Chương 3: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM
DÂN CHỦ CỘNG HOÀ: 2.9.1945 - 1955
(Có 50 trang và 31.346)
Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là Chính quyền Việt Nam Độc lập thứ hai, sau khi cướp Chính quyền ở Hà Nội. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Hồ Chí Minh và ra mắt Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới thành lập và tuyên bố Việt Nam Độc lập. Đến năm 1955, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trải qua 6 chính phủ: (1) Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh; (2) Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Hồ Chí Minh; (3) Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Hồ Chí Minh; (4) Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Hồ Chí Minh; (5) Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Cải tổ Hồ Chí Minh; Và (6) Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Mở rộng Hồ Chí Minh.
1. CHÍNH PHỦ LÂM THỜI HỒ CHÍ MINH:
2.9.1945 - 1.1.1946.
I. Bối cảnh thành lập.
1. Ngày 13/8/45, Đảng Cộng sản Đông Dương (cả nước chỉ có 5.000 đảng viên) họp tai Tuyên Quang quyết định Tổng khởi nghĩa, đoạt khí giới quân Nhật, chiếm chính quyền trước khi Đồng minh tới Đông Dương, và lập chế độ Dân chủ Cộng hòa. Ngày 17/8/45, công chức Hà Nội tổ chức biểu tình “tỏ ý chí bảo vệ đất nước”, Cộng sản len vào dòng người đông đảo hô khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Cứu quốc, đi qua các đường phố, biến nó thành cuộc biểu tình ủng hộ Việt Minh. Hôm sau, Cộng sản huy động dân chúng tiến chiếm Bắc Bộ phủ, và một số công sở trong thành phố. Ngày 23/8/45, Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Lâm thời do ông ta làm Chủ tịch.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Hồ Chí Minh (1890 – 1969) | Chủ tịch Chính phủ Lâm thời kiêm Bộ trưởng Ngoại giao | Cộng sản |
2 | Võ Nguyên Giáp (1911 – 2013) | Bộ trưởng Nội vụ | Cộng sản |
3 | Chu Văn Tấn (1909 – 1984) | Bộ trưởng Quốc phòng | Cộng sản |
4 | Trần Huy Liệu (1901-1969) | Bộ trưởng Thông tin Tuyên truyền | Cộng sản |
5 | Dương Đức Hiền (1916-1963) | Bộ trưởng Thanh niên | Dân chủ |
6 | Nguyễn Mạnh Hà (1913 – 1992) | Bộ trưởng Kinh tế quốc gia | Không đảng |
7 | Vũ Đình Hoè (1912 – 2011) | Bộ trưởng Quốc gia giáo dục | Dân chủ |
8 | Vũ Trọng Khánh (1912 – 1996) | Bộ trưởng Tư pháp | Không đảng |
9 | Phạm Ngọc Thạch (1909 – 1968) | Bộ trưởng Y tế | Cộng sản |
10 | Lê Văn Hiến (1904 – 1997) | Bộ trưởng Lao động | Cộng sản |
11 | Phạm Văn Đồng (1906 – 2000) | Bộ trưởng Tài chính | Cộng sản |
12 | Nguyễn Văn Tố (1889 – 1947) | Bộ trưởng Cứu tế xã hội | Không đảng |
13 | Đào Trọng Kim (1883 – 1953) | Bộ trưởng Giao thông Công chính | Không đảng |
14 | Cù Huy Cận (1919 – 2005) | Bộ trưởng không bộ | Cộng sản |
15 | Nguyễn Văn Xuân (1883 – 1953 | Bộ trưởng không bộ | Không đảng |
III. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 23/8/1945, lúc thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Hồ Chí Minh ít được biết đến, trong khi Chính phủ Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam đang tồn tại. Hồ Chí Minh cảm thấy phải tìm cách làm cho Đồng Minh chú ý đến Chính phủ của ông trước khi quân đội của họ vào Việt Nam giải giáp quân Nhật. Tại thời điểm nầy, Hoàng đế Bảo Đại cũng đã gửi lời kêu gọi đến lãnh đạo các nước Đồng Minh yêu cầu công nhận nền độc lập của Đế quốc Việt Nam. Lời kêu gọi này, làm cho Hồ Chí Minh lo ngại về địa vị hợp pháp của Bảo Đại, nên ông lại phải tìm cách làm cho Mỹ tin rằng, ông không phải là một phái viên của Quốc tế Cộng sản mà là một người Quốc gia - Xã hội mong muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại bang.
Thông qua OSS, Hồ Chí Minh gửi 9 bức điện cho Chính phủ Mỹ, bao gồm cả bốn bức thư tay gửi trực tiếp cho Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đề nghị Mỹ đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồ Chí Minh hy vọng rằng, tranh thủ được sự có mặt của Mỹ ông sẽ có ưu thế trong các cuộc thương lượng với Trung Quốc và Pháp về Đông Dương. Hồ Chí Minh nói với chỉ huy OSS tại miền Bắc, Archimedes L.A Patti, rằng ông theo chủ nghĩa Lenin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và xin gia nhập Đệ Tam Quốc tế, vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Ông không thấy có sự lựa chọn nào khác. Nhưng trong nhiều năm sau đó những tổ chức Cộng sản này cũng không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa.
2. Trước mắt, ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ, trước khi có thể hy vọng vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Hồ Chí Minh giải thích rằng: Người Mỹ xem ông là một người quốc tế cộng sản, "bù nhìn của Moscow" vì ông đã ở Moscow nhiều năm, nhưng ông khẳng định mình không phải là người cộng sản theo cách mà Mỹ hiểu, mà ông là nhà cách mạng hoạt động vì độc lập dân tộc. Thế nhưng, chính phủ Mỹ có nhiều thông liên quan biết rõ hơn về nhân vật nầy, nên đã không đáp lại nguyện vọng của Hồ Chí Minh. Cuối tháng 9 năm 1945, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo về nước. Thế là, Hồ Chí Minh lại phải đối diện với các vấn đề không mong muốn: quân Đồng Minh đến giải giáp quân Nhật; Pháp vào tái chiếm Đông Dương; Việt Cách, Việt Quốc theo quân Trung Hoa trở về tranh chia quyền lực...
Hội nghị các nước Đồng minh họp tại Potsdam, Đức quốc (16/7-2/8/1945), uỷ nhiệm quân Anh và Trung Hoa vào Việt Nam giải giáp quân Nhật: Anh từ Vỹ tuyến 16 trở vào Nam, và Trung Hoa Dân Quốc từ Vỹ tuyến 16 trở ra Bắc. Ngày 6/9/45, Phái bộ Quân sự Anh-Ấn tới Sài Gòn để giải giáp quân Nhật, cùng với đó Pháp đưa quân vào tái lập Liên bang Đông Dương. Ngày 9/9/45, quân Trung Hoa vào Hà Nội, đến ngày 15/9/1945 tổng số quân đã có mặt tại Bắc Việt Nam 180.000 người. Cũng với đó, một phần quân của Việt Nam Quốc Dân Đảng (VQ), và của Việt Nam Cách mệnh Đồng Minh Hội (VC) cũng theo quân Trung Hoa từ Trung Hoa về Hà Nội.
3. Ngày 10/9/1945, Chính phủ Hồ Chí Minh tổ chức lễ chào mừng quân Đồng Minh vào giải giáp quân Nhật, Tư lệnh phó quân Trung Hoa, tướng Tiêu Văn "gợi ý" rằng, ở mỗi Bộ trong Chính phủ Việt Nam nên đặt một sĩ quan chuyên môn người Trung Quốc để tiện liên lạc, Hồ Chí Minh cảm thấy khó chịu. Những ngày sau đó, Nguyễn Hải Thần lãnh tụ đảng Việt Cách (VC) đòi Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Liên hiệp theo đúng thỏa hiệp Liễu Châu (28/3/1944) và công khai bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Việt Nam. Hàng loạt vụ đụng độ xảy ra giữa Việt Minh và Việt Cách khiến công chúng bị sốc và các chỉ huy quân đội Trung Hoa Dân quốc cũng thấy không hài lòng. Tư lệnh Phó, tướng Tiêu Văn gây sức ép lên tất cả các bên để buộc họ thành lập Chính phủ Liên hiệp..
Ngày 28/9/45, Hồ Chí Minh tiếp Cố vấn Ngoại giao Pháp Léon Pignon và Đại tá Alessandri. Ngày15/10/45, Hồ Chí Minh tiếp kiến Sainteny Đặc phái Viên Pháp. Ngày 1/11/45, báo “Việt Nam” của Việt Quốc, và “Đồng Minh” của Việt Cách đăng nhiều bài đã kích Hồ Chí Minh, và tố cáo Mặt trận Việt minh là Cộng sản trá hình. Nhiều buổi phát thanh, và diễn thuyết tại đường Quan Thánh, trụ sở của Việt Cách có rất đông người đến nghe. Điều làm Hồ Chí Minh lo ngại là trong một số giới, đặc biệt là tầng lớp trung lưu Việt Nam, người ta vẫn xem Hồ Chí Minh và Việt Minh là Cộng sản vì thế ông phải làm mọi cách để thay đổi điều này. Ngày 11/11/1945, Hồ Chí Minh quyết định giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương.
4. Ngày 19/11/1945, Hồ Chí Minh (VM), Vũ Hồng Khanh (VQ) và Nguyễn Hải Thần (VC) thỏa thuận về các nguyên tắc chung nhằm định hướng đàm phán, thành lập chính phủ Liên hiệp, thống nhất quân đội, và kết thúc các cuộc đấu tranh đảng phái để cùng nhau chống Pháp. Ngày 24/11/1945, Hồ Chí Minh thông báo cho Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh rằng các đảng phái đã thống nhất ý kiến, không cần phải thay đổi chính phủ làm cho nhân dân hoang mang, quốc tế hoài nghi mà sẽ tổ chức bầu cử quốc hội trong 3 tuần nữa. Ông cũng mời Việt Quốc và Việt Cách ứng cử và chấm dứt công kích nhau bằng lời nói và hành động cho đến ngày Quốc hội khai mạc.
Tức thì, báo “Việt Nam” của Việt Quốc, và “Đồng Minh” của Việt Cách viết nhiều bài chỉ trích Hồ Chí Minh không quân tử, không giữ lời hứa, theo đuổi một chính sách sai lầm, thiếu hiệu quả, không xử lý nổi các vấn đề kinh tế và hoàn toàn thụ động trước việc Pháp đổ bộ vào miền Nam. Việt Quốc kêu gọi các đảng phái gạt bỏ bất đồng để thành lập Chính phủ Liên hiệp lãnh đạo nhân dân giành độc lập, kêu gọi các thành viên Việt Minh hãy nhận thức rằng lãnh đạo của họ đang đưa đất nước đến thảm họa, bạn bè quốc tế xa lánh. Ngày 23/12/1945, tướng Tiêu Văn tổ chức một cuộc họp hòa giải các bên để thành lập chính phủ Liên hiệp.
5. Tại cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần đề nghị Hồ Chí Minh hợp tác với Việt Quốc, Việt Cách thành lập một chính phủ bao gồm thành viên của Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh và các đảng phái nhỏ khác. Nguyễn Hải Thần sẽ đảm nhận chức Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh làm Phó Chủ tịch. Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh, mỗi đảng nắm giữ 1/4 số ghế Bộ trưởng trong Chính phủ; 1/4 còn lại do các đảng phái nhỏ nắm. Như vậy, chính phủ Việt Nam sẽ nhận được sự ủng hộ của Trung Hoa chống lại các cố gắng của Pháp tái chiếm Việt Nam.
Sau nhiều thảo luận, cuối cùng các bên đạt tới một thỏa thuận được tuyên bố là mang tính pháp lý (viết bằng chữ Hán) theo đó các ghế bộ trưởng sau Tổng tuyển cử trong chính phủ sẽ phân chia như sau: Việt Minh 2 bộ trưởng, Dân Chủ 2 bộ trưởng, Việt Quốc 2 bộ trưởng, Việt Cách 2 bộ trưởng, phi đảng phái 2 bộ trưởng. Cuộc bầu cử Quốc hội được hoãn lại 2 tuần. Việt Quốc sẽ được 50 ghế, và Việt Cách 20 ghế trong Quốc hội mà không phải tranh cử. Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần chấp nhận để Hồ Chí Minh tiếp tục làm chủ tịch nước Lâm thời.
IV. Những việc đã làm.
1. Khi tuyên bố Việt Nam Độc lập, và ra mắt Chính phủ Cách mạng Lâm thời ngày 2/9, Hồ Chí Minh giải thích "Chính phủ Lâm thời không phải là Chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng. Cũng không phải là một Chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các chính đảng. Thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức." Rồi ông ta hô hào các lời thề chống Pháp: “Không làm việc cho Pháp; không đi lính cho Pháp; không tiếp tế cho Pháp”.v.v..
Liền ngay sau đó, Chính phủ ban hành sắc lệnh giải tán một số đảng phái, với lý do các đảng này tư thông với ngoại quốc, làm phương hại đến nền độc lập Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam như Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng... Cùng với đó, là giải tán các nghiệp đoàn, để kiểm soát nền kinh tế, thống nhất các tổ chức Thanh niên vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Ngày 4/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ nước VNDCCH, ký ban hành Sắc lệnh số 4 lập "Quỹ độc lập" thu nhận tiền và đồ vật của nhân dân giúp Chính phủ, ủng hộ nền độc lập Quốc gia.
2. Ngày 5/9/45, bãi bỏ chế độ Hương chính, với các Kỳ mục, lập Ủy ban Nhân dân ở mỗi Xã. Ngày 12/9/45, Bộ Nội vụ ra Nghị định bãi bỏ quan lại, thiết lập hệ thống hành chánh mới với các Ủy ban Nhân dân Kỳ, Tỉnh, Huyện, Xã. Ngày 14/9/45 bải bỏ thuế môn bài. Từ ngày 17 đến ngày 24 tháng 9 năm 1945, Chính phủ phát động "Tuần lễ Vàng". Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào toàn quốc nêu rõ mục đích Tuần lễ Vàng là "thu góp số vàng trong nhân dân, nhất là của các nhà giàu có để dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta là việc quốc phòng". Chính phủ đã huy động được tổng cộng 20 triệu đồng và 370 kg vàng. Ngày 21/9/45, Nông dân nghèo có dưới 5 mẩu ruộng được miễn thuế điền.
Sau các "Quỹ độc lập",“Tuần lễ vàng” Chính quyền Cách mạng còn tổ chức nhiều hình thức khuyến khích nhân dân tự nguyện tham gia đóng góp tài chính cho đất nước như "Quỹ kháng chiến", "Quỹ bình dân học vụ", "Quỹ giải phóng quân", "Ngày Nam Bộ"... Chính phủ cũng phát động phong trào cứu đói. Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo".
3. Ngày 4 tháng 10 năm 1945, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi xoá nạn mù chữ: "... Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Người biết chữ dạy cho người không biết chữ…” Nhân danh Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành các sắc lệnh quy đinh việc học chữ quốc ngữ bắt buộc và không mất tiền; lập ra những lớp học bình dân buổi tối cho nông dân và thợ thuyền. Một Nha Bình dân học vụ được thành lập. Các lớp học Bình dân học vụ được mở khắp nơi thu hút sự tham gia của mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp trong nhân dân...
2. CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP LÂM THỜI
HỒ CHÍ MINH: 1.1.1946 - 2.3.1946.
I. Bối cảnh thành lập.
Kết quả các cuộc đàm phán giữa Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc ngày 1/1/1946, Hồ Chí Minh giải thể Chính phủ Lâm thời, để cùng với hai đảng Việt Quốc, Việt Cách thành lập Chính phủ Liên Hiệp Lâm thời. Chính phủ nầy tồn tại 2 tháng 3 ngày.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Hồ Chí Minh (1890 – 1969) | Chủ tịch Chính phủ Lâm thời kiêm Bộ trưởng Ngoại giao | Cộng sản |
2 | Nguyễn Hải Thần (tái nhiệm) | Phó Chủ tịch | Việt Cách |
3 | Võ Nguyên Giáp (1911 – 2013) | Bộ trưởng Nội vụ | Cộng sản |
4 | Chu Văn Tấn (1909 – 1984) | Bộ trưởng Quốc phòng | Cộng sản |
5 | Trần Huy Liệu (1901-1969) | Bộ trưởng Thông tin Tuyên truyền | Cộng sản |
6 | Dương Đức Hiền (1916-1963) | Bộ trưởng Thanh niên | Dân chủ |
7 | Nguyễn Tường Long | Bộ trưởng Kinh tế quốc gia | Việt Quốc |
8 | Vũ Đình Hoè (1912 – 2011) | Bộ trưởng Quốc gia giáo dục | Dân chủ |
9 | Vũ Trọng Khánh (1912 – 1996) | Bộ trưởng Tư pháp | Không đảng |
10 | Trương Đình Tri (?– 1947) | Bộ trưởng Y tế | Việt Cách |
11 | Lê Văn Hiến (1904 – 1997) | Bộ trưởng Lao động | Cộng sản |
12 | Phạm Văn Đồng (1906 – 2000) | Bộ trưởng Tài chính | Cộng sản |
13 | Nguyễn Văn Tố (1889 – 1947) | Bộ trưởng Cứu tế xã hội | Không đảng |
14 | Đào Trọng Kim (1883 – 1953) | Bộ trưởng Giao thông Công chính | Không đảng |
15 | Cù Huy Cận (1919 – 2005) | Bộ trưởng không bộ | Cộng sản |
16 | Nguyễn Văn Xuân (1883 – 1953 | Bộ trưởng không bộ | Không đảng |
III. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 7/1/46, ký kết Hiệp định tạm thời Mên-Pháp, Pháp thừa nhận Mên là “Quốc gia Tự Trị” trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 13/1/46, Vệ quốc quân tấn công quân Việt Quốc tại Việt Trì. Ngày 20/1/46, Vệ Quốc quân tấn công quân Việt quốc tại Vĩnh Yên và Phú Thọ. Ngày 20/1/46, tại Pháp, tướng De Gaulle rời khỏi chính quyền. Ngày 23/1/46, Vệ quốc quân đẩy lui bộ đội Việt Cách và chiếm đóng Tiên Yên. Ngày 28/1/46, Tướng Anh, Douglas Gracey, chuyễn giao quyền hành cho quân đội Pháp và rời khỏi Sài Gòn.
Ngày 5/2/46, quân Pháp đã chiếm đóng xong các tỉnh lỵ Cao Nguyên, miền Trung, và miền Nam, từ Vỹ tuyến 16 trở vào. Ngày 16/2/46, Hồ Chí Minh tiếp Sainteny, và nhận nguyên tắc điều đình với Pháp, Việt Nam có thể đứng trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 19/2/46, Sainteny trở lại gặp Hồ Chí Minh nêu vấn đề hợp tác Việt-Pháp, cùng với việc quân Pháp đổ bộ lên Bắc Bộ. Ngày 23/2/46, tướng Tiêu Văn, người bênh vực cho Việt Quốc bị triệu hồi về Tàu.
2. Ngày 28/2/46, Trung Hoa ký với Pháp một Hiệp ước thân thiện, theo đó, quân Pháp sẽ thay quân Trung Hoa để giải giáp quân Nhật từ vỹ tuyến 16 trở ra. Pháp sẽ trả lại Tàu các tô giới, bán rẻ đường xe lửa Laokay-Vân Nam Phủ, miễn quan thuế cho hàng hóa Tàu, dành mọi sự dể dàng cho Hoa kiều tại Đông Dương. Ngày 1/3/46, Pháp đòi đưa quân ra Bắc để thế quân Tàu Tưởng nhưng các Tướng Tàu chưa chịu viện cớ còn hỏi tướng Mc Arthur, Tổng Tư lệnh Đồng Minh.
IV. Những việc đã làm.
1. Ngày 6/1/1946, Chính phủ tổ chức bầu cử Quốc hội, với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu là 89% và có 333 người trúng cử đại biểu. Quốc hội có tên gọi là Nghị viện Nhân dân. Việt Minh, Việt Quốc, và Việt Cách lại tổ chức Hội nghị bàn cách thực hiện các điều đã thoả thuận ngày 23/12/1945. Do các đảng phái đối lập phản đối, Hồ Chí Minh đồng ý loại Võ Nguyên Giáp và Trần Huy Liệu ra khỏi Nội các. Các bên đã phải họp nhiều lần để thảo luận trong các nhân vật Trung lập, ai sẽ nắm giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Nội vụ. Phan Anh được chọn làm Bộ trưởng Quốc phòng tuy anh trai ông ta là thành viên Việt Minh.
Hội nghị cũng xem xét các nhân sĩ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn, và Trần Đình Nam xem ai thích hợp cho vị trí Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ngô Đình Diệm bị loại vì quá chống cộng còn Bùi Bằng Đoàn quá thân Việt Minh. Trong 2 người còn lại, Hồ Chí Minh chọn Huỳnh Thúc Kháng, và được thống nhất cao. Không ai phản đối Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng Nội vụ vì ông có uy tín khắp cả nước. Hồ Chí Minh gửi điện cho Kháng và cử sứ giả đến gặp ông này. Huỳnh Thúc Kháng miễn cưỡng chấp nhận. Hội nghị cũng thành lập Ủy ban Kháng chiến gồm 9 người với Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch và Vũ Hồng Khanh làm Phó chủ tịch.
2. Trong thời gian hoạt động, Chính phủ đã tiếp tục thực hiện các biện pháp, chính sách để giữ vững nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ non trẻ. Về đối nội đã kêu gọi các đảng phái đoàn kết phụng sự quốc gia, thực hiện các chính sách kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục...
3. CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP KHÁNG CHIẾN
HỒ CHÍ MINH: 2.3.1946 - 3.11.1946.
I. Bối cảnh thành lập
Ngày 1/3/46, Hồ Chí Minh giải thể Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Quốc hội được bầu ngày 6 tháng 1 năm 1946, nhóm họp phiên đầu tiên vào ngày 2/3/46, Quốc hội công nhận 50 Đại biểu của Việt quốc, và 20 Đại biểu Việt cách không qua bầu cử; Quốc hội uỷ Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến; cử một Ban Cố vấn; và một Ủy ban Kháng chiến.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Hồ Chí Minh (1890 – 1969) | Chủ tịch Chính phủ Lâm thời kiêm Bộ trưởng Ngoại giao | Cộng sản |
2 | Nguyễn Hải Thần (tái nhiệm) | Phó Chủ tịch | Việt Cách |
3 | Huỳnh Thúc Kháng | Bộ trưởng Nội vụ | Trung lập |
4 | Nguyễn Tường Tam (1906– 1963) | Bộ trưởng Ngoại giao | Việt Quốc |
5 | Phan Anh (1912– 1990) | Bộ trưởng Quốc phòng | Trung lập |
6 | Vũ Đình Hoè (1912 – 2011) | Bộ trưởng Tư pháp | Dân chủ |
7 | Đặng Thái Mai (1902-1984) | Bộ trưởng Quốc gia giáo dục | Cộng sản |
8 | Nguyễn Văn Tạo (1908 - 1970) | Bộ trưởng Lao động | Cộng sản |
9 | Trương Đình Tri (?– 1947) | Bộ trưởng Y tế | Việt Cách |
10 | Lê Văn Hiến (1904 – 1997) | Bộ trưởng Tài chánh | Cộng sản |
11 | Chu Bá Phượng (1906-1964) | Bộ trưởng Kinh tế | Viết Quốc |
12 | Bồ Xuân Luật (1907– 1994) | Bộ trưởng Canh nông | Việt Cách |
13 | Huỳnh Thiện Lộc (1910-1953) | Bộ trưởng Canh nông | Không đảng |
14 | Trần Đăng Khoa (1907– 1989) | Bộ trưởng không bộ | Dân chủ |
Ban Cố vấn: Vĩnh Thuỵ
Ủy ban Kháng chiến: Chủ tịch Uỷ ban: Võ Nguyễn Giáp; Phó chủ tịch: Vũ Hồng Khanh (1898-1993).
III. Sự kiện liên quan.
1. Xin lưu ý rằng, khi thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, chức trách trong các Bộ cũng thay đổi. Bộ trưởng Quốc phòng trở thành người lo về tài chính mà không được xem xét nhân sự, quân số, súng đạn. Còn Bộ trưởng của các đảng phái khác chẳng có chức trách cụ thể gì, và không bao giờ được tham dự bất cứ buổi họp nào của Nội các. Hồ Chí Minh giao cho Võ Nguyên Giáp và Trần Quốc Hoàn, sau này trở thành Bộ trưởng Công an, nhiệm vụ vô hiệu hóa các cuộc biểu tình do VQ và VC tổ chức nhằm chấm dứt hoạt động tuyên truyền của các đảng này trong dân chúng.
Ngày 5/3/46, tất cả quân Anh và Ấn rút khỏi Nam Bộ. Ngày 20/3/46, Uỷ viên Cộng hoà Nam Bộ, Cédille muốn điều đình với Kháng chiến Nam Bộ, nhưng Nguyễn Bình không chịu, vì Pháp đòi nộp hết vũ khí. Ngày 26/3/46, Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ cử ra lập Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Ngày 29/3/46, quân Pháp kéo tới Huế. Cùng ngày 29/3/46, tại Sài Gòn, Bác sĩ Trần Tấn Phát, Hội viên Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ bị Ban Công tác Thành Bộ hạ sát. Và ngày 4/4/46, Chính khách Nguyễn Văn Thạch, Hội viên Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ lại bị Ban Công tác Thành Bộ hạ sát.
2. Ngày 20/4/46, tại Nam Bộ, một Mặt trận Quốc gia Liên hiệp chống Pháp được thành lập gồm Hòa Hảo, Cao Đài, Bình Xuyên, Quốc Dân đảng. Chủ tịch Mặt trận là Huỳnh Phú Sổ. Ngày 23/4/46, Ủy viên Cộng hòa Cédille chỉ định Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân cầm đầu một Phái đoàn sang Ba-lê vận động cho Nam Kỳ tự trị. Ngày 7/5/46, Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ chấp nhận thành phần Chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Ngày 14/5/46, Cao uỷ D’ Argenlieu nhận lễ tuyên thệ trung thành của đại diện các Sắc dân Sơn cước tại Ban Mê Thuột. Ngày 26/5/46, Phái đoàn Nguyễn Văn Xuân về Sài Gòn, tuyên bố chính giới Ba-lê ủng hộ việc thành lập Chính phủ Nam Kỳ Tự trị.
Ngày 1/6/46, Chính phủ nước Cộng hòa Nam Kỳ trình diện công chúng trước Nhà thờ Đức Bà. Nước nầy là một Quốc gia tự do được Pháp thừa nhận, có Chính phủ riêng. Song việc bổ nhiệm Công chức Cao cấp phải được thỏa hiệp với Ủy viên Cộng hòa Pháp. Thành phần Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ tăng lên thành 42 Hội viên: 28 Việt, 14 Pháp. Ngày 21/6/46, quân Pháp chiếm đóng Pleiku, và Kontum. Ngày 8/7/46, chiếm đóng Lạng Sơn. Ngày 17/7/46, chiếm đóng Đồng Đăng. Ngày 23/7/46, Cao uỷ D’ Argenlieu triệu tập một Hội nghị Liên bang Đông Dương gồm các đại biểu Việt Nam, Nam Kỳ Quốc, Tây Kỳ, Lào, và Cao Mên, đại biểu do Cao ủy chỉ định.
3. Ngày 1/8/46, Hội nghị Liên bang Đông Dương nhóm họp tại Đà Lạt. Tại Pháp, Phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Fontainebleau bỏ phòng họp ra về để phản đối việc Cao uỷ D’ Argenlieu mở Hội nghị Đà Lạt. Ngày 8/8/46, Hội nghị Fontainebleau tái nhóm, do phía Pháp giải thích Hội nghị Đà Lạt chỉ có mục đích thâu thập ý kiến, và nguyện vọng mà thôi. Ngày 17/8/46, Tướng Morlière được cử làm Ủy viên Cộng hòa Băc Bộ. Ngày 20/8/46, Tướng Nguyễn Bình giải tán Mặt trận Quốc gia Liên Hiệp. Ngày 27/8/46, Vua Siavong xứ Lào trở lại ngôi, sau khi Hoàng thân Phetsarath lánh sang Thái Lan. Và, hôm nay ký với Pháp một Hiệp ước tạm thời thừa nhận Lào Tự Trị trong Liên Hiệp Pháp.
IV. Những việc đã làm.
1. Ngày 6/3/46, ký kết Hiệp định sơ bộ Việt-Pháp, theo đó, Chính phủ Việt Nam dành sự dể dàng cho 15.000 quân Pháp đổ bộ lên Bắc vĩ tuyến 16 để giải giáp quân Nhật, thay thế quân Tàu; Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 quân. Đổi lại, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội, và tài chính riêng. Sự thống nhất ba Kỳ sẽ tùy thuộc vào cuộc trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ; Các vấn đề ngoại giao, quy chế Liên bang Đông Dương, quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp sẽ đàm phán sau.
Ngày 7/3/46, Biểu tình lớn phản đối Chính phủ ký Hiệp định sơ bộ với Pháp trước nhà hát Tây Hà Nội, Võ Nguyên Giáp tới giải thích không được, sau đó, Hồ Chí Minh đến giải thích hồi lâu, rồi cuối cùng ông nói: Xin đồng bào hãy tin tưởng Hồ Chí Minh không bao giờ là một tên bán nước. Ngày 16/3/46, Cố vấn Vĩnh Thụy rời Hà Nội với một phái đoàn sang thăm Trùng Khánh. Ngày18/3/46, quân đội của Tướng Leclere tới Hà Nội. Ngày 22/3/46, binh lính Pháp diển binh trước cột cờ Hà Nội, Võ Nguyên Giáp tới dự. Ngày 7/4/46, Quân Pháp chiếm đóng Nam Định. Ngày 23/4/46, một phái đoàn Quốc hội do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn sang Ba-lê tiếp xúc với Quốc hội Pháp.
2. Ngày 24/3/46, Hồ Chí Minh ra vịnh Hạ Long gặp Cao uỷ D’ Argenlieu. Ngày 7/4/46, Quân Pháp chiếm đóng Nam Định. Ngày17/4/1946, Hội nghị trù bị Pháp-Việt khai mạc tại Đà Lạt, trưởng đoàn Pháp Nghị sĩ Max André. Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Phó trưởng đoàn là Võ Nguyên Giáp cùng các nhân sĩ trí thức như Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Xuân Hãn… Trong quá trình đàm phán, phía Pháp đưa ra các quan điểm mang tính áp đảo, rằng Việt Nam là một Quốc gia tự trị, không có quyền ngoại giao, không có quyền ký các hiệp ước quốc tế, không bàn đến vấn đề Nam Bộ… Do những bất đồng căn bản giữa hai bên, nên Hội nghị kết thúc ngày 11/5/1946 mà không đạt tới tới kết quả nào.
Ngày 16/5/46, Phái đoàn Phạm Văn Đồng về nước, sau khi tiếp xúc với các giới chính trị Ba-lê. Ngày19/5/46, Cao uỷ D’ Argenlieu ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh. Ngày27/5/46, Hồ Chí Minh cùng tùy tùng lên đường sang Pháp, để mở cuộc tiếp xúc với chính phủ Felix Gouin. Ngày 31/5/1946, Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại lên đường sang Pháp đàm phán. Do bất đồng, Trưởng đoàn Nguyễn Tường Tam vắng mặt, Phạm Văn Đồng được cử làm trưởng đoàn, cùng với các thành viên: Phan Anh, Bửu Hội, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Văn Bính, Đặng Phúc Thông, Dương Bạch Mai, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Chu Bá Phượng, Huỳnh Thiện Lộc, Phạm Khắc Hòe.
3. Ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Võ Nguyên Giáp quyết định Việt Minh phải một mình điều khiển bộ máy chính quyền. Ngày 19/6/46, lính Pháp tiến vào đồn Tự vệ Hải Phòng đòi thả mấy nhân viên Pháp bị bắt giam tại đây. Cùng ngày 19 tháng 6 năm 1946, Báo Cứu Quốc đăng xã luận kịch liệt chỉ trích "bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3". Liền ngay sau đó Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập bằng lực lượng Công an. Ngày 22/6/46, Vệ Quốc quân tấn công quân Việt Cách và chiếm đóng Lạng Sơn. Ngày 25/6/46, tướng Lư Hán, và bộ hạ rời Hà Nội về Tàu.
Ngày 27/6/46, Các ông Nguyễn Hải Thần (VC), Vũ Hồng Khanh (VQ) thành viên trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến lần lượt rút khỏi Chính phủ, lưu vong sang Trung Quốc. Ngày 30/6/46, Vệ Quốc quân giao tranh với quân Việt Quốc ở phủ Lạng Thương và Lạng Sơn. Ngày 1/7/46, Hồ Chí Minh gặp Thủ tướng mới của Pháp là Georges Bidault. Ngày 6-7-1946, Hội nghị Pháp-Việt được tổ chức tại lâu đài Fontainebleau, cách Paris khoảng 60km. Trưởng đoàn Pháp vẫn Nghị sĩ Max André, trưởng đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng. Chương trình nghị sư: Quyền ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Tổ chức Liên bang Đông Dương; Các quyền văn hóa và kinh tế của Pháp; Và trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ để thống nhất Việt Nam.
4. Trưởng đoàn Pháp đọc diễn văn khai mạc; và Trưởng đoàn Việt Nam đọc diễn văn đáp từ, có đoạn: “Chúng tôi lấy làm đau đớn mà phải nói rằng, người Pháp ở Việt Nam không thi hành đúng theo những khoản trong Hiệp định. Họ đã không đình chiến lại tìm cách lấn chiếm… Nhưng trước hết chúng tôi hết sức phản đối sự chia rẽ Tổ quốc của chúng tôi, hết sức phẫn nộ người Pháp ở Sài Gòn lập ra một nước “Cộng hoà Tự trị Nam Kỳ” và một chính phủ Nam Bộ… Chúng tôi muốn cộng tác vì chúng tôi yêu mến Tổ quốc của chúng tôi, chúng tôi muốn cộng tác với nước Pháp trong một đại gia đình gồm những nước dân chủ tự do…”.
Sáng sớm ngày 12/7/1946, dù không có bằng chứng và chưa có lệnh, một Đội Công an do Lê Hữu Qua chỉ huy đột kích khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do nghi ngờ cấu kết với Pháp âm mưu đảo chánh Chính phủ VNDCCH. Đến 7 giờ sáng cùng ngày 12/7, Công an vụ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các ông Lê Giản Giám đốc Nha Công an Bắc Bộ, Nguyễn Tuấn Thức Giám đốc Công an Hà Nội, và Nguyễn Tạo Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương đột kích căn nhà số 7 phố Ôn Như Hầu trụ sở Việt Quốc bắt hơn 100 người trong đó có một đại biểu Quốc hội là Phan Kích Nam. Tiếp sau Hà Nội, các cơ sở của Việt Quốc, Việt Cách ở Hải Phòng và một số tỉnh khác ở miền Bắc cũng bị Công an tấn công. Theo Sử gia David G. Marr, đây là một thời kỳ đầy thù hận, phản bội, tranh đấu và chết chóc.
5. Tại Pháp, trong quá trình đàm phán ở Hội nghị Fontainebleau phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà luôn theo đuổi các mục tiêu độc lập chính trị và thống nhất lãnh thổ. Việt Nam là một quốc gia tự do, hợp tác bình đẳng với Pháp về mọi mặt. Việt Nam trong Liên bang Đông Dương chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế và tài chính, và Liên bang Đông Dương không phải là một quốc gia trong Liên hiệp Pháp. Quan điểm của Phái đoàn Pháp thì ngược lại, chỉ xem Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như là quốc gia tự trị, hay độc lập trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp. Và, Liên bang Đông Dương là một Liên hiệp các Quốc gia Tự trị trong Liên hiệp Pháp.
Ngày 7/9/46, để tránh bế tắc tại Hội nghị Fontainebleau, Phái đoàn Việt Nam đề nghị điểm nào không thể thỏa hiệp để lại bàn sau, hãy ký kết những điểm đã thỏa hiệp. Ngày 9/9/46, phía Pháp đưa ra dự thảo Hiệp định tạm thời trong đó có vài điểm chưa được thỏa thuận, và không đề cập đến vấn đề Nam Bộ. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị làm rõ một số điều và bổ sung vấn đề Nam Bộ. Ngày 10/9/46, hai phái đoàn gặp nhau để ký Tạm ước Việt-Pháp về những điều đã thỏa hiệp thỏa hiệp, Đoàn Việt Nam yêu cầu Pháp xác định “thời điểm và cách thức” thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ trước khi ký Tạm ước, phía Pháp không trả lời nên phái đoàn Việt Nam rời phòng họp. Và, Hội nghị Fontainebleau chính thức tan vỡ.
6. Hôm sau, ngày 11/9/46, Hồ Chí Minh thảo một bản nghị ước và trao cho Marius Moutet, Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại. Ba ngày sau, 14 tháng 9 năm 1946, Marius Moutet hồi đáp với một bản nghị ước khác. Đạt được đồng thuận, Hồ Chí Minh đã đến tư dinh của Marius Moutet lúc nửa đêm ngày 14 tháng 9 năm 1946 để ký văn bản Tạm ước Việt-Pháp (Modus vivendi). Theo đó, hai bên VNDCCH và Pháp cùng bảo đảm quyền tự do kiều dân, chế độ tài sản, trường học Pháp tại Việt Nam, đồng bạc Đông Dương tiếp tục lưu hành; một Uỷ ban sẽ được thành lập để giải quyết vấn đề ngoại giao của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cam kết ưu tiên dùng người Pháp làm cố vấn hoặc chuyên môn; hai bên cùng chấm dứt mọi hành động xung đột, tuyên truyền chống đối nhau...Ngày 18/10/46, trên đường về nước, Hồ Chí Minh lại gặp Cao uỷ D’ Argenlieu tai Cam Ranh.
Về Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Nguyễn Tường Tam, mặc dù Hồ Chí Minh với sự trợ giúp của Hoàng Minh Giám giữ độc quyền liên lạc với Pháp, nhưng Nguyễn Tường Tam vẫn thực hiện trách nhiệm của mình một cách nghiêm túc. Với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Nguyễn Tường Tam dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị Đà Lạt, dù trên thực tế Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo phái đoàn. Theo đại tướng Võ Nguyên Giáp, do bất đồng Tam đã không tham gia hầu hết các phiên họp, còn theo David G. Marr, Tam là người phát ngôn có năng lực và giúp giải quyết một số tranh cãi về chiến thuật đàm phán trong đoàn.
7. Sau đó Tam cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau, cuối cùng rời bỏ chính phủ. Tài liệu nhà nước nêu Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ, tiền chi phí cho phái đoàn sang Pháp đàm phán, rồi đào nhiệm ra nước ngoài. Nhưng theo sử gia David G. Marr việc này khó xảy ra vì Tam khó lòng được giao trách nhiệm giữ tiền của phái đoàn. Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách như Nguyễn Hải thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, rời bỏ chính phủ, lưu vong sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các đảng phái đối lập tại miền Bắc, trong công cuộc "kháng chiến kiến quốc" mà Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến là biểu tượng.
4. CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP QUỐC DÂN
HỒ CHÍ MINH: 3.11.1946 - 20.7.1947.
I. Bối cảnh thành lập
Ngày 28/10/46, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhóm họp (có 242/444 đại biểu dự họp) để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh thuyết trình về “thỏa ước 14/9/1946”. Sau khi tán dương công đức, Quốc hội ủy Hồ Chí Minh lập chính phủ mới. Hồ Chí Minh giải tán Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, và thành lập “Chính phủ Liên hiệp Quốc dân”. Ngày 6/11/46, Quốc hội biểu quyết phát hành giấy bạc Hồ Chí Minh. Ngày 9/11/46, Quốc hội chấp thuận Hiến pháp với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống. Ngày 14/11/46, Quốc hội tuyên bố đình chỉ thi hành Hiến pháp vừa chấp thuận, bầu một Ban thường trực để làm việc thay Quốc hội trong thời gian không nhóm họp.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Hồ Chí Minh (1890 – 1969) | Chủ tịch Chính phủ Lâm thời kiêm Bộ trưởng Ngoại giao | Cộng sản |
2 | Huỳnh Thúc Kháng | Bộ trưởng Nội vụ | Trung lập |
3 | Võ Nguyên Giáp Chủ tịch UB Kh chiến | Bộ trưởng Quốc phòng | Cộng sản |
4 | Nguyễn văn Huyên (1905-1975) | Bộ trưởng Giáo dục | Tiến sĩ Paris (Xã hội) |
5 | Lê Văn Hiến (tái nhiệm) | Bộ trưởng Tài chính | Cộng sản |
6 | Trần Đăng Khoa (tái nhiệm) | Bộ trưởng Giao thông Công chính | Dân chủ |
7 | Hoàng Tích Trí (1903-1958) | Bộ trưởng Y tế | Không đảng |
8 | Nguyễn Văn Tạo (1908 - 1970) | Bộ trưởng Lao động | Cộng sản |
9 | Vũ Đình Hoè (tái nhiệm) | Bộ trưởng Tư pháp | Dân chủ |
10 | Ngô Tấn Nhơn (1914- | Bộ trưởng Canh nông | Không đảng |
11 | Chu Bá Phượng (1906-1964) | Bộ trưởng Cứu tế | Viết Quốc |
12 | Một vị ở Nam Bộ | Bộ trưởng Kinh tế | |
13 | Nguyễn Văn Tố (tái nhiệm | Bộ trưởng không bộ | Không đảng |
14 | Bồ Xuân Luật (1907– 1994) | Bộ trưởng không bộ | Không đảng |
15 | Đặng Văn Hướng (1887-1954) | Bộ trưởng không bộ | Bị VM giết trong CCRĐ |
III. Xung đột Việt - Pháp.
1. Ngày 20/11/46, Tự vệ Hải Phòng ngăn chận thuyền chở hàng cho Pháp, khám xét và bắt nộp thuế Đoan, đồng thời bắt giữ vài lính Pháp. Hai bên nổ súng, Pháp bị chết và bị thương vài chục. Hai ngày sau, Tướng Jean-Étienne Valluy, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, ra lệnh cho quân Pháp chiếm quyền kiểm soát thành phố. Ngày 23/11/46, Đại tá Pierre Louis Dèbes gửi tối hậu thư yêu cầu Tự vệ hạ vũ khí và ra khỏi khu phố Tàu ở Hải Phòng. Không có phản hồi, Dèbes lệnh cho tàu chiến Pháp bắn phá thành phố. Sau đó, khoảng 2.000 lính Pháp tràn vào thành phố, gặp phải hỏa lực mạnh của Tự vệ Việt Minh. Chiến sự kéo dài cho đến khi người Tự vệ cuối cùng rút khỏi chiến trường vào ngày 28/11/46.
Sau sự kiện Hải Phòng, kế hoạch phòng thủ Hà Nội bắt đầu được chuẩn bị để chính phủ có thời gian sơ tán về các vùng núi lân cận. Một số ít lực lượng chính phủ đóng tại Bắc Bộ Phủ và một doanh trại gần đó. Còn phần lớn lực lượng quân sự của Việt Nam trong vùng rút ra ngoại ô của thủ đô. Bù lại, trong nội thành có gần 10.000 du kích và tự vệ. Đối địch với họ là vài nghìn lính Lê dương Pháp. Các cơ quan của chính phủ bí mật chuyển dần ra các địa điểm đã được chuẩn bị trước ở bên ngoài thành phố. Trong thành phố, quân dân Hà Nội bắt đầu xây dựng các chiến lũy phòng thủ trên đường phố, quân Pháp cũng củng cố các vị trí phòng thủ của mình.
2. Ngày 6/12/46, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Pháp rút về các vị trí họ đã giữ từ trước ngày 20 tháng 11, nhưng không nhận được phản hồi. Ngày 12/12/46, Léon Blum, Thủ tướng mới của Pháp tuyên bố ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam. Ba ngày sau, Hồ Chí Minh trao cho Sainteny một bức thông điệp gửi Brum với các “gợi ý cụ thể” về cách giải quyết xung đột. Sainteny đánh điện gởi bức thông điệp ấy vào Sài Gòn để chuyển tiếp tới Paris. Khi bức điện vào đến Sài Gòn, tướng Vallue Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương viết thêm bình luận của mình, cảnh báo rằng sẽ nguy hiểm nếu trì hoãn các hành động quân sự cho đến năm sau.
Ngày 16/12/46, Cao uỷ Đông Dương D'Argenlie lệnh cho tướng Morlière phá các chướng ngại vật mà Việt Minh đã dựng trong thành phố. Ngày 17/2/46, quân Pháp với xe tăng yểm trợ vào các đường phố Hà Nội phá các công sự mà Việt Minh dựng trong những ngày trước đó, gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún, rồi dàn quân ra chốt giữ từ cổng thành Hà Nội đến tận cầu Long Biên và bao vây gây sức ép đồn Công an quận 2 của Hà Nội. Hôm sau, Pháp ra tối hậu thư đòi chấm dứt việc dựng chướng ngại vật trên phố. Tiếp đó là tối hậu thư đòi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp duy trì an ninh trong thành phố.
3. Ngày 17/12/46, lãnh tụ đảng Xã hội Pháp Léon Blum lập xong chính phủ sau 21 ngày khủng hoảng chính trị, giữa lúc tình hình Đông Dương trở nên nghiêm trọng. Léon Blum cử Bộ trưởng Marius Moutet sang Đông Dương lo liệu đối phó với tình thế. Ngày 18/12/46, Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số cơ quan trọng yếu lánh vào Tỉnh lỵ Hà Đông, và các vùng phụ cận Chùa Trầm. Sáng 19/12/46, Hồ Chí Minh viết một bức thư ngắn, cử cố vấn ngoại giao Hoàng Minh Giám tới gặp Saintrny để đàm phán "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại". Sainteny từ chối gặp Hoàng Minh Giám.
IV. Bùng nổ chiến tranh.
1. Chiều hôm đó (19/12/46), Hồ Chủ tịch triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Ðảng mở rộng tại làng Vạn Phúc, Hà Nội, Hội nghị duyệt lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do Hồ Chủ tịch viết, và thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo. Thời điểm bắt đầu nổ súng được quyết định là 8 giờ tối ngày 19/12/1946. Đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, tại Hà Nội, công nhân nhà máy Điện Yên Phụ phá máy, 20 giờ 3 phút, đèn điện trong thành phố vụt tắt, ít phút sau, pháo binh Việt Nam từ pháo đài Láng bắn dồn dập vào Thành phố.
Sau đó, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát trên Đài tiến nói Việt Nam, với lời thề quyết tử: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!". Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Hà Nội, Nam Định, đường số 5, Vinh, Huế, Đà Nẵng... bao vây kìm chân và tiêu diệt quân Pháp, tạo thời gian cần thiết để quân chủ lực và các cơ quan, công xưởng trọng yếu di chuyển về vùng nông thôn hoặc rút lên vùng chiến khu.
2. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại Hà Nội. Tại đây, quân Pháp phải chiến đấu giành giật từng con phố và phải chịu thương vong lớn, khoảng 100 lính Pháp được coi là bị giết, 45 công dân châu Âu thiệt mạng, 200 người mất tích. Sau 57 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng thành phố trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn và chênh lệch về vũ khí, đến đêm 17/2/1947, Tự vệ chiến đấu và Trung đoàn Thủ Đô (thành lập ngày 6 tháng 1 năm 1947) rút khỏi nội thành, Hà Nội hoàn toàn do Pháp kiểm soát. Đa số nhân dân Hà Nội và vùng ven cũng đã bỏ thành phố vượt sông Hồng tản cư lên phía Bắc, tạo thế "Vườn không nhà trống".
Quân Pháp chiếm đóng thành phố Huế (7/2/47). Ngày 11/3/47, chiếm đóng thành phố Nam Định. Ngày 15/4/47, quân Pháp chiếm đóng Hòa Bình. Ngày 17/4/47, chiếm đóng Chợ Bờ. Ngày 24/5/47, Pháp thành lập một Đoàn Vệ binh Bắc Phần. Ngày 25/5/47, quân Pháp chiếm đóng Quảng Trị. Ngày 17/6/47, Hồ Chí Minh lại kêu gọi dân chúng kiên quyết trường kỳ kháng chiến. Ngày 25/6/47, quân Pháp chiếm đóng Quảng Bình và Quảng Nam. Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch. Vũ khí thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp.
V. Tiêu thổ kháng chiến
1. Ngày 16/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, phá hoại để kháng chiến, trong đó có đoạn: “phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc cuả đồng bào, cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy”. Tại Bắc Bộ: chỉ riêng các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, dân các tỉnh đã phá hàng chục km đường tại các QL1, 2, 3, 5, 6,11. Cầu Việt Trì và cầu Phủ Lạng Thương bị phá sập. Toàn bộ nền và đường sắt tuyến Hà Nội - Mục Nam Quan, Yên Viên - Lào Cai cũng bị bóc dỡ.
Tại Trung Bộ, đã phá trên 10.700 km đường ô tô, 30 nghìn thước cầu các loại, trong đó có cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), cầu Yên Xuân, cầu Cấm ( Nghệ An)… và gần như toàn bộ tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh; Huế - Quảng Nam đều bị phá. Tại Nam Bộ, các tuyến đường chính như QL1A Sài Gòn - Phan Thiết, Sài Gòn - Buôn Ma Thuột, Sài Gòn - Cà Mau, Biên Hòa - Long Thành, Xuân Lộc - Bà Rịa cũng bị phá.
2. Vài ghi nhận về kỹ thuật phá đường: trong khi ta chỉ có cuốc, xẻng thì Pháp lại có máy móc hiện đại. Đoạn đường Văn Điển – Hà Đông, quân và dân Việt Nam mất 1.400 công mới dựng xong được hàng rào cánh sẻ bằng thanh Ray và Tà vẹt, nhưng quân Pháp chỉ cần dùng xe Ủi húc trong vài giờ lại thông đường. Đoạn Ngả tư Sở - Văn Điển, hàng nghìn công nhân ngã cây chắn đường, thì quân Pháp chỉ cần 2 tiểu đội Công binh với mìn và máy cắt cây, xe ủi thì vài ba ngày đoạn đường lại bình thường. Trên nhiều đoạn đường nhân dân Việt Nam mất hàng ngàn ngày công đào hố, quân Pháp chỉ cần dùng mìn bạt hai đầu hố là xe lại di chuyển qua lại bình thường. (Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp)
Tại Thái Nguyên: “Tôi có được đi qua Thái Nguyên ba lần: Lần đầu tiên vào hồi Pháp thuộc với nhà cửa đồ sộ của nó. Dân chúng chắc ít người có thể tưởng đến ngày chiến tranh. Lần thứ hai tôi đến nhằm hôm trời nắng: Một đám người đương hì hụi phá nhà; Một tràng tiếng hoan hô giữa những tiếng cười, ai ai cũng sung sướng triệt để phá hoại. Một câu nói của một đồng chí làm tôi nhớ mãi: “Các anh em ơi! Cố lên, ngoài mặt trận các đồng chí đương hy sinh giết giặc, ở hậu phương ta cũng phải cố sức. Mỗi người một công việc. Ta nhất định sẽ thắng”… Lần thứ ba tôi đến sau tết độc lập 1947: đâu đâu cũng là đống gạch, không còn thấy một nhà gác nào nữa. (Trích cảm tưởng của Bác sỹ quân y Nguyễn Ngọc Huy. Tác giả Tố Hương sưu tầm).
3. Đến giữa năm 1947, ở Thái Nguyên công tác phá hoại căn bản hoàn thành. Khung cảnh lúc đó và những gì đã diễn ra trên mảnh đất Thái Nguyên khiến cho một vị thuyết khách phương Tây là ông Paul Mus cũng phải bất ngờ. Cuộc gặp gỡ vào khoảng 22h ngày 11/5/1947 giữa Paul Mus (Pôn Muýt) và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn ra không được như mong đợi… Sau này, Pôn Muýt đã không ngại ngần bày tỏ sự khâm phục của mình: “Tôi vừa sửng sốt, vừa khâm phục… Những người dân đã tự tay phá sập nhà mình. Khó có sức mạnh nào khuất phục nổi một dân tộc có tinh thần hy sinh như vậy” (Tố Hương sưu tầm).
Tại Thị xã Vinh, Sau khi lệnh “tiêu thổ kháng chiến” được đưa ra. Chỉ trong một thời gian ngắn, thị xã Vinh với nhiều công trình kiên cố được xây dựng từ sau năm 1989 như Nhà máy xe lửa Trường Thi, nhà máy điện, xí nghiệp sửa chữa ô tô, các cửa hiệu đã bị san phẳng… Nhắc lại ngày đó, bà Tôn Nữ Thị Cúc chậm rãi kể: “…những ngày được ngồi sau xe của bố, một thầy giáo dạy ở Trường Cao Xuân Dục chở đi khắp thị xã để xem phố phường, thích nhất là mỗi lần được ra rạp Majestic để xem chiếu bóng.
4. Gia đình tôi thời bấy giờ được xem là gia đình có của ăn của để, trong đó nổi bật nhất là chuỗi khách sạn Vinh delagare và một cơ ngơi hàng nghìn mét vuông gồm biệt thự và dãy nhà gỗ năm gian ở khu vực nhà A3, Quang Trung hiện nay… Tài sản một đời tích góp đó, chỉ trong một ngày rưỡi đã bị xóa sạch. Cả nhà tôi hơn mười người kéo nhau lên vùng Hưng Thắng (Hưng Nguyên) thực hiện lệnh di tản”. Gia đình chủ xưởng ô tô Minh Tâm sau cách mạng Tháng 8, vừa xây xong ngôi nhà ba tầng khang trang, chưa kịp khánh thành thì lệnh tiêu thổ kháng chiến đưa ra, cả khu phố nhà giàu nổi tiếng đã bị xóa sạch cùng với các cửa hiệu buôn bán lớn như Ký Hai, Hàn Phượng, Bảo Nguyên, Vĩnh Hưng Tường…
Cùng với tiêu thổ, quân dân thị xã Vinh cũng phá hoại các tuyến đường giao thông, hàng nghìn mét đường sắt, hàng chục phương tiện ô tô, đầu máy xe lửa cũng bị dỡ bỏ, ném xuống sông để ngăn cản tàu thuyền của địch hoạt động. Trong thị xã một loạt hầm hào giao thông cũng được đào ngang xẻ dọc, các chiến lũy được dựng lên, chỉ một đoạn ngắn từ Thị xã Vinh đến Bến Thủy đã được đắp thành 31 ụ lớn… Qua 5 tháng thực hiện tiêu thổ kháng chiến, công nhân Vinh – Bến Thủy đã đóng góp được 45.7000 ngày công, phá dỡ được 1.335 ngôi nhà, trong đó có 31 nhà cao tầng, 300 toa xe lửa và 12 đầu máy … (Mỹ Hà).
5. Tại Phú Yên: Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân dân Bình Kiến coi đó là lời thề và mệnh lệnh hành động trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù, đã tiến hành tiêu thổ kháng chiến. Đêm đêm, Bình Kiến cử hàng trăm người mang xẻng, cuốc, xà beng, búa tạ phá quốc lộ 1, phá các cầu giao thông trong xã, đào hào sâu, hào chữ Z, chữ L dọc ngang, băm nát mặt đường, đổ các ụ đất, làm chướng ngại vật. Đường sắt đi ngang qua địa bàn xã cũng được tổ chức phá dỡ để triệt giao thông đường sắt, vừa có thêm nguyên liệu làm công sự chiến đấu, rèn đúc chế tạo vũ khí.
Hàng trăm thanh niên cùng hội viên các đoàn thể cứu quốc tham gia đập phá các nhà kiên cố ở Thị Xã Tuy Hòa như Bungalô, nhà ga xe lửa, Sở liên nông, đồn Ông Một, Nhà thương, Sở dây thép, xưởng rượu Ni-ca, và cả các nhà lầu kiên cố của dân như phòng ngủ Hòa Hưng, phòng ngủ Tân Hiệp, nhà Sáu Cò, nhà Nguyễn Tài Sý,… phụ giúp bà con người Hoa đập phá các ngôi nhà lầu của chính họ như nhà Dũ Khương, Dũ Ký, Ngũ Nghĩa.…
6. Để chống địch nhảy dù, quân dân toàn xã huy động hàng vạn cây tre, vót nhọn đầu làm cọc dài từ 1,5-2m cắm tua tủa trên khắp các đồi trọc, các cánh đồng khô, đất vườn ở Thượng Phú, Phú Vang, rừng cát Ninh Tịnh, mỏm núi Chóp Chài, sân bay Chóp Chài… (Thứ Sáu, 09/11/2018 09:32 SA Thành Nam).
VI. Nổ lực ngoại giao.
1. Ngày 21/3/47, Tại Ba-lê, Đặc phái viên Trần Ngọc Danh, nhân danh Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đề nghị ngưng bắn và điều đình. Ngày 23/4/47, qua Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám, Hồ Chí Minh lại gửi thông điệp tới Bollaert Cao uỷ Đông Dương đề nghị ngừng bắn lập tức, và đàm phán. Về phần mình, Hồ Chí Minh đã lặp đi lặp lại để Pháp ngưng chiến và công nhận nền độc lập của Việt Nam, thậm chí đề xuất "Khi Pháp công nhận sự độc lập và thống nhất của Việt Nam, chúng tôi sẽ lui về làng của chúng tôi, vì chúng tôi không tham vọng quyền lực, danh dự".
Ngày 19/4/47, Bộ trưởng Hoàng Minh Giám, ngỏ ý sẵn sàng điều đình. Ngày 9/5/47, tự tin vào ưu thế quân sự, Cao uỷ Bollaert cử giáo sư Paul Mus đến Cầu Đuống gặp Bộ trưởng Hoàng Minh Giám, không đưa lại một kết quả nào, vì Pháp đưa ra một loạt điều kiện đòi lực lượng vủ trang Việt Minh phải nộp 50% khí giới, phóng thích những Pháp kiều đã bị bắt từ 19/12/1946, để quân đội Pháp tự do đi lại…. Ngày 11/5/1947 (khoảng 22 giờ), sứ giả Paul Mus lại đến chiến khuViệt Bắc gặp Hồ Chí Minh để truyền đạt nội dung thông điệp trên, cũng đã bị Hồ Chủ tịch thẳng thừng từ chối các yêu cầu này.
VII. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 9/11/46, tại Sài gòn, Thủ tướng Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ, Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh treo cổ tự tử bằng dây điện. Ngày 15/11/46, Bác sĩ Lê Văn Hoạch được cử lên thay. Ngày 2/1/1947, Marius Moutet ra Hà Nội xem xét tình hình. Ngày 23/1/1947, Có nhiều truyền đơn của Việt Quốc và Việt Cách đả kích Hồ Chí Minh, và ủng hộ Vĩnh Thụy. Ngày 1/4/47, Nghị sĩ Emile Bollaert đến Sài Gòn nhân chức Cao Ủy Đông Dương thay D’ Argenlieu.
Ngày 12/4/47, tại Huế “Ủy ban Chấp chánh Lâm thời” được thành lập để quản trị các vùng do Pháp chiếm đóng, cầm đầu bởi Trần Văn Lý. Ngày 7/5/47, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp là Coste Floret tuyên bố: quân Pháp đã làm chủ các thành phố, và kiểm soát các đường giao thông lớn. Tổng số quân của Liên hiệp Pháp ở Đông Dương là 115.000 quân. Ngày 15/5/47, Bollaert đọc diễn văn ca ngợi Liên hiệp Pháp, lợi ích của sự hợp tác giữa chính quốc và các thuộc địa, bác bỏ “ý niệm độc lập hoàn toàn”, rằng độc lập có lợi phải là độc lập trong “tương trợ liên đới”.
2. Ngày 19/5/47, Pháp cho thành lập tại Hà Nội một “Ủy ban Hành chánh và Xã hội Lâm thời” thường gọi là Hội Đồng An Dân, do Bác sĩ Trương đình Tri (Bộ trưởng Y tế trong Chính phủ Hồ Chí Minh) cầm đầu. Ngày 6/7/47, nhiều giới cả Việt lẫn Pháp, nêu vấn đề “Pháp nên nghĩ tới việc điều đình với Cựu hoàng Bảo Đại” hơn là điều đình với Hồ Chí Minh. Ngày 19/7/47, một số báo ở Sài gòn đăng nhiều bài ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại.
VIII. Sự kiện bên ngoài.
1. Ngày 27/1/47, Anh trả chủ quyền cho Miến Điện. Ngày 24/3/47, Khai mạc Quốc hội Lập hiến Lào. Ngày 6/5/47, Cao Mên có Hiến Pháp mới, Hiến pháp chỉ rỏ Mên theo chế Quân chủ Lập hiến có Quốc vương và hai Nghị viện. Ngày 11/5/47, Lào có Hiến Pháp mới, Hiến pháp chỉ rỏ Lào theo chế Quân chủ Lập hiến, có Quốc vương, Quốc hội dân cử, và Hội đồng Hoàng gia. Ngày 23/5/47, Quốc hội Miến Điện tuyên bố Miến Điện là một nước Cộng hòa độc lập, đứng ngoài khối Liên hiệp Anh. Ngày 5/6/56, tướng Georges Marshall Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, đọc diễn văn tại Đại học Harvard tuyên bố Hoa Kỳ sẵn sàng giúp đở các nước Châu Âu phục hưng kinh tế sau chiến tranh.
Ngày 4/7/47, không thể hợp tác với Mao Trạch Đông sau nhiều lần điều đình, chính phủ Tưởng Giới Thạch, ra lệnh tiểu trừ Cộng sản trên toàn quốc. Ngày 18/7/47, Anh trả lại chủ quyền cho Ấn Độ kể từ 15/8/1947, lãnh thổ sẽ chia thành hai quốc gia: Ấn Độ, và Hồi Quốc cùng độc lập trong khối Liên hiệp Anh. Ngày 19/7/47, tướng Aung San anh hùng dân tộc Miến Điện bị hạ sát giữa Hội đồng Chính phủ.
5. CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP QUỐC DÂN CẢI TỔ HỒ CHÍ MINH: 20.7.1947-1950.
I. Bối cảnh thành lập
Ngày 20/7/47, tại Chiến khu Việt Bắc, để đáp ứng với tình hình mới, các cơ quan Trung ương và Chính phủ phải chia thành những bộ phận nhỏ, thường xuyên di chuyển để bảo toàn lực lượng, Hồ Chí Minh quyết định Cải tổ Chính phủ mang tên mới là “Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Cải tổ”.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Hồ Chí Minh (tái nhiệm) | Chủ tịch | |
2 | Hoàng Minh Giám (1904-1995) | Bộ trưởng Ngoại giao | |
3 | Tạ Quang Bửu (1910-1986) | Bộ trưởng Quốc Phòng | |
4 | Lê Văn Hiến (tái nhiệm) | Bộ trưởng Tài chánh | |
5 | Vũ Đình Hoè (tái nhiệm) | Bộ trưởng Tư pháp | |
6 | Phan Anh (tái nhiệm) | Bộ trưởng Kinh tế | |
7 | Trần Đăng Khoa (tái nhiệm) | Bộ trưởng Công chánh | |
8 | Ngô Tấn Nhơn (tái nhiệm) | Bộ trưởng Canh nông | |
9 | Hoàng Tích Trí (tái nhiệm) | Bộ trưởng Y tế | |
10 | Nguyễn Văn Tạo (tái nhiệm) | Bộ trưởng Lao động | |
11 | Chu Bá Phượng (tái nhiệm) | Bộ trưởng Cứu tế Xã hội | |
12 | Nguyễn Văn Huyên (tái nhiệm) | Bộ trưởng Giáo dục | |
13 | Vũ Đình Tụng (1895-1973) | Bộ trưởng Cựu chiến binh | |
14 | Nguyên Văn Tố (tái nhiệm) | Quốc vụ khanh | Bị Pháp bắn chết 1947 |
15 | Bồ Xuân Luật (tái nhiệm) | Quốc vụ khanh | |
16 | Đặng Văn Hướng (1887-1954) | Quốc vụ khanh | Bị giết trong thời CCRĐất |
III. Chiến tranh phát triển.
1. Sau khi hoàn thành việc chiếm đóng vùng đồng bằng, Pháp quyết định tiến công lên Việt Bắc để sớm kết thúc chiến tranh. Ngày 7/10/47, Pháp điều động 15 tiểu đoàn chia ra nhiều cánh hôm nay chiếm đóng Tông, và Sơn Tây, bắt được Nguyễn Văn Tố, Quốc vụ khanh Chính phủ, Uỷ viên thường vụ Quốc hội. Ngày 13/10/47, quân Pháp chiếm đóng Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng phụ cận. Ngày 20/10/47, quân Pháp chiếm đóng Yên Báy. Ngày 21/10/47, chiếm đóng Chapa. Ngày 30/10/47, chiếm đóng Lao Kay. Quân Pháp tiến nhanh, nhưng không định vị, tiêu diệt được các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ, chỉ cắt đường số 4 và kiểm soát biên giới Việt Trung, cô lập An Toàn Khu Việt Bắc với thế giới bên ngoài.
Hoạt động du kích tại một số nơi ở đồng bằng gây khó khăn lớn cho Pháp. Có những hội tề tức chính quyền tại các làng xã do Pháp lập ra, nhưng lại hành động theo lệnh Việt Minh. Ở nhiều nơi, bộ đội Việt Minh vẫn tự do đi lại, tuyển quân, thu thuế. Các vùng đồng bằng màu mỡ đông dân vẫn là nguồn cung cấp nhân lực, hàng hóa và lương thực lớn nhất cho Việt Minh. Dân chúng gánh thóc gạo từ vùng Pháp chiếm đóng đi đóng thuế cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại thời điểm nầy, các đội du kích được thành lập khắp các vùng bị chiếm để quấy rối, cầm chân một phần lớn quân chủ lực Pháp tại đòng bằng Bắc Bộ.
2. Tại các chiến khu, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà củng cố căn cứ, tổ chức tự sản xuất lương thực và vũ khí để có thể kháng chiến lâu dài. Tại miền Trung Việt Nam, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát từ Hội An đến Mũi Đại Lãnh, gần như ngăn đôi đất nước. Ở miền Nam, quân Pháp ở tình thế tốt hơn do lực lượng chính trị và quân sự ở đây ở xa và liên lạc rất khó khăn với chủ lực ở miền Bắc. Lực lượng của tướng Nguyễn Bình bị đẩy về các chiến khu trong vùng ngập mặn và rừng núi, họ còn gặp sự chống đối của các giáo phái người Việt như Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên.
Trong năm 1947, sau những xung đột quân sự với Việt Minh và nhất là sau khi giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ mất tích, Hòa Hảo cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ, cả hai giáo phái Cao Đài, và Hoà Hảo đều chấm dứt hợp tác với Việt Minh để hợp tác với Pháp chống Việt Minh. Năm 1948, một phần lực lượng Bình Xuyên cũng ra hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh.
IV. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 29/7/47, giáo sư Paul Mus, người đến Thái Nguyên gặp Hồ Chí Minh từ Đông Dương về đến Pháp tuyên bố với báo chí “tình hình không khả quan” du kích chiến lan tràn khắp nơi, không thể bàn tới chuyện điều đình, vì “Việt Minh và Pháp không tin tưởng được nhau”. Ngày 12/8/47, biểu tình lớn ở Huế ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 18/8/47, nhiều đoàn thể chính trị nhóm họp và gởi Điện sang Hồng Kông yêu cầu Cựu Hoàng về nước, và đứng ra điều đình với Pháp. Ngày 1/9/47, biểu tình lớn ở Hà Nội ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại.
Ngày 5/9/47, Sau một thời gian im lặng khá lâu, Cựu hoàng Bảo Đại tuyên bố với báo chí ở Hồng Kông “sẵn lòng tiếp kiến đại diện dân chúng được cử sang tiếp xúc”. Ngày 9/9/47, đại diện các đảng phái và đoàn thể sang Hồng Kông gặp Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 10/9/47, Bollaert đọc diễn văn ở Hà Đông tuyên bố Pháp ưng thuận về nguyên tắc cho Việt Nam độc lập. Song, lại nhấn mạnh chữ độc lập tối nghĩa nên nói đến tự do thì hơn tự do trong Liên hiệp Pháp. Bollaert không đả động gì tới sự thống nhất Bắc, Trung, và Nam Kỳ”.
2. Ngày 14/9/47, biểu tình lớn ở Sài gòn ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 18/9/47, Cựu hoàng Bảo Đại tuyên bố với quốc dân “đã từ ngôi báu vì hạnh phúc của dân, nay nếu dân lại muốn vời ra giúp để điều đình với Pháp, thì cũng sẵn lòng “đòi hỏi độc lập và thống nhất” cho hợp với nguyện vọng chung. Ngày 29/9/47, thủ tướng Chính phủ Nam Kỳ Tự trị Lê Văn Hoạch từ chức...Ngày 1/10/47, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân được Hội đồng Nam Kỳ bầu làm Thủ tướng kế nhiệm với tên mới là “Chính phủ Nam Phần”.
Lúc nầy ở Trung Phần thì Pháp đã lập “Ủy Ban Chấp Chánh Lâm Thời” tại Huế, và ở Bắc Phần thì có “Ủy Ban Hành chánh và Xã hôi Lâm thời” gọi là Hội Đồng An Dân tại Hà Nội. Ngày 18/11/47, Báo Le Monde đăng bài của André Blanchet đề nghị nên trả lại nhiều quyền cho một Việt Nam do Cựu hoàng Bảo Đại lãnh đạo. Ngày 6/12/47, Cựu hoàng Bảo Đại gặp Bollaert tại Vịnh Hạ Long 2 ngày. Ngày 12/12/47, Bollaert về Pháp tường trình kết quả đàm phán với Cựu hoàng Bảo Đại.
V. Sự kiện bên ngoài.
1. Ngày 15/9/47, quân Cộng sản của tướng Lâm Bưu tổng phản công trên các Mặt trận Mãn Châu, quân Tưởng Giới Thạch thua to và lùi mãi. Ngày 24/9/47, Miến Điện ban hành Hiến Pháp. Ngày 15/10/47, quân Cộng sản Tàu từ Mãn Châu vây hãm Phụng Thiên. Ngày 9/11/47, Tướng Phin Chunbawan đảo chánh ở Thái Lan, cử Đại tá Luang Kach lập Chính phủ. Ngày 14/11/47, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc cử một Ủy ban đại diện 9 nước đến xem xét tình thế ở Cao Ly, và giúp xứ nầy thành lập một Chính quyền Quốc gia độc lập. Bắc Cao Ly vẫn do Nga Sô kiểm soát. Quân đội Mỹ sau khi giải giáp quân Nhật, chỉ đóng tới vĩ tuyến 38 mà thôi.
Ngày 10/12/47, Hội nghị Liên Hiệp Pháp nhóm họp. Các quốc gia Liên kết có 45/240 ghế, Nghị sỉ Pháp 120/240. Anh hoàng ký Dụ thừa nhận Tích Lan độc lập, và chuyễn giao chủ quyền cho Tích Lan kể từ ngày 4/2/1948. Ngày 28/12/47, Trước Ủy ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản, Mao Trạch Đông tuyên bố “đã bước sang giai đoạn chiến thắng, và phải đập tan các cuộc phản công của quân Tưởng Giới Thạch.
VI. Những việc đã làm.
1. Ngày 2/9/47, tại An toàn khu, Hồ Chí Minh có thư cho đồng bào các tỉnh Việt Bắc, trong đó có đoạn:“Tôi không bao giờ quên được, trong những ngày gian nan cực khổ, đồng bào trong tỉnh ta, các cụ già, các chị em phụ nữ, anh em nông dân, các em thanh niên, các cháu nhi đồng ai cũng hăng hái giúp đỡ… Đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mán, đồng bào Mèo, cho đến anh em Hoa kiều, người thì giúp chúng tôi ăn, kẻ thì cho chúng tôi áo. Có những đồng bào nhịn ăn nhịn mặc, bán trâu bán ruộng để giúp chúng tôi làm cách mệnh”.
Ngày 10/10/47, tại Hà Nội, Bác sĩ Trương Đình Tri, Chủ tịch Hội đồng An Dân bị Ban Công tác thành ám sát. Ngày 12/10/47, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi dân chúng kháng chiến toàn diện, triệt để áp dụng “chiến thuật tiêu thổ, vườn không nhà trống”. Bộ máy hành chính các cấp cũng có nhiều biến đổi, lập thêm đơn vị hành chính Khu và Liên khu, lập ra các Ủy ban Kháng chiến ở các cấp. Về quân sự, tại cấp Trung ương, thành lập Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia (1947), sau đổi là Bộ Tổng Tư lênh, rồi Bộ Quốc Phòng Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam (9/1950). Về Tư pháp thì tổ chức theo cấp xét xử.
2. Ngày 18/1//1949, Trung Cộng thừa nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh. Ngày 31/1/1949, Hồ Chí Minh thừa nhận Chính phủ Trung Cộng. Ngày 1/8/49, Hồ Chí Minh tuyên bố đình chỉ mọi hoạt động của Trần Ngọc Danh, Trưởng phái đoàn Chính phủ VNDCCH tại Pháp. Ngày 1/8/50, đài Phát thanh Việt Minh trả lời Pháp, rằng Việt Minh thuận trao đổi một số tù binh và những tư nhân Pháp bị bắt giữ. Ngày 15/9/50, Việt Minh thả 80 Pháp kiều bị bắt ngày 19/12/1946, Pháp cũng thả 80 tù binh Việt Minh. Ngày 20/9/50, tại Tê Tiêu, Mỹ Đức, Hà Đông 59 Pháp kiều được thả về.
6. CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP QUỐC DÂN
MỞ RỘNG HỒ CHÍ MINH: 1950 – 1955.
Do nhu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, Chính phủ Liên hiệp Quốc dân tiếp tục mở rộng, thay đổi nhân sự, và bổ sung cho đến năm 1955. Các Bộ mới được thành lập: Bộ Thương binh–Cựu binh, Bộ Công thương, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Thứ Bộ Công an, Bộ Công an, Bộ Tuyên truyền. Các Bộ Cứu tế giải thể năm 1947, Bộ Kinh tế đổi tên năm 1951…
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Hồ Chí Minh | Chủ tịch nước, kiêm Thủ tướng | |
2 | Phạm Văn Đồng | Phó Thủ tướng Chính phủ | Chức vụ mới từ 25/7/1947 |
3 | Huỳnh Thúc Kháng Phan Kế Toại | Bộ trưởng Nội vụ Quyền Bộ trưởng Nội vụ | Đến21/4/1947 Từ th 11/1947 |
4 | Hồ Chí Minh. Hoàng Minh Giám. | Bộ trưởng Ngoại giao | Đến 1947 Từ 1947 4/1954 Từ 4/1954 |
5 | Võ Nguyên Giáp Tạ Quang Bửu Võ Nguyên Giáp | Bộ trưởng Quốc phòng | Đến 1947 Từ 1947-1948 Từ tháng 7/1948 |
6 | Ngô Tấn Nhơn | Bộ trưởng Kinh tế từ 5/1951 đổi thành Bộ Công thương | Đến 1947 Từ 1947 |
7 | Vũ Đình Hoè | Bộ trưởng Tư pháp | |
8 | Lê Văn Hiến | Bộ trưởng Tài chính | |
9 | Nguyễn Văn Huyên | Bộ trưởng Giáo dục | |
10 | Ngô Tấn Nhơn Nghiêm Xuân Yêm | Bộ trưởng Canh Nông | Đến 3/1954 Từ 3/1954 |
11 | Trần Đăng Khoa | Bộ trưởng Bộ Giao thông | |
12 | Nguyễn Văn Tạo | Bộ trưởng Bộ Lao động | |
13 | Hoàng Tích Trí | Bộ trưởng Bộ Y tế | |
14 | Chu Bá Phượng | Bộ trưởng Bộ Cứu tế | |
15 | Nguyễn Văn Tố | Bộ trưởng không Bộ | hy sinh 1947 |
16 | Bồ Xuân Luật Đặng Văn Hướng | Bộ trưởng không Bộ | Đến 1947 Từ 1947 |
17 | Nguyễn Lương Bằng | Tổng giám đốc Ngân hàng QG | Lập từ 5/1951 |
18 | Trần Quốc Hoàn | Bộ trưởng Bộ Công an | Từ 6/1953 |
III. Sự kiện liên quan và việc đã làm.
1. Về Chiến tranh Đông Dương, Bách khoa Toàn thư mở viết: Từ 1945, quân kháng chiến Việt Nam chỉ được võ trang bằng gậy tầm vông, mã tấu, dao găm, cây phạng, nội hóa và một số rất ít súng trường cũ thu được của Nhật hay thậm chí súng của Pháp từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất sót lai như súng Mousqueton, súng lục Rouleau do hãng St. Etienne bên Pháp chế tạo. Ngay cả với các đơn vị chủ lực, trang bị đều thiếu thốn và không thống nhất, có gì dùng nấy. Vũ khí chống tăng chuyên dụng rất ít, phần lớn là bom ba càn, một loại mìn chống tăng gắn trên cán gậy thu được của Nhật.
Một tiểu đoàn thường chỉ được trang bị tương đương với 1 đại đội của Pháp, với 2 đại liên, 1-2 súng cối 60mm, tám trung liên, 140 đến 160 súng trường đủ các kiểu (Nhật, Nga, Pháp). Một nửa số bộ đội không có súng mà phải dùng những vũ khí thô sơ như nỏ, giáo mác và dao kiếm...Vì nhu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến nên ngay từ 1946, tại các mật khu, quân kháng chiến Việt Nam đã cho thiết lập những xưởng vũ khí thô sơ, sửa chữa hoặc chế tạo một ít bộ phận nhỏ của súng lục và súng trường, có khi cả loại trung - đai liên, đồng thời chế tạo lựu đạn nội hóa. Ngành quân khí Việt Nam trong giai đoạn này có sự đóng góp rất lớn của Trần Đại Nghĩa, một kỹ sư đang ở Pháp đã bỏ việc về nước để tham gia kháng chiến.
2. Theo "Báo cáo tổng kết vũ khí toàn quốc năm 1947" của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trang bị của toàn quân lúc này có 26.018 khẩu súng trường, và 1.522 khẩu súng máy các loại, trên tổng số gần 90.000 người. Nghĩa là, tỷ lệ trang bị súng chưa đạt nổi 1/3. Hiệu suất sử dụng thực tế còn kém hơn nhiều, do tình trạng kỹ thuật, thiếu đạn cũng như quá nhiều chủng loại hỗn tạp. Giai đoạn này, cây mác gần như trở thành vũ khí cá nhân cơ bản trong các đơn vị bộ đội ở Bắc Bộ.
Cho tới năm 1950, quân kháng chiến Việt Nam vẫn trong tình trạng thô sơ, họ áp dụng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến, phá hết nhà cửa, phố xá ở thành thị; còn tại thôn quê thì tre vót nhọn được cắm tua tủa khắp các bãi đất trống để ngăn cản Pháp nhảy dù. Ủy ban Hành chính Kháng chiến các xã, quận góp tiền mua ít nhất là một khẩu súng để tự vệ. Với thông cáo này, xã nào cũng đua nhau quyên góp tiền trong dân chúng để gửi đi. Nhưng, nguồn cung hầu như không có, nên du kích mỗi xã chỉ có được một khẩu súng Mousqueton đã rỉ sét với 5 viên đạn, mà có khi cả năm viên đều bắn không nổ vì đạn đã để quá lâu.
3. Ở ngoài mặt trận, gậy tầm vông vót nhọn và dao găm là vũ khí chính. Mãi đến năm 1951 - 1952, gậy tầm vông vẫn là một thứ vũ khí lợi hại trong tay Việt Minh, không một cuộc phục kích ban đêm nào thành công mà không có một số binh sĩ Pháp chết vì bị gậy tầm vông đâm xuyên, còn lựu đạn dùng để tấn kích đồn, ném qua lỗ châu mai, hoặc vứt xuống hầm quân Pháp trú ẩn. Nhờ thu được chiến lợi phẩm nên các cấp chỉ huy từ Đại đội trưởng trở lên mới có súng lục mang bên hông. Còn ở hậu phương, những cán bộ được mang súng lục phải là cao cấp, cấp tỉnh hoặc cấp khu. Chiến tranh khi đó mang một hình thức thô sơ, vừa du kích, vừa cổ điển đối với phía Việt Minh.
Ngược lại, Quân đội Pháp được trang bị hiện đại theo tiêu chuẩn thời bấy giờ, có đầy đủ cơ giới: có hàng không mẫu hạm, tàu chiến, máy bay ném bom, xe tăng, thiết giáp, đại bác 105-155 ly do Hoa Kỳ viện trợ. Bộ binh trang bị đầy đủ các loại vũ khí như súng trường M-36, súng FM, súng trung liên Bar, tiểu liên Thompson, súng cối 60-120 ly, súng đại liên 12,7 ly, pháo liên thanh 20 mm v.v... Nhờ cơ giới và vũ khí tối tân, dồi dào hơn, nên trong giai đoạn 1946-1950, trên khắp các chiến trường từ Nam chí Bắc, Pháp nắm thế chủ động, còn Việt Minh vẫn áp dụng chiến thuật du kích, chưa thể tiến tới chỗ "dùng nông thôn bao vây thành thị".
4. Cuối tháng 1 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang Bắc Kinh để xin viện trợ, sau đó đi Moskva gặp gỡ Stalin, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cũng đang ở thăm Liên Xô, ký Hiệp ước Hợp tác Xô-Trung. Các lãnh đạo Trung Quốc hứa sẽ thuyết phục Stalin công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xua tan mối nghi ngờ của Stalin về tính chất hai mặt của Hồ Chí Minh khi hợp tác với tình báo Mỹ và giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Hồ Chí Minh hứa sẽ tái lập Đảng Cộng sản, Cải cách Ruộng đất, và thực hiện chuyên chính vô sản. Trong chuyến đi tới Moscow, Hồ Chí Minh hết lời ca ngợi Stalin, thậm chí ông còn sáng tác một bài thơ ca ngợi Stalin.
Kết quả là Stalin và Mao Trạch Đông hứa: sẽ trang bị cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 10 Đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt trang bị tức thời cho 6 Đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Ngày 30/1/1950, Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/2/1950, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 20/SL tổng động viên nhân lực, tài lực của nhân dân để thực hiện tổng phản công. Tháng 4 năm 1950, hai Trung đoàn của Đại đoàn 308 sang Mông Tự, Vân Nam, tiếp đó một Trung đoàn của Đại đoàn 312 sang Hoa Đồng, Quảng Tây nhận vũ khí.
5. Ngoài 3 Trung đoàn trên, còn có hai Tiểu đoàn công binh và trường sĩ quan lục quân cũng được gởi sang Trung quốc học tập, huấn luyện tại Trung Quốc. Những đơn vị nầy ngoài việc trang bị vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá, được bắn đạn thật nên tiến bộ rất nhanh. Nhờ vậy, mà quân đội được cải thiện đáng kể. Những năm qua, mỗi chiến sĩ chỉ mơ ước có một khẩu súng trong tay. Bây giờ không chỉ có súng mà đạn được cũng khá dồi dào. Sức mạnh hỏa lực của trung đoàn bộ binh đã hoàn toàn thay đổi so với trước.
Tính đến tháng 6-1950, số cán bộ sang Trung Quốc học tập là 3.100 người, trong đó 650 cán bộ học bổ túc trung và sơ cấp, 1.200 học cơ bản chỉ huy bộ binh sơ cấp, còn lại học về binh chủng như pháo binh... Bên cạnh việc trang bị vũ khí, giúp đỡ huấn luyện, viện trợ lương thực, Trung Quốc còn cử Đoàn công tác Hoa Nam gồm 79 người do Vi Quốc Thanh làm trưởng đoàn, ngày 12-8-50, đoàn đến Quảng Uyên, Cao Bằng. Trung Quốc cũng cử Trần Canh cùng một số cán bộ quân sự, trực tiếp làm cố vấn trong chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950.
IV. Sách Đèn Cù Trần Đỉnh viết:
1. Đảng Cộng Sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán tháng 11 năm 1945, cùng với nó, tờ Cờ Giải Phóng. Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác bèn ra đời cùng với nó là tờ Sự Thật. Đầu 1949, tôi đến An toàn khu (ATK) để làm báo Sự Thật. Toà soạn báo Sự Thật lúc ấy vẻn vẹn ba cây bút sắt: (Hà) Xuân Trường (Hà Nghệ), thư ký toà soạn, Quang Đạm (Tạ Quang Đệ), Thép Mới (Hà Văn Lộc), từ báo Cờ Giải Phóng trước 1945. Và một cây bút lông: Phan Kế An, con cả cụ Phan Kế Toại, nguyên Khâm sai đại thần Bắc Bộ, nay là bộ trưởng Nội vụ.Dạo đó ở ATK, không nói tới giai cấp, với chủ nghĩa xã hội. Ai rồ mà lại nói chủ nghĩa xã hội, cải cách ruộng đất, thủ tiêu giai cấp? Để cho dân bỏ vào tề hết à?
Về danh nghĩa Đảng đã giải tán, hoạt động trong bóng tối, nhưng chính quyền do đảng nắm chặt. Nội san của đảng cũng chỉ nói đến “tổ chức” hay “đoàn thể”…Trường Chinh kể, Pháp đánh vào căn cứ địa chân Núi Hồng, giữa lúc Trường Chinh ở Bắc Cạn bị Pháp nhảy dù và anh đã bị kẹt trong một hầm “tăng sê” có mái ở giữa thị xã đầy lính Pháp. Lính đã đứng ở miệng hầm gọi xuống: “Ra đi, các quan trông thấy cả rồi…”. Trường Chinh bảo hai mẹ con một bà cùng nấp ở dưới hầm: “Bà ra là chúng hiếp cả hai mẹ con rồi giết…”. Anh đã cho hết giấy tờ trong người nhai nát rồi nuốt, chuẩn bị hô hai khẩu hiệu: Việt Nam độc lập muôn năm! Đảng cộng sản Đông Dương muôn năm.
2. Đợi đêm tối Trường Chinh xuyên rừng mò về chân Núi Hồng thì Trung ương đã dạt cả sang Bắc Sơn – Đình Cả. Pháp theo sát nút. Linh hồn của kháng chiến thoát trong đường tơ kẽ tóc. Thường vụ Trung ương đảng vừa sang tới Bắc Sơn thì Pháp nhảy dù tại trận và đổ quân từ Lạng Sơn xuống. Thường vụ lại vội lui giật trở về chân Núi Hồng. Thời gian này, Cụ Hồ gọn nhẹ ra đi cấp tốc, bỏ rơi đại tá hàng binh Đức bảo vệ cụ… Lúc ấy chế độ trứng nước, người hiếm của kiệm, ngày mai vẫn là ẩn số lớn, lương lậu chưa có, cơm ăn, áo mặc cơ bản bình đẳng. Tấm áo sang nhất lúc đó ở căn cứ địa là hai chiếc blu-dông Mỹ bằng gabácđin, chiến lợi phẩm Trung đoàn Thủ đô biếu Cụ Hồ và Trường Chinh.
Đầu năm 1950, hơn hai tháng sau nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa ra đời, Cụ Hồ bí mật len qua vùng địch ở Phục Hoà, Cao Bằng đi Trung Quốc qua Thủy Khẩu. Trần Đăng Ninh, Vũ Đình Huỳnh và Phạm Văn Khoa phiên dịch tiếng Trung Quốc theo cụ. Bác xuất ngoại, trong ATêKa chúng tôi rất mực vui. Đang vô thừa nhận mà lại sắp vớ được họ hàng toàn oách ra dáng hết. Đâu có biết đại thí sinh Hồ Chí Minh sắp dự cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới.
3. Thép Mới rủ tôi gặp Phạm Văn Khoa moi chuyện. Khoa đã được dặn cấm không hé răng. Chúng mày xì ra thì chết tao… Ừ, tao làm phiên dịch nhưng nhiều lúc Ông Cụ cũng chẳng cần tao… Ông Cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Họ không hiểu ta. Ông Cụ nhà mình nói… Thỉnh thoảng Mao lại dặng hắng ừ hừ hữ một cái rất to, kinh bỏ con bà, chẳng hiểu là tán thành hay phản đối. Sau khi Ông Cụ kiểm thảo, trình bày các cái ta chủ trương và làm, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét, góp ý kiến, rằng chính sách tiêu thổ kháng chiến toàn bàn của Việt Nam là không cần thiết và lãng phí.
Khoa cho biết, sau đó Mao đi Liên Xô ký kết hiệp ước Sô-Trung, đồng thời nhân dịp nói trước với Stalin việc Hồ Chí Minh muốn được gặp. Sau này tài liệu chính thức của ta nói khi Cụ Hồ qua Bắc Kinh thì Mao đã đi Liên Xô rồi. Vì sao không biết, nhưng theo tôi, Khoa nói đúng, vì về nước mới mươi ngày, anh đã kể chuyện với chúng tôi. Sau này kể cho tôi viết hồi ký, Vũ Đình Huỳnh cũng bảo có gặp Cụ Mao, nhưng khi vào họp thì Huỳnh phải ở ngoài. Lúc ấy Mao sắp sang gặp Stalin và trong nghị sự chắc sẽ trao đổi ý kiến về công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, do đó Mao phải nghe Cụ Hồ trình bày trước.
4. Lê Phát, đại đội trưởng chỉ huy số lính đi theo bảo vệ Cụ qua vùng Pháp đóng để lên biên giới sang Trung Quốc cho tôi xem những bức ảnh, anh chụp Cụ trong chuyến anh có vinh dự hộ tống ấy. Đặc biệt hai ba tấm hình Cụ ngủ trưa đã làm tôi se lòng. Cụ nằm ngửa, chân co chân duỗi nét mặt mệt mỏi. Không, có cả lo lắng, nom bỗng như là một ai đó khác, trần trụi, cô độc. Tôi sao biết nổi tâm trạng hết sức căng thẳng của Cụ lúc đó. Nói sao cho các ông anh đa nghi Tào Tháo tin mình là cộng sản thật? Giải thích sao cho trôi đoạn tình báo Mỹ vào căn cứ địa đầu não? Rồi vì sao lại đem đảng ra mà giải tán?… Tập an-bom này, sau Lê Phát tặng Bảo Tàng Cách Mạng. Cuối đời Lê Phát một mình trốn sang Thụy Sĩ và chết ở trời Tây.
Nhân chuyện an-bom, tôi mượn một tấm ảnh để nói lên thực tại An toàn khu, trước khi Cụ Hồ sang Trung Quốc cầu viện. Cầm nó xem, tôi cứ lạ sao Lê Đạt, trẻ nhất, lại là người mở đầu bức ảnh ở bên trái. Và, ngay cạnh anh là Cụ Hồ, hai thầy trò duy nhất ngồi xổm bên nhau, cạnh năm sáu thư ký của Trường Chinh đứng sau Tổng bí thư tư lự. Bức ảnh đập ngay vào mắt người xem bởi vẻ hoang vu, tiều tụy: một lán nứa nhỏ ba vách nứa tuềnh toàng không nội thất, sau đó một vạt cây cối bị đốn trơ gốc và miếng đất mới khai phá chưa kịp xây cất nhà lán.
5. Nhưng nổi lên hơn cả là hình ảnh Cụ Hồ và Lê Đạt. Ai xui mà chỉ có hai người ngồi xổm? Cụ Hồ hốc hác đăm chiêu, Lê Đạt mặt còn hơi sữa nhưng nom thẫn thờ. Tôi không thể không nghĩ đến hai cha con một nông dân già bán gà ế chợ chiều, ủ ê bên nhau mà đường về thì xa, và nhà thì nhẵn gạo… Đặc biệt không một chút ranh giới phân chia đẳng cấp giữa người và người. Không một bóng dáng quyền lực. Tất cả là một khung cảnh buồn, hiu hắt, suy tàn…
V. Chiến dịch biên giới và chiến sự năm 1950-1952.
1. Cũng trong Chiến tranh Đông Dương, Bách khoa Toàn thư mở viết: Chiến dịch biên giới bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, diễn ra trong ba đợt. Đợt 1, ngày 16 tháng 9, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến hành đánh công kiên quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng tấn công cứ điểm Đông Khê nhằm cô lập Cao Bằng, và đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ dù quân Pháp đã huy động cả không quân yểm trợ. Sang đợt hai, quân Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng, đồng thời thực hiện cuộc "hành quân kép", gửi tiếp viện từ Lạng Sơn qua Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bố trí thế trận phục kích, bao vây sau đó lần lượt tiêu diệt cả hai cánh quân Pháp từ Thất Khê lên lẫn từ Cao Bằng rút về.
Qua đợt ba, quân Việt Nam tiến hành truy kích quân Pháp rút chạy đồng thời liên tục quấy rối, không cho họ chuyển quân tiếp viện cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng, đến ngày 12 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn... Ngày 17 tháng 10, sau khi đã đạt được toàn bộ các mục tiêu đề ra, Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ động kết thúc chiến dịch. Chiến dịch này đã gây nên không khí chủ bại và hoảng sợ tại Hà Nội, đến độ Cao Ủy Pháp Leson Pignon ban bố tình trạng khẩn cấp tại Bắc Việt. Đàn bà, con nít Pháp phải tản cư, kiều dân Pháp phải nhập ngũ trong 3 tuần lể.
2. Tháng 12/1950, tướng Jean de Lattre de Tassigny được cử làm Tổng Tư lệnh kiêm Cao uỷ Đông Dương, Ông ta tổ chức Phòng tuyến Tassigny bảo vệ vùng đồng bằng. Quân đội Nhân dân Việt Nam, từ khi chuyển sang thế chủ động tiến công, bắt đầu thực hiện các trận chiến quy mô lớn theo kiểu kinh điển. Nhưng họ đã bị thất bại, và phải chịu thiệt hại lớn trong các chiến dịch Trung du, Đường 18 và Hà Nam Ninh trước quân Pháp do chính tướng Jean de Lattre de Tassigny đích thân chỉ huy.
Từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần II diễn ra trong bối cảnh thực dân Pháp vừa tiến hành Kế hoạch De Lattre de Tassigni, đưa cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương lên quy mô lớn, làm cho cuộc kháng chiến của ta nhất là ở vùng sau lưng địch, trở nên khó khăn. Đại hội đã đưa Đảng Công sản Việt nam từ việc hoạt động bí mật, dưới tên gọi Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, ra hoạt động công khai trở lại dưới tên gọi mới là Đảng Lao Động Việt nam, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, Trường Chinh là Tổng Bí Thư.
3. Tháng 11 năm 1951, tướng Jean de Lattre de Tassigny mở tiếp Chiến dịch Hoà Bình, tại đây các cuộc giao tranh ác liệt, và đã trở thành cái người ta thường gọi là "cối xay thịt" đối với cả hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chịu thương vong không nhỏ. Cuối năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam mở Chiến dịch tấn công Tây Bắc giải phóng thị xã và hầu hết Sơn La cùng các khu vực Nghĩa Lộ, Yên Bái (2 huyện), Lai Châu (4 huyện). Sau cuộc tấn công của Pháp vào Phú Thọ thất bại, Salan cho củng cố căn cứ Nà Sản, xây dựng vị trí này như một "con nhím" xù lông để chặn bước tiến của đối phương.
Trong bài “Trận Nà Sản, bài học quý báu cho Điện Biên Phủ” của “Hội yêu Lịch sử” có đoạn: Thiếu tá chỉ huy Pháp Jean Gilles lần đầu áp dụng chiến thuật “Con Nhím” tại Đông Dương là ở trận Nà Sản. Chiến thuật là 1 hệ thống tập đoàn cứ điểm bao quanh và giữ mối tiếp viện bằng đường hàng không. Giống như con nhím, với các cứ điểm phòng vệ giống như gai nhím. Chiến thuật có tác dụng phòng ngự, chống lại những đợt tấn công của đối phương chứ không phải tấn công đối phương, do đó sẽ không rơi vào bẫy phục kích
4. Đầu tháng 11 năm 1952, một cầu không vận ngày đêm hoạt động, chuyên chở các đồ tiếp tế: đạn dược, lương thực, xe ủi đất, hàng ngàn tấn dây kẽm gai và lừa ngựa từ Hà Nội lên Nà Sản (lừa ngựa để chuyên chở nước uống và tiếp tế lương thực đạn dược cho các đồn điểm tựa đóng trên núi). Để xây dựng hệ thống cứ điểm Nà Sản, Pháp đã sử dụng hai đại đội công binh và hàng ngàn phu phen xây cất 30 điểm tựa xung quanh lòng chảo, các cứ điểm nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, bên ngoài được phủ dây thép gai. Lực lượng phòng vệ gồm có 8 tiểu đoàn và 6 khẩu trọng pháo 105mm và sau khi trận Nà Sản diễn ra, cứ điểm được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn.
Trận Nà Sản bắt đầu vào đêm 30 tháng 11 rạng ngày 1 tháng 12/1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) ồ ạt tấn công vào các điểm tựa phía đông bắc. Trung đoàn 102 cùng trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 tiến công Pú Hồng (điểm cao 753). Sau 1 giờ 45 phút chiến đấu, QĐNDVN chiếm được điểm tựa số 24 do trung úy Pipart phụ trách với một đại đội lính Thái và lính Maroc, diệt bốn trung đội của GM1 đóng tại đây, bắt sống viên quan ba chỉ huy. Cùng đêm, tiểu đoàn 115 của trung đoàn 165 Đại đoàn 312 tiến công vị trí Bản Hời. Sau hơn một giờ chiến đấu, QĐNDVN diệt một đại đội địch. Tới gần sáng, nhờ trọng pháo và không quân yểm trợ, Gilles phản công với những đơn vị dự trữ, QĐNDVN rút lui, Gilles lấy lại được đồn. Không lâu sau trận này, ngày 23 tháng 12 năm 1952, Gilles được phong Chuẩn tướng (Général de Brigade).
5. Đêm hôm sau (1 tháng 12), 11 tiểu đoàn QĐNDVN ồ ạt tấn công vào hai đồn chính bảo vệ cứ điểm Nà Sản. Từ 9 giờ đêm đến 7 giờ sáng, nhờ thời tiết tốt nên máy bay Pháp thả pháo sáng khắp trận địa, liên tiếp ném bom và bắn pháo liên thanh xuống vị trí QĐNDVN, đồng thời các giàn đại bác nhả đạn xung quanh đồn, ở trong đồn thì lính cố sức cầm cự, QĐNDVN thiệt hại nhiều mà không chiếm được đồn. Trung đoàn 209 đánh Bản Vây cũng không kết quả. Trời sáng, Pháp dùng máy bay oanh tạc và bắn trên 5.000 quả đạn pháo để cứu nguy cho các cứ điểm. Đến sáng, QĐNDVN rút lui.
Ngày 2 tháng 12, không quân Pháp thả dù tăng cường thêm cho Nà Sản hai tiểu đoàn, quyết giữ tập đoàn cứ điểm này. Những ngày sau, QĐNDVN biết là vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ, nếu tiếp tục tấn công thì bất lợi. Trước những khó khăn mới nảy sinh, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc, QĐNDVN rút lui khỏi Nà Sản không trở lại nữa. Dù thắng trận Nà Sản, so tính lợi hại, Pháp vẫn bỏ Cứ điểm nầy. Đầu tháng 8/1953, Navarre cho toàn bộ quân Pháp rút khỏi Nà Sản bằng đường hàng không, và ba ngày sau đó QĐNDVN mới nhận được thông tin vì quân Pháp đã khéo léo ngụy trang và nghi binh.
6. Từ chiến thuật “Con Nhím” thành công ở Nà Sản, Pháp đã xây dựng tập đoàn cứ điểm to lớn hơn, là căn cứ Điện Biên Phủ. Về hình thức, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là sự phóng đại hoàn hảo của Tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Và từ bài học này ở trận Nà Sản, Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã tìm ra cách để đánh bại quân Pháp ở trận đánh Điện Biên Phủ lịch sử. (Hội yêu Lịch sư - Khí tài Quân sự ngày 19/9/2018).
VI. Cũng sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết:
1. Để liền một dải với Trung Quốc, với phe xã hội chủ nghĩa, nói khác đi, để làm được tiền đồn của phe, để thoát cảnh một mình “chiến đấu giữa vòng vây” ta mở Chiến dịch Biên Giới giải phóng Cao Bắc Lạng. Tháng 8-1950, Dương Bích Liên, Vũ Cao, Hoàng Nghiêm điện ảnh, Thân Nhất Đài phát thanh và tôi lên Cao Bằng. Bộ đội sang Quảng Tây học tác chiến từ mấy tháng trước trở về rầm rập đêm ngày. Cố vấn Trung Quốc cùng với những con ngựa cao to kiểu Xích Thố chở ngất ngưởng chăn đệm, thau chậu. Cố vấn xuống tới tiểu đoàn, trung đội.
Tôi ngày ngày dự các buổi trung đội trưởng Trung Quốc dạy bộ đội ta đánh bộc phá, đâm lê. “Chú ý ngoáy cổ tay, vặn thế này, xốc lên”, anh phiên dịch nói to như gắt… Đoàn báo chí, văn nghệ dự buổi Võ Nguyên Giáp phổ biến trên sa bàn kế hoạch đánh thị xã Cao Bằng. Tôi và Nguyễn Địch Dũng đến trung đoàn 174 của Đặng Văn Việt và Chu Huy Mân (Đặng Văn Việt Trung đoàn trưởng, Chu Huy Mân Chính uỷ). Tuần sau, đánh Đông Khê, không đánh Cao Bằng như kế hoạch Võ Nguyên Giáp đã giới thiệu. Đánh Đông Khê, tôi đi với tiểu đoàn 251 chủ công Nguyễn Hữu An của trung đoàn 174. Tiến, người Tày là chính trị viên. Đông Khê đồn. Hòn núi côi cút trước mắt, có đồn tiền tiêu Cạm Phầy.
2. Khai hoả cho toàn trận đánh, là đồn tiền tiêu Cạm Phầy chợt như bị một bùi nhùi rơm khổng lồ, lửa văng tung toé. Cùng lúc súng nổ ran tứ phía. Nhưng hết một đêm không xong, Nguyễn Hữu An không vào nổi đồn! Đêm hôm sau, tôi nằm với bốn khẩu sơn pháo bắn thẳng của tiểu đoàn trưởng Thành. Thành đưa tôi một điện thoại nghe ban chỉ huy trận đánh chỉ đạo, cho bắn bao nhiêu viên 75. Thành bảo tôi cố vấn Trung Quốc nói mỗi viên đạn pháo giá hai lạng vàng. Nghe suốt đêm Lê Liêm chính ủy mặt trận biên giới giục lính 251 “anh dũng tiến lên, hy sinh cũng lên, không thể để đến sáng nữa…” Sáng tinh mơ sau đêm thứ hai diệt được Đông Khê, tiếng súng im hẳn.
Tôi rời trận địa 75 li của Thành lên ngay đồn. Vừa tới khúc quành lượn lên đồn, tôi phải quay về: bộ đội cấm. Pháp có thể nhảy dù xuống chiếm lại Đông Khê như tháng 5 trước đó. Tối lên đồn. Tan hoang. Lửa khói.Một lính da đen cụt chân thấy tôi, giương hai con mắt trắng rã vì sợ, lê đít giật lùi tránh. Tôi rẽ ngay ngả khác, không muốn làm anh ta sợ thêm. Đến một góc đồn. Có lẽ là cái mạn bắc mà đêm qua chính ủy mặt trận Lê Liêm cứ suốt đêm điện thoại vỗ về, thúc giục “a lô D3, a lô D3, các đồng chí cố lên…”. Dốc dựng đứng. Một tấm vải bạt căng lên, một đống lửa khá đượm và một lính Pháp nằm bên. Một mình. Mắt nhắm nghiền. Miệng thầm thì không dứt gọi Maman, Mẹ…, , Maman…
3. Mấy hôm sau chạy trên đoạn Khau Luông, Nà Kéo, Cốc Xá đường số 4, nơi quân lính ta và quân Charton, Lepage quần thảo giáp lá cà, tôi phải dốc lên mặt lọ Coty nước hoa chiến lợi phẩm nhặt trong hầm viên đại uý chỉ huy đồn Đông Khê. Tôi bịt mũi cắm đầu chạy.… Và tôi không chạy nữa. Nghe tin ta và cố vấn mâu thuẫn nhau. Cố vấn cho rằng ba ngày đánh Cốc Xá là nướng quân, nhưng Giáp quyết diệt quân Charton đóng trên núi… Tự nhiên thấy khó chịu với các cố vấn. Như bị xúc phạm. Trong tổng kết chiến dịch đã có các cuộc tranh luận khá gay gắt về phối hợp giữa binh sĩ Việt Nam và cố vấn.
Nhưng sau khi kết thúc thắng lợi chiến dịch biên giới, ngày 14/10/1950, Hồ Chí Minh gửi thư cho Mao Trạch Đông, Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc: “Tóm lại, tôi cho rằng thắng lợi này là thắng lợi của đường lối Mao Trạch Đông cách mạng, quốc tế chủ nghĩa. Tôi không nói lời khách sáo: “Cảm ơn các đồng chí”, mà nói các đồng chí Việt Nam và nhân dân chúng tôi sẽ nỗ lực hơn nữa giành lấy thắng lợi cuối cùng lớn hơn, lấy thành công để đền đáp sự kỳ vọng tha thiết và giúp đỡ to lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Liên Xô anh em”.Chả ai thấy chữ đền đáp kỳ vọng nghe nó quá bề dưới.
4. Ngày 11-19/2/1951 mở Đại hội II, Hồ Chủ tịch nói: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam”. Không thích chui lủi, chúng tôi rất sướng được ra ánh sáng và thế là, quên mất câu Cụ nói ngày cho đảng rút lui vào bóng tối: Nếu cần có đảng phái thì sẽ là ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM… Việc đảng ra công khai cũng gây một số thắc mắc. Bọn tôi kêu cái tên Đảng Lao Động Việt Nam yếu quá thì được đả thông ngay: Ông Cụ đã thỉnh thị Stalin và Stalin bảo lấy tên này. Thế ra, lúc Cộng sản Đông Dương, lúc Lao động Việt Nam đều do Stalin quyết định cả…
VII. Chỉnh huấn Văn nghệ, báo chí.
1. Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết tiếp: Từ Trung Quốc vào ta cùng với vũ khí, với những tam tam chế, tứ khoái nhất mạn, nhất điểm lưỡng diện, tiêm đao tung thâm chia cắt…; còn có cố vấn, có chỉnh huấn… Có thể nói một nề nếp sinh hoạt mới, một ý tứ mới phải tuân thủ, coi trọng. Tôi đã dự lớp chỉnh huấn đầu tiên chủ yếu dành cho đảng viên văn nghệ, báo chí ở ATêKa. Cán bộ ta sang tận Hoa Nam học cách thức về chỉ đạo. Tôi cùng chi bộ – tức một nhà sàn – với Xuân Diệu, Nguyễn Tư Nghiêm, Phan Kế An, Lê Đạt… năm cái mồm lý sự cùng một số anh chị em khác.
Bắt đầu thí điểm cho nên học nặng về tranh cãi chữ nghĩa. Chi bộ tôi bỏ cả ba buổi thảo luận say sưa thế nào là tôn chỉ. Xuân Diệu cãi hăng nhất. Nhưng, hết phần lý luận, chuyển sang phần kiểm thảo thì mọi người đều cảm thấy ơn ớn. Mang máng một cái gì của sám hối tôn giáo, lờ mờ một cái gì xúc phạm nhân cách, cân cấn một cái gì muốn cưỡng lại nhưng không dám. Mỗi người đều phải khai hết sai lầm, khuyết điểm. Thành khẩn tự phanh phui bản thân là thước đo lòng trung thành với đảng. Một tên chỉ điểm vô hình được cài vào trong từng người. Và khi tên chỉ điểm ấy đã an vị trong anh thì từ đấy cái bóng lù lù của nó – một thằng cò sợ hay một thằng Javert của đảng – bèn trùm lên khắp người anh.
2. Có thể nói lớp chỉnh huấn tháng 3 năm 1951 ấy là mở đầu cho các cuộc chỉnh huấn đều kỳ của cán bộ đảng viên. Trước mỗi vận động lớn hay trong các cuộc học tập lý luận thường xuyên đều có chỉnh huấn. Chỉnh huấn là chìa khoá vạn năng thúc đẩy tiến bộ tư tưởng! Dĩ nhiên, lúc ấy tôi chưa thể nhận thấy đó là cuộc xâm thực ô nhiễm nhân cách. Mục đích chỉnh huấn nham hiểm của Mao là dùng chỉnh huấn để khống chế “mỗi tôi con” của đảng, bằng cách nắm lấy cung của mỗi tôi con – một biến thể của hồ sơ mật thám. Gogol viết một đại điền chủ thu mua các linh hồn chết. Ở đây thì lưu trữ rác rưởi của mỗi linh hồn rồi biến chúng thành một quả mìn đe nổ.
Song, lần truy nã tư tưởng đầu tiên chưa gay gắt. Nói chung không có gì ghê gớm. Trừ Ngô Tất Tố bị lưu lại kiểm thảo thêm mấy ngày vì Tố muốn bỏ về sớm. Và Tố đã lỡ khai rằng hồi ở báo Cứu Quốc, trong một lần rượu Tết quá chén, Tố có nói một câu bậy bạ nghiêm trọng như sau: “Tôi là con chó, con chó thời Tây rồi thời Cộng sản. Chó thời Tây còn ủng oẳng sủa dăm ba tiếng, chứ chó thời Cộng sản thì cúp đuôi nằm im re”…Như Phong, người từng dự bữa rượu kia bảo tôi: Bữa ấy, tớ có mặt, Tố cứ đấm ngực kêu ô ô lên như mày kể thật nhưng… đếch biết là hắn say thật hay là vờ để chửi, mày ạ. Theo tớ thì vờ. Dạo ấy đang còn lỏng tay nên chúng nó mượn rượu nói xỏ, nay xem có thằng nào say nói láo nữa đâu!
3. Hai năm trước, Ngô Tất Tố dịch “Trời Hửng” của Trung Quốc… Mạc Phi bảo tôi, sớm nào Phi cũng đun nước sôi cho Tố pha trà. Mạc Phi vừa được cất nhắc vào ban lãnh đạo mới của đoàn kịch Chiến Thắng gồm có Song Kim, Hoàng Tích Linh và Mạc Phi. Hai nhà lãnh đạo tài ba cũ Thế Lữ và Võ Đức Diên đã bị Tố Hữu phế bỏ. Tố Hữu chỉ thị cho Tích Linh và Mạc Phi, hai đảng viên: Đảng đưa hai anh vào đây để làm gì? Để lọc hết máu tiểu tư sản cho đoàn kịch. Lọc rồi thì chuyền máu gì cho anh chị em? Máu công nông binh! Nói cụ thể là phải quần chúng hoá, tập thể hoá, quân sự hoá đoàn kịch. Nói cho dễ hiểu là không cần sân khấu, bục diễn, hậu trường, cánh gà, son phấn chi cả. Diễn “lửa trại” là đi thẳng từ quần chúng đến quần chúng.
Một dạo Ban Văn Hoá của Trần Huy Liệu kiện Ban Văn Nghệ của Tố Hữu buôn lậu lấy tiền lập quỹ đen tiêu xài vung vãi. Trường Chinh cử Lê Đạt đến nghe hai bên. Đạt tới và trước hai bên nguyên bị sát khí đằng đằng, toét mồm tự giới thiệu: Dạ, thưa, tôi đến thế này chẳng qua cũng là anh lính lệ nhà quan. Trần Huy Liệu cười. Tố Hữu xầm mặt lại. Ít ra lúc ấy trên rừng, chủ nghĩa Mác-xít chưa thành chủ nghĩa Mác-mít, chủ nghĩa nồi cơm (tiếng Pháp: marmite – BT)… Chưa có câu “ngậm miệng ăn tiền”, “đi bằng đầu gối”, “mác xít có số”. Cái gì làm cho chủ nghĩa Mác-xít biến âm thành chủ nghĩa nồi cơm? Đảng đã dẫn tất cả đi vào con ngõ cụt, bước theo từng bước một.
4. Kỷ luật đang bắt đầu đi vào nề nếp sau khi cuốn “Bàn về tu dưỡng của người cộng sản” của Lưu Thiếu Kỳ được dịch và học tập rộng rãi. Quyển tu dưỡng đảng viên này, dạy đảng viên tuyệt đối trung thành với đảng cùng gìn giữ kỷ luật, tóm lại hãy quên cá nhân đi. Tôi nhớ nhất chuyện một số người hỏi Lê-nin vào Đảng Xã Hội Dân Chủ Nga của Plékhanov, rồi phá nó để lập Đảng Cộng sản Bolsevich thì có là chống đảng không, Lưu Thiếu Kỳ giải thích: không, bởi đó là Lê-nin còn anh thì chống đảng vì không là Lê-nin! Thép Mới nổi tiếng ở Atêka về phương châm anh tự đặt ra để răn mình: “mù, què, câm, điếc”.
Năm 1951, đi thực tế một năm ở huyện Lâm Thao, tôi thư cho Trường Chinh nói ở xã Văn Lung có một cha cố “rất hay” thì anh viết thư trả lời, nói tôi nên tìm hiểu xem ông ấy có thực hiện tốt giảm tô, giảm tức hay không… Mao Chủ tịch bắt đầu “nhắc Bác vấn đề lập trường” mà anh và Cụ Hồ đã vi phạm khi chủ trương đoàn kết cả với địa chủ để đánh Pháp đuổi Nhật… Có thể nói Trường Chinh là thần tượng của tôi. Song một người – nghe đâu có họ với Trường Chinh – cũng ảnh hưởng rất mạnh đến tôi. Ấy là Kỳ Vân, tức Đông Thọt, hay Nhân Chính, bút danh trên Sự Thật, người không biết một húy kỵ nào. Mày, tao, tớ, hắn với hầu hết mọi người. Vô cùng thoải mái, hồn nhiên.
5. Nhà giàu, Kỳ Vân chuyên bị Nguyễn Lương Bằng bảo mua súng. Mua được năm khẩu súng trường rồi Kỳ Vân từ chối. “Cứ nã khống tiền tớ!”. Bằng bèn đưa tiền để Kỳ Vân mua năm khẩu pặc hoọc. Lính Tưởng (Giới Thạch) bán súng, mời anh nhậu say rồi tráo súng giả. Bằng đòi kỷ luật, anh bảo anh đền tiền. Bằng bảo không lấy tiền, mà đòi kỷ luật nên đầu kháng chiến chống Pháp, Kỳ Vân đi trông một nông trường bò của Nguyễn Lương Bằng ở Đô Lương. Nhân viên làm chết mất cả mấy trăm con, Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) lại phạt, điều anh về sửa mo-rát ở nhà in báo đảng, tài sản Nguyễn Lương Bằng quản. Trường Chinh qua thăm nhà in, gặp anh, đã kéo anh về toà soạn viết lý luận.
Một xẩm tối, tôi rủ Kỳ Vân sang Ban tuyên truyền trung ương liên hoan. Gần tới đầu bản, anh hỏi thằng nào trưởng ban. Tôi nói Lê Quang Đạo. Anh nhíu mày, lẩm bẩm, “Đạo nào nhỉ? Có thằng nào tên là Lê Quang Đạo đâu chứ?”. Tới nơi, tôi bị đám trẻ kéo đi hỏi có tiết mục gì góp vui không, thì thấy tiếng Kỳ Vân gọi rất to: Trần Đĩnh…, Trần Đĩnh… này…Trở lại. Thấy Lê Quang Đạo đang rúc đầu vào bụng Kỳ Vân, hai tay ôm quàng người Kỳ Vân và cả hai cười ha hả. Kỳ Vân vỗ vai Đạo bảo tôi: Tưởng thằng nào…, thằng Nguyện này tớ kết nạp vào đảng. Kỳ Vân bí thư Bắc Ninh, Bắc Giang, kết nạp đầu tiên Thân Mỡ, bí thư đầu tiên của Đình Bảng rồi Thân Mỡ kết nạp Lê Quang Đạo.
6. Thân Mỡ tự tử chết khi tổng kết tư tưởng lớp học Mác-Lê ở Bắc Kinh. Người gieo hạt là Kỳ Vân, sau này cũng mắc vụ “xét lại”. Nguyên Hồng, Kim Lân, Như Phong, Nguyễn Địch Dũng đều rất phục Kỳ Vân… Những tối Kỳ Vân kể chuyện hoạt động hải ngoại cùng Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần…, chúng tôi cười tưởng đổ nhà sàn. Không thần bí hoá, không anh hùng hoá, không bi tráng hoá, anh cho chuyện của anh diễn ra như ngẫu nhiên và buồn cười. Chả nhân vật nào là thần tượng được qua mắt anh…
Tù ở Sơn La quá đông, Pháp giãn một số trong có Kỳ Vân về căng Bá Vân, Thái Nguyên. Anh phớt lờ chi bộ, vượt ngục về Hải Phòng, sống ở Lạch Tray, anh dặn mẹ ai hỏi thì bảo anh vẫn bị tù. “Vì sao?” Mẹ hỏi. “Vì không thì người ta giết con”, “Ai giết?”. “Các đồng chí của con… Con tự ý trốn tù mà…” Được ít lâu, bà mẹ tìm, nói có người tên là Tự nhiều lần đến, khẩn khoản xin gặp anh Đông, có chuyện rất cần. Nhận ra là Hoàng Quốc Việt, Kỳ Vân bèn gặp. Theo lệnh Trung ương, Việt tìm Kỳ Vân để báo Kỳ Vân biết cùng sang Hoa Nam tham gia đại hội thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh hội do Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thach triệu tập cuối năm 1942.
7. Lý do thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh hội, là vì họ muốn thống nhất các tổ chức chính trị Việt Nam ở Hoa Nam lại để đánh Nhật ở trong nước, và cung cấp tình báo cho họ. Tàu Tưởng bắt tù Cụ Hồ chỉ cốt để báo cho biết, nó chả ngọng Cụ là cộng sản, cụ muốn hoạt động thì hãy chịu cương toả của nó… Nhờ tập thơ giãi bầy tâm sự trong tù với Tàu Tưởng, rằng cụ yêu nước chứ không cộng sản, rồi nhờ có Hồ Học Lãm nói thêm với Trương Phát Khuê, Cụ đã được ra tù, và cùng với Nguyễn Hải Thần lãnh đạo Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội. Hoàng Quốc Việt và Kỳ Vân sang Hoa Nam, Trung Quốc vì thế. Sau đó, Kỳ Vân ở lại Hoa Nam. Đến Đại hội Tân Trào tháng 8 năm 1945, anh về họp với tư cách đại biểu cách mạng hải ngoại.
Anh kể, khi Nhật tiến công vào Lạng Sơn cuối 1940. Lúc đó, ở Sơn La giam mấy chục lính khố đỏ, ủng hộ Trần Trung Lập theo Nhật, nổ súng chống lại Pháp. Thua, Pháp để Nhật đóng vài trăm quân trên mạn bắc sông Hồng và ở cảng Hải Phòng, Đồng Minh không còn chuyển vũ khí, trang bị cho Tưởng qua đường Hải Phòng – Vân Nam nữa. Đổi lại, Nhật trả tù binh, gồm cả mấy chục lính khố đỏ tù Sơn La, những người lính khố đỏ tù nầy, đặt kế hoạch vượt ngục để sang Trung Quốc. Được tin, Chi ủy cộng sản báo cho Pháp biết, phá không cho các tổ chức quốc gia “phản động” có thêm lực lượng.
8. Là chi ủy viên, Lê Liêm báo Kỳ Vân về quyết định này. Ai ngờ Kỳ Vân chất vấn luôn bí thư Lê Thanh Nghị. Kỳ Vân thế là lại thêm vết. Đám lính khố đỏ sau đó bị Pháp chuyển đi nhà tù khác… Nhưng sao phải phá họ? Anh cười hỏi vặn lại, Phản động mà! Phản động mà chống Pháp. Họ vượt ngục là để chống Pháp và Nhật. Còn với ta, thì lấy gì bảo họ chống ta? Hay là vì đảng phải dẹp các đảng phái quốc gia để giành lấy độc quyền lãnh đạo? Trước khi hợp nhất, ba tổ chức cộng sản chẳng chửi nhau là phản động và đều muốn xơi tái nhau cả đấy thôi! Nghe có lý nhưng tôi vẫn không thông lắm. Vẫn thấy để độc quyền lãnh đạo, thì đảng cần phải làm suy yếu tất cả các đảng phái khác…
VIII. Chỉnh huấn Cải cách ruộng đất.
1. Cũng Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết tiếp: Tôi thôi tùy quân ký giả, ngồi nhà phụ trách tổ cải cách ruộng đất của báo. Cả nước đang tích cực chuẩn bị cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất giải phóng anh em giai cấp. Cụ Hồ có bài báo tiếng Pháp đăng đầy hai trang “Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân chủ mới”. Sau khi Stalin và Mao lên gân cho cụ một bài “lập trường vô sản”. Gặp Hồ Chí Minh, Stalin đã chỉ hai cái ghế nói: ghế này của nông dân, ghế này của địa chủ, anh ngồi vào ghế nào? Câu hỏi không giấu vẻ miệt thị, và thế là ra đời bài báo Cụ Hồ tự phê bình đã chậm tiến hành cải cách ruộng đất. Cụ rất hiểu: muốn làm cách mạng thì phải được phe cho nắm quyền! Như trước kia được Quốc tế cho phép lập đảng. Và giòng sông vào biển từ nay hoá mặn.
Chuẩn bị “Cải cách Ruộng đất”, từ giữa tháng 7 đến cuối tháng 9 năm 1953, Trung ương mở một lớp chỉnh huấn cho trí thức trong và ngoài đảng làm việc ở chính phủ và các đoàn thể trung ương. Nhiều tên tuổi như Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Thế Lữ… đã dự học. Mục đích sâu xa là xây dựng lập trường giai cấp, đề cao công nhân, bần cố nông, hạ uy thế chính trị và tư tưởng của trí thức và các giai tầng không lao động chân tay khác. Sau đó, bắt đầu triệt để chỉnh đốn tổ chức, theo phương châm mạnh mẽ đề bạt công nông, gạt bỏ các thành phần “không trong sạch”.
2. Mấy tòa nhà lán tre nứa cao rộng vây quanh hai mặt một hội trường lớn. Riêng ở một tòa ở xế trước hội trường là ba hay bốn chi bộ (gồm cả đảng viên lẫn không đảng phái). Chi bộ đầu lán có Nguyễn Cao Luyện, Tạ Mỹ Duật. Liền với nó, trên cùng một sạp giường nứa dài cả hai ba chục mét, một chi bộ nữa và đặc biệt lại có Nguyễn Tư Nghiêm và tôi. Ở sạp đối diện, cách một lối đi là hai chi bộ nữa. Một có Đặng Đình Hưng và một có Vũ Chính, Tổng cục trưởng Tổng cục 2 sau này. Tố Hữu là bí thư học ủy. Cụ Hồ cách nhật, có khi liền ngày, đến xem điện ảnh, liên hoan với học viên.
Lê Duẩn thường có mặt, giảng bài chính. Lập trường giai cấp nông dân và cách mạng dân tộc, dân chủ. Duẩn nhấn mạnh trong bước cách mạng này, người cộng sản phải có lập trường giai cấp nông dân để hiểu được nguyện vọng nông dân mà kiên quyết lãnh đạo họ cải cách ruộng đất, lấy lại quyền lợi, làm một cuộc đổi đời. Tôi ngợ: theo Mác, Lê-nin thì người cộng sản không thể có lập trường nào khác ngoài lập trường giai cấp công nhân. Có điều ý kiến của Lê Duẩn chỉ nói ở trong cái lớp mấy trăm con người này. Vả chăng không ai dám phê phán hay chất vấn sất.
3. Phải nhận Duẩn có nhiều ý độc đáo. Như ta mất nước cho Pháp là vì lúc đó đang là thời đại chủ nghĩa tư bản, nó chiến thắng áp đảo phong kiến. Đổ hết tội cho nhà Nguyễn là không thấy xung đột của hai phương thức sản xuất, một đi lên, một tàn lụi. Duẩn mới ở trong Nam ra với biệt hiệu đơ-xăng bu-gi, hai trăm nến chỉ sau có Cụ Hồ xanh-xăng bu-gi, năm trăm nến. Chúng tôi hay xúm quanh Lê Duẩn để hỏi. Phải nhận ông có những cách giải thích độc đáo mà nay nghĩ lại thì thấy thường là ngụy biện. Chẳng hạn, trả lời tại sao chỉ có Đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam chỉnh huấn, còn các đảng Âu Mỹ thì không, Duẩn nói, vì ta và Trung Quốc ít công nhân cho nên phải bỏ công ra tỉa gọt từng đảng viên cho đa số có được lập trường giai cấp vô sản.
Một tối kẻng thình lình gọi toàn thể lên hội trường. Thì Tố Hữu ủ rũ đi vào. Theo sau là cụ Hồ và nhiều người khác. Ông Cụ ngồi xuống ở trên cùng hàng đầu. Tố Hữu bước lên sân khấu, rồi cúi đầu đứng lặng một lúc khá lâu nữa. Khi mọi người bên dưới to tiếng hỏi nhau, Tố Hữu mới từ từ quay lại, nước mắt chan hòa trên mặt từ lúc nào. Trên phông mầu đỏ hiện lên chân dung đại nguyên soái Stalin. Bộ quân phục trắng lốp làm nổi bật hơn lên dải băng đen viền quanh rồi thắt nơ túm lại ở bên dưới. Tôi thấy bàng hoàng hơn là đau buồn. Đúng hơn nữa, tôi vẫn bị khó chịu vì cái kiểu “đánh đố loài người” của Tố Hữu. Trước mặt tôi, Cụ Hồ nức nở, hai má Cụ đỏ bóng vì khóc, vì xúc động.
4. Xong truy điệu, Cụ lập cập đứng lên về gian phòng dành riêng cho Cụ ở đằng sau hội trường. Quên hộp thuốc lá Trung Hoa Bài hình tròn ở trên ghế bên cạnh. Tôi cầm lấy nó đi men hiên đất cao hẹp rẽ vào phòng Cụ. “Dạ, thưa Bác, Bác để quên ạ!” Cụ ngửng lên nhìn, mặt Cụ xưng lên, đầm đìa nước mắt, hai mắt húp lại, và tôi bỗng thấy mình lạc lõng quá, vô duyên quá, tọc mạch quá. Tôi vội quay rất nhanh ra ngoài. Hội trường tắt đèn. Chân dung Stalin chìm trong bóng tối. Ít lâu sau bài thơ khóc Stalin của Tố Hữu đăng lên báo: “Thương cha, thương mẹ, thương chồng, Thương mình có một còn thương ông thương mười” (Thơ Tố Hữu)
Một tối họp chi bộ nghe và nhận xét các bản tự kiểm thảo của nhau. Sau mỗi bài học cơ bản lại có một cuộc tự kiểm thảo và cuối lớp sẽ có bản tổng kết tư tưởng, gọi ra tên hệ tư tưởng của mỗi người. Tố Hữu xuống dự chi bộ chúng tôi tối đó. Tôi có phần đao to búa lớn phê phán người vừa trình bày xong bản kiểm thảo. Tố Hữu bỗng giơ tay ngăn tôi lại. Rồi từ tốn, nhỏ nhẹ nói “Đồng chí vừa phê phán ai, đồng chí biết không? Phê phán đồng chí của đồng chí đấy, đồng chí phải biết điều ấy! Đồng chí của đồng chí là gì? Là hòn ngọc…, tôi nói lại, là hòn ngọc, hòn vàng của đảng, là người mà chúng ta phải yêu mến nâng niu..” Nhưng, trong con mắt Tố Hữu nhìn người vừa bị chỉnh đốn kia một ánh trắng xỉn, lạnh lẽo, một cái gì khinh khỉnh.
5. Định nghĩa đảng viên là ngọc là vàng của đảng cho nên vào tổng kiểm thảo Tố Hữu yêu cầu học viên rất ngặt. Thứ nhất, hễ là con em hay liên quan với địa chủ, học viên đều phải thành khẩn tự khai báo với đảng mọi sai lầm tội lỗi của bản thân, chẳng hạn đồng tình, về hùa với gia đình, thậm chí cùng với gia đình trực tiếp đàn áp, bóc lột nông dân… Thứ hai, phải vạch ra mọi thủ đoạn đàn áp, bóc lột nông dân cùng tộí ác của bố mẹ, gia đình, họ hàng địa chủ, cường hào gian ác. Thứ ba trên cơ sở thành khẩn khai báo kia mà tuyên bố là căm thù bố mẹ, tỏ ra đã dứt khoát lập trường vô sản, đoạn tuyệt với kẻ thù giai cấp.
Không đạt yêu cầu căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ thì bản tổng kiểm thảo bị “phá sản,” học viên đó phải ngồi học lại cho tới khi nào lập trường vô sản, lập trường nông dân thắng, anh ta công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ mình. Tố Hữu làm đúng lời Bác Hồ thôi. Sắp vào tổng kết tư tưởng, Bác Hồ đến nói chuyện, thực chất “động viên” học viên dứt khoát với tư tưởng sai và lầm lạc, tội lỗi của cá nhân. Như thấy làm việc cho thực dân Pháp là nhục nhưng vẫn chưa triệt để, phải tiến lên một bước nữa là thấy tội của mình… Bữa ấy Bác lôi cả nhục và tội của cụ Bùi Bằng Đoàn ra trước mọi người.
6. Tôi nhớ chi tiết này, vì tôi đã ái ngại cho cụ thượng thư cũ. Nhất là khi Bác Hồ nói “Xin lỗi cụ Bùi” thì cụ Bùi Bằng Đoàn rất ôn tồn đáp lại: “Không dám, xin cụ cứ nói.” Tôi có phần thiện cảm với chữ “Không dám” mà từ khi lên ATK trên rừng bây giờ mới lại nghe đến. Cũng thương cụ Bùi chỉ được gọi là Cụ! Lúc ấy tôi chưa biết Mao bày mẹo chỉnh huấn bắt khai tội cốt để hạ nhục bề dưới để dễ thu phục, dể sai khiến –tao bắt mày khai cái thối tha nhất của mày ra, mà mày nghe tao là mày hàng tao, tao nắm được ruột gan mày thì mày còn hòng thoát đi đâu.
Ở chi bộ chúng tôi, Nguyễn Tư Nghiêm là học viên duy nhất rơi vào cảnh gay go phải làm hai bước nhận nhục và có tội. Mẹ anh năm ấy đã già, có hơn hai mẫu ruộng cho cấy tô, một mình nuôi người em của Nghiêm bị điên. Nguyễn Tư Nghiêm nhất định không khai “tội ác” của mẹ. Chi bộ thuyết phục, răn đe, anh vẫn khăng khăng nói không thể căm thù mẹ, không thể coi mẹ là kẻ thù giai cấp, là có tội ác, không thể đoạn tuyệt mẹ mà trái lại anh biết ơn mẹ đã nuôi nấng anh thành người, cho anh được học mỹ thuật.
7. Tóm lại, đảng coi anh là ngọc là vàng để anh nghe đảng, nhưng anh lại coi mẹ anh, kẻ thù giai cấp, hơn cả ngọc cả vàng. Và Nghiêm đã đơn thương độc mã nhỏ nhẹ, ấp úng chặn đứng một mầm văn hóa ác bắt đầu ló mòi mà người ta toan vun trồng nhân giống trên đất nước. Cuối lớp học, xong phần tổng kết tư tưởng từng người, học ủy chọn đưa ra toàn thể hội trường ba báo cáo điển hình. Một của Thế Lữ. Anh đã phạm sai lầm tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tự Lực Văn Đoàn, lại làm thơ kêu gọi nhân dân ta, nhất là thanh niên, đi vào con đường thoát ly chính trị, lờ đi tiếng kêu cứu của đất nước nô lệ tủi nhục. Rồi đời sống sa đoạ, đĩ điếm, thuốc phiện…
Một của Tô Ngọc Vân. Anh là tiêu biểu rõ nét nhất của tư tưởng văn nghệ thoát ly chính trị mà tiêu biểu nhất là cuộc tranh luận kéo dài của anh với Trường Chinh năm 1948 ở trên báo Sự Thật về “nghệ thuật là tuyên truyền hay không là tuyên truyền?” Anh thẳng cánh bác bỏ nghệ thuật phải tuyên truyền. Và một của Th. Lên tự nhận mắc chứng hủ hoá trai gái gần như bệnh lý mà có lẽ do, anh công khai thú nhận, “cái của tôi nó to quá!”. Truy nguồn gốc tư tưởng đến thế, mà người ta không biết xấu hổ, người ta đã đặt ra cái trò cho nhòm hội đồng vào đời tư người khác qua lỗ khoá. Chẳng lẽ hễ “nhân danh cách mạng” là có quyền đánh trống ghi tên cho đến nhòm lỗ khoá vào đời người khác hay sao?
8. Làm nhục và sợ là yêu cầu sâu kín của “tự kiểm thảo”. Nhiều người đã tự sát. Người đầu tiên tự sát trong chỉnh huấn là Thân Mỡ, người đảng viên do Kỳ Vân kết nạp đầu tiên ở Đình Bảng, và chính Thân Mỡ đã kết nạp Lê Quang Đạo, Thân Mỡ treo cổ chết khi tổng kết tư tưởng, lúc ông học trường Mác-Lê ở Bắc Kinh. Ở lớp chỉnh huấn báo Cứu Quốc dự, có Lưu Động, Chính Yên, và Thướng, biên tập viên của báo tham dự. Thướng treo cổ bên ngòi Thia, sông Đáy. Hai anh Lưu Động, Chính Yên đã phải lặn lội tìm xác kẻ “phản bội,” lời của bí thư học ủy Nguyễn Chương. Học viên phải họp mít tinh ở hội trường rầm rầm hô đả đảo tội ác của tên Thướng mưu phá hoại chỉnh huấn, một phương thức quan trọng của xây dựng đảng.
Động cơ nào khiến một số anh em tự thủ tiêu. Nhục rồi tự xoá bỏ? Hay mượn diệt bản thân mà hy vọng diệt chính cái kẻ đã đưa mình tới nông nỗi tuyệt vọng này? Tự sát biết đâu chẳng phải là muốn lẩn trốn một cách sống kinh hoàng? Đời thuở nào ngồi trước chi bộ lại lôi việc bố đi nhà thổ, mẹ ngủ với đày tớ ra trình báo? À, lại còn tế nhị cho phép là nếu việc xấu xa quá thì sẽ được báo cáo riêng với học ủy. Tại lớp học tôi theo, có người đau đớn khai ra việc mình ngủ cả với mẹ vợ và em gái vợ, có khi một đêm riêng rẽ với cả ba người. Khai rõ đủ thủ đoạn dụ dỗ, lừa bịp và cách tiến hành “tội ác” để lôi được tận gốc rễ của tư tưởng địa chủ nó ích kỷ, đểu giả, tàn bạo đến thế nào.
9. Chăm chú ghi từng câu hỏi của tập thể để trình bày cụ thể động cơ, địa điểm, thủ đoạn phạm tội. Có đồng chí khai mắc sai lầm thủ dâm. Năm chục tuổi mà còn mắc cái đó thì tư tưởng chiếm hữu và hưởng thụ của địa chủ ở đồng chí lớn quá thật. Nào đồng chí nói cho biết khi phạm tội đó đồng chí nghĩ chiếm hữu ai? Báo cáo, người vừa tự thú bỗng nghẹn ngào … báo cáo, tôi… Báo cáo…, cả chi bộ lắng nghe. Báo cáo tôi nghĩ đến cô con gái nhà chủ ở địa phương. “Thành phần gia đình?” “Có lẽ phú nông…” “Đấy, ngưu tầm ngưu mã tầm mã, tư tưởng bóc lột gặp nhau đấy”. Cứ thế nghiêm chỉnh xây dựng tư tưởng vô sản cho nhau. Đấu tranh tư tưởng là phải truy lùng triệt để như thế!
Xin trở lại chuyện Nguyễn Tư Nghiêm, thương anh, tôi đã xui bậy anh khai bừa đi là căm thù cho xong chuyện. Nhưng Nghiêm cứ đau khổ lí nhí bảo tôi: Không…, không căm thù mẹ được. Nghiêm cũng không căm thù được cả các địa chủ khác. Nghiêm bảo tôi: Tớ đọc Marx-Engels thấy nói Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ tư hữu; Tớ biết thế nhưng tớ không theo thế được… Lúc ấy, cố nhiên Nghiêm chưa nghe Cụ Hồ nói đại ý giữa nhà to là nước với nhà nhỏ là gia đình riêng thì cái to là nặng, cái nhỏ là nhẹ, vậy nên người cách mạng chọn gia đình to. Nhưng có nghe, thì Nghiêm cũng không theo. Marx còn chả làm gì nổi được Nghiêm mà.
10. Lần tham gia cải cảch ruộng đất ở Đức Lân, gần kè Úc Sơn, Thái Nguyên, sau một cuộc phát động quần chúng đấu tố địa chủ, Nghiêm mất tích. Tiêu tan đi như một cái bóng. Đội đã nghĩ tới phản động thủ tiêu. Ai hay quá kinh hãi về sự độc ác của con người với con người, anh bỏ trốn đội. Lủi ra ẩn ở giữa đồng lúa đang cữ trổ đòng. Bạch Mao nữ trốn địa chủ còn có rừng sâu, Nghiêm trốn đội cải cách chỉ còn có cánh đồng và những đòng lúa non cho anh bứt nhá thay cơm nhiều ngày. Phát hiện ra anh, người ta chỉ có thể kết luận là anh điên. Và Nghiêm đã vào nhà thương điên Bạch Mai. Chung phòng với một anh lính điên, hễ lên cơn anh ta lại cứ nhè đầu Nghiêm mà nện…
Kim Lân lúc đó là chi ủy viên phải đến thăm Nghiêm, tớ cứ dỗ cu cậu. Nào về với anh em đi, Nghiêm… Về…, về vẽ với anh em cho vui nhỉ… Về một thời gian được đặt hàng minh hoạ Truyện Kiều. Trường Chinh cho xổ toẹt. Phê rằng truyện Kiều là của Trung Quốc mà lại vẽ ăn mặc kiểu Việt Nam? Thật ra ông ấy không xài được những nét vẻ run rẩy mà mọi người kinh hãi lên vì đẹp và gọi là phong cách “thời kỳ điên”. Sau đó, Trường Chinh muốn an ủi Nghiêm, ba lần mời Nghiêm đến gặp. Nghiêm từ chối. Rúc vào đồng im lặng. Bây giờ, thế kỷ 21, Nghiêm vẫn hoàn toàn rúc vào tranh và im lặng… Nghiêm vẫn dành cho tôi cuộc gặp. Vẫn thoáng cái giọng Nghệ từ tốn, thấp trầm...
IX. Cải cách Ruộng đất thí điểm.
1. Cũng Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết tiếp: Là người phụ trách tổ cải cách ruộng đất của báo. Mỗi số báo tôi được hai trang để tuyên truyền cải cách ruộng đất. Chủ yếu phổ biến kinh nghiệm các đoàn đang giảm tô giảm tức ở Thanh – Nghệ. Và kinh nghiệm cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Tài liệu ở nội san các đoàn giảm tô, bản dịch được Hoàng Ước, thư ký của Hoàng Quốc Việt, người chỉ đạo cải cách ruộng đất lúc đó gửi cho. Tóm lại, các kinh nghiệm khêu gợi căm thù và tiến hành bạo lực, trong đó có cả chuyện Pavlik Morozov, cậu bé tố cáo bố phú nông ở Liên Xô.
Cải cách Ruộng đất chính thức nổ pháo hiệu đầu tiên ở xã Dân Chủ, Đồng Bẩm, Thái Nguyên, trên quốc lộ 1 lên Lạng Sơn. Đối tượng: Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, nhân sĩ tên tuổi trong Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, và cũng là Trung ương Mặt trận Liên Việt, người thường cùng họp long trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt. Nay bà trở thành địa chủ phản động, cường hào gian ác lợi dụng tiếng thân sĩ để phá hoại cách mạng và kháng chiến, có nhiều nợ máu với bần cố nông. Quản lý đồn điền Nguyễn Lân, nguyên vô địch võ sĩ quyền Anh trước kia nổi tiếng khắp Đông Dương cũng là đối tượng đấu tố và xử bắn. Đặc biệt Công, con trai bà Nguyễn Thị Năm, theo Việt Minh hoạt động bí mật, nay là Chính ủy trung đoàn pháo 105 li đang học ở Côn Minh, Trung Quốc cũng bị gọi về, treo giò.
2. Để có “phát pháo mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất”, Trường Chinh chỉ thị báo Nhân Dân tường thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm – Cát Hanh Long. Tôi nhận nhiệm vụ. Trường Chinh nói phân công tôi, vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội. Tôi nói tôi không dự đấu tố, thì anh bảo tôi khai thác Văn, người cấp dưỡng theo anh tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến các buổi đấu tố. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.
Thế là tôi viết bài khai hỏa cải cách ruộng đất theo sự pha phách thêm nếm khó lòng tránh khỏi của người cấp dưỡng đáng yêu của Tổng bí thư. Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB (Bác Hồ) gửi đến bài “Địa chủ ác ghê”. Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”.Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ:Mụ địa chủ Cát – Hanh – Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã giết chết 14 nông dân; tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật; làm chết 32 gia đình gồm có 200 người (năm 1944). Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân (năm 1945). Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng. Thế là, ba mẹ con địa chủ Cát Hanh Long đã trực tiếp, gián tiếp giết chết ngót 260 người” (Nguyên văn bài báo “”Địa chủ ác ghê” của CB).
3. Dăm bữa sau bài “phóng sự nghe kể lại,” tôi xuống Đồng Bẩm. Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu Quốc, trong đội cải cách về đây còn ở lại lo hậu sự. Tôi hỏi chuyện bắn, anh lè lưỡi lắc đầu mãi rồi mới kể lại. “Sợ lắm, tội lắm, đừng có nói với ai, chết tớ. Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh”. Du kích quát: “Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!”. Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà.
Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?”. Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…” Chính ủy Công, con bà Nguyễn Thị Năm, được CB (Bác Hồ) nhắc đến trong bài báo ở trên, bị điệu từ Vân Nam về và ngồi cùng mẹ chịu đấu tố, nhưng nghe nói không được dự buổi chôn cất mẹ.
4. Sau Nguyễn Thị Năm một tháng đến lượt xử Cử Cáp. Phát khai hoả thứ hai. Lần này tôi đến dự buổi thi hành án: bắn. Mít tinh tuyên án vào buổi tối. Bãi đất thuộc xã Phú Xuân, vùng chè Tân Cương. Vài trăm con người ngồi vây kín lấy một khoảnh đất trống. Khai mạc rất thình lình. Cũng thình lình chánh án Lê Giản xuất hiện. Lại cũng rất thình lình mấy người lính giải hai đối tượng đi ra. Cử Cáp, hơn bảy mươi tuổi, nguyên huấn đạo, Ủy viên Mặt trận Liên Việt, cũng địa chủ kháng chiến, thân sĩ như Nguyễn Thị Năm, tức là thuộc diện bị chính sách cải cách ruộng đất chiếu cố. Ấn tượng mạnh nhất ở ông già là chỏm râu bạc trắng.
Cạnh cụ, bí thư chi bộ nhưng nay đã thành “Quốc dân đảng” thông đồng với Cử Cáp phá hoại kháng chiến. Thấp nhỏ, chạc bốn chục tuổi, anh có cái dáng quen thuộc của cán bộ xã ta thường hay lui tới nhà cùng cơm nước, ngủ đêm… Không như Cử Cáp nom lớ ngớ – diễn viên chưa quen vai – anh có bộ dạng phức tạp: vừa sợ vừa khấp khởi. Đến phút cuối cùng thế nào đảng cũng hiểu bụng dạ trung thành của anh mà tha anh. Hai bị cói lép kẹp dưới nách, hai bị cáo đứng rúm ró.
5. Chánh án Lê Giản tuyên bố Chủ tịch nước bác đơn xin ân xá. Lim, lệt sệt đôi ủng ra hô: Giải chúng đi! Vọt ra năm sáu người lính đẩy hai người tù quay lui. Tôi thấy thô bạo quá. Nhưng kìa, họ vừa mới quay người, tốp lính đã quỳ rộp một cái xuống, đưa tiểu liên lên bóp cò. Lửa nhằng nhằng. Hai cái thân đổ vật. Chị cốt cán trẻ đứng bên tôi ôm chặt lấy tôi líu lưỡi lại: Anh có dầu… dầu Con Hổ, cho em…? Hai xác người nằm thẳng mềm mại. Lịch phịch đôi ủng nặng, Lim đến bên từng người bắn vào thái dương phát súng “ân huệ”. Thương, sợ và cả bất bình lẫn lộn trong tôi. Một sức mạnh nào đó không biết đã kéo tôi là đứa vốn nhát máu đến đứng trước cụ Cử Cáp. Vô thức muốn nói với cụ một lời phân vua: “Thưa cụ, tôi không muốn thế này cho cụ…”
Sáng hôm sau, cùng một cán bộ đội – “nhất đội nhì trời” – tôi vào nhà Cử Cáp. Một dãy nhà trình cổ, sơ sài trên một thềm đá ong quá cao, ngang eo tôi, nứt toác, sứt sẹo. Một mảnh sân đất đỏ quá rộng tưởng đi mãi không hết. Một bà già ngồi xổm trên thềm hai tay quàng ôm một đứa bé. Nhác thấy chúng tôi, bà cụ vội buông hai tay đứng lên để chắp lại vái. Con mắt cháu bé lập tức trợn lên kinh hoàng. Nó kêu “E!” Một tiếng rồi chạy. Rồi ngã ịch một cái từ trên thềm cao xuống sân…
X. Chiến cục Đông-Xuân và chiến sự 1953-1954.
1. Mùa Xuân năm 1953, quân đội Nhân dân Việt Nam với sự hỗ trợ của Quân đội Chính phủ Souphanouvong, mở cuộc tiến công lớn vào quân Pháp ở Lào. Do hậu cần quá xa, quân đội Nhân dân Việt Nam không đánh chiếm đồn binh Pháp ở Cánh đồng Chum được, Pháp coi đây là thành công lớn của họ. Ở các vùng khác, quân đội Nhân dân Việt Nam phối hợp tấn công đồng bộ từ Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ, buộc đội quân Pháp phải phân tán, xé lẻ khối quân cơ động của họ. Khi quân đội Nhân dân Việt Nam tiến đánh Tây Bắc, Pháp không còn lực lượng cơ động để ứng cứu, hình thành Chiến cục Đông-Xuân 1953-1954.
Tháng 7 năm 1953, chỉ huy mới của Pháp, tướng Henri Navarre đến Đông Dương, Navarre đề ra một kế hoạch tổng phản công, báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre". Ngày 18 tháng 7 năm 1953, cùng lúc Navarre mở hai cuộc hành quâm Hirondelle ("Con én") đánh vào Lạng Sơn, và cuộc hành quân "Camargue" đánh vào Quảng Trị, nhằm phá hủy các căn cứ hậu cần, kho tàng, và máy móc của quân đội Nhân dân Việt Nam. Giới truyền thông Pháp loan tin quân Pháp đã diệt được hai tiểu đoàn Việt minh, phá huỷ các kho tàng, và hầu hết căn cứ hậu cần của đối phương. Đầu tháng 8/1953, Navarre cho rút toàn bộ quân Pháp khỏi Cứ điểm Nà Sản.
2. Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre lại mở cuộc hành quân Moutte đánh vào Ninh Bình và Thanh Hóa nhằm phá các căn cứ hậu cần tiền duyên, giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Tháng 11 năm 1953, Navarre mở tiếp cuộc hánh quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ, khu vực mà ông ta cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của quân đội Nhân dân Việt Nam sang Lào. Navarre quyết tâm xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương,với quân số lúc cao nhất là 16.200 quân, bố trí trong 49 cứ điểm, chia làm ba phân khu; bắc, nam và trung tâm, với một hệ thống công sự dày đặc.
Theo Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Văn Sự, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng thì: Sau khi nghe báo cáo của Tổng quân uỷ, tại phiên họp ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị kết luận: “Về địch, Điện Biên Phủ sẽ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng chúng có cái yếu cơ bản là bị cô lập, mọi việc tiếp viện, tiếp tế đều phải dựa vào đường không. Về ta, với chất lượng đã đươc nâng cao thêm một bước trong chỉnh huấn, chỉnh quân, với những kinh nghiệm sẵn có và sự tiến bộ về trang bị, kỹ thuật, quân đội ta tới đây đã có thể đánh được tập đoàn cứ điểm. Vấn đề đường sá tiếp tế cho chiến dịch đúng là một khó khăn rất lớn. Nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, cả hậu phương đang chuyển động mạnh trong cải cách ruộng đất, sẽ tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến và nhất định bảo đảm cung cấp cho chiến dịch”.
3. Từ nhận định đó, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh “Trần Đình” và nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng quân uỷ, cử đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh chiến dịch làm Bí thư Đảng uỷ. Bác Hồ nói:“Giao cho chú toàn quyền quyết định. Chắc thắng thì đánh. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh…”.Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Bác Hồ, khi bước vào chiến dịch, quân và dân ta phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thử thách mới nảy sinh. Trước hết là tại chiến trường Điện Biên Phủ, tình hình địch đã có nhiều thay đổi, không giống như thời điểm Bộ Chính trị thông qua phương án tác chiến (tháng 12/1953).
Chúng đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội sẽ phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có.Vấn đề đặt ra là có hay không triển khai thực hiện phương án tác chiến đã được Bộ Chính trị phê duyệt? Nếu đánh thì không bảo đảm chắc thắng như lời căn dặn của Bác Hồ, nếu hoãn thì sẽ giải quyết ra sao khi pháo binh đã vào vị trí, các Đại đoàn đều đã có mặt ở tuyến xuất phát xung phong? Trên cơ sở kiểm tra khảo sát thực tế những thay đổi của địch tại Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh quyết định “hoãn trận đánh”, thay đổi phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.
4. Điều đó cũng có nghĩa là toàn bộ kế hoạch tác chiến phải chuẩn bị lại từ đầu, các đơn vị pháo binh sẽ phải kéo pháo ra khỏi trận địa, các đơn vị bộ binh sẽ phải rút quân khỏi vị trí xuất phát về vị trí tập kết…Đó là một quyết định khó khăn nhất trong đời như lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và cũng là vấn đề vô cùng phức tạp đối với cán bộ, chiến sỹ và các lực lượng có liên quan, nhưng để bảo đảm nguyên tắc chắc thắng như chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ, tất cả đều tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của người chỉ huy. Quá trình thực hành tác chiến theo phương châm mới, cán bộ, chiến sĩ ta dù phải “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt; máu trộn bùn non…”, nhưng “gan không núng, chí không mòn”, tất cả đều đồng tâm hiệp lực, ra sức thi đua giết giặc lập công.
XI. Huy động lương thực, thực phẩm cho Điện Biên Phủ.
1. Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Văn Sự viết tiếp: Khó khăn tiếp theo là làm sao để bảo đảm cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho chiến dịch Điện Biên Phủ, trong khi chiến trường ở rất xa hậu phương, mà đường tiếp tế thì độc đạo. “Đánh nhanh, thắng nhanh” bảo đảm đã khó, nay chuyển phương châm và kế hoạch tác chiến, khó khăn càng tăng thêm gấp bội. Theo số liệu tổng kết của Tổng cục Hậu cần, lượng gạo huy động cho chiến dịch là 25.056 tấn, ở tuyến chiến dịch, yêu cầu lương thực bình quân phải đáp ứng lên tới 90 tấn/ngày. Ngay tại Điện Biên Phủ phải có 50 tấn/ngày.
Bộ Chính trị chủ trương: “toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Điện Biên Phủ, nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”.Hội đồng cung cấp mặt trận Trung ương đã được thành lập do Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, trực tiếp chỉ đạo các ngành kinh tế, tài chính ở Trung ương dốc sức chi viện cho tiền tuyến; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh vào Thanh Hoá là vùng đông dân nhiều gạo; Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng về chiến trường quen thuộc đồng bằng Liên khu III trực tiếp phổ biến nhiệm vụ, hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương huy động nhân lực, vật lực, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.
2. Nhân dân cả nước hăng hái đóng góp lương thực, thực phẩm, phương tiện và sẵn sàng đi dân công, vận chuyển nhu yếu phẩm ra mặt trận phục vụ bộ đội. Đồng bào các dân tộc Tây Bắc, còn nhiều khó khăn, cấp trên không chủ trương huy động, nhưng đồng bào nơi đây vẫn hăng hái đóng góp cho chiến dịch 1.200 tấn gạo, 300 tấn thịt và gần 100 tấn rau. Ở Liên khu IV, chủ yếu là tỉnh Thanh Hoá đã huy động được hơn 8.000 tấn lương thưc, 2.000 tấn thức ăn khô. Liên khu Việt Bắc 7.311 tấn lương thực, riêng tại Lai Châu là 2.266 tấn. Ở Liên khu III, tuy còn nhiều vùng bị địch chiếm, cũng huy động được 1.183 tấn gạo, 57 tấn muối. Là nơi trực tiếp chiến đấu với địch, nhân dân Điện Biên Phủ cũng đóng góp được 555 tấn lương thực, vượt mức trên giao 64 tấn, 226 tấn thịt, vượt mức 43 tấn…
Vấn đề tiếp theo là làm thế nào để vận chuyển một khối lượng lương thực, thực phẩm khổng lồ từ hậu phương ra tiền tuyến? Thực hiện chủ trương của Đảng, ngoài 16 đại đội ôtô vận tải của quân đội, các chính quyền địa phương đã huy động dân công của đủ đáp ứng yêu cầu chiến dịch. Các phương tiện thô sơ của các địa phương là lực lượng hết sức quan trọng và hiệu quả vận chuyển vật chất cho chiến dịch. Điển hình là hơn 2 vạn xe đạp thồ của các địa phương - một phương tiện vận tải độc đáo trong chiến tranh nhân dân. Ngoài việc tham gia vận tải gạo, đạn cho chiến trường, lực lượng dân công còn tích cực tham gia vận chuyển thương binh ra hậu cứ để cứu chữa, trực tiếp vào tận chiến hào để phục vụ chiến đấu.
3. Tổng kết toàn chiến dịch, khối lượng vật chất đã huy động cho chiến dịch là 23.126 tấn gạo, 266 tấn muối, 992 tấn thịt, 800 tấn rau, 917 tấn thực phẩm khác,… Huy động 216.451 lượt dân công bằng 12 triệu ngày công. 20.991 xe đạp thồ, 736 xe súc vật kéo, 11.400 thuyền bè mảng… Đánh giá về kỳ tích này, tướng Pháp Y. Gra nhận xét rất đúng rằng “Cả dân tộc Việt Nam đã tìm ra giải pháp cho vấn đề hậu cần và giải pháp này đã làm thất bại mọi toan tính cũng như dự kiến của Bộ tham mưu Pháp”. (Nguyễn Văn Sự Đại tá, PGS. TS. Tuyên giáo, Thứ Bảy, 4/5/2019 12:26'(GMT+7).
XII. Huy động dân công, xe đạp thồ cho Điện Biên Phủ.
1. Trong bài “Công tác vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ” Đại tá-Thạc sĩ Trần Đình Quang viết: Tổng Quân uỷ nhận định: Để tiến hành Chiến dịch, ta gặp rất nhiều khó khăn; khó khăn lớn nhất là cung cấp mà chủ yếu là vấn đề đường sá. Theo phương án trên, nhu cầu hậu cần bảo đảm cho Chiến dịch rất lớn, gồm 434 tấn đạn, 7.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm, cứu chữa 5.000 thương binh... Trong khi đó, khả năng huy động hậu cần tại chỗ rất hạn chế do Tây Bắc mới giải phóng, nhân dân còn rất nghèo, vì vậy chủ yếu phải chuyển từ hậu phương lên. Các tuyến vận tải rất dài từ Việt Bắc sang cách xa 700 km, từ Sơn La lên ngắn nhất cũng 150 km, địa hình rừng núi hiểm trở, nhiều sông suối, đường xấu...
Ngành Hậu cần đã dốc toàn lực và huy động 261.451 lượt dân công (12 triệu ngày công) bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia chiến dịch, trong đó 53.830 người trực tiếp chiến đấu (dự kiến 35.000 người); vận chuyển, cứu chữa 8.458 thương bệnh binh (dự kiến 5.000); bảo đảm 1.200 tấn đạn, 1.733 tấn xăng dầu, 14.500 tấn gạo, 268 tấn muối, 577 tấn thịt, 1.034 tấn thực phẩm và 177 tấn vật chất khác, gấp gần 3 lần dự kiến ban đầu, và hàng chục lần nếu đánh theo phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”. Điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt, khả năng của ta còn hạn chế, máy bay địch lại thường xuyên đánh vào các tuyến giao thông, ngày cao nhất sử dụng 250 lần chiếc (có 1.186 trận đánh phá).
2. Các đèo Lũng Lô, Pha Đin, các đầu mối giao thông Cò Nòi, Tuần Giáo, bến phà Tạ Khoa... thành trọng điểm đánh phá của địch. Bộ chỉ huy Chiến dịch đã sử dụng 4 tiểu đoàn công binh cùng hàng vạn dân công bám các trục đường đánh máy bay địch đánh phá khắc phục bảo đảm giao thông. Từ trung tuyến trở lên ta đã sửa được 308 km đường ô tô, làm mới 63 km đường kéo pháo, phá 102 thác để tổ chức vận tải thuỷ trên sông Nậm Na... Tổng khối lượng đào đắp lên tới 35.000m3 đất, 15.000m3 đá, phá hàng ngàn quả bom nổ chậm. Cùng với đó, công tác chính trị, tư tưởng, nuôi dưỡng, bảo đảm sức khoẻ cũng được quan tâm nên lực lượng vận tải luôn có quyết tâm cao và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. (Trần Đình Quang, Đại tá Thạc sĩ, Quân đội Nhân dân Online 21/04/2014, 10:37).
Trong bài “Giao thông vận tải: Điểm tựa cho chiến thắng Điện Biên Phủ” Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền viết: Nhiệm vụ mở đường và bảo đảm Giao thông Vận tải cho chiến dịch, phục vụ 42.750 cán bộ, chiến sỹ gồm cả pháo binh, cơ giới; và 260.000 dân công hoạt động chuyển quân tập kết trước, trong và sau chiến dịch, Trung ương Đảng đã chỉ đạo triển khai xây dựng ba hướng tuyến chính phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ là: Hướng tuyến phía Bắc từ biên giới Việt - Trung về Thái Nguyên; Hướng tuyến phía Nam từ Nghệ An - Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III ra Hòa Bình; và Hướng tuyến Đông - Tây từ Hòa Bình theo đường 6, (41), 42 đi Tuần Giáo.
3. Hướng tuyến phía Bắc từ biên giới Việt - Trung về Thái Nguyên đi Yên Bái theo đường 13 bến Ba Khe - Cò Nòi. Đây là trục chính vận chuyển các loại vũ khí, khí tài phục vụ chiến dịch nên phải tập trung 02 vạn dân công với khoảng 02 triệu ngày côngthi công suốt ngày đêm, làm mới đoạn Yên Bái - Cò Nòi… Hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên đã huy động một khối nhân lực lớn sửa chữa, nâng cấp và mở tiếp tuyến đường từ Thủy Khẩu đi Bắc Kạn và Thái Nguyên; đường Võ Nhai - Bắc Sơn và mở rộng bến phà Thác Oánh; đường Cao Bằng - Bắc Kạn qua Chợ Mới - Bờ Đậu lên Tây Bắc hoặc Cao Bằng - Bắc Kạn - Tuyên Quang - Yên Bái - Ba Khe - Cò Nòi…; đường 31 - Chợ Chu - Quán Vuông - Khuôn Ngàn nối đường 3 lên căn cứ an toàn Đèo Khế.
Hướng tuyến phía Nam từ Nghệ An - Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III ra Hòa Bình dài trên 320km cũng đã phải huy động tới 2,6 vạn dân công với khoảng 2,6 triệu ngày công làm đường và bảo đảm giao thông cho các loại xe thô sơ, xe thồ vận chuyển lương thực, thực phẩm ra chiến trường.. Riêng Thanh Hóa tập trung 13.564 dân công và 6.320 thanh niên xung phong của Khu làm đường 15A đoạn Hồi Xuân - Mục Sơn, Mục Sơn - Đồng Trầu dài 114km. Nhân dân vùng đồng bằng Liên khu III từ Nho Quan và các vùng Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nô nức đi dân công vận chuyển lương thực, thực phẩm lên Hòa Bình và tiếp tục về chiến trường Điện Biên Phủ.
4. Hướng tuyến Đông - Tây từ Hòa Bình theo đường 6 (41), 42 đi Tuần Giáo - Điện Biên Phủ cũng được gấp rút xây dựng. Do lưu lượng phương tiện vận tải, xe kéo pháo, xe thồ, bộ đội, dân công đi lại trên tuyến chính quá đông, thường ùn tắc, nên phải mở thêm một số tuyến mớiđể: (a) Mở tuyến từ vùng sông Mã đi Mường Luân - Nà Sang vận chuyển gạo của dân công Thanh Hóa lên phục vụ cho các đơn vị tác chiến ở phía Nam Điện Biên Phủ; (b) Mở đường cho vận tải thô sơ theo đường mòn vượt núi qua Khẩu Hu, Cò Chảy ở phía Bắc Điện Biên Phủ để tập kết gạo, đạn cho các đơn vị tác chiến ở mũi phía Bắc và phía Tây Điện Biên Phủ; (c) Mở tuyến vận chuyển từ Ba NậmCúm qua Lai Châu đi Bản Tấu. Tổng chiều dài luồng tuyến vận tải cho chiến dịch Điện Biên Phủ lên tới 3.500km. (Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền, Tạp chí Điện tử Giao thông Vận tải - Thứ sáu, 25/05/2018, 06:18).
Trong bài “Góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ” Mai Luận viết: Theo lịch sử Đảng bộ quân sự tỉnh, Thanh Hóa đã huy động 34.177.235 ngày công làm đường và tiếp vận, phục vụ năm chiến dịch lớn: Trung Du, Quang Trung, Hòa Bình, Thượng Lào và Điện Biên Phủ; huy động lương thực, thực phẩm đáp ứng 70% nhu cầu chiến dịch; động viên 56.792 thanh niên vào bộ đội bổ sung cho các chiến trường, 6.321 thanh niên xung phong. Riêng năm 1953 và sáu tháng đầu năm 1954 Thanh Hóa có 28.890 thanh niên nhập ngũ, bằng tổng tuyển quân giai đoạn 1946-1952.
5. Các tài liệu tổng kết chiến tranh và quân sự cho thấy, chỉ riêng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã huy động 102.254 ngày công dài hạn, 76.670 ngày công ngắn hạn phục vụ chiến dịch. Ngoài ra Thanh Hóa đã huy động hơn 10 nghìn xe đạp thồ, 1.126 thuyền gỗ, 31 ô-tô, 180 xe bò, 42 ngựa, ba con voi thồ hàng và toàn tỉnh đã vận chuyển, cung ứng 50% khối lượng lương thực, 40% khối lượng thực phẩm cho cả chiến dịch. (Mai Luận, Báo Nhân Dân Điện tử - Thứ Tư, 08-05-2019, 18:09 Facbook Email Bản in +).
XIII. Cải cách Ruộng đất chính thức.
1. Cũng Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết tiếp: Cùng thời gian bao vây Điện Biên Phủ, Trung ương mở lớp tổng kết Cải cách Ruộng đất ở sáu xã thí điểm tại huyện Đại Từ sát nách An toàn khu, do Hoàng Quốc Việt chỉ đạo. Sau tổng kết, sẽ triển khai chính thức đợt 1 Cải cách Ruộng đất. Tôi đã dự. Địa điểm lớp tổng kết hình như ở xã Bình Thuận vừa cải cách xong. Những lán nứa ôm dọc các sườn núi chằng chịt lối mòn. Khu lán nhà ăn đồ sộ ở chính trung tâm. Tất cả các lán, cả hội trường đều không vách, trừ tòa nhà của học ủy với một đống lửa luôn bập bùng ở giữa.
Học viên là cán bộ, cốt cán tứ xứ đến lớp cũng ra sức nam nữ khám phá nhau. Gần như cuồng loạn. Cao trào phóng tay phát động bần cố đã tạo dịp cho con dục quậy. Bí thư đoàn ủy Hoàng Quốc Việt phải bỏ hẳn một buổi gọi tất cả lên hội trường rủa: “Ở đây có những con đĩ…, con đĩ… Ai đời đến độ ở lán nữ với nhau mà hễ tối có ai đi đâu về là cả lán lại nhòm đũng quần xem có gì? Đảng viên như thế à? Cốt cán như thế à?”… Nông dân, nhất là nữ rất phong tình, nay được giải phóng thì khó tránh cái chuyện lang chạ. Nhưng sao không chửi cả những thằng đĩ? – Nguyên Hồng nói.
2. Chia Đội và rồi cứ đội hình biên chế như thế xuất phát đi công phá giai cấp địa chủ. Nhưng trước hết phải chỉnh huấn, trình bày kiểm tra lý lịch trong Đội đã. Tôi cùng đội với Thanh, vợ Tố Hữu, Ninh và Tâm, hai cán bộ phụ nữ vóc dáng to lớn huyện Lâm Thao. Lại nhớ đến lớp chỉnh huấn trí thức xây dựng lập trường cải cách ruộng đất năm ngoái, Thanh phàn nàn với mấy chúng tôi rằng trong nhà ăn lớp học từ nay anh và chị phải ăn riêng. Vì? – Tôi lạ quá. Anh ấy ăn chế độ tiểu táo, bếp bé, tôi đại táo. Rồi chị giải thích, tiểu táo là cơm có ba món đặc và một canh…
Sau nầy, Hoàng Tùng hồi ký rằng, Mao đã “gọi” Hồ Chủ tịch sang nhắc phải làm Cải cách Ruộng đất, Trung Quốc đã rắp tâm đưa Đảng cộng sản Việt Nam vào quỹ đạo của Trung Cộng như bóng với hình. Chẳng hạn, chế độ phân biệt đối xử chi li đến gần như tàn nhẫn (tiểu táo, đại táo) về hưởng thụ vật chất nói trên. Hay quan trọng hơn nữa, những thay đổi nhân sự dựa trên giai cấp xuất thân. Chẳng thế, mà ở Điện Biên Phủ, Giáp dặn khẽ Lê Trọng Nghĩa, Hoàng Đạo Thúy… cần nói năng cẩn thận về lý lịch, các cố vấn đang xem xét, kể cả tôi (Võ Nguyên Giáp).
3. Tháng 2-1954 nổ súng ở Điện Biên thì tháng 11-1953, Hoàng Văn Thái xuống làm phó tổng tham mưu trưởng, Văn Tiến Dũng lên thay. Dũng thợ may gần công nhân hơn Thái. Hay Đỗ Mười thợ sơn, thợ hoạn lợn thì ưu tú hơn đứa được học cao… Rồi sau này đi đến phương châm nhân sự kinh hoàng của Song Hào, Phạm Ngọc Mậu: đề bạt bần cố nông một năm một cấp là chậm, đề bạt tiểu tư sản mười năm một cấp là nhanh. Đảng thay đổi nhân sự theo sự chỉ trỏ khôn khéo của cố vấn Trung Cộng, cũng có nghĩa là đảng phủ nhận những thành tích đảng đã thu được trong quá khứ. Thực chất đó là gì? Là diễn biến hung bạo, không hòa bình, của nước ngoài nắm vững Mác-Lê hơn Việt Cộng.
Đội trưởng Cải cách của tôi người Diễn Châu hễ nói là tôi ù ù cạc cạc. Khi Đội trưởng tố khổ, mọi người đều khóc, mình tôi ngơ ngác. Cổn, đội phó, bé gầy, mặt rỗ, láu lỉnh, mắt liếc loang loáng. Đã làm bồi săm, “bị chúng bóc lột, khinh, nhục lắm, đi mua thuốc phiện này, gọi gái này…, chuyên “cho nhòm khách chơi gái qua lỗ khóa” lấy tiền, thực chất là lưu manh thì nay thành đại cốt cán của đảng. Cổn đã bắt tôi ngừng báo cáo lý lịch. Nghe tôi nói bố viên chức, không nhà đất, anh giơ ngay tay lên: Đến bần cố nông còn có mảnh đất cắm dùi mà viên chức trong bộ máy đế quốc dựng ra để đàn áp nhân dân như bố đồng chí mà lại không? Thôi, đồng chí cố đào sâu đi, hãy gắng một lần thành khẩn với đảng, với giai cấp nông dân.
4. Thanh minh không lại. Cứ một lời: “Ở đây là vấn đề thái độ, lập trường. Đồng chí không tin là đồng chí khai ra tài sản gia đình nhờ bóc lột mà có thì nông dân sẽ khoan hồng cho đồng chí sao? Thế là chưa tin cách mạng, chưa tin nông dân”. Ức muốn khóc. Đã toan khai văng tê đi. Thì tối kẻng triệu tập tất cả lên hội trường. Hoàng Quốc Việt mặt đỏ rực – vừa uống rượu vang Pháp chiến lợi phẩm liên hoan ăn mừng cùng cố vấn cao cấp cải cách ruộng đất – báo tin Điện Biên Phủ đại thắng. Và sáng sau, Lê Điền đến gọi tôi về. Tôi được cử “đi học ở nước bạn…”. Tôi qua gặp Trường Chinh, anh tươi cười nói ngay: Tôi đồng ý anh đi học. Cần đào tạo chính quy. Vừa im súng liền ra ngoài học ngay, phấn khởi chứ?
XIV. Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève 1954.
1. Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, thì quân Pháp đầu hàng. Trong thời gian chiến dịch, Pháp không có khả năng xoay chuyển tình thế nên đã đề nghị Mỹ cứu viện. Nhưng tổng thống Eisenhower đã quyết định quân Mỹ sẽ không đổ bộ vào Việt Nam. Sau 56 ngày đêm cố thủ, ngày 7 tháng 5 năm 1954, cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ 18.000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của quân đội Nhân dân Việt Nam trong toàn bộ Kháng chiến chống Pháp.
Trên phương diện quốc tế trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một quốc gia thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì Dông Dương là lãnh thổ thuộc Liên hiệp Pháp của Pháp và buộc nước này ra khỏi Đông Dương. Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954, ban đầu để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Nhưng, do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả, nên từ ngày 8 tháng 5, vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận.
2. Sau 75 ngày đàm phán với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao dồn dập đằng sau các hoạt động công khai. Ngày 20/7/54, các bản Hiệp định đã soạn thảo xong. Ngày 21/7/54, Hội nghị họp phiên cuối cùng, Chủ tịch phiên họp là đại biểu Anh Anthony Eden, hỏi lại từng Phái đoàn xem có xác nhận không. Các phái đoàn lần lược tuyên bố xác nhận, ngoại trừ vài ý kiến dè dặt về một số điều khoản (Mên, Lào, Việt, Mỹ). Những ý kiến đó không làm thay đối các dự thảo Hiệp định. Hiệp định Genève chính thức ký kết ngày 21/7/1954.
Ngày 9/10/54, quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp thu Hà Nội, và hôm sau 10/10 Sư đoàn 308 Việt Minh diển binh tại Hà Nội. Ngày 15/10/54, Hồ Chí Minh về Hà Nội. Ngày 30/10/54, tiền Bảo Đại không được tiêu ở Hà Nội nữa.
XV. Về trận Điện Biên Phủ, Trần Gia Phụng viết:
1. TRƯỚC TRẬN ĐÁNH: Từ 20-11 đến 22-11-1953, thiếu tướng Jean Gilles, tư lệnh binh chủng Nhảy dù Pháp ở Đông Dương, mở cuộc hành quân Castor, đưa 6 tiểu đoàn nhảy dù quân Liên Hiệp Pháp (LHP) xuống ĐBP, trong đó có một tiểu đoàn nhảy dù quân đội Quốc Gia Việt Nam (QGVN). Tối 22-11-1953, hơn 4,195 người đã có mặt ở lòng chảo ĐBP. Một người chết và 13 người bị thương khi nhảy dù.Cuộc đụng độ với bộ đội Việt Minh cộng sản (VM) trấn giữ ĐBP vào tối đầu tiên, khiến 15 tử trận, 34 bị thương về phía Pháp; và 115 tử trận, 4 bị thương và bị bắt về phía VM. Chiếm xong ĐBP, quân Pháp sửa lại sân bay của người Nhật thành một phi đạo cho những phi cơ vận tải Dakota có thể hạ cánh được. Từ ngày 26-11, việc liên lạc bằng hàng không với Hà Nội bắt đầu.
Đại tướng Henri Navarre, tổng tư lệnh lực lượng Pháp tại Đông Dương, cho tăng cường ào ạt võ khí đủ loại, xe tăng, kẽm gai, đưa thêm nhiều tiểu đoàn Lê-dương, Bắc Phi, và QĐQGVN, xây dựng ĐBP thành căn cứ cố thủ (camp retranché). Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tổ chức và củng cố căn cứ ĐBP, thiếu tướng Jean Gilles giao việc chỉ huy cứ điểm ĐBP cho đại tá Christian de la Croix de Castries ngày 8-12-1953.Người Pháp chia căn cứ ĐBP thành nhiều cứ điểm. Mỗi cứ điểm có nhiều điểm tựa để liên lạc và giúp đỡ nhau khi lâm chiến. Lúc đầu, ngoài sở chỉ huy của đại tá De Castries đóng ở phía nam phi đạo, căn cứ ĐBP gồm 4 cứ điểm chính, được đặt theo tên phụ nữ: Anne-Marie (ở phía tây bắc, 4 điểm tựa); Béatrice (ở phía đông bắc, 4 điểm tựa); Dominique (ở phía đông bắc, 6 điểm tựa), phía nam của Béatrice; Claudine (ở phía tây nam, 4 điểm tựa). Về sau, khi quân số gia tăng, nhiều cứ điểm khác được thành lập theo thứ tự thời gian.
2. Như thế ngoài sở chỉ huy của De Castries, căn cứ ĐBP gồm 13 cứ điểm. Bao quanh các cứ điểm là hàng rào kẽm gai, rộng từ 50 đến 75 thước; ngoài ra còn gài mìn và chứa bom Napalm. Các sĩ quan phụ tá cho De Castries gồm có trung tá Pierre Langlais (phụ trách không vận), đại tá Charles Piroth (phụ trách pháo binh), và các sĩ quan phụ trách các phân khu chung quanh sở chỉ huy. Tất cả các cứ điểm, đồn bót của quân LHP đều hoàn toàn nằm trong lòng thung lũng ĐBP. Các tướng lãnh Pháp tin rằng máy bay của Pháp sẽ khống chế các dãy núi bao bọc chung quanh ĐBP, nên bỏ trống vùng núi non nầy. Vì vậy, các đồi núi chung quanh thung lủng ĐBP hoàn toàn do bộ đội VM chiếm lĩnh. Rồi đây, từ các núi đồi chung quanh ĐBP, VM tự do phóng pháo, tấn công xuống thung lủng ĐBP.
Số quân Pháp tại ĐBP vào thời điểm cao nhất khoảng 14,000 người, kể cả những thành phần không chiến đấu, theo số liệu của Pháp, (Wikipédia: Bataille de Dien Bien Phu (http://fr.wikipedia.org), và 16,000 người, theo số liệu của VM. (Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ và Nguyễn Văn Thư , Đại cương lịch sử Việt Nam tập III (1945- 2000), tái bản lần thứ ba, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 2001, tr. 119.) Về phía VM, quân số cao nhất lên đến 55,000 quân (theo số liệu của VM) gồm 4 đại đoàn bộ binh 304, 308, 312, 316 và một đại đoàn công binh và pháo binh 351. (Lê Mậu Hãn, sđd. tr. 120.)
3. Ngày 13-12-1953, sau khi chiếm Lai Châu, đại đoàn VM 316 tiến về phía ĐBP. Từ 25-12-1953, căn cứ ĐBP hoàn toàn bị quân VM bao vây. Về chiến thuật, quân ủy trung ương Trung Cộng gởi hai công điện ngày 24 và 27-1-1954, khuyến cáo rằng VM không nên tấn công Pháp cùng một lúc từ nhiều hướng, nhưng phải kiếm cách tách riêng và tấn công từng đơn vị, cho đến khi Pháp kiệt quệ. Việt Minh kiếm cách dứt điểm căn cứ ĐBP trước khi mùa mưa bắt đầu vào tháng 5.Quân ủy Trung Cộng yêu cầu VM lập thêm các đơn vị pháo binh, đồng thời Trung Cộng gởi tối đa cho VM các loại súng lớn, như cao xạ phòng không 37 ly, đại pháo không giựt 75 ly, và đại bác 105 ly mà Trung Cộng đã lấy được của quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng năm 1949 và tịch thu được tại chiến trường Triều Tiên năm 1953. (Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tt. 46-48.)
Những khẩu đại pháo VM được tháo rời từng mãnh, dùng dân công tải lên các đồi núi bao bọc thung lủng ĐBP, rồi mới ráp trở lại để sử dụng. Tình báo Pháp hoàn toàn không biết điều nầy. Quân ủy Trung Cộng gởi cả những chuyên viên đào chiến hào, từng tham gia chiến tranh Triều Tiên, qua ĐBP giúp bộ đội VM đào giao thông hào, để tiến sát đến phòng tuyến quân LHP ở ĐBP. (Qiang Zhai, sđd. tr. 47.)Vào đầu năm 1954, chính phủ Pháp gởi tướng Clément Blanc, tham mưu trưởng lục quân Pháp sang nghiên cứu tại chỗ tình hình ĐBP. Ông ta cho rằng khuyết điểm căn bản của quân Pháp ở Đông Dương là hoàn toàn không lượng giá được pháo binh VM, và cứ nghĩ rằng VM không có cách gì đưa những khẩu trọng pháo lên các đỉnh núi cao.
4. Với sự hợp tác của đại tá Henri Mirambeau, tướng Clément Blanc đã soạn thảo bản phúc trình dài 16 trang đề ngày 9-2-1954, đề nghị Pháp cấp tốc rút quân ra khỏi ĐBP.Bản phúc trình của tướng Clémont Blanc được trình bày trong cuộc họp tại Sài Gòn ngày 10-2-1954 giữa tướng Blanc với René Pléven, bộ trưởng Quốc phòng Pháp và đại tướng Paul Ély, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp. Tuy nhiên cuối cùng bản phúc trình của tướng Clément Blanc bị bác bỏ, và Pháp tiếp tục duy trì căn cứ ĐBP. (http://fr.wikipedia.org: Bataille de Diện Biên Phu.)
Ngày 3-3-1954, bộ tổng tham mưu quân đội Trung Cộng gởi cho tướng Vi Quốc Thanh, đứng đầu bộ TLCVQSTC một điện văn như sau: “Hội nghị Genève sẽ thảo luận về Việt Nam, Chu Ân Lai chỉ thị: để giành thế chủ động về ngoại giao trước hội nghị Genève, Việt Nam tổ chức vài trận đánh thắng lợi. Vì vậy, các đồng chí nghiên cứu xem, trong thời điểm hiện nay, liệu có khả năng chắc chắn đánh bại quân địch ở Điện Biên Phủ?” (diendan@diendan.org: Tiền Giang (Qian Jiang): Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngỏa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Nhật-Nội-Ngõa]. Bắc Kinh: Trung Cộng Đảng Sử Xuất Bản Xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, chương 4 “Tính toán của phương Đông”.) Từ chỉ thị của Chu Ân Lai, bộ TLCVQSTC thúc giục VM tiến vào giai đoạn quyết định ở ĐBP.
5. TRẬN ĐÁNH QUYẾT ĐỊNH (13-3 đến 7-5-1954): Giai đoạn quyết định trận ĐBP khai diễn từ ngày 13-3-1954 và kết thúc ngày 7-5-1954. Trong suốt thời gian nầy, VM dùng trọng pháo bắn phá không ngừng căn cứ ĐBP. Đây là điều mà các tướng lãnh Pháp không tiên liệu được. Trong khi trọng pháo liên tục bắn phá, VM mở ba đợt tấn công bằng biển người. Đợt thứ nhứt: Vào tối 13 rạng 14--3-1954, VM pháo kích dữ dội cứ điểm Béatrice, rồi cho người tràn ngập chiếm đồn. Tối 14 rạng 15-3, cảnh nầy tái diễn. Từ ngày 16-3, VM tiếp tục pháo kích nhưng không tấn công cứ điểm mới, mà tổ chức phòng thủ các cứ điểm đã chiếm, và đào hầm, giao thông hào, tiến sát đến các cứ điểm khác. Pháp tiếp tục tăng quân, thả dù tiếp viện và tiếp liệu.
Ngày 28-3, Pháp phản công thành công, gây thiệt hại khá nặng cho VM. Trong khi trận Điện Biên Phủ đang diễn tiến, Hồ Chí Minh cùng Phạm Văn Đồng rời Việt Nam, qua đến Bằng Tường (Quảng Tây) ngày 23-3-1954, lên xe hỏa đi Bắc Kinh. Hồ Chí Minh xin tăng viện và yêu cầu Bắc Kinh gởi quân Trung Cộng qua Việt Nam chiến đấu, nhưng bị từ chối. Theo lời Châu Ân Lai sau đó nói với Nikita Khrushchev, lãnh tụ mới của Liên Xô, rằng Tung Cộng đã mất quá nhiều quân trong chiến tranh Triều Tiên, nên chưa thể gởi quân tham gia một cuộc chiến khác. (Qiang Zhai, sđd. tr. 53.) Đợt thứ hai: Chiều tối 30-3-1954, khác với lần trước là đánh từng cứ điểm một, lần nầy VM xua quân ào ạt tấn công 4 cứ điểm cùng một lúc. Đến ngày 5-4, VM chiếm thêm được 4 cứ điểm nữa là Dominique, Éliane, Françoise và Huguette.
6. Ngày 10-4, quân Pháp-Việt tái chiếm một điểm tựa quan trọng tại cứ điểm Éliane. Trong đợt phản công nầy, một sĩ quan Việt nổi bật trong quân đội Pháp-Việt là trung uý là Phạm Văn Phú. Dùng chiến thuật biển người, ào ạt xua quân tấn công Pháp, số thiệt hại nhân mạng của VM lên cao. Tinh thần quân đội VM dao động mạnh. Một số cán binh VM xin đầu hàng quân đội Pháp-Việt. Ngày 19-4-1954, bộ chính trị đảng Lao Động mở cuộc họp khẩn cấp để tìm biện pháp trấn an binh sĩ. (Qiang Zhai, sđd. tr. 49.) Võ Nguyên Giáp tổ chức “chỉnh huấn” ngay tại mặt trận, để củng cố tinh thần binh sĩ.
Sau Bắc Kinh, Hồ Chí Minh, cùng với Châu Ân Lai qua Moscow ngày 1-4-1954 để gặp Khrushchev. Nội dung hội nghị không được tiết lộ, chỉ biết chắc chắn Liên Xô cũng đang muốn kiếm cách chấm dứt chiến tranh Đông Dương, để đối phó với kế hoạch Tây Đức tái võ trang ở Âu Châu. (Qiang Zhai, sđd. tt. 51-52.) Chắc chắn Hồ Chí Minh không bỏ lỡ cơ hội xin Liên Xô tăng cường viện trợ để tăng áp lực ĐBP. Trở lại thời sự Việt Nam. Vào giữa tháng 3-1954, chính phủ Pháp cử đại tướng Paul Ély, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, qua Hoa Kỳ xin tăng viện. Khi gặp các quan chức Hoa Kỳ ngày 20-3-1954, Ély đưa ra đề nghị mở cuộc hành quân Vautour (Diều hâu) do không lực Hoa Kỳ thực hiện. Kế hoạch dự tính sẽ sử dụng 98 oanh tạc cơ B-29 và khoảng 450 chiến đấu cơ để tấn công Tuần Giáo, hậu cứ tiếp liệu quan trọng của VM, về phía đông ĐBP.
7. Ngoại trưởng Hoa Kỳ là John F. Dulles cho biết nếu Pháp cần Hoa Kỳ ủng hộ, thì Pháp phải để cho Hoa Kỳ tham dự vào những quyết định về Đông Dương. Paul Ély tránh không trả lời điều nầy. Khi vấn đề được đưa ra quốc hội Hoa Kỳ, quốc hội khuyên nên tìm thêm sự ủng hộ của đồng minh, nhất là Anh. Lúc đó, nước Anh đang còn thuộc địa Hồng Kông trên đất Trung Hoa, và Anh đang bận rộn bình định cuộc nổi dậy của đảng Cộng Sản tại Mã Lai, là nước tự trị dưới sự bảo hộ của Anh. Anh tránh va chạm với Trung Cộng, nên quyết định đứng ngoài chiến tranh Việt Nam. Ngày 29-4-1954, Hoa Kỳ chính thức từ chối thực hiện kế hoạch Vautour. (Hoàng Cơ Thụy, sđd. tr. 2492.)
Trước những khó khăn ở ĐBP, đại tướng Henri Navarre cho nghiên cứu kế hoạch Condor (Chim ưng), dự tính rút quân Pháp ra khỏi ĐBP bằng đường bộ. Để khuyến khích tinh thần chiến đấu, ngày 15-4-1954, Navarre cho thăng chức một loạt các sĩ quan ở ĐBP. Đại tá De Castries được lên thiếu tướng tại mặt trận. Các sĩ quan đều được thăng lên một cấp, trong đó trung uý Phạm Văn Phú được lên đại uý. Cần chú ý là lúc đó, Hội nghị ngũ cường Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Cộng tại Genève chính thức khai mạc ngày 26-4-1954. Liên Xô đề nghị mời thêm các phe lâm chiến ở Việt Nam. Ý kiến nầy được chấp thuận tại phiên họp ngày 2-5-1954. Như thế, về vấn đề Đông Dương, sẽ có 9 phái đoàn tham dự: Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Cộng, Quốc Gia Việt Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VM), Lào và Cambodge (Cambodia). Phiên họp đầu tiên của 9 phái đoàn sẽ diễn ra ngày 8-5-1954.
8. Đợt thứ ba: Sau đợt thứ hai, VM tiếp tục pháo kích ĐBP nhưng tạm ngưng xung phong để chỉnh đốn lại lực lương. Việt Minh mở đợt tấn công thứ ba vào ngày 1-5-1954. Trong hai ngày liên tiếp (1 và 2-5-1954), VM dùng chiến thuật tiền pháo hậu xung, ban ngày bắn trọng pháo do Trung Cộng mới chuyển đến, ban đêm mở cuộc xung phong tấn công biển người, tràn ngập các cứ điểm bao quanh tổng hành dinh. Lại nghỉ thêm 3 ngày để lấy sức, chiều ngày 6-5-1954, VM mở cuộc tấn công quyết định. Lúc 10 giờ sáng ngày 7-5-1954, De Castries xin tướng René Cogny, tư lệnh Bắc Việt, cho mở đường máu rút về phía nam, nhưng đã quá trễ, các lối thoát đều bị chận đứng. Lúc 5g30 chiều 7-5-1954, De Castries ra lệnh cho quân Pháp ở ĐBP buông súng, không đánh nữa. Cứ điểm cầm cự trễ nhất là Isabelle do đại tá André Lalande (mới thăng) chỉ huy, ở phía nam so với cứ điểm trung ương, nổ súng cho đến sáng sớm 8-5-1954.
KẾT QUẢ TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ: Tổng số thiệt hại về phía quân Liên Hiệp Pháp (LHP) gồm có: 2,293 người chết, 5,195 bị thương, 11,721 người bị cầm tù. Trong số nầy chỉ có 3,290 trở về, và 7,801 bị chết, ((http://fr.wikipedia.org: Bataille de Dien Bien Phu”) vì hai lý do chính: Thứ nhứt, chết vì đi bộ khoảng 600 dặm đến các trại giam trong cuộc giải giao mà người Pháp gọi là “hành trình tử thần”. Thứ hai, chết trong khi bị giam vì thiếu thực phẩm và thiếu thuốc men. Về phía VM, số tử trận khoảng từ 23,000 đến 25,000 người. Số bị thương khoảng 15,000 người. Thiệt hại nhân mạng phía VM cao hơn vì VM dùng chiến thuật biển người trước hỏa lực mạnh mẽ của quân LHP.
9. Việt Minh chiếm được ĐBP chiều ngày 7-5-1954, thì Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc ngày hôm sau 8-5-1954. Ngày 15-5-1954. Chính phủ Pháp quyết định ở Bắc Việt, Pháp chỉ giữ Hà Nội và vùng phụ cận, cùng con đường chiến lược số 5 nối liền Hà Nội với Hải Phòng. (Vị trí nầy gần giống thời kỳ Pháp ra đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1874.) Từ đây, Pháp chỉ hành quân cầm chừng, nhắm bảo toàn lực lượng để chuẩn bị rút lui, còn VM thì kiếm cách chận đánh, quấy phá việc rút lui của Pháp.Sau thất bại ĐBP, giới lãnh đạo Pháp ở Đông Dương cũng như tại Pháp đều bị bất tín nhiệm. Ngày 3-6-1954, đại tướng Paul Ély được cử thay thế Maurice Déjean ở chức vụ tổng uỷ Pháp tại Đông Dương, kiêm tổng tư lệnh quân đội Pháp thay Henri Navarre.
Khi sang Đông Dương cầm quân, đại tướng Paul Ély cho chấm dứt cuộc hành quân Atlante, rút bỏ An Khê từ ngày 24-6-1954, theo quốc lộ 19, kéo quân về Pleiku. Quân Pháp bị VM chận đánh nhiều lần ở nhiều nơi khác nhau, thiệt hại khá nặng. Ở Bắc Việt, vào cuối tháng 6, đầu tháng 7, đại tá Paul Vanuxem tổ chức cuộc hành quân Auvergne, rút lui khỏi các vùng Bùi Chu, Phát Diệm, Thái Bình, Nam Định, Phủ Lý. Trong cuộc hành quân Auvergne, tại Nam Định, đại tá Vanuxem tiếp kiến bốn vị giáo phẩm Ky-Tô giáo do giám mục Phạm Ngọc Chi, địa phận Bùi Chu, dẫn đầu.
10. Giám mục Chi đã nói với Vanuxem: “... Chúng tôi xin lỗi đại tá. Chúng tôi cứ tưởng rằng quốc gia chúng tôi xứng đáng được độc lập và chúng tôi có bổn phận giúp đỡ; nhưng chúng tôi đã nhận ra quá muộn rằng những người mà chúng tôi trông cậy lại là những kẻ thù của chúng tôi, những kẻ thù muốn chúng tôi mất linh hồn. Chúng tôi xin lỗi đại tá và xin đại tá cứu dân tộc chúng tôi...” (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 4, Paris: Nam Á 2002, tr. 2532. Tác giả Hoàng Cơ Thụy trích dịch từ Historia, Paris, số 25 năm 1972 tt. 158-159.) Pháp cho rằng cuộc rút lui nầy để tái phối trí hệ thống phòng thủ, nhưng chính phủ QGVN phản đối, cho rằng cuộc rút lui đã bỏ rơi dân chúng các vùng trên.
KẾT LUẬN: Sau một thời gian rút lui vì yếu thế từ 1946 đến 1949, quân đội VM càng ngày càng mạnh trở lại trên chiến trường trong giai đoạn từ 1950 đến 1954, nhờ sự viện trợ lớn lao về mọi mặt của Trung Cộng và khối QTCS. Các cuộc hành quân lớn đều do quân uỷ trung ương Trung Cộng và các tướng lãnh Trung Cộng quyết định. Nhờ tin tức tình báo đầy đủ, quân ủy trung ương Trung Cộng ở Bắc Kinh nghiên cứu chi tiết từng chiến dịch, từng trận đánh và chuyển qua cho BTLCVQSTC và quân ủy VM thi hành. Quân đội LHP, sau một thời gian khá mạnh năm 1951 dưới quyền chỉ huy của tướng De Lattre de Tassigny, đã suy sụp dần dần. Trong khi đó, quân đội QGVN được tổ chức quá trễ và quá chậm, nên dầu có tiến bộ, cũng chưa đáp ứng được nhu cầu chiến trường. Thành quả trên chiến trường ĐBP giúp cho VM, Trung Cộng và khối CSQT được nhiều lợi thế trên chính trường quốc tế và tại hội nghị Genève, chẳng những riêng vấn đề Việt Nam, mà cả về hai nước Lào và Cambodia nữa. (Toronto, 10-10-2013, Trần Gia Phụng).
(Hết chương 3)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét