CHƯƠNG 1:
(54 trang và 35.186 chữ)
A. LỊCH SỬ THẾ GIỚI.
Lịch sử thế giới ghi nhận Con Người có thể đã sống trên hành tinh “trái đất” khoảng 2 triệu rưởi năm nay. Trong những ngày đầu các tộc người lập thành những cộng đồng nhỏ sống rải rác trên nhiều nơi của thế giới. Con người bắt đầu sử dụng chữ viết khoảng 5.500 năm gần đây thôi. Thời kỳ trước đó người ta gọi là thời “tiền sử”. Các nhà khảo cổ học xây dựng câu chuyện về thời tiền sử bằng cách nghiên cứu tất cả cái gì con người trước đó để lại, gồm các dụng cụ, công trình nghệ thụât, các mảnh vụn từ công trình xây dựng, các bộ xương hoá thạch, và ngay cả các bộ xương khô. Các vật thể này, đã cung cấp những bằng chứng rõ ràng về cái gì liên quan đến người tiền sử.
Dấu vết về chữ viết đầu tiên được ghi nhận khoảng 3500 năm Trước công nguyên (TCN). Sau đó, người ta ghi nhận thêm từng thời kỳ lịch sử của riêng họ. Bằng chữ viết, và các kinh nghiệm của mình, họ có thể nói cho tương lai về cái gì họ mong muốn có, và họ đã sống như thế nào. Từ những tài liệu này, chúng ta có thể biết về các nền văn minh ban đầu sự ra đời, suy sụp, cùng với nhiều sự kiện quan trọng khác. Lịch sử thế giới từ nền văn minh đầu tiên cho đến hiện tại, một phần lớn dựa trên cái gì được viết ra bởi con người qua các thời đại.
Sự ra đời của nông nền nghiệp khoảng 9000 năm TCN, đã đưa đến những thay đổi lớn lao trong đời sống xã hội. Người tiền sử biết làm nông nghiệp, sau khi họ phải đi từ nơi này đến nơi khác để tìm kiếm thức ăn có sẵn trong tự nhiên. Nhưng khi thức ăn có sẵn nầy trở nên khan hiếm, họ mới định cư ở một nơi nào đó thuận lợi để làm nông nghiệp. Rồi, một vài nơi định cư phát triển thành thành phố. Người trong các thành phố có kỷ năng và hiểu biết mới, phát triển thành các nghề nghiệp đặc biệt. Một số trở thành người xây dựng, thợ thủ công, một số khác trở thành người buôn bán, thầy cúng, và cuối cùng hệ thống chữ viết xuất hiện.
Trải qua hàng trăm ngàn năm, nền văn minh đầu tiên không, hoặc ít giao tiếp với bên ngoài, và vì thế nó phát triển hoàn toàn độc lập. Sự tiến hoá của mỗi nền văn minh phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên tại chỗ, và sự khám phá sáng tạo của con người. Các nền văn minh tiến bộ bắt đầu mở rộng, và dân số cũng gia tăng. Rồi người ta cũng bắt đầu trao đổi tư tưởng, và kỷ năng giữa các nền văn minh với nhau. Trong một nền văn minh, các nhóm người khác nhau về tập quán, ngôn ngữ cũng xuất hiện. Một số nhóm người như sắc tộc Romans, dựa vào sức mạnh có được đi thâu tóm quyền lực trên các người còn lại, thành lập quốc gia “đế quốc rộng lớn”.
Vài nước đế quốc trong bọn họ làm giàu cho quốc gia mình trước khi sụp đổ. Tôn giáo, sau đó là các học giả, và khoa học phát triển như những con người kỳ diệu, xuất chúng. Còn ý nghĩa về cuộc đời của con người, và về thế giới tự nhiên thì được xem như một điều gì đó "huyền bí".
Khoảng 500 năm gần đây, một nền văn minh tiên tiến phát triển ở Châu Âu. Nó làm cho lục địa nầy khởi sắc, tạo ra sự tiến bộ vượt bậc về kiến thức, nghệ thuật, khoa học, và kỷ thuật. Một số quốc gia Châu Âu đưa các nhà thám hiểm, và quân đội đến các vùng đất xa xôi lập ra các thuộc địa tại hải ngoại. Đầu tiên là ở Châu Mỹ, sau đó là các lục địa khác Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương. Và, kết quả là tập quán, kỷ năng, tư tưởng, chính trị, niềm tin tôn giáo phương Tây được truyền bá ra khắp trên thế giới. Hệ thống truyền thông, và các phương tiện vận chuyển xuyên lục địa, đã giúp trao đổi thông tin, tư tưởng, chính kiến giữa người và người trên các lục địa một cách nhanh chóng.
Có thể nói, con người hiện phải sống phụ thuộc vào nhau ngày càng nhiều. Ngay cả những vùng xa xôi, họ cũng bị chi phối bởi các thay đổi về kinh tế, và chính trị từ một nơi khác. Trong một vài trường hợp, hầu hết mỗi người chúng ta có thể phải chịu ảnh hưởng từ một cuộc chiến tranh, một cuộc khủng hoảng chính trị, hay bởi cả sự tăng giá dầu lửa, từ các quốc gia sản xuất nhiên liệu ở tận Trung Đông. Hiện nay các nền văn hoá riêng, có vẽ như được hoà nhập vào một nền văn hoá chung của thế giới. Câu chuyện về các nền văn minh khác nhau trên thế giới, trong từng thời kỳ lịch sử, đã trở thành các chuyện kể gần gủi với nhau hơn.
II. Các nền văn minh sơ khai (3.500 – 1.200 TCN)
1. Vài nét về các nền văn minh sơ khai.
Hàng trăm ngàn năm người tiền sử sống bằng “hái lượm và săn bắt” cỏ cây, thú vật hoang dã có sẵn trong tự nhiên. Từng nhóm nhỏ, họ phải đi từ nơi này đến nơi khác trên các vùng rộng lớn để tìm kiếm thức ăn và chỉ ở lại một nơi nào đó trong vài ngày hoặc vài tuần. Sáng kiến gieo trồng cây lương thực dần dần chấm dứt cách sống du cư của nhiều người. Sau đó, đàn ông, và đàn bà thời tiền sử học được cách trồng nhiều cây lương thực hơn, và bắt đầu chăn nuôi gia súc tại nhà. Chẳng bao lâu người tiền sử phải đi đây đi đó tìm kiếm thức ăn nầy sống ổn định, và họ có thể định cư trong các nơi gọi là làng mạc.
Nông nghiệp bắt đầu trong nhiều thời điểm, và nhiều vùng khác nhau của thế giới. Người Tây Á, nay gọi là Trung Đông gieo trồng ngũ cốc, nuôi dê, cừu và gia súc khoảng những năm 9000 Trước công nguyên (TCN). Tại Đông Á người ta biết cấy lúa nước khoảng năm 7000 TCN. Còn người Trung Mỹ biết gieo trồng ngũ cốc khoảng năm 6500 TCN. Việc sáng tạo ra cách gieo trồng ngũ cốc đã mở đường cho các nền văn minh phát triển. Người tiền sử trở thành người nông dân tốt, họ bắt đầu sản xuất được nhiều thực phẩm hơn, chẳng những đủ nuôi sống bản thân, mà còn nuôi sống thêm được nhiều người.
Việc cung cấp đầy đủ thực phẩm, khiến người ta ngày càng nhiều rời bỏ nghề nông để làm các công việc khác. Một số trở thành người xây dựng, thợ thủ công, mỹ nghệ, một số khác trở thành người buôn bán, thầy cúng, khiến đời sống con người thoát khỏi lối sống hoang dã. Nông nghiệp thúc đẩy phát triển kỷ thuật, và thay đổi cách sống của xã hội. Họ sáng chế ra cuốc, liềm, cùng với các dụng cụ khác giúp việc gieo trồng, canh tác nông nghiệp dễ dàng hơn. Lông gia súc, và sợi từ các cây trồng như bông, lanh được sử dụng dệt ra các tấm vải đầu tiên. Người ta xây lò nướng bánh mì, chế biến từ các hạt ngũ cốc. Và họ cũng biết sử dụng các lò đất nóng hơn để nung đồ gốm.
Nông nghiệp mở rộng, đòi hỏi nhiều người phải làm việc chung với nhau trên các cánh đồng lớn, từ việc gieo trồng đến thu hoạch. Một hệ thống "cai quản" được hình thành để chỉ đạo các hoạt động tập thể nầy. Các sự thay đổi đưa lại từ nông nghiệp, trải qua hàng ngàn năm lan rộng xuyên qua các lục địa. Khoảng 3500 TCN, nền văn minh đầu tiên của nhân lọai xuất hiện tại Tây Nam Á. Ba nền văn minh khác ra đời tại Bắc Phi, Nam Á, và Đông Á. Tất cả các nền văn minh ban sơ này đều ra đời ở lưu vực sông nơi có đất màu mở, có nguồn nước cung cấp cho việc sản xuất nông nghiệp.
Đó là các lưu vực sông Tigris-Euphrates ở Trung Đông, lưu vực sông Nile ở Ai Cập, lưu vực sông Indus ở Pakistan, và lưu vực sông Huang He ở Trung Quốc. Trong khi bốn nền văn minh này phát triển, thì hầu hết các phần còn lại của thế giới, người ra vẫn tiếp tục theo nếp sống cổ truyền. Có một chút tiến hoá mới xuất hiện ở Bắc và Trung Âu, Trung Phi, Nam Phi, Bắc Á và Đông Nam Á, và nhiều nơi tại Bắc Mỹ và Trung Mỹ. Tại những nơi này, người ra đang bắt đầu một vài cách sống mới, nhưng tiến đến một nền văn minh thì vẫn chưa xuất hiện cho đến nhiều trăm năm sau.
2. Văn minh lưu vực sông Tigris - Euphrates.
Một trong những vùng đất màu mỡ nhất của thế giới cổ nằm khoảng giữa sông Tigris và sông Euphrates phía Nam Mesopotamia (nay là Iraq). Đất có nhiều phù sa tạo thành bởi nước sông tràn ngập hàng năm, thích hợp cho việc gieo trồng ngũ cốc. Vào những năm 5000 TCN, tộc người Sumer định cư trong các làng ở phần thấp của lưu vực Tigris - Euphrates, nơi sau này phát triển thành văn minh Tigris - Euphrates. Người Sumer sống bằng trồng trọt, câu cá, và săn bắt gà, vịt, chim hoang dại trong các đầm lầy. Họ đào kênh, mương, lấy nước từ sông Tigris và sông Euphrates vào tưới tiêu cho đồng ruộng.
Khoảng 3500 TCN, một số làng nông nghiệp của người Sumer phát triển thành các thành phố nhỏ. Những thành phố này là điểm mốc đánh dấu của nền văn minh đầu tiên của thế giới. Một ít trong số đó phát triển thành “quốc gia-thành phố ” (City-States) khoảng năm 3200 TCN. Người Sumer phát minh ra một dạng chữ viết gồm các ký hiệu, tượng hình khắc vào đất nung. Và sau đó người ta đơn giản hoá thành hệ thống chữ viết "hình nêm" (cuneiform).
Các nhà khảo cổ đã tìm ra hàng ngàn tấm đất nung với nhiều ký hiệu chữ viết của người Sumer bao gồm lịch sử, luật pháp, thư từ, dữ kiện kinh tế, tín ngưỡng, văn học, các nghiên cứu về toán học, thiên văn, và y dược. Nó chỉ cho thấy trình độ phát triển cao của văn hóa Sumer. Người Sumer sử dụng gạch nung xây dựng cung điện, đền đài, tháp thờ, gọi là Ziggurats trong các thành phố. Họ tin rằng có "đấng tối cao" sống trên các nóc tháp thờ của họ. Thợ thủ công Sumer sản xuất nhiều đồ chơi, đồ trang sức bằng kim loại với kiểu dáng đẹp, đồ gốm trang trí, con dấu bằng đá khắc hình chữ nỗi. Họ cũng làm được cả dụng cụ âm nhạc.
Họ là người đầu tiên làm kính thuỷ tinh, và chế biến rượu bia. Hệ thống tính toán của người Sumer chia thành 60 đơn vị, trên cơ sở một vòng tròn 60 cấp độ, và 60 phút là 1 giờ. Các Quốc gia-thành phố Sumer không có chính quyền trung ương mạnh và quân đội thống nhất, nên thường có các cuộc đánh nhau giành quyền bính giữa bọn họ. Họ lại phải trải qua một thời kỳ luôn bị đe dọa bỡi nguời Semitic láng giềng, khiến lưu vực Tigris - Euphartes trở nên bất an. Giữa những năm 2300 TCN, vua Sargon thuộc bộ tộc Akkan xâm lược vùng đất của người Sumer. Sargon hợp nhất tất cả vùng Mesopotamia lập ra đế quốc đầu tiên của thế giới.
Văn minh Sumer hợp nhất với văn minh Akkan taọ thành nền văn hoá riêng của họ. Họ cai trị vùng này trên 100 năm, đến cuối những năm 2200 TCN, người xâm lăng từ phía đông, phía bắc chiếm Mesopotamia. Không bao lâu sau đó người xâm lăng này rời khỏi vùng chiếm cứ. Người Sumer, và người Akkan tái lập các Quốc gia-thành phố của riêng họ. Khoảng năm 2000 TCN, người Sumer mất hết quyền cai trị vào tay tộc người Semitic. Mesopotamia sau đó bị chia thành các vương quốc nhỏ, dưới quyền cai trị của nhiều nhóm người Semitic khác nhau. Thành phố Babylon trở thành thủ đô, và là trung tâm quyền lực của một vương quốc mạnh.
Babylon từng bước mở rộng vùng cai trị, cuối cùng thống lĩnh toàn bộ khu vực Mesopotamia. Đại đế Babylon là vua Hammurabi cai trị từ năm 1792 đến 1750 TCN. Kế thừa luật của người Sumer, và Akkan, vua Hammurabi ban hành các điều luật luật cụ thể. Bộ luật nổi tiếng của Hammurabi gần 300 điều khoản luật bao trùm lên nhiều vấn đề trong quan hệ xã hội, như tội lừa đảo, trộm cắp, các quy định về kinh doanh, đất đai, phục vụ quân đội, và ly dị.
3. Văn minh lưu vực sông Nile.
Bắc Phi cũng là một trong các vùng đất phì nhiêu của thế giới. Nhờ nước sông Nile chảy qua hàng năm, bùn non đọng lại trên mặt đất rất thuận lợi cho việc trồng trọt. Nền văn minh Cổ Ai Cập (Egypt) ra đời tại đây. Nhưng về phía nam là một vùng sa mạc khô cằn, nên sự phát triển nông nghiệp ở Ai Cập ít nhiều có sự đe doạ xâm lăng từ những người láng giềng. Những năm 3000 TCN, Ai Cập có hai vương quốc lớn là Ai Cập Hạ và Ai Cập Thượng. Ai Cập Hạ ở vùng châu thổ sông Nile, còn Ai Cập Thượng ở phía Nam châu thổ trên hai bờ sông.
Theo chuyện kể khoảng năm 3100 TCN, vua Menes của Ai Cập Thượng xâm chiếm Ai Cập Hạ, thống nhất 2 vương quốc làm một. Menes là vị vua đầu tiên lập ra Triều đại người trong gia đình nhà vua được kế thừa cai trị đất nước. Vua Ai Cập thời Cổ đại được hiểu như là các vị con trời - thần thánh. Người Ai Cập Cổ đại rất ít vay mượn các nền văn hoá khác. Họ sáng tạo ra các kiểu chữ viết cho chính họ với các ký hiệu tinh vi, thường gọi là chữ "hình tượng" (hierogliphics). Họ cũng sáng chế ra giấy viết từ cây lau. Người Ai Cập cho ra đời tôn giáo đầu tiên, nhấn mạnh "đời sống sau khi chết".
Họ luôn củng cố niềm tin rằng, cái chết của họ sẽ được tìm thấy ở một đời sống khác tốt đẹp hơn từ bên kia thế giới. Người Ai Cập xây các nhà mồ lớn, ướp xác (munified), và bảo quản nó bằng cách sấy khô. Họ cho vào các nhà mồ quần áo, thực phẩm, vật dụng trong nhà, và đồ trang sức để người chết sử dụng ở thế giới bên kia. Nhà mồ nổi tiếng nhất của người Ai Cập là "Kim Tự Tháp", trong đó các Vua Ai Cập được an táng. Kim Tự Tháp là một công trình xây dựng tuyệt vời với kỷ thuật cao của người Ai Cập đương đại. Chính quyền huy động hàng ngàn công nhân xây dựng Kim Tự Tháp, đền đài, và dinh thự trong thành phố.
Các thành phố Ai Cập là trung tâm của chính quyền, và tôn giáo. Hầu hết người Ai Cập sống trong các làng quê bao quanh và gần thành phố. Trên một thời gian dài với quân đội mạnh, Ai Cập đi xâm lược, mở rộng vương quốc tới các vùng xa bên ngoài lưu vực sông Nile. Tại đỉnh cao của nó, trong những năm 1400 TCN đường biên giới của Ai Cập bao gồm cả Syria, Lebanon, Palestine và một phần Sudan. Phát triển thương mại đường xa có vai trò quan trọng đặc biệt. Như một quốc gia hùng mạnh, Ai Cập liên kết được với Châu Á và phía nam Châu Phi. Hàng đoàn tàu thuyền chở hàng hoá đi khắp các vùng rộng lớn xung quanh vương quốc.
Tàu buôn Ai cập đến được tất cả các hải cảng chính của thế giới cổ đại. Thông qua việc buôn bán với các vùng đất khác nhau, Ai Cập có đủ vàng, bạc, đá quý, ngà voi, da thú, gỗ tốt và nhiều vật liệu quý hiếm, những thứ họ sử dụng để sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thụât có giá trị cao của thời Cổ đại. Mặc dù Ai Cập thời Cổ đại có tiếp xúc với nền văn hoá khác, cách sống của họ thay đổi rất ít trong hàng ngàn năm. Nền văn minh Ai Cập bắt đầu giảm sút, từ những năm 1200 và 1100 TCN, Ai Cập thường bị tấn công bởi những người đi biển trang bị hùng hậu, vủ khí tối tân hơn có lẽ từ các đảo trên biển Aegean, hoặc từ các vùng đất dọc theo phía đông bờ Địa Trung Hải.
4. Văn minh lưu vực sông Indus.
Các nhà sử học có chuyển dịch một phần chữ viết của nền văn minh cổ lưu vực sông Indus, và các vùng phụ thuộc của nó để lại. Và kết quả, họ hoàn toàn đồng ý về các thông tin mà nhiều nhà khảo cổ học đã tìm thấy liên quan đến nền văn hoá Indus. Những di vật trong hai thành phố lớn Mohenjo-Daro, và Harappa là những bằng chứng cụ thể về nền văn minh Indus. Hơn nữa, hàng trăm khu vực định cư nhỏ được khai quật cho thấy rằng, một số khu vực định cư là làng nông nghiệp, một số khác là các bến cảng và địa điểm trao đổi hàng hoá. Thành phố Mohenjo-Daro, và Harappa mỗi thành phố có hơn 35.000 cư dân tại thời điểm 2500 TCN.
Cư dân tại lưu vực Indus, có hệ thống phát triển nông nghiệp khá tốt. Họ đào kênh, mương rãnh đưa nước vào tưới tiêu đồng ruộng. Thành phố ở Indus được xây bằng gạch nung, và đường sá thiết kế theo hình chữ nhật. Hệ thống cống rãnh phục vụ thị trấn, xây cất kiên cố và khéo léo. Thợ thủ công làm được vật dụng trang trí nội thất, đồ trang sức đẹp, đồ chơi và các tảng đá chạm trổ hình người, vật khá công phu. Họ cũng làm được nhiều vật dụng bằng kim loại. Tất cả các dấu ấn đậm nét này, cùng với đồ gốm, chữ viết và một số đối tượng vật thể khác, là những dấu vết của nền văn minh Indus cho đến ngày nay.
Các nhà khảo cổ đã khám phá kích thước, tiêu chuẩn của các viên gạch nung và sự đồng nhất về cân đo, đong, đếm gần như được sử dụng rộng khắp trong lưu vực. Nhiều khu vực định cư ở đây có buôn bán với các vùng khác, và có giao lưu văn hoá với bên ngoài. Dấu vết in khắc trên hàng hoá từ lưu vực sông Indus, được tìm thấy ở nhiều nơi xa khác như Mesopotamia chẳng hạn. Người Indus có thể có buôn bán với người Trung Á, Nam Ấn Độ, và với Persia (nay là Iran). Giữa năm 2000 và 1750 TCN, văn minh Indus bắt đầu suy tàn. Các học giả cũng không biết nguyên nhân nào quá trình này lại xẩy ra.
Có thể sự thay đổi hình dạng con sông đã phá huỷ nền nông nghiệp, là kinh tế chính của vùng. Cũng có thể việc sử dụng đất dọc theo hai bên bờ sông làm hư hại môi trường, dẫn đến sản xuất nông nghiệp giảm sút trên toàn vùng. Vào khoảng 1700 TCN, nền văn minh Indus biến mất.
5. Văn minh lưu vực sông Hoàng Hồ (Huang he).
Khoảng năm 1700 TCN, triều đại nhà Thương (Shang) của Trung Quốc xuất hiện ở lưu vực sông Hoàng Hồ. Một số lớn chữ viết từ triều đại này còn tồn tại, nó được in khắc trên xương động vật và mai rùa gọi là "xương thờ" (oracle bones). Người ta sử dụng "xương thờ" trong các lễ lạc tôn giáo, như một sự giải đoán về tương lai. Chẳng hạn, một câu hỏi viết ra trên "xương thờ", hỏi một vấn đề gì đó, bằng cách dùi các lỗ nhỏ, hoặc khoét rãnh trên xương. Sau đó, xương được hơ nóng cho đến khi vết nứt hiện ra từ lổ, hoặc rãnh ấy. Nghiên cứu hình dáng của vết nứt, một thầy cúng (priest) nhận ra, biết được điều gì sắp đến, và trả lời cho người đặt câu hỏi.
Hàng ngàn xương thờ tìm thấy tại đây, cung cấp nhiều thông tin liên quan đến người Trung Quốc cổ đại đã sống như thế nào. Xương thờ ghi nhận các sự kiện thiên văn về nhật thực, nguyệt thực, các triều đại như tên, và ngày của người cai trị. Hệ thống chữ viết dưới triều nhà Thương có hơn 3000 ký hiệu. Một số ký hiệu chữ trên xương thờ, được sử dụng trong ngôn ngữ Trung Quốc ngày nay. Dấu vết còn lại trong các thành phố dưới triều đại nhà Thương, hầu hết nhà cửa làm bằng đất bùn, và gỗ nên đã vỡ vụn theo thời gian. Tuy nhiên, từ những vật chứng còn sót lại và những mảnh vụn, cũng chỉ cho người ta biết có một số thành phố lớn được xây dựng trong thời kỳ này.
Người Trung Quốc dưới thời Thương khéo tay. Họ vẽ vào cốc chén các hình vẽ tuyệt đẹp, khắc chạm trên đá hoa cương, các đường nét chạm trỗ có giá trị nghệ thụât cao. Họ thờ nhiều thần, và có sự ràng buộc lớn lao với họ hàng, thân tộc. Họ thờ cúng thần linh, và linh hồn người chết là tổ tiên họ. Họ tin tưởng rằng, tổ tiên có thể thay mặt họ cầu xin các thần linh ban phước lành cho họ. Người Trung Quốc được cai trị bởi một ông vua, chức vua được kế thừa bởi giai cấp quý tộc. Vua, và giai cấp quý tộc thực hiện các nghi lễ tôn giáo, cùng với nhiệm vụ chính trị. Trong các nghi thức tôn giáo quan trọng, vua là người duy nhất đứng ở cương vị chủ bái.
Tổ chức quân đội dưới triều đại nhà Thương khoảng 5000 người, tự sản xuất khí giới trang bị, và ngựa được sử dụng trong các trận chiến. Quân đội được sử dụng như một phương tiện để nhà vua kiểm soát toàn vùng cai trị. Triều đại Thương tồn tại khoảng 600 năm.
III. Các nền văn minh cao hơn (1200 TCN - 500 SCN).
1. Vài nét về nền văn minh cao hơn.
Từ khoảng 1200 TCN đến 500 Sau công nguyên (SCN), vùng Mesopotamia, và Egypt chịu ảnh hưởng ngày càng tăng, bởi một nền văn minh mới từ lưu vực vùng Địa Trung Hải (Mediterranean). Người Greek, và Phoenic hoạt động thương mại khắp vùng Địa Trung Hải. Ý hướng của họ là khuyến khích người ta phát triển, tạo ra sự hưng thịnh cho xã hội. Từ những năm 700 đến những năm 200 TCN, người Hy Lạp (Greek) liên kết với người Phoenic duy trì sự độc lập tương quan trong vùng. Những năm 200 TCN, người La Mã (Roman), đánh chiếm toàn bộ lưu vực Địa Trung Hải, nhiều nơi ở Châu Âu lập ra đế quốc La Mã.
Người La Mã biết kết hợp triết học, nghệ thụât, khoa học của người Hy Lạp, cùng với tiến bộ của La Mã tạo ra các giá trị mới cao hơn, được sử dụng như là nền văn minh Châu Âu sau này. Từ các nền văn minh trước, người ta tập hợp lại dưới hình thức phổ quát hơn. Chẳng hạn, những năm 500 SCN nó chỉ cho người ta thấy cách luyện kim như thế nào. Việc mở rộng kiến thức theo cách đó, cùng với việc trao đổi thương mại, xâm lược, và nhập cư nó làm cho sự giao lưu văn hoá giữa các phần đất khác nhau của thế giới thuận lợi hơn. Thương buôn mang sản phẩm của một nền văn hoá nầy tới một nền văn hoá khác.
Quân sĩ đi xâm lược, chiếm đất rồi định cư. Họ mang vào đây các cách sống của họ. Người nhập cư vào vùng đất mới cũng mang theo tập quán, tư tưởng, kỷ năng từ quê hương họ. Kết quả là người nhập cư đã phá hỏng các quốc gia (States) cũ và lập ra các quốc gia mới.
2. Văn minh Trung Đông.
Từ năm 1200 TCN, người Châu Âu và người Semitic đánh nhau để tranh giành quyền lực ở Trung Đông. Môt tộc người Semitic là Hebrew chiếm Palestine, lập ra vương quốc Hebrew. Vương triều Hebrew khuyên người ta chỉ tin vào một thần duy nhất, là niềm tin Hebrew, còn gọi là Do Thái giáo. Thiên chúa giáo (Christianity), và Hồi giáo (Islam) là hai tôn giáo có nhiều người theo khắp thế giới, đều phát triển từ Do Thái giáo. Trong những năm 700 TCN, người Assyria từ phía bắc Mesopotamia xâm chiếm nhiều vùng ở Trung Đông. Hai thành phố Nineveh, và Assur phía trên sông Tigris trở thành trung tâm chính trị của họ.
Người Assyria là một tộc người hiếu chiến, thô bạo, xử sự tàn ác với người thù địch. Họ cai trị các vùng bị chiếm bởi người Assyria hung dữ, thừa lệnh từ trung tâm quyền lực Nineveh. Năm 612 TCN, người Babylon kết hợp với người bán đảo Châu Âu đánh chiếm Nineveh. Đế quốc Assyria chấm dứt quyền lực. Người Mendes lập ra vương quốc phía Bắc Mesopotamia gọi là Media. Phía Nam Mesopotamia là quốc gia mới Babylon, đang hình thành dưới sự cai trị của Nebuchadnezzar II. Babylon trở thành một thành phố quan trọng của thế giới thời Cổ đại. Nebuchadnezzar xây dựng nhiều cảnh quang đi vào lịch sử trở thành một trong bảy kỳ quan của thế giới.
Khoảng 550 TCN, người Persia (Ba Tư) dưới sự lãnh đạo của Đại đế Cyrus, đánh chiếm vương quốc Mendes, thành lập đế quốc Persia. Cyrus tiến hành xâm lăng Babylon, Palestine, Syria, và nhiều vùng phụ cận Châu Á. Con trai Cyrus là Cambyses chiếm Ai Cập năm 525 TCN. Đế quốc Persia xây dựng đường sá đến tận các nơi xa xôi trong vùng cai trị. Họ chia đế quốc thành nhiều tỉnh, mỗi tỉnh do một viên chức Persia cầm đầu. Người Persia cho phép cư dân trong vùng bị chiếm duy trì tập quán, tôn giáo của họ. Mặc dù có sự khác nhau về truyền thống, tập quán, lần đầu tiên Persia cho hợp nhất Mendes, Babylon, Jew, và Egypt làm một.
Người Phoenic, một bộ tộc sống dọc theo bờ biển Syria, Lebanon, và Israel (bây giờ) thuộc quyền cai trị của của Persia là những người buôn bán, và thám hiểm giỏi đã giúp truyền bá nền văn minh Persia đến những người sống dọc theo bờ biển Aegean nay là Thổ Nhĩ Kỳ. Người Phoenic còn sáng tạo ra chữ viết "alphabet", và trở thành nền tảng hệ thống chữ alphabet của Hy Lạp. Đế quốc Persia, tồn tại được hơn 200 năm.
3. Văn minh Hy Lạp.
Khởi đầu từ Crete, một hòn đảo trong vùng biển Aegean khoảng năm 3000 TCN. Giới học giả gọi nền văn minh đầu tiên nầy là "Văn hoá đồ đồng" (Minoan). Văn minh đồ đồng tạo ra được các nghệ nhân kiến trúc, và hoạt động thương mại với kỷ năng tuyệt vời. Những năm 2000 TCN, họ xây dựng được các dinh thự lộng lẫy với nhiều sáng tạo ở thị trấn Knossos. Người Crete buôn bán với người Tây Á, Sicily và Hy Lạp. Con đường thương mại của họ cũng là con đường kết nối nền văn minh Tây Nam Á với đất liền Châu Âu. Văn hoá Minoan bắt đầu suy sụp năm 1450 TCN, khi gần như tất cả các thị trấn trên đảo Crete bị cháy rụi. Đến năm 1100 TCN, văn hoá Minoan biến mất.
Một nền văn hoá khác xuất hiện trên thành phố phía nam Mycenae, trung tâm đất liền của Hy Lạp. Từ những năm 1500 TCN, văn hoá Mycenae phát triển rực rỡ, trở thành trung tâm hàng đầu về văn hoá ,chính trị trên đất liền Hy Lạp. Văn hoá Mycenae suy tàn, rồi sụp đổ đầu những năm 1100 TCN, khi người du mục Doria từ phía bắc tiến vào Hy Lạp. Mặc dù bị suy tàn và biến mất, văn hoá Minoan, và Mycenae đã đóng góp nhiều cho nền văn minh Hy Lạp phát triển 300 năm sau đó. Văn minh Hy Lạp thực sự phát triển khoảng những năm 800 TCN. Thế vận hội đầu tiên cho các lực sĩ Hy Lạp thi đấu thể thao năm 776 TCN.
Người Hy Lạp định cư trong các cộng đồng độc lập gọi là "Quốc gia-Thành phố” (City-States). Giữa những năm 750 và 338 TCN, Athens, Corinth, Sparta, và Thebes đều là những thành phố-tự trị hùng mạnh. Các thành phố nầy không bao giờ có thể chế chính trị hợp nhất, và dân cư thì được chia thành các nhóm khác nhau. Tuy nhiên, người Hy Lạp có sự ràng buộc với nhau về một nền văn hoá, và ngôn ngữ chung. Họ đề cao tự do cá nhân, nhấn mạnh quyền phê bình, quyền muốn hiểu biết và quyền có sự khác nhau. Họ suy nghỉ sâu sắc các vấn đề của đời sống như: Hạnh phúc là gì? Cái đẹp là gì? Chân lý là gì? Các nhà triết học ra sức tìm tòi, nghiên cứu, suy nghĩ để có lời giải đáp thỏa đáng cho các vấn đề trên.
Chính quyền Cộng hoà đầu tiên được thành lập trong hầu hết các Quốc gia-thành phố Hy Lạp. Không có nô lệ, không có phụ nữ đầu phiếu, nhưng có nhiều dân thường đảm trách các phần vụ trong chính quyền Hy Lạp hơn bất cứ nền văn minh nào trước đó. Văn hóa Hy Lạp dần dần lan truyền đến các vùng đất khác. Người Hy Lạp lập nhiều thị trấn, trạm buôn ở Sicily và Thổ Nhĩ Kỳ. Cư dân Hy Lạp cũng đến định cư nhiều nơi xa xôi, bây giờ là Bồ Đào Nha, Pháp, Libya và Ấn Độ. Họ làm nhiều việc khác nhau thợ thủ công, giáo viên, và cả viên chức trong chính quyền hải ngoại. Từ những năm 500 đến 479 TCN, Hy Lạp gặp khó khăn vì phải đương đầu với quân xâm lăng Persia.
Sau đó văn minh Hy Lạp đi vào thời kỳ vàng son của nó. Nhiều công trình kiến trúc và các tuyệt tác đủ loại xuất hiện. Văn chương, kinh nghệ, lịch sử, và triết học phát triển rực rở. Các nhà khoa học Hy Lạp cho ra đời nhiều phát kiến mới trong các lĩnh vực toán học, y học, sinh học, thực vật, động vật học. Thành phố Athens là thành phố năng động nhất, nó trở thành trung tâm văn hoá tiêu biểu của thế giới Hy Lạp Cổ đại. Các thành tựu, và sự lớn mạnh của Athens đã là mối ganh tị của nhiều thành phố khác, dẫn tới một cuộc chiến tranh cay đắng từ năm 413 đến 404 TCN.
Athens thua trận, Liên minh các thành phố chiến thắng, nhưng không bao lâu sau đó mối bất hoà giữa họ lại bắt đầu, và quyền lực Hy Lạp suy yếu. Năm 338 TCN, vua Philip II của Mecedonia xâm lăng các thành phố Hy Lạp. Con trai của ông ta, Alexander kế vị năm 336 TCN cho đến khi ông ta chết năm 323 TCN. Trong 13 năm cai trị, Alexender đã đi xâm lược, mở rộng đế quốc của ông ta lên trên ba vùng văn minh khác của thế giới: từ Ai Cập xuyên qua Tigris - Euphrate đến Indus. Alexander truyền bá tư tưởng, và cổ vũ lối sống Hy Lạp trên các phần đất do ông ta cai trị.
Nhưng chẳng bao lâu sau khi ông ta chết, vùng thống trị rộng lớn ấy bị chia thành nhiều khu vực nhỏ giữa các vị tướng của ông ta. Vương triều Hellene từ lưu vực Địa Trung Hải nhanh chóng khôi phục Tây Nam Á, Bắc Phi (Ai Cập) đạt tới đỉnh cao gọi là thời đại Hellenism (văn hoá Cổ Hy Lạp). Triều đại Hellene kéo dài đến năm 146 TCN, thì bị người La Mã (Romans) đánh chiếm. Ai Cập là cứ điểm cuối cùng của vương triều Hellene bị thất thủ, và rơi vào tay La Mã năm 30 TCN.
4. Văn minh La Mã.
Từ những năm 500 TCN, các nhà buôn và người định cư Hy Lạp đến lập nghiệp nhiều nơi ở Ý Đại Lợi (Italy), và Sicity. Họ mang văn hoá Hy Lạp giới thiệu với những người sống chung với họ, mà hầu hết những người ấy đều là con cháu của người định cư từ bán đảo Châu Âu, như người Etruscan, và Roman. Người Etruscan định cư phía tây, và miền trung Ý Đại Lợi từ những năm 800 TCN có chính quyền khá ổn định. Một trong các thành phố người Roman chiếm có đa số, nhưng lại bị cai trị bởi người Etruscan. Năm 509 TCN, là người Roman đứng lên làm bạo loạn, tuyên bố thành phố Rome là một Quốc gia độc lập theo chế độ Cộng hoà.
Qua nhiều trăm năm Cộng hoà La Mã đi xâm lược, mở rộng vùng cai trị. Đến năm 290 TCN, La Mã kiểm soát hoàn toàn Ý Đại Lợi, trở thành quốc gia hùng mạnh vùng phía tây Địa Trung Hải. Giữa những năm 200 và 100 TCN, trong một loạt các trận đánh gọi là cuộc chiến Punic, La Mã đánh bại đối thủ chính trên vùng Phoenician nguyên thuộc địa của Carthage. Kết quả là Tây Ban Nha, và Sicily trở thành các tỉnh của Cọng hoà La Mã. La Mã tiếp tục tiến về phía đông Địa Trung Hải. Năm 148 TCN, La Mã đánh chiếm Macedonia lập thành tỉnh đầu tiên ở phía Đông. Hai năm sau đánh chiếm Hy Lạp. Trong năm 55 và 54 TCN tướng La Mã là Julius Caesar xâm lăng Anh Quốc.
Những cuộc xâm lược còn tiếp tục cho đến khi "Cộng hoà La Mã" lớn mạnh thành một đế quốc khổng lồ. Tại đỉnh cao của nó là năm 117 SCN, đế quốc La Mã chiếm hơn một nữa Châu Âu, nhiều vùng ở Tây Nam Á, và toàn bộ bờ Bắc Châu Phi. Và, tất cả các phần đất của Hy Lạp thời Hellene đều nằm dưới sự thống trị của đế quốc La Mã. La Mã phỏng theo nghệ thuật, văn học Hy Lạp, sử dụng kiến thức khoa học, và dùng kiến trúc hiện đại của Hy Lạp làm nền tảng. Đế quốc La Mã dạy cư dân trên phần đất cai trị của mình nói tiếng Hy Lạp. Bằng mô phỏng kiến thức Hy Lạp, La Mã bảo tồn và phát triển thêm nhiều tiến bộ trên nền văn minh Hy Lạp. Nếu không được La Mã làm thế, văn hoá Hy Lạp có thể cũng bị để lại đằng sau như bao nền văn minh khác.
Tất nhiên, người La Mã đến lược họ, họ cũng có những thành tựu của riêng họ, xứng đáng với tên gọi "văn minh La Mã". Họ sản sinh ra những kỷ sư tuyệt vời, người đã xây dựng vô số kênh đào, cầu cống, nhiều hệ thống đường sá rộng khắp, các nhà vòm chắc chắn, hiện đại. La Mã đã phát triển một số hệ thống luật pháp với nhiều điều khoản hết sức tinh tế. Luật La Mã hiện còn được nhiều nước ở Châu Âu, Châu Mỹ và cả Châu Á, Châu Phi dùng làm cơ sở cho các điều khoản luật dân sự của họ. Nhiều nguyên tắc luật được sử dụng như một phần trong Lụât toà án (Common Law) của luật Anh, luật Mỹ và luật Úc. Chữ La tinh, ngôn ngữ La Mã trở thành nền tảng của tiếng Pháp, Ý, Tây Ban Nha và các ngôn ngữ hệ La tinh khác.
La Mã vượt trội về nghệ thụât cầm quyền. Một trong những thành tựu quan trọng nhất của đế quốc là đã đưa ra một "khung chính quyền" phù hợp cho nhiều người trong nhiều tập quán khác nhau. Họ rất tôn trọng tập quán địa phương và thành công của chính quyền, chính là biến ý muốn tốt đẹp của nhiều người trở thành hiện thực. Chính quyền La Mã là một chính quyền Cộng hoà. Nhưng từ năm 27 TCN, khi Augustus nắm quyền tối cao, La Mã trong thực tế đã trở thành một chế độ Quân chủ, cai trị bởi một ông Hoàng đế. Trong những năm 100 và 200 Sau công nguyên (SCN), La Mã bị đe doạ ngày càng nhiều bởi những người xâm lược chưa văn minh (Barbarians) từ cả hai phía Đông và Tây.
Kết quả là quân đội ngày càng lấn át quyền hành, và bắt đầu giữ vai trò chính trong việc lựa chọn các vị Hoàng đế La Mã. Một trong các vị Hoàng đế được quân đội trao quyền là Constantine Đại đế. Ông ta lên ngôi năm 306. Vì muốn thoát khỏi sức ép từ quân đội, năm 313 Constantine tìm sự hậu thuẩn nơi các Nhà thờ và tín đồ Christ bằng cách cho họ tự do hành đạo. Bản thân ông ta cũng theo đạo. Từ đó có sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà thờ Christ và đế quốc La Mã. Christ sinh ra năm Đầu Công nguyên (ĐCN) trong thời kỳ cầm quyền của Hoàng đế Augustus, và bị đóng đinh hành hình năm 30 SCN dưới thời cai trị của Hoàng đế Tiberius.
Năm 335, sau khi Constantine chết, các biến động bất ổn lại nổi lên và kéo dài. Năm 379, Hoàng đế Gratian bổ nhiệm Theodosius làm Phó vương trông coi các tỉnh phía Đông La Mã. Năm 392, những người không tin Christ làm bạo loạn chiếm vài tỉnh phía Tây La Mã. Từ phía Đông Theodosius đưa quân về dập tắt bạo lọan năm 394, rồi nắm quyền cai trị tòan bộ đế quốc. Ngay sau đó ông ta tuyên bố "Thiên chúa giáo" là tôn giáo chính, và cấm tất cả những người không theo Thiên chúa hoạt động trong đế quốc La Mã. Với việc làm này, Theodosius trở thành một tín đồ Thiên chúa vĩ đại.
Tuy nhiên, ông ta là một nhà cai trị thiển cận, chính ông ta đã làm suy yếu đế quốc bởi việc tạo ra nhiều công việc trong chính quyền, và bằng cách gia tăng thuế khoá. Theodosius chết năm 395, để lại di chúc chia lãnh thổ đế quốc cho hai con trai của ông ta là Honorius, và Arcadius. Từ đó (năm 395), La Mã bị tách đôi thành đế quốc Tây La Mã, và đế quốc Đông La Mã. Chẳng bao lâu đế quốc Tây La Mã rơi vào tay những người xâm lăng Đức. Còn đế quốc Đông La Mã trở thành đế quốc Byzantine, duy trì quyền lực được nhiều trăm năm.
5. Văn minh Ấn Độ.
Khoảng năm 1500 TCN, người Aryans từ bán đảo châu Âu vào định cư ở Ấn Độ. Từ đồng bằng miền Trung họ băng qua núi tới Hindu Kush đến những năm 1000 TCN, họ chiếm hầu hết lưu vực Thượng sông Ganges, phía Bắc Ấn Độ. Văn hoá Aryan ảnh hưởng lên nền văn hoá Ấn Độ. Tiếng Phạn (Sanskrit) ngôn ngữ nói của người Aryans là nền tảng của ngôn ngữ nói ở Ấn Độ. Đạo Hindu, còn gọi là Ấn Độ giáo, có nguồn gốc niềm tin của người Aryans từ bán đảo Châu Âu. Người Aryans chia xã hội của họ thành bốn giai cấp chính, và nó trở thành một phần trong hệ thống đẳng cấp (Caste System) của xã hội Ấn Độ theo tứ tự (1) các tăng lữ và học giả, (2) các nhà cai trị và chỉ huy quân đội, (3) thương nhân và người chuyên môn, (4) dân lao động và người hầu hạ.
Tại các thời điểm khác nhau, vùng cư trú của người Aryans chia ra thành nhiều quốc gia (States) nhỏ. Một trong các quốc gia ấy có vị Thái tử tên Siddhartha Gautama, sinh khoảng năm 563 TCN. Gautama rời bỏ đời sống xa hoa trong cung điện đi tìm sự giải thoát nơi niềm tin tôn giáo. Ông ta trở thành một nhà truyền giáo lớn, và người theo ông ta thường được gọi là tín đồ Phật giáo (Buddha). Lời giảng của Gautama là nền tảng của đạo Phật, một trong các tôn giáo chính của thế giới. Gautama cho rằng sự vật vận động theo chu kỳ lập lại. Vị trí của con người và sự tốt đẹp trong đời sống của họ được xác lập bởi mối quan hệ trước đó.
Ví dụ, người có ý thức làm điều tốt sẽ tái sinh thành một người thông minh, giàu có. Ngược lại, người có hành vi độc ác, sẽ tái sinh ra người bệnh hoạn, nghèo nàn, ngay cả tái sinh vào địa ngục. Rằng, từng cá nhân con người đều phải nằm trong chu kỳ lập lại ấy, và họ không bao giờ thoát khỏi cảnh đau thương, bất hạnh. Chỉ có một cách là dứt bỏ bất cứ sự gắn bó, quyến luyến nào về sự giàu có vật chất. Giải thoát sự gắn bó, quyến luyến với vật chất, người ta có thể đạt tới một điều gì đó hoàn toàn về sự “an bình và hạnh phúc”.
Chandragupta Maurya người cai trị Ấn Độ khoảng 321 - 298 TCN, lần đầu tiên thống nhất các khu vực tự trị thành một Vương quốc Ấn Độ. Vương triều Maurya tồn tại trên dưới 140 năm (321 - 185 TCN), mở rộng vùng thống trị đến Bắc Ấn Độ, Tây Pakistan, và một phần Afghanistan. Đế quốc Maurya đạt tới đỉnh cao của nó dưới thời Hoàng đế Asoka trong những năm 200 TCN. Từ thủ đô Pataliputra phía Bắc Ấn Độ, Asoka kiểm soát hầu hết tiểu lục Ấn Độ, và một phần Trung Á. Asoka hậu thuẫn đạo Phật, từ đó đạo Phật được truyền bá rộng rãi và thăng hoa trong vùng cai trị của ông ta. Ông ra còn gởi nhiều sứ giả đạo Phật tới Seylon (nay là Sri-Lanka) và nhiều quốc gia khác truyền bá đạo Phật.
Các thành tựu của đế quốc Maurya được xem như là nền tảng văn minh của Ấn Độ, với nhiều công trình tưới tiêu ruộng đồng, làm tăng sản lượng nông phẩm lên nhiều lần. Thợ thủ công khéo tay làm ra vãi vóc, vàng bạc, nữ trang, sản phẩm từ gỗ. Nhà nước làm chủ các cơ sở sản xuất, thuê mướn công nhân làm nông nghiệp, khai thác rừng, và hầm mỏ. Tù nhân chiến tranh, tá điền bị bắt đi khai hoang các vùng đất mới để trồng trọt. Một hệ thống mật vụ, và giám sát của hoàng gia hoạt động khắp nơi, để bảo đảm rằng tất cả các viên chức, và công dân trong đế quốc đều phải tuân theo ý muốn của Hoàng đế.
Đế quốc Maurya giao thương với Ceylon, Greece, Malaysia, Mesopotamia, và Persia. Triều đại Maurya chấm dứt năm 185 TCN, bởi vụ ám sát vị Hoàng đế sau cùng của dòng họ Maurya. Hầu như 500 năm kế tiếp, Ấn Độ đi vào bất ổn, các lãnh chúa tự tung tự tác cai trị thần dân trong vùng kiểm soát của mình. Không một Lãnh chúa nào đủ mạnh để lập ra được một chính quyền trung ương cai trị toàn bộ đất nước.
Triều đại Gupta, một triều đại mới lên nắm quyền phía Bắc Ấn Độ năm 320 SCN. Gupta xuất thân từ một gia đình địa chủ giàu có cai trị Magadda, một vương quốc nhỏ ở lưu vực sông Ganges, lớn mạnh dần qua việc chiếm cứ nhiều vùng lân cận, từ đó bành trướng lảnh thổ về phía Tây và phía Nam. Triều đại Gupta tồn tại gần 200 năm, và là thời kỳ văn hoá Ấn Độ phát triển, được mô tả như một “thời vàng son” của sự an lạc, với chính quyền tốt, và đời sống văn hóa phong phú. Các thành phố xinh đẹp ra đời với các trường đại học tân lập. Văn chương, kịch nghệ thăng hoa. Các vị Hoàng đế Gupta đều là người theo đạo Hindu, nhưng đạo Phật cũng được tiếp tục phát triển dưới triều đại Gupta.
6. Văn minh Trung Quốc.
Khoảng năm 1122 TCN, nhà Chu (Zhou) lật đổ nhà Thương (Shang) lập ra vương triều Chu, cai trị Trung Quốc cho đến 256 TCN. Gần 1000 năm ở ngai vàng, các vua Chu ra sức truyền bá tư tưởng, rằng họ được Thượng đế (Heaven) chỉ định vào việc cai trị thần dân. Buổi đầu nhà Chu trực tiếp kiểm soát phần phía bắc Trung Quốc. Các phần còn lại quanh vùng vẫn duy trì tình trạng tự trị của họ. Các lãnh chúa tự trị ngày càng lớn mạnh, và quyền lực của nhà vua thì yếu dần. Năm 771 TCN, vua Chu bị buộc phải từ bỏ Thủ đô Xi’an chuyển về phía Đông là Luoyang. Từ đó, Trung Quốc lâm vào cảnh chiến tranh giữa các lãnh chúa kéo dài nhiều trăm năm, khiến đời sống cư dân lâm vào cảnh khốn cùng, xã hội thì rối loạn, nay còn mai mất.
Nổ lực cho một trật tự xã hội phục hồi, dẫn đến nhiều khuynh hướng triết học xuất hiện. Một trong số đó là nhà hiền triết Khổng Tử (Confucius). Triết học Khổng Tử nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo đức truyền thống, cùng với việc duy trì trật tự xã hội, trong đó mỗi người phải thực hiện các nghĩa vụ trong phạm vi đời sống của mình. Ông nói, người quân tử (gentlement) là mẫu người mà xã hội mong muốn có. Ông định nghĩa “người quân tử không phải là người được sinh ra trong gia đình quý tộc, mà là một người có phẩm chất đạo đức tốt, một người biết tôn thờ người đã khuất, tôn kính cha mẹ, và tôn trọng người cai trị mình”.
Đó là một con người tự tin, thực hiện đúng nguyên tắc trong quan hệ xử sự cả lời nói lẫn việc làm, rằng "điều gì mình không muốn làm cho chính mình, thì mình đừng làm cho người khác". Người quân tử là một người luôn học hỏi, thực hiện điều đã học, và tự mình đánh giá việc đã qua để cải tiến. Khổng tử sinh năm 551 và chết năm 479 TCN. Lúc sinh thời học thuyết của ông không được phổ biến rộng rãi. Nhưng từ năm 200 TCN cho đến những năm 1900 SCN, học thuyết của ông được xem như là học thuyết duy nhất, giữ vai trò quan trọng trong đời sống của người Trung Quốc. Ảnh hưởng của thuyết Khổng Tử cả trong giáo dục, chính quyền, và thái độ hướng tới cái đúng trong quan hệ sử sự.
Hậu quả việc tranh giành quyền bính, đất đai của các Lãnh chúa Phong kiến, khiến vương triều Chu đi từ yếu dần đến sụp đổ. Và, vương triều Tần (Ch' in) thay thế. Từ phía Bắc Trung Quốc, nhà Tần đánh chiếm tất cả các phần còn lại của Trung Quốc. Vương triều Tần là vương triều đầu tiên thống nhất được Trung Quốc, và cai trị bằng một chế độ Trung ương tập quyền. Tên Trung Quốc ngày nay là tên của triều đại nhà "Tần” (Ch'in). Vị hoàng đế đầu tiên của triều đại này là Tần Thủy Hoàng (Shi huang di). Triều Tần cai trị Trung Quốc chưa tới 20 năm, nhưng có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn minh Trung Quốc.
Ngoài việc thống nhất Trung Quốc lập ra chế độ Trung ương tập quyền mạnh, họ còn hệ thống hoá chữ viết Trung Quốc, tiêu chuẩn hoá việc cân đo, đong, đếm, xây dựng hệ thống tưới tiêu ruộng đồng. “Vạn lý trường thành”, di tích văn hoá nổi tiếng của thế giới cũng là kỳ công của vương triều Tần trong một nổ lực bảo vệ vương quốc từ sự xâm lăng của các bộ tộc du mục phía Bắc. Triều Tần bắt đầu nắm quyền lực năm 221 và chỉ kéo dài tới năm 206 TCN.
Vương triều kế tiếp là nhà Hán, cai trị Trung Quốc từ năm 207 TCN đến năm 220 SCN. Các vị Hoàng đế của nhà Hán đều xem học thuyết Khổng Tử như nền tảng để tổ chức chính quyền. Ứng viên dự tranh vào các chức vụ trong chính quyền phải trải qua một kỳ thi khảo nghiệm, trên cơ sở tư tưởng Khổng Tử. Nghệ thuật, giáo dục, và khoa học phát triển mạnh dưới triều Hán. Năm 01 SCN Trung Quốc sáng tạo ra giấy viết. Những năm 100 SCN, đạo Phật từ Ấn Độ được giới thiệu vào Trung Quốc. Nhà Hán mở rộng lãnh thổ về phía tây nam chiếm Tibet. Xua quân đánh chiếm Việt Nam, đánh chiếm Đại Hàn. Do tranh chấp quyền bính giữa các người lãnh đạo nhà Hán, dẫn đến việc triều đại sụp đổ năm 220 SCN. Bốn trăm năm tiếp đó, Trung Quốc lại bị chia cắt thành các khu vực tự trị kéo dài tới 400 năm.
IV. Thế giới từ năm 500 - 1500 SCN.
1. Vài nét về thế giới từ năm 500 - 1500 SCN.
Nhiều phần khác nhau của thế giới, dần dần tiến đến gần nhau hơn, thông qua các mối quan hệ giao lưu giữa vùng này với vùng khác trong thời gian từ năm 500 đến năm 1500. Trong thực tế từ buổi đầu một vài vùng đã có mối giao tiếp với vùng lân cận. Tuy nhiên, nhiều vùng trong đại thể vẫn còn duy trì sự độc lập của riêng họ từ lối sống, tập quán, lịch sử tiếp tục phát triển theo con đường phân ranh đó. Sự thay đổi xuất hiện ở khu vực nền văn minh cổ kéo dài hàng ngàn năm. Tại Tây Âu, một số quốc gia riêng lẽ cuối cùng trổi dậy từ sự bất ổn, kéo theo sự sụp đổ của đế quốc La Mã phía Tây. Phần phía Đông, đế quốc Byzantine tiếp tục tồn tại, và trở nên hưng thịnh.
Một tôn giáo mới, đạo Hồi (Islam) xuất hiện ở Ả Rập (Arab), nhanh chóng truyền bá sang các phần đất khác của thế giới. Trong khi đó, tại Ấn Độ sau triều đại Gupta, vở ra thành nhiều vương quốc riêng lẽ. Còn Trung Quốc thì tiếp tục bảo tồn lối sống "đặc trưng" dưới nhiều triều đại khác nhau đương thời. Lịch sử Châu Âu gọi thời kỳ giữa năm 500 và 1500 SCN là thời Trung cổ. Thời Trung cổ tạo ra cho người Châu Âu sau nầy một nhận thức, rằng đó là những năm tháng "ở giữa" nền văn minh Hy Lạp - La Mã Cổ đại, và nền văn minh mới của thời Hiện đại.
2. Tây Âu thời Trung Cổ.
Khoảng năm 400 SCN, người xâm lược Đức và người định cư từ phía Đông vào lập nghiệp trong phần đất đế quốc La Mã phía Tây. Năm 476, một thủ lãnh bộ tộc Đức tên Odoacer lật đổ Hoàng đế sau cùng của đế quốc La Mã phía Tây là Romulus Augustulus. Sau đó, Odoacer tách vương quốc của mình, các tỉnh phía Tây ra khỏi phía Đông, và thay thế toàn bộ hệ thống chính quyền do La Mã tạo ra. Văn hoá La Mã không bị phá huỷ hoàn toàn. Các nhà cai trị Đức thừa nhận một số tập quán La Mã và canh tân niềm tin Cơ đốc giáo. Nhà thờ Cơ đốc giáo (Christ) trở thành nơi giáo hoá cho người Đức. Hồi truyền giáo giảng dạy tư tưởng, công lý, và chính quyền.
Áp lực ngoại xâm từ nhiều phía, quân Arabs phía Nam, quân Vikings phía Bắc, quân Magyars, và Avars phía Đông luôn đe doạ sự an toàn của các vua Đức hàng trăm năm. Để giải quyết vấn đề, một hệ thống chính trị, và quân sự gọi là "chế độ Phong kiến" (Ferdalism) xuất hiện ở Tây Âu. Dưới chế độ này, các Lãnh chúa (Lords) có nhiều quyền hành nhất. Họ làm chủ đất đai, trao cho các quý tộc thấp hơn một ít, và đổi lại các quý tộc phải cam kết sẽ làm các nghĩa vụ đối với lãnh chúa. Quý tộc cấp dưới gọi là chư hầu, phải "thề nguyền" sẽ chiến đấu cho, và vì Lãnh chúa khi lãnh chúa cần đến họ.
Dưới lãnh chúa, chư hầu, là tá điền, người làm việc trên đất của lãnh chúa, hoặc chư hầu. Họ phải trả "địa tô" như là tiền thuê đất canh tác. Đến những năm 900, hầu hết khu vực Tây Âu là “các vùng tự trị” của Lãnh chúa Phong kiến. Lãnh chúa toàn quyền cai quản vùng lãnh thổ của họ. Các vua thời Trung cổ chỉ cai trị trên đất, và chư hầu do họ sở hữu mà thôi. Trong những năm 1000, một số lãnh chúa phát triển thành chính quyền mạnh, kinh tế xã hội thăng hoa, người ta gọi nó là "thời kỳ an lạc". Thương mại trên sông nước thời La Mã được phục hồi. Các thị trấn xuất hiện, và trở nên sầm uất dọc theo con đường buôn bán.
Tá điền học được phương pháp canh tác tốt hơn. Việc phá rừng, và thoát nước ở các đầm lầy làm cho đất trồng trọt tăng thêm, theo kịp với đà gia tăng dân số. Thương mại, nghiên cứu, sáng tạo nghệ thuật phát triển song song với vịêc tiếp xúc với các trào lưu văn minh Byzantine ở phía đông, và Islam phía nam. Một số trường Đại học đầu tiên ở châu Âu ra đời trong những năm 1100 và 1200. Cư dân trong các thị trấn nhận ra rằng, nếu được tự do kinh doanh, buôn bán, thì công việc làm ăn của họ chắc sẽ thuận lợi hơn. Cho nên, trong các cuộc tranh chấp giữa vua và lãnh chúa, họ thường ủng hộ nhà vua chống lại lãnh chúa.
Người trong thị trấn đồng ý trả thuế cho nhà vua, để đổi lấy tự do và được bảo vệ công việc kinh doanh của họ. Do đó, trong những năm 1300 và 1400, một số nhà Vua trở nên hùng mạnh, mở rộng quyền hạn của họ trên các Lãnh chúa Phong kiến. Đến năm 1500, thì Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, và Anh đã thành lập được các quốc gia thống nhất, dưới sự cai trị của một Quốc vương.
3. Đông Âu thời Byzantine.
Đế quốc Byzantine vẫn tiếp tục thống trị vùng phía Đông La Mã. Thủ đô đặt tại Constantinople (nay là Istabul) Thổ Nhĩ Kỳ. Mặc dù Byzantine vẫn sử dụng hệ thống luật, và chính quyền thời La Mã, nhưng các tỉnh phía Đông lại luôn chịu ảnh hưởng nền văn hoá Hy Lạp, hơn là văn hoá La Mã. Thêm vào đó, chính quyền Byzantine còn có nhiều trợ giúp trong việc bảo tồn văn học, ngôn ngữ, và triết học thời Hy Lạp Cổ đại. Niềm tin Cơ đốc (Christ) phát triển mạnh trong đế quốc Byzantine. Nhà thờ là nơi giáo hoá cưỡng bức cho những người Slav phía Đông, phía Nam Châu Âu, và người Nga. Hội truyền giáo Byzantine cưỡng bức người Slavs theo đạo Cơ đốc, họ sáng tạo ra một loại chữ viết riêng cho ngôn ngữ Slavs.
Khi La Mã còn thống nhất, nhà thờ Constantinople cai quản giáo phận phía Đông, và nhà thờ La Mã cai quản giáo phận phía Tây. Do sự kình địch thường xảy ra giữa hai nhà thờ, và thế là mặc nhiên chúng tách ra thành hai hệ thống nhà thờ. Nhà thờ cai quản giáo phận phía Tây, gọi là nhà thờ Cơ đốc giáo La Mã (Roman Catholic Church), và nhà thờ cai quản giáo phận phía Đông, gọi là nhà thờ Chính thống giáo Byzantine (Byzantine Orthodox Church). Đế quốc Byzantine mở rộng vùng thống trị dưới thời Hoàng đế Justinian (lên ngôi năm 527) gồm Ý Đại Lợi, nhiều phần phía Đông và Nam châu Âu, một phần Tây Ban Nha, Trung Đông, và vùng đất dọc theo bờ phía Bắc châu Phi.
Dưới quyền điều khiển của ông ta, giới học giả Byzantine sưu tầm, sắp xếp nhiều loại lụât lệ thời La Mã Cổ đại, lập thành một hệ thống các điều luật gọi là "Bộ luật Justininan" (Justininan Code) hết sức tinh vi. Nghệ thuật, và kiến trúc phát triển rực rỡ dưới triều đại Justinian. Kiểu nhà thờ vòm với các trang trí lộng lẫy bên trong, được xây dựng khắp nơi trong vùng Constantinople. Một trong những nhà thời kiểu nầy, là nhà thờ đầy ấn tượng Hagia Sophia. Qua nhiều trăm năm, đế quốc Byzantine phải chống đở với nhiều cuộc tấn công từ nhiều phía bởi các bộ tộc Barbarians, Persians, Hồi giáo à Rập, và đế quốc Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ.
Tuy nhiên đầu những năm 1000, Byzantine bị thua trong một trận đánh chống lại người xâm lược Hồi giáo, mở đầu cho một loạt nhiều phần đất khác rơi vào tay kẻ xâm lược. Đến năm 1400, Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ chiếm nhiều vùng phía đông và phía Nam châu Âu, và tất cả các nơi ở châu Á. Năm 1453, Ottoman chiếm Constantinople cứ điểm cuối cùng của đế quốc La Mã thời Cổ đại.
4. Trung Đông với Hồi giáo.
Trong những năm 600, một tôn giáo mới xuất hiện ở Trung Đông là Hồi giáo. Người sáng lập ra nó là Muhammad, sinh khoảng 570 và lớn lên ở Mecca, trung tâm thương mại chính trên bán đảo à Rập. Tại thời điểm đó, đa số người à Rập tin rằng trong thiên nhiên có rất nhiều vị thần linh khác nhau, và họ thờ cúng, cầu xin cả "vật thần lẫn nhân thần". Nhưng Muhammad thì rao giảng, và ra sức thuyết phục mọi người chỉ nên thờ "một thần duy nhất". Hầu hết người trong thị trấn Mecca đứng lên phản đối lời rao giảng của ông ta và tìm cách bức hại Muhammad. Năm 622, Muhammad cùng với môn đệ của mình đào thoát khỏi Mecca đến thị trấn Medina.
Cuộc tháo chạy này gọi là "Hegira" tên gọi đánh dấu sự khởi đầu của lịch Hồi giáo. Người ở Medina chấp nhận lời rao giảng, và xem Muhammad như là sứ giả của Thượng đế (God). Năm 630, Muhammad và người theo ông ta kéo về đánh chiếm Mecca, lúc ông đã 60 tuổi. Hai năm sau, năm 632 Muhammad chết, lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo được kế thừa bởi các thành viên trong gia đình Muhammad, gọi là "Caliphs" (vua Hồi). Dưới sự lãnh đạo của họ, Hồi giáo trở thành một lực lượng xâm lược lớn. Quân đội Hồi giáo đánh chiếm các cộng đồng du cư phía nam à Rập, rồi mở rộng ra phía Bắc đánh chiếm Palestine, Syria, Mesopotania và Persia.
Năm 661, ngôi vị giáo chủ trao qua cho một gia đình khác, gia đình Omayyads. Omayyads cho xây dựng thủ đô tại Damascur. Giáo chủ Omayyads còn lập thêm nhiều chiến thắng mới, tăng thêm vùng kiểm soát của khối Ả Rập Hồi giáo. Đầu những năm 700, Ả Rập Hồi giáo xâm lăng Cyprus, Rhodes Sicily, Bắc Phi và Afghanistan. Quân đội Hồi giáo tiến đánh Tây Ban Nha, và Ấn Độ tới sát biên giới Trung Quốc. Năm 750, gia đình Abbasids trở thành giáo chủ, Đế quốc Hồi giáo tiếp tục bành trướng lãnh thổ. Dưới thời lãnh đạo của ông ta, văn minh Hồi giáo đạt tới đỉnh cao của nó. Thủ đô Baghdad có thể so sánh với thủ đô Constantinople về dân số và sự giàu có.
Nghệ thuật, kiến trúc Hồi giáo phát triển rực rỡ. Viện nghiên cứu, trường Đại học được thành lập. Nhờ cuộc xâm lược mà Hồi giáo tiếp cận được với y học, thiên văn, và lịch sử của Persia, toán học của Ấn Độ, khoa học, và triết học Hy Lạp. Và, Ả Rập Hồi giáo trở thành người tinh thông trong các lảnh vực này. Từ đó, bằng những đóng góp sáng tạo của riêng mình, Hồi giáo đã tạo ra được các tiến bộ mới trong toán học, y học, thiên văn học, và nhiêu ngành khoa học khác. Cùng với sự phát triển văn học Ả Rập, nhiều tác phẩm văn học Hy Lạp thời Cổ đại được dịch thành tiếng Ả Rập, và sau cùng giới thiệu nó vào Tây Âu.
Trong những năm 900, thế lực của đế quốc Hồi giáo do giáo chủ Abbasids lãnh đạo bắt đầu giảm sút. Người Trung Á từ Thổ Nhỉ Kỳ khởi sự xâm lăng Trung Đông. Đầu những năm 1300, Ottoman, một người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ định cư ở Anotolia, trở thành các nhà chỉ huy quân đội. Năm 1453, quân đội Ottoman đánh chiếm Constantinople. Đến năm 1700, Ottoman tiến chiếm phần phía đông nam châu Âu, và một phần nước Nga. Họ cũng chiếm gần như toàn bộ Bắc Phi, và nhiều vùng ở Trung Đông.
5. Đông Á với Trung Quốc.
Từ năm 500 đến 1500, văn minh Trung Quốc với thế giới bên ngoài vẫn chưa có được một sự giao tiếp nào. Sự cô lập với thế giới bên ngoài, khiến xã hội Trung Quốc tự thích nghi ít giao động, nếu không muốn nói là vững chắc. Suốt triều đại nhà Đường (T’ang: 618 - 909), rồi triều đại nhà Tống (Sung: 960 - 1279), Trung Quốc hài lòng về sự thịnh vượng lớn lao, và các tành tựu về văn hoá. Học thuyết Khổng Tử được sử dụng vào việc thi cử, tuyển chọn công chức từ đầu triều Hán (202 TCN), nay được áp dụng phổ biến hơn. Ứng viên trúng tuyển vào làm công chức nhà nước, do vậy thường chia sẽ niềm tin, lòng tôn kính, và cung cách xử sự "lễ nghĩa" truyền thống.
Các thành phố, và thị trấn phát triển nhanh từ những năm 600 đến những năm 1200. Trong thời cai trị của nhà Đường, và nhà Tống thủ đô đặt tại Ch'ang-an (nay là Sian) với hơn 1 triệu cư dân. Các Hoàng đế Đường và Tống tiếp tục mở rộng hệ thống kênh đào từ đầu những năm 600, nối liền vùng trồng lúa ở lưu vực sông Yangtze với vùng đồng bằng rộng lớn phía Bắc. Dưới triều Đường, Trung Quốc sáng tạo ra chữ viết hình khối. Dưới triều Tống, Trung Quốc sáng tạo ra súng đạn, địa bàn, quy trình vận hành sử dụng cho việc in ấn. Văn học, lịch sử, triết học, thăng tiến dưới 2 triều đại Đường và Tống.
Trong những năm 1200, từ phía Bắc quân thiện chiến Mông Cổ từng bước lấn chiếm đến năm 1274, thì toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc rơi vào tay Mông Cổ. Kublai Khan, người cầm đầu đạo quân xâm lược lập ra Vương triều Nguyên (Yuan) cai trị trực tiếp Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc có một chính quyền thống nhất kể từ sau Đại đế Tần Thuỷ Hoàng. Kublai Khan khuyến khích trao đổi thương mại, văn hoá với những người có nền văn hoá khác nhau. Các thương nhân, và khách du lịch Châu Âu được đến buôn bán, thăm viếng Trung Quốc.
Họ trở thành một mối lợi cho Trung Quốc bởi vì, ngoài việc trao đổi hàng hoá, họ còn mang đến cho Trung Quốc các thông tin về sự tiến bộ của khoa học, và văn hoá bên ngoài Trung Quốc. Triều đại nhà Nguyên chỉ tồn tại từ năm 1279 đến năm 1368. Giữa những năm 1300 bạo loạn nỗi lên, và cuối cùng người Mông Cổ bị đuổi ra khỏi Trung Quốc. Nhà Minh (Ming) lập ra một vương triều mới cai trị từ năm 1368 cho đến 1644.
6. Đông Á với Nhật Bản.
Nhật Bản từng chịu ảnh hưởng lớn lao văn hoá của nước láng giềng Trung Quốc. Trong những năm 500, học thuyết Khổng Tử, giáo lý đạo Phật, và khoa học luyện kim đến với Nhật Bản từ Trung Quốc. Người Nhật vay mượn hệ thống chữ viết của Trung Quốc. Họ cũng dung nạp tư tưởng, cách quản lý xã hội, và hệ thống điều hành chính quyền từ Trung Quốc. Chính quyền Nhật Bản gần giống chính quyền Trung Quốc. Vị Hoàng đế (nhà vua) là trung tâm quyền lực của quốc gia. Dưới Hoàng đế, xã hội Nhật Bản được chia thành các gia tộc khác nhau theo thân thuộc họ hàng.
Cuối những năm 700 đầu những năm 800, nhà Fujiwaras đến với quyền lực. Ở cương vị Hoàng đế, Fujiwaras lập ra một toà án riêng cho giới thượng lưu quý tộc, và giao cho người thông gia với gia đình Hoàng đế lãnh đạo toà án nầy. Người Nhật Bản từ bỏ ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc trong những năm 800. Một số tác phẩm văn chương kiệt xuất đầu tiên của Nhật Bản, được viết ra trong thời cai trị của Hoàng đế Fujiwaras. Người Nhật sản xuất được gạch men đẹp, tranh sơn mài, và phát triển nghệ thuật cắm hoa, công viên, phong cảnh, và dệt lụa. Họ bắt đầu xuất khẩu hàng hoá sang Trung Quốc, và các nước Đông Nam Á. Trong những năm 1000, Nhật Bản lâm vào cảnh nội chiến giữa các dòng họ quý tộc.
Một gia đình quý tộc khác, nhà Minamoto lên ngôi Hoàng đế năm 1185. Các nhà lãnh đạo Minamoto lập nên một dạng chính quyền tương tự như chính quyền quân sự, gọi là "Shogunate". Hoàng đế không "xuất đầu lộ diện", và một nhà lãnh đạo quân sự "Minamoto-Shogun" trực tiếp cai trị dưới danh nghĩa Hoàng đế. Đầu những năm 1300, chính quyền Minamoto-Shogunate suy yếu và sụp đổ. Nhật Bản một lần nữa lâm vào cảnh nội chiến "nồi da xáo thịt". Nhưng Nhật Bản vẫn đứng vững trước các thế lực ngoại xâm, nhờ vị trí cách ly với đất liền, và phần khác quan trọng hơn, là tinh thần người Nhật không muốn làm tay sai cho ngoại bang dưới bất cứ hình thức nào. Mông Cổ xâm lăng Nhật Bản năm 1274, và năm 1281 nhưng cả hai nổ lực đều thất bại.
7. Nam Á với Ấn Độ.
Sau khi vương triều Gupta sụp đổ khoảng những năm 500, Ấn Độ vở ra thành nhiều vương quốc nhỏ. Đầu những năm 700, quân Hồi giáo à Rập tràn qua phía Tây Bắc, nhưng bị quân đội Ấn Độ đẩy lùi. Trong những năm 1100, Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ từ Trung Á xâm chiếm lưu vực sông Indus, mở đầu cho một loạt các cuộc xâm lăng tiến chiếm Ấn Độ. Đến năm 1206, họ đã thành lập được một chính quyền Hồi giáo tại Delhi, cai quản luôn toàn bộ phía Bắc Ấn Độ. Trong thời gian nầy, nhiều người theo đạo Hồi từ Trung Đông đến Ấn Độ. Họ đảm trách các phần vụ như binh lính, viên chức chính quyền, thương nhân, và tăng lữ. Các tăng lữ Hồi giáo biến cải nhiều người Ấn Độ thành tín đồ Hồi giáo.
Năm 1398, quân Mông Cổ tràn vào Ấn Độ lật đổ vua Hồi, chiếm Delhi. Nhưng chẳng bao lâu sau họ rút lui, vua Hồi tái chiếm Delhi, nhưng các vùng còn lại phía Bắc thì bị chia thành nhiều vương quốc nhỏ. Năm 1526, một Thái tử Hồi giáo tên Babar, từ nơi nay là Afghanistan xâm lăng Ấn Độ, đánh bại lực lượng cuối cùng của vua Hồi ở Delhi. Babar thành lập đế quốc Mogul, tự phong Hoàng đế. Hoàng đế Babar là một nhà cai trị lớn. Mặc dù chỉ cai trị có 4 năm, tiểu sử của ông ta được dịch ra tiếng Anh, và phổ biến rộng rãi. Sau khi ông ta chết năm 1530, những người kế vị tiếp tục mở rộng lãnh thổ đế quốc Mogul từ Kabul, Afqhanistan đến tận cửa sông Ganges nơi bây giờ là Bangladesh.
8. Châu Phi với Hồi giáo.
Từ những năm 300 TCN, Bắc Phi đã trở thành một phần dưới sự cai trị của Alexander Đại đế, và nó là cứ điểm cuối cùng của Vương triều Hellene. Năm 30 TCN, đế quốc La Mã đánh chiếm Ai Cập, chấm dứt thời kỳ cai trị của Hoàng đế Hellene. Cuối những năm 300, khi Thiên chúa giáo trở thành tôn giáo chính của đế quốc La Mã, Ai Cập và các vùng sát cận phía Nam, chịu ảnh hưởng nặng nề bởi Thiên chúa giáo. Vương quốc Aksum, một vương quốc giàu có, trở thành quốc gia Thiên chúa giáo trong những năm 300. Đến những năm 500, thì toàn bộ vùng này lại chịu chi phối bởi Chính thống giáo, khi nó trở thành một phần của đế quốc Byzantine, tức đế quốc Đông La Mã.
Đội quân Hồi giáo à Rập hoàn tất cuộc xâm chiếm Bắc Phi năm 710. Từng đoàn lữ khách lạc đà băng qua sa mạc Sahara mang đạo Hồi từ phía Bắc, vào rao giảng với cư dân phía Tây Châu Phi. Các thương nhân Hồi giáo men theo bờ Ấn Độ dương, truyền bá đạo Hồi cho những người sống dọc theo bờ phía Đông, bây giờ là Somalia, Kenya, Tanzania. Họ cũng chuyển đổi được nhiều người Châu Phi thành tín đồ Hồi giáo. Bên cạnh việc truyền bá giáo lý, họ cũng mang đến cho Châu Phi các kiến thức mới như khoa học, triết học, địa lý, và các thể loại nghệ thụât. Họ dạy cách đọc, cách viết chữ Ả Rập cho người Châu Phi. Và ngôn ngữ Ả Rập trở thành phổ biến trong một số nhóm sắc tộc tại Châu Phi.
Từ nội địa Châu Phi tại thời điểm này, một số vương quốc da đen phát triển, và đạt tới sự hưng thịnh. Ghana, vương quốc lớn nhất ở Tây Phi, phát triển rực rỡ từ những năm 700 đến những năm 1000, người ta gọi Ghana là vùng đất vàng (Land of Gold). Một vương quốc khác, vương quốc Mali xuất hiện như một quốc gia hùng mạnh vào đầu những năm 1200, và suy sụp trong những năm 1400 cũng tại Tây Phi. Timbukta trở thành trung tâm thương mại chính của vương quốc Mali. Tại bờ phía Đông Nam của lục địa, nơi bây giờ là Mozambique, và Zimbabwe, thì có vương quốc Mwanamutapa phát triển qua con đường thương mại với các mặt hàng chính là vàng, đồng, sắt, ngà voi, và người nô lệ. Cuối những năm 1400, vương quốc Changamire xâm lược Mwanamutapa.
9. Châu Mỹ với văn minh nội địa.
Văn minh đầu tiên của Châu Mỹ xuất hiện ở Trung Mỹ: Mexico và Peru. Người da đỏ Maya là một trong các sắc tộc có nền văn minh sớm nhất, khoảng từ 250 đến năm 900. Sắc tộc Maya xây dựng một số trung tâm tôn giáo lớn gồm cung điện, tháp thờ, đền đài, và đài tưởng niệm. Người Maya nghiên cứu thiên văn, soạn ra niên lịch, sáng tạo một dạng chữ viết tiến bộ. Các học giả vẫn còn chưa biết nguyên nhân nào đưa đến các tiến bộ đó. Văn minh Maya bắt đầu suy tàn trong những năm 900, và nhiều công trình kiến tạo của Maya bị lãng quên.
Từ những năm 900 đến 1200, sắc tộc da đỏ Toltec chiếm ưu thế tại cao nguyên miền Trung Mexico. Họ là những người du cư hiếu chiến, từng chiếm nhiều vùng Maya cổ. Họ truyền bá thờ cúng thần Quetzalcoatl trên khắp vùng cai trị của họ. Đầu những năm 1400, một sắc tộc khác, sắc tộc Aztec thay thế tộc Toltec, trở thành bộ tộc hùng mạnh nhất miền Trung Mexico. Họ xây dựng thành phố thủ đô tại Tenochititlan, nay là thành phố Mexico. Aztec dành nhiều thời gian cho việc truyền bá, và thờ cúng tôn giáo. Aztec dùng con người làm vật tế thần, là điểm trung tâm của tôn giáo. Vương quốc Aztec thường xuyên gây chiến với các nước láng giềng, chính là để bắt tù binh làm vật hiến tế cho thần linh của họ.
Những năm 1200, văn minh Châu Mỹ tạo được nhiều tiến bộ ở Peru. Nông dân Peru sử dụng công cụ bằng kim loại, thợ hồ Peru trở thành nhà thầu xây dựng. Một vài kỷ xảo như việc dùng những sợi dây nhỏ có màu sắc dài, ngắn khác nhau để giao tiếp, nhắn gởi bằng các "gút thắt". Trong những năm 1300 và 1400, sắc tộc Inca đánh chiếm Peru. Đến đầu những năm 1500, sắc tộc Inca thống trị một vùng rộng lớn kéo dài từ nơi bây giờ là Colombia đến Chile. Một hệ thống đường xá, nối liền từ trung tâm cai trị đến tận các tỉnh xa xôi. Người trong các khu vực bị chiếm bắt buộc phải lao động công ích như làm đường sá, hoặc đi lính khi có nhu cầu gia tăng quân số. Sản xuất nông nghiệp phát triển, và hạt ngũ cốc tăng nhanh.
V. Thế giới từ năm 1500 đến 1900.
1. Vài nét về thế giới từ năm 1500 đến 1900.
Dân số thế giới từ 450 triệu trong năm 1500, lên thành hơn 1500 triệu năm 1900. Các thành phố, thị trấn mọc lên đều đặn. Văn minh châu Âu thường gọi là văn minh phương Tây dẫn đầu thế giới trong phát triển văn hoá, kinh tế, và kỷ thụât. Trong một thế giới, ở đó có một nền văn minh lớn, phát triển độc lập với các nền văn minh khác chậm hơn, sẽ đưa tới sự thắng thế tất yếu của văn minh phương Tây. Công cuộc thám hiểm “thế giới mới” của các nhà thám hiểm Tây Âu trong những năm 1400 và 1500, mở ra một tầm nhìn mới về thế giới, dẫn đến việc các nước châu Âu nao nức đi lập trạm buôn, xâm chiếm thuộc địa, và đưa người đến đó định cư, lập nghiệp.
Trong những năm 1700, nền công nghiệp thế giới ra đời cũng tại châu Âu. Chẳng bao lâu sau lục địa này thành trung tâm sản xuất công nghiệp lớn nhất thế giới. Và thuộc địa ở hải ngoại phục vụ như các thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghệ, và cũng là nơi cung cấp nguyên liệu thô cho các nhà máy công nghiệp ở châu Âu. Việc gia tăng buôn bán với các thuộc địa đã mang lại sự giàu có, và sức mạnh của châu Âu cũng theo đó mà tăng thêm. Sự kình địch chính trị giữa các nước trong nội địa châu Âu càng khuyến khích họ mở rộng thuộc địa ở hải ngoại.
Những tiến bộ về kỷ thuật cũng giúp châu Âu có được tàu bè, và vũ khí tốt hơn để đi xâm chiếm các vùng đất mới. Khi đi lập nghiệp, người châu Âu thường mang theo tư tưởng, lối sống, nghệ thụât, kỷ thuật, luật pháp, chính quyền, giáo dục, và cả tập tục của họ vào nơi định cư mới. Do vậy, tư tưởng, kỷ năng, văn hoá của phương Tây trở thành phổ biến rộng khắp hơn bất cứ nền văn minh nào khác trước đó.
2. Tây Âu thời Phục Hưng.
Văn hoá Tây Âu thời Trung cổ (từ năm 500 đến1500) chịu sự chi phối mạnh mẽ từ các nhà thờ Thiên chúa giáo đầy quyền lực. Văn hoá, xã hội phản ánh tư tưởng “giáo quyền cao hơn vương quyền”, đời sống tôn giáo đặt trên đời sống thực tại. Giữa năm 1300 và 1500 giới học giả, và sáng tạo nghệ thụât Tây Âu nhận ra đó là một điều "không thực". Và, bắt đầu phát triển một cách nhìn mới về cuộc đời. Họ tập trung suy nghĩ về đời sống hiện thực, ít quan tâm hơn đối với tôn giáo. Họ bắt đầu tìm hiểu con người, và thế giới mới để thay thế thế giới đương thời. Và, họ đã tìm thấy được nó, đó là thế giới của “chủ nghĩa nhân đạo".
Các học giả chủ nghĩa nhân đạo, là người đi tiên phong trong việc phục hồi kiến thức, văn học, lụât pháp, triết học, và tư tưởng thời Hy Lạp - La Mã Cổ đại. Họ nói, bằng việc quay trở lại nghiên cứu các lãnh vực trên, họ có thể bắt đầu một thời kỳ vàng son của một nền văn hoá mới. Triết học của “chủ nghĩa nhân đạo”, cốt lõi của văn hoá Phục Hưng là sự vận dụng trí óc, là sự say mê suy nghĩ, suy nghĩ sẽ tìm ra cái mới. Ba trăm năm văn hoá Phục Hưng, là một sự tiến bộ vượt bậc về mọi mặt ở châu Âu, xứng đáng với tên gọi "Thời đại Phục Hưng". Phong trào Phục Hưng xuất hiện ở phía Bắc Ý Đại Lợi cuối những năm 1300, và lan rộng khắp châu Âu trong những năm 1400 và 1500.
Các nhà sáng lập phong trào Phục Hưng nhấn mạnh, rằng “trọng tâm của suy nghĩ phải nhắm vào các vấn đề của con người, chứ không phải đi tìm kiếm một sự hiểu biết nào về tôn giáo”. Họ miêu tả tình cảnh, cảm xúc của con người, và khẳng định rằng đó là “những cái” người ta có thể hiểu được. Các nghệ sĩ thời Phục Hưng thể hiện một cách tài tình về phẩm cách, và giá trị cao quý của con người như nó vốn có trong đời sống hiện thực trên các bức tranh vẽ, và tượng hình điêu khắc. Các nhà kiến trúc, xây dựng nhiều toà nhà với sự phối hợp tài tình mang nhiều yếu tố mới không có bóng dáng tôn giáo. Các tác phẩm văn học, tranh vẽ, tượng điêu khắc kịêt xuất của thế giới cũng được sáng tạo trong thời Phục Hưng.
Những thay đổi khác xuất hiện trong thời Phục Hưng là nó ảnh hưởng đến ngay cả bên trong nhà thờ Thiên chúa giáo. Đầu những năm 1500, một cuộc vận động cải cách tôn giáo dẫn đến việc khai sinh ra đạo Tin lành. Mục đích của cải cách là sửa sai các bất công và bạo ngược vốn tồn tại quá lâu và đang phát triển mạnh trong các nhà thờ Cơ đốc giáo La Mã. Năm 1517 Martin Luther, một tu sĩ người Đức, cũng là một giáo sư triết học được Giáo hội bổ nhiệm lãnh đạo công cuộc vận động cải cách. Sau khi thu thập nhiều bằng chứng cụ thể về những bất công, và bạo ngược đang tồn tại trong các nhà thờ La Mã, được ông phản ánh và nhiều lần đề nghị Giáo hội cải sửa.
Nhưng vẫn không được Giáo hội quan tâm, đã khiến ông và người theo ông ta ly khai với Cơ đốc giáo La Mã, lập ra hệ phái Cơ đốc giáo Tin lành. Chỉ trong một thời gian ngắn nhà thờ Tin Lành giáo một dạng “tôn giáo khoan dung” hơn, đầu tiên ra đời trên nước Đức đến giữa những năm 1500, gần một nữa các nước Tây Âu đều có nhà thờ Tin Lành giáo. Cần nhớ rằng người sáng lập Cơ đốc giáo là Jesus Christ, ông ta bị đế quốc La Mã hành hình bằng cách đóng đinh trên cây thập ác trong những năm đầu công nguyên. Cơ đốc giáo phát triển từ những năm 300 đến những năm 500 phân hoá thành Cơ đốc giáo La Mã ở phía Tây, và Cơ đốc giáo Chính thống ở phía Đông.
Nay Cơ đốc giáo phía Tây lại vở đôi thành Cơ đốc giáo La Mã, và Cơ đốc giáo Tin lành. Thế là, một cuộc vận động “chống cải cách”, thực chất là chống Cơ đốc giáo Tin lành bắt đầu. Nó kéo dài hơn 100 năm, cho đến khi cuộc chiến tranh 30 năm (1618 - 1648) kết thúc thì Cơ đốc giáo La Mã và Cơ đốc giáo Tin lành mới có sự tương nhượng lẫn nhau để cùng tồn tại. Công cuộc vận động chống cải cách do Cơ đốc giáo La Mã khởi xướng đã trở thành “chiến tranh tôn giáo” giữa hai hệ phái đều nhân danh môn đệ Christ đã làm cho người Tây Âu ngao ngán.
Sự truyền bá tư tưởng mới thời Phục Hưng cũng đưa đến nhiều tiến bộ lớn lao khác. Lần đầu tiên các tác phẩm văn chương mẩu mực thời Hy Lạp - La Mã được in thành sách. Phong trào Phục Hưng cổ vũ nghiên cứu khoa học. Từ kết quả nghiên cứu, cùng với các công trình có giá trị thời Hy Lạp - La Mã được sắp xếp lại, in thành sách dưới các đề tài khoa học khác nhau. Suốt những năm 1500 và 1600, giới khoa học gia đề xuất nhiều phương pháp khoa học, kết hợp kinh nghiệm, cùng với quan sát tường tận.
Việc phát minh ra kính hiển vi và kính viễn vọng là công trình khoa học đầu tiên, thúc đẩy quá trình khoa học phát triển nhanh chóng. Đến những năm 1700, các khám phá mới đã làm thay đổi hoàn toàn "cách nghĩ vốn có" trên các lãnh vực như khoa học về giải phẩu, về thiên văn, và về y dược.
3. Tây Âu thời thám hiểm tìm kiếm.
Một làn sóng người thám hiểm châu Âu xuất hiện đầu những năm 1400, đã để lại những dấu ấn sâu sắc. Buổi đầu các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha tìm đường vượt biển theo hướng đông tới châu Á. Họ chèo thuyền xuống phía Tây Bắc theo bờ châu Phi để đến châu Á. Những lần sau đó họ phát triển hệ thống buồm gắn trên thuyền, và cải thiện bản đồ hải hành tốt hơn. Năm 1473, một tàu Bồ Đào Nha băng qua đường xích đạo, và một chiếc khác đến được mũi Good Hope, bờ phía Nam châu Phi năm 1487. Thuyền trưởng người Ý làm việc cho Tây Ban Nha là Christopher Columbus đặt chân lên châu Mỹ năm 1492.
Trong năm 1497 và 1498, nhà thám hiểm Bồ Đào Nha, Vasco da Gama là người đầu tiên thực hiện cuộc hải hành từ châu Âu đi vòng quanh châu Phi tới Ấn Độ. Trong những năm 1500 và 1600, họ tiếp tục các cuộc thám hiểm, và có được một số hiểu biết mới về thế giới. Đầu những năm 1500, thuyền trưởng Ferdinand Magellan người Bồ Đào Nha làm việc cho Tây Ban Nha, thực hiện một cuộc hải hành vòng quanh thế giới. Mặc dù ông bị giết trong cuộc hành trình, một trong những con tàu của ông ta hoàn thành được chuyến du hành khảo sát. Nhiều thuỷ thủ từ Anh, Pháp, Hoà Lan cũng thực hiện các cuộc thám hiểm trên lộ trình hải hành ngắn hơn đến châu Á, hoặc dọc theo hành lang phía Tây Bắc để đến Bắc Mỹ.
Đến những năm 1700, người châu Âu đã thực hiện được việc buôn bán của mình trên khắp thế giới. Một số nước đã chiếm được thuộc địa, và thành lập các công ty kinh doanh lớn tại đó. Các thuộc địa cung cấp cho châu Âu chuối, cà phê, bông vải, trầm hương, gỗ quý và nhiều thứ khác. Hạt ngũ cốc, khoai tây, và thuốc lá từ châu Mỹ cũng được mang vào châu Âu. Buôn bán người nô lệ da đen, một nguồn lợi lớn đi vào hoạt động chính với châu Phi. Công cuộc buôn bán với thế giới này đã mang về cho châu Âu nhiều vàng, bạc và các thứ quý hiếm khác.
4. Tây Âu chiếm châu Mỹ làm thuộc địa.
Cuộc săn tìm vàng đã cuốn hút nhiều nhà thám hiểm, và người đi chiếm thuộc địa Tây Ban Nha đến với thế giới mới. Một trong bọn họ, là nhà xâm lược nổi tiếng Hernando Cortes của Tây Ban Nha. Năm 1519, Hernando Cortes, cho tàu cặp bờ đổ bộ lên Mexico, rồi dàn quân tiến vào Tenochtitlan thủ đô của Aztec, bắt nhốt Hoàng đế Aztec. Năm 1520, ngưòi Aztec nổi lên chống quân xâm lược Hernando, nhưng cuối cùng họ bị đánh bại năm 1521. Từ đó Hernando tự cho rằng Mexico là của Tây Ban Nha. Mười hai năm sau, một người Tây Ban Nha khác là Francisco Pizzarro xâm chiếm Peru, vương quốc giàu mạnh về phía Nam.
Người xâm lược Tây Ban Nha muốn người da đỏ bản địa gíup họ tìm vàng, và các cơ hội làm giàu khác. Họ cưởng bức người da đỏ làm việc trong các hầm mỏ và đồn điền làm chết hàng triệu người. Người cai trị Tây Ban Nha nhanh chóng mở rộng thuộc địa ở hâu Mỹ. Đến những năm 1700, thì Tây Ban Nha chiếm xong Mexico, Trung Mỹ và hầu hết Nam Mỹ. Họ xây dựng các thành phố, trường đại học nhiều nơi trong vùng chiếm cứ của họ. Chính quyền phương Tây, ngôn ngữ Tây Ban Nha, và nhà thờ Cơ đốc La Mã trở thành kẻ ngự trị Vùng Mỹ la tinh.
Người đến định cư ngày càng nhiều, dân số thuộc địa gia tăng, và các cuộc nổi dậy chống đối của người da đỏ cũng tăng lên khiến đời sống người châu Âu trong các thuộc địa trở nên bất an. Nhiều cuộc hôn nhân gượng ép giữa người Tây Ban Nha và người bản địa da đỏ, được tiến hành như một giải pháp xoa dịu sự chống đối. Và thế là, họ bắt đầu sản sinh ra một loại người có tổ tiên pha trộn. Tuy nhiên, trong giai cấp cầm quyền tại các thuộc địa, chỉ gồm những người không có sự pha tạp. Nói cách khác, là những người thuần chủng châu Âu mới có quyền cai trị thuộc địa.
Năm 1607, người Anh định cư đầu tiên đáp vào James Town. Một trăm ba mươi năm sau năm 1733, người định cư Anh tăng thành một triệu người, và có tới 13 thuộc địa nằm dọc theo bờ Đại Tây Dương ở Bắc Mỹ. Nhiều người đến lập nghiệp ở các thuộc địa do bị cuốn hút bởi thế giới mới có nhiều đất đai, và các cơ hội kinh doanh tốt hơn. Số khác la tín đồ thờ Chúa không giáo điều (Quaker), giáo phái Anh nghiêm khắc về đạo đức (Puritan), và Thiên chúa giáo La Mã (Roman catholic). Họ đến đây một phần để trốn thoát sự bức hại về niềm tin tôn giáo, và phần khác mong tìm cơ hội làm giàu nhanh hơn.
Đa số người định cư vùng này là người Anh, nhưng cũng có nhiều người châu Âu khác. Từ năm 1624 người Hoà Lan định cư ở New Netherland nơi bây giờ là Connecticut, Delaware, New Jersey, và New York. Xa hơn về phía Bắc là người định cư Pháp trải rộng khắp vùng lưu vực sông St. Lawrence. Không bao lâu sau khi định cư, người Anh đã gieo trồng đủ lương thực cho tiêu dùng. Họ còn sản xuất thuốc lá, và nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị khác để trang trải cho hàng nhập từ Anh Quốc. Nhưng không giống thuộc địa Tây Ban Nha, khu vực các thuộc địa Anh không thấy xã hội người da đỏ có nền văn minh như Mexico, và Peru ở Trung, Nam Mỹ.
Từ những ngày đầu, người da đỏ đã có mối quan hệ thân thiện với người định cư. Nhưng sau đó, người định cư lấn chiếm cả khu vực săn bắn của người da đỏ. Và thế là cuộc chiến nổ ra giữa người da đỏ bản địa và người da trắng mới đến. Người da trắng thắng thế, và người da đỏ tàn lụi dần, và một số nơi bị diệt chủng.
5. Hồi giáo - chia rẽ và suy yếu.
Hồi giáo Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ trở nên hùng mạnh đầu những năm 1300, đánh chiếm Constantinople năm 1453. Thế nhưng, tại lưu vực sông Tigris - Euphrates lại luôn xảy ra giao tranh giữa hai thế lực Hồi giáo Ottoman và Hồi giáo Persia. Ottoman không thể kiểm soát được một số nơi trong vùng, nhất là tại Mesopotamia. Trong những năm 1500, một vương quốc mới được thành lập ở Persia, vương quốc Safavid. Vị vua hùng mạnh nhất của vương triều Safavid là vua Shah Abbas, ông ta lên ngôi năm 1587, đã đánh bại lực lượng Hồi giáo Ottoman, và cả bộ tộc Uzbek từ Turkestan.
Thành phố Isfahan trở thành thủ đô của vương quốc Safavid năm 1598. Nó được nhiều người biết đến như là thành phố đẹp nhất thế giới. Triều đại Safavid bắt đầu suy yếu, sau khi vua Shah Abbas chết năm 1629, và mất quyền lực năm 1722 lúc quân đội Afghanistan xâm lăng Persia, chiếm thủ đô Isfahan. Trong khi đánh nhau với Hồi giáo Ottoman, Safavid còn phải đánh một thế lực Hồi giáo hùng mạnh khác, là đế quốc Hồi giáo Mogul ở Ấn Độ. Đế quốc Mogul đạt tới đỉnh cao của nó thời hoàng đế Akbar, người cầm quyền tới 50 năm, từ 1556 đến 1605.
Akbar kiểm soát hầu hết phía Bắc, và Trung Ấn Độ, cùng với phần đất Afghanistan. Sự cai trị cởi mở, và lòng khoan dung tôn giáo của ông ta đã khiến nhiều người Hindus giáo ủng hộ. Đế quốc Mogul yếu dần dưới thời các người kế vị Akbar, nhất là thời Hoàng đế Aurangzed. Ông ta lên ngôi năm 1658, khởi sự đánh một loại thuế đặc biệt lên người theo đạo Hindus, buộc nhiều tín đồ Hindus theo Hồi giáo. Ông ta còn cho phá huỷ các đền đài Hindus giáo. Chính sách cai trị độc đoán của Aurangzed, cùng với cuộc chiến kéo dài khiến đế quốc Mogul sụp đổ sau khi ông ta chết năm 1707.
Nhiều phần đất của châu Âu, và châu Á bị đế quốc Ottoman - Thổ Nhĩ Kỳ đánh chiếm từ những năm 1700 đến đầu những năm 1900. Đế quốc Ottoman không bao giờ có một chính quyền trung ương mạnh. Mỗi tỉnh trong vùng được cai trị bởi một thống đốc Ottoman. Họ can thiệp rất ít vào đời sống của cư dân trong vùng bị xâm lược. Chẳng hạn, các tín đồ Do Thái giáo, hoặc Cơ đốc giáo có thể thực hiện niềm tin của họ bao lâu nếu họ trả đủ thuế. Người "bị trị" do vậy, tiếp tục chia thành các cộng đồng riêng lẽ, và cảm thấy không cần phải trung thành với người cai trị Ottoman. Sự thiếu thống nhất này đã góp phần làm suy yếu đế quốc Ottoman.
Mặc dù thương mại gữa các nước châu Âu, và đế quốc Hồi giáo tăng dần. Sự truyền bá văn minh phương Tây, buổi đầu rất ít ảnh huởng lên thế giới Hồi giáo. Nhưng, vì thế lực Hồi giáo chia rẽ, quay ra đánh nhau, tranh vùng thống trị làm suy yếu thế giới Hồi giáo. Châu Âu nắm lấy cơ hội đánh chiếm từng phần, mở rộng ra và đến năm 1900 thế giới Hồi giáo hoàn toàn bị các quốc gia châu Âu khuynh đảo. Pháp chiếm Bắc Phi, thành lập chính quyền của họ. Anh quốc chiếm Ai Cập và Sudan. Hoà Lan chiếm Indonesia, Anh Quốc chiếm Ấn Độ, Malaysia, và sau hết Ý Đại Lợi chiếm Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Phi, bờ phía đông biển Địa Trung Hải.
6. Tình cảnh của Trung Quốc.
Vương triều nhà Minh (Ming) nắm quyền lực ở Trung Quốc năm 1368, bắt đầu suy yếu trong những năm 1500. Bạo loạn tại các tỉnh xa xôi làm triều đình lo lắng. Bán đảo Đông Dương, và nhiều vùng phụ thuộc khác vượt khỏi tầm kiểm soát. Hoàng đế nhà Minh nhìn xem tất cả sự kiện, rồi chỉ ra rằng các nhà buôn châu Âu có thể đến những vùng ít quan trọng. Năm 1557, Triều đình cho phép người Bồ Đào Nha lập vùng định cư thường trực ở Ma Cao, phía bờ đông Nam Trung Quốc. Sau đó, nhiều người châu Âu khác, cũng được phép buôn bán tại thành phố cảng Canton. Bên trong nội địa nhiều cuộc bạo loạn vẫn liên tục diễn ra, năm 1644, vua Minh đề nghị vua Mãn Chu đưa quân vào trợ giúp dẹp loạn.
Thế là, nhà Mãn Chu (Manchus) nhân cơ hội đó xăm lăng Trung Quốc, lập ra vương triều nhà Thanh (Ch’ing). Nhà Thanh cai trị Trung Quốc cho đến năm 1912. Họ rất tôn trọng văn minh Trung Quốc, chỉ thay đổi chút ít trong đời sống cũng như trong chính quyền. Nhà Thanh từng đẩy lùi nhiều cuộc xâm chiếm lãnh thổ của Nga tại lưu vực sông Amur, mở rộng vùng kiểm soát lên Tibet và nối cả Đại Hàn vào vùng cai trị của họ. Trong những năm 1700, nhà Thanh hài lòng về sự an bình và thịnh vượng của họ, gia tăng các cuộc tiếp xúc với châu Âu.
Hội truyền giáo Cơ đốc La Mã được đón tiếp tại thủ đô Bắc Kinh (Peking). Nhà Thanh ngưỡng mộ kiến thức, khoa học, kỹ thuật của châu Âu, nhất là kỹ thuật về bản đồ và chế tạo vũ khí. Nhưng họ không thích, và không muốn bắt chước lối sống châu Âu. Và văn hoá Trung Quốc vẫn tồn taị như một sự cách ly với thế giới bên ngoài.
7. Vài sự kiện về Nhật Bản.
Nhật Bản cách ly với thế giới bên ngoài hơn cả Trung Quốc. Năm 1603, nhà Tokugawa đến với quyền lực, họ thành lập chính quyền quân sự Tokugawa và cai trị Nhật Bản trên 250 năm. Nhà Tokugawa cương quyết chấm dứt nội chiến, và họ đã làm được, vãn hồi trật tự xã hội trong một thời gian tương đối ngắn. Dưới sự cai trị của vương triều Tokugawa, Nhật Bản chia thành 250 đơn vị tự trị. Mỗi đơn vị tự trị được cầm đầu bởi một Lãnh chúa, ông ta phải tuyên thệ trung thành với nhà vua lãnh đạo Chính quyền trung ương. Thương nhân châu Âu và Hội truyền giáo Cơ đốc La Mã đã đến Nhật Bản từ những năm 1500.
Vương triều Tokugawa sợ rằng những người này, nhất là Hội truyền giáo Cơ đốc sẽ mang quân đội châu Âu, cùng với họ xâm lăng Nhật Bản. Cho nên, đầu những năm 1600, triều đình Nhật Bản ra lệnh cho tất cả các giáo sĩ thuộc Hội truyền giáo La Mã phải rời khỏi Nhật Bản, và buộc người Nhật nào trót lỡ theo đạo Cơ đốc phải bỏ đạo, nếu bất tuân sẽ bị giết hoặc bị bỏ tù. Đến năm 1640, hầu như đạo Cơ đốc đã bị loại bỏ tại Nhật Bản. Vương triều Tokugawa tin rằng, để duy trì trật tự xã hội Nhật Bản phải chấm dứt sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài.
Do vậy, từ thập niên 1630, Nhật Bản cắt đứt mọi sự ràng buộc với bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới. Tất cả thương nhân châu Âu phải rời khỏi các đảo quốc Nhật Bản. Thương nhân Hoà Lan là một ngoại lệ, họ được phép một năm một lần đưa tàu đến buôn bán ở một số địa điểm chỉ định trên đảo nhỏ Deshima thuộc cảng Nagasaki.
8. Châu Âu với các sự biến.
Trong những năm 1700 và 1800, hầu hết các quốc gia Tây Âu chịu ảnh hưởng bởi hai sức ép chính trị mạnh mẽ "phong trào dân chủ, và chủ nghĩa quốc gia". Vào những năm 1700, người châu Âu đi định cư tại các thuộc địa cảm thấy hài lòng với một mức độ cao về chính quyền của chính họ, ngay cả quyền được tự do nhiều hơn. Họ rất phẩn uất về các biện pháp của chính quyền mẫu quốc, nhất là chính quyền Anh đang thắc chặt sự kiểm soát trên các thuộc địa. Cuộc chiến tranh đòi thay đổi vị thế giữa “13 thuộc địa tại Bắc Mỹ” với mẫu quốc Anh bắt đầu ngày 19/4/1775. Đến ngày 4/7/1776, các thuộc địa ra tuyên ngôn tách khỏi sự phụ thuộc với mẫu quốc Anh, và công bố chính quyền độc lập của riêng họ.
Cuộc chiến tranh kết thúc với việc Anh quốc bị đánh bại, mang tính chính trị sâu sắc. Liên bang Hoa Kỳ được thành lập, và Anh quốc công nhận sự độc lập của họ năm 1787. Năm 1789, Hoa Kỳ chính thức công bố Hiến pháp, chỉ rõ quốc gia mới của họ theo thể chế Cộng hoà Liên bang. Một sự biến chính trị khác cũng trong năm 1789, đó là cuộc “cách mạng Pháp”, bắt đầu từ năm 1789 kéo dài 10 năm đến năm 1799. Nó khởi sự khi vua Louis XVI triệu tập phiên họp Nghị viện Quốc gia để giải quyết các vấn đề tài chánh. Nghị viện Quốc gia Pháp là một cơ quan Lập pháp thành lập từ năm 1302 gồm ba thành phần đại diện ba giai cấp: tăng lữ, quý tộc, và dân thường.
Tại nghi trường, thành phần đại diện dân thường dấy loạn cướp chính quyền, và tuyên bố chính họ là cơ quan Lập pháp Quốc gia của nước Pháp. Cơ quan Lập pháp này thông qua một bản tuyên ngôn về "quyền con người và quyền công dân". Tuyên ngôn bắt đầu bằng những nguyên tắc quyền tự do của con người, và các quyền cá nhân rồi kết luận, nó xoá bỏ giai cấp quý tộc, các đặc quyền và tước hiệu của họ. Đến năm 1792, cách mạng chính thức tuyên bố thành lập thể chế Cộng hoà đầu tiên cho nước Pháp.
Trong thời kỳ cách mạng Pháp diễn ra, Napoleon Bonaparte là một người lính chuyên nghiệp. Ông là con thứ tư của một gia đình người Ý trên đảo Corsica, ở Địa Trung Hải. Cha ông là một luật sư, người đã gởi Napoleon vào trường Quân sự hoàng gia Paris năm ông ta mới 10 tuổi. Năm 16 tuổi, Napoleon được chỉ định đến tập sự tại một Trung đoàn pháo binh. Năm 1786, sau 3 tháng thực tập Napoleon thể hiện được cá tính sáng tạo độc đáo của mình, ông được đánh giá cá nhân xuất sắc của hàng Hạ sĩ quan, và được thăng cấp Thượng sĩ. Năm 1792, ông chứng kiến cảnh đập phá lâu đài Hoàng gia tại Paris, lúc đó ông đã là một Đại uý pháo binh.
Ông gia nhập cách mạng Pháp ở đảo Corsica bị Thống đốc Paoli trục xuất khỏi đảo. Napoleon tái nhập quân đội, và giúp lực lượng cách mạng chiếm Marseills. Năm 1799, Napoleon lật đổ chính quyền cách mạng, nắm quyền cai trị nước Pháp, và tự xưng Hoàng đế Napoleon. Dưới sự lãnh đạo của ông ta, nước Pháp tiến hành lấn chiếm các nước lân bang, đến đầu thập niên 1810, Napoleon đã chiếm hầu hết các nước Tây Âu. Nhưng ông ta chịu nhiều tổn thất khi xua quân đánh chiếm nước Nga năm 1812. Ba năm sau, Liên quân châu Âu một lần nữa đánh bại lực lượng Napoleon trong trận đánh Waterloo năm 1815, chấm dứt nổ lực thống trị châu Âu của ông ta.
Năm 1815, Hội nghị các nhà lảnh đạo châu Âu nhóm họp tại Vienna, cảm nhận rằng cuộc cách mạng Pháp có thể làm nảy sinh tư tưởng dân chủ, và khơi dậy chủ nghĩa quốc gia trong một số nơi bị sáp nhập tại châu Âu. Hội nghị đi đến kết luận là phục hồi nhanh chóng chế độ Quân chủ. Sau hội nghị tại Pháp, Tây Ban Nha và nhiều quốc gia châu Âu khác ra sức củng cố chế độ quân chủ. Thế nhưng, họ không thành công. Đến cuối những năm 1800, gần như mỗi quốc gia ở châu Âu đều có Hiến pháp, và một vài tổ chức vận động dân chủ. Đức, và Ý bị chia thành những quốc gia nhỏ hơn, cai trị bằng một chế độ Quân chủ lập hiến.
Tại phía Đông, và Nam của lục địa, đế quốc Ottoman đang trên đà suy yếu. Cư dân trong nhiều phần đất bị chiếm đứng lên làm bạo loạn thành lập quốc gia mới, với các chính quyền do Hiến pháp quy định. Đến năm 1900, nhiều người tin rằng thế chế dân chủ, và chủ nghĩa quốc gia cuối cùng nó sẽ là giải pháp chính trị của Châu Âu. Và chính nó đang là mối đe doạ nghiêm trọng cho Liên bang Nga, và Liên minh Hung - Áo, hai nước đang cai trị nhiều phần đất của các quốc gia khác nhau tại Trung và Đông Âu.
9. Châu Âu với cách mạng công nghiệp.
Trước cách mạng công nghiệp, hầu hết người Châu Âu sống ở nông thôn. Làng mạc và thị trấn như là “chợ” nơi để người nông dân đến đó trao đổi hàng hoá. Trong những năm 1700 và 1800, máy động cơ được sử dụng rộng rãi trong nội địa châu Âu, đã giúp nền công nghệ lục địa phát triển rất nhanh. Nhiều nhà máy lớn bắt đầu thay thế các hảng xưởng nhỏ, để trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp. Việc sử dụng máy mới và phát triển cơ sở sản xuất làm cho công nghiệp sản xuất hàng hoá gia tăng. Một hệ thống thị trường mở rộng ra trên toàn thế giới đang hình thành do công nghiệp châu Âu cần nơi tiêu thụ sản phẩm công nghệ, và nguyên liệu thô cho nhà máy của họ.
Cách mạng công nghiệp khởi đầu ở Anh Quốc, cuối những năm 1700. Đến giữa những năm 1800, công nghiệp hoá lan rộng ra khắp Tây Âu và Bắc Mỹ - Hoa kỳ. Ở Đông Âu thì có Nga, và ở Đông Á có Nhật Bản cũng bắt đầu phát triển công nghiệp. Cách mạng công nghiệp biến đổi sâu sắc đời sống của con người. Nó là một sự kiện sinh động hơn bất cứ sự kiện nào khác. Công nghiệp phát triển nhà máy mọc lên khắp nơi, các thị trấn trở thành thành phố, và người ta đổ dồn về các thành phố công nghiệp để tìm kiếm việc làm trong các nhà máy sản xuất. Hệ thống giao thông, truyền thông trở nên cần thiết để nối liền thành phố trung tâm với các thành phố nhỏ quanh nó đang phát triển.
Đường bộ, đường xe lửa và đường thuỷ được xây dựng thêm, hoặc nâng cấp. Việc phát minh ra máy điện báo năm 1837, là một đóng góp lớn cho mạng lưới truyền thông đường xa được thuận lợi, và nhanh chóng hơn. Công nghiệp hoá cũng đưa đến nhiều thay đổi xã hội. Giai cấp trung lưu thành công và thăng tiến khá nhanh. Một số trong bọn họ làm chủ hầu hết các nhà máy. Số khác hoạt động trong lãnh vực ngân hàng, khai thác hầm mỏ, và cả hệ thống đường sắt. Họ thuê mướn nhiều nhân công. Họ nghĩ rằng, công việc kinh doanh của họ cần được quy định rõ ràng, và nên đặt bên ngoài sự kiểm soát của chính quyền.
Tư tưởng này trở thành nền tảng của “chủ nghĩa tư bản” (Capitalism). Nó là một hệ thống kinh tế trong đó quá trình sản xuất chủ yếu do tư nhân làm chủ. Anh Quốc là nước phát triển kinh tế theo hướng “tư bản chủ nghĩa” đầu tiên, sau đó lan dần sang các quốc gia công nghiệp khác. Công nhân trong các nhà máy buổi đầu thường được trả lương thấp, và làm việc nhiều giờ trong những điều kiện vệ sinh không mấy tốt đẹp. Không có luật lệ quy định điều kiện làm việc cho công nhân, họ cũng không được phép lập ra các nghiệp đoàn lao động.
Nhiều thành phố công nghiệp đang phát triển, không xây dựng đủ nhà cửa cung cấp cho công nhân, từ thôn quê đang đổ dồn về thành phố. Kết quả là sự đông đúc vượt quá mức dự liệu của các ngành phục vụ, và nhiều người phải sống trong những điều kiện thiếu vệ sinh nghiêm trọng dẫn đến bệnh tật phát sinh. Công nhân bị mất việc làm, dấy loạn phá huỷ máy móc trong một nổ lực trả thù chống lại chủ nhân các nhà máy đã sa thải họ. Họ tập trung gây bạo loạn, xuống đường biểu tình, kêu gọi toàn thể công nhân trong các nhà máy đứng lên đấu tranh với giới chủ nhân đòi bảo đảm điều kiện làm việc. Và thế là Liên đoàn nghề nghiệp ra đời, đấu tranh đòi hỏi quyền lợi cho họ dù là bất hợp pháp.
Một số người cho rằng, kết quả tác hại của hệ thống công nghiệp là từ "chủ nghĩa tư bản". Những người tin như thế tập hợp lại thành một khuynh hướng, gọi là khuynh hướng "xã hội chủ nghĩa". Theo đó, tất cả nền sản xuất công nghiệp phải đặt dưới sự điều khiển của công nhân. Tư tưởng nền tảng đó được Karl Marx một nhà báo, một triết gia xã hội Đức phát triển thành “lý thuyết Cộng sản". Marx tin rằng, giai cấp công nhân phải là động lực chính của lịch sử trong thời kỳ quá độ, bằng cách đứng lên lật đổ giai cấp giàu có, và xây dựng một hệ thống kinh tế tập thể, cùng với một xã hội không có giai cấp gọi là xã hội “xã hội chủ nghĩa”.
Những người có khuynh hướng xã hội thuộc các đảng chính trị châu Âu thừa nhận tư tưởng Marx, mục đích của họ là đánh đổ hệ thống tư bản chủ nghĩa. Từ thập niên 1840, họ lãnh đạo công nhân các nước Tây Âu, đấu tranh đòi quyền thành lập các Liên đoàn lao động. Kết quả là, một số luật lệ quy định điều kiện làm việc đã được Quốc hội Anh Quốc, và Hoa Kỳ thông qua cuối thập niên 1840. Anh và Đức là hai nước đi tiên phong trong việc ban hành các đạo luật liên quan đến "an sinh xã hội" bảo hiểm nghề nghiệp, tai nạn lao động, thất nghiệp, và bệnh nghề nghiệp cho công nhân công nghiệp. Đời sống công nhân cũng được cải thiện bằng việc tăng lương, thăng bậc.
Qua trung gian hoà giải của các Liên đoàn lao động, mối quan hệ giữa công nhân và chủ nhân được cải thiện thông qua các yêu sách và giải quyết yêu sách. Đến cuối những năm 1800, hầu hết các quốc gia công nghiệp ở châu Âu đã có luật lệ quy định điều kiện làm việc và tiêu chuẩn sống cũng dược nâng lên.
10. Châu Âu với chủ nghĩa đế quốc.
Cách mạng công nghiệp góp phần hình thành chủ nghĩa đế quốc, bành trướng thuộc địa. Phong trào Phục Hưng xuất hiện đã đưa châu Âu tiến bộ nhiều mặt. Nhờ tiến bộ về kỹ thuật, châu Âu có được phương tiện, tàu bè tốt hơn tiến hành các cuộc thám hiểm, tìm kiếm. Việc phát hiện ra châu Mỹ, vùng đất có nhiều tài nguyên thiên nhiên, khiến người châu Âu nảy sinh ý định đưa công dân đến đó định cư lập nghiệp, giải toả được sức ép dân số tăng nhanh trong lục địa. Cách mạng công nghiệp dẫn đến bước thứ hai là bành trướng thuộc địa tại hải ngoại. Việc bành trướng thuộc địa này sẽ mang về cho châu Âu hai mối lợi (1) để có nơi tiêu thụ hàng hoá, và (2) cũng là nơi cung cấp nguyên liệu thô cho nhà máy của họ.
Đến cuối những năm 1800, thì 8/18 nước Châu Âu đã chiếm 5 lục địa còn lại của thế giới đứng đầu là Anh Quốc và kế là Pháp, Đức. Tại vùng Mỹ La tinh: Sau khi Columbus đặt chân lên Châu Mỹ, Tây Ban Nha tuyên bố nhiều phần đất vùng Mỹ La tinh thuộc về họ. Bồ Đào Nha cũng tuyên bố các phần đất phía Tây Bán cầu là của họ. Năm 1493, Giáo hoàng Alexander VI (1430 - 1503) giải quyết tranh chấp bằng cách vạch một đường tưởng tượng băng qua lục địa Nam Mỹ từ Bắc đến Nam dài 563km, phần phía Đông thuộc Bồ Đào Nha, và phía Tây thuộc Tây Ban Nha. Bồ Đào Nha cho rằng, đường phân vạch đó không công bằng.
Năm 1494, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ký với nhau một thoả thuận, đưa đường phân ranh về phía Tây cũng theo trục bắc - nam, dài tới 1520 km. Từ những năm 1500 đến đầu những năm 1800, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha lập nhiều đồn điền ở Trung Mỹ, Nam Mỹ và các đảo trên vùng biển Caribbean. Sau đấu tranh thành lập Liên bang Hoa Kỳ độc lập năm 1776, từ năm 1791 đến 1824 các thuộc địa Trung, Nam Mỹ cũng nổi lên đấu tranh đòi độc lập tách khỏi các mẫu quốc từ Châu Âu. Trong số có hai người được vịnh danh là Simón Bolivár (1783 – 1830) giành độc lập cho Venezuela, Bolivia, Colombia, Ecuador, Peru và Venezuela, và người kia là Jose de San Martin (1778 - 1850) người Argentina đấu tranh chẳng những mang lại độc lập cho Argentina, mà còn giúp Chilê giành chiến thắng.
Riêng tại Bắc Mỹ: Sau khi 13 thuộc địa Anh đấu tranh đòi độc lập thắng lợi năm 1776. Mặc dù phải trải qua nội chiến 4 năm (1861 - 1865), Cộng hoà Liên bang Hoa Kỳ vẫn tồn tại như buổi ban đầu. Hoa Kỳ còn tự xem mình có trách nhiệm phải hành động bảo vệ các nước Cộng hoà Mỹ La tinh mới thành lập, chống lại nổ lực của châu Âu muốn tái lập sự cai trị thuộc địa. Năm 1823, Tổng thống Mỹ James Monroe công bố “học thuyết Monroe” cảnh cáo các thế lực Âu châu không được xen vào các vấn đề sự vụ của Nam Bán cầu. Trong những năm 1800, Hoa Kỳ còn từng bước mở rộng lãnh thổ. Ba năm chiến tranh với Mexico (1846 - 1848), kết quả Hoa Kỳ có thêm nhiều đất đai của Mexico nay là California, Nevada, Utah, và phần lớn đất trong 4 tiểu bang khác.
Năm 1867, Hoa Kỳ mua vùng Alaska của Nga. Năm 1898, sau khi bị thất bại trong cuộc chiến tranh Tây Ban Nha - Hoa Kỳ, Tây Ban Nha bị buộc phải trao các quần đảo Guam, Puerto-Rico, và Philippines cho Hoa Kỳ. Thế nhưng, tại Bắc Mỹ gần 10 triệu Km2 phía Bắc, là Canada, vẫn còn là thuộc địa Anh quốc cho đến năm 1931.
Tại lục địa châu Úc: Việc 13 thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ trở thành quốc gia độc lập năm 1776, khiến nước Anh không còn nơi giam giữ tù nhân bị kết án "lưu đày viển xứ". Năm 1786, Anh Quốc quyết định chiếm Úc Đại Lợi làm thuộc địa "dung chứa tù nhân". Sĩ quan hải quân hồi hưu Arthur Phillip được chỉ định thực hiện công việc này. Tháng 5/1787, Phillip chỉ huy 1 đoàn tàu buồn 11 chiếc chở 730 tù nhân rời Anh Quốc. Sau 8 tháng lênh đênh trên biển cả, đoàn tàu đến vịnh Bontany ngày 19/1/1788. Bảy ngày sau, ngày 26/1/1788 tại Sydney với tư cách Thống đốc toàn quyền Arthur Phillip tuyên bố thành lập thuộc địa New South Wales.
Sau New South Wales tuần tự các thuộc địa Tasmania, Westem Australia, South Australia, Victoria, và Queensland được thành lập vào các năm 1825, 1829, 1836, 1850 và 1859. Đến năm 1868, Anh đã chuyển vào Úc 160,620 tù nhân. Tháng 9 năm 1900, Anh quốc ban hành đạo luật cho phép sáu thuộc địa Úc trở thành 6 Tiểu bang của Liên bang Úc Đại Lợi độc lập.
Tại lục địa châu Phi: từ những năm 1500 và 1600, bị cuốn hút bởi việc buôn bán vàng, và người nô lệ da đen, Bồ Đào Nha lập cảng buôn bán ở Gambia nay là Ghana, và nhiều nơi bờ phía Tây Châu Phi, rồi mở rộng tới các thành phố bờ phía Đông. Hoà Lan đến sau nhưng tranh chiếm bờ phía Tây từ tay Bồ Đào Nha, rồi tiến về phía Nam lập cảng buôn bán tại Cape Town. Đến những năm 1700, người châu Âu bắt đầu thám hiểm vào bên trong nội địa. Họ muốn tìm kiếm tài nguyên, và mở rộng mối ràng buộc mới về thương mại, khai thác hầm mõ, dầu cọ, và nguyên liệu thô cho các nhà máy của họ.
Nhiều phần đất ở Bắc Phi là lãnh thổ của đế quốc Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ từ những năm 1500 đang trên đà suy yếu. Những năm 1800, Pháp đánh chiếm Algeria, Tunisia, và Anh chiếm Ai Cập (Egypt). Còn ở Nam Phi, thì Hoà Lan sau khi chiếm Cape Town, đang đánh nhau với người da đen tranh chiếm đất mở rộng vùng kiểm soát. Đến cuối những năm 1800, Anh, Pháp, Hoà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Đức, Ý, và Bỉ đã chia nhau tranh chiếm toàn bộ châu Phi, ngoại trừ Ethiopia, quốc gia duy nhất của lục địa còn giữ được độc lập, cho đến năm 1936 mới bị Ý Đại Lợi đánh chiếm.
Tại lục địa châu Á: Sự phong phú và đa dạng tài nguyên thiên nhiên của châu Á, kích thích lòng thèm muốn nơi người châu Âu. Từ những năm 1500, Bồ Đào Nha nắm quyền kiểm soát Ấn Độ Dương, chiếm Ma Cao của Trung Quốc, rồi chiếm Indonesia, Malaysia. Còn Tây Ban Nha chiếm Philippines, Ha Uy Di và nhiều đảo khác. Trong những năm 1600, Hoà Lan chiếm Indonesia, và Malaysia từ tay Bồ Đào Nha, nhưng vẫn để đông Timor cho Bồ Đào Nha. Đến những năm 1700 và 1800, các thế lực châu Âu bắt đầu giao thương và mở rộng thuộc địa vào châu Á.
Anh Quốc trở thành thế lực mạnh nhất ở Tây Nam Á, tiểu lục Ấn Độ, và Nam Trung Quốc, khuynh đảo các nước Hồi giáo, chiếm Ấn Độ, Pakistan, Bangledesh, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Tích Lan, và Sarawak, Singapore, Malaysia từ tay Hoà Lan. Pháp đánh chiếm ba nước Việt, Miên, Lào. Chỉ có Nhật Bản là quốc gia kháng cự thành công sự xâm lược của phương Tây. Còn Trung Quốc, sau khi bị Anh Quốc đánh bại trong chiến tranh nha phiến, mất tất cả quyền kiểm soát trên các vùng đất có sự hiện diện của người nước ngoài. Năm 1898, Tây Ban Nha chuyển giao thuộc địa Philippines cho Hoa Kỳ sau khi thua trận.
Ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc: Chủ nghĩa đế quốc phương Tây ảnh hưởng lên người dân trong các thuộc địa bằng nhiều cách khác nhau. Trong vài khu vực, nó mang lại những tăng trưởng kinh tế, và nâng cao tiêu chuẩn sống bằng cách giới thiệu văn hoá, công nghệ, kỷ thụât, và y khoa. Sự cai trị thuộc địa cũng ngăn chặn vô số các cuộc bạo loạn, nội chiến trên nhiều vùng đất khác nhau. Nhưng các nước đế quốc cũng thu được nhiều lợi lộc trên các thuộc địa của họ. Bằng cách đưa ra ngoài các nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà không mang trở lại cho họ những thuận lợi, để phát triển kinh tế cho thuộc địa.
Các nhà cai trị thuộc địa phương Tây thường ít quan tâm đến phong tục, tập quán, và phá hỏng lối sống cổ truyền của họ. Không hề có sự công bằng trong quá khứ dưới hệ thống đế quốc chủ nghĩa. Do vậy, khi cảm nhận quốc gia chủ nghĩa xuất hiện, nó lan nhanh và sự phản kháng đòi thành lập chính quyền độc lập đã được gần như tất cả mọi người trong các thuộc địa hưởng ứng.
VI. Thế giới từ năm 1900 đến đầu những năm 2000.
1. Vài nét về thế giới từ năm 1900.
Chủ nghĩa đế quốc và công nghiệp hóa đạt tới đỉnh cao của thời hiện đại, người ta thường gọi là kỷ nguyên tuyệt vời của châu Âu. Một số nước châu Âu trở nên giàu có và có quân đội mạnh. Họ cai trị nhiều vùng rộng lớn của thế giới, thông qua hệ thống thuộc địa đặc dụng. Khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật và kiến thức đạt tới trình độ cao. Đời sống người dân châu Âu trong những năm 1800. được xếp vào loại văn minh nhất thế giới. Hoa Kỳ, Canada, các nước Mỹ La tinh (Trung, Nam Mỹ) và Úc Đại Lợi là nơi định cư của người châu Âu cũng phát triển theo hướng châu Âu. Trái lại, hầu hết các quốc gia châu Á, và châu Phi, còn chưa được khai hóa, hoặc chỉ đạt tới văn minh thời Trung Cổ.
Từ năm 1900, thế giới có nhiều đổi thay nhanh hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó. Dân số tiếp tục tăng nhanh từ 500 triệu trong năm 1500. Hơn 300 năm sau, năm 1804, thế gới có Tỷ người thứ Nhất. Một trăm hai mươi bốn năm sau, năm 1927 thế gới có Tỷ người thứ Hai; Ba mươi ba năm sau, năm 1960 thế gói có Tỷ người thứ Ba; Mười bốn năm sau, năm 1974 thế giới có Tỷ người thứ; Mười ba năm sau, năm 1987 thế giới có Tỷ người thứ Năm; Mười hai năm sau, năm 1999 thế giới có Tỷ người thứ Sáu. Mười hai năm sau, năm 2011 thế giới có Tỷ người thứ Bảy. Và, mười một năm sau, năm 2022 thế giới có Tỷ người thứ Tám.
Các quốc gia công nghiệp hoá nhiều hơn, và nền thương mại thế giới cũng được mở rộng. Các tiến bộ về khoa học và kỹ thuật đã làm biến đổi cơ bản mọi mặt của đời sống, cái mà trong những năm 1800, không bao giờ người ta dám mơ tưởng đến. Năm 1957, khởi đầu cái mà người ta thường gọi là "thời đại không gian" khi Liên bang Xô viết phóng vệ nhân tạo bay vòng quanh quỷ đạo trái đất. Năm 1969, hai phi hành gia Hoa Kỳ trở thành người đầu tiên đi bộ trên mặt trăng. Cuối những năm 1900, nhiều thuộc địa rộng lớn của đế quốc châu Âu không còn. Các nước châu Âu cũng chấm dứt sự khuynh đảo các vấn đề sự vụ của thế giới.
Và, từ giữa thập niên 1940, Hoa Kỳ và Liên Xô lớn mạnh trở thành hai siêu cường của thế giới, nhưng lại đối nghịch nhau về thể chế chính trị. Dù vậy, họ không dám đọ sức bằng một cuộc chiến tranh thực sự, thay vào đó họ tiến hành một cuộc chiến, thường gọi là “chiến tranh lạnh”. Chiến tranh lạnh là sự xung đột ngấm ngầm của hai thế lưc Hoa Kỳ - Liên Xô kéo dài từ cuối thập niên 1940 đến cuối thập niên 1980. Do sự khó khăn nghiêm trọng về kinh tế, thế lực Liên Xô giảm sút, và tan rã cuối năm 1991. Các nước Cộng sản Đông Âu cũng trải qua một sự lột xác, để cuối cùng các đảng Cộng sản phải rời khỏi chính quyền.
2. Chiến tranh Thế giới lần thứ I và Hội Quốc Liên.
Ngày 28 tháng 6 năm 1914, người ta tụ tập tại thành phố Sarajevo tỉnh Bosnia nước Áo, để chào mừng Hoàng thân Francis Ferdinand, người sẽ thừa kế ngôi vua Hung-Áo. Một sinh viên Bosnia đang sống ở Serbia, tên Gavrilo Princip nhảy vào đoàn xe hoàng gia đang di chuyển, nổ súng giết Ferdinand và vợ ông ta bà Sophia. Liên minh Hung-Áo nghi ngờ Serbia ủng hộ âm mưu sát hại Ferdinand, nên ngày 28.7.1914 tuyên chiến với Serbia. Thế là chiến tranh Thế giới lần thứ I bùng nổ. Đến ngày 30.10.1914 các bên lâm chiến: phe “Quyền lực” gồm Liên minh Hung-Áo, Đức, Bulgaria và đế quốc Ottman; và phe “Đồng minh” có Anh, Pháp, Bỉ, Serbia, Nga và một số quốc gia khác gia nhập sau đó kể cả Hoa Kỳ.
Tháng 10.1917, một cuộc bạo loạn chính trị ở Nga thành công, lập ra chính quyền Cộng sản, sau đó Nga rút lui khỏi cuộc chiến. Năm 1918, phe Đông minh thắng trận, ký hiệp ước Versailles chấm dứt chiến tranh với Đức năm 1919, và các hiệp ước riêng với từng nước trong phe Quyền lực bại trận. Cái giá phải trả cho cuộc chiến hết sức khủng khiếp. Nhiều triệu sinh mạng đàn ông, đàn bà, trẻ em bị giết. Các thành phố bị phá huỷ, nền kinh tế của các quốc gia lâm chiến bị ngưng trệ. Chiến tranh cũng đưa đến nhiều sự thay đổi trên bản đồ chính trị Châu Âu: Áo, Tiệp Khắc, Hungary ra đời trên phần đất của Liên minh Hung-Áo. Ba Lan tái lập trên phần đất của Áo, Đức và Nga.
Serbia được đổi tên thành Nam Tư và được thêm vào các phần đất rộng lớn từ Liên minh Hung-Áo. Bulgaria, Montenegro, Romania tăng gấp đôi lãnh thổ. Hy Lạp, Ý Đại Lợi mỗi quốc gia được nối thêm một vùng đất mới. Đế quốc Ottman mất Amernia, Palestine, Mesopotamia, Syria và Bắc Phi. Estonia, Latvia, Lithuania và Phần Lan tuyên bố độc lập, tách khỏi nước Nga. Năm 1914, Châu Âu chỉ có 5 quốc gia theo chế độ cộng hòa, sau chiến tranh tăng thành 16 nước. Liên minh Hung-Áo, Đức và đế quốc Ottman bị xoá sổ để thành lập các chính quyền Cộng hòa Hungary, Áo, Đức, và Thổ Nhĩ Kỳ.
Hiệp ước Versailles năm 1919, đồng ý thành lập Hội Quốc Liên (League of Nations), và trao cho tổ chức này trách nhiệm duy trì hòa bình thế giới. Nó cũng lập ra một hệ thống uỷ trị. Nhiều phần đất trước đây là thuộc địa của Đức, và đế quốc Ottman trở thành các vùng uỷ trị của Hội Quốc Liên. Hiệp ước Versailles buộc Đức phải giải giới, cắt đất cho Ba Lan, trao thuộc địa cho Hội Quốc Liên và bồi thường chiến phí cho các nước Đồng minh thắng trận. Nhiều người Đức cảm nhận như đã bị đối xử quá bất công. Do vậy, họ ủng hộ đảng chính trị NAZI do Adolf Hitler lãnh đạo, bởi ông nầy hứa sẽ xây dựng một nước Đức hùng mạnh, ngẩng cao đầu. Năm 1933, Hitler trở thành nhà cai trị của Đức.
Hội Quốc Liên đề ra 4 mục tiêu là: (1) duy trì hòa bình thế giới, (2) khuyến khích các nước thành viên giảm bớt lực lượng vũ trang, (3) cải thiện điều kiện sống của người dân trên toàn thế giới, (4) bảo đảm nền độc và đường biên giới của các quốc gia, ngăn chặn các cuộc tấn công từ bên ngoài. Năm 1920, Hội có 42 nước gia nhập, đến năm 1934 tăng thành 57 quốc gia thành viên. Tổng thống Hoa Kỳ Wilson sáng lập viên, và là người phát thảo Hiến chương Hội Quốc Liên, nhưng khi Hiệp ước đưa ra Quốc hội Mỹ phê chuẩn, thì bị Thượng viện bác bỏ. Việc nước Mỹ không trở thành thành viên chính thức của Hội Quốc Liên khiến Hội nầy thiếu vắng một quốc gia thành viên hùng mạnh để thục hiện chức năng duy trì hoà bình thế giới.
Đức gia nhập Hội Quốc Liên năm 1926, và rút lui năm 1933, bởi vì Hội không thay đổi giới hạn lực lượng vũ trang trên nước Đức. Cùng năm đó, Nhật Bản cũng bỏ Hội, vì Hội không thừa nhận việc Nhật Bản xâm lăng Mãn Châu năm 1931. Ý Đại Lợi rút lui khỏi Hội năm 1937, bởi vì Hội áp đặt lệnh cấm vận kinh tế lên nước này, khi xâm lăng Ethiopia năm 1936. Liên bang Xô viết gia nhập Hội năm 1934, và bị trục xuất khỏi Hội năm 1939, bởi vì Liên Xô xâm lăng Phần Lan. Thế là Hội Quốc Liên không còn những quốc gia hùng mạnh có đủ lực lượng can thiệp các cuộc xâm lăng, duy trì hòa bình thế giới. Và thế là chiến tranh thế giới lần thứ II lại nổ ra.
3. Chiến tranh Thế giới lần thứ II và Liên Hiệp Quốc.
Sau một loạt các cuộc tấn công chớp nhoáng thử nghiệm thành công, ngày 1.9.1939 Đức xâm lăng Ba Lan. Hai ngày sau, ngày 3.9.1939, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Trong vòng 3 tháng từ tháng 4 năm 1940, cơ giới Đức đã đè bẹp 6 nước Đan Mạch, Na Uy, Luxembourg, Bỉ, Hoà Lan, và Pháp. Nhưng Adolf Hitler, nhà độc tài nước Đức lại bị thất bại trong việc đánh gục nước Anh bằng bom đạn, và tàu chiến. Năm 1941, quân Đức chiếm Nam Tư, và Hy Lạp, nơi Ý Đại Lợi đang đánh nhau từ khi tuyên chiến với Pháp. Và sau đó Đức, Ý dàn quân tiến vào Liên Xô, trong khi máy bay, và quân Nhật đang mở rộng vùng kiểm soát ở Viễn Đông. Ngày 7.11.1941, Nhật tấn công vào Trân Châu Cảng, đẩy Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến cạnh Đồng minh.
Sau một loạt các trận đánh gay go, quân Đồng minh củng cố được tuyến phòng thủ. Rồi xoay chiều đánh bại mũi tiến công của phe Truc (Axis) tại El Alarnein ở Bắc Phi, đẩy quân thù ra khỏi đảo Midway ở Thái Bình Dương, và khỏi cảng Stalingrad ở Liên Xô. Đồng minh đổ quân chiếm đóng các quần đảo Thái Bình Dương đến sát cạnh lãnh thổ Nhật Bản. Tại châu Âu quân Đồng minh đổ bộ vào Ý và Pháp, đánh thẳng vào Đức Quốc Xã. Ngày 3.9.1943, Ý đầu hàng, ngày 7.5.1945 Đức buông súng, và ngày 14.8.1945 Nhật đầu hàng Đồng minh, sau khi bị Mỹ ném hai qủa bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki trên đất Nhật.
Cái giá chiến tranh thế giới lần thứ II phải trả của cả hai phe cao hơn nhiều so với chiến tranh Thế giới lần thứ I. Hơn 10 triệu quân phe Đồng minh và 6 triệu quân Phe trục tử thương, không kể số người bị thương, và số thương vong trong dân chúng. Chiến phí hơn 1.150 tỉ USD. Quân đội phải chiến đấu trên nhiều phần đất của thế giới. Các trận đánh diển ra ở châu Á, châu Âu, Bắc Phi, Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, và biển Địa Trung Hải.
Có 58 quốc gia tham chiến gồm 9 nước phe Trục là Albania, Bulgaria, Phần Lan, Đức, Hungary, Ý, Nhật, Romania, và Thái Lan. Còn 49 nước Đồng minh gồm: Argentina, Úc, Bỉ, Bolivia, Brazil, Canada, Chile, Trung Quốc, Colombia, Costa Rica, Cuba, Tiệp Khắc, Cộng hoà Dominican, Ecuador, Ai Cập, El Salvador, Ethiopia, Pháp, Anh, Hi Lạp, Guatemala, Haiti, Honduras, Ấn Độ, Iran, Iraq, Lebanon, Liberia, Luxembourg, Mexico, Mông Cổ, Hà Lan, Tân Tây Lan, Nicaragoa, Na Uy, Panama, Paraguay, Peru, Ba Lan, Nga, San Marino, Saudi Arabia, Nam Phi, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ, Uruguay, Venezuela, và Nam Tư.
Về ảnh hưởng chính trị sau chiến tranh, thì châu Âu nằm trong sự đổ nát. Đức Quốc từng là quốc gia mạnh nhất châu Âu bị chiếm đóng bởi quân Đồng minh: Anh, Pháp, Mỹ, và Liên bang Xô viết. Các quốc gia hùng mạnh một thời ở châu Âu trở thành quá yếu, không đủ sức cai trị các thuộc địa thêm nữa. Hoa Kỳ và Liên Xô nổi lên từ sau chiến tranh, như hai thế lực mạnh nhất lãnh đạo thế giới. Để không lập lại sự khủng khiếp do chiến tranh gây ra, các quốc gia thắng trận nỗ lực tìm ra một giải pháp mới giải quyết các tranh chấp giữa họ với nhau. Đó là giải pháp thương lượng hòa bình.
Tổ chức quốc tế mới Liên Hiệp Quốc (United Nations) ra đời cung cấp nơi họp, và tại đó các quốc gia cố gắng làm việc, đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề đang có sự khác nhau về chính kiến giữa họ. Hội nghị tổ chức Liên Hiệp Quốc họp tại San Francisco Hoa Kỳ giữa tháng 4 và tháng 6 đưa ra dự thảo "Hiến chương Liên Hiệp Quốc". Và ngày 24.10.1945, sau khi Hiến chương được phê chuẩn, 50 quốc gia dự họp ký Hiến chương trở thành 50 thành viên chính thức của tổ chức quốc tế mới nầy. Và đến nay năm 2016, số quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc là 193. Hai quốc gia còn lại là Đài Loan bị trục xuất năm 1971 (để thu nhận Trung Quốc thay thế), và Vatican City có dân số dưới 1000 người, đều có quan sát viên thường trực.
Mục tiêu của Liên Hiệp Quốc là: (1) duy trì an ninh hòa bình thế giới, (2) phát triển quan hệ thân thiện giữa các quốc gia, (3) thực hiện hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo, khuyến khích tôn trọng nhân quyền, và các quyền tự do cơ bản. Và (4) phối hợp hoạt động giữa các quốc gia là tâm điểm của Hiến chương. Đó là kết luận chung tại Hội nghị thành lập Liên Hiệp Quốc.
4. Chủ nghĩa Cộng sản và Chiến tranh lạnh.
Sự vận động chính trị theo khuynh hướng Cộng sản lần đầu tiên thành công ở Nga năm 1917, và phát triển nhanh sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Cuối thập niên 1940, chính quyền kiểu Cộng sản Xô viết được thành lập trong hầu hết các quốc gia ở Đông Âu. Đức quốc bị chia đôi chính quyền Cộng sản thống trị phía Đông, và chính quyền Dân chủ cai trị ở phía Tây. Năm 1949, phe Cộng sản đánh bại phe Quốc gia nắm quyền cai trị Trung Quốc, với tên gọi Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc. Một số quốc gia khác ở Châu Á cũng nằm dưới sự cai trị, hoặc manh nha chiếm quyền cai trị bởi những người cộng sản.
Lo sợ trước sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, Hoa Kỳ và các nước đồng minh phương Tây bắt đầu đề ra các sự trợ giúp kinh tế, và quân sự cho những quốc gia Không Cộng sản. Sự kình địch giữa thế giới Cộng sản do Liên Xô lãnh đạo, và thế giới Không Cộng sản do Hoa Kỳ lãnh đạo, kéo dài tới bốn thập kỷ từ cuối thập kỷ 1940 đến cuối thập kỷ 1980 dưới cái tên người ta thường gọi là "cuộc chiến tranh lạnh". Tại châu Á, chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) nổ ra khi quân đội Bắc Triều Tiên Cộng sản xua quân đánh chiếm Nam Triều Tiên không Cộng sản. Tại châu Âu, chiến tranh lạnh xuất hiện nhiều lần tại thành phố bị chia cắt Berlin của nước Đức. Năm 1961, chính quyền Cộng sản cho xây một bức tường để ngăn chận những người Đông Đức trốn thoát sang Tây Đức.
Tại châu Mỹ, nổi bậc nhất là vụ tên lửa hạt nhân tại Cuba năm 1962. Những người Cộng sản nắm quyền ở Cuba năm 1959. Tháng 10 năm 1962, Hoa Kỳ phát hiện Liên Xô đã từng bước đặt một số tên lửa có đầu đạn hạt nhân ở Cuba, nơi có thể phóng tên lửa tấn công các thành phố Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng được giải quyết, sau khi Liên Xô và Tổng Thống Mỹ Kenedy đạt tới thoả thuận: Liên Xô triệt thoái các tên lửa hạt nhân của họ ra khỏi Cuba. Đổi lại, Hoa Kỳ cũng phải rút các đầu đạn hạt nhân của Mỹ khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Và, Kenedy còn phải cam kết, là Hoa Kỳ sẽ không xâm lăng Cuba.
Có thể nói chiến tranh Việt Nam (1957-1975) là đỉnh cao của chiến tranh lạnh. Nó là một cuộc đọ sức giữa hai thế lực Cộng sản và Không Cộng sản thế giới. Chiến tranh kết thúc năm 1975, trong sự chiến thắng của phe Cộng sản.
5. Chủ nghĩa Đế quốc tiêu vong và Quốc gia mới xuất hiện.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II nhiều quốc gia Âu châu hoặc không đủ tiền, hoặc không muốn cai trị thuộc địa của họ thêm nữa. Thế là, chủ nghĩa đế quốc bắt đầu tiêu vong từ cuối thập niên 1940, mở rộng ra trong hai thập niên 1950 và 1960 đến cuối thập niên 1990 thì không còn tồn tại. Cảm nhận quốc gia độc lập, và muốn có chính quyền của riêng họ đang phát triển mạnh trong các thuộc địa ở châu Á, và châu Phi. Giữa thập niên 1950 và 1980, có tới 45 thuộc địa châu Phi đạt tới chính quyền độc lập theo khuynh hướng nầy. Còn tại châu Á, và Trung Đông các thuộc địa đã thâu hồi độc lập từ cuối thập niên 1940 và 1950.
Việc thành lập nhiều quốc gia mới, dẫn đến việc tăng thêm nhiều thành viên trong Liên Hiệp Quốc, ảnh hưởng lên sự cân bằng quyền lực trong tổ chức quốc tế này. Nhiều thuộc địa trở thành thành viên của một tổ chức mới, với tên gọi "Tổ chức các nước Đang phát triển" hay "Thế giới thứ ba". Việc chấm dứt chủ nghĩa đế quốc cũng tạo ra nhiều bất ổn chính trị cho thế giới. Trong nhiều trường hợp, các chính quyền mới sa thải hầu hết viên chức trong các chính quyền thuộc địa củ, những người có khả năng, và kinh nghiệm trong việc điều hành hành chánh sự vụ, làm nảy sinh những phức tạp mới lẻ ra không đáng có. Nhiều nhà lãnh đạo trong quốc gia mới đều nhận ra rằng, quả có nhiều khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chính trị, kinh tế, và xã hội...
Nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới đã có một thời gần như ổn định hoàn toàn bởi các nhà cai trị đế quốc, nay bị tan vở bởi các xung đột giữa các quốc gia mới. Chẳng hạn, tranh chấp luôn xảy ra giữa Ấn Độ và Pakistan, giữa các quốc gia à Rập và Israrel là những nơi từng một lần cai trị bởi đế quốc Anh. Nhiều quốc gia mới hy vọng rằng, khi chấm dứt được sự khai thác bóc lột của đế quốc tại thuộc địa, nó sẽ đương nhiên mang lại một điều gì đó tốt hơn cho nền kinh tế. Nhưng thực tế trái lại, họ đang phải tiếp tục đương đầu với các vấn đề nghiêm trọng như dân số tăng nhanh, nghèo đói, bệnh tật, và mù chữ.
Đa số các thuộc địa củ đều thấy rằng nền kinh tế của họ không thể phát triển, nếu không có sự đầu tư từ các quốc gia giàu có. Nhưng họ cũng hiểu ra rằng, việc đầu tư này thường dẫn đến các thay đổi chính trị, xen vào nội bộ bản xứ từ quốc gia cung cấp viện trợ, hoặc giúp đỡ đầu tư.
6. Chấm dứt Chiến tranh lạnh và thành trì Cộng sản sụp đổ.
Năm 1965, Mỹ đưa quân vào Nam Việt Nam yểm trợ chính quyền Không Cộng sản ngăn chặn sự xâm lăng của Cộng sản từ miền Bắc Việt Nam có lúc lên đến trên nửa triệu (1969) không thành công, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Nam Việt Nam năm 1975. Thế nhưng, căng thẳng giữa hai khối nước Cộng sản và Không Cộng sản thế giới lại có khuynh hướng giảm dần. Đến cuối những năm 1980, mức độ giảm xuống hết sức nhanh. Gorbachev nắm quyền lãnh đạo đảng Cộng sản và chính quyền Xô viết năm 1985, bắt đầu thực hiện một chương trình cải tổ và đổi mới tòan diện tại Liên Xô.
Năm 1987, hai nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới là Tổng Bí thư Mikhail Gorbachev, và Tổng thống Ronald Reagan ký hiệp ước phá hủy nhiều tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Hoa Kỳ và Liên Xô. Căng thẳng được giảm bớt thêm nữa vào năm 1989, khi Liên xô rút quân ra khỏi Afghanistan, nơi họ xâm chiếm trước đó 10 năm. Cũng cuối thập niên 1980, Garbachev thực hiện việc phân quyền trong hệ thống kinh tế, trao cho các Cộng hoà trong Liên bang Xô viết nhiều quyền hạn hơn. Ông ta còn mở rộng dân chủ, cho phép người dân tự do bày tỏ ý kiến trên toàn Liên bang Xô viết. Gorbachev cũng cổ vũ các thay đổi kinh tế, và chính trị ở các nước Cộng sản tại Đông Âu.
Và kết quả là, các chính quyền Không Cộng sản ra đời thay thế chính quyền Cộng sản từng nắm quyền cai trị ở đó từ cuối thập niên 1940. Năm 1990, Đông Đức thống nhất với Tây Đức thành một quốc gia duy nhất “Cọng hoà Liên bang Đức” không Cộng sản. Nhiều người tin rằng, sự kiện này là điểm mốc chấm dứt chiến tranh lạnh. Ngày 19/8/1991 các viên chức bảo thủ trong Bộ Chính trị đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức một cuộc đảo chánh nhằm lật độ Gorbachev. Nổ lực thất bại, và Quốc hội Liên bang Xô viết ra lệnh đình chỉ các hoạt động của đảng Cộng sản.
Cuối năm 1991, các nước Cộng hoà nguyên là thành viên của Liên bang Xô viết Cộng sản tuyên bố độc lập, tách khỏi Liên bang. Và Liên bang Xô viết, thành trì của chủ nghĩa Cộng sản chấm dứt sự tồn tại.
7. Thành tựu về khoa học và kỷ thụât.
Trong những năm 1900, các tiến bộ về khoa học, và kỷ thuật đã làm cho thế giới thay đổi bằng nhiều cách khác nhau thật sinh động. máy bay, xe hơi, vệ tinh viễn thông, điện toán, máy phát tia laser, chất dẻo, kỹ nghệ lạnh, vô tuyến truyền thanh, vô tuyến truyền hình, trạm không gian. Thế nhưng chỉ có một số rất ít phát minh về sự biến đổi trong đời sống của con người. Nghiên cứu bên trong cấu trúc của hạt nguyên tử, mở rộng tầm nhìn cho các khoa học gia về vũ trụ, dẫn đến việc khám phá năng lượng hạt nhân như một nguồn cung cấp lực đẩy. Các con tàu vũ trụ không người lái điều khiển từ xa thám hiểm các hành tinh khác, và gởi về trái đất vô số dữ kiện về hành tinh mới khám phá.
Thuốc kháng sinh, và các thuốc giảm đau mới khác, đã giúp kiểm soát được hầu hết các bệnh lây nhiễm. Các khoa học gia phát triển nhiều loài giống, cây trồng tốt hơn, sáng chế ra phân hoá học, thuốc trừ sâu có tác dụng cao hơn khiến sản phẩm nông nghiệp tăng vọt, chẳng những đáp ứng cho số người mới gia tăng của thế giới, mà còn cung cấp nhiều loại thực phẩm có chất lượng cao hơn. Sự tiến bộ nhanh trong lãnh vực y khoa, và tăng nhanh trong việc cung cấp thực phẩm đã làm cho hàng triệu, người sống khỏe hơn, và sống thọ hơn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thành tựu của khoa học và kỹ thuật cũng tạo ra nhiều vấn đề mới.
Tiến bộ to lớn trong nghiên cứu hạt nhân chẳng hạn, đã dẫn đến việc phát triển các loại vũ khí cực mạnh với sức tàn phá cực lớn trong các nước Liên bang Nga, Hoa Kỳ và một số quốc gia khác đe dọa nghiêm trọng an ninh và hòa bình thế giới. Kỷ thuật công nghệ tăng nhanh, cũng tạo ra các ảnh hưởng nghiêm trọng bên cạnh nó như ô nhiễm môi trường, và khan hiếm nhiên liệu. Sư gia tăng tuổi thọ, cũng góp phần làm cho dân số gia tăng quá mức trong nhiều quốc gia đang phát triển, là những nước có tỷ lệ sinh vẫn còn quá cao, trong khi tỷ lệ chết đã giảm đi nhiều.
Khoa học kỷ thuật phát triển trong các quốc gia giàu, nơi kiểm soát được tỷ lệ sinh nên mức sống không ngừng gia tăng. Ngược lại các, nước nghèo không đủ tiền trang bị kỷ thuật hiện đại, kiến thức khoa học kỷ thuật còn hạn chế, sinh xuất lại ở mức cao, nên mức sống của người dân chưa được cải thiện nhiều, nếu không muốn nói vẫn còn ở mức thấp.
8. Kỷ nguyên mới bất ổn và phụ thuộc lẫn nhau.
Trong một vài cách nào đó, thế giới ngày nay “trong kỷ nguyên mới” như được phân chia rõ ràng. Kể từ khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc năm 1945, không nổ ra chiến tranh trực tiếp giữa các thế lực chính của thế giới. Thế nhưng, cuộc chiến vẫn diễn ra hầu như mỗi ngày trên một phần đất nào đó của thế giới. Chẳng hạn, cuộc chiến giữa Do Thái và Ả Rập bắt đầu từ ngày Do Thái lập quốc năm 1948, kéo dài vào tới đầu những năm 2000’s. Đây là sự xung đột giữa Quốc gia Do Thái tân lập và các nước trong khối Ả Rập tại Palestine, vùng Trung Đông. Cả hai phe đều đòi quyền làm chủ phần đất mà họ gọi là “đất thánh” (sites holy) của cả Do Thái giáo, lẫn Hồi giáo Ả Rập. Hàng ngàn người đã chết tại vùng đất này bởi chiến tranh và các hoạt động khủng bố.
Từ thập niên 1950 đến thập niên 1970 “chiến tranh lạnh” ngấm ngầm hoặc bùng phát xung đột tại nơi này nơi khác như Berlin, Cuba, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam. Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và chấm dứt chiến tranh lạnh cuối thập niên 1980, và đầu thập niên 1990, dẩn đến một sự trống vắng quyền lực tại nhiều nơi ở Đông Âu và Trung Á, góp phần gây chia rẽ chính trị, xung đột, và bạo loạn giữa các sắc tộc và tôn giáo tại vùng này. Tại Trung Đông, thì năm 1990, Iraq xua quân xâm chiếm Kuwait. Hoa Kỳ, Anh Quốc, và một số nước trong vùng phải đưa quân vào đánh đuổi Irag ra khỏi Kuwait năm 1991.
Năm 1998, chính quyền Serbia xóa bỏ quyền tự trị của tỉnh Kosovo, nơi có nhóm sắc tộc Albanian chiếm đa số. Năm 1999, Hoa Kỳ và nhiều nước châu Âu lại đưa quân vào can thiệp. Trên lãnh vực kinh tế, hố sâu giữa các quốc gia đã phát triển, và đang phát triển ngày càng tăng. Khoảng 60% cư dân trong thế giới thứ ba đang sống trong tình trạng dưới cả mức nghèo đói, trong khi các nước đã phát triển có một đời sống khá xa hoa. Sản phẩm nông nghiệp, năng xuất công nghiệp, và hệ thống ngân hàng phát triển hết sức nhanh trong các quốc gia đã phát triển, trái lại tại nhiều nước châu Phi và châu Á tình trạng phát triển kinh tế còn rất chậm chạp.
Liên Hiệp Quốc và các tổ chức tài chánh cạnh nó như Ngân hàng Thế giới, Quỷ tiền tệ Thế giới có các chương trình trợ giúp cho các nước đang phát triển tại châu Á và châu Phi vay vốn để phát triển. Một số quốc gia đã phát triển cũng đang có những hổ trợ tài chánh, và giúp đở về kỹ thuật cho các quốc gia đang phát triển. Sự phát triển của thế giới cũng đẻ ra những vấn đề mà không một quốc gia hay chính phủ nào có thể giải quyết được. Đó là nạn ô nhiểm môi trường, và sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Mỗi nước còn phải phụ thuộc vào một, hoặc nhiều tổ chức chính trị, hoặc kinh tế thế giới. Tại đó, họ sẽ cùng nhau làm việc để đề ra các giải pháp giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu như sức khoẻ, điều kiện nơi làm việc, gia tăng mậu dịch, ổn định nền kinh tế thế giới...
Cho dù ranh giới các quốc gia đã được phân định, thế giới giữa con người với con người trên các lục địa bị ràng buộc với nhau nhiều hơn. Hệ thống kết nối điện toán, và truyền thông điện tử, cũng như hệ thống chuyển vận xuyên lục địa là những phương tiện, người ta có thể sử dụng để chia xẻ thông tin, và chính kiến trên toàn cỏi địa cầu. Sự giao lưu giữa một nền văn hoá này với các nền văn hoá khác đang tăng nhanh. Phương tiện vận chuyển thuận lợi và nhanh chóng cũng giúp sự lây lan các bệnh hiểm nghèo nhanh hơn. Chẳng hạn sự lây nhiểm verus HIV nguyên nhân của bệnh AIDS căn bệnh đã cướp đi hàng triệu mạng sống, bắt đầu từ Châu Phi trong thập niên 1970 lan sang các phần khác của thế giới.
Trong năm 2003, một loại verus tạo ra “Hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng” (Severe Acute Respiratory Syndrome) còn gọi là bệnh SARS xuất hiện từ Trung Quốc cũng lan nhanh gây sự sợ hải khắp nơi, như là một cuộc khủng hoảng về y tế của thế giới…
9. Chiến tranh chống khủng bố và phối hợp quốc tế.
Kỷ thuật hiện đại cũng giúp bành trướng khủng bố. Sau chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, một số tín đồ Hồi giáo phản đối sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Ả Rập Saudi. Saudi là nơi sinh của nhà triệu phú cực đoan Osama bin Laden, người cầm đầu tổ chức mạn lưới khủng bố al-Qa’ida. Ngày 11/9/2001, những tên khủng bố al Qa’ida cướp 3 máy bay phản lực thương mại đâm vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở thành phố New York, và lầu 5 góc Bộ Quốc phòng Mỹ gần Washington D.C, một chiếc khác đâm xuống vùng quê Pennsylvania., giết chết khoảng 3000 người.
Đáp trả vụ khủng bố nầy, Hoa Kỳ cầm đầu một Liên minh gồm Anh và một số nước khác tiến quân vào Afghanistan, nơi ẩn trú của bin Laden lật đổ chính quyền Taliban, cầm đầu bởi nhóm Hồi giáo cực đoan, đang hậu thuẩn cho bin Ladin và al Qa’ida. Sau đó, Liên Hiệp Quốc trợ giúp thành lập chính quyền mới ở Afghanistan. Người ta nghĩ rằng, Afghanistan là một quốc gia có đường biên giới hiểm trở, thông giao với các nước khác. Là nơi trú ẩn an toàn cho các nhóm khủng bố. Và do vậy, chiến tranh chống khủng bố có thể còn tiếp tục trong tương lai.
Đầu năm 2003, Tổng thống Hoa Kỳ George W.Bush, tố cáo nhà lãnh đạo Iraq là Sadam Hussein ủng hộ các nhóm khủng bố quốc tế, và đang tiến hành sản xuất vũ khí có sức sát thương hàng loạt như vũ khí hạt nhân, sinh học, hóa học. Và tháng 3/2003 Hoa Kỳ lãnh đạo Liên minh gồm Anh, Úc và các nước khác xâm lăng Iraq, lật đổ chính quyền chính quyền Iraq. Nhưng những tháng sau đó, các toán chuyên viên về hạt nhân không tìm thấy các loại vũ khí có sức sát thương lớn ở Iraq.
Từ buổi bình minh của lịch sử loài người, nhiều sắc dân khác nhau từng phối hợp hoạt động. Có lúc có nơi xẩy ra xung đột, rồi hợp tác, lại xung đột, rồi lại hợp tác. Thế nhưng, nhờ có phối hợp hoạt động mà các nền văn minh nhân loại xuất hiện, phát triển và không ngừng được nâng cao. Từ sau 1500, những người vượt biển Châu Âu đã mang người của thế giới lại gần nhau hơn không phân biệt màu da, chủng tộc. Ngày nay, mọi người đều thừa nhận rằng, sự phối hợp quốc tế trong các xã hội khác nhau là cần thiết.
Đây là một đề nghị nghiêm túc, cũng là một niềm hy vọng, rằng các quốc gia có thể giải quyết những điểm dị biệt giữa họ trong hoà bình, tránh các xung đột không đáng có. Đó là ước mong chung của nhân loại trong những năm đầu của thế kỷ XXI.
B. HIỆN TRẠNG THẾ GIỚI NĂM 2016.
I. Khái quát.
Hành tinh mà chúng ta đang sống thường gọi là “trái đất” hay thế giới, được chúng ta xem như ngôi nhà chung của nhân loại, và các loài có sự sống. Nó chỉ là một trong vô vàn hành tinh của khoảng không vũ trụ bao la. Từ rất sớm con người đã sống trên trái đất, họ biết thích nghi với điều kiện tự nhiên để tồn tại. Buổi đầu họ sống bằng hái lượm và săn bắt cỏ cây, thú vật hoang dã có sẵn trong tự nhiên. Họ dùng da, hoặc lông thú làm quần áo, và cây lá để làm chỗ ở. Nhưng dần dà thực phẩm có sẵn trong tự nhiên ấy trở nên khan hiếm, họ bắt đầu tự sản xuất thực phẩm để nuôi sống mình, bằng cách trồng trọt, và chăn nuôi.
Và, chỉ khoảng 10,000 năm gần đây thôi, người ta mới bắt đầu định cư một nơi nào đó có đất tốt, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp. Họ sản xuất ra được nhiều thực phẩm hơn không chỉ nuôi sống bản thân mà còn có thể nuôi sống thêm nhiều người khác. Làng mạc ra đời, và người ta canh tân cách sống của từng nhóm người lớn hơn. Lần theo thời gian, người ta sáng tạo kỹ thuật làm việc tốt hơn, và gia tăng các tiện nghi trong đời sống xã hội. Họ bắt đầu xây dựng thị trấn, thành phố, phát triển văn hóa, và tạo ra sức mạnh chế ngự phần nào sự khống chế của tự nhiên.
Bề mặt trái đất gồm nước, đất, không khí bao quanh nó mở rộng ra ngoài khoảng không vũ trụ. Nước chủ yếu là các Đại Dương chiếm trên 70% diện tích trái đất. Tất cả sự sống đều cần có nước để sống, cũng như cần có không khí để thở vậy. Người ta dùng nước để tưới tiêu cho cây trồng, cho nông nghiệp, cho thủy điện, và cho vận chuyển đường thủy. Ngoài ra, đại dương, sông ngòi, ao hồ còn là nguồn cung cấp cá, và nhiều loại thực phẩm khác. Đại Dương phân cách các vùng đất lớn gọi là lục địa. Hầu hết các quốc gia đều nằm trên các lục địa. Cũng có một số ít nằm trên các hải đảo.
Mỗi quốc gia có một hệ thống chính trị, kinh tế riêng. Tuy nhiên, các quốc gia đều liên kết với nhau bằng nhiều cách. Chẳng hạn, Hiệp ước thương mại, hòa ước chấm dứt chiến tranh. Hầu hết người ta sống trên các vùng đồng bằng, bình nguyên, nơi đất đai màu mỡ dễ dàng cho việc sản xuất thực phẩm. Các vùng núi, đồi nơi đất bị xói mòn bởi mưa nắng không hoặc ít có người ở. Thành phố thường được xây dựng trên bờ biển, bờ hồ, hoặc ven sông dễ dàng cho tàu thuyền đi lại, và trở thành trung tâm thương mại quan trọng. Các thành phố lớn đều có lộ trình vận chuyển bằng đường thủy.
Sách Bách khoa Thế giới năm 2015, ghi nhận thế giới hiện có hơn 7,2 tỷ người, chia ra không đồng đều trên các lục địa. Nhiều khu vực cư dân sống dày đặc, nơi khác thì thưa thớt, hoặc không có người ở. Dân số lại tăng nhanh ở một số quốc gia, và các quốc gia khác thì chậm hơn. Tất cả người trên thế giới đều thuộc chủng tộc "Homo Sapiens" nghĩa là họ có cùng một thủy tổ loài người. Nhưng nhiều nhóm người đã sống riêng biệt trong một thời gian dài, do đó, có sự khác biệt về mức độ phát triển giữa nhóm nầy và nhóm khác. Các thành viên của một nhóm, chủng tộc, lại lai tạo với các nhóm, chủng tộc khác.
Trong vài trường hợp có thể phân biệt nhóm này với nhóm khác qua màu da, đôi mắt. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại sử dụng các loại máu, hoặc đặc trưng cơ thể qua phản ứng hóa học để so sánh chủng tộc. Chủng tộc thường bị lẫn lộn với sự khác nhau về văn hóa, ngôn ngữ, và tôn giáo. Sự thực, các khác biệt về văn hóa và chủng tộc, đôi khi chỉ dựa vào thành kiến, và phân biệt đối xử. Trong từng thời điểm nhất định, người ta đã đưa ra các lời xin lỗi cho việc chiếm hữu nô lệ, nô dịch văn hóa, bạo động, và chiến tranh.
Năm 2015, thế giới có 196 quốc gia độc lập, và 43 vùng tự trị, chủ yếu là vùng, và lãnh thổ thuộc địa. Một quốc gia độc lập được hiểu là tự mình quản lý lấy quốc gia mình, cả đường lối đối nội lẫn đối ngoại. Trái lại, các vùng, và lãnh thổ lại phụ thuộc vào một quốc gia độc lập khác. Có trên dưới 7.200 triệu người sống trong các quốc gia độc lập. Và chỉ có trên, dưới 10 triệu người sống trên các vùng, và lãnh thổ tự trị.
196 quốc gia độc lập của thế giới (World Book 2015)
Stt | Tên quốc gia | Diện tích:(km2) | Sắp hạng | Dân số: (ngàn) (2012) | Dân số: (ngàn) (2015) | Sắp hạng | Thủ đô |
1 | Afghanistan | 652.230 | 40 | 30.576 | 35.153 | 40 | Kabul |
2 | Albania | 28.748 | 141 | 3.203 | 3.248 | 134 | Tirane |
3 | Algeria | 2.381.741 | 10 | 36.435 | 37.457 | 34 | Algiers |
4 | Andorra | 468 | 180 | 85 | 86 | 186 | Andorra |
5 | Angola | 1.246.700 | 22 | 19.979 | 21.312 | 59 | Luanda |
6 | Antigua-Barbada | 442 | 183 | 90 | 93 | 184 | Saint John |
7 | Argentina | 2.780.400 | 8 | 41.496 | 41.963 | 32 | Buenos |
8 | Armenia | 29.743 | 139 | 3.102 | 3.124 | 135 | Yerevan |
9 | Australia | 7.692.024 | 6 | 22.549 | 23.640 | 54 | Canberra |
10 | Austria | 83.871 | 112 | 8.412 | 8.486 | 93 | Vienna |
11 | Azebaijan | 86.600 | 111 | 9.191 | 9.456 | 90 | Baku |
12 | Bahamas | 13.959 | 156 | 354 | 359 | 170 | Nassau |
13 | Bahrain | 741 | 176 | 829 | 1.315 | 158 | Manama |
14 | Bangladesh | 143.998 | 93 | 169.035 | 156.208 | 7 | Dhaka |
15 | Barbados | 430 | 184 | 278 | 277 | 174 | Bridgetown |
16 | Belarus | 207.600 | 84 | 9.548 | 9.431 | 88 | Minsk |
17 | Belgium | 30.528 | 137 | 10.846 | 11.047 | 78 | Brussels |
18 | Belize | 22.966 | 148 | 327 | 338 | 172 | Belmopan |
19 | Benin | 112.622 | 100 | 9.746 | 9.940 | 87 | Porto-Novo |
20 | Bhutan | 38.394 | 133 | 731 | 751 | 160 | Thimphu |
21 | Bolivia | 1.098.581 | 27 | 10.375 | 10.987 | 83 | La Paz; Sucre |
22 | Bosnia-Herzegovina | 51.209 | 125 | 3.773 | 3.785 | 127 | Sarajevo |
23 | Botswana | 581.730 | 46 | 2.038 | 2.112 | 144 | Gabarone |
24 | Brazil | 8.514.877 | 5 | 199.604 | 198.205 | 5 | Brasilia |
25 | Brunei | 5.765 | 165 | 421 | 413 | 168 | Bandar Seri |
26 | Bulgaria | 110.879 | 103 | 7.432 | 7.264 | 97 | Sofia |
27 | Burkina Faso | 274.200 | 74 | 17.268 | 18.531 | 61 | Ouagadougou |
28 | Burundi | 27.834 | 143 | 9.073 | 9.261 | 92 | Bujumbura |
29 | Cambodia | 181.035 | 88 | 15.555 | 15.025 | 66 | Phnom Penh |
30 | Cameroon | 475.442 | 53 | 20.717 | 21.344 | 58 | Yaounde |
31 | Canada | 9.984.670 | 2 | 34.967 | 35.307 | 37 | Ottawa |
32 | Cape Verde | 4.033 | 167 | 523 | 515 | 166 | Praia |
33 | CentralAfricanRep | 622.984 | 43 | 4.994 | 4.756 | 116 | Bangui |
34 | Chad | 1.284.000 | 20 | 12.110 | 12.444 | 73 | N'Djamena |
35 | Chile | 756.096 | 37 | 17.432 | 17.719 | 60 | Santiago |
36 | China | 9.574.033 | 3 | 1.359.243 | 1.375.709 | 1 | Beijing |
37 | Colombia | 1.141.748 | 25 | 47.324 | 48.752 | 28 | Bogota |
38 | Comoros | 1.862 | 171 | 726 | 798 | 162 | Moroni |
39 | CongoDemocratic Republic | 2.344.858 | 11 | 71.932 | 73.225 | 19 | Kinshasa |
40 | Congo-Republic | 342.000 | 64 | 4.097 | 4.458 | 126 | Brazziville |
41 | Costa-Rica | 51.100 | 126 | 4.763 | 4.763 | 119 | San José |
42 | Côte d'Ivoire | 322.463 | 68 | 22.912 | 21.977 | 53 | Yamoussouko |
43 | Croatia | 56.594 | 124 | 4.426 | 4.385 | 122 | Zagreb |
44 | Cuba | 109.886 | 104 | 11.268 | 11.189 | 74 | Havana |
45 | Cyprus | 9.251 | 164 | 897 | 893 | 156 | Nicosia |
46 | Czech Republic | 78.867 | 114 | 10.428 | 10.598 | 81 | Prague |
47 | Denmark | 43.094 | 130 | 5.570 | 5.639 | 109 | Copenhagen |
48 | Djibouti | 23.200 | 147 | 912 | 958 | 155 | Djibouti |
49 | Dominica | 751 | 174 | 73 | 71 | 187 | Roseau |
50 | Dominican Rep. | 48.671 | 128 | 10.464 | 10.429 | 80 | Sant.Domingo |
51 | East Timor | 14.874 | 155 | 1.243 | 1.232 | 153 | Dili |
52 | Ecuador | 283.561 | 73 | 14.214 | 15.300 | 69 | Quito |
53 | Egypt | 1.001.450 | 29 | 82.397 | 86.022 | 15 | Cairo |
54 | El Salvador | 21.041 | 150 | 6.275. | 6.321 | 106 | San Salvador |
55 | Equatorial Guinea | 28.051 | 142 | 730 | 780 | 161 | Malabo |
56 | Eritrea | 117.600 | 99 | 5.511 | 5.902 | 111 | Asmara |
57 | Estonia | 45.227 | 129 | 1.321 | 1.338 | 149 | Tallinn |
58 | Ethiopia | 1.104.300 | 26 | 89.167 | 9.626 | 14 | Addis Ababa |
59 | Fiji | 18.333 | 152 | 869 | 889 | 157 | Suva |
60 | Finland | 338.419 | 65 | 5.393 | 5.437 | 113 | Helsinki |
61 | France | 551.500 | 48 | 63.293 | 64.097 | 21 | Paris |
62 | Gabon | 267.667 | 76 | 1.554 | 1.662 | 149 | Libreville |
63 | Gambia | 11.295 | 160 | 1.847 | 1.923 | 146 | Banjul |
64 | Georgia | 69.700 | 119 | 4.393 | 4.394 | 123 | Tibilisi |
65 | Germany | 357.114 | 63 | 81.749 | 81.310 | 16 | Berlin |
66 | Ghana | 238.533 | 80 | 25.192 | 26.697 | 48 | Accra |
67 | Greece | 131.957 | 95 | 11.208 | 10.850 | 75 | Athens |
68 | Grenada | 344 | 186 | 106 | 106 | 181 | St George's |
69 | Guatemala | 108.889 | 105 | 15.065 | 15.445 | 67 | Guatemala.Cy |
70 | Guinea | 245.857 | 77 | 10.891 | 11.438 | 76 | Conakry |
71 | Guinea Bissau | 36.125 | 134 | 1.710. | 1.667 | 148 | Bissau |
72 | Guyana | 214.969 | 83 | 760 | 761 | 159 | George Town |
73 | Haiti | 27.750 | 144 | 10.411 | 10.518 | 82 | Port-au-Prince |
74 | Honduras | 112.492 | 101 | 7.738 | 8.278 | 93 | Tegucigalpa |
75 | Hungary | 93.028 | 108 | 9.930 | 9.907 | 85 | Budapest |
76 | Iceland | 103.000 | 106 | 332 | 330 | 171 | Reykjavik |
77 | India | 3.287.263 | 7 | 1.219.187 | 1.291.307 | 2 | New Delhi |
78 | Indonesia | 1.904.569 | 14 | 240.138 | 249.965 | 4 | Jakarta |
79 | Iran | 1.648.195 | 17 | 76.740 | 77.386 | 18 | Tehran |
80 | Iraq | 438.317 | 58 | 33.131 | 36.421 | 38 | Baghdad |
81 | Ireland | 70.273 | 118 | 4.686 | 4.747 | 120 | Dublin |
82 | Israel | 22.072 | 149 | 7.811 | 7.945 | 95 | Jerusalem |
83 | Italy | 301.336 | 71 | 60.661 | 61.374 | 23 | Rome |
84 | Jamaica | 10.991 | 161 | 2.760 | 2.780 | 138 | Kingston |
85 | Japan | 377.930 | 62 | 126.243 | 126.118 | 10 | Tokyo |
86 | Jordan | 89.342 | 109 | 6.734 | 6.589 | 103 | Amman |
87 | Kazakhstan | 2.724.900 | 9 | 16.388 | 17.218 | 64 | Astana |
88 | Kenya | 580.367 | 47 | 42.624 | 45.046 | 31 | Nairobi |
89 | Kiribati | 811 | 173 | 103 | 105 | 183 | Tarawa |
90 | Korea, North | 120.538 | 97 | 24.151 | 24.753 | 50 | Pyongyang |
91 | Korea, South | 99.678 | 107 | 48.653 | 48.945 | 26 | Seoul |
92 | Kosovo | 10.908 | 162 | 2.220 | 2.235 | 140 | Pristina |
93 | Kuwait | 17.818 | 153 | 3.205 | 3.027 | 133 | Kuwait |
94 | Kyrgyzstan | 199.951 | 85 | 5.550. | 5,615 | 110 | Bishkek |
95 | Laos | 236.800 | 82 | 6.660 | 6.665 | 105 | Vientiane |
96 | Latvia | 64.589 | 122 | 2.219 | 2.165 | 141 | Riga |
97 | Lebanon | 10.452 | 163 | 4.325 | 4.201 | 125 | Beirut |
98 | Lesotho | 30.355 | 138 | 2.058 | 1.991 | 142 | Maseru |
99 | Liberia | 111.369 | 102 | 4.360 | 4.465 | 124 | Monrovia |
100 | Libya | 1.759.540 | 17 | 6.793 | 6.716 | 102 | Tripoli |
101 | Lichtenstein | 160 | 191 | 37 | 37 | 190 | Vaduz |
102 | Lithuania | 65.300 | 121 | 3.238 | 3.264 | 132 | Vilnius |
103 | Luxembourg | 2.586 | 169 | 509 | 534 | 167 | Luxemburg |
104 | Macedonia | 25.713 | 146 | 2.054 | 2.076 | 143 | Skopje |
105 | Madagascar | 587.041 | 45 | 21.146 | 23.224 | 56 | Autananarivo |
106 | Malawi | 118.484 | 98 | 16.312 | 16.925 | 65 | Lilongwe |
107 | Malaysia | 329.847 | 67 | 29.161 | 30.240 | 44 | Kuala Lumpur |
108 | Maldives | 298 | 188 | 323 | 339 | 173 | Male |
109 | Mali | 1.240.192 | 23 | 14.526 | 16.964 | 68 | Bamaka |
110 | Malta | 316 | 187 | 414 | 422 | 169 | Valletta |
111 | Marshall Islands | 181 | 190 | 66 | 58 | 188 | Majuro |
112 | Mauritania | 1.030.700 | 28 | 3.384 | 3.785 | 130 | Nouakchott |
113 | Mauritius | 2.040 | 170 | 1.296 | 1.314 | 152 | Port Luis |
114 | Mexico | 1.964.375 | 13 | 110.155 | 118.764 | 11 | Mexico City |
115 | Micronesia, Fed, | 702 | 178 | 112 | 106 | 179 | Palikir |
116 | Moldova | 33.850 | 136 | 3.535 | 3.473 | 129 | Chisinau |
117 | Monaco | 1,95 | 195 | 32 | 33 | 191 | Monaco |
118 | Mongolia | 1.564.116 | 18 | 2.791 | 2.930 | 137 | Ulan Bator |
119 | Montenegro | 13.812 | 157 | 624 | 634 | 163 | Podgorica |
120 | Morocco | 446.550 | 57 | 32.670 | 33.241 | 39 | Rabat |
121 | Mozambique | 799.380 | 34 | 22.351 | 25.329 | 51 | Maputo |
122 | Myanmar | 676.578 | 39 | 51.536 | 49.861 | 24 | Yangon |
123 | Namibia | 824.292 | 33 | 2.286 | 2.443 | 139 | Windhoek |
124 | Nauru | 21 | 194 | 10 | 10 | 194 | |
125 | Nepal | 147.181 | 92 | 29.986 | 30.903 | 42 | Kathmandu |
126 | Netherlands | 41.528 | 131 | 16.726 | 16.805 | 63 | Amsterdam |
127 | New Zealand | 270.534 | 75 | 4.455 | 4.554 | 121 | Wellington |
128 | Nicaragua | 130.373 | 96 | 6.039 | 6.124 | 108 | Managua |
129 | Niger | 1.267.000 | 21 | 17.031 | 17.826 | 62 | Niamey |
130 | Nigeria | 923.768 | 31 | 164.055 | 175.117 | 8 | Abuja |
131 | Norway | 385.179 | 61 | 4.786 | 4.087 | 114 | Oslo |
132 | Oman | 309.500 | 70 | 3.088 | 3.074 | 136 | Muscat |
133 | Pakistan | 796.095 | 35 | 192.609 | 186.297 | 6 | Islamabad |
134 | Palau | 459 | 181 | 20 | 21 | 193 | Koror |
135 | Panama | 75.517 | 116 | 3.608 | 3.706 | 128 | Panama City |
136 | Papua New Guinea | 462.840 | 54 | 7.079 | 7.307 | 101 | Port Morestby |
137 | Paraguay | 406.752 | 59 | 6.665 | 6.904 | 104 | Asoncion |
138 | Peru | 1.285.216 | 19 | 30.156 | 30.363 | 41 | Lima |
139 | Philippines | 300.000 | 72 | 97.097 | 100.155 | 12 | Manila |
140 | Poland | 312.685 | 69 | 38.116 | 38.345 | 33 | Warsaw |
141 | Portugal | 88.967 | 110 | 10.240 | 10.210 | 84 | Lisbon |
142 | Qatar | 11.586 | 159 | 1.726 | 2.037 | 147 | Doha |
143 | Romania | 238.391 | 81 | 21.371 | 21.288 | 55 | Bucharest |
144 | Russia | 17.098.242 | 1 | 140.030 | 142.408 | 9 | Moscow |
145 | Rwanda | 26.338 | 145 | 10.864 | 11.930 | 77 | Kigali |
146 | St Kitls + Nevis | 261 | 189 | 51 | 54 | 189 | Basseterre |
147 | St Lucia | 616 | 179 | 177 | 180 | 177 | Castries |
148 | StVincentGrenadines | 389 | 185 | 109 | 109 | 180 | Kingstown |
149 | Samoa | 2.831 | 168 | 193 | 191 | 176 | Apia |
150 | San Marino | 61 | 192 | 32 | 34 | 191 | San Marino |
151 | São Tomé-Principle | 964 | 172 | 173 | 179 | 178 | São Tomé |
152 | Saudi Arabia | 2.149.690 | 12 | 27.780 | 29.627 | 46 | Riyadh |
153 | Senegal | 196.722 | 86 | 13.474 | 13.790 | 71 | Dakar |
154 | Serbia | 77.474 | 115 | 7.240 | 7.183 | 99 | Belgrade |
155 | Seychelles | 455 | 182 | 89 | 91 | 185 | Victoria |
156 | Sierra Leon | 71.740 | 117 | 6.103 | 6.381 | 107 | Freetown |
157 | Singapore | 705 | 177 | 4.928 | 5.473 | 118 | Singapore |
158 | Slovakia | 49.035 | 127 | 5.428 | 5.498 | 112 | Bratislava |
159 | Slovenia | 20.273 | 151 | 2.038 | 2.066 | 144 | Ljubljana |
160 | Solomon Islands | 28.896 | 140 | 559 | 594 | 164 | Honiara |
161 | Somalia | 637.657 | 42 | 9.904 | 10.310 | 86 | Mogadishu |
162 | South Africa | 1.219.090 | 24 | 50.461 | 51.236 | 25 | Cape Town |
163 | Spain | 505.992 | 51 | 47.043 | 10.568 | 29 | Madrid |
164 | Sri Lanka | 65.610 | 120 | 20.901 | 47.324 | 57 | Colombo |
165 | Sudan | 1.861.484 | 15 | 36.024 | 21.554 | 36 | Khartoum |
166 | Sudan South | 644.329 | 41 | 9.100 | 35.868 | 91 | Juba |
167 | Suriname | 163.820 | 90 | 533 | 543 | 165 | Paramaribo |
168 | Swaziland | 17.364 | 154 | 1.234 | 1.253 | 154 | Mbabane |
169 | Sweden | 450.925 | 55 | 9.418 | 9.659 | 89 | Stockholm |
170 | Switzerland | 41.285 | 132 | 7.652 | 8.048 | 96 | Bern |
171 | Syria | 185.180 | 87 | 23.213 | 22.492 | 52 | Damascus |
172 | Taiwan | 36.006 | 135 | 23.222 | 23.348 | 51 | Taipei |
173 | Tajikistan | 143.100 | 94 | 7.345 | 7.287 | 98 | Dashanbe |
174 | Tanzania | 945.087 | 30 | 47.638 | 48.760 | 27 | Dodoma |
175 | Thailand | 513.120 | 50 | 68.991 | 70.567 | 20 | Bankok |
176 | Togo | 56.785 | 123 | 7.128 | 6.539 | 100 | Lomé |
177 | Tonga | 747 | 175 | 106 | 106 | 181 | Nuku’alofa |
178 | Trinidad-Tobago | 5.130 | 166 | 1.351 | 1.335 | 150 | Port of Spain |
179 | Tunisia | 163.610 | 91 | 10.711 | 10.918 | 79 | Tunis |
180 | Turkey | 783.562 | 36 | 77.542 | 76.187 | 17 | Ankara |
181 | Turkmenistan | 488.100 | 52 | 5.304 | 5.297 | 114 | Ashgabat |
182 | Tuvalu | 26 | 193 | 10 | 10 | 194 | Funafuti |
183 | Uganda | 241.038 | 79 | 36.056 | 38.039 | 35 | Kampala |
184 | Ukraine | 603.700 | 44 | 45.026 | 45.060 | 30 | Kiev |
185 | UnitedArab-Emirates | 83.600 | 113 | 5.108 | 8.416 | 115 | Abu Dhabi |
186 | United Kingdom | 242.905 | 78 | 62.761 | 63.643 | 22 | London |
187 | United States | 9.366.014 | 4 | 315.746 | 321.137 | 3 | Washington |
188 | Uruguay | 176.215 | 89 | 3.395 | 3.416 | 131 | Montevideo |
189 | Uzbekistan | 447.400 | 56 | 28.456 | 28.720 | 45 | Tashkent |
190 | Vanuata | 12.190 | 158 | 257 | 264 | 175 | Port Vila |
191 | Vatican City | 0.44 | 196 | 1. | 1 | 196 | |
192 | Venezuala | 912.050 | 32 | 29.977 | 30.592 | 43 | Caracas |
193 | Vietnam | 331.212 | 66 | 91.007 | 91.537 | 13 | Hà Nội |
194 | Yemen | 527.968 | 49 | 25.453 | 27.115 | 47 | Sanaa |
195 | Zambia | 752.612 | 38 | 13.905 | 14.746 | 70 | Lusaka |
196 | Zimbabwe | 390.757 | 60 | 13.321 | 13.594 | 72 | Harare |
43 Vùng lãnh thổ tự trị phụ thuộc là:
Số thứ tự | Tên lãnh thổ Tự trị | Diện tích. km2 | Dân số: (ngàn) (2012) | Dân số: (ngàn) (2015) | Phụ thuộc | Thành phố thủ đô |
1 | Bonaire (Netherlands) | 294 | 12 | 16 | H.Lan | Kralendijk |
2 | Cayman Islands (UK) | 262 | 56 | 58 | Anh | George Town |
3 | Channel Islands (UK) | 194 | 150 | 160 | Anh | St.Helier;StPeter |
4 | Cook-Islands(N.Zealand) | 236 | 20 | 20 | N.Zea | Avarua |
5 | Curacao (Netherlands) | 444 | 137 | 148 | H.Lan | Willemstad |
6 | Easter Islands (Chile) | 164 | 4 | 4 | Chi.Lê | |
7 | Falkland Islands (UK) | 12.173 | 3 | 3 | Anh | Stanley |
8 | Faroe Islands (Denmark | 1.399 | 50 | 50 | Đ.Mạch | Torshavn |
9 | French Guiana (France) | 85.534 | 243 | 255 | Pháp | Cayenne |
10 | French Polynesia(France | 4.167 | 280 | 283 | Pháp | Papeete |
11 | Gaza Strip (Israel) | 365 | 1.700 | 1.780 | Israel | Gaza |
12 | Gibraltar (UK) | 6,5 | 30 | 30 | Anh | Gibraltar |
13 | Greenlands (Denmark) | 2.166.086 | 57 | 58 | Đ.Mạch | Nuuk |
14 | Guadeloupe (France) | 1.705 | 470 | 469 | Pháp | Basse-Terre |
15 | Guam (US) | 544 | 185 | 189 | Koa Kỳ | Hagatna |
16 | Madeira Islands (Portugal) | 801 | 251 | 280 | B.Đ.Nha | Funchal |
17 | Man Isle of (UK) | 572 | 81 | 86 | Anh | Douglas |
18 | Martinique (France) | 1.128 | 408 | 410 | Pháp | Fort de Frence |
19 | Mayotte (France) | 174 | 213 | 231 | Pháp | Mamoudzou |
20 | Midway Island (US) | 5 | 0,04 | 0,04 | Hoa Kỳ | - |
21 | Montserrat (UK) | 102 | 5 | 5 | Anh | - |
22 | New Caledonia (France) | 18.575 | 260 | 266 | Pháp | Nouméa |
23 | Niue Island (New Zealand) | 260 | 2 | 1 | N.Zea | - |
24 | Norfokd Islands (Australia) | 35 | 2 | 2 | Úc | - |
25 | Northern Mariana Isl.(US) | 464 | 91 | 50 | Hoa Kỳ | Saipan |
26 | Pitcairn Island Gr.(UK) | 47 | 0,05 | 0,05 | Anh | - |
27 | Puerto Rica (US) | 8.870 | 4.001 | 3.770 | Hoa Kỳ | San Juan |
28 | Reunion (France) | 2.507 | 856 | 884 | Pháp | Saint Denis |
29 | Saba (Netherlands) | 13 | 1 | 1 | H.Lan | The Bottom |
30 | St Barthélemy (France) | 21 | 7 | 7 | Pháp | Gustavia |
31 | St Eustatius (Netherlands) | 21 | 2 | 4 | H.Lan | Oranjestad |
32 | St Helena Isl Gr.(UK) | 411 | 7 | 7. | Anh | Jamestown |
33 | St Martin (Netherlands) | 87 | 65 | 40 | H.Lan | Philipsburg |
34 | St Martin (France) | 53 | 31 | 32 | Pháp | Marigot |
35 | St Pierre + Miguelon(Fr) | 242 | 6 | 6 | Pháp | St Pierre |
36 | Tokelau (New Zealand) | 12 | 1 | 1 | N.Zea | - |
37 | Turks+Caicos Isl (UK) | 948 | 27 | 45 | Anh | Grand Turk |
38 | Virgin Islands (UK) | 151 | 25 | 30 | Anh | Road Town |
39 | Virgin Islands (US) | 347 | 110 | 108 | Hoa Kỳ | Charlotte Amalie |
40 | Wake Island (US) | 8 | 0,1 | 0,1 | Hoa Kỳ | - |
41 | Wallis+Futuna Isl (Fr) | 142 | 15 | 15 | Pháp | Mata Utu |
42 | West Bank ( Israel) | 5,860 | 2.622 | 2.731 | Israel | |
43 | Western Sahara (Moro | 252.120 | 543 | 603 | M.Rốc | |
III. Quốc gia, lãnh thổ, và các hình thức liên kết quốc gia.
Quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới là Liên bang Nga, chiếm 17.098.242 km2. Bốn quốc gia kế tiếp là các nước Canada, Trung Quốc, Hoa Kỳ, và Brazil, mỗi nước chiếm trên dưới 9.000.000km2. Năm quốc gia nhỏ nhất là San Marino, Tuvalu, Nauru, Monaco, và Vatican City mỗi quốc gia chỉ có trên dưới 25km2. Riêng Vatican City có 0.4 km2. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, bản đồ chính trị thế giới nhiều lần thay đổi, hầu hết sự thay đổi là kết quả từ các cuộc chiến tranh. Suốt thời Cổ đại, các nhà lãnh đạo quân sự như Alexander đại đế, và Julius Caesar đã đi xâm lược chiếm đất của nhiều bộ tộc khác nhau, và thành lập đế quốc khống chế nhiều vùng rộng lớn. Nhiều đế quốc nổi lên, và sụp đổ theo chiều dài lịch sử, đến cả thời cận đại.
Và đường biên giới các quốc gia thay đổi, rồi lại thay đổi. Bắt đầu những năm 1500, một số quốc gia châu Âu đi xâm lược, và lập nhiều thuộc địa ở châu Mỹ, châu Á, châu Phi, và châu Úc. Hầu hết đường biên giới của các quốc gia hiện nay là do các nước cai trị thuộc địa trước đây lập ra, và duy trì sau khi các thuộc địa này được trao trả độc lập. Chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918), và lần thứ II (1939-1945) cũng đưa đến nhiều thay đổi quan trọng trên bản đồ chính trị thế giới. Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, tại châu Âu một số quốc gia mới ra đời như Austria, Czechoslovakia, Hungary, Yougoslavia, Poland, Finland.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, tại châu Á và châu Phi có hàng chục nước, hoặc lãnh thổ bị các nước phương Tây chiếm làm thuộc địa, được thâu hồi độc lập. Chỉ riêng Châu Phi trong thập niên 1950 và thập niên 1960, có hơn 45 quốc gia được trao trả độc lập. Và, đầu thập niên 1990, khi khối Cộng sản Đông Âu, và Liên Xô tan rã thì có trên 20 quốc gia "tái thành lập”. Mỗi quốc gia trên thế giới có thể liên kết với một, hoặc nhiều quốc gia khác bằng nhiều hình thức khác nhau. Hoặc theo vùng như vùng Viễn Đông, vùng Trung Đông, vùng Trung Mỹ.
Người ta cũng thường gọi các quốc gia ở phía Đông bán cầu là thế giới Cổ, và các quốc gia ở Tây bán cầu là Tân thế giới. Các quốc gia đôi khi còn được nhận diện qua các lục địa, chẳng hạn các nước ở châu Á, hoặc châu Phi. Liên bang Xô viết, và các nước Cộng sản ở châu Âu, và châu Á gọi là "khối Đông" hay "thế giới Cộng sản". Hoa Kỳ, Canada, và các quốc gia đối nghịch với Cộng sản gọi là "khối Tây", hoặc "thế giới Tự do". Các quốc gia không theo khối nào gọi là "thế giới thứ ba" tức nằm ở ngoài khối Đông, và khối Tây. Thuật ngữ "thế giới thứ nhất" quy vào các nước công nghiệp của khối Tây, và "thế giới thứ hai" chỉ Liên bang Xô viết, và các nước công nghiệp của khối Đông.
Về mặt kinh tế cũng được chia thành hai nhóm nước. Nhóm thứ nhất là các quốc gia "đã phát triển", và nhóm thứ hai là các nước "đang phát triển". Các quốc gia đã phát triển cũng có sự khác nhau về trình độ công nghiệp hóa, nhưng nhìn chung họ giàu có hơn các quốc gia đang phát triển. Các quốc gia đã phát triển gồm Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Úc Đại Lợi, Ý Đại Lợi, Đức, Pháp, Anh, và một số quốc gia khác ở Tây Âu. Có hơn 120 quốc gia được xếp vào loại các nước đang phát triển, hầu hết là thuộc thế giới thứ ba gồm các nước ở châu Phi, châu Á, vùng Mỹ La tinh của Châu Mỹ, và vùng Thái Bình Dương của châu Đại Dương.
Công nghiệp của thế giới cả các quốc gia Cộng sản lẫn Không cộng sản đều nằm ở phía "Bắc bán cầu". Các nước thuộc thế giới thứ ba, ngoại trừ một, vài nước, đều ở phía "Nam bán cầu". Do vậy, nhiều người quy các nước ở phía Bắc bán cầu là những quốc gia "đã phát triển". Và ngược lại, các quốc gia phía Nam bán cầu là những nước "đang phát triển". Trong quá khứ, cho đến cuối thập niên 1980, quan hệ giữa hai khối nước "Đông, và Tây" thường có khuynh hướng đối nghịch. Và các nước thuộc thế giới thứ ba, hầu hết ở châu Á, châu Phi, và Mỹ La tinh, trở thành nơi xung đột chính giữa hai khối nước Đông cộng sản, và Tây không cộng sản.
Cả hai khối đều cố gắng gây ảnh hưởng, nếu không muốn nói là khuynh đảo lên các "nước thứ ba" bởi viện trợ kinh tế, trợ giúp quân sự nếu điều đó có lợi cho họ.
IV. Các dạng chính quyền, và hệ thống kinh tế.
Gần như tất cả các loại chính quyền đều tự nhận là dân chủ. Nhưng có sự khác biệt rất lớn trong các cách làm thế nào để “ý niệm dân chủ” thực sự đến được với người dân. Trong các chính quyền dân chủ, người dân bầu đại diện của mình vào cơ quan lập pháp làm luật, và chính phủ quản lý xã hội theo luật pháp đó. Người dân có quyền tham gia vào các chức vụ công cử, và bị bãi nhiệm nếu anh ta hành xử sai trái. Các quốc gia được xếp vào loại ít dân chủ hơn, vì tại đó người dân có ít cơ hội đảm trách các chức vụ trong chính quyền.
Các quốc gia dân chủ có thể là Cộng hòa, hoặc Quân chủ lập hiến. Hoa Kỳ là quốc gia theo chế độ “Cộng hòa", trong đó Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người cầm đầu chính phủ. Một số nước khác Tổng thống chỉ là nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng cầm đầu chính phủ. Anh Quốc là quốc gia theo chế độ "Quân chủ lập hiến". Vua hay Nữ hoàng chỉ là nguyên thủ quốc gia, và Thủ tướng mới là người cầm đầu Chính phủ. Các quốc gia có chính quyền dân chủ khác như Canada, Úc Đại Lợi, New Zealand, Nhật Bản, và hầu hết các nước ở Tây Âu. Nhiều quốc gia khác cũng tự nhận là dân chủ, nhưng thực sự quyền lực nằm trong tay chính quyền, còn người dân có rất ít quyền hay ít cơ hội tham gia quá trình làm quyết định (luật).
Các vị cầm đầu nhà nước có thể cai trị bằng thuyết phục, hoặc bằng cưỡng bức, hoặc cả hai cách. Đảng Cộng sản tổ chức chính quyền, và người cầm đầu đảng, nhà nước thống trị toàn bộ xã hội như ở Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, và Cu Ba. Các nhà độc tài, với sự tiếp tay của các tướng lãnh chỉ huy quân đội đã cai trị nhiều quốc gia Mỹ La tinh (Trung Nam Mỹ), và Châu Phi, hay từng thời điểm nhất định tại Miến Điện, Thái Lan. Có khoảng 2/3 người trên thế giới sống dưới chế độ "chính quyền trị" rất ít dân chủ.
Về kinh tế thì mỗi quốc gia có một hệ thống kinh tế, cụ thể là làm thế nào để sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia vào việc phát triển đất nước. Hiện có ba hệ thống kinh tế là kinh tế tư bản, kinh tế cộng sản, và kinh tế hỗn hợp. Hệ thống "kinh tế tư bản" dựa trên cơ sở tự do kinh doanh. Nó là nền kinh tế mà các tư liệu cần thiết cho sản xuất do tư nhân làm chủ. Các nhà doanh nghiệp tự mình quyết định sản xuất ra cái gì, bán cho ai và sử dụng thu nhập của họ như thế nào đều tùy thuộc vào họ. Nhà nước chỉ đưa ra định hướng phát triển kinh tế xã hội.
Kinh tế tư bản chủ nghĩa được thực hiện ở Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Ý, Úc Đại Lợi, Nhật Bản, và nhiều quốc gia ở Tây Âu. "Kinh tế cộng sản" trái lại, dựa trên nhà nước sở hữu hầu hết tư liệu sản xuất. Nhà nước quyết định sản xuất cái gì, phân phối cho ai, và quyết định hoàn toàn phân phối thu nhập. Kinh tế cộng sản chủ nghĩa thực hiện tại Liên Xô, các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba, từ sau đệ II thế chiến đến cuối thập niên 1980. Sau khi Liên Xô, và khối Cộng sản Đông Âu không còn, Trung Quốc, và Việt Nam đang thực hiện một mô hình kinh tế được gọi là "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa".
Còn hệ thống "kinh tế hỗn hợp" là một hệ thống kinh tế trong đó cả chính quyền lẫn tư nhân đều được quyền làm chủ tư liệu sản xuất. Dưới hệ thống kinh tế này, chính quyền làm chủ các ngành công nghiệp chính như ngân hàng, hỏa xa, và công nghiệp luyện kim. Còn lại các ngành công nghiệp khác do tư nhân làm chủ. Chính quyền đưa ra chương trình phát triển kinh tế, và để cho tư nhân tự lựa chọn ngành nghề kinh doanh thích hợp. Kinh tế hỗn hợp được thực hiện tại Anh Quốc, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, và hầu hết các quốc gia Mỹ La tinh.
V. Sự hợp tác giữa các quốc gia.
Mỗi quốc gia phụ thuộc vào các quốc gia khác bằng nhiều cách khác nhau. Sự phụ thuộc trong cộng đồng thế giới này, người ta thường gọi là hợp tác hóa hoặc toàn cầu hóa. Việc giao thương giữa các quốc gia ngày nay là sự sống còn, và phát triển của từng quốc gia. Bởi vì hiện không quốc gia nào có thể tiêu thụ hết hàng hóa đã sản xuất, hoặc có đủ tư liệu để sản xuất hàng hóa. Vì lợi ích kinh tế cũng như tạo sự tin tưởng lẫn nhau, người ta có thể cam kết hỗ trợ cho một quốc gia khác trong trường hợp có chiến tranh hay thiên tai. Các quốc gia phát triển cung cấp tài chính, và trợ giúp kỹ thuật cho các quốc gia đang phát triển. Những sự trợ giúp như thế dẫn đến sự ràng buộc về mậu dịch, và quốc phòng.
Một tổ chức quốc tế được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu, và lòng mong đợi của nhiều quốc gia, đó là Liên Hiệp Quốc. Liên Hiệp Quốc (United Nations) là tổ chức quốc tế lớn nhất. Gần như tất cả các quốc gia độc lập đều là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Hoạt động chính của Liên Hiệp Quốc, là cố gắng giải quyết các tranh chấp của các quốc gia bằng thương thảo, và duy trì hòa bình thế giới. Nó cũng có các chương trình trợ giúp cần thiết như cải thiện sức khỏe, và giáo dục, đặc biệt cho các quốc gia đang phát triển. Nhiều tổ chức quốc tế khác cũng được lập ra nhắm vào quá trình phát triển kinh tế giữa các quốc gia thành viên với nhau để kích thích mậu dịch, hạn chế thuế quan, hoặc bảo hộ mậu dịch.
Chẳng hạn Liên hiệp Châu Âu (EU), Hiệp hội Mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Hợp tac Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức các quốc gia độc lập vì thịnh vượng (CIS), Cộng đồng Kinh tế các nước Tây Phi (ECOWAS), Liên hiệp Châu Phi (AU), Tổ chức các nước Châu Mỹ (OAS), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM)…
VI. Dân số, sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, và vấn đề bức xúc.
Dân số thế giới năm 2015 lên tới trên 7,2 tỷ người. Tỷ lệ tăng dân số hằng năm 1,3%. Với tỷ lệ tăng dân số như hiện nay dân số thế giới sẽ tăng gần gấp đôi trong khoảng 55 năm tới. Nếu dân số thế giới được phân chia đều ra trên trái đất, thì có khoảng 45 người/km2. Tuy nhiên, cư dân thế giới sinh sống trên các vùng không giống nhau, vài vùng như ở Nam cực, hoặc các sa mạc không có người ở. Vùng có đông dân cư nhất thế giới là ở châu Âu, Nam Á, Đông Nam Á, Đông Á. Tại Bắc Mỹ, người ta sống tập trung ở phía Đông, miền Trung, và dọc theo bờ Thái Bình Dương. Tại châu Phi, và châu Úc cư dân đông đúc ở các vùng ven bờ biển. Bên trong các lục địa này, dân cư rất thưa thớt.
Các quốc gia đang phát triển, tỉ lệ tăng dân số cao hơn các nước phát triển. Châu Phi có tỷ dân số tăng hàng năm cao nhất so với các lục địa 2,3%, Nam Mỹ 1,4%, châu Á 1,3%, Bắc Mỹ 1,1%, Úc Đại Lợi 1%. Riêng châu Âu vì người ta không muốn sinh con nên tỷ lệ dân số giảm trên dưới 0,2% hàng năm. Quốc gia có dân số đông nhất thế giới là Trung Quốc hơn 1.375 triệu người. Kế đến là Ấn Độ hơn 1.291 triệu. Các nước kế tiếp là Hoa Kỳ, Indonesia, Brazil, Pakistan, và Liên bang Nga. Hơn 1/2 dân số sống trên 7 quốc gia này. Vatican City dân số thấp nhất dưới 1000 người.
Có hàng ngàn nhóm sắc tộc khác nhau trên thế giới. Nhưng các học giả xếp 9 nhóm sắc tộc theo địa lý: African, American Indian, Asian, Australian, European, Indian, Melanesian, Micronesian, và Polynesian. (1) Nhóm sắc tộc Châu Phi (African) bao gồm các nhóm sắc tộc ở phía Nam sa mạc Sahara tại Châu Phi, và người Mỹ da đen gốc Phi Châu sống ở Hoa Kỳ, cũng như các nước khác trên thế giới. (2) Nhóm sắc tộc Mỹ da đỏ (American Indian) hầu hết sống ở miền tây Hoa Kỳ, và nhiều nước Trung Nam Mỹ. (3) Nhóm sắc tộc Châu Á (Asian) gồm người Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và hầu hết các nước ở Đông Nam Á. (4) Nhóm sắc tộc châu Úc (Australian) còn gọi là thổ dân (Australian Aborigines) là sắc tộc chỉ có trên lục địa Úc châu.
(5) Nhóm sắc tộc châu Âu (European) gồm người da trắng ở châu Âu, người Trung Đông, người Úc, người New Zealand, người Bắc Mỹ, người Nam Mỹ, người Nam Phi, và người phía Bắc sa mạc Sahara ở châu Phi. (6) Nhóm sắc tộc Ấn Độ (Indian) đa số sống ở Ấn Độ, Pakistan, và Bangladesh. Và ba nhóm sắc tộc: (7) Melanesian, (8) Micronesian, và (9) Polynesian là những người da đen, sống trên các đảo Thái Bình Dương, phía Đông Bắc Úc, kể cả New Caledonia, và Fiji (Melanesian). Người da sáng hơn sống trên các đảo nhỏ ở Thái Bình Dương, phía Đông Philippine (Micronesian), và người da nâu sống trên các đảo Thái Bình Dương phía đông Úc Đại Lợi, và Philippine.
Có khoảng 6000 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên, chỉ có 12 nhóm ngôn ngữ được nhiều người sử dụng hơn các ngôn ngữ khác, trong đó mỗi nhóm có khoảng 100 triệu người nói hàng ngày. Đứng đầu là tiếng Trung Quốc (Chinese), kế đến là tiếng Anh (English), tiếp theo là tiếng Ấn Độ (Hindu) rồi tiếng Tây Ban Nha (Spanish), tiếng Nga (Russia), tiếng Ả Rập (Arabic)... Bắt đầu từ những năm 1500, Anh Quốc, Tây Ban Nha, Pháp Quốc, và Bồ Đào Nha lập nhiều thuộc địa trên nhiều vùng đất các nhau của thế giới. Do đó, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, và tiếng Bồ Đào Nha ngày nay được sử dụng trong nhiều quốc gia bên ngoài nước họ.
Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chính thức của nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Úc Đại Lợi, New Zealand. Nó cũng là một trong những ngôn ngữ chính ở Nam Phi, và một số quốc gia đảo Nam Thái Bình Dương, và vùng biển Caribbean. Tiếng Tây Ban Nha trở thành ngôn ngữ chính của các quốc gia vùng Mỹ La tinh (Trung, Nam Mỹ). Tiếng Bồ Đào Nha trở thành ngôn ngữ chính của Brazil, Mozambique, và Angola. Tiếng Pháp cũng giống như tiếng Anh, là một ngôn ngữ quan trọng sau tiếng Anh ở Canada. Hầu hết cư dân ở tỉnh Quebec đều nói tiếng Pháp. Tiếng Pháp còn được sử dụng rộng rãi ở Algeria, Chad, và nhiều nước ở Tây Phi, Moroco, cũng như ở Đông Dương là Việt Nam, Lào, Cambodia.
Có hàng ngàn nghi thức tôn giáo được người ta thực hiện trên khắp thế giới. Đạo Thiên chúa có trên dưới 2 tỷ người, kế đến là đạo Hồi trên dưới 1,1 tỷ tín đồ, đạo Ấn Độ trên dưới 800 triệu thành viên. Các tôn giáo khác như Bahai, Phật giáo, Khổng giáo, đạo Jainism, đạo Do Thái, đạo Shinto, đạo Sikhism, và đạo Lão cũng có tới hàng trăm triệu tín đồ. Cơ đốc giáo xuất hiện ở Trung Đông, và ngày nay đa số người theo Cơ đốc giáo là châu Âu, Bắc Mỹ, và Nam Mỹ. Hồi giáo cũng khởi đầu từ Trung Đông, và ngày nay trở thành tôn giáo chính của nhiều nước trên thế giới như các nước Trung Đông, Bắc Phi, Indonesia, Malaysia, Pakistan, và Bangladesh.
Đạo Hinduism, Jainism, và Sikhism chiếm đa số người theo ở Ấn Độ là nơi xuất hiện nhiều tôn giáo nhất thế giới. Đạo Phật có nhiều người theo ở Nhật Bản, Triều Tiên, và các nước ở bán đảo Đông Dương. Đạo Shinto tôn giáo địa phương của Nhật Bản. Đạo Bahai cũng gọi là niềm tin Bahai ra đời nơi ngày nay là Iraq. Khổng giáo, và Lão giáo là 2 tôn giáo địa phương của người Trung Quốc. Chính quyền Cộng sản nước này không chỉ ngăn cấm 2 tôn giáo trên mà còn ngăn cấm các tôn giáo khác nữa. Tuy nhiên, người Trung Quốc ở Đài Loan vẫn còn theo 2 tôn giáo đó.
Do Thái giáo bắt đầu từ Trung Đông, ngày nay có nhiều người Do Thái sống ở Hoa Kỳ, Pháp, và Liên bang Nga vẫn theo tôn giáo truyền thống Do Thái của họ, ngoài quốc gia Israel. Hiện có hàng ngàn tôn giáo cổ truyền khác khá phổ biến ở các sắc tộc Châu Phi, Châu Á, Châu Úc, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, và trên các hải đảo ở Thái Bình Dương.
Các vấn đề bức xúc. Từ thập niên 1950, người ta đã có nhiều nỗ lực cung cấp đủ những cái cần thiết cho đời sống. Lương thực, thực phẩm, quần áo, chỗ ở được sản xuất nhiều hơn, đã giúp người ta có được một đời sống tiện nghi hơn. Nền giáo dục cũng được cải thiện và mở rộng. Các nhà khoa học đã khám phá, và chế tạo nhiều loại thuốc điều trị được những bệnh mà trước đây chưa từng có. Dù vậy, con người vẫn còn đương đầu với các vấn đề nghiêm trọng. Nhiều triệu người trong “các quốc gia đang phát triển” không đủ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, và giáo dục.
Và, cũng có nhiều triệu người trong “các nước đã phát triển”, nhất là tại các thành phố lớn, phải chịu vô vàn khó khăn, thiếu thốn, thất nghiệp, và bị ngược đãi. Bên cạnh nó là nạn ô nhiễm môi trường đang đe dọa đời sống của từng người không chừa một ai.
VII. Đất đai, và các nguồn nước trên thế giới.
Bề mặt trái đất có khoảng 510.000.000km2. Trong đó nước chiếm 362.000.000km2, hoặc 71% diện tích trái đất, và đất liền chỉ có khoảng 148.000.000km2, hoặc 29% diện tích. Người ta chia đất liền ra nhiều vùng có diện tích đất lẫn khí hậu khác nhau thường gọi là châu Lục như Lục địa châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, và châu Đại Dương. Nó cũng bao gồm cả đất màu mỡ, đất có trữ lượng hầm mỏ, đất cây cỏ, và thú hoang cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Đất liền do vậy, nó sẽ giúp người ta xác định kinh tế vùng, cùng với cách người ta làm thế nào để sống được ở đó.
Còn nước gồm đại dương, sông hồ, các cái tạo ra nguồn nước bao phủ lên bề mặt trái đất. Sự cần thiết của nước, và đất đối với con người là nếu thiếu một trong hai thứ ấy con người không thể tồn tại được. Ba Đại Dương chính của thế giới là Thái Bình Dương (Pacific), Đại Tây Dương (Atlantic), và Ấn Độ Dương (Indian), trong đó Thái Bình Dương lớn nhất, chiếm 171.000.000km2, kế đến là Đại Tây Dương bằng một phần hai Thái Bình Dương (94.000.000km2),và nhỏ nhất là Ấn Độ Dương chiếm 74.000.000km2. Ba Đại Dương này giao nhau bao quanh vùng Nam Cực (Antarctica). Đại Tây Dương, và Thái Bình Dương một lần nữa giao nhau ở đỉnh Bắc nơi chúng tạo thành Biển Bắc (Arctic Ocean).
Hồ lớn nhất thế giới là biển hồ "Caspian", nó là hồ nước mặn nằm giữa châu Á, và châu Âu, phía đông của dãy núi "Caucasus". Hồ Caspain chiếm tới 371.000km2. Hồ nước ngọt lớn nhất thế giới là 5 hồ thông nhau tại Bắc Mỹ gồm Erie, Huron, Michigan, Ontario, và Superior tạo thành một vùng nước mênh mông chiếm 244.060km2. Sông dài nhất thế giới là sông Nile ở châu Phi, dài 6.671km. Sông dài kế đó là sông Amazon ở Nam Mỹ dài 6.437km. Sông dài thứ ba là sông Mississippi ở Hoa Kỳ, dài 3.779km.
Tất cả sinh vật đều cần nước để sống. Người ta dùng nước sông hồ, và nước giếng để uống. Chúng ta cũng sử dụng nước cho sinh hoạt gia đình như nấu nướng, tắm giặt. Các ngành công nghiệp, nông nghiệp đều cần nước. Trong các vùng cao, và đồng bằng, người nông dân lấy nước từ sông, hồ, và giếng để tưới tiêu cho các loại cây trồng. Các nhà máy cũng cần nước để sản xuất. Đại Dương, sông hồ còn là nơi cung cấp cá, và các loại thực phẩm khác cho đời sống hàng ngày. Nước còn là nguồn năng lượng. Các dòng nước từ sông, thác, suối, nước mưa đều có thể sử dụng tạo thành một nguồn thủy điện.
Trong nhiều quốc gia như Brazil, và Na Uy, thủy điện cung cấp gần như toàn bộ năng lượng cho nền công nghiệp, và sử dụng trong các gia đình. Nước còn phục vụ cho cả việc giao thông như các thủy lộ. Mỗi ngày có hàng ngàn tàu vận tải đi lại xuyên suốt các Đại Dương, dọc theo các bờ biển, và qua lại trên các vùng sông nước. Bờ biển có tầm quan trọng cho quá trình phát triển, và hưng thịnh. Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản, Ý Đại Lợi, Úc Đại Lợi, và vài nước khác trở thành quốc gia hàng đầu về thương mại đều có bờ biển dài. Nhiều thành phố lớn trên thế giới đều giáp ranh với nước. Và do vậy, lộ trình thủy vận có ý nghĩa quan trọng đặc biệt.
Các vùng đất liền của thế giới bao gồm bảy lục địa, và hàng ngàn hải đảo. Châu Á là lục địa lớn nhất. Kế đến là châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam cực, châu Âu, và châu Úc. Các nhà địa lý đôi khi quy châu Âu, và châu Á làm một, gọi là lục địa Á-Âu (Eurasia). Mặt đất gồm núi rừng, trung du, đồi, thung lũng, và đồng bằng. Có rất ít người sống ở vùng rừng núi, hoặc trung du. Hầu hết các vùng này đều quá lạnh, thời tiết khắc nghiệt, khô cằn, không thích hợp cho cây trồng, và chăn nuôi cũng như các hoạt động khác của con người, nói chung bởi đất đai thiếu màu mỡ, hoặc bị xói mòn do mưa. Tuy nhiên, cũng có các triền dốc núi, hoặc đồng cỏ vùng trung du thích hợp cho việc chăn nuôi.
Đa số người ta sống trong các vùng đồng bằng, hoặc trên các đồi thấp, nơi có đất đai màu mỡ, gần các nguồn nước thuận tiện cho đời sống, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, và vận chuyển. Đất đồng bằng thích hợp cho nông nghiệp, đồi núi thì có nhiều hầm mỏ. Các vùng sa mạc như ở Trung Đông lại có nhiều trữ lượng dầu khí. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong một vùng, có tầm quan trọng cho việc phát triển kinh tế. Đồng hoang, đồng cỏ miền Trung Argentina, thích hợp cho việc chăn nuôi, nơi đất màu mỡ thì trồng lúa mì. Lúa mì, và thịt bò sản xuất tại Argentina là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của thế giới.
Anh Quốc thiếu đất sản xuất nông nghiệp không cung cấp đủ thực phẩm, nhưng có nhiều trữ lượng than, và kim loại là mặt mạnh của nền công nghiệp, giúp quốc gia này dẫn đầu thế giới trong nhiều thế kỹ trước đây. Các quốc gia khác như Canada, Liên bang Nga, và Hoa Kỳ có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên với nhiều chủng loại khác nhau, chưa được khai thác. Tất cả các điều trên sẽ giúp quốc gia họ phát triển nhanh, và thuận lợi hơn các nước khác.
VIII. Ô nhiễm, mối đe dọa môi trường thế giới.
Hàng trăm năm qua, người ta đã sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra một đời sống tiện nghi hơn. Tuy nhiên, các nguồn tài nguyên này không được sử dụng một cách khôn ngoan. Do đó, nhiều vấn đề mới nảy sinh đang là mối đe dọa môi trường sống của chúng ta. Nước cung cấp cho đời sống trở thành mối lo ngại của nhiều người, bởi ô nhiễm từ cống rảnh, hóa chất, và rác rưởi từ các loại phế thải khác. Khói thải ra bởi xe cộ, nhà máy, và các lò luyện kim là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí trong nhiều thành phố. Các vùng rừng núi, cây cối bị đốn hạ.
Và kết quả là, đất đai bị xói mòn, và hủy hoại môi trường sống của động vật. Việc sử dụng hóa chất trong một số ngành trồng trỉa như thụ tinh nhân tạo, đưa phấn hoa vào làm tăng khả năng sinh sản, phát triển cũng như phân hóa học đã làm ô nhiễm đất đai. Nhiều vùng trên tất cả các lục địa, nông dân trồng một loại ngũ cốc trong nhiều năm liền khiến đất đai trở nên cằn cỗi, hoặc bị ô nhiễm. Từ những năm 1900, người ta không ngừng gia tăng báo động, rằng sự cần thiết phải bảo vệ môi trường sống của chúng ta. Nhiều chính quyền địa phương, hoặc quốc gia đã thông qua những đạo luật kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
Nhưng nó cũng chỉ dừng lại ở việc làm sạch nguồn nước cung cấp, trồng rừng, hoặc luân chuyển cây trồng trên các vùng đất. Người ta còn phải tiếp tục thực hiện bảo vệ môi trường bằng cách sửa chữa các thiệt hại cái đã xảy ra, và ngăn chặn bảo vệ nó, đừng để nó xảy ra trong tương lai. Phải chăng đó là mối quan tâm lớn của mỗi người trong thời đại ngày nay - những năm đầu của thế kỹ 21 này.
THỜI VĂN MINH SƠ KHAI (9000 TCN-1500 TCN).
Năm 9000 TCN, Nông nghiệp ra đời với việc gieo trồng ngủ cốc và thuần dưởng súc vật ở Tây Nam Á.
Năm 3500 TCN, Một số thành phố nhỏ, các trung tâm văn minh đầu tiên của nhân loại xuất hiện ở Sumer phần thấp của lưu vực sông Tigris-Euprates.
Năm 3500 TCN, Người Sumer sáng tạo ra dạng chữ viết đầu tiên, sau đó người ta đơn giản hóa nó thành dạng chữ viết hình nêm (cuneiform) lan rộng khắp vùng Trung Đông.
Năm 3100 TCN, Vua Menes của Ai Cập Thượng kết hợp với Ai Cập Hạ thành một Vương quốc Ai Cập thống nhất.
Năm 3000-1100 TCN, Văn minh đồ đồng (minoan) trên đảo Crete phát triển và suy tàn.
Năm 2500 TCN, Văn minh lưu vực sông Indus phát triển rực rở tại hai thành phố Moen-jo Daro và Harappa, nơi bây giờ là Pakistan.
Những năm 2300 TCN, Vua Sargon của Akkad xâm chiếm các vùng đất của người Sumers và hợp nhất tất cả khu vực Mesopotamia dưới sự cai trị của ông ta, như là đế quốc đầu tiên của nhân loại.
Những năm 1700’s TCN, Vương triều nhà Thương (Shang) khởi đầu sự nghiệp cai trị của mình tại lưu vực sông Hoàng Hồ, Trung Quốc.
Năm 1792-1750 TCN, Vương quốc Babylon phát triển mạnh dưới thời nhà vua Hammurabi. Những năm 1500’s-1100 TCN, Thành phố Mycenae phát triển rực rỡ trở thành trung tâm dẩn đầu về chính trị và văn hóa trên đất liền Hy Lạp.
Năm 1595 TCN, Bộ tộc Hittites, một bộ tộc hiếu chiến từ nơi bây giờ là miền trung Thổ Nhỉ Kỳ xâm chiếm Babylon.
Năm 1500 TCN, Bộ tộc Aryans từ Trung Á bắt đầu vào định cư ở Ấn Độ.
THỜI VĂN MINH THƯỢNG CỖ (1020 TCN-500 SCN).
Năm 1029 TCN, Bộ tộc Hebrews (DoThái) thành lập vương quốc nơi bây giờ là Israel.
Những năm 800’s TCN, Bộ tộc Etruscan đến lập nghiệp ở Trung Tây Ý Đại Lợi.
Năm 750-338 TCN Các thành phố độc lập (City States) là Athens, Corinth, Sparta, và Thebes là thành phố hùng mạnh nhất ở Hy Lạp.
Năm 550 TCN, Đại đế Cyrus thành lập đế quốc Ba Tư (Persian Empire).
Năm 509 TCN, Bộ tộc Roman dấy loạn lật đổ nhà cầm quyền người Etruscan, và thành lập chính quyên Cộng hòa.
Năm 338 TCN, Vua Philip II của Macedonia đánh chiếm Hy Lạp.
Năm 331 TCN, Alexander đại đế giành thắng lợi tại trận đánh Gaugamela mở đường cho công cuộc xâm chiếm đế quốc Persian.
Năm 221-206 TCN, Vương triều nhà Tần (Ch’ in dynasty) thành lập chính quyền trung ương mạnh đầu tiên ở Trung Quốc.
Năm 206 TCN-220SCN, Vương triều nhà Hán cai trị Trung Quốc.
Năm 146 TCN, Cộng hòa La Mã đánh chiếm Hy Lạp.
Năm 55-54 TCN, julius Caesar cầm đầu quân La Mã đánh chiếm Anh quốc (Britain).
Năm 27 TCN, Augustus trở thành vị Hoàng đế đầu tiên của đế quốc La Mã.
Năm 250 SCN, Bộ tộc da đỏ Maya phát triển nền văn minh cao ở Trung Mỹ và Mexico.
Năm 313, Hoàng đế Constantine ban hành sắc lệnh cho phép tín đồ Thiên chúa (Christians) tự do hành đạo trong đế quốc La Mã.
Năm 320, Ấn Độ bắt đầu một thời kỳ vàng son dưới thời cai trị của Vương triều Gupta.
Năm 395, Đế quốc La Mã chia đôi thành đế quốc Tây La Mã và đế quốc Đông La Mã hay còn gọi là đế quốc Byzantine.
Năm 476, Thủ lảnh bộ tộc Đức là Odoacer lật đổ hoàng đế của đế quốc Tây La Mã là Romulus Augustulus, vị hoàng đế sau cùng của đế quốc Tây La Mã.
VĂN MINH THỜI TRUNG CỔ (500-1500).
Những năm 300-1000’s, Đế quốc Ghana là đế quốc của người da đen đầu tiên ở phía Tây Châu Phi phát triển rực rở nhờ con đường thương mại.
Năm 527-565, Đế quốc Byzantine mở rộng vùng thống trị, đạt tới đỉnh cao của nó dưới thời hoàng đế Justinian I.
Năm 622, Ngưòi sáng lập ra Hồi giáo là Muhammad đào thoát khỏi Mecca tới Medina. Cuộc đào thoát của ông ta gọi là Hijra hay Hegira đánh dấu khởi đầu của lịch Hồi giáo.
Năm 732, Charles Martel và Franks đánh bại cuộc xâm lăng của Hồi giáo tại trận đánh Tours miền Trung tây nước Pháp. Chiến thắng nầy đã ngăn chận được làn sóng tiến vào Châu Âu của quân Hồi giáo.
Năm 750, Nhà Abbasids trở thành Giáo chủ của thế giới Hồi giáo.
Năm 800, Giáo hoàng Leo III gắn tước hiệu Hoàng đế La Mã cho Charlemagne nhà cai trị Franks, vì ông nầy đã mở rộng vùng thống trị tại Tây Âu.
Năm 988, Vladimir I, nhà cai trị Nga cưởng bức bộ tộc Slavs phía đông, và những người gốc Belarus, Russia, và Ukrain theo đạo Thiên chúa.
Năm 1054, Sự kình địch giữa hai nhà thờ La Mã và Constantinople dẩn đến chia tách thành nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã phía Tây và nhà thờ Chính thống giáo phía Đông.
Năm 1192, Nhà Yoritomo trở thành nhà cai trị quân sự đầu tiên cai trị Nhật Bản cho đến năm 1867.
Năm 1215, Giới quý tộc Anh buộc vua John ban hành Đạo luật công nhận quyền tự do của người dân gọi là Magna Carta.
Năm 1279, Quân Mông Cổ đánh chiếm toàn bộ lảnh thổ Trung Quốc.
Cuối những năm 1300’s, Phong trào Phục hưng ra đời tại Ý Đại Lợi.
Năm 1368, Nhà Minh (Ming) bắt đầu sự nghiệp cai trị Trung Quốc kéo dài 300 năm.
Năm 1453, Đế quốc Ottoman Thổ Nhỉ Kỳ đánh chiếm Constantinople(nay là Istanbul) thủ đô của đế quốc Byzantine.
Năm 1492, Christopher Columbus nhà hàmg hải Ý Đại Lợi làm việc cho Tây Ban Nha đặt chân lên vùng đất mới Mỹ Châu.
VĂN MINH THỜI HIỆN ĐẠI (1500-1900).
Những năm 1500’s, Cải cách nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã dẫn đến việc khai sinh ra đạo Tin Lành.
Năm 1519-1521, Ferdinand Magellon chỉ huy một cuộc hải hành vòng quanh trái đất. Do cuộc hành trình kéo dài, thủy thủ dấy loạn giết ông ta, nhưng một trong những con tàu của ông ta đã hoàn thành nhiệm vụ năm 1522.
Năm 1521, Quân viển chinh Tây Ban Nha do Hernando Cortes chỉ huy đánh bại đội quân của người da đỏ Aztec chiếm Mexico.
Năm 1526, Một thái tử Hồi giáo tên Babar xâm chiếm Ấn Độ và thành lập đế quốc Mogul. Năm 1588, Hải quân Hoàng gia Anh đánh bại đội tàu Armada của Tây Ban Nha, và trở thành thế lực hùng mạnh nhất trên biển cả.
Năm 1644-1912, Nhà Mản Châu cai trị Trung Quốc thường gọi là Vương triều nhà Thanh.
Năm 1766, 13 thuộc địa người Anh định cư tại Bắc Mỹ dấy loạn chống lại những người cai trị từ Anh Quốc, tuyên bố độc lập, khai sinh quốc gia mới Liên bang Hoa Kỳ.
Năm 1789, Khởi đầu cách mạng Pháp với việc đại biểu dân thường một trong ba thành phần của Nghị viện Pháp, tại một cuộc họp của Nghị viện dấy loạn tuyên bố chính họ mới đại diện cho Nghị viện Quốc gia.
Năm 1815, Napoleon Bonaaparte bị đánh bại tại trận đánh Waterloo chấm dứt nổ lực thống trị Châu Âu của ông ta.
Năm 1853-1854, Hạm trưởng Matthew Perry của Hoa Kỳ thăm viếng Nhật Bản, và Nhật đồng ý mở 2 hải cảng buôn bán với nước ngoài, chấm dứt sự cô lập với thế giới bên ngoài của Nhật Bản.
Năm 1858, Sau vụ dấy loạn tại Sepoy, Anh Quốc nắm quyền cai trị Ấn Độ dưới dạng thuộc địa, từ Công ty Đông Ấn.
Năm 1865, Liên quân phía Bắc đánh bại lực lượng Liên bang phía Nam trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ tại Koa Kỳ kéo dài 4 năm.
Năm 1869, Khánh thành kênh đào Suez, bắt đầu tàu bè đi lại trên kênh đào nầy.
Năm 1871, Một nước Đức thống nhất dưới sự cai trị của nhà vua Prussia, người đang cầm đầu đế quốc Kaiser Wilhelm I.
Năm 1898, Sau chiến tranh Tây Ban Nha- Hoa Kỳ, Hoa Kỳ nắm quyền cai trị đảo Guam, Puerto Rico, và thuộc địa Philippines.
THẾ KỶ XX, VÀ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI.
Năm 1914, Sau vụ ám sát Thái tử Francis Ferdinand, người sẻ kế vị ngôi vua của Liên minh Hung-Áo, làm nổ ra chiến tranh thế giới lần thứ I.
Năm 1917, Đảng Cộng sản Bolsheviks dấy loạn cướp chính quyền ở Nga.
Năm 1933, Adolf Hitler đến với quyền lực và trở thành một nhà độc tài tại Đức.
Năm 1939, Đức đánh chiếm Ba Lan, và bắt đầu chiến tranh thế giới lần thứ II.
Năm 1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, căn cứ Hải quân của Hoa Kỳ, và thế là Hoa Kỳ gia nhập với Đồng minh đánh Nhật và phe Trục trong chiến tranh thế giới lần thứ II.
Năm 1945, Liên Hiệp Quốc được thành lập.
Năm 1945, Hai quả bom nguyên tử đầu tiên được sử dụng trong chiến tranh do máy bay Hoa Kỳ thả xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki.
Năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc tại Châu Âu ngày 7 tháng 5, và tại Châu Á –Thái Bình Dương ngày 14 tháng 8.
Năm 1949, Cộng sản Trung Quốc đánh bại phe Quốc gia chiếm toàn bộ nội địa Trung Quốc.
Năm 1950, Quân Cộng sản Bắc Triều Tiên xâm lăng Nam Triều Tiên khởi sự chiến tranh Triều Tiên.
Năm 1957, bắt đầu chiến tranh Việt Nam khi quân nổi loạn Miền Nam tấn công chính quyền Miền Nam được Hoa Kỳ hậu thuẩn.
Năm 1962, Liên Xô đồng ý rút tên lữa hạt nhân ra khỏi Cuba, đổi lại Hoa Kỳ cũng phải rút tên lữa hạt nhân khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, kết thúc vụ khủng hoảng hạt nhân thời chiến tranh lạnh.
Năm 1969, phi hành gia Hoa Kỳ lần đầu tiên đổ bộ lên mặt trăng.
Năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam với việc phe Cộng sản giành thắng lợi.
Năm 1979, Quân đội Liên Xô xâm lăng Afghanistan ủng hộ cho chính quyền cánh tả chống lại lực lượng nổi dậy của các sắc tộc du canh du cư.
Năm 1983, Lực lượng Tổ chức Mỹ Châu (Pan-American) bao gồm cả quân đội Hoa Kỳ xâm lăng Grenada và lật đổ chính quyền Marxist Grenada.
Năm 1989-1990, cải cách Dân chủ lan sang các nước Đông Âu, và nhiều chính quyền Không Cộng sản thay thế chính quyền Cộng sản.
Năm 1991, đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền cai trị đất nước, và Liên bang Xô viết chấm dứt sự tồn tại.
Năm 2001, Khủng bố cướp máy bay đâm vảo Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York, và ngủ giác đài, bên ngoài Washington D.C giết chết khoảng 3000 người.
Năm 2003, Hoa kỳ tố cáo chính quyền Iraq hậu thuẩn cho khủng bố quốc tế, và lãnh đạo một Liên minh quân sự xâm lăng Iraq lật đổ chính quyền của Saddam Hussein./.
Hết chương 1