Chương 14: BẢY NHÂN VẬT LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN CHỦ CHỐT.
(Có 98 trang và 65.746)
7 nhân vật lãnh đạo chủ chốt trong các chính quyền Quốc gia - Cộng sản từ năm 1945 đến năm 1976 là Bảo Đại, Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Lê Duẩn, và Nguyễn Văn Thiệu.
1. HOÀNG ĐẾ VÀ QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI.
I. Tiểu sử và nền tảng học vấn.
1. Hoàng đế Bảo Đại (1913-1997), tên khai sinh: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913 tại kinh thành Huế, là con trai duy nhất của vua Khải Định và bà Hoàng Thị Cúc. Ngày 28 tháng 4 năm 1922, lúc 9 tuổi, ông được xác lập làm Đông cung Hoàng Thái tử. Tháng 6 năm 1922, Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung Kỳ là Jean Francois Eugène Charles nhận làm con nuôi đưa sang Pháp và học ở trường Lycée Condorcet, rồi trường Hattemer. Ngày 6 tháng 11 năm 1925, Khải Định mất, Vĩnh Thụy về nước thọ tang. Ngày 8 tháng 1 năm 1926, khi mới 13 tuổi, Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị làm Hoàng đế kế nhiệm, ông lấy niên hiệu Bảo Đại. Tháng 3 cùng năm, Bảo Đại trở lại Pháp để tiếp tục việc học.
Triều đình cử một bậc túc nho đi theo sang Pháp để dạy Vua học thêm chữ Hán và các khuôn phép phương đông. Một viên chức cao cấp người Pháp cũng được cử trông nom dạy dỗ Bảo Đại. Ông bà Charles ngoài việc từng bước theo dõi việc học, trong những dịp hè đưa Bảo Đại đi nghỉ ở Vichy hay tại nhà riêng ở Prades. Có thể nói vợ chồng ông Charles coi Bảo Đại gần như con cháu trong nhà. Từ niên khóa 1930, Bảo Đại vào học trường Sciences Po, Paris (Học viện nghiên cứu chính trị Paris, tên cũ là École libre des sciences politiques). Bảo Đại sống trong một căn nhà dành riêng cho mình tại 13 phố Lamballe.
2. Theo báo LAsie Nouvelle (Châu Á mới) kể lại, ngoài thời gian học, Bảo Đại chơi thể thao. Những ảnh chụp thời đó cho thấy Bảo Đại mặc trang phục tennis, quần soóc, áo thun trắng, hay trang phục của người chơi gôn, trươt tuyết. Lúc nào chàng thanh niên cũng ăn mặc chỉnh tề, trau chuốt, lịch sự, điển trai. Bảo Đại là người say mê chơi ô tô, ở tuổi 16 đã sở hữu trong tay nhiều kiểu ôtô. Cậu thanh niên có các xe tốc độ cao để đi vào các đường phố thủ đô hay đi trên đường cao tốc từ Cannes đến Deauville. Bản thân ông là người có năng khiếu, lái xe giỏi và nhanh, thoải mái, bình tĩnh mỗi khi tăng tốc độ, biết sử dụng tính năng của động cơ, không mất thời gian để gây ấn tượng, nhưng đôi khi cũng suýt gây tai nạn khi quành một chỗ rẽ.
Chàng thanh niên thích thú với cách sống như vậy cho đến năm 1932, trong lúc bố cáo đã được niêm yết ở cửa Ngọ môn báo tin Hoàng đế hồi loan, hàng triệu người dân Việt ngóng trông thì ông vẫn còn do dự vì hình như là ông chưa dứt khoát quyết định rằng sẽ trở về nước. Về thái độ không mấy hăng hái trở về, ông Chatel, thư ký của Phủ Toàn quyền viết: “Tôi tự hỏi không biết ông Bảo Đại có tìm cách trì hoãn thêm nữa việc trở về nước không. Nếu tôi tin vào tâm sự của một số người gần gũi với ông ta thì quả là ông ta tỏ ra không sốt sắng không vội vã trở về để trị vì đất nước”
3. Tháng 9 năm 1932, Bảo Đại bắt đầu cuộc đại hành trình về nước. Bộ trưởng Thuộc địa khi đó là Albert Sarraut đã đại diện chính phủ đến Marseille để tiễn. Sau đó, những nơi tàu ghé lại đều tổ chức đón tiếp linh đình. Con tàu xuyên đại dương mang tên Président Doumer đi tiếp vào lãnh hải Việt Nam, thả neo ở mũi Saint-Jacques xung quanh có các tàu chiến bảo vệ. Tại đây Bảo Đại rời tàu khách chuyển sang tàu chiến: Đó là tàu Dumont d’Urville sẽ đưa ông đến Đà Nẵng. Đến đó Vua mới thật sự cập bến để bước chân lên đất liền thuộc lãnh thổ An Nam. Từng loạt đạn bác nổ vang khi Vua rời khỏi tàu khách để bước lên tàu chiến. Đến cảng Đà Nẵng ông lại chuyển sang pháo thuyền ngược sông Hàn cập bến thành phố. Cuối cùng ông bước lên xe lửa đặc biệt đi thêm 100 cây số nữa mới đến Huế.
II. Là Hoàng đế Đại Nam.
1. Ngày 10 tháng 9 năm 1932, vị Vua hai mươi tuổi chủ toạ buổi chầu truyền thống của các vị quan lại đầu ngành trong bộ máy hành chính nhà nước đến chúc mừng Nhà vua mới trở về sau một thời gian dài vắng mặt. Trước hết, Vua phát biểu bằng tiếng Pháp, đưa ra cải cách công việc trong triều như sắp xếp lại việc nội chính, hành chính. Ông cho bỏ một số tập tục mà các vua nhà Nguyễn trước đã bày ra như thần dân không phải quỳ lạy mà có thể ngước nhìn vua khi lễ giá tới, mỗi khi vào chầu các quan Tây không phải chắp tay xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy. Nhà Vua cho giảm bớt các lễ thức chào hỏi cung kính, tôn thờ. Bỏ cả thói quen chọc tiết khi giết mổ bò.
Ngày 19 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại ra đạo dụ số một tuyên cáo chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ Đại Nam hoàng triều. Văn bản này hủy bỏ "Quy ước" ngày 16 tháng 11 năm 1925 lập ra sau khi Khải Định mất không lâu. Theo đó, việc cai trị Đại Nam do một Hội đồng Nội các được người Pháp bổ nhiệm. Một quan chức người Pháp có chân trong nội các có thể đồng ý hay không đồng ý quyết định của hội đồng nội các, có nghĩa ông ta quyết định mọi việc. Nhà Vua không tham dự công việc của hội đồng nội các, không có quyền trong các quyết định và chỉ giới hạn ở vai trò thuần tuý trang trí. Một điều khoản mới quy định Khâm sứ Trung Kỳ do Paris bổ nhiệm có quyền phủ quyết mọi quyết định của Nhà vua ngay cả đối với quyết định ít quan trọng nhất.
2. Từ nay, Nhà vua sẽ đích thân quản lý công việc đất nước, quan tâm đến bước tiến của đế chế. Nhà cầm quyền bảo hộ Pháp hoan nghênh. Chỉ mấy tháng sau ngày trở về, Bảo Đại đã có chuyến đi thăm các tỉnh trong xứ An Nam. Nhà vua tuyên bố thẳng thừng không chút quanh co úp mở, rằng ông có ý định một mình cầm quyền không cần thủ tướng, qua đó muốn nói lên ý muốn nắm quyền thực sự chứ không chỉ bằng lòng với vai trò danh dự. Một vài biện pháp canh tân, ít quan trọng, mức độ vừa phải đã được Bảo Đại đề ra. Ông cố gắng thay đổi phương hướng hoạt động của nền cai trị cũ, cải tổ giáo dục, thông qua bộ luật hình sự và dân sự mới, đưa đất nước dần dần đi đến một nền quân chủ lập hiến. Đặc biệt ông cải tổ Viện dân biểu Trung Kỳ. Chủ tịch Viện được tham gia các cuộc họp của Hội đồng nội các.
Ngày 8 tháng 4 năm 1933, Bảo Đại ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết định tự mình chấp chính và sắc phong thêm 5 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm, và Buì Bằng Đoàn nhằm thay thế các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực Nguyễn Hữu Bài, Tông Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm, Vương Tứ Đại. Ông thành lập Viện Dân biểu để trình bày nguyện vọng lên nhà vua và quan chức bảo hộ Pháp và cho phép Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính quyền bảo hộ Pháp, tháng 12 năm 1933, Bảo Đại ra Bắc kỳ thăm dân chúng.
III. Là Hoàng đế Đế quốc Việt Nam.
1. Sau khi Đế quốc Nhật Bản đảo chính Pháp, ngày 11 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại gặp cố vấn tối cao của Nhật là Đại sứ Yokoyama Masayuki tại điện Kiến Trung để ký bản "Tuyên cáo Việt Nam độc lập" tuyên bố hủy bỏ Hoà ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Nam Kỳ, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và bất bình đẳng với Pháp trước đây. Ngày 17 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại đã ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần Nội các Trần Trọng Kim. Ngày 12 tháng 5 ông giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đé quốc Việt Nam, lấy cờ Quẻ Ly làm quốc kỳ.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, sau khi Đế quốc Nhật Bản đầu hàng khối Đồng minh, Trần Trọng Kim tuyên bố bảo vệ Chính quyền Đế quốc Việt Nam, và ngày 18 tháng 8 Hoàng đế Bảo Đại gửi thông điệp cho lãnh đạo các nước Đồng Minh: Tổng thống Truman, vua nước Anh, Thống chế Tưởng Giới Thạch, Tướng de Gaulle đề nghị công nhận Đế quốc Việt Nam. Nhưng không được hồi âm, vì theo Tuyên bố Cairo, các nước Đồng Minh sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Đế quốc Nhật Bản thành lập ở các vùng chiếm đóng, mà Đế quốc Việt Nam là một trong số đó. Riêng tướng De Gaulle, ông ta dự kiến sẽ hậu thuẫn cho một chế độ quân chủ mà người đứng đầu không phải là Bảo Đại, mà là cựu hoàng Duy Tân, Vĩnh San, như một "Gaullist".
2. Ngày 17/8, Tổng hội Công chức Đông Dương tổ chức một cuộc mít tinh và biểu tình ủng hộ nền độc lập của Đế quốc Việt Nam và Hoàng đế Bảo Đại, Cộng sản len vào đoàn biểu tình hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh, biến cuộc mít tinh ủng hộ nền độc lập thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh. Hai ngày sau, quần chúng Hà Nội chiếm dinh Khâm sai Bắc bộ, thành lập chính quyền cách mạng. Trước tình thế đó, theo lời khuyên Thủ tướng Trần Trọng Kim, Bảo Đại quyết định thoái vị. Một điện tín tới "Ủy ban nhân dân Cứu quốc" Hà Nội: "Đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của Ủy ban sớm tới Huế để nhận bàn giao".
Sáng ngày 23 tháng 8, hai phái viên của Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện Huế. Theo lời yêu cầu của hai người này, chiều ngày 25 tháng 8 năm 1945, Bảo Đại đã đọc Tuyên ngôn thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ Môn và sau đó trao ấn tín và bảo kiếm, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu. Ông thoái vị với lý do "Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng". Mong chính phủ mới đối xử ôn hoà với các đảng phái đối lập để họ có thể góp sức kiến thiết quốc gia và để chứng tỏ chính thể mới xây đắp trên sự đoàn kết quốc dân".
3. Chiều ngày 31 tháng 8, bà hoàng thái hậu Từ Cung cùng mẹ con bà Nam Phương và gia nhân đã dọn hết đồ đạc tài sản riêng về An Cựu ở trong cung An Định. Trong lúc Bảo Đại còn đang hoàn thành việc bàn giao thì ông Tôn Quang Phiệt, chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế chuyển đến cho cựu hoàng một bức điện khẩn: “Chính phủ lâm thời mời công dân Vĩnh Thuỵ ra Hà Nội làm cố vấn tối cao cho chính phủ. Nếu nhận lời, sẽ có những chỉ dẫn cần thiết để ông cố vấn có thể ra Hà Nội sớm nhất.Ký tên: Hồ Chí Minh”. Ngày 2 tháng 9, năm giờ sáng, công dân Vĩnh Thuỵ rời Huế ra Hà Nội. Xe thứ nhất chở Vĩnh Thuỵ được Bộ trưởng Lao động Lê Văn Hiến tháp tùng. Xe kia chở hoàng thân Vĩnh Cẩn. Trên đường ra Bắc, phái đoàn được dân chúng nhiều nơi nghênh đón.
IV. Là Cố vấn Chính phủ Lâm thời VNDCCH
của Hồ Chí Minh.
1. Ngày 4 tháng 9 năm 1945 Vĩnh Thụy tới Hà Nội. Ngày 5 tháng 9 Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời, nghênh tiếp Cựu hoàng Bảo Đại tại Bắc Bộ Phủ từ 8h đến 9h. Và ngày 10 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23/SL cử Vĩnh Thụy làm "Cố vấn tối cao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam". Ông là một trong 7 thành viên của Ủy ban Dự thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh đứng đầu. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Vĩnh Thụy được bầu làm đại biểu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cọng hoà. Ngày 7 tháng 3, ký Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp được một ngày, Cố vấn Vĩnh Thuỵ luôn ở bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu Pháp Sainteny và đến thăm đáp lễ ông ta.
Ngày 8 tháng 3 năm 1946, Hội đồng chính phủ họp quyết định cử một phái bộ thân thiện đi Trùng Khánh, và một phái đoàn khác đi Pháp. Ngày 16 tháng 3 năm 1946, Vĩnh Thụy được cử tham gia phái đoàn đi Trùng Khánh. Ông nhận lời đi Trùng Khánh với tư cách cựu hoàng đi du lịch chứ không lãnh đạo phái đoàn. Thứ trưởng Ngoại giao Nghiêm Kế Tổ làm trưởng đoàn. Sau đó, Cố vấn Vĩnh Thuỵ không trở về nước mà tách khỏi đoàn để tới Côn Minh rồi sang Hương Cảng (Hồng Kông).
2. Việc Cố vấn Vĩnh Thuỵ “không trở về nước mà tách khỏi đoàn” nầy, Hồi ký “Con Rồng Việt Nam” Bảo Đại viết: Phái đoàn chuẩn bị về Hà Nội. Ngày 15 tháng 4, chúng tôi lại trở lại Côn Minh. Trong khi chúng tôi sửa soạn để lên máy bay, thì một mảnh điện tín được mang đến cho tôi:“Thưa Ngài, công việc ở đây đang tốt đẹp. Ngài có thể đi chơi nữa. Hơn nữa, Ngài sẽ rất có ích cho chúng tôi, nếu vẫn ở lại bên Tàu. Đừng lo ngại gì cả. Khi nào sự trở về của Ngài là cần thiết, tôi sẽ báo sau. Xin Ngài cứ tịnh dưỡng để sẵn sàng cho công tác mới. Ôm hôn thắm thiết. Ký tên: Hồ Chí Minh”. Ông chủ tịch không muốn tôi trở về. Tôi chào từ biệt phái đoàn, họ vội lên máy bay ngay. Chiếc va ly đựng hành lý, kể cả giấy tờ tùy thân cũng bay theo phái đoàn đi mất.
Trước hoàn cảnh ấy, tôi bỗng bật cười. Tôi mở tờ điện tín của Hồ Chí Minh ra đọc: “… Ôm hôn thắm thiết”. Quả nhiên, đây là tay đại hề, đóng kịch rất tài. Khi thì đạo mạo như cha già, khi thì thân thiết, rồi lại ẻo lả, yếu mềm, hay nghiêm trang, trịnh trọng, nhiều khi trào lộng, mỉa mai. Tất cả những ai đã ở gần ông ta, đều tự lừa, hay đã bị lầm. Người Mỹ, rồi Sainteny, thêm tôi nữa... Một chiến binh mác-xít, một kẻ đã chai đá sau hơn ba mươi năm chiến đấu, một chiến sĩ đầy thủ đoạn; Thừa khả năng chịu đựng, dám làm tất cả mọi sự lừa lọc; Kiên nhẫn cùng cực, sẳn sàng giả trá mọi mặt, nhưng cuối cùng thì quyết liệt, rắn như sắt; Đầy tế nhị, thông minh, và bạo tàn đến độ bất nhân; Lúc nào cũng như sẵn sàng ôm ấp, yêu đương mình để bóp chặt kín đáo không ai có thể ngờ. (Sách Con Rồng Việt Nam, Chương 17).
3. Ngày 15 tháng 9 (1946) Bảo Đại rời Trung Quốc đi Hong Kong. Tại Hồng Kông, Bảo Đại đã tiếp xúc với nhiều giới chính trị, trong đó có cả người Mỹ, Đại tướng George Marshall. Dù biết việc này, nhưng Hồ Chí Minh vẫn tin tưởng ông, cho rằng ông có lý do riêng nên không chịu về nước. Đầu tháng 12/1946, chính phủ còn cử bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đem tiền và vàng qua Hồng Kông cho Cố vấn Vĩnh Thụy chi tiêu. Đến trước tháng 8/1947, trả lời phỏng vấn của báo chí, Hồ Chí Minh không ngần ngại đáp rằng: "Chúng tôi xa mặt chứ không cách lòng. Chính phủ và nhân dân Việt Nam hoàn toàn tin tưởng vào sự trung thành của Cố vấn Vĩnh Thụy hiện đang ở nước ngoài nhưng vẫn tiếp tục làm việc cho chính phủ quốc gia mà Cố vấn vẫn là thành viên”. Ít lâu sau, Bảo Đại bèn viết thư về nước xin từ chức "Cố vấn tối cao" trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
V. Đàm phán thành lập Quốc gia Việt Nam.
1. Đầu năm 1947, Thủ tướng Pháp Ramadier thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam "Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó" và Pháp sẵn sàng đàm phán hòa giải với những đại diện chân chính của Việt Nam. Các lực lượng chính trị và tôn giáo Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc Dân đảng, và Việt Nam Quốc Dân đảng liên kết thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp. Đây là những tổ chức chính trị hoặc tôn giáo từng tham gia chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hay hợp tác với Việt Minh chống Pháp nhưng do xung đột với Việt Minh nên chuyển sang ủng hộ Bảo Đại.
Tháng 5/1947, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp cử phái đoàn đến Hồng Kông thuyết phục cựu hoàng Bảo Đại đứng ra thành lập một Chính phủ Trung ương để đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Năm 1947, cựu trùm mật thám Pháp ở Đông Dương là Cousseau đã tiếp xúc với Bảo Đại tại Hồng Kông, ngỏ ý mời ông về nước nắm quyền, hình thành nên "giải pháp Bảo Đại". Ngày 7/12/1947, tại cuộc họp trên tàu chiến Pháp ở Vịnh Hạ Long Bảo Đại và Pháp đàm phán rồi ký kết Hiệp ước Sơ bộ Vịnh Hạ Long. Hiệp ước thể hiện sự đồng thuận của hai bên về việc thành lập Quốc gia Việt Nam độc lập và thống nhất trong Liên hiệp Pháp.
2. Sự độc lập chính trị của nhà nước Quốc gia Việt Nam được quy định trong Hiệp ước Sơ bộ Vịnh Hạ Long quá nhỏ nên hiệp ước này bị Ngô Đình Diệm và cả những chính trị gia trong Mặt trận thống nhất Quốc gia Liên hiệp chỉ trích. Do bị các chính trị gia chỉ trích, Bảo Đại chấm dứt đàm phán với Pháp và đi du lịch châu Âu trong 4 tháng. Người Pháp cử các nhà ngoại giao theo Bảo Đại để thuyết phục ông tiếp tục đàm phán và thành lập Chính phủ. Tháng 1/1948, Cao uỷ Pháp tại Đông Dương E. Bollaert tìm gặp Bảo Đại ở Genève, Thuỵ Sĩ để thuyết phục ông quay về Việt Nam tiếp tục đàm phán và thành lập Chính phủ. Bảo Đại tuyên bố nếu Hiệp ước Vịnh Hạ Long không được bổ sung ông sẽ không quay về Việt Nam. Sau đó ông đi Cannes, Paris rồi quay về Hồng Kông.
Việc “ký kết Hiệp ước Sơ bộ Vịnh Hạ Long.” nầy, Hồi ký “Con Rồng Việt Nam” Bảo Đại viết: Ngày 6 tháng 12, chúng tôi đi chiếc thủy phi cơ Catalina thuê của hãng hàng không dân dụng Úc, và mấy giờ sau, chúng tôi hạ cánh ở vịnh Hạ Long cạnh chiếc thủy đỉnh Duguay Trouin, dùng làm soái hạm cho ông Bollaert. Ông này tiếp đón tôi ở đầu mũi tàu, có rất đông tùy viên bao quanh. Tướng Valluy, Đô đốc Battet và nhiều nhân viên cao cấp trong đó có Pierre Messmer đều có mặt. Thời tiết cuối thu thật êm ả, dịu dàng. Chúng tôi vào bàn tiệc trong một bầu không khí thoải mái vá tín nhiệm. Ai cũng có vẻ thân ái với tôi…Sau bữa ăn sáng, trong buồng chỉ huy, ông Bollaert và tôi cuộc nói chuyện bắt đầu. Ông Cao ủy như đầy nhã nhặn. Ông nói ông rất có cảm tình với dân chúng Việt Nam, và vô cùng cảm động về nguyện vọng của họ đối với nền độc lập và thống nhất đất nước…
3. Tôi giữ thái độ yên lặng và dè dặt.Bất thình lình, ông Bollaert đứng lên, lấy một chiếc sơ-mi bằng da để ở trên bàn, rồi lôi ra hai tờ tài liệu mà ông đưa cho tôi. Tài liệu đầu, được trình bày như bản tuyên ngôn chung, mà tôi nhặt được một cách hài lòng hai chữ “độc lập” đã được nói đến. Và tài liệu thứ hai là một tờ lịch trình ghi chú có hình thức đặt căn bản cho những vấn đề sẽ bàn đến. Nó liên quan đến hình thức ngoại giao, quân sự, văn hóa, tài chánh, chuyên môn… Sau khi xem qua, tôi trả lại cho ông ta. Ông Bollaert liền để lên bàn. Sau cặp kính trắng, mắt ông bỗng sáng hẳn lên. Với một giọng niềm nở, ông đưa cho tôi chiếc bút máy và nói: Thưa Hoàng thượng, tôi đề nghị cụ thể hóa cuộc gặp gỡ ngày hôm nay của chúng ta, là mời Ngài ký vào hai văn kiện này.
Thưa ông Cao ủy, Ngài bảo muốn gặp tôi. Vậy đây là cuộc tiếp xúc mà tôi tới với Ngài. Mặc dù những lời kêu gọi mà tôi nhận được, tôi chỉ đại diện cho một mình tôi thôi, và tôi chỉ đến để nghe lập trường của Ngài. Như vậy, không có vấn đề ký kết bất cứ cái gì, bởi tôi không được ai ủy nhiệm làm như vậy cả. Thưa Hoàng thượng, tuy nhiên, hai bản này phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Chẳng cần nó bảo đảm gì cho tương lai, chữ ký của chúng ta chỉ có nghĩa là chứng nhận sự gặp gỡ này mà thôi. Nhưng, thưa Ngài Cao ủy, nếu chỉ cốt để chứng minh sự gặp gỡ này, cần gì phải ký, chỉ một tấm ảnh cũng đủ.Tôi nhìn mặt ông ta. Ông ta tái đi. Tôi làm ra bộ muốn rút lui, ông ta nhìn tôi chầm chập, cất bút và đột nhiên đỏ mặt. Tôi cảm thấy ông ta sẵn sàng nổi nóng, liền đứng dậy không nói một lời, và bước ra theo Vĩnh Cẩn đang đứng ở trên boong.
4. Bản dự thảo về lời tuyên bố chung có thể coi như tạm được, nhưng về bản “thể chế thực hiện” đã mang tính chất hạn chế không thể chấp nhận được đối với chủ quyền của Việt Nam. Thật vậy, những hạn chế này chỉ là sản phẩm lệ thuộc vào cái gọi là Liên hiệp Pháp và một Liên bang Đông Dương, và không có gì để bàn cãi nữa. Mảnh giấy kia chỉ là sự trình bày vị trí của nước Pháp liên can đến nhiệm vụ của nước Pháp trong vấn đề phòng thủ, về ngoại giao, về trọng tài, về các cơ sở chung giữa ba nước Liên hiệp ở Đồng Dươrĩg. Nhưng nó cũng lại có nhiều khoản nói về qui chế cho các sắc dân thiểu số ở Việt Nam, qui chế cho ngoại kiều, vốn nằm trong chủ quyền riêng rẽ của Việt Nam. Tôi không thể chấp nhận các điều khoản ấy dưới bất cứ hình thức nào, và quyết định giữ vững lập trường của mình.
Sáng ngày hôm sau, tôi không thấy viên Cao ủy tới. Trời rất đẹp. Vịnh Hạ Long êm ả. Cạnh chiến hạm, chiếc thủy phi cơ nhẹ nhàng rập rềnh theo sóng lững lờ. Tôi phải trở về vào buổi chiều, vì máy bay chỉ thuê có hai ngày. Bữa ăn sáng rất sớm. Ông Bollaert như đã lấy lại được bình tĩnh. Câu chuyện kéo dài, nhưng tôi cảm thấy ít nhiều gay cấn. Khi ăn xong, Cao ủy kéo tôi sang buồng hạm trưởng. Khi chỉ còn hai người, ông ta trở lại cuộc tấn công: Thưa Hoàng thượng, chúng ta không thể chia tay như thế này được. Ông ta mở hai bản văn kiện ra bàn, và trước mặt tôi, ông ta ký trước. Tôi nhìn ông ta. Tôi chẳng mất mát gì lớn cả. Khi ký bản tuyên ngôn chung, tôi chỉ đưa đến sự công nhận điều mong muốn của chính phủ Pháp, coi tôi là người duy nhất để đàm phán thế thôi. Không một câu, tôi đặt bút ký hai chữ Vĩnh Thụy bên cạnh chữ ký của ông ta.
5. Ông Cao ủy không giấu được nụ cười đắc thắng. Ông ta lại định tiếp tục tiến tới, và để vào trước mặt tôi, bản văn kiện thứ hai nói về thể chế. Tôi bỏ bút xuống và đứng lên. Thưa Hoàng thượng, tôi xin Ngài ký luôn vào bản nói về thể chế này. Dạ không, thưa Ngài Cao ủy. Ngài muốn có một chữ ký, thì tôi đã ký rồi. Sự đó chứng tỏ thiện chí của tôi rồi. Cuộc thảo luận lại trở lại. Viên Cao ủy nài nỉ. Tôi nhắc lại cho ông ta rằng, với văn kiện này, với lý do hạn chế mà nó bổ túc cho bản tuyên ngôn, thì không thể chấp nhận cho dân chúng Việt Nam được. Mặt ông Bollaert lại đỏ lên. Tôi thấy rõ ràng, với ông ta, hai bản này chỉ là một, và khi tôi chỉ ký một bản đầu, thì tôi đã vô hiệu hóa tác phẩm của ông ta.
Trước sự từ chối cương quyết của tôi, ông ta thay đổi thái độ, và trở thành cầu khẩn. Ông ta kêu lên: Nhưng tôi sẽ nói với chính phủ ra sao bây giờ? Tôi giữ lặng im. Bên ngoài đã nghe tiếng gầm rú của thủy phi cơ, mà viên phi công đang hâm cho máy đứng yên. Thưa Hoàng thượng, đây chỉ là một tài liệu được giữ kín. Chữ ký của Hoàng thượng chỉ có nghĩa là Ngài đã biết nội dung, và một bản sao đã được đệ trình Ngài. Nghe lý lẽ tầm thường ấy, tôi không khỏi cảm thấy thương hại cho người này, đang bị tàn tạ, hoảng hồn trước ý nghĩ thất bại của mình. Thời giờ thôi thúc. Giờ lên tàu của tôi đã qua rồi. Vì vậy, để cắt ngắn tôi bảo ông ta: Nếu cái này có thể giúp cho cá nhân ông, tôi sẵn sàng duyệt được. Và cũng chẳng cần ngồi, tôi viết tắt ở phía dưới hai chứ: V.T. rồi đi ra. Vĩnh Cẩn đợi tôi ở đầu tầu, hơi sốt ruột. Viên Cao ủy chạy theo tôi, và đưa cho người em họ tôi mấy tờ giấy và ông này nhét vội vào cặp.(Sách Con Rồng Việt Nam, Chương 20 Xảo quyệt ngoại giao 1947-1948)
6. Ngày 24 tháng 4 năm 1948, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Hữu cũng bay tới Hồng Kông để gặp Bảo Đại xin thành lập Chính phủ Lâm thời cho Việt Nam, ngày 15 tháng 5, Bảo Đại gửi thông điệp cho tướng Xuân, tán thành sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời do tướng Xuân điều khiển “để giải quyết vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận Quốc tế”. Ngày 4 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại lại gặp Cao ủy Pháp Bollaert trên chiến hạm Duguay Trouin ở Vịnh Hạ Long, tiếp tục đàm phán và ký kết Thông cáo chung Vịnh Hạ Long thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam, Pháp công nhận Quốc gia Việt Nam, và Việt Nam gia nhập Liên hiệp Pháp.
Tháng 1 năm 1949, Bản tuyên ngôn Việt – Pháp chính thức được công bố, theo đó nước Pháp công nhận chính phủ Quốc gia Việt Nam trong khuôn khổ của khối Liên hiệp Pháp. Những người Pháp có tư tưởng thực dân phản đối điều mà họ cho là sự đầu hàng của Bollaert, đồng thời yêu cầu cắt Nam Kỳ ra khỏi phần còn lại của Việt Nam, đòi đưa Việt Nam quay trở lại chế độ Bảo hộ. Các chính trị gia ở Paris ra sức trấn an những người Pháp ủng hộ chủ nghĩa thực dân và đảm bảo với họ rằng sẽ không có gì thay đổi – cuộc chiến tranh của Pháp ở thuộc địa Đông Dương sẽ không chấm dứt. Các lãnh tụ Cộng hòa Bình dân và nhiều người thân cận với Cộng hòa Bình dân lại cho rằng kéo dài chiến tranh sẽ hết sức có lợi và đã đi đến quyết định không để cho cuộc chiến tranh kết thúc sớm.
VI. Là Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
1. Bảo Đại lại rút lui khỏi các hoạt động chính trị và đi châu Âu một lần nữa. Ngày 25/8/1948, từ Saint Germain, Bảo Đại báo cho E. Bollaert biết ông sẽ không quay về Việt Nam nếu Pháp không hủy bỏ chế độ thuộc địa tại Nam Kỳ và trao trả Nam Kỳ lại cho Việt Nam cũng như nếu ông không nhận được sự đảm bảo của Pháp cho Việt Nam độc lập. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp định Élysée thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Khối Liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp trao Nam Kỳ cho Quốc gia Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này.
Ngày 24 tháng 4 năm 1949, Bảo Đại về nước. Hai tháng sau, vào ngày 14 tháng 6, Bảo Đại tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được tổng tuyển cử và tạm giữ danh hiệu Hoàng đế để có một địa vị quốc tế hợp pháp. Ngày 21 tháng 6 thỏa ước Elyseé được công bố. Cuối tháng 6 năm 1949, Việt Nam chính thức thống nhất dưới sự quản lý của Quốc gia Việt Nam. Pháp chuyển giao những chức năng hành chính cho Quốc gia Việt Nam một cách chậm chạp, hai chức năng quan trọng nhất là tài chính và quân đội thì vẫn phụ thuộc vào Pháp.
2. Ngày 1 tháng 7 năm 1949, Chính phủ lâm thời của Quốc gia Việt Nam tấn phong Bảo Đại làm Quóc trưởng, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố tạm kiêm nhiẹm chức Thủ tướng, cử Trung tướng Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng. Tháng 1 năm 1950, Bảo Đại chỉ định Ngoại trưởng Nguyễn Phan Long làm Thủ tướng. Ngày 27 tháng 4 năm 1950, giải tán chính phủ Nguyễn Phan Long và ủy nhiệm Thủ hiến Trần Văn Hữu thành lập chính phủ mới. Tính đến đầu năm 1950 có 35 quốc gia công nhận Quốc gia Việt Nam.
Từ tháng 6 cho đến tháng 10 năm 1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp họp tại Pau (Pháp) để bàn về việc chuyển giao các chức năng quản lý xuất nhập cảnh, quan hệ ngoại giao, ngoại thương, hải quan và tài chính cho Quốc gia Việt Nam. Tài chính là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất bao gồm việc kiểm soát lợi nhuận từ hoạt động ngoại hối. Kết quả tất cả các chức năng trên đã được Pháp chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu sau khi ký thỏa thuận với Pháp đã tuyên bố: "Nền độc lập của chúng tôi hiện nay thật tuyệt vời". Tuy nhiên người Pháp vẫn dành cho mình quyền quan sát và can thiệp đối với những vấn đề liên quan đến toàn bộ Liên hiệp Pháp.
3. Ngày 8/12/1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan. Tất cả sĩ quan đều phải là người Việt. Pháp có trách nhiệm hỗ trợ Quốc gia Việt Nam thành lập những đơn vị mới do sĩ quan Việt Nam chỉ huy và đào tạo sĩ quan người Việt thay thế dần những sĩ quan Pháp đang hiện diện trong Quân đội Quốc gia Việt Nam. Người Pháp trì hoãn một cách có tính toán việc thi hành thỏa hiệp Élysée với Quốc gia Việt Nam. Quân đội của họ tiếp tục tham chiến tại Việt Nam, nhân viên hành chính tiếp tục làm việc ở các cấp chính quyền.
Thay đổi Thủ tướng: Chính phủ do Trần Văn Hữu làm Thủ tướng tồn tại đến ngày 6 tháng 6 năm 1952, thì phải cáo lui, nhường chỗ cho Nguyễn Văn Tâm lên làm Thủ tướng cùng thành phần tổng, bộ trưởng đa số là người do Pháp đào tạo. Ngày 20 tháng 11 năm 1953, hoàng thân Bữu Lộc từ Pháp về Sài Gòn lập chính phủ thay thế chính phủ Nguyễn Văn Tâm. Thời gian này, Quốc trưởng Bảo Đại sống và làm việc tại biệt điện ở Đà Lạt. Xung quanh nơi ở của Bảo Đại có cả một trung đoàn Ngự lâm quân bảo vệ và có cả một đoàn xe riêng gọi là "công xa biệt điện", lại có cả một đội máy bay riêng do các phi công người Pháp lái phục vụ.
4. Ngày 11 tháng 1 năm 1954, Chính phủ mới do Bửu Lộc thành lập trình diện Bảo Đại nhưng đến ngày 16 tháng 6 năm 1954, Bửu Lộc từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại mời Ngô Đình Diệm về nước, ngày 6 tháng 7, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới. Sau Hiệp định Genève 1954, Pháp phải rút khỏi Đông Dương, chính quyền và quân đội Quốc gia Việt Nam tập kết ở miền Nam Việt Nam chờ tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam, Ngô Đình Diệm tiến hành cải tổ chính phủ lần thứ nhất vào ngày 24 tháng 9 năm 1954, và lần thứ hai vào ngày 10 tháng 5 năm 1954. Tháng 9 năm 1954, tướng Nguyễn Văn Hinh không chịu dưới quyền chỉ huy của Ngô Đình Diệm nên đánh điện sang Pháp nhờ Bảo Đại can thiệp. Bảo Đại điện về Sài Gòn triệu tập Diệm sang Cannes gặp Bảo Đại để bàn lại việc sắp xếp nhân sự nhưng Diệm không đi.
VII. Bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm lật đổ.
1. Sau khi đánh dẹp xong Bình Xuyên, và cải tổ Chính phủ, Ngô Đình Diệm bắt đầu chiến dịch công kích Bảo Đại. Ngày 6-10-1955, chính phủ quyết định tổ chức “trưng cầu dân ý” để quốc dân chọn lựa ai làm quốc trưởng giữa Bảo Đại và Ngô Đình Diệm. Ngày 8-10-1955, bộ Nội vụ cho biết sẽ tổ chức “Trưng cầu dân ý” vào ngày 23-10-1955. Các đài phát thanh chính phủ đọc đi đọc lại nhiều lần những bài thơ, bài vè xấu xa về Bảo Đại. Ví dụ “Vè vẻ vè ve, Nghe vè Bảo Đại, Là quân ăn hại, Theo gót thực dân…” Những bức hý họa châm biếm Bảo Đại xuất hiện trên báo chí. Những chuyện về đời tư của quốc trưởng Bảo Đại bị xuyên tạc và bêu riếu. Ngược lại, quốc trưởng Bảo Đại hoàn toàn không có cơ hội trình bày trước quốc dân trường hợp của ông, hay trả lời những cáo buộc, hoặc đối chất các xuyên tạc do bộ máy tuyên truyền của chính phủ Diệm đưa ra.
Hai câu hỏi được đặt ra trong cuộc “trưng cầu dân ý” ngày 23-10-1955 là: Câu 1 in trên giấy màu đỏ: “Tôi truất phế Bảo Đại và chấp thuận Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Việt Nam, với nhiệm vụ đặt nền móng dân chủ”. Câu 2 in trên giấy màu xanh: “Tôi không truất phế Bảo Đại, và không chấp nhận Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng để đặt nền móng dân chủ”. Ban tổ chức Trưng cầu Dân ý của chính phủ đưa ra câu vè cho dân chúng dễ nhớ: “Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì”, hay “Phiếu đỏ ta bỏ vô bì / Phiếu xanh Bảo Đại ta thì vứt đi”…. Kết quả là thủ tướng Ngô Đình Diệm thắng với 5.721. 735 phiếu truất phế Bảo Đại và suy tôn thủ tướng Ngô Đình Diệm lên chức vụ quốc trưởng (98,16%); Và chỉ có 63, 017 phiếu không chịu truất phế Bảo Đại. (1,1%). (Trích “Ngày 23/10/1955 Trưng cầu dân ý” của Trần Gia Phụng)
VIII. Sống lưu vong tại Pháp.
1. Ông sống tại Cannes, sau đó chuyển đến vùng Alsace. Bảo Đại giao du với Jean de Beaumont, cựu nghị sĩ Nam Kỳ, một tay săn bắn có tiếng. Lúc nầy, Bảo Đại không còn nắm hệ thống kinh tế thu lợi cho bản thân như trước, nhiều cơ sở kinh doanh ở Việt Nam đã bị Ngô Đình Diệm tịch thu. Bị cơ quan thuế để mắt tới, không còn tiền tài trợ của chính phủ Pháp, ông phải bán dần tài sản của mình. Năm 1963, Nam Phương hoàng hậu qua đời ở Chabrignac. Khoảng thập niên 1960 gia sản khổng lồ của Bảo Đại đã lần lượt hao hụt. Nhiều lâu đài tráng lệ, máy bay đắt tiền, xe hơi sang trọng,… lần lượt phải sang tên người khác và bán thế chấp trả số nợ khổng lồ. Bảo Đại chỉ còn được nhận số tiền trợ cấp ít ỏi của Chính phủ Tổng thống Giscard với 8.000 franc/tháng.
Năm 1972, khi tiêu pha hết cả tài sản, Bảo Đại sống với Monique Baudot một phụ nữ Pháp kém Bảo Đại hơn 30 tuổi (Monique Baudot sinh năm 1946), đến năm 1982 thì kết hôn. Năm 1988, sau một thời gian đàm đạo với cha sở nhà thờ Saint-Pierre-de-Chaillot, Bảo Đại nhập đạo Công giáo, lấy tên thánh là Jean-Robert. Trong thập niên 1970, ảnh hưởng của Bảo Đại tại các khu vực như Quảng Trị và Thừa Thiên Huế vẫn còn rất lớn. Chính vì vậy phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phái các đại diện sang Pháp thuyết phục Bảo Đại tham gia một chính phủ liên hiệp nhằm thống nhất Việt Nam, để có thể thu hút thêm những người ủng hộ tại các địa phương mà Bảo Đại có ảnh hưởng.
2. Năm1982, nhân khai trương Hội Hoàng tộc ở hải ngoại, Bảo Đại lần đầu tiên sang thăm Mỹ với tư cách cá nhân. Trong chuyến đi này ông đã nhận tên cha để làm lại giấy khai sinh cho những người con ngoại hôn trước đây không ghi tên ông trong phần tên cha. Tại thị trấn Sacramento, ông được tặng chiếc chìa khóa vàng tượng trưng cho thị trấn này. Ông cũng được bà thị trưởng thành phố Westminster California tặng danh hiệu "công dân danh dự" của thành phố. Ông cũng thăm viếng và chúc mừng các buổi lễ của cộng đồng Phật giáo, và Cao Đài người Việt ở California cùng các cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở Texas. Bảo Đại cũng nhân dịp này thăm dò ý kiến của các cộng đồng người Việt sống ở Hoa Kỳ về giải pháp cho việc hòa giải dân tộc.
IX. Trả lời phỏng vấn của Nhà sử học
Fédéric Mitterand.
1. Frédéric Mitterand: Đây là một thời kỳ (1944-1946) lạ lùng: có một chủ quyền của nước Pháp Vichy, có đông đảo người Nhật, có vua Bảo Đại im lặng đứng nhìn tình thế, bên cạnh nhân dân Việt Nam. Nước Pháp được giải phóng, thay đổi chế độ chính trị, với tướng De Gaulle lên cầm quyền. Lúc ấy ở Việt Nam tình hình ra thế nào? Bảo Đại: Người Việt chúng tôi mù tịt. Chúng tôi hoàn toàn không biết việc gì đã xảy ra. Chúng tôi có biết nước Pháp được giải phóng, chấm hết.
Frédéric Mitterand: Và người Nhật? Lúc ấy một thời gian sau họ làm đảo chánh? Bảo Đại: Người Nhật làm đảo chánh vì người Pháp cho rằng, sau khi quân Nhật đã thua nhiều trận ở mặt trận Thái Bình Dương, nước Nhật đã đến thời tận số. Cho nên người Pháp mới bắt đầu tổ chức một loạt kháng chiến. Người Nhật, thấy đã hết thời, không muốn như vậy và đó cũng là một vấn đề thể diện. Họ đã làm đảo chánh và gạt bỏ chủ quyền của Pháp.
2. Frédéric Mitterand: Lúc ấy, ngài bất đắc dĩ cũng bị lôi cuốn phần nào trong cuộc ẩu đả đó? Bảo Đại: Đó là một câu chuyện khá đầy kịch tính. Hôm người Nhật làm đảo chánh tôi không có mặt trong cung. Tôi đi săn. Đến khi trở về cung các cửa cung đều mở. Có tiếng súng nổ. Một sĩ quan Nhật đến trình diện với tôi, xin tôi chịu khó chờ một chút: “Chúng tôi đang giải quyết vài vấn đề”, và sau đó ông sĩ quan này dẫn tôi vào cung. Một thời gian sau, tôi vào trong cung, cũng ông sĩ quan ấy nói với tôi: “Ngày mai, có một nhân vật quan trọng, một đại sứ, đến trình diện với ngài”. Ngày hôm sau tôi tiếp đại sứ Yokoyama. Đại sứ trình uỷ nhiệm thư và nói với tôi rằng: “Thiên Hoàng cho tôi đến bên cạnh Ngài”. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với người Nhật.
Frédéric Mitterand: Người Nhật tỏ ra rất kính trọng ngài, và ngay sau đó, đề nghị ngài tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Một tình trạng gay cấn vì thực sự không còn chủ quyền của Pháp lúc đó nữa. Chính tướng De Gaulle cũng đã nói: “Tôi thấy Đông Dương đã rời xa như một con tàu lớn”. Không có vấn đề duy trì chính quyền Vichy, còn người Nhật thì yêu cầu ngài tuyên bố độc lập. Và ngài lưỡng lự? Bảo Đại: Trước hết, tôi nghi ngờ vì không biết nền độc lập này có giá trị đến mức nào.
3. Frédéric Mitterand: Đó là một cái bẫy? Bảo Đại: Không phải là cái bẫy nhưng hai chữ ấy vô cùng kỳ diệu, đó là hai chữ thiêng liêng, hai chữ Độc Lập. Đối với thần dân tôi, tôi không thể từ chối Độc Lập, nếu tôi từ chối, thần dân tôi sẽ trách tôi. Đó là cơ hội ngàn năm một thuở để chứng tỏ rằng chúng tôi độc lập, dù cái độc lập ấy có hình thức thế nào. Điều kỳ lạ là khi tôi ký tuyên ngôn độc lập, tôi hỏi Đại sứ Nhật: “Có vấn đề trao đổi gì không?”. Ông trả lời: “Không, chúng tôi không đòi hỏi ngài bất cứ một điều gì; chúng tôi giải phóng quý quốc; có thế thôi”.
Frédéric Mitterand: Nhưng dầu sao, ngài không ngại trở nên một con bài trong tay người Nhật, và ngài không ngại làm cho người Pháp nghĩ rằng ngài đã bỏ rơi họ? Bảo Đại: Không, hoàn toàn không. Tôi không muốn tôi là con bài trong tay người Nhật. Một hôm ông tướng chỉ huy quân đội viễn chinh Nhật ở Đông Dương xin tôi tham gia vào chiến cuộc để giúp nước Nhật, vì lúc đó Nhật đang ở trong một giai đoạn khó khăn, tôi trả lời: “Nay chúng tôi độc lập, không thể sai khiến chúng tôi điều gì nếu chúng tôi đã độc lập. Chúng tôi tự do làm điều gì chúng tôi muốn, các Ngài không có quyền can thiệp vào nội bộ chúng tôi”. Và người Nhật đã hiểu.
4. Frédéric Mitterand: Có cái ngại kia, ngại làm cho người Pháp nghĩ rằng ngài đã bỏ rơi họ? Bảo Đại: Không những tôi đã nghĩ đến việc này, mà nhiều người Pháp đã cho rằng tôi đã phản bội họ. Khi tôi trở qua Pháp năm 1948, có một chiến dịch báo chí chống tôi, nói rằng: “Đó là một con người phản bội, ông ấy đã bỏ rơi chúng ta, ông ấy đi với bọn Nhật”. Tôi phải đưa Hiệp ước Bảo hộ ra. Nó đây, theo điều 11 hay 13, nước Pháp có trách nhiệm giữ an ninh cho nhà vua, chống lại kẻ địch bên ngoài cũng như nội loạn bên trong. Ai đã phá bỏ hiệp ước này? Không phải tôi. Ngày 9-3-1945, chủ quyền Pháp đã không còn nữa.
Frédéric Mitterand: Bỗng nhiên ta lâm vào cái thế phức tạp. Vì ngài có nhiều quyến luyến với người Pháp. Ngài không thể bình thản mãi? Bảo Đại: Đó là tình cảm cá nhân, nhưng tôi phải nghĩ trước hết đến quốc gia dân tộc. Người Nhật đã đem độc lập đến cho chúng tôi, tôi phải cụ thể hoá nền độc lập đó. Cho nên tôi đã lập một chính phủ. Các quan đại thần lúc ấy đã xin rút lui để chúng tôi có một chính phủ tân tiến.
5. Frédéric Mitterand: Lúc đầu tiên ngài thực hiện quyền lực của một ông vua lập hiến, của một ông vua thời hiện đại. Vậy chính phủ ấy có những ai? Bảo Đại: Đó là những trí thức trẻ, nhiều người ở Pháp, những kỹ sư trường bách khoa, những tiến sĩ luật, những bác sĩ y khoa, họ thông hiểu cả Đông và Tây. Về chức Thủ tướng, tôi đã chọn một học giả thông hiểu cả Đông và Tây. Frédéric Mitterand: Trước tình hình mới ấy, tâm trạng của dân chúng thế nào? Bảo Đại: Có thể nói rằng dân chúng cảm thấy nhẹ nhõm.
Frédéric Mitterand: Nước Nhật sụp đổ. Bom nguyên tử nổ. Đế quốc Nhật Bản không còn. Vào khoảng đó, những người Cộng sản gây nên một áp lực ngày càng lớn? Bảo Đại: Thật ra, lúc đầu không phải là những người Cộng sản, mà là những người quốc gia. Đồng bào tôi, nhất là giới trí thức, nghĩ rằng cần có một cuộc cách mạng. Đối với họ, nếu không có cách mạng thì không có tiến hoá. Tôi sợ họ làm một cuộc cách mạng. Nếu ông nhớ lại cái hiệp ước Yalta và Postdam, mặc dầu Nhật thua trận, nhưng Nhật có trách nhiệm phải giữ trật tự, tức là quân đội Nhật không bị giải giáp. Tôi sợ quân Nhật bắn vào dân. Tôi mới nói rằng: “Thần dân đã muốn một cuộc cách mạng, thì chính tôi đã làm một cuộc cách mạng đó rồi. Tôi sẽ ra đi như thế”.
6. Frédéric Mitterand: Và ngài thoái vị. Việc này đối với chúng tôi, quả là hơi khó hiểu? Bảo Đại: Không, có thể khó hiểu đối với ông, nhưng không khó hiểu đối với người dân Việt Nam. Người dân Việt Nam đã hiểu. Chỉ có điều người dân Việt Nam không thấy một việc, là những người trong chính phủ mới là những người Cộng sản. Nhưng họ có biết một việc, là trong chính phủ ấy, nghĩa là người đứng ra lập chính phủ ấy, tức ông Hồ Chí Minh đã được người Mỹ vũ trang. Dân Việt Nam nghĩ rằng đã có người Mỹ đứng sau lưng họ, họ sẽ có nhiều thế lực hơn để giành độc lập từ tay người Pháp. Đến giờ đó, người Mỹ tự xem là những người chống Cộng.
Frédéric Mitterand: Tâm trạng của ngài lúc ấy thế nào? Bảo Đại: Tôi hoàn toàn không bị bối rối với những vấn đề ấy. Tôi cảm thấy sự trỗi dậy ấy, trước hết là các người quốc gia muốn có thể cụ thể hoá nền độc lập, họ không muốn tôi ở vị trí lãnh đạo vì tôi không có đủ phương tiện để tranh thủ độc lập từ người Pháp; nhưng vì có một chính phủ được người Mỹ ủng hộ, nên dân Việt Nam cho rằng chính phủ ấy có nhiều phương tiện hơn tôi để tranh thủ từ người Pháp một nền độc lập thực sự.
7. Frédéric Mitterand: Và ngài đã thoái vị. Từ đây bắt đầu một giai đoạn thật ly kỳ trong cuộc đời ngài. Đó là giai đoạn quan hệ với Cụ Hồ Chí Minh và người cấp dưới của ông ấy. Ngài đã tiếp xúc với Cụ Hồ Chí Minh hay ai tiếp xúc? Bảo Đại: Trước tiên các bộ trưởng của Cụ Hồ tiếp xúc với tôi, để tiếp nhận sự chuyển giao quyền lực. Frédéric Mitterand: Luôn luôn đi theo nguyên tắc một sự kế tục hợp pháp. Nền Cộng hoà là cô gái do nhà vua sinh ra? Bảo Đại: Có thể là như vậy. Frédéric Mitterand: Và ngài đã chuyển giao quyền lực? Bảo Đại: Chính tôi đã khai sinh ra cái nền Cộng hoà đó. Lúc đó đại diện Cụ Hồ Chí Minh nói với tôi: “Mời ngài đi Hà Nội, Cụ Hồ có thể quen biết ngài”. Rồi tôi đi Hà Nội. Frédéric Mitterand: Ngài trở thành Vĩnh Thuỵ? Bảo Đại: Vâng, tôi trở thành một công dân thường.
Frédéric Mitterand: Ngài không quá hối tiếc nền quân chủ đã chấm dứt, nền quân chủ ấy dầu sao cũng là một thể chế đã được tổ tiên ngài lập nên? Bảo Đại: Có chứ, dĩ nhiên tôi còn cảm thấy nhiều hơn. Và hối tiếc nữa, nhưng nó là một trang sử đã được lật qua. Đó là định luật của nước tôi. Frédéric Mitterand: Và ngài đã muốn để mình lật trang sử đó? Bảo Đại: Tôi muốn để chính tôi lật, thay vì để cho một vũng máu lật trang sử.
8. Frédéric Mitterand: Và ngài đã đi Hà Nội để gặp cụ Hồ Chí Minh. Điều kỳ lạ là cụ Hồ Chí Minh đối xử với ngài với một sự cung kính đặc biệt? Bảo Đại: Vâng, xin đừng quên rằng cụ Hồ xuất thân từ một gia đình quan lại. Và cụ đã đối xử với tôi như tôi còn làm vua. Cụ cấm những người xung quanh cụ gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, và luôn luôn gọi tôi là Hoàng thượng.
Frédéric Mitterand: Cụ Hồ Chí Minh mời ngài làm cố vấn tối cao của Chính phủ? Bảo Đại: Vâng, lúc đó không một lý do gì để mà từ chối bởi vì mọi người Việt Nam đều theo Cụ. Điều chúng tôi muốn, là nước nhà phải được độc lập. Tôi muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Mọi người Việt Nam đều muốn ủng hộ chính phủ ấy để tranh thủ một nền độc lập thật sự.
9. Frédéric Mitterand: Ngài đã ở gần cụ Hồ Chí Minh, cụ ấy đã cho ngài cảm tưởng thế nào của cụ ấy? Nay đã qua một thời gian dài, cảm tưởng ấy có thay đổi nhiều không? Bảo Đại: Không, không thay đổi. Tôi luôn luôn xét cụ Hồ Chí Minh ngoài cái tư tưởng cộng sản của ông ấy. Ông hãy nhớ đại hội Tours, cụ Hồ ở Pháp lúc ấy. Rồi cụ đi Moscou để lập đảng Cộng sản Việt Nam.
Frédéric Mitterand: Nhưng đối với ngài, cụ Hồ cũng là một nhà ái quốc? Bảo Đại: Đối với tôi, còn hơn thế nữa, đó là một người có tinh thần quốc gia. Cụ là một người yêu nước. Tiếc thay sau lưng cụ có một ủy ban, là Xô viết tối cao, gồm có vài người Ba Lan, người Nga, bắt buộc cụ phải tiến tới. Frédéric Mitterand: Trong cuốn sách của ngài, không thấy có một lời buộc tội khắt khe nào đối với cụ Hồ. Ngài quý trọng cụ Hồ? Và cũng thế, quả là rất ngạc nhiên khi thấy cụ Hồ không bao giờ công kích ngài? Bảo Đại: Không, không có lý do gì để tôi công kích Cụ ấy. Ban đầu, tôi còn ủng hộ Cụ ấy nữa. Cố gắng đưa nước nhà thoát khỏi chiến tranh, vì chúng tôi đã khổ vì chiến tranh.
10. Frédéric Mitterand: Một sự kiện lạ lùng. Có lúc cụ Hồ đã nghỉ đến việc trao lại quyền hành cho ngài? Bảo Đại: Nhưng việc này chính tự tay cụ Hồ. Một hôm cụ Hồ đến gặp tôi. Trước đó, cụ đã gọi điện thoại, Cụ nói sẽ đến gặp tôi. Tôi tưởng Cụ ấy ốm. Cụ nói với tôi: “Không có, tôi muốn ngài nắm lại chính quyền”. Tôi hỏi: “Tại sao?”. Cụ nói: “Tôi bị để ý quá, tôi quá đỏ, tôi cảm thấy không được Đồng minh tín nhiệm”. Tôi tưởng Cụ đùa. Cụ nói: ‘Không có, ngài hãy trình diện một chính phủ vào cuối ngày hôm nay”. Trong ngày tôi đã có nhiều cuộc tiếp xúc, cho đến chiều thì cụ Hồ gọi lại cho tôi. Cụ nói: “sau khi đã suy nghỉ kỷ lại, xin ngài bỏ qua cho tôi chuyện vừa qua. Trước cái khó khăn của hoàn cảnh này, tôi không có quyền đào nhiệm”. Tôi nói: “Vậy thì xin Cụ hãy tiếp tục”.
Frédéric Mitterand: Quả là quá ngạc nhiên., rất xúc động khi thấy có sự đoàn kết cao như vậy. Tại sao cuộc thương thuyết với nước Pháp bị bế tắc? Phải chăng lỗi hoàn toàn về phía Pháp? Bảo Đại: Hãy bắt đầu với Hiệp ước ngày 6-3. Ký giữa Sainteny và cụ Hồ. Tôi biết rõ hiệp ước ấy vì tôi đã soạn thảo với cụ Hồ. Hiệp ước ký xong thì tôi đi Trung Quốc. Sau đó là Hội nghị Fontainebleau. Khi cụ Hồ sang Pháp. Hội nghị không đạt kết quả gì, vì mỗi bên đều giữ vững lập trường của mình. Không ai muốn thương lượng thật sự, phía Pháp cũng như phía Việt Nam.
11. Frédéric Mitterand: Chiến tranh thực sự bùng nổ giữa Pháp và Việt Minh, một cuộc chiến ác liệt, gian khổ. Ngài là một người lưu vong. Ngài không còn gì trong tay cả. Tuy vậy, lần hồi, ngài lại được công luận chú ý, nhất là các người Pháp đã biết ngài, và đông đảo người Việt Nam muốn độc lập, nhưng không muốn cộng sản? Bảo Đại: Để nói cho rõ hơn, sau khi đô đốc d’Argenlieu mãn nhiệm kỳ. Ông Bollaert sang Đông Dương với chỉ thị của Paris là gắng khôi phục hòa bình. Dưới hình thức nào? Kêu gọi tất cả những người đang chiến đấu chống Pháp, và những người quốc gia đang đứng ngoài cuộc chiến lúc ấy, có nhiều người Việt Nam đã nghỉ đến tôi.
Ông Bollaert đã đứng ra kêu gọi qua bài diễn văn nổi tiếng đọc ở Hà Đông, trong bài diễn văn này ông đã nói đến hai chữ Độc lập, nhưng không nói bằng tiếng Pháp, mà bằng tiếng Việt. Lúc đó, tôi có tiếp một ông sứ giả của ông Bollaert, người này nói với tôi như sau: “Ngài phải đáp lại lời kêu gọi của ông Bollaert. Nếu ngài không trả lời, cụ Hồ Chí Minh sẽ trả lời và sẽ qua mặt ngài”. Tôi đáp:” Tôi rất muốn thế, tôi chờ cụ Hồ trả lời vì quý ông đã nhắm vào cụ Hồ mà kêu gọi”. Sau một thời gian, vì không ai đáp lại lời kêu gọi của ông Bollaert và vì đã có nhiều người quốc gia muốn tập hợp lại và khẩn khoản xin tôi tiếp xúc với đại diện nước Pháp, trong bối cảnh đó, tôi đã chấp thuận gặp ông Bollaert ở vịnh Hạ Long. Đó là lần tiếp xúc đầu tiên.
12. Frédéric Mitterand: Thời gian tiếp xúc có lâu không? Bảo Đại: Thời gian tiếp xúc là một ngày. Ông Bollaert muốn tuyên bố Thống nhất – Độc lập. Nhưng ngược lại, ông đưa ra nhiều tu chính án hoàn toàn không phù hợp với tôi. Frédéric Mitterand: Và ngài đã bác bỏ? Bảo Đại: Do đó tôi đã từ giã ông ta. Tôi nói với ông ta rằng, tôi chỉ gặp ông với tư cách cá nhân. Nước tôi và nhân dân tôi không cho tôi một ủy nhiệm gì, để ký bất cứ điều gì cả. Ông Bollaert đáp: “Đây là lần tiếp xúc đầu tiên”.
Frédéric Mitterand: Điều gì đã khiến cho ngài trở về nước? Bảo Đại: Đối với tôi, đây là một cơ hội mà tôi có thể nói là lịch sử. Bởi vì có một điều mà ít người Việt Nam biết đến, đó là tôi phải chuộc lại lỗi lầm của tổ tiên tôi: để mất sáu tỉnh Nam Kỳ. Frédéric Mitterand: Đất Nam Kỳ, đó là các vùng Alsace-Lorraine của nước Việt Nam? Bảo Đại: Đúng vậy. Frédéric Mitterand: Sau cùng, ngài đã chấp thuận trở về nước. Kỳ này đã tranh thủ được Độc lập và Thống Nhất? Bảo Đại: Không, không phải ở vịnh Hạ Long mà tôi tranh thủ được Độc lập, mà chính là sau khi ông Bollaert ra đi, kể từ năm 1949, tôi đạt được các thỏa hiệp đầu tiên với Tổng thống Pháp Auriol. Không phải giống như các thỏa hiệp ngày nay, mà là trao đổi văn thư.
13. Frédéric Mitterand: Một tình trạng thật lạ lùng. Ngài đã là vua, ngài đã là ông Vĩnh Thụy, đại biểu quốc hội thời Hồ Chí Minh, và ngài đã trở về với tư cách đứng đầu một nhà nước. Nhà nước đó có hình thức thế nào? Ngài là Đức Bảo Đại – Tổng thống nước cộng hòa? Bảo Đại: Không, không phải tổng thống vì lúc ấy chưa xác định được thể chế. Tôi tự phong tôi là Quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam. Tôi nói với nhân dân Việt Nam rằng: Khi tôi đã làm xong nhiệm vụ của tôi, tức là cụ thể hóa nền độc lập, xây dựng lại đất nước, đến lúc đó, chính nhân dân sẽ chọn lấy chế độ mình muốn. Tôi không chủ trương một chế độ nào cả. Tôi chỉ tự phong một cách đơn giản là Quốc trưởng thôi.
Frédéric Mitterand: Nền độc lập đầu tiên, có người đã trách ngài rằng đó là nền độc lập của Nhật; còn lần này ngài sẽ không bị mang tiếng rằng đó là độc lập của Pháp? Bảo Đại: Hoàn toàn không. Người Pháp đã thương lượng thực sự với tôi. Độc lập. Thành lập quân đội Quốc gia. Tôi đã có đại diện ngoại giao ở nhiều nước khác. Rất nhiều nước đã thừa nhận chúng tôi.
14. Frédéric Mitterand: Ngài có nhiều bạn trong chính phủ Pháp. Ngài có những bạn trung thành với ngài không? Bảo Đại: Tổng thống Auriol là một người rất thông cảm với tôi và đã giúp tôi rất nhiều. Bộ trưởng ngoại giao, ông Bidault. Frédéric Mitterand: Tổng thống Auriol, một đảng viên Đảng Xã hội, cựu Bộ trưởng trong mặt trận bình dân. Ngài có mâu thuẫn với những ai đã nắm được lịch sử? Bảo Đại: Ông ấy là đảng viên đảng Xã hội, việc này không có gì quan trọng với tôi cả, miễn là qua ông ấy, tôi đạt được các nguyện vọng của nhân dân tôi. Đó là điểm chính yếu.
Frédéric Mitterand: Ngài trở về Việt Nam, và trong vai trò của ngài, ngài đã được dân chúng đón tiếp nồng nhiệt. Ngài rất được lòng dân vào thời đó. Việc này diễn tiến ra sao? Bảo Đại: Tôi chưa bao giờ cần mưu sự đắc nhân tâm. Tôi trở về nước để làm một nhiệm vụ với đất nước và nhân dân Việt Nam. Frédéric Mitterand: Thành lập Quân đội Quốc gia, đây là một việc rất quan trọng đối với ngài? Bảo Đại: Đáng tiếc là đã có một sự chậm trễ. Phải chờ cho đến lúc có tướng De Lattre mới thành lập được quân đội của tôi. Tướng De Lattre đã hiểu là phải có một quân đội Quốc gia.
15. Frédéric Mitterand: Giữa De Lattre với ngài, có một quan hệ đặc biệt? Bảo Đại: Ban đầu có một vài va chạm giữa De Lattre với tôi, nhưng sau một thời gian, khi tôi đã thuyết phục được De Lattre rằng ngoài quân đội viễn chinh Pháp, cần phải có một yểm trợ, tức là quân đội Quốc gia. Ông ta đã hiểu ngay, ông ta đã lập nên các thành phần đầu tiên của quân đội tôi. Ông đã cho con trai ông phục vụ ở một tiểu đoàn và anh này đã chết trận.
Frédéric Mitterand: Nhưng người Pháp trong quân đội viễn chinh đã không phải vì ngài mà chết trận? Bảo Đại: Những quân nhân đầu tiên, đến Việt Nam thời tướng Leclerc, nghỉ rằng họ đã chiến đấu cho nước Pháp. Dần dần, đầu óc của quân nhân Pháp cũng thay đổi. Họ đã hiểu rằng, không phải họ chiến đấu cho nước Pháp, mà họ chiến đấu cho một dân tộc, dân tộc Việt Nam, để dân tộc khốn khổ này không bị rơi vào tay cộng sản. Họ chiến đấu cho nhân loại. Frédéric Mitterand: Nhưng ngài cũng xót xa vì cuộc chiến tranh này, vì người cộng sản Việt Nam cũng là đồng bào của ngài? Bảo Đại: Đương nhiên tôi cũng hiểu rằng đây là cuộc nội chiến khốc liệt.
16. Frédéric Mitterand: Cũng vào lúc ấy, phải chăng ta đã thua trên một mặt trận khác? Giới truyền thông đã hiểu rõ những gì ngài muốn làm không? Giới báo chí đã hiểu rõ những gì ngài muốn làm không? Cái thời mà người ta kể mọi thứ về vua Bảo Đại? (Biện minh). Bảo Đại: Tất cả điều đó đều không quan trọng. Điều quan trọng, theo tôi là giới truyển thông đã chỉ trích quân đội Pháp đang chiến đấu ở Đông Dương. Họ không hiểu vì sao các thanh niên lại đi đánh như thế. Tôi có cắt nghĩa rằng các thanh niên ấy chiến đấu vì chúng tôi. Báo chí Pháp hoàn toàn không hiểu. Thậm chí chính phủ Pháp thời đó cũng không hiểu.
Frédéric Mitterand: Lúc ấy, ngài hay trở về Pháp. Ngài có nhiều tiếp xúc với người Pháp. Ngài có cảm thấy rằng chính sách ấy đang suy sụp? Ngài có cảm tưởng thế nào khi thấy cuộc chiến không thể kết thúc? Bảo Đại: Chiến tranh thời đó không có lính “nghĩa vụ” Pháp. Chỉ có lính tình nguyện. Dư luận Pháp đã rất hiểu lầm về cuộc chiến này.
17. Frédéric Mitterand: Có thể thắng được cuộc chiến này không? Bảo Đại: Với điều kiện không phải tung ra tất cả mọi phương tiện. Tình hình khả quan cho đến lúc nước Pháp ở trong thế phải cầu hòa, từ đó mới có vụ Điện Biên Phủ. Vì sao lúc đó, đối với nước Pháp, người ta muốn chấm dứt chiến tranh. Xin ông nhớ lại chiến tranh Triều Tiên. Cần phải chấm dứt hai cuộc chiến. Từ đó, cần có cuộc họp thượng đỉnh, là Hội nghị Geneve.
Frédéric Mitterand: Trong cuốn hồi ký của ngài, ngài có nói: “bỗng nhiên có cảm giác một sự trống rỗng”. Bảo Đại: Lúc ấy, quân đội của tôi chưa có khả năng hoàn toàn tác chiến. Cần phải vài năm nữa, quân đội của tôi mới có thể thay thế quân đội Pháp. Vì vậy, tôi đã nói với tướng Salan là Tổng tư lệnh thời ấy: Không nên có những cuộc hành quân lớn; không nên hy sinh nhân lực; hãy tạo một loại bình phong để tôi có thể củng cố quân đội Quốc gia, tạo cho nó khả năng tác chiến. Khổ thay, nước Pháp muốn chấm dứt cuộc chiến; tiếp theo Hội nghị Berlin là Hội nghị Geneve; người ta muốn mở rộng các cuộc hành quân, trái với những gì tôi đã yêu cầu Salan; từ đó đưa đến Điện Biên Phủ; Điện Biên Phủ là một kế hoạch đã kết thúc trong sự thảm bại (của Pháp).
18. Frédéric Mitterand: Đã có quyết định đẩy nhanh trận Điện Biên Phủ. Trận Điện Biên Phủ thảm bại, khủng khiếp, nhưng có thể khắc phục được. Trên thực tế thì đã có quyết định bỏ rơi Việt Nam cho cộng sản? Bảo Đại: Không phải bỏ toàn thể nước Việt Nam, nhưng Geneve nước Việt Nam bị chia đôi, một phần cho cộng sản, một phần cho quốc gia. Ngoài ra, phe cộng sản được chia nhiều hơn là họ mong đợi. Frédéric Mitterand: Chính vì lúc đó thì ông Diệm trở lại chính trường? Bảo Đại: Vì Việt Nam bị cắt làm đôi, tôi không còn một vai trò nào nữa. Tôi mời ông Diệm ra cầm quyền. Vì sao ông Diệm? Vì ông Diệm đại diện cho một ý thức hệ: đó là một người công giáo có thể ngăn chặn được ý thức hệ cộng sản.
Frédéric Mitterand: Ông Diệm trước đó đã luôn luôn bày tỏ lòng trung thành đối với ngài? Nay đã có một bước ngoặt, điều gì đã xảy ra? Bảo Đại: Ông ta bị giật giây bởi toàn bộ gia đình ông ta, và cũng bởi các quan thầy Mỹ. Khi tôi yêu cầu ông Diệm cầm quyền, tôi có nói việc này cho Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Foster Dulles. Lúc ấy ông ta không muốn ông Diệm. Một thời gian sau, tôi mới hiểu vì sao. Bởi vì người Mỹ chưa sẵn sàng nắm nước Việt Nam, họ muốn giữ lại vai trò ông Diệm làm dự phòng, để tung ra khi thuận tiện.
19. Frédéric Mitterand: Mục đích của ông Diệm? Một chế độ gia đình trị? Bảo Đại: Ông không có mục đích chính xác. Dẫu sao ông ta cũng không có tham vọng dựng lên một triều đại. Ông ta muốn cai trị theo một loại độc tài con, nói đúng hơn, đó là một chế độ độc tài gia đình trị. Frédéric Mitterand: Ở Triều Tiên thời đó có Lý Thừa Vãn? Bảo Đại: Và có Magsaysay ở Phi Luật Tân.
Frédéric Mitterand: Ngài có thấy người Mỹ chú ý đến Việt Nam? Ngài có thấy bóng dáng người Mỹ sau các sự kiện này? Bảo Đại: Tôi thấy rất rõ là người Mỹ muốn có mặt ở Thái Bình Dương. Chiến tranh Algerie đã bắt đầu. Người Mỹ đã làm một loại trao đổi: để cho nước Pháp giải quyết vấn đề Algerie, và nước Pháp rút chân ra khỏi Việt Nam, nhường chỗ cho nước Mỹ.
20. Frédéric Mitterand: Khi Hiệp ước Geneve được ký kết, và ông Diệm lần lần cũng có quyền lực ở Việt Nam, thì ngài ở Pháp. Ngài có nghỉ chuyện trở về Việt Nam? Bảo Đại: Không, hoàn toàn không. Đối với tôi, thế là hết. Tôi đã nói với các đồng minh của tôi và các nước ủng hộ tôi: Vai trò của tôi đã chấm dứt, hoặc tôi là chủ từ bắc chí nam, hoặc tôi là không gì hết. Vì quý vị đã cắt đất nước của tôi làm hai, tôi sẽ cử một người đứng ra, coi phần còn lại, do đó có ông Diệm.
Frédéric Mitterand: Ngài thấy thế nào khi ông Diệm tuyên bố nền cộng hòa sau một cuộc trưng cầu dân ý? Cảm tưởng của ngài thế nào? Bảo Đại: Tôi biết trước chuyện này sẽ xảy ra. Tôi hoàn toàn không bị bất ngờ, bởi vì mọi thứ đã được xếp đặt trước. Tôi không muốn nhảy xuống vũ đài để bảo vệ cái thế của tôi. Frédéric Mitterand: Năm 1955, ngài có nghỉ rằng chắc chắn chiến tranh sẽ tái tục, hay có thể giữ nguyên trạng trong một thời gian dài? Bảo Đại: Tôi đã hy vọng giữ nguyên trạng như nước Đức: Tây Đức và Đông Đức. Tôi đã nghỉ rằng miền Nam giàu hơn miền Bắc, sẽ thu hút người miền Bắc. Xui thay, sự việc xảy ra đã không phải như thế. Tôi cũng biết người Mỹ có mặt trong vụ này.
21. Frédéric Mitterand: Người con bình thản trong cung điện Huế ngày xưa, bây giờ chịu đựng các phán xét tiêu cực hay sự im lặng, hay ngài đã đau khổ? Bảo Đại: Không, hoàn toàn không. Tôi đã trở lại thời thơ ấu, đây là một thái độ đúng. Chính nhờ cái giáo dục ấy mà tôi đã giữ được mọi sự thanh thản trong lòng.
Frédéric Mitterand: Bây giờ, ngài đã sống tại Pháp hơn 35 năm nay, một cuộc sống giản dị, rất đứng đắn nhưng không có nhiều phương tiện. Dẫu sao cũng có nhiều người biết ngài, và rõ ràng rất thích quan hệ với ngài. Ngài đã thích nghi với đời sống ở đây như thế nào? Bảo Đại: Tôi đã thích nghi rất tốt với đời sống ở Pháp. Tôi đã đến đất nước này khi còn rất trẻ. Tôi cũng có thể trở về nước tôi nhưng tôi thích ở Pháp hơn bởi vì tôi biết rõ tính tình người Pháp. Tôi cảm thấy ở đây, ở Pháp, hoàn toàn như ở quê tôi. Frédéric Mitterand: Nhưng đồng thời hình ảnh nước Việt Nam luôn luôn hiện ra trong đời sống của ngài? Bảo Đại: Tôi luôn luôn nhớ đến thần dân khốn khổ của tôi.
22. Frédéric Mitterand: “Tôi xa quê cha đất tổ thế là 25 năm” – Ngài đã viết như thế cách đây 10 năm- “25 năm trên đất Pháp, trên mảnh đất đã đón nhận tôi, với bao nhiêu kỷ niệm thời niên thiếu- Từ khi hoàng hậu Nam Phương qua đời, tình thương đã bị cướp mất quá sớm, và từ khi các con tôi bay xa, tôi thường là một người đơn chiếc. Tôi đã nếm qua và tôi đã sống qua những gì mà nhân dân tôi đang nếm qua và đang sống trong lúc này – nơi thì lòng bao dung, tình bằng hữu, nơi thì hiểu lầm, ác ý; sự đầm ấm khi gặp lại bạn cũ, sự lạnh lẽo của cảnh cô đơn…”.. Rồi một ngày kia, khi vua Bảo Đại không còn nữa, ông Vĩnh Thụy không còn nữa, ở Việt Nam còn có những người tưởng nhớ đến công đức của ngài không? Bảo Đại: Không phải tôi là người nói đến việc này. Xin để cho nhân dân tôi phán xét, xin để cho lịch sử phán xét tôi. (Trích Tạp chí Xưa và Nay số 456 tháng 2 năm 2015.)
X. Những năm cuối đời
1. Bảo Đại đã sống những năm cuối đời trong lặng lẽ tại một căn hộ nhỏ ở số 29, đường Fresnel, quận 16, thủ đô Paris. Tất cả gia tài đồ sộ và quyền lực một thời đều đã không còn, ông sống dựa vào khoản trợ cấp 20.000 Franc/tháng của chính phủ Pháp. Cựu hoàng Bảo Đại qua đời vào 5 giờ sáng ngày 31 tháng 7 năm 1997, tại Quân y viện Val-de-Grâce, hưởng thọ 85 tuổi. Cựu hoàng Bảo Đại là vị vua thọ nhất của Nhà Nguyễn./.
2. CHỦ TỊCH NƯỚC, CHỦ TICH ĐẢNG
HỒ CHÍ MINH.
I. Tiểu sử và nền tảng học vấn.
1. Hồ Chí Minh (1890-1969) có tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung (Côn), sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, con ông Nguyễn Sinh Sắc (từng đỗ phó bảng ) và bà Hoàng Thị Loan tại làng Sen, Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Làng Kim Liên, quê nội của Côn là một làng quê nghèo. Phần lớn dân chúng mặc quần ít, đóng khố nhiều, bởi thế nên làng này còn có tên là làng Đai Khố. Năm 1895, Côn cùng cha mẹ và anh trai vào Huế . Sau khi mẹ mất (1901), ông về Nghệ An ở với bà ngoại một thời gian ngắn rồi theo cha về quê nội, từ đây ông bắt đầu dùng tên Nguyễn Tất Thành. Năm 1906, Côn theo cha vào Huế và học ở trường tiểu học Pháp-Việt Đông Ba. Niên khoá 1906-1907, ông học lớp nhì,và 1907-1908 lớp nhất.
Năm 1908, lúc 18 tuổi Côn thi đậu primaire (tiểu học), rồi vào học trường Quốc Học. Nhưng bị đuổi học vào cuối tháng 5 năm 1908 vì tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu lịch sử Vũ Ngự Chiêu thì "không có việc Nguyễn Sinh Côn bị trục xuất khỏi trường Quốc Học vì tham gia vào cuộc biểu tình chống sưu thuế ở Huế, bởi Nguyễn Sinh Côn được nhận vào Quốc Học Huế ngày 7 tháng 8 năm 1908. Nhưng, cuộc biểu tình chống sưu dịch xảy ra ngày 9 tới 12 tháng 4 năm 1908; tức gần bốn tháng trước ngày trò Côn được nhận vào trường Quốc Học." (tài liệu hiện lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (Centre des archives d'Outre-mer hay CAOM) ở Pháp.)
2. Đầu năm 1910, Nguyễn Tất Thành đến Phan Thiết. Ông dạy chữ Hàn vad chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại trường Dục Thanh của Hội Liên Thành. Tháng 2 năm 1911, với sự giúp đở của Hội Liên Thành, ông vào Sài Gòn học trường Bá Nghệ, vừa học vừa đi bán báo để kiếm sống. Ba tháng sau, Thành xin được một chân phụ bếp trên chiếc tàu buôn của Đô đốc Latouche-Tréville, lấy tên Văn Ba. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tàu rời Sài Gòn sang Pháp. Sau hơn 1 tháng lênh đênh trên biển cả, tàu cập cảng Marseilles, Pháp. Tại Marseilles, Nguyễn Tất Thành viết đơn xin được nhập học Trường Thuộc địa (École Coloniale), trường chuyên đào tạo các nhân viên hành chánh cho chính quyền thực dân, Thành viết với hy vọng "giúp ích cho Pháp". Nhưng đơn xin của Thành bị từ chối.
Ở Pháp một thời gian rồi Thành qua Hoa Kỳ. Ở Hoa Kỳ một năm (cuối 1912 - cuối 1913), ông đến nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn. Cuối năm 1917, Thành trở lại nước Pháp làm nghề rửa ảnh. Năm 1919, nhìn lại mình đã 29 tuổi và ra nước ngoài ngót nghét 8 năm làm đủ thứ nghề cào tuyết, đốt lò, phụ bếp ở khách sạn, rửa ảnh vẫn không khá lên được. Tháng 2 năm 1919 qua sự giới thiệu của Nguyễn Thế Truyền, một Sinh viên đang học Kỹ sư, và là đảng viên đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Tất Thành xin gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Có thể nói Đảng Xã hội Pháp là nơi đã giúp Thành bước đầu tập tểnh vào nghề chính trị.
3. Ngày 18 tháng 6 năm 1919, một nhóm các nhà ái quốc Việt Nam sống ở Pháp như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành, viết bản Yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam gởi tới Hội nghị Hoà bình Versailles, kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng lý tưởng của Tổng thống Mỹ, Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đong Nam Á. Bản yêu sách được ký tên chung là Nguyễn Ái Quốc, và cử Nguyễn Tất Thành mang đến trao tận tay cho Hội nghị. Từ đây, Nguyễn Tất Thành công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và sử dụng tên này trong suốt 30 năm sau đó.
II. Từ đảng viên Xã hội Pháp đến đảng viên
Cộng sản Nga.
1. Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin, từ đó ông hoàn toàn tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản. Ngày 25 đến 30 tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, khi có cuộc tranh luận gay gắt giữa các đại biểu, Quốc nói, "Tôi không hiểu bất cứ điều gì về chiến lược, thủ thuật hành động và tất cả những từ ngữ đao to búa lớn mà các ông dùng, nhưng tôi hiểu một điều rất đơn giản: Quốc tế thứ 3 quan tâm rất nhiều tới vấn đề thuộc địa. Các đại biểu của Quốc tế thứ 3 hứa sẽ giúp các dân tộc thuộc địa đang bị áp bức giành lại tự do và độc lập. Và, Quốc là một trong các thành viên đã ly khai khỏi đảng Xã hội để thành lập đảng Cộng sản Pháp.
Tháng 6 năm 1923, từ một học sinh chưa học hết chương trình lớp 7 tại Việt Nam, chưa học tiếng Nga, Nguyễn Ái Quốc đến Moskva học trưởng Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông đào tạo chính quy về Chủ nghĩa Marx, tuyên truyền và khởi nghĩa vũ trang. Tại đây, ông đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân, được bầu vào Ban chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Tại Đại hội lần thứ 5 Đệ Tam Quốc tế (từ 17/6 đến 8/7/1924 Lien Xô), ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu theo phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn đến giúp chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch làm phiên dịch lấy tên là Lý Thụy.
2. Trong thời gian ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc có nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến tư tưởng cách mạng ra vùng Đông Phương. Theo tiểu sử tóm tắt các “Tổng bí thư đảng Công sản Việt Nam” ghi lại thì năm 1925, Quốc tập hợp Việt Kiều và thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng Chí Hội ở Quảng Châu để truyền bá chủ nghĩa Marx-Lenin vào Việt Nam. Ông đã gửi một loạt người Việt đi học trường quân sự của Tưởng Giới Thạch tại Quảng Châu, đồng thời tiến hành một khóa đào tạo về khởi nghĩa vũ trang. Do Tưởng Giới Thạch khủng bố các nhà cách mạng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam, ông rời Quảng Châu đi Hương Cảng rồi thoát sang Liên Xô theo đường sa mạc Gobi.
Xin lưu ý rằng, Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc gặp Lâm Đức Thụ. Bách khoa Toàn thư mở, tháng 3/2021 viết: Lâm Đức Thụ (1890-1947), tên thật là Nguyễn Công Viễn quê ở Thái Bình, con trai cụ tú tài Nguyễn Hữu Đàn và là cháu nội nhà nho yêu nước Nguyễn Mậu Kiến. Lâm Đức Thụ thi đỗ đầu xứ, nên còn gọi là Đầu xứ Viễn. Năm 1912, Lâm Đức Thụ gia nhập Việt Năm Quang phục Hội của cụ Phan Bội Châu. Năm 1923, do bất mãn, Lâm Đức Thụ cùng với Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, ly khai lập ra Tâm Tâm xã. Năm 1925, Lâm Đức Thụ và một số đồng chí sáng lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tổ chức cách mạng thoát thai từ tổ chức Tâm Tâm Xã.
3. Lâm Đức Thụ có một người vợ Trung Quốc tên là Lý Huệ Quần. Ngôi nhà của gia đình Lý Huệ Quần tại đường Văn Minh, Quảng Châu là nơi thế hệ cách mạng đầu tiên của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội trú ngụ và huấn luyện lý thuyết cách mạng, công tác vận động quần chúng. Lâm Đức Thụ được cho là người đã bán đứng Phan Bội Châu cho thực dân Pháp, và cũng là người được phía Trung Quốc cho rằng đã mai mối Tăng Tuyết Minh cho Nguyễn Ái Quốc. Năm 1947, do bị phát hiện là "chỉ điểm", "mật thám", "tay sai cho Pháp", Lâm Đức Thụ bị "dân quân Việt Minh" giết tại quê hương làng Vũ Trung, huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình.
Vậy, ta nên hiểu Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội là do Nguyễn Ái Quốc hay do Lâm Đức Thụ thành lập đây? Tại thời điểm năm 1925 nầy, Nguyễn Ái Quốc, là một tên “vô danh tiểu tốt” đảng viên Cộng sản Đệ tam hoạt động bí mật, liệu Quốc có "đủ uy tín tập hợp được" một số Việt Kiều ở Quảng Châu để thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, để gửi một loạt người Việt đi học trường quân sự của Tưởng Giới Thạch tại Quảng Châu như điều đã viết ở trên không?
4. Mùa thu 1928, Quốc đến Xiêm La (Thái Lan), cải trang là một nhà sư đầu trọc, với bí danh Thầu Chín để tuyên truyền và huấn luyện cho Việt kiều tại Xiêm. Cuối năm 1929, ông rời khỏi Thái Lan. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập cuộc họp tại Cửu Long thuộc Hồng Kông thành lập đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc họp có 7 người tham dự: 3 đại biểu Quốc tế Cộng sản là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, 2 đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng là Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh; 2 đại biểu An Nam Cộng sản Đảng là Nguyễn Thiệu, và Châu Văn Liêm.
Tháng 3 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc trở lại Xiêm trong một thời gian ngắn, rồi ông quay lại Trung Quốc. Cũng vào năm 1930 này, Đảng Cộng sản chỉ đạo khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhưng thất bại. Pháp cấm Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động. Năm 1931, dưới tên giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch'o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam. Tờ L'Humanité số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông. Nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận tình của luật sư Frank Losoby, Tống Văn Sơ được thả ngày 28 tháng 12 năm 1932. Ông đi Thượng Hải rồi bí mật quay trở lại Liên Xô.
III. Buộc phải ở Liên Xô để giảm lỏng và bị điều tra.
1. Nguyễn Ái Quốc đến Moskva vào mùa xuân năm 1934, với bí danh Lin học trường Quốc tế Lenin (1934-1935). Ông dự Đại hội lần thứ 7 Đệ Tam Quốc tế (25,7-20/8/1935) với tư cách quan sát viên của ban thư ký Dalburo với tên Linov. Ông bị Ban Lãnh đạo Hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương viết thư gửi Quốc Tế Cộng sản “kết tội ông phải chịu trách nhiệm chính về việc hơn 100 đảng viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị bắt do việc ông biết Lâm Đức Thụ trước đây là kẻ phản bội mà vẫn tiếp tục sử dụng.
Trong những năm 1931-1935, “Nguyễn Ái Quốc cũng đã bị Trần Phú và sau đó là Lê Hồng Phong ,Hà Huy Tập phê phán nặng nề về đường lối cải lương "liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ", không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Đệ Tam Quốc tế”. Trong một bức thư viết vào tháng 3 năm 1935, có đoạn: "Những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa duy tâm của đảng của các đồng chí Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc" là rất mạnh và nó đã tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản. Cuộc tranh đấu không nhân nhượng chống những học thuyết cơ hội này của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và của Đảng Thanh niên là rất cần thiết (…). Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin viết một cuốn sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua".
2. Trong giai đoạn này, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập lần lượt làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương,“còn Nguyễn Ái Quốc chỉ đảm nhiệm công tác liên lạc giữa Quốc tế Cộng sản và các đảng cộng sản tại Đông Nam Á”. Nguyễn Ái Quốc bị buộc phải ở Liên Xô cho đến năm 1938, để giam lỏng và bị điều tra. Nguyễn Ái Quốc còn bị nghi ngờ lý do ông được nhà cầm quyền Hồng Kông trả tự do. Quốc tế Cộng sản đã thành lập Ban Thẩm tra về sự trung thành chính trị của Nguyễn Ái Quốc, nhưng không tìm ra chứng cứ, nên hồ sơ vụ việc đã được Ban Thẩm tra quyết định hủy bỏ. Từ năm 1938, Nguyễn Ái Quốc mang tên Hồ Quang trở lại Trung Quốc, trong vai Thiếu tá công tác tại văn phòng Bát lộ quân Quế Lâm.
IV. Về nước, trở lại Trung Quốc và bị tù hơn 1 năm.
1. Đầu tháng 1-1941, Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tĩnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc) gặp Nguyễn Ái Quốc để báo cáo kết quả xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng. Hoàng Văn Thụ đề nghị ông về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua lối Cao Bằng. Nguyễn Ái Quốc về đến Việt Nam ngày 28 tháng 1 năm 194. Ngày 8 tháng 2 năm 1941, ông tới ở tại hang Cốc Bó, bản Pác Bó, tỉnh Cao Bằng với bí danh Già Thu. Tại đây, ông mở các lớp huấn luyện cán bộ, cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày... Ông cho lập nhiều hội đoàn nhân dân như hội phụ nữ cứu quốc, hội phụ lão cứu quốc, hội nông dân cứu quốc.
Từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, ông chủ trì Hội nghị lần thứ 8 mở rộng của Trung ương Đảng họp tại Pác Bó, Cao Bằng. Một trong những kết quả của hội nghị này là nghị quyết về việc thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh). Ngày 13 tháng 8 năm 1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc với danh nghĩa đại diện của cả Việt Minh và Hội quốc tế phản xâm lược Việt Nam để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc. Ông bị chính quyền địa phương của Trung Hoa Dân Quốc bắt ngày 29 tháng 8 năm 1942, và giam hơn một năm, trải qua khoảng 30 nhà tù. Ông viết Nhật ký trong tù trong thời gian này.
2. Hội Quốc tế chống xâm lược ở Đông Dương gửi 2 bức thư, một cho Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, một cho thống chế Tưởng Giới Thạch đề nghị can thiệp trả tự do cho Hồ Chí Minh. Đại diện Đảng cộng sản Trung Quốc ở Trùng Khánh cũng đã có các cuộc tiếp xúc bí mật với các sỹ quan OSS và SACO để gợi ý rằng “có thể sử dụng” Hồ Chí Minh làm tình báo cho phe Đồng Minh. Sau khi thảo luận với Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc, OSS và cơ quan ngoại giao Mỹ thương lượng với chính phủ Trung Hoa Dân quốc thả Hồ Chí Minh khỏi nhà tù và “thuyết phục ông cộng tác với OSS”. Tướng Trương Phát Khuê, cai quản vùng Quảng Đông và Quảng Tây cũng gây áp lực để buộc Hồ Chí Minh hoạt động cho Quốc dân Đảng.
V. Là cộng tác viên cuả cơ quan tình báo OSS Mỹ.
1. Hồ Chí Minh được trả tự do ngày 10 tháng 9 năm 1943, theo yêu cầu của Hoa Kỳ, từ đây Hồ Chí Minh bắt đầu có mối liên lạc thân gần với các với viên chức tình báo OSS (U.S Office of Strategic Services) của Mỹ. Ông cũng cố gắng tranh thủ sự ủng hộ từ Trương Phát Khuê, nhưng kết quả hạn chế. Hồ Chí Minh còn tham gia hoạt động với Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội. Từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 3 năm 1944, Hội nghị đại biểu Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (thành lập 1/10/1942) mở rộng nhóm họp tại Liễu Châu, ông là một trong 15 đại biểu, chưa phải là thành viên của Việt Cách như Lê Tùng Sơn, Nguyễn Thanh Đồng, Nguyễn Tường Tam, và Hồ Chí Minh… tham dự hội nghị.
Tại hội nghị này, ba người cũ trong Ban Chấp hành bị thay ra và ba người mới được thay vào là Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật, và Trần Đình Xuyên. Hồ Chí Minh và Nguyễn Tường Tam được bầu làm Ủy viên Trung ương dự khuyết. Sau một thời gian Trần Đình Xuyên bị gạt ra, Hồ Chí Minh được trở thành Ủy viên Trung ương chính thức. Cuối tháng 9 năm 1944, Hồ Chí Minh trở về Việt Nam. Ông trực tiếp ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 đội viên của các đội quân nhỏ bé và rải rác trước đó của Việt Minh. Cuối năm 1944, Hồ Chí Minh lại trở lại Côn Minh.
2. Ngày 29 tháng 3 năm 1945, ông gặp Trung tướng Mỹ Chennault tại Côn Minh, Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng Minh chống phát xít Nhật. Trung tướng Chennault cảm ơn Việt Minh và sẵn sàng giúp đỡ những gì có thể theo yêu cầu. Theo Hồ Chí Minh, việc ông được tướng Chennault tiếp kiến, như là một sự “công nhận chính thức của Mỹ”, là bằng chứng cho các “đảng phái Quốc gia thấy Mỹ ủng hộ Việt Minh”. Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Việt Minh làm tất cả để giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản, cung cấp các tin tức tình báo cho OSS, tiến hành một số hoạt động tuyên truyền cho Trung Hoa Dân Quốc và OWI.
Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS cung cấp vũ khí, phương tiện liên lạc, giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh. Tháng 7 năm 1945, Hồ Chí Minh ốm nặng, tưởng không qua khỏi. Theo lời kể của Võ Nguyên Giáp thì vào một đêm, ông có nói lời như trăng trối rằng “…dù có phải đốt cả Trường Sơn, cũng kiên quyết dành cho được độc lập”. Một đơn vị nhỏ OSS nhảy dù phía sau đường ranh giới Nhật Bản ở Việt Nam, thấy Hồ Chí Minh trong tình trạng sốt rét nặng, OSS gửi điện cho Bộ Tư lệnh Mỹ ở Trung Quốc yêu cầu cung cấp thuốc men. Bác sĩ quân y Paul Hogland, và những người Mỹ đã đến đã ở lại đó trong vòng hai tháng,và có thể họ đã cứu sống Hồ Chí Minh.
VI. Là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời.
1. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội quốc dân taị Tân trào, Tuyên Quang cử ra Uỷ ban Dân tộc Giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường, Ba Đình, Hà Nội, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Việt Nam Độc lập, và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồ Chí Minh đồng thời cũng ra mắt Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do ông ta làm Chủ tich/Thủ tướng. Và, cuối cùng Hồ Chí Minh hô hào các lời thề chống Pháp: “Không làm việc cho Pháp; không đi lính cho Pháp; không tiếp tế cho Pháp”.v.v..
Để lấy lòng người Mỹ, Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của mình bằng câu trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, và Tuyên ngôn Nhân quyền, Dân quyền của Pháp. Hồ Chí Minh nói với người chỉ huy tình báo quân sự Mỹ OSS Archimedes L. A Patti tại miền Bắc, rằng ông theo chủ nghĩa Lenin tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, và xin gia nhập Đệ Tam Quốc tế vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa, ông thấy không có sự lựa chọn nào khác. Nhưng trong nhiều năm sau đó, họ không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa. Ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ trước khi có thể hy vọng vào sự giúp đỡ của Liên Xô.
2. Hồ Chí Minh còn giải thích với Patti, rằng người Mỹ không muốn giúp ông, vì họ xem ông là một người quốc tế cộng sản, bù nhìn của Moskva do đã ở Moskva nhiều năm, nhưng thực ra ông không phải là người cộng sản theo cách mà Mỹ hiểu. Ông nợ Liên Xô vì sự đào tạo của họ, nhưng ông đã trả lại bằng 15 năm công tác đảng, và ông không có bất cứ cam kết nào khác với Liên Xô. Người Mỹ đã cung cấp cho ông nhiều hỗ trợ về mặt vật chất và tinh thần hơn Liên Xô, nên ông cảm thấy mình không hề mắc nợ Liên Xô… Nhưng, đến cuối tháng 9 năm 1945, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước, chấm dứt mọi liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh.
Ngay sau khi thành lập, Võ Nguyên Giáp thay mặt Hồ Chí Minh, ban hành các sắc lệnh giải tán một số đảng phái, với lý do các đảng này "tư thông với ngoại quốc", làm "phương hại đến nền độc lập Việt Nam" như Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng .. nhằm kịp thời trừng trị "bọn phản cách mạng". Chủ tịch Hồ Chí Minh cho phép Ty Liêm phóng có thể bắt những hạng người bị quy là nguy hiểm cho nền Dân chủ cộng hoà Việt Nam. Ông cũng ký sắc lệnh giải tán các nghiệp đoàn để kiểm soát nền kinh tế, thống nhất các tổ chức thanh niên vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam. Đồng thời Chính phủ cũng ban hành sắc lệnh thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính địa phương các cấp.
3. Ông chú trọng đến việc phát triển giáo dục, mà trước hết là xóa nạn mù chữ bằng cách mở các lớp học Bình dân học vụ. Để diệt "giặc đói", ngoài việc kêu gọi tăng gia sản xuất, ông đề nghị đồng bào "cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa" để đem số gạo tiết kiệm được cứu dân nghèo. Bản thân ông gương mẫu thực hiện việc nhịn ăn để cứu đói này. Ngày 4/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 4 lập "Quỹ độc lập" thu nhận tiền và đồ vật của nhân dân giúp Chính phủ, ủng hộ nền độc lập Quốc gia.
Từ ngày 17 đến ngày 24 tháng 9 năm 1945, Chính phủ phát động "Tuần lễ Vàng". Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào toàn quốc nêu rõ mục đích Tuần lễ Vàng là "thu góp số vàng trong nhân dân, nhất là của các nhà giàu có để dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta là việc quốc phòng". Chính phủ đã huy động được tổng cộng 20 triệu đồng và 370 kg vàng. Sau các Quỹ độc lập, Tuần lễ vàng, Chính phủ Hồ Chí Minh còn tổ chức nhiều hình thức khuyến khích nhân dân tự nguyện tham gia đóng góp tài chính cho đất nước như "Quỹ kháng chiến", "Quỹ bình dân học vụ", "Quỹ giải phóng quân", "Ngày Nam Bộ"...
4. Cũng trong tháng 9 năm 1945, đại diện Phái bộ Đồng minh, quân Tàu Tưởng do Tổng Tư lệnh Lư Hán tới Hà Nội để giải giáp quân Nhật. Một phần quân của Việt Nam Quốc Dân Đảng, và của Việt Nam Cách mệnh Đồng Minh Hội cũng từ Trung Hoa về Hà Nội. Nguyễn Hải Thần đòi Hồ Chí Minh áp dụng thỏa hiệp Liễu Châu, thành lập một Chính phủ Liên hiệp. Báo “Việt Nam” của Việt Quốc, và “Đồng Minh” của Việt Cách viết nhiều bài đã kích Việt Minh là Cộng sản trá hình. Có nhiều buổi phát thanh, và nói chuyện tại trụ sở Việt Quốc đường Quan Thánh rất đông người đến nghe. Điều làm Hồ Chí Minh lo ngại là trong một số giới, đặc biệt là tầng lớp trung lưu người ta vẫn cho Hồ Chí Minh và Việt Minh là Cộng sản, nên ông phải làm mọi cách để gạt bỏ cái nhãn hiệu nói trên.
Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Hồ Chí Minh giải tán đảng Cộng sản Đông Dương, và ngày 19 tháng 11 thoả hiệp với Việt Cách và Việt Quốc thành lập chính phủ Liên hiệp. Không lâu sau, có tin Hồ Chí Minh lại không muốn mở rộng chính phủ. Tức thời, Việt Quốc và Việt Cách chống Tổng tuyển cử. Ngày 22 tháng 12, Hồ Chí Minh lại “ký thỏa ước mới” với Việt Quốc và Việt Cách để hai đảng nầy “không phản đối Tổng tuyển cử”. Đổi lại, sau Tổng Tuyển cử Việt Quốc và Việt Cách sẽ có 70 ghế trong Quốc hội, không qua bầu cử. Chính phủ Liên hiệp mới sau bầu cử, sẽ do Hồ Chí Minh làm chủ tịch; Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch; 4 Bộ dành cho Việt Minh; 4 Bộ cho hai đảng đối lập; Quốc phòng và Nội vụ giao cho 2 nhân vật Trung lập.
VII. Là Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng chính phủ.
1. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức, bầu ra Quốc hội. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội họp phiên đầu tiên, công nhận 70 ghế đại biểu không qua bầu cử của hai đảng Việt Quốc Việt Cách; Quốc hội cũng uỷ Hồ Chí Minh thành lập chính phủ Liên hiệp chính thức. Chính phủ mới mang tên Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến: Chủ tịch Hồ Chí Minh (Việt Minh) Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần (Việt Cách); Bộ trưởng Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam (Việt Quốc); Bộ trưởng Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng (Trung lập); Bộ trưởng Quốc phòng: Phan Anh (Trung lập). Cố vấn đoàn do Cố vấn tối cao: Vĩnh Thuỵ (Bảo Đại). Chủ tịch Kháng chiến Ủy viên: Võ Nguyên Giáp (Việt Minh). Phó Chủ tịch: Vũ Hồng Khanh (Việt Quốc).
Trước Quốc hội, Hồ Chí Minh tuyên bố: "Tôi chỉ có một Đảng - đảng Việt Nam”. Ông là Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và cũng đảm nhiệm luôn công việc của thủ tướng. Nhà nước và chính phủ của ông đối mặt với hàng loạt khó khăn cả về đối nội và đối ngoại. Về đối ngoại, khi này Việt Nam chưa được bất cứ quốc qia nào công nhận, không phải thành viên Liên hiệp quốc, cũng như không nhận được sự ủng hộ nào về vật chất của các nước khác. Ngoài 20 vạn quân của Trung Hoa Dân quốc ở miền Bắc, tại miền Nam còn có quân Anh và quân Pháp, và khoảng 6 vạn quân Nhật. Hồ Chí Minh thi hành một chính sách đối ngoại mềm dẻo và nhẫn nhịn.
2. Ông nói: “Chính sách của ta hiện nay là chính sách Câu Tiễn, nhưng nhẫn nhục không phải là khuất phục”. Ông chấp nhận cung cấp gạo (ban đầu kiên quyết từ chối) cho quân Trung Hoa Dân Quốc đang làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật tại Việt Nam. Quân Trung Hoa Dân Quốc cũng được tiêu giấy bạc “kim quan” và “quốc tệ” tại miền Bắc.Tuy đã “ký thỏa ước” với Việt Quốc và Việt Cách chính thức thành lập chính phủ Liên hiệp, Hồ Chí Minh xem những đảng phái quốc gia thân Trung Hoa Dân Quốc như Việt Cách, Việt Quốc là bọn quốc gia giả hiệu, đầy tớ Quốc dân Đảng. Ông miêu tả họ là một nhóm cơ hội tranh giành nhau, tàn dư của các đảng phái quốc gia cũ không có chương trình hành động cơ bản nhưng lại có quá nhiều lãnh tụ.
VIII. Ký Hiệp ước 6/3 và Tạm ước 14/9/1046 với Pháp
1. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, ký kết Hiệp ước Pháp-Hoa, theo đó, quân Pháp sẽ thay thế quân của Tưởng Giới Thạch tử vỹ tuyến 16 trở ra. Một tuần sau, ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hồ Chí Minh cùng Vũ Hồng Khanh (Việt Quốc) ký với Jean Sainteny - Ủy viên Pháp ở miền bắc Ðông Dương - bản Hiệp ước sơ bộ với Pháp, với 3 nội dung chủ chốt: (1) Pháp công nhận Việt Nam "là một nước tự do, là một phần tử trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp". Trước đó, đàm phán căng thẳng khi ông muốn Việt Nam được công nhận là quốc gia độc lập và phản đối kịch liệt khi Pháp muốn dùng chữ "Quốc gia Tự trị" để mô tả tổ quốc của ông.(2) Pháp được đưa 1,5 vạn quân ra Bắc thế cho quân Tưởng, nhưng phải rút trong 5 năm, mỗi năm rút 1/5 quân số.(3) Ngừng xung đột, giữ nguyên quân đội tại vị trí cũ.
Ngày 31 tháng 5 năm 1946, ông lên đường sang Pháp theo lời mời của chính phủ nước này; cùng ngày, phái đoàn chính phủ do Phạm Văn Đồng dẫn đầu cũng khởi hành sang Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau 1946. Trước khi đi, ông bàn giao quyền lãnh đạo đất nước cho Huỳnh Thúc Kháng với lời dặn "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Ông dự đoán thời gian ở Pháp là "...có khi một tháng, có khi hơn" nhưng cuối cùng ông ở Pháp 4 tháng, trong khi tình hình tại Việt Nam đang có nhiều diễn biến phức tạp. Ngay sau khi quân Tàu Tưởng rời Việt Nam, Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch trấn áp tất cả các đảng phái đối lập Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskist, lực lượng chính trị Công giáo...
2. Một trong những sự kiện nổi tiếng nhất trong chiến dịch tiêu diệt các đảng phái đối lập là vụ án Ôn Như Hầu. Trong vụ án này, Công an khám xét trụ sở Việt Nam Quốc Dân đảng, và Đại Việt Quốc dân đảng với lý do hai đảng này âm mưu đảo chính nhằm lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Các thành viên Việt Nam Quốc dân đảng, và Đại Việt Quốc dân đảng có mặt tại trụ sở đều bị bắt, trong đó có đại biểu Quốc hội Phan Kích Nam, một trong những lãnh tụ Quốc Dân đảng. Sau sự kiện này, các lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hôi thành viên Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, rời chính phủ lưu vong sang Trung Quốc.
Hội nghị Fontainebleau 1946, diễn ra từ ngày 6 tháng 7 năm 1946 cho đến trung tuần tháng 9 để bàn về một số vấn đề: (1) Địa vị của Việt nam trong khối Liên hiệp Pháp; (2) Mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước; (3) Tổ chức giữa các xứ trong Liên bang Đong Dương; (4) Việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ để thống nhất Bắc, Trung, Nam của Việt Nam; (5) Các vấn đề kinh tế, văn hóa và soạn thảo dự án Hiệp ước. Theo dự liệu, chiều ngày 10/9/1946 hai bên gặp nhau để ký Tạm ước, trưởng đoàn Việt Nam Phạn Văn Đồng yêu cầu đoàn Pháp xác định thời điểm và cách thức thực hiện cuộc trưng câù dân ý ở Nam Kỳ, đoàn Pháp không trả lời dứt khoát, phái đoàn Việt Nam bỏ Hội nghị ra về ngày 13 tháng 9 năm 1946.
3. Nhưng nửa đêm hôm sau, ngày 14/9/1946, Hồ Chí Minh đến nhà riêng Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại là Marius Moutet ký kết bản Tạn ước Việt-Pháp (Modus vivendi). Theo đó thì: Hai bên cùng bảo đảm với nhau về quyền tự do của kiều dân, chế độ tài sản của hai bên; các trường học Pháptiếp tục hoạt động của;đồng bạc Đông Dương tiếp tục lưu hành; thuế quan và giao thông liên lạc của Liên bang Đông Dươngđược tái lập cải thiện; Thành lập Ủy ban tạm thời giải quyết vấn đề ngoại giao của Việt Nam; chính phủ Việt Nam cam kết ưu tiên dùng người Pháp làm cố vấn hoặc chuyên môn; hai bên đã đồng ý chấm dứt mọi hành động xung đột, vũ lực cũng như tuyên truyền chống đối nhau;phóng thích tù nhân chính trị, bảo đảm không truy bức người của bên kia; hợp tác để những kiều dân hai bên không làm hại nhau.
Từ Paris Hồ Chí Minh đến Toulon để lên chiến hạm Dumont d’Urville về Việt Nam. Việt kiều Marseille biểu tình gọi Hồ Chí Minh là Việt gian thay vì đón tiếp nồng nhiệt như lúc ông mới sang Pháp. Ngày 28/10/46, tại Hà Nội, Quốc hội nhóm họp (chỉ có 242/444 đại biểu dự họp), Hồ Chí Minh giải tán Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, thành lập “Chính phủ Liên hiệp Quốc dân”. Ngày 6/11/46, Quốc hội biểu quyết phát hành giấy bạc Hồ Chí Minh. Ngày 9/11/46, Quốc hội chấp thuận Hiến pháp với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống. Ngày 14/11/46, Quốc hội tuyên bố đình chỉ thi hành Hiến pháp vừa chấp thuận.
IX. Căng thẳng và bùng nổ chiến tranh với Pháp.
1. Ngày 20/11/46, Tự vệ Hải Phòng ngăn chận khám xét bắt nộp thuế Đoan và bắt giữ vài lính trên thuyền chở hàng của Pháp, hai bên nổ súng. Ngày 23/11/46, Đại tá Pierre Louis Dèbes lệnh cho lính Pháp tràn vào thành phố, chiến sự kéo dài cho đến khi người Tự vệ cuối cùng rút khỏi thành phố ngày 28/11/46. Sau sự kiện Hải Phòng, kế hoạch phòng thủ Hà Nội được chuẩn bị, quân dân Hà Nội bắt đầu xây dựng các chiến lũy phòng thủ trên đường phố, quân Pháp cũng củng cố các vị trí phòng thủ của mình.
Ngày 6/12/46, Hồ Chí Minh kêu gọi Pháp rút về các vị trí họ đã giữ từ trước ngày 20 tháng 11, nhưng không nhận được phản hồi. Ngày 17/12/46, quân Pháp với xe tăng yểm trợ triệt phá các công sự mà quân dân dựng lên trong thành phố. Hôm sau, Pháp ra tối hậu thư đòi Việt Minh chấm dứt ngay việc dựng chướng ngại vật trên các đường phố Hà Nội. Tiếp đó, là tối hậu thư đòi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ, và trao cho quân đội Pháp duy trì an ninh trong thành phố Hà Nội.
2. Không thể chấp nhận các yêu sách của Pháp, tối ngày 19 thang 12 năm 1946, Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiên được phát trên đài phát thanh lúc 20 giờ tối cùng ngày, chiến tranh bùng nổ. Ngày 16/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, phá hoại để kháng chiến: “phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc cuả đồng bào, cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy”.
Tại Bắc Bộ: các QL 1, 2, 3, 5, 6,11. Cầu Việt Trì và cầu Phủ Lạng Thương bị phá sập. Toàn bộ nền và đường sắt tuyến Hà Nội - Mục Nam Quan, Yên Viên - Lào Cai cũng bị bóc dỡ. Tại Trung Bộ, đã phá trên 10.700 km đường ô tô, 30 nghìn thước cầu các loại, và gần như toàn bộ tuyến đường sắt Hà Nội – Vinh; Huế - Quảng Nam đều bị phá. Tại Nam Bộ, các tuyến đường chính như QL1A Sài Gòn - Phan Thiết, Sài Gòn - Buôn Ma Thuột, Sài Gòn - Cà Mau, Biên Hòa - Long Thành, Xuân Lộc - Bà Rịa cũng bị phá.
3. Vài ghi nhận về kỹ thuật phá đường: trong khi ta chỉ có cuốc, xẻng thì Pháp lại có máy móc hiện đại. Đơn cử như Đoạn đường Văn Điển – Hà Đông, quân và dân Việt Nam mất 1.400 công mới dựng xong được hàng rào cánh sẻ bằng thanh Ray và Tà vẹt, nhưng quân Pháp chỉ cần dùng xe Ủi húc trong vài giờ lại thông đường. Đoạn Ngả tư Sở - Văn Điển, hàng nghìn công nhân ngã cây chắn đường, thì quân Pháp chỉ cần 2 tiểu đội Công binh với mìn và máy cắt cây, xe ủi thì vài ba ngày đoạn đường lại bình thường. Trên nhiều đoạn đường nhân dân Việt Nam mất hàng ngàn ngày công đào hố, quân Pháp chỉ cần dùng mìn bạt hai đầu hố là xe lại di chuyển qua lại bình thường. (Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp)
Ngày 23/4/47, qua Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám, Hồ Chí Minh gửi thông điệp tới Bollaert Cao uỷ Đông Dương đề nghị ngừng bắn và đàm phán. Về phần mình, Hồ Chí Minh đã lặp đi lặp lại để Pháp ngưng chiến và công nhận nền độc lập của Việt Nam, thậm chí đề xuất "Khi Pháp công nhận sự độc lập và thống nhất của Việt Nam, chúng tôi sẽ lui về làng của chúng tôi, vì chúng tôi không tham vọng quyền lực, danh dự". Ngày 11/5/47, Cao uỷ Bollaert cử giáo sư Paul Mus đến chiến khu Việt Bắc đàm phán với Hồ Chí Minh đưa ra các điều kiện đòi lực lượng vủ trang Việt Minh phải nộp 50% khí giới, phóng thích những Pháp kiều đã bị bắt từ 19/12/1946, để quân đội Pháp tự do đi lại, đã bị Hồ Chủ tịch thẳng thừng từ chối.
4. Cuối tháng 1 năm 1950, Hồ Chí Minh bí mật sang Bắc Kinh để xin viện trợ, sau đó đi Moskva gặp gỡ Stalin. Các lãnh đạo Trung Quốc hứa sẽ thuyết phục Stalin công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xua tan mối nghi ngờ của Stalin về tính chất hai mặt của Hồ Chí Minh khi hợp tác với tình báo Mỹ và giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Còn Hồ Chí Minh thì cam kết sẽ tái lập Đảng Cộng sản; thực hiện Cải cách Ruộng đất; và thiết lập chuyên chính vô sản. Trong chuyến đi tới Moscow, Hồ Chí Minh hết lời ca ngợi Stalin, thậm chí ông còn sáng tác một bài thơ ca ngợi Stalin. Kết quả là Stalin và Mao Trạch Đông hứa: sẽ trang bị cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 10 Đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt trang bị tức thời cho 6 Đại đoàn có mặt ở miền Bắc.
X. Tái lập đảng Cộng sản và Cải cách Ruộng đất.
1. Trung tuần tháng 2 năm 1951, tại Tuyên Quang, Hồ Chí Minh quyết định đưa Đảng Cộng sản ra hoạt động công khai trở lại bằng cách mở Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 2. Tên gọi Đảng Cộng sản không còn là nữa, mà là tên mới Đảng Lao động Việt Nam. Ông tuyên bố” “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam”. Tại Đại hội nầy, Đảng Lao động khởi xướng công cuộc Cải cách ruọng đất. Từ tháng 10 năm 1952, Hồ Chí Minh đã gửi bản “chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam” cho Stalin để “đề nghị xem xét và cho chỉ dẫn” và cho biết chương trình hành động được lập bởi chính ông dưới sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ.
Tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa I từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng bào địa chủ". Sau khi Quốc hội thông qua 197/HL, ngày 19 tháng 12 năm 1953, Hồ Chí Minh ký lệnh ban hành luật Cải cách ruộng đất. Về phía đảng: Hồ Chí Minh, Chủ tịch phát động tư tưởng; Trường Chinh, Trưởng ban chỉ đạo…Về phía nhà nước: Phạm Văn Đồng, Chủ nhiệm Ban Cải cách ruộng đất, cùng với các Ủy viên là Phó thủ tướng, Bộ trưởng, đại biểu Ban thường trực Quốc hội….
2. Cuộc Cải cách ruộng đất bắt đầu cuối năm 1953, kéo dài cho tới cuối năm 1957. Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố “đánh đổ được giai cấp địa chủ cùng bọn Việt gian phản động”. Nhưng cuộc cải cách này đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng: “đấu tố và xử tử oan những người bị quy là địa chủ, phú nông; thậm chí vu oan và giết nhầm cả những đảng viên trung kiên”. Trước tình cảnh đó, từ tháng 2 năm 1956, công cuộc sửa sai được khởi sự, phục hồi được khoảng 70-80% số người bị kết án, trả lại tài sản ruộng đất. Những nhân vật cốt cán như Trường Chinh, Trưởng ban chỉ đạo Cảỉ Ruộng đất bị cách chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm, ông khóc và nhận lỗi trước hội nghị toàn quốc.
Thế nhưng, trong vụ đấu tố và xử bắn bà Nguyễn Thị Năm – Cát Hanh Long, Sách Đèn Cù, Trần Đĩnh viết: Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt. Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB (Bác Hồ) gửi đến bài ĐỊA CHỦ ÁC GHÊ. “Thánh hiền dạy rằng: ‘Vi phú bất nhân’. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát – Hanh – Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã giết chết 14 nông dân; tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật; làm chết 32 gia đình gồm có 200 người (năm 1944). Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân (năm 1945). Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng. Thế là, ba mẹ con địa chủ Cát Hanh Long đã trực tiếp, gián tiếp giết chết ngót 260 người” (Nguyên văn bài báo “”Địa chủ ác ghê”).
XI. Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève 1954.
1. Mùa xuân năm 1953, với sự hỗ trợ của Quân đội Chính phủ Souphanouvong, Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) mở cuộc tiến công lớn vào quân Pháp ở Lào. Ở các vùng khác, QĐNDVN phối hợp tấn công đồng bộ từ Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ buộc quân đội Pháp phải phân tán, xé lẻ khối quân cơ động của họ. Tháng 7 năm 1953 chỉ huy mới của Pháp, tướng Henry Navarra đến Đông Dương, Navarre đề ra một kế hoạch tổng phản công, báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre". Ngày 18 tháng 7 năm 1953, cùng lúc Navarre mở hai cuộc hành quân Hirondelle ("Con én") đánh vào Lạng Sơn, và cuộc hành quân "Camargue" đánh vào Quảng Trị.
Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre lại mở cuộc hành quân Moutte đánh vào Ninh Bình và Thanh Hóa. Tháng 11 năm 1953, Navarre mở tiếp cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ, Khu vực mà ông cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của Quân đội Nhân dân Việt Nam sang Lào. Navarre quyết tâm xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với quân số lúc cao nhất là 16.200 quân, bố trí trong 49 cứ điểm, chia làm ba phân khu; bắc, nam và trung tâm, với một hệ thống công sự dày đặc.
2. Ngày 6/12/1953, sau khi nghe báo cáo của Tổng quân uỷ, Bộ Chính trị kết luận “Về địch, Điện Biên Phủ sẽ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng chúng có cái yếu là bị cô lập, mọi việc tiếp viện, tiếp tế đều phải dựa vào đường không. Về ta, với chất lượng đã đươc nâng cao thêm một bước trong chỉnh huấn, chỉnh quân, và sự tiến bộ về trang bị, kỹ thuật. Vấn đề đường sá tiếp tế cho chiến dịch đúng là một khó khăn rất lớn. Nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, cả hậu phương đang chuyển động mạnh trong cải cách ruộng đất, sẽ tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến và nhất định bảo đảm cung cấp cho chiến dịch”. Từ nhận định đó, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh “Trần Đình”.
Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ (ĐBP) diễn ra từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954 thì quân Pháp đầu hàng. Trong thời gian chiến dịch, Pháp không có khả năng xoay chuyển tình thế nên đã đề nghị Mỹ cứu viện. Nhưng tổng thống Eisenhower đã quyết định quân Mỹ sẽ không đổ bộ vào Việt Nam. Sau 56 ngày đêm cố thủ, ngày 7 tháng 5 năm 1954, cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ 18.000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh... Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954 ban đầu để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Nhưng, do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả, nên từ ngày 8 tháng 5, vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận.
3. Sau 75 ngày đàm phán với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao dồn dập đằng sau các hoạt động công khai. Ngày 20/7/54, các bản Hiệp định đã soạn thảo xong. Ngày 21/7/54, Hội nghị họp phiên cuối cùng, Chủ tịch phiên họp là đại biểu Anh Anthony Eden, hỏi lại từng Phái đoàn xem có xác nhận không. Các phái đoàn lần lược tuyên bố xác nhận, ngoại trừ vài ý kiến dè dặt về một số điều khoản (Mên, Lào, Việt, Mỹ). Những ý kiến đó không làm thay đối các dự thảo Hiệp định. Hiệp định Genève chính thức ký kết ngày 21/7/1954. Ngày 9/10/54, quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp thu Hà Nội, và hôm sau 10/10/55, Sư đoàn 308 Việt Minh diển binh tại Hà Nội. Ngày 15/10/54, Hồ Chí Minh và chính phủ về Hà Nội.
XII. Lãnh đạo đảng, chính quyền cai quản nửa nước miền Bắc.
1. Từ đây, Hồ Chí Minh bắt tay vào việc phục hồi, tổ chức, xây dựng lại miền Bắc. Về Nông nghiệp miền Bắc không thuận lợi như miền Nam, nhưng, miền Bắc có thuận lợi khoáng sản để phát triển công nghiệp. Đảng và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xây dựng miền Bắc theo “mô hình xã hội chủ nghĩa từ Liên Xô và Trung Quốc, sử dụng các phương pháp cực đoan củaMao Trạch Đông trong "phát động quần chúng", “đấu tranh giai cấp”, và “thực hành chuyên chính vô sản”. Đến cuối năm 1956 xã hội miền Bắc cơ bản đã xoá bỏ giai cấp địa chủ, tư sản, san bằng các thành phần xã hội.
Cuối tháng 8 năm 1957, trong chuyến đi thăm các nước Bắc Triều Tiên, Liên Xô, Hungary, Hồ Chí Minh ghé thăm Bắc Kinh khi Trung quốc tiến hành chiến dịch chống phái hữu. Hai tuần khi về đến Hà Nội, ngày 16 tháng 9 năm 1957, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh có bài viết "Đập tan tư tưởng hữu khuynh" đăng trên báo Nhân dân gay gắt lên án tư tưởng hữu khuynh, rằng tư tưởng hữu khuynh là độc hại, nó dễ lan tràn như vỏ dại cần phải dập tắt. Ngay sau đó, các văn nghệ sĩ bị đàn áp và truy bức.
2. Đến ngày 10/4/58, một số người liên can đến vụ Nhân Văn 1956 bị ghép tội “Gián điệp” và bị bắt giam: Nữ sĩ Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Lê Nguyên Chí.v.v. Ngày 17/4/58, nhiều nhà văn nghệ như Đào Duy Anh, Văn Cao, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Từ Phác, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Cầm, Trần Duy, Trần Dần, Thụy An, Hoàng Tích Linh.v.v. bị Tổng cục Chính trị kết tội phản động, phản đảng, phản Mác-Lê. Đến ngày 19/1/60, Nguyễn Hữu Đang, Lê Nguyên Chí, Trần Thiếu Bảo bị Toà án Hà Nội kêu án khổ sai hoặc tù dài hạn về tội “gián điệp Mỹ”.
Tháng 9 năm 1960, Đại hội III đảng đề ra kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm lần thứ nhất 1960-1065. Đại hội đã bầu ông Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất. Lê Duẩn là người chủ trương đấu tranh bằng vũ trang với mọi hy sinh để "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội". Đầu thập niên 1960, là thời kỳ nở rộ của khối cac hội chủ nghĩa và cũng đã xuất hiện mầm mống chia rẽ giữa hai cường quốc hàng đầu của khối là Liên Xô và Trung Quốc. Đang có sự tranh cãi giữa những người thuộc "phe xét lại" là Nikita Sergeyevich Khrushchyov và Liên Xô, và những người tự nhận là "Marxist-Leninist chân chính" là Mao Trạch Đông và Trung Quốc về các biện pháp cách mạng ở thế giới bằng hòa bình hay bằng bạo lực cách mạng...
3. Trung Quốc, không muốn vai trò của mình kém hơn đối thủ cùng tư tưởng, nên họ viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong giai đoạn này, còn nhiều hơn Liên Xô. Họ khuyến khích Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành giải phóng miền Nam mà không sợ quân đội Mỹ tham chiến. Mùa hè 1962, Trung quốc gửi cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn. Trung Quốc cũng đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt Nam nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Tháng 12 năm 1964, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc thăm Hà Nội và ký Hiệp ước Hữu nghị hợp tác quân sự Việt – Trung. Về phía mình, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương giữ quan hệ tốt với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô để tranh thủ càng nhiều viện trợ vũ khí càng tốt.
XIII. Lần lui về, chỉ giữ vai trò biểu tượng của cách mạng.
1. Từ khoảng nửa thập niên 1960, Hồ Chí Minh giảm dần các hoạt động chính trị. Trong một số lần tiếp xúc ngoại giao từ năm 1963, ông nói rằng mình sẽ dần bàn giao công việc cho Bí thư thứ nhất Lê Duẩn. Ông dần lui về nắm giữ vai trò biểu tượng của cách mạng, dành nhiều thời gian để đi thăm hỏi, động viên cán bộ và đồng bào, và viết báo. Quyền lực dần dần tập trung về tay bí thư thứ nhất Lê Duẩn và một số nhân vật gần gũi ông ta trong đảng Lao động Việt Nam. Đầu tháng 9 năm 1963, Hồ Chí Minh lần đầu đi điều dưỡng trị liệu ở suối nước nóng Tòng Hoá, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
Ảnh chân dung thường thấy hiện nay của Hồ Chí Minh được treo ở các nơi quan trọng của Việt Nam là do nhiếp ảnh gia Lục Văn Tuấn của "Quảng Đông hoạ báo" chụp trong thời gian Hồ Chí Minh điều dưỡng trị liệu ở suối nước nóng Tòng Hoá. Ngày 8/2/1967 tổng thống Mỹ Johnson gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho hay rằng Mỹ sẽ ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam ngay khi miền Bắc chấm dứt đưa quân vào miền Nam; Rằng hai bên cùng kiềm chế leo thang chiến tranh để đối thoại song phương một cách nghiêm túc hướng đến hoà bình. Việc tiếp xúc có thể diễn ra ở Moskva, Miến Điện hay bất cứ nơi nào Bắc Việt Nam muốn.
2. Ngày 15/2/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời tổng thống Mỹ, Jhonson khẳng định nhân dân Việt Nam quyết tâm đánh thắng Mỹ bằng mọi giá. Rằng, nếu Mỹ muốn trực tiếp đối thoại với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì trước tiên phải ngừng ném bom vô điều kiện miền Bắc Việt Nam; chấm dứt những hoạt động quân sự, rút quân Mỹ và đồng minh khỏi miền Nam để người Việt Nam tự giải quyết vấn đề của mình; đồng thời công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Hồ Chí Minh liên tục ốm nặng trong khoảng hơn 3 năm cuối đời. Hầu như cả năm 1967, ông ở Trung Quốc chữa bệnh.
XIV. Phê duyệt Quyết định Tổng tấn công
Mậu Thân 1968.
1. Trước cuộc Tổng tiến công Mậu thân 1968, ông được Văn phòng Trung ương điện sang mời ông trở về dự hội nghị Bộ Chính trị. Tối ngày 23 tháng 12, Hồ Chí Minh đi máy bay về đến Hà Nội. Ngày 28 thánh 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt ngay bên nhà sàn của ông. Ngày 30 tháng 12 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại dự họp Bộ Chính trị. Sáng ngày 31 tháng 12 năm 1967, Hồ Chí Minh đi ra Phủ Chủ tịch để thu thanh bài thơ chúc mừng năm mới: "Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua/ Thắng trận tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta." được coi là hiệu lệnh mở màn cuộc Tổng tiến công.
Sau cuộc Tổng tiến công Tết Nậu Thân 1968, Mỹ phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán hòa bình với Việt Nam. Hồ Chí Minh gọi Lê Đức Thọ về gấp Hà Nôi để giao nhiệm vụ sang Paris làm Cố vấn cao cấp Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoag. Trong lá thư viết tay gửi Bộ Chính trị, Hồ Chí Minh ghi rõ: "… Anh Sáu (Lê Đức Thọ) nên về ngay (trước tháng 5 năm 1968) để tham gia phái đoàn ta đi gặp đại biểu Mỹ ". Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ký sắc lệnh cử ông Xuân Thuỷ làm Bộ trưởng, Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris.
2. Hồ Chí Minh bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật lần thứ 75 của ông năm vào ngày 10 tháng 5 năm 1965, và sửa lại trong những dịp sinh nhật tiếp theo. Ông mang di chúc ra viết và dặn lại Vũ Kỳ: "Chú cất giữ cẩn thận, sang năm, mồng 10 tháng 5 nhớ đưa lại cho Bác". Mở đầu bản di chúc năm 1965 có đoạn: "Nhân dịp mừng 75 tuổi... Năm nay tôi 75 tuổi, tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người 'xưa nay hiếm'...".Ông viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
XV. Qua đời
1. Trong những năm cuối đời, do tuổi cao nên Hồ Chí Minh bị chứng suy tim không thể chữa khỏi. Chiều ngày 12 tháng 8 năm 1969, Hồ Chí Minh vẫn còn khỏe, ông nghe Lê Đức Thọ báo cáo tình hình Hội nghị Paris. Đêm hôm đó, ông lên cơn sốt và ho, rồi những ngày sau đó bệnh nặng hơn. Bác sĩ nói tim của ông đã quá yếu, khó mà cứu chữa. Sau 2 tuần nằm trên giường bệnh, đêm ngày 1 tháng 9, ông bị hôn mê. Đến 6 giờ sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hồ Chí Minh ngừng thở, các bác sĩ phải cho thở máy. Đến 9 giờ sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hồ Chí Minh bị một cơn suy tim nặng, các bác sĩ phải thực hiện công việc cấp cứu nhưng không có kết quả.
Theo dõi trên máy điện tim thì đến 9 giờ 15 phút, trái tim của Hồ Chí Minh đã ngừng đập. Hồ Chí Minhqua đời vào hồi 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại thủ đô Hà Nội, do bị suy tim, hưởng thọ 79 tuổi. Để tránh trùng với ngày Quốc khánh, ngày mất của ông được Ban Lãnh đạo Đảng công bố là ngày 3 tháng 9, đến năm 1989, mới công bố lại là ngày 2 tháng 9./.
3. THỦ TƯỚNG VÀ TỔNG THỐNG
NGÔ ĐÌNH DIỆM.
I. Tiểu sử và nền tảng học vấn.
1. Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901, tại làng Đại Phong xã Phong Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, Quảng Bình, con ông Ngô Đình Khả và bà Phạm Thị Thân, Ngô Đình Khả từng làm võ quan từ triều Đồng Khánh dưới quyền Nguyễn Thân đàn áp nhóm Văn Thân của Ngự sử Phan Đình Phùng ở Nghệ An, và Hà Tỉnh. Lúc nhỏ, Ngô Đình Diệm cùng người anh Ngô Đình Thục vào học ở trường dòng Pellerin Huế. Cảm thấy cuộc sống ở trường dòng quá khắt khe nên ông đã bỏ học. Năm 1913, lúc 12 tuổi, Ngô Đình Diệm thi vào trường Collège Quốc học Trưởng giáo (tức hiệu trưởng) trường là Ngô Đình Khả, cha ông.
Năm 1918, sau khi tốt nghiệp trung học ở trường Collège Quốc học ông nhập học trường Hậu bổ ở Hà Nội. Năm 1921, tốt nghiệp Ngô Đình Diệm về làm việc tại thư viện hoàng gia ở Huế. Cùng năm, ông được bổ làm tri huyện Hương Trà. Năm 1923, ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Hương Thủy, Quảng Diền, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1926, Ngô Đình Diệm làm Tri phủ Hải Lăng, Quảng Trị, sau đó làm Quản đạo tỉnh Ninh Thuân. Sự thăng tiến nhanh chóng của Ngô Đình Diệm một phần nhờ vào mối quan hệ thân thiết với Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài. Bài được người Pháp đánh giá cao, trở thành người bảo trợ cho Ngô Đình Diệm do mối quan hệ về gia đình cũng như tôn giáo.
2. Năm 1929, Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận. Vào các năm 1930 và 1931, Ngô Đình Diệm đã giúp người Pháp đàn áp cuộc nổi dậy Xô viết Nghệ Tỉnh của nông dân do những người cộng sản tổ chức. Ông cho rằng cách mạng không thể quét sạch người Pháp, nhưng có thể sẽ đe dọa nền cai trị của triều đình Huế.
II. Ba tháng ở chức Thượng Thư Bộ Lại.
1. Ngày 8 tháng 4 năm 1933, Hoàng đế Bảo Đại (1913-1997) ban hành Đạo dụ cải tổ nội các, quyết định tự mình chấp chính và sắc phong thêm 5 thượng thư mới xuất thân từ giới học giả và hành chính là Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm và Bùi Bằng Đoàn nhằm thay thế các thượng thư già yếu hoặc kém năng lực như Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đản, Phạm Liệu, Võ Liêm, Vương Tứ Đại. Ngô Đình Diệm làm Thượng thư Bộ Lại (Nội vụ ngày nay), nên được bầu làm Tổng thư ký Ủy ban Cải cách hành chánh.
Ông đề xướng hai điểm cần tu chính với chính quyền bảo hộ Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc Kỳ theo Hoà ước Giáp Thân (1884); hai là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các vấn đề kể cả chính trị. Vì các đề xướng không được chấp nhận, chỉ sau 3 tháng nhậm chức ông từ chức Thượng thư Bộ Lại ngày 12 tháng 7 năm 1933. Cũng năm 1933, ông vào Sài Gòn cùng với Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim … tổ chức phong trào trí thức Nam Kỳ và Trung Kỳ vận động chính giới Pháp tại Paris bãi nhiệm Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú tại Quảng Bình. Năm 1934. Ông vào Huế dạy học tại trường Thiên Hựu (Providence) do anh ông là Giám mục Ngô Đình Thục làm Giám học.
III. Bị mật thám Pháp vây bắt và Ngô Đình Thục can thiệp
1. Thời kỳ 1942-1944, Ngô Đình Diệm tham gia thành lập và lãnh đạo tổ chức Đại Việt Phục hưng Hội, một nhánh của Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội do hoàng thân Cường Để lãnh đaọ dựa vào Nhật để chống Pháp với thành phần nòng cốt là quan lại, linh mục, cảnh sát, và lính khố xanh bản xứ ở Trung Kỳ. Tháng 7 năm 1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này và vây bắt Ngô Đình Diệm tại Phú Cam. Nhờ sự giúp đỡ của Hiến binh Nhật, ông thoát nạn và về trú tại lãnh sự Nhật ở Huế. Sau vài ngày, người Nhật đưa Ngô Đình Diệm vào Đà Nẵng rồi dùng máy bay quân sự chở thẳng vào Sài Gòn trú tại trụ sở hiến binh của Nhật.
Vì việc nầy, nên Giám mục Ngô Đình Thục gởi thư gửi đến Toàn quyền Đông Dương Pháp xin ân xá cho em mình, thư Thục có đoạn: Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp thì – với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ An và Hà Tĩnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận.
2. ...Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi... Tôi nêu ra điều nầy khi xét thấy rằng thân phụ tôi là Ngô Đình Khả đã từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và khi xét đến quá trình lâu dài của các em tôi, một quá trình được hình thành bằng lòng tận tụy vô bờ của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống của mình cho nước Pháp...
IV. Bị Việt Minh bắt và gặp Hồ Chí Minh
1. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, sau khi Bảo Đại thoái vị, Mặt trận Việt Minh giành chính quyền, Ngô Đình Diệm bị Việt Minh bắt ở Tuy Hoà, Phú Yên. Anh cả Diệm là Ngô Đình Khôi cùng con trai của Khôi là Ngô Đình Huân (thông dịch viên tiếng Nhật) cũng bị bắt ở Huế, trên đường giải ra Hà Nội thì Khôi và Huân bị lực lượng áp tải này xử bắn, Ngô Đình Diệm giải ra Hà Nội, và bị giam tại tỉnh miền núi Tuyên Quang ít lâu rồi được trả tự do theo lệnh ân xá vào đầu năm 1946. Theo tài liệu của Mỹ, tại Hà Nội, Ngô Đình Diệm gặp chủ tịch Hồ Chí Minh (trước hay sau khi bị giam ở Tuyên Quang?). Ngô Đình Diệm hỏi Hồ Chí Minh lý do xử bắn anh và cháu là Khôi và Huân thì được Hồ Chí Minh trả lời, rằng đó một hành động tự phát của du kích địa phương trong lúc đất nước đang rơi vào tình trạng hỗn loạn.
Sau đó, cũng theo tài liệu của Mỹ, Hồ Chí Minh mời Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng vì cho rằng ông có tài lãnh đạo. Ngô Đình Diệm trả lời rằng ông chỉ đồng ý lời mời đó với điều kiện ông được Việt Minh thông báo về tất cả mọi hành động và biết riêng mọi quyết định của họ. Hồ Chí Minh từ chối yêu cầu này do đó Ngô Đình Diệm không hợp tác với Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh vẫn để Diệm làm phụ tá cho Bảo Đại, là cố vấn tối cao của Chính phủ. Ngô Đình Diệm duy trì các mối liên lạc với một số lãnh đạo Việt Minh với hy vọng có thể thuyết phục họ bỏ Hồ Chí Minh và quay sang ủng hộ ông.
2. Nhiều quan chức Việt Minh ngưỡng mộ Ngô Đình Diệm và Ngô Ðình Thục, thậm chí còn có tin đồn Ngô Đình Diệm đã lôi kéo được tướng Nguyễn Bình, chỉ huy quân sự cao nhất của Việt Minh ở Nam Bộ, đào ngũ. Giữa năm 1947, ông liên minh với Nguyễn Tôn Hoàn, một lãnh đạo Công giáo ở Nam Bộ và là thành viên sáng lập Đại Việt Quốc dân đảng. Suốt mùa thu năm ấy, Ngô Đình Diệm và Nguyễn Tôn Hoàn cùng hợp tác để thuyết phục những người chống cộng tham gia một liên hiệp mới với tên gọi Việt Nam Quốc gia Liên hiệp, mục đích là vận động cho một phong trào chính trị mới để hỗ trợ Bảo Ðại.
Tháng 2 năm 1948, Ngô Đình Diệm và các lãnh đạo phe quốc gia gặp nhau tại Sài Gòn để thảo ra một kế hoạch đàm phán với Pháp về vấn đề độc lập của Việt Nam. Khi biết cựu hoàng Bảo Đại sống lưu vong ở Hồng Kông đang điều đình với Pháp để ký hiệp định Pháp-Việt, Ngô Đình Diệm sang Hồng Kông thuyết phục Bảo Đại kiên định trong "vấn đề độc lập dân tộc". Ông cũng vận động các quan chức Pháp nhượng bộ thêm về phạm vi chủ quyền của Việt Nam. Sau đó, khi Bảo Đại ký hiệp định Hạ Long với Pháp chỉ cho Việt Nam một nền độc lập hạn chế, Ngô Đình Diệm tỏ ra thất vọng, từ chối lời mời làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại với lý do "không tin người Pháp, càng không tin vào nền độc lập nửa vời mà Pháp vẽ ra".
3. Diệm quay về Huế sống với Ngô Đình Cẩn và có thời gian lên sống với vợ chồng Ngô Đình Nhu ở Đà Lạt. Sau đó, Diệm cùng anh là Giám mục Ngô Đình Thục và em Ngô Đình Nhu thành lập đảng Xã hội Thiên chúa giáo. Ngô Đình Diệm muốn xây dựng một phong trào mới có thể áp đảo cả Pháp và Việt Minh. Ông chọn một vị trí trung lập bề ngoài trong cuộc xung đột, cố gắng xây dựng và duy trì quan hệ với cả hai phía. Ngô Đình Diệm hy vọng có thể có thêm thời gian để mở rộng nhóm ủng hộ mình và gây thiệt hại cho cả hai đối thủ. Năm 1950, Việt Minh cố gắng giết Ngô Đình Diệm bất thành trên đường Diệm đi thăm anh là Giám mục Ngô Đình Thục tại Vĩnh Long.
V. Vận động chính trị tại Hoa Kỳ và ở Pháp.
1. Ngô Đình Diệm theo anh là Giám mục Ngô Đình Thục đi Vatican, rồi sau đó sang Nhật gặp hoàng thân Cường Để đang sống ở đây. Tại Nhật, ông gặp tướng Mỹ, Douglas MacArthur vận động Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, nhưng tướng Douglas MacArthur tiếp kiến Diệm và Thục có vẽ lạnh nhạt. Theo lời khuyên của Wesley Fishel, giáo sư Đại học Michigan, Diệm sang Hoa Kỳ để thuyết phục tổng thống Mỹ, Eisenhower. Tháng 9 năm 1950, Ngô Đình Diệm đến Washington gặp các viên chức Bộ Ngoại giao, nhưng ông không gây được ấn tượng với họ. Một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ nhận xét Ngô Đình Diệm “quan tâm ngang bằng nếu không nói là hơn… đến việc thực hiện các tham vọng cá nhân, thay vì giải quyết những vấn đề phức tạp mà đất nước của ông đang đối mặt ngày hôm nay”.
Tháng 10 năm 1950, Ngô Đình Diệm sang Vatican gặp Giáo hoàng rồi đến Paris gặp các quan chức Việt và Pháp đồng thời đề nghị Bảo Ðại bổ nhiệm ông làm thủ tướng Quốc gia Việt Nam với điều kiện ông có đủ thẩm quyền để chỉ đạo các cơ quan hành chính tại Việt Nam, nhưng Bảo Đại chỉ trả lời chung chung. Thời gian hai năm kế tiếp Ngô Đình Diệm sang Mỹ phần lớn lưu trú tại các trường dòng Lakewood ở New Jersey và trường dòng Ossining ở New York. Ông dùng đủ mọi cách để tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền Eisenhower nhưng cũng không thành công. Đây cũng là thời kỳ Ngô Đình Diệm gặp Hồng y Spellman, người làm trung gian để Diệm có cơ hội gặp những nhân vật quan trọng trong chính quyền Hoa Kỳ.
2. Qua trung gian của Hồng y Spellman, Diệm gặp dân biểu Walter H. Judd, Thượng nghị sĩ Mike Mansfield, và Thượng nghị sĩ John F. Kennedy. Ngô Đình Diệm tìm kiếm sự hỗ trợ của người Mỹ cho những kế hoạch chính trị, cũng như dự án phát triển Việt Nam dựa trên nền tảng công nghệ Mỹ. Cũng nhờ sự giới thiệu của Spellman và một vài nhân vật cấp cao của CIA, Ngô Đình Diệm vào ở ẩn trong các chủng viện lớn như Maryknoll, Lakewood rồi vào trường đại học Michigan tham gia một số khóa học. Năm 1952, Fishel viết thư gửi US Mutual Security Agency (Cơ quan An ninh Hỗ tương Hoa Kỳ) rằng Việt Nam cần sự giúp đỡ trong nhiều lĩnh vực như “khoa học cảnh sát”, “vấn đề ngoại thương” và thậm chí “nghiên cứu về việc chọn theo các thể chế dân chủ”.
Tháng 5 năm 1953, Ngô Đình Diệm bay sang Pháp theo lời mời của một số chính khách Kito giáo lưu vong có khuynh hướng chống Cộng. Rồi sau đó qua Bỉ trú ngụ tại một tu viện lớn. Lúc nầy, tại Sài Gòn, một số chính khách thất vọng với thủ tướng Nguyễn Văn Tâm. Họ cũng nổi giận vì quyết định đơn phương của Paris trong việc phá giá đồng bạc Đông Dương vào đầu tháng 5 năm 1953, làm gia tăng lạm phát và khó khăn cho ba nước Đông Dương. Lợi dụng tình thế này Ngô Đình Nhu khéo léo kích động sự bất mãn và gợi ý triệu tập Đại hội Đoàn kết các đảng phái quốc gia tại Sài Gòn. Sau khi Bảo Đại rời Việt Nam đi Pháp, ngày 5, 6 tháng 9 năm 1953, Đại hội Đoàn kết nhóm họp cũng không một kết quả về chính trị, hay xây dựng được một liên minh đảng phái nào.
3. Tháng 10 năm 1953, các đảng phái quốc gia lại nhóm họp và tranh cải gay gắt việc Việt Nam có cần phải ở lại Liên hiệp Pháp hay rút ra khỏi Liên hiệp Pháp để độc lập hoàn toàn. Đứng trước sự bất mãn tăng cao của các đảng phái, tôn giáo, Bảo Đại tỏ ra thân thiện hơn với Ngô Đình Diệm và cân nhắc lại khả năng bổ nhiệm ông vào chức thủ tướng. Ngày 26 tháng 10, Bảo Ðại gặp Ngô Đình Diệm ở Cannes để thăm dò lòng trung thành của ông này với Bảo Đại và khả năng bổ nhiệm ông vào chức thủ tướng. Tháng 12, 1953, Bảo Đại cách chức Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, nhưng bổ nhiệm Nguyễn Phước Bửu Lộc thành viên của hoàng tộc làm Thủ tướng.
Đầu tháng 3 năm 1954, sau khi Bảo Đại chấp thuận trên nguyên tắc việc thành lập Quốc hội mới, Ngô Đình Nhu và những đồng minh của Nhu xuất bản một bài viết ở Sài Gòn thúc ép Bảo Đại nhượng bộ thêm. Lúc nầy thì Ngô Đình Diệm từ Bỉ trở lại Paris sống tại nhà ông Tôn Thất Cẩn. Tại đây, với sự yểm trợ của Ngô Đình Luyện, Diệm một lần nữa bắt đầu vận động trong giới chính khách Việt sống lưu vong tại Pháp.
VI. Là Thủ tướng Quốc gia Việt Nam
1. Đầu năm 1954, trong khi Pháp đang gặp khó khăn tại trận Điện Biên Phủ, Bảo Đại liên tục nhờ người chuyển lời tới ông Diệm đang ở Hoa Kỳ, sang Pháp gặp Bảo Đại, với ý định yêu cầu Ngô Đình Diệm trở về nước thành lập chính phủ mới. Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954, ban đầu để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả nên từ ngày 8 tháng 5, vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận. Xin lưu ý rằng, ngày 7 tháng 5, Đại đồn của Pháp tại Điện Bên Phủ thất thủ, sau 56 ngày (từ 13/3-7/5) bị quân Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bao vây và tấn công, chỉ huy Đại đồn là Tướng de Castries bị bắt làm tù binh.
Hồi ký Con Rồng Việt Nam, Bảo Đại viết: Tại Genève, chúng tôi không còn tin gì vào người Pháp nữa. Riêng còn người Mỹ, trước sự tiến triển về hoàn cảnh, họ định lập lại một hệ thống phòng thủ mới ở Đông Nam Á. Họ có thể giúp đỡ chúng tôi tiếp tục cuộc chiến chống lại Cộng sản. Tại Sài Gòn, Thủ tướng chính phủ gặp phải sự chống đối quyết liệt của các nhà ái quốc trong phong trào Mặt trận Đoàn Kết Cứu Quốc do Ngô Đình Nhu lãnh đạo. Mặt trận này không công nhận trước tất cả các quyết định có thể do Genève đặt ra. Tôi cho vời đến Cannes lãnh tụ của tất cả các phong trào chính trị và tôn giáo ở Việt Nam để hỏi ý kiến.
2. Tôi cho họ biết cái gì đã xảy ra, rằng tất cả đều đã được xếp đặt trước, đến chỗ sẽ chia đôi đất nước. Tôi vạch ra cho họ sự cần thiết đặt một đường hướng mới, và gợi ý họ là cho thay thế Hoàng thân Bửu Lộc bằng Ngô Đình Diệm, để cầm đầu chính phủ. Tất cả hoan nghênh ý kiến của tôi. Biết trước mình khó lòng theo đuổi được con đường đã vạch, Bửu Lộc đệ đơn xin từ nhiệm cho cả chính phủ. Sau khi thảo luận với ông Ngoại trưởng Mỹ, Foster Dulles để cho ông ta biết ý định ấy, tôi cho vời Ngô Đình Diệm và bảo ông ta: Cứ mỗi khi mà tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối. Nay tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lãnh đạo chính phủ.
Thưa Hoàng thượng, không thể được ạ. Ông ta đáp. Tôi xin trình Ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định. Tôi định đi tu… Tôi kính trọng ý định của ông. Nhưng hiện nay, tôi kêu gọi đến lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy. Sau một hồi yên lặng, cuối cùng ông ta đáp: Thưa Hoàng thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng mà Ngài trao phó. Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một phòng bên cạnh, trong đó có cây thánh giá. Trước thánh giá, tôi bảo ông ta: Đây Chúa của ông đây. Ông hãy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đã trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó, để chống lại bọn Cộng sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa. Ông ta đứng yên lặng một lúc lâu, rồi nhìn tôi, sau nhìn lên thánh giá, ông nói với giọng nghẹn ngào: Tôi xin thề!
3. Hồi ký Con Rồng Việt Nam, Bảo Đại viết tiếp: Ông Diệm về Sài Gòn cùng với Hoàng thân Bửư Lộc để bàn giao quyền hành. Trước khi ra đi, tôi trao cho Diệm một Đạo dụ ủy cho ông ta mọi quyền, hành chánh cũng như quân sự. Trước đây đã dùng Diệm, tôi biết ông ta vốn khó tính. Tôi cũng biết ông ta rất cuồng tín, và tin vào đấng Cứu Thế. Nhưng trong tình thế này, không còn có thể chọn ai hơn. Người Mỹ đã biết ông, và rất hâm mộ tính cương quyết của ông. Vì vậy, Washington sẵn sàng hỗ trợ ông. Nhờ sự có mặt của em ông, đang đứng đầu Mặt trận Đoàn kết Cứu quốc, ông được nhiều nhà quốc gia cuồng nhiệt ủng hộ, các vị này từng làm đổ chính phủ Tâm và chính phủ Bửu Lộc. Tóm lại, nhờ cương quyết và cuồng tín, ông là người chống Cộng chắc chắn. Đúng vậy, đó là người của hoàn cảnh.
VII. Mỹ cam kết ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm
1. Ngày 7/7/1954, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới với nội các gồm 18 người. Tại Hội nghị Geneve, sau 75 ngày đàm phán với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao dồn dập đằng sau các hoạt động công khai, ngày 20 tháng 7 năm 1954 ký Hiệp định, mang tên Hiệp định Genève 1954. Mỹ nhận định Hiệp định nầy đã tạo thuận lợi cho Cộng sản Trung Quốc và Cộng sản Việt Nam lan dần sang các nước Đông Nam Á. Ngày 8 tháng 9 năm 1954, dưới sự chủ đạo của Mỹ, 8 nước Thái Lan, Philippines Anh Quốc, Hoa Kỳ, New Zealand, Pakistan, Pháp, Úc ký Hiệp ước Liên phòng Đông Nam Á gọi tắt là SEATO. Ý đồ của Mỹ muốn biến miền Nam Việt Nam thành một tiền đồn chống cộng. Và, theo Mỹ Ngô Đình Diệm là người “thích hợp hơn cả” cho nhiệm vụ giai đoạn nầy.
Mỹ thúc đẩy Ngô Đình Diệm thành lập một chính quyền đoàn kết quốc gia đại diện cho các xu hướng chính trị, ổn định miền Nam Việt Nam, bầu ra Quốc hội, soạn thảo Hiến pháp, rồi sau đó phế bỏ Quốc trưởng Bảo Đại một cách hợp pháp; cuối cùng do Ngô Đình Diệm là một người quốc gia không có liên hệ gì với quá khứ cả Việt Minh lẫn Pháp, do đó miền Nam Việt Nam sẽ trở nên độc lập, chống Cộng mạnh mẽ hơn. Tổng thồng Hoa Kỳ Eisenhơer gởi công hàm chính thức đến Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho biết từ nay chính phủ Hoa Kỳ sẽ viện trợ trực tiếp cho Quốc gia Việt Nam chứ không qua nhà đương cục Pháp như trước.
2. Về phía Pháp thì thông qua một số nhân vật ngoại giao như đại sứ Mỹ Joseph L. Collins (7/52-4/1955) tại Sài Gòn, đại sứ Mỹ Douglas Dillon tại Paris thuyết phục Mỹ loại trừ Thủ tướng Ngô Đình Diệm với lý do, Diệm không có được sự ủng hộ của các phe phái chính trị tại Miền Nam, khó mà thắng được Cộng sản trong cuộc Tổng tuyển cử vào năm 1956 sắp tới. Tại thời điểm nầy, Quốc trưởng Bảo Đại còn ở tại Cannes, quân đội Việt Nam còn nằm trong Liên hiệp Pháp, và Tổng Tham mưu Trưởng quân đội, tướng Nguyễn Văn Hinh là một sĩ quan trong Không quân Pháp, có vợ người Pháp. Cảnh sát do lực lượng Bình Xuyên của tướng Lê Văn Viễn nắm giữ.
Pháp tổ chức một cuộc họp chính trị có sự tham dự của tướng Nguyễn Văn Hinh, lãnh đạo các giáo phái, một số quan chức Pháp và đại sứ Mỹ Joseph L. Collinstại Sài Gòn đề nghị mọi người đồng ý thay thế chính phủ Ngô Đình Diệm. Tướng Nguyễn Văn Hinh có tham vọng làm Thủ tướng Quốc gia Việt Nam bắt đầu công khai chống lại Thủ tướng Diệm và còn khoe "Tôi chỉ cần nhấc cái ống điện thoại lên là có thể dẹp được Diệm rồi.". Ngày 10 tháng 9 năm 1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cử Tướng Nguyễn Văn Hinh sang Pháp công cán 6 tháng. Tướng Nguyễn Văn Hinh bất tuân thượng lệnh, gởi điện tín cầu cứu Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 17 tháng 9 Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 84/CP, bổ nhiệm Tướng Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ tướng kiêm Quốc phòng.
3. Những ngày tiếp theo, tình hình đi tới chỗ bế tắc. Ngày 24 tháng 9, Tướng Nguyễn Văn Xuân từ chức, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cải tổ Chính phủ, Trung tướng Hoà Hảo Trần Văn Soái (Năm Lửa) và Thiếu tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương được cử làm Quốc vụ Khanh, Uỷ viên Quốc phòng, nhiều Chính trị gia hai Giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo được cử tham gia Nội các. Trong khi đó, Quân đội dưới quyền tướng Nguyễn Văn Hinh cũng đã sẵn sàng chờ lệnh. Ngày 3 tháng 10, từ Pháp, Quốc trưởng Bảo Đại điện về yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm mở rộng chính phủ mời thêm các tướng Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Hinh và Lê Văn Viễn cùng tham gia Nội các. Ngày 9 tháng 10, Thủ tướng Diệm trả lời Bảo Đại sẽ xét vấn đề mở rộng chính phủ.
Khi phát hiện được âm mưu đảo chính của tướng Nguyễn Văn Hinh, Ngô Đình Diệm buộc tướng Hinh từ chức. Cố vấn Mỹ, Edward Lansdale quân sư của Ngô Đình Diệm, lên Tây Ninh đàm phán với tướng Cao Đài ly khai Trình Minh Thế về việc sử dụng lực lượng vũ trang của Thế để hỗ trợ cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 20 tháng 11, Nguyễn Văn Hinh bay sang Pháp. Ngày 29 tháng 11, Quốc trưởng Bảo Đại điện về cất chức Tổng Tham mưu trưởng của Tướng Hinh với lý do không tuân lệnh Quốc trưởng và cứ tuyên bố mãi những điều đáng tiếc. Ngày 1 tháng 12, Thiếu tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Tổng Tham mưu trưởng thay tướng Nguyễn Văn Hinh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ được cử làm Tổng Thanh tra thay thế tướng Pháp Alessandri.
4. Ngày 11 tháng 1 năm 1955, tướng Cao Đài ly khai còn gọi là Cao Đài Liên minh Trình Minh Thế tuyên bố sẽ đem 5.000 quân về hợp tác với chính phủ và không đòi hỏi điều kiện nào. Ngày 31 tháng 1, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đến Tây Ninh gặp Trình Minh Thế. Ngày 1/3/55, Ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles tới Sài Gòn gặp Thủ tướng Ngô Đình Diệm và cam kết ủng hộ Việt Nam. Hai hôm sau ngày 4/3/55, Tống thống Mỹ Eisenhower gởi điện văn cho Quốc trưởng Bảo Đại ở Cannes, xác nhận viện trợ chống Cộng. Cùng ngày, Hộ pháp Phạm Công Tắc tuyên bố đã thành lập Mặt trận Thống nhất gồm nhiều đoàn thể, yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm thành lập một Chính phủ Liên hiệp.
Ngày 21/3/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố“Phải thống nhất quân đội, không thể có những lực lượng riêng biệt; Phải thống nhất hành chánh, không thể có địa phương tự trị; Phải thống nhất tài chánh, không thể để thâu những sắc thuế do địa phương tự động đặt ra”. Ngày 24/3/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lại tuyên bố “Các Giáo phái vừa gởi tối hậu thư, hẹn trong 5 ngày phải cải tổ chính phủ theo đường lối của các nhóm”. Như vậy cũng không giải quyết được gì vì “vấn đề chính trị chỉ có thể thu xếp nếu vấn đề thống nhất các lực lượng đã được dứt khoát”. Chính phủ sẵn sàng thu nhận các lực lượng Giáo phái vào Quân đội, nhưng không thể dành cho những điều kiện rộng rãi hơn là đối với Quân đội Quốc gia”.
5. Ngày 25/3/55, Quốc trưởng Bảo Đại gởi Điện văn cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm và các Giáo Phái khuyên nên cố thực hiện đoàn kết để tình thế sáng sủa hơn. Ngày 29/3/55, Tổng trưởng Quốc phòng Hồ Thông Minh từ chức. Quá nữa đêm, Công An Xung Phong của Bình Xuyên, bắn vào trụ sở Cảnh Sát Đô Thành của chính phủ, Tổng Tham Mưu, và Dinh Độc lập từ 12 giờ tới hơn 12 giờ 30. Ngày 30/3/55, bốn thành viên Chính phủ: Trần Văn Soái, Quốc Vụ Khanh, Ủy viên Quốc Phòng; Lương Trọng Tường, Tổng trưởng Kinh tế; Nguyễn Công Hầu, Tổng trưởng Canh nông; Huỳnh Văn Nhiệm, Bộ trưởng Nội vụ từ chức. Ngày 31/3/55, thêm bốn Tổng Bộ trưởng Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Mạnh Bảo, Phạm Xuân Thái, Nguyễn Văn Các đệ đơn từ chức.
Cùng ngày 31/3/55, Đại sứ Mỹ, tướng Lawton Collies tuyên bố mặc dù tình hình còn rối ren, Hoa Kỳ vẫn ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 11/4/55, Bộ Thông tin phát động Phong trào Tố Cộng. Ngày 13/4/55, Do nhu cầu tình thế, Bộ Quốc phòng cho một số Sỉ quan nghỉ giả hạn không lương. Cùng ngày, Phong trào Cách mạng Quốc gia đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp để Thống nhất các lực lượng và chấm dứt nạn Thập nhị Sứ quân.
VIII. Những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5 căng thẳng.
1. Ngày 22 tháng 4 năm 1955, Đại sứ Collins trở về Mỹ, dùng bữa trưa với Tổng thống Eisenhower. Sau đó ông gặp Ngoại trưởng Dulles cùng với các đại diện Bộ Quốc phòng, và Trung ương tình báo để thuyết phục đồng ý thay thế Ngô Đình Diệm bởi Phan Huy Quát. Ngày 23/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm hiệu triệu quốc dân, kêu gọi Công an Xung phong về quy thuận, và các lực lượng Giáo phái gia nhập Quân đôi, nhắn nhủ người Pháp đừng nuối tiếc dĩ vãng mà gây rối ở đây, hứa tổ chức Quốc hội, lập Thượng Hội đồng Chính trị, và đặt câu hỏi cho dân chúng: có ưng thuận Tổng tuyển cử không? thống nhất Quân đội không? kiện toàn độc lập và chủ quyền không? cải cách xã hội không? Thư trả lời gởi về Phủ Thủ tướng, giao cho Thừa Phát Lại Lâm Văn Sáu chứng kiến.
Ngày 25/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấm dứt nhiệm vụ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an của Lại Văn Sang và giải tán Công An Xung Phong. Ngày 27 tháng 4 năm 1955, Ngoại trưởng Mỹ Dulles gửi điện cho Đại sứ Collins, rằng "Tướng Collins (Đại sứ Mỹ) và Tướng Ely (Toàn quyền Pháp) phải thông báo cho ông Diệm biết rằng vì lý do ông không thành lập được một chính phủ liên hiệp có cơ sở rộng rãi và ông bị người Việt chống đối, chính phủ Hoa kỳ và Pháp không còn đủ tư thế để ngăn ngừa việc ông phải từ chức. Những đức tính yêu nước của ông vẫn có giá trị tiềm năng lớn đối với Việt Nam, và chúng ta hy vọng rằng ông sẽ hợp tác với bất kỳ chính phủ mới nào được chỉ định..."
2. Ngày 28/4/55, Văn phòng Quốc trưởng từ Cannes gởi Điện về cho biết: các Giáo phái và Bình Xuyên phản đối việc cất chức Lại Văn Sang; Rằng Quốc trưởng đã ra lệnh cho các nhóm tôn trọng kỷ luật, tránh bạo động, yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm đừng có biện pháp gì trái với chính sách hòa hoãn của Quốc trưởng. Một điện văn khác báo cho Thủ tướng biết là Quốc trưởng đã cử Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tham Mưu trưởng, và yêu cầu Thủ tướng sang Pháp trình bày về tình hình.
Lúc 13g15 cùng ngày 28/4, Công an Xung phong của Bình Xuyên, lại bắn phá trụ sở mới của Nha Cảnh sát Công an, Bộ Tổng Tham Mưu, đường Trần Hưng Đạo, và bắn súng cối vào Dinh Độc Lập. Quân chính phủ chống trả, cuộc giao tranh làm một số người chết và bị thương, nhiều nhà ở đường Trần Hưng Đạo bốc cháy. Công an Xung phong đánh chiếm, và đóng giữ khu trường Pétrus Ký, đốt cháy trụ sở Phủ Tổng Ủy Di Cư. Ngày 29/4/55, Cuộc giao tranh tiếp tục lan rộng, khiến dân chúng ở khu trường Pétrus Ký, Trần Hưng Đạo, khu Bàn Cờ, Cầu Ông Lãnh, Chợ cũ.v.v. tản cư chạy đầy các ngã đường, lúc đó thì có 2000 người Bắc Di cư vừa cập bến Sài Gòn. Ngô Đình Diệm trả lời Bảo Đại vì tình thế không thể rời Việt Nam.
3. Cùng ngày 29/4/55, các tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương, Hòa Hảo Nguyễn Giác Ngộ, Cao Đài Liên minh Trình Minh Thế ra thông cáo “lên án thực dân và phản loạn gây chia rẽ, phủ nhận tướng Nguyễn Văn Vỹ, không coi là Tổng Tham Mưu Trưởng”. Một Hội đồng Nhân dân Cách mạng được thành lập, do Nguyễn Bảo Toàn làm Chủ tịch nhóm họp tại Toà Đô chánh. Và, hôm sau 30/4/55 ra tuyên cáo: truất phế Quốc trưởng Bảo Đại; giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm, và Ủy Ngô Đình Diệm lập Chính phủ mới; kêu gọi Pháp nên hiểu biết, hứa tôn trọng quyền lợi của Pháp kiều, cùng với những Hiệp ước đã ký vơi các nước bạn. Có 3.000 dân di cư, hôm nay tới Sài Gòn.
Cũng ngày 30/4/55, tại Dinh Độc lập, tướng Nguyễn Văn Vỹ yêu cầu Ngô Đình Diệm ra lệnh cho tướng Lê văn Tỵ hiện đang có mặt, bàn giao chức Tổng Tham Mưu Trưởng cho ông ta. Ngô Đình Diệm trả lời “Hội đồng Chính phủ quyết định giữ nguyên tình trạng cũ”. Vài chính khách đứng quanh đó đòi bắt tướng Nguyễn Văn Vỹ. Các Đại tá Trần Văn Đôn, Trần Văn Minh được thăng Thiếu tướng… cũng vừa tới, Thủ tướng Diệm mời tất cả các tướng ăn cơm. Ngày 1/5/55, Từ sáng sớm, 1 Đại đội Ngự Lâm quân từ Đà Lạt xuống, chiếm đóng Nha Bưu Điện, một Đại đội khác với 3 chiến xa chiếm Đài phát thanh Quân đội và Ngân hàng Quốc gia.
4. Lúc 12 giờ cùng ngày 1 tháng 5, một Uỷ ban Dân-Quân nhóm họp trong Dinh Độc lập, ra quyết nghị ủng hộ Quân đội; tướng Lê Văn Tỵ là Tổng Tham trưởng; tướng Nguyễn Văn Vỹ do Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm không có quyền Quân sự. Lúc 13 giờ 30, Tướng Nguyễn Văn Vỹ lên Đà Lạt. Các Tướng lãnh họp tại Bộ Tổng Tham Mưu đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu: “giữ nguyên tình trạng, tướng Vỹ Tổng Thanh Tra, tướng Tỵ Tổng Tham Mưu Trưởng” rằng chỉ biết có Chính phủ Ngô Đình Diệm, nếu Chính phủ nầy không được công nhận nữa, thì Quân đội sẽ tuân lệnh Chính phủ nào do Nhân dân cử ra.
Ngày 2/5/55, Quân đội Chính phủ tổ chức phản công Bình Xuyên cả 3 mặt, các đơn vị tham chiến gồm: Trung đoàn Quang Trung, 3 Tiểu đoàn Nhảy dù, Trung đoàn 51 Bộ Binh. Tại Cầu Chử Y, quân đội Chính phủ chiếm Bản doanh Bình Xuyên, tàn quân Bình Xuyên chạy về Gò Công; Tại Xóm Củi, Tiểu doàn 6 Dù chiếm Lộc Trung, Chánh Hưng; Tại Phú Lâm, quân đội Chính phủ chiếm các Đồn Công an Xung phong. Có nhiều đám cháy lớn ở đường Nancy và đường Nguyễn Tấn Nhiệm. Hôm nay 10.000 dân di cư vẫn tới bến Sài Gòn trên 2 tàu Mỹ Marine Sepent và Marine Adler.
5. Ngày 3/5/55, súng nổ dữ dội phía Tân Thuận. 14 giờ tướng Trình Minh Thế đi xe Jeep tới chỉ huy trận đánh chiếm cầu Nhà Bè, khi xe qua cầu Lang To, bị quân Bình Xuyên từ một chiếc xuồng máy, bắn tử thương. Ngày 6/5/55, tướng Trịnh Minh Thế, được truy thăng Trung tướng, Linh cửu ông được đưa về Tây Ninh mai táng. Cùng ngày 6 tháng 5 này, Đại hội Đại biểu các Địa phương (hơn 1.000 đại biểu) họp tại Dinh Độc lập từ ngày 4 tháng 5, biểu quyết 3 kiến nghị: (1) Chống Cộng, tỏ lòng thành kính các chiến sĩ và tín nhiệm Quân đội (2) Yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại hứa trả quyền cho Quốc hội khi nào Quốc hội được bầu: (3) Trong khi chờ đợi hãy để toàn quyền cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình thế và triệu tập Quốc hội trong 6 tháng.
Ngày 28/5/55, Đại sứ Hoa Kỳ G. Frederick Rheinardt (5/1955-2/57) đến Sài Gòn thay thế Đại sứ Lawton Collins, trình ủy nhiệm thư lên Thủ tướng Ngô Đình Diệm.
IX. Trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hoà.
1. Sau khi dẹp được Bình Xuyên, ổn định chính trị, kiểm soát được Sài Gòn, Thủ tướng Ngô Đình Diệm bắt đầu chiến dịch tuyên truyền chống lại Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 18 tháng 10 năm 1955, Quốc trưởng Bảo Đại ra thông cáo từ văn phòng của ông ở Paris tuyên bố cách chức Thủ tướng Quốc gia Ngô Đình Diệm Ngô Đình Diệm với lý do "việc dùng các biện pháp công an trị và chế độ độc tài cá nhân phải kết thúc, tôi không thể tiếp tục để tên tuổi và quyền lực của mình vào tay một người sẽ khiến cả nước rơi vào đổ nát, đói kém và chiến tranh.". Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm đã trù liệu tổ chức một cuộc “trưng cầu dân ý” để truất phế Quốc trưởng Bảo Đại tôn ông ta lên ngôi vị Quốc trưởng vào ngày 23 tháng 10.
Ngày 26/10/55, từ kết quả “Trưng cầu Dân ý”, Ngô Đình Diệm tuyên bố Hiến ước Tạm thời: “Việt Nam là một nước Cộng hòa”; Quốc trưởng lấy danh hiệu là “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa”. Cùng ngày, nhân danh Tổng thống Việt Nam Cộng hoà, Ngô Đình Diệm ban hành 2 Sắc lệnh: Sắc Lệnh số 1/TTP “Chính phủ cũ được lưu lại Xử lý Thường vụ”; và Sắc Lệnh số 2/TTP “Ngày 26/10 sẽ là ngày Quốc khánh”. Chính thể mới Việt Nam Cộng hoà được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 sau nầy trở thành Đệ nhất Cộng hoà.
2. Hiến pháp Đệ nhất Cộng hoà năm 1956 đã trao cho Tổng thống quyền hành khá lớn, thể hiện qua những điểm: (1) Khi Tổng thống phủ quyết một đạo luật, Quốc hội phải hội đủ số 3/4 mới được tái thông qua. Mà 3/4 này phải “minh danh đầu phiếu” (điều 58), như vậy Ngô Đình Diệm có thể biết ai đã chống lại quyền phủ quyết của mình. (2) Một Viện Bảo hiến được quyền xem xét các quyết định của Tổng thống có bất hợp hiến hay không, nhưng viện này gồm 9 người thì vị chủ tịch và 4 thẩm phán hay luật gia đã do Ngô Đình Diệm bổ nhiệm (điều 86). Tổng thống có quyền đề nghị sửa đổi hiến pháp (điều 90) và Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp phải tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến (mà 5/9 người đã là do Tổng thống chỉ định) và còn của cả Tổng thống nữa (điều 91).
Và (3) Ngô Đình Diệm không bắt buộc phải điều trần trước Quốc hội, không chịu trách nhiệm trước Quốc hội và không thể bị Quốc hội bất tín nhiệm để cách chức. Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội “bằng thông điệp” và nếu muốn “có thể dự các phiên họp của Quốc hội”, cũng như chỉ “khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia” (điều 39). Tóm lại, theo Hiến pháp 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm có đầy đủ quyền lực để triệt tiêu hoặc làm tê liệt các đạo luật nào mà ông không vừa ý, cũng như dễ dàng ban hành và thi hành các đạo luật nào có lợi cho mình.
3. Ông Diệm là người phân biệt cá nhân theo vùng miền. Ông chỉ thích nâng đỡ người gốc Huế. Ngô Đình Diệm thường nói: “Chỉ có dân miền Trung mới có khả năng lãnh đạo quốc gia. Dân miền Bắc hợp với buôn bán, còn dân miền Nam chỉ làm tướng võ biền”. Cách hành xử của ông Diệm cũng rất cao ngạo. Ông xem Việt Nam Cộng hoà là quốc gia của riêng ông và của gia đình ông. Ông ban phát ân huệ cho thuộc cấp theo ngẫu hứng, bất chấp năng lực lẫn tình hình thực tế. Không có gì là quá ngạc nhiên khi nhiều sử gia gọi Việt Nam Đệ Nhất Cộng hòa là Ngô triều.
X. Sách lược chống Cộng của Ngô Đình Diệm
1. Ở cương vị tổng thống, Ngô Đình Diệm nắm giữ mọi quyền cai quản đất nước với người em Ngô Đình Nhu làm cố vấn và cả hai người đều sử dụng các phương pháp cứng rắn để chống lại những người kháng chiến Việt Minh được sự hỗ trợ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc. Trong khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc Việt Nam được xây dựng dựa trên học thuyết Marx-Lenin với chính đảng Cộng sản duy nhất, thì Thuyết Nhân vị và chính đảng Cần lao Nhân vị cũng được hai anh em Diệm-Nhu xây dựng và xem như chính đảng duy nhất của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam .
Sau Hiệp định Genève 1954, Quân đội Nhân dân (Việt Minh) ở miền Nam phải di chuyển về phía Bắc vĩ tuyến 17. Nhưng theo ước tính của Mỹ, vẫn còn 100.000 cán bộ, đảng viên các ngành được để lại. Đồng thời một số cán bộ chính trị Việt Minh dày dạn kinh nghiệm được chọn lọc làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo Đảng, thâm nhập vào tổ chức quân sự và dân sự của đối phương hoặc nắm tình hình lực lượng vũ trang giáo phái, cùng một số vũ khí và đạn dược cũng được chôn giấu với ý đồ xử dụng chống lại đối phương sau nầy. Bên cạnh đó Trung ương Đảng đã cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu chiến trường về miền Nam lãnh đạo phong trào hoặc hoạt động trong hàng ngũ đối phương.
2. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiên liệu được và đề ra “Chiến dịch tố Cộng” trên khắp miền Nam nhằm loại bỏ những cán bộ Việt Minh được cài lại đang hoạt động bí mật. Các khẩu hiệu: "đồng tâm diệt cộng","tiêu diệt cán bộ nằm vùng", "tiêu diệt cộng sản tận gốc", "giết nhầm còn hơn bỏ sót" đã thể hiện quyết tâm chống Cộng tới cùng của Ngô Đình Diệm. Ông ta đã tuyên bố công khai: “Thấy cộng sản ở đâu là phải bắn bỏ ngay, thấy ai tuyên truyền cho cộng sản cũng bắn bỏ ngay". Điều 7 Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1956 quy định "Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp".
Ngày 6/5/1959, Quốc hội Việt Nam Cộng Hoà thông qua luật số 91 mang tên Luật 10-59, bị can có thể được đưa thẳng ra xét xử mà không cần mở cuộc điều tra, án phạt chỉ có hai mức: tử hình hoăc tù khổ sai, xét xử kéo dài 3 ngày là tối đa, không có ân xá hoặc kháng án; dụng cụ tử hình có cả máy chém. Sau khi luật này được ban hành, lực lượng cách mạng miền Nam bị chính quyền Diệm đẩy mạnh truy quét, bắt bớ, khủng bố, đặc biệt là các đảng viên Đảng cộng sản nên lực lượng bị thiệt hại nặng nề.
3. Trong thời gian từ 1955 đến 1960, theo số liệu của Việt Nam Cộng hoà có 48.250 người bị tống giam, theo một nguồn khác có khoảng 24.000 người bị thương, 80.000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500.000 bị đưa đi các trại tập trung. Năm 2015, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyên Phú Trọng phát biểu rằng "Trong những năm 1954 - 1959, ở miền Nam đã có 466.000 đảng viên và những người yêu nước bị bắt giam, 400.000 người bị đưa đi đày và 68.000 người bị giết."
XI. Chính sách kinh tế và Giáo dục.
1. Về kinh tế. Thời kỳ Tổng thống Ngô Đình Diệm nắm quyền là giai đoạn mà kinh tế của Việt Nam Cộng hòa tăng trưởng tương đối nhanh (giai đoạn 1955-1960) và tăng trưởng vừa phải (1960-1963). Ngân sách Nhà nước thời gian đầu cân đối thậm chí có thặng dư, song từ năm 1961 trở đi bắt đầu chuyển sang thâm hụt. Năm 1955, chính phủ quyết định thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Viện Hối đoái, phát hành đơn vị tiền tệ mới thay cho tiền Đông Dương, ấn định tỷ giá hối đoái giữa tiền đồng Việt Nam và dollar Mỹ là 35:1. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1956, ghi rõ việc thành lập và chức năng của Hội đồng Kinh tế Quốc gia, Hội đồng nầy do Phó Tổng thống làm chủ tịch.
Cũng năm 1956, Việt Nam Cộng hòa gia nhập Quỷ Tiền tệ Quốc tế. Quỷ Tiền tệ Quốc tế. Tháng 3 năm 1957, kêu gọi đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước, khuyến khích và cam kết bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư. Chính phủ cũng thành lập Trung tâm Khuếch trương Kỹ nghệ để giúp đỡ các doanh nghiệp về công nghệ và tín dụng. Ưu tiện phát triển công nghệ nhẹ, chế biến nông sản để cung cấp hàng tiêu dùng cho thị trường trong nước, tiệt kiệm ngoại tệ. Chính phủ còn thành lập các khu công nghiệp như Khu kỹ nghệ Biên Hòa tháng 5 năm 1963, và Công ty Quốc gia Khuếch trương Khu Kỹ nghệ SONADEZI (Société nationale du Dévelopment dé zones industrielles) vào cuối năm 1963, và Khu kỹ nghệ An Hòa - Nông Sơn từ trước đó.
2. Từ 1957 trở đi nhờ viện trợ của Mỹ, tiền bồi thường chiến tranh của Nhật, vốn của giới tư sản công thương nghiệp di cư từ miền Bắc, công nghiệp Việt Nam Cộng hòa phát triển mạnh. Chính phủ tích cực triển khai chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được dựng lên để bảo hộ một loạt ngành công nghiệp nhẹ. Kết quả là nhà máy giấy Cogido An Hảo (1961) ở Biên hòa, thỏa mãn 30-40% nhu cầu tiêu thụ giấy tại miền Nam; hai xưởng Dệt Vinatexco và Vimytex với năng suất 13,2 triệu mét vải mỗi năm; nhà máy Thuỷ tinh Khánh Hội năng suất 15.000 tấn/năm; hai nhà máy Xi măng một ở Hà Tiên, một ở Thủ Đức với năng suất 540.000 tấn mỗi năm; và Đập thuỷ điện Đa Nhim hoàn thành năm 1961.
Trong giai đoạn 1955 – 1960, viện trợ Mỹ đã giúp Việt Nam Cộng hòa xây dựng quân đội và bộ máy hành chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế và thực hiện các chính sách dân cư, xã hội.Tổng số vào khoảng gần 2 tỷ USD, trung bình mỗi năm trên dưới 300 triệu USD. Viện trợ có xu hướng giảm dần, đến năm 1959 chỉ còn trên 200 triệu USD. Viện trợ quân sự chiếm đến 75% tổng viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Các viện trợ khác là viện trợ thương mại, viện trợ nông phẩm, viện trợ theo dự án, cho vay… Viện trợ thương mại đa phần là hàng tiêu dùng, lượng hàng hóa này được Việt Nam Cộng hòa bán ra thị trường để tăng ngân sách nhà nước. Giai đoạn 1954-1960, Mỹ chỉ cho Việt Nam Cộng hòa vay dưới dạng hàng hóa, không cho vay dưới dạng tiền mặt.
3. Công cuộc "Cải cách điền địa" được triển khai từ năm 1955 và kéo dài tới cuối năm 1960. Theo đó, những ruộng đất của địa chủ bỏ hoang sẽ bị thu hồi và cấp cho tá điền. Địa chủ không được phép sở hữu quá 100 hecta đất (ngoại trừ các đồn điền), số dư ngoài 100 ha sẽ bị buộc phải bán cho chính quyền. Sau đó chính phủ sẽ chia nhỏ số đất vượt giới hạn này để bán cho các nông dân chưa có ruộng, và họ được vay một khoản tiền không phải trả lãi trong kỳ hạn sáu năm để mua. Tá điền được yêu cầu lập hợp đồng khai thác ruộng đất với địa chủ, gọi là khế ước tá điền trong đó có ghi mức địa tô mà tá điền phải trả cho địa chủ. Thời hạn khế ước là 5 năm, có tái hạn. Tá điền có quyền trả đất và phải báo trước chủ đất 6 tháng, chủ đất muốn lấy đất lại phải báo trước tá điền 3 năm.
Về giáo dục. Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Giáo dục Trần Hữu Thế, Đại hội Giáo dục Quốc gia lần thứ nhất quy tụ các giới phụ huynh học sinh, trí thức, tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật diễn ra tại Sài Gòn. Đại hội đã đề ra và chấp nhận ba nguyên tắc "nhân bản", "dân tộc", và "khai phóng". Những nguyên tắc nầy được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959. Bậc tiểu học gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5. Các trường công lập đều miễn học phí và các khoản lệ phí.
4. Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, mọi trẻ em đến 6 tuổi đều có quyền đăng ký đi học tại trường công. Tuy nhiên từ cấp 2 trở đi thì không được phổ cập. Học sinh tới lớp 5 sẽ phải trải qua một loạt các kỳ thi được đề ra với tỷ lệ đánh trượt cao ở từng giai đoạn: (1). Thi bằng tiểu học khi xong lớp 5 để vào trung học đệ Nhất cấp. Kỳ thi có tính chọn lọc khá cao, tỷ lệ đậu vào trường công khoảng 62%. Số 38% bị trượt phải vào trường tư và tự trang trải học phí, không được miễn phí như trường công. (2). Thi bằng Trung học đệ nhất cấp khi xong lớp 9. Tuy nhiên đây không phải là điều kiện bắt buộc để nhập học lớp 10. (3). Thi Tú tài I khi học xong lớp 11. Học sinh không đậu không thể nhập học lớp 12. (4). Thi Tú tài II cuối năm học lớp 12. Không đậu Tú tài II thì không thể ghi danh học đại học.
Nói chung Tú tài I tỷ lệ đậu chỉ khoảng 15–30% và Tú tài II khoảng 30–45%. Học sinh đậu được Tú tài II T thì có thể ghi danh vào học ở một trong các Viện đại học, Trường đại học và Học viện trong nước. Nhưng, vì số lượng tuyển sinh có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ thuật, Quốc gia Hành chánh, và Sư phạm. Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền học phí. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.
5. Số sinh viên đại học năm 1959: 7.500; Năm 1960; 11.708; Năm 1961: 15.621. Năm 1962 là 16.835 gồm tất cả các ngành học. Chương trình giáo dục Đại học có ba cấp: Cấp 1 học 4 năm: nếu ngành nhân văn, khoa học thì lấy bằng Cử nhân Triết, cử nhân Văn khoa, cử nhân Toán v.v..; nếu các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng tốt nghiệp Đại học như Sư phạm, Học viện Quốc gia Hành chánh… hay bằng Kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…. Cấp 2: học thêm 1–2 năm thi lấy bằng Cao học hay tiến sĩ đệ Tam cấp. Cấp 3: học thêm 2–3 năm và làm luận án thì lấy bằng Tiến sĩ (Ph.D. của Hoa Kỳ). Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện, nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa, phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình Đại học.
Theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà thì giáo dục đại học được tự trị. Tuy nhiên, Tổng thống bổ nhiệm viện trưởng các viện đại học. Việc thành lập các khoa, trường, ngành học, văn bằng, chứng chỉ vẫn phải do Bộ Giáo dục chấp thuận; Việc tuyển dụng nhân viên, lương bổng, thăng thưởng, sa thải phải do Bộ Giáo dục và Tổng Nha Công vụ chấp thuận; Về Ngân sách: Viện trưởng Đại học được ủy nhiệm Quyền chuẩn chi. Như vậy, về hành chính, Viện Đại học trực thuộc Bộ Giáo dục, và có thể bị chi phối bởi Bộ Giáo dục và Tổng Nha Công vụ chứ không hẳn là tự trị. Các Viện trưởng Đại học và Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh được xếp ngang Thứ trưởng một bộ.
XII. Kỳ thị Tôn giáo, đàn áp Phật giáo.
1. Chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục áp dụng quy định trong Đạo dụ số 10 của Quốc trưởng Bảo Đại: “Hội là Hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu khiển, thanh niên, thể thao và đồng nghiệp ái hữu.”. Ngoại trừ Hội Truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô, các Hoa Kiều Lý Sự Hội có quy định riêng. Từ đó, Ngô Đình Diệm mặc nhiên xem các tôn giáo như Phật Giáo, Cao Đài, Hoà Hảo giống như các hiệp hội văn hóa thể thao. Ai chống đối đều bị chính quyền Ngô Đình Diệm trấn áp, đánh dẹp. Ngược lại, trong các ngày lễ của Thiên chúa giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm tạo nhiều điều kiện, cấp phương tiện tổ chức hành lễ to lớn, rầm rộ.
Thời kỳ 1955-1963, lễ Noen tại các trường học được nghỉ đến 15 ngày. Trong khi đó, ngày 9/1/1956, Ngô Đình Diệm ra Dụ số 4 hủy bỏ ngày lễ Phật đản trong danh sách những ngày nghĩ lễ cho các học đường, công chức và binh sĩ. Điều này gây nên sự bất bình trong dư luận xã hội nói chung và Tăng Ni, Phật tử miền Nam nói riêng. Dể thấy nhất là ngày 8/5/1963, vụ chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp làm 7 người chết và nhiều người bị thương tại Đài phát thanh Huế, và vụ tấn công chùa Xá lợi tại Sài Gòn và nhiều nơi khác trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 8, làm cho vụ "khủng hoảng Phật giáo miền Trung" kéo dài nhiều tháng. Một số người cho rằng, đây có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến đảo chánh lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm của các Tướng lãnh Quân đội Việt Nam Cộng hoà tháng 11 năm 1963.
2. Văn thư số 124 ngày 1/8/1963 của Uỷ ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo gửi ông đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Frederick E. Nolting (10/5/61-15/8/63) phản ánh: “Mỗi năm lễ Giáng sinh đều được cử hành với sự tham gia trực tiếp và hữu hiệu của Chính phủ, nào thông điệp của Tổng thống, công sở treo cờ trang hoàng, nào Công giáo độc chiếm Đài quốc gia để phát thanh trong mấy ngày liền trên hệ thống A chính thức, nào bắt toàn thể nhân viên của Phủ Tổng thống, các ông bộ trưởng, các công chức cao cấp, kể cả những người theo đạo Phật phải dự lễ nửa đêm... Quá quắt hơn hết là việc năm rồi, một hang đá (phỏng theo câu chuyện Jesus chào đời) được đặt ngay tại Tòa Đô chính, làm như toàn dân Châu thành Sài Gòn là người Thiên Chúa giáo.”
Trong cuốn "Thập tự giá và lưỡi gươm" Linh mục Trần Tam Tỉnh nhận xét: “Từ năm 1955 đến năm 1963 là thời vàng son của chủ nghĩa cha chú, với những lợi ích thật chẳng có bao nhiêu, nhưng với những hà lạm gây nhiều tiếng tăm hơn, nhất là trong khi dân chúng gồm 90% là người ngoài Công giáo mà bị kìm hãm dưới một thứ “Chính phủ Công giáo”. Khắp nơi, ở thành phố cũng như tại nông thôn, chiếc áo chùng thâm là biểu tượng của quyền thế... Chỉ có một trường đào tạo duy nhất là “Trung tâm đào tạo nhân vị”, do là Giám mục địa phận Vĩnh Long, Ngô Đình Thục (anh Tổng thống Diệm) sáng lập. Công chức, là người Công giáo hay không, phải qua một khóa học tập ít nhất là một tháng tại đó. Các lớp học đều do các linh mục đảm nhiệm. Họ là những người chỉ biết có triết học kinh viện Tây Âu và “đã tiếp thụ tại Roma các khái niệm về Phật giáo do các cố cựu Thừa sai dạy cho”
3. Người Công giáo được Ngô Đình Diệm tín nhiệm về mặt chính trị, trở thành nguồn nhân lực chủ yếu của bộ máy hành chính, chính trị, quân sự. Một linh mục cho biết: “Trong một nước chỉ có 10% dân số là (tín đồ) Công giáo mà tại Quốc hội, có tới 30% dân biểu Công giáo với 3 vị chủ tịch Quốc hội liên tiếp là Công giáo; trong bộ máy hành chính, có 9/14 tỉnh trưởng miền Trung và 14/18 tỉnh trưởng miền Nam là Công giáo; trong chính phủ có 4/12 bộ trưởng là Công giáo; trong quân đội, 3 trong số 16 tướng lĩnh là Công giáo”. Cho đến năm 1963, trừ thị trưởng Đà Lạt là người theo Phật giáo, tất cả các tỉnh trưởng, thị trưởng tại miền Trung và Tây Nguyên đều là tín đồ Thiên chúa giáo.
Cho rằng Nam Việt Nam đang đứng trước nguy cơ cộng sản, Tổng thống Ngô Đình Diệm xem các chính trị gia đối lập chẳng những không đáng tin cậy mà còn bỏ tù một số chính trị gia đối lập. D. Boettcher nhận xét về những hoạt động tiêu diệt các nhóm đối lập của Ngô Đình Diệm: Trong 10 đô la viện trợ thì 8 được dùng cho nội an chứ không dùng cho công tác chiến đấu chống những người du kích Cộng sản hay cải cách ruộng đất. Diệm lo lắng về những cuộc đảo chính hơn là những người Cộng sản. Hậu quả của những biện pháp đàn áp là sự bất mãn của quần chúng đối với Diệm cũng càng ngày càng tăng cho dù toan tính của Diệm dập tắt sự bất mãn này trong mọi cơ hội.
XIII. Quân Mỹ tại Việt Nam dưới thời Ngô Đình Diệm.
1. Có những thông tin khác nhau về việc Ngô Đình Diệm có muốn Hoa Kỳ đưa quân vào tham chiến trực tiếp tại Việt Nam hay không… Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Ngô Đình Diệm nhờ Linh mục Raymond de Jaegher, người Bỉ quốc tịch Mỹ, xin với Đại sứ Mỹ Elbridge Durbrow (4/57-5/1961) cho Thuỷ quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Sài Gòn với lý do bảo vệ công dân Mỹ và kiểm soát phi trường Tân Sơ Nhất. Sau thất bại của Mỹ tại Lào và Cuba, Tổng thống Kenedy quyết định chọn Việt Nam làm nơi đọ sức với Liên Xô. Tổng tham mưu trưởng Mỹ đề nghị "lấy cớ đem quân vào để huấn luyện quân đội Việt Nam Cộng hoà, rằng quân Mỹ đóng ở Việt Nam là giúp thiết lập doanh trại huấn luyện."
Ngày 20 tháng 10 năm 1961, tướng Mỹ Maxwell D. Taylor hội đàm với Ngô Đình Diệm lần đầu tiên, Ngô Đình Diệm đề nghị một hiệp ước hỗ trợ quân sự, gia tăng quân số Việt Nam Cộng Hòa và yểm trợ không quân của Mỹ. Ngày 27 tháng 10 năm 1961, Taylor hội kiến với Ngô Đình Diệm lần thứ hai và đề nghị đưa bộ binh Mỹ vào miền Nam Việt Nam với nhiệm vụ chính thức là cứu lụt, Diệm rất tán thành. Tư liệu trong kho Cambodge-Laos-Vietnam ghi nhận Ngô Đình Diệm "không những muốn đón nhận quân chiến đấu Mỹ và các nước đồng minh, mà còn tuyên bố đại đa số dân miền Nam chào đón (welcome) việc này."
2. Tuy nhiên trong tác phẩm A Death in November, tác giả Ellen Hammer cho rằng có lần Tổng thống Diệm phàn nàn với Đại sứ Pháp Roger Lalouette: "Tôi không bao giờ yêu cầu những người quân nhân này tới đây. Họ cũng chẳng có cả hộ chiếu nữa". Diệm chỉ yêu cầu Hoa Kỳ yểm trợ phương tiện vật chất, hoặc là hai bên ký kết hiệp ước quốc phòng song phương thay vì mang quân đội Mỹ vào. Đại sứ Pháp Lalouette cho rằng "lý do chính đưa tới quyết định của Mỹ loại bỏ ông Diệm là vì vào tháng 4 năm ấy (1963), ông đã toan tính yêu cầu Mỹ rút cố vấn".
Trong thực tế, quân số của Mỹ ở Việt Nam tăng nhanh trong thời Ngô Đình Diệm. Đầu năm 1961 chỉ có 685 cố vấn quân sựđến tháng 10-1963 đã lên tới 16.732 người. Vào năm 1961, chất độc màu da cam và các loại thuốc diệt cỏ khác bắt đầu được thử nghiệm bởi quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam, mà hậu quả vẫn còn tác hại nghiêm trọng đến hơn nửa thế kỷ sau. Một số quan chức và tướng lĩnh trong quân đội Mỹ biết sự thật nhưng che giấu. Chính phủ Mỹ muốn chính phủ Ngô Đình Diệm phải nhận trách nhiệm về việc sử dụng chất diệt cỏ, và đã yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm ra tuyên bố rằng các chất này không gây hại gì cho sức khỏe con người.
3. Năm 1962, Ngô Đình Diệm gửi thư cho phó Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson trong đó viết "Những biến chuyển gần đây tại Lào đã làm nổi bật mối quan ngại trầm trọng của chúng tôi về nền an ninh của Việt Nam Cộng hòa với những đường biên giới kéo dài và dễ bị tấn công...". Trong một báo cáo, Edward Landsdale nhận xét về Việt Nam: "Về tâm lý - Việt Nam luôn nghĩ mình mới là đối tượng chính - liệu sẽ có bị đối xử giống như Lào không. Chính sách của Mỹ đã biến Lào thành nước 'trung lập' với một chính phủ liên hiệp, làm cho Tổng thống Diệm hết sức lo âu vì nghĩ rằng sau Lào thì Mỹ sẽ tính đến việc trung lập hóa Việt Nam và áp đặt một chính phủ liên hiệp với Cộng sản. Bởi vậy, Landsdale cho rằng việc chính là phải làm sao cho chính phủ Miền Nam tin tưởng rằng việc Mỹ rút lui ở Lào không có nghĩa là sẽ rút khỏi Việt Nam.".
Tuy nhiên, theo lời Bùi Kiến Thành, cộng sự thân cận với Tổng thống Ngô Đình Diệm thì "... Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4.000 năm lịch sử không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể nào thắng được và chúng tôi (Việt Nam Cộng hoà) cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể chấp nhận được... Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi.
4. Qua sự trung gian của đại sứ Ần Độ trong Uỷ ban Đình chiến và Đại sứ Pháp… qua các cuộc đi săn bắn của ông Nhu trên vùng biên giới hai bên đã có những cuộc chia sẻ, chưa hẳn là thương thảo nhưng đã liên lạc được với nhau rồi. Khi Mỹ nghe như thế thì họ nói chính phủ Ngô Đình Diệm phản thùng và họ đưa việc này ra cho mấy ông tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa như một bằng chứng và bảo, rằng ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu “bán nước cho cộng sản”, vì vậy các anh phải lật đổ Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm đi để “cứu nước” không thì họ theo cộng sản, “bán đứng” các anh cho cộng sản… Việc đảo chánh Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của Dương Văn Minh, người chỉ huy đại diện cho Mỹ làm việc này là đại tá tình báo Lucien Conein…
XIV. Tìm giải pháp hòa bình, và thông tin liên quan.
1. Thế nhưng, nguồn khác cho biết đến năm 1963, Ngô Đình Diệm muốn quay sang tìm giải pháp hòa bình. Qua cố vấn Ngô Đình Nhu, ông liên lạc với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để đàm phán về hiệp thương rồi từng bước tiến tới thống nhất Việt Nam trong hòa bình. Theo ông Cao Xuân Vỹ, người cùng đi với Ngô Đình Nhu gặp Phạm Hùng, Diệm muốn quá trình hiệp thương Nam - Bắc Việt Nam phải có 6 giai đoạn: Cho phép dân hai miền trao đổi thư tín tự do; Cho dân qua lại tự do; Cho dân hai bên được tự do chọn nơi định cư giữa hai miền; Trao đổi kinh tế; Hiệp thương chính trị; Tổng tuyển cử.
Còn theo Mieczyslaw Maneli, Trưởng đoàn Ba Lan trong Ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến, thì "Mùa Xuân năm 1963, Đại sứ Pháp Lolouette nói với tôi là Tổng thống Diệm và em của ông có nhờ tôi tìm hiểu với Chính phủ Hà Nội xem có khả năng nào để giải quyết cuộc chiến bằng phương tiện hòa bình hay không. Trong mấy tháng sau đó tôi đã thảo luận nhiều với giới lãnh đạo cao cấp nhất kể cả Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Câu hỏi căn bản tôi đặt ra cho họ là: trong trường hợp Mỹ rút khỏi Miền Nam, những bảo đảm thực sự nào Miền Bắc có thể đem ra để chứng tỏ rằng một Việt Nam thống nhất sẽ không phải là một nước của thế giới Cộng sản?
2. Lãnh đạo Miền Bắc thảo luận nhiều lần và dần dần đi tới một kế hoạch mà tôi đã dựa vào đó để thảo luận với một nhóm các đại sứ Tây phương. Theo như kế hoạch này, hai Miền Bắc - Nam sẽ từ từ đi từng bước bắt đầu từ liên lạc bưu chính, kinh tế, văn hóa. Sản phẩm kỹ nghệ Miền Bắc sẽ được dùng để mua thóc gạo Miền Nam... Miền Bắc sẽ không đòi hỏi phải thống nhất nhanh chóng, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập tại Miền Nam. Tôi hỏi liệu ông Diệm có thể là lãnh đạo của chính phủ này hay không?
Tới mùa hè 1963 thì câu trả lời sau cùng là có. Sau đó, tôi lại hỏi thêm: nhưng làm sao phía Thế giới Tự do (chỉ phương Tây) có thể tin rằng Hà Nội sẽ giữ lời hứa? Câu trả lời là nếu Mỹ đồng ý rút, Miền Bắc sẽ sẵn sàng đưa ra những bảo đảm có thực chất, gồm cả việc Mỹ tham dự vào việc giám sát giải pháp hòa bình... ngoài ra Miền bắc cũng sẽ có quan hệ ngoại giao và thương mại với thế giới Tự do, và sau cùng nhưng rất quan trọng, là quyền lực về kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ sẽ vẫn còn nguyên, không bị bớt đi vì cuộc chiến".
3. Tuy nhiên, một số người khác thì lại cho rằng việc liên lạc với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để đàm phán là quyết định riêng của Ngô Đình Nhu, người được coi là mưu mẹo và thực tế hơn, còn Ngô Đình Diệm không có được sự uyển chuyển về chính tri như vậy. Bản thân Ngô Đình Diệm khi đó vẫn muốn tiếp tục chiến tranh, với việc Mỹ liên tục tăng cường thêm quân tại Việt Nam đáp ứng lời đề nghị của Ngô Đình Diệm thì ông ta vẫn không tin mình sẽ thất bại hoặc bị lật đổ.
XV. Hai lần bị mưu sát, và hai lần bị đảo chánh.
1. Tổng thống Ngô Đình Diệm bị mưu sát lần đầu tiên vào ngày ngày 22 tháng 2 năm 1957, tại "Hội chợ Kinh tế Cao nguyên" ở Ban Mê Thuột do Hà Minh Trí, một tín đồ Cao Đài làm việc ở Ty Thông tin Tây Ninh thực hiện, Và, lần thứ hai ngày 27 tháng 2 năm 1962, do hai phi công của Quân lực Việt Nam Cộng hoà là Thiếu uý Nguyễn Văn Cử và Trung uý Phạm Phú Quốc ném bom vào Dinh Tổng thống. Vụ ném bom của Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc làm sập một góc của dinh Tổng thống, khiến 3 người phục vụ và lính gác bị chết, 30 người khác bị thương, song Ngô Đình Diệm đã kịp xuống hầm trú ẩn an toàn.
Cuộc đảo chánh quân sự đầu tiên vào sáng sớm ngày 11 tháng 11 năm 1960 do Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Quân đảo chính kiểm soát được một số vị trí quan trọng tại Sài Gòn do yếu tố bất ngờ. Đến chiều cùng ngày trên Đài phát thanh, Tổng Tham mưu trưởng quân đội, Đại tướng Lê Văn Tỵ đọc nhật lệnh loan báo Tổng thống Ngô Đình Diệm đã đồng ý trao quyền cho các Tướng lãnh để lập chính phủ khác. Thế nhưng, Ngô Đình Diệm lại liên lạc với các đơn vị trung thành yêu cầu mang quân về bảo vệ mình. Ngày 12 tháng 11, lực lượng trung thành với Ngô Đình Diệm đã tiến vào Sài Gòn. Cuộc giao tranh diễn ra chớp nhoáng, và kết quả là lực lượng trung thành với Ngô Đình Diệm đã dẹp được quân đảo chính.
2. Sau vụ khủng hoảng Phật giáo kéo dài từ tháng 5 năm 1963, nhất là cuộc tấn công vào chùa Xá Lợi, Sài Gòn và nhiều nơi khác vào đêm 20 tháng 8 năm 1963, bởi lực lượng đặc biệt do Đại tá Lê Quang Tung chỉ huy, đã dẫn đến cuộc đảo chánh quân sự lần thứ hai vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tối hôm 1 tháng 11 đó, lợi dụng đêm tối, Ngô Đình Diệm và em trai Ngô Đình Nhu trốn thoát khỏi Dinh tổng thống bằng một đường hầm tới nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn.
Sáng sớm ngày 2 tháng 11, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị lực lượng đảo chính bắt, cả hai bị giết trong một chiếc xe M 113 trên đưởng áp tải về Tổng Hành dinh của cuân đảo chánh là Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hoà./.
4. CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUÂN NHÂN CÁCH MẠNG, QUỐC TRƯỞNG, TỔNG THỐNG DƯƠNG VĂN MINH.
I. Tiểu sử và nền tảng học vấn.
1. Dương Văn Minh sinh ngày 19 tháng 2 năm 1916, con ông Dương Văn Mâu, và bà Phan Xuân Lý tại Mỹ Tho, miền Tây Nam phần. Ông Dương Văn Mâu là cựu công chức Hành chính, hàm Đốc phủ sứ. Dương Văn Minh là con trai trưởng trong gia đình, sau ông còn có 3 em trai và 3 em gái. Thời niên thiếu ông học trường College Mỹ Tho, sau đó lên Sài Gòn học tiếp tại trường Collège Chasseloup-Laubat cùng một lớp với tướng Trần Văn Đôn. Năm 1938, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần Pháp (Part II). Sau đó ông được bổ dụng làm Công chức thuộc ngạch Thư ký Hành chính, tùng sự tại Sài Gòn.
Năm 1939,ông nhập ngũ vào Quân đội Thuộc địa Pháp mang số quân: 36/100.225. Ngày 9 tháng 1 năm 1940, ông được đơn vị cho theo học khóa 1 Trường Sĩ quan Thủ Dầu Một (trường được đặt ở Phú Lợi). Đầu năm 1941 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chẩn uý Bộ binh. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Nhật đảo chánh Pháp tại Đông Dương. Ông đang phục vụ tại Cap St. Jacques thì bị Nhật bắt và đưa về Sài Gòn giam giữ tại khám Catinat. Năm 1946, Pháp tái chiếm Nam Kỳ, ông được trả tự do và tái phục vụ ở Trung đoàn 11 Bộ binh của Quân đội Pháp giữ chức vụ Trung đội trưởng. Hai tháng sau, ông được thăng cấp Thiếu uý.
2. Giữa năm 1948, chuyển biên chế sang Quân đội Liên hiệp Pháp ông được thăng cấp Trung uý giữ chức vụ Đại đội trưởng trong Tiểu đoàn Bộ binh Việt Nam. Tháng 8 năm 1950, Trung uý Minh được thăng cấp Đại uý, chuyển ngạch sang Quân đội Quốc gia mới thành lập. Năm 1951, ông giữ chức vụ Chánh võ phòng Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành. Tháng 12 năm 1951, Đại uý Minh được thăng cấp Thiếu tá. Đầu tháng 7 năm 1952, ông làm Tham mưu trưởng Đệ nhất Quân khu Nam Việt dưới quyền Tư lệnh Quân khu là Đại tá Lê Văn Tỵ. Cuối năm, ông được cử đi du học lớp Tham mưu cao cấp tại Trường Tham mưu Paris sau khi bàn giao chức Tham mưu trưởng lại cho Thiếu tá Trần Văn Minh.
Đầu năm 1953 mãn khóa học về nước tùng sự tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia. Tháng 11 năm 1954, ông được thăng cấp Trung tá và giữ chức Chỉ huy trưởng Phân khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Ông là một trong những sĩ quan cao cấp ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 1 tháng 5 năm 1955, ông được cử làm Chỉ huy trưởng chiến dịch Bảo vệ Thủ đô, chống lại quân Bình Xuyên của tướng Lê Văn Viễn tại vùng Sài Gòn-Chợ Lớn và phụ cận. Ngày 5 tháng 5 ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Ngày 21 tháng 9 cùng năm, ông được Thủ tướng Diệm cử làm Tư lệnh Chiến dịch Hoàng Diệu truy kích và tiêu diệt các lực lượng tàn quân Bình Xuyên của tướng Bảy Viễn.
II. Là Sĩ quan cấp Tướng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa
1. Ngày 1 tháng 11 năm 1955, ông được tân Quốc trưởng Ngô Đình Diệm thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đầu năm 1956, sau khi hoàn tất việc dẹp loạn Bình Xuyên, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Chiến dịch Nguyễn Huệ, rồi tiếp đến Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu để bình định miền Tây, đánh dẹp Lực lượng Quân sự Giáo phái Hoà Hảo của các tướng Năm Lữa Trần Văn Soái và Ba Cụt Lê Quang Vinh. Ngày 26 tháng 10, ông được Tổng thống Diệm chỉ định làm Tổng Chỉ huy cuộc duyệt binh mừng lễ kỷ niệm Đệ nhất Chu niên ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa trên Đại lộ Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Ngày 8 tháng 12 cuối năm 1956, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.
Đầu năm 1957, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân khu Thủ đô. Từ tháng 7 đến tháng 11, ông có 3 lần hướng dẫn phái đoàn Quân sự du hành quan sát tại các Quốc gia Nhật Bản (12 tháng 7), Úc (1 tháng 9), và Hàn Quốc. Đầu tháng 8 năm 1958, bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân khu Thủ đô lại cho Đại tá Nguyễn Văn Y để đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu Cao cấp (khóa 58-2)tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leaveworth, Kansas, Hoa Kỳ với thời gian thụ huấn 16 tuần. Đầu tháng 1 năm 1959 mãn khóa học về nước, ông được giao cho chức vụ Tư lệnh tổng quát 3 Quân khu gồm: Quân khu Thủ đô, Quân khu 1 và Quân khu 5 (Đệ nhất và Đệ ngũ Quân khu).
2. Tuy nhiên, trong những năm sau đó, sự tín nhiệm của ông đối với Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giảm sút. Ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ không có thực quyền. Đầu năm 1960, ông được cử làm Tổng Thư ký Thường trực Bộ Quốc phòng. Qua đầu năm 1961, giữ chức vụ Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân tại Bộ Tổng Tham mưu, Phụ tá cho ông là Thiếu tướng Lê Văn Kim. Giữa năm 1962, ông được cử hướng dẫn Phái đoàn Quân sự du hành quan sát cuộc thao dượt Hải quân Liên phòng Đông Nam Á. Ngày 8 tháng 12, Bộ Tư lệnh Hành quân Bộ Tổng Tham mưu giải tán. Đầu năm 1963, ông được chuyển về Phủ Tổng thống giữ chức vụ Cố vấn Quân sự cho Tổng thống.
III. Cầm đầu Đảo chính 1963 và bị đảo chánh năm 1964.
1. Vốn đã có bất mãn tồn tại, cộng thêm là một tín đồ Phật giáo, ông đã nhiều lần biểu hiện thái độ không hài lòng với những biện pháp trấn áp Phật giáo của Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông đóng vai trò chính, cùng với các tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Trần Thiện Khiêm, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, Đại tá Đỗ Mậu... … thực hiện một cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Diệm và em trai Cố vấn Ngô Đình Nhu thoát khỏi Dinh Tổng thống đến nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn. Và, cả hai ông Diệm, Nhu đều bị giết trong một xe thiết giáp trên đường đư hai ông từ Chợ lớn về Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Việt Nam Cộng hoà.
Hội đồng Quân nhân Cách mạng ra hai Quyết nghi: Quyết nghị thứ nhất, Truất phế Tổng thống Ngô Đình Diệm; bãi bỏ chế độ Tổng thống; giải tán Chính phủ do ông Diệm lãnh đạo; Quyết nghị thứ hai, Tạm ngưng Hiến pháp ngày 26/10/1956; Giải tán Quốc hội bầu ngày 27/9/1963. Ngày 4/11/63, Với tư cách Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng Trung tướng Dương Văn Minh ký ban hành Hiến ước Tạm thời số 1: Việt Nam vẫn là nước Cộng hoà; quyền Lập pháp và Hành pháp thuộc Hội đồng Quân nhân Cách mạng; quyền hành Quốc trưởng thuộc Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng; quyền Hành pháp ủy cho Chính phủ Lâm thời do Hội đồng chỉ định. Hội đồng Quân nhân Cách mạng uỷ Nguyễn Ngọc Thơ thành lập Chính phủ Lâm thời.
2. Cùng ngày 4/11/63, Nguyễn Ngọc Thơ trình diện Nội các Chính phủ Lâm thời lên Hội đồng Quân nhân Cách mạng, trong đó có 3 tướng lãnh: Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng trưởng Quốc phòng: Trung tướng Đôn còn là Tổng Tham Mưu trưởng; Trung tướng Tôn Thất Đính, Tổng trưởng An ninh; và Thiếu tướng Trần Tử Oai, Tổng trưởng Thông tin. Ngày 5/11/63, Mã Lai thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 6/11/63, Thái Lan thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 7/11/63, Anh, Mỹ thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 11/11/63, Đại Hàn, Úc, Trung hoa Dân quốc, Tây Đức thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 12/11/63, Ý Đại Lợi thừa nhận Chính phủ Việt Nam; Ngày 13/11/63, tới nay, có 21 quốc gia đã thừa nhận tân Chính phủ. Tuy nhiên, chỉ 2 tháng ngày 30 tháng 1 năm 1964, tướng Nguyễn Khánh cầm đầu cuộc đảo chánh khác, lật đổ Chính quyền Quân sự này và giành quyền cai trị Việt Nam Cộng hòa.
Về sự kiện nầy, Sách Đôi dòng ghi nhớ, Phạm Bá Hoa viết: Trung tuần tháng tháng 12/1963, Việt Nam Cộng hoà có cử phái đoàn thay mặt chánh phủ sang Đại Hàn (Nam Triều Tiên) dự lễ nhậm chức của Tổng Thống Pak Chung Hi vào ngày 17 tháng 12 năm 1963 tại thủ đô Seoul. Phái đoàn do Tổng Trưởng Ngoại Giao Phạm Đăng Lâm làm Trưởng phái đoàn, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm Tham Mưu Trưởng Liên Quân thành viên, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thành viên, Đại Tá Linh Quang Viên Bộ Quốc Phòng thành viên, và tôi Thiếu Tá Phạm Bá Hoa Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, thành viên.
3. Ngoài ra còn có gia đình của Trung Tướng Khiêm và gia đình của Thiếu Tướng Thiệu, thêm Đại Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Khiêm, và Đại Úy Nhan Văn Thiệt, sĩ quan tùy viên của Thiếu Tướng Thiệu. Ngày 25/12/1963, tôi với Đại Úy Nhan Văn Thiệt trở về. Về đến Sài Gòn là tôi vào văn phòng ngay, vì chánh văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng gọi tôi vào gặp Trung Tướng Trần Văn Đôn dù hôm nay là ngày nghỉ.“Thưa Trung Tướng, tôi vừa về đến”.“Anh ngồi đi. Công du có vui không?”.“Rất vui, thưa Trung Tướng”.“Anh có hay tin về chức vụ mới của Trung Tướng Khiêm chưa?”.“Dạ chưa, thưa Trung Tướng”.“Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đã cử Trung Tướng Khiêm giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn III/Vùng III Chiến Thuật rồi”.
“Thưa Trung Tướng, trường hợp này hồ sơ Trung Tướng Khiêm bàn giao cho vị nào để tôi chuẩn bị cho kịp?”.“Trung Tướng Khiêm bàn giao cho Trung Tướng Kim (Lê Văn Kim). Anh chuẩn bị cần thiết để Trung Tướng Khiêm khi về đến là bàn giao ngay và sang nhận Quân Đoàn III”.“Lệnh này Trung Tướng Khiêm có biết chưa, thưa Trung Tướng?”“Tôi chắc là chưa, nhưng dù sao thì anh cũng nên trình với Trung Tướng Khiêm khi anh đón ổng. Mà hôm nào Trung Tướng Khiêm về?“Rạng sáng ngày 1 tháng 1 (1964) về đến, thưa Trung Tướng”. “Anh liên lạc với chánh văn phòng Trung Tướng Kim và chánh văn phòng Trung Tướng Đính để thu xếp chương trình lễ bàn giao. Mọi việc đều diễn tiến trong phạm vi nội bộ thôi. Anh có điều gì cần hỏi nữa không?” .“Dạ không. Tôi sẽ thi hành, thưa Trung Tướng”.
4. Đúng 3 giờ sáng ngày 01/01/1964, Trung Tướng Khiêm, Thiếu Tướng Thiệu và hai gia đình về đến. Tôi ra tận cầu thang đón ông. Chỉ vài bước rời khỏi cầu thang:“Xin Trung Tướng đi chậm một chút vì tôi có nhận lệnh của Trung Tướng Đôn, thưa Trung Tướng”. “Chuyện gì vậy?”.“Trung Tướng có được tin gì về lệnh cử Trung Tướng giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn III chưa?”.“Chưa. Mà ai nói với chú vậy?”.“Dạ, Trung Tướng Đôn”. "Ổng nói với chú hồi nảo?". “Dạ ngay khi tôi về đến Sài Gòn. Và Trung Tướng Đôn có nói là công tác bàn giao sau khi Trung Tướng về đến. Tôi đã chuẩn bị hồ sơ bàn giao xong rồi thưa Trung Tướng”.
Trung Tướng Khiêm đứng hẳn lại và im lặng một lúc: "Ổng có nói gì nửa không?". “Dạ không”.“Sáng mai tôi gặp mấy ổng”. Đi được mấy bước, bà Khiêm quay lại: “Chú Hoa. Bộ có chuyện hả?”. Tôi thuật tóm tắt cho bà Khiêm nghe, bà có ý trách: “Sao mấy ổng kỳ vậy?”.“Chú biết ai thay "nhà tôi" không?”.“Dạ Trung Tướng Kim”. Bà Khiêm buột miệng: “Họ hàng với ông Đôn rồi”.
5. Sáng ngày 02/01/1964, Trung Tướng Khiêm từ phòng Trung Tướng Đôn trở về, ông gọi tôi: “Chú tổ chức bàn giao chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân với chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III ngay chiều nay. Không có ai chủ tọa hết”. Lời nói và giọng nói của ông cho phép tôi suy đoán là ông đang tức giận. “Vâng. Tôi thi hành ngay thưa Trung tướng". Ngay chiều hôm ấy, Trung Tướng Khiêm bàn giao cho Trung Tướng Lê Văn Kim tại Bộ Tổng Tham Mưu, sau đó sang Quân Đoàn III nhận quân kỳ tiêu biểu chức vụ Tư Lệnh từ tay Trung Tướng Tôn Thất Đính. Cả hai lễ bàn giao đều tổ chức trong văn phòng mỗi nơi một cách nhanh chóng.
Khoảng từ trung tuần tháng 01/1964, tức là nửa tháng sau ngày nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Khiêm (tại Sài Gòn) với Trung Tướng Nguyễn Khánh (tại Đà Nẳng), rất thường liên lạc nhau qua điện thoại viễn liên, và rõ ràng là Trung Tướng Khánh khích Trung Tướng Khiêm trong việc phục hồi danh dự vì bị thuyên chuyển mà không được biết trước. Trung Tướng Khiêm là người ít nói, và con đường chính trị, theo tôi cũng không phải là hướng đi của ông, nên tôi không nghĩ là ông dễ dàng bị Trung Tướng Khánh khích gọi là để phục hồi danh dự dẫn đến một cuộc chính biến nữa. Nhưng tôi lầm, vì cuộc đảo chánh quân sự lại xảy ra, và khá đột ngột.
6. Ngày gần cuối tháng 01/1964, Trung Tướng Khánh từ Đà Nẳng điện thoại bảo tôi cho xe đón ông trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất và tuyệt đối không cho ai biết là ông về Sài Gòn. Tôi trình Trung Tướng Khiêm và dùng xe của Trung Tướng Khiêm đi đón Trung Tướng Khánh. Lúc ấy đã hết giờ làm việc trong ngày. Sau đó, hai vị cùng ngồi chung xe đi đâu đó mà tôi không rõ vì xe an ninh không được chạy theo như lệ thường. Điều này làm cho tôi tự hỏi: "Liệu có cuộc đảo chánh nữa hay không, vì sự vắng mặt bất thường này giống như những ngày cuối tháng 10/1963 vậy?"
Mờ tối ngày 29/01/1964, sau khi từ bộ tư lệnh Quân Đoàn III về đến nhà, Trung Tướng Khiêm gọi tôi đến nhà ông ngay. Vào cửa, ông chỉ tôi ngồi đối diện ông ngay trong phòng khách, và ông ra lệnh: “Việc này đối với chú là lần thứ hai. Tôi muốn nói là chú biết việc gì phải làm. Chú mà hé môi với bất cứ ai trước khi thực hiện thì chú bị đứt đầu nghe chưa”. “Vâng”. Ông tiếp: “Vào sáng sớm mai, tôi + Trung Tướng Khánh + và Đại Tá Viên (Cao Văn), lật đổ nhóm ông Minh ông Đôn, vì các ông này có kế hoạch đưa Việt Nam đến trung lập, mà trung lập thì sớm muộn cũng vào tay cộng sản. Chú rõ chưa?”. “Dạ rõ”…..
7. Đúng 3 giờ sáng ngày 30 tháng 1 năm 1964, Đại tá Cao Văn Viên, và Tiểu đoàn Nhảy Dù lặng lẽ qua cổng số 1 Tổng Tham mưu, với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, nếu như có đơn vị nào đó kháng cự lại. Một lúc sau, Đại Tá Viên vào nhà Trung Tướng Khánh. Các đơn vị an ninh thuộc Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã vào vị trí. Trung Tá Nguyễn Văn Luông đi lúc nào tôi không rõ, nhưng chắc chắn là đi rồi. Nhiệm vụ của Trung Tá Luông cùng với toán Quân Cảnh, Nhẩy Dù, An Ninh Quân Đội, .... đi bắt những vị Tướng mà Trung Tướng Khiêm với Trung Tướng Khánh cho là có kế hoạch trung lập.
Đó là các vị: Trung Tướng Trần Văn Đôn. Trung Tướng Tôn Thất Đính. Trung Tướng Mai Hữu Xuân. Trung Tướng Lê Văn Kim, và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ. Riêng Trung Tướng Dương Văn Minh thì tôi không rõ là có tên trong danh sách bị bắt hay không... Trước lúc bình minh, tại bản doanh, nhà Trung Tướng Khánh có mặt: Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Nguyễn Khánh, Đại Tá Cao Văn Viên, một người Việt Nam dáng vấp trung bình về chiều cao lẫn chiều ngang, và một người Mỹ mặc quần tây dài áo sơ-mi tay ngắn. Người Mỹ này không phải Trung Tá Conein.
8. Căn cứ theo lần đảo chánh trước đó, tôi tin chắc rằng, người Mỹ này là gạch nối giữa nhóm đảo chánh với giới chức thẩm quyền Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Thậm chí, có thể là đại diện của cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ từ Mỹ sang. Nó là bằng chứng cho sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963, và cuộc đảo chánh hôm nay 30/01/1964. Chỉ cần ba nhân vật, một ít lực lượng, với một người Hoa Kỳ quyền thế, cuộc đảo chánh diễn tiến thật êm thấm, chỉ cần bắt 5 vị Tướng nói trên là xong. Êm thấm đến nỗi tôi tin rằng, người dân Sài Gòn và ngay cả nhiều cơ quan đơn vị quân đội, không hề biết gì về một biến cố quan trọng vừa xảy ra.
Năm vị Tướng bị bắt, đã đưa lên phi trường Tân Sơn Nhất, và nơi đến là Đà Nẳng để đưa về nơi giam giữ. Người bị bắt thứ 6 là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, tuỳ viên của Trung tướng Dương Văn Minh thì bị đưa lên Bộ Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù, trại Hoàng Hoa Thám. Vài hôm sau, Lữ Đoàn Nhẩy Dù cho biết là Thiếu Tá Nhung đã thắt cổ tự tử. Mẫu tin đơn giản đó liệu có mấy người tin? Bởi Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù là Đại Tá Cao Văn Viên, được xem là người thân tín của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Viên bị giữ trong ngày đảo chánh 01/11/1963, nhờ Trung Tướng Khiêm mà ông được trở lại chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù. Do vậy, mà cho dẫu Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung có chết một cách bình thường cũng là điều mà dư luận khó chấp nhận, huống chi đây là tin Thiếu Tá Nhung thắt cổ! (Hết trích)
9. Những ngày kề tiếp, Nguyễn Khánh ký nhiều lệnh thăng cấp Tướng ồ ạt, đến ngày 16 tháng 8 năm 1964, Nguyễn Khánh họp Hội đồng Quân đội Cách mạng tại Vũng Tàu, bầu ông ta lầm Chủ tịch, với nhiều quyền hạn rộng lớn. Ngay sau đó, nhiều cuộc mít tinh, biểu tình của nhiều giới chống đối “Hiến chương Vũng Tàu”. Ngày 25/8/64, Hội đồng Quân đội nhóm họp khẩn cấp tại Bộ Tổng Tham mưu, và ngày 26 tháng 8 ra truyên cáo: (1) thu hồi Hiến chương Vũng Tàu; (2) sẽ bầu Nguyên thủ Quốc gia và uỷ Nguyên thu Quốc gia thực hiện cơ cấu dân chủ; (3) quân đội sẽ trở về cương vị quân sự; (4) uỷ Chính phủ hiện thời tạm điều khiển Quốc gia.
IV. Chủ tịch Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực.
1. Ngày 27/8/64, Hội đồng Quân đội quyết định: (1) Lập một Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực gồm: Quốc trưởng Trung tướng Dương Văn Minh; Thủ tướng Trung tướng Nguyễn Khánh; và Tổng Tư lệnh Quân đội Trung tướng Trần Thiện Khiêm. (2) Cử Chính phủ Nguyễn Khánh tiếp tục nhiệm vụ và phải triệu tập Quốc dân Đại hội trong 2 tháng. 3) Có thể Ủy quyền cho một Phó Thủ tướng điều khiển Thừa ủy nhiệm Thủ tướng. Rối ren xã hội cứ tiếp tục tăng. Ngày 28/8/1964, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử điều khiển Chính phủ, thừa Ủy nhiệm Thủ tướng. Phó Thủ tướng Oánh ban bố tình trạng giới nghiêm trong Sài Gòn Gia Định.
Ngày 7/9/64, Trung tướng Dương Văn Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực (QĐ số 2/LĐQGQL). Ngày 8/9/64, với tư cách Chủ tịch Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực, Dương Văn Minh ký Quyết định thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia với nhiệm vụ: (1) triệu tập Quốc dân Đại hội; (2) soạn thảo Hiến Pháp; (3) thực hiện các cơ cấu Quốc gia, và (4) làm Cố vấn cho Chính phủ và Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực (QĐ số 7/BLĐQGQL). Cùng ngày 8 tháng 9 nầy, thu hồi Ủy quyền Thủ tướng cho Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh. Ngày 9/9/64, bốn quân nhân rút khỏi Chính phủ Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, và Đại tá Trần Ngọc Huyến.
2. Ngày 13/9/64, Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát kéo quân về Sài Gòn chiếm đóng một số nơi, Phủ Thủ tướng và Đài Phát thanh lên tiếng đả kích Thủ tướng Nguyễn Khánh. Tổng Tư lệnh Quân đội Tướng Khiêm ra lệnh quân đội không được theo phe đảo chánh. Từ Đà Lạt, Thủ tướng Nguyễn Khánh phát thanh lời lên án nhóm đảo chánh Dức-Phát. Cùng ngày, một số Tướng lãnh họp khẩn cấp tại Bộ Tư lệnh Không quân, và ngày 14/9/64, ra quyết định đòi Tướng Dương Văn Đức phải rút quân về các vị trí củ tại Vùng IV, nếu không sẽ đối phó. Trong ngày 14 tháng 9, quân của tướng Đức đã rời khỏi Sài Gòn.
Ngày 24/9/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực, chỉ định 17 Hội viên Thượng Hội đồng Quốc gia (SL số 4/CT/LĐQGQL) gồm: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Xuân Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Đình Luyện, Hồ Đắc Thắng. Ngày 26/9/64, Thượng Hội đồng Quốc gia bắt đầu nhóm họp tại Hội trường Diên Hồng. Ngày 27/9/64, Phan Khắc Sữu được bầu làm Chủ tịch Thượng Hội đồng. Ngày 19/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực tuyên bố “Thượng Hội đồng Quốc gia có quyền và có bổn phận thực hiện các Cơ cấu Quốc gia, chọn vị Nguyên thủ, lập Chính phủ trước ngày 27/10/64”.
3. Ngày 20/10/64, Thượng Hội đồng Quốc gia thông qua và ban bố Hiến chương Lâm thời, và ban bố thay thế Hiến ước Lâm thời số 1 và số 2 của Hội đồng Quân nhân Cách mạng trước đây, Hiến chương Lâm thời quy định: (1) Một Quốc trưởng được tuyển nhiệm theo thể thức do Quốc dân Đại hội ấn định. (2) Quyền Lập pháp thuộc Quốc dân Đại hội. (3) Thủ tướng do Quốc trưởng chọn và Đại hội chấp nhận. Ngày 24/10/64, Thượng Hội đồng Quốc gia tuyển nhiệm Chủ tịch Phan Khắc Sữu làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa (Quyết nghị số 1). Ngày 25/10/64, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ được bầu Quyền Chủ tịch Thượng Hội Đồng.
Cùng ngày 25 tháng 10, Thủ tướng Nguyễn Khánh tiếp tân từ giã mọi người. Ngày 26/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực chính thức chuyễn giao quyền hành cho Quốc trưởng. Chính phủ Nguyễn Khánh đệ đơn từ chức. Ngày 29/10/64, Quốc trưởng Phan Khắc Sữu mời Bác sĩ Hồ Văn Nhựt lập Chính phủ, Bác sĩ Nhựt từ chối. Sau đó, Giáo sư Trần Văn Hương được mời lập Chính phủ. Ngày 1/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trình bày Chương trình hành động trước Thượng Hội Đồng. Ngày 4/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trình diện Nội các lên Quốc trưởng. Cùng ngày 4 tháng 11 nầy, Thủ tướng Trần Văn Hương bổ nhiệm Trung tướng Nguyễn Khánh làm Tổng Tư Lệnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
V. Làm Đặc phái viên của Quốc trưởng tại ngoại quốc.
1. Ngày 12/11/64, Trung tướng Dương Văn Minh rời Sài Gòn làm Đặc phái viên của Quốc trưởng tại ngoại quốc. Trước đó, ngày 7/10/64, Đại tướng Trần Thiện Khiêm cũng “đã phải” rời Sài Gòn lên đường thăm thiện chí nhiều nước đã giúp đở Việt Nam Cộng hoà. Vậy là, nguyên “Tam đầu chế” lãnh đạo Quốc gia và Quân lực, Tướng Khiêm và Tướng Minh “bị rời khỏi nước” chỉ còn một mình Tướng Khánh với chức Tổng Tư lênh Quân đội do Thủ tướng Hương bổ nhiệm, Tướng Khánh vẫn có thể khuynh đảo chính trường. Ngày 24/11/64, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ký Sắc lệnh thăng Trung tướng Dương Văn Minh cấp Đại tướng.
Cuối tháng 12/1964, Đại tướng Minh bị ép đi làm Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan thay thế Trung tướng Thái Quang Hoàng. Ngày 21 tháng 3 năm 1965, Đại tướng Dương Văn Minh nhận được quyết định giải ngũ. Tuy nhiên, ông vẫn được giữ làm Đại sứ tại Thái Lan cho đến năm 1968 mới được hồi hương. Năm 1971, ông trở lại chính trường ra tranh cử Tổng thống, đối đầu với Nguyễn Văn Thiệu đương kim Tổng thống còn đang được Mỹ ủng hộ. Nhiều người cho rằng rất có thể ông là lãnh đạo của “Lực lượng thú ba” nhưng nỗ lực của ông đã bị Mỹ và Tổng thống Thiệu cản trở. Cuối cùng, ông đã rút ra khỏi cuộc tranh cử sau khi tuyên bố rằng cuộc bầu cử chỉ là “trò múa rối”.
VI. Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa.
1. Với sự sụp đổ nhanh chóng của Việt Nam Cộng hoà sau khi Mỹ rút quân, ông lại trở thành một nhân vật quan trọng cho chức vụ Tổng thống. Sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rồi Tổng thống Trần Văn Hương từ chức, ngày 28 tháng 4 năm 1975, ông chính thức nhậm chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Theo hồi ký của tướng Nguyễn Hữu Hạnh, và cựu Dân biểu Lý Quý Chung thì sáng ngày 28 tháng 4, tướng tình báo Pháp Francois Vanussème đã tới gặp Tổng thống Dương Văn Minh và đề nghị Việt Nam Cộng hòa kêu gọi Trung Quốc đem quân vào cứu Quân lực Việt Nam Cộng hoà đang trong cơn nguy kịch. (Có vẽ hoang đường phải không?).
Ông đã từ chối và nói: “Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”. Vào khoảng 8h sáng ngày 30 tháng 4, ông và phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền cùng Thủ tướng Vũ Văn Mẫu quyết định đơn phương tuyên bố bàn giao chính quyền lại cho chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Ông Mẫu ngồi soạn lời tuyên bố, mất khoảng một tiếng đồng hồ. Tuyên bố của ông được truyền đi trên Đài Vô tuyến Việt Nam lúc 9h30:
2. Tôi, Tổng thống Dương Văn Minh. Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu (thì) ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, Trung úy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Bùi Quang Thận, đã hạ lá cờ Việt Nam Việt Nam Cộng hoà trên nóc dinh xuống, kéo là cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên. Cùng lúc này, Đại úy Trung đoàn phó Trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ của Quân đoàn 2 và Biệt động thành Sài Gòn tiến vào dinh Độc lập bắt Tổng thống Dương Văn Minh cùng toàn bộ Nội các của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu (chưa chính thức tuyên thệ nhậm chức). Dương Văn Minh nói: "Tôi chờ các ông tới để bàn giao chính quyền", Đại uý Phạm Xuân Thệ trả lời: "Các ông đã không còn gì để bàn giao. Thay mặt Cách mạng, tôi đề nghị ông ra lệnh đầu hàng vô điều kiện”.
3. Khoảng 12 giờ trưa, Đại úy Phạm Xuân Thệ đưa Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên xe Jeep để đến đài phát thanh. Chiếc xe thứ hai chở Trung tá Chính ủy Lữ đoàn Xe tăng 203 Bùi Văn Tùng cùng hai nhà báo Beorries Gallasch người Đức (báo Der Spiegel) và Hà Huy Đỉnh. Khi đến đài Phát thanh, tất cả lên phòng ghi âm bé tí xíu rộng khoảng 20 m vuông. Đại uý Thệ thay đổi thái độ vui vẻ nói: Anh Minh, anh yên tâm! Chúng tôi chiến đấu cho dân tộc, vì vậy chúng tôi buộc phải đánh bại những kẻ cam tâm bán nước. Nhưng bây giờ chúng tôi đã vào đây, không ai làm gì anh đâu và cũng không ai sẽ bắt tội anh.
Chính uỷ Tùng muốn tướng Minh đọc qua những lời thảo trước khi ghi âm. Song không tìm thấy một chiếc máy ghi âm nào trong Đài Phát thanh do toà nhà vừa trải qua một trận hôi của. Chỉ còn chiếc máy ghi âm nhỏ của báo Spiegel. Việc thu âm tiến hành đến ba lần. Lần thứ nhất ông Minh không đọc tiếp khi đến dòng chữ “Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống Chính quyền Sài Gòn…”. Ông chỉ muốn giản lược là “Tướng Minh” và không muốn nhắc đến chức vị Tổng thống mới tiếp nhận được hai ngày. Cuối cùng mọi người nhất trí với lời văn: “Tôi, tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho tất cả binh sĩ hạ vũ khí đầu hàng…” Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời tiếp nhận đầu hàng. Chiến tranh kết thúc. Chính Quyền Việt Nam Cộng hòa chính thức chấm dứt sự tồn tại.
VII. Đoàn tụ với gia đình, và những năm cuối đời.
1. Sau ngày 30 tháng 4, ông Dương Văn Minh không phải đi cải tạo vẫn sống tại Sài Gòn. Ông còn được mời làm cố vấn cho Chính phủ mới. Có hình ảnh cho thấy ông thường xuyên đi bầu cử như một công dân chế độ mới. Tháng 10 năm 1981, chính quyền Việt Nam cho phép ông được xuất cảnh sang Pháp chữa bệnh và đoàn tụ gia đình. Năm 1988, ông chuyển sang Hoa Kỳ, sống với vợ chồng người con gái tại Pasadena, California và định cư luôn tại đây. Ngày 9 tháng 8 năm 2001, Dương Văn Minh qua đời tại nơi định cư, hưởng thọ 85 tuổi./.
5. CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG VÀ THỦ TƯỚNG NGUYỄN KHÁNH.
I. Tiểu sử và nền tảng học vấn.
1. Nguyễn Khánh sinh ngày 8 tháng 11 năm 1927, con ông Nguyễn Bửu và bà Phạm Lệ Trân tại Trà Vinh, miền Tây Nam phần Việt Nam, trong một gia đình điền chủ giàu có. Năm 1944, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Cần Thơ với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Năm 1945, sau khi Cách mạng tháng 8 nổ ra, đang học lớp Đệ nhất (lớp 12 bây giờ), ông bỏ học tham gia phong trào Việt Minh tại địa phương. Giữa tháng 7 năm 1946, sau khi người Pháp tái chiếm Đông Dương, ông bỏ Việt Minh và nhập ngũ vào Quân đội Pháp. Do có trình độ Tú tài, ông được theo học khóa 1 Nguyễn Văn Thinh tại trường Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, khai giảng ngày 15 tháng 7 năm 1946.
Ngày 1 tháng 7 năm 1947 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu uý về phục vụ ở Tiểu đoàn 2 Vệ binh Nam Việt giữ chức vụ Trung đội trưởng. Đầu năm 1948, chuyển biên chế sang Quân đội Liên hiệp Pháp, được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Đông Dương tại Học viện Quân sự Coetquidan và Võ bị Saint Cyr, Pháp. Thời kỳ này ông lấy tên là "Raymond Khánh". Sau khi mãn khóa học, về lại đơn vị và ngày 1 tháng 7 cùng năm 1948, ông được thăng cấp Trung uý. Tháng 12 cuối năm, ông là sĩ quan duy nhất được cử đi du học lớp huấn luyện Nhảy dù tại trường Nhảy dù Pau (Pháp), thụ huấn bằng dù T.7 và Phi cơ Ju.52.
2. Ngày 1 tháng 6 năm 1949, ông được cử làm sĩ quan tùy viên cho Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân Đại u. Đầu năm 1950, ông được thăng cấp Đại uý và được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 Nhảy dù Biệt lập (một trong các Trung đội trưởng dưới quyền của ông lúc bấy giờ là Trung úy Đỗ Cao Trí. Ngày 1 tháng 5 năm 1951, Tiểu đoàn 1 Nhảy dù được thành lập do Đại úy Albert Lê Quang Triệu làm Tiểu đoàn trưởng. Ngày 21 tháng 1 năm 1952, ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 thay thế Đại úy Albert Lê Quang Triệu. Ban đầu, Tiểu đoàn đóng tại Chí Hòa (Sài Gòn), cuối năm chuyển ra Bắc, tham gia chiến dịch tại Hòa Bình.
Một tháng sau, ông bàn giao chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Nhảy dù lại cho sĩ quan người Pháp. Tháng 3 năm 1952, chuyển biên chế sang Quân đội Quốc gia, ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 22 Việt Nam (22e BVN). Tháng 8 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá và chuyển đi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 13 Việt Nam (13e BVN), đồn trú tại Cần Thơ. Đầu năm 1953, ông được cử giữ chức Tiểu khu trưởng Biệt khu Cần thơ. Cuối năm này, ông được thăng cấp Trung tá kiêm chức vụ Chỉ huy trưởng Liên đoàn Lưu động số 11 tân lập tại Cần Thơ.
3. Tháng 4 năm 1954,Trung tá Khánh được điều về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Trưởng phòng 6. Giữa tháng 9, bàn giao chức vụ Trưởng phòng 6 lại cho Trung tá Trần Đình Lan. Tháng 11, ông được cử đi học lớp tham mưu tại Trường Tham mưu Trung cấp Paris, Pháp. Đầu tháng 3 năm 1955, sau khi mãn khóa học từ Pháp về nước, ông được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Phân khu Cần Thơ kiêm Tỉnh trưởng Cần Thơ. Ngày 10 tháng 3 năm 1955, ông chủ toạ buổi lễ hợp tác của Thiếu tá Nguyễn Thành Đầy thuộc Lực lượng Hòa Hảo Dân xã, đem 1.500 quân thuộc quyền về quy thuận Chính phủ Quốc gia tại Cần Thơ.
Cuối tháng 3/55, ông được cử giữ chức vụ Thanh tra trưởng của Lực lượng Nhảy dù. Giữa tháng 6, ông được chuyển về Trung ương giữ chức vụ Tham mưu phó tại Bộ Tổng tham mưu. Ngày 1 tháng 7, ông được cử làm Phụ tá Tổng tham mưu trưởng đặc trách Không quân. Ngày 20 tháng 8, bàn giao chức vụ Phụ tá Không quân lại cho Thiếu tá Trần Văn Hổ. Trung tuần tháng 9/55, ông được cử làm Chỉ huy phó Chiến dịch Hoàng Diệu, dưới quyền Chỉ huy trưởng là Đại tá Dương Văn Minh.
4. Tháng 10 năm 1955, ông được thăng cấp Đại tá. Đầu năm 1956, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 1 Dã chiến thay thế Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm. Giữa năm 1957, nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 1 Dã chiến lại cho Đại tá Tôn Thất Đính, 2 tháng sau ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ (thời gian thụ huấn 16 tuần). Sau đó được du học tiếp lớp Tham mưu và Phối hợp Đồng minh tại Nhật Bản. Tháng 9 năm 1958 từ Nhật về nước, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh Miền Hậu Giang. Ngày 18 tháng 8 năm 1959, ông được bổ nhiệm làm quyền Tổng thư ký Thường trực Quốc phòng thuộc Phủ Tổng thống.
II. Thiếu tướng Tư lệnh Đệ ngũ Quân khu
1. Ngày 21 tháng 1 năm 1960, ông được thăng cấp Thiếu tướng và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Đệ ngũ Quân khu. Giữa tháng 9 cùng năm, ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Tham mưu trưởng thay thế Thiếu tướng Phạm Xuân Chiểu được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Trường Đại học Quân sự (tiền thân của Trường Chỉ huy Tham mưu). Ông giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức phản công dẫn đến sự thất bại của vụ Đảo chánh ngày 11/11/1960 do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu. Năm 1961, ông được cử làm Trưởng đoàn hướng dẫn Phái đoàn công du thăm viếng Đài Loan.
Ngày 17 tháng 12 năm 1962, bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu lại cho Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm để đi nhận chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II và Vùng 2 Chiến thuật thay thế Thiếu tướng Tôn Thất Đính. Khi cuộc Đảo chánh ngày 1/11/1963 nổ ra, Thiếu tướng Nguyễn Khánh đã án binh bất động và không tỏ rõ thái độ. Ngày 2 tháng 11, cuộc đảo chính thành công, Tướng Khánh tuyên bố ủng hộ Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Do đó, ông được Hội đồng Quân nhân Cách mạng thăng cấp Trung tướng.
2. Ngày 11 tháng 12 năm 1963, tướng Khánh hoán đổi nhiệm vụ với tướng Trí, Trung tướng Nguyễn Khánh giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I tại Đà Nẳng, Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận chức Tư lệnh Quân đoàn II tại Pleiku.
III. Cầm đầu đảo chánh và quan hệ mới với Hoa Kỳ.
1. Và, chỉ 3 tháng sau đó, nửa đêm về sáng ngày 30 tháng 1 năm 1964, Trung tướng Nguyễn Khánh, Tư lệnh Quân đoàn I tại Đà Nẵng, cùng với Tư lệnh Quân đoàn III tại Sài Gòn Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm, và Tư lệnh Sư đoàn Nhày Dù Tổng trừ bị Đại tá Cao Văn Viên, cầm đầu làm một cuộc đảo chánh khác, cướp quyền và truất phế các tướng lĩnh lãnh đạo chủ chốt trong cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, đến bắt và chuyển ra Đà Nẳng giam giữ các Trung tướng Trần Văn Đôn Tổng trưởng Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng, Trung tướng Lê Văm Kim Tham mưu trưởng Liên quân, Trung tướng Tôn Thất Đính Tổng trưởng Nội vụ, Trung tướng Mai Hữu Xuân Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn.
Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ cũng bị bắt, nhưng tới sáng thì được thả ra. Ngày 31/1/64, Trung tướng Nguyễn Khánh họp báo tại Bộ Tổng Tham Mưu giải thích: không có đảo chánh chỉ có “Chỉnh lý” để Chính quyền theo đúng đường lối Cách mạng; rằng, ông ta được Hội đồng Quân đội cử làm Chủ tịch kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội... Ngày 1/2/64, Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ nộp đơn từ chức. Ngày 3/2/64, tướng Nguyễn Khánh chấp nhận đơn từ chức của Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ. Và, bắt đầu tiếp xúc với nhiều chính khách để lập Chính phủ mới.
2. Ngày 7/2/64, Hội đồng Quân nhân Cách mạng mới, ban hành Hiến Ước Lâm thời số 2, tu chính Hiến Ước số 1 để giao quyền hành Quốc trưởng cho Chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách mạng, hoặc cho một nhân vật do Hội đồng cử. Hội đồng Quân đội Cách mạng quyết định cử Trung tướng Dương Văn Minh giữ quyền hành Quốc trưởng, cử Trung tướng Nguyễn Khánh thành lập Chính phủ. Ngày 8/2/64, Nguyễn Khánh lập xong Chính phủ (SL 99/TTP) trong Chính phủ của ông chỉ có 2 quân nhân là Thiếu tướng Đỗ Mậu Phó Thủ tướng, và Trung tướng Trần Thiện Khiêm Tổng trưởng Quốc phòng. Ông Khiêm còn kiêm nhiệm chức Tổng Tham mưu trưởng. Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tham mưu trưởng Liên quân.
Ngày 8/2/64, Chính giới Mỹ tỏ ý hân hoan việc thành lập Chính phủ mới tại Việt Nam. Ngày 8/3/64, Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara cùng tướng Maxwell Taylor sang Việt Nam xem xét tình hình và ấn định lại Chương trình Viện trợ cho Việt Nam. Ngày 9/3/64, Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara, tướng Maxwell Taylor cùng Thủ tướng Nguyễn Khánh đi thăm Cần Thơ, Bạc Liêu, An Giang và được rất dông dân chúng tiếp đón. Ngày 13/3/64, Vài ngàn người, ra tiễn Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara về Mỹ, ông tuyên bố “Mỹ hoàn toàn ủng hộ Chính phủ Nguyễn Khánh” và bằng tiếng Việt, ông hô “Việt Nam muôn năm”.
3. Ngày 17/3/64, Chính phủ Hoa Kỳ thông báo: (1) tăng viện trợ để tăng cường Quân lực Việt Nam; (2) thực hiện kế hoạch “bình định từng vùng” của chính phủ Nguyễn Khánh; (3) tăng 50.000 quân, và 7.500 Cán bộ Bình định Nông thôn; (4) tăng cường Không quân và Hải quân. (5) Số ngân khoản tăng chừng 50 triệu Mỹ kim. Ngày 18/5/64, Tổng thống Jhonson yêu cầu Quốc hội Mỹ cấp thêm cho Việt Nam 125 triệu Mỹ kim, gồm 70 triệu viện trợ kinh tế, và 55 triệu viện trợ quân sự. Ngày 31/5/64, Hội nghị quân sự Mỹ tại Honolulu để xét toàn diện tình hình và chính sách tại Việt Nam. Có tin Hội nghi trù liệu thả bom xuống Bắc Việt, và tăng quân lực Mỹ tại Việt Nam..
Ngày 20/6/64, tướng Williams Westmoreland, Phụ tá tướng Harkin được cử làm Tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam, thay thế Tướng Paul Harkin về hưu trí.. Ngày 23/6/64, Đại sứ Cobot Lodge từ chức. Ngày 24/6/64, Tướng Maxwell Taylor được bổ Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Alexis Johnson làm Phó Đại sứ. Ngày 11/7/64, Bộ trưởng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara tuyên bố rất có thể mở rộng chiến tranh ra Bắc Việt. Ngày 26/7/64, Số quân nhân Mỹ tại Việt Nam hiện tại là 16.000, tổng thống Jhonson quyết định gởi thêm 5.000, Cố vấn Mỹ sẽ đặt tới cấp Tiểu đoàn và cấp Tỉnh để giúp cả về quân sự lẫn Hành chánh Xã hội Nông thôn.
4. Ngày 2/8/65, chiến hạm Maddox của Koa Kỳ tuần tiểu Vịnh Bắc Việt bị 3 Tiểu đĩnh Bắc Việt rượt bắn và phóng ngư lôi. Phi cơ của Hàng không mẫu hạm Ticonderoga tới đánh đuổi các Tiểu đĩnh. Ngày3/8/64, tàu Maddox và cả Turner Joy của Mỹ lại bị các Tiểu đĩnh Bắc Việt tấn công. Chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh tăng cường tuần tiểu và phản công nếu cần. Ngày5/8/64, các Tiểu đĩnh Bắc Việt lại rượt đánh tàu Mỹ, 64 Phi cơ Mỹ phản công oanh tạc, 4 Phóng Ngư lôi Bắc Việt bị chìm, Hòn Gay, Lộc Châu, Phúc Lợi, Quảng Khê, Vinh bị ném bom. Ngày6/8/64, Quốc hội Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Johnson áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đối phó với thời cuộc Đông Nam Á, kể cả dùng vũ lực.
IV. Đỉnh cao quyền lực và xáo trộn xã hội.
1. Với chức Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng và Thủ tướng chính phủ, Trung tướng Nguyễn Khánh, khá hào phóng trong việc thăng cấp, nhất là cấp Tướng. Ông đặt ra một quân hàm cấp Tướng mới “Chuẩn tướng” tức tướng 1 sao. Ngày 3 tháng 3 năm 1964, Đại tá Cao Văn Viên là vị Đại tá sau cùng được thăng cấp Thiếu tướng (2 sao) trước khi áp dụng quy chế cấp “Chuẩn tướng”. Hai vị Đại tá lên Chuẩn tướng đầu tiên là Đại tá Hải quân Chung Tấn Cang, và Đại tá Không quân Nguyễn Cao Kỳ, được đích thân Trung tướng Nguyễn Khánh gắn một sao vào ngày 8/4/64. Ngày 29/5/64, có 5 thêm Đại tá được thăng Chuẩn tướng, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đỗng, Bùi Hữu Nhơn, Cao Hữu Hớn, Ngô Dzu. Cùng ngày, Hội đồng Quân đội Cách mạng họp tại Đà Lạt quyết định phạt kỷ luật các tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính và không giao phó các chức vụ chỉ huy.
Ngày 7/6/64, hàng vạn Giáo dân biểu tình tại Công trường Lam Sơn trương biểu ngữ “Lột mặt nạ bọn lợi dụng Cách mạng để đàn áp Công giáo”, “Mị dân là phản bội dân chủ”, “Ủng hộ cuộc đấu tranh cuả Công giáo miền Trung”. Ngày 20/7/64, Sinh viên Sài Gòn tổ chưc “Đêm không ngũ” nhân 10 năm ngày đất nước bị chia đôi. Hôm sau 21 tháng 7 biểu tình trước Tòa Đại sứ Pháp ở Sài Gòn, đốt xe, đập phá gây một số thiệt hại, Pháp chính thức phản kháng. Ngày 25/7/64, Bộ Ngoại giao Việt Nam hứa với Tòa Đại sứ Pháp “sẽ bồi thường vật chất do vụ Sinh viên biểu tình gây ra”.
2. Ngày 7/8/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc (SL 215/CT). Ngày 11/8/64, Trung tướng Trần Thiện Khiêm được thăng Đại tướng, 8 Đại tá được thăng Chuẩn tướng gồm các Đại tá Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Nguyễn Cao, Nguyễn Văn Kiểm, Đặng Văn Quang, Vĩnh Lộc, Lê Nguyên Khang, Hoàng Xuân Lãm, một số Sĩ quan cấp Tá khác cũng được thăng cấp.
Ngày 16/8/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng họp ở Vũng Tàu, ban hành một Hiến chương mới, và bầu Trung tướng Nguyễn Khánh làm Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa với nhiều quyền hạn đặc biệt. Ngày 18/8/64, Nhiều địa phương và Đoàn thể gởi Điện văn và Kiến nghị “Nhiệt liệt hoan nghênh Hiến chương ban bố đúng lúc, kính dâng Trung tướng Chủ tịch lời chúc mừng nồng nhiệt nguyện đồng tâm nhất trí, đoàn kết sau lưng...(nhiều báo có đăng). Ngày 19/8/64, Sinh viên bắt đầu nhóm họp ở trụ sở đường Duy Tân, Sài Gòn và mấy ngày kế tiếp để bàn xét Chế độ mới do Hiến chương vừa ban hành.
3. Đến ngày 22 tháng 8 Sinh viên kéo tới Phủ Thủ tướng: Buổi sáng, đưa kiến nghị phản đối Hiến chương 16/8/64, Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng tiếp. Buổi trưa, Chủ tịch Nguyễn Khánh tiếp Đại diện sinh viên, Sinh viên ngỏ ý “không chấp nhận Hiến chương Vũng Tàu”, yêu cầu thành lập một Chính phủ trong sạch, trẻ trung, các tướng lãnh trở về nhiệm vụ quân sự, diệt trừ Cần Lao, và Thực Cộng ẩn nấp trong Chính quyền. Ngày 23/8/64 Sinh viên học sinh kéo tới Đài Phát thanh đòi cải chính tin “Sinh viên đến gặp Chủ tịch Nguyễn Khánh để ủng hộ, đập phá đồ đạt, máy móc. Lúc 15 giờ chừng 200 người đi xe buýt tới trụ sở Sinh viên với gậy, dao, búa xông vào đạp phá lung tung.
Ngày 25/8/64, ba nhóm Chính khách Đại Việt của Nguyễn Tôn Hoàn; Dân chủ Xã hội của Trương Bảo Sơn; và Quốc Dân Đảng của Nguyễn Tường Tam lên tiếng công kích “Hiến chương Vũng Tàu”. Sinh viên, học sinh và hàng ngàn thanh niên các giới cả ông già, bà lảo biểu tình kéo tới Phủ Chủ tịch đã đảo Hiến Chương Vũng Tàu, đả đả độc tài. Số người tới dự mỗi lúc một đông, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh, và Chủ tịch Nguyễn Khánh phải ra phủ dụ và hứa hẹn sẽ xét gấp vấn đề.
V. Một trong Tam đầu chế Lãnh đạo Quốc gia và Quân lực.
1. Ngày 25/8/64, Hội đồng Quân Đội Cách mạng nhóm họp khẩn cấp liên tiếp mấy ngày liền tại Bộ Tổng Tham Mưu. Nhiều tin đồn sẽ phá chùa, phá nhà thờ Đức Bà.v.v. Phật tử đổ xô tới canh gác Viện Hóa Đạo, chùa chiền và tượng Quách Thị Trang. Các khu Công giáo cũng sôi động, nhiều nhà chuẩn bị gậy, dao, búa.v.v. Tại Đà Nẳng, một đoàn biểu tình với vẻ hung hăng, quá khích đi ngang qua trại binh Mỹ ở Đà nẳng, lính Mỹ bắn chỉ thiên. Có xô xát, và đám đông chạy tràn vào làng Thanh Bồ gần đấy, Tự vệ Công giáo tưởng bị tấn công đối phó lại. Ẩu đả lớn 11 người chết, 42 bị thương, nhiều nhà bị đốt. Tại Huế, Quy Nhơn cũng rục rịch xuống đường, như muốn sẵn sàng bạo động.
Ngày 26/8/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng ra Tuyên cáo: (1) thu hồi Hiến chương ngày 16 tháng 8; (2) sẽ bầu Nguyên thủ Quốc gia và uỷ Nguyên thu Quốc gia thực hiện cơ cấu dân chủ; (3) quân đội sẽ trở về cương vị quân sự; (4) uỷ Chính phủ hiện thời tạm điều khiển Quốc gia. Ngày 27/8/64, Hội đồng Quân Đội Cách mạng lập ra Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực gồm: Quốc trưởng: Trung tướng Dương Văn Minh; Thủ tướng: Trung tướng Nguyễn Khánh; Tổng tư lệnh Quân đội: Đại tướng Trần Thiện Khiêm. Ngày 7/9/64, Trung tướng Dương Văn Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực (QĐ số 2/LĐQGQL).
2. Ngày 8/9/64, Chủ tịch Dương Văn Minh ký Quyết định thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia. Ngày 9/9/64, Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, và Đại tá Trần Ngọc Huyến rời khỏi chính phủ. Ngày 13/9/64, Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát kéo quân về Sài Gòn chiếm đóng một số địa điểm, cả Phủ Thủ tướng, và Đài Phát thanh...Một số Tướng lãnh họp khẩn cấp liên tục tại Bộ Tư lệnh Không quân, và hôm sau 14 tháng 8, ra quyết định đòi Tướng Dương Văn Đức phải rút quân khỏi Sài Gòn trong 24 giờ, nếu không sẽ bị đánh dẹp. Và, trong ngày 14 tháng 9, quân của tướng Đức hoàn toàn rút khỏi Sài Gòn trở về Vùng IV chiến thuật.
Cùng ngày 14 tháng 9, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố, Hoa kỳ vẫn ủng hộ Chính phủ Nguyễn Khánh. Ngày 19/9/64, Chuẩn tướng Nguyễn Chánh Thi được cử làm Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật. Cùng ngày 19 tháng 9, tại Huế, thành lập "Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” để “bài trừ Cần Lao”, đòi Linh mục Cao Văn Luận từ chức. Tại Quy Nhơn, Hội đồng Nhân dân Cứu quốc chiếm Đài Phát thanh và nhiều Công sở, lùng bắt Cần Lao. Tại Phan Thiết, và nhiều tỉnh khác ở Trung Phần cũng lập Hội đồng Nhân dân Cứu quốc để thanh toán Cần Lao. Tổng hội Sinh viên Sài Gòn nhóm họp, phản đối các vụ gây rối của Phong trào Hội đồng Nhân dân Cứu quốc ở Trung Phần, đòi trừng trị Cần lao, chấm dứt tình trạng Chính phủ Xử lý thường vụ...
3. Ngày 20/9/1964, Lực lượng Đặc biệt người Thượng do Mỹ huấn luyện nổi loạn ở đồn Sapar, Ban Mê Thuột, chiếm Đài Phát thanh, bắt giữ 60 Sĩ quan, và Hạ sĩ quan làm con tin, đòi quy chế tự trị, Thủ tướng Nguyễn Khánh phải lên điều đình, hôm nay chịu ra đầu hàng. Đồn đã được giao trả cho Quân đội. Một Đại hội các Sắc dân Thượng nhóm họp tại Pleiku, Thủ tướng Nguyễn Khánh công bố Chính sách và những biện pháp cải cách đối với đồng bào Thượng.
VI. Tiếp tân từ giã và đệ đơn từ chức Thủ tướng.
1. Ngày 24/9/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực, chỉ định 17 Hội viên Thượng Hội đồng Quốc gia (SL số 4/CT/LĐQGQL) với nhiệm vụ: (1) triệu tập Quốc dân Đại hội; (2) soạn thảo Hiến Pháp; (3) thực hiện các cơ cấu Quốc gia, và (4) làm Cố vấn cho Chính phủ và Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực (QĐ số 7/BLĐQGQL). Ngày 26/9/64, Thượng Hội đồng Quốc gia làm lể trình diện, và bắt đầu phiên họp đầu tiên tại Hội trường Diên Hồng. Ngày 27/9/64, ông Phan Khắc Sữu được bầu làm Chủ tịch Thượng Hội đồng. Ngày 7/10/64, một trong Tam đầu chế lãnh đạo Quốc gia và Quân lực, Đại tướng Trần Thiện Khiêm rời Việt Nam lên đường thăm viếng thiện chí các nước đã giúp đở Việt Nam.
Ngày 19/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực tuyên bố “Thượng Hội đồng Quốc gia có quyền và có bổ phận thực hiện các Cơ cấu Quốc gia, chọn vị Nguyên thủ, thành lập Chính phủ. Ngày 20/10/64, Thượng Hội đồng Quốc gia thông qua Hiến chương Lâm thời và ban bố, chính thức thay thế Hiến ước Lâm thời số 1 và số 2, theo đó: (1) Một Quốc trưởng được tuyển nhiệm theo thể thức do Quốc dân Đại hội ấn định. (2) Quyền Lập pháp thuộc Quốc dân Đại hội. (3) Thủ tướng do Quốc trưởng chọn và Đại hội chấp nhận. Ngày 24/10/64, Thượng Hội đồng Quốc gia tuyển nhiệm Phan Khắc Sữu làm Quốc trưởng, và Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ được bầu Quyền Chủ tịch Thượng Hội Đồng.
2. Ngày 25 tháng 10, Thủ tướng Nguyễn Khánh tiếp tân từ giã mọi người. Ngày 26/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực chính thức chuyễn giao quyền hành cho Quốc trưởng. Chính phủ Nguyễn Khánh đệ đơn từ chức. Ngày 29/10/64, Quốc trưởng Phan Khắc Sữu mời Bác sĩ Hồ Văn Nhựt lập Chính phủ, Bác sĩ Nhựt từ chối. Sau đó, Giáo sư Trần Văn Hương được mời lập Chính phủ. Ngày 4/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trình diện Nội các lên Quốc trưởng. Cùng ngày 4 tháng 11 nầy, Thủ tướng Trần Văn Hương bổ nhiệm Trung tướng Nguyễn Khánh làm Tổng Tư Lệnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
VII. Thủ đoạn chính trị và bị buộc phải lưu vong.
1. Ngày 12/11/64, Trung tướng Dương Văn Minh rời Sài Gòn làm Đặc phái viên của Quốc trưởng tại ngoại quốc. Vậy là, trong “Tam đầu chế” lãnh đạo Quốc gia và Quân lực, Tướng Khiêm và Tướng Minh “bị rời khỏi nước” chỉ còn một mình Trung tướng Khánh với chức Tổng Tư lênh Quân đội do Thủ tướng Hương bổ nhiệm, Tướng Khánh vẫn có thể khuynh đảo chính trường. Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ từ chức Quyền Chủ tịch Thượng Hội đồng, vì bất đồng trong việc thành lập Chính phủ Trần Văn Hương. Sinh viên Sài Gòn nhóm họp đả kích thành phần Chính phủ Trần Văn Hương, tuyên bố không thể chờ đợi, phải hành động mạnh, không chịu “một Chính phủ Chuyên viên già nua” lại bị “Nhóm Tinh thần giật dây”.
Ngày 16/11/64, Sinh viên yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, yêu cầu giải tán Chính phủ Trần Văn Hương. Ngày 8/12/64, Chính phủ Trần văn Hương phản đối Thượng Hội đồng Quốc gia, do việc chỉ định một Ủy ban để xét lại thành phần Chính phủ. Ngày 17/12/64, một số Tướng lãnh trẻ yết kiến Quốc trưởng trình bày đề nghị cho một số Tướng lãnh già về hưu. Ngày 18/12/64, Tổng Tư lệnh Nguyễn Khánh ra Huấn lệnh thành lập một Hội đồng Quân lưc để Cố vấn, giúp đở Tổng Tư lệnh.
2. Ngày 20/12/64, Hội đồng Quân lực tuyên bố không tín nhiệm, giải tán Thượng Hội đồng Quốc gia. Một số Thành viên của Thượng Hội đồng, cùng vài chính khách bị “coi là xôi thịt” đã bị “cô lập”. Ông Phan Khắc Sửu vẫn lưu nhiệm Quốc trưởng, ông Trần Văn Hương và Chính phủ vẫn được tín nhiệm. Ngày 23/12/64, Bộ Tổng Tư lệnh thông cáo Hội đồng Quân lực không phải là Hội đồng Quân đội Cách mạng, Hội đồng Quân lực chỉ có nhiệm vụ tư vấn đối cho Tổng Tư lệnh, sau “Quyết định tối cần ngày 20/12/64” Hội đồng đã trở về với cương vị củ.
Ngày 25/12/64, Tướng Nguyễn Khánh tuyên bố với báo New York Herald Tribune: Rằng “Tướng Taylor đã có những hành động không thể tưởng tượng, muốn dùng áp lực đối với người hữu trách Việt Nam; nếu ông ta không khéo xử thì Việt Nam sẽ mất; rằng Mỹ nên tính việc lớn với những ai có thực lực ở xứ nầy; rằng ông Taylor không thể buộc dân Việt Nam phải chịu đựng những nhà lãnh đạo mà dân Việt Nam không muốn”. Cùng ngày 25 tháng 12 nầy, Tòa Đại sứ Mỹ minh xác“Đại sứ Taylor chỉ làm đúng nhiệm vụ của một Đại sứ”.
3. Ngày 27/12/64, Việt Cộng mở trận đánh lớn Bình Giả, Phước Lể. Các Tiểu đoàn Biệt Động Quân tiếp viện bằng trực thăng bị hoả lực của địch bắn vào xối xả, rất khó đổ quân. Phi cơ phải ném bom với cường độ lớn vào các điểm giao tranh. Đến ngày 29 tháng 12 Cộng quân bắt đầu rút, ta khám phá nhiều đường hầm kiên cố cùng với các kho thực phẩm và đạn dược. Đến ngày 31/12/64, ta đã tái chiếm Bình Giả, kết quả 3 ngày đêm ác chiến 132 Việt Cộng chết; Phía Việt Nam Cộng hòa 44 chết, 34 bị thương, 41 mất tích. Cùng ngày các Tướng lãnh nhóm họp tại Vũng Tàu để tìm “Giải pháp cho tình thế”
Ngày 18/1/1965, sau nhiều vận động hậu trường và nhiều thoả hiệp chia ghế, chính phủ Trần Văn Hương tuy chưa bị lật đổ nhưng phải cải tổ, với sự tham gia của bốn tướng là Nguyễn Văn Thiệu, Đệ nhị Phó thủ tướng; Trần Văn Minh, Tổng trưởng Quân lực; Linh Quang Viên,Tổng trưởng tâm lý chiến; Nguyễn Cao Kỳ, Tổng trưởng thanh niên thể thao. Ngày 23/1/65, Thủ tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân kêu gọi mọi người tránh các vụ xách động, rằng ông sẽ lãnh trách nhiệm trước tình thế, rồi lên án "lũ lưu manh cạo đầu rồi mặc sắc phục tăng ni”.
4. Ngày 27/1/1965, Hội đồng Quân lực ra tuyên cáo, Quân đội đã trả quyền cho phía dân sự nhưng tình thế mỗi ngày mỗi rối ren, nên Hội đồng Quân lực quyết định uỷ nhiệm tướng Nguyễn Khánh triệu tập ngay một Hội đồng quân dân gồm các đại diện các tôn giáo, nhân sĩ, và quân đội giải quyết cuộc khủng hoảng. Ngày 16/2/1965, thừa Uỷ nhiệm Hội đồng Quân lực, Trung tướng Nguyễn Khánh ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bổ nhiệm ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng Chính phủ thay thế chính phủ Trần Văn Hương. Tiếp đó, ngày 17/2/65, Tướng Khánh thành lập Hội đồng Quốc gia Lập Pháp gồm 20 người đại diện các giới và 6 tướng tá. Chủ tịch Hội đồng là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu.
Ngày 19/2/65, đại tá Phạm Ngọc Thảo kéo một lực lượng bộ binh và chiến xa về Sài gòn chiếm đóng trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh và bến Bạch Đằng. Các tướng lĩnh họp ở phi trường Tân Sơn Nhất, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân bay trên thủ đô quan sát tình hình và ra lệnh cho quân nổi dậy phải rút nếu không sẽ bị ném bom. Ngày 20/2/65, Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi Tư lệnh Quân đoàn I từ Đà Nẳng bay vào Sài gòn đảm nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn giải phóng thủ đô, ra lệnh cho đại tá Thảo và 13 sĩ quan khác phải trình diện trong 24 giờ, nhưng Thảo và một số sĩ quan cùng những nhân vật Công giáo đều đã trốn.
5. Cùng ngày Ngày 20/2/65 này, Hội đồng Quân lực tiếp tục nhóm họp và quyết định cử Trung tướng Trần Văn Minh làm Tổng tư lệnh quân đội, thay thế Trung tướng Nguyễn Khánh, bởi theo Hội đồng Quân lực, Tướng Khánh đã âm mưu tạo ra xáo trộn để trở lại nắm chính quyền. Ngày 22 tháng 2 năm 1965, tướng Khánh bị buộc phải rời khỏi Việt Nam dưới danh nghĩa đại sứ lưu động ở nước ngoài. Ngày 25 tháng 2, Tướng Khánh rời Sài Gòn, mang theo một nắm đất và tuyên bố: "Tôi có mang theo nắm đất quê hương, một ngày nào đó nhất định sẽ trở về". Tuy nhiên, lời tuyên bố này cho đến khi qua đời ông vẫn không thể thực hiện được.
Rời Việt Nam, Nguyễn Khánh đến trú ngụ ở Hoa Kỳ một thời gian ngắn. Từ năm 1966, ông sang Pháp bằng trợ cấp dành cho những người từng phục vụ quân đội Pháp ở Đông Dương. Sau năm 1975, ông định cư tại Mỹ, sinh sống bằng nghề kinh doanh xăng dầu và sửa chữa ôtô. Ngày 2 tháng 1 năm 2005, tại Đại hội quốc dân lần 2 (California, Mỹ), ông được bầu làm Quốc trưởng của "Chính phủ Lâm thời Việt Nam Tự do" ở tuổi gần 80. Sau gần 50 năm tha hương Nguyễn Khánh mất ngày 11 tháng 1 năm 2013 tại San Jose, California, Hoa Kỳ./.
6. TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG CỘNG SẢN LÊ DUẨN.
I. Tiểu sử và nền tảng học vấn.
1. Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7 tháng 4 năm 1907, tại làng Bích La, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình nông dân, con ông Lê Hiệp thợ mộc, và bà Võ Thị Đạo, làm ruộng. Sau đó ông theo gia đình về sinh sống tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành cùng huyện, bên kia dòng sông Thạch Hãn. Năm 1920, Lê Duẩn học xong Tiểu học, sau đó ông lên tỉnh học Trung học được 1 năm thì nghỉ vì hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tháng 5 năm 1926, lúc 19 tuổi Lê Duẩn xin vào làm việc ở Sở Hỏa xa Đà Nẵng. Năm 1927, ông làm nhân viên thư ký đề pô Sở Hỏa xa Đông Dương tại Hà Nội.
Năm 1928, ông tham gia Tân Việt Cách mạng đảng. Năm 1929, ông tham gia Việt Nam Cách mạng Đồng chí Hội. Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1931, ông là Ủy viên Ban tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ. Ngày 20 tháng 4 năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng, bị kết án 20 năm tù, bị giam ở các nhà tù Hoả Lò, Sơn La, và Côn Đảo. Năm 1936, sau 5 năm ở tù, Lê Duẩn được trả tự do, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Trung Kỳ. Năm 1937, ông làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ. Năm 1939, ông được bầu vào Ban thường vụ Trung ương Đảng. Cuối năm 1939, tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6. Ngày 17 tháng 1 năm 1940, Lê Duẩn bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn, bị kết án 10 năm tù và bị đày ra Côn Đảo lần thứ 2.
2. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Lê Duẩn được đón về đất liền, ra Hà Nội làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuối năm 1946, ông được cử vào miền Nam lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Từ ngày 16 đến ngày 20-12-1947, tại Kinh Năm Ngàn, xã Nhơn Ninh, huyện Mộc Hoá, Đồng Tháp Mười, căn cứ của Khu 8, Hội nghị đại biểu Xứ ủy Nam Bộ gồm đông đủ đại biểu các Tỉnh ủy, Khu ủy, do Lê Duẩn chủ. Hội nghị đã bầu ra Xứ ủy chính thức do Lê Duẩn làm Bí thư, sau đổi thành Bí thư Trung ương Cục miền Nam, lãnh đạo Đảng bộ miền Nam, và Chính ủy Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Chức vụ chính quyền của ông chỉ là Trưởng phòng dân quân, trong Bộ Tư lệnh Nam Bộ do Nguyễn Bình làm Tư lệnh.
Tại Đại hội lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam năm 1951, ông được bầu vào Bộ Chính trị. Năm 1952, ông cùng Nguyễn Văn Linh vượt Trường Sơn từ Miền Nam ra Việt Bắc họp Trung ương, được giữ lại làm việc với Bác Hồ, trong năm 1953 ông được Bác cử sang Bắc Kinh chữa bệnh 3 tháng. Thời gian nầy, Lê Đức Thọ thay ông làm quyền Bí thư Trung ương Cục Miền Nam. Sau hiệp định Genève 1954, Lê Duẩn được phân công ở lại miền Nam lãnh đạo phong trào cách mạng. Tháng 8 năm 1954, khi đang công tác ở Quảng Ngãi, ông đã nhận được lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào Nam để cùng với Xứ ủy Nam Bộ lãnh đạo phong trào cách mạng trong tình hình mới.
3. Trong thời gian này, ông di chuyển liên tục tại những vùng nông thôn hẻo lánh miền Tây, miền Trung Nam Bộ đến các thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Lạt…Tháng 8 năm 1956, ông đã hoàn thành bản dự thảo “Đề cương cách mạng miền Nam”tại căn nhà số 29 đường Huỳnh Khương Ninh, gần chợ Đa Kao, Sài Gòn. Chứng kiến thực tế phong trào quần chúng miền Nam đòi thi hành tuyển cử thống nhất đất nước bị Mỹ-Diệm đàn áp đẫm máu, ông sớm dự đoán “Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống Mỹ - Diệm, để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không còn con đường nào khác”.
II. Từ Ban Bí thư đến Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng
1. Năm 1957, sau vụ “sửa sai cải cách ruộng đất” Lê Duẩn được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh điều ra Hà Nội trực tiếp điều hành công việc chung của Đảng. Ông được cử vào Ban Ví thư Trung ương Đảng, chủ trì công việc của Ban Bí thư và là Phó Ban chuẩn bị văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng. Trong tháng 6/1959, Xứ ủy Nam Bộ đã 3 lần gởi điện ra Trung ương Đảng báo cáo về tình hình Mỹ – Diệm tăng cường khủng bố ở Tây Nam Bộ. Hai đại biểu Xứ ủy là Phan Văn Đáng và Phạm Văn Xô từ Nam Bộ ra Bắc báo cáo trực tiếp với Trung ương. Lê Duẩn đã bố trí cho hai người tới chào Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhắc: “Cứ nói hết tình hình miền Nam với Bác”.
Trong cuộc gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Phan Văn Đáng và Phạm Văn Xô:“Các chú về báo cáo với Xứ ủy: nhất định không để cho địch tiêu diệt lực lượng cách mạng ở miền Nam... Trung ương ở xa, Xứ ủy vừa có trách nhiệm với Trung ương, vừa phải có trách niệm với Đảng bộ và nhân dân miền Nam”. Có thể nói các báo cáo tình hình cách mạng miền Nam của 2 ông Đáng, ông Xô đã cùng với Lê Duẩn có tác động mạnh mẽ để Trung ương Đảng thông qua Đề cương cách mạng miền Nam do Lê Duẩn viết, và Nghị quyết 15 chuyển hình thức đấu tranh chính trị đơn thuần sang kết hợp đấu tranh vũ trang. Tháng 9/1960, tại Đại hội lần thứ III đảng Lao động Việt Nam, Lê Duẩn được bầu làm Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
2. Về sự kiện nầy, Lê Anh Hùng có bài: Bắc Kinh đã ngăn cản Võ Nguyên Giáp trở thành Tổng Bí thư như thế nào?, Lê Anh Hùng viết: “Sau thảm hoạ diệt chủng mang tên “Cải cách ruộng đất” do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, Trưởng ban Cải cách Ruộng đất Trung ương Trường Chinh bị biến thành con dê tế thần và mất chức Tổng Bí thư vào tháng 10/1956. Lúc bấy giờ, trong số những trợ thủ thân cận nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nổi lên như là ứng cử viên số một để tiếp quản chiếc ghế mà ông Trường Chinh để lại. Thế nhưng, tại Đại hội lần thứ III Đảng CSVN năm 1960, nhân vật được bầu vào vị trí Bí thư Thứ nhất là ông Lê Duẩn, chứ không phải là ông Võ Nguyên Giáp, người từng sát cánh với ông Hồ Chí Minh mười mấy năm.
Trong một cuộc trò chuyện mới đây giữa chúng tôi với Đại tá Đoàn Sự, người phiên dịch tiếng Trung tại đại bản doanh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ, và có thời gian làm thư ký cho ông Giáp. Từ năm 1955-1959, Đoàn Sự là phó tuỳ viên quân sự tại Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc. Đoàn Sự cũng từng mấy lần tháp tùng và phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các cuộc gặp với lãnh đạo Trung Quốc. Với vị thế đó, Đại tá Đoàn Sự là một nhân chứng lịch sử, một trong số ít người nắm được những bí mật thuộc hàng “thâm cung bí sử” của chế độ.
3. Đoàn Sự cho biết, sau khi ông Trường Chinh bị mất chức, ông Hồ Chí Minh tạm quyền Tổng Bí thư và chủ trương đưa ông Võ Nguyên Giáp lên ngồi vào chiếc ghế đó. Vì thế, ông Hồ đã bí mật cử ông Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc để “tham vấn” ý kiến của Bắc Kinh. Ông Hồ nói với ông Võ Nguyên Giáp: “Thôi bây giờ chú trút bỏ quân phục đi. Chú phải làm nhiệm vụ này. Nhưng trước hết là ta phải sang trao đổi với Trung Quốc, trên đường chú đi Tiệp Khắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Tiệp Khắc". Chuyến sang Tiệp Khắc lần đó là một dịp hiếm hoi Võ Nguyên Giáp mặc quần áo dân sự, mục đích là để tạo hình ảnh của một Tổng Bí thư tương lai. Bởi sau khi trở thành đại tướng, tổng tư lệnh quân đội, Võ Nguyên Giáp luôn mặc quân phục trong các cuộc giao tiếp. Thói quen này vẫn được ông duy trì cho đến những năm tháng cuối đời.
Đoàn Việt Nam sang Tiệp Khắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Tiệp Khắc lần thứ 11 năm 1958 gồm có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Tố Hữu và một vài người khác. Cả đi lẫn về đoàn đều dừng chân ở Bắc Kinh. Nhưng, gặp Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông mới là mục đích chính của đoàn. Tham dự cuộc gặp bên phía Trung Quốc còn có Phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm. Phía Việt Nam còn có ông Nguyễn Khang, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc. Đại tá Đoàn Sự làm phiên dịch cho đoàn Việt Nam. Trong cuộc gặp, Mao Trạch Đông hết lời khen ngợi ông Võ Nguyên Giáp, nào là “Võ Tổng tài ba lắm”, “Võ Tổng giỏi giang lắm”, v.v. Tuy nhiên, cuối cùng ông ta lại chốt một câu:
5. “Nhưng tôi thấy hình như Võ Tổng chưa làm công tác lãnh đạo địa phương bao giờ cả thì phải? Chưa làm qua tỉnh uỷ… gì gì cả. Võ Tổng toàn là thân chinh bách chiến, toàn là đánh nhau cả. Cho nên tôi cũng e ngại là Võ Tổng có ít kinh nghiệm về chuyện này [làm Tổng Bí thư]. Tôi đã trao đổi với mấy người. Chúng tôi không dám có ý kiến gì về chuyện đồng ý hay không đồng ý. Nhưng chúng tôi thấy là ở Việt Nam còn nhiều đồng chí giỏi lắm mà, như đồng chí Lê Duẩn này, đồng chí Lê Đức Thọ này, v.v. Các đồng chí cũng nên cân nhắc xem thế nào.”
Đây là một cuộc gặp bí mật. Hai bên không ghi chép gì. Bên Việt Nam chỉ đến trao đổi rồi lẳng lặng ra về. Sau cuộc gặp, ông Võ Nguyên Giáp nói với Đoàn Sự: “Thôi thế là trật rồi. Mình giờ lại khoác quân phục rồi.” Và trước khi mặc lại quân phục, Võ Nguyên Giáp đã chụp ảnh kỷ niệm Đoàn Sự với người cộng sự thân tín một thời, ghi lại hình ảnh hiếm hoi của Võ Nguyên Giáp trong bộ quần áo dân sự sau cuộc gặp với Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh năm 1958. Ảnh do Đại tá Đoàn Sự cung cấp (kèm trang viết) . (Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ).
III. Đẩy mạnh cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam
1. Lê Duẩn là người chủ trương tích cực thúc đẩy quá trình thống nhất đất nước bằng cách đẩy mạnh cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam... Giai đoạn 1960–1965 là giai đoạn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công khai hậu thuẫn những người Cộng sản miền Nam, và bắt đầu đem quân thâm nhập miền Nam. Lê Duẩn tuyên bố cuộc chiến chống đế quốc Mỹ là sự nghiệp chung của cả dân tộc cũng như của toàn thế giới: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta”.
Lê Duẩn luôn nhấn mạnh: muốn thắng Mỹ thì Việt Nam phải có tinh thần tự lực, không sợ kẻ thù và cũng không để nước ngoài kể cả đồng minh chi phối. Trong một cuộc họp, ông nói với Chủ tịch Hồ Chí Minh:“Thưa Bác, chúng ta muốn thắng Mỹ, có một điều rất quan trọng là chúng ta phải không được sợ Mỹ, nhưng cũng không được sợ Trung Quốc và không được sợ Liên Xô”. Có người trong Bộ Chính trị phản đối ý kiến đó, nhưng đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đứng lên ủng hộ:“Thưa Bác, việc anh Ba nói vậy là vô cùng cần thiết và nhất định phải như vậy chúng ta mới thắng được”. Cả Bộ Chính trị vỗ tay hoan hô ý kiến đó.
2. Lê Duẩn đồng ý nhận viện trợ vũ khí của các nước để đánh Mỹ, nhưng ông không đồng ý nếu các nước này dùng viện trợ để tìm cách gây sức ép với Việt Nam. Khi Trung Quốc đề nghị viện trợ 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện xe phải đi kèm lái xe của họ, Lê Duẩn không đồng ý nhận bất cứ một chiếc xe nào vì tin rằng Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ. Có người trong Bộ Chính trị đề nghị "sao không nhận một vài chiếc cho người ta vui?", nhưng ông trả lời: “Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này”.
Xin lưu ý rằng, mùa hè 1962, Trung Quốc gửi cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn. Trung Quốc cũng đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt Nam nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Trong cuộc họp ngày 5 tháng 10 năm 1964, Mao Trạch Đông nói với Phạm Văn Đồng: "Theo đồng chí Lê Duẩn, các đồng chí có kế hoạch gửi một sư đoàn vào Nam. Có lẽ các đồng chí chưa cần gửi sư đoàn đó đi ngay. Khi làm việc này, chọn đúng ngày giờ rất là quan trọng." Tháng 12 năm 1964, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc thăm Hà Nội và ký Hiệp ước Hữu nghị hợp tác quân sự Việt – Trung.
3. Đến cuối năm 1964, Mao Trạch Đông công khai ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xâm nhập miền Nam Việt Nam giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nâng các lực lượng tấn công lên cấp sư đoàn. Tháng 4 năm 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký hiệp định với Trung Quốc, theo đó, Trung Quốc đưa một lực lượng quân đội vào miền Bắc Việt Nam. Tổng số quân Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng 6-1965 đến tháng 3-1973 là gần 320.000 người. Tại thời điểm đông nhất có khoảng 130.000 người, bao gồm các đơn vị tên lữa đất đối không, pháo phòng không và các đơn vị công binh làm đường, dò mìn và vận tải, trong đó có khoảng 1000 người tử trận.
Trong thời gian chuẩn bị diễn ra Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang trong đợt dưỡng bệnh dài ngày tại Trung Quốc. Bác Hồ liên tục ốm nặng kể từ năm 1966, hầu như cả năm 1967, ông ở Trung Quốc chữa bệnh. Tuy vậy, Hồ Chủ tịch vẫn quay về Việt Nam 2 lần, vào tháng 7 và tháng 12 năm 1967 để chỉ đạo và phê duyệt quyết định tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Tối ngày 23 tháng 12, Hồ Chí Minh đi máy bay về đến Hà Nội. Ngày 28 tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt ngay bên nhà sàn của Hồ Chủ tịch, Hồ Chí Minh cùng Lê Duẩn và các thành viên khác của Bộ Chính trị đã thống nhất lần cuối kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân.
4. Năm 1969, Hồ Chí Minh qua đời. Lê Duẩn là người đọc điếu văn tang lễ, ông đã nấc nghẹn nhiều lần khi đọc lời truy điệu “… Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa. Tổn thất này vô cùng lớn lao. Đau thương này thật là vô hạn! Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta…”. Đây là lần duy nhất người ta thấy ông khóc trong các bộ phim tài liệu.
IV. Lập kế hoạch cho chiến thắng quyết định
1. Đầu tháng 6/1973, sau khi nghe báo cáo việc Bộ Tổng Tham mưu đang xúc tiến xây dựng "Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà", Lê Duẩn đã triệu tập toàn tổ soạn thảo sang trực tiếp trình bày cho Lê Duẩn nghe về bản kế hoạch ngay chiều hôm ấy. Ông cơ bản nhất trí với những nội dung chính của báo cáo, đồng thời chỉ ra một số phương hướng để thực hiện kế hoạch. Ngày 20/7/1974, Lê Duẩn lại có cuộc gặp riêng với Thượng tướng Hoàng Văn Thái và Thiếu tướng Lê Trọng Tấn- hai Phó Tổng tham mưu trưởng tại Đồ Sơn, Hải Phòng.
Ông kết luận: "Tôi đồng ý với ý kiến của Bộ Tổng tham mưu là Bộ Chính trị phải có nghị quyết về tình hình mới, thống nhất hành động, thống nhất ý chí để huy động sức mạnh của cả nước vào sự nghiệp lớn lao này". Và ông đã cho nhiều ý kiến chỉ đạo, xác đáng vào kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu. Các ý kiến bổ sung của Lê Duẩn vào bản kế hoạch cũng chỉ rõ: "Mặc dù các năm 1975 và 1976 đều quan trọng nhưng năm 1975 là năm bản lề tạo điều kiện quyết định để năm 1976 đạt mục tiêu cuối cùng. Nếu thời cơ đến vào năm 1975 thì lập tức tiến hành tổng tấn công, giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975".
2. Sau chiến thắng trong Chiến dịch Mùa Xuân 1975, trong diễn văn mừng chiến thắng gửi toàn thể nhân dân, Lê Duẩn viết: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.. đem lại lòng tin và niềm phấn khởi cho hàng trăm triệu người trên khắp trái đất đang đấu tranh vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và Chủ nghĩa Xã hội.”
Mâu thuẫn với Trung Quốc, đã có dấu hiệu ngấm ngầm ngay sau khi Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu gây khó khăn cho Hoa kiều khi muốn thăm thân nhân ở Trung Quốc, và cũng không cho nhiều người Trung Quốc sang Việt Nam thăm người thân. Sau khi chiến thắng ngày 30 tháng 4, chiến tranh Việt Nam kết thúc, Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 9 năm 1975, Lê Duẩn nêu vấn đề Hoàng Sa trong chuyến thăm Trung Quốc. Phản ứng kiên quyết không nhượng bộ của Trung Quốc làm ông khó chịu.
V. Căng thẳng với Trung Quốc.
1. Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IV (12/1976), Lê Duẩn tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư. Số liệu nhà nước ghi nhận, năm 1975, dân số người gốc Hoa tại Việt Nam khoảng 4%, trong đó có hơn 1,5 triệu Hoa kiều sinh sống chủ yếu ở khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn, và chỉ có khoảng 300.000 người Việt gốc Hoa sống ở miền Bắc. Ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường miền Nam Việt Nam.
Vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản. Vấn đề càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong vùng Chợ Lớn. Năm 1977, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Trung Quốc có thể sử dụng uy thế kinh tế của Hoa kiều để ép Việt Nam, và Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc. Năm 1978, người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc... Tất cả cộng lại, làm cho chính phủ Việt Nam lo lắng về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài.
2. Và, họ đã coi người Hoa như là một tổ chức bí mật hoạt động ở Việt Nam và sẵn sàng tiếp tay với Trung Quốc để phá hoại. Để chấm dứt tình trạng này, Lê Duẩn đưa ra biện pháp cứng rắn là quốc hữu hóa tài sản của người Hoa. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của đa số tư sản Hoa kiều bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Việc này đã khiến Trung Quốc bất bình và bắt đầu một thời kỳ quan hệ căng thẳng giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc.
VI. Với Cộng sản Campuchia và Cộng sản Trung Quốc.
1. Đó là hai cuộc chiến tranh giữa các nước “Cộng sản với nhau”. Với Cộng sản Campuchia gọi là Chiến tranh biên giới Tây Nam, và với Cộng sản Trung Quốc gọi là Chiến tranh biên giới phía Bắc. Chiến tranh biên giới Tây Nam để phản công lại quân Khmer Đỏ liên tục mở các cuộc tấn công vào lãnh thổ Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Tây Nam giết chóc dân thường và đốt phá làng mạc trong những năm 1975–1978, Việt Nam tiến hành một loạt các chiến dịch quân sự tấn công vào Campuchia vào tháng giêng năm 1979. Kết quả là chế độ Khmer Đỏ bị đánh đổ, một Hội đồng cách mạng được thành lập do Heng Sảmin làm chủ tịch, dưới sự hỗ trợ của quân đội Việt Nam đã tiếp quản Campuchia.
Chiến tranh biên giới Việt - Trung tháng 2 năm 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước. Mục tiêu của Trung Quốc khi phát động cuộc chiến là buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia để Khmer Đỏ có thể quay lại nắm quyền. Sau 3 tuần tấn công, quân Trung Quốc bị thiệt hại nhiều và rút quân, trong khi không đạt mục đích là buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia. Chính Lê Duẩn đã lãnh đạo đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn này, thành công trong việc tiêu diệt chế độ Khmer Đỏ ở Campuchia và ngăn chặn được quân Trung Quốc ở phía Bắc.
2. Ngày 15 tháng 3 năm 1979, Bộ Ngoại giao công bố “Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt – Trung”, trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 28 tháng 9 năm 1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng quốc phòng, giới thiệu 19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Đến năm 1982, người Hoa ở Việt Nam đã lũ lượt rời bỏ Việt Nam vượt biên qua đường biển, đường bộ để đến nước thứ ba. Số người gốc Hoa tại Việt Nam đã giảm từ 1,8 triệu năm 1975 giảm xuống rất nhanh khi Lê Duẩn còn tại chức. Người gốc Hoa không còn kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và các phong tục, ngôn ngữ gốc Hoa của họ đã mất đi phần lớn.
Tại Đại hội đảng toàn quốc lần thứ V vào tháng 2 năm 1982, Lê Duẩn tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư đến khi mất. Ông cũng đảm nhiệm chức Bí thư Quân uỷ Trung ương từ năm 1978 đến năm 1984. Do sức khỏe của ông đã yếu, Ban Chấp hành Trung ương giao một số nhiệm vụ của ông cho Trường Chinh.
VII. Là thời kỳ tối tăm nhất về kinh tế trong lịch sử Việt Nam
1. Tuy nhiên bên cạnh những thành công về quốc phòng, Ban chấp hành Trung ương do Lê Duẩn đứng đầu đã phải đối mặt với những khó khăn lớn về kinh tế, Việt Nam bị cô lập trong suốt giai đoạn 1976-1986. Giáo sư Trần Văn Thọ viết về tình trạng kinh tế 10 năm đầu sau chiến tranh khi Lê Duẩn còn nắm quyền: "Mười năm sau 1975 là một trong những giai đoạn tối tăm nhất về kinh tế trong lịch sử Việt Nam. Là một nước nông nghiệp: năm 1980, có 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động là nông dân, nhưng Việt Nam lại thiếu ăn, nhiều người phải ăn bo bo trong thời gian dài. Lượng lương thực tính trên đầu người giảm liên tục từ năm 1976 đến 1979, sau đó tăng trở lại nhưng cho đến năm 1981 vẫn không hồi phục lại mức năm 1976.
Công thương nghiệp cũng đình trệ, sản xuất đình đốn, vật dụng hằng ngày thiếu thốn, cuộc sống của người dân vô cùng khốn khó. Ngoài những khó khăn của một đất nước sau chiến tranh và tình hình quốc tế bất lợi, nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, trong đó nổi bật nhất là việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở miền Nam... Nguy cơ thiếu ăn kéo dài và những khó khăn cùng cực khác làm phát sinh hiện tượng "phá rào" trong nông nghiệp, trong mậu dịch và trong việc quyết định giá cả lương thực đã cải thiện tình hình tại một số địa phương. Nhưng phải đợi đến sau khi Lê Duẩn mất, Đại hội đảng lần thứ 6 tháng 12 năm 1986, gọi là Đại hội Đổi mới bắt đầu có biến chuyển thực sự.
2. Tuy nhiên, một số người gần gũi với Lê Duẩn biện minh rằng sau 1975, Hoa Kỳ và các nước thân Hoa Kỳ bao vây cấm vận, trong khi đó Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu thì mắc sai lầm nghiêm trọng để rồi sụp đổ. Khối SEV, nguồn viện trợ duy nhất của Việt Nam đã cạn dần rồi mất hẳn. Mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa của Liên Xô còn đang che dấu sự yếu kém, Khái niệm kinh tế thị trường do Nam Tư mới loé mở thì đã bị Liên Xô khai trừ ra khỏi hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh lịch sử đó, Lê Duẩn không thể có ý tưởng nào khác với tập thể ban lãnh đạo, ông chỉ cố gắng chèo chống để nước nhà không bị sụp đổ, tuy có gian nan vất vả nhưng vẫn trụ vững.
VIII. Chuyên chính vô sản và làm chủ tập thể.
1. Về chuyên chính vô sản, Lê Duẩn nói: “Chế độ ta là chế độ chuyên chính vô sản. Chuyên chính trước hết phải là đường lối của giai cấp vô sản. Cốt tủy của chuyên chính vô sản là ở đó chứ không phải là ở chỗ sử dụng bạo lực. Đường lối đó là sự kết hợp lý luận Mác - Lê Nin với thực tiễn cách mạng của nước mình. Đường lối đó là khoa học nhất, là đúng quy luật, là bắt buộc. Đường lối đó không hề nhân nhượng với ai, chia sẻ với ai và hợp tác với ai cả. Đó là chuyên chính!
Đường lối đó là: nhất thiết phải xóa bỏ giai cấp bóc lột, xóa bỏ chế độ sản xuất cá thể, xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Nhất thiết phải làm thế, không cho phép ai đi ngược lại. Đó là chuyên chính. Đường lối đó nhất thiết phải là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Không ai được chống lại. Đó là chuyên chính. Đường lối đó là đường lối của giai cấp công nhân, không ai được chống lại. Ai chống lại những cái đó thì bị bắt. Đó là chuyên chính.
2. Về "làm chủ tập thể trên lập trường giai cấp vô sản" lần đầu được Lê Duẩn đưa ra vào tháng 6 năm 1965, và nhiều bài phát biểu về sau, ông phân tích:"Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, động lực đó là lợi nhuận. Lợi nhuận là động lực của cách mạng kỹ thuật, của các cuộc xâm chiếm thuộc địa, mở rộng thị trường, của việc mở rộng nền sản xuất lớn, v.v.. Lợi nhuận là nhân tố kích thích mạnh mẽ nhất sự phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa, là cái mà hằng giờ hằng phút bọn tư bản suy nghĩ đến".
“Còn trong chế độ xã hội chủ nghĩa.Tất cả những người lao động đều phải lấy việc sản xuất của cải vật chất nhiều hay ít làm thước đo sự cống hiến của mình vào nền sản xuất xã hội, vì vậy, chúng ta phải thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động. Nguyên tắc đó là một động lực thúc đẩy nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, nhưng nhân tố thường xuyên, mạnh mẽ thúc đẩy tính tích cực sản xuất của quần chúng công nông là ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần làm chủ tập thể của họ"."Xây dựng tư tưởng tập thể xã hội chủ nghĩa có nghĩa là chống chủ nghĩa cá nhân, và chống chủ nghĩa cá nhân là để xây dựng tư tưởng tập thể xã hội chủ nghĩa".
3. "Xây dựng chế độ làm chủ tập thể là xây dựng nước ta thành một xã hội trong đó người chủ chân chính, tối cao là cộng đồng xã hội, là tập thể nhân dân lao động có tổ chức, mà nòng cốt là liên minh công nông. Nội dung của làm chủ tập thể là làm chủ toàn diện, là làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; là làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân; là làm chủ trong cả nước, trong từng địa phương và từng cơ sở; Và, trên cơ sở làm chủ đầy đủ của tập thể, của cộng đồng xã hội mà bảo đảm tự do cũng đầy đủ cho mỗi người; và ngược lại "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người".
“Phải phát động quần chúng, phải tuyên truyền giáo dục, làm cho mọi công dân Việt Nam từ em bé đến cụ già, nhất là tầng lớp thanh niên hiểu rằng họ là người chủ của nước Việt Nam, rằng tất cả của cải, tài nguyên của đất nước này đều thuộc về tập thể nhân dân, thuộc về những thế hệ hôm nay và cả những thế hệ ngày mai. “Họ phải làm tròn nghĩa vụ của người làm chủ đất nước, đồng thời họ có đầy đủ những quyền của người làm chủ: quyền làm việc, học hành, vui chơi, quyền phát biểu ý kiến về bất cứ vấn đề gì của Nhà nước nhằm mưu cầu sự giàu có cho đất nước và hạnh phúc cho đồng bào; không ai được áp bức, ép buộc họ.
4. "Chế độ làm chủ tập thể hơn hẳn mọi nền dân chủ trong lịch sử. Nó không phải là dân chủ của một số ít người, cũng không phải là dân chủ cho từng cá nhân riêng lẻ. Nó thể hiện vai trò làm chủ tập thể của cả cộng đồng xã hội của từng tổ chức và của từng người trong cộng đồng. “Kết hợp chặt chẽ lợi ích của toàn xã hội với lợi ích của tập thể và lợi ích của mỗi người, nó bảo đảm cho cả cộng đồng xã hội cũng như từng tổ chức trong cộng đồng phát triển một cách tốt nhất, đồng thời bảo đảm tự do đầy đủ nhất cho mỗi thành viên của xã hội...Làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa có hai mặt: toàn xã hội làm chủ tập thể và từng người một làm chủ tập thể.
“Cả xã hội làm chủ và từng người một làm chủ, là tập thể và cá nhân có đầy đủ tự do, hai cái đó thống nhất với nhau, không hề có mâu thuẫn...Làm chủ tập thể là tập thể và các nhân làm chủ: làm chủ cả về chính trị, kinh tế, văn hoá.. làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên và làm chủ bản thân". "Trong chế độ làm chủ tập thể, mọi người lao động không thụ động tiếp nhận và hưởng thụ các quyền dân chủ từ một quyền lực bên ngoài mang đến, mà tự giác và chủ động đóng vai người làm chủ thật sự về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhân dân lao động tự mình thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình bằng một cơ cấu tổ chức hợp lý, bằng một chế độ sản xuất và phân phối hợp lý, bằng những phong trào cách mạng liên tục, sôi nổi của hàng chục triệu người.
5. “Chế độ làm chủ tập thể thực hiện trong cả nước, trong từng địa phương, từng cơ sở, gắn chặt làm một lợi ích của cá nhân với lợi ích của tập thể và của toàn xã hội. Đối với mỗi con người, chế độ làm chủ tập thể bảo đảm sự phát triển toàn diện nhất, những quyền lợi đầy đủ nhất đi đôi với những nghĩa vụ cao cả mà mọi người phải làm tròn. "Chỉ có chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa mới giải quyết đúng mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân. Ở đây, vừa thiết lập sự làm chủ tập thể của cả cộng đồng xã hội Việt Nam, vừa phát huy cao độ quyền tự do chân chính của cá nhân, khơi dậy mọi năng lực sáng tạo của cá nhân, thống nhất hài hoà cá nhân với xã hội.
“Thiết lập chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động là mục đích của chủ nghĩa xã hội, đồng thời đó là một động lực quan trọng của công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Làm chủ tập thể xã hội là một quá trình phát triển từ thấp đến cao, trước hết là làm chủ về chính trị tiến lên làm chủ về kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó làm chủ về kinh tế là quan trọng nhất.Chủ nghĩa xã hội không xóa bỏ tất cả những cái riêng của mọi người, nhưng mỗi người phải tham gia vào cái chung, phải phục vụ cái chung, vì cái chung...
6. “Chủ nghĩa xã hội không bao giờ chủ trương xóa bỏ quyền lợi cá nhân, mà chỉ làm sao cho quyền lợi cá nhân và quyền lợi tập thể nhất trí với nhau. Ta khuyến khích mỗi người cố gắng tiến lên để đời sống chung và riêng được khá hơn… Hơn nữa, hiện nay về mặt kinh tế, phần cá thể vẫn còn là một nguồn sống của mỗi con người chúng ta”. Trong bài phát biểu tại Hội nghị lần thứ tám BCHTW khóa IV ông cho là chế độ làm chủ tập thể do các nhà kinh điển nêu ra, nhưng tại Hội nghị lần thứ tám TW khóa V, ông lại nói Mác, Lênin cũng chưa nói đến, nhưng Việt Nam đang làm trong thực tế. Sau Đổi mới, đường lối làm chủ tập thể không còn được nhắc đến trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước”.
IX. Những năm cuối đời
1. Từ 1960, theo một số nhận định Lê Duẩn trở thành người có ảnh hưởng và quyền lực cao nhất trong Bộ Chính trị. Cùng với quân sự là ngoại giao, ông rất chú ý đàm phán Paris. Ông nói với ông Lê Đức Thọ rằng: "Anh sang bên đó, một điều không được thay đổi là Mỹ rút và mình không rút". Tuy nhiên bên cạnh những thành công về quốc phòng, Ban Chấp hành TW do ông đứng đầu đã đề ra các đường lối sai lầm về kinh tế, và hậu quả của các cuộc chiến tranh khiến kinh tế lâm vào khủng hoảng, Việt Nam bị cô lập trong suốt giai đoạn 1976-1986, Lê Duẩn không thể không chịu trách nhiệm.
Từ Đại hội V do sức khỏe yếu, Trung ương Đảng giao bớt một số quyền của ông cho Trường Chinh. Lê Duẩn qua đời ngày 10 tháng 7 năm 1986 tại Hà Nội./.
7. CHỦ TỊCH UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU.
I. Tiểu sử và nền tảng học vấn.
1. Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5 tháng 4 năm 1923 tại Phan Rang trong một gia đình khá giả tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận con ông Nguyễn Văn Trung, một nhân sĩ Nho học và bà Bùi Thị Hành. Sau khi học hết lớp đệ tứ, ông ra Huế học trường dòng Công giáo Pellerin. Năm 1939, Nguyễn Văn Thiệu vào Sài Gòn học Trường Trung học Lê Bá Cang, tốt nghiệp Tá tài bán phần vào năm 1942. Năm 1945, Nguyễn Văn Thiệu gia nhập lực lượng Việt Minh, ông cùng các đồng chí được huấn luyện quân sự trong rừng, dùng gậy tre tập bắn vì không có súng.Nguyễn Văn Thiệu trở thành một huyện đội trưởng.
Năm sau, lúc quân đội Pháp quay trở lại Đông Dương, Nguyễn Văn Thiệu đào ngũ vào Sài Gòn, theo Trường Kỹ thuật trên đường Đỗ Hữu Vị, rồi sau đó thì chuyển sang Trường Hàng hải Dân sự. Sau một năm, Nguyễn Văn Thiệu tốt nghiệp với tư cách một sĩ quan, nhưng từ chối làm việc trên một con tàu khi biết được chủ người Pháp trả lương cho ông thấp hơn so với sĩ quan Pháp. Tháng 9 năm 1949, Nguyễn Văn Thiệu ghi danh học khóa sĩ quan đầu tiên của Quân đội Quốc gí Việt Nam khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1948 tại Trường Võ bị Đập Đá Huế, tiền thân của Trường Võ bị Đà Lạt. Ngày 1 tháng 6 năm 1949, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu uý.
2. Chức vụ đầu tiên cuả Thiếu uý Nguyễn Văn Thiệu là Trung đội trưởng Bộ binh trong một đơn vị Bộ binh của Quân đội Quốc gia đồn trú tại Mỏ Cày, Bến Tre. Cùng năm đó, ông được cử sang Pháp học tại Trường Bộ binh Coëtquidan thuộc Trường Võ bị Liên quân Saint-Cyr. Sau đó, ông được điều ra Bắc. Đầu năm 1951, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp trung uý, theo học khóa chỉ huy chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà Nội. Tháng 7 năm 1951, ông được điều về trường Võ bị Đà Lạt làm trung đội trưởng khóa sinh của khóa 5. Năm 1952, sau khi học xong khoá đào tạo tiểu đoàn trưởng và Liên đoàn trưởng lưu động tại Hà Nội cùng Cao Văn Viên và Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp đại uý và được điều chuyển về bộ chỉ huy mặt trận Hưng Yên.
Tháng 1 năm 1954, Đại uý Thiệu được thăng cấp thiếu tá, nắm quyền chỉ huy Liên đoàn Bộ binh số 11 và dẫn đầu một cuộc hành quân đánh vào quê nhà Thanh Hải. Việt Minh rút lui vào căn nhà của gia đình ông cố thủ. Thiếu tá Nguyễn Văn Thiệu vẫn tiếp tục tiến chiếm, đánh bật Việt Minh ra khỏi khu vực, phá hủy cả căn nhà nơi mình từng sinh ra và lớn lên. Sau ngày 20 tháng 7 năm 1954, Thiếu tá Thiệu làm trưởng phòng 3 Đệ nhị Quân khu do Đại tá Trương Văn Xương làm tư lệnh, trú đóng tại Huế. Không lâu sau, ông bàn giao chức trưởng phòng 3 cho Thiếu tá Trần Thiện Khiêm lên làm Tham mưu trưởng Đệ Nhị Quân khu. Cuối năm 1954, Thiếu tá Nguyễn văn Thiệu được cử làm Tiểu khu trưởng Ninh Thuận thay Thiếu tá Đỗ Mậu vào cuối năm.
3. Năm 1955, Thiếu tá Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp trung tá, và bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt thay thế Trung tá Nguyễn Văn Chuân. Tháng 7 năm 1957, Trung tá Thiệu bàn giao chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt cho đại tá Hồ Văn Tố để du học khóa Chỉ huy & Tham mưu cao cấp tại Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Năm 1958, mãn khoá học trở về nước, Nguyễn Văn Thiệu được tái nhiệm chức chỉ huy trưởng trường võ bị thay cho Đại tá Tố.Năm 1959, Trung tá Thiệu lại bàn giao Trường Võ bị Đà Lạt cho Thiếu tướngăn Kim để theo học khóa Tình báo Tác chiến tại Okinawa, Nhật Bản. Kết thúc khóa học, ông về làm Tham mưu trưởng Hành quân tại Bộ Tổng tham mưu.
Ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 cùng năm 1959, Trung tá Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp đại tá, ngay sau đó được cử đi du học lớp Phòng không tại Trường Fort Bliss, Texas, Hoa Kỳ. Ngày 21 tháng 10 năm 1961, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh thay Đại tá Nguyễn Đức Thắng. Cuối năm 1962, Đại tá Thiệu bàn giao Sư đoàn 1 lại cho Đại tá Đỗ Cao Trí để nhậm chức tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh thay Đại tá Nguyễn Đức Thắng về Bộ Tổng Tham mưu làm Trưởng phòng Hành quân.
II. Vai trò trong cuộc đảo chính năm 1963
1. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Với tư cách Tư lệnh Sư đoàn 5, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu đã điều động 2 trung đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh và một chi đoàn thiết giáp tiến vào Sài Gòn và bao vây Thành Cộng hoà, gây áp lực buộc Ngô Đình Diệm đầu hàng. Đêm hôm đó, Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy lực lượng tiến về phía Dinh Gia Long, nơi ở của Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, vào lúc này, anh em Ngô Đình Diệm đã trốn khỏi Dinh bằng đường hầm bí mật và đến tá túc tại nhà của Mã Tuyên – một thương gia người Hoa. Khoảng 22 giờ, được yểm trợ bởi pháo binh và xe tăng, bộ binh của Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu khai hỏa tấn công doanh trại của Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống.
Hai bên đấu súng quyết liệt, quân đảo chính dùng súng phun lửa tấn công dinh. Sau một hồi im tiếng súng thì vào lúc 3 giờ sáng ngày 2 tháng 11, Nguyễn Văn Thiệu tái khởi động các đợt pháo kích. Đến 5 giờ 15 phút, lực lượng bảo vệ Dinh Gia Long buông súng đầu hàng. Tổng thống Nhô Đình Diệm, và em trai Cố vấn Ngô Đình Nhu đã rời khỏi Dinh lúc nào không biết. Ít giờ sau, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu từ Nhà thờ Cha Tam ra hàng. Vào khoảng 10 giờ, họ bị đưa lên một xe thiết giáp và được một số sĩ quan áp giải về Bộ Tổng Tham mưu, song cả hai đã bị sát hại trên đường đi.
2. Sau cuộc đảo chính, sự nghiệp Nguyễn Văn Thiệu thăng tiến nhanh chóng. Nhờ những đóng góp của mình và sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ Trung tướng Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp bậc hàm thiếu tướng, trở thành một trong mười hai thành viên của Ban Chấp hành Hội đồng Quân mhaan Cách mạng với vị trí ủy viên. Các nhân vật chủ chốt của Hội đồng này gồm có Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, và Tôn Thất Đính. Dương Văn Minh bị chỉ trích là quá thân Pháp, thờ ơ trong việc điều hành đất nước, còn những nhân vật đứng đầu chính phủ như Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ thì bị cáo buộc là "công cụ" của chính quyền quân sự.
Ngày 30 tháng 1 năm 1964, Trung tướng Nguyễn Khánh dưới sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đã tiến hành một cuộc đảo chánh không đổ máu đoạt chính quyền. Nguyễn Khánh thế chỗ Dương Văn Minh làm chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, tuy nhiên vẫn giữ ông Minh làm quốc trưởng trên danh nghĩa do uy tín của ông này trong quân đội vẫn còn quá lớn. Sau cuộc chỉnh lý của Khánh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tham mưu trưởng liên quân. Tháng 8 năm 1964, cảm thấy đã đến lúc có thể nắm quyền hành tuyệt đối, Nguyễn Khánh ban bố tình trạng khẩn cấp trên phạm vi toàn quốc, ngăn cấm biểu tình, tái lập kiểm duyệt báo chí, tăng quyền hạn cho cảnh sát, cho phép họ có quyền khám xét và bắt bớ người tùy ý.
3. Ngày 16 tháng 8 năm 1964, Nguyễn Khánh ban hành Hiến chương Vũng Tàu – một hiến pháp trao cho ông ta quyền lực của tổng thống. Tuy nhiên, hành động này chỉ khiến Nguyễn Khánh thêm phần suy yếu khi rất đông sinh viên, tăng ni, Phật tử, và đối thủ chính trị đã xuống đường biểu tình phản đối hiến chương mới, kêu gọi chấm dứt tình trạng khẩn cấp và khôi phục lại chính phủ dân sự. Lo ngại có thể bị lật đổ trước các cuộc biểu tình ngày càng gia tăng, Hội đồng Quân đội Cách mạng do Nguyễn Khánh làm chủ tịch nhóm họp khẩn cấp, chấp nhận nhượng bộ, bãi bỏ hiến chương mới và các đặc quyền cảnh sát, đồng thời cam kết sẽ khôi phục chính quyền dân sự và xóa bỏ Đảng Cần lao Nhân vị.
III. Con đường tiến tới quyền lực
1. Nhiều sĩ quan cao cấp theo Công giáo như Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu lên tiếng chỉ trích cái mà họ gọi là "sự chuyển giao quyền lực sang người nhà Phật". Họ tìm cách loại bỏ Nguyễn Khánh, ủng hộ Dương Văn Minh và cố gắng lôi kéo nhiều sĩ quan khác tham gia âm mưu. Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu tìm kiếm sự ủng hộ từ Đại sứ Hoa Kỳ Maxwell Taylor cho một cuộc đảo chính mới. Tuy nhiên, Taylor không muốn có thêm bất kỳ xáo trộn nào trong bộ máy lãnh đạo, do lo ngại cuộc đảo chính thứ ba trong vòng 3 tháng sẽ làm suy yếu một chính phủ vốn không ổn định. Sự chia rẽ giữa các tướng lĩnh bộc lộ rõ nét trong các cuộc họp của Hội đồng Quân đội Cách mạng.
Nguyễn Khánh cho rằng tình trạng bất ổn hiện tại là do các thành viên và người ủng hộ Đại Việt-Quốc Dân đảng– một chính đảng thân Công giáo – gây nên. Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu cũng là hai trong số những sĩ quan Công giáo dính líu tới Đảng Đại Việt. Trần Thiện Khiêm chỉ trích Nguyễn Khánh nhượng bộ phe Phật giáo quá mức dẫn đến rắc rối. Nguyễn Văn Thiệu và một viên tướng Công giáo khác là Nguyễn Hữu Có đòi Dương Văn Minh thay thế Nguyễn Khánh. Cuối cùng, một cơ chế mới hình thành gọi là Ban lãnh đạo Quốc gia và Quân lực Lâm thời gồm: Quốc trưởng Dương Văn Minh, Thủ tướng Nguyễn Khánh, và Tổng Tư lệnh Trần Thiện Khiêm, báo chí thường gọi là "Tam đầu chế", nhưng căng thẳng vẫn còn, và Tướng Khánh vẫn chi phối trong việc đưa ra các quyết định.
2. Vài hôm sau, bốn quân nhân rút khỏi Chính phủ gồm: Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, và Đại tá Trần Ngọc Huyến. Rồi, Đại tá Dương Ngọc Lắm Đô trưởng Sài Gòn, và Đại tá Trần Thanh Bền Tổng Giám đốc Cảnh sát bị thay thế. Bốn tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính được về Sài Gòn. Ngày 13/9/64, Trung tướng Dương Văn Đức Tư lệnh Quân doàn IV và Vùng IV chiến thuật, cùng với Thiếu tướng Lâm Văn Phát kéo quân về Sài Gòn thị uy, dự định lật đổ Chính phủ Nguyễn Khánh nhưng bất thành. Ghi chép của Đại sứ quán Hoa Kỳ vào trung tuần tháng 9 năm 1964 cho thấy Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu "có vẻ thụ động đến mức dường như đã ngầm ủng hộ Đức và Phát".
IV. Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nhóm tướng trẻ.
1. Ngày 15 tháng 9 năm 1964, Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng IV chiến thuật, kiểm soát 3 sư đoàn và các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Ngày 1 tháng 1 năm 1965, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Trung tướng Lục quân Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân, Thiếu tướng Lục quân Nguyễn Chánh Thi, Tư lện Quân đoàn I, và Đề đốc Chung Tấn Cang, Tư lệnh Hải quân đều là những gương mặt nổi bật trong nhóm tướng lĩnh trẻ của Việt Nam Cộng hòa mà phía Hoa Kỳ thường gọi bằng cái tên Young Turks.
Nhóm này và Nguyễn Khánh muốn cưỡng chế những sĩ quan có trên 25 năm phục vụ trong quân đội về hưu, cho rằng họ lạc hậu, lỗi thời, thiếu hiệu quả, nhưng quan trọng hơn cả, việc loại bỏ những người này giúp họ có thể loại trừ những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Những nhân vật nằm trong danh sách này bao gồm các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, và Mai Hữu Xuân... Ngày 17 tháng 12 năm 1964, nhóm tướng lĩnh trẻ đệ trình yêu sách trên lên Quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Ông Sửu chuyển vấn đề lên Thượng Hội đồng Quốc gia là cơ quan chấp chính Dân sự được thành lập nhằm chuyển dần từ chính quyền quân sự sang chính phủ dân sự để xin ý kiến. Tuy nhiên, Thượng Hội đồng đã từ chối.
2. Một trong những nguyên nhân chính có thể do nhiều thành viên của Thượng Hội đồng đều đã có tuổi và họ không hài lòng trước thái độ của nhóm tướng lĩnh trẻ đối với những người thuộc thế hệ tiền nhiệm. Trước động thái trên, ngày 18 tháng 12, Nguyễn Khánh thành lập Hội đồng Quân lực để làm hậu thuẫn. Ngày 19 tháng 12, Nguyễn Khánh họp Hội đồng Quân lực và ra thông cáo giải thể Thượng Hội đồng Quốc gia, đồng thời cho bắt giữ một số chính khách dân sự đưa đi an trí tại Pleiku. Phan Khắc Sửu và Trần Văn Hương vẫn được lưu nhiệm Quốc trưởng và Thủ tướng.
Đại sứ Hoa Kỳ Maxwell Taylor, người xem chính phủ dân sự như một bước tiến quan trọng trong quá trình tiến đến ổn định về chính trị tại miền Nam Việt Nam, không hài lòng với hành động của các tướng trẻ. Trong một buổi họp riêng với 4 tướng trẻ là Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Cao Kỳ, Chung Tấn Cang, Đại sứ Taylor đe dọa cắt viện trợ và có những câu nói chạm đến lòng tự ái của họ. Lợi dụng sự căng thẳng, Nguyễn Khánh họp báo chỉ trích hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam Cộng hòa như một “tên thực dân” của Taylor, và yêu cầu Washington triệu hồi ông ta về nước. Vụ việc này khiến quan hệ giữa Nguyễn Khánh và Taylor rạn nứt không thể cứu vãn.
V. Con đường thăng tiến trong chính trị
1. Ngày 18 tháng 1 năm 1965, trước áp lực từ các tướng lĩnh, Thủ tướng Trần Văn Hương tiến hành cải tổ nội các với sự tham gia của Nguyễn Văn Thiệu (Đệ nhị Phó Thủ tướng), Trần Văn Minh (Tổng trưởng Quân lực), Linh Quang Viên (Tổng trưởng Tâm lý chiến) và Nguyễn Cao Kỳ (Tổng trưởng Thanh niên Thể thao). Đây là lần đầu Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện với tư cách một chính trị gia. Ngày 20 tháng 1, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu bàn giao chức Tư lệnh Quân đoàn IV cho Thiếu tướng Đặng Văn Quang.
Trong thời gian này, chính phủ Trần Văn Hương phải đối mặt với sự chống đối mạnh mẽ từ phía Phật giáo. Các lãnh tụ Phật giáo như Thượng tọa Thích Trí Quang, Thích Tâm Châu bắt đầu tuyệt thực đòi Trần Văn Hương từ chức và giải tán chính phủ. Hàng loạt phật tử nối gót nhau xuống đường biểu tình và tổ chức tuyệt thực tập thể, có ni cô thậm chí tự thiêu phản đối. Ngày 27 tháng 1 năm 1965, Nguyễn Khánh bãi nhiệm Thủ tướng Trần Văn Hương, và ngày 16 tháng 2 bổ nhiệm Bác sĩ Phan Huy Quát làm thủ tướng, Nguyễn Văn Thiệu trở thành Đệ nhất Phó Thủ tướng trong nội các mới. Hành động của Nguyễn Khánh đã vô hiệu hóa được một âm mưu chống lại ông.
2. Trần Văn Hương chống lưng một âm mưu do một số tướng lĩnh Công giáo thân Đảng Đại Việt như Nguyễn Hữu Có và Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu, mưu đồ loại bỏ Nguyễn Khánh và đưa Trần Thiện Khiêm từ Washington trở về nước. Đại sứ Taylor cam kết với nhóm tướng lĩnh trẻ rằng Hoa Kỳ “sẽ không chống lưng hay ủng hộ tướng Khánh dưới bất kỳ hình thức nào”. Tại thời điểm đó, Taylor và các nhân viên sứ quán ở Sài Gòn đánh giá cao ba người Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Hữu Có và Chung Tấn Cang. Theo một báo cáo của CIA, Nguyễn Văn Thiệu được một quan chức Mỹ giấu tên mô tả là người “thông minh, đầy tham vọng, và rất có thể có âm mưu đảo chính để phục vụ cho mục đích cá nhân”.
Nhưng trong khi Nguyễn Văn Thiệu chưa có động thái nào, thì Đại tá Phạm Ngọc Thảo đã cùng Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Đại tá Bùi Dinh tiến hành đảo chính vào ngày 19 tháng 2, với ý định bắt sống Nguyễn Khánh.Tuy nhiên, Nguyễn Khánh kịp rời Sài Gòn bằng máy bay trước khi xe tăng của quân đảo chính kéo vào. Dưới sự hỗ trợ từ Hoa Kỳ, Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đứng ra dập tắt âm mưu đảo chính. Nhân cơ hội, Thiệu–Kỳ “mượn gió phất cờ”, nhóm họp Hội đồng Quân lực bỏ phiếu bất tín nhiệm và trục xuất Nguyễn Khánh ra nước ngoài với danh nghĩa là “đại sứ lưu động”. Nguyễn Văn Thiệu đã “tọa sơn quan hổ đấu”, từng bước trở thành một trong những nhân vật quyền lực nhất Sài Gòn.
VI. Trở thành Chủ tịch Uỷ ban lãnh đạo Quốc gia.
1. Thủ tướng Phan Huy Quát thất bại trong việc đoàn kết các phe phái quân sự và dân sự đối địch ở miền Nam Việt Nam. Tuy thành công trong việc giải tán Hội đồng Quân lực, song Thủ tướng Quát không thể thay đổi cán cân quyền lực vốn đang nghiêng về phe quân nhân. Sau hơn 3 tháng giữ chức thủ tướng, Phan Huy Quát từ chức và tuyên bố giải tán chính phủ do mâu thuẫn với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Quyết định của Phan Huy Quát buộc Phan Khắc Sửu cũng phải từ chức quốc trưởng, mở đường cho một giai đoạn quân nhân nắm chính quyền.
Ngày 14 tháng 6 năm 1965, Hội đồng tướng lĩnh nhóm họp, bầu Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, đảm nhiệm cương vị Quốc trưởng. Nguyễn Cao Kỳ được đề cử làm chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương, tức thủ tướng. Sự thành lập của chính phủ Thiệu–Kỳ đánh dấu sự kết thúc của một thời kỳ khủng hoảng chính trị tại miền Nam Việt Nam, với hàng loạt cuộc đảo chính và 8 lần thay đổi nhân sự diễn ra liên tiếp chỉ trong vòng một năm rưỡi kể từ vụ đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Cương vị quốc trưởng mà Nguyễn Văn Thiệu đảm nhiệm là một vị trí tương đối "hữu danh vô thực" và Nguyễn Cao Kỳ mới là người nắm quyền hành trên thực tế trong thời kỳ này.
2. Cuộc chuyển giao quyền lực lần này không gặp phải sự phản đối từ giới chức Washington bởi họ không nhiệt tình ủng hộ Phan Huy Quát. Tuy nhiên, người Mỹ có những cách nhìn nhận khác nhau về nhóm tướng lĩnh trẻ lên nắm quyền ở miền Nam Việt Nam. Tổng thống Lyndon B. Johnson đặt nhiều hy vọng trước lời hứa “đánh bại kẻ thù, xây dựng lại nông thôn, ổn định kinh tế và cải thiện nền dân chủ miền Nam Việt Nam.” Ngược lại, một số quan chức khác như Phó đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là U. Alexis Johnson thì cho rằng nhóm tướng lĩnh trẻ gồm Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đều là “những người theo chủ nghĩa dân tộc bài ngoại , không thích nền dân chủ.”
VII. Khủng hoảng Phật giáo tại miền Trung
1. Sau khi lên nắm quyền, chính phủ Thiệu–Kỳ tiếp tục phải đối mặt với những thách thức đã tạo nên sự bất ổn chính trị ở miền Nam Việt Nam trong những năm trước đó. Nội các mới tuy được đánh giá là có năng lực, song có nhiều phe phái chính trị cạnh tranh lẫn nhau. Phe Công giáo cảnh giác Nguyễn Cao Kỳ, một Phật tử, còn phe Phật giáo thì không hài lòng với Nguyễn Văn Thiệu, một Kitô hữu. Bên cạnh đó, miền Nam Việt Nam trong giai đoạn này giống như mộtnhà nước Phong kiến, một liên minh giữa các lãnh chúa thay vì một nhà nước thực sự. Các tư lệnh quân đoàn cai trị khu vực của họ như một thái ấp riêng, nộp một phần thuế mà họ thu được cho chính quyền trung ương ở Sài Gòn và giữ phần còn lại.
Trong bối cảnh trên, lực lượng Phật giáo – dưới sự dẫn dắt của Thượng tọa THích Trí Quang một lần nữa nắm vai trò lãnh đạo quần chúng chống lại chính phủ quân quản, đòi hỏi thành lập Quốc hội Lập hiến để có hiến pháp cho miền Nam Việt Nam. Thích Trí Quang không phản đối sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam, nhưng không hài lòng khi thấy Nguyễn Văn Thiệu trở thành quốc trưởng vì ông từng là thành viên Cần lao Nhân vị dưới thời Ngô Đình Diệm. Thích Trí Quang cũng xem Nguyễn Văn Thiệu như một biểu tượng của chế độ Công giáo trị Ngô Đình Diệm, Thích Trí Quang công khai ủng hộ Trung tướng Nguyễn Chánh Thi một vị tướng theo Phật giáo đứng ra lãnh đạo đất nước.
2. Nhận định Nguyễn Chánh Thi là một đối thủ nguy hiểm, Nguyễn Cao Kỳ ra quyết định cách chức ông, song điều này chỉ khiến giới Phật giáo miền Trung phản ứng mạnh mẽ hơn. Thích Trí Quang dẫn nhiều phật tử xuống đường phản đối chính quyền Thiệu–Kỳ. Một số đơn vị trực thuộc Quân đoàn I không tuân theo mệnh lệnh từ Sài Gòn mà quay sang ủng hộ tướng Thi và phong trào Phật giáo. Sau khi đàm phán thất bại, Nguyễn Cao Kỳ sử dụng vũ lực dẹp yên vụ nổi loạn miền Trung. Thích Trí Quang bị đưa về Sài Gòn quản thúc tại gia, trong khi Nguyễn Chánh Thi thì phải sang Hoa Kỳ lưu vong. Thất bại này khiến phong trào tranh đấu Phật giáo nhanh chóng tan rã và không còn là mối đe dọa đối với chính quyền Sài Gòn.
Nhưng, các vị Tướng Lãnh lãnh đạo quốc gia đã phải chấp nhận tiến đến xây dựng cơ cấu dân chủ, mà bước đầu là tổ chức tuyển cử vào hạ tuần tháng 9/1966, để bầu 117 Đại biểu Quốc Hội Lập Hiến. Sau hơn 6 tháng làm việc tích cực, ngày 1 tháng 4 năm 1967 Hiến pháp được ban hành, sau nầy gọi là Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà (thời Đệ nhị Cộng hòa) Theo đó, chính quyền Việt Nam Cộng hoà sẽ bầu ra một Quốc hội lượng viện, và một Tổng thống với nhiệm kỳ 4 năm. Chế độ mới này dự kiến sẽ thành hình sau cuộc bầu cử tổng thống và thượng viện vào tháng 9 năm 1967.
VIII. Trở thành Tổng thống nền Đê nhị Cộng hoà.
1. Trước thềm bầu cử, hai tướng Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu ra tranh cử riêng rẽ: liên danh Nguyễn Cao Kỳ - Nguyễn Văn Lộc (Cao Đài), và trong khi liên danh Nguyễn Văn Thiệu - Trịnh Quốc Khánh (Hoà Hảo). Quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu tuy nhận được sự ủng hộ từ CIA và Đại sứ quán Hoa Kỳ, nhưng Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ lại được đánh giá là “trên cơ” do có guồng máy hành chính, và nhóm tướng trẻ đang nắm giữ các vị trí then chốt ủng hộ. Ngoài 2 liên danh Kỳ–Lộc và Thiệu–Khánh thuộc phe quân sự, còn có 10 liên danh dân sự. Giới tướng lĩnh vừa gây áp lực vừa thuyết phục, cuối cùng Nguyễn Cao Kỳ chấp nhận đứng Phó trong liên danh Thiệu–Kỳ, nhưng Thiệu phải chấp nhận một thỏa thuận để Kỳ nắm giữ mọi quyền hành nếu hai người đắc cử.
Trong ngày bầu cử 3 tháng 9 năm 1967, liên danh Thiệu–Kỳ giành chiến thắng với 35% phiếu, thấp hơn so với con số 45–50% mà các nhà quan sát chính trị dự đoán. Tuy được Washington công nhận, nhưng lại gặp phải sự chống đối từ một bộ phận dân chúng xuống đường phản đối Quốc hội lập hiến hợp thức hóa kết quả. Trong nhiều ngày liền, các Dân biểu quốc hội lập hiến tranh luận nảy lửa về tính công bằng của cuộc bầu cử hôm 3 tháng 9. Một số dân biểu như Phan Khắc Sửu hay Lý Quý Chung bày tỏ mong muốn hủy bỏ kết quả, một số khác thì cáo buộc có nơi cử tri nhận hối lộ từ Thiệu–Kỳ nhưng không đưa ra được bằng chứng xác thực. Cuối cùng, Quốc hội lập hiến phê chuẩn kết quả bầu cử với tỷ lệ 58 phiếu thuận, 43 phiếu chống.
2. Trần Văn Tuyên, một nhà bình luận đương thời của tờ Chính Luận, cho rằng cuộc bầu cử ít nhất đã “hợp pháp hóa, chỉnh lý hóa và sắp dân sự hóa” chính quyền quân sự cũ. Tuy nhiên, lấy ví dụ từ chính quyền Ngô Đình Diệm – một chế độ mà theo ông đã mắc sai lầm cơ bản là “không biết đoàn kết lực lượng quốc gia” – Trần Văn Tuyên lo ngại rằng nền Đệ nhị Cộng hòa là một chế độ “tiên thiên bất túc và đời sống của nó bị đe dọa nghiêm trọng ngay từ lúc ra đời”. Về phần Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, tuy giành chiến thắng trong cùng một liên danh, nhưng đây chỉ mới là khởi đầu của cuộc tranh giành quyền lực giữa hai con người đầy tham vọng này.
Nguyễn Văn Thiệu chính thức trở thành tổng thống đầu tiên của nền Đệ nhị Cộng hoà ở tuổi 44, Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ sẽ “bảo vệ tổ quốc, tôn trọng hiến pháp và phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc”. Trong bài diễn văn nhậm chức trước trụ sở hạ viện ngày 31 tháng 10 năm 1967, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu công bố sách lược hành đông là “xây dựng dân chủ, phục hồi nền hòa bình, cải thiện xã hội”. Thông qua chính sách này, ông tuyên bố sẽ chiến thắng trước ba kẻ thù chính là “chủ nghĩa chuyên chế, chiến tranh, bất bình đẳng và lạc hậu”, và qua đó đưa đất nước đến với “dân chủ, hòa bình và tiến bộ.”
IX. Sự kiện Mậu Thân 1968 và mâu thuẩn Thiệu-Kỳ.
1. Bất chấp tuyên bố ngừng bắn Tết Nguyên đán trước đó, đúng vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, quân Việt Cộng bất ngờ mở chiến dịch tổng tấn công đánh vào nhiều đô thị trọng yếu tại miền Nam. Khi chiến sự bùng nổ, Nguyễn Văn Thiệu và gia đình đã về bên ngoại Mỹ Tho ăn tết. Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó vẫn còn ở thủ đô đã nắm quyền chỉ huy và tổ chức các đơn vị ở Sài Gòn phản kích. Ngày 1 tháng 2 năm 1968 (Mùng 3 Tết), tổng thống họp Hội đồng Nội các, ban hành lệnh thiết quân luật trên khắp cả nước. Tuy quân Việt Cộng bị đẩy lùi và chịu thương vong rất lớn, nhưng phía Việt Nam Cộng hòa cũng phải gánh hậu quả nặng nề do đây là lần đầu tiên chiến tranh tiếp cận đáng kể tới các đô thị đông dân cư.
Nỗi kinh hoàng mà sự kiện Tết Mậu Thân mang tới cùng với những tổn thất và dư chấn mà nó để lại đã khiến dân chúng dần đánh mất niềm tin ở Tổng thống Thiệu, cho rằng ông không thể bảo vệ họ. Chính quyền Sài Gòn ước tính số thương vong dân sự là vào khoảng 14.300 người chết và 24.000 người bị thương. Khoảng 630.000 người mất nhà mất cửa, 800.000 người phải di tản vì chiến tranh từ trước đó. Vào cuối năm 1968, có tới 8% dân số miền Nam sống trong các trại tị nạn. Cơ sở hạ tầng quốc gia bị hư hại nghiêm trọng cùng với hơn 70.000 ngôi nhà bị phá hủy. Với 27.915 người thiệt mạng và 70.968 người bị thương, Mậu Thân 1968 trở thành năm đẫm máu nhất của cuộc chiến tính đến thời điểm đó đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
2. Sau cuộc Tổng tấn công, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã có hành động quyết liệt hơn nhằm đối phó với cộng sản. Ngày 19 tháng 6 năm 1968, Quốc hội đã phê chuẩn đề xuất thay đổi luật tổng động viên của Tổng thống Thiệu mà họ đã từ chối trước đó. Theo luật mới, tuổi quân dịch được hạ từ 20 xuống 18, cho phép chính phủ cưỡng bách tòng quân nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 38 vào lực lượng chính quy hoặc các lực lượng Địa phương quân và Nghĩa quân. Ngoài ra, luật mới quy định tất cả nam công dân tuổi từ 16 đến 50 sẽ phải tham gia lực lượng bán quân sự mang tên Nhân dân Tự vệ. Đến cuối năm, trên 200.000 tân binh đã được bổ sung vào quân ngũ, nâng tổng binh lực Việt Nam Cộng hòa lên hơn 900.000 người.
Dù đã trở thành tổng thống, song vị trí của Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được đảm bảo. Đối thủ chính của ông, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ vẫn nhận được sự ủng hộ đáng kể từ quân đội. Những chiến công của Nguyễn Cao Kỳ trong Sự kiện Mậu Thân vốn được xem là giai đoạn khủng hoảng sâu sắc nhất của miền Nam đã làm lu mờ hình ảnh Nguyễn Văn Thiệu, khiến quan hệ giữa hai người càng trở nên căng thẳng. Lo sợ bị đảo chính, ông Thiệu tìm cách vô hiệu hóa đối thủ bằng cách giành sự ủng hộ người Mỹ, nhiều nhân vật thân cận của ông Kỳ trong quân đội và chính phủ nhanh chóng bị ông Thiệu tước bỏ quyền lực, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc bị thay thế bởi Trần Văn Hương.
3. Nhằm tạo uy thế trên chính trường, Nguyễn Văn Thiệu tiến hành đàn áp dư luận miền Nam Việt Nam và bổ nhiệm một số thành viên Đảng Nhân xã, cựu thành viên Cần lao Nhân vị vào các vị trí trọng yếu trong nội các. Nhiều người chỉ trích hành động nầy của Thiệu là “bôi thêm vết đen lên chế độ dân chủ pháp trị”. Chỉ trong vòng 6 tháng, dân chúng đã bắt đầu gọi ông Thiệu là “độc tài”, một số người chỉ trích chính quyền Đệ nhị Cộng hòa là một “chế độ Diệm không Diệm”. Trong những năm sau đó, Nguyễn Cao Kỳ dần bị Nguyễn Văn Thiệu cô lập và cho ra ngoài lề.
X. Hội nghị Thiệu - Nixon và Việt Nam hóa chiến tranh
1. Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có cuộc hội nghị với tân Tổng thống Hoa Kỳ, Richard Nixon tại đảo Midway ở Thái Bình Dương. Trong cuộc họp, Nixon tuyên bố rằng 25.000 quân Mỹ sẽ được rút về vào cuối tháng 8 cùng năm, lấy lý do rằng việc duy trì một lực lượng quá lớn ở Việt Nam sẽ gây bất lợi cho ông trong bối cảnh phong trào phản chiến ngày càng phát triển mạnh mẽ ở Hoa Kỳ. Nixon cũng đề cập đến chương trình Việt Nam hoá chiến tranh và cam kết sẽ hỗ trợ Việt Nam Cộng hòa về quân sự và kinh tế. Cụ thể là 4 năm nhiệm kỳ đầu Nixon tập trung yểm trợ về quân sự, và 4 năm nhiệm kỳ 2, Nixon tập trung hỗ trợ về mặt kinh tế.
Đại tướng Creighton Abrams, Tư lệnh Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam, phản đối quyết định rút quân của Nixon, cho rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa chưa đủ kinh nghiệm và chưa được đào tạo bài bản để có thể tự mình tiếp tục cuộc chiến. Tuy nhiên, hoạt động rút quân nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ dân chúng Hoa Kỳ. Trong chuyến thăm Sài Gòn sau đó vào ngày 30 tháng 7 năm 1969, Nixon tiếp tục thuyết phục Thiệu hãy yên tâm, rằng việc rút vài sư đoàn chỉ là làm "cho có lệ" nhằm xoa dịu phong trào phản chiến. Người Mỹ sẽ đẩy mạnh hoạt động vũ trang cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, để miền Nam cuối cùng có thể tự mình chịu trách nhiệm hoàn toàn trong cuộc chiến.
2. Tháng 4 năm 1970, sau khi đảo chính lật đổ Quốc trưởng Norodom Sihanouk, Lon Nol tiến hành phong tỏa hải cảng Sihanoukvill, ngăn chặn đường tiếp tế từ biển tới Quân Giải phóng miền Nam. Nhằm bảo vệ Đường Trường Sơn, tuyến đường tiếp vận duy nhất còn lại của họ, Trung ương Cục miền Nam, mở một loạt các chiến dịch dọc tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia và giành quyền kiểm soát một giải đất nằm dọc Vùng III và Vùng IV chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa. Không thể một mình đương đầu với Quân Giải phóng, Lon Nol cầu viện Hoa Kỳ. Thế là, liên quân Hoa Kỳ – Việt Nam Cộng hòa tổ chức một cuộc hành quân quy mô tiến quân vào Campuchia, nhằm truy quét Quân Giải phóng.
Sau 3 tháng giao chiến, tuy không thể tiêu diệt tận gốc các căn cứ của Trung ương Cục miền Nam trên đất Campuchia, nhưng cuộc hành quân đã gây tổn hại nghiêm trọng đối với sự hỗ trợ hậu cần của Quân Giải phóng. Những kết quả thu về góp phần làm tăng sĩ khí Quân lực Việt Nam Cộng hòa, khi mà giờ đây, họ không còn nằm ở thế bị động như trước nữa. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, dựa trên nền tảng của Chiến dịch Campuchia, Nguyễn Văn Thiệu phát động Chiến dịch Lam Sơn 719 đánh vào Hạ Lào, mục đích cắt đứt con đường tiếp tế từ miền Bắc Việt Nam sang Campuchia cũng như để chứng minh rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa đủ sức thay thế Quân đội Hoa Kỳ đang thực hiện chương trình rút quân về nước.
3. Lực lượng mặt đất bao gồm Lục quân Việt Nam Cộng hoà, Hoa Kỳ chỉ đảm nhận yểm trợ bằng pháo binh và không quân. Tuy đã lên kế hoạch tác chiến tỉ mỉ, nhưng thông qua hoạt động tình báo và từ việc dư luận Mỹ liên tiếp rò rĩ thông tin về cuộc hành quân sắp tới, Hà Nội đã sớm có chuẩn bị và bố trí các vị trí phòng thủ, khiến tính bất ngờ của chiến dịch không còn được bảo đảm. Thêm vào đó, việc đánh giá sai lầm về đối phương khiến Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị áp đảo về mặt quân số lẫn hỏa lực. Tuy chiếm được mục tiêu tối hậu của chiến dịch là Tchepone, song Quân lực Việt Nam Cộng hòa không thể cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược và triệt phá các căn cứ hậu cần của Quân Giải phóng.
Trước sức ép mạnh mẽ từ đối phương, Quân lực Việt Nam Cộng hòa chịu tổn thất nặng nề và buộc phải rút lui. Tuy Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố chiến thắng song Lam Sơn 719, nhưng nó là một thất bại về mặt quân sự lẫn tâm lý của Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ. Số thương vong quá lớn gây tổn thương nghiêm trọng về mặt tinh thần, khiến Quân lực Việt Nam đánh mất sự tự tin mà họ đạt được trước đó.
XI. Về vụ án Siêu Điệp viên Trần Ngọc Châu,
Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng.
1. Trên Báo điện tử Tổ quốc, Bùi Anh Trinh viết: Năm 1969, ngày 6-7, Cảnh sát bắt được một cán bộ CSVN tên là Trần Ngọc Hiền, ông này khai có bắt liên lạc với em của mình là Dân biểu Trần Ngọc Châu, tổng thư ký của Hạ viện VNCH, với mục đích muốn mở đường dây tiếp xúc trực tiếp giữa Mặt trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) và tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Tổng thống Thiệu nghi Hoa Kỳ muốn tiếp xúc thẳng với MTGPMN mà không qua chính phủ Việt Nam Cộng hoà (VNCH) cho nên Tổng thống đã hỏi thẳng Đại sứ Bunker và Trưởng chi nhánh CIA tại Sài Gòn là Shackley nhưng cả hai đều chối không có dính dự vào vụ này.
Tổng thống Thiệu yêu cầu Quốc hội bỏ phiếu khai trừ Trần Ngọc Châu ra khỏi Quốc hội để chính phủ có thể truy tố Trần Ngọc Châu ra tòa. Tuy nhiên ảnh hưởng của Tổng thư ký Trần Ngọc Châu tại Quốc hội rất lớn cho nên Quốc hội bác bỏ đề nghị của Tổng thống.
2. (Diễn đàn Lịch sử Việt Nam ngày 18 tháng 3, 2018, đăng tấm ảnh Dân biểu VNCH Trần Ngọc Châu bị bắt trong Nhà Quốc hội tại Sài Gòn tháng 2/1970, và, Đoạn này được mô tả trong cuốn "Facing the phoenix" (Zalin Grant, 1991): "Châu rời khỏi chỗ ẩn nấp đi vào toà nhà Quốc hội... ông nói rằng mình sẽ ở lại đây dưới sự bảo vệ về quyền bất khả xâm phạm của một Nghị sĩ. Từ khách sạn Caravelle và Continental tới Quốc hội đi chỉ mất có nửa phút, hai khách sạn này là tổng hành dinh của đoàn báo chí ngoại quốc ở Sài Gòn, cho nên trong phút chốc đã có một số nhà báo tới chúc mừng Châu và chờ xem phản ứng của Thiệu. Châu cho gọi mang tới hai két bia và hai két xô-đa cam, một ít xăng-uých và bánh ngọt Pháp, làm cho không khí buổi đợi chờ này thành như một buổi hội hè.
Hai hôm sau, ngày 25/2/1970, một toà án quân sự dã chiến đã xử vắng mặt Trần Ngọc Châu hai mươi năm tù. Đáp lại, Châu tổ chức một cuộc họp báo, trả lời mọi câu hỏi bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp, Việt nói, ông biết rằng ông sẽ bị bắt nhưng để làm việc đó, Thiệu phải dùng đến lưỡi lê và súng đạn... Vào bốn giờ rưỡi chiều hôm sau, cảnh sát của Thiệu đã làm đúng như vậy. Khi nghe họ tới, Châu gắn vào áo ngoài của mình tấm "bảo quốc huân chương" là huy chương cao nhất của Nam Việt Nam mà ông được thưởng về những thành tích quân sự. Cảnh sát trước tiên đẩy năm mươi nhà báo ra ngoài, một gã cảnh sát giựt tấm huân chương khỏi áo của Châu, một tên khác đánh ông gục xuống sàn. Ông bị lôi ra khỏi toà nhà Quốc hội, tống lên xe tù, đưa về nhà giam Chí Hoà.". Đoạn 2 nầy, là ghi nhận thêm của tác giả LXĐ).
3. Vài nét về Trần Ngọc Châu, ông Châu sinh năm 1923 tại Huế. Khoảng năm 1944, ông theo Việt Minh để chống Pháp. Đến năm 1949, ông Châu rời bỏ Việt Minh về với Quốc gia, và theo học Khóa 3 trường Võ Bị Quốc Gia tại Đà Lạt khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1950. Ngày 1 tháng 7 năm 1951 mãn khoá, Thiếu uý Trần Ngọc Châu được giữ lại làm huấn luyện viên cho trường. Năm 1952 trường có thêm 8 sĩ quan huấn luyện viên người Việt, trong đó có Trung úy Nguyễn Văn Thiệu và Trung úy Lý Bá Phẩm. Thiếu úy Châu quen biết Trung úy Thiệu từ đó (Thiệu tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Quốc gia tại Đập Đá cuối năm 1948).
Năm 1955 Trung tá Nguyễn Văn Thiệu về làm Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, đến năm 1956 Đại úy Trần Ngọc Châu sau khi học khóa Bộ binh cao cấp tại Hoa Kỳ cũng trở về làm Trưởng khối Quân huấn vụ của Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Đến năm 1962 Thiếu tá Trần Ngọc Châu về làm tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre) thay thế Trung tá Phạm Ngọc Thảo đi du học Hoa Kỳ. Giữa năm 1963, Thiếu tá Châu được Tổng thống Diệm điều ra làm Thị trưởng Đà Nẵng. Cuối năm 1963, sau đảo chánh, trở lại làm tỉnh trưởng Kiến Hòa theo đề nghị của CIA. Trong thời kỳ này, Châu làm quen và kết thân với những ông trùm CIA như Lansdale, Rufus Phillips, Conein, John Paul Vann... Những người này đến Kiến Hòa để nghiên cứu về thành quả kế hoạch bình định của Phạm Ngọc Thảo đang được Trần Ngọc Châu kế tục.
4. Năm 1966 Trung tá Châu được CIA mời về làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện cán bộ Xây dựng nông thôn tại Vũng Tàu, tại đây gây chuyện mất lòng với Nhóm Tân Đại Việt. Đến năm 1967 thì công khai phản đối Nguyễn Cao Kỳ để ủng hộ người bạn Nguyễn Văn Thiệu cho nên găng nhau với cố vấn của CIA (Lúc này Trưởng chi nhánh CIA là John Hart ủng hộ Kỳ nhưng Đại sứ Bunker và Lansdale ủng hộ Thiệu). Cũng trong năm 1967, Châu xin xuất ngũ ra ứng cử Dân biểu hạ viện và trúng cử. Năm 1968 được bầu làm Tổng thư ký Hạ Viện.
Năm 1968, sau khi Tổng thống Johnson tuyên bố không tái ứng cử, Trần Ngọc Châu được các bạn Hoa Kỳ cho biết Mỹ sẽ rút quân và Miền Nam sẽ thành lập chính phủ Liên hiệp 3 thành phần (Gồm có phe chống cộng tức là VNCH, phe thân cộng tức là MTGPMN, và phe đứng giữa). Do đó Trần Ngọc Châu bắt đầu chuyển hướng, tự phô trương mình như là nhân vật thuộc thành phần thứ ba, đối lập với Thiệu; chấp nhận MTGPMN nhưng không chấp nhận Cộng sản. Chủ trương của Châu được hai ông trùm CIA là Conein và John Paul Vann ủng hộ.
5. Để hậu thuẩn cho kế hoạch của mình, Châu tìm cách bắt liên lạc trở lại với người anh của mình là Trần Ngọc Hiền, tuy nhiên trước kia (1965) Hiền chỉ chịu gặp trực tiếp Đại sứ Cabot Lodge chứ không muốn qua trung gian. Trong khi đó Lodge cũng không dám gặp Hiền vì e rằng có thể bị gài bẫy, nếu như sự việc bị tiết lộ thì sự nghiệp của ông tan tành. Thấy vậy, CIA đề nghị Châu cho gặp trực tiếp với Hiền nhưng Hiền lại từ chối. Sau trận Mậu Thân Hiền cũng có gặp lại Châu 1 lần nữa và cũng là lần chót.
Sự việc không đi đến đâu nhưng Châu vẫn lợi dụng sự qua lại đó để trình diễn như ông ta là người đã được MTGPMN chấp nhận. Màn trình diễn khá lộ liễu của Châu với sự hỗ trợ ngầm của các bạn Mỹ khiến cho Nguyễn Văn Thiệu nghi rằng Châu là một Phạm Ngọc Thảo thứ hai, là con cờ của Hoa Kỳ dùng để thay thế Nguyễn Văn Thiệu sau khi HK rút quân. Vì vậy Thiệu tìm cách rình bắt Trần Ngọc Hiền để lấy bằng cớ triệt hạ Trần Ngọc Châu.
6. Về phần Bunker và Shackley cũng thấy đây chỉ là màn hư ảo của Châu chứ không phải là thành ý của MTGPMN cho nên cả Tòa đại sứ lẫn Chi nhánh CIA đều khó chịu. Do đó, khi Cố vấn an ninh của Tổng thống Thiệu là Tướng Đặng Văn Quang đề nghị bắt Đại uý Cộng sản Trần Ngọc Hiền thì phía Hoa Kỳ không phản đối. Tuy nhiên gặp phải sự phản đối sâu sắc của Conein và John Paul Vann, hai người này cho rằng Đại sứ Bunker phản bội Trần Ngọc Châu trong khi chính Châu đã có thông báo cho Vann và Vann đã báo cho cựu Đại sứ Lodge cũng như cho CIA. Sau khi Hiền bị bắt thì Vann ngầm vận động với báo chí Hoa Kỳ công kích Bunker không tiếc lời. Tại Washington hai nghị sĩ phản chiến là Fulbright và Edward Kennedy cũng lên tiếng bênh vực cho Châu.
Nhằm để cứu Châu, Conein và Vann tiết lộ cho Shackley biết trong dinh Độc Lập cũng có một đường dây tiếp xúc riêng giữa Nguyễn Văn Thiệu và Mặt trận GPMN. Biết được chuyện này CIA rình bắt Lê Hữu Thúy, là người móc nối với Vũ Ngọc Nhạ là cố vấn về “Khối Công giáo di cư” của Tổng thống Thiệu, và Huỳnh Văn Trọng là 1 trong 4 Phụ tá đặc trách của Tổng thư ký văn phòng phủ Tổng thống Nguyễn Văn Hướng. Trọng đặc trách về Chương trình Bình định phát triển nông thôn. (Trọng là Tổng Thư ký chính phủ Nguyễn Phan Long năm 1950, dưới thời Quốc trưởng Bảo Đại. Ghi nhận thêm của tác giả LXĐ)
7. Sau khi bắt được Lê Hữu Thúy, CIA buộc Tổng thống Thiệu phải bắt Huỳnh Văn Trọng và Vũ Ngọc Nhạ. Tài liệu của CIA: “Vụ thứ hai là điệp viên cộng sản Huỳnh Văn Trọng được gài vào dinh Độc lập làm việc cạnh Thiệu. Đầu năm 1969 CIA phát giác nội vụ sau khi bắt được một đảng viên cộng sản chỉ đạo Huỳnh Văn Trọng (Lê Hữu Thúy). Tháng 7/1969, CIA yêu cầu tướng Đặng Văn Quang nói với Thiệu ra lệnh bắt Trọng, và Thiệu tỏ ý muốn giải quyết nội vụ một cách kín đáo để khỏi gây tai tiếng trong dư luận. Nhưng tổng thống Nixon sắp viếng Sài gòn, và CIA cho biết họ không thể không thông báo vụ Trọng cho Mật Vụ bảo vệ tổng thống Nixon, và Mật Vụ sẽ không thể để Nixon vào dinh Độc Lập nếu Trọng chưa bị bắt.
Thiệu buộc lòng bắt Trọng ngày 24/7/69. Báo chí làm rùm beng và chỉ trích Thiệu dùng người không thận trọng. Thiệu quay lại phiền trách CIA đã thúc bách Thiệu bắt Trọng. Qua điều tra người chỉ huy của Trọng (Lê Hữu Thúy) CIA biết công tác của Trọng là thuyết phục Thiệu nên mở đường giây nói chuyện với MTGP (CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam). Đoạn trích dẫn trên đây cho thấy người gián điệp nằm trong dinh Độc Lập là Huỳnh Văn Trọng chứ không dính dáng gì đến Vũ Ngọc Nhạ, đơn giản là Vũ Ngọc Nhạ chưa bao giờ làm việc trong dinh Độc Lập, chỉ có đi dự họp cố vấn chính trị trong dinh ĐL mà thôi. Còn Huỳnh Văn Trọng thực ra cũng không phải điệp viên của CSVN.
8. Rốt cuộc chuyện siêu điệp viên Trần Ngọc Châu, Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng chỉ là kết quả “chơi nhau” giữa và CIA và Phủ tống thống VNCH. Các siêu điệp viên chỉ là những người môi giới để CIA và Dinh Độc Lập mở đường giây tiếp xúc với MTGPMN. Cho nên hậu chuyện của vụ siêu điệp viên Cộng sản có một kết quả rất buồn cười:
Trần Ngọc Hiền bị kết án 4 năm tù, Trần Ngọc Châu bị kết án 20 năm sau giảm xuống còn 10 năm. Huỳnh Văn Trọng và Vũ Ngọc Nhạ bị kết án chung thân, sau giảm xuống còn 20 năm. Nhưng cả 4 không bị giam tại trại tù Cộng sản ở Phú Quốc mà lại bị giam ở Côn Đảo. Tuy nhiên, tại Côn Đảo cả 4 ông sống như nghỉ mát ở đảo chứ không phải ở trong tù. Đến tháng 4 năm 1973, trao trả tù binh tại Lộc Ninh thì Ủy ban tiếp nhận tù binh của CSVN chỉ nhận Trần Ngọc Hiền chứ không nhận 3 ông kia, bởi vì họ không phải là người của CSVN. Bí quá Tổng thống Thiệu phải nhốt cả 3 ông vào Chí Hòa nhưng điều kiện sinh hoạt không phải là tù. Được vài tháng thì thả Trọng và Nhạ, còn Châu thì mãi tới cuối năm 1974 mới thả.
9. Đến tháng 4 năm 1975, Trần Ngọc Châu được nhân viên CIA lên danh sách những người cần được đưa ra khỏi Việt Nam, nhưng Trưởng nhánh Viễn Đông của CIA thời đó là Shackley bác bỏ, do đó Châu phải vào trại tù cải tạo vì là nhân viên của chế độ cũ. Vũ Ngọc Nhạ phải đi kinh tế mới Phạm Văn Hai, còn Huỳnh Văn Trọng thì chạy thoát sang Pháp. Riêng Trần Ngọc Hiền thì sau khi trao trả tù binh bị tước hết cấp bậc, tước hết đảng tịch và bị trục xuất ra khỏi Đảng vì tội đã khai báo hết những bí mật của tổ chức cho địch. (BÙI ANH TRINH Nguồn:http://baotoquoc.com/2014/11/23/bui-anh-trinh-vu-an-sieu-diep-vien-tran-ngoc-chau/)
XII. Tái tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2 năm 1971
1. Năm 1971, Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử tổng thống một lần nữa. Để nắm chắc phần thắng, Nguyễn Văn Thiệu tìm mọi cách giới hạn số người ra ứng cử.Do đó, hai đối thủ đáng chú ý nhất còn lại của ông trong cuộc bầu cử năm 1971 chỉ còn Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ và Đại tướng Dương Văn Min. Trước thềm bầu cử, ông Kỳ cáo buộc ông Thiệu dung túng tham nhũng và chỉ trích những sai lầm chiến lược dẫn tới cuộc hành quân Hạ Lào thảm họa đầu năm 1971. Dương Văn Minh mong muốn đàm phán hòa bình với Việt Nam Cộng hoà và bị cho là quá "yếu đuối". Về phần Hoa Kỳ, họ bày tỏ thái độ ủng hộ Nguyễn Văn Thiệu, cho rằng ông chính là một "nhà lãnh đạo mạnh mẽ" mà Việt Nam Cộng hòa đang cần.
Nếu lần bầu cử Tổng thống năm 1967, có trên dưới 10 liên danh Dân sự dự tranh, thì lần nầy không có liên danh Dân sự nào cả. Nguyễn Văn Thiệu mời Trần Văn Hương cầm đầu một liên danh năm 1967, đứng Phó cho liên danh của mình năm 1971. Nguyễn Cao Kỳ tuy tuyên bố sẽ tiến hành Bắc phạt nếu đắc cử, song ông bày tỏ thái độ lạnh nhạt với Hoa Kỳ và muốn họ phải rời khỏi Việt Nam hoàn toàn vào cuối năm 1972, đầu năm 1973. Kỳ cho rằng “các đối thủ chính trị” của Thiệu đi ngược lại lợi ích của Hoa Kỳ, rằng một số quan chức Mỹ đã bí mật hậu thuẫn tiền bạc cho chiến dịch tái tranh cử của vị tổng thống đương nhiệm.
2. Lo ngại bị chia phiếu với Kỳ, Thiệu lợi dụng quyền kiểm soát Thượng viện và Hạ viện để áp đặt luật bầu cử mới là ứng cử viên Tổng thống phải được một số dân biểu nhất định ký tên giới thiệu để qua đó loại bỏ Kỳ ra khỏi cuộc đua. Như vậy, danh sách ứng cử viên tổng thống chỉ còn 2 Liên danh Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh. Cho rằng tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã bố trí guồng máy gian lận kết quả, Dương văn Minh tuyên bố rút lui khỏi cuộc tranh cử.Trước nguy cơ “tự tranh cử với chính mình”, Thiệu tìm cách đưa Kỳ trở lại cuộc đua, nhưng Kỳ từ chối và tuyên bố tẩy chay bầu cử.
Nhà Trắng tuy không hài lòng với cuộc bầu cử thiếu tính cạnh tranh tại miền Nam Việt Nam, nhưng không còn cách nào khác nên án binh bất động: lại không can thiệp vào chuyện nội bộ nước này. Là người duy nhất tham gia tranh cử, Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử với 94% số phiếu vào ngày 3 tháng 10 năm 1971, báo giới gọi nó là cuộc “bầu cử độc diễn”.
XIII. Một nhiệm kỳ tổng thống mới với bao thách thức.
1. Quan hệ giữa Sài Gòn và Washington trở nên căng thẳng vì cuộc “bầu cử độc diễn” năm 1971 và “thái độ chống đối” của Nguyễn Văn Thiệu đối với cuộc đàm phán Washington-Hà Nội. Tuy nhiên, Nhà Trắng vẫn giữ vững lập trường ủng hộ Tổng thống Thiệu vì cho rằng ông là người duy nhất có thể điều hành đất nước. Vào thời điểm Chiến dịch Xuân – Hè 1972 bùng nổ, Quân đội Hoa Kỳ đã rút về gần hết nên Quân lực Việt Nam Cộng hòa đơn thương độc mã đương đầu với Quân Giải phóng trong các cuộc giao tranh trên bộ. Sau khi để mất Quảng Trị trong Chiến dịch Trị Thiên, Nguyễn Văn Thiệu thay thế Trung tướng Hoàng Xuân Lãm Tư lệnh Quân đoàn I bằng Trung tướng Ngô Quang Trưởng, và Chuẩn tướng Vũ Văn Giai Tư lệnh Sư đoàn 3 bởi Chuẩn tướng Nguyễn Duy Hinh.
Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của phi pháo và oanh kích từ Không quân, Hải quân Hoa Kỳ, tướng Ngô Quang Trưởng đã chỉ huy cuộc tái chiếm thành công Cổ thành Quảng Trị vào ngày 16 tháng 9 năm 1972 sau gần 3 tháng kịch chiến. Sau khi tái chiếm được Thành cổ Quảng Trị, chiến sự các nơi khác cũng tạm lắng. Việc tái chiếm Quảng Trị thể hiện quyết tâm của Tổng thống Thiệu nói riêng và Quân lực Việt Nam Cộng hòa nói chung đã nhận được sự tán dương từ một số sĩ quan cấp cao của Quân đội Hoa Kỳ song không đủ để thuyết phục Nhà Trắng, rằng Thiệu có thể bảo vệ miền Nam Việt Nam một cách hiệu quả trước những mối đe dọa từ bên ngoài, Washington và Hà Nội đẩy mạnh tiến trình đàm phán hòa bình.
2. Giữa năm 1972, trong bối cảnh chiến sự leo thang, Nguyễn Văn Thiệu ban bố thiết quân luật trên toàn quốc, và đề xuất Quốc hội cho mình được quyền cai trị bằng Sắc lệnh mà theo ông là cần thiết để đối phó với Quân Giải phóng, nhưng đề nghị này đã bị Thượng viện từ chối. Luật sửa đổi mà Quốc hội thông qua sau đó đã hạn chế quyền hạn khẩn cấp của Tổng thống Thiệu, chỉ ban cho ông quyền kiểm soát sáu tháng đối với các vấn đề quốc phòng, an ninh, kinh tế và tài chính. Tháng 8 năm 1972, Tổng thống Thiệu đẩy mạnh các hoạt động kiểm duyệt báo chí, cho đóng cửa 41 tờ báo. Tuy nhiên, dưới làn sóng phản đối kịch liệt từ công chúng, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải nới lỏng kiểm duyệt, nhưng vẫn tiếp tục kiểm soát chặt chẽ nền chính trị Sài Gòn.
Mùa thu năm 1972, Nguyễn Văn Thiệu ra sắc lệnh cho phép bắt giữ không qua xét xử bất kỳ người nào bị nghi ngờ mắc các tội như tham gia tổ chức cộng sản, giết người, đầu hàng, nổi loạn hoặc hiếp dâm. Ông Thiệu cũng ban hành một nghị định mới, mạnh tay xử lý vấn nạn tham nhũng và buôn lậu ma túy. Bất kỳ ai bị bắt giữ vì buôn ma túy, cướp đường phố, cướp có vũ trang, hiếp dâm hoặc môi giới mại dâm đều phải đối mặt với án tử hình. Bất chấp sự phản đối mạnh mẽ từ công chúng Việt Nam và Hoa Kỳ, Nhà Trắng vẫn ủng hộ quyết định của ông Thiệu và cho rằng một biện pháp mạnh mẽ hoặc cực đoan là cần thiết để có thể giữ vững sự ổn định cũng như bảo vệ Việt Nam Cộng hòa trước những cuộc tấn công của Quân Giải phóng.
XIV. Thân cô thế cô vẫn giữ lập trường “Bốn không”
1. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Nguyễn Văn Thiệu không ủng hộ cuộc đàm phán hòa bình này và chỉ chấp nhận ký kết hiệp định một cách miễn cưỡng dưới sức ép từ phía Washington. Ông chỉ trích Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger ham Giải Nobel và để cho Hà Nội "chơi xỏ”. Nguyễn Văn Thiệu vẫn giữ lập trường "Bốn không": không công nhận; không thương lượng; không liên hiệp; và không cắt đất cho cộng sản. Ông ta vẫn đặt niềm tin vào người Mỹ, cho rằng họ sẽ giữ lời và sẽ can thiệp bằng không quân ở Việt Nam trong trường hợp phe cộng sản vi phạm nghiêm trọng hiệp định Paris.
Không lâu sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, những đơn vị Quân Bắc Việt được phép ở lại Miền Nam bắt đầu vi phạm lệnh ngừng bắn, cố gắng chiếm thêm lãnh thổ, dẫn đến các trận đánh lớn giữa hai bên. Ngày 1 tháng 7 năm 1973, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật “ngăn cấm mọi hoạt động chiến sự” cả trên không lẫn mặt đất của quân đội nước này tại cả ba nước Đông Dương. Ngày 25 tháng 10 năm 1973, Richard Nixon “Phủ quyết Đạo luật” cho rằng đạo luật này áp đặt "các hạn chế vi hiến và nguy hiểm" đối với thẩm quyền của tổng thống. Tuy nhiên, ngày 7 tháng 11 năm 1973, Quốc hội Hoa Kỳ vẫn thông qua dự luật trên, bất chấp sự phủ quyết của Nixon.
2. Trong hai năm 1973–74, viện trợ của Hoa Kỳ giảm hơn 50% xuống còn 965 triệu đô la Mỹ. Tại Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu và hầu hết các nhà lãnh đạo chính phủ vẫn lạc quan về viện trợ của Hoa Kỳ. Theo Trung tướng Đồng Văn Khuyên thì “giới lãnh đạo Sài Gòn vẫn tiếp tục tin rằng Hoa Kỳ sẽ can thiệp bằng không quân ngay cả khi Quốc hội Hoa Kỳ đã ngăn cấm nó! Họ đã tự lừa dối bản thân mình”. Năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu tung ra các đòn tấn công giành lại phần lớn lãnh thổ mà Quân Giải phóng chiếm được trong các chiến dịch năm 1973 và giành lại 15% tổng diện tích đất do phe cộng sản kiểm soát vào thời điểm Hiệp định Paris đi vào hiệu lực.
Tháng 4 năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu mở chiến dịch tấn công vào căn cứ địa của Quân Giải phóng tại tỉnh Svay Rien, Campuchia, giáp ranh với Tây Ninh. Tuy giành thắng lợi, song chiến dịch này gây tổn thất lớn về mặt nhân lực và vật lực đối với Việt Nam Cộng hòa. Đến cuối năm 1974, trong khi Quân đội miền Nam rơi vào tình cảnh thiếu thốn trang thiết bị do Hoa Kỳ cắt giảm quân viện, thì quân đội miền Bắc không ngừng tăng thêm quân dụng, khí tài cho quân Giải phóng. Quân Giải phóng tiến hành các cuộc tấn công vào hai tỉnh Quảng Đức và Biên Hoà, gây thiệt hại lớn cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Hoa Kỳ vẫn không có động thái đáp trả nào trước những hành động vi phạm Hiệp định Paris của Quân Giải phóng.
XV. Mất Phước Long và Ban Mê Thuột
1. Tính đến cuối năm 1974, Quân Giải phóng miền Nam có 370.000 quân bố trí trên toàn lãnh thổ miền Nam. Họ đồng thời nhận được nguồn cung cấp khí tài quân sự dồi dào từ miền Bắc. Ngày 12 tháng 12, Quân Giải phóng phát động tấn công tỉnh Phước Long để thăm dò phản ứng của quốc tế, nhất là của Hoa Kỳ, nhằm chuẩn bị cho việc triển khai những kế hoạch tiếp theo. Họ nhanh chóng chiếm ưu thế, vây xiết lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hoà tại Phước Long. Ngày 2 tháng 1 năm 1975, Tổng thống Thiệu chủ tọa một cuộc họp khẩn cấp với Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Quân đoàn III.
Tướng Đống trình bày kế hoạch giải vây Phước Long, và xin Sư đoàn Tổng trừ bị tăng viện, nhưng bị Tổng thống Thiệu từ chối do không đủ khả năng không vận và quân trừ bị cũng không còn nhiều.Thiệu cho rằng, Phước Long không quan trọng bằng Tây Ninh, Pleiku, hoặc Huế cả về mặt kinh tế, chính trị lẫn nhân khẩu. Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Phước Long thất thủ, là tỉnh lỵ đầu tiên ở miền Nam rơi vào tay Quân Giải phóng. Từ sức ép ngày càng tăng của quân cộng sản, đầu tháng 3 năm 1975, Tổng thống Thiệu cử một phái đoàn đến Washington D.C. đề nghị Hoa Kỳ tăng viện trợ quân sự khẩn cấp. Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martinncũng bay tới Washington để trình bày vụ việc với Tổng thống Garald Ford..
2. Trước tình hình ngày càng trở nên vô vọng đối với Việt Nam Cộng hòa, Quốc hội Hoa Kỳ thể hiện thái độ miễn cưỡng và chỉ thông qua một ngân khoản viện trợ trị giá 700 triệu đô la Mỹ so với con số 1,45 tỷ được đề xuất ban đầu.Tuy vậy, chính quyền Ford tiếp tục khuyến khích ông Thiệu hãy giữ vững lòng tin với người Mỹ. Trong khoảng thời gian này, trước áp lực từ nhiều phía, Nguyễn Văn Thiệu càng lúc càng trở nên đa nghi và hoang tưởng hơn trước. Theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, một trong những phụ tá thân cận nhất của tổng thống, thì ông Thiệu "luôn đề phòng một cuộc đảo chính lật đổ mình."Chính sự tự cô lập bản thân này khiến Nguyễn Văn Thiệu thường từ chối "sự cộng tác của nhiều người trong các vấn đề tham mưu, tham khảo ý kiến và hợp tác."
Ông hiếm khi trao đổi cùng với các tướng và thành viên ban tham mưu, và như sẵn sàng sử dụng quyền Tư lệnh tối cao đối với những ai có thể lấn át mình. Các sĩ quan trung thành của ông đều đồng ý để ông "đưa quyết định về cách thức tiến hành cuộc chiến" và sẵn sàng chấp hành mọi mệnh lệnh từ Tổng Tư lệnh tối cao của Tổng thống Thiệu…. Nhận thấy Quân lực Việt Nam Cộng hòa không còn khả năng phản kích chiếm lại những vùng đã mất, và cả Hoa Kỳ cũng không có động thái can thiệp quân sự ở miền Nam, giới lãnh đạo Hà Nội quyết định phát động Chiến dịch Tây Nguyên nhắm vào khu vực Cao nguyên Trung phần.
3. Quân Giải phóng chọn Thị xã Ban Mê Thuột làm mục tiêu then chốt mở màn cho Chiến dịch vì đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam Cộng hòa tại Cao nguyên Trung phần. Tư lệnh Quân Giải phóng là Đại tướng Văn Tiến Dũng bố trí nghi binh ở khu vực bắc Cao nguyên khiến Thiếu tướng Phạm Văn Phú chỉ huy Quân đoàn II Việt Nam Cộng hoà, phải chuyển một phần binh lực tới Pleiku và Kontum để đối phó, dẫn tới cánh Buôn Ma Thuột bị bỏ hở.Quân Giải phóng lúc này bí mật di chuyển lực lượng lớn về phía Nam, qua đó áp đảo quân phòng thủ Buôn Ma Thuột với tỷ lệ 8 trên 1. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận Buôn Ma Thuột bắt đầu, và kết thúc chỉ sau vỏn vẹn 8 ngày, Quân Giải phóng giành hoàn toàn quyền kiểm soát tỉnh Đắk Lắk.
XVI. Rút Pleiku, Kontum để tái chiếm Ban Mê Thuột
1. Ngày 11 tháng 3 năm 1975, sau khi kết luận rằng không còn hy vọng nhận được gói quân viện trị giá 300 triệu đô la Mỹ từ Hoa Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu đã cho mời ba cố vấn quân sự thân cận nhất của mình là Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, và Trung tướng Đặng Văn Quang đến Dinh Độc Lập họp. Ông Thiệu lấy ra một tấm bản đồ quốc gia khổ nhỏ, bắt đầu bàn luận về việc tái phối trí lực lượng và "co cụm" lãnh thổ để "bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thật sự quan trọng." Trên bản đồ, Nguyễn Văn Thiệu khoanh vùng những khu vực mà ông cho là quan trọng nhất, trong đó bao gồm toàn bộ Vùng III và Vùng IV chiến thuật với cả thềm lục địa, nơi có những giếng dầu mới được phát hiện.
Ông cũng chỉ ra những khu vực hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của Quân Giải phóng cần phải được chiếm lại bằng mọi giá, vì đây là nơi tập trung của các nguồn tài nguyên như gạo, cao su và khu công nghiệp. Theo ông, những khu vực này đủ để Việt Nam Cộng hòa tồn tại và phát triển thành một quốc gia riêng. Đối với Vùng I và Vùng II chiến thuật, ông Thiệu vẽ một số vạch cắt ngang các vùng duyên hải, cho rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa nên giữ những gì có thể giữ, tùy theo khả năng, nhưng có thể rút lui về phía Nam nếu cần thiết. Đây là chiến lược mà ông Thiệu gọi là "đầu bé, đít to" thả lỏng phần trên, giữ chặt phần dưới.
2. Ngày 14 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu cùng 3 người trên bay tới Cam Ranh để gặp Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II. Ông Thiệu quyết định rằng mục tiêu ưu tiên của Quân đoàn II là tái chiếm Buôn Mê Thuột, cho rằng nơi này quan trọng hơn Pleiku và Kon Tum cả về mặt kinh tế lẫn nhân khẩu.Sách lược của ông là tập trung tiêu diệt các sư đoàn chủ lực Bắc Việt như Sư đoàn 320 thiện chiến đang chiếm giữ Buôn Ma Thuột, thay vì đối đầu với các toán du kích của Quân Giải phóng. Các tướng lĩnh được lệnh giữ bí mật, không được để cho phía Hoa Kỳ biết.
Nhằm tạo yếu tố bất ngờ, tướng Phú quyết định rút lui về phía biển theo Tỉnh lộ 7B, một con đường nhỏ, hư hỏng nặng, để triển khai lực lượng tái chiếm Buôn Mê Thuột. Cuộc rút lui quy mô lớn với hàng trăm nghìn quân nhân và thường dân được dự đoán sẽ rất gay go. Vậy mà, nó đã được tổ chức một cách vội vã, và không có kế hoạch cụ thể, dẫn tới sự thiếu phối hợp giữa các bên. Nhiều sĩ quan cao cấp không hề hay biết lệnh triệt thoái, một số đơn vị bị bỏ lại sau hoặc rút lui một cách rời rạc.Sự việc càng trở nên nghiêm trọng khi lực lượng Biệt động quân cùng thiết xa đánh chặn vô tình bị không quân oanh tạc nhầm, phải hứng chịu thương vong lớn.
3. Lợi dụng lợi thế về mặt số lượng, Quân Giải phóng tiến hành truy kích, đánh phá đoàn di tản. Sau 9 ngày, chỉ có 20.000 trong số tổng cộng 60.000 quân và 25% trong số 180.000 thường dân di tản đến được Tuy Hoà vào ngày 27 tháng 3. Cuộc rút lui rở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn, tạo nên một “con đường máu” cùng với cái chết của gần cả trăm ngàn người. Kế hoạch rút khỏi Pleiku, Kontum để tái chiếm Ban Mê Thuột của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không bao giờ được hiện thực hóa vì Quân đoàn II chỉ còn 25% binh lực so với dự tính ban đầu. Sau chiến thắng với tầm mức không ngờ, Quân Giải Phóng đã hoàn toàn làm chủ toàn bộ Cao nguyên Trung phần.
XVII. Kế hoạch Cao nguyên thất bại, sụp đổ dây chuyền.
1. Thảm họa ở Cao nguyên Trung phần được tiếp nối bởi một thảm họa tương tự tại các tỉnh thuộc Vùng I chiến thuật. Quân đoàn I khi đó nằm dưới sự chỉ huy của Trung tướng Ngô Quang Trưởng, người được đánh giá là vị tướng tài ba nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Tính đến trung tuần tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng tuy có tới 5 sư đoàn và 27 trung đoàn bổ sung nhưng chỉ mới cố gắng đánh chặn các tuyến xa lộ mà chưa thể tấn công vào các vị trí mà Quân đoàn I vẫn giữ vững. Trong buổi họp ngày 13 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu sau khi phân tích tình hình đã truyền đạt kế hoạch "co cụm" lãnh thổ của mình với tướng Trưởng và ra lệnh bỏ Huế để rút về Đà Nẵng. Tướng Trưởng tuy không phàn nàn, song cảm thấy bối rối trước kế hoạch của tổng thống.
Ngày 19 tháng 3 năm 1975, Ngô Quang Trưởng bay vào Sài Gòn gặp Tổng thống Thiệu, tướng Trưởng giải thích rằng không còn đường nào để rút khỏi Huế do Quốc lộ 1 đã bị Quân Giải phóng đánh chặn, và bày tỏ ý định rút về cố thủ ba cứ địa Huế, Đà Nẵng và Chu Lai, ông Thiệu miễn cưỡng nghe theo. Ngày 20 tháng 3 năm 1975, Tổng thống Thiệu lên sóng phát thanh, hiệu triệu rằng Huế cần phải được phòng thủ "bằng mọi giá". Tối hôm đó, Ngô Quang Trưởng lệnh binh lính rút khỏi Quảng Trị để lui về phòng tuyến tại sông Mỹ Chánh ở phía Bắc Huế. Vì nhuệ khí và kỷ luật của ba quân vẫn còn tương đối cao, tướng Trưởng tự tin có thể giữ được Huế.
2. Tuy nhiên, ông nhanh chóng bị sốc khi nhận được công điện hỏa tốc truyền đạt chỉ thị mới của tổng thống rằng "nếu tình hình bắt buộc, chỉ cần lui về giữ Đà Nẵng mà thôi." Ông Thiệu đưa ra quyết định này vì cho rằng Quân đoàn I không đủ còn đủ quân để có thể phòng thủ một lúc ba nơi. Mệnh lệnh "tiền hậu bất nhất" này gây hoang mang trong quân đội, nhất là đối với những binh lính bị buộc phải bỏ rơi quê hương và thân nhân để rút lui. Quân đoàn I trên đường rút lui về Đà Nẵng liên lục chịu sức ép từ Quân Giải phóng. Bên cạnh đó, việc hàng trăm nghìn dân thường tham gia di tản khiến tình hình nhanh chóng vượt ngoài tầm kiểm soát.
Bất mãn trước những quyết định của Tổng thống Thiệu, Tư lệnh Bộ binh là Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm Sư đoàn 1 tức giận phát biểu trước binh sĩ rằng: "Chúng ta đã bị phản bội rồi. Bây giờ thì mạnh ai người nấy lo cho chính mình." Trước sự tấn công dồn dập của Quân Giải phóng, sư đoàn 1 nhanh chóng tan rã, nhiều binh sĩ đào ngũ. Do vậy, chỉ 1/3 quân số ban đầu đến được Đà Nẵng. Ngày 27 tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng liên tiếp nã pháo vào các căn cứ quân sự tại Đà Nẵng làm cho tinh thần của cả quân và dân trong thành phố thêm phần hoảng loạn. Thêm vào đó, việc dòng người tị nạn từ các nơi đổ về quá đông, lên tới 1,5 triệu người, khiến Đà Nẵng trở nên hỗn loạn và không thể kiểm soát.
3. Nhận thấy việc cố thủ Đà Nẵng là bất khả thi, Ngô Quang Trưởng gọi điện về Sài Gòn yêu cầu cho phép di tản bằng đường biển. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Thiệu do dự không đưa ra mệnh lệnh dứt khoát. Ông vẫn nuôi hy vọng Hoa Kỳ can thiệp quân sự vào Việt Nam một lần nữa và muốn giữ Đà Nẵng bằng mọi giá để sử dụng làm đầu cầu cho người Mỹ đổ bộ. Tuy nhiên, sau khi liên lạc với Sài Gòn bị gián đoạn bởi hỏa lực của Quân Giải phóng, Ngô Quang Trưởng đành phải tùy cơ ứng biến, ra lệnh rút lui khỏi Đà Nẵng bằng đường biển. Không có sự hỗ trợ từ Sài Gòn, cuộc di tản diễn ra trong tình cảnh hỗn loạn.Nhiều người chết đuối khi chen lấn giẫm đạp tranh nhau lên được trên tàu. Số lượng tàu tại Đà Nẳng là quá ít đối với hàng triệu người phải sơ tán.
Chỉ có khoảng 16.000 binh sĩ và 50.000 người trong số gần hai triệu dân thường ở Đà Nẵng được sơ tán thành công. Ngày 29 tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng tiến vào chiếm đóng đô thị lớn hàng thứ hai tại miền Nam Việt Nam, bắt giữ hơn 70.000 binh sĩ, thu được 100 tiêm kích cơ và hàng loạt khí tài quân sự khác. Đà Nẵng thất thủ kéo theo sự sụp đổ dây chuyền của các đô thị ven biển Nam Trung Bộ như “một dãy bình sứ trượt khỏi kệ”. Chỉ sau vỏn vẹn 2 tuần, hơn một nửa lãnh thổ miền Nam đã hoàn toàn nằm trong quyền kiểm soát của Quân Giải phóng.
XVIII. Từ chức và rời khỏi nước trong đêm tối.
1. Sau những thắng lợi vượt xa mức tưởng tượng, Bộ Chính trị đảng Lao động quyết tâm giành chiến thắng trước khi miền Nam bước vào mùa mưa năm 1975 thay vì đợi đến năm 1976. Ngày 7 tháng 4 năm 1975, Lê Đức Thọ đến sở chỉ huy của Đại tướng Văn Tiến Dũng tại Lộc Ninh, thay mặt Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong cuộc họp Bộ Chỉ huy chiến dịch, Văn Tiến Dũng phác thảo kế hoạch tiến đến Sài Gòn bằng ba hướng. Mục tiêu đầu tiên của chiến dịch là Xuân Lộc, tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh, nơi án ngữ các trục giao thông quan trọng hướng thẳng về Sài Gòn. Được mệnh danh là "cánh cửa thép", Xuân Lộc là mắt xích trọng yếu trong hệ thống phòng thủ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Ngày 9 tháng 4 năm 1975, Quân Giải phóng phát động tấn công Xuân Lộc.Thiếu tướng Lê Minh Đảo chỉ huy 25.000 quân bảo vệ phòng tuyến Xuân Lộc. Sư đoàn 18 dưới trướng Lê Minh Đảo chống trả quyết liệt, giữ vững tuyến phòng thủ trong nhiều ngày. Tuy nhiên, do thiếu không quân yểm trợ cũng như việc Quân Giải phóng thay đổi chiến thuật đánh vòng sang phía khác, nên sau khi các phòng tuyến ở Tây Ninh và Phan Rang lần lượt thất thủ, phòng tuyến Xuân Lộc trở nên mất tác dụng. "Cánh cửa thép" Xuân Lộc bị phá vỡ sau 11 ngày kịch chiến. Trận tử chiến tại Xuân Lộc là minh chứng, rằng nếu có được một đội ngũ chỉ huy có năng lực, Quân lực Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn đủ khả năng đối chọi trực diện với Quân Giải phóng.
2. Ngày 10 tháng 4 năm 1975, Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford vận động Quốc hội thông qua một gói viện trợ quân sự bổ sung trị giá 722 triệu đô la Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa, cùng với 250 triệu đô la Mỹ viện trợ kinh tế và ấn định hạn chót để quốc hội đưa ra quyết định là ngày 19 tháng 4 năm 1975. Cũng trong khoảng thời gian này, để đề phòng trường hợp Quốc hội Hoa Kỳ từ chối viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu đã cử Tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc sang Ả Rập Xê-Út để yêu cầu vay tiền. Tuy được Quốc vương Khalid bật đèn xanh, song thương vụ cho vay được dự kiến sẽ phải mất ít nhất ba đến bốn tháng để hoàn thành. Trong cơn tuyệt vọng, Tổng thống Thiệu đã gửi thư cho Tổng thống Ford đề nghị vay thế chấp 3 tỷ đô la Mỹ. Tuy nhiên, cả đề nghị vay nợ lẫn viện trợ đều bị Quốc hội Hoa Kỳ bác bỏ.
Bị áp lực từ các tướng, Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21 tháng 4 năm 1975. Ông đã có một bài phát biểu kéo dài ba tiếng trên sóng truyền hình, được nhiều người đánh giá là bài diễn văn "hay nhất", nhưng đồng thời cũng bị "đả kích nhiều nhất" trong 8 năm làm tổng thống của ông. Trong bài diễn văn tuy "rời rạc, nhưng nồng nhiệt và chân thành" này, ông lần đầu tiên thừa nhận lệnh di tản khỏi Cao nguyên Trung phần và mấy tỉnh phía Bắc là nguyên nhân dẫn đến thảm bại. Tuy nhiên, sau đó ông tuyên bố quyết định trên là bất đắc dĩ, đồng thời đùn đẩy trách nhiệm cho các tướng thuộc quyền. Ông mô tả Hoa Kỳ là một đồng minh không đáng tin cậy:
3. "… Rằng, mấy ông bảo chúng tôi làm những việc mà mấy ông không làm được trong 6 năm trời, với hơn nửa triệu binh hùng tướng mạnh, xài gần 300 tỷ Mỹ kim. Nếu không muốn nói các ông đã bị Cộng sản đánh bại thì cũng phải nói là mấy ông đã không thắng được họ. Và, bây giờ mấy ông tìm một lối thoát danh dự, trong khi quân đội chúng tôi thiếu súng ống, đạn dược, máy bay yễm trợ B-52 thì mấy ông lại để quân sĩ chúng tôi chết đuối dưới làn mưa đạn của địch. Đây là hành động vô nhân đạo của một đồng minh vô nhân đạo”… Còn hơn một năm nữa mấy ông ăn mừng lễ độc lập 200 năm, tôi hỏi các ông Hoa Kỳ có còn đáng tin cậy hay không? những gì mấy ông hứa có còn giá trị gì nữa không?
Nguyễn Văn Thiệu cũng trách cứ Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger vì đã ký Hiệp định Paris, một hiệp định đã bỏ ngõ cho Hà Nội xâm lăng Việt Nam Cọng hoà. Ông tuyên bố rằng "cái bản văn hiệp định đó là bản văn Hoa Kỳ bán đứng Nam Việt Nam cho cộng sản". Ông Thiệu cũng đổ lỗi cho các phương tiện truyền thông cả trong và ngoài nước vì liên tiếp đưa tin tham nhũng và khủng hoảng của chính phủ Sài Gòn, làm suy sụp tinh thần của quân đội và dân chúng. Ngay sau bài phát biểu, Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên nắm quyền tổng thống, nhưng cũng không thể cứu vãn được tình hình. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn, kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 21 năm.
4. Cũng trong bài diễn văn từ chức ngày 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố “tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ” và khẳng định rằng ông sẽ tái ngũ và tiếp tục chiến đấu trong vai trò một vị tướng “kề bên anh em chiến sĩ”. Bốn ngày sau, Nguyễn Văn Thiệu đã bí mật rời khỏi Sài Gòn sang Đài Loan trên một chiếc phi cơ C-118 đêm ngày 25 rạng ngày 26 tháng 4 năm 1975. Để được “danh chính ngôn thuận” Tổng thống Trần Văn Hương đã phải ký nghị định đề Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm làm đặc sứ sang Đài Bắc phúng điếu Tống thống Trung Hoa Dân quốc Tưởng Giới Thạch qua đời từ ngày 5 tháng 4 năm 1975. Cuộc ra đi của Nguyễn Văn Thiệu và các trợ lý diễn ra dưới sự sắp xếp của Thomas Polgar, trưởng CIA ở Sài Gòn.
XIX. Sống lưu vong và những năm cuối đời
1. Nguyễn Văn Thiệu sống tại Đài Loan một thời gian ngắn tại nhà anh trai Nguyễn Văn Kiểu, Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan. Sau đó, ông cùng gia đình chuyển tới London Anh Quốc. Đầu thập niên 1990, gia đình ông tới Foxborough thuộc vùng ngoại vi Boston, Massachusetts và sống thầm lặng. Việc Nguyễn Văn Thiệu ít khi xuất hiện trước công chúng do lo ngại sự thù địch của người Việt Nam tị nạn cộng sản, những người tin rằng ông là nhân tố chính khiến Việt Nam Cộng hòa chiến bại. Năm 1992, ông Thiệu lên tiếng tố cáo sự xích lại gần nhau giữa Hoa Kỳ và Cộng hoà Chủ nghĩa Việt Nam.
Nhưng từ năm 1993 thì lại có ý muốn thiện chí tham gia vào các cuộc thảo luận hoà giải dân tộc, nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng kiều bào có cơ hội trở về nước. Trong một buổi phỏng vấn năm 1993, ông cho rằng Việt Nam cần phải được dân chủ hóa, nhưng phải bằng một giải pháp chính trị ôn hòa, không bạo động "để tránh một cuộc nội chiến gây hận thù triền miên cho các thế hệ mai sau". Cũng trong buổi phỏng vấn này, ông nói rằng mình đã không làm tròn được nhiệm vụ mà nhân dân giao phó, dù đã "cố gắng trong khả năng chức vị của ông đối với cộng sản và kể cả đối với đồng minh", đồng thời tuyên bố "nhận lãnh trách nhiệm hoàn toàn trước nhân dân và lịch sử".
2. Nguyễn Văn Thiệu cùng vợ guyễn Thị Mai Anh, kỷ niệm 50 năm ngày cưới tại Hawaii khi sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001, hai chiếc máy bay đâm vào Tòa Tháp Đôi đề xuất phát từ sân bay Quốc tế Logan, Hawaii. Do vậy, đường bay bị gián đoạn, hai vợ chồng ông ông bị kẹt lại ở Hawaii hơn 1 tuần. Ngày 27 tháng 9 năm 2001, Nguyễn Văn Thiệu bị đột quỵ, và qua đời ngày 29 tháng 9 tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess, Boston, Masschusetts, thọ 78 tuổi./.
(Hết Chương 14)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét