CHƯƠNG IV: THỜI KỲ VƯƠNG TRIỀU THUỘC TRỊ NƯỚC PHÁP: 1884 1845.
(Có 14 trang và 8.336)
Sau khi vua Hàm Nghi rời bỏ Kinh thành Huế. ngày 19 tháng 9 năm 1885, Triều đình Huế đưa Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, con nuôi thứ hai vua Tự Đức lên ngôi Vua, lấy hiệu Đồng Khánh, lúc ngài 21 tuổi. Ngày 17 tháng 10 năm 1887, Pháp thành lập LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG để cai trị các xứ thuộc địa, bảo hộ, và nhượng địa trên bán đảo Đông Dương. Đứng đầu Liên bang là một Toàn quyền (Gouverneur Général de l'Indochine française) người Pháp. Các ông Vua địa phương chỉ còn hình thức, không còn quyền hành gì trong việc "chăn dân trị nước". Gần như tất cả quyền lực đều nằm trong tay các quan chức cai trị Pháp.
A. TỔ CHỨC LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG.
I. Tại cấp Liên bang.
1. Đứng đầu Liên bang Đông Pháp là viên Toàn quyền và Tổng thư ký, tức Phó Toàn quyền. Sau năm 1945 chức vụ Toàn quyền Đông Dương đổi thành Cao ủy Pháp tại Đông Dương và đến năm 1953 thì gọi là Tổng ủy. Chức toàn quyền được giao quyền hạn rất lớn, người đứng đầu về hành chính lẫn quân sự. Hỗ trợ cho chức vụ này là Hội đồng Tối cao (Conseil supérieur). Cơ quan này gồm có: Toàn quyền (đứng làm chủ tịch); Tổng tư lệnh quân đội; Thiếu tướng hải quân chỉ huy hạm đội Viễn Đông; Thống đốc Nam Kỳ; Thống sứ Bắc Kỳ; Thống sứ Ai Lao; Thống Sứ Cao Miên; Khâm sứ Trung Kỳ; Chủ tịch Đại hội đồng Kinh tế Tài chính; Bốn người bản xứ đặc bổ.
Hội đồng Tối cao họp hai năm một lần, một tại Hà Nội và một tại Sài Gòn, để ban hành các đạo luật và tính toán ngân sách chung và riêng của từng xứ. Mười một bộ ở cấp Liên bang gọi là Tổng Nha môn (services généraux) được giao cho 11 chức danh có tên gọi khác nhau điều khiển: Thành lập năm 1897 gồm: Tài chánh (Giám đốc), Học chánh (Giám đốc), Tư pháp (Giám đốc); Thành lập năm 1898: Công chính (Tổng Thanh tra), Công khoáng (Tổng Thanh tra), Y tế (Tổng Thanh tra); Thành lập năm 1899: Nông lâm (Tổng Thanh tra); Thành lập năm 1901: Bưu chánh (Giám đốc); Thành lập năm 1922: Công an (Giám đốc), Quân sự (Tổng Tư lệnh), Hải quân (Tư lệnh).
2. Cấp Liên bang còn có hai nghị hội: "Hội đồng Chính phủ" (Conseil de Gouvernement de l'Indochine) và Đại Hội đồng Kinh tế Tài chánh Đông Dương (Grand Conseil des Intérêts économiques et Financiers de I’Indochine), thành lập năm 1928. Hội đồng Kinh tế có 51 thành viên: 28 người Pháp và 23 đại biểu của ba xứ Việt, Miên, Lào. Trong số 23 người bản xứ thì người Việt chiếm 17 hoặc 18 ghế. Hai Hội đồng này chủ yếu là cơ quan tư vấn và thảo nghị chứ không phải là viện Lập pháp.
Về mặt Tư pháp thì ở cấp Liên bang có hai toà toà án thượng thẩm đặt ở Hà Nội và Sài Gòn để nhận các bản kháng án từ những tòa án địa phương. Hệ thống tư pháp này duy trì trật tự công lý. Trong các vụ kháng án, các quan tòa người Âu được sự hỗ trợ từ quan lại người bản xứ. Về nguyên tắc, Liên bang này hoàn toàn theo chế độ tòa án và luật pháp của Pháp. Ngoài quyền đại diện liên lạc với chính quốc, ứng xử ngoại giao và điều hành quân đội, chính quyền Liên bang còn có toàn quyền tài chính. Triều đình Huế chỉ nhận "lãnh lương" từ chính phủ Bảo hộ.
3. Tổng cộng trên toàn cõi Đông Dương vào năm 1936, chính quyền có khoảng 3.300 công chức người Pháp trong guồng máy cai trị, trong số đó 400 thuộc cấp Liên bang tập trung ở Hà Nội; số còn lại phụ thuộc cấp địa phương. Đa số xuất thân từ trường Thuộc địa (École Coloniale ở Paris).
II. Tại cấp địa phương “Thuộc địa”.
1. Tại thuộc địa Nam Kỳ, Pháp cai trị trực tiếp, đứng đầu Nam Kỳ là Thống đốc, có "Hội đồng Tư mật" và Hội đồng thuộc địa là hai Nghị hội. Ở cấp nhỏ hơn thì có Chánh Tham biện đứng đầu mỗi địa hạt, sau đổi thành Chủ tỉnh và tỉnh. Dưới tỉnh là quận, và cơ sở phái viên hành chánh, đứng đầu là viên Chủ quận, và vị Phái viên hành chánh tương ứng; rồi đến cấp tổng với cai tổng quản lý. Dân Nam Kỳ hưởng quy chế "thuộc dân Pháp" (sujets français) và được hưởng quyền lợi nhiều hơn các xứ khác. Muốn vào Pháp tịch để bình đẳng như dân mẫu quốc thì phải nộp đơn để thành citoyens français.
Nam Kỳ cũng là xứ có bầu cử định kỳ và vận động cử tri. Người có Pháp tịch hoặc hội đủ một số điều kiện tài chánh mới có quyền đi bầu. Ở cấp tỉnh thì hội đồng tỉnh bắt đầu hoạt động từ năm 1882. Thôn xã được tổ chức với khái niệm dân chủ đầu phiếu từ năm 1927. Về mặt luật pháp thì Nam Kỳ chiếu theo bộ hình luật của Pháp ban hành năm 1912.
III. Tại cấp địa phương “Bảo hộ”.
1. Bốn xứ bảo hộ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào và Miên, hệ thống hành chánh bản xứ được duy trì, người Pháp cai trị gián tiếp qua ngạch quan lại Việt (ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ), Miên hoặc Lào. Vì lẽ đó mà có hai hệ thống song hành, một của Pháp, một của bản xứ, trên pháp lý là bình quyền cùng giám sát quốc sự. Nhưng khi thi hành thì chế độ bản xứ, tùy thuộc vào quyền phán quyết của người Pháp. Bộ Ngoại giao Pháp đảm nhiệm việc hành chánh nhưng sang đầu thế kỷ 20 thì giao lại cho Bộ Thuộc địa Pháp. Dân cư của các xứ Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Lào và Miên trên mặt pháp lý thuộc hạng protéges français, thấp nhất trong ba hạng citoyens, sujets, và protéges ở Đông Dương.
Tại Bắc Kỳ, đứng đầu là Thống sứ người Pháp (Résidents supérieurs) (1889-1955) cùng ba Nghị hội "Hội đồng Bảo hộ", "Hội đồng Pháp nhân" (đại diện người Pháp), và "Viện Dân biểu Bắc Kỳ" (đại diện người Việt). Viên thống sứ tuy là người Pháp, nhưng kể từ ngày 26 Tháng Bảy năm 1897, kiêm cả chức đại diện cho Nam triều, tức là Kinh lược sứ của vua nhà Nguyễn. Các quan lại bản xứ trên danh nghĩa là quan của triều đình Huế, nhưng đều trực thuộc quyền viên Thống sứ. Chủ quyền của Triều đình Huế ở Bắc Kỳ từ đó càng bị thu hẹp. Trước năm 1889, khâm sứ Trung Kỳ đại diện cho cả hai xứ Bắc và Trung Kỳ.
2. Kể từ năm 1900 Thống sứ Bắc Kỳ kiêm luôn chức quản trị Quảng Châu Loan, tuy đây là một nhượng địa riêng với hạn kỳ 99 năm. Cấp tỉnh thì Hội đồng tỉnh bắt đầu hiện diện từ năm 1886, nhưng hoạt động yếu ớt. Ở cấp làng xã thì cũng như tiền triều nhà Nguyễn, người dân được tự trị. Mãi đến năm 1941, ở Bắc Kỳ mới thực hiện cải cách, cho dân chúng đầu phiếu bầu hội đồng xã. Tại Trung Kỳ, đứng đầu là Khâm sứ người Pháp. Chức vụ này từ năm 1884 đến 1889 có tên là Résidents généraux d'Annam. Sau năm 1889 thì đổi thành Résidents supérieurs (1889-1953). Hành dinh của Khâm sứ Pháp đặt ở Huế. Sang thập niên 1950 thì chuyển vào Đà Lạt.
Khâm sứ Trung Kỳ tham gia Hội đồng phụ chính từ năm 1887, đến tháng 6 năm 1895 thì có thêm đặc quyền chủ tọa Hội đồng Cơ mật và cả Tôn Nhơn phủ. Tất cả các công văn sắc dụ ban hành đều phải có chữ ký phê thuận của viên khâm sứ. Ngoài ra Triều đình Huế kể từ tháng 9 năm 1897 còn phải chịu cho một viên Hội lý người Pháp làm quản sự cho mỗi vị Thượng thư trong Lục bộ cũ. Bên cạnh Khâm sứ là "Hội đồng Bảo hộ" và "Hội đồng Pháp nhân" (đại diện người Pháp). Trung Kỳ cũng có "Viện Dân biểu Trung Kỳ" thành lập năm 1926, nhưng cơ quan này kể từ năm 1932 không thuộc chính phủ Bảo hộ nữa mà thuộc triều đình Huế kiểm soát.
3. Thống sứ Bắc Kỳ hay Khâm sứ Trung Kỳ là hai cách gọi khác nhau của người Việt, nhưng chức vị và quyền hành trong chính phủ Bảo hộ thì giống nhau. Tiếng Pháp gọi chức vụ này là résident supérieur, dịch sát nghĩa là "lưu trú quan đại thần". Ở cấp tỉnh thì có Hội đồng tỉnh, thành lập từ năm 1913, muộn hơn Bắc Kỳ 27 năm, và mãi đến năm 1942 mới bắt đầu tổ chức lại thôn xã và cho phép người dân đầu phiếu hội đồng xã. Vùng duyên hải thì hệ thống quan lại và hành chánh của người Việt thì giữ nguyên, nhưng Cao nguyên thì không do người Việt quản trị, gọi là Pays Montagnards du Sud. Bắt đầu vào thập niên 1920, người Việt không có giấy phép không được lên vùng này.
Tại Miên, và Lào, cũng có Khâm sứ như Trung Kỳ. Khâm sứ Pháp ở Cao Miên kể từ năm 1897 có quyền hành rộng lớn như Khâm sứ ở Huế. Ở cấp tỉnh thì mỗi tỉnh có Công sứ (résident) người Pháp, trong khi người Việt thì có Tổng đốc, Tuần phủ hay Quản đạo tùy theo tỉnh lớn hay nhỏ ở Bắc hay Trung Kỳ. Dinh Công sứ không nhất thiết đặt ở tỉnh lỵ như tỉnh Bắc Ninh thì công sứ đặt hành sở ở Gia Lâm. Bắc Kỳ và Trung Kỳ ở cấp phủ huyện, người Pháp còn đặt một số Đại lý (délégués) giám sát việc cai trị. Như tỉnh Ninh Bình thì dinh công sứ đặt ở Phát Diệm và một Đại lý nữa ở Phủ Nho Quan. Viên công sứ nắm quyền thuế vụ.
4. Ở Cao Miên, thì Khet tương đương với "tỉnh" có chau-faikhet. Ở Lào không có cấp tỉnh mà chỉ có cấp tương đương với huyện (tiếng Pháp: préfecture) gọi là muong, có chao-muong đứng đầu. Công sứ Pháp ở Cao Miên so với Việt Nam thì việc cai trị có tính trực tiếp hơn, tuy vẫn là trên danh nghĩa "bảo hộ". Công sứ ở Miên có thực quyền trị an, thu thuế, mở mang kinh tế mà không cần sự ưng thuận của Miên triều.
IV. Tại cấp địa phương “Nhượng địa”.
1. Đạo dụ 1 Tháng Mười năm 1888 triều Đồng Khánh thời Toàn quyền Richaud cắt thêm ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẳng (người Pháp gọi là Tourane) làm nhượng địa (concession) cho Pháp, tức là cùng thể chế trực trị như Nam Kỳ tuy nằm trong lãnh thổ bảo hộ bản xứ. Đứng đầu hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn là viên Thị trưởng người Pháp (Maire). Hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng tại Bắc Kỳ cùng thành phố Tourane (Đà Nẵng) tai Trung Kỳ, đứng đầu là viên Đốc lý người Pháp (Résident-maire). Bên cạnh viên Thị trưởng hay Đốc lý là Hội đồng thành phố (Conseil Municipal) đối với thành phố loại I; hoặc là Ủy hội thành phố (Commission Municipale) đối với thành phố loại II.
Thành viên của Hội đồng hoặc Uỷ hội gồm cả người Pháp lẫn người Việt; Hội đồng thành phố Sài Gòn được lập năm 1869, Ủy hội thành phố Chợ Lớn lập năm 1879, Hội đồng thành phố Hà Nội và Hải Phòng lập năm 1891 và Ủy hội thành phố Tourane lập năm 1908. Ngoài ra bốn Quân khu vùng biên giới Việt-Hoa và Lào-Hoa cũng thuộc dạng cai trị trực tiếp. Cao nguyên Trung Phần gồm các tỉnh Darlac, (lập năm 1904), Kontum (1913) Đongnai Thượng, Lang Bian (1920), và Pleiku (1932) cũng đặt ngoài quyền quản trị của người Việt.
V. Pháp luật.
1. Ở Trung Kỳ thì dùng bộ Luật Gia Long bổ sung với hình luật và dân luật của Pháp. Ở cấp dưới thì quan tri phủ và tri huyện đứng làm quan tòa sơ thẩm, quan tỉnh xét phúc thẩm và công sứ Pháp có nhiệm vụ kiểm sát. Chung thẩm thì có bộ Hộ và bộ Hình cùng khâm sứ Pháp. Ở Bắc Kỳ thì có bộ "Hoàng Việt Tân luật" ban hành năm 1918 dùng bộ luật Gia Long nhưng sửa đổi theo thích ứng của chính quyền Pháp. Cũng giống như Trung Kỳ, quan tri phủ và tri huyện xét sơ thẩm. Đệ nhị cấp thì có công sứ Pháp làm chính thẩm còn quan tổng đốc và tuần phủ làm bồi thẩm. Trên hết là tòa Phúc thẩm Hà Nội.
Ở Nam Kỳ thì dùng "Pháp quy giản yếu 1883" dựa trên luật pháp bên chính quốc. Đối với người Pháp thì luật lệ bản xứ không áp dụng cho họ vì họ được xét xử dưới bộ luật Pháp như ở bên Pháp.
VI. Quân đội và an ninh.
1. Lực lượng quân sự của Pháp ở Đông Dương vào năm 1937 là 10.779 lính da trắng. Đến năm 1940 trước Đẹ nhị Thế chiến thì con số này tăng lên thành 14.500, trong đó có 3.600 sĩ quan chỉ huy và 4.000 quân Lê dương (Legionnaires étrangères). Tổng số quân lính kể cả lính bản xứ là 90.000. Ngoài ra chính quyền Đông Dương còn dùng Sở Liêm phóng Đong Dương là cơ quan tình báo và công an, kiểm soát, và triệt phá các hoạt động chống lại chính quyền, nhất là các tổ chức chính trị.
VII. Phân chia địa giới hành chánh.
1. Dưới sự cai trị của Pháp, địa giới các xứ Đông Dương được phân định lại. Công ước Pháp- Thanh 1887 lấy đông kinh tuyến 105º43’ làm giới hạn bên bờ Vịnh Bắc Việt, nên một dải đất Trường Bình, Bạch Long ở phía bắc sông Bắc Luân thuộc tổng Vạn Ninh bị nhượng cho nhà Thanh. Việc đóng mốc phân định biên giới hoàn thành năm 1896. Vì sự chia cắt đó đến năm 2000 vẫn có 22.000 người Kinh là hậu duệ người Việt cũ ở đất Quảng Tây. Ngược lại đất các vùng Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai xưa là phên giậu biên thùy, từng triều cống Lão Qua, thì nay được sáp nhập vào Bắc Kỳ. Đất Trấn Ninh, và Sầm Châu mặc dù có quan Việt cai quản, nhưng người Pháp lại cắt cho Lào kể từ năm 1895 và 1903.
Vùng Cao nguyên Trung Phần thì năm 1893, người Pháp buộc Triều đình Huế cắt ra và cho phụ thuộc Lào. Đến năm 1904, thì Darlac (Ban Mê Thuột) mới được trả lại Trung Kỳ. Kontum theo chân năm 1905. Tuy nhiên, khu vực cao nguyên này gần như trực thuộc người Pháp cai trị. Triều đình Huế có quyền bổ nhiệm viên quan quản đạo nhưng thực quyền nằm trong tay Công sứ Pháp. Năm 1923 chính Công sứ Darlac là Léopold Sabatier đã ra lệnh tuyệt cấm người Việt lên lập nghiệp ở Darlac rồi lại vận động Khân sứ Trung Kỳ là Pierre Pasquier áp dụng chung chính sách này cho toàn Cao nguyên Trung phần.
2. Năm 1906, Xiêm trả lại hai tỉnh Battambang và Xiêm Riệp để nhập vào Cao Miên. Năm 1916 vì bất ổn ở vùng biên giới Việt-Hoa, chính quyền Bảo hộ cho lập năm Quân khu để kiểm soát vùng cực bắc xứ Bắc Kỳ và Lào. Từ thập niên 1890, chính quyền Bảo hộ nhân danh triều đình Huế đã có đồ án dựng ngọn Hải đăng để khẳng định chủ quyền của Pháp trên quần đảo Hoàng Sa, nhưng đồ án chưa thực hiện được, và mãi đến năm 1938 mới có lực lượng chính thức chiếm đóng quần đảo này. Dù vậy, khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạm Hoàng Sa vào những năm đầu thế kỷ 20, thì Bộ Ngoại giao Pháp đã có công văn phản đối. Cuộc tranh chấp này kéo dài cho đến khi người Pháp mất chủ quyền ở Đông Dương và vẫn chưa kết thúc.
VIII. Về kinh tế.
1. Kinh tế Đông Pháp chủ yếu là một nền kinh tế thuộc địa để hỗ trợ cho kinh tế Pháp chứ không có kế hoạch tự túc hoặc phát triển theo khả năng bản xứ. Toàn quyền Pasquier đã khẳng định: "Il faut que les profits de l'Indochine reviennent aux Français" ("Lợi nhuận từ Đông Dương phải trao lại cho nước Pháp"). Đông Pháp là nguồn nguyên liệu, và vật liệu bán chế trong khi mẫu quốc Pháp cung ứng những sản phẩm chế biến để bán lại sang Đông Pháp. Về nông lâm, mặt hàng cao su từ Đông Pháp đã cung cấp cho thị trường Âu Mỹ một lượng lớn. Cây cao su Hevea brasiliensis đầu tiên đem từ Mã Lai sang trồng ở Đông Dương vào năm 1897 trồng thử tại Sài Gòn.
Đến năm 1905, khi cạo mủ thấy kết quả tốt, nên mở rộng ra trồng nhiều nơi khác. Các công ty lớn của Pháp, đầu tư vào ngành này, sở hữu nhiều đồn điền với diện tích lớn, tổng cộng lên hơn 138.000 hecta trên toàn Đông Dương. Tính đến năm 1926 thì diện tích trồng cao su là hơn 166.000 ha, với 13 triệu cây cao su. Số lượng nhân công cần để khai thác nguồn lợi này cũng đã làm giao động xã hội bản xứ. Lượng cao su xuất cảng đạt hơn 10 nghìn tấn vào năm 1929 và tiếp tục gia tăng đến trước Đệ nhị thế chiến, sau đó tụt xuống chỉ còn 15% vào năm 1945. Đến cuối thập niên 1940 đã tăng lên, đạt khoảng 60% sản lượng.
2. Lượng nông phẩm lớn nhất của Đông Dương là lúa gạo, đạt 2.140.000 tấn xuất cảng, năm 1937 với diện tích canh tác ở Nam Kỳ tăng mạnh từ 522.000 hecta năm 1880 đến 2 triệu 2 hecta năm 1937. Những khu vực kinh tế khác được chính phủ Bảo hộ lưu ý là khoáng sản (than đá, chì, kẽm) chè, cà phê, hạt tiêu. Kỹ nghệ nhẹ như ngành dệt, thuốc lá, xi măng cũng được phát triển. Kỹ nghệ lớn nhất với khoảng 50.000 công nhân là ngành khai thác than đá, chủ yếu ở Hà Tu, Hòn Gai (Pháp gọi là Hongay) và Cẩm Phả của công ty "Société de Charbonnages du Tonkin". Hãng "Société de Charbonnages du Đông Triều" thì khai thác ở Kê Bào.
Năm 1930, sản lượng than đá khai thác là 1.890.000 tấn, trong đó 3/4 được xuất cảng. Những mặt hàng được nhập khẩu chính vào Đông Dương thời kỳ này là sửa đặc, thức ăn đóng hộp, bột mì, rau, đường, cà phê, trà, thuốc lá, chỉ bông, vải bông, rượu, than, dầu lửa, đồ kim loại, dược phẩm, xà phòng, đồ gốm, đồ thủy tinh và pha lê, giấy, máy móc, xe hơi, v.v. Các mặt hàng xuất khẩu quan trọng gồm có: gạo, cá (cá khô và cá muối), tiêu, quế, dầu thực vật, gỗ tếch, sợi bông (thô), than và kẽm, lụa (thô), xi măng, thảm chiếu, da, v.v.
1. Cán cân xuất nhập khẩu vào năm 1914 là:
Vùng, lãnh thổ | Giá trị nhập khẩu (franc) | Giá trị xuất khẩu (franc) |
Bắc Bắc Kỳ | 96.239.000 | 100.260.000 |
Trung Kỳ | 6.364.000 | 11.1360.000 |
Nam Kỳ | 158.998.000 | 219.253.000 |
Campuchia | 4.891.000 | 1.686.000 |
Tổng cộng | 266.492.000 | 332.335.000 |
3. Những mặt hàng xuất khẩu chính của Đông Dương: Số liệu cao su xuất cảng: năm 1939: 66.556 tấn; năm 1940: 72.245 tấn; năm 1941: 76.069 tấn; năm 1942: 75.178 tấn; năm 1943: 74.734 tấn; năm 1944: 61.361 tấn; năm 1945: 12.000 tấn; 1946: 20.000 tấn; 1947: 38.000 tấn; 1948: 43.000 tấn; và năm 1949 45.000 tấn; Số liệu thóc gạo xuất cảng: năm 1865: 50.000 tấn; năm 1875: 268.000 tấn; năm 1890: 460.000 tấn; năm 1900: 595.000 tấn; năm 1910: 815.000 tấn; và năm 1925: 1.300.000 tấn. Cơ quan điều hành kinh tế cho cả sáu xứ Đông Pháp là Ngân hàng Đông Dương (Banque de l'Indochine), thành lập từ năm 1875.
Ngân hàng này có đặc quyền phát hành đồng bạc Đông Dương (piastre indochinoise). Chính quyền Bảo hộ giành độc quyền bán thuốc phiện, rượu, và muối, gọi là thuế "môn bài". Ba khoản thu này cộng thêm quan thuế xuất nhập khẩu cung ứng 95% ngân sách để trả lương công chức. Lấy trường hợp thu ngân của chính phủ Bảo hộ ở Bắc Kỳ năm 1886 trên tổng số 134 triệu đồng thì bốn nguồn thuế chính là: thuế thuốc phiện: 45 triệu; thuế rượu: 20 triệu đồng; thuế muối: 45 triệu đồng; thuế thân: 21 triệu đồng.
4. Độc quyền nấu rượu thì có công ty Société des Distilleries d'Indochine phân phối cho toàn Liên bang dưới hiệu "RA" (Régie de Alcool), thường gọi là "rượu ty". Những nguồn rượu khác thì bị liệt vào rượu lậu, bị truy tố và tịch thu tài sản. Nhập cảng, chế biến và bán sỉ thuốc phiện thì do cơ quan Régie de l'Opium đảm nhận. Tính đến năm 1900, lợi nhuận thu được từ thuốc phiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang Đông Dương. Phân phối bán lẻ hầu hết là tư nhân người Hoa.
IX. Về giao thông.
1. Nỗ lực lớn nhất của nhà nước Bảo hộ là xây dựng hệ thống đường sắt. Đoạn đường sắt thiết lập đầu tiên là Sài Gòn - Mỹ Tho ở Nam Kỳ, dài 71 cây số, với kinh phí 11,6 triệu franc, hoàn tất tháng 7 năm 1885. Vào những năm 1897-1900 là đoạn Hà Nội - Lạng Sơn ở Bắc Kỳ, với giá trị chiến lược cao để củng cố vùng biên giới Việt-Hoa. Hệ thống đường sắt Xuyên Đông Dương (Chemin de fer Transindochinois) nối liền Hà Nội với Sài Gòn hoàn thành năm 1936. Tổng cọng từ Nam Quan đến Mỹ Tho với chiều dài 1714 km. Hành trình Sài Gòn - Hà Nội mất 60 giờ đồng hồ, tức hai ngày và ba đêm.
Ngoài ra còn có những nhánh đường sắt khác từ Nam Vang đến biên giới Xiêm; từ Sài Gòn đi Lộc Ninh; từ Tháp Chàm lên Đà Lạt; từ Phủ Ninh Giang qua Kẻ Sắt đến Cẩm Giàng. Riêng đoạn đường từ Hải Phòng lên Hà Nội, rồi từ Hà Nội ngược sông Thao vượt biên giới Việt-Hoa sang Vân Nam thì do tư nhân hãng "Compagnie Française des Chemins de fer de l'Indochine et du Yunnan" khai thác. Tính đến năm 1939 thì toàn cõi Đông Dương có 3.372 km đường sắt.
2. Ở hai đô thị chính, Sài Gòn và Hà Nội chính quyền còn cho thiết lập hệ thống "tàu điện" (tramways). Tàu điện Sài Gòn khánh thành năm 1881, lúc đầu chạy bằng hơi nước và đến năm 1923 mới chính thức chạy bằng điện. Lộ trình 72 km này nối Chợ Lớn, Sài Gòn, rồi tỏa ra Hóc Môn, Gò Vấp, phục vụ đến năm 1953 mới tháo bỏ. Tàu điện Hà Nội với 29 km đường rày khởi dụng năm 1901 và mãi đến năm 1990 mới thôi. Công trình phát triển đường sá thì có cầu Sông Dái dài hơn 1,600 m do công ty Daydé et Pillé thực hiện từ năm 1897 đến 1901 là công trình đáng kể nhất.
Ngoài ra còn có những xây cất nhỏ hơn như cầu Hàm Rồng bắt qua sông Mã ở Thanh Hóa; cầu Trường Tiền ngang qua sông Hương ở Huế, v.v. Con đường thiên lý sau đó được dải nhựa dần để xe hơi có thể chạy suốt từ biên giới Việt-Hoa đến biên giới Miên-Xiêm. Tổng cộng trên toàn cõi có khoảng 28.000 km đường trải nhựa hoặc trải đá sỏi. Chính phủ Pháp cũng cho thiết lập hệ thống dây thép điện tín đoạn đầu tiên hoàn tất năm 1862, nối Sài Gòn, Biên Hoà và Chợ Lớn. Đến năm 1888, thì đường dây liên lạc Sài Gòn-Hà Nội cũng làm xong.
X. Về xã hội.
1. Bàn đèn thuốc phiện được xem như một "công cụ" chính trong chính sách ngu dân ở Việt Nam của Pháp. Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục thực dân; dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu, cùng việc kinh doanh thuốc phiện và rượu như một đặc quyền của nhà nước. Xã hội Việt Nam khi đối diện nền kinh tế mới của người Pháp có biến đổi và phân hóa. Mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân vẫn là mâu thuẫn muôn thuở trong xã hội phong kiến. Địa chủ sở hữu phần lớn ruộng đất, với khoảng 7% cư dân nông thôn, nhưng họ nắm gần 50% diện tích ruộng đất. Một số dùng thế lực của Pháp để thủ lợi, nhưng lòng yêu nước vẫn là động lực chống Pháp.
Nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam chiếm khoảng 90% dân số, cũng là thành phần gánh chịu phần lớn phí tổn của nền Bảo hộ. Giai cấp công nhân nhỏ hơn, hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, tập trung ở các thành phố và khu vực khai thác mõ. Cũng tập trung ở thành thị là giai cấp tư sản và tiểu tư sản bao gồm doang nhân trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, và cả nông nghiệp. Ngoài ra, trong nhóm này cũng là giới học sinh, trí thức, thợ thủ công, cong chức và những người làm nghề tự do. Các thành phần xã hội tuy chung một khái niệm yêu nước nhưng cũng có khi đối chọi về kinh tế và văn hóa.
1. Dân cư.
1. Vào đầu thế kỷ 20, thành phần dân cư của Liên bang Đông Dương gồm có người Việt, người Khmer, người Thái, người Chăm và các dân tộc thiểu số khác. Trong số đó, người Việt là đông nhất với 15 triệu người, kế đến là người Khmer với 1,3 triệu người, người Thái 1,1 triệu và người Chăm 100.000, số dân tộc thiểu số ước khoảng 500.000 người. Ngoài số này, còn có khoảng 300.000 người Hoa và các dân tộc châu Á khác, 15.000 người Âu và 40.000 người Âu lai Á. Dân số của toàn Liên bang Đông Dương thập niên 1910, khoảng 18.370.000 người, mật độ trung bình 24 người trên một km2.
Người Việt sống chủ yếu ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, người Khmer sống ở Campuchia, người Thái ở Lào, người Chăm ở Nam Kỳ và một phần Campuchia; những người thuộc dân tộc thiểu số sống rải rác dọc theo vùng núi cao trong lục địa. Trong các sắc dân bản địa, người Việt có tổ chức xã hội cao hơn cả. Qua kinh nghiệm nhiều đời, họ đã có được những tập quán nông nghiệp phát triển, nhưng về năng lực buôn bán thì thiếu kinh nghiệm. Thương mại trên khắp Đông Dương nằm trong tay những người Hoa. Người Thái thích sống ở những vùng cao, với công việc chính là nuôi gia súc và săn bắn; họ kém văn minh hơn người Việt. Người Khmer thì làm các nghề về gỗ, nông, ngư nghiệp, và săn bắn.
2. Trên pháp lý, người dân Đông Dương chia thành ba hạng. Đứng đầu là công dân Pháp (citoyens français) gồm những người Pháp và một số người bản xứ được nhập tịch. Thứ nhì là thuộc dân Pháp (sujets français) là dân Nam Kỳ và ba thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng và Hà Nội. Hạng ba mới là dân bảo hộ (protégés français) tức là đại đa số dân chúng Trung, Bắc Kỳ, Lào, và Cao Miên.
2. Di dân.
1. Nhà nước Bảo hộ là hậu thuẫn cho việc thông thương với Trung Hoa, Số người Hoa được nhập cảnh vào Đông Dương: năm 1923 là 19.800 người, năm 1924 là 13.800 người, năm 1925 là 15.200 người, năm 1926 là 19.000 người, năm 1927 là 31.100 người,năm 1928 là 30.100 người. Người Hoa kiều có khoảng 60.000 vào cuối thế kỷ 19, đến năm 1921thì số di dân người Hoa đã tăng thành 156.000 riêng ở Nam Kỳ. Họ nắm tài lực, có hệ thống kinh tài khắp Đông Nam Á, nhất là ngành buôn gạo. Số thương gia tên tuổi lịch sử còn ghi lại có Wang-Tai, Hui Bon Hoa tục gọi là "chú Hỏa", Quách Đàm (xây chợ Bình Tây). Đến năm 1937, trong suốt ba Kỳ Trung, Nam, Bắc có 217.000 Hoa kiều, chiếm hơn 1,1% dân số toàn Liên bang.
Theo hiệp ước ký giữa Pháp và nhà Thanh năm 1885 và 1886 thì người Tàu ngụ cư ở Đông Dương hưởng quy chế ngoại nhân ưu đãi (etrangers bénéficiant d'un statut privilégié) được miễn sưu thuế, không phải bắt làm tạp dịch hay nhập ngũ lại được quyền đi lại tự do. Hơn nữa vì giữ quốc tịch Trung Hoa, quyền lợi của họ có chính phủ Bắc Kinh bênh vực. Cộng đồng người Hoa tổ chức theo nguyên quán, thường gọi là bang (tiếng Pháp: congrégation). Vào năm 1885 thì có bảy bang ở Nam Kỳ nhưng sau đó gộp lại thành năm bang: Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu, và Hẹ.
2. Ngoài ra có khoảng 5.000 Ấn kiều. Giống như người Hoa, người Ấn đại đa số là thương nhân, cùng làm nghề cho vay nặng lãi. Số người Âu châu đến cuối thập niên 1930 là 39.000, đa số người Pháp, nắm giữ địa vị then chốt chính trị và kinh tế trong ba ngành xuất cảng gạo, cao su, và khoáng sản. Ba nhóm ngoại kiều Pháp, Hoa và Ấn tập trung ở thành thị trong khi dân bản xứ phần lớn sinh sống ở nông thôn. Một chính sách di dân nữa được đề ra là việc mộ dân ở Bắc và Trung Kỳ đưa vào Nam làm phu đồn điền cao su hoặc nông trại miền núi Cao nguyên Trung Kỳ hay thượng du Bắc Kỳ.
Riêng niên khóa 1926-27, 35.000 người dân từ Bắc và Trung Kỳ được mộ làm phu và đưa vào Nam Kỳ làm công trong các đồn điền. Người Việt cũng được khuyến khích di cư sang Lào và Cao Miên. Thống kê năm 1908 ghi nhận 60.000 người Việt trên đất Miên. Đến năm 1921 thì tổng số người Việt ở Cao Miên là hơn 140.000 và 191.000 vào năm 1937. Cùng thời gian sau đó vào cuối thập niên 1930 thì số người Việt ở Lào đã tăng lên gần 40.000. Một số khác được đưa sang Tân Đảo và đảo Tân thế giới làm phu mỏ và đồn điền của Pháp.
XI. Về Giáo dục.
1. Một hậu quả khác rất đáng kể của cuộc bảo hộ đối với người Việt là việc thay đổi toàn diện về học thuật. Ở Nam Kỳ ngay từ năm 1867 người Pháp đã ngưng hẳn thể chế khoa cử bằng chữ Nho, và đến năm 1878 thì các công văn bằng chữ Nho cũng bị loại bỏ, thay bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Trường sở tại Nam Kỳ bắt đầu áp dụng theo mẫu trường công ở Pháp từ năm 1879. Tuy nhiên, ở Trung và Bắc Kỳ thì chữ Nho tiếp tục được giảng dạy dưới sự vận động của Giám đốc Học chính Gustave Dumoutier.
1. Cải cách năm 1908.
1. Đến năm 1908 thì Hội đồng Cải cách Học vụ (Conseil de Perfectionnement de l'enseignement indigène, lập năm 1905) thời Toàn quyền Beau lập Học bộ tức Nha Giám đốc Học chính (Direction de l'Enseignement) dưới sự điều hành của Henri Gourdon và quy hoạch lại việc giáo dục ở Trung và Bắc Kỳ, chia thành ba bậc: ấu học, tiểu học và trung học. Ấu học thì giao cho xã thôn dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ; ai đậu thì gọi là "tuyển sinh."; Tiểu học thì do phủ huyện có huấn đao và giáo thụ đảm trách, tiếp tục dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ và có thể tình nguyện học thêm chữ Pháp chứ không bắt buộc; Trung học thì do quan đốc học ở tỉnh lỵ trông coi và dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Đây bước đầu của chữ Quốc ngữ trong ngành giáo dục của người Việt.
2. Tổng số trường học ở Trung và Bắc Kỳ là khoảng 15.000 với 200.000 học sinh. Bắt đầu từ khoa thi Hương năm 1909 thì thí sinh phải biết chữ Quốc ngữ để làm bài. Ở Hà Nội thì có thêm trường Bảo hộ và Huế thì có trương Hậu bổ cùng với trường Quốc học sẵn có để đào tạo thêm nhân sự.
2. Cải cách năm 1915.
1. Năm 1915 thì Bắc Kỳ, rồi năm 1918 Trung Kỳ cũng theo Nam Kỳ bỏ khoa cử để theo chương trình do Nha Học chính Đông Dương soạn ra tức bộ học luật (Code de l'instruction publique) ban hành ngày 21 Tháng 12 năm 1917. Theo đó thì tiếng Pháp được đưa vào giáo trình từ bậc tiểu học. Tiểu học chia thành ba cấp: Sơ học (ba năm, đỗ bằng Sơ học yếu lược Certificat d'etudes primaires Franco-Indigènes, viết tắt là CEPFI); Tiểu học (ba năm, đỗ bằng Cơ thủy Certificat d'etudes elementaires), và; Cao đẳng tiểu học (bốn năm, đỗ bằng Cao đẳng tiểu học Diplôme d'études primaires supérieures); Trung học (ba năm) thì chỉ có bốn trường (lycée) đặt ở Phnôm Pênh (lycée Sisowath, 1935), Huế (lycée Khai-Định, 1936), Sài Gòn (lycée Petrus-Ky) và Hà Nội (lycée du Protectorat) mà thôi.
Học xong hai năm thì thi lấy bằng Tú tài bản xứ. Ba năm thì lấy bằng baccalauréat. Bằng baccalauréat được công nhận tương đương với bên chính quốc kể từ năm 1930. Số người đậu bằng baccalauréat rất ít oi, như năm 1842 tổng cộng chỉ có 75 người.
3. Bậc Đại học
1. Bắt đầu năm 1907, ở Hà Nội mới khai giảng khoá đầu tiên bậc Đại học, và nó là Viện Đại học duy nhất cho cả Đông Dương, nhưng hoạt động gián đoạn đến năm 1917 mới tái tục. Điểm đáng lưu ý là chứng chỉ do Đại học Đông Dương cấp không được công nhận là tương xứng với các trường đại học bên Pháp. Sinh viên Đông Dương muốn sang Pháp học cũng bị gây khó dễ và hạn chế. Năm 1924 mở khóa học đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương với hai phân khoa: 1) hội họa, điêu khắc & trang trí; 2) kiến trúc. Ở Phnôm Pênh thì người Pháp lập trường Bảo hộ từ năm 1893. Đến năm 1905 thì đổi thành Collège Sisowath.
Những cải cách giáo dục của chính quyền Pháp một phần là để nâng cao kiến thức dân chúng, nhưng còn có dụng ý là để chuyển hướng tư duy của đại chúng. Thay vì trông đợi vào giới sĩ phu truyền thống dẫn dắt, nay người dân thường sẽ có nhà nước Bảo hộ đào tạo kiến thức. Đối với người Việt thì nguồn tư duy đáng sợ cho chính quyền Đông Pháp là Nho học và luồng tư tưởng xâm nhập từ Trung Hoa và Nhật Bản qua các sách vở Hán văn. Đối với Miên và Lào thì tin tức từ Xiêm là mối đe dọa. Vì vậy người Pháp đã dồn nhiều nỗ lực vào việc cải tổ nền giáo dục bản xứ. Một chứng cứ là sách giáo khoa thời Pháp không dùng danh từ "Việt Nam" mà chỉ nhắc đến "Đông Pháp" và các xứ lệ thuộc.
XII. Khoa học, kỷ thuật và Y tế.
1. Chính phủ Bảo hộ cho thành lập một số cơ sở khoa học ở Đông Dương như Viện Pasteur (Institut Pasteur de Saigon, 1890 & Nha Trang, 1895), Nha Địa chất (Service géologique, 1918), Viện Canh nông Thuộc địa (Institut agronomie coloniale, 1918), Viện Hải Dương hoc (Institut océanographique, 1922). Bác sĩ Alexandre Yersin thông qua Viện Pasteur đã có nhiều đóng góp về căn bệnh dịch hạch. Ông chọn sống tại Nha Trang, Trung Kỳ nơi ông tiếp tục những cuộc thí nghiệm khoa học cho đến khi mất.
Nhà thương theo y học Tây phương đầu tiên ở Đông Dương là nhà thương Chợ Quán, bắt đầu hoạt động năm 1864, nhưng phải đợi đến năm 1914, thì số lượng y sĩ mới đủ để đáp ứng nhu cầu dịch vụ y khoa thường xuyên.
XIII. Về văn hóa và lịch sử.
1. Về văn hóa và lịch sử thì có Viện Viễn Đông Bác cổ (École française d'Extrême-Orient) lập năm 1900 ở Sài Gòn để nghiên cứu, thu thập, và lưu trữ nhiều cổ vật cùng khai quật các di chỉ khảo cổ. Năm 1902 thì Viện này chuyển ra Hà Nội với chi nhánh ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Nam Vang, và Battambang. Một trong những "khám phá" lớn nhất trong ngành khảo cổ vào thời điểm này là cuộc khai quật di tích Angkor Wat được nhà khoa học Henri Mouhot ghi lại và phổ biến đến thế giới Tây phương. Cổ hơn thì năm 1923 khai quật được di chỉ Đông Sơn thuộc tỉnh Thanh Hoá nơi khám phá ra một số trống đồng tiêu biểu cho thời đại cổ đại của người Việt.
Henri Parmenier thì có công khảo cổ trong việc nghiên cứu giải mã các cổ vật và di tích Chiêm Thành. Bốn viện bảo tàng lớn được thành lập để lưu trữ các di vật văn hóa: Viện Bảo tàng Albert Sarraut (1920) ở Nam Vang; Viện Bảo tàng Khải Định (1923) ở Huế; Viện Bảo tàng Louis Finot (1926) ở Hà Nội; Viện Bảo tàng BlancharId de la Brosse (1927) ở Sài Gòn.
XIV. Về thể chế chính trị.
1. Chính trị Đông Dương thuộc thể chế thuộc địa và bảo hộ nên không có quyền tự quyết. Riêng ở Nam Kỳ thì có bầu cử định kỳ và vận động cử tri. Tuy nhiên số cử tri rất khiêm nhường. Vào khoảng thập niên 1910 thì chỉ có 1.000 cử tri người Việt, tức những người được vào Pháp tịch. Số người Pháp thì có khoảng 3.000 người ghi danh đi bầu. Sau cuộc cải tổ năm 1922, đặc quyền bầu cử được nới rộng và số cử tri người Việt tăng lên khoảng 20.000, đa số thuộc giới thượng lưu Tây học. Đây là thành phần cử tri bỏ phiếu trong những cuộc tuyển cử Hội đồng Quản hạt so với 2-3 triệu dân của toàn xứ Nam Kỳ.
Về mặt thông tin, báo chí thì chính phủ Bảo hộ áp dụng chính sách kiểm duyệt sách báo. Lệ này đến năm 1935 mới nới lỏng hơn khi Đảng Xã hội Pháp của thủ tướng Léon Blum lên chấp chính.
XV. Phản kháng.
1. Chính quyền Liên bang Đông Dương dù có mang lại một số kỹ nghệ và tổ chức khoa học làm cuộc sống khá hơn về mặt vật chất, nhưng chủ yếu là tạo điều kiện cho người Pháp, chứ không vì quyền lợi của dân bản xứ. Lý tưởng "Tự do, Bình đẳng, Bác ái" ("Liberté, Égalité, Fraternité") tuy xuất xứ từ Pháp, nhưng dân của sáu xứ Đông Dương không được hưởng đầy đủ những quyền lợi đó. Một thí dụ cụ thể là đạo luật hiện hành ở chính quốc như luật cấm trẻ em lao dịch thì ở Đông Pháp không áp dụng những luật pháp đó. Chủ nghĩa dân tộc, nhất là đối với người Việt cho dù bị chính quyền Bảo hộ cố vùi lấp, vẫn là tiếng gọi vang vọng.
Cuộc khởi nghĩa của Đề Thám ở vùng Phú Thọ và Phúc Yên kéo dài đến năm 1913 mới bị dập tắt. Trong khi đó luôn có những âm mưu đánh đuổi người Pháp như vụ Hà Thành đầu độcđộc (1908), vụ nổ bom ở Bắc Kỳ do Việt Nam Quang Phục Hội thực hiện (1913), việc vua Duy Tân bôn tẩu (1916), vụ mưu sát Toàn quyền Merlin của Tâm Tâm Xã (1924), cuộc nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Quốc Dân Đảng (1930) làm chính phủ Bảo hộ phải luôn tìm cách trấn áp . Chính phủ Bảo hộ thường tuyên truyền, đề cao những nhân vật, và sự kiện lịch sử của nước Pháp như “nhân từ, bình đẳng, bác ái”, hết lòng dìu dắt và bảo vệ người bản xứ như trường hợp Giám mục Bá Đa Lộc.
2. Trước cao trào đòi độc lập, chính quyền Bảo hộ đưa ra chính sách "Pháp Việt Đề Huề" để vận động sự hợp tác giữa người Pháp và các dân tộc Đông Dương, nhất là dân tộc Việt. Ngoài việc vận động tâm lý, người Pháp còn duy trì một lực lượng quân sự để củng cố quyền lực. Lực lượng này gồm lính chính quy Pháp và lính bản xứ, thường gọi là lính tập. Đội quân này được dùng trong việc canh gác công sở, duy trì trật tự xã hội, và đánh dẹp cấc cuộc phản kháng nhà nước Bảo hộ. Vào đầu thập niên 1930 thì có khoảng 10.000 tù nhân chính trị trong các nhà tù lớn nhỏ ở Đông Dương.
B. GIẢI THỂ LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG.
I. Nhật Bản nhập cuộc.
1. Năm 1941, giữa đệ II thế chiến quân đội Nhật Bản tiếp thu Đông Dương với sự thỏa thuận của chính quyền Vichy theo thỏa ước giữa đại sứ Pháp Charles Arsènes-Henry ở Tokyo và ngoại trưởng Yosuke Matsuoka ký ngày 30/8/1940. Theo đó, thì Nhật Bản được quyền điều hành quân sự trên toàn cõi Đông Dương chống lại phe Đồng Minh, nhưng người Pháp vẫn duy trì bộ máy cai trị của nhà nước Bảo hộ, và Nhật công nhận chủ quyền của Pháp.
II. Tranh chấp với Xiêm.
1. Thủ tướng Plaek Pibusongkram của triều đình Xiêm La nhân thấy quyền lực của Pháp ở Đông Dương bị suy yếu, nên tìm cách đòi lại lãnh thổ cũ ở Lào và Cao Miên bị Pháp chiếm đoạt vào năm 1907. Thất bại về mặt ngoại giao, Xiêm điều quân đến gần biên giới rồi mở cuộc tấn công và chiếm toàn phần đất Lào ở hữu ngạn sông Mê Kông vào ngày 19 tháng 1 năm 1941. Không quân Xiêm thì mở cuộc oanh kích nhiều địa điểm ở tỉnh Battambang và tiến chiếm được tỉnh lỵ. Về mặt bể thì hải quân Pháp và hải quân Xiêm nổ súng ở khu vực đảo Chang.
Ba chiến thuyền của Xiêm bị đánh chìm, nhưng vì áp lực của Đế quốc Nhật Bản, toàn quyền Đông Dương Jean Decoux phải nhượng lại cho Xiêm những tỉnh Battambang, Sisophon và Siemreap của Cao Miên ngày 11 tháng 3 năm 1941.
III. Nhật đảo chánh Pháp: Việt, Miên Lào tuyên bố độc lập.
1. Thỏa hiệp Pháp - Nhật ký ngày 30/8/1940, kéo dài được hơn bốn năm, thì ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật Bản ra lệnh tống giam nhiều viên chức Pháp, tuyên bố trao trả độc lập cho Việt, Miên, và Lào. Ngày 11 tháng Ba, đại sứ Yokoyama Masayuki vào Đại Nội Huế yết kiến vua Bảo Đại, và chứng kiến “lời tuyên cáo Việt Nam độc lập của vua Bảo Đại”. Ngày 13 tháng Ba, vua Cao Niên, và ngày 8 tháng Tư năm 1945, vua Lào cũng tuyên bố độc lập. Ngay sau khi tuyên bố độc lâp, vua Bảo Đại chỉ định Trần Trọng Kim làm Thủ tướng thay thế Nội các Nam triều Phạm Quỳnh.
Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại hơn 4 tháng, nhưng đã làm được nhiều việc mang tính lịch sử sâu sắc, cụ thể là: (1) Hợp nhất hai nhà nước Bảo hộ Pháp và nhà nước Nam triều làm một, mang tên “Đế quốc Việt Nam” do Hoàng đế Bảo Đại lãnh đạo, và Thủ tướng Trần Trong Kim cầm đầu Chính phủ. (2) Thu hồi 3 nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng, và thuộc địa Nam Kỳ về cho một nước Việt Nam độc lập và thống nhất. (3) Đưa tiếng Việt vào Chương trình dạy và học trong các cấp học Quốc gia do Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn phụ trách.
2. Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, thì hai ngày sau, ngày 17 Tháng Tám, Hoàng đế Bảo Đại gởi Điện văn kêu gọi Tổng thống Mỹ Truman, Đồng Minh và cả De Gaulle yêu cầu bảo vệ nền độc lập Việt Nam, rằng dân Việt Nam nhất quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước. Cùng ngày, công chức Hà nội tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tuần hành qua các đường phố tỏ ý chí bảo vệ đất nước. Cộng sản đã cài “chuyên viên bạo loạn” vào đoàn người biểu tình, biến cuộc biểu tình của công chức “ủng hộ chính phủ” thành cuộc biểu tình “ủng hộ Mặt trận Việt Minh”.
Hai ngày sau, ngày 19 Tháng Tám Việt Minh tổ chức một cuộc biểu tình khác tuyên bố “tổng khởi nghĩa”, rồi tiến thẳng tới chiếm Phủ Khâm Sai Bắc Bộ, và nhiều nơi khác. Việt Minh còn đưa kiến nghị yêu cầu Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Theo Thủ tướng Trần Trọng Kim: “trong tình thế nguy ngập như thế, ở Huế còn có người bàn sự chống cự. Tôi liền gọi trung úy Phan Tử Lăng người chỉ huy đứng coi đoàn thanh niên tiền tuyến ở Huế, hỏi xem có thể trông cậy gì bọn họ được không. Trung úy Phan Tử Lăng nói: "Tôi có thể nói riêng về phần tôi thì được. Còn về phần các thanh niên tôi không dám chắc".
3. Đòan thanh niên tiền tuyến trước rất nhiệt thành nay còn thế, huống chi những lính bảo an, và lính hộ thành tất cả độ vài trăm người; những lính để canh giữ công sở, súng ống không ra gì, đạn dược không đủ, còn làm gì được, cũng bị Việt Minh tuyên truyền xiêu lòng hết cả rồi. Lúc ấy chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả.
Tôi (Trần Trọng Kim) vào tâu vua Bảo Ðại: "Xin ngài đừng nghe người ta bàn ra bàn vào. Việc đã nguy cấp lắm rồi, ngài nên xem lịch sử của vua Louis XVI bên Pháp, và vua Nicholas II bên Nga mà thoái vị ngay là phải hơn cả. Vì dân ta đã bị Việt Minh tuyên truyền, đang hăng hái cách mệnh như nước đang lên, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả. Mình thế lực đã không có, bọn Việt Minh lại có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của nước". Vua Bảo Ðại là ông vua thông minh, hiểu ngay và nói: "Trẫm có thiết gì ngôi vua đâu, miễn là bọn Việt Minh giữ được nền tự chủ của nước nhà là đủ. Trẫm muốn là người dân của một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ".
IV. Bảo Đại thoái vị, kết thúc Vương triều nhà Nguyễn.
Trần Trọng Kim kể tiếp: “Nhờ ngài có tư tưởng quảng đại nên có tờ chiếu thoái vị. Khi tờ chiếu ấy tuyên bố ra, nhân dân có nhiều người ngậm ngùi cảm động, nhưng lúc ấy phần tình thế nguy ngập, phần sợ hãi, còn ai dám nói năng gì nữa. Ðến bọn thanh niên tiền tuyến, người chính phủ tin cậy cũng bỏ theo Việt Minh, bọn lính hộ thành của nhà vua cũng không thấy nữa. Còn các quan cũ lẫn nấp đâu mất cả. Thật là tình cảnh rất tiều tụy”. (Một Cơn Gió Bụi của Lệ thần Trần Trọng Kim).
C. TÁI LẬP VÀ XOÁ SỔ LIÊN BANG
ĐÔNG DƯƠNG.
1. Cũng trong Tháng Tám năm 1945 này, khi Pháp tái chiếm, và tái lập Liên bang Đông Dương thì Việt Minh cũng đã “cướp được chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim”. Thương thảo “Việt Minh-Pháp” bất thành, thế là chiến tranh Đông Dương bắt đầu, kéo dài tới 9 năm đến năm 1954, thể chế cai trị của Pháp-Liên bang Đông Dương mới chính thức cáo chung.
Trong thời gian chín năm cuối, người Pháp có thay đổi ít nhiều cơ chế hành chánh: bỏ chức vụ "Toàn quyền" và thay bằng "Cao ủy" rồi "Tổng ủy"; Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ hay Thống sứ Bắc Kỳ thì thay bằng "Ủy viên Cộng hòa". Ngoài ra, chính phủ Pháp cũng hứa hẹn cải tổ bằng cách mở rộng ngành giáo dục và hướng tới dân chủ tự trị trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp.
(Hết chương 4)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét