Chương XI: 34 CHUYỆN KỂ VỀ CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG CỦA HỌ TẠI VIỆT NAM, QUỐC GIA THỨ TƯ TỪNG BỊ PHÂN RANH QUỐC GIA-CỘNG SẢN (THỜI KỲ 1955-1964).
(72 trang và 46.644 chữ).
I. VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Bài 239: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN BẮC 1955-1960.
Lê Xuân Đỗ
Chính quyền Việt Nam dân chủ Cộng hoà là Chính quyền Quản lý miền Bắc Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954. Tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa I từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955, Quốc hội đã thông qua quyết định mở rộng Chính phủ: Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng được cử làm Thủ tướng Chính phủ, và hai Phó Thủ tướng: Phan Kế Toại kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Võ Nguyên Giáp kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đến Kỳ họp thứ mười, từ ngày 20 đến ngày 27 tháng 5 năm 1959, Quốc hội phê chuẩn việc cử Phạm Văn Bạch giữ chức Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao.
Tình hình Miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1959 là thời kỳ phục hồi, tổ chức, xây dựng lại đất nước, và tích lũy để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp tới. Về Nông nghiệp miền Bắc không thuận lợi như miền Nam do đất canh tác ít hơn, lại hay bị lũ lụt. Nông nghiệp miền Bắc có những năm thậm chí còn không đủ để nuôi sống người dân chứ đừng nói đến thặng dư xuất khẩu. Nhưng, miền Bắc có thuận lợi về khoáng sản để phát triển công nghiệp. Chiến tranh cũng đã tàn phá nặng nề cơ sở vật chất, các công trình cầu đường bị phá hủy, nhiều làng xóm bị đốt trụi.
Những người lãnh đạo bắt tay vào việc tổ chức, xây dựng đất nước theo “mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên xô và Trung quốc, đặc biệt là vận dụng các phương pháp cực đoan của Mao Trạch Đông trong "công tác phát động quần chúng", “đấu tranh giai cấp”, và “thực hành chuyên chính vô sản”. Các chiến dịch Cải cách ruộng đất; Hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo tư bản tư doanh. Chống Nhân văn Giai phẩm đã san bằng các thành phần xã hội, tiêu diệt giai cấp tư sản, địa chủ…Đời sống xã hội dựa trên nguyên tắc kỷ luật hoá cao độ, các quyền tự do các nhân và các tổ chức bị hạn chế tối đa.
Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố: Thời kỳ khôi phục kinh tế đã kết thúc và mở đầu thời kỳ phát triển kinh tế một cách có kế hoạch. Tháng 11/1958, Đảng Lao động quyết định đề ra kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa trong 3 năm 1958-1960 và tiến hành Cải tạo xã hội chủ nghĩa được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 12 năm 1958. Đến cuối năm 1960, ở miền Bắc có 84,8% số hộ nông dân đã gia nhập hợp tác xã, chiếm 76% tổng diện tích canh tác, 520 hợp tác xã ngư nghiệp chiếm 77,2% tổng số hộ đánh cá, có 269 hợp tác xã nghề muối chiếm 85% tổng số hộ làm muối.
Ở thành thị, 100% số cơ sở công nghiệp tư bản tư doanh thuộc diện cải tạo đã được tổ chức thành xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp tác, 1.553 doanh nhân thành người lao động. Có 90% tổng số thợ thủ công trong diện cải tạo đã tham gia các hợp tác xã thủ công nghiệp, trong đó hơn 70.000 thợ thủ công chuyển sang sản xuất nông nghiệp. Trong lĩnh vực thương nghiệp, 60% tổng số người buôn bán nhỏ, làm dịch vụ, kinh doanh ngành ăn uống thuộc diện cải tạo đã tham gia hợp tác xã, tổ mua bán, làm đại lý cho thương nghiệp quốc doanh và trên 10.000 người đã chuyển sang sản xuất.
Theo Đại cương Lịch sử Việt Nam do Lê Mậu Hãn chủ biên, trong bối cảnh phương Tây đang tiến hành gây rối loạn ở hệ thống xã hội chủ nghĩa từ đầu năm 1955, lực lượng tình báo nước ngoài đã kích động một bộ phận văn nghệ sĩ có chính kiến đối lập tạo nên Phong trào Nhân văn Giai phẩm. Ban đầu, phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ phê phán những sai lầm, nhưng về sau dần phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, phủ nhận quyền lãnh đạo duy nhất của đảng Lao động Việt Nam về Chính trị và Nhà nước thậm chí kích động kêu gọi nhân dân xuống đường biểu tình.
Cuối năm 1956, chính quyền quyết định chấm dứt Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. Ngày 10/4/58, những người liên can đến vụ Nhân Văn 1956 bị ghép tội “Gián điệp” bắt giam gồm: Nữ sĩ Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Lê Nguyên Chí.v.v. Ngày 17/4/58, nhiều nhà văn nghệ như Đào Duy Anh, Văn Cao, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Từ Phác, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Cầm, Trần Duy, Trần Dần, Thụy An, Hoàng Tích Linh.v.v. bị Tổng cục Chính trị kết tội phản động, phản đảng, phản Mác-Lê. Ngày 19/1/60, Nguyễn Hữu Đang, Lê Nguyên Chí, Trần Thiếu Bảo bị Toà án Hà Nội kêu án khổ sai hoặc tù về tội “gián điệp Mỹ”.
Trong thời kỳ này, xã hội Miền Bắc hoàn toàn bị chi phối bởi sự điều khiển của chính quyền, các quyền dân sự bị thu hẹp, các quyền tự do chính trị, tự do ngôn luận, xuất bản báo chí bị hạn chế tối đa, quyền làm việc, cư ngụ, đi lại, giao thiệp, cưới hỏi đều phải có sự cho phép của Nhà nước. Đời sống xã hội dựa trên nguyên tắc kỷ luật hóa cao độ dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng Lao động Việt Nam. Xã hội nhanh chóng chuẩn bị cho cuộc sống quân sự hóa cao "Toàn dân - Toàn diện" theo phương châm "Mỗi người dân đều là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài".
Việc hiện đại hóa quân đội được tiến hành, nhưng chậm và không đồng bộ, nhiều Sư đoàn bộ binh được thành lập thêm, nhưng vẫn mang tính bộ binh đơn thuần, hỏa lực hạng nặng thiếu và chắp vá. Quân đội chưa có các quân binh chủng kỹ thuật cao như không quân, radar, hải quân, tăng, thiết giáp... còn đang trong quá trình sơ khai; phương tiện vận tải, thông tin liên lạc còn yếu kém. Vào cuối năm 1959, miền Bắc đã bí mật cho tiến hành thăm dò, phát triển tuyến đường tiếp vận chiến lược: Đường Trường Sơn còn được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh.
Sydney ngày 15 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.141 chữ)
Bài 240: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN BẮC 1955-1960
(tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Tại miền Nam, Theo Hiệp định Genève, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến Đông Dương (1945-1955) sẽ rút khỏi lãnh thổ của phía bên kia. Lực lượng chính quy của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam phải di chuyển về phía Bắc vĩ tuyến 17, lực lượng bán vũ trang và chính trị được bố trí ở lại. Theo ước tính của Mỹ, vẫn còn 100.000 cán bộ, đảng viên các ngành vẫn được bố trí ở lại. Việt Minh cũng chôn giấu một số vũ khí và đạn dược tốt để sử dụng khi cần. Lợi dụng các tổ chức hợp pháp Việt Minh tập hợp quần chúng đấu tranh chính trị đòi Tổng tuyển cử thống nhất đất nước, các vụ bạo lực chỉ giới hạn ở mức tổ chức các vụ ám sát dưới tên gọi diệt ác trừ gian.
Từ tháng 6 năm 1955, Việt Nam Cộng hoà mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu càn quét những khu từng là căn cứ kháng chiến chống Pháp của Việt Minh. Điều 7 Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1956 quy định "Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp". Việt Nam Cộng hòa "kêu gọi" những người cộng sản đang hoạt động bí mật ly khai tổ chức, ra "hợp tác" với chế độ mới. Chính phủ tiến hành các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, cưỡng ép những người bị bắt từ bỏ chủ nghĩa cộng sản.
Tháng 12 năm 1956, Xứ uỷ Nam Bộ mở Hội nghị Phnompenh, Campuchia. Hội nghị ra quyết định "Con đường tiến lên của Cách mạng miền Nam là phải dùng bạo lực, tổng khởi nghĩa giành chính quyền... Hiện nay, trong chừng mực nào đó phải có lực lượng vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tới sau này dùng nó đánh đổ Mỹ Diệm... cần tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập đội vũ trang bí mật, tranh thủ vận động cải tạo lực lượng giáo phái bị Mỹ Diệm đánh tan, đứng vào hàng ngũ nhân dân, lợi dụng danh nghĩa giáo phái ly khai để diệt ác ôn."
Từ đây, lực lượng cộng sản toàn miền Nam đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, tổ chức biểu tình, chống cải cách điền địa, và đấu tranh vũ trang ở mức độ nhỏ như tiêu diệt lực lượng bảo an, ám sát viên chức, sĩ quan, bọn chỉ điểm, "tay sai ác ôn", các đội biệt kích; tổ chức nhân dân vây đồn, vây quận lị; tiêu diệt các khu dinh điền, khu trù mật... Cứ như vậy, sự đối đầu giữa hai bên ngày càng mạnh, hoạt động bạo lực ngày càng gia tăng, nông thôn ở miền Nam ngày càng bất ổn. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà đẩy mạnh các hoạt động chống Cộng, với những biện pháp càn quét khốc liệt khiến những người cộng sản bị thiệt hại nặng.
Đến cuối năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo cho các Liên tỉnh ủy không được hoạt động vũ trang, cán bộ đảng viên tạm ngừng hoạt động hoặc đổi địa bàn hoạt động để giữ gìn lực lượng. Những người đổi địa bàn hoạt động bị bắt hơn phân nửa, một số khác mất tinh thần, bỏ công tác, lo làm ăn. Số còn hoạt động nhiều người bị mất tinh thần, giảm liên hệ với quần chúng, giảm hoạt động tuyên truyền. Ngày 13 tháng 1 năm 1959, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 15 ra Nghị quyết 15 "Về tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà" chính thức phát động đấu tranh vũ trang kèm đấu tranh chính trị.
Tháng 2 năm 1959, sau khi nhận được thông báo nội dung cơ bản Nghị quyết 15, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo các tỉnh tăng cường hoạt động vũ trang, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở nông thôn. Trên toàn miền Nam, những người cộng sản miền Nam thực hiện một số cuộc tấn công vũ trang quy mô cấp trung đội hoặc đại đội vào các đơn vị lực lượng quân sự của Việt Nam Cộng hoà. Ngày 6 tháng 5 năm 1959, Quốc hội Việt Nam Cộng hoà thông qua luật số 91 mang tên Luật 10/59, tổ chức các Tòa án quân sự đặc biệt "xét xử các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa".
Theo Luật 10-59 bị can có thể được đưa thẳng ra xét xử mà không cần mở cuộc điều tra, án phạt chỉ có hai mức: tử hình hoặc tù khổ sai; xét xử không quá 3 ngày; không có ân xá hoặc kháng án; dụng cụ tử hình có cả máy chém. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đẩy mạnh truy quét, bắt bớ, khủng bố, nên lực lượng cộng sản bị thiệt hại hết sức nặng nề. Nhìn chung trong năm 1959, những người cộng sản miền Nam dù vẫn cố gắng tái hoạt động vũ trang, nhưng đang gặp quá nhiều khó khăn. Hàng chục đơn vị vũ trang đầu tiên của người cộng sản ở miền Nam trong những năm 1956-1959 có quân số thất thường, nơi nào cũng có hiện tượng "đào súng lên" rồi lại phải cất giấu súng.
Tuy phong trào đấu tranh chính trị và hệ thống tổ chức Đảng dần phục hồi, nhiều cơ sở quần chúng được xây dựng, nhưng đến lúc này, những người cộng sản miền Nam đã rất suy yếu so với năm 1955 nên rất cần sự hỗ trợ lớn từ miền Bắc. Các đoàn cán bộ từ miền Bắc, phần nhiều từng tập kết ra Bắc năm 1955 bắt đầu được cử vào để chi viện, tăng cường cho miền Nam.
Sydney ngày 16 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.068 chữ)
Bài 241: CHUYỆN KỂ VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (1953-1956).
Lê Xuân Đỗ
Bách khoa Toàn thư mở viết: Tháng 10 năm 1952, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bản "chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam" cho Stalin để "đề nghị xem xét và cho chỉ dẫn" và cho biết chương trình hành động được lập bởi chính ông dưới sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ. Từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 12 năm 1953, tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ".
Ngày 4 tháng 12 năm 1953, Quốc hội thông qua luật Cải cách ruộng đất 197/HL, và Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành ngày 19 tháng 12 năm 1953. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhóm họp, và chỉ định một Ủy ban Lãnh đạo Cải cách Ruộng đất gồm: (1) Hồ Chí Minh, Chủ tịch Đảng Lao động, Chủ tịch nhà nước Việt Nam, Phát động và làm tư tưởng cuộc Cải cách. (2) Trường Chinh, Tổng Bí thư đảng, Trưởng ban chỉ đạo. (3) Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban chỉ đạo thí điểm Thái Nguyên. Lê Văn Lương Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Trưởng ban chỉ đạo thí điểm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh. Hồ Viết Thắng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương đảng, Giám đốc trực tiếp điều hành chiến dịch.
Về phía nhà nước: (1) Chủ nhiệm Ban cải cách ruộng đất Trung ương: Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng. (2) Ba Phó chủ nhiệm: Trường Chinh Tổng Bí thư Đảng Lao động. Nghiêm Xuân Yêm, Bộ trưởng canh nông. Hồ Viết Thắng, Thứ trưởng canh nông, trưởng ban liên lạc nông dân toàn quốc. (3) Các Ủy viên: Trần Văn Đức, ủy viên Trung ương Đảng dân chủ; Nguyễn Công Hoà, ủy viên BCH Tổng liên đoàn lao động. Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng công an; Vũ Đình Hoè, bộ trưởng tư pháp; Tố Hữu, tổng giám đốc nha tuyên truyền và văn nghệ; Linh mục Vũ Xuân Kỳ, ủy viên Liên Việt toàn quốc. Nguyễn Lam, bí thư đoàn thanh niên cứu quốc; Trần Lương, đại biểu quân đội. Phan Tư Nghĩa, Tổng thư ký Đảng xã hội; Tôn Quang Phiệt, đại biểu Ban thường trực Quốc hội….
Chương trình Cải cách Ruộng đất được thực hiện qua bốn bước chính: Huấn luyện cán bộ; Chiến dịch Giảm tô; Chiến dịch Cải cách Ruộng đất; và Chiến dịch Sửa sai. Bước 1: HUẤN LUYỆN CÁN BỘ. Các cán bộ Đảng Lao động tham gia Cải cách ruộng đất được đưa đi học khóa chỉnh huấn 1953 nhằm giúp cán bộ nắm vững đường lối của đảng trong Cải cách ruộng đất, và quán triệt quan điểm. Tổng số cán bộ được điều động vào công tác là 48.818 người. Bước 2: CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ. Chiến dịch Giảm tô được thực hiện qua 6 bước nhỏ: Phân định thành phần; Phân loại địa chủ; Áp dụng thoái tô; Học tập tố khổ, truy bắt địa chủ; Tố cáo địa chủ; Và, Xử án địa chủ.
Bắt đầu chiến dịch Giảm tô, các “Đội Cải cách Ruộng đất” đi vào làng xã, thực hiện "3 Cùng" (cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm) với các bần cố nông trong làng xã, kết nạp họ thành "rễ", thành "cành" của đội, sau đó triển khai chiến dịch theo trình tự 6 bước nhỏ: (1) Phân định thành phần: Tất cả các gia đình trong xã được họ phân loại thành 5 thành phần: (a) địa chủ; (b) phú nông; (c) trung nông (cứng; vừa; yếu) (d) bần nông; (e) cố nông. (2) Phân loại địa chủ: Có 3 loại: Địa chủ gian ác; Địa chủ thường; Địa chủ có ủng hộ kháng chiến. Thành phần “Địa chủ gian ác” bị đội cải cách bắt ngay, và bị quản thúc.
(3) Áp dụng thoái tô: Đối với các gia đình có địa chủ bị bắt và bị quản thúc, Đội cải cách thông báo với họ về các sắc lệnh giảm tô của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bao gồm: Sắc lệnh tháng 11 năm 1945, giảm tô xuống 25%; Sắc lệnh số 87/SL năm 1952 và 149/SL năm 1953 giảm tô thêm 25%. Căn cứ theo đó, địa chủ nào chưa giảm tô cho nông dân thì bây giờ phải trả cho nông dân khoản nợ đó — gọi là "thoái tô". Nếu địa chủ nào không trả đủ nợ thì tài sản bị tịch thu, phân phát cho nông dân. (4) Học tập tố khổ, truy bắt địa chủ: Trước đó, các bần nông, cố nông, "chuỗi", "rễ" được Đội cải cách “cho học một lớp tố khổ” do họ mở, qua đó học viên được nhận dạng các tội ác của địa chủ, đã bóc lột, chèn ép họ như thế nào.
(5) Tố cáo địa chủ: Các buổi tố cáo được tổ chức công khai, thông thường vào ban đêm. Số lượng người tham gia tố cáo từ vài trăm đến cả ngàn người, huy động từ các làng xóm lân cận, và thời gian từ một đến ba đêm tùy theo mức độ tội trạng của địa chủ. Trong buổi đấu tố, các nông dân bước ra tố cáo địa chủ đã bóc lột, áp bức họ như thế nào. Sau khi bị quần chúng tố cáo, các địa chủ được tạm giam trở lại, để chờ tòa án nhân dân xét xử. (6) Xử án địa chủ: Tại các huyện, một Tòa án Nhân dân Đặc biệt được lập ra và đi về các xã xét xử địa chủ. Sau khi kết án, nếu bị kết án tử hình, đội tự vệ xã sẽ thi hành án, có thể là trước công chúng.
Bước 3: CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Sau khi chiến dịch Giảm tô được triển khai nhiều tháng, chương trình Cải cách Ruộng đất chính thức bắt đầu, với hình thức tương tự, nhưng trên địa bàn rộng lớn hơn. Từ cuối năm 1954, dưới sức ép của cố vấn Trung Quốc, chiến dịch cải cách ruộng đất bắt đầu được đẩy mạnh và nhanh, với cường độ lớn. Quyết liệt nhất là ở Thái Bình, nơi có đến 294 xã được đưa vào cải cách. Tổng cộng có năm đợt cải cách ruộng đất từ 1953 đến 1956 tiến hành tại 3.314 xã, 810.000 hecta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho 2 triệu hộ, chiếm khoảng 72,8% số hộ nông dân ở miền Bắc.
Tuy nhiên, ở một góc độ khác, việc thực hiện cải cách ruộng đất đã gây ra nhiều hậu quả lớn. Ở các đợt đầu, cải cách diễn ra có kiểm soát và trật tự, đạt hiệu quả tốt. Nhưng từ giữa năm 1955, do tiến hành vội vã, ở một số nơi đã xuất hiện hiện tượng nông dân địa phương trở nên quá khích, đấu tố tràn lan mất kiểm soát, đã có nhiều người bị oan sai. Do sự quá khích và trình độ dân trí thấp của nông dân địa phương, các gia đình địa chủ có thành tích kháng chiến, kể cả các gia đình có đảng viên, cán bộ, bộ đội phục vụ trong kháng chiến cũng bị tố cáo.
Có những nơi cả cán bộ đảng viên, sĩ quan quân đội cũng bị nông dân địa phương bắt giữ, chính quyền địa phương không dám ngăn chặn vì sợ kích động bạo lực với đám đông quần chúng. Ví dụ như tướng Vương Thừa Vũ, Chủ tịch Ủy ban Quân quản từng bị nông dân địa phương bắt giữ, chính quyền trung ương phải tới can thiệp mới giải cứu được. Mức 5,68% địa chủ trong dân số địa phương là cao hơn rất nhiều so với thực tế. Tổng số người bị quy là địa chủ trong Cải cách ruộng đất đã được thống kê là 172.008 người; trong đó số người bị quy sai là 123.266 người, chiếm tỷ lệ 71,66%.
Bước 4: CHIẾN DỊCH SỬA SAI. Tháng 2/1956, Hội nghị Trung ương đảng lần thứ 9 tuyên bố các sai lầm trong cải cách ruộng đất. Tháng 3/1956, Quốc hội họp lần thứ 4 tường trình bản báo cáo các sai lầm và biện pháp sửa sai. Ngày 18/81956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm và cho biết Trung ương đảng và chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm các sai lầm. Ngày 24/8/1956, báo Nhân dân công bố có một số “đảng viên trung kiên” đã bị hành quyết sai lầm trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất.
Tháng 9/1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương đảng nhận định các nguyên nhân đưa đến sai lầm, và thi hành biện pháp kỷ luật đối với Ban lãnh đạo chương trình Cải cách Ruộng đất như sau: ông Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư đảng, nhưng vẫn là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; ông Hoàng Quốc Việt ra khỏi Bộ Chính trị, xuống ủy viên Trung ương; ông Lê Văn Lương ra khỏi Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và Bí thư Trung ương Đảng xuống ủy viên dự khuyết TW; và ông Hồ Viết Thắng bị loại ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Có hơn 70% người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông là quy sai. Có trường hợp là cán bộ, đảng viên lãnh đạo cũng bị dân chúng kéo đến đấu tố mà không cần chứng cứ. Chẳng hạn như: Phó Bảng Đặng Văn Hướng, Bộ trưởng phụ trách Thanh - Nghệ - Tĩnh của Chính phủ, là bố đẻ Đại tá Đặng Văn Việt, Trung đoàn trưởng đầu tiên, anh hùng lực lượng vũ trang Việt Minh, khi ông Hướng về quê đã bị dân địa phương đấu tố, vì ông Hướng từng làm quan cho triều Nguyễn, ông không bị bắn, nhưng tự tử chết tại quê nhà Diễn Châu.
Hoàng Giáp Thượng Thư Nguyễn Khắc Niêm cha của nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện cũng bị dân địa phương tại quê nhà Hương Sơn, Hà Tĩnh quy tội vì từng làm quan to cho triều Nguyễn, bị giam trong chuồng nuôi hươu, phải ăn cả cơm thiu, gạo hẩm. Ông Phan Đăng Dư cha của Phan Đăng Lưu, Uỷ viên thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ông Dư bị quy địa chủ, và kết án 20 năm tù, giải đi nhà lao Bến Hới (Tân Kỳ), sau đó qua đời trên đường đi. Dân điạ phương gọi là ông Phán Dư, vì ông có ba người con làm Thông phán Phan Đăng Lưu (Phán Tằm), Phan Đăng Triều (Phán Triều), Phan Đăng Tài (Phán Tài). Cả ba người đều theo cách mạng.
Hoặc bà Nguyễn Thị Năm, mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, và Trường Chinh, có con trai Nguyễn Văn Cônglà trung đoàn trưởng lớp đầu tiên của Quân đội Nhân dân. Bà Năm cũng đã từng hiến 100 lạng vàng cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khi mới thành lập. Hoặc trường hợp Thiếu tướng Vương Thừa Vũ, Tư lệnh Đại đoàn 308, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Hà Nội cũng bị một nhóm người dân bắt ở ngoại thành Hà Nội vì có người tố cáo ông là "địa chủ, có xuất thân là tư sản, lập trường chính trị không rõ ràng".
Trong Cải cách ruộng đất, Đảng Lao động Việt Nam cũng thực hiện chỉnh huấn. Tổng số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật trong Chỉnh huấn là 84.000 người, chiếm tỷ lệ hơn 55%. Có những chi bộ tốt lại bị người dân tố cáo là chi bộ phản động, bí thư hoặc chi ủy viên chịu kỷ luật nặng, có bí thư bị xử bắn. Tình hình chỉnh đốn ở cấp huyện và cấp tỉnh cũng hỗn loạn, số cán bộ lãnh đạo các cấp này bị kỷ luật oan sai cũng chiếm tỷ lệ lớn. Hà Tĩnh là tỉnh cá biệt, có 19 cán bộ tỉnh ủy viên, công an, huyện đội tham dự chỉnh đốn đảng đều bị kỷ luật.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói về tình trạng kết án sai trong bài diễn văn đọc trước Mặt Trận Tổ Quốc, ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại Hà Nội: Qua cuộc Cải cách ruộng đất ta thấy bao nhiêu các chiến sĩ cách mạng với thành tích lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai huy chương kháng chiến, bị kết án là phản động, cường hào gian ác, và sau khi nhận tội, bị tống giam hay bị hành hình. [...] Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói được, họ chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng, vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được?”. (Hết trích)
Sydney ngày 17 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 2.393 chữ)
Bài 242: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (1953-1956).
Lê Xuân Đỗ
Sách từ Thực dân tới Cộng sản, Hoàng Văn Chí viết: Cộng sản thực hiện Cải cách Ruộng đất bằng hai chiến dịch liên tiếp: CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ (CDGT) vào những năm 1953 và 1954, và CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (CDCCRĐ) vào những năm 1954 và 1956. Năm 1955, cộng sản tạm thời đình chỉ cải cách ruộng đất vì, theo Hiệp định Genève sẽ có 300 ngày, để người ta có thể vào Nam hoặc ra Bắc, và đã có gần một triệu người từ Bắc di cư vào Nam. Hết thời hạn 300 ngày, nhất là, sau khi chiếm đóng Hải Phòng, hải cảng cuối cùng, người Bắc không thể thoát vào Nam được, họ tiếp tục đấu tố trở lại.
Mục đích của “Giảm tô” và “Cải cách Ruộng đất” là tiêu diệt toàn bộ giai cấp địa chủ để tiến tới việc thành lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn. Nói một cách rõ hơn thì Chiến dịch Giảm tô cốt tiêu diệt sơ bộ những phần tử “có máu mặt” ở nông thôn, mà cộng sản gọi là “phản động chính”, tịch thu tiền bạc, nữ trang hoặc châu báu, tức là những “của nổi, của chìm” mà họ giấu giếm hoặc giao cho gia đình, quyến thuộc cất giữ. Còn Chiến dịch Cải cách Ruộng đất nhằm vào những người chỉ “có đủ bát ăn”, mệnh danh là “phản động phụ”. Nhóm thứ hai này tương đối nghèo hơn, không có vàng bạc châu báu.
Muốn có một ý niệm rõ ràng hơn, chúng ta hãy lấy một ví dụ sau đây: Giả sử trong một làng nào đó có 25 gia đình tạm gọi là A, B, C, D, vân vân, theo thứ tự bản mẫu tự và theo giầu, nghèo. A giầu nhất và Z nghèo nhất. Lúc khởi đầu CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ, Đảng dạy cho nông dân cách phân định nhân dân trong làng thành nhiều thành phần khác nhau. Chiếu theo bản điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn, mà họ phải học tập kỹ lưỡng trong 10 hôm. Sau đó, họ phân định dân làng, đại khái theo thứ tự sau đây:
- · A, B, C: địa chủ
- · D, E, F: phú nông
- · G, H, I, J: trung nông cứng
- · K, L, M, N: trung nông vừa
- · O, P, Q, R: trung nông yếu
- · S, T, U, V: bần nông
- · X, Y, Z: cố nông
Đồng thời cộng sản cũng đề ra khẩu hiệu: “Dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông để tiêu diệt địa chủ”. Cộng sản kêu gọi những người từ G đến Z thành lập một khối Liên minh hùng hậu để tiêu diệt mấy kẻ bất hạnh: A, B, C bị quy là “địa chủ”. Những phú nông D, E, F kế sát với địa chủ A, B, C không được phép tham gia đấu tranh, nhưng được hứa hẹn “yên thân” nếu “ngoan ngoãn”. Đấy là ý nghĩa của khẩu hiệu “Liên hiệp phú nông”.
Những người được quy là “phú nông D, E, F” hết đỗi mừng rỡ vì lẽ ranh giới giữa “địa chủ” và “phú nông” quả là huyền huyền ảo ảo, không một người nào có thể biết trước mình sẽ là địa chủ hay phú nông. Trung nông được vinh dự đứng cùng hàng ngũ với bần cố nông cũng mừng rơn, vì cảm thấy sẽ được an toàn dưới chế độ mới, mặc dầu không phải là “Cánh ta”. Để củng cố lập trường, họ hăng hái đấu tranh chống mấy tên A, B, C. Họ muốn chứng minh với Đảng họ đứng hẳn về phe đảng, phe bần cố nông.
Theo lệ thường, A sẽ bị bắn trước công chúng, B sẽ bị án khổ sai, nặng nhẹ tuỳ trường hợp. Nhưng câu chuyện đến đấy chưa phải là hết. Khoảng một năm sau, Đảng lại phái một Đội cải cách thứ hai tới làng để phát động một cuộc khủng bố thứ hai: đó là CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Một đoàn cán bộ mới tới làng, quan sát qua loa, rồi tuyên bố rằng việc phân định thành phần năm trước cả làng đã làm sai. Họ nói: “Các đồng chí nông dân không nắm vững các tiêu chuẩn phân định thành phần, nên năm ngoái đã để quá nhiều địa chủ LỌT LƯỚI”.
Họ bắt nông dân học tập lại bản Điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn và thúc đẩy nông dân phát hiện thêm địa chủ. Họ nói rằng theo sự tính toán rất khoa học của các đồng chí cố vấn Trung Quốc, đã điều tra rất cẩn thận ở các làng thì lẽ ra số địa chủ phải nhiều hơn gấp bội. Họ bắt nông dân quy định thành phần lại, và lần này những người D, E, F (trước đây là phú nông) và G, H, I, J (trước đây chỉ là trung nông cứng) đều trở thành địa chủ, trong khi K, L, M, N (trung nông vừa) trở thành phú nông v.v. Như vậy tổng số địa chủ mới “tìm ra” đông gấp 5 lần số địa chủ phát hiện trong Chiến dịch Giảm tô năm trước.
Theo lệnh của Trung ương đảng, con số tối thiểu những án tử hình cũng tăng từ 1 lên 5 tại mỗi xã. Con số những người tự tử hoặc chết đói vì chính sách “cô lập địa chủ” cũng tăng theo. Tổng số nạn nhân của phong trào Cải cách ruộng đất tại Bắc Việt chưa hề được công bố, nhưng nếu tin lời ông Gérard Tongas, một giáo sư Pháp ở lại Hà Nội cho tới năm 1959 thì “kết quả của cuộc tàn sát kinh khủng này là một trăm ngàn người”. Cho tới nay chưa một ai có thể ước lượng được số người chết trong hai chiến dịch LONG TRỜI LỞ ĐẤT này, nhưng theo lời những người vượt tuyến vào Sài Gòn năm 1957 thì khắp các vùng nông thôn Bắc Việt nhân dân mang toàn khăn trắng.
Sydney ngày 18 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.082 chữ)
Bài 243: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VIỆC “HUẤN LUYÊN CÁN BỘ” CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (1953-1956).
Lê Xuân Đỗ
“Tiến trình Cải cách Ruộng đất” gồm bốn bước: Huấn luyện cán bộ; Chiến dịch Giảm tô; Chiến dịch Cải cách Ruộng đất, và Chiến dịch sửa sai.
HUẤN LUYỆN CÁN BỘ. Người ngoài cuộc thường hay nói đến danh từ “tẩy não”và thường không biết có nhiều loại “tẩy não” khác nhau. Hình thức nặng nhất là “quản huấn” dành riêng cho “địa chủ ngoan cố”; hình thức vừa vừa, gọi là “cải tạo” dành cho tù binh ngoại quốc. Các hình thức này đều nặng về khủng bố tinh thần, và nhẹ về thuyết phục. Chỉnh huấn thì trái lại, nặng về thuyết phục và tương đối nhẹ về khủng bố, vì mục đích của chỉnh huấn là “thêm bạn bớt thù”. Chỉnh huấn bắt đầu trở thành “quốc sách” năm 1949, sau khi Trung cộng thành lập chế độ Dân chủ Nhân dân.
Từ ngày ấy trở đi, theo thường lệ mỗi lần cộng sản thay đổi đường lối là một lần tất cả cán bộ chính quyền và đảng viên, từ bộ trưởng xuống đến thư ký hạng bét, phải đi chỉnh huấn để học tập chính sách mới của Đảng. Đúng như Trường Chinh đã nói:“Mỗi công tác tư tưởng đều nhằm một mục tiêu chính trị”. Như vậy, mục đích chỉnh huấn là nhằm sửa soạn tinh thần cán bộ trước khi thực hiện một chính sách mới, để đến khi thực hiện, cán bộ không thể phản ứng và mọi việc được êm đềm.
Học viên khoá chỉnh huấn năm 1953-1954 đều là “bạn”: đảng viên, cán bộ và một số “nhân sĩ tiến bộ”. Tất cả đều học một chương trình, nhưng tuỳ theo cấp bực công vụ và tuỳ theo trình độ hiểu biết chính trị, họ được chia thành nhiều loại: Đảng viên cao cấp, cán bộ trung ương và một số nhân sĩ quan trọng, lên Việt Bắc học. Địa điểm dạy gần nơi Chính phủ trung ương để ông Hồ và ông Trường Chinh có thể thân hành đến dạy. Đảng viên, cán bộ cấp giữa và một số nhân sĩ địa phương, học tại khu, do khu uỷ phụ trách giảng dạy. Đảng viên và cán bộ cấp dưới học ở tỉnh, do tỉnh uỷ giảng dạy. Công nhân và nhân viên cấp dưới học ngay tại chỗ: sau giờ làm việc, buổi chiều hoặc tối.
Địa điểm chỉnh huấn bao giờ cũng đặt sâu trong chiến khu ở những nơi rất hẻo lánh. Học viên tạm trú trong nhà nhân dân địa phương, còn giảng đường thì do học viên xây cất lấy, bằng sàn gỗ và tre nứa đốn trong rừng. Chủ nhật, học viên phải vào rừng đốn củi cho nhà bếp nấu cơm. Mỗi người đi dự chỉnh huấn phải mang theo quần áo, chăn mùng, một cái bát, một đôi đũa, và một số tiền tương đương với giá một trăm cân gạo cho 3 tháng. Tiền ăn 75 cân (mỗi tháng 25 cân), tính mỗi người ăn hết 15 cân gạo, còn mắm muối hết 10 cân. Số tiền tương đương với 25 cân còn lại tính vào phí tổn giấy bút, dầu đèn, và tài liệu quay bằng rô-nê-ô.
Học viên chia thành từng tổ, mỗi tổ ba người: tổ trưởng là một đảng viên có trách nhiệm điều tra và kiểm soát hai tổ viên khác không đảng. Mỗi tổ ở nhờ một gia đình nông dân và mỗi ngày hai lần cử một tổ viên đến ban “cấp dưỡng” (nhà bếp) lĩnh thức ăn do các “anh nuôi” (đầu bếp) cấp phát. Mỗi lần đi mang theo một cái rổ và một cái nồi đất mượn của chủ nhà, rổ để đựng cơm và nồi để đựng canh. Cơm nấu bằng gạo “mậu dịch” để lâu trong kho nên thường mốc, và thức ăn là rau nấu với muối. Mỗi tuần lễ được ăn thịt một lần nhưng thịt cắt thành từng miếng nhỏ nấu lẫn với rau.
Thịt hiếm đến nỗi người phụ trách lĩnh cơm thường phải vớt ra chia từng miếng cho đều để khỏi hơn thiệt. Những người có tiền mang theo cũng bắt buộc phải ăn uống như vậy vì trước khi tới trại, đảng uỷ đã ra lệnh cấm dân địa phương không được mua bán thức ăn cho các học viên. Học viên không được phép ra khỏi khu vực, không được liên lạc với xã hội bên ngoài; được phép viết thư về nhà (qua kiểm duyệt), nhưng không được nhận thư ở ngoài gửi đến. Thư từ gửi đến đều bị giữ lại, chờ khi nào mãn khoá mới được nhận. Có trường hợp một bác sĩ (Trịnh Đình Cung) chỉnh huấn xong, mới nhận được thư báo vợ chết, từ hai tháng trước.
Kỷ luật trong trại chỉnh huấn cũng đại khái như trong trại lính. Sáng dậy từ 6 giờ, tập thể thao nửa giờ. Học từ 7 đến 11 giờ. Về nhà ăn cơm và nghỉ từ 11 giờ đến 1 giờ, rồi lại học từ 1 giờ đến 5 giờ, ăn cơm tối và làm bài vở từ 7 đến 10 giờ tối. Mười lăm phút trước khi đi ngủ dành cho “hội thảo” tức là trong tổ kiểm thảo lẫn nhau qua loa về hành vi trong ngày. Chủ nhật ra suối tắm và công tác lao động như vào rừng kiếm củi cho nhà bếp, hoặc đào hầm trú ẩn để tránh máy bay. Tối thứ Bẩy có biểu diễn văn nghệ do học viên trình bày. Trong một khoá được xem chiếu bóng một lần, phim Nga hoặc phim Tầu.
Sydney ngày 19 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 989 chữ)
Bài 244: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VIỆC “HUẤN LUYÊN CÁN BỘ” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Mỗi khoá chỉnh huấn gồm một số bài sắp xếp như thế nào đó để tuần tự đưa học viên đến một mục đích nhất định. Mỗi bài phải học chừng nửa tháng, mất tất cả chừng 150 giờ. Cách thức giảng dạy đã được nghiên cứu rất tỉ mỉ: (a) Tất cả học viên (vào khoảng 500) họp tại giảng đường. Mỗi người được phát một tài liệu quay rô-nê-ô. Một đại diện Đảng giảng bài và các học viên ghi chép tại lớp giảng. (b) Học viên về tổ thảo luận nội dung các danh từ dùng trong bài học, ý nghĩa từng đoạn văn một nếu có đoạn nào tối nghĩa quá, cả tổ không ai hiểu thì tổ trưởng báo cáo với ban giáo uỷ.
(c) Sau khi nhận được báo cáo các tổ gửi đến, ban học uỷ giải thích lại cho toàn thể lớp học. Đôi khi ban học uỷ chấp nhận ý kiến học viên đề nghị sửa chữa một vài danh từ cho rõ nghĩa hơn. (d) Mỗi học viên lần lượt phát biểu ý kiến của mình. Đảng khuyến khích mọi người thẳng thắn nói lên ý kiến của mình. Theo thường lệ mỗi người đều nêu lên một vài thắc mắc, vì nếu không nêu thắc mắc tức là giấu kín ý nghĩ của mình. Càng thắc mắc bao nhiêu càng có vẻ thành khẩn bấy nhiêu. Sau khi một tổ viên nêu thắc mắc, thì hai tổ viên khác tìm cách đả thông. Nhưng nếu trong tổ không đả thông nổi thì tổ trưởng lập tức báo cáo lên ban học uỷ..
(e) Sau khi tập trung tất cả thắc mắc, ban học uỷ triệu tập học viên tới giảng đường để đả thông. Đại diện Đảng đọc lên từng thắc mắc một, và lần lượt đả thông cho cả lớp nghe. (f) Học viên lại trở về tổ để thảo luận về những câu giải thích của đại diện Đảng. Nếu có người vẫn nhất định không chấp nhận, đảng uỷ cử một giáo viên đến tận nhà để đả thông tư tưởng cho học viên kể trên. Nếu giáo viên đả thông không nổi thì ông Trường Chinh, tổng bí thư Đảng đến. Nếu ông Trường Chinh cũng không thuyết phục nổi thì ông Hồ thân hành đến để thuyết phục cho kỳ được.
(g) Trong thời gian học, ban giáo ủy tổ chức một vài buổi thực nghiệm. Thí dụ, trong khi học bài về chế độ thực dân thì Đảng mời một cán bộ trước kia đã bị giam ở Sơn La hoặc Lao Bảo đến kể chuyện cho cả lớp nghe ngày trước họ bị hành hạ dã man như thế nào. Trong khi học bài nói về Cải cách ruộng đất, thì cả lớp được đi dự một cuộc đấu tố gần đấy. (h) Sau khi học xong một bài, nghĩa là tất cả học viên đã hoàn toàn công nhận quan điểm của Đảng đối với vấn đề trình bày trong bài, thì mỗi người bắt đầu viết một bài “KIỂM THẢO SƠ BỘ”.
Mỗi học viên phải căn cứ vào những điểm mới học được để tự xét mình và nói ra những hành động và tư tưởng mà bây giờ, nhờ sự giáo dục của Đảng, mình nhận thấy là sai. Thí dụ, sau khi học xong bài về chế độ thực dân thì học viên phải bộc lộ thái độ của mình, ý nghĩ, việc làm công chức cho Pháp trước kia là có lợi cho chính quyền thực dân Pháp. Để giúp các học viên nhớ lại các “tội lỗi” cũ, ban giáo uỷ đọc cho cả lớp nghe một bản lược kê những “tội lỗi” mà học viên mấy khoá trước đã bộc lộ. Ban giáo uỷ cũng đọc cho nghe những bản bộc lộ điển hình của mấy nhân vật có tiếng tăm, nghệ sĩ, văn sĩ, như Nguyễn Tuân chẳng hạn.
(i) Sau khi mọi người đã viết xong bản “Kiểm thảo sơ bộ” thì tổ trưởng mang nộp cho ban giáo uỷ. Ban giáo uỷ đọc qua và chọn những bản xuất sắc nhất, nghĩa là những bản kê khai những tội ghê gớm nhất, rồi mời tác giả mấy bản kiểm thảo này ra trước lớp học bộc lộ công khai cho mọi người thưởng thức. Cả lớp chăm chú nghe thỉnh thoảng hô “đả đảo” (tội lỗi nào đó), nhưng cấm không được ghi chép. Có người công khai thú nhận đã làm Việt gian cho Pháp; có người vừa khóc nức nở vừa bộc lộ là đã gian dâm với em gái. Không ai hiểu họ nói thực hay họ bịa để tâng bốc Đảng, ra vẻ nhờ Đảng đã giáo dục mà nay quyết tâm lột bỏ cái “xác” dơ bẩn thuở trước.
(k). Sau khi học hết chương trình mỗi học viên phải viết một bản lý lịch và một “TỔNG KIỂM THẢO”. Nhà trường dành riêng cho hai tuần để viết hai bản này, mỗi bản viết vào một quyển vở 60 trang, và viết hai lần, tức là bốn quyển vở tất cả. Bản lý lịch ghi đủ tên, họ, nơi và ngày sinh, lịch trình học vấn, nghề nghiệp, chức vụ, khả năng về ngoại ngữ, bằng cấp, thành tích công tác, khen thưởng, v.v. Điểm đặc biệt là phải khai mọi khoản rất tỷ mỷ. Tỉ dụ về thành phần phải khai rõ ba họ: họ nội, họ ngoại và họ nhà vợ (hoặc nhà chồng) cho đến tam đại. Phải nêu rõ ảnh hưởng tốt hoặc xấu của những người trong gia đình và trong ba họ.
Học viên cũng phải khai ảnh hưởng của thầy hoặc cô giáo, của bạn học, của đồng nghiệp, ảnh hưởng của các sách vở đã học, của các tác giả, các nhà văn, những triết lý nào đã ảnh hưởng đến tính tình và tư tưởng của mình. Sau đấy phải ghi rõ những tư tưởng và hành động chính trị, giải thích cặn kẽ lý do tại sao đã thay đổi tư tưởng. Cuối cùng học viên phải trả lời những câu hỏi như: công tác hiện thời? Lương bổng? Tài sản? Gia cảnh? Đời sống gia đình? Tình hình tài chính? v.v. Bản lý lịch đầy đủ tới mức bất cứ ai đọc cũng biết ngay hoàn cảnh và thành phần của đương sự, có thể nhận định đương sự là hạng người như thế nào.
Viết bản “Tổng kiểm thảo” là công việc khó khăn và cực nhọc nhất, mặc dầu mọi người đã từng hơi quen với công việc bằng cách viết các bản “Kiểm thảo sơ bộ”, sau mỗi bài học. Thú nhận các tội lỗi không phải là việc khó, mà chỉ khó ở chỗ không “moi” đâu ra cho đủ tội lỗi sai lầm, thiếu sót, để viết cho đầy 60 trang giấy. Tuy nhiên, khó dễ cũng tuỳ thành phần xã hội và hoàn cảnh sinh hoạt của mỗi người. Văn nghệ sĩ chỉ cần phải “tự phê” một cách nghiêm khắc, “đấm ngực xưng tội và từ bỏ” tất cả các sáng tác cũ, dù là tác phẩm hay nhất của mình. Nhưng về phần kết luận các văn nghệ sĩ vẫn phải tỏ ý tán thành chính sách cải cách ruộng đất mặc dầu không có liên hệ trực tiếp.
Trái lại, viết bản “Tổng kiểm thảo” quả là gay go đối với những học viên thuộc thành phần địa chủ, vì họ bị lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan: hoặc phải tự gán cho mình đủ thứ tội lỗi đối với nông dân, hoặc để mặc nông dân quy mình là địa chủ gian ác khi nào chiến dịch Cải cách Ruộng đất lan đến làng mình. Họ bị kẹp ở giữa hai gọng kìm: một bên là tam đoạn luận “Địa chủ là gian ác, anh là địa chủ, vậy thế tất anh phải gian ác” và một bên là lời cảnh cáo rất nhẹ nhàng “Nếu anh không chịu bộc lộ hết tội lỗi nông dân bộc lộ hộ anh”. Đảng đã trịnh trọng tuyên bố rằng “bất cứ tội gì, hễ thành thật bộc lộ sẽ được tha thứ”.
Tuy nhiên cũng có một số học viên, vì khí khái “Trí thức-tiểu tư sản” không chịu “sáng tác” tội lỗi để viết cho đầy trang, mà trái lại chỉ ngồi ngậm bút hoặc kê khai những “thiếu sót” vớ vẩn không đáng kể là “tội”, không vừa ý Đảng. Như vậy là hễ chiến dịch Cải cách ruộng đất lan tới làng họ, những học viên kể trên thế tất sẽ bị quy là “địa chủ cường hào gian ác” và sẽ bị “tố” vô số tội lội tầy trời. Chỉnh huấn quả thực là “một nơi luyện tội” để những linh hồn không được trong sạch lắm, nhưng còn có thể cứu vớt được, trút rửa tất cả những tư tưởng phản động để thoát khỏi địa ngục “kẻ thù của nhân dân”.
Sydney ngày 20 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.560 chữ)
Bài 245: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VIỆC “HUẤN LUYÊN CÁN BỘ” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Năm bài học cho Khoá chỉnh huấn 1953 – 54 gồm: Bài thứ nhất: Thái độ học tập; Bài thứ hai: Lịch sử cách mạng Việt Nam; Bài thứ ba: Tình hình mới, nhiệm vụ mới; Bài thứ tư: Tác phong cán bộ và đảng viên; Bài thứ năm Cải cách ruộng đất.
Bài 1: THÁI ĐỘ HỌC TẬP. Mỗi học viên phải có thái độ đúng đắn trong lớp chỉnh huấn. Mỗi người phải “thực sự cầu thị” nghĩa là thành tâm học hỏi để mong “tiến bộ” cho bản thân, không được “vờ vịt” làm bộ hối cải để mong đánh lừa Đảng. Mỗi lần phê bình bạn, phải có tinh thần “chữa bệnh cứu người”, nghĩa là yêu bạn mà chữa cho bạn thoát khỏi những tư tưởng phản động để bạn chóng lành mạnh. Đảng cấm dùng “đao to búa lớn”, cấm “chụp mũ”, “truy kích”. Đảng nói: “bất cứ tội nặng bằng mấy, nhưng hễ thành thực bộc lộ cũng sẽ được hoàn toàn tha thứ” và “nếu đồng chí không chịu bộc lộ ngay bây giờ thì sau này anh em nông dân sẽ bộc lộ hộ cho đồng chí”.
Nhờ có lời đe doạ này, mà mọi người đều phải rán sức học tập, mặc dù Đảng không sử dụng những phương pháp khủng bố tinh thần khác, vì mỗi người đều cảm thấy có một chiếc gươm của ông Damoclès treo lủng lẳng trên đầu mình. Trong tình trạng ấy, tất nhiên mọi người đều rán sức học tập và tuân theo lời Đảng. Những người khôn ngoan không ngần ngại lúc đầu làm ra bộ hết sức phản động, nêu nhiều thắc mắc rất lớn, rồi về sau bộc lộ rất nhiều tội lỗi, cũng rất lớn, để chứng minh rằng nhờ có chỉnh huấn mà mình đã hoàn toàn “lột xác”, quyết tâm đi hẳn vào con đường mới do đảng đã chỉ dẫn cho mình theo.
Bài 2: LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VIỆT NAM. Thực dân là một chế độ hết sức tàn ác và những công cuộc khai hoá của người Pháp ở Việt Nam chỉ nhằm mục đích phục vụ quyền lợi của chúng. Họ mở đại học và các trường chuyên nghiệp để đào tạo thêm tay sai, làm đường xe lửa để tăng thêm thuế ruộng. Vì vậy nên mọi người Việt Nam đều có nhiệm vụ đấu tranh chống Pháp, đuổi Pháp ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Suốt trong thời kỳ Pháp thuộc ngọn lửa cách mạng lúc nào cũng bùng cháy, nhưng tất cả các cuộc khởi loạn đều đã thất bại vì lẽ giới lãnh đạo thuộc thành phần phong kiến hoặc trí thức tiểu tư sản, không được quảng đại quần chúng ủng hộ.
Nhưng từ ngày Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời năm 1930, thì cách mạng Việt Nam tiến bộ rất nhanh và rất vững vàng. Đấy là nhờ ở chủ nghĩa Mác Lê, ở sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và nhờ ở kinh nghiệm quý báu của cách mạng thế giới. Vì vậy, nên mọi người nhiệt thành yêu nước phải tham gia kháng chiến chống Pháp và chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Lao động. Mục đích của bài này là thuyết phục mọi người về một điểm: cộng sản tức là yêu nước, và mọi người yêu nước phải gia nhập Đảng Cộng sản, hoặc ít nhất cũng phải chấp nhận sự lãnh đạo của cộng sản.
Bài 3: TÌNH HÌNH NHIỆM VỤ MỚI. Bài học bắt đầu bằng một bản báo cáo về tình hình trong nước. Cả lớp đều hết sức phấn khởi khi nghe giảng viên báo tin những thắng lợi mới nhất về quân sự và ngoại giao. Giảng viên cũng trình bày tầm quan trọng và tính cách bất vụ lợi của việc Liên Xô và Trung Quốc viện trợ Việt Nam. So sánh nền kinh tế tư bản và nền kinh tế cộng sản, giảng viên nói hiện không có một công ty tư bản nào có đủ tiền để mua số lông lợn do mậu dịch Trung Quốc thu được trong một năm. Giảng viên phân tích kỹ lưỡng tình hình thế giới và tình hình trong nước để kết luận rằng chế độ tư bản đã đến ngày tàn. Cho dầu được đế quốc Mỹ viện trợ quân sự, thực dân Pháp thế nào cũng thất bại.
Muốn đạt tới thắng lợi hoàn toàn, chính phủ và nhân dân phải thực hiện ngay một số nhiệm vụ khẩn cấp như: (a). Thành lập chế độ dân chủ nhân dân chuyên chính, nghĩa là dân chủ đối với nhân dân và chuyên chính đối với “kẻ thù của nhân dân”. Chúng ta có dân chủ với nhân dân mới có thể chuyên chính với kẻ thù, và chúng ta phải chuyên chính đối với kẻ thù mới có thể bảo vệ được chế độ dân chủ nhân dân”. (b). Cần phải tăng cường đoàn kết toàn dân bằng cách loại trừ những phần tử phản động trong guồng máy hành chính và để cho giai cấp vô sản tham dự chính quyền. (c). Cần phải liên kết mật thiết với các nước trong khối xã hội chủ nghĩa và cách mạng Việt Nam rất cần sự viện trợ của họ.
Có một số học viên tỏ thái độ thắc mắc, rằng nhiều nước như Ấn Độ và In-đô-nê-sia chẳng cần liên kết với khối nào mà vẫn kiện toàn được nền độc lập. Họ đứng trung lập giữa hai khối nên cả hai đều phải kính nể họ. Không giảng viên nào “đả thông” nổi, cuối cùng, ông Hồ phải thân chinh đến thuyết phục. Ông đả phá “trung lập”, ông gọi các nước trung lập là những nước “làm đĩ chính trị”, nay ngả với phe này, mai ngả với phe khác để kiếm ăn. Ông nói: “Đối với những chú không dứt khoát tư tưởng, còn đang lưng chừng, thì tôi khuyên nên dứt khoát ngay từ bây giờ: một bên là tổ quốc, một bên là quân thù. Chú nào muốn dinh tề thì xin cứ việc. Công an địa phương sẽ “cấp giấy ngay tức khắc”.
Bài 4: TÁC PHONG CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN. Bài này, học viên chia làm hai nhóm: Cán bộ học riêng và đảng viên học riêng. Đối với cán bộ ngoài đảng thì bài học đại khái như cuốn SỬA ĐỔI LỀ LỐI LÀM VIỆC do chính ông Hồ viết năm 1946. Trong cuốn sách nhỏ này ông Hồ đã liệt kê những thói hư tật xấu của công chức dưới thời Pháp thuộc, như tham ô, lười biếng, nịnh trên nạt dưới, hống hách với nhân dân. Có một điểm đặc biệt là đối với các học viên không đảng thì tất cả các thói hư tật xấu này đều trút lên đầu giai cấp địa chủ và muốn diệt trừ những “chứng bệnh truyền nhiễm” này. Đảng dạy mọi người phải dứt khoát với giai cấp địa chủ và lật đổ giai cấp xấu xa ấy.
Nhưng đối với các đảng viên, Đảng lại giảng rằng có một số bệnh phát xuất từ tư tưởng tiểu tư sản, và Đảng dạy các đảng viên phải tích cực đấu tranh chống tư tưởng tiểu tư sản (tác giả không phải là đảng viên nên chỉ biết qua loa như vậy, không biết được nhiều điều giảng dạy khác). Sau khi học xong bài này, đảng viên bộc lộ riêng, những học viên không đảng không được dự; nhưng trái lại các đảng viên vẫn dự những buổi bộc lộ công khai của những học viên không đảng. Tất cả đều bộc lộ những “bệnh” có liên quan đến bài học, và có một bệnh được mọi người ưa nghe nhất là bệnh hủ hoá, một danh từ mới có nghĩa là dâm ô.
Bài 5: CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Mục đích của khoá chỉnh huấn 1953-54 là chuẩn bị tư tưởng cho chiến dịch Cải cách ruộng đất, nghĩa là thuyết phục đảng viên và cán bộ, bắt họ phải công nhận thực hiện Cải cách ruộng đất. Mặc dầu Đảng đã nắm quyền sinh quyền sát, Đảng không muốn thực hiện cải cách ruộng đất bằng sắc lệnh và nghị định từ trên ban xuống, mà Đảng muốn “phóng tay phát động quần chúng đấu tranh”, nghĩa là dùng hình thức quần chúng bạo động. Tất cả năm bài học trong khóa chỉnh huấn này đều được xếp đặt trước sau theo một thứ tự rất khôn ngoan, để lái học viên, từ lòng yêu nước tự nhiên đến chỗ chấp nhận việc thi hành chính sách Cải cách Ruộng đất theo đúng sách lược Mao Trạch Đông.
Rằng, bản chất anh chị em nông dân là rất “thực tế” (tránh chữ hám lợi). Trong khi anh chị em tích cực tham gia kháng chiến chịu đựng hy sinh, anh chị em cũng muốn được hưởng ngay tức khắc một vài quyền lợi vật chất. Nếu chúng ta muốn anh chị em nông dân tích cực hơn nữa, chúng ta phải làm cho anh chị em phấn khởi thêm bằng cách cấp phát cho mọi người có đủ ruộng đất để cày cấy, và để các anh chị em có toàn quyền tự làm chủ lấy vận mạng của mình.
Đường lối của Đảng, nói chung vẫn đúng, nhưng Đảng đã phạm một sai lầm nghiêm trọng trong việc chấp nhận giai cấp địa chủ là một trong bốn thành phần chính yếu của chế độ dân chủ nhân dân. Thực tế cho biết là giai cấp địa chủ không phải là bạn của nhân dân, mà là kẻ thù số một của chế độ dân chủ nhân dân. Chỉ có anh chị em nông dân mới biết rõ ai là địa chủ và mỗi tên địa chủ phản động tới mức nào và đã phạm những tội ác gì. Vì vậy chúng ta phải “phóng tay” phát động các anh chị em nông dân “tố khổ” và trị tội bọn chúng. Đấy là công việc của anh chị em nông dân, còn về phần Đảng chỉ giữ nhiệm vụ “hướng dẫn”. Đảng không trực tiếp lãnh đạo.
Sydney ngày 21 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.764 chữ)
Bài 246: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VIỆC “HUẤN LUYÊN CÁN BỘ” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Đảng Lao động muốn bắt giới trí thức Việt Nam phải chấp nhận chính sách Cải cách ruộng đất theo kiểu của Trung Quốc, nên tổ chức khoá chỉnh huấn 1953-54. Tài liệu học tập chính trong bài thứ 5 này là bản báo cáo của ông Trường Chinh, đọc tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng Lao động tại Việt Bắc từ ngày 14 đến ngày 23 tháng 2, 1953.. “Địa chủ không đầy năm phần trăm dân số, mà cùng với đế quốc chiếm đoạt vào khoảng 70% đất trong nước, trong khi nông dân, gồm 90 phần trăm dân số, chỉ sở hữu chừng 30% ruộng đất. Đất trồng tỉa trong toàn quốc có đến 5 triệu héc ta. Nếu mà đem chia đều 5 triệu gia đình, thì sẽ được một héc ta”.
Mục tiêu của cách mạng là tiêu diệt cả đế quốc lẫn phong kiến vì cả hai đều là kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam. Muốn lật đổ đế quốc thì đồng thời phải lật đổ cả phong kiến. Chống thực dân chưa đủ. Phải là cộng sản mới đủ. Nhiệm vụ phản đế và phản phong không thể tách rời nhau được. Phản đế nghĩa là chống thực dân. Phản phong nghĩa là tiêu diệt giai cấp địa chủ. Chương trình Cải cách ruộng đất sẽ gồm có hai đợt "chiến dịch giảm tô" để giảm ưu thế kinh tế của giai cấp địa chủ bước đầu để tiến tới tiêu diệt ưu thế chính trị của chúng, và "chiến dịch cải cách ruộng đất" để bãi bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, tiêu diệt ưu thế chính trị của chúng!
Từ ngày bị Pháp cai trị, giai cấp địa chủ luôn luôn cấu kết với đế quốc Pháp để bóc lột và áp bức nông dân mỗi ngày một ác nghiệt hơn. Chiến tranh càng khốc liệt thì giai cấp địa chủ phong kiến càng tỏ ra phản động. Chứng cớ là trong phong trào giảm tô, nhân dịp đấu tố, chúng ta đã phát hiện nhiều địa chủ làm Việt gian do thám cho địch. Chúng thành lập những căn cứ ở địa phương cho quân đội địch, thành lập nhiều tổ chức phản động để hòng phá hoại chính sách của chính phủ chống thuế, chống dân công v.v. Nhiều địa chủ đã ám sát cán bộ, đốt nhà nông dân, bỏ thuốc độc xuống giếng, ra hiệu cho máy bay địch bắn phá thả bom.
Chúng ta đã phạm sai lầm.Trong những năm gần đây chúng ta đã đoàn kết một chiều với giai cấp địa chủ, chúng ta coi nhẹ nhiệm vụ phản phong. Đảng ta là Đảng Mác-xít Lê-nin-nít, có truyền thống phê bình và tự phê bình để tiến bộ. Chúng ta thành thật nhận sai lầm và quyết tâm sẽ sửa chữa! Phải cô lập giai cấp địa chủ để tiêu diệt chúng. Phải dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông. Muốn được như vậy chúng ta phải tôn trọng quyền lợi của họ, giác ngộ quyền lợi giai cấp cho họ và làm cho họ thấm nhuần câu: “Bần cố nông và trung nông là anh em một nhà”.Còn đối với phú nông thì chúng ta liên hiệp với họ.
Liên hiệp với phú nông để cô lập giai cấp địa chủ, để lôi kéo phú nông vào hàng ngũ kháng chiến và để trung nông được yên tâm. Dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông để thanh toán từng bước một chế độ phong kiến bóc lột, để tăng cường sản xuất và củng cố kháng chiến! Giảm tô là bước đầu, Cải cách Ruộng đất là bước thứ hai của một chiến thuật chính trị duy nhất. Chúng ta thực hiện "giảm tô" để dọn đường cho "cải cách ruộng đất". Cần thực hiện cải cách ruộng đất làm nhiều đợt. Trước tiên ở những vùng thuận tiện sau mới tới các vùng khác, không bao giờ thực hiện một lúc khắp mọi nơi!
Giai cấp địa chủ phong kiến là phản động. Tuy nhiên, hiện nay trong nước ta có ba loại địa chủ: (1) Địa chủ cường hào, gian ác, Việt gian, phản động; (2) Địa chủ thường; (3) Địa chủ kháng chiến và nhân sĩ tiến bộ. Chúng ta sẽ xử lý tuỳ theo thái độ chính trị của mỗi loại địa chủ. Nếu anh “tốt”, ruộng đất của anh sẽ không bị tịch thu. Trái lại sẽ được trưng mua. Sau khi phân chia địa chủ thành ba loại và xét từng loại ruộng đất, cần phải thi hành biện pháp sau đây để tước quyền sở hữu ruộng đất của đế quốc và địa chủ: Tịch thu; Trưng thu không bồi thường; Trưng mua theo giá chính phủ ấn định.
Việc ông Trường Chinh hứa mỗi gia đình Việt Nam sẽ có một héc ta đất (mẫu tây) ruộng cũng rõ ràng là một thủ đoạn lừa bịp. Bởi trong số 5 triệu héc ta thì 2 triệu 3 héc ta lại ở Nam kỳ làm sao Đảng Lao động thực hiện cải cách ruộng đất để tịch thu đất chia cho dân. Học xong bài này, thì mọi người đều chấp nhận luận điệu của Đảng và cả phương pháp tàn bạo thực hiện cải cách ruộng đất một cách rất ngoan ngoãn vì một lẽ rất dễ hiểu: Đa số học viên thuộc thành phần địa chủ, nên hy vọng rằng một khi đã chấp nhận chủ trương đường lối của Đảng, may ra sẽ được đảng sắp xếp là địa chủ kháng chiến trong nhiều năm.
Vì vậy nên đối với họ, thái độ khôn ngoan hơn cả là đứng về phe Đảng, hoặc ít nhất cũng tỏ ra như vậy. Học xong bài học về cải cách ruộng đất, tất cả lớp đều đồng ý về bản báo cáo của ông Trường Chinh và đồng thanh hô to: “đả đảo giai cấp địa chủ!” Nhưng sau khi mãn khoá ra về, nhiều người chợt nhớ tới cái câu ví của ông Hồ Chí Minh: “đế quốc là con hổ mà địa chủ là bụi rậm để cho con hổ núp. Vì vậy nên muốn đuổi hổ, phải phá cho kỳ được bụi rậm”. Họ có cảm tưởng rằng bản thân mình sẽ được an toàn, nhưng gia đình êm ấm bố mẹ, anh em, họ hàng của họ sẽ bị Đảng coi là sào huyệt của hổ báo, Đảng sẽ đốt phá trong một tương lai rất gần.
Sydney ngày 22 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.150 chữ)
Bài 247: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956.
Lê Xuân Đỗ
Vài tháng sau cuộc “Đấu tranh chính trị” chấm dứt một đoàn cán bộ đã được huấn luyện tại Trung Quốc giả dạng làm nông dân bí mật tới làng. Nhờ tổ đảng địa phương mách mối làm quen với một vài cố nông túng bấn nhất trong làng, và xin cho ngụ cư trong nhà. Họ thực hành một chính sách gọi là “ba cùng”, nghĩa là cùng làm việc với chủ nhà (mà không lấy công), cùng ăn với chủ nhà (nhưng góp phần mình), và cùng ngủ một giường với chủ nhà. Nếu chủ nhà có vợ, như trường hợp thông thường, thì một nữ cán bộ tới ngủ cùng với bà vợ, và một nam cán bộ ngủ với ông chồng.
Họ ở như vậy trong ba tháng. Anh nông dân rất hài lòng vì bỗng dưng có người giúp việc không công. Họ làm đủ mọi việc, cày bừa hoặc gặt hái, tuỳ theo vụ. Họ quét nhà, trông trẻ, và trò chuyện luôn mồm. Họ tìm hiểu đời tư của chủ nhà, rất chăm chú nghe và tỏ vẻ thông cảm mỗi khi chủ nhân kể cho nghe một cảnh cực khổ của mình. Chẳng bao lâu người nông dân chất phác coi họ là đồng tình đồng cảm với mình và có bao nhiêu tâm sự “to nhỏ” với họ cho kỳ hết. Họ chịu khó nghe và giảng giải cho anh thấy rõ nguyên nhân của mọi nỗi khổ của đời anh.
Tỉ dụ trường hợp một anh nông dân bị vợ bỏ, đi lấy chồng khác, thì cán bộ giải thích ngay rằng: “Giá anh không bị tên địa chủ độc ác ấy bóc lột thì anh đâu đến nỗi túng thiếu. Anh đã sắm được cho chị ấy đủ thứ thì việc gì chị ấy lại nỡ bỏ anh!”.Tóm lại, theo cán bộ thì mọi nỗi đau khổ mà nông dân đã phải chịu, đều xuất phát từ sự bóc lột tàn bạo của bọn địa chủ lang sói. Đấy chính là điều mà họ cố nhồi vào óc mấy anh bần cố nông đã chứa họ trong nhà.
Sau đó họ bày vẽ cho nông dân biết rằng, chỉ có một phương pháp duy nhất để cải thiện đời sống của mình là tin theo chính sách của Đảng, vùng lên tiêu diệt cho kỳ hết bọn địa chủ cường hào ác bá trong làng. Công tác tích cực nhồi sọ này tiếp diễn mỗi ngày đến gần 18 giờ, cho tới khi người nông dân trước kia hiền lành ngoan ngoãn, nay sẵn sàng đứng dậy chống lại chủ đất của mình. Người nông dân được giác ngộ nầy gọi là cái “rễ”, và công tác kể trên được gọi là “bắt rễ”.
Tới giai đoạn này, người cán bộ chấm dứt mọi hành vi xách động của mình trong làng, và từ đó chỉ ở miết trong căn nhà mà anh đã “ba cùng”. Từ đấy cán bộ chỉ hành động qua cái “rễ” của anh ta, người mà anh ta cấp dưỡng tiền nong và dùng làm gián điệp thường xuyên. Anh ta cổ động cái “rễ” mà ta tạm gọi là A đi kết nạp B, rồi đến lượt B đi kết nạp C, và cứ thế mãi. Công việc này gọi là “xâu chuỗi”, và B, C, D, v.v, được gọi là “cốt cán”. Phương pháp kết nạp này (mỗi rễ và mỗi cốt cán chỉ được phép giới thiệu một người mà thôi) nhằm phòng ngừa trường hợp vô tình kết nạp một số lớn “phản động” và nhằm tránh những cạm bẫy mà địa chủ trong làng có thể giăng ra.
“Rễ” còn giữ nhiệm vụ bí mật liên lạc với những cán bộ khác, đang công tác tại những xóm lân cận, để trao đổi và đối chiếu những tin tức do các cốt cán cung cấp. Họ điều tra tỉ mỉ mọi chi tiết của đời sống trong làng, tình trạng sở hữu ruộng đất và tài sản, thái độ chính trị, hoạt động quá khứ, và ngay cả những cuộc tình duyên kín đáo nhất của từng người một. Việc điều tra những cuộc tình duyên này nhằm một mục đích đặc biệt: người đàn bà nào thời còn con gái, có “dính líu” với một địa chủ nào, sẽ bị bắt buộc phải “tố” trước công chúng rằng chị đã bị người địa chủ kia “hãm hiếp”.
Sau vài ba tháng hoạt động như vậy, người cán bộ thu thập được đầy đủ chi tiết cần thiết về cái làng mà anh phụ trách, để đích thân báo cáo trước một phiên họp bí mật của Đoàn Cải cách ruộng đất đóng trong tỉnh. Tại đây, sau khi tham khảo ý kiến của Đoàn, anh cán bộ đề nghị qui định thành phần cho tất cả dân làng, đặc biệt là thành phần địa chủ, và gán cho người nào “tội” gì? Tới lúc đó Đội cải cách ruộng đất mới ra mắt công khai, Uỷ ban hành chính xã và Chi bộ đảng ở xã tức thì bị giải tán. “Đội” đứng lên điều khiển mọi công việc trong làng, cắt cử một đội Công an mới gồm toàn nông dân cốt cán, và ra lệnh phong toả làng.
Thường thường mỗi làng ở Bắc Việt có một luỹ tre xanh bao quanh, và có hai cổng. Họ đóng cổng lại, canh gác suốt ngày đêm và không cho ai ra vào nếu không có giấy phép của Đội Cải cách ruộng đất. Đội liên lạc với Đoàn bằng một đường dây điện thoại mới dựng lên. Khách bộ hành hễ thấy hàng cột tre con đang xanh mang dây điện thoại là biết ngay trong làng nào đó ở phía đầu dây đang có đấu tố khủng khiếp. Người nào khôn hồn hãy tránh ngay đường dây ấy, nếu không, có thể bị tai bay vạ gió, nguy hiểm đến tính mạng không chừng.
“Chiến dịch Giảm tô” chính thức mở đầu như vậy và được thực hiện làm sáu bước nhỏ liên tiếp: (1) Phân định thành phần; (2) Phân loại địa chủ; (3) Tống tiền công khai; (4) Tố khổ; (5) Đấu địa chủ; Và (6) Xử án địa chủ.
Sydney ngày 23 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.092 chữ)
Bài 248: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Bước 1. PHÂN ĐỊNH THÀNH PHẦN. Nông dân thuộc thành phần bản bộ, tức là bần cố nông, phải đi dự một lớp đặc biệt để học cách phân định thành phần tất cả dân làng. Những tài liệu học tập gồm có bản Điều lệ phân định thành phần ở nông thôn, các văn kiện về thể thức áp dụng bản điều lệ này cùng những tiêu chuẩn phân loại. Mỗi tỉnh có tiêu chuẩn khác nhau mà báo chí cộng sản không hề nói đến. Thí dụ: trong một tỉnh, những tiêu chuẩn phân định các loại trung nông như sau:
- · Trung nông cứng: Những trung nông có 1 con bò, 1 con heo và 1 đàn gà.
- · Trung nông vừa: Những trung nông có một con heo và một đàn gà.
- · Trung nông yếu: Những trung nông chỉ có một đàn gà hoặc không có gì hết.
Không những tiêu chuẩn ở mỗi tỉnh một khác mà còn thay đổi mỗi đợt đấu tố một khác. Sau mười ngày tích cực học tập và “bình nghị dân chủ”, các học viên biểu quyết một bản phân định thành phần mà thường thường là y hệt tài liệu cán bộ đã soạn thảo từ trước. Tất nhiên lúc đầu mỗi người một ý, nhưng sau khi thảo luận mọi người đều chấp nhận ý kiến của cán bộ. Điều này chẳng có gì lạ vì thực tế chứng tỏ cán bộ biết rõ về dân làng hơn hẳn người làng.
Bước 2. PHÂN LOẠI ĐỊA CHỦ. Ngay sau khi đội Cải cách ruộng đất ra mắt công khai, tức là mười ngày trước khi thành lập danh sách địa chủ, những người sẽ bị quy là địa chủ đã bị bắt ngay và nhà cửa của họ đã có “cốt cán” canh gác suốt ngày đêm. Nhưng mỗi loại địa chủ sẽ bị đối đãi một cách khác nhau. Trên lý thuyết và theo lời ông Trường Chinh tuyên bố trong bản báo cáo của ông thì có ba loại địa chủ chính: (1) địa chủ Việt gian phản động, cường hào, gian ác; (2) địa chủ thường; và (3) địa chủ kháng chiến. Ngoài ra còn có một loại nữa gọi là “nhân sĩ tiến bộ” dành riêng cho mấy ông cựu quan lại hiện được cộng sản trọng dụng, như các ông Hồ Đắc Điềm, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn .v.v.
Nhưng trên thực tế, chính sách của cộng sản là tuyệt đối không để một ai có thể ngồi không, không có “công tác”. Thanh niên và những người tráng kiện thì gia nhập quân đội hoặc làm cán bộ chính quyền, ở xã, huyện, hoặc tỉnh. Những người tuổi tác thì tham gia những tổ chức bù nhìn như “Phụ lão cứu quốc”, “Mặt trận liên Việt”, v.v. Mọi người đã tham gia kháng chiến trong bảy năm trời nên tin tưởng rằng mình sẽ được xếp vào loại “địa chủ kháng chiến”, hoặc ít nhất cũng là “địa chủ thường” vì sau khi tự xét, họ thấy họ chẳng hề phạm một tội gì đối với nông dân.
Nhưng đến khi chiến dịch Cải cách ruộng đất lan đến làng họ, mọi người đều giật mình thấy mình bị xếp vào loại “Việt gian phản động”. Ngay cả những người tích cực phục vụ chính quyền kháng chiến và đã được ông Hồ Chí Minh tuyên dương công trạng, cũng bị tố cáo là đã cố tình “chui vào cơ quan của Đảng và chính phủ để phá hoại cách mạng”. Không cần phải bằng cớ, chỉ cần một nông dân nào đó nói rằng đã trông thấy địa chủ vẫy tay ra hiệu cho máy bay Pháp là đủ lên án địa chủ đó là Việt gian, làm giáp điệp cho Pháp. Loại địa chủ đầu sỏ này, lại được chia thành ba hạng nặng nhẹ khác nhau: A, B, và C.
Địa chủ hạng A phải đi dự một lớp cải tạo đặc biệt kéo dài trong ba bốn tuần, suốt ngày đêm không được ngủ. Mục đích của lớp cải tạo này là khủng bố tinh thần địa chủ để bắt cung khai những chỗ chôn giấu vàng bạc. Họ bị khủng bố liên miên đến nỗi họ trở thành nửa tỉnh nửa điên và sẵn sàng thú nhận bất cứ điều gì cán bộ bắt họ phải thú nhận. Họ phải viết thư về cho vợ con chỉ chỗ giấu vàng, bạc, bảo đào lên mang nộp cho nông hội. Họ còn phải viết tờ kê khai tất cả những người còn nợ họ tiền. Họ khai ra người nào thì lập tức đội cải cách bắt người ấy phải “trả” ngay cho nông hội.
Vì địa chủ mất tinh thần, nhiều khi khai vu vơ nên có nhiều thương gia bị “vạ vịt”, mất sạch cơ nghiệp dù không có liên quan trực tiếp đến Cải cách ruộng đất. Địa chủ hạng B bị giữ trong một nhà nông dân cùng làng, nhưng đêm đến lại bị công an cầm kiếm đến điệu đi, chuyển từ nhà này sang nhà khác. Một điều đáng chú ý là việc quy định thành phần lúc nào cũng chỉ có tính cách tạm thời, và địa chủ hạng nào cũng có thể “kích” lên “hạ” xuống tuỳ theo thái độ của đương sự, hoặc “ngoan cố” hoặc ngoan ngoãn phục tòng. Nhưng vì Đảng đã ấn định một số tử hình tối thiểu cho mỗi xã nên dù tất cả địa chủ có khúm núm bằng mấy cũng có một số không sao tránh khỏi án xử tử.
Bước 3. TỐNG TIỀN CÔNG KHAI. Sau khi chủ gia đình bị bắt và điệu đi, cán bộ Đội Cải cách gọi vợ con địa chủ đến và bảo cho biết phải lo trả ngay tức khắc số tiền gọi là “THOÁI TÔ”, hoặc còn gọi NỢ NÔNG DÂN. Trước đấy bốn năm năm, chính quyền cộng sản có ra một THÔNG CÁO buộc địa chủ phải giảm tô 25 phần trăm. Hồi ấy, mới bắt đầu kháng chiến, báo chí chưa phát hành rộng rãi nên nhiều người không biết, và SAU KHI BAN HÀNH BẢN THÔNG CÁO, chính quyền cũng bỏ bẵng hàng năm không đả động tới. Giờ đây, nông hội cho rằng tất cả địa chủ đều không tuân luật và đòi gia đình địa chủ phải “THOÁI TÔ”, tức là trả ngay tức khắc số tô đã thu quá mức trong bốn năm năm.
Sự thực thì đa số địa chủ đã giảm tô, hoặc tuân theo THÔNG CÁO hoặc sợ chế độ mà phải tự ý giảm, nhưng vì họ quen thói luộm thuộm và tự xét ruộng đất chẳng có là bao nên không nghĩ tới việc biên lai, sổ sách. Bây giờ có khiếu nại cũng vô ích và cũng không có quyền khiếu nại nên địa chủ đều phải nhận “trả”. Cán bộ cải cách thường phán như sau: “Anh em nông dân đã khai rằng mày đã thu một số tô quá mức là X tạ, Y ký và Z gam (con số rành mạch từng gam một). Anh em hẹn cho mày đến ngày… giờ… phút… phải trả cho kỳ đủ, nếu thiếu thì coi chừng!”. Nói xong hắn đưa ra một mảnh giấy bắt vợ con địa chủ phải ký nhận.
Còn số “nợ” là do cán bộ ước định, căn cứ trên sự ước lượng về “khả năng có thể trả được” của mỗi địa chủ: liệu chừng có bao nhiêu tiền mặt, nữ trang, v.v. và bao giờ cũng ấn định một mức tối đa. Mục đích của “thoái tô” là làm cho địa chủ và gia đình chỉ còn hai bàn tay trắng. Việc làm cho toàn thể giai cấp địa chủ chỉ còn hai bàn tay trắng, ông Trường Chinh gọi một cách “văn hoá” là “LÀM GIẢM UY THẾ KINH TẾ CỦA ĐỊA CHỦ”. Chủ tâm bần cùng hoá địa chủ, cho tới mức độ cuối cùng biểu hiện tăng giảm số “nợ” tuỳ theo khả năng tột bực của “con nợ”.
Nếu địa chủ hoặc gia đình địa chủ trả hết số “nợ” trong thời gian hạn định thế nào cán bộ cũng giở giọng nói: “Hôm nọ chúng tao tính lầm. Hôm nay tính lại thấy số nợ của mày thực sự là… thường đưa ra một con số gấp đôi con số trước”. Trái lại, nếu “con nợ” khôn khéo, đúng kỳ hạn trả một phần rồi gãi đầu gãi tai, van nài xin khất một thời hạn nữa sẽ cố gắng trả nốt, cứ mỗi kỳ lại trả thêm một chút, vừa trả vừa nằn nì để chứng tỏ cả thiện chí lẫn sự bất lực của mình, thì cán bộ có thể bớt dần số nợ, mỗi chuyến giảm xuống một ít. Nhưng, nếu địa chủ cứ ì ra, vì không xoay đâu ra tiền, hoặc vì liều chết bướng bỉnh thì nhất thiết số “nợ” cũ đứng nguyên và địa chủ sẽ bị “kích” lên hạng trên, quy thêm nhiều tội và cuối cùng có thể bị bắn.
Sydney ngày 24 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.577 chữ)
Bài 249: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Trong khi địa chủ phải chạy tiền trả nợ hoặc bằng tiền mặt hoặc bằng vàng bạc thì nhà cửa của họ bị niêm phong, không được bán chác một thứ gì. Tất cả nhà cửa, trâu bò cho đến đồ đạc trong nhà đều được coi là tài sản của nhân dân. Những thứ này sẽ bị tịch thu sau, nên địa chủ không được phép bán. Mục đích của việc đòi “nợ” không phải là đòi cho đủ số tiền mà chính là lấy cho hết những thứ địa chủ có, mà có thể còn giấu như tiền mặt, vàng bạc, v.v.
Mỗi khi địa chủ, hoặc vợ địa chủ chậm trả thì nông hội phái một nhóm hội viên (phần nhiều là bà con trong họ) đến thúc giục phải trả cho mau. Họ sẽ hỏi vặn những câu như: “Đôi vòng mày đeo hôm cưới đâu rồi?”(đám cưới có thể là 20 năm về trước), hoặc: “Mày bảo không có tiền, thế phần gia tài của bà ngoại mày để cho con mẹ mày tiêu đi đâu hết?” (việc thừa hưởng gia tài có thể là 40, 50 năm trước). Một cách “tống tiền” khác là bắt vợ địa chủ lôi đi biểu diễn khắp làng, mỗi tay mang một bãi phân bò tươi, cổ đeo một tấm biển lớn đề “Tôi là địa chủ ngoan cố”.
Nếu bà ta có con mọn thì chắc chắn là hai mẹ con phải giữ ở hai nhà để con không được bú và mẹ bị căng sữa, trong một thời gian rất lâu. Nếu con đã lớn thì mỗi đứa cũng phải giữ ở một nơi, và đứa nào cũng bị doạ nạt cho tới khi chúng cung khai “đúng hoặc không đúng” những nơi cha mẹ chúng chôn giấu của cải. Trẻ con non gan nên thường khai lung tung. Mặc dầu vậy, hễ chúng khai chỗ nào là cốt cán lập tức đưa cuốc, bắt mẹ chúng phải đào chỗ ấy.
Công việc “đào mỏ” này có thể kéo dài hàng tháng nên nền nhà địa chủ gần như không còn chỗ nào không đào bới. Nhiều nông dân, sau đấu tố, được lĩnh nhà địa chủ để ở thường không có phương tiện để sửa sang lại nên nhà cho bằng phẳng.
Bước 4: TỐ KHỔ. Trong khi gia đình địa chủ bị “tống tiền” một cách hợp pháp thì nông dân được triệu tập đi học một lớp đặc biệt về “tội ác của giai cấp địa chủ”. Mục đích của lớp học là giảng cho nông dân hiểu địa chủ đã phỉnh phờ, cướp đoạt, bóc lột và áp bức như thế nào. Học xong, mỗi người bắt buộc phải “kể khổ”, nghĩa là phải tố chủ ruộng của mình, ít nhất là một tội đối với mình. Để ôn lại trí nhớ nông dân, giảng viên đọc một bản kê khai những “tội điển hình”, nói là đã thu thập trong những lớp học trước. Kết quả là nhiều nông dân trước kia vẫn từ tốn với chủ ruộng, đứng lên gán cho chủ cũ một số tội ác nào đó trong số những tội ác mà giảng viên đã đọc cho họ nghe.
Những người đứng ra “tố khổ địa chủ” có thể chia đại khái thành ba loại. Loại thứ nhất gồm những người “mong có địa vị” trong chế độ mới, hoặc ham được “quả thực” tức là lấy của địa chủ chia cho nông dân. Họ tố hăng vì đội cải cách có hứa rằng “ai tố nhiều sẽ được hưởng nhiều” và “ai tích cực đấu tranh sẽ được kết nạp vào các tổ chức của Đảng”. Loại thứ hai gồm những người “cầu an bảo mạng”, họ tố để tỏ vẻ “dứt khoát lập trường với giai cấp địa chủ” và đứng hẳn “về phe Đảng”. Những người “tố hăng” phần nhiều là những phần tử có thành tích bất hảo. Những người tố “quấy quá” phần nhiều là con cái địa chủ, cha mẹ cho phép tố để giữ lấy thân, tránh cho toàn gia khỏi bị tiêu diệt.
Loại thứ ba là những người tố “chỉ vì sợ hãi” sợ có thể bị quy là địa chủ, hoặc có LIÊN QUAN VỚI ĐỊA CHỦ. Có ba loại liên quan, mỗi loại được đối xử một cách khác nhau: Loại có “liên quan nặng” với địa chủ, gồm những người “có tư tưởng địa chủ”, có thái độ bênh vực địa chủ. Những người này sẽ bị đối xử y hệt địa chủ, nghĩa là bị “cô lập”, bị đặt ra ngoài vùng pháp luật, bị bao vây kinh tế tức là bị quản thúc với vợ con ở ngay trong nhà của họ cho tới khi đói mà chết. Loại có “liên quan vừa” gồm những người trước kia có nhiều “ân tình” với địa chủ. Loại này sẽ bị cùng với gia đình đưa đến một làng nào đó, đổi nhà, đổi cửa với một người nào khác cũng có “liên quan vừa” với địa chủ ở làng ấy và cũng bị đuổi khỏi làng.
Loại có “liên quan sơ” gồm những người bị nghi là chưa dứt khoát lập trường đối với địa chủ, không chịu đấu tố hăng. Loại này chỉ bị trục xuất ra khỏi Nông hội. Sau khi giai cấp địa chủ bị tiêu diệt thì chỉ có Nông hội, là nơi mà nông dân có thể thuê trâu bò hoặc vay giống mạ khi thiếu. Trong một làng mà mọi người đều nghèo như nhau thì vận mạng của mọi người hoàn toàn nằm trong tay Nông hội. Dù vậy, nhiều nông dân vẫn gan dạ, nhất định không chịu “tố điêu”. Họ bất chấp mọi sự cưỡng ép, phỉnh phờ vì, họ xem việc tố cáo người khác là một việc đáng khinh. Hơn nữa các Phật tử đều tin ở thuyết “nhân quả” và sợ “quả báo” nếu vu oan giá họa cho kẻ khác.
Trong phong trào TRĂM HOA ĐUA NỞ, Phùng Quán đã làm một bài thơ đả kích chính sách bắt buộc nhân dân phải “nói điêu”. Bài thơ nhan đề “Lời mẹ dặn”có mấy câu như sau: Yêu ai cứ bảo là yêu! Ghét ai cứ bảo là ghét! Dù ai ngon ngọt nuông chiều! Cũng không nói yêu thành ghét! Dù ai cầm dao dọa giết! Cũng không nói ghét thành yêu! (Báo VĂN số 21, ngày 27/9/1957) Vì bài thơ kể trên Phùng Quán bị đưa lên mạn ngược “học tập lao động” cùng nhiều văn nghệ sĩ khác trong nhóm Nhân văn Giai phẩm. Từ ngày ấy không ai biết số phận ông ra sao.
Sydney ngày 25 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.164 chữ)
Bài 250: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Bước 5: ĐẤU TỐ ĐỊA CHỦ. Sau khi lập xong danh sách tội ác của mỗi địa chủ, những người được chỉ định ra “đấu trường” tố khổ công khai bắt đầu tập dượt vai trò của mình để có thể biểu diễn một cách trôi chảy, trước công chúng và trước người bị “đấu”. Đấu địa chủ là “trò” then chốt của cả chiến dịch, nên cần phải chuẩn bị hết sức chu đáo. Y hệt các diễn viên phải tập đi tập lại vai trò của mình trước khi lên sân khấu, những người đứng ra “đấu” cũng phải luyện tập lời ăn tiếng nói bộ điệu của mình cho thật hoàn hảo để khán giả có cảm tưởng là mình chân thật và những tội mình buộc cho địa chủ là có thực.
Họ tập dượt về đêm, rất kín đáo, nhưng con cái nông dân thường có dịp thấy bố mẹ vừa xay lúa, giã gạo, vừa lặp đị lặp lại một câu để thuộc lòng. Đóng vai trò “đạo diễn”, cán bộ phụ trách còn bày vẽ dáng điệu và uốn nắn lời nói cho họ. Trong những buổi diễn thử, có một hình nộm bằng rơm đặt ở giữa nhà thay thế cho địa chủ, để những người “đấu” tiến đến sát, đọc thử những lời họ sẽ phải đọc. Sau khi chuẩn bị đầy đủ, Đội công tác Cải cách Ruộng đất công bố ngày “đấu”.
Vì có ba loại địa chủ, A, B và C nên cũng có ba loại đấu. Địa chủ loại A bị đấu trong ba ngày liền, trước một đám đông từ một chục đến hai chục ngàn người, tức là dân một “liên xã”, một đơn vị hành chính gồm từ mười đến mười lăm làng. Địa chủ loại B bị đấu trước một đám đông một hai ngàn người, tức là tất cả dân trong một làng, liên tiếp trong hai ngày. Họ cũng bị gán những tội thường gán cho địa chủ hạng A, nhưng tương đối nhẹ hơn. Địa chủ loại C chỉ bị “đấu lưng”, nghĩa là “đấu vắng mặt”. Trong khi nông dân tố cáo những tội ác của họ thì họ bị giữ ở một nơi khác, đến khi tố xong họ mới bị điệu ra trước cuộc họp để nghe đọc một bản tổng kê các tội ác mà các tá điền, chỉ có tá điền của địa chủ mới được dự cuộc đấu này, đã “tố” họ.
Nghe xong, địa chủ phải tuyên bố “nhận” hay “không nhận”. Nếu nhận, địa chủ phải ký tên vào biên bản buổi họp. Đảng giải thích rằng sở dĩ có “đấu lưng” là tại Đảng muốn khoan hồng đối với những “phản động phụ”, những phần tử mà Đảng còn hy vọng cải hoán được. Vì còn hy vọng họ sẽ cải hoán nên Đảng không muốn “cạn tầu ráo máng” đối với họ, làm họ mất mặt trước công chúng. Thực ra thì chẳng phải vì vậy, mà vì một lý do khác hẳn. Phần lớn những người bị quy là địa chủ loại C là những người buôn bán ở thành thị nhưng có ít nhiều ruộng ở “quê cha đất tổ”, không cốt để thu lợi mà cốt để “đóng góp với làng nước”, khỏi mang tiếng “bỏ làng”.
Vì họ thường sống ở tỉnh thành, thỉnh thoảng mới về làng cúng giỗ và nhân thể thu tô, nên người làng không biết nhiều về đời tư của họ. Vì không có đụng chạm trực tiếp nên việc “bịa” ra tội là một việc rất khó. Muốn cho “xuôi tai”, người “tố” phải nói rõ bị chủ ruộng đánh đập hoặc hiếp đáp trong dịp nào, ở đâu. Đảng biết rằng toàn là chuyện bịa nên sợ đứng trước mặt đương sự người tố có thể ấp úng, làm mất uy tín “anh em nông dân” và gián tiếp mất uy tín Đảng. Vì vậy Đảng tổ chức “đấu lưng”, giấu địa chủ đi một chỗ, để cho những người “bịa tội” được vững tâm hơn. Thật vậy, đã có một vài cuộc đấu phải bỏ dở vì địa chủ, khi thấy nông dân buộc tội một cách lố bịch quá, nhịn không nổi, phải phá lên cười.
Mỗi lần đấu một địa chủ loại A thì toàn thể nhân dân trong xã phải bắt buộc đi dự, kể cả phú nông và các địa chủ khác, mỗi nhà chỉ được một người lớn ở nhà để trông nom củi lửa và trẻ nhỏ. Người đi dự xếp hàng thành từng nhóm riêng. Trung nông và bần cố nông đứng theo “tổ nông hội”. Phú nông đứng riêng và đi riêng, nhưng địa chủ và con cái địa chủ thì đứng lẫn với bần cố nông, mỗi người do một “tổ nông hội” canh chừng. Cứ năm người họ thành một nhóm, mang theo một bình nước uống và một điếu cày vì một khi ngồi vào chỗ trong hội trường thì không ai được phép đứng dậy, đi lại.
Mỗi làng vác theo biểu ngữ và cờ quạt trẻ con đi đầu đánh trống ếch. Địa chủ bị bắt đi giữa bần cố nông cũng phải vừa đi vừa hô khẩu hiệu như mọi người, thỉnh thoảng cũng dơ nắm đấm hô “đả đảo!”. Mọi cuộc đấu đều tổ chức ngoài trời, thường là sân banh, hay tốt hơn trên sườn đồi. Dân mỗi làng ngồi trong một khoảng đất có vạch vôi trắng làm giới hạn.
Khán đài bằng gỗ và tre, cao ba từng. Từng dưới 14 người, 1 “thư ký” và 13 bần cố nông chỉ ngồi làm vì, một người là trung nông, biết đọc biết viết, ngồi hí hoáy, có vẻ làm thư ký thực. Từng trên là chủ tọa gồm bảy bần cố nông, trong số có chủ tịch nông hội làm chủ tọa cuộc họp, và một phụ nữ đóng vai công an trưởng. Trên tầng cao nhất của khán đài treo ba bức ảnh khổng lồ, Hồ Chí Minh ở giữa, Malenkov bên phải và Mao Trạch Đông bên trái, trên mỗi chân dung lãnh tụ có cờ mỗi nước. Hai bên khán đài là những biểu ngữ rất lớn như “Phóng tay phát động quần chúng đấu tranh giảm tô (hoặc Đấu tranh cải cách ruộng đất)”, và “Đả đảo tên địa chủ… Việt gian, phản động, cường hào, gian ác”.
Trong năm cuộc đấu tác giả có dịp tham dự, tác giả nhận thấy vai trò công an trưởng bao giờ cũng do phụ nữ đóng. Tác giả có cảm tưởng Đảng dành vai trò có tính cách hống hách nầy, cho phụ nữ để đề cao uy quyền chính trị của phụ nữ trước công chúng. Người đàn bà này chỉ huy tự vệ xã, và cứ năm phút lại hò hét, ra lệnh cho người bị đấu đứng trước khán đài phải quỳ xuống, đứng lên, giơ tay lên trời, khoanh tay trước ngực, giang tay ra hai bên, v.v. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp mọi cuộc họp đều phải tổ chức về đêm để tránh máy bay oanh tạc.
Những cuộc đấu tố giữa trời đều đốt sáng bằng đuốc, lửa khói cao ngất từng mây, tạo nên một quang cảnh quái đản, một cảnh tượng ác mộng. Người tham dự có cảm tưởng chứng kiến một cảnh quỷ sứ đương hành hạ những vong hồn rơi xuống địa ngục. Khán đài soi sáng bằng đèn điện. Đôi khi có máy phát điện nhỏ nhưng thường là dynamo xe đạp. Bốn năm chiếc xe đạp buộc phía sau khán đài, mỗi chiếc có người đạp luôn chân. Cán bộ đội Cải cách ruộng đất nấp phía sau khán đài để nhắc và ra lệnh cho chủ tọa đoàn. Đôi khi có cố vấn Tầu mặc quần áo Việt cùng ngồi với họ.
Chủ tịch chủ tọa đoàn khai mạc hội nghị và tuyên bố lý do. Sau đó là một bài thuyết trình về ý nghĩa và sự cần thiết của cuộc đấu tranh chống địa chủ; đại khái là vai trò chính yếu của nông dân trong kháng chiến, tính cách bội phản của giai cấp địa chủ, v.v. Sau đó người đàn bà giữ chức công an trưởng ra lệnh cho tự vệ xã lôi tên địa chủ Việt gian, phản động, cường hào, gian ác ra để “anh chị em nông dân hỏi tội”. Tức thì hàng vạn người đồng thanh hô: “Đả đảo thằng Việt gian, phản động, cường hào, gian ác (tên họ người địa chủ bị lôi ra)”.
Nạn nhân không được đi bằng hai chân, mà phải bò bằng hai tay và đầu gối từ ngoài hội trường vào đến trước khán đài. Phía khán đài đắp hai ụ đất cách nhau chừng một thước, mỗi ụ cao độ một thước (để khán giả trông rõ) và rộng chừng một thước vuông. Địa chủ bước lên một ụ, và ụ đối diện để cho những người đấu lên đứng. Nếu người bị đấu là một linh mục Gia tô giáo, hoặc một hòa thượng Phật giáo thì cán bộ bắt phải cởi áo ngoài ra (áo tu sĩ hoặc áo nhà chùa).
Cộng sản thanh minh rằng đương sự bị đấu với tư cách cá nhân là địa chủ, không dính dáng gì về tôn giáo nên không cho mặc áo tôn giáo. Chủ tịch chủ tọa đoàn gọi “anh chị em nông dân” lên “kể tội”. Tức thì, hàng trăm cánh tay giơ lên, nhưng liếc qua vào tờ giấy trước mặt, y gọi một tên. Người được chọn nhảy lên đài, chỉ tay vào mặt địa chủ, hỏi: “Mày có nhớ tao là ai không?”, và chẳng đợi câu trả lời, hắn tiếp luôn: “Tao là… ở làng… đã đi ở (hoặc làm ruộng cho mày trong… năm)”. Bao giờ người lên đấu cũng bắt đầu như vậy, hỏi “bâng quơ” một câu “Mày có nhớ tao là ai không?” rồi tự xưng danh, tóm tắt “tiểu sử” của mình.
Cán bộ bắt họ làm như vậy để công chúng biết qua loa về quan hệ giữa người đấu và người bị đấu. Người ngồi xem nhớ lại những buổi tuồng Tầu, mỗi khi một vai mới ra bao giờ cũng xưng danh: “Mỗ đây tên tự là… “. Sau đó người đấu tuôn ra một tràng những tội ác, kể lể nào là bị cướp trâu, cướp bò, đánh đập, nhét phân vào mồm, hiếp vợ, giết con, rủ vào hội “Việt gian”, vẫy tay cho máy bay Pháp, v.v. Điều đáng chú ý là người đứng lên đấu thường dùng đủ danh từ tục tĩu; hình như cán bộ xui họ chửi rủa địa chủ bằng những câu tục tĩu nhất, một là để “hạ uy tín” địa chủ xuống tận đất đen, hai là để làm ra vẻ tự nhiên, dùng những lời ăn tiếng nói “một trăm phần trăm nông dân”.
Sydney ngày 26 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.889 chữ)
Bài 251: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Người bị đấu không được phép trả lời, hoặc phản ứng. Họ chỉ được phép nói “có” hay “không”. Nhưng hễ họ nói không thì tức khắc toàn thể đám đông gầm lên như sấm: “Đả đảo thằng… ngoan cố”. Trong khi ấy, cứ chừng năm phút một, người bị đấu lại được chị Công an trưởng ra lệnh quỳ xuống, đứng lên, giơ tay lên, giang tay ra, và cứ như thế mãi. Mỗi người được phép tố địa chủ trong 15 phút, và sau bốn người tố, nghĩa là vào khoảng một giờ đồng hồ, thì người địa chủ bị điệu đến trước “thư ký đoàn” ký nhận vào một biên bản. Trong khi đấu, người thư ký hí hoáy giả vờ biên chép, nhưng kỳ thực bản tội ác mà địa chủ phải ký nhận đã đánh máy sẵn từ trước.
Địa chủ hạng A bị đấu như vậy trong ba đêm liền. Đêm đầu họ bị đấu về các “món nợ mồ hôi”, tức là những tội bóc lột nông dân, như cướp trâu, cướp bò, cho vay nặng lãi, v.v. Đêm thứ hai dành cho những “món nợ hạnh phúc” nghĩa là những người lên đấu kể tội địa chủ đã hiếp vợ mình (nếu là đàn ông) hoặc đã hiếp chính mình (nếu người đấu là đàn bà). Đêm thứ ba dành cho những “món nợ máu”. Địa chủ bị tố nào là giết vợ, giết con nông dân, ra hiệu cho máy bay Pháp bắn chết dân làng. Đêm thứ ba cũng là đêm tố cáo địa chủ về các tội có tính cách chính trị, đại khái như rủ rê người này người nọ vào tổ chức phản động, do thám tin tức quân sự, lời hứa hẹn, rằng Pháp sẽ cho làm tỉnh trưởng, huyện trưởng, v.v.
Nếu người bị đấu cứ khăng khăng chối “không” thì những người lên đấu ngày hôm sau sẽ tố những tội càng ngày càng nặng cho đến cuối cùng sẽ phải đưa ra tòa án nhân dân đặc biệt, kết án tử hình và xử bắn. Trái lại, nếu người bị đấu tỏ vẻ ngoan ngoãn, bị tố bất cứ tội gì cũng cứ nhận và ký vào biên bản thì thường thường không bị tố những tội quá nặng. Nhưng dù tất cả địa chủ có ngoan ngoãn, hay ngoan cố đến đâu thì cũng có một số không thể nào thoát chết, vì Đảng đã ấn định một số tối thiểu phải chịu tử hình tại mỗi xã. Đúng ra thì Đảng chỉ ấn định một số tối thiểu nhưng nếu có nhiều người “ngoan cố” thì số tử hình có thể tăng thêm.
Thực ra thì Đảng không muốn vượt qua con số tối thiểu, nhưng nếu nhiều địa chủ nhất định không chịu nhận tội, thì người đi dự có cảm tưởng là tất cả đều là bịa đặt, đều nói điêu. Trái lại nếu địa chủ nào cũng ngoan ngoãn nhận hết “tội ác” thì cảm tưởng sẽ là “anh chị em nông dân chất phác, bao giờ cũng nói thật”. Trong đợt đầu, nhiều địa chủ không hiểu nguyên tắc đó nên cứ khăng khăng chối. Kết quả là đa số bị xử tử. Tuy nhiên cái chết của họ đã là bài học cho những người sau. Dần dần mọi người đều hiểu rằng tất cả chỉ là một tấn bi hài kịch. Người đấu cũng như người bị đấu chỉ là diễn viên của một tấn tuồng do “Đảng bày đặt ra” và bắt mỗi người phải đóng một vai không ai được phép trái ý Đảng.
Địa chủ ở mọi nơi đều bị tố những tội ác cùng một kiểu. Những tội điển hình là: treo cổ nông dân lên cây, nhốt nông dân vào cũi chó, bắt nông dân liếm đờm, ăn phân, đốt nhà nông dân, dìm trẻ con xuống ao cho chết, bỏ thuốc độc xuống giếng, phá các cuộc họp của nông dân, giết người, hãm hiếp, v.v. Đoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, cơ quan chính của Đảng, xuất bản ngày 2 tháng 2, 1956 kê khai những tội tương tự:
“Ở xã Nghĩa Khê, thuộc tỉnh Bắc Ninh, bọn địa chủ tổ chức mấy em thiếu nhi đi ăn cắp tài liệu, ném đá vào các cuộc họp của nông dân. Ở Liễu Sơn, chúng dùng một em thiếu nhi đi đốt nhà khổ chủ, nhưng bà con nông dân kịp ngăn được. Thâm độc hơn, ở Liễu Hà, chúng cho mấy em thiếu nhi ăn bánh chưng có thuốc độc, làm mấy em bị ngộ độc suýt chết. Ở Vân Trường chúng dụ dỗ em Sửu, 13 tuổi, rủ hai em gái nữa nhẩy xuống giếng tự tử để gây hoang mang trong thôn xóm. Ở Đức Phong (Hà Tĩnh) chúng mua bài tú lơ khơ (bài Trung cộng mang sang) cho các em mải chơi, bỏ trâu ăn lúa để phá hoại mùa màng”.
Điều đáng chú ý là địa chủ càng đạo đức bao nhiêu, như thể linh mục, hòa thượng, và nhất là các nhà nho, thì càng bị quy nhiều “tội” hiếp dâm bấy nhiêu. Nói chung thì hễ địa chủ có vẻ đạo mạo (râu dài, trán sói, mục kỉnh) thì thế nào cũng bị quy những tội loạn luân. Trong rất nhiều trường hợp chính con gái địa chủ lên trước khán đài tố rằng chính bố mình đã hiếp mình. Người trong cuộc mới biết có sự thông đồng giữa bố con; biết là thế nào bố cũng chết, người con gái đành tâm phải tố như vậy để theo lời cán bộ được quy là trung nông, và như vậy có hy vọng sống yên tâm nuôi lũ em dại. Cũng theo kiểu ấy, địa chủ càng có thành tích yêu nước bao nhiêu thì lại càng bị tố nhiều tội phản quốc bấy nhiêu.
Vì tố không cần bằng cớ, nên từ cố kiếp nào, bất cứ trong làng có người nào chết cũng có thể tố là đã bị địa chủ giết. Bác sĩ Nguyễn Đình Phát, chủ đồn điền ở Phủ Quỳ, Nghệ An và đại biểu quốc hội Việt Minh, bị tố là đã giết 35 người, vì bấy nhiêu người đã chết vì bệnh sốt rét trong đồn điền của ông ta. Trong một buổi đấu cụ cử Lê Trọng Nhị, làng Cổ Định, tỉnh Thanh Hóa, một lãnh tụ phong trào Văn Thân năm 1897-1908 đã từng bị đầy ra Côn Đảo trong chín năm, một mụ đàn bà trong làng chỉ vào mặt cụ và tố: “Mày biết thằng con tao không phải là con bố nó, mà chính là con mày?
Trong khi chồng tao đi vắng, mày hiếp dâm tao rồi sinh ra nó”. Cụ Cử Nhị năm ấy 75 tuổi, mụ đàn bà vào khoảng 60 và người con mụ chừng 40. Người làng tính nhẩm và nhớ lại, hồi mụ sinh người con, cụ Cử Nhị còn đang nằm trong xà lim Côn Đảo, cách xa hai nghìn cây số. Có nhiều địa chủ tỏ ra rất bình tĩnh suốt mấy buổi đấu tố. Một bà già ở Nghệ An chẳng nói “có” mà cũng chẳng nói “không” hỏi câu nào bà ta cũng chỉ nhắc đi nhắc lại: “Xin anh em một viên đạn!”.
Ở Thanh Hóa một người lên đấu bắt đầu bằng câu thường lệ: “Mày có nhớ tao là ai không?”. Địa chủ nghiễm nhiên trả lời “Có chứ! mày là thằng… Năm ngoái mày ăn cắp tao con gà”. Chủ tọa buổi đấu ra lệnh bế mạc cuộc họp tức khắc. Một tuần sau, tổ chức lại, địa chủ tỏ vẻ ngoan ngoãn hơn trước và tên “trộm gà” không thấy lên đấu nữa. Trong ba ngày đấu tố, người bị đấu được ăn uống đầy đủ. Bữa cơm có thể có thịt gà, thịt bò và nhiều thứ bổ béo khác, chè tầu, cà phê. Địa chủ được tẩm bổ có lẽ là để có đủ sức chịu đựng ba ngày ba đêm đấu tố ngoài trời, đứng lên quỳ xuống luôn luôn mà không bị ngất xỉu. Sau đó, địa chủ bị đưa đi trại giam chờ ngày tòa án nhân dân đặc biệt xét xử.
Trong khoảng thời gian đấu tố, mỗi tỉnh xuất bản một tờ báo địa phương lấy tên là LÁ RỪNG để tường thuật những vụ đấu tố trong toàn tỉnh. Tất cả công chức trong tỉnh đều phải đi “tham quan”, nghĩa là về các làng có đấu tố để quan sát chính sách Cải cách ruộng đất. Đảng muốn họ đi sát với “anh em nông dân” để am tường nỗi khổ của anh em nông dân và công nhận chính sách tiêu diệt giai cấp địa chủ của Đảng là “hợp tình hợp lý”. Họ cũng “ba cùng” với nông dân, nhưng chỉ được quan sát, không được phát biểu ý kiến.
Sydney ngày 27 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.559 chữ)
Bài 252: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Bước 6: XỬ ÁN ĐỊA CHỦ. Vài ngày sau cuộc đấu, một tòa án nhân dân đặc biệt từ huyện tới xã xử những người bị tố. Mỗi huyện thành lập một tòa án gồm toàn bần cố nông không có mảy may kiến thức về pháp luật và án lệ. Tòa gồm có một chánh án, vài thẩm phán và một công cán ủy viên nhưng không hề có người biện hộ cho bị cáo. Tòa xử theo “Biên bản cuộc đấu” và không cho bị cáo tự bào chữa. Bồi thẩm đoàn cũng gồm toàn nông dân đã làm chủ tịch đoàn trong cuộc đấu tố. Án có thể từ năm năm khổ sai đến tử hình, kèm theo tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Những người bị kêu án tử hình bị bắn ngay sau khi tuyên án, và hố chôn đã đào sẵn trước khi tòa nhóm họp. Hồi đầu, những người bị xử tử hình được phép tuyên bố vài lời trước khi bị bắn, nhưng sau khi một người, trước khi chết, hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm! Đảng Lao động muôn năm!” thì thủ tục “tư sản” này bị bãi bỏ. Từ đó về sau, hễ tòa tuyên án tử hình thì tức khắc một cán bộ đứng sau nạn nhân, nhanh tay nhét giẻ vào miệng và lôi đi bắn. Mồ chôn địa chủ bao giờ cũng san phẳng và cấy cỏ lên trên. Những cuộc xử bắn địa chủ bao giờ cũng tổ chức thành biểu tình. Công chúng vỗ tay hoan hô khi nạn nhân ngã ngục dưới làn đạn.
Người tham dự đấu tố không khỏi liên tưởng đến cảnh mèo vồ chuột, mèo vờn đi vờn lại con chuột chán chê rồi mới cắn chết. Cộng sản đối với địa chủ cũng y hệt như vậy. Mang địa chủ ra đấu tố chán chê trong ba ngày liền, rồi vài hôm sau mới mang địa chủ ra bắn. Họ làm như vậy hình như nhằm hai mục đích: thỏa mãn bản năng tàn ác của một số cuồng tín; và gieo rắc khiếp đảm trong tâm hồn toàn thể nhân dân. Cải cách ruộng đất còn một hình thức khác cần phải nói tới là chính sách “Cô lập địa chủ”. Số người chết vì chính sách “Cô lập địa chủ”này, còn đông gấp mười lần số người bị tòa án nhân dân đặc biệt kêu án tử hình.
Hễ bị quy là địa chủ thì tức khắc bị toàn thể dân làng coi như con chó ghẻ. Không ai được chào hỏi hoặc trò chuyện, trẻ con được phép, hoặc nói đúng hơn được khuyến khích ném đá, nếu chúng thấy địa chủ ra đường hoặc đứng trước sân. Trong hơn một năm trời, từ ngày bắt đầu chiến dịch thứ nhất đến ngày kết thúc chiến dịch thứ hai, địa chủ và gia đình không được phép ra khỏi ngõ, trừ khi bị gọi ra Ủy ban có việc. Vì chính sách cô lập này, phần lớn gia đình địa chủ bị chết đói, trẻ con và người già chết trước, người lớn chết sau.
Mục đích của “chính sách cô lập” vô cùng kinh khủng này là nhằm tiêu diệt cho kỳ tuyệt giống “bóc lột” ở nông thôn. Như đã nói ở phần trên, không hề có thống kê về số người bị chết đói vì chính sách “Cô lập địa chủ” nhưng có thể ước đoán rằng đa số thành phần giai cấp “địa chủ” đã bị chết như vậy. Trong bài diễn văn đọc trước Đại hội toàn quốc của Mặt trận tổ quốc, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói: “Trong khi đập tan giai cấp địa chủ, ta không phân biệt đối xử, ta để cho chết chóc thê thảm những người già cả, hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu diệt”.
Cũng về mục này Nguyễn Hữu Đang, Bộ trưởng bộ Văn hóa trong chính phủ Việt minh đầu tiên, đã viết trong báo NHÂN VĂN như sau:“Trong Cải cách ruộng đất, những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tử, xử bắn, tịch thu tài sản hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây làm cho chết đói những thiếu nhi vô tội trong các gia đình địa chủ, hoặc gia đình nông dân bị quy sai thành phần”.
Quả thực ông Hồ đã chủ tâm diệt chủng giai cấp địa chủ không khác Đức Quốc xã diệt chủng người Do Thái. Nhưng nếu so sánh, chúng ta có thể nói Hitler và Eichmann đường hoàng hơn ông Hồ và ông Mao, vì khi họ ra lệnh lùa người Do Thái vào phòng hơi ngạt, họ ngang nhiên nhận lãnh trách nhiệm về quyết định của họ trước công luận và trước lịch sử. Trái lại, ông Hồ và ông Mao muốn ban cho giai cấp địa chủ một “cái chết tự nhiên”, để hai ông không bị mang tiếng giết họ, bắt họ phải chết một cách “bất đắc kỳ tử”.
Ngay cả sau Cải cách ruộng đất, nếu ốm đau, địa chủ và thân thuộc cũng không được chữa chạy thuốc men. Tình trạng này đã được luật sư Nguyễn Mạnh Tường tóm tắt như sau:“Khi đưa tới bệnh viện, một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là: Bệnh nhân thuộc thành phần giai cấp nào? Chữa cho địa chủ thì “mất lập trường”. Để nó chết mới chứng minh mình có “lập trường giai cấp”. Những địa chủ còn sống sót tới phong trào Sửa sai sau phong trào hạ bệ Stalin ở Nga, là nhờ được hàng xóm mủi lòng giúp đỡ bằng cách, tối đến, ném cơm và thuốc men qua hàng rào để cứu họ và gia đình khỏi chết. (Hết trích)
Sydney ngày 28 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.029 chữ)
Bài 253: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956.
Lê Xuân Đỗ
Mặc dù tàn bạo quá sức tưởng tượng “Chiến dịch Giảm tô” chỉ mới là màn khai mào tương đối ôn hòa hơn so với Chiến dịch Cải cách ruộng đất khốc liệt bội phần. Khoảng một năm sau chiến dịch Giảm tô, thì đến “Chiến dịch Cải cách Ruộng đất”. Sở dĩ có một năm xả hơi là vì cần phải chỉnh đốn lại làng mạc, cả về kinh tế lẫn về hành chính. Trong suốt mấy tháng nông dân đã mất quá nhiều thì giờ họp hành, biểu tình, đấu tố nên xao lãng công việc đồng áng. Làng nào mới qua chiến dịch Giảm tô cũng như mới qua một trận bão, rào giậu đổ nát, nhà cửa siêu vẹo, chó, lợn và cả trâu bò đi lang thang không người chăn dắt.
Người nông dân thất điên, bát đảo, rã rời, không mấy ai còn bụng dạ làm ăn. Họ “đầu tắt mặt tối” bao đời để mong có ngày “mát mặt” với làng nước, chắt bóp dành được ít nhiều của cải để lại cho con cháu. Bỗng nhiên, họ thấy hễ có của ăn của để hơn người là đắc tội, nên không muốn làm lụng làm gì cho “vừa tốn sức vừa nguy hại đến bản thân”…
Để khắc phục thái độ uể oải của nông dân, Đảng bèn đề ra chính sách “Thi đua xã hội chủ nghĩa”, đốc thúc nông dân sửa nhà sửa cửa, đào kênh đắp đường, chống lụt, chống hạn. Cứ liên miên như vậy cho đến ngày họ cảm thấy nếp sống tập thể đã thay thế cho nếp sống riêng rẽ, họ chỉ cần tuân theo chỉ thị của nông hội, không cần có sáng kiến cá nhân. Năm xả hơi cũng là năm cải tổ lại Ủy ban hành chính và Chi bộ xã vì cả hai đều đã bị giải tán lúc chiến dịch Giảm tô mới bắt đầu. Tất cả cán bộ và đảng viên cũ, nếu có ít nhiều liên quan với giai cấp địa chủ, dù có tích cực và có thành tích bằng mấy cũng bị gạt ra ngoài.
Lần này, Ủy ban Hành chánh và Chi bộ gồm toàn đảng viên mới được kết nạp, đa số là bần nông và cốt cán, những người đã “đấu hăng” trong chiến dịch vừa qua, dù có mù chữ cũng không sao. Tất nhiên, có sự xung đột giữa hai loại đảng viên, và kết quả là các “đảng viên mới” có quyền bính trong tay và nhân dịp chiến dịch Cải cách ruộng đất, họ quy hầu hết các “đảng viên cũ” là địa chủ và bắt tống giam. Vô số đảng viên cũ bị quy là Việt gian phản động, cường hào, gian ác và bị xử bắn, con số những người còn bị giam, chưa kịp mang bắn, và được thoát chết nhân dịp Sửa sai lên tới 12 ngàn người (con số của báo Nhân dân). Những người này nhờ Sửa sai mà thoát chết, nhưng khi được tha về cũng đã mất cửa mất nhà, có khi mất cả vợ.
Một câu hỏi cần được đặt ra là: Tại sao các đảng viên cũ còn đang được kính nể trong chiến dịch thứ nhất (Giảm tô) lại bị bạc đãi trong chiến dịch thứ hai (Cải cách ruộng đất)? Việc Đảng trở mặt đối với họ hình như có những lý do: (1) Cải cách ruộng đất là một cuộc thanh trừng đại quy mô, các đảng viên cũng phải thanh trừng như “quần chúng” không Đảng, và Đảng ủy thác cho bần cố nông thực hiện cuộc thanh trừng này. Sở dĩ kỳ trước đảng viên được yên thân và kỳ này đảng viên mới bị là tại Đảng có một chiến lược đặc biệt: quần chúng trước, đảng viên sau: đũa không bẻ cả nắm.
(2) Hầu hết các đảng viên cũ đều thuộc thành phần phú nông địa chủ, nên đến lúc Đảng cần “vô sản hóa” hàng ngũ, các đảng viên cũ bị quy là địa chủ, và bị loại trừ thì cũng chẳng có gì là lạ. (3) Sở dĩ có sự xung đột giữa đảng viên cũ và đảng viên mới, là vì trong mười năm đảng viên cũ cầm quyền ở nông thôn họ đã trở thành một giai cấp mới. (4) Họ nói họ có lập trường vô sản, nhưng thực sự thì họ vẫn kỳ thị vô sản, miệng vẫn nói: “anh chị em nông dân” nhưng trong thâm tâm vẫn coi bần cố nông là “dân ngu khu đen”. Có thể nói rằng hình phạt họ phải chịu trong chiến dịch Cải cách ruộng đất một phần do hậu quả của thái độ hống hách của các đảng viên củ (phú nông, địa chủ) trong mười năm qua (1945-1955).
(5) Hơn nữa, trong chiến dịch Cải cách ruộng đất, Đảng ấn định cho mỗi xã một con số tối thiểu địa chủ bị tù đày và bị tử hình cao quá mức, năm lần nhiều hơn trong chiến dịch giảm tô, nên nếu lần này đảng viên cũ vẫn được ngoại lệ thì không kiếm đâu cho đủ số người mang đi xử tử hoặc cho vào tù.
Vì những lý do kể trên nên thế tất, phải xảy ra cuộc xung đột giữa hai loại đảng viên, giữa đảng viên cũ mà đa số thuộc thành phần ưu tú, có học ở nông thôn hầu hết là phú nông địa chủ, gia nhập Đảng không phải vì quyền lợi giai cấp mà chỉ vì “yêu nước, chống ngoại xâm” hoặc bị hấp dẫn bởi lý thuyết Mác-xít, hoặc vì tham vọng nào khác. Ngược lại, những đảng viên mới gồm bần cố nông và một số bất lương du đãng. Bọn đảng viên mới này không có tham vọng gì hơn là lôi tuột tất cả mọi thành phần trong xã hội xuống ngang mức với mình.
Sự xung đột giữa mới và cũ cũng là điều mà Đảng muốn vì Đảng quan niệm có xung đột “thanh trừng mới hữu hiệu” mới có điều kiện để chuyển từ thế “phản đế” sang thế “phản phong”. Chứng cớ là mặc dù vô số đảng viên kỳ cựu bị tù đày hoặc hành quyết mà Đảng không hề can thiệp. Mãi đến khi chiến dịch kết thúc, ông Võ Nguyên Giáp mới thay mặt Đảng, tuyên bố việc chém giết tràn lan là một việc đại sai lầm.
Cũng in hệt Giảm tô, Cải cách ruộng đất cũng bắt đầu bằng một cuộc quy định thành phần, lần này là quy định lại, rồi đến đấu tố và sau đó là xử án và xử bắn. Thủ đoạn reo rắc khủng khiếp cũng y hệt chiến dịch trước, chỉ khác ở một điểm là lần này số nạn nhân đông hơn gấp bội. Mỗi xã tối thiểu phải xử tử năm mạng. Số người tự vẫn có phần tăng nhiều hơn, vì lẽ những người mới bị “vạch mặt” (phát hiện là địa chủ) không chịu nổi nỗi nhục vì trước đây một năm, họ còn “tố hăng” những người bị quy là địa chủ trong chiến dịch trước.
Số người chết đói vì “cô lập” cũng tăng nhiều hơn vì những phú nông hoặc trung nông mới lên chức địa chủ không có đủ điều kiện tinh thần và vật chất để sống qua thời kỳ cô lập bằng các địa chủ chính cống. Về tâm lý, các địa chủ chính cống lâu nay đã chuẩn bị tinh thần để chịu “búa rìu” của thời đại. Về vật chất họ cũng có nhiều thuận lợi. Nhiều gia đình địa chủ có con cái kèm theo nghề khác mà theo luật Cải cách ruộng đất không đụng chạm tới, như công nghệ hoặc buôn bán. Họ lại còn có bà con, bạn bè làm cán bộ bí mật giúp đỡ. Trái lại, những địa chủ mới bị đôn lên, trước kia là phú nông, trung nông, đều là những người chỉ biết trồng cây cuốc đất, và suốt đời không ra khỏi làng.
Sở dĩ họ “có đủ bát ăn” hơn người khác là chỉ tại họ suốt đời thực hiện phương châm “làm nhiều ăn ít”. Ngày nay, bỗng dưng bị quy là địa chủ, họ không có chỗ sở cậy nên không tránh khỏi chết đói trong thời gian cô lập. Về truất hữu tài sản thì hai chiến dịch chỉ khác nhau ở một điểm: Trong GIẢM TÔ, tịch thu tài sản chỉ là một hình phạt của tòa án nên chỉ có địa chủ “đầu sỏ” mới bị tịch thu hoặc một phần, hoặc toàn bộ tài sản. Trong CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, toàn bộ tài sản của tất cả mọi địa chủ đều bị trưng thu nghĩa là sung công mà không được trả tiền, trên thực tế, không khác tịch thu gì hết.
Sydney ngày 29 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.541 chữ)
Bài 254: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Xin lưu ý, trong chiến dịch đầu, chiến dịch GIẢM TÔ, chỉ có địa chủ “đầu sỏ” mới bị xử án và bị tòa tuyên án tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Đấy là một hình phạt để trị tội những địa chủ Việt gian phản động. Nhưng địa chủ không bị ra tòa, hoặc có ra tòa nhưng tòa không tuyên án tịch thu tài sản thì vẫn giữ nguyên sở hữu nhà cửa ruộng nương của mình. Nhưng đấy chỉ là trên lý thuyết. Thực tế thì ngay từ hồi mới phát động chiến dịch, tất cả đồ đạc trong nhà họ đã bị ghi vào biên bản. Họ không được phép bán bất cứ thứ gì, dù nhỏ nhặt nhất, và hễ mất mát hoặc hư hỏng, họ sẽ phải chịu trách nhiệm.
Từ ngày ấy trở đi, một thửa vườn của địa chủ chẳng hạn, vẫn là tài sản hợp pháp của địa chủ, nhưng trái cây trong vườn đã bị coi là của “nhân dân” rồi. Có nhiều địa chủ bị đánh đập thậm tệ cũng chỉ vì, như ông Adam và bà Êva, họ không cưỡng lại được sự cám dỗ của những “trái chín” trong vườn họ, trước mắt họ… Biện pháp phi lý này cũng áp dụng cho cả lúa ruộng. Trên lý thuyết, ruộng vẫn còn là của tư hữu của địa chủ, nhưng tá điền phải nộp cho nông hội. Tình trạng rắc rối này kéo dài trong một năm cho đến phát động chiến dịch CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, chính quyền mới tuyên bố tịch thu, hoặc trưng thu tất cả ruộng đất “thừa” của địa chủ.
Theo một đạo luật (Sắc lệnh số 197/SL, ban hành ngày 19 tháng 12 năm 1953. Chương 2, Điều 4) thì chỉ có ruộng đất, trâu bò và nông cụ thừa mới bị sung công, còn tất cả mọi thứ khác đều không đụng đến. Nhưng đến thực tế thì địa chủ và gia đình bị đuổi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng. Cũng theo sắc lệnh này, có ba loại truất hữu khác nhau: (1). TỊCH THU ruộng đất và tài sản của “thực dân, đế quốc và Việt gian phản động”. Đối với thực dân đế quốc thì tịch thu toàn bộ, còn đối với Việt gian phản động thì tịch thu nhiều ít tùy theo tội trạng. (2). TRƯNG THU phần tài sản của Việt gian phản động còn lại, sau khi đã tịch thu một phần. Trưng thu cũng là lấy không trả tiền, chỉ khác tịch thu ở chỗ không cần phải đưa ra tòa.
(3). TRƯNG MUA tài sản của những địa chủ không phản động. Theo sắc lệnh thì trưng mua nghĩa là truất hữu có bồi thường. Người bị truất hữu sẽ được trả bằng quốc trái. Giá ruộng ấn định bằng số MỘT NĂM HOA LỢI, và chính phủ HỨA sau mười năm sẽ trả, và chịu lãi cho người bị truất hữu mỗi năm một phân rưỡi. Chính phủ tỏ vẻ rất sòng phẳng và pháp luật rất minh bạch, nhưng trên thực tế thì chẳng địa chủ nào được “trưng mua” cả, vì một lẽ rất giản dị: không có địa chủ không phản động. Vì vậy nên biện pháp trưng mua chỉ có trên giấy tờ. Trên thực tế, tất cả tài sản của mọi địa chủ đều bị trưng thu, nếu không bị tịch thu.
Mãi đến chiến dịch Sửa sai mới có một số địa chủ được tha khỏi tù, được hạ xuống làm “địa chủ thường” hoặc “địa chủ kháng chiến” có khi xuống thành trung nông và ngay cả bần nông. Họ được hoàn lại tài sản, nhưng thực sự thì họ chỉ được lấy lại một phần ruộng nương và nhà cửa. Nói là nhà cửa, nhưng chỉ còn mái nhà và mấy hàng cột, vì trước khi giao trả cho họ và dọn đi nơi khác, những bần cố nông được phép chiếm cứ nhà cửa của họ đã đánh tháo cánh cửa và vách ván làm củi đun. Cây cối trong vườn cũng bị chặt mang đi bán và trâu bò cũng bị đánh què làm thịt. Đồ đạc phân chia cho bần cố nông thì bần cố nông đã bán đi bán lại qua tay nhiều người không còn tìm thấy tung tích.
Có thể có một số “nhân sĩ tiến bộ” như ông Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại và ông Hồ Đắc Điềm được TRƯNG MUA tài sản và được giao tờ quốc trái bồi thường, nhưng tới nay đã đủ 10 năm, mà chưa nghe nói hoặc đăng trên báo chí Hà Nội là đã có ai được lĩnh tiền bồi thường cùng với số lãi 15 phần trăm trong 10 năm. Có điều chắc là nếu chính quyền Bắc Việt làm ngơ thì chẳng có ai to gan dám mở miệng đòi, vì nếu đòi tiền bồi thường ruộng đất tức là còn “óc địa chủ”; và như vậy tất nhiên không đáng được chức “nhân sĩ tiến bộ” hoặc bất cứ thành phần nào khác ngoài thành phần địa chủ.
Như thông cảm lẫn nhau, cả Đảng lẫn người mất ruộng đều làm ngơ sắc lệnh 197 SL, không đả động gì đến cả vốn lẫn lãi. Như vậy, là trên thực tế, cả ba hình thức truất hữu: tịch thu, trưng thu và trưng mua đều giống hệt nhau. Không kể những ông “nhân sĩ tiến bộ” chỉ mất ruộng không, nhưng được yên trên Việt Bắc, còn mọi loại địa chủ đều bị đuổi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng và vài mảnh áo rách… Việc truất hữu tài sản của địa chủ cũng được cử hành với hình thức rất uy nghi. Sau đây là một bài báo tả cảnh buổi tịch thu tài sản đăng trong báo Cứu quốc số 2741, ngày 1 tháng 1 năm 1956:
“Nông dân thôn Thượng rùng rùng kéo đến nhà tên Phong (địa chủ). Cờ phơi phới. Tiếng trống thiếu nhi rồn rập. Những tiếng hô khẩu hiệu “đả đảo” và “hoan hô” không ngớt. Giữa sân lù lù một đống cày cuốc, ô doa, liềm hái, thúng mủng cho tới nồi ba mươi, nồi mười, mâm đồng, chậu thau… hàng dẫy. Quanh sân những cây hải đường, cây mẫu đơn rực rỡ. Đồng chí cốt cán gọi vợ tên Phong ra. Đồng chí nhân danh nông hội tuyên bố tịch thu toàn bộ tài sản của nó. Tiếng đấu tranh của nông dân mỗi lúc càng gay gắt, như không chấm dứt...
Đồng chí cốt cán tuyên bố, vạch rõ cho con mẹ địa chủ thấy đời nó, đời cha, đời ông nó không lao động, chuyên bóc lột, chiếm đoạt, mới có những của này. Của này là của nông dân… Con mẹ địa chủ mặt tái mét. Cả người nó run run. Đồng chí dõng dạc tuyên bố xóa bỏ hẳn quyền chiếm hữu gồm 24 mẫu ruộng và toàn bộ tài sản của nó. Tiếng vỗ tay ran lên “Hồ chủ tịch muôn năm!”, “Hoan nghênh chính sách tịch thu, trưng thu, trưng mua của Đảng và của chính phủ!”. Hàng đoàn thanh niên nam nữ quẩy những gánh thóc từ nhà ngang qua sân... Hai con trâu cũng vừa dắt ra. Tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô vang dậy. Bà con thu xếp quẩy đổ đi. Khiêng, vác, gánh lũ lượt. Trống ếch các thiếu nhi càng ròn rã”.
Sau lễ tịch thu, một số vật dụng riêng của địa chủ được mang ra triển lãm trước khi chia cho nông dân. Để làm nổi bật mức sống “xa hoa” của địa chủ, đồng thời cũng triển lãm cả vật dụng của bần cố nông. Một bên phòng triển lãm bày nào là áo gấm, mũ tây, can, giầy tây, điếu khách, ống nhổ, an bom ảnh (trong an bom nhiều khi có cả ảnh cán bộ), còn một bên là váy đụp, áo rách, vài chiếc nồi đất để nói lên sự nghèo nàn của nông dân. Đôi khi có cả hai mâm cơm. Mâm của địa chủ thì nào là gà, cá, heo quay, rượu đế, còn mâm cơm của nông dân thì chỉ có cơm hẩm, cà thâm và một bát tương nặng mùi.
Năm 1954, sau khi cộng sản tiếp thu Hà Nội được vài tuần, họ có tổ chức một cuộc triển lãm như vậy tại vườn hoa Hàng Đậu, ở giữa thủ đô. Mục đích là để chứng minh cho dân thành thị thấy việc đánh đổ giai cấp địa chủ là một việc “hợp tình hợp lý”, để lôi cuốn họ theo cách mạng vô sản. Nhưng chẳng bao lâu cuộc triển lãm bị dẹp ngay vì dư luận của những người đi xem cho rằng, nếu đó là mức sống của địa chủ nông thôn (áo gấm đã bạc màu, mũ tây “phở”) thì hãy còn thấp hơn mức sống của một công nhân Hà Nội.
Sydney ngày 30 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.559 chữ)
Bài 255: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH SỬA SAI” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956.
Lê Xuân Đỗ
Năm 1956, Chương trình Cải cách ruộng đất vừa thực hiện, và sau khi thiết lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn, thì đột nhiên Đảng Lao động tuyên bố là đã phạm nhiều sai lầm. Vì vậy, nên Đảng phát động ngay một chiến dịch “Sửa sai” bắt đầu bằng việc “tự rút lui” của ông Trường Chinh, tổng bí thư Đảng và ông Hồ Viết Thắng, thứ trưởng phụ trách Cải cách ruộng đất. Võ Nguyên Giáp, tạm thời làm phát ngôn viên của đảng đọc một bản kê khai những “sai lầm”, của Cải cách ruộng đất, trước Hội nghị thứ 10 của Trung ương đảng. Nhiều quan sát viên ngoại quốc tin rằng “quả có sai lầm” và chính quyền Hà Nội thực tình sửa chữa. Có người lại cho rằng Cải cách Ruộng đất của cộng sản đã thất bại.
Sự thực thì khác hẳn, CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT có nhữn g động cơ thầm kín là Tịch thu và phân chia ruộng đất chỉ là giai đoạn chuyển tiếp, tập thể hóa ruộng đất mới là mục đích tối hậu. Muốn bắt buộc toàn thể nông dân phải cam chịu số phận sống dưới chế độ tập thể, các lãnh tụ cộng sản thấy cần phải tiêu diệt tận gốc “tư tưởng tư hữu tài sản từ mấy ngàn năm đã chôn sâu trong tiềm thức của mọi người dù là bần cố nông”. Muốn đạt tới kết quả họ áp dụng câu cách ngôn “sát nhất nhân, vạn nhân cụ”. Áp dụng vào Cải cách Ruộng đất, câu cách ngôn trên có thể đổi thành “Giết một số địa chủ để không còn một ai muốn sở hữu ruộng đất”.
Chính vì vậy, cộng sản ấn định cho mỗi xã một số tử hình nhất định, ngay cả ở những xã mà toàn thể ruộng đất là công điền. Quả nhiên, mọi người mất hồn mất vía ngay tức khắc. Đảng bắt nông dân phải đấu tố và chém giết địa chủ để làm bàn tay nông dân phải dính máu. Một khi tay đẫm máu thì chỉ còn một cách là đi với Đảng cho đến tận cùng. Người nông dân đành phải chấp nhận số phận nào mà Đảng đã dành cho. Sau khi tàn sát một số người lên tới 5% dân số Bắc Việt, người nông dân có cảm giác tội lỗi, thì lại được cộng sản đề cao là “Tinh thần của anh chị em nông dân đã vươn lên làm chủ lấy vận mệnh của mình”.
Về phương diện chính trị, CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT đánh dấu một bước ngoặt từ lập trường Phản đế sang lập trường Phản phong, hay nói một cách khác, từ Kháng chiến chống thực dân Pháp sang Chém giết địa chủ người Việt. Vì mục tiêu đấu tranh đột nhiên thay đổi nên Đảng thấy cần thiết phải thanh trừng tất cả các phần tử quốc gia trí thức, tiểu tư sản trong hàng ngũ kháng chiến, ngay cả những đảng viên mà Đảng nghi ngờ không hoàn toàn là công nông chính thống. Đảng cho rằng một cuộc thanh trừng triệt để không thể nào thực hiện được bằng cách ủy thác cho cấp trên nhiệm vụ chọn lọc và khai trừ cấp dưới. Vì đầu óc bè phái hãy còn ăn sâu nên, nếu dùng phương pháp kể trên, sẽ có rất nhiều người lọt lưới.
Theo nhận thức của Đảng thì thanh trừng phải thực hiện từ dưới lên trên, nghĩa là phải bắt đầu từ cấp xã “phóng tay”. Do bần cố nông trong xã thanh trừng “phản động”, vì chỉ có người cùng làng mới biết rõ thái độ chính trị của mỗi người trong làng, Đảng nói: “Nhân dân rất sáng suốt, và trong nhân dân, “chỉ có bần cố nông là đáng tin cậy hơn cả”. Đảng thừa biết rằng nếu phóng tay thì quần chúng sẽ đấu tố bừa bãi, nhưng suy đi tính lại, thà bừa bãi một chút mà “tiệt nọc” còn hơn thận trọng mà kết quả hời hợt. Đảng vẫn nhắm mắt làm ngơ để mặc cho sai lầm tiếp diễn. Hàng vạn người bị giết oan, bị tù đày, hoặc bị bao vây cho đến chết đói, mà Đảng chẳng hề giơ một ngón tay nhỏ cứu vớt lấy một người.
Theo luật pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì người bị kết án tử hình có quyền ký đơn xin Hồ chủ tịch ân xá, nhưng thực tế, ông Hồ không hề ân xá lấy một người gọi là, ngay cả những đảng viên trung kiên trước khi bị bắn hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm!” Tháng 3 năm 1956, ông Hồ có ra lệnh tạm đình chỉ mọi vụ hành quyết, nhưng đấy là hậu quả xa xôi của Phong trào “Hạ bệ Stalin phát xuất từ Moscou, nhân kỳ Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô. Những người may mắn thoát chết – vì bản án xử tử chưa kịp thi hành – và sau này được trả tự do không hề chịu ơn ông Hồ, mà một cách gián tiếp, họ đã chịu ơn Khrushchev.
Biện pháp đầu tiên của Sửa sai là tha hết địa chủ và đảng viên ra khỏi nhà tù hoặc trại giam. Tổng số những người được tha chưa hề tiết lộ, trong số người được tha có ông Ngô Đức Mậu, một đảng viên cộng sản kỳ cựu đã từng sống nhiều năm trong ngục Lao Bảo hồi Pháp thuộc, đã tả nỗi đau khổ trong ngục thất cộng sản như sau: “Những lúc bị giam giữ trong buồng riêng cô quạnh, rét mướt, đau khổ, những anh em thường an ủi nhau ‘củng cố lòng tin để chịu đựng ngược đãi, củng cố lòng tin để sống’ vì ở tù đế quốc và ở tù hiện nay (cộng sản) nó khác xa nhau. Ở tù đế quốc bị hành hạ bằng thể xác nhưng tinh thần lành mạnh được an ủi, khoan khoái… Còn ở đây (tù cộng sản) chúng tôi bị giày xéo cả thể chất lẫn tinh thần. Chung quanh chúng tôi, ai nấy đều cho chúng tôi là địch, là kẻ bán nước hại dân, thì bảo họ đồng tình với chúng tôi sao được…”
Ngô Đức Mậu còn than vãn là bị chính các đồng chí cộng sản của ông tra tấn, không cho ông tự bào chữa: “Những việc mà một số anh em cán bộ ở Hà Tĩnh dựng đứng lên, hoặc lật ngược lại những thành tích đã qua của tôi (từ thời Đông Dương Cộng sản Đảng) để truy bức tôi suốt ngày đêm, để buộc tội phải nhận những việc mà tôi chưa hề làm, mà cũng chưa bao giờ nghĩ tới… Cuộc truy bức càng ngày càng nặng, nó vượt ra ngoài khuôn khổ của một cuộc đấu tranh về nguyên tắc. Tôi ỳ ra mãi cũng không được. Nhiều ý nghĩ khác (tự tử chẳng hạn) lại nảy nở ra và xoay quanh trong đầu óc tối như chong chóng”. (NHÂN DÂN, 30 tháng 10, 1956)
Sydney ngày 31 tháng 5 năm 2023
(Bài viết có 1.243 chữ)
Bài 256: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH SỬA SAI” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Tuy nhiên, trước khi được ra về, họ phải ở lại nhà tù một tháng để học lớp “sửa soạn ra về”. Dưới sự chỉ dẫn của một đại diện Đảng, họ phải học tập, nghiên cứu những vấn đề phức tạp của bản thú nhận sai lầm của ông Võ Nguyên Giáp, bài nói về thái độ tự phê bình của Đảng, chủ nghĩa Mác-xít không bao giờ sai, và “thái độ đúng đắn đối với những người đã tố sai”. Đảng hứa sẽ hồi phục công quyền và hoàn lại tất cả tài sản mà Đảng đã tịch thu của họ. Đảng khuyên họ nên quên những nỗi đau khổ vừa qua, củng cố lại lòng tin nơi Đảng và tiếp tục phục vụ Đảng một cách trung thành như đã phục vụ từ trước. Điều cần nhất là tuyệt đối không được trả thù những người đã vu oan giá họa cho mình.
Các Uỷ ban xã được lệnh cử phái đoàn đến tận nhà tù đón rước những người bị giam và đưa họ về quê quán. Dĩ nhiên là họ vui mừng khôn xiết khi họ đặt chân tới làng cũ gặp lại vợ con. Tờ NHÂN DÂN đã kể trường hợp của Tân, một trong số những người cùng cảnh ngộ. “Gia đình đồng chí xưa nay là trung nông. Từ đời ông, đời cha, đến đời đồng chí (Tân) vẫn cày sâu, cuốc bẫm. Đồng chí tham gia cách mạng từ những ngày đầu khởi nghĩa. Năm 1947, xã đồng chí bị địch chiếm đóng, cũng là năm đồng chí được rèn luyện, thử thách nhiều và được kết nạp vào Đảng. Làm bí thư chi bộ và chủ tịch xã, đồng chí đã lãnh đạo nhân dân anh dũng đánh giặc.
Bao nhiêu lần xã bị địch càn quét đồng chí phải nằm hầm nhịn đói, có lần phải bật ra vùng du kích, nhưng rồi vẫn tìm cách trở về xây dựng lại cơ sở tiếp tục chiến đấu cho đến ngày kháng chiến thắng lợi. Sau ngày hòa bình lập lại, thi hành chỉ thị của cấp trên, đồng chí đã chuẩn bị cho cuộc đấu tranh chống phong kiến (Cải cách Ruộng đất). Nhưng chẳng những đồng chí không được tham gia cuộc đấu tranh ấy mà trái lại, đã bị quy là địa chủ cường hào gian ác phản động đầu sỏ và bị đánh đổ (đấu tố) một cách quyết liệt. Thật là đau xót! Mỗi lần nghĩ tới không sao nén nổi phẫn uất”!
Nhân dịp Sửa sai, Tân được tha về, và: “Đồng chí (Tân) lẩm nhẩm tính: “Ngót tám tháng bị giam cầm, chờ duyệt án tử hình, hơn một tháng học tập trước khi trả tự do”. Thấm thoát đã xa nhà chín tháng. Mai về gặp lại vợ con, họ hàng, làng xóm. Đồng chí hồi hộp nghĩ tới những phút sẽ được gần lại vợ, gần lại con, những hơi thở, những bàn tay ấm áp… Đồng chí chưa lên nhà ông Lễ (anh Tân) vội, lại rẽ vào gian bếp lụp xụp nơi ở của vợ con đồng chí sau ngày tất cả tài sản của gia đình đồng chí bị tịch thu. Đồng chí phải khom người mới bước được vào trong bếp. Bồ hóng chằng chịt trên nóc, trên vách. Một chõng ọp ẹp kê chật cả nửa bếp. Em gái đồng chí chạy vào, khóc lóc: “Sung sướng chưa anh ơi! Trong khi anh đi tù, người ta bắt chị và các cháu phải sống chui sống rúc thế này!”
Đồng chí thấy đau lòng trước cảnh sống khổ cực của vợ con trong những ngày qua. Đồng chí còn trấn tĩnh, xua tay bảo em gái, mà chính mình cũng là nói với lòng mình: ‘Khóc lóc, oán hận chẳng có ích gì mà chỉ gây cho mình thêm đau khổ’. Rồi đồng chí đi ra thẳng lên nhà ông Lễ. Nhà ông Lễ tối hôm ấy đông vui hơn cả ngày cưới anh Bái, con trai ông… Hết ấm nước này đến ấm nước khác, câu chuyện đi sâu vào tình cảm gia đình, họ mạc, xóm giềng. Bà con nhắc lại những chuyện sai lầm trong Cải cách ruộng đất, những chuyện buộc lòng phải đấu, tố nhau, dứt tình dứt nghĩa. Lòng ai nấy xót xa. Không khí nhiều lúc trầm trầm lặng xuống”. (NHÂN DÂN, 14 tháng 11, 1956)
Biện pháp thứ hai của Sửa sai là hoàn lại những tài sản đã tịch thu của họ, nếu còn có để hoàn lại. Những thứ được trả lại phần nhiều chỉ là nhà cửa, vườn tược, nhưng tất cả đều điêu tàn vì những bần cố nông được thụ hưởng không đủ phương tiện chăm nom. Còn trâu bò đã bị làm thịt mang ra chợ bán. Nhưng mặc dầu của cải hoàn lại chẳng còn được là bao, những người được trả lại cũng hết sức hoan hỉ. Ý nghĩ sẽ được trở về nơi chôn rau cắt rốn và sống dưới mái nhà tổ tiên xây cất cũng đủ làm cho họ vui lòng. Chỉ có những bần cố nông được ở trong nhà của địa chủ trong mấy năm, bây giờ phải cuốn gói ra đi mới là thật đau lòng.
Biện pháp thứ ba của Sửa sai là “trả lại vợ” cho những người đã bị “tịch thu” mất vợ. Có trường hợp người vợ tự ý bỏ, vì sợ bị “liên hệ”, hoặc vì hai bên thông gia đã “tố” nhau nên gây thù oán. Nhưng, thông thường là người vợ còn trẻ và duyên dáng, nên một đảng viên “mới” nào đó ép phải lấy hắn trong khi chồng đi tù. Một số đông những người phụ nữ bất hạnh này đã sống với chồng mới tới hai ba năm, nên khi chồng cũ tha về thì đã có con với chồng mới, thành ra vấn đề “hoàn vợ lại cho chồng cũ” là một vấn đề nan giải. Vấn đề này đã được giải quyết bằng một Thông tư của Bộ Tư pháp ban hành ngày 19 tháng 4 năm 1957, do Thứ trưởng Bộ trưởng Bộ tư pháp Trần Công Tường ký, theo đó, bộ đề ra chủ trương sau:
1. Đối với vợ chồng bỏ nhau đã có con hoặc chưa có con, nhưng vợ chưa lấy chồng khác, chồng chưa lấy vợ khác, thì phương châm là kiên trì giải quyết tư tưởng cho hai bên thông cảm nhau là do sai lầm chung mà vợ chồng bỏ nhau, vậy nên về đoàn tụ với nhau như cũ, nhất là khi hai bên đã có con còn bé.
2. Đối với những vợ chồng bỏ nhau mà một bên đã lấy người khác rồi có hai trường hợp: (a) Nếu vợ đã đi lấy chồng mới mà chưa có con, nay vợ muốn trở về với chồng cũ và chồng cũ muốn đoàn tụ thì cho đoàn tụ và giải quyết cho người chồng mới thông. Nếu người vợ một mực ở với chồng mới dù chưa có con với người này thì nên giải thích cho người chồng cũ thoả thuận ly hôn với người vợ. (b) Trường hợp người vợ đã có con với chồng cũ, nhất là khi đứa con còn bé thì cẩn thận trong việc cho ly hôn. Trường hợp chồng đã lấy vợ mới, có con hay chưa có con, nay muốn về với vợ cũ, nhưng vợ cũ không muốn trở lại thì cần cho ly dị; trường hợp vợ cũ còn muốn trở lại với chồng thì nên căn cứ vào tình cảm của ba người đối với nhau và tùy tập quán địa phương mà giải quyết cho ổn thỏa.
3. Trường hợp hai bên đều lấy vợ lấy chồng khác rồi thì nên cho họ ly hôn để họ chính thức lập gia đình mới.
4. Trường hợp đa thê, nhân vì đấu tố mà vợ lẽ bỏ chồng thì nói chung nên giải quyết cho họ ly hôn, nhưng có trường hợp vì sinh kế, vì con cái hay vì tình cảm, người vợ lẽ muốn đoàn tụ thì giải quyết cho đoàn tụ.
Bản Thông tư không nói đến trường hợp những người vợ goá, vì chồng bị xử tử, và sau đó bị cán bộ ức hiếp phải lấy họ, cũng không nói tới trường hợp con gái địa chủ bị ép lấy bần cố nông, vì đối với Đảng, đấy chẳng phải là một sai lầm. Đảng không hề chú ý tới sự đau khổ và nhục nhã mà những phụ nữ kể trên phải chịu đựng trong mấy năm liền. Phụ nữ cũng chỉ là một thứ tài sản mà Đảng tự cho mình quyền phân phối theo ý muốn, y hệt ruộng đất, nhà cửa, đồ đạc vậy!
Sydney ngày 1 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.528 chữ)
Bài 257: CHUYỆN HOÀNG VĂN CHÍ KỂ LẠI VỀ “CHIẾN DỊCH SỬA SAI” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Các lãnh tụ Đảng yên trí rằng bấy nhiêu biện pháp: phóng thích khỏi trại giam; hồi phục danh dự những đảng viên bị giết oan; trả lại tài sản và vợ bị tịch thu là đủ xoa dịu lòng uất hận của nhân dân đối với Đảng, và bình thường hoá lại đời sống. Đảng tin rằng với thế lực của Đảng có thể ngăn chặn mọi cuộc chống đối, và một phần khác Đảng cũng tin rằng dân chúng đã bị khủng bố nên mất hết tinh thần, không còn, không dám nổi loạn. Thế nhưng, các “đảng viên mới” không hài lòng khi thấy các “đảng viên cũ” ra khỏi trại giam, và được khôi phục công quyền và đảng tịch. Họ thấy họ bị “mất mặt” và uy quyền của họ sẽ bị tiêu tan.
Báo Nhân dân viết:“Hiện tượng phổ biến là trên tư tưởng các đồng chí (mới) đó ngại thấy đảng viên, cán bộ, đồng chí (cũ) bị xử trí oan được trả lại tự do về, sẽ “vào bè” công kích đảng viên mới và cốt cán. Có đồng chí (mới) lo có những cuộc ẩu đả, trả thù…Có đồng chí (mới) lo không biết cách đối xử với các đồng chí (cũ) bị xử oan ra sao, ngượng ngùng vì đã tố cáo đồng chí (cũ) ấy, bây giờ niềm nở với nhau thế nào được… Do nhận thức lệch lạc trên đã dẫn đến một số hành động sai lầm như: Cuộc họp bàn đón rước các đồng chí (cũ) được trả tự do đã biến thành cuộc thảo luận để đối phó với các đồng chí (cũ) đó”. (NHÂN DÂN ngày 22 tháng 11 năm 1956)
Vì lo quá nên tại nhiều nơi “đảng viên mới” thấy giản tiện nhất là “thịt” các “đảng viên cũ” ngay khi họ mới trở về làng. Vụ giết người sau đây, xử tại toà án khu Ba chứng tỏ tình trạng nổi loạn kể trên. “GIẾT NGƯỜI CÓ VŨ KHÍ”! Vụ này gây cho hội trường một không khí căng thẳng và rất thương tâm. Hình ảnh gia đình nạn nhân với một bà mẹ già 72 tuổi, người vợ trẻ mới đẻ được 3 ngày, 9 người con còn nhỏ và nạn nhân chết một cách ghê rợn lởn vởn trong trí óc những người dự phiên toà. Mười hai can phạm đều là những thanh niên khỏe mạnh từ 18 đến 24 tuổi.
Ông Vũ Văn Tiện người thôn Phú Nông, xã Lô Giang huyện Tiên Hưng, nguyên chủ tịch uỷ ban Hành chính xã Lô Giang. Trong thời gian cải cách ruộng đất ông Tiện bị quy nhầm là địa chủ gian ác. Khi Sửa sai bước 1, ông Tiện được xuống thành phần trung nông và ngay sau khi được trả tự do, ông Tiện bị giết chết. Vũ Văn Hiển tức Tiến 22 tuổi, Chi uỷ viên kiêm chính trị viên xã đội đồng mưu với Vũ Văn Thung, Vũ Văn Đức công an phó, Vũ Văn Tư xóm đội, và cùng với Hồ, Xuyến, Soạn, Thiệp, Xế, Thất, Đán, Thư đều là quân dân du kích, đã giết chết ông Tiện.
Sau khi ông Tiện người vừa được trả tự do, Hiển liền tập hợp mọi người tại nhà Thung định mưu giết. Hai lần họ đã bố trí sẵn sàng nhưng không gặp. 10 giờ đêm ngày 28/1/57, Hiển cấp tốc tập trung anh em du kích rồi chia nhau bố trí. Khi ông Tiện về qua, Hiển bắn một phát súng trường. Ông Tiện ngã xấp xuống. Đoạn cả bốn xông ra chém, rồi Xuyến bắn luôn 6 phát súng tiểu liên nữa… Sau khi hành sự họ rất bình tĩnh. Hiển ra lệnh cho mọi người trở về chỗ bố trí cũ, nếu thân nhân ông Tiện ra sẽ giết luôn…” (THỜI MỚI, 14/03/1957)
Vụ “đảng viên mới” giết “đảng viên cũ” kể trên chỉ là một trong vô số vụ khác mà báo chí Hà Nội hồi đó đã nêu lên. Vụ này chứng tỏ một cách minh bạch rằng những bần cố nông, sau khi đã lên chức “đồng chí” không muốn rút bỏ uy quyền mà ba năm trước Đảng đã “phóng tay” trao cho. Sau nhiều vụ giết tróc, các “đảng viên mới” phải tìm cách tự vệ, và trong nhiều trường hợp cương quyết trả thù. Vì được phục hồi công quyền, đảng tịch và được dân làng có cảm tình, họ lùng bắt những kẻ đã tố oan cho họ, và hễ trước kia đã tố cho họ tội ác gì thì bây giờ họ thi hành đúng tội ác ấy.
Những kẻ trước kia “bịa ra tội ác” gì bây giờ được “hưởng” chính tội ác mình đã bịa ra. Trường hợp thông thường là nhét phân vào mồm những người tố điêu. Sở dĩ có chuyện bắt ăn phân là tại hồi đấu tố Đảng xúi giục bần cố nông khai rằng họ đã bị địa chủ nhét phân vào mồm. Nhiều người bị đánh chết giữa đám đông và một số khác bị rạch mồm, cắt lưỡi. Dân Việt Nam thường cho rằng những kẻ chuyên vu oan giá hoạ thì rạch mồm cắt lưỡi là hình phạt xứng đáng nhất. Trong các chùa chiền thường có tranh vẽ cảnh những người nói điêu trên trần gian chết xuống âm phủ bị quỷ sứ rạch mồm cắt lưỡi.
Tình trạng trả thù trả oán trầm trọng đến nỗi ngày 1 tháng 12 năm 1956, Bộ Tư pháp phải công bố một bản Thông tư đặc biệt kêu gọi đình chỉ mọi cuộc chém giết. Thông tư do Nguyễn Văn Hưởng, thứ trưởng Bộ Tư pháp ký. Trong bản Thông tư có một đoạn ai oán thiết tha như sau: “Quyền lợi của nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân, quyền lợi thiết thân của nhân dân như các quyền tự do, dân chủ, v.v. đã bị xâm phạm, nhiều khi một cách nặng nề. Có nơi pháp luật đã không được tôn trọng, có nơi pháp luật bị chà đạp. Những hiện tượng đó đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, đến uy tín của chính phủ…” (CỨU QUỐC ngày 2/12/1956)
Để tự bào chữa trước dư luận quần chúng, các “đảng viên mới” đổ hết mọi tội lỗi cho Đảng, nói chỉ tại chính sách của Đảng sai mà xảy ra tình trạng như vậy. Tờ Học tập, cơ quan lý luận chính trị của Đảng Lao động viết:“Một số đồng chí đứng trước sai lầm trong công tác Cải cách Ruộng đất có thái độ oán trách các đồng chí đã chỉ đạo, thậm chí oán trách cả Đảng, rồi bất cứ ở rạp hát hay ở vườn hoa, trên tầu hoả hay trong hiệu cắt tóc v.v. cũng đem những điều sai lầm đó ra nói một cách vô trách nhiệm. Lại có đồng chí đem gán hết trách nhiệm về những sai lầm đó cho cấp trên. Có đồng chí trước đây làm Đội trưởng hoặc đoàn, uỷ viên, thế mà khi kiểm thảo sai lầm trước nhân dân thì nói “đó là cấp trên thúc ép, do cơ sở (cốt cán) phát hiện tình hình sai (vu khống)”, còn mình thì chỉ có khuyết điểm “biết sai mà không mạnh dạn đấu tranh” . (HỌC TẬP số 10 tháng 10/1957)
Một điều cần phải nhận rõ là: trong khi cố gắng vỗ về những “đảng viên cũ” bằng cách đền bù cho họ một vài thiệt hại tinh thần hoặc vật chất mà họ đã phải chịu đựng một cách oan uổng, Đảng vẫn “cố tình che chở cho các đảng viên mới”. Lý do là tại chỉ có đảng viên mới, mới thực sự thuộc thành phần vô sản. Đảng thấy cần thiết phải có một số “vô sản chính cống” để trang trí cho cái mà Đảng mệnh danh là “vô sản chuyên chính”. Lý do thứ hai là Đảng muốn có một số “thiên lôi chỉ đâu đánh đấy” để bảo vệ Đảng phòng khi có những phong trào chống Đảng do những phần tử khác gây nên.
Trong ba năm làm mưa làm gió trong xã, thôn, các “đảng viên mới” được mặc sức hà lạm nên dân chúng rất oán ghét. Vì họ thiếu học nên họ chỉ hành động theo những kích thích tự nhiên. Do đó, Đảng cho rằng họ là những “phần tử dễ chiều và đáng tin” hơn những phần tử phi vô sản đã gia nhập Đảng với lý tưởng. Những “đảng viên cũ” đã giúp Đảng rất nhiều nhưng vì họ là những con người “lý tưởng” nên rất có thể mắc phải những “khuynh hướng sai lầm”. Còn bần cố nông thì trái lại không cần lý thuyết mà chỉ biết lợi cho bản thân. Ngày nào mà họ còn quyền lợi thì họ vẫn trung thành với Đảng.
Sydney ngày 2 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.154 chữ)
II. VIỆT NAM CỘNG HOÀ
Bài 258: CHUYỆN KỂ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1955-1960.
Lê Xuân Đỗ
Năm 1955: Chính quyền Việt Nam Cộng hoà là Chính quyền Quản lý miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954. Ngày 23 tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tổ chức một cuộc Trưng cầu Dân ý, truất phế Quốc trưởng Bảo Đại. Ở cương vị Quốc trưởng, Ngô Đình Diệm đổi tên Chính quyền Quốc gia Việt Nam, thành Chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Và, chức Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam của ông ta đổi thành Tổng thống Việt Nam Cộng hoà. Ngày 6/11/55,Đại tá chỉ huy trưởng chiến dịch Rừng Sác Dương Văn Minh, và Đại tá Lê Văn Nghiêm được thăng Thiếu tướng.
Ngày 12/11/55, lần đầu tiên một Luận án Tiến sĩ Luật về “Đồng bạc Việt Nam” của Trịnh Xuân Ngạn được trình tại Hội đồng Sài Gòn. Ngày 14/11/55, thành lập ba Tổng Nha Ngân sách, Công vụ và Kế hoạch được đặt trưc thuộc Phủ Tổng thống (SL17/TTP). Ngày 18/11/55, thành lập Phủ Đặc ủy Công Dân vụ cũng đặt trực thuộc Phủ Tổng thống (SL22/TTP). Ngày 7/12/55, ban hành Dụ số 10, quy định Quốc tịch Việt Nam. Ngày 17/12/55, Hối xuất chính thức của Đồng bạc Việt Nam là: 10 quan Pháp bắng 1$ Việt Nam; 1 bảng Anh bằng 98$ Việt Nam; 1 Mỹ kim bằng 35$ Việt Nam (Dụ 15).
Năm 1956: Ngày 12/1/56, thành lập Hội đồng Quốc gia Ngoại viện (SL số 5/TTP). Ngày 13/1/56, tòa án quân sự xử phạt các lãnh tụ Bình Xuyên Lê Văn Viễn, Lại Văn Sang, Lại Hữu Tài, và Jean Léon Leroy tử hình, tước đoạt binh quyền và tịch thu tài sản. Cũng trong phiên tòa nầy, Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ, Đại tá Nguyễn Tuyên cũng bị phạt như trên. Ngày 14/1/56, Đã có 43.000 người xin đi lập nghiệp ở Khu định cư Cái Sắn. Ngày 23/1/56, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 8 thành lập Quốc hội; và Dụ số 9 ấn định thể thức bầu cử.
Ngày 4/3/1956, tổng tuyển cử bầu Quốc hội Lập hiến. Ngày 15/3/56, Khai mạc Quốc hội Lập hiến, Niên trưởng là ông Dư Phước Thiện, 67 tuổi (sinh 1889). Ít tuổi nhất là ông Đinh Thế Sĩ. Ngày 22/3/56, Dân biểu Trần Văn Lắm được bầu làm Chủ tịch Quốc hội. Ngày 1/4/56, Tổng hội Phật giáo Việt Nam họp Đại hội lần II, tại trụ sở chùa Ấn Quang, thông qua nhiều “Quy lệ Nghi thức và Huấn luyện”, và yêu cầu Chính phủ đặt ngày Đức Phật Giáng sinh là “Ngày lễ chính thức”. Ngày 4/4/56, thành lập Dân Vệ đoàn để thay thế các Tự vệ Hương thôn và bảo vệ an ninh Xã-Ấp.
Ngày 12/4/56, khánh thành Học viện Quốc gia Hành chánh tại đường Alexandre de Rhodes. Ngày 18/4/56, Quốc hội cử 15 Đại biểu vào Ủy ban soạn thảo Hiến pháp, gồm: Nguyễn Hữu Châu, Vũ Quốc Thông, Trương Vĩnh Lễ, Trần Văn Trai, Nguyễn Phương Thiệp, Trần Chánh Thành, Huỳnh Ngọc Nữ, Trần Sĩ Đôn, Tôn Thất Toại, Hà Huy Liêm, Hà Huy Chi, Y Kré, Trần Quang Ngọc, Nguyễn Văn Liên và Nguyễn Cao Thăng. Ngày 30/4/56, Tại Khu định cư Cái Sắn, 110 máy cày Viện trợ Mỹ đã cày 150.000 mẫu, sẽ dành 1/2 cho dân định cư, và 1/2 cho dân địa phương và tị nan.
Ngày 30/10/55, chấm dứt di cư: Số Trại Định cư là 255 trại (156 tai Nam Phần, 65 tai Trung phần, 34 tại Cao nguyên). Tổng số dân được định cư là 596.031 người. Ngoài ra, còn có 140.039 người di cư sống rãi rát khắp nơi. Gia đình binh sĩ 125.393 người…. Tổng số người Di cư Tị nạn là 887.890 người. Ngày 23-29/5/56, các Giáo sư Đại học Michigan thuyết trình các môn “Hành chánh và Tổ chức” tại Toà Đô Sảnh. Rất đông thính giả. Ngày 30/5/56, Tù nhân ở khám Chí Hòa nổi loạn từ 24/4 bạo động bằng võ chai, mãnh bất đĩa và thanh sắt. Hôm nay đã dẹp yên sau 40 ngày rối ren.
Ngày 6/6/56, tòa Đại hình họp tại Cần Thơ xử tướng Lê Quang Vinh (bị bắt 13/4/56) và ngày 11/6/56, Lê Quang Vinh bị tuyên án tử hình. Ngày 29/6/56, thành lập Cơ quan Mãi dịch để mua sắm các vật liệu, dụng cụ cần thiết cho Chính quyền (SL 88/TC). Ngày 30/6/56, thị trường ngoại tệ tự do được thiết lập để cung cấp ngoại tệ cho những vụ chuyễn ngân không được hưởng hối xuất chính thức (Dụ 36). Ngày 3/7/56, lễ đặt đá xây dựng Trung tâm Văn hóa và Thư viện Quốc gia tại khu đất cạnh Dinh Gia Long. Kinh phí xây cất do Viện trợ Mỹ đài thọ.
Ngày 6/7/56, Đại hội Không quân kỷ niệm đệ nhất chu niên, ngày chuyễn giao Căn cứ Không quân cho Việt Nam. Ngày 29/8/56, Thiếu tướng Dương Văn Minh được bổ Tổng thơ ký Thường trực Quốc phòng, kiêm nhiệm chỉ huy Phân khu Sài Gòn Chợ Lớn và chỉ huy Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Ngày 5/9/56, tại Bộ Giáo dục, khai mạc Hội nghị thống nhất ngôn ngữ với nhiều tiểu ban: Pháp âm. Chính tả, Đồng nghĩa, Đồng âm dị nghĩa, Thổ âm, Danh từ địa lý, Danh từ khoa học, kỹ thuật. Ngày 22/9/56, Việt Nam trở thành Hội viên của Quỷ Tiền tề Quốc tế và Ngân hàng Quốc tế Khuếch trương Kiến thiết.
Cùng ngày 22/9/56, Hội nghị toàn quốc chủ điền và tá điền nhóm họp tại Bộ Cải cách Đièn Địa để thoả hiệp các điểm chính yếu trong sự tương quan giữa hai giới. Ngày 15/10/56 khai giảng các khoá học tại Trung Tâm Kỷ thuật Phú Thọ và trong đợt đầu tiên có 16 Chuyên viên Việt Nam từ nước ngoài về nước giảng dạy (Sắc lệnh (SL 213/GD thành lập ngày 29/6/56). Viện Đại học Việt Nam được phép tặng bằng Doctor (Tiến sĩ) Danh dự cho Nhân vật ngoại quốc (SL 140/GD). Ngày 17/10/56, thành lập trường Thương mại, và trường Sinh ngữ (NĐ 2576/TTP/CV ).
Ngày 22/10/56, Chính phủ ban hành Chế độ Cải cách Điền địa, theo đó, mỗi địa chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất, và 15 ha ruộng hương hoả. Ruộng bị truất hữu sẽ được đem bán lại cho những người thiếu ruộng, mỗi hộ không quá 5 ha, người mua sẽ trả tiền trong thời gian 6 năm. Trong thời gian đó ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu của chính quyền. Trong 10 năm kế tiếp, người được phát ruộng không được cho mướn hay đem bán lại. Địa chủ sẽ được bồi thường 10% tiền mặt, số còn lại được trả bằng trái phiếu trong 12 năm, mỗi năm lời 5%. (Dụ 57).
Kể từ ngày 22/10/56 nầy, tên mới các Tỉnh được thay đổi như sau: Sài Gòn/Chợ Lớn thành Sài Gòn. Bà Rịa/Vũng Tàu thành Phước Tuy. Biên Hòa thành Long Khánh, Phước Long, Bình Long, và Biên Hòa. Chợ Lớn/Tân An thành Long An. Mộc Hóa thành Kiến Tường. Phong Thạnh thành Kiến Phong. Mỹ Tho/Gò Công thành Định Tường. Bến Tre thành Kiến Hòa. Vĩnh Long/Sa Đéc thành Vĩnh Long. Trà Vinh thành Vĩnh Bình. Long Xuyên/Châu Đốc thành An Giang. Cần Thơ thành Phong Dinh. Bạc Liêu/Sóc Trăng thành Ba Xuyên. Rạch Giá/Hà Tiên thành Kiên Giang. Cà Mâu thành An Xuyên. Thủ Dầu Một thành Bình Dương. Đồng Nai Thượng/Bình Thuận thành Bình Tuy. Côn Đảo thành Côn Sơn (SL 143/NV)...
Ngày 23/10/56, Nam Việt, Trung Việt, Bắc Việt đổi thành Nam Phần, Trung Phần, và Băc Phần (SL 113a/TTP); Ban hành “Quy chế Y sĩ, Nha sĩ, và Hộ sinh” (Dụ 57/3); và “Quy chế các Trường Tư Thục” (Dụ 57/4). Ngày 24/10/54, nền Hành chánh toàn quốc được cải tổ, các Phần bị bãi bỏ, tăng quyền hạn của Tỉnh trưởng, nhiệm vụ của các Đại biểu Chính phủ bị thu hẹp (Dụ 57a). Trung Phần chia làm Cao nguyên Trung Phần, và Trung nguyên Trung Phần (Dụ 57b). Công dân có thể được trưng tập để làm những việc cứu tế xã hội (Dụ 57b).
Ngày 26/10/56, Công bố Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. Ngày 5/11/56, Tổng thống chấp thuận việc xin từ chức của 4 Bộ trưởng: Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Nguyễn Hữu Châu; Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng, Trần Trung Dung; Bộ trưởng Thông tin, Trần Chánh Thành; Bộ trưởng Y tế Xã hội, Vũ Quốc Thông. Ngày 9/11/56, khai mạc Quốc hội Lập Pháp. Ngày 1/12/56, Giải tán Tiểu đoàn An ninh Phủ Tổng thống, và tổ chức lại thành Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống. Ngày 8/12/56, Trung tướng Lê Văn Tỵ được thăng Đại tướng.
Ngày 9/12/56, Đại tá Phạm Xuân Chiểu được bổ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an thay tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Các Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lễ, Trần Văn Đôn được thăng Trung tướng. Ngày 10/12/56, các Thiếu tướng Trần Văn Minh, Thái Quang Hoàng được thăng Trung tướng; Đại tá Lê văn Kim được thăng Thiếu tướng. Ngày 28/12/1956, Quốc hội chấp thuận bổ nhiệm Ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Ngày 29/12/56, có 800 người ở Quảng Ngãi lên lập nghiệp tại Pleiku.
Sydney ngày 3 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.614 chữ)
Bài 259: CHUYỆN KỂ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1955-1960 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Năm 1957: Ngày 12/1/57, giá vàng 5.700$ một lạng tại Sài Gòn. Ngày 24/1/57, có 150 Sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Liên quân Đà Lạt (người thuộc các Giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, Thiên chúa). Ngày 6/2/57, có 2.400 kiều bào từ Mên về được đưa tới lập nghiệp ở Rạch Giá. Ngày 20/2/57, Bộ Ngoại giao xác nhận, các quần đảo Tây Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam, và vẫn được Chính phủ kiểm soát. Ngày 1/3/57, thành lập Viện Đại Học Huế (SL 45/GD). Ngày 22/3/57, khánh thành Hội chợ Ban Mê Thuột, lúc 8g30 Tổng thống Ngô Đình Diệm bị một thanh niên bắn bằng Tiểu liên Mas 49. Thủ phạm bị bắt ngay, tên Hà Minh Chi từng làm việc ở Ty Thông tin Tây Ninh.
Ngày 23/4/57, thành lập Phủ Tổng ủy Dinh Điền thay thế Phủ Tổng ủy Di cư (SL 103/TTP). Ngày 2/5/57, thanh niên tuổi từ 20 đến 21 tuổi phải thi hành quân dịch trong 12 tháng (NĐ 183/QP). Ngày 6/5/57, các ông Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán, Nghiêm Xuân Thiện, và một số chính khách họp báo tuyên bố thành lập “Khối Dân chủ” đối lập với Chính quyền. Cùng ngày 6/5/57, Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Mỹ 2 tuần. Ngày 19/6/57, tại vùng Đồng Tháp Mười dân cư đông gấp đôi trước 1954, quân đội xây lại Tháp Mười tầng theo kiểu Chàm cao 36 thước.
Ngày 29/6/57, thành lập Trung tâm Kỷ thuật Phú Thọ, để tập trung các trường Kỷ thuật Chuyên môn (SL 213/GD). Ngày 3/7/57, thành lập Nha Công tác Xã hội miền Thượng trực thuộc Phủ Tổng thống, (NĐ 302/NV). Ngày 6/7/57, Theo chương trình giải toả Đô thành, nhiều vựa than, vựa củi, nhà lá ở Bến Chương Dương phải dọn đi nơi khác, cả các ghe, thuyền cũng phải dời đi. Ai về quê được trợ cấp 500$, ai sang ở trú khu Chánh Hưng được mua nhà trả góp trong 5 năm. Ngày 8/8/57, Sắc lệnh 278/KT, thiết lập đường Xa Lộ Sài Gòn- Biên Hòa.
Ngày 13/8/57, Toà án Quân sự xử tử hình tướng Nguyễn Văn Thành, nguyên Tư lệnh Quân đội Cao Đài, vì đã liên kết với Bình Xuyên. Ngày 20/8/57, tòa án quân sự xử 23 người liên can đến biến cố Bình Xuyên 1955: Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hữu Thuần, Trịnh Khánh Vàng, Nguyễn Thành Nghi, Nguyễn Văn Hớn, Nguyễn Triệu Phương, Nguyễn Văn Hiếu. Ngày 22/8/57, Cố vấn Ngô Đình Nhu, và bà Nhu đăng báo thanh minh tin đồn “không hề chuyển ngân ra ngoại quốc; không tham gia vào thương mại, kỹ nghệ, tài chánh ở Việt Nam cũng như nước ngoài; không nhận đồ lễ để can thiệp cho ai …”
Ngày 25/9/57, thành lập 6 Vùng Dinh Điền: Cao nguyên Trung Phần; Đồng Tháp Mười; An Xuyên; Ba Xuyên; Cái Sắn; và Vùng số 1, số 2 Nam Phần. Ngày 28/9/57, Tòa án Quân sự xử vụ Bình Xuyên tuyên án 8 tử hình, 3 khổ sai chung thân, 1 khổ sai 20 năm. Ngày 2/10/57, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Ngọc Bích, và một số trí thức ở Pháp viết thư yêu cầu tổng thống Ngô Đình Diệm khoan hồng đối với những người liên can đến vụ Bình Xuyên. Ngày 26/10/57, tại nạn khủng khiếp ở Hội chợ Thị Nghè, vì chen nhau ở cầu nổi, 45 người rớt xuống nước chết, 50 người bị thương phần lớn là phụ nữ và trẻ em.
Ngày 31/10/57, Chính phủ trợ cấp 1 triệu đồng cho gia đình các nạn nhân. Ngày 12/11/57, Khánh thành Viện Đại học Huế. Ngày 13/12/57, Quốc hội họp bàn về Dự án Luật Gia đình của bà Dân biểu Ngô Đình Nhu. Ngày 16/12/57, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Dụ 17/57, nội dung “Tất cả tài sản hiện hữu hay vị lai của Cựu Quốc trưởng Bảo Đại và một số người thân tín đều bị tịch thu gồm: ông Vĩnh Thụy, bà Nam Phương, các bà bé, Vĩnh Cẩn và các vợ, ông Nguyễn Đệ và vợ. Ngày 18/12/57, Bộ giáo dục thông báo chưa thể dạy hết các môn bắng tiếng Việt ở bậc Đại học.
Năm 1958: Ngày 10/1/58, Luật quy định hành nghề Dược sĩ, một Dược sĩ Đoàn được thành lập. Ngày 18/1/58, Hối xuất mới của đồng bạc Việt Nam “35$=1 Mỹ kim; 1$=12 quan Pháp 98$=1 Anh kim (SL 37/TC). Cùng ngày 18/1/58, Bộ Ngoại giao tuyên bố sẽ đặt nhiều Tòa Lãnh sự tại Lào. Ngày 19/1/58, tại Quốc hội bà Nhu chê trách nhiều Dân biểu làm ngơ không muốn biểu quyết Luật Gia đình chỉ vì muốn lấy vợ lẽ, có thái độ “thật hèn”. Các Dân biểu giận dữ cho rằng, đó là lời “xúc phạm Quốc hội”. Ngày 22/1/58, bà Nhu cho đăng báo, rằng bà ta đã nói “thất hẹn” chứ không nói “thật hèn”.
Ngày 27/2/58, các Đại tá Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Văn Là, Trần Ngọc Tám được thăng Thiếu tướng. Ngày 2/3/58, Chính phủ quyết định đưa 20.000 người nghèo miền Trung lên Cao nguyên (Pleiku) khai khẩn. Ngày 7/3/58, Thiếu tướng Nguyễn Văn Là được cử giữ chức Tổng Giám đốc Cảnh sát. Ngày 13/3/58, ông Nghiêm Xuân Thiện chủ báo Thời Luận bị tòa phạt 10 ngày tù treo, 100.000$ tiền vạ, và rút giấp phép Xuất bản, vì đã đăng bài “Thư gởi ông Nghị cửa tôi” xúc phạm Chính quyền. Ngày 15/4/58, Bác sĩ Phan Quang Đán tuyên bố tái lập đảng Dân chủ, Hoàng Cơ Thụy làm Tổng Thư ký.
Ngày 5/5/58, Bộ trưởng Nguyễn Hữu Châu từ chức. Ngày 29/5/58, tại Quốc hội Dân biểu Nguyễn Huy Chương đã kích kịch liệt Dự luật Gia đình của bà Nhu, rằng Dự luật nầy trái với luật thiên nhiên khiến vợ chồng kiện nhau gây nhiều bất công và xui ra rối loạn. Ngày 2/6/58, một rừng quế tốt tìm thấy trên đường Ba Tơ-Kontum. Ngày 14/6/58, đấu lý trước 2.000 thính giả trong 6 giờ liền giữa Tỉnh trưởng Mỹ Tho Nguyễn Trân với 11 ký giả và 3 cán bộ cao cấp Việt Cộng, có Nguyễn Văn Hiếu và vợ là bà Mã Thị Chu. Ngày 27/6/58, Nguyễn Tường Tam xuất bản “Văn hóa Ngày nay”. Ngày 3/7/58, thành lập Toà án Thiếu nhi. (Luật 11/58).
Ngày 7/7/58, số thí sinh Tú tài I khóa I là 8.402 trên toàn quốc. Ngày 22/7/58, kết quả gần 1000/8.402 thí sinh được vào vấn đáp. Cùng ngày 22/7/58, hai mạc Hội nghị Giáo dục toàn quốc để xét lại các chương trình dạy và học. Ngày 28/7/58, Bộ Kinh tế xác nhận ấn định giá gạo sỉ loại 1 với 25% tấm 500$ mỗi tạ. Ngày 21/8/58, thành lập trường Đại học Sư phạm Sài Gòn (SL 426/GD); Ngày 22/8/58, khánh thành đường xe lửa Tuy Hòa- Quy Nhơn. Ngày 24/9/58, bải bỏ Tòa Đại biểu Chính phủ tại Nam Phần (SL 480/TTP). Ngày 25/9/56, Lễ phát thưởng Văn chương 1957 tại Dinh Độc Lập, không ai được Ưu hạng: 2 giải 40.000$, 2 giải 30.000$, và 9 giải 20.000$.
Ngày 3/10/58, Ban hành thể lệ Xuất, Nhập cảnh và cư trú của ngoại kiều. Ngày 7/10/58, Tòa án Quân sự Nha Trang xét xử vụ Đại Việt của Trương Tử Anh ở Phú Yên, 54 bị cáo mà chỉ nhờ một Luật sư biện hộ. Ngày 11/10/58, thành lập Cuộc Nguyên tử lực (SL507/TTP). Ngày 2/12/58, Tỉnh lỵ Lâm Đồng ở Di Linh được dời về Bảo Lộc (Blao củ). Ngày 17/12/58, thành lập và tổ chức những Hiệp hội Nông dân mục đích gây tinh thần tương trợ, trau dồi kiến thức chuyên môn, giúp tăng gia sản xuất nông nghiệp và cải tiến sinh hoạt nông thôn (SL 569/TTP).
Sydney ngày 4 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.630 chữ)
Bài 260: CHUYỆN KỂ SỰ KIỆN LIÊN QUAN VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1955-1960 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Năm 1959: Ngày 1/1/1959, ấn định hối xuất chính thức của đồng bạc đối với đồng Franc là: 1$ Việt Nam=14,10 Franc (SL số 1/TC). Ngày 2/1/59, ban hành Luật Gia đình, Luật số 1/59, gồm 135 điều, theo đó cấm li dị; cấm đa thê; truất quyền lợi của con ngoại hôn.v.v. Ngày 5/1/58, Phủ Tổng Ủy Dinh Diền cho biết đã có hơn 80.000 đồng bào nghèo ở miền Trung lên lập nghiệp tại 47 Địa điểm trồng trỉa ở Cao Nguyên. Ngày 23/1/59, tại Cao nguyên, thành lập tỉnh Quảng Đứctrên phần đất quận Dak-Song, một phần quận Di Linh, và quận Phước Hòa, tỉnh lỵ đặt tại Gia Nghĩa (SL 24/NV).
Và, tại Nam Phần, thành lập tỉnh Phước Thành một phần đất của Bình Dương, Long Khánh, Biên Hòa và Phước Long, tỉnh lỵ đặt tại Phước Vĩnh (SL 25/NV). Ngày 21/2/59, tại Viện Đại học Huế, các trường Đại học Văn khoa, Luật khoa, Khoa học, Sư phạm, và Cao đẳng Mỹ thuật thành lập (SL51/GD). Ngày 8/3/59, số thí sinh nộp đơn xin học bổng Du học Hoa Kỳ là 384, nhưng chỉ có 15/384 xuất Học bổng Du học. Ngày 14/3/59, Nhân ngày lễ Hai bà Trưng, có lễ tặng thưởng “Chương Mỹ Bội tinh” cho 3 Hiền mẩu có công ở vậy nuôi con là Lê Thị Quý (Bình Thuận), Trần Thị Ngân, (Đà Nẳng), Lê Thị Giỏi (Tuyên Đức).
Ngày 23/3/59, Đô thành Sài Gòn được cải tổ và chia thành 8 quận, Đô trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và trực thuộc Phủ Tổng thống. Ngày 1-3/4/59, Hội nghị Giáo dục toàn quốc nhóm họp tại Sài Gòn, đề nghị miển thi Tiểu học. Ngày 15/4/59, thành lập chức Đại biểu Chính phủ Miền Tây Nam Phần. Ngày 18/4/59, Luật số 9/59, ấn định hình phạt về các tội oa trử của công, biển thủ, thiện thủ, hoặc làm tiêu tán tài vật, do nhân viên công quyền vi phạm. Ngày 23/4/59, Trường Quốc gia Bưu điện được thiết lập. Ngày 6/5/59, thành lập Công quản Mỏ than Nông Sơn.) Ngày 7/5/59, Xi-măng tăng giá từ 72-75$ lên thành 135$ một bao.
Ngày 18/6/59, thành lập Chức vụ Đại biểu Chính phủ tại Miền Đông Nam Phần (SL138/TTP). Ngày 26/6/59, phê chuẩn Thỏa ước Việt-Mỹ về nguyên tử năng xây dựng Trung Tâm Nguyên Tử với 350.000 Mỹ kim viện trợ. Ngày 30/6/59, ban hành Luật 10/59, ấn định thể thức bầu cử Quốc hội. Ngày 15/7/59, Luật 22/59, trừng phạt việc Xuất ngoại và Nhập nội bất hợp pháp. Ngày 7/8/59, khánh thành đường xe lữa xuyên Viêt, từ Sài Gòn ra Đồng Hà, Quảng Trị. Theo Bộ Công Chánh, từ 1948 đến 1954, đường nầy đã bị phá hoại 3.407 lần.
Ngày 21/8/59, thành lập trường Đại học Y khoa ở Huế. Ngày 25/8/59, Bộ Giáo dục quyết định đồng phục cho học trò “Nam: quần xanh nước biển, sơ mi trắng cộc tay; Nữ: áo dài trắng, quần trắng; Lễ phúc áo dài xanh Lam. Ngày 30/8/59, bầu cử Quốc hội Lập pháp khóa II, có 460 ứng cử viên cho 123 đơn vị. Ngày 31/8/59, kết quả đầu tiên, tại Đô thành, 6 Độc lập, 3 Phong trào Cách mạng trúng cử. Được nhiều phiếu nhất, Bác sĩ Phan Quang Đán (32.166), Nguyễn Phương Thiệp, Phan Khắc Sửu. Ngày 5/9/59, Bộ Công Chánh cho biết sẽ xây một cầu ở Mỹ Thuận bắt qua sông Cửu Long.
Ngày 5/10/59, Khai mạc Quốc hội khóa II. Ngày 14/10/59, Ủy ban Hợp thức hóa bầu cử Dân biểu không thừa nhận hai ông Phan Quang Đán và Nguyễn Trân. Ngày 31/10/59, Toà Đại hình tuyên án vụ Huyện Thung biển thủ, có 3 tử hình, Còn lại khổ sai và tù ở. Ngày 30/11/59, Quân nhân bị hạ sát, tử nạn, hy sinh, mất tích, bị bắt được trợ cấp 12 tháng lương (SL 360/QP). Phát hành vé số Kiến thiết loại Đặc biệt 4 kỳ để lấy tiền xây Thư viện Quốc gia. Ngày 31/12/59, Có 3.586 Đông Y đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Bộ Y tế.
Năm 1960. Ngày 2/1/60, từ hôm nay, mọi giao dịch Việt-Pháp tính bằng đồng Phật-lăng mới. Hối xuất chinh thức của đồng bạc Việt Nam. Đối với Mỹ kim vẫn 35$=1 Mỹ kim. Các hối xuất đối với các ngoại tệ khác sẽ tính theo căn bản trên (SL1/TC). Ngày 3/1/60, số đồng bào nghèo miền Trung lên Cao Nguyên hoặc miền Nam lập nghiệp: 544 người từ Quảng Ngãi vào khai khẩn tại Bình Tuy; 907 người ở Thừa Thiên vào Bình Long; 729 người ở Quảng Nam vào Kiến Tường; 3.000 người ở Bình Định lên Cao Nguyên. Ngày 13/1/60, thành lập Trung tâm Cải huấn để trông nom các trại giam và nhà lao (SL số 4/NV).
Ngày 5/2/60, Đô trưởng Sài Gòn tuyên bố thành lập các Liên gia, 20 nhà; Nhiều Liên gia họp thành Khóm; Mỗi Khóm có khóm trưởng để liên lạc với Phường. Ngày 8/2/60, có 1.000 người nữa từ Quảng Nam lên lập nghiệp tại Ban Mê Thuột. Ngày 17/2/60, năm nay có 3.158 thí sinh dự thi Tú Tài Pháp. Cùng ngày 17/2/60, có 584 người ở Bình Định lên Pleiku lập nghiệp. Ngày 19/2/60, có 1.102 người ở Quảng Nam, Bình Định đến lập nghiệp ở Bình Tuy, và Pleiku. Ngày 23/2/60, có 750 người ở Bình Định lên lập nghiệp tại Darlac. Ngày 14/3/60, Khánh thành Khu Trù mật Vị Thanh, Phong Dinh.
Ngày 4/5/60, thành lập Trường Quốc gia Thương Mại (NĐ 755/GD). Ngày 22/5/60, Cây viết Bic bắt đầu được chế tại tại Việt Nam. Ngày 29/5/60, Khánh thành Quốc lộ mới mở rộng Ninh Hoà-Ba-Mê-Thuột. Ngày 29/5/60, tại khu Trù mật Vị Thanh và Hỏa Lựu, Phong Dinh đã có 1.035 gia đình tới lập nghiệp. Ngày 2/6/60, Hiện nay đã có 38.000 mẩu lúa tại các Địa điểm Dinh điền. Ngày 3/6/60, thành lập Cơ quan Quản trị Chương trình Danhim, phụ trách thực hiện Dự án Thủy điện Danhim (NĐ 488/CT/GT). Ngày 6/6/60, bắt đầu phát Thẻ Căn cước bọc nhựa tại Sài Gòn.
Ngày 6/6/60, lễ đặt đá xây dựng Trường Võ Bị Quốc gia mới tại Đà Lạt. Ngày 14/6/60, Mở chiến dịch diệt trừ sốt rét(83 triệu bạc Việt Nam, 900.000 Mỹ kim viện trợ Mỹ). Ngày 25/6/60, tổng số Dinh Điền hiện nay là 127, và 200.000 người, 66.000 mẫu tây đã được khai khẩn. Ngày 7/7/60, một đồ án chỉnh trang khu vực Sài Gòn Chợ Lớn được trưng bày tại tòa Đô Sảnh, do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người được Giải thưởng hạng nhất La Mã thiết kế. Ngày 10/8/60, Việt Nam ký kết Hợp đồng vay của Quỷ Phát triển (Development Loan Fund) 9,7 triệu Mỹ Kim để mua đầu máy và Toa Xe lửa.
Ngày 21/9/60, Bộ Công Chánh mở kỳ thi dự án xây dựng câu Mỹ Thuận trên đường Hậu Giang dài 650 thước tốn chừng 250 triệu. Ngày 28/9/60, một làng Đại học được thiết lập tại Thủ Đức. Ngày 1/10/60, có 1.331 Sinh viên Việt Nam đang học Đại học và Cao Đẳng ở Pháp. Ngày 10/10/60, có 9.314 Sinh viên học tại Viện Đại học Sài Gòn. Ngày 18/10/60, Nguyễn Văn Lượng được cử làm Bộ trưởng Bộ Tư Pháp thay Nguyễn Văn Sĩ; Bùi Văn Lương được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay Lâm Lễ Trinh; Nguyễn Đình Thuần được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thay Trần Trung Dung.
Ngày 11/11/60, đêm qua 1 giờ 30 nhiều tiếng súng nổ phía Sở thú, tới 2 giờ có tin đảo chánh. Đại tá Nguyễn Chánh Thi Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù, cùng một số sĩ quan đem quân vây Dinh Độc lập đòi Ngô Đình Diệm rút lui. Dân chúng vẫn đi lại như thường. 10 giờ sáng 12/11/60, Ngô đình Diệm đọc hiệu triệu phát thanh gọi quân ở Mỹ Tho về. Trên Đài phát thanh nghe tiếng Bác sĩ Phan Quang Đán hô hào quốc dân hưởng ứng Cách mạng. Chiều nghe tiếng Đại tướng Lê Văn Tỵ đọc Nhật lệnh “Tổng thống Ngô Đình Diệm trao quyền cho các tướng lãnh để lập Chính phủ khác”.
Ngày 12/11/60, buổi sáng đoàn quân vây Dinh Độc lập, định tiến vào nhưng lại rút lui. Súng nổ nhiều. Đài phát thanh bị Quân Chính phủ chiếm lại. Trung tá Vương Văn Đông một trong các lãnh tụ đảo chánh, họp báo giải thích tại Bộ Tổng Tham Mưu. Các đội quân thuộc Sư đoàn 21 và Sư đoàn 7 tiến về phía Tân Sơn Nhất, và vườn Tao Đàn. Vào lúc 16 giờ, nhiều toán Nhảy Dù trước Dinh Độc lập bỏ đi nơi khác Buổi tối, có tin Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông rời khỏi Việt Nam. Ngày 13/11/60, Quốc hội ngỏ lời trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm.
Ngày 15/11/60, Trung tướng Thái Quang Hoàng bị ép lên máy bay sang Cao Mên đã trở về Sài Gòn. Số thương vong trong vụ biến cố là 214 quân nhân và 54 dân thường; số thiệt mạng là 20 dân thường và 23 quân nhân trong đó có Trung tá Nguyễn Triệu Hồng. Ngày 26/12/60, ban hành Luật 7/60 tổ chức Viện Bảo Hiến. Ngày 29/12/60, một khu kỹ nghệ được thiết lập ở Thủ Đức gồm: nhà máy Nhiệt điện; trạm biến điện Danhim; sân dự trử than Nông Sơn; nhà máy ciment; và một cơ sở Giang thuyền (SL 317/CC/GT).
Sydney ngày 5 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.660 chữ)
Bài 261: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN BẮC 1960-1964.
Lê Xuân Đỗ
Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cách mạng miền Nam, chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm. Giai đoạn 1960–1965 cũng là giai đoạn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công khai hậu thuẫn những người Cộng sản miền Nam và bắt đầu đem quân thâm nhập miền Nam. Đầu thập niên 1960 là thời kỳ nở rộ của Khối xã hội chủ nghĩa và cũng đã xuất hiện mầm mống chia rẽ giữa hai cường quốc hàng đầu của khối là Liên Xô và Trung Quốc, giữa những người thuộc "phe xét lại" Nikita S. Khrushchyov ở Liên Xô, và những người tự nhận là "Marxist-Leninist chân chính" Mao Trạch Đông ở Trung Quốc.
Trong giai đoạn này, Trung Quốc không muốn vai trò của mình kém hơn đối thủ cùng tư tưởng, nên họ viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhiều hơn Liên Xô. Họ khuyến khích Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành giải phóng miền Nam mà không sợ quân đội Mỹ tham chiến. Mùa hè 1962, Trung Quốc gửi cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn. Trung Quốc cũng đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt Nam nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Tháng 12 năm 1964, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc thăm Hà Nội và ký Hiệp ước Hữu nghị hợp tác quân sự Việt – Trung.
Tháng 9 năm 1960 tại Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng đề ra nhiệm vụ cho Kế hoạch 5 năm: 1960 – 1965 là: "phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội". Nhà nước ưu tiên đầu tư vốn để phát triển Công nghiệp nặng như khu gang thép Thái Nguyên, các nhà máy nhiệt điện Uông Bí, thủy điện Thác Bà, phân đạm Bắc Giang supe phốt phát Lâm Thao.
Công nghiệp nhẹ, có khu công nghiệp Việt Trì, Thượng Đình (Hà Nội), các nhà máy Vạn Điểm, sứ Hải Dương, pin Vạn Điền, dệt 8-3,...Công nghiệp quốc doanh chiếm tỉ trọng 93,1% trong tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn miền Bắc, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Ở địa phương, có hàng trăm xí nghiệp được xây dựng để hỗ trợ cho công nghiệp trung ương và giải quyết nhu cầu tại chỗ. Công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp giải quyết 80% nhu cầu hàng tiêu dùng thiết yếu của nhân dân. Nông nghiệp được coi là cơ sở của công nghiệp.
Các Nông, lâm trường quốc doanh, trại thí nghiệm cây trồng và vật nuôi được thành lập và phát triển. Người nông dân mạnh dạng áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật. Tỉ lệ sử dụng cơ khí trong nông nghiệp tăng lên. Diện tích nước tưới được mở rộng nhờ phát triển hệ thống thủy nông vừa và nhỏ. Nhiều hợp tác xã đạt năng xuất 5 tấn thóc trên 1 ha. Trên 90% hộ nông dân vào hợp tác xã, trong đó có 50% hộ vào hợp tác xã bậc cao, ứng dụng khoa học kĩ thuật. Hệ thống thủy nông phát triển, xây dựng hệ thống thuỷ lợi Bắc Hải Hưng. Nhiều HTX Nông nghiệp đạt và vượt năng suất 5 tấn thóc trên 1 hécta.
Thương nghiệp quốc doanh đã chiếm lĩnh được thị trường, góp phần vào phát triển kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Trong giao thông vận tải, mở rộng các mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển được xây dựng, củng cố, hoàn thiện, đã phục vụ đắc lực cho yêu cầu giao lưu kinh tế và củng cố quốc phòng. Các ngành Văn hóa, Giáo dục,Y tế có bước phát triển và tiến bộ đáng kể. Vấn đề Văn hóa - tư tưởng, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa được đặc biệt coi trọng.
Về Giáo dục, so với năm học 1960 - 1961, số học sinh phổ thông năm học 1964 - 1965 tăng từ 1,9 triệu lên 2,7 triệu, số sinh viên đại học tăng từ 17.000 lên 27.000. Có 9.000 trường các cấp học và 2.6 triệu học sinh. Số trường đại học tăng gấp đôi. Ngành Y tế mở rộng mạng lưới đến tận huyện, xã xây dựng khoảng 6.000 cơ sở y tế. Thành tựu đạt được trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1961 – 1965) đã làm thay đổi bộ mặt xã hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh viết: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”.
Tuy nhiên, kế hoạch Nhà nước 5 năm vấp phải một số sai lầm khuyết điểm, chủ yếu do tư tưởng chủ quan nóng vội, giáo điều thể hiện rõ nhất qua việc đề ra phương châm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu quá cao, không tính đến khả năng thực hiện và điều kiện cụ thể của đất nước. Mặc khác, sau khi dựng lên Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, từ ngày 5/8/1964, Mỹ mở chiến dịch Mủi tên xuyên, bắn phá miền Bắc, Kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961-1965) phải chuyển hướng và không thể tiếp tục.
Sydney ngày 6 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.157 chữ)
Bài 262: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN BẮC 1960-1964 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Năm 1960, Đại hội đảng thứ 3 (từ 5 đến 10/9/1960) tại Hà Nội đã bầu ông Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất. Lê Duẩn là người chủ trương đấu tranh bằng vũ trang với mọi hy sinh để "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội". Ngay lập tức chiến trường miền Nam có sự đột biến. Phía Cộng sản phát động ngay một đợt tiến công quy mô, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong đó chính trị vẫn đóng vai trò chủ đạo. Họ phát động nông dân ở nông thôn nổi dậy giành chính quyền, phá Ấp chiến lược, lùng bắt và thủ tiêu các nhân viên chính quyền tại địa bàn.
Các hoạt động nổi dậy này được phối hợp nhịp nhàng cùng lúc với việc thành lập lực lượng vũ trang. Họ đánh hoặc bao vây các vị trí quân sự để không cho quân chính phủ kéo về can thiệp và đồng thời, họ phát động dân chúng biểu tình. Nếu thấy đối phương yếu thế thì biểu tình phát triển thành nổi dậy cướp chính quyền. Nếu chưa thể thì đưa ra các yêu sách quấy rối làm tê liệt chính quyền. Nếu chính phủ điều quân tới thì những người biểu tình bao vây lấy quân đội bắt đầu binh vận ngay tại chỗ. Phương cách này được phía Cộng sản đúc kết thành phương châm "Ba mũi giáp công" quân sự, chính trị, binh vận.
Phong trào có tên là Đòng Khởi và bắt đầu được thí điểm tại tỉnh Bến Tre. Khi thấy chính phủ Ngô Đình Diệm lúng túng trong việc lập lại trật tự, thì các vùng khác cũng theo nhau đồng khởi. Đến cuối năm 1960 một phần đáng kể của nông thôn miền Nam đã thành vùng do Cộng sản kiểm soát. Cứ như thế, địa bàn vùng giải phóng tiếp tục mở rộng. Để cho cuộc chiến đấu có chính danh, ngày 20 tháng 12 năm 1960, phía Cộng sản thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam Việt Nam (MTDTGPMN) gồm nhiều đại diện các thành phần tôn giáo, tầng lớp xã hội, dân tộc khác nhau ở miền Nam Việt Nam do đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo.
Ngày 15/2/1961, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam chính thức thành lập Quân Giải phóng. Kể từ đó tại miền Nam đã chính thức tồn tại hai chính quyền, hai quân đội đối địch. Phía Cộng sản đã đủ mạnh để đánh vào những nơi họ muốn, đánh được chỗ nào họ cho thành lập "chính quyền cách mạng". Ước chừng ban đầu có khoảng 30 ngàn thanh thiếu niên đã gia nhập lực lượng Quân Giải phóng. Trong 5 năm (1961-1965), một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc men,...được chuyển vào chiến trường miền Nam. Ngày càng có nhiều đơn vị vũ trang, nhiều cán bộ quân sự, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế được huấn luyện đưa vào chiến trường tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng vùng giải phóng.
Tướng Mỹ, Maxwell D. Taylor được phái sang Việt Nam đánh giá tình hình. Kế hoạch Staley-Taylor được soạn thảo và đem thi hành để chống lại chiến tranh du kích, bình định miền Nam trong vòng 18 tháng. Kế hoạch Staley-Taylor, hay còn gọi là “kế hoạch chiến tranh đặt biệt" có công thức tổng quát là: Quân đội Việt Nam Cộng hoà + Cố vấn Mỹ + Vũ khí Mỹ + Viện trợ kinh tế Mỹ. Mỹ tăng cường sức mạnh cho quân đội Việt Nam Cộng hoà (QĐVNCH) bằng cách tăng quân số, cung cấp xe thiết giáp và máy bay, nhất là trực thăng, đưa cố vấn quân sự Mỹ xuống đến đơn vị chiến đấu, để giúp các sĩ quan Việt Nam Cộng hoà vạch kế hoạch hành quân và chỉ huy chiến đấu.
Chiến thuật của quân đội Việt Nam Cộng hoà là trực thăng vận và thiết xa vận: khi phát hiện các đơn vị của địch lập tức dùng trực thăng đổ quân bao vây chặt lấy, sau đó gọi thiết giáp đến đánh giải quyết chiến trường, gọi là chiến thuật "tung lưới-phóng lao". Trong thời gian đầu chiến tranh đặc biệt đã phát huy tác dụng khá tốt, tình hình quân sự được ổn định, quân đội Giải Phóng bị chiến thuật cơ động nhanh "tung lưới-phóng lao" làm thương vong lớn, họ phải chuyển hoạt động ra xa, hành quân và đánh đêm là chính. Dù vậy, nhờ có hàng ngàn thanh thiếu niên gia nhập, nên Quân Giải phóng chẳng những được bổ sung quân số kịp thời mà còn giúp Quân Giải phóng phát triển khá thuận lợi.
Lực lượng quân sự ở các huyện sẽ được chọn lọc, huấn luyện và trang bị thành các Tiểu đoàn cấp tỉnh. Từ các tiểu đoàn cấp tỉnh, sẽ hình thành đơn vị cấp Trung đoàn đóng ở quân khu. Tuy nhiên qua các trận đánh, những đơn vị chính quy có thương vong tăng cao. Cuối giai đoạn chiến tranh đặc biệt, việc lấy quân tại miền Nam không còn đủ số lượng để bổ sung cho tổn thất, và đáp ứng nhu cầu tác chiến mở rộng, thế là, các đơn vị miền Bắc theo đường Trường Sơn bắt đầu hành quân chi viện cho chiến trường miền Nam. Tuy nhiên, lúc nầy trên chiến trường miền Nam các hoạt động tác chiến chủ yếu vẫn là Quân Giải phóng, còn các đơn vị từ Bắc vào chỉ đứng chân vòng ngoài tại tuyến đường Trường Sơn, Tây Nguyên.
Sau gần hai năm kinh nghiệm chiến đấu Quân Giải phóng (QGP) đã biết cách xử lý các nhược điểm của chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của quân đội Việt Nam Cộng hoà. Ngày 2/1/1963 tại tỉnh Tiền Giang đã xảy ra trận Ấp Bắc và quân đội Việt Nam Cộng hoà đã thất bại nặng. Sau trận đánh này, cho thấy rằng QGP không còn là các nhóm quân nhỏ bất lực trước trực thăng vận, thiết xa vận nữa mà họ đã lớn mạnh đủ để đánh bại quân cơ động của đối phương. Trong các năm 1963 và 1964 QGP thắng thế tiến công trên toàn chiến trường và đến tháng 12/1964, họ tiến hành chiến dịch Bình Giã tại tỉnh Bà Rịa. Cùng với các trận đánh lớn khác họ ép quân đội Việt Nam Cộng hoà lui về thế thủ gần các thành phố lớn.
Sydney ngày 7 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.163 chữ)
Bài 263: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TẠI MIỀN BẮC THỜI KỲ NÀY NHÀ NGHIÊN CỨU PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI.
Lê Xuân Đỗ
Hòa bình lập lại năm 1954, sau đó cuộc cải cách công thương nghiệp tư doanh bắt đầu. Những nhà sản xuất và thương mại cũ phải hiến những tài sản của mình cho Nhà nước theo hình thức công tư hợp doanh. Kinh tế tư nhân dần dần bị xóa bỏ và tài sản cá nhân cũng dần dần biến vào sở hữu công cộng. Tất cả mọi thứ đều như vậy. Một số gia đình đặc biệt, hoặc không quá giàu có, còn có thể giữ lại nhà, còn phần lớn bị sung công và chia lại từ đầu cho nhân dân và cán bộ công nhân viên, theo tiêu chuẩn mỗi người bốn thước vuông. Gia đình cán bộ, như Nhà tôi gồm bố mẹ và chín anh em được thuê một căn phòng rộng chừng 30 - 50 thước vuông, cả nhà chỉ có một hai cái gường, còn tất cả thường xuyên nằm trên nền nhà.
Cán bộ đi làm bình quân được mua 13 kg gạo một tháng, giá 4 hào/kg không thay đổi cho đến suốt thời bao cấp. Người không đi làm và tuổi nhỏ hơn, được tiêu chuẩn gạo từ 13 kg trở xuống tùy theo, ví dụ một tuổi sẽ được mua 3 kg. Những người làm việc nặng nhọc, độc hại sẽ được mua trên 13 kg, từ 14 - 19 kg. Bộ đội sẽ được mua 21 kg và được cấp 6,8 hào tiền ăn một ngày, cho binh lính. Nông dân tùy theo vùng, được cấp thóc theo đầu người như vậy, tính ra gạo cũng từ 11 - 15 kg, về cơ bản lương thực gạo của nông dân thấp hơn dân thành phố, nhưng họ có thể tăng gia hoa màu, ngô khoai và mót thóc.
Cán bộ thông thường được mua 3 lạng thịt/ tháng, nếu mua thịt thì thôi mua mỡ. Nước mắm một lít rưỡi, muối cân rưỡi, rau 3-5 cân, dầu hỏa 4 lít trong một tháng. Tiêu chuẩn này cũng thay đổi theo lương và tuổi lao động, nghề nghiệp lao động. Hàng ít, khan hiếm nên xếp hàng trở thành hiện tượng thông thường hàng ngày, mua bán cái gì cũng xếp hàng cả. Nên người ta gọi đùa chủ nghĩa xã hội là xếp hàng cả ngày. Đó là những phân phối đều đặn hàng tháng nếu tình hình chiến sự và kinh tế còn đảm bảo được. Cuộc chiến chống Mỹ ngày một gian khó, lương thực khan hiếm dần, và người ta phải phân phối nhiều loại khác thay cho gạo, như bột mì, hạt bo bo, ngô khoai sắn.
Cơm độn các loại trên là phổ biến trong mỗi bữa ăn, đôi khi nồi cơm chỉ có 30% là gạo. Vải may quần áo cũng dần trở nên khan hiếm, theo tiêu chuẩn thì cán bộ được 4 thước vải/năm, nhân dân được 2-2,5 thước/năm. Nhưng có những năm chẳng có chút vài nào, người ta sẽ bán thay vào đó chút kim chỉ, sách giấy, đường, hay phụ tùng xe đạp. Thời gian đó không ít người ăn mặc theo kiểu nhất bộ, tức là quanh năm chỉ có một bộ quần áo mà thôi, về nhà là cởi trần trùng trục. Nhiều nam thanh nữ tú cũng phải mặc quần áo vá chằng vá đụp. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng Bài 2: Trích “Phân phối và Đồng lương” Thứ Bảy, 17/05/2014).
Từng làm kế toán trong quân đội, tôi cũng nhớ ít nhiều về các mức lương mà cán bộ binh sĩ được hưởng, còn đồng lương của cán bộ nhà nước bên ngoài thì chỉ biết theo những gì qua bố mẹ anh chị mình. Mức lương thấp nhất của người cán bộ, trong ngành kế toán là 36 đồng vào những năm 1960. Song quãng thời gian trước chiến tranh phá hoại, năm 1960, đời sống tương đối ổn định, 36 đồng người ta có thể tạm đủ sống cho mình và nuôi một đứa con, đại khái chi phí từ 2 - 5 đồng tiền thuê nhà, tiền điện nước từ 1 - 2 đồng, 1 - 2 đồng cho con đi học, ăn hai người hết 20 đồng, mặc hết 5 đồng, ngoài ra vài chi tiêu lặt vặt, là không còn gì, nên không ai dám nghĩ gì khác ngoài cái ăn.
Nếu là gia đình, có hai vợ chồng một đứa con, lương chồng 65 đồng theo hệ đại học, vợ 36 đồng theo hệ trung cấp, thì cũng có cuộc sống ổn định, hàng tuần có thể đi xem phim, mua một hai cuốn sách, cho con đi chơi công viên. Nếu chỉ xét riêng đồng lương, người ta sẽ không hiểu vấn đề này. Nhân dân bình thường được mua 1,5 lạng thịt/tháng, nhưng cán bộ cao cấp tới 6 cân/tháng, cho nên sự chênh lệch do giá thị trường chợ đen tới 100 đồng, ngoài ra tiêu chuẩn ưu tiên đường sữa, chè thuốc, hàng phân phối cũng tạo ra sự chênh lệch đến 100 đồng nữa. Nếu cán bộ thông thường tương đối đông con, bình thường là ba con, đông là bảy đến chín con, với hai người đi làm đồng lương cán bộ thì chỉ là sao cho đủ ăn, không còn đầu óc nào cho việc khác.
Trong sinh hoạt cơ quan, người ta vay nhau điếu thuốc, lạng chè, vài hào, và đòi nhau đến vài xu, cũng như sinh hoạt xóm giềng, vay nhau vài thìa nước mắm, muôi mỡ, nhúm muối, một hai bát gạo, lạng đường là hết sức thông thường. Điều mà nhiều người bây giờ không thể tưởng tượng được. Mẹ tôi làm ở một cửa hàng ăn uống, người ta rán bánh rán và quẩy nhiều lần trong một chảo dầu mỡ, cho đến khi chảo dầu cặn này đen kịt lại, thì mới bán rẻ cho nhân viên. Nhà tôi thường dùng mỡ dầu đen đó vừa xào rán vừa thắp đèn lúc mất điện, đến giờ mà không bị ung thư thì phải nói là trời thương. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 4: Trích “Phân phối và Đồng lương” Thứ Hai, 26/05/2014).
Sydney ngày 8 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.078 chữ)
Bài 264: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TẠI MIỀN BẮC THỜI KỲ NÀY NHÀ NGHIÊN CỨU PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Những năm đầu hòa bình, từ 1955, Nhà nước hoàn toàn nắm độc quyền về sản xuất và phân phối hàng hóa, cho nên hầu như không có hàng hóa nào không thuộc về Nhà nước. Những tư nhân và các hợp tác xã nhỏ lẻ nếu có sản xuất gì đó cũng phải bán cho quốc doanh, từ đó quốc doanh sẽ phân phối lại cho người tiêu dùng, không ai được phép tự bán hàng hóa do mình sản xuất. Trong đời sống hàng ngày các mặt hàng như: xe đạp, áo quần, chăn màn, quạt máy, xô chậu, nồi niêu, phích nước, ấm chén… được coi là những đồ dùng tối thiểu nên được phân phối tùy theo cơ quan và dân sự theo lối phân hàng hàng năm, hàng quý, hàng tháng.
Nhà cửa là chương trình lâu dài, cả đời người vài chục năm đi làm mới mong được phân nhà, nhưng xe đạp thì hàng năm được xét cấp, ít nhất mỗi gia đình cán bộ phải được mua từ một đến hai chiếc - đó là phương tiện di chuyển duy nhất của cả nhà trong chiến tranh. Nếu bạn lấy vợ thì sẽ được mua hai tút thuốc lá, bốn bao chè, bốn cân bánh kẹo, một bộ chăn màn và gường chiếu, một cái phích, một cái chậu và một cái mâm. Giải cờ tướng các làng hàng năm hội lễ phần thưởng cao nhất cũng là một cái phích nước. Nồi niêu xô chậu quạt phân phối hàng tháng từ các cơ quan, người ta tiến hành bắt thăm lần lượt. Ai mua tháng này thì thôi tháng sau. Những người mới lập gia đình, mới sinh con được ưu tiên mua trước.
Tất cả các mặt hàng phân phối đều có thể mua được ở chợ đen với giá cao hơn. Lúc đó, theo nguyên tắc mọi hàng sản xuất đều ưu tiên cho Nhà nước thu mua trước, nhưng giá thu mua thường không hợp lý so với giá thành sản xuất, thậm chí còn thấp hơn sự đầu tư. Ví dụ chúng tôi trồng một ruộng rau muống, hàng ngày thu hoạch phải bán cho bộ đội giá năm xu một cân, trong khi mua giống và tắm tưới hàng ngày tốn gấp đôi số tiền đó. Nhiều ngành sản xuất phá sản dần, nông dân không chăn nuôi, trồng hoa màu nữa, thợ thủ công bỏ hợp tác xã. Bắt đầu có hiện tượng các hợp tác xã và tư nhân sản xuất một số hàng cho Nhà nước thu mua còn phần nhiều tuồn ra chợ đen (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 6: Trích “Hàng phân phối và chợ đen” Thứ Bảy, 07/06/2014).
Chợ đen không phải là một cái chợ theo đúng nghĩa, mà là cách phân mua bán hàng hóa chui cố gắng tránh sự kiểm soát của Nhà nước. Nó diễn ra đủ mọi nơi, mọi thời điểm, thậm chí ngay cả những người quản lý thị trường cũng không phải không có lúc dùng hàng chợ đen. Một nhà nuôi con lợn sẽ lẳng lặng giết thịt sao cho lợn không kêu, những người gần đó cũng lẳng lặng đến mua từng gói nhỏ một vài người một. Cả con lợn bị phân tán lặng lẽ như chưa từng được nuôi. Đó là chợ đen, những hình thức mua bán chuyền tay phát triển hơn bao giờ hết thời hậu chiến tạo thành một mạng lưới dân gian sôi nổi không kém gì thời hoạt động bí mật.
Ở nông thôn, do hầu hết các mặt hàng thiết yếu không được cung cấp như thành thị, người ta có xu hướng tự cung tự cấp trở lại. Những bà già dựng lại khung cửi, thợ mộc, thợ nề, và thợ thủ công nói chung âm thầm hoạt động nghề trở lại sau thời kỳ hợp tác xã không thành công. Các chợ phiên ở nông thôn sau năm 1965 có thể nói vẫn hoạt động bình thường, rau quả củ, lợn gà, đồ mây tre đan, vải mộc, chút gạo thóc, nhất là khi những người thành thị về nông thôn sơ tán chiến tranh phá hoại không thể không cần đến chợ phiên. Ngày nào cũng có cuộc giằng xé giữa những anh quản lý thị trường và mấy bà già buôn thúng bán mẹt, đôi khi rổ rá quăng quật lung tung, rau cỏ ném bừa bãi, nhưng rồi chợ vẫn họp, rồi lại đùng một cái máy bay ném bom, tất cả quăng thúng mẹt thoát thân.
Lời lãi ở chợ phiên nông thôn rất thấp, có mất cả gánh hàng cũng chỉ là vài đồng bạc. Mớ rau, nải chuối, gói kẹo bột, rổ tép riu… nhưng cũng là đồng quà tấm bánh cho phong tục sống của người Việt. Từ sau năm 1973, ngày càng có nhiều thương binh,bộ đội giải ngũ, việc đầu tiên của họ là củng cố lại kinh tế gia đình. Chủ nghĩa công thần bắt đầu nổi lên và những thương binh, bộ đội dùng ảnh hưởng của mình trong việc buôn bán giằng co với thương nghiệp. Họ họp thành từng đoàn, thậm chí có cả đoàn thương binh hỏng mắt nắm ba lô nhau đi buôn gạo, quế, thuốc lá, chè, rượu… - cảnh tượng không khỏi khiến người ta rơi nước mắt huống chi còn bắt hàng. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 7: Trích “Chợ đen” Thứ Bảy, 14/06/2014).
Sydney ngày 9 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 961 chữ)
Bài 264: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TẠI MIỀN BẮC THỜI KỲ NÀY NHÀ NGHIÊN CỨU PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Những năm đầu hòa bình, từ 1955, Nhà nước hoàn toàn nắm độc quyền về sản xuất và phân phối hàng hóa, cho nên hầu như không có hàng hóa nào không thuộc về Nhà nước. Những tư nhân và các hợp tác xã nhỏ lẻ nếu có sản xuất gì đó cũng phải bán cho quốc doanh, từ đó quốc doanh sẽ phân phối lại cho người tiêu dùng, không ai được phép tự bán hàng hóa do mình sản xuất. Trong đời sống hàng ngày các mặt hàng như: xe đạp, áo quần, chăn màn, quạt máy, xô chậu, nồi niêu, phích nước, ấm chén… được coi là những đồ dùng tối thiểu nên được phân phối tùy theo cơ quan và dân sự theo lối phân hàng hàng năm, hàng quý, hàng tháng.
Nhà cửa là chương trình lâu dài, cả đời người vài chục năm đi làm mới mong được phân nhà, nhưng xe đạp thì hàng năm được xét cấp, ít nhất mỗi gia đình cán bộ phải được mua từ một đến hai chiếc - đó là phương tiện di chuyển duy nhất của cả nhà trong chiến tranh. Nếu bạn lấy vợ thì sẽ được mua hai tút thuốc lá, bốn bao chè, bốn cân bánh kẹo, một bộ chăn màn và gường chiếu, một cái phích, một cái chậu và một cái mâm. Giải cờ tướng các làng hàng năm hội lễ phần thưởng cao nhất cũng là một cái phích nước. Nồi niêu xô chậu quạt phân phối hàng tháng từ các cơ quan, người ta tiến hành bắt thăm lần lượt. Ai mua tháng này thì thôi tháng sau. Những người mới lập gia đình, mới sinh con được ưu tiên mua trước.
Tất cả các mặt hàng phân phối đều có thể mua được ở chợ đen với giá cao hơn. Lúc đó, theo nguyên tắc mọi hàng sản xuất đều ưu tiên cho Nhà nước thu mua trước, nhưng giá thu mua thường không hợp lý so với giá thành sản xuất, thậm chí còn thấp hơn sự đầu tư. Ví dụ chúng tôi trồng một ruộng rau muống, hàng ngày thu hoạch phải bán cho bộ đội giá năm xu một cân, trong khi mua giống và tắm tưới hàng ngày tốn gấp đôi số tiền đó. Nhiều ngành sản xuất phá sản dần, nông dân không chăn nuôi, trồng hoa màu nữa, thợ thủ công bỏ hợp tác xã. Bắt đầu có hiện tượng các hợp tác xã và tư nhân sản xuất một số hàng cho Nhà nước thu mua còn phần nhiều tuồn ra chợ đen (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 6: Trích “Hàng phân phối và chợ đen” Thứ Bảy, 07/06/2014).
Chợ đen không phải là một cái chợ theo đúng nghĩa, mà là cách phân mua bán hàng hóa chui cố gắng tránh sự kiểm soát của Nhà nước. Nó diễn ra đủ mọi nơi, mọi thời điểm, thậm chí ngay cả những người quản lý thị trường cũng không phải không có lúc dùng hàng chợ đen. Một nhà nuôi con lợn sẽ lẳng lặng giết thịt sao cho lợn không kêu, những người gần đó cũng lẳng lặng đến mua từng gói nhỏ một vài người một. Cả con lợn bị phân tán lặng lẽ như chưa từng được nuôi. Đó là chợ đen, những hình thức mua bán chuyền tay phát triển hơn bao giờ hết thời hậu chiến tạo thành một mạng lưới dân gian sôi nổi không kém gì thời hoạt động bí mật.
Ở nông thôn, do hầu hết các mặt hàng thiết yếu không được cung cấp như thành thị, người ta có xu hướng tự cung tự cấp trở lại. Những bà già dựng lại khung cửi, thợ mộc, thợ nề, và thợ thủ công nói chung âm thầm hoạt động nghề trở lại sau thời kỳ hợp tác xã không thành công. Các chợ phiên ở nông thôn sau năm 1965 có thể nói vẫn hoạt động bình thường, rau quả củ, lợn gà, đồ mây tre đan, vải mộc, chút gạo thóc, nhất là khi những người thành thị về nông thôn sơ tán chiến tranh phá hoại không thể không cần đến chợ phiên. Ngày nào cũng có cuộc giằng xé giữa những anh quản lý thị trường và mấy bà già buôn thúng bán mẹt, đôi khi rổ rá quăng quật lung tung, rau cỏ ném bừa bãi, nhưng rồi chợ vẫn họp, rồi lại đùng một cái máy bay ném bom, tất cả quăng thúng mẹt thoát thân.
Lời lãi ở chợ phiên nông thôn rất thấp, có mất cả gánh hàng cũng chỉ là vài đồng bạc. Mớ rau, nải chuối, gói kẹo bột, rổ tép riu… nhưng cũng là đồng quà tấm bánh cho phong tục sống của người Việt. Từ sau năm 1973, ngày càng có nhiều thương binh,bộ đội giải ngũ, việc đầu tiên của họ là củng cố lại kinh tế gia đình. Chủ nghĩa công thần bắt đầu nổi lên và những thương binh, bộ đội dùng ảnh hưởng của mình trong việc buôn bán giằng co với thương nghiệp. Họ họp thành từng đoàn, thậm chí có cả đoàn thương binh hỏng mắt nắm ba lô nhau đi buôn gạo, quế, thuốc lá, chè, rượu… - cảnh tượng không khỏi khiến người ta rơi nước mắt huống chi còn bắt hàng. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 7: Trích “Chợ đen” Thứ Bảy, 14/06/2014).
Sydney ngày 9 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 961 chữ)
Bài 265: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TẠI MIỀN BẮC THỜI KỲ NÀY NHÀ NGHIÊN CỨU PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Đời sống của người dân suốt thời chiến tranh và bao cấp là vô cùng khó khăn, đó là điều không ai không nhận thấy, nhưng có nhiều điều ngoài sức tưởng tượng và cái chính là nó ảnh hưởng đến tâm tư con người cho đến tận bây giờ, ngay cả những người thời đó còn là trẻ con hay chưa sinh. Điển hình nhất là hai tính cách tham ăn và ham chuyện tình dục - hai cái đói vô cùng của thời bao cấp, khiến ngày nay hình như người ta hối hả bù đắp, một sự phản chiều tâm lý, hơn 40 năm bị dồn nén, nếu tính từ năm 1945 - 1985.
Khi những ngôi nhà riêng bị chia cho nhiều gia đình, mỗi gia đình theo tiêu chuẩn 4 m2/người trở nên quá chật chội. Rồi mỗi gia đình tự nở ra thành hai, ba, bốn gia đình, khi đàn con lớn lên và lấy vợ, lấy chồng, nhưng tất cả vẫn sinh hoạt trong một diện tích cũ. Buổi tối nhìn vào một căn nhà, thực chất chỉ là một căn phòng người ta có cảm giác như một doanh trại quân đội dã chiến, nó được ngăn nhỏ ra bằng các tấm Ri-đô (màn quây), mỗi một khoang ri-đô là một đôi vợ chồng. Sáng ra tất cả Ri-đô được kéo gọn và căn phòng trở nên công cộng như cũ. Vài cái giường không đủ cho tất cả, còn lại nằm đất, đám thanh niên chưa vợ, tụ tập kéo nhau ra đường ngủ, vỉa hè, hoặc các con ngõ, hoặc chui lên các gác thượng, chưa bị lấn chiếm.
Đời sống tính dục phải rất tế nhị, hoặc hầu như không có, nhiều người nói rằng: Đó là thời không có tình dục. Không ai trông thấy bạn đời của mình ra làm sao, ngoài khuôn mặt. Bạn tôi mãi đến khi được phân căn hộ tập thể riêng mới thốt lên rằng: Bây giờ (sau 15 năm cưới) tôi mới biết chân vợ mình cực đẹp. Sau đó anh chết sớm vì ung thư, chúng tôi thường đùa rằng vì ông ấy ngắm chân đẹp nhiều quá nên chết sớm. Ở Hà Nội lúc đó, việc phân chia các gia đình trở nên quá phức tạp. Cái bếp chung của xóm ngõ không đủ cho vài chục gia đình, thậm chí có những căn nhà với nhiều hộ khác nhau, lên đến 70 gia đình nhỏ. Kết cục là từ hàng chục đến 70 cái bếp dầu, lò than cùng hun khói một lúc vào giờ nấu ăn.
Nan giải nhất trong mỗi căn nhà có nhiều hộ là khu vệ sinh chung và nước sinh hoạt. Thời bao cấp mỗi lần phải đi vệ sinh giống như bị đi tra tấn, mùi hôi thối còn bám vào người và quần áo rất lâu, khiến có người chế riêng một bộ (áo mưa) để đi vệ sinh. Từ năm 1967, nước sinh hoạt trong thành phố luôn thiếu, do nguồn cung cấp điện không thường xuyên. Mất điện và mất nước đi đôi với nhau. Ngay cả khi có nước thì nước cũng không chảy được vào trong từng gia đình. Ở các thành phố giếng thường không được tốt lắm, do nguồn nước ngầm bị ô nhiễm lâu đời, nên nước sinh hoạt là vấn đề rất căng thẳng.
Thời đó, chúng tôi thường giặt giũ từ 1 đến 3 giờ sáng, và cũng bơm nước vào bể chung vào quãng thời gian đó, nhưng phải ngồi suốt đêm canh máy bơm, nếu không mất ngay. Những cuộc “chiến tranh nước" xảy ra thường xuyên trong các khu tập thể, nhất là những nhà ở tầng cao thì càng khó khăn có được nước sinh hoạt. Trong nhà luôn có chum, vại, xô chậu tích đầy nước. Người ta tranh thủ đến cơ quan tắm giặt, đi vệ sinh, thay vì làm việc đó ở nhà. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 16: Trích “Ri-đô và tương cà mắm muối” Chủ nhật, 17/08/2014).
Sydney ngày 10 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 724 chữ)
Bài 266: CHUYỆN KỂ VỀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TẠI MIỀN BẮC THỜI KỲ NÀY NHÀ NGHIÊN CỨU PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Cùng với sự xóa bỏ tư hữu cá nhân, độc tôn sở hữu tập thể, sinh hoạt tập thể là một nét đặc trưng trong lý tưởng Chủ nghĩa Xã hội. Mọi việc đều thống nhất trong sinh hoạt Đảng và tập thể quần chúng nói chung. Nhỏ nhất là mô hình tổ ba người - còn gọi là tổ tam tam - có lẽ theo lối của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, nghĩa là đi đâu, làm gì, thậm chí ăn gì chơi gì, cũng có ba người và ba người này tự giám sát nhau, sau đó kiểm điểm và báo cáo lên cấp trên. Về sau, chúng tôi không còn thấy sinh hoạt tổ ba người nữa, mà thay vào đó là sinh hoạt tổ đội, có thể là 10 người, hoặc ít nhiều hơn tùy thuộc vào biên chế cơ quan hay cách thức tổ chức cụ thể.
Từ nhỏ, thiếu nhi được vào Đội thiếu niên nhi đồng, đeo khăn quàng đỏ và phù hiệu, cùng huy hiệu Đội. Huy hiệu Đội có hình tượng búp măng non trên nền cờ đỏ, sao vàng còn huy hiệu Đoàn do họa sĩ Tôn Đức Lượng thiết kế có bàn tay phất lá cờ đỏ sao vàng trên nền xanh. Phù hiệu thì màu trắng, gạch đỏ, đeo ở vai có ba gạch là liên đội trưởng, hai gạch là đội trưởng, còn một gạch là phân đội trưởng. Liên đội trưởng đứng đầu toàn khối thiếu niên thiếu nhi trong trường cấp hai và cấp một, đội trưởng thì tính theo đơn vị lớp, phân đội là đơn vị tổ. Họ được tập đi hành quân như bộ đội, có đội trống chỉ huy tập riêng.
Vào ngày 2/9 - Tết độc lập, mùng 1/5 - Ngày Quốc tế Lao động, rằm Trung thu, ngày thành lập Đoàn - Đội 26/3, những đội thiếu niên nhi đồng hàng trăm em mặc quần xanh, áo trắng, đeo khăn quàng đỏ đánh trống diễu hành vang trời. Ở Trung Quốc, thời Cách mạng Văn hóa, đám trẻ con này được tổ chức thành Hồng tiểu binh cũng tham gia đập phá, dẫn đám cán bộ bị chụp mũ đi rong ngoài đường. Học sinh cấp ba, lớn hơn, vào mùa Hè phải xuống các khối phố, nông thôn làm anh phụ trách Đội, sau Hè nếu không có giấy chứng nhận làm phụ trách họ sẽ khó được vào Đoàn.
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là một trong những lực lượng tập thể mạnh nhất thời chiến tranh và bao cấp ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thanh thiếu niên từ 14 tuổi đến 25 tuổi được coi là tuổi vào Đoàn. Họ hàng tuần, hàng tháng phải sinh hoạt tập thể, kiểm điểm, thi đấu thể thao, làm báo tường, đi lao động XNCN, từ lực lượng này có thể tham gia trực tiếp vào quân đội. Tất cả những ai không vào Đoàn đều không được vào trường đại học, đó là nguyên tắc.
Trong nhân dân, thì ở thành phố chỉ có hình thức sinh hoạt duy nhất là họp tổ dân phố, còn gọi là các khối phố. Khối phố có trưởng khổi, phó trưởng khối và cũng thường là đảng viên, họ có trách nhiệm phố biến nghị quyết của Đảng và Chính phủ, đọc báo Nhân dân và Quân đội hàng tuần cho bà con nghe, tổ chức kiểm điểm thanh niên trộm cắp và vi phạm nếp sống văn minh. Ở nông thôn, có Hợp tác xã, là một tổ chức tập thể chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp. Hàng tuần, thậm chí hàng tối, đều tổ chức họp hợp tác xã tại đình làng, hay một nhà dân nào đó.
Đầu tiên là đọc báo Nhân dân, phổ biến tin miền Nam chiến thắng, tình hình quốc tế, sau đó kiểm điểm sản xuất, phân công lao động từng đội đến từng cánh đồng nào đó, phân phối giống, phân và trâu cày, chia thịt lợn vào dịp Tết và đón khách trung ương. Việc ăn tập thể ở hợp tác xã chỉ vào dịp lễ Tết. Trong các cơ quan còn nhiều hình thức sinh hoạt tập thể hơn. Họp Công đoàn, họp toàn thể đại hội công nhân viên, họp Đảng, họp Đoàn thanh niên, họp Chi hội phụ nữ, và tất nhiên là họp Giao ban việc cơ quan chỉ định vào sáng thứ Hai.
Tất cả các cuộc họp này nội dung đều giống nhau, tức là nghị quyết sẽ được nhắc lại tới năm bảy lần, cuối cùng là bình bầu người tốt việc tốt, lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, còn bầu anh hùng lao động thì là việc hy hữu có tính chất quốc gia rồi. Những sinh hoạt tập thể này đã tạo ra xã hội Việt Nam trong hơn 50 năm từ năm 1945 đến sau đó. Và dư âm của nó có lẽ còn rất lâu mới phai nhạt. Con người thời XHCN có lẽ rất cô đơn, rời tập thể ra nó chẳng còn ý nghĩa gì? (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 17: Trích “Sinh hoạt tập thể” Chủ nhật, 31/08/2014).
Sydney ngày 11 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 923 chữ)
Bài 268: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1961-1964 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Năm 1963: Ngày 14/2/63, Chế độ đầu tư được quy định với nhiều đặc khoản khuyến khích tư bản ngoại quốc vào Việt Nam đầu tư cho phát triển kinh tế (SL 2/63). Ngày 26/3/63, khánh thành Trại Nhân Trí Dũng ở suối Lồ Ồ, trung tâm Huấn luyện cán bộ Áp Chiến Lược. Ngày 8/4/63, Dịch hạch phát hiện nhiều nơi, Viện trợ Mỹ cấp 300.000 liều thuốc chích ngừa. Ngày 17/4/63, lể kỷ niệm Đệ nhất chu niên “Quốc sách Ấp Chiến Lược”. theo tường trình đã lập xong 5.917 Ấp quy tụ 8 triệu dân. Tổng thống Ngô Đình Diệm tuyên bố “Chính sách Chiêu hồi” kêu gọi những người lạc lối trở về xây dựng Xã hội mới.
Ngày 7/5/63, Tăng ni Phật tử ở Huế treo cờ Phật giáo chào mừng lễ Phật Đản, Cảnh sát tới hạ cờ. Vài ngàn tín đồ kéo tới Tòa Tỉnh trưởng yêu cầu can thiệp. Ngày 8/5/63, tại Huế, buổi sáng, hàng ngàn người tham dự lễ rước Phật từ chùa Từ Đàm đến chùa Diệu Đế; buổi tối nhiều ngàn Phật tử tới Đài Phát thanh, đón nghe phát thanh lại buổi lễ ban sáng. Cuộc tụ họp bị lực lượng an ninh mạnh tay giải tán: 7 thường dân chết, 1 người bị thương, lực lượng giải tán 5 bị thương. Ngày 10/5/63, Tăng ni Phật tử họp ở chùa Từ Đàm, yêu cầu Chính phủ “bãi bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo; chấm dứt các vụ khủng bố; bồi thường cho những người bị nạn.
Ngày 15/5/63, một Phái đoàn Phât giáo gồm 6 Thượng tọa và Đại đức yết kiến Tổng thống Ngô Đình Diệm từ 10g30 đến 13 giờ để bày tỏ 5 nguyện vọng. Ngày 16/5/63, họp báo tại chùa Xá Lợi, có Bộ trưởng Công Dân Vụ Ngô Trọng Hiếu, Thượng tọa Thích tâm Châu, trình bày 5 nguyện vọng đã đưa lên tổng thống Ngô Đình Diệm trong buổi Hội kiến là: bãi bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo; cho Phật giáo hưởng chế độ ngang hàng với các Hội Truyền giáo Thiên Chúa; chấm dứt khủng bố và các vụ bắt bớ Phật tử; để Tăng ni và Phật tử tự do truyền Đạo và hành Đạo; bồi thường cho các gia đình nạn nhân, và trừng trị nhân viên có lỗi gây đổ máu”.
Ngày 21/5/63, thiết lập khu Kỹ nghệ Biên Hoà (SL 49/KT). Ngày 30/5/63, gần 200 giáo sư Đại học, và Khoa trưởng tham gia khóa Huấn luyện Cán bộ “Ấp Chiến Lược” tại Suối Lồ Ồ (Tác giả là một Học viên của Khoá nầy). Ngày 1/6/63, Tổng Giám đốc Điền địa Nguyễn Xuân Khương được bổ Đại biểu Chính phủ tại Trung Phần thay Thẩm phán Hồ Đắc Khương, Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, Phó tỉnh trưởng Nội an Thiếu tá Đặng Sĩ, bị triệu về Bộ Nội vụ đợi lệnh. Ngày 3/6/63, vài trăm thanh niên biểu tình ở Bến Ngự, Huế bị giải tán bằng lựu đạn cay mắt.
Ngày 4/6/63, thành lập một Ủy ban Liên bộ để giải quyết các vấn đề Phật giáo gồm Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương, Bộ trưởng tại Phủ tổng thống Nguyễn Đình Thuần. Phật tử biểu tình ở Huế có xô xát, một số bị thương. Ngày 5/6/63, Ủy ban Liên Bộ nhóm họp với Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo gồm các Thượng tọa Thích Thiện Minh, Thích Tâm Châu, Thích Thiện Hoa, Thích Huyền Quang, Thích Đức Nghiệp. Ngày 7/6/63, Ủy ban Liên phái gởi thư cho Ủy ban Liên bộ khiếu nại việc các chùa ở Huế bị phong tỏa.
Ngày 11/6/63, trước vài trăm Tăng ni tại ngã tư đường Lê văn Duyệt-Phan Đình Phùng, Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu bằng dầu xăng lấy ở một chiếc xe hơi chạy tới. Sau vụ tự thiêu, Tổng thống Ngô Đình Diệm gởi thông điệp kêu gọi dân chúng thủ đô bình tỉnh, rằng mọi sự khó khăn sẽ được giải quyết trên “căn bản lương tri và ái quốc, trong thình đoàn kết huynh đệ”; rằng không nên tin có âm mưu trì hoãn giải quyết vấn đề; rằng “sau lưng Phật giáo trong nước, hãy còn Hiến pháp nghĩa là có tôi”.
Ngày 14/6/63, Ủy ban Liên Phái Bảo vệ Phật Giáo và Ủy ban Liên Bộ họp lần thứ hai tại toà nhà Diên Hồng. Ngày 16/6/63, sau 3 ngày và đêm thảo luận, Hai Uỷ ban Liên bộ và Liên phái ra thông cáo chung xác định những điểm đã “thỏa hiệp” về: cách treo cờ Phật giáo và Quốc kỳ; xét lại Dụ số 10 về quy chế Tôn giáo; điều tra các vụ bắt bớ, và khoan hồng với những người đấu tranh cho Phật giáo; dành mọi sự dể dàng cho hoạt động Tôn giáo; trừng trị nhân viên có lỗi, bồi thường các gia đình nạn nhân.
Ngày 19/6/63, Quốc hội Việt Nam họp xét lại Dụ số 10 về Hiệp hội. Ngày 20/6/63, Các Tăng ni Cổ Sơn Môn họp tại Phú Thọ Hòa ủng hộ chính phủ. Ngày 26/6/63, Thượng tọa Thiện Minh gởi thư lên Tổng thống Ngô Đình Diệm cho hay thông cáo chung chưa được thi hành, cụ thể: tại Phú Yên, Bình Định.v.v. chính quyền tổ chức Meeting lên án Phật giáo; nhiều chuà ở Quảng Trị vẫn còn bị phong tỏa; tăng ni bị Công An ngăn chặn trên các ngã đường; Thanh niên Cộng hòa sắp tổ chức biểu tình đòi xét lại Thông cáo chung; Cổ Sơn Môn được nâng đỡ để chống lại Tổng hội Phật giáo.
Ngày 2/7/63, thành lập 7 Nha Cảnh sát Quốc gia, Bắc Trung Nguyên, Nam Trung Nguyên, Cao Nguyên, Đô Thành, Miền Đông Nam Phần, Miền Tiền Giang, Miền Hậu Giang (NĐ 522/NV). Ngày 6/7/63, đến nay có 7.204 Ấp Chiến Lược đã lập xong. Ngày 7/7/63, Nhà Văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc ngũ tự tử để phản đối việc truy tố ông ra trước tòa án. Tòa Án Quân sự đặc biệt xét xử vụ “đảo chánh hụt ngày 11/11/60” từ 8 đến 12 /7/63 tuyên án: trong số 19 Quân nhân có 13 án tù khổ sai, 6 tha bổng; trong số 35 Nhân sĩ có 20 án tù cấm cố, 14 tha bổng, Nguyễn tường Tam vô tội;
Và 9 tử hình cho Quân nhân và nhân sĩ vắng mặt là Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, Thiếu tá Trần văn Đô, Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc, các Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Quốc Tuấn, Luật sư Hoàng Cơ Thụy, và ông Nguyễn Bảo Toàn. Cùng ngày 12/7/63 nầy, Đại tá Đỗ Cao Trí được thăng Thiếu tướng, và 106 sĩ quan cấp tá và cấp uý khác cũng được thăng cấp. Hôm sau, ngày 13/7/63, Tòa Án Quân sự xét xử tiếp vụ 19 Nhân sĩ của nhóm Caravell, đã ký giấy đòi cải cách. Tất cả đều được tha bổng.
Ngày 23/7/63, vài trăm Dân vệ và Thương Phế binh biểu tình trước chùa Xá Lợi. Ngày 24/7/63, Trung tá Trần Thanh Chiêu Thanh Tra Dân vệ Đoàn bị cất chức vì cuộc biểu của Dân vệ hôm qua. Ngày 3/8/63, bà Ngô Đình Nhu lên án những vụ đấu tranh về Tôn giáo. Ngày 4/8/63, Đại đức Nguyên Hương tự thiêu tại Phan Thiết. Ngày 8/8/63, bà Ngô Đình Nhu lại tuyên bố gián tiếp trả lời cha bà là Đại sứ Trần Văn Chương, vì theo Đài V.O.A, Đại sứ đã trách bà “thiếu lễ độ” với Phật giáo. Bà nói, nhận là “thiếu lễ độ” nhưng thấy “cần phải lên tiếng” đồng thời cám ơn Đại sứ đã cho bà một dịp để “bày tỏ ý kiến”.
Ngày 9/8/63, bà Ngô Đình Nhu lại tuyên bố với báo New York Times “phải quyết liệt đối với cuộc đấu tranh hiện nay của Phật giáo. Ngày 13/8/63, Đại đức Thích Thanh Tuệ 17 tuổi tự thiêu trước chùa Phước Duyên, Hương Trà, Thừa Thiên. Ngày 14/8/63, họp báo tại chùa Xá Lợi, Thượng tọa Thiện Minh cho biết ba điều kiện tiên quyết để lập Ủy ban Hỗn Hợp: chấm dứt mưu mô phá Phật Giáo; phóng thích các Phật tử còn bị giam; công bố vụ tàn sát ở Huế”. Ngày 15/8/63, Ni cô Diệu Quang, 20 tuổi tự thiêu ở quận Ninh Hòa, Khánh Hòa. Lệnh giới nghiêm ban hành ở Nha Trang.
Ngày 16/8/63, Đại Đức Thích Tiêu Diêu, tức Thích Thiện Huệ, 71 tuổi tự thiêu tại chùa Từ Đàm, Huế. Ngày 20/8/63, biểu tình lớn ở Đà Nẵng và trước chùa Xá Lợi ở Sài Gòn. Quá nữa đêm 20/8/63, Cảnh sát Chiến đấu tới bao vây và lục soát chùa Xá Lợi xô xát kịch liệt. Súng nổ, nhiều người bị thương, trong đó có Hòa thượng Thích Tịnh Khiết bị xô ngã, và bị thương ở gần mắt. Các Tăng Ni bị bắt. Các chùa Ấn Quang, Kỳ Viên Tự đều bị khám xét. Ngày 21/8/63, Tổng thống Ngô Đình Diệm triệu tập Hội đồng Chính phủ vào lúc gần sáng, tuyên bố phải hành động cương quyết, và ban bố lệnh giới nghiêm trên toàn lãnh thổ (SL84/TTP).
Bộ trưởng Ngoại giao Vũ văn Mẩu xuống tóc phản đối Ngô Đình Diệm. Thiếu tưởng Tôn Thất Đính được cử làm Tổng trấn Đô thành Sài Gòn-Gia Định. Cấm đi lại ban đêm từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng. Ngày 22/8/63, Đại sứ Trần Văn Chương tại Hoa Thịnh Đốn bị chấm dứt nhiệm vụ. Tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa Ngô Đình Nhu kêu gọi Thanh niên Cộng hòa làm “rạng tỏ chính sách”. Ngày 24/8/63, Bộ Giáo dục tạm đóng cửa tất cả các trường học ở Sài Gòn Gia Định. Ngày 25/8/63, sinh viên học sinh biểu tình rất đông trước chợ Bến Thành ủng hộ Phật giáo, Cảnh sát can thiệp, có xô xát, một thiếu nữ tên Quách Thị Trang bị bắn chết.
Sydney ngày 13 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.738 chữ)
Bài 269: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1961-1964 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Ngày 27/8/63, các Đoàn thể và các Tỉnh gởi kiến nghị trung thành và ủng hộ Tổng thống. Ngày 31/8/63, Thanh niên Cộng hòa tổ chức một cuộc biểu tình lớn ở Công trường Lê Lợi để ủng hộ Chính phủ và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày 2/9/63, Tổng Trấn Sài Gòn Gia Định họp báo tại trại Lê văn Duyệt cho biết chỉ còn vài Tăng Ni chưa được thả về, có 2 vị Sư trú ẩn trong Tòa Đại sứ Mỹ. Ngày 10/9/63, bà Ngô Đình Nhu dẫn một Phái đoàn Dân biểu đi dự Hội nghị Quốc tế Nghị sĩ tại Nam Tư, nhân tiện sẽ ghé qua nhiều nước Âu Mỹ để “giải độc” dư luận Quốc tế về vấn đề Phật giáo.
Ngày 20/9/63, Khối Á-Phi yêu cầu Việt Nam trình bày vấn đề Phật giáo trước Liên Hiệp Quốc. Ngày 24/9/63, Đại sứ Bửu Hội phản đối ý kiến đưa vụ Phật giáo Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc. Ngày 27/9/63, bầu cử Quốc hội Nhiệm kỳ III, Ngày 5/10/63, Đại đức Thích Quang Hương tự thiêu trước chợ Bến Thành. Ngày 7/10/63, Quốc hội nhiệm kỳ III khai mạc khóa đầu tiên. Ngày 10/10/63, bà Ngô Đình Nhu diễn thuyết và họp báo tại Hoa Kỳ, công kích chính sách Mỹ tại Việt Nam, và phủ nhận sự đàn áp Phật giáo.
Dân số Thế giới (tháng 10/1963) theo F.A.O hiện có 3.180.000.000 người. Ngày 14/10/63, thành lập tỉnh Hậu Nghĩa,lấy một phần từ các tỉnh Long An, Bình Dương, và Tây Ninh, tỉnh lỵ là Khiêm Cương, ở Bàu Trai củ (SL 124/NV). Ngày 21/10/63, cựu Đại sứ Trần Văn Chương chỉ trích bà Ngô Đình Nhu làm rối tình hình Việt Nam. Ngày 22/10/63, Quốc hội triển hạn thêm 2 năm nữa việc Ủy quyền cho Tổng thống ban hành Sắc luật (Luật 20/63). Ngày 25/10/63, Phái đoàn của Liên Hiệp Quốc vào điều tra vụ Phật Giáo đến gặp tổng thống Ngô Đình Diệm, và họp báo nói qua về nhiệm vụ.
Ngày 26/10/63, Cố vấn Ngô Đình Nhu phân trần khá lâu với Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ Phật giáo. Ngày 27/10/63, Đại đức Thích Thiện Mỹ vị sư thứ 7 tự thiêu, trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. Ngày 31/10/63, Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc ra Huế viếng Tăng Ni. Cùng ngày 31/10/63, Quốc hội mới mở tiệc tiếp tân. Chuyên viên xây hầm trú ẩn trong Dinh Gia Long cho biết đã hoàn tất công việc, bom hơn 500 cân ném xuống cũng không việc gì.
Ngày 1/11/1963, 13 giờ 30, tiếng súng nổ ran ở nhiều nơi trong Đô Thành, Quân đội chiếm đóng Tổng Nha Cảnh sát, Đại Phát thanh, Nha Thông tin, Bộ Nội vụ.v.v. 14g30, có xung đột tại Đài Phát Thanh, nhưng chiến xa của Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống bị đánh lui; 16g45, Đài Phát thanh loan tin Quân đội đứng lên lật đổ Chế độ Ngô Đình Diệm; 20 giờ hơn Quân đội Cách mạng tấn công mạnh vào thành Cộng hòa, và chiếm được thành nầy hồi 22 giờ. Nhiều sinh viên và học sinh được phóng thích; 24 giờ, theo lời kêu gọi trên Đài Phát thanh, 4 Bộ trưởng ra trình diện tai Bộ Tổng Tham mưu.
Ngày 2/11/63, Sự kiện nối tiếp: 3 giờ sáng, quân đội Cách mạng tấn công vào Dinh Gia Long, kịch chiến cho tới 4 giờ sáng thì quân Phòng vệ Dinh đầu hàng. Anh em ông Diệm đã thoát khỏi Dinh đến nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn; Trung tướng Dương Văn Minh Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn quốc (Quân lệnh số 1); Số người bị đạn lạc là 20 người chết, 145 bị thương tại các bệnh viện Đô thành; 7 giờ sáng, Đài Phát thanh báo tin, Dinh Gia Long đã bị chiếm, hai anh em, ông Diệm, ông Nhu đã tự tử. Buổi trưa có tin hai anh em ông Diệm bị hạ sát chớ không phải tự sát.
Ngày 3/11/63, Hội đồng Quân nhân Cách mạng họp báo, ra Tuyên Cáo, và Quyết nghị. Tuyên cáo số 1: Quân đội phải lật đổ một chế độ độc tài; Sẽ lập gấp Chính phủ Lâm thời; Sẽ thành lập một Hội đồng Nhân sĩ; Khi các định chế Dân chủ được thực hiện, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng sẽ trao quyền cho Quốc dân. Tuyên cáo số 2: Không phóng túng, không độc tài, dân chủ trong tinh thần kỷ luật; Chống Cộng, đứng trong Thế giới Tự do; tôn trọng các Hiệp ước đã ký; đoàn kết toàn dân, cho các đảng phái hoạt động; sửa soạn định chế dân chủ; tự do tín ngưởng, bình đẳng tôn giáo; trả tự do cho các Chính trị phạm không Cộng sản; tự do báo chí...
Hội đồng Quân nhân Cách mạng cũng ra hai Quyết nghị: Quyết nghị thứ nhất, Truất phế Tổng thống Ngô Đình Diệm; bãi bỏ chế độ Tổng thống; giải tán Chính phủ do ông Diệm lãnh đạo; Hội đồng Quân nhân Cách mạng tạm thời đảm đương Hành pháp. Quyết nghị thứ hai, Tạm ngưng Hiến pháp ngày 26/10/1956; Giải tán Quốc hội bầu ngày 27/9/1963. Ngày 4/11/63, Hội đồng Quân nhân Cách mạng ban hành Hiến ước Tạm thời số 1: Việt Nam vẫn là nước Cộng hoà; quyền Lập pháp và Hành pháp thuộc Hội đồng Quân nhân Cách mạng; quyền hành Quốc trưởng thuộc Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng; quyền Hành pháp ủy cho Chính phủ Lâm thời do Hội đồng chỉ định; quyền Lập pháp ủy cho Chính phủ, ngoại trừ về Ngân sách, Thuế, An ninh, Quốc phòng; luật lệ hiện hành vẫn tạm thời áp dụng.
Thành phần Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM) gồm: Chủ tịch: Trung tướng Dương Văn Minh; Đệ nhất Phó Chủ tịch: Trung tướng Trần Văn Đôn; Đệ nhị Phó Chủ tịch: Trung tướng Tôn Thất Đính; Ủy viên Quân sự: Trung tướng Trần Thiện Khiêm; Ủy viên Kinh tế: Trung tướng Trần Văn Minh; Ủy viên An ninh: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu; Ủy viên Chính trị: Thiếu tướng Đỗ Mậu; Tổng Thư Ký kiêm Ủy viên Ngoại giao: Trung tướng Lê Văn Kim; Các Ủy viên: Trung tướng Mai Hữu Xuân; Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu; Trung tướng Lê Văn Nghiêm; Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có.
Nguyễn Ngọc Thơ được HĐQNCM uỷ thành lập Chính phủ. Ngày 4/11/63, Nguyễn Ngọc Thơ trình diện Chính phủ lên Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Ngày 6/11/63, Thành lập Hội đồng Nhân sĩ có nhiệm vụ cố vấn cho Chính phủ (SL số 2/HĐQN). Bãi bỏ Lệnh giới nghiêm (SL 3/HĐQN). Nguyên Cố vấn Chỉ đạo miền Trung Ngô Đình Cẩn bị bắt và giải từ Huế vào Sài Gòn. Ngày 8/11/63, một số chính khách và quân nhân bị lưu đày ra Côn Đảo được tha và về tới Sài Gòn. Ngày 12/11/63, thành lập Phủ Tổng ủy Dân sinh Nông thôn thay thế Phủ Tổng ủy Dinh điền (SL 9/TTP).
Ngày 18/11/63, Đại tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Cố vấn Quân sự cho Chính phủ. Ngày 18/11/63, Đại tá Nguyễn Chánh Thi, và Trung tá Vương Văn Đông về nước sau 3 năm lánh nạn ở ngoại quốc. Ngày 22/11/63, Chủ tịch HĐQNCM ban hành Sắc lệnh thành lập một Hội đồng Nhân sĩ từ 40 đến 80 Hội viên (SL số15/CT). Ngày 19/12/63, Có 60 vị được cử vào Hội Đồng Nhân Sĩ, đa số là những người có tên tuổi trong các đảng phái chính trị quen thuộc (NĐ 47/NĐ/CT). Ngày 20/12/63, tái lập Tỉnh Gò Công (SL 36/TTP).
Ngày 2/1/1964, Khai mạc Hội Đồng Nhân sĩ tại Hội trường Diên Hồng, Sài Gòn. Ngày 3/1/64, ngành Hiến Binh Việt Nam bị giải tán (SL 4/QP). Ngày 4/1/63, Viện thống kê cho biết: Dân số Sài Gòn 1962 là 1.431.000, 49,4% đàn ông, 50,6% đàn bà. Ngày 5/1/64, cải tổ Chính phủ, Trung tướng Tôn Thất Đính Tổng trưởng An Ninh nay đổi thành Tổng trưởng Nội Vụ; Thiếu tướng Đỗ Mậu, Tổng trưởng Thông tin thay Thiếu tướng Trần Tử Oai; Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng Tư lệnh, Trung Tướng Lê Văn Kim, Tổng Tham Mưu trưởng, Trung tướng Trần Thiện Khiêm, Tư lệnh Quân đoàn III; Thiếu tướng Đặng Văn Quang, Giám đốc An ninh Quân đội.
Cũng ngày 6/1/64, Giá vàng từ 6.200$ tăng thành 6.500$ một lạng. Ngày 9/1/64, Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ ra mắt Hội đồng Nhân sĩ và trình bày chương trình hoạt động. Ngày 13/1/63, nhân Giám đốc Văn hóa Pháp là Basdevant qua thăm Sài Gòn, Sinh viên, hoc sinh biểu tình chống Trung lập. Ngày 15/1/64, Hội đồng Nhân sĩ biểu quyết và ra thông cáo chống Trung lập và chống Cộng sản. Ngày 16/1/64, Hội đồng Nhân sĩ họp bàn viêc soạn thảo Hiến Pháp. Ngày 21/1/64, Ủy ban Soạn thảo Hiến Pháp của Hội đồng Nhân sĩ yêu cầu các giới góp ý kiến. Ngày 22/1/64, Phủ thủ tướng tạm đóng dời về trụ sở mới số 7 đường Thống nhất.
Ngày 23/1/64, Hội đồng Nhân sĩ yêu cầu Chính phủ đoạn giao với Pháp. Ngày 29/1/64, Một số nhân vật bị kết án sau vụ Bình Xuyên 1955, đươc ân xá gồm Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hữu Thuần, Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Hiếu (SL 33/CT).
Sydney ngày 14 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.644 chữ)
Bài 270: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1961-1964 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Ngày 30/1/1964, từ sáng sớm, nhiều ngã đường bị quân đội canh gác, có cả chiến xa. Dân chúng đồn có đảo chánh. Các tướng lãnh họp tại Bộ Tổng Tham Mưu để thanh trừng nội bộ. Trung tướng Nguyễn Khánh ra tuyên cáo giải thích vụ biến cố rằng:“từ ba tháng nay tình hình suy sụp mọi mặt; “Chính quyền tỏ ra bất lực và Phản cách mạng; “một số người chạy theo thực dân và cộng sản; nên một lần nữa “Quân đội lại phải can thiệp”. Các Trung tướng Trần Văn Đôn, Lê văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân đã bị bắt đêm qua, Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ cũng bị bắt nhưng tới sáng thì phóng thích.
Ngày 31/1/64, Trung tướng Nguyễn Khánh họp báo tại Bộ Tổng Tham Mưu giải thích: rằng, không có đảo chánh chỉ có “Chỉnh lý” để Chính quyền theo đúng đường lối Cách mạng; rằng, ông ta được Hội đồng Quân đội cử làm Chủ tịch Hội đồng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội”. Đại tá Dương Ngọc Lắm được bổ Đô trưởng Sài Gòn thay Trung tướng Mai Hữu Xuân. Ngày 1/2/64, Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ từ chức; Trung tướng Nguyễn Khánh tiếp Nhân viên Cao cấp của Ngoại Giao đoàn. Ngày 2/2, Chủ nghĩa Cộng sản và Thuyết Trung lập thân Cộng bị đặt ra ngoài vòng Pháp luật (Sl 93/CT).
Ngày 3/2/64, tướng Nguyễn Khánh chấp nhận đơn từ chức của Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ. Ngày 7/2/64, ban hành Hiến Ước Lâm thời số 2, tu chính Hiến Ước số 1 để giao quyền hành Quốc trưởng cho Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng (HĐQNCM), hoặc cho một nhân vật do Hội đồng cử. Cùng ngày 7 tháng 2, HĐQNCM quyết định cử Trung tướng Dương Văn Minh giữ quyền hành Quốc trưởng, cử Trung tướng Nguyễn Khánh thành lập Chính phủ. Ngày 10/2/64, Chính trị gia Hồ Hữu Tường, và Trịnh Khánh Vàng được ân xá (SL 91/CT).
Ngày 17/2/64, Sĩ quan báo chí Bộ Quốc phòng cho biết, Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, sĩ quan cận vệ của Trung tướng Dương Văn Minh bị giữ hôm 30/1 tại Lữ đoàn Nhảy Dù đã tự vẫn bằng dây giày. Ngày 3/3/64 Đại tá Cao Văn Viên được thăng Thiếu tướng. Ngày 8/3/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh công bố chương trình hoạt động của Chính phủ năm 1964. Ngày 9/3/64, Giải tán Ủy ban đặc trách Ấp Chiến Lược tại Trung ương và cấp Khu (SL 103/CT). Ngày 12/3/64, một Uỷ ban đặc biệt Kinh tế và Tài chánh được thiết lập để thay thế Hội đồng tối cao Tiền tệ và Tín dụng lập từ năm 1957 (SL.134/KT/TC).
Ngày 21/3/64, Thành lập Hội đồng Quân đội Cách mạng thay Hội đồng Quân nhân Cách mạng, Trung tướng Nguyễn Khánh được các tướng lãnh bầu làm Chủ tịch Hội đồng Quận đội Cách mạng. Ngày 31/3/64, Hội đồng Nhân sĩ nhóm họp và ra quyết nghị “không tự giải tán, và không lãnh lương Hội viên”. Ngày 4/4/64, Chính phủ Giải tán Hội đồng Nhân sĩ, để thành lập Quốc hội Lập Hiến Dân cử (SL 115/SL/CT). Cùng ngày 4/4, Tổng trưởng Nội vụ Hà Thúc Ký từ chức. Ngày 7/4/64, Thiếu tướng Lâm Văn Phát được bổ Tổng trưởng Nội Vụ.
Ngày 8/4/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh gắn cấp bậc Chuẩn tướng đầu tiên cho Đại tá Hải quân Chung Tấn Cang, và Đại tá Không quân Nguyễn Cao Kỳ. Ngày 7/5/64, Bảo An Đoàn cải thành Địa Phương Quân thuộc Bộ Quốc Phòng (SL 189/QP). Ngày 12/5/64, Dân Vệ Đoàn cải thành Nghĩa Quân (SL 191/QP). Ngày 21/5/64, Thành lập Phủ Đặc ủy Chiêu hồi (SL 200/TTP). Ngày 22/5/64, các lực lượng võ trang hợp thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm Chủ Lực Quân, Địa Phương Quân, và Nghĩa Quân (SL 166/CT). Trụ sở Quốc hội củ được đổi thành nhà Văn hoá.
Ngày 29/5/64, có 5 Đại tá được thăng Chuẩn tướng, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đỗng, Bùi Hữu Nhơn, Cao Hữu Hớn, Ngô Dzu. Hội đồng Quân đội Cách mạng hôm qua họp tại Đà Lạt xét xử các tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính và quyết định “phạt theo kỷ luật, loại khỏi Hội đồng Cách mạng một thời gian, và không giao phó chức vụ chỉ huy. Ngày 4/6/64, ban hành Sắc luật 115/SL/CT, thành lập Quốc hội Lập hiến Dân cử. Ngày 13/6/64, một số Chính trị gia cùng với các Tổng trưởng, Bộ trưởng nhóm họp tại Hội trường Diên Hồng, bàn về Quy chế các Đảng phái chính trị.
Ngày 1/7/64, Mỗi tỉnh có một Đoàn cán bộ Hành chánh lưu động (NĐ 1/295). Thành lập Đoàn Tuyên úy Phật giáo trong Quân đội (SL 224/QP). Ngày 2/7/64, Thành lập Hội đồng Quốc gia Giáo dục (NĐ 1.203a/GD). Ngày 12/7/64, Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, Phó thủ tướng cùng một số Chính trị gia cùng nhân sĩ lập “Lực lượng Quốc gia Thống nhất”. Ngày 19/7/64, biểu tình lớn tại Công trường Lam Sơn lên án Cộng sản và Thực dân nhân ngày Quốc hận 20/7. Sinh viên tổ chưc “Đêm không ngũ” tại Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Cũng có biểu tình lớn tại Bờ sông Bến Hải “đả đảo Cộng Sản”.
Ngày 21/7/64, hơn 100 Sinh viên biểu tình trước Tòa Đại sứ Pháp ở Sài Gòn, đốt xe, đập phá gây một số thiệt hại, Pháp chính thức phản kháng. Ngày 22/7/54, Tổng hội Sinh viên họp báo “nhiều người đề nghị quốc hữu hóa tài sản của Pháp và đọan giao với Pháp. Ngày 26/7/64, Tối nay Sinh viên học sinh Sài Gòn tụ họp, giật đổ tượng đài “Chiến sĩ Trận vong” đường Duy Tân. Ngày 7/8/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc (SL 215/CT). Và những biện pháp đặc biệt sẽ thi hành (S.Luật 18/64). Tái lập kiểm duyệt báo chí (NĐ 453/BTT).
Ngày 8/8/64, Giới nghiêm tại Sài Gòn, Gia Định từ 23 đến 4 giờ sáng. Ngày 11/8/64, Trung tướng Trần Thiện Khiêm được thăng Đại tướng, 8 Đại tá được thăng Chuẩn tướng gồm các Đại tá Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Nguyễn Cao, Nguyễn Văn Kiểm, Đặng Văn Quang, Vĩnh Lộc, Lê Nguyên Khang, Hoàng Xuân Lãm, một số Sĩ quan cấp Tá khác cũng được thăng cấp. Ngày 13/8/64, Trong 6 tháng đầu năm 1964, Việt Nam đã xuất cảng 45.199 tấn gạo. Ngày 15/8/64, các thể nhân, tài sản có thể bị trưng dụng để đáp nhu nhu cầu Dân sự và Quân sự (SL 20/64).
Ngày 16/8/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng họp ở Vũng Tàu, ban hành một Hiến chương mới, và bầu Trung tướng Nguyễn Khánh làm Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa. Cũng theo Hiến chương, Chủ tịch lãnh quyền Quốc trưởng với nhiều quyền hạn đặc biệt. Sẽ có một Quốc hội Lâm thời gồm 100 Hội viên Dân sự và 50 Hội viên Quân nhân do Hội đồng Quân đội Cách mạng chỉ định. Hội đồng Quân đội Cách mạng vẫn là Cơ quan lãnh đạo tối cao. Ngày 18/8/64, Nhiều địa phương và Đoàn thể gởi Điện văn và Kiến nghị Nhiệt liệt hoan nghênh Hiến chương, kính dâng Trung tướng Chủ tịch lời chúc mừng nồng nhiệt nguyện đồng tâm nhất trí, đoàn kết sau lưng...
Ngày 19/8/64, tại trụ sở đường Duy Tân, Sài Gòn, rất đông Sinh viên nhóm họp để bàn xét Chế độ mới do Hiến chương vừa ban hành. Ngày 20/8/64, Sinh viên tiếp tuc bàn thảo về Hiến chương Vũng Tàu. Ngày 22/8/64, Buổi sáng, khá đông Sinh viên kéo tới Phủ Thủ tướng đưa kiến nghị phản đối Hiến chương, Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng tiếp thay Chủ tịch Nguyễn Khánh vắng mặt. Buổi trưa, Chủ tịch Nguyễn Khánh tiếp Đại diện sinh viên, Sinh viên ngỏ ý “không chấp nhận Hiến chương Vũng Tàu”, yêu cầu thành lập một Chính phủ trong sạch, trẻ trung, các tướng lãnh trở về nhiệm vụ quân sự, diệt trừ Cần Lao, và Thực dân Cộng sản ẩn nấp trong Chính quyền.
Sydney ngày 15 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.417 chữ)
Bài 271: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1961-1964 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Ngày 23/8/64, sinh viên học sinh kéo tới Đài Phát thanh: đòi cải chính tin “Sinh viên đến gặp Chủ tịch Nguyễn Khánh để ủng hộ. Chưa thỏa mãn, sinh viên xông vào đập phá đồ đạt, hồ sơ, máy móc; Rồi xuống đường biểu tình qua trường J.J Rousseau, tới Bộ Thông tin chất vấn Tổng trưởng, Thứ trưởng đòi bãi bỏ kiểm duyệt và loan tin chính xác. Cùng ngày 23/8/64, Ba nhóm Chính khách cũng lên tiếng công kích “Hiến chương Vũng Tàu”, Nguyễn Tôn Hoàn của Đại Việt, Trương Bảo Sơn của Dân chủ Xã hội, và Quốc Dân Đảng của Biệt bộ Nguyễn Tường Tam.
Lúc 15 giờ cũng ngày 23/8/64, chừng 200 người đi xe buýt tới trụ sở Sinh viên, đường Duy Tân với “gậy, dao, búa” đốt phá nhiều đồ đạt và giấy tờ. Ngày 25/8/64, Sinh viên, học sinh và hàng ngàn thanh niên các giới cả ông già, bà lảo biểu tình kỷ niệm Quách Thị Trang trước chợ Bến Thành, rồi kéo tới Phủ Chủ tịch đã đảo Hiến Chương Vũng Tàu, đả đả độc tài. Số người tới dự mỗi lúc một đông, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh, và Chủ tịch Nguyễn Khánh phải ra phủ dụ và hứa hẹn sẽ xét gấp vấn đề. Cùng ngày 25/8/64, Hội đồng Quân Đội Cách mạng nhóm họp tại Bộ Tổng Tham Mưu.
Ngày 26/8/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng họp từ hôm qua, ra Tuyên cáo: (1) Thu hồi Hiến chương 16/7/64; (2) sẽ bầu Nguyên thủ Quốc gia và Ủy Nguyên thủ thực hiện cơ cấu dân chủ; (3) Quân đội sẽ trở về nhiệm vụ quân sự; (4) Ủy Chính phủ hiện thời tạm điếu khiển Quốc gia”. Cùng ngày 26/8, tại Đà Nẳng, một đoàn biểu tình qua trại quân Mỹ ở Đà nẳng, có xô xát, đám đông chạy tràn vào làng Thanh Bồ, Tự vệ Công giáo tưởng bị tấn công đối phó lại. Ẩu đả lớn 11 người chết, 42 bị thương, nhiều nhà bị đốt.
Ngày 27/8/64, Hội đồng Quân Đội Cách mạng quyết định: (1) Lập một Ủy ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực gồm các tướng Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, và Nguyễn Khánh; (2) Cử Chính phủ Nguyễn Khánh tiếp tục nhiệm vụ, nhưng phải triệu tập Quốc dân Đại hội trong 2 tháng; (3) Có thể Ủy quyền cho một Phó Thủ tướng điều khiển Thừa ủy nhiệm Thủ tướng. Lúc 13 giờ cùng ngày 27/8, khi Hội đồng Quân đội Cách mạng đang họp tại Bộ Tổng Tham mưu, chừng 2.000 người từ ngoại ô kéo tới trước cổng với “gậy, dao, búa” đòi vào gặp Hội đồng.
Quân Cảnh ngăn cản, đám người cứ xông lên, bị bắn chết 4, bị thương 11. Phía Quân cảnh 1 bị chém và một số bị thương. Lúc 14 giờ, một đoàn người khác cũng trang bị như trên, kéo đến Đài Phát thanh, đòi Phát thanh bản Tuyên ngôn của họ, qua đường Phan Đình Phùng gây lộn với một số học sinh trường Kỷ thuật Nguyễn Tường Tộ, học sinh trường nầy, cùng trường bạn Nguyễn Cao Thắng kéo tới đánh lại 13 người bị thương, 8 người thuộc đoàn người biểu tình bị bắt. Đoàn người biểu tình kéo tới hai trường đòi thả 8 người bị bắt kia, rồi xông vào đánh lộn lẫn nữa. Có 2 học sinh bị đoàn người biểu tình đâm chết..
Buổi chiều tối, cũng ngày 27/7/64 nầy, các Khu Công giáo Phú Nhuận, Trương Minh Giảng báo động và thanh niên ra đầu đường canh gác. Tại Viện Hóa Đạo, Chợ Bến Thành cũng nhan nhản thanh niên đứng canh. Tòa Tổng Giám Mục và Viện Hóa Đạo ra “Thông cáo chung” khuyên nhủ hai bên Giáo đồ bình tỉnh, và tránh mọi xách động. Báo giới Thủ đô, Tòa Đô Chánh cũng kêu gọi dân chúng giữ hòa khí và trật tự. Ngày 28/8/64, các trường học vẫn sôi nổi. Thanh niên vẫn tụ tập rất đông tại các công trường Lam Sơn, Diên Hồng v.v. Cảnh sát bắt 19 người trong đó có một số du đảng.
Cùng ngày 28/8/1964, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử điều khiển Chính phủ, thừa Ủy nhiệm Thủ tướng. Phó Thủ tướng Oánh ban bố tình trạng giới nghiêm trong Sài Gòn Gia Định. Lúc 13 giờ cùng ngày 28/8/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo, đã kích Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký đã mưu đảo chánh. Bộ Giáo dục ra lệnh tạm đóng cửa các trường học ở Sài Gòn Gia Định. Ngày 29/8/64, Quân đội giải tán các đám thanh niên canh gác hoặc tụ họp trước chợ Bến Thành và nhiều ngã đường. Ngày 30/8/64, Bộ Tổng Tư lệnh Thông cáo Quân đội quyết chống lại các cuộc biểu tình bạo động, và nếu cần sẽ nổ súng.
Ngày 1/9/64, Phó Thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn từ chức. Ngày 1/9/64, Một văn phòng Tôn giáo được thành lập gồm Đại diện Công giáo, Phật giáo và cả Cảnh sát để giải quyết các khó khăn và hiểu lầm. Ngày 3/9/64, Trung tướng Dương Văn Minh và Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh ra Huế trấn tĩnh dư luận. Ngày 7/9/64, Trung tướng Dương Văn Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực (QĐ số 2/LĐQGQL). Ngày 8/9/64, thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia với nhiệm vụ: (1) triệu tập Quốc dân Đại hội; (2) soạn thảo Hiến Pháp; (3) thực hiện các cơ cấu Quốc gia, và (4) làm Cố vấn cho Chính phủ và Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực (QĐ số 7/BLĐQGQL).
Thượng Hội đồng Quốc gia Thượng Hội đồng Quốc gia có 16 thành viên: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Xuân Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Đình Luyện, Hồ Đắc Thắng. Cùng ngày 8/9/64, Thu hồi Ủy quyền Thủ tướng cho Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh; Tái lập tỉnh Bạc Liêu, Châu Đốc, và lập mới Thị xã Vũng Tầu (SL 245,246,247/NV).
Ngày 9/9/64, bốn quân nhân rút khỏi Chính phủ Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, và Đại tá Trần Ngọc Huyến. Bốn tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính được về Sài Gòn. Ngày 10/9/64, các Tổng trưởng Bùi Tường Huân, và Trần Quang Thuận từ chức. Ngày 13/9/64, Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát kéo quân về Sài Gòn chiếm đóng một số địa điểm, cả Phủ Thủ tướng, Đài Phát thanh đả kích Thủ tướng Nguyễn Khánh, và nhân danh “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” tuyên bố vãn hồi trật tự đã bị phá hoại, cùng uy quyền Quốc gia đã bị miệt thị (10 giờ).
Tổng Tư lệnh Quân đội, Đại tướng Trần Thiện Khiêm ra lệnh cho Quân đội không theo phe đảo chánh. Thủ tướng Nguyễn Khánh ở Đà Lạt lên án tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát trên Đài Phát thanh. Nhiều Tướng lãnh khác họp tại Bộ Tư lệnh Không quân. Ngày 14/9/64, các Tướng lãnh họp ở Bộ Tư lệnh Không quân cương quyết đòi Tướng Dương Văn Đức phải rút quân về các vị trí củ tại Vùng IV, nếu không sẽ đối phó. Sáng nay quân của tướng Đức đã rút dần khỏi Đô Thành không xẩy ra vụ xô xát nào. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố, Hoa kỳ vẫn ủng hộ Chính phủ Nguyễn Khánh.
Ngày 15/9/64, tướng Dương Văn Đức tuyên bố không đảo chánh chỉ có biểu dương lực lượng để cứu vãn uy tín cho Chính phủ và Quân đội, đồng thời chống lại sự trở về Sài Gòn của 5 tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính và Vỹ. Ngày 16/9/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh về Sại Gòn. Ngày 17/9/64, bị cách chức những tướng tá liên can đến vụ 13/9 là Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm, Đại tá Huỳnh Văn Tồn, Trung tá Dương Hiếu Nghĩa.
Sydney ngày 16 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1.442 chữ)
Bài 272: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ THỜI QUẢN LÝ MIỀN NAM 1961-1964 (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Ngày 18/9/64, một số Giáo sư và sinh viên Đại học Huế đòi Linh mục Cao Văn Luận từ chức để khỏi trở ngại cho Phong trào đấu tranh của "Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” mới thành lập với mục đích “bài trừ Cần Lao”. Ngày 19/9/64, Chuẩn tướng Nguyễn Chánh Thi được cử làm Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật. Ngày 20/9/64, lực lượng Đặc biệt người Thượng do Mỹ huấn luyện nổi loạn ở đồn Sapar, Ban Mê Thuột, chiếm Đài Phát thanh, bắt giữ 60 Sĩ quan, và Hạ sĩ quan làm con tin, đòi quy chế tự trị. Thủ tướng Nguyễn Khánh lên điều đình. Đại tá Mỹ Freund làm trung gian.
Ngày 21/9/64, Hàng ngàn thanh niên do Hội đồng Nhân dân Cứu quốc kích động chiếm Đài Phát thanh và nhiều Công sở ở Quy Nhơn, đồng thời lùng bắt Cần Lao. Tại Phan Thiết, hàng ngàn thanh niên cũng phát động Phong trào đấu tranh diệt trừ Cần Lao, nhiều cuộc xô xát xẩy ra. Ngày 26/9/64, Thượng Hội đồng Quốc gia làm lể trình diện tại Hội trường Diên Hồng. Cùng ngày 26/9/64, Tỉnh Thừa Thiên cùng nhiều tỉnh khác ở Trung Phần thành lập HĐNDCQ để thanh toán Cần Lao. Ngày 27/9/64, Phan Khắc Sữu được bầu làm Chủ tịch Thượng Hội đồng.
Ngày 28/9/64, Lực lượng Đặc biệt Thượng ở Ban Mê Thuột chịu ra đầu hàng. Đồn đã được giao trả cho Quân đội. Ngày 30/9/64, Tổng hội Sinh viên nhóm họp, phản đối các vụ gây rối ở Trung Phần, yêu cầu các giới đoàn kết, trừng trị Cần lao, chấm dứt tình trạng Chính phủ Xử lý thường vụ... Ngày 2/10/64, các Hội đồng Nhân dân Cứu quốc các tỉnh vẫn hoạt động quá khích ở Trung Phần, và định nhóm họp Đại hội tại Huế để ấn định chính sách chung. Cũng ngày 5/10/64, Hội đồng Chỉ đạo Sinh viên họp tại rạp Thống Nhất đả kích các Hội đồng Nhân dân Cứu quốc Miền Trung.
Ngày 7/10/64, Đại tướng Trần Thiện Khiêm lên đường thăm viếng thiện chí nhiều nước đã giúp đở Việt Nam. Ngày 8/10/64, Sáu Sinh viên từ Huế vào Sài Gòn họp báo, tuyên bố ủng hộ Hội đồng Nhân dân Cứu quốc. Ngày 14/10/64, lần đầu tiên từ 10 năm nay lương căn bản Công chức được tăng 10%, Phụ cấp đắc đỏ các hạn đều bằng nhau (SL 300-e và 300-g/TTP). Ngày 17/10/64, các cấp chỉ huy trong quân đội được ấn định lại (SL302a/QP). Ngày 18/10/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh công bố Chính sách đối với đồng bào Thượng và những biện pháp cải cách sẽ thi hành.
Ngày 19/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực tuyên bố “Thượng Hội đồng Quốc gia có quyền và có bổn phận thực hiện các Cơ cấu Quốc gia, chọn vị Nguyên thủ, lập Chính phủ trước ngày 27/10/64”. Ngày 20/10/64, Ban bố Hiến chương Lâm thời do Thượng Hội đồng Quốc gia soạn thảo, theo đó: (1) Sẽ có 1 Quốc trưởng tuyển nhiệm theo thể thức do Quốc dân Đại hội ấn định; (2) Quyền Lập pháp thuộc Quốc dân Đại hội; (3) Thủ tướng do Quốc trưởng chọn và Đại hội chấp nhận. Cùng ngày 20/10, Ban hành Quy chế Quân nhân Hiện dịch (SL 13/CT/LĐQGQL).
Và, năm Tướng bị an trị tại Đà Lạt tha về được tái xử dụng, làm Phụ tá cho Tổng Tư lệnh trong 5 lãnh vực khác nhau. Sáu Chuẩn tướng được thăng Thiếu tướng: Nguyễn Cao Kỳ, Lê Nguyên Khang, Chung Tấn Cang, Bùi Hữu Nhơn, Phạm Văn Đổng, Nguyễn Chánh Thi. Ngày 24/10/64, Đại tướng Trần Thiện Khiêm được bổ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ. Cùng ngày 24/10/64, Thượng Hội đồng Quốc gia tuyển nhiệm Chủ tịch Pham Khắc Sữu làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa. Ngày 25/10/64, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ được bầu Quyền Chủ tịch Thượng Hội Đồng.
Ngày 26/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực chính thức chuyễn giao quyền hành cho Quốc trưởng. Cùng ngày 26/10, Chính phủ Nguyễn Khánh đệ đơn từ chức. Ngày 27/10/64, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một lần nữa, tỏ ý hân hoan về tình hình Chính trị tại Việt Nam. Ngày 29/10/64, Quốc trưởng Phan Khắc Sữu mời Bác sĩ Hồ Văn Nhựt lập Chính phủ, Bác sĩ Nhựt từ chối. Ngày 30/10/64, Quốc trưởng Phan Khắc Sữu mời Giáo sư Trần Văn Hương lập Chính phủ. Ngày 4/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trình diện Nội các lên Quốc trưởng và cử Trung tướng Nguyễn Khánh làm Tổng Tư Lệnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Ngày 4/11/64, Tổng hội Sinh viên nhóm họp tỏ ý dè dặt về thành phần Chính phủ. Ngày 5/11/64, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ từ chức Quyền Chủ tịch Thượng Hội đồng. Ngày 7/11/64, Trung tướng Dương Văn Minh được cử làm Đặc phái viên của Quốc trưởng tại ngoại quốc. Ngày 11/11/64, Sinh viên Sài Gòn Hội thảo, tuyên bố không thể chờ đợi, phải hành động mạnh, không chịu “một Chính phủ Chuyên viên già nua” lại bị “Nhóm Tinh thần giật dây”. Ngày 16/11/64, Thượng Hội đồng Quốc gia quyết định lập một Ủy ban điều tra về thành phần Chính phủ. Cùng ngày, Sinh viên yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, yêu cầu giải tán Chính phủ Trần Văn Hương.
Ngày 18/11/64, Luật sư Lê Văn Thu được bầu làm Chủ tịch Thương Hội đồng Quốc gia. Ngày 19/11/64, một số thanh niên, chính khách họp tại Hồ tắm Chi Lăng, Gia Định công kích chính phủ Trần Văn Hương. Ngày 20/11/64, Văn phòng Thủ tướng Chính phủ cho biết có 148 nhà trí thức ký giấy ủng hộ Chính phủ và Thủ tướng. Ngày 22/11/64, biểu tình lớn ở nhiều nơi, Chợ Bến Thành, đường Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Sài Gòn, với biểu ngữ đả kích Thủ tướng Trần Văn Hương và Chính phủ. Ngày 27/11/64, Thiết quân luật tại Sài Gòn và Gia Định trong 1 tháng (SL 29/QT).
Ngày 28/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương tuyên bố “không lùi bước; phải dùng mọi cách tái lập trật tự”. Cũng ngày 28/11, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ họp báo tuyên bố cùng với nhiều đảng phái thành lập một “Hội đồng Dân tộc Cách mạng” để cứu vãn tình thế. Ngày 4/12/64, Hội đồng Tướng lãnh họp tại Đà Lạt tuyên bố ủng hộ một Chính quyền Dân sự lành mạnh, và chuẩn bị thành lập một Hội đồng Quân lực. Ngày 8/12/64, Chính phủ Trần văn Hương phản đối Quyết định của Thượng Hội đồng Quốc gia thành lập Uỷ ban để xét lại thành phần Chính phủ.
Ngày 16/12/64, Thượng Hội đồng Quốc gia thăm dò ý kiến của một số nhân vật của một số nhân vật về việc triệu tập Quốc dân Đại hội. Ngày 17/12/64, một số Tướng lãnh trẻ yết kiến Quốc trưởng trình bày việc cho một số Tướng lãnh già về hưu. Ngày 18/12/64, Tổng Tư lệnh Nguyễn Khánh ra Huấn lệnh thành lập một Hội đồng Quân lưc để giúp đở Tổng Tư lệnh với tư cách Cố vấn. Ngày 20/12/64, Hội đồng Quân lực tuyên bố "không tín nhiệm, giải tán Thượng Hội đồng Quốc gia”. Ông Phan Khắc Sửu vẫn được lưu nhiệm Quốc trưởng; Ông Trần Văn Hương và Chính phủ vẫn được lưu nhiệm.
Cùng ngày 20/12/64, Nhật lệnh của Trung tướng Nguyễn Khánh: “Quân lực không thực hiện chính sách của ngoại bang nào cả; Thà thanh bạch trong độc lập còn hơn giàu sang mà tủi nhục trong nô lệ ngoại bang”. Ngày 23/12/64, Bộ Tổng Tư lệnh thông cáo Hội đồng Quân lực không phải là Hội đồng Quân đội Cách mạng, Hội đồng Quân lực chỉ có nhiệm vụ tư vấn đối cho Tổng Tư lệnh. Sau “Quyết định tối cần ngày 20/12/64” Hội đồng đã trở về với cương vị củ. Ngày 24/12/64, Đại tướng Dương Văn Minh (thăng Đại tướng ngày 24/11/1964) từ Đài Bắc trở về Sài Gòn. Ngày 25/12/64, Triển hạn 1 tháng tình trạng thiết Quân luật tại Sài Gòn-Gia Định (SL 49/QT/SL).
Ngày 25/12/64, tướng Nguyễn Khánh tuyên bố với báo New York Herald Tribune: “Tướng Taylor đã có những hành động không thể tưởng tượng, muốn dùng áp lực đối với người hữu trách Việt Nam”; rằng “nếu ông ta không khéo xử thì Việt Nam sẽ mất’; rằng “Mỹ nên tính việc lớn với những ai có thực lực ở xứ nầy”; rằng “ông Taylor không thể buộc dân Việt Nam phải chịu đựng những nhà lãnh đạo mà dân Việt Nam không muốn”. Hôm sau, ngày 26/12/64, Tòa Đại sứ Mỹ minh xác “Đại sứ Taylor chỉ làm đúng nhiệm vụ của một Đại sứ”. Ngày 31/12/64, Các Tướng lãnh vẫn họp bàn tại Vũng Tàu để tìm “Giải pháp cho tình thế”.
Sydney ngày 17 tháng 6 năm 2023
(Bài viết có 1551 chữ)
Hết Chương XI gồm 34 bài: 239 – 272
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét