Chương 5: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ TỰ TRỊ NAM KỲ: 1.6.1946 - 25.7.1948.
(Có 8 trang và 3.605)
Chính quyền Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ, là chính quyền do Pháp lập ra trong quá trình tái lập Liên bang Đông Dương,để quản lý lãnh thổ Nam Kỳ, vốn là thuộc đia Pháp từ năm 1867. Chính quyền Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ tồn tại từ ngày 1 tháng 6 năm 1946 đến ngày 25 tháng 7 năm 1948, trải qua 3 chính phủ: (1) Chính phủ Nguyễn Văn Thinh; (2) Chính phủ Lê Văn Hoạch; Và, (3) Chính phủ Nguyễn Văn Xuân.
1. CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN THINH:
1/6/1946 – 10/11/1947.
I. Vài đặc điểm về Nam Kỳ
1. Nam Kỳ là vùng đất mới được khai hoang có những đặc điểm lịch sử, xã hội, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hoá, tâm lý, phong tục, tập quán có phần khác với Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ là thuộc địa do người Pháp trực tiếp cai trị với một hệ thống luật pháp khác hệ thống được áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tại Nam Kỳ không tồn tại bộ máy hành chính của Triều đình Huế như ở Bắc và Trung Kỳ. Nam Kỳ hình thành một tầng lớp đại địa chủ người Việt giàu lên nhờ chính sách khai hoang của chính quyền thuộc địa. Thương mại tại Nam Kỳ khá phát triển. Mức sống tại Nam Kỳ cao hơn các miền khác.
Học giả Phạm Quỳnh nhận xét "làm dân Nam Kỳ sướng thật, cầy cấy ít ruộng vườn cũng thừa đủ nuôi thân, không phải khó nhọc, suốt năm vô lo vô lự, nhàn hạ dong chơi, lụt không có, hạn không có, mưa rầm gió bấc cũng không, tiền công trong làng đã nhiều, bổ bán đóng góp không phải chịu, pháp luật Nhà nước đã nghiêm, đàn anh bắt nạt cũng khó lòng, ưu du tuế nguyệt, suốt năm như một ngày, anh áo cánh trắng bong, quần thâm lĩnh bóng, chị kiềng vàng đeo cổ, ô soạn cầm tay; còn cảnh tượng gì vui thú bằng!...
2. “Nam Kỳ có một tầng lớp trí thức Tây học, nhiều người trong số này từng du học tại Pháp hoặc có quốc tịch Pháp. Chữ quốc ngữ khá thông dụng ở Nam Kỳ, có những phụ nữ và trẻ em cũng biết đọc. Dân Nam Kỳ ham đọc sách và có tiền mua sách trong khi "dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ, trăm người chưa được một người đọc thông chữ quốc ngữ, mười người đọc thông chữ quốc ngữ chưa được một người thích xem văn quốc ngữ, lại thêm dân nghèo, bỏ ra mấy đồng bạc mua báo một năm đã lấy làm một món tiền nặng; đến những bậc sĩ phu thì phần đã sách là nhiều, những quẩn quanh trong vòng danh lợi mà sao nhãng những việc văn chương; nghề làm báo làm sách thật không được đủ điều tiện lợi như Nam Kỳ”.
Tác giả Nguyễn Văn Trung nhận xét "Ở miền Bắc, vùng đất cũ, làng xã khá chặt chẽ, con người đã gắn chặt với nền văn minh đó nên rất khó thay đổi được nền văn minh này bằng nền văn minh Pháp. Không thay đổi được thì phải tôn trọng nó và lợi dụng sự tôn trọng đó về mặt chánh trị. Đó là ý nghĩa của chánh sách bảo hộ Pháp. Trái lại, miền Nam là vùng đất mới, những người lưu dân đến cư ngụ không còn giữ được những truyền thống xưa cũ một cách chặt chẽ, họ lại là người tứ chiếng (Việt trà trộn với Miên-Tàu), do đó có thể tác động vào những cấu trúc văn hóa lỏng lẻo này để thay thế chúng bằng văn hóa Pháp. Đó là cơ sở của chánh sách đồng hóa và thuộc địa được Pháp áp dụng ở Nam Kỳ".
3. Tất cả tạo nên một tâm lý phổ biến trong dân cư Nam Kỳ coi các vùng miền khác là những xứ sở xa lạ. Trước năm 1945, ở Nam Kỳ đã có những cá nhân và tổ chức vận động, tuyên truyền đòi người Pháp mở rộng quyền tự trị cho người Việt như Đảng Lập hiến Đông Dương. Các cuộc vận động này do tầng lớp trung lưu và thượng lưu chủ xướng. Sau năm 1945, ý tưởng chính trị này vẫn còn tồn tại. Ngày 15 tháng 8 năm 1945 thì lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống do Quân đội Anh dưới quyền chỉ huy của tướng Douglas Gracey nhân danh lực lượng Khối Đồng Minh vào tiếp quản.
II. Bối cảnh thành lập.
1. Ngày 15/8/45, Tướng Leclere de Hautecloque được De Gaulle cử làm Tư lệnh Lục quân Pháp tại Đông Dương. Ngày22/8/45, De Gaulles cử Đại tá Cédille làm Ủy viên Cộng hòa (UVCH) Pháp tại Nam Bộ. Ngày 24/8/45, Sainteny, đặc phái viên của De Gaulles từ Trùng Khánh tới Hà Nội. Ngày 23/9/1945, Các toán quân Pháp tái võ trang đánh chiếm trụ sở Uỷ ban Hành Chánh Nam Bộ, và nhiều công sở khác ở Sài Gòn. Ngày 11/10/45, Ngoại trưởng Anh, Bevin tuyên bố “thừa nhận chủ quyền của Pháp tại Đông Dương”. Ngày 31/10/45, De Gaulle cử Đô đốc Thiery D’Argenlieu làm Cao uỷ Đông Dương tới Sài Gòn cùng với đoàn tùy tùng Phủ Cao Ủy, nhân viên Văn phòng và 10 Chuyên viên cố vấn.
Ngày 28/1/46, Tướng Anh, Douglas Gracey, chuyễn giao quyền hành cho Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, và rời khỏi Sài Gòn. Ngày 4/2/1946, Cao uỷ Thiery D’Argenlieucho thành lập Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ (TVNK) do UVCH Pháp chủ toạ gồm 13 Hội viên: 4 Pháp, 9 Việt. Tháng 3/46, Hội đồng TVNK kiến nghị lên D'Argenlieu, Cao uỷ Đông Dương xin lập một xứ Nam Kỳ Tự trị. Đại tá Cédille UVCH Nam Kỳ tán thành kiến nghị nầy, và hậu thuẫn các đảng phái thân Pháp như đảng Nam Kỳ của Béziat vận động công chúng.
2. Những nhóm khác như Đông Dương Tự trị đảng, và Việt Nam Tân dân đảng cũng ngả theo lập trường "Nam Kỳ tự trị". Cùng lúc đó, thì Đảng Tân Dân chủ của bác sĩ Nguyễn Văn Xuân, thành viên Hội đồng TVNK lại đang cố gắng tìm chỗ đứng riêng để thu hút các lực lượng không Việt Minh. Ngày 26/3/46, Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được Hội đồng HĐTV cử ra lập Chính phủ nước Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Ngày 29/3 và ngày 4/4, hai thành viên Hội dồng Tư vấn Nam Kỳ là Bác sĩ Trần Tấn Phát và Chính khách Nguyễn Văn Thạch bị Ban Công tác Thành bộ Việt minh hạ sát.
Theo ông Nguyễn Kỳ Nam, Mặt trận Quốc gia Liên hiệp chống Pháp thành lập 20/4/46 tại Hóc Môn gồm Hòa Hảo, Cao Đài, Bình Xuyên, Quốc Dân đảng do Huỳnh Phú Sổ làm Chủ tịch, chủ trương chấp nhận cho bác sĩ Nguyễn Văn Thinh thành lập chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ, vì "theo công pháp quốc tế, Nam Kỳ là lãnh thổ của Pháp, nước Pháp vẫn còn ở duyên hải Thái Bình Dương. Tiền đồ tổ quốc sẽ bị xô vào hai ngả hoặc bị đô hộ lại bởi thực dân, hoặc bị đô hộ bởi cộng sản quốc tế. Hai viễn tượng đều tai hại cho giống nòi, nếu không có một Chính phủ ở Nam Kỳ”
3. Ngày 7/5/46, Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ chấp nhận thành phần Chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Ngày 1/6/46, Chính phủ nước Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ ra trình diện trước Nhà thờ Đức Bà.
III. Thành viên Chính phủ
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Nguyễn Văn Thinh (1888-1946) | Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội vụ | Bác sĩ Pháp |
2. | Nguyễn Văn Xuân | Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quân đội | Đại tá Pháp |
3 | Trần Văn Tỷ | Bộ trưởng Tư pháp | |
4 | Lương Văn Mỹ | Bộ trưởng Công chánh | |
5 | Khương Hữu Long | Bộ trưởng Y Tế | Bác sĩ |
6 | Nguyễn Thành Lập | Bộ trưởng Tài chánh | |
7 | Ung Bảo Toàn | Bộ trưởng Công Nông | |
8 | Ng.Thành Giung | Bộ trưởng Giáo dục | Tiến sĩ Pháp |
9 | Nguyễn Văn Tâm | Bộ trưởng An ninh | Đốc phủ sứ |
10 | Nguyễn Tấn Cường | Thứ trưởng Công an Đô thành Sài Gòn-Chợ Lớn | |
11 | Hồ Biểu Chánh | Cố vấn | Đốc phủ sứ |
IV. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 9/10/1945, quân Pháp chiếm đóng Tây Ninh; Ngày 25/10/45, chiếm đóng Mỹ Tho; Ngày 28/10/45, chiếm đóng Gò Công. Ngày 29/10/45, chiếm đóng Vĩnh Long. Ngày 30/10/45, chiếm đóng Cần Thơ. Ngày 11/11/45, chiếm đóng Lộc Ninh, Bù Đốp, Hớn Quản. Ngày 16/11/45, tại Sài Gòn, xuất hiện một Phong trào chia rẽ Bắc-Nam, và một đảng Nam Kỳ được thành lập nhằm tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam. Ngày 9/1/46, quân Pháp chiếm đóng Long Xuyên và Sa Đéc. Ngày 20/1/46, chiếm đóng Châu Đốc và Hà Tiên. Ngày 26/1/46, chiếm đóng Rạch Giá. Ngày 7/1/46, Mên-Pháp ký kết Hiệp định tạm thời, Pháp thừa nhận Mên là “Quốc gia Tự Trị” trong Liên Hiệp Pháp.
Ngày 5/2/46, quân Pháp đã chiếm đóng xong các tỉnh lỵ Cao Nguyên, miền Trung, và miền Nam, từ Vỹ tuyến 16 trở vào. Ngày 6/3/46, Hồ Chí Minh ký Hiệp định sơ bộ với Pháp, theo đó: Pháp thừa nhân Việt Nam là một Quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp. Sự thống nhất ba Kỳ sẽ tùy thuộc vào cuộc “trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ”…Ngày 1/6/46, Cao uỷ D’ Argenlieu tuyên bố, Chính phủ nước Cộng hòa Nam Kỳ là một Quốc gia tự trị được Pháp thừa nhận. Song việc bổ nhiệm Công chức Cao cấp phải được thỏa hiệp với Ủy viên Cộng hòa Pháp. Thành phần Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ tăng lên thành 42 Hội viên: 28 Việt, 14 Pháp.
2. Ngày 21/6/46, quân Pháp chiếm đóng Pleiku, và Kontum. Ngày 8/7/46, chiếm đóng Lạng Sơn. Ngày 17/7/46, chiếm đóng Đồng Đăng. Ngày 23/7/46, Cao uỷ D’ Argenlieu triệu tập một Hội nghị Liên bang Đông Dương gồm các đại biểu Việt Nam, Nam Kỳ Quốc, Tây Kỳ, Lào, và Cao Mên, đại biểu do Cao ủy chỉ định. Và, ngày 1/8/46, Hội nghị khai mạc tại Đà Lạt. Ngày 17/8/46, Tướng Morlière đước cử làm Ủy viên Cộng hòa tại Bắc Bộ. Ngày 20/8/46, Do mâu thuẫn trong lực lượng kháng chiến, tướng Nguyễn Bình giải tán Mặt trận Quốc gia Liên hiệp chống Pháp. Từ đây, một số nhóm theo Việt Minh, một số nhóm kiên trì chống Pháp, những nhóm còn lại thì chuyển sang cộng tác với Pháp.
V. Những việc đã làm.
Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ, đã thành lập, nhưng chính phủ Pháp, nhất là Cao uỷ D'Argenlieu chưa chịu trao quyền Tự trị cho Chính phủ, không cung cấp phương tiện. Bản thân chính phủ không có tài chánh, không có quân đội, không có cả trụ sở làm việc. Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh phải lấy phòng mạch bác sĩ của ông làm nơi làm việc của chính phủ.
VI. Tự sát.
Ngày 10 tháng 11 năm 1946, cảm thấy mình bị người Pháp lợi dụng, người Pháp không thật lòng, Thủ tướng Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tự tử bằng cách thắt cổ, trên bàn viết gần đó có quyển sách thuốc còn mở ra ở trang nói về "Thắt cổ" (Pendaison).
2. CHÍNH PHỦ LÊ VĂN HOẠCH;
15.11.1946 - 7.10.1947.
I. Bối cảnh thành lập.
Sau khi Thủ tướng Nguyễn văn Thinh tự sát, ngày 15/11/46, Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ nhóm họp, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Béziat để bầu người kế nhiệm. Hội đồng chọn được 34 người, rồi 34 người này bầu ra vị tân thủ tướng. Bác sĩ Lê Văn Hoạch đắc cử Thủ tướng với đa số phiếu gần như tuyệt đối.
II. Thành viên Chính phủ
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Lê Văn Hoạch (1896-1978) | Thủ tướng | Bác sỉ |
2 | Trần Văn Mỹ | Phó Thủ tướng kiêm Nội vụ | Bác sỉ |
3 | Huỳnh Văn Chính | Tổng trưởng Tư pháp | |
4 | Trần Văn Hữu | Tổng trưởng Tài chánh | |
5 | Nguyễn Văn Tâm | Tổng trưởng Quốc phòng | |
6 | Lê Văn Định | Tổng trưởng Công Nông | |
7 | Trần Quang Nhứt | Tông trưởng Thg mại Kỹ nghệ | |
8 | Nguyễn Phú Khai | Tông trưởng Thông tin | |
9 | Phan Văn Tiếng | Tông trưởng Y Tế | Bác sỉ |
10 | Trương Vĩnh Khanh | Tông trưởng Giáo dục | |
11 | Lương Văn Tỷ | Tông trg Giao thg Công chánh | |
12 | Võ Đống Phát | Tông trưởng Xã hội Lao động | |
13 | Trần Văn Kiệt | Thứ trưởng Xã hội Lao động | |
14 | Diệp Quang Đồng | Thứ trưởng Dinh thủ tướng | |
15 | Nguyễn Tấn Cường | Thứ trg Thanh niên Thể thao |
III. Sự kiện liên quan.
1. Đến ngày 5/2/47, quân Pháp đã chiếm đóng hết các tỉnh lỵ Cao Nguyên, miền Trung, và miền Nam, từ Vỹ tuyến 16 trở vào. Ngày 7/2/47, Quân Pháp chiếm đóng và kiểm soát thành phố Huế. Ngày 17/2/47, Tự vệ chiến đấu của Việt Minh rút khỏi Hà Nội, quân Pháp hoàn toàn kiểm soát thủ đô Hà Nội. Ngày 1/4/47, Nghị sĩ Emile Bollaert thuộc đảng Xã hội Pháp được cử làm Cao Ủy Đông Dương thay D’ Argenlieu. Lúc nầy thì lực lượng vũ trang chống Pháp, ngoài Bình Xuyên, các Giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo đã dần tách ra khỏi Mặt trận Việt Minh.
Một thoả thuận đạt được giữa Pháp-Thủ lãnh Cao Đài Phạm Công Tắc, theo đó, Pháp trả tự do cho Hộ pháp Phạm Công Tắc rời khỏi nơi lưu đày Madagascar, Phi châu trở về Việt Nam; Pháp sẽ trang bị, huấn luyện nâng lực lượng vũ trang Cao Đài thành một Quân đội Cao Đài độc lập; Lãnh thổ do Toà thánh Tây Ninh kiểm soát có quyền tự trị. Đổi lại, Quân đội Cao Đài được xem như một lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh. Hộ pháp Phạm Công Tắc bổ nhiệm Trần Quang Vinh làm Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài với cấp bậc Trung tướng, Tổng hành dinh đặt tại Bến Kéo, Tây Ninh.
2. Những người chống Việt Minh trong Giáo phái Hòa Hảo, cũng được người Pháp hỗ trợ tiền bạc, trang bị vũ khí, kiện toàn lực lượng vũ trang Hoà Hảo để đủ sức đối kháng với Việt Minh. Từ tháng 3/1947, nhóm Trần Văn Soái hoàn toàn tách khỏi Việt Minh đã cùng một tiểu đoàn Lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng do Việt Minh kiểm doát ở vùng Tân Châu, Châu Đốc. Cuối tháng 3 đầu tháng 4/1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Đốc, Liên quân Hoà Hảo và Cao Đài liên tục tập kích các vùng Việt Minh kiểm soát, truy bắt cán bộ Việt Minh và cảm tình viên của họ. Mâu thuẫn giữa Việt Minh và hai Giáo phái Hoà Hảo, Cao Đài gia tăng gần khư không thể hàn gắn.
Ngày 16 tháng 4 năm 1947, Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo, thì đột ngột mất tích. Nhiều người nghi Việt Minh đã thủ tiêu Huỳnh Giáo chủ. Người Pháp nhân cơ hội, lôi kéo những người đứng đầu Hoà Hảo hình thành 4 nhóm vũ trang mới, cứ sở tại 4 vùng chống Việt Minh: (1) Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long); (2) Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc); (3) Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên); (4) Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).
IV. Từ chức.
Cũng như Chính phủ Nguyễn Văn Thinh, chính phủ Lê Văn Hoạch không được Cao uỷ Pháp cung cấp phương tiện, và giao quyền hành. Đến tháng 9 năm 1947 thì Lê Văn Hoạch từ chức. Tướng Nguyễn Văn Xuân được uỷ lập Chính phủ mới, đến tháng 5 năm 1948 thì đổi tên Chính phủ Cộng hoà Tự trị Nam Kỳ thành chính phủ Nam Phần Việt Nam để xác nhận Nam Kỳ là một phần của Việt Nam, chuẩn bị cho “giải pháp Bảo Đại”.
3. CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN XUÂN:
8.10.1947 - 27.5.1948.
Sau khi thủ tướng Lê Văn Hoạch từ chức, Ngày 1/10/47, Hội đồng Nam Kỳ bầu Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân lên làm Thủ tướng.
II. Thành viên Chính phủ.
T. tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Nguyễn Văn Xuân | Thủ tướng kiêm Nội vụ | |
2 | Trần Văn Hữu | Phó Thủ tướng | |
3 | Nguyễn Khắc Vệ | Bộ trưởng Tư pháp | |
4 | Trần Thiện Vàng | Bộ trưởng Canh nông | |
5 | Trần Văn Ân | Bộ trưởng Thông tin | |
6 | Phạm Văn Hải | Bộ trưởng Thương mại Kỹ nghệ | |
7 | Phan Văn Tiểng | Bộ trưởng Y tế | |
8 | Trần Cửu Chấn | Bộ trưởng Quốc phòng | |
9 | Trần Văn Huệ | Bộ trưởng Tài chánh | |
10 | Nguyễn Văn Tỵ | Bộ trưởng Canh nông | |
11 | Trần Văn Kiệt | Bộ trưởng Xã hội Lao động | |
12 | Lê Tấn Nẫm | Bộ trưởng Giáo dục | |
III. Sự kiện bên ngoài
1. Ngày 17/1/48, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc can thiệp để Nam Dương và Hòa Lan ngưng bắn, điều đình. Ngày 1/2/48, thành lập Liên bang Mã Lai tự trị theo Dụ của Anh hoàng. Ngày 28/2/48, Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Cao Ly đề nghị tổ chức tổng tuyển cử thành lập một Chính Quyền Quốc gia ở miền Nam Vỷ tuyến 38. Ngày 31/3/48, Nga Xô đòi Đồng Minh rút khỏi Bá Linh, và đồng bạc Nga được tiêu thụ tại thành phố nầy. Anh, Pháp Mỹ không chịu. Tư lệnh Nga đe dọa sẽ dùng biện pháp cứng rắn. Ngày 3/4/48, tổng thống Hoa Kỳ Truman ban hành đạo luật viện trợ Châu Âu lên tới 6.098.000.000 Mỹ kim theo kế hoạch của tướng Georges Marshall.
Ngày 6/4/48, lại đảo chánh ở Thái Lan, nhóm quân nhân giúp Đại tá Luang Kach lên cầm quyền năm 1947, nay lật đổ ông nầy, và mời cựu Thủ tướng Phibul Songgram trở lại lập Chính phủ. Ngày 16/4/1948, Các quốc gia Tây Âu ký các văn kiện tổ chức Cơ quan Hợp tác Kinh tế phụ trách việc sử dụng viện trợ Mỹ theo hế hoạch Marshall. Ngày 17/4/48, quân Tưởng Giới Thạch thua to, quân Cộng sản tái chiếm Diên An. Ngày 20/4/48, Thống chế Phibul Songgram lập xong Chính phủ. Ngày 10/5/48, Tổng tuyển cử tại Cao Ly, đảng Quốc gia Liên hiệp của Lý Thừa Vãng đại thắng.
IV. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 19/12/47, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân sang Hồng Kông gặp Cựu hoàng Bảo Đại, phân trần “không phản đối sự thống nhất Trung, Nam, Bắc. Ngày 24/12/47 Cựu hoàng Bảo Đại sang Ba lê gặp Đại sứ Massihli. Ngày 7/1/1948, Emile Bollaert hội đàm với Cựu hoàng Bảo Đại tại Genève, kéo dài cho tới ngày 12/1/48. Hội đàm sẽ còn tiếp tục thêm nữa tại Vịnh Hạ Long. Ngày 20/10/48, Leson Pignon được cử làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương thay Emile Bollaert. Ngày 29/1/48, Tại Pháp, chính phủ bắt giam Trần Ngọc Danh, trưởng phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hoà.
Ngày 30/1/48, Bollaert tuyên bố tại Sài Gòn “Pháp nhất định không điều đình với Hồ Chí Minh” nữa... Ngày 5/3/48, Cựu hoàng Bảo Đại từ Genève trở về Hồng Kông. Ngày 26/3/48, Cựu hoàng Bảo Đại trả lời các đại diện đảng phái và đoàn thể “ưng thuận về nguyên tắc lập một Chính phủ Lâm thời để điều đình với Pháp”. Ngày 15/5/48, Cựu hoàng Bảo Đại gởi thông diệp cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, tán thành việc thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam, do Thiếu tướng Xuân điều khiển, để giải quyết “vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận quốc tế”.
V. Chiến sự các nơi
Ngày 1/3/1948, một đoàn quân xa Pháp trên đường Sài gòn – Đà Lạt bị phục kích 150 quân sỉ tử thương.
VI. Những việc đã làm.
1. Ngày 19 tháng 12 năm 1947, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân bay sang Hương Cảng yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại xác nhận ý định thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam, và mời Cựu hoàng ra chấp chánh hầu điều đình cho một giải pháp thứ ba ngoài Pháp và Việt Minh. Ngày 10/3/48, Hội đồng Chấp chánh Lâm thời Bắc Phần tái lập một số tòa án Việt Nam. Ngày 24/4/48, một số nhân vật chính trị, có cả Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu lại sang Hồng Kông gặp Cựu hoàng Bảo Đại.
VIII. Giải thể Chính phủ.
“Chính phủ Nam phần Việt Nam” của Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân tự giải thể để thành lập “Chính quyền Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam”.
(Hết chương 5)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét