CHƯƠNG VI: TIỂU SỬ 33 VỊ QUAN LẠI TIÊU BIỂU CỦA VƯƠNG TRIỀU.
(Chương 6 có 41 trang và 27.959 chữ)
A. THỜI KỲ CAI TRỊ ĐỘC LẬP.
Có 23 vị quan lại tiêu biểu trong “thời kỳ Cai trị độc lập” của Vương triều nhà Nguyễn là: Đỗ Thành Nhơn; Châu Văn Tiếp; Võ Tánh; Nguyễn Văn Thành; Lê văn Duyệt; Phạm Đăng Hưng; Trịnh Hoài Đức; Nguyễn Công Trứ; Tạ Quang Cự; Trương Minh Giảng; Trương Đăng Quế; Nguyễn Tri Phương; Phan Thanh Giản; Nguyễn Đăng Giai; Phạm Phú Thứ; Hoàng Kế Viêm; Ông Ích Khiêm; Võ Duy Ninh; Hoàng Diệu; Trần Tiến Thành; Nguyễn Văn Tường; Tôn Thất Thuyết; Nguyễn Trường Tộ.
1. ĐỖ THÀNH NHƠN
1. Đỗ Thanh Nhơn (? - 1781) là một danh tướng Việt Nam cuối thế kỷ 18 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Ánh. Cùng với Võ Tánh, Châu Văn Tiếp, ông được người đương thời xưng tụng là "Gia Ðịnh tam hùng". Đỗ Thanh Nhơn là người huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, không rõ năm sinh, chỉ biết khi Định vương Nguyễn Phúc Thuần còn ở Phú Xuân, ông chỉ là võ quan bậc thấp, chức Hữu đội trưởng. Năm 1771, anh em Tây Sơn hiệu triệu dân chúng: "Đánh đổ Trương Thúc Loan và ủng hộ Hoàng Tôn Dương, lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo", để phất cờ khởi nghĩa. Năm 1775, Nguyễn Phúc Thuần chạy đến Trấn Biên, lệnh cho Tống Phước Hiệp đến ứng cứu, nhưng quân Hiệp chưa kịp đến.
Đỗ Thanh Nhơn liền gọi Nguyễn Huỳnh Đức, Trần Búa, Đỗ Vàng, Đỗ Kỵ, Vũ Nhàn, Đỗ Bảng... cùng họp binh được hơn 3000 người, xưng là "Đông Sơn thượng Tướng quân", đi cứu giá. Từ Ba Giồng, Đỗ Thanh Nhơn đưa quân về Gia Định, đánh úp quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Lữ chỉ huy, thắng luôn mấy trận. Nguyễn Lữ biết không địch nổi, bèn lấy thóc trong kho chở hơn hai trăm thuyền chạy về Quy Nhơn. Đỗ Thanh Nhơn lấy lại được Gia Định, đón chúa Nguyễn Phúc Thuần trở lại Gia Định. Do lập được đại công, Đỗ Thanh Nhơn được chúa Nguyễn cho giữ chức chưởng dinh, phong tước Phương quận công. Tướng sĩ quân Đông Sơn đều được ban thưởng theo thứ bậc.
2. Bấy giờ, có viên tướng đi theo tướng Tống Phúc Hiệp tên là Lý Tài, gốc Hoa. Tài từng kiếm sống bằng nghề buôn bán, chỉ huy đạo Hòa Nghĩa quân tham gia phong trào Tây Sơn. Lý Tài, làm phó tướng cho tướng Nguyễn Huệ, nhưng Tài lại tỏ ra bất mãn. Tướng chúa Nguyễn ở Phú Yên biết vậy, nên chiêu hàng Lý Tài. Chúa Nguyễn Phúc Thuần muốn thu dùng Lý Tài, nhưng Đỗ Thanh Nhơn do tranh giành địa vị nên nói: Lý Tài chẳng qua cũng chỉ là loài chó, loài heo, có dùng cũng vô ích mà thôi. Từ đó, Lý Tài kết oán với Đỗ Thành Nhơn. Khi Tống Phúc Hiệp mất, Lý Tài đem quân chiếm giữ núi Châu Thới chống lại Nhơn.
Một lần Lý Tài mang quân đánh úp quân Đông Sơn. Thành Nhơn không chống cự nổi, phải đắp lũy từ sông Bến Nghé đến Bến Than để cố thủ. Tháng11 năm Bính Thân 1776, do sức ép của Lý Tài, chúa Nguyễn Phúc Thuần nhường ngôi cho cháu ruột là Nguyễn Phúc Dương. Lý Tài được Nguyễn Phúc Dương phong là Bảo giá Đại tướng quân. Năm Đinh Dậu 1777, Nguyễn Huệ đem quân vào đánh chiếm Gia Định lần thứ 2, Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Dương cùng một số quan lại đã bị bắt và bị giết năm đó. Từ Bến Nghé, Lý Tài đem quân giải cứu, nhưng bị thủy quân của Nguyễn Huệ đánh tan.
3. Hoảng loạn, Lý Tài đem quân chạy về Ba Giồng thì bị quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhân đón đường giết chết. Đầu năm Mậu Tuất 1778, Đỗ Thanh Nhơn đem quân chiếm lại Gia Định, rước Nguyễn Phúc Ánh về, tôn Ánh làm Đại nguyên súy Nhiếp quốc chính, lúc Ánh 16 tuổi. Kể từ đó, Đỗ Thành Nhơn luôn được kề cận, phò tá Ánh. Hai năm sau, vào năm Canh Tý 1780, Nguyễn Nhạc xưng vua ở Quy Nhơn, hiệu Thái Đức; thì Nguyễn Ánh cũng xưng Vương tại Sài Côn (Sài Gòn), khi Nguyễn Phúc Ánh mới 18 tuổi. Đỗ Thành Nhơn được Ánh phong làm Ngoại hữu phụ chính Thượng tướng quân, tước Quận công.
Năm sau, tháng Giêng năm Tân Sửu 1781, Ngoại hữu phụ chính Thượng tướng quân Đỗ Thành Nhơn bị Nguyễn Phúc Ánh giả bệnh gọi đến chầu rồi ngầm sai võ sĩ giết chết. Sách "Đại Nam chính biên liệt truyện" viết: “Đỗ Thanh Nhơn tự phụ là người có tài và dũng cảm hơn thiên hạ, trong tay lại có quân đội Đông Sơn cho nên vẫn ngấm ngầm làm chuyện ngang ngược và lộng hành. Từ khi có chút công lao phò tá, y lại càng sinh kiêu căng hơn. Hắn tự cho mình là người có quyền sinh sát, ai sống, ai chết hoặc giả có ban chức tước cho ai đều do hắn quyết định. Vua [Gia Long] vẫn nghĩ đến công lao của hắn mà ưu đãi, dung túng.
4. Vua thân đến nhà riêng mà Đỗ Thanh Nhơn cũng không biết kính giữ lễ. Đã thế bọn tay chân của hắn càng phụ họa thêm, không biết kinh sợ, chỉ rắp tâm làm điều trái phép mà thôi. Thậm chí, hắn còn tự ý cắt bớt sự chi dùng trong cung, không chịu cung đốn đầy đủ, đến cả ngày kỵ ở Hưng Miếu mà hắn cũng không dâng lễ vật khiến Thế tổ ta [Nguyễn Phúc Ánh] phải bỏ của nhà ra mà sắm sửa lấy. Bấy giờ có quan Chưởng cơ là Tống Phúc Thiêm mật tâu với vua xin trừ bỏ hắn là tên giặc ở cạnh vua. Vua cho là phải bèn giả vờ bị bệnh, rồi sai triệu Đỗ Thanh Nhơn vào bàn việc. Nhân đó sai võ sĩ bắt và giết đi.
Bè đảng của Đỗ Thanh Nhơn là bọn Võ Nhàn, Đỗ Bảng lại chiếm cứ chỗ Ba Giồng để làm phản. Vua sai các tướng tiến đánh, bắt được bọn Võ Nhàn và giết đi. Lũ còn lại đều bị đánh tan cả”.
2. CHÂU VĂN TIẾP
1. Châu Văn Tiếp (1738-1784) là danh tướng Việt Nam cuối thế kỷ 18 dưới thời Nguyễn Phúc Ánh được người đời xưng tụng là một trong Tam hùng Gia Định. Châu Văn Tiếp nguyên quán huyện Phù Ly, phủ Hoài Nhơn nhưng cư ngụ ở Vân Hòa, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Châu Văn Tiếp theo nghề buôn bán ngựa, nên có dịp đi đó đây. Nhờ vậy, ông quen biết khá nhiều người mà sau này đều trở thành vương tướng của nhà Tây Sơn, như Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu, Võ Đình Tú.
Khi Nguyễn Nhạc cùng hai em là Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cất binh khởi nghĩa năm 1771, thì Bốn anh em Châu Văn Tiếp chiêu tập dân quân đến chiếm giữ núi Tà Lương, Phú Yên, Nguyễn Nhạc cử người đến mời tham gia. Châu Văn Tiếp bày tỏ chính kiến như một điều kiện là không muốn thay ngôi chúa Nguyễn, mà chỉ muốn tôn phù hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương và diệt trừ bọn tham quan, quyền thần thôi, Nguyễn Nhạc đồng ý. Nhưng khi binh Tiếp kéo đến Quy Nhơn thì Nguyễn Nhạc bội ước. Ông rút quân về núi cũ, dựng cờ khởi nghĩa, đề bốn chữ “Lương Sơn tá quốc”, đối đầu với quân Tây Sơn. Lưu thủ dinh Long Hồ, tướng Tống Phước Hiệp (?-1776) đang đóng quân ở Vân Phong, Khánh Hoà khuyên Tiếp nên qui thuận chúa Nguyễn và ông đã nghe theo.
2. Tháng 3 năm Đinh Dậu (1777), quân Tây Sơn vào đánh Gia Định, Tống Phúc Hiệp phải về tiếp cứu, giao Tiếp giữ Phú Yên, Bình Thuận. Tình hình Gia Định càng thêm nguy khổn, ông đem quân đi kháng cự, nhưng do Tây Sơn quá mạnh, trong khi Lý Tài và Đỗ Thành Nhơn lại hiềm khích nhau. Châu Văn Tiếp phải dẫn bộ hạ về lại núi Tà Lương. Hậu quả, Thái Thượng vương Nguyễn Phúc Thuần, và Tân chánh Vương Nguyễn Phúc Dương bị quân Tây Sơn truy đuổi rồi bị bắt, và giết chết. Sau cuộc đại bại ấy, trong dòng tộc chúa Nguyễn chỉ còn mỗi một chàng trai 15 tuổi tên Nguyễn Phúc Ánh trốn thoát.
Năm sau, Đỗ Thanh Nhơn lấy lại Gia Định, Nguyễn Phúc Ánh được tướng sĩ rước về, tôn làm Đại nguyên súy, Nhiếp quốc chính lúc Ánh 16 tuổi. Năm Nhâm Dần (1782) Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Nhạc mang quân thủy bộ Nam tiến, đạo quân Lương Sơn của Châu Văn Tiếp vào tiếp cứu. Hai bên đụng độ dữ dội ở khu vực sông Ngã Bảy, Cần Giờ. Cuối cùng, Nguyễn Phúc Ánh lại phải bỏ chạy ra đảo Phú Quốc. Khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc đã rút quân về, quân Lương Sơn của Tiếp đánh đuổi được tướng Tây Sơn là Đỗ Nhàn Trập, lấy lại Sài Côn. Nhờ đại công này, ông được phong Ngoại tả Chưởng dinh.
3. Tháng 2 năm Quý Mảo (1783), Nguyễn Nhạc lại sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, Lê Văn Hưng, Trương Văn Đa mang quân vào Nam. Châu Văn Tiếp dùng hỏa công nhưng bị trở gió nên thua trận. Chúa Nguyễn phải chạy xuống Ba Giồng, Định Tường, còn Châu Văn Tiếp phải men theo đường núi qua Cao Miên rồi qua Xiêm cầu viện. Đầu năm Giáp Thìn (1784), Ánh sang Vọng Các hội kiến với vua Xiêm. Được tiếp đãi và giúp đỡ, Ánh tổ chức lại lực lượng gồm các quân tướng đi theo và nhóm người Việt lưu vong tại Xiêm, cả thảy trên dưới nghìn người, cử Châu Văn Tiếp làm Bình Tây đại đô đốc, Mạc Tử Sanh (cong Mạc Thiên Tứ) làm Tham tướng, dẫn quân Xiêm về nước đánh Tây Sơn...
Tháng 7 năm ấy vua Xiêm sai hai người cháu, cũng là hai viên tướng cao cấp là Chiêu Tăng và Chiêu Sương, đem 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền vượt vịnh Xiêm La, qua ngả Kiên Giang, Đạo bộ binh gồm khoảng 3 vạn quân, do các tướng Lục Côn, Sa Uyển, Chiêu Thùy Biện chỉ huy, băng qua đất Chân Lạp, rồi tràn vào nước Việt qua ngả n Giang. Ngày 25 tháng 11 năm 1784, quân Châu Văn Tiếp giáp chiến với quân Tây Sơn. Ngô Giáp Đậu kể: Châu Văn Tiếp dẫn thủy binh tiến đánh quân Tây Sơn ở sông Măng Thít, Chưởng cơ Bảo ra sức chống cự. Châu Văn Tiếp nhảy lên thuyền địch, bị quân Tây Sơn đâm trọng thương.
4. Thế Tổ (Nguyễn Phúc Ánh) phất cờ ra lệnh cho quân đánh gấp vào, chém được Chưởng cơ Bảo...Chu Văn Tiếp không bao lâu cũng qua đời vì vết thương quá nặng..., hưởng dương 46 tuổi. Nhận được tin, Nguyễn vương tỏ lời thương tiếc: Trong vòng mười năm lại đây, Tiếp với ta cùng chung hoạn nạn. Nay giữa đường Tiếp bỏ ta mà đi, chưa biết ai có thể thay ta nắm giữ việc quân?...Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long, truy phong Châu Văn Tiếp là Tả quân đô đốc, tước Quận công và cho lập đền thờ ở Hắc Lăng.
3. VÕ TÁNH
1. Võ Tánh ( ? - 1801) là một danh tướng nhà Nguyễn. Ông có công giúp Nguyễn Ánh chống nhà Tây Sơn và mất trước khi nhà Nguyễn chính thức thành lập. Đương thời, ông được xếp cùng với Đôc Thành Nhơn và Châu Văn Tiếp là "Gia Định tam hùng". Võ Tánh sinh tại huyện Phước An, tỉnh Biên Hoà, sau dời về huyện Bình Dương, Gia Định. Vì không chịu thần phục nhà Tây Sơn, từ năm 1783 đến năm 1788, Võ Tánh cùng với người anh là Võ Nhàn tập hợp lực lượng nổi dậy tại thôn Vườn Trầu, Hóc Môn, tự xưng là Nghĩa quân Kiến Hòa, giương ngọn cờ Khổng Tước Nguyên Võ, rồi kéo quân chiếm giữ cả vùng Gó Công.
Năm 1788, nhận lời mời của Nguyễn Phúc Ánh, Võ Tánh đến Nước Xoáy, Sa Đéc hội binh, được phong là Tiên phong dinh Khâm sai chưởng cơ, và được chúa gả cho em gái là Ngọc Du. Năm 1790, Võ Tánh tiến đánh thành Diên Khánh chiếm được phủ thành, đánh bại tướng Tây Sơn là Đào Văn Hồ. Năm 1893, Võ Tánh được thăng chức Khâm Sai Quán Suất Hậu Quân Dinh Bình Tây Tham Thắng Tướng Quân Hộ Giá. Tại thành Diên Khánh, năm 1794, ông đánh bại quân Tây Sơn đến vây thành vào, được phong tước Quận Công kiêm lãnh chức Đại Tướng Quân. Năm 1797, Tánh theo Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Quảng Nam rồi tiến vào Quảng Ngãi đánh bại Đô đốc Tây Sơn Nguyễn Văn Giáp.
2. Năm 1799, ông lại theo chúa Nguyễn tiến đánh Quy Nhơn. Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức vào cửa biển Thị Nại, giết Đô đốc Nguyễn Thiệt tại Thị Giả; rồi chặn đánh cánh quân của Thái Phó Lê Văn Đang, bắt 6.000 quân Tây Sơn và 50 thớt voi. Các tướng Tây Sơn là Lê Văn Thanh và Nguyễn Đại Phát phải mở cửa thành Qui Nhơn xin hàng. Thành Quy Nhơn được chúa Nguyễn đổi tên là Thành Bình. Năm 1800, khi đại quân chúa Nguyễn rút về Gia Định, thành Bình Định được giao cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu trấn giữ. Ngay sau đó, đại quân Tây Sơn, dưới quyền chỉ huy huy của Thái Phó Trần Quang Diệu và tướng Võ Văn Dũng đến bao vây. Cuộc bao vây kéo dài đến 14 tháng.
Nguyễn Ánh cùng Lê Văn Duyệt, và Võ Di Nguy đem đại binh ra giải vây cho Bình Định, đại thắng thủy quân Tây Sơn tại Thị Nại, nhưng thành Bình Định vẫn bị quân Tây Sơn vây chặt. Võ Tánh và Ngô Tùng Châu sai người lén đem mật thư ra cho Nguyễn Phúc Ánh khuyên ông kéo quân ra đánh Phú Xuân, để ông cùng Ngô Tùng Châu cố giữ thành cầm chân quân Tây Sơn. Chúa Nguyễn Phúc Ánh nghe theo, và tháng 5 năm Tân Dậu đánh lấy được Phú Xuân. Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng nghe tin Phú Xuân thất thủ, liền sai tướng đem quân ra cứu. Quân ra tới Quảng Nam thì bị chặn đường phải trở lui.
3. Trần Quang Diệu nổi giận đốc quân đánh chiếm Thành Bình Định. Trong thành binh sĩ lâu ngày thiếu lương thực, có người khuyên Võ Tánh nên vượt vòng vây trốn thoát, nhưng ông cương quyết ở lại, nói "Không thể được. Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà trốn lấy một mình hèn nhát, sau này còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng?". Ông cho người trao cho Trần Quang Diệu một bức thư, xin tha chết cho quân sĩ trong thành, rồi sai lấy rơm củi chất dưới lầu Bát Giác, đổ thuốc súng vào, rồi châm ngòi tự vẫn. Ngô Tùng Châu cũng dùng thuốc độc tự vẫn.
Đó là ngày 27 tháng 5 năm Tân Dậu, tức ngày 7 tháng 7 năm 1801. Khi chiếm được thành, Trần Quang Diệu tỏ ra xúc động trước sự trung dũng của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, sai người tẩm liệm thi hài hai ông tử tế, rồi theo lời yêu cầu của Võ Tánh, không giết hại hàng binh nhà Nguyễn.
4. NGUYỄN VĂN THÀNH
1. Nguyễn Văn Thành (1758-1817) là một trong những vị khai quốc công thần của triều Nguyễn đồng thời là một trong những người có công lớn nhất trong việc đưa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua Gia Long. Nguyễn Văn Thành người xứ Thuận Hoá, phủ Triệu Phong, huyện Quảng Điền, tổng Phú Ốc, xã Bác Vọng. Về sau, cha ông là Nguyễn Văn Hiền lại dời vào sống ở Gia Định. Sử cũ ghi: "Nguyễn Văn Thành trạng mạo đẹp đẽ, tính trầm nghị, thích đọc sách, tài võ nghệ". Năm Quý Tỵ 1773, Thành cùng cha ra tận đất Phú Yên theo Định Vương Nguyễn Phúc Thuần. Năm Ất Mùi 1775, Phú Yên bị đánh úp, cai đội Nguyễn Văn Hiền tử trận.
Năm Mậu Tuất 1778, ông đang đóng đồn ở Phan Rí, Nguyễn Ánh cho triệu ông về. Năm Bính Ngọ 1786. Thành cùng Lê Văn Quân giúp quân Xiêm đánh tan quân Miến Điện ở Sài Nặc, vua Xiêm thán phục, ngỏ ý giúp quân cho Nguyễn Ánh thu phục Gia Định. Nguyễn Ánh triệu chư tướng hội bàn, Thành tâu rằng: "Vua Thiếu Khang chỉ một lữ còn dựng được cơ đồ nhà Hạ. Ta nuôi sức mạnh mà thừa chỗ sơ hở thì việc có thể làm được, lính Xiêm tàn ngược, không nên nhờ họ giúp, nếu nhờ binh lực họ mà thành công lại có sự lo sau, không bằng cứ yên tĩnh để chờ cơ hội là hơn". Vua cho là phải, nên việc ấy bèn thôi.
2. Năm Đinh Mùi 1787, trận đánh ở Mỹ Tho, quân ta thất lợi, có người bảo Thành nên về quê, đợi thời cơ. Thành nói: “Nghĩa cả vua tôi sống chết vẫn theo, nhân thua mà trốn là phản phúc, tiền nhân ta không làm thế.'". Năm Tân Dậu 1801, ông lãnh ấn Khâm sai Chưởng tiền quân, Bình tây Đại tướng Quân, tước Quận Công. Ông là người "biết chữ, hiểu nghĩa sách, biết đại thể trong chư tướng, biết tình hình ngoài biên, thấy được sự đau khổ trong dân”... Về tài cầm binh, Tiền quân Nguyễn Văn Thành là vị tướng "phân tích kỹ lưỡng, đâu là điểm mạnh, đâu là thế yếu, rồi mới quyết đoán, lúc tiến, khi lui nhằm giảm thiểu hao tổn tướng sĩ".
Giữa năm Nhâm Tuất 1802, sau khi đánh thắng Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế, vua Gia Long ban phong cho Thành làm Tổng trấn Bắc thành. Cuối năm 1802, tại Thuận Hoá, ông đọc "Văn Tế Tướng Sĩ Trận Vong", làm rung động lòng người, ông lấy cái cảm tình của một Võ tướng mà giải bày công trạng anh hùng của kẻ đã qua, thổ lộ tấm lòng thương tiếc của người còn lại, lời văn thống thiết, giọng văn hùng hồn, đây thật là một áng văn chương tuyệt bút của nền Văn học Việt Nam. Là một võ tướng, Nguyễn Văn Thành lại là người rất coi trọng việc học hành thi cử, năm Giáp Tý 1804, ông tâu: hiện nay thánh thượng lưu ý đào tạo nhân tài, chia đặt đốc học, rèn đúc học trò, mưu sự tương lai cho đất nước.
3. Nhưng sự dạy dỗ mới bắt đầu, Văn Khoa cử nên có kiểu mẫu để làm khuôn phép cho học trò. “Vậy xin ‘Chuẩn định Học quy’, khiến cho người dạy lấy đó mà dạy học trò, và học trò lấy đó làm chuyên nghiệp, để cho việc giảng dạy khảo khóa lấy đó mà theo". Lấy bốn tháng giữa Xuân, Hạ, Thu, Đông tổ chức khảo thí học trò. Vua liền chuẩn lời tâu. Cũng trong năm Giáp Tý 1804, ông cho thống nhất các chuẩn mực “cân, đo, đong, đếm” ở các trấn Bắc Thành. Ông cho đúc thước Đạc điền dùng từ Quảng Bình trở vào Nam, và thước Kinh được dùng từ Nghệ An trở ra Bắc.
Năm Bính Dần 1806, sau khi xem xét kỹ lưỡng nguồn gốc đường biên giới phía Bắc dựa vào địa dư từ thưở trước đến thực tế hiện tại, Nguyễn văn Thành đề nghị trao đổi với quan nhà Thanh, vạch rõ địa giới hai nước. Vào mùa đông cùng năm, khi vào kinh chầu, Tiền quân Thành đã dâng bản đồ nội ngoại 11 trấn và các phủ, châu, huyện tất cả 164 bản. Tháng 12 năm Đinh Mảo 1807, Tiền quân Thành cho khắc sách Đại học diễn nghĩa. Năm Kỷ Tỵ 1809, dân Bắc Thành gặp nạn đói, ông dâng sớ tâu: "Nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm đầu. Sau khi các trấn bị thiên tai, nhân dân ngày càng đói lắm, xin bàn cách phát chẩn và cho vay để đỡ túng ngặt cho dân".Vua đều nghe theo.
4. Năm Canh Ngọ 1810, ông được triệu về kinh, lãnh ấn Trung Quân, rồi được giao cử chức Tổng tài trong việc soạn Hoàng Việt Luật lệ. Bộ Hoàng Việt Luật Lệ bắt đầu biên soạn từ tháng 2 năm 1811 và đến tháng 8 năm 1812 thì hoàn tất gồm: hai phần, hai mươi hai quyển, và ba trăm chín mươi tám điều. Hoàng Việt Luật Lệ là bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất thời bấy giờ. Hoàng Việt Luật Lệ xếp theo sáu loại: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công luật. Cũng giống như luật Hồng Đức, đây là một bộ luật phối hợp, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội thuộc nhiều lãnh vực khác nhau: từ luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân gia đình đến cả luật hành chính, luật tài chính, luật quân đội và luật tư pháp quốc tế.
Hoàng Việt Luật Lệ là luật thực định của một triều đại tồn tại hơn một thế kỉ, và nó góp phần ổn định trật tự xã hội, củng cố các phong tục, tập quán cổ truyền tốt đẹp của dân tộc cùng với nhiều định chế rất tiến bộ. Trước khi ban hành, Nguyễn Văn Thành có dâng sớ tâu lên vua Gia Long, trong sớ ông trình bày:“Trừng phạt để về sau không còn phải trừng phạt nữa, đặt ra tội hình để về sau không còn phải dùng đến tội hình nữa. Điều đó há chẳng phải là điều mà Đức Thánh thượng hằng mong muốn hay sao?". Tính nhân đạo của bộ luật còn ở chỗ “Nếu phiên tòa xử trong mùa thu năm nay mà chưa có phán quyết cuối cùng, thì phải đợi đến mùa thu năm tới mới quyết án chung thẩm” tránh “mùa hè, thời tiết nóng, sẽ ảnh hưởng xấu đến việc buộc tội của các phán quan”.
5. Vào tháng 1 năm 1812, tiền quân Nguyễn Văn Thành được sung chức Tổng tài biên soạn Quốc triều Thục lục. Năm Ất Hợi 1815, người con trưởng của ông là Nguyễn Văn Thuyên cũng chính là phò mã của vua Gia Long thi đỗ hương cống. Thuyên thường làm thơ, ngâm vịnh văn thơ với những kẻ sĩ, Nguyễn Văn Khuê, và Nguyễn Đức Thuận ở Thanh Hoá, có tiếng là hay chữ, Thuyên có làm một bài thơ tặng, thơ dịch âm rằng.... Một số người vốn có tị hiềm với ông dựa vào hai câu cuối của bài thơ mà lập luận, suy đoán, thêu dệt thành ý phản loạn, truất ngôi vua... Mọi việc kêu oan của ông đều không được Gia Long minh xét.
Ông hiểu rằng: "Án đã xong rồi, vua bắt bề tôi chết, bề tôi không chết không phải là trung", di biểu để lại còn ghi: "sớm rèn tối luyện dệt thành cái tội rất độc ác cho cha con thần, không biết kêu oan vào đâu, chỉ chết mà thôi". Ông bị bức tử, buộc phải uống thuốc độc trong ngục vào năm Đinh Sửu 1817, hưởng thọ sáu mươi tuổi, con trai ông là Nguyễn Văn Thuyên thì bị xử án chém.
5. LÊ VĂN DUYỆT
1. Lê Văn Duyệt (1763-1832) là một nhà chính trị, quân sự Việt Nam. Ông tham gia phò tá Nguyễn Phúc Ánh, trong cuộc chiến đánh quân Tây Sơn. Sau chiến thắng, Nguyễn Ánh, lên ngôi Hoàng đế, ông trở thành một vị quan cấp cao trong Triều đình và phục vụ hai triều vua Gia Long và Minh Mạng. Lê Văn Duyệt sinh năm Quý Nùi 1763, tại vàm Trà Lọt, cha ông là Lê Văn Toại rời vùng Trà Lọt đến ngụ tại vùng Rạch Gầm, làng Long Hưng, Tiền Giang. Năm 1781, Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn dánh đuổi chạy đến vàm Trà Lọt, ngụ tại nhà ông Lê Văn Toại. Cảm ơn cưu mang, Lê Văn Duyệt được Ánh tuyển dụng làm thái giám, bảo vệ cung quyến, khi ông 17 tuổi.
Tuy “sinh ra là người thái giám, nhưng Duyệt mạnh khoẻ". Theo Quốc triều sử toát yếu, thì trong trận đánh tại Đồng Văn, Duyệt bị quân Tây Sơn bắt, nhưng sau đó trốn về được. Tháng 11 Âm lịch năm 1784, Duyệt gặp lại Ánh, rồi gắn bó chặt chẽ với vị Chúa nầy. Tháng 11 Âm lịch năm 1793, Lê Văn Duyệt được Nguyễn Ánh phong làm Thuộc nội Vệ úy. Kể từ đó, chúa Nguyễn thường bàn việc binh với Lê Văn Duyệt. Tháng 11 Âm lịch năm 1800, Duyệt được cử theo Tiết chế Nguyễn Văn Thành. Hai ông hợp quân đánh thắng một trận lớn, nhưng sau đó nảy sinh hiềm khích.
2. Sách Quốc triều sử toát yếu chép: ...Thành hay uống rượu, lúc gần ra trận, cầm hồ rót rượu, rót cho Duyệt một chén và nói rằng: "Uống rượu để thêm sức mạnh". Duyệt nói: "Ai tánh hay sợ mới uống rượu để tăng thêm sức mạnh”. Thành có ý thẹn, từ đó giận Duyệt. Tháng giêng Âm lịch năm 1801, Lê Văn Duyệt cùng chúa Nguyễn và các tướng là Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương, và Võ Di Nguy, đánh chiếm cửa biển Thị Nại. Khi lâm trận, tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết, Duyệt càng gắng sức đánh, đốt phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận ấy được khen là "võ công đệ nhất" của nhà Nguyễn và là "võ công lớn nhất" của Lê Văn Duyệt.
Tháng 4 Âm lịch cùng năm, Duyệt theo chúa Nguyễn ra đánh Phú Xuân. Tháng sau, đại binh vào cửa Tư Hiền, bắt sống được Phò mã Nguyễn Văn Tri và đốc Phan Văn Sách. Đến ngày 3 tháng 5 Âm lịch 1801 tiến vào Phú Xuân, vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc. Sau đó, Duyệt và Lê Chất được Ánh sai đem quân bộ đánh vào Quảng Nam, trên đường vào cứu thành Bình Định nhưng không kịp, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đã tuẫn tiết cũng trong tháng 5 Tân Dậu 1801. Ngày mồng 1 tháng 5 Nhâm Tuất túc 31 tháng 5 năm 1802, chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi tại Phú Xuân đặt niên hiệu Gia Long.
3. Lê Văn Duyệt được phong làm "Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình tây tướng quân, tước Quận công" để cùng với Lê Chất đem bộ binh ra Bắc truy diệt vua quan nhà Tây Sơn, chiếm thành Thăng Long. Dưới triều Gia Long, Lê Văn Duyệt hai lần phá tan cuộc nổi dậy của người dân thiểu số ở Vách Đá, Quảng Ngãi (1803 và 1808). Tháng 6 năm 1812, Lê Văn Duyệt được cử vào làm Tổng trấn Gia Định thay Nguyễn Văn Nhơn. Tháng 2 năm1813, vua Gia Long sai Lê Văn Duyệt và Ngô Nhân Tĩnh đem 13.000 quân thủy đưa vua Nặc Chân về nước Chân Lạp. Duyệt tâu về xin cho đắp thành Nam Vang để bảo vệ vua Chân Lạp, và để binh của Nguyễn Văn Thoại ở lại bảo hộ.
Năm 1815, Lê Văn Duyệt được chỉ triệu về kinh để bàn nghị ngôi Thái tử. Nhân bài thơ của con ông Thành, là Thuyên làm thơ xướng hoạ với hai người bạn thơ ở Thanh Hoá. Vì có hiềm khích với Nguyễn Văn Thành, nên Duyệt dựa vào hai câu cuối của bài thơ mà lập luận, suy đoán, thêu dệt thành “có ý mưu phản”. tâu lên nhà Vua. Vua Gia Long ra lệnh thâu ấn của Nguyễn Văn Thành, và giam Nguyễn Văn Tuyên vào ngục. Di biểu Thành để lại ghi: "sớm rèn tối luyện dệt thành cái tội rất độc ác cho cha con thần, không biết kêu oan vào đâu, chỉ chết mà thôi".
4. Tháng giêng năm 1819, Lê Văn Duyệt nhận mệnh đi kinh lược các vùng: Thanh Hoá, Nghẹ An và Ninh Bình. Thời gian nầy, có tên Nguyễn Hữu Khôi người Cao Bằng, Khôi khởi binh chống Triều đình, bị quan quân truy đuổi, Khôi chạy vào Thanh Hóa, xin ra đầu thú, Duyệt chấp nhận, và cho Khôi làm con nuôi, đổi Nguyễn Hữu Khôi thành Lê Văn Khôi, Duyệt ban cho Khôi nhiều đặc quyền đặc lợi. Tháng 9 năm 1819, Nguyễn Huỳnh Đức Tổng trấn Gia Định qua đời, Lê Văn Duyệt được vua Minh Mạng cử vào thay thế. Lúc nầy có thầy tu tên Kế nổi dậy, cướp phá nhiều nơi thuộc trấn Phiên An.
Duyệt cử Phó tổng trấn Huỳnh Công Lý đem quân đánh dẹp, Sư Kế chạy về Chân Lạp, xua quân vây hãm thành Nam Vang, làm vua nước ấy phải đưa thư sang cầu viện. Lê Văn Duyệt sai Thống chế Nguyễn Văn Trí đem quân cứu viện, đến tháng 10 thì giết được Sư Kế và đánh tan quân nổi dậy. Tháng 10 năm 1822, nhà vua sai Lê Văn Duyệt điều động hơn 39.000 quân và dân đào Kênh Vĩnh Tế. Tháng 8 năm 1823, Lê Văn Duyệt được triệu về kinh. Nguyên trước đó Thị đốc Học sĩ Trần Văn Tuân đi công cán ở Chân Lạp, được người Chân Lạp tin yêu, khi ông Tuân về lại Gia Định, người Chân Lạp vẫn thường qua lại đưa đồ và hỏi thăm.
5. Nhân bắt được một lá thư của vua Chân Lạp gửi ông Tuân, Lê Văn Duyệt bèn đem việc ấy tâu lên nhà vua. Tháng 11 năm 1823, Thị đốc học sĩ Trần Văn Tuân bị án giảo giam hậu, vì lời tâu "Giao thông ngoại cảnh" của ông Duyệt. Đêm 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn 1832, Chưởng tả quân Gia Định Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất tại chức, thọ 69 tuổi.
6. PHẠM ĐĂNG HƯNG
1. Phạm Đăng Hưng (1765-1825), là danh thần của nhà Nguyễn. Ông là người ở Giồng Sơn Quy, Tân Hòa, Tân An, Gia Định con của ông Phạm Đăng Long và bà Phạm Thị Tánh. Năm 31 tuổi (1796), ông thi đỗ tam trường tại Gia Định, vì nổi tiếng là người có văn tài và hiền đức nên ông được bổ làm "Lễ sinh nội phủ" thời chúa Nguyễn Phúc Ánh. Năm 1799, Phạm Đăng Hưng làm Tham tri bộ Lại, nhưng thường theo quân đội làm Tham mưu. Đến năm 1802, khi chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngô, Hưng lần lượt trải chức: năm 1805, Tham tri bộ Lại kiêm Chưởng trưởng đà sự trông coi đê điều, năm 1807, Thanh tra Trường thi Hương ở Kinh Bắc. Năm 1813, Thượng thư bộ Lễ. Năm 1815, kiêm quản Khâm thiên giám.
Tháng 12 năm Kỷ Mảo 1819, vua Goa Long lâm bệnh nặng, ông phụng thảo di chiếu, rồi cùng với Lê Văn Duyêt đồng lo việc tôn phò vua mới. Năm 1821, vua Minh Mạng sung ông làm Quốc sử quán Phó tổng tài. Cùng năm này, ông bị giáng xuống 2 cấp vì việc mạo tặng bằng sắc ở bộ Lễ. Sau lại được bổ làm Học sĩ Viện Hàn lâm, rồi thăng làm Tả tham tri bộ Lại, coi sóc luôn Viện Hàn lâm. Ít lâu sau nữa, ông lại được phục hồi chức cũ ở Quốc sử quán, kiêm Ấn vụ bộ Lại, sung Khâm tu ngọc phổ toản tu, coi việc biên soạn gia phả cho nhà vua. Năm Giáp Thân 1824, ông được phục chức Thượng thư bộ Lễ.
2. Tháng 4 năm Ất Dậu 1825, khi nhà vua đi tuần thú dinh Quảng Nam, ông được cử chức Chưởng quản Kinh thành Huế. Cũng năm nầy, ngày 14 tháng 6 năm Ất Dậu (1825) thì ông mất vì bệnh tại Huế. thọ 60 tuổi. Thương tiếc, vua Minh Mạng thăng Phạm Đăng Hưng hàm Vinh Lộc đại phu, Trụ quốc Hiệp biện đại học sĩ, thụy Trung Nhã. Đến năm 1849, vua Tự Đức (vua gọi ông Hưng là ông ngoại), phong tặng ông là Đặc tấn Vinh lộc đại phu, Thái bảo, Cần chánh điện đại học sĩ, tước Đức Quốc công, được thờ ở miếu Trung hưng công thần và được dự tên trong miếu Hiền lương.
Ông có 4 người con, trong đó có Phạm Thị Hằng, tức Từ Dụ hoàng thái hậu, (thương gọi bà Từ Dũ) và một người con trai là Phạm Đăng Thuật được chọn làm Phò mã Đô úy, giữ chức Lang trung bộ Lễ.
7. TRỊNH HOÀI ĐỨC
1. Trịnh Hoài Đức (1765-1825), là một Công thần của triều Nguyễn là nhà thơ, nhà văn và là một sử gia nổi tiếng của Vệt Nam trong thế kỷ 18. Sinh thời, ông từng được vua nhà Nguyễn ban tước An Toàn hầu. Tổ tiên ông vốn là người tỉnh Phúc Kiên, Trung Quốc, sang đây thời chúa Nguyễn Phúc Tần, ngụ ở Phú Xuân Huế, sau vào ở Trấn Biên, Biên Hoà. Cha ông tên là Khánh, vốn dòng dõi khoa hoạn, được chúa Nguyễn Phúc Khoát thu dụng, cho làm An Dương Cai thủ, rồi làm Chấp canh tam trường Cai đội.Năm lên 10, cha mất, Trịnh Hoài Đức theo mẹ vào sống ở Gia Định theo học với thầy Võ Trường Toản Ngô Tùng Châu và Lê Quang Định.
Về sau, cả 3 người đều là công thần của nhà Nguyễn. Năm Mậu Thân 1788, sau khi đánh lấy được Gia Định, chúa Nguyễn Phúc Ánh cho mở khoa thi để chọn người giúp việc. Trịnh Hoài Đức đỗ khoa ấy, được bổ làm Hàn lâm chế cáo. Năm sau 1789, ông được bổ làm Tri huyện ở Tân Bình, rồi kiêm làm Điền toán trông coi việc khai khẩn đất đai ở Gia Định. Tháng 3 năm Quý Sửu, ông lãnh chức Đông Cung Thị Giảng. Tháng 11 năm đó, ông được cử theo Đông Cung Nguyễn Phúc Cảnh ra giữ thành Diên Khánh. Năm 1794 ông được thăng Ký lục dinh Trấn Dinh, rồi làm Hộ bộ Hữu Tham tri.
2. Năm 1801, khi chúa Nguyễn mang quân ra đánh Phú Xuân, Trịnh Hoài Đức lo việc gặt hái ở Quảng Nam và Quảng Ngãi để tiếp vận quân lương. Tháng 5 năm Nhâm Tuất 1802, vua Gia Long phong ông làm Thượng thư bộ Hộ, đồng thời sung làm Chánh sứ cùng với hai Phó sứ Ngô Nhân Tịnh và Hoàng Ngọc Uẫn sang THanh. Năm 1808, ông được bổ làm Hiệp trấn Gia Định thành, phụ tá cho Tổng trấn Nguyễn Văn Nhơn. Năm 1812, ông được bổ nhiệm làm Lễ bộ Thượng thư, kiêm quản Khâm thiên giám. Năm 1813 làm Lại bộ Thượng thư. Năm 1816, làm Hiệp Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ hai. Khi Tổng trấn Nhơn về kinh, ông tạm giữ quyền Tổng trấn.
Đầu năm Canh Thìn 1820, vua Minh Mạng lên ngôi. Nhà vua triệu ông về kinh, làm Lại bộ Thượng thư, kiêm cả Binh bộ Thượng thư, đồng thời sung chức Phó Tổng tài Quốc sử giám, thăng Hiệp biện Học sĩ. Vì kiêm lĩnh nhiều việc quan trọng, sợ mình không làm tròn, ông đã từ chối đôi ba lượt; nhưng vì vua Minh Mạng tỏ lòng ưu ái nên ông đành phải vâng mạng. Tháng 5 Âm lịch năm đó, nhà vua xuống chiếu cầu sách cũ. Trịnh Hoài Đức dâng lên quyển Gia Định thành thông chí (do ông biên soạn) và quyển Bột Di ngư văn thảo của Mạc Thiên Tứ. Tháng 9 năm Tân Tỵ 1821, nhà vua ngự giá ra Bắc, ông được đi theo.
3. Khi về, ông dâng lên vua hai quyển là Lịch đại kỷ nguyên và Khang tế lục. Năm 1823, thấy mình già yếu, ông dâng sớ xin từ quan, nhưng vua Minh Mạng không thuận, ông đành phải xin về nghỉ dưỡng 3 tháng. Mãn hạn nghỉ phép, ông trở ra Huế, nhà vua ban cho ông 2.000 quan tiền và vật liệu để ông làm nhà ở phía cửa Đông ngoài thành. Tháng 2 năm Tân Tỵ 1825, Trịnh Hoài Đức mất vì bệnh tại Huế, thọ 61 tuổi.
8. NGUYỄN CÔNG TRỨ
1. Nguyễn Công Trứ (1778-1858) là một nhà quân sự, nhà kinh tế, và là một nhà thơ lổi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại. Ông là con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn, quê ở làng Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tỉnh. Ngay từ thuở hàn vi ông đã nuôi lý tưởng giúp đời, lập công danh: Làm trai đứng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông. Nhưng khi đã 41 tuổi, năm 1819, ông mới đỗ Giải nguyên ở trường thi Hương trấn Nghệ An. Từ đây bắt đầu thời kỳ làm quan đầy sóng gió của ông. Ông hoạt động trong nhiều lĩnh vực từ quân sự, kinh tế tới thi ca. Cuộc đời ông là những thăng trầm trong sự nghiệp, khi lên quan, cũng có khi xuống làm lính.
Ông thăng quan tiến chức vì thành tích, chiến công trong quân sự và kinh tế, lên tới chức Thượng thư, Tổng đốc; nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt tới ba bốn cấp. Năm 1841, bị kết án trảm giam hậu, rồi lại được tha, năm 1843 còn bị cách tuột làm lính thú. Dưới triều Gia Long và Minh Mạng có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân. Nguyễn Công Trứ tuy là quan văn nhưng phải cầm quân, làm tướng, đi đánh dẹp, ông đánh đâu thắng đó. Năm 1827, ông đánh dẹp Khởi nghĩa Phan Bá Vành; năm 1833, đánh dẹp khởi nghĩa Nông Văn Vân; năm 1835 đánh dẹp giặc Khách. Ông cũng góp nhiều công lớn trong cuộc Chiến tranh Việt-Xiêm 1841-1845.
2. Đến đời vua Tự Đức thứ 11, năm 1858, khi thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng, thì ông đã 80 tuổi, nhưng vẫn xin vua cho đi đánh giặc. Ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn ở Ninh Bình; và Tiền Hải ở Thái Bình vào những năm cuối thập niên 1820, đề xuất lập nhà học, xã thương ở nông thôn nhằm nâng cao dân trí và lưu thông hàng hóa. Những hoạt động của ông trong lĩnh vực kinh tế được nhân dân các vùng kể trên ghi nhớ. Hiện nay còn rất nhiều từ đường thờ cúng ông ở hai huyện nói trên và quê hương ông. Nhiều đình chùa tại các địa phương này cũng thờ ông và tôn ông làm thành hoàng làng.
Nguyễn Công Trứ là người có tài. Là một người của hành động, trải qua nhiều thăng trầm, Nguyễn Công Trứ hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời. Ông khinh bỉ và ngán ngẩm nó: Thế thái nhân tình gớm chết thay. Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy. Hay: Tiền tài hai chữ son khuyên ngược. Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi. Hoặc: Ra trường danh lợi vinh liền nhục. Vào cuộc trần ai khóc trước cười. Chán chường với chốn quan trường nhưng ông không chán đời. Ông vốn yêu đời, là người chịu chơi, với ông cái gì cũng có thể đem chơi kể cả tài kinh bang tế thế: Trời đất cho ta một cái tài. Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.
3. Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào, ông viết nhiều bài ca trù đa tình. Ngất ngưởng, ngông nghênh, về hưu đi chơi ông không dùng ngựa mà dùng b. Bảy mươi ba tuổi ông cưới vợ, trả lời cô dâu khi nàng hỏi tuổi: Ngũ thập niên tiền, nhị thập tam. Hoặc trong bài "Bỡn nhân tình": Tau ở nhà tau, tau nhớ mi. Nhớ mi nên phải bước chân đi. Không đi mi nói: răng không đến? Đến thì mi nói: đến làm chi. Ngay lúc chua chát nhìn lại đời mình, ông vẫn là người đầy khí phách: Kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Giữa trời vách đá cheo leo. Ai mà chịu rét thì trèo với thông
Đời ông đầy giai thoại, giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, bản lĩnh trí tuệ và mang tính bình dân sâu sắc. Có thể nói thơ ông sinh động, giàu triết lý nhân văn nhưng hóm hỉnh, đó là chất thơ có được từ đời sống, lấy đời sống làm cốt lõi.
9. TẠ QUANG CỰ
1. Tạ Quang Cự (1769-1862) là danh tướng hà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, làm quan dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Ông quê gốc tại tỉnh Nghệ An, sau dời về ở huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên. Gia Long năm thứ nhất 1802, ông đến đầu quân, thăng dần lên chức cai đội. Minh Mạng thứ 7 1826, bổ ông làm Vệ úy vệ Nghiêm Vũ. Năm 1827 quân Xiêm La kéo sang đánh lấy nước Vạn Tượng (Lào), rồi xâm lấn nước Việt. Ông cùng Kinh lược đại sứ Nguyễn Văn Xuân dẫn quân đi ngăn cản, giữ vững được miền Nghệ An, Hà Tỉnh. Cũng trong năm này, viên tù trưởng Trấn Ninh, Quảng Bình tên là Chiêu Nội xin đem đất do mình cai quản đặt nội thuộc Việt Nam.
Chiêu Nội được nhà vua phong làm Trấn Ninh phòng ngự sứ, cho coi giữ như cũ. Năm 1828, triều Nguyễn đặt chức huyện thừa coi 7 huyện ở Trấn Ninh, bèn sai Tạ Quang Cự và Tri phủ Diễn Châu Đỗ Quang Cảnh cùng đi trấn nhậm. Đến đó, hai ông dò xét biết Chiêu Nội đang âm mưu chống lại sự cai trị của triều Minh Mạng, liền lập kế bắt sống rồi đưa về Huế giết chết. Sau việc này, Tạ Quang Cự được thăng thự Cẩm y chưởng vệ, quyền lĩnh công việc ở phủ Trấn Ninh. THáng 4 năm 1830, nhờ giỏi cai trị, đất Trấn Ninh dần yên, ông được nhà vua triệu về phong chức Thống chế Hậu doanh, cử ra làm Tổng đốc An Tĩnh, kiêm lĩnh Tuần phủ Nghệ An.
2. Năm 1833, dò biết Hạ Sa Bút ở châu Lạc Biên và thổ mục Phì Mường Thân, ngầm có chí khác, ông liền cho bắt giết cả hai. Đang lúc đó ở tỉnh Ninh Bình có Lê Duy Lương xưng là Đại Lê Hoàng tôn, cùng với các thổ ty là Quách Tất Công, Quách Tất Tế, Đinh Thế Đức, Đinh Công Trịnh,...đem quân đi đánh phá các phủ huyện và vây đánh tỉnh thành Hung Hoá. Tạ Quang Cự liền được cử làm Tổng đốc quân vụ đạo Ninh Bình để cùng với Tham tán Hoàng Đăng Thận, Hộ phủ Thanh Hoá Nguyễn Đăng Giai mang hai ngàn biền binh và con 5 voi đi đánh chiếm các đồn Xích Thổ, An Đội, Chi Nê, vàđại bản doanh Sơn Âm bắt Lê Duy Dương và Lê Duy Nhiên, đóng củi giải về Huế giết chết.
Bình xét công lao, Tạ Quang Cự được phong là Vũ Lao tử. Ngày 2 tháng 7 cùng năm 1933, viên thổ mục châu Bảo Lạc Tuyên Quang, Cao Bằng là Nông Văn Vân (anh rể Khôi) cầm đầu một cuộc nổi dậy chống Triều đình. Tạ Quang Cự được cử làm Tổng thống quân vụ đại thần mang quân đi giải vây. Thành công, ông được gia phong tước bá. Từ Lạng Sơn, ông tiến lên lấy lại tỉnh thành Cao Bằng, lại được thưởng quân công một cấp. Nhưng đến khi quan quân rút về, thì Nông Văn Vân lại hội quân đi đánh phá. Tháng 9 năm Mậu Ngọ 1834, nhà vua lại sai Tạ Quang Cự cùng Nguyễn Tiến Lâm, và Hồ Hữu mang quân từ Cao Bằng lên hội tiễu.
3. Tháng 3 năm Ất Mùi 1835, Nông Văn Vân bị truy đuổi phải chạy ẩn vào trong rừng Thẩm Bát. Vệ úy Nguyễn Văn Quyền cho quân vây kín rồi phóng hỏa đốt rừng, Nông Văn Vân bị chết cháy.Ghi nhận công lao các tướng, Tạ Quang Cự được thăng Đô thống, thự Trung quân Đô phủ Chưởng phủ sự, nhưng vẫn lĩnh chức Tổng đốc An Tĩnh. Năm 1836, các thủ lĩnh họ Quách và họ Đinh lại suy tôn một người họ Lê khác tên là Lê Duy Hiển làm minh chủ, nổi dậy chống phá. Tháng 2 năm Đinh Dậu 1837, Tạ Quang Cự được phong làm Ninh Bình kinh lược đại thần, phong Tham tán Hà Duy Phiên làm phó, để cùng đem quân đi tấn công Sơn Âm lần nữa.
Đến Ninh Bình, Tạ Quang Cự liền phái Lãnh binh Trần Hữu Lễ đem quân chặn đường núi Thạch Bi, rồi tự mình đốc quân tiến đánh Quỳnh Côi. Vì địa hình hiểm trở, quan quân trải bao khó nhọc mới bắt được Quách Tất Công ở Thượng Lũng, cho đóng củi giải về Kinh làm tội. Lần lượt sau đó các viên chỉ huy của quân nổi dậy là Lê Duy Hiển, Quách Tất Tại, Hoàng Đồng Nguyệt...đều bị bắt sống. Vua Minh Mạng cho xóa sổ xã Sơn Âm, chia hết ruộng đất cho xã khác, đồng thời đày dân làng ra ở các xã duyên hải của tỉnh Ninh Bình để quản thúc.
4. Năm 1839, Tạ Quang Cự được triệu về kinh, nhận tước hầu, ra coi việc nạo vét sông Phổ Lợi (Huế) kiêm coi trường đào tạo võ quan Anh Danh. Tháng Giêng năm 1841, vua Thiệu Trị nối ngôi, ông được cử ra trông coi việc xây lăng cho vua Minh Mạng, và kiêm việc ấn vụ ở sở Tào chính. Tháng 7 Âm lịch tại Trấn Tây thành, người Chân Lạp nổi loạn khắp nơi, quan quân nhà Nguyễn đánh dẹp mãi mà vẫn không yên, Tạ Quang Cự tâu xin nhà vua bỏ đất ấy, được Vua Thiệu Trị nghe theo ra lệnh cho Trương Minh Giảng rút khỏi Trấn Tây thành. Năm 1842, nhà vua đi tuần miền Bắc, sung ông chức đại thần coi việc ở tại Triều.
Khi về nhà vua cho ông làm Thái tử Thái bảo kiêm coi ấn triện của Hậu quân. Tự Đức năm thứ 2 (1849) nhân Kinh thành Huế có dịch, nhà vua xuống chiếu cầu lời nói thẳng, Tạ Quang Cự cùng văn võ đình thần tâu lên 5 việc:
· Xin cho con cháu Mỹ Đường được biên tên vào tôn phả.
· Xin cấp tiền cho cha mẹ, vợ con các công thần thời Trung hưng; nếu ai không có con thừa tự, xin lập cháu.
· Xin khoan miễn tội các công thần đã chết Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Lê Chất và cho con cháu được sửa sang phần mộ cho họ.
· Cho sửa sang đền miếu nhà Lê, cấp tự điền và cử người coi sóc các nơi ấy. Con cháu nhà Lê đều được tùy tiện chọn nơi yên ở.
· Xin phái kinh lược đại thần đi kiểm tra những việc làm của các quan lại.
5. Tất cả đều được nhà vua nghe theo. Tháng 4 Âm lịch , nhân đại lễ, sung Tạ Quang Cự làm Tổng bộ đại thần. Cũng năm này, lấy lý do tuổi già sức yếu, ông xin về hưu, nhưng nhà vua không cho. Kể từ đó, năm nào ông đều được nhà vua ban thưởng. Năm 1855, ông được cho về nghỉ hưu ở tuổi 86. Vua Tự Đức nhờ ông tiến cử người hiền, ông tiến cử 4 người, về sau có hai người trở thành danh thần đó là Đoàn Thọ và Đào Trí. Tháng 10, năm Tự Đức thứ 15 (1862), Võ lao hầu Tạ Quang Cự mất, thọ 93 tuổi. Thương tiếc, nhà vua tặng ông hàm Thái bảo, tên thụy là Trung Khắc, cấp 2.000 quan tiền tuất cùng nhiều phẩm vật và sai quan đến tế.
10. TRƯƠNG MINH GIẢNG
1. Trương Minh Giảng (?-1841) là một danh thần nhà Nguyễn. Ông được đánh giá là một người "văn võ song toàn", là công thần lớn của nhà Nguyễn, vừa là một võ tướng vừa là một sử gia, từng giữ chức Tổng tài Quốc sử giám. Trương Minh Giảng sinh tại làng Hạnh Thông, huyện Bình Dương, trấn Gia Định (không rõ năm sinh). Thân phụ của ông là Lễ bộ Thượng thư Trương Minh Thành. Trương Minh Giảng đỗ Cử nhân năm Kỷ Mảo 1819, được bổ chức Tư vụ, dần thăng tới Lang trung bộ Binh, rồi đổi sang bộ Hình. Năm 1829 ông thăng chức Tham tri, được phái vào Nam công cán ở Gia Định, khi đổi về kinh ông làm Tả tham tri bộ Hộ.
Không lâu sau được thăng lên Thượng thu bộ Hộ, kiêm quản Khâm thiên giám. Năm 1832, ông cùng với Thượng thư bộ Lễ Phan Huy Thực biên soạn bộ Liệt Thánh Thực Lục. Cũng thời gian này, ông giữ chức Tổng tài Quốc sử quán, chủ trì việc biên soạn bộ Đại Nam thực lục chánh biên. Năm Quý Tỵ 1833, Lê Văn Khôi nổi loạn chiếm giữ thành Gia Định. Trương Minh Giảng được sung chức Tham tán quân vụ, cùng tướng quân Phan Văn Thúy đem quân vào dẹp loạn. Dựa vào thành cao hào sâu, quân Lê Văn Khôi cố thủ hữu hiệu. Hai năm sau (1835) cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi mới bị dập tắt. Do công thắng trận,
2. Trương Minh Giảng được vua Minh Mạng khen thưởng một tấm bài bằng ngọc và tiền phi long bằng vàng. Nhân lời cầu viện của Lê Văn Khôi các tướng Chao Phraya Bodin và Phra Klang đưa quân Xiêm vào Đại Nam, ông cùng Nguyễn Xuân đẩy lui quân Xiêm, được tấn phong tươc "Bình Thành Nam". Sau đó, triều đình giúp Chân Lạp đánh đuổi quân Xiêm, thu phục lại thành Nam Vang, Trương Minh Giảng cùng Nguyễn Văn Năng được gia phong tước Bình Thành Bá. Rồi, được phong hàm Hiệp biện đại học sĩ, lãnh chức Tổng đốc An Giang. Không lâu sau, ông lại được phong hàm Đông các Đại học sĩ, kiêm chức Bảo hộ Cao Miên.
Năm 1835, Minh Mạng đổi đất Chân Lạp thành Trấn Tây thành, sáp nhập vào Đại Nam. Do công lao trấn giữ Trấn Tây thành, năm 1838, khi triều đình dựng bia võ công, tên ông Trương Minh Giảng được khắc hàng đầu đặt trong Võ miếu Huế. Tình hình Trấn Tây không yên do sự chống đối của cư dân Chân Lạp, năm 1841, vua Thiệu Trị quyết định rút bỏ Trấn Tây thành và toàn bộ Trấn Tây, phục hồi vương quốc Cao Miên, Trương Minh Giảng theo lệnh rút quân về trấn thủ An Giang. Tháng 7 năm Tân Sử 184, ông bị bệnh và qua đời tại An Giang.
11. TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ.
1. Trương Đăng Quế (1793-1865), là danh thần trải 4 triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trong lịch sử Việt Nam. Trong 43 năm làm quan, có 20 năm ông giữ trọng trách lớn, trong đó có hai lần nhận di chiếu tôn phò vua mới. Ngoài ra, Trương Đăng Quế còn là nhà tho, nhà sử học, là thầy học của vua Thiệu Trị, và một số quý tộc nổi tiếng khác, trong đó có Tùng Thiện Vương, và Tuy Lý Vương. Trương Đăng Quế sinh ngày 1 tháng 11 năm Quý Sửu 1793, tại làng Mỹ Khê, huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Tiên tổ của ông ở huyện Thạch Hà, Hà Tỉnh. Năm Lê Hy Tông thứ 10 (1622), tổ đời thứ sáu là Trương Đăng Trường vào Nam, làm quan đến Cai quản, tước Nham Lĩnh bá.
Ông Trường làm nhà ở tại làng Mỹ Khê. Trải qua bốn đời truyền nối làm quan, đến đời cha ông Quế là Trương Đăng Phác, làm Tri phủ cho triều Sơn Tây. Vợ chồng ông Phác, sinh được 8 người con 4 trai, 4 gái, Trương Đăng Quế là người con thứ 5. Năm 1801, khi ông lên tám tuổi, thì cha mất. Nhưng, nhờ chăm học, năm Kỷ Mảo, Gia Long thứ 18 (1919), ông đỗ Hương tiến, tức Cử nhân, học vị cao nhất lúc bấy giờ. Theo sử nhà Nguyễn thì ông chính là người "đầu tiên" ở Quảng Ngãi đạt được học vị này. Ông được bổ làm Hành tẩu bộ Lễ dưới triều Gia Long. Năm Minh Mạng thứ nhất (1820), ông được thăng Biên tu.
2. Tháng 5 Âm lịch năm đó, nhà vua lựa người học hạnh thuần cẩn, sung làm Hoàng tử Trực học để dạy các hoàng tử. Trương Đăng Quế, Doãn Văn Xuân và Ngô Hữu Vĩ được cử. Sau đó, ông lần lượt trải các chức: Thị độc sung Tán Thiện (1826), Thượng bảo thiếu khanh quản lý phòng văn thư (1828), Thị lang bộ Công sung làm việc ở Nội các (1830); lại đổi sang bộ Lễ sung chức khảo trong kỳ xét hạch giáo chức các tỉnh tại Quốc Tử Giám ở Huế. Năm 1831, vua Minh Mạng sai ông đi Bắc Thành, điểm ngạch sổ binh, khi về được nhắc lên Tham tri bộ Hộ kiêm quản Vũ khố, sung chức Độc quyển thi trong kỳ thi Đình.
Tiếp theo, thăng ông lên làm Thượng thư bộ binh, kiêm giữ ấn triện viện Đô sát, sung Cơ mật viện Đại thần. Năm 1833, Lê Văn Khôi khởi binh chống lại Triều đình nhà Nguyễn ở Gia Định. Là Thượng thư bộ Binh. Trương Đăng Quế lo trù tính phương cách đối phó. Tháng 7 năm 1835, đánh dẹp xong cuộc nổi dậy, ông được thưởng hàm Thái tử thiếu bảo, sung Chủ khảo kỳ thị Hội. Đầu năm 1836, nhà vua chọn ông làm Kinh lược đại thần đi kinh lý 6 tỉnh Nam Kỳ. Hoàn thành tốt công việc, ông được khen và được thăng Hiệp biện Đại học sĩ, sung Cơ mật viện, nhưng vẫn coi giữ bộ Binh. Khoảng thời gian ấy có Quách Tất Công và Quách Tất Tại, lại tôn phò Lê Duy Hiển khởi binh chống lại triều đình ở Thanh Hoá.
3. Trương Đăng Quế bèn xin đi đánh dẹp, được vua sung chức Kinh lược sứ tỉnh Thanh Hoá. (cuối năm 1836). Thắng trận trở về, ông được gia thưởng Kỷ lục quân công (1837). Cũng trong năm này, ông được cử quản lý Khân thiên giám. Năm 1838, cho ông kiêm coi Quốc tử giám ở Huế, lại sung làm Chủ khảo kỳ thi Hội và Đọc quyển kỳ thi Đình. Năm 1839, tấn phong ông là Tuy Thịnh nam, sau lại kiêm giữ ấn triện bộ Lễ. Năm 1840, sung ông chức Tổng lý coi việc làm lăng của vua. Cũng trong năm này, ông nhận di chiếu của vua Minh Màng tôn phò Nguyễn Phúc Miên Tông, tức vua Thiệu Trị lên ngôi.
Năm 1841, vua Thiệu Trị chuẩn cho Trương Đăng Quế làm Văn Minh điện Đại học sĩ, gia hàm Thái bảo, quản lý bộ Binh, kiêm Cơ mật viện, kiêm sung chức Tổng tài ở Quốc sử quán. Năm 1842, nhà vua đi tuần ra Bắc, sung ông làm Ngự tiền đại thần. Khi về, nhà vua tấn phong cho ông tước tử, và thưởng một đồng kim tiền hạng nhất. Năm 1844, vì có bệnh, Trương Đăng Quế xin phép nghỉ. Trong thời gian này, ông xin bổ dùng con cháu của Mạc Thiên Tứ, được vua nghe theo. Năm 1846, nhà vua gả An Mỹ công chúa cho con trai ông là Trương Đăng Trụ. Tháng 9 năm 1947, sung ông làm Phụ chính đại thần, nhận di chiếu tôn phò Phúc Hồng Nhậm tức vua Tự Đức lên kế vị.
4. Sau khi lên ngôi, Tự Đúc phong ông làm Công chính điện đại học sĩ, tấn phong tước Tuy Thạnh Quận công. Năm Trự Đức thứ 2 1848, bắt đầu đặt viện Tập hiền, Trương Đăng Quế được cử làm Kinh diên giảng quan. Tháng Giêng năm sau 1850, ông nhận mệnh đi duyệt binh. Năm 1853, vì tuỏi già, ông xin thôi việc, được vua chấp thuận. Nhưng chỉ được ít lâu, nhà vua lại triệu ông vào triều tiếp tục giữ bộ Binh. Tháng 7 Âm lịch năm 1858, có 12 chiếc tàu Pháp đến bắn phá các bảo đài ở cửa Hàn, Đà Nẳng, Âungr Nam. Theo sử nhà Nguyễn, buổi đầu vấn đề đặt ra trong Triều là “Chiến hay hoà” có ý kiến cho là "chiến không bằng hòa".
Tuy nhiên, theo ông Quế, thì trước khi hòa, "cần phải giữ vững đã". Được vua cho là phải, sau đó ông nhận lệnh đi khắp Quảng Nam đôn đốc việc xây đắp đồn lũy để phòng thủ... Sau khi bị ngăn cản ở Đà Nẳng, quân Pháp kéo vào Nam, đến thngs 2 năm 1859 thì thành Gia Định bị đối phương đánh hạ. Tháng 9 Am lịch năm 1860, Trương Đăng Quế xin về nghỉ. Trích lời tâu của ông: Từ người Tây dương (chỉ quân Pháp sang đây đã 3 năm nay, thần ê mặt với các quan trong triều, vì không thi thố được một kế nào để đuổi chúng lui, thì tội (của thần tránh sao được...Nay thần lại bóng dâu gần ngã, tật bệnh liên miên, hầu như sắp chết, nghĩ thẹn vì cố giữ địa vị...
5. Nhà vua cho ông về nhà riêng dưỡng bệnh, 10 ngày hoặc 5 ngày mới phải vào chầu một lần. Năm Tự Đức thứ 15 (1862), Trương Đăng Quế lại dâng sớ xin về nghỉ hưu. Nhà vua cho ông thôi giữ bộ Binh, Trương Đăng Quế lại dâng sớ xin giáng hàm Thượng thư và bỏ tước Quận công, vì để cho "bốn cõi nhiều loạn, là sự nhục của khanh đại phu, là không làm tròn chức vụ của thần".Vua không chuẩn cho. Trương Đăng Quế lại dâng sớ nói: Thần không có kế gì để đẩy lui được giặc, nay xin đem một nửa số lương bổng (của thần) lưu lại ở kho để giúp quân phí...Nhà vua phải gượng làm theo ý ấy.
Có lần, được nhà vua hỏi về việc nước, ông gửi sớ tâu 5 điều, trong đó đáng chú ý là: "Đường lối trị nước, cần ở dùng người, nhất là quan lại cấp huyện; Muốn quan thanh liêm, không gì bằng bớt viên chức đi, mà tăng lương bổng; Của dùng thiếu, tùy theo trường hợp, có thể cho phạm nhân được nộp thóc hay vàng chuộc tội",...Sớ tâu này được vua giao cho đình thần bàn bạc để thi hành. Tháng 2 năm Ất Sửu 1865, Trương Đăng Quế lâm bệnh nặng mất ở tuổi 72. Năm Tự Dức thứ 28 1876, nhà vua cho thờ ông trong Thế miếu tại Huế, theo lời dụ trước đây của vua Thiệu Trị.
12. NGUYỄN TRI PHƯƠNG
1. Nguyễn Tri Phương (1800-1873) là một đại danh thần Việt Nam thời nhà Nguyễn dưới 3 triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, và Tự Đức. Ông cũng là vị Tổng chỉ huy quân đội chống lại quân Pháp xâm lược ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873). Ông sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân (1779) tại làng Đường Long, xã Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên trong một gia đình nghèo làm ruộng và thợ mộc. Nhưng nhờ ý chí tự lập ông đã làm nên công nghiệp lớn. Năm Quý Mùi 1823, vua Minh Mạng đề bạt ông hàm Điển bộ (Bí thư ở Nội điện), năm sau thăng Tu soạn, rồi Thừa chỉ ở Nội các.
Hai năm sau thăng Thị độc, Thị giảng học sĩ, năm 1831, thăng Hồng Lô tự khanh. Năm 1832, ông được sung vào phái bộ sang Trung Quốc về việc thương mại. Năm 1835 ông nhận lệnh vua Minh Mạng vào Gia Định cùng Trương Minh Giảng bình định các vùng mới khai hoang. Việc thành công ông được thăng hàm Thị lang. Năm 1837, ông bị triều thần dèm pha, bị giáng xuống làm thơ lại ở bộ Lại. Cuối năm, ông được khôi phục hàm Chủ sự, sung chức Lang trung. Năm sau ông thăng Thị lang bộ Lễ. Năm 1839 thăng hàm Tham tri, làm việc ở Nội các. Năm Canh Tý 1840, ông được bổ làm Tuần Phủ Nam Nghĩa, trông coi bố phòng cửa biển Đà Nẵng.
2. Công việc hoàn thành tốt đẹp, ông được triệu về kinh thăng Tham tri bộ Công, được vua Thiệu Trị cử làm Tổng đốc Vĩnh Long và Định Tường. Tại đây, ông dẹp tan được các toán giặc cướp nước ngoài vào quấy phá. Tháng 5 âm năm 1844, ông được cải bổ Tổng đốc An Giang, Hà Tiên. Năm 1845, ông cùng với Doãn Uẩn đánh bại quân Xiêm La của tướng Bodin bình đingj Cao Miên, ổn định hoàn toàn vùng biên giới Tây Nam thuộc miền Tây Nam Bộ. Sau, thăng Khâm sai quân thứ đại thần Trấn Tây hàm Tòng Hiệp biện Đại học sĩ (tháng 9 âm/1845), rồi được thưởng danh hiệu "An Tây trí dũng tướng" (tháng 2 âm/1847).
Tháng 5 năm 1847, ông được triệu về kinh, thăng hàm Chánh Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Thượng thư bộ Công đại thần Cơ mật viện, tước Tráng Liệt tử và được ban một Ngọc bài có khắc bốn chữ "Quân kỳ thạc phụ", được chép công trạng vào bia đá ở Võ miếu Huế. Sau khi vua Thiệu Trị mất, ông được Đình thần tôn làm Phụ chính Đại thần. Năm Mậu Thân 1848, vua Tự Đức phong tước cho ông là Tráng Liệt bá. Cùng năm đó, cha ông qua đời. Ông xin về cư tang. Năm Canh Tuất 1850, ông được sung chức Khâm sai Tổng thống Quân vụ Đại thần các tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Gian và Hà Tiên.
3. Năm 1853, ông được thăng Điện hàm Đông các Đại học sĩ, rồi lãnh chức Kinh lược sứ Nam Kỳ. Trong thời gian này, ông có công lập được nhiều đồn điền, khai khẩn đất hoang, dân cư ở địa phương được an cư lập nghiệp. Năm Mậu Ngọ 1858, tàu chiến Pháp đến uy hiếp Đà Nẵng, vua Tự Đức cử ông làm Quân thứ Tổng thống đại thần trực tiếp chỉ huy quân đội chống lại. Việc thất bại, quân Pháp chiếm Đà Nẳng, phá hủy một số đồn lũy của Việt Nam. Nguyễn Tri Phương, bị Triều đình giáng cấp, nhưng cho lưu tại chức. Năm 1859, Pháp chuyển hướng đánh thành Gia Định, thành bị hạ, Hộ đốc thành Gia Định là Võ Duy Ninh tự vẫn.
Năm 1860, Nguyễn Tri Phương được sung chức Gia Định quân thứ, Thống đốc quân vụ cùng Tham tán đại thần Phạm Thế Hiểnựtrông coi việc quân sự ở miền Nam. Với từ 15.000 đến 20.000 quân, Nguyễn Tri Phương chia thành ba đạo: một đạo chính đóng tại đồn Phú Thọ, Gia Định; một đạo đóng ở phủ hạt Tân An; một đạo đóng ở tỉnh hạt Biên Hoà. Nguyễn Tri Phương cho xây dựng đại đồn Chí Hoà (Kỳ Hòa) để bao vây, bức rút quân Pháp. Nhưng, ngày 25 tháng 10 năm 1861, đại đồn Chí Hoà bị quân Pháp đánh chiếm, ông bị thương, đại đồn thất thủ, Gia Định lại bị chiếm. Em ruột ông là Nguyễn Duy tử trận, ông bị cách chức xuống làm Tham tri.
4. Đến năm 1862, sau khi Pháp đánh chiếm, Biên Hoà, Mỹ Tho, và Vĩnh Long, triều đình phải ký Hoà ước Nhâm Tuất 1862, nhượng cho nước Pháp 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Định, và Định Tường, và Pháp trả lại Việt Nam tỉnh Vĩnh Long. Từ năm 1863, ông được cử làm tổng thống Hải Yên quân vụ, cùng với Trương Quốc Dụng đánh dẹp loạn quân Tạ Văn Phụng. Tháng 6 năm Giáp Tý 1864, đạo quân thứ Hải Yên tổ chức tấn công quân Phụng ở tại La Khê, Hà Bắc, quân triều bị thua to. Các tướng Hiệp thống Trương Quốc Dụng, Tán lý Phạm Văn Khuê, Tán tương Trần Huy Sách đều tử trận.
Tháng 4 năm Ất Sửu 1865, Tạ Văn Phụng đem hơn 300 chiến thuyền từ đảo Phù Long, quần đảo Cát Bà, chia làm ba đạo đến quấy phá ở mạn Hải Dương, Nguyễn Tri Phương sai Nguyễn Văn Vĩ đốc thuyền đến đánh, bắt sống và chém nhiều quân nổi dậy. Cũng trong tháng này, quân Tạ Văn Phụng lại tràn vào sông Võ Định, Lang Thâm, Hải Dương dùng kế hỏa công đánh tan tác đạo quân thủy ở nơi sông Cấm bắt sống được Thống chế Nguyễn Doãn rồi giết chết. Tháng 5 năm Ất Sửu 1865, Tạ Văn Phụng lại đem quân tấn công đồn Quỳnh Lâu và An Trì, Quảng Yên, Tán lý Đặng Trần Chuyên đánh đuổi được.
5. Đốc binh Ông Ích Khiêm cũng thắng quân Phụng tại khe Vị Dương. Tại Hạ Đoan, Lang Thâm, Đề đốc Mai Thiện chia quân đánh hơn 10 trận lớn nhỏ đều thắngăm Ất Sử 1865, đạo quân thứ Hải Yên do tướng Nguyễn Tri Phương chỉ huy lại truy đuổi một đội tàu của Tạ Văn Phụng tại sông Gia Luận. Phương sai Tri huyện Nguyễn Hữu Thuận tuần tra địa phận sông, chợt gặp thuyền Đô thống Hậu quân của Phụng là Phạm Văn Khương và Oánh, bèn vây bắt. Oánh bị giết ngay, còn Khương thì bị bắt. Tới tháng 9, đoàn thuyền của Phụng bị "bang thuyền nước Tàu" đánh ở Hải Ninh, Phụng và tùy tướng là Ước bị bắt sống giải về Huế. Tháng 10 năm 1865, Tạ Văn Phụng bị xử lăng trì.
Năm 1873, Soái phủ Nam Kỳ lấy cớ giúp thương nghị sự tranh cãi giữa tay lái buôn Jean Dupuis và chính quyền nhà Nguyễn ở Bắc Kỳ, phái Francis Garnier ra Hà Nội. Ngày 5 tháng 11 Garnier đến Hà Nội, với 10 lính người Âu, 30 lính người Á, 150 lính đánh thuê Vân Nam và một số lính Cờ vàng, đưa ra yêu sách ngang ngược, bị Nguyễn Tri Phương từ chối. Đêm ngày 19, rạng sáng ngày 20 tháng 11 năm 1873, Garnier đánh úp thành Hà Nội. Hơn hai nghìn quân triều đình bị bắt làm tù binh, về phía quân Pháp, chỉ có một người lính đánh thuê Vân Nam của Dupuis bị giết do một viên sỹ quan Pháp bắn nhầm.
6. Con trai Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận, Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương. Ông nhịn gần một tháng và mất vào ngày 20 tháng 7 năm 1873 nhằm ngaỳ 1 tháng 11 Âm lịch, thọ 73 tuổi.
13. PHAN THANH GIẢN
1. Phan Thanh Giản (1796-1867) là một danh sĩ, một đại thần của 3 triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, và Tự Đức. Tương truyền tổ phụ Phan Thanh Giản là Phan Thanh Tập, thời nhà Minh. Ông di cư sang phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Đến năm 1771, cha Phan Thanh Giản là Phan Thanh Ngạn vào Nam, ông cưới người vợ tên Lâm Thị Bút thôn An Hòa, xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre hạ sinh Phan Thanh Giản. Năm Giản lên 7 (1802), thì mẹ qua đời, cha cưới người vợ nữa tên Trần Thị Dưỡng. Năm 1815, vì sự cáo gian của kẻ có thù riêng với gia đình, cha Phan Thanh Giản lúc ấy đang làm Thủ hạp (một viên chức nhỏ) phải ngồi tù.
Nóng lòng vì cha bị hàm oan, ông đệ đơn lên Hiệp trấn Lương ở Vĩnh Long xin được thay cha vào tù. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo, viên quan này đã cho ông ở gần nơi cha bị giam cầm, để vừa trao giồi kinh sử, vừa có cơ hội thăm cha mỗi ngày. Sau khi cha được mãn tù, nghe lời Hiệp trấn Lương, Phan Thanh Giản ở lại Vĩnh Long để tiếp tục học và chờ đợi khoa thi. Tại đây, ông gặp một người đàn bà nhân hậu tên Ân. Bà này đã giúp ông tiền và cơm, áo...để tiếp tục theo đuổi việc đèn sách. Năm 1825, ông đậu Cử nhân khoa Ất Dậu. Sau đó một năm, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1826) niên hiệu Minh Mạng thứ 7, vào năm 30 tuổi. Ông là người đậu Tiến sĩ khai khoa ở Nam Bộ.
2. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức vụ: Hàn lâm viện biên tu. Năm 1827, Lang trung bộ Hình. Năm 1828, Tham hiệp tỉnh Quảng Bình, rồi Hiệp trần tỉnh Quảng Nam. Năm 1829, Quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An. Năm 1830, Lễ bộ tả thị lang và tham gia nội các. Năm 1832 Hàn lâm viện kiểm thảo sung Nội các hành tẩu và Hộ bộ viên ngoại lang. Năm 1834, Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần. Năm 1835, Kinh lược trấn Tây. Năm 1836, Tuần phủ Quảng Nam. Năm 1839, Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ bộ thị lang. Ông bị giáng chức ba lần, trong đó có lần vào năm 1836 ông phải làm "Lục phẩm thuộc viên", tức giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở chốn công đường.
Dưới triều Thiệu Trị, ông làm Phó chủ khảo trường thi Thừa Thiên, Năm 1847, Phan Thanh Giản được bổ Phó đô ngự sử Đô sát viện. Dưới triều Tự Đức, ông phụ trách giảng dạy và điều khiển trường Kinh Diên, Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, ông được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ, cùng với tướng Nguyễn Tri Phương. Sau đó, được phong làm Kinh lược sứ Nam Kỳ. Ông được vua Tự Đức giao làm Tổng tài Quốc sử quán coi việc biên soạn bộ Khaam định Việt sử Thông giám cương mục. Năm 1858, Liên quân Pháp-Tây Ban Nha đổ bộ và tấn công tại cửa biển Đà Nẵng rồi lần lượt đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam Kỳ.
3. Đến năm 1862, sau khi Pháp đánh chiếm, Biên Hoà, Mỹ Tho, và Vĩnh Long, triều đình phải ký Hoà ước Nhâm Tuất (1862) nhượng cho nước Pháp 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Định, và Định Tường, và Pháp trả lại Việt Nam tỉnh Vĩnh Long. Phan Thanh Giản được cử làm Chánh sứ và Lâm Duy Hiệp là Phó sứ được cử đi điều đình với Pháp, vua Tự Đức cho ông tùy nghi định đoạt, và căn dặn Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ráng sức chuộc lại ba tỉnh với giá 1.300 vạn lạng. Việc chuộc ba tỉnh không thành, Phan Thanh Giản bị cách chức lưu làm Tổng đốc Vĩnh Long. Năm 1863, một lần nữa, ông lại được cử làm Chánh sứ, cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ và Nguỵ Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông một lần nữa, nhưng việc cũng không thành.
Năm 1865, ông được phục chức Hiệp biện đại học sĩ, Hộ bộ thượng thư, sung Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) và được tha tội cách lưu. Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long, và yêu cầu ông gửi mật thư cho thủ thành An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu, Phan Thanh Giản quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng.
4. Thế là chỉ trong 5 ngày từ 20 đến 24 tháng 6 năm 1867, Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867 hưởng thọ 72 tuổi.
14. NGUYỄN ĐĂNG GIAI
1. Nguyễn Đăng Giai ( ? - 1854) là danh thần của 3 triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, và Tự Đức. Ông là người làng Phù Chánh, huyện Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình. Xuất thân trong một gia đình vọng tộc, nội ông là tiến sĩ Nguyễn Đăng Hoành, cha ông là Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Đăng Tuân thầy dạy vua Thiệu Trị. Thuở nhỏ, Nguyễn Đăng Giai theo học với thân phụ. Năm Minh Mạng thứ nhất 1820, Nguyễn Đăng Gia đỗ Hương tiến (Cử nhân). Giai được bổ vào làm ở Hàn lâm, rồi thăng Lang trung bộ Hộ. Năm Canh Dần 1830, ông làm thự Tham hiệp trấn Nam Định. Năm 1832, sung vào chức Khảo thí trường thi Nghệ An, đợi lĩnh chức Bố chánh sứ Thanh Hoá.
Khi ấy, đường biển thường bị cướp, ông cùng với Tổng đốc Đoàn Văn Trường dâng sớ xin chấn chỉnh lại các đội binh thuyền, để tiễu trừ nạn trên. Xem xong tấu sớ, vua Minh Mạng phê rằng: Đăng Giai có kiến thức, những điều đã trình bày phần nhiều thiết thực trúng cơ nghi. Nhà Vua cử làm Hộ lý quan phòng cửa Tuần Phủ. Năm 1833, Lê Duy Lương cầm đầu cuộc nổi dậy ở đất Bắc đang làm chủ đất Chi Nê, 4 sở ở Phụng Hóa, 2 sở ở Gia Viễn và 5 sở ở Yên Hóa...Ngoài vài ngàn quân, lực lượng Lê Duy Lương còn có hơn 30 chiếc thuyền chiến chia giữ các nơi hiểm yếu. Nhà vua sai Tổng đốc Nghệ An, Hà Tỉnh Tạ Quang Cự, Thống chế Hoàng Đăng Thân và Nguyễn Đăng Giai cùng mang quân bộ và quân tượng đi tiễu trừ.
2. Nguyễn Đăng Giai bàn với Tạ Quang Cự cùng hợp binh, đánh chiếm Không Cốc và Tâm Đình, rồi đánh chiếm Chi Nê và Sơn Âm. Không ngờ, một thổ ty ở Thanh Hoá là Nguyễn Đình Bang, sau khi được cấp súng liền quay lại đánh quân Triều đình rồi bỏ trốn. Nguyễn Đăng Giai gửi sớ về nhận lỗi, vua Minh Mạng truyền lệnh cách chức ông, nhưng cho ở lại quân thứ để lấy công chuộc tội. Sau đó, ông đốc quân tiến đánh lấy lại đồn Xích Thổ và vài đồn khác, được nhà vua khen cho ông khai phục chức quan cũ. Nguyễn Đăng Giai lại nhận lệnh dẫn quân đi đánh dẹp cuộc nổi dậy của các thổ dân ở Thanh Ba tây bắc Thanh Hoá. Xong việc, ông được phục chức Bố chính ở Bắc Ninh.
Năm Bính Thân 1836, ông được điều động về Thanh Hoá. Năm sau 1837, ông được cử đi đánh dẹp tàn quân của Lê Duy Lương, đang do các thủ lĩnh họ Quách, họ Đinh cầm đầu. Bình định xong về triều, ông được nhà vua thưởng cho quân công một cấp, và chuẩn cho ông về lại Bắc Ninh. Năm 1841, năm THiệu Trị thứ nhất Nguyễn Đăng Giai được thăng làm Tổng đốc Bắc Ninh và Thái Nguyên. Năm Quý Mảo 1843, đồng thủ lĩnh cuộc nôie dậy ở Sơ Tây là Ba Nhàn và Tiền Bột kéo lực lượng về ẩn náu ở vùng rừng núi thuộc đất Lâm Thao và Đoan Hùng. Nhà vua bèn đổi Nguyễn Đăng Giai làm thự Tổng đốc Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang.
3. Đến nơi, ông lo chỉnh đốn việc binh, nên chỉ vài tháng sau thì đánh dẹp xong. Mùa thu năm Giáp THìn 1844, trong kỳ xét công, ông được vua Thiệu Trị cho thực thụ chức Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên. Cha mất, ông xin về thọ tang. Không bao lâu sau, ông lại trở ra Tuyên Quang, dẫn quân đi tìm bắt Nông Hùng Thạc, lúc này cũng đang làm cuộc nổi dậy chống triều đình nhà Nguyễn. Bắt được thủ lĩnh Thạc, Nguyễn Đăng Giai lại được thăng một cấp. Năm Bính Ngọ 1846, đổi ông làm Tổng đốc Hà Nội và Ninh Bình. Khi ấy, việc đê điều ở Bắc Kỳ người nói thôi, người nói đắp, ý kiến rất khác nhau. Nhà vua sai Nguyễn Đăng Giai phải đích thân đi xem xét rồi thử đưa ra giải pháp.
Năm Tự Đức năm thứ nhất 1848, thăng Nguyễn Đăng Giai làm thự Hiệp biện đại học sĩ, triệu về làm Thượng thư bộ Hình kiêm sung Quốc sử quán Tổng tài. Tháng 5 Âm lịch năm ấy, ông dâng sớ điều trần 10 khoản về việc hình, 13 khoản về các việc đúc tiền, tuyển lính, khẩn hoang, vỗ yên dân...Tất cả đều được nhà vua nghe theo. Vì mới lên ngôi, nhà vua muốn sai sứ sang nhà Thanh cầu phong. Nguyễn Đăng Giai liền dâng sớ can ngăn, đồng thời đề xuất ý kiến là nên mời sứ thần nhà Thanh sang làm lễ bang giao tại kinh đô Huế , vừa giữ được lễ, vừa ít tốn kém.
4. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép:...Vua cho lời nói của ông là phải, sai phát quốc thư đệ đạt đi. Đến khi sứ nước Thanh là Lao Sùng Quang đến Kinh làm lễ bang giao, tình ý thỏa hợp, Vua cho Đăng Giai là người đầu tiên kiến nghị ra, giữ được quốc thể lắm, thưởng cho ông một đồng kim tiền có chữ "Long vân khế hội" và ba tấm nhiễu màu. Mùa Xuân năm Canh Tý 1850, vùng Hữu Kỳ gồm THanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh mất mùa, nhà vua bèn chọn Nguyễn Đăng Giai lĩnh chức Tổng đốc Nghẹ An và Hà Tỉnh, kiêm coi đạo THanh Hoá. Đến nơi, ông gửi sớ về xin vua cho sắp đặt lại nhiều việc: bãi lệnh cấm bán gạo, hoãn thu thuế, tha các khoản thiếu, mở cửa quan, cho dân tự do đi lại...
Lời tâu của ông được vua khen, sai đình thần thi hành. Mùa đông năm ấy, ông lại tâu xin truy phong các bề tôi tiết nghĩa ở cuối đời Hậu Lê. Năm Tân Hợi 1851, tàn dư của các cuộc nổi dậy chống Thanh nhưng đã biến chất, từ Quảng Tây Trung Quốc xiêu dạt tới cướp phá đất Cao Bằng. Nhà vua liền đổi Nguyễn Đăng Giai đi làm Tổng đốc Hà Nội và Ninh Bình kiêm sung Kinh lược các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, và Cao Bằng. Sau khi đi xem xét các nơi, ông dâng sớ lên vua trình bày 5 điều về công việc ở biên giới. Được nhà vua chấp thuận, ông lệnh cho các tỉnh tuyển chọn lính, bãi chức lưu quan, đặt lại thổ quan...cốt làm cho cương giới được bền vững.
5. Tiếp theo, ông gửi thư cho Tuần phủ Quảng Tây nhờ yễm trợ, rồi đốc quân đến Lạng Sơn, đánh bắt được ba tên cầm đầu là Trần Trường, Hoàng Ngọc Quang, Đặc Kim Long. Hoảng sợ, Lý Văn Xương, thủ lĩnh quân Tam Đường bèn cử người đến xin hàng. Nhân dịp này, Nguyễn Đăng Giai xin vua cho thi hành ba việc cần làm ở biên giới phía Bắc là: Đặt đồn lớn ở ven biên giới; chia ghép lại Tam Đường; và tha thuế cho các châu huyện bị tàn quân cướp bóc. Khi bình xét công lao, ông được thưởng một cái kim khánh hạng lớn có chữ "Liêm bình cần cán". Năm Giáp Dần 1854, quân "phỉ" ở Trung Quốc lại kéo sang quấy nhiễu ở đất Cao Bằng.
Nguyễn Đăng Giai lại phải mang bộ binh, tượng binh đi mới đánh đuổi được. Rồi vì một người ở bang Hướng Nghĩa (thuộc Tam Đường) tên là Giang A dọa nạt người lấy của, nên ông bị nhà vua sai giáng bốn cấp nhưng cho lưu nhiệm, vì tội "chiêu nạp người đầu hàng không đúng". Mùa thu năm ấy, Nguyễn Đăng Giai lâm bệnh nặng rồi chết tại Hà Nội. Thương tiếc, vua Tự Đức sai truy tặng ông hàm Thiếu bảo, ban tên thụy là Văn Ý. Năm Mậu Ngọ 1858, nhà vua cho thờ ông trong đền Hiền Lương tại Huế.
15. PHẠM PHÚ THỨ
1. Phạm Phú Thứ (1821-1882), là một đại thần triều nhà Nguyễn, dưới thời vua Thiệu Trị và Tự Đức, và là một trong số người có quan điểm canh tân nước Việt Nam trong những năm nửa cuối thế kỷ 19. Phạm Phú Thứ sinh tại làng Đông Bàn, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình Nho giáo, có tiên tổ từ Trung Quốc sang. Cha ông là Phạm Phú Sung, mẹ ông là Phạm Thị Cẩm. Nhà nghèo, mẹ mất sớm, ông Thứ sớm có tiếng là người học giỏi. Năm Thiệu Trị thứ hai 1842, Phạm Phú Thứ dự thi Hương đổ giải nguyên khi mới 21 tuổi. Năm sau Quý Mảo 1843, dự thi Hội, ông cũng đỗ đầu (Hội nguyên). Khi vào thi Đình, ông đỗ luôn Tiến sĩ cập đệ.
Buổi đầu, năm 1844, ông được bổ làm Biên tu. Năm sau 1845, thăng ông làm Tri phủ Lạng Giang nay thuộc tỉnh Bắc Giang, rồi thăng làm Thị Độc. Một thời gian sau, vì có tang cha, ông xin nghỉ chức. Năm Tự Đức thứ hai 1849, ông được chuyển qua Viện Tập hiền làm thư ký ghi lời nói và hành động của vua, rồi sang phòng giảng sách cho vua. Năm 1850, thấy nhà vua ham vui chơi, lơ là việc triều chính, ông mạnh dạn dâng sớ can gián, nên bị cách chức và giam ở nhà lao Thừa Phủ. Xét án, triều đình khép ông vào tội đồ; song nhà vua cho rằng đó chỉ là "lời nói khí quá khích, không nở bỏ, nhưng răn về nóng bậy", nên ông chỉ bị đày làm "thừa nông dịch" ở trạm Thừa Nông.
2. Năm 1852, ông được khôi phục hàm Biên tu (hàm lúc sơ bổ). Năm 1854, cử ông làm Tri phủ Tư Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, ông tổ chức và vận động dân chúng lập được hơn năm mươi kho nghĩa thương để phòng khi chẩn tế cho dân. Với việc làm đó, ông được cử giữ chức Viên ngoại lang ở bộ Lễ. Năm 1855, ông được điều sang công tác quân sự để giải quyết cuộc bạo động của người Thượng ở Đá Vách, Quảng Ngãi. Sau khi dẹp yên, ông được thăng chức Án sát sứ ở hai tỉnh là Thanh Hoá và Hà Nội. Năm 1858, ông được chuyển về làm việc ở Nội các tại Huế. Năm 1859, ông xin về quê để dưỡng bệnh và cải táng mộ cha.
Khi trở lại triều, ông dâng sớ xin đắp đê Cu Nhí, đào sông Ái Nghĩa, đồng thời xây dựng công sự bố phòng và luyện tập quân sự ở tỉnh nhà Quảng Nam. Năm 1860, từ Nội các, ông được thăng chức Thị lang bọ Lại, rồi thăng làm Thự Tham tri của bộ này. Đầu năm 1863, sau khi vua Tự Đức xét mấy điều khoản trong Hoà ước Giáp Tuất 1862, còn có chỗ chưa thỏa, Phạm Phú Thứ sung làm Khâm sai vào Gia Định hội với Phan THanh Giản và Lâm Duy Hiệp để đàm phán với quan soái Pháp và quan đại thần nước Y Pha Nho. Không hoàn thành nhiệm vụ, ông phải bị giáng một cấp.
3. Tháng 5 Âm lịch năm này, ông được cử làm Phó sứ, cùng với Chánh sứ Phan Thanh Giản và Bồi sứ Nguỵ Khắc Đản, sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Tháng 2 Âm lịch năm 1864, khi sứ bộ về đến Huế, ngoài bản tường trình, xin vua Tự Đức cải cách việc học tập và phát triển công nghiệp", Phạm Phú Thứ còn dâng lên vua hai tác phẩm do ông làm trong chuyến đi, đó là Tây hành nhật ký và Tây Phù thi thảo. Vua xem cảm động, có làm một bài thơ để ghi lại việc này. Được tin cậy, nhà vua thăng ông làm Tham tri bộ Lại. Năm 1865, thăng ông chức Thự Thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần.
Ở chức việc này, ông đã mật tâu xin đặt 4 Tuyên phủ sứ ở Quảng Trị, ,Bình Định, Nghệ An và Hưng Hoá, đồng thời xin đặt "trường giao dịch chợ búa, sửa thuế thương chính, lập thổ tù" ở các nơi ấy để làm "mạnh vững nơi biên phòng, nhưng việc rút cục không thành". Năm 1866, quan soái Pháp phái tàu đến cửa Thuận An, Huế đưa thư đòi "quản luôn ba tỉnh là Vĩnh Long, An Giang, và Hà Tiên, vì ở đây "bọn trộm cướp thường qua lại". Nhà vua liền sai Phạm Phú Thứ và Phan Huy Vịnh đến "xin giữ giao ước cũ lâu dài". Năm 1867, Phan Thanh Giản mất, triều đình cử Phạm Phú Thứ làm người điều đình với Ph
4. Song thực dân Pháp không hài lòng về cách xử sự cứng rắn của ông, còn triều đình Huế thì không hài lòng vì việc thương lượng cứ đỗ vỡ. Cuối cùng, ông bị Ngự sử đàn hặc, và bị gọi về kinh "hậu cứu". Năm 1973, vì phạm lỗi, ông lại bị giáng làm Thị lang. Năm 1874, triều đình cho mở nhà thương chính ở Bắc K. Nhà vua cho ông "là người am hiểu, và có tài cán lão luyện", nên đổi ông làm Thự Tổng đốc Hải Dương vàQuangr Yên, kiêm sung Tổng lý thương chánh Đại thần. Đến nơi, gặp lúc đê Văn Giang, Hưng Yên vỡ, nước lũ tràn cả hai phủ Bình Giang và Ninh Giang. Thấy dân đói khổ, ông lập tức xin trích năm vạn phương gạo ở kho Hưng Yên để phát chẩn.
Đồng thời, lại phái thuộc hạ đem những người dân còn khỏe mạnh đến Đông Triều, Nam Sách... khẩn hoang, cày cấy kiếm sống. Năm 1876, nhà Vua chuẩn cho Phạm Phú Thứ được thực thụ chức Tổng đốc Hải An. Để yên dân, ông xin đặt trường mua gạo ở chợ An Biên và Đồ Sơn. Đồng thời phái Thương biện Lương Văn Tiến, anh em họ ngoại với Phạm Phú Thứ đi hiểu dụ lưu dân, tạo công ăn việc làm cho họ, để họ thôi "càn rỡ, ngang ngược". Năm 1878, thăng ông làm Thự Hiệp biện Đại học sĩ, song vẫn lĩnh chức vụ cũ. Cũng trong năm này, Khâm phái ngự sử là Dương Hoàn tâu lên rằng: "Lương Văn Tiến (lúc này đang làm Giám đốc việc tuần phòng ngoài biển) cậy thế chở gạo ra ngoại quốc"...
Phạm Phú Thứ bị triệu về Huế đợi án. Năm1880, khi bản án dâng lên, ông bị giáng làm Quang lộc tự khanh, lĩnh chức Tham tri bộ Binh. Nhân có bệnh, ông xin về quê. Năm Tự Đức thứ 35 Mậu Ngọ 1882, Phạm Phú Thứ mất tại quê nhà "giữa những ngày u ám nhất của vận mệnh chế độ phong kiến nhà Nguyễn", thọ 61 tuổi.
16. HOÀNG KẾ VIÊM
1. Hoàng Kế Viêm (1820-1909) còn gọi là Hoàng Tá Viêm, là phò mã và là một danh tướng nhà Nguyễn dưới thời Thiệu Trị, và Tự Đức. Hoàng Kế Viêm, người làng Văn La, tỉnh Aungr Bình, con ông Hoàng Kim Xán, Bố chính tỉnh Khánh Hoà. Năm 1843 sau khi đổ cử nhân, ông được bổ Tư vụ, hàm Quang Lộc tự khanh. Ông kết duyên với con gái thứ năm của vua Minh Mạng là công chúa Hưng La, nhưng chẳng bao lâu thì vợ mất. Đời THiệu Trị năm 1846, ông làm Lang trung Bộ Lại. Đến thời Tự Đức năm 1850, mẹ mất, ông đang ở quê chịu tang thì được chiếu triệu về kinh, sung chức Án sát tỉnh Ninh Bình (1852). Năm 1854, ông thăng Bố chính Thanh Hoá, Bố chính kiêm Tuần phủ Hưng Yên (1859), Tổng đốc An Tịnh (1863).
Năm cuối thập niên 1860, dư đảng của Thái Bình Thiên quốc là Ngô Côn chạy tràn sang miền Bắc Việt Nam. Đầu tiên, họ xin hàng, sau đem quân đi cướp phá các tỉnh. Quan quân đánh mãi không được mà còn mất nhiều binh tướng, buộc triều đình nhà Nguyễn phải nhờ quân nhà Thanh phối hợp để tiễu trừ. Đến khi Ngô Côn bị giết, các dư đảng là: Hoàng Sùng Anh (hiệu Cờ vàng), Lưu Vĩnh Phúc (hiệu Cờ đen), Bàn văn Nhị-Lương văn Lợi (hiệu Cờ trắng); vẫn thường quấy nhiễu ở mạn Tuyên Quang, Thái Nguyên, làm quan quân nhà Nguyễn hết sức vất vả.
2. Đến khi đảng cướp người Tàu là Tô Tứ nổi lên, cướp thành Lạng Sơn, bắt giết Tổng thống quân vụ Bắc Kỳ là Đoàn Thọ. Năm 1870, triều đình Huế phái Hoàng kế Viêm ra làm Lạng-Bình-Ninh-Thái Thống đốc quân vụ đại thần (1870), để hiệp với lực lượng của Tán tương Tôn Thất Thuyết cùng lo việc đánh dẹp. Tháng Tư năm 1871, Tự Đức lại sai quan Hình bộ thượng thư là Lê Tuấn làm chức Khâm sai thị sự đến hỗ trợ ông. Hoàng Kế Viêm vừa đánh vừa dụ hàng, thu phục được Lưu Vĩnh Phúc đánh tan quân Cờ trắng và Cờ vàng. Hoàng Sùng Anh cũng bị quân Cờ đen truy lùng và giết chết khi trốn chạy. Nhờ công lao này, Hoàng Kế Viêm được phong Đại học sĩ lãnh Tổng thống Tam Tuyên, sung Tiết chế quân vụ miền Bắc.
Vì đất Bắc Kỳ luôn có loạn, năm Canh Thìn (1880) triều đình đặt ra Lạng Giang đạo và Đoan Hùng đạo, rồi sai hai viên Tĩnh biên phó sứ là Trương Quang Đản đóng ở Lạng Giang và Nguyễn Hữu Độ đóng ở Đoan Hùng. Phong cho Hoàng Kế Viêm là Tĩnh biên sứ, kiêm cả hai đạo. Khi quân Pháp xâm chiếm Đại Nam, Hoàng Kế Viêm đứng về phe chủ chiến. Năm 1873, Đại úy hải quân Pháp Francis Garnier đem quân theo sông Hồng lên chiếm thành Hà Nội và sửa soạn đánh các tỉnh khác ở đồng bằng sông Hồng. Hoàng Kế Viêm được cử làm Tiết chế Bắc Kỳ quân vụ (chức vụ quân sự cao cấp nhất tại Bắc Kỳ) đôn đốc các nơi lo việc chống ngăn.
3. Ngày 21 tháng 11 Âm lịch năm đó (1873), ông và Lưu Vĩnh Phúc cùng tổ chức mai phục và đã giết chết được Đại uý F.Garnier tại Ô Cầu Giấy. Năm 1883, đến lượt Đại tá hải quân Pháp Henri Rivière đánh và chiếm được thành Hà Nội, Đại tá Henri Rivière cũng lại bị quân của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc giết chết tại Ô Cầu Giấy ngày 19 tháng 5 năm 1883. Năm 1884, triều đình ký Hoà ước Giáp Thân 1884 với Pháp. Sau đó, vua Kiến Phúc đã ra lệnh cho Hoàng Kế Viêm lúc đó đang đóng ở Sơ Tây rút quân về Huế, nhưng ông vẫn ở lại phối hợp với quân Thanh đánh Pháp. Mãi đến khi Sơn Tây và Hưng Hoá thất thủ, ông mới chịu về Huế, nhưng cương quyết không hợp tác với phe chủ hòa.
Năm 1884, ông được phong làm Thái tử Thiếu bảo, Cơ mật viên Đại thần. Ông xin về trí sĩ nhưng không được, mãi đến đời vua Thành Thái, năm 1889, ông mới được nghỉ hưu, về quê sống đến khi mất (1909), thọ 89 tuổi.
17. ÔNG ÍCH KHIÊM
1. Ông Ích Khiêm (1831-1884) là danh tướng nhà Nguyễn dưới thời vua Thiệu Trị, và Tự Đức. Ông sinh tại làng Phong Lệ, Thanh Quýt, Điện Bàn, Quảng Nam. Tổ tiên Ông Ích Khiêm là người dân tộc miền núi xuống định cư làm ruộng ở miền xuôi. Thuở nhỏ, ông vừa chăn trâu cắt cỏ, vừa theo học với người chú là Ông Văn Trị. Năm Đinh Mùi 1847, Thiệu Trị thứ 7 ông đỗ cử nhân tại trường thi Hương Bình Định, quan chủ khảo Vũ Duy Thanh (1807-1859) đã quyết định cho Khiêm đỗ, với lời phê rằng: Bài này tuy lời văn không được chải chuốt, chữ viết xấu nhưng ý tứ dồi dào. Qua bài này, ta thấy thí sinh phải là người có lòng yêu dân thương nước cao, có chí ngang tàng, có lòng cương trực thì mới viết được như thế.
Đỗ cử nhân, ông được bổ làm Tri huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Năm 1862, Tự Đức thứ 15, vì can việc thu chi tiền tu tạo huyện lỵ nên bị cách chức. Gặp lúc quân Tạ Văn Phụng ở Hải An kéo đi đánh phá, ông xin mộ binh đi theo quân thứ lập công chuộc tội, được khởi phục lại hàm Tri huyện, sung Vệ hiệp quản Chiến sĩ. Có công, ông được thăng làm Tri phủ sung Đốc binh. THáng 5 Am lịch 1865, quân Tạ Văn Phụng kéo đến đánh phá các đồn ở Quỳnh Lâu, An Trì thuộc tỉnh Quảng Yên, Ông Ích Khiêm mang quân phá được. Tháng 6 Âm lịch 1867, xét công, vua Tự Đức thăng ông làm Thị lang bộ Binh.
2. Sang tháng sau (1867), tên tội phạm Vi Tái Thọ trốn khỏi đất Thanh, tụ đảng cướp phá ở Bắc Ninh, nhà vua sung Ông Ích Khiêm làm Băc Ninh Tiễu phủ sứ để đi đánh dẹp. Được ít lâu sau, năm 1868 , Ngô Côn, dư đảng của Hồng Tú Toàn kéo quân đánh chiếm thành tỉnh Cao Bằng. Ông Ích Khiêm được cử cùng với Đề đốc Nguyễn Viết Thành và Phó tướng Tạ Kế Quý mang lực lượng đi đánh dẹp Ngô Côn ở Thất Khê, Lạng Sơn. Lập công, ông được thưởng. Nhưng, vì để quân đi đốt nhà cướp của, ông bị khép vào tội đồ, nhưng cho lấy công chuộc tội. Năm 1869, Ngô Côn xua quân đi vây đánh thành tỉnh Băvs Ninh. Từ huyện Kim Anh, Ông Ích Khiêm đem binh voi đi đánh, giết được Ngô Côn, ông được khởi phục hàm Bố chính.
Năm 1870, quân Tô Tứ thường gọi là "giặc Khách" hay phỉ" nửa đêm đến chiếm cứ thành tỉnh Lạng Sơn. Khâm sai Võ Trọng Bình chạy thoát, Trung quân Đoàn Thọ bị giết. Nhận lệnh, Ông Ích Khiêm đem quân đến đánh, ông bị thương, bèn cho quân rút về Hải Dương. Không làm tròn trách nhiệm, ông bị giáng xuống làm Quang Lộc tự khanh, song vẫn sung làm Tán lý. Tháng 2 Âm lịch 1872, ông cùng Tán tương Nguyễn Di đánh vào sào huyệt của Tô Tứ ở Quán Tư, lấy lại huyện Trấn Yên, Yên Bái, được khen thưởng; nhưng ít lâu sau, lại bị thua ở Đại Đồng, ông bị cách chức lưu dụng.
3. Năm 1873, quân "phỉ" vây hãm đồn Phong Đăng, Khâm mạng Nguyễn Tri Phương và Thống đốc Hoàng Kế Viêm, lệnh cho Ông Ích Khiêm đánh úp sào huyệt của chúng ở Đại Đồng. Ông Ích Khiêm lấy cớ "phỉ đông, đường hiểm, lại có bệnh" xin không tham gia. Nguyễn Tri Phương cho rằng Khiêm không tuân lệnh, giao ông cho quân thứ Tuyên Quang sai phái. Sau đó, vì có bệnh ông xin trở về quê. Năm 1874, Tổng đốc mới Hải Dương là Phạm Phú Thứ, là người cùng huyện với ông, nhân về thăm quê có ghé thăm ông. Rồi nhờ lời tâu của ông Thứ, mà Khiêm được bổ làm Tán tương quân thứ Bắc Ninh vào đầu năm 1875.
Đến nơi, ông đánh quân "phỉ" ở Yên Định, bị tổn hại nhiều nên tự ý thu quân về. Tướng Tôn Thất Thuyết thấy vậy bèn sai quân bắt giam ông, cho áp giải về kinh chờ án. Nhân mắc bệnh "tâm hỏa", ông được cho về nhà. Tháng 3 Âm lịch 1882, vua Tự Đức cho ông làm Hồng lô tự khanh làm Biện lý bộ Hộ, rồi cất làm Thị lang sung Tham lược kinh kỳ, coi đắp đồn Thái Dương và Lộ Châu. Năm 1883, Ông Ích Khiêm được giao trấn giữ cửa biển Thuận An để bảo vệ kinh thành Huế. Trước thế lực mạnh của quân Pháp, ông không thể làm tròn trách nhiệm, bị đổi sang làm Biện lý bộ Lễ.
4. Cuối tháng 10 Âm lịch 1883, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, mật sai Ông Ích Khiêm mời vua Hiệp Hoà đến nha Hộ Thành, ép uống thuốc độc giết chết. Năm 1884, ông được Tường và Thuyết thăng làm Thị lang, tước Kiên Trung nam, mang quân đi tiễu trừ cuộc nổi dậy của dân thiểu số ở Trà My, Quảng Nam. Dẹp xong cuộc nổi dậy, tháng 5 Âm lịch 1884, Ông Ích Khiêm đem 50 lính đi thẳng về quê nhà Quảng Nam. Bị Ngự sử Đào Hữu Ích đàn hặc là "tự tiện bắt binh mã đi, giao thông với phủ đệ" nên ông bị cách chức đày đi an trí ở Bình Thuận. Tháng 6 Âm lịch năm 1884 ấy vua Kiến Phúc mất đột ngột.
Theo Nguyễn Văn Xuân thì cái chết này khiến trong và ngoài triều hết sức xôn xao. Ở trong quân lao Bình Thuận, Ông Ích Khiêm hay tin, liền nhịn đói luôn bốn ngày, viết di chúc rồi uống thuốc độc mất. Trong di chúc có câu: "Vua (bị) nhục, thì thần phải chết...(Nay) ta lấy tháng 7 Âm lịch, ngày 19 làm ngày bài tử (ngày chết) vậy". Năm ấy, ông 53 tuổi
18. VÕ DUY NINH
1. Võ Duy Ninh (1804-1859), là vị võ quan cao cấp của nhà Nguyễn đầu tiên đã tuẫn tiết trong cuộc chiến chống lại sự xâm lược của người Pháp tại Gia Định năm 1859. Võ Duy Ninh, sinh tại làng Đại An, xã Hành Phong, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Năm 1834, Minh Mạng thứ 15, ông đỗ Cử nhân khoa Giáp Ngọ, tại trường thi Thừa Thiên. Sau khi đỗ Cử nhân, ông được làm Hành tẩu Bộ lại, Năm 1847, Tự Đức thứ nhất được làm Bố chánh sứ tỉnh Phú Yên. Năm 1848 ông được cử làm Chánh Chủ khảo trường thi Hương, Thanh Hoá. Năm 1852, Tự Đức thứ 5, ông được triều đình điều về làm Tham Tri Bộ Lại. Năm Bính Thìn (1856) ông được bổ nhiệm làm quan Duyệt quyển khoa thi Hội.
Tháng 7 năm Mậu ngọ 1858, Tự Đức thứ 11, thực dân Pháp nổ súng đánh Đà Nẳng. Trong lúc quân triều đình, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương thực hiện cuộc chống trả tương đối có hiệu quả, cầm chân quân Pháp tại Đà Nẵng, thì mẫu thân Võ Duy Ninh mất. Theo quy định của triều đình, ông được về cư tang mẹ 3 tháng. Tháng 11 năm 1858, triều đình cử ông vào Nam Kỳ giữ chức Hộ đốc thành Gia Định. Đầu năm 1859, ông được thăng làm Tổng đốc Định - Biên, cai quản hai tỉnh Gia Định và Biên Hòa. Tuy nhiên, khi ông vừa đến Gia Định nhậm chức Tổng đốc mới vẻn vẹn được hai ngày thì quân Pháp nổ súng tấn công Cần Giờ - Gia Định.
2. Cuộc chiến đấu chống giặc Pháp từ Cần Giờ đến thành Gia Định diễn ra trong gần một tháng trời với ưu thế về vũ khí nghiêng hẳn về phía quân Pháp. Nhận thức được tiềm lực của quân Pháp, một mặt Võ Duy Ninh tìm cách gọi quân cứu viện từ các tỉnh đến cứu thành, một mặt chấn chỉnh đội ngũ và tinh thần binh lính. Khi quân Pháp ồ ạt tiến vào cửa thành, bắn phá các pháo đài dọc sông và tiến thẳng vào thành Gia Định, Võ Duy Ninh đốc thúc quân đội kháng cự dũng mãnh, song không giữ nổi thành trước binh lực mạnh áp đảo của địch. Chỉ sau vài ngày, quân Pháp đã vào được thành. Tổng đốc Võ Duy Ninh cũng trúng đạn trọng thương bất tỉnh.
Ông được quân sĩ cõng về làng Phước Lý thuộc huyện Phước Lộc. Sau khi tỉnh dậy, biết được quân Pháp đã chiếm được thành Gia Định, ông đã rút gươm tự sát vào ngày 17 tháng 2 năm 1859.
19. HOÀNG DIỆU
1. Hoàng Diệu (1828-1882) là một võ quan nhà Nguyễn, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội, khi Pháp tấn công chiếm thành năm 1882. Hoàng Diệu sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho giáo tại làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Sử chép, gia đình Hoàng Diệu có một người đỗ phó bảng, ba người đổ cử nhân, hai người đổ tú tài trong các kỳ thi dưới thời vua Tự Đức. Một trong những hậu duệ của ông hiện tại là nhà toán học Hoàng Tuỵ. Năm 20 tuổi Hoàng Diệu đã đồng đỗ Cử nhân với anh trai Hoàng Kim Giám (khi ấy 23 tuổi) khoa Mậu Thân 1848 trong khoa thi Hương tại Thừa Thiên. Năm Quý Sửu 1853 ông đổ phó bảng khi mới 25 tuổi.
Từ năm 1851, ông được vua Tự Đức bổ nhiệm làm Tri huyện Tuy Phước rồi Tri phủ Tuy Viễn, Bình Định. Năm 1864, xảy ra vụ nổi dậy của Nguyễn Phúc Hồng Tập, con hoàng thân Miên Áo, em chú bác của Hồng Nhậm (tức vua Tự Đức), cùng với một số người khác. Hồng Tập và Nguyễn Văn Viện bị án chém. Hoàng Diệu đến nhậm chức Tri huyện Hương Trà thay Tôn Thất Thanh bị đổi đi nơi khác, bấy giờ có mặt trong lúc hành quyết đã nghe Hồng Tập nói: "Vì tức giận về hòa nghị mới bị tội, xin chớ ghép vào tội phản nghịch". Sau đó các quan Phan Huy Kiệm, Trần Gia Huệ và Biện Vĩnh tâu lên Tự Đức, đề nghị nhà vua nên theo gương Hán Minh Đế thẩm tra lại vụ án.
2. Tự Đức phán là vụ án đã được đình thần thẩm xét kỹ, nay Hoàng Diệu “nói lại lời trăng trối của Hồng Tập” không đúng, bèn quyết định giáng chức Phan Huy Kiệm, Trần Gia Huệ, Biện Vĩnh và Hoàng Diệu. Được phục chức sau vụ "tẩy oan" Hồng Tập, Hoàng Diệu lần đầu ra Bắc năm 1868 làm Tri phủ Đa Phúc; rồi Tri phủ Lạng Giang, Bắc Giang; Án sát Nam Định, Bố chính Bắc Ninh. Trong chín năm ấy, ông lập nhiều quân công, dẹp trộm cướp và an dân, ở đâu ông cũng được sĩ dân quý mến Năm 1873, ông được triệu về kinh đô Huế giữ chúc Tham tri Bộ Hình rồi Tham tri bộ Lại, kiêm quản Đô sát viện, dự bàn những việc ở Cơ Mật Viện.
Năm 1878, đổi làm Tuần phủ Quảng Nam, nhưng vì nguyên Tổng đốc Nguyễn Chính vẫn lưu nhiệm nên ông ở lại Huế làm Tham tri bộ Lại. Đầu năm 1880, ông làm Tổng đốc Hà Ninh, lãnh chúc hàm Thượng thư bộ Binh, kiêm quản cả việc thương chính. Biết rõ dã tâm xâm lược của Pháp, Hoàng Diệu bắt tay ngay vào việc chuẩn bị chiến đấu, kinh lý, biên phòng. Như Đại Nam chính biên liệt truyện đã nêu, tổng đốc Hà Ninh đã "cùng với tổng đốc tỉnh Sơn Tây Nguyễn Hữu Độ dâng sớ nói về việc bố phòng, lại cùng với Nguyễn Đình Nhuận mật tâu về chước phòng vị sẵn". Vua Tự Đức khen. "Nhưng sau đó - như trong di biểu nêu - vua lại trách cứ lưu binh... vì sợ giặc"... "chế ngự không đúng cách" (?)
3. Từ năm 1870 đến 1882, Ông làm Tổng đốc Hà Ninh quản lý vùng trọng yếu nhất của Bắc bộ Hà Nội và phụ cận. Ông đã chỉ đạo quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp. Ngày 25 tháng 4 năm 1882 nhằm ngày 3 tháng 3 năm Nhâm Ngọ thành Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu đã tự vẫn tại Võ Miếu để không rơi vào tay đối phương.
20. TRẦN TIỄN THÀNH
1. Trần Tiễn Thành (1813-1883), là một đại thần triều Nguyễn dưới thời vua Thiệu Trị, và Tự Đức. Ông sinh tại làng Minh Hương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Viễn tổ là Trần Dương Thuần gốc người Phúc Kiễn Trung Quốc. Khi nhà Thanh lên nắm quyền, ông lánh qua Việt Nam, lập nghiệp tại Hương Trà từ nửa sau thế kỷ 17. Cha Trần Tiễn Thành là Trần Bá Lượng làm tri phủ Tân Bình, Gia Định và mất ở đấy lúc Thành mới 11 tuổi (1824). Năm 1838, Trần Tiễn Thành thi đỗ tiến sĩ. Năm thứ nhất Thiệu Trị 1841, Trần Tiễn Thành được bổ làm Viên ngoại bộ Lại, Lang trung bộ Binh, rồi Án sát tỉnh Thanh Hoá.
Năm 1847, vua Tự Đức kế vị, ông làm Thái bộc tự khanh, rồi Biện lý bộ Hộ, Biện lý bộ Lại kiêm quản ấn triện Đại lý tự. Được ít lâu, cất ông làm Bố lý bộ chính sứ ở Gia Định lại chuyển về Thị lang bộ Công sung biện Các vụ. Năm 1855, các dân tộc ở Đá Vách, Quảng Ngãi nổi dậy, Thành được sung làm Tán lý quân vụ. Khi nơi ấy đã tạm yên ổn, ông về Tham tribộ Binh, sung Kiên diên giảng quan. Năm 1961, chuyển ông làm Thượng thư bộ Công, sung đốc phòng cửa biển Thuận An, Thừa Thiên. Khi xong việc, ông chuyễn sang bộ Hộ kiêm Khâm thiên giám sung Cơ mật viện đại thần, rồi đổi sang bộ Binh kiêm quản Viện Tập hiền.
2. Năm 1864, Hải quân trung tá Aubare đến Huế để bàn việc chuộc ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ Trần Tiễn Thành lại được sung làm Khâm sai toàn quyền phó sứ để cùng với Chánh sứ Phan Thanh Giản hội thương. Sau đó, ông được thưởng một chiếc Kim khánh hạng nhì có khắc chữ: Liêm, bình, cần, cán. Bấy giờ, nhà vua muốn chọn người đi xem xét việc quân ở Hải An, Hải Phòng, Trần Tiễn Thành liền xin đi. Trên đường, thấy các cảng đạo ở Thanh Hoá, Nghệ An nhiều chỗ nông lấp, ông xin cho khơi đào và được vua chấp thuận. Lại thấy ở Hải Dương nhân dân đang đói khổ, ông liền tự ý xuất gạo trong kho phát chẩn, rồi mới báo về triều xin nhận tội nhưng được tha.
Năm 1866, Trần Tiễn Thành được thăng thự Biện đại học sĩ, đổi sang bộ Công rồi được sung làm Tổng tài Quốc sử quán. Năm 1872, mẹ mất, ông xin về thọ tang, được nhà vua cấp cho 500 quan tiền. Năm 1873, quân Pháp tiến đánh Bắc Kỳ, các tỉnh là Hà Nội, Hải Dương, Nam Định và Ninh Bình đều thất thủ. Trần Tiễn Thành đề cử Nguyễn Văn Tường ra Hà Nội giải quyết sự việc. Sau khi quân Pháp chịu trả lại các tỉnh thành trên và chịu rút quân, thưởng công tiến cử, Thành được thăng thụ Hiệp biện, tiến thự Văn Minh điện đại học sĩ. Năm 1883, Trần Tiễn Thành, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường được vua Tự Đức cử làm Phụ chính đại thần để giúp việc cho vua mới là Dục Đức.
3. Nhưng chỉ được ba ngày, hai ông Thuyết và Tường lấy cớ vua Dục Đức bị tiên đế chê không xứng đáng nên tôn Lãng quốc công Hồng Dật lên ngôi đặt niên hiệu Hiệp Hoà. Phần Trần Tiễn Thành, thì bị đàn hặc là đã đọc di chiếu mà tự ý bỏ bớt, nên bị giáng hai cấp. Từ đó, ngày nào Trần Tiễn Thành cũng bị ông Tường và ông Thuyết bức bách, nên phải viện cớ có bệnh xin giải chức trở về nhà. Ngày 18 tháng 8 năm 1883, tướng Pháp là Courbet đem hạm đội tới đánh cửa Thuận An, bắt ép triều đình Huế phải ký hòa ước nhận sự bảo hộ của Pháp. Vua Hiệp Hòa chấp thuận. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lúc bấy giờ đang nắm giữ binh quyền tại triều lại muốn "chiến".
Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: “Khi Tường, Thuyết lại mưu phế lập, có ủy người đem nguyên tờ bản thảo nói rõ cùng Tiễn Thành, cốt được (ông) nghe theo. Tiễn Thành bác đi và nói rằng: "phế lập là việc đại sự, sao đề cử luôn thế, ta đã bãi chức về không dám dự". Tường, Thuyết lại rất nghi, ngay đêm hôm ấy Tiễn Thành bị trộm giết chết, người ta đều ngờ có người sai khiến, mà không dám nói...
4. Sử gia Trần Trọng Kim viết trong Việt Nam sử lược: “Trong Huế thì vua Hiệp Hòa cũng muốn nhận chính sách bảo hộ để cho yên ngôi vua, nhưng các quan có nhiều người không chịu, và lại thấy Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chuyên chế thái quá, muốn dùng kế mà trừ bỏ đi, bèn đổi Nguyễn Văn Tường sang làm Binh bộ Thượng thư, Tôn Thất Thuyết làm Lại bộ Thượng thư, để bớt binh quyền của Tôn Thất Thuyết. Hai người thấy vua có lòng nghi, sợ để lâu thành vạ, bèn vào tâu với bà Từ Dụ Thái hậu để lập ông Dưỡng Thiện là con nuôi thứ ba vua Dực Tông, rồi bắt vua Hiệp Hòa đem ra phủ ông Dục Đức cho uống thuốc độc chết.
Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã giết vua Hiệp Hòa rồi, lại thấy quan Phụ chính Trần Tiễn Thành không theo ý mình, cũng sai người giết nốt.
21. NGUYỄN VĂN TƯỜNG
1. Nguyễn Văn Tường (1824-1886) là một đại thần triều Nguyễn dưới thời vua Tự Đức. Ông xuất thân từ một gia đình lao động nghèo ở xã An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Vào năm 1842 Thiệu Trị thứ 2 tại trường thi Thừa Thiên, sĩ tử Nguyễn Phước Tường đỗ tú tài, nhưng lại trùng tên với quốc tính. Sĩ tử này lại không chịu đổi. Do đó, người tú tài tân khoa phải bị gạch tên trúng tuyển, và bị tội đồ một năm. Tám năm sau, năm 1850, Tự Đức thứ 3 cũng tại kỳ thi Hương, Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép: "Nguyễn Văn Tường, nguyên tên là Nguyễn Phước Tường; vì tên trùng với quốc tính, không chịu đổi, nên bị đi đày, hết hạn lại được phục hàm cử nhân".
Sau khi đậu cử nhân, Tường dự thi hội, đạt đủ phân số điểm để được bổ nhiệm, ông vào huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi nhận chức huấn đạo (phụ trách việc dạy và học). Năm 1853, huyện Thành Hóa, thuộc tỉnh Quảng Trị mới thành lập. Ông được bổ làm tri huyện ở đó cho đến 9 năm sau. Thành Hóa là một nơi xung yếu, "hậu lộ của kinh đô", chỉ những người được tin cậy mới được giao trọng trách, nhất là trong thời điểm Pháp đã tấn công Đà Nẵng, Gia Định. Tại đây, ông đã xây dựng được một căn cứ địa tốt cho Huế. Ông lại chứng tỏ là một người rất có tâm và tài trong việc đoàn kết người Thượng với người Kinh.
2. Năm 1862, ông vào kinh đô Huế giữ chức biện lí Bộ Binh, rồi vào Quảng Nam làm án sát. Năm 1864, vì cần có vị quan giỏi để điều hành "điểm nóng" mâu thuẫn lương - giáo, ông được chuyển đổi làm phủ doãn kinh đô (tỉnh Thừa Thiên và đạo Quảng Trị). Năm 1866, do cuộc khởi nghĩa Chày vôi nổ ra trong phạm vi quản lí, ông bị cách chức. Từ 1866 đến 1868, Nguyễn Văn Tường trở lại huyện Thành Hóa, với chức trách bang biện (tham mưu), tiếp tục xây dựng căn cứ địa Thành Hóa (Tân Sở). Trong hai năm này, ông lại được cấp ấn quan phòng với quyền được trực tiếp tâu lên vua những việc thực thi cụ thể cùng những kiến nghị rộng lớn.
Cũng trong năm Đinh Mão 1867, mặc dù đang ở huyện Thành Hóa, ông vẫn được triều đình và vua Tự Đức điều động vào sứ bộ để vô Gia Định đàm phán với Pháp. Đặc biệt, năm sau, khi sứ bộ dự định đi Paris, ông có viết một bản tấu nổi tiếng, thể hiện tư tưởng "phòng thủ chủ chiến", phê phán "ảo tưởng hòa nghị". Từ tháng 7 năm Mậu Thìn 1868, Nguyễn Văn Tường với chức tán tương quân thứ, đứng vào hàng ngũ các quan tướng chỉ huy 3 đạo quân hùng hậu nhất của triều Nguyễn, tiến ra Bắc tiễu phỉ. Suốt 5 năm trời, ông là một quan văn cầm gươm từng trải trận mạc, đồng thời là một nhà ngoại giao trong nhiệm vụ thương thuyết, phối hợp với quân binh nhà Thanh tiễu trừ thổ phỉ.
3. Đây cũng là thủ đoạn các quân thứ Đại Nam nhằm thu phục Lưu Vĩnh Phúc, chủ tướng quân Cờ Đen, và tiêu diệt quân Cờ Vàng, Cờ Trắng để cùng hợp lực chống Pháp. Việc tiễu phỉ ở phía Bắc đang tiến hành, thì Pháp lại dùng thủ đoạn "buôn bán" vũ khí cho bọn phỉ để nuôi dưỡng chúng, nhằm làm tiêu hao sinh lực và ý chí của triều đình Đại Nam. Vì vậy, năm 1873 ông được điều động vào phái bộ, do Lê Tuấn làm chánh sứ, vô Gia Định thương lượng với thực dân Pháp. Cuộc đàm phán kéo dài, bởi triều đình và sứ bộ Đại Nam không chịu nhân nhượng Pháp. Tướng Pháp Dupré cử Đại uý Francis Garnier ra đánh chiếm Bắc Kỳ để làm sức ép.
Thành Hà Nội cùng các thành tỉnh lân cận bị thất thủ. Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết. Tuy quân của Lưu Vĩnh Phúc chém được Francis Garnier, Pháp chịu trả Hà Nội và các tỉnh đã chiếm, nhưng tình thế buộc triều đình phải nhân nhượng, Nguyễn Văn Tường ra Bắc Kỳ thu hồi xong bốn tỉnh, lại phải vào Gia Định để cùng Lê Tuấn, Nguyễn Tăng Doãn tiếp tục bàn định các điều khoản, cuối cùng ký Hoà ước Giáp Tuất 1874 và một thương ước khác. Năm 1874, ông giữ chức Thượng thư Bộ Hình kiêm Thương bạc đại thần tại kinh đô Huế. Không lâu sau ông được bổ sung vào Việ cơ mật. Từ thời điểm này, Nguyễn Văn Tường là một trọng thần tại triều.
4. Chức vụ ông giữ lâu nhất là Thượng thư Bộ Hộ, quản lí Thương bạc viện. Ông còn là người có công cải cách thuế ruộng đất, thiên về tầng lớp nông dân nghèo. Năm 1883, vua Tự Đức băng hà, trong tình hình Bắc Kỳ đang bị thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Đại tá Pháp, Henri Rivière bị bị giết trong một trận đánh do Hoàng Kế Viêm làm tổng chỉ huy, Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp cầm quân, kinh đô Huế lại đứng trước nguy cơ bị tấn công. Và Thuận An, cửa ngõ của kinh đô, đã bị thất thủ. Cùng với Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường lần lượt lập rồi phế bỏ 2 vua Dục Đức, Hiệp Hoà, nhằm mục đích đưa lên ngai vàng một vị vua yêu nước, quyết chiến với thực dân Pháp.
Bấy giờ, quân Thanh đã sang đất Bắc Kỳ giúp Đại Nam đánh Pháp, nhưng trong thâm tâm, nhà Thanh lại mưu mô quy phục Lưu Vĩnh Phúc, cùng với Pháp chia đôi Bắc Kỳ thành "Bắc Kỳ mỏ" và "Bắc Kỳ gạo", lấy sông Hồng làm ranh giới. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thực hiện kế sách quân sự "tọa sơn quan song hổ đấu", thúc đẩy chiến tranh giữa Pháp và Hoa nổ ra, còn triều đình Huế đứng vào thế trung lập. Nhưng, triều đình nhà Thanh lại kí Hoà ước Thiên Tân với Pháp, cô lập hoàn toàn triều đình Huế. Triều đình Huế của Ấu vương Kiến Phúc bị bắt buộc phải kí Hoà ước Giap Thân 1884 còn gọi là Hòa ước Patenôtre.
5. Trong tình thế ấy, hai vị phụ chính đại thần vẫn cố gắng tiếp tục thúc đẩy chiến tranh Pháp - Hoa tiếp diễn, nhằm làm suy yếu lực lượng cả Pháp lẫn Hoa và tranh thủ thời gian để xây dựng cơ sở cho phong trào Cần Vương. Một loạt sơn phòng được củng cố, xây dựng, gồm cả "hậu lộ kinh đô", Tân Sở, Cam Lộ, Quảng Trị. Đích thân Nguyễn Văn Tường chỉ đạo xây dựng "kinh đô kháng chiến" hoặc "kinh đô tị địa" này. Vua Kiến Phúc lại không may mắc bệnh, băng hà. Ngày 12 tháng 6 năm Quý Mùi 1884, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng Tôn nhân phủ, đình thần lập Nguyễn Phúc Ưng Lịch lên ngôi vua, hiệu Hàm Nghi.
Hai vị phụ chính cùng các thành viên nhóm chủ chiến là Trần Xuân Soạn và Trương Văn Để .. đã có một vị minh quân để tiếp tục đương đầu với Pháp, và với bộ phận khá lớn giáo dân Thiên Chúa, bị các cố đạo phỉnh gạt, cầm súng, đào hào, tiếp tế lương thực cho Pháp. Tướng De Courcy được cử sang, với mục đích hoàn tất việc chiếm trọn Bắc Kỳ và bắt đầu tấn công chiếm cứ kinh đô Huế. Câu nói của De Courcy, hầu như ai cũng biết, "cần phải giải quyết việc này ở Huế"; và ông ta đã vạch kế hoạch bắt sống hoặc tiêu diệt nhóm chủ chiến triều đình Huế, đứng đầu là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.
6. Ngày 23 tháng 5 âm lịch, Ất Dậu, Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc tấn công vào Sứ quán Pháp (toà Khâm sứ) bên kia sông Hương, và doanh trại Pháp tại Mang Cá (Huế), như một đòn đánh trước để giành thế thượng phong, nhưng thất bại. Nguyễn Văn Tường cho người rước vua Hàm Nghi và Tam cung (thái hoàng thái hậu Từ Dũ, Trung phi Vũ thị, Học phi Nguyễn thị) ra khỏi kinh thành, đưa ra thành Quảng Trị, rồi lên Tân Sở để tránh đạn Pháp, và phát Dụ Cần vương. Thực thi kế sách "kẻ ở người đi" (đàm và đánh), nên Tường quay lại điều đình với Pháp. Ông nhờ giám mục Caspar giáo đường Kim Long đưa sang Sứ quán để gặp tướng De Courcy.
Sau khi De Courcy buộc Nguyễn Văn Tường ban bố một vài lệnh lạc "hòa hảo giữa hai nước Việt - Pháp", ông ta lại ra thời hạn cho Nguyễn Văn Tường: trong vòng hai tháng phải tìm cách để đưa vua Hàm Nghi và Tam cung về. Nguyễn Văn Tường phái Phạm Hữu Dụng cầm sớ ra Quảng Trị, tâu xin rước vua về, nhưng Tôn Thất Thuyết cản sớ không cho vua biết. Nguyễn Văn Tường lại viết sớ vấn an Tam cung, và đệ trình về việc Tam cung tạm về Khiêm lăng (lăng Tự Đức) trong khi chờ vụ việc được giải quyết.
7. Trong hai tháng đó, Nguyễn Văn Tường hoàn toàn bị Pháp quản thúc ngay tại Sở Thương bạc, do một trung đội lính viễn chinh thuộc Pháp canh giữ, sĩ quan Schmitz chỉ huy. Tuy ở trong thế bị quản thúc nghiêm ngặt, Nguyễn Văn Tường vẫn đấu tranh hết sức gay gắt với nhóm người "đón gió xoay buồm", trực diện là với Nguyễn Hữu Độ trong việc phong chức hàm cho Độ làm "Phó vương" tại Bắc Kỳ, thành lập Nha Kinh lược tại đấy, mà thực chất là mất hẳn Bắc Kỳ vào tay Pháp và các cố đạo như Puginier.Hết hạn hai tháng, đúng vào ngày 27 tháng 7 Ất Dậu 1885, Pháp ra lệnh bắt Nguyễn Văn Tường, tạm giam tại Côn Đảo, sau đó lưu đày sang tận Tahiti...
Bấy giờ, triều Đồng Khánh, dưới sự chỉ đạo của De Courcy, đã "xử án vắng mặt" nhóm chủ chiến triều đình Huế. Bản án chung thẩm, công bố vào tháng 8 âm lịch Ất Dậu (tháng 9 năm 1885):”tôn nhân phủ và đình thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham tri Trương Văn Đễ đã quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, thì Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và chém ngay, để tỏ rõ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo”.
Lúc khoảng 4 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 7 năm 1886 tại Papeete, một làng trên quần đảo thuộc địa Tahiti của Pháp, Nguyễn Văn Tường mất vì bệnh ung thư cổ họng. Sau một vài tháng quàn giữ, di thể ông được Tôn Thất Đính đưa về Đại Nam.
22. TÔN THẤT THUYẾT
1. Tôn Thất Thuyết (1839-1913) là một phụ chính đại thần triều Nguyễn dưới thời vua Tự Đức. Ông là một trong những quan nhà Nguyễn chống Pháp tiêu biểu nhất, cùng vua Nghi phát động phong trào Cần Vương. Ông sinh tại làng Phú Mộng, phường Kim Long, thành phố Huế. Ông là con thứ hai của Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu, cũng là cháu 5 đời của chúa Hiền vương Nguyễn Phúc Tần. Năm 30 tuổi 1869, Tôn Thất Thuyết giữ chức Án sát tỉnh Hải Dương. Đến tháng 7 năm 1870, được sung làm Biện lý bộ Hộ, rồi tháng 11 giúp tổng thống quân vụ đại thần Hoàng Kế Viêm "dẹp loạn" ở các tỉnh phía Bắc.
Sau chiến dịch này, Tôn Thất thuyết được phong chức "Quang lộc tự khanh" và làm Tán lý thứ quân Thái Nguyên. Kể từ đây, ông chuyên hoạt động quân sự và nổi tiếng dần qua các cuộc đánh dẹp loạn quân chống lại triều đình Huế. Tháng 12 năm 1870, ông chỉ huy đánh dẹp nhóm Đặng Chí Hùng ở Thái Nguyên. Tháng 3 năm 1872, ông cùng Trương Văn Để đánh tan quân Tàu Ô ở Hải Dương, giết chết Hoàng Tề. Tháng 8 năm 1872, ông đánh thắng toán giặc Khách ở Quảng Yên. Tháng 12 năm 1873, ông cùng Hoàng Kế Viêm phục binh tại Cầu Giấy Hà Nội giết chết viên chỉ huy quân sự trong đợt Pháp đánh miền Bắc lần thứ nhất là đại úy Francis Garnier.
2. Tháng 7 năm 1874, ông cùng Hoàng Kế Viêm đàn áp 2 cuộc nổi dậy của hai sĩ phu Trần Tấn và Đặng Như Mai. Tháng 3 năm 1875, ông dập tắt được khởi nghĩa ở Cổ Loa, Đông Anh bắt chém thủ lĩnh tại trận. Tháng 6 năm 1875, bức hàng nhóm Dương Đình Tín ở Thái Nguyên. Tháng 9 năm 1875, bắt sống được tướng quân Cờ Vàng là Hoàng Sùng Anh ở Thái Nguyên. Với hàng loạt công lao như vậy nên Tôn Thất thuyết được vua Tự Đức cho thăng tiến nhanh. Tháng 3 năm 1872, ông được bổ làm Bố chính tỉnh Hải Dương. Năm 1873 làm Tham tán Đại thần hàm Thị lang Bộ binh, rồi lên thự Tham tri Bộ binh.
Tháng 3 năm 1874 vẫn là Tham tán Đại thần nhưng Tôn Thất Thuyết được phong là Hữu tham tri Bộ binh, tước Vệ Chính Nam. Tháng 4 năm 1874, ông giữ chức Tuần Vũ tỉnh Sơn Tây kiêm Tham tán Đại thần. Tháng 3 năm 1875 ông là thự Tổng đốc Ninh-Thái kiêm Tổng đốc các việc quân Ninh-Thái-Lạng-Bằng. Đến tháng 10 năm 1875 lại được bổ làm Hiệp đốc quân vụ Đại thần, chức tước gần ngang với Tổng thống quân vụ Đại thần Hoàng Kế Viêm. Với thắng lợi vào năm 1881, Tôn Thất Thuyết được phong chức Thượng thư bộ Binh và sang tháng 2 năm 1882, ông kiêm thêm chức Hải phòng sứ Kinh thành Huế.
3. Năm 1883, Tôn Thất Thuyết chính lãnh chức Thượng thư Bộ binh và sau đó được cử vào Cơ mật viện vào tháng 6 năm 1883. Ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức đã triệu tập một số đại quan để chứng kiến việc ký di chúc truyền ngôi cho Hoàng tử Ưng Chân, đồng thời phong cho Tôn Thất Thuyết Đệ tam Phụ chính đại thần. Vua Tự Đức nhận xét Tôn Thất Thuyết: "có tài dụng võ, nhưng thiếu lương thiện, không trung thực và hay trốn trách nhiệm. Học hành kém, không nhất quán, nhát gan, đa nghi, dễ làm mất lòng người khác. Hắn phải học nhiều thêm để trở thành một người quân tử".
Với chức vụ Phụ chính đại thần, cùng Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đã làm nhiều điều tàn ác: phế lập và giết chết các vua Dục Đức, Hiệp Hoà; khuynh đảo các vua Kiến Phúc, Hàm Nghi; Tôn Thất Thuyết còn được cho lính Thân nghĩa đến tận nhà đâm chết Phụ chính Đại thần Trần Tiến Thành do không tán thành âm mưu phế lập ngôi Vua của Thuyết. Làn không khí khủng bố bao trùm khắp Kinh thành Thuận Hoá. Tôn Thất Thuyết đã trở thành cái gai mà người Pháp muốn nhổ bỏ. Tôn Thất Thuyết phải ra tay trước, bằng cuộc tấn công vào Toà Khâm sứ Pháp, và đồn Mang Cá vào đêm 4 tháng 7 năm 1885, nhưng nhanh chóng bị thất bại.
4. Ông đã đưa vua Hàm Nghi ra Sơn Phòng Quảng Trị, thay mặt vua hạ chiến Cần Vương. Mặc cho ba bà Thái hậu và nhiều quan lại kêu gọi quay về triều đình, Tôn Thất Thuyết vẫn tuyên bố: "Về Huế là tự mình đưa chân vào cho ngục thất, mà người cầm chìa khoá là quân Pháp. Thừa nhận Hiệp ước 1884 là dâng nước Nam cho kẻ địch. Đành rằng hoà bình là quý, nhưng không lo khôi phục sẽ mang tiếng là đã bỏ giang sơn của tiền triều dày công gây dựng và còn có tội với hậu thế". Tháng 2 năm 1886, Tôn Thất Thuyết đã để cho hai con trai của mình là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm tiếp tục duy trì "triều đình Hàm Nghi" chống Pháp.
Tôn Thất Thuyết cùng với Trần Xuân Soạn và Nguỵ Khắc Kiều tìm đường sang Trung Quốc cầu viện. Điểm dừng chân lâu nhất của ông là vào tháng 6 năm 1886 tại nhà tù trưởng người Thái là Đèo Văn Tri. Ông đến Quảng Đông tháng 2 năm 1887. Việc cầu viện của Tôn Thất Thuyết bất thành nhưng ông đã dựa vào tình cảm cá nhân của một số quan lại Mãn Thanh chống Pháp nên Tôn Thất Thuyết đã cùng các đồng sự của ông tổ chức liên lạc với các cuộc chống Pháp bên trong nước, mua sắm vũ khí, đạn dược về cho nghĩa quân. Những năm 1892 - 1895, do bị mất liên lạc trong nước.
5. Và từ năm 1895, chiến tranh Trung - Nhật nổ ra, người Pháp yêu cầu nhà Mãn Thanh quản thúc Tôn Thất Thuyết, ông bị cấm túc, không được ra khỏi nơi cư trú. Triều đình Mãn Thanh trợ cấp cho ông mỗi tháng 60 lạng bạc để hưu trí. Trong những năm cuối đời, ông thường nổi cơn điên dại, múa gươm, chém vào những tảng đá trong vườn. Tính khí thất thường của ông, khiến những người theo ông dần bỏ về Việt Nam hết. Do cô quạnh, năm 1899, Tôn Thất Thuyết tái giá với một bà góa người Trung Quốc, lúc ông 60 tuổi.
Nhân dân vùng Long Châu, Quảng Đông, Trung Quốc nơi ông cư trú, gọi ông là "Đả thạch lão" ("Ông già chém đá"). Ông mất tại Trung Quốc vào ngày 22 tháng 9 năm 1913.
23. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
1. Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), sinh trong một gia đình theo đạo Thiên chúa tại làng Bùi Chu, Hưng Yên, Nghệ An. Cha là Nguyễn Quốc Thư, một thầy thuốc Đông y, nhưng mất sớm. Nguyễn Trường Tộ học chữ Hán với cha và các thầy ở trong vùng. Ông dạy chữ Hán tại nhà, và ở Nhà chung Xã Đoài, Nghi Diên, Nghi Lộc, Nghệ An. Tại đây, ông được Giám mục người Pháp tên là Gauthier dạy cho học tiếng Pháp. Cuối năm 1858, ông đi cùng Giám mục Gauthier vào Đà Nẳng tránh nạn "bị bức hại". Đầu năm 1859, Giám mục Gauthier đưa ông sang Hương Cảng, và vài nơi khác...
Đầu tháng 12 năm 1861, chiến tranh Pháp-Trung Quốc kết thúc, Giám mục Gauthier dẫn Nguyễn Trường Tộ đi theo Đô đốc Léonard Charner đem quân về Sài Gòn mở rộng vùng chiếm đóng. Tộ làm "từ dịch". Đô đốc Louis-Adolphe Bonard sang thay Đô đốc Léonard Charner tiếp tục mở rộng cuộc chiến. Nguyễn Trường Tộ xin thôi việc, đến đầu tháng 5 năm 1863, thì ông đã thảo xong 3 bản điều trần gửi lên Triều đình Huế là: "Tế cấp luận", "Giáo môn luận" và "Thiên hạ phân hợp đại thế luận".
2. Trong đó, Nguyễn Trường Tộ nhận định: Ngày nay các nước phương Tây đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là không bị chẹn họng bám lưng. Nước Nga thì từ Tây Bắc đến Đông Nam gồm tất cả các nước Đại Uyển, Cốt Lợi Cán, Mông Cổ và các xứ ở Bắc Mãn Châu, không đâu là không chiếm đất và nô dịch dân những nơi đó. Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời, mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân đến, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ”.
Lúc nầy (1863) thì quân nổi loạn của Cố đạo Trường, và Tạ Văn Phụng đang đánh mạnh ở Bắc Kỳ, cố cầm chân quân Triều đình để quân Pháp rãnh tay đánh chiếm Nam Kỳ. Là người đã từng gần gũi với các giáo sĩ Pháp và làm việc cho quân Pháp, Nguyễn Trường Tộ sợ Triều đình nghi ngờ mình, nên thảo thêm bài "Trần tình" để giải bày tâm tư, hoàn cảnh của mình. Đầu năm 1864, ông lại gửi cho đại thần Trần Tiễn Thành một bản điều trần khác, thuyết phục Triều đình Huế tạm hòa với Pháp. Khoảng cuối năm 1864 cho đến đầu năm 1865, Nguyễn Trường Tộ đã gửi thêm 5 bản điều trần: 3 cho Trần Tiễn Thành, và 2 cho Phạm Phú Thứ, để nhờ tâu lên vua và Triều đình.
3. Hai văn bản gửi cho ông Thứ, vì chưa tìm thấy nên không rõ nội dung. Còn ba văn bản gởi cho ông Thành, thì có thể là các bài: "Góp ý về việc mua và đóng thuyền máy" (cuối 1864),"Góp ý về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy" (tháng 2 năm 1865) và "Khai hoang từ" (tháng 2 năm 1866. Nguyễn Trường Tộ được triệu về Huế để àn thảo cách giải quyết vụ tàu London. Về vụ việc này, sách Đại Nam thực lục kể đại ý như sau: "Trước đây, Hoàng Văn Xưởng đi Hương Cảng có đặt mua tàu London. Không ngờ bị Phô Na (chủ hãng tàu) lừa dối, tàu đã cũ nát, chưa đi tới nơi thì đã bị sóng gió làm hư hại. Sau khi sửa chữa ở Gia Định, họ đưa tàu đến cửa Thuận An, Huế bắt phải mua...
Nguyễn Trường Tộ đệ trình lên cách giải quyết, nhưng không được thi hành ông có vẽ chán nản, nên ngày 10 tháng 4 năm 1866, Tộ xin về Nghệ An. Trong bức thư đề ngày 15 tháng 6 năm 1866, từ Nghệ An gửi Trần Tiễn Thành thì tâm trạng của Nguyễn Trường Tộ khá u uất, vì ông nóng lòng việc canh tân đất nước, vì thấy vua và một số quan lại bảo thủ hãy còn nghi kỵ mình... Ông cũng báo tin cho Triều đình việc Giám mục Gauthier nhận lời đi Pháp để mua các thứ cần thiết về mở trường kỹ thuật ở Huế. Ngày 17 tháng 8 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ, Giám mục Gauthier và Linh mục Nguyễn Điều tới Huế. Ngày 15 tháng 9 họ vào Sài Gòn chờ tàu đi Pháp.
4. Trong thời gian lưu lại, hai ông đã có những cuộc tiếp xúc với Đô đốc Lagrandière và Lãnh sự Tây Ban Nha để nắm tình hình theo yêu cầu của Triều đình. Nguyễn Trường Tộ đã có 6 bản báo cáo gởi về Huế, chỉ ra cho Triều đình thấy có sự khác nhau giữa ý đồ của của Pháp soái (tức Đô đốc Lagrandière) ở Sài Gòn, và chính sách của chính phủ ở Pháp. Rằng, Pháp soái thì muốn bằng mọi cách thôn tính hoàn toàn sáu tỉnh Nam Kỳ, và áp đặt trên phần đất còn lại của Việt Nam một Hiệp ước bảo hộ; trong khi ấy ở chính quốc, thì có nhiều dư luận chống đối các cuộc phiêu lưu quân sự ở các vùng đất xa xôi. Ngày 10 tháng 1 năm 1867, Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ đáp tàu L’orne đi Pháp.
Trong 8 tháng ở đây, họ đã mua sách vở, dụng cụ, máy móc...để lập trường học kỹ thuật ở Huế. Tháng 10 năm 1870, năm Tự Đức thứ 23, Nguyễn Trường Tộ gửi thư lên Triều đình đề nghị, lập lãnh sự Pháp ở Sài Gòn, và sứ quán Đại Nam ở Pháp, cử sứ đi các nước để nắm tình hình. Đầu tháng 11 năm đó, ông lại xin được vào Nam tổ chức đánh úp quân Pháp để thu hồi 6 tỉnh Nam Kỳ, nhân lúc Pháp đang thua Phổ và Cách mạng Pháp đang nổi dậy.
5. Ngày 28 tháng 12 năm 1870, trong bản tấu của Viện Cơ mật dâng lên vua Tự Đức có đoạn:..."Bọn thần tuân phụng xét duyệt các khoản mật trần của Nguyễn Trường Tộ thấy y cũng có lòng với ta, và chính lúc này là lúc có thể thừa cơ hội được. Ý kiến của bọn thần cũng đồng với các lý lẽ của thần Trần Tiễn Thành tâu xin. Nhưng xét vì đây là việc quân quốc quan trọng sự cần phải bàn thảo kín đáo kỹ lưỡng mới bảo đảm không nguy hiểm trở ngại sau này. Nay bọn thần chưa giáp mặt y bàn tính mà đã nội giao cho y qua các nước thám sát những việc cần phải làm, lỡ ra có chỗ nào chưa được chu đáo, sợ sẽ sinh trở ngại. Vậy xin cho Bộ Lễ lấy lý do phái đem người qua Tây học tập, khẩn tư cho tỉnh thần Nghệ An lập tức cấp ngựa, sức y lên kinh ngay để bọn thần ở Viện Cơ mật và Toà Thương Bạc đối diện hỏi bọn y xem suy tính cơ nghi như thế nào cho được chu thỏa. Bọn thần sẽ suy nghĩ chín chắn đôi ba lần và phúc tâu đầy đủ. Vậy dám xin có lời tâu bày, đợi chỉ tuân hành."
Đầu năm 1871, ông nhận được lệnh cấp tốc về Huế với lý do "đưa học sinh đi Pháp", nhưng kỳ thực là để bàn bạc với Viện Cơ mật của vua Tự Đức về phương lược quân sự và ngoại giao mà ông đã trình bày trong các văn bản gởi cho Triều đình cuối năm 1870. Nhưng, Triều đình Huế bàn đi tính lại mà không đi đến được một quyết định nào: Sứ bộ không được cử đi các nước, kế hoạch đánh úp Pháp để thu hồi 6 tỉnh ở Nam Kỳ cũng không được thực hiện... Sau mấy tháng ở Huế, có thể là vì không có việc gì để làm, hoặc có thể vì bệnh cũ tái phát, Nguyễn Trường Tộ đã xin phép trở về Xã Đoài (Nghệ An), và đến ngày 22 tháng 11 năm 1871 thì đột ngột từ trần, lúc ông đang ở tuổi 41 tuổi.
6. Xin lưu ý: Nguyễn Trường Tộ không phải quan lại của Vương triều nhà Nguyễn. Nhưng khi viết về Vương triều nhà Nguyễn, chúng tôi thấy giữa Nguyễn Trường Tộ và Tạ Văn Phụng có một cái gì đó TƯƠNG ĐỒNG: Tộ và Phụng đều sinh ra trong một gia đình theo đạo Thiên chúa. Phụng được một giáo sĩ Pháp đưa ra nuôi dạy ở nước ngoài, sau theo đoàn quân viễn chinh Pháp về đánh Quảng Nam. Còn Tộ thì đầu năm 1859, Giám mục Gauthier đưa sang Hương Cảng, và vài nơi khác... Đầu tháng 12 năm 1861, Cố đạo Trường và Phụng nổi dậy chống triều đình ở đất Bắc, thì Tộ cùng với Giám mục Gauthier theo Đô đốc Léonard Charner đem quân về Sài Gòn mở rộng vùng chiếm đóng ở Nam Bộ... Trong khi quân Pháp đánh mạnh ở Nam Bộ, Tạ Văn Phụng đánh chiếm nhiều nơi ở đất Bắc, thì Nguyễn Trương Tộ viết những bản điều trần lên Triều đình Huế, Tộ viết: “.... ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ”..
Theo nhà Sử học Phạm Văn Sơn thì, riêng cuộc nổi dậy của Tạ Văn Phụng đã khiến triều Tự Đức phải dốc toàn lực để đàn áp bằng binh hùng tướng mạnh. Tính ra từ năm 1861 đến 1865, Tạ Văn Phụng đã làm cho vua quan nhà Nguyễn hao tổn tinh thần và tổn hại biết bao sinh mạng cùng tiền tài mới bắt sống được ông ta”. Còn sử gia Trần Trọng Kim thì cho rằng “chính Tạ Văn Phụng là một trong số nguyên nhân đã góp phần làm cho nhà vua phải vội vã sai Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia Định giảng hoà với thực dân Pháp.
B. THỜI KỲ PHỤ THUỘC NƯỚC PHÁP.
Và, 10 vị quan lại tiêu biểu trong “thời kỳ thuộc trị nước Pháp” là: Nguyễn Thân; Nguyễn Hữu Bài; Ngô Đình Khả; Ngô Đình Khôi; Ngô Đình Diệm; Phạm Quỳnh; Thái Văn Toản; Hồ Đắc Khải; Bùi Bằng Đoàn; và Phạm Khắc Hoè.
1. NGUYỄN THÂN.
1. Nguyễn Thân (1854-1914) là võ quan nhà Nguyễn và là cộng sự đắc lực của thực dân Pháp vào những năm cuối thế kỷ 19 tại Việt Nam. Nguyễn Thân gốc ở làng Thạch Trụ, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngaic. Cha là Nguyễn Tấn, một võ quan triều Tự Đức, nhờ dùng mưu kế, thu phục được các sắc dân ở Đá Vách, Quảng Ngãi, nên dân địa phương tôn ông làm "thần tướng". Về sau, các bộ tộc này lại nổi dậy, vua Đồng Khánh sai Nguyễn Thân đi đánh dẹp, biết ông là con của "thần tướng", họ lui quân. Lập được công, Nguyễn Thân trở nên nổi tiếng. Trước đó, khi Phong trào Cần vương khởi phát, Nguyễn Thân tham gia Nghĩa hội Quảng Ngãi, Thân phản lại Nghĩa hội, phục vụ vua Đồng Khánh.
Tháng 7 năm 1885, vua Đồng Khánh sai Nguyễn Thân đem quân đàn áp cuộc khởi nghĩa ở Quảng Ngãi do Lê Trung Đình và Nguyễn Tư Tân chỉ huy, cuộc khởi nghĩa ở Bình Định 1885-1187) do Mai Xuân Thưởng lãnh đạo. Kể từ đó, Nguyễn Thân trở thành một tướng lĩnh quan trọng của triều vua Đồng Khánh đồng thời là cộng sự đắc lực, rất được Pháp tin cậy. Chiến công nổi bậc của Thân là tháng 8 năm 1886 đánh dẹp cuộc kháng Pháp của Bùi Điền. Năm 1887, đánh vào Quảng Nam dẹp phong trào kháng Pháp của Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến. Nhờ các hiến công nầy, Thân được Pháp thưởng Bắc đẩu bội tinh đẹ ngũ.
2. Năm 1888, triều đình Huế phong chức Binh bộ Thượng thư, kiêm Tổng đốc Bình Định. Tại đây, Nguyễn Thân cho lính đàn áp các cuộc nổi dậy, được Pháp thưởng Bắc đẩu bội tinh tứ hạng. Năm 1895, Thân lĩnh chức Khâm mạng tiết chế quân vụ, đem ba ngàn quân ra Hà Tỉnh lùng diệt cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Ở đây, Nguyễn Thân đã cho quật mồ Phan Đình Phùng, đổ dầu đốt cho xương thịt ông cháy thành tro, rồi trộn vào thuốc súng bắn xuống sông La. Với công lao này, Nguyễn Thân được cử làm phụ chính đại thần, và được phong tước Diên Lộc Quận công. Nguyễn Thân về hưu đến ở làng Thu Xà, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi. Về sau mắc bệnh điên mà chết.
2. NGUYỄN HỮU BÀI.
1. Nguyễn Hữu Bài (1863-1935) là đại thần nhà Nguyễn. Ông sinh tại làng Cao Xá, tổng Xuân Hòa, phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Khi nhỏ ông học trường do tu sĩ Pháp giảng dạy. Vào thời Trung Kỳ bị "bảo hộ", triều đình Huế cần người biết tiếng Pháp để giúp việc tại Nha Thương-bạc Huế, Nguyễn Hữu Bài cùng nhiều tu sĩ khác được tuyển dụng. Năm 1908, Nguyễn Hữu Bài lãnh chức Thượng thư bộ Công. Khi Khâm sứ Pháp Mahé đề nghị đào vàng bạc chôn ở lăng vua Tự Đức, Nguyễn Hữu Bài nhất quyết phản đối. Năm 1923, ông được thăng Thái phó, Võ hiển điện Đại học sĩ, Cơ mật Viện trưởng đại thần.
Sau đó ông được giữ chức Thượng thư Bộ Lại. Năm 1933, vua Bảo Đại cải cách triều đình cách chức một lúc 5 Thượng thư các Bộ: Lại, Hình, Binh, Lễ, Công, nhường chỗ cho những người thông thạo học vấn phương Tây. Nguyễn Hữu Bài trong số những người bị bãi chức. Sự kiện này khiến hà thơ Nguyễn Trọng Cảnh ghi lại bằng bài thơ Đường luật, có chơi chữ tên 5 vị quan các bộ bị bãi chức ở từng câu tương ứng: Năm cụ khi không rớt cái ình; Đất bằng sấm dậy giữa thần kinh; Bài không đeo nữa xin dâng lại; Đàn chẳng ai nghe khéo dở hình; Liệu thế không xong binh chẳng được; Liêm đành chịu đói lễ đừng rinh; Công danh như thế là hưu hỉ; Đại sự xin nhường lớp hậu sinh.
2. Ngày 10 tháng 7 năm 1935, Nguyễn Hữu Bài đến dự lễ tấn phong của giám mục Hồ Ngọc Cẩn. Sau buổi tiệc, ông bị cảm. Khâm sứ Graffeuil, Quản đốc Y tế Bác sĩ Terrisse, Công sứ Quảng Trị Alérini đến Phước Môn thăm. Khi thấy bệnh tình ông có vẻ trầm trọng, đưa ông vào nhà thương Huế điều trị. Nguyễn Hữu Bài qua đời ngày 28/7/1935 tại tư gia Phú Cam, Huế. Thọ 73 tuổi.
3. NGÔ ĐÌNH KHẢ.
1. Ngô Đình Khả (1850-1925) là một quan đại thần nhà Nguyễn dưới thời Đồng Khánh, và Thành Thái. con ông Ngô Đình Dinh quê làng An Xá, tổng Đại Phong, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Từ nhỏ Ngô Đình Khả học trường nhà dòng ở Penanh, Mã Lai, đang làm tu sinh nhưng sau bỏ ra làm thông sự cho Khâm sứ Pháp ở Huế là ông Pierre Rheinart, Ngô Đình Khả từng làm võ quan từ triều Đồng Khánh theo Nguyễn Thân hợp tác với chính phủ Bảo hộ đàn áp các phong trào chống Pháp của ngự sử Phan Đình Phùng ở Nghệ An và Hà Tỉnh. Năm 1896 ông được phong Thái thưởng tự khanh chức Thương biện thuộc Viện Cơ mật.
Cũng trong thời gian này ông được giao việc tổ chức Trường Quốc học, lúc bấy giờ gọi là trường Cao đẳng Tiểu học (École Primaire Supérieure) ở chức Trưởng giáo. Hai năm sau, tức năm 1898 vua THành Thái phong Khả làm Thượng thư Phụ đạo đại thần, Năm 1902 thì thăng hàm Hiệp tá Đại học sĩ. Năm 1905 ông thăng chức Tổng quân Cấm thành, bảo vệ vua Thánh Thái. Hai năm sau, Khâm sứ Ferdinand Lévecque, rồi chính quyền Bảo hộ đòi truất vua Thành Thái, ông nhất quyết không chịu ký tên vào tờ biểu rồi bị cất chức. Ông Ngô Đình Khả mất năm 1925.
4. NGÔ ĐÌNH KHÔI
1. Ngô Đình Khôi (1885-1945) là quan nhà Nguyễn, từng lam Tổng đốc Nam Ngãi. Ông là con cả của Ngô Đình Khả, lập tập ấm từ nhỏ và được triều đình Huế bổ nhiệm vào làm trong bô Binh năm 1910, Ít lâu ông về làm rể Thượng thu Nguyễn Hữu Bài. Năm 1930, thăng chức Tổng đốc Nam Ngãi. Con trai ông là Ngô Đình Huân thì làm thư ký và thông ngôn cho Yokoyama Masayuki, Viện trưởng Viện Văn hóa Nhật Bản tại Sài Gòn, sau đó làm Thanh tra Lao động. Vì ý hướng thân Nhật, Ngô Đình Khôi bị ép về hưu năm 1943.
Ngày 14/8/1945, Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh. Ngày 19/8/45, Việt Minh dấy loạn, cướp Chính quyền ở Hà Nội, đánh điện vào Huế, yêu cầu Hoàng đế Bảo Đại thoái vị, Ngô Đình Khôi khuyên Hoàng đế Bảo Đại đừng thoái vị, vì ông đã tích trữ được một số vũ khí nên có người cho là ông toan dùng vũ lực chống lại lực lượng Việt Minh. Mùa thu năm 1945, Ngô Đình Khôi và con trai Ngô Đình Huân bị Việt Minh bắt cùng với Phạm Quỳnh, cựu thượng thư Bộ Lại và đem hành quyết ở rừng Hắc Thú.
5. NGÔ ĐÌNH DIỆM
1. Ngô Đình Diệm (1901-1963) sinh tại làng Đại Phong, Lệ Thuỷ, Quảng Bình trong một gia theo đạo Thien chúagô Đình Khả từng làm Thượng thư kiêm Phụ đạo Đại thần dưới thời vua Thành Thái; mẹ ông là Phạm Thị Thân, Diệm là người con thứ ba trong gia đình. Từ năm 15 tuổi Diệm cùng người anh Ngô Đình Thục vào học ở trường dòng. Vài tháng sau, cảm thấy cuộc sống ở trường dòng quá khắt khe, ông đã từ bỏ, và xin vào học trường Quốc học Huế. Năm 1919, lúc18 tuổi, ông ra Hà Nội học trường Hậu bổ (trường hành chính) và tốt nghiệp 2 năm sau đó.
Năm 1921, ông nhận chức tri huyện Hương Trà, sau đó là Hương Thủy, Thừa Thiên; rồi Tri phủ Hải Lăng Quảng Trị; sau nữa là Quản đạo Ninh Thuận. Năm 1929, ông được bổ nhiệm làm Tuần vũ tỉnh Phan Thiết. Năm 1933, dưới triều vua Bảo Đại, ông được bổ nhiệm Thượng thư bộ Lại và Tổng thư ký Ủy ban Cải cách. Với tư cách Tổng thư ký Uỷ ban, ông đề xuất với chính quyền bảo bộ Pháp các điểm cần tu chính trao thêm quyền cho chính phủ Nam triều. Vì không được chính quyền Bảo hộ Pháp chấp nhận, ngày 12 tháng 7 năm 1933, ông từ chức, lui về ở ẩn, ngấm ngầm ủng hộ Hoàng thân Cường Để đang lưu vong tại Nhật, mưu lật đổ chính quyền Bảo hộ Pháp.
2. Năm 1933, ông vào Sài Gòn cùng với Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim tổ chức Phong trào Trí thức Nam-Trung Kỳ vận động chính giới Pháp tại Paris, bãi nhiệm Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Việc không thành, ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú tại Quảng Bình. Năm 1934, viên toàn quyền mới Eugene René Robin bãi bỏ chỉ định của Pasquier. Ông về dạy tại trường Thiên Hựu (Providence) do anh ông là Ngô Đình Thục làm Giám học. Thời kỳ 1934-1944, Ngô Đình Diệm tham gia thành lập và lãnh đạo đảng Đại Việt Phục hưng chống Pháp với thành phần đảng viên nòng cốt là quan lại, linh mục, cảnh sát, lính Khố xanh bản xứ tại Trung Kỳ.
Tháng 7 năm 1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này và vây bắt Ngô Đình Diệm tại phủ Cam. Nhờ sự giúp đỡ của Hiêns binh Nhật, ông thoát nạn về trú tại lãnh sự Nhật ở Huế. Sau đó Nhật đưa ông vào Đà Nẵng, rồi dùng máy bay quân sự chở thẳng vào Sài Gòn trú tại trụ sở hiến binh của Nhật. Tại Sài Gòn, ông đã tham gia thành lập Tổ chức Phục quốc, thuộc Đảng Phục Quốc của hoàng thân Cường Để được Nhật hậu thuẫn đang hoạt động tại Trung Quốc. Tuy nhiên, sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật không ủng hộ Cường Để về nước làm Vua, mà ủng hộ Bảo Đại lập chính quyền thân Nhật với quốc hiệu mới là Đế quốc Việt Nam. Bảo Đại đã nhờ Cố vấn tối cao Nhật điện mời ông về làm Thủ tướng trong chính quyền mới.
3. Nhưng Nhật không đồng ý, nên lời mời nầy không đến được với Diệm, Bảo Đại đành phải trao chức nầy được trao cho Học giả Trần Trọng Kim. Ngô Đình Diệm bị xem là một người quá khích giống như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam.
(Xem thêm Thủ tướng, và Tổng thống Ngô Đình Diệm tại Chính quyền Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà).
6. PHẠM QUỲNH
1. Phạm Quỳnh (1892-1945) là một nhà báo, nhà văn hoá và quan đại thần của nhà Nguyễn. Phạm Quỳnh được xem là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng đòi chủ quyền, độc lập, tự trị cho Việt Nam, khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ Bắc-Trung-Nam, chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ Lập hiến. Phạm Quỳnh quê ở làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, một làng khoa bảng, có truyền thống hiếu học, Nhưng, ông sinh tại số 17 phố Hàng Trống, Hà Nội. Mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha từ khi lên 9 tuổi; Phạm Quỳnh được bà nội nuôi ăn học.
Phạm Quỳnh đỗ đầu bằng Thành chung Trường trung học Bảo hộ tức trường Bưởi, còn gọi là trường Thông ngôn. Năm 1908, lúc vừa tuổi 16, Phạm Quỳnh làm việc ở trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội. Từ năm 1916, Ông tham gia viết báo cho một số tờ có uy tín đương thời; Làm chủ bút kỳ cựu của Nam Phong tạp chí từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 cho đến năm 1932; Tuyên truyền cho tư tưởng "Pháp Việt đề huề". Ngày 2 tháng 5 năm 1929, ông sáng lập và là Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức, và Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ. Trần Trọng Kim là Trưởng ban Văn học của Hội Khai trí Tiến Đức.
2. Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục. Năm 1924, ông được mời làm giảng viên Khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt, Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France-Indochine. Từ năm 1925 - 1928, Phạm Quỳnh là Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ; năm 1926, ông làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ và đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương.
Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931, ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932, giữ chức Tổng Thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ. Ngày 11 tháng 11 năm 1932, ông được Hoàng đế Bảo Đại triệu vào Huế tham gia chính quyền cải tổ, ông thôi không làm chủ bút Nam phong Tạp chí. Tại Huế thời gian đầu ông làm việc tại Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư bộ Học, và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lai từ năm 1944-1945.
3. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim thành lập. Ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, Huế. Ông bị Việt Minh bắt ngày 23 tháng 8 năm 1945, và giam ở lao Thừa Phủ, Huế. Ông bị Việt Minh giết sau đó cùng với nguyên Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi và con trai Khôi là Ngô Đình Huân. Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú, và được cải táng ngày 9 tháng 2 năm 1956 tại Huế, trong khuôn viên chùa Vạn Phước.
7. THÁI VĂN TOẢN
1. Thái Văn Toản (?-1952) là một Thượng thư nhà Nguyễn, dưới thời Bảo Đại. Ông quê làng Quy Thiên, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, cha là Thái Văn Bút quan lại triều Thành Thái, Duy Tân, mẹ là Tôn Nữ Như Ty, ái nữ của Tùng Thiện vương. Thuở nhỏ, ông học ở Huế, tốt nghiệp Trường Thông ngôn Huế, từ năm 1902 làm thông dịch viên tại Phủ Thống sứ Bắc kỳ, sau đổi về làm việc tại Toà Khâm sứ Huế. Năm 1905, ông là Hội trưởng Hội Quảng Tri, một hội có tính cách văn hoá, giáo dục, nghệ thuật hoạt động lâu năm tại Huế.Năm Mậu Ngọ (1918), ông được thăng Hồng lô tự khanh sung chức Ngự tiền thông sự dưới triều Khải Định, rồi Quang lộc tự khanh, Thái thường tự khanh.
Năm 1926, ông được làm Tổng đốc Thanh Hoá, năm 1929 thăng hàm thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần, năm 1931 thăng hàm Hiệp tá đại học sĩ. Năm 1933, sau khi Bảo Đại về nước đứng đầu nội các, ông làm Thượng thư Bộ Công kiêm Mỹ thuật và Lễ nghi sung Cơ mật viện đại thần. Con trai ông là Thái Văn Vượng, cháu là Thái Văn Kiểm (giáo sư) đã có đóng góp một phần cho học thuật Việt Nam. Sau năm 1946, ông tản cư ra Nghệ An, tham gia kháng chiến trong cương vị Cố vấn Mặt trận Liên Việt Liên khu IV. Đến năm 1952, Thái Văn Toản mất tại xã Bạch Ngọc, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
8. HỒ ĐẮC KHẢI
1. Hồ Đắc Khải (1894-1948) là một trí thức Nho học Việt Nam thời thuộc Pháp, từng giữ các chức vụ tổng đốc Bình Phú và thượng thư bộ Hộ trong nội các của vua Bảo Đại. Hồ Đắc Khải là con cả của Thượng thư Hồ Đắc Trung, quê ở làng An Truyền, tổng Quảng Xuyên, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên. Dòng họ Hồ Đắc làng An Truyền còn có tên khác làng Chuồn, là một dòng họ danh gia vọng tộc ở Huế. Bà nội Hồ Đắc Khải là con gái Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Khải có người em trai giữ chức Thượng thư, và 4 người em trai khác là Hồ Đắc Đắc Di giáo sư; Tiến sĩ luật khoa Hồ Đắc Điềm Tổng đốc Hà đông; kỹ sư khoáng học Hồ Đắc Liên; và tiến sĩ dược khoa Hồ Đắc Ân.
Ông còn có nhiều em gái là phi tần trong cung của các vua Nguyễn. Năm 1915, ông đỗ cử nhân. Năm 1916, ông tốt nghiệp trường hậu bổ và ra làm quan, từ Tri huyện, thăng dần đến Tổng đốc Bình Phú. Năm 1933, Nội các Nguyễn Hữu Bài bị giải tán. Hoàng đế Bảo Đại lập nội các mới. Hồ Đắc Khải được trao chức Thượng thư bộ Hộ. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tấn công Pháp và giành quyền kiểm soát Đông Dương. Nội các có mặt Hồ Đắc Khải bị giải tán, thay vào đó là chính phủ thân Nhật do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng. Sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Đắc Khải sống tại quê nhà và đến năm 1948 ông mất tại Huế.
9. BÙI BẰNG ĐOÀN
1. Bùi Bằng Đoàn (1889-1955) là quan Thượng thư triều Nguyễn. Ông sinh tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông trong một gia đình truyền thống Nho học. Ông nội là Tiến sĩ Bùi Tuấn từng làm Giám khảo các kỳ thi Hương, giữ chức Tả Tham tri bộ Binh kiêm Tổng đốc tỉnh Bắc Ninh đánh dẹp đánh dẹp giặc Ngô Côn. Cha là Bùi Tập từng giữ chức Tuần phủ tỉnh Hưng Hoá. Cha mẹ đều mất sớm, cả 6 anh em Bùi Bằng Đoàn được người chú dượng là Dương Lâm làm Tham tri Nha Kinh lược Bắc Kỳ đưa về nuôi dưỡng cho ăn học. Khoa thi Hương năm Bính Ngọ 1906, ba anh em Bùi Bằng Phấn, Bùi Bằng Thuận và Bùi Bằng Đoàn đều ứng thí.
Kết quả, Bùi Bằng Phấn đỗ Tú tài, còn Bùi Bằng Thuận và Bùi Bằng Đoàn cùng đỗ Cử nhân. Ba anh em được mệnh danh là Hà đông tam bằng. Năm 1907, Bùi Bằng Đoàn thi vào học trường Hậu Bổ tại Hà Nội. Ông thông thạo cả Pháp văn và Hán văn. Năm Tân Hợi (1911), ông tốt nghiệp, được bổ làm Tri huyện, sau đó làm Tri phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Án sát tỉnh Bắc Ninh; Tuần phủ các tỉnh Cao Bằng, Ninh Bình; rồi làm đến Thượng thư bộ Hình của triều đình Huế trong nội các của Phạm Quỳnh năm 1933, hàm Thái tử Thiếu bảo. Khi làm quan ông nổi tiếng là vị quan đức độ, thanh liêm, chính trực, chăm dân.
2. Trên công đường ở những nơi ông làm quan, đều có treo một bảng thông báo "không nhận quà biếu". Với người nhà, ông rất nghiêm khắc, cấm tiệt việc nhận quà, nếu lỡ nhận rồi thì phải mang đi trả lại. Lúc làm Tri phủ Xuân Trường, Nam Định ông đã đề xuất và thực hiện việc đắp đê Bạch Long ngăn nước mặn, tạo lập được một vùng lúa, dâu rộng lớn. Ghi công đức ông, dân địa phương đã làm lễ tế sống vị "phụ mẫu chi dân" trẻ tuổi ngay nơi nhậm chức. Năm 1925, trước việc báo chí lên án cảnh phu đồn điền ở miền Nam bị bóc lột dã man, Chính phủ Nam triều đã cử Bùi Bằng Đoàn vào Nam bộ thanh tra các đồn điền cao su của Pháp.
Ông đã tiến hành thanh tra thấu đáo, viết một bản báo cáo dày đến 100 trang bằng tiếng Pháp nêu bật lên những điều vô lý trong chính sách đối với phu đồn điền. Những kiến nghị xác đáng của bản báo cáo đã được nhà đương cục Pháp chấp nhận, giảm thiếu những chế độ hà khắc đối với công nhân đồn điền cao su thời đó. Năm 1925, lúc đang làm tri phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, nhưng ông vẫn được mời lên Hà Nội làm thông ngôn cho phiên tòa đại hình xử vụ án cụ Bội Châu. Với tính cách cương trực, bênh vực lẽ phải, Bùi Bằng Đoàn đã thông dịch rõ ràng, trung thực những lời nói, lý lẽ đanh thép của cụ Phan Bội Châu để rồi sau đó tòa án đã không khép được cụ Phan vào án chung thân mà giảm xuống hình thức "an trí ở Huế".
3. Đầu năm 1933 ông được bổ nhiệm làm Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, không lâu sau đó khi Phạm Quỳnh tổ chức Nội các ông được bổ nhiệm làm Thượng thư bộ Hình. Trong mười hai năm ở kinh đô Huế, ông trông nom việc xử kiện tại tất cả các tỉnh Trung Trung Kỳ, chỉ đạo việc soạn thảo các luật cho Trung Kỳ đều bằng tiếng Pháp, tiếng Việt và dịch ra chữ Hán. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Vua Bảo Đại xuống chiếu thành lập Chính phủ mới, ông cáo quan về quê. Sau đó, do nhu cầu, ông được mời làm Chánh nhất Tòa Thượng thẩm Hà Nội. Ở thời điểm "đêm trước" của cách mạng, tổ chức Việt Minh đã tiếp xúc và mời ông làm Hội trưởng Hội bảo vệ tù chính trị.
Ngày 25 tháng 11 năm 1945, Hồ Chí Minh mời ông tham gia Ban cố vấn Chủ tịch nước, thành viên Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết đất nước. Ngày 6 tháng 1 năm 1945, ông ứng cử đại biểu Quốc hội tại tỉnh Hà Đông và trúng cử. Ông được cử làm Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, tương đương với chức Tổng Thanh tra Chính phủ bây giờ. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, ông được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội. Ngày 8 tháng 11 năm 1946, ông được cử làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội thay cho ông Nguyễn Văn Tố.
4. Năm 1947-1948, ông đang hoạt động ở chiến khu Việt Bắc. Tháng 8 năm 1948, ông bị bệnh bán thân bất toại ở Việt Bắc, Hồ Chí Minh ra lệnh đưa ông về Liên khu 3 chữa bệnh, Thời gian nầy, Tôn Đức Thắng được cử giữ chức Quyền Trưởng Ban Thường trực Quốc hội. Hòa bình lập lại ông về Hà Nội dưỡng bệnh. Ngày 13 tháng 4 năm 1955, Bùi Bằng Đoàn qua đời tại Hà Nội.
10. PHẠM KHẮC HOÈ
1. Phạm Khắc Hòe (1901-1995) là một luật sư, nhà văn, từng là Đổng lý Ngự tiền văn phòng triều Bảo Đại. Phạm Khắc Hòe quê ở xã Đức Nhân, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tỉnh, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tỉnh, sinh năm 1901 trong một gia đình khoa bảng, cố nội đã đậu cử nhân, thầy đồ dạy học ở làng, cha ông cũng đậu tú tài, và làm thừa phái. Ông Hòe học chữ Nho và chữ Quốc ngữ ở làng. Cuối năm 1916, ông vào học lớp 3 Trường tiểu học Pháp Việt ở Vinh. Tháng 6-1918, ông thi đậu "primaire" (tiểu học Pháp Việt). Từ tháng 9-1918 đến 6-1922, ông học trường Quốc học Huế. Từ tháng 9/1922 đến tháng 6/1925, ông học Trường Cao đẳng Pháp luật và Hành chánh Hà Nội.
Năm 1925, ông tốt nghiệp được phân công làm tham tá tòa sứ (commis des résidences) và lần lượt làm việc ở Huế và Quy Nhơn cho đến năm 1933 thì chuyển sang ngạch quan lại Nam triều do vợ ông thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn. Năm 1940-1944 ông làm Quản đạo Đà Lạt thay ông Trần Văn Lý về giữ chức Ngự tiền Văn phòng Đổng lý.. Năm 1944-1945 ông làm Ngự tiền Văn phòng đổng lý, hàm Thượng thư của vua Bảo Đại. Ông chứng kiến sự hấp hối của triều đình nhà Nguyễn trước và trong Cách mạng Tháng Tám (1945). Phạm Khắc Hoè còn là người góp phần thúc đẩy sự sụp đổ của triều đình phong kiến nhà Nguyễn từ bên trong.
2. Bằng cuộc vận động gây sức ép, và chính tay ông soạn thảo Chiếu thoái vị cho vua Bảo Đại. Sau năm 1945, ông tham gia chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã từng giữ các chức vụ: Giám đốc Nha Pháp chính; Đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ;tham gia các cuộc đàm phán Việt - Pháp ở Đà Lạt; và Phông-ten-bờ-lô với tư cách cố vấn kiêm Tổng thư ký Đoàn đại biểu Việt Nam. Tháng 12 - 1946, Phạm Khắc Hoè bị quân Pháp bắt ở Hà Nội. Tháng 8 năm 1947, ông thoát khỏi, và được đưa ra vùng Việt Bắc và trở lại chức vụ Đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ. Từ tháng 12 - 1957, ông làm Vụ trưởng vụ Pháp chế Phủ Thủ tướng cho đến khi về hưu (tháng 10 - 1964).
Ông còn là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông mất ngày 22 tháng 6 năm 1995 tại nhà riêng phố Tràng Thi, quận Hoàn kiếm, Thành phố Hà Nội thọ 94 tuổi./.
(Hết chương 6)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét