Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2023



 

 

 

 

 

 

VIỆT NAM SỰ KIỆN I

(1802-1945)

NỘI DUNG SÁCH VIỆT NAM SỰ KIỆN I VIẾT VỀ 143 NĂM VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN: BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ TÌNH CẢNH VIỆT NAM; NHÀ NGUYỄN TÂY SƠN VÀ NGUYỄN ÁNH ĐÁNH TÂY SƠN; 82 NĂM VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN CAI TRỊ ĐỘC LẬP; 61 NĂM VƯƠNG TRIỀU THUỘC TRỊ NƯỚC PHÁP; CÙNG VỚI 13 NHÀ VUA; 33 VỊ QUAN LẠI TIÊU BIỂU; VÀ CÁC ĐÁNH GIÁ VƯƠNG TRIỀU. 

 

 

 


CHƯƠNG I: BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ TÌNH CẢNH VIỆT NAM.

(Có 29 trang và 18.448) 

 

A. BỐI CẢNH THẾ GIỚI.

I. Thế giới trước thời Phục Hưng.

1. Hành tinh mà chúng ta đang sống thường gọi là thế giới hay trái đất. Trái đất được chúng ta xem như ngôi nhà chung của nhân loại và các loài có sự sống. Nó chỉ là một trong vô vàn hành tinh của khoảng không vũ trụ bao la. Từ rất sớm, con người đã sống trên trái đất. Họ biết thích nghi với điều kiện tự nhiên để tồn tại. Buổi đầu họ sống bằng hái lượm, săn bắt cỏ cây và thú vật hoang dã có sẳn trong tự nhiên. Họ dùng lông hoặc da thú để che thân và cây lá hoang dại làm nơi cư trú. Nhưng dần dà, thực phẩm tự nhiên trở nên khan hiếm. Họ bắt đầu tự sản xuất thực phẩm để nuôi sống mình bằng cách trồng trọt và chăn nuôi. 

Và, chỉ khoảng 10 ngàn năm gần đây thôi, con người mới định cư ở một nơi nào đó thuận lợi để làm nông nghiệp. Họ sản xuất được nhiều thực phẩm hơn chẵng những đủ nuôi sống bản thân mà còn có thể nuôi sống thêm được nhiều người. Làng mạc ra đời, và người ta canh tân các cách sống của từng nhóm người lớn hơn. Con người sáng tạo được kỹ thuật tốt hơn, và gia tăng các tiện nghi trong đời sống xã hội. Họ bắt đầu xây dựng thành thị, phát triển văn hóa, và tạo ra sức mạnh chế ngự được phần nào sự khống chế của tự nhiên. Các thành phố lớn thường được xây dựng trên các bờ biển, bờ hồ và ven sông, nơi thuận lợi cho tàu bè đi lại và nó trở thành các trung tâm thương mại quan trọng.

2. Hình thức quốc gia nhỏ ra đời. Quốc gia chi phối mạnh mẽ vào đời sống cư dân. Các tiểu quốc muốn bành trướng lãnh thổ, huy động dân chúng, võ trang đi xâm lược các nước láng giềng. Và luật rừng “mạnh được, yếu thua” bắt đầu xuất hiện. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, bản đồ chính trị thế giới nhiều lần thay đổi. Hầu hết sự thay đổi là kết quả từ các cuộc chiến tranh. Từ thời cổ đại các nhà lãnh đạo quân sự như Alexander đại đế và Julius Caesar đã xâm lược, chiếm cứ đất đai của các bộ tộc láng giềng, và thiết lập đế quốc khống chế nhiều vùng rộng lớn.  Các đế quốc nổi lên và sụp đổ theo chiều dài lịch sử đến cả thời cận đại. Và kết quả là đường biên giới các quốc gia thay đổi rồi lại thay đổi.

II. Thế giới từ thời Phục Hưng.

1. Văn hoá Châu Âu thời Trung cổ chịu sự chi phối mạnh mẽ từ các nhà thờ Thiên chúa giáo đầy quyền lực. Văn hoá, xã hội phản ánh tư tưởng “giáo quyền cao hơn vương quyền”, đời sống tôn giáo đặt trên đời sống thực tại. Giữa năm 1300 và 1500 giới học giả, và các nhà sáng tạo nghệ thụât Châu Âu nhận ra đó là một điều "phi hiện thực". Và, họ bắt đầu phát triển một cách nhìn mới về cuộc đời. Họ tập trung suy nghĩ về đời sống hiện thực, ít quan tâm hơn đối với tôn giáo. Họ bắt đầu tìm hiểu con người, và thế giới mới để thay thế thế giới đương thời. Và, họ đã tìm thấy được nó, đó là thế giới của “chủ nghĩa nhân đạo". 

Các học giả chủ nghĩa nhân đạo, là người đi tiên phong trong việc phục hồi kiến thức, văn học, lụât pháp, triết học, và tư tưởng thời Hy Lạp - La Mã Cổ đại. Họ nói, bằng việc quay trở lại nghiên cứu các lảnh vực trên, họ có thể bắt đầu một thời kỳ vàng son của một nền văn hoá mới. Triết học của “chủ nghĩa nhân đạo”, cốt lõi của Văn hoá Phục Hưng là sự vận dụng trí óc, là sự say mê suy nghĩ, suy nghĩ sẽ tìm ra cái mới. Phong trào Phục Hưng xuất hiện ở phía Bắc Ý Đại Lợi cuối những năm 1300, và lan rộng khắp Châu Âu trong những năm 1400 và 1500.

2. Các nhà sáng lập phong trào Phục Hưng nhấn mạnh, rằng “trọng tâm của suy nghĩ phải nhắm vào các vấn đề của con người, chứ không phải đi tìm kiếm một sự hiểu biết nào về tôn giáo”. Họ miêu tả tình cảnh, cảm xúc của con người, và khẳng định rằng đó là “những cái” người ta có thể hiểu được. Các nghệ sĩ thời Phục Hưng thể hiện một cách tài tình về phẩm cách, và giá trị cao quý của con người như nó vốn có trong đời sống hiện thực trên các bức tranh vẽ, và tượng hình điêu khắc. Các nhà kiến trúc, xây dựng nhiều toà nhà với sự phối hợp tài tình mang nhiều yếu tố mới không có bóng dáng tôn giáo. 

Một số công trình kiến trúc, tác phẩm văn học, tranh vẽ, tượng điêu khắc kịêt xuất của thế giới, phần nhiều được sáng tạo trong thời Phục Hưng. Những thay đổi cuả Phong trào Phục Hưng, ảnh hưởng đến ngay cả bên trong nhà thờ Thiên Chúa giáo. Đầu những năm 1500, một cuộc vận động cải cách tôn giáo. Mục đích của cải cách là sửa sai các bất công và bạo ngược vốn tồn tại quá lâu và đang phát triển mạnh trong các nhà thờ Cơ đốc giáo La Mã. Năm 1517 Martin Luther, một tu sĩ người Đức, cũng là một giáo sư triết học được Giáo hội bổ nhiệm lảnh đạo công cuộc vận động cải cách. 

3. Sau khi thu thập nhiều bằng chứng cụ thể về những bất công, và bạo ngược đang tồn tại trong các nhà thờ La Mã, được ông phản ánh đầy đủ, và nhiều lần đề nghị Giáo hội cải sửa, nhưng vẫn không được Giáo hội quan tâm, đã khiến ông và người theo ông ta ly khai với Cơ đốc giáo La Mã, lập ra hệ phái Cơ đốc giáo Tin lành. Chỉ trong một thời gian ngắn từ khi nhà thờ Tin Lành giáo một dạng “tôn giáo khoan dung” hơn, đầu tiên ra đời trên nước Đức đến giữa những năm 1500, gần một nữa các nước Tây Âu đều có nhà thờ Tin Lành giáo. 

Cần nhớ rằng người sáng lập Cơ đốc giáo là Jesus Christ, ông ta bị đế quốc La Mã hành hình bằng cách đóng đinh trên cây thập ác trong những năm đầu Công nguyên. Cơ đốc giáo phát triển từ những năm 300 đến những năm 500 phân hoá thành Cơ đốc giáo La Mã ở phía Tây, và Cơ đốc giáo Chính thống ở phía Đông. Nay Cơ đốc giáo phía Tây lại vở đôi thành Cơ đốc giáo La Mã, và Cơ đốc giáo Tin lành. Thế là, một cuộc vận động “chống cải cách”, thực chất là chống Cơ đốc giáo Tin lành bắt đầu. Nó kéo dài hơn 100 năm. 

4. Công cuộc vận động chống cải cách do Cơ đốc giáo La Mã khởi xướng đã trở thành “chiến tranh tôn giáo” giữa hai hệ phái đều nhân danh môn đệ Christ , kéo dài hơn 30 năm (1618 - 1648) đã làm cho người Tây Âu ngao ngán. Trong quá trình tiến hành chiến tranh Giáo hoàng nắm cả “thần quyền lẫn thể quyền”.Sự truyền bá tư tưởng mới thời Phục Hưng cũng đưa đến nhiều tiến bộlớn lao khác. Lần đầu tiên các tác phẩm văn chương mẩu mực thời Hy Lạp - La Mã được in thành sách. Phong trào Phục Hưng cổ vủ nghiên cứu khoa học.

Từ kết quả nghiên cứu, cùng với các công trình có giá trị thời Hy Lạp - La Mã được sắp xếp lại, in thành sách dưới các đề tài khoa học khác nhau. Suốt những năm 1500 và 1600, giới khoa học gia đề xuất nhiều phương pháp khoa học, kết hợp kinh nghiệm, cùng với quan sát tường tận. Việc phát minh ra kính hiển vi, và kính viễn vọng, là công trình khoa học đầu tiên, thúc đẩy quá trình khoa học phát triển nhanh chóng. Đến những năm 1700, các khám phá mới đã làm thay đổi hoàn toàn "cách nghĩ vốn có" trên các lảnh vực như khoa học về giải phẩu, về thiên văn, và về y dược.

III. Tây Âu với thám hiểm tìm kiếm.

1. Một làn sóng người thám hiểm Châu Âu xuất hiện đầu những năm 1400, đã để lại những dấu ấn sâu sắc. Buổi đầu các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha tìm đường vượt biển theo hướng đông tới Châu Á. Họ chèo thuyền xuống phía Tây Bắc theo bờ Châu Phi để đến Châu Á. Những lần sau đó họ phát triển hệ thống buồm gắn trên thuyền, và cải thiện bản đồ hải hành tốt hơn. Năm 1473, một tàu Bồ Đào Nha băng qua đường xích đạo, và một chiếc khác đến được mũi Good Hope, bờ phía Nam Châu Phi năm 1487. Năm 1492, thuyền trưởng Christopher Columbus, người Ý làm việc cho Tây Ban Nha đặt chân lên Châu Mỹ. 

Trong năm 1497 và 1498, nhà thám hiểm Bồ Đào Nha, Vasco da Gama là người đầu tiên thực hiện cuộc hải hành từ Châu Âu đi vòng quanh Châu Phi tới Ấn Độ. Đầu những năm 1500, thuyền trưởng Ferdinand Magellan người Bồ Đào Nha làm việc cho Tây Ban Nha, thực hiện một cuộc hải hành vòng quanh thế giới. Mặc dù ông bị giết trong cuộc hành trình, một trong những con tàu của ông ta hoàn thành được chuyến du hành khảo sát. Nhiều thuỷ thủ từ Anh, Pháp, Hoà Lan cũng thực hiệncác cuộc thám hiểm trên lộ trình hải hành ngắn hơn đến Châu Á, hoặc dọc theo hành lang phía Tây Bắc để đến Bắc Mỹ. 

2. Các nhà thám hiểm thực hiện công việc của mình một cách chậm chạp, từng bước đi vào vùng đất mênh mông của Châu Mỹ. Việc khám phá ra các vùng đất mới, tạo thêm cơ hội cho Châu Âu mở rộng giao thương, và xâm chiếm thuộc địa trên các phần đất bên ngoài Châu Âu. Đến những năm 1700, người Châu Âu đã thực hiện được việc buôn bán của mình trên khắp thế giới. Một số nước đã chiếm được nhiều thuộc địa, và thành lập các công ty kinh doanh lớn tại đó. Các thuộc địa cung cấp cho Châu Âu chuối, cà phê, bông vải, trầm hương, gỗ quý và nhiều thứ khác. 

Hạt ngũ cốc, khoai tây, và thuốc lá từ Châu Mỹ cũng được mang vào Châu Âu. Buôn bán người nô lệ da đen, một nguồn lợi lớn đi vào hoạt động chính với Châu Phi. Công cuộc buôn bán với thế giới này đã mang về cho Châu Âu nhiều vàng, bạc và các thứ quý hiếm khác. Hơn nữa, thế giới mới cũng là nơi tiêu thụ hàng hoá do Châu Âu sản xuất ra nhất là tại Ấn Độ và Trung Quốc, nơi có nhu cầu các mặt hàng kim loại lớn với giá cao.

IV. Tây Âu chiếm Châu Mỹ làm thuộc địa

1. Cuộc săn tìm vàng đã cuốn hút  người thám hiểm Tây Ban Nha đến với thế giới mới. Một trong bọn họ, là nhà xâm lược nổi tiếng Hernando Cortes. Năm 1519, Hernando Cortes,cho tàu cặp bờ đổ bộ lên Mexico, rồi dàn quân tiến vào Tenochtitlan thủ đô của Aztec, bắt nhốt Hoàng đế Aztec. Năm 1520, ngưòi Aztec nổi lên chống quân xâm lược Hernando, nhưng cuối cùng họ bị đánh bại năm 1521. Từ đó Hernando tự cho rằng Mexico là của Tây Ban Nha. Mười hai năm sau, một người Tây Ban Nha khác là Francisco Pizzarro xâm chiếm Peru, vương quốc giàu mạnh về phía Nam. 

Người xâm lược Tây Ban Nha muốn người da đỏ bản địa gíup họ tìm vàng, và các cơ hội làm giàu khác. Họ cưởng bức người da đỏ làm việc trong các hầm mỏ và đồn điền làm chết hàng triệu người. Người cai trị Tây Ban Nha nhanh chóng mở rộng thuộc địa ở Châu Mỹ. Đến những năm 1700, thì Tây Ban Nha chiếm xong Mexico, Trung Mỹ và hầu hết Nam Mỹ. Họ xây dựng các thành phố, trường đại học nhiều nơi trong vùng chiếm cứ của họ. Chính quyền Châu Âu, ngôn ngữ Tây Ban Nha, và nhà thờ Cơ đốc La Mã trở thành kẻ ngự trị Vùng Mỹ la tinh. 

2. Người đến định cư ngày càng nhiều, dân số thuộc địa gia tăng, và các cuộc nổi dậy chống đối của người da đỏ cũng tăng lên ở nơi này, hoặc nơi khác khiến đời sống người Châu Âu trong các thuộc địa định cư trở nên bất an. Nhiều cuộc hôn nhân gượng ép giữa người Tây Ban Nha và người bản địa da đỏ, được tiến hành như một giải pháp xoa dịu sự chống đối. Và thế là, họ bắt đầu sản sinh ra một loại người có tổ tiên pha trộn. Tuy nhiên, trong giai cấp cầm quyền tại các thuộc địa, chỉ gồm những người không có sự pha tạp. Nói cách khác, là những người thuần chủng Châu Âu mới có quyền cai trị thuộc địa. 

Nhiều Vùng Mỹ La tinh đã là thuộc địa của Tây Ban Nha trước khi người Anh đến xứ này. Năm 1607, người Anh định cư đầu tiên đến James Town. Một trăm ba mươi năm sau năm 1733, người định cư Anh tăng thành một triệu người, và có tới 13 thuộc địa nằm dọc theo bờ Đại Tây Dương ở Bắc Mỹ. Nhiều người đến lập nghiệp ở các thuộc địa do bị cuốn hút bởi thế giới mới có nhiều đât đai, và các cơ hội kinh doanh tốt hơn. Số khác là tín đồ thờ Chúa không giáo điều (Quaker), giáo phái Anh nghiêm khắc về đạo đức (Puritan), và Thiên chúa giáo La Mã (Roman catholic). 

3. Họ đến đây một phần để trốn thoát sự bức hại về niềm tin tôn giáo, và phần khác mong tìm cơ hội làm giàu nhanh hơn. Đa số người định cư vùng này là người Anh, nhưng cũng có nhiều người Châu Âu khác. Từ năm 1624 người Hoà Lan định cư ở New Netherland nơi bây giờ là Connecticut, Delaware, New Jersey, và New York. Xa hơn về phía Bắc là người định cư Pháp trải rộng khắp vùng lưu vực sông St. Lawrence. Không bao lâu sau khi định cư, người Anh đã gieo trồng đủ lương thực cho tiêu dùng. Họ còn sản xuất thuốc lá, và nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị khác để trang trải cho hàng nhập từ Anh Quốc. 

Nhưng không giống thuộc địa Tây Ban Nha, khu vực các thuộc địa Anh không thấy ở xã hội người da đỏ có nền văn minh như Mexico, và Peru ở Trung, Nam Mỹ. Từ những ngày đầu, người da đỏ đã có mối quan hệ thân thiện với người định cư. Nhưng sau đó, người định cư ngày càng mở rộng các vùng đất lớn hơn, lấn chiếm cả khu vực săn bắn của người da đỏ. Và thế là cuộc chiến nổ ra giữa hai nhóm người, người da đỏ bản địa và người đến định cư da trắng. Dĩ nhiên, người định cư da trắng thắng thế, và người da đỏ tàn lụi dần, và một số nơi bị diệt chủng.

V. Hồi giáo chia rẽ và suy yếu.

1. Hồi giáo Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ trở nên hùng mạnh từ đầu những năm 1300, đánh chiếm Constantinople năm 1453. Thế nhưng, tại lưu vực sông Tigris - Euphrates lại luôn xảy ra giao tranh giữa hai thế lực Hồi giáo Ottoman và Hồi giáo Persia. Ottoman không thể kiểm soát được một số nơi trong vùng, nhất là tại Mesopotamia. Trong những năm 1500, một vương quốc mới được thành lập ở Persia, vương quốc Safavid. Vị vua hùng mạnh nhất của vương triều Safavid là vua Shah Abbas, ông ta lên ngôi năm 1587, đã đánh bại lực lượng Hồi giáo Ottoman, và cả bộ tộc Uzbek từ Turkestan. 

Vua Shah Abbas, và người kế vị ông ta hổ trợ mạnh mẽ cho việc phát triển nghệ thụât kiến trúc. Thành phố Isfahan trở thành thủ đô của vương quốc Safavid năm 1598. Nó được nhiều người biết đến như là thành phố đẹp nhất thế giới. Triều đại Safavid bắt đầu suy yếu, sau khi vua Shah Abbas chết năm 1629, và mất  quyền lực năm 1722 lúc quân đội Afghanistan xâm lăng Persia, chiếm thủ đô Isfahan. Trong khi đánh nhau với Hồi giáo Ottoman, Safavid còn phải đánh một thế lực Hồi giáo hùng mạnh khác, là đế quốc Hồi giáo Mogul ở Ấn Độ. 

2. Đế quốc Mogul đạt tới đỉnh cao của nó thời hoàng đế Akbar, người cầm quyền tới 50 năm, từ 1556 đến 1605. Akbar kiểm soát hầu hết phía Bắc, và Trung Ấn Độ, cùng với phần đất Afghanistan. Sự cai trị cởi mở, và lòng khoan dung tôn giáo của Ahbar đã khiến nhiều người Hindus giáo ủng hộ. Đế quốc Mogul yếu dần dưới thời các người kế vị Akbar, nhất là thời Hoàng đế Aurangzed. Ông ta lên ngôi năm 1658, khởi sự đánh một loại thuế đặc biệt lên người theo đạo Hindus, buộc nhiều tín đồ Hindus theo Hồi giáo. Ông ta còn cho phá huỷ các đền đài Hindus giáo. 

Chính sách cai trị độc đoán của Aurangzed, cùng với cuộc chiến kéo dài khiến đế quốc Mogul sụp đổ sau khi ông ta chết năm 1707. Từ những năm 1700 đến đầu những năm 1900 đế quốc Ottoman - Thổ Nhĩ Kỳ đánh chiếm nhiều phần đất của Châu Âu, và Châu Á. Nhưng đế quốc Ottoman không bao giờ có một chính quyền trung ương mạnh. Mỗi tỉnh trong vùng được cai trị bởi một thống đốc Ottoman. Nhiệm vụ chính của họ là thu thuế, và cung cấp nhân lực cho nhu cầu gia tăng quân số cho nhà vua. Họ can thiệp rất ít vào đời sống của cư dân trong vùng bị xâm lược. 

3. Chẳng hạn, các tín đồ Do Thái giáo, hoặc Cơ đốc giáo có thể thực hiện niềm tin của họ bao lâu nếu họ trả đủ thuế. Người "bị trị" do vậy, tiếp tục chia thành các cộng đồng riêng lẽ, và cảm thấy không cần phải trung thành với người cai trị Ottoman. Sự thiếu thống nhất này đã góp phần làm suy yếu đế quốc Ottoman. Mặc dù thương mại gữa các nước Châu Âu, và đế quốc Hồi giáo tăng dần. Sự truyền bá văn minh phương Tây, buổi đầu rất ít ảnh huởng lên thế giới Hồi giáo. Nhưng, vì thế lực Hồi giáo chia rẽ, quay ra đánh nhau, tranh vùng thống trị làm suy yếu thế giới Hồi giáo.

Châu Âu nắm lấy cơ hội bắt đầu đánh chiếm từng phần, mở rộng ra và cuối cùng năm 1900 thế giới Hồi giáo hoàn toàn bị các quốc gia Châu Âu khuynh đảo. Pháp chiếm Bắc Phi, thành lập chính quyền của họ. Anh quốc chiếm Ai Cập và Sudan. Hoà Lan chiếm Indonesia, Anh Quốc chiếm Ấn Độ, Malaysia, và sau hết Ý Đại Lợi chiếm Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Phi, bờ phía đông biển Địa Trung Hải.

VI. Tình cảnh của Trung quốc và Nhật Bản.

1. Tại Trung Quốc,Vương triều nhà Minh (Ming) nắm quyền lực năm 1368, bắt đầu suy yếu trong những năm 1500. Bạo loạn tại các tỉnh xa xôi làm triều đình lo lắng. Bán đảo Đông Dương, và nhiều vùng phụ thuộc khác vượt khỏi tầm kiểm soát. Hoàng đế nhà Minh nhìn xem tất cả sự kiện, rồi chỉ ra rằng các nhà buôn Châu Âu có thể đến những vùng ít quan trọng. Triều đình cho phép người Bồ Đào Nha lập vùng định cư thường trực ở Ma Cao, phía bờ đông Nam Trung Quốc năm 1557. Sau đó, nhiều người Châu Âu khác, cũng được phép buôn bán tại thành phố cảng Canton. 

Năm 1644, nhiều cuộc bạo loạn nổi lên không dẹp được, vua Minh đề nghị vua Mãn Chu (Manchus) đưa quân vào trợ giúp dẹp loạn. Thế là, nhà Mãn Chu nhân cơ hội đó xăm lăng Trung Quốc, lập ra vương triều nhà Thanh (Ch’ing). Nhà Thanh cai trị Trung Quốc cho đến năm 1912. Họ rất tôn trọng văn minh Trung Quốc, chỉ thay đổi chút ít trong đời sống cũng như trong chính quyền. Nhà Thanh từng đẩy lùi nhiều cuộc xâm chiếm lảnh thổ của Nga tại lưu vực sông Amur, mở rộng vùng kiểm soát lên Tibet, tái thâu hồi bán đảo Đông Dương, và nối cả Đại Hàn vào vùng cai trị của họ. 

2. Trong những năm 1700, nhà Thanh hài lòng về sự an bình và thịnh vượng của họ, gia tăng các cuộc tiếp xúc với Châu Âu. Hội truyền giáo Cơ đốc La Mã được đón tiếp tại yhủ đô Bắc Kinh (Peking). Nhà Thanh ngưỡng mộ kiến thức, khoa học, kỷ thuật của Châu Âu, nhất là kỷ thuật về bản đồ và chế tạo vũ khí. Nhưng họ không thích, và không muốn bắt chước lối sống Châu Âu. Và văn hoá Trung Quốc vẫn tồn taị như một sự cách ly với thế giới bên ngoài. Tại Nhật Bản còn cách ly với thế giới bên ngoài hơn cả Trung Quốc. Năm 1603, nhà Tokugawa đến với quyền lực, họ thành lập chính quyền quân sự Tokugawa và cai trị Nhật Bản trên 250 năm. 

Nhà Tokugawa cương quyết chấm dứt nội chiến, và họ đã làm được, vãn hồi trật tự xã hội trong một thời gian tương đối ngắn. Dưới sự cai trị của vương triều Tokugawa, Nhật Bản chia thành 250 đơn vị tự trị. Mỗi đơn vị tự trị được cầm đầu bởi một Lảnh chúa, ông ta phải tuyên thệ trung thành với nhà vua lảnh đạo chính quyền trung ương. Thương nhân Châu Âu và Hội truyền giáo Cơ đốc La Mã đã đến Nhật Bản từ những năm 1500. Nhưng vương triều Tokugawa sợ rằng những người này, nhất là Hội truyền giáo Cơ đốc sẽ mang quân đội Châu Âu, cùng với họ xâm lăng Nhật Bản. 

3. Đầu những năm 1600, triều đình Nhật Bản ra lệnh cho tất cả các giáo sĩ thuộc Hội truyền giáo La Mã phải rời khỏi Nhật Bản, và buộc người Nhật nào trót lỡ theo đạo Cơ đốc phải bỏ đạo, nếu bất tuân sẽ bị giết hoặc bị bỏ tù. Đến năm 1640, hầu như đạo Cơ đốc đã bị loại bỏ tại Nhật Bản. Vương triều Tokugawa tin rằng, để duy trì trật tự xã hội Nhật Bản phải chấm dứt sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Do vậy từ thập niên 1630, Nhật Bản cắt đứt mọi sự ràng buộc với bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới. Tất cả thương nhân Châu Âu phải rời khỏi các đảo quốc Nhật Bản. Thương nhân Hoà Lan là một ngoại lệ, họ được phép một năm một lần đưa tàu đến buôn bán ở một số địa điểm chỉ định trên đảo nhỏ Deshima thuộc cảng Nagasaki.

VII. Châu Âu với các sự biến.

1. Trong những năm 1700 và 1800, hầu hết các quốc gia Tây Âu chịu ảnh hưởng bởi hai sức ép chính trị mạnh mẽ "phong trào dân chủ, và chủ nghĩa quốc gia". Vào những năm 1700, người Châu Âu đi định cư tại các thuộc địa cảm thấy hài lòng với một mức độ cao về chính quyền của chính họ, ngay cả quyền được tự do nhiều hơn. Họ rất phẩn uất về các biện pháp của chính quyền mẩu quốc, nhất là chính quyền Anh đang thắc chặt sự kiểm soát trên các thuộc địa. Cuộc chiến tranh đòi thay đổi vị thế giữa “13 thuộc địa tại Bắc Mỹ” với mẩu quốc Anh bắt đầu ngày 19/4/1775. Đến ngày 4/7/1776, các thuộc địa ra tuyên ngôn tách khỏi sự phụ thuộc với mẩu quốc Anh, và công bố chính quyền độc lập của riêng họ. 

Cuộc chiến tranh kết thúc với việc Anh quốc bị đánh bại, mang tính chính trị sâu sắc. Liên bang Hoa Kỳ được thành lập, và Anh quốc công nhận sự độc lập của họ năm 1787. Năm 1789, Hoa Kỳ chính thức công bố Hiến pháp, chỉ rõ quốc gia mới của họ theo thể chế Cộng hoà Liên bang. Một sự biến chính trị khác cũng trong năm 1789, đó là cuộc “Cách mạng Pháp”, bắt đầu từ năm 1789 kéo dài 10 năm đến năm 1799. Nó khởi sự khi vua Louis XVI triệu tập phiên họp Nghị viện Quốc gia để giải quyết các vấn đề tài chánh. Nghị viện Quốc gia Pháp là một cơ quan Lập pháp thành lập từ năm 1302 gồm ba thành phần đại diện ba giai cấp: tăng lữ, quý tộc, và dân thường. 

2. Tại nghị trường, thành phần đại diện dân thường dấy loạn cướp chính quyền, và tuyên bố chính họ là cơ quan Lập pháp Quốc gia của nước Pháp. Cơ quan Lập pháp này thông qua một bản tuyên ngôn về "quyền con người và quyền công dân". Tuyên ngôn bắt đầu bằng những nguyên tắc quyền tự do của con người, và các quyền cá nhân rồi kết luận, nó xoá bỏ giai cấp quý tộc, các đặc quyền và tước hiệu của họ. Đến năm 1792, cách mạng chính thức tuyên bố thành lập thể chế Cộng hoà đầu tiên cho nước Pháp. Trong thời kỳ cách mạng Pháp diễn ra, Napoleon Bonaparte là một người lính chuyên nghiệp. Ông là con thứ tư của một gia đình người Ý trên đảo Corsica, ở Địa Trung Hải. 

Cha ông là một luật sư, người đã gởi Napoleon vào trường Quân sự hoàng gia Paris năm ông ta mới 10 tuổi. Năm 16 tuổi, Napoleon được chỉ định đến tập sự tại một Trung đoàn pháo binh. Năm 1786, sau 3 tháng thực tập Napoleon thể hiện được cá tính sáng tạo độc đáo của mình, ông được đánh giá cá nhân xuất sắc của hàng Hạ sĩ quan, và được thăng cấp Thượng sĩ. Năm 1792, ông chứng kiến cảnh đập phá lâu đài Hoàng gia tại Paris, lúc đó ông đã là một Đại uý pháo binh. Ông gia nhập cách mạng Pháp ở Corsica bị Thống đốc Paoli trục xuất khỏi đảo. Napoleon tái nhập quân đội, và giúp lực lượng cách mạng chiếm Marseills. 

3. Năm 1799, ông lật đổ chính quyền cách mạng, nắm quyền cai trị nước Pháp, và tự xưng Hoàng đế Napoleon. Dưới sự lảnh đạo của ông ta, nước Pháp tiến hành lấn chiếm các nước lân bang, đến đầu thập niên 1810, Napoleon đã chiếm hầu hết các nước Tây Âu. Nhưng ông ta chịu nhiều tổn thất khi xua quân đánh chiếm nước Nga năm 1812. Ba năm sau, Liên quân Châu Âu một lần nữa đánh bại lực lượng Napoleon trong trận đánh Waterloo năm 1815, chấm dứt nổ lực thống trị Châu Âu của ông ta. Năm 1815, Hội nghị các nhà lảnh đạo Châu Âu nhóm họp tại Vienna, nhận định rằng cuộc cách mạng Pháp có thể làm nảy sinh tư tưởng dân chủ, và khơi dậy chủ nghĩa quốc gia trong một số nơi bị sáp nhập tại Châu Âu. 

Hội nghị đi đến kết luận là phục hồi nhanh chóng chế độ Quân chủ. Sau hội nghị, tại Pháp, Tây Ban Nha và nhiều quốc gia Châu Âu khác ra sức củng cố chế độ quân chủ. Thế nhưng, họ không thành công trong việc chận đứng làn sóng đòi hỏi dân chủ, và lan truyền chủ nghĩa quốc gia trên nhiều phần của Châu Âu. Đến cuối những năm 1800, gần như mỗi quốc gia ở Châu Âu đều có Hiến pháp, và một vài tổ chức vận động dân chủ. Đức, và Ý bị chia thành những quốc gia nhỏ hơn, cai trị bằng một chế độ Quân chủ lập hiến. Tại phía Đông, và Nam của lục địa, đế quốc Ottoman đang trên đà suy yếu. Cư dân trong nhiều phần đất bị chiếm đứng lên làm bạo loạn thành lập quốc gia mới, với các chính quyền do Hiến pháp quy định. 

4. Đến năm 1900, nhiều người tin rằng thế chế dân chủ, và chủ nghĩa quốc gia  cuối cùng nó sẽ là giải pháp chính trị của Châu Âu. Và chính nó đang là mối đe doạ nghiêm trọng cho Liên bang Nga, và Liên minh Hung - Áo, hai nước đang cai trị nhiều phần đất của các quốc gia khác nhau tại Trung và Đông Âu. Sự kình địch giưã các quốc gia mới thành lập ở Đông Âu, và Nam Âu cũng là nguy cơ đe doạ hoà bình trong khu vực.

VIII. Châu Âu với Cách mạng Công nghiệp.

1. Trong những năm 1700 và 1800, máy động cơ được sử dụng rộng rãi trong nội địa Châu Âu, đã giúp nền công nghệ lục địa phát triển rất nhanh. Nhiều nhà máy lớn bắt đầu thay thế các hảng xưởng nhỏ, để trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp. Việc sử dụng máy mới và phát triển cơ sở sản xuât làm cho công nghiệp sản xuất hàng hoá gia tăng không ngừng. Một hệ thống thị trường mở rộng ra trên toàn thế giới đang hình thành do nhu cầu của công nghiệp Châu Âu cần tiêu thụ sản phẩm công nghệ, và nguyên liệu thô cho nhà máy của họ. Cách mạng công nghiệp khởi đầu ở Anh Quốc, cuối những năm 1700. Đến giữa những năm 1800, công nghiệp hoá lan rộng ra khắp Tây Âu và Bắc Mỹ - Hoa kỳ. 

Ở Đông Âu thì có Nga, và ở Đông Á có Nhật Bản cũng bắt đầu phát triển công nghiệp. Cách mạng công nghiệp biến đổi sâu sắc đời sống của con người nói chung. Nó là một sự kiện sinh động hơn bất cứ sự kiện nào khác. Trước cách mạng công nghiệp, hầu hết người Châu Âu sống ở nông thôn. Thị trấn, và làng mạc phục vụ như là chợ Trung tâm để người nông dân đến đó trao đổi hàng hoá. Công nghiệp phát triển nhà máy mọc lên khắp nơi, các thị trấn trở thành thành phố, và người ta đổ dồn về các thành phố công nghiệp để tìm kiếm việc làm trong các nhà máy sản xuất. Hệ thống giao thông, truyền thông trở nên cần thiết để nối liền thành phố trung tâm với các thành phố nhỏ quanh nó đang phát triển. 

2. Đường bộ, đường xe lửa và đường thuỷ được xây dựng thêm, hoặc nâng cấp. Việc phát minh ra máy điện báo năm 1837, là một đóng góp lớn cho mạng lưới truyền thông đường xa được thuận lợi, và nhanh chóng hơn. Công nghiệp hoá cũng đưa đến nhiều thay đổi xã hội. Giai cấp trung lưu thành công, và thăng tiến khá nhanh. Một số trong bọn họ làm chủ hầu hết các nhà máy. Số khác hoạt động trong lảnh vực ngân hàng, khai thác hầm mỏ, và cả hệ thống đường sắt. Họ thuê mướn nhiều nhân công. Họ nghĩ rằng, công việc kinh doanh của họ cần được quy định rõ ràng, và nên đặt bên ngoài sự kiểm soát của chính quyền. Tư tưởng này trở thành nền tảng của “chủ nghĩa tư bản” (Capitalism). Nó là một hệ thống kinh tế trong đó quá trình sản xuất chủ yếu do tư nhân làm chủ. 

Anh Quốc là nước phát triển kinh tế theo hướng “tư bản chủ nghĩa” đầu tiên, sau đó lan dần sang các quốc gia công nghiệp khác. Công nhân trong các nhà máy buổi đầu thường được trả lương thấp, và làm việc nhiều giờ trong những điều kiện vệ sinh không mấy tốt đẹp. Không có luật lệ quy định điều kiện làm việc cho công nhân, họ cũng không được phép lập ra các nghiệp đoàn lao động. Nhiều thành phố công nghiệp đang phát triển, không xây dựng đủ nhà cửa cung cấp cho công nhân, từ thôn quê đang đổ dồn về thành phố. Kết quả là sự đông đúc vượt quá mức dự liệu của các ngành phục vụ, và nhiều người phải sống trong những điều kiện thiếu vệ sinh nghiêm trọng dẫn đến bệnh tật phát sinh. 

3. Công nhân bị mất việc làm, dấy loạn phá huỷ máy móc trong một nổ lực trả thù chống lại chủ nhân các nhà máy đã sa thải họ. Họ tập trung gây bạo loạn, xuống đường biểu tình, kêu gọi toàn thể công nhân trong các nhà máy đứng lên đấu tranh với giới chủ nhân đòi bảo đảm điều kiện làm việc. Và thế là Liên đoàn nghề nghiệp ra đời, đấu tranh đòi hỏi quyền lợi cho họ dù là bất hợp pháp. Một số người cho rằng, kết quả tác hại của hệ thống công nghiệp là từ "chủ nghĩa tư bản". Những người tin như thế tập hợp lại thành một khuynh hướng, gọi là khuynh hướng "xã hội chủ nghĩa". Những người theo khuynh hướng nầy muốn đặt tất cả nền sản xuất công nghiệp dưới sự điều khiển của công nhân. 

Tư tưởng nền tảng đó được Karl Marx một nhà báo, một triết gia xã hội Đức phát triển thành “lý thuyết Cộng sản". Marx tin rằng, giai cấp công nhân phải là động lực chính của lịch sử trong thời kỳ quá độ, bằng cách đứng lên lật đổ giai cấp giàu có, và xây dựng một hệ thống kinh tế tập thể, cùng với một xã hội không có giai cấp gọi là xã hội “xã hội chủ nghĩa”. Những người có khuynh hướng xã hội thuộc các đảng chính trị Châu Âu thừa nhận tư tưởng Marx, và mục đích của họ là để đánh đổ hệ thống tư bản chủ nghĩa. Từ thập niên 1840, họ lảnh đạo công nhân các nước Tây Âu, đấu tranh đòi quyền thành lập các Liên đoàn lao động. Kết quả là, một số luật lệ quy định điều kiện làm việc đã được Quốc hội Anh Quốc, và Hoa Kỳ thông qua cuối thập niên 1840. 

4. Anh và Đức là hai nước đi tiên phong trong việc ban hành các đạo luật liên quan đến "an sinh xã hội" bảo hiểm nghề nghiệp, tai nạn lao động, thất nghiệp, và bệnh nghề nghiệp cho công nhân công nghiệp. Đời sống công nhân cũng được cải thiện bằng việc tăng lương, thăng bậc. Qua trung gian hoà giải của các Liên đoàn lao động, mối quan hệ giữa công nhân và chủ nhân được cải thiện thông qua các yêu sách và giải quyết yêu sách. Đến cuối những năm 1800, hầu hết các quốc gia công nghiệp ở Châu Âu đã có luật lệ quy định điều kiện làm việc và tiêu chuẩn sống cũng dược nâng lên.

IX. Châu Âu với chủ nghĩa đế quốc.

1. Cách mạng công nghiệp góp phần hình thành chủ nghĩa đế quốc, bành trướng thuộc địa. Sự xuất hiện của Phong trào Phục Hưng đã đưa Châu Âu tiến bộ nhiều mặt. Nhờ tiến bộ về kỷ thuật, Châu Âu có được phương tiện, tàu bè tốt hơn tiến hành các cuộc thám hiểm, tìm kiếm. Việc phát hiện ra Châu Mỹ, vùng đất có nhiều tài nguyên thiên nhiên, người Châu Âu có thể đến đó định cư lập nghiệp, giải toả được sức ép dân số tăng nhanh trong lục địa. Cách mạng công nghiệp dẫn đến bước thứ hai là bành trướng thuộc địa tại hải ngoại. Việc bành trướng thuộc địa này sẽ mang về cho Châu Âu hai mối lợi (1) để có nơi tiêu thụ hàng hoá, và (2) cũng là nơi cung cấp nguyên liệu thô cho nhà máy của họ. 

Đến cuối những năm 1800, tám trên mười tám (8/18) nước Châu Âu đã chiếm 5 lục địa còn lại của thế giới đứng đầu là Anh Quốc và kế là Pháp, Đức. Tại vùng Mỹ La tinh: Sau khi Columbus đặt chân lên Châu Mỹ, Tây Ban Nha tuyên bố nhiều phần đất vùng Mỹ La tinh thuộc về họ. Bồ Đào Nha cũng tuyên bố các phần đất phía Tây Bán cầu là của họ. Năm 1493, Giáo hoàng Alexander VI (1430 - 1503) giải quyết tranh chấp bằng cách vạch một đường tưởng tượng băng qua lục địa Nam Mỹ từ Bắc đến Nam dài 563km, phần phía Đông thuộc Bồ Đào Nha, và phía Tây thuộc Tây Ban Nha. Bồ Đào Nha cho rằng, đường phân vạch đó không công bằng. 

2. Năm 1494, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ký với nhau một thoả thuận, đưa đường phân ranh về phía Tây cũng theo trục bắc - nam, dài tới 1520 km. Từ những năm 1500 đến đầu những năm 1800, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha lập nhiều đồn điền ở Trung Mỹ, Nam Mỹ và các đảo trên vùng biển Caribbean. Tại Trung, Nam Mỹ: Sau khi 13 thuộc địa người Anh định cư ở Bắc Mỹ, đấu tranh giành độc lập thắng lợi năm 1776, từ năm 1791 đến 1824 các thuộc địa Trung, Nam Mỹ cũng nổi lên đấu tranh đòi độc lập tách khỏi các mẩu quốc từ Châu Âu. Trong số có hai người được vịnh danh là Simón Bolivár (1783-1830) giành độc lập tại Venezuela, và người kia là Jose de San Martin (1778-1850) ở Argentina.

Riêng tại Bắc Mỹ: 13 thuộc địa người Anh định cư tại Bắc Mỹ, dấy loạn thành lập Liên bang Hoa Kỳ độc lập tách khỏi Anh quốc năm 1776, mặc dù phải trải qua nội chiến 4 năm (1861 - 1865), Cộng hoà Liên bang Hoa Kỳ vẫn tồn tại như buổi ban đầu. Hoa Kỳ còn tự xem mình có trách nhiệm phải hành động bảo vệ các nước Cộng hoà Mỹ La tinh mới thành lập, chống lại nổ lực của Châu Âu muốn tái lập sự cai trị thuộc địa. Năm 1823, Tổng thống Mỹ James Monroe công bố “học thuyết Monroe” cảnh cáo các thế lực Âu Châu không được xen vào các vấn đề sự vụ của Nam Bán cầu. Trong những năm 1800, Hoa Kỳ còn từng bước mở rộng lảnh thổ. Ba năm chiến tranh với Mexico (1846 - 1848).

3. Kết quả là Hoa Kỳ có thêm nhiều đất đai của Mexico nay là California, Nevada, Utah, và phần lớn đất trong 4 tiểu bang khác. Năm 1867, Hoa Kỳ mua vùng Alaska của Nga. Năm 1898, Hoa Kỳ chiến thắng trong cuộc chiến tranh Tây Ban Nha - Hoa Kỳ, Tây Ban Nha bị buộc phải trao các quần đảo Guam, Puerto-Rico, và Philippines cho Hoa Kỳ. Thế nhưng, cũng tại Bắc Mỹ gần 10 triệu Kmphía Bắc, là Canada, vẫn còn là thuộc địa Anh quốc cho đến năm 1931. 

Tại lục địa Úc Châu: Việc 13 thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ trở thành quốc gia độc lập năm 1776, khiến nước Anh không còn nơi giam giữ tù nhân bị kết án "lưu đày viển xứ". Năm 1786, Anh Quốc quyết định chiếm Úc Đại Lợi làm thuộc địa "dung chứa tù nhân". Sĩ quan hải quân hồi hưu Arthur Phillip được chỉ định thực hiện công việc này. Tháng 5/1787, Phillip chỉ huy 1 đoàn tàu buồn 11 chiếc chở 730 tù nhân rời Anh Quốc. Sau 8 tháng lênh đênh trên biển cả, đoàn tàu đến vịnh Bontany ngày 19/1/1788. Bảy ngày sau, ngày 26/1/1788 tại Sydney với tư cách Thống đốc toàn quyền Arthur Phillip tuyên bố thành lập thuộc địa New South Wales. 

4. Sau New South Wales tuần tự các thuộc địa Tasmania, Westem Australia, South Australia, Victoria, và Queensland được thành lập vào các năm 1825, 1829, 1836, 1850 và 1859. Đến năm 1868, Anh đã chuyển vào Úc 160,620 tù nhân. Tháng 9 năm 1900, Anh quốc ban hành đạo luật cho phép sáu thuộc địa Úc trở thành 6 Tiểu bang của Liên bang Úc Đại Lợi độc lập kể từ ngày 1.1.1901. 

Tại lục địa Châu Phi: từ những năm 1500 và 1600, bị cuốn hút bởi việc buôn bán vàng, và người nô lệ da đen, Bồ Đào Nha lập cảng buôn bán ở Gambia nay là Ghana, và nhiều nơi bờ phía Tây Châu Phi, rồi mở rộng tới các thành phố bờ phía Đông. Hoà Lan đến sau nhưng tranh chiếm bờ phía Tây từ tay Bồ Đào Nha, rồi tiến về phía Nam lập cảng buôn bán tại Cape Town. Đến những năm 1700, người Châu Âu bắt đầu thám hiểm vào bên trong nội địa.  

5. Họ muốn tìm kiếm tài nguyên, và mở rộng mối ràng buộc mới về thương mại, khai thác hầm mõ, dầu cọ, và nguyên liệu thô cho các nhà máy của họ. Nhiều phần đất ở Bắc Phi là lảnh thổ của đế quốc Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ từ những năm 1500 đang trên đà suy yếu. Những năm 1800, Pháp đánh chiếm Algeria, Tunisia, và Anh chiếm Ai Cập (Egypt). Còn ở Nam Phi, thì Hoà Lan sau khi chiếm Cape Town, đang đánh nhau với người da đen tranh chiếm đất mở rộng vùng kiểm soát. Đến cuối những năm 1800, Anh, Pháp, Hoà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Đức, Ý, và Bỉ đã chia nhau tranh chiếm toàn bộ lục địa Châu Phi, ngoại trù Ethiopia, cho đến năm 1936 mới bị Ý Đại Lợi đánh chiếm.

Tại lục địa Châu Á: Sự phong phú và đa dạng tài nguyên thiên nhiên của Châu Á, kích thích lòng thèm muốn nơi người Châu Âu. Từ những năm 1500, Bồ Đào Nha nắm quyền kiểm soát Ấn Độ Dương, chiếm Ma Cao của Trung Quốc, rồi chiếm Indonesia, Malaysia. Còn Tây Ban Nha chiếm Philippines, Ha Uy Di và nhiều đảo khác. Trong những năm 1600, Hoà Lan chiếm Indonesia, và Malaysia từ tay Bồ Đào Nha, nhưng vẫn để đông Timor cho Bồ Đào Nha. Đến những năm 1700 và 1800, Anh Quốc trở thành thế lực mạnh nhất ở Tây Nam Á, tiểu lục Ấn Độ, và Nam Trung Quốc, khuynh đảo các nước Hồi giáo: chiếm Ấn Độ, Pakistan, Bangledesh, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Tích Lan, và Sarawak, Singapore, Malaysia từ tay Hoà Lan. 

6. Pháp đánh chiếm ba nước Việt, Miên, Lào. Chỉ có Nhật Bản là quốc gia kháng cự thành công sự xâm lược của phương Tây. Còn Trung Quốc, sau khi bị Anh Quốc đánh bại trong chiến tranh nha phiến, mất tất cả quyền kiểm soát trên các vùng đất có sự hiện diện của người nước ngoài. Năm 1898, Tây Ban Nha chuyển giao thuộc địa Philippines cho Hoa Kỳ sau khi thua trận. 

Ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc: Chủ nghĩa đế quốc phương Tây ảnh hưởng lên người dân trong các thuộc địa bằng nhiều cách khác nhau. Trong vài khu vực, nó mang lại những tăng trưởng kinh tế, và nâng cao tiêu chuẩn sống bằng cách giới thiệu văn hoá, công nghệ, kỷ thụât, và y khoa. Sự cai trị thuộc địa cũng ngăn chặn vô số các cuộc bạo loạn, nội chiến trên nhiều vùng đất khác nhau. Nhưng các nước đế quốc cũng thu được nhiều lợi lộc trên các thuộc địa của họ. Bằng cách đưa ra ngoài các nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà không mang trở lại cho các thuộc địa những thuận lợi, để phát triển kinh tế. 

7. Các nhà cai trị thuộc địa phương Tây thường ít quan tâm đến phong tục, tập quán, và phá hỏng lối sống cổ truyền của họ. Không hề có sự công bằng trong quá khứ dưới hệ thống đế quốc chủ nghĩa. Do vậy, khi cảm nhận quốc gia chủ nghĩa xuất hiện, nó lan nhanh và sự phản kháng đòi thành lập chính quyền độc lập đã được gần như tất cả mọi người trong các thuộc địa hưởng ứng.

 

B. TÌNH CẢNH VIỆT NAM.

I. Vài nét về Việt Nam.

1. NƯỚC VĂN LANG của họ Hồng Bàng ở Vùng Ba Vì, Vỉnh Phú, tồn tại 2.621 năm (2879-258 TCN) nối tiếp được 18 đời, thì nước rơi vào tay Thục Phán. Cùng với phần đất của mình Vua Thục lập nước Lac Viêt. Trị vì được 50 năm (257-207 TCN) thì nước Lạc Việt rơi vào tay Triệu Đà. Cùng với phần đất của mình, Vua Triệu lập nước Nam Việt. Trị vì được 98 năm (207-111 TCN) thì nước Nam Việt lại rơi vào tay Nam Hán. Từ đó, hơn 1000 năm (111TCN-938 SCN) nước Nam Việt trở thành một phần của Trung Quốc với tên mới là Giao Chỉ Bộ, và sau đó (năm 679) đổi tên thành An Nam. 

Năm 939, NGÔ QUYỀN thâu hồi độc lập cho nước, rồi tiếp đến là loạn Thập nhị Sứ quân. Đến năm 968, Đinh Bộ Lỉnh mới dẹp được loạn, thống nhất đất nước, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. NHÀ ĐINH trị vì 22 năm (968-980), với 2 đời vua. Năm 980, Lê Hoàn kế tục Nhà Đinh lên làm vua hiệu Lê Đại Hành. NHÀ LÊ trị vì 29 năm (890-1009), với 3 đời vua. Nhà Lê đánh thắng quân xâm lược Tống , rồi quay sang đánh Champa (năm 982). Đây là thắng lợi đầu tiên trên đường Nam tiến. NHÀ LÝ trị vì 215 năm (1009-1225), với 9 đời vua.Năm 1042, vua Lý cho ban hành bộ luật có tên Hình thư, luật thành văn đầu tiên của nước ta. Năm1069, đánh Chiêm Thành, Chế Củ dâng đất Quảng Bình, Quảng Trị. 

2. Năm 1070, mở Quốc Tử Giám, dựng Văn Miếu, tạc tượng Khổng Tử. Năm 1075, mở khoa thi gọi là Minh kinh bác sỉ, và thi Nho học tam trường. Năm 1076, lập Quốc Tử Giám, trường Đại học ở kinh đô Thăng Long . Năm 1077, qua bài thơ “Nam Quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt như một Tuyên ngôn độc lập, khẳng định chủ quyền của nước Nam ta. Năm 1078, nhà vua cho đắp đê Cơ Xá, ngăn nước ở kinh thành Thăng Long. Năm 1149, cho phép nước ngoài vào đảo Vân Đồn buôn bán. Năm 1194, mở khoa thi tam giáo (Nho, Lão, Phật) tuyển người thi đỗ ra làm quan. Vị vua thứ 8, là Lý Huệ Tông (1210-1224), (Lý Hạo Sãm) lên ngôi lúc 16 tuổi, do loạn lạc, vua Huệ Tông đi lánh nạn ở Lưu Gia, Thái Bình, lấy Trần thị Dung. 

Sau khi về triều, cho đón Dung vào làm Nguyên phi, và phong tước hầu cho anh vợ Trần Tự Khánh. Năm 1217, Lý Huệ Tông bị bệnh, giao việc triều chính cho anh vợ Trần Tự Khánh. Và vị vua thứ 9 là Lý Chiêu Hoàng (1224-1225), cũng là vị vua sau cùng của nhà Lý, lên ngôi lúc 7 tuổi. Năm 1224, Trần Thủ Độ em họ Trần Thị Dung được cử làm Điện tiền chỉ huy sứ, bảo vệ cấm thành và giữ mọi quyền hành trong nội cung. Trần Thủ Độ cho cháu Trần Cảnh 8 tuổi, vào cung làm Chánh thủ, ngày đêm hầu hạ Lý Chiêu Hoàng. Một năm sau, năm 1225, Thủ Độ dựng lên một cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh. Rồi, buộc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh mở đầu nhà Trần. 

3. NHÀ TRẦN trị vì 175 năm (1225-1400) với 12 đời vua. Năm 1226, Trần Thái Tông (Trần Cảnh) phong Trần Thủ Độ làm Thái Sư, Hoàng hậu Trần Thị Dung xuống làm Thiên cực Công chúa, để trở thành vợ của Trần Thủ Độ. Còn Lý Chiêu Hoàng làm Hoàng Hậu. Năm 1232, nhà Trần cho mở khoa thi Thái học sinh  chia thành 3 bậc gọi là “Tam giáp”. Năm 1242, nhà Trần chia cả nước thành 12 Lộ, đặt chức An phủ sứ, hoặc An phủ phó sứ, hoặc Trấn thủ để trông coi, tại cơ sở, đặt ra chức Đại tư xã, Tiểu tư xã, xã chính, xã sử, xã giám gọi chung là xã quan để quản lý . Đến vị vua thứ 7, Trần Dụ Tông (Trần Hạo), 1324-1369. 

Sau khi vua Dụ Tông mất, bảo táp cung đình nhà Trần nổi lên, Hoàng Thái hậu lập “con nuôi của Cung Túc vương” là Dương Nhật Lễ lên ngôi. Mẹ Nhật Lễ là đào hát lấy kép hát Dương Khương có thai, rồi bỏ chồng lấy “Cung Túc vương” sinh ra Nhật Lễ. Khi Lễ làm vua, hắn giết Hoàng Thái hậu, Cung Định vương, khiến “Cung Tỉnh vương” phải chạy trốn lên Đà Giang. Tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh giết chết Nhật Lễ, rồi lên Đà Giang rước Cung Tỉnh vương về làm vua, tức vua thứ 9 Trần Nghệ Tông; Vị thứ 12, và là vị vua sau cùng của nhà Trần là Trần Thiếu Đế (Trần Án) trị vì từ năm1398 đến năm 1400. 

4. NHÀ HỒ trị vì 7 năm (1400-1407) với hai vị vua là Hồ Quý Ly hiệu Thành Nguyên (1400-1401); Và Hồ Hán Thương hiệu Thiệu Thành (1401-1407). Hồ Quý Ly là nhân vật thông minh lỗi lạc, ông đề ra nhiều cải cách táo bạo, ông viết sách “Minh Đạo” phê phán tư tưởng Tống Nho; đo đạt lại ruộng đất, điều tra dân số, phát hành tiền giấy; cải cách chế độ thi cử, mở mang giáo dục, đào tạo nhân tài; định ra hình luật, tăng cường bộ máy quyền lực của triều đình; củng cố quân đội, xây dựng các tuyến phòng thủ, lập xưởng đúc binh khí. Nhưng, Hồ Quý Ly mắc tội giết vua Thiếu Đế cùng tôn tộc quan lại nhà Trần trong đó có tướng quân Trần Khát Chân và hơn 370 người khác để cướp ngội.

Nhân cơ hội đó, từ tháng 9 năm 1406 nhà Minh đưa quân sang cửa ải Pha Lũy, tháng 12 chiếm được Việt Trì, nhà Hồ phải chạy vào Thanh Hóa. Đến ngày 17 tháng 6 năm 1407, quân Minh bắt được cha con Hồ Quý Ly. Thế là, nước ta lại bị nhà Minh độ hộ bằng một chính sự vô cùng khắc nghiệt kéo dài 20 năm (1407-1427), với ý định đồng hóa dân ta.

5. NHÀ LÊ SƠ. Bình Định Vương Lê Lợi khởi nghĩa 10 năm (1417-1427) mới giành chiến thắng, lập ra Triều đại nhà Lê Sơ cai trị 99 năm (1428-1527) với 10 vị vua. Vị vua thứ nhất là Lê Thái Tổ (Lê Lợi) lên ngôi ngày 15 tháng 4 năm 1428, đặt tên nước là Đại Việt đóng đô ở Đông Đô (Hà Nội) ban bố “Bình Ngô đại cáo” là tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của tổ quốc ta. Nhà Vua ấn định luật lệnh; chế tác lể nhạc; mở khoa thi; đặt cấm vệ; xây dựng quan chức; thành lập phủ, huyện; mở mang trường học. Vị vua thứ tư là Lê thánh Tông, nhà vua hết lòng chăm lo việc nước: mở khoa thi, kén chọn người tài ra giúp việc nước; khuyến khích sản xuât nông nghiệp, mở mang ngành nghề; mở rộng giao lưu buôn bán; ban hành chế độ quân điền; và ban hành bộ luật Hồng Đức nổi tiếng. 

Vị vua thứ 10, cũng là vị vua sau cùng triều Lê Sơ là Lê Cung Hoàng, lên ngôi lúc 15 tuổi. Sáu năm sau, năm 1527, bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi, lúc nhà vua 21 tuổi, cả vua và Thái hậu phải tự tử.

6. NHÀ MẠC CƯỚP NGÔI, cai trị 65 năm (1527-1592). Mạc Đăng Dung có sức khỏe phi thường, tướng mạo khôi ngô, là một thanh niên nghèo làm nghề đánh cá, đi thi võ ở kinh đô, trúng đô lực sỉ, được sung vào chức túc vệ chuyên cầm dù theo xe vua. Dung tiến rất nhanh trên đường hoạn lộ. Năm 1511, lúc 29 tuổi được phong tước Vũ Xuyên Bá. Năm 1516, Mạc Đăng Dung được cử làm trấn thủ Sơn Nam. Trải qua ba đời vua, Dung được phong Thái sư Nhân quốc công, rồi đến An Dương Vương. 

Lợi dụng vua Lê Cung Hoàng thiếu kinh nghiệm trong việc “chăn dân trị nước” từ Cổ Trai, Mạc Đăng Dung đem quân về kinh đô ép vua nhường ngôi, lập nên triều Mạc, tồn tại 65 năm, trải qua 5 đời vua. Vị vua sau cùng là Mạc Mậu Hợp. Ngày 25.11.1592, thủy quân “vua Lê-chúa Trịnh” đánh chiếm các huyện Kim Thành, Thanh Hà, Nam Sách, Kinh Môn (Hải Dương) quân Mạc tan vở. Mạc Mậu Hợp chạy trốn bị bắt giải về kinh, bị chém đầu ở bải cát Bồ Đề. 

Xin lưu ý, năm 1533, khi nhà Mạc cai trị được 6 năm, thì Nguyễn Kim khôi phục nhà Lê gọi là nhà Lê Trung Hưng, hay nhà Hậu Lê. Từ đó có “Bắc Triều nhà Mạc, và Nam Triều nhà Lê”. Năm 1592, quân “nhà Lê – chúa Trịnh” mới đánh diệt được Mạc Mậu Hợp, chấm dứt triều đại nhà Mạc. 

II. Nguyễn Kim và các chúa Nguyễn.

1. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê Sơ, lập ra nhà Mạc, Nguyễn Kim (1468-1545), vốn là một tướng giỏi của nhà Lê đem con em lánh sang Ai Lao, thu nạp hào kiệt khôi phục nhà Lê. Năm 1533, lập con vua Lê Chiêu Tông lên ngôi, tức là Lê Trang Tông, Kim được phong Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công trưởng nội ngoại sự. Năm Canh Tí (1540) Nguyễn Kim đem quân về chiếm Nghệ An. Năm Nhâm Dần (1542) Nguyễn Kim cùng với vua Lê tiến ra Thanh Hoá chiếm lại Tây Ðô. Công cuộc trung hưng nhà Lê  đang lớn mạnh, thì năm Ất Tị (1545), Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, thọ 78 tuổi.  

Quyền hành từ đó rơi vào tay Trịnh Kiểm, con rể Nguyễn Kim.Nguyễn Kim có ba người con. Con gái đầu tên Ngọc Bảo, lấy Trịnh Kiểm, người sau này trở thành chúa mở đầu cho sự nghiệp của các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài; hai người con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông, và Nguyễn Hoàng cũng là tướng giỏi và được phong chức Quận công. Sợ Nguyễn Uông tranh giành ảnh hưởng, Trịnh Kiểm sai người giết Uông. Thấy vậy, Nguyễn Hoàng xin vua Lê cho vào cai quản vùng đất Thuận Hoá, xa tầm ảnh hưởng của anh rể, mưu đồ dựng cơ nghiệp riêng cho họ Nguyễn. Tổng cộng các chúa Nguyễn tồn tại 203 năm (1600-1802), trải qua 9 đời chúa, bao gồm:

1. Chúa Nguyễn Hoàng (1600-1613).

1. Nguyễn Hoàng sinh tháng 8 năm Ất Dậu (1525), là con trai thứ hai của Nguyễn Kim. Tổ tiên họ Nguyễn là một danh gia vọng tộc ở Thanh Hoá. Khi Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao thì Nguyễn Hoàng mới lên hai tuổi, được Thái Phó Nguyễn Dĩ nuôi dạy nên người. Lớn lên, Hoàng làm quan cho triều Lê, tước phong đến Hạ Khê hầu, từng đem quân đánh Mạc Phúc Hải, lập công lớn, vua Lê phong cho tước Ðoan quận công. Muốn trả thù họ Trịnh, Nguyễn Hoàng chưa biết nên làm gì, sai người đến hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, thì được tâu: "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (Một dải núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời). 

Hoàng hiểu ra, nhờ chị gái là Ngọc Bảo nói với Kiểm cho Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá. Ðất ấy hiểm trở, xa xôi, khí hậu khắc nghiệt, lại là mặt Nam, quân Mạc có thể dùng thuyền vượt biển đánh sau lưng, nên Kiểm đồng ý và dâng biểu tâu vua trao quyền cho Nguyễn Hoàng là trấn thủ Thuận Hoá, toàn quyền xử lý mọi việc. Hoàng đem người nhà và quân bản bộ vào Nam năm Mậu Ngọ (1558), khi 34 tuổi. Cùng đi còn có nhiều đồng hương Tống Sơn và Nghĩa Dũng, Thanh Hoá. Thưở đầu, Nguyễn Hoàng dựng dinh trại ở xã Ái Tử, huyện Ðăng Xương (Triệu Phong, Quảng Trị). Hoàng biết khéo vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được người người mến mộ gọi là "Chúa Tiên". 

2. Khoảng 40 năm đầu vào vùng đất mới, Nguyễn Hoàng chú trọng khai hoang lập ấp, phát triển kinh tế gây nuôi lực lượng tính kế lâu dài, bên ngoài vẫn giữ quan hệ bình thường và hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với vua Lê ngoài Bắc. Công cuộc khẩn hoang và chính sự rộng rãi của Nguyễn Hoàng đã đem lại hiệu quả rõ rệt về mọi mặt. Tháng 2 năm Quý Dậu (1573), vua Lê sắc phong Nguyễn Hoàng là Thái phó, cần tích dự trữ thóc lúa ở biên giới, hàng năm nộp thuế 400 cân vàng bạc, 500 tấn lúa.Mỗi lần có triều thần vào kiểm tra thuế khoá của trấn, Nguyễn Hoàng khéo tiếp đãi biết lấy lòng, vì thế Hoàng chỉ đệ trình sổ sách do Hoàng sai người lập ra. 

Chính nhờ đó mà thu nhập của chúa Nguyễn ở Ðàng Trong ngày càng tăng nhanh. Ngoài Bắc, vua Lê liền mấy năm phải đem quân đánh Mạc, quân dụng thiếu thốn, đất Thuận Quảng lại "liền mấy năm được mùa, trăm họ giầu thịnh". Nguyễn Hoàng còn đem tiền thóc ra giúp vua Lê.Tháng 5 năm Quý Tị (1593) biết Lê Trịnh đã đánh tan quân Mạc, lấy lại được Ðông Ðô, Hoàng liền đem quân ra yết kiến vua Lê. Vua Lê khen ngợi công lao trấn thủ đất phía Nam, tấn phong Hoàng làm Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc trưởng phủ sự thái uý Ðoan Quốc công. Nguyễn Hoàng từng lưu lại ở miền Bắc với nhà Lê đến 7 năm, nhiều lần đem quân đánh dẹp dư đảng nhà Mạc ở Kiến Xương (Thái Bình) và Hải Dương, lập được công lớn.

3. Người con trai thứ hai của Nguyễn Hoàng tên là Hán, được vua phong tả đô đốc Lỵ quận công, theo Nguyễn Hoàng đánh Mạc ở Sơn Nam bị tử trận. Con Hán là Hắc được lập ấm. Nguyễn Hoàng đã nhiều lần theo hầu vua Lê lên hội khám với nhà Minh ở Trấn Nam quan để nhận sắc phong cho vua Lê. Năm Kỷ Hợi (1599) vua Lê băng hà, con thứ là Duy Tân lên ngôi, Nguyễn Hoàng được phong là Hữu tướng.Năm Canh Tý (1600), thừa dịp đem quân dẹp các tướng nổi loạn: Phan Ngạn, Ngô Ðình Nga và Bùi Văn Khê ở Nam Ðịnh, Nguyễn Hoàng cùng bản bộ ra biển dong thẳng vào Thuận Hoá, để con trai thứ 5 là Hải và cháu là Hắc ở lại làm con tin. 

Sau đó, vua Lê sai sứ giả vào phủ dụ, nhưng vẫn để Nguyễn Hoàng trấn thủ đất Thuận Quảng, hàng năm nộp thuế má đầy đủ. Trịnh Tùng cũng gửi thư kèm theo khuyên giữ tốt việc thuế cống. Tháng 10 năm Canh Tý (1600), Nguyễn Hoàng gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con cả Trịnh Tùng). Từ đó Nguyễn Hoàng không ra Ðông Ðô nữa. Từ đây, năm 1600, Nguyễn Hoàng, bắt đầu xây dựng một giang sơn riêng cho chính mình, và trở thành vị Chúa đầu tiên của dòng họ Nguyễn. Hoàng ráo riết xây dựng vùng đất mới này có đầy đủ mọi mặt: tổ chức hành chính, mở rộng đất xuống phía Nam. 

4. Một loạt chùa chiền thờ Phật cũng được xây cất trong dịp này: Thiên Mụ, Bảo Chấn... Dân chúng ngoài Bắc mất mùa đói kém chạy vào nam theo chúa Nguyễn khá đông. Năm Quý Sửu (1613) Nguyễn Hoàng đã già và mệt nặng. Nguyễn Hoàng mất thọ 89 tuổi, có 10 con trai, trấn thủ Thuận Quảng được 56 năm (1558-1613). Sau này Triều Nguyễn truy tôn là Thái tổ Gia dụ hoàng đế.

2. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635). 

1. Nguyễn Phúc Nguyên, là con thứ sáu của Nguyễn Hoàng. Mẹ Phúc Nguyên họ Nguyễn. Bấy giờ các con trai của Nguyễn Hoàng là Hà, Hán, Thành, Diễn đều đã mất trước. Người con trai thứ 5 là Hứa đang làm con tin ngoài Bắc, vì thế Phúc Nguyên là con thứ 6 được nối nghiệp, bấy giờ đã 51 tuổi. Vua Lê sai sứ giả vào viếng và truy tặng Nguyễn Hoàng là Cẩn Nghi công, cho Phúc Nguyên làm trấn thủ Thuận Quảng với hàm Thái Bảo, tước Quận công. Phúc Nguyên lên nối ngôi, sửa đắp thành luỹ đặt quan ải vỗ về quân dân, trong ngoài đều vui phụng, bấy giờ người ta gọi Nguyên là chúa Phật. Kể từ Nguyễn Phúc Nguyên, họ Nguyễn ở Ðàng Trong xưng quốc tính là Nguyễn Phúc. 

Năm Kỷ Mùi (1619), Trịnh Tùng đem quân vào đánh chúa Nguyễn ở Thuận Quảng, từ đấy chúa Nguyễn không nộp thuế cống nữa. Nguyễn Phúc Nguyên có Ðào Duy Từ giúp sức càng vững mạnh hơn. Ðào Duy Từ được Trần Ðức Hoà tiến cử lên chúa Nguyễn năm Ðinh Mão (1627) Nguyễn Phúc Nguyên mừng lắm, phong cho Duy Từ tước Lộc kê hầu, chức Nha Nội uý nội táng. Duy Từ bày cho chúa Nguyễn kế sách trả lại sắc phong của vua Lê, không chịu nộp thuế cống cho họ Trịnh, đắp luỹ Trường Dục, luỹ Thầy để phòng ngự, chống lại quân Trịnh. Kế sách của Duy Từ được chúa Nguyễn làm theo. Ðào Duy Từ cũng bày cho chúa Nguyễn phép duyệt đinh, tuyển lính, thu thuế theo các bậc hạng, ngạch bậc khác nhau. 

2. Nhờ có thuế và huy động đóng góp của dân chúng được công bằng và ổn định. Tiềm lực quân sự và kinh tế của chúa Nguyễn ngày càng mạnh. Duy Từ còn tiến cử cho chúa Nguyễn một viên tướng tài ba, mưu lược như thần: Nguyễn Hữu Tiên. Quân lực Nguyễn từ đó ngày thêm mạnh. Ðào Duy Từ chỉ giúp chúa Nguyễn 8 năm mà cơ nghiệp chúa Nguyễn thay đổi hẳn về chất, đất Ðàng Trong trở nên có văn hiến và quy củ. Năm Giáp Tuất (1634) Ðào Duy Từ bị bệnh nặng rồi mất , thọ 63 tuổi. Chúa Nguyễn thương tiếc, truy tặng Hiệp mưu đồng đức công thần đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, đưa về táng ở đất Tùng Châu (Bình Ðịnh). Công lao của Từ đứng đầu công thần khai quốc nhà Nguyễn. 

Một năm sau, năm Ất Hợi (1635) chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng qua đời, ở ngôi 22 năm, thọ 73 tuổi, truyền ngôi cho con thứ hai là Nguyễn Phúc Lan. Sau triều đình Nguyễn truy tôn là Hy Tông Hiến Văn Hoàng đế. Nguyễn Phúc Nguyên có 11 con trai.

3. Chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648).

1. Nguyễn Phúc Lan là con thứ hai của Nguyễn Phúc Nguyên. Vợ Nguyễn Phúc Nguyên là con gái họ Mạc khi Phúc Nguyên chưa lên ngôi chúa. Bà này sinh được năm con trai. Mùa hạ năm Tân Mùi (1631), Hoàng tử cả là Kỳ mất, hoàng tử thứ hai Nguyễn Phúc Lan được lập làm Thế tử, mở dinh Thuận Nghĩa. Năm Ất Hợi (1635), chúa Nguyễn Phúc Nguyên mất, Phúc Lan được nối ngôi, lúc này ông đã 35 tuổi, gọi là chúa Thượng. Nghe tin Phúc Lan được nối ngôi, hoàng tử thứ tư Nguyễn Phúc Anh đang trấn thủ Quảng Nam nổi loạn, bí mật làm nội ứng cho họ Trịnh. Phúc Anh cho đắp luỹ Cu Ðê để cố thủ, và đưa thuỷ quân ở cửa biển Ðà Nẵng ra đánh chúa Nguyễn. 

Phúc Anh bị bắt, Phúc Lan không nỡ giết em ruột mình, nhưng các tướng lĩnh đều xin giết để trừ hậu hoạ, kể cả đồng đảng có tên trong sổ "Ðồng Tâm". Năm Kỷ Mão (1639), vợ của Nguyễn Phúc Kỳ là Tống Thị vào yết kiến chúa Nguyễn. Tống T hị xinh đẹp lại khéo ứng đối, nhân vào gặp chúa, kêu khổ than khó, xin chúa thương tình, và biếu chúa chuỗi ngọc Vạn hoa. Phúc Lan thương tình cho lưu lại trong phủ. Thị thần có người can, chúa không nghe. Năm Canh Thìn (1640) quân Nguyễn do Nguyễn Hữu Dật thống suất đã chiếm được Bắc Bố Chính. Trịnh Tráng viết thư xin lại, chúa Nguyễn ra lệnh đồng ý. Từ đó, Phúc Lan thấy việc biên cương không đáng lo nữa.

2. Phúc Lan rơi vào chăm vui yến tiệc, xây dựng cung thất, công dịch không ngớt, việc thổ mộc nặng nề, tốn kém, nhưng còn may là quân thần can ngăn, nên bãi bỏ việc xây dựng. Còn Tống Thị, khi đã được vào cung, đưa đón, thỉnh thác lấy lòng chúa rất khéo, vun vén của cải y thị chất đầy. Chưởng cơ Tôn Thất Trung mưu giết thị. Tống Thị viết thư và gửi một chuỗi ngọc nhờ cha là Tống Phúc Tông (ở đất Trịnh) đem biếu chúa Trịnh, xin Trịnh Tráng cất quân đánh Nguyễn. Tống Thị nguyện đem gia tài giúp quân lương. Tráng nhận được thư, liền đem các đạo quân thuỷ bộ vào đánh. Nguyễn Phúc Lan phải tự cầm quân đánh lại. Có nhiều trận đánh lớn, quân Nguyễn đại thắng bắt được vô số tù binh của Trịnh.

Nhưng Phúc Lan bất ngờ bị bệnh, trao binh quyền cho con trai Nguyễn Phúc Tần và tướng Nguyễn Hữu Dật về kinh dưởng bệnh. Khi thuyền đến phá Tam Giang thì Phúc Lan băng hà. Chúa ở ngôi 13 năm, thọ 28 tuổi. Thế tử Nguyễn Phúc Tần khóc mời chú lên ngôi gánh vác việc nước. Ông chú tử tế đã khuyên cháu lên ngôi cho danh chính ngôn thuận. Nguyễn Phúc Tần theo lời, lên nối ngôi, truy tôn cha là Thần tô hiến chiêu Hoàng đế.

4. Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687).

1. Nguyễn Phúc Tần là con trai của Nguyễn Phúc Lan. Vợ Phúc Lan là con gái thứ 3 của Thạch Quận công Ðoàn Công Nhạc, người tỉnh Quảng Nam. Nguyễn Phúc Tần sinh năm Canh Thân (1620), từng được phong phó tướng Dũng lễ hầu đánh giặc ở cửa biển, được Phúc Lan khen ngợi. Năm Mậu Tý (1648), được tấn phong là Tiết chế chủ quân, thay Phúc Lan phá quân Trịnh ở sông Gianh. Nguyễn Phúc Lan mất đột ngột, bầy tôi tôn Phúc Tần lên ngôi chúa, gọi là chúa Hiền. Chúa Hiền là người chăm chỉ chính sự, không chuộng yến tiệc vui chơi. Phúc Tần biết trọng dụng hai tướng giỏi là Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến. Nhờ đó chúa Nguyễn nhiều lần vượt sông Gianh tiến ra đất Ðàng Ngoài. 

Năm 1656, sau hai năm tấn công ra Bắc, quân Nguyễn đã chiếm được 7 huyện của Nghệ An. Tự thân Nguyễn Phúc Tần đã đem quân ra đến Nghệ An, đóng tại xã Vân Cát. Quân Nguyễn còn có thể tiến sâu vào đất đối phương thêm nữa, nhưng phía nhà Trịnh, Trịnh Tráng mất, con là Trịnh Tạc lên ngôi đang chịu tang, chúa Nguyễn cho người sang điếu, rồi rút quân về, lưu các tướng đóng đồn từ Sông Lam trở về Nam, đắp luỹ từ núi đến cửa biển để làm thổ phòng ngự. Sau đợt tấn công đó, quân Nguyễn còn chiếm đất Nghệ An thêm 5 năm nữa, năm Canh Tí (1660) Trịnh mới khôi phục lại được. Từ đó Trịnh và Nguyễn cầm cự nhau suốt hàng chục năm, không phân thắng bại. 

2. Năm Ất Mão (1675), Hoàng tử thứ tư của chúa Nguyễn là Nguyên Soái Nguyễn Phúc Hiệp mất. Hiệp là tướng giỏi cầm quân. Năm Kỷ Mùi (1679), chúa Nguyễn cho phép Dương Ngạn Ðịch, một tướng của triều Minh cùng với Trần Thượng Xuyên... đem gia thuộc hơn 3000 người và hơn 50 chiến thuyền khai phá vùng đất Gia Ðịnh, Mỹ Tho. Từ đây, mọc lên các phố xá buôn bán ở vùng đất mới này, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây phương, Nhật Bản đi lại tấp nập, do đó văn hoá ngày càng mở mang. Những năm sau đó: Bính Ngọ (1666), Nguyễn Hữu Tiến mất, rồi năm Tân Dậu (1681), Nguyễn Hữu Dật mất, phía chúa Nguyễn bị tổn thất lớn. 

Riêng đối với Nguyễn Hữu Dật, sau khi chết, dân Quảng Bình tiếc nhớ, gọi là Bồ Tát, lập đền thờ ở Thạch Xá. Dưới thời chúa Hiền, nhiều kênh đào dẫn nước tưới ruộng được khơi đào, như Trung Ðan, Mai Xá. Bấy giờ bờ cõi vô sự, thóc được mùa, chúa càng sửa sang chính sự, không xây đài tạ, không cần gái đẹp, bớt nhẹ giao dịch thuế má, trăm họ vui vẻ, mọi người đều khen là đời đời thái bình. Năm Ðinh Mão (1687) chúa không được khoẻ. Mất năm 68 tuổi, ở ngôi 39 năm, có 6 người con trai.

5. Chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691).

1. Nguyễn Phúc Trăn lại là người thứ hai của Nguyễn Phúc Tần. Phúc Tần có hai bà vợ chính. Bà họ Chu là cả, theo hầu chúa từ khi còn chưa lên ngôi chúa, sinh được hai trai một gái. Con trai là Diễn, được tấn phong Phúc Quận công; thứ hai là Thuần, được phong Hiệp Quận công; con gái là Ngọc Tào. Bà vợ thứ hai là người họ Tống, quê ở huyện Tống Sơn (Thanh Hoá), là con gái Tống Phúc Khang; người cùng quê với nhà chúa, đã được phong tới Thiếu phó. Bà vợ họ Tống sinh được hai trai, Nguyễn Phúc Trăn lại là người thứ hai, sinh năm Kỷ Sửu (1649). Khi người con trai cả do bà vợ họ Chu sinh ra chết, Nguyễn Phúc Tần cho rằng Trăn tuy là con bà hai nhưng lớn tuổi hơn và hiền đức, làm phủ đệ tại dinh Tả thuỷ. 

Nguyễn Phúc Tần mất, Trăn đã 39 tuổi, được nối ngôi chúa, bấy giờ gọi là chúa Nghĩa. Nguyễn Phúc Trăn nổi tiếng là người rộng rãi, hình phạt và phú thuế đã nhẹ, trăm họ ai cũng vui mừng, quan lại cũ của tiên triều đều được trọng đãi. Nguyễn Phúc Trăn bắt đầu quy định lại trang phục. Thời Chúa Nghĩa, quan hệ với người Chân Lạp vẫn tốt đẹp sau khi đã giết được kẻ phá đám là Hoàng Tiến (người Hoa). Chúa Nghĩa không thọ được lâu, sau 4 năm cầm quyền, bị bệnh rồi mất năm Tân Mùi (1691) lúc 43 tuổi.

6. Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725).

1. Nguyễn Phúc Chu là con cả của Nguyễn Phúc Trăn. Mẹ ông, người họ Tống quê ở huyện Tống Sơn (Thanh Hoá), con của Thiếu phó Quận công Tống Phúc Vinh. Bà được hầu Nguyễn Phúc Trăn từ khi chưa lên ngôi. Ðến khi chồng được lên ngôi chúa, bà được thăng Cung tần. Sinh được con trai là Nguyễn Phúc Chu thì càng được chúa yêu quý và bà phi của Nguyễn Phúc Trăn (không có con) càng vì nể và đem Phúc Chu về nuôi. Nguyễn Phúc Chu sinh năm Ất Mão (1675), được cho nuôi ăn học khá cẩn thận vì thế văn hay chữ tốt, đủ tài lược văn võ. Khi nối ngôi chúa mới 17 tuổi, lấy hiệu là Thiên Túng đạo nhân. Ðây là lần đầu tiên chúa Nguyễn lấy hiệu mới mẻ, sùng đạo Phật. 

Quả vậy, mới lên chữ chính, chúa rất quan tâm chiêu hiền đãi sĩ, cầu lời nói thẳng, nạp lời can gián, bỏ xa hoa, bớt chi phí, nhẹ thuế má giao dịch, bớt việc hình ngục. Vừa lên ngôi, chúa cho xây dựng một loạt chùa miếu; mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa núi Mỹ Am. Tự chúa cũng ăn chay ở vườn Côn Gia một tháng trời; chúa phát tiền gạo cho người nghèo thiếu. Ðây là thời kỳ chiến tranh Trịnh-Nguyễn đã tạm dừng hơn 30 năm, bờ cõi yên ổn. Nguyễn Phúc Chu có điều kiện mở rộng đất đai xuống phía nam và đạt được những thành tựu đáng kể: đặt phủ Bình Thuận năm Ðinh Sửu (1697) gồm các đất Phan Rang, Phan Rí trở về Tây, chia làm hai huyện An Phúc và Hoà Ða.

2. Đặt phủ Gia Ðịnh, chia đất Ðông Phố, lấy xứ Ðồng Nai làm huyện Phục Long, dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hoà), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng Phiên Trấn, lập xã Minh Hương... Từ đó người Thanh đi lại buôn bán rất sầm uất. Năm Mậu Tý (1708), chúa dùng Mạc Cửu làm tổng binh trấn Hà Tiên. Ngoài tư cách là một vị chúa có học vấn cao thể hiện qua chính sự khá toàn diện và cởi mở. Nguyễn Phúc Chu còn là một người làm rất nhiều thơ. Ông có hàng chục bài thơ khóc vợ, tình ý rất tha thiết. Năm Ất Tỵ (1725) Nguyễn Phúc Chu mất, ở ngôi 34 năm, thọ 51 tuổi. Phúc Chu là chúa đông con nhất: 146 người, cả trai cả gái.

7. Chúa Nguyễn  Phúc Chú (1725-1738).

1. Nguyễn  Phúc Chú (1725-1738) là con trưởng Phúc Chu. Chắc là Nguyễn Phúc Chu có rất nhiều vợ, nhưng chỉ thấy sử sách chép chuyện hai bà: bà họ Hồ và bà họ Nguyễn. Nguyễn Phúc Chú sinh năm Bính Tý (1696), là con bà cả. Lúc đầu Phúc Chú được trao chức Cai cơ Ðỉnh thịnh hầu. Năm Ất Mùi (1715), thăng làm chưởng cơ, làm phủ đệ tại cơ Tả Sùng. Ðến khi chúa Phúc Chu mất, ông được nối ngôi (năm 1725) khi 30 tuổi, lấy hiệu là Vân Truyền đạo nhân. Trong thời kỳ cầm quyền chúa không có gì nổi bật ngoài hai việc: Năm Quý Sửu (1733), chúa cho đặt đồng hồ nhập của Tây phương ở các dinh và các đồn tàu dọc biển. Sau đó có Nguyễn Văn Tú đã chế tạo được. 

Năm Bính Thìn (1736), Mạc Cửu mất, con trai là Mạc Thiên Tứ được chúa Nguyễn cho làm Ðô đốc trấn Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ có tầm mắt nhìn xa biết rộng: cho miễn thuế, sai đóng ba chiếc thuyền Long bài, xuất dương tìm mua các hàng quý hiếm dâng nộp, mở cục đúc tiền để tiện việc trao đổi. Thiên Thứ chia đặt nha thuộc, kén bổ quân ngũ, đắp thành luỹ, mở phố chợ, khách buôn các nước đến họp đông đúc. Ông lại còn vời văn nhân thi sĩ, mở Chiêu An các, ngày ngày cùng nhau giảng bàn và xướng hoạ, để lại 10 bài thơ vịnh cảnh Hà Tiên (Hà Tiên thập vịnh). Sau hợp lại thành tập 320 bài thơ của 25 tác giả Trung Quốc và 6 tác giả Việt Nam. Năm Mậu Ngọ (1738) chúa Nguyễn Phúc Chú mất, thọ 43 tuổi, ở ngôi 13 năm.

8. Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765).

1. Nguyễn Phúc Khoát là con Nguyễn Phúc Chú, sinh năm Giáp Ngọ (1714). Mẹ là người họ Trương ở huyện Tống Sơn, Thanh Hoá, con Trưởng cơ Trương Phúc Phan. Vào hầu Phúc Chú từ khi còn chưa lên ngôi, được phong Hữu cung tần. Tính bà e lệ cẩn thận, dạy bảo nội chức có phong độ hậu phi thời xưa. Bà sinh được 2 người con trai rồi mất năm bà mới 22 tuổi. Nguyễn Phúc Khoát là con trưởng, được phong làm chưởng dinh Dinh tiền sứ chính hầu, làm phủ đệ tại Cơ Tiến Dực ở Dương Xuân. Phúc Chú mất, Khoát được lên ngôi khi 25 tuổi, lấy hiệu là Từ Tế đạo nhân. Nguyễn Phúc Khoát bắt đầu xưng vương. Năm Giáp Tý (1774), đúc ấn Quốc vương.

Sau đó, ngày Kỷ Mùi, lên ngôi vua ở phủ chính Phú Xuân, ban chiếu bố cáo thiên hạ. Bộ máy chính quyền từ trên xuống cơ sở, các chức danh, tên gọi cũng thay đổi. Tuy nhiên, vua Nguyễn vẫn dùng niên hiệu vua Lê trong các văn bản hành chính. Ðối với các thuộc Cao Miên, Ai Lao, Xiêm... lại xưng là Thiên vương. Tôn hiệu các đời trước cũng được nâng lên phù hợp với cương vị mới của Quốc vương. Ðối với anh em họ hàng gần thì phong tước Quận công. Hoàng tử, cứ theo thứ tự mà xưng. Cùng với thay đổi trên, triều phục bách quan cũng thay đổi. Các đơn vị hành chính địa phương cũng một phen thay đổi. 

2. Từ năm Giáp Tuất (1754) để xứng đáng là kinh đô của Nguyễn vương, Phú Xuân được xây dựng thêm hàng loạt điện đài mới theo quy mô đế vương. Rõ ràng dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, kinh đô Phú Xuân trở thành nơi hội lớn, văn vật thanh dung lừng lẫy, đời trước chưa từng có. Xây dựng xong kinh đô Chúa sai nhiều văn quan đề vịnh phong cảnh cố đô. Phú Xuân trở thành một thành phố nên thơ từ ngày ấy. Chúa Nguyễn đã đón tiếp các quốc vương láng giềng ở Ðất Phú Xuân. Nguyễn Phúc Khoát, ở ngôi được 27 năm. Năm Ất Dậu (1765), quốc vương băng, thọ 52 tuổi. Con trai thứ 16 lên nối ngôi.

9. Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777).

1. Nguyễn Phúc Thuần là con thứ 16 của Phúc Khoát. Phúc Thuần sinh năm Giáp Tuất (1754), Mẹ Thuần người họ Nguyễn, sinh được hai trai, Phúc Thuần là thứ hai. Năm Giáp Ngọ (1774) bà đi tu ở chùa Phúc Thành, sau đó mất (1804) được truy tôn là Tuệ Tĩnh thánh mẫu Nguyên sư, hiệu là Thiên Long giáo chủ. Chúa Phúc Khoát lúc đầu lập Hoàng tử thứ 9 tên là Hiệu làm Thái Hoàng tử. Hiệu mất sớm con trai của Hiệu là Hoàng Tôn Dương còn thơ ấu mà Hoàng tử cả là Chương cũng đã mất. Hoàng tử thứ hai là Nguyễn Phúc Luân cũng rất khôi ngô, theo thứ tự sẽ phải lập Hoàng Tôn Dương hoặc Nguyễn Phúc Luân lên ngôi. 

Phúc Khoát có ý lập Phúc Luân, nên đã trao Luân cho một thầy học nổi tiếng là Trương Văn Hạnh dạy bảo những điều cần thiết cho một người gánh vác ngôi vua. Phúc Khoát mất, tình hình lại thay đổi. Quyền thần Trương Phúc Loan không muốn lập Nguyễn Phúc Luân và Luân đã lớn tuổi, khó bề lộng hành. Thế là Phúc Loan chọn Phúc Thuần con thứ 16 của Phúc Khoát, mới 12 tuổi lên ngôi. Phúc Luân không được lập mà bị bắt giam. Nội hữu Trương Văn Hạnh-thầy dạy Phúc Luân cũng bị bắt giết. Phúc Luân không được nối ngôi, lo buồn cho tính mạng mà chết khi tuổi mới 33. Ðến năm Minh Mệnh thứ hai (1821) Luân được truy tôn là Hưng tổ.

2. Trải 9 đời chúa, đến đây nhà chúa đã bị nạn quyền thần lấn lướt Phúc Thuần nhỏ tuổi, lại không phải là người được sắp sẵn để lên ngôi, nay thật bỡ ngỡ trên ngai vàng. Mọi quyền hành đều do Trương Phúc Loan sắp đặt. Loan tự nhận là Quốc Phó, giữ bộ Hộ quản cơ Trung thượng kiêm Tầu vụ. Thực tế Trương Phúc Loan thâu tóm vào tay từ chính sự đến kinh tế. Các nguồn lợi chủ yếu của vương quốc Ðàng Trong đều rơi vào tay Loan. Thuế sản vật các mỏ vàng Thu Bồn, Ðồng Hương, Trà Sơn, Trà Vân... hàng năm Trương chỉ nộp vào ngân khố 1-2 phân mười số thu được. Các thứ lâm sản thuỷ sản đều chảy vào nhà Trương. Cả nhà họ Trương chia nhau nắm hết mọi chức vụ chủ chốt. 

Quyền và tiền họ Trương lấn át cả trong triều ngoài trấn. Có quyền có tiền, Loan mặc sức hoành hành ngang ngược - người bấy giờ gọi là Trương Tần Cối. Giữa lúc đó, Lại bộ thượng thư Nguyễn Cư Trinh, người có uy tín, tài năng trụ cột của triều Nguyễn qua đời (tháng 5 năm Ðinh Hợi 1767). Thế là họ Trương không còn ai ngăn cản nữa, càng ra sức làm nhiều việc càn rỡ, chẳng còn kiêng nể gì: bán quan buôn tước, ăn tiền tha tội, hình phạt phiền nhiễu, thuế má nặng nề, thần dân cực khổ và căm giận. Những người có tâm huyết và tài năng như Tôn Thất Dục, tinh thông kinh sử, thuật số, âm nhạc, bị Loan tìm cách hãm hại. 

3. Tài chính kiệt quệ đến nỗi dật sĩ Thuận Hoá là Ngô Thế Lân phải kêu lên triều. Nhưng mọi cố gắng của họ Ngô không được hồi âm. Giữa lúc đó, anh em Tây Sơn do Nguyễn Nhạc cầm đầu dấy nghĩa ở Quy Nhơn, thanh thế ngày càng lừng lẫy vì được dân chúng đồng tình ủng hộ. Thêm vào đó, tháng 5 năm Giáp Ngọ (1774) Trịnh lại đem đại quân vào đánh Nguyễn. Cả Tây Sơn lẫn Trịnh đều khẩu hiệu khử quyền thần Trương Phúc Loan và tôn phó Hoàng Tôn Dương. Chiến tranh loạn lạc lại nổ ra, đất Thuận Hoá trước đó trù phú là thế mà nay trăm bề xơ xác la liệt, "mỗi lẻ gạo trị giá một tiền, ngoài đường xác đói, người nhà có khi ăn thịt nhau". 

Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, tôn thất nhà Nguyễn cùng nhau hợp sức bắt trói Trương Phúc Loan nộp cho quân Trịnh. Tháng 12 năm 1774, quân Trịnh chiếm được Phú Xuân và đặt quan cai trị Thuận Hoá. Trong số quan lại nhà Trịnh được cử vào Thuận Hoá có Lê Quý Ðôn (1776). Tây Sơn tìm cách tạm hoà với Trịnh để yên mặt Bắc và có điều kiện đánh Nguyễn ở phía Nam. Ðại quân Tây Sơn cả thuỷ lẫn bộ đánh vào Sài Gòn. Chúa Nguyễn chạy về Ðịnh Tường rồi lại sang Long Xuyên. Tháng 9 năm Ðinh Dậu (1777) quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ thống lĩnh đánh chiếm Long Xuyên, chúa Nguyễn chết trận. 

4. Nguyễn Phúc Thuần ở ngôi chúa 12 năm, khi chết mới 24 tuổi, không có con nối dõi. Nguyễn Phúc Ánh con trai Nguyễn Phúc Luân là cháu của chúa Nguyễn Phúc Thuần kế thừa sự nghiệp các chúa Nguyễn, tổ chức đánh nhà Tây Sơn tới 25 năm mới giành thắng lợi, lên ngôi hoàng đế hiệu Gia Long, mở đầu Vương triều nhà Nguyễn.

III. Trịnh-Nguyễn phân tranh.

1. Vài nét về Vua Lê Chúa Trịnh

1. Năm 1533, tướng cũ của nhà Lê là Nguyễn Kim lập con vua Lê Chiêu Tông lên ngôi, tức là Lê Trang Tông. Năm 1545, Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, con rể là Trịnh Kiểm lên thay. Để nắm trọn binh quyền, Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông là con trưởng của Nguyễn Kim. Em Uông là Hoàng lo sợ bị anh rể hại, nên nghe theo lời khuyên của Nguyễn Bỉnh Khiêm, xin vào trấn thủ Thuận Hoá. Trịnh Kiểm cho rằng đất ấy là nơi xa xôi, hoang vu nên đồng ý cho đi, nhằm mục đích mượn tay quân Mạc giết Hoàng. Tuy nhiên, Nguyễn Hoàng không những đánh bại quân Mạc,  còn lấy được lòng dân Thuận Hóa.

Mải đối phó với nhà Mạc, Trịnh Kiểm cho Hoàng kiêm trấn thủ luôn Quảng Nam. Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, con cả là Cối lên thay. Cối không màng chính sự, bị em là Trịnh Tùng đoạt quyền. Cối cùng đường đầu hàng nhà Mạc và chết già ở đất Bắc. Trịnh Tùng nắm đại quyền, thao túng triều đình, giết vua Lê Anh Tông lập vua nhỏ là Thế Tông. Năm 1592, Trịnh Tùng đánh chiếm được Thăng Long, đuổi họ Mạc chạy lên Cao Bằng. Khi rước được vua Lê về kinh thành, Trịnh Tùng bắt đầu tính tới người cậu Nguyễn Hoàng phía nam.

2. Cuộc chiến Trịnh - Nguyễn thực sự diễn ra từ năm 1627, nhưng đó là chỉ tính về mặt quân sự. Nếu tính cả trên mặt trận ngoại giao, xung đột giữa hai bên đã nổ ra từ nhiều năm trước. m 1593, Trịnh Tùng triệu Nguyễn Hoàng ra bắc với lý do để cùng đánh tàn dư họ Mạc còn tản mát ở Bắc bộ. Hoàng vâng lệnh mang quân ra bắc, phá tan quân Mạc ở Hà Trung và Sơn Nam, sau đó được Tùng giao trách nhiệm trấn giữ Sơn Nam. Ở Sơn Nam được 8 năm, Nguyễn Hoàng cố tìm cách thoát về Nam. Năm 1600, nhân họ Mạc có cuộc nổi dậy, Hoàng ngầm xúi giục các hàng tướng Mạc cũ là Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga nổi loạn để Hoàng lấy cớ đi dẹp. 

Trịnh Tùng mải đối phó họ Mạc ở Cao Bằng, họ Vũ ở Tuyên Quang  nên đồng ý cho Nguyễn Hoàng đi dẹp. Hoàng nhân cơ hội đó chạy thẳng ra biển đi thoát về Nam.Thấy Nguyễn Hoàng trốn thoát, Trịnh Tùng sai người cầm thư vào nam dụ ra lần nữa nhưng Hoàng không ra, sau đó lại bỏ không nộp thuế đều đặn cho miền Bắc. Để xoa dịu tình hình, Hoàng gả con gái là Ngọc Tú cho con Trịnh Tùng là Trịnh Tráng (tức là cháu lấy cô). Năm 1613, Nguyễn Hoàng qua đời, người con trai thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên lên thay, gọi là chúa Sãi. Năm 1623, Bình An Vương Trịnh Tùng qua đời, con là Trịnh Tráng lên thay, gọi là Thanh Đô Vương.

2. Bảy cuộc chiến Trịnh-Nguyễn.

1. Năm 1627, lấy cớ Nguyễn Phúc Nguyên bỏ không nộp thuế cho vua Lê, Trịnh Tráng làm sắc đứng tên vua Lê gửi trách Nguyễn, đòi đích thân hoặc sai con tải thuế ra bắc. Theo kế của mưu sĩ Đào Duy Từ, Phúc Nguyên một mặt lo tăng cường phòng thủ, một mặt tìm cách trả lại sắc thư.Chúa Nguyễn sai đúc mâm hai đáy, để sắc thư” kèm theo một bài thơ” có ẩn ý “Ta không nhận sắc” để vào đáy dưới, bên trên để vàng bạc, rồi sai Văn Khuông mang ra bắc tạ với chúa Trịnh. Dâng mâm lễ vật lên chúa Trịnh xong, Khuông xin về công quán” nghỉ, rồi trốn luôn về Nam. Phía Trịnh phát giác mâm hai đáy bên trong có tờ sắc thư” và một bài thơ” ngang ngạnh, Trịnh Tráng tức giận quyết định khởi đại binh Nam tiến. 

1. Cuộc chiến thứ nhất 1627Tháng 3 năm 1627, Trịnh Tráng khởi 20 vạn quân thủy bộ vào nam, dotướng Nguyễn Khải, Lê Khuê chia làm hai đạo, hội binh ở cửa Nhật Lệ. Phía Nguyễn cử các tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Vệ, Nguyễn Phúc Trung nghênh chiến. Tuy quân Trịnh chủ động tấn công,nhưng không chọc thủng được tuyến phòng thủ của quân Nguyễn. Lợi thế của phía quânNguyễn là có đại bác kiểu Bồ Đào Nha nên quân Trịnh hoảng sợ bỏ chạy. Cả hai cánh quân của tướng Trịnh là Nguyễn Khải và Lê Khuê đều yếu thế trước quân Nguyễn. Trong lúc hai bên tiếp tục giằng co thì Nguyễn Hữu Dật phao tin ở miền bắc, Trịnh Gia và Trịnh Nhạc âm mưu làm phản. Trịnh Tráng nghi ngờ vội thu quân về bắc.

Cuộc chiến thứ hai 1633Khi quân Trịnh rút về Bắc, Nguyễn Phúc Nguyên theo kế của Đào Duy Từ gấp rút xây lũy Trường Dục (Lũy Thày) để phòng thủ.Năm 1631, con Nguyễn Phúc Nguyên là thế tử Nguyễn Phúc Kỳ chết, con thứ hai là Nguyễn Phúc Lan được lập làm thế tử, con thứ tư là Nguyễn Phúc Anh ra thay Kỳ trấn giữ Quảng Nam. Phúc Anh bất mãn không được làm thế tử, mưu thông đồng với chúa Trịnh, viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng. Năm 1633, Trịnh Tráng khởi binh Nam tiến lần thứ hai, đóng ở cửa Nhật Lệ. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến làm tướng ra đánh. 

2. Trịnh Tráng đang đợi suốt hơn 10 hôm không thấy hiệu làm nội ứng của Phúc Anh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh hoảng loạn tan vỡ bỏ chạy. Trịnh Tráng rút về bắc, để lại con rể là Nguyễn Khắc Liệt trấn thủ châu Bắc Bố Chính. Năm 1634, Đào Duy Từ chết, năm sau Nguyễn Phúc Nguyên chết, con là Phúc Lan lên thay. Em Lan là Phúc Anh nổi loạnbị giết chết. Năm 1637, Phúc Lan sai Nguyễn Đình Hùng mang quân đánh úp chiếm Nam Bố Chính, giết tướng trấn thủ là Nguyễn Tịch. Năm 1640, từ Bắc Bố Chính, Nguyễn Khắc Liệt mang quân đánh phá Nam Bố Chính rồi rút về. 

Theo kế phản gián của Chúa Nguyễn, Nguyễn Hữu Dật, viết thư cho Trịnh Tráng nói Khắc Liệt mưu thông với chúa Nguyễn nên mặt ngoài gây chiến mà bên trong muốn hàng. Mặt khác, Nguyễn Phúc Lan thúc quân đánh Khắc Liệt. Khắc Liệt thua chạy, viết thư cầu cứu. Trịnh Tráng tin lời gièm pha, nên khi Khắc Liệt xin viện binh, Tráng điều Trịnh Kiều mang quân vào cứu, với mật lệnh bắt Khắc Liệt. Đến nơi, Kiều không cứu Liệt mà chặn đường bắt Liệt mang về nộp chúa Trịnh, do đó quân Nguyễn nhân thời cơ đánh chiếm luôn Bắc Bố Chính. Nguyễn Khắc Liệt bị Trịnh Tráng xử tử.

3. Cuộc chiến thứ ba 1643. Trịnh Tráng điều quân vào nam chiếm lại Bắc Bố Chính. Chúa Trịnh cử hai con là Trịnh Tạc và Trịnh Lệ đi tiên phong, cùng các tướng Phạm Công Trứ, Nguyễn Danh Thọ, Nguyễn Quang Minh. Quân Trịnh ồ ạt tiến công giết chết tướng Nguyễn là Bùi Công Thắng, chiếm lại Bắc Bố Chính, tiến lên đóng ở cửa Nhật Lệ. Sau khi hai con ra quân được một tháng, chúa Trịnh rước vua Lê Thần Tông cùng đi Nam chinh. Hai bên đối trận chưa phân thắng bại, gặp lúc mùa hè, khí hậu oi bức, quân Trịnh bị bệnh nhiều nên Trịnh Tráng đành ra lệnh lui quân. Tháng 6 năm 1643, theo đề nghị của chúa Trịnh, ba tàu chiến Hoà Lan tiến vào cửa Thuận An đánh chúa Nguyễn. Thế tử Nguyễn Phúc Tần mang quân ra nghênh chiến, đánh đắm một tàu, hai tàu kia bỏ chạy.

Cuộc chiến thứ tư 1648Tháng 2 âm lịch năm 1648,Trịnh Tráng sai Lê Văn Hiểu khởi binh nam tiến lần thứ tư, dẫn bộ binh đánh Nam Bố Chính, còn thủy quân đánh cửa Nhật Lệ. Cha con Trương Phúc Phấn cố thủ ở lũy Trường Dục, quân Trịnh đánh không hạ được.Thế tử Phúc Tần mang quân cứu viện ra Quảng Bình, chia quân thủy phục ở sông Cẩm La, sai Nguyễn Hữu Tiến mang quân đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm. Quân Trịnh thua lớn, bị thủy quân Nguyễn chặn đánh chạy đến tận sông Gianh. Tháng 3 năm 1648, quân Nguyễn định vượt sông Gianh đánh ra Bắc Bố Chính thì nghe tin chúa Nguyễn ngã bệnh chết trên thuyền trên đường về Thuận Hóa nên phải lui binh. Con Phúc Lan là Nguyễn Phúc Tần lên thay, tức là Hiền vương. Trịnh Tráng lui binh, sai Lê Văn Hiểu giữ Hà Trung, Lê Hữu Đức đóng ở Hoành Sơn, Phạm Tất Toàn giữ Bắc Bố Chính.

4. Cuộc Đại chiến lần thứ năm 1655 – 1660. Cuộc chiến lần thứ năm là cuộc chiến dài nhất, lớn nhất trong cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn và là lần duy nhất quân Nguyễn chủ động đánh ra bắc. Tháng 4 năm 1655, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật mang quân vượt sông Gianh đánh Bắc Bố Chính. Tướng Trịnh là Phạm Tất Toàn đầu hàng. Tiến và Dật thừa thắng tiến lên đánh Hoành Sơn, Lê Hữu Đức thua chạy. Tiến và Dật đánh luôn Hà Trung, Lê Văn Hiểu thua chạy nốt, cùng Đức lui về giữ An Trường (Nghệ An).

Trịnh Tráng thấy các tướng thua luôn, sai Trịnh Thượng làm thống lĩnh mang quân vào Nam, triệu các tướng cũ về. Lê Văn Hiểu bị thương, nửa đường chết, còn Đức bị giáng chức. Trịnh Thượng lãnh binh, tiến quân bộ vào huyện Kỳ Hoa, chia quân thủy tiến đến cửa Kỳ La. Nguyễn Hữu Tiến rút về nam sông Gianh. Trịnh Thượng thấy địch vô cớ rút, biết có mưu nhử nên không đuổi, đóng lại Lạc Xuyên, chia quân ra giữ Hà Trung. Hữu Tiến, Hữu Dật thấy địch không đuổi, liền chia quân thủy bộ đánh ra. Quân Trịnh hai cánh đều thua, quân thủy bỏ Kỳ La về Châu Nhai, quân bộ bỏ Lạc Xuyên về giữ An Trường. 

5. Thế là 7 huyện Nghệ An ở phía nam sông Lam là Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơ, THanh Chương về tay chúa Nguyễn. Trịnh Tráng giáng chức Trịnh Thượngrồi cử con là Trịnh Tạc vào làm Thống lĩnh. Nguyễn Hữu Tiến thấy viện binh Trịnh bèn lui về giữ Hà Trung. Gặp lúc họ Mạc phía bắc quấy rối, Trịnh Tạc phải rút về bắc, để Đào Quang Nhiêu ở lại đóng ở An Trường, Vũ Văn Thiêm lãnh thủy quân đóng ở Khu Độc; Thân Văn Quang và Mẫn Văn Liên đóng ở Tiếp Vũ. Năm 1656, Hữu Tiến đánh Tiếp Vũ, Quang và Liên bỏ chạy. Nguyễn Hữu Dật phá tan thủy quân của Văn Thiêm, Thiêm cũng chạy.

Quân Nguyễn hợp lại đánh Đào Quang Nhiêu, Nhiêu thua chạy về giữ An Trường. Trịnh Tráng bèn cử con út là Trịnh Toàn vào cứu viện. Toàn đốc quân tiến đến Thạch Hà, sai Nhiêu và Dương Hồ tiến lên đóng ở Đại Nại và Hương Bộc, Văn Thiêm tiến lên cửa Châu Nhai (cửa khẩu sông Lam). Nguyễn Hữu Dật sai Nguyễn Cửu Kiều đánh Văn Thiêm, Thiêm lại bỏ chạy. Dật sang bờ sông Lam hợp binh với Kiều kéo đến Đại Nại. Quân bộ của Nguyễn Hữu Tiến đánh Nhiêu ở Hương Bộc, Trịnh Toàn mang quân đến cứu, giữ được Hương Bộc. Tiếp đó, TrịnhToàn lại đánh sang Đại Nại, giết chết Cửu Kiều, quân Nguyễn thua to, chạy về Hà Trung. 

6. Toàn và Nhiêu cùng đuổi đến Tam Lộng lại bị Hữu Tiến và Hữu Dật đánh bại, phải rút về An Trường. Trịnh Tráng bệnh nặng, thế tử Trịnh Tạc cầm quyền điều hành. Thấy Trịnh Toàn rất có uy tín với quân sĩ, Trịnh Tạc lo lắng. Tạc sai con là Trịnh Căn mang quân vào Nghệ An, tiếng là tăng viện nhưng để kìm chế Trịnh Toàn. Tháng 4 năm 1657, Trịnh Tráng chết, Tây Định vương Trịnh Tạc lên thay. Biết anh em chúa Trịnh bất hòa, chúa Nguyễn sai người đến dụ Trịnh Toàn, nhưng Toàn cự tuyệt. Trịnh Tạc triệu Toàn về kinh, cử Trịnh Căn thay thế. Thủ hạ của Toàn một số sang hàng quân Nguyễn. Toàn về kinh, chúa Trịnh Tạc lấy cớ trách Toàn không chịu tang cha rồi giam vào ngục rồi giết chết.

Tháng 6 năm 1657, Trịnh Căn sai Hoàng Thể Giao, Lê Thì Hiến và Trịnh Thế Công vượt sông Lam đánh tướng Nguyễn là Tống Hữu Đại ở huyện Thanh Chương. Do có người tiết lộ, Nguyễn Hữu Tiến biết trước phòng bị nên quân Trịnh bị thua rút về bờ bắc sông Lam.Tháng 6 năm 1658, tù trưởng Lang Công Chấn ở Quỳnh Lưu theo Nguyễn, mang quân đánh Trịnh, bị quân Trịnh bắt được giải về Thăng Long.  Tháng 7, quân Nguyễn vượt sông Lam thắng được Nguyễn Hữu Tá ở huyện Hưng Nguyênnhưng bị Lê Thì Hiến đánh bại phải rút về. Tháng 12, quân Trịnh đánh huyện Hương Sơn, thắng quân Nguyễn. Tháng 8 năm 1660, quân Trịnh lại đánh Nghi Xuân, nhưng bị bại trận.

7. Trong khi ngoài mặt trận diễn ra các trận đánh lẻ tẻ thì phía trong mỗi bên đều lo củng cố hậu phương. Nguyễn Hữu Dật nhân lúc ngưng chiến tung gián điệp ra bắc dụ Phạm Hữu Lễ trấn thủ Sơn Tây, Văn Dũ trấn thủ Hải Dương làm phản Trịnh, lại hẹn họ Vũ ở Tuyên Quang và họ Mạc ở Cao Bằng cùng nổi dậy. Tuy nhiên do lực lượng các cánh này đều yếu, hai cánh Vũ, và Mạc lại có ý đồ riêng. Tất cả đều chờ quân Nguyễn vượt sông Lam, bắc tiến mới ra mặt. Trong khi đó, quân Nguyễn cũng không hùng hậu, đi đánh xa lâu ngày đã mệt, cũng có ý chờ miền bắc có biến mới dám đánh lớn. Hai bên dùng dằng chờ nhau. Chúa Trịnh biết Phạm Hữu Lễ thông đồng với quân Nguyễn bèn dụ và giết chết. 

Ngoài biên cương, Trịnh Căn xử tử tướng Hoàng Nghĩa Chấn vì đố kỵ không tiếp ứng cho Đào Quang Nhiêu, sau đó lại giết Nguyễn Đức Dương vì bán trộm lương cho quân Nguyễn. Bên kia, Nguyễn Hữu Dật cũng giết hàng tướng Phạm Tất Toàn vì có ý về bắcCác tướng Nguyễn nảy sinh mâu thuẫn. Nguyễn Hữu Tiến và thuộc tướng của Tiến ghét Nguyễn Hữu Dật vì Dật được chúa Nguyễn tin yêu hơn. Trịnh Căn nhân đó sai người mang vàng đến dụ Nguyễn Hữu Dậtnhưng Dật không nghe, báo hết cho chúa Nguyễn biết. Tháng 9 năm 1660, Trịnh Căn sai Hoàng Nghĩa Giaovà Lê Thì Hiến đang đêm vượt sông Lam đánh Lận Sơn. 

8. Cánh quân của Giao đến Lận Sơn bị Nguyễn Hữu Dật vây ngặt, mấy thuộc tướng tử trận. Trịnh Căn thấy vậy mang quân bộ đến cứu Giao, lại điều quân thủy đánh tan quân Nguyễn Hữu Dật, Dật thua chạy về Khu Độc. Cánh quân của Thì Hiến và Mẫn Văn Liên đụng độ Nguyễn Hữu Tiến ở Tả Ao, tuy Liên bị tử trận nhưng quân Trịnh phá được lũy, đánh bại được Nguyễn Hữu Tiến. Tiến phải rút về Nghi Xuân. Nguyễn Phúc Tần mang quân tiếp ứng, đóng ở Quảng Bình. Nguyễn Hữu Dật muốn khoe công với chúa bèn lẻn về ra mắt Phúc Tần, thuật chuyện các chiến công vừa lập ngoài mặt trận. Phúc Tần ban cho Hữu Dật thanh bảo kiếm và sai quay lại đánh tiếp. 

Nguyễn Hữu Tiến nghe tin đó càng ghét Dật, trong khi quân vừa bại trận ở Nghệ An bỏ trốn nhiều, tướng sĩ Nguyễn đều ngã lòng. Tháng 11 năm 1660, biết các tướng Nguyễn bất hòa, quân lại bỏ trốn, Trịnh Căn sai Lê Thì Hiến và Lê Sĩ Triệt đánh huyện Nghi Xuân, Hoàng Nghĩa Giao và Nguyễn Năng Thiệu đánh huyện Thiên Lộc, phá tan quân Nguyễn. Quân Trịnh lấy lại 7 huyện ở Nghệ An mất từ năm 1655. Nguyễn Hữu Tiến thua trận buộc phải rút quân, nhưng vì ghét Nguyễn Hữu Dật nên giả cách hạ lệnh đánh An Trườngvà bí mật rút về Nam Bố Chính mà không báo cho Dật biết. Quân Trịnh đang đà thắng, sang sông đánh Khu Độc. 

9. Dật biết tin Tiến rút rồi, bèn làm nghi binh khiến quân Trịnh không dám đuổi gắt. Về đến Hoành Sơn, Dật gặp Tiến, vừa lúc Trịnh Căn thúc quân đuổi tới, hai bên giao tranh ác liệt và cùng thiệt hại lớn. Hai bên bèn hưu chiến, Trịnh Căn lui về giữ Kỳ Hoa, Hữu Tiến giữ Nhật Lệ, Hữu Dật giữ Đông Cao. Trịnh Căn sai Đào Quang Nhiêu trấn thủ Nghệ An kiêm Bắc Bố Chính, còn mình rút về Bắc.

Cuộc chiến thứ sáu 1661-1662Sau 1 năm nghỉ binh, nhân vừa thắng quân Nguyễn, tháng 10 năm 1661, Trịnh Tạc mang vua Lê Thần Tông cử đại binh vào nam, cử Trịnh Căn làm thống lĩnh cùng các tướng Hoàng Thể Giao, Đào Quang Nhiêu, Lê Thì Hiến vượt sông Gianh. Nguyễn Hữu Dật trấn thủ Nam Bố Chính chia quân đắp lũy thế thủ, quân Trịnh đánh mấy tháng không hạ được. Tháng 3 năm 1662, quân viễn chinh mệt mỏi, lương hết, chúa Trịnh bèn rút quân về bắc. Hữu Dật đuổi theo đến sông Gianh rồi rút về.

10. Cuộc chiến thứ bảy 1672Vua Thần Tông rồi Huyền Tông mất, vua Gia Tông lên ngôi. Sau khi dứt được họ Mạc ở Cao Bằng (1667), năm 1672, chúa Trịnh lại cử binh nam tiến, sai Trịnh Căn lĩnh thủy binh, Lê Thì Hiến lĩnh bộ binh.Bên Nguyễn năm 1666 Nguyễn Hữu Tiến chết. Chúa Nguyễn cử em là Hiệp làm chủ tướng cùng NguyễnHữu Dật và Nguyễn Mỹ Đức ra chống cự, tự chúa Nguyễn ra tiếp ứng. 

Quân Trịnh hăng hái đánh lũy Trấn Ninh mấy lần suýt hạ được,nhưng Hữu Dật cố sức chống đỡ. Quân Trịnh đánh mãi không thắng phải rút về Bắc Bố Chính, thấy Trịnh Căn bị ốm, nên Trịnh Tạc ra lệnh rút đại quân về kinh, cử Lê Thì Hiến, Lê Sĩ Triệt ở lại trấn thủ.

IV. Trịnh Đàng ngoài - Nguyễn Đàng trong: 100 năm.

1. Trước sau trong 46 năm ròng rã, hai bên Trịnh - Nguyễn đánh lớn bảy lần,và một số lần đánh nhau quy mô nhỏ hơn. Chiến trường chủ yếu ở hai bờ sông Gianh, vùng Nghệ An, Hà Tỉnh, và Quảng Bình ngày nay. Hai bên đều có lợi thế và yếu điểm nên không thể tiêu diệt được nhau, dù cùng mang khẩu hiệu “Phù Lê”. Sau nhiều năm giao chiến, cả hai bên đều kiệt quệ về sức người sức của nên phải chấp nhận đình chiến, chia cắt lâu dài. Sông Gianh, sử sách hay gọi là Linh Giang, trở thành ranh giới chia nước Đại Việt thành Đàng Ngoài, và Đàng Trong. 

Họ Trịnh không thể tiến vào chiếm Thuận Hóa nên tập trung diệt tàn dư nhà Mạc ở Cao Bằng (1677), dứt họ Vũ ở Tuyên Quang (1699), củng cố địa bàn Bắc Bộ. Họ Nguyễn không thể ra Thăng Long nên dồn sức diệt Chiêm Thành lấn sang Chân Lạp để mở mang bờ cõi vốn nhỏ hẹp về phía Nam. Hai bên đều có những vị Chúa cai trị giỏi nên ổn định được lãnh thổ suốt hơn 100 năm.

V. Tây Sơn khởi nghĩa, quân Trịnh Nam tiến.

1. Một trăm năm sau khi đình chiến, một biến cố lớn ở Đàng Trong làm xáo trộn cả Nam Hà lẫn Bắc Hà. Ba anh em họ Nguyễn ở Tây Sơn nổi lên khởi nghĩa nhân lúc chính quyền chúa Nguyễn lục đục rơi vào tay quyền thần Trương Phúc Loan. Khi thủ lĩnh Tây Sơn là Nguyễn Nhạc làm chủ được Nam Trung Bộ thì chúa Trịnh nghĩ rằng thời cơ tiêu diệt chúa Nguyễn đã đến. Bước đầu, Trịnh dùng danh nghĩa giúp chúa Nguyễn đánh Tây Sơn”. Tháng 9 năm Giáp Ngọ (1774), Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm cử lão tướng Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc làm Bình nam thượng tướng quân, Bùi Thế Đạt làm phó tướng mang 36.000 quân nam tiến.

Quân Trịnh tiến tới địa giới Bắc Bố Chính, tướng Nguyễn là Trần Giai chạy sang đầu hàng, làm hướng đạo cho quân Trịnh. Hoàng Ngũ Phúc vượt sông Gianh. Chúa Nguyễn biết ý Trịnh muốn đánh chiếm nên điều quân kháng cự. Được quan chúa Nguyễn là Kiêm Long gợi ý, Hoàng Ngũ Phúc sai Hoàng Đình Thể tiến đánh lũy Trấn Ninh. Các tướng Nguyễn làm nội ứng mở cửa đầu hàng. Quân Trịnh chiếm được Quảng BìnhTháng 11 năm 1774, Trịnh Sâm mang thủy quân vào Nghệ An tăng cường cho quận Việp. Việp đánh Lưu Đồn, Tống Hữu Trường bỏ chạy. Quận Việp tiến đến Hồ Xá, lấy cớ trừng phạt Trương Phúc Loan chuyên quyền” tiếp tục đưa quân Nam tiến.

2. Quân Nguyễn thấy không chống nổi, chúa Nguyễn Phúc Thuần bắt trói Trương Phúc Loan nộp quân Trịnh. Giết Loan rồi, Hoàng Ngũ Phúc lại dùng lý do giúp Nguyễn đánh Tây Sơn để tiến vào Phú Xuân hội binh. Chúa Nguyễn sai các tướng trá hàng để quấy rối Quảng Bình, Bố Chính sau lưng quân Trịnh, nhưng các cánh quân đó bị quân Trịnh nhanh chóng phá tan. Chúa Nguyễn điều Tôn Thất Chí, Nguyễn Văn Chính ra đánh đều bị quận Việp đánh bại. Quận Việp sai Hoàng Đình Thể, Hoàng Nghĩa Phác theo đường núi qua thác Trầm Ma đánh tan quân Nguyễn, giết chết Chính. Đầu năm 1775quân Trịnh tiến vào Phú Xuân. Chúa Nguyễn không chống nổi phải bỏ chạy vào Quảng Nam. 

Quân Trịnh chiếm toàn bộ Thuận Hoá. Chúa Nguyễn bỏ chạy vào Quảng Nam, Nguyễn Nhạc mang quân ra đánh, bắt được hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, chúa Nguyễn Phúc Thuần bỏ Quảng Nam theo đường biển trốn vào Gia Định. Tháng 2 năm 1775, Trịnh Sâm hạ lệnh cho quận Việp đánh Quảng Nam. Tháng 4, quân Trịnh vượt đèo Hải Vân và đụng độ với quân Tây Sơn. Hoàng Ngũ Phúc sai Hoàng Đình Thể, Hoàng Phùng Cơ đánh Tây Sơn ở Cẩm Sa, Nguyễn Nhạc phải rút quân về Quy Nhơn. Nhân lúc Nguyễn Nhạc thua trận, tướng Nguyễn là Tống Phúc Hiệp từ Bình Khang đánh ra Phú Yên, Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương trốn thoát khỏi Tây Sơnquân Tây Sơn thua trận ở Phú Yên phải rút về Quy Nhơn.

3. Tình thế của Nguyễn Nhạc rất nguy ngập, bèn sai người đến chỗ Hoàng Ngũ Phúc xin đầu hàngvà xin làm tiên phong cho quân Trịnh đánh quân Nguyễn. Hoàng Ngũ Phúc cũng muốn mượn sức Tây Sơn diệt chúa Nguyễnnên nhân danh chúa Trịnh, Ngũ Phúc chấp nhận Nhạc, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem sắc, ấn, cờ đến phong Nguyễn Nhạc làm “Tây Sơn trưởng hiệu tráng tiết tướng quân”. Dù thế, quận Việp lão luyện vẫn không lui quân, đóng sát địa giới Quảng Ngãi, định chờ nếu Tây Sơn bại trận sẽ tiến vào chiếm Quảng Ngãi và Quy Nhơn. Nhân lúc Tây Sơn mang quân vào đánh Phú Yên, quận Việp liền lấn tới đóng quân ở Chu Ổ thuộc Quảng Ngaĩ. 

Tháng 7 năm 1775, nghe tin Nguyễn Huệ thắng quân Nguyễn chiếm lại Phú Yên, quận Việp án binh lại. Theo yêu cầu của Nguyễn Nhạc, quận Việp phong chức cho Nguyễn Huệ làm “Tây Sơn hiệu tiền tướng quân”. Ít lâu sau, quân Trịnh bị bệnh dịch chết khá nhiều, quận Việp tuổi già sức yếu bèn bỏ Quảng Nam lui về Phú Xuân, rồi giao thành Phú Xuân cho Bùi Thế Đạt, còn mình dẫn đại quân về Bắc. Tháng 10 năm đó, quận Việp bị bệnh chết trên đường về. Lần đầu tiên sau 150 năm Nam chinhquânTrịnh tới được Quảng Nam. Cũng lần đầu tiên chúa Nguyễn mất toàn bộ đất buổi đầu Thuận - Quảng, bị dồn vào Nam Bộ, mảnh đất chúa Nguyễn mới đặt bộ máy hành chính của mình chưa đầy 100 năm.

VI. Thăng Long thất thủ, Tây Sơn thắng lợi.

Chỉ hơn 10 năm sau thắng lợi chúa Nguyễn ở Phú Xuân, giờ đây chính kinh thành Thăng Long của chúa Trịnh lại bị thất thủ vào tay Nguyễn Tây Sơnvà chúa Trịnh cũng mất theo. Trong khi đó, chúa Nguyễn sau khi bị đánh bật khỏi đất Nam Bộ phải đi lưu vong. Cuối cùng, chúa Nguyễn đã trở về đánh thắng nhà Nguyễn Tây Sơn, khôi phục lại lãnh thổvà Nguyễn Ánh trở thành người cai trị của cả nước Đại Nam, mở đầu Vương triều Nhà Nguyễn./.

(Hết chương 1)

 

 

 

 

 

  


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét