Chương 9: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ: THỜI QUÂN QUẢN
1963-1967
(Có 54 trang và 33.882)
Chính quyền Việt Nam Cộng hoà thời Quân quản là Chính quyền kế nhiệm Chính quyền Việt Nam Cộng hoà sau cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Chính quyền Quân quản tồn tại gần 4 năm từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 11 năm 1967, trải qua 5 chính phủ: (1) Chính phủ Lâm thời Nguyễn Ngọc Thơ; (2) Chính phủ Nguyễn Khánh; (3) Chính phủ Trần Văn Hương; (4) Chính phủ Phan Huy Quát; Và, (5) Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ.
1. CHÍNH PHỦ LÂM THỜI NGUYỄN NGỌC THƠ: 4.11.1963 - 1.2.1964.
I. Bối cảnh thành lập.
1. Ngày 3/11/63, Hội đồng Quân nhân Cách mạng họp báo, ra Tuyên Cáo, và Quyết nghị. Tuyên cáo số 1: Quân đội phải lật đổ một chế độ độc tài; Sẽ lập gấp Chính phủ Lâm thời; Sẽ thành lập một Hội đồng Nhân sĩ; Khi các định chế Dân chủ được thực hiện, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng sẽ trao quyền cho Quốc dân. Tuyên cáo số 2: Lập trường: không phóng túng, không độc tài, áp dụng một hình thức dân chủ trong tinh thần kỷ luật. Chủ trương: Chống Cộng, đứng trong Thế giới Tự do; tôn trọng các Hiệp ước đã ký và tài sản và tính mạng ngoại kiều; đoàn kết toàn dân, cho các đảng phái hoạt động; sửa soạn định chế dân chủ; tự do tín ngưởng, bình đẳng tôn giáo; trả tự do cho các Chính trị phạm không Cộng sản; tự do báo chí; tiếp tục các công trình lợi ích cho toàn dân.
Hội đồng Quân nhân Cách mạng cũng ra hai Quyết nghị: Quyết nghị thứ nhất, Truất phế Tổng thống Ngô Đình Diệm; bãi bỏ chế độ Tổng thống; giải tán Chính phủ do ông Diệm lãnh đạo; Hội đồng Quân nhân Cách mạng tạm thời đảm đương Hành pháp. Quyết nghị thứ hai, Tạm ngưng Hiến pháp ngày 26/10/1956; Giải tán Quốc hội bầu ngày 27/9/1963.
2. Ngày 4/11/63, Hội đồng Quân nhân Cách mạng ban hành Hiến ước Tạm thời số 1: Việt Nam vẫn là nước Cộng hoà; quyền Lập pháp và Hành pháp thuộc Hội đồng Quân nhân Cách mạng; quyền hành Quốc trưởng thuộc Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng; quyền Hành pháp ủy cho Chính phủ Lâm thời do Hội đồng chỉ định; quyền Lập pháp ủy cho Chính phủ, ngoại trừ về Ngân sách, Thuế, An ninh, Quốc phòng; luật lệ hiện hành vẫn tạm thời áp dụng.
Thành phần Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM) gồm: Chủ tịch: Trung tướng Dương Văn Minh; Đệ nhất Phó Chủ tịch: Trung tướng Trần Văn Đôn; Đệ nhị Phó Chủ tịch: Trung tướng Tôn Thất Đính; Ủy viên Quân sự: Trung tướng Trần Thiện Khiêm; Ủy viên Kinh tế: Trung tướng Trần Văn Minh; Ủy viên An ninh: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu; Ủy viên Chính trị: Thiếu tướng Đỗ Mậu; Tổng Thư Ký kiêm Ủy viên Ngoại giao: Trung tướng Lê Văn Kim; Ủy viên: Trung tướng Mai Hữu Xuân; Ủy viên: Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu; Ủy viên: Trung tướng Lê Văn Nghiêm; Ủy viên: Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có. Nguyễn Ngọc Thơ được HĐQNCM uỷ thành lập Chính phủ Ngày 4/11/63, Nguyễn Ngọc Thơ trình diện Chính phủ lên Hội đồng Quân nhân Cách mạng.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Nguyễn Ngọc Thơ | Thủ tướng Kiêm Tổng trưởng Kinh tế, Tài chánh | |
2 | Trần Văn Đôn | Tổng trưởng Quốc phòng | Trg tướng |
3 | Tôn Thất Đính | Tổng trưởng An ninh | Trg tướng |
4 | Phạm Đăng Lâm | Tổng trưởng Ngoại giao | |
5 | Nguyễn Văn Mầu | Tổng trưởng Tư pháp | |
6 | Phạm Hoàng Hộ | Tổng trưởng Giáo dục | |
7 | Trần Lê Quang | Tổng trưởng Cải tiến Nông thôn | |
8 | Trần Tử Oai | Tổng trưởng Thông tin | Th tướng |
9 | Trần Ngọc Oành | Tổng trưởng Công chánh | |
10 | Vương Quang Nhường | Tổng trưởng Y tế | Bác sĩ |
11 | Nguyễn Lê Giang | Tổng trưởng Lao động | |
12 | Nguyễn Hữu Phi | Tổng trưởng Thanh niên | |
13 | Nguyễn Thành Cung | Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng | |
14 | Lưu Văn Tính | Bộ trưởng Tài chánh | |
15 | Âu Trường Thanh | Bộ trưởng Kinh tế | |
III. Sự kiện bên ngoài.
1. Ngày 21/11/63, Cao Mên yêu cầu Mỹ chấm dứt viện trợ. Ngày 22/11/63, Sihanouk chính thức yêu cầu mở Hội nghị Quốc tế công nhận nền Trung lập của Cao Mên. Ngày 26/11/63, Tổng tuyển sử tại Đại Hàn bầu 175 Nghị sĩ, đảng Cộng hòa Dân chủ của tướng Phác Chinh Hy chiếm 110 ghế. Ngày 6/12/63, Trung hoa Dân quốc đoạn giao với Nhật Bản. Ngày 3/1/64, Bộ trưởng Quốc phòng Mã lai tuyên bố Nam Dương đã cho nhiều Du kích vào Mã Lai.
Ngày 8/1/64, Pháp thừa nhận Trung Cộng và lập bang giao với Trung Cộng. Ngày 10/1/64, Biểu tình chống Hoa Kỳ tại vùng Kênh Panama, quân đội Hoa Kỳ can thiệp, 19 người chết, 288 người bị thương. Ngày 16/1/64, Cao Mên khước từ Viện trợ Mỹ. Phái đoàn Viện trợ Mỹ rút hết về nước. Ngày 23/1/64, Pháp tuyên bố không thừa nhận Bắc Hàn và Bắc Việt. Ngày 29/1/64, Pháp tuyên bố không đoạn giao với Đài Loan. Quốc hội Trung hoa ở Đài Loan quyết định không đoạn giao với Pháp.
IV. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 5/11/63, Mã Lai thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 6/11/63, Thái Lan thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 7/11/63, Anh, Mỹ thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 11/11/63, Đại Hàn, Úc, Trung hoa Dân quốc, Tây Đức thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 12/11/63, Ý Đại Lợi thừa nhận Chính phủ Việt Nam; Ngày 13/11/63, tới nay, có 21 quốc gia đã thừa nhận tân Chính phủ. Ngày 23/11/63, Tổng thống Hoa Kỳ, Kennedy bị ám sát trong khi kinh lý thành phố Dallas, đạn bắn từ một lầu cao. Cùng ngày 23/11, Việt Nam chia buồn với Chính phủ Hoa Kỳ và treo cờ rũ 3 ngày.
Ngày 25/11/63, mai táng cố Tổng thống Kennedy, Sài Gòn và các tỉnh ở Việt Nam tổ chức lễ cầu siêu, nhiều giới tỏ ý luyến tiếc. Sau chuyến đi Việt Nam giữa tháng 12, 1963, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara báo cáo với Tổng thông Johnson: “Tình hình thật đáng lo ngại, rằng nếu không đảo ngược được trong vài ba tháng thì sẽ đưa tới khá lắm là trung lập hay, nhiều phần chắc hơn nữa, một quốc gia do Cộng sản kiểm soát.” Ngày 29/12/63, một Phái đoàn thiện chí Cao Mên tới Sài Gòn, Bộ Ngoại giao tuyên bố sẵn sàng thương thuyết mọi vấn đề liên quan đến Việt-Mên.
2. Ngày 9/1/64, Chính phủ Việt Nam không chấp nhận Du Gardier sang làm Đại sứ Pháp tại Việt Nam, vì trước kia từng làm Đại sứ Pháp tại Cuba. Ngày 10/1/64, Sihanouk đề nghị Việt-Miên cùng từ bỏ mọi yêu sách về đất đai, không đòi hỏi của nhau một hòn đảo nào nữa. Ngày 23/1/64, Ngoại trưởng Mỹ, Dean Rusk tuyên bố“không cần mở lại Hội nghị Genève, chỉ cần Việt Cộng chấm dứt xâm lăng”. Ngày 28/1/64, Chính phủ Việt Nam ra thông cáo chống Trung lập, phản đối Pháp đã thừa nhận Trung Cộng, và quyết định đối phó. Ngày 2/2/64, Tổng thống Johnson gởi thư cho trung tướng Nguyễn Khánh “vẫn tiếp tục giúp đở Việt Nam”.
V. Chiến sự các nơi.
1. Ngày 7/11, Hành quân tảo thanh ở Vĩnh Bình, hạ 38 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng đạn. Ngày 11/11/63, Cộng sản vây hảm đồn Ba Chúc, An Giang từ 3 ngày nay bị đẩy lui, bỏ lại 70 xác. Ngày 12/11/63, Một Tiểu đoàn Việt Cộng đánh quận Bến Tranh, Định Tường bị đẩy lui. Ngày 15/11/63, Hành quân “Bạch Phượng” ở Quảng Tín hạ 54 Việt Cộng. Mìn nổ ở một quán rượu đường Tự Do, Sài gòn 4 người bị thương. Ngày 17/11/63, kết quả hành quân “Dân Chí” tại Chương Thiện, hạ 74 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng đạn; Phía ta 8 chết, 34 bị thương. Ngày 26/11/63, hành quân “Đức Thắng 22” tại Định Tường, hạ 84 Việt Cộng, đến ngày 5/12/63, hạ thêm hơn 100 tên của Tiểu đoàn 514 Việt Cộng.
Ngày 10/12/63, hành quân “Bình Châu” tại Quảng Tín, hạ hơn 40 Việt Cộng và bắt sống 10 tên. Ngày 20/12/63, hành quân tại Chương Thiện, hạ 20 Việt Công, tịch thu 4 Đại liên. Ngày 4/1/63, khoảng 50 lính Mên tràn sang xã Vĩnh Gia, Tịnh Biên, An Giang bắn chết 2 người, 2 bị thương, và 3 bị bắt đi. Ngày 5/1/63, hành quân Hậu Đức, Quảng Tín, hạ 23 Việt Cộng. Ngày 6/1/64, kho xăng của Quân đội tại Châu thành Vĩnh Long, bị cháy tiêu hủy 759.466 lít xăng. Ngày 9/1/64, mìn nổ tại một quán rượu ở Lăng Cha Cả, Sài Gòn, 2 người chết, 10 người bị thương trong đó có 4 quân nhân Mỹ.
2. Ngày 10/1/64, một Đại đội Việt Nam Cộng hòa chạm súng với môt Tiểu đoàn Việt Cộng tại Tân Uyên, Phước Thành, phía VNCH 6 chết, 31 bị thương, 19 mất tích, mất 24 súng; Việt Cộng 1 bị bắt. Ngày 17 - 23/1/64, hành quân Phượng Hoàng I tại Kiến Hoà, kết quả 87 Việt Cộng bị hạ, 137 bị bắt, 31 đầu hàng.
VI. Những việc đã làm.
1. Ngày 4/11/63 nầy, Trung tướng Mai Hữu Xuân được cử và nhậm chức Đô trưởng Sài Gòn. Cùng ngày 4/11, Nhiều người bị giam giữ được thả về; Các tỉnh họp Meetinh hoan hô quân đội và mừng Cách mạng thành công. Ngày 5/11/63, các con ông Nhu ở Đà Lạt được đưa đi Châu Âu trả cho mẹ. Ngày 6/11/63, Dân chúng góp tiền gởi tặng các Chiến sĩ Cách mạng; Nguyên Cố vấn Chỉ đạo Ngô Đình Cẩn bị bắt và giải từ Huế vào Sài Gòn; Lệnh giới nghiêm được bãi bỏ (SL 3/HĐQN); Cũng ngày 6/11/63, Thành lập Hội đồng Nhân sĩ có nhiệm vụ cố vấn cho Chính phủ (SL số 2/HĐQN). Cùng ngày 6/11, Ủy ban Chỉ đạo Sinh viên Liên khoa đòi thanh trừng hàng ngũ Giáo chức bị coi là mật vụ chế độ cũ.
Ngày 7/11/63, Lực lượng Đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung trở về quy thuận. Ngày 8/11/63, một số chính khách và quân nhân bị lưu đày ra Côn Đảo được tha và về tới Sài Gòn. Ngày 9/11/63, hơn 250 người bị chế độ củ bắt giam được phóng thích. Ngày 12/11/63, Hội đồng Chính phủ họp phiên đầu tiên. Ngày 12/11/63, Phủ Tổng ủy Dân sinh Nông thôn được thành lập thay thế Phủ Tổng ủy Dinh điền và Nông vụ bị bãi bỏ (SL 9/TTP). Cùng ngày 12/11, Ủy ban Chỉ đạo Sinh viên Liên khoa đòi thanh trừng hàng ngũ Giáo chức bị coi là mật vụ chế độ cũ. Ngày 14/11/63, Học sinh Trung học ở An Giang, Long An, Kiến Tường…biểu tình đòi thay Ban Giám đốc. Ngày 15/11/63, Các trường Cao Đẳng và Đại học mở lại, sinh viên tiếp tục đi học.
2. Ngày 15/11/63, Bãi bỏ lệ mua một số thuốc phải có 3 toa Bác sĩ. Ngày 16/11/63, thành lập một Ủy ban Điều tra Tội ác của các phần tử dựa vào thế lực hay địa vị trong chế độ củ để bắt giam trái phép, tra tấn, hãm hiếp.v.v (SL số 6/CT)... Ủy ban Điều tra Tài sản thủ đắc phi pháp từ 26/10/1955 (SL số 7/CT). Ngày 18/11/63, giờ làm việc tại các Công sở được thay đổi “từ 8 giờ đến 16g 30” mỗi ngày. Đại tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Cố vấn Quân sự cho Chính phủ. Ngày 18/11/63, Đại tá Nguyễn Chánh Thi, và Trung tá Vương Văn Đông về nước sau 3 năm lánh nạn ở ngoại quốc; Cùng ngày 18/11, Tòa Đại sứ Phi Luật Tân giao trả Chính phủ Việt Nam cựu Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu tới lánh nạn ngày 1/11/1963.
Ngày 19/11/63, Học sinh Nông Lâm súc Bảo Lộc đòi thay đổi Ban Giám đốc. Ngày 20/11/63, Học sinh Trung học Huế biểu tình đòi các giáo sư làm mật vụ phải từ chức. Cùng ngày 20/11, Học sinh Trung học Kiến Phong đòi thay đổi Ban Giám đốc. Ngày 22/11/63, Sinh viên, học sinh ở Huế biểu tình đã đảo những giáo chức bị coi là Mật vụ của Chế độ củ. Cùng ngày 22/11/63, Một Hội đồng Nhân sĩ từ 40 đến 80 Hội viên các giới, do Chủ tịch HĐQNCM mời tham gia (SL số15/CT); Cùng ngày 22/11, sinh viên, học sinh ở Huế biểu tình đã đảo những giáo chức bị coi là Mật vụ của Chế độ củ. Ngày 27/11/63, thành lập Ủy ban thanh lọc hàng ngũ công chức, loại trừ những người thiếu khả năng, tham nhũng.v.v. (SL 17a/TTP).
3. Ngày 30/11/63, Chủ tịch HĐQNCM ra Huấn thị “quân nhân nào có liên hệ với đảng phái, phải chấm dứt hoạt động chính trị. Ngày 1/12/63, một Đại hội Nhân sĩ do vài đoàn thể triệu tập nhóm họp tại Đền Trần Hưng Đạo, Sài Gòn đòi hỏi thực hiện Cách mạng và thực thi dân chủ. Ngày 2/12/63, tính đến hôm nay có 44 Nhật báo ở Sài Gòn. Ngày 12/12/63, một vị Du tăng Khất Sĩ ở Bình Định tự thiêu để cùng dường Tam Bảo. Ngày 14/12/63, thành Cộng hòa được chuyễn giao cho Bộ Giáo dục để lập một Khu Đại học.
Ngày 16/12/63, Tịch thu tài sản của ông Ngô Đình Diệm, gia đình, thuộc hạ (21 người), và các Đoàn thể ủng hộ Chế độ củ như Cần Lao Nhân Vị, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Phong trào Liên đới Phụ nữ, Thanh niên Cộng hòa, Hội Việt Nam Cao đẳng Giáo dục (Sluật 26). Ngày 18/12/63, Đại sứ Trần chánh Thành được cử sang Nam Vang tiếp xúc với Sihanouk và tỏ thiện chí của Chánh phủ Việt Nam Cộng hòa. Cùng ngày 18/12, bãi bỏ Luật 12/63 Bảo Vệ Luân Lý (SL 2/63). Ngày 19/12/63, Có 60 vị được cử vào Hội Đồng Nhân Sĩ, đa số là những người có tên tuổi trong các đảng phái chính trị quen thuộc (NĐ 47/NĐ/CT).
4. Ngày 20/12/63, tái lập Tỉnh Gò Công (SL 36/TTP). Ngày 23/12/63, Thiếu tướng Cao Đài Lê Văn Tất và 1 Đại đội từ Cao Mên về nước. Ngày 24/12/63, những người bị kết án vì chống Chế độ củ có thể xin tái thẩm (S.L 4/63). Cùng ngày 24/12, thành lập Công ty Quốc gia SONADEZI với mục đích tái lập và khuếch trương các Khu Kỹ nghệ (SL 41/KT). Ngày 27/12/63, Phủ Tổng uỷ Tân sinh Nông thôn được tổ chức (NĐ 377/TTP/TRNT). Ngày 30/12/63, ban hành Quy chế Kiến Trúc Sư và Kiến Trúc Sư Đoàn (S luật 5/63). Ngày 31/12/63, Khai mạc Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo tại chùa Xá Lợi để Hợp nhất Nam-Bắc Tông đi đến một Hiến Chương chung cho Phật Giáo Việt Nam.
Ngày 2/1/64, Các thầy thuốc và nhà thuốc ta lại được dùng danh từ Đông Y sĩ và Đông Dược sĩ mà Bộ Y tế dưới Chế độ củ đã cấm sử dụng từ 7/3/1963. (NĐ 5/BYT/PC). Ngày 2/1/1964, Khai mạc Hội Đồng Nhân sĩ tại Hội trường Diên Hồng, Sài Gòn. Ngày 3/1/64, ngành Hiến Binh Việt Nam bị giải tán (SL 4/QP). Ngày 4/1/63, Viện thống kê cho biết: Dân số Sài Gòn 1962 là 1.431.000, 49,4% đàn ông, 50,6% đàn bà.
5. Ngày 5/1/64, cải tổ Chính phủ, Trung tướng Tôn Thất Đính Tổng trưởng An Ninh nay đổi thành Tổng trưởng Nội Vụ; Thiếu tướng Đỗ Mậu, Tổng trưởng Thông tin thay Thiếu tướng Trần Tử Oai; Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng Tư lệnh, Trung Tướng Lê Văn Kim, Tổng Tham Mưu trưởng, Trung tướng Trần Thiện Khiêm, Tư lệnh Quân đoàn III; Thiếu tướng Đặng Văn Quang, Giám đốc An ninh Quân đội. Cùng ngày 5/1, rất đông người dự lễ truy điệu nhà văn Nhất Linh tại sân Tao Đàn, rồi một phần qua chợ Bến Thành biểu tình chống Trung lập. Ngày 6/1/64, Thủ tướng Nguyên Ngọc Thơ họp báo nói Chính sách Cách mạng của Chính phủ là “Chính sách Cách mạng Ôn hòa”.
Cũng ngày 6/1/64, Giá vàng từ 6.200$ tăng thành 6.500$ một lạng. Ngày 9/1/64, Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ ra mắt Hội đồng Nhân sĩ và trình bày chương trình hoạt động. Ngày 12/1/64, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bầu Thượng tọa Tâm Châu làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Ngày 13/1/63, nhân Giám đốc Văn hóa Pháp là Basdevant qua thăm Sài Gòn, Sinh viên, hoc sinh biểu tình chống Trung lập. Ngày 15/1/64, Hội đồng Nhân sĩ biểu quyết và ra thông cáo chống Trung lập và chống Cộng sản. Ngày 15/1/64, Khánh thành đợt I hệ thống Thuỷ điện Danhim. Nhân dịp nầy Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ được tuyên dương công trạng và tặng đệ nhị hạng Bảo quốc Huân chương.
6. Cũng ngày 15/1, Ban Chấp hành Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn ra mắt báo giới và tuyên bố không tán thành những hành động quá khích. Ngày 16/1/64, Hội đồng Nhân sĩ họp bàn viêc soạn thảo Hiến Pháp. Ngày 17/1/64, hơn 120 du đãng bị bắt và bị đưa đi Nông Sơn làm việc trong mỏ than. Ngày 18/1/64, Bộ Thông tin thông báo “triệt để cấm biểu tình". Ngày 20/1/64, Dịch tả phát hiện tại Đô thành 459 người nằm tại các Bệnh viện Chợ Quán, Nhi Đồng, có 66 người chết. Dân chúng phải chích ngừa. Ngày 21/1/64, Ủy ban Soạn thảo Hiến Pháp của Hội đồng Nhân sĩ yêu cầu các giới góp ý kiến. Ngày 22/1/64, Phủ thủ tướng tạm đóng dời về trụ sở mới số 7 đường Thống nhất.
Ngày 23/1/64, Hội đồng Nhân sĩ yêu cầu Chính phủ đoạn giao với Pháp. Ngày 24/1/64, Sài Gòn bị công bố là có dịch tả, hơn 1.042 người mắc bệnh. Ngày 27/1/64, thành lập Điện lực Cuộc Việt Nam, có nhiệm vụ kiến tạo và doanh thác các cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng điện năng (SL 45/CC/GT). Ngày 28/1/64, Bộ Kinh tế “Thông cáo” cấm nhập cảng hàng, và không cấp giấy phép nhập cảng cho Pháp kiều hoặc người Việt có Pháp tịch. Ngày 29/1/64, Một số nhân vật bị kết án sau vụ Bình Xuyên 1955, đươc ân xá gồm Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hữu Thuần, Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Hiếu (SL 33/CT).
7. Ngày 30/1/1964, từ sáng sớm, nhiều ngã đường bị quân đội canh gác, có cả chiến xa. Dân chúng đồn có đảo chánh. Các tướng lãnh họp tại Bộ Tổng Tham Mưu để thanh trừng nội bộ. Hội đồng Quân nhân Cách mạng ra Quyết định chấm dứt nhiệm vụ của Hội đồng Quân nhân Cách mạng thành lập ngày 1/11/1963. Trung tướng Nguyễn Khánh ra tuyên cáo giải thích vụ biến cố: rằng “từ ba tháng nay tình hình suy sụp mọi mặt; rằng “ Chính quyền tỏ ra bất lực và Phản Cách mạng; rằng “một số người chạy theo thực dân và cộng sản; nên một lần nữa “Quân đội lại phải can thiệp”.
Các Trung tướng Trần Văn Đôn, Lê văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân đã bị bắt đêm qua, Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ cũng bị bắt nhưng tới sáng thì phóng thích. Ngày 31/1/64, Trung tướng Nguyễn Khánh họp báo tại Bộ Tổng Tham Mưu giải thích: rằng, không có đảo chánh chỉ có “Chỉnh lý” để Chính quyền theo đúng đường lối Cách mạng; rằng, ông ta được Hội đồng Quân đội cử làm Chủ tịch kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội”. Đại tá Dương Ngọc Lắm được bổ Đô trưởng Sài Gòn thay Trung tướng Mai Hữu Xuân.
8. Ngày 1/2/64, Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ từ chức; Trung tướng Nguyễn Khánh tiếp Nhân viên Cao cấp của Ngoại Giao đoàn; Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố chống giải pháp Trung lập đối với Việt Nam. Chủ nghĩa Cộng sản và Thuyết Trung lập bị đặt ra ngoài vòng Pháp luật (Sl 93/CT). Ngày 3/2/64, tướng Nguyễn Khánh chấp nhận đơn từ chức của Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ. Ngày 5/2/64, Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn về nước. Ngày 6/2/64, một số khá đông Chính trị phạm được phóng thích, và rời Côn Đảo.
Ngày 7/2/64, ban hành Hiến Ước Lâm thời số 2, tu chính Hiến Ước số 1 để giao quyền hành Quốc trưởng cho Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng (HĐQNCM), hoặc cho một nhân vật do Hội đồng cử. Cùng ngày 7 tháng 2, HĐQNCM quyết định cử Trung tướng Dương Văn Minh giữ quyền hành Quốc trưởng, cử Trung tướng Nguyễn Khánh thành lập Chính phủ./.
2. CHÍNH PHỦ NGUYỄN KHÁNH:
8.2.1964 - 26.10.1964
I. Bối cảnh thành lập.
1. Ngày 7 tháng 2 năm 1964, Hội đồng Quân nhân Cách mạng đã cử Trung tướng Dương Văn Minh làm Quốc trưởng, và Trung tướng Nguyễn Khánh thành lập Chính phủ. Ngày 8/2/64, Nguyễn Khánh lập xong Chính phủ với thành phần Nội các như sau (SL 99/TTP):
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Nguyễn Khánh | Thủ tướng | Trg tướng |
2 | Nguyễn Tôn Hoàn | Phó Thủ tướng Bình Định | Bác sĩ |
3 | Nguyễn Xuân Oánh | Phó Thủ tướng Tài chánh | Tiến sĩ |
4 | Đỗ Mậu | Phó Thủ tướng Văn hóa Xã hội | Thiếu tướng |
5 | Lê Văn Hoạch | Quốc Vụ Khanh | Bác sĩ |
6 | Phan Huy Quát | Tổng trưởng Ngoại giao | Bác sĩ |
7 | Hà Thúc Ký | Tổng trưởng Nội vụ | |
8 | Trần Ngọc Oành | Tổng trưởng Công chánh | |
9 | Bùi Tường Huân | Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục | |
10 | Trần Thiện Khiêm | Tổng trưởng Quốc phòng | |
11 | Nguyễn Công Hầu | Tổng trưởng Cải tiến Nông thôn | |
12 | Vương Qug Nhường | Tổng trưởng Y tế | |
13 | Đàm Sĩ Hiến | Tổng trưởng Lao động | |
14 | Phạm Thái | Tổng trưởng Thông tin | |
15 | Nguyễn Xuân Oánh | Tổng trưởng Tài chánh | |
16 | Âu Trường Thanh | Tổng trưởng Kinh tế | |
17 | Nguyễn Văn Mầu | Tổng trưởng Tư pháp | |
18 | Trần Quang Thuận | Tổng trưởng xã hội | |
19 | Nghiêm Xuân Hồng | Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng | |
III. Sự kiện bên ngoài.
1. Ngày 8/2/64, Tại Lào, quân Phái Hữu của Nosavan lại kịch chiến với quân Pathet Lào tại Đồng Chum. Ngày 11/3/64, Thanh niên Mên biểu tình ở Nam Vang, hạ cờ Anh, cờ Mỹ trước hai toà Đại sứ Anh, Mỹ, và đốt phá xe hơi Mỹ. Ngày 27/3/64, Tại Hán Thành, Sinh viên biểu tình dữ dội chống sự tái lập bang giao với Nhật. Ngày 4/4/64, Tại Thái Lan, Uỷ ban điều tra gia tài của cố Thủ tướng Sarit Thanarat, chỉ tìm thấy có hơn 40 triệu Baht (gần 20 triệu Mỹ kim). Ngày 19/4/64, Tại Vạng Tượng, tướng Phái Hữu Abhay và tướng lai Việt Siho nổi dậy chiếm đóng các công sở, bắn vào nhà các Bộ trưởng Pathet Lào, tuyên bố “Ủng hộ Phouma”.
Ngày 30/4/64, Các Bộ trưởng Pathet Lào vẫn lánh mặt, chưa chịu về Vạn Tượng. Ngày 2/5/64, 10 Tiểu đoàn Pathet Lào uy hiếp Paksan, quân Phái Hữu hợp với quân Trung lập đối phó. Ngày 15/5/64, Quân Pathet Lào giao tranh kịch liệt với quân Hoàng gia Lào tại Đồng Chum. Ngày 18/5/64, quân Pathet Lào chiếm Thathom, Mường Phanh và gần hết Đồng Chum. Ngày 21/5/65, Xiêng Khouang thất thủ, nhiều dân Lào chạy qua Thái Lan. Ngày 22/5/64, Quân Pathet Lào tiến đến gần Vạn Tượng. Ngày 27/5/64, Mỹ viện trợ cho Lào một số phi cơ T 28, Anh kêu gọi Nga và các nước giải quyết vấn đề của Lào.
2. Ngày 28/5/64, Cố thủ tướng Nehru được hoả tán. Tro tàn sẽ ném xuống sông Gange. Ngày 29/5/64, Sihanouk tuyên bố không chấp nhận Ủy ban nào khác Ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến. Ngày 3/6/64, tại Hán Thành, Sinh viên biểu tình lớn đả đảo độc tài, đòi tướng Phác Chinh Hi từ chức, và Xử Kim Yong Pil, chủ tịch đảng Cộng hòa Dân chủ của Chính phủ, có xô xát làm 132 sinh viên bị thương, 650 bị bắt. Thiết quân luật ở Thủ đô Hán thành và nhiều thành phố lớn. Các trường Đại học đóng cửa. Ngày 4/6/64, Hoàng thân Souvannouvong lại đòi họp Hội nghị ba phe tại Lào.
Ngày 5/6/64, vẫn có biểu tình lớn ở Đại Hàn, 848 Cảnh binh bị thương trong các vụ xô xát. Tướng Phác Chinh Hi nhượng bộ để cho Lim Yong Pil từ chức. Ngày 10/6/64, Phi cơ Mỹ oanh tạc các vị trí của Pathet Lào tại Khang Khay. Tài sản của tổng thống Jhonson, được ước lượng là 9 triệu Mỹ kim. Ngày 16/6/64, Dân số Thành phố Đông Kinh lên tới 10.752.000 người. Ngày 17/6/64, Động đất dữ dội ở Nhật Bản 8.000 nhà đổ nát, 15.000 nhà bị ngập nước, 56 kho dầu bốc cháy, 30 bến tại bị hư hại. Ngày 18/6/64 Tại Lào, chiến sự kịch liệt tại Đồng Chum.
3. Ngày 7/7/64, sau một thời gian khá lâu bị đả kích phải trốn tránh, Tschombé trở về Congo và được ủy Lập Chính Phủ. Ngày 20/7/64, Tại Lào, quân Trung lập đánh lui quân Pathet Lào ở nhiều nơi. Ngày 12/10/64 Nga phóng Phi thuyền Voskhod lên Quỷ đạo với 3 Phi hành gia. Ngày 14/10/64, Tại Nga, Kroutchev phải từ chức, và Alexis Kossyguine lên làm Thủ tướng. Brejnev lên làm Tổng Bí Thư đảng Cộng sản Nga. Ngày 24/10/64, một phi cơ C123 của Mỹ bay lạc qua Mên, bị Mên bắn rơi gần đồn Dak Dam. Ngày 29/10/64, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ tuyên bố, nếu Mên còn tấn công, Mỹ sẽ trả đủa mạnh. Ngày 2/11/64, có phong trào bài Mỹ ở Nam Vang, kiều dân Mỹ phải di tản.
IV. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 2/2/64, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố chống giải pháp Trung lập đối với Việt Nam. Ngày 2/2/64, Tổng thống Johnson gởi thư cho trung tướng Nguyễn Khánh “vẫn tiếp tục giúp đở Việt Nam”. Ngày 8/2/64, Chính giới Mỹ tỏ ý hân hoan việc thành lập Chính phủ mới tại Việt Nam. Cùng ngày 8/2/64, Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara cùng tướng Maxwell Taylor sang Việt Nam xem xét tình hình và ấn định lại Chương trình Viện trợ cho Việt Nam. Ngày 8/2/64, Sihanouk tuyên bố sẵn sàng tiếp xúc với các Phái đoàn Việt Nam và Thái để giải quyết các vấn đề Mên-Việt và Mên-Thái.
Ngày 9/3/64, Bộ trưởng MacNamara, tướng Maxwell Taylor cùng Thủ tướng Nguyễn Khánh đi thăm Cần Thơ, Bạc Liêu, An Giang và được rất dông dân chúng tiếp đón. Ngày 13/3/64, trước khi về Mỹ, Mc Namara tuyên bố “Mỹ hoàn toàn ủng hộ Chính phủ Nguyễn Khánh” và bằng tiếng Việt, ông hô “Việt Nam muôn năm”. Ngày 17/3/64, Chính phủ Hoa Kỳ thông báo: tăng viện trợ để tăng cường Quân lực Việt Nam; thực hiện kế hoạch “bình định từng vùng” của chính phủ Nguyễn Khánh; tăng 50.000 quân, và 7.500 Cán bộ Bình định Nông thôn; tăng cường Không quân và Hải quân. Số ngân khoản tăng chừng 50 triệu Mỹ kim. Ngày 19/4/64, Tới nay, có 210 quân nhân Mỹ thiệt mạng tại Việt Nam.
2. Ngày 9/5/64, Hai Việt Cộng đặt mìn ở cầu Công Lý, Sài Gòn định ám hại Tổng trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara, nhưng đều bị bắt. Ngày 10/5/64, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk kêu gọi các quốc gia tự do giúp đở Việt Nam. Ngày 10/5/64, Cao Mên triển lãm 2 Thiết vận xa, cùng 2 xác binh sĩ Việt Nam bị bắn khi lạc qua lãnh thổ Cao Mên. Ngày 15/5/64, các loại phi cơ T 28 và B 26 cấp cho Việt Nam được gác bỏ và thay thế bằng Skyraider mạnh hơn, nhanh hơn. Ngày 18/5/64, Tổng thống Jhonson yêu cầu Quốc hội Mỹ cấp thêm cho Việt Nam 125 triệu Mỹ kim, gồm 70 triệu viện trợ kinh tế, và 55 triệu viện trợ quân sự. Ngày 21/5/64, Cao Mên khiếu naị chống lại Việt Nam trước Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Hội đồng mời Việt Nam cử Đại diện trả lời.
Ngày 25/5/64, phát biểu trước Hội đồng Bảo An, Đại sứ Vũ Văn Mẫu đề nghị lập Ủy ban Việt-Mên xét định lại biên giới hai nước; lập các đội tuần tiểu hổn hợp đặt dưới quyền kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. và không thể mở lại Hội nghị Genène. Ngày 31/5/64, Hội nghị quân sự Mỹ - Việt tại Honolulu để xét toàn diện tình hình và chính sách tại Việt Nam. Có tin Hội nghi trù liệu thả bom xuống Bắc Việt, và tăng quân lực Mỹ tại Việt Nam. Ngày 2/6/64, hai Cảnh binh Việt Nam đi tuần tại Lộc Ninh, tới gần biên giới bị quân Mên bắn chết. Ngày 4/6/64, Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc quyết định cử một Phái đoàn Điều tra về các vụ xung đột Việt-Mên. Ngày 18/6/64, Tướng Paul Harkin, trưởng đoàn Viện trợ Quân sự và Tư lệnh quân Mỹ tại Việt Nam, về Hoa Kỳ hưu trí.
3. Ngày 20/6/64, tướng Williams Westmoreland, Phụ tá tướng Harkin trước đây được cử làm Tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam. Ngày 23/6/64, Đại sứ Cobot Lodge từ chức. Ngày 24/6/64, Tướng Maxwell Taylor được bổ Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Alexis Johnson làm Phó Đại sứ. Ngày 2/7/64, James Killens được bổ làm Giám đốc Viện trợ Kinh tế Mỹ tại Việt Nam. Ngày 5/7/64, Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc về các vụ xung đột Việt-Mên, tới Sài Gòn gồm 3 Đại diện của Mễ Tây Cơ, Ma Rốc, và Coote d’ Ivoire. Ngày 9/7/64, lần đầu tiên Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, U Thant đề nghị giải pháp cho vấn đề Việt Nam là triệu tập Hội nghị Genève.
Ngày 10/7/64, các chính phủ Anh, Mỹ và Việt Nam phản đối đề nghị của U Thant. Cùng ngày 10/7, Bộ Ngoại giao Mỹ xác nhận chống giải pháp Trung Lập Hóa Việt Nam. Ngày 11/7/64, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara tuyên bố rất có thể mở rộng chiến tranh ra Bắc Việt. Ngày 26/7/64, Số quân nhân Mỹ tại Việt Nam hiện tại là 16.000, tổng thống Jhonson quyết định gởi thêm 5.000, Cố vấn Mỹ sẽ đặt tới cấp Tiểu đoàn và cấp Tỉnh để giúp cả về quân sự lẫn Hành chánh Xã hội Nông thôn. Ngày 1/8/64, Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc đề nghị lập một “Ủy ban xem xét lại Biên giới Việt-Mên” và đặt tại chổ một Ủy ban kiểm soát, Sihanouk phản đối kịch liệt và dọa sẽ điều đình với Việt Cộng.
4. Ngày 2/8/64, chiến hạm Maddox của Koa Kỳ tuần tiểu Vịnh Bắc Việt bị 3 Tiểu đĩnh Bắc Việt rượt bắn và phóng ngư lôi. Phi cơ của Hàng không mẫu hạm Ticonderoga tới đánh đuổi các Tiểu đĩnh. Ngày 3/8/64, tàu Maddox và cả Turner Joy của Mỹ lại bị các Tiểu đĩnh Bắc Việt tấn công. Chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh tăng cường tuần tiểu và phản công nếu cần. Một số phản lực cơ F 102 được gởi sang Việt Nam. Ngày 5/8/64, các Tiểu đĩnh Bắc Việt lại rượt đánh tàu Mỹ, 64 Phi cơ Mỹ phản công oanh tạc, 4 Phóng Ngư lôi Bắc Việt bị chìm, Hòn Gay, Lộc Châu, Phúc Lợi, Quảng Khê, Vinh bị ném bom.
Ngày 6/8/64, Quốc hội Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Johnson áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đối phó với thời cuộc Đông Nam Á, kể cả dùng vũ lực. Ngày 10/8/64, Nam Dương nâng Tổng Lãnh sự tại Bắc Việt lên hàng Sứ Quán, Việt Nam Cộng hòa đoạn giao với Nam Dương. Ngày 11/8/64, Thái Lan tuyên bố Viện trợ cho Việt Nam. Ngày 14/9/64, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố, Hoa kỳ vẫn ủng hộ Chính phủ Nguyễn Khánh. Ngày 17/9/64, Việt Nam Cộng hòa gởi Thông điệp cho Hội động Bảo An Liên Hiệp Quốc về các vụ rắc rối ở biên giới Việt-Miên.
5. Ngày 19/9/64, Bốn tàu tuần tiểu của Bắc Việt lại đánh đuổi chiến hạm Hoa Kỳ, Thổng thống Johnson ra lệnh cứ canh phòng trên Vịnh Bắc Việt. Ngày 22/9/64, chiến hạm Mỹ bị 5 chiếc tàu Bắc Việt rượt đánh, 3 chiếc bị tàu Mỹ bắn chìm. Ngày 26/9/64, Tổng thống Johnson cho phép các lực lượng Mỹ đánh tới cả bên trong biên giới của địch nếu bị tấn công. Ngày 20/10/64, Phi cơ Việt Nam oanh tạc lầm vào 1 làng Mên, An Long Chrey cách biên giới 1 cây số, bị bắn rơi, 3 Phi công Việt Nam 1 Mỹ bị bắt, và bị hạ sát. Ngày 24/10/64, Một phi cơ C123 của Mỹ bay lạc qua Mên, bị Mên bắn rơi gần đồn Dak Dam.
Ngày 27/10/64, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một lần nữa, tỏ ý hân hoan về tình hình Chính trị tại Việt Nam. Ngày 29/10/64, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ tuyên bố, nếu Mên còn tấn công, Mỹ sẽ trả đủa mạnh. Ngày 2/11/64, có phong trào bài Mỹ ở Nam Vang, kiều dân Mỹ phải di tản.
V. Chiến sự các nơi.
1. Ngày 31/1/64, Hành quân Dân Tiến ở Quảng Tín, hạ 100 Việt Cộng... Ngày 5/2/64, kết quả hành quân Phượng Hoàng I, được bổ túc thêm, hạ 70 Việt Cộng, bắt 245 tên, tịch thu nhiều súng có cả bích kích pháo và đại liên; hủy 10 tấn lúa, gạo, và 3 công binh xưởng. Phía Việt Nam Cộng hoà: 20 chết, có 1 Cố vấn Anh và 4 Cố vấn Mỹ, 39 bị thương có 4 Cố vấn Mỹ. Ngày 7/2/64, Mìn nổ tại một quán rượu đường Nguyễn Cư Trinh, Sài Gòn, làm 8 chết, 24 bị thương. Ngày 10/2/64, Mìn nổ ở phi cảng Tân Sơn Nhất làm chết 2 quân nhân Mỹ và 23 bị thương.
Ngày 14/2/64, Hành quân tại ranh giới Bình Định, Quảng Tín từ ngày 21/1 hạ 41 Việt Cộng, bắt 16 tên, tịch thu một số súng; Phía ta 20 chết, 44 bị thương, 12 mất tích cùng với một số súng. Ngày 16/2/64, hành quân tại ranh giới Bình Định, Quảng Tín từ ngày 21/1 hạ 41 Việt Cộng, bắt 16 tên, tịch thu một số súng; Phía ta 20 chết, 44 bị thương, 12 mất tích cùng với một số súng. Ngày 17/2/64, mìn nổ tại Rạp Chiếu bóng Kinh Đô của Mỹ kiều tại Sài Gòn: Mỹ 3 chết, 50 bị thương; 9 người Việt bị thương. Ngày 18/2/64, hành quân tại Quảng Tín, hạ 70 Việt Cộng. Ngày 29/2/64, hành quân Phượng Hoàng tại Định Tường, 86 Việt Cộng bị hạ, 24 bị bắt.
2. Ngày 3/3/64, hành quân Quyết Thắng ở Kiến Phong, gần biên giới loại trừ 130 Việt Cộng; Phía ta 85 bị thương có cả Đại tá Cao Văn Viên. Và, Đại tá Viên được thăng Thiếu tướng. Ngày 9/3/64, hành quân tại Kontum, hạ 48 Việt Cộng. Ngày 11/3/64, hành quân Bình Định, hạ 42 Việt Cộng. Biệt kích Tây Ninh, đột nhập mật khu Thanh Điền, hạ 23 Việt Cộng, tịch thu một số súng và tài liệu; Phía ta 1 chết, 1 bị thương. Quận lỵ Thuần Hòa, Ba Xuyên bị pháo Kích, làm 10 Bảo An chết, 12 bị thương, và 20 thường dân bị thương. Ngày 23/3/64, hành quân “Phượng Hoàng 13 và 14/10/KP” phá hủy làng Chiến đấu Mỷ Hội của Tiểu đoàn 502 Việt Cộng, hạ 126 tên, 16 bị bắt với nhiều súng ống; Phía ta 4 chết, 22 bị thương.
Ngày 31/3/64, Hành quân ở Bình Dương, hạ 32 Việt Cộng... Ngày 3/4/64, có 16 phi cơ Việt Nam oanh tạc ban đêm lần đầu tiên thả 2.500 ký bom xuống gần biên giới Việt-Lào. Ngày 3/4/64, Việt Cộng tấn công vào trại nuôi bò và xưởng làm sửa ở Bến Cát, cướp 51 con bò. Ngày 8/4/64, Trung tâm Huấn luyện Phước Lợi gần Bến Lức bị đột kích 28 binh sĩ chết và 36 bị thương. Ngày 8/4/64, Kết quả hành quân tại ranh giới Bình Thuận-Bình Tuy và Lâm Đồng, hạ 79 Việt Cộng, 37 bị bắt, giải thoát hơn 2.000 đồng bào. Ngày 9/4/64, tại Mỏ Cày, Kiến Hòa, hành quân “trực thăng vận” hạ 42 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng; Phía ta 4 bị thương, 37 mất tích, 2 trực thăng trúng đạn, 1 chiếc phải phá hủy, 1 phi cơ T 28 bị cháy.
3. Ngày 10/4/64, Nổ lớn ở Kho đạn Dân vệ tại Cầu ngang, 7 chết, 3 bị thương, 84 súng cháy. Ngày 13/4/64, tại Kiến Phong, hành quân “Phượng Hoàng” từ hôm qua, hạ 85 Việt Cộng, bắt 1, tịch thu 15 súng và 12 thùng đạn; Phía ta 14 chết, 27 bị thương. Ngày 27/4/64, hành quân đại quy mô vào mật khu Đỗ Xá, với nhiều Tiểu đoàn, 25 phi cơ, và 100 trực thăng. Ngày 27/4/64, Hành quân tảo thanh tại Kiến Long, Chương Thiện hạ 82 Việt Cộng, tịch thu một số súng; Phía ta 11 chết, 2 xe bị hư hại. Ngày 30/4/64, Kết quả hành quân Đổ Xá, tới nay, thu 160 súng, đã ném 5.000 trái bom xuống các tụ điểm của địch quân; Phía ta, 15 trực thăng bị trúng đạn, 4 chiếc cùng 1 phóng pháo phải hạ cánh.
Ngày 2/5/64, Hàng không mẩu hạm Card 16.500 tấn, của Mỹ đậu ở bến Sài Gòn, bị đặt mìn nổ lúc sáng sớm, nước tràn vào tàu, 73 thủy thủ bị thương. Hồi 19 giờ, tại bến Bạch Đằng, lại ném lựu đạn vào lính Mỹ làm 8 người bị thương. Ngày 8/5/64, quân đội truy kích Việt Cộng tại Ấp Bến Trai, Gò Dầu Hạ, Tây Ninh, cách biên giới 800 thước, hạ 50 Việt Cộng, tịch thu 15 súng; nhưng bị quân Mên bắn đại bác cho Việt Cộng chạy thoát. Phía ta, 3 chết, 2 bị thương, 1 thiết vận xa bị cháy, mất 18 súng. Ngày 13/6/64, Tình hình chiến sự trong tuần: từ 7/6 đến 13/6/64, Việt Cộng, Tổng số hoạt động 217: chết 160, bị bắt 25, súng mất 76. Việt Nam Cộng hòa, Tổng số cuộc hành quân 178: chết 121, mất tích 51, mất súng 156.
4. Ngày 17/6/64, Quận lỵ Đức Hòa bị tấn công mạnh, Ta, thiệt hại khá nhiều, Việt Cộng cũng chết khá đông. Ngày 19/6/64, xe lửa bị giật mìn cách Nha Trang 16 cây số, 20 hành khách chết, 40 bị thương, 2 toa tàu bị cháy. Ngày 21/6/64, hành quân “Thăng Long-Hải Yến” tại ranh giới Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường, sau 1 giờ giao tranh, hạ 93 Việt Cộng, bắt 23 với 22 súng; Phía ta 23 tử thương. Ngày 26/6/64, phi cơ Việt Nam hạ hơn 200 Việt Cộng tại Suối Đá, Tây Ninh. Ngày 4/7/64, Đồn Polei-Krong cách Kontum 40 cây số, do Lực lượng Đặc biệt Thượng trú đóng bị tấn công mạnh 45 chết, 27 bị thương có 2 Cố vấn Mỹ, mất 105 súng. Trực thăng chuyễn quân tiếp viện tới tái chiếm ngay.
Ngày 6/7/64, Một Tiểu đoàn Việt Cộng với hỏa lực mạnh tấn công Lực lượng Đặc biệt tại Nam Đông, Thừa Thiên, bị hạ 49 tên; Phía ta 58 chết trong đó có 1 Mỹ 1 Úc. Ngày 6/7/64, Hành quân “Quyết Thắng 404” cách Tuy Hòa 16 cây số, hạ 25 Việt Cộng. Ngày 15/7/64, hành quân ở Cầu Ngang, Vĩnh Bình, hạ 100 Việt Cộng; Phía ta 17 tử thương. Ngày 21/7/64, Hành quân tiếp cứu Đồn Xóm Cụt, Chương Thiện hạ 200 Việt Cộng, phi cơ bắn chìm 3 thuyền chở xác; Phía ta 41 chết, 56 bị thương, 31 mất tích. Cũng ngày 26/7/64, Đồn Lai Khê gần Bến Cát, Bình Dương bị tấn công, 19 mất tích cùng với súng ống. Quân tiệp viện đến giao tranh kịch liệt hạ gần 300 Việt Cộng; Phía ta 25 chết, 23 bị thương, 11 mất tịch, và 35 súng, 1 chiến xa, và 1 xe vận tải bị hư hại.
5. Ngày 30/7/64, Việt Cộng lại tụ quân tấn công gần Bến Cát, 3 Tiểu đoàn viện binh đến đẩy lui. Phía ta: 11 chết trong đó có 1 Cố vấn Mỹ, 25 bị thương, 1 mất tích. Ngày 1/8/64, Mìn nổ lớn tại một quán rượu đường Nguyễn Minh Chiếu, Gia Định, 2 người chết, 20 người cả Việt lẫn Mỹ bị thương. Ngày 10/8/64, Hành quân “Thăng Long 17” tại Long Định, Định Tường, hạ 12 Việt Cộng, bắt 3 tình nghi. Ngày 14/8/64, tin tức chiến sự tuần qua: Việt Cộng 235 chết, 35 bị bắt, 76 súng bị tịch thu. Phía ta, 167 chết, 121 mất tích, 307 súng bị mất. Ngày 17/8/64, hơn 400 Việt Cộng tấn công các đồn Hòa Mỹ, Hiệp Hưng, Phong Dinh, 60 Việt Cộng bị hạ; Phía ta 22 chết, 53 bị thương.
Ngày 23/8/64, Hành quân Phú Cát, Bình Định hạ 26 Việt Công; Phía ta, 2 chết, 2 bị thương. Mìn nổ tại Rạp chiếu bóng Eden, Sại gòn, 1 chết, 3 bị thương. Ngày 25/8/64, Mìn nổ tại Khách sạn Caravelle lúc 12 giờ 11 người bị thương, 12 phòng bị phá. Ngày 5/9/64, hành quân Quảng Ngãi, hạ 103 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng. Ngày 5/9/64, Quân Mên bắn đại bác sang xã Vĩnh Xương quận Tân Châu, làm 2 người chết 4 bị thương. Ngày 13/9/64, Một Đại đội Việt Cộng tấn công đồn Ấp Chân Hưng, quận Hiếu Liêm, Phước Thành. Phía ta, 3 chết, 3 bị thương, 16 mất tích, và 33 súng. Ngày 17/9/64, Hành quân ở Quảng Nam, hạ 80 Việt Cộng.
6. Ngày 19/9/64, Hành quân ở An Giang, hạ hơn 100 Việt Cộng; Phía ta 23 chết, 41 bị thương, 18 mất tích. Ngày 23/9/64, Việt Cộng tấn công Lương Phước, Kiến Hòa bị đẩy lui, bỏ lại 40 xác. Ngày 3/10/64, hành quân ở Tân Phước, Cà Mâu, hạ 46 Việt Cộng, bắt 36 tên. Ngày 4/10/64, hai thanh niên mặc quân phục ném lựu đạn vào Khu Tân Sinh làm 3 người chết, 45 người bị thương. Ngày 4/10/64, Việt Cộng phục kích trên đường Sài Gòn-Bình Dương gây cho ta 25 chết, 42 bị thương, 14 mất tích; Phía địch 13 tên bị hạ. Ngày 7/10/64, chạm súng gần Đức Hòa, Việt Cộng bỏ lại 16 xác; Phía ta 33 chết, 43 bị thương, 20 mất tích. Quận lỵ Đức Phổ, Quảng Ngãi bị tấn công, 60 tên bị hạ.
Ngày 11/10/64, nhiều Tiểu đoàn Việt Công tấn công Gò Dầu Hạ, bỏ lại 55 xác, 12 bị bắt cùng với súng ống; Phía ta 28 chết, 38 bị thương, 32 mất tích, mất vài chục súng có 1 đại bạc 57 ly. Ngày 12/10/64, hành quân Phụng Sơn, Bình Định hạ 96 Việt Cộng, bắt sống 46 tên. Ngày 15/10/64, hành quân tai Châu Thới, quận Vĩnh Lợi, Bạc Liêu, nơi căn cứ của Tiểu đoàn Cơ động Việt Cộng Sóc Trăng, 89 Việt Cộng chết tại chỗ, 13 bị bắt, nhiều súng đạn bị tịch thu. Phía ta 6 chết, 25 bị thương.
7. Ngày 16/10/64, Việt Cộng với hỏa lực rất mạnh tấn công Mỹ Thạnh, Cầu Dinh, Bến Cát, Bình Dương. Trận đánh diễn ra giữa ban ngày. Buổi trưa chúng lại đánh 2 đồn gần Hậu Nghĩa, và 1 đồn gần Đức Huệ. Kết quả, Việt Cộng bỏ lại 70 xác, với nhiều súng ống; Phía ta 16 chết, 25 bị thương, 3 chiến xa bị hư hại. Ngày 1/11/64, Căn cứ Không quân Biên Hòa bị bắn phá, làm 6 chết, 32 bị thương, 28 phi cơ bị phá hủy hoặc hư hại. Ngày 3/11/64, Ba quận Bình Chánh, Gò Đen, Bến Lức đều bị Việt Cộng tấn công, quân ta chống trả, địch bỏ lại 23 xác.
VI. Những việc đã làm.
1. Ngày 1/2/64, Trung tướng Nguyễn Khánh tiếp Nhân viên Cao cấp của Ngoại Giao đoàn. Hội đồng Nhân sĩ vẫn họp và đề nghị Chính sách “Đại doàn kết”. Cùng ngày 1/2 Công chức có Quy chế hưu bổng mới (SL 77/TC). Ngày 2/2/64, Có tin đồn Trung tướng Dương Văn Minh bị bắt vì chống Nguyễn Khánh, nhưng cả 2 tướng cùng tới Chùa Xá Lợi dâng hương. Cùng ngày 2/2, Chủ nghĩa Cộng sản và Thuyết Trung lập thân Cộng bị đặt ra ngoài vòng Pháp luật (Sl 93/CT). Ngày 5/2/64, Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn về nước. Ngày 6/2/64, một số khá đông Chính trị phạm được phóng thích, và rời Côn Đảo.
Ngày 10/2/64, Chính trị gia Hồ Hữu Tường, và Trịnh Khánh Vàng được ân xá (SL 91/CT). Ngày 14/2/64, một phi cơ đi đón Thủ tướng Nguyễn Khánh ở Đà Nẵng bị nổ và rớt ở Quảng Nam, phi hành đoàn 4 người đều thiệt mạng. Ngày 16/2/64, Đài Phát thanh kêu gọi cựu Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần, và Trung tá Vương Văn Đông ra trình diện Cảnh sát. 17/2/64, Sĩ quan báo chí Bộ Quốc phòng cho biết, Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, sĩ quan cận vệ của Trung tướng Dương Văn Minh bị giữ hôm 30/1 tại Lữ đoàn Nhảy Dù đã tự vẫn bằng dây giày. Ngày 19/2/64, Quyền tự do ngôn luận được xác nhận, và cũng có những chế định trừng phạt đối với báo chí phạm lỗi. (SL 2/64).
2. Ngày 26/2/64 Bộ Công Dân Vụ được sáp nhập vào Bộ Thông Tin. Ngày 28/2/64, thành lập một Tòa án Cách mạng (SL 4/64). Ngày 3/3/64 Đại tá Cao Văn Viên được thăng Thiếu tướng. Ngày 8/3/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh công bố chương trình hoạt động của Chính phủ năm 1964. Ngày 9/3/64, Giải tán Ủy ban đặc trách Ấp Chiến Lược tại Trung ương và cấp Khu (SL 103/CT). Ngày 12/3/64, Một Uỷ ban đặc biệt Kinh tế và Tài chánh được thiết lập để thay thế Hội đồng tối cao Tiền tệ và Tín dụng lập từ năm 1957 (SL.134/KT/TC). Văn hoá Vụ Thông tin sáp nhập vào Bộ Giáo dục (NĐ 528/TTP/VP). 13/3/64, Tại Thủ Đức, một trái đạn súng cối bị rớt khi chuyển lên xe sau buổi thực tập phát nổ, làm chết 8 Sinh viên Sĩ quan, và 20 người khác bị thương.
Ngày 19/3/64, Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao được cử sang Nam Vang tiếp xúc với Sihanouk. Ngày 21/3/64, Thành lập Hội đồng Quân đội Cách mạng thay Hội đồng Quân nhân Cách mạng, Trung tướng Nguyễn Khánh được các tướng lãnh bầu làm Chủ tịch Hội đồng Quận đội Cách mạng. Hội đồng có một Uỷ ban Lãnh đạo, gồm: Chủ tịch: Trung tướng Nguyễn Khánh; Đệ nhất Phó Chủ tịch Trung tướng Trần Thiện Khiêm; Đệ nhị Phó Chủ tịch Thiếu tướng Đỗ Mậu; Đệ tam Phó Chủ tịch Trung tướng Phạm Xuân Chiểu. Cố vấn tối cao, Trung tướng Dương Văn Minh. Ngày 27/3/64, các tội hối lộ, lợi dụng quyền thế, biển thủ công nho bị phạt tử hình nếu số tiền quá 100.000$; khổ sai chung thân nếu số tiền từ 2.000$ đến 100.000$, nếu dưới 2.000$ xử theo thường luật (SL 112/SL/CT).
3. Ngày 28/3/64, Phan Quang Đông, nhân viên mật vụ của Ngô Đình Cẩn bị Tòa án Cách mạng họp ở Huế kêu án tử hình, tịch thu tài sản, bồi thường 18 triệu đồng cho gia đình các nạn nhân, về các tội “mưu sát; bắt giam trái phép; xách thủ tiền tài; lũng đoạn kinh tế”. Ngày 31/3/64, Hội đồng Nhân sĩ nhóm họp và ra quyết nghị “không tự giải tán, và không lãnh lương Hội viên”. Ngày 31/3/64, Thủ tướng ra Thông tư các công chức phải kê khai tài sản. Ngày 4/4/64, Chính phủ Giải tán Hội đồng Nhân sĩ, để thành lập Quốc hội Lập Hiến Dân cử (SL 115/SL/CT). Ngày 4/4/64, Chính phủ ban hành Sắc luật: Ấn định Nghĩa vụ Quốc gia, và Phòng vệ dân sự (SL 116/SL/CT).
Cùng ngày 4/4, Tổng trưởng Nội vụ Hà Thúc Ký từ chức. Ngày 7/4/64, Thiếu tướng Lâm Văn Phát được bổ Tổng trưởng Nội Vụ. Ngày 8/4/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh gắn cấp bậc Chuẩn tướng đầu tiên cho Đại tá Hải quân Chung Tấn Cang, và Đại tá Không quân Nguyễn Cao Kỳ. Các Đại sứ Lâm Lễ Trinh, Cao Thái Bảo, Nguyễn Công Viên được chấm dứt nhiệm vụ. Ngày 9/4/64, Trong năm 1963, đã xuất cảng 315 tấn gạo trị giá 2.017 triệu bạc Việt Nam. Ngày 12/4/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo xác nhận thế nào là “trí thức Phòng trà”. Đó là những người hay chỉ trích mà không làm gì cả. Họ không trông rõ sự đe dọa của Cộng sản, và bởi vậy từ chối hợp tác với Chính quyền.
4. Ngày 16/4/64, Tòa án Cách mạng họp phiên đầu tiên xét xử Ngô Đình Cẩn. Ngày 20/4/64, Ngô Đình Cẩn khai trước tòa “tôi quân sự không biết, hành chánh không biết, học tầm thường, làm sao ra lệnh đươc cho ai?”. Ngày 22/4/64, Ngô Đình Cẩn cũng bị khép vào các tội như của Phan Quang Đông, chỉ khác một tội cố sát. Cũng bị xử tử hình, tịch thu gia sản, liên đới bồi thường cho gia đình các nạn nhân. Ngày 24/4/64, Chiếu đề nghị của Tổng vụ Dân nguyện, Thủ tướng Nguyễn Khánh ra lệnh đình chỉ mọi vụ đuổi nhà, đòi đất, dù đã có phán quyết của Toà. Cùng ngày 24/4, Phan Quang Đông và Ngô Đình Cẩn xin ân xá. Ngày 29/4/64, Ban hành quy chế mới về Đông-Y-Dược, bỏ các điều khoản quá ngặt (S Luật 9/64).
Ngày 30/4/64, Ban hành thể lệ mới về việc xuất bản Báo chí và tổ chức báo giới; lập Hội đồng báo chí; phải tốt nghiệp trường báo chí, hoặc đã làm 7 năm; phải ký quỹ; phải kê khai số vốn và nguyên lai (S. Luật 10/64). Ngày 5/5/64, Quốc trưởng Dương Văn Minh bác đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn và Phan Quang Đông. Ngày 7/5/64, Bảo An Đoàn cải thành Địa Phương Quân thuộc Bộ Quốc Phòng (SL 189/QP). Ngày 9/5/64, Phan Quang Đông bị bắn tại Huế. Ngô Đình Cẩn bị bắn tại khám Chí Hòa, Sài Gòn. Ngày 12/5/64, Dân Vệ Đoàn cải thành Nghĩa Quân (SL 191/QP). Ngày 15/5/64, Hai Thượng tọa Thích Trí Quang và Thích Tâm Châu thông bạch “không hề có sự rạn nức giữa các lãnh đạo Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nhất là giữa hai anh em chúng tôi”.
5. Ngày 21/5/64, Thành lập Phủ Đặc ủy Chiêu hồi (SL 200/TTP). Ngày 22/5/64, các lực lượng võ trang hợp thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm Chủ Lực Quân, Địa Phương Quân, và Nghĩa Quân (SL 166/CT). Trụ sở Quốc hội củ được đổi thành nhà Văn hoá. Ngày 29/5/64, có 5 Đại tá được thăng Chuẩn tướng, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đỗng, Bùi Hữu Nhơn, Cao Hữu Hớn, Ngô Dzu. Hội đồng Quân đội Cách mạng hôm qua họp tại Đà Lạt xét xử các tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính và quyết định “phạt theo kỷ luật, loại khỏi Hội đồng Cách mạng một thời gian, và không giao phó chức vụ chỉ huy. Ngày 31/5/64, thành lập Hội đồng Nhân dân tại Đô Thành, Thị Xã, Tỉnh, và Xã, do dân bầu và có quyền biểu quyết các vấn đề theo thẩm quyền (Các SL 223a, 23b, 23c và 23d/NV).
Ngày 1/6/64, Bộ Thông tin cho biết sẽ huỷ bỏ độc quyền phát hành của Nhà phát hành Thống nhất. Ngày 2/6/64, Tại Sài Gòn, tòa án Cách mạng bắt đầu xét xử cựu Thiếu tá Đặng Sĩ, nguyên Phó Tỉnh trưởng Nội An Thừa Thiên, bị coi như có trách nhiệm trong vụ dẹp biểu tình ngày 8/5/63 tại Huế. Ngày 4/6/64, ban hành Sắc luật 115/SL/CT, thành lập Quốc hội Lập hiến Dân cử. Ngày 5/6/64, Bộ Nội Vụ cho biết, tử sau ngày 1/1/1963 đã phóng thích 25.969 phạm nhân, trong đó có 13.854 Chính trị phạm. Hiện có 7 Đảng phái đang hoạt động, 16 đơn xin thành lập, đã cấp 15 giấp phép.
6. Ngày 7/6/64, hơn 29 họ Đạo Hố Nai và các vùng Phụ cận Sài Gòn, cùng hàng vạn Giáo dân Đô thành biểu tình tại Công trường Lam Sơn với các biểu ngữ “Lột mặt nạ bọn lợi dụng Cách mạng để đàn áp Công giáo”, “Mị dân là phản bội dân chủ”, “Ủng hộ cuộc đấu tranh cuả Công giáo miền Trung”. Ngày 8/6/65, cựu Thiếu tá Đặng Sĩ bị kết án khổ sai chung thân, và phải bồi thường 1.350.000$ cho các gia đình nạn nhân chết ngày 8/5/1963 tại Đài Phát Thanh Huế. Cùng ngày 8/6/65, Tòa án Cách mạng xử vụ Nguyễn Văn Y, nguyên Đặc ủy Trung ương Tình báo, và 13 người khác liên quan đến vụ mất tích một số nhân vật đối lập với chế độ củ. Ngày 13/6/64, một số Chính trị gia cùng với các Tổng trưởng, Bộ trưởng nhóm họp tại Hội trường Diên Hồng, bàn về Quy chế các Đảng phái chính trị.
Ngày 18/6/64, vụ án Nguyễn Văn Y, tòa án Cách mạng tuyên 4 khổ sai chung thân, 9 người tha bổng. Ngày 22/6/64, Viện Hóa Đạo được phép quyên trong 1 năm, 20 triệu để xây Việt Nam Quốc Tự và các cơ sở Phật giáo. Ngày 23/6/64, tòa án Cách mạng Sài Gòn xử Dương Văn Hiếu nguyên Phụ tá Tổng Giám đốc Cảnh sát, cùng các cộng sự viên Nguyễn Thiện Dzai, Nguyên Tư Thái, Phan Khanh. Ngày 25/6/64, Trong vụ án Dương Văn Hiếu, Tòa án tuyên án 3 án khổ sai chung thân án 3 án khổ sai chung thân, 1 khổ sai hữu hạn. Thành lập Đoàn Tuyên úy Phật giáo trong Quân đội (SL 224/QP).
7. Ngày 1/7/64, Mỗi tỉnh có một Đoàn cán bộ Hành chánh lưu động (NĐ 1/295/; Thành lập Đoàn Tuyên úy Phật giáo trong Quân đội (SL 224/QP). Ngày 2/7/64, Thành lập Hội đồng Quốc gia Giáo dục (NĐ 1.203a/GD). Ngày 6/7/64, Số thí sinh Tú tài II khóa I tại Sài gòn 20.925 người. Ủy ban nghiên cứu Quy chế Đảng phái, ngưng họp ít lâu, nay tiếp tục họp lại. Ngày 12/7/64, Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, Phó thủ tướng cùng một số Chính trị gia cùng nhân sĩ lập “Lực lượng Quốc gia Thống nhất”. Ngày 15/7/64, Thiết lập trường Cao đẳng Hoá học tại Trung tâm Kỷ thuật Phú Thọ (NĐ 1.372/GD).
Cùng ngày 15/7/64, Các chủ báo được phát hành lấy, nhà chuyên môn phát hành được phép và ký quỹ, nhà Phát hành Thống nhất phải điều chỉnh tình trạng mới được tiếp tục hoạt động (NĐ 402/BTT). Ngày 16/7/64, Đô thành mở khoá Huấn luyện về Phòng vệ Dân sự cho 200 người ở mỗi Phường trong hạn tuổi từ 20 đến 45. Ngày 19/7/64, biểu tình lớn tại Công trường Lam Sơn lên án Cộng sản và Thực dân nhân ngày Quốc hận 20/7. Ngày 20/7/64, sinh viên Sài Gòn tổ chưc “Đêm không ngũ” tại Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, nhân ngày đất nước bị chia đôi. Cùng ngày 20/7/64, biểu tình lớn tại Bờ sông Bến Hải “đả đảo Cộng Sản”.
8. Ngày 21/7/64, hơn 100 Sinh viên biểu tình trước Tòa Đại sứ Pháp ở Sài Gòn, đốt xe, đập phá gây một số thiệt hại, Pháp chính thức phản kháng. Ngày 22/7/54, Tổng hội Sinh viên họp báo “nhiều người đề nghị quốc hữu hóa tài sản của Pháp và đọan giao với Pháp. Ngày 25/7/64, Bộ Ngoại giao Việt Nam hứa với Tòa Đại sứ Pháp “sẽ bồi thường vật chất do vụ Sinh viên biểu tình gây ra”. Ngày 26/7/64, Tối nay Sinh viên học sinh Sài Gòn tụ họp, giật đổ tượng đài “Chiến sĩ Trận vong” đường Duy Tân. Ngày 29/7/64, một Phái đoàn do Tổng vụ Dân nguyện hướng dẫn ra Duy Xuyên, Quảng Nam điều tra vụ 1.300 người bị bắt bớ và giữ học tập. Theo cuộc điều tra cũng có một số Cộng sản nằm vùng, hiện chỉ còn 50 Phật tử giữ lại học tập vài hôm.
Ngày 7/8/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc (SL 215/CT). Và những biện pháp đặc biệt sẽ thi hành (S.Luật 18/64). Tái lập kiểm duyệt báo chí (NĐ 453/BTT). Ngày 8/8/64, Giới nghiêm tại Sài Gòn, Gia Định từ 23 đến 4 giờ sáng. Ngày 11/8/64, Trung tướng Trần Thiện Khiêm được thăng Đại tướng, 8 Đại tá được thăng Chuẩn tướng gồm các Đại tá Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Nguyễn Cao, Nguyễn Văn Kiểm, Đặng Văn Quang, Vĩnh Lộc, Lê Nguyên Khang, Hoàng Xuân Lãm, một số Sĩ quan cấp Tá khác cũng được thăng cấp. Ngày 13/8/64, Trong 6 tháng đầu năm 1964, Việt Nam đã xuất cảng 45.199 tấn gạo. Ngày 15/8/64, các thể nhân, tài sản có thể bị trưng dụng để đáp nhu nhu cầu Dân sự và Quân sự (SL 20/64).
9. Ngày 16/8/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng họp ở Vũng Tàu, ban hành một Hiến chương mới, và bầu Trung tướng Nguyễn Khánh làm Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa. Cũng theo Hiến chương, Chủ tịch lãnh quyền Quốc trưởng với nhiều quyền hạn đặc biệt. Sẽ có một Quốc hội Lâm thời gồm 100 Hội viên Dân sự và 50 Hội viên Quân nhân do Hội đồng Quân đội Cách mạng chỉ định. Hội đồng Quân đội Cách mạng vẫn là Cơ quan lãnh đạo tối cao. Ngày 18/8/64, Nhiều địa phương và Đoàn thể gởi Điện văn và Kiến nghị Nhiệt liệt hoan nghênh Hiến chương ban bố đúng lúc, kính dâng Trung tướng Chủ tịch lời chúc mừng nồng nhiệt nguyện đồng tâm nhất trí, đoàn kết sau lưng...(nhiều báo có đăng).
Ngày 19/8/64, tại trụ sở đường Duy Tân, Sài Gòn, rất đông Sinh viên nhóm họp để bàn xét Chế độ mới do Hiến chương vừa ban hành. Ngày 20/8/64, Ký kết thỏa ước Việt - Đức, Việt Nam vay 15 triệu Đức Mã để nhập cảng máy móc cho kỹ nghệ Việt Nam. Ngày 20/8/64, Sinh viên tiếp tuc bàn thảo về Hiến chương Vũng Tàu. Ngày 22/8/64, Sinh viên kéo khá đông tới Phủ Thủ tướng: Buổi sáng, đưa kiến nghị phản đối Hiến chương, Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng tiếp thay Chủ tịch Nguyễn Khánh vắng mặt. Buổi trưa, Chủ tịch Nguyễn Khánh tiếp Đại diện sinh viên, Sinh viên ngỏ ý “không chấp nhận Hiến chương Vũng Tàu”, yêu cầu thành lập một Chính phủ trong sạch, trẻ trung, các tướng lãnh trở về nhiệm vụ quân sự, diệt trừ Cần Lao, và Thực dân Cộng sản ẩn nấp trong Chính quyền.
10. Kể từ hôm nay 23/8/64, thu hồi giấy bạc củ 500$ và Phát hành loại mới. Theo Việt Nam Press hôm qua, có tin đồn bọn đầu cơ đem bạc củ sang Hồng Kông đổi lấy lời. Ngày 23/8/64, sinh viên học sinh kéo tới Đài Phát thanh: đòi cải chính tin “Sinh viên đến gặp Chủ tịch Nguyễn Khánh để ủng hộ. Chưa thỏa mãn, sinh viên xông vào đập phá đồ đạt, hồ sơ, máy móc; Rồi xuống đường biểu tình qua trường J.J Rousseau, tới Bộ Thông tin chất vấn Tổng trưởng, Thứ trưởng đòi bãi bỏ kiểm duyệt và loan tin chính xác. Cùng ngày 23/8/64, Ba nhóm Chính khách cũng lên tiếng công kích “Hiến chương Vũng Tàu”, Nguyễn Tôn Hoàn của Đại Việt, Trương Bảo Sơn của Dân chủ Xã hội, và Quốc Dân Đảng của Biệt bộ Nguyễn Tường Tam.
Lúc 15 giờ cũng ngày 23/8/64, chừng 200 người đi xe buýt tới trụ sở Sinh viên, đường Duy Tân với Gậy, Dao, Búa đốt phá nhiều đồ đạt và giấy tờ. Ngày 25/8/64, Sinh viên, học sinh và hàng ngàn thanh niên các giới cả ông già, bà lảo biểu tình kỷ niệm Quách Thị Trang trước chợ Bến Thành, rồi kéo tới Phủ Chủ tịch đã đảo Hiến Chương Vũng Tàu, đả đả độc tài. Số người tới dự mỗi lúc một đông, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh, và Chủ tịch Nguyễn Khánh phải ra phủ dụ và hứa hẹn sẽ xét gấp vấn đề. Cùng ngày 25/8/64, Hội đồng Quân Đội Cách mạng nhóm họp tại Bộ Tổng Tham Mưu. Có tin đồn sẽ phá chùa, phá nhà thờ Đức Bà.v.v. Phật tử đổ xô tới canh gác Viện Hóa Đạo, tượng Quách Thị Trang. Các khu Công giáo cũng sôi động, nhiều nhà chuẩn bị gậy, dao, búa.v.v.
11. Ngày 26/8/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng họp từ hôm qua, ra Tuyên cáo: (1) Thu hồi Hiến chương 16/7/64; (2) sẽ bầu Nguyên thủ Quốc gia và Ủy Nguyên thủ thực hiện cơ cấu dân chủ; (3) Quân đội sẽ trở về nhiệm vụ quân sự; (4) Ủy Chính phủ hiện thời tạm điếu khiển Quốc gia”. Cùng ngày 26/8, tại Đà Nẳng, một đoàn biểu tình qua trại quân Mỹ ở Đà nẳng, có xô xát, đám đông chạy tràn vào làng Thanh Bồ, Tự vệ Công giáo tưởng bị tấn công đối phó lại. Ẩu đả lớn 11 người chết, 42 bị thương, nhiều nhà bị đốt.
Ngày 27/8/64, Hội đồng Quân Đội Cách mạng quyết định: (1) Lập một Ủy ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực gồm các tướng Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, và Nguyễn Khánh; (2) Cử Chính phủ Nguyễn Khánh tiếp tục nhiệm vụ, nhưng phải triệu tập Quốc dân Đại hội trong 2 tháng; (3) Có thể Ủy quyền cho một Phó Thủ tướng điều khiển Thừa ủy nhiệm Thủ tướng. Lúc 13 giờ cùng ngày 27/8, khi Hội đồng Quân đội Cách mạng đang họp tại Bộ Tổng Tham mưu, chừng 2.000 người từ ngoại ô kéo tới trước cổng với gậy, dao, búa đòi vào gặp Hội đồng. Họ trưng biểu ngữ “Ủng hộ Hội đồng Quan đội Cách mạng; Chống Cộng và chống Trung lập; chống phá hoại Đài Phát thanh và Bộ Thông Tin; chống Âm mưu chia rẽ”.v.v.
12. Quân Cảnh ngăn cản, đám người cứ xông lên, bị bắn chết 4, bị thương 11. Phía Quân cảnh 1 bị chém và một số bị thương. Lúc 14 giờ, một đoàn người khác cũng trang bị như trên, kéo đến Đài Phát thanh, đòi Phát thanh bản Tuyên ngôn của họ, qua đường Phan Đình Phùng gây lộn với một số học sinh trường Kỷ thuật Nguyễn Tường Tộ, học sinh trường nầy, cùng trường bạn Nguyễn Cao Thắng kéo tới đánh lại 13 người bị thương, 8 người thuộc đoàn người biểu tình bị bắt. Đoàn người biểu tình kéo tới hai trường đòi thả 8 người bị bắt kia, rồi xông vào đánh lộn lẫn nữa. Có 2 học sinh bị đoàn người biểu tình đâm chết. Linh mục Hồ Văn Vui và Thượng Tọa Thích Tuệ Đăng tới hòa giải mãi đến hơn 19 giờ mọi người mới chịu giải tán.
Buổi chiều tối, cũng ngày 27/7/64 nầy, các Khu Công giáo Phú Nhuận, Trương Minh Giảng báo động và thanh niên ra đầu đường canh gác. Tại Viện Hóa Đạo, Chợ Bến Thành cũng nhan nhản thanh niên đứng canh. Tòa Tổng Giám Mục và Viện Hóa Đạo ra “Thông cáo chung” khuyên nhủ hai bên Giáo đồ bình tỉnh, và tránh mọi xách động. Báo giới Thủ đô, Tòa Đô Chánh cũng kêu gọi dân chúng giữ hòa khí và trật tự. Ngày 28/8/64, các trường học vẫn sôi nổi. Thanh niên vẫn tụ tập rất đông tại các công trường Lam Sơn, Diên Hồng v.v. Cảnh sát bắt 19 người trong đó có một số du đảng. Cùng ngày 28/8/1964, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử điều khiển Chính phủ, thừa Ủy nhiệm Thủ tướng. Phó Thủ tướng Oánh ban bố tình trạng giới nghiêm trong Sài Gòn Gia Định.
13. Lúc 13 giờ cùng ngày 28/8/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo, đã kích Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký đã mưu đảo chánh. Khoảng 14 giờ vài trăm người mang gậy gộc tới trường Nguyễn Bá Tòng, Thanh niên Công giáo đến giải vây. Hai bên đánh lộn. Xe của Đức Giám mục Nguyễn Văn Thiên cũng bị xô đẩy. Đến 17g30, bọn người biểu tình tấn công lại kéo đến đông hơn tới đập phá Tòa báo Xây Dựng và Nhà in trong trường. Quân đội phải đến giữ trật tự. Nhưng đến tối nhiều đoàn khác lại kéo đến đánh phá. Du đảng cũng xen vào quấy rối. Đội Nhảy dù phải nổ súng đến 11 giờ đêm mới giải tán được. Riêng cuộc tấn công, ẩu đả nầy làm 2 người chết, 48 người phải vào bệnh viện. Bộ Giáo dục ra lệnh tạm đóng cửa các trường học ở Sài Gòn Gia Định.
Ngày 29/8/64, Quân đội giải tán các đám thanh niên canh gác hoặc tụ họp trước chợ Bến Thành và nhiều ngã đường. Viện Hóa Đạo thông cáo “từ nay không chịu trách nhiệm về các vụ bạo động. Nguyện vọng của Phật giáo đã được thỏa mãn, cuộc vận động tranh đấu chấm dứt. Ngày 30/8/64, Bộ Tổng Tư lệnh Thông cáo Quân đội quyết chống lại các cuộc biểu tình bạo động, và nếu cần sẽ nổ súng. Lễ an tán những người Công giáo bị bắn trước Bộ Tổng Tham Mưu. Có nhiều Tổng trưởng đi đưa. Chính phủ hứa sẽ bồi thường cho các gia đình nạn nhân. Ngày 31/8/64, hai xác thanh niên bị chết trong vụ phá trường Nguyễn Bá Tòng, được quàn tại Viện Hóa Đạo để làm lễ câu siêu.
14. Ngày 31/8/64, Theo Nha Cảnh sát trong số 661 người bị bắt ngày 28 hầu hết đã được thả ra, chỉ còn 16 người đợi điều tra. Ngày 1/9/64, Phó Thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn từ chức. Ngày 1/9/64, Một văn phòng Tôn giáo được thành lập gồm Đại diện Công giáo, Phật giáo và cả Cảnh sát để giải quyết các khó khăn và hiểu lầm. Cùng ngày 1/9/64, Thượng tọa Tâm Châu ra Thông bạch, những việc xẩy ra ngày 12/8/64 chứng tỏ Phật giáo vẫn bị đe dọa, Chánh quyền phải dứt khoát với nhóm người phá hoại thuộc chế độ cũ, không thể chụp mũ là du đảng để bắt bớ, nếu tới ngày 27/10/64 mà nguyện vọng của Phật giáo chưa đạt thì sẽ bãi thị bãi khóa. Ngày 3/9/64, Trung tướng Dương Văn Minh và Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh ra Huế trấn tĩnh dư luận.
Cùng ngày 3/9/64, Đại tá Trần Ngọc Huyến từ chức Tổng trưởng Thông Tin. Ngày 7/9/64, Trung tướng Dương Văn Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực (QĐ số 2/LĐQGQL). Ngày 8/9/64, thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia với nhiệm vụ: (1) triệu tập Quốc dân Đại hội; (2) soạn thảo Hiến Pháp; (3) thực hiện các cơ cấu Quốc gia, và (4) làm Cố vấn cho Chính phủ và Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực (QĐ số 7/BLĐQGQL) với 16 thành viên: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Xuân Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Đình Luyện, Hồ Đắc Thắng.
15. Cùng ngày 8/9/64, Thu hồi Ủy quyền Thủ tướng cho Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh; Tái lập tỉnh Bạc Liêu, Châu Đốc, và lập mới Thị xã Vũng Tầu (SL 245,246,247/NV); Cũng ngày 8/9/64 nầy, Linh mục Hoàng Quỳnh Chủ tịch Ủy ban Tranh đấu Công giáo gởi thư ngỏ cho Thủ tướng Nguyễn Khánh trách Chính phủ không quan tâm đến các vụ đàn áp Công giáo trong những ngày vừa qua, yêu cầu điều tra vô tư, giải quyết các vụ ở Đà nẳng, Quy Nhơn và vãn hồi an ninh, nếu không Công giáo sẽ tự vệ và không chịu trách nhiệm về hậu quả.
Ngày 9/9/64, bốn quân nhân rút khỏi Chính phủ Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, và Đại tá Trần Ngọc Huyến. Cùng ngày 9/9, Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên được bổ Tổng trưởng Nội vụ. Giáo sư Trần Văn Hương được bổ Đô trưởng Sài Gòn thay Đại tá Dương Ngọc Lắm; Bốn tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính được về Sài Gòn. Cũng ngày 9/9, thể lệ kiểm duyệt báo chí trong tình trạng khẩn trương được bãi bỏ. Ngày 10/9/64, các Tổng trưởng Bùi Tường Huân (Giáo dục), và Trần Quang Thuận (Xã hội) từ chức; Đại tá Nguyễn Quang Sanh được cử làm Tổng Giám đốc Cảnh sát thay Đại tá Trần Thanh Bền.
16. Ngày 13/9/64, Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát kéo quân về Sài Gòn chiếm đóng một số địa điểm, cả Phủ Thủ tướng, Đài Phát thanh đả kích Thủ tướng Nguyễn Khánh, và nhân danh “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” tuyên bố vãn hồi trật tự đã bị phá hoại, cùng uy quyền Quốc gia đã bị miệt thị (10 giờ). Tổng Tư lệnh Quân đội, Đại tướng Trần Thiện Khiêm ra lệnh cho Quân đội không theo phe đảo chánh. Thủ tướng Nguyễn Khánh ở Đà Lạt lên án tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát trên Đài Phát thanh. Nhiều Tướng lãnh khác họp tại Bộ Tư lệnh Không quân. Dân chúng vẫn đi lại như bình thường.
Ngày 14/9/64, các Tướng lãnh họp ở Bộ Tư lệnh Không quân cương quyết đòi Tướng Dương Văn Đức phải rút quân về các vị trí củ tại Vùng IV, nếu không sẽ đối phó. Sáng nay quân của tướng Đức đã rút dần khỏi Đô Thành không xẩy ra vụ xô xát nào. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố, Hoa kỳ vẫn ủng hộ Chính phủ Nguyễn Khánh. Sinh viên nhóm họp và biểu tình đả đảo Dư đảng Cần lao đã mưu toan đảo chánh. Ngày 15/9/64, tướng Dương Văn Đức tuyên bố không đảo chánh chỉ có biểu dương lực lượng để cứu vãn uy tín cho Chính phủ và Quân đội, đồng thời chống lại sự trở về của 5 tướng bị an trí ở Đà Lạt.
17. Ngày 16/9/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh về Sại Gòn ra lệnh điều tra vụ đảo chánh hụt. Một số nhân vật và các sĩ quan liên can bị bắt. Một số bị kêu ra trình diện. Ngày 17/9/64, bị cách chức những tướng tá liên can đến vụ 13/9 là Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm, Đại tá Huỳnh Văn Tồn, Trung tá Dương Hiếu Nghĩa. Ngày 18/9/64, một số Giáo sư và sinh viên Đại học Huế đòi Linh mục Cao Văn Luận từ chức để khỏi trở ngại cho Phong trào đấu tranh của "Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” mới thành lập với mục đích “bài trừ Cần Lao”.
Ngày 19/9/64, Chuẩn tướng Nguyễn Chánh Thi được cử làm Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật. Ngày 20/9/64, lực lượng Đặc biệt người Thượng do Mỹ huấn luyện nổi loạn ở đồn Sapar, Ban Mê Thuột, chiếm Đài Phát thanh, bắt giữ 60 Sĩ quan, và Hạ sĩ quan làm con tin, đòi quy chế tự trị. Thủ tướng Nguyễn Khánh lên điều đình. Tổng hội Sinh viên Sài Gòn bàn tính lập đoàn Tự vệ riêng, lý do chính quyền không bảo đảm được an ninh. Cũng ngày 20/9/64 nầy, trong cuộc họp báo Chuẩn tướng Nguyễn Đức Thắng cho biết từ 1/1/63 đến 8/9/63, Cao Mên đã xâm nhập lãnh thổ Việt Nam 134 lần.
18. Ngày 21/9/64, Tổng Liên đoàn Lao công, cho biết sẽ đình công 48 giờ để ủng hộ Công nhân hãng dệt Vimytex bị sa thải. Vài ngàn thợ biểu tình trước phủ Thủ tướng, đòi tự do nghiệp đoàn, tự do hội họp dù có lệnh giới nghiêm. Cùng ngày 21/9/64, Hàng ngàn thanh niên do Hội đồng Nhân dân Cứu quốc kích động chiếm Đài Phát thanh và nhiều Công sở ở Quy Nhơn, đồng thời lùng bắt Cần Lao. Tại Phan Thiết, hàng ngàn thanh niên cũng phát động Phong trào đấu tranh diệt trừ Cần Lao, nhiều cuộc xô xát xẩy ra. Ngày 22/9/64, Vụ Thượng nổi loạn sắp được dàn xếp ổn thỏa, Đại tá Mỹ Freund làm trung gian điều đình, Thủ tướng Nguyễn Khánh hứa hẹn nhiều cải cách.
Ngày 25/9/64, Phái đoàn Viện trợ Mỹ xác nhận, hàng ngàn dao bắt được tại Lò rèn Lâm Hiệp Thành, Xóm Củi, không phải là của Cần Lao đặt để chém giết như tin đồn, nhưng là của Viện trợ Mỹ thuê làm để trao cho phủ Bình Định, phát cho Nông dân theo chương trình khuyến nông. Ngày 26/9/64, Thượng Hội đồng Quốc gia làm lể trình diện tại Hội trường Diên Hồng. Cùng ngày 26/9/64, Tỉnh Thừa Thiên cùng nhiều tỉnh khác ở Trung Phần thành lập HĐNDCQ để thanh toán Cần Lao. Ngày 27/9/64, Phan Khắc Sữu được bầu làm Chủ tịch Thượng Hội đồng. Tỉnh Thừa Thiên cùng nhiều tỉnh khác ở Trung Phần lập Hội đồng Nhân dân Cứu quốc để thanh toán Cần Lao.
19. Cùng ngày 27/9, Chừng vài trăm người tự xưng “Lực lượng Sinh viên, học sinh Bảo vệ Giáo dục thuần túy” biểu tình trước Viện Đại học Sài Gòn với biểu ngữ “Đưa Chính trị ra khỏi Học đường”. Cũng ngày 27/9 nầy, Hội đồng Chỉ đạo Sinh viên, học sinh Sài Gòn quyết nghị và Thông cáo “Chống đảng phái chính trị xen vào lấn vào học đường, và chống sự lôi cuốn Sinh viên làm chính trị". Ngày 28/9/64, Lực lượng Đặc biệt Thượng ở Ban Mê Thuột chịu ra đầu hàng. Đồn đã được giao trả cho Quân đội. Cùng ngày 28/9/64, Nhiều cuôc biểu tình bạo động tiếp tục ở Quy Nhơn. Ngày 30/9/64, Phó thủ tướng Đỗ Mậu từ chức.
Cùng ngày 30/9/64, Tổng hội Sinh viên nhóm họp, phản đối các vụ gây rối ở Trung Phần, yêu cầu các giới đoàn kết, trừng trị Cần lao, chấm dứt tình trạng Chính phủ Xử lý thường vụ... Ngày 1/10/64, Luật sư Nghiêm Xuân Hồng Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng, và Đặc Ủy Chiêu Hồi từ chức. Ngày 2/10/64, các Hội đồng Nhân dân Cứu quốc các tỉnh vẫn hoạt động quá khích ở Trung Phần, và định nhóm họp Đại hội tại Huế để ấn định chính sách chung. Ngày 5/10/64, Đặt chức Tổng thư ký Toà Đô chánh và 2 Phó Đô trưởng (SL 284/TTP). Ngày 5/10/64, Tổng Liên đoàn Lao Công vẫn chuẩn bị đình công, quân đội tới gác trụ sở.
20. Cũng ngày 5/10/64, Hội đồng Chỉ đạo Sinh viên họp tại rạp Thống Nhất đả kích các Hội đồng Nhân dân Cứu quốc Miền Trung. Ngày 7/10/64, Đại tướng Trần Thiện Khiêm lên đường thăm viếng thiện chí nhiều nước đã giúp đở Việt Nam. Ngày 8/10/64, Sáu Sinh viên từ Huế vào Sài Gòn họp báo, tuyên bố ủng hộ Hội đồng Nhân dân Cứu quốc. Ngày 9/10/64, Việc bầu cử Hội đồng Nhân dân Đô thành, Thị xã, Tỉnh, và Xã bị đình lại cho đến khi có lệnh mới. (SL 295/TTP). Ngày 14/10/64, lần đầu tiên từ 10 năm nay lương căn bản Công chức được tăng 10%, Phụ cấp đắc đỏ các hạn đều bằng nhau (SL 300-e và 300-g/TTP).
Ngày 15/10/64 Tòa án quân sự Mặt trận xử Vụ biến cố 13/9/64. Ngày 17/10/64, các cấp chỉ huy trong quân đội được ấn định lại (SL302a/QP). Ngày 18/10/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh công bố Chính sách đối với đồng bào Thượng và những biện pháp cải cách sẽ thi hành. Cùng ngày 18/10, Đại hội các Sắc dân Thượng tại Pleiku. Ngày 19/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực tuyên bố “Thượng Hội đồng Quốc gia có quyền và có bổn phận thực hiện các Cơ cấu Quốc gia, chọn vị Nguyên thủ, lập Chính phủ trước ngày 27/10/64”.
21. Ngày 20/10/64, Ban bố Hiến chương Lâm thời do Thượng Hội đồng Quốc gia soạn thảo, theo đó: (1) Sẽ có 1 Quốc trưởng tuyển nhiệm theo thể thức do Quốc dân Đại hội ấn định; (2) Quyền Lập pháp thuộc Quốc dân Đại hội; (3) Thủ tướng do Quốc trưởng chọn và Đại hội chấp nhận. Cùng ngày 20/10, Ban hành Quy chế Quân nhân Hiện dịch (SL 13/CT/LĐQGQL); Và, năm Tướng bị an trị tại Đà Lạt tha về được tái xử dụng, làm Phụ tá cho Tổng Tư lệnh trong 5 lãnh vực khác nhau. Ngày 21/10/64, Đại tướng Lê Văn Tỵ mới được thăng Thống tướng từ trần, thọ 61 tuổi. Sáu Chuẩn tướng được thăng Thiếu tướng: Nguyễn Cao Kỳ, Lê Nguyên Khang, Chung Tấn Cang, Bùi Hữu Nhơn, Phạm Văn Đổng, Nguyễn Chánh Thi.
Ngày 22/10/64, “Quận đội là cha Quốc gia”, Phủ Thủ tướng minh xác về lời tuyên bố nầy của Thủ tướng Nguyễn Khánh tại Pleiku, rằng chỉ muốn nói “vai trò của Quân đội là tối quan trọng”. Ngày 23/10/64, Tòa án quân sự Mặt trận tuyên án tất cả 12 người liên can đến vụ 13/9/64 đều được tha bổng. Ngày 24/10/64, Đại tướng Trần Thiện Khiêm được bổ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ. Ngày 24/10/64, Quy chế Ngân hàng tại Việt Nam được ban hành (SL 18/CT/UBLĐQG); Quy chế mới về Nghiệp đoàn được ban hành, thành lập trong 1 tháng, được giấp thừa nhận chính thức trong 3 tháng. (SL 19/CT/UBLĐQG). Cùng ngày 24/10/64, Thượng Hội đồng Quốc gia tuyển nhiệm Chủ tịch Pham Khắc Sữu làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa (Quyết nghị số 1).
22. Ngày 25/10/64, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ được bầu Quyền Chủ tịch Thượng Hội Đồng. Cùng ngày 25/10/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh tiếp tân từ giã mọi người. Ngày 26/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực chính thức chuyễn giao quyền hành cho Quốc trưởng. Cùng ngày 26/10, Chính phủ Nguyễn Khánh đệ đơn từ chức. Ngày 27/10/64, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một lần nữa, tỏ ý hân hoan về tình hình Chính trị tại Việt Nam./.
3. CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG:
4.11.1964 - 16/2/1965.
I. Bối cảnh thành lập.
Ngày 29/10/64, Quốc trưởng Phan Khắc Sữu mời Bác sĩ Hồ Văn Nhựt lập Chính phủ, Bác sĩ Nhựt từ chối. Ngày 30/10/64, Quốc trưởng Phan Khắc Sữu mời Giáo sư Trần Văn Hương lập Chính phủ. Ngày 1/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trình bày Chương trình hành động trước Thượng Hội Đồng Quốc gia. Ngày 4/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trình diện Nội các lên Quốc trưởng.
II. Thành viên Chính phủ.
Th.tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Trần Văn Hương | Thủ tướng, Tổng trg Quân lực | |
2 | Nguyễn Lưu Viên | Phó Thủ tướng, Tổng trg Nội vụ | |
3 | Nguyễn Xuân Oánh | Phó Thủ tướng, Thg đốc Ngân hàng | |
4 | Phạm Đăng Lâm | Tổng tưởng Ngoại giao | |
5 | Lữ Văn Vy | Tổng trưởng Tư pháp | |
6 | Lê Văn Tuấn | Tổng trưởng Thông tin | |
7 | Nguyễn Duy Xuân | Tổng trưởng Kinh tế | |
8 | Lưu Văn Tính | Tổng trưởng Tài chánh | |
9 | Ngô Ngọc Đối | Tổng trưởng Cải tiến Nông thôn | |
10 | Lê Sĩ Ngạc | Tổng trưởng Công chánh | |
11 | Phan Tấn Chức | Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục | |
12 | Trần Quang Diệu | Tổng trưởng Y tế | |
13 | Đàm Sĩ Hiến | Tổng trưởng Xã hội | |
14 | Nguyễn Hữu Hùng | Tổng trưởng Lao động | |
15 | Phạm Văn Toàn | Tổng trưởng tại Phủ Thủ tướng | |
III. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 18/11/64, Mìn nổ tại Câu Lạc bộ Phi trường Tân Sơn Nhất làm 18 Người Mỹ và 1 người Việt bị thương. Cùng ngày 18/11, Phía sau trụ sở Phái đoàn quân sự Mỹ đường Trần Hưng Đạo bị đốt cháy. Ngày 7 tháng Hai 1965, sau vụ cộng sản tấn công vào phi trường Pleiku phá hủy mười máy bay, làm chết 8 quân nhân Mỹ và trên 100 người khác bị thương, Tổng thống Johnson ra lệnh máy bay từ Đệ thất Hạm đội oanh tạc một số cơ sở quân sự cộng sản ở Đồng Hới.Ngày 10/02/65, Việt Cộng một lần nữa tấn công, lần này là căn cứ của Mỹ ở Qui Nhơn, giết chết 23 người Mỹ. Ngày 1/12/64, theo tin từ Đông Kinh, một số phi cơ Mỹ ném bom xuống 4 địa điểm gần Bến Hải, Bắc Việt.
Ngày 24/12/64, Mìn nổ dữ dội tại Khách sạn Brink của quân nhân Mỹ, gần Quốc hội củ 20 phòng bị sập, 13 xe cháy, 3 người Mỹ chết, hơn 100 bị thương trong đó có cả khách qua đường. Ngày 25/12/64, tướng Nguyễn Khánh tuyên bố với báo New York Herald Tribune: “Tướng Taylor đã có những hành động không thể tưởng tượng, muốn dùng áp lực đối với người hữu trách Việt Nam”; rằng “nếu ông ta không khéo xử thì Việt Nam sẽ mất’; rằng “Mỹ nên tính việc lớn với những ai có thực lực ở xứ nầy”; rằng “ông Taylor không thể buộc dân Việt Nam phải chịu đựng những nhà lãnh đạo mà dân Việt Nam không muốn”.
2. Hôm sau, ngày 26/12/64, Tòa Đại sứ Mỹ minh xác “Đại sứ Taylor chỉ làm đúng nhiệm vụ của một Đại sứ”. Ngày 25/12/64, Bop Hope tài tử cười, trình diễn ở Đà Nẳng, và Pleiku cho quân nhân Mỹ nhân dịp lẽ Giáng sinh. Ngày 26/12/64, không quân Mỹ oanh tạc Tchépone, Xiêng Khouang và đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào. Ngày 11/2/1965, Đức Giáo Hoàng Paul VI, vị Giáo Hoàng nổi tiếng thân Nga Xô và thân Hà Nội kêu gọi ngưng chiến ở Việt Nam. Ngày 14/2/65, Đại sứ Taylor tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn "Nhân dân Việt Nam đã chán ngán vì bị tấn công mãi mà không được trả đũa. Không còn có thể coi Bắc Việt là sào huyệt an toàn nữa". Từ đó, Mỹ bắt đầu ném bom Bắc Việt và soạn sửa đem quân vào miền Nam.
IV. Chiến sự các nơi.
1. Ngày 4/11/64, hành quân An Xuyên, hạ 50 Việt Cộng, tịch thu 28 súng; Phía ta 1 chết, 16 bị thương. Ngày 7/11/64, có 24 phi cơ Việt Nam dội 120 tấn bom xuống Chiến khu D gần Phước Thành, phá hủy 150 căn trại, nhiều kho lương, súng đạn. Ngày 12/11/64, hành quân ở Phú Hữu, Vĩnh Bình, hạ 30 Việt Cộng. Ngày 18/11/64, hành quân “Phong Hóa I” tấn công Chiến khu D, cách Biên Hòa 40 cây số, 115 trực thăng chở quân đổ bộ, Trung tướng Nguyễn Khánh đích thân chỉ huy. Ngày 19/11/64, hành quân “Quyết Thắng 436” tại vùng Gia Hòa, Quảng Nam, hạ 57 Việt Cộng, 7 tên bị bắt; Phía ta, 3 chết 19 bị thương.
Ngày 20/11/64, hành quân “Đà Nẵng II” vùng Lê Mỹ, Quảng Nam, hạ 35 Việt Cộng, bắt sống 1 tên, thu một cố súng. Ngày 21/11/64, chấm dứt hành quân “Thăng Long 27” vùng Liên ranh Sùng Hiếu-Khiêm Ích, Đinh Tường, hạ 106 Việt Cộng, bắt sống 55 tên, thu một số súng. Ngày 22/11/64, Hơn 100 lính Mên ở biên giới bắn bích kích pháo vào toán tuần tiểu đồn Vĩnh Xương, Châu Đốc, rồi kéo sang bắn vào đồn 1 binh sĩ bị thương. Ngày 24/11/64, kết quả hành quân “Phong Hóa I” vào Chiến khu D, hạ 163 Việt Cộng, bắt sống 68 tên, thu 24 súng, 563 lựu đạn, phá 5 địa đạo dài 1,5 cây số; Phía ta, 22 bị thương, 1 mất tích.
2. Ngày 25/11/64, hành quân vùng Ba Dừa, Cai Lậy, Định Tường, hạ 90 Việt Cộng, bắt sống 54 tên. Không quân oanh kích một căn cứ Việt Cộng ở Gò Công, hạ 37 Việt Cộng, phá hủy một số trại. Ngày 27/11/64, hành quân tại Cam Lộ, Quảng Trị, hạ hơn 100 Việt Cộng. Ngày 30/11/64, kết quả hành quân Ba Dừa, Chợ Gạo, Định Tường, hạ 285 Việt Cộng, bắt sống 146 tên, bắn bị thương vài trăm. Hành quân “Đà Nẵng 5” vùng Viêm Minh, Hòa Vang, Quảng Nam, hạ 54 Việt Cộng, bắt sống 21 tên; Phía ta 1 bị thương. Hơn 100 lính Miên ở biên giới, bắn bích kích pháo vào toán tuần tiểu của đồn Vĩnh Xương, Châu Đốc. Sau lại kéo sang bằn vào đồn, 1 binh sĩ của ta bị tử thương. Ngày 3/12/64, hành quân Bời Lời, Tây Ninh, hạ 50 Việt Cộng, tịch thu nhiều tấn thực phẩm.
Ngày 5/12/64, hành quân “Dân Chí 92/SĐ” tại Tân Lập, Cà Mâu, hạ 138 Việt Cộng của Tiểu đoàn U Minh 2, bắt được nhiều vũ khí, phá huỷ Công binh xưởng; Phía ta 5 chết, 30 bị thương. Ngày 7/12/64, Tu viện Nguyên Thiều, ở Phước Tuy, nơi đồng bào bão lụt tạm trú bị Việt Cộng tấn công làm 5 thường dân chết, 15 bị thương, 5 binh sĩ chết, mất 3 súng, và 1 máy truyền tin. Ngày 8/12/64, Quận lỵ An Lão, Bình Định bị tấn công mạnh, Viện binh tới phản công có phi cơ yểm trợ thả bom Napalm. Đồi 193 bị chiếm và giành lại nhiều lần. Ngày 10/12/64, Việt Cộng đánh đồn Bà Dừa, Định Tường, Phía ta, 12 chết, 15 bị thương. Việt Cộng, 15 bị hạ, và 51 xác bỏ lại trên ghe.
3. Cũng ngày 10/12/64, Tại Quảng Nam, Việt Cộng đánh vào 1 Tiểu đoàn Việt Nam Cộng hòa tại Đồi 159 cách Tam Kỳ 8 cây số, không quân phải dội nhiều bom Napalm. Ngày 10 và 11/12/64, trận An Lão tiếp tục dữ dội, Việt Cộng mở nhiều cuộc xung phong ồ ạt, máy bay lại phải can thiệp mạnh. Ngày 11/12/64, Việt Cộng tấn công Vị Thanh, Chương Thiện, bị hạ 180 tên; Phía ta 8 chết, 56 bị thương. Ngày 12/12/64, Trận Tam Kỳ tiếp tục, tại Đồi 159, Việt Cộng bỏ lại 124 xác. Ngày 12/12/64, mìn nổ tại 1 quán rượu đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, 16 người bị thương. Cũng ngày 12/12/64, trận Tam Kỳ tiếp tục, tại Đồi 159, Việt Cộng bỏ lại 124 xác.
Ngày 27/12/64, hành quân Dân Chí 100/SD ở Sóc Trăng, 2 Tiểu đoàn Việt Nam Cộng hoà đánh 4 Tiểu doàn Việt Cộng, hạ 82, bắt sống 8, thu nhiều súng các loại. Cũng ngày 27/12/64, Việt Cộng tập trung rất đông tại Bình Giả, Phước Lể mở trận đánh lớn. Quân tiếp viện bằng trực thăng khó đổ bộ. Nhiều Tiểu đoàn Biệt Động Quân tham chiến, có phi cơ yểm trợ bắn phá mạnh. Ngày 29/12/64, Việt Cộng rút bớt quân ở Bình Giả. Khám phá được nhiều đường hầm kiên cố và rất dài, với các kho thực phẩm và đạn dược. Ngày 31/12/64, tái chiếm được Bình Giả, kết quả 3 ngày đêm ác chiến 132 Việt Cộng chết; Phía Việt Nam Cộng hòa 44 chết, 34 bị thương, 41 mất tích.
V. Những việc đã làm
1. Ngày 4/11/64, Trung tướng Nguyễn Khánh được cử làm Tổng Tư Lệnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Ngày 4/11/64, Tổng hội Sinh viên nhóm họp tỏ ý dè dặt về thành phần Chính phủ. Ngày 5/11/64, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ từ chức Quyền Chủ tịch Thượng Hội đồng, vì không đồng ý việc thành lập Chính phủ Trần Văn Hương. Ngày 6/11/64, Sinh viên Sài Gòn nhóm họp đả kích thành phần Chính phủ Trần Văn Hương, đòi xét lại toàn diện vấn đề, và chỉnh đốn lại Thượng Hội đồng vì lý do có nhiều phần tử gây chia rẽ. Ngày 7/11/64, Có nhiều tin đồn Sinh viên và Phật tử sẽ xuống đường phản đối chính phủ.
Cùng ngày 7/11/64, Trung tướng Dương Văn Minh được cử làm Đặc phái viên của Quốc trưởng tại ngoại quốc. Ngày 9/11/64, Bộ Thông tin tuyên bố, Chính phủ không cải tổ, không từ chức. Ngày 11/11/64, Sinh viên Sài Gòn tiếp tục Hội thảo sôi nổi, tuyên bố không thể chờ đợi, phải hành động mạnh, không chịu “một Chính phủ Chuyên viên già nua” lại bị “Nhóm Tinh thần giật dây”. Ngày 12/11/64, Việt Cộng xúi dân biểu tình tại Sông Cầu, 7 người bị bắn chết 11 người bị thương. Ngày 12/11/64, Trung tướng Dương Văn Minh được cử làm Đặc phái viên của Quốc trưởng rời Sài Gòn đi công cán ở ngoại quốc.
2. Ngày 13/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trả lời thắc mắc của Thượng Hội đồng, và tuyên bố “phải lập uy quyền quốc gia, tách rời chính trị và tôn giáo, đưa tôn giáo ra khỏi Chính trị”. Ngày 14/11/64, Bộ Quân lực thông cáo, thanh niên trong độ tuổi quân dịch bị bắt trong cuộc biểu tình phải nhập ngũ tức khắc. Ngày 14/11/64, Có 6 Nhật báo bị tịch thu vì đăng tin có hại cho chính phủ. Ngày 15/11/64, Quân đội và Cảnh sát canh gác trong nhiều ngã đường Sài Gòn cả trước dinh Gia Long. Ngày 16/11/64, Thượng Hội đồng Quốc gia quyết định lập một Ủy ban điều tra về thành phần Chính phủ.
Cùng ngày 16/11, Sinh viên yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, yêu cầu giải tán Chính phủ Trần Văn Hương. Ngày 18/11/64, Luật sư Lê Văn Thu được bầu làm Chủ tịch Thương Hội đồng Quốc gia. Ngày 19/11/64, một số thanh niên, chính khách họp tại Hồ tắm Chi Lăng, Gia Định công kích chính phủ Trần Văn Hương. Ngày 20/11/64, Biểu tình chống Chính phủ tại Tuy An, Phú Yên, 2 người bị thương. Cùng ngày 20/11, Văn phòng Thủ tướng Chính phủ cho biết có 148 nhà trí thức ký giấy ủng hộ Chính phủ và Thủ tướng.
3. Ngày 22/11/64, biểu tình lớn ở nhiều nơi, Chợ Bến Thành, đường Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Sài Gòn, với biểu ngữ đả kích Thủ tướng Trần Văn Hương và Chính phủ. Cảnh sát giải tán bằng lựu đạn cay mắt. Người biểu tình ném đá lung tung nhiều người bị thương. Học sinh hai Trường Cao Thắng, và Nguyễn Tường Tộ đánh nhau với học sinh trường Nguyễn Trãi, 12 bị thương. Cảnh sát phải ném lựu đạn cay mắt mới giải tán được. Ngày 23/11/64, vài báo đăng kiến nghị của một số Đoàn thể gởi về ủng hộ Chính phủ. Ngày 24/11/64, Trung tướng Dương Văn Minh, được thăng Đại tướng.
Ngày 24/11/64, Thượng tọa Tâm Châu gởi thư lên Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, và Thượng Hội đồng Quốc gia yêu cầu có thái độ dứt khoát với Chính phủ, chấm dứt bắt bớ, thả những người bị giam, ra lệnh không được đàn áp. Cùng ngày 24/11/64, Học sinh trường tư Lê Quý Đôn đóng chặt cửa, không chịu về. Cảnh sát phải phá cửa vào nhưng bị ném gạch, đá, Phụ huynh học sinh mang đồ ăn tiếp tế cho con em. Ngày 25/11/64, tại trường Hồng Lạc, và Trần Quốc Toản: Buổi sáng học sinh bãi khóa, phản đối việc bắt bớ những người biểu tình; Buổi trưa, một đội Nhảy Dù tới cùng với 1 biện lý, một lựu đạn nổ, một số người bị thương;
4. Buổi chiều cùng ngày 25/11, nhiều đám người khác lại kéo đến nhập với học sinh biểu tình, cũng bị ném gạch, đá; Tới 21 giờ Cảnh sát và quân đội mới giải tán được, 85 người bị thương, 238 bị bắt. Giới nghiêm từ 10 giờ đêm đến 5 giờ sáng. Các trường học đóng cửa cho đến khi có lệnh mới.. Ngày 27/11/64, Thiết quân luật tại Sài Gòn và Gia Định trong 1 tháng (SL 29/QT). Thiếu tướng Phạm Văn Đỗng, được cử làm Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định. Đại tá Trần Thanh Bền tái bổ Tổng Giám đốc Cánh sát. Cùng ngày 27/11/64, Thiết lập Hội đồng tối cao Công vụ trù liệu trong quy chế Công chức từ năm 1950 (SL 341/TTP).
Cũng ngày 27/11/64 nầy, Ấn định lại các Vùng Chiến Thuật và các Khu Chiến Thuật: 4 Vùng Chiến Thuật, 1 Biệt Khu Thủ Đô, 1 Đặc Khu Rừng Sát (SL số 343/QL). Ngày 28/11/64, Thành lập Trung tâm Khuếch trương Xuất cảng (SL 345/KT). Cùng ngày 28/11, Thủ tướng Trần Văn Hương tuyên bố “không lùi bước; phải dùng mọi cách tái lập trật tự”. Và cho biết, trong các vụ biểu tình vừa qua, có bắt 228 người, nhưng đã thả 202 người, gọi nhập ngũ 35, chỉ còn giữ 1 người. Có 71 Cảnh sát bị thương. Cũng ngày 28/11, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ họp báo tuyên bố cùng với nhiều đảng phái thành lập một “Hội đồng Dân tộc Cách mạng” để cứu vãn tình thế.
5. Ngày 29/11/64, trò Lê Văn Ngọc bị chết trong vụ biểu tình ngày 25/11, hôm nay mai táng. Rất đông thanh niên đi đưa. Xô xát tại Cầu Bông với Cảnh sát. Nhân viên an ninh bắt được võ khí dấu trong xe số NDG 228 của đoàn hộ tang, một số thanh niên bị bắt. Ngày 30/11/64, lúc 4 giờ sáng, một đầu máy hỏa xa không tài xế chạy hết tốc lực về Ga Sài Gòn, lao vào Ga làm đổ sập một góc nhà, 9 người chết, 13 bị thương, thiệt hại khá lớn. Ngày 4/12/64, Hội đồng Tướng lãnh họp tại Đà Lạt tuyên bố ủng hộ một Chính quyền Dân sự lành mạnh, và chuẩn bị thành lập một Hội đồng Quân lực. Ngày 4/12/64, Các trường Tiểu học ở Sài Gòn-Gia Định được mở lại.
Ngày 5/12/64, Chuẩn tướng Đặng Văn Quang được thăng Thiếu tướng. Ngày 8/12/64, thành lập Tổng Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Hiến chương cũng được thừa nhận do Đạo Luật số 1/64, của Thượng Hội đồng Quốc gia. Có Viện Chưởng giáo, Viện Hoằng pháp, và Viện Hộ đạo. Ngày 8/12/64, Một số dụng cụ tài sản tịch thu của gia đình Họ Ngô đem ra bán đấu giá lấy tiền sung vào quỷ Cứu trợ bão lụt. Ngày 8/12/64, Chính phủ Trần văn Hương phản đối sự chỉ định một Ủy ban của Thượng Hội đồng Quốc gia để xét lại thành phần Chính phủ. Ngày 12/12/64, Thượng tọa Tâm Châu kêu gọi Phật tử bình tỉnh, tránh xách động.
6. Ngày 13/12/64, Có tin Đức tăng thống Thích Tịnh Khiết, các Thượng tọa Thích trí Quang, Thích Tâm Châu tuyệt thực 48 giờ. Ngày 15/12/64, Luật sư Phan Tấn Chức từ chức Tổng trưởng Giáo dục, Giáo sư Nguyễn Văn Trường được cử thay thế. Ngày 16/12/64, Thượng Hội đồng Quốc gia thăm dò ý kiến của một số nhân vật của một số nhân vật về việc triệu tập Quốc dân Đại hội. Ngày 17/12/64, một số Tướng lãnh trẻ yết kiến Quốc trưởng trình bày việc cho một số Tướng lãnh già về hưu. Ngày 18/12/64, đã có 60 trường mở cửa lại. Ngày 18/12/64, Tổng Tư lệnh Nguyễn Khánh ra Huấn lệnh thành lập một Hội đồng Quân lưc để giúp đở Tổng Tư lệnh với tư cách Cố vấn.
Ngày 20/12/64, Hội đồng Quân lực tuyên bố "không tín nhiệm, giải tán Thượng Hội đồng Quốc gia” vì đã gây chia rẽ, mua chuộc một số Tướng lãnh, có óc bè phái. Một số Thành viên của Thượng Hội đồng, cùng chính khách bị “coi là xôi thịt” đã bị “cô lập”. Thông cáo chung của của Hội đồng Quân lực và Chính phủ: “Ông Phan Khắc Sửu vẫn được lưu nhiệm Quốc trưởng; Ông Trần Văn Hương và Chính phủ vẫn được Quân lực tín nhiệm cho tới khi có Quốc dân Đại hội; Quốc trưởng tạm giữ Quyền Lập pháp; Chánh phủ phải triệu tập Quốc dân Đại hội; Quân lực giữ nhiệm vụ hòa giải mọi cuộc tranh chấp”.
7. Ngày 20/12/64, Nhật lệnh của Trung tướng Nguyễn Khánh: “Quân lực không thực hiện chính sách của ngoại bang nào cả; Thà thanh bạch trong độc lập còn hơn giàu sang mà tủi nhục trong nô lệ ngoại bang”. Ngày 21/12/64, tại Chơn Đức, tu viện Gia Định, Hòa thượng Thích Từ Quang, Viện trưởng Viện Hoằng pháp của Tổng Giáo hội Phật giáo Việt Nam bị 4 thanh niên hành hung. Ngày 23/12/64, Bộ Tổng Tư lệnh thông cáo Hội đồng Quân lực không phải là Hội đồng Quân đội Cách mạng, Hội đồng Quân lực chỉ có nhiệm vụ tư vấn đối cho Tổng Tư lệnh. Sau “Quyết định tối cần ngày 20/12/64” Hội đồng đã trở về với cương vị củ.
Ngày 23/12/64, Theo Bộ Y tế, tại thời điểm nầy (12/64) tại Việt Nam, chỉ có 1 Bác sỉ cho 50.000 dân. 24/12/64, Đại tướng Dương Văn Minh từ Đài Bắc trở về Sài Gòn. Ngày 25/12/64, Triển hạn 1 tháng tình trạng thiết Quân luật tại Sài Gòn-Gia Định (SL 49/QT/SL). Ngày 31/12/64, Các Tướng lãnh vẫn họp bàn tại Vũng Tàu để tìm “Giải pháp cho tình thế”. Ngày 1 tháng 1 năm 1965 Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Ngày 18/1/1965, sau nhiều vận động hậu trường và nhiều thoả hiệp chia ghế, chính phủ Trần Văn Hương tuy chưa bị lật đổ nhưng phải cải tổ, với sự tham gia của bốn tướng là Nguyễn Văn Thiệu, Đệ nhị Phó thủ tướng; Trần Văn Minh, Tổng trưởng Quân lực; Linh Quang Viên,Tổng trưởng tâm lý chiến; Nguyễn Cao Kỳ, Tổng trưởng thanh niên thể thao.
8. Ngày 20 tháng 1, tướng Thiệu bàn giao chức Tư lệnh Quân đoàn IV cho Thiếu tướng Đặng Văn Quang. Ngày 20/1/65, các thượng toạ Trí Quang, Tâm Châu, Pháp Trí, Thiện Hoa, Hộ Giác bắt đầu tuyệt thực trong lúc tăng ni Phật tử tiếp tục biểu tình. Ngày 22/1/65 họ kéo đến trước toà đại sứ Mỹ với biểu ngữ “Hãy để cho dân tộc Việt nam tự quyết”. Ngày 23/1/65, Thủ tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân kêu gọi mọi người tránh các vụ xách động, rằng ông sẽ lãnh trách nhiệm trước tình thế, rồi lên án "lũ lưu manh cạo đầu rồi mặc sắc phục tăng ni”. Tối 23/1/65, tại Huế, một đoàn biểu tình kéo tới phòng Thông tin Hoa kỳ ném đá và đốt cháy thư viện Mỹ với 5.000 cuốn sách. Sinh viên đại học Huế đặt chướng ngại vật chặn các lối vào lớp học.
Cũng ngày 23/1, tại Nha Trang, 300 tăng ni tuyệt thực. Các cuộc biểu tình của Phật giáo, Hội đồng Nhân dân Cứu quốc và sinh viên vẫn tiếp diễn cho đến ngày 27 tháng giêng năm 1965 mới tạm thời lắng dịu. Ngày 27/1/1965, Hội đồng Quân lực tuyên cáo "Quân đội đã trả quyền từ ngày 27 tháng 10 năm 1964, cho phía dân sự nhưng tình thế mỗi ngày mỗi rối ren. Sau ba ngày thảo luận, Hội đồng Quân lực quyết định uỷ nhiệm tướng Nguyễn Khánh triệu tập ngay một Hội đồng quân dân gồm 20 đại diện các tôn giáo, nhân sĩ, và quân đội giải quyết cuộc khủng hoảng.
9. Ngày 28/1/65, theo quyết định của Hội đồng Quân lực Quốc trưởng Phan Khắc Sửu được lưu nhiệm, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử làm quyền Thủ tướng. (Hình như Thủ tướng Trần Văn Hương đã bị các tướng lĩnh đem đi cô lập ở Vũng Tàu). Cùng ngày 28/1 này, Thượng toạ Trí Quang họp báo cáo cho biết chỉ muốn đừng dung thứ những phần tử xấu thuộc chế độ cũ và đừng coi Phật giáo là Cộng sản. Phật giáo cũng không chống Mỹ, nhưng Việt Nam cũng không thể bị hiểu lầm là tay sai của Mỹ./.
4. CHÍNH PHỦ PHAN HUY QUÁT:
16/2/1965 - 19/6/1965.
I. Bối cảnh thành lập.
Ngày 16/2/1965, thừa Uỷ nhiệm Hội đồng Quân lực, Trung tướng Nguyễn Khánh Tổng tư lệnh Quân đội VNCH ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bổ nhiệm ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng Chính phủ thay thế Thủ tướng Trần Văn Hương. Cùng ngày 16/2/65, Thủ tướng Phan Huy Quát trình diện Nội các lên Quốc trưởng.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Phan Huy Quát | Thủ tướng | Bác sĩ |
2 | Trần Văn Đỗ | Phó thủ tướng, Tổng trưởng Ngoại giao | Bác sĩ |
3 | Nguyễn Văn Thiệu | Phó thủ tướng, Tổng trg Quốc phòng | Trg tướng |
4 | Trần Văn Tuyên | Phó thủ tướng, Tổng trưởng Kế hoạch | Luật sư |
5 | Nguyễn Hòa Hiệp | Tổng trưởng Nội vụ | |
6 | Lữ Văn Vi | Tổng trưởng Tư pháp | Luật sư |
7 | Trần Văn Kiện | Tổng trưởng Tài chánh | Giáo sư |
8 | Nguyễn Văn Vinh | Tổng trưởng Kinh tế | Giáo sư |
9 | Nguyễn Tấn Hồng | Tổng trg Thanh niên Thể thao | Bác sĩ |
10 | Ngô Trọng Anh | Tổng trg Giao thg Công chánh | Kỷ sư |
11 | Trần Quang Thuận | Tổng trưởng Xã hội | Giáo sư |
12 | Trần Văn Ân | Tổng trưởng Chiêu hồi | |
13 | Nguyễn Văn Hoàng | Tổng trưởng Lao động | |
14 | Nguyễn Ngọc | Tổng trưởng Điền địa | |
15 | Linh Quang Viên | Tổng trưởng Chiến tranh Tâm lý và Thông tin. | Thiếu tướng |
16 | Lê Văn Hoạch | Tổng trưởng không Bộ | Bác sĩ |
17 | Nguyễn Tiến Hỷ | Tổng trưởng không Bộ, Quyền Tổng trưởng Giáo dục | Bác sĩ |
18 | Bùi Hữu Tuấn | Thứ trưởng Bộ Công chánh | Kỷ sư |
19 | Nguyễn Văn Tường | Tổng trưởng Bộ Nội vụ | |
20 | Bùi Diễm | Đổng lý Văn phòng Phủ thủ tướng | |
III. Sự kiện liên quan.
1. Ngày 8/3/65, hơn 1.500 thuỷ quân lục chiến Mỹ đầu tiên tới Đà Nẵng. Cũng cần nhắc lại rằng dưới thời Đệ nhất Cộng hoà, tổng số quân Mỹ tại Việt nam là 17.000 người, 14 tháng sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, quân số Mỹ tại Việt nam là 23.000 người. Ngày 23/3/65, Hội đồng quốc gia Lập pháp ra tuyên ngôn tán thành việc Thuỷ quân lục chiến Mỹ sang tham chiến tại Việt Nam. Việc Mỹ gởi Thuỷ quân lục chiến vào Nam Việt Nam, và ném bom Bắc Việt, người quốc gia chống cộng hy vọng rằng Việt Nam Cộng hoà sẽ chiến thắng. Chính phủ Việt Nam, và quân đội VNCH hoan hỷ chào mừng quyết tâm chống Cộng của Tổng thống Johnson trong việc leo thang chiến tranh.
IV. Chiến sự các nơi.
Ngày 8/4/65, tại Vỏ Xu, Bình Tuy, Việt cộng lại bắt đi Đại Đức Thích Bảo Huệ và một số phật tử.
V. Những việc đã làm.
1. Ngày 17/2/65, Hội đồng quân lực ra quyết định thành lập Hội đồng Quốc gia Lập Pháp gồm 20 người đại diện đủ thành phần tôn giáo và sáu tướng tá. Chủ tịch Hội đồng là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu. Ngày 19/2/65, đại tá Phạm Ngọc Thảo kéo một lực lượng bộ binh và chiến xa về Sài gòn chiếm đóng trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh và bến Bạch Đằng. Các tướng lĩnh họp ở phi trường Tân Sơn Nhất, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân bay trên thủ đô quan sát tình hình và ra lệnh cho quân nổi dậy phải rút nếu không sẽ bị ném bom. Trong lúc đó thì trên đài phát thanh Ba Xuyên, Tổng Tư lệnh Quân đội Trung tướng Nguyễn Khánh ra lệnh cho các binh sĩ bị lôi cuốn vào cuộc nổi dậy hãy trở về đơn vị.
Tại Huế, lực lượng sinh viên học sinh lên án lực lượng bảo vệ dân tộc và những "phần tử Cần lao" trong cuộc nổi dậy của Phạm Ngọc Thảo. Ngày 20/2/65, trên đài phát thanh Nha Trang, Thượng toạ Tâm Châu kêu gọi phật tử ủng hộ "Hội đồng quân lực”. Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi Tư lệnh Quân đoàn I từ Đà Nẳng vào Sài gòn đảm nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn giải phóng thủ đô, ra lệnh cho đại tá Thảo và 13 sĩ quan khác phải trình diện trong 24 giờ, nhưng Thảo và một số sĩ quan cùng những nhân vật Công giáo đều đã trốn.
2. Cùng ngày Ngày 20/2/65 này, Hội đồng Quân lực nhóm họp và quyết định cử Trung tướng Trần Văn Minh làm Tổng tư lệnh quân đội, thay thế Trung tướng Nguyễn Khánh, rằng Tướng Khánh âm mưu tạo ra xáo trộn để trở lại nắm chính quyền. Ngày 21/2/65, Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi ra thông báo nhấn mạnh đến ước vọng cách mạng của quân lực VNCH là dân chủ, công bằng và hoà bình. Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ và Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi bắt đầu kết hợp với nhau để chống Trung tướng Nguyễn Khánh. Ngày 22/2/65, Trung tướng Nguyễn Khánh được thăng Đại tướng, bổ nhiệm chức đại sứ lưu động, và Trung tá Phạm Văn Liễu được giữ chức Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia.
Ngày 25/2/65, Đại tướng Nguyễn Khánh được tặng đệ nhất hạng Kim Khánh rồi mang theo nắm đất rời khỏi Việt Nam. Quân lực Việt Nam cho đến ngày hôm đó có bốn vị đại tướng, một ông chết và ba ông ra đi, dù ra đi với chức đại sứ, nhưng sự thật đã bị nhóm tướng trẻ đuổi ra khỏi Việt Nam. Việc tướng Khánh ra đi đã đặt Quân lực Việt Nam Cộng hoà nằm trong tay nhóm tướng trẻ Young Turk. Các "tướng già" còn lại như Trung tướng Trần Văn Minh, Trung tướng Phạm Xuân Chiểu, Trung tướng Linh Quang Viên, Trung tướng Phạm Văn Đống... là chỉ để cho các tướng trẻ điều động đặt đâu ngồi đó, việc quốc gia đại sự, việc lãnh đạo chiến tranh này hoàn toàn nằm trong tay các tướng trẻ, đặc biệt là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.
3. Ngày 27/2/65, giữa Sài gòn, một số người nhân danh "Phong trào bảo vệ hoà bình" (thân Cộng) rải truyền đơn kiến nghị, tuyên truyền về vấn đề hoà bình tại Việt Nam. Thượng toạ Thích Quang Liên có chân trong phong trào này. Ngày 3/3/65, Hội đồng Quân lực công bố thành phần Uỷ ban Thường vụ: Tổng thư ký, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu; Uy viên Ngoại giao, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ; Uỷ viên Chính trị, Thiếu tướng Linh Quang Viên; Uỷ viên An ninh, Thiếu tướng Phạm Văn Đống; Phụ tá Tổng thư ký, Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. Cùng ngày này, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ công bố một bức tâm thư cho biết quân lực sẽ chủ trương thực hiện cuộc cách mạng toàn diện trên mọi lãnh vực.
Ngày 11/3/65, Viện Hoá Đạo ra thông cáo: “Phong trào tranh thủ hoà bình" của Thượng toạ Quảng Liên không liên quan gì đến Phật giáo cả, rằng Phong trào do Thượng toạ thành lập với tư cách cá nhân. Bộ Nội vụ công bố danh tính 358 người đã kiến nghị của "Uỷ ban vận động hoà bình" trong đó có 24 sinh viên, 123 học sinh, 78 lao động, 67 người buôn bán, 22 công chức, 20 giáo viên, 11 ký giả, 5 kỹ sư, 5 bác sĩ, dược sĩ, 3 luật sư. Cùng ngày 11/3/65 này, Hà Minh Trí, cán bộ Cao Đài, người ám sát hụt Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1957 được thả tự do. Ngày 17/3/65, Thượng toạ Quảng Liên từ chức Chủ tịch phong trào bảo vệ hoà bình.
4. Cùng ngày 23/3/65, Hội đồng chính phủ quyết định chia 160 triệu bạc tịch thu được của gia đình họ Ngô cho đồng bào, học sinh và gia đình binh sĩ nghèo. Ngày 2/4/65, ni cô Thích Huệ Thiện tẩm xăng vào người toan tự thiêu tại chùa Từ Vân, Gia Định vì thấy những sự đau khổ do chiến tranh gây ra, nhưng các Phật tử đã kịp thời cứu được. Ngày 20/4/65, Sa di Thích Gia Thanh tự thiêu sau Viện Hoá Đạo, vì thấy cảnh tang tóc và chiến tranh. Ngày 4/5/65, chính phủ Phan Huy Quát quyết định chấm dứt chương trình phát thanh của phái bộ Văn hoá Pháp tại Việt nam vì đại diện Pháp tại SEATO đã có thái độ bất thân thiện với Việt Nam, đồng thời trục xuất thông tin viên Ageorges của Pháp tấn xã.
Ngày 5/5/65, Hội đồng quân lực tuyên bố tự giải tán để các tướng lĩnh trở về nhiệm vụ quân sự thuần tuý. Ngày 21/5/65, Phủ Thủ tướng thông cáo rằng cơ quan an ninh đã bắt được 17 quân nhân và 12 dân sự âm mưu đảo chính ngày hôm qua. Những quân nhân trên đây cũng đã từng liên can đến vụ biểu dương lực lượng của Phạm Ngọc Thảo ngày 19/2/65. Ngày 25/5/65, Thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ. Giữa buổi trình diện Chính phủ, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu cho biết không thể ký bổ nhiệm các ông Nguyễn Văn Thoàn và Nguyễn Trung Trinh vì lẽ các ông Nguyễn Hoà Hiệp và Nguyễn Văn Vinh không từ chức.
5. Cũng ngày 25/5 này, Thượng toạ Thích Quảng Liên, nguyên Chủ tịch Phong trào Bảo vệ hoà bình, sau cuộc du hành tại Nhật về tới Tân Sơn Nhất được Bộ Nội vụ yêu cầu đừng về nước vì có thể bị lợi dụng nên ông phải đáp phi cơ đi thẳng đến Thái Lan và ở luôn tại đó. Ngày 26/5, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát bày tỏ những bất đồng quan điểm về quyền hạn thay thế Bộ trưởng. Ngày 27/5/65, một phái đoàn đại diện lực lượng Đại đoàn kết Công giáo do Linh mục Hoàng Quỳnh hướng dẫn yết kiến Quốc trưởng cùng Hội đồng Quốc gia lập pháp, đưa kiến nghị không tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát và yêu cầu chỉ định Thủ tướng khác.
Lý do: Linh mục Hoàng Quỳnh viện dẫn là chính phủ Phan Huy Quát gây chia rẽ, không chống Cộng hữu hiệu và thân Pháp. Ngày 1/6/65, trong lúc cuộc khủng hoảng về việc cải tổ nội các chưa giải quyết thì linh mục Hồ Văn Vui hướng dẫn 60 đại diện của Mặt trận Công giáo Việt Nam đến yết kiến Quốc trưởng cùng Hội đồng Quốc gia lập pháp đưa kiến nghị tương tự như kiến nghị của Linh mục Hoàng Quỳnh yêu cầu giải tán chính phủ Phan Huy Quát. Từ ngày 2/6/65, một số Linh mục, chính khách của các đảng phái gởi kiến nghị lên Quốc trưởng bất tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát.
6. Ngày 3/6/65, Thủ tướng Phan Huy Quát họp với một số tướng lĩnh bàn thảo về việc khủng hoảng Nội các, và sau đó cùng các tướng lĩnh sang yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Trong lúc đó một số nhân vật khác lại nhân danh các đoàn thể (11 đoàn thể ) gởi kiến nghị lên Quốc trưởng và Hội đồng Quốc gia lập pháp chống chia rẽ và tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát. Theo tin UPI thì chính phủ Hoa Kỳ vẫn tín nhiệm chính phủ Phan Huy Quát. Ngày 4/6, nhiều truyền đơn chống chính phủ Quát được tung ra trên nhiều ngả đường. Đêm mồng 5/6/65, vài trăm người Công giáo chống đối chính phủ Quát tụ họp trên đường Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký, Gia định. Họ đốt một xe hơi, hành hung 5 người, và gây thương tích cho hai cảnh sát viên.
Ngày 7/6/65, hơn 200 cụ già thuộc các đoàn thể công giáo tới dinh Gia Long yết kiến Quốc trưởng cùng Chủ tịch Hội đồng quốc gia lập pháp, yêu cầu giải quyết gấp cuộc khủng hoảng, rồi ngồi lại trong Dinh từ 16 đến 22 giờ mới chịu ra về. Ngày 8/6, hơn 100 thanh niên, sinh viên, học sinh thuộc các đoàn thể thanh niên Đại đoàn kết và sinh viên học sinh Tự dân tới dinh Gia Long yêu cầu giải quyết cuộc khủng hoảng và cũng ở lại đó từ 10 giờ đến 16 giờ mới về. Trong lúc đó, lực lượng Đại đoàn kết tổ chức họp báo tại Gia định xác nhận lập trường chống đối chính phủ Phan Huy Quát của khối Công giáo.
7. Ngày 9/6, Thủ tướng Phan Huy Quát họp báo giải thích về cuộc khủng hoảng. Ông thuật lại các nỗ lực hoà giải của ông mà vẫn không thành, trình bày chi tiết về âm mưu đảo chính đêm 20/5/65, của phe Công giáo và âm mưu lập chính phủ Liên hiệp Trung lập của phe "Hoà bình", đồng thời ông cũng trả lời các luận điệu chỉ trích rồi kết luận rằng ông yêu cầu quân đội đứng ra lãnh vai trò trung gian để giữ thế quân bình cho đến khi có một chính quyền dân cử.
5. CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ:
19/6/1965 – 9/11/1967.
I. Bối cảnh thành lập.
1. Ngày 11/6/65, các tướng lĩnh nhóm họp tại Sài gòn để xét thư của Thủ tướng Phan Huy Quát yêu cầu quân đội làm trung gian điều giải về vụ khủng hoảng nội các. Trong khi đó, Quốc trưởng, Thủ tướng và Hội đồng quốc gia lập pháp đều ra tuyên cáo xác định rằng những cơ cấu và thể chế quốc gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế nữa, nên giao trả cho quân đội trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia. Hội Đồng Quân Đội họp liên tục trong căn cứ Không Quân, kết quả là Hội Đồng đồng ý nhận lời yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát. Hội Đồng quyết định thành lập một “Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia” để lãnh đạo đất nước theo nguyên tắc “Ủy Ban quyết định, những thành viên thi hành”.
Thành viên Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia căn cứ vào các chức vụ đương nhiệm trong quân đội gồm 11 vị: Chủ Tịch; Tổng Thư Ký; Thủ Tướng; Tổng Trưởng Quốc Phòng; Tổng Tham Mưu Trưởng; Tư Lệnh Hải Quân; Tư Lệnh Không Quân; Tư Lệnh Quân Đoàn I; Tư Lệnh Quân Đoàn II; Tư Lệnh Quân Đoàn III; và Tư Lệnh Quân Đoàn IV.
2. Kết quả bầu chọn các chức vụ như sau: (1) Chủ Tịch: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu; (2) Tổng Thư Ký: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu; (3) Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tức Thủ Tướng: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Kỳ còn kiêm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Không Quân; (4) Tổng Ủy Viên Chiến Tranh tức Tổng Trưởng Quốc Phòng: Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng Có còn kiêm nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa; (5) Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân; (6) Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I; (7) Thiếu Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II; (8) Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tư Lệnh Quân Đoàn III; (9) và Thiếu Tướng Đặng Văn Quang, Tư lệnh Quân Đoàn IV.
Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia chọn ngày 19 tháng 06 năm 1965 ra mắt tân Chánh phủ. Ngày 19 tháng 06 năm 1965, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ trình diện Chính phủ, lên Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, với danh xưng Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương.
II. Thành viên Chính phủ.
Th tự | Họ và tên | Chức vụ | Cước chú |
1 | Nguyễn Cao Kỳ | Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (Thủ tướng) | Thiếu tướng |
2 | Nguyễn Lưu Viên | Phó Chủ tịch kiêm Tổng ủy viên Văn hóa Xã hội | Bác sĩ |
4 | Trần Văn Đỗ | Tổng Ủy viên Ngoại giao | Bác sĩ |
5 | Trần Minh Triết | Tổng Ủy viên Tư pháp | Thẩm phán |
6 | Nguyễn Hữu Có | Tổng Ủy viên Quốc phòng | Trg tướng |
7 | Linh Quang Viên | Tổng Ủy viên An ninh | Thiếu tướng |
8 | Đặng Văn Quang | Tổng Ủy viên Kế hoạch và Phát triển | Trg tướng |
9 | Nguyễn Đức Thắng | Tổng Ủy viên Xây dựng | Thiếu tướng |
10 | Trương Thái Tôn | Tổng Ủy viên Kinh tếTài chánh | |
11 | Nguyễn Bảo Trị | Tổng Ủy viên Thg tin Chiêu hồi | Thiếu tướng |
12 | Lâm Văn Trí | Ủy viên Canh nông | |
13 | Bùi Hữu Tuấn | Ủy viên Công chánh | |
14 | Hồ Văn Di Hinh | Ủy viên Thanh niên | Đại tá |
15 | Nguyễn Kiển Thiện Ấn | Ủy viên Thương mại | |
16 | La Thành Nghệ | Ủy viên Công kỹ Nghệ | Dược sĩ |
17 | Trần Văn Kiện | Ủy viên Tài chánh | Giáo sư |
18 | Nguyễn Hữu Hùng | Ủy viên Lao động | Luật sư |
19 | Trương Quang Thuấn | Ủy viên Giao thông Vận tải | Kỹ sư |
20 | Nguyễn Văn Thơ | Ủy viên Giáo dục | Bác sĩ |
21 | Trần Lữ Y | Ủy viên Y tế | Bác sĩ |
22 | Nguyễn Xuân Phong | Ủy viên Xã hội | |
23 | Nguyễn Tấn Hồng | Ủy viên Cựu chiến binh | Bác sĩ |
24 | Mai Văn Đại | Thứ ủy Thông tin | Luật sư |
25 | Phạm Anh | Thứ ủy Chiêu hồi | Đại tá |
26 | Bùi Diễm | Thứ ủy Ngoại giao | |
III. Sự kiện liên quan, chiến sự năm 1965.
1. Từ những tháng đầu năm 1965, hầu hết viên chức trong chính quyền Mỹ đều đánh giá tình hình Nam Việt Nam đang xấu đi, Tổng thống Johnson và các quan chức chủ chốt Nhà trăng, Lầu Năm góc, CIA đã tranh cãi gay gắt về các giải pháp của Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hoà, tướng Maxel Taylor, và một số người khác đưa ra. Cuối cùng, họ đi đến quyết định là Mỹ phải đảo ngược chiều hướng xuống dốc này của Nam Việt Nam bằng cách sử dụng quân Mỹ, và quân các nước đồng minh của Mỹ, trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, đồng thời mở rộng việc ném bom miền Bắc Việt Nam cho đến khi đạt được thắng lợi, dự kiến trong vòng hai năm rưỡi.
Ngày 1-5-1965, tướng Westmoreland trình lên Nhà Trắng kế hoạch thực hiện quyết định trên mang tên “Chiến lược Tìm và Diệt” với ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Từ tháng 7-1965 đến tháng 12-1965 đưa nhanh quân Mỹ và quân Đồng minh vào Nam Việt Nam để ngăn chặn tình hình đang xấu đi, bảo đảm an ninh cho những khu vực đông dân cư; triển khai các cuộc “hành quân phản công giành lại quyền chủ động chiến trường”;
2. Giai đoạn 2: Từ đầu năm 1966 đến tháng 6-1966, quân Mỹ và lực lượng Đồng minh mở các cuộc hành quân “tìm và diệt ở những khu vực ưu tiên đã được xác định”, hỗ trợ cho chương trình bình định; Giai đoạn 3: Từ tháng 7-1966 đến giữa hoặc cuối 1967, dốc toàn bộ lực lượng mở các cuộc hành quân tiến công “tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân giải phóng” và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định. Giai đoạn “Hành quân phản công giành lại quyền chủ động chiến trường” trong năm 1965, có hai trận đánh đáng chú ý là trận Chu Lai tại Vùng I và tiếp đó là trận Pleime tại Vùng II chiến thuật.
Trận Chu Lai: Phát hiện sự di chuyển của đối phương, Tư lệnh Vùng I, Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi báo cho các chỉ huy quân đội Mỹ tại Vùng I và lưu ý vị trí tập kết của Trung đoàn 1 Chủ lực của Quân khu 5 Việt Cộng thường gọi là Trung đoàn Ba Gia, mà ông dự đoán sẽ rất gần Căn cứ Chu Lai. Tướng Lewis W.Walt chỉ huy trưởng quân Mỹ tại Vùng I, quyết định lập kế hoạch cho một cuộc hành quân tiêu diệt Trung đoàn nầy, xóa bỏ sự uy hiếp đối với căn cứ Chu Lai, đồng thời biểu dương sức mạnh của quân Mỹ trong khu vực.
3. Sáng ngày 18 tháng 8 năm 1965, không quân của TQLC Mỹ cho ném bom sát thương, bom napalm xuống Vạn Tường và các địa điểm lân cận. Các pháo hạm trên biển bắn phá dọn bãi cho một cánh quân TQLC đổ bộ bằng máy bay trực thăng, và tàu LCU đổ bộ lên An Cường, hình thành vòng vây phía Nam; Một cánh TQLC khác đổ bộ bằng máy bay trực thăng xuống 3 thôn Bình Phước, Bình Long, và Bình Thạnh Tây hình thành cánh quân bao vây phía Tây. Một cánh TQLC khác từ Chu Lai, với xe tăng M41 và 18 xe bọc thép M113 đột kích theo đường bộ vượt sông Trà Bồng đánh xuống, hình thành cánh quân bao vây phía Bắc. Các cánh TQLC Mỹ nầy tiến dần siết chặt vòng vây, vây chặt Trung đoàn Ba Gia.
Chiều 18/8/1965, Đại đội 21 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi mở mũi đột kích sâu từ Tây Hy, qua Thượng Hòa xuống Lệ Thủy, cùng với du kích các xã Đồng Lễ và Bình Trị đánh vào sau lưng một cánh quân của TQLC Mỹ, buộc cánh quân này phải quay lại đối phó. Lợi dụng vòng vây bị đứt đoạn giữa cánh Bắc và cánh Nam của TQLC Mỹ, đêm 18 rạng ngày 19/8/1965. Trung đoàn Ba Gia đã rút được phần lớn sở chỉ huy nhẹ và tiểu đoàn 40 ra khỏi vòng vây. Riêng đại đội trinh sát phòng ngự độc lập tại Cao điểm 45 núi Đầm Tái, thôn Vạn Tường bị tổn thất gần hết quân số. Phía quân đội Mỹ tuyên bố theo cách đếm xác của họ thì có 614 du kích bị tiêu diệt trong trận này.
4. Trận Pleime. Đầu năm 1965, Sư đoàn 304 Cộng quân nhận lệnh chuẩn bị vào Miền Nam. Tháng 8 năm 1965, Sư đoàn 304 lại nhận lệnh gấp rút đi tới vùng Cao Nguyên Trung Phần, cùng với chiến trường miền Nam tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ củng cố và mở rộng vùng giải phóng, xây dựng niềm tin đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ. Tháng 9 năm 1965, Bộ chỉ huy quân Mỹ đưa Sư đoàn Không Kỵ số 1 lên án ngữ ở An Khê, Gia Lai, ngăn chặn quân Bắc Việt thâm nhập, cắt Tây Nguyên với đồng bằng ven biển. Quân đội VNCH thành lập biệt khu 24 gồm 2 tỉnh Kon Tum - Gia Lai; và chuyển giao nhiệm vụ tác chiến chủ yếu ở Tây Nguyên cho quân Mỹ.
Đầu tháng 10/1965, Bộ tư lệnh Mặt trận B3 Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch Plây Me, Thiếu tướng Chu Huy Mân được chỉ định là Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch, Đại tá Nguyễn Chánh và Thượng tá Nguyễn Hữu An làm phó tư lệnh. Huỳnh Đắc Hương giữ chức phó chính ủy, Thượng tá Nam Hà là tham mưu trưởng, Thượng tá Đặng Vũ Hiệp làm Phó chủ nhiệm chính trị. Lực lượng gồm 3 trung đoàn bộ binh (320, 33, 66), 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm; cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh phá giao thông và hậu cứ địch.
5. Trung đoàn 320 đã hoạt động tại vùng Cao nguyên từ đầu năm; Trung đoàn 33 mới xâm nhập vào tháng 9; Trung đoàn 66 cuối tháng 10 mới sẵn sàng xuất trại lên ̣đường xâm nhập vào Nam, dự tính phải mất hai tháng mới tới chiến trường Cao Nguyên. Lực lượng Mỹ và quân đội Sài Gòn trên địa bàn chiến dịch có 3 lữ đoàn thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ, 1 chiến đoàn dù, 1 chiến đoàn thiết giáp quân đội Sài Gòn, có pháo binh, máy bay, kể cả B52 sẵn sàng yểm trợ. Trận Plei Me gồm ba trận đánh nối tiếp: trận đánh Pleime, trận đánh Chuprong, và trận đánh Iadrang, kéo dài 38 ngày.
(a) Trận Pleime. Ngày 19/10/65, Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 Tây Nguyên bao vây trại Pleime của Lực lượng đặc biệt Mỹ và Lực lượng Dân sự Chiến đấu (CIDG) người Thượng đóng giữ cách Pleiku 30 cây số, đồng thời tiến công đồn Chư Ho. Quân đội VNCH đưa lực lượng từ Plây-cu đến giải cứu, bị quân phục kích gây thiệt hại cho một bộ phận biệt động quân, bộ binh, và chiến đoàn thiết giáp trên đường số 21. Tức thời, từng toán phi cơ ném bom, oanh kích nhắm vào các ổ phục kích gây thiệt hại đáng kể cho quân Việt Cộng. Ngày 20 tháng 10, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II mở cuộc hành quân Dân Thắng phản kích đẩy quân Việt Cộng ra xa, và để lại hai đại đội Lực lượng Đặc Biệt hỗn hợp VNCH-Mỹ tăng phái cho đồn Pleime.
6. Ngày 25-10, Bộ tư lệnh Mặt trận B3 Tây Nguyên ra lệnh “mở vây đồn Pleime” để tập trung lực tượng đánh Mỹ. Tuy nhiên, việc điều dụ quân Mỹ vào các địa bàn rừng núi lựa chọn, xa căn cứ của chúng, nhằm hạn chế mặt mạnh, khoét sâu điểm yếu để đánh thắng quân Mỹ, nói thì nghe dể, nhưng thực sự không như thế. Với một đội quân nhà nghề, lực lượng áp đảo, phương thức tác chiến nhanh, phương tiện trinh sát hiện đại, lại rất linh động thay đổi, thì khó điều dụ đối phương theo ý của mình, thậm chí còn bị mắc bẩy. Cụ thể là trận Ia Đrăng Mỹ đã cho đổ quân xuống Bầu Cạn và Plâyngo để thăm dò, rồi đánh úp quân chủ lực của Mặt trận B3.
(b) Trận Chuprong. Dựa vào tin tình báo, Việt Cộng có thể tấn công trại Pleime lần nữa, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II của VNCH đề nghị Sư đoàn 1 Kỵ Binh Mỹ mở cuộc hành quân Long Reach để lùa hai Trung đoàn 32 và 33 về rặng núi Chuprong để cho đối phương tiện kết hợp với Trung đoàn 66 mở cuộc tấn công trại Pleime như dự tính. Từ ngày 27/10/65 đến ngày 9/11/65, Lữ đoàn 1 Không Kỵ Mỹ với cuộc hành quân All the Way đã tuần tự đẩy lùi các toán quân Việt Cộng từ Pleime về Chuprong. Ngày 9 tháng 11, với thế nghi binh hoán chuyển, Lữ đoàn 3 Không Kỵ mở cuộc hành quân Silver Bayonet I, đến thay thế vùng hoạt động của Lữ đoàn 1 Không Kỵ, nhằm đẩy nhanh đối phương tập trung quân tiến đánh Pleime.
7. Bị trúng kế, ngày 11 tháng 11, Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 ra lệnh cho ba trung đoàn tập trung: Trung đoàn 32 tại toạ độ YA820070, Trung đoàn 33 tại toạ độ YA 940011, và Trung đoàn 66 tại toạ độ quanh YA 9104 để sẵn sàng tiến đánh Pleime vào ngày 16 tháng 11. Đúng 4 giờ chiều ngày 15 tháng 11, Mỹ bắt đầu ném bom trải thảm B-52 trút xuống rặng núi Chu Prông, và tiếp tục trong 6 ngày liền: ngày 15 (YA 8607, 9007, 8702, 8600, 9000), ngày 16 (YA 8305, 8505, 8400), ngày 17 (YA 9201, 9401, 9208, 9408), ngày 18 (YA 9301, 8900, 8901), ngày 19 (YA 9009, 9209, 9006, 9206), và ngày 20 (YA 8306, 8506, 8303, 8503).
(c) Trận Iadrang: Bộ Tư lệnh Quân đoàn II thẩm định là đối phương đã mất 2/3 tổng số lực lượng trong trận Plei Me và Chu Prông, nên quyết định đánh dứt điểm bằng cách tung Lữ đoàn Dù VNCH gồm 5 tiểu đoàn, vào chiến trường mang tên hành quân Thần Phong 7, với sự yểm trợ pháo binh tại căn cứ tân lập LZ Crooks; Và Lữ đoàn 2 Không Kỵ Mỹ, cũng thực hiện một cuộc hành quân khác tảo thanh, săn tìm và diệt sâu vào vùng hoạt động của đối phương. Chiến dịch Pleime kết thúc ngày 26/11/1965, khi không còn bóng dáng Cộng quân trong vùng hành quân của Liên quân Việt-Mỹ tại Quân đoàn II.
8. Kết quả, theo tuyên bố của Mỹ - VNCH tổn thất phía Việt Cộng: chết đếm xác 4.254, bị thương 1.293, bị bắt 179, mất 169 súng cộng đồng và 1,027 súng cá nhân. Tổn thất phía HK: chết 300, bị thương 524, mất tích 4. Không lực Mỹ mất 6 HU-1B, 2 B-57, 3 A-1E bị bắn hạ và 3 C-123 bị trúng đạn hư hỏng ít nhiều. Tổn thất phía VNCH: chết 132, bị thương 248, mất tích 18. Không rõ tổn thất về trang bị vũ khí. Phía Việt Cộng, họ tuyên bố loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 địch, phá huỷ 89 xe quân sự (có 42 xe tăng và xe bọc thép), bắn rơi 59 máy bay.
IV. Mâu thuẫn giữa Tướng Trung ương và Tướng Thi.
1. Sách "Đôi Dòng Ghi Nhớ, Phạm Bá Hoa viết: sau khi bàn giao chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn II xong, Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có về Sài Gòn nhậm chức Tổng trưởng Quốc phòng, và Tổng Tư lệnh Quân Đội. Ngày 15/7/65, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, chủ tọa buổi lể bàn giao Tổng Tư lệnh giữa Trung tướng Trần Văn Minh và Thiếu tướng Nguyễn Hũu Có. Giao nhận xong, Bộ Tổng Tư Lệnh trở lại với danh xưng “Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”. Ngày 15 tháng 10 năm 1965, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu lại chủ tọa buổi lễ bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng giữa Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có và Thiếu Tướng Cao Văn Viên.
Đây là lần bàn giao thứ 6: Lần thứ nhất, Trung Tướng Trần Văn Đôn nhận chức ngày 02/11/1963 sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ và bị giết chết; Lần thứ hai, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, nhận chức ngày 31/01/1964 sau khi Trung Tướng Trần Văn Đôn bị bắt giam; Lần thứ ba, Trung Tướng Nguyễn Khánh nhận chức ngày 08/10/1964 sau khi Đại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong; Lần thứ tư, Trung Tướng Trần Văn Minh, nhận chức ngày 26/02/1965 sau khi Đại Tướng Nguyễn Khánh lưu vong; Lần thứ năm (15/07/1965), Trung Tướng Minh bàn giao cho Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có Tổng trưởng Quốc phòng, kiêm nhiệm. Và lần thứ sáu là ngày 15/10/1965 này, bàn giao giữa Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có và Thiếu Tướng Cao Văn Viên.
2. Từ giữa năm 1965 là thời gian bắt đầu và dồn dập có nhiều đơn vị Đồng Minh -nhất là Hoa Kỳ- lần lượt đổ quân vào Việt Nam. Tướng Viên thường được cử thay mặt Chánh Phủ và nhân danh Tổng Tham Mưu Trưởng, có mặt tại các địa điểm đổ bộ để chào đón quân bạn. Đơn vị đầu tiên mà Tướng Viên chào đón kể từ sau ngày nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng, là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Chu Lai, còn gọi là vịnh Dung Quất. Ngày 01/11/1965, Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa, Thiếu Tướng Cao Văn Viên được thăng cấp Trung Tướng. Cùng thăng cấp Trung Tướng với ông còn có nhiều vị nữa, và trong số đó có Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Thiếu Tướng Đặng Văn Quang.
Trong Nội các chiến tranh của Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ có một Bộ mới thành lập, đó là Bộ Xây Dựng Nông Thôn, để bình định nông thôn nhằm tách dân ra khỏi sự kiểm soát của cộng sản. Dư luận trong giới chính trị cũng như trên báo chí quốc nội, quốc tế, khi nói đến những vị lãnh đạo quốc gia tại thời điểm nầy, thường nhắc đến “bộ ba” gồm Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, tức Quốc Trưởng + Thủ Tướng + Tổng Trưởng Quốc Phòng. Trung Tướng Viên nghiêng về Thiếu Tướng Kỳ hơn là Trung Tướng Thiệu, dù rằng Trung Tướng Thiệu chức vụ cao hơn Thiếu Tướng Kỳ. Lực lượng có khả năng trực tiếp tham gia đảo chánh là Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến thì đứng về phía Thiếu Tướng Khang và Trung Tướng Viên.
3. Lễ Giáng Sinh 1965, Trung Tướng Viên tổ chức buổi tiếp tân tại võ đình trường trước tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu. Khách mời các vị trong Ngoại Giao đoàn, và Tùy Viên quân sự; Các vị Tư Lệnh lực lượng Đồng Minh Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi, Thái Lan, và Hoa Kỳ; Các đơn vị trưởng cùng các sĩ quan tham mưu trực thuộc lực lượng này. Phía Việt Nam, các vị trong Chánh Phủ, trong Quốc Hội; Các vị Tướng Lãnh tại thủ đô và lân cận; Các vị Chỉ Huy Trưởng binh chủng, Tổng Cục Trưởng, Cục Trưởng, và các sĩ quan cao cấp phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đều có mặt.
Đầu tháng 2-1966. Hội Nghị thượng đỉnh Honolulu giữa Tổng Thống Lyndon B. Johnson của Hoa Kỳ và phái đoàn cao cấp của VNCH cầm đầu bởi Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch UBLĐQG, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương (UBHPTƯ). Mục đích của Hội nghị, Về phía Hoa Kỳ, chính thức xác nhận việc quân bộ chiến Mỹ có mặt tại Nam Việt Nam là thực hiện lời cam kết của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tại Việt Nam. Về phía VNCH, đây là cơ hội để trình bày với công chúng Hoa Kỳ và cả thế giới về mục tiêu chống Cộng, và đường lối của Nội Các Chiến Tranh tiến dần đến dân chủ, chính phủ VNCH cam kết sẽ tổ chức soạn thảo hiến pháp mới, tổ chức bầu cử.
4. Trong năm 1965 và đầu năm 1966, sinh hoạt ở trung ương tương đối yên ắng, tuy phần lớn trong giới chính trị lão thành cũng như giới thân hào nhân sĩ tỏ ra không ủng hộ Thiếu Tướng Kỳ. Điều làm cho các vị Tướng lãnh đạo ở trung ương và Thiếu Tướng Kỳ lo ngại là Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm Đại Biểu Chánh Phủ tại Trung Phần, về một số “lời nói, việc làm” có khi “trái ngược với chính sách” của trung ương. Đầu tháng 3 năm 1966, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ -Thủ Tướng- và Trung Tướng Cao Văn Viên -Tổng Tham Mưu Trưởng- ra Đà Nẳng tìm cách giải quyết những bất đồng giữa Thiếu Tướng Kỳ với Trung Tướng Thi, nhưng cuối cùng vẫn không giải quyết được gì!.
Ngày 08/03/1966, buổi họp thu hẹp của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia gồm Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi. (Không hiểu vì lý do gì Trung tướng Phạm Xuân Chiểu, Tổng Thu ký, và hai vị thành viên trong Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp là Tư lệnh Không quân, và Tư lệnh Hải Quân không được dự họp). Đến 1 giờ trưa, Trung Tướng Viên bước ra với nét mặt đầy ưu tư:“Chú (tức Phạm Bá Hoa) lo ăn trưa ngay và mang vào ăn tại chỗ”.Buổi họp chấm dứt khi trời tối hẳn, từ lúc bắt đầu họp cho đến lúc kết thúc, không một vị nào bước ra ngoài.
5. Lúc 5 giờ sáng ngày 9/3/1966, điện thoại reo:“Trung Tá Hoa tôi nghe”. “Chú tìm xem Trung Tướng Có ở đâu và cho tôi biết ngay”.“Vâng”…Tìm được Trung tướng Có tại Phòng VIP Phi trường, tôi trình với Trung Tướng Viên. Và, ông ra lệnh:“Chú vào văn phòng ngay. “Vâng”...Trời hãy còn tối, Trung Tướng Viên đến, một lúc thì xe của Thiếu Tướng Kỳ, rồi xe của Trung Tướng Thiệu đến. Các vị lần lượt vào phòng Trung Tướng Viên. Trung Tướng Viên sang phòng tôi ra lệnh: “Chú xuống lầu đón Trung Tướng Có và Trung Tướng Thi, dẫn vào phòng họp hôm qua. Chỉ một mình Trung Tướng Thi vào đó thôi, sĩ quan tùy viên và cận vệ của Trung Tướng Thi ngồi ở phòng chú và chú trách nhiệm”.
Tôi xuống lầu. Trời vẫn chưa sáng. Xe Trung Tướng Có dừng trên thềm tầng trệt, trong khi sĩ quan tùy viên chưa mở cửa xe thì toán cận vệ của Trung Tướng Có từ xe Jeep phía sau nhảy xuống, súng cầm tay trong tư thế sẳn sàng sử dụng. Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi xuống xe, toán cận vệ kèm hai bên, và sau lưng Trung Tướng Thi một khoảng ngắn là Trung Tướng Có. Trung Tướng Có bảo tôi đi trước, như là dẫn đường lên phòng họp hôm qua. Ông nói khẽ:“Vào xong, anh khóa cửa lại và cho Quân Cảnh gác cẩn thận”.
6. Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau đó, tôi vào trình Trung Tướng Viên về vấn đề ăn sáng. Tôi nghe các vị nói chen kẻ, và qua đó tôi hiểu phần nào mục đích của các vị thuộc trung ương, nhằm thuyết phục Trung Tướng Thi chấp nhận giải pháp sang Hoa Kỳ chữa bệnh một thời gian, nhưng Trung Tướng Thi không đồng ý. Âm thanh của Trung Tướng Thi rất rõ ràng và không kém phần mạnh mẽ, cho phép tôi suy đoán là ông không dễ dàng chịu áp lực của bốn vị Tướng đứng đầu chánh phủ và quân đội.
Cuối cùng, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp quyết định "quản thúc" Trung Tướng Thi, lúc đầu dự trù tại câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng sau đó đưa về quản thúc tại nhà ông với sự canh giữ của An Ninh Quân Đội và Quân Cảnh. Lúc bấy giờ là buổi chiều, trong phòng làm việc của Trung Tướng Viên, cả 4 vị Tướng đều mệt mỏi với nét mặt đăm chiêu, và trong nhiều phút không vị nào lên tiếng. Trước khi ra về, Trung Tướng Viên tạt vào phòng tôi: “Chú mời "Đại Hội Đồng Quân Lực" họp lúc 10 giờ sáng mai (10/3/1966). Không mời Tư Lệnh Sư Đoàn 1 (Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, tại Huế) và Sư Đoàn 2 (Chuẩn Tướng Hoàng Xuân Lãm, tại Quảng Ngãi). Lý do sẽ cho biết khi họp”.
7. Đại Hội Đồng Quân Lực có 36 vị, gồm: Tất cả các vị trong Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Các vị Tướng Lãnh. Chỉ Huy Trưởng binh chủng Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin, Quân Vận, và Biệt Động Quân. Các vị Tư Lệnh Quân Chủng, Tư Lệnh Nhẩy Dù, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Ngày 10 tháng 3 năm 1966. Tại phòng họp số 2, còn có tên là "Tân Sinh Nông Thôn", Đại Hội Đồng Quân Lực họp dưới sự chủ tọa của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Vào phòng họp, tôi cảm nhận ngay bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt, vì tất cả các vị đều im lặng.
Mở đầu, Trung Tướng Thiệu tuyên bố lý do. Tiếp đến là Thiếu Tướng Kỳ, rồi Trung Tướng Có, rằng trong thời gian qua, Trung Tướng Thi đã lạm quyền trung ương và chống lại trung ương. Thiếu Tướng Kỳ và Trung Tướng Có nói nhiều nhất, nói hăng nhất. Đúng ra là hai vị luân phiên "hài tội" Trung Tướng Thi, chẳng hạn như Trung Tướng Thi nhân danh Đại Biểu Chánh Phủ, đã ấn định giá biểu từ Huế vào Sài Gòn cho chi nhánh Hàng Không Việt Nam tại Huế và Đà Nẳng. Đến chuyện Trung Tướng Thi tự ý bổ nhiệm Thiếu Tá Nghĩa vào chức vụ Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Tín... Nhưng Trung Tướng Thi thì lại đang bị quản thúc tại nhà ông, nghĩa là không có mặt trong phòng họp.
8. Sau nhiều tiếng đồng hồ thảo luận gay gắt, đến phần bỏ phiếu kín: "Thuận hay không thuận cách chức Trung Tướng Thi?". Khi kiểm phiếu có 1 phiếu trắng, còn lại đều thuận. Trung Tướng Có, đẩy ghế ra sau, đứng dậy, và lên tiếng: “Trong phòng họp này, chúng ta là những người có trách nhiệm trong Đại Hội Đồng Quân lực, với tư cách thay mặt toàn quân, bỏ phiếu thuận hoặc không, còn phiếu trắng trong trường hợp này là "lưng chừng", không dứt khoát lập trường. Vậy, ai là người bỏ phiếu trắng nên giải thích cho anh em rõ?
Vừa dứt câu, có tiếng ghế đẩy thật mạnh, tất cả cặp mắt của những vị có mặt gần như đồng loạt quay nhìn, và một người dỏng dạc đứng lên. Đó là Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhẩy Dù: “Kính thưa Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, kính thưa quí vị. Tôi là người bỏ phiếu trắng. Trung Tướng Thi đã một thời là cấp chỉ huy của tôi trong binh chủng Nhẩy Dù, nên tôi không thể hành động chống Trung Tướng Thi cho dù Trung Tướng Thi có sai trái với quân đội. Tôi vẫn biết rằng, hành động của tôi không làm thay đổi được quyết định chung cuộc, nhưng tôi vẫn làm vì lẽ đó. Và nếu sau này, có điều gì xảy ra với Trung Tướng Viên, tôi vẫn hành động như tôi vừa làm. Và bây giờ, quí vị toàn quyền quyết định về tôi: "Ở lại hay ra khỏi Nhẩy Dù, tôi thi hành ngay". Xin cám ơn”.
9. Cả phòng họp im phăng phắc. Cuối cùng cũng không có quyết định gì về Chuẩn Tướng Đống, có lẽ các vị thừa nhận tính khẳng khái của vị Tướng Tư Lệnh Nhẩy Dù mà không bàn gì về ông chăng? Tôi rất khâm phục nghĩa khí và lòng dũng cảm của Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, ông xứng đáng là vị Tư Lệnh binh chủng Nhẩy Dù. Đành rằng, nếu Đại Hội Đồng Quân Lực có cách chức ông và để ông "ngồi chơi xơi nước" đi nữa, ông vẫn là Tướng Lãnh, nhưng thử hỏi có được bao nhiêu vị Tướng khẳng khái như ông. Sau buổi họp, tôi đến chào Chuẩn Tướng Đống và xin được bắt tay ông, chỉ vì hành động vừa rồi của ông.
Thế là quyết định cách chức Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I và Đại Biểu Chánh Phủ tại miền Trung của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp ngày hôm qua, hôm nay đã trở thành quyết định chung cuộc của Đại Hội Đồng Quân Lực. Trung Tướng Viên gọi tôi về văn phòng gặp ông: “Chú tìm Chuẩn Tướng Nhuận và mời đến gặp tôi ngay”. Chuẩn Tướng Nhuận đang là Chỉ Huy Trưởng binh chủng Biệt Động Quân. Vào văn phòng Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng một lúc, khi trở ra Chuẩn Tướng Nhuận tạt vào phòng tôi và nói là ông hy vọng tôi giúp ông cho kịp. Nói xong, ông đi ngay.
10. Trung Tướng Viên bấm chuông gọi tôi:“Chú làm ngay mấy việc. Thứ nhất, chú thu xếp lấy chiếc C47 đưa Chuẩn Tướng Nhuận và các sĩ quan tháp tùng ông ra Huế ngay chiều nay (10/3/1966). Thứ hai, điện thoại ra Huế yêu cầu Thiếu Tướng Chuân bàn giao chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh cho Chuẩn Tướng Nhuận ngay khi ông Nhuận đến Huế. Sáng ngày mai (11/3/1966), Thiếu Tướng Chuân vào Đà Nẳng nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I. Thứ ba, điện thoại Đại Tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn I, đón Thiếu Tướng Chuân và trình bày tình hình mới nhất để ông Chuân nắm vững tình hình. Và Thứ tư, gởi công điện "hỏa tốc" xác nhận lệnh đó với Quân Đoàn I/Quân Khu I và Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Chú có gì cần hỏi thêm không? “Dạ không, thưa Trung Tướng”.
Ngày 11/3/66, một Thông Cáo của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia phổ biến trên các làn sóng phát thanh vào buổi tối, theo đó, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia đã chấp thuận cho Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I, xuất ngoại chữa bệnh mũi một thời gian… Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia xem như giải quyết được sự chống đối của Trung Tướng Thi. Nhưng, vấn đề của Trung Tướng Thi là vấn đề lớn, vì nếu không lớn hà tất phải triệu tập Đại Hội Đồng Quân Lực, nhưng vấn đề phát sinh thì lớn hơn nhiều và lâu hơn nhiều.
11. Trung Tướng Thi rất được lòng của khối Phật Giáo miền Trung, sinh viên, quân nhân Phật tử, và giới chính trị nữa. Tất cả họ đều hiểu rằng, Trung Tướng Thi bị trung ương cách chức và đưa đi lưu vong. Thế là Phật Giáo có phản ứng, tổ chức cuộc mít tinh biểu tình tại Đà Nẳng, đòi phục chức cho Trung Tướng Thi. Các cuộc mít tinh biểu tình nhanh chóng lan ra Huế và vài tỉnh lân cận phía nam Đà Nẳng. Khí thế các cuộc mít tinh biểu tình ngày càng đông, càng mạnh. Số người tham gia đông đến độ khó ước lượng được là bao nhiêu. Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, với Trung Tướng Viên, họp liên miên, không giờ giấc gì cả. Chúng tôi lo ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, và ăn tối luôn.
Việc Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, và Trung Tướng Viên, nhân danh Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (thu hẹp) cử Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, vào chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, có thể vì Chuẩn Tướng Nhuận sinh trưởng tại miền Trung và là một Phật tử, hy vọng ông ta có thể thuyết phục được những thành phần chống đối. Nhưng ngay khi nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 1, ông đã tuyên bố đứng vào "hàng ngũ lực lượng tại Huế chống lại trung ương".
12. Ngày 17/3/1966, Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, và Trung Tướng Viên lại quyết định cho Trung tướng Thi trở ra Đà Nẳng để giải thích sự việc với đồng bào, yêu cầu đồng bào chấm dứt những xáo trộn trong khi chánh phủ cần tập trung nỗ lực vào tình hình quân sự. Chiếc C47 của Không Quân đưa Trung tướng Thi ra Đà Nẳng. Trước khi lên phi cơ tại phi trường Tân Sơn Nhất, ông tuyên bố với báo chí rằng: “Tôi chẳng có bệnh mũi gì cả, mà cho dù có bệnh đi nữa thì tôi cũng điều trị tại Việt Nam chớ không đi nước nào hết. Sự thật là như vậy”.Tôi (Phạm Bá Hoa) nghĩ, các vị trung ương chắc đã phải cảm nhận "cái tát" khi xem câu trả lời ngắn ngủi đó trên các báo tại thủ đô Sài Gòn.
Rồi sau đó, cứ mỗi lần Trung Tướng Thi xuất hiện ở Đà Nẳng, Huế, hay Quảng Nam, đều được sự ủng hộ nồng nhiệt của đám đông mít tinh biểu tình. Và những lời tuyên bố của ông đều chung một ý là ông cùng với đồng bào nơi đây chống lại các Tướng Lãnh cầm quyền tại trung ương. Thế là cuộc "khủng hoảng miền Trung" - báo chí thường gọi như vậy - tự dưng được "trung ương" tăng cường thêm hai Tướng Lãnh, do đó mà khí thế càng thêm mạnh! Tiếp đến, Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu, Tổng Thư Ký Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia bay ra Huế, cũng với hy vọng trong một chừng mực nào đó, ông có thể thuyết phục được Trung Tướng Thi.
13. Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu đến tòa đại biểu chánh phủ (Huế) cùng với Trung Tướng Thi, trong khi bên ngoài đông nghẹt thanh niên sinh viên. Từ trong đám đông đó có người bước ra hỏi Trung Tướng Chiểu: “Trung Tướng có công nhận hành động của chúng tôi là đúng không? “Đúng”. Trung Tướng Chiểu trả lời.“Trung Tướng công nhận là đúng. Vậy Trung Tướng có ở lại Huế với chúng tôi không? “Có”. Lập tức, một nhóm thanh niên ùa vào hoan hô Trung Tướng Chiểu và công kênh ông ra xe đưa đến khách sạn bên khu chợ Đông Ba.
Nhóm thanh niên này nói là luôn luôn túc trực bên cạnh Trung Tướng Chiểu và ông cần gì cứ gọi họ. Chữ "túc trực" ở đây được hiểu là "canh giữ" Trung Tướng Chiểu. Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan -cánh tay phải của Thủ Tướng Kỳ- Tổng Giám Đốc Cảnh Sát kiêm Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội, cử nhiều toán Cảnh Sát, An Ninh, Tình Báo dưới quyền ông ra Huế và Đà Nẳng, bám sát tình hình. Mỗi ngày báo cáo hai lần về Phủ Thủ Tướng và thông báo văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Còn chính ông, sự đi lại giữa Đà Nẳng với Sài Gòn bất cứ lúc nào mà ông cho là cần thiết.
14. Tổng đài điện thoại Cộng Hòa trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, được lệnh thu băng toàn bộ các cuộc nói chuyện của bất cứ là ai, bất cứ từ đâu đến, mà ngang qua hệ thống viễn liên này và trình lên văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng vào đầu giờ buổi sáng, và cuối giờ buổi chiều. Đây là nguồn cung cấp thông tin xác thật nhất về những lời đối thoại giữa các tỉnh miền Trung với Sài Gòn, bất luận người nói chuyện là ai cũng đều thu vào và trình lên tất cả. Nhờ đó mà tôi biết được những lời đối thoại giữa các vị Tướng từ trung ương với vị Tư Lệnh Quân Đoàn I cũng như với các vị Tư Lệnh khác.
Trung Tướng Thiệu gọi tôi bảo:“Chú liên lạc với Thiếu Tướng Chuân, hỏi tình hình hôm nay ra sao rồi cho tôi biết”. “Vâng. Tôi gọi ngay, thưa Trung Tướng”.Tôi điện thoại ra Đà Nẳng và Thiếu Tướng Chuân đang có mặt tại văn phòng: “Tôi Hoa đây thưa Thiếu Tướng. Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia muốn biết sự thật của tình hình bây giờ ra sao. Hoặc là Thiếu Tướng tiếp chuyện trực tiếp với Trung Tướng, hoặc tôi sẽ chuyển trình lại Trung Tướng, thưa Thiếu Tướng”.“Anh trình với Trung Tướng Chủ Tịch là tình hình không có gì đáng ngại đâu. Như thế là được rồi, tôi khỏi phải trình nữa”.
15. Tôi trình lại Trung Tướng Thiệu thì Trung Tướng Có bảo tôi gọi cho ông nói chuyện trực tiếp với Thiếu Tướng Chuân. Kết quả cuộc đàm thoại đó cũng là những thông tin mà tôi nhận lúc nảy thôi. Một tháng sau ngày cách chức Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, hầu như tất cả sinh hoạt tại Đà Nẳng, Huế, và vài tỉnh lân cận, nói chung là rất xáo trộn, đôi lúc được xem là hỗn loạn nữa. Vì vậy mà phòng làm việc của Trung Tướng Viên trở thành nơi làm việc hằng ngày của Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, và Trung Tướng Có. Hội họp liên tục và những quyết định về tình hình miền Trung cũng như liên quan đến các đại đơn vị khác, đều xuất phát từ đây.
Trung Tướng Có quyết định, chính ông phải ra Đà Nẳng để biết rõ tình hình, chớ mờ mờ ảo ảo như thế này thì không thể giải quyết được mà có thể ngày càng trầm trọng đến mức nguy hiểm. Trung Tướng Thiệu và Trung Tướng Viên, khuyên Trung Tướng Có không nên mạo hiểm, vì rất có thể là Thiếu Tướng Chuân đã bị phía chống đối quản thúc canh giữ nên Thiếu Tướng Chuân không thể trình bày sự thật được. Nếu sự thể xảy ra như vậy thì Trung Tướng Có sẽ tự mình dấn thân vào thế bị động của Thiếu Tướng Chuân luôn. Nhưng Trung Tướng Có vẫn giữ nguyên quyết định, và ông đi Đà Nẳng.
16. Đến căn cứ Không Quân Đà Nẳng, Trung Tướng Có gọi về cho biết, con đường từ căn cứ Không Quân đến bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I đầy chướng ngại vật, nhưng phía chống đối mở lối cho xe của Quân Đoàn đến đón ông. Rồi cũng không khác Thiếu Tướng Chuân về cách trình bày tình hình, và Trung Tướng Thiệu tin là Trung Tướng Có đã bị quản thúc cùng với Thiếu Tướng Chuân. Trung ương, nói cho thật đúng là Thiếu Tướng Kỳ quyết định sử dụng biện pháp mạnh chuyển quân ra Đà Nẳng để giải quyết tình hình. Trung Tướng Thiệu không phản đối nhưng cũng không hẳn là đồng ý, Trung Tướng Viên vẫn như từ ngày đầu, ông cho rằng đây là vấn đề chính trị, vấn đề của chánh phủ mà ông chỉ thi hành lệnh thôi.
Ngày 14/4/1966, Trước khi ra về, Trung Tướng Viên gọi tôi vào phòng: “Sáng sớm mai tôi và bộ chỉ huy hành quân ra Đà Nẳng, chú lo mấy việc sau đây: Chuẩn bị giường xếp và lương thực 7 ngày cho 10 người ăn. Chú Có và vài chú trong toán an ninh theo tôi. Chú tìm ngay Trung Tá Mã Sanh Nhơn cùng đi với tôi. Trung Tá Nhơn sẽ là Thị Trưởng Đà Nẳng thay cho Bác Sĩ Mẫn đã theo phía chống đối. Chú liên lạc với văn phòng Thiếu Tướng Kỳ để biết giờ phi cơ Caravelle cất cánh. Chú lo ngay cho kịp”.
17. Lo xong mọi chuyện, tôi liên lạc với chánh văn phòng của Thủ Tướng Kỳ được biết, bộ chỉ huy hành quân sẽ đi bằng phi cơ Caravelle của Hàng Không Việt Nam và cất cánh lúc 3 giờ sáng trước phòng VIP. Điều tôi lo nhất, và cuối cùng tôi cũng tìm được Trung Tá Mã Sanh Nhơn. Khi ra sân bay, tôi thấy có một cô gái người Huế cùng đi với Trung Tá Nhơn, và theo lời Trung Tá Nhơn thì cô này có khả năng giúp anh thuyết phục thanh niên học sinh Đà Nẳng. Tại phi trường, tôi được biết Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong, Trưởng Phòng 3/Tổng Tham Mưu, đã điều động Thủy Quân Lục Chiến và Nhẩy Dù vào cuộc hành quân này. Ngoài Thủ Tướng Kỳ, Trung Tướng Viên, còn có Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến và Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhẩy Dù.
Từ căn cứ Không Quân Đà Nẳng, Đại Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, điện thoại về tôi: “Trung Tướng và bộ chỉ huy đã đến nơi và trú đóng trong căn cứ Không Quân. Theo tin tức thì ngoài đường phố đầy nghẹt bàn thờ và người của phía chống đối khi họ biết lực lượng tổng trừ bị ra đây giải quyết tình hình. Có vẻ rắc rối lắm. Trung Tướng Có (tại bộ tư lệnh Quân Đoàn I) tức giận về việc Nhẩy Dù với Thủy Quân Lục Chiến có mặt ngoài này đó anh. Có gì lạ tôi sẽ gọi về anh”.
18. Vậy là "không khí chiến tranh" giữa trung ương với địa phương rất sẳn sàng xảy ra, nếu như phía trung ương có một hành động nào đó mà phía chống đối cho là khiêu khích. Trong ngày đầu tiên, lực lượng trung ương án binh bất động, phía chống đối củng cố công tác bố trí lực lượng trên đường phố trong tư thế "nghênh chiến". Trung Tướng Có điện thoại về phòng Tổng Tham Mưu Trưởng nói chuyện với Trung Tướng Thiệu: “Tại sao trong khi tôi đang dàn xếp với bên kia thì anh lại đưa quân ra thế này? Bây giờ không còn cách nào nói chuyện với họ được vì họ không tin tôi nữa! “Ông Kỳ đó”.“Anh cho rút về ngay đi. Nếu không thì tình hình sẽ nguy hiểm lắm”.“Được. Tôi sẽ cho lệnh rút về”.
Trung Tướng Thiệu ngồi tại bàn viết của Trung Tướng Viên, tự ông viết công điện ra lệnh chuyển lực lượng tổng trừ bị về Sài Gòn và ký ngay trên bản thảo đó. Ông gọi tôi: “Chú đánh máy xong, trình Trung Tướng Viên ký và gởi đi ngay cho tôi. Xong, trình lại tôi”. “Vâng, tôi làm ngay thưa Trung Tướng”.Ngay đêm hôm đó (15/4/1966) Thủ Tướng Kỳ và Trung Tướng Viên về lại Sài Gòn. Tôi thuật lại cuộc nói chuyện giữa Trung Tướng Thiệu với Trung Tướng Có, đồng thời trình công điện "hỏa tốc" cho Trung Tướng Viên mà tôi đã đánh máy xong. Ông không nhìn vào mà nói:“Chú để trên bàn cho tôi”.
19. Ngày 16/4/1966, Trung Tướng Thiệu đến sớm trong khi Trung Tướng Viên chưa đến, khi đi ngang bàn tôi ông ra hiệu tôi theo ông vào phòng:“Chú làm xong chưa? “Thưa Trung Tướng, xong rồi, nhưng Trung Tướng Viên chưa ký”. “Tại sao? “Tôi không rõ, thưa Trung Tướng”. “Khi Trung Tướng Viên tới là chú trình ngay cho tôi”.“Vâng”.Trung Tướng Viên đến, và sau khi ông điện thoại với Thiếu Tướng Kỳ, tôi không rõ là Thiếu Tướng Kỳ nói gì mà Trung Tướng Viên duyệt ký công điện đó. Lực lượng rút về xong thì Trung Tướng Có cũng được phía chống đối cho “tự do” sang căn cứ Không Quân về Sài Gòn. Trung Tướng Chiểu từ Huế cũng vậy.
Trung Tướng Đính ngỏ ý với bà Cao Văn Viên mà ông tin chắc là đến tai Trung Tướng Viên, và rồi Trung Tướng Thiệu với Thiếu Tướng Kỳ cũng biết. Theo đó, Trung Tướng Đính bắn tiếng rằng: “Nếu được tín nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I, ông có khả năng giải quyết được tình hình một cách êm dịu”. Bà Viên nói cho tôi nghe như vậy. Và chắc là nghe xuôi tai, với lại trong khi chưa chọn được vị nào khác, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp, quyết định cử Trung Tướng Tôn Thất Đính vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I thay Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, và tôi được lệnh lo phi cơ đưa ông và các sĩ quan tháp tùng ra Đà Nẳng.
20. Ngày hôm sau, một mẫu tin trên nhiều nhật báo tại thủ đô Sài Gòn có nội dung vắn tắt như thế này: “Trước khi lên phi cơ, Trung Tướng Đính tuyên bố là cọp về rừng”. Đúng là “cọp lại về rừng”, vì sau khi Trung Tướng Đính nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I thì ông tuyên bố tại Đà Nẳng cũng như sau đó tại Huế, là ông chờ ngày này đã lâu lắm rồi. Đồng thời ông nói thẳng ra rằng ông đứng về phía lực lượng chống đối trung ương. Thế là không khí đấu tranh trong hàng ngũ chống đối chánh phủ càng thêm hăng hái, vì có thêm một Tướng lãnh vừa từ trung ương ra là chống lại trung ương ngay.
Lúc này hầu hết vũ khí dự trữ trong các kho Tiếp Vận tại Huế và Đà Nẳng, đều bị phía chống đối lấy trang bị cho lực lượng của họ. Tư Lệnh lực lượng chống đối tại Huế là Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Tại Đà Nẳng, phía chống đối tổ chức một Quân Đoàn lấy tên là “Quân Đoàn Trần Hưng Đạo” do Đại Tá Đàm Quang Yêu giữ chức Tư lệnh. Nói là Quân Đoàn nhưng thật ra chỉ là một số quân nhân và cảnh sát Phật tử tập hợp lại thôi, chớ có tổ chức Sư Đoàn Trung Đoàn gì đâu. Còn Đại Tá Đàm Quang Yêu, đang là Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Quảng Đà (tức Quảng Nam Đà Nẳng), được phía chống đối đưa ông vào chức Tư Lệnh Quân Đoàn Trần Hưng Đạo.
21. Về phía Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, từ khởi đầu đến bây giờ đều ở trong thế bị động. Tất cả các giải pháp đều không thành công, khiến nội bộ rạn nứt hình thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất: Trung Tướng Thiệu, Trung Tướng Có, và Trung Tướng Đặng văn Quang, Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Và nhóm thứ hai: Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Viên, Thiếu Tướng Khang, và Chuẩn Tướng Đống. Phía Chống đối, bước đầu họ đòi phục chức cho Trung Tướng Thi, khi Trung Tướng Thi về lại Đà Nẳng thì chuyển sang bước thứ hai là đấu tranh đòi Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, và Trung Tướng Có từ chức, và bây giờ là bước thứ ba đòi xây dựng một chế độ dân cử.
Dù thế nào đi nữa thì Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, cũng phải tìm một vị Tướng khác ra thay Trung Tướng Đính, và vị đó là Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao. Thiếu Tướng Cao là tín đồ Thiên Chúa Giáo, rất được Tổng Thống Ngô Đình Diệm tín cẩn, nên thất sủng từ sau ngày 1/11/1963. Bây giờ được cử vào chức vụ có trách nhiệm giải quyết cuộc khủng hoảng với Phật Giáo, thì liệu mức độ thành công có được bao nhiêu! Khi Thiếu Tướng Cao từ phòng Trung Tướng Viên bước ra, chẳng những không có được nụ cười như thường lệ, mà trái lại, trên nét mặt của ông hiện rõ, rằng ông rất lo âu về chức vụ mà Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia vừa giao cho ông. Đúng ra là Thiếu Tướng Cao rất sợ hãi!
22. Chỉ vài ngày sau khi Thiếu Tướng Cao có mặt tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, sau giờ làm việc chiều trở về, điện thoại nhà tôi reo: “Trung Tá Hoa tôi nghe”. “Chú liên lạc tìm sĩ quan tùy viên của Thống Tướng Westmoreland hỏi xem giờ nào phi cơ cất cánh và bãi đậu ở đâu? “Thưa Trung Tướng, tôi chưa rõ việc này, xin Trung Tướng cho lệnh rõ hơn”.“Tôi cần đi Đà Nẳng ngay bây giờ. Ông Westmoreland cho tôi mượn chiếc phi cơ U 21 của ổng. Chú hỏi rồi cho tôi biết ngay”.
Thống Tướng William C. Westmoreland, đang là Tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam. U 21 là chiếc phi cơ phản lực, dường như 8 chỗ ngồi mà Không Lực Hoa Kỳ dành riêng cho ông. Mọi thu xếp xong xuôi, và phi cơ cất cánh lúc 8 giờ tối tại bãi đậu của Không Quân Hoa Kỳ, và trên phi cơ chỉ một hành khách duy nhất là Trung Tướng Cao Văn Viên, Trước khi lên phi cơ, Trung Tướng Viên dặn tôi: “Chú chờ tôi ở đây và rất có thể là tôi về khuya lắm”.
23. Tôi muốn biết chuyện gì xảy ra, nên điện thoại hỏi bà Viên vì tôi tin là bà biết. Và đúng như vậy, bà Viên cho biết: “Thiếu Tướng Cao nói ổng bị ông Loan (Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan) cho người mưu sát ổng ngay tại văn phòng, nên ổng đã bỏ Quân Đoàn chạy sang tị nạn bên Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ. Trung Tướng ra đó giải quyết ngay trong đêm”. Trung Tướng Viên về đến lúc 3 giờ sáng. Trước khi lên xe, ông đưa tôi cái thơ không niêm, và nói: “Tôi về nhà luôn. Chú ghé đưa thư này cho bà Cao và nói rằng, Thiếu Tướng Cao nhờ trao tận tay. Ngoài ra ông Cao không có dặn gì thêm”.
Nhà Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao ở trong cư xá Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng tôi không ghé ngay mà tôi vào luôn văn phòng. Tôi muốn biết tình hình xảy ra như thế nào và tôi nghĩ là thư của Thiếu Tướng Cao có thể có những thông tin liên quan đến. Thế là tôi sao chụp một bản trước khi ghé nhà Thiếu Tướng Cao trao cho bà ấy. Sỡ dĩ tôi hành động như vậy là vì từ cái đêm Tổng Thống Diệm ra lệnh thiết quân luật 20/8/1963 để lùng bắt Thượng Tọa Thích Trí Quang cho đến nay, tôi ghi chép những sự kiện xảy ra, và đồng thời sao chụp các bản tài liệu kèm theo bản văn ghi chép theo câu “nói có sách mách có chứng”, để sau này cung cấp cho những sử gia hoặc giả tôi sẽ đăng báo hoặc viết thành sách.
24. Trở lại thư của Thiếu Tướng Cao. Tôi biết hành động như vậy là không đúng, nhưng tôi muốn có dữ kiện ghi chép chính xác. Tôi không biện minh cho việc tôi làm, nhưng rõ ràng là tôi không hề có ý định gì ngoài điều tôi vừa trình bày. Thư ông chưa đầy trang giấy, chỉ vắn tắt rằng : “..... Vì có người ám hại nên ông phải ra ngoại quốc tìm kế mưu sinh và sẽ gởi tiền về giúp đỡ gia đình. Cuối cùng, ông cầu xin Đức Mẹ che chở cho vợ con ông”.
Ngày hôm sau, tôi được bà Viên cho biết thêm như thế này: “Nhận chức xong, Thiếu Tướng Cao duyệt lại tình hình từng nơi, đặc biệt là ông chú trọng đến Đà Nẳng và Huế. Ông thấy cần ra Huế để nắm vững tình hình tại đây về lực lượng dưới quyền ông cũng như lực lượng của phía chống đối. Thiếu Tướng Cao đến Huế bằng trực thăng của Hoa Kỳ, khi chuẩn bị đáp thì từ đám đông phía dưới có người bắn lên và xạ thủ trên trực thăng đã bắn chết người đó. Ông quay về Đà Nẳng. Rồi ngay trong phòng làm việc của ông tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, bất ngờ ông phát hiện kịp thời một sĩ quan của ông Loan (Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan) dí súng vào đầu ông từ phía sau, nhưng đúng lúc có một sĩ quan Hoa Kỳ bước vào nên hắn không hành động được.
25. Ông Cao quá tức giận và nói cho ông Loan biết là ông sẽ rời bỏ Quân Đoàn. Ông Loan quì xuống ôm chân Thiếu Tướng Cao và nói trong vội vàng: 'Thiếu Tướng hiểu lầm rồi, không có chuyện mưu sát gì đâu. Tôi lạy Thiếu Tướng, xin Thiếu Tướng đừng bỏ Quân Đoàn. Ngay sau đó, ông Cao sang Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ xin Tướng Waltz -Tư Lệnh- giúp cho ông sang Hoa Kỳ tị nạn chính trị. Thiếu Tướng Cao viết thư đó tại văn phòng Tướng Waltz”.
Trở lại văn phòng của Trung Tướng Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng. Từ sau ngày Thiếu Tướng Cao bỏ Quân Đoàn I, các vị Tướng lãnh đạo quốc gia và quân đội, gần như làm việc bất kể ngày đêm tại phòng làm việc của Trung Tướng Viên, có hôm đến nửa đêm mới rời nơi đây. Trong một buổi tối, vẫn là Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, và Trung Tướng Viên, và đây là lần đầu tiên Trung Tướng Viên trình bày quan điểm của ông một cách mạnh mẽ, ông nhân danh Tổng Tham Mưu Trưởng, ông không chấp nhận một quân đội trong một quân đội như tình trạng hiện nay.
26. Và, ông đề nghị với các vị có mặt là phải dùng biện pháp quân sự để giải quyết dứt khoát tình hình. Buổi họp đi đến quyết định là chấp thuận kế hoạch của Trung Tướng Viên, và ngày 15/5/1966 là ngày chuyển quân ra Đà Nẳng. Lần chuyển quân này được phía Hoa Kỳ trực tiếp cung cấp vận tải cơ hạng nặng C130 và vận tải hạm chở chiến xa từ Sài Gòn ra phi cảng và hải cảng Đà Nẳng. Vẫn Thủy Quân Lục Chiến và Nhẩy Dù như lần trước, cộng thêm lực lượng Thiết Giáp. Và rồi diễn tiến cuộc “hành quân” giải tỏa tình hình hỗn loạn tại Đà Nẳng được thực hiện rất thuận lợi, không một cuộc nổ súng nào xảy ra giữa lực lượng chánh phủ với lực lượng chống đối.
Tại Huế cũng trong một tình hình tương tự như vậy. Đại Tá Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Phó Nhẩy Dù, được cử ra phía bắc Huế tiếp xúc với một Trung Đoàn của Sư Đoàn 1 Bộ Binh ủng hộ trung ương, tiến vào thành phố Huế với nhiệm vụ giải tỏa lực lượng chống đối. Nhiệm vụ hoàn thành trong yên tịnh. Sự kiện gần như trái ngược với dự đoán của giới truyền thông cũng như của nhiều thành phần khác trong xã hội khi được biết trung ương lại đưa quân ra Đà Nẳng. Bởi vì trước đó một tháng, ngày 15/4/1966, trung ương đã chuyển quân ra Đà Nẳng, và đã thất bại nên rút quân về.
27. Dưới quyền của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, các thành phần Cảnh Sát và An Ninh Quân Đội lần lượt bắt giữ Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Trung Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao, và Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Riêng Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân đã theo lệnh về Sài Gòn họp và bị giữ từ hạ tuần tháng 4/1966. Ngoài ra, lực lượng an ninh còn bắt giữ nhiều người nữa, trong số đó có Đại Tá Đàm Quang Yêu, Tư Lệnh Quân Đoàn Trần Hưng Đạo của phía chống đối, và bác sĩ Mẫn, Thị trưởng Đà Nẳng.
Cuối tháng 5 năm 1966,song song với công tác bắt giữ một số nhân vật, là công tác bổ nhiệm các nhân vật khác thay thế: (1) Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I. (2) Đại Tá Ngô Quang Trưởng, nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh. (3) Đại Tá Phan Hòa Hiệp, nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh. (4) Trung Tá Lê Chí Cường, đang là Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu, nhận chức Thị Trưởng Đà Nẳng. Tiếp đó là nhiều chức vụ trưởng cơ quan đơn vị tại Đà Nẳng và Huế đã tích cực tham gia lực lượng chống đối trung ương, đều bị thay thế.
28. Đầu tháng 7 năm 1966, Trung Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, gọi tôi vào văn phòng và ra lệnh: “Chú mời các vị trong Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt về họp trong hai ngày 8 và 9 (7/1966) tại phòng họp số 2. Chú liên lạc với An Ninh Quân Đội tổ chức thu băng để làm biên bản. Không một ai được vào phòng khi đang họp. Chú lo thức ăn trưa tại chỗ”. “Thưa Trung Tướng, về an ninh phòng họp có cần tổ chức đặc biệt hay như thường lệ? “Không cần đặc biệt lắm đâu, tùy chú xem tình hình mà thích ứng. Chú mời các vị Tướng bị giữ vào phòng bên cạnh, chú phải luôn luôn có mặt tại chỗ và lo ăn sáng ăn trưa cho các ổng. Chú lần lượt mời từng vị vào phòng họp của Hội Đồng mỗi khi tôi thông báo”.
Thành phần Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt, không phải là thành phần của Hội Đồng Quân Lực, vì chỉ gồm các Tướng Lãnh mà thô. Ngày họp. Bàn ghế trong phòng họp được xếp theo hình chữ U, đáy chữ U là bàn của chủ tọa đoàn, gồm: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Linh quang Viên trong chức vụ Thư Ký của Hội Đồng, phụ trách đọc các bản cáo trạng.
29. Còn trên đầu chữ U có bục gỗ dành cho vị Tướng “bị cáo”, tạm gọi là “vành móng ngựa”. Bên góc trái cuối phòng họp có cái phòng nhỏ được thiết trí máy thu băng và máy khuếch đại âm thanh. Chỉ có chuyên viên truyền tin và sĩ quan An Ninh được ra vào phòng này. Trước cửa có Quân Cảnh gác. Phía sau lưng phòng họp là một phòng khá rộng dành cho 5 vị Tướng “bị cáo” ngồi chờ đến lượt, đồng thời cũng là nơi mà văn phòng tôi lo ăn sáng ăn trưa cho quí vị ấy. Tôi được ra vào phòng họp lẫn phòng thu băng.
Buổi họp bắt đầu. Trung Tướng Thiệu, rồi Thiếu Tướng Kỳ, trình bày lý do với các vị Tướng Lãnh thành viên của Hội Đồng, cũng là cách cung cấp cho các thành viên nắm được nguyên nhân và sẳn sàng thực hiện nhiệm vụ đặc biệt trong hai ngày họp này. Khi phòng họp sẳn sàng, theo lệnh Trung Tướng Viên, tôi mời Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi vào trước và hướng dẫn đến bục gỗ. Ông bước vào “vành móng ngựa” với thái độ thản nhiên như một vị chủ tọa đã từng đứng lên bục gỗ này để ban huấn thị vậy.
30. Trung Tướng Thiệu: “Hôm nay, Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt họp để nghe Trung Tướng trình bày về những việc làm của Trung Tướng trong thời gian xáo trộn chính trị tại Miền Trung, vì có những điều mà Hội Đồng chưa biết chắc là Trung Tướng có phải đã hành động như thế hay không, để Hội Đồng có quyết định không nhầm lẫn. Mong rằng, Trung Tướng cho biết sự thật”. Sau đó, Trung Tướng Linh Quang Viên, với tư cách Thư Ký của Hội Đồng đã đọc bản cáo trạng với từng lời tuyên bố cũng như những hành động của Trung Tướng Thi trong thời gian nói trên. Đọc xong, Trung Tướng Thiệu mời Trung Tướng Thi biện minh về những lời cáo trạng vừa nêu.
Trung Tướng Thi, vẫn bình thản tự nhiên, và nói một cách mạnh mẽ rằng: “Bây giờ tôi có nói như thế nào đi nữa thì quí vị cũng không tin tôi, do đó mà tôi không có điều gì để trình bày với quí vị. Quí vị quyết định như thế nào thì tùy quí vị”.Trung Tướng Thi dùng chữ rất hay. Ông nói “quí vị quyết định thế nào là tùy quí vị”chớ ông không nói “quí vị quyết định thế nào thì tôi thi hành thế ấy”.
31. Thiếu Tướng Vĩnh Lộc -Tư Lệnh Quân Đoàn II- nói gần như tha thiết với Trung Tướng Thi là nên trình bày sự thật để anh em trong Hội Đồng hiểu rõ được sự việc. Trung Tướng Thi vẫn giữ nguyên câu nói của ông vừa rồi, và ông xin ra khỏi phòng họp. Có thể thừa nhận là Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi có dũng khí của người làm Tướng, điều mà không phải vị Tướng nào cũng có được như ông. Nhưng cũng có thể là ông thấy không có cách nào để biện minh nên thà tỏ ra cứng rắn vẫn hơn chăng? Theo tôi, Trung Tướng Thi quả là có dũng khí của vị Tướng.
Vị kế tiếp là Trung Tướng Tôn Thất Đính. Rất dễ dàng trông thấy Trung Tướng Đính có cố gắng bình tỉnh nhưng ông đã không nén được nỗi lo âu trên nét mặt khi bước vào “vành móng ngựa”. Trung Tướng Thiệu cũng nói những lời như đã nói với Trung Tướng Thi, và rồi Trung Tướng Viên đọc cáo trạng của ông. Trung Tướng Đính dần dần lấy lại bình tỉnh, rồi bắt đầu ồn ào với những lời biện minh, nhưng là biện minh một cách gượng gạo, không đủ lý lẽ để xóa bỏ được câu cáo trạng nào cả. Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao là vị thứ ba vào “vành móng ngựa”. Tiếp đến Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, và sau cùng là Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận.
32. Trung Tướng Thiệu và Trung Tướng Viên (Linh Quang Viên), theo điệp khúc như đã nói đối với Trung Tướng Thi, Trung Tướng Đính, nghĩa là một vị giới thiệu mục đích buổi họp và vị kia thì kê khai những “tội” của từng vị bị cáo. Bản cáo trạng của Trung Tướng Thi, Trung Tướng Đính, và Chuẩn Tướng Nhuận rất dài, vì các vị này chống đối trung ương từ đầu, còn cáo trạng của Thiếu Tướng Cao với Thiếu Tướng Chuân thì ngắn thôi, vì không chống nhưng cũng không làm tròn nhiệm vụ trong chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I. Thiếu Tướng Cao với Thiếu Tướng Chuân khá bình tỉnh khi biện minh và biện minh ngắn gọn, trong khi Chuẩn Tướng Nhuận khóc sướt mướt với những lời trình bày toàn kêu oan...
Ngày hôm sau, Hội Đồng Kỷ Luật thảo luận gần như suốt ngày để đạt đến một kết luận thống nhất, kết luận đó trở thành “bản án” và bản án này làm cho “một loạt những vì sao rơi rụng”. Bản án trừng phạt mỗi vị “60 ngày trọng cấm” và giải ngũ bắt buộc. Riêng Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận bị giáng xuống cấp Đại Tá và giải ngũ. “Cuộc khủng hoảng miền Trung” kết thúc bằng bản án nói trên, nhưng với nét nhìn chung cuộc thì các vị Tướng Lãnh lãnh đạo quốc gia đã phải chấp nhận tiến đến xây dựng cơ cấu dân chủ, mà bước đầu là bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào hạ tuần tháng 9/1966, Như vậy: Theo quí vị quí bạn, “ai thắng và ai thua” trong cuộc khủng hoảng này? (Hết trích).
V. Tướng Thi và biến động miền Trung năm 1966.
1. Theo Lâm Vĩnh Thế trong “Nghiên cứu Lịch sử” thì nguyên nhân sâu xa vụ “Biến động miền Trung năm 1966” là: (1) Các chính phủ kế tiếp nhau từ sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đỗ đều hứa hẹn sẽ triệu tập Quốc Dân Đại Hội để soạn thảo Hiến Pháp mới nhưng đều không giữ đúng lời hứa nầy; (2) Các chính phủ nầy đều, không nhiều thì ít, đã sử dụng trở lại một số phần tử Cần Lao của chế độ Ngô Đình Diệm mà Phật Giáo hoàn toàn không thể chấp nhận được; Và, (3) Nội Các Chiến Tranh của Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã tích cực ủng hộ sự kiện Hoa Kỳ ồ ạt đổ quân tác chiến vào Miền Nam, mở rộng chiến tranh ra Miền Bắc, đã làm cho cuộc chiến trở nên khốc liệt gấp bội, và làm đảo lộn đời sống của nhân dân Miền Nam.
Về phần Tướng Nguyễn Chánh Thi, ông là một khuôn mặt tướng lãnh rất đặc biệt và quan trọng trong giai đoạn lịch sử nầy của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Khi còn mang cấp bậc Đại Tá, Tư lịnh Lữ Đoàn Nhảy Dù, ông đã lãnh đạo cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 nhằm lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Cuộc đảo chánh thất bại, ông phải sống lưu vong 3 năm tại Cao Miên. Sau khi cuộc đảo chánh 1-11-1963 thành công lật đổ được chế độ Ngô Đình Diệm, ông trở về nước, được phục hồi cấp bậc và được bổ nhiệm làm Tư Lệnh phó Vùng I, dưới quyền Trung Tướng Nguyễn Khánh. Ông tham gia vào cuộc Chỉnh Lý ngày 30-1-1964 của Tướng Khánh.
2. Ngày 29-5-1964, Đại tá Nguyễn Chánh Thi được Tướng Khánh thăng cấp Chuẩn Tướng rồi thăng cấp Thiếu Tướng ngày 21-10-1964, và trở thành một thành viên quan trọng của nhóm Tướng trẻ mà báo chí Mỹ thường gọi chung là Young Turks. Cùng với nhóm nầy, ông đã tham gia vào việc chống lại cuộc đảo chánh ngày 13-9-1964 của hai tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát, và cuộc đảo chánh ngày 19-2-1965 của Đại Tá Phạm Ngọc Thảo, cũng như việc lật đổ Tướng Nguyễn Khánh và buộc Tướng Khánh phải rời khỏi Việt Nam ngày 25-2-1965. Sau các vụ nầy, ông trở thành một trong các tướng lãnh có thế lực nhứt. Ông được thăng cấp Trung tướng ngày 1/11/1965.
Sau khi Chính phủ Phan Huy Quát giao lại chính quyền cho Quân Đội, ông đã được các tướng lãnh đề nghị làm Thủ Tướng, nhưng ông đã từ chối, sau đó các tướng lãnh đã đề cử Tướng Kỳ. Trong vai trò Tư Lệnh Vùng I kiêm Đại Biểu Chính Phủ, ông đã có những bất đồng ý kiến về chính trị với chính quyền trung ương tại Sài Gòn. Ngoài ra, với việc gia tăng ồ ạt quân số Hoa Kỳ tại VNCH, tướng Thi cũng không tránh được những đụng chạm với người Mỹ trong cương vị Tư Lệnh vùng của ông.
3. Tướng Thi được hậu thuẩn rất lớn của phe Phật Giáo cũng như đồng bào tại Vùng I làm cho các tướng lãnh ở Trung ương rất e ngại thế lực của ông. Ngoài ra, với bản tánh nóng nảy, bộc trực, phê bình thẳng những chuyện sai quấy của người khác, nhất là đối với các tướng lãnh tham nhũng (số nầy lại là đa số), ông dần dần bị cô lập trong Hội đồng các tướng lãnh. Trong hoàn cảnh bị cô lập như vậy, chính Tướng Thi lại tạo thêm những lý do cho phe chống ông thành công dễ dàng trong việc loại ông ra khỏi bộ máy cầm quyền. Trước hết, là vụ từ chối tham dự Hội Nghị Honolulu vào đầu tháng 2-1966.
Đây là hội nghị thượng đĩnh đầu tiên giữa Tổng Thống Lyndon B. Johnson của Hoa Kỳ và phái đoàn cao cấp của VNCH cầm đầu bởi Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch UBLĐQG, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương (UBHPTƯ). Mục đích của Hội nghị, Về phía Hoa Kỳ, chính thức xác nhận việc quân bộ chiến Mỹ có mặt tại Nam Việt Nam là thực hiện lời cam kết của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tại Việt Nam. Về phía VNCH, đây là cơ hội để trình bày với công chúng Hoa Kỳ và cả thế giới về mục tiêu chống Cộng, và đường lối của Nội Các Chiến Tranh tiến dần đến dân chủ, chính phủ VNCH cam kết sẽ tổ chức soạn thảo hiến pháp mới, tổ chức bầu cử.
4. Việc ông từ chối không đi dự Hội Nghị Thượng Đĩnh Mỹ-Việt tại Honolulu vào đầu tháng 2-1966 càng làm cho người Mỹ thiếu thiện cảm với ông hơn. Trong hồi ký của mình, Tướng Thi viết: Một hôm anh trùm CIA tên là Robinson đến gặp tôi ở văn phòng. Anh ta than phiền, rằng CIA được báo cáo là tôi đã hiểu sai lầm về vai trò của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Anh ta nói thẳng những ghi nhận của Hoa Kỳ về tôi: Tinh thần chống Mỹ mỗi ngày mỗi rõ rệt, cụ thể là phản đối Hội nghị Honolulu; Khuyến khích dân chúng miền Trung không hợp tác với chính phủ trung ương Saigon; Nhiều lần không tuân lệnh Saigon một cách bướng bỉnh”.
Hơn ai hết, có lẽ Tướng Kỳ nghĩ rằng, ông loại Tướng Thi khỏi chức vụ Tư Lệnh Vùng I, lúc nầy chắc Hoa Kỳ không có phản ứng gì, Hoa Kỳ lại sẽ xem như đó là “chuyện nội bộ của Việt Nam Cộng hoà”
VI. Sự kiện liên quan, và chiến sự 1966-1967.
1. Trước cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng ở Nam Việt Nam, tại buổi họp ngày 9 tháng Tư 1966, các cố vấn cao cấp của Tổng Thống Lyndon B. Johnson là Tổng Trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, Giám Đốc CIA –Central Intelligence Agency, Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ–, và Tham Mưu Trưởng Liên Quân, đã đưa ra 3 giải pháp: Giải Pháp A: tiếp tục chính sách đang thực hiện, với hy vọng “khó khăn hiện tại” chỉ là tạm thời; Giải Pháp B: tiếp tục gần giống như hiện trạng, hy vọng chiến sự sẽ giảm bớt khi quân Mỹ vào Việt Nam tăng lên, và tích cực hơn là thúc đẩy chính phủ VNCH mở những cuộc tiếp xúc với các thành phần trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN);
Các cuộc tiếp xúc nầy có thể bắt đầu bằng việc chính phủ VNCH công khai kêu gọi thương thuyết hoặc là những thăm dò trong bí mật; Sau khi đã nắm được những điểm then chốt trong lập trường của MTGPMN, chính phủ Hoa Kỳ sẽ quyết định hoặc thúc đẩy chính phủ VNCH tiếp tục việc thương thuyết, hay ủng hộ chính phủ VNCH trong việc gạt bỏ những đòi hỏi quá đáng của phe Cộng sản; Giải Pháp C: quyết định rằng những cơ may giúp mang lại một chính quyền không Cộng sản tại Miền Nam đã giảm bớt đến mức độ mà, trên toàn bộ, nổ lực của Hoa Kỳ không còn đáng duy trì nữa; điều nầy có nghĩa là phải chuẩn bị, để khi đến thời điểm thích hợp, có thể tiến hành rút quân.
2. Ngoại Trưởng Dean Rusk khuyến cáo nên chọn Giải Pháp A. Tổng Thống Johnson đồng ý với khuyến cáo nầy. Vào đầu tháng 5/1966, Đại sứ Lodge (kế nhiệm Đại sứ Maxwell D. Taylor) được triệu hồi về Hoa Thịnh Đốn để tham khảo. Tổng Thống Johnson muốn Đại sứ Lodge phải nói cho các nhà lãnh đạo VNCH rõ, là họ phải thực hiện lời cam kết bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, nếu không việc viện trợ của Hoa Kỳ cho VNCH sẽ bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Cách giải quyết tốt nhứt là chính phủ nầy (tức Nội Các Chiến Tranh của Tướng Kỳ), nên từ chức và giao quyền hành cho Quốc Hội Lập Hiến (QHLH) khi cơ cấu nầy đã được dân chúng bầu ra xong.
Quốc Hội Lập Hiến sẽ bỏ phiếu tín nhiệm và giữ lại chính phủ hiện nay, hay là chọn ra một chính phủ mới… Phương cách nầy, phù hợp với các khuyến cáo của Đại Hội Chính Trị Toàn Quốc kết thúc tại Sài Gòn hồi giữa tháng Tư, và được chính quyền hiện nay đồng ý thực hiện. Giữa lúc mọi việc đang diển tiến tốt đẹp, thì ngày 5/6/66, tại buổi lễ khánh thành căn cứ Không Quân mới tại Bình Thủy, Cần Thơ, Tướng Kỳ tuyên bố là chính phủ của ông sẽ ở lại một năm nữa cho đến khi nào tất cả các cơ cấu của chính quyền do hiến pháp mới quy định được thiết lập xong. Chính phủ Hoa kỳ bị bất ngờ với lời tuyên bố nầy, vì không được tham khảo trước. Họ không thích, nhưng quyết định không can thiệp vào việc nầy.
3. Tại thời điểm nầy, Ngoài quân bộ chiến Mỹ, còn có 20.500 quân đồng minh gồm Sư đoàn bộ binh Mãnh hổ, Lữ doàn lính thuỷ đánh bộ Rồng xanh Hàn Quốc, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Australia, Trung đoàn Thái Lan, Đại đội pháo binh New Zealand, Tây Ban Nha, Đài Loan cũng đưa sang Nam Việt Nam 43 cố vấn quân sự và chuyên gia, cùng với 520.000 quân VNCH, biên chế thành 10 sư đoàn và 5 trung đoàn độc lập. Đây cũng là Giai đoạn quân Mỹ và Đồng minh dốc toàn bộ lực lượng mở các cuộc hành quân “tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân giải phóng” và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định.
Chiến trường lúc nầy tập trung vào Vùng III Chiến thuật. Tháng 8 năm 1966, Lữ đoàn khinh binh Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam, Bộ tư lệnh Hoa Kỳ chỉ định Lữ đoàn nầy đóng quân hoạt động khu vực ven Chiến khu C, nơi mà Sư đoàn 9 Cộng quân mới tập trung trở lại, cùng với một Trung đoàn cơ động biệt lập từ miền Bắc vừa xâm nhập vào. Ngày 14, tháng 9 năm 1966, Bộ tư lệnh Dã chiến số 2 Hoa Kỳ tại Vùng 3, đã cùng với Thiếu tướng Lê Nguyên Khang Tư lệnh Quân đoàn III tổ chức cuộc hành quân Attleboro. Không gian của cuộc hành quân là từ Trảng Bàng đến Gò Dầu Hạ nằm trên đường số 1 và Trại Đèn trên đường 13, với quân số tham chiến trên dưới 20 ngàn Liên quân Việt-Mỹ, cùng với pháo binh, thiết giáp và không quân có cả B52 chi viện.
4. Trong 6 tuần đầu của cuộc hành quân, không có trận đụng độ lớn. Nhưng trận chiến đã bùng nổ vào ngày 3 tháng 11 năm 1966 tại một địa điểm cách tỉnh lỵ Tây Ninh 27 km về hướng Đông-Bắc, khi Lữ đoàn 196 Hoa Kỳ kịch chiến với 3 trung đoàn Việt Cộng. Lực lượng bộ binh Việt Nam Cộng hòa và một số tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 và 25 Bộ binh Hoa Kỳ đến tiếp ứng Lữ đoàn 196 để cố đẩy lùi Cộng quân ra khỏi trận địa. Đến ngày 6 tháng 11 năm 1966, theo ước tính của Mỹ, cái giá để bảo vệ bộ chỉ huy Việt Cộng phải đổi lấy là thiệt mạng lên đến 270. Hôm sau Liên quân Việt-Mỹ tuyên bố đã hạ thêm 319 quân Việt Cộng, chiếm được 35 pháo đài kiên cố.
Ngày 7 tháng 11, Cộng quân mở nhiều đợt xung phong tấn công trở lại, nhưng phi cơ Hoa Kỳ đã dội napalm xuống sát ngay cả vị trí quân bộ chiến Mỹ, đẩy lùi cuộc tiến công. Tổng số quân Việt Cộng thiệt mạng được Mĩ tuyên bố là 758. Ngày 9 tháng 11, liên quân Việt Nam Cộng hòa - Mỹ bung rộng lục soát chiến trường, tìm thấy thêm 95 xác nữa, đưa tổng số Cộng quân tử thương lên 828 người. Từ 10 đến ngày 26 tháng 11, các đơn vị Việt-Mỹ tiếp tục truy tìm, nhưngkhông có cuộc đụng độ nào đáng kể. Ngày 27 tháng 11, cuộc hành quân kết thúc, tổn thất của quân Việt Cộng theo phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa là: 1.101 chết, 44 tù binh, 149 vũ khí bị tịch thu và khoảng 1.000 tấn gạo bị tìm thấy. Sau trận nầy này, quân Việt Cộng rút lui về bên kia biên giới Việt-Campuchia.
5. Từ ngày 8 tháng 1 đến 16 tháng 1 năm 1967, Liên quân Việt-Mỹ, mở cuộc hành quân cấp quân đoàn thứ hai, hành quân Cedar Falls, đánh vào vùng "tam giáp sắt" Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát, là nơi có cơ quan đầu não của Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Lực lượng hành quân, gồm Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ, Lữ đoàn 3 Sư đoàn bộ binh số 4, Lữ đoàn 2 Sư đoàn bộ binh số 25, Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 196, Lữ đoàn dù 173, Trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ và một bộ phận Sư đoàn 5 chủ lực quân VNCH, cùng một số quân New Zealand với hơn 400 xe tăng, xe bọc thép, 800 tàu xuồng chiến đấu trên sông, hơn 100 khẩu pháo các loại và nhiều máy bay, kể cả B-52.
Bị áp đảo về quân số và hỏa lực, quân Việt Cộng lẫn tránh, không giao chiến, phân tán rút vào rừng và ẩn nấp trong các địa đạo, chỉ sử dụng các nhóm nhỏ để đánh phục kích. Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hoà tuyên bố đã tiêu diệt 750 quân Giải phóng và bắt 280 tù binh, thu 23 vũ khí hạng trung, 590 vũ khí cá nhân và 200 mìn, lựu đạn, đạn pháo và súng cối. Hơn 100 công trình kiên cố, 250 hầm và hơn 500 công trình khác bị phá hủy. 60 ngàn băng đạn cho vũ khí cá nhân, 7.500 bộ quân phục, 3,7 ngàn tấn gạo và khoảng nửa triệu trang tài liệu bị thu giữ cùng nhiều vật liệu chiến tranh khác.
6. Thương vong về phía Mỹ là 72 thiệt mạng và 337 bị thương; phía Việt Nam Cộng hòa là 11 chết và 8 bị thương; 2 xe tăng, 5 xe bọc thép bị phá huỷ; hư hại 3 xe tăng, 9 xe bọc thép, 1 xe tăng hạng nặng, 2 xe ô tô và 2 trực thăng trinh sát nhẹ. Phía Cộng quân thì họ cho rằng, rất ít quân du kích thiệt mạng, về cơ bản các đơn vị của họ không bị đánh bật ra ngoài. Hệ thống hầm ngầm không bị triệt phá mà chỉ bị hư hại một phần. Hố bom loang lổ, hàng mảng đất bị cày xới lên bằng máy xúc. Song không có quả bom nào, không có máy xúc nào khoét đủ sâu để phá hoại được hầm ngầm.
Từ ngày 22/2-14/5/1967, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân Junction City đánh vào Chiến khu C Tây Ninh, nơi không chỉ là căn cứ của Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền, Mặt trận Dân tộc giải phóng, mà còn là nơi tích trữ vật chất, có nhiều kho dự trữ chiến lược; là địa bàn đóng quân của Sư đoàn 9 chủ lực Việt Cộng. Về phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, tổng số quân và thiết bị quân sự tham chiến trên 30 quân gồm 9 lữ đoàn bộ binh Mỹ; 1 Lữ đoàn Thuỷ quân Lục chiến VNCH, trên 1.000 xe tăng, xe bọc thép, hàng trăm khẩu pháo các loại, 300 trực thăng; 3 phi đoàn máy bay vận tải... do tướng 3 sao Jonathan Seaman, Tư lệnh Dã chiến II trực tiếp chỉ huy.
7. Về phía quân Việt Cộng bao gồm chủ lực, địa phương, du kích các cơ quan là 10.000 bộ đội, được chia làm hai bộ phận, một bộ phận phân tán mỏng cùng với du kích các cơ quan lo bảo vệ các căn cứ, kho tàng; một bộ phận được ẩn giấu chờ đối phương sơ hở sẽ tổ chức phản công. Chỉ huy quân Việt Cộng là Lê Đức Anh, Tham mưu trưởng đảm trách. Với ưu thế áp đảo về mọi mặt, cuộc hành quân của Liên quân Việt-Mỹ tiến hành thuận lợi. Đến ngày 15/4/1967, sau 53 ngày hành quân, Liên quân Việt-Mỹ thu được một lượng đáng kể vũ khí, đạn dược, lương thực... nhưng đã không có một trận giao tranh nào lớn với quân Việt Cộng.
Cộng quân luôn tránh né, chỉ đánh tập kích khi Mỹ sơ hở, rồi rút lui nhanh. Các cơ quan đầu não như Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền, Mặt trận Dân tộc giải phóng, đều thoát khỏi được vòng vây của quân Mỹ. Ngày 14/5/1967, cuộc hành quân Junction City chính thức kết thúc, Hoa Kỳ tuyên bố có 2.728 quân Giải phóng tử trận. Phía Việt Cộng thì cho rằng, con số này là phóng đại; rằng họ đã hạ 282 lính Mỹ chết và hơn 1.500 bị thương, chưa kể thương vong của quân VNCH. Bắc Việt cũng tuyên bố là trong trận này, họ đã loại khỏi vòng chiến 11.000 quân của Mỹ và Việt Nam Cộng hoà, đã phá hủy hoặc gây hư hại 900 xe quân sự, phá hủy 119 súng đại bác hoặc súng cối của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa.
VII. Những việc đã làm 1966-1967.
1. Ngày 11/8/1966, bầu cử Quốc hội lập hiến, có 532 ứng cử viên, và 117 đắc cử. Tổng số cử tri đi bỏ phiếu 4.274.872 người, chiếm 80,8% cử tri ghi danh. Quốc hội có một nhiệm vụ duy nhất là soạn thảo Hiến pháp. Sau 6 tháng làm việc Quốc hội Lập hiến đã soạn thảo xong Hiến pháp. Ngày 1/4/1967, Hiến pháp được ban hành. Năm 1967, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia quyết định tăng lương đồng đều cho tất cả quân nhân các cấp thuộc chủ lực quân, mỗi quân nhân 100 đồng. Dư luận từ các nhà hoạt động chính trị cho rằng, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia tăng lương chỉ nhằm mục đích lấy lòng quân nhân chuẩn bị cho Liên danh quân đội ra ứng cử Tổng Thống-Phó Tổng Thống.
Và, rồi quí vị Tướng Lãnh ra ứng cử thật. Không phải một liên danh mà đến hai liên danh: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu một liên danh, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ một liên danh khác. Cũng may, các vị Tướng Lãnh đã vận động thành công hai vị đứng đầu hai liên danh đến sát cạnh ngày hết hạn nộp đơn ứng cử, thì Thiếu Tướng Kỳ bằng lòng đứng chung liên danh với Trung Tướng Thiệu, sau cuộc họp khá gay gắt tại Câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu. Cũng trong "sự thành công" đó, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu có hứa nếu đắc cử Tổng Thống, ông sẽ tham khảo các vị trong Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia về đường lối chính sách quốc gia. Đồng thời ông cũng thỏa thuận với Thiếu Tướng Kỳ là sẽ mời giáo sư Nguyễn Văn Lộc thành lập chánh phủ.
2. Ngày 3-9-1967, bầu cử Tổng Thống và Thượng Nghị Viện: Có 11 liên danh ứng cử Tổng Thống - Phó Tổng Thống. Kết quả: Liên danh Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ thắng cử, với 34%. số phiếu bầu. Về nhì là Trương Đình Dzu-Trần Văn Chiêu (17%). Về ba là Phan Khắc Sửu-Phan Quang Đán (13%). Và thứ tư là Liên danh Trần Văn Hương-Mai Thọ Truyền (12%). Có 48 liên danh (480 người) ra ứng cử Thượng viện. Sáu liên danh (60 người) đắc cử là: Liên danh I: Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Trần Điền, Phạm Nam Trường, Ksorot, Thái Lăng Nghiêm, Hồng Sơn Đông, Trịnh Quang Quỹ, Lê Văn Thinh, Đặng Văn Sung; Liên danh II: Nguyễn Văn Huyền, Mai Văn Hàm, Trần Hữu Phương, Lê Phát Đạt, Vũ Minh Trân, Nguyẽn Tư Bân, Lâm Hạp, Lâm Văn On, Lê Văn Thông, Nguyễn Huy Chiểu;
Liên danh III: Nguyễn Gia Hiến, Phạm Văn Triển, Hoàng Kim Quy, Lê văn Đồng, Trần Văn Quá, Vũ Ngọc Ánh, Nguyễn Hữu Tiến, Bùi Văn Giải, Đỗ Quang Giai, Trần Ngọc Nhuận; Liên danh IV: Huỳnh văn Cao, Phạm Văn Ba, bà Nguyễn Phước Đại, Nguyẽn Mạnh Bảo, Nguyẽn Văn Chuân, Lê Tấn Bửu, Trương Tiến Đạt, Hoàng Đạo Thế Phiệt, Trần Cảnh, Vòng A Sáng; Liên danh V: Nguyễn Ngọc Kỷ, Hoàng Xuân Tửu, Nguyễn Văn Kỷ Cương, Trần Thế Minh, Nguyẽn Văn Ngải, Phạm Nam Sách, Võ Văn Truyện, Mai Đức Thiệp, Nguyễn Văn Mân, Tôn Thất Uẩn; Và, Liên danh VI: Trần Văn Lắm, Trần Trung Dung, Trần Chánh Thành, bà Nguyễn Văn Thơ, Phạm Như Phiên, Nguyễn Phượng Yêm, Đoàn văn Cừu, Trần Ngọc Oành, Đào Đăng Vỹ, Nguyễn Văn Chức.
3. Ngày 3-10-1967, bầu cử Hạ nghị viện: có 1.500 người ứng cử để tranh 137 ghế ở Hạ viện. Tổng thống và Quốc hội, nền Đệ Nhị Cộng hòa khác với nền Đệ Nhất Cộng hòa ở chỗ Tổng thống không cầm đầu Chính phủ, mà phải bổ nhiệm một Thủ tướng cầm đầu Chính phủ. Quốc hội của Đệ nhị Cộng hoà Việt Nam chia thành hai viện: Thượng viện và Hạ viện: Thượng viện có 60 Nghị sĩ, bầu theo Liên danh 10 người, và Hạ viện có 137 Dân biểu, do người dân trực tiếp đầu phiếu căn cứ theo từng Khu vực bầu cử. Ngày 1/11/1967, Trung Tướng Viên thăng cấp Đại Tướng nhân lễ Quốc Khánh.
(Hết chương 9)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét