Chương IX: 30 CHUYỆN KỂ VỀ CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG CỦA HỌ TẠI BA NƯỚC TỪNG BI PHÂN RANH QUỐC GIA-CỘNG SẢN: ĐỨC QUỐC, ĐẠI HÀN VÀ TRUNG QUỐC.
(55 trang và 34.698 chữ).
Bài 179: CHUYỆN KỂ VỀ CHỦ NGHĨA
KARL MARX.
Lê Xuân Đỗ
Hàng trăm ngàn năm Người tiền sử sống bằng “hái lượm và săn bắt” cỏ cây, thú vật hoang dã có sẵn trong tự nhiên. Sáng kiến gieo trồng cây lương thực và chăn nuôi gia súc tại nhà dần dần chấm dứt cách sống du cư của nhiều người. Nông nghiệp bắt đầu trong nhiều thời điểm, và nhiều vùng khác nhau của thế giới. Người Tây Á gieo trồng ngũ cốc, nuôi dê, cừu và gia súc khoảng những năm 9000 Trước Công nguyên (TCN). Tại Đông Á người ta biết cấy lúa nước khoảng năm 7000 TCN. Người Trung Mỹ biết gieo trồng ngũ cốc khoảng năm 6500 TCN. Và, người Đông nam Châu Âu biết gieo trồng ngủ cốc, và thuần dưỡng súc vật, khoảng năm 6000 TCN.
Nền văn minh đầu tiên của nhân lọai xuất hiện tại Tây Nam Á khoảng 3500 TCN. Ba nền văn minh khác ra đời tại Bắc Phi, Nam Á, và Đông Á. Tất cả các nền văn minh ban sơ này đều ra đời ở lưu vực sông nơi có đất màu mở, có nguồn nước cung cấp cho việc sản xuất nông nghiệp. Đó là các lưu vực sông Tigris-Euphrates ở Trung Đông, lưu vực sông Nile ở Ai Cập, lưu vực sông Indus ở Pakistan, và lưu vực sông Huang He ở Trung Quốc. Trong khi bốn nền văn minh này phát triển, thì hầu hết các phần còn lại của thế giới, người ra vẫn tiếp tục theo nếp sống cổ truyền. Mãi đến giữa những năm 2000 và 1400 TCN, văn minh Châu Âu mới xuất hiện trên nhóm đảo Aegean phía đông Hy Lạp.
Tuy “sinh sau đẻ muộn” so với Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ, nhưng nhờ có phát minh, sáng tạo và biết cách ứng dụng phát minh sáng tạo ấy vào tổ chức đời sống mà từ những năm 1500 nền văn minh Châu Âu “vượt trội” so với các nền văn minh đàn anh. Trong khi nền Văn minh Châu Âu “không ngừng phát triển” thì nền văn minh Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ lại luôn đề cao các “đặc trưng truyền thống”. Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên của thế giới ra đời tại Châu Âu vào những năm 1700. Đến giữa những năm 1800, thì các nhà máy động cơ bắt đầu thay thế các hảng xưởng nhỏ.
Các thị trấn trở thành thành phố, và người ta đổ dồn về các thành phố công nghiệp để tìm kiếm việc làm trong các nhà máy sản xuất. Công nghiệp hoá cũng đưa đến nhiều thay đổi xã hội. Giai cấp trung lưu thành công và thăng tiến nhanh chóng, làm chủ hầu hết các nhà máy. Số khác hoạt động trong lãnh vực ngân hàng, khai thác hầm mỏ, hệ thống đường sắt và thuê mướn nhiều nhân công. Họ nghĩ rằng, công việc kinh doanh của họ cần được quy định rõ ràng, và nên đặt bên ngoài sự kiểm soát của chính quyền. Tư tưởng này trở thành nền tảng của “chủ nghĩa tư bản” (Capitalism). Nó là một hệ thống kinh tế trong đó quá trình sản xuất chủ yếu do tư nhân làm chủ.
Anh Quốc là nước đầu tiên phát triển kinh tế theo hướng “tư bản chủ nghĩa” rồi lan dần sang các quốc gia công nghiệp khác. Buổi đầu công nhân trong các nhà máy thường được trả lương thấp, làm việc nhiều giờ trong những điều kiện không được thuận lợi. Nhiều thành phố công nghiệp không xây dựng đủ nhà cửa cung cấp cho công nhân, từ thôn quê đang đổ dồn về thành phố. Kết quả là sự đông đúc vượt quá mức dự liệu, họ phải sống trong những điều kiện thiếu vệ sinh nghiêm trọng làm bệnh tật phát sinh. Công nhân bị mất việc làm, dấy loạn phá huỷ máy móc trong một nổ lực trả thù chống lại chủ nhân đã sa thải họ. Họ xuống đường biểu tình, tập trung gây bạo loạn…
CHỦ NGHIA KARL MARX. Một số người cho rằng, kết quả tác hại của hệ thống công nghiệp là từ "chủ nghĩa tư bản". Những người tin như thế tập hợp lại thành một khuynh hướng, gọi là khuynh hướng "xã hội chủ nghĩa". Theo họ, nền sản xuất công nghiệp phải đặt dưới sự điều khiển của công nhân. Tư tưởng nền tảng đó được Karl Marx một nhà báo, một triết gia xã hội Đức phát triển thành “lý thuyết Cộng sản". Marx tin rằng, giai cấp công nhân phải là động lực chính của lịch sử trong thời kỳ quá độ, bằng cách đứng lên lật đổ giai cấp giàu có, và xây dựng một hệ thống kinh tế tập thể, cùng với một xã hội không có giai cấp gọi là xã hội “xã hội chủ nghĩa”.
Marx cho rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ là giai đoạn cuối cùng của lịch sử. Nhưng Marx chưa bao giờ miêu tả chi tiết về việc chủ nghĩa cộng sản sẽ vận hành như thế nào trong vai trò một hệ thống kinh tế - xã hội, nhưng người ta hiểu rằng một nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa sẽ dựa trên sở hữu toàn dân đối với các tư liệu sản xuất. Marx viết có hệ thống các lĩnh vực kinh tế, chính trị, triết học, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa Cộng sản. Ông nghiên cứu hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, và kết luận, rằng việc tích lũy tư bản là bản chất của chủ nghĩa tư bản trong đó “chiếm hữu giá trị thặng dư” của người lao động làm ra là điểm cốt lỏi.
Từ đó, ông giải thích các hiện tượng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa như lợi nhuận, địa tô, lãi suất, quan hệ cung cầu, khủng hoảng kinh tế... Ông phát triển trường phái triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng, bằng cách kết hợp trường phái duy vật của Ludwig Feuerbach và phương pháp suy luận biện chứng của Georg Wilhelm Friedrich Hegel. Ông lý giải sự vận động của lịch sử bằng cách chỉ ra mối liên hệ giữa nền sản xuất và các định chế xã hội như nhà nước, gia đình, luật pháp, đạo đức... Rằng, trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản xuất cũng thay đổi, dẫn đến quan hệ xã hội cũng phải thích ứng, và kéo theo là sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị.
Marx tiên đoán về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản bởi không giải quyết được mâu thuẫn giữa nền sản xuất đã đạt đến mức xã hội hóa cao và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không phù hợp. Chỉ có giai cấp công nhân và con đường bạo lực cách mạng để lật đổ chủ nghĩa tư bản mới giải quyết được mâu thuẫn... Marx cho rằng nền sản xuất tập trung xã hội hoá cao, cùng với trình độ kỷ thuật cao sản xuất ra một lượng của cải khổng lồ. Giai cấp tư bản chỉ là một bộ phận nhỏ, do sở hữu phương tiện sản xuất thông qua việc chiếm giữ giá trị thặng dư, nên sở hữu phần lớn tài sản xã hội. Còn đại bộ phận xã hội là giai cấp công nhân lao động cật lực nhưng chỉ sở hữu một phần nhỏ của cải.
Hệ quả là người công nhân bị tha hóa trở thành nô lệ cho vật chất, cái cần thiết cho sự sinh tồn của anh ta. Chính vì thế "lao động của anh ta không phải là tự nguyện mà là bắt buộc; đó là lao động cưỡng bức”. Rằng, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không chỉ làm cho người lao động bị tha hóa mà cả nhà tư bản cũng bị tha hóa. Nhà tư bản trở thành kẻ chỉ biết chạy theo lợi nhuận… Do đó, giai cấp công nhân phải vùng lên dùng bạo lực cách mạng để giành lấy phương tiện sản xuất để giải phóng giai cấp mình và toàn bộ nhân dân lao động lẫn giai cấp tư sản khỏi sự tha hóa do chủ nghĩa tư bản mang đến.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ thay mặt nhân dân điều hành sản xuất và nắm quyền sở hữu phương tiện sản xuất. Trong xã hội đó, con người làm việc theo năng lực hưởng thụ theo lao động. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, thì chức năng của nhà nước ngày càng suy giảm, sự tự giác của nhân dân ngày càng cao và đến lúc đó sẽ xuất hiện xã hội không có giai cấp, không còn mâu thuẫn đối kháng dẫn đến sự tự tiêu vong của nhà nước, sẽ xuất hiện một xã hội mà ở đó nguyên tắc phân phối của cải sẽ là "Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" đó là chủ nghĩa cộng sản.
Nhiều người cho rằng, mô hình Xã hội Cộng sản do Marx tiên đoán chỉ là viển vông, không đáng tin cậy, thiếu cơ sở khoa học. Họ cho rằng, chủ nghĩa cộng sản do Marx phát hoạ chỉ là ảo tưởng, rằng giai cấp công nhân không đủ khả năng làm chủ nền sản xuất, quản lý xã hội... Hội Quốc tế Công Nhân (còn gọi là Đệ Nhất Quốc tế) do Marx lập ra ngày 28 tháng 9năm 1864 tại London, Anh Quốc cũng phải giải tán năm 1876 tại Philadelphia, Hoa Kỳ do ảnh hưởng của Mikhail Alexandrovich Bakunin (1814-1876) một nhà chủ nghĩa xã hội tự do, nhà cách mạng người Nga.
Trong cuốn Chúa và Nhà nước được dịch ra và phổ biến rộng rãi, Bakunin tiên đoán rằng các chế độ của chủ nghĩa Mác sẽ là chế độ độc tài, độc đảng “cai trị giai cấp vô sản chứ không phải do giai cấp vô sản cai trị”… Do trình độ dân trí và cơ chế dân chủ đã phát triển ở Châu Âu, Chủ nghĩa cộng sản không phát triển được, phải dịch chuyển về phương Đông nơi xã hội chưa được khai hoá, trình độ dân trí còn rất hạn chế. Chủ nghĩa Lenin, Chủ nghĩa Stalin, Chủ nghĩa Mao…ra đời trong bối cảnh đó, và cũng ảnh hưởng từ chủ nghĩa Marx rất ít.
Sydney ngày 16 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.799 chữ)
Bài 180: CHUYỆN KỂ VỀ CHỦ NGHĨA LENIN.
Lê Xuân Đỗ
CHỦ NGHIA LENIN. Vladimir Ilyich Lenin là nhà kinh điển lớn thứ hai của chủ nghĩa cộng sản, nhưng khác với Marx, các tác phẩm của Lenin hầu hết tập trung vào cuộc đấu tranh chống chế độ Sa hoàng, chống các xu hướng chính trị khác tại Nga và Tây Âu. Là người có trình độ học vấn và lý luận, có tài hùng biện, Lenin sử dụng khả năng diễn đạt mạnh mẽ để lôi cuốn người khác củng cố cho quan điểm của mình. Lenin còn có cá tính đặc biệt là thực tế, vị lợi và nhiều thủ đoạn chính trị. Phương châm của ông là "Có lợi là làm" bất chấp các “Quy tắc đạo đức xã hội” mà ông gọi là đạo đức tiểu tư sản.
Giống như Marx, Lenin cho rằng các đảng cộng sản phải là đảng của giai cấp công nhân toàn thế giới, Lenin cổ súy cho cách mạng lật đổ giai cấp hữu sản, rằng "Người nô lệ nhận thức được tình cảnh nô lệ của mình và đấu tranh chống tình cảnh ấy là người cách mạng. Người nô lệ không nhận thức được sự nô lệ của mình, sống mòn mỏi trong cuộc đời nô lệ im lặng, vô ý thức và nhẫn nhục, thì chỉ thuần túy là một kẻ nô lệ...". Lenin khẳng định, mâu thuẫn giai cấp là quan trọng, mâu thuẫn quốc gia - dân tộc là thứ yếu. Lenin thậm chí còn đi rất xa hơn nữa khi đưa ra khẩu hiệu "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng".
Lenin cho rằng chiến tranh Thế giới lần thứ nhất là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa do quý tộc phong kiến Nga phát động sẽ làm kinh tế đất nước kiệt quệ, người dân căm phẫn, giai cấp vô sản có thể nhân cơ hội hỗn loạn trong nước, chính quyền bị suy yếu để làm cách mạng vô sản. Khi quân đội Sa hoàng thất bại trên chiến trường, các đảng viên Bolshevik nhân tình trạng rối loạn trong nước đã đi đầu làm cách mạng. Theo một số ý kiến, điều này trái với các khái niệm và tình cảm như tính tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước và vi phạm quyền lợi của quốc gia trong chiến tranh khiến một số người đương thời chỉ trích.
Maxim Gorky cho rằng Lenin và Trotsky và những người theo họ đã bị đầu độc bởi nọc độc xấu xa của quyền lực. Những kẻ cuồng tín mù quáng và những kẻ phiêu lưu mất trí đang chạy gấp rút với tốc độ tối đa tới một cuộc cách mạng - trên thực tế, đó là một con đường tới tình trạng vô chính phủ. Bằng chứng của điều này là thái độ của họ đối với tự do của con người, tự do ngôn luận và và tất cả những lý tưởng mà nền dân chủ đang đấu tranh vì chúng. Nhiều nhà lý luận cánh tả tại Nga như Rosa Luxemburg, Karl Kautsky... phản đối Lenin vì Lenin chủ trương xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản và dùng bạo lực trấn áp các nhóm đối lập.
Là người chủ xướng, lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười Nga, Lenin lập ra nhà nước xã hội chủ nghĩa năm 1917. Các lý luận của Lenin có ảnh hưởng to lớn trong các đảng cộng sản và các quốc gia xã hội chủ nghĩa chậm tiến, được trích dẫn nhiều hơn cả lý luận của Marx. Sau này các phát biểu và ý tưởng của Lenin được coi là hình mẫu phát triển cho các đảng cộng sản tại các quốc gia xã hội chủ nghĩa. Mọi nhận xét và ý kiến trái với Lenin được coi là chủ nghĩa xét lại và có thể bị khai trừ khỏi phong trào cộng sản và công nhân thế giới, hoặc phải nhận những rủi ro khó mà lường trước được.
Lenin không phải là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Marx vào Nga mà đó là một nhà Marxist ôn hòa - Plekhanov người sáng lập Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga. Plekhanov cho rằng những điều kiện kinh tế - xã hội của nước Nga chưa chín muồi để làm cách mạng vô sản. Lenin thì ngược lại cố thuyết phục những đảng viên ủng hộ mình, hình thành nhóm tán thành cách mạng vô sản. Tại đại hội đảng năm 1903, nhóm tán thành cách mạng vô sản, trở thành phái Bolshevik (đa số). Thế là, phái Plekhanov trở thành phái Menshevik (thiểu số) trong đảng. Sau này, phái Bolshevik của Lenin tách ra thành lập đảng riêng, trở thành Đảng Cộng sản Liên Xô.
Khi đề ra chủ nghĩa cộng sản, Marx không tin rằng xã hội cộng sản có thể hình thành trong tương lai gần và cũng chỉ phác thảo ra những nguyên lý cơ bản nhất của mô hình xã hội đó. Ông cũng không chỉ ra được cách tiến hành cách mạng như thế nào, các đặc trưng của cách mạng đó ra sao, sau cách mạng xây dựng xã hội mới thế nào… Trái lại, với Lenin thì chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, cách mạng xã hội chủ nghĩa đã là một thực tế, Lenin tập trung mọi nỗ lực để đưa chủ nghĩa cộng sản vào cuộc sống. Có thể nói vai trò của Lenin đối với chủ nghĩa cộng sản là người cố gắng hiện thực hóa những ý tưởng của Marx.
Việc giúp đỡ phát triển phong trào cộng sản ra toàn thế giới được xem là nghĩa vụ thiêng liêng và bắt buộc. Đệ tam Quốc tế Cộng sản của Lenin lập ra năm 1919, phân công cho đảng cộng sản mỗi nước phụ trách phát triển cách mạng trong một hoặc hai khu vực nhất định. Theo Lenin, các quốc gia cộng sản phải phối hợp hành động để lãnh đạo giai cấp vô sản trên toàn thế giới đấu tranh giành thắng lợi cuối cùng. Lenin đưa ra lý luận về "tính đảng", "tính giai cấp" nghĩa là mọi hiện tượng đều phải được phân tích rõ ra: nó làm lợi cho ai trong cuộc đấu tranh giai cấp, trên cơ sở đó khẳng định tính "địch - ta".
Về "chuyên chính vô sản" theo định nghĩa của Lenin là chức năng của nhà nước vô sản trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội để trấn áp mọi sự chống đối của giai cấp tư sản, tiến hành “đấu tranh giai cấp" để củng cố thành quả của cách mạng. Chuyên chính vô sản, là việc tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để trấn áp bọn áp bức. Điểm đặc trưng của chuyên chính vô sản là nó không bị phụ thuộc vào các quy tắc pháp luật hay giới hạn về đạo đức, tôn giáo của xã hội đương thời, không cần thiết phải tuân thủ. Ông xem chuyên chính vô sản là "hòn đá thử vàng" để nhận ra người Marxist "đích thực" và người Marxist giả danh.
Sau nội chiến Lenin đề ra “Chính sách kinh tế mới-NEP" cho phép sử dụng các cơ chế kinh tế tư bản chủ nghĩa kêu gọi đầu tư của tư bản trong nước và nước ngoài được đặt dưới sự kiểm soát, dẫn hướng của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước Liên Xô chỉ nắm độc quyền các ngành kinh tế chủ chốt như công nghiệp nặng, giao thông vận tải, ngân hàng, ngoại thương… Sau khi Lenin qua đời, Stalin đã chấm dứt chính sách Kinh tế mới (NEP) và chuyển nền kinh tế, xã hội sang phương thức nhà nước sở hữu toàn bộ hệ thống tư liệu sản xuất và chỉ huy toàn diện nền kinh tế theo ý tưởng của Stalin. Năm 1943, Stalin cho giải tán nốt Đệ tam Quốc tế của Lenin.
Sydney ngày 17 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.381 chữ)
Bài 181: CHUYỆN KỂ VỀ CHỦ NGHĨA STALIN.
Lê Xuân Đỗ
CHỦ NGHĨA STALIN. Có những cuộc tranh luận khá gay gắt kéo dài gữa hai phái Stalin và Trosky. Phái Trosky cho rằng cách mạng thế giới chỉ có thể thành công và xây dựng chủ nghĩa cộng sản khi giai cấp vô sản đã nắm chính quyền ở hầu hết các nước đã phát triển, nên chủ trương phát triển cách mạng không ngừng trong Liên bang Xô viết, giúp đở, hổ trợ cách mạng các nước vừa giành độc lập. Còn phái Stalin thì cho rằng có thể xây dựng chủ nghĩa cộng sản tại nước Nga trong khi cách mạng vô sản chưa thành công ở các nước còn lại… Cuối cùng thì phái Stalin thắng thế, và Phái Trosky từ từ chấm dứt sự tồn tại.
Là người kế tục Lenin, lãnh đạo Liên Xô trong một thời gian dài nên ảnh hưởng của Stalin trong các đảng và các quốc gia cộng sản là rất lớn. Liên Xô thuộc Phe chiến thắng của Thế chiến II, là một trong năm Quốc gia thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc, và là một trong hai siêu cường của thế giới. Mô hình “nhà nước độc tài toàn trị” của Stalin được Mao Trạch Đông ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh ở Việt Nam, Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn, Phiden Castro ở Cu Ba coi như mô hình mẩu, còn tồn tại đến ngày nay.
Luận điểm "Tăng cường đấu tranh giai cấp” là luận điểm nổi tiếng nhất của Stalin, rằng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản càng thắng lợi thì các mâu thuẫn trong lòng nó giữa giai cấp vô sản và tàn tích của giai cấp tư sản càng gia tăng, do vậy càng phải đẩy mạnh đấu tranh giai cấp để tiêu diệt sạch các tàn tích đó. VỀ MẶT CHÍNH TRỊ, chủ nghĩa Stalin đặc trưng bởi nhà nước tập quyền cao độ gắn liền với đảng: đảng kiểm soát lập pháp, hành pháp, tư pháp, công đoàn và mọi tổ chức nhà nước và xã hội khác, trong đó lãnh tụ đảng có quyền hạn rất lớn. Đảng kiểm soát toàn diện các cơ quan quyền lực nhà nước.
Hannah Arendt cho rằng Liên Xô dưới thời Stalin lẫn nước Đức dưới thời Hitler đều là những nhà nước toàn trị: một mặt nhà nước cố gắng động viên thuyết phục toàn thể dân chúng đoàn kết hỗ trợ hệ tư tưởng, và các mục tiêu của nhà nước; mặt khác đi kèm với nó sự trấn áp không khoan nhượng đối với những hoạt động trái với hệ tư tưởng, các mục tiêu của nhà nước. Stalin tiến hành các cuộc thanh lọc trong nội bộ đảng, nhà nước và xã hội bằng các biện pháp khốc liệt: bắt giam, xử bắn, đày đến các trại tập trung để loại bỏ các thành phần bị xem là suy đồi, phản động, phản cách mạng, kẻ thù của nhân dân, nhưng trước và trên hết là những đối thủ chính trị của Stalin.
Theo ủy ban Schatunowskaja, điều tra theo lệnh của Nikita Sergeyevich Khrushchyov thì từ 1/1/1935 cho tới tháng 7/1940, an ninh Liên Xô đã cho thẩm vấn 19.840.000 người; 7 triệu trong số đó bị xét xử với các tội danh khác nhau, trong đó khoảng hơn 700 ngàn đã bị kết án tử hình với các tội danh gián điệp, phá hoại, tham nhũng hoặc một nhãn hiệu nào đó như "kẻ thù của nhân dân", "kulak".... VỀ MẶT KINH TẾ, chủ nghĩa Stalin đặc trưng bằng sự xóa bỏ thẳng thừng nền kinh tế thị trường, đưa nền kinh tế sang một mô hình tập trung quan liêu cao độ, mọi phương tiện sản xuất đều nằm trong tay nhà nước thông qua chỉ hai hình thức "sở hữu toàn dân" và "sở hữu tập thể".
Chính sách kinh tế mới của Lenin bị bãi bỏ. Mọi công ty, nhà xưởng tư nhân đều bị đóng cửa, toàn bộ nền kinh tế được điều hành rất nghiêm ngặt. Liên Xô liên tiếp tiến hành các kế hoạch 5 năm, kế hoạch 7 năm để thực hiện "công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa" trong công nghiệp và "tập thể hóa xã hội chủ nghĩa” trong nông nghiệp bằng cưỡng bức. Bên cạnh đó kỷ luật lao động hết sức cứng rắn như chỉ cần 20 phút vắng mặt trong giờ làm việc không có lý do chính đáng, hoặc cố ý chây lười thì sẽ bị truy tố hình sự, bị buộc lao động cải tạo 6 tháng hay giảm 25% lương.
Đặc biệt, trong giai đoạn Thế chiến thứ 2 (1941-1945), do Liên Xô cần động viên mọi nguồn lực cho quốc phòng, việc phá hoại sản xuất được coi là tội nặng, gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị xử tử hình. Từ năm 1940 đến 1955 có 36 triệu lượt vi phạm bị xử lý, trong đó 15 triệu người từng bị giam giữ và 250.000 người bị tử hình vì các tội danh liên quan đến phá hoại sản xuất. Stalin đã dùng cuộc Đại thanh trừng để loại bỏ những quan chức quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm trong bộ máy nhà nước nhằm đạt được hiệu quả quản trị xã hội cũng như quản lý kinh tế cao nhất. Dưới sự lãnh đạo của Stalin, Liên Xô đã công nghiệp hóa trong một khoảng thời gian ngắn chưa từng có tiền lệ.
Trong lịch sử, nước Anh cần 200 năm để trở thành một nước công nghiệp, nước Mỹ cần 120 năm, Nhật Bản cần 40 năm. Trong khi đó, Liên Xô chỉ cần 18 năm để hoàn thành về cơ bản quá trình công nghiệp hóa của mình. Nghĩa là Liên Xô chỉ cần một thế hệ để công nghiệp hóa. Đây là tốc độ công nghiệp hóa nhanh nhất mà thế giới từng ghi nhận. Các nhà kinh tế học khi nghiên cứu nghiêm túc nguồn gốc sự phát, bởi nhờ nước Nga có lãnh thổ rộng lớn, giàu tài nguyên; tầng lớp trí thức còn sót lại từ thời Sa Hoàng có văn hóa cao; sự siêng năng của người Nga…
Kinh tế Liên Xô tăng trưởng nhanh còn bởi sự đầu tư khổng lồ vào tư liệu sản xuất, tăng số việc làm, giáo dục phát triển, và trên tất cả là dựa hoàn toàn vào tiết kiệm, bằng cách hy sinh sự hưởng thụ hiện thời cho lợi ích đạt được trong tương lai. Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế dựa vào tăng thêm tư liệu sản xuất và tăng số việc làm chỉ có tác dụng trong ngắn hạn vì quy luật hiệu xuất giảm dần. Trong dài hạn chỉ có cải tiến kỹ thuật sản xuất mới có thể tạo ra tăng trưởng kinh tế.
Về quân sự, Stalin cho rằng quy luật và nghệ thuật chiến tranh của giai cấp vô sản phải khác xa so với quy luật và nghệ thuật quân sự tư sản. Stalin lý luận về xây dựng lực lượng vũ trang và sự lãnh đạo chính trị trong các lực lượng vũ trang là xác định quân đội là quân đội của đảng, chịu sự quản lý trực tiếp từ đảng. Về mối quan hệ của tiến công và phòng ngự, Stalin cho rằng học thuyết quân sự của giai cấp vô sản phải là tiến công không ngừng, phòng ngự là tạm thời, tiến công là chủ yếu, khẳng định tính tất thắng của giai cấp vô sản một khi có chiến tranh.
Sydney ngày 18 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.309 chữ)
Bài 182: CHUYỆN KỂ VỀ CHỦ NGHĨA MAO TRẠCH ĐÔNG.
Lê Xuân Đỗ
CHỦ NGHĨA MAO. Chủ nghĩa Mao (Maoism), tại Trung Quốc, chủ nghĩa Mao được gọi là "Tư tưởng Mao Trạch Đông". Trong thập niên 1960 tư tưởng Mao Trạch Đông được in thành các sổ tay bìa đỏ để trang bị về tư tưởng cho cán bộ và nhân dân Trung Hoa đại lục. Điều khác nhau lớn nhất của chủ nghĩa Mao so với các học thuyết của Marx, Lenin và Stalin là ở quan niệm về động lực chính của cách mạng. Marx, Lenin, Stalin đều coi động lực của cách mạng là "giai cấp công nhân" và coi nhẹ giai cấp nông dân, xem nông dân như một đồng minh cần tranh thủ mà thôi.
Trái lại, Mao Trạch Đông xuất phát Trung Quốc là nước nông nghiệp, giai cấp công nhân và tư sản còn rất nhỏ bé, mâu thuẫn xã hội lớn nhất là mâu thuẫn nông dân - địa chủ nên tuy vẫn coi giai cấp công nhân là tiền phong cách mạng nhưng Mao Trạch Đông coi lực lượng cách mạng chủ lực là giai cấp nông dân và nông thôn là căn cứ địa của cách mạng, và coi học thuyết của mình là học thuyết của chủ nghĩa cộng sản cho các nước chưa phát triển thành tư bản.
Về phương pháp tiến hành cách mạng. Lenin và Stalin quan niệm về cuộc cách mạng vô sản có tính đồng loạt tại thành thị như một cuộc khởi nghĩa của giai cấp vô sản. Còn Mao Trạch Đông lại cho rằng cách mạng phải được tiến hành theo phương thức một cuộc chiến tranh du kích kéo dài, lấy nông thôn làm căn cứ địa lan dần dần và đi đến thắng lợi hoàn toàn. Hai câu nói của Mao Trạch Đông về vấn đề này rất nổi tiếng là "Súng đẻ ra chính quyền" và "Nông thôn bao vây thành thị". Tất cả các vấn đề quân sự, chính trị… được chỉ rõ trong tác phẩm "Du kích chiến".
Sau khi giành được chính quyền, Mao Trạch Đông đã tiến hành nhiều cải cách kinh tế - xã hội như cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa tất cả các doanh nghiệp tư nhân, giải tán các đảng phái chính trị cánh hữu, các hội kín, triệt hạ các băng đảng tội phạm... Mao Trạch Đông tin rằng cần phải mạnh tay trấn áp mọi lực lượng chống đối thì mới có thể giữ được chính quyền. Trong công cuộc cải biến xã hội của Mao có hàng chục vạn địa chủ, doanh nhân, trí thức bị bắt hoặc xử tử vì bị kết tội hữu khuynh, phá hoại, phản cách mạng, tay sai của chủ nghĩa đế quốc, Hán gian...
Trong quản lý kinh tế, giống như chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao cũng theo phương châm tập trung hoá cao độ theo nền kinh tế kế hoạch hoá vĩ mô. Quản lý nhà nước cũng bằng hệ thống nhà nước - đảng với sự sùng bái cá nhân cao độ. Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 1 (1953-1957), với sự giúp đỡ nhiều mặt của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, 246 công trình công nghiệp quan trọng, gồm những ngành điện lực, than, gang thép, hóa chất…được coi là xương sống của nền công nghiệp Trung Quốc được xây dựng. Tốc độ của sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 18%.
Mao phát động phong trào Đại nhảy vọt và Công xã hoá. Đây là kế hoạch với mục tiêu nhấn mạnh biện pháp sản xuất quy mô nhỏ, sản xuất thủ công, tiến hành cuộc thực nghiệm chủ nghĩa xã hội lớn chưa từng thấy với mục tiêu công nghiệp hóa nhằm đưa Trung Quốc thành siêu cường trong thời gian chỉ 10 - 20 năm. Sự nóng vội quá mức dẫn tới việc kế hoạch bị thất bại và phải hủy bỏ. Cùng với thiên tai và lũ lụt, những chính sách kinh tế sai lầm đã gây ra một nạn đói rất lớn trong lịch sử loài người, khoảng 37,5 triệu người (khoảng 5% dân số Trung Quốc) đã chết vì nạn đói do sản xuất nông nghiệp bị đình trệ.
Chủ nghĩa Mao cho rằng để xây dựng chủ nghĩa cộng sản thì cần có con người cộng sản. Biện pháp thực hiện là tiến hành CÁCH MẠNG VĂN HOÁ. Mao bãi bỏ hệ thống quân hàm trong quân đội, khuyến khích dân chúng đả kích giới lãnh đạo nhà nước, thực hiện phê bình và tự phê bình trong nội bộ Đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc... Những biện pháp này trở nên cực đoan hóa bởi những cán bộ và công chúng quá khích, thiếu trình độ, thiếu kinh nghiệm, khiến xã hội Trung Quốc rơi vào tình trạng hỗn loạn và bạo lực trong một thập kỷ.
Các phe phái, cá nhân trong Đảng Cộng sản lợi dụng để quy chụp, kết án, thanh trừng lẫn nhau, trong khi những người phản đối Mao thì cho rằng đây là thủ đoạn chính trị để ông loại bỏ các đối thủ sau khi bị mất uy tín do những sai lầm trước đó. Nhiều lãnh đạo cấp cao trong Đảng, nhà nước, quân đội phản đối Mao như Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ,Đặng Tiểu Bình... lần lượt bị Hồng vệ binh kết tội là chạy theo chủ nghĩa tư bản, phản bội đất nước và bị bắt giam. Nhiều cá nhân, tổ chức trong bộ máy Đảng và nhà nước ở cấp thấp cũng bị Hồng vệ binh tấn công.
Gần như tất cả các địa phương mất kiểm soát, Hồng vệ binh kéo nhau đi tiêu diệt những điều mà họ cho là xấu xa, là đi ngược với nền văn hóa mới, dù chẳng có chứng cứ cụ thể nào. Theo thống kê, cuộc cách mạng văn hóa của Mao Trạch Đông đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho khoảng 1 triệu người. Còn Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc (1980-1987) nhận định rằng có khoảng 100 triệu người Trung Quốc đã phải chịu một hình thức đối xử thô bạo nào đó trong thời kỳ này.
Chủ nghĩa Mao nhấn mạnh việc "phát động quần chúng". Nó là kết hợp của rất nhiều yếu tố chính trị, xã hội, tổ chức và đặc biệt là yếu tố mê hoặc tâm lý của quần chúng. Ông có thể phát động quần chúng thực hiện những việc tưởng như không thể tưởng tượng nổi từ phong trào tiêu diệt chim sẻ, các phong trào "Đại nhảy vọt", "ba ngọn cờ hồng" cho đến việc phát động quần chúng dùng Hồng vệ binh gây bạo loạn trong "đại cách mạng văn hóa vô sản" để tạo sự lãnh đạo tuyệt đối của mình.
Mao Trạch Đông nói "Chính trị là thống soái" khi có đối thủ chính trị thì không những phải loại bỏ quyền lực chính trị của đối phương mà còn phải tiêu diệt "tư tưởng" chính trị của đối phương bằng cách kiểm điểm, đấu tố, dùng áp lực quần chúng đập tan ý chí của địch thủ, Mao gọi là "cải tạo tư tưởng". Chủ nghĩa Mao coi cách mạng chỉ đơn giản là hoán đổi vị trí của giai cấp tư sản vào giai cấp vô sản. Mao gán ghép những quan điểm bất đồng với Mao Trạch Đông là "tư sản", "hữu khuynh" từ đó dùng các biện pháp hành chính, tuyên truyền thậm chí là bạo lực để đả kích, loại trừ.
Chủ nghĩa Mao đề cao sự trong sạch coi thường vật chất. Đề cao tính đóng kín, chủ trương "tự lực cánh sinh" mọi yếu tố tiện nghi, xa hoa và nhất là từ nước ngoài đều bị đánh giá là "biểu hiện tư sản" phải đả phá. Chủ nghĩa Mao cho rằng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sau Chiến tranh thế giới thứ hai khi mà đời sống nhân dân được cải thiện nhiều và có các tiện nghi cao cấp là biểu hiện xa rời lý tưởng cộng sản, chạy theo "lối sống và đạo đức tư sản". Chủ nghĩa Mao coi mô hình của mình là thực sự cách mạng chân chính và là đầu tàu cách mạng cho thế giới thứ ba.
Giai đoạn những năm 1960 - 1970 là cao trào của Trung Quốc cạnh tranh với Liên Xô trong việc lãnh đạo thế giới cộng sản. Mao đã tạo ra những phong trào kinh tế, văn hóa và chính trị; huy động toàn lực xã hội cho mục tiêu của ông ta dẫn đến những tổn thất to lớn cho Trung Quốc. Cho đến những năm cuối đời, Mao Trạch Đông mới tiến hành những hoạt động ngoại giao để bắt tay với Mỹ đưa Trung Quốc thoát dần khỏi sự đóng kín và cởi bỏ dần các đặc trưng xã hội của Chủ nghĩa Mao trong thập niên 1960.
Cũng giống như Stalin, Mao đã tận dụng được tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực con người của Trung Quốc và sự thống nhất lãnh thổ, tập trung quyền lực cao độ để thực hiện các mục tiêu kinh tế, điều mà Tưởng Giới Thạch đã không làm được. Đây là nền tảng để Trung Quốc tiếp tục phát triển dưới sự lãnh đạo của người kế thừa ông là Đặng Tiểu Bình.
Sydney ngày 19 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.623 chữ)
Bài 183: CHUYỆN KỂ VỀ LIÊN BANG ĐỨC, QUỐC GIA ĐẦU TIÊN TỪNG BỊ PHÂN RANH QUỐC GIA- CÔNG SẢN.
Lê Xuân Đỗ
Năm 509 TCN, một trong các thành phố dưới quyền cai trị của người Etruscan, nhưng đa số là người Roman đứng lên làm bạo loạn, tuyên bố thành phố Rome là một Quốc gia độc lập theo chế độ Cộng hoà. Còn các bộ tộc du mục Đức sống rãi rác phía bắc gồm sắc tộc Angles Franks, Jutes, Saxons, Vandals và Visigoths. Đa số các sắc tộc này là người hung bạo, chưa được khai hoá, thường gọi là người dã man (Barbarians). Qua nhiều trăm năm Cộng hoà La Mã đi xâm lược, mở rộng vùng cai trị.
Đến năm 290 TCN, La Mã kiểm soát hoàn toàn Ý Đại Lợi, trở thành quốc gia hùng mạnh vùng phía tây Địa Trung Hải. Giữa những năm 200 và 100 TCN, trong một loạt các trận đánh gọi là cuộc chiến Punic, La Mã đánh bại đối thủ chính trên vùng Phoenician nguyên thuộc địa của Carthage. Kết quả là Tây Ban Nha, và Sicily trở thành các tỉnh của Cộng hoà La Mã. La Mã tiếp tục tiến về phía đông Địa Trung Hải. Năm 148 TCN, La Mã đánh chiếm Macedonia lập thành tỉnh đầu tiên ở phía Đông.
Hai năm sau đánh chiếm Hy Lạp. Trong năm 55 và 54 TCN tướng La Mã là Julius Caesar xâm lăng Anh Quốc. Dưới thời Augustus, La Mã bắt đầu xâm chiếm khu vực Germania. Năm 9 SCN, thủ lĩnh Arminius của bộ lạc Cherusker đã đánh bại ba quân đoàn La Mã tại khu rừng Teutoburg, ngăn chặn Roman thâm nhập xa hơn trên đất liền phía Bắc sông Rhine. Đến năm 100 SCN, Các bộ lạc German đã định cư dọc sông Rhine và sông Danube, chiếm hầu hết lãnh thổ Đức ngày nay.
Tuy nhiên Áo, Baden-Wurttemburg, miền nam Bayern, miền nam Hesse và miền tây Rheinland thuộc các tỉnh của La Mã. Những cuộc xâm lược còn tiếp tục cho đến khi "Cộng hoà La Mã" lớn mạnh thành một đế quốc khổng lồ. Tại đỉnh cao của nó là năm 117 SCN, đế quốc La Mã chiếm hơn một nữa Châu Âu, nhiều vùng ở Tây Nam Á, và toàn bộ bờ Bắc Châu Phi. Cuối những năm 300 đầu những năm 400, người du cư Mông Cổ hiếu chiến gọi là "người Huns" từ Trung Á tấn công các bộ tộc du mục Đức, đẩy họ chạy vào vùng đế quốc Tây La Mã.
Sắc tộc Vandals chiếm Tây Ban Nha, sắc tộc Visigoths chiếm bán đảo Ý Đại Lợi và thành phố Rome thủ đô La Mã, rồi tiến về phía tây và cuối cùng đánh bại sắc tộc Vandals chiếm luôn Tây Ban Nha. Sắc tốc Angles, Jules, và Saxons xâm lăng Anh Quốc, và sắc tộc Franks chiếm các nơi bây giờ là nước Pháp.
Năm 476, một thủ lãnh bộ tộc Đức tên Odoacer lật đổ Hoàng đế sau cùng của đế quốc La Mã phía Tây là Romulus Augustulus. Sau đó, Odoacer tách vương quốc của mình, các tỉnh phía Tây ra khỏi phía Đông, và thay thế toàn bộ hệ thống chính quyền do La Mã tạo ra. Các nhà cai trị Đức thừa nhận một số tập quán La Mã và canh tân niềm tin Cơ đốc giáo. Nhà thờ Cơ đốc giáo (Christ) trở thành nơi giáo hoá cho người Đức. Hội truyền giáo giảng dạy tư tưởng, công lý, và chính quyền.
Áp lực ngoại xâm từ nhiều phía, quân Arabs phía Nam, quân Vikings phía Bắc, quân Magyars, và Avars phía Đông luôn đe doạ sự an toàn của các vua Đức hàng trăm năm. Để giải quyết vấn đề, một hệ thống chính trị, và quân sự gọi là "chế độ Phong kiến" (Ferdalism) xuất hiện ở Tây Âu. Dưới chế độ nầy, các Lãnh chúa (Lords) có nhiều quyền hành lớn nhất. Họ làm chủ đất đai, trao cho các quý tộc thấp hơn một ít, và đổi lại các quý tộc phải cam kết sẽ làm các nghĩa vụ đối với lãnh chúa.
Xin lưu ý rằng, suốt thời Trung cổ (476 - 1500), nhà Thờ thiên chúa giáo La Mã là thế lực mạnh hàng đầu, thay thế đế quốc Tây La Mã. Vị Giáo hoàng có ảnh hưởng lớn đầu tiên là Gregory, nhận chức năm 590. Gregory gởi các nhà truyền giáo giáo đến England (Anh), Gaul (Pháp) và nhiều nơi khác thuyết phục lẫn cưỡng bức các nhà cai trị, và cư dân theo đạo Thiên chúa. Ông cũng lập ra các quy định, mệnh lệnh về tổ chức, điều hành, quản lý, và quan hệ cho các cơ quan Chính quyền và Giáo hội.
Năm 800, Giáo hoàng Leo III ban cấp ngôi vị Hoàng đế La Mã cho Charlemagne, nhà cai trị Franks đã bành trướng lãnh thổ thống nhất được nhiều vùng cai trị của các Lãnh chúa ở Tây Âu. Leo III còn lập ra các đinh chế, quyền hạn của Giáo hoàng, chỉ có Giáo hoàng mới có quyền ban cấp ngôi vị Hoàng đế hợp pháp cho các lãnh địa ở Tây Âu. Charlemagne muốn phục hồi, và củng cố sự cai trị kiểu đế quốc Tây La Mã trên cơ sở miền tin Thiên chúa giáo. Đế quốc Charlemagne suy yếu sau khi ông ta chết năm 814.
Đầu những năm 900, hầu hết lãnh thổ Tây Âu lại chia thành các công quốc (states) một dạng của chủ nghĩa Điền trang nâng cao. Các lãnh chúa Phong kiến, hoàn toàn cai trị "lãnh thổ công quốc" của mình. Các ông vua chỉ cai trị trên phần đất, và công quốc nào do nhà vua sở hữu mà thôi. Giữa những năm 900, vua Đức là Otto I đánh chiếm các công quốc phụ cận mở rộng lãnh thổ lại được Giáo hoàng ban cấp ngôi vị Hoàng đế, (năm 962). Và, quốc gia ông ta trở thành “đế quốc Thần thánh La Mã ” (Holy Roman Empire).
Sydney ngày 20 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1046 chữ)
Bài 184: CHUYỆN KỂ VỀ NƯỚC ĐỨC TRƯỚC VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ NHẤT.
Lê Xuân Đỗ
Đế quốc Otto suy yếu, và tan rã trong những năm 1000. Các cuộc tranh chấp quyền hành giữa nhà thờ và quốc gia âm ỉ từ thời Charlemagne bùng lên mạnh mẽ. Nhiều nhà vua, và quý tộc đòi được quyền bổ nhiệm các viên chức nhà thờ, kể cả chức Giáo hoàng. Trong những năm 1000, một số lãnh chúa phát triển thành chính quyền mạnh, kinh tế xã hội thăng hoa, người ta gọi nó là "thời kỳ an lạc". Các thị trấn xuất hiện, và trở nên sầm uất dọc theo con đường buôn bán.
Một số trường Đại học đầu tiên ở Châu Âu ra đời trong những năm 1100 và 1200. Cư dân trong các thị trấn nhận ra rằng, nếu được tự do kinh doanh, buôn bán, thì công việc làm ăn của họ chắc sẽ thuận lợi hơn. Cho nên, trong các cuộc tranh chấp giữa vua và lãnh chúa, họ thường ủng hộ nhà vua chống lại lãnh chúa. Người trong thị trấn đồng ý trả thuế cho nhà vua, để đổi lấy tự do và được bảo vệ công việc kinh doanh của họ. Trong những năm 1300 và 1400, một số nhà Vua trở nên hùng mạnh, mở rộng quyền hạn của họ trên các Lãnh chúa Phong kiến.
Đến năm 1500, thì Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, và Anh đã thành lập được các quốc gia thống nhất, dưới sự cai trị của một Quốc vương. Cuộc chiến tranh giữa Thiên chúa giáo La Mã và Thiên chúa giáo Tin Lành từ năm 1618 đến 1648 một lần nữa chẻ vở nước Đức thành các vương quốc và công quốc nhỏ. Từ cuối thế kỷ 17, các nhà quý tộc lãnh đạo nổi tiếng tại các Công quốc Đức như Prussia, Bavaria, Brandenburg, Saxony, và Hanover đã có những bước đột phá trong phát triển kinh tế xã hội làm cho nó trở thành một nguồn lực quan trọng trong lãnh địa riêng của họ.
Kế tục cuộc chiến của Áo (1740-1748), Frederick nhà cai trị lớn của Prussia (cai trị 1740-1786) chiếm được Silesia của Áo, và trở thành đối thủ chính tranh chức lãnh đạo Đức với Habsburgs. Trong chiến tranh 7 năm (1756-1763) Frederick đạt tới thắng lợi cuối cùng trên nước Áo. Năm 1772, cả hai nước Áo và Prussia chiếm một vùng của Ba Lan (Poland), nhưng bị đánh bại bởi quân đội Napoleon Bonaparte trong cách mạng Pháp (1796-1797 và 1805-1806). Dưới thời Napoleon bản đồ chính trị nước Đức được vẽ lại.
Nhiều công quốc nhỏ hợp nhất thành 16 nước lớn hơn, ràng buộc với nhau trong sự chi phối của Liên minh Pháp - Rhenish (1806). Khi Napoleon bại trận, hội nghị Vienna (1814-1815), dưới danh nghĩa nhà lãnh đạo Áo sáng lập ra một Liên bang Đức mới. Với giải pháp đó, Prussia và Áo có được nhiều nguồn lợi quan trọng trong vùng trước kia nằm trong nước Đức nhưng sau đó nằm phía Bắc của nước Ý (Italy). Áo xung đột với Prussia để tranh quyền thống trị vùng nhiều lợi lộc nầy, nhưng Áo bị thất bại trong cuộc "chiến tranh bảy tuần" năm 1866.
Từ thắng lợi này, Otto von Bismarck, Thủ tướng Prussian thành lập Liên bang Đức phía Bắc năm 1867. Năm 1870, Bismarck khiêu khích để Napoleon III tuyên bố chiến tranh. Sau đó, Bismarch nhanh chóng đánh bại Pháp và thành lập đế quốc Đức (German Empire). Ngày 1/18/1871, tại Versalles chính thức công bố Hoàng đế Đức Prussia là vua Wilhelm I. Đế quốc Đức đạt tới đỉnh cao của nó trước chiến tranh Thế giới I năm 1914 có tới 540.531 km2 diện tích đất, cộng thêm các thuộc địa của nó.
Sau chiến tranh, Đức phải nhượng Alsace-Lorraine cho Pháp, phía Tây Prussia và tỉnh Posen (Poznan) cho Ba Lan (Poland), một phần Schleswig cho Đan Mạch (Denmark), mất tất cả các thuộc địa, và hai cảng biển Memel và Danzig. Đế quốc Đức bị xóa sổ và thành lập nước Cộng hòa Đức mới. Từ năm 1919 đến 1933, Đức phải trả tiền bồi thường chiến tranh cho các quốc gia thắng trận. Hai vị Tổng thống được bầu lên trong thời gian này là Friedrich Ebert và Paul von Hindenburg.
Lúc nầy, Adolf Hitler đang lãnh đạo đảng Công nhân Quốc gia cánh Xã hội Đức (Nazi). Năm 1923, trong một nỗ lực truất phế chính quyên Bavarian không thành công, Hitler bị bắt bỏ tù. Trong cuộc bầu cử năm 1930, Đảng Nazi của Adolf Hitler chỉ đạt 18,3%, nhưng trong cuộc bầu cử tháng 7/1932 tăng lên thành 37,4%. Nhân khi chính quyền Papen từ nhiệm, đảng viên đảng Nazi xuống đường gây bạo loạn với khẩu hiệu “quốc gia không thể thiếu vắng chính quyền Hitler". Mặc dù trong cuộc bầu cử tháng 11/1932, đảng Nazi rớt xuống còn 32,2% số phiếu.
Ngày 30/1/1933, Tổng thống Hindenburg miễn cưỡng bổ nhiệm Hitler làm Thủ tướng, cầm đầu một nội các Liên hiệp trong đó có một số bộ trưởng không phải đảng Nazi. Ngày 3/8/1934, ngay trong ngày sau cái chết của Hindenburg, Thủ tướng Adolf Hitler cho nội các sát nhập vào văn phòng Tổng thống. Và Thủ tướng chính phủ trở thành nhà lãnh đạo quốc gia duy nhất. Nhận được sự giúp đỡ từ ngoài nhờ điều kiện thế giới được cải thiện, Hitler nhanh chóng phục hồi kinh tế bằng một cuộc cải cách tiền tệ, mở rộng chi tiêu vào các chương trình phát triển quốc gia.
Sydney ngày 21 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 974 chữ)
Bài 185: CHUYỆN KỂ VỀ NƯỚC ĐỨC TRƯỚC VÀ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ HAI.
Lê Xuân Đỗ
Từ năm 1934, người Đức gốc Do Thái dần dần bị tước mất quyền công dân, quyền con người. Năm 1935, tại hội nghị đảng Nazi, đạo luật Nuremberg nổi tiếng tàn nhẫn chính thức công bố, bắt đầu một loạt các cuộc khủng bố bức hại người Do Thái, và đối lập. Tại đỉnh cao của nó có tới hàng triệu người Do Thái và đối lập khác bị giết. Hitler ra lệnh cấm các quyền tự do phát biểu và hội họp. Về đối ngoại, ông ta phủ nhận hiệp ước Versailles, từ chối bồi thường chiến tranh. Năm 1936, tái lập chế độ quân phiệt tại Rhineland.
Và, năm 1938, mở rộng vùng kiểm soát sang Áo (Anschluss). Tại Munich, Hitler đạt tới một thỏa thuận với Thủ tướng Anh Neville Chamberlain, theo đó nước Đức được mở rộng thêm một phần của Czechoslovakia. Năm 1939, Hitler ký hiệp ước bất tương xâm với Liên Xô. Ngày 1/9/1939, tuyên bố chiến tranh với Ba Lan, và thế là chiến tranh Thế giới lần thứ Hai bắt đầu. Khi sự thất bại gần như hoàn toàn, Hitler không để người ta đưa ông ra xét xử như một tội phạm chiến tranh, ông ta đã tự sát tại Berlin tháng 4/1945.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ Hai chấm dứt, nước Đức bị chia thành bốn vùng chiếm đóng do các nước Đồng minh Mỹ, Liên Xô, Anh và Pháp kiểm soát, quản lý. Berlin từng là thủ đô của Đức Quốc xã, cũng bị chia làm bốn khu vực tương tự như nước Đức. Cùng lúc đó cuộc Chiến tranh Lạnh giữa Đông và Tây bắt đầu trên nhiều phương diện khác nhau. Berlin trở thành trung tâm của cuộc chiến giữa các cơ quan tình báo của cả hai phe. Một vùng gọi là Oder-Neisse được nhường cho, và sau đó sáp nhập vào Ba Lan.
Phía Đông bắc Prussia nay là Kaliningrad sáp nhập vào Liên Xô. Liên Xô nắm quyền kiểm soát nhiều phần đất phía Đông. Các vùng còn lại phía Tây và phía Nam chiếm khoảng hai phần ba nước Đức ngày nay, chia ra giữa các nước đồng minh phương Tây- tức Hoa Kỳ, Anh và Pháp chiếm đóng. Họ cũng thành lập một vùng lớn hơn trong thành phố Berlin, do Bộ chỉ huy 4 nước Đồng minh cai quản. Năm 1948, Liên Xô rút ra khỏi Bộ chỉ huy Đồng minh, thành lập Bộ chỉ huy riêng tại Đông Berlin và cắt đứt tất cả mọi nguồn tiếp liệu cho thành phố Berlin.
Đồng minh phương Tây phải thiết lập một cầu không vận khổng lồ mang thực phẩm tiếp tế cho Tây Berlin trong hai năm 1948 và 1949. Cuộc Phong toả Berlin của Liên bang Xô Viết năm 1948, là một trong những cuộc khủng hoảng lớn đầu tiên trong Chiến tranh Lạnh. Khu vực Phía tây do Pháp, Anh và Hoa Kỳ kiểm soát được hợp nhất vào ngày 23 tháng 5 năm 1949 để hình thành Cộng hoà Liên bang Đức, Bonn là thủ đô. Đến ngày 7 tháng 10 năm 1949, khu vực do Liên Xô chiếm đóng trở thành Cộng hoà Dân chủ Đức, Đông Berlin là thủ đô.
Sydney ngày 22 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 579 chữ)
Bài 186: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN
TÂY ĐỨC VÀ CHÍNH QUYỀN ĐÔNG ĐỨC.
Lê Xuân Đỗ
1. Chính quyền Tây Đức: Chính quyền Tây Đức mang tên Cộng hòa Liên bang Đức, chính thức tuyên bố thành lập ngày 23/3/1949 tại Bonn, sau khi công bố Hiến pháp do Nghị viện tư vấn, từ 11 tiểu bang trong ba khu vực cai quản của Anh, Pháp và Hoa Kỳ soạn thảo. Sau đó tái tổ chức thành 9 đơn vị tự trị, cùng với 10 tiểu bang năm 1957. Riêng Berlin cũng được xem như của một tiểu bang, nhưng do thỏa ước chiếm đóng năm 1945, đặt nó vào những hạn chế nhất định. Các thế lực chiếm đóng phương Tây Anh, Pháp, Mỹ trở về tình trạng dân sự ngày 21/9/1949.
Đồng minh phương Tây chấm dứt chiến tranh với Đức năm 1951. Ngày 2/7/1951, Hoa Kỳ tái lập quan hệ ngoại giao với Đức. Và Liên Xô cũng làm thế năm 1955. Ngày 5/5/1955, ba nước Anh, Pháp, Mỹ tháo bỏ sự chi phối, và Cộng hòa Liên bang Đức trở thành một quốc gia độc lập hoàn toàn. Tiến sĩ Konrad Adenauer, lãnh tụ đảng Dân chủ Thiên chúa giáo được bầu làm Thủ tướng ngày 15/9/1949, tái bầu vào 3 nhiệm kỳ kế tiếp năm 1953, 1957, 1961. Willy Brandt cầm đầu Liên minh đảng Dân chủ xã hội và Dân chủ tự do trở thành Thủ tướng ngày 21/10/1969.
Năm 1970, Brandt ký các hiệp ước thân thiện với Liên Xô và Ba Lan. Năm 1971, Anh, Pháp, Mỹ và Liên Xô ký một thỏa thuận cho phép phương Tây đi vào Tây Berlin. Năm 1972, Đông Đức và Tây Đức lần đầu tiên chính thức ký hiệp ước giữa họ với nhau thỏa thuận tạo điều kiện dễ dàng cho sự ra vào Tây Berlin. Năm 1973, Tây Đức và Czechoslovakia ký thỏa ước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, và hủy bỏ thỏa thuận Munich năm 1938. Tháng 5/1974, Brandt từ chức Thủ tướng bởi một phụ tá thân cận ông ta bị khám phá làm gián điệp cho Đông Đức trong một thời gian dài.
Kế thừa ông ta là Helmut Schmidt, người lãnh đạo Liên minh giành thắng lợi trong cuộc bầu cử 1976 và 1980, lèo lái nền kinh tế quốc gia vượt qua sự xuống dốc nhanh chóng bởi giá dầu lửa tăng cao. Tháng 12/1979, chính quyền Schmidt quyết định tham gia vào Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tháng 9/1982, đảng Dân chủ Tự do rút ra khỏi Liên minh Dân chủ xã hội, gia nhập Liên đảng Dân chủ Thiên chúa giáo dưới sự lãnh đạo của Helmut Kohl. Đảng mới Dân chủ Tự do và Liên đảng Dân chủ Thiên chúa giáo giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tháng 3/1983, lãnh tụ Liên đảng Helmut Kohl trở thành Thủ tướng.
Đối diện với một nền kinh tế đang trên đà xuống dốc, thất nghiệp gia tăng lên tới 10% trong năm 1988. Helmut Kohl ra sức vựt dậy nền kinh tế Tây Đức vượt qua thử thách. Năm 1989, chính quyền Đông Đức cũng có nhiều sự thay đổi và bức tường Berlin được gỡ bỏ, là dấu hiệu cho các cuộc thương thảo tái thống nhất hai nước Đức, bị chia cắt từ sau đệ II thế chiến, trên 4 khu vực chiếm đóng của phe đồng minh thắng trận. Năm 1990, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Helmut Kohl, Tây Đức đề ra kế hoạch “Khả dĩ chấp nhận được” để nhanh chóng đi vào thống nhất với Đông Đức.
2. Chính quyền Đông Đức: Chính quyền Đông Đức mang tên Cộng hòa Dân chủ Đức chính thức thành lập ngày 7/10/1949. Quân đội Liên Xô vẫn còn trú đóng trên lãnh thổ Đông Đức, trách nhiệm an ninh theo thỏa hiệp của 4 cường quốc tại hội nghị Potsdam. Năm 1954, Tây Đức tham gia cộng đồng Phòng thủ Châu Âu, cũng là lúc chính quyền Đông Đức ban hành sắc lệnh cấm đến gần đường phân ranh 5 cây số, chạy dọc theo đường biên giới với Tây Đức dài 965 km, và cắt đứt hệ thống điện thoại giữa hai phần Đông-Tây Berlin.
Năm 1961, sau khi hơn 3 triệu người Đông Đức chạy sang Tây Đức, chính quyền Đông Đức cho xây bức tường ngăn cách giữa Đông và Tây Berlin. Dù vậy, dòng người đào thoát từ Đông sang Tây vẫn còn tiếp tục, nhưng ở một mức độ thấp hơn. Đông Đức trải qua các vấn đề kinh tế nghiêm trọng trong một thời gian dài. Giữa thập niên 1960, bắt đầu áp dụng hệ thống kinh tế mới. Hệ thống kinh tế mới giảm bớt việc điều hành kinh tế từ trung ương cho phép các nhà máy tạo ra lợi nhuận, quy định việc tái đầu tư, tái phân phối tiền lương và tiền thưởng cho công nhân.
Đến đầu thập niên 1970, kinh tế Đông Đức được công nghiệp hóa ở mức độ cao và có tích lũy. Người dân Đông Đức có tiêu chuẩn sống cao nhất trong số các quốc gia khối Liên hiệp Warsaw. Nhưng sự phát triển kinh tế bị chậm lại từ cuối thập niên 1970, bởi nạn khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, thiếu lao động, và mang một số nợ khổng lồ từ các chủ nợ phương Tây. So sánh với tiêu chuẩn sống ở phía Tây, nhiều người trẻ lại rời bỏ Đông Đức. vào Nữa sau thập niên 1980 Chính quyền Đông Đức khẳng định không theo sách lược đổi mới (Glasnost) của Liên Xô.
Nhưng trong tháng 10/1989, họ phải đương đầu với một làn sóng người xuống đường biểu tình, đòi đổi mới lan rộng ra trên toàn quốc. Ngày 18/10/1989, chủ tịch Erich Honecker nắm quyền từ 1976 bị buộc phải từ chức. Ngày 4/11, đường biên giới với Czechoslovakia được mở ra, cho phép người tỵ nạn đi tới phía Tây. Ngày 9/11 chính quyền Đông Đức công bố quyết định mở cửa biên giới với phía Tây, phá bỏ bức tường Bá Linh (Berlin Wall), là biểu tượng cao nhất của thời chiến tranh lạnh.
Ngày 23/8/1990, Quốc hội Đông Đức đồng ý chính thức thống nhất với Tây Đức và được thực hiện ngày 3/10/1990.
Sydney ngày 23 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.085 chữ)
Bài 187: CHUYỆN KỂ VỀ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG ÔN HOÀ BỨC TƯỜNG BERLIN SỤP ĐỔ.
Lê Xuân Đỗ
Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ Hai chấm dứt, nước Đức bị chia thành bốn vùng chiếm đóng do các nước Đồng minh Mỹ, Liên Xô, Anh và Pháp kiểm soát, quản lý. Berlin từng là thủ đô của Đức Quốc Xã, cũng bị chia làm bốn khu vực tương tự như nước Đức. Berlin trở thành trung tâm của cuộc chiến tranh lạnh giữa các cơ quan tình báo của cả hai phe. Trong năm 1948, Liên bang Xô Viết cho phong toả Berlin là một trong những cuộc khủng hoảng lớn đầu tiên của Chiến tranh Lạnh.
Trong năm 1949, khi nước Cộng hòa Liên bang Đức được thành lập trong ba vùng chiếm đóng ở phía Tây và ngay sau đó là nước Cộng hòa Dân chủ Đức cũng được thành lập trong vùng chiếm đóng của Liên bang Xô Viết. Berlin là một thành phố bao gồm bốn khu vực và là thành phố phi quân sự đối với quân đội Đức, đồng thời cũng là một thành phố độc lập so với cả hai quốc gia Đức. Tây Berlin gần như mang thể chế của một tiểu bang. Đông Berlin trở thành thủ đô của nước Đông Đức.
Từ khi Đông Đức được thành lập, người Đông Đức chạy sang Tây Đức ngày càng nhiều. Bắt đầu từ năm 1952 biên giới giữa hai nước Đức được bảo vệ bằng hàng rào và có lực lượng canh phòng. Một khu vực cấm dọc theo biên giới có chiều ngang 5 km, người dân chỉ được phép đi vào khi có giấy phép đặc biệt chủ yếu là dân cư trong vùng. Ngược lại, ranh giới của các khu vực chiếm đóng giữa Tây Berlin và Đông Berlin lại vẫn còn bỏ ngỏ, trở thành một lỗ hổng để người dân phía Đông chạy qua Tây Berlin.
Từ 1949 cho đến 1961 khoảng 2,6 triệu người đã rời bỏ Đông Đức và Đông Berlin, trong số đó vẫn còn 47.433 người chạy trốn chỉ riêng trong hai tuần đầu của tháng 8 năm 1961. Ngoài ra Tây Berlin cũng là cửa ngỏ đi đến phương Tây cho nhiều người Ba Lan và Tiệp Khắc. Vì những người rời bỏ Đông Đức và Đông Berlin thường là những người trẻ tuổi và được đào tạo tốt nên việc di dân này là mối đe dọa cho nền kinh tế của Đông Đức và cuối cùng là cho sự tồn tại của quốc gia này.
Thêm vào đó khoảng 76.000 người dân Đông Berlin tuy hằng ngày làm việc ở Tây Berlin nhưng lại sinh sống và cư ngụ dưới những điều kiện rẻ tiền hơn ở Đông Berlin hay ở những vùng ngoại thành Berlin. Vào ngày 4 tháng 8 năm 1961 Hội đồng thành phố Berlin (Đông Đức) ban quy định bắt buộc những người này phải đăng ký và phải trả tiền nhà cũng như những phí tổn phụ (điện, nước) bằng tiền Deutsche Mark của Tây Đức.
Ngày 15 tháng 6 năm 1961, trong một cuộc họp báo quốc tế tại Đông Berlin, Walter Ulbricht trả lời câu hỏi của nữ nhà báo Tây Đức Annamarie Doherr như sau: "Tôi hiểu câu hỏi của bà là có những người ở Tây Đức cho rằng nước Đông Đức chúng tôi đang huy động công nhân xây dựng để lập nên một bức tường. Tôi không có ý định như thế vì những người công nhân xây dựng của chúng tôi dốc toàn lực của họ để xây chủ yếu là nhà dân cư. Không một ai có ý định dựng lên một bức tường cả!"
Trong đêm 12 rạng sáng ngày 13 tháng 8 năm 1961, gần 15.000 người gồm: 5000 Quân đội Nhân dân, 5.000 Cảnh sát biên phòng, 5.000 Công an Nhân dân và 4.500 của lực lượng công nhân vũ trang bắt đầu phong tỏa các đường bộ và đường sắt dẫn đến Tây Berlin. Ngay trong cùng ngày Thủ tướng Liên bang Konrad Adenauer kêu gọi qua đài phát thanh yêu cầu người dân hãy bình tĩnh và thận trọng, rằng ông ta sẽ phối hợp cùng với lực lượng Đồng Minh để có phản ứng tiếp theo.
Đồng Minh phía Tây cũng phản ứng rất chậm chạp: mãi 20 tiếng sau đó, lực lượng quân sự mới xuất hiện tại biên giới. Sau 40 tiếng một bức thư mới được gửi đến Ban chỉ huy quân sự Xô Viết Berlin. Rõ rằng Liên bang Xô Viết đã từ bỏ yêu cầu về một thành phố Berlin "tự do", phi quân sự. Có nhiều tin đồn cho rằng trước đó Liên bang Xô Viết đã bảo đảm với phe Đồng Minh phía tây là Liên bang Xô Viết sẽ không đụng chạm đến quyền lợi của họ ở Tây Berlin.
Tổng thống Mỹ, Jhon F. Kennedy nói: "Một giải pháp không hay lắm nhưng vẫn tốt hơn chiến tranh hằng ngàn lần”. Còn Thủ tướng Anh Harold Macmillan thì nói "Người Đông Đức chặn dòng người tỵ nạn lại và cố thủ sau một bức màng sắt dày hơn. Điều đấy không có gì là phạm pháp cả.". Tuy vậy, Tổng thống John F. Kennedy cũng đã đứng sát cạnh với "thành phố tự do" Berlin. Ông gửi thêm lực lượng quân sự gồm 1.500 người đến Tây Berlin và tái động viên tướng Lucius D. Clay .
Trong tuyên truyền, Đông Đức đã gọi bức tường này cũng như toàn bộ việc bảo vệ biên giới là "bức tường thành chống phát xít " (antifaschistischer Wall), bảo vệ nước Đông Đức chống lại việc "di dân, xâm nhập, gián điệp, phá hoại, buôn lậu và gây hấn từ phương Tây". Thực chất các hệ thống phòng thủ này chủ yếu là chống lại chính những người công dân của Đông Đức. Trong tổng số 156,4 km biên giới với Tây Berlin, 43,7 km nằm trong thành phố Berlin và 112,7 km nằm trong tỉnh Potsdam. Có 63,8 km chạy qua khu vực có công trình xây dựng.
Có 25 nơi qua biên giới, 13 cửa khẩu cho đường ô tô, 4 cho tàu hỏa và 8 cửa khẩu đường sông, chiếm 60% tất cả các cửa khẩu biên giới giữa Đông Đức và Tây Đức. Một cuộc Cách mạng Ôn hoà, Bức tường Berlin sụp đổ. Ngày 9 tháng 11 năm 1989 là một sự kiện quan trọng trong lịch sử thế giới, không chỉ sự sụp đổ của Bức màn Sắt tại Berlin, Đức Quốc mà còn mở đầu cho một loạt các sự kiện quan trọng khác dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông, Trung Âu và sau cũng sự sụp đổ thành trì cộng sản ở Liên Xô.
Theo sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin ngày 9 tháng 11 năm 1989, Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức mất đi đa số trong Quốc hội tại cuộc bầu cử ngày 18 tháng 3 năm 1990. Ngày 23 tháng 8 cùng năm, Quốc hội Đông Đức quyết định rằng nước sẽ Đức tái thống nhất. Và, tại Hội nghị Malta chiến tranh Lạnh được tuyên bố là đã kết thúc. Ba tuần sau đó, kể từ ngày 3 tháng 10 năm 1990, Đông Đức và Tây Đức tái thống nhất, lãnh thổ quốc gia sẽ được đặt dưới hệ thống pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức.
Sydney ngày 24 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.281 chữ)
Bài 188: CHUYỆN KỂ VỀ NƯỚC ĐỨC TÁI THỐNG NHẤT MỞ ĐẦU KỶ NGUYÊN MỚI.
Lê Xuân Đỗ
Do khối Cộng sản đứng đầu là Liên Xô phản đối vấn đề thương thảo liên quan đến việc tái thống nhất nước Đức tại Đông Đức, cho đến tháng 2/1990, Bộ trưởng Ngoại giao bốn nước Đồng minh hàng đầu của Thế chiến thứ II, Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh, Pháp cùng với Đông Đức và Tây Đức mới có họp hội nghị tại Ottawa, Canada đạt tới sự thỏa thuận chung mở đường cho các cuộc thương thảo cấp cao bàn việc tái thống nhất nước Đức. Tháng 5, Hội nghi cấp Bộ trưởng các nước khối NATO chấp nhận duy trì nước Đức vẫn là một thành viên chính thức của khối NATO.
Và, Hội nghi khối NATO cũng cấm nước Đức mới sản xuất, hoặc có các loại vũ khí hạt nhân, sinh học (vi trùng) hoặc hóa học. Tháng 7/1990, lãnh đạo Liên Xô là của Gorbachev đồng ý về các điều kiện để nước Đức mới trở thành thành viên chính thức của khối NATO. Cũng tháng 7/1990 nầy, Đồng Mark của Tây Đức được hai nước Đức thoả thuận dùng làm tiền tệ chung. Ngày 3/10 hợp nhất hai nước Đức, và cuộc tổng tuyển cử toàn quốc (kể từ 1932) được tổ chức vào ngày 2/12/1990. Đông Đức nhận trên 1000 tỷ từ công quỹ để tái xây dựng giữa năm 1990 và 1995.
Năm 1991, Berlin một lần nữa trở thành thủ đô nước Đức. Ngày 12/7/1994, tòa án tối cao Đức Quốc phán quyết rằng, quân đội Đức có thể tham gia vào lực lượng đặc nhiệm quốc tế ở nước ngoài nhưng phải được sự chấp thuận của Quốc hội. Buổi lể tiễn đưa người lính Nga cuối cùng rút ra khỏi Đức ngày 31/8/1994. Một tuần sau đó một buổi lễ tương tự khác cũng được tổ chức tiễn đưa quân đội Hoa Kỳ, Anh, Pháp rút khỏi tây Berlin. Cuộc tổng tuyển cử ngày 16/10/1994, Liên đảng của Thủ tướng Helmut Kohl chiến thắng với số phiếu sít sao.
Helmut Kohl là người giữ chức vụ Thủ tướng Đức lâu nhất trong thế kỷ 20. Nạn thất nghiệp tăng lên đến 12,6% trong tháng 1/1998. Thời cai trị của Kohl chấm dứt với sự thất bại của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 27/9/1998, Gerhard, Schroder lãnh tụ đảng Dân chủ Xã hội trở thành Thủ tướng. Đức đóng góp 8.500 quân cho khối NATO lãnh đạo lực lượng gìn giữ an ninh (KFOR) tiến vào Kosovo tháng 6/1999. Giữa lúc có sự tố cáo quyên góp quỹ một cách trái luật, ngày 18/1/2000, Helmut Kohl từ chức chủ tịch danh dự đảng.
Và, ngày 8/2/2001, Kohl đạt tới một sự thỏa thuận với công tố viên, trong đó ông nhìn nhận có vi phạm luật ủy thác và đồng ý trả tiền phạt, nhưng không thừa nhận bất cứ một tội phạm hình sự nào. Ngày 22/9/2002, trong cuộc bầu cử Quốc hội, đảng Dân chủ Xã hội giành thắng lợi và Schroder tiếp tục nắm quyền. Schrode phản đối bất cứ hành động quân sự nào chống lại Iraq. Đầu năm 2003, Đức cùng với Pháp, và Liên bang Nga ra sức ngăn chận Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc để không phê chuẩn nghị quyết cho phép Hoa Kỳ xâm lăng Iraq.
Số người ủng hộ Schroder trong đảng giảm xuống một cách thê thảm, khiến ông phải từ chức chủ tịch đảng vào tháng 2/2004. Ngày 13/6, Liên minh cầm quyền của Schroder chỉ chiếm được một số ghế ít ỏi trong Quốc hội Liên hiệp Châu Âu. Ngày 22/5/2005, Schroder tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử Quốc hội vào ngày 18/9 sớm hơn dự liệu. Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo do bà Angela Merkel lãnh đạo chiến thắng với đa số phiếu sít sao. Ngày 22/11/2005, bà Angela trở thành Thủ tướng của nội các Liên hiệp bao gồm cả những người có khuynh hướng Xã hội chủ nghĩa.
Tháng 6/2007, Đức là nước chủ nhà của Hội nghị Nhóm 8 nước giàu (G8), Thủ tướng Merkel, đề nghị đến năm 2050, mỗi nước công nghiệp phải cắt giảm 50% lượng khí thải nhà kính. Ngày 5/9, chính quyền đã phát hiện một âm mưu khủng bố bằng bom nhắm vào căn cứ không quân Hoa Kỳ tại Ramstein, và phi trường quốc tế Frankfurt. Đầu năm 2009, để đối phó với sự suy thoái toàn cầu, chính phủ đưa ra gói kích thích kinh tế 50 tỷ Euro. Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 27/9/2007, Liên minh cánh Trung hữu của bà Thủ tướng Merkel tiếp tục duy trì quyền lực.
Và ngày 30/6/2010, Christian Wulff, lãnh tụ đảng Dân chủ Thiên chúa giáo được chọn làm Tổng thống. Kinh tế Đức giãm 5% năm 2009, và phục hồi trong năm 2010. Trong cuộc thăm dò mới nhất người dân Đức phản đối việc nước Đức tiếp tục duy trì 4.600 quân cùng với NATO tham chiến tại Afghanistan. Đức còn có khoảng 2.000 quân sĩ khác làm nhiệm vụ tương tự tại Lebanon. Ngày 18/3/2012, Nghị viện Liên bang bầu Joachim Gauck làm tổng thống với 991 phiếu bầu, Beate Klarsfeld 126 phiếu.
Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 22/9/2013, Liên minh cánh Trung hữu của bà Thủ tướng Merkel vẫn tiếp tục nắm quyền. Tổng thống hiện nay là Frank-Walter Steinmeier, sinh 1956, nhậm chức ngày 22/3/2017. Và, Thủ tướng là Olaf Scholz, sinh 1958, nhậm chức ngày 8/12/2021.
Sydney ngày 25 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 962 chữ)
Bài 189: CHUYỆN KỂ VỀ ĐẠI HÀN QUỐC GIA THỨ HAI TỪNG BỊ PHÂN RANH QUỐC- CỘNG.
Lê Xuân Đỗ
Những nghiên cứu, bằng chứng khoa học và chứng cứ khai quật khảo cổ cho thấy rằng bán đảo Triều Tiên đã có xuất hiện con người sinh sống ngay từ thời đại đồ đá củ. Di chỉ khảo cổ học đầu tiên cùng các địa điểm định cư sớm nhất của con người tại đây trong thời kỳ Jeulmun và thời kỳ Mumun được phát hiện ở phía nam bán đảo. Lịch sử Triều Tiên cổ đại bắt đầu với sự thành lập của nhà nước Cổ Triều Tiên bởi Đàn Quân vào khoảng năm 2333 TCN; sau đó là giai đoạn tiền Tam Quốc với hàng loạt bộ lạc, tiểu quốc nhỏ phân tranh.
Chế độ quân chủ của các quốc gia trên bán đảo có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc khi quyền cai trị thuộc về các triều đại phong kiến chuyên chế kế tập. Phật giáo cùng Đạo giáo có ảnh hưởng lớn và Nho giáo được lấy làm nền tảng tư tưởng gốc rễ. Trong thời kỳ Tam Quốc, dưới triều đại Quảng Khai Thổ Thái Vương của Cao Câu Ly, lãnh thổ của ông được mở rộng sau một loạt chiến dịch quân sự nhằm chinh phục các tiểu quốc thành công, hình thành nên một trong những đế quốc rộng lớn nhất Đông Bắc Á đương thời.
Sau Tam Quốc, Nam-Bắc Quốc và hậu với vị thế là một đất nước độc lập cho đến cuối thời kỳ của Đế quốc Đại Hàn. Vào giai đoạn cuối của nhà Triều Tiên, Hoàng tộc dưới quyền chi phối và lãnh đạo chuyên chính của Hưng Tuyên Đại Viện Quân đã thực thi chính sách "Bế quan tỏa cảng", tự cô lập đất nước cũng như thẳng tay đàn áp Thiên Chúa giáo. Trong khi đó tại quốc gia láng giềng Nhật Bản, sau thất bại của Mạc phủ Tokugawa trong chiến tranh Mậu Thìn dẫn đến sự kết thúc của chế độ Shògun và bắt đầu công cuộc triều đại mới của Minh Trị Duy Tân.
Minh Trị Duy Tân chấm dứt Thoả quốc cùng chiến thắng trong các cuộc chiến tranh Thanh-Nhật, chiến tranh Nga-Nhật và chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã trở thành một thế lực mới, dần thay thế phương Bắc mở rộng ảnh hưởng lên Triều Tiên. Về chính trị, ngày 8 tháng 10 năm 1895; giới cầm quyền Nhật giật dây vụ ám sát Hoàng hậu Minh Thành (Mẫn Phi) nhân vật có tư tưởng cải cách cùng nhiều chính sách ngoại giao tiến bộ hiếm hoi trong Hoàng thất, người được xem là rào cản duy nhất đối với tham vọng sáp nhập của Nhật.
Về quân sự, Hải quân Nhật Bản sử dụng "Ngoại giao pháo hạm" - mở đầu bằng sự kiện chiến hạm Unyò tấn công đảo Ganghwa (20/9/1875), gây áp lực buộc Triều Tiên mở cửa các hải cảng đồng thời nhanh tay kiểm soát vùng lãnh thổ này trước các đế quốc phương Tây - khởi đầu bằng Điều ước bất bình đẳng Nhật-Triều (26/2/1876). Sau sự kiện Thủ tướng Itò Hirobumi bị nhà hoạt động độc lập An Jung-geum ám sát tại nhà ga Cáp Nhĩ Tân (26/10/1909), Nhật Bản quyết định đẩy nhanh quá trình sáp nhập.
Quân phiệt Nhật cùng với các lực lượng tay sai, nội gián bản địa do chính phủ Yi Wan-yong đứng đầu ép vua Thuần Tông ký kết Nhật-Triều Hợp điều ước (22/8/1910) (Điều ước Sáp nhập hay "Hiệp ước quốc sỉ" - theo cách gọi của các thế hệ người Hàn Quốc sau này, Nhật Bản trực tiếp kiểm soát bán đảo trong vòng 35 năm từ 1910-1945, thời kỳ này gọi là Triều Tiên thuộc Nhật.
Sau khi nước này đầu hàng trong Thế chiến 2. Triều Tiên được Đồng Minh giải phóng. Bất chấp kế hoạch ban đầu về một Triều Tiên thống nhất trong Tuyên bố Cairo năm 1943, bán đảo bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự bởi Liên Xô và Hoa Kỳ. Liên Xô chiếm đóng miền Bắc cho đến vĩ tuyến 38 trong khi Hoa Kỳ chiếm đóng từ đó về phía Nam. Hai siêu cường không thể đạt được đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị. Tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đề ra giải pháp nhằm tiến hành tổng tuyển cử tại Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của Ủy ban Liên Hợp Quốc.
Tuy nhiên, các chính phủ lâm thời của hai miền đã khước từ việc này. Liên Hợp Quốc tiếp tục đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử tại từng địa phương nhưng trước đó, những hoạt động riêng rẽ đầu tiên đã được tiến hành độc lập ngay từ ngày 10 tháng 5 năm 1948 ở các tỉnh phía Nam vĩ tuyến 38, điều này dẫn tới việc thành lập nhà nước Đại Hàn Dân Quốc do Lý Thừa Vãn đứng đầu. Đáp lại, miền Bắc cũng tiến hành tổ chức bầu cử, chính phủ và nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời do Kim Nhật Thành lãnh đạo.
Mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn bộ bán đảo. Trong khi Bắc Triều Tiên chịu sự ảnh hưởng của ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa và được sự hậu thuẫn từ phía Liên Xô, Trung Quốc và Khối các quốc gia xã hội chủ nghĩa thì Hàn Quốc được sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Điều này khiến cho những mâu thuẫn giữa hai miền vốn ở trong tình trạng căng thẳng, nay càng trở nên nghiêm trọng và gay gắt. Xung đột gia tăng dẫn tới chiến tranh Triều Tiên khi quân đội Bắc Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, cáo buộc Hàn Quốc vi phạm trước và tổng tấn công.
Hoa Kỳ cùng Liên Hợp Quốc tham chiến hỗ trợ Hàn Quốc còn hậu thuẫn Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Liên Xô, Trung Quốc và Khối Xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953 thì tạm dừng sau khi các bên ký kết Thoả thuận đình chiến. Chiến tranh Triều Tiên khiến cho hơn 3 triệu người thiệt mạng và hàng chục triệu người khác bị ảnh hưởng. Rất nhiều thường dân, binh lính, quân nhân bị thương tật, một số khác thì mất nhà cửa hoặc chia lìa vĩnh viễn người thân trong gia đình.
Sau chiến tranh, Bắc Triều Tiên tuyên bố tiếp tục theo đuổi "sự nghiệp thống nhất đất nước" trên cơ sở lập luận "một Triều Tiên", không công nhận chính phủ Hàn Quốc và chọn con đường thống nhất bằng "Cách mạng Xã hội chủ nghĩa". Ngược lại, phía Hàn Quốc cũng coi chính phủ của mình là chính thể có chủ quyền hợp pháp duy nhất trên toàn bộ bán đảo Triều Tiên đồng thời không công nhận Bắc Triều Tiên. Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng lẫn nhau khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến thập niên 1960.
Đầu thập niên 1970, quan hệ hai miền dần cải thiện, hai bên chính thức công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991, hai nhà nước được mời gia nhập Liên Hợp Quốc cùng một lúc. Hàn Quốc là quốc gia đầu tư kinh tế và hoạt động chủ yếu, tích cực nhất trong chiến dịch viện trợ lương thực góp phần giúp Bắc Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 thông qua Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hợp Quốc.
Sydney ngày 26 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.320 chữ)
Bài 190: CHUYỆN KỂ VỀ QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HOÁ HÀN QUỐC ĐẪM MÁU VÀ ĐẦY NƯỚC MẮT.
Lê Xuân Đỗ
Quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc bị thấm đẫm bởi máu, xung đột và bạo lực. Lý Thừa Vãn sau khi nắm quyền lực đã cho thực thi một chính sách cai trị độc tài, đàn áp quyết liệt, thẳng tay đối với những người cánh tả, thậm chí còn sát hại không ít nhân vật bất đồng chính kiến. Bên cạnh đó, bộ máy quản lý đất nước do ông xây dựng bị nạn tham nhũng đục khoét, tàn phá nặng nề, kinh tế trì trệ, đất nước phát triển chậm chạp. Năm 1960, Lý Thừa Vãn đối mặt làn sóng bất bình cực lớn của người dân, khiến ông ta phải lên máy bay chạy sang Honolulu ngày 19 tháng 4 năm 1960.
Chính phủ dân sự ngắn ngủi kế nhiệm của Tổng thống Yun Bo-seon cùng Phó Tổng thống Chang Myon bị lật đổ bởi cuộc đảo chánh của tướng Park Chung-hee ngày 16 tháng 5 năm 1961. Năm 1963, Park Chung-hee kiểm soát chính phủ và chính thức lên nắm quyền tổng thống, trở thành nhà lãnh đạo độc tài thứ hai của Hàn Quốc. Thông qua hoạt động của Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia, Park Chung-hee đã giải tán quốc hội cùng các đảng phái chính trị đối lập đang hoạt động và thẳng tay đàn áp những phong trào chống đối.
Park Chung-hee ban hành một loạt sắc lệnh cấm công nhân tổ chức mít tinh, biểu tình, diễu hành. Ông còn cài cắm lực lượng mật thám, nhân viên thân tín của chính phủ vào bên trong nội bộ các tổ chức công đoàn công nhân để giám sát và rồi dần dần kìm hãm phong trào đấu tranh của họ. Bên cạnh đó, về chính sách đối ngoại, quân đội Hàn Quốc được Park Chung-hee gửi sang Nam Việt Nam chiến đấu cùng với Hoa Kỳ đồng thời cũng là lực lượng chính tiến hành các vụ đàn áp, bắt bớ, thủ tiêu, do thám trong nước theo mệnh lệnh của Park.
Trong suốt thập niên 1960, chính phủ Park Chung-hee có xu hướng đàn áp thô bạo ngày càng gia tăng. Năm 1971, Park ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia "dựa trên thực tế nguy hiểm của tình hình quốc tế". Tới tháng 10 năm 1972, ông lại khởi xướng một cuộc đảo chính để tự giải thể quốc hội, đình chỉ hiến pháp, dọn đường để bản thân lên nắm quyền lực thông qua bản Hiến pháp Duy Tân vào tháng 11 chấm dứt bầu cử dân chủ trực tiếp đồng thời suy tôn Park Chung-hee làm "Tổng thống trọn đời". Park bị chỉ trích là một nhà độc tài tàn nhẫn.
Thế nhưng đổi lại, nền kinh tế Hàn Quốc đã được cải thiện rất đáng kể dưới thời Park Chung-hee. Chính phủ của ông đã phát triển một hệ thống đường cao tốc trên toàn quốc, hệ thống tàu điện ngầm Seoul và đặt nền tảng to lớn, vững chắc cho sự chuyển biến mạnh mẽ của Hàn Quốc trong những thập niên sau đó. Ngày 16 tháng 10 năm 1979, tại trường Đại học Busan, một nhóm sinh viên đã xuống đường kêu gọi chấm dứt chế độ độc tài. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan rộng với hơn 50.000 người tụ tập ở phía trước quảng trường thành phố Pusan.
Trong hai ngày tiếp theo, một số văn phòng công cộng đã bị tấn công và khoảng 400 người biểu tình bị bắt giữ. Vào ngày 18 tháng 10, chính phủ Park Chung-hee tuyên bố thiết quân luật tại Pusan. Thế nhưng các cuộc biểu tình đã lan tới thành phố Masan, đặc biệt là ở trường Đại học Tổng hợp Kyungnam. Bạo lực leo thang với các cuộc tấn công vào các đồn cảnh sát và trụ sở các cơ quan của đảng cầm quyền trong thành phố. Khủng hoảng xã hội khiến nội bộ giới cầm quyền bị rạn nứt.
Ngày 26 tháng 10 năm 1979, Park Chung-hee bị ám sát bởi Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Kim Jae-gyu. Ngay sau đó, Kim Jae-gyu cùng đồng phạm bị tử hình bằng hình thức treo cổ, nhưng cho đến tận ngày nay, một Uỷ ban đặc biệt của chính phủ vẫn đang phải phải tiếp tục thảo luận về việc có nên coi Kim Jae-gyu là người góp công cho quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc hay không. Thời đại Park Chung-hee kết thúc trong bạo lực và bất ổn xã hội. Một chính phủ tạm quyền được thành lập, đất nước đặt trong tình trạng thiết quân luật.
Bản thân Park Chung-hee chết do bị ám sát bởi một quan chức thân tín. Sự nghiệp chính trị của ông cũng bị hoen ố vì độc tài và ngày nay nhiều người Hàn Quốc còn căm ghét Park Chung-hee dù ông có công rất lớn trong việc xây dựng và tái thiết lại đất nước sau chiến tranh. Khi Roh Moo-hyun lên làm Tổng thống vào năm 2003, chính phủ vẫn phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới và thành lập các uỷ ban điều tra về tình trạng bạo lực dưới thời Park Chung-hee, nhưng chưa đưa ra được kết luận rõ ràng về “công hay tội của Park.
Tuy vậy, trong một cuộc khảo sát của Viện nghiên cứu và phân tích thông tin Gallup vào năm 2015 tại Hàn Quốc, Park Chung-hee đã được bình chọn là "Tổng thống vĩ đại nhất" trong lịch sử nước này (với tỷ lệ bình chọn là 44%).
Sydney ngày 27 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 980 chữ)
Bài 191: CHUYỆN KỂ VỀ QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HOÁ ĐẪM MÁU VÀ ĐẦY NƯỚC MẮT (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Năm 1980, tướng Chun Doo-hwan được một hội đồng quân sự bầu lên làm tổng thống. Ngày 18 tháng 5 năm 1980, do bị cảnh sát đàn áp trong một cuộc biểu tình, Phong trào dân chủ Gwangju tự phát xuất hiện tại thành phố Gwangju - thủ phủ của tỉnh Jeolla Nam - khi người dân địa phương tổ chức đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát để chống lại lực lượng cảnh sát. Quân đội với vũ khí sát thương hạng nặng đã được điều động đến. 4 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm 1980, quân đội từ 5 hướng tiến vào trung tâm thành phố và đánh bại hoàn toàn lực lượng dân quân chỉ trong vòng 90 phút.
Trong sự kiện này, quân đội Hàn Quốc được cho là đã nổ súng bắn chết khoảng từ 1.000 tới 2.000 thường dân. Sau khi đàn áp hoàn toàn cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc thảm sát Gwangju, Chun Doo-hwan trở thành nhà lãnh đạo thứ năm và là nhà độc tài thứ ba trong lịch sử chính trị Hàn Quốc. Cũng giống như người tiền nhiệm Park Chung-hee, Chun bắt đầu tiến hành kiểm soát đất nước một cách chặt chẽ hơn, ông ta loại bỏ hoàn toàn các chính trị gia đối lập khỏi chính trường và tiến hành thanh lọc xã hội theo quy mô lớn.
Đồng thời, chính phủ Chun Doo-hwan thiết lập một cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt mang tên gọi "Trại giáo dục Samcheong", để tiến hành chương trình "giáo dục thanh lọc". Khoảng hơn 40 nghìn người bị bắt đưa đến các cơ sở của trại này. Số liệu thống kê về sau cho thấy có 54 người đã bị giết trong quá trình giam giữ và 397 người khác chết sau đó. Năm 1986, Chun Doo-hwan tiếp tục ra lệnh bắt giữ và tra tấn nhiều nhà chính trị đối lập có tư tưởng đối lập trái với khuynh hướng của giới cầm quyền.
Chun Doo-hwan đồng thời nghiêm cấm triệt để các tổ chức công đoàn hoạt động. Rất nhiều tổ chức chính trị theo đuổi dân chủ tự do bị đàn áp khốc liệt như Liên minh Dân chủ Thống nhất hay Phong trào Nhân dân. Tháng 1 năm 1987, một vụ tra tấn dã man của cảnh sát đã dẫn tới cái chết của Park Jong-cheol, sinh viên trường Đại học Quốc gia Seoul. Sau đó, người dân Hàn Quốc tiếp tục nổi dậy sau cái chết của sinh viên Park. Họ tổ chức hàng loạt cuộc bạo động lớn để phản đối chính sách bắt bớ, thủ tiêu, tra tấn tàn bạo của chế độ Chun Doo-hwan yêu cầu sửa đổi Hiến pháp.
Đây chính là sự khởi đầu cho Cuộc Nổi dậy Dân chủ Tháng Sáu - hàng triệu người tham gia vào cuộc "Tuần hành Hòa bình Vĩ đại của Nhân dân" được tổ chức tại 34 thành phố và 4 tỉnh, họ hô to các khẩu hiệu "Bãi bỏ hiến pháp xấu xa", "Xóa bỏ chế độ độc tài". Dưới áp lực ấy, chính quyền Chun Doo-hwan đã buộc phải tiến hành sửa đổi Hiến pháp, ban hành bản Hiến pháp mới vào ngày 29 tháng 10 năm 1987. Tuy nhiên, mặc cho tội ác của mình, Chun vẫn nắm giữ vị trí cao nhất trong bộ máy quyền lực ở Hàn Quốc cho tới năm 1988.
Hơn 10 năm sau Cuộc Nổi dậy Dân chủ Tháng Sáu, mãi đến năm 1996 Chun Doo-hwan mới bị chính phủ mới kết tội nổi loạn, phản quốc, tham nhũng, hối lộ, ra lệnh thảm sát dân thường và Chun Doo-hwan bị tuyên án tử hình. Nhưng, không lâu sau đó được giảm xuống còn chung thân do Tòa án Tối cao cân nhắc vai trò của Chun khi đưa nền kinh tế Hàn Quốc trở thành "Con Hổ châu Á", bảo vệ đất nước khỏi khủng hoảng chính trị đồng thời chuyển giao quyền lực hòa bình cho người kế nhiệm. Cuối cùng, Chun nhanh chóng được tổng thống Kim Young-sam ân xá ngày 22 tháng 12 năm 1997.
Các cuộc nổi dậy trong thập niên 1980 đã để lại dấu ấn to lớn cho sự ra đời của chính phủ dân sự vào năm 1992 với đường lối cầm quyền cùng chính sách đối ngoại mềm mỏng hơn rất nhiều. Trước đó; vào năm 1987, Hiến pháp Hàn Quốc đã được sửa đổi, người dân lại được quyền trực tiếp bầu ra tổng thống. Sự kiện này đánh dấu quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ của đất nước. Thủ đô Seoul được chọn làm nơi tổ chức Thế vận hội Olympic Mùa hè năm 1988, một kỳ Thế vận hội vô cùng thành công và đã thúc đẩy đáng kể vị thế quốc tế của Hàn Quốc.
Hàn Quốc được mời trở thành một thành viên chính thức của Liên Hợp Quốc vào năm 1991. Tuy đạt được nhiều tiến bộ trong quá trình dân chủ hóa, chính trường Hàn Quốc vẫn chưa bao giờ hết khốc liệt hay có dấu hiệu hạ nhiệt, các đời tổng thống tiếp theo là Roh Tae-woo (1987), Kim Young-sam (1992) và Kim Dae-jung (1998) đều để lại nhiều dấu ấn với cả tích cực lẫn tiêu cực. Trong đó, vị tổng thống thứ sáu - Roh Tae-woo bị kết án tù vì các tội danh liên quan đến hối lộ, tham nhũng.
Sydney ngày 28 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 959 chữ)
Bài 192: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN DÂN SỰ VÀ NHỮNG THÀNH QUẢ VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI.
Lê Xuân Đỗ
Dù là vậy, sang đến năm 2000, tổng thống Kim Dae-jung gây tiếng vang lớn khi được trao giải Nobel Hoà Bình vì những nỗ lực trong việc bình thường hoá quan hệ với CHDCND Triều Tiên. Vào tháng 6 năm 2000, hội nghị thượng đỉnh liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưởng, thủ đô của CHDCND Triều Tiên, hội nghị là thành quả tích cực sau nhiều năm Hàn Quốc thực thi chính sách Ánh Dương với CHDCND Triều Tiên do tổng thống Kim Dae-jung đề xướng. Năm 2003, học trò của ông, Roh Moo-hyun kế nhiệm.
Thế nhưng sau đó, đến lượt Roh cũng phải đối mặt với lời buộc tội tham nhũng, ông tự sát vào ngày 23 tháng 5 năm 2009 trong khi các cuộc điều tra vẫn đang tiếp diễn, do vậy, nhiều người nghi ngờ rằng vụ tự sát này là do sức ép đến từ các thế lực khác. Sau đó là Lee Myung-bak làm tổng thống trong giai đoạn 2008-13. Năm 2018, Lee bị bắt giam với cáo buộc ít nhất 12 tội danh, trong đó có việc nhận hối lộ 11 tỷ Won từ Cơ quan Tình báo Quốc gia cùng nhiều doanh nghiệp khác.
Bên cạnh đó là những cáo buộc về trốn thuế và chiếm đoạt 35 tỷ Won từ một công ty mà Lee bí mật sở hữu. Vào tháng 3 năm 2019, Lee được cho phép tại ngoại vì những lo ngại liên quan đến vấn đề sức khỏe. Tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 2 năm 2020, tòa án quận trung tâm Seoul đã chính thức ra bản án tuyên phạt Lee 17 năm tù giam cùng 13 tỷ Won tiền đền bù. Tiếp đến là Park Geun-hye, bà là nữ tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc và dân cử đầu tiên ở Đông Á. Tuy nhiên, tới đầu năm 2017, đến lượt Park Geun-hye cũng bị quốc hội nước này phế truất và bắt giam.
Park Geun-hye bị cáo buộc tiết lộ bí mật quốc gia, nhận hối lộ, tham nhũng, lạm quyền để người bạn không có bất kỳ chức vụ gì là Choi Soon-sil can thiệp vào các tài liệu mật cũng như công việc nội bộ của chính phủ. Như vậy, tính từ năm 1948 đến năm 2018, trong 11 đời tổng thống Hàn Quốc có 1 người bị ám sát, 1 người tự sát do bị điều tra, 1 người bị đảo chính phải chạy ra nước ngoài tị nạn, 4 người khác bị bắt giam do các tội danh liên quan đến tham nhũng, hối lộ. Những vụ bê bối liên quan đến giới chính trị hay lãnh đạo các doanh nghiệp kinh tế lớn là vấn nạn gây nhức nhối tại quốc gia này.
Về việc tăng trưởng kinh tế, bắt đầu từ thời Park Chung-hee đã cải thiện đáng kể mức sống cho người dân Hàn Quốc. Cuối năm 1965, khoảng 58,7% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng tỷ lệ này đã giảm xuống còn 50,4% vào năm 1970 và 38,4% vào năm 1978. Công nghiệp hóa dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng dân số ở các đô thị của Hàn Quốc, tăng từ 28,3% năm 1960 lên 54,9% vào năm 1979. Năm 1960, khoảng một phần ba trẻ em từ 12 đến 14 tuổi theo học tại các trường trung học; tỷ lệ đó tăng lên 53,3% vào năm 1970 và 74,0% vào năm 1975.
Năm 1960, chỉ có khoảng 19,9% dân số từ 15 đến 17 tuổi được đi học; tỷ lệ đó tăng lên 29,3% vào năm 1970 và 40,5% vào năm 1975. Năm 1970, quá trình xây dựng tuyến đường cao tốc Gyeongbu được hoàn thành, liên kết thủ đô Seoul với các khu vực phía đông nam cũng như các thành phố cảng lớn ở phía nam đất nước. Vào năm 1969, cả nước chỉ có 200.000 máy truyền hình thì đến năm 1979 đã có khoảng 6 triệu máy. Nếu như cũng trong năm 1969, chỉ có 6% hộ gia đình ở Hàn Quốc sở hữu một chiếc TV thì đến năm 1979, tỷ lệ này đã là 4/5.
Nhờ những biện pháp cứng rắn về chính trị, khắc khổ về kinh tế cũng như tận dụng yếu tố văn hóa, từ thập niên 1960 trở đi, kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, vào ngày 26 tháng 10 năm 1979, tổng thống Park Chung-hee bất ngờ bị ám sát, sự tăng trưởng đều đặn của đất nước cũng đột ngột dừng lại, kéo theo đó là một thời kỳ hỗn loạn liên tiếp về chính trị cộng với sự tăng vọt của giá dầu mỏ cùng vụ mùa thu hoạch lúa gạo thất bát và tỷ lệ lạm phát lên tới 44% năm 1979 đã khiến cho nền kinh tế Hàn Quốc phải chịu mức suy thoái chạm mức 6% trong năm 1980.
Nhưng sau đó, nền kinh tế đã nhanh chóng được phục hồi và quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng. Thập niên 1980 tiếp tục chứng kiến tốc độ tăng trưởng GDP cao, đạt đỉnh điểm vào những năm 1986-1988 ở mức 12% mỗi năm khiến cho Hàn Quốc trở thành nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhất trên thế giới tại thời điểm đó, Hàn Quốc về sau được xếp vào nhóm những nước công nghiệp mới. Trong những năm kế tiếp, tuy có chậm lại nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn tiếp tục gia tăng đều đặn cho đến năm 1997 với tốc độ trung bình là 10% mỗi năm.
Thời kỳ cải cách thành công và phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc được gọi là "Kỳ tích trên dòng sông Hán". Hàn Quốc được xem là trung cường quốc và nước phát triển có GDP lớn thứ 10, đứng hạng 10 về quốc phòng, 8 về xuất khẩu vũ khí, 17 về chỉ số tiến bộ xã hội và có chỉ số dân chủ thuộc nhóm dẫn đầu. Hiện nay, Làn sóng Hàn Quốc được đón nhận và có ảnh hưởng trên toàn cầu. Tuy thế, Hàn Quốc cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như tỷ lệ sinh thấp, các tiêu cực xã hội vẫn còn tồn tại, thất nghiệp cao, nạn tự sát và sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo.
Về vấn đề tái thống nhất với Bắc Triều Tiên là chủ đề được bàn luận sôi nổi ở Hàn Quốc, nhưng cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ hiệp định hoà bình chính thức nào được ký kết. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ Bắc Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ, có các hành động tuyên truyền, diễn thuyết, phát biểu ca ngợi Bắc Triều Tiên sẽ bị trục xuất khỏi nước này nếu là người nước ngoài hoặc kết án 7 năm tù giam nếu là công dân Hàn Quốc.
Người nào tự ý tổ chức các chuyến đi du lịch, đến thăm Bắc Triều Tiên mà không được sự cho phép của chính phủ có thể bị phạt tối đa lên tới 10 năm tù giam. Tổng thống Roh Moo-hyun từng nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại điều đó vẫn chưa được thực thi còn tổng thống Moon Jae-in hy vọng hai miền sẽ tái thống nhất trong hòa bình - sớm nhất là vào năm 2045.
Sydney ngày 29 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.302 chữ)
Bài 193: CHUYỆN KỂ VỀ CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRIỀU TIÊN.
Lê Xuân Đỗ
TẠI BẮC TRIỀU TIÊN. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thành lập ngày 1/5/1948 trong vùng chiếm đóng của Liên Xô sau đệ II thế chiến. Kim Nhật Thành cầm đầu Cộng sản Bắc Hàn là nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch nước nắm mọi quyền hành kiểm soát nghiêm ngặt mọi mặt về đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Ngày 25 tháng 6 năm 1950, Kim Nhật Thành đưa quân đánh chiếm Nam Triều Tiên. Sau 3 năm đánh nhau có sự can dính của Trung Quốc, Liên Xô, và Hoa Kỳ. Ngày 27 tháng 7 năm 1953, một Hiệp ước ngưng bắn được ký kết giữa các bên cho đến ngày nay.
Tài nguyên phong phú về hầm mỏ và thủy điện được Kim Nhật Thành sử dụng để phát triển quân sự và công nghiệp nặng. Tháng 3/1993, Bắc Triều Tiên rút khỏi Hiệp ước quốc tế giới hạn sản xuất và phổ biến các loại vũ khí mang đầu đạn hạt nhân. Tháng 6 cùng năm, nước này tuyên bố “đình hoãn việc rút lui” của họ đáp ứng sự đe dọa cấm vận kinh tế của Liên Hiệp Quốc, nhưng người ta tin rằng Bắc Triều Tiên đang bí mật phát triển vũ khí hạt nhân. Kim Nhật Thành chết ngày 8/7/1994 sau 46 năm cai trị Bắc Tiều Tiên.
Con trai ông ta Kim Jong II (Kim Chính Nhất) kế thừa cầm đầu nhà nước với mọi chức vụ, quyền hành do cha mình truyền lại. Ngày 13/8/1994, Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên đạt được một thỏa hiệp tạm thời và sẽ có các cuộc thương thảo xa hơn để giải quyết vấn đề liên quan đến hạt nhân. Tại thời điểm này, một số viên chức cao cấp Bắc Triều Tiên xin tỵ nạn chính trị ở nước ngoài. Ngày 17/9/1999, Hoa Kỳ tháo bỏ các hạn chế thương mại, sau khi chính quyền Bình Nhưỡng đồng ý ngưng các vụ thử nghiệm hạt nhân ở cấp độ rộng và trong một thời gian dài.
Hội nghị thượng đỉnh giữa các nhà lãnh đạo Bắc và Nam Triều Tiên tại Bình Nhưỡng từ ngày 13-15/6/2000, đánh dấu một bước thiện quan hệ giữa hai chính quyền Bắc-Nam Triều Tiên, và đưa đến sự bãi bỏ lệnh cấm vận hoàn toàn của Hoa Kỳ. Tháng 9/2002, Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi thăm viếng Bắc Triều Tiên, đã đạt tới sự bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Và, đây cũng là lần đầu tiên Bắc Triều Tiên thú nhận các cơ quan hữu trách của nước này đã hỗ trợ trong việc bắc cóc 11 người Nhật vào cuối thập niên 1970.
Ngày 31/1/2002, trong một lời phát biểu Tổng thống Hoa Kỳ George Bush nói Bắc Triều Tiên cùng với Iraq và Iran là một “trục ác quỷ” (axis of evil). Quan hệ Hoa Kỳ - Bắc Triều Tiên trở nên căng thẳng. Tháng 10/2002, Bắc Triều Tiên thừa nhận có theo đuổi chương trình hạt nhân, và trong tháng 1/2003, nước nầy tuyên bố rút lui khỏi Hiệp ước cấm phát triển vủ khí hạt nhân. Để giải toả bế bế tắc giữa hai nước, Hoa Kỳ đòi Bắc Triều Tiên phải từ bỏ chương trình hạt nhân, trong khi Bắc Triều Tiên lại yêu cầu phải có một Hiệp ước bất tương xâm và trợ giúp kinh tế từ phía Hoa Kỳ.
Tháng 8/2003, Trung Quốc bảo trợ Hội nghị 6 nước gồm Bắc Triều Tiên, Nam Triều Tiên, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Liên bang Nga, và Trung Quốc để thảo luận về chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Hội nghị tái nhóm trong tháng 2 và tháng 6/2004, nhưng vẫn không đạt được một sự thỏa thuận nào. Năm 2005, Bắc Triều Tiên tuyên bố họ có sở hửu vủ khí hạt nhân. Và ngày 9/10/2006, họ tiến hành một cuộc thử nghiệm khác dưới lòng đất. Ngày 13/2/2007, Hội nghị 6 nước tái nhóm tại Bình Nhưởng đạt tới thỏa thuận từng phần.
Theo đó, Bắc Triều Tiên sẽ được cung cấp năng lượng, đổi lại nước nầy phải đóng cửa lò phản ứng hạt nhân. Tháng 10, một thỏa thuận khác xa hơn theo đó Bắc Triều Tiên từ bỏ chương trình sản xuất và tồn trử năng lượng hạt nhân gồm 3 bước đến cuối năm 2008. Tuy nhiên, đến thời hạn cuối cùng là tháng 12/2007, Bình Nhưỡng vẫn chưa cung cấp đầy đủ các chi tiết về vủ khí hạt nhân theo thỏa thuận. Ngày 26/6/2008, thông qua Trung Quốc, Bắc Triều Tiên đã giao nộp bản tường trình chi tiết các hoạt động hạt nhân của họ cho Hoa Kỳ như đã thỏa thuận.
Và, hôm sau ngày 27/6/2008, trước sự chứng kiến của 5 nước Mỹ, Nga, Hoa, Nhật, và Nam Hàn và giới truyền thông, Bắc Hàn đã cho nổ tung lò phản ứng hạt nhân Yongbyon. Ngày 11/10/2008, Hoa Kỳ đưa Bắc Triên Tiên ra khỏi danh sách các nước bảo trợ khủng bố. Trong tháng 4-5/2009, Bắc Triều Tiên đình hoản cuộc đàm phán 6 bên, và trục xuất các thanh tra viên quốc tế đang làm nhiệm vụ tại đây. Ngày 12/6, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc gia hạn lệnh cấm vận lên Bắc Triều Tiên.
Căng thẳng giữa hai miền Bắc-Nam Triều Tiên gia tăng sau ngày 26/3/2010, khi chiếc tàu chiến mang tên Cheonan của Nam Triều Tiên bị chìm làm chết 46/104 thủy thủ trên tàu. Một cuộc điều tra có cả chuyên viên quốc tế ngày 20/5 kết luận tàu Cheonan bị chìm bởi tàu ngầm Bắc Triều Tiên tấn công. Hai cuộc thăm viếng của hai cựu Tổng thống Hoa Kỳ là Bill Clinton hồi tháng 8/2009, và Jimmy Carter tháng 8/2010 thành công tốt đẹp, là nhiều người Mỹ bị cầm tù đã được Bắc Triều Tiên phóng thích.
Trong tháng 10/2010, Kim Jong-il đã chọn con trai út, Kim Jong-un là người sẽ kế vị. Kim Jong-un sinh 1982, có một bằng vật lý tại Đại học Kim Nhật Thành và một bằng sĩ quan quân đội tại Đại học quân sự Kim Nhật Thành. Ngày 17/12/2011, Kim Jong-il chết, Kim Jong-un lên kế vị, tức thời Kim Jong-un được truyền hình nhà nước Triều Tiên tuyên bố là "Người kế vị vĩ đại". Ngày 18 tháng 7 năm 2012, Kim được thăng cấp Thống chế Triều Tiên, là Tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang, được truyền thông nhà nước gọi là Nguyên soái Kim Jong-un, hoặc "Thống chế", "lãnh đạo kính yêu".
Để cũng cố quyền lực, và răn đe thuộc cấp, tháng 12/2013, Kim Jong-un ra lệnh hành quyết Jang Song Thaek là một trong những chính trị gia tiêu biểu nhất của Bắc Triều Tiên, và cũng là chú dượng của Kim Jong-un. Kim Jong-un còn bị nghi ngờ đã ra lệnh ám sát người anh em cùng cha khác mẹ của mình, Kim jong-nam tại Malaysia vào tháng 2 năm 2017. Dù có mối quan hệ căng thẳng với Hàn Quốc, Triều Tiên đã đồng ý tham gia Thế vận hội mùa đông 2018 ở Pyeongchang. Sau Thế vận hội, Kim Jong-un và Tổng thống Moon Jae-in đã tiến hành hội nghị thượng đỉnh liên Triều tháng 4 năm 2018.
Đây là lần đầu tiên kể từ khi kết thúc Chiến tranh Triều Tiên năm 1953. Trong hai năm 2018 và 2019, Kim Jong-un và Tổng thống Mỹ Donald Trump đã gặp nhau ở các hội nghị thượng đỉnh năm 2018 Triều Tiên- Hoa Kỳ tại Singapore và hội nghị thượng đỉnh năm 2018 Triều Tiên- Hoa Kỳ tại Việt Nam để thảo luận về Chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên.
Sydney ngày 30 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 1.342 chữ)
Bài 194: CHUYỆN KỂ VỀ CHIẾN TRANH CỘNG SẢN-QUỐC GIA TẠI TRIỀU TIÊN: 1950-1953.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 25/6/50, Bắc Triều Tiên cáo buộc Hàn Quốc vi phạm, Chính phủ Cộng sản Bắc Cao Ly cho quân đội vượt qua Vỉ tuyến 38 xâm lăng Nam Cao Ly. Ngày 26/6/50, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhóm họp cấp tốc theo yêu cầu của Hoa Kỳ. Ngày 27/6/50, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc (vắng mặt Nga vì Nga tẩy chay LHQ) quyết định trừng phạt Bắc Cao về kinh tế và quân sự. Ngày 27/6/50, Hán Thành thất thủ lần thứ nhất, toàn bộ Chính phủ và quân đội Nam Cao Ly của Lý Thừa Vãn chạy về Pusan ở miền Nam.
Cùng ngày 27/6, Tổng thống Truman ra lệnh cho Không quân và Hải quân tiếp cứu Nam Cao Ly. Ngày 1/7/50, Tổng thống Truman cho phép Lục quân Mỹ, can thiệp chiến đấu cùng quân đội Nam Cao. Ngày 7/7/50, Hội Đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ủy cho Hoa Kỳ đề cử Tổng Tư lệnh quân đội Liên Hiệp Quốc tại Cao Ly. Mỹ cử tướng Mac Arthur Tổng Tư lệnh tại Thái Bình Dương kiêm nhiệm Tổng Tư lệnh quân đội Liên Hiệp Quốc. Ngày 25/7/50, tới nay chỉ có 3 nước Anh, Mỹ, Thổ gởi quân sang Cao Ly.
Đến ngày 11/8/50, chính quyền Nam Cao và Liên Hiệp Quốc chỉ còn lại “một phần đất phía Đông Nam”. Nhưng không quân Hoa Kỳ oanh tạc rất dữ dội. Ngày 12/9/50, tướng Mac Arthur cho quân đổ bộ xuống Inchon, Bắc Cao Ly, và tổng phản công trên khắp các mặt trận. Ngày 19/9/50, Hoa Kỳ tái chiếm Hán Thành. Ngày 28/9/50, sợ bị cắt đường tiếp tế, quân Bắc Cao dồn dập chạy về phía Bắc. Ngày 29/9/50, tướng Mac Arthur đưa Chính phủ Lý Thừa Vãn trở lại Hán Thành. Cùng ngày quân Liên Hiệp Quốc vượt qua Vỹ tuyến 38 truy kích quân Bắc Cao Ly.
Ngày 20/10/50, Bình Nhưỡng Thủ đô Bắc Cao Ly bị quân đội Liên Hiệp Quốc chiếm đóng. Ngày 23/10/50, Quân Liên Hiệp Quốc tiến mạnh về phía Bắc cách biên giới Trung Cộng 85 cây số. Ngày 26/10/50, Bắc Cao Ly tuyên bố bảo vệ đến cùng các nhà máy thủy điện trên sông Yalu. Ngày 26/10/50, hơn 20.000 quân Trung Cộng tràn sang Bắc Cao. Ngày 1/11/50, Quân Bắc Cao Ly phản công tái chiếm Bình Nhưởng, nhiều trận ác chiến khốc liệt giữa quân Mỹ và Bắc quân. Quân Liên Hiệp Quốc phải ngưng tiến.
Ngày 3/11/50, tướng Mac Arthur báo cho Liên Hiệp Quốc rằng, có 56 Sư đoàn Trung Cộng với 868.000 quân đang tập hợp ở Mãn Châu. Ngày 6/11/50, tướng Mac Arthur tuyên bố, quân Trung Cộng đã tràn sang Cao Ly, rồi ra lệnh cho quân Liên Hiệp Quốc tiến về sông Yalu, biên giới Trung Cộng. Ngày 24/11/50, quân Trung Cộng phản công phá vỡ tận tuyến tại Bắc Cao Ly, quân Liên Hiệp Quốc phải rút xuống dưới Vỹ tuyễn 38. Ngày 27/11/50, tướng Lâm Bưu nói, quân Trung Cộng tấn công mạnh vào Lộ quân III và IV của Hoa Kỳ làm 12.975 quân Mỹ vừa chết, bị thương và bị bắt.
Ngày 18/12/50, quân đội Liên Hiệp Quốc tại Cao Ly rút khỏi Bắc Cao. Ngày 25/12/50, Hán Thành thất thủ lần thứ hai, dân chúng phải tản cư lần nữa. Ngày 1/1/51. quân Trung Cộng tấn công rất mạnh ở gần vỹ tuyến 38. Ngày 8/1/51, quân Liên Hiệp Quốc triệt thoái mãi ở Cao Ly về cách Hán Thành 50 cây số về phía Nam. Ngày 13/1/51, Liên Hiệp Quốc bàn về đình chiến ở Cao Ly. Ngày 17/1/51, Trung Cộng bác bỏ đề nghị điều đình của Liên Hiệp Quốc, và đòi quân Liên Hiệp Quốc rút khỏi Cao Ly, để mặc dân Cao Ly tự quyết.
Ngày 27/1/51, Hoa Kỳ yêu cầu Liên Hiệp Quốc lên án Trung Cộng xâm lăng Cao Ly, nhưng hôm nay, ngày 30/1/51, Liên Hiệp Quốc biểu quyết lên án Trung Cộng một cách nhẹ nhàng thôi. Ngày 3/2/51, quân Mỹ phản công thắng lợi tiến tới gần sông Hàn và Hán Thành. Ngày 13/2/51, tướng Mac Arthur đòi vượt qua sông Yalu đánh sang Mãn Châu. Ngày 19/2/51, quân Liên Hiệp Quốc tái chiếm Hán Thành. Ngày 23/2/51, Anh, Pháp Mỹ gởi công hàm cho Trung Cộng đề nghị mở các cuộc đàm phán về Cao Ly.
Ngày 6/3/51, quân Liên Hiệp Quốc tiến mạnh về phía Bắc Cao Ly. Ngày 14/3/51, quân Liên Hiệp Quốc tái chiếm nhiều địa điểm gần vĩ tuyến 38. Ngày 21/3/51, tái chiếm thành phố Chun-Chon. Ngày 5/4/51, tướng Mac Arthur tuyên bố có 630.000 quân Trung Cộng gần biên giới Bắc Cao Ly, và phàn nàn bị các nhà chính trị bó tay không cho oanh tạc. Ngày 10/4/51, dư luận ở Liên Hiệp Quốc và ở Âu Mỹ sôi nổi vê lời tuyên bố của Mac Arthur. Ngày 11/4/51, tướng Mac Arthur bị Tổng thống Truman cất chức Tổng tư lệnh tại Cao Ly.
Tướng Ridway được cử thay Mac Arthur. Ngày 14/4/51, Trung Cộng vẫn mạt sát Mỹ và Liên Hiệp Quốc. Ngày 18/4/51, hôm nay Liên Hiệp Quốc mới trừng phạt Trung Cộng về Kinh tế. Ngày 22/4/51, quân Trung Cộng tấn công rất mạnh và tiến về Hán Thành. Ngày 27/4/51, Hán Thành thất thủ lần nữa. Đây là lần thứ ba Hán Thành rơi vào tay Bắc quân. Chánh phủ Lý Thừa Vãn lại dời về Fusan. Hơn 6.000 đại bác bị phá trên các mặt trận.
Sydney ngày 31 tháng 3 năm 2023
(Bài viết có 958 chữ)
Bài 195: CHUYỆN KỂ VỀ CHIẾN TRANH CỘNG SẢN-QUỐC GIA TẠI TRIỀU TIÊN (tiếp theo).
Lê Xuân Đỗ
Ngày 14/5/51, Liên Hiệp Quốc biểu quyết cấm xuất cảng các khí giới, vật liệu và dụng cụ quân sự sang Trung Cộng. Ngày 16/5/51, quân Trung Công và Bắc Cao Ly mở cuộc tấn công rất mạnh, nhưng bị hỏa lực của quân liên Hiệp Quốc chặn đứng. Ngày 27/5/51, quân Liên Hiệp Quốc tái chiếm Thị trấn Ịnje. Ngày 11/6/51, tái chiếm vài Thị trấn ở bên trên Vỹ tuyến 38 phần đất Bắc Cao Ly. Ngày 23/6/51, Malik đại biểu Liên xô tuyên bố tại Liên Hiệp Quốc, hai bên đối phương ở Cao Ly nên mở cuộc đàm phán, đình chiến và rút quân.
Ngày 29/6/51, tướng Ridway Tổng Tư lệnh quân Liên Hiệp Quốc, gởi thông điệp mời các Tổng Tư lệnh Trung Cộng và Bắc Cao Ly tới họp tại cảng Wonsen trên một chiếc tàu của Đan Mạch. Ngày 1/7/51, Tổng Tư lệnh Trung Cộng và Bắc Cao Ly nhận lời tới họp ngày 10/7/51, tại Thành phố Keason nguyên Thủ đô Bắc Cao Ly. Ngày 26/7/51, sau nhiều lần họp, ngưng họp, họp lại, các Phái đoàn Quân sự Trung Cộng, Bắc Cao Ly, và Liên Hiệp Quốc đạt tới một thỏa hiệp về một số điều khoản.
Ngày 10/8/51, Hội nghị Keason ngừng họp, vì Bắc Cao đòi triệt thoái hết quân LHQ khỏi vĩ tuyến 38, nhưng LHQ đòi đóng nguyên tại chỗ như hiện nay. Ngày 29/11/51, Hội nghị Bàn Môn Điếm (cách Keason 10 cây số) vẫn bàn về các thủ tục và chi tiết. Ngày 17/2/52, Hội nghị Bàn Môn Điếm đã đạt được Thỏa hiệp “3 tháng sau khi đình chiến phải họp Hội nghị Chính trị Nam-Bắc Cao Ly”. Các mặt trận tạm yên. Ngày 10/3/52, tại Bàn Môn Điếm Trung Cộng tố cáo Mỹ dùng vũ khí có vi trùng.
Ngày 7/5/52, tướng Clark được bổ làm Tổng Tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Quốc tại Cao Ly thay tướng Ridway. Ngày 23/6/52, có tới 500 phóng pháo Hoa Kỳ ném xuống các nhà máy Thủy điện bên sông Yalu. Có dư luận Quốc tế rằng Mỹ không đồng ý với Anh trong cuộc Nghị hòa ở Cao Ly. Ngày 11/7/52, có hơn 650 phóng pháo cơ oanh tạc Bình Nhưỡng Thủ đô Bắc Cao Ly. Ngày 13/7/52, Chu Ân Lai phản kháng Mỹ vụ oanh tạc Bình Nhưỡng. Ngày 14/7/52, tướng Mỹ Lawton Collins tuyên bố tại Tokyo rằng còn phải đánh dữ hơn nữa cho tới khi nào Cộng sản chịu điều đình thật sự.
Ngày 17/7/52, Đô đốc Fechtler Tư lệnh Hạm đội 7 tuyên bố chỉ chờ lệnh tướng Clark để tấn công Mãn Châu. Ngày 28/9/52, từ hai tháng nay Hội nghị Bàn Môn Điếm bế tắc, Mỹ đưa đề nghị mới “tù binh có quyền trở về Bắc hay Nam Cao Ly. Ngày 8/10/52, quân Trung Cộng và Bắc Cao Ly tấn công mạnh trên khắp các mặt trận. Ngày 29/11/52, tại Cao Ly, Trung Cộng và Nga Xô bác bỏ đề nghị của Hoa Kỳ về số phận các tù binh. Cộng sản đòi “tù bình bắt buộc phải trở về nguyên xứ, không thể tự do lựa chọn cư trú sau khi phóng thích.
Dư luận chung trên báo chí Âu Mỹ, rằng Nga và Trung Cộng muốn kéo dài chờ xem chính sách của chính phủ mới ở Mỹ ra sao đã. Ngày 5/3/53, tại Nga, Joseph Staline đứt mạch máu đầu tử 1/3 hôm nay tắt thở thọ 73 tuổi. Ngày 7/3/53, Georges Malenkov, được cử làm Thủ tướng kiêm Đệ nhất Bí thư đảng Cộng sản Nga. Ngày 14/3/53, Kroutchev được cử làm Bí thư thứ nhất đảng thay Malenkov. Ngày 20/5/53, Hội nghị Bàn Môn Điếm, gặp khó khăn vì 48.000 tù binh không muốn trở về xứ củ Bắc Cao Ly. Cuối cùng, hai bên đạt tới thỏa thuận “Số tù binh đó sẽ được giao cho một Quốc gia Trung lập trông nom, và liệu sau.
Ngày 4/6/53, Hội nghị Bàn Môn Điếm giải quyết xong vấn đề tù binh “ai không muốn về xứ củ thì được giao cho một Ủy ban gồm 5 Quốc gia Trung lập”. Ngày 17/6/53, Tổng thống Lý Thừa Vãn đột nhiên thả 27.000 tù binh Bắc Cao Ly với dụng ý phá vỡ cuộc thỏa hiệp với Cộng sản ở Bàn Môn Điếm. Ngày 14/7/53, đêm qua sau khi Lý Thừa Vãn tuyên bố sẽ không công nhận đình chiến, quân Trung Cộng và Bắc Cao tấn công rất mạnh vào 4 Sư đoàn quân Nam Cao. Ngày 16/7/53, quân Liên Hiệp Quốc phản công thắng lợi ở Cao Ly.
Ngày 22/7/53, Bộ Ngoại giao Mỹ cam đoan với Trung Cộng và Bắc Cao Ly rằng “Nam Cao Ly sẽ tôn trọng Hiệp ước đình chiến”. Ngày 27/7/53, ký kết Hiệp ước đình chiến ở Bàn Môn Điếm, ấn định: “Một vùng Phi quân sự 2 cây số bên nầy và bên kia vĩ tuyến 38; Thành lâp một Ủy ban Kiểm soát đình chiến; Ấn Độ sẽ quản trị những tù binh không muốn trở về xứ củ; Trong vòng 3 tháng sẽ nhóm họp Hội nghị Chính trị để định việc rút quân ngoại quốc ra khỏi Cao Ly, và “bàn việc thống nhất Nam-Bắc”.
Sydney ngày 1 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 914 chữ)
Bài 196: CHUYỆN KỂ VỀ VÀI SỰ KHÁC BIỆT GIỮA BẮC TRIỀU TIÊN VÀ NAM HÀN.
Lê Xuân Đỗ
Hiến pháp Nam Hàn năm 1988, quy định Tổng thống là nguyên thủ Quốc gia, do dân bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống chỉ định Thủ tướng với sự đồng ý của Quốc hội. Quốc hội có nhiệm kỳ 4 năm gồm 299 đại biểu gồm: dân bầu trực tiếp trong các khu vực bầu cử 243, và 56 đại biểu dành riêng cho các đảng phái theo tỷ lệ quy định. Tu chỉnh Hiến pháp Bắc Hàn năm 1992, xóa bỏ cụm từ dựa vào chủ nghĩa Mác-Lenin, nhưng vẫn duy trì chính quyền Cộng sản gồm một Ủy ban Nhân dân Trung ương cai trị đất nước dưới danh nghĩa Hội đồng quản lý.
Kim Nhật Thành Chủ tịch nước và Nguyên thủ quốc gia là người nắm mọi quyền hành cai trị Bắc Hàn từ năm 1948 cho đến khi qua đời 1994. Con trai ông ta là Kim Jong-il kế vị từ năm 1994 đến ngày 17/12/2011, khi Kim Jong-il chết, con trai út ông ta là Kim Jong-un kế vị. Như vậy, từ năm 1948, mọi chức vụ quan trọng và quyền hành tại Bắc Triều Tiên đều do gia đình họ Kim nắm giữ: Kim Nhật Thành, rồi con trai ông ta Kim Jong-il. Và, cháu trai ông ta Kim Jong-un từ 2011 cho đến nay…
Trong khi đó, tại Nam Hàn cũng từ năm 1948 đến nay trải qua 11 vị nguyên thủ quốc gia, tức 11 tổng thống Hàn Quốc có 1 người bị ám sát, 1 người tự sát do bị điều tra, 1 người bị đảo chính phải chạy ra nước ngoài tị nạn, 4 người khác bị bắt giam do các tội danh liên quan đến tham nhũng, hối lộ. Những vụ bê bối liên quan đến giới chính trị hay lãnh đạo các doanh nghiệp kinh tế lớn là vấn nạn gây nhức nhối tại quốc gia này. Dù vậy, Hàn Quốc được xem là trung cường quốc và nước phát triển có GDP lớn thứ 10, đứng hạng 17 về chỉ số tiến bộ xã hội, và là nhóm dẫn đầu về chỉ số dân chủ.
Hiến pháp Bắc Hàn năm 2019, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là một nhà nước xã hội chủ nghĩa “kiểu mới” kiêm "nhà nước Cách Mạng", lấy tư tưởng Kim Nhật Thành cùng tư tưởng Kim Jong-il thay thế cho chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin từng là những hệ tư tưởng chỉ đạo cho mọi hoạt động của đất nước và Đảng Lao động Triều Tiên. Hiến pháp mới cũng đề cập đến sự thống nhất ý thức hệ và chính trị của nhân dân trong Liên minh Công Nông, thiết lập chuyên chính dân chủ nhân dân với mục tiêu cao nhất - theo nước này; là "tái thống nhất dân tộc Triều Tiên".
Bắc Triều Tiên hiện đang là xã hội tự cô lập, khép kín, tách biệt, sùng bái lãnh tụ và quân sự hoá nhất trên thế giới - với tổng số 9.495.000 quân chính quy cũng như dự bị cùng nhân viên bán quân sự. Quân đội thường trực là 1,21 triệu người - lớn thứ 4 trên thế giới, sau Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ (thống kê năm 2007). Bắc Triều Tiên cũng được cho là đã chế tạo thành công vũ khí hạt nhân và có một chương trình không gian với trình độ đáng kể, vốn đã thành công trong việc đưa vệ tinh lên vũ trụ. Tuy nhiên hiện nay, quốc gia này vẫn đang phải đối mặt với rất những thách thức nghiêm trọng.
Chẳng hạn, tỷ lệ nghèo và suy dinh dưởng do tình trạng thiếu hụt lương thực - thực phẩm hàng năm, các lệnh trừng phạt, cấm vận kinh tế quy mô quốc tế liên quan đến chương trình tên lửa, bị phương Tây đánh giá kém trong vấn đề nhân quyền, nạn tham nhũng trong giới lãnh đạo cùng làn sóng người đào tẩu khỏi đất nước xuống phía Nam. Bắc Triều Tiên không có các hoạt động thương mại quốc tế chính thức do bị cấm vận, gần như chỉ giao thương bán chính thức hoặc không công khai với số ít quốc gia "đồng minh" như Trung Quốc, Iran, Nga,...
Ngày nay, do sự tách biệt, cô lập, khép kín cũng như thiếu thông tin, Bắc Triều Tiên đôi khi được gọi là "quốc gia bí ẩn nhất thế giới". Nước này hạn chế và kiểm soát chặt chẽ đến mức tối đa các hoạt động truyền thông đại chúng, đời sống xã hội, du lịch, truy cập vào mạng Internet hay việc đi lại, liên lạc, xuất - nhập cảnh,... Duy trì nhiều quy định, điều luật, hình phạt nghiêm khắc, kỳ lạ. Bắc Triều Tiên cũng là mục tiêu của sự thiếu thiện chí đến từ các cơ quan, tổ chức truyền thông của Hàn Quốc, Hoa Kỳ cùng một số quốc gia phương Tây khác.
Theo sách Niên giám và Sự kiện Thế giới 2015 (The World Almanac and Book of Facts) USA by Primidia Reference Inc, Bắc Triều Tiên có diện tích đất 120.538 km2, và 24,8 triệu cư dân; Tổng sản lượng quốc gia 40,0 tỷ USD; Thu nhập bình quân đầu người 1.800 USD; Nhập khẩu 4,8 tỷ, và Xuất khẩu 4,0 tỷ. Còn Nam Triều Tiên có diện tích đất chỉ bằng 82,7% (99.720 km2), và dân số gần gấp đôi (49,0 triệu). Nhưng tổng sản lượng quốc gia Nam Triều Tiên nhiều hơn tới 42,5 lần (1.700,0 tỷ), thu nhập người dân Nam Triều Tiên gấp 17,8 lần (32.200 USD). Nhập khẩu nhiều hơn 107,6 lần (516,6 tỷ); và xuất khẩu gấp 139,3 lần (557,3 tỷ), so với Bắc Triều Tiên.
Và, cũng Sách Niên giám và Sự kiện Thế giới 2023 (The World Almanac and Book of Facts) USA by Primidia Reference Inc thì Bắc Triều Tiên có diện tích đất 120.408 km2 (thứ 97); Và 25.955.138 cư dân (đứng hàng thứ 55); Tổng sản lượng quốc gia: không có số liệu; Thu nhập bình quân đầu người: không có số liệu; Nhập khẩu (2018): 2,3 tỷ USD; Xuất khẩu: 222 triệu USD so với Nam Triều Tiên có diện tích đất 99.720 km2 (thứ 107): Và, 51.844.834 cư dân (thứ 28); Nhưng tổng sản lượng quốc gia của Nam Triều Tiên: 2.400 tỷ USD; Thu nhập bình quân đầu người: 46.918 USD; Nhập khẩu Nam Triều Tiên 541 tỷ USD; Xuất khẩu: 606,7 tỷ USD.
Sydney ngày 2 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.127 chữ)
Bài 197: CHUYỆN KỂ VỀ TRUNG QUỐC QUỐC GIA THỨ BA TỪNG PHÂN RANH QUỐC- CỘNG
Lê Xuân Đỗ
Trung Quốc là cái nôi thứ tư của Văn minh nhân loại. Khoảng năm 1700 TCN, triều đại nhà Thương (Shang) của Trung Quốc xuất hiện ở lưu vực sông Hòang Hồ. Một số lớn chữ viết được in khắc trên xương động vật và mai rùa gọi là "xương thờ" (oracle bones) từ triều đại này còn tồn tại. Người ta sử dụng "xương thờ" trong các lễ lạc tôn giáo, như một sự giải đoán về tương lai. Chẳng hạn, một câu hỏi viết ra trên "xương thờ", hỏi một vấn đề gì đó, bằng cách dùi các lỗ nhỏ, hoặc khoét rảnh trên xương. Sau đó, xương được hơ nóng cho đến khi vết nứt hiện ra từ lỗ, hoặc rảnh ấy.
Nghiên cứu hình dáng của vết nứt, một thầy cúng (priest) nhận ra, biết được điều gì sắp đến, và trả lời cho người đặt câu hỏi. Hàng ngàn xương thờ tìm thấy tại đây, cung cấp nhiều thông tin liên quan đến người Trung Quốc cổ đại đã sống như thế nào. Xương thờ ghi nhận các sự kiện thiên văn về nhật thực, nguyệt thực, các triều đại như tên, và ngày của người cai trị. Hệ thống chữ viết dưới triều nhà Thương có hơn 3000 ký hiệu. Một số ký hiệu chữ trên xương thờ, được sử dụng trong ngôn ngữ Trung Quốc ngày nay.
Dấu vết còn lại trong các thành phố dưới triều đại nhà Thương, hầu hết nhà cửa làm bằng đất bùn, và gỗ nên đã vở vụn theo thời gian. Tuy nhiên, từ những vật chứng còn sót lại, và những mảnh vụn, cũng chỉ cho người ta biết có một số thành phố lớn với tường bọc quanh được xây dựng trong thời kỳ này. Người Trung Quốc dưới thời Thương khéo tay. Họ vẽ vào cốc chén các hình vẽ tuyệt đẹp, khắc chạm trên đá hoa cương, các đường nét chạm trỗ có giá trị nghệ thụât cao. Họ thờ nhiều thần, và có sự ràng buộc lớn lao với họ hàng, thân tộc.
Họ thờ cúng thần linh, và linh hồn người chết là tổ tiên họ. Họ tin tưởng rằng, tổ tiên có thể thay mặt họ cầu xin các thần linh ban phước lành cho họ. Người Trung Quốc được cai trị bởi một ông vua, chức vua được kế thừa bởi giai cấp quý tộc. Vua, và giai cấp quý tộc thực hiện các nghi lễ tôn giáo, cùng với nhiệm vụ chính trị. Trong các nghi thức tôn giáo quan trọng, vua là người duy nhất đứng ở cương vị chủ bái. Tổ chức quân đội dưới triều đại nhà Thương khoảng 5000 người, tự sản xuất khí giới trang bị, và ngựa được sử dụng trong các trận chiến. Triều đại nhà Thương tồn tại khoảng 600 năm.
Khoảng năm 1122 TCN, nhà Chu (Zhou) lật đổ nhà Thương lập ra vương triều Chu, cai trị Trung Quốc cho đến 256 TCN. Gần 1000 năm ở ngai vàng, các vua Chu ra sức truyền bá tư tưởng, rằng họ được Thượng đế (Heaven) chỉ định vào việc cai trị thần dân. Tất cả các triều đại sau nầy đều kế thừa tư tưởng đó. Buổi đầu nhà Chu trực tiếp kiểm soát phần phía bắc Trung Quốc. Các phần còn lại quanh vùng vẫn duy trì tình trạng tự trị của họ. Các lãnh chúa tự trị ngày càng lớn mạnh, và quyền lực của nhà vua thì yếu dần.
Năm 771 TCN, vua Chu bị buộc phải từ bỏ Thủ đô Xi’an chuyển về phía Đông là Luoyang. Từ đó, Trung Quốc lâm vào cảnh chiến tranh giữa các lãnh chúa kéo dài nhiều trăm năm, khiến đời sống cư dân lâm vào cảnh khốn cùng, xã hội thì rối loạn, nay còn mai mất. Nổ lực cho một trật tự xã hội phục hồi, dẫn đến nhiều khuynh hướng triết học xuất hiện. Một trong số đó là nhà hiền triết Khổng Tử (Confucius) Triết học Khổng Tử nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo đức truyền thống, cùng với việc duy trì trật tự xã hội, trong đó mỗi người phải thực hiện các nghĩa vụ trong phạm vi đời sống của mình.
Ông nói, người quân tử (gentlement) là mẫu người mà xã hội mong muốn có. Ông định nghĩa “người quân tử không phải là người được sinh ra trong gia đình quý tộc, mà là một người có phẩm chất đạo đức tốt, một người biết tôn thờ người đã khuất, tôn kính cha mẹ, và tôn trọng người cai trị mình”. Đó là một con người tự tin, thực hiện đúng nguyên tắc trong quan hệ xử sự cả lời nói lẫn việc làm, rằng "điều gì mình không muốn làm cho chính mình, thì mình đừng làm cho người khác". Người quân tử là một người luôn học hỏi, thực hiện điều đã học, và tự mình đánh giá việc đã qua để cải tiến.
Khổng tử sinh năm 551 và chết năm 479 TCN. Lúc sinh thời học thuyết của ông không được phổ biến rộng rãi. Nhưng từ năm 200 TCN cho đến những năm 1900 SCN, học thuyết của ông được xem như là học thuyết duy nhất, giữ vai trò quan trọng trong đời sống của người Trung Quốc. Ảnh hưởng của thuyết Khổng Tử cả trong giáo dục, chính quyền, và thái độ hướng tới cái đúng trong quan hệ sử sự.
Sydney ngày 3 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 959 chữ)
Bài 198: CHUYỆN KỂ VỀ TRUNG QUỐC THỜI NHÀ TẦN, HÁN, ĐƯỜNG, TỐNG VÀ NGUYÊN.
Lê Xuân Đỗ
Hậu quả việc tranh giành quyền bính, đất đai của các Lãnh chúa Phong kiến, khiến vương triều Chu đi từ yếu dần đến sụp đổ. Và vương triều Tần (Ch' in) thay thế. Từ phía Bắc Trung Quốc, nhà Tần đánh chiếm tất cả các phần còn lại của Trung Quốc. Vương triều Tần là vương triều đầu tiên thống nhất được Trung Quốc, và cai trị bằng một chế độ Trung ương tập quyền. Tên Trung Quốc ngày nay là tên của triều đại nhà "Tần” (Ch'in). Vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nầy là Tần Thủy Hoàng (Shi huang di). Triều Tần cai trị Trung Quốc chưa tới 20 năm, nhưng có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn minh Trung Quốc.
Ngoài việc thống nhất Trung Quốc lập ra chế độ Trung ương tập quyền mạnh, họ còn hệ thống hoá chữ viết Trung Quốc, tiêu chuẩn hoá việc cân đo, đong, đếm, xây dựng hệ thống tưới tiêu ruộng đồng. “Vạn lý trường thành”, di tích văn hoá nổi tiếng của thế giới cũng là kỳ công của vương triều Tần trong một nổ lực bảo vệ vương quốc từ sự xâm lăng của các bộ tộc du mục phía Bắc. Triều Tần bắt đầu nắm quyền lực năm 221 và chỉ kéo dài tới năm 206 TCN.
Vương triều kế tiếp là nhà Hán, cai trị Trung Quốc từ năm 207 TCN đến năm 220 SCN. Các vị Hoàng đế của nhà Hán đều xem học thuyết Khổng Tử như nền tảng để tổ chức chính quyền. Ứng viên dự tranh vào các chức vụ trong chính quyền phải trải qua một kỳ thi khảo nghiệm, trên cơ sở tư tưởng Khổng Tử. Nghệ thuật, giáo dục, và khoa học phát triển mạnh dưới triều Hán. Năm 01 SCN Trung Quốc sáng tạo ra giấy viết. Những năm 100 SCN, đạo Phật từ Ấn Độ được giới thiệu vào Trung Quốc. Nhà Hán mở rộng lãnh thổ về phía tây và phía nam chiếm Tibet, bán đảo Đông Dương và Đại Hàn.
Do tranh chấp quyền bính giữa các người lãnh đạo nhà Hán, dẫn đến việc triều đại sụp đổ năm 220 SCN. Bốn trăm năm tiếp đó, Trung Quốc lại bị chia cắt thành các khu vực tự trị kéo dài. Từ năm 500 đến 1500, văn minh Trung Quốc với thế giới bên ngoài vẫn chưa có được một sự giao tiếp nào. Du khách từ ngoài không tìm thấy con đường nào tới được Trung Quốc, cả bằng đường bộ lẫn đường biển. Sự cô lập với thế giới bên ngoài, khiến xã hội Trung Quốc tự thích nghi ít giao động, nếu không muốn nói là vững chắc.
Suốt triều đại nhà Đường (T’ang: 618 - 909), rồi triều đại nhà Tống (Sung: 960 - 1279), Trung Quốc hài lòng về sự thịnh vượng lớn lao, và các thành tựu về văn hoá. Học thuyết Khổng Tử được sử dụng vào việc thi cử, tuyển chọn công chức từ đầu triều Hán (202 TCN), nay được áp dụng phổ biến hơn. Ứng viên trúng tuyển vào làm công chức nhà nước, do vậy thường chia sẽ niềm tin, lòng tôn kính, và cung cách xử sự "lễ nghĩa" truyền thống. Các thành phố, và thị trấn phát triển nhanh từ những năm 600 đến những năm 1200.
Trong thời cai trị của nhà Đường, và nhà Tống thủ đô đặt tại Ch'ang-an (nay là Sian) với hơn 1 triệu cư dân. Các Hoàng đế Đường và Tống tiếp tục mở rộng hệ thống kênh đào từ đầu những năm 600, nối liền vùng trồng lúa ở lưu vực sông Yangtze với vùng đồng bằng rộng lớn phía Bắc. Dưới triều Đường, Trung Quốc sáng tạo ra chữ viết hình khối. Dưới triều Tống, Trung Quốc sáng tạo ra súng đạn, địa bàn, quy trình vận hành sử dụng cho việc in ấn. Văn học, lịch sử, triết học, thăng tiến dưới 2 triều đại Đường và Tống.
Trong những năm 1200, từ phía Bắc quân thiện chiến Mông Cổ từng bước lấn chiếm đến năm 1274, thì toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc rơi vào tay Mông Cổ. Kublai Khan, người cầm đầu đạo quân xâm lược lập ra Vương triều Nguyên (Yuan) cai trị trực tiếp Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc có một chính quyền thống nhất kể từ sau Đại đế Tần Thuỷ Hoàng. Kublai Khan khuyến khích trao đổi thương mại, văn hoá với những người có nền văn hoá khác nhau. Các thương nhân, và khách du lịch Châu Âu được đến buôn bán, thăm viếng Trung Quốc.
Họ trở thành một mối lợi cho Trung Quốc bởi vì, ngoài việc trao đổi hàng hoá, họ còn mang đến cho Trung Quốc các thông tin về sự tiến bộ của khoa học, và văn hoá bên ngoài Trung Quốc. Triều đại nhà Nguyên chỉ tồn tại từ năm 1279 đến năm 1368. Giữa những năm 1300 bạo loạn nỗi lên, và cuối cùng người Mông Cổ bị đuổi ra khỏi Trung Quốc. Nhà Minh (Ming) lập ra một vương triều mới cai trị từ năm 1368 cho đến 1644.
Sydney ngày 4 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 911 chữ)
Bài 199: CHUYỆN KỂ VỀ TRUNG QUỐC DƯỚI THỜI NHÀ MINH VÀ NHÀ THANH (MÃN CHU)
Lê Xuân Đỗ
Vương triều nhà Minh (Ming) nắm quyền lực ở Trung Quốc năm 1368, bắt đầu suy yếu trong những năm 1500. Bạo loạn tại các tỉnh xa xôi làm triều đình lo lắng. Bán đảo Đông Dương, và nhiều vùng phụ thuộc khác vượt khỏi tầm kiểm soát. Hoàng đế nhà Minh nhìn xem tất cả sự kiện, rồi chỉ ra rằng các nhà buôn Châu Âu có thể đến những vùng ít quan trọng. Triều đình cho phép người Bồ Đào Nha lập vùng định cư thường trực ở Ma Cao, phía bờ đông Nam Trung Quốc năm 1557. Sau đó, nhiều người Châu Âu khác, cũng được phép buôn bán tại thành phố cảng Canton.
Năm 1644, vua Minh đề nghị vua Mãn Chu (Manchus) đưa quân vào trợ giúp dẹp các cuộc bạo loạn bên trong nội địa. Thế là, nhà Mãn Chu nhân cơ hội đó xăm lăng Trung Quốc, lập ra vương triều nhà Thanh (Ch’ing). Nhà Thanh cai trị Trung Quốc cho đến năm 1912. Họ rất tôn trọng văn minh Trung Quốc, chỉ thay đổi chút ít trong đời sống cũng như trong chính quyền. Nhà Thanh từng đẩy lùi nhiều cuộc xâm chiếm lãnh thổ của Nga tại lưu vực sông Amur, mở rộng vùng kiểm soát lên Tibet, bán đảo Đông Dương, và nối cả Đại Hàn vào vùng cai trị của họ.
Trong những năm 1700, nhà Thanh hài lòng về sự an bình và thịnh vượng của họ, gia tăng các cuộc tiếp xúc với Châu Âu. Hội truyền giáo Cơ đốc La Mã được đón tiếp tại thủ đô Bắc Kinh (Peking). Nhà Thanh ngưỡng mộ kiến thức, khoa học, kỷ thuật của Châu Âu, nhất là kỷ thuật về bản đồ và chế tạo vũ khí. Nhưng họ không thích, và không muốn bắt chước lối sống Châu Âu. Trong những năm 1800, Trung Quốc chấp thuận cho Anh Quốc buôn bán tại 5 hải cảng của nước này. Hai năm sau việc buôn bán giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng được thực hiện.
Sau các trận đánh nhau kéo dài, gây thương vong không nhỏ cha cả hai bên, ngày 28/8/1842, một hiệp ước đã được ký kết chấm dứt chiến tranh nha phiến giữa Liên hiệp Vương quốc Anh và nhà Thanh của Trung Quốc. Theo đó, nhà Thanh phải bồi thường chiến phí cho Anh, mở 11 cảng và cho truyền đạo tự do. Hương Cảng (Hong Kong) và vùng cửa sông Châu Giang được chuyển giao cho người Anh trong 99 năm và lợi ích của Anh phải được đặt lên hàng đầu nếu Trung Quốc cân nhắc giao thương với bất kỳ quốc gia phương Tây nào khác.
Điều ước chủ yếu gồm: Chuẩn cho người Anh mang quyến thuộc đến cư trú; đặt 5 cảng khẩu mậu dịch: Quảng Châu [Quảng Đông], Phúc Châu [Phúc Kiến], Hạ Môn [Phúc Kiến], Ninh Ba [Chiết Giang], Thượng Hải, thiết lập lãnh sự; cấp nhường Hương Cảng cho người Anh. Bồi thường nha phiến số tiền 600 vạn nguyên, tiền Hàng thương thiếu 300 vạn, tiền binh phí 1.200 vạn, tổng cộng 2.100 vạn nguyên; giao trước 600 vạn nguyên, số còn lại giao xong trong 4 năm; trả người Anh bị bắt, khoan miễn cho người Trung Quốc từng giao dịch làm việc với Anh.
Những hàng xuất khẩu đánh thuế một cách công bình; hàng hóa của nước Anh nhập khẩu theo lệ nạp thuế xong, thương nhân Trung Quốc vận chuyển không phải chịu thêm thuế. Sau khi Trung Quốc hứa thi hành hòa ước, quân Anh sẽ rút ra khỏi sông Trường Giang. Riêng Định Hải [Dinghai, Chiết Giang], đảo Cổ Lãng [Gulang, Phúc Kiến], thì đợi sau khi trả xong nợ và mở các cửa khẩu mới rút. Học theo Anh, cả Mỹ và Pháp cũng gây sức ép để Trung Quốc phải ký những hiệp ước bất bình đẳng có một số nội dung tương tự.
Cuộc chiến này được sử sách xem là bắt đầu của “Bách niên quốc sỉ” tức là 100 năm đất nước Trung Quốc bị sỉ nhục và xâu xé bởi ngoại quốc. Khẩu hiệu “Vật vong quốc sỉ” (Đừng quên quốc sỉ) xuất hiện đầu thế kỷ XX và nhanh chóng trở thành chủ đề chính cho các cuộc vận động dân tộc chủ nghĩa tại Trung Quốc. Khẩu hiệu được đưa vào các sách giáo khoa lịch sử nhằm giáo dục các thế hệ sau không được quên đi nỗi nhục mà tổ tông phải gánh chịu và mỗi người Trung Quốc phải biết nỗ lực phấn đấu xây dựng đất nước thành cường quốc để xóa đi nỗi nhục đó.
Ngày 1/1/1912, Trung Quốc trở thành một nước Cộng hòa thống nhất sau cuộc khởi nghĩa tại Wuchang bởi bác sĩ Tôn Dật Tiên (Dr.Sun Yat-sen) sáng lập viên đảng Kuomintang (Quốc Dân Đảng), nhưng phải đến năm 1928, dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-shek) đảng Kuomintang mới thành công trong việc thống nhất Trung Quốc trên danh nghĩa. Trung Quốc còn vướng phải nhiều cuộc tranh chấp với Nhật Bản. Do ở thế yếu nên năm 1895, Trung Quốc phải nhường quyền cai trị Triều Tiên, Đài Loan và một số khu vực khác nhau cho Nhật Bản.
Sydney ngày 5 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 925 chữ)
Bài 200: CHUYỆN KỂ VỀ NHẬT BẢN XÂM LĂNG TRUNG QUỐC VÀ VAI TRÒ CỦA TRUNG QUỐC TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ HAI.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 18/9/1931, Nhật Bản xâm lăng các tỉnh Đông bắc (Manchuria) của Trung Quốc, và dựng lên một chính quyền bù nhìn gọi là Manchukuo. Năm 1933, tỉnh biên giới Jehol bị cắt ra khỏi Trung Quốc làm thành một nước đệm. Ngày 7/7/1937 biết được sự mâu thuẫn “Quốc-Cộng” trong nội địa Trung Quốc, Nhật Bản xâm lăng và chiếm toàn bộ phía bắc Trung Quốc. Ngày 20/11/1937, chính quyền Trung Quốc triệt thoái khỏi thủ đô Nam Kinh (Nanjing) đến Trùng Khánh (Chungkinh). Ngày 13/12/1937, quân Nhật tiến chiếm Nam Kinh.
Đầu năm 1938, khi Nhật Bản tiến sâu về phía nam và phía tây, thất bại đối với Trung Quốc dường như không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, người Trung Quốc không nhượng bộ trước các thất bại ở giai đoạn đầu cuộc chiến. Họ cố gắng kháng cự và khiến chiến sự kéo dài vượt xa tính toán của Nhật Bản. Tưởng Giới Thạch dời bộ chỉ huy quân đội về Trùng Khánh, xây dựng căn cứ ở Vân Nam, Tứ Xuyên. Ở khu vực nông thôn, những người lính của đảng Cộng sản Trung Quốc đặc biệt thành công với lối đánh du kích. Thế trận giằng co diễn ra suốt năm 1938.
Ngày 1.9.1939, Đức tấn công Ba Lan, Thế chiến II bùng nổ. Lúc này, Nhật đang cố gắng khuất phục sự kháng cự của Trung Quốc bằng chiến thuật bao vây. Nhiều cảng biển ở Trung Quốc cũng bị phong tỏa. Năm 1940, Pháp thua Đức ở châu Âu, Nhật nhân cơ hội này tấn công khu vực Đông Dương. Tuy nhiên, điều này lại khiến quân Nhật phải dàn mỏng lực lượng ở Trung Quốc và tạo điều kiện cho lực lượng đảng Cộng sản phản công ở Mãn Châu. Cộng sản từng bước lớn mạnh ở khu vực nông thôn (nơi quân Nhật ít để mắt tới).
Viện trợ nước ngoài bắt đầu đổ về Trung Quốc sau khi đà tấn công của Nhật Bản bị đình trệ. Mỹ ký đạo luật “Cho vay – Cho thuê” vũ khí và cung cấp vũ khí cho lực lượng Trung Quốc. Năm 1941, Liên Xô viện trợ vũ khí cho cả lực lượng đảng Cộng sản và Quốc dân đảng. Tháng 8.1941, Mỹ ngừng bán máy bay, dầu mỏ, xăng và kim loại, khiến cho Nhật. Ngày 7.12.1941, Nhật tấn công Trân Châu Cảng. Ngay lập tức, Mỹ tuyên chiến với Nhật và hải chiến ở Thái Bình Dương bùng nổ. Nhân cơ hội này, Trung Quốc tuyên bố tham gia phe Đồng minh cùng chống phát xít.
Tháng 1.1942, Trung Quốc đẩy lui cuộc tấn công quy mô lớn của Nhật vào một thành phố ở tỉnh Hồ Nam. Thắng lợi này giúp Trung Quốc gây được tiếng vang lớn đối với phe Đồng minh. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng gặp bất lợi khi tất cả các cảng chính bị Nhật kiểm soát. Tuyến đường sắt ở Vân Nam và tuyến đường bộ thông với Myanmar của Trung Quốc cũng bị phong tỏa, khiến Trung Quốc chỉ có thể nhận được số lượng nhỏ vũ khí do phe Đồng minh viện trợ bằng đường hàng không.
Để “chia lửa” với Trung Quốc, năm 1942, Washington cử tướng Joseph Stilwell chỉ huy lực lượng Mỹ tấn công Nhật ở Myanmar, Ấn Độ và Trung Quốc. Trong khi tướng Stilwell thúc giục Quốc dân đảng phản công tại một số mặt trận, nhưng lại bị Tưởng Giới Thạch trì hoãn, cho rằng lực lượng của ông chưa đủ sức. Tưởng còn lo ngại Stilwell sẽ gây sức ép lên quyền lực của ông ta khiến quan hệ giữa Quốc dân đảng và tướng Joseph Stilwell có sự lạnh nhạt. Từ năm 1943 – 1944, phe phát xít liên tục thất bại trước sự phản công lực lượng Đồng minh tại châu Á và châu Âu.
Ở mặt trận Thái Bình Dương, hải quân Mỹ đẩy lùi tuyến phòng thủ của Nhật và ném bom rải thảm vào đất Nhật khiến hàng trăm nghìn người thương vong. Tháng 4.1944 Nhật Bản quyết định mở chiến dịch Ichi Go nhằm phá hủy toàn bộ căn cứ Mỹ ở khu vực đông nam Trung Quốc và thoát khỏi tình trạng sa lầy. Tháng 9.1944, quân Trung Quốc đã khai thông tuyến đường bộ nối với Myanmar và nhận được nhiều tiếp tế. Chiến dịch Ichi Go của Nhật kéo dài đến tháng 12.1944 với khoảng 500.000 tham chiến khiến lực lượng Quốc dân đảng tổn thất lớn.
Trong giai đoạn cuối của Thế chiến II, phòng không Nhật đã không còn đủ sức kháng cự Mỹ. Đất Nhật liên tục bị ném bom. Trung Quốc bắt đầu các chiến dịch tái chiếm Hồ Nam và Quảng Tây thành công và lên kế hoạch tái chiếm Quảng Đông. Kế hoạch chưa kịp thực hiện, thì ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất của Mỹ mang tên “Little Boy” thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản. Sau đó 3 hôm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên "Fat man” đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki. Ngày 15.8.1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng quân đồng minh.
Chuyên gia Rana Mitter nhận định, nhiệm vụ chính của Trung Quốc trong Thế chiến II là kìm chân lực lượng lớn của Nhật và “chia lửa” với Liên Xô, Mỹ. Nếu Trung Quốc đầu hàng Nhật Bản trước khi Thế chiến II nổ ra, cục diện chiến tranh có thể thay đổi lớn. “Nếu Trung Quốc đầu hàng sớm, Nhật Bản có thể sẽ không cảm thấy lo ngại khi bị Mỹ cấm vận dầu mỏ và kim loại. Nếu Nhật không tấn công Trân Châu Cảng, Mỹ sẽ không có cớ can thiệp vào châu Á và sau đó là tham chiến ở châu Âu”.
Sydney ngày 6 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.026 chữ)
Bài 201: CHUYỆN KỂ VỀ NỘI CHIẾN QUỐC GIA-CÔNG SẢN TẠI TRUNG QUỐC.
Lê Xuân Đỗ
Sau khi bị đánh bại trong chiến tranh thế giới II, Nhật Bản từ bỏ tất cả các phần đất đã xâm chiếm tại Trung Quốc. Và nội chiến liên quan đến chính kiến “Quốc gia-Cộng sản” và các phe nhóm khác lại bắt đầu. Trước đó, ngày 8/8/45, Nga tuyên chiến với Nhật và cho quân tràn qua Mãn Châu, đến ngày 12/8/45, quân Tàu Cộng của Chu Đức tiến vào Mãn Châu. Nga và Trung hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch ký hiệp ước thân thiện. Nga thừa nhận chủ quyền của Tàu tại Mãn Châu. Tàu thừa nhận quyền lợi của Nga tại Lữ Thuận, Đại Liên và đường thiết lộ miền Bắc.
Ngày 29/9/45, quân đội thuộc chính phủ Trung ương Trung hoa của Tàu Tưởng chiếm đóng Vân Nam Phủ, buộc tướng Long Vân, tỉnh trưởng Vân Nam về Trùng Khánh đợi lịnh. Ngày 8/11/45, quân Tàu Cộng thừa dịp quân Nga triệt thoái chiếm đóng nhiều vùng ở Mãn Châu. Ngày 10/1/46, tạm ngừng bắn để điều đình giữa Tàu Cộng và Tàu Tưởng. Ngày 26/1/46, Lộ quân 93 của Vân Nam phải rút về Tàu, nhường chổ cho Lộ quân 53 của Chính phủ Trung ương. Ngày 1/5/46, thống chế Tưởng Giới Thạch cùng Chính phủ Trung Hoa tử Trùng Khánh khải hoàn Nam Kinh.
Ngày 12/11/46, tại Nam Kinh Đại hội Dân biểu hơn 2000 người nhóm họp thảo luận về Hiến pháp Trung hoa. Ngày 1/1/47, Hiến Pháp Trung Hoa Dân Quốc do Đại hội Dân biểu, biểu quyết được ban hành gọi là “Ngũ Quyền Hiến Pháp”. Ngày 4/7/47, không thể hợp tác với Mao Trạch Đông sau nhiều lần điều đình, chính phủ Tưởng Giới Thạch, ra lệnh tiểu trừ Cộng sản trên toàn quốc. Ngày 15/9/47, quân Cộng sản của tướng Lâm Bưu tổng phản công trên các Mặt trận Mãn Châu, quân Tưởng Giới Thạch thua to và lùi mãi.
Ngày 15/10/47, quân Cộng sản Tàu ở Mãn Châu, tấn công và vây hãm quân Tưởng Giới Thạch vùng Phụng Thiên. Ngày 28/12/47, Trước Ủy ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản, Mao Trạch Đông tuyên bố “đã bước sang giai đoạn chiến thắng, và phải đập tan các cuộc phản công của quân Tưởng Giới Thạch. Ngày 17/4/48, quân Tưởng Giới Thạch thua to, quân Cộng sản tái chiếm Diên An. Ngày 24/6/48, trước Viện Lập pháp, Hà Ứng Khâm tuyên bố, Cộng quân của Mao đông và mạnh gấp năm lần (1.500.000 quân, và 22.800 đại bác) so với khi Nhật mới đầu hàng.
Ngày 7/10/48, Cộng quân của Mao tiến chiếm Trường Xuân và Hoa Bắc, sau nhiều trận đánh khốc liệt với Quốc quân của Tưởng. Ngày 17/10/48, Tướng Lâm Bưu chỉ huy 179.000 Cộng quân tấn công và chiếm đóng Trịnh Châu, bắt 100.000 tù binh Quốc quân của Tưởng. Ngày 1/11/48, Cộng quân của Mao tiến chiếm Phụng Thiên và kiểm soát toàn thể Mãn Châu, Quốc quân của Tưởng đã thua quá nhiều trận lớn. Ngày 10/12/48, Bà Tống Mỹ Linh vợ Tưởng Giới Thạch sang Mỹ yết kiến Tổng thống Truman trình báo tình hình nguy khốn của Quốc quân, và cầu viện.
Ngày 21/12/48, sau khi nghe đặc phái viên Hoffmann phúc trình tình hình Trung Hoa, Tổng thống Truman quyết định “đình chỉ viện trợ kiến thiết” cho Chính phủ Tưởng Giới Thạch. Ngày 30/12/48, quân Cộng của Mao đã thắng ở khắp Hoa Bắc, và tràn xuống sát sông Dương Tử.
Ngày 21/1/1949, Tưởng Giới Thạch từ chức tổng thống, và lui về Lư Sơn. Ngày 22/1/49, Tàu Cộng chiếm đóng Bắc Kinh, Bà Tống Mỹ Linh tức bà Tưởng Giới Thạch lại sang cầu viện Hoa Kỳ. Ngày 1/2/49, theo Bộ Quốc phòng Hoa kỳ, Quốc quân Trung hoa, sau nhiều trận đại bại đã bị thiệt hại 1.223.000 người, mất 400.000 súng, trong dó có 140.000 súng Mỹ, với 20 công binh xưởng lớn. Ngày 7/3/49, hơn 4000 Cộng quân (2.500 quân Mao, và 2.500 quân Hồ) bao vây hai đồn quân Pháp tại Lạng Sơn, nhưng Pháp giải vây được. Ngày 20/4/1949, Cộng quân của Mao đã vượt qua sông Dương Tử tràn xuống Hoa Nam. Ngày 23/4/49, quân Tàu Cộng chiếm Nam Kinh.
Ngày 2/6/49, Tướng Diêm Tích Sơn lập Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, lên thay Tướng Hà Ứng Khâm. 2/6/49, quân Mao đã tràn xuống Hoa Nam. Ngày 25/9/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Hạ Ninh, 6 Quân đoàn quân Tàu Tưởng quy hàng. Ngày 1/10/49, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc. Ngày 2/10/49, Nga Xô thừa nhận Trung Cộng. Ngày 14/10/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Quảng Châu. Ngày 29/11/49, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh gởi điện chúc mừng lẫn nhau. Ngày 30/11/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Trùng Khánh. Ngày 9/12/49, chính phủ Trung hoa Dân quốc chánh thức đặt Thủ đô tại Đài Bắc (Đài Loan).
Xin Lưu ý rằng, từ ngày 3/12/49, bị quân Tàu Cộng đánh, nhiều Đoàn quân Tàu Tưởng chạy tràn qua Việt Nam. Ngày10/12/49, cầu Đông Hưng ở Móng Cái phải đóng để không cho quân Tàu Tưởng tràn sang. Ngày 11/12/49, Cao ủy Pignon tuyên bố nếu quân Tầu Tưởng tràn vào Bắc Việt, thì theo luật quốc tế tước khí giới, đuổi ra hoặc giam lại. Ngày 14/12/49, quân Tàu Tưởng chạy tràn qua Lạng Sơn chừng 20.000 với hơn 10.000 đi tỵ nạn Cộng sản, bị quân đội Pháp tước khí giới và đưa về tập trung tai Đông Triều, Hòn Gai.
Ngày 22/12/49, lại có hơn 8.000 quân Tàu Tưởng chạy qua Thất Khê, Cao Bằng và cũng bị tước khí giới. Báo chí lo ngại có thể Trung Cộng viện cớ đánh đuổi quân Tàu Tưởng mà xâm lăng Việt Nam.
Sydney ngày 7 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.005 chữ)
Bài 202: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH QUYỀN MỚI CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG QUỐC.
Lê Xuân Đỗ
Ngày 15/2/1950, Trung Quốc và Liên bang Xô viết ký hiệp ước đồng minh hỗ tương thân thiện. Hoa Kỳ không thừa nhận chính quyền mới Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc. Ngày 26/11/1950 Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc gởi quân đội giúp Cộng sản Bắc Triều Tiên đánh chiếm Nam Triều Tiên (1950-1953) nhưng không thành công. Sau một thời kỳ củng cố ban đầu 1949-1952, các tổ chức công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế và xã hội bị cưỡng bức theo một mô hình dựa vào ý kiến của Mao Trạch Đông gọi là “tư tưởng Mao chủ tịch”.
Tuy nhiên, những thay đổi mạnh mẽ trong chính sách và các cuộc nổi loạn của bè đảng theo chủ nghĩa quốc gia đã làm trở ngại trong phát triển kinh tế. Năm 1957, Mao nhìn nhận có khoảng 800.000 người bị hành quyết trong thời gian 1949-1954. Những người đối lập cho rằng con số thực sự bị giết còn cao hơn nhiều lần. Thời kỳ “đại nhảy vọt” 1958-1960 cố gắng thực hiện một tốc độ phát triển kinh tế nhanh thông qua một lượng lao động tập trung đông trên các cái gọi là “công xã nông thôn” rộng lớn. Chương trình này tạo ra những sự chống đối và sau đó phải bãi bỏ.
Trong thập niên 1960, quan hệ với Liên Xô trở nên xấu đi do sự bất đồng lý luận Cộng sản, vai trò lãnh đạo cộng sản thế giới, và biên giới giữa hai nước. Liên Xô hủy bỏ các hiệp ước trợ giúp kinh tế, kỷ thuật. Trung quốc cùng với Albania tung ra chiêu đòn tuyên truyền chống lại Liên Xô, cho rằng Liên xô đi trệch lý luận “cộng sản thuần khiết", theo "chủ nghĩa xét lại", chính sách "sống chung hòa bình" với phương Tây, và ký Hiệp ước cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân với Hoa Kỳ và với Anh Quốc.
Trung Quốc còn tố cáo Liên Xô phản bội lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa, toa rập với phương Tây mưu đồ chống lại Trung Quốc. Thời kỳ "đại cách mạng văn hóa vô sản" trong thập niên 1960, là một nỗ lực chống lại các thế lực họ gọi là “chủ nghĩa quan liêu”, và “chủ nghĩa thực dụng” hướng tới một giai đoạn mới của nguyên lý cách mạng. Các cuộc thanh trừng diễn ra khắp nơi dưới danh nghĩa cách mạng triệt để. Nó tố cáo các viên chức chính quyền và lãnh đạo cao cấp trong đảng không thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cộng sản và cách chức họ khỏi vị trí lãnh đạo.
Sinh viên và thành niên lập ra các tổ chức bán quân sự gọi là "Vệ binh đỏ". Họ tuần hành trong các thành phố chính, chống lại tất cả những ai được họ gán cho là phản cách mạng, và chống lại chủ nghĩa Mao. Các trường học đóng cửa từ năm 1966 đến 1970, và hệ thống giáo dục hoàn toàn bị phá vỡ. Vệ binh đỏ chiếm chính quyền nhiều thành phố và tỉnh. Và sau đó, cách mạng lại vỡ ra các cuộc tranh giành quyền lực giữa họ với nhau. Mao Trạch Đông phải kêu gọi quân đội vản hồi trật tự.
Đến năm 1969, đảng Cộng sản, chính quyền, và hệ thống giáo dục mới bắt đầu tái hoạt động, nhưng mâu thuẫn giữa cách mạng và ôn hòa trong đảng vẫn còn tiếp tục. Ngày 25/10/1971, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc trục xuất chính quyền Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và chuyển giao ghế đại diện cho Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Hoa Kỳ ủng hộ quyết định thâu nhận chính phủ Trung Quốc, nhưng phản đối việc trục xuất Đài Loan. Ngày 21-28/2/1972, Tổng thống Richard Nixon thăm viếng Trung Quốc theo lời mời của Thủ tướng Chu Ân Lai (Zhou EnLai).
Tháng 5 và tháng 6/1973, Trung Quốc và Hoa Kỳ mở văn phòng liên lạc tại thủ đô của hai bên. Ngày 15/12/1978, Hoa Kỳ chính thức thừa nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc như là một chính quyền hợp pháp duy nhất của Trung Quốc. Quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia được thành lập ngày 1/1/1979. Ngày 9/9/1976, Mao Trạch Đông chết, Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping) củng cố thế lực, nối tiếp Mao Trạch Đông như là nhà "lãnh đạo tối cao" của Trung Quốc.
Tập đoàn cai trị mới thay đổi một số chủ trương của Mao trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, công nghiệp và tìm kiếm các mối quan hệ thân thiện với các quốc gia không Cộng sản. Trong khi đánh giá lại chủ trương của Mao, vợ ông ta Giang Thanh (Jiang Qing), và những người cực tả trong cách mạng văn hóa hồi thập niên 1960, bị truy tố hình sự. Và tại phiên tòa ngày 25/1/1981, cả 4 người đều bị kết án tù giam.
Giữa thập niên 1980, Trung Quốc ban hành nhiều luật lệ cải cách kinh tế sâu rộng hơn, cổ vũ hướng đến kinh tế thị trường, khuyến khích tư nhân và đầu tư nước ngoài tham gia hoạt động kinh doanh. Ngày 4/5/1989, khoảng 100 ngàn sinh viên và công nhân xuống đường biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn đòi hỏi dân chủ, và cải cách chính trị. Lúc nầy, nhà lãnh đạo Liên Xô Gorbachev có cuộc thăm viếng Trung Quốc (ngày 15-18/5). Đây là cuộc thăm viếng, và họp thượng đỉnh đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô kể từ năm 1959.
Sự bất ổn tiếp tục lan rộng và ngày 20/5/1989, Trung Quốc ban hành lệnh thiết quân luật. Nhưng đoàn biểu tình vẫn bám trụ tại Quảng trường, và có nhiều người từ các nơi khác về tăng cường lực lượng. Ngày 3-4/6, Trung Quốc đưa quân đội đến đàn áp. Tiếng gầm thét của xe tăng, đại bác, cùng với tiếng kêu gào của những người biểu tình vang dậy khắp cả Quảng trường. Có khoảng 5000 người chết, 10.000 người bị thương, và hàng trăm sinh viên, công nhân bị bắt.
Sydney ngày 8 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.076 chữ)
Bài 203: CHUYỆN KỂ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TẠI NỘI ĐỊA TRUNG QUỐC TỪ THẬP NIÊN 1990.
Lê Xuân Đỗ
Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới ở thập niên 1990. Dù vậy, các vụ vi phạm nhân quyền vẫn cứ tiếp tục không có biểu hiện sút giảm. Hoa Kỳ ban cấp quy chế “tối huệ quốc” nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc, tái tục nhiều lần. Ngày 19/2/1997, Đăng Tiểu Bình chết, ông ta chọn người thừa kế mình là Giang Trạch Dân (Jiang Zemin). Chủ tịch Giang Trạch Dân lần đầu tiên xuất ngoại thăm viếng Hoa Kỳ từ ngày 26/10 đến 3/11/1997. Và ngày 25/6 đến 3/7/1998, Tổng thống Mỹ Bill Clinton thăm Trung Quốc.
Với sự thỏa thuận của các nước liên quan, ngày 1/7/1997, Anh Quốc trả Hồng Kông trở lại cho Trung Quốc. Và ngày 20/12/1999, Bồ Đào Nha cũng trả Macao về cho Trung Quốc. Trận lụt trong tháng 7 và tháng 8 giết chết ít nhất 3000 người và làm thiệt hại tài sản lên tới 20 tỷ mỹ kim. Ngày 7/5/1999, khối Liên phòng Bắc Đại Tây Dương gọi tắt là NATO thả bom trúng vào tòa Đại sứ Trung Quốc ở Belgrade, Yugoslavia giết chết 3 người và làm bị thương 27 người. Ngày 30/7, Hoa Kỳ đồng ý trả 4,5 triệu USD bồi thường cho các nạn nhân và gia đình họ.
Và ngày 16/12, trả 28 triệu USD bồi thường thiệt thiệt hại vật chất cho sứ quán Trung Quốc. Ngày 15/11/1999, Hoa Kỳ và Trung Quốc ký hiệp ước thương mại toàn diện, và việc bình thường hóa quan hệ thương mại với Trung Quốc đã được Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận ngày 19/9/2000. Sau một cuộc va chạm trên không vào ngày 1/4/2001, một máy bay phản lực Trung Quốc rơi xuống biển phía nam Trung Quốc, và một máy bay thám thính Hoa Kỳ phải đáp khẩn cấp trên đảo Hải Nam (Hainan Island). Ngày 12/4/2001, tất cả 24 nhân viên phi hành đoàn trên máy bay Hoa Kỳ được trả tự do.
Ngày 13/7 thành phố Bắc Kinh của Trung Quốc được chọn đăng cai tổ chức Thế vận hội mùa hè năm 2008. Ngày 16/7, Trung Quốc và Nga ký hiệp ước thân thiện 20 năm. Ngày 20 và 21/10/2001, tại Thượng Hải Chủ tịch Giang Trạch Dân có cuộc hội kiến với Tổng thống Bush. Ngày 15/11/2002, tại Đại hội đảng Cộng sản lần thứ 16, Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao) được bầu làm Tổng Bí thư đảng, và ngày 15/3/2003, Quốc hội cũng bầu ông ta làm Chủ tịch nước, và Chủ tịch Quân ủy trung ương. Đến giữa năm 2003, bệnh dịch cúm SARS đã giết chết 349 người bên trong nội địa Trung Quốc.
Tháng 8/2003, Trung Quốc tự nhận làm nước chủ nhà đứng ra tổ chức Hội nghị “sáu nước” Bắc Triều Tiên, Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Nhật Bản và Trung Quốc bàn thảo về chương trình sản xuất vủ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Với việc phóng đi và quay trở về an toàn của con tàu vủ trụ Shenzhọu 5, Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba sau Hoa Kỳ và Liên Xô đưa người vào không gian. Ngày 23/12/2003, một vụ nổ lò hơi (gas) ở Chongqing làm 233 thiệt mạng. Trận lụt mùa hè năm 2004, đã giết chết hơn 1000 người và làm thiệt hại trên 8 tỷ Mỹ kim.
Các báo cáo công nghiệp năm 2007, cho rằng Trung Quốc đã sản xuất và xuất khẩu nhiều mặt hàng kém chất lượng, có chất độc hại như thú nhồi bông, kem đánh răng, và đồ chơi trẻ em. Tại cuộc họp Nghị viện Nhân dân ngày 15-16/3/2008, Hồ Cẩm Đào được tái bầu vào chức Chủ tịch nước. Thế Vận Hội lần thứ 29 diển ra ở Bắc Kinh từ ngày 8/8 đến ngày 24/8/2008. Ngày 26/10/2008, nhà cầm quyền Hương Cảng tuyên bố phát giác ra “độc chất melamine” trong trứng gà của tổ hợp Hanwei, Trung Quốc. Độc chất melamine một hóa chất rẽ tiền, nhưng giàu đạm nhờ nitrogen cao.
Sau hai tháng 1-2/2010 điều tra, chuyên gia máy Computer phương tây cho rằng các tin tặc (hackers) tại hai trường học Trung Quốc đã tấn công mạng Google và ít nhất 30 mạng khác. Chính quyền Trung Quốc tỏ ra giận dữ khi ông Liu Siaobo, nhà tranh đấu cho nhân quyền bị Trung Quốc kết án 11 năm tù hồi tháng 12/2009, được trao giải thưởng Nobel hòa bình vào ngày 8/10/2010. Phát triển kinh tế nhanh trong hai năm 2009-2010 đã đưa kinh tế Trung Quốc vượt qua nền kinh tế Nhật Bản, đứng hàng thứ hai của thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ.
Nghị viện Nhân dân lần thứ 12 được bầu từ tháng 10/2012 đến tháng 2/1013. Tại phiên họp tháng 3/2013, đã bầu Tập Cận Bình (Xi Jinping) Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Quân ủy Trung ương, làm Chủ tịch nước, và Lý Khắc Cường (Li Keqiang) làm Thủ tướng chính phủ. Từ ngày 16 đến ngày 22 tháng 10 năm 2022, Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Trung Quốctại thủ đô Bắc Kinh, Tập Cận Bình tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư, trở thành nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc liên tiếp ba nhiệm kỳ, người thứ hai sau Mao Trạch Đông ở cương vị này trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Năm 2020, quy mô nền kinh tế Trung Quốc với hơn 1,4 tỷ dân đạt mức 24,1 nghìn tỷ USD- đứng số 1 thế giới tính theo sức mua tương đương (PPP). GDP danh nghĩa đạt mức 14,8 nghìn tỷ USD, xếp thứ 2 sau Hoa Kỳ, GDP bình quân đầu người đạt mức 10,839 nghìn USD/người - xếp hạng 59 toàn cầu theo danh nghĩa hoặc 17,206 USD/người, xếp hạng 73 trên thế giới theo sức mua. Nếu xét riêng GDP trong lĩnh vực quan trọng nhất là sản xuất chế tạo thì Trung Quốc đã đứng đầu thế giới về giá trị với 3.860 tỷ USD vào năm 2020.
Như vậy, GDP về mặt sản xuất chế tạo Trung Quóc vượt trội so với nước Mỹ là 2.338 tỷ USD và Nhật Bản là 995 tỷ USD. Trung Quốc đang có tham vọng trở thành một siêu cường có thể cạnh tranh với Hoa Kỳ trên mọi mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa... Tuy nhiên, Trung Quốc hiện vẫn còn được xếp vào hàng là nước có “nền kinh tế công nghiệp đang phát triển”.
Sydney ngày 9 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.144 chữ)
Bài 204: CHUYỆN KỂ VỀ CÁCH MẠNG TÂN HỢI NĂM 1911, TÔN DẬT TIÊN, VIÊN THẾ KHẢI VÀ CHÍNH PHỦ LÂM THỜI TRUNG HOA DÂN QUỐC.
Lê Xuân Đỗ
Tôn Trung Sơn (1866-1925), thường gọi Tôn Dật Tiên là một chính khách, triết gia chính trị và Bác sĩ Trung Quốc, người đóng vai trò quan trọng trong cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911 lật đổ triều đại nhà Mãn Thanh và khai sinh ra Trung Hoa Dân Quốc. Tôn Dật Tiên sinh ngày 12 tháng 11 năm 1866 ở tỉnh Quảng Đông trong một gia đình nông dân khá giả. Năm 13 tuổi, ông đến Honolulu học cấp tiểu học và trung học nên chịu ảnh hưởng văn hoá phương Tây. Năm 1883, ông trở về nước, và năm 1886 ông học Trường Đại học Y khoa Hương Cảng và trở thành bác sĩ năm 1892.
Tuy nhiên, sau đó thấy tình cảnh đất nước bị các đế quốc chia xé, ông bỏ nghề y theo con đường chính trị. Năm 1894, Tôn Dật Tiên sang Hawaii một tiểu bang của Hoa Kỳ tập hợp Hoa kiều cùng chí hướng thành lập Hưng Trung hội với tôn chỉ đánh đổ phong kiến Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa. Năm 1905, Tôn Dật Tiên hợp nhất Hưng Trung hội với một số tổ chức trong nước lập thành Trung Quốc Đồng minh hội do ông làm Tổng lý. Trên tờ Dân báo, cơ quan ngôn luận của hội, ông đã công bố chủ nghĩa Tam Dân: "Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc".
Từ 1905 đến năm 1911 Trung Quốc Đồng minh hội tổ chức nhiều cuộc binh biến ở các tỉnh miền Nam nhưng không thành công. Ngày 10 tháng 10 năm 1911, Đồng minh hội vận động được binh sĩ ở Vũ Xương, Hồ Bắc nổi dậy khởi nghĩa và giành được thắng lợi mở đầu cho Cách mạng Tân Hợi 1911. Phong trào này nhanh chóng bùng nổ ở nhiều tỉnh khác. Ngày 2 tháng 12, quân cách mạng chiếm được Nam Kinh, Ngày 25 tháng 12, Tôn Dật Tiên từ Mỹ về nước và được đại hội đại biểu các tỉnh họp ở Nam Kinh đề cử làm Đại Tổng thống lâm thời.
Viên Thế Khải (1859-1916), là một đại thần cuối thời nhà Thanh và là Đại Tổng thống thứ hai của Trung Hoa Dân Quốc sau Tôn Dật Tiên, đồng thời là Hoàng đế duy nhất của Hồng Hiến Đế Chế. Viên Thế Khải đã cố gắng cứu vương triều của mình bằng một số dự án hiện đại hóa bao gồm cải cách quan thuế, tài khóa, tư pháp, giáo dục và các cải cách khác. Cái chết của ông vào năm 1916, ngay sau khi thoái vị khỏi ngôi hoàng đế đã dẫn đến sự phân hóa của hệ thống chính trị Trung Quốc và sự kết thúc của Chính phủ Bắc Dương với tư cách là cơ quan trung ương của Trung Hoa Dân quốc.
Viên Thế Khải sinh ngày 16 tháng 9 năm 1859 (lớn hơn Tông Dật Tiên 7 tuổi) tại thôn Trương Doanh, huyện Hạng Thành, phủ Trần Châu, tỉnh Hà Nam. Viên Thế Khải mong muốn làm quan chức nhưng đã hai lần trượt trong các kỳ thi của triều đình. Nhưng nhờ mối quan hệ của cha mà Viên Thế Khải có một chỗ đứng trong quân đội nhà Thanh ở Sơn Đông. Năm 1884, Viên Thế Khải được cử làm Trú sứ của nhà Thanh tại Triều Tiên. Ở đây, ông theo đoàn quân đi trấn áp phong trào nông dân, rồi tham gia cuộc chiến Thanh-Nhât.
Viên Thế Khải được lệnh trở về nước trước khi cuộc chiến Thanh-Nhật kết thúc. Từ năm 1894 đến 1898, ông tham gia các cuộc đánh dẹp quân Nghĩa Đoàn Hoà. Nhờ theo phe đại thần Lý Hồng Chương, Viên Thế Khải được bổ nhiệm làm chỉ huy đào tạo quân đội mới - tức Tân quân năm 1895. Tháng 6 năm 1898, Hoàng đế Quang Tự cho thi hành cuộc biến pháp, nhằm duy tân đất nước. Thế nhưng chỉ mấy ngày sau, thì vấp phải sự chống đối của phái Hậu đảng, tức phe phái của Thái Hậu Từ Hi. Đàm Tự Đồng, một thành viên của phái Duy tân, thấy vậy bèn khuyên Quang Tự đoạt lấy chính quyền.
Nghe lời, Hoàng đế bèn cử Tự Đồng đến gặp Viên Thế Khải lúc đó đang thống lĩnh 7.000 quân ở Thiên Tân khuyến dụ, Viên Thế Khải nhận lời kéo quân về giúp. Nhưng sau khi cân nhắc, Viên Thế Khải thấy phe Từ Hi (Hậu đảng) còn mạnh, nên ông lập tức đến Bắc Kinh, báo lại mọi việc cho Từ Hi. Kết quả là Hoàng đế Quang Tự bị bắt giam, 6 vị nhân sĩ trong đó có Đàm Tự Đồng bị giết. Nhờ công tiết lộ, Viên Thế Khải được Từ Hi phong làm Thống soái tân quân Bắc Dương. Năm 1901, Viên Thế Khải thay Lý Hồng Chương làm đại thần nhiếp chính.
Năm 1907, Viên Thế Khải được cử làm Thượng thư bộ Ngoại vụ, tham gia vào việc quân cơ. Năm 1908, Hoàng đế Quang Tự qua đời. Bấy giờ có người nghi rằng Quang Tự mất vì bị Khánh Vương Dịch Khuông và Viên Thế Khải đầu độc, để đưa Tái Chấn lên nối ngôi. Thấy có nhiều người muốn giết Viên Thế Khải, nhưng sợ rằng khi Viên Thế Khải chết, thì quân Bắc Dương sẽ nổi lên phản đối, nên Thái hậu Long Dụ nghe theo chủ ý của Trương Chi Động, cho Viên Thế Khải về nhà dưỡng bệnh, dự tính sau đó cho nghỉ công tác.
Khởi nghĩa Vũ Xương mở đầu Cách mạng Tân Hợi 1911 thắng lợi đã cổ vũ các tỉnh khác ly khai, lập tức, nhà Thanh phái nhiều tướng lĩnh và hàng vạn quân đi tiêu diệt, nhưng không thành công. Viên Thế Khải đang dưỡng bệnh ở Hà Nam, được mời ra làm Tổng đốc Hồ-Quảng, chỉ huy đội quân Bắc Dương, lãnh nhiệm vụ trấn áp quân cách mạng ở Hán Khẩu, Hán Dương. Viên Thế Khải, nhân cơ hội ép triều đình phải cử ông làm Tổng lý nội các (Thủ tướng). Ngày 2 tháng 11 năm 1911, Viên Thế Khải đưa quân đánh chiếm lại Hán Khẩu, sau đó bao vây Vũ Xương.
Ngày 12 tháng 11, Viên Thế Khải đến Bắc Kinh thành lập nội các. Ngày 15 tháng 11, đại biểu quân Cách mạng Tân Hợi 1911 của 17 tỉnh về Thượng Hải dự hội nghị, nhưng đến ngày 24 thì bị vây phải dời về Vũ Xương. Nơi này lại bị vây, hội nghị phải họp trong tô giới Anh ở Hán Khẩu. Ngày 2 tháng 12, quân cách mạng chiếm được Nam Kinh, hội nghị liền dời về đây để bầu đại Tổng thống, lập Chính phủ lâm thời. Ngày 25 tháng 12, Tôn Dật Tiên từ Mỹ về nước được hội nghị bầu làm Đại tổng thống lâm thời, Tôn nhậm chức ngày 1 tháng 1 năm 1912.
Được tin, Viên Thế Khải liền tìm mọi cách tấn công vào chính quyền mới. Vừa bị Viên Thế Khải uy hiếp, vừa bị các nước đế quốc thu hết thuế quan, không công nhận chính quyền mới của Tôn Dật Tiên, Tôn Dật Tiên bèn đề xuất 5 điều kiện để hợp tác, tránh nội chiến: (1) Hoàng đế nhà Thanh phải thoái vị; (2) Viên Thế Khải phải tuyên bố tuyệt đối tán thành chính thể Cộng hòa; (3) Hoàng đế thoái vị xong, Tôn Dật Tiên sẽ từ chức Lâm thời Đại Tổng thống; (4) Lâm thời Tham nghị viện sẽ cử Viên Thế Khải lên làm Lâm thời Đại Tổng thống; (5) Viên Thế Khải phải tuyên thệ giữ Lâm thời ước pháp do Tham nghị viện định ra.
Viên Thế Khải bằng lòng, bèn mật sai Đoàn Kỳ Thụy hiệp với 40 võ tướng khác uy hiếp Hoàng đế Mãn Thanh thoái vị thành công. Ngày 12 tháng 2 năm 1912, Hoàng đế Tuyên Thống (Phổ Nghi) xuống chiếu thoái vị để hoàng tộc được hưởng một số điều kiện ưu đãi của Tân Chính phủ Dân quốc. Ngay hôm sau, Viên Thế Khải điện cho Tôn Dật Tiên và Lê Nguyên Hồng biết công lao của ông với dụng ý yêu cầu Tôn Dật Tiên từ chức, nhường chức Đại tổng thống lại cho Viên Thế Khải.
Tôn Dật Tiên đồng ý từ chức với ba điều kiện: (1) Chính phủ lâm thời phải đóng ở Nam Kinh, không được thay đại biểu; (2) Đại Tổng thống mới được cử phải đến Nam Kinh nhận chức; (3) Đại Tổng thống mới phải tuân theo Ước pháp của Chính phủ lâm thời, luật lệ và quy chế đã công bố vẫn tiếp tục có giá trị, Viên Thế Khải đồng ý. Ngày 15 tháng 2 năm 1912, Tham nghị viện cử Viên Thế Khải làm Lâm thời Đại Tổng thống thay thế Tôn Dật Tiên. Sau đó cử học giả Thái Nguyên Bồi lên Bắc Kinh rước Viên Thế Khải xuống Nam Kinh nhận chức.
Nhưng vì Viên Thế Khải không muốn rời xa cứ địa của mình, nên bí mật cho một nhóm binh sĩ do Tào Côn thống lĩnh giả vờ nổi loạn. Sợ phương Bắc có biến, Học giả Thái Nguyên Bồi đề nghị để Viên Thế Khải tuyên thệ và nhận chức ở Bắc Kinh. Ngày 10 tháng 3 năm 1912, Viên Thế Khải tuyên bố nhận chức Lâm thời Đại Tổng thống, trở thành nhà lãnh đạo mới của Trung Hoa Dân Quốc. Viên Thế Khải cử Đường Thiệu Nghi làm Quốc vụ Tổng lý. Ngày 5 tháng 4 năm 1912, Tham nghị viện quyết định dời Chính phủ lâm thời lên Bắc Kinh. Cách mạng Tân Hợi đến đây là chấm dứt.
Sydney ngày 10 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.688 chữ)
Bài 205: CHUYỆN KỂ VỀ VIÊN THẾ KHẢI VÀ CHÍNH TRƯỜNG TRUNG HOA DÂN QUỐC.
Lê Xuân Đỗ
Sau khi Viên Thế Khải lên làm Đại Tổng thống, phái cách mạng không hoàn toàn bị loại bỏ, nhưng những chức vụ chủ chốt trong chính quyền đều vào tay phe của Viên Thế Khải. Ngày 20 tháng 3 năm 1913, một đảng viên trọng yếu của Trung Quốc Đồng Minh hội là Tống Giáo Nhân bị mưu sát mà người chủ mưu là một viên chức cao cấp trong Chính phủ của Viên Thế Khải. Vì việc này mà Tôn Dật Tiên tuyên bố chống Viên Thế Khải. Tháng 8 năm 1913, với ý định thông qua Quốc hội, sẽ hạn chế quyền lực của Viên Thế Khải, Trung Quốc Đồng Minh hội cải tổ thành Quốc dân đảng.
Để đối phó với Quốc dân đảng chiếm đa số ghế trong Quốc hội, Viên Thế Khải gấp rút cho bổ sung quân, đồng thời không đợi Quốc hội thông qua, Viên Thế Khải ký giấy vay của tập đoàn Ngân hàng Anh, Pháp, Đức, Nga và Nhật 25 triệu bảng Anh phải trả trong 47 năm bằng thuế muối. Quốc dân đảng phản đối kịch liệt. Các tướng lĩnh của Quốc dân đảng là Lý Liên Kiệt, Đô đốc Giang Tây; Hồ Hán Dân, Đô đốc Quảng Đông; Bách Văn Uất, Đô đốc An Huy...trách Viên Thế Khải làm trái phép. Viên Thế Khải bèn ra lệnh cách chức cả ba.
Tức thì, các tướng khởi binh chống lại Viên Thế Khải: Lý Liên Kiệt khởi binh ở Giang Tây, Trần kỳ Mỹ khởi binh ở Thương Hải, Bách Văn Uất khởi binh ở An Huy, Trần Quýnh Minh khởi binh ở Quảng Đông. Ngoài ra, ở các tỉnh Phúc Kiến, Hồ Nam, Trùng Khánh cũng lần lượt hưởng ứng. Tuy nhiên tất cả đều thất bại và Tôn Dật Tiên phải lưu vong sang Nhật. Cuộc xung đột này chỉ kéo dài không đầy hai tháng, sử gọi đây là cuộc cách mạng lần thứ hai sau lần đầu là Cách mạng Tân Hợi năm 1911.
Sau đó, Viên Thế Khải bắt Quốc hội thừa nhận ông là Đại tổng thống chính thức (Lê Nguyên Hồng làm phó). Và để bảo đảm địa vị của mình, tháng 11 năm 1913, Viên Thế Khải ra lệnh trục xuất các nghị viên thuộc Quốc dân đảng ra khỏi Quốc hội. Đầu năm 1914, Viên Thế Khải giải tán luôn Quốc hội. Không lâu sau, ông hủy bỏ luôn Ước pháp lâm thời rồi cho xây dựng một nền thống trị "độc tài của tập đoàn quan liêu, quân phiệt và đại địa chủ tư bản". Tháng 8 năm đó, Thế chiến thứ nhất bùng nổ, các đế quốc phương Tây đều bận chiến tranh.
Nhân cơ hội này, Nhật Bản liền xông vào chiếm lấy đất đai của Trung Quốc. Mượn cớ tuyên chiến với Đức, Nhật Bản đưa quân đổ bộ lên Sơn Đông, chiếm vùng Giao Châu Loan và nắm lấy đường sắt Giao Tế. Lúc này, vì Viên Thế Khải đang muốn khôi phục nền đế chế, và muốn được Nhật Bản giúp đỡ nên không hề tỏ thái độ phản đối. Tháng 1 năm 1915, Nhật Bản đề ra 21 yêu sách với Viên Thế Khải và Chính phủ của ông, coi đó là điều kiện để họ thừa nhận Viên Thế Khải lên ngôi Hoàng đế. Nội dung cơ bản của yêu sách là:
(1) Đem quyền lợi ở vùng Sơn Đông trước kia thuộc Đức, chuyển cho Nhật Bản. Thừa nhận sự độc quyền của Nhật Bản ở Liêu Ninh, Cát Lâm và Đông Nội Mông. (2) Cho phép Nhật Bản hùn vốn kinh doanh khai thác mỏ sắt ở Đại Trí, Hồ Bắc; mỏ than ở Bình Hương, Giang Tây. Nhật Bản có đặc quyền trong việc xây dựng đường sắt, khai mỏ ở Phúc Kiến. Những đảo, cửa biển chỉ được cho Nhật Bản thuê. (3) Mời người Nhật Bản làm cố vấn chính trị, kinh tế, quân sự. Binh công xưởng phải do hai nước Trung-Nhật cùng xây dựng. Hai nước cùng quản lý lực lượng cảnh sát địa phương, v.v...
Để yên cho dự tính sắp đến, Viên Thế Khải chấp nhận yêu sách. Tháng 10 năm Dân quốc thứ 4 (1945), đại biểu quốc dân các tỉnh đều bỏ phiếu tán thành thể chế quân chủ lập hiến. Và cũng ngay hôm ấy, Tham chính viện thay mặt quốc dân tôn Viên Thế Khải lên ngôi Hoàng đế. Viên Thế Khải nhận lời, định ngày mùng một tháng Giêng năm sau (1916) sẽ lên ngôi, lấy niên hiệu là Hồng Hiến.
Lập tức, Tiến bộ đảng của Lương Khải Siêu liên kết với Đảng Cách mạng Trung Hoa của Tôn Dật Tiên (thành lập năm 1914) vận động cuộc phản đế chế. Hưởng ứng lời hiệu triệu của hai đảng, các tỉnh là Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Hố Nam,.. đều có phong trào chống đối Viên Thế Khải. Cũng khoảng thời gian đó, Thái Ngạc, nguyên Đô đốc Vân Nam từ Bắc Kinh lén về Vân Nam, họp bàn với Đô đốc Vân Nam là Đường Kế Nghiêu đánh điện yêu cầu Viên Thế Khải từ bỏ đế chế, rồi tuyên bố Vân Nam độc lập, kế đó Tứ Xuyên cũng tuyên bố độc lập.
Cựu Tổng đốc Giang Tây là Lý Liệt Quân cũng hưởng ứng, mang quân đi lấy Quảng Đông. Viên Thế Khải liền sai Tào Côn, Ngô Bội Phu đem quân chống Thái Ngạc; sai Long Tế Quang đem quân đi chống Lý Liệt Quân. Nhưng vì quân đội không ủng hộ Viên Thế Khải nữa, nên không thu được kết quả... Tiếp theo các tỉnh Quý Châu, Quảng Tây, Chiết Giang, Hố Nam, Thiểm Tây,... cũng lần lượt tuyên bố độc lập. Bộ hạ của Viên Thế Khải là Đoàn Kỳ Thuỵ, Phùng Quốc Chương cũng theo phe Cộng hòa mà phản đối đế chế.
Theo Nguyễn Hiến Lê, thì Viên Thế Khải thấy mình bị nhiều tướng lĩnh phản đối nên vội vàng bỏ ý xưng đế, chỉ giữ chức Đại Tổng thống thôi, nhưng phe phản đối cũng không chịu. Tháng 5 năm 1916, phái cách mạng ở Quảng Châu thành lập Chính phủ Cộng hòa và bầu Lê Nguyên Hồng làm Đại Tổng thống. Viên Thế Khải ưu uất chết ngày 6 tháng 6 năm 1916 ở tuổi 57, làm Hoàng đế được 83 ngày.. Lê Nguyên Hồng lấy tư cách là Phó Tổng thống lên thay, cử Phùng Quốc Cương làm phó, Đoàn Kỳ Thuỵ làm Tổng lý Nội các. Rồi cho khôi phục Ước pháp lâm thời, triệu tập lại Quốc hội.
Nhưng họ không đoàn kết với nhau được. Phe quân nhân Bắc Dương đàn em của Viên Thế Khải là Đoàn Kỳ Thuỵ, Phùng Quốc Chương, Tào Côn, Trương Tác Lâm... xưng hùng ở phương Bắc. Ở phương Nam thì có Đường Kế Nghiêu, Lục Vĩnh Đình... khởi binh chống lại, gây cuộc tương tranh quân phiệt giữa Nam và Bắc nhiều năm sau này.
Sydney ngày 11 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.211 chữ)
Bài 206: CHUYỆN KỂ VỀ CHÍNH TRƯỜNG
TRUNG QUỐC SAU THẾ CHIẾN THỨ NHẤT.
Lê Xuân Đỗ
Dù Trung Hoa Dân Quốc là nước chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất song Chính phủ Bắc Dương tại Hội nghị hòa bình Paris 1919 bị buộc phải trao tô giới của Đế quốc Đức tại Sơn Đông cho Nhật Bản, dẫn đến Phong trào Ngũ Tứ. Phong trào Ngũ Tứ và Phong trào Tân văn hóa tạo ảnh hưởng sâu rộng đối với Trung Quốc, giới trí thức bắt đầu tìm kiếm đường lối cứu quốc mới, chủ nghĩa Marx bắt đầu được hoan nghênh tại Trung Quốc. Ngày 10 tháng 10 năm 1919, Tôn Trung Sơn cải tổ Trung Hoa Cách mạng đảng thành Trung Quốc Quốc dân Đảng.
Ngày 23 tháng 7 năm 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập. Năm 1922, sau khi Phong trào Hộ pháp thất bại, Tôn Trung Sơn chọn chính sách "liên Nga dung Cộng", tiến hành cải tổ Trung Quốc Quốc dân Đảng theo mô hình Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng thời phái Tưởng Giới Thạch đến Moskva để tiếp nhận bồi dưỡng và huấn luyện chính trị-quân sự. Liên Xô đồng ý từ bỏ các nhượng địa ở Trung Quốc, và xóa bỏ những điều ước bất bình đẳng giữa Nga hoàng và triều đình Mãn Thanh, hỗ trợ Quốc dân đảng về mọi mặt nhưng Tôn Dật Tiên phải cho Đảng Cộng sản Trung Quốc gia nhập Quốc dân đảng.
Tưởng Giới Thạch sau khi từ Liên Xô trở về nước tham dự kiến lập Trường quân sự Hoàng Phố, đồng thời nhậm chức hiệu trưởng, nhờ vậy sau này ông có được sự tín nhiệm và trung thành của các tướng lĩnh cao cấp của Trung Hoa Dân Quốc, những người từng được đào tạo tại Hoàng Phố, với tư cách là học trò của ông. Quốc dân đảng nhận được viện trợ tài chính, quân sự và các cố vấn Liên Xô do Mikhail Markovich Borodin đứng đầu để thành lập quân đội theo kiểu Liên Xô, đồng thời tổ chức lại Quốc dân đảng theo mô hình của người Bolsevik.
Tháng 2 năm 1925, thầy trò Trường quân sự Hoàng Phố đánh tan thế lực Việt hệ quân phiệt. Tháng 7 cùng năm, Đại bản doanh đại nguyên soái lục-hải quân cải tổ thành Chính phủ Quốc dân, Uông Tinh Vệ nhậm chức Chủ tịch Chính phủ Quốc dân; cải tổ 'Hoàng Phố học sinh quân' và bộ đội các địa phương thành Quốc dân Cách mạng quân, Tưởng Giới Thạch nhậm chức tổng tư lệnh. Ngày 9 tháng 7 năm 1926, Quốc dân Cách mạng quân tuyên thệ Bắc phạt tại Quảng Châu. Cùng năm, Tây Bắc quân của Phùng Ngọc Tường, Tấn hệ của Diêm Tích Sơn lần lượt gia nhập Quốc dân Cách mạng quân.
Liên Xô cũng cung cấp vũ khí cho cuộc chiến Bắc phạt của Quốc dân đảng. Dù sau này Tưởng Giới Thạch nổi tiếng chống cộng nhưng Liên Xô đã đóng vai trò rất lớn trong sự hình thành quân đội Trung Hoa Dân Quốc và việc Quốc dân đảng giành được chính quyền trung ương, cũng như trong sự phát triển của Quốc dân đảng. Đảng Cộng sản Trung Quốc lẫn Quốc dân đảng đều là những bản sao của Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhờ cách tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ mà Quốc dân đảng có được sức mạnh tổ chức mà các đảng phái khác và các quân phiệt không có được.
Sau này Tưởng Giới Thạch lãnh đạo Trung Quốc theo lối dĩ đảng trị quốc cũng là học từ Liên Xô trước khi Đài Loan cải cách chính trị theo hướng cộng hoà đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập. Ngày 7 tháng 9 năm 1926, quân Bắc phạt công chiếm Hán Khẩu, ngày 8 tháng 11 công chiếm Nam Xương, ngày 11 tháng 11, Chính phủ Quốc dân tại Quảng Châu quyết định dời về phía bắc đến Vũ Hán, Tưởng Giới Thạch thì chủ trương thiên đô đến Nam Xương đang do ông khống chế. Tháng 3 năm 1927, quân Bắc phạt chiếm xong Thượng Hải và Nam Kinh, song giữa thế lực chống cộng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu và thế lực dung cộng do Uông Tinh Vệ đứng đầu phát sinh phân liệt. Tưởng Giới Thạch hủy bỏ chính sách Liên minh với Nga của Tôn Trung Sơn.
Mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Hoa Dân Quốc gia tăng tới mức vào tháng 4 năm 1927, Stalin gửi thư cho Đảng Cộng sản Trung Quốc kêu gọi nổi dậy vũ trang. Ngày 6 tháng 4 năm 1927, Stalin tuyên bố Quân đội Quốc dân đảng là kẻ thù và Tưởng Giới Thạch phải bị lật đổ. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, bùng phát sự kiện Tứ Nhất Nhị tại Thượng Hải khi Tưởng Giới Thạch phát động chính biến tiêu diệt các đảng viên cộng sản. Ngày 15 tháng 7, Uông Tinh Vệ tại Vũ Hán cũng bắt đầu tiêu diệt Đảng viên cộng sản. Quốc-Cộng hợp tác lần thứ nhất do đó kết thúc.
Ngày 1 tháng 8 năm 1927, Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động Khởi nghĩa Nam Xương, bắt đầu sử dụng vũ lực đoạt chính quyền, mở màn Quốc-Cộng nội chiến lần thứ nhất kéo dài 10 năm liên tục. Tháng 6 năm 1928, quân Bắc phạt chiếm được Bắc Kinh. Ngày 29 tháng 12 cùng năm, lãnh đạo Phụng hệ là Trương Học Lương đánh điện đến Nam Kinh, tuyên bố tiếp nhận Chính phủ Quốc dân cai quản. Sự kiện này, đánh dấu thắng lợi của Chính phủ Quốc dân trong Bắc phạt, thống nhất Trung Quốc trên danh nghĩa.
Năm 1927, sau khi Trung Hoa Dân Quốc định đô tại Nam Kinh, Tưởng Giới Thạch căn cứ theo "Đại cương kiến quốc Chính phủ Quốc dân" do Tôn Trung Sơn đề xuất, thực thi cấu trúc huấn chính lấy Quốc dân đảng làm cốt lõi lãnh đạo quốc gia, tạm thời thi hành chế độ một đảng, đồng thời chế định "Ước pháp thời kỳ huấn chính Trung Hoa Dân Quốc" làm hiến pháp lâm thời. Trong thời kỳ này, Chính phủ Quốc dân có thành tựu trong phát triển quan hệ ngoại giao, giao thông vận tải, tài chính công cộng, sinh hoạt dân sinh, văn hóa… được cho là Thập niên Nam Kinh.
Trong đó, Chính phủ liên tục thành lập các cơ cấu như Viện Nghiên cứu Trung ương, Ngân hàng Trung ương, ngoài ra còn thi hành ổn định vật giá, cải cách ngân hàng và thống nhất chế độ tiền tệ, và các chính sách kinh tế-xã hội khác; đồng thời chính phủ mở rộng sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, khiến tăng trưởng công nghiệp đạt trên 7,7%. Thời kỳ năm 1932, đoàn đại biểu Trung Hoa Dân Quốc lần đầu tiên được phái tham dự Thế vận hội Mùa hè.
Sydney ngày 12 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.200 chữ)
Bài 207: CHUYỆN KỂ VỀ NHẬT BẢN XÂM LĂNG, CHIẾN TRANH THẾ GIỚI, KHÁNG CHIẾN VÀ NỘI CHIẾN TẠI TRUNG QUỐC.
Lê Xuân Đỗ
Năm 1931, Đế quốc Nhật Bản phát động Sự biến 28/9 xâm nhập Đông Bắc Trung Quốc đồng thời kiến lập Mãn Châu Quốc, sau đó Nhật Bản không ngừng phát động các hành động đối địch như Chiến dịch Trường Thành, Sự biến Hoa Bắc, song Trung Quốc Quốc dân Đảng lại chọn chính sách ổn định bên trong trước khi dẹp trừ ngoại xâm, một mặt liên tiếp thỏa hiệp với Nhật Bản, một mặt tăng cường diệt cộng. Ngày 12 tháng 12 năm 1936, các tướng lĩnh Quốc dân đảng chủ trương đoàn kết kháng Nhật là Trương Học Lương và Dương Hổ Thành phát động sự biến Tây An.
Trương Học Lương đã bắt giam Tưởng Giới Thạch, buộc Tưởng phải đình chỉ diệt cộng, đồng thời tái hợp tác cùng Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng phản kích Nhật Bản xâm lược. Hồng quân Công-Nông Trung Quốc của Đảng Cộng sản được cải biên thành Bát lộ quân và Tân Tứ quân thuộc Quốc dân Cách mạng quân. Ngày 7 tháng 7 năm 1937, Nhật Bản phát động Sự kiện Lư Câu Kiều, Chiến tranh Trung-Nhật bùng phát toàn diện. Đến tháng 12 cùng năm, thủ đô Nam Kinh của Trung Hoa Dân Quốc thất thủ, Chính phủ Quốc dân triệt thoái đến Trùng Khánh.
Thời kỳ Chiến tranh kháng Nhật, Quốc dân Cách mạng quân ước tính có 1,7 triệu người nhập ngũ tác chiến, mặc dù Quốc dân Cách mạng quân ở thế yếu trong suốt chiến tranh do các nhân tố như trang bị và kinh tế, song vẫn cầm chân thành công quân Nhật trên chiến trường Trung Quốc, và giành thắng lợi trong một số chiến dịch. Ngày 7 tháng 12 năm 1941,Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng mở màn Chiến tranh Thái Bình Dương, sang ngày 8 Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật, đến ngày 9 Chính phủ Quốc dân chính thức tuyên chiến với Nhật. Trung Quốc gia nhập Đồng Minh, Anh Quốc mở tuyến đường Vân Nam-Miến Điện để vận chuyển cung cấp vật tư.
Nhật Bản lần lượt thành lập các chính quyền bù nhìn như Chính phủ Tự trị Liên hiệp Mông Cương, Chính quyền Uông Tinh Vệ, ngày 9 tháng 1 năm 1943 Chính phủ Quốc dân Uông Tinh Vệ tuyên chiến với liên minh Anh-Mỹ. Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ thả hai bom nguyên tử xuống Nhật Bản, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, xuất binh chiếm cứ khu vực Đông Bắc Trung Quốc. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Thiên hoàng Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, đến ngày 2 tháng 9 cùng năm, Nhật Bản ký Văn kiện đầu hàng. Ngày 9 tháng 9, Chính phủ Quốc dân tiếp nhận thư đầu hàng của Nhật Bản tại Nam Kinh, đến lúc này Trung Hoa Dân Quốc giành thắng lợi trong Chiến tranh kháng Nhật. Năm sau dời thủ đô về Nam Kinh.
Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc là quốc gia sáng lập và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên hiệp quốc được Đồng Minh cử vào Việt Nam tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật từ Vỹ tuyến 16 trở ra Bắc, còn Anh Quốc từ Vỹ tuyến 16 trở ra vào Nam. Trung Quốc không chỉ thu hồi lãnh thổ bị Nhật chiếm cứ trong chiến tranh và khu vực Mãn Châu do Nhật Bản khống chế, mà còn tiếp quản Đài Loan và Bành Hồ bị nhà Thanh cắt nhượng cho Nhật Bản. Đồng thời, thông qua các cuộc đàm phán các quốc gia Âu-Mỹ cũng triệt tiêu các điều ước bất bình đẳng trước đây ký kết các điều ước mới bình đẳng hơn.
Bắt đầu từ năm 1945, Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản triển khai hòa đàm thành lập chính phủ liên hiệp do Hoa Kỳ làm trung gian. Ngày 25 tháng 12 năm 1946, Quốc dân đại hội thông qua "Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc", do Quốc dân đảng khống chế bị Đảng Cộng sản tẩy chay. Đầu năm 1947, sau khi Hoa Kỳ hòa giải thất bại, Quốc-Cộng nội chiến lần thứ hai bùng phát toàn diện. Đồng thời, Chính phủ Dân quốc có chính sách sai lầm, gây ra lạm phát phi mã, để mất lòng dân. Ngày 28 tháng 2 năm 1947, tại Đài Loan bùng phát sự kiện chống đối Quốc dân đảng.
Cuối năm 1947, Chính quyền Trung Quốc ban bố hiến pháp, thực thi hiến chính, đồng thời cải tổ thành Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1948, Tưởng Giới Thạch và Lý Tông Nhân được bầu làm tổng thống và phó tổng thống nhậm chức vào ngày 20 tháng 5 cùng năm. Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu triển khai phản công chiến lược Quốc dân đảng, đồng thời đổi tên lực lượng vũ trang của mình thành Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Sau ba năm đánh nhau, bằng các chiến dịch lớn Đảng Cộng sản Trung Quốc hoàn toàn khống chế khu vực Đông Bắc và khu vực Hoa Bắc.
Cuối tháng 1 năm 1949, Tưởng Giới Thạch tuyên bố từ nhiệm, Lý Tông Nhân tạm thời đảm nhiệm chức vụ tổng thống. Tháng 4 năm 1949, sau khi đàm phán giữa Chính phủ Quốc dân và Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Bình tan vỡ, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc phát động chiến dịch vượt Trường Giang, chiếm lĩnh thủ đô Nam Kinh và trung tâm kinh tế Thượng Hải. Quyền tổng thống Lý Tông Nhân của Trung Hoa Dân Quốc nhận thấy đại thế đã mất nên đã bay sang Mỹ qua Hồng Kông. Tưởng Giới Thạch triệt thoái đến khu vực Tây Nam tiếp tục chỉ huy quân đội kháng cự.
Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh, đến tháng 12 cùng năm chính phủ trung ương Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch triệt thoái ra khỏi nội địa Trung Quốc chạy ra đảo Đài Loan lấy Đài Bắc làm thủ đô lâm thời. Trong quá trình triệt thoái, ngoài việc đem ngoại hối vàng dự trữ đến Đài Loan, rất nhiều binh lính và cư dân Đại lục theo Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc rút sang khu vực Đài Loan.
Dù chỉ quản lý một phần lãnh thổ trên đảo có thể gọi là nhỏ bé so vởi nội địa rộng lớn của Trung Quốc, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc vẫn tiếp tục là một trong năm thành viên chính của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc trên 20 năm. Ngày 25 tháng 10 năm 1971, đại diện ngoại giao của Mỹ ở Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu bầu Trung Quốc trở thành thành viên thường trực Hội đồng Bảo an. Lý do sự thay đổi là Mỹ đã đánh giá các mối quan hệ với Trung Quốc cao hơn cam kết lịch sử của mình đối với Đài Loan. Mặc cho sự phản đối từ phía Mỹ, Đài Loan vẫn bị trục xuất.
Sydney ngày 13 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.251 chữ)
Bài 208: CHUYỆN KỂ VỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ, PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI ĐÀI LOAN - TRUNG HOA DÂN QUỐC.
Lê Xuân Đỗ
Như đã đề cập ở trên, năm 1945, Trung Hoa Dân Quốc là sáng lập viên tổ chức Liên Hiệp Quốc và là thành viên thường trực Hội đồng Bảo an. Sau khi trua trận tại bên trong nội địa, chạy sang Đài Loan năm 1949, Trung Hoa Dân Quốc vẫn là thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Đến ngày 25 tháng 10 năm 1971, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc nhận Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc và trục xuất Trung Hoa Dân Quốc ra khỏi tổ chức này. Trong thập niên 1970 có rất nhiều quốc gia thừa nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao với Trung Hoa Dân Quốc.
Có hơn 60 quốc gia tuy đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao chính thức, nhưng dưới danh nghĩa tổ chức quần chúng Trung Hoa Dân Quốc duy trì quan hệ chính trị, thương mại và văn hóa dưới hình thức xử lý công tác lãnh sự. Từ năm 1993 đến năm 2008, Trung Hoa Dân Quốc mỗi năm đều yêu cầu gia nhập Liên Hợp Quốc, song bị loại trừ tại Uỷ ban Tổng vụ Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Quốc gia gần đây nhất cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan chính là Nicaragua vào ngày 09/12/2021. Nicaragua tuyên bố rằng: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất Trung Quốc.
Cũng vì lý do trên tên Trung Hoa Dân Quốc cũng có nhiều thay đổi, từ năm 1949 đến thập niên 1960 cộng đồng quốc tế gọi là "Trung Hoa quốc gia", "Trung Hoa tự do" hay "Trung Hoa dân chủ", để phân biệt với nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là "Trung Hoa đỏ", "Trung Hoa cộng sản". Sau Nghị quyết 2758 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1971, công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Đến thập niên 1990, bắt đầu sử dụng phổ biến tên gọi "Đài Loan" làm quốc hiệu.
Khi tham gia hoạt động với các tổ chức quốc tế, Trung Hoa Dân Quốc phải sử dụng các cách xưng hô khác nhau; như "Trung Hoa Đài Bắc" hay "Đài Bành Kim Mã". Trong các sản phẩm báo chí, tin tức, truyền thông thì gọi là "Đài Loan Trung Quốc", "nhà đương cục Đài Loan" hay "khu vực Đài Loan". Chính phủ Trần Thuỷ Biển (2.000 - 2.008) đổi sang tự xưng "Đài Loan", trực tiếp gọi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là "Trung Quốc". Chính phủ Mã Anh Cửu (2.008 – 2016) chuyển sang đồng thời sử dụng gọi tắt "Hoa" lẫn "Đài", dựa theo hiến pháp để gọi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là "Đại lục".
Gần đây, Chính phủ của Tổng thống Thái Anh Văn (2016-đến nay…) luôn tuyên bố hai bờ là hai vùng riêng biệt: Đài Loan và Trung Quốc, cự tuyệt việc thống nhất dưới bất kỳ hình thức nào đồng thời biểu thị sẽ sẵn sàng tự vệ, đáp trả mọi động thái quân sự đến từ phía Đại lục. Không dừng lại ở đó, tới đầu năm 2021, chính phủ Đài Loan chính thức ra mắt hộ chiếu mới có tên gọi Taiwan (Đài Loan) và loại bỏ dòng chữ Republic of China bằng tiếng Anh ra khỏi trang bìa của cuốn hộ chiếu mới.
Về kinh tế thì tại Đài Loan với cơ sở vật chất vốn được hiện đại hóa từ thời kỳ thuộc Nhật, khi Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chạy ra Đài Loan vào năm năm 1949 tiếp tục tận dụng viện trợ từ Hoa Kỳ để tiến hành một loạt các dự án tái tạo, khôi phục và kiến thiết. Nền kinh tế Đài Loan từ thập niên 1960 trở đi có sự phát triển thần tốc, nhảy vọt cả về kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội, tạo nên Kỳ tích Đài Loan. Từ thập niên 1990, Đài Loan chính thức tiến vào hàng ngũ các quốc gia phát triển, đồng thời giữ vững vị thế, tư cách đó cho đến tận ngày nay.
Năm 2014, tổng sản phẩm nội địa đạt 523,567 tỷ USD, GDP/người đạt 22.317 USD. Xuất siêu khổng lồ khiến dự trữ ngoại hối của Đài Loan chỉ đứng sau nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản và Nga (2014), dự trữ ngoại hối cuối tháng 7 năm 2015 là 421,96 tỷ USD. Đài Loan cùng với Hồng Kông, Hàn Quốc và Singapore được xếp vào nhóm Bốn con rồng châu Á. Thu nhập bình quân đầu người, bình quân mức sống, tiêu chuẩn sinh hoạt và chỉ số phát triển con người (HDI) nằm ở mức quốc gia tiên tiến. Đài Loan được công nhận là một cường quốc bậc trung.
Không giống các quốc gia như Hàn Quốc hay Nhật Bản, kinh tế Đài Loan chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thay vì các tập đoàn quy mô lớn. Đài Loan nhập khẩu nhiều nhất từ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ả Rập Xê Út và Hàn Quốc, các quốc gia Đài Loan xuất khẩu nhiều nhất là nước Cộng hòa Nhận dân Trung Hoa, Hồng Kông, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Singapore, các đối tác mậu dịch chủ yếu khác là Malaysia, Đức, Úc, Indonesia, Philippines, Việt Nam, Thái Lan.
Đảo quốc Đài Loan sở hữu các ngành nghiên cứu, chế tạo, khoa học - kỹ thuật tiên tiến vững mạnh, chiếm vị trí hàng đầu trong các lĩnh vực như điện tử tiêu dùng, sản xuất vi mạch, chất bán dẫn, công nghệ thông tin - truyền thông, điện tử chính xác,... Về mậu dịch, chủ yếu thông qua công nghiệp công nghệ cao để thu lại ngoại tệ, tiếp tục lấy công nghiệp công nghệ cao, đầu tư vốn FDI, ODA ra nước ngoài như Hoa Kỳ, Trung Quốc đại lục, châu Âu và các nước đang phát triển. Ngành dịch vụ là trung tâm, định hướng phát triển công nghiệp du lịch kết hợp tăng cường truyền bá văn hoá Đài Loan ra phạm vi toàn cầu.
Hệ thống giáo dục Đài Loan là tổng hợp các đặc điểm của giáo dục Trung Quốc và Hoa Kỳ. Chính phủ chế định bằng pháp luật để nhân dân được hưởng chế độ giáo dục nghĩa vụ 9 năm, Năm 2012 Đài Loan có tới 99,15% học sinh tiếp tục theo học trung học cao cấp hay trung học cao cấp kỹ thuật. Ở cấp giáo dục tiểu học 6 năm, giáo dục trung học quốc gia 3 năm, giáo dục trung học cao cấp 3 năm, giáo dục bậc đại học kéo dài 4 năm. Các đại học danh tiếng là Đại học quốc lập Đài Loan, Đại học quốc lập Thanh Hoa, Đại học quốc lập Giao thông, Đại học quốc lập Thành Công, Đại học quốc lập Trung Sơn.
Về y tế và phúc lợi xã hội thì tại Đài Loan hiện có 99,5% công dân tham gia bảo hiểm y tế toàn dân, bảo hiểm này trợ cấp chi phí y tế cho hộ thu nhập thấp, quân nhân xuất ngũ, trẻ dưới ba tuổi, người thất nghiệp, hộ gặp nạn, người già, và người tàn tật. Bảo hiểm y tế toàn dân chiếm khoảng 5,44% GDP, có thể do chủ sử dụng lao động hoặc cá nhân trả phí bảo hiểm.
Sydney ngày 14 tháng 4 năm 2023
(Bài viết có 1.311 chữ)
Hết Chương IX gồm 30 bài: 179 - 208.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét