕ NGUYÊN GIÁP TRUY QUÉT CÁC ĐẢNG PHÁI VÀ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH VIỆT-PHÁP.
Lê Xuân Đỗ
Thực hiện Hiệp ước Pháp-Trung (28/2/46) và Hiệp ước Pháp-Việt (6/3/46), ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Ngày 19 tháng 6 năm 1946, Báo Cứu Quốc đảng Cộng sản đăng xã luận kịch liệt chỉ trích "bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3". Liền ngay sau đó Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập. Ngày 25/6/46, tướng Lư Hán rời Hà Nội về Tàu. Ngày 27/6/46, Các ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, và Vũ Hồng Khanh đào thoát sang Tàu.
Sáng sớm ngày 12/7/1946, một Đội Công an do Lê Hữu Qua chỉ huy, đột kích khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do nghi ngờ cấu kết với Pháp âm mưu đảo chánh Chính phủ VNDCCH. Đến 7 giờ sáng cùng ngày 12/7, Công an vụ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các ông Lê Giản Giám đốc Nha Công an Bắc Bộ, Nguyễn Tuấn Thức Giám đốc Công an Hà Nội, và Nguyễn Tạo Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương đột kích căn nhà số 7 phố Ôn Như Hầu trụ sở Việt Quốc bắt hơn 100 người trong đó có một đại biểu Quốc hội là Phan Kích Nam.
Ký Tạm ước 14 tháng 9 xong, Hồ Chí Minh lên đường về nước, chiều ngày 21/10 thì về đến Hà Nội. Ngày 28/10/46, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhóm họp (242/444 đại biểu dự họp) để nghe Hồ Chí Minh thuyết trình về “Tạm ước 14/9/1946”. Sau khi tán dương công đức, Quốc hội ủy Hồ Chí Minh thành lập chính phủ mới. Hồ Chí Minh giải tán Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, và thành lập “Chính phủ Liên hiệp Quốc dân” gồm: 4 Cộng sản (Minh, Giáp, Hiến, Tạo), 2 Dân chủ (Khoa. Hoè), 1 Việt Quốc (Phượng), 1 Việt Cách (Luật), 6 Không đảng (Kháng, Huyên, Trí, Nhơn, Tố và Hướng).
Ngày 6/11/46, Quốc hội biểu quyết phát hành giấy bạc Hồ Chí Minh. Ngày 9/11/46, Quốc hội chấp thuận Hiến pháp với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống. Ngày 14/11/46, Quốc hội tuyên bố đình chỉ thi hành Hiến pháp vừa chấp thuận, bầu một Ban thường trực để làm việc thay Quốc hội trong thời gian không nhóm họp. Sau sự kiện Hải Phòng (ngày 20-28/11/46), kế hoạch phòng thủ Hà Nội bắt đầu được chuẩn bị để chính phủ có thời gian sơ tán về các vùng núi lân cận.
Ngày 16/12/46, Cao uỷ Đông Dương D'Argenlie lệnh cho tướng Morlière phá các chướng ngại vật mà Việt Minh đã dựng trong thành phố Hà Nội. Hôm sau, Pháp ra tối hậu thư đòi chấm dứt việc dựng chướng ngại vật trên phố. Tiếp đó là tối hậu thư đòi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp duy trì an ninh trong thành phố. Ngày 18/12/46, Hồ Chí Minh và một số cơ quan trọng yếu lánh vào Tỉnh lỵ Hà Đông, và các vùng phụ cận Chùa Trầm.
Sáng 19/12/46, Hồ Chí Minh viết một bức thư ngắn, cử cố vấn ngoại giao Hoàng Minh Giám tới gặp Saintrny đề nghị đàm phán "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại". Sainteny từ chối gặp Hoàng Minh Giám. Chiều hôm đó (19/12/46), Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Ðảng mở rộng tại làng Vạn Phúc, Hà Nội, Hội nghị duyệt lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do ông ta viết, và thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo.
Thời điểm bắt đầu nổ súng được quyết định là 8 giờ tối ngày 19/12/1946. Đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, tại Hà Nội, công nhân nhà máy Điện Yên Phụ phá máy, 20 giờ 3 phút, đèn điện trong thành phố vụt tắt, ít phút sau, pháo binh Việt Nam từ pháo đài Láng bắn dồn dập vào Thành phố. Sau đó, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát trên Đài tiến nói Việt Nam, với lời thề quyết tử: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!".
Sydney ngày 22 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 795 chữ)
Bài 217: CHUYỆN KỂ VỀ TIÊU THỔ KHÁNG CHIẾN VÀ PHÁ HOẠI ĐỂ KHÁNG CHIẾN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 16/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh toàn dân thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, phá hoại để kháng chiến, trong đó có đoạn: “phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc cuả đồng bào, cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy”. Tại Bắc Bộ: chỉ riêng các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, dân các tỉnh đã phá hàng chục km đường tại các QL1, 2, 3, 5, 6,11. Cầu Việt Trì và cầu Phủ Lạng Thương bị phá sập. Toàn bộ nền và đường sắt tuyến Hà Nội - Mục Nam Quan, Yên Viên - Lào Cai cũng bị bóc dỡ.
Tại Trung Bộ, đã phá trên 10.700 km đường ô tô, 30 nghìn thước cầu các loại, trong đó có cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), cầu Yên Xuân, cầu Cấm ( Nghệ An)… và gần như toàn bộ tuyến đường sắt Hà Nội – Vinh; Huế - Quảng Nam đều bị phá. Tại Nam Bộ, các tuyến đường chính như QL1A Sài Gòn - Phan Thiết, Sài Gòn - Buôn Ma Thuột, Sài Gòn - Cà Mau, Biên Hòa - Long Thành, Xuân Lộc - Bà Rịa cũng bị phá.
Vài ghi nhận về kỹ thuật phá đường: trong khi ta chỉ có cuốc, xẻng thì Pháp lại có máy móc hiện đại. Đoạn đường Văn Điển – Hà Đông, quân và dân Việt Nam mất 1.400 công mới dựng xong được hàng rào cánh sẻ bằng thanh Ray và Tà vẹt, nhưng quân Pháp chỉ cần dùng xe Ủi húc trong vài giờ lại thông đường. Đoạn Ngả tư Sở - Văn Điển, hàng nghìn công nhân ngã cây chắn đường, thì quân Pháp chỉ cần 2 tiểu đội Công binh với mìn và máy cắt cây, xe ủi thì vài ba ngày đoạn đường lại bình thường. Trên nhiều đoạn đường nhân dân Việt Nam mất hàng ngàn ngày công đào hố, quân Pháp chỉ cần dùng mìn bạt hai đầu hố là xe lại di chuyển qua lại bình thường. (Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp)
Tại Thái Nguyên: “Tôi có được đi qua Thái Nguyên ba lần: Lần đầu tiên vào hồi Pháp thuộc với nhà cửa đồ sộ của nó. Dân chúng chắc ít người có thể tưởng đến ngày chiến tranh. Lần thứ hai tôi đến nhằm hôm trời nắng: Một đám người đương hì hụi phá nhà; Một tràng tiếng hoan hô giữa những tiếng cười, ai ai cũng sung sướng triệt để phá hoại. Một câu nói của một đồng chí làm tôi nhớ mãi: “Các anh em ơi! Cố lên, ngoài mặt trận các đồng chí đương hy sinh giết giặc, ở hậu phương ta cũng phải cố sức. Mỗi người một công việc. Ta nhất định sẽ thắng”… Lần thứ ba tôi đến sau tết độc lập 1947: đâu đâu cũng là đống gạch, không còn thấy một nhà gác nào nữa…
Đến giữa năm 1947, ở Thái Nguyên công tác phá hoại căn bản hoàn thành. Khung cảnh lúc đó và những gì đã diễn ra trên mảnh đất Thái Nguyên khiến cho một vị thuyết khách phương Tây là ông Paul Mus cũng phải bất ngờ. Cuộc gặp gỡ vào khoảng 22h ngày 11/5/1947 giữa Paul Mus (Pôn Muýt) và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn ra không được như mong đợi… Sau này, Pôn Muýt đã không ngại ngần bày tỏ sự khâm phục của mình: “Tôi vừa sửng sốt, vừa khâm phục… Những người dân đã tự tay phá sập nhà mình. Khó có sức mạnh nào khuất phục nổi một dân tộc có tinh thần hy sinh như vậy” (Trích cảm tưởng của Bác sỹ quân y Nguyễn Ngọc Huy. Tác giả Tố Hương sưu tầm).
Tại Thị xã Vinh, Sau khi lệnh “tiêu thổ kháng chiến” được đưa ra. Chỉ trong một thời gian ngắn, thị xã Vinh với nhiều công trình kiên cố được xây dựng từ sau năm 1989 như Nhà máy xe lửa Trường Thi, nhà máy điện, xí nghiệp sửa chữa ô tô, các cửa hiệu đã bị san phẳng…
Nhắc lại ngày đó, bà Tôn Nữ Thị Cúc chậm rãi kể: “…những ngày được ngồi sau xe của bố, một thầy giáo dạy ở Trường Cao Xuân Dục chở đi khắp thị xã để xem phố phường, thích nhất là mỗi lần được ra rạp Majestic để xem chiếu bóng. Gia đình tôi thời bấy giờ được xem là gia đình có của ăn của để, trong đó nổi bật nhất là chuỗi khách sạn Vinh delagare và một cơ ngơi hàng nghìn mét vuông gồm biệt thự và dãy nhà gỗ năm gian ở khu vực nhà A3, Quang Trung hiện nay… Tài sản một đời tích góp đó, chỉ trong một ngày rưỡi đã bị xóa sạch. Cả nhà tôi hơn mười người kéo nhau lên vùng Hưng Thắng (Hưng Nguyên) thực hiện lệnh di tản”.
Gia đình chủ xưởng ô tô Minh Tâm sau cách mạng Tháng 8, vừa xây xong ngôi nhà ba tầng khang trang, chưa kịp khánh thành thì lệnh tiêu thổ kháng chiến đưa ra, cả khu phố nhà giàu nổi tiếng đã bị xóa sạch cùng với các cửa hiệu buôn bán lớn như Ký Hai, Hàn Phượng, Bảo Nguyên, Vĩnh Hưng Tường… Cùng với tiêu thổ, quân dân thị xã Vinh cũng phá hoại các tuyến đường giao thông, hàng nghìn mét đường sắt, hàng chục phương tiện ô tô, đầu máy xe lửa cũng bị dỡ bỏ, ném xuống sông để ngăn cản tàu thuyền của địch hoạt động.
Trong thị xã một loạt hầm hào giao thông cũng được đào ngang xẻ dọc, các chiến lũy được dựng lên, chỉ một đoạn ngắn từ Thị xã Vinh đến Bến Thủy đã được đắp thành 31 ụ lớn… Qua 5 tháng thực hiện tiêu thổ kháng chiến, công nhân Vinh – Bến Thủy đã đóng góp được 45.7000 ngày công, phá dỡ được 1.335 ngôi nhà, trong đó có 31 nhà cao tầng, 300 toa xe lửa và 12 đầu máy … (Mỹ Hà).
5. Tại Phú Yên: Đêm đêm, Bình Kiến cử hàng trăm người mang xẻng, cuốc, xà beng, búa tạ phá quốc lộ 1, phá các cầu giao thông trong xã, đào hào sâu, hào chữ Z, chữ L dọc ngang, băm nát mặt đường, đổ các ụ đất, làm chướng ngại vật. Đường sắt đi ngang qua địa bàn xã cũng được tổ chức phá dỡ để triệt giao thông đường sắt, vừa có thêm nguyên liệu làm công sự chiến đấu, rèn đúc chế tạo vũ khí.
Hàng trăm thanh niên cùng hội viên các đoàn thể cứu quốc tham gia đập phá các nhà kiên cố ở Thị Xã Tuy Hòa như Bungalô, nhà ga xe lửa, Sở liên nông, đồn Ông Một, Nhà thương, Sở dây thép, xưởng rượu Ni-ca, và cả các nhà lầu kiên cố của dân như phòng ngủ Hòa Hưng, phòng ngủ Tân Hiệp, nhà Sáu Cò, nhà Nguyễn Tài Sý,… phụ giúp bà con người Hoa đập phá các ngôi nhà lầu của chính họ như nhà Dũ Khương, Dũ Ký, Ngũ Nghĩa.… Thứ Sáu, 09/11/2018 09:32 SA Thành Nam).
Sydney ngày 23 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.258 chữ)
Bài 218: CHUYỆN KỂ VỀ CHIẾN SỰ TĂNG DẦN VÀ TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG PHÁP-VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ Ở NHỮNG NĂM 1946-1949.
Lê Xuân Đỗ
TẠI HÀ NỘI. Sau 57 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng thành phố trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn và chênh lệch về vũ khí, đến đêm 17/2/1947, Tự vệ chiến đấu và Trung đoàn Thủ Đô (thành lập ngày 6 tháng 1 năm 1947) rút khỏi nội thành, Hà Nội hoàn toàn do Pháp kiểm soát. Đa số nhân dân Hà Nội và vùng ven cũng đã bỏ thành phố vượt sông Hồng tản cư lên phía Bắc, tạo thế "Vườn không nhà trống". Quân Pháp chiếm đóng thành phố Huế (7/2/47). Ngày 11/3/47, chiếm đóng Nam Định. 1/4/47, Nghị sĩ Emile Bollaert đến Sài Gòn nhân chức Cao Ủy thay thế D’ Argenlieu.
Ngày 12/4/47, tại Huế, Pháp thành lập một Ủy ban Chấp chánh Lâm thời, gọi là cơ quan Hành chánh Lâm thời để quản trị các vùng do Pháp chiếm đóng và kiểm soát cầm đầu bởi Trần Văn Lý. Ngày 15/4/47, quân Pháp chiếm đóng Hòa Bình. Ngày 17/4/47, chiếm đóng Chợ Bờ. Ngày 7/5/47, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp là Coste Floret tuyên bố: quân Pháp đã làm chủ các thành phố lớn và kiểm soát các đường giao thông lớn. Tổng số quân của Liên hiệp Pháp ở Đông Dương là 115.000 quân.
Ngày 19/5/47, tại Hà Nội Pháp thành lập một Ủy ban Hành chánh và Xã hội Lâm thời, gọi là Hội Đồng An Dân do Bác sĩ Trương đình Tri cầm đầu. (Bác sỉ Tri bị ám sát tại Hà Nội ngày 10/10/47). Ngày 25/5/47, quân Pháp chiếm đóng Quảng Trị. Ngày 17/6/47, Hồ Chí Minh lại kêu gọi dân chúng kiên quyết trường kỳ kháng chiến. Ngày 25/6/47, Pháp chiếm đóng Quảng Bình và Quảng Nam. Ngày 20/7/47, Hồ Chí Minh cải tổ Chính phủ Liên hiệp Quốc dân, trong đó có Bộ trưởng Không bộ Đặng Văn Hướng bị Việt Minh giết trong Cải cách ruộng đất.
Ngày 29/7/47, giáo sư Paul Mus, người được Cao uỷ Đông Dương Bollaert đến vùng núi Việt Bắc gặp Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh, từ Đông Dương về đến Pháp tuyên bố với báo chí “tình hình không khả quan” du kích chiến lan tràn khắp nơi, không thể bàn tới chuyện điều đình, vì “Việt Minh và Pháp không tin tưởng được nhau”. Ngày 10/9/47, Bollaert đọc diễn văn ở Hà Đông tuyên bố Pháp ưng thuận về nguyên tắc cho Việt Nam độc lập, và kêu gọi sự hưởng ứng của các “gia đình tinh thần Việt Nam”.
Sau khi hoàn thành việc chiếm đóng vùng đồng bằng, Pháp quyết định tiến công lên Việt Bắc để sớm kết thúc chiến tranh. Ngày 7/10/47, Pháp điều động 15 tiểu đoàn chia ra nhiều cánh hôm nay chiếm đóng Tông và Sơn Tây, Quốc vụ khanh Chính phủ, Uỷ viên thường vụ Quốc hội, Nguyễn Văn Tố bị địch phục kích vây bắn và hy sinh. Có một chi tiết đáng chú ý là cụ Nguyễn Văn Tố có thân hình mảnh dẻ và dong dỏng cao nên ban đầu quân đội Pháp nhầm tưởng ông là chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 13/10/47, quân Pháp chiếm đóng Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng phụ cận. Ngày 20/10/47, quân Pháp chiếm đóng Yên Báy. Ngày 21/10/47, chiếm đóng Chapa. Ngày 30/10/47, chiếm đóng Lao Kay. Quân Pháp tiến nhanh, nhưng không định vị được các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ, chỉ cắt đường số 4 và kiểm soát biên giới Việt Trung, cô lập An Toàn Khu Việt Bắc với thế giới bên ngoài.
Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch. Vũ khí thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp. Hoạt động du kích tại một số nơi ở đồng bằng gây khó khăn lớn cho Pháp. Có những hội tề tức chính quyền tại các làng xã do Pháp lập ra, nhưng lại hành động theo lệnh Việt Minh. Ở nhiều nơi, bộ đội Việt Minh vẫn tự do đi lại, tuyển quân, thu thuế.
Các vùng đồng bằng màu mỡ đông dân vẫn là nguồn cung cấp nhân lực, hàng hóa và lương thực lớn nhất cho Việt Minh. Dân chúng gánh thóc gạo từ vùng Pháp chiếm đóng đi đóng thuế cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại miền Trung Việt Nam, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát từ Hội An đến Mũi Đại Lãnh, gần như ngăn đôi đất nước. Ở miền Nam Việt Nam, Lực lượng của tướng Nguyễn Bình bị đẩy về các chiến khu trong vùng ngập mặn và rừng núi, họ còn luôn gặp sự chống đối của các giáo phái người Việt như Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên...
Một thoả thuận đạt được giữa chính phủ Pháp-Phạm Công Tắc, theo đó, Pháp trả tự do cho Hộ pháp Phạm Công Tắc rời khỏi nơi lưu đày Madagascar ở Phi châu trở về Việt Nam; Pháp sẽ trang bị, huấn luyện lực lượng vũ trang Cao Đài thành một Quân đội Cao Đài độc lập; Lãnh thổ do Toà thánh Tây Ninh kiểm soát có quyền tự trị. Đổi lại, Quân đội Cao Đài sẽ là một lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh… Phạm Công Tắc bổ nhiệm Trần Quang Vinh làm Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài với cấp bậc Trung tướng, Tổng hành dinh đặt tại Bến Kéo, Tây Ninh.
Sau khi giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ mất tích ngày 16/4/1947, Hòa Hảo cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ.Người Pháp nhân cơ hội, lôi kéo những người đứng đầu Hoà Hảo hình thành 4 nhóm vũ trang mới, cứ sở tại 4 vùng chống Việt Minh: (1) Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long); (2) Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc); (3) Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên); (4) Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).
Sau sự kiện xung đột giữa Nguyễn Bình và Bảy Viễn, thủ lãnh Bình Xuyên, Lê Văn Viễn và lực lượng Bình Xuyên của ông ta ra hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh. Tại Pháp, ngày 29/1/48, Chính phủ Pháp bắt giam Trần Ngọc Danh, trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Ba Lê. Ngày 1/12/48, các Vùng do quân đội Pháp kiểm soát ở Bắc Phần gồm: các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh kỵ Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng phụ cận. Ngày 12/7/49, quân Pháp chiếm đóng Đáp Cầu, và Phủ Lạng Thương. 16/10/49, Quân Pháp tiến vào Phát Diệm, Bùi Chu...
Tại Trung Quốc: Ngày 22/1/49, Cộng quân của Mao chiếm đóng Bắc Kinh, Bà Tống Mỹ Linh tức bà Tưởng Giới Thạch lại sang cầu viện Hoa Kỳ. Ngày 20/4/1949, Tàu Cộng tràn xuống Hoa Nam. Ngày 23/4/49, chiếm Nam Kinh. Ngày 25/9/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Hạ Ninh, 6 Quân đoàn quân Tàu Tưởng quy hàng. Ngày 1/10/49, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc. Ngày 29/11/49, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh gởi điện chúc mừng lẫn nhau.
Sydney ngày 24 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.321 chữ)
219: CHUYỆN KỂ VỀ XUNG ĐỘT GIỮA NGUYỄN BÌNH VÀ THỦ LĨNH BÌNH XUYÊN LÊ VĂN VIỄN.
Lê Xuân Đỗ
Sách Phật giáo Hoà Hảo trong lòng Lịch sử Dân tộc, viết: “Ngày 15/5/1948, Bảy Viễn nhận được một mật điện của Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Nam bộ (UBKCNB) mời “anh Bảy” Tư lịnh Liên khu Bình Xuyên đến chiến khu Đồng Tháp Mười dự họp. Ngày 28/5/48, phiên họp bắt đầu. Tướng độc nhãn Nguyễn Bình nói: Bây giờ ta xét đến vấn đề tổ chức quân sự và lãnh thổ. Từ khi đồng chí Bảy Viễn được bổ nhiệm làm Khu trưởng Chiến khu 7, đồng chí không còn là Tư lịnh Bình Xuyên hợp tác với kháng chiến nữa, mà là một Sĩ quan cao cấp của quân đội cách mạng.
Có nghĩa đồng chí phải tuân hành mệnh lệnh của Uỷ ban Kháng chiến Nam bộ, và Ủy viên Quân sự. Chúng ta không thể chống giặc mà không thống nhứt hệ thống. Mọi đặc điểm riêng không còn tồn tại nữa. Phía Bảy Viễn, một vị đại diện đứng lên xin nói: Tôi xin trình bày cho rõ một điểm. Tổ chức Bình Xuyên không đợi đến khi Trung tướng Nguyễn Bình tới chiến trường Nam Bộ mới bắt đầu chiến đấu. Từ ba mươi tháng nay, chúng tôi đã đánh nhau với Pháp và đã có hơn 300 chiến sĩ hy sinh tại các mặt trận.
Suốt 1.000 ngày chiến đấu đó, chúng tôi không hề nhận được của Cục quân nhu Việt Minh một hột gạo tiếp tế, một con cá khô hay một khảu súng, một viên đạn nào cả. Không một chiến sĩ Bình Xuyên nào được lãnh một xu lương bổng. Cả UBKCNB lẫn Quân ủy không ai cung cấp cái gì cho Bình Xuyên… Tướng Nguyễn Bình lạnh lùng nói: “Các đồng chí đã có Maurice Thiên và người Tàu Chợ Lớn tiếp tế tiền bạc và nhu cầu rồi”! “Đúng vậy, chúng tôi phải thâu thuế trong khu vực chúng tôi kiểm soát, cũng như các đồng chí thâu thuế trong khu vực do quý cơ quan kiểm soát”!
Nguyễn Bình tiếp: “Vậy đồng chí còn than phiền điều chi?” “Chúng tôi không than phiền, mà chỉ nói cho rõ vấn đề”. Tất cả chúng tôi đều tin tưởng nơi sự sáng suốt và lòng can đảm của đồng chí. Nhưng chúng tôi không hài lòng về cung cách đồng chí đối xử với Bình Xuyên chúng tôi, đồng chí không hề đề nghị giúp đỡ gì chúng tôi, mà chỉ hạ lịnh bắt chúng tôi phải thi hành. Tướng Nguyễn Bình cười gằn: Các đồng chí có tuân hành mệnh lệnh của tôi đâu, đồng chí hiểu chớ! Đồng chí nói sai rồi. Tất cả những nhiệm vụ mà đồng chí chỉ thị, chúng tôi đã thi hành trọn vẹn.
Chúng tôi chỉ từ chối sự kiểm soát của những chánh trị viên mà đồng chí gửi tới, đồng chí có hiểu lý do tại sao không? “Tôi muốn nghe đồng chí nói rõ” Lời của Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ chủ toạ! “Đây là sự thực. Chúng tôi nghĩ rằng các chánh trị viên không có gì để dạy dỗ chúng tôi. Chúng tôi đã ý thức cầm súng chiến đấu vì nền độc lập của tổ quốc, và để đòi tự do. Chúng tôi không chiến đấu cho một chế độ đảng trị, hay để củng cố uy quyền lãnh đạo đã nhẫn tâm tàn sát đồng đội một cách ác độc hơn là đối với quân thù”…
Tướng Nguyễn Bình đã đặt tay lên bá súng lục đeo bên hông gằn tiếng hỏi: “Đồng chí muốn ám chỉ ai?”. “Là đồng chí Nguyễn Bình” đúng vậy! Tướng Nguyễn Bình vụt rút súng ra khỏi vỏ. Phía bên Bình Xuyên, người chỉ huy đội hộ vệ cũng lên cò cây tiểu liên tự động Thomson, nhắm ngay vào Nguyễn Bình, xin “Trung tướng bình tĩnh lại”!!! Vị Chủ tịch UBKCNB nhìn người chỉ huy Bình Xuyên, thấy nét mặt cương quyết, ngón tay đặt sẵn trên cò “sẵn sàng nổ súng”. Ông ta run giọng can gián: Tất cả bình tĩnh lại. Chúng ta đều là anh em đồng chí cả… Không khí bớt nặng nề, đôi bên bỏ súng xuống.
Viên chủ tịch nói: “Đồng chí vừa phát biểu những điều kết tội, vậy đồng chí có thể chứng minh cho rõ trắng đen không”? Tức thì Bảy Viễn đứng lên tiến tới phía trước, bên hông đeo tòn ten khẩu súng lục, tôi xin nói. Và, Bảy Viễn nhìn thẳng về phía Nguyễn Bình: “Nếu tôi phải kể hết mọi tội ác mà đồng chí đã phạm đối với các chiến sĩ quốc gia, thì phải nói cả giờ đồng hồ mới hết. Tôi chỉ muốn nói đến một vụ: Tại sao đồng chí ám hại Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ”?
Nguyễn Bình nói: “Đó là kẻ lúc nào cũng mưu tính diệt Cộng Sản và cá nhân tôi, cho nên phải tiêu diệt”, Nguyễn Bình đáp! “Nói láo”. Bảy Viễn gầm lên. Nguyễn Bình cũng nổi giận đùng đùng. Chủ tịch UBKCNB phải can gián. Bảy Viễn lại lên tiếng: “Đồng chí tự tin bởi đồng chí nghĩ rằng kẻ khuất mặt không thể nói lên sự thật được. Nhưng còn tôi đây, tôi còn sờ sờ đây, thì tôi phải nói. Tôi kết tội đồng chí đã hai lần âm mưu ám sát chính tôi”. Nguyễn Bình bậm môi cười, phản công: “Không thể kết án vô bằng chứng như thế. Tôi thách đồng chí trưng bằng cớ ra đây”.
Bảy Viễn tiếp: “Đồng chí lầm rồi: Tôi đang nắm trong tay một bằng cớ còn hùng biện hơn là nhân chứng nữa. Đó là tài liệu do chính tay đồng chí Nguyễn Bình ký tên chỉ thị cho ban ám sát”… Bảy Viễn rút trong túi ra một mảnh giấy gấp tư, đã lấy được trong người của tên sát thủ năm 1947, và đặt tờ giấy đó lên mặt bàn. Nguyễn Bình lặng lẽ mở tấm giấy, nét mặt mờ đi, giận đến run lên. Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ cầm lấy tờ giấy, và chính ông cũng giận run. Một bầu không khí im lặng nặng nề đè trên phòng họp.
Viên Chủ tịch quay sang hỏi Nguyễn Bình: Có phải đây là chữ ký và con dấu của đồng chí không? Nguyễn Bình quay mặt đi, nghiến răng nói: “Chính hắn đã nhiều lần mưu sát tôi, đoàn hộ vệ của tôi đã chết về tay hắn”.Viên Chủ tịch nói nhỏ: Chuyện này quan trọng lắm, phải báo cáo về Trung Ương. Yêu cầu các đồng chí chờ tôi. Bảy Viễn không trả lời, từ từ đi ra khỏi phòng họp. Trên đường từ Đồng Tháp trở về Rừng Sát, Bảy Viễn và đoàn tùy tùng bị phục kích trong đêm tối. Nhưng Bình Xuyên đã đề phòng chuyện đó, cho nên họ đã thoát vòng phục kích của Trung đoàn 306 do chính Nguyễn Bình bố trí…
Sau lần đụng độ này, Bình Xuyên biết không còn cách nào cộng tác với Việt Minh được nữa, cho nên tìm cách liên lạc với Saigon, và ngày 17-6-1948, Lê Văn Viễn cùng toàn bộ binh sĩ Bình Xuyên về hợp tác với Chánh phủ Quốc gia thời Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân. Lê Văn Viễn được Tướng De la Tour gắn lon Đại tá.
Sydney ngày 25 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.279 chữ)
220: CHUYỆN KỂ VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM VÀ TÁI NHẬP NAM KỲ VÀO LÃNH THỔ VIỆT NAM.
Lê Xuân Đỗ
Chính quyền Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ thành lập ngày 1/6/1946, nhưng chính phủ Pháp, nhất là Cao uỷ D'Argenlieu chưa chịu trao quyền Tự trị cho Chính phủ, không cung cấp phương tiện, không tài chánh, không quân đội, không có cả trụ sở làm việc. Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh phải lấy phòng mạch riêng để làm việc của chính phủ. Ngày 10 tháng 11 năm 1946, cảm thấy mình bị người Pháp lợi dụng, người Pháp không thật lòng, Thủ tướng Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tự tử bằng cách thắt cổ, trên bàn viết gần đó có quyển sách thuốc còn mở ra ở trang nói về "Thắt cổ" (Pendaison).
Ngày 15/11/46, Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ nhóm họp, bầu ra vị tân thủ tướng. Bác sĩ Lê Văn Hoạch đắc cử với đa số phiếu gần như tuyệt đối. Cũng như người tiền nhiệm, chính phủ Lê Văn Hoạch không được Cao uỷ Pháp cung cấp phương tiện, và giao quyền hành. Đến tháng 9 năm 1947 thì Lê Văn Hoạch từ chức. Ngày 1/10/47, Tướng Nguyễn Văn Xuân được uỷ lập Chính phủ mới. Ngày 19 tháng 12 năm 1947, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân bay sang Hương Cảng yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại xác nhận ý định thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam, và mời Cựu hoàng ra chấp chánh.
Ngày 24/12/47 Cựu hoàng Bảo Đại sang Ba lê gặp Đại sứ Massihli. Ngày 7/1/1948, Emile Bollaert hội đàm với Cựu hoàng Bảo Đại tại Genève, kéo dài cho tới ngày 12/1/48. Hội đàm sẽ còn tiếp tục thêm nữa tại Vịnh Hạ Long. Ngày 30/1/48, Bollaert tuyên bố tại Sài Gòn “Pháp nhất định không điều đình với Hồ Chí Minh” nữa. Ngày 5/3/48, Cựu hoàng Bảo Đại từ Genève trở về Hồng Kông. Ngày 26/3/48, Cựu hoàng Bảo Đại trả lời các đại diện đảng phái và đoàn thể “ưng thuận về nguyên tắc lập một Chính phủ Lâm thời để điều đình với Pháp”.
Tháng 5 năm 1948, Chính phủ Cộng hoà Tự trị Nam Kỳ đổi tên thành chính phủ Nam Phần Việt Nam để xác nhận Nam Kỳ là một phần của Việt Nam. Ngày 15/5/48, Cựu hoàng Bảo Đại gởi thông diệp cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, tán thành việc thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam, do Thiếu tướng Xuân điều khiển, để giải quyết “vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận quốc tế”. Ngày 24/4/48, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu và một số nhân vật chính trị lại sang Hồng Kông gặp Cựu hoàng Bảo Đại.
Ngày 20/5/48, Một Hội nghị đại diện các đảng phái và các Phần trong nước, nhóm họp tại Sài Gòn gồm các ông: Đặng Hữu Chí, Hà Xuân Hải, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, Nguyễn Khoa Toàn, Trần Quang Vinh, Hà Xuân Tế, Lê Tấn Nẫm, Trần Thiện Vàng, Nguyễn Khắc Vệ, Đỗ Hữu Thinh, Phạm Văn Hai, Đỗ Quang Giai, Lương Danh Môn, Nguyễn Văn Tuế, Nguyễn Văn Tỵ, Ngô Quốc Côn, Nguyễn Thúc Loan, Phạm Đình Thuyên, Nguyễn Thức, Ngô Khánh Thực, Trương Vĩnh Tống, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Văn Dắn.v.v.
Sau khi nghe Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân giải bày và bức chiếu thư của Cựu hoàng Bảo Đại tất cả “kính cẩn đồng thanh hưởng Thánh ý” và bầu Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam. Cao ủy Pháp ghi nhận sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia. Ngày 5/6/1948, trên chiến hạm Duguay Trouin tại Hạ Long, công bố Tuyên ngôn Pháp-Việt, theo đó, Pháp long trọng thừa nhận Việt Nam độc lập và thống nhất.
Việt Nam tuyên bố gia nhập Liên hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết. Độc lập của Việt Nam là không giới hạn, ngoại trừ giới hạn trong Liên hiệp Pháp. Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân kêu gọi quốc dân đoàn kết, bày tỏ tinh thần với các quý bạn người Pháp. Ngày 14/6/48, Chính phủ Quốc gia ban hành Sắc lệnh số 5 tổ chức: Mỗi Phần thuộc một Tổng Trấn, có cơ quan Hành chánh, Hội nghị và ngân sách riêng. Tổng Trấn có chân trong Hội đồng Chính phủ.
Ngày 19/8/48, Quốc hội Pháp thảo luận về thỏa hiệp Vịnh Hạ Long. Nhiều quan điểm khác nhau, một vài đảng không chấp thuận. Ngày 25/8/1948, Bảo Đại báo cho phía Pháp biết ông sẽ không về nước nếu chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ không bị hủy bỏ. Yêu sách nầy, khiến một số Bộ trưởng ở Paris phát biểu: "thật sự ông ta đã bắt đầu bất chấp cả chúng ta", rằng Bảo Đại không phải là “một tên bù nhìn, một vua hộp đêm" như mọi người vẫn tưởng…Ngày 20/10/48, Leson Pignon được cử làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương thay Emile Bollaert.
Ngày 13/2/1949, Cựu hoàng Bảo Đại, Phó Thủ tướng Trần Văn Hữu hội đàm với Cao ủy Đông Dương Leson Pignon, và Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Coste Floret về vấn đề thỏa ước Việt-Pháp. Ngày 21/2/49, dự thảo Thỏa ước Việt-Pháp được gởi lên Hội đồng Chính phủ Pháp rà soát và bổ sung. Ngày 2/3/49 còn một vấn đề gay go nhất trong cuộc đàm phán là Quy chế Nam Kỳ, Chính phủ dự định lập một Hội nghị Địa phương Nam Kỳ để định đoạt số phận Nam Kỳ, đưa ra Hội nghị Liên Hiệp Pháp xét duyệt.
Ngày 8/3/1949, tại điện Elysée, trước sự hiện diện của Tổng thống Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại, một Thỏa ước Việt-Pháp được ký kết, theo đó, Pháp thừa nhận Việt Nam: Có tổ chức hành chánh riêng, tư pháp riêng, tài chánh riêng, quân đội riêng; Có quyền quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á; Pháp sẽ ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc; Việt Nam hứa sẽ tôn trọng quyền lợi kinh tế văn hóa của Pháp; Cho phép Pháp sử dụng các căn cứ quân sự; Cử đại diện vào Hội nghị, và Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp; Nam Kỳ sẽ tuỳ ý định đoạt số phận, nếu muốn tái nhập Việt Nam.
Đáng chú ý là Tổng thống Cộng hoà Pháp Vincent Auriol tái xác định bằng văn bản rằng: “Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ, dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế, không đưa ra bất cứ cản trở nào về việc Nam Kỳ sát nhập vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt)”.
Ngày 19/4/49, Hội nghị Địa phương Nam Kỳ gồm 26 Hội viên Pháp, 48 Hội viên người Việt nhóm họp chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là giải quyết việc “Nam Kỳ vẫn Tự trị hay sáp nhập nào Quốc gia Việt Nam”. Đến ngày 23/4/49, Hội nghị vẫn tranh luận gay go, trong khi đó thì Cựu hoàng Bảo Đại cho biết chỉ chịu về nước nếu “Nam Kỳ tái nhập vào Việt Nam”. Hoàng thân Bửu Lộc can thiệp nhân danh Cựu hoàng rằng “Nam Kỳ sẽ tuỳ ý tự quyết, nếu một ngày kia Việt Nam thay đổi mối liên hệ với Liên Hiệp Pháp.
Cuối cùng, ngày 24/3/49 Hội nghị biểu quyết với đa số phiếu “tái nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam”. Ngày 3/6/49 Quốc hội Pháp chuẩn y sự sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam. Ngày 14/6/49, tại Tòa Đô Sảnh, Cao Ủy Pignon và Cựu hoàng trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée. Sau đó, Cựu hoàng hiệu triệu quốc dân, tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được Tổng tuyển cử, và tạm giữ danh hiệu Quốc trưởng, để có một địa vị quốc tế hợp pháp, nhưng rồi ra quốc dân sẽ định liệu về Hiến pháp.
Sydney ngày 26 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.410 chữ)
221: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI THỦ TƯỚNG NGUYỄN VĂN XUÂN: 1948-1949.
Lê Xuân Đỗ
1948: Ngày 2/6/1948, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành Hiến chương Lâm thời, gọi là Pháp quy Lâm thời (Statut provisoire): Quốc kỳ: cờ vàng ba sọc đỏ; Quốc ca: Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước; Hội nghị Lâm thời Việt Nam: sẽ do Chính phủ chỉ định; Mỗi Phần do một Tổng Trấn cai trị, và có Hội nghị Lâm thời địa phương (sắc lệnh số 3). Ngày 14/6/48, chính phủ ban hành Sắc lệnh số 5 tổ chức: Mỗi Phần thuộc một Tổng Trấn, có cơ quan Hành chánh, Hội nghị và ngân sách riêng. Tổng Trấn có chân trong Hội đồng Chính phủ.
Ngày 25/6/48, chính phủ ban hành Sắc lệnh số 6, lập “Tối cao Tư vấn Viện” gồm một số Tổng trưởng, chủ tịch các Hội nghị, và một số nhân sĩ giúp Thủ tướng điều hành Chính phủ. Ngày 2/7/48, Thiếu úy Vệ binh Nam Phần Nguyễn Khánh được thăng Trung úy, và Sĩ quan tập sự Trần Thiện Khiêm được thăng Thiếu úy. Ngày 4/7/48, các Phủ Tổng Trấn được thiết lập tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ngày 16/7/48, thành lập các các Tòa án đệ nhị cấp (Nghị định số 5). Ngày 19/7/48, Tổng trấn Trung phần, lập trại An trí những người có hại cho an ninh quốc gia.
Ngày 20/7/48, Đại úy Lê Văn Tỵ được bổ Chánh Võ Phòng của Thủ tướng, Trung úy Trần Tử Oai Phó Võ Phòng, Trung úy Trần Văn Đôn Trưởng Phòng An Ninh. Ngày 2/8/48, Sắc lệnh số 48/SG thiết lập một “Ty Giám đốc Cảnh sát và Mật thám Quốc gia”. Ngày 11/8/48, Cai trị viên Pháp André Bauvais bổ làm Đổng lý Văn phòng Thủ tướng, Đổng lý thứ hai là Thái Lập Thành. Ngày 23/8/48, Chỉ Dụ 63/SG Thủ lãnh Bình Xuyên Lê Văn Viễn được đồng hóa Đại tá tạm thời, và đặt thuộc quyền Phó thủ tướng Tổng Trần Nam Phần Trần Văn Hữu.
Ngày 8/10/48, một kỳ thi Trung học đệ nhất cấp được mở tại Hà Nội vào ngày 28/10/48. Ngày 22/10/48, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trợ cấp 100.000$ cho nạn nhân trận bảo ở Bắc phần. Ngày 11/11/48, Hộ pháp Phạm Công Tắc, giáo sư Trương Vĩnh Tống, Hà Xuân Hải, và cựu Tổng đốc Vũ Ngọc Oánh được cử vào Tối cao Tư vấn Viện. Ngày 1/12/48, một Trường Võ Bị đào tạo Sĩ quan Hiện dịch Việt Nam được thiết lập tại Huế. Ngày 20/12/48, một kỳ thi Tú tài Việt Nam đươc tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn.
1949: Ngày 14/2/49, Các bệnh viện Hà Nội và Nha bào chế Trung ương được trả lại cho Bộ Y tế Việt Nam. Ngày 8/3/49, thành lập một Uỷ ban để nghiên cứu quy chế công chức Việt Nam. Ngày 21/4/49, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành Sắc lệnh số 66/SG kể từ ngày 1/5/49, Vệ Binh Nam Việt (thành lập tháng 10 năm 1946); Việt Binh Đoàn Trung Việt (thành lập tháng 4 năm 1947); Bảo Chính Đoàn Bắc Việt (thành lập tháng 7 năm 1948) được cải đổi, mang tên mới “Vệ Binh Việt Nam Nam Phần”; “Vệ Binh Việt Nam Trung Phần”; “Vệ Binh Việt Nam Bắc Phần”.
Cùng ngày 21/4/49, bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội được giao về cho chính phủ Việt Nam. Ngày 24/4/49, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, và nhiều nhân vật chính trị sang Singapore đón Cựu hoàng, và ngày 28/4/1949, Cựu hoàng Bảo Đại về tới Đà Lạt. Ngày 4/5/49, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân đươc thăng Trung tướng vì đã có công trạng “đặc biệt với Pháp và Việt Nam”. Ngày 30/5/49, tại Ba Mê Thuột, nhiều đại diện sắc dân sơ cước làm lể tuyên thệ trung thành với Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 3/6/49 Quốc hội Pháp chuẩn y việc sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam.
Ngày 10/6/49, Các Bệnh viện Phủ Doãn (Yersin) Bạch Mai, Nhà thương chữa mắt Hà Nội được tổ chức thành một Liên đoàn Bệnh viện thuộc Bộ Y tế. Ngày13/6/49, Cựu hoàng Bảo Đại từ Đà Lạt về Sài Gòn. Ngày 14/6/49, tại Tòa Đô Sảnh, Cao Ủy Pignon và Cựu hoàng trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée. Sau đó, Cựu hoàng hiệu triệu quốc dân, tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức Tổng tuyển cử, và tạm giữ danh hiệu Quốc trưởng, để có một địa vị quốc tế hợp pháp, nhưng rồi ra quốc dân sẽ định liệu về Hiến pháp.
Ngày 16/6/49, Phủ Toàn quyền củ ở Hà Nội được trả về Việt Nam, thành “Biệt Điện Quốc trưởng”. Ngày 1 tháng 7 năm 1949, chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam tấn phong Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn xin từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố tạm kiêm nhiệm chức Thủ tướng, và cử nguyên Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng.
Sydney ngày 27 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 880 chữ)
222: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI KIÊM NHIỆM THỦ TƯỚNG: 1949-1950.
Lê Xuân Đỗ
1949: Cùng ngày 1/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành hai Đạo Dụ: Dụ số 1 “Tổ chức và điều hành các Cơ quan Công quyền Việt Nam khi chưa có Hiến Pháp". Dụ số 2 “Ấn định quy chế Công sở, Chính quyền địa phương”. Sẽ triệu tập Quốc hội Lập hiến; Quốc trưởng tạm thời giữ quyền Lập pháp, ban bố các Đạo Dụ, và giữ quyền Hành pháp ở cương vị Quốc trưởng; Chánh phủ do Quốc trưởng bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Quốc trưởng; Một Hội đồng Tư vấn Quốc gia sẽ được thiết lập, gồm 45 nhân vật do Quốc trưởng bổ nhiệm; Quốc gia Việt Nam gồm có ba phần: Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt.
Mỗi Phần có Ngân sách riêng, có tư cách Pháp nhân, do một Thủ Hiến cai trị, Thủ Hiến do Quốc trưởng bổ nhiệm; Sẽ lập một Viện Giám sát để kiểm soát Hành chánh; Trụ sở chính thức của Quốc trưởng là Sài Gòn. Ngày 3/7/49, Quốc trưởng bổ nhiệm: Thủ Hiến Bắc Việt: Nguyễn Hữu Trí; Thủ Hiến Trung Việt: Phan Văn Giáo; Thủ Hiến Nam Việt: Trần Văn Hữu. Ngày 12/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại về Huế. Ngày 14/7/49, Quốc trưởng hiệu triệu quốc dân, súng cồi từ đâu bắn nhiều phát vào thành phố Huế. Ngày 16/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại tới Hà Nội, tuyên bố chính sách của chính phủ.
Ngày 17/7/49, đại diện các sắc dân Sơn cước miền Bắc làm lể tuyên thệ trung thành với Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 18/7/49, Quốc trưởng ký Sắc lệnh 52/QT thành lập Viện Giám sát để kiểm soát Hành chánh; Trụ sở chính thức của Quốc trưởng là Sài Gòn. Ngày 19/7/49, Hội đồng Nội các họp phiên đầu tiên tại Hà Nội. Ngày 20/7/49, tại Biệt Điện, Quốc trưởng chủ tọa lể tựu chức Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Ngày 4/8/49, tại Sài Gòn, Quốc trưởng chủ tọa lể tựu chức Thủ hiến Nam Việt Trần Văn Hữu. Ngày 27/8/49, ấn định chương trình giáo dục Tiểu học (N.D 4/ND/GD).
Ngày 5/9/49, ấn định chương trình giáo dục Trung học (N.D 9/ND/GD). Ngày 9/9/49, một Hội Cấp tế nạn nhân chiến tranh Bắc Việt được thành lập để giúp đở đồng bào hồi cư. Ngày 12/9/49, ấn định chương trình Giáo dục tráng niên (N.D 14/ND/GD). Ngày 19/9/49, Chức chưởng của các Tổng và Bộ trưởng được ấn định trong một sắc lệnh đươc ký ngày hôm nay. Ngày 26/9/49, Nghị định (2.265/THP) thành lập Bảo chính Đoàn tại Bắc việt thay Nghĩa Dũng Binh của phủ Tổng Trấn củ. Sĩ quan của Bảo chính Đoàn thì gọi là Phó Đốc quân, Đốc quân, và Chánh Đốc quân.
Ngày 28/9/49, Quốc trưởng Bảo Đại ra Bắc thăm nhiều tỉnh. Ngày 14/10/49, Một Uỷ ban điều tra được thiết lập tại Bộ Nội vụ để xét lại hồ sơ của những công chức bị thải hồi sau ngày Nhật đảo chánh 9/3/1045. Ngày 18/10/49, Quốc trưởng ban hành Dụ số 4 tổ chức “Tư pháp và Tòa án Việt Nam”, và Dụ số 5 thành lập “Tối Cao Pháp Viện” và tổ chức Tư pháp và Tòa án Việt Nam”. Ngày 16/11/49, chỉ thị 331/QT của Quốc trưởng, công chức không được phép tuyên bố về chính trị. Ngày 1/12/49, từ 3 tháng nay giá gạo tăng vọt tới 600$ 1 tạ.
Phủ thủ hiến Bắc Việt đã can thiệp với chính phủ và yêu cầu chở gạo Nam phần ra Bắc bán cho dân chúng. Ngày 9/12/49, Du thuyền Hương Giang của Quốc trưởng Bảo Đại chở 300 tạ gạo từ Nam ra Bắc, giá gạo tại Hà Nội từ 600$ giảm xuống còn 400$ mỗi tạ. Ngày 12/12/49, Sắc lệnh 90/NV thành lập Ủy ban nghiên cứu các vấn đề “Tổ chức Hành chánh và Phân quyền địa phương. Ngày 24/12/49, một quỷ danh dự được thiết lập tại Bắc Việt để cho vay và khuyến khích tái lập công nghệ, canh nông. Ngày 29/12/49, Sắc lệnh số 96/GD, Cải tổ Học chính Việt Nam.
1950: Theo đó, bải bỏ bậc Cao đẳng Tiểu học, chỉ đề ra ba bậc học: Tiểu, Trung, và Đại học. Mỗi bậc đều có Ban Phổ thông, và Ban Chuyên nghiệp. Trung học, và Đại học thuộc Bộ Giáo dục; Tiểu học thuộc các Phủ Thủ Hiến về Hành chánh và thuộc Bộ về Chuyên môn. Ngày 4/1/50, Nghị định số 1/NĐ/GD, thành lập Trường Đại học Văn khoa tại Hà Nội. Và, Nghị định số 2/NĐ/GD, thành lập Sở Bảo tồn Di tích Việt Nam. Ngày 5/1/50, Quốc trưởng ký Dụ cố 2, thành lập một Tòa án Hành chánh chung cho cả nước tại Sài Gòn.
Cùng ngày, Quốc trưởng ban Sắc lệnh cử nhiệm một Phái đoàn Nghị sĩ Việt Nam tại Hội nghị Liên Hiệp Pháp, lớp đầu có 12 vị: Phạm Văn Bính, Bùi Thế Phúc, Trần Văn khá, Đỗ Hữu Tinh, Bửu Kính, Nguyễn Hữu Tuân, Nguyễn Huy Lai, Trần Văn Tuyên, Hà Văn Lan, Nguyễn văn Tỵ, Tôn Thất Cẩn, Trần Thiện vàng. Các Nghị sĩ lãnh Phụ cấp của Chính phủ Việt Nam, và lương bổng do Pháp trả.
Sydney ngày 28 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 917 chữ)
223: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, THỜI THỦ TƯỚNG NGUYỄN PHAN LONG: 1950.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 6/1/50, Ngoại trưởng Nguyễn Phan Long được Quốc trưởng Bảo Đại uỷ nhiệm thành lập Chính phủ. Ngày 21/1/50, Thủ tướng Nguyễn Phan Long trình diện Nội các lên Quốc trưởng tại Đà Lạt. (Sắc lệnh số 6/QT ngày 21/1/50). Ngày 9/1/50, Học sinh biểu tình ở Sài Gòn, Cảnh binh bắn chết trò Ơn, và trên 50 người bị thương trong các vụ xô xát. Ngày 16/1/50, Nghị định số 102/TTP, thành lập “Việt Nam Văn hóa Hiệp Hội”. Ngày 24/1/50, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội gặp Đại sứ Hoa Kỳ Jessup, rồi đi thăm các tỉnh miền Bắc có cả Lạng Sơn và Lai Châu.
Ngày 26/1/50, tỉnh Bắc Ninh đổi thành tỉnh Gia Lâm, tỉnh Bắc Giang đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Ngày 1/2/50, Sắc lệnh 10/TP, thiết lập ngành Thẩm phán Việt Nam, từ cấp Hòa giải, Sơ cấp, đến Thượng thẩm. Ngày 9/2/50, Quốc trưởng ký Dụ số 3, cho phép Thủ tướng, Bộ trưởng có quyền trưng tập những cá nhân cần thiết trong 6 tháng, hết hạn có thể trưng tập thêm. Ngày 21/2/50, Thủ hiến Bắc Việt ký Nghị định 471/THP thiết lập tạm thời mỗi Thị Xã một Hội đồng Quản trị, từ 6-12 Hội viên do Tỉnh trưởng chủ tọa. Ngày 24/2/50, nhiều Tòa án được Pháp chuyễn giao cho Việt Nam.
Rất đông người tấp nập hồi cư về Hà Nội và các tỉnh lỵ sau ngày quân Pháp chiếm đóng Thái Bình. Ngày 27/2/50, Dược sĩ Thẩm Hoàng Tín được cử làm Thị trưởng Hà Nội. Ngày 10/3/50, Sở Cảnh sát được chuyển giao cho Việt Nam, nhưng việc tình báo chống Cộng vẫn thuộc cơ quan An ninh Pháp. Ngày 14/3/50, thiết lập trường Huấn luyện Bảo chính đoàn. Ngày 19/3/50, tại Sài Gòn có nhiều đám biểu tình chống Mỹ, nhưng bị giải tán, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị bắt. Ngày 22/3/50, Khu Phát Diệm-Bùi Chu giữ tổ chức tự trị, không chịu thuộc quyền Thủ hiến Bắc Việt.
Ngày 4/4/50, Thủ hiến Phan Văn Giáo được cử kiêm nhiệm Tổng Thanh Tra Quân đội Quốc gia Việt Nam với hàm Trung tướng. Ngày 5/4/50, một Hội đồng gồm các Tổng, Bộ trưởng được thành lập, để nghiên cứu “Quy chế Công chức Việt Nam”. Ngày 11/4/50, Quốc trưởng triệu tập một Hội nghi Quân sự tại Đà Lạt để thống nhất các lực lượng vũ trang. Ngày 15/4/50, Quốc trưởng ban hành Dụ số 6, quy định các Tỉnh có nhiều sắc dân Sơn cước trước thuộc Triều đình như Haut-Donnai, Lang-Bian, Pleiku, Darlac, Kontum, Phong-Thổ, Lạng-San, Hà-Giang, Lao-Kay, Bắc-Cạn, Cao-Bằng, Hòa-Bình, Hải-Ninh, nay trực thuộc Quốc trưởng Bảo Đại.
Các Cố vấn, Công chức thuộc các tỉnh kể trên được lưu dụng, và sẽ có quy chế riêng. Ngày 24/4/50, Nghị định số 59/NĐ của Thủ tướng thành lập một Nha Tổng Giám Đốc Cảnh sát và Công an Quốc gia, mỗi Phần có một Sở Cảnh sát Công an, nhưng với một Phó Giám đốc mà thôi. Ngày 29/4/50, thành lập Hội Bảo trợ Đồng bào Hồi cư tại Bắc Việt. Ngày 2/5/50, quân Pháp chiếm đóng Phủ Lý và tỉnh lỵ Ninh Bình. Ngày 27 tháng 4 năm 1950, Quốc trưởng Bảo Đại giải thể Chính phủ Nguyễn Phan Long và uỷ nhiệm Thủ hiến Trần Văn Hữu thành lập Chính phủ
Sydney ngày 29 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 501 chữ)
224: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI THỦ TƯỚNG TRẦN VĂN HỮU: 1950-1952.
Lê Xuân Đỗ
1950: Ngày 30/4/50, Trần Văn Hữu lập xong Chính phủ, và ngày 6/5/50, Thủ tướng Trần Văn Hữu trình diện Nội các lên Quốc trưởng ở Đà Lạt. Ngày 11/5/50, Thủ hiến Bắc Việt ra lệnh cấm đưa bà con, họ hàng vào các Công sở (thông tư số 13/VP7PTH). Ngày 12/5/50, ngoại trừ các công văn giao thiệp với nhà chức trách Pháp, tất cả các công văn khác phải dùng tiếng Việt. Ngày 17/5/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Y tế Thế giới. Ngày 3/6/50, tái lập tỉnh Hà Nam. Ngày 4/6/50, Tổng trưởng Giáo dục Vương Quang Nhường bị kẻ lạ mặt bắn bị thương nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng.
Ngày 9/6/50, Quốc trưởng ban Dụ số 6, trao cho Thủ tướng Trần Văn Hữu đặc quyền trong 6 tháng ban hành các biện pháp đối phó với các hoạt động có hại cho an ninh. Ngày 14/6/50, Sở Liêm phóng và Cảnh sát Pháp tại Hà Nội được chuyển giao cho Thủ hiến Bắc Việt. Ngày 17/6/50, Tổng trưởng Tài chánh Nguyễn Trung Vinh được bổ làm Thủ hiến Nam Việt. Ngày 20/6/50, Việt Nam được gia nhập “Tổ chức Lao động Quốc tế”. Cùng ngày Quốc trưởng và Thủ tướng sang Pháp để theo dỏi cuộc đàm phán Liên Quốc sắp họp.
Ngày 3/7/50, nhiều vụ khủng bố xẩy ra tại Sài gòn, Chợ Lớn. Ngày 12/7/50, Cảnh sát Sài Gòn bắt được một tổ khủng bố hơn 30 người. Ngày 14/7/50, Quốc trưởng ký Dụ số 9 ban hành “Quy chế Công chức” gồm 10 chương, 105 điều khoản: tổng tắc, tổ chức, tuyển bổ ngạch quốc gia, lương bổng và phụ cấp, tập sự, thực thụ, thăng thưởng, kỷ luật. Ngày 25/7/50, Cảnh sát, Công an Sài Gòn, khám phá ra một tổ chức “kinh tài Việt Minh” bắt giữ nhiều người. Ngày 25/7/50, thiết lập Hoàng triều Cương thổ miền Nam gồm Darlac, Kontum, Pleiku, Lâm Viên, Đồng Nai thượng.
Ngày 6/8/50, Quốc trưởng ký Dụ số 10, ban hành Thể lệ lập Hội: phải xin phép trước; tư cách pháp nhân hạn chế; sẽ có thể lệ đặc biệt cho các Hội truyền giáo Thiên chúa-Gia tô, và Hoa kiều Lý sự vụ. Ngày 15/8/50, Quốc trưởng Bảo Đại ký Dụ số 10a và 10b đặt ra hai loại Bảo quốc Huân chương, và Anh dũng Bội tinh. Ngày 17/8/50, Cảnh sát, Công an Nam Việt bắt trên 1000 người để trừ khủng bố tại Sài Gòn-Chợ Lớn. Ngày 22/8/50, Cảnh sát, Công an bắt 30 người khủng bố tại Hà Nội. Ngày 12/10/50, một trường Thiếu Sinh Quân được thiết lập tại Hà Nội.
Ngày 5/11/50, khánh thành trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Cùng ngày, Hội nghi quân sự tại Đà Lạt phía Pháp có Bộ trưởng Quốc phòng Letoureneau, tướng Jiun; phía Việt Nam có Quốc trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Trần Văn Hữu, Trung tướng Phan Văn Giáo đi đến quyết định: Thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam 115.000 người với quân trang và võ khí Mỹ; Pháp cho mượn Sĩ quan trong giai đoạn đầu; kinh phí do Ngân sách Việt Nam và Mỹ đài thọ. Ngày 11/11/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Lương Nông Quốc tế.
Ngày 14/11/50, Thành phố Đà Lạt được chuyễn giao cho Chính phủ Việt Nam, Bác sĩ Trần Đình Quế được bổ làm Thị trưởng. Ngày 16/11/50, thành lập một trường Cao Đẳng Sư Phạm tại Hà Nội. Ngày 25/11/50, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội họp bàn việc Phòng thủ Bắc Việt. Ngày 6/12/50, Tổng nha Thanh tra Thanh tra Lao động, được thành lập tai Phủ Thủ tướng. Ngày 8/12/50, Việt-Pháp ký Hiệp ước về quân sự, từ nay quân đội Việt Nam thuộc hẳn quyền Quốc trưởng Bảo Đại, nhưng có Cơ quan Liên lạc với Quân đội Liện Hiệp Pháp.
1951: Ngày 9/12/50, tại Sài Gòn lễ ký kết Phụ ước thi hành Hiệp định quân sự Việt- Pháp. Ngày 21/12/50, Phủ Thủ hiến Bắc Việt ra thông cáo khuyên dân chúng bình tĩnh trước tình thế. Ngày 19/2/51, Quốc trưởng Bảo Đại ra Huế làm lể ở Thái Miếu, tuyên bố đoàn kết các lực lượng Quốc gia, và hợp tác thân thiện với Pháp. Ngày 21/1/51, Quốc trưởng Bảo Đại giải tán Chính phủ, nhưng vẫn ủy Thủ tướng Trần Văn Hữu lập Chính phủ mới. Ngày 22/1/51, Việt Nam Thông tấn xã được tổ chức thành cơ quan tự trị; Xuất bản mỗi ngày hai bản tin của Việt Nam Thông tấn xã và của hảng A.F.P.
Ngày 27/1/51, Nghị định 465/NĐ/PTH tái lập tỉnh Ninh Bình. Ngày 30/1/51, kể từ ngày nầy Sĩ quan Quân đội Việt Nam có Quy chế riêng, y phục và lương bổng riêng. Ngày 21/2/51, Trần Văn Hữu trình danh sách Nội các mới lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận. Ngày 23/2/51, Quốc trưởng Bảo Đại gởi thông điệp yêu cầu Chính phủ tổ chức Hội nghị Tư vấn Quốc gia, và Hội nghị các Địa phương. Cũng ngày 3/3/51 nầy Việt Nam đã thành lập xong 26 Tiểu đoàn. Ngày 2/4/51, thành lập một Đoàn Vệ binh Miền nam Trung Việt (NDD28/CP).
Ngày 11/4/51, Quốc trưởng Bảo Đại tăng tiền cấp dưởng cho một số người Hoàng tộc: Vua Thánh Thái và gia quyến 10.000$ một tháng; Quả phụ vua Hàm Nghi và các con 900.000 quan một năm; bà Vương phi vua Thành Thái 1.500$ mỗi tháng; mỗi con vua Duy Tân 200$ mỗi tháng; hai bà Công chúa 1.000$ mỗi tháng. Ngày 12/4/51, Ngân sách ba Phần được chuẩn y: Bắc Việt 295.000.000$ (1949), 815.000.000$ (1950); Trung Việt 247.000.000$ (1949); Nam Việt 683.013.500$ (1950). Ngày 19/4/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 6 quy định “Quy chế tạm thời ngành Hàng Hải”.
Cũng ngày 19/4/51 nầy, Thủ tướng Trần Văn Hữu cùng Cao ủy tướng De Lattre tới viếng mặt trận Vĩnh-Phúc-Yên, De Lattre tuyên bố dùng võ lực để kiện toàn độc lập cho Việt Nam chớ không phải để hạn chế chủ quyền Việt Nam; Thủ tướng Hữu cũng tuyên bố “Việt Minh là kẻ thù của Dân tộc, sẽ cương quyết chống Cộng và tin tưởng ở nước Pháp. Ngày 6/5/51, Bác sĩ Trần Văn Đôn, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Anh Quốc trình Ủy nhiệm thư lên Anh Hoàng. Ủy nhiệm thư do Quốc trưởng Bảo Đại ký với sự thỏa hiệp của chủ tịch Liên Hiệp Pháp.
Ngày 11/5/51, vài giờ sau vụ ông Haaz, Thanh tra Mật thám Pháp tại Đà Lạt, bị hạ sát, Phó Thanh tra Jumeau đòi Thị Trưởng Trần Đình Quế giao cho y 14 tù binh và 6 nữ cán bộ bị giam, Giám đốc Công An Việt Nam đi vắng, Jumeau cho bắn hết cả 20 người. Ngày 13/5/51, Quốc trưởng Bảo Đại huyền chức Thị trưởng Trần Đình Quế. Ngày 15/4/51, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Bộ Quân luật Việt Nam (Dụ số 8). Ngày 21/5/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 16/QT/TD quy định riêng cho các Sắc dân Sơn cước tại Hoàng triều Cương thổ Miền Nam; sẽ có một Hội đồng Kinh tế Xã hội, các tòa án Phong tục, kế hoạch phát triển thích hợp.
Ngày 6/6/51, Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa lể Kỷ niệm long trọng ngày Thống nhất Việt Nam trước Đại diện các Phần, các Sắc dân. Mỗi Đại diện dâng một ít đất địa phương, Quốc trưởng trộn chung lại cho vào một chiếc bình để đặt trên “bàn thờ Tổ quốc”. Cùng ngày 6/6/51, Chính phủ ban hành Nghị định 264/Cab/SG thiết lập tỉnh Bùi Chu gồm các quận của tỉnh Nam Định củ: Hải Hậu, Giao Thủy, Xuân Trường, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Nam Trực. Ngày 9/6/51, Thủ hiến Bắc Việt ban hành Nghị định 2965/THP chỉ rõ các Quận Quản Oai, và Bất Bạt thuộc tỉnh Phú Thọ được sát nhập tỉnh Sơn Tây.
Ngày 13/6/51, từ kết quả cuộc “hành quân Sứa Biển-Mesduse”, Thủ hiến Bắc Việt thiết lập Khu Bình định Vĩnh Ninh gồm một phần Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Phụ Dực, Đồng Quan, một Đại diện Thủ hiến được cử để lo việc bình định. Ngày 15/6/51, Thủ tướng chính phủ ký Nghị định 291/Cab/SG thiết lập Quốc gia Kiến ốc cuộc để xây nhà rẻ tiền bán cho dân chúng. Ngày 20/6/51, theo dự liệu hôm nay Việt-Mỹ ký “Hiệp định viện trợ Kinh tế”, nhưng Cao ủy Pháp đòi hoãn viện cớ chưa có thỏa hiệp của Thượng Hội đồng Liên Liệp Pháp, được ghi tại Thỏa ước 8/3/49.
Ngày 25/6/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 9, Không quân Việt Nam chính thức thành lập kể từ 1/7/51. Ngày 11/7/51, tại buổi lể phát thưởng tại trường Trung học Chassloup Laubat, De Lattre kêu gọi thanh niên Việt Nam nên có thái độ rõ rệt trước thời cuộc. Ngày 15/7/51, Quốc trưởng ký Dụ số 12, ban bố “Chế độ Quân dịch”; tất cả các phương tiện và tài nguyên được huy động; các Y sĩ được trưng dụng. Ngày 20/7/51, Trần Văn Lý được cử Thủ hiến Trung Việt thay Phan Văn Giáo.
Ngày 27/7/51, Thủ tướng ban hành Nghị định số 9/ND/PTT, tư nhân có thể bị trưng dụng vì nhu cầu Quốc phòng; dân số được kiểm tra lại: 60.000 người sẽ được gọi nhập ngũ; trong hạn tuổi từ 16 đến 60 có thể được động viên hoặc trưng tập; các Y sĩ, Dược sĩ, Chuyên viên cũng vậy; thanh niên từ 18 đến 28 tuổi có bằng Cao đẳng Tiều học trở lên sẽ theo học các lớp Sĩ quan Trừ bi. Ngày 7/8/51, Cấm xuất ngoại trong thời kỳ kiểm tra thanh niên. Một trường Quân y được mở tại Hà Nội. Ngày 28/8/51, Hội đồng các Thủ hiến họp tại Sài Gòn để ấn định thể thức gọi nhập ngũ 15.000 thanh niên.
Ngày 16/10/51, có hơn 15.000 thanh niên gọi nhập ngũ, thụ huấn cấp tốc 2 tháng, 1.000 người có bằng Trung học đệ nhất cấp trở lên theo học Trường Sĩ quan Nam Định, và Trường Sĩ quan Thủ Đức. Ngày 8/11/51, hai trại Tân binh mới được thiết lập ở Bắc Ninh và Quảng Yên, mỗi nơi có khả năng Huấn luyện 3.000 người. Ngày 22/11/51, Tòa án Quân sự được thiết lập tại Sài Gòn (SL79/QP). Ngày 10/12/51, thiết lập Khâm mạng tại “Hoàng Triều Cương Thổ miền Bắc”, Nguyễn Văn Tâm Tổng trưởng An ninh, kiêm Thủ hiến Bắc Việt được cử Đại diện Quốc trưởng Bảo Đại tại các Tỉnh Sơn cước (SL24/QT/TD).
1952: Ngày 12/2/52, lương bổng, phụ cấp và dịch vụ của các Thủ hiến: lương 14.000$; Giao tế phí 8.000$. 2 tài xế, 2 bồi, 1 bếp, 1 gác cổng, 1 làm vườn; Nhà ở, đồ đạc, điện nước, xe cộ, giặt ủi. Lễ phục có tính cách Tôn giáo, Lịch sử: áo dài chẽn, khăn đen, quần lụa trắng; Các Lễ khác: âu phục trắng, cà vạc đen, sậm, hoặc âu phục đen, sậm. Trước đó, Sắc phục của Nhân viên Sứ quán và Lãnh sự cúng đã được quy định: Quốc phục Đại lễ “nhung y” của Đại sứ: áo dài gấm, da cam, hoa chữ Thọ, quần luạ trắng, khăn đen, giày láng, bài vàng có chữ Hán đeo ở nút áo...
Ngày 6/3/52, Hải Quân Việt Nam được thành lập từ ngày 1/1/1952. Ngày 7/3/52, để đáp ứng với tình hình mới, Thủ tướng Trần Văn Hữu cải tổ Nội các và đã được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận danh sách “Nội các Cải tổ (SL 21/QT). Cùng ngày 7/3/52, Trung tá Không quân Nguyễn Văn Hinh, Chánh Võ phòng Quốc trưởng Bảo Đại được thăng Thiếu tướng, và được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam. Ngày 18/3/52, Nguyên Bộ trưởng Phạm Văn Bính được bổ Thủ hiến Bắc Việt; và Giám đốc Tài chánh Hồ Quang Hoài được bổ Thủ hiến Nam Việt.
Ngày 1/4/52, quyền “Phát minh Sáng chế” được bảo vệ, và được cấp bằng. Ngày 4/4/52, các Sắc dân Sơn cước thuộc Hoàng Triều Cương Thổ được quy chế đặc biệt: Tù trưởng, Hội đồng Hoàng Triếu Cương Thổ, Tòa án Phong tục (Dụ 27/QT/TD). Ngày 7/4/52, thành lập Trường Quốc gia Hành chánh ở Đà Lạt để đào tạo các cấp Chỉ huy Hành chánh. Ngày 12/4/52, thành lập Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Việt Nam. Ngày 24/4/52, hai Tòa Đại diện Quốc trưởng tại hai vùng Hoàng Triều Cương Thổ Bắc và Nam sáp nhập làm một mang tên mới là thành Tòa Khâm Mạng (SL 28/QT/TD).
Ngày 8/5/52, Khánh thành Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang. Ngày 12/5/52, thành lập Đoàn nữ Trợ tá Quân đội Việt Nam gồm nữ Trợ tá Quân Y, và nữ Trợ tá Chuyên môn khác. Ngày 23/5/52, Quốc hội Mỹ chấp thuận viện trợ kinh tế cho Việt Nam 23.500.000 Mỹ kim. Một Phái đoàn Kinh tế và Kỷ thuật Mỹ được đặt tại sài Gòn. Ngày 26/5/52, Pháp chuyển giao “đường Hỏa xa và Sở Hỏa xa” cho Việt Nam và Cao Mên. Ngày 27/5/52, tại Lai Châu, Lễ sáp nhập miền Thái thuộc Đèo Văn Long vào Hoàng Triều Cương Thổ miền Bắc.
Ngày 6/6/52, thành lập Hội đồng Phòng thủ Quốc gia, gồm: Thủ tướng, các Tổng trưởng Quốc phòng, Nội vụ, Tài chánh, Khâm mạng tại Hoàng Triều Cương Thổ (SL 50/CP). Ngày 14/6/52, Phủ Thủ hiến Bắc Việt vẫn “chọn Quận trưởng trong số những người tình nguyện” qua “Hội đồng xét năng lực” sẽ được thành lập.
Sydney ngày 30 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 2.339 chữ)
225: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI THỦ TƯỚNG NGUYỄN VĂN TÂM: 1952-1953.
Lê Xuân Đỗ
1952: Ngày 2/6/52, Quốc trưởng Bảo Đại triệu Tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm lên Đà Lạt ủy lập Chính phủ. Ngày 3/6/52, Quốc trưởng Bảo Đại giải tán Chính phủ Trần Văn Hữu. Ngày 25/6/52, Nguyễn Văn Tâm trình danh sách Nội các lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận trong một buổi lể tựu chức trang trọng (SL 49/QT). Ngày 10/7/52, thành lập Hội đồng Quốc gia Lâm thời gồm 21 Hội viên do Quốc trưởng chỉ định với nhiệm vụ “Tư Vấn mọi vấn đề” (Dụ số 14) cho tới khi có Quốc Hội. Cùng ngày 10/7/52, ban hành Luật Lao động.
Ngày 28/7/51, thành lập Ủy Ban Nghiên cứu “Cải cách Điền địa”. Ngày 2/8/52, Chính phủ Nguyễn Văn Tâm chấp thuận “Dự án Ngân sách”, theo đó: PHẦN CHI: 8.600.000.000$ gồm: 4.700.000.000$ quân phí; 550.000.000$ an ninh; 400.000.000$ bình định; 300.000.000$ giáo dục; 475.000.000$ công chính; 270.000.000$ Y tế và Xã hội. PHẦN THU: 3.425.000.000$ từ ngoài gồm: 3.000.000.000$ do Pháp đóng góp về quân phí, và 425.000.000$ Viện trợ Kinh tế của Mỹ. Phần THU còn lại do các thứ thuế trong nước.
Ngày 28/8/52, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ký bổ nhiệm 21 Hội viên Hội đồng Quốc gia Lâm thời; 8 Bắc, 8 Nam, 5 Trung. Ngày 1/9/52, Hội đồng Quốc gia Lâm thời nhóm họp phiên đầu tiên tại tòa Đô Sảnh Sài Gòn. Ngày 4/9/52, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Tổng thống Pháp Auroil tại nhà nghỉ Muret bàn thảo các vấn đề liên quan như Cao ủy Việt Nam nên được mang danh hiệu Đại sứ, Việt Nam nên được vào Liên Hiệp Quốc, Quân đội Việt Nam cần được phát triển nhanh hơn nữa. Ngày 19/9/52, các Hội viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho Việt, Mên, Lào gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng Nga Xô phủ quyết.
Ngày 1/10/52, Dân số Hà Nội năm 1952: người Việt 267.715; và 17.745 Pháp kiều. Ngày 8/10/52, thành lập Nha Chiến tranh Tâm lý tại Phủ Thủ tướng. Ngày 10/10/52, tại Pháp Quốc trưởng Bảo Đại hội đàm với Tổng thống Pháp Auroil, lần nầy có các Bộ trưởng Cao ủy Letourneau, Chévigné. Ngày 14/11/52, Cựu Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí được tái bổ chức vụ điều khiển Bắc Việt. Ngày 15/11/52, ba tỉnh Bến Tre, Gò Công, Tân An do nhà binh Pháp quản trị, được giao trả cho Chính phủ Việt Nam. Ngày 16/11/52, ban hành “Quy chế nghề nghiệp”.
Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ đóng quân của Pháp tại Nà-Sản. Ngày 1/12/52, Bộ Quốc phòng Việt Nam gọi nhập ngũ các thanh niên từ 20 đến 28 tuổi có bằng Cao đẳng Tiểu học để theo học các lớp Sĩ quan. Ngày 12/12/52, tại Sài Gòn, Hội đồng các Thủ hiến họp bàn về cách thức bầu cử các Hội đồng thành phố và Thị xã. Ngày 27/12/52, thành lập các Hội đồng Thành phố và Thủ đô: Tại Sài Gòn: Hội đồng hàng Quận ở 7 Quận Đô thành tại Sài gòn-Chợ lớn; Hội đồng Quản trị Đô thành: 22 Hội viên Việt, Pháp, Tàu.
Tại Hà Nội: Hội đồng Thành phố gồm 18 Hội viên Việt, 6 Pháp; Tại Hải Phòng: Hội đồng Thành phố có 15 Hội viên Việt, 9 Pháp. Tại Huế: Hội đồng Thành phố có 12 Hội viên Việt Nam; Tại Đà Nẳng: Hội đồng Thành phố có 18 Hội viên Việt, 5 Pháp. Cách thức bầu cử do Thủ tướng ấn định. Hội viên Pháp do Thủ tướng chỉ định (SL105,106,107,108/NV). Ngày 31/12/52, Tại Đà Lạt: cũng có Hội đồng Thành phố Đà Lạt gồm 9 Hội viên Việt Nam, 1 Hội viên Cao nguyên, và 6 Hội viên Pháp (SL 35/QT/TD)... Ngày 6/1/53. Ngân khố Trung Việt ở Huế được tái lập từ 1/1/53.
1953: Ngày 8/1/53, Sau khi Phó thủ tướng Phan Văn Giáo, và Tổng trưởng Nghiêm Văn Tri từ chức, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cải tổ Nội các, và danh sách Nội các mới đã được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận. Ngày 26/1/53, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh sang Pháp vận động phát triển Quân lực Việt Nam tuyên bố: Năm 1950 chỉ có 5 Tiểu đoàn, nay đã tổ chức xong 6 Sư đoàn, mỗi Sư đoàn gồm 9 Tiểu đoàn, 1 đội Pháo binh, và những đội chuyên môn Tình báo, Công binh, Truyền tin.v.v. Tổng số quân 167.000. Hiện có 3.500 Sĩ quan, mỗi năm đào tạo được 1.500, Còn tới 600 Sĩ quan Pháp trong quân đội Việt Nam.
Ngày 28/1/53, thành lập Địa Phương Quân tại Bắc Việt để thay thế Tự Vệ Hương thôn (NĐ 314/PTH). Ngày 20/2/53, tại Bắc Việt hiện có 223 đồn Bảo Chính Đoàn, và 371 đồn Hương Dũng. Trong số 12 Tỉnh với 4.630 làng thì: có 1.442 làng có an ninh; 1.303 tạm yên; và 1.885 mất liên lạc. Ngày 24/2/53, tại Đà Lạt, Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa Hội nghị quân sự, có Bộ trưởng kiêm Cao Ủy Letourneau, tướng Salan, Gautier, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, Tổng trưởng Quốc phòng Lê Quang Huy, và tướng Nguyễn Văn Hinh.
Hội nghị quyết định: thành lập 54 Tiểu đoàn Khinh Binh, trực thuộc Tổng Tham Mưu trưởng Việt Nam về mặt tổ chức; quản trị thì độc lập; và Tổng Tư lệnh tối cao là Quốc trưởng, nhưng vẫn chịu sự chỉ huy hợp nhất của Pháp. Ngày 27/2/53, Ngân sách Hà Nội năm 1952: 160.390.200$; Ngân sách Hải Phòng: 60.148.000$. Ngày 19/3/53, từ nay các Xã sẽ có một Hội đồng Hương Chính do dân bầu gồm: 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 Tổng thơ ký, và một số Ủy viên, tối đa là 9 người. (SL34/NV). Ngày 29/3/53, Địa Phương Quân Bắc Việt được Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm thừa nhận, và cấp kinh phí.
Ngày 1/4/53, Chính phủ ban hành Nghị định (NĐ200/Cab/SG) thành lập Ủy ban Quốc gia Khảo cứu Khoa học và Kỷ thuật. Ngày 2/4/53, ban hành chế độ thuê nhà và cho thuê: người thuê có quyền lưu cư, quyền đòi lại nhà bị hạn chế (Dụ số 4). Ngày 13/4/53, ban hành các Bộ luật về thuế: Thuế Điền thổ; Thuế Môn bài; Thuế Gián thu; Thuế Lợi tức (các Dụ số 7,8,9,và 10). Ngày 4/5/53, thành lập Hải cảng Đà nẳng, và Cơ cấu Tổ chức cho Hải cảng nầy (NĐ 281,và 283/SG). Ngày 5/5/53, thành lập Nha Thủy Vận tại Bộ Công Chánh (NĐ 53, và 55/BCC).
Ngày 11/5/53, việc Pháp phá giá đồng bạc Đông Dương ngày 10/5/53, hôm nay giá vàng 2.700$ một lạng buổi sáng tăng vọt lên 3.800$ vào buổi chiều. Ngày 12/5/53, Chính phủ Việt Nam ban hành cấp tốc một số biện pháp ứng phó với sự phá giá đồng bạc: “Đình chỉ mọi xuất cảng; Kiểm tra số thóc gạo, thực phẩm, cùng hóa phẩm tối cần; Hạn chế các vụ nhập cảng không tối yếu; Đặt thuế quân bình giữa hai giá củ và mới đối với các mặt hàng nhập cảng; Giữ nguyên mức giá hàng và lương bổng, xét lại tháng lương sau; Xét lại giá biểu quan thuế, bưu điện”.
Ngày 4/6/53, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ 19,20,21, và 22 quy định “Chế độ Cải cách Điền địa”: “Địa tô tối đa 15% hoa màu; Diện tích tối đa của Điền chủ từ 36 đến 100 mẩu tây tùy từng Phần và số con; Thu hồi những phần Đồn điền không khai khẩn để chia cho Tá điền; Người cấy ruộng hoang từ 3 năm trở lên, được quyền tiếp tục”. Ngày 6/6/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm yêu cầu Liên Hiệp Pháp: “bãi bỏ các tòa án hổn hợp; bãi bỏ các Hiệp định Liên quốc ràng buộc Pháp về kinh tế, và quan thuế; trao lại cho Việt Nam các Tiểu khu Quân sự; trả về Quốc trưởng quyền hành Tổng Tư lệnh”.
Ngày 25/6/53, các Tiểu khu quân sự Vĩnh Long và Trà Vinh được chuyễn giao cho quân đội Việt Nam. Có một số Vệ binh bỏ ra bưng. Cùng ngày 25/6/53 nầy, thành lập một trường Cao Đẳng Võ Bị để đào tạo chỉ huy Cao cấp cho Quân đội Việt Nam (SL số 59/QP). Ngày 29/6/53, tất cả Công dân từ 20 đến 45 tuổi phải thi hành Quân dịch: “Một Quy chế ấn định cho Quân đội Hiện dịch và Trừ bị; Đặt lệ kiểm tra Trưng binh, Nhập ngũ, Miễn dịch, Hoãn dịnh, Trừ dịch, Đầu quân, Tái đăng, Động viên (Dụ số 29, với 109 điều). Thời hạn Quân dịch là 2 năm (Dụ số 30).
Ngày 1/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp để yêu cầu “kiện toàn độc lập theo bản tuyên ngôn 3/7/1953. Khi tới Nice, Quốc trưởng tuyên bố cần “Sửa đổi Tổ chức Liên Hiệp Pháp cho thích hợp với quyền lợi của Việt Nam và Pháp”. Ngày 12/8/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm gởi cho Tổng Ủy Gautier 4 bảng liệt kê những “thẩm quyền” Pháp cần giao, các Hiệp định cần sửa lại như: “Trưng dụng nhà cửa; Cơ quan phụ trách xăng dầu; Kiểm soát đường hỏa xa Vân Nam; Phòng thí nghiệm cảnh sát tư pháp; Điện lực; Ủy ban điều hòa vận tải; Và, các Hiệp định áp dụng Thỏa ước 8/3/1949.
Ngày 28/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại, sau khi gặp Bộ trưởng Marc Jacquet, hội kiến với Tổng thống Auroil. Nhân dịp nầy, Ngoại trưởng Georges Bidault tuyên bố “Pháp sẽ thừa dịp đình chiến ở Cao Ly mà tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương”. Nhưng, không mở cuộc điều đình nào mà không hỏi ý kiến và lấy thỏa hiệp với các Chính phủ Quốc gia Liên kết. Ngày 1/9/53, Tiểu khu Quân sự Bùi Chu được chuyễn giao cho Quân đội Việt Nam. Nhiều Tiểu đoàn Khinh quân Việt Nam hoạt động tại vùng nầy.
Ngày 4/9/53, Quốc trưởng Bảo Đại triệu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm sang Pháp để hỏi về việc thành lập Phái đoàn thương thuyết với Pháp. Tại Sài Gòn, các đảng phái công kích chính phủ quá thân Pháp, và đòi hỏi triệu tập một quốc dân Đại hội…. Ngày 9/9/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ở Pháp về yêu cầu các đảng phái và đoàn thể đưa 20 người tham gia Phái đoàn thương thuyết. Ngày 10/9/53, Tổng Ủy viên De Jean tuyên bố “có những dư luận quá khích muốn Việt Nam từ bỏ Liên Hiệp Pháp” rằng Pháp chiến đấu thì ít ra cũng phải có quyền lợi, phải có hiệp ước để bảo vệ kinh tế và văn hóa Pháp tại Đông Dương.
Ngày 10/9/53, Quốc trưởng Bảo Đại phái Hoàng thân Bửu Lộc về với Đạo Sắc lệnh số 73/QT triệu tập Quốc dân Đại hội. Đại hội gồm 200 đại biểu chọn trong các đảng phái, đoàn thể, tôn giáo, kinh tế, xã hội… Đại hội sẽ phát biểu ý kiến 2 vấn đề: (a) Chủ quyền quốc gia phải được tới mức nào? (b) Thể thức hợp tác Việt Pháp? Ngày 22/9/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cử một Ủy ban tổ chức Đại hội gồm đại diên 5 đoàn thể lớn “Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Công Giáo, Đại Việt, và một số nhân vật khác.
Ngày 16/10/53, Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Sài Gòn và biểu quyết: “chống Liên Hiệp Pháp; đòi Việt Nam ra khỏi tổ chức này; chỉ ký với Pháp một Hiệp ước Liên minh bình đẳng mà thôi”. Cùng gày 16/10/53 nầy, Dư luận Pháp rất sôi nổi về thái độ của các Đại biểu dự Đại hội, Hoàng thân Bửu Lộc phải can thiệp cấp tốc với Đại hội, Đại hội chịu sửa lại bản Tuyên ngôn như sau: “Việt Nam độc lập không tham gia Liên Hiệp Pháp dưới hình thức hiện thời”. Ngày 19/10/53, Quốc dân Đại hội yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại biến cải Đại hội thành Quốc hội Lập hiến.
Ngày 20/10/53, Chính phủ Pháp gởi Công hàm chất vấn Quốc trưởng Bảo Đại về “lập trường của Quốc dân Đại hội”. Ngày 28/10/53, tại Pháp khi lên đường về nước, Quốc trưởng Bảo Đại bị chất vấn gắt gao về “lập trường của Quốc dân Đại hội”, Quốc trưởng hẹn trả lời sau. Ngày 17/12/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm từ chức. Cùng ngày 17/12 Quốc trưởng Bảo Đại ủy Hoàng thân Bửu Lộc lập Chính phủ mới. Ngày 24/12/53, Hoàng thân Bửu Lộc từ Ba Lê về nước để lập Chính phủ mới.
Sydney ngày 1 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 2.159 chữ)
226: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI THỦ TƯỚNG NGUYỄN PHÚC BỬU LỘCNĂM 1954.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 11/1/54, Hoàng Thân Bửu Lộc trình danh sách thành viên Chính phủ, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp nhận (SL4/CP). Ngày 14/1/54, Tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) chỉ huy lực lương Hòa Hảo Dân Xã, được gia nhập quân đội Quốc gia với cấp bậc Trung tá thực thụ trừ bị, và Đại tá giả định. Ngày 23/1/54, thủ tướng Bửu Lộc ra thông tư cho các cơ quan thảo công văn bằng tiếng Việt trừ khi giao thiệp với Pháp, hoặc có vấn đề “chưa dùng tiếng Việt được” vì có tính chuyên môn thuần tuý. Ngày 26/1/54, thành lập Nha Tổng Giám đốc Công vụ (NĐ số 58/VN).
Ngày 30/1/54, thành lập Ủy ban Diệt Hối lộ tại Bộ Tư pháp gồm đại diện các Bộ và 2 nhân sĩ (NĐ 96/TP). Ngày 22/2/54, một phái đoàn Nghị sĩ mới được cử vào Hội nghị Liên hiệp Pháp thay cho Phái đoàn năm 1950 gồm: Bà Trần Văn Chương, Phạm Văn Bính, Cao Văn Chiêu, Jacques Lê Văn Định, Bửu Kính Nguyễn Huy Lai, Phùng Bá Nghĩa, Nguyễn Khắc Sự, Đỗ Hữu Thành, Nguyễn Hữu Thuần, Nguyễn Văn Ty, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Trung Vinh, Bùi Thế Phúc, Đoàn Hửu Giám, Huỳnh Văn Chín, Nguyễn Kim Loan, Nghiêm Văn Trí.
Cùng ngày 22/2/54, Quốc trưởng chỉ định một Phái đoàn Việt Nam đàm phán với Pháp các vấn đề “độc lập và chủ quyền của Việt Nam”. Chủ tịch Bửu Lộc, Phó Chủ tịch Nguyễn Trung Vinh, Ủy viên Nguyễn Quốc Định, Phan Huy Quát, Nguyễn Đắc Khê, Dương Tấn Tài, Nguyễn Văn Đạm, Nguyễn Văn Tỵ, và Vũ Quốc Thúc. Ngày 8/3/54, Phái đoàn Việt Nam bắt đầu bàn thảo với Phái đoàn Pháp về “độc lập và chủ quyền của Việt Nam”. Ngày 10/3/54, Đại tá Nguyễn Văn Vỹ được cử làm Phụ tá Quân sự cho Thủ hiến Phan Văn Giáo trong việc bình định “Nam, Ngãi, Bình, Phú”. Trước đó Sắc lệnh 3a/QT ngày 8/1/54, Quốc trưởng đã cho phép Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo được toàn quyền dân chính và quân sự để bình định Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.
Ngày 14/3/54, Đại Hội Quốc Dân Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt v.v nhóm họp, yêu cầu thành lập một Chính phủ tiêu biểu cho dân chúng, triệu tập Quốc hội để đối phó với tình thế. Ngày 18/3/54, có tin hai Phái đoàn Việt và Pháp đã thỏa hiệp được các vấn đề đại cương. Ngày 21/3/54, cuộc đàm phán Việt-Pháp gặp khó khăn: Việt Nam đòi ký riêng 2 hiệp ước “một công nhận Việt Nam hoàn toàn độc lập; một ấn định bang giao Việt Pháp, Pháp không nhận. Ngày 26/3/54, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội xem xét tình hình, duyệt binh ở sân Cột cờ, chứng kiến Quân đội Quốc gia tuyên thệ.
Ngày 29/3/54, Quốc trưởng Bảo Đại lập một Nội các Chiến tranh thu hẹp, do Quốc trưởng chủ toạ, và hứa cử một Quốc Dân Đại Hội. Nội các Chiến tranh ở bên trên Chính phủ. Ngày 10/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp tuyên bố “không thể nào để một phần đất nước thành chư hầu Trung Cộng”.Ngày 10/4/54, Các Giáo phái tuyên bố ủng hộ Quốc trưởng. Ngày 10/4/54, Các lực lượng tôn giáo được gia nhập quân đội Quốc gia. Cao Đài 8.000, Trung tá Nguyễn Văn Huê 1.500, Văn Thành Cao (Liên Minh Cao Đài) 3.500, Thiếu tá Nguyễn Văn Đây 1.000 quân.
Ngày 12/4/54, Chính phủ Việt Nam gọi 5 lớp thanh niên nhập ngũ. Ngày 16/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Tổng thống René Coty, và ngày 21/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại gặp riêng Thủ tướng Laniel để thúc đẩy cuộc đàm phán Việt Pháp. Ngày 23/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại viết thư cho Tổng thống René Coty yêu cầu triệu tập ngay Ủy ban Thường trực Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Ngày 25/4/54, tại Ba Lê, Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố, rằng:
“Độc lập và chủ quyền Việt Nam, quyền bình đẳng của Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp không được bảo đảm; rằng Việt Nam không thể chấp nhận giải pháp điều đình do Pháp thỏa hiệp với kẻ phản loạn, hoặc quốc gia nào chống đối dân tộc Việt Nam, mà lại gác bỏ các Quốc gia Liên kết hoặc hy sinh các Quốc gia nầy”(Le Việt Nam ne saurait admettre l’esventualité des négociations par lequelles la France, contrairement d’ailleurs au principe de l’Union Francaise don elle se réclam, traiterait avec des rebelles à la Nation Viêtnamienne ou vec de puissances rebelles à celle-ci).
Ngày 28/4/54, Thủ tướng Laniel và Nguyễn Trung Vinh ký bản tuyên ngôn chung về sự Thỏa hiệp Việt Pháp, theo đó “Pháp tôn trọng lời cam kết ngày 3/7/1953 là kiện toàn nền độc lập của Việt Nam, Việt Nam tiếp tục và củng cố thân thiện với dân tộc Pháp. Sẽ ký 2 Thỏa ước một để thừa nhận Độc lập một để đặt bang giao Việt Pháp trên lập trường bình đẳng trong Liên Hiệp Pháp. Cùng ngày 28/4/54, Hội đồng Thành phố Hà Nội, yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại từ bỏ Liên hiệp Pháp và đình chỉ cuộc đàm phán ở Ba-Lê. Ngày 7/5/54, Đại đồn Pháp tại Điện Biên Phủ thất thủ.
Ngày 8/5/54, Dư luận Pháp và Quốc tế rất sôi nổi. Dân chúng Việt Nam vô cùng hoang mang trước sự kiện thất thủ Điện Biên Phủ. Giá vàng từ 4.000 tăng thành 4.800$ một lạng. Ngày 16/5/54, Quân đội Việt Nam được tổ chức thành: Lục quân, Thủy quân và Không quân. Lục quân gồm Địa Phương quân, Bảo Chính quân, và Vệ Quốc quân (Dụ số 9). Ngày 19/5/54, Chính phủ Việt Nam, Tổng Ủy viên Pháp và Hộ Pháp Phạm Công Tắc ký hiệp định để lực lượng Cao Đài gia nhập Quân đội Việt Nam. Cùng ngày 26/5 Quốc dân Đại hội nhóm họp ở Sài Gòn phản đối kịch liệt “Dự định chia đôi đất nước”.
Ngày 4/6/54, Ký kết 2 Hiệp ước kiện toàn độc lâp giữa hai Thủ tướng Bửu Lộc của Việt Nam và Laniel của Pháp: “Hiệp ước Độc lập (Traité d’nidépendance)” Pháp thừa nhận Việt Nam là một Quốc gia hoàn toàn độc lập, có toàn vẹn chủ quyền, đầy đủ thẩm quyền theo Quốc tế Công Pháp, Pháp sẽ chuyển giao hết các quyền hành và công sở còn giữ. “Hiệp ước Liên kết Việt-Pháp (Traité d’association franco-viêtnamienne)”. Việt Nam thuận ở lại Liên Hiệp Pháp, Pháp và Việt Nam đều bình đẳng, hai bên hợp tác tại Thương Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Mọi vụ xung đột sẽ được xử tại Hội Đồng Trọng Tài do hai bên cử ra.
Ngày 16/6/54, Thủ tướng và Chính phủ Bửu Lộc đệ đơn từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại ủy Ngô Đình Diệm lập Chính phủ với toàn quyền Dân sự và Quân sự (SL số 38/QT). Cùng ngày 23/6/54, Chính quyền Địa phương bắt đầu rút khỏi Bùi Chu-Phát Diệm. Ngày 25/6/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước lập chính phủ. Ngày 29/6/54, Chính quyền Địa phương triệt thoái khỏi Nam Định và Thái Bình. Ngày 30/6/54, Ngô Đình Diệm ra Hà Nội xem xét tình hình.
Sydney ngày 2 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.266 chữ)
227: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM NĂM 1954 - 1955.
Lê Xuân Đỗ
1954: Ngày 6/7/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập xong Chính phủ (SL43/CP). Cùng ngày 6/7/54, Chính phủ ban hành Dụ 16, Sl 47/NV, lập một Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt thay thế Phủ Thủ hiến gồm: 1 Đại biểu Chính phủ, 1 Ủy viên Dân sự, 1 Ủy viên Quân sự. Cũng ngày 6/7 nầy tướng Paul Ely tới Sài Gòn nhậm chức Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh Pháp ở Đông Dương. Ngày 9/7/54, Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí từ chức, Hoàng Cơ Bình được cử làm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt; Trần Trung Dung Ủy viên Dân sự; Thiếu tướng Nguyễn Văn Vận Ủy viên Quân sự.
Cùng ngày 9/7/54, Nguyễn Đôn Duyến được cử làm Đại biểu tại Trung Việt thay thế Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo. Ngày 1/8/54, Thủ tướng, Tổng trưởng, Đại biểu Chính phủ được toàn quyền quyết định các công chức không phải đưa ra Hội đồng Kỷ luật (Dụ 20). Ngày 4/8/54, Dược sĩ Trần Văn Lắm được bổ Đại biểu Chính phủ tại Nam Việt; Các Phần trong nước không còn tính cách pháp nhân; Tại mỗi Phần đặt một Ủy ban gồm: 1 Chủ tịch, 1 Ủy viên Chính trị Hành chánh, 1 Ủy viên Quân sự chỉ huy Quân khu (Dụ 21).
Cùng ngày 4/8/54, một cầu hàng không chở dân di cư Bắc Việt vô Nam. Ngày 7/8/54, một Ủy ban Hỗn hợp đã xét xong cách thức sáp nhập lực lượng Cao Đài vào quân đội quốc gia. Ngày 9/8/54, Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Thoại kiêm nhiệm chức Tổng uỷ trưởng phụ trách đồng bào tị nạn, đến ngày 21/8, thì bàn giao cho Giáo sư Nguyễn Ngọc Đối. Ngày 10/8/54, cầu hàng không mỗi ngày có năm bảy chục phi cơ quân sự Pháp chở dân di cư vô Nam tới Tân Sơn Nhất Có hàng ngàn người về Hà Nội, không được đi máy bay, phải xuống Hải Phòng đi tàu biển của Pháp và của Mỹ vô Nam.
Ngày 13/8/54, tướng Nguyễn Giác Ngộ, chỉ huy trưởng quân đội Nguyễn Trung Trực Hòa Hảo được thăng cấp “Thiếu tướng quân đội Bổ túc Việt Nam”. Ngày 29/8/54, xuất hiện “Phong trào Bảo vệ Hòa bình” tại Sài Gòn. Ngày 30/8/54; Công chức phải kê khai tài sản. Một Uỷ ban Danh dự gồm 9 Uỷ viên thu nhận và kiểm soát các tờ khai với quyền điều tra rộng rãi (Dụ số 25). Ngày 31/8/54, Uỷ ban Quốc gia Cải cách Điền địa mở rộng cho 6 đại diện Đại diền chủ, và 6 đại diện Tá điền. Ngày 2/9/54, thành lập Tòa Phá Án thay thế Ban Tư Pháp Tối Cao Pháp Viện đặt ra từ năm 1949 và sửa đổi 1954 (Dụ 27).
Ngày 10/9/54, tướng Nguyễn Văn Hinh bị cử sang Pháp công cán 6 tháng, nhưng ông ta không chịu đi. Ngày 16/9/54, ký kết Thỏa hiệp Việt-Pháp, Pháp giao trả quyền Tư pháp và Công An, các Tòa án và Nha Cảnh sát Công An được chuyển giao cho Việt Nam, bãi bỏ các Tòa án Hỗn hợp. Cùng ngày 16/9, hai lực lượng Bảo Chính quân, và Địa Phương quân thành lập ngày 16/5/1954, không được gia nhập quân đội Quốc gia. (Xin lưu ý, Dụ số 9 ngày 16/5/54, Quân đội Việt Nam được tổ chức thành: Lục quân, Thủy quân và Không quân. Lục quân gồm Địa Phương quân, Bảo Chính quân, và Vệ Quốc quân).
Ngày 17/9/54, nguyên thủ tướng Nguyễn văn Xuân được bổ Phó Thủ tướng kiêm Quốc Phòng (SL 84/CP). Ngày 18/9, tướng Nguyễn Văn Hinh điện sang Pháp yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại can thiệp giải quyết tranh chấp với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 20/8/54, Đổng lý Nguyễn Đệ gởi Diện văn cho tướng Nguyễn Văn Hinh, những điều trình bày… sẽ được cứu xét. Cùng ngày 20/9/54, Tướng Lê văn Viễn từ Pháp về được vài ngàn người đón tiếp tại Phi trường Tân Sơn Nhất, có cả nhiều nhân vật chính giới. Ngày 21/9/54, một số người biểu tình đòi trở ra Bắc, xô xát với Cảnh sát 2 chết.
Ngày 23/9/54, các quân nhân từ Hạ sĩ quân trở lên phải kê khai tài sản; Các Ủy viên trong Ủy ban Danh Dự, được quyền “bất khả xâm phạm” và tự do ngôn luận (Dụ 31); Ngày 24/9/54, Vệ Quốc Binh được thành lập thuộc Bộ Nội Vụ để sát nhập Bảo Chính Đoàn Bắc Việt, Địa Phương Quân Bắc Việt và các Tỉnh (Dụ 32). Ngày 24/9/54, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Xuân từ chức. Thủ tướng Ngô Đình Diệm quyết định cải tổ Chính phủ, trong đó có Trung tướng Hoà Hảo Trần Văn Soái, và Thiếu tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương được bổ Quốc vụ khanh, Uỷ viên Quốc phòng.
Ngày 27/9/54, Tổng trưởng thông tin họp báo, cho biết, nếu tướng Hinh sẵn sàng quên đi dĩ vãng và hợp tác, thì chính phủ sẽ dành cho chức vụ lớn. Tướng Hinh là dân Pháp, vậy là gạch nối rất có ích cho Pháp và Việt Nam. Ngày 3/10/54, Quốc trưởng Bảo Đại điện về yêu cầu Thủ tướng mở rộng Chính phủ để mời các tướng Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Hinh, và Lê Văn Viễn tham gia Chính phủ. Ngày 7/10/54, Pháp chuyễn giao Sở cảnh Sát, Tổng Giám đốc Lại Văn Sang tiếp nhận. Ngày 10/10/54, Quốc trưởng Bảo Đại lại yêu cầu Thủ tướng mở rộng Chính phủ cho các phần tử quân nhân và Giáo phái tham gia.
Cùng ngày 10/10/54, Thành lập một Quân đoàn Cao Đài trong Quân đội Quốc gia các đơn vị Cao Đài được mang cờ hiệu riêng, với biểu hiệu Quốc gia, nhưng thêm dấu hiệu “Vũ trụ Thần giáo” là “Bánh xe Tiến hóa” có một Sở riêng trông nom về Quân đoàn nầy, và một Ban Liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu (NĐ 93/QP). Ngày 14/10/54, sau khi viếng thăm Nhật Bản và Đài Loan, Hộ pháp Phạm Công Tắc đã trở về Sài Gòn, và hôm nay ăn cơm với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 27/10/54, Giáo sư Trần Văn Hương được bổ Đô trưởng Sài Gòn Chợ Lớn thay Đốc phủ Nguyễn Phước Lộc.
Ngày 29/10/54, Đài phát thanh phát lời tướng Nguyễn Văn Hinh kêu gọi bình tĩnh, để cấp trên dàn xếp ổn thỏa. Ngày 3/11/54, thành lập một Tổ chức Chính trị, có tên “Tập đoàn Công Dân”. Ngày 9/11/54, thành lập Tham Chính Viện thay thế Ban Hành chánh Tối cao Pháp viện củ (Dụ số 38). Ngày 20/11/54, tướng Hinh đi Tây. Ngày 29/11/54, Quốc trưởng gởi điện văn về cất chức Tổng Tham Mưu trưởng của tướng Nguyễn Văn Hinh, lý do không tuân lệnh Quốc trưởng, cứ tuyên bố mãi những điều đáng tiếc.
Ngày 1/12/54, Thiếu tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế tướng Nguyễn Văn Hinh; Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ, được cử làm Tổng Thanh tra Quân đội thay thế tướng Pháp Alessandri. Ngày 4/12/54, Bác sĩ Thú y Phạm Văn Huyến được cử giữ chức Tổng Ủy Phụ trách đồng bào tị nạn, thay thế Giáo sư Ngô Ngọc Đối từ chức. Bùi Văn Lương được cử làm Phụ tá thay Nguyễn Lưu Viên. Ngày 10/12/54, Bộ trưởng Phạm Duy Khiêm, được bổ Cao Ủy Việt Nam tại Pháp. Ngày 17/12/54, Bộ trưởng Bùi Kiện Tín từ chức, Trần Trung Dung được cử thay thế.
Cùng ngày 17/12/54, Phụ tá Quốc phòng Hồ Thông Minh được bổ Tổng trưởng Quốc Phòng; Đinh Quang Chiêu, Tổng Ủy Nha Ngoại viện kiêm nhiệm Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng thay thế Phạm Duy Khiêm. Ngày 31/12/45, Pháp chuyển giao Viện Phát hành. Ngày 1/1/1955 Pháp chuyển giao Thương cảng Sài Gòn cho Việt Nam.
1955: Ngày 11/1/55, tướng Trịnh Minh Thế của Cao Đài Liên Minh tuyên bố sẽ đem 5.000 quân về hợp tác với Chính phủ. Cùng ngày 15/1/55, Đại tá Hòa Hảo Nguyễn Văn Huê thuộc cấp của tướng Trần văn Soái ly khai đem 3.000 quân về hợp tác với chính phủ. Ngày 31/1/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm thăm Thánh Thất Cao Đài ở Tây Ninh và gặp tướng Trịnh Minh Thế. Ngày 8/2/55, mở “chiến dịch Tự do” Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy tiếp thu vùng Cà Mâu khi Việt Minh rút khỏi vùng nầy. Ngày 11/2/55, tại các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Thuận nhiều hầm súng đạn của Việt Minh, bị khám phá.
Ngày 15/2/55, thành lập Quốc hội Lâm thời, để nghiên cứu thành lập Quốc hội Lập hiến, và Tư vấn cho Chính phủ (Dụ 11). Cũng ngày 15/2/55 nầy, Thủ tướng Ngô Đình Diệm khai mạc Hội nghị Quân Chính toàn quốc gồm các Tỉnh trưởng, và Chỉ huy Quân sự. Ngày 4/3/55, Hộ pháp Phạm Công Tắc tuyên bố ngày 22/2/1955 đã thành lập Mặt trận Thống nhất (MTTN) gồm nhiều đoàn thể và ngày 3/3/1955 Mặt trận đã ra Tuyên ngôn nhận định Chính phủ Ngô Định Diệm chưa thực thi dân chủ, Mặt trận đòi hỏi Thủ tướng Ngô Đình Diệm phait thành lập một Chính phủ Liên hiệp Quốc Gia.
Ngày 6/3/55, tướng Trình Minh Thế tuyên bố không đống ý về bản Tuyên ngôn của Hộ pháp Tắc, và kêu gọi các đảng phái ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 10/3/55, Thiếu tá Hoà Hảo Nguyễn Thành Đây đem 1.500 quân về hợp tác với Chính phủ. Ngày 21/3/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố“Phải thống nhất quân đội, không thể có những lực lượng riêng biệt; Phải thống nhất hành chánh, không thể có địa phương tự trị; Phải thống nhất tài chánh, không thể để thâu những sắc thuế do địa phương tự động đặt ra”.
Ngày 24/3/55, thủ tướng Ngô Đình Diệm lại tuyên bố “Các Giáo phái vừa gởi tối hậu thư, hẹn trong 5 ngày phải cải tổ chính phủ theo đường lối của các nhóm. Như vậy cũng không giải quyết được gì vì “vấn đề chính trị chỉ có thể thu xếp nếu vấn đề thống nhất các lực lượng đã được dứt khoát. Chính phủ sẵn sàng thu nhận các lực lượng vào Quân đội, nhưng không thể dành cho những điều kiện rộng rãi hơn là đối với Quân đội Quốc gia”.Cùng ngày 24/3/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm bãi bỏ chức Khâm mạng Hoàng Triều Cương thổ.
Ngày 25/3/55, Quốc trưởng Bảo Đại gởi Điện văn cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm và các Giáo Phái khuyên nên cố thực hiện đoàn kết để tình thế sáng sủa hơn. Ngày 26/3/55, thành lập một Sở Cảnh sát Đô thành không thuộc quyền Tổng Giám đốc Lại Văn Sang. Ngày 27/3/55, tướng Trịnh Minh Thế tuyên bố rút khỏi Mặt trận Thống nhất. Và hôm sau, 28/3/55, tướng Thế lại tuyên bố với báo chí “chỉ ở trong Mặt trận để làm Trung gian hòa giải, rằng Thủ tướng Diệm hứa sẵn sàng để những người thân tín rút ra khỏi Chính quyền, thì các Giáo phái cũng nên tôn trọng Quyền lợi Quốc gia”.
Ngày 29/3/55, Tổng trưởng Quốc Phòng Hồ Thông Minh từ chức. Quá nữa đêm, Công An Xung Phong thuộc quyền Bình Xuyên đánh phá trụ sở Cảnh Sát Đô Thành, Tổng Tham Mưu và bắn vào Dinh Độc lập. Ngày 30/3/55, các thành viên Chính phủ khác sau đây từ chức: Trần Văn Soái, Quốc Vụ Khanh, Ủy viên Quốc Phòng; Lương Trọng Tường, Tổng trưởng Kinh tế; Nguyễn Công Hầu, Tổng trưởng Canh nông; Huỳnh Văn Nhiệm, Bộ trưởng Nội vụ. Ngày 31/3/55, các Tổng Bộ trưởng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Mạnh Bảo, Phạm Xuân Thái, Nguyễn Văn Cát từ chức.
Tướng Lawton Collies, Đại sứ đặt phái viên của Tổng thống Mỹ tuyên bố, mặc dù tình hình còn rối ren, Hoa Kỳ vẫn ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Lúc 13 giờ cùng ngày 31/3/55, tại Phòng ăn dinh Độc lập, các tướng Nguyễn Thành Phương, Lê Văn Tất, và 42 tướng tá Cao Đài, tuyên bố đem lực lượng bản bộ về hợp tác với Chính phủ Ngô Đình Diệm; Tướng Nguyễn Thành Phương, nhân danh Đức Hộ pháp và Quân đội Cao Đài, đặt toàn thể bộ đội dưới quyền Thủ tướng để phục vụ tổ quốc. Các tướng Pháp, Ngoại giao đoàn và báo giới được mời chứng kiến lễ nầy.
Ngày 7/4/55, Đô trưởng Trần Văn Hương từ chức, Đốc phủ Nguyễn Phú Hải được cử thay thế. Ngày 9/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm mời nhiều đảng phái đến họp bàn việc thành lập một Thượng Hội Đồng Chính trị. Ngày 11/4/55, Bộ Thông tin phát động “Phong trào Tố Cộng”. Ngày 12/4/55, Phái đoàn Việt Nam do đích thân Thủ tướng Ngô Đình Diệm làm trưởng đoàn, Nguyễn Văn Thoại Phó đoàn đi dự Hội nghị Bandoeng ở Nam Dương. Ngày 13/4/55, Phong trào Cách mạng Quốc gia đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp để “Thống nhất các lực lượng và chấm dứt nạn Thập nhị Sứ quân”.
Ngày 23/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm hiệu triệu quốc dân, kêu gọi Công an Xung phong về quy thuận, và các lực lượng Giáo phái gia nhập Quân đôi, nhắn nhủ người Pháp đừng nuối tiếc dĩ vãng mà gây rối ở đây, hứa tổ chức Quốc hội và lập Thượng Hội đồng Chính trị, và đặt câu hỏi cho dân chúng: có ưng thuận Tổng tuyển cử không? thống nhất Quân đội không? kiện toàn độc lập và chủ quyền không? cải cách xã hội không? Thư trả lời gởi về Phủ Thủ tướng, giao cho Thừa Phát Lại Lâm Văn Sáu chứng kiến.
Ngày 24/4/55, mở “Chiến dịch giải phóng-tiếp thu” Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam sau khi Việt Minh rút khỏi vùng nầy và ngày 15/4/55. Cùng ngày 24/4/55, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 25/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm giải tán Công An Xung Phong, chấm dứt nhiệm vụ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an Bình Xuyên của Lại Văn Sang và cử Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ thay Đại tá Lại Văn Sang, Trung tá Trần Vĩnh Đắt thay Nguyễn Văn Tôn. Ngày 26/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm gởi thư mời tướng Trần văn Soái đến hội kiến, nhưng Soái không đến.
Ngày 28/4/55, Văn phòng Quốc trưởng gởi Điện về cho biết: các Giáo phái và Bình Xuyên phản đối việc cất chức Lại Văn Sang, rằng Quốc trưởng đã ra lệnh cho các nhóm tôn trọng kỷ luật, tránh bạo động, yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm đừng có biện pháp gì trái với chính sách hòa hoãn của Quốc trưởng. Cũng ngày 28/4/55, một điện văn khác báo cho Thủ tướng biết, Quốc trưởng đã cử Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội Việt Nam, và yêu cầu Thủ tướng sang Pháp trình bày về tình hình.
Lúc 13 g 15 cùng ngày 28/4/55 nầy, Công an Xung phong bắn phá vào trụ sở mới của Nha Cảnh sát Công an, Bộ Tổng Tham Mưu, đường Trần Hưng Đạo và bắn súng cối vào Dinh Độc Lập làm một số người chết và bị thương. Quân đội phản công mạnh, Công an Xung phong chiếm, chốt giữ khu trường Pétrus Ký, đốt cháy trụ sở Phủ Tổng Ủy Di Cư. Ngày 29/4/55, Xung đột tiếp tục ở khu trường Pétrus Ký, Trần Hưng Đạo, khu Bàn Cờ, Cầu Ông Lãnh, Chợ cũ.v.v. Dân chúng tản cư chạy đầy các ngã đường. Hơn 2.000 dân di cư từ Bắc vào cập bến Sài Gòn.
Chính phủ Hoa Kỳ xác nhận ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm; Thủ tướng Ngô Đình Diệm trả lời Quốc trưởng Bảo Đại vì tình thế không thể rời Việt Nam; Các tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương, Hòa Hảo Nguyễn Giác Ngộ, Cao Đài Liên minh Trình Minh Thế ra thông cáo lên án thực dân và phản loạn gây chia rẽ, phủ nhận tướng Nguyễn Văn Vỹ, không coi là Tổng Tham Mưu Trưởng.
Cùng ngày này, một nhóm Chính trị gia thành lập “Hội đồng Nhân dân Cách mạng” (HĐNDCM) do Nguyễn Bảo Toàn (Dân Xã Đảng Hòa Hảo) làm Chủ tịch cùng với các ông Văn Ngọc, Hà Huy Diễm, Nguyễn Phổ, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Hữu Khai, Huỳnh Minh Ý, Đoàn Trung Côn, Nguyễn Văn Quyền, nhóm họp tại Toà Đô chánh, và ngày 30/4/55, ra tuyên cáo: “truất phế Bảo Đại; giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm; và Ủy Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Chính phủ khác; dẹp phiến loạn; thu hồi chủ quyền; triệu tập Quốc hội.
Cũng ngày 30/4/55, tại Dinh Độc lập, tướng Nguyễn Văn Vỹ yêu cầu Ngô Đình Diệm ra lệnh cho tướng Lê văn Tỵ (đang có mặt tại đó) bàn giao chức Tổng Tham Mưu Trưởng cho ông ta. Ngô Đình Diệm trả lời “Hội đồng Chính phủ quyết định giữ nguyên tình trạng cũ”. Vài chính khách đứng quanh đó đòi bắt tướng Nguyễn Văn Vỹ. Các tướng Trần Văn Đôn, Trần Văn Minh vừa được thăng cấp vừa tới. Thủ tướng Diệm mời tất cả các tướng ăn cơm. Trong ngày có hơn 3.000 dân di cư từ Bắc tới Sài Gòn.
Ngày 1/5/55, 1 Đại đội Ngự Lâm quân từ Đà Lạt xuống, chiếm đóng Nha Bưu Điện, một Đại dội khác với 3 chiến xa chiếm Đài phát thanh Quân đội và Ngân hàng Quốc gia. Nhưng rút lui khi Bộ Tổng Tham Mưu đưa quân đến yêu cầu triệt thoái. Khoảng 12 giờ cùng ngày 1/5/1955, một Ủy ban Dân-Quân nhóm họp trong Dinh Độc lập, ra quyết nghị ủng hộ Quân đội; tướng Lê Văn Tỵ là Tổng Tham trưởng; tướng Nguyễn Văn Vỹ do Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm không có quyền Quân sự. Lúc 13 giờ 30, Tướng Nguyễn Văn Vỹ lên Đà Lạt.
Các tướng lãnh họp tại Bộ Tổng Tham Mưu đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu: “giữ nguyên tình trạng, tướng Vỹ Tổng Thanh Tra, tướng Tỵ Tổng Tham Mưu Trưởng”, rằng “chỉ biết có Chính phủ Ngô Đình Diệm, nếu Chính phủ nầy không được công nhận nữa, thì Quân đội sẽ tuân lệnh Chính phủ nào do Nhân dân cử ra”. Ngày 2/5/55, Quân đội Chính phủ gồm Trung đoàn Quang Trung, 3 Tiểu doàn Nhảy dù, Trung đoàn 51 Bộ Binh, phản công Công an Xung phong Bình Xuyên cả 3 mặt: Cầu Chữ Y; Cầu Nhị Thiên Đường, Xóm Củi; và Phú Lâm, súng nổ dữ dội.
Tại Cầu Chử Y, quân đội Chính phủ chiếm Bản doanh Bình Xuyên, tàn quân Bình Xuyên chạy về Gò Công. Cháy lớn ở đường Nancy và đường Nguyễn Tấn Nhiệm, nhà cửa vừa bị đạn cháy, vừa bị đốt. Hôm nay 10.000 dân di cư vẫn tới bến Sài Gòn trên 2 tàu Mỹ Marine Sepent và Marine Adler. Ngày 3/5/55, trời mưa tầm tã, trước Tòa Đô Sảnh, Hội đồng Nhân dân Cách mạng biểu quyết: Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại kể từ 29/4/1955; Giải tán từ ngày đó Chính phủ Ngô Đình Diệm; Ủy Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Chính phủ mới”.
Lúc 14 giờ 3/5/55, súng nổ dữ dội phía Tân Thuận, tướng Trình Minh Thế, người đem 5.000 quân Cao Đài về hợp tác với Chính phủ ngày 11/1/55, đi xe Jeep tới chỉ huy trận đánh chiếm cầu Nhà Bè, khi xe qua cầu Lang To, bị quân Bình Xuyên bắn chết lúc 19 giờ. Hôm sau, ngày 4/5/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đến viếng di hài tướng Thế quàn tại đường Eyriaud des Vergnes. Sau đó, được đưa ra quàn tại toà Đô chính cho dân chúng tới viếng. Cùng ngày 4/5/55, Hơn 1.000 đại biểu các Tỉnh, và Thị Xã cùng các Đại biểu đoàn thể, được mời nhóm họp trong Dinh Độc lập để “bàn xét tình thế”.
Ngày 5/5/55, Số thiệt hại trong mấy ngày qua: Quân Chính phủ chết 15, bị thương 200; Quân Bình Xuyên chết 34, bị thương 300, hàng 18 Sĩ quan 190 Binh sĩ; Số nhà cháy hơn 10.000, trên 30.000 người mất chỗ ở. Ngày 6/5/55, Đại hội Đại biểu các Địa phương họp tại Dinh Độc lập biểu quyết 3 kiến nghị: (1) Chống Cộng, tỏ lòng thành kính các chiến sĩ và tín nhiệm Quân đội (2) Yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại hứa trả quyền cho Quốc hội khi nào Quốc hội được bầu: (3) Trong khi chờ đợi hãy để toàn quyền cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình thế và triệu tập Quốc hội trong 6 tháng.
Sau những ngày rối ren, trong 3 ngày 29, 30, 31/3/55 có tới 9 Tổng, Bộ trưởng từ chức. Đến ngày 7/4/55 Đô trưởng Sài Gòn Trần Văn Hương cũng từ chức. Rồi ngày 3/5/55 tướng Trịnh Minh Thế bị tử trận tại cầu Láng To… Ngày 10/5/1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm quyết định Cải tổ Chính phủ. (SL145/CP). Ngày 11/5/55, lễ tuyên dương công trạng các cấp chỉ huy quân sự trong vụ đánh dẹp Bình Xuyên. Ngày 12/5/55, tướng Nguyễn Văn Vỹ, bị cất chức Tổng Thanh tra Quân đội, Ngày 13/5/55, Đại sứ Nguyễn Khoa Toàn bị chấm dứt nhiệm vụ tại Vọng Các.
Ngày 15/5/55, có hàng vạn người biểu tình tại Huế đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 17/5/55, Bác sĩ Phạm Văn Huyến từ chức Tổng ủy Phụ trách đồng bào tị nạn. Ngày 21/5/55, bị truy tố trước Tòa án Quân sự các tướng: tướng Cao Đài Nguyễn Văn Thành; tướng Bình Xuyên Lê Văn Viễn; tướng Quốc gia Nguyễn Văn Vỹ. Các Đại tá: đại tá Quốc gia Nguyễn Tuyên; đại tá Bình Xuyên Lại Hữu Tài, đại tá Bình Xuyên Lại Hữu Sang về tội phá hoại an ninh và phản bội quốc gia.
Ngày 23/5/55, Kết quả vụ đánh dẹp Bình Xuyên: 7.826 nhà cháy, 88 thường dân chết, 592 người bị thương. Ngày 28/5/55, Đại sứ Hoa Kỳ Frederick Rheinardt trình ủy nhiệm thư lên Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 31/5/55, Hội đồng Nhân dân Cách mạng của Nguyễn Bảo Toàn, bắt mở cửa Ngọ Môn Huế, vào Đại Nội tịch thu ấn tín, và nhiều đồ đạt trong Văn phòng Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 5/6/55, mở “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” bình định miền Tây Nam Phần do Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy chiếm Cái Vồn, Cần Thơ nơi đặt bản doanh của tướng Soái.
Ngày 10/6/55, Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, và Cố vấn Ngô Đình Nhu sang Pháp yêu cầu Chính phủ Pháp giải quyết những vấn đề còn đọng. Ngày 10/6/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 43, đặt tướng Trần Văn Soái (Năm Lữa), và tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 1/7/55, Đại sứ Mỹ Rheinardt trao cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm tấm ngân phiếu 11 triệu Mỹ kim của dân chúng Hoa Kỳ tặng dân Di cư tị nạn, tiếp theo phiếu 28.751.428 Mỹ kim do tướng Lawton Collins Đại sứ Đặc phái viên Tổng thống trao tặng hồi tháng 12/1954.
Ngày 1/7/55, theo tài liệu của Phủ Tổng uỷ Di cư: Tổng số dân Di cư vào Nam: 777.525 người: bằng tàu biển 533.868; bằng máy bay 243.657; Số Trại định cư: 188 trại: 122 trại ở 12 tỉnh Nam Phần; 55 trại ở 8 tỉnh Trung Phần; 9 trại ở 6 tỉnh Cao Nguyên; Số nhà đã dựng: 47.051 nhà: 43/288 nhà chắc chắn; 3.763 nhà tạm trú; Ngân khoản được cấp: 1.058.000.000$ gồm: 480 triệu trợ cấp định cư; 300 triệu cấp cho người tự làm nhà. Mỗi người được cấp 700$; 12$ tiền ăn mỗi ngày; Số vật liệu đã phát: 124.813 dụng cụ canh nông; 861.585 kiện vải; 393.994 cân chỉ; 3.471 cân chỉ làm chài lưới.
Ngày 5/7/55, số nạn nhân vụ biến cố Bình Xuyên, ước chừng 81.445 người, 26.670 người có nhà cháy đã được cấp gạo, tiền, và đưa tới 13 trại tạm trú, 54.755 người ở ngoài các trạm được cấp 8.254.800$. Đã dựng 660 căn nhà tạm trú. Viện trợ Mỹ tặng 360 căn nhà làm sẵn. Viện trợ Pháp tặng 350 căn. Ngày 11/7/55, Vài trăm dân di cư biểu tình ở Sài Gòn, đòi trục xuất các phần tử Cộng sản. Ngày 13/7/55, sinh viên học sinh biểu tình ở đường Champagne, đả đảo Ủy hội Quốc tế vì có ý bênh vực Việt Minh, đòi thả binh sĩ còn bị Việt Minh bắt giữ. Uỷ hội hứa sẽ xét lại vấn đề.
Ngày 16/7/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố “Việt Nam không ký kết Hiệp định Genève, nên không bị ràng buộc, song vẫn trung thành với chính sách hòa bình, và sẵn sàng tổ chức Tổng tuyển cử nếu có thể bầu được tư do. Ngày 20/7/55, biểu tình khổng lồ chống Công, và chống chia đôi đất nước. Dân chúng ập vào phá nhiều phòng của Khách sạn Majestic và khách sạn đường Trần Hưng Đạo thiệt hại khá nhiều, bởi hai nơi nầy thường có Sĩ quan Việt Minh lui tới với Ủy hội Quốc tế. Ngày 9/8/55, thành lập Học viện Quốc gia Hành chánh, thay thế trường Hành chánh Đà Lạt.
Ngày 16/8/55, Đại sứ Henry Hoppenot sang thay thế tương Paul Ély làm Cao uỷ Pháp tại Việt Nam trình Uỷ nhiệm thư. Tuy mang danh hiệu Cao uỷ Poppenot có địa vị như Đại sứ. Ngày 17/8/55, Ký kết Hiệp định Việt-Pháp về Ngân Khố, hai Ngân khố Việt và Pháp ở hai nước trả tiền Thu hộ nhau rồi Thanh toán sau. Ngày 20/8/55, một Phái đoàn gồm các Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Dương Đôn, Trần Trung Dung, và Cố vần Ngô Đình Nhu sang Pháp điều đình các vấn đề văn hóa và quân sự, hội kiến với Thủ tướng Pháp Edgar Faure.
Ngày 10/9/55 nầy, các báo bắt đầu đã kích “Chế độ củ và Quốc trưởng Bảo Đại”. Ngày 15/9/55, khánh thành đường Điện thoại Sài Gon-Manilla, Thủ tướng Ngô Đình Diệm nói chuyện với Tổng thống Phi Luật Tân Magsaysay. Ngày 21/9/55, mở “Chiến dịch Hoàng Diệu” truy kích tàn quân Bình Xuyên tại Rừng Sác, do Đại tá Dương Văn Minh làm Tư lệnh, Trung tá Nguyễn Khánh, Tư lệnh phó. Ngày 4/10/55, hơn 15 đoàn thể Chính trị, Tôn giáo, Thanh niên, Lao động thành lập một Ủy ban Trưng cầu Dân ý, đưa kiến nghị “đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm”.
Ngày 6/10/55, Hội đồng Chính phủ quyết định tổ chức “Trưng cầu Dân ý”. Ngày 18/10/1955, Quốc trưởng Bảo Đại chấm dứt nhiệm vụ Thủ tướng của Ngô Đình Diệm. Ngày 23/10/55, Trưng cầu Dân ý “Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên chức vị Quốc trưởng.
Sydney ngày 3 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 4.633 chữ)
228: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ TRONG CHUYẾN ĐI CẦU VIỆN CỦA HỒ CHÍ MINH NĂM 1950.
Lê Xuân Đỗ
Bách khoa Toàn thư mở viết: Từ 1945, quân kháng chiến Việt Nam chỉ được võ trang bằng gậy tầm vông, mã tấu, dao găm, cây phạng, nội hóa và một số rất ít súng trường cũ thu được của Nhật hay thậm chí súng của Pháp từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất sót lai như súng Mousqueton, súng lục Rouleau do hãng St. Etienne bên Pháp chế tạo. Ngay cả với các đơn vị chủ lực, trang bị đều thiếu thốn và không thống nhất, có gì dùng nấy. Vũ khí chống tăng chuyên dụng rất ít, phần lớn là bom ba càn, một loại mìn chống tăng gắn trên cán gậy thu được của Nhật.
Một tiểu đoàn thường chỉ được trang bị tương đương với 1 đại đội của Pháp, với 2 đại liên, 1-2 súng cối 60 mm, tám trung liên, 140 đến 160 súng trường đủ các kiểu (Nhật, Nga, Pháp). Một nửa số bộ đội không có súng mà phải dùng những vũ khí thô sơ như nỏ, giáo mác và dao kiếm...Vì nhu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến nên ngay từ 1946, tại các mật khu, quân kháng chiến Việt Nam đã cho thiết lập những xưởng vũ khí thô sơ, sửa chữa hoặc chế tạo một ít bộ phận nhỏ của súng lục và súng trường, có khi cả loại trung - đai liên, đồng thời chế tạo lựu đạn nội hóa.
Theo "Báo cáo tổng kết vũ khí toàn quốc năm 1947" của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trang bị của toàn quân lúc này có 26.018 khẩu súng trường, và 1.522 khẩu súng máy các loại, trên tổng số gần 90.000 người. Nghĩa là, tỷ lệ trang bị súng chưa đạt nổi 1/3. Hiệu suất sử dụng thực tế còn kém hơn nhiều, do tình trạng kỹ thuật, thiếu đạn cũng như quá nhiều chủng loại hỗn tạp. Giai đoạn này, cây mác gần như trở thành vũ khí cá nhân cơ bản trong các đơn vị bộ đội ở Bắc Bộ.
Cho tới năm 1950, quân kháng chiến Việt Nam vẫn trong tình trạng thô sơ, họ áp dụng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến, phá hết nhà cửa, phố xá ở thành thị; còn tại thôn quê thì tre vót nhọn được cắm tua tủa khắp các bãi đất trống để ngăn cản Pháp nhảy dù. Ủy ban Hành chính Kháng chiến các xã, quận góp tiền mua ít nhất là một khẩu súng để tự vệ. Với thông cáo này, xã nào cũng đua nhau quyên góp tiền trong dân chúng để gửi đi. Nhưng, nguồn cung hầu như không có, nên du kích mỗi xã chỉ có được một khẩu súng Mousqueton đã rỉ sét với 5 viên đạn, mà có khi cả năm viên đều bắn không nổ.
Ở ngoài mặt trận, gậy tầm vông vót nhọn và dao găm là vũ khí chính. Mãi đến năm 1951-1952, gậy tầm vông vẫn là một thứ vũ khí lợi hại trong tay Việt Minh, không một cuộc phục kích ban đêm nào thành công mà không có một số binh sĩ Pháp chết vì bị gậy tầm vông đâm xuyên. Nhờ thu được chiến lợi phẩm nên các cấp chỉ huy từ Đại đội trưởng trở lên mới có súng lục mang bên hông. Còn ở hậu phương, những cán bộ được mang súng lục phải là cao cấp, cấp tỉnh hoặc cấp khu. Chiến tranh khi đó mang một hình thức thô sơ, vừa du kích, vừa cổ điển đối với phía Việt Minh.
Ngược lại, Quân đội Pháp được trang bị hiện đại theo tiêu chuẩn thời bấy giờ, có đầy đủ cơ giới: có hàng không mẫu hạm, tàu chiến, máy bay ném bom, xe tăng, thiết giáp, đại bác 105-155 ly do Hoa Kỳ viện trợ. Bộ binh trang bị đầy đủ các loại vũ khí như súng trường M-36, súng FM, súng trung liên Bar, tiểu liên Thompson, súng cối 60-120 ly, súng đại liên 12,7 ly, pháo liên thanh 20 mm v.v... Trong giai đoạn 1946-1950, trên khắp các chiến trường từ Nam chí Bắc, Pháp nắm thế chủ động, còn Việt Minh vẫn áp dụng chiến thuật du kích, chưa thể tiến tới chỗ "dùng nông thôn bao vây thành thị".
Cuối tháng 1 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang Bắc Kinh để xin viện trợ, sau đó đi Moskva gặp gỡ Stalin, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cũng đang ở thăm Liên Xô, ký Hiệp ước Hợp tác Xô-Trung. Các lãnh đạo Trung Quốc hứa sẽ thuyết phục Stalin công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xua tan mối nghi ngờ của Stalin về tính chất hai mặt của Hồ Chí Minh khi hợp tác với tình báo Mỹ và giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Hồ Chí Minh hứa sẽ tái lập Đảng Cộng sản, Cải cách Ruộng đất, và thực hiện chuyên chính vô sản.
Trong chuyến đi tới Moscow, Hồ Chí Minh hết lời ca ngợi Stalin, thậm chí ông còn sáng tác một bài thơ ca ngợi Stalin. Kết quả là Stalin và Mao Trạch Đông hứa: sẽ trang bị cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 10 Đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt trang bị tức thời cho 6 Đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Ngày 2/2/1950, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 20/SL tổng động viên nhân lực, tài lực của nhân dân để thực hiện tổng phản công. Tháng 4 năm 1950, hai Trung đoàn của Đại đoàn 308 sang Mông Tự, Vân Nam. Tiếp đó một Trung đoàn của Đại đoàn 312 sang Hoa Đồng, Quảng Tây nhận vũ khí.
Ngoài 3 Trung đoàn trên, còn có hai Tiểu đoàn công binh và trường sĩ quan lục quân cũng được gởi sang học tập, huấn luyện tại Trung Quốc. Những đơn vị nầy ngoài việc trang bị vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá, được bắn đạn thật nên tiến bộ rất nhanh. Nhờ vậy, mà quân đội được cải thiện đáng kể. Những năm qua, mỗi chiến sĩ chỉ mơ ước có một khẩu súng trong tay. Bây giờ không chỉ có súng mà đạn được cũng khá dồi dào.
Tính đến tháng 6-1950, số cán bộ sang Trung Quốc học tập là 3.100 người, trong đó 650 cán bộ học bổ túc trung và sơ cấp, 1.200 học cơ bản chỉ huy bộ binh sơ cấp, còn lại học về binh chủng như pháo binh... Bên cạnh việc trang bị vũ khí, giúp đỡ huấn luyện, viện trợ lương thực, Trung Quốc còn cử Đoàn công tác Hoa Nam gồm 79 người do Vi Quốc Thanh làm trưởng đoàn, ngày 12-8-50, đoàn đến Quảng Uyên, Cao Bằng. Trung Quốc cũng cử Trần Canh cùng một số cán bộ quân sự, trực tiếp làm cố vấn trong chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950.
Sydney ngày 4 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.246 chữ)
229: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI GIẢI PHÓNG CAO-BẮC-LẠNG 1950.
Lê Xuân Đỗ
Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết: “Đảng Cộng Sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán tháng 11 năm 1945, cùng với nó, tờ Cờ Giải Phóng. Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác bèn ra đời cùng với nó là tờ Sự Thật. Đầu 1949, tôi đến An toàn khu (ATK) để làm báo Sự Thật. Toà soạn báo Sự Thật lúc ấy vẻn vẹn ba cây bút sắt: (Hà) Xuân Trường (Hà Nghệ), thư ký toà soạn, Quang Đạm (Tạ Quang Đệ), Thép Mới (Hà Văn Lộc), từ báo Cờ Giải Phóng trước 1945. Và một cây bút lông: Phan Kế An, con cả cụ Phan Kế Toại, nguyên Khâm sai đại thần Bắc Bộ, nay là bộ trưởng Nội vụ.
Đầu năm 1950, hơn hai tháng sau nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa ra đời, Cụ Hồ bí mật len qua vùng địch ở Phục Hoà, Cao Bằng đi Trung Quốc qua Thủy Khẩu. Trần Đăng Ninh, Vũ Đình Huỳnh và Phạm Văn Khoa phiên dịch tiếng Trung Quốc theo cụ. Bác xuất ngoại, trong ATêKa chúng tôi rất mực vui. Đang vô thừa nhận mà lại sắp vớ được họ hàng toàn oách ra dáng hết. Đâu có biết đại thí sinh Hồ Chí Minh sắp dự cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới.
Thép Mới rủ tôi gặp Phạm Văn Khoa moi chuyện. Khoa đã được dặn cấm không hé răng. Chúng mày xì ra thì chết tao… Ừ, tao làm phiên dịch nhưng nhiều lúc Ông Cụ cũng chẳng cần tao… Ông Cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Họ không hiểu ta. Ông Cụ nhà mình nói… Thỉnh thoảng Mao lại dặng hắng ừ hừ hữ một cái rất to, kinh bỏ con bà, chẳng hiểu là tán thành hay phản đối. Sau khi Ông Cụ kiểm thảo, trình bày các cái ta chủ trương và làm, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét, chính sách tiêu thổ kháng chiến toàn bàn của Việt Nam là không cần thiết và lãng phí.
Khoa cho biết, sau đó Mao đi Liên Xô ký kết hiệp ước Sô-Trung. Sau này tài liệu chính thức của ta nói khi Cụ Hồ qua Bắc Kinh thì Mao đã đi Liên Xô rồi. Vì sao không biết, nhưng theo tôi, Khoa nói đúng, vì về nước mới mươi ngày, anh đã kể chuyện với chúng tôi. Sau này kể cho tôi viết hồi ký, Vũ Đình Huỳnh cũng bảo có gặp Cụ Mao, nhưng khi vào họp thì Huỳnh phải ở ngoài. Lúc ấy Mao sắp sang gặp Stalin và trong nghị sự chắc sẽ trao đổi ý kiến về công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, do đó Mao phải nghe Cụ Hồ trình bày trước”...
Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết tiếp: Để liền một dải với Trung Quốc, với phe xã hội chủ nghĩa, nói khác đi, để làm được tiền đồn của phe, để thoát cảnh một mình “chiến đấu giữa vòng vây” ta mở Chiến dịch Biên Giới giải phóng Cao Bắc Lạng. Tháng 8-1950, Dương Bích Liên, Vũ Cao, Hoàng Nghiêm điện ảnh, Thân Nhất Đài phát thanh và tôi lên Cao Bằng. Bộ đội ta sang Quảng Tây học tác chiến từ mấy tháng trước trở về rầm rập đêm ngày. Cố vấn Trung Quốc cùng với những con ngựa cao to kiểu Xích Thố chở ngất ngưởng chăn đệm, thau chậu. Cố vấn xuống tới tiểu đoàn, trung đội.
Tôi ngày ngày dự các buổi trung đội trưởng Trung Quốc dạy bộ đội ta đánh bộc phá, đâm lê. “Chú ý ngoáy cổ tay, vặn thế này, xốc lên”, anh phiên dịch nói to như gắt… Đoàn báo chí, văn nghệ dự buổi Võ Nguyên Giáp phổ biến trên sa bàn kế hoạch đánh thị xã Cao Bằng. Tôi và Nguyễn Địch Dũng đến trung đoàn 174 của Đặng Văn Việt (Trung đoàn trưởng) và Chu Huy Mân (Chính uỷ). Tuần sau, đánh Đông Khê, không đánh Cao Bằng như kế hoạch Võ Nguyên Giáp đã giới thiệu. Đánh Đông Khê, tôi đi với tiểu đoàn 251 chủ công Nguyễn Hữu An thuộc trung đoàn 174.
Khai hoả cho toàn trận đánh, là đồn tiền tiêu Cạm Phầy chợt như bị một bùi nhùi rơm khổng lồ, lửa văng tung toé. Cùng lúc súng nổ ran tứ phía. Nhưng hết một đêm không xong, Nguyễn Hữu An không vào nổi đồn! Đêm hôm sau, tôi nằm với bốn khẩu sơn pháo bắn thẳng của tiểu đoàn trưởng Thành. Thành đưa tôi một điện thoại nghe ban chỉ huy trận đánh chỉ đạo, cho bắn bao nhiêu viên 75. Nghe suốt đêm Lê Liêm chính ủy mặt trận biên giới giục lính 251 “anh dũng tiến lên, hy sinh cũng lên, không thể để đến sáng nữa…” Sáng tinh mơ sau đêm thứ hai diệt được Đông Khê, tiếng súng im hẳn... (Hết trích)
Bách khoa Toàn thư mở viết: Chiến dịch biên giới bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, diễn ra trong ba đợt. Đợt 1, ngày 16 tháng 9, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến hành đánh công kiên quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng tấn công cứ điểm Đông Khê nhằm cô lập Cao Bằng, và đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ dù quân Pháp đã huy động cả không quân yểm trợ. Sự kiện này làm mất một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4 của Pháp.
Sang đợt hai, quân Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng, đồng thời thực hiện cuộc "hành quân kép", gửi tiếp viện từ Lạng Sơn qua Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bố trí thế trận phục kích, bao vây sau đó lần lượt tiêu diệt cả hai cánh quân Pháp từ Thất Khê lên lẫn từ Cao Bằng rút về. Qua đợt ba, quân Việt Nam tiến hành truy kích quân Pháp rút chạy đồng thời liên tục quấy rối, không cho họ chuyển quân tiếp viện cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng, đến ngày 12 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn...
Ngày 17 tháng 10, sau khi đã đạt được toàn bộ các mục tiêu đề ra, Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ động kết thúc chiến dịch. Thắng lợi của của chiến dịch, khai thông một đoạn biên giới dài, nối Việt Bắc với các đồng minh lớn đến tận châu Âu, Chiến dịch cũng đã tạo ra hiệu ứng chủ bại và hoảng sợ tại Hà Nội, Cao Ủy Pháp Leson Pignon đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp tại Bắc Việt. Đàn bà, con nít Pháp tản cư, kiều dân Pháp phải nhập ngũ trong 3 tuần lể… Ngày 17 tháng 12 năm 1950, Đại tướng Jean de Lattre de Tassigny được chính phủ Pháp cử làm Cao uỷ kiêm Tổng Tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương thay thế Cao Ủy Pháp Leson Pignon.
Sydney ngày 5 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.255 chữ)
Bài 230: CHUYỆN KỂ VỀ ĐẠI HỘI ĐẢNG, CHỈNH HUẤN VĂN NGHỆ BÁO CHÍ VÀ BÀI THƠ KHÔNG CÓ VIỆC GÌ KHÓ… CỦA HỒ CHÍ MINH .
Lê Xuân Đỗ
Cũng sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết: Ngày 11-19/2/1951 mở Đại hội II, Hồ Chủ tịch nói: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam”. Không thích chui lủi, chúng tôi rất sướng được ra ánh sáng và thế là, quên mất câu Cụ nói ngày cho đảng rút lui vào bóng tối: Nếu cần có đảng phái thì sẽ là ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM… Bọn tôi kêu cái tên Đảng Lao Động Việt Nam yếu quá thì được đả thông ngay: Ông Cụ đã thỉnh thị Stalin và Stalin bảo lấy tên này. Thế ra, lúc Cộng sản Đông Dương, lúc Lao động Việt Nam đều do Stalin quyết định cả…
Trần Đỉnh viết tiếp: Từ Trung Quốc vào ta cùng với vũ khí, với những tam tam chế, tứ khoái nhất mạn, nhất điểm lưỡng diện, tiêm đao tung thâm chia cắt còn có cố vấn, có chỉnh huấn… Có thể nói một nề nếp sinh hoạt mới, một ý tứ mới phải tuân thủ, coi trọng. Tôi đã dự lớp chỉnh huấn đầu tiên chủ yếu dành cho đảng viên văn nghệ, báo chí ở ATêKa. Cán bộ ta sang tận Hoa Nam học cách thức về chỉ đạo. Tôi cùng chi bộ với Xuân Diệu, Nguyễn Tư Nghiêm, Phan Kế An, Lê Đạt… năm cái mồm lý sự cùng một số anh chị em khác. Bắt đầu thí điểm cho nên học nặng về tranh cãi chữ nghĩa.
Chi bộ tôi bỏ cả ba buổi thảo luận say sưa thế nào là tôn chỉ. Xuân Diệu cãi hăng nhất. Nhưng, hết phần lý luận, chuyển sang phần kiểm thảo thì mọi người đều cảm thấy ơn ớn. Mang máng một cái gì của sám hối tôn giáo, lờ mờ một cái gì xúc phạm nhân cách, cân cấn một cái gì muốn cưỡng lại nhưng không dám. Mỗi người đều phải khai hết sai lầm, khuyết điểm. Thành khẩn tự phanh phui bản thân là thước đo lòng trung thành với đảng. Một tên chỉ điểm vô hình được cài vào trong từng người. Và khi tên chỉ điểm ấy đã an vị trong anh thì từ đấy cái bóng lù lù của nó – một thằng cò sợ hay một thằng Javert của đảng – bèn trùm lên khắp người anh…
Có thể nói lớp chỉnh huấn tháng 3 năm 1951 ấy là mở đầu cho các cuộc chỉnh huấn đều kỳ của cán bộ đảng viên. Trước mỗi vận động lớn hay trong các cuộc học tập lý luận thường xuyên đều có chỉnh huấn. Chỉnh huấn là chìa khoá vạn năng thúc đẩy tiến bộ tư tưởng! Mục đích chỉnh huấn nham hiểm của Mao là dùng chỉnh huấn để khống chế “mỗi tôi con” của đảng, bằng cách nắm lấy cung của mỗi tôi con – một biến thể của hồ sơ mật thám. Ở đây thì lưu trữ rác rưởi của mỗi linh hồn rồi biến chúng thành một quả mìn đe nổ. Lúc ấy tôi chưa thể nhận thấy đó là cuộc xâm thực ô nhiễm nhân cách.
Song, lần truy nã tư tưởng đầu tiên chưa gay gắt. Trừ Ngô Tất Tố bị lưu lại kiểm thảo thêm mấy ngày, Tố khai hồi ở báo Cứu Quốc, trong một lần rượu Tết quá chén, Tố lỡ có nói một câu bậy bạ nghiêm trọng như sau: “Tôi là con chó, con chó thời Tây rồi thời Cộng sản. Chó thời Tây còn ủng oẳng sủa dăm ba tiếng, chứ chó thời Cộng sản thì cúp đuôi nằm im re”… Theo Như Phong, người từng dự bữa rượu kia bảo tôi: Bữa ấy, tớ có mặt, Tố cứ đấm ngực kêu ô ô lên như mày kể thật nhưng… đếch biết là hắn say thật hay là vờ để chửi, mày ạ.
Kỷ luật đang bắt đầu đi vào nề nếp sau khi cuốn “Bàn về tu dưỡng của người cộng sản” của Lưu Thiếu Kỳ được dịch và học tập rộng rãi. Quyển tu dưỡng đảng viên này, dạy đảng viên tuyệt đối trung thành với đảng cùng gìn giữ kỷ luật, tóm lại hãy quên cá nhân đi. Tôi nhớ nhất chuyện một số người hỏi Lê-nin vào Đảng Xã Hội Dân Chủ Nga của Plékhanov, rồi phá nó để lập Đảng Cộng sản Bolsevich thì có là chống đảng không, Lưu Thiếu Kỳ giải thích: không, bởi đó là Lê-nin còn anh thì chống đảng vì không là Lê-nin! Thép Mới nổi tiếng ở Atêka về phương châm anh tự đặt ra để răn mình: “mù, què, câm, điếc”. (Hết trích)
Về hoàn cảnh ra đời của Bài thơ “Không có việc gì khó; Sợ lòng không bền; Đào núi và lấp biển; Có chí ắt làm nên” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo lời kể của đồng chí Việt Thi, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch chỉ thị thành lập Đội thanh niên xung phong đầu tiên thành lập ngày 15/7/1950 để phục vụ chiến dịch biên giới, Sau đó, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường Cao Bằng - Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đội tổ chức thành nhiều Liên phân đội rải quân dọc tuyến đường những nơi hiểm yếu. Liên phân đội TNXP 321 nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.
Đêm 28/03/1951, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu, Bắc Kạn để đón Bác Hồ đến thăm. Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, chiếc khăn quàng cổ che kín cả chòm râu. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh. Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu: Các cháu ngồi cả xuống. Chúng tôi đều răm rắp nghe theo lời Bác, im lặng ngồi xuống. Bác hỏi: -Các cháu ăn uống có đủ no không?- Thưa Bác có ạ!- Các cháu có đủ muối ăn không?- Thưa Bác đủ ạ!- Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?- Thưa Bác đủ ạ!
Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn rất thiếu thốn. Bác lại hỏi: - Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không? - Thưa Bác có ạ! Sau đó Bác lại hỏi tiếp: - Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào? Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng.
Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:- Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt. Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp: Đào núi có khó không? Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó, có người “sợ nói khó” bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó… Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm.
Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi: Có ai dám đào núi không? Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa: Thưa Bác có ạ! thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ! Nghe xong, Bác cười: Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì? Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao”, có người “cần kiên gan bền chí”, có người “cần xung phong dũng cảm”… toàn khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó.
Bác động viên chúng tôi: Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ: Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên. Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào.
Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ đã là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc... (Hoàn cảnh ra đời Bài thơ: "Không có việc gì khó.... Nguyễn Thị Diệu Trang, Tổ tuyên truyền Đảng ủy cơ quan VKS TP, (16/01/2019) Nội dung sinh hoạt dưới Cờ kỳ 1 tháng 01/2019).
Sydney ngày 6 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.697 chữ)
231: CHUYỆN KỂ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VỀ CHIẾN DỊCH TRUNG DU, ĐƯỜNG 18 VÀ HÀ NAM NINH: 1950 - 1951.
Lê Xuân Đỗ
Tháng 12 năm 1950, ngay khi vừa đến nhậm chức, Tướng Jean de Lattre de Tassigny biết không còn hy vọng tiến công hay bao vây chiến khu Việt Bắc, ông ta cho tổ chức tuyến phòng thủ bảo vệ vùng đồng bằng mang tên ông gọi là “Phòng tuyến Tassigny”. Phía Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) từ khi chuyển sang chủ động tiến công, mở liên tiếp các chiến dịch – Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch đường 18, Chiến dịch Hà Nam Ninh - đã bóc vỏ Phòng tuyến Tassigny.Nhưng trong cả ba chiến dịch Trung du, Đường 18 và Hà Nam Ninh QĐNDVN đã phải chịu thiệt hại lớn trước quân Pháp do tướng Jean Lattre de Tassigny chỉ huy.
Trong bài “Mở liên tiếp ba chiến dịch vào trung du và Đồng bằng Bắc Bộ” Lê Văn Thành, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam viết: Ngay sau Chiến dịch Biên giới năm 1950 giành thắng lợi, Trung ương Đảng chủ trương: “Nhân lúc địch đang hoang mang sau thất bại trên Đường số 4 và chưa kịp củng cố hệ thống phòng ngự chiến lược của chúng ở cửa ngõ đồng bằng, tranh thủ phát triển tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn trung du và đồng bằng, làm thay đổi cục diện chiến trường, tiến tới giải phóng Đồng bằng Bắc Bộ”.
Ngày 25-12-1950, ta mở Chiến dịch Trung Du (25/12/-17/1/51) (còn gọi là Chiến dịch Trần Hưng Đạo) đánh vào phòng tuyến trung du từ Đông Việt Trì đến Tây sông Cầu. Trên địa bàn này, lực lượng bộ binh chiếm đóng của địch gồm 8 tiểu đoàn và 8 đại đội; lực lượng cơ động ứng chiến tại chỗ gồm 7 tiểu đoàn và 3 đại đội đứng chân tại ba Phân khu Bắc Giang, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc. Về phía ta, gồm Đại đoàn 308 trên hướng chính (Vĩnh Yên-Đông Đa Phúc), Đại đoàn 312 (thiếu) trên hướng thứ yếu (Đông Việt Trì-Vĩnh Yên). Trên các hướng phối hợp có 2 Trung đoàn của Bộ cùng lực lượng vũ trang tại chỗ.
Mục tiêu đặt ra: “Tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng khu lương thực, phát triển du kích chiến tranh, tranh thủ thời gian phá kế hoạch củng cố của địch, tạo điều kiện mới để tiêu diệt sinh lực địch nhiều hơn nữa”. Cách đánh “đánh điểm diệt viện”, kết hợp “đánh vận động với công kiên”. Đợt một: từ ngày 25-12-1950, chặn đánh cuộc hành quân Bê-cát-xin của Pháp vào khu vực tập kết của ta ở Xuân Trạch-Liễn Sơn, buộc địch phải co về thị xã Vĩnh Yên. Đêm 26 và 27-12, ta vận động bao vây, tiến công diệt 5 cứ điểm kiên cố (Hữu Bằng, Tú Tạo, đồi Cà Phê, Yên Phụ, Thằn Lằn), nhưng đánh các cứ điểm Chợ Thá, Chợ Vàng không thành công. Địch tăng cường phòng thủ Vĩnh Yên.
Sang đợt hai: từ ngày 30-12-1950 đến ngày 18-1-1951, vận dụng phương châm "đánh điểm diệt viện", ta tiến công diệt cứ điểm Ba Huyên, chặn đánh quân ứng cứu ở Thanh Vân-Đạo Tú, truy kích địch tới thị xã Vĩnh Yên và bao vây thị xã. Pháp tiếp tục đưa lực lượng cơ động có máy bay, pháo binh yểm trợ, mở cuộc hành quân giải tỏa, đánh chiếm Núi Đanh; ta chặn đánh và giành giật với địch từng điểm cao. Rạng sáng 17-1, nhận thấy yếu tố bất ngờ không còn, bộ đội đã trải qua ba tuần chiến đấu liên tục, lực lượng bị tiêu hao và sức khỏe giảm sút, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch.
Ngày 21 tháng 1, khi phân tích cục diện chiến trường Bắc Bộ để đề đạt phương hướng nhiệm vụ mở chiến dịch tiếp theo, Tổng Quân ủy nhận thấy Chiến dịch Trung du kết thúc không thuận lợi nên trước mắt không thể mở chiến dịch trên hướng Liên khu 3 như dự kiến trước đây, từ đó Tổng Quân ủy nhất trí đề nghị phương hướng chiến dịch sắp tới là Đông Bắc, cụ thể là Đường 18 từ Phả Lại đến Uông Bí (Chiến dịch mang tên Hoàng Hoa Thám). Đây là nơi địa hình nửa rừng núi, nửa đồng bằng và là nơi địch yếu hơn ở chiến trường Trung du. Tham gia chiến dịch gồm 2 đại đoàn (308 và 312), hai trung đoàn độc lập (174 và 98).
Mở đầu chiến dịch, đêm 23-3-1951, bộ đội ta tiêu diệt 4 cứ điểm nhỏ để nhử viện binh địch. Đêm 27-3, bộ đội ta tiêu diệt vị trí Bí Chợ và Tràng Bạch, mỗi vị trí có trên dưới một đại đội địch. Đêm 29 và 30-3, bộ đội ta đánh tiếp các vị trí Mạo Khê mỏ và Mạo Khê phố, nhưng không thành công. Đêm 4 và 5-4, ta đánh tiếp các vị trí Bến Tắm, Bãi Thảo, Hoàng Dán cũng không thành công, chủ yếu vì pháo địch từ Đông Triều và sông Đá Bạc bắn tới, tạo thành hàng rào lửa khiến các đợt xung phong của ta gặp khó khăn. Ngày 6-4, chiến dịch kết thúc.
Ngay sau khi Chiến dịch Hoàng Hoa Thám vừa mới kết thúc chưa đầy nửa tháng, thực hiện chủ trương tiếp tục tiến công địch ở Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, ngày 20-4, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hà Nam Ninh (20/4/51 kéo dài 3 tuần) (gọi là Chiến dịch Quang Trung) tiến công khu vực Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nhằm tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực địch, phá tan khối ngụy quân, thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển, giành giật với đối phương “kho người, kho của” ở vùng đồng bằng. Tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn (304, 308, 320) cùng công binh, pháo binh và lực lượng vũ trang tại chỗ.
Theo kế hoạch, đợt 1 ta đánh nhiều trận công kiên giành thắng lợi. Đại đoàn 308, lần đầu tiên tiêu diệt toàn bộ quân địch trong tỉnh lỵ Ninh Bình. Một đại đội huấn luyện của địch gồm toàn hạ sĩ quan người Âu bị diệt gọn trong nhà thờ Đại Phong. Hai vị trí Non Nước và Hồi Hạc, mặc dù được tăng cường thêm 2 đại đội cũng bị tiêu diệt. Bước vào đợt 2, quân địch tiếp tục tăng viện cho tuyến phòng thủ sông Đáy, thay quân trên nhiều vị trí và tăng cường càn quét trên các địa bàn trọng điểm. Quân ta tiến công và bức hàng một số vị trí, nhưng riêng trên hướng chính ta không thành công trong các trận Chùa Cao, Cầu Bút, Ngọc Lâm (Ninh Bình).
Sau trận thắng lớn của Đại đoàn 320 đẩy lui cuộc càn của địch ở Chợ Cháy (Ứng Hòa), chiến dịch kết thúc trong điều kiện so sánh lực lượng bất lợi cho ta, quyền chủ động không còn, chiến dịch không còn điều kiện phát triển… (Hết trích). (QĐND Online Thứ sáu, 31/10/2014 - 11:14 LÊ VĂN THÀNH, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)
Sydney ngày 7 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.258 chữ)
232: CHUYỆN KỂ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VỀ CHIẾN DỊCH HOÀ BÌNH VÀ TRẬN ĐÁNH NÀ SẢN NĂM 1951-1952.
Lê Xuân Đỗ
Tháng 10 năm 1951, Tướng Jean de Lattre de Tassigny quyết định đánh chiếm Hòa Bình. Ngày 10 tháng 11 năm 1951, Pháp mở cuộc hành quân "Hoa Tuylíp" (Opération Tulipe) đánh chiếm Chợ Bến cắt đường di chuyển của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) từ Việt Bắc xuống đồng bằng. Đến 5 giờ chiều cùng ngày thì Pháp kiểm soát được khắp vùng Chợ Bến, khoảng 100 cây số vuông. Ngày 14 tháng 11 năm 1951 Pháp mở cuộc hành quân "Hoa Sen" (Opération Lotus) do đích thân tướng Raoul Salan chỉ huy, cũng như hôm tấn công vào Chợ Bến, Hòa Bình bị chiếm dễ dàng, không có sự kháng cự nào của QĐNDVN.
Ngày 15 tháng 11 năm 1951, tướng Salan tuyên bố Pháp kiểm soát được Hòa Bình, khoá cửa ngõ tiếp tế và giao thông của Việt Minh giữa đồng bằng và Việt Bắc. Ngay chiều hôm đó, Cao uỷ kiêm Tư lệnh quân đội Pháp tai Đông Dương tướng de Lattre đích thân chủ trì cuộc họp báo tại Hà Nội loan tin chiến thắng Hòa Bình và tuyên bố: "Tiến công Hòa Bình đã gây khó khăn lớn cho đối phương. Tiến công Hoà Bình có ý nghĩa chiến lược là chúng ta đã buộc đối phương phải xuất trận. Trận Hòa Bình có ảnh hưởng quốc tế lớn".
Ngày 15 tháng 11 năm 1951 Tổng quân uỷ họp đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh "cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch khi mới chiếm đóng. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích". Tại cuộc họp, cố vấn Trung Quốc Mai Gia Sinh, nói với Hoàng Văn Thái: "Tôi nghĩ sau mấy chiến dịch gặp khó khăn, mùa đông này ta lên đánh nhỏ như kế hoạch trước đây, nhằm phát động chiến tranh du kích".
Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: "Đó là một cơ hội hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đánh ra Hoà Bình địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình đột xuất, công sự chưa vững chắc. Mặt khác vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến Trung du đều tương đối sơ hở hơn trước".
Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Tổng quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, Đại đoàn 320 đánh địch từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà và hai bên tả, hữu sông Đà. Đại đoàn 308 sẵn sàng chiến đấu. Đại đoàn 304 đánh địch ở phía nam Hòa Bình, tiêu diệt một số điểm cao, cắt đường vận chuyển của Pháp trên đường số 6 để phối hợp với các đại đoàn 308, 312 hoạt động trên tuyến sông Đà và vùng thị xã Hoà Bình. Đại đoàn công binh-pháo binh 351 và lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với chiến dịch.
Các Đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng quân đội Pháp tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ, cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh Pháp, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, mở rộng du kích. Đại đoàn 316 được phối thuộc trung đoàn 246, phối hợp với bộ đội địa phương hoạt động ở Bắc Giang, Bắc Ninh. Trung đoàn 98 thâm nhập vào vùng địch hậu Bắc Ninh. Trung đoàn 174 đánh từ một đến hai vị trí ở tuyến ngoài. Trung đoàn 176 bố trí giữ mặt Lạng Sơn.Đợt đầu tiên nhằm đánh tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ, nùi Nhẹ, nằm trong tuyến phòng thủ phân khu sông Đà của Pháp.
Phương châm là "đánh điểm diệt viện", kết hợp chặt chẽ đánh công kiên với đánh phục kích giao thông, tiêu diệt quân viện trên sông, trên bộ, vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận quân Pháp đi càn quét sục sạo, buộc Pháp phải co vào các vị trí dã chiến, đánh tiêu diệt quân nhảy dù hoặc quân ứng cứu giải tỏa. Về hậu cần, Tổng Quân ủy quyết định thành lập hai Ban cung cấp tiền phương ở bắc và nam Hòa Bình. Ban cung cấp tiền phương mặt trận Bắc Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 và Đại đoàn công pháo 351 cùng các lực lượng vũ trang địa phương.
Ban cung cấp tiền phương mặt trận Nam Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 304, Đại đoàn 320. Thời kỳ đầu ở mặt trận Hòa Bình đã chuẩn bị được 820 tấn gạo và có 20.000 dân công phục vụ chiến dịch. Công tác quân y đã chuẩn bị đủ thuốc cứu chữa cho 4.000 thương binh. Kết quả trong 78 ngày đêm bảo đảm cho chiến dịch, đã huy động trên 330.400 lượt dân công phục vụ chiến dịch với 11.914.000 ngày công, các Ban cung cấp mặt trận đã tiếp tế cho bộ đội 6.475 tấn lương thực, thực phẩm, 280 tấn đạn, cứu chữa 6.390 thương binh.
Trong lúc tình hình chiến sự căng thẳng thì quân Pháp lại nhận tin xấu: bệnh tình của tướng De Lattre đã vô vọng cứu chữa. Từ nhiều tháng qua, De Lattre bị ung thư chân. Công việc điều khiển Đông Dương, những hành trình về Pháp và qua Mỹ để xin viện trợ, sự đau buồn vì con trai độc nhất là Trung úy Bernard bị tử thương (ngày 30/5/51) đã làm De Lattre kiệt sức dần, bệnh tình càng ngày càng trầm trọng, đến ngày 19 tháng 11 năm 1951, De Lattre trở về Pháp để vào bệnh viện giải phẫu. Ngày 7 tháng 12 năm 1951 De Lattre bất tỉnh, đến ngày 12 tháng 12 năm 1951 thì từ trần.
Ngày 6/1/52, Trung úy Leclere con trai Đại tướng Leclere bị thương và bị bắt làm tù binh trên Sông Đáy. Vandanberghe Trung đoàn trưởng Lê Dương tử trận gần Nam Định. Ngày 8 tháng 1 năm 1952, tướng Raoul Salan được cử giữ chức Quyền Chỉ huy Quân đội viễn chinh thay De Lattre. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, sáng 23 tháng 2 quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình theo cách cuốn chiếu. 17 giờ ngày 22 tháng 2 năm 1952, có 5 tiểu đoàn Pháp ở thị xã lặng lẽ vượt sông Đà. Trung tá Ducourneau và Đại tá Gilles chỉ huy cuộc triệt thoái.
Hơn 1.000 dân Mường, 20.000 binh sĩ cùng các chiến cụ, đạn dược khí giới vượt qua sông, tiến về Hà Nội bằng đường số 6. Máy bay Pháp nối nhau trút bom, bảo vệ cho binh lính chạy về phía đoàn xe trên đường 6. Nhìn chung, Pháp tổ chức rút quân chặt chẽ, dùng tới 30.000 viên đạn pháo để yểm trợ cho cuộc rút quân. Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng không tổ chức tốt việc đánh quân Pháp rút lui nên chỉ diệt được một số, còn phần lớn quân đội Pháp chạy thoát về Xuân Mai. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Quân uỷ quyết định kết thúc chiến dịch.
Bách khoa toàn thư mở, viết: “Chiến dịch Hoà Bình được mở vào tháng 11 năm 1951 đã trở thành cái "cối xay thịt" đối với cả hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam chịu thương vong không nhỏ, nhưng họ đã học được cách đối phó với chiến thuật và vũ khí của Pháp, và họ đã thâm nhập được sâu hơn vào trong vòng cung phòng thủ của Pháp”.
Sydney ngày 8 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.396 chữ)
233: CHUYỆN KỂ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VỀ CHIẾN DỊCH HOÀ BÌNH VÀ TRẬN NÀ SẢN NĂM 1951-1952 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Ngày 12/3/52, tại Thái Bình, với sự yểm trợ của Thủy quân và Không quân, 5 Trung đoàn Lưu động Pháp mở cuộc hành quân càn quét vùng Trà Lý và Sông Diêm Hồ. Ngày 6/5/52, tướng Salan, Tổng Tư lệnh tuyên bố sẽ dồn lực bình định Trung Châu Bắc Việt, không cho địch lấy thóc trong dân chúng. Ngày 15/5/52, Pháp mở nhiều cuộc hành quân ở Trung Châu Bắc Việt như hành quân “Lạc Đà=Dromadaire” vùng Hưng Yên và Bùi Chu, hành quân “Tango” mạn Phúc Yên và Sông Đuống.v.v. Ngày 2/6/52, Pháp mở cuộc hành quân “Sơn Dương=Antilope” vùng Duy Tiên, Phủ Lý, Hưng Yên.
Ngày 29/6/52, Pháp mở cuộc hành quân tảo thanh ở Đông Triều, Kinh Môn, và Bắc Phát Diệm. Ngày 4/7/52 kịch chiến ở Thọ Lão, Kẻ Sặt một Trung đoàn Việt Minh chặn đánh một Đoàn Lưu động Pháp. Ngày 11/10/52, Pháp mở cuộc hành quân tảo thanh vùng Ninh Bình, Phúc Nhạc, Điền Hộ với gần 10.000 quân tham chiến. Ngày 13/10/52, đồn Nghĩa Lộ bị tấn công mạnh, với hai Sư đoàn 302 và 308 vây đánh suốt ngày đêm. Ngày 14/10/52 một Tiểu đoàn nhảy dù Pháp được thả xuống cứu viên Nghĩa Lộ, một đơn vị khác được gởi tới Sơn La. Ngày 18/10/52, Nghĩa Lộ thất thủ, tất cả miền núi, Trung du bị bỏ ngỏ.
Ngày 29/10/52, Pháp mở cuộc hành quân Lorraines phản công ở Hưng Hóa và Phú Thọ, đánh tập hậu hai Sư đoàn 302 và 308 của Việt Minh. Ngày 1/11/52, quân Pháp vào được Hưng Hóa và Phú Thọ. Ngày 9/11/52, quân Pháp vào được Phủ Đoan. Ngày 14/11/52, quân Pháp tới Yên Báy, nhưng bị phản công mạnh phải rút lui. Ngày 24/11/52, quân Pháp rút khỏi Sơn La. Ngày 27/11/52, quân Pháp từ Yên Báy rút được về Việt Trì, và cố thủ Na San. Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ Nà-San. Ngày 1/12/52, nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tấn công Na San, nhưng bị đẩy lui. Ngày 2/12/52, Na San lại bị tấn công, nhưng nhờ phi cơ và pháo binh nên giữ được. Buổi chiều Việt Minh rút lui để lại vài trăm xác chết.
Theo Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự 20 tháng 9, 2018 thì, Tập đoàn cứ điểm Nà Sản nằm trên cao nguyên Nà Sản, là một lòng chảo thuộc địa phận xã Chiềng Mun - huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La với diện tích khoảng 10km2 được bao quanh bởi các dãy núi cao trên 700m. Nà Sản cách Hà nội 190km theo đường chim bay, và cách khoảng 40 phút bằng máy bay. Dân cư thưa thớt, toàn người Thái sống về nghề làm rẫy. Nà Sản cũng nằm trên tỉnh lộ số 41 nối liền Lai Châu, Điện Biên qua Sơn La, Mộc Châu xuống Thanh Hóa hoặc sang Hoà Bình về Hà Nội, vì vậy vị trí Nà Sản quan trọng trong việc tiếp tế bằng đường bộ cho khu vực Thái và trấn giữ vùng Thượng Lào.
Tại cứ điểm Nà Sản có sân bay, Sở chỉ huy, một số đồn bốt, hệ thống hỏa lực mạnh của bốn khẩu pháo 105mm và nhiều đường giao thông hào vây quanh bảo vệ khu trung tâm. Lực lượng chiếm đóng tại Nà Sản gồm 8 tiêu đoàn, sau được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn. Thiếu tá chỉ huy Pháp Jean Gilles lần đầu áp dụng chiến thuật “Con Nhím” tại Đông Dương ở trận Nà Sản, chiến thuật là 1 hệ thống tập đoàn cứ điểm bao quanh và giữ mối tiếp viện bằng đường hàng không. Giống như con nhím với các cứ điểm phòng vệ giống như gai nhím. Chiến thuật có tác dụng phòng ngự, chống lại những đợt tấn công của đối phương chứ không phải tấn công đối phương, do đó sẽ không rơi vào bẫy phục kích
Đầu tháng 11 năm 1952, một cầu không vận ngày đêm hoạt động, chuyên chở các đồ tiếp tế: đạn dược, lương thực, xe ủi đất, hàng ngàn tấn dây kẽm gai và lừa ngựa từ Hà Nội lên Nà Sản. Để xây dựng hệ thống cứ điểm Nà Sản , Pháp đã sử dụng hai đại đội công binh và hàng ngàn phu phen xây cất 30 điểm tựa xung quanh lòng chảo, các cứ điểm nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, bên ngoài được phủ dây thép gai. Lực lượng phòng vệ gồm có 8 tiểu đoàn và 6 khẩu trọng pháo 105mm và sau khi trận Nà Sản diễn ra, cứ điểm được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn
Trận Nà Sản bắt đầu vào đêm 30 tháng 11 rạng ngày 1 tháng 12, Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) ồ ạt tấn công vào các điểm tựa phía đông bắc. Trung đoàn 102 cùng trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 tiến công Pú Hồng (điểm cao 753). Sau 1 giờ 45 phút chiến đấu, QĐNDVN chiếm được điểm tựa số 24 do trung úy Pipart phụ trách với một đại đội lính Thái và lính Maroc, diệt bốn trung đội của GM1 đóng tại đây, bắt sống viên quan ba chỉ huy. Cùng đêm, tiểu đoàn 115 của trung đoàn 165 Đại đoàn 312 tiến công vị trí Bản Hời. Sau hơn một giờ chiến đấu, QĐNDVN diệt một đại đội địch.
Tới gần sáng, nhờ trọng pháo và không quân yểm trợ, Gilles phản công với những đơn vị dự trữ, Gilles lấy lại được đồn, QĐNDVN rút lui. Đêm hôm sau, 11 tiểu đoàn QĐNDVN ồ ạt tấn công vào hai đồn chính bảo vệ cứ điểm Nà Sản. Từ 9 giờ đêm đến 7 giờ sáng, nhờ thời tiết tốt nên máy bay Pháp thả pháo sáng khắp trận địa, liên tiếp ném bom và bắn pháo liên thanh xuống vị trí QĐNDVN, đồng thời các giàn đại bác nhả đạn xung quanh đồn, ở trong đồn thì lính cố sức cầm cự, QĐNDVN thiệt hại nhiều mà không chiếm được đồn.
Trung đoàn 209 đánh Bản Vây cũng không kết quả. Trời sáng, Pháp dùng máy bay oanh tạc và bắn trên 5.000 quả đạn pháo để cứu nguy cho các cứ điểm. Đến sáng, QĐNDVN rút lui. Ngày 2 tháng 12, không quân Pháp thả dù tăng cường thêm cho Nà Sản hai tiểu đoàn, quyết giữ tập đoàn cứ điểm này. Những ngày sau, QĐNDVN biết là vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ, nếu tiếp tục tấn công thì bất lợi. Trước những khó khăn mới nảy sinh, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc, QĐNDVN rút lui khỏi Nà Sản không trở lại nữa.
Đầu tháng 8/1953, Navarre cho rút toàn bộ quân Pháp khỏi Nà Sản bằng đường hàng không và ba ngày sau đó QĐNDVN mới nhận được thông tin vì quân Pháp đã khéo léo ngụy trang và nghi binh. Toàn bộ quân Pháp được chuyên chở bằng máy bay vận tải khiến QĐNDVN tưởng lầm quân Pháp đang tăng cường để chuẩn bị đối phó với QĐNDVN. Cuộc rút lui diễn ra êm thấm. Sau này QĐNDVN mới biết quân Pháp không thể duy trì Tập đoàn cứ điểm Nà Sản vì qua chiến dịch Sầm Nưa, nó đã chứng tỏ không có khả năng ngăn chặn các đại đoàn chủ lực của QĐNDVN tiến sang Thượng Lào.
Từ chiến thuật “Con Nhím” thành công ở Nà Sản, Pháp đã xây dựng tập đoàn cứ điểm to lớn hơn là căn cứ Điện Biên Phủ. Về hình thức, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là sự phóng đại hoàn hảo của Tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Và từ bài học này ở trận Nà Sản, QĐNDVN đã tìm ra cách để đánh bại quân Pháp ở trận đánh Điện Biên Phủ lịch sử. P/S: Thất bại là mẹ thành công (Trích bài viết TRẬN NÀ SẢN, BÀI HỌC QUÝ BÁU CHO ĐIỆN BIÊN PHỦ của Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự ngày 20/9/2018).
Sydney ngày 9 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.409 chữ)
Bài 234: CHUYỆN KỂ VỀ LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, CHỈNH HUẤN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT VÀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT THÍ ĐIỂM 1953.
Lê Xuân Đỗ
Bách khoa Toàn thư mở viết: Tháng 10 năm 1952, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bản "chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam" cho Stalin để "đề nghị xem xét và cho chỉ dẫn" và cho biết chương trình hành động được lập bởi chính ông dưới sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ. Từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 12 năm 1953, tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ". Ngày 4 tháng 12 năm 1953, Quốc hội thông qua và ngày 19 tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành luật Cải cách ruộng đất 197/HL.
Cũng Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết: Chuẩn bị “Cải cách Ruộng đất”, từ giữa tháng 7 đến cuối tháng 9 năm 1953, Trung ương mở một lớp chỉnh huấn cho trí thức trong và ngoài đảng làm việc ở chính phủ và các đoàn thể trung ương. Nhiều tên tuổi như Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Thế Lữ… đã dự học. Mục đích sâu xa là xây dựng lập trường giai cấp, đề cao công nhân, bần cố nông, hạ uy thế chính trị và tư tưởng của trí thức và các giai tầng không lao động chân tay khác.
Mấy tòa nhà lán tre nứa cao rộng vây quanh hai mặt một hội trường lớn. Riêng ở một tòa ở xế trước hội trường là ba hay bốn chi bộ (gồm cả đảng viên lẫn không đảng phái). Chi bộ đầu lán có Nguyễn Cao Luyện, Tạ Mỹ Duật. Liền với nó, trên cùng một sạp giường nứa dài cả hai ba chục mét, một chi bộ nữa và đặc biệt lại có Nguyễn Tư Nghiêm và tôi. Ở sạp đối diện, cách một lối đi là hai chi bộ nữa. Một có Đặng Đình Hưng và một có Vũ Chính, Tổng cục trưởng Tổng cục 2 sau này. Tố Hữu là bí thư học ủy. Cụ Hồ cách nhật, có khi liền ngày, đến xem điện ảnh, liên hoan với học viên.
Lê Duẩn thường có mặt, giảng bài chính. Lập trường giai cấp nông dân và cách mạng dân tộc, dân chủ. Duẩn nhấn mạnh trong bước cách mạng này, người cộng sản phải có lập trường giai cấp nông dân để hiểu được nguyện vọng nông dân mà kiên quyết lãnh đạo họ cải cách ruộng đất, lấy lại quyền lợi, làm một cuộc đổi đời. Tôi ngợ: theo Mác, Lê-nin thì người cộng sản không thể có lập trường nào khác ngoài lập trường giai cấp công nhân. Có điều ý kiến của Lê Duẩn chỉ nói ở trong cái lớp mấy trăm con người này. Vả chăng không ai dám phê phán hay chất vấn sất.
Phải nhận Duẩn có nhiều ý độc đáo. Như ta mất nước cho Pháp là vì lúc đó đang là thời đại chủ nghĩa tư bản, nó chiến thắng áp đảo phong kiến. Duẩn mới ở trong Nam ra với biệt hiệu đơ-xăng bu-gi, hai trăm nến chỉ sau có Cụ Hồ xanh-xăng bu-gi, năm trăm nến. Chúng tôi hay xúm quanh Lê Duẩn để hỏi. Phải nhận ông có những cách giải thích độc đáo. Chẳng hạn, trả lời tại sao chỉ có Đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam chỉnh huấn, còn các đảng Âu Mỹ thì không, Duẩn nói, vì ta và Trung Quốc ít công nhân cho nên phải bỏ công ra tỉa gọt từng đảng viên cho có được lập trường giai cấp vô sản.
Một tối họp chi bộ nghe và nhận xét các bản tự kiểm thảo của nhau. Tố Hữu xuống dự chi bộ chúng tôi tối đó. Tôi có phần đao to búa lớn phê phán người vừa trình bày xong bản kiểm thảo. Tố Hữu bỗng giơ tay ngăn tôi lại. Rồi từ tốn, nhỏ nhẹ nói “Đồng chí vừa phê phán ai, đồng chí biết không? Phê phán đồng chí của đồng chí đấy, đồng chí phải biết điều ấy! Đồng chí của đồng chí là gì? Là hòn ngọc…, tôi nói lại, là hòn ngọc, hòn vàng của đảng, là người mà chúng ta phải yêu mến nâng niu..” Nhưng, trong con mắt Tố Hữu nhìn người vừa bị chỉnh đốn kia một ánh trắng xỉn, lạnh lẽo, một cái gì khinh khỉnh.
Định nghĩa đảng viên là ngọc là vàng của đảng cho nên vào tổng kiểm thảo Tố Hữu yêu cầu học viên rất ngặt. Thứ nhất, hễ là con em hay liên quan với địa chủ, học viên đều phải thành khẩn tự khai báo với đảng mọi sai lầm tội lỗi của bản thân, chẳng hạn đồng tình, về hùa với gia đình, thậm chí cùng với gia đình trực tiếp đàn áp, bóc lột nông dân… Thứ hai, phải vạch ra mọi thủ đoạn đàn áp, bóc lột nông dân cùng tộí ác của bố mẹ, gia đình, họ hàng địa chủ, cường hào gian ác. Thứ ba trên cơ sở thành khẩn khai báo kia mà tuyên bố là căm thù bố mẹ, tỏ ra đã dứt khoát lập trường vô sản, đoạn tuyệt với kẻ thù giai cấp.
Không đạt yêu cầu căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ thì bản tổng kiểm thảo bị “phá sản,” học viên đó phải ngồi học lại cho tới khi nào lập trường vô sản, lập trường nông dân thắng, anh ta công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ mình. Tố Hữu làm đúng lời Bác Hồ thôi. Sắp vào tổng kết tư tưởng, Bác Hồ đến nói chuyện, thực chất “động viên” học viên dứt khoát với tư tưởng sai và lầm lạc, tội lỗi của cá nhân. Như thấy làm việc cho thực dân Pháp là nhục nhưng vẫn chưa triệt để, phải tiến lên một bước nữa là thấy tội của mình… Bữa ấy Bác lôi cả nhục và tội của cụ Bùi Bằng Đoàn ra trước mọi người.
Tôi nhớ chi tiết này, vì tôi đã ái ngại cho cụ thượng thư cũ. Nhất là khi Bác Hồ nói “Xin lỗi cụ Bùi” thì cụ Bùi Bằng Đoàn rất ôn tồn đáp lại: “Không dám, xin cụ cứ nói.” Tôi có phần thiện cảm với chữ “Không dám” mà từ khi lên ATK trên rừng bây giờ mới lại nghe đến. Cũng thương cụ Bùi chỉ được gọi là Cụ! Lúc ấy tôi chưa biết Mao bày mẹo chỉnh huấn bắt khai tội cốt để hạ nhục bề dưới để dễ thu phục, dể sai khiến –tao bắt mày khai cái thối tha nhất của mày ra, mà mày nghe tao là mày hàng tao, tao nắm được ruột gan mày thì mày còn hòng thoát đi đâu.
Làm nhục và sợ là yêu cầu sâu kín của “tự kiểm thảo”. Nhiều người đã tự sát. Người đầu tiên tự sát trong chỉnh huấn là Thân Mỡ, người đảng viên do Kỳ Vân kết nạp đầu tiên ở Đình Bảng, và chính Thân Mỡ đã kết nạp Lê Quang Đạo, Thân Mỡ treo cổ chết khi tổng kết tư tưởng, lúc ông học trường Mác-Lê ở Bắc Kinh. Ở lớp chỉnh huấn báo Cứu Quốc có Lưu Động, Chính Yên, và Thướng, biên tập viên của báo tham dự. Thướng treo cổ bên ngòi Thia, sông Đáy. Hai anh Lưu Động, Chính Yên đã phải lặn lội tìm xác kẻ “phản bội,” phá hoại chỉnh huấn, lời của bí thư học ủy Nguyễn Chương.
Sydney ngày 10 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.364 chữ)
Bài 235: CHUYỆN KỂ VỀ LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, CHỈNH HUẤN CẢI CÁCH VÀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT THÍ ĐIỂM 1953 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Cũng Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết tiếp: Là người phụ trách tổ cải cách ruộng đất của báo. Mỗi số báo tôi được hai trang để tuyên truyền cải cách ruộng đất. Chủ yếu phổ biến kinh nghiệm các đoàn đang giảm tô giảm tức ở Thanh – Nghệ. Và kinh nghiệm cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Tài liệu ở nội san các đoàn giảm tô, bản dịch được Hoàng Ước, thư ký của Hoàng Quốc Việt, người chỉ đạo cải cách ruộng đất lúc đó gửi cho. Tóm lại, các kinh nghiệm khêu gợi căm thù và tiến hành bạo lực, trong đó có cả chuyện Pavlik Morozov, cậu bé tố cáo bố phú nông ở Liên Xô.
Cải cách Ruộng đất chính thức nổ pháo hiệu đầu tiên ở xã Dân Chủ, Đồng Bẩm, Thái Nguyên, trên quốc lộ 1 lên Lạng Sơn. Đối tượng: Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, nhân sĩ tên tuổi trong Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, và cũng là Trung ương Mặt trận Liên Việt, người thường cùng họp long trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt. Nay bà trở thành địa chủ phản động, cường hào gian ác lợi dụng tiếng thân sĩ để phá hoại cách mạng và kháng chiến, có nhiều nợ máu với bần cố nông. Đặc biệt Công, con trai bà Nguyễn Thị Năm, theo Việt Minh hoạt động bí mật, nay là Chính ủy trung đoàn pháo 105 li đang học ở Côn Minh, Trung Quốc cũng bị gọi về, treo giò.
Để có “phát pháo mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất”, Trường Chinh chỉ thị báo Nhân Dân tường thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm – Cát Hanh Long. Tôi nhận nhiệm vụ. Trường Chinh nói phân công tôi, vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội. Tôi nói tôi không dự đấu tố, thì anh bảo tôi khai thác Văn, người cấp dưỡng theo anh tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến các buổi đấu tố. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.
Thế là tôi viết bài khai hỏa cải cách ruộng đất theo sự pha phách thêm nếm khó lòng tránh khỏi của người cấp dưỡng đáng yêu của Tổng bí thư. Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB (Bác Hồ) gửi đến bài “Địa chủ ác ghê”. Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát – Hanh – Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã giết chết 14 nông dân; tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật; làm chết 32 gia đình gồm có 200 người (năm 1944). Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân (năm 1945). Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng. Thế là, ba mẹ con địa chủ Cát Hanh Long đã trực tiếp, gián tiếp giết chết ngót 260 người” (Nguyên văn bài báo “”Địa chủ ác ghê”).
Dăm bữa sau bài “phóng sự nghe kể lại,” tôi xuống Đồng Bẩm. Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu Quốc, trong đội cải cách về đây còn ở lại lo hậu sự. Tôi hỏi chuyện bắn, anh lè lưỡi lắc đầu mãi rồi mới kể lại. “Sợ lắm, tội lắm, đừng có nói với ai, chết tớ. Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh”. Du kích quát: “Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!”. Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà.
Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì nhỏ quá không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?”. Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”
Chính ủy Công, con bà Nguyễn Thị Năm, được CB (Bác Hồ) nhắc đến trong bài báo ở trên, bị điệu từ Vân Nam về và ngồi cùng mẹ chịu đấu tố, nhưng nghe nói không được dự buổi chôn cất mẹ. Sau Nguyễn Thị Năm một tháng đến lượt xử Cử Cáp. Phát khai hoả thứ hai. Lần này tôi đến dự buổi thi hành án: bắn. Mít tinh tuyên án vào buổi tối. Bãi đất thuộc xã Phú Xuân, vùng chè Tân Cương. Vài trăm con người ngồi vây kín lấy một khoảnh đất trống. Khai mạc rất thình lình. Cũng thình lình chánh án Lê Giản xuất hiện. Lại cũng rất thình lình mấy người lính giải hai đối tượng đi ra.
Cử Cáp, hơn bảy mươi tuổi, nguyên huấn đạo, Ủy viên Mặt trận Liên Việt, cũng địa chủ kháng chiến, thân sĩ như Nguyễn Thị Năm, tức là thuộc diện bị chính sách cải cách ruộng đất chiếu cố. Ấn tượng mạnh nhất ở ông già là chỏm râu bạc trắng. Cạnh cụ, bí thư chi bộ nhưng nay đã thành “Quốc dân đảng” thông đồng với Cử Cáp phá hoại kháng chiến. Thấp nhỏ, chạc bốn chục tuổi, anh có cái dáng quen thuộc của cán bộ xã ta thường hay lui tới nhà cụ cùng cơm nước, ngủ đêm… Không như Cử Cáp nom lớ ngớ – vừa sợ vừa khấp khởi… Đến phút cuối cùng thế nào đảng cũng hiểu bụng dạ trung thành của anh mà tha anh. Hai bị cói lép kẹp dưới nách, hai bị cáo đứng rúm ró.
Chánh án Lê Giản tuyên bố Chủ tịch nước bác đơn xin ân xá. Lim, lệt sệt đôi ủng ra hô: Giải chúng đi! Vọt ra năm sáu người lính đẩy hai người tù quay lui. Tôi thấy thô bạo quá. Nhưng kìa, họ vừa mới quay người, tốp lính đã quỳ rộp một cái xuống, đưa tiểu liên lên bóp cò. Lửa nhằng nhằng. Hai cái thân đổ vật. Chị cốt cán trẻ đứng bên tôi ôm chặt lấy tôi líu lưỡi lại: Anh có dầu… dầu Con Hổ, cho em…? Hai xác người nằm thẳng mềm mại. Lịch phịch đôi ủng nặng, Lim đến bên từng người bắn vào thái dương phát súng “ân huệ”…. (Hết trích).
Sydney ngày 11 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.297 chữ)
236: CHUYỆN KỂ VỀ CHIẾN CỤC ĐÔNG XUÂN VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 1953-1954.
Lê Xuân Đỗ
Mùa Xuân năm 1953, QĐNDVN mở cuộc tiến công lớn vào quân Pháp ở Lào với sự hỗ trợ của Quân đội Chính phủ Souphanouvong. Do hậu cần quá xa, QĐNDVN không đánh chiếm đồn binh Pháp ở Cánh đồng Chum được, Pháp coi đây là thành công lớn của họ. Ở các vùng khác, QĐNDVN phối hợp tấn công đồng bộ từ Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ, buộc đội quân Pháp phải phân tán, xé lẻ khối quân cơ động của họ. Khi Pháp không còn lực lượng cơ động để ứng cứu, hình thành Chiến cục Đông-Xuân 1953-1954.
Ngày 8 tháng 5 năm 1953, Trung tướng Henri Navarre được cử làm Tổng Tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương thay thế tướng Raoul Salan. Tháng 7 năm 1953, Navarre đề ra một kế hoạch tổng phản công, báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre". Ngày 18 tháng 7 năm 1953, cùng lúc Navarre mở hai cuộc hành quân Hirondelle ("Con én") đánh vào Lạng Sơn, và cuộc hành quân "Camargue" đánh vào Quảng Trị, nhằm phá hủy các căn cứ hậu cần, kho tàng và máy móc của QĐNDVN. Giới truyền thông Pháp loan tin quân Pháp đã diệt được hai tiểu đoàn Việt minh, phá huỷ các kho tàng, và hầu hết căn cứ hậu cần của đối phương.
Đầu tháng 8/1953, Navarre cho rút toàn bộ quân Pháp khỏi Cứ điểm Nà Sản. Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre lại mở cuộc hành quân Moutte đánh vào Ninh Bình và Thanh Hóa nhằm phá các căn cứ hậu cần tiền duyên, giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Tháng 11 năm 1953, Navarre mở tiếp cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ, khu vực mà ông ta cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của QĐNDVN sang Lào. Navarre quyết tâm xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.
Quân số tại cứ điểm này có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo binh 105 mm, 1 đại đội pháo 155 mm, 2 đại đội súng cối 120 m, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 18 tấn, 1 đại đội xe vận tải 200 chiếc, 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc. Trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội lính nhảy dù, Pháo được tăng thêm 4 khẩu và cho đến ngày cuối cùng được thả xuống rất nhiều bộ phận thay thế khác. Lực lượng này gồm khoảng 16.200 quân, bố trí trong 49 cứ điểm, chia làm ba phân khu; bắc, nam và trung tâm, với một hệ thống công sự dày đặc.
Phân khu Bắc: Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Đồi Độc lập có nhiệm vụ án ngữ phía bắc, ngăn chặn con đường từ Lai Châu vê Điện Biên Phủ. Trung tâm đề kháng Him Lam, tuy thuộc khu trung tâm, nhưng cùng với các vị trí Đồi Độc lập, Bản Kéo là những vị trí ngoại vi đột xuất án ngữ phía đông bắc, ngăn chặn tiến công từ hướng Tuần Giáo vào. Phân khu Trung tâm: Các điểm cao phía đông – Dominique, Eliane, sân bay Mường Thanh, và các cứ điểm phía tây Mường Thanh – Huguette, Claudine, đây là khu vực mạnh nhất của quân Pháp, tập trung hai phần ba lực lượng. Phân khu Nam: cụm cứ điểm và sân bay Hồng Cúm – Isabella.
Theo Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Văn Sự, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng thì: Sau khi nghe báo cáo của Tổng quân uỷ, tại phiên họp ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị kết luận: “Về địch, Điện Biên Phủ sẽ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng lại bị cô lập, mọi tiếp tế đều phải dựa vào đường không. Về ta, với chất lượng đã đươc nâng cao thêm một bước trong chỉnh huấn, chỉnh quân và sự tiến bộ về trang bị, kỹ thuật có thể đánh được tập đoàn cứ điểm. Vấn đề đường sá tiếp tế cho chiến dịch đúng là một khó khăn rất lớn. Nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, cả hậu phương đang chuyển động mạnh trong cải cách ruộng đất, sẽ tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến và nhất định bảo đảm cung cấp cho chiến dịch”.
Từ nhận định đó, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh “Trần Đình” cử đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh chiến dịch làm Bí thư Đảng uỷ. Bác Hồ nói:“Giao cho chú toàn quyền quyết định. Chắc thắng thì đánh. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh…”.Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Bác Hồ, khi bước vào chiến dịch, quân và dân ta phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thử thách mới nảy sinh. Trước hết là tại chiến trường Điện Biên Phủ, tình hình địch đã có nhiều thay đổi, không giống như thời điểm Bộ Chính trị thông qua phương án tác chiến (tháng 12/1953).
Chúng đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội sẽ phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có. Vấn đề đặt ra là “có hay không” triển khai thực hiện phương án củ? Nếu đánh thì không bảo đảm chắc thắng như lời căn dặn của Bác Hồ, nếu hoãn thì sẽ giải quyết ra sao khi pháo binh đã vào vị trí, các Đại đoàn đều đã có mặt ở tuyến xuất phát xung phong? Trên cơ sở khảo sát thực tế những thay đổi của địch tại Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh quyết định “hoãn trận đánh”, thay đổi phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.
Điều đó cũng có nghĩa là toàn bộ kế hoạch tác chiến phải chuẩn bị lại từ đầu, các đơn vị pháo binh sẽ phải kéo pháo ra khỏi trận địa, các đơn vị bộ binh sẽ phải rút quân khỏi vị trí xuất phát về vị trí tập kết…Đó là một quyết định khó khăn nhất trong đời như lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và cũng là vấn đề vô cùng phức tạp đối với cán bộ, chiến sỹ và các lực lượng có liên quan… Quá trình thực hành tác chiến theo phương châm mới, cán bộ, chiến sĩ ta dù phải “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt; máu trộn bùn non…”, nhưng “gan không núng, chí không mòn” ra sức thi đua giết giặc lập công.
Sydney ngày 12 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.176 chữ)
237: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC HUY ĐỘNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM, DÂN CÔNG VÀ XE ĐẠP THỒ CHO CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ.
Lê Xuân Đỗ
Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Văn Sự viết tiếp: Khó khăn tiếp theo là làm sao để bảo đảm cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho chiến dịch Điện Biên Phủ, trong khi chiến trường ở rất xa hậu phương, mà đường tiếp tế thì độc đạo. “Đánh nhanh, thắng nhanh” bảo đảm đã khó, nay chuyển phương châm và kế hoạch tác chiến, khó khăn càng tăng thêm gấp bội. Theo số liệu tổng kết của Tổng cục Hậu cần, lượng gạo huy động cho chiến dịch là 25.056 tấn, ở tuyến chiến dịch, yêu cầu lương thực bình quân phải đáp ứng lên tới 90 tấn/ngày. Ngay tại Điện Biên Phủ phải có 50 tấn/ngày.
Bộ Chính trị chủ trương: “toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Điện Biên Phủ, nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”. Hội đồng cung cấp mặt trận Trung ương đã được thành lập do Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, trực tiếp chỉ đạo các ngành kinh tế, tài chính dốc sức chi viện; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh vào Thanh Hoá là vùng đông dân nhiều gạo; Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng về chiến trường quen thuộc đồng bằng Liên khu III trực tiếp phổ biến nhiệm vụ, hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương huy động nhân lực, vật lực, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đồng bào các dân tộc Tây Bắc, còn nhiều khó khăn, cấp trên không chủ trương huy động, nhưng đồng bào nơi đây vẫn hăng hái đóng góp cho chiến dịch 1.200 tấn gạo, 300 tấn thịt và gần 100 tấn rau. Ở Liên khu IV, chủ yếu là tỉnh Thanh Hoá đã huy động được hơn 8.000 tấn lương thưc, 2.000 tấn thức ăn khô. Liên khu Việt Bắc 7.311 tấn lương thực, riêng tại Lai Châu là 2.266 tấn. Ở Liên khu III, tuy còn nhiều vùng bị địch chiếm, cũng huy động được 1.183 tấn gạo, 57 tấn muối. Là nơi trực tiếp chiến đấu với địch, nhân dân Điện Biên Phủ cũng đóng góp được 555 tấn lương thực, vượt mức trên giao 64 tấn, 226 tấn thịt, vượt mức 43 tấn…
Vấn đề tiếp theo là làm thế nào để vận chuyển một khối lượng lương thực, thực phẩm khổng lồ từ hậu phương ra tiền tuyến? Chính quyền đã huy động dân công và tất cả các phương tiện thô sơ có được từ các địa phương vận chuyển vật chất đáp ứng yêu cầu cho chiến dịch. Điển hình là hơn 2 vạn xe đạp thồ - một phương tiện vận tải độc đáo trong chiến tranh nhân dân - có vai trò hết sức quan trọng và hiệu quả. Ngoài việc tham gia vận tải gạo, đạn cho chiến trường, lực lượng dân công còn tích cực tham gia vận chuyển thương binh ra hậu cứ để cứu chữa, vào tận chiến hào để phục vụ chiến đấu. (Nguyễn Văn Sự Đại tá, PGS. TS. Tuyên giáo, Thứ Bảy, 4/5/2019 12:26'(GMT+7).
Trong bài “Công tác vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ” Đại tá-Thạc sĩ Trần Đình Quang viết: Tổng Quân uỷ nhận định: Để tiến hành Chiến dịch, ta gặp rất nhiều khó khăn; khó khăn lớn nhất là cung cấp mà chủ yếu là vấn đề đường sá. Theo phương án trên, nhu cầu hậu cần bảo đảm cho Chiến dịch rất lớn, gồm 434 tấn đạn, 7.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm, cứu chữa 5.000 thương binh... Trong khi đó, khả năng huy động hậu cần tại chỗ rất hạn chế, nhân dân còn rất nghèo, vì vậy chủ yếu phải chuyển từ hậu phương lên. Các tuyến vận tải rất dài từ Việt Bắc sang cách xa 700 km, từ Sơn La lên ngắn nhất cũng 150 km, rừng núi hiểm trở, nhiều sông suối, đường xấu...
Ngành Hậu cần đã dốc toàn lực và huy động 261.451 lượt dân công bằng 12 triệu ngày công, bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia chiến dịch, trong đó 53.830 người trực tiếp chiến đấu; vận chuyển, cứu chữa 8.458 thương bệnh binh; bảo đảm 1.200 tấn đạn, 1.733 tấn xăng dầu, 14.500 tấn gạo, 268 tấn muối, 577 tấn thịt, 1.034 tấn thực phẩm và 177 tấn vật chất khác, gấp gần 3 lần dự kiến ban đầu, và hàng chục lần nếu đánh theo phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”. Điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt, khả năng của ta còn hạn chế, máy bay địch lại thường xuyên đánh vào các tuyến giao thông, ngày cao nhất sử dụng 250 lần chiếc với 1.186 trận đánh phá.
Các đèo Lũng Lô, Pha Đin, các đầu mối giao thông Cò Nòi, Tuần Giáo, bến phà Tạ Khoa... thành trọng điểm đánh phá của địch. Bộ chỉ huy Chiến dịch đã sử dụng 4 tiểu đoàn công binh cùng hàng vạn dân công bám các trục đường đánh máy bay địch đánh phá khắc phục bảo đảm giao thông. Từ trung tuyến trở lên ta đã sửa được 308 km đường ô tô, làm mới 63 km đường kéo pháo, phá 102 thác để tổ chức vận tải thuỷ trên sông Nậm Na... Tổng khối lượng đào đắp lên tới 35.000m3 đất, 15.000m3 đá, phá hàng ngàn quả bom nổ chậm.
Cùng với đó, công tác chính trị, tư tưởng, nuôi dưỡng, bảo đảm sức khoẻ cũng được quan tâm nên lực lượng vận tải luôn có quyết tâm cao và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. (Trần Đình Quang, Đại tá Thạc sĩ, Quân đội Nhân dân Online 21/04/2014, 10:37).
Sydney ngày 13 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.011 chữ)
238: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC HUY ĐỘNG DÂN CÔNG LÀM LÀM ĐƯỜNG... CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ HIỆP ĐỊNH GENEVE 1954 KẾT THÚC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG.
Lê Xuân Đỗ
Trong bài “Giao thông vận tải: Điểm tựa cho chiến thắng Điện Biên Phủ” Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền viết: Nhiệm vụ mở đường và bảo đảm Giao thông Vận tải cho chiến dịch, phục vụ 42.750 cán bộ, chiến sỹ gồm cả pháo binh, cơ giới; và 260.000 dân công hoạt động chuyển quân tập kết trước, trong và sau chiến dịch, Trung ương Đảng đã chỉ đạo triển khai xây dựng ba hướng tuyến chính phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ là: Hướng tuyến phía Bắc từ biên giới Việt - Trung về Thái Nguyên; Hướng tuyến phía Nam từ Nghệ An - Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III ra Hòa Bình; và Hướng tuyến Đông - Tây từ Hòa Bình theo đường 6, (41), 42 đi Tuần Giáo.
Hướng tuyến phía Bắc từ biên giới Việt - Trung về Thái Nguyên đi Yên Bái theo đường 13 bến Ba Khe - Cò Nòi. Đây là trục chính vận chuyển các loại vũ khí, khí tài phục vụ chiến dịch nên phải tập trung 02 vạn dân công với khoảng 02 triệu ngày công thi công suốt ngày đêm, làm mới đoạn Yên Bái - Cò Nòi… Hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên đã huy động một khối nhân lực lớn sửa chữa, nâng cấp và mở tiếp tuyến đường từ Thủy Khẩu đi Bắc Kạn và Thái Nguyên; đường Võ Nhai - Bắc Sơn và mở rộng bến phà Thác Oánh; đường Cao Bằng - Bắc Kạn qua Chợ Mới - Bờ Đậu lên Tây Bắc hoặc Cao Bằng - Bắc Kạn - Tuyên Quang - Yên Bái - Ba Khe - Cò Nòi…; đường 31 - Chợ Chu - Quán Vuông - Khuôn Ngàn nối đường 3 lên căn cứ an toàn Đèo Khế.
Hướng tuyến phía Nam từ Nghệ An - Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III ra Hòa Bình dài trên 320km cũng đã phải huy động tới 2,6 vạn dân công với khoảng 2,6 triệu ngày công làm đường và bảo đảm giao thông cho các loại xe thô sơ, xe thồ vận chuyển lương thực, thực phẩm ra chiến trường.. Riêng Thanh Hóa tập trung 13.564 dân công và 6.320 thanh niên xung phong của Khu làm đường 15A đoạn Hồi Xuân - Mục Sơn, Mục Sơn - Đồng Trầu dài 114km. Nhân dân vùng đồng bằng Liên khu III từ Nho Quan và các vùng Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nô nức đi dân công vận chuyển lương thực, thực phẩm lên Hòa Bình và tiếp tục về chiến trường Điện Biên Phủ.
Hướng tuyến Đông - Tây từ Hòa Bình theo đường 6 (41), 42 đi Tuần Giáo - Điện Biên Phủ cũng được gấp rút xây dựng. Do lưu lượng phương tiện vận tải, xe kéo pháo, xe thồ, bộ đội, dân công đi lại trên tuyến chính quá đông, thường ùn tắc, nên phải mở thêm một số tuyến mới để: (a) Mở tuyến từ vùng sông Mã đi Mường Luân - Nà Sang vận chuyển gạo của dân công Thanh Hóa lên phục vụ cho các đơn vị tác chiến ở phía Nam Điện Biên Phủ; (b) Mở đường cho vận tải thô sơ theo đường mòn vượt núi qua Khẩu Hu, Cò Chảy ở phía Bắc Điện Biên Phủ để tập kết gạo, đạn cho các đơn vị tác chiến ở mũi phía Bắc và phía Tây Điện Biên Phủ; (c) Mở tuyến vận chuyển từ Ba Nậm, Cúm qua Lai Châu đi Bản Tấu. Tổng chiều dài luồng tuyến vận tải cho chiến dịch Điện Biên Phủ lên tới 3.500 km. (Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền, Tạp chí Điện tử Giao thông Vận tải - Thứ sáu, 25/05/2018, 06:18).
Trong bài “Góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ” Mai Luận viết: Theo lịch sử Đảng bộ quân sự tỉnh, Thanh Hóa đã huy động 34.177.235 ngày công làm đường và tiếp vận, phục vụ năm chiến dịch lớn: Trung Du, Quang Trung, Hòa Bình, Thượng Lào và Điện Biên Phủ; huy động lương thực, thực phẩm đáp ứng 70% nhu cầu chiến dịch; động viên 56.792 thanh niên vào bộ đội bổ sung cho các chiến trường, 6.321 thanh niên xung phong. Riêng năm 1953 và sáu tháng đầu năm 1954 Thanh Hóa có 28.890 thanh niên nhập ngũ, bằng tổng tuyển quân giai đoạn 1946-1952.
Các tài liệu tổng kết chiến tranh và quân sự cho thấy, chỉ riêng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã huy động 102.254 ngày công dài hạn, 76.670 ngày công ngắn hạn phục vụ chiến dịch. Ngoài ra Thanh Hóa đã huy động hơn 10 nghìn xe đạp thồ, 1.126 thuyền gỗ, 31 ô-tô, 180 xe bò, 42 ngựa, ba con voi thồ hàng và toàn tỉnh đã vận chuyển, cung ứng 50% khối lượng lương thực, 40% khối lượng thực phẩm cho cả chiến dịch. (Mai Luận, Báo Nhân Dân Điện tử - Thứ Tư, 08-05-2019, 18:09 Facebook Email Bản in +).
Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, thì quân Pháp đầu hàng. Trong thời gian chiến dịch, Pháp không có khả năng xoay chuyển tình thế nên đã đề nghị Mỹ cứu viện. Nhưng tổng thống Eisenhower đã quyết định quân Mỹ sẽ không đổ bộ vào Việt Nam. Sau 56 ngày đêm cố thủ, ngày 7 tháng 5 năm 1954, cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ 18.000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của QĐNDVN trong toàn bộ Kháng chiến chống Pháp.
Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954, ban đầu để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Nhưng, do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả, nên từ ngày 8 tháng 5, vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận. Sau 75 ngày đàm phán với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao dồn dập đằng sau các hoạt động công khai. Ngày 20/7/54, các bản Hiệp định đã soạn thảo xong. Ngày 21/7/54, Hội nghị họp phiên cuối cùng, Chủ tịch phiên họp là đại biểu Anh Anthony Eden, hỏi lại từng Phái đoàn xem có xác nhận không.
Các phái đoàn lần lượt tuyên bố xác nhận, ngoại trừ vài ý kiến dè dặt về một số điều khoản (Mên, Lào, Việt, Mỹ). Những ý kiến đó không làm thay đối các dự thảo Hiệp định. Hiệp định Genève chính thức ký kết ngày 21/7/1954. Ngày 9/10, QĐNDVN tiếp thu Hà Nội và trở thành thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hôm sau 10/10 Sư đoàn 308 Việt Minh tổ chức diển binh. Ngày 15/10/54, Hồ Chí Minh về Hà Nội. Ngày 30/10/54, tiền Bảo Đại không được tiêu dùng ở Hà Nội nữa.
Sydney ngày 14 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.228 chữ)
Hết Chương X gồm 30 bài: 209 - 238.
Chương X: 30 CHUYỆN KỂ VỀ CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG CỦA HỌ TẠI VIỆT NAM QUỐC GIA THỨ TƯ TỪNG BỊ PHÂN RANH QUỐC GIA-CỘNG SẢN THỜI 1945-1955.
(65 trang và 41.126 chữ).
Bài 209: CHUYỆN KỂ VỀ PHÁP XÂM CHIẾM VIỆT NAM VÀ SỰ CHỐNG TRẢ CỦA VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN.
Lê Xuân Đỗ
Nước Văn Lang của họ Hồng Bàng ở Vùng Ba Vì, Vỉnh Phú, nối tiếp được 18 đời thì nước rơi vào tay Thục Phán. Cùng với phần đất của mình Vua Thục lập nước Lac Viêt. Trị vì được 50 năm thì nước Lạc Việt rơi vào tay Triệu Đà. Cùng với phần đất của mình, Vua Triệu lập nước Nam Việt. Trị vì được 100 năm thì nước Nam Việt lại rơi vào tay Nam Hán. Từ đó, (năm 111 TCN) hơn 1000 năm nước Nam Việt trở thành một phần của Trung Quốc với tên mới là Giao Chỉ Bộ, và sau đó (năm 679) đổi tên thành An Nam.
Trong khi An Nam chịu sự thống trị của Trung Quốc, thì ở phía Nam, vào những năm 100 Sau Công nguyên (SCN), hai Vương quốc Phù Nan, và Champa phát triển rực rở. Phù Nan chiếm ngự vùng đồng bằng sông Mê Kông. Còn Champa thì chiếm ngự vùng giữa Giao Chỉ và Phù Nan. Những năm 500 và 600 SCN, người Du mục Khmer phía Tây Champa trở nên hùng mạnh xâm chiếm Vương quốc Phù Nan. Chỉ trong vài trăm năm người Khmer đã chiếm lĩnh, và xoá sổ nước Phù Nan.
Năm 939, Ngô Quyền thâu hồi độc lập cho nước, rồi tiếp đến là loạn Thập nhị Sứ quân. Đến năm 968, Đinh Bộ Lỉnh mới thống nhất được đất nước, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Năm 980, Lê Hoàn kế tục Nhà Đinh lên làm vua hiệu Lê Đại Hành. Nhà Lê đánh thắng quân Tống sang xâm lược, rồi quay sang đánh Champa. Đây là thắng lợi đầu tiên trên đường Nam tiến.
Suốt 900 năm sau đó, ngoại trừ 20 năm bị Trung Quốc chiếm trị (1507-1527), và phải trải qua nhiều sự thăng trầm “tranh chức đoạt ngôi”, quân dân Đại Việt từng bước lớn mạnh, mở rộng lảnh thổ về phía Nam: đánh chiếm và xoá sổ nước Champa, rồi đánh chiếm một phần nước Khmer. Việt Nam quả là một đế quốc nhỏ trong vùng vậy.
Từ những năm 1600, vài cố đạo đến nước Đại Việt, họ chiêu mộ được hàng ngàn người Việt theo đạo Ki-tô. Khi đánh nhau với Tây Sơn, Nguyễn Ánh có nhờ cố đạo Bá Đa Lộc mang con trai trưởng là Hoàng tử Cảnh qua Pháp cầu viện. Không may cho Ánh, nước Pháp lúc đó cũng đang nổ ra Cách mạng (1789-1799) nên không giúp đựoc gì cho Ánh. Dù vậy, khi Nguyễn Ánh lên ngôi Vua, cũng bị buộc phải thâu nhận người Pháp làm quan trong Triều đình.
Hội truyền giáo La Mã cũng nhân cơ hội đó “kéo vào Việt Nam cắm dùi” (chữ dùng của Bảo Đại), họ lập nhiều cơ sở nhà chung quan trọng. Cộng đồng nhà chung nầy gây cho Triều đình nhiều điều khó xử: họ không cho giáo dân thờ cúng tổ tiên ông bà, bắt giáo dân tuân theo luật lệ của nhà chung, xúi giáo dân tranh giành ruộng đất, vi phạm luật lệ của nhà nước, đẩy giáo dân đến chỗ “bất trung với vua với nước, bất hiếu với tổ tiên, dòng tộc”.
Trước hiểm hoạ làm băng hoạ xã hội từ nền móng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Năm 1833, vua Minh Mạng (1820-1840) ban hành Dụ “cấm đạo”. Giới quan lại tích cực thi hành, gây đổ máu hàng loạt giáo sĩ và hàng ngàn giáo dân. Các giáo sĩ truyền giáo kích động gây yếu tố cực đoan “tử vì đạo”. Từ năm 1843 đến năm 1847, dưới triều Thiệu Trị nhiều tàu chiến Pháp biểu dương lực lượng sát bờ biển nước ta, tưởng như có lúc phải dùng đến vũ lực. Những sự gây chiến ấy, cho thấy rằng Ki-tô-giáo chỉ là cái cớ bên ngoài, ý đồ bên trong chính là người Pháp muốn chiếm Việt Nam làm thuộc địa cho chúng.
Năm 1858, dưới thời Tự Đức (1847-1983) lấy cớ bảo vệ Hội Truyền Giáo, Pháp tấn công Đà Nẳng. Ngày 18 tháng 2 năm 1859, đánh chiếm thành Gia Định, Tổng đốc thành Võ Duy Ninh tuẫn tiết (tự tử để giữ khí tiết). Tháng 2 năm 1861, Pháp đánh chiếm Đại đồn Kỳ Hoà, rồi Mỹ Tho cũng thất thủ hai tháng sau đó. Pháp tiếp tục đánh chiếm Biên Hoà, Bà Rịa, Vĩnh Long, buộc Triều đình Tự Đức phải ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862), nhường cho Pháp ba tỉnh miền Đông, Pháp phải trả Vĩnh Long lại cho Triều đình Đại Nam. Năm 1867, Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền tây Vỉnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Phan Thanh Giản tuẫn tiết.
Năm 1873, đánh thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết, vài ngày sau đó, nhiều tỉnh phía Bắc cũng rơi vào tay giặc, Triều đình Tự Đức phải ký Hòa ước Giáp Tuất (1874), để Pháp trả lại Hà Nội và các tỉnh đã chiếm, Triều đình Huế phải cắt Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kỳ làm thuộc địa của Pháp. Ngày 25 tháng 4 năm 1883, Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai, Hoàng Diệu tuẩn tiết, ông là vị Đại quan thứ tư dưới Triều vua Tự Đức tuẫn tiết vì nghĩa lớn. Ngày 19 tháng 7, 1883, Vua Tự Đức băng hà.
Năm 1884, Pháp buộc Ấu vương Kiến Phúc (15 tuổi), ký Hiệp ước bảo hộ. Từ đây, dưới danh nghĩa bảo hộ, Pháp chia Việt Nam thành 3 miền với 3 chế độ cai trị khác nhau: trực trị ở miền Nam, tự trị ở miền Trung, và bảo hộ ở miền Bắc, nhưng thực tế Pháp cai trị toàn bộ Việt Nam bằng chế độ “cai trị thuộc địa”.
Xin lưu ý: Khi xâm chiếm nước Đại Nam, người Pháp tổ chức cai trị qua các bước: Từ 1861 đến 1879, thành lập Soái phủ Nam Kỳ (Gouvernement des Amiraux) do các đô đốc Hải quân Pháp đứng đầu, trông coi việc cai trị hành chính và binh bị. Từ năm 1879 Pháp đặt chức vụ Thống đốc Nam Kỳ (Gouverneur-général de la Cochinchine) cai trị trực tiếp thuộc địa này. Thống đốc Nam Kỳ trực thuộc bộ Thuộc địa và bộ Hải quân Pháp. Từ năm 1884, Sau khi áp đặt chế độ bảo hộ, Pháp đặt thêm chức vụ Khâm sứ Trung Kỳ (Résident supérieur d'Annam) và Thống sứ Bắc Kỳ (Résident supérieur du Tonkin). Hai người này trực thuộc bộ Ngoại giao Pháp.
Sydney ngày 15 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.137 chữ)
Bài 210: CHUYỆN KỂ VỀ LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI DÂN VIỆT.
Lê Xuân Đỗ
Năm 1887, Pháp lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp để cai trị 5 xứ: thuộc địa Nam Kỳ, và bốn xứ bảo hộ Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Ai Lao và Cao Mên. Đặc biệt Trung Kỳ kinh đô của nước Đại Nam thì Hoàng đế nhà Nguyễn vẫn là người có quyền tối thượng. Đứng đầu Liên bang là viên Toàn quyền người Pháp nắm cả quyền hành chính lẫn quân sự, với một Hội đồng Tối cao gồm: Toàn quyền, Tổng tư lệnh Quân đội, Chỉ huy trưởng Hạm đội Viễn Đông, Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, Thống sứ Ai Lao, Thống sứ Cao Miên.
Đứng đầu thuộc địa Nam Kỳ là Thống đốc người Pháp, với hai cơ quan Tư vấn là Hội đồng Tư mật và Hội đồng thuộc địa. Đứng đầu xứ Trung Kỳ là Khâm sứ cũng người Pháp. Khâm sứ Trung Kỳ chỉ giới hạn trong phạm vi tham gia Hội đồng Phụ chính của Vương triều, đến tháng 6 năm 1895 thì có thêm đặc quyền chủ tọa Hội đồng Cơ mật. Từ đây, chính phủ Nam triều không còn quân đội, không ngoại giao, không tài chính. Chính phủ Bảo hộ Pháp phụ trách thu thuế, và giao cho Nam Triều một số ngân sách cần thiết cho việc điều hành Triều chính
Đứng đầu xứ Bắc Kỳ là Thống sứ người Pháp, kiêm cả chức đại diện cho Nam Triều, gọi là Kinh lược sứ của vua nhà Nguyễn, nhưng sau tháng 6 năm 1895 lại không theo lệnh Vua. Các quan lại bản xứ, tuy là quan của triều đình Huế, nhưng thực sự thuộc quyền viên Thống sứ người Pháp. Khi chiến tranh thế giới lần thứ Nhất (1914-1918) nổ ra, chính phủ Pháp ban hành lệnh tuyển lính bản xứ Đông Dương sang Pháp chiến đấu. Lệnh ban hành vào tháng 11 năm 1915. Sang tháng 1 năm1916, triều đình nhà Nguyễn cũng có chỉ Dụ ban thưởng 80 đồng bạc Đông dương cho các thanh niên nhập ngũ. Đến năm 1918 khi có lệnh đình chiến thì đã có 1.548 thanh niên Việt tử vong tại chiến trường châu Âu.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ Hai (1939-1945) bùng nổ thì chính quốc Pháp lại có lệnh tuyển mộ người Việt sang làm lao công thuộc địa (viết tắt tiếng Pháp MOI: main-d'oeuvre indigène), nhưng lần này với dạng cưỡng bách. Năm 1939 đã có 93.000 người, cả lính thợ lẫn lính chiến, bị đưa sang Pháp sung vào quân ngũ hỗ trợ chính quốc theo "Kế hoạch Mandel". Ông Nguyễn Ngọc Châu, một trong những nhân chứng còn sống cuối cùng, nhớ lại, trước năm 1939, người ta nhìn thấy những tắm áp phích ghi rằng: "Mẫu quốc đang gặp nguy. Nghĩa vụ của bạn là giúp đỡ mẫu quốc".
Vì tôi học trường Pháp, nên tôi chấp nhận ra đi. Tôi gia nhập với tư cách là giám thị - phiên dịch. Chúng tôi, những người phiên dịch, cùng với các quan chức địa phương, tới nhiều ngôi làng khác nhau để tuyển mộ lính. Ví dụ một làng có 20 hộ gia đình, thì phải tuyển đủ 20 người. Các gia đình có 3 hay 4 người con trai, người anh trai cả 35 tuổi đã có gia đình, thì người thứ hai hoặc thứ ba phải đi thay. Nếu gia đình không có con trai thứ nào để thay thế, thì người con cả, dù đã 35 tuổi, có gia đình và con cái vẫn bị bắt buộc đi.
Theo ông Lê Hữu Thọ, tất cả lính thợ trên con tàu của ông được chuyển tới tạm trú tại nhà tù cũ Baumettes ở Marseille. Ngày 2/6/1940, nước Pháp thất bại trước phát xít Đức. Những người thợ Đông Dương phải tập trung hết trong Vùng Tự do (Zone libre). Ngày lịch sử này, cũng đánh dấu chính quyền Pháp mất các thuộc địa Đông Dương. Pháp không nhận được gạo từ Đông Dương nữa. Nước Pháp đói! Nước Pháp đầy người thất nghiệp! Chính lúc này, chính quyền Vichy đã sử dụng nguồn nhân lực Đông Dương đang có tại chỗ để gieo trồng giống lúa nước tại Pháp và làm việc trong nhiều hãng, xưởng khác nhau. Tiền công một ngày làm việc của người lao động Đông Dương chỉ tương tương khoảng 1/10 lương của một người lao động Pháp thời đó…
Ngày 19 tháng 6 năm 1940, Toàn Quyền Đông Dương, tướng Catroux nhận được điện văn của Đại sứ Pháp ở Tokyo là Arsène Henry chuyển tối hậu thư của Nhật yêu cầu Pháp phải đóng cửa biên giới Đông Dương, và phải để cho quân đội Nhật kiểm soát biên giới này. Ngày 20 tháng 7 năm 1940, Đô Đốc Jean Decoux vừa đến thay thế tướng Catroux thì lại nhận được một tối hậu thư khác, đòi Pháp phải để cho Nhật đưa quân vào Đông Dương. Cuộc điều đình đang diễn ra, thì ngày 22 tháng 9 năm 1940, Nhật tung quân đánh các Đồn biên giới Lạng Sơn, chỉ trong ba ngày quân Pháp đã đầu hàng.
Kết qủa là, Pháp chính thức nhìn nhận sự hiện diện của quân đội Nhật tại Đông Dương, và Nhật bằng lòng để cho Pháp tiếp tục cai trị về hành chánh. Khi tình hình Thái Bình Dương thay đổi, bất lợi cho Nhật, ngày 9/3/1945, lúc 18g đại sứ Nhật Matsumoto gởi "tối hậu thư" đòi Toàn quyền Pháp Decoux phải cam kết chống Đồng minh, nếu Anh, Mỹ đổ bộ, tất cả quân đội và công sở Pháp phải đặt dưới quyền điều động của Tổng tư lệnh Nhật, và hẹn trong 2 giờ phải trả lời.
Đúng 20 giờ cùng ngày, Nhật nổ súng dữ dội ở Hà nội và khắp Đông Dương đánh quân Pháp. Rất nhiều nơi quân Pháp đầu hàng. Trong đêm Toàn quyền Decoux và các viên chức cao cấp của Pháp đều bị bắt, Nhật làm chủ tình hình... Ngày 10/3/1945, Nhật thiết quân luật trên toàn cỏi Đông Dương, Bộ Tổng tư lệnh Nhật thông cáo, Nhật chỉ hạ Pháp, nhưng ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc Đông Dương. Chính phủ Nhật cũng tuyên bố, phải “lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương, vì đã vi phạm các Hiệp ước hợp tác Nhật-Pháp.
Nhật sẽ giúp các nước Đông Dương thực hiện độc lập. Ngày 11/3/45, Viện Cơ mật Triều đình Huế tuyên bố “Hiệp ước bảo hộ 1884 bị bãi bỏ, Việt Nam khôi phục chủ quyền”. Hôm sau, ngày 12/3/45 Cao Mên tuyên bố độc lập. Và, ngày 15/4/45 Lào tuyên bố độc lập. Liên bang Đông Dương thuộc Pháp chấm dứt sự tồn tại./.
Sydney ngày 16 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.177 chữ)
Bài 211: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN ĐẾ QUỐC VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ
TRẦN TRỌNG KIM
Lê Xuân Đỗ
Ngày 17/3/45, Hoàng đế Bảo Đại tuyên chiếu từ nay sẽ đích thân cầm quyền, theo nguyên tắc “Dân vi quý” để chỉnh đốn lại quốc gia. Đại sứ Nhật Yokoyama được cử làm Khâm sứ, thay Khâm sứ Pháp tại Huế. Cùng ngày 17/4/45, Trần Trọng Kim được Hoàng đế Bảo Đại uỷ thành lập Chính phủ, trình diện Nội các lên nhà Vua, và được chấp thuận. Nội các của ông gồm những người học thức, yêu nước, được xã hội kính trọng, gồm: 2 Giáo sư, 4 Luật sư, 4 Bác sĩ, và 1 Kỹ sư. Giáo sư Học giả Trần Trọng Kim là Tổng trưởng Nội các.
Ngoài 11 thành viên Nội các, lần lượt nhiều nhà trí thức có tiếng tăm cũng được mời tham gia công việc của chính quyền như: Khâm sai Bắc bộ Phan Kế Toại; Khâm sai Nam bộ Nguyễn Văn Sâm; Đốc lý Hà Nội Bác sĩ Trần Văn Lai; Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn Kỹ sư Kha Vạng Cân; Thị trưởng Hải Phòng Luật sư Vũ Trọng Khánh; Thị trưởng Đà Nẳng Nguyễn Khoa Phong; Thị trưởng Huế Giáo sư Nguyễn Lân; Tỉnh trưởng Nghệ An Phó bảng Đặng Văn Hướng; Tỉnh trưởng Hà Tĩnh Phó bảng Hà Văn Đại; Tỉnh trưởng Thanh Hóa Giáo sư Đặng Thái Mai. Các ông Hoàng Đạo Thuý, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Nguyễn Xiển, Vũ Văn Cẩn, Nguỵ Như Kontum được mời ra thành lập Hội đồng Thanh niên. Tạ Quang Bửu còn mời làm Cố vấn đặc vụ Ủy viên Bộ Thanh niên và Kỹ sư Lê Duy Thước làm Chánh văn phòng Bộ.
Ngày 8/5/45, Vua Bảo Đại tuyên chiếu kêu gọi quốc dân tham gia việc nước; hứa triệu tập một Hội nghị Lập Hiến; lập ngay một Ủy ban Cải Cách, và Hội đồng Tư vấn Địa phương. Chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố “Chương trình Hưng quốc, Quốc kỳ và Quốc ca”. Ngày 11/6/45, Bộ trưởng Phan Anh cổ võ thanh niên biểu tình trước nhà hát lớn Hà Nội. Ngày 20/6/45, vua Bảo Đại phục hồi quyền công dân cho các cựu chính trị phạm chưa được miển tội danh.
Ngày 3/7/45, Quyền Thống đốc Nam Bộ, Minoda thành lập một Hội Nghị Nam Kỳ với nhiệm vụ tư vấn. Các Hội viên gồm Ký giả Trần văn Ân, Nha sĩ Nguyễn Văn Bái, Kỹ sư Lưu Văn Lang, Giáo sư Hồ Văn Ngà, Kỹ Nghệ gia Kha Vạng Cân.v.v. Sau gần 2 tháng nổ lực, Trần Trọng Kim đã hợp nhất hai chính quyền Bảo hộ và Nam triều thành một chính phủ Việt Nam duy nhất, trung tuần tháng 7 năm 1945, đích thân Thủ tướng Trần Trọng Kim đi Hà Nội trực tiếp thương thảo với Toàn quyền Nhật đòi lại 3 thành phố nhượng địa và thuộc địa Nam Kỳ.
Kết quả là Nhật trả cho Đế quốc Việt Nam các cựu nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng kể từ 12 giờ trưa hôm nay (20 tháng 7 năm 1945) và thoả thuận sẽ trả thuộc địa Nam Kỳ vào đầu tháng 8. Nguyễn Khoa Phong được cử làm Thị trưởng Đà Nẳng, Vũ Trọng Khánh được bổ Thị trưởng Hải phòng. Ngày 26/7/45, Hội nghị Postdam ra Thông cáo chung, đòi Nhật đầu hàng vô điều kiện, Nhật sẽ mất hết thuộc địa, bài trừ phái quân phiệt, những kẻ phạm tội gây chiến tranh sẽ bị Tòa án đặc biệt xét xử.
Ngày 6/8/45, thành phố Hiroshima bị phá bằng trái bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ, giết chết 66.000 người. Ngày 7/8/45, Thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức, nhưng được lưu Xử lý thường vụ. Ngày 9/8/45, thành phố Nagasaki, bị ném trái bom nguyên tử thứ hai. Ngày 10/8/45, Nhật hoàng họp Nội các và quyết định xin hàng, cậy đại sứ Thụy Điển làm trung gian. Ngày 14/8/45, Thống chế Pestain, do Quốc hội Pháp cử làm Quốc trưởng năm 1940, bị Tối cao Pháp viện tuyên án tử hình, nhưng yêu cầu không hành quyết, vì tuổi cao (90 tuổi).
Ngày 14/8/45, Nhật trả Nam Bộ cho Triều đình Huế. Vua Bảo Đại tuyên chiếu hủy bỏ các Hiệp ước đã ký với Pháp về sự đô hộ Nam, Trung và Bắc Kỳ. Nhà Vua cử chính trị gia Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam Kỳ. Ngày 14/8/45, Một số đảng phái và đoàn thể gồm Việt Nam Quốc Dân đảng, Hòa Hảo, Cao Đài, Tịnh Độ, Cư sĩ, Liên đoàn Công chức, Thanh niên Tiền Phong, nhóm họp Đại hội ở Sài Gòn thành lập “Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất” hô hào đoàn kết chống Pháp. Ngày 14/8/45, Hoa Kỳ chấp nhận cho Nhật đầu hàng.
Ngày 15/8/45, Đại tướng Mac Arthur được cử làm Tổng tư lệnh tại Thái Bình Dương. Ngày 15/8/45, Tướng Leclere de Hautecloque được De Gaulle cử làm Tư lệnh Lục quân Pháp tại Đông Dương. Ngày 17/8/45, Vua Bảo Đại gởi điện văn kêu gọi tổng thống Mỹ Truman, Đồng minh, và cả De Gaulle, yêu cầu bảo vệ nền độc lập của Việt Nam, rằng dân chúng Việt Nam nhất quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước. Ngày 17/8/45, Đô đốc Thierry d’Argenlieu được De Gaulle cử làm Cao Ủy Pháp kiêm Tổng Tư lệnh ở Đông Dương.
Cùng ngày 17/8/45, công chức Hà Nội tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tuần hành qua các đường lớn, để tỏ ý chí bảo vệ đất nước. Cộng sản len vào dòng người biểu tình hô khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Cuộc biểu tình lại biến ra biểu tình ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Các đoàn Dân quân Giải phóng, chiếm đoạt chính quyền ở một số nơi. Ngày 18/8/45, Bắc bộ phủ bị quần chúng ùa tới bao vây, Khâm sai Phan Kế Toại vắng mặt rồi tuyên bố từ chức.
Ngày 19/8/45, Quân Nhật vẫn canh gác trên nhiều ngã đường Hà Nội. Biểu tình trước nhà hát lớn, để nghe tuyên bố của Mặt trận Cứu quốc Việt Minh. Dân quân Giải phóng và cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi, chiếm đóng các công sở. Đê Đông Lao ở Hà Đông bị vỡ, nước tràn ngập nhiều vùng. Ngày 20/8/45, Việt Minh chiếm đài Vô tuyến điện Bạch Mai Hà Nội, và phát thanh cổ động trên làn sóng 32 thước.
Ngày 21/8/45, một số thanh niên trí thức nhóm họp tại Đại học xá Hà Nội biểu quyết gởi điện văn yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 22/8/45, Đại tá Cédille được De Gaulles cử làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Bộ, nhảy dù xuống Tây Ninh được Nhật đưa về Sài gòn. Ngày 22/8/45, Mặt trận Việt Minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn Thanh niên Tiền Phong tuyên bố gia nhập.
Ngày 23/8/45, một Chính phủ Lâm thời tuyên bố thành lập tại Hà Nội, Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, nhưng chỉ do nhóm Cộng sản cướp chính quyền Hà Nội tuyên bố, chứ Hồ Chí Minh thì còn đang ở tại vùng rừng núi Việt Bắc. Ngày 25/8/45, một Uỷ ban Hành Chánh Lâm thời Nam Bộ (UBHCLTNB) cũng được thành lập tại Sài Gòn do nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu không trực thuộc Hà Nội làm Chủ tịch. Cùng ngày 25/8/45, Lễ thoái vị trước cửa Ngọ Môn, Huế: Vua Bảo Đại trao kiếm vàng cùng ấn ngọc cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu. Chính phủ Trần Trọng Kim tự giải thể.
Sydney ngày 17 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.316 chữ)
Bài 212: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CHÍNH PHỦ
HỒ CHÍ MINH
Lê Xuân Đỗ
Lúc tuyên bố thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Hồ Chí Minh ít được biết đến, trong khi Chính phủ Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam đang tồn tại. Hồ Chí Minh cảm thấy phải tìm cách làm cho Đồng Minh chú ý đến Chính phủ của ông trước khi quân đội Đòng minh vào Việt Nam giải giáp quân Nhật. Trước đó ngày 17/4/1945, Hoàng đế Bảo Đại cũng đã gửi lời kêu gọi đến lãnh đạo các nước Đồng Minh yêu cầu công nhận nền độc lập của Đế quốc Việt Nam. Lời kêu gọi này làm cho Hồ Chí Minh lo ngại về địa vị hợp pháp của Bảo Đại.
Một mặt nhóm Cộng sản Huế gây sức ép buộc Bảo Đại phải tuyên bố thoái vị và mặt khác Hồ Chí Minh phải tìm mọi cách làm cho Mỹ tin rằng, ông không phải là một phái viên của Quốc tế Cộng sản mà là một người Quốc gia - Xã hội mong muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Thông qua OSS, Hồ Chí Minh gửi 9 bức điện cho Chính phủ Mỹ, bao gồm cả bốn bức thư tay gửi trực tiếp cho Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đề nghị Mỹ đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Hồ Chí Minh hy vọng rằng, tranh thủ được sự có mặt của Mỹ ông sẽ có ưu thế trong các cuộc thương lượng với Trung Quốc và Pháp về Đông Dương. Hồ Chí Minh nói với chỉ huy OSS tại miền Bắc, Archimedes L.A Patti, rằng ông theo chủ nghĩa Lenin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và xin gia nhập Đệ Tam Quốc tế, vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Ông không thấy có sự lựa chọn nào khác. Nhưng trong nhiều năm sau đó những tổ chức Cộng sản này không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa.
Cho nên, ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ. Hồ Chí Minh giải thích, rằng người Mỹ xem ông là một người quốc tế cộng sản, "bù nhìn của Moscow" vì ông đã ở Moscow nhiều năm, nhưng ông khẳng định mình không phải là người cộng sản theo cách mà Mỹ hiểu, mà là nhà cách mạng hoạt động vì độc lập dân tộc… Thế nhưng, chính phủ Mỹ có nhiều thông liên quan biết rõ hơn về nhân vật nầy, cuối tháng 9 năm 1945, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo về nước.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngay sau khi tuyên bố Việt Nam độc lập và ra mắt chính phủ, Hồ Chí Minh ra lệnh giải tán Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng, giải tán các nghiệp đoàn. Ngày 4/9/1945, ban hành Sắc lệnh số 4 lập "Quỹ độc lập" quyên tiền trong dân chúng. Ngày 17/9, Chính phủ phát động "Tuần lễ Vàng" thu góm vàng ủng hộ nền độc lập Quốc gia. Sau các "Quỹ độc lập", “Tuần lễ vàng” Chính quyền Cách mạng còn tổ chức nhiều hình thức quyên tiền bạc của dân chúng như "Quỹ kháng chiến", "Quỹ bình dân học vụ", "Quỹ giải phóng quân", "Ngày Nam Bộ"...
Chính phủ cũng phát động Phong trào cứu đói. Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo"…
Theo sự phân công của các nước Đồng Minh quân Anh và Trung Hoa vào Việt Nam giải giáp quân Nhật: Anh từ Vỹ tuyến 16 trở vào Nam, và Trung Hoa Dân Quốc từ Vỹ tuyến 16 trở ra Bắc. Ngày 6/9/45, Phái bộ Quân sự Anh-Ấn tới Sài Gòn và ngày 9/9/45, quân Trung Hoa do tướng Lư Hán chỉ huy cũng vào Hà Nội. Nhân cơ hội, Pháp theo chân Anh vào Sài Gòn với ý đồ tái chiếm Đông Dương; Việt Cách, Việt Quốc cũng theo quân Trung Hoa trở về Hà Nội đòi tranh chia quyền lực với Hồ Chí Minh. Đến ngày 15/9/1945, tổng số quân đã có mặt tại Bắc Việt Nam 180.000 người.
Dưới sức ép của Tướng Lư Hán và Tiêu Văn (Phó của Lư Hán), sau một loạt các cuộc đàm phán giữa Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc, các bên đạt tới thoả thuận Hồ Chí Minh phải cải tổ chính phủ để cho một số nhân vật của Việt Quốc, Việt Cách tham gia Chính phủ. Ngoài ra, Việt Quốc được dành 50 Đại biểu và Việt Cách 20 Đại biểu trong Quốc hội không qua bầu cử. Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố tự giải tán. Ngày 1/1/1946, Hồ Chí Minh giải thể Chính phủ Lâm thời, để thành lập Chính phủ Liên Hiệp Lâm thời Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch.
Ngày 6/1/1946, bầu cử Quốc hội và ngày 2/3/46 Quốc hội họp phiên đầu tiên, công nhận 50 Đại biểu của Việt quốc, và 20 Đại biểu Việt cách không qua bầu cử; Quốc hội uỷ Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến; cử một Ban Cố vấn; và một Ủy ban Kháng chiến. Ngày 28/2/46, Trung Hoa ký với Pháp một Hiệp ước thân thiện, theo đó, quân Pháp sẽ thay quân Trung Hoa để giải giáp quân Nhật từ vỹ tuyến 16 trở ra. Ngày 5/3/46, quân Anh và Ấn rút khỏi Nam Bộ.
Sydney ngày 18 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.038 chữ)
Bài 213: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN LÂM THỜI NAM BỘ VÀ LÂM UỶ HÀNH CHÁNH CỦA TRẦN VĂN GIÀU.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 14/8/1945, Nhật trả Nam Kỳ lại cho Việt Nam, Hoàng đế Bảo Đại cử Chính trị gia Nguyễn Văn Sâm, làm Khâm sai đại thần Nam Kỳ. Cùng ngày 14/8/1945, tại Sài Gòn, các tổ chức chính trị, Việt Nam Quốc gia Độc lập đảng, Thanh niên Tiền phong, Tịnh độ cư sĩ, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Liên đoàn công chức, những người Troskist nhóm họp thành lập một tổ chức chung mang tên Mặt trân Quốc gia Thống nhất. Ban lãnh đạo Mặt trận là Hồ Văn Ngà, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Phú Sổ, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Trần Văn Thạch, v.v…
Ngày 16/8/1945, Trần Văn Ân nhân danh Chủ tịch Hội Đồng Tư vấn Nam Kỳ (do Nhật thành lập), cử Hồ Văn Ngà thành viên Hội Đồng Tư vấn Nam Kỳ, và cũng là thành viên Mặt trận Quốc gia Thống nhất, tiếp quản Chính quyền Nam Kỳ từ tay Nhật. Ngày 19/8/1945, Khâm sai Nguyễn Văn Sâm từ Huế về đến Sài Gòn, Hồ Văn Ngà giao lại chức chưởng cho Nguyễn Văn Sâm. Ngày 21/8/1945, Mặt trận Quốc gia Thống nhất tổ chức một cuộc biểu tình lớn, mừng sự kiện tiếp nhận Chính quyền Nam Kỳ và phô trương sức mạnh của Mặt trận trước khi Đồng Minh đến giải giáp quân Nhật.
Ngày 22/8/1945, Mặt trận Việt minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn, Phạm Ngọc Thạch, Thủ lãnh Thanh niên Tiền phong (cũng là thành viên Mặt trân Quốc gia Thống nhất) tuyên bố gia nhập. Nhờ uy thế của Thanh niên Tiền phong, nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu treo biểu ngữ "Chánh quyền về Việt Minh" khắp Sài Gòn, rải truyền đơn tuyên bố Việt Minh được phe Đồng Minh ủng hộ và kêu gọi nhân dân ủng hộ chính quyền Việt Minh. Mặt trận Quốc gia Thống nhất, bất ngờ trước sự kiện nầy, liền tổ chức một cuộc họp mở rộng, yêu cầu Trần Văn Giàu giải thích sự việc.
Tại cuộc họp nầy, Trần Văn Giàu ra sức thuyết phục, rằng nhiều vị lãnh đạo trong Mặt trận, từng cộng tác với Nhật, nên khó mà điều đình có hiệu quả với Đồng Minh khi họ vào “tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật”; Rằng, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất nên nhường quyền lãnh đạo cho Mặt trận Việt Minh, để tạo được thế mạnh trong đàm phán với Đồng Minh. Cuối cùng, thì Khâm sai Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm, với sự đồng ý của Mặt trận Quốc gia Thống nhất quyết định rút lui, nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh.
Ngày 25/8/1945, Trần Văn Giàu Bí thư Xứ uỷ Việt Minh Nam Kỳ công khai tuyên bố thành lập Ủy ban Hành Chánh Lâm thời Nam Bộ, thường gọi là Lâm uỷ Nam Bộ, do ông ta làm Chủ tịch. Nhận định về sự kiện nầy, Nguyễn Hữu Ðang nói: “…người ta biết các anh (Cộng sản) nhứt định sẽ gây nội chiến, nên đành phải nhường. Ngoài Bắc, trong Nam cũng vậy cả thôi”. Xin lưu ý rằng, Trần Văn Giàu là Bí thư Xứ uỷ Tiền phong tức xứ uỷ Việt Minh mới do ông ta làm Bí thư. Nam Kỳ còn có một Xứ ủy khác, Xứ ủy Giải phóng gọi là Xứ uỷ Việt Minh cũ trực thuộc Bắc Kỳ.
Ngày 2/9/1945, Trần Văn Giàu tổ chức một cuộc biểu tình lớn chào mừng Ngày Độc lập. Khi đoàn người biểu tình đến gần Nhà thờ Đức Bà thì có tiếng súng nổ từ phía Câu lạc bộ Pháp. Cuộc biểu tình biến thành một sự hỗn loạn. Cảnh sát tiến hành bắt ngay hàng trăm người Pháp và thân Pháp. Bọn lưu manh thừa cơ hội cướp bóc một số nhà hàng của người Hoa và người Pháp. Việt Minh và các đảng phái nghi ngờ, đổ lỗi cho nhau, hứa hẹn một viễn cảnh chính trị đầy thách thức cho Nam Bộ.
Ngày 7/9/1945, trên tờ Tranh đấu cơ quan ngôn luận của những người Trotskyist đăng một bài xã luận chỉ trích Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ không có những biện pháp bảo đảm an toàn cho cuộc biểu tình ngày 2/9/1945 khiến một số người chết. Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Lâm uỷ Trần Văn Giàu ra thông cáo tố cáo những kẻ khiêu khích ám chỉ những người Trotskyist và giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo đã phá hoại trật tự và gây đổ máu, kêu gọi người dân vì lợi ích quốc gia hãy tin cậy Ủy ban Hành chính Lâm thời, đừng để bọn phản bội tổ quốc lôi kéo làm mất đoàn kết dân tộc.
Ngay sau đó, những người Trotskyist, và các giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài tổ chức biểu tình, công khai thách thức Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, đòi Trần Văn Giàu từ chức. Ngày 9/9/1945, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ tổ chức cuộc họp mở rộng, do sự giới thiệu của Dương Văn Giáo và Trần Văn Ân, Luật sư Phạm Văn Bạch được bầu làm Chủ tịch, Trần Văn Giàu xuống làm Phó, kiêm Uỷ viên trưởng quân sự. Trong Ủy ban Hành chính Lâm thời mới có 4 Việt Minh, 1 Cao Đài, 1 Trotskyist, 2 Hòa Hảo, 3 không đảng phái, 2 thuộc các đảng phái quốc gia.
Ngày 12/9/45, Thiếu tướng Douglas Gracey, chỉ huy quân Đồng Minh Anh-Ấn ra lệnh cho quân đội Nhật đuổi Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra khỏi Dinh Toàn Quyền ở Sài Gòn và tước vũ khí của người Việt. Thống chế Terauchi, chỉ huy quân đội Nhật, điều 7 tiểu đoàn vào Sài Gòn yêu cầu Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ giao nộp vũ khí, nhưng "không làm được” bởi Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ chỉ có vài Đội tự vệ tượng trưng. Các Giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên mới có lực lượng vũ trang. Kết quả là, mệnh lệnh của tướng D. Gracey không thi hành được.
Sydney ngày 19 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1,069 chữ)
Bài 214: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN LÂM THỜI NAM BỘ VÀ LÂM UỶ HÀNH CHÁNH CỦA TRẦN VĂN GIÀU (tiếp theo)
Lê Xuân Đỗ
Cuộc đàm phán giữa Uỷ viên Cộng hoà Nam Bộ Pháp, Jean Cédile và Phạm Văn Bạch Chủ tịch Lâm uỷ mới ngày 16/9/1945, không đạt kết quả. Tướng Anh, Gracey lại triệu tập chỉ huy quân đội Nhật đến, và chỉ thị cho ông này phải có những biện pháp cấp bách và hiệu quả để khôi phục trật tự công cộng. Ngày 17/9/1945, Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ tổ chức một cuộc tổng bãi công phản đối điều mà họ gọi là âm mưu Pháp - Anh nhằm lật đổ Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ là chính phủ hợp pháp duy nhất ở Nam Kỳ. Phạm Văn Bạch gửi phái đoàn OSS một bức điện thông báo tình hình.
Tình hình Sài Gòn ngày càng hỗn loạn. Các toán vũ trang Bình Xuyên lùng bắt, đánh người Pháp bất kể lính hay dân thường. Mâu thuẫn Pháp-Việt leo thang đến cực độ, Uỷ viên Cộng hoà Nam Bộ Pháp, Cédile nhờ Thiếu tá A. Peter Dewey, chỉ huy OSS tại Sài Gòn, gặp các lãnh đạo Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ để thuyết phục họ khôi phục lại trật tự. Đêm 18/9/1945, A. Peter Dewey bí mật gặp Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch và Nguyễn Văn Tạo. Tất cả đều cho rằng đã quá muộn để thương lượng và hợp tác.
Sáng ngày 19/9/1945, Cédile tổ chức họp báo, tuyên bố Việt Minh không đại diện cho nguyện vọng của người Đông Dương và không đủ khả năng duy trì trật tự công cộng. Các cuộc thương lượng với người Việt sẽ dừng lại cho đến khi trật tự được lập lại. Ngày 20/9/1945, Thiếu tướng Anh Gracey ra bản Thông cáo số 1 tuyên bố sẽ duy trì pháp luật và trật tự ở Đông Dương phía Nam vĩ tuyến 16. Ông cấm tất cả các loại báo vì họ đưa tin sắp xảy ra nổi loạn và nội chiến. Tình hình trở nên cực kỳ tồi tệ. Các vụ phá hoại, cướp bóc, hành hung, bắt cóc,... do cả hai phía Pháp Việt gây ra bùng nổ đáng sợ.
Đêm 21/9/1945, tình báo Pháp SLFEO báo cho Cédile biết người Việt đang củng cố lực lượng vũ trang của họ. Cédile lại gặp Gracey để yêu cầu ông này trang bị vũ trí cho 1.400 tù binh Pháp (bị Nhật giam giữ từ ngày 9/3/1945) để hỗ trợ quân Anh giữ trật tự. Gracey đồng ý. Ngày 22/9/1945, Cédile cho lính Pháp thay thế lính Nhật chiếm giữ các đồn cảnh sát ở Sài Gòn, Kho bạc, Sở Mật thám, Bưu điện. Rạng sáng ngày 23/9/1945, quân Pháp tấn công Toà Thị chính Sài Gòn, nơi làm việc của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, bắt toàn bộ Ban lãnh đạo của cơ quan này. Pháp đã chiếm lại Sài Gòn.
Dân thường Pháp xem đây là dịp để trả thù. Từng toán đàn ông và đàn bà Pháp xông ra đường bắt và đánh đập bất cứ người Việt nào họ gặp. Số nạn nhân có thể lên tới hàng ngàn người. Chỉ huy OSS, A. Peter Dewey, gặp Gracey để phản đối Anh, Pháp đã để tình trạng này xảy ra. Ngày hôm sau, Dewey bị Gracey trục xuất khỏi Sài Gòn. Báo chí quốc tế phản ứng mạnh, người Anh bị chỉ trích gay gắt. Gracey ra lệnh cho Cédile thả tất cả người Việt Nam vừa bị bắt, tước vũ khí tù binh Pháp, đưa họ trở về trại và giao cho người Nhật trách nhiệm khôi phục lại trật tự.
Ngày 24/9/1945, sau khi được thả khỏi nhà giam, Việt Minh tập hợp người Việt lại, tiến hành chiến tranh. Phi trường Tân Sơn Nhất bị tấn công, một tàu Pháp ở cảng bị đốt, nhà máy, kho tàng bị đập phá, điện nước bị cắt hoàn toàn. Họ phá nhà giam thả hàng ngàn người Việt vừa bị bắt. Một số người Pháp bị giết. Đến trưa chợ Bến Thành bị đốt cháy. Chướng ngại vật được dựng lên khắp đường phố. Sài Gòn chìm trong tình trạng vô chính phủ. Đêm 24/9/1945, lực lượng Bình Xuyên tấn công khu Hérault kiều dân Pháp, tại Tân Định, Sài Gòn bắt 300 dân thường Pháp. Khoảng một nửa bị giết.
Để đối phó, một lần nữa tướng Anh Gracey chấp nhận yêu cầu của Cédile cấp vũ khí cho tù binh Pháp, nhưng tình hình đã quá muộn. Ngày 26/9/1945, Thiếu tá chỉ huy OSS A. Peter Dewey bị lực lượng Việt Minh bắn chết ở Tân Định. Tin này lan khắp thế giới làm xấu đi hình ảnh Việt Nam. Thiếu tá OSS Archimedes L.A Patti đang công tác tại miền Bắc Việt Nam nói: "Họ đã giết hại người bạn độc nhất của họ ở Nam Kỳ và chắc chắn những tin này sẽ chẳng đề cao được lý tưởng của họ trước nhân dân Mỹ.". Ngày 27-9-45, Saigon bị bao vây, lửa đỏ rực trời, thực phẩm khan hiếm.
Một Ủy ban phong tỏa Sài Gòn được thành lập do Nguyễn Văn Sâm, Kha Vạng Cân, Trần Văn Ân, Hồ Văn Ngà lãnh đạo. Uỷ ban ra lệnh tản cư đàn bà trẻ em và người già. Chiến tranh du kích nổ ra khắp nơi. Ngày 28/9/1945, Tư lệnh quân Đồng minh, tướng Mounbatten, triệu tập Gracey và Cédile đến Singapore để nhắc nhở hai người về việc quân đội Anh không được can thiệp vào tình hình chính trị Đông Dương và nhất là không được giao chiến với người Việt. Mounbatten đề nghị nên nối lại thương lượng với các lãnh đạo Việt Nam.
Ngày 1/10/1945, Gracey, và Cédile nối lại đàm phán với Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. Hai bên tạm thời ngừng bắn. Phía Anh nhấn mạnh thỏa thuận giữa các nước Đồng Minh, rằng Anh sẽ không công nhận bất kỳ sự thay đổi chủ quyền trên bất kỳ lãnh thổ nào đã bị Nhật chiếm bằng vũ lực trong thời kỳ chiến tranh. Người Pháp yêu cầu trả lại các con tin bị bắt, và xác của Thiếu tá Dewey trước khi tiếp tục thương lượng. Phía Việt Nam yêu cầu người Việt chỉ ngừng bắn với điều kiện Pháp trao trả quyền hành chính tại Sài Gòn cho Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ.
Lúc nầy, lực lượng võ trang của Dân quân Cách mạng chống Pháp đã triển khai quân đội tại các vị trí chiến lược phía Bắc và phía Nam thành phố Sài Gòn. Ngày 3/10/1945, hơn 10.000 quân Pháp do tướng Leclerc chỉ huy đổ bộ xuống Sài Gòn. Ngày 5/10/1945, Leclerc tuyên bố sẽ bình định Nam Bộ. Ngày 9/10/45, quân Pháp chiếm đóng Tây Ninh. Đêm 10/10/1945, bộ đội Việt Minh tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng Dân quân Cách mạng chống Pháp giao chiến với quân Anh, Pháp tại tất cả các cửa ngõ vào Sài Gòn.
Không quân Hoàng gia Anh liên tục ném bom vào các địa điểm bố trí quân của lực lượng Kháng chiến Nam, phá vỡ cuộc phong tỏa Sài Gòn. Ngày 16/10/1945, sau 6 ngày chiến đấu liên tục với nhiều tổn thất nặng nề, lực lượng Kháng chiến Nam Bộ ngừng bao vây Sài Gòn và rút quân về vùng nông thôn. Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ kêu gọi dân chúng sơ tán khỏi Sài Gòn thực hiện chiến lược dùng nông thôn bao vây thành thị bằng cách cắt đứt mọi hoạt động thương mại giữa nông thôn và thành thị. Anh, Pháp kiểm soát toàn bộ Sài Gòn.
Ngày 25/10/1945, Hoàng Quốc Việt tổ chức Hội nghị Thiên Hộ, Cái Bè, Mỹ Tho thống nhất hai Xứ uỷ Tiền Phong và Xứ uỷ Giải Phóng làm một, và cử Tôn Đức Thắng từ Côn Đảo về làm Bí thư. Ba lãnh tụ Xứ uỷ Tiền Phong-Việt Minh mới, là Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch và Dương Bạch Mai được đảng Cộng sản điều ra Hà Nội. Tại Hà Nội, Trần Văn Giàu đề đạt 2 nguyện vọng (1) cho phép ông trở lại chiến trường Nam Bộ chiến đấu, hoặc (2) cho ông sang Campuchia và Thái Lan lập một căn cứ hậu cần tiếp tế cho Nam Bộ. Nguyện vọng thứ hai được chấp thuận.
Sydney ngày 20 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.554 chữ)
Bài 215: CHUYỆN KỂ VỀ QUÁ TRÌNH TÁI LẬP LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG CỦA NƯỚC PHÁP.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 7 tháng 1 năm 1946, Pháp cho thành lập chính quyền Quốc gia Miên Tự trị do một Uỷ viên Cộng hoà (UVCH) Pháp đứng đầu. Ngày 28/1/46, Tướng Anh, Douglas Gracey, chuyễn giao quyền hành cho Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu Cao uỷ (Toàn quyền) Pháp tại Đông Dương, và rời khỏi Sài Gòn. Ngày 6/3/46, Pháp ký với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh Hiệp ước sơ bộ Việt-Pháp với nội dung:
1. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng.
2. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc Dân để giải giáp quân Nhật. Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 quân.
3. Pháp đồng ý thực hiện “trưng cầu dân ý” tại Nam Kỳ về việc tái thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
4. Hai bên thực hiện ngừng bắn, giữ nguyên quân đội tại vị trí hiện thời để đàm phán về chế độ tương lai của Đông Dương, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Việt Nam Cộng hoà và nước ngoài và quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
5. Quân đội Pháp có trách nhiệm hỗ trợ và huấn luyện cho Quân đội Việt Nam Dân chủ Việt Nam Cộng hoà.
Từ ngày 17/4 đến ngày 11/5/1946, hội nghị trù bị Pháp-Việt triển khai Hiệp ước sơ bộ 6/3 tại Đà Lạt không đạt tới tới kết quả nào. Ngày 1/6/46, tại Nam Bộ, Pháp cho thành lập chính quyền Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ do Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh cầm đầu. Từ ngày 6/7 đến ngày 13/9/1946, tại Pháp hội nghị Fontainebleau Việt-Pháp bàn định “những việc phải làm” để thi hành Hiệp ước 6/3/1946 cũng thất bại. Hôm sau, vào lúc nửa đêm 14/9/1946, Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh thân hành đến nhà riêng Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Pháp là Marius Moutet ký tạm ước Việt – Pháp 14 tháng 9 năm 1946 với những điểm chính sau đây:
1. Quyền bình đẳng cho Pháp kiều ở Việt Nam cũng như Việt kiều tại Pháp;
2. Tài sản của người Pháp bị tịch thu sẽ được hoàn trả và quyền sở hữu được tôn trọng;
3. Đồng bạc Đông Dương lệ thuộc vào đồng franc Pháp;
4. Thiết lập hệ thống thuế quan và tự do mậu dịch cho các xứ Đông Dương;
5. Tái lập trật tự và ngưng bắn ở Nam Kỳ, trao đổi tù binh, và ngưng tuyên truyền kích động dân chúng.
Như vậy, Hiệp ước sơ bộ Việt-Pháp 6/3, có tới hai Hội nghị để triển khai hoạt động đều bị thất bại. Và, cả Tạm ước tạm ước Việt – Pháp 14 tháng 9 năm 1946 cũng chỉ tồn tại trên giấy. Sau sự kiện Hải Phòng, rồi Hà Nội và cuối cùng chiến tranh Việt-Pháp. Vậy là, quá trình tái lập Liên bang Đông Dương của Pháp cho đến gần cuối tháng 12 năm 1946, Pháp chỉ lập ra được 3 Quốc gia Tự trị trong số 5 lãnh thổ của Liên bang Đông Dương củ. Đó là: Chính quyền Quốc gia Miên Tự trị (7/1/46), Chính quyền Cộng hoà Nam Kỳ Tự trị (1/6/46), và Chính quyền Quốc gia Lào Tự trị (27/8/46).
Hai lãnh thổ Trung Việt Nam và Bắc Việt Nam, Pháp phải đương đầu với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh trong gần một thập kỷ. Sau Hiệp định Geneve 1954, đến năm 1955, thì Liên bang Đông Dương mới chính thức xoá sổ.
Sydney ngày 21 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 694 chữ)
Bài 216: CHUYỆN KỂ VỀ VÕ NGUYÊN GIÁP TRUY QUÉT CÁC ĐẢNG PHÁI VÀ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH VIỆT-PHÁP.
Lê Xuân Đỗ
Thực hiện Hiệp ước Pháp-Trung (28/2/46) và Hiệp ước Pháp-Việt (6/3/46), ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Ngày 19 tháng 6 năm 1946, Báo Cứu Quốc đảng Cộng sản đăng xã luận kịch liệt chỉ trích "bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3". Liền ngay sau đó Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập. Ngày 25/6/46, tướng Lư Hán rời Hà Nội về Tàu. Ngày 27/6/46, Các ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, và Vũ Hồng Khanh đào thoát sang Tàu.
Sáng sớm ngày 12/7/1946, một Đội Công an do Lê Hữu Qua chỉ huy, đột kích khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do nghi ngờ cấu kết với Pháp âm mưu đảo chánh Chính phủ VNDCCH. Đến 7 giờ sáng cùng ngày 12/7, Công an vụ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các ông Lê Giản Giám đốc Nha Công an Bắc Bộ, Nguyễn Tuấn Thức Giám đốc Công an Hà Nội, và Nguyễn Tạo Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương đột kích căn nhà số 7 phố Ôn Như Hầu trụ sở Việt Quốc bắt hơn 100 người trong đó có một đại biểu Quốc hội là Phan Kích Nam.
Ký Tạm ước 14 tháng 9 xong, Hồ Chí Minh lên đường về nước, chiều ngày 21/10 thì về đến Hà Nội. Ngày 28/10/46, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhóm họp (242/444 đại biểu dự họp) để nghe Hồ Chí Minh thuyết trình về “Tạm ước 14/9/1946”. Sau khi tán dương công đức, Quốc hội ủy Hồ Chí Minh thành lập chính phủ mới. Hồ Chí Minh giải tán Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, và thành lập “Chính phủ Liên hiệp Quốc dân” gồm: 4 Cộng sản (Minh, Giáp, Hiến, Tạo), 2 Dân chủ (Khoa. Hoè), 1 Việt Quốc (Phượng), 1 Việt Cách (Luật), 6 Không đảng (Kháng, Huyên, Trí, Nhơn, Tố và Hướng).
Ngày 6/11/46, Quốc hội biểu quyết phát hành giấy bạc Hồ Chí Minh. Ngày 9/11/46, Quốc hội chấp thuận Hiến pháp với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống. Ngày 14/11/46, Quốc hội tuyên bố đình chỉ thi hành Hiến pháp vừa chấp thuận, bầu một Ban thường trực để làm việc thay Quốc hội trong thời gian không nhóm họp. Sau sự kiện Hải Phòng (ngày 20-28/11/46), kế hoạch phòng thủ Hà Nội bắt đầu được chuẩn bị để chính phủ có thời gian sơ tán về các vùng núi lân cận.
Ngày 16/12/46, Cao uỷ Đông Dương D'Argenlie lệnh cho tướng Morlière phá các chướng ngại vật mà Việt Minh đã dựng trong thành phố Hà Nội. Hôm sau, Pháp ra tối hậu thư đòi chấm dứt việc dựng chướng ngại vật trên phố. Tiếp đó là tối hậu thư đòi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp duy trì an ninh trong thành phố. Ngày 18/12/46, Hồ Chí Minh và một số cơ quan trọng yếu lánh vào Tỉnh lỵ Hà Đông, và các vùng phụ cận Chùa Trầm.
Sáng 19/12/46, Hồ Chí Minh viết một bức thư ngắn, cử cố vấn ngoại giao Hoàng Minh Giám tới gặp Saintrny đề nghị đàm phán "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại". Sainteny từ chối gặp Hoàng Minh Giám. Chiều hôm đó (19/12/46), Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Ðảng mở rộng tại làng Vạn Phúc, Hà Nội, Hội nghị duyệt lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do ông ta viết, và thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo.
Thời điểm bắt đầu nổ súng được quyết định là 8 giờ tối ngày 19/12/1946. Đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, tại Hà Nội, công nhân nhà máy Điện Yên Phụ phá máy, 20 giờ 3 phút, đèn điện trong thành phố vụt tắt, ít phút sau, pháo binh Việt Nam từ pháo đài Láng bắn dồn dập vào Thành phố. Sau đó, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát trên Đài tiến nói Việt Nam, với lời thề quyết tử: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!".
Sydney ngày 22 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 795 chữ)
Bài 217: CHUYỆN KỂ VỀ TIÊU THỔ KHÁNG CHIẾN VÀ PHÁ HOẠI ĐỂ KHÁNG CHIẾN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 16/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh toàn dân thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, phá hoại để kháng chiến, trong đó có đoạn: “phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc cuả đồng bào, cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy”. Tại Bắc Bộ: chỉ riêng các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, dân các tỉnh đã phá hàng chục km đường tại các QL1, 2, 3, 5, 6,11. Cầu Việt Trì và cầu Phủ Lạng Thương bị phá sập. Toàn bộ nền và đường sắt tuyến Hà Nội - Mục Nam Quan, Yên Viên - Lào Cai cũng bị bóc dỡ.
Tại Trung Bộ, đã phá trên 10.700 km đường ô tô, 30 nghìn thước cầu các loại, trong đó có cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), cầu Yên Xuân, cầu Cấm ( Nghệ An)… và gần như toàn bộ tuyến đường sắt Hà Nội – Vinh; Huế - Quảng Nam đều bị phá. Tại Nam Bộ, các tuyến đường chính như QL1A Sài Gòn - Phan Thiết, Sài Gòn - Buôn Ma Thuột, Sài Gòn - Cà Mau, Biên Hòa - Long Thành, Xuân Lộc - Bà Rịa cũng bị phá.
Vài ghi nhận về kỹ thuật phá đường: trong khi ta chỉ có cuốc, xẻng thì Pháp lại có máy móc hiện đại. Đoạn đường Văn Điển – Hà Đông, quân và dân Việt Nam mất 1.400 công mới dựng xong được hàng rào cánh sẻ bằng thanh Ray và Tà vẹt, nhưng quân Pháp chỉ cần dùng xe Ủi húc trong vài giờ lại thông đường. Đoạn Ngả tư Sở - Văn Điển, hàng nghìn công nhân ngã cây chắn đường, thì quân Pháp chỉ cần 2 tiểu đội Công binh với mìn và máy cắt cây, xe ủi thì vài ba ngày đoạn đường lại bình thường. Trên nhiều đoạn đường nhân dân Việt Nam mất hàng ngàn ngày công đào hố, quân Pháp chỉ cần dùng mìn bạt hai đầu hố là xe lại di chuyển qua lại bình thường. (Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp)
Tại Thái Nguyên: “Tôi có được đi qua Thái Nguyên ba lần: Lần đầu tiên vào hồi Pháp thuộc với nhà cửa đồ sộ của nó. Dân chúng chắc ít người có thể tưởng đến ngày chiến tranh. Lần thứ hai tôi đến nhằm hôm trời nắng: Một đám người đương hì hụi phá nhà; Một tràng tiếng hoan hô giữa những tiếng cười, ai ai cũng sung sướng triệt để phá hoại. Một câu nói của một đồng chí làm tôi nhớ mãi: “Các anh em ơi! Cố lên, ngoài mặt trận các đồng chí đương hy sinh giết giặc, ở hậu phương ta cũng phải cố sức. Mỗi người một công việc. Ta nhất định sẽ thắng”… Lần thứ ba tôi đến sau tết độc lập 1947: đâu đâu cũng là đống gạch, không còn thấy một nhà gác nào nữa…
Đến giữa năm 1947, ở Thái Nguyên công tác phá hoại căn bản hoàn thành. Khung cảnh lúc đó và những gì đã diễn ra trên mảnh đất Thái Nguyên khiến cho một vị thuyết khách phương Tây là ông Paul Mus cũng phải bất ngờ. Cuộc gặp gỡ vào khoảng 22h ngày 11/5/1947 giữa Paul Mus (Pôn Muýt) và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn ra không được như mong đợi… Sau này, Pôn Muýt đã không ngại ngần bày tỏ sự khâm phục của mình: “Tôi vừa sửng sốt, vừa khâm phục… Những người dân đã tự tay phá sập nhà mình. Khó có sức mạnh nào khuất phục nổi một dân tộc có tinh thần hy sinh như vậy” (Trích cảm tưởng của Bác sỹ quân y Nguyễn Ngọc Huy. Tác giả Tố Hương sưu tầm).
Tại Thị xã Vinh, Sau khi lệnh “tiêu thổ kháng chiến” được đưa ra. Chỉ trong một thời gian ngắn, thị xã Vinh với nhiều công trình kiên cố được xây dựng từ sau năm 1989 như Nhà máy xe lửa Trường Thi, nhà máy điện, xí nghiệp sửa chữa ô tô, các cửa hiệu đã bị san phẳng…
Nhắc lại ngày đó, bà Tôn Nữ Thị Cúc chậm rãi kể: “…những ngày được ngồi sau xe của bố, một thầy giáo dạy ở Trường Cao Xuân Dục chở đi khắp thị xã để xem phố phường, thích nhất là mỗi lần được ra rạp Majestic để xem chiếu bóng. Gia đình tôi thời bấy giờ được xem là gia đình có của ăn của để, trong đó nổi bật nhất là chuỗi khách sạn Vinh delagare và một cơ ngơi hàng nghìn mét vuông gồm biệt thự và dãy nhà gỗ năm gian ở khu vực nhà A3, Quang Trung hiện nay… Tài sản một đời tích góp đó, chỉ trong một ngày rưỡi đã bị xóa sạch. Cả nhà tôi hơn mười người kéo nhau lên vùng Hưng Thắng (Hưng Nguyên) thực hiện lệnh di tản”.
Gia đình chủ xưởng ô tô Minh Tâm sau cách mạng Tháng 8, vừa xây xong ngôi nhà ba tầng khang trang, chưa kịp khánh thành thì lệnh tiêu thổ kháng chiến đưa ra, cả khu phố nhà giàu nổi tiếng đã bị xóa sạch cùng với các cửa hiệu buôn bán lớn như Ký Hai, Hàn Phượng, Bảo Nguyên, Vĩnh Hưng Tường… Cùng với tiêu thổ, quân dân thị xã Vinh cũng phá hoại các tuyến đường giao thông, hàng nghìn mét đường sắt, hàng chục phương tiện ô tô, đầu máy xe lửa cũng bị dỡ bỏ, ném xuống sông để ngăn cản tàu thuyền của địch hoạt động.
Trong thị xã một loạt hầm hào giao thông cũng được đào ngang xẻ dọc, các chiến lũy được dựng lên, chỉ một đoạn ngắn từ Thị xã Vinh đến Bến Thủy đã được đắp thành 31 ụ lớn… Qua 5 tháng thực hiện tiêu thổ kháng chiến, công nhân Vinh – Bến Thủy đã đóng góp được 45.7000 ngày công, phá dỡ được 1.335 ngôi nhà, trong đó có 31 nhà cao tầng, 300 toa xe lửa và 12 đầu máy … (Mỹ Hà).
5. Tại Phú Yên: Đêm đêm, Bình Kiến cử hàng trăm người mang xẻng, cuốc, xà beng, búa tạ phá quốc lộ 1, phá các cầu giao thông trong xã, đào hào sâu, hào chữ Z, chữ L dọc ngang, băm nát mặt đường, đổ các ụ đất, làm chướng ngại vật. Đường sắt đi ngang qua địa bàn xã cũng được tổ chức phá dỡ để triệt giao thông đường sắt, vừa có thêm nguyên liệu làm công sự chiến đấu, rèn đúc chế tạo vũ khí.
Hàng trăm thanh niên cùng hội viên các đoàn thể cứu quốc tham gia đập phá các nhà kiên cố ở Thị Xã Tuy Hòa như Bungalô, nhà ga xe lửa, Sở liên nông, đồn Ông Một, Nhà thương, Sở dây thép, xưởng rượu Ni-ca, và cả các nhà lầu kiên cố của dân như phòng ngủ Hòa Hưng, phòng ngủ Tân Hiệp, nhà Sáu Cò, nhà Nguyễn Tài Sý,… phụ giúp bà con người Hoa đập phá các ngôi nhà lầu của chính họ như nhà Dũ Khương, Dũ Ký, Ngũ Nghĩa.… Thứ Sáu, 09/11/2018 09:32 SA Thành Nam).
Sydney ngày 23 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.258 chữ)
Bài 218: CHUYỆN KỂ VỀ CHIẾN SỰ TĂNG DẦN VÀ TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG PHÁP-VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ Ở NHỮNG NĂM 1946-1949.
Lê Xuân Đỗ
TẠI HÀ NỘI. Sau 57 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng thành phố trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn và chênh lệch về vũ khí, đến đêm 17/2/1947, Tự vệ chiến đấu và Trung đoàn Thủ Đô (thành lập ngày 6 tháng 1 năm 1947) rút khỏi nội thành, Hà Nội hoàn toàn do Pháp kiểm soát. Đa số nhân dân Hà Nội và vùng ven cũng đã bỏ thành phố vượt sông Hồng tản cư lên phía Bắc, tạo thế "Vườn không nhà trống". Quân Pháp chiếm đóng thành phố Huế (7/2/47). Ngày 11/3/47, chiếm đóng Nam Định. 1/4/47, Nghị sĩ Emile Bollaert đến Sài Gòn nhân chức Cao Ủy thay thế D’ Argenlieu.
Ngày 12/4/47, tại Huế, Pháp thành lập một Ủy ban Chấp chánh Lâm thời, gọi là cơ quan Hành chánh Lâm thời để quản trị các vùng do Pháp chiếm đóng và kiểm soát cầm đầu bởi Trần Văn Lý. Ngày 15/4/47, quân Pháp chiếm đóng Hòa Bình. Ngày 17/4/47, chiếm đóng Chợ Bờ. Ngày 7/5/47, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp là Coste Floret tuyên bố: quân Pháp đã làm chủ các thành phố lớn và kiểm soát các đường giao thông lớn. Tổng số quân của Liên hiệp Pháp ở Đông Dương là 115.000 quân.
Ngày 19/5/47, tại Hà Nội Pháp thành lập một Ủy ban Hành chánh và Xã hội Lâm thời, gọi là Hội Đồng An Dân do Bác sĩ Trương đình Tri cầm đầu. (Bác sỉ Tri bị ám sát tại Hà Nội ngày 10/10/47). Ngày 25/5/47, quân Pháp chiếm đóng Quảng Trị. Ngày 17/6/47, Hồ Chí Minh lại kêu gọi dân chúng kiên quyết trường kỳ kháng chiến. Ngày 25/6/47, Pháp chiếm đóng Quảng Bình và Quảng Nam. Ngày 20/7/47, Hồ Chí Minh cải tổ Chính phủ Liên hiệp Quốc dân, trong đó có Bộ trưởng Không bộ Đặng Văn Hướng bị Việt Minh giết trong Cải cách ruộng đất.
Ngày 29/7/47, giáo sư Paul Mus, người được Cao uỷ Đông Dương Bollaert đến vùng núi Việt Bắc gặp Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh, từ Đông Dương về đến Pháp tuyên bố với báo chí “tình hình không khả quan” du kích chiến lan tràn khắp nơi, không thể bàn tới chuyện điều đình, vì “Việt Minh và Pháp không tin tưởng được nhau”. Ngày 10/9/47, Bollaert đọc diễn văn ở Hà Đông tuyên bố Pháp ưng thuận về nguyên tắc cho Việt Nam độc lập, và kêu gọi sự hưởng ứng của các “gia đình tinh thần Việt Nam”.
Sau khi hoàn thành việc chiếm đóng vùng đồng bằng, Pháp quyết định tiến công lên Việt Bắc để sớm kết thúc chiến tranh. Ngày 7/10/47, Pháp điều động 15 tiểu đoàn chia ra nhiều cánh hôm nay chiếm đóng Tông và Sơn Tây, Quốc vụ khanh Chính phủ, Uỷ viên thường vụ Quốc hội, Nguyễn Văn Tố bị địch phục kích vây bắn và hy sinh. Có một chi tiết đáng chú ý là cụ Nguyễn Văn Tố có thân hình mảnh dẻ và dong dỏng cao nên ban đầu quân đội Pháp nhầm tưởng ông là chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 13/10/47, quân Pháp chiếm đóng Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng phụ cận. Ngày 20/10/47, quân Pháp chiếm đóng Yên Báy. Ngày 21/10/47, chiếm đóng Chapa. Ngày 30/10/47, chiếm đóng Lao Kay. Quân Pháp tiến nhanh, nhưng không định vị được các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ, chỉ cắt đường số 4 và kiểm soát biên giới Việt Trung, cô lập An Toàn Khu Việt Bắc với thế giới bên ngoài.
Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch. Vũ khí thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp. Hoạt động du kích tại một số nơi ở đồng bằng gây khó khăn lớn cho Pháp. Có những hội tề tức chính quyền tại các làng xã do Pháp lập ra, nhưng lại hành động theo lệnh Việt Minh. Ở nhiều nơi, bộ đội Việt Minh vẫn tự do đi lại, tuyển quân, thu thuế.
Các vùng đồng bằng màu mỡ đông dân vẫn là nguồn cung cấp nhân lực, hàng hóa và lương thực lớn nhất cho Việt Minh. Dân chúng gánh thóc gạo từ vùng Pháp chiếm đóng đi đóng thuế cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại miền Trung Việt Nam, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát từ Hội An đến Mũi Đại Lãnh, gần như ngăn đôi đất nước. Ở miền Nam Việt Nam, Lực lượng của tướng Nguyễn Bình bị đẩy về các chiến khu trong vùng ngập mặn và rừng núi, họ còn luôn gặp sự chống đối của các giáo phái người Việt như Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên...
Một thoả thuận đạt được giữa chính phủ Pháp-Phạm Công Tắc, theo đó, Pháp trả tự do cho Hộ pháp Phạm Công Tắc rời khỏi nơi lưu đày Madagascar ở Phi châu trở về Việt Nam; Pháp sẽ trang bị, huấn luyện lực lượng vũ trang Cao Đài thành một Quân đội Cao Đài độc lập; Lãnh thổ do Toà thánh Tây Ninh kiểm soát có quyền tự trị. Đổi lại, Quân đội Cao Đài sẽ là một lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh… Phạm Công Tắc bổ nhiệm Trần Quang Vinh làm Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài với cấp bậc Trung tướng, Tổng hành dinh đặt tại Bến Kéo, Tây Ninh.
Sau khi giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ mất tích ngày 16/4/1947, Hòa Hảo cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ.Người Pháp nhân cơ hội, lôi kéo những người đứng đầu Hoà Hảo hình thành 4 nhóm vũ trang mới, cứ sở tại 4 vùng chống Việt Minh: (1) Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long); (2) Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc); (3) Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên); (4) Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).
Sau sự kiện xung đột giữa Nguyễn Bình và Bảy Viễn, thủ lãnh Bình Xuyên, Lê Văn Viễn và lực lượng Bình Xuyên của ông ta ra hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh. Tại Pháp, ngày 29/1/48, Chính phủ Pháp bắt giam Trần Ngọc Danh, trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Ba Lê. Ngày 1/12/48, các Vùng do quân đội Pháp kiểm soát ở Bắc Phần gồm: các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh kỵ Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng phụ cận. Ngày 12/7/49, quân Pháp chiếm đóng Đáp Cầu, và Phủ Lạng Thương. 16/10/49, Quân Pháp tiến vào Phát Diệm, Bùi Chu...
Tại Trung Quốc: Ngày 22/1/49, Cộng quân của Mao chiếm đóng Bắc Kinh, Bà Tống Mỹ Linh tức bà Tưởng Giới Thạch lại sang cầu viện Hoa Kỳ. Ngày 20/4/1949, Tàu Cộng tràn xuống Hoa Nam. Ngày 23/4/49, chiếm Nam Kinh. Ngày 25/9/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Hạ Ninh, 6 Quân đoàn quân Tàu Tưởng quy hàng. Ngày 1/10/49, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc. Ngày 29/11/49, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh gởi điện chúc mừng lẫn nhau.
Sydney ngày 24 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.321 chữ)
219: CHUYỆN KỂ VỀ XUNG ĐỘT GIỮA NGUYỄN BÌNH VÀ THỦ LĨNH BÌNH XUYÊN LÊ VĂN VIỄN.
Lê Xuân Đỗ
Sách Phật giáo Hoà Hảo trong lòng Lịch sử Dân tộc, viết: “Ngày 15/5/1948, Bảy Viễn nhận được một mật điện của Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Nam bộ (UBKCNB) mời “anh Bảy” Tư lịnh Liên khu Bình Xuyên đến chiến khu Đồng Tháp Mười dự họp. Ngày 28/5/48, phiên họp bắt đầu. Tướng độc nhãn Nguyễn Bình nói: Bây giờ ta xét đến vấn đề tổ chức quân sự và lãnh thổ. Từ khi đồng chí Bảy Viễn được bổ nhiệm làm Khu trưởng Chiến khu 7, đồng chí không còn là Tư lịnh Bình Xuyên hợp tác với kháng chiến nữa, mà là một Sĩ quan cao cấp của quân đội cách mạng.
Có nghĩa đồng chí phải tuân hành mệnh lệnh của Uỷ ban Kháng chiến Nam bộ, và Ủy viên Quân sự. Chúng ta không thể chống giặc mà không thống nhứt hệ thống. Mọi đặc điểm riêng không còn tồn tại nữa. Phía Bảy Viễn, một vị đại diện đứng lên xin nói: Tôi xin trình bày cho rõ một điểm. Tổ chức Bình Xuyên không đợi đến khi Trung tướng Nguyễn Bình tới chiến trường Nam Bộ mới bắt đầu chiến đấu. Từ ba mươi tháng nay, chúng tôi đã đánh nhau với Pháp và đã có hơn 300 chiến sĩ hy sinh tại các mặt trận.
Suốt 1.000 ngày chiến đấu đó, chúng tôi không hề nhận được của Cục quân nhu Việt Minh một hột gạo tiếp tế, một con cá khô hay một khảu súng, một viên đạn nào cả. Không một chiến sĩ Bình Xuyên nào được lãnh một xu lương bổng. Cả UBKCNB lẫn Quân ủy không ai cung cấp cái gì cho Bình Xuyên… Tướng Nguyễn Bình lạnh lùng nói: “Các đồng chí đã có Maurice Thiên và người Tàu Chợ Lớn tiếp tế tiền bạc và nhu cầu rồi”! “Đúng vậy, chúng tôi phải thâu thuế trong khu vực chúng tôi kiểm soát, cũng như các đồng chí thâu thuế trong khu vực do quý cơ quan kiểm soát”!
Nguyễn Bình tiếp: “Vậy đồng chí còn than phiền điều chi?” “Chúng tôi không than phiền, mà chỉ nói cho rõ vấn đề”. Tất cả chúng tôi đều tin tưởng nơi sự sáng suốt và lòng can đảm của đồng chí. Nhưng chúng tôi không hài lòng về cung cách đồng chí đối xử với Bình Xuyên chúng tôi, đồng chí không hề đề nghị giúp đỡ gì chúng tôi, mà chỉ hạ lịnh bắt chúng tôi phải thi hành. Tướng Nguyễn Bình cười gằn: Các đồng chí có tuân hành mệnh lệnh của tôi đâu, đồng chí hiểu chớ! Đồng chí nói sai rồi. Tất cả những nhiệm vụ mà đồng chí chỉ thị, chúng tôi đã thi hành trọn vẹn.
Chúng tôi chỉ từ chối sự kiểm soát của những chánh trị viên mà đồng chí gửi tới, đồng chí có hiểu lý do tại sao không? “Tôi muốn nghe đồng chí nói rõ” Lời của Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ chủ toạ! “Đây là sự thực. Chúng tôi nghĩ rằng các chánh trị viên không có gì để dạy dỗ chúng tôi. Chúng tôi đã ý thức cầm súng chiến đấu vì nền độc lập của tổ quốc, và để đòi tự do. Chúng tôi không chiến đấu cho một chế độ đảng trị, hay để củng cố uy quyền lãnh đạo đã nhẫn tâm tàn sát đồng đội một cách ác độc hơn là đối với quân thù”…
Tướng Nguyễn Bình đã đặt tay lên bá súng lục đeo bên hông gằn tiếng hỏi: “Đồng chí muốn ám chỉ ai?”. “Là đồng chí Nguyễn Bình” đúng vậy! Tướng Nguyễn Bình vụt rút súng ra khỏi vỏ. Phía bên Bình Xuyên, người chỉ huy đội hộ vệ cũng lên cò cây tiểu liên tự động Thomson, nhắm ngay vào Nguyễn Bình, xin “Trung tướng bình tĩnh lại”!!! Vị Chủ tịch UBKCNB nhìn người chỉ huy Bình Xuyên, thấy nét mặt cương quyết, ngón tay đặt sẵn trên cò “sẵn sàng nổ súng”. Ông ta run giọng can gián: Tất cả bình tĩnh lại. Chúng ta đều là anh em đồng chí cả… Không khí bớt nặng nề, đôi bên bỏ súng xuống.
Viên chủ tịch nói: “Đồng chí vừa phát biểu những điều kết tội, vậy đồng chí có thể chứng minh cho rõ trắng đen không”? Tức thì Bảy Viễn đứng lên tiến tới phía trước, bên hông đeo tòn ten khẩu súng lục, tôi xin nói. Và, Bảy Viễn nhìn thẳng về phía Nguyễn Bình: “Nếu tôi phải kể hết mọi tội ác mà đồng chí đã phạm đối với các chiến sĩ quốc gia, thì phải nói cả giờ đồng hồ mới hết. Tôi chỉ muốn nói đến một vụ: Tại sao đồng chí ám hại Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ”?
Nguyễn Bình nói: “Đó là kẻ lúc nào cũng mưu tính diệt Cộng Sản và cá nhân tôi, cho nên phải tiêu diệt”, Nguyễn Bình đáp! “Nói láo”. Bảy Viễn gầm lên. Nguyễn Bình cũng nổi giận đùng đùng. Chủ tịch UBKCNB phải can gián. Bảy Viễn lại lên tiếng: “Đồng chí tự tin bởi đồng chí nghĩ rằng kẻ khuất mặt không thể nói lên sự thật được. Nhưng còn tôi đây, tôi còn sờ sờ đây, thì tôi phải nói. Tôi kết tội đồng chí đã hai lần âm mưu ám sát chính tôi”. Nguyễn Bình bậm môi cười, phản công: “Không thể kết án vô bằng chứng như thế. Tôi thách đồng chí trưng bằng cớ ra đây”.
Bảy Viễn tiếp: “Đồng chí lầm rồi: Tôi đang nắm trong tay một bằng cớ còn hùng biện hơn là nhân chứng nữa. Đó là tài liệu do chính tay đồng chí Nguyễn Bình ký tên chỉ thị cho ban ám sát”… Bảy Viễn rút trong túi ra một mảnh giấy gấp tư, đã lấy được trong người của tên sát thủ năm 1947, và đặt tờ giấy đó lên mặt bàn. Nguyễn Bình lặng lẽ mở tấm giấy, nét mặt mờ đi, giận đến run lên. Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ cầm lấy tờ giấy, và chính ông cũng giận run. Một bầu không khí im lặng nặng nề đè trên phòng họp.
Viên Chủ tịch quay sang hỏi Nguyễn Bình: Có phải đây là chữ ký và con dấu của đồng chí không? Nguyễn Bình quay mặt đi, nghiến răng nói: “Chính hắn đã nhiều lần mưu sát tôi, đoàn hộ vệ của tôi đã chết về tay hắn”.Viên Chủ tịch nói nhỏ: Chuyện này quan trọng lắm, phải báo cáo về Trung Ương. Yêu cầu các đồng chí chờ tôi. Bảy Viễn không trả lời, từ từ đi ra khỏi phòng họp. Trên đường từ Đồng Tháp trở về Rừng Sát, Bảy Viễn và đoàn tùy tùng bị phục kích trong đêm tối. Nhưng Bình Xuyên đã đề phòng chuyện đó, cho nên họ đã thoát vòng phục kích của Trung đoàn 306 do chính Nguyễn Bình bố trí…
Sau lần đụng độ này, Bình Xuyên biết không còn cách nào cộng tác với Việt Minh được nữa, cho nên tìm cách liên lạc với Saigon, và ngày 17-6-1948, Lê Văn Viễn cùng toàn bộ binh sĩ Bình Xuyên về hợp tác với Chánh phủ Quốc gia thời Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân. Lê Văn Viễn được Tướng De la Tour gắn lon Đại tá.
Sydney ngày 25 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.279 chữ)
220: CHUYỆN KỂ VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM VÀ TÁI NHẬP NAM KỲ VÀO LÃNH THỔ VIỆT NAM.
Lê Xuân Đỗ
Chính quyền Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ thành lập ngày 1/6/1946, nhưng chính phủ Pháp, nhất là Cao uỷ D'Argenlieu chưa chịu trao quyền Tự trị cho Chính phủ, không cung cấp phương tiện, không tài chánh, không quân đội, không có cả trụ sở làm việc. Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh phải lấy phòng mạch riêng để làm việc của chính phủ. Ngày 10 tháng 11 năm 1946, cảm thấy mình bị người Pháp lợi dụng, người Pháp không thật lòng, Thủ tướng Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tự tử bằng cách thắt cổ, trên bàn viết gần đó có quyển sách thuốc còn mở ra ở trang nói về "Thắt cổ" (Pendaison).
Ngày 15/11/46, Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ nhóm họp, bầu ra vị tân thủ tướng. Bác sĩ Lê Văn Hoạch đắc cử với đa số phiếu gần như tuyệt đối. Cũng như người tiền nhiệm, chính phủ Lê Văn Hoạch không được Cao uỷ Pháp cung cấp phương tiện, và giao quyền hành. Đến tháng 9 năm 1947 thì Lê Văn Hoạch từ chức. Ngày 1/10/47, Tướng Nguyễn Văn Xuân được uỷ lập Chính phủ mới. Ngày 19 tháng 12 năm 1947, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân bay sang Hương Cảng yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại xác nhận ý định thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam, và mời Cựu hoàng ra chấp chánh.
Ngày 24/12/47 Cựu hoàng Bảo Đại sang Ba lê gặp Đại sứ Massihli. Ngày 7/1/1948, Emile Bollaert hội đàm với Cựu hoàng Bảo Đại tại Genève, kéo dài cho tới ngày 12/1/48. Hội đàm sẽ còn tiếp tục thêm nữa tại Vịnh Hạ Long. Ngày 30/1/48, Bollaert tuyên bố tại Sài Gòn “Pháp nhất định không điều đình với Hồ Chí Minh” nữa. Ngày 5/3/48, Cựu hoàng Bảo Đại từ Genève trở về Hồng Kông. Ngày 26/3/48, Cựu hoàng Bảo Đại trả lời các đại diện đảng phái và đoàn thể “ưng thuận về nguyên tắc lập một Chính phủ Lâm thời để điều đình với Pháp”.
Tháng 5 năm 1948, Chính phủ Cộng hoà Tự trị Nam Kỳ đổi tên thành chính phủ Nam Phần Việt Nam để xác nhận Nam Kỳ là một phần của Việt Nam. Ngày 15/5/48, Cựu hoàng Bảo Đại gởi thông diệp cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, tán thành việc thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam, do Thiếu tướng Xuân điều khiển, để giải quyết “vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận quốc tế”. Ngày 24/4/48, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu và một số nhân vật chính trị lại sang Hồng Kông gặp Cựu hoàng Bảo Đại.
Ngày 20/5/48, Một Hội nghị đại diện các đảng phái và các Phần trong nước, nhóm họp tại Sài Gòn gồm các ông: Đặng Hữu Chí, Hà Xuân Hải, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, Nguyễn Khoa Toàn, Trần Quang Vinh, Hà Xuân Tế, Lê Tấn Nẫm, Trần Thiện Vàng, Nguyễn Khắc Vệ, Đỗ Hữu Thinh, Phạm Văn Hai, Đỗ Quang Giai, Lương Danh Môn, Nguyễn Văn Tuế, Nguyễn Văn Tỵ, Ngô Quốc Côn, Nguyễn Thúc Loan, Phạm Đình Thuyên, Nguyễn Thức, Ngô Khánh Thực, Trương Vĩnh Tống, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Văn Dắn.v.v.
Sau khi nghe Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân giải bày và bức chiếu thư của Cựu hoàng Bảo Đại tất cả “kính cẩn đồng thanh hưởng Thánh ý” và bầu Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam. Cao ủy Pháp ghi nhận sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia. Ngày 5/6/1948, trên chiến hạm Duguay Trouin tại Hạ Long, công bố Tuyên ngôn Pháp-Việt, theo đó, Pháp long trọng thừa nhận Việt Nam độc lập và thống nhất.
Việt Nam tuyên bố gia nhập Liên hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết. Độc lập của Việt Nam là không giới hạn, ngoại trừ giới hạn trong Liên hiệp Pháp. Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân kêu gọi quốc dân đoàn kết, bày tỏ tinh thần với các quý bạn người Pháp. Ngày 14/6/48, Chính phủ Quốc gia ban hành Sắc lệnh số 5 tổ chức: Mỗi Phần thuộc một Tổng Trấn, có cơ quan Hành chánh, Hội nghị và ngân sách riêng. Tổng Trấn có chân trong Hội đồng Chính phủ.
Ngày 19/8/48, Quốc hội Pháp thảo luận về thỏa hiệp Vịnh Hạ Long. Nhiều quan điểm khác nhau, một vài đảng không chấp thuận. Ngày 25/8/1948, Bảo Đại báo cho phía Pháp biết ông sẽ không về nước nếu chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ không bị hủy bỏ. Yêu sách nầy, khiến một số Bộ trưởng ở Paris phát biểu: "thật sự ông ta đã bắt đầu bất chấp cả chúng ta", rằng Bảo Đại không phải là “một tên bù nhìn, một vua hộp đêm" như mọi người vẫn tưởng…Ngày 20/10/48, Leson Pignon được cử làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương thay Emile Bollaert.
Ngày 13/2/1949, Cựu hoàng Bảo Đại, Phó Thủ tướng Trần Văn Hữu hội đàm với Cao ủy Đông Dương Leson Pignon, và Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Coste Floret về vấn đề thỏa ước Việt-Pháp. Ngày 21/2/49, dự thảo Thỏa ước Việt-Pháp được gởi lên Hội đồng Chính phủ Pháp rà soát và bổ sung. Ngày 2/3/49 còn một vấn đề gay go nhất trong cuộc đàm phán là Quy chế Nam Kỳ, Chính phủ dự định lập một Hội nghị Địa phương Nam Kỳ để định đoạt số phận Nam Kỳ, đưa ra Hội nghị Liên Hiệp Pháp xét duyệt.
Ngày 8/3/1949, tại điện Elysée, trước sự hiện diện của Tổng thống Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại, một Thỏa ước Việt-Pháp được ký kết, theo đó, Pháp thừa nhận Việt Nam: Có tổ chức hành chánh riêng, tư pháp riêng, tài chánh riêng, quân đội riêng; Có quyền quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á; Pháp sẽ ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc; Việt Nam hứa sẽ tôn trọng quyền lợi kinh tế văn hóa của Pháp; Cho phép Pháp sử dụng các căn cứ quân sự; Cử đại diện vào Hội nghị, và Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp; Nam Kỳ sẽ tuỳ ý định đoạt số phận, nếu muốn tái nhập Việt Nam.
Đáng chú ý là Tổng thống Cộng hoà Pháp Vincent Auriol tái xác định bằng văn bản rằng: “Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ, dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế, không đưa ra bất cứ cản trở nào về việc Nam Kỳ sát nhập vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt)”.
Ngày 19/4/49, Hội nghị Địa phương Nam Kỳ gồm 26 Hội viên Pháp, 48 Hội viên người Việt nhóm họp chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là giải quyết việc “Nam Kỳ vẫn Tự trị hay sáp nhập nào Quốc gia Việt Nam”. Đến ngày 23/4/49, Hội nghị vẫn tranh luận gay go, trong khi đó thì Cựu hoàng Bảo Đại cho biết chỉ chịu về nước nếu “Nam Kỳ tái nhập vào Việt Nam”. Hoàng thân Bửu Lộc can thiệp nhân danh Cựu hoàng rằng “Nam Kỳ sẽ tuỳ ý tự quyết, nếu một ngày kia Việt Nam thay đổi mối liên hệ với Liên Hiệp Pháp.
Cuối cùng, ngày 24/3/49 Hội nghị biểu quyết với đa số phiếu “tái nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam”. Ngày 3/6/49 Quốc hội Pháp chuẩn y sự sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam. Ngày 14/6/49, tại Tòa Đô Sảnh, Cao Ủy Pignon và Cựu hoàng trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée. Sau đó, Cựu hoàng hiệu triệu quốc dân, tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được Tổng tuyển cử, và tạm giữ danh hiệu Quốc trưởng, để có một địa vị quốc tế hợp pháp, nhưng rồi ra quốc dân sẽ định liệu về Hiến pháp.
Sydney ngày 26 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.410 chữ)
221: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI THỦ TƯỚNG NGUYỄN VĂN XUÂN: 1948-1949.
Lê Xuân Đỗ
1948: Ngày 2/6/1948, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành Hiến chương Lâm thời, gọi là Pháp quy Lâm thời (Statut provisoire): Quốc kỳ: cờ vàng ba sọc đỏ; Quốc ca: Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước; Hội nghị Lâm thời Việt Nam: sẽ do Chính phủ chỉ định; Mỗi Phần do một Tổng Trấn cai trị, và có Hội nghị Lâm thời địa phương (sắc lệnh số 3). Ngày 14/6/48, chính phủ ban hành Sắc lệnh số 5 tổ chức: Mỗi Phần thuộc một Tổng Trấn, có cơ quan Hành chánh, Hội nghị và ngân sách riêng. Tổng Trấn có chân trong Hội đồng Chính phủ.
Ngày 25/6/48, chính phủ ban hành Sắc lệnh số 6, lập “Tối cao Tư vấn Viện” gồm một số Tổng trưởng, chủ tịch các Hội nghị, và một số nhân sĩ giúp Thủ tướng điều hành Chính phủ. Ngày 2/7/48, Thiếu úy Vệ binh Nam Phần Nguyễn Khánh được thăng Trung úy, và Sĩ quan tập sự Trần Thiện Khiêm được thăng Thiếu úy. Ngày 4/7/48, các Phủ Tổng Trấn được thiết lập tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ngày 16/7/48, thành lập các các Tòa án đệ nhị cấp (Nghị định số 5). Ngày 19/7/48, Tổng trấn Trung phần, lập trại An trí những người có hại cho an ninh quốc gia.
Ngày 20/7/48, Đại úy Lê Văn Tỵ được bổ Chánh Võ Phòng của Thủ tướng, Trung úy Trần Tử Oai Phó Võ Phòng, Trung úy Trần Văn Đôn Trưởng Phòng An Ninh. Ngày 2/8/48, Sắc lệnh số 48/SG thiết lập một “Ty Giám đốc Cảnh sát và Mật thám Quốc gia”. Ngày 11/8/48, Cai trị viên Pháp André Bauvais bổ làm Đổng lý Văn phòng Thủ tướng, Đổng lý thứ hai là Thái Lập Thành. Ngày 23/8/48, Chỉ Dụ 63/SG Thủ lãnh Bình Xuyên Lê Văn Viễn được đồng hóa Đại tá tạm thời, và đặt thuộc quyền Phó thủ tướng Tổng Trần Nam Phần Trần Văn Hữu.
Ngày 8/10/48, một kỳ thi Trung học đệ nhất cấp được mở tại Hà Nội vào ngày 28/10/48. Ngày 22/10/48, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trợ cấp 100.000$ cho nạn nhân trận bảo ở Bắc phần. Ngày 11/11/48, Hộ pháp Phạm Công Tắc, giáo sư Trương Vĩnh Tống, Hà Xuân Hải, và cựu Tổng đốc Vũ Ngọc Oánh được cử vào Tối cao Tư vấn Viện. Ngày 1/12/48, một Trường Võ Bị đào tạo Sĩ quan Hiện dịch Việt Nam được thiết lập tại Huế. Ngày 20/12/48, một kỳ thi Tú tài Việt Nam đươc tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn.
1949: Ngày 14/2/49, Các bệnh viện Hà Nội và Nha bào chế Trung ương được trả lại cho Bộ Y tế Việt Nam. Ngày 8/3/49, thành lập một Uỷ ban để nghiên cứu quy chế công chức Việt Nam. Ngày 21/4/49, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành Sắc lệnh số 66/SG kể từ ngày 1/5/49, Vệ Binh Nam Việt (thành lập tháng 10 năm 1946); Việt Binh Đoàn Trung Việt (thành lập tháng 4 năm 1947); Bảo Chính Đoàn Bắc Việt (thành lập tháng 7 năm 1948) được cải đổi, mang tên mới “Vệ Binh Việt Nam Nam Phần”; “Vệ Binh Việt Nam Trung Phần”; “Vệ Binh Việt Nam Bắc Phần”.
Cùng ngày 21/4/49, bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội được giao về cho chính phủ Việt Nam. Ngày 24/4/49, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, và nhiều nhân vật chính trị sang Singapore đón Cựu hoàng, và ngày 28/4/1949, Cựu hoàng Bảo Đại về tới Đà Lạt. Ngày 4/5/49, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân đươc thăng Trung tướng vì đã có công trạng “đặc biệt với Pháp và Việt Nam”. Ngày 30/5/49, tại Ba Mê Thuột, nhiều đại diện sắc dân sơ cước làm lể tuyên thệ trung thành với Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 3/6/49 Quốc hội Pháp chuẩn y việc sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam.
Ngày 10/6/49, Các Bệnh viện Phủ Doãn (Yersin) Bạch Mai, Nhà thương chữa mắt Hà Nội được tổ chức thành một Liên đoàn Bệnh viện thuộc Bộ Y tế. Ngày13/6/49, Cựu hoàng Bảo Đại từ Đà Lạt về Sài Gòn. Ngày 14/6/49, tại Tòa Đô Sảnh, Cao Ủy Pignon và Cựu hoàng trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée. Sau đó, Cựu hoàng hiệu triệu quốc dân, tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức Tổng tuyển cử, và tạm giữ danh hiệu Quốc trưởng, để có một địa vị quốc tế hợp pháp, nhưng rồi ra quốc dân sẽ định liệu về Hiến pháp.
Ngày 16/6/49, Phủ Toàn quyền củ ở Hà Nội được trả về Việt Nam, thành “Biệt Điện Quốc trưởng”. Ngày 1 tháng 7 năm 1949, chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam tấn phong Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn xin từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố tạm kiêm nhiệm chức Thủ tướng, và cử nguyên Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng.
Sydney ngày 27 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 880 chữ)
222: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI KIÊM NHIỆM THỦ TƯỚNG: 1949-1950.
Lê Xuân Đỗ
1949: Cùng ngày 1/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành hai Đạo Dụ: Dụ số 1 “Tổ chức và điều hành các Cơ quan Công quyền Việt Nam khi chưa có Hiến Pháp". Dụ số 2 “Ấn định quy chế Công sở, Chính quyền địa phương”. Sẽ triệu tập Quốc hội Lập hiến; Quốc trưởng tạm thời giữ quyền Lập pháp, ban bố các Đạo Dụ, và giữ quyền Hành pháp ở cương vị Quốc trưởng; Chánh phủ do Quốc trưởng bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Quốc trưởng; Một Hội đồng Tư vấn Quốc gia sẽ được thiết lập, gồm 45 nhân vật do Quốc trưởng bổ nhiệm; Quốc gia Việt Nam gồm có ba phần: Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt.
Mỗi Phần có Ngân sách riêng, có tư cách Pháp nhân, do một Thủ Hiến cai trị, Thủ Hiến do Quốc trưởng bổ nhiệm; Sẽ lập một Viện Giám sát để kiểm soát Hành chánh; Trụ sở chính thức của Quốc trưởng là Sài Gòn. Ngày 3/7/49, Quốc trưởng bổ nhiệm: Thủ Hiến Bắc Việt: Nguyễn Hữu Trí; Thủ Hiến Trung Việt: Phan Văn Giáo; Thủ Hiến Nam Việt: Trần Văn Hữu. Ngày 12/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại về Huế. Ngày 14/7/49, Quốc trưởng hiệu triệu quốc dân, súng cồi từ đâu bắn nhiều phát vào thành phố Huế. Ngày 16/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại tới Hà Nội, tuyên bố chính sách của chính phủ.
Ngày 17/7/49, đại diện các sắc dân Sơn cước miền Bắc làm lể tuyên thệ trung thành với Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 18/7/49, Quốc trưởng ký Sắc lệnh 52/QT thành lập Viện Giám sát để kiểm soát Hành chánh; Trụ sở chính thức của Quốc trưởng là Sài Gòn. Ngày 19/7/49, Hội đồng Nội các họp phiên đầu tiên tại Hà Nội. Ngày 20/7/49, tại Biệt Điện, Quốc trưởng chủ tọa lể tựu chức Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Ngày 4/8/49, tại Sài Gòn, Quốc trưởng chủ tọa lể tựu chức Thủ hiến Nam Việt Trần Văn Hữu. Ngày 27/8/49, ấn định chương trình giáo dục Tiểu học (N.D 4/ND/GD).
Ngày 5/9/49, ấn định chương trình giáo dục Trung học (N.D 9/ND/GD). Ngày 9/9/49, một Hội Cấp tế nạn nhân chiến tranh Bắc Việt được thành lập để giúp đở đồng bào hồi cư. Ngày 12/9/49, ấn định chương trình Giáo dục tráng niên (N.D 14/ND/GD). Ngày 19/9/49, Chức chưởng của các Tổng và Bộ trưởng được ấn định trong một sắc lệnh đươc ký ngày hôm nay. Ngày 26/9/49, Nghị định (2.265/THP) thành lập Bảo chính Đoàn tại Bắc việt thay Nghĩa Dũng Binh của phủ Tổng Trấn củ. Sĩ quan của Bảo chính Đoàn thì gọi là Phó Đốc quân, Đốc quân, và Chánh Đốc quân.
Ngày 28/9/49, Quốc trưởng Bảo Đại ra Bắc thăm nhiều tỉnh. Ngày 14/10/49, Một Uỷ ban điều tra được thiết lập tại Bộ Nội vụ để xét lại hồ sơ của những công chức bị thải hồi sau ngày Nhật đảo chánh 9/3/1045. Ngày 18/10/49, Quốc trưởng ban hành Dụ số 4 tổ chức “Tư pháp và Tòa án Việt Nam”, và Dụ số 5 thành lập “Tối Cao Pháp Viện” và tổ chức Tư pháp và Tòa án Việt Nam”. Ngày 16/11/49, chỉ thị 331/QT của Quốc trưởng, công chức không được phép tuyên bố về chính trị. Ngày 1/12/49, từ 3 tháng nay giá gạo tăng vọt tới 600$ 1 tạ.
Phủ thủ hiến Bắc Việt đã can thiệp với chính phủ và yêu cầu chở gạo Nam phần ra Bắc bán cho dân chúng. Ngày 9/12/49, Du thuyền Hương Giang của Quốc trưởng Bảo Đại chở 300 tạ gạo từ Nam ra Bắc, giá gạo tại Hà Nội từ 600$ giảm xuống còn 400$ mỗi tạ. Ngày 12/12/49, Sắc lệnh 90/NV thành lập Ủy ban nghiên cứu các vấn đề “Tổ chức Hành chánh và Phân quyền địa phương. Ngày 24/12/49, một quỷ danh dự được thiết lập tại Bắc Việt để cho vay và khuyến khích tái lập công nghệ, canh nông. Ngày 29/12/49, Sắc lệnh số 96/GD, Cải tổ Học chính Việt Nam.
1950: Theo đó, bải bỏ bậc Cao đẳng Tiểu học, chỉ đề ra ba bậc học: Tiểu, Trung, và Đại học. Mỗi bậc đều có Ban Phổ thông, và Ban Chuyên nghiệp. Trung học, và Đại học thuộc Bộ Giáo dục; Tiểu học thuộc các Phủ Thủ Hiến về Hành chánh và thuộc Bộ về Chuyên môn. Ngày 4/1/50, Nghị định số 1/NĐ/GD, thành lập Trường Đại học Văn khoa tại Hà Nội. Và, Nghị định số 2/NĐ/GD, thành lập Sở Bảo tồn Di tích Việt Nam. Ngày 5/1/50, Quốc trưởng ký Dụ cố 2, thành lập một Tòa án Hành chánh chung cho cả nước tại Sài Gòn.
Cùng ngày, Quốc trưởng ban Sắc lệnh cử nhiệm một Phái đoàn Nghị sĩ Việt Nam tại Hội nghị Liên Hiệp Pháp, lớp đầu có 12 vị: Phạm Văn Bính, Bùi Thế Phúc, Trần Văn khá, Đỗ Hữu Tinh, Bửu Kính, Nguyễn Hữu Tuân, Nguyễn Huy Lai, Trần Văn Tuyên, Hà Văn Lan, Nguyễn văn Tỵ, Tôn Thất Cẩn, Trần Thiện vàng. Các Nghị sĩ lãnh Phụ cấp của Chính phủ Việt Nam, và lương bổng do Pháp trả.
Sydney ngày 28 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 917 chữ)
223: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, THỜI THỦ TƯỚNG NGUYỄN PHAN LONG: 1950.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 6/1/50, Ngoại trưởng Nguyễn Phan Long được Quốc trưởng Bảo Đại uỷ nhiệm thành lập Chính phủ. Ngày 21/1/50, Thủ tướng Nguyễn Phan Long trình diện Nội các lên Quốc trưởng tại Đà Lạt. (Sắc lệnh số 6/QT ngày 21/1/50). Ngày 9/1/50, Học sinh biểu tình ở Sài Gòn, Cảnh binh bắn chết trò Ơn, và trên 50 người bị thương trong các vụ xô xát. Ngày 16/1/50, Nghị định số 102/TTP, thành lập “Việt Nam Văn hóa Hiệp Hội”. Ngày 24/1/50, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội gặp Đại sứ Hoa Kỳ Jessup, rồi đi thăm các tỉnh miền Bắc có cả Lạng Sơn và Lai Châu.
Ngày 26/1/50, tỉnh Bắc Ninh đổi thành tỉnh Gia Lâm, tỉnh Bắc Giang đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Ngày 1/2/50, Sắc lệnh 10/TP, thiết lập ngành Thẩm phán Việt Nam, từ cấp Hòa giải, Sơ cấp, đến Thượng thẩm. Ngày 9/2/50, Quốc trưởng ký Dụ số 3, cho phép Thủ tướng, Bộ trưởng có quyền trưng tập những cá nhân cần thiết trong 6 tháng, hết hạn có thể trưng tập thêm. Ngày 21/2/50, Thủ hiến Bắc Việt ký Nghị định 471/THP thiết lập tạm thời mỗi Thị Xã một Hội đồng Quản trị, từ 6-12 Hội viên do Tỉnh trưởng chủ tọa. Ngày 24/2/50, nhiều Tòa án được Pháp chuyễn giao cho Việt Nam.
Rất đông người tấp nập hồi cư về Hà Nội và các tỉnh lỵ sau ngày quân Pháp chiếm đóng Thái Bình. Ngày 27/2/50, Dược sĩ Thẩm Hoàng Tín được cử làm Thị trưởng Hà Nội. Ngày 10/3/50, Sở Cảnh sát được chuyển giao cho Việt Nam, nhưng việc tình báo chống Cộng vẫn thuộc cơ quan An ninh Pháp. Ngày 14/3/50, thiết lập trường Huấn luyện Bảo chính đoàn. Ngày 19/3/50, tại Sài Gòn có nhiều đám biểu tình chống Mỹ, nhưng bị giải tán, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị bắt. Ngày 22/3/50, Khu Phát Diệm-Bùi Chu giữ tổ chức tự trị, không chịu thuộc quyền Thủ hiến Bắc Việt.
Ngày 4/4/50, Thủ hiến Phan Văn Giáo được cử kiêm nhiệm Tổng Thanh Tra Quân đội Quốc gia Việt Nam với hàm Trung tướng. Ngày 5/4/50, một Hội đồng gồm các Tổng, Bộ trưởng được thành lập, để nghiên cứu “Quy chế Công chức Việt Nam”. Ngày 11/4/50, Quốc trưởng triệu tập một Hội nghi Quân sự tại Đà Lạt để thống nhất các lực lượng vũ trang. Ngày 15/4/50, Quốc trưởng ban hành Dụ số 6, quy định các Tỉnh có nhiều sắc dân Sơn cước trước thuộc Triều đình như Haut-Donnai, Lang-Bian, Pleiku, Darlac, Kontum, Phong-Thổ, Lạng-San, Hà-Giang, Lao-Kay, Bắc-Cạn, Cao-Bằng, Hòa-Bình, Hải-Ninh, nay trực thuộc Quốc trưởng Bảo Đại.
Các Cố vấn, Công chức thuộc các tỉnh kể trên được lưu dụng, và sẽ có quy chế riêng. Ngày 24/4/50, Nghị định số 59/NĐ của Thủ tướng thành lập một Nha Tổng Giám Đốc Cảnh sát và Công an Quốc gia, mỗi Phần có một Sở Cảnh sát Công an, nhưng với một Phó Giám đốc mà thôi. Ngày 29/4/50, thành lập Hội Bảo trợ Đồng bào Hồi cư tại Bắc Việt. Ngày 2/5/50, quân Pháp chiếm đóng Phủ Lý và tỉnh lỵ Ninh Bình. Ngày 27 tháng 4 năm 1950, Quốc trưởng Bảo Đại giải thể Chính phủ Nguyễn Phan Long và uỷ nhiệm Thủ hiến Trần Văn Hữu thành lập Chính phủ
Sydney ngày 29 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 501 chữ)
224: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI THỦ TƯỚNG TRẦN VĂN HỮU: 1950-1952.
Lê Xuân Đỗ
1950: Ngày 30/4/50, Trần Văn Hữu lập xong Chính phủ, và ngày 6/5/50, Thủ tướng Trần Văn Hữu trình diện Nội các lên Quốc trưởng ở Đà Lạt. Ngày 11/5/50, Thủ hiến Bắc Việt ra lệnh cấm đưa bà con, họ hàng vào các Công sở (thông tư số 13/VP7PTH). Ngày 12/5/50, ngoại trừ các công văn giao thiệp với nhà chức trách Pháp, tất cả các công văn khác phải dùng tiếng Việt. Ngày 17/5/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Y tế Thế giới. Ngày 3/6/50, tái lập tỉnh Hà Nam. Ngày 4/6/50, Tổng trưởng Giáo dục Vương Quang Nhường bị kẻ lạ mặt bắn bị thương nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng.
Ngày 9/6/50, Quốc trưởng ban Dụ số 6, trao cho Thủ tướng Trần Văn Hữu đặc quyền trong 6 tháng ban hành các biện pháp đối phó với các hoạt động có hại cho an ninh. Ngày 14/6/50, Sở Liêm phóng và Cảnh sát Pháp tại Hà Nội được chuyển giao cho Thủ hiến Bắc Việt. Ngày 17/6/50, Tổng trưởng Tài chánh Nguyễn Trung Vinh được bổ làm Thủ hiến Nam Việt. Ngày 20/6/50, Việt Nam được gia nhập “Tổ chức Lao động Quốc tế”. Cùng ngày Quốc trưởng và Thủ tướng sang Pháp để theo dỏi cuộc đàm phán Liên Quốc sắp họp.
Ngày 3/7/50, nhiều vụ khủng bố xẩy ra tại Sài gòn, Chợ Lớn. Ngày 12/7/50, Cảnh sát Sài Gòn bắt được một tổ khủng bố hơn 30 người. Ngày 14/7/50, Quốc trưởng ký Dụ số 9 ban hành “Quy chế Công chức” gồm 10 chương, 105 điều khoản: tổng tắc, tổ chức, tuyển bổ ngạch quốc gia, lương bổng và phụ cấp, tập sự, thực thụ, thăng thưởng, kỷ luật. Ngày 25/7/50, Cảnh sát, Công an Sài Gòn, khám phá ra một tổ chức “kinh tài Việt Minh” bắt giữ nhiều người. Ngày 25/7/50, thiết lập Hoàng triều Cương thổ miền Nam gồm Darlac, Kontum, Pleiku, Lâm Viên, Đồng Nai thượng.
Ngày 6/8/50, Quốc trưởng ký Dụ số 10, ban hành Thể lệ lập Hội: phải xin phép trước; tư cách pháp nhân hạn chế; sẽ có thể lệ đặc biệt cho các Hội truyền giáo Thiên chúa-Gia tô, và Hoa kiều Lý sự vụ. Ngày 15/8/50, Quốc trưởng Bảo Đại ký Dụ số 10a và 10b đặt ra hai loại Bảo quốc Huân chương, và Anh dũng Bội tinh. Ngày 17/8/50, Cảnh sát, Công an Nam Việt bắt trên 1000 người để trừ khủng bố tại Sài Gòn-Chợ Lớn. Ngày 22/8/50, Cảnh sát, Công an bắt 30 người khủng bố tại Hà Nội. Ngày 12/10/50, một trường Thiếu Sinh Quân được thiết lập tại Hà Nội.
Ngày 5/11/50, khánh thành trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Cùng ngày, Hội nghi quân sự tại Đà Lạt phía Pháp có Bộ trưởng Quốc phòng Letoureneau, tướng Jiun; phía Việt Nam có Quốc trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Trần Văn Hữu, Trung tướng Phan Văn Giáo đi đến quyết định: Thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam 115.000 người với quân trang và võ khí Mỹ; Pháp cho mượn Sĩ quan trong giai đoạn đầu; kinh phí do Ngân sách Việt Nam và Mỹ đài thọ. Ngày 11/11/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Lương Nông Quốc tế.
Ngày 14/11/50, Thành phố Đà Lạt được chuyễn giao cho Chính phủ Việt Nam, Bác sĩ Trần Đình Quế được bổ làm Thị trưởng. Ngày 16/11/50, thành lập một trường Cao Đẳng Sư Phạm tại Hà Nội. Ngày 25/11/50, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội họp bàn việc Phòng thủ Bắc Việt. Ngày 6/12/50, Tổng nha Thanh tra Thanh tra Lao động, được thành lập tai Phủ Thủ tướng. Ngày 8/12/50, Việt-Pháp ký Hiệp ước về quân sự, từ nay quân đội Việt Nam thuộc hẳn quyền Quốc trưởng Bảo Đại, nhưng có Cơ quan Liên lạc với Quân đội Liện Hiệp Pháp.
1951: Ngày 9/12/50, tại Sài Gòn lễ ký kết Phụ ước thi hành Hiệp định quân sự Việt- Pháp. Ngày 21/12/50, Phủ Thủ hiến Bắc Việt ra thông cáo khuyên dân chúng bình tĩnh trước tình thế. Ngày 19/2/51, Quốc trưởng Bảo Đại ra Huế làm lể ở Thái Miếu, tuyên bố đoàn kết các lực lượng Quốc gia, và hợp tác thân thiện với Pháp. Ngày 21/1/51, Quốc trưởng Bảo Đại giải tán Chính phủ, nhưng vẫn ủy Thủ tướng Trần Văn Hữu lập Chính phủ mới. Ngày 22/1/51, Việt Nam Thông tấn xã được tổ chức thành cơ quan tự trị; Xuất bản mỗi ngày hai bản tin của Việt Nam Thông tấn xã và của hảng A.F.P.
Ngày 27/1/51, Nghị định 465/NĐ/PTH tái lập tỉnh Ninh Bình. Ngày 30/1/51, kể từ ngày nầy Sĩ quan Quân đội Việt Nam có Quy chế riêng, y phục và lương bổng riêng. Ngày 21/2/51, Trần Văn Hữu trình danh sách Nội các mới lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận. Ngày 23/2/51, Quốc trưởng Bảo Đại gởi thông điệp yêu cầu Chính phủ tổ chức Hội nghị Tư vấn Quốc gia, và Hội nghị các Địa phương. Cũng ngày 3/3/51 nầy Việt Nam đã thành lập xong 26 Tiểu đoàn. Ngày 2/4/51, thành lập một Đoàn Vệ binh Miền nam Trung Việt (NDD28/CP).
Ngày 11/4/51, Quốc trưởng Bảo Đại tăng tiền cấp dưởng cho một số người Hoàng tộc: Vua Thánh Thái và gia quyến 10.000$ một tháng; Quả phụ vua Hàm Nghi và các con 900.000 quan một năm; bà Vương phi vua Thành Thái 1.500$ mỗi tháng; mỗi con vua Duy Tân 200$ mỗi tháng; hai bà Công chúa 1.000$ mỗi tháng. Ngày 12/4/51, Ngân sách ba Phần được chuẩn y: Bắc Việt 295.000.000$ (1949), 815.000.000$ (1950); Trung Việt 247.000.000$ (1949); Nam Việt 683.013.500$ (1950). Ngày 19/4/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 6 quy định “Quy chế tạm thời ngành Hàng Hải”.
Cũng ngày 19/4/51 nầy, Thủ tướng Trần Văn Hữu cùng Cao ủy tướng De Lattre tới viếng mặt trận Vĩnh-Phúc-Yên, De Lattre tuyên bố dùng võ lực để kiện toàn độc lập cho Việt Nam chớ không phải để hạn chế chủ quyền Việt Nam; Thủ tướng Hữu cũng tuyên bố “Việt Minh là kẻ thù của Dân tộc, sẽ cương quyết chống Cộng và tin tưởng ở nước Pháp. Ngày 6/5/51, Bác sĩ Trần Văn Đôn, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Anh Quốc trình Ủy nhiệm thư lên Anh Hoàng. Ủy nhiệm thư do Quốc trưởng Bảo Đại ký với sự thỏa hiệp của chủ tịch Liên Hiệp Pháp.
Ngày 11/5/51, vài giờ sau vụ ông Haaz, Thanh tra Mật thám Pháp tại Đà Lạt, bị hạ sát, Phó Thanh tra Jumeau đòi Thị Trưởng Trần Đình Quế giao cho y 14 tù binh và 6 nữ cán bộ bị giam, Giám đốc Công An Việt Nam đi vắng, Jumeau cho bắn hết cả 20 người. Ngày 13/5/51, Quốc trưởng Bảo Đại huyền chức Thị trưởng Trần Đình Quế. Ngày 15/4/51, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Bộ Quân luật Việt Nam (Dụ số 8). Ngày 21/5/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 16/QT/TD quy định riêng cho các Sắc dân Sơn cước tại Hoàng triều Cương thổ Miền Nam; sẽ có một Hội đồng Kinh tế Xã hội, các tòa án Phong tục, kế hoạch phát triển thích hợp.
Ngày 6/6/51, Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa lể Kỷ niệm long trọng ngày Thống nhất Việt Nam trước Đại diện các Phần, các Sắc dân. Mỗi Đại diện dâng một ít đất địa phương, Quốc trưởng trộn chung lại cho vào một chiếc bình để đặt trên “bàn thờ Tổ quốc”. Cùng ngày 6/6/51, Chính phủ ban hành Nghị định 264/Cab/SG thiết lập tỉnh Bùi Chu gồm các quận của tỉnh Nam Định củ: Hải Hậu, Giao Thủy, Xuân Trường, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Nam Trực. Ngày 9/6/51, Thủ hiến Bắc Việt ban hành Nghị định 2965/THP chỉ rõ các Quận Quản Oai, và Bất Bạt thuộc tỉnh Phú Thọ được sát nhập tỉnh Sơn Tây.
Ngày 13/6/51, từ kết quả cuộc “hành quân Sứa Biển-Mesduse”, Thủ hiến Bắc Việt thiết lập Khu Bình định Vĩnh Ninh gồm một phần Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Phụ Dực, Đồng Quan, một Đại diện Thủ hiến được cử để lo việc bình định. Ngày 15/6/51, Thủ tướng chính phủ ký Nghị định 291/Cab/SG thiết lập Quốc gia Kiến ốc cuộc để xây nhà rẻ tiền bán cho dân chúng. Ngày 20/6/51, theo dự liệu hôm nay Việt-Mỹ ký “Hiệp định viện trợ Kinh tế”, nhưng Cao ủy Pháp đòi hoãn viện cớ chưa có thỏa hiệp của Thượng Hội đồng Liên Liệp Pháp, được ghi tại Thỏa ước 8/3/49.
Ngày 25/6/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 9, Không quân Việt Nam chính thức thành lập kể từ 1/7/51. Ngày 11/7/51, tại buổi lể phát thưởng tại trường Trung học Chassloup Laubat, De Lattre kêu gọi thanh niên Việt Nam nên có thái độ rõ rệt trước thời cuộc. Ngày 15/7/51, Quốc trưởng ký Dụ số 12, ban bố “Chế độ Quân dịch”; tất cả các phương tiện và tài nguyên được huy động; các Y sĩ được trưng dụng. Ngày 20/7/51, Trần Văn Lý được cử Thủ hiến Trung Việt thay Phan Văn Giáo.
Ngày 27/7/51, Thủ tướng ban hành Nghị định số 9/ND/PTT, tư nhân có thể bị trưng dụng vì nhu cầu Quốc phòng; dân số được kiểm tra lại: 60.000 người sẽ được gọi nhập ngũ; trong hạn tuổi từ 16 đến 60 có thể được động viên hoặc trưng tập; các Y sĩ, Dược sĩ, Chuyên viên cũng vậy; thanh niên từ 18 đến 28 tuổi có bằng Cao đẳng Tiều học trở lên sẽ theo học các lớp Sĩ quan Trừ bi. Ngày 7/8/51, Cấm xuất ngoại trong thời kỳ kiểm tra thanh niên. Một trường Quân y được mở tại Hà Nội. Ngày 28/8/51, Hội đồng các Thủ hiến họp tại Sài Gòn để ấn định thể thức gọi nhập ngũ 15.000 thanh niên.
Ngày 16/10/51, có hơn 15.000 thanh niên gọi nhập ngũ, thụ huấn cấp tốc 2 tháng, 1.000 người có bằng Trung học đệ nhất cấp trở lên theo học Trường Sĩ quan Nam Định, và Trường Sĩ quan Thủ Đức. Ngày 8/11/51, hai trại Tân binh mới được thiết lập ở Bắc Ninh và Quảng Yên, mỗi nơi có khả năng Huấn luyện 3.000 người. Ngày 22/11/51, Tòa án Quân sự được thiết lập tại Sài Gòn (SL79/QP). Ngày 10/12/51, thiết lập Khâm mạng tại “Hoàng Triều Cương Thổ miền Bắc”, Nguyễn Văn Tâm Tổng trưởng An ninh, kiêm Thủ hiến Bắc Việt được cử Đại diện Quốc trưởng Bảo Đại tại các Tỉnh Sơn cước (SL24/QT/TD).
1952: Ngày 12/2/52, lương bổng, phụ cấp và dịch vụ của các Thủ hiến: lương 14.000$; Giao tế phí 8.000$. 2 tài xế, 2 bồi, 1 bếp, 1 gác cổng, 1 làm vườn; Nhà ở, đồ đạc, điện nước, xe cộ, giặt ủi. Lễ phục có tính cách Tôn giáo, Lịch sử: áo dài chẽn, khăn đen, quần lụa trắng; Các Lễ khác: âu phục trắng, cà vạc đen, sậm, hoặc âu phục đen, sậm. Trước đó, Sắc phục của Nhân viên Sứ quán và Lãnh sự cúng đã được quy định: Quốc phục Đại lễ “nhung y” của Đại sứ: áo dài gấm, da cam, hoa chữ Thọ, quần luạ trắng, khăn đen, giày láng, bài vàng có chữ Hán đeo ở nút áo...
Ngày 6/3/52, Hải Quân Việt Nam được thành lập từ ngày 1/1/1952. Ngày 7/3/52, để đáp ứng với tình hình mới, Thủ tướng Trần Văn Hữu cải tổ Nội các và đã được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận danh sách “Nội các Cải tổ (SL 21/QT). Cùng ngày 7/3/52, Trung tá Không quân Nguyễn Văn Hinh, Chánh Võ phòng Quốc trưởng Bảo Đại được thăng Thiếu tướng, và được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam. Ngày 18/3/52, Nguyên Bộ trưởng Phạm Văn Bính được bổ Thủ hiến Bắc Việt; và Giám đốc Tài chánh Hồ Quang Hoài được bổ Thủ hiến Nam Việt.
Ngày 1/4/52, quyền “Phát minh Sáng chế” được bảo vệ, và được cấp bằng. Ngày 4/4/52, các Sắc dân Sơn cước thuộc Hoàng Triều Cương Thổ được quy chế đặc biệt: Tù trưởng, Hội đồng Hoàng Triếu Cương Thổ, Tòa án Phong tục (Dụ 27/QT/TD). Ngày 7/4/52, thành lập Trường Quốc gia Hành chánh ở Đà Lạt để đào tạo các cấp Chỉ huy Hành chánh. Ngày 12/4/52, thành lập Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Việt Nam. Ngày 24/4/52, hai Tòa Đại diện Quốc trưởng tại hai vùng Hoàng Triều Cương Thổ Bắc và Nam sáp nhập làm một mang tên mới là thành Tòa Khâm Mạng (SL 28/QT/TD).
Ngày 8/5/52, Khánh thành Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang. Ngày 12/5/52, thành lập Đoàn nữ Trợ tá Quân đội Việt Nam gồm nữ Trợ tá Quân Y, và nữ Trợ tá Chuyên môn khác. Ngày 23/5/52, Quốc hội Mỹ chấp thuận viện trợ kinh tế cho Việt Nam 23.500.000 Mỹ kim. Một Phái đoàn Kinh tế và Kỷ thuật Mỹ được đặt tại sài Gòn. Ngày 26/5/52, Pháp chuyển giao “đường Hỏa xa và Sở Hỏa xa” cho Việt Nam và Cao Mên. Ngày 27/5/52, tại Lai Châu, Lễ sáp nhập miền Thái thuộc Đèo Văn Long vào Hoàng Triều Cương Thổ miền Bắc.
Ngày 6/6/52, thành lập Hội đồng Phòng thủ Quốc gia, gồm: Thủ tướng, các Tổng trưởng Quốc phòng, Nội vụ, Tài chánh, Khâm mạng tại Hoàng Triều Cương Thổ (SL 50/CP). Ngày 14/6/52, Phủ Thủ hiến Bắc Việt vẫn “chọn Quận trưởng trong số những người tình nguyện” qua “Hội đồng xét năng lực” sẽ được thành lập.
Sydney ngày 30 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 2.339 chữ)
225: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI THỦ TƯỚNG NGUYỄN VĂN TÂM: 1952-1953.
Lê Xuân Đỗ
1952: Ngày 2/6/52, Quốc trưởng Bảo Đại triệu Tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm lên Đà Lạt ủy lập Chính phủ. Ngày 3/6/52, Quốc trưởng Bảo Đại giải tán Chính phủ Trần Văn Hữu. Ngày 25/6/52, Nguyễn Văn Tâm trình danh sách Nội các lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận trong một buổi lể tựu chức trang trọng (SL 49/QT). Ngày 10/7/52, thành lập Hội đồng Quốc gia Lâm thời gồm 21 Hội viên do Quốc trưởng chỉ định với nhiệm vụ “Tư Vấn mọi vấn đề” (Dụ số 14) cho tới khi có Quốc Hội. Cùng ngày 10/7/52, ban hành Luật Lao động.
Ngày 28/7/51, thành lập Ủy Ban Nghiên cứu “Cải cách Điền địa”. Ngày 2/8/52, Chính phủ Nguyễn Văn Tâm chấp thuận “Dự án Ngân sách”, theo đó: PHẦN CHI: 8.600.000.000$ gồm: 4.700.000.000$ quân phí; 550.000.000$ an ninh; 400.000.000$ bình định; 300.000.000$ giáo dục; 475.000.000$ công chính; 270.000.000$ Y tế và Xã hội. PHẦN THU: 3.425.000.000$ từ ngoài gồm: 3.000.000.000$ do Pháp đóng góp về quân phí, và 425.000.000$ Viện trợ Kinh tế của Mỹ. Phần THU còn lại do các thứ thuế trong nước.
Ngày 28/8/52, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ký bổ nhiệm 21 Hội viên Hội đồng Quốc gia Lâm thời; 8 Bắc, 8 Nam, 5 Trung. Ngày 1/9/52, Hội đồng Quốc gia Lâm thời nhóm họp phiên đầu tiên tại tòa Đô Sảnh Sài Gòn. Ngày 4/9/52, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Tổng thống Pháp Auroil tại nhà nghỉ Muret bàn thảo các vấn đề liên quan như Cao ủy Việt Nam nên được mang danh hiệu Đại sứ, Việt Nam nên được vào Liên Hiệp Quốc, Quân đội Việt Nam cần được phát triển nhanh hơn nữa. Ngày 19/9/52, các Hội viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho Việt, Mên, Lào gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng Nga Xô phủ quyết.
Ngày 1/10/52, Dân số Hà Nội năm 1952: người Việt 267.715; và 17.745 Pháp kiều. Ngày 8/10/52, thành lập Nha Chiến tranh Tâm lý tại Phủ Thủ tướng. Ngày 10/10/52, tại Pháp Quốc trưởng Bảo Đại hội đàm với Tổng thống Pháp Auroil, lần nầy có các Bộ trưởng Cao ủy Letourneau, Chévigné. Ngày 14/11/52, Cựu Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí được tái bổ chức vụ điều khiển Bắc Việt. Ngày 15/11/52, ba tỉnh Bến Tre, Gò Công, Tân An do nhà binh Pháp quản trị, được giao trả cho Chính phủ Việt Nam. Ngày 16/11/52, ban hành “Quy chế nghề nghiệp”.
Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ đóng quân của Pháp tại Nà-Sản. Ngày 1/12/52, Bộ Quốc phòng Việt Nam gọi nhập ngũ các thanh niên từ 20 đến 28 tuổi có bằng Cao đẳng Tiểu học để theo học các lớp Sĩ quan. Ngày 12/12/52, tại Sài Gòn, Hội đồng các Thủ hiến họp bàn về cách thức bầu cử các Hội đồng thành phố và Thị xã. Ngày 27/12/52, thành lập các Hội đồng Thành phố và Thủ đô: Tại Sài Gòn: Hội đồng hàng Quận ở 7 Quận Đô thành tại Sài gòn-Chợ lớn; Hội đồng Quản trị Đô thành: 22 Hội viên Việt, Pháp, Tàu.
Tại Hà Nội: Hội đồng Thành phố gồm 18 Hội viên Việt, 6 Pháp; Tại Hải Phòng: Hội đồng Thành phố có 15 Hội viên Việt, 9 Pháp. Tại Huế: Hội đồng Thành phố có 12 Hội viên Việt Nam; Tại Đà Nẳng: Hội đồng Thành phố có 18 Hội viên Việt, 5 Pháp. Cách thức bầu cử do Thủ tướng ấn định. Hội viên Pháp do Thủ tướng chỉ định (SL105,106,107,108/NV). Ngày 31/12/52, Tại Đà Lạt: cũng có Hội đồng Thành phố Đà Lạt gồm 9 Hội viên Việt Nam, 1 Hội viên Cao nguyên, và 6 Hội viên Pháp (SL 35/QT/TD)... Ngày 6/1/53. Ngân khố Trung Việt ở Huế được tái lập từ 1/1/53.
1953: Ngày 8/1/53, Sau khi Phó thủ tướng Phan Văn Giáo, và Tổng trưởng Nghiêm Văn Tri từ chức, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cải tổ Nội các, và danh sách Nội các mới đã được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận. Ngày 26/1/53, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh sang Pháp vận động phát triển Quân lực Việt Nam tuyên bố: Năm 1950 chỉ có 5 Tiểu đoàn, nay đã tổ chức xong 6 Sư đoàn, mỗi Sư đoàn gồm 9 Tiểu đoàn, 1 đội Pháo binh, và những đội chuyên môn Tình báo, Công binh, Truyền tin.v.v. Tổng số quân 167.000. Hiện có 3.500 Sĩ quan, mỗi năm đào tạo được 1.500, Còn tới 600 Sĩ quan Pháp trong quân đội Việt Nam.
Ngày 28/1/53, thành lập Địa Phương Quân tại Bắc Việt để thay thế Tự Vệ Hương thôn (NĐ 314/PTH). Ngày 20/2/53, tại Bắc Việt hiện có 223 đồn Bảo Chính Đoàn, và 371 đồn Hương Dũng. Trong số 12 Tỉnh với 4.630 làng thì: có 1.442 làng có an ninh; 1.303 tạm yên; và 1.885 mất liên lạc. Ngày 24/2/53, tại Đà Lạt, Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa Hội nghị quân sự, có Bộ trưởng kiêm Cao Ủy Letourneau, tướng Salan, Gautier, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, Tổng trưởng Quốc phòng Lê Quang Huy, và tướng Nguyễn Văn Hinh.
Hội nghị quyết định: thành lập 54 Tiểu đoàn Khinh Binh, trực thuộc Tổng Tham Mưu trưởng Việt Nam về mặt tổ chức; quản trị thì độc lập; và Tổng Tư lệnh tối cao là Quốc trưởng, nhưng vẫn chịu sự chỉ huy hợp nhất của Pháp. Ngày 27/2/53, Ngân sách Hà Nội năm 1952: 160.390.200$; Ngân sách Hải Phòng: 60.148.000$. Ngày 19/3/53, từ nay các Xã sẽ có một Hội đồng Hương Chính do dân bầu gồm: 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 Tổng thơ ký, và một số Ủy viên, tối đa là 9 người. (SL34/NV). Ngày 29/3/53, Địa Phương Quân Bắc Việt được Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm thừa nhận, và cấp kinh phí.
Ngày 1/4/53, Chính phủ ban hành Nghị định (NĐ200/Cab/SG) thành lập Ủy ban Quốc gia Khảo cứu Khoa học và Kỷ thuật. Ngày 2/4/53, ban hành chế độ thuê nhà và cho thuê: người thuê có quyền lưu cư, quyền đòi lại nhà bị hạn chế (Dụ số 4). Ngày 13/4/53, ban hành các Bộ luật về thuế: Thuế Điền thổ; Thuế Môn bài; Thuế Gián thu; Thuế Lợi tức (các Dụ số 7,8,9,và 10). Ngày 4/5/53, thành lập Hải cảng Đà nẳng, và Cơ cấu Tổ chức cho Hải cảng nầy (NĐ 281,và 283/SG). Ngày 5/5/53, thành lập Nha Thủy Vận tại Bộ Công Chánh (NĐ 53, và 55/BCC).
Ngày 11/5/53, việc Pháp phá giá đồng bạc Đông Dương ngày 10/5/53, hôm nay giá vàng 2.700$ một lạng buổi sáng tăng vọt lên 3.800$ vào buổi chiều. Ngày 12/5/53, Chính phủ Việt Nam ban hành cấp tốc một số biện pháp ứng phó với sự phá giá đồng bạc: “Đình chỉ mọi xuất cảng; Kiểm tra số thóc gạo, thực phẩm, cùng hóa phẩm tối cần; Hạn chế các vụ nhập cảng không tối yếu; Đặt thuế quân bình giữa hai giá củ và mới đối với các mặt hàng nhập cảng; Giữ nguyên mức giá hàng và lương bổng, xét lại tháng lương sau; Xét lại giá biểu quan thuế, bưu điện”.
Ngày 4/6/53, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ 19,20,21, và 22 quy định “Chế độ Cải cách Điền địa”: “Địa tô tối đa 15% hoa màu; Diện tích tối đa của Điền chủ từ 36 đến 100 mẩu tây tùy từng Phần và số con; Thu hồi những phần Đồn điền không khai khẩn để chia cho Tá điền; Người cấy ruộng hoang từ 3 năm trở lên, được quyền tiếp tục”. Ngày 6/6/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm yêu cầu Liên Hiệp Pháp: “bãi bỏ các tòa án hổn hợp; bãi bỏ các Hiệp định Liên quốc ràng buộc Pháp về kinh tế, và quan thuế; trao lại cho Việt Nam các Tiểu khu Quân sự; trả về Quốc trưởng quyền hành Tổng Tư lệnh”.
Ngày 25/6/53, các Tiểu khu quân sự Vĩnh Long và Trà Vinh được chuyễn giao cho quân đội Việt Nam. Có một số Vệ binh bỏ ra bưng. Cùng ngày 25/6/53 nầy, thành lập một trường Cao Đẳng Võ Bị để đào tạo chỉ huy Cao cấp cho Quân đội Việt Nam (SL số 59/QP). Ngày 29/6/53, tất cả Công dân từ 20 đến 45 tuổi phải thi hành Quân dịch: “Một Quy chế ấn định cho Quân đội Hiện dịch và Trừ bị; Đặt lệ kiểm tra Trưng binh, Nhập ngũ, Miễn dịch, Hoãn dịnh, Trừ dịch, Đầu quân, Tái đăng, Động viên (Dụ số 29, với 109 điều). Thời hạn Quân dịch là 2 năm (Dụ số 30).
Ngày 1/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp để yêu cầu “kiện toàn độc lập theo bản tuyên ngôn 3/7/1953. Khi tới Nice, Quốc trưởng tuyên bố cần “Sửa đổi Tổ chức Liên Hiệp Pháp cho thích hợp với quyền lợi của Việt Nam và Pháp”. Ngày 12/8/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm gởi cho Tổng Ủy Gautier 4 bảng liệt kê những “thẩm quyền” Pháp cần giao, các Hiệp định cần sửa lại như: “Trưng dụng nhà cửa; Cơ quan phụ trách xăng dầu; Kiểm soát đường hỏa xa Vân Nam; Phòng thí nghiệm cảnh sát tư pháp; Điện lực; Ủy ban điều hòa vận tải; Và, các Hiệp định áp dụng Thỏa ước 8/3/1949.
Ngày 28/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại, sau khi gặp Bộ trưởng Marc Jacquet, hội kiến với Tổng thống Auroil. Nhân dịp nầy, Ngoại trưởng Georges Bidault tuyên bố “Pháp sẽ thừa dịp đình chiến ở Cao Ly mà tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương”. Nhưng, không mở cuộc điều đình nào mà không hỏi ý kiến và lấy thỏa hiệp với các Chính phủ Quốc gia Liên kết. Ngày 1/9/53, Tiểu khu Quân sự Bùi Chu được chuyễn giao cho Quân đội Việt Nam. Nhiều Tiểu đoàn Khinh quân Việt Nam hoạt động tại vùng nầy.
Ngày 4/9/53, Quốc trưởng Bảo Đại triệu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm sang Pháp để hỏi về việc thành lập Phái đoàn thương thuyết với Pháp. Tại Sài Gòn, các đảng phái công kích chính phủ quá thân Pháp, và đòi hỏi triệu tập một quốc dân Đại hội…. Ngày 9/9/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ở Pháp về yêu cầu các đảng phái và đoàn thể đưa 20 người tham gia Phái đoàn thương thuyết. Ngày 10/9/53, Tổng Ủy viên De Jean tuyên bố “có những dư luận quá khích muốn Việt Nam từ bỏ Liên Hiệp Pháp” rằng Pháp chiến đấu thì ít ra cũng phải có quyền lợi, phải có hiệp ước để bảo vệ kinh tế và văn hóa Pháp tại Đông Dương.
Ngày 10/9/53, Quốc trưởng Bảo Đại phái Hoàng thân Bửu Lộc về với Đạo Sắc lệnh số 73/QT triệu tập Quốc dân Đại hội. Đại hội gồm 200 đại biểu chọn trong các đảng phái, đoàn thể, tôn giáo, kinh tế, xã hội… Đại hội sẽ phát biểu ý kiến 2 vấn đề: (a) Chủ quyền quốc gia phải được tới mức nào? (b) Thể thức hợp tác Việt Pháp? Ngày 22/9/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cử một Ủy ban tổ chức Đại hội gồm đại diên 5 đoàn thể lớn “Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Công Giáo, Đại Việt, và một số nhân vật khác.
Ngày 16/10/53, Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Sài Gòn và biểu quyết: “chống Liên Hiệp Pháp; đòi Việt Nam ra khỏi tổ chức này; chỉ ký với Pháp một Hiệp ước Liên minh bình đẳng mà thôi”. Cùng gày 16/10/53 nầy, Dư luận Pháp rất sôi nổi về thái độ của các Đại biểu dự Đại hội, Hoàng thân Bửu Lộc phải can thiệp cấp tốc với Đại hội, Đại hội chịu sửa lại bản Tuyên ngôn như sau: “Việt Nam độc lập không tham gia Liên Hiệp Pháp dưới hình thức hiện thời”. Ngày 19/10/53, Quốc dân Đại hội yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại biến cải Đại hội thành Quốc hội Lập hiến.
Ngày 20/10/53, Chính phủ Pháp gởi Công hàm chất vấn Quốc trưởng Bảo Đại về “lập trường của Quốc dân Đại hội”. Ngày 28/10/53, tại Pháp khi lên đường về nước, Quốc trưởng Bảo Đại bị chất vấn gắt gao về “lập trường của Quốc dân Đại hội”, Quốc trưởng hẹn trả lời sau. Ngày 17/12/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm từ chức. Cùng ngày 17/12 Quốc trưởng Bảo Đại ủy Hoàng thân Bửu Lộc lập Chính phủ mới. Ngày 24/12/53, Hoàng thân Bửu Lộc từ Ba Lê về nước để lập Chính phủ mới.
Sydney ngày 1 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 2.159 chữ)
226: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI THỦ TƯỚNG NGUYỄN PHÚC BỬU LỘCNĂM 1954.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 11/1/54, Hoàng Thân Bửu Lộc trình danh sách thành viên Chính phủ, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp nhận (SL4/CP). Ngày 14/1/54, Tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) chỉ huy lực lương Hòa Hảo Dân Xã, được gia nhập quân đội Quốc gia với cấp bậc Trung tá thực thụ trừ bị, và Đại tá giả định. Ngày 23/1/54, thủ tướng Bửu Lộc ra thông tư cho các cơ quan thảo công văn bằng tiếng Việt trừ khi giao thiệp với Pháp, hoặc có vấn đề “chưa dùng tiếng Việt được” vì có tính chuyên môn thuần tuý. Ngày 26/1/54, thành lập Nha Tổng Giám đốc Công vụ (NĐ số 58/VN).
Ngày 30/1/54, thành lập Ủy ban Diệt Hối lộ tại Bộ Tư pháp gồm đại diện các Bộ và 2 nhân sĩ (NĐ 96/TP). Ngày 22/2/54, một phái đoàn Nghị sĩ mới được cử vào Hội nghị Liên hiệp Pháp thay cho Phái đoàn năm 1950 gồm: Bà Trần Văn Chương, Phạm Văn Bính, Cao Văn Chiêu, Jacques Lê Văn Định, Bửu Kính Nguyễn Huy Lai, Phùng Bá Nghĩa, Nguyễn Khắc Sự, Đỗ Hữu Thành, Nguyễn Hữu Thuần, Nguyễn Văn Ty, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Trung Vinh, Bùi Thế Phúc, Đoàn Hửu Giám, Huỳnh Văn Chín, Nguyễn Kim Loan, Nghiêm Văn Trí.
Cùng ngày 22/2/54, Quốc trưởng chỉ định một Phái đoàn Việt Nam đàm phán với Pháp các vấn đề “độc lập và chủ quyền của Việt Nam”. Chủ tịch Bửu Lộc, Phó Chủ tịch Nguyễn Trung Vinh, Ủy viên Nguyễn Quốc Định, Phan Huy Quát, Nguyễn Đắc Khê, Dương Tấn Tài, Nguyễn Văn Đạm, Nguyễn Văn Tỵ, và Vũ Quốc Thúc. Ngày 8/3/54, Phái đoàn Việt Nam bắt đầu bàn thảo với Phái đoàn Pháp về “độc lập và chủ quyền của Việt Nam”. Ngày 10/3/54, Đại tá Nguyễn Văn Vỹ được cử làm Phụ tá Quân sự cho Thủ hiến Phan Văn Giáo trong việc bình định “Nam, Ngãi, Bình, Phú”. Trước đó Sắc lệnh 3a/QT ngày 8/1/54, Quốc trưởng đã cho phép Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo được toàn quyền dân chính và quân sự để bình định Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.
Ngày 14/3/54, Đại Hội Quốc Dân Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt v.v nhóm họp, yêu cầu thành lập một Chính phủ tiêu biểu cho dân chúng, triệu tập Quốc hội để đối phó với tình thế. Ngày 18/3/54, có tin hai Phái đoàn Việt và Pháp đã thỏa hiệp được các vấn đề đại cương. Ngày 21/3/54, cuộc đàm phán Việt-Pháp gặp khó khăn: Việt Nam đòi ký riêng 2 hiệp ước “một công nhận Việt Nam hoàn toàn độc lập; một ấn định bang giao Việt Pháp, Pháp không nhận. Ngày 26/3/54, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội xem xét tình hình, duyệt binh ở sân Cột cờ, chứng kiến Quân đội Quốc gia tuyên thệ.
Ngày 29/3/54, Quốc trưởng Bảo Đại lập một Nội các Chiến tranh thu hẹp, do Quốc trưởng chủ toạ, và hứa cử một Quốc Dân Đại Hội. Nội các Chiến tranh ở bên trên Chính phủ. Ngày 10/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp tuyên bố “không thể nào để một phần đất nước thành chư hầu Trung Cộng”.Ngày 10/4/54, Các Giáo phái tuyên bố ủng hộ Quốc trưởng. Ngày 10/4/54, Các lực lượng tôn giáo được gia nhập quân đội Quốc gia. Cao Đài 8.000, Trung tá Nguyễn Văn Huê 1.500, Văn Thành Cao (Liên Minh Cao Đài) 3.500, Thiếu tá Nguyễn Văn Đây 1.000 quân.
Ngày 12/4/54, Chính phủ Việt Nam gọi 5 lớp thanh niên nhập ngũ. Ngày 16/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Tổng thống René Coty, và ngày 21/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại gặp riêng Thủ tướng Laniel để thúc đẩy cuộc đàm phán Việt Pháp. Ngày 23/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại viết thư cho Tổng thống René Coty yêu cầu triệu tập ngay Ủy ban Thường trực Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Ngày 25/4/54, tại Ba Lê, Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố, rằng:
“Độc lập và chủ quyền Việt Nam, quyền bình đẳng của Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp không được bảo đảm; rằng Việt Nam không thể chấp nhận giải pháp điều đình do Pháp thỏa hiệp với kẻ phản loạn, hoặc quốc gia nào chống đối dân tộc Việt Nam, mà lại gác bỏ các Quốc gia Liên kết hoặc hy sinh các Quốc gia nầy”(Le Việt Nam ne saurait admettre l’esventualité des négociations par lequelles la France, contrairement d’ailleurs au principe de l’Union Francaise don elle se réclam, traiterait avec des rebelles à la Nation Viêtnamienne ou vec de puissances rebelles à celle-ci).
Ngày 28/4/54, Thủ tướng Laniel và Nguyễn Trung Vinh ký bản tuyên ngôn chung về sự Thỏa hiệp Việt Pháp, theo đó “Pháp tôn trọng lời cam kết ngày 3/7/1953 là kiện toàn nền độc lập của Việt Nam, Việt Nam tiếp tục và củng cố thân thiện với dân tộc Pháp. Sẽ ký 2 Thỏa ước một để thừa nhận Độc lập một để đặt bang giao Việt Pháp trên lập trường bình đẳng trong Liên Hiệp Pháp. Cùng ngày 28/4/54, Hội đồng Thành phố Hà Nội, yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại từ bỏ Liên hiệp Pháp và đình chỉ cuộc đàm phán ở Ba-Lê. Ngày 7/5/54, Đại đồn Pháp tại Điện Biên Phủ thất thủ.
Ngày 8/5/54, Dư luận Pháp và Quốc tế rất sôi nổi. Dân chúng Việt Nam vô cùng hoang mang trước sự kiện thất thủ Điện Biên Phủ. Giá vàng từ 4.000 tăng thành 4.800$ một lạng. Ngày 16/5/54, Quân đội Việt Nam được tổ chức thành: Lục quân, Thủy quân và Không quân. Lục quân gồm Địa Phương quân, Bảo Chính quân, và Vệ Quốc quân (Dụ số 9). Ngày 19/5/54, Chính phủ Việt Nam, Tổng Ủy viên Pháp và Hộ Pháp Phạm Công Tắc ký hiệp định để lực lượng Cao Đài gia nhập Quân đội Việt Nam. Cùng ngày 26/5 Quốc dân Đại hội nhóm họp ở Sài Gòn phản đối kịch liệt “Dự định chia đôi đất nước”.
Ngày 4/6/54, Ký kết 2 Hiệp ước kiện toàn độc lâp giữa hai Thủ tướng Bửu Lộc của Việt Nam và Laniel của Pháp: “Hiệp ước Độc lập (Traité d’nidépendance)” Pháp thừa nhận Việt Nam là một Quốc gia hoàn toàn độc lập, có toàn vẹn chủ quyền, đầy đủ thẩm quyền theo Quốc tế Công Pháp, Pháp sẽ chuyển giao hết các quyền hành và công sở còn giữ. “Hiệp ước Liên kết Việt-Pháp (Traité d’association franco-viêtnamienne)”. Việt Nam thuận ở lại Liên Hiệp Pháp, Pháp và Việt Nam đều bình đẳng, hai bên hợp tác tại Thương Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Mọi vụ xung đột sẽ được xử tại Hội Đồng Trọng Tài do hai bên cử ra.
Ngày 16/6/54, Thủ tướng và Chính phủ Bửu Lộc đệ đơn từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại ủy Ngô Đình Diệm lập Chính phủ với toàn quyền Dân sự và Quân sự (SL số 38/QT). Cùng ngày 23/6/54, Chính quyền Địa phương bắt đầu rút khỏi Bùi Chu-Phát Diệm. Ngày 25/6/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước lập chính phủ. Ngày 29/6/54, Chính quyền Địa phương triệt thoái khỏi Nam Định và Thái Bình. Ngày 30/6/54, Ngô Đình Diệm ra Hà Nội xem xét tình hình.
Sydney ngày 2 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.266 chữ)
227: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM CỦA CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM THỜI THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM NĂM 1954 - 1955.
Lê Xuân Đỗ
1954: Ngày 6/7/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập xong Chính phủ (SL43/CP). Cùng ngày 6/7/54, Chính phủ ban hành Dụ 16, Sl 47/NV, lập một Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt thay thế Phủ Thủ hiến gồm: 1 Đại biểu Chính phủ, 1 Ủy viên Dân sự, 1 Ủy viên Quân sự. Cũng ngày 6/7 nầy tướng Paul Ely tới Sài Gòn nhậm chức Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh Pháp ở Đông Dương. Ngày 9/7/54, Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí từ chức, Hoàng Cơ Bình được cử làm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt; Trần Trung Dung Ủy viên Dân sự; Thiếu tướng Nguyễn Văn Vận Ủy viên Quân sự.
Cùng ngày 9/7/54, Nguyễn Đôn Duyến được cử làm Đại biểu tại Trung Việt thay thế Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo. Ngày 1/8/54, Thủ tướng, Tổng trưởng, Đại biểu Chính phủ được toàn quyền quyết định các công chức không phải đưa ra Hội đồng Kỷ luật (Dụ 20). Ngày 4/8/54, Dược sĩ Trần Văn Lắm được bổ Đại biểu Chính phủ tại Nam Việt; Các Phần trong nước không còn tính cách pháp nhân; Tại mỗi Phần đặt một Ủy ban gồm: 1 Chủ tịch, 1 Ủy viên Chính trị Hành chánh, 1 Ủy viên Quân sự chỉ huy Quân khu (Dụ 21).
Cùng ngày 4/8/54, một cầu hàng không chở dân di cư Bắc Việt vô Nam. Ngày 7/8/54, một Ủy ban Hỗn hợp đã xét xong cách thức sáp nhập lực lượng Cao Đài vào quân đội quốc gia. Ngày 9/8/54, Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Thoại kiêm nhiệm chức Tổng uỷ trưởng phụ trách đồng bào tị nạn, đến ngày 21/8, thì bàn giao cho Giáo sư Nguyễn Ngọc Đối. Ngày 10/8/54, cầu hàng không mỗi ngày có năm bảy chục phi cơ quân sự Pháp chở dân di cư vô Nam tới Tân Sơn Nhất Có hàng ngàn người về Hà Nội, không được đi máy bay, phải xuống Hải Phòng đi tàu biển của Pháp và của Mỹ vô Nam.
Ngày 13/8/54, tướng Nguyễn Giác Ngộ, chỉ huy trưởng quân đội Nguyễn Trung Trực Hòa Hảo được thăng cấp “Thiếu tướng quân đội Bổ túc Việt Nam”. Ngày 29/8/54, xuất hiện “Phong trào Bảo vệ Hòa bình” tại Sài Gòn. Ngày 30/8/54; Công chức phải kê khai tài sản. Một Uỷ ban Danh dự gồm 9 Uỷ viên thu nhận và kiểm soát các tờ khai với quyền điều tra rộng rãi (Dụ số 25). Ngày 31/8/54, Uỷ ban Quốc gia Cải cách Điền địa mở rộng cho 6 đại diện Đại diền chủ, và 6 đại diện Tá điền. Ngày 2/9/54, thành lập Tòa Phá Án thay thế Ban Tư Pháp Tối Cao Pháp Viện đặt ra từ năm 1949 và sửa đổi 1954 (Dụ 27).
Ngày 10/9/54, tướng Nguyễn Văn Hinh bị cử sang Pháp công cán 6 tháng, nhưng ông ta không chịu đi. Ngày 16/9/54, ký kết Thỏa hiệp Việt-Pháp, Pháp giao trả quyền Tư pháp và Công An, các Tòa án và Nha Cảnh sát Công An được chuyển giao cho Việt Nam, bãi bỏ các Tòa án Hỗn hợp. Cùng ngày 16/9, hai lực lượng Bảo Chính quân, và Địa Phương quân thành lập ngày 16/5/1954, không được gia nhập quân đội Quốc gia. (Xin lưu ý, Dụ số 9 ngày 16/5/54, Quân đội Việt Nam được tổ chức thành: Lục quân, Thủy quân và Không quân. Lục quân gồm Địa Phương quân, Bảo Chính quân, và Vệ Quốc quân).
Ngày 17/9/54, nguyên thủ tướng Nguyễn văn Xuân được bổ Phó Thủ tướng kiêm Quốc Phòng (SL 84/CP). Ngày 18/9, tướng Nguyễn Văn Hinh điện sang Pháp yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại can thiệp giải quyết tranh chấp với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 20/8/54, Đổng lý Nguyễn Đệ gởi Diện văn cho tướng Nguyễn Văn Hinh, những điều trình bày… sẽ được cứu xét. Cùng ngày 20/9/54, Tướng Lê văn Viễn từ Pháp về được vài ngàn người đón tiếp tại Phi trường Tân Sơn Nhất, có cả nhiều nhân vật chính giới. Ngày 21/9/54, một số người biểu tình đòi trở ra Bắc, xô xát với Cảnh sát 2 chết.
Ngày 23/9/54, các quân nhân từ Hạ sĩ quân trở lên phải kê khai tài sản; Các Ủy viên trong Ủy ban Danh Dự, được quyền “bất khả xâm phạm” và tự do ngôn luận (Dụ 31); Ngày 24/9/54, Vệ Quốc Binh được thành lập thuộc Bộ Nội Vụ để sát nhập Bảo Chính Đoàn Bắc Việt, Địa Phương Quân Bắc Việt và các Tỉnh (Dụ 32). Ngày 24/9/54, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Xuân từ chức. Thủ tướng Ngô Đình Diệm quyết định cải tổ Chính phủ, trong đó có Trung tướng Hoà Hảo Trần Văn Soái, và Thiếu tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương được bổ Quốc vụ khanh, Uỷ viên Quốc phòng.
Ngày 27/9/54, Tổng trưởng thông tin họp báo, cho biết, nếu tướng Hinh sẵn sàng quên đi dĩ vãng và hợp tác, thì chính phủ sẽ dành cho chức vụ lớn. Tướng Hinh là dân Pháp, vậy là gạch nối rất có ích cho Pháp và Việt Nam. Ngày 3/10/54, Quốc trưởng Bảo Đại điện về yêu cầu Thủ tướng mở rộng Chính phủ để mời các tướng Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Hinh, và Lê Văn Viễn tham gia Chính phủ. Ngày 7/10/54, Pháp chuyễn giao Sở cảnh Sát, Tổng Giám đốc Lại Văn Sang tiếp nhận. Ngày 10/10/54, Quốc trưởng Bảo Đại lại yêu cầu Thủ tướng mở rộng Chính phủ cho các phần tử quân nhân và Giáo phái tham gia.
Cùng ngày 10/10/54, Thành lập một Quân đoàn Cao Đài trong Quân đội Quốc gia các đơn vị Cao Đài được mang cờ hiệu riêng, với biểu hiệu Quốc gia, nhưng thêm dấu hiệu “Vũ trụ Thần giáo” là “Bánh xe Tiến hóa” có một Sở riêng trông nom về Quân đoàn nầy, và một Ban Liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu (NĐ 93/QP). Ngày 14/10/54, sau khi viếng thăm Nhật Bản và Đài Loan, Hộ pháp Phạm Công Tắc đã trở về Sài Gòn, và hôm nay ăn cơm với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 27/10/54, Giáo sư Trần Văn Hương được bổ Đô trưởng Sài Gòn Chợ Lớn thay Đốc phủ Nguyễn Phước Lộc.
Ngày 29/10/54, Đài phát thanh phát lời tướng Nguyễn Văn Hinh kêu gọi bình tĩnh, để cấp trên dàn xếp ổn thỏa. Ngày 3/11/54, thành lập một Tổ chức Chính trị, có tên “Tập đoàn Công Dân”. Ngày 9/11/54, thành lập Tham Chính Viện thay thế Ban Hành chánh Tối cao Pháp viện củ (Dụ số 38). Ngày 20/11/54, tướng Hinh đi Tây. Ngày 29/11/54, Quốc trưởng gởi điện văn về cất chức Tổng Tham Mưu trưởng của tướng Nguyễn Văn Hinh, lý do không tuân lệnh Quốc trưởng, cứ tuyên bố mãi những điều đáng tiếc.
Ngày 1/12/54, Thiếu tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế tướng Nguyễn Văn Hinh; Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ, được cử làm Tổng Thanh tra Quân đội thay thế tướng Pháp Alessandri. Ngày 4/12/54, Bác sĩ Thú y Phạm Văn Huyến được cử giữ chức Tổng Ủy Phụ trách đồng bào tị nạn, thay thế Giáo sư Ngô Ngọc Đối từ chức. Bùi Văn Lương được cử làm Phụ tá thay Nguyễn Lưu Viên. Ngày 10/12/54, Bộ trưởng Phạm Duy Khiêm, được bổ Cao Ủy Việt Nam tại Pháp. Ngày 17/12/54, Bộ trưởng Bùi Kiện Tín từ chức, Trần Trung Dung được cử thay thế.
Cùng ngày 17/12/54, Phụ tá Quốc phòng Hồ Thông Minh được bổ Tổng trưởng Quốc Phòng; Đinh Quang Chiêu, Tổng Ủy Nha Ngoại viện kiêm nhiệm Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng thay thế Phạm Duy Khiêm. Ngày 31/12/45, Pháp chuyển giao Viện Phát hành. Ngày 1/1/1955 Pháp chuyển giao Thương cảng Sài Gòn cho Việt Nam.
1955: Ngày 11/1/55, tướng Trịnh Minh Thế của Cao Đài Liên Minh tuyên bố sẽ đem 5.000 quân về hợp tác với Chính phủ. Cùng ngày 15/1/55, Đại tá Hòa Hảo Nguyễn Văn Huê thuộc cấp của tướng Trần văn Soái ly khai đem 3.000 quân về hợp tác với chính phủ. Ngày 31/1/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm thăm Thánh Thất Cao Đài ở Tây Ninh và gặp tướng Trịnh Minh Thế. Ngày 8/2/55, mở “chiến dịch Tự do” Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy tiếp thu vùng Cà Mâu khi Việt Minh rút khỏi vùng nầy. Ngày 11/2/55, tại các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Thuận nhiều hầm súng đạn của Việt Minh, bị khám phá.
Ngày 15/2/55, thành lập Quốc hội Lâm thời, để nghiên cứu thành lập Quốc hội Lập hiến, và Tư vấn cho Chính phủ (Dụ 11). Cũng ngày 15/2/55 nầy, Thủ tướng Ngô Đình Diệm khai mạc Hội nghị Quân Chính toàn quốc gồm các Tỉnh trưởng, và Chỉ huy Quân sự. Ngày 4/3/55, Hộ pháp Phạm Công Tắc tuyên bố ngày 22/2/1955 đã thành lập Mặt trận Thống nhất (MTTN) gồm nhiều đoàn thể và ngày 3/3/1955 Mặt trận đã ra Tuyên ngôn nhận định Chính phủ Ngô Định Diệm chưa thực thi dân chủ, Mặt trận đòi hỏi Thủ tướng Ngô Đình Diệm phait thành lập một Chính phủ Liên hiệp Quốc Gia.
Ngày 6/3/55, tướng Trình Minh Thế tuyên bố không đống ý về bản Tuyên ngôn của Hộ pháp Tắc, và kêu gọi các đảng phái ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 10/3/55, Thiếu tá Hoà Hảo Nguyễn Thành Đây đem 1.500 quân về hợp tác với Chính phủ. Ngày 21/3/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố“Phải thống nhất quân đội, không thể có những lực lượng riêng biệt; Phải thống nhất hành chánh, không thể có địa phương tự trị; Phải thống nhất tài chánh, không thể để thâu những sắc thuế do địa phương tự động đặt ra”.
Ngày 24/3/55, thủ tướng Ngô Đình Diệm lại tuyên bố “Các Giáo phái vừa gởi tối hậu thư, hẹn trong 5 ngày phải cải tổ chính phủ theo đường lối của các nhóm. Như vậy cũng không giải quyết được gì vì “vấn đề chính trị chỉ có thể thu xếp nếu vấn đề thống nhất các lực lượng đã được dứt khoát. Chính phủ sẵn sàng thu nhận các lực lượng vào Quân đội, nhưng không thể dành cho những điều kiện rộng rãi hơn là đối với Quân đội Quốc gia”.Cùng ngày 24/3/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm bãi bỏ chức Khâm mạng Hoàng Triều Cương thổ.
Ngày 25/3/55, Quốc trưởng Bảo Đại gởi Điện văn cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm và các Giáo Phái khuyên nên cố thực hiện đoàn kết để tình thế sáng sủa hơn. Ngày 26/3/55, thành lập một Sở Cảnh sát Đô thành không thuộc quyền Tổng Giám đốc Lại Văn Sang. Ngày 27/3/55, tướng Trịnh Minh Thế tuyên bố rút khỏi Mặt trận Thống nhất. Và hôm sau, 28/3/55, tướng Thế lại tuyên bố với báo chí “chỉ ở trong Mặt trận để làm Trung gian hòa giải, rằng Thủ tướng Diệm hứa sẵn sàng để những người thân tín rút ra khỏi Chính quyền, thì các Giáo phái cũng nên tôn trọng Quyền lợi Quốc gia”.
Ngày 29/3/55, Tổng trưởng Quốc Phòng Hồ Thông Minh từ chức. Quá nữa đêm, Công An Xung Phong thuộc quyền Bình Xuyên đánh phá trụ sở Cảnh Sát Đô Thành, Tổng Tham Mưu và bắn vào Dinh Độc lập. Ngày 30/3/55, các thành viên Chính phủ khác sau đây từ chức: Trần Văn Soái, Quốc Vụ Khanh, Ủy viên Quốc Phòng; Lương Trọng Tường, Tổng trưởng Kinh tế; Nguyễn Công Hầu, Tổng trưởng Canh nông; Huỳnh Văn Nhiệm, Bộ trưởng Nội vụ. Ngày 31/3/55, các Tổng Bộ trưởng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Mạnh Bảo, Phạm Xuân Thái, Nguyễn Văn Cát từ chức.
Tướng Lawton Collies, Đại sứ đặt phái viên của Tổng thống Mỹ tuyên bố, mặc dù tình hình còn rối ren, Hoa Kỳ vẫn ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Lúc 13 giờ cùng ngày 31/3/55, tại Phòng ăn dinh Độc lập, các tướng Nguyễn Thành Phương, Lê Văn Tất, và 42 tướng tá Cao Đài, tuyên bố đem lực lượng bản bộ về hợp tác với Chính phủ Ngô Đình Diệm; Tướng Nguyễn Thành Phương, nhân danh Đức Hộ pháp và Quân đội Cao Đài, đặt toàn thể bộ đội dưới quyền Thủ tướng để phục vụ tổ quốc. Các tướng Pháp, Ngoại giao đoàn và báo giới được mời chứng kiến lễ nầy.
Ngày 7/4/55, Đô trưởng Trần Văn Hương từ chức, Đốc phủ Nguyễn Phú Hải được cử thay thế. Ngày 9/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm mời nhiều đảng phái đến họp bàn việc thành lập một Thượng Hội Đồng Chính trị. Ngày 11/4/55, Bộ Thông tin phát động “Phong trào Tố Cộng”. Ngày 12/4/55, Phái đoàn Việt Nam do đích thân Thủ tướng Ngô Đình Diệm làm trưởng đoàn, Nguyễn Văn Thoại Phó đoàn đi dự Hội nghị Bandoeng ở Nam Dương. Ngày 13/4/55, Phong trào Cách mạng Quốc gia đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp để “Thống nhất các lực lượng và chấm dứt nạn Thập nhị Sứ quân”.
Ngày 23/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm hiệu triệu quốc dân, kêu gọi Công an Xung phong về quy thuận, và các lực lượng Giáo phái gia nhập Quân đôi, nhắn nhủ người Pháp đừng nuối tiếc dĩ vãng mà gây rối ở đây, hứa tổ chức Quốc hội và lập Thượng Hội đồng Chính trị, và đặt câu hỏi cho dân chúng: có ưng thuận Tổng tuyển cử không? thống nhất Quân đội không? kiện toàn độc lập và chủ quyền không? cải cách xã hội không? Thư trả lời gởi về Phủ Thủ tướng, giao cho Thừa Phát Lại Lâm Văn Sáu chứng kiến.
Ngày 24/4/55, mở “Chiến dịch giải phóng-tiếp thu” Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam sau khi Việt Minh rút khỏi vùng nầy và ngày 15/4/55. Cùng ngày 24/4/55, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 25/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm giải tán Công An Xung Phong, chấm dứt nhiệm vụ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an Bình Xuyên của Lại Văn Sang và cử Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ thay Đại tá Lại Văn Sang, Trung tá Trần Vĩnh Đắt thay Nguyễn Văn Tôn. Ngày 26/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm gởi thư mời tướng Trần văn Soái đến hội kiến, nhưng Soái không đến.
Ngày 28/4/55, Văn phòng Quốc trưởng gởi Điện về cho biết: các Giáo phái và Bình Xuyên phản đối việc cất chức Lại Văn Sang, rằng Quốc trưởng đã ra lệnh cho các nhóm tôn trọng kỷ luật, tránh bạo động, yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm đừng có biện pháp gì trái với chính sách hòa hoãn của Quốc trưởng. Cũng ngày 28/4/55, một điện văn khác báo cho Thủ tướng biết, Quốc trưởng đã cử Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội Việt Nam, và yêu cầu Thủ tướng sang Pháp trình bày về tình hình.
Lúc 13 g 15 cùng ngày 28/4/55 nầy, Công an Xung phong bắn phá vào trụ sở mới của Nha Cảnh sát Công an, Bộ Tổng Tham Mưu, đường Trần Hưng Đạo và bắn súng cối vào Dinh Độc Lập làm một số người chết và bị thương. Quân đội phản công mạnh, Công an Xung phong chiếm, chốt giữ khu trường Pétrus Ký, đốt cháy trụ sở Phủ Tổng Ủy Di Cư. Ngày 29/4/55, Xung đột tiếp tục ở khu trường Pétrus Ký, Trần Hưng Đạo, khu Bàn Cờ, Cầu Ông Lãnh, Chợ cũ.v.v. Dân chúng tản cư chạy đầy các ngã đường. Hơn 2.000 dân di cư từ Bắc vào cập bến Sài Gòn.
Chính phủ Hoa Kỳ xác nhận ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm; Thủ tướng Ngô Đình Diệm trả lời Quốc trưởng Bảo Đại vì tình thế không thể rời Việt Nam; Các tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương, Hòa Hảo Nguyễn Giác Ngộ, Cao Đài Liên minh Trình Minh Thế ra thông cáo lên án thực dân và phản loạn gây chia rẽ, phủ nhận tướng Nguyễn Văn Vỹ, không coi là Tổng Tham Mưu Trưởng.
Cùng ngày này, một nhóm Chính trị gia thành lập “Hội đồng Nhân dân Cách mạng” (HĐNDCM) do Nguyễn Bảo Toàn (Dân Xã Đảng Hòa Hảo) làm Chủ tịch cùng với các ông Văn Ngọc, Hà Huy Diễm, Nguyễn Phổ, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Hữu Khai, Huỳnh Minh Ý, Đoàn Trung Côn, Nguyễn Văn Quyền, nhóm họp tại Toà Đô chánh, và ngày 30/4/55, ra tuyên cáo: “truất phế Bảo Đại; giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm; và Ủy Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Chính phủ khác; dẹp phiến loạn; thu hồi chủ quyền; triệu tập Quốc hội.
Cũng ngày 30/4/55, tại Dinh Độc lập, tướng Nguyễn Văn Vỹ yêu cầu Ngô Đình Diệm ra lệnh cho tướng Lê văn Tỵ (đang có mặt tại đó) bàn giao chức Tổng Tham Mưu Trưởng cho ông ta. Ngô Đình Diệm trả lời “Hội đồng Chính phủ quyết định giữ nguyên tình trạng cũ”. Vài chính khách đứng quanh đó đòi bắt tướng Nguyễn Văn Vỹ. Các tướng Trần Văn Đôn, Trần Văn Minh vừa được thăng cấp vừa tới. Thủ tướng Diệm mời tất cả các tướng ăn cơm. Trong ngày có hơn 3.000 dân di cư từ Bắc tới Sài Gòn.
Ngày 1/5/55, 1 Đại đội Ngự Lâm quân từ Đà Lạt xuống, chiếm đóng Nha Bưu Điện, một Đại dội khác với 3 chiến xa chiếm Đài phát thanh Quân đội và Ngân hàng Quốc gia. Nhưng rút lui khi Bộ Tổng Tham Mưu đưa quân đến yêu cầu triệt thoái. Khoảng 12 giờ cùng ngày 1/5/1955, một Ủy ban Dân-Quân nhóm họp trong Dinh Độc lập, ra quyết nghị ủng hộ Quân đội; tướng Lê Văn Tỵ là Tổng Tham trưởng; tướng Nguyễn Văn Vỹ do Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm không có quyền Quân sự. Lúc 13 giờ 30, Tướng Nguyễn Văn Vỹ lên Đà Lạt.
Các tướng lãnh họp tại Bộ Tổng Tham Mưu đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu: “giữ nguyên tình trạng, tướng Vỹ Tổng Thanh Tra, tướng Tỵ Tổng Tham Mưu Trưởng”, rằng “chỉ biết có Chính phủ Ngô Đình Diệm, nếu Chính phủ nầy không được công nhận nữa, thì Quân đội sẽ tuân lệnh Chính phủ nào do Nhân dân cử ra”. Ngày 2/5/55, Quân đội Chính phủ gồm Trung đoàn Quang Trung, 3 Tiểu doàn Nhảy dù, Trung đoàn 51 Bộ Binh, phản công Công an Xung phong Bình Xuyên cả 3 mặt: Cầu Chữ Y; Cầu Nhị Thiên Đường, Xóm Củi; và Phú Lâm, súng nổ dữ dội.
Tại Cầu Chử Y, quân đội Chính phủ chiếm Bản doanh Bình Xuyên, tàn quân Bình Xuyên chạy về Gò Công. Cháy lớn ở đường Nancy và đường Nguyễn Tấn Nhiệm, nhà cửa vừa bị đạn cháy, vừa bị đốt. Hôm nay 10.000 dân di cư vẫn tới bến Sài Gòn trên 2 tàu Mỹ Marine Sepent và Marine Adler. Ngày 3/5/55, trời mưa tầm tã, trước Tòa Đô Sảnh, Hội đồng Nhân dân Cách mạng biểu quyết: Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại kể từ 29/4/1955; Giải tán từ ngày đó Chính phủ Ngô Đình Diệm; Ủy Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Chính phủ mới”.
Lúc 14 giờ 3/5/55, súng nổ dữ dội phía Tân Thuận, tướng Trình Minh Thế, người đem 5.000 quân Cao Đài về hợp tác với Chính phủ ngày 11/1/55, đi xe Jeep tới chỉ huy trận đánh chiếm cầu Nhà Bè, khi xe qua cầu Lang To, bị quân Bình Xuyên bắn chết lúc 19 giờ. Hôm sau, ngày 4/5/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đến viếng di hài tướng Thế quàn tại đường Eyriaud des Vergnes. Sau đó, được đưa ra quàn tại toà Đô chính cho dân chúng tới viếng. Cùng ngày 4/5/55, Hơn 1.000 đại biểu các Tỉnh, và Thị Xã cùng các Đại biểu đoàn thể, được mời nhóm họp trong Dinh Độc lập để “bàn xét tình thế”.
Ngày 5/5/55, Số thiệt hại trong mấy ngày qua: Quân Chính phủ chết 15, bị thương 200; Quân Bình Xuyên chết 34, bị thương 300, hàng 18 Sĩ quan 190 Binh sĩ; Số nhà cháy hơn 10.000, trên 30.000 người mất chỗ ở. Ngày 6/5/55, Đại hội Đại biểu các Địa phương họp tại Dinh Độc lập biểu quyết 3 kiến nghị: (1) Chống Cộng, tỏ lòng thành kính các chiến sĩ và tín nhiệm Quân đội (2) Yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại hứa trả quyền cho Quốc hội khi nào Quốc hội được bầu: (3) Trong khi chờ đợi hãy để toàn quyền cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình thế và triệu tập Quốc hội trong 6 tháng.
Sau những ngày rối ren, trong 3 ngày 29, 30, 31/3/55 có tới 9 Tổng, Bộ trưởng từ chức. Đến ngày 7/4/55 Đô trưởng Sài Gòn Trần Văn Hương cũng từ chức. Rồi ngày 3/5/55 tướng Trịnh Minh Thế bị tử trận tại cầu Láng To… Ngày 10/5/1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm quyết định Cải tổ Chính phủ. (SL145/CP). Ngày 11/5/55, lễ tuyên dương công trạng các cấp chỉ huy quân sự trong vụ đánh dẹp Bình Xuyên. Ngày 12/5/55, tướng Nguyễn Văn Vỹ, bị cất chức Tổng Thanh tra Quân đội, Ngày 13/5/55, Đại sứ Nguyễn Khoa Toàn bị chấm dứt nhiệm vụ tại Vọng Các.
Ngày 15/5/55, có hàng vạn người biểu tình tại Huế đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 17/5/55, Bác sĩ Phạm Văn Huyến từ chức Tổng ủy Phụ trách đồng bào tị nạn. Ngày 21/5/55, bị truy tố trước Tòa án Quân sự các tướng: tướng Cao Đài Nguyễn Văn Thành; tướng Bình Xuyên Lê Văn Viễn; tướng Quốc gia Nguyễn Văn Vỹ. Các Đại tá: đại tá Quốc gia Nguyễn Tuyên; đại tá Bình Xuyên Lại Hữu Tài, đại tá Bình Xuyên Lại Hữu Sang về tội phá hoại an ninh và phản bội quốc gia.
Ngày 23/5/55, Kết quả vụ đánh dẹp Bình Xuyên: 7.826 nhà cháy, 88 thường dân chết, 592 người bị thương. Ngày 28/5/55, Đại sứ Hoa Kỳ Frederick Rheinardt trình ủy nhiệm thư lên Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 31/5/55, Hội đồng Nhân dân Cách mạng của Nguyễn Bảo Toàn, bắt mở cửa Ngọ Môn Huế, vào Đại Nội tịch thu ấn tín, và nhiều đồ đạt trong Văn phòng Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 5/6/55, mở “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” bình định miền Tây Nam Phần do Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy chiếm Cái Vồn, Cần Thơ nơi đặt bản doanh của tướng Soái.
Ngày 10/6/55, Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, và Cố vấn Ngô Đình Nhu sang Pháp yêu cầu Chính phủ Pháp giải quyết những vấn đề còn đọng. Ngày 10/6/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 43, đặt tướng Trần Văn Soái (Năm Lữa), và tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 1/7/55, Đại sứ Mỹ Rheinardt trao cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm tấm ngân phiếu 11 triệu Mỹ kim của dân chúng Hoa Kỳ tặng dân Di cư tị nạn, tiếp theo phiếu 28.751.428 Mỹ kim do tướng Lawton Collins Đại sứ Đặc phái viên Tổng thống trao tặng hồi tháng 12/1954.
Ngày 1/7/55, theo tài liệu của Phủ Tổng uỷ Di cư: Tổng số dân Di cư vào Nam: 777.525 người: bằng tàu biển 533.868; bằng máy bay 243.657; Số Trại định cư: 188 trại: 122 trại ở 12 tỉnh Nam Phần; 55 trại ở 8 tỉnh Trung Phần; 9 trại ở 6 tỉnh Cao Nguyên; Số nhà đã dựng: 47.051 nhà: 43/288 nhà chắc chắn; 3.763 nhà tạm trú; Ngân khoản được cấp: 1.058.000.000$ gồm: 480 triệu trợ cấp định cư; 300 triệu cấp cho người tự làm nhà. Mỗi người được cấp 700$; 12$ tiền ăn mỗi ngày; Số vật liệu đã phát: 124.813 dụng cụ canh nông; 861.585 kiện vải; 393.994 cân chỉ; 3.471 cân chỉ làm chài lưới.
Ngày 5/7/55, số nạn nhân vụ biến cố Bình Xuyên, ước chừng 81.445 người, 26.670 người có nhà cháy đã được cấp gạo, tiền, và đưa tới 13 trại tạm trú, 54.755 người ở ngoài các trạm được cấp 8.254.800$. Đã dựng 660 căn nhà tạm trú. Viện trợ Mỹ tặng 360 căn nhà làm sẵn. Viện trợ Pháp tặng 350 căn. Ngày 11/7/55, Vài trăm dân di cư biểu tình ở Sài Gòn, đòi trục xuất các phần tử Cộng sản. Ngày 13/7/55, sinh viên học sinh biểu tình ở đường Champagne, đả đảo Ủy hội Quốc tế vì có ý bênh vực Việt Minh, đòi thả binh sĩ còn bị Việt Minh bắt giữ. Uỷ hội hứa sẽ xét lại vấn đề.
Ngày 16/7/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố “Việt Nam không ký kết Hiệp định Genève, nên không bị ràng buộc, song vẫn trung thành với chính sách hòa bình, và sẵn sàng tổ chức Tổng tuyển cử nếu có thể bầu được tư do. Ngày 20/7/55, biểu tình khổng lồ chống Công, và chống chia đôi đất nước. Dân chúng ập vào phá nhiều phòng của Khách sạn Majestic và khách sạn đường Trần Hưng Đạo thiệt hại khá nhiều, bởi hai nơi nầy thường có Sĩ quan Việt Minh lui tới với Ủy hội Quốc tế. Ngày 9/8/55, thành lập Học viện Quốc gia Hành chánh, thay thế trường Hành chánh Đà Lạt.
Ngày 16/8/55, Đại sứ Henry Hoppenot sang thay thế tương Paul Ély làm Cao uỷ Pháp tại Việt Nam trình Uỷ nhiệm thư. Tuy mang danh hiệu Cao uỷ Poppenot có địa vị như Đại sứ. Ngày 17/8/55, Ký kết Hiệp định Việt-Pháp về Ngân Khố, hai Ngân khố Việt và Pháp ở hai nước trả tiền Thu hộ nhau rồi Thanh toán sau. Ngày 20/8/55, một Phái đoàn gồm các Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Dương Đôn, Trần Trung Dung, và Cố vần Ngô Đình Nhu sang Pháp điều đình các vấn đề văn hóa và quân sự, hội kiến với Thủ tướng Pháp Edgar Faure.
Ngày 10/9/55 nầy, các báo bắt đầu đã kích “Chế độ củ và Quốc trưởng Bảo Đại”. Ngày 15/9/55, khánh thành đường Điện thoại Sài Gon-Manilla, Thủ tướng Ngô Đình Diệm nói chuyện với Tổng thống Phi Luật Tân Magsaysay. Ngày 21/9/55, mở “Chiến dịch Hoàng Diệu” truy kích tàn quân Bình Xuyên tại Rừng Sác, do Đại tá Dương Văn Minh làm Tư lệnh, Trung tá Nguyễn Khánh, Tư lệnh phó. Ngày 4/10/55, hơn 15 đoàn thể Chính trị, Tôn giáo, Thanh niên, Lao động thành lập một Ủy ban Trưng cầu Dân ý, đưa kiến nghị “đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm”.
Ngày 6/10/55, Hội đồng Chính phủ quyết định tổ chức “Trưng cầu Dân ý”. Ngày 18/10/1955, Quốc trưởng Bảo Đại chấm dứt nhiệm vụ Thủ tướng của Ngô Đình Diệm. Ngày 23/10/55, Trưng cầu Dân ý “Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên chức vị Quốc trưởng.
Sydney ngày 3 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 4.633 chữ)
228: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ TRONG CHUYẾN ĐI CẦU VIỆN CỦA HỒ CHÍ MINH NĂM 1950.
Lê Xuân Đỗ
Bách khoa Toàn thư mở viết: Từ 1945, quân kháng chiến Việt Nam chỉ được võ trang bằng gậy tầm vông, mã tấu, dao găm, cây phạng, nội hóa và một số rất ít súng trường cũ thu được của Nhật hay thậm chí súng của Pháp từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất sót lai như súng Mousqueton, súng lục Rouleau do hãng St. Etienne bên Pháp chế tạo. Ngay cả với các đơn vị chủ lực, trang bị đều thiếu thốn và không thống nhất, có gì dùng nấy. Vũ khí chống tăng chuyên dụng rất ít, phần lớn là bom ba càn, một loại mìn chống tăng gắn trên cán gậy thu được của Nhật.
Một tiểu đoàn thường chỉ được trang bị tương đương với 1 đại đội của Pháp, với 2 đại liên, 1-2 súng cối 60 mm, tám trung liên, 140 đến 160 súng trường đủ các kiểu (Nhật, Nga, Pháp). Một nửa số bộ đội không có súng mà phải dùng những vũ khí thô sơ như nỏ, giáo mác và dao kiếm...Vì nhu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến nên ngay từ 1946, tại các mật khu, quân kháng chiến Việt Nam đã cho thiết lập những xưởng vũ khí thô sơ, sửa chữa hoặc chế tạo một ít bộ phận nhỏ của súng lục và súng trường, có khi cả loại trung - đai liên, đồng thời chế tạo lựu đạn nội hóa.
Theo "Báo cáo tổng kết vũ khí toàn quốc năm 1947" của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trang bị của toàn quân lúc này có 26.018 khẩu súng trường, và 1.522 khẩu súng máy các loại, trên tổng số gần 90.000 người. Nghĩa là, tỷ lệ trang bị súng chưa đạt nổi 1/3. Hiệu suất sử dụng thực tế còn kém hơn nhiều, do tình trạng kỹ thuật, thiếu đạn cũng như quá nhiều chủng loại hỗn tạp. Giai đoạn này, cây mác gần như trở thành vũ khí cá nhân cơ bản trong các đơn vị bộ đội ở Bắc Bộ.
Cho tới năm 1950, quân kháng chiến Việt Nam vẫn trong tình trạng thô sơ, họ áp dụng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến, phá hết nhà cửa, phố xá ở thành thị; còn tại thôn quê thì tre vót nhọn được cắm tua tủa khắp các bãi đất trống để ngăn cản Pháp nhảy dù. Ủy ban Hành chính Kháng chiến các xã, quận góp tiền mua ít nhất là một khẩu súng để tự vệ. Với thông cáo này, xã nào cũng đua nhau quyên góp tiền trong dân chúng để gửi đi. Nhưng, nguồn cung hầu như không có, nên du kích mỗi xã chỉ có được một khẩu súng Mousqueton đã rỉ sét với 5 viên đạn, mà có khi cả năm viên đều bắn không nổ.
Ở ngoài mặt trận, gậy tầm vông vót nhọn và dao găm là vũ khí chính. Mãi đến năm 1951-1952, gậy tầm vông vẫn là một thứ vũ khí lợi hại trong tay Việt Minh, không một cuộc phục kích ban đêm nào thành công mà không có một số binh sĩ Pháp chết vì bị gậy tầm vông đâm xuyên. Nhờ thu được chiến lợi phẩm nên các cấp chỉ huy từ Đại đội trưởng trở lên mới có súng lục mang bên hông. Còn ở hậu phương, những cán bộ được mang súng lục phải là cao cấp, cấp tỉnh hoặc cấp khu. Chiến tranh khi đó mang một hình thức thô sơ, vừa du kích, vừa cổ điển đối với phía Việt Minh.
Ngược lại, Quân đội Pháp được trang bị hiện đại theo tiêu chuẩn thời bấy giờ, có đầy đủ cơ giới: có hàng không mẫu hạm, tàu chiến, máy bay ném bom, xe tăng, thiết giáp, đại bác 105-155 ly do Hoa Kỳ viện trợ. Bộ binh trang bị đầy đủ các loại vũ khí như súng trường M-36, súng FM, súng trung liên Bar, tiểu liên Thompson, súng cối 60-120 ly, súng đại liên 12,7 ly, pháo liên thanh 20 mm v.v... Trong giai đoạn 1946-1950, trên khắp các chiến trường từ Nam chí Bắc, Pháp nắm thế chủ động, còn Việt Minh vẫn áp dụng chiến thuật du kích, chưa thể tiến tới chỗ "dùng nông thôn bao vây thành thị".
Cuối tháng 1 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang Bắc Kinh để xin viện trợ, sau đó đi Moskva gặp gỡ Stalin, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cũng đang ở thăm Liên Xô, ký Hiệp ước Hợp tác Xô-Trung. Các lãnh đạo Trung Quốc hứa sẽ thuyết phục Stalin công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xua tan mối nghi ngờ của Stalin về tính chất hai mặt của Hồ Chí Minh khi hợp tác với tình báo Mỹ và giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Hồ Chí Minh hứa sẽ tái lập Đảng Cộng sản, Cải cách Ruộng đất, và thực hiện chuyên chính vô sản.
Trong chuyến đi tới Moscow, Hồ Chí Minh hết lời ca ngợi Stalin, thậm chí ông còn sáng tác một bài thơ ca ngợi Stalin. Kết quả là Stalin và Mao Trạch Đông hứa: sẽ trang bị cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 10 Đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt trang bị tức thời cho 6 Đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Ngày 2/2/1950, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 20/SL tổng động viên nhân lực, tài lực của nhân dân để thực hiện tổng phản công. Tháng 4 năm 1950, hai Trung đoàn của Đại đoàn 308 sang Mông Tự, Vân Nam. Tiếp đó một Trung đoàn của Đại đoàn 312 sang Hoa Đồng, Quảng Tây nhận vũ khí.
Ngoài 3 Trung đoàn trên, còn có hai Tiểu đoàn công binh và trường sĩ quan lục quân cũng được gởi sang học tập, huấn luyện tại Trung Quốc. Những đơn vị nầy ngoài việc trang bị vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá, được bắn đạn thật nên tiến bộ rất nhanh. Nhờ vậy, mà quân đội được cải thiện đáng kể. Những năm qua, mỗi chiến sĩ chỉ mơ ước có một khẩu súng trong tay. Bây giờ không chỉ có súng mà đạn được cũng khá dồi dào.
Tính đến tháng 6-1950, số cán bộ sang Trung Quốc học tập là 3.100 người, trong đó 650 cán bộ học bổ túc trung và sơ cấp, 1.200 học cơ bản chỉ huy bộ binh sơ cấp, còn lại học về binh chủng như pháo binh... Bên cạnh việc trang bị vũ khí, giúp đỡ huấn luyện, viện trợ lương thực, Trung Quốc còn cử Đoàn công tác Hoa Nam gồm 79 người do Vi Quốc Thanh làm trưởng đoàn, ngày 12-8-50, đoàn đến Quảng Uyên, Cao Bằng. Trung Quốc cũng cử Trần Canh cùng một số cán bộ quân sự, trực tiếp làm cố vấn trong chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950.
Sydney ngày 4 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.246 chữ)
229: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI GIẢI PHÓNG CAO-BẮC-LẠNG 1950.
Lê Xuân Đỗ
Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết: “Đảng Cộng Sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán tháng 11 năm 1945, cùng với nó, tờ Cờ Giải Phóng. Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác bèn ra đời cùng với nó là tờ Sự Thật. Đầu 1949, tôi đến An toàn khu (ATK) để làm báo Sự Thật. Toà soạn báo Sự Thật lúc ấy vẻn vẹn ba cây bút sắt: (Hà) Xuân Trường (Hà Nghệ), thư ký toà soạn, Quang Đạm (Tạ Quang Đệ), Thép Mới (Hà Văn Lộc), từ báo Cờ Giải Phóng trước 1945. Và một cây bút lông: Phan Kế An, con cả cụ Phan Kế Toại, nguyên Khâm sai đại thần Bắc Bộ, nay là bộ trưởng Nội vụ.
Đầu năm 1950, hơn hai tháng sau nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa ra đời, Cụ Hồ bí mật len qua vùng địch ở Phục Hoà, Cao Bằng đi Trung Quốc qua Thủy Khẩu. Trần Đăng Ninh, Vũ Đình Huỳnh và Phạm Văn Khoa phiên dịch tiếng Trung Quốc theo cụ. Bác xuất ngoại, trong ATêKa chúng tôi rất mực vui. Đang vô thừa nhận mà lại sắp vớ được họ hàng toàn oách ra dáng hết. Đâu có biết đại thí sinh Hồ Chí Minh sắp dự cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới.
Thép Mới rủ tôi gặp Phạm Văn Khoa moi chuyện. Khoa đã được dặn cấm không hé răng. Chúng mày xì ra thì chết tao… Ừ, tao làm phiên dịch nhưng nhiều lúc Ông Cụ cũng chẳng cần tao… Ông Cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Họ không hiểu ta. Ông Cụ nhà mình nói… Thỉnh thoảng Mao lại dặng hắng ừ hừ hữ một cái rất to, kinh bỏ con bà, chẳng hiểu là tán thành hay phản đối. Sau khi Ông Cụ kiểm thảo, trình bày các cái ta chủ trương và làm, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét, chính sách tiêu thổ kháng chiến toàn bàn của Việt Nam là không cần thiết và lãng phí.
Khoa cho biết, sau đó Mao đi Liên Xô ký kết hiệp ước Sô-Trung. Sau này tài liệu chính thức của ta nói khi Cụ Hồ qua Bắc Kinh thì Mao đã đi Liên Xô rồi. Vì sao không biết, nhưng theo tôi, Khoa nói đúng, vì về nước mới mươi ngày, anh đã kể chuyện với chúng tôi. Sau này kể cho tôi viết hồi ký, Vũ Đình Huỳnh cũng bảo có gặp Cụ Mao, nhưng khi vào họp thì Huỳnh phải ở ngoài. Lúc ấy Mao sắp sang gặp Stalin và trong nghị sự chắc sẽ trao đổi ý kiến về công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, do đó Mao phải nghe Cụ Hồ trình bày trước”...
Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết tiếp: Để liền một dải với Trung Quốc, với phe xã hội chủ nghĩa, nói khác đi, để làm được tiền đồn của phe, để thoát cảnh một mình “chiến đấu giữa vòng vây” ta mở Chiến dịch Biên Giới giải phóng Cao Bắc Lạng. Tháng 8-1950, Dương Bích Liên, Vũ Cao, Hoàng Nghiêm điện ảnh, Thân Nhất Đài phát thanh và tôi lên Cao Bằng. Bộ đội ta sang Quảng Tây học tác chiến từ mấy tháng trước trở về rầm rập đêm ngày. Cố vấn Trung Quốc cùng với những con ngựa cao to kiểu Xích Thố chở ngất ngưởng chăn đệm, thau chậu. Cố vấn xuống tới tiểu đoàn, trung đội.
Tôi ngày ngày dự các buổi trung đội trưởng Trung Quốc dạy bộ đội ta đánh bộc phá, đâm lê. “Chú ý ngoáy cổ tay, vặn thế này, xốc lên”, anh phiên dịch nói to như gắt… Đoàn báo chí, văn nghệ dự buổi Võ Nguyên Giáp phổ biến trên sa bàn kế hoạch đánh thị xã Cao Bằng. Tôi và Nguyễn Địch Dũng đến trung đoàn 174 của Đặng Văn Việt (Trung đoàn trưởng) và Chu Huy Mân (Chính uỷ). Tuần sau, đánh Đông Khê, không đánh Cao Bằng như kế hoạch Võ Nguyên Giáp đã giới thiệu. Đánh Đông Khê, tôi đi với tiểu đoàn 251 chủ công Nguyễn Hữu An thuộc trung đoàn 174.
Khai hoả cho toàn trận đánh, là đồn tiền tiêu Cạm Phầy chợt như bị một bùi nhùi rơm khổng lồ, lửa văng tung toé. Cùng lúc súng nổ ran tứ phía. Nhưng hết một đêm không xong, Nguyễn Hữu An không vào nổi đồn! Đêm hôm sau, tôi nằm với bốn khẩu sơn pháo bắn thẳng của tiểu đoàn trưởng Thành. Thành đưa tôi một điện thoại nghe ban chỉ huy trận đánh chỉ đạo, cho bắn bao nhiêu viên 75. Nghe suốt đêm Lê Liêm chính ủy mặt trận biên giới giục lính 251 “anh dũng tiến lên, hy sinh cũng lên, không thể để đến sáng nữa…” Sáng tinh mơ sau đêm thứ hai diệt được Đông Khê, tiếng súng im hẳn... (Hết trích)
Bách khoa Toàn thư mở viết: Chiến dịch biên giới bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, diễn ra trong ba đợt. Đợt 1, ngày 16 tháng 9, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến hành đánh công kiên quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng tấn công cứ điểm Đông Khê nhằm cô lập Cao Bằng, và đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ dù quân Pháp đã huy động cả không quân yểm trợ. Sự kiện này làm mất một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4 của Pháp.
Sang đợt hai, quân Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng, đồng thời thực hiện cuộc "hành quân kép", gửi tiếp viện từ Lạng Sơn qua Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bố trí thế trận phục kích, bao vây sau đó lần lượt tiêu diệt cả hai cánh quân Pháp từ Thất Khê lên lẫn từ Cao Bằng rút về. Qua đợt ba, quân Việt Nam tiến hành truy kích quân Pháp rút chạy đồng thời liên tục quấy rối, không cho họ chuyển quân tiếp viện cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng, đến ngày 12 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn...
Ngày 17 tháng 10, sau khi đã đạt được toàn bộ các mục tiêu đề ra, Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ động kết thúc chiến dịch. Thắng lợi của của chiến dịch, khai thông một đoạn biên giới dài, nối Việt Bắc với các đồng minh lớn đến tận châu Âu, Chiến dịch cũng đã tạo ra hiệu ứng chủ bại và hoảng sợ tại Hà Nội, Cao Ủy Pháp Leson Pignon đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp tại Bắc Việt. Đàn bà, con nít Pháp tản cư, kiều dân Pháp phải nhập ngũ trong 3 tuần lể… Ngày 17 tháng 12 năm 1950, Đại tướng Jean de Lattre de Tassigny được chính phủ Pháp cử làm Cao uỷ kiêm Tổng Tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương thay thế Cao Ủy Pháp Leson Pignon.
Sydney ngày 5 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.255 chữ)
Bài 230: CHUYỆN KỂ VỀ ĐẠI HỘI ĐẢNG, CHỈNH HUẤN VĂN NGHỆ BÁO CHÍ VÀ BÀI THƠ KHÔNG CÓ VIỆC GÌ KHÓ… CỦA HỒ CHÍ MINH .
Lê Xuân Đỗ
Cũng sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết: Ngày 11-19/2/1951 mở Đại hội II, Hồ Chủ tịch nói: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam”. Không thích chui lủi, chúng tôi rất sướng được ra ánh sáng và thế là, quên mất câu Cụ nói ngày cho đảng rút lui vào bóng tối: Nếu cần có đảng phái thì sẽ là ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM… Bọn tôi kêu cái tên Đảng Lao Động Việt Nam yếu quá thì được đả thông ngay: Ông Cụ đã thỉnh thị Stalin và Stalin bảo lấy tên này. Thế ra, lúc Cộng sản Đông Dương, lúc Lao động Việt Nam đều do Stalin quyết định cả…
Trần Đỉnh viết tiếp: Từ Trung Quốc vào ta cùng với vũ khí, với những tam tam chế, tứ khoái nhất mạn, nhất điểm lưỡng diện, tiêm đao tung thâm chia cắt còn có cố vấn, có chỉnh huấn… Có thể nói một nề nếp sinh hoạt mới, một ý tứ mới phải tuân thủ, coi trọng. Tôi đã dự lớp chỉnh huấn đầu tiên chủ yếu dành cho đảng viên văn nghệ, báo chí ở ATêKa. Cán bộ ta sang tận Hoa Nam học cách thức về chỉ đạo. Tôi cùng chi bộ với Xuân Diệu, Nguyễn Tư Nghiêm, Phan Kế An, Lê Đạt… năm cái mồm lý sự cùng một số anh chị em khác. Bắt đầu thí điểm cho nên học nặng về tranh cãi chữ nghĩa.
Chi bộ tôi bỏ cả ba buổi thảo luận say sưa thế nào là tôn chỉ. Xuân Diệu cãi hăng nhất. Nhưng, hết phần lý luận, chuyển sang phần kiểm thảo thì mọi người đều cảm thấy ơn ớn. Mang máng một cái gì của sám hối tôn giáo, lờ mờ một cái gì xúc phạm nhân cách, cân cấn một cái gì muốn cưỡng lại nhưng không dám. Mỗi người đều phải khai hết sai lầm, khuyết điểm. Thành khẩn tự phanh phui bản thân là thước đo lòng trung thành với đảng. Một tên chỉ điểm vô hình được cài vào trong từng người. Và khi tên chỉ điểm ấy đã an vị trong anh thì từ đấy cái bóng lù lù của nó – một thằng cò sợ hay một thằng Javert của đảng – bèn trùm lên khắp người anh…
Có thể nói lớp chỉnh huấn tháng 3 năm 1951 ấy là mở đầu cho các cuộc chỉnh huấn đều kỳ của cán bộ đảng viên. Trước mỗi vận động lớn hay trong các cuộc học tập lý luận thường xuyên đều có chỉnh huấn. Chỉnh huấn là chìa khoá vạn năng thúc đẩy tiến bộ tư tưởng! Mục đích chỉnh huấn nham hiểm của Mao là dùng chỉnh huấn để khống chế “mỗi tôi con” của đảng, bằng cách nắm lấy cung của mỗi tôi con – một biến thể của hồ sơ mật thám. Ở đây thì lưu trữ rác rưởi của mỗi linh hồn rồi biến chúng thành một quả mìn đe nổ. Lúc ấy tôi chưa thể nhận thấy đó là cuộc xâm thực ô nhiễm nhân cách.
Song, lần truy nã tư tưởng đầu tiên chưa gay gắt. Trừ Ngô Tất Tố bị lưu lại kiểm thảo thêm mấy ngày, Tố khai hồi ở báo Cứu Quốc, trong một lần rượu Tết quá chén, Tố lỡ có nói một câu bậy bạ nghiêm trọng như sau: “Tôi là con chó, con chó thời Tây rồi thời Cộng sản. Chó thời Tây còn ủng oẳng sủa dăm ba tiếng, chứ chó thời Cộng sản thì cúp đuôi nằm im re”… Theo Như Phong, người từng dự bữa rượu kia bảo tôi: Bữa ấy, tớ có mặt, Tố cứ đấm ngực kêu ô ô lên như mày kể thật nhưng… đếch biết là hắn say thật hay là vờ để chửi, mày ạ.
Kỷ luật đang bắt đầu đi vào nề nếp sau khi cuốn “Bàn về tu dưỡng của người cộng sản” của Lưu Thiếu Kỳ được dịch và học tập rộng rãi. Quyển tu dưỡng đảng viên này, dạy đảng viên tuyệt đối trung thành với đảng cùng gìn giữ kỷ luật, tóm lại hãy quên cá nhân đi. Tôi nhớ nhất chuyện một số người hỏi Lê-nin vào Đảng Xã Hội Dân Chủ Nga của Plékhanov, rồi phá nó để lập Đảng Cộng sản Bolsevich thì có là chống đảng không, Lưu Thiếu Kỳ giải thích: không, bởi đó là Lê-nin còn anh thì chống đảng vì không là Lê-nin! Thép Mới nổi tiếng ở Atêka về phương châm anh tự đặt ra để răn mình: “mù, què, câm, điếc”. (Hết trích)
Về hoàn cảnh ra đời của Bài thơ “Không có việc gì khó; Sợ lòng không bền; Đào núi và lấp biển; Có chí ắt làm nên” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo lời kể của đồng chí Việt Thi, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch chỉ thị thành lập Đội thanh niên xung phong đầu tiên thành lập ngày 15/7/1950 để phục vụ chiến dịch biên giới, Sau đó, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường Cao Bằng - Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đội tổ chức thành nhiều Liên phân đội rải quân dọc tuyến đường những nơi hiểm yếu. Liên phân đội TNXP 321 nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.
Đêm 28/03/1951, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu, Bắc Kạn để đón Bác Hồ đến thăm. Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, chiếc khăn quàng cổ che kín cả chòm râu. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh. Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu: Các cháu ngồi cả xuống. Chúng tôi đều răm rắp nghe theo lời Bác, im lặng ngồi xuống. Bác hỏi: -Các cháu ăn uống có đủ no không?- Thưa Bác có ạ!- Các cháu có đủ muối ăn không?- Thưa Bác đủ ạ!- Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?- Thưa Bác đủ ạ!
Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn rất thiếu thốn. Bác lại hỏi: - Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không? - Thưa Bác có ạ! Sau đó Bác lại hỏi tiếp: - Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào? Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng.
Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:- Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt. Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp: Đào núi có khó không? Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó, có người “sợ nói khó” bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó… Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm.
Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi: Có ai dám đào núi không? Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa: Thưa Bác có ạ! thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ! Nghe xong, Bác cười: Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì? Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao”, có người “cần kiên gan bền chí”, có người “cần xung phong dũng cảm”… toàn khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó.
Bác động viên chúng tôi: Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ: Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên. Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào.
Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ đã là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc... (Hoàn cảnh ra đời Bài thơ: "Không có việc gì khó.... Nguyễn Thị Diệu Trang, Tổ tuyên truyền Đảng ủy cơ quan VKS TP, (16/01/2019) Nội dung sinh hoạt dưới Cờ kỳ 1 tháng 01/2019).
Sydney ngày 6 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.697 chữ)
231: CHUYỆN KỂ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VỀ CHIẾN DỊCH TRUNG DU, ĐƯỜNG 18 VÀ HÀ NAM NINH: 1950 - 1951.
Lê Xuân Đỗ
Tháng 12 năm 1950, ngay khi vừa đến nhậm chức, Tướng Jean de Lattre de Tassigny biết không còn hy vọng tiến công hay bao vây chiến khu Việt Bắc, ông ta cho tổ chức tuyến phòng thủ bảo vệ vùng đồng bằng mang tên ông gọi là “Phòng tuyến Tassigny”. Phía Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) từ khi chuyển sang chủ động tiến công, mở liên tiếp các chiến dịch – Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch đường 18, Chiến dịch Hà Nam Ninh - đã bóc vỏ Phòng tuyến Tassigny.Nhưng trong cả ba chiến dịch Trung du, Đường 18 và Hà Nam Ninh QĐNDVN đã phải chịu thiệt hại lớn trước quân Pháp do tướng Jean Lattre de Tassigny chỉ huy.
Trong bài “Mở liên tiếp ba chiến dịch vào trung du và Đồng bằng Bắc Bộ” Lê Văn Thành, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam viết: Ngay sau Chiến dịch Biên giới năm 1950 giành thắng lợi, Trung ương Đảng chủ trương: “Nhân lúc địch đang hoang mang sau thất bại trên Đường số 4 và chưa kịp củng cố hệ thống phòng ngự chiến lược của chúng ở cửa ngõ đồng bằng, tranh thủ phát triển tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn trung du và đồng bằng, làm thay đổi cục diện chiến trường, tiến tới giải phóng Đồng bằng Bắc Bộ”.
Ngày 25-12-1950, ta mở Chiến dịch Trung Du (25/12/-17/1/51) (còn gọi là Chiến dịch Trần Hưng Đạo) đánh vào phòng tuyến trung du từ Đông Việt Trì đến Tây sông Cầu. Trên địa bàn này, lực lượng bộ binh chiếm đóng của địch gồm 8 tiểu đoàn và 8 đại đội; lực lượng cơ động ứng chiến tại chỗ gồm 7 tiểu đoàn và 3 đại đội đứng chân tại ba Phân khu Bắc Giang, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc. Về phía ta, gồm Đại đoàn 308 trên hướng chính (Vĩnh Yên-Đông Đa Phúc), Đại đoàn 312 (thiếu) trên hướng thứ yếu (Đông Việt Trì-Vĩnh Yên). Trên các hướng phối hợp có 2 Trung đoàn của Bộ cùng lực lượng vũ trang tại chỗ.
Mục tiêu đặt ra: “Tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng khu lương thực, phát triển du kích chiến tranh, tranh thủ thời gian phá kế hoạch củng cố của địch, tạo điều kiện mới để tiêu diệt sinh lực địch nhiều hơn nữa”. Cách đánh “đánh điểm diệt viện”, kết hợp “đánh vận động với công kiên”. Đợt một: từ ngày 25-12-1950, chặn đánh cuộc hành quân Bê-cát-xin của Pháp vào khu vực tập kết của ta ở Xuân Trạch-Liễn Sơn, buộc địch phải co về thị xã Vĩnh Yên. Đêm 26 và 27-12, ta vận động bao vây, tiến công diệt 5 cứ điểm kiên cố (Hữu Bằng, Tú Tạo, đồi Cà Phê, Yên Phụ, Thằn Lằn), nhưng đánh các cứ điểm Chợ Thá, Chợ Vàng không thành công. Địch tăng cường phòng thủ Vĩnh Yên.
Sang đợt hai: từ ngày 30-12-1950 đến ngày 18-1-1951, vận dụng phương châm "đánh điểm diệt viện", ta tiến công diệt cứ điểm Ba Huyên, chặn đánh quân ứng cứu ở Thanh Vân-Đạo Tú, truy kích địch tới thị xã Vĩnh Yên và bao vây thị xã. Pháp tiếp tục đưa lực lượng cơ động có máy bay, pháo binh yểm trợ, mở cuộc hành quân giải tỏa, đánh chiếm Núi Đanh; ta chặn đánh và giành giật với địch từng điểm cao. Rạng sáng 17-1, nhận thấy yếu tố bất ngờ không còn, bộ đội đã trải qua ba tuần chiến đấu liên tục, lực lượng bị tiêu hao và sức khỏe giảm sút, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch.
Ngày 21 tháng 1, khi phân tích cục diện chiến trường Bắc Bộ để đề đạt phương hướng nhiệm vụ mở chiến dịch tiếp theo, Tổng Quân ủy nhận thấy Chiến dịch Trung du kết thúc không thuận lợi nên trước mắt không thể mở chiến dịch trên hướng Liên khu 3 như dự kiến trước đây, từ đó Tổng Quân ủy nhất trí đề nghị phương hướng chiến dịch sắp tới là Đông Bắc, cụ thể là Đường 18 từ Phả Lại đến Uông Bí (Chiến dịch mang tên Hoàng Hoa Thám). Đây là nơi địa hình nửa rừng núi, nửa đồng bằng và là nơi địch yếu hơn ở chiến trường Trung du. Tham gia chiến dịch gồm 2 đại đoàn (308 và 312), hai trung đoàn độc lập (174 và 98).
Mở đầu chiến dịch, đêm 23-3-1951, bộ đội ta tiêu diệt 4 cứ điểm nhỏ để nhử viện binh địch. Đêm 27-3, bộ đội ta tiêu diệt vị trí Bí Chợ và Tràng Bạch, mỗi vị trí có trên dưới một đại đội địch. Đêm 29 và 30-3, bộ đội ta đánh tiếp các vị trí Mạo Khê mỏ và Mạo Khê phố, nhưng không thành công. Đêm 4 và 5-4, ta đánh tiếp các vị trí Bến Tắm, Bãi Thảo, Hoàng Dán cũng không thành công, chủ yếu vì pháo địch từ Đông Triều và sông Đá Bạc bắn tới, tạo thành hàng rào lửa khiến các đợt xung phong của ta gặp khó khăn. Ngày 6-4, chiến dịch kết thúc.
Ngay sau khi Chiến dịch Hoàng Hoa Thám vừa mới kết thúc chưa đầy nửa tháng, thực hiện chủ trương tiếp tục tiến công địch ở Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, ngày 20-4, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hà Nam Ninh (20/4/51 kéo dài 3 tuần) (gọi là Chiến dịch Quang Trung) tiến công khu vực Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nhằm tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực địch, phá tan khối ngụy quân, thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển, giành giật với đối phương “kho người, kho của” ở vùng đồng bằng. Tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn (304, 308, 320) cùng công binh, pháo binh và lực lượng vũ trang tại chỗ.
Theo kế hoạch, đợt 1 ta đánh nhiều trận công kiên giành thắng lợi. Đại đoàn 308, lần đầu tiên tiêu diệt toàn bộ quân địch trong tỉnh lỵ Ninh Bình. Một đại đội huấn luyện của địch gồm toàn hạ sĩ quan người Âu bị diệt gọn trong nhà thờ Đại Phong. Hai vị trí Non Nước và Hồi Hạc, mặc dù được tăng cường thêm 2 đại đội cũng bị tiêu diệt. Bước vào đợt 2, quân địch tiếp tục tăng viện cho tuyến phòng thủ sông Đáy, thay quân trên nhiều vị trí và tăng cường càn quét trên các địa bàn trọng điểm. Quân ta tiến công và bức hàng một số vị trí, nhưng riêng trên hướng chính ta không thành công trong các trận Chùa Cao, Cầu Bút, Ngọc Lâm (Ninh Bình).
Sau trận thắng lớn của Đại đoàn 320 đẩy lui cuộc càn của địch ở Chợ Cháy (Ứng Hòa), chiến dịch kết thúc trong điều kiện so sánh lực lượng bất lợi cho ta, quyền chủ động không còn, chiến dịch không còn điều kiện phát triển… (Hết trích). (QĐND Online Thứ sáu, 31/10/2014 - 11:14 LÊ VĂN THÀNH, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)
Sydney ngày 7 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.258 chữ)
232: CHUYỆN KỂ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VỀ CHIẾN DỊCH HOÀ BÌNH VÀ TRẬN ĐÁNH NÀ SẢN NĂM 1951-1952.
Lê Xuân Đỗ
Tháng 10 năm 1951, Tướng Jean de Lattre de Tassigny quyết định đánh chiếm Hòa Bình. Ngày 10 tháng 11 năm 1951, Pháp mở cuộc hành quân "Hoa Tuylíp" (Opération Tulipe) đánh chiếm Chợ Bến cắt đường di chuyển của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) từ Việt Bắc xuống đồng bằng. Đến 5 giờ chiều cùng ngày thì Pháp kiểm soát được khắp vùng Chợ Bến, khoảng 100 cây số vuông. Ngày 14 tháng 11 năm 1951 Pháp mở cuộc hành quân "Hoa Sen" (Opération Lotus) do đích thân tướng Raoul Salan chỉ huy, cũng như hôm tấn công vào Chợ Bến, Hòa Bình bị chiếm dễ dàng, không có sự kháng cự nào của QĐNDVN.
Ngày 15 tháng 11 năm 1951, tướng Salan tuyên bố Pháp kiểm soát được Hòa Bình, khoá cửa ngõ tiếp tế và giao thông của Việt Minh giữa đồng bằng và Việt Bắc. Ngay chiều hôm đó, Cao uỷ kiêm Tư lệnh quân đội Pháp tai Đông Dương tướng de Lattre đích thân chủ trì cuộc họp báo tại Hà Nội loan tin chiến thắng Hòa Bình và tuyên bố: "Tiến công Hòa Bình đã gây khó khăn lớn cho đối phương. Tiến công Hoà Bình có ý nghĩa chiến lược là chúng ta đã buộc đối phương phải xuất trận. Trận Hòa Bình có ảnh hưởng quốc tế lớn".
Ngày 15 tháng 11 năm 1951 Tổng quân uỷ họp đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh "cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch khi mới chiếm đóng. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích". Tại cuộc họp, cố vấn Trung Quốc Mai Gia Sinh, nói với Hoàng Văn Thái: "Tôi nghĩ sau mấy chiến dịch gặp khó khăn, mùa đông này ta lên đánh nhỏ như kế hoạch trước đây, nhằm phát động chiến tranh du kích".
Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: "Đó là một cơ hội hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đánh ra Hoà Bình địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình đột xuất, công sự chưa vững chắc. Mặt khác vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến Trung du đều tương đối sơ hở hơn trước".
Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Tổng quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, Đại đoàn 320 đánh địch từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà và hai bên tả, hữu sông Đà. Đại đoàn 308 sẵn sàng chiến đấu. Đại đoàn 304 đánh địch ở phía nam Hòa Bình, tiêu diệt một số điểm cao, cắt đường vận chuyển của Pháp trên đường số 6 để phối hợp với các đại đoàn 308, 312 hoạt động trên tuyến sông Đà và vùng thị xã Hoà Bình. Đại đoàn công binh-pháo binh 351 và lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với chiến dịch.
Các Đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng quân đội Pháp tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ, cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh Pháp, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, mở rộng du kích. Đại đoàn 316 được phối thuộc trung đoàn 246, phối hợp với bộ đội địa phương hoạt động ở Bắc Giang, Bắc Ninh. Trung đoàn 98 thâm nhập vào vùng địch hậu Bắc Ninh. Trung đoàn 174 đánh từ một đến hai vị trí ở tuyến ngoài. Trung đoàn 176 bố trí giữ mặt Lạng Sơn.Đợt đầu tiên nhằm đánh tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ, nùi Nhẹ, nằm trong tuyến phòng thủ phân khu sông Đà của Pháp.
Phương châm là "đánh điểm diệt viện", kết hợp chặt chẽ đánh công kiên với đánh phục kích giao thông, tiêu diệt quân viện trên sông, trên bộ, vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận quân Pháp đi càn quét sục sạo, buộc Pháp phải co vào các vị trí dã chiến, đánh tiêu diệt quân nhảy dù hoặc quân ứng cứu giải tỏa. Về hậu cần, Tổng Quân ủy quyết định thành lập hai Ban cung cấp tiền phương ở bắc và nam Hòa Bình. Ban cung cấp tiền phương mặt trận Bắc Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 và Đại đoàn công pháo 351 cùng các lực lượng vũ trang địa phương.
Ban cung cấp tiền phương mặt trận Nam Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 304, Đại đoàn 320. Thời kỳ đầu ở mặt trận Hòa Bình đã chuẩn bị được 820 tấn gạo và có 20.000 dân công phục vụ chiến dịch. Công tác quân y đã chuẩn bị đủ thuốc cứu chữa cho 4.000 thương binh. Kết quả trong 78 ngày đêm bảo đảm cho chiến dịch, đã huy động trên 330.400 lượt dân công phục vụ chiến dịch với 11.914.000 ngày công, các Ban cung cấp mặt trận đã tiếp tế cho bộ đội 6.475 tấn lương thực, thực phẩm, 280 tấn đạn, cứu chữa 6.390 thương binh.
Trong lúc tình hình chiến sự căng thẳng thì quân Pháp lại nhận tin xấu: bệnh tình của tướng De Lattre đã vô vọng cứu chữa. Từ nhiều tháng qua, De Lattre bị ung thư chân. Công việc điều khiển Đông Dương, những hành trình về Pháp và qua Mỹ để xin viện trợ, sự đau buồn vì con trai độc nhất là Trung úy Bernard bị tử thương (ngày 30/5/51) đã làm De Lattre kiệt sức dần, bệnh tình càng ngày càng trầm trọng, đến ngày 19 tháng 11 năm 1951, De Lattre trở về Pháp để vào bệnh viện giải phẫu. Ngày 7 tháng 12 năm 1951 De Lattre bất tỉnh, đến ngày 12 tháng 12 năm 1951 thì từ trần.
Ngày 6/1/52, Trung úy Leclere con trai Đại tướng Leclere bị thương và bị bắt làm tù binh trên Sông Đáy. Vandanberghe Trung đoàn trưởng Lê Dương tử trận gần Nam Định. Ngày 8 tháng 1 năm 1952, tướng Raoul Salan được cử giữ chức Quyền Chỉ huy Quân đội viễn chinh thay De Lattre. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, sáng 23 tháng 2 quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình theo cách cuốn chiếu. 17 giờ ngày 22 tháng 2 năm 1952, có 5 tiểu đoàn Pháp ở thị xã lặng lẽ vượt sông Đà. Trung tá Ducourneau và Đại tá Gilles chỉ huy cuộc triệt thoái.
Hơn 1.000 dân Mường, 20.000 binh sĩ cùng các chiến cụ, đạn dược khí giới vượt qua sông, tiến về Hà Nội bằng đường số 6. Máy bay Pháp nối nhau trút bom, bảo vệ cho binh lính chạy về phía đoàn xe trên đường 6. Nhìn chung, Pháp tổ chức rút quân chặt chẽ, dùng tới 30.000 viên đạn pháo để yểm trợ cho cuộc rút quân. Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng không tổ chức tốt việc đánh quân Pháp rút lui nên chỉ diệt được một số, còn phần lớn quân đội Pháp chạy thoát về Xuân Mai. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Quân uỷ quyết định kết thúc chiến dịch.
Bách khoa toàn thư mở, viết: “Chiến dịch Hoà Bình được mở vào tháng 11 năm 1951 đã trở thành cái "cối xay thịt" đối với cả hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam chịu thương vong không nhỏ, nhưng họ đã học được cách đối phó với chiến thuật và vũ khí của Pháp, và họ đã thâm nhập được sâu hơn vào trong vòng cung phòng thủ của Pháp”.
Sydney ngày 8 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.396 chữ)
233: CHUYỆN KỂ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VỀ CHIẾN DỊCH HOÀ BÌNH VÀ TRẬN NÀ SẢN NĂM 1951-1952 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Ngày 12/3/52, tại Thái Bình, với sự yểm trợ của Thủy quân và Không quân, 5 Trung đoàn Lưu động Pháp mở cuộc hành quân càn quét vùng Trà Lý và Sông Diêm Hồ. Ngày 6/5/52, tướng Salan, Tổng Tư lệnh tuyên bố sẽ dồn lực bình định Trung Châu Bắc Việt, không cho địch lấy thóc trong dân chúng. Ngày 15/5/52, Pháp mở nhiều cuộc hành quân ở Trung Châu Bắc Việt như hành quân “Lạc Đà=Dromadaire” vùng Hưng Yên và Bùi Chu, hành quân “Tango” mạn Phúc Yên và Sông Đuống.v.v. Ngày 2/6/52, Pháp mở cuộc hành quân “Sơn Dương=Antilope” vùng Duy Tiên, Phủ Lý, Hưng Yên.
Ngày 29/6/52, Pháp mở cuộc hành quân tảo thanh ở Đông Triều, Kinh Môn, và Bắc Phát Diệm. Ngày 4/7/52 kịch chiến ở Thọ Lão, Kẻ Sặt một Trung đoàn Việt Minh chặn đánh một Đoàn Lưu động Pháp. Ngày 11/10/52, Pháp mở cuộc hành quân tảo thanh vùng Ninh Bình, Phúc Nhạc, Điền Hộ với gần 10.000 quân tham chiến. Ngày 13/10/52, đồn Nghĩa Lộ bị tấn công mạnh, với hai Sư đoàn 302 và 308 vây đánh suốt ngày đêm. Ngày 14/10/52 một Tiểu đoàn nhảy dù Pháp được thả xuống cứu viên Nghĩa Lộ, một đơn vị khác được gởi tới Sơn La. Ngày 18/10/52, Nghĩa Lộ thất thủ, tất cả miền núi, Trung du bị bỏ ngỏ.
Ngày 29/10/52, Pháp mở cuộc hành quân Lorraines phản công ở Hưng Hóa và Phú Thọ, đánh tập hậu hai Sư đoàn 302 và 308 của Việt Minh. Ngày 1/11/52, quân Pháp vào được Hưng Hóa và Phú Thọ. Ngày 9/11/52, quân Pháp vào được Phủ Đoan. Ngày 14/11/52, quân Pháp tới Yên Báy, nhưng bị phản công mạnh phải rút lui. Ngày 24/11/52, quân Pháp rút khỏi Sơn La. Ngày 27/11/52, quân Pháp từ Yên Báy rút được về Việt Trì, và cố thủ Na San. Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ Nà-San. Ngày 1/12/52, nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tấn công Na San, nhưng bị đẩy lui. Ngày 2/12/52, Na San lại bị tấn công, nhưng nhờ phi cơ và pháo binh nên giữ được. Buổi chiều Việt Minh rút lui để lại vài trăm xác chết.
Theo Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự 20 tháng 9, 2018 thì, Tập đoàn cứ điểm Nà Sản nằm trên cao nguyên Nà Sản, là một lòng chảo thuộc địa phận xã Chiềng Mun - huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La với diện tích khoảng 10km2 được bao quanh bởi các dãy núi cao trên 700m. Nà Sản cách Hà nội 190km theo đường chim bay, và cách khoảng 40 phút bằng máy bay. Dân cư thưa thớt, toàn người Thái sống về nghề làm rẫy. Nà Sản cũng nằm trên tỉnh lộ số 41 nối liền Lai Châu, Điện Biên qua Sơn La, Mộc Châu xuống Thanh Hóa hoặc sang Hoà Bình về Hà Nội, vì vậy vị trí Nà Sản quan trọng trong việc tiếp tế bằng đường bộ cho khu vực Thái và trấn giữ vùng Thượng Lào.
Tại cứ điểm Nà Sản có sân bay, Sở chỉ huy, một số đồn bốt, hệ thống hỏa lực mạnh của bốn khẩu pháo 105mm và nhiều đường giao thông hào vây quanh bảo vệ khu trung tâm. Lực lượng chiếm đóng tại Nà Sản gồm 8 tiêu đoàn, sau được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn. Thiếu tá chỉ huy Pháp Jean Gilles lần đầu áp dụng chiến thuật “Con Nhím” tại Đông Dương ở trận Nà Sản, chiến thuật là 1 hệ thống tập đoàn cứ điểm bao quanh và giữ mối tiếp viện bằng đường hàng không. Giống như con nhím với các cứ điểm phòng vệ giống như gai nhím. Chiến thuật có tác dụng phòng ngự, chống lại những đợt tấn công của đối phương chứ không phải tấn công đối phương, do đó sẽ không rơi vào bẫy phục kích
Đầu tháng 11 năm 1952, một cầu không vận ngày đêm hoạt động, chuyên chở các đồ tiếp tế: đạn dược, lương thực, xe ủi đất, hàng ngàn tấn dây kẽm gai và lừa ngựa từ Hà Nội lên Nà Sản. Để xây dựng hệ thống cứ điểm Nà Sản , Pháp đã sử dụng hai đại đội công binh và hàng ngàn phu phen xây cất 30 điểm tựa xung quanh lòng chảo, các cứ điểm nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, bên ngoài được phủ dây thép gai. Lực lượng phòng vệ gồm có 8 tiểu đoàn và 6 khẩu trọng pháo 105mm và sau khi trận Nà Sản diễn ra, cứ điểm được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn
Trận Nà Sản bắt đầu vào đêm 30 tháng 11 rạng ngày 1 tháng 12, Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) ồ ạt tấn công vào các điểm tựa phía đông bắc. Trung đoàn 102 cùng trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 tiến công Pú Hồng (điểm cao 753). Sau 1 giờ 45 phút chiến đấu, QĐNDVN chiếm được điểm tựa số 24 do trung úy Pipart phụ trách với một đại đội lính Thái và lính Maroc, diệt bốn trung đội của GM1 đóng tại đây, bắt sống viên quan ba chỉ huy. Cùng đêm, tiểu đoàn 115 của trung đoàn 165 Đại đoàn 312 tiến công vị trí Bản Hời. Sau hơn một giờ chiến đấu, QĐNDVN diệt một đại đội địch.
Tới gần sáng, nhờ trọng pháo và không quân yểm trợ, Gilles phản công với những đơn vị dự trữ, Gilles lấy lại được đồn, QĐNDVN rút lui. Đêm hôm sau, 11 tiểu đoàn QĐNDVN ồ ạt tấn công vào hai đồn chính bảo vệ cứ điểm Nà Sản. Từ 9 giờ đêm đến 7 giờ sáng, nhờ thời tiết tốt nên máy bay Pháp thả pháo sáng khắp trận địa, liên tiếp ném bom và bắn pháo liên thanh xuống vị trí QĐNDVN, đồng thời các giàn đại bác nhả đạn xung quanh đồn, ở trong đồn thì lính cố sức cầm cự, QĐNDVN thiệt hại nhiều mà không chiếm được đồn.
Trung đoàn 209 đánh Bản Vây cũng không kết quả. Trời sáng, Pháp dùng máy bay oanh tạc và bắn trên 5.000 quả đạn pháo để cứu nguy cho các cứ điểm. Đến sáng, QĐNDVN rút lui. Ngày 2 tháng 12, không quân Pháp thả dù tăng cường thêm cho Nà Sản hai tiểu đoàn, quyết giữ tập đoàn cứ điểm này. Những ngày sau, QĐNDVN biết là vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ, nếu tiếp tục tấn công thì bất lợi. Trước những khó khăn mới nảy sinh, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc, QĐNDVN rút lui khỏi Nà Sản không trở lại nữa.
Đầu tháng 8/1953, Navarre cho rút toàn bộ quân Pháp khỏi Nà Sản bằng đường hàng không và ba ngày sau đó QĐNDVN mới nhận được thông tin vì quân Pháp đã khéo léo ngụy trang và nghi binh. Toàn bộ quân Pháp được chuyên chở bằng máy bay vận tải khiến QĐNDVN tưởng lầm quân Pháp đang tăng cường để chuẩn bị đối phó với QĐNDVN. Cuộc rút lui diễn ra êm thấm. Sau này QĐNDVN mới biết quân Pháp không thể duy trì Tập đoàn cứ điểm Nà Sản vì qua chiến dịch Sầm Nưa, nó đã chứng tỏ không có khả năng ngăn chặn các đại đoàn chủ lực của QĐNDVN tiến sang Thượng Lào.
Từ chiến thuật “Con Nhím” thành công ở Nà Sản, Pháp đã xây dựng tập đoàn cứ điểm to lớn hơn là căn cứ Điện Biên Phủ. Về hình thức, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là sự phóng đại hoàn hảo của Tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Và từ bài học này ở trận Nà Sản, QĐNDVN đã tìm ra cách để đánh bại quân Pháp ở trận đánh Điện Biên Phủ lịch sử. P/S: Thất bại là mẹ thành công (Trích bài viết TRẬN NÀ SẢN, BÀI HỌC QUÝ BÁU CHO ĐIỆN BIÊN PHỦ của Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự ngày 20/9/2018).
Sydney ngày 9 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.409 chữ)
Bài 234: CHUYỆN KỂ VỀ LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, CHỈNH HUẤN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT VÀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT THÍ ĐIỂM 1953.
Lê Xuân Đỗ
Bách khoa Toàn thư mở viết: Tháng 10 năm 1952, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bản "chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam" cho Stalin để "đề nghị xem xét và cho chỉ dẫn" và cho biết chương trình hành động được lập bởi chính ông dưới sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ. Từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 12 năm 1953, tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ". Ngày 4 tháng 12 năm 1953, Quốc hội thông qua và ngày 19 tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành luật Cải cách ruộng đất 197/HL.
Cũng Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết: Chuẩn bị “Cải cách Ruộng đất”, từ giữa tháng 7 đến cuối tháng 9 năm 1953, Trung ương mở một lớp chỉnh huấn cho trí thức trong và ngoài đảng làm việc ở chính phủ và các đoàn thể trung ương. Nhiều tên tuổi như Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Thế Lữ… đã dự học. Mục đích sâu xa là xây dựng lập trường giai cấp, đề cao công nhân, bần cố nông, hạ uy thế chính trị và tư tưởng của trí thức và các giai tầng không lao động chân tay khác.
Mấy tòa nhà lán tre nứa cao rộng vây quanh hai mặt một hội trường lớn. Riêng ở một tòa ở xế trước hội trường là ba hay bốn chi bộ (gồm cả đảng viên lẫn không đảng phái). Chi bộ đầu lán có Nguyễn Cao Luyện, Tạ Mỹ Duật. Liền với nó, trên cùng một sạp giường nứa dài cả hai ba chục mét, một chi bộ nữa và đặc biệt lại có Nguyễn Tư Nghiêm và tôi. Ở sạp đối diện, cách một lối đi là hai chi bộ nữa. Một có Đặng Đình Hưng và một có Vũ Chính, Tổng cục trưởng Tổng cục 2 sau này. Tố Hữu là bí thư học ủy. Cụ Hồ cách nhật, có khi liền ngày, đến xem điện ảnh, liên hoan với học viên.
Lê Duẩn thường có mặt, giảng bài chính. Lập trường giai cấp nông dân và cách mạng dân tộc, dân chủ. Duẩn nhấn mạnh trong bước cách mạng này, người cộng sản phải có lập trường giai cấp nông dân để hiểu được nguyện vọng nông dân mà kiên quyết lãnh đạo họ cải cách ruộng đất, lấy lại quyền lợi, làm một cuộc đổi đời. Tôi ngợ: theo Mác, Lê-nin thì người cộng sản không thể có lập trường nào khác ngoài lập trường giai cấp công nhân. Có điều ý kiến của Lê Duẩn chỉ nói ở trong cái lớp mấy trăm con người này. Vả chăng không ai dám phê phán hay chất vấn sất.
Phải nhận Duẩn có nhiều ý độc đáo. Như ta mất nước cho Pháp là vì lúc đó đang là thời đại chủ nghĩa tư bản, nó chiến thắng áp đảo phong kiến. Duẩn mới ở trong Nam ra với biệt hiệu đơ-xăng bu-gi, hai trăm nến chỉ sau có Cụ Hồ xanh-xăng bu-gi, năm trăm nến. Chúng tôi hay xúm quanh Lê Duẩn để hỏi. Phải nhận ông có những cách giải thích độc đáo. Chẳng hạn, trả lời tại sao chỉ có Đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam chỉnh huấn, còn các đảng Âu Mỹ thì không, Duẩn nói, vì ta và Trung Quốc ít công nhân cho nên phải bỏ công ra tỉa gọt từng đảng viên cho có được lập trường giai cấp vô sản.
Một tối họp chi bộ nghe và nhận xét các bản tự kiểm thảo của nhau. Tố Hữu xuống dự chi bộ chúng tôi tối đó. Tôi có phần đao to búa lớn phê phán người vừa trình bày xong bản kiểm thảo. Tố Hữu bỗng giơ tay ngăn tôi lại. Rồi từ tốn, nhỏ nhẹ nói “Đồng chí vừa phê phán ai, đồng chí biết không? Phê phán đồng chí của đồng chí đấy, đồng chí phải biết điều ấy! Đồng chí của đồng chí là gì? Là hòn ngọc…, tôi nói lại, là hòn ngọc, hòn vàng của đảng, là người mà chúng ta phải yêu mến nâng niu..” Nhưng, trong con mắt Tố Hữu nhìn người vừa bị chỉnh đốn kia một ánh trắng xỉn, lạnh lẽo, một cái gì khinh khỉnh.
Định nghĩa đảng viên là ngọc là vàng của đảng cho nên vào tổng kiểm thảo Tố Hữu yêu cầu học viên rất ngặt. Thứ nhất, hễ là con em hay liên quan với địa chủ, học viên đều phải thành khẩn tự khai báo với đảng mọi sai lầm tội lỗi của bản thân, chẳng hạn đồng tình, về hùa với gia đình, thậm chí cùng với gia đình trực tiếp đàn áp, bóc lột nông dân… Thứ hai, phải vạch ra mọi thủ đoạn đàn áp, bóc lột nông dân cùng tộí ác của bố mẹ, gia đình, họ hàng địa chủ, cường hào gian ác. Thứ ba trên cơ sở thành khẩn khai báo kia mà tuyên bố là căm thù bố mẹ, tỏ ra đã dứt khoát lập trường vô sản, đoạn tuyệt với kẻ thù giai cấp.
Không đạt yêu cầu căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ thì bản tổng kiểm thảo bị “phá sản,” học viên đó phải ngồi học lại cho tới khi nào lập trường vô sản, lập trường nông dân thắng, anh ta công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ mình. Tố Hữu làm đúng lời Bác Hồ thôi. Sắp vào tổng kết tư tưởng, Bác Hồ đến nói chuyện, thực chất “động viên” học viên dứt khoát với tư tưởng sai và lầm lạc, tội lỗi của cá nhân. Như thấy làm việc cho thực dân Pháp là nhục nhưng vẫn chưa triệt để, phải tiến lên một bước nữa là thấy tội của mình… Bữa ấy Bác lôi cả nhục và tội của cụ Bùi Bằng Đoàn ra trước mọi người.
Tôi nhớ chi tiết này, vì tôi đã ái ngại cho cụ thượng thư cũ. Nhất là khi Bác Hồ nói “Xin lỗi cụ Bùi” thì cụ Bùi Bằng Đoàn rất ôn tồn đáp lại: “Không dám, xin cụ cứ nói.” Tôi có phần thiện cảm với chữ “Không dám” mà từ khi lên ATK trên rừng bây giờ mới lại nghe đến. Cũng thương cụ Bùi chỉ được gọi là Cụ! Lúc ấy tôi chưa biết Mao bày mẹo chỉnh huấn bắt khai tội cốt để hạ nhục bề dưới để dễ thu phục, dể sai khiến –tao bắt mày khai cái thối tha nhất của mày ra, mà mày nghe tao là mày hàng tao, tao nắm được ruột gan mày thì mày còn hòng thoát đi đâu.
Làm nhục và sợ là yêu cầu sâu kín của “tự kiểm thảo”. Nhiều người đã tự sát. Người đầu tiên tự sát trong chỉnh huấn là Thân Mỡ, người đảng viên do Kỳ Vân kết nạp đầu tiên ở Đình Bảng, và chính Thân Mỡ đã kết nạp Lê Quang Đạo, Thân Mỡ treo cổ chết khi tổng kết tư tưởng, lúc ông học trường Mác-Lê ở Bắc Kinh. Ở lớp chỉnh huấn báo Cứu Quốc có Lưu Động, Chính Yên, và Thướng, biên tập viên của báo tham dự. Thướng treo cổ bên ngòi Thia, sông Đáy. Hai anh Lưu Động, Chính Yên đã phải lặn lội tìm xác kẻ “phản bội,” phá hoại chỉnh huấn, lời của bí thư học ủy Nguyễn Chương.
Sydney ngày 10 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.364 chữ)
Bài 235: CHUYỆN KỂ VỀ LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, CHỈNH HUẤN CẢI CÁCH VÀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT THÍ ĐIỂM 1953 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Cũng Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết tiếp: Là người phụ trách tổ cải cách ruộng đất của báo. Mỗi số báo tôi được hai trang để tuyên truyền cải cách ruộng đất. Chủ yếu phổ biến kinh nghiệm các đoàn đang giảm tô giảm tức ở Thanh – Nghệ. Và kinh nghiệm cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Tài liệu ở nội san các đoàn giảm tô, bản dịch được Hoàng Ước, thư ký của Hoàng Quốc Việt, người chỉ đạo cải cách ruộng đất lúc đó gửi cho. Tóm lại, các kinh nghiệm khêu gợi căm thù và tiến hành bạo lực, trong đó có cả chuyện Pavlik Morozov, cậu bé tố cáo bố phú nông ở Liên Xô.
Cải cách Ruộng đất chính thức nổ pháo hiệu đầu tiên ở xã Dân Chủ, Đồng Bẩm, Thái Nguyên, trên quốc lộ 1 lên Lạng Sơn. Đối tượng: Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, nhân sĩ tên tuổi trong Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, và cũng là Trung ương Mặt trận Liên Việt, người thường cùng họp long trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt. Nay bà trở thành địa chủ phản động, cường hào gian ác lợi dụng tiếng thân sĩ để phá hoại cách mạng và kháng chiến, có nhiều nợ máu với bần cố nông. Đặc biệt Công, con trai bà Nguyễn Thị Năm, theo Việt Minh hoạt động bí mật, nay là Chính ủy trung đoàn pháo 105 li đang học ở Côn Minh, Trung Quốc cũng bị gọi về, treo giò.
Để có “phát pháo mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất”, Trường Chinh chỉ thị báo Nhân Dân tường thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm – Cát Hanh Long. Tôi nhận nhiệm vụ. Trường Chinh nói phân công tôi, vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội. Tôi nói tôi không dự đấu tố, thì anh bảo tôi khai thác Văn, người cấp dưỡng theo anh tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến các buổi đấu tố. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.
Thế là tôi viết bài khai hỏa cải cách ruộng đất theo sự pha phách thêm nếm khó lòng tránh khỏi của người cấp dưỡng đáng yêu của Tổng bí thư. Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB (Bác Hồ) gửi đến bài “Địa chủ ác ghê”. Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát – Hanh – Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã giết chết 14 nông dân; tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật; làm chết 32 gia đình gồm có 200 người (năm 1944). Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân (năm 1945). Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng. Thế là, ba mẹ con địa chủ Cát Hanh Long đã trực tiếp, gián tiếp giết chết ngót 260 người” (Nguyên văn bài báo “”Địa chủ ác ghê”).
Dăm bữa sau bài “phóng sự nghe kể lại,” tôi xuống Đồng Bẩm. Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu Quốc, trong đội cải cách về đây còn ở lại lo hậu sự. Tôi hỏi chuyện bắn, anh lè lưỡi lắc đầu mãi rồi mới kể lại. “Sợ lắm, tội lắm, đừng có nói với ai, chết tớ. Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh”. Du kích quát: “Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!”. Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà.
Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì nhỏ quá không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?”. Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”
Chính ủy Công, con bà Nguyễn Thị Năm, được CB (Bác Hồ) nhắc đến trong bài báo ở trên, bị điệu từ Vân Nam về và ngồi cùng mẹ chịu đấu tố, nhưng nghe nói không được dự buổi chôn cất mẹ. Sau Nguyễn Thị Năm một tháng đến lượt xử Cử Cáp. Phát khai hoả thứ hai. Lần này tôi đến dự buổi thi hành án: bắn. Mít tinh tuyên án vào buổi tối. Bãi đất thuộc xã Phú Xuân, vùng chè Tân Cương. Vài trăm con người ngồi vây kín lấy một khoảnh đất trống. Khai mạc rất thình lình. Cũng thình lình chánh án Lê Giản xuất hiện. Lại cũng rất thình lình mấy người lính giải hai đối tượng đi ra.
Cử Cáp, hơn bảy mươi tuổi, nguyên huấn đạo, Ủy viên Mặt trận Liên Việt, cũng địa chủ kháng chiến, thân sĩ như Nguyễn Thị Năm, tức là thuộc diện bị chính sách cải cách ruộng đất chiếu cố. Ấn tượng mạnh nhất ở ông già là chỏm râu bạc trắng. Cạnh cụ, bí thư chi bộ nhưng nay đã thành “Quốc dân đảng” thông đồng với Cử Cáp phá hoại kháng chiến. Thấp nhỏ, chạc bốn chục tuổi, anh có cái dáng quen thuộc của cán bộ xã ta thường hay lui tới nhà cụ cùng cơm nước, ngủ đêm… Không như Cử Cáp nom lớ ngớ – vừa sợ vừa khấp khởi… Đến phút cuối cùng thế nào đảng cũng hiểu bụng dạ trung thành của anh mà tha anh. Hai bị cói lép kẹp dưới nách, hai bị cáo đứng rúm ró.
Chánh án Lê Giản tuyên bố Chủ tịch nước bác đơn xin ân xá. Lim, lệt sệt đôi ủng ra hô: Giải chúng đi! Vọt ra năm sáu người lính đẩy hai người tù quay lui. Tôi thấy thô bạo quá. Nhưng kìa, họ vừa mới quay người, tốp lính đã quỳ rộp một cái xuống, đưa tiểu liên lên bóp cò. Lửa nhằng nhằng. Hai cái thân đổ vật. Chị cốt cán trẻ đứng bên tôi ôm chặt lấy tôi líu lưỡi lại: Anh có dầu… dầu Con Hổ, cho em…? Hai xác người nằm thẳng mềm mại. Lịch phịch đôi ủng nặng, Lim đến bên từng người bắn vào thái dương phát súng “ân huệ”…. (Hết trích).
Sydney ngày 11 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.297 chữ)
236: CHUYỆN KỂ VỀ CHIẾN CỤC ĐÔNG XUÂN VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 1953-1954.
Lê Xuân Đỗ
Mùa Xuân năm 1953, QĐNDVN mở cuộc tiến công lớn vào quân Pháp ở Lào với sự hỗ trợ của Quân đội Chính phủ Souphanouvong. Do hậu cần quá xa, QĐNDVN không đánh chiếm đồn binh Pháp ở Cánh đồng Chum được, Pháp coi đây là thành công lớn của họ. Ở các vùng khác, QĐNDVN phối hợp tấn công đồng bộ từ Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ, buộc đội quân Pháp phải phân tán, xé lẻ khối quân cơ động của họ. Khi Pháp không còn lực lượng cơ động để ứng cứu, hình thành Chiến cục Đông-Xuân 1953-1954.
Ngày 8 tháng 5 năm 1953, Trung tướng Henri Navarre được cử làm Tổng Tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương thay thế tướng Raoul Salan. Tháng 7 năm 1953, Navarre đề ra một kế hoạch tổng phản công, báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre". Ngày 18 tháng 7 năm 1953, cùng lúc Navarre mở hai cuộc hành quân Hirondelle ("Con én") đánh vào Lạng Sơn, và cuộc hành quân "Camargue" đánh vào Quảng Trị, nhằm phá hủy các căn cứ hậu cần, kho tàng và máy móc của QĐNDVN. Giới truyền thông Pháp loan tin quân Pháp đã diệt được hai tiểu đoàn Việt minh, phá huỷ các kho tàng, và hầu hết căn cứ hậu cần của đối phương.
Đầu tháng 8/1953, Navarre cho rút toàn bộ quân Pháp khỏi Cứ điểm Nà Sản. Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre lại mở cuộc hành quân Moutte đánh vào Ninh Bình và Thanh Hóa nhằm phá các căn cứ hậu cần tiền duyên, giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Tháng 11 năm 1953, Navarre mở tiếp cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ, khu vực mà ông ta cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của QĐNDVN sang Lào. Navarre quyết tâm xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.
Quân số tại cứ điểm này có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo binh 105 mm, 1 đại đội pháo 155 mm, 2 đại đội súng cối 120 m, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 18 tấn, 1 đại đội xe vận tải 200 chiếc, 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc. Trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội lính nhảy dù, Pháo được tăng thêm 4 khẩu và cho đến ngày cuối cùng được thả xuống rất nhiều bộ phận thay thế khác. Lực lượng này gồm khoảng 16.200 quân, bố trí trong 49 cứ điểm, chia làm ba phân khu; bắc, nam và trung tâm, với một hệ thống công sự dày đặc.
Phân khu Bắc: Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Đồi Độc lập có nhiệm vụ án ngữ phía bắc, ngăn chặn con đường từ Lai Châu vê Điện Biên Phủ. Trung tâm đề kháng Him Lam, tuy thuộc khu trung tâm, nhưng cùng với các vị trí Đồi Độc lập, Bản Kéo là những vị trí ngoại vi đột xuất án ngữ phía đông bắc, ngăn chặn tiến công từ hướng Tuần Giáo vào. Phân khu Trung tâm: Các điểm cao phía đông – Dominique, Eliane, sân bay Mường Thanh, và các cứ điểm phía tây Mường Thanh – Huguette, Claudine, đây là khu vực mạnh nhất của quân Pháp, tập trung hai phần ba lực lượng. Phân khu Nam: cụm cứ điểm và sân bay Hồng Cúm – Isabella.
Theo Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Văn Sự, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng thì: Sau khi nghe báo cáo của Tổng quân uỷ, tại phiên họp ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị kết luận: “Về địch, Điện Biên Phủ sẽ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng lại bị cô lập, mọi tiếp tế đều phải dựa vào đường không. Về ta, với chất lượng đã đươc nâng cao thêm một bước trong chỉnh huấn, chỉnh quân và sự tiến bộ về trang bị, kỹ thuật có thể đánh được tập đoàn cứ điểm. Vấn đề đường sá tiếp tế cho chiến dịch đúng là một khó khăn rất lớn. Nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, cả hậu phương đang chuyển động mạnh trong cải cách ruộng đất, sẽ tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến và nhất định bảo đảm cung cấp cho chiến dịch”.
Từ nhận định đó, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh “Trần Đình” cử đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh chiến dịch làm Bí thư Đảng uỷ. Bác Hồ nói:“Giao cho chú toàn quyền quyết định. Chắc thắng thì đánh. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh…”.Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Bác Hồ, khi bước vào chiến dịch, quân và dân ta phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thử thách mới nảy sinh. Trước hết là tại chiến trường Điện Biên Phủ, tình hình địch đã có nhiều thay đổi, không giống như thời điểm Bộ Chính trị thông qua phương án tác chiến (tháng 12/1953).
Chúng đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội sẽ phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có. Vấn đề đặt ra là “có hay không” triển khai thực hiện phương án củ? Nếu đánh thì không bảo đảm chắc thắng như lời căn dặn của Bác Hồ, nếu hoãn thì sẽ giải quyết ra sao khi pháo binh đã vào vị trí, các Đại đoàn đều đã có mặt ở tuyến xuất phát xung phong? Trên cơ sở khảo sát thực tế những thay đổi của địch tại Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh quyết định “hoãn trận đánh”, thay đổi phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.
Điều đó cũng có nghĩa là toàn bộ kế hoạch tác chiến phải chuẩn bị lại từ đầu, các đơn vị pháo binh sẽ phải kéo pháo ra khỏi trận địa, các đơn vị bộ binh sẽ phải rút quân khỏi vị trí xuất phát về vị trí tập kết…Đó là một quyết định khó khăn nhất trong đời như lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và cũng là vấn đề vô cùng phức tạp đối với cán bộ, chiến sỹ và các lực lượng có liên quan… Quá trình thực hành tác chiến theo phương châm mới, cán bộ, chiến sĩ ta dù phải “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt; máu trộn bùn non…”, nhưng “gan không núng, chí không mòn” ra sức thi đua giết giặc lập công.
Sydney ngày 12 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.176 chữ)
237: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC HUY ĐỘNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM, DÂN CÔNG VÀ XE ĐẠP THỒ CHO CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ.
Lê Xuân Đỗ
Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Văn Sự viết tiếp: Khó khăn tiếp theo là làm sao để bảo đảm cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho chiến dịch Điện Biên Phủ, trong khi chiến trường ở rất xa hậu phương, mà đường tiếp tế thì độc đạo. “Đánh nhanh, thắng nhanh” bảo đảm đã khó, nay chuyển phương châm và kế hoạch tác chiến, khó khăn càng tăng thêm gấp bội. Theo số liệu tổng kết của Tổng cục Hậu cần, lượng gạo huy động cho chiến dịch là 25.056 tấn, ở tuyến chiến dịch, yêu cầu lương thực bình quân phải đáp ứng lên tới 90 tấn/ngày. Ngay tại Điện Biên Phủ phải có 50 tấn/ngày.
Bộ Chính trị chủ trương: “toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Điện Biên Phủ, nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”. Hội đồng cung cấp mặt trận Trung ương đã được thành lập do Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, trực tiếp chỉ đạo các ngành kinh tế, tài chính dốc sức chi viện; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh vào Thanh Hoá là vùng đông dân nhiều gạo; Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng về chiến trường quen thuộc đồng bằng Liên khu III trực tiếp phổ biến nhiệm vụ, hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương huy động nhân lực, vật lực, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đồng bào các dân tộc Tây Bắc, còn nhiều khó khăn, cấp trên không chủ trương huy động, nhưng đồng bào nơi đây vẫn hăng hái đóng góp cho chiến dịch 1.200 tấn gạo, 300 tấn thịt và gần 100 tấn rau. Ở Liên khu IV, chủ yếu là tỉnh Thanh Hoá đã huy động được hơn 8.000 tấn lương thưc, 2.000 tấn thức ăn khô. Liên khu Việt Bắc 7.311 tấn lương thực, riêng tại Lai Châu là 2.266 tấn. Ở Liên khu III, tuy còn nhiều vùng bị địch chiếm, cũng huy động được 1.183 tấn gạo, 57 tấn muối. Là nơi trực tiếp chiến đấu với địch, nhân dân Điện Biên Phủ cũng đóng góp được 555 tấn lương thực, vượt mức trên giao 64 tấn, 226 tấn thịt, vượt mức 43 tấn…
Vấn đề tiếp theo là làm thế nào để vận chuyển một khối lượng lương thực, thực phẩm khổng lồ từ hậu phương ra tiền tuyến? Chính quyền đã huy động dân công và tất cả các phương tiện thô sơ có được từ các địa phương vận chuyển vật chất đáp ứng yêu cầu cho chiến dịch. Điển hình là hơn 2 vạn xe đạp thồ - một phương tiện vận tải độc đáo trong chiến tranh nhân dân - có vai trò hết sức quan trọng và hiệu quả. Ngoài việc tham gia vận tải gạo, đạn cho chiến trường, lực lượng dân công còn tích cực tham gia vận chuyển thương binh ra hậu cứ để cứu chữa, vào tận chiến hào để phục vụ chiến đấu. (Nguyễn Văn Sự Đại tá, PGS. TS. Tuyên giáo, Thứ Bảy, 4/5/2019 12:26'(GMT+7).
Trong bài “Công tác vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ” Đại tá-Thạc sĩ Trần Đình Quang viết: Tổng Quân uỷ nhận định: Để tiến hành Chiến dịch, ta gặp rất nhiều khó khăn; khó khăn lớn nhất là cung cấp mà chủ yếu là vấn đề đường sá. Theo phương án trên, nhu cầu hậu cần bảo đảm cho Chiến dịch rất lớn, gồm 434 tấn đạn, 7.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm, cứu chữa 5.000 thương binh... Trong khi đó, khả năng huy động hậu cần tại chỗ rất hạn chế, nhân dân còn rất nghèo, vì vậy chủ yếu phải chuyển từ hậu phương lên. Các tuyến vận tải rất dài từ Việt Bắc sang cách xa 700 km, từ Sơn La lên ngắn nhất cũng 150 km, rừng núi hiểm trở, nhiều sông suối, đường xấu...
Ngành Hậu cần đã dốc toàn lực và huy động 261.451 lượt dân công bằng 12 triệu ngày công, bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia chiến dịch, trong đó 53.830 người trực tiếp chiến đấu; vận chuyển, cứu chữa 8.458 thương bệnh binh; bảo đảm 1.200 tấn đạn, 1.733 tấn xăng dầu, 14.500 tấn gạo, 268 tấn muối, 577 tấn thịt, 1.034 tấn thực phẩm và 177 tấn vật chất khác, gấp gần 3 lần dự kiến ban đầu, và hàng chục lần nếu đánh theo phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”. Điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt, khả năng của ta còn hạn chế, máy bay địch lại thường xuyên đánh vào các tuyến giao thông, ngày cao nhất sử dụng 250 lần chiếc với 1.186 trận đánh phá.
Các đèo Lũng Lô, Pha Đin, các đầu mối giao thông Cò Nòi, Tuần Giáo, bến phà Tạ Khoa... thành trọng điểm đánh phá của địch. Bộ chỉ huy Chiến dịch đã sử dụng 4 tiểu đoàn công binh cùng hàng vạn dân công bám các trục đường đánh máy bay địch đánh phá khắc phục bảo đảm giao thông. Từ trung tuyến trở lên ta đã sửa được 308 km đường ô tô, làm mới 63 km đường kéo pháo, phá 102 thác để tổ chức vận tải thuỷ trên sông Nậm Na... Tổng khối lượng đào đắp lên tới 35.000m3 đất, 15.000m3 đá, phá hàng ngàn quả bom nổ chậm.
Cùng với đó, công tác chính trị, tư tưởng, nuôi dưỡng, bảo đảm sức khoẻ cũng được quan tâm nên lực lượng vận tải luôn có quyết tâm cao và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. (Trần Đình Quang, Đại tá Thạc sĩ, Quân đội Nhân dân Online 21/04/2014, 10:37).
Sydney ngày 13 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.011 chữ)
238: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC HUY ĐỘNG DÂN CÔNG LÀM LÀM ĐƯỜNG... CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ HIỆP ĐỊNH GENEVE 1954 KẾT THÚC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG.
Lê Xuân Đỗ
Trong bài “Giao thông vận tải: Điểm tựa cho chiến thắng Điện Biên Phủ” Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền viết: Nhiệm vụ mở đường và bảo đảm Giao thông Vận tải cho chiến dịch, phục vụ 42.750 cán bộ, chiến sỹ gồm cả pháo binh, cơ giới; và 260.000 dân công hoạt động chuyển quân tập kết trước, trong và sau chiến dịch, Trung ương Đảng đã chỉ đạo triển khai xây dựng ba hướng tuyến chính phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ là: Hướng tuyến phía Bắc từ biên giới Việt - Trung về Thái Nguyên; Hướng tuyến phía Nam từ Nghệ An - Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III ra Hòa Bình; và Hướng tuyến Đông - Tây từ Hòa Bình theo đường 6, (41), 42 đi Tuần Giáo.
Hướng tuyến phía Bắc từ biên giới Việt - Trung về Thái Nguyên đi Yên Bái theo đường 13 bến Ba Khe - Cò Nòi. Đây là trục chính vận chuyển các loại vũ khí, khí tài phục vụ chiến dịch nên phải tập trung 02 vạn dân công với khoảng 02 triệu ngày công thi công suốt ngày đêm, làm mới đoạn Yên Bái - Cò Nòi… Hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên đã huy động một khối nhân lực lớn sửa chữa, nâng cấp và mở tiếp tuyến đường từ Thủy Khẩu đi Bắc Kạn và Thái Nguyên; đường Võ Nhai - Bắc Sơn và mở rộng bến phà Thác Oánh; đường Cao Bằng - Bắc Kạn qua Chợ Mới - Bờ Đậu lên Tây Bắc hoặc Cao Bằng - Bắc Kạn - Tuyên Quang - Yên Bái - Ba Khe - Cò Nòi…; đường 31 - Chợ Chu - Quán Vuông - Khuôn Ngàn nối đường 3 lên căn cứ an toàn Đèo Khế.
Hướng tuyến phía Nam từ Nghệ An - Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III ra Hòa Bình dài trên 320km cũng đã phải huy động tới 2,6 vạn dân công với khoảng 2,6 triệu ngày công làm đường và bảo đảm giao thông cho các loại xe thô sơ, xe thồ vận chuyển lương thực, thực phẩm ra chiến trường.. Riêng Thanh Hóa tập trung 13.564 dân công và 6.320 thanh niên xung phong của Khu làm đường 15A đoạn Hồi Xuân - Mục Sơn, Mục Sơn - Đồng Trầu dài 114km. Nhân dân vùng đồng bằng Liên khu III từ Nho Quan và các vùng Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nô nức đi dân công vận chuyển lương thực, thực phẩm lên Hòa Bình và tiếp tục về chiến trường Điện Biên Phủ.
Hướng tuyến Đông - Tây từ Hòa Bình theo đường 6 (41), 42 đi Tuần Giáo - Điện Biên Phủ cũng được gấp rút xây dựng. Do lưu lượng phương tiện vận tải, xe kéo pháo, xe thồ, bộ đội, dân công đi lại trên tuyến chính quá đông, thường ùn tắc, nên phải mở thêm một số tuyến mới để: (a) Mở tuyến từ vùng sông Mã đi Mường Luân - Nà Sang vận chuyển gạo của dân công Thanh Hóa lên phục vụ cho các đơn vị tác chiến ở phía Nam Điện Biên Phủ; (b) Mở đường cho vận tải thô sơ theo đường mòn vượt núi qua Khẩu Hu, Cò Chảy ở phía Bắc Điện Biên Phủ để tập kết gạo, đạn cho các đơn vị tác chiến ở mũi phía Bắc và phía Tây Điện Biên Phủ; (c) Mở tuyến vận chuyển từ Ba Nậm, Cúm qua Lai Châu đi Bản Tấu. Tổng chiều dài luồng tuyến vận tải cho chiến dịch Điện Biên Phủ lên tới 3.500 km. (Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền, Tạp chí Điện tử Giao thông Vận tải - Thứ sáu, 25/05/2018, 06:18).
Trong bài “Góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ” Mai Luận viết: Theo lịch sử Đảng bộ quân sự tỉnh, Thanh Hóa đã huy động 34.177.235 ngày công làm đường và tiếp vận, phục vụ năm chiến dịch lớn: Trung Du, Quang Trung, Hòa Bình, Thượng Lào và Điện Biên Phủ; huy động lương thực, thực phẩm đáp ứng 70% nhu cầu chiến dịch; động viên 56.792 thanh niên vào bộ đội bổ sung cho các chiến trường, 6.321 thanh niên xung phong. Riêng năm 1953 và sáu tháng đầu năm 1954 Thanh Hóa có 28.890 thanh niên nhập ngũ, bằng tổng tuyển quân giai đoạn 1946-1952.
Các tài liệu tổng kết chiến tranh và quân sự cho thấy, chỉ riêng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã huy động 102.254 ngày công dài hạn, 76.670 ngày công ngắn hạn phục vụ chiến dịch. Ngoài ra Thanh Hóa đã huy động hơn 10 nghìn xe đạp thồ, 1.126 thuyền gỗ, 31 ô-tô, 180 xe bò, 42 ngựa, ba con voi thồ hàng và toàn tỉnh đã vận chuyển, cung ứng 50% khối lượng lương thực, 40% khối lượng thực phẩm cho cả chiến dịch. (Mai Luận, Báo Nhân Dân Điện tử - Thứ Tư, 08-05-2019, 18:09 Facebook Email Bản in +).
Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, thì quân Pháp đầu hàng. Trong thời gian chiến dịch, Pháp không có khả năng xoay chuyển tình thế nên đã đề nghị Mỹ cứu viện. Nhưng tổng thống Eisenhower đã quyết định quân Mỹ sẽ không đổ bộ vào Việt Nam. Sau 56 ngày đêm cố thủ, ngày 7 tháng 5 năm 1954, cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ 18.000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của QĐNDVN trong toàn bộ Kháng chiến chống Pháp.
Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954, ban đầu để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Nhưng, do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả, nên từ ngày 8 tháng 5, vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận. Sau 75 ngày đàm phán với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao dồn dập đằng sau các hoạt động công khai. Ngày 20/7/54, các bản Hiệp định đã soạn thảo xong. Ngày 21/7/54, Hội nghị họp phiên cuối cùng, Chủ tịch phiên họp là đại biểu Anh Anthony Eden, hỏi lại từng Phái đoàn xem có xác nhận không.
Các phái đoàn lần lượt tuyên bố xác nhận, ngoại trừ vài ý kiến dè dặt về một số điều khoản (Mên, Lào, Việt, Mỹ). Những ý kiến đó không làm thay đối các dự thảo Hiệp định. Hiệp định Genève chính thức ký kết ngày 21/7/1954. Ngày 9/10, QĐNDVN tiếp thu Hà Nội và trở thành thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hôm sau 10/10 Sư đoàn 308 Việt Minh tổ chức diển binh. Ngày 15/10/54, Hồ Chí Minh về Hà Nội. Ngày 30/10/54, tiền Bảo Đại không được tiêu dùng ở Hà Nội nữa.
Sydney ngày 14 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.228 chữ)
Hết Chương X gồm 30 bài: 209 - 238.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét