Chương XXI: (KẾT THÚC) 32 BÀI VIẾT VỀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN, SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ, CHIẾN TRANH LẠNH, VÀ HỆ LUỴ TẠI VIỆT NĂM 1947-1976.
(99 trang, 71.386 chữ)
I. TRÊN THẾ GIỚI 1947-1991: 7 BÀI VIẾT.
282. Khái quát về Chiến tranh lạnh, Thế giới thứ nhất, Thế giới thứ hai, Thế giới thứ ba và diễn tiến Chiến tranh lạnh từ 1947 đến 1991.
283. Chủ nghĩa Cộng sản, Sách lược chống cộng của Mỹ và diễn tiến Chiến tranh lạnh từ năm 1947 đến đầu thập niên 1950.
284. Chủ nghĩa Cộng sản, Sách lược chống cộng của Mỹ và diễn tiến Chiến tranh lạnh trong thập niên 1950.
285. Chủ nghĩa Cộng sản, Sách lược chống cộng của Mỹ và diễn tiến Chiến tranh lạnh trong thập niên 1960.
286. Chủ nghĩa Cộng sản, Sách lược chống cộng của Mỹ và diễn tiến Chiến tranh lạnh trong thập niên 1970.
287. Chủ nghĩa Cộng sản, Sách lược chống cộng của Mỹ và diễn tiến Chiến tranh lạnh trong thập niên 1980.
288. Chủ nghĩa Cộng sản, Sách lược chống cộng của Mỹ và diễn tiến Chiến tranh lạnh từ năm 1985 đến năm 1991.
Bài 282: KHÁI QUÁT VỀ CHIẾN TRANH LẠNH, THẾ GIỚI THỨ NHẤT, THẾ GIỚI THỨ HAI, THẾ GIỚI THỨ BA, VÀ DIỄN TIẾN TỪ 1947 ĐẾN 1991.
Khái quát về Chiến tranh lạnh (1947-1991), Tiếng Anh: Cold War là chỉ sự căng thẳng địa chính trị và xung đột ý thức hệ đỉnh điểm giữa hai siêu cường, đứng đầu và đại diện hai khối đối lập: Hoa Kỳ của chủ nghĩa tư bản và Liên Xô của chủ nghĩa xã hội. Chiến tranh Lạnh bắt đầu từ năm 1947 với sự ra đời của thuyết Truman. Chiến tranh Lạnh kết thúc với sự tan rã của Liên Xô vào năm 1991. Thuật ngữ lạnh được sử dụng vì không có sự chiến đấu trực tiếp trên diện rộng giữa hai siêu cường, nhưng họ đã ủng hộ những nước đồng minh đang có xung đột nhằm gia tăng vị thế chính trị, nó còn được gọi là những cuộc chiến tranh uỷ nhiệm (proxy wars).
Thế giới thứ nhất chỉ những nước tư bản phương Tây được dẫn dắt bởi Hoa Kỳ, một quốc gia theo thể chế Cộng hoà liên bang có hệ thống chính trị đa đảng; và các quốc gia liên kết NATO hoặc chống lại Liên Xô trong Chiến tranh lạnh gọi là First-World. Đại đa số các quốc gia trong First-World là các nước cộng hoà hoặc Quân chủ lập hiến cũng có hệ thống chính trị đa đảng. Nhưng về mặt kinh tế và chính trị thì mạng lưới của First-World chi phối các quốc gia cộng hòa kém phát triển, và các chế độ độc tài khác, hầu hết trong số đó từng là các thuộc địa cũ của Khối phương Tây.
Thế giới thứ hai cầm đầu bởi Liên Xô, một quốc gia theo chủ nghĩa Marx-Lenin có hệ thống chính trị độc đảng được lãnh đạo bởi Xô viết tối cao và Bộ chính trị; và các quốc gia có Đảng cộng sản lãnh đạo toàn bộ từ trung ương tới địa phương từ chính trị, quân sự, kinh tế, báo chí … gọi là Second World. Hầu hết các quốc gia trong Second World bao gồm các thành viên của Hiệp ước Warsaw, các quốc gia vệ tinh hoặc đồng minh của Liên Xô, và các quốc gia khác theo hệ thống XHCN. Điện Kremlin đã tài trợ tiền của cho những đảng cộng sản hoặc cánh tả trên khắp thế giới. Nhưng họ bị thách thức vị thế này trong những năm 1960, bởi Cộng hoà nhân dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông, sau đó là sự chia rẽ Trung Quốc-Liên Xô vào khoảng đầu những năm 1960.
Thế giới thứ ba, gần như tất cả các quốc gia thuộc địa đã giành được độc lập trong khoảng thời gian 1945-1960, đã trở thành Third World. Thành viên của Third World là những quốc gia phi liên kết, trung lập trong Chiến tranh Lạnh. Ấn Độ, Indonesia và Nam Tư đã đi đầu trong việc thúc đẩy sự trung lập, không liên kết. Nhưng các quốc gia này chưa bao giờ có nhiều tầm ảnh hưởng trên thế giới. Liên Xô và Hoa Kỳ cũng chưa từng tham gia trực tiếp vào một cuộc chiến tranh vũ trang lớn. Tuy nhiên, cả hai đều vũ trang mạnh mẽ để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh toàn diện có thể xảy ra. Còn Trung Quốc và Hoa Kỳ thì đã từng giao chiến với nhau trong một cuộc chiến tranh có thương vong cao tại Triều Tiên (1950-53) mà kết thúc với sự bế tắc cho cả hai bên.
Giai đoạn đầu của Chiến tranh Lạnh (1947-1953), bắt nguồn từ tuyên bố của Stalin vào tháng 2 năm 1946, khẳng định chủ nghĩa cộng sản sẽ thành công và chủ nghĩa tư bản sụp đổ là tất yếu. Một tháng sau, Winston Churchill kêu gọi Mỹngăn chặn Stalin về điều mà ông gọi là "Bức màn Sắt" nơi chủ nghĩa cộng sản đang ngự trị ở phía Đông châu Âu. Ngày 12 tháng 3 năm 1947, Tổng thống Harry. S. Truman tuyên bố Mỹ sẽ tích cực hỗ trợ việc chống lại các phong trào cộng sản chủ nghĩa, đây là chính sách lược ngoại giao chính thức của Hoa Kỳ được gọi là Học thuyết Truman. Trong khi Liên Xô củng cố sự kiểm soát lên các quốc gia của khối Đông Âu thì Hoa Kỳ cũng bắt đầu chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trên toàn cầu, ủng hộ phe chống cộng sản trong Nội chiến Hy Lạp và thành lập liên minh quân sự NATO.
Sự kiện phong tỏa Berlin (1948-49) là cuộc khủng hoảng ngoại giao lớn đầu tiên của Chiến tranh Lạnh. Tiếp đến là sự chiến thắng của Đảng Cộng sản trong nội chiến với Quốc dân đảng tại Trung Quốc (1947-1949); và sau đó là bùng nổ của Chiến tranh Triều Tiên (1950-53), khiến căng thẳng giữa hai bên đã lan ra trên diện rộng. Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết (USSR) và Hoa Kỳ (USA) cũng cạnh tranh giành sự ảnh hưởng của mình tại những quốc gia Mỹ Latinh và những thuộc địa đang giành độc lập ở châu Phi và châu Á.
Những năm tiếp theo… năm 1956 có hai sự kiện nổi bật là việc Liên Xô dập tắt cuộc bạo động ở Hungari vào tháng 10, và khủng hoảng kênh đào Suez bắt đầu từ ngày 27 tháng 10 cùng năm 1956. Năm 1961 nổ ra khủng hoảng Berlin, Năm 1962 là khủng hoảng tên lửa Cuba. Một sự kiện khác là “Phong trào hòa bình phi hạt nhân. Phong tào này bắt đầu ở Nhật Bản từ năm 1954, khi người dân trở nên lo lắng về những vụ thử nghiệm vũ khí hạt nhân, sau đó lan rộng ra sang châu Âu và Hoa Kỳ. Phong trào được dân chúng khắp nơi ủng hộ từ cuối thập niên 1950, và đầu những năm 1960. Đến thập niên 70 và 80 có những cuộc tuần hành, biểu tình, và nhiều hoạt động phi nghị viện phản đối chiến tranh và kêu gọi phi hạt nhân hoá trên toàn cầu.
Ngay từ đầu thập niên 1960 trong khi sự chia rẽ Xô-Trung không ngừng gia tăng, thì đồng minh của Hoa Kì cũng có dấu hiệu bất hoà, rõ ràng nhất là việc Pháp đã rời bỏ NATO (Quay lại vào năm 2009). Trong khi Liên Xô dập tắt được phong trào Mùa xuân Prague 1968 tại Tiệp Khắc thì Hoa Kỳ cũng trải qua những hỗn loạn khủng khiếp ngay trong nội bộ nước Mỹ bởi phong trào dân quyền, chống phân biệt chủng tộc và phản đối Chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến mà Hoa Kỳ nhảy vào tham chiến sau khi Pháp phải bỏ cuộc. Đến đầu thập niên 1970… cả hai bên bắt đầu một giai đoạn lắng dịu (de'tence) đàm phán “giới hạn vũ khí chiến lược" Mỹ-Xô, quan hệ mở rộng Mỹ-Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Sự lắng dịu này được Mỹ xem như là lý do để Hoa Kỳ từ bỏ “Tiền đồn chống cộng” tại Nam Việt Nam, khiến Việt Nam Cộng hoà rơi vào tay Cộng sản cuối tháng Tư năm 1975. Nhưng, sự lắng dịu ấy sụp đổ vào cuối thập niên 1970, khi Liên Xô đưa quân vào Afghanistan trong năm 1979.
Căng thẳng tăng lên trong những năm đầu thập niên 1980 khi Liên Xô đã bắn hạ máy bay KAL Flight 007 của hãng hàng không Korean Air Lines (KAL007) ngày 1 tháng 9 năm 1983, và cuộc diễn tập quân sự Ablee Archer của NATO vào tháng 11 cùng năm 1983, mô phỏng “tình huống giả định” nếu phải chuyển đổi sang chiến tranh hạt nhân… đã khiến Liên Xô tưởng thật, báo động toàn quân, đặt hệ thống tên lửa vào trạng thái sẵn sàng phóng để đối phó với cuộc tấn công của NATO, suýt gây ra Chiến tranh Thế giới III. Cuộc tập trận đã được "tháo ngòi" nhờ sự can thiệp của điệp viên và nhận thức được mức độ nguy hiểm, tạo ra bài học về giao tiếp giữa các siêu cường trong Chiến tranh Lạnh.
Ngày 12 tháng 6 năm 1982, một triệu người Mỹ biểu tình ở Công viên Trung tâm, New York kêu gọi kết thúc chạy đua vũ trang, chiến tranh Lạnh và đặc biệt là giải trừ vũ khí hạt nhân. Đây cũng là thời điểm Hoa Kỳ gia tăng sức ép kinh tế, ngoại giao, quân sự lên Liên Xô lúc Liên Xô đang bị trì trệ về kinh tế. Giữa những năm 1980, lãnh đạo mới của Liên Xô là Mikhail Gorbachev đã đưa ra những cải cách Glasnost (cởi mở 1985) và Perestroika (tự do1987). Gorbachev cũng kết thúc sự dính líu quân sự của Liên Xô vào Afghanistan từ năm 1979, để không lâu sau là sự thắng lợi của những người chống cộng ở Afganistan. Gorbachev còn phải chịu sức ép về chủ quyền quốc gia Đông Âu đang lớn mạnh. Trong khi đó thì Gorbachev từ chối sử dụng quân đội Liên Xô để giải quyết vấn đề như đã xảy ra trong quá khứ.
Kết quả là một làn sóng cách mạng trong năm 1989 đã lật đổ tất cả những nhà nước Cộng sản ở Trung và Đông Âu. Lo sợ, bị mất quyền kiểm soát, ngày 19 tháng 8 năm 1991, các Viên chức bảo thủ trong Bộ Chính Trị Liên Xô tổ chức đảo chánh Gorbachev, hai ngày sau 21 tháng 8 đảo chánh thất bai. Bản thân Đảng cộng sản Liên Xô thực sự đã mất kiểm soát, và bị đình chỉ hoạt động. Điều này dẫn tới sự tan rã chính thức của Liên Xô vào tháng 12 năm 1991, và kéo theo sự sụp đổ của những nhà nước thuộc khối XHCN trong những quốc gia khác như Mông Cổ, Campuchia, và Nam Yemen. Và, Hoa Kỳ trở thành siêu cường quốc duy nhất của thế giới.
Bài 283: CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN, SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ, VÀ DIỄN TIẾN CHIẾN TRANH LẠNH 1947 ĐẾN ĐẦU THẬP NIÊN 1950.
BỨC MÀN SẮT. Sau thế chiến thứ hai (1939-1945) Liên Xô thúc đẩy sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản, ủng hộ các phong trào cánh tả, các phong trào đấu tranh của công nhân ở các nước Tây Âu. Tháng 2 năm 1946, trong một bài diễn văn, Stalin khẳng định sự thành công của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản sẽ phải sụp đổ. Một tháng sau, Winston Churchill dù không còn là thủ tướng, nhưng vẫn là một nhân vật có tiếng nói mạnh mẽ trong chính trị Anh đưa ra ý kiến phản bác lại Stalin, Churchill cũng kêu gọi Mỹ ngăn chặn sự lôi kéo của Stalin tại các nước khác ở châu Âu theo chủ nghĩa cộng sản. "Bức màn Sắt" là tên gọi đầu tiên của Churchill, để chỉ các nơi chủ nghĩa cộng sản đang ngự trị ở phía Đông châu Âu.
HỌC THUYẾT TRUMAN. Ngày 12 tháng 3 năm 1947, Tổng thống Harry. S. Truman tuyên bố Mỹ sẽ tích cực hỗ trợ các nước chống lại các phong trào cộng sản chủ nghĩa, đây là chính sách chính thức của ngoại giao Hoa Kỳ được gọi là Học thuyết Truman. Tổng thống Truman tuyên bố rằng: "Hầu như mọi quốc gia đều phải chọn những cách sống khác nhau. Và sự lựa chọn thường không phải là một sự lựa chọn tự do. Một cách là dựa vào ý muốn của số đông... Cách thứ hai là dựa vào ý muốn của số ít một cách bắt buộc... Tôi tin tưởng rằng các đường lối của Mỹ là ủng hộ những con người tự do, những người đang chống lại sự phụ thuộc theo số ít (có vũ trang) hoặc bằng áp lực. Tôi tin tưởng rằng chúng ta phải giúp đỡ những con người tự do để họ quyết định số phận của mình bẳng những cách riêng của họ."
Dựa vào học thuyết Truman, Hoa Kỳ đã đem quân can thiệp vào tình hình chiến sự của một loạt các quốc gia khác trên thế giới: ủng hộ phe bảo hoàng trong nội chiến Hy Lạp, ủng hộ Nam Triều Tiên chống lại cuộc tấn công của Bắc Triều Tiên trong chiến tranh Triều Tiên, ủng hộ thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam trong chiến tranh Đông Dương, và cho quân viễn chinh tham chiến trong chiến tranh Việt Nam. Để thi hành chính sách chống lại các phong trào cộng sản chủ nghĩa, Hoa Kỳ cũng đã ủng hộ cả các chính quyền độc tài quân phiệt, miễn là chính quyền đó có tư tưởng chống Cộng. Từ năm 1951, Mỹ đã coi chính quyền phát xít Tây Ban Nha là một trong số các đồng minh vì chính sách chống cộng quyết liệt của chính quyền này.
Trong vòng một thập kỷ tiếp đó, một số lớn viện trợ được chuyển cho Tây Ban Nha, Mỹ cũng viện trợ chiến phí cho thực dân Pháp quay trở lại xâm chiếm Việt Nam, thực dân Hà Lan quay trở lại xâm chiếm Indonesia với mục đích ngăn chặn các chính quyền cộng sản lên nắm quyền ở những quốc gia này. Tới năm 1954, 80% chiến phí của quân Pháp ở Việt Nam là do Mỹ chi trả. Năm 1949, Đảng Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo đã giành thắng lợi trong cuộc nội chiến, khiến cho hệ thống xã hội chủ nghĩa được nối liền từ châu Âu sang châu Á.
KẾ HOẠCH MARSHALL. Sau Thế chiến II, Bộ trưởng Ngoại giao George C. Marshall phát thảo bản kế hoạch Marshall ủng hộ sự thành lập các chương trình phục hồi kinh tế cho châu Âu bằng việc tăng cường nền thương mại tự do ở châu Âu giúp khắc phục các khó khăn, mở thị trường ra khắp thế giới. Trong bài diễn văn ở Đại học Harvard tháng 6 năm 1947, Marshall phát biểu: "Đây là một điều logic khi nước Mỹ nên làm bất cứ điều gì nó có thể để giúp đỡ nền kinh tế thế giới, đem lại trạng thái lành mạnh cho nó. Chính sách của chúng ta không chống lại một đất nước hay một chính sách nào khác. Chính sách của chúng ta chống lại nghèo đói, suy sụp, và hỗn loạn..." Trong những năm từ 1948 đến năm 1952, các nước Tây Âu phát triển nhanh. Tình trạng nghèo đói cùng cực sau chiến tranh đã kết thúc.
Tây Âu bước vào một thời kỳ tăng trưởng nhanh kéo dài hai thập kỷ, cho phép chất lượng cuộc sống được cải thiện nhanh. Viện trợ từ Kế hoạch Marshall cũng giúp các quốc gia Tây Âu nới lỏng các biện pháp khắc khổ và chế độ phân phối, giảm thiểu bất mãn và mang lại ổn định chính trị. Ảnh hưởng chủ nghĩa cộng sản tại Tây Âu bị giảm sút mạnh mẽ, trên toàn khu vực, các đảng cộng sản Tây Âu mất dần sự ủng hộ của dân chúng trong những năm tiếp theo của Kế hoạch Marshall. Stalin coi kế hoạch Marshall là mối đe dọa nghiêm trọng cho sự kiểm soát của Liên Xô với khối Đông Âu, và tin rằng nó sẽ khiến chủ nghĩa tư bản nổi lên ở các quốc gia Đông Âu. Liên Xô đã gấp rút thiết lập COMECON như một lời cự tuyệt cho Kế hoạch Marshall. Dù vậy, sự phục hồi kinh tế ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu diễn ra chậm hơn so với Tây Âu, dẫn đến khoảng cách giàu nghèo giữa Đông và Tây Âu.
VIỆN TRỢ CHO TÂY BERLIN. Khi ba nước Đồng minh Tư bản phương Tây đã quyết định nhập ba vùng phụ thuộc vào để thành lập Cộng hòa Liên bang Đức, hay còn gọi là Tây Đức, thì Liên Xô cũng thành lập Cộng hoà Dân chủ Đức, hay Đông Đức, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Đức. Thủ đô Berlin tuy nằm trong lãnh thổ Đông Đức, bị chia cắt thành hai: Đông Berlin là thủ đô của Đông Đức và Tây Berlin là lãnh thổ đặc biệt của Tây Đức. Tại 2 vùng có chế độ kinh tế khác hẳn nhau: ở Tây Đức lương công nhân cao hơn, mặt hàng đa dạng hơn, nhưng ở Đông Đức thì có chi phí sinh hoạt rẻ, được miễn phí y tế, và giáo dục. Tận dụng điều này, có khoảng 50.000 người Đông Đức, hay còn gọi là Grenzgängers hằng ngày vẫn vượt qua ranh giới 2 vùng, làm việc ở Tây Đức để được nhận mức lương cao hơn, nhưng lại trở về sinh sống và cư ngụ ở Đông Đức do chi phí sinh hoạt rẻ hơn, do hàng hóa cơ bản, chính phủ Đông Đức trợ cấp cho người dân.
Ở Tây Đức có nền kinh tế thị trường nhiều người bán, nhiều người mua. Người Tây Đức có thể mua lương thực, thực phẩm với giá tương đối rẻ ở Đông Đức, trong khi người Đông Đức mua các hàng hóa tiêu dùng cao cấp mà ở Đông Đức rất khan hiếm khiến “thị trường chợ đen” hình thành và phát triển nhanh. Để đối phó, Stalin quyết định đóng cửa con đường này và đóng các con đường giao thông vào Tây Berlin. Cuộc bủa vây này gây ra sự thiếu hụt lương thực và đồ tiêu dùng cho 2,5 triệu người ở Tây Berlin. Truman quyết định các chiến dịch viện trợ cho Tây Berlin bằng cách thả hàng viện trợ xuống từ trên không. Trong vòng 15 tháng, quân đội Anh và Mỹ cung cấp 200.000 chuyến bay cung cấp lương thực, nhiên liệu. Mỗi ngày 13.000 tấn hàng hóa được viện trợ cho Tây Berlin. Tháng 5 năm 1949, Stalin tháo bỏ lệnh phong tỏa Tây Berlin. Chiến dịch viện trợ của liên minh Anh-Mỹ cũng ngừng vào tháng 9 cùng năm.
LIÊN MINH NATO. Liên Hợp Quốc được tín nhiệm thành lập một Ủy ban giúp đỡ phục hồi kinh tế các nước trên thế giới. Nhưng, nhiều chính sách của Liên Hợp Quốc đưa ra bị Liên Xô dùng “quyền phủ quyết” bác bỏ, vì tin rằng nó là con bài cho sự bành trướng của Tư bản Phương tây. Năm 1946, Louis St. Laurent, Bộ trưởng bộ ngoại giao Canada đưa ra ý tưởng thành lập một "liên minh yêu chuộng hoà bình" để giúp châu Âu chống lại sự chi phối của Liên Xô. Tháng 4 năm 1949, mười hai nước Canada, Mỹ, Bỉ, Anh, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization hay NATO). Việc thành lập liên minh NATO có ý nghĩa lớn trong nước Mỹ, chấm dứt chính sách cô lập của Mỹ đối với các vấn đề châu Âu.
Việc NATO ra đời cũng khiến Liên Xô rất bất an, bởi nhiều quốc gia thành viên của NATO nằm ngay sát Liên Xô là một mối đe dọa an ninh rất lớn với nước này. Quyền chi phối NATO lại được trao phó cho Mỹ, nếu Mỹ huy động quân đội các nước NATO để phát động tấn công Liên Xô, thì Liên Xô sẽ bị bao vây và phải chống đỡ với rất nhiều kẻ thù cùng một lúc.
KHỐI WARSZAW. Để đáp trả việc ra đời của NATO, Liên Xô cho thành lập khối Hiệp ước Warszawa (Организация Варшавского договора) gồm Liên Xô và các nước đồng minh trong phe xã hội chủ nghĩa ở châu Âu như Albania, Ba Lan, Hungary, Bulgaria, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, và Romania. Ngày 31 tháng 3 năm 1954, để giảm căng thẳng ngoại giao giữa 2 bên, Bộ Ngoại giao Liên Xô đề nghị cho nước này gia nhập NATO với điều kiện liên minh này đứng trung lập. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Mỹ, Anh và Pháp bác bỏ đề nghị với lý do việc kết nạp Liên Xô là "không phù hợp với tôn chỉ phòng thủ và dân chủ" của khối. Năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công vũ khí hạt nhân, xóa bỏ vị thế độc quyền về công nghệ hạt nhân của Hoa Kỳ.
ĐẢNG CỘNG SẢN THẮNG LỢI TRONG NỘI CHIẾN TẠI TRUNG QUỐC. Ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thủ lãnh Cộng sản Mao Trạch Đông nảy sinh mâu thuẩn với chính quyền Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch. Mâu thuẩn tăng dần đến nội chiến Quốc-Cộng. Lúc đầu, Mỹ giúp đỡ Tưởng Giới Thạch chống lại Mao Trạch Đông. Nhưng, về sau Mỹ khi thấy lợi thế nghiêng về Mao Trạch Đông thì Mỹ ngưng viện trợ cho Tưởng Giới Thạch làm cho chính quyền Tưởng Giới Thạch suy yếu dần. Đến năm 1949, Đảng cộng sản Trung Quốc giành chiến thắng, Chính quyền Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch phải tháo chạy ra đảo Đài Loan. Cộng sản Mao Trạch Đông kiểm soát toàn bộ nội địa, thành lập Chính quyền Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa năm 1949, và kết nối thành lập liên minh với Liên Xô.
CHIẾN TRANH LẠNH TRONG LÒNG NƯỚC MỸ. Vào khoảng thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới, số lượng người Mỹ tham gia vào đảng cộng sản tăng lên. Một lần nữa, "Nổi sợ Đỏ" (Red Scare) dẫn đến những cuộc đàn áp cộng sản cực đoan, vi phạm hiến pháp và trái với tư tưởng Mỹ từ khi lập quốc. Đầu thập niên 1950, các thế lực chống cộng cực đoan nắm quyền, McCarthy và J. Edgar Hoover thực hiện các chiến dịch chống cộng như theo dõi, phân biệt đối xử, sa thải, khởi tố và bắt giam nhiều người bị xem là đảng viên cộng sản hoặc ủng hộ chủ nghĩa cộng sản. Một bộ phận trong số những nạn nhân bị mất việc, bị bắt giam hoặc bị điều tra, Chính phủ Mỹ đẩy mạnh tuyên truyền để công chúng nghĩ rằng những người cộng sản là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.
Truman cũng cho thành lập những chương trình chống gián điệp của Liên Xô thâm nhập vào chính quyền của Mỹ... các chương trình này điều tra hàng triệu nhân viên chính phủ, trong đó khoảng vài trăm người bị buộc từ chức. Quốc hội Mỹ cũng có tổ chức riêng để bảo vệ an ninh quốc gia. HUAC (House Un-American Activities Committee - Ủy ban Hạ viện Kiểm Tra Hành Động Bất Hợp Hoa Kỳ) được thành lập năm 1938, để giúp điều tra các phần tử không trung thành. Đặc biệt là Hollywood vì Hollywood được cho là có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của nhân dân. Chính sách McCarren-Walter: Cùng với Truman và Quốc hội Mỹ, thượng nghị sĩ Pat MacCarren cũng tham gia vào phong trào chống cộng sản ở Mỹ. Tuy nhiên, ông không nhắm tới các công dân Mỹ mà nhắm tới các thành phần nhập cư từ các vùng mà chủ nghĩa cộng sản đang thống trị.
Bài 284: CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN, SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ, VÀ DIỄN TIẾN CHIẾN TRANH LẠNH TRONG THẬP NIÊN 1950.
TẠI MỸ LATINH. Hai sự kiện nổi bật tại Mỹ Latinh là Guatemala và Cuba. Mục tiêu của Mỹ trong thập niên 1950 thời Chiến tranh Lạnh là ngăn chặn, và chủ động "đẩy lùi" chủ nghĩa Cộng sản. Tuy nhiên, tổng thống Dwight D. Eisenhower lại muốn tránh đụng chạm với Liên Xô. Do vậy, Mỹ đã thiết lập các chế độ ủng hộ mình bằng can thiệp quân sự, tài trợ cho phe đối lập hoặc hỗ trợ đảo chánh. Năm 1954, CIA cho rằng những nhà lãnh đạo Guatemala ủng hộ chủ nghĩa xã hội, và sau đó Mỹ đã lật đổ chính quyền Guatemala bằng cuộc đảo chính năm 1954. CIA đã tuyển dụng và đào tạo một đơn vị lính đánh thuê nhỏ dưới sự chỉ huy của một người Guatemala lưu vong tên là Carlos Castillo Armas để chiếm đóng Guatemala, với 30 máy bay Mỹ không mang phù hiệu để hỗ trợ đường không. Cuộc đảo chính thành công dẫn tới việc nhà độc tài quân sự là Carlos Castillo Armas lên nắm quyền.
Vị thế của Mỹ tại Mỹ Latinh bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau thắng lợi của Cách mạng Cuba năm 1958 do Fidel Castro lãnh đạo đã lật đổ chế độ độc tài thân Mỹ Fulgencio Batista. Fidel Castro sau đó tuyên bố đưa Cuba đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đây được coi là một chiến thắng của Liên bang Xô viết, với việc họ có được một đồng minh chỉ cách vài dặm từ bờ biển Hoa Kỳ.
TẠI CHÂU Á. Hai sự kiện dể thấy tại Đông Á và Đông Nam Á là Triều Tiên và Việt Nam. Nhật Bản cai trị Triều Tiên từ trước chiến tranh thế giới lần thứ II. Sau khi Nhật thua trận trong Thế chiến hai, quân Liên Xô tiến vào phía Bắc, còn quân Mỹ tiến vào phía Nam Triều Tiên. Tại mỗi vùng phía Bắc và phía Nam đều thành lập một nhà nước riêng: Bắc Triều Tiên theo chế độ xã hội chủ nghĩa được Liên Xô hậu thuẫn và Nam Triều Tiên theo đường lối tư bản chủ nghĩa được Mỹ ủng hộ. Vỹ tuyến 38 dùng làm ranh giới tạm thời. Năm 1949, cả Mỹ lẫn Liên Xô đều rút khỏi Triều Tiên, và hai chính quyền Triều Tiên sẽ thành lập chính phủ chung trên cả nước. Nhưng, Chính phủ 2 miền không công nhận lẫn nhau, và đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn nước Triều Tiên. Căng thẳng giữa hai bên bắt đầu và tăng lên dần.
Ngày 25 tháng 6 năm 1950, chính quyền cộng sản Bắc Triều Tiên cho quân đội vượt qua Vỹ tuyến 38 xâm lăng Nam Triều Tiên, đến ngày 28 tháng 6 năm 1950 Hán Thành thất thủ, chính quyền Lý Thừa Vãn phải chạy về Pusan ở miền Nam. Lo sợ cộng sản Triều Tiên của Kim Nhật Thành có thể cổ vũ các phong trào cộng sản ở châu Á, Tổng thống Truman ra lệnh cho các lực lượng Hoa Kỳ phản công. Một lực lượng của Liên hiệp quốc gồm Hoa Kỳ, Anh Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada, Australia, Pháp, Phiplippines, Hà Lan, Bỉ, New Zealand và các nước khác cùng tham gia tái chiếm Hán Thành, và đẩy lui các cuộc tấn công. Trung Quốc cũng đã đem quân hỗ trợ Bắc Triều Tiên, khiến cho chiến sự leo thang quyết liệt trong những năm tiếp theo. Tháng 7 năm 1953, một thoả thuận ngừng bắn giữa hai bên đạt được, nhưng bán đảo Triều Tiên vẫn bị chia cắt cho đến ngày nay.
Tại Việt Nam, sau thế chiến II, Pháp đưa quân tái lập thuộc địa ở Đông Dương, lúc này lực lượng Việt Minh của Hồ Chí Minh đã lập ra Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chính quyền này đã ký với Pháp Hiệp ước Sơ bộ tháng 3 và Tạm ước tháng 9 năm 1946, đến ngày 19 tháng 12 năm 1946 hai bên đánh nhau tại Hà Nội, và bắt đầu Chiến tranh Đông Dương kéo dài 9 năm. Mỹ hổ trợ Pháp Đông Dương, ủng hộ Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam do Cựu hoàng Bảo Đại lãnh đạo, như một lực lượng trọng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh. Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam tạm thời chia cắt từ ranh giới Vỹ tuyến 17, phía Bắc do Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh quản lý, phía Nam do Chính quyền Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại quản lý.
Sau hiệp định Genève năm 1954, Mỹ nhảy vào Đông Dương thay chân Pháp. Tháng 9 năm 1954 Mỹ cho thành lập một Tổ chức Phòng thủ Đông Nam Á gọi tắt là SEATO (Southeast Asia Treaty Organization (SEATO) với 8 thành viên ban đầu là Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc, New Zealand, Pakistan, Philippines và Thái Lan để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Trụ sở của tổ chức đặt tại Bangkok. Việt Nam Cộng hòa, Campuchia và Lào (Đông Dương) do quy định Hiệp định Genève không thể gia nhập Tổ chức, chỉ được Tổ chức Phòng thủ Đông Nam Á (SEATO) đặt dưới bảo hộ về quân sự.
Tại chính quyền Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại quản lý phía Nam, Mỹ đạo diễn Thủ tướng Ngô Đình Diệm tổ chức một cuộc “Trưng cầu Dân ý” truất phế Quốc trưởng Bảo Đại. Dưới danh nghĩa Quốc trưởng Ngô Đình Diệm đổi tên nước Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hoà, và chức danh Quốc trưởng trở thành Tổng thống. Mỹ hổ trợ tái tổ chức, trang thiết bị và huấn luyện cho quân đội Việt Nam Cộng hoà (QĐVNCH), và viện trợ kinh tế, kỹ thuật cho Ngô Đình Diệm tái thiết miền Nam Việt Nam đủ mạnh để làm “Tiền đồn Chống Cộng” cho Mỹ tại Đông Nam Á. Ngày 18/7/57, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi thơ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm yêu cầu Hiệp thương Tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève 1954. Ngày 27/7/57, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố trả lời Phạm Văn Đồng rằng “khi nào miền Bắc chấm dứt khủng bố, phá hoại, và thực thi dân chủ tự do, khi đó mới có thể tổng tuyển cử và thống nhất đất nước”.
TẠI TRUNG ĐÔNG. Mỹ cũng thực hiện những kế hoạch tại các nước Ả Rập có nguồn dầu hỏa trù phú để các nước này không ủng hộ Liên Xô. Mỹ và Anh đã hậu thuẫn cho vụ đảo chính tại Iran năm 1953 nhằm lật đổ thủ tướng Mosaddegh, người đã dám giành lại quyền kiểm soát ngành khai thác dầu mỏ Iran khỏi tay các nước phương Tây. CIA chi hàng triệu USD để mua chuộc các quan chức và trả cho các băng đảng để gây bạo loạn trên đường phố Tehran. Mossadegh cuối cùng cũng bị lật đổ và vua Shah (Mohammed Reza Pahlevi) trở về nắm quyền. Với sự ủng hộ mạnh mẽ từ phía Anh và Mỹ, triều đình Shah trao cho phương Tây các ngành công nghiệp Iran và đàn áp phe đối lập trong tầng lớp tăng lữ Hồi giáo Shia và những người ủng hộ dân chủ. Vua Shah bị Cách mạng Iran lật đổ năm 1979.
Năm 1957, Eisenhower tuyên bố Chính sách Eisenhower, rằng Mỹ sẽ dùng vũ trang để "bảo vệ nền tự chủ của một quốc gia hay một nhóm quốc gia ở Trung Đông trước sự đe dọa của các thái độ thù nghịch". Tới cuối thập niên 1950, Tình báo Mỹ đã tiến hành hơn 200 chiến dịch bí mật ở nước ngoài, chủ yếu là can thiệp vào các tiến trình chính trị tại các quốc gia độc lập có xu hướng ủng hộ chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn 1948-1982, Mỹ viện trợ tích cực cho Israel tiến hành các cuộc chiến tranh với các nước At rập. Israel đã chiếm đóng toàn bộ nước láng giềng Palestine, có những giai đoạn còn chiếm đóng một phần lãnh thổ Ai Cập và Syria.
TẠI TRUNG ÂU. Sau thế chiến II, Hungary dưới sự lãnh đạo chuyên chính khắt khe của Thủ tướng Rákosi Mátyás. Nhân dân Hungary trở nên tức giận, buộc ông ta phải từ chức vào tháng 7 năm 1956. Sự từ chức của Mátyás đã khuyến khích sinh viên, các nhà văn và nhà báo trở nên sôi nổi và mạnh dạn chỉ trích chính trị nhiều hơn. Trong buổi chiều ngày 23 tháng 10 năm 1956, gần 20.000 người biểu tình Hungary đưa ra một danh sách các yêu cầu của Cách mạng Hugary gồm cả việc bầu cử tự do, các hội đồng độc lập và điều tra các hành động của Stalin và Rákosi tại Hungary. Theo lệnh của Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô Georgy Zhukov, xe tăng Liên Xô tiến vào Budapest, nhưng lính Liên Xô có lệnh không được nổ súng. Những người biểu tình tấn công vào Toà nhà nghị viện, khiến chính phủ phải sụp đổ.
Chính phủ mới của Imre Nagy lên nắm quyền lực, Imre Nagy giải tán cảnh sát mật vụ Hungary, đồng thời tuyên bố ý định rút khỏi Khối hiệp ước Warsaw và cam kết chính sách bầu cử mới. Bạo động nhanh chóng lan ra khắp Hungary, hàng nghìn người tự tổ chức thành các nhóm vũ trang, họ lùng tìm và giết hại các thành viên của Cảnh sát an ninh nhà nước (ÁVH) và binh lính Liên Xô. Nhiều đội vũ trang tự phát nổi lên, như nhóm 400 tay súng do Jósef Dudás chỉ huy, chuyên tấn công hay giết hại những người có thiện cảm với Liên Xô và các thành viên ÁVH. Một cuộc ngừng bắn được thu xếp ngày 28 tháng 10, và tới ngày 30 tháng 10 hầu hết quân đội Liên Xô đã rút khỏi Budapest về các trại đồn trú ở vùng nông thôn Hungary.
Tuy nhiên, sau vụ tấn công biệt đội ÁVH bảo vệ trụ sở của Đảng Công nhân Lao động Hungary tại Budapest ở Köztársaság tér (Quảng trường Cộng hoà), Bộ chính trị Liên Xô quyết định trấn áp với một lực lượng lớn của Liên Xô tiến vào Budapest và các vùng khác của nước này. Ước tính có khoảng khoảng 26.000 người Hungary bị chính phủ mới của János Kádár thân Liên Xô đem ra xét xử, trong số đó 13.000 người bị bỏ tù. Imre Nagy bị Tòa án tối cao Hungary tuyên án tử hình cùng với Pál Maléter và Miklós Gimes, sau những phiên toà bí mật tháng 6 năm 1958. Việc Liên Xô trấn áp người biểu tình ở Hungary, Hoa Kỳ đã không có hành động gì để can thiệp ngoài việc đưa ra những tuyên bố công khai bày tỏ sự thông cảm với hoàn cảnh của họ đã khiến nhiều người Hungary nổi giận và thất vọng.
VỤ KÊNH ĐÀO SUEZ 1956. Liên quân Vương quốc Anh, Pháp, Israel với sự hậu thuẫn của Mỹ tấn công vào lãnh thổ Ai Cập, bắt đầu từ ngày 29 tháng 10 năm 1956. Cuộc tấn công diễn ra sau quyết định của Ai Cập quốc hữu hóa kênh đào Suez, và công nhận Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trong thời kỳ đỉnh điểm căng thẳng giữa Trung Quốc và Đài Loan. Liên minh giữa ba quốc gia, đặc biệt là Israel, đã khá thành công trong việc tạm chiếm kênh đào Suez, nhưng Liên Xô đe dọa can thiệp quân sự để cứu nguy cho Ai Cập, nếu liên quân không chịu rút lui. Lo ngại chiến tranh leo thang thành cuộc thế chiến mới, Mỹ đe dọa cấm vận kinh tế Israel, cắt nguồn cung dầu cho Anh nếu họ không rút khỏi khu vực Sinai, đây là điều gây bất ngờ cho Israel, Anh và Pháp, bởi Mỹ không chỉ hậu thuẫn cuộc tấn công lúc ban đầu mà còn là đồng minh của họ.
Tổn thất về chính trị với Anh, Pháp và Israel sau chiến dịch quân sự này là cực kỳ lớn. Quan hệ Anh - Mỹ bị tổn hại nghiêm trọng, trong khi vị thế Liên Xô được tăng cường tại Trung Đông như là một người bảo vệ cho các nước Ả Rập khỏi chủ nghĩa thực dân phương Tây. Thủ tướng Anh Anthony Eden từ chức, Israel miễn cưỡng rút quân. Tổng thống Ai Cập Nasser không bị lật đổ và trở thành anh hùng trong thế giới Arab, và kênh đào Suez vẫn thuộc về Ai Cập.
Bài 285: CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN, SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ, VÀ DIỄN TIẾN CHIẾN TRANH LẠNH TRONG THẬP NIÊN 1960.
SỰ KIỆN VỊNH CON HEO VÀ TÊN LỬA CUBA 1961. Viện dẫn cuộc di tản quy mô lớn tới Hoa Kỳ sau khi Castro lên nắm quyền, CIA đã huấn luyện và trang bị một nhóm vũ trang là người Cuba lưu vong đổ bộ xuống Vịnh Con Heo, nơi họ tìm cách tạo ra một cuộc nổi dậy chống chế độ Castro. Không quân Mỹ cũng tham gia ném bom trong sự kiện này, làm khoảng 2000 - 4000 thường dân Cuba thiệt mạng. Tuy nhiên, cuộc tấn công đã thất bại nặng nề. Sau đó, Castro công khai tuyên bố ông là một người Marxist-Leninist và tạo lập Cuba trở thành nhà nước đầu tiên tại châu Mỹ và tiếp tục quốc hữu hoá các ngành công nghiệp chính của đất nước. Chính phủ Liên Xô nắm lấy cơ hội từ cuộc xâm lược bất thành như một lý lẽ để thuyết phục Fidel cho phép quân đội Liên Xô đóng quân ở Cuba. Họ cũng quyết định đặt các tên lữa hạt nhân tầm trung ở Cuba, các tên lửa này đủ gần để có thể tấn công và hủy diệt lãnh thổ Hoa Kỳ.
Liên Xô coi việc đặt các hệ thống tên lửa hạt nhân tại Cuba là một cách để đáp trả lại việc Mỹ bố trí các hệ thống tương tự tại Thổ Nhĩ Kỳ. Để trả đũa, Tổng thống John F. Kennedy phong tỏa biển Caribe và lên kế hoạch tấn công Cuba, cả thế giới trở nên lo sợ trước nguy cơ về một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba. Sau nhiều ngày căng thẳng, người Liên Xô quyết định rút tên lửa về nước, đổi lại Hoa Kỳ cam kết sẽ không xâm lược Cuba đồng thời rút các tên lửa của họ khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Sau cuộc chạm trán này, hai vị lãnh đạo Liên Xô-Hoa Kỳ có động thái mới: cấm các vụ thử hạt nhân trong không trung và dưới mặt nước sau năm 1962. Người Liên Xô cũng bắt đầu một chiến dịch xây dựng lại quân đội trên diện rộng. Tuy nhiên, sự rút lui đã làm ảnh hưởng tới vị trí của Khrushchev, và ông nhanh chóng bị loại bỏ sau đó và được thay thế bởi Leonid Brezhnev.
KHỦNG HOẢNG BERLIN CŨNG NĂM 1961. Mặc dù Đông Đức tăng cường canh giữ biên giới và hạn chế đi lại đối với công dân của mình, nhưng vẫn có hơn 3 triệu người Đông Đức trốn sang Tây Đức từ năm 1945 đến năm 1961, hầu hết trong số họ đi qua biên giới giữa hai thành phố Đông Berlin (Đông Đức) và Tây Berlin (Tây Đức). Số người bỏ trốn này chiếm gần 1/5 dân số của Đông Đức khi đó, và chủ yếu là người trẻ, năng động và có học thức. Do đó việc di dân này là mối đe dọa cho sức mạnh kinh tế của Đông Đức và cuối cùng là cho sự tồn tại của quốc gia này.
Tháng 6 năm 1961, Liên Xô bất ngờ yêu cầu quân Đồng Minh rút ra khỏi Tây Berlin. Yêu cầu đã bị bác bỏ, vào ngày 13 tháng 8, Đông Đức đã đóng cửa biên giới giữa 2 thành phố Đông và Tây Berlin đồng thời dựng lên một hàng rào dây thép gai, về sau được mở rộng thành Bức tường Berlin nhằm ngăn chặn dòng người di cư sang phía tây. Bức tường đã chia cắt phần Tây Berlin với phần phía đông của thành phố và chia cắt với lãnh thổ của nước Cộng hòa Dân chủ Đức bao bọc chung quanh Tây Berlin. Bức tường này là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của cuộc Chiến tranh Lạnh và của việc chia cắt nước Đức, vì vậy người dân Tây Đức đã gọi nó là "Bức tường ô nhục".
Một cuộc chạm trán trực tiếp có vẻ nguy hiểm giữa quân đội Mỹ và Xô Viết xảy ra vào ngày 27 tháng 10 năm 1961 tại Checkpoint Charlie trên đường Friedrich (Friedrichstraße) khi 10 chiếc tăng mỗi bên đã đỗ đối diện nhau ngay trước vạch ranh giới. Thế nhưng, vào ngày hôm sau cả hai nhóm tăng đều được rút về. Cả hai phe đều không muốn vì Berlin mà cuộc Chiến tranh Lạnh sẽ leo thang hay cuối cùng là đi đến một thế chiến thứ 3.
TẠI TIỆP KHẮC. Khi Alexander Dubček lên nắm quyền lực ở Tiệp Khắc, ông đã tiến hành một loạt các biện pháp nhằm phi tập trung hóa nền kinh tế và cải cách chính trị đất nước. Các quyền tự do được trao gồm nới lỏng các hạn chế với truyền thông, ngôn luận và đi lại. Dubček cũng tuyên bố rút Tiệp Khắc ra khỏi khỏi Khối hiệp ước Warszawa. Những cuộc cải cách diễn ra tại Tiệp Khắc đã không được Liên Xô ủng hộ, và một số lãnh đạo thân Liên Xô trong Đảng Cộng sản Tiệp Khắc (gồm Biľak, Švestka, Kolder, Indra, và Kapek) cũng phản đối Dubček, họ đã gửi một yêu cầu tới chính phủ Liên Xô đề nghị can thiệp. Sau những cuộc đàm phán không thành công, Liên Xô đã gửi hàng nghìn quân của Khối hiệp ước Warszawa cùng xe tăng tấn công vào Tiệp Khắc
Cuộc tấn công được tiến hành theo Học thuyết Brezhnev, một chính sách buộc các quốc gia Khối Đông Âu gắn kết lợi ích quốc gia vào lợi ích của Khối như một tổng thể và thực thi quyền can thiệp của Xô viết nếu một quốc gia thuộc khối có biểu hiện đi theo tư bản chủ nghĩa. Lãnh đạo Tiệp Khắc ra lệnh không kháng cự nên sự kiện này diễn ra ít đổ máu, nhưng cuộc tấn công dẫn tới một làn sóng di cư gồm khoảng 70.000 người Séc trong giai đoạn đầu, và tổng thể sau đó lên tới 300.000 người đã chạy sang nước khác. Cuối cùng Dubček bị lật đổ và Gustáv Husák lên thay thế Dubček và cũng trở thành Chủ tịch nước, đã đảo ngược hầu hết các biện pháp cải cách tiến bộ của Dubček.
CHIA RẼ TRUNG-XÔ. Cuộc Đại nhảy vọt của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và các chính sách dựa trên nông nghiệp thay vì công nghiệp nặng của nước này thách thức mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Liên xô và những dấu hiệu của ảnh hưởng Xô viết lên các nước Xã hội chủ nghĩa. Khi quá trình "phi Stalin hoá" diễn ra ở Liên xô, nhà sáng lập cách mạng Trung Quốc, Mao Trạch Đông, lên án "chủ nghĩa xét lại" của Liên xô. Người Trung Quốc còn có bất đồng khác lớn hơn là không chịu vai trò thứ hai trong thế giới cộng sản. Trong thập niên 1960, một sự chia rẽ công khai xuất hiện giữa hai cường quốc; những căng thẳng đã dẫn tới một loạt các cuộc xung đột dọc theo biên giới Trung-Xô.
TẠI MỸ LATINH, CHÂU Á, CHÂU PHI. Mỹ ủng hộ cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống João Goulart ở Brazil, Mỹ Latinh và lập lên một chính phủ thân Mỹ tại đây. Năm 1965, Mỹ đưa quân vào Dominica để tấn công Đảng Cách mạng Dominican và Đảng Cách mạng 14 tháng 6 khi hai đảng cánh tả này đang tổ chức biểu tình chống chính quyền quân sự thân Mỹ. Từ năm 1962, Mỹ can thiệp vào cuộc Nội chiến Guatemala bằng việc hỗ trợ chính phủ độc tài quân sự của nước này chống lại các lực lượng nổi dậy cánh tả. Các nhóm nổi dậy này về sau đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ Cuba và Nicaragua. Cuộc nội chiến đã kéo dài hàng chục năm, gây nên những tổn thất to lớn cho đất nước Guatemala. Có ít nhất 200.000 người đã bị giết trong cuộc nội chiến, phần lớn là thường dân. Đỉnh điểm của cuộc chiến là chiến dịch diệt chủng ở Ixil của tổng thống Rios Montt.
Mỹ và Phương Tây đã ủng hộ các lực lượng chống cộng ở Indonesia, Đông Nam Á trong chiến dịch thảm sát hơn 500.000 người cộng sản từ năm 1965 đến năm 1966. Một bản báo cáo của CIA năm 1968 đã xếp cuộc thanh trừng chống Cộng này vào một trong số những vụ thảm sát đẫm máu nhất thế kỷ 20. Vào năm 1967, Mỹ ủng hộ Irael ở Trung Đông trong cuộc Chiến tranh Sáu Ngày với các nước Ả Rập được Liên Xô hậu thuẫn. Kết thúc cuộc chiến, Israel đã mở rộng được đáng kể lãnh thổ của họ, giành được quyền kiểm soát vùng Đông Jerusalem, dải Gaza, bán đảo Sinai, Bờ Tây và Cao nguyên Golan. Tổng thể, lãnh thổ Israel rộng ra gấp ba lần, bao gồm cả một triệu người Ả Rập nay bị đặt dưới quyền kiểm soát của Israel trong các lãnh thổ mới chiếm được.
Vào năm 1960, đã từng có một tổng thống cánh tả nổi bật ở Ghana, Trung Phi là Kwame Hkrumah. Ông là thủ tướng dưới thời người Anh cai trị từ năm 1952 đến 1960, khi Ghana độc lập thì ông trở thành tổng thống. Đó là một người xã hội chủ nghĩa, với tư tưởng chống đế quốc, vào năm 1965 ông viết một cuốn sách lấy tên là "Chủ nghĩa thực dân mới: Giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc". Nkrumah bị CIA lật đổ trong cuộc đảo chính năm 1966. CIA đã phủ nhận mọi liên quan nhưng báo chí Anh đưa tin có 40 sĩ quan CIA hoạt động tại đại sứ quán Mỹ đã "cung cấp hào phóng cho các kẻ thù bí mật của tổng thống Nkrumah" và công việc của họ "đã được thưởng công đầy đủ". Cựu sĩ quan CIA John Stockwell tiết lộ thêm về vai trò quyết định của CIA trong vụ đảo chính với cuốn sách "In Search of Enemies".
Patrice Lumumba chủ tịch đương nhiệm của phong trào Liên Phi Quốc gia Congo, đã tham gia vào quá trình giành độc lập của Congo và trở thành thủ tướng dân cử đầu tiên của Congo năm 1960. Ông ấy bị lật đổ trong cuộc đảo chính được CIA hậu thuẫn của Joseph-Desire Mobutu, vốn là chỉ huy quân đội. Mobutu giao Lumumba cho phe ly khai và lính đánh thuê được Bỉ hậu thuẫn. Lumumba đã chiến đấu ở tỉnh Katanga và bị bắn chết trong một vụ đọ súng với lính đánh thuê Bỉ.
CUỘC CHẠY ĐUA CÔNG NGHỆ GIỮA MỸ VÀ LIÊN XÔ. Đáng đề cập ở đây là sự thành công trong việc điều chế bom nhiệt hạch - hay còn gọi là bom H của Liên Xô. Trong khoảng 1954-1958, 19 quả bom H được Mỹ thử nghiệm. Đây là sự đe dọa tàn phá toàn cầu bởi vũ khí hạt nhân. Nói chung, Mỹ thua Liên Xô ở công nghệ tên lửa. Liên Xô đã hoàn thành tên lửa liên lục địa có thể bắn tới Mỹ chỉ trong 30 phút, với công nghệ thời bấy giờ thì Mỹ không thể đánh chặn loại vũ khí này. Lúc này Mỹ vẫn chưa có tên lửa liên lục địa, nếu muốn thâm nhập lãnh thổ của Liên Xô thì các máy bay Mỹ phải bay nhiều giờ và phải vượt qua hàng phòng thủ của Xô Viết với các tên lửa đất đối không. Vào tháng 5 năm 1960, Liên Xô hạ một chiếc máy bay thám thính U-2 của Mỹ trên bầu trời Xô Viết.
Ngày 4 tháng 10 năm 1957, Liên Xô đã phóng thành công Sputnik 1, vệ tinh nhân tạo đầu tiên vào quỹ đạo Trái Đất, khởi đầu cuộc chạy đua vào vũ trụ. Vì các tiềm năng quân sự và kinh tế, Sputnik đã gây nên hoảng sợ và các tranh luận về chính trị ở Hoa Kỳ, làm cho chính quyền Eisenhowrer đưa ra một số chương trình, trong đó có cả việc thành lập NASA. Cùng lúc đó, sự kiện Sputnik được nhìn nhận tại Liên Xô như một dấu hiệu quan trọng về khả năng khoa học kỹ thuật của quốc gia. Liên Xô cũng là nước đầu tiên đưa động vật vào quỹ đạo Trái Đất, con chó tên là Laika (tiếng Anh, "Barker"), đã du hành trong vệ tinh Sputnik 2 của Liên Xô vào năm 1957.
Ngày 12 tháng 4 năm 1961, phi hành gia Liên Xô Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên của nhân loại bay vào vũ trụ trên chuyến bay kéo dài 1 giờ 48 phút cùng con tàu Vostok 1. Tiếp theo đó là phi hành gia Gherman Titov với chuyến bay kéo dài 25 giờ. Ngày 16 tháng 6 năm 1963, Valentina Tereshkova là người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ. Ngày 18 Tháng 3 năm 1965, phi hành gia Alexei Leonov bước ra khỏi tàu vũ trụ Voskhod 2, trở thành người đầu tiên đi bộ ngoài không gian vũ trụ. Ngày 3 tháng 2 năm 1966, tàu thám hiểm không người lái Luna-9 đã trở thành tàu vũ trụ đầu tiên hạ cánh trên mặt trăng. Ngày 1 tháng 3 năm 1966, Venera 3 của Liên Xô trở thành tàu vũ trụ đầu tiên hạ cánh trên một hành tinh khác – Sao Kim. Ngày 17 tháng 11 năm 1970, Lunokhod 1 đã trở thành chiếc xe tự hành đầu tiên được điều khiển từ Trái Đất để đến một hành tinh khác. Nó đã tiến hành phân tích bề mặt của Mặt Trăng và gửi hơn 20.000 bức ảnh về Trái Đất.
Ở Mỹ, song song với việc đầu tư vào công nghệ không gian như phát triển vệ tinh v.v. Mỹ cũng có những kế hoạch bí mật phát triển các khinh khí cầu gián điệp, đĩa bay (Kế hoạch Mogul...) Vệ tinh do thám đầu tiên đã được không quân Hoa Kỳ phóng lên vào tháng 6 năm 1959. Vào ngày 7 tháng 8 năm 1959, vệ tinh Explorer 6 của NASA đã gửi về những bức ảnh đầu tiên của Trái đất chụp từ ngoài không gian. Hoa Kỳ cũng là nước đầu tiên phóng vệ tinh khí tượng vào vũ trụ, khi vệ tinh TIROS-1 được phóng vào không gian bởi NASA vào ngày 1 tháng 4 năm 1960. Vào tháng 12 năm 1968, Hoa Kỳ dẫn đầu trong cuộc đua lên mặt trăng khi James Lovell, Frank Borman và Bill Anders bay vòng quanh Mặt Trăng. Họ trở thành những người đầu tiên ăn mừng Giáng sinh trong không gian vài ngày sau đó hạ cánh an toàn.
Ngày 21 tháng 7 năm 1969, phi hành gia Hoa Kỳ Neil Armstrong người đầu tiên bước trên bề mặt của Mặt Trăng vào 21 tháng 7 năm 1969. Những bình luận viên xã hội đều công nhận việc hạ cánh lên Mặt Trăng là một trong những khoảnh khắc mang tính biểu tượng nhất của thế kỷ 20, và lời nói của Armstrong trong lần đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng đã được ghi vào lịch sử: "Đây là bước chân nhỏ bé của một con người, nhưng là bước tiến khổng lồ của cả nhân loại". Ngày 19 tháng 4 năm 1971, trạm không gian Salyut 1 của Liên Xô trở thành Trạm không gian đầu tiên trong lịch sử loài người. Ngày 12 tháng 4 năm 1981, Hoa Kỳ đã phóng lên vũ trụ “con tàu con thoi” có thể tái sử dụng.
Trong khi đó, thì tại Liên Xô, sau cái chết của nhà thiết kế tên lửa hàng đầu Korolyov (1907-1966), chương trình không gian của Liên Xô được cấp ít kinh phí hơn. Cách tổ chức không hiệu quả và việc thiếu ngân sách đã làm họ mất đi lợi thế ban đầu trong cuộc chạy đua với Mỹ. Một số quan sát viên cho rằng, cùng với cuộc chạy đua vũ trang, giá thành của cuộc chạy đua vào vũ trụ cũng hết sức đắt đã làm hệ thống kinh tế Liên Xô rơi vào trì trệ vào thập niên 1980, một trong những yếu tố dẫn tới sự tan rã của Liên Xô. Đến cuối thập niên 1980, với sự tan băng trong quan hệ Mỹ - Liên Xô, 2 bên bắt đầu chuyển từ cạnh tranh sang hợp tác, cùng nhau triển khai một số dự án nghiên cứu chung về du hành vũ trụ.
Bài 286: CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN, SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ, VÀ DIỄN TIẾN CHIẾN TRANH LẠNH TRONG THẬP NIÊN 1970.
HOÀ GIẢI TRUNG-MỸ. Sự chia rẽ Trung-Xô từ những năm đầu thập niên 1960, tăng dần và đỉnh cao là căng thẳng quân sự dọc theo biên giới Trung Quốc-Liên Xô vào năm 1969. Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon lợi dụng mâu thuẫn giữa hai nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất để thay đổi cán cân quyền lực theo hướng có lợi cho Phương Tây. Trung Quốc cũng muốn cải thiện mối quan hệ với người Mỹ với ý định hợp tác tiêu diệt Liên Xô. Chuyến thăm Trung Hoa của Tổng thống Mỹ Richard Nixon năm 1972 đã đánh dấu sự thay đổi cục diện thế giới, biến "cái bắt tay lịch sử giữa lãnh đạo hai nước bên kia Thái Bình Dương" thành hiện thực và đánh dấu sự khởi đầu cho một kỉ nguyên mới.
GIẢM CĂNG THẲNG MỸ-XÔ. Ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, tổng thống Richard M. Nixon cùng Cố vấn An ninh Quốc gia, Henry Kissinger đã tạo nên một chính sách đối ngoại mà sau này được biết đến với tên gọi "hòa hoãn" hay "Giảm căng thẳng" (détente) với Liên Xô. Giảm căng thẳng vừa có lợi ích chiến lược vừa có lợi ích kinh tế với cả hai phía trong cuộc Chiến tranh Lạnh, được nâng đỡ bởi lợi ích chung trong việc tìm cách kiểm soát sự mở rộng và phổ biến các loại vũ khí hạt nhân. Tổng thống Richard Nixon và lãnh đạo Liên xô Leonid Brezhnev đã ký hiệp ước SALT I để hạn chế sự phát triển các loại vũ khí chiến lược. Sự kiểm soát vũ khí cho phép cả hai siêu cường giảm bớt sự gia tăng khủng khiếp của ngân sách quốc phòng.
Cùng lúc đó, các nước châu Âu vốn bị chia rẽ giờ đã bắt đầu theo đuổi các mối quan hệ gần gũi hơn. Chính sách hướng về phía Đông (Ostpolitik) của Thủ tướng Tây Đức Willy Brandt đã dẫn tới việc công nhận nhà nước Đông Đức. Sự hợp tác theo các Thoả thuận Helsinki đã dẫn tới nhiều thoả thuận khác về kinh tế, chính trị và nhân quyền. Một loạt các thoả thuận kiểm soát vũ khí như SALT I và Hiệp ước Chống Tên lửa Đạn đạo được hình thành để giới hạn sự phát triển của các loại vũ khí chiến lược và giảm tốc cuộc chạy đua vũ trang. Sự kiện Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa gia nhập Liên Hiệp Quốc tháng 10 năm 1971, khiến Trung Quốc và Hoa Kỳ có những sự xích lại gần nhau hơn, và các quan hệ thương mại và văn hoá được thúc đẩy, đáng chú ý nhất là chuyến thăm có tầm quan trọng lớn của Nixon tới Trung Quốc năm 1972.
TẠI MỸ LATINH. Khi Salvador Allende, một người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, trở thành tổng thống Chile vào năm 1970, tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh cho CIA lên kế hoạch lật đổ Allende. Để đáp trả lại việc Allende quốc hữu hóa các mỏ đồng và các nhà máy của Mỹ, chính phủ Mỹ đã cắt giảm buôn bán với Chile tạo ra tình trạng khan hiếm và hỗn loạn kinh tế tại quốc gia này. CIA và bộ ngoại giao Mỹ đã thực hiện chiến dịch tuyên truyền chống lại Allende ở Chile trong suốt một thập kỷ. Cuối cùng ông ta bị lật đổ bởi cuộc đảo chính quân sự ngày 11 tháng 9 năm 1973 do Augusto Pinochet cầm đầu. Sau khi Pinochet lên nắm quyền, Mỹ đã ủng hộ chiến dịch truy quét những người cộng sản của Pinochet. Chiến dịch này đã gây nên cái chết của 3.000 người. Tuy vậy, Chile đã có sự phát triển nhanh về kinh tế trong những năm Pinochet cầm quyền, đến nỗi nhiều người đã ca tụng đó là "Phép màu Chile".
TẠI CHÂU Á. Thất bại của Mỹ ở miền Nam Việt Nam tháng 4 năm 1975, đã được nhiều người xem là một thất bại nhục nhã của một siêu cường mạnh nhất thế giới trước một chính quyền miền Bắc Cộng sản Việt Nam, là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Hàng loạt báo trên thế giới đều công bố sự kiện này. Nhưng với Mỹ, việc rút khỏi Tiền đồn Chống Cộng tại Nam Việt Nam ở châu Á qúa tốn kém công sức, sinh mạng người lính Mỹ, và của cải của dân Mỹ để xoay trục sang châu Âu, chỉ 15 năm sau các chính quyền Cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại, đó vẫn là lựa chọn tốt của các chính quyền Mỹ.
Ở Trung Đông, Mỹ ủng hộ Israel trong cuộc Chiến tranh Chiến tranh Yom Kippur với liên minh các nước Ả Rập vốn nhận được sự hậu thuẫn từ Liên Xô. Mỹ cũng đứng về phía Israel trong xung đột giữa Israel và Palestine, trong khi Liên Xô ủng hộ Palestine. Mỹ hỗ trợ các nhóm phiến loạn người Kurd có ý định lật đổ chính quyền thân Liên Xô của Iraq. Tuy vậy những người Kurd đã thất bại trước quân đội chính phủ Iraq vào năm 1975.
TẠI CHÂU PHI. Cuộc Cách mạng Bồ Đào Nha năm 1974 đã lật đổ nhà độc tài Estado Novo, tạo điều kiện cho các thuộc địa của Bồ Đào Nha tại châu Phi là Angola, và Mozambique giành độc lập không lâu sau đó. Sau khi giành độc lập, Angola lâm vào một cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài hai thập kỷ giữa một bên là lực lượng MPLA (Phong trào nhân dân Giải phóng Angola) được khối xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Cuba ủng hộ, và một bên là Liên minh Quốc gia vì sự độc lập toàn vẹn của Angola (UNITA) được Mỹ ủng hộ. Ngoài ra còn một phe thứ ba nữa là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Angola (FNLA) có vai trò không đáng kể trong cuộc nội chiến. Tất cả các lực lượng nước ngoài rút khỏi Angola vào năm 1989. Đến năm 2002, cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi dành cho MPLA.
Còn ở Ethiopia, vị hoàng đế thân Mỹ Haile Selassie bị lật đổ bởi những người cộng sản do Mengistu Haile Mariam cầm đầu. Mengistu trở thành Tổng thống của nước Cộng hoà Nhân dân Ethiopia. Trong 2 năm 1977-1978, Mengistu củng cố quyền lực của mình bằng việc đàn áp tàn bạo các nhóm đối lập và những người chống đối chính quyền, gây nên cái chết của khoảng 500.000 người. Tháng 7 năm 1977, Somalia bất ngờ đem quân tấn công Ethiopia. Liên Xô phản đối hành động xâm chiếm và ngừng ủng hộ Somalia, chuyển qua bắt đầu ủng hộ Ethiopia, ngược lại Hoa Kỳ quay sang ủng hộ Somalia. Cuộc xung đột này còn được biết tới với cái tên Chiến tranh Ogaden. Chiến sự kết thúc khi Quân đội Somalia rút lui về bên kia biên giới và tuyên bố một thỏa thuận đình chiến.
Đến năm 1990, Mengistu tuyên bố ông ta từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, và bắt đầu tiến hành mở cửa nền kinh tế. Tuy nhiên, tháng 5 năm 1991, mặt trận dân chủ nhân dân Ethiopia (EPRDF) lật đổ Mengistu, ông ta sau đó phải tị nạn tại Zimbabwe.
Bài 287: CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN, SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ, VÀ DIỄN TIẾN CHIẾN TRANH LẠNH TRONG THẬP NIÊN 1980.
HỌC THUYẾT REAGAN. Năm 1980, Ronald Reagan đánh bại ứng cử viên Jimmy Carter trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ thứ 40 của Hoa Kỳ từ năm 1981 đến năm 1989. Reagan đảo ngược chính sách "Giảm căng thẳng" với Liên Xô, quyết tâm loại bỏ tầm ảnh hưởng của Liên Xô ở mọi nơi trên thế giới, tăng mạnh chi tiêu quân sự. Reagan gọi Liên Xô là "đế quốc tà ác" và tuyên bố rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ sụp đổ và nó sẽ bị bỏ lại trong "đống tro tàn của lịch sử".Dưới một chính sách chống cộng quyết liệt gọi là Học thuyết Reagan, chính quyền Reagan cung cấp trợ giúp công khai và cả bí mật cho các phong trào chống cộng sản trên toàn thế giới đặc biệt là tại Châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latin với mục tiêu lật đổ các chính phủ cộng sản do Liên Xô hậu thuẫn tại những khu vực này.
Cùng thời điểm, Thủ tướng Anh Thatcher cũng lên án mạnh mẽ Liên Xô và tố cáo chính quyền Liên Xô "Âm mưu thống trị thế giới". Tháng 3 năm 1983, Reagan giới thiệu Sáng kiến Phòng thủ Chiến lươc (viết tắt theo tiếng Anh là SDI), một dự án quốc phòng mà sẽ sử dụng các hệ thống có căn cứ trên không gian và mặt đất để bảo vệ Hoa Kỳ khỏi các cuộc tấn công bằng tên lửa hạt nhân liên lục địa chiến lược. Reagan tin rằng lá chắn quốc phòng này có thể khiến cho chiến tranh hạt nhân không thể xảy ra. Nhà lãnh đạo Liên Xô Yuri Andropov thì nói rằng SDI của Reagan sẽ đặt "toàn thế giới trong nguy cơ chạy đua vũ trang". Một số nhà phân tích Liên Xô cho rằng việc Reagan đưa ra dự án SDI là một chiến thuật nhằm đẩy Liên Xô vào một cuộc chạy đua vũ trang quy mô lớn với Hoa Kỳ nhằm làm suy yếu nền kinh tế của Liên Xô vốn đang rơi vào tình trạng trì trệ.
CUỘC TẬP TRÂN ABLE ARCHER 1983. Tháng 11 năm 1983, một cuộc tập trận quân sự lớn của NATO giả định khối Warsaw sẽ có cuộc tấn công bằng hạt nhân. NATO diễn tập một cuộc đối phó, huy động nhiều căn cứ và lực lượng, mô phỏng việc di chuyển vũ khí hạt nhân, kích hoạt hệ thống phòng thủ, và nâng báo động hạt nhân lên mức cao nhất. Thủ tướng Anh Margaret Thatcher và Thủ tướng Tây Đức Helmut Kohl cũng tham gia diễn tập trú ẩn. Lo ngại về một cuộc tấn công hạt nhân bất ngờ từ phương Tây, Liên Xô đã đưa các hệ thống phóng tên lửa hạt nhân vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Mức độ chân thực của cuộc tập trận, đặc biệt là việc Mỹ triển khai tên lửa tầm trung Pershing II và diễn tập di chuyển vũ khí hạt nhân giả, khiến Moscow hiểu lầm đó là sự khởi đầu của một cuộc chiến tranh hạt nhân thực sự.
Sự cố suýt dẫn đến chiến tranh. Chỉ nhờ một báo cáo mật từ điệp viên hai mang của KGB tại Anh, tình hình căng thẳng mới được hạ nhiệt và chiến tranh được ngăn chặn vào phút chót. Able Archer đã trở thành lời cảnh tỉnh về nguy cơ hiểu lầm giữa các cường quốc hạt nhân và dẫn đến hủy diệt. Sau đó, NATO thường xuyên thông báo cho Moscow về các cuộc tập trận liên quan vũ khí hạt nhân để tránh những hiểu lầm tương tự. Sự kiện này làm giảm căng thẳng và góp phần thúc đẩy các hiệp ước cắt giảm vũ khí giữa Mỹ và Liên Xô sau đó.
TẠI CHÂU Á. (1) Cách mạng Hồi giáo Iran, còn được gọi Cách mạng Iran, hay Cách mạng trắng là cuộc cách mạng lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế thân Mỹ do Shah Mohammad Reza Pahlavi đứng đầu. Các cuộc biểu tình chống lại Shah bắt đầu vào tháng 10 năm 1977. Từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1978, các cuộc đình công và biểu tình đã làm tê liệt đất nước Iran. Trước sức ép của quần chúng, vua Shah rời Iran để sống lưu vong vào ngày 16 tháng 1 năm 1979. Chế độ quân chủ sụp đổ sau ngày 11 tháng 2 khi quân du kích và quân nổi dậy đánh bại quân đội trung thành với Shah, đưa giáo chủ Ayatollah Ruhollah Khomeini lên nắm quyền chính thức và lập nên nước Cộng hoà Hồi giáo Iran có tư tưởng chống Phương Tây quyết liệt, nên bị phương Tây cho là "độc tài thần quyền".
Một số nguồn tin về sau cho rằng Hoa Kỳ thực sự đã bật đèn xanh để Khomeini lật đổ chính quyền của Shah. Đã có bằng chứng được đưa ra cho thấy chính phủ Hoa Kỳ đã tài trợ cho Khomeini bằng cách chuyển 150 triệu USD vào tài khoản ngân hàng khi ông ta tị nạn ở Pháp. Một biên bản ghi nhớ của CIA với Khomeini và Shah đã nói rằng: tuy Khomeini quyết tâm lật đổ Shah và không chấp nhận thỏa hiệp, và ông trong quá khứ đã từng hợp tác với các nhóm khủng bố Hồi giáo, nhưng Khomeini cũng chống chủ nghĩa Cộng sản triệt để như Shah, do đó Mỹ sẵn sàng tài trợ cho Khomeini để đảm bảo dù Shah có bị lật đổ hay không thì Iran sẽ có một chính phủ chống Cộng.
(2) Chiến tranh Liên Xô – Afghanistan (1978-1992). Tháng 4 năm 1978, cuộc Cách mạng Saur, Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan (PDPA) lên nắm quyền, tuyên bố đưa đất nước đi theo chủ nghĩa cộng sản. Sáng kiến cải cách của chính phủ của Tổng thống Taraki với mục tiêu nhổ bật "gốc rễ chế độ phong kiến" trong xã hội Afghanistan. Nhưng, xã hội nông thôn Afghanistan phần lớn vẫn tuân theo truyền thống Hồi giáo và các bộ tộc phản kháng chống lại các cuộc cải cách. Phe đối lập với chính phủ đã khởi xướng một cuộc nổi dậy ở miền đông Afghanistan, nhanh chóng mở rộng thành một cuộc nội chiến do các chiến binh nổi dậy, được gọi là Mujahideen, tiến hành chống lại các lực lượng của chính phủ Afghanistan trên toàn quốc. Mujahideen coi việc người Cơ đốc hay người Xô viết vô thần kiểm soát Afghanistan là một điều "báng bổ Hồi giáo" cũng như văn hóa truyền thống của họ.
Họ đã công bố một cuộc "jihad" (thánh chiến) với mục tiêu lật đổ chính phủ Afghanistan. Những người nổi dậy Mujahideen đã được huấn luyện quân sự và cung cấp vũ khí bởi Pakistan và Trung Quốc, trong khi Liên Xô gửi hàng ngàn cố vấn quân sự để hỗ trợ chính phủ PDPA. Đến tháng 4 năm 1979, Afghanistan thực sự rơi vào tình trạng hỗn loạn. Chính phủ Afghanistan đã thẳng tay trấn áp những người phản đối, tử hình hàng ngàn tù nhân chính trị và ra lệnh giết hại dân thường không vũ trang, khiến những nhóm vũ trang chống lại chính phủ ngày càng nhận đuơc sự ủng hộ của nhân dân. Vào giữa năm 1979, Hoa Kỳ đã bắt đầu một chương trình bí mật để cung cấp vũ khí cho những chiến binh mujahideen. Tháng 9 năm 1979, Tổng thống Khalqist Nur Muhammad Taraki bị ám sát trong cuộc đảo chính do một thành viên của PDPA là Amin tiến hành, Amin sau đó đảm nhận chức tổng thống.
Ngày 24/12/1979 Liên Xô đưa quân vào Afghanistan lật đổ chính quyền của Amin. Một chính quyền thân Liên Xô, đứng đầu là Babrak Karmal Parcham. Quân đội Liên Xô tiến vào Afghanistan với số lượng ngày một lớn với lí do là để đảm bảo ổn định tình hình tại Afghanistan dưới quyền Karmal. Tuy vậy, Hồng quân đã gặp phải sự phản kháng quyết liệt từ phe nổi dậy. Kết quả là Liên Xô đã dần dần bị lún sâu vào chiến sự tại Afghanistan. Đại hội đồng LHQ thông qua nghị quyết phản đối sự can thiệp của Liên Xô. Phương Tây coi cuộc tấn công của Liên Xô là hành vi "xâm lược", và Mỹ đã tuyên bố tẩy chay Thế vận hội 1980 tại Moscow. Đáp trả lại, Liên Xô cũng tuyên bố tẩy chay Thế vận hội mùa hè 1984 tại Los Angeles. Năm 1989, Liên Xô rút quân về nước. Ngày 27 tháng 4 năm 1992, chế độ Cộng sản Afghanistan chính thức bị lật đổ hẳn và Mujahideen lên nắm quyền.
(3). Campuchia và Khmer Đỏ. Từ 1975-1978, tin vào sự hậu thuẫn của chính quyền Trung Quốc, chính quyền Khmer Đỏ ở Campuchia đã nhiều lần tấn công vào vùng Tây Nam Việt Nam, tàn sát thường dân, đánh phá các cơ sở kinh tế và quân sự dọc biên giới với mục đích làm kiệt quệ đối phương. Năm 1979, Khmer Đỏ đã bị Việt Nam đưa quân vào đánh bại phải tháo chạy khỏi Thủ đô Phnôm Pênh, một chính quyền mới nhà nước Cộng hoà Nhân dân Campuchia, và Hunsen được cử làm thủ tướng. Từ năm 1979 đến năm 1988, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa cùng với Mỹ, và Thái Lanđã cung cấp vũ khí, thông tin tình báo và căn cứ để tiếp tế cũng như cung cấp nơi trú ẩn cho bính lính Khmer Đỏ. Theo cựu tổng thống Lý Qung Diệu, trong khoảng thời gian một thập kỷ, thông qua quân đội Thái, Khmer Đỏ nhận được hỗ trợ từ khối ASEAN, Mỹ và Trung Quốc tổng cộng khoảng 1,3 tỷ dollar.
Dù đã bị lật đổ, Khmer Đỏ tiếp tục giữ ghế tại Liên Hiệp Quốc, đại diện bởi Thiounn Prasith. Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng dùng quyền của mình ở Liên Hiệp quốc để giữ ghế đại diện cho Khmer Đỏ. Các chính phủ phương Tây cũng bỏ phiếu tiếp tục ủng hộ Khmer Đỏ giữ ghế. Dù chỉ còn là một nhóm du kích trong rừng nhưng Khmer Đỏ lại được coi là đại diện hợp pháp duy nhất của người dân Campuchia. Việt Nam thì đề nghị rút quân để đổi lại một thỏa thuận chính trị nhằm loại trừ việc Khmer Đỏ quay trở lại nắm quyền lực, nhưng ASEAN, Trung Quốc và Hoa Kỳ coi điều này là không thể chấp nhận được.
TẠI MỸ LATINH. (1) Các nhóm phiến quân Contras là hàng loạt các nhóm vũ trang hs và vũ khí cánh hữu được Hoa Kỳ hổ trợ tài chánh và vũ khí, hoạt động từ năm 1979 đến đầu thập niên 1990. Các nhóm này hoạt động chống lại chính quyền Hội đồng Tái thiết Dân tộc Nicaragua của Đảng Sandinista cánh tả theo chủ nghĩa xã hội. Chính quyền Sandinista nhận được sự hậu thuẫn từ Liên Xô và Cuba. Trong số các nhóm contra tại Nicaragua, nhóm Lực lượng Dân chủ Nicaragua (FDN) nổi lên như là nhóm lớn nhất. Sau khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua việc cấm hỗ trợ, chính quyền của Tổng thống Reagan vẫn tiếp tục âm thầm hỗ trợ contras. Các hành vi âm thầm hỗ trợ này đã lên đến đỉnh điểm trong vụ Iran-Contra.
Năm 1986, tại Mỹ xảy ra vụ bê bối Contragate. Scandal này có dính líu tới các quan chức cao cấp của Mỹ, họ bí mật bán vũ khí cho Iran trong khi quốc hội Mỹ đã có lệnh cấm xuất khẩu vũ khí cho Iran. Kế hoạch ấy được bịa ra dưới một câu chuyện khác nhằm bảo đảm việc phóng thích tù nhân Mỹ tại Iran, khiến dư luận Mỹ phẫn nộ. Tiền kiếm được trong đợt buôn bán sau đó đã được Mỹ bí mật dùng để tài trợ cho các nhóm phiến quân Contras ở Nicaragua. 11 thành viên của chính quyền Tổng thống Mỹ Reagan đã bị kết án sau một loạt các cáo buộc liên quan đến vụ bê bối này.
(2) Mỹ xâm lược Grenada. Cuộc tấn công Grenada hay còn gọi là chiến dịch Urgent Fury là cuộc xâm lược của Mỹ vào Grenada năm 1983. Grenada là một quốc đảo Caribbean với 91.000 dân, nằm cách Venezuela 160 km (100 dặm) về phía bắc. Năm 1983, một chính phủ cánh tả được thành lập ở Grenada, và được Cuba ủng hộ. Vào ngày 25/10/1983, Mỹ cùng với các đồng minh trong Lực lượng phòng vệ Đông Caribe xâm chiếm Grenada. Hoa Kỳ đã biện minh cho vụ xâm lược bằng một loạt các lý lẽ, mặc dù Liên Hợp Quốc, Canada và Anh Quốc coi hành động này là một sự vi phạm chưa từng thấy luật pháp quốc tế.
Quân Mỹ có khoảng 7.300 quân, có sự yểm trợ của lực lượng Không quân Hải quân Mỹ, và binh lính của một số nước đồng minh của Mỹ trong khu vực Caribe như Barbados, Jamaica trong khi đó Grenada chỉ có 1,200 quân, trong đó có khoảng 900 quân tới từ Cuba và một số cố vấn quân sự tới từ các nước thuộc khối XHCN: Liên Xô, Đông Đức, Bắc Triều Tiên. Tổng cộng có 19 lính Mỹ thiệt mạng và 116 người bị thương, 3 trực thăng bị rơi. Phía Grenada có 45 người chết, 337 người bị thương, ngoài ra còn có 24 người Cuba thiệt mạng. Bên cạnh những tổn thất quân sự, 24 thường dân Grenada thiệt mạng, trong đó có 18 người thiệt mạng do Không quân Mỹ ném bom trúng một bệnh viện tâm thần ở Grenada. Kết quả của cuộc tấn công này là chiến thắng dành cho Mỹ sau vài tuần, lập nên một chính phủ mới thân Mỹ cho Grenada.
Bài 288: CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN, SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ, VÀ DIỄN TIẾN CHIẾN TRANH LẠNH TỪ NĂM 1985 ĐẾN NĂM 1991
NHỮNG CUỘC CẢI TỔ CỦA GORBACHEV. Năm 1985, khi Mikhail Gorbachev là người khá trẻ lên làm Tổng Bí thư, nền kinh tế Liên Xô đang phải đối mặt với sự sụt giá dầu mỏ trong thập niên 1980, giảm nguồn thu ngoại tệ khiến tình trạng trì trệ kéo dài. Tháng 6 năm 1987 Gorbachev thông báo một kế hoạch cải cách kinh tế được gọi là perestroika, hay tái cơ cấu, cho phép sự sở hữu tư nhân với các doanh nghiệp và mở đường cho đầu tư nước ngoài. Mục đích của các biện pháp đó là tái định hướng tài nguyên quốc gia cho những khu vực công cộng có hiệu quả hơn những cam kết quân sự thời Chiến tranh Lạnh đắt giá.
Gorbachev đồng thời đưa ra glasnost, hay mở cửa, tăng cường tự do cho báo chí và sự minh bạch hoá các định chế nhà nước. Glasnost có mục đích làm giảm tham nhũng ở trên thượng tầng Đảng Cộng sản và giảm bớt sự lạm dụng quyền lực bên trong Uỷ ban Trung ương. Glasnost cũng cho phép sự tăng cường tiếp xúc giữa các công dân Liên Xô và thế giới phương Tây, đặc biệt với Hoa Kỳ, góp phần vào việc đẩy nhanh sự giảm căng thẳng giữa hai nước.
SỰ TAN BĂNG TRONG MỐI QUAN HỆ MỸ-XÔ. Các cuộc đàm phán Reagan-Gorbachev về các vấn đề kinh tế và giảm mức độ chạy đua vũ trang Mỹ-Nga được tiến hành. Cuộc đàm phán đầu tiên được tổ chức vào tháng 11 năm 1985 tại Geneva, Thuỵ Sĩ. Cả Reagan lẫn Gorbachev mỗi người chỉ với một phiên dịch tháp tùng, và họ đã đồng ý về nguyên tắc giảm bớt 50% kho vũ khí hạt nhân của mỗi nước. Hội nghị thượng đỉnh Reykjavik thứ hai được tổ chức tại Iceland. Và, Hiệp ước INF loại bỏ mọi loại vũ khí hạt nhân tầm trung, được phóng từ tên lửa đạn đạo mặt đất và tên lửa hành trình với tầm bắn trong khoảng 500 tới 5,500 kilômét (300 tới 3,400 dặm) và cơ sở hạ tầng phục vụ nó là kết quả cuộc họp thượng đỉnh thứ ba năm 1987. Hiệp ước INF được Mỹ và Liên Xô ký kết ngày 8/12/1987 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/6/1988.
Căng thẳng Đông-Tây nhanh chóng giảm xuống từ giữa cho tới cuối thập niên 1980, ở mức thấp nhất tại cuộc họp thượng đỉnh cuối cùng tại Moskva năm 1989, khi Gorbachev và George H. W. Bush ký hiệp ước kiểm soát vũ khí START I. Với người Liên Xô mọi việc đã trở nên rõ ràng hơn, rằng các khoản trợ cấp dầu mỏ và khí đốt, cùng với chi phí cho việc duy trì một quân đội to lớn, là cái phễu khổng lồ làm thất thoát đi các nguồn tài nguyên kinh tế, rằng ưu thế an ninh của một vùng đệm đã được công nhận là không còn thích hợp nữa. Và, người Liên Xô chính thức tuyên bố rằng họ không can thiệp vào công việc của các quốc gia đồng minh ở Đông Âu nữa.
Năm 1989, các lực lượng Liên Xô rút khỏi Afghanistan, và tới năm 1990 Gorbachev đồng ý với việc thống nhất nước Đức, để một kịch bản kiểu vụ Thiên An Môn, châu Á không tái diễn tại châu Âu. Khi bức tường Berlin bị phá bỏ, ý tưởng “Ngôi nhà Chung châu Âu” của Gorbachev bắt đầu thành hình. Ngày 3 tháng 12 năm 1989, Gorbachev và người kế tục Reagan, George H. W. Bush, tuyên bố cuộc Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt tại Hội nghị thượng đỉnh Malta.
SỰ KHỦNG HOẢNG CỦA HỆ THỐNG XÔ VIẾT. Tới năm 1989, hệ thống liên minh của Liên Xô đã trên bờ vực sụp đổ, và không có sự hỗ trợ quân sự của Liên Xô, các lãnh đạo đảng cộng sản tại các nhà nước thuộc Khối hiệp ước Warsaw dần mất quyền lực. Ở chính bên trong Liên Xô, glasnost đã làm yếu đi các liên kết giữ chặt Liên bang Xô viết, và tới tháng 2 năm 1990, với sự giải tán Liên Xô đang dần hiện ra, Đảng Cộng sản đã đánh mất quyền lãnh đạo đất nước kéo dài 73 năm của mình. Cùng lúc ấy, các tuyên bố bất đồng, đòi ly khai với nhà nước trung ương được cho phép bởi glasnost và sự gia tăng "vấn đề tính chất quốc gia" dần khiến các nước cộng hoà tạo thành Liên bang Xô viết tuyên bố tự trị khỏi Moskva, với việc các quốc gia vùng Baltic rút lui hoàn toàn khỏi Liên Xô.
Làn sóng cách măng năm 1989, quét qua khắp Trung và Đông Âu đã lật đổ các nhà nước cộng sản kiểu Liên Xô, như Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc và Bulgaria, Romania là nước duy nhất thuộc Khối Đông Âu lật đổ chính quyền theo cách bạo lực và đã hành quyết vị lãnh đạo nhà nước.
LIÊN XÔ TAN RÃ. Sự thật Liên bang Xô viết đã bị suy yếu sau vụ đảo chánh thất bại, các cộng hoà Xô viết ly khai không ngừng tăng lên, nhất là Nga từng đe doạ ly khai khỏi Liên Xô, nay tuyên bố giải thể nó vào ngày 25 tháng 12 năm 1991. Tổng thống Hoa Kỳ George H.W. Bush đã bày tỏ niềm hân hoan khi Liên Xô tan rã: "Sự kiện vĩ đại nhất từng diễn ra trên thế giới trong suốt cuộc đời của tôi, trong toàn bộ cuộc đời của mỗi chúng ta, chính là sự kiện này đây: Nhờ vào ân sủng của Thiên Chúa, nước Mỹ đã chiến thắng cuộc Chiến tranh Lạnh". Với việc Liên Xô sụp đổ, Hoa Kỳ trở thành siêu cường còn tồn tại duy nhất trên thế giới.
II. TẠI VIỆT NAM 1947-1975: 25 BÀI VIẾT.
289. Trước Chiến tranh lạnh: Hợp tác Việt-Mỹ trong Cách mạng 1945, Chuyến đi Côn Minh của lãnh tụ Hồ Chí Minh, và Quân hệ Việt Cách-Việt Minh 1945-1946.
290. “Ngăn chận quân sự” là Sách lược chống cộng của Mỹ tại Việt Nam thời Tổng thống Truman 1947-1952.
291. “Trả đủa ồ ạt” là Sách lược chống cộng của Mỹ tại Việt Nam thời Tổng thống Eisenhower 1952-1954.
292. Xây dựng Việt Nam Cộng hoà thành “Tiền đồn chống Cộng” tại Đông Nam Á thời Tổng thống Eisenhower 1954-1960.
293. “Phản ứng linh hoạt” là Sách lược chống cộng của Mỹ tại Việt Nam thời Tổng thống Kennedy-Jhonson 1961-1964.
294. “Trực tiếp tham chiến” là Sách lược chống cộng của Mỹ tại Việt Nam thời Tổng thống Jhonson 1965-1968.
295. Chiến lược “Tìm và Diệt” qua hai trận đánh: trận đánh Vạn Tường tháng 8, và trận Pleime tháng 10-11 năm 1965.
296. Chiến lược “Tìm và Diệt” trong hai Mùa khô: Mùa khô năm 1965-1966, và mùa khô năm 1966-1967.
297. Đỉnh cao của Chiến lược “Tìm và Diệt” là cuộc hành quân Junction City năm 1967, tấn công vào Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền, và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
298. Bình định Nông thôn là Sách lược chống Cộng xuyên suốt các thời Tổng thống Eisenhower, Kennedy, và Jhonson.
299. Tấn công quân sự, bình định nông thôn, và đánh phá Bắc Việt bằng không quân và Hải quân Mỹ là trọng điểm của Tổng thống Jhonson nhiệm k5: 19641968.
300. Sự kiện Mậu Thân 1968 “một cú đập lớn tung toé ra khả năng chính trị” tạo bước đột phá chiến lược: Lê Duẩn.
301. Ngưng oanh tạc Bắc Việt, bắt đầu đàm phán Mỹ-Bắc Việt, và người kế nhiệm là Tổng thống Nixon năm 1968-1969.
302. “Việt Nam hoá chiến tranh” là Sách lược chống cộng của Mỹ tại Việt Nam thời Tổng thống Nixon 1969-1972.
303. Hành quân đánh vào “Thánh địa Việt Cộng” bên trong đất Campuchia từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1970.
304. Hành quân Lam Sơn 719 đánh vào “Trung tâm hậu cần” của Bắc Việt tại Tchepone, Hạ Lào tháng 2-3 năm 1971.
305. Chiến dịch Hè-Xuân 1972, và 81 ngày đối đầu với Quân lực Việt Nam Cộng hoà tại trận tái chiếm thành cổ Quảng Trị.
306. Hoà đàm Ba-Lê và Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam: tháng 3/1968 đến tháng 1/1973.
307. Sau Hiệp định Paris, về phía Mỹ và Việt Nam Cộng hoà trong những năm 1973-1975: Phạm Bá Hoa ghi lại.
308. Chiến sự và Chính sự của Việt Nam Cộng hoà trong tháng 3 năm 1975: Trần Văn Đôn ghi lại.
309. Lúc 10 giờ ngày 20, Đại sứ Mỹ Martin gặp Nguyễn Văn Thiệu, và tối 21 tháng 4 năm 1975 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức: Trần Văn Đôn ghi lại.
310. Sau khi từ chức, Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm ra khỏi nước đêm 25 tháng 4 bằng máy bay DC4 đến Đài Loan.
311. Đường lối của Tổng thống Dương Văn Minh là chấm dứt chiến tranh bằng thương thuyết và Hoà giải Dân tộc.
312. Sau Hiệp định Paris, về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam trong những năm 1973-1975.
313. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam: qúa trình hình thành, việc đã làm: 1969-1976.
Bài 289: TRƯỚC CHIẾN TRANH LẠNH: HỢP TÁC VIỆT-MỸ TRONG CÁCH MẠNG 1945, CHUYẾN ĐI CÔN MINH CỦA LÃNH TỤ HỒ CHÍ MINH, VÀ QUAN HỆ VIỆT CÁCH-VIỆT MINH 1945-1946.
I. HỢP TÁC VIỆT-MỸ TRONG CÁCH MẠNG 1945. Trên trang NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ, Tiến sĩ Lê Vinh Quốcviết: Năm 1940, nước Pháp đầu hàng phát xít Đức và Nhật Bản kéo vào Đông Dương. Trở về nước đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (gọi tắt là mặt trận Việt Minh) để tập hợp lực lượng của toàn dân tộc tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày 13-8-1942, lãnh tụ cộng sản Nguyễn Ái Quốc trở thành nhà cách mạng dân tộc Hồ Chí Minh đại diện cho Việt Minh bí mật sang Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của giới lãnh đạo Trung Hoa Dân Quốc. Nhưng, do nghi ngờ về hành tung của Hồ tiên sinh, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đã bắt giam ông trong hơn một năm, và chỉ trả lại tự do cho ông vào tháng 9-1943.
Tại Hội nghị thượng đỉnh Tam Cường ở Tehran (28-11 đến 01-12-1943), Tổng thống Mỹ Roosevelt và lãnh tụ Liên Xô Stalin đã nhất trí với nhau rằng nước Pháp sẽ phải trả giá cho sự cộng tác với phát xít Đức, và rằng các nước Đồng Minh không thể đổ máu để cho nước Pháp khôi phục chế độ thuộc địa ở Động Dương. Tổng thống Roosevelt gợi ý nên thành lập một hội đồng quản thác quốc tế (trusteeship) để chuẩn bị cho Đông Dương tự cai trị sau 30-40 năm nữa. Cuối tháng 9-1944, trở về Việt Nam, tại căn cứ địa Việt Bắc, Ông quyết định phải tiếp xúc với người Mỹ, tranh thủ sự ủng hộ của họ đối với Việt Minh. Cuối năm 1944, phi công Mỹ William Saw bị bắn hạ ở Cao Bằng đã được đích thân Hồ Chí Minh hộ tống qua Trung Quốc bàn giao cho Bộ Tư lệnh Mỹ ở Côn Minh.
Nhân chuyến đi này, nhà lãnh đạo Việt Minh đã liên lạc với các sĩ quan Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS) và Phòng Thông tin Chiến tranh (OWI), đề nghị họ công nhận Việt Minh để thiết lập quan hệ hợp tác chính thức chống Nhật. Trung úy Charles Fenn thuộc Ban Cứu trợ Không quân Mỹ (AGAS) được cử đến gặp Hồ Chí Minh và dẫn ông sang Trung Quốc gặp tướng Claire Chennault, tư lệnh Tập đoàn Không quân 14 Hoa Kỳ tại Côn Minh (ngày 29-3-1945). Tại cuộc gặp, hai bên đã thỏa thuận: Việt Minh sẽ lập trạm cứu trợ phi công Mỹ ở Bắc Kỳ, cung cấp tin tức về tình hình quân đội Nhật ở Đông Dương; còn phía Mỹ sẽ giúp phương tiện cần thiết bao gồm vũ khí và huấn luyện quân sự cho Việt Minh.
Ngày 16-7-1945, một đơn vị biệt kích Mỹ thuộc OSS có biệt danh “Đội Con Nai” đã nhảy dù xuống khu giải phóng Việt Bắc, được du kích Việt Minh tiếp đón và đưa về trú đóng ngay tại cơ quan đầu não của cách mạng ở Tân Trào. Gồm 7 sĩ quan và hạ sĩ quan do thiếu tá Allison K. Thomas chỉ huy, đơn vị này trực tiếp làm việc với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp về kế hoạch hoạt động. Khoảng 200 chiến sĩ du kích Việt Minh được tuyển lựa để Đội Con Nai huấn luyện trở thành “Bộ đội Việt-Mỹ” do Đàm Quang Trung chỉ huy và thiếu tá Thomas đảm nhiệm vai trò tham mưu trưởng. Nhiều vũ khí và khí tài của Hoa Kỳ đã được thả dù xuống hoặc vận chuyển từ Trung Quốc sang tiếp tế cho du kích Việt Minh khi ấy đã trở thành Việt Nam Giải Phóng Quân.
Nhờ có điện đài rất tốt, các nhà lãnh đạo Đảng đã xác định chính xác thời điểm Nhật đầu hàng Đồng Minh để chớp đúng thời cơ phát động Tổng khởi nghĩa. Khi Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào để quyết định các vấn đề trọng yếu của cuộc tổng khởi nghĩa, chính Đội Con Nai đã có mặt ngay cạnh hội trường, sau đó “Bộ đội Việt-Mỹ” trong hàng ngũ Việt Nam Giải Phóng Quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy tiến đánh Thái Nguyên rồi tiến về Hà Nội. Ngay cả khi soạn thảo “Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam” Hồ Chí Minh muốn “trích” Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ là do sĩ quan Mỹ cung cấp.
Sau khi tuyên bố độc lập, tình hình nước ta cực kỳ phức tạp và hết sức nguy nan. Hơn 20 vạn quân Trung Hoa Dân Quốc do tướng Lư Hán làm tư lệnh tràn vào miền Bắc gây muôn vàn khó khăn nhằm lật đổ chính quyền Việt Minh mà họ cho là cộng sản; trong khi 2 vạn quân Anh tiến vào miền Nam dọn đường cho thực dân Pháp tái chiếm thuộc địa theo chỉ thị của tướng Charsles De Gaulle – Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Pháp. Chiến sự Pháp -Việt đã bùng nổ tại Nam Bộ từ ngày 23-9-1945, chỉ 3 tuần sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Để giải quyết vấn đề hết sức quan trọng đó, Hồ Chủ tịch đặt kỳ vọng ở Hoa Kỳ, quốc gia từng tuyên bố sẽ lập chế độ ủy thác quốc tế ở Đông Dương tiến tới trao trả độc lập cho xứ này, và đã có quan hệ tốt đẹp với Việt Minh trong chiến tranh.
NGƯỜI MỸ IM LẶNG. Ngày 17-10-1945, Hồ Chủ tịch gửi điện văn cho Tổng thống Mỹ Hary S. Truman, đề nghị Hoa Kỳ công nhận cho Việt Nam được tham gia Ủy ban Tư vấn về Viễn Đông của các nước đồng minh. Điện văn này không được phúc đáp, Hồ Chủ tịch lại lần lượt gửi 2 điện văn nữa cho ngoại trưởng Hoa Kỳ và một thư nữa cho tổng thống Truman. Ngày 28-2, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần nữa gửi điện cho Truman, “tha thiết kêu gọi Ngài và nhân dân Mỹ khẩn trương can thiệp nhằm ủng hộ nền độc lập của chúng tôi và tiến hành thêm các cuộc đàm phán theo những nguyên tắc của các Hiến chương Đại Tây Dương và San Francisco” nhưng không hề nhận được một câu trả lời. Sự im lặng này chỉ có thể hiểu là sự từ chối công nhận nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
(Trích bài viết “Hợp tác Việt – Mỹ trong Cách mạng Tháng Tám 1945” của TS. Lê Vinh Quốc nguyên là Phó Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh trang NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ). Bài viết Lê Vinh Quốc có kèm 4 tấm ảnh (1) Hồ Chí Minh tiếp xúc với tình báo quân sự Mỹ (OSS) năm 1945; (2) Các nhà lãnh đạo Việt Minh – Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chụp ảnh kỷ niệm với thiếu tá A. K. Thomas (ngồi cạnh cụ Hồ) và đội “Con Nai” tại Tân Trào, Khu Giải phóng Việt Bắc; (3) Tướng Mỹ Philip E. Gallagher với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa trong buổi lễ tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản tại Hà Nội (10-11-1945); (4) Điện văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Hoa Kỳ Hary S. Truman (28-2-1946).
II. CHUYẾN ĐI CÔN MINH CỦA LÃNH TỤ HỒ CHÍ MINH. Nhà Ngoại giao Đỗ Hoàng Linh viết: Ngày 20.9.1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh về đến Pắc Bó sau hơn một năm bị quản chế ở Liễu Châu. Đầu năm 1945, với giấy phép đi lại do tướng Trương Phát Khuê cấp, Hồ Chí Minh trong bộ quân phục Quốc dân có Phùng Thế Tài đi cùng sang Trung Quốc với ý định tiếp xúc với cơ quan của Mỹ ở Côn Minh. Người dẫn theo cả trung uý Shaw, viên phi công Mỹ này đã đựơc ta cứu thoát sau khi chiếc B25 của anh ta bị bắn rơi trên đất Cao Bằng. Mất hai tuần đi bộ, Bác cháu tới ga Bixichai, lên tàu về Côn Minh, anh em bố trí Bác ở nhà anh chị Tống Minh Phương, tại 76 phố Kim Bích, Côn Minh. Mấy hôm sau thì bắt liên lạc đựơc với Đồng minh, Mỹ cử trung uý Charles Fenn, đại diện cơ quan cứu trợ không quân (AGAS) đến gặp Bác lần đầu vào chiều 17-3, tại hiệu cà phê của anh chị Tống.
Do Fenn thu xếp nên ngày 23-3, Hồ Chí Minh hội kiến với tướng Chenault, Tư lệnh tập đoàn không quân Mỹ 14 tại tổng hành dinh. Mọi việc giao dịch được Bác giao cho đồng chí Phạm Việt Tử rất giỏi tiếng Anh phụ trách. Khi thuyết phục đựơc Chenault về tình cảm trên danh nghĩa của những người ủng hộ phe Đồng minh, Bác mới vào vấn đề chính: “Hiện nay phong trào du kích của chúng tôi rất phát triển nhưng vũ khí, thúôc men đều thiếu thốn. Chúng tôi đề nghị các ngài tạo điều kiện để hai nước chúng ta có đầy đủ điều kiện mau chóng đánh bại phát xít Nhật”. Tướng Chenault hoàn toàn ủng hộ ý kiến của Bác và hứa sẵn sàng giúp đỡ. Kết thúc buổi gặp, ông ta đã tặng Hồ Chí Minh một tấm ảnh đề chữ phía dưới: “Bạn chân thành của Ngài, Chenault”.
Tiếp đó tướng Chenault mở tiệc chiêu đãi Bác và phái đoàn ta tại khách sạn. Quan khách được mời dự tiệc khá đông, toàn những nhân vật cỡ bự: tướng Lư Hán, Tư lệnh quân Tưởng ở Vân Nam, tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh đệ tứ chiến khu, Long Vân tỉnh trưởng Vân Nam... Hồ Chí Minh nói chuyện với các tướng Mỹ bằng tiếng Anh, với các tướng Tưởng bằng tiếng Trung Quốc phổ thông. Sau bữa chiêu đãi của phía Mỹ, Bác bàn bạc với anh chị em “họ đã chiêu đãi ta, ta cũng nên chiêu đãi họ”. Thế là bữa chiêu đãi của đoàn ta được tổ chức ngay tại gác hai quán cà phê anh chị Tống Minh Phương. Sáng hôm sau, phái đoàn ta lên đường về nước. Tướng Chenault cho xe đến tận nhà đưa Bác ra sân bay, 9 giờ sáng máy bay hạ cánh xuống sân bay Bách Xắc, Bác gặp Trương Phát Khuê cùng đồng chí Hoàng Quốc Vịêt dẫn đầu đoàn đại biểu Vịêt Minh đang bàn kế hoạch chống Nhật ở đó.
Ngày 14.4.45, Người tham gia Uỷ ban hành động của Việt Nam cách mạng Đồng minh Hội do tướng Tiêu Văn chỉ định thành lập. Chiều ngày 16.4, Uỷ ban họp lại, thành phần đoàn bên ta gồm: Ông Hồ Chí Minh, Hoàng Quốc Việt, Đặng Việt Châu, Dương Đức Hiền, Trịnh Khiêm, Nguyễn Thanh Đồng, Lê Tùng Sơn, hai bố con cụ Đinh Chương Dương, Đinh Trọng Cung và sĩ quan bảo vệ Lưu Minh Đức. Phía Phục quốc quân có: Bồ Xuân Luật, Vũ Kim Thành. Đồng minh Hộicó: Nguyễn Tường Tam, Hoàng Kỳ Nam. Đảng Đại Việt có Văn Chí, và đại diện phía Trung Quốc là tướng Tiêu Văn. Nội dung thảo luận có lúc căng thẳng. Bồ Xuân Luật của Phục quốc quân nói to chỉ trích Bác: “Ông uỷ viên Hồ Chí Minh làm nhiều việc vô nguyên tắc như: lôi kéo thanh niên về nước không báo cáo Hội; lấy tiền của Hội chuẩn bị về nước; đưa chủ lực qua biên giới nấp cũng không báo cáo Hội?”.
Bác đứng dậy điềm tĩnh trả lời: “Ông Bồ uỷ viên bổ ba búa đều trượt. Búa thứ nhất bảo tôi lôi kéo thanh niên về nước nhưng thanh niên yêu nước xin về chứ có phải trẻ con đâu mà lôi kéo được? Búa thứ hai bảo tôi lấy tiền của Hội nhưng không phải, tôi chỉ vay trước thôi, bởi đã có ngân khoản tướng Trương Phát Khuê biếu, tôi đợi tướng Tiêu Văn ký, tôi sẽ lĩnh tiền trả Hội. Búa thứ ba là về nấp ở biên giới không báo cáo, vậy đề nghị ông Bồ uỷ viên gợi ý dàn bài cho tôi viết báo cáo nộp Hội?”.
Ngày 17-4-45, kết thúc cuộc họp, Người cùng 20 thiếu sinh quân, hai người bạn đồng minh và anh em khiêng giúp 2 máy phát điện, điện đài, đồ quân dụng đi Điền Đông, Tĩnh Tây. Sau đó, Bác và đoàn cán bộ 12 người trang bị lỉnh kỉnh súng, đạn kèm theo giấy, mực in và lương khô... tiếp tục đi theo đường Bình Mãng, Cột Mà mất một tuần, nửa đêm ngày 22-4 mới về đến biên giới nước ta… (Trích Bài viết ngày 07 Tháng 04 Năm 2014 trên Google của Đỗ Hoàng Linh, người từng giữ nhiều vị trí quan trọng tại Bộ Ngoại giao Việt Nam).
III. QUAN HỆ VIỆT CÁCH-VIỆT MINH 1945-1946. Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội - gọi tắt là Việt Cách là một tổ chức chính trị bao gồm nhiều nhóm người Việt Nam hoạt động bí mật có cơ sở tại Trung Quốc, thân Trung hoa Dân quốc. Đầu năm 1942, sau khi Nhật tiến quân vào Đông Đương, các nhóm cách mạng Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc thành lập VIỆT NAM GIẢI PHÒNG HỘI gồm Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Minh, Đại Việt và các đảng nhỏ khác. Nguyễn Hải Thần lãnh đạo. Ngày 1 tháng 10 năm 1942, tại Liễu Châu, dưới dự bảo trợ của tướng Trung Hoa Quốc dân Đảng Trương Phát Khuê, Đại hội thành lập Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội thường gọi là Việt Cách gồm các đại biểu của nhiều đảng phái: Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội… Đại biểu Việt Minh và đảng cộng sản bị loại trừ.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm bảy người là: Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Trấn Báo, Nông Kinh Du, Trương Trung Phụng. Các ủy viên thường vụ là Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, nhưng có thế lực nhất là Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ vì được chính phủ Trùng Khánh hậu thuẫn.
Ngày 25 tháng 3 năm 1944, cũng tại Liễu Châu, tướng Trương Phát Khuê phái tướng Tiêu Văn triệu tập ĐẠI HỘI VIỆT CÁCH MỞ RỘNG. Đại hội họp từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 3 năm 1944, gồm 15 đại biểu trong đó có một số đại biểu chưa phải là thành viên Việt Cách như Lê Tùng Sơn, đại biểu Hội giải phóng ở Vân Nam; Nguyễn Thanh Đồng, đại biểu Biệt động quân ở Nam; Nguyễn Tường Tam đại biểu Đại Việt, và Hồ Chí Minh đại biểu Phân hội phản xâm lược. Tại hội nghị này, ba người cũ trong Ban Chấp hành trung ương bị thay ra, và ba người mới được thay vào là Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật và Trần Đình Xuyên. Hồ Chí Minh và Nguyễn Tường Tam được bầu làm Ủy viên Trung ương dự khuyết. Sau một thời gian Trần Đình Xuyên bị gạt ra, Hồ Chí Minh được trở thành Ủy viên Trung ương chính thức. Ban giám sát là Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nông Kinh Du. Cuối năm 1944 Hồ Chí Minh về Việt Nam.
Đầu năm 1945, Tiêu Văn hổ trợ Nguyễn Hải Thần tập hợp hàng trăm người Việt Cách cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc vượt biên giới tấn công quân Nhật. Ngày 30 tháng 3 năm 1945, tướng Tiêu Văn tới Côn Minh tổ chức các Ủy ban hành động (sau gọi là Lữ đoàn hành động) gồm quân Phục quốc do các thành viên Việt Cách chỉ huy. Ngày 11 tháng 5, các Lữ đoàn hành động theo 4 hướng vượt biên giới. Ngày 14/8, Nhật đầu hàng Đồng Minh, Tưởng Giới Thạch giao cho Lư Hán vào Việt Nam giải giáp quân Nhật, và Tiêu Văn làm Phó tướng cho Lư Hán. Ngày 20/8/1945, Việt Cách cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc tiến vào Việt Nam.
Ngày 1/9/1945, tại Móng Cái, Việt Cách thành lập Chính phủ Lâm thời Việt Nam do Nguyễn Hải Thần đứng đầu. Nguyễn Hải Thần về Hà Nội lập trụ sở ở đường Quan Thánh phố Cửa Bắc vận động dân chúng nội thành ủng hộ. Việt Cách bắc loa tố cáo Việt Minh là cộng sản; sự việc dẫn đến xô xát giữa những đám người ủng hộ và chống đối. Ngày 18 tháng 9 năm 1945, Việt Minh họp bí mật với Việt Cách, Nguyễn Hải Thần đại diện Việt Cách đề nghị Hồ Chí Minh đồng ý hợp nhất Việt Minh với Việt Cách và Việt Quốc để nhận được sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc. Võ Nguyên Giáp dứt khoát không đồng ý. Theo ông, những đề nghị đó không có giá trị và không thật thà, nó chẳng khác gì thay thế chủ nghĩa thực dân Pháp bằng ách thống trị của Trung Quốc, nhân dân sẽ "chẳng bao giờ chịu bán rẻ sự nghiệp chính nghĩa của họ để đổi lấy đô la Trung Quốc".
Hàng loạt vụ đụng độ giữa Việt Minh và Việt Cách xảy ra khiến công chúng bị sốc và làm các chỉ huy quân đội Trung Hoa Dân quốc tại miền Bắc Việt Nam khó chịu. Tiêu Văn gây sức ép lên tất cả các bên để buộc họ thành lập chính phủ liên hiệp. Ngày 23/12/1945, Tướng Tiêu Văn tổ chức một cuộc họp hòa giải các bên để thành lập chính phủ liên hiệp. Tại cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần đề nghị Hồ Chí Minh hợp tác với Việt Quốc, Việt Cách thành lập một chính phủ bao gồm thành viên của Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh và các đảng phái nhỏ khác. Nguyễn Hải Thần sẽ đảm nhận chức Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh làm Phó Chủ tịch. Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh, mỗi đảng nắm giữ 1/4 số ghế Bộ trưởng trong Chính phủ; 1/4 còn lại do các đảng phái nhỏ nắm.
Cuối cùng các bên đạt tới một thỏa thuận được tuyên bố là mang tính pháp lý (viết bằng chữ Hán) theo đó các ghế bộ trưởng trong chính phủ sau bầu cử Quốc hội sẽ phân chia như sau: Việt Minh 2 bộ trưởng, Đảng Dân chủ Việt Nam 2 bộ trưởng, Việt Quốc 2 bộ trưởng, Việt Cách 2 bộ trưởng, phi đảng phái 2 bộ trưởng. Nguyễn Hải Thần, và Vũ Hồng Khanh chấp nhập Hồ Chí Minh tiếp tục làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời với Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch để tổ chức bầu cử Quốc hội. Việt Quốc và Việt Cách sẽ có 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử. Cuộc bầu cử quốc hội được hoãn 2 tuần. Ngày 1 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời được thành lập thay thế Chính phủ Cách mạng Lâm thời có sự tham gia của 2 đảng phái đối lập Việt Cách và Việt Quốc.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Ngày 24 tháng 2 năm 1946, tại Đại sứ quán Trung Hoa, dưới sự chủ trì của tướng Tiêu Văn, hội nghị giữa các đảng phái Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách, Đảng Dân chủ đã thống nhất về việc thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, Cố vấn đoàn và Kháng chiến Ủy viên hội. Việt Cách và Việt Quốc nắm 4 bộ (Ngoại giao, Kinh tế, Y tế, và Canh nông). Ngày 2/3/1946, quốc hội họp phiên đầu tiên nhưng Nguyễn Hải Thần vắng mặt. Hồ Chí Minh đề cử Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước, Nguyễn Đình Tri của Việt Cách làm bộ trưởng Y tế. Nhưng chính phủ này tồn tại không bao lâu vì sau khi quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam theo thỏa thuận Hoa-Pháp, lực lượng đảng phân rã, suy yếu. Nhiều lãnh đạo ra nước ngoài.
BỊ TRẤN ÁP. Bộ Tuyên truyền của Chính phủ gửi đến ban biên tập các tờ báo một bức thư hư cấu chỉ trích Nguyễn Hải Thần không cử người tham gia đoàn quân Nam tiến, buộc tội ông thỏa thuận với quân Pháp. Công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường xuyên bắt giữ các thành viên Việt Cách vì tội tống tiền. Các thành viên Việt Minh và Việt Cách xé áp phích của nhau, phá các cuộc họp, đe doạ tính mạng của đối thủ. Việt Minh khuyến khích Bồ Xuân Luật rời bỏ Việt Cách lập ra tờ báo Đồng Minh xuất bản cho đến tháng 11 năm 1946. Tuy vậy, các lãnh đạo Việt Cách vẫn kiểm soát các thị xã từ biên giới Trung Quốc đến đồng bằng sông Hồng cho đến khi quân đội Trung Quốc rút về nước vào tháng 4/1946. Một số thành viên tập trung bảo vệ các thị xã phía Bắc Hà Nội, những người khác gia nhập Việt Quốc, số còn lại lệ thuộc Việt Minh.
Cuối tháng 5/1946, thành viên Việt Cách Hồ Đức Thành tham gia Mặt trân Liên Việt. Các thành viên Việt Cách ở Quảng Yên và Móng Cái đã rút qua Trung Quốc vào giữa tháng 6/1946. Cuối tháng 10/1946, báo Đồng Minh của Bồ Xuân Luật đưa tin về cuộc họp của một số chi bộ còn lại của Việt Cách và việc một số thành viên Việt Cách tham gia kỳ họp thứ hai của quốc hội. Từ đó trở đi một vài thành viên Việt Cách hợp tác với Việt Minh để xây dựng một hình ảnh mặt trận quốc gia liên hiệp giữa các đảng phái trong khi đó các thành viên khác bị tống giam hoặc phải lưu vong. Nhánh Việt Cách theo Việt Minh như Bồ Xuân Luật, Hồ Đức Thành... phải đến năm 1951 khi thành lập Mặt trận Liên Việt mới chính thức giải tán.
Bài 290: “NGĂN CHẬN QUÂN SỰ” LÀ SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM THỜI TỔNG THỐNG TRUMAN TỪ 1947 ĐẾN 1952.
Những năm 1946 và 1947, Mỹ không ngăn cản Pháp mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng cũng không trực tiếp viện trợ cho các lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Mãi đến năm 1947, khi Mỹ viện trợ cho nước Pháp 3 tỷ đôla theo kế hoạch Marshall, nhờ đó Pháp mới đỡ khó khăn hơn trong việc tiếp tục chiến tranh ở Việt Nam. Lúc này, tuy Mỹ có chú ý đến “tính chất cộng sản” của Chính phủ kháng chiến Việt Minh, nhưng họ lại đang bị cuốn hút vào những vấn đề lớn của châu Âu. Việc chiếm đóng và xây dựng lại Nhật, sự tiến triển của các lực lượng cách mạng trong cuộc nội chiến Trung Quốc, sự phát triển mạnh của phong trào đòi độc lập và giải phóng dân tộc ở các khu vực thuộc địa rộng lớn, kể cả ở Đông Nam Á, v.v… Tóm lại, cho đến những năm 1946-1947, Mỹ chưa quan tâm nhiều đến vấn đề Việt Nam và Đông Dương.
CHIẾN LƯỢC NGĂN CHẶN QUÂN SỰ TOÀN CẦU 1948-1952. Để tồn tại như một siêu cường hàng đầu thế giới không phải chỉ có sức mạnh quân sự, kinh tế và chính trị, mà còn cần phải có một chiến lược toàn cầu phù hợp, một chính sách xâm nhập và bành trướng khôn khéo. Đó là điều rất khó khăn đối với Mỹ hồi đó, tuy rằng Mỹ là nơi sản sinh ra nhiều nhân tài tri thức, nhiều nhà khoa học lỗi lạc, nhưng những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ phải tập trung chất xám, động viên lực lượng trí tuệ để phát triển kinh tế và khoa học – kỹ thuật quân sự, tạo cơ sở để những năm sau cho ra đời được chiến lược toàn cầu. Chiến lược chung (grand strategy) bao gồm những quan điểm, tư tưởng và phương hướng chỉ đạo chiến lược cho tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế ngoại giao v.v… và thường được mang tên là học thuyết hoặc chủ nghĩa. Kèm theo là một chiến lược quân sự toàn cầu.
Trong khi Liên Xô ra đời trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, Liên Xô vừa chiến thắng phát xít, uy tín quốc tế đang lên cao, tuy bị tàn phá nhiều, nhưng vẫn đang nắm ưu thế quân sự về vũ khí thông thường. Các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt ra đời được Liên Xô ủng hộ và bắt đầu hình thành một hệ thống thế giới. Phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đang trên đà phát triển. Phong trào giải phóng dân tộc lên cao. Trong lúc đó, các trung tâm tư bản chủ yếu ở châu Âu và Nhật chưa được củng cố, phục hồi, tập hợp lại. Sách lược ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản từ bối cảnh lịch sử đó, người Mỹ thường gọi là chiến lược Phòng ngự.
Sau khi trúng cử vào Nhà Trắng lần thứ hai, Tổng thống Mỹ Truman đề ra học thuyết mang tên mình. Học thuyết Truman, coi Liên Xô là đối tượng chủ yếu và lập luận rằng một số phong trào cách mạng giải phóng dân tộc cũng là tay sai của cộng sản do Moscow điều khiển. Do vậy, chiến lược của Mỹ là phải bao vây và ngăn chặn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa đồng thời phải chống những phong trào giải phóng dân tộc do những người cộng sản lãnh đạo và ủng hộ những phong trào dân tộc không theo chủ nghĩa cộng sản như các phong trào ở Nam Á, Trung Đông, Đông Nam Á, Đông Bắc Á …
Để củng cố lực lượng đồng minh của Mỹ, học thuyết Truman chấp nhận kế hoạch Marshall ở châu Âu. Kế hoạch Marshall do Bộ trưởng Ngoại giao Marshall Mỹ nêu ra ngày 5-6-1947, nhằm khôi phục lại châu Âu bằng viện trợ Mỹ. Các nước Anh, Pháp, Bỉ, Áo, Hà Lan, Luxembourg, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Ailen, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Bồ Đào Nha, Tây Đức… đã tiếp nhận với điều kiện giành cho Mỹ những đặc quyền kinh tế theo yêu cầu của Mỹ, ủng hộ chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản của Mỹ.
VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CHO PHÁP Ở ĐÔNG DƯƠNG 1948-1952. Giới chiến lược quân sự Mỹ phát hiện thấy lúc này hướng yếu nhất trong chiến lược của Mỹ ở châu Á là Đông Nam Á, một khu vực rộng lớn tiếp giáp với Trung Quốc ở phía nam. Bởi vì “Đông Nam Á có tầm quan trọng về chiến lược, nó kiểm soát cửa ngõ ra vào giữa hai biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương”, “Đông Nam Á rất quan trọng đối với Mỹ”… Quan điểm ngăn chặn đã tạo ra một cơ cấu chặt chẽ cho đường lối của Mỹ ở Đông Nam Á. Trong văn kiện NSC51, nhan đề Chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á do Bộ Ngoại giao Mỹ trình lên Hội đồng an ninh quốc gia ngày 1-7-1949, có đánh giá “ở Đông Dương, chính sách của Pháp là đánh chiếm lại, v.v… nhưng Pháp không thể dùng biện pháp quân sự để tiêu diệt Việt Minh, tình hình Đông Dương đang xấu đi rất nhiều. Cộng sản chiếm vị trí khống chế trong phong trào dân tộc…”.
Đông Nam Á trở thành chiến trường quan trọng trong chiến lược của Mỹ ở châu Á. Chiến lược ngăn chặn ở Đông Nam Á coi như chính thức bắt đầu từ đó và Đông Dương trở thành trọng điểm của chiến lược Đông Nam Á của Mỹ. Thực tế từ năm 1947, Mỹ đã viện trợ cho Pháp theo kế hoạch Marshall và Pháp đã dùng một phần viện trợ đó vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Báo chí Mỹ cho biết: năm 1947 Chính phủ Truman đã cho Pháp vay 160 triệu đôla để mua xe cộ và một số thiết bị liên quan cho chiến trường Đông Dương. Năm 1948, trong một văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ (27-9-1948) tổng kết tình hình Việt Nam và chính sách của Mỹ đối với Việt Nam, có nêu rõ mục tiêu lâu dài của Mỹ là: thủ tiêu ở mức độ tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Dương, Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị thân Mỹ.
MỸ ỦNG HỘ THÀNH LẬP QUỐC GIA VIỆT NAM. Mỹ ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện lãnh đạo của những nhà nước mới không phải là người cộng sản, Mỹ ủng hộ việc thành lập các nhà nước phi cộng sản (tức là theo chủ nghĩa chống Cộng) ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ những quốc gia đồng minh tại Đông Nam Á vì không hài lòng với điều mà họ cho là “lực lượng cộng sản muốn thống trị Châu Á dưới chiêu bài dân tộc“. Bằng viện trợ, Mỹ ép Pháp phải nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam. Chính sách của Mỹ là hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Minh, sau đó sẽ ép người Pháp rút lui khỏi Đông Dương.
Mỹ đã khuyên Pháp nên tìm một giải pháp chính trị. Tháng 1-1949, Bộ Ngoại Giao Mỹ thúc ép Pháp thoả thuận với Bảo Đại để lập Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Tiếp đến tháng 2-1949, Ngoại trưởng Akison lại hối thúc và đến ngày 8-3-1949, Pháp đã ký Hiệp nghị Elysee với Bảo Đại. Ngày 10-5-1949, Bộ Ngoại giao Mỹ điện cho lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn, khẳng định Pháp, các cường quốc phương Tây khác và các nước không cộng sản ở châu Á, hết sức cố gắng để đảm bảo thắng lợi tốt nhất cho giải pháp Bảo Đại.
MỸ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CHO PHÁP. Từ cuối năm 1949, Mỹ chính thức cam kết dính líu vào cuộc chiến tranh của Pháp ở Việt Nam chống lại lực lượng Việt Minh bằng một loạt bước đi liên tiếp: tháng 10-1949, Mỹ cử phái đoàn đầu tiên gồm các đại biểu Quốc hội và cán bộ ngoại giao đến Đông Nam Á, rồi đến Sài Gòn nghiên cứu tình hình. Ngày 28-11-1949, Washington chính thức mời đại diện của Chính phủ Quốc gia Việt Nam sang thăm Mỹ. Bảo Đại cử Bửu Lộc, Chánh văn phòng của Chính phủ Bảo Đại, sang Mỹ.
Trong văn kiện của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ (NSC.51) do Tổng thống Truman phê chuẩn ngày 30-12-1949, nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn sự Việt Minh ở Đông Dương bằng sự trợ giúp về chính trị, viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp. Sau khi Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đưa ra ý kiến viện trợ quân sự cho chính quyền Quốc gia Việt Nam thông qua Pháp (ngày 27-2-1950) được Hội đồng tham mưu trưởng liên quân ủng hộ, Mỹ đã để lộ ý đồ muốn ủng hộ Quốc gia Việt Nam bằng cách viện trợ quân sự thẳng cho chính quyền này không thông qua Pháp. Mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ trong chiến tranh Đông Dương lúc này đã bộc lộ công khai và có phần gay gắt.
Ngày 14-9-1951, tướng De Lattre sang gặp Tổng thống Harry Truman, Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ và tướng Collins, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Hoa Kỳ tiếp. Lô viện trợ đầu tiên của Mỹ gồm rất nhiều chiến cụ và khí giới: 9.000 súng tiểu liên, 500 đại liên, 5.000 xe chuyên chở đủ loại, 600 máy truyền tin và các xe chiến đấu, máy bay, tàu hải quân, tàu sửa chữa…Từ tháng 7-1950 đến 1-1-1952, Mỹ đã cung cấp cho Pháp gần 300 triệu đôla vũ khí và trang bị quân sự. Tại hội nghị tay ba Mỹ, Pháp, Anh họp ở Paris bàn về các vấn đề Đông Nam Á ngày 28-5-1952, Ngoại trưởng Mỹ Akison nói từ tháng 6-1951 đến tháng 6-1952, Mỹ đã gánh chịu một phần ba (1/3) chi phí cho cuộc chiến tranh của Pháp và Quốc gia Việt Nam ở Đông Dương.
Và từ hội nghị này, Mỹ đồng ý tăng thêm 150 triệu đôla trong tài khoá 1952-1953 viện trợ quân sự cho Pháp và Quốc gia Việt Nam. Bộ trưởng phụ trách Đông Dương là Le Tourneau, đại diện Chính phủ Pháp xác nhận sáu tháng tới viện trợ quân sự Mỹ sẽ chiếm tỷ lệ 40% chi phí chiến tranh ở Đông Dương. Mặc dầu vậy, Pháp vẫn không bớt lo ngại trước ý định của Mỹ ủng hộ trực tiếp Quốc gia Việt Nam để chính quyền này ly khai khỏi Liên hiệp Pháp thành lập một quốc gia độc lập không thuộc Liên hiệp Pháp. Ngày 16-6-1952, Le Tourneau, Bộ trưởng phụ trách Đông Dương Le Tourneau tuyên bố ở Mỹ rằng, Pháp cần Mỹ tăng cường viện trợ quân sự, nhưng không muốn có quân đội nước ngoài ở Đông Dương (ý nói không muốn Mỹ đưa quân vào).
Bài 291: ‘TRẢ ĐỦA ÀO ẠT” LÀ SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM THỜI TỔNG THỐNG EISENHOWER 1952-1954.
CHỦ NGHĨA EISENHOWRE. Năm 1953, Eisenhower chính thức cầm quyền sau khi đánh giá lại tình hình, đã đề ra “chủ nghĩa Eisenhower”, thay cho “học thuyết Truman” và lấy chiến lược “trả đũa ào ạt” làm chiến lược quân sự toàn cầu mới, thay cho chiến lược “ngăn chặn”. Trong tình hình Pháp đang gặp rất nhiều khó khăn và ở thế bất lợi trong cuộc chiến tranh, một mặt, Mỹ dốc thêm nhiều viện trợ cho Pháp; mặt khác, tìm mọi cách để trực tiếp nắm lấy việc điều hành chiến tranh ở Đông Dương. Tháng 7-1953. Mỹ phê chuẩn Kế hoạch Nava, của bộ chỉ huy Pháp, gánh chịu mọi khoản chi phí cho kế hoạch đó, gồm gần 400 triệu đôla. Tính đến tháng 1-1954, riêng về vũ khí và phương tiện chiến tranh, Mỹ đã viện trợ cho Pháp ở Đông Dương gồm 360 máy bay, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 390 tàu chiến và tàu quân sự, 16.000 xe quân sự các loại, 175.000 súng trường và súng máy.
Nếu như năm 1950, Mỹ chỉ viện trợ quân sự 10 triệu đôla cho Pháp trong cuộc chiến tranh, thì đến đầu năm 1954, số lượng này đã tăng lên đến 1,1 tỉ đôla, chiếm 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Từ 1950 đến 1954, tổng số viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ cho Pháp trong chiến tranh Đông Dương đã vượt quá 3,5 tỉ đôla. Tướng Nava sau này viết trong hồi ký rằng: “Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ.” Năm 1953, Mỹ vừa tăng viện trợ quân sự cho Pháp, vừa không ép Pháp nhiều, sợ Pháp bỏ cuộc sớm trong khi Mỹ chưa chuẩn bị đủ các điều kiện thuận lợi để thay Pháp tài trợ cho cuộc chiến tại Việt Nam, mặt khác, Mỹ cũng còn tính những kế hoạch riêng.
Ngày 21-7-1953, Tổng thống Eisenhower chính thức mời Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Nguyễn Văn Tâm sang thăm Hoa Kỳ và được Mỹ cam kết ủng hộ giúp đỡ. Trong khi đó, Mỹ cũng bắt đầu cổ động cho chính trị gia khác là Ngô Đình Diệm. Để thuyết phục nội bộ chính giới Mỹ và dư luận Mỹ tán thành ủng hộ chủ trương chiến lược hỗ trợ các nhà nước tại Đông Dương nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á, chính quyền Eisenhower nhiều lần nhắc đến và nhấn mạnh hậu quả, tác động phản ứng dây chuyền của thuyết Domino. Chính quyền Washington cho rằng, nếu để mất Đông Dương sẽ mất nốt phần còn lại của Đông Nam Á. Đông Dương đang trở thành con bài Domino đầu tiên.
Theo Félix Green, mục tiêu của Mỹ không phải chỉ có Việt Nam và Đông Dương, mà là toàn bộ vùng Đông Nam Á. Vì đây là “một trong những khu vực giàu có nhất thế giới, đã mở ra cho kẻ nào thắng trận ở Đông Dương. Đó là lý do giải thích vì sao Mỹ ngày càng quan tâm đến vấn đề Việt Nam… Đối với Mỹ đó là một khu vực phải nắm lấy bằng bất kỳ giá nào” Nhiều nhà sử học khác cho rằng mục tiêu cơ bản và lâu dài của Mỹ là muốn bảo vệ sự tồn tại của một chính phủ thân Mỹ tại miền Nam Việt Nam, không chỉ nhằm làm “tiền đồn chống Chủ nghĩa Cộng sản”, mà qua đó còn duy trì ảnh hưởng lâu dài của “Quyền lực tư bản” Mỹ lên thị trường vùng Đông Nam Á.
KẾ HOẠCH CHIM KỀN KỀN. Đầu năm 1954, tình hình quân sự trên chiến trường Đông Dương trở nên tồi tệ đối với Pháp. Hội nghị Genève sắp sửa họp, Mỹ lập cầu hàng không Philippine – Đông Dương, tiếp tế cho quân đội Pháp mỗi ngày từ 200 đến 300 tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, quân dụng. Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương đưa hai tàu sân bay thuộc Hạm đội 7 vào vịnh Bắc Bộ. Kế hoạch Chim kền kền dự định đưa 8 sư đoàn quân chiến đấu trên bộ của Mỹ vào trực tiếp tham chiến. Trong số đó sẽ điều ngay một lúc 35 tiểu đoàn vào đồng bằng Bắc Bộ. Tập trung 300 máy bay cường kích để xoá trắng “khu vực Điện Biên Phủ”. Và có thể dùng vũ khí nguyên tử đánh vào miền nam Trung Quốc, nếu Trung Quốc đưa quân vào tham chiến.
Ở Washington, “bản kế hoạch diều hâu” đã chuẩn bị xong, Eisenhower và Nixon (Tổng thống, Phó tổng thống) cùng Ridway (Tham mưu trưởng liên quân Mỹ) đưa trình Hội đồng an ninh quốc gia và Quốc hội, nhưng bị phản đối, không được phê chuẩn. Trước đó một tuần, ngoại trưởng Mỹ Dulles tuyên bố: “Từ nay, Đông Dương nằm trong khu vực bất khả xâm phạm của chiến lược Mỹ.”
Bài 292: SÁCH LƯỢC CỦA EISENHOWER 1954-1960 LÀ BIẾN VIỆT NAM CỘNG HOÀ THÀNH “TIỀN ĐỒN CHỐNG CỘNG” TẠI ĐÔNG NAM Á.
MỸ VIỆN TRỢ CHO QUỐC GIA VIỆT NAM THAY THẾ PHÁP. Ngày 7-5-1954, thất bại của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ, ngày 8-5-1954, Hội nghị Genève về Đông Dương mới bắt đầu họp. Ngày 20/7/54, tại hội nghị Genève, các bản Hiệp định đã soạn thảo xong. Ngày 21/7/54, Hội nghị họp phiên cuối cùng, để xác nhận những thỏa hiệp đã đạt trong những văn kiện gọi là Hiệp định Genève (Accords de Genève). Chủ tịch phiên họp là đại biểu Anh Anthony Eden. Trước khi ký kết Chủ tịch hỏi lại từng Phái đoàn xem có xác nhận không. Các phái đoàn lần lược tuyên bố xác nhận, ngoại trừ vài ý kiến dè dặt về một số điều khoản (Mên, Lào, Việt, Mỹ). Những ý kiến đó không làm thay đối các dự thảo Hiệp định, song được ghi trong các Phụ bản đính theo.
Nhưng không lâu sau đó, chính Tổng thống Mỹ lại tuyên bố: “Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Genève và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy“. Do vậy, Hoa Kỳ đã hậu thuẫn Quốc gia Việt Nam để cuộc tuyển cử không thể diễn ra. Từ đây, Mỹ chủ trương và dùng nhiều biện pháp thực hiện các ý đồ chính trị của Mỹ. Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do tướng Edward Lansdale, giúp huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam (sau là Việt Nam Cộng hòa); xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippin; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch “bình định Việt Minh và các vùng chống đối”.
HIỆP ƯỚC PHÒNG THỦ ĐÔNG NAM Á (SEATO). Đúng 20 ngày sau khi Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đô đốc Mỹ Sabin đến Hà Nội, họp với phái đoàn quân sự Mỹ do Lansdale đứng đầu hổ trợ trên dưới một triệu người di cư vào Nam. Phần đóng góp của Mỹ cho kế hoạch này là 1.455.000 đôla, 41 lượt tàu biển và 19 máy bay vận tải.Sau một thời gian ngắn vận động chuẩn bị, Mỹ triệu tập một hội nghị ở Đông Nam Á, bao gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Australia, New Zealand, Pakistan, Philippine, Thái Lan họp ở Manila (Thủ đô Philippine). Ngày 8-9-1954 các nước này đã ký “Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á” gọi tắt là SEATO. Tại điều 2, điều 4, điều 8 và một khoản phụ của Hiệp ước, đặt xứ Đông Dương gồm ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia vào “khu vực bảo hộ” của Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á (SEATO).
Ngày 17-11-1954, Colin, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ được cử sang Sài Gòn làm đại sứ, đề ra kế hoạch sáu điểm: (1) Bảo trợ chính quyền Diệm, viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài Gòn không qua tay Pháp. (2) Xây dựng lại Quân đội quốc gia Việt Nam với 15 vạn quân do Mỹ huấn luyện, trang bị. (3) Bầu cử Quốc hội Việt Nam để hợp pháp hoá chính quyền Sài Gòn. (4) Định cư cho số công giáo miền Bắc di cư và vạch kế hoạch cải cách điền địa. (5) Thay đổi chế độ thuế khoá, dành ưu tiên cho hàng hoá và công ty Mỹ vào miền Nam Việt Nam. (6) Đào tạo cán bộ hành chính cho Diệm. Ngày 13-12-1954, Mỹ và Pháp ký kết văn kiện cho phép các cố vấn quân sự Mỹ tham gia huấn luyện Quân đội Quốc gia Việt Nam.
MỸ VIỆN TRỢ CHO QUỐC GIA VIỆT NAM. Tháng 1-1955, Mỹ chính thức viện trợ quân sự trực tiếp cho quân đội Quốc gia Việt Nam. Ngoại trưởng Mỹ, Dalles đã tuyên bố: “Đầu tư ở miền Nam Việt Nam là chính đáng. Không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục ủng hộ Diệm. Chúng ta không cần biết một người lãnh đạo xứng đáng nào khác”. Tháng 8-1955, Ngô Đình Diệm công khai bác bỏ tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam theo tinh thần Bản Tuyên bố cuối cùng tại Hội nghị Genève. Để biến miền Nam Việt Nam thành một quốc gia độc lập, tách ra khỏi Liên Hiệp Pháp, xóa bỏ mọi ảnh hưởng mang tính thực dân và đặc quyền của Pháp tại Việt Nam. Ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm tổ chức cuộc “trưng cầu dân ý” phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, rồi đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hoà, danh xưng Quốc trưởng đổi thành Tổng thống.
Ngày 26-4-1956, Pháp đã rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam. Từ ngày 28-4-1956 phái đoàn MAAG của Mỹ đã tham gia huấn luyện quân đội Sài Gòn. Trong những năm 1955-1956, Mỹ đã bỏ ra 414 triệu đôla giúp trang bị cho các lực lượng thường trực quân Việt Nam Cộng hòa, gồm 170.000 quân và lực lượng cảnh sát 75.000 quân; 80% ngân sách quân sự của chế độ Ngô Đình Diệm do Mỹ viện trợ. Từ năm 1955 đến 1960, có tất cả 800 chuyến tàu chờ vũ khí và phương tiện quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Quân đội Quốc gia Việt Nam dần thay thế chiến thuật và vũ khí của Pháp bằng của Mỹ. Mỹ bắt đầu xây dựng các cơ sở quân sự quan trọng như các sân bay Biên Hoà, Tân Sơn Nhất, Sơn Trà, Vũng Tàu.
Đến giữa năm 1956, Mỹ đã đặt ở Sài Gòn bốn phái đoàn: MAAG, TRIM, CATO, TERM, và đến năm 1960 thêm hai phái đoàn: MSU và USOM. Riêng phái đoàn quân sự MAAG, năm 1954 có 200 cố vấn và nhân viên, đến năm 1960, con số đó đã lên đến gần 2.000 trong đó có 800 cố vấn quân sự. Tính từ năm 1954 đến năm 1960, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa 7 tỷ đôla, trong đó viện trợ quân sự là 1.500 triệu đôla. Eisenhower đã dành hết hai cả nhiệm kỳ Tổng thống của để xây dựng Việt Nam Cộng hoà trở thành “Tiền đồn chộng cộng” vững chắc tại Đông Nam Á.
Bài 293: “PHẢN ỨNG LINH HOẠT” SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM THỜI TỔNG THỐNG KENNEDY-JHONSON 1961-1964.
CHIẾN LƯỢC PHẢN ỨNG LINH HOẠT. Đầu năm 1961, khi vào Nhà Trắng, Tổng thống Kennedy tuyên bố: “Bây giờ đây, chúng ta có một vấn đề là phải làm cho thế giới tin vào sức mạnh của chúng ta, mà Việt Nam chính là nơi để thực hiện điều đó.” Ngay sau đó, Hoa Kỳ công bố chiến lược “phản ứng linh hoạt”, tiếp tục không gây chiến với Liên Xô và các nước vệ tinh của Liên Xô, nhưng dùng chiến tranh dưới mức thông thường đối phó với xu hướng đòi độc lập mang màu sắc cộng sản chủ nghĩa ở các nước mới giành độc lập. Có một quan niệm mới đang hình thành ở Mỹ lúc ấy là phải nhìn nhận Nam Việt Nam như là một trọng điểm của toàn bộ quyền lợi của Mỹ ở Đông Nam Á.
Chính vì thế trong năm 1961, các phái đoàn nghiên cứu của Mỹ tới tấp bay sang Nam Việt Nam: Phái đoàn của phó tổng thống Mỹ Lyndon B. Jhonson đến Sài Gòn tháng 5 năm 1961, phái đoàn của tiến sĩ kinh tế Eugene Staley thuộc Viện nghiên cứu Stanford đến Sài Gòn tháng 6 năm 1961, phái đoàn của Maxwell D. Taylor và Walt Whitman Rostow trong Bộ quốc phòng Mỹ đến Nam Việt Nam tháng 10 năm 1961... Kết quả: Nam Việt Nam sẽ là nơi thí điểm điển hình loại chiến tranh của chiến lược toàn cầu "Phản ứng linh hoạt" vừa ra đời.
KẾ HOẠCH STALEY-TAYLOR. Kế hoạch Staley–Taylor được đưa ra tháng 5 năm 1961 gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 thực hiện từ giữa năm 1961, nội dung chủ yếu là bình định Nam Việt Nam bằng biện pháp Ấp chiến lược. Giai đoạn 2thực hiện từ đầu năm 1963, khôi phục kinh tế, tăng cường lực lượng quân đội, hoàn thành công cuộc bình định. Giai đoạn 3 thực hiện đến cuối năm 1965, phát triển kinh tế, ổn định Nam Việt Nam và kết thúc chiến tranh. Kế hoạch được mở đầu và có ý nghĩa quyết định là ở giai đoạn 1 với hai biện pháp chiến lược là: (1) Tăng nhanh lực lượng và khả năng chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hoà (QLVNCH) bằng công thức: QLVNCH + vũ khí trang bị của Mỹ + cố vấn Mỹ. (2) Thực hiện cho được quốc sách Ấp chiến lược. Đó vừa là mục tiêu cơ bản, biện pháp chiến lược, vừa là kế sách trước mắt và lâu dài để giành thắng lợi trong chiến tranh ở Việt Nam.
Ngày 18-10-1961, Chính phủ Mỹ cử Taylor và Rostaw, hai thành viên Hội đồng an ninh quốc gia, dẫn đầu một phái đoàn gồm các chuyên gia về quân sự, dân sự sang Nam Việt Nam để nghiên cứu, đánh giá lại tình hình cụ thể và kết luận tại chỗ, đề ra các phương án đối phó. Phái đoàn này đề ra ba phương án hành động của Mỹ như sau: Phương án 1. Đưa vào Nam Việt Nam ba sư đoàn quân Mỹ để "đánh bại Việt Cộng". Phương án 2. Đưa tượng trưng một số quân chiến đấu Mỹ đến Sài Gòn hổ trợ tinh thần quân đội và chính quyền Sài Gòn "xác lập sự có mặt của Mỹ ở Nam Việt Nam" và cũng để tạo điều kiện cho việc tăng quân Mỹ khi cần. Phương án 3. Tăng thêm viện trợ, vũ khí, trang bị chiến tranh và đẩy mạnh công tác huấn luyện cho lực lượng vũ trang Sài Gòn để nâng cao sức chiến đấu.
Ngày 3-11-1961, phái đoàn Taylor gửi “phương án đối phó” trên về Washington D.C, kiến nghị 7 biện pháp cấp bách: 1.Cử các cố vấn hành chính sang tham gia vào bộ máy chính quyền Sài Gòn; 2. Mở cuộc điều tra rộng lớn để lượng định các nhân tố xã hội, chính trị, kinh tế, tình báo, quân sự, tâm lý... có liên quan tới "công tác chống nổi loạn" để đề ra các biện pháp hiệu quả hơn; 3. Tăng cường viện trợ, vũ khí, trang bị và huấn luyện cho lực lượng bảo an, dân vệ để lực lượng này đủ sức thay thế các đơn vị chính quy làm nhiệm vụ "diện địa" (giữ đất); 4. Giúp đỡ VNCH giám sát và kiểm soát vùng biển và các đường thủy nội địa; 5. Tổ chức lại và tăng biên chế phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ; 6. Đưa vào Nam Việt Nam một lực lượng quân sự đặc nhiệm gồm 6.000 đến 8.000 quân Mỹ để hỗ trợ cho các hoạt động quân sự và khi cần; 7. Tăng thêm viện trợ để hỗ trợ thích đáng chương trình "chống nổi loạn mở rộng".
Ngoài những biện pháp trên, phái đoàn Taylor còn kiến nghị một "Chương trình tham gia có giới hạn" của Mỹ trong lĩnh vực quân sự; cử sang Nam Việt Nam các cố vấn cấp cao tham gia vào các cơ quan chính phủ và các bộ chủ chốt; thành lập ban thanh tra quân sự hỗn hợp từ trung ương xuống quân khu và các tỉnh; tăng cường một cách cơ bản nhân viên huấn luyện Mỹ ở mọi cấp và trên mọi lĩnh vực quân sự, hành chính, kinh tế, văn hoá, xã hội; triển khai vào Nam Việt Nam các đơn vị công binh, hậu cần, máy bay lên thẳng nằm trong khuôn khổ lực lượng quân sự đặc nhiệm Mỹ đã được đề nghị trước đây; đưa. thêm các đội lực lượng đặc biệt Mỹ để cùng lực lượng đặc biệt VNCH tăng cường cho vùng biên giới; đẩy mạnh các hoạt động tiến công bí mật ra miền Bắc Việt Nam và Lào, kể cả những hoạt động biệt kích bằng không quân, nếu tình hình Nam Việt Nam tiếp tục xấu đi, Mỹ sẽ ném bom miền Bắc để gây áp lực.
THÀNH LẬP BỘ TƯ LỆNH MỸ THAY THẾ CƠ QUAN VIỆN TRỢ. Đầu năm 1962, Bộ tư lệnh quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV - Military Assistance Command, Vietnam) được thành lập do Đại tướng Paul Harkin đứng đầu, thay thế cho Cơ quan viện trợ quân sự (MAAG - Military Assistance Advisory Group) của Trung tướng Lionel C. McGarr. Từ năm 1962, các chính quyền Mỹ luôn tuyên bố rằng nguyên nhân Mỹ có mặt tại Việt Nam chính là để “giúp miền Nam Việt Nam chống miền Bắc xâm lược”. Đến cuối năm 1962 đã có gần 4.000 cuộc hành quân càn quét phục vụ cho chương trình Ấp chiến lược, trong đó có nhiều cuộc càn quét quy mô lớn như "chiến dịch mặt trời mọc", "chiến dịch Bình Tây", "chiến dịch Sao mai", "chiến dịch Thu Đông"...
Ngày 17 tháng 4 năm 1963, kỷ niệm 1 năm ngày thành lập “Quốc sách Ấp Chiến Lược” đã có 5.917 Ấp quy tụ 8 triệu dân, nhân dịp này Tổng thống Ngô Đình Diệm tuyên bố “Chính sách Chiêu hồi kêu gọi những người lầm đường lạc lối trở về xây dựng xã hội mới. Ngày 17 tháng 5 năm 1963, Thông cáo chung Việt-Mỹ, theo đó, Mỹ gia tăng viện trợ để thục hiện Chương trình Ấp Chiến Lược tiêu tốn trên 2 tỷ bạc. Mỹ sẽ góp thêm 55 triệu Mỹ kim gồm nông phẩm, phân bón, kẻm gai, xi-măng, võ khí cho Dân Vệ. Cùng tháng 5 năm 1963, khủng hoảng Phật Giáo bắt đầu bằng việc Chính quyền cấm treo cờ Phật Giáo, nhân ngày Đản sinh của vị Giáo chủ Phật Giáo, tiếp đến là vụ nổ làm chết một số Phất tử tại Đài Phát thanh Huế tối 8 tháng 5 năm 1963.
BỊ QUÂN ĐỘI ĐẢO CHÁNH. Cách giải quyết khủng hoảng của chính quyền Ngô Đình Diệm không những làm các tín đồ Phật giáo mà còn làm cho các tôn giáo khác và cả người không theo tôn giáo không hài lòng, bởi trước đó nhân ngày lễ của Đạo Thiên chúa cờ xí của tôn giáo này được treo khắp nơi, mặc dù tín đồ Thiên Chúa giáo chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Ngày 1 tháng 1 năm 1963, của một nhóm tướng lĩnh không hài lòng với cách điều hành đất nước của Tổng thống Ngô Đình Diệm đứng lên làm một cuộc đảo chính, cả 2 anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm, và Cố vấn Ngô Đình Nhu đều bị quân đảo chính bắn chết. Nhiều nhà sử học cho rằng Mỹ có ngầm can dự vào cuộc đảo chính này.
Không lâu sau, ngày 23 tháng 11 năm 1963, tại Mỹ, Tổng thống Kennedy cũng bị ám sát, Phó tổng thống Jhonson kế nhiệm. Hơn hai tháng sau, cuối tháng 1 năm 1964, lại có cuộc đảo chánh khác lật đổ Hội đồng Quân nhân Cách mạng, những tháng kế tiếp tình hình luôn xáo trộn khiến các quan chức trong chính quyền Mỹ đều thống nhất đánh giá tình hình Nam Việt Nam đang xấu đi. Việt Nam Cộng Hoà rơi vào tình trạng hỗn loạn, một vài nơi mất cả quyền kiểm soát. Tính đến tháng 6 năm 1965, VNCH có hàng chục cuộc đảo chính, chỉnh lý thanh trừng lẫn nhau. Đại sứ Hoa Kỳ khi đó là Taylor phải phát biểu với các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hòa: "Người Mỹ chúng tôi chán ngấy về những cuộc đảo chính này rồi. Từ nay, người Mỹ chúng tôi không thể nào ủng hộ các ông nữa nếu như các ông cứ gây ra những chuyện như vậy".
Bài 294: TRỰC TIẾP THAM CHIẾN LÀ SÁCH LƯỢC LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM THỜI TỔNG THỐNG JHONSON 1965-1968.
CHIẾN TRANH VIỆT NAM 1965-1968. Cuối năm 1964, trong nội bộ chính quyền Hoa Kỳ rộ lên những lời cảnh báo mới về cuộc chiến tranh Việt Nam. John A. Mc Cone – Giám đốc Cục Tình báo Trung ương cho rằng: "Chúng ta (Mỹ) sẽ bị sa lầy trong cuộc chiến đấu ở rừng rậm, nơi mà ta (Mỹ) không thể giành thắng lợi và cũng rất khó lòng rút ra được".Các quan chức trong chính quyền Hoa Kỳ đều đánh giá tình hình ở miền nam Việt Nam đang xấu đi. Chính phủ Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn, còn phần lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của họ ngày càng bị thu hẹp. Đến năm 1965, nước Mỹ bị đặt trước một tình thế khó khăn cả bên trong và bên ngoài đất nước. Tổng thống Johnson đã chỉ đạo một nhóm nghiên cứu liên Bộ Quốc phòng-Ngoại giao do thứ trưởng ngoại giao đương nhiệm Wiliam Bundy điều khiển nhằm thảo luận và lựa chọn chính sách phù hợp nhất dành cho người Mỹ ở Việt Nam.
Có ba phương án được nêu ra: Phương án A: tiến hành oanh tạc trả đũa miền Bắc, tăng cường các cuộc tiến công ở ven biển, tiếp tục cho khu trục hạm tuần tra Vịnh Bắc Bộ, đẩy mạnh oanh tạc các mục tiêu thâm nhập tại Lào, và cố gắng thi hành cải cách ở miền nam Việt Nam. Phương án B: ném bom miền bắc Việt Nam với nhịp độ nhanh chóng và dữ dội, kể cả việc oanh tạc sân bay Phúc Yên gần Hà Nôi và các cầu quan trọng dọc theo đường ô tô và đường sắt kết nối với Trung Quốc cho đến khi những yêu sách của Mỹ được đáp ứng đầy đủ. Phương án C: "bóp nghẹt dần dần", đánh các mục tiêu thâm nhập trước hết ở Lào, miền bắc Việt Nam, rồi đến các mục tiêu khác tại khu vực này. Phương thức này gồm cả khả năng triển khai quân bộ ở phía Bắc miền Nam Việt Nam, như một con bài để mặc cả.
Tổng thống Johnson và các quan chức chủ chốt Nhà Trắng, Lầu Năm góc, CIA đã tranh cãi gay gắt về các giải pháp của Maxwell D. Taylor và một số người khác đưa ra. Cuối cùng, họ thống nhất lựa chọn phương án C, quyết phải giữ vững chính quyền Sài Gòn để "chứng minh cho nhân dân Mỹ, cho cả đồng minh và kẻ thù của họ chứng kiến hình ảnh của một nước Mỹ siêu cường". Chính quyền Mỹ đề ra 3 giai đoạn được tiến hành trong vòng 2,5 năm: Giai đoạn 1: triển khai nhanh lực lượng quân viễn chinh Mỹ. Giai đoạn 2: phản công chiến lược tiêu diệt chủ lực quân Giải phóng và kiểm soát khu vực nông thôn. Giai đoạn 3: tiêu diệt hoàn toàn khối chủ lực quân Giải phóng, phá căn cứ, tiếp tục bình định miền nam, rồi rút quân viễn chinh về nước vào cuối năm 1967.
QUÂN MỸ ĐỔ BỘ LÊN ĐÀ NẲNG. Ngày 8/3/1965, Mỹ chính thức đổ quân vào Đà Nẵng. Việt Nam Cộng hòa không được thông báo về thời gian và địa điểm đổ quân, mặc dù 2 ngày trước đó Bộ Quốc phòng Mỹ tuyên bố “Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam là theo yêu cầu của chính phủ Sài Gòn”. Sáng 8/3, một sĩ quan Mỹ đến gặp Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa là Phan Huy Quát, yêu cầu soạn thảo một thông cáo chung bằng hai thứ tiếng Anh-Việt để thông báo rộng rãi, lúc đó ông Quát mới biết quân Mỹ đã đổ bộ vào Đà Nẵng. Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa phải hợp thức hóa việc này bằng cách gọi Bùi Diễm, Tổng trưởng Phủ Thủ tướng cùng với một viên chức Mỹ là Melvin Mànull soạn ngay thông cáo chào mừng quân Mỹ, với chỉ đạo: "Viết càng ngắn càng tốt. Chỉ mô tả sự kiện rồi khẳng định rằng chúng ta đã đồng ý mà thôi".
Trong những tháng sau đó, Mỹ đổ bộ hàng chục vạn quân, lính Mỹ hiện diện ở khắp miền Nam. Ngày 10-4-1965, tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ 2/3 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn lính thủy đánh bộ số 3) đổ bộ vào Đà Nẵng, hai đại đội của tiểu đoàn này được máy bay lên thẳng chuyển đến Phú Bài. Ngày 14-4, các tốp máy bay đầu tiên của phi đội máy bay hải quân 551 hạ cánh xuống Đà Nẵng và tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 3/4 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn lính thủy đánh bộ số 4), tới Phú Bài để thay thế cho các đại đội của tiểu đoàn 2/3. Từ ngày 3 đến ngày 5-5, Lữ đoàn 9 được tăng thêm ba tiểu đoàn đổ bộ lên Chu Lai…
CHIẾN LƯỢC TÌM VÀ DIÊT. Ngày 1-5-1965, tướng Westmoreland trình lên Nhà Trắng kế hoạch gọi là chiến lược “Tìm và Diệt” gồm ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Từ tháng 7-1965 đến tháng 12-1965 đưa nhanh quân Mỹ và đồng minh vào miền Nam để bảo đảm an toàn cho những khu vực đông dân cư, gấp rút triển khai lực lượng chuẩn bị cho cuộc phản công giành lại quyền chủ động chiến trường. Giai đoạn 2: Từ đầu năm 1966 đến tháng 6-1966, quân Mỹ và lực lượng "đồng minh" mở các cuộc hành quân tìm diệt ở những khu vực ưu tiên đã được xác định, tiêu diệt lực lượng chủ lực Quân giải phóng, phá các căn cứ du kích, hỗ trợ cho chương trình bình định. Giai đoạn 3: Từ tháng 7-1966 đến giữa hoặc cuối 1967, toàn bộ lực lượng phe Mỹ mở các cuộc hành quân tiến công tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân giải phóng và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định.
Từ tháng 7 đến cuối năm 1965, các Sư đoàn Bộ binh số 1 (Anh cả Đỏ), Sư đoàn Kỵ binh không vận số 1 (Kỵ binh Bay), Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn Kỵ binh không vận số 101 (Tiếng thét đại bàng), Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn Bộ binh số 25 (Tia chớp nhiệt đới), Trung đoàn kỵ binh thiết giáp 11... cùng hàng vạn tấn phương tiện chiến tranh hiện đại ùn ùn đổ vào miền Nam Việt Nam. Hạm đội 7 - hạm đội hùng hậu nhất của Hải quân Mỹ được mệnh danh "chúa tể đại dương" trước kia hướng hoạt động ở Đông Bắc Á, nay tập trung hướng hoạt động vào vùng biển Đông Nam Á mà trọng điểm là Việt Nam, cùng hàng vạn lính Mỹ đóng ở Thái Lan, Philíppin, đảo Okinawa, đảo Guam... đều được sử dụng trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Tại thời điểm này, lực lượng đồng minh của Mỹ cũng có 20.500 quân gồm Sư đoàn Bộ binh Mãnh Hổ, Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ Rồng Xanh Hàn Quốc; Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Australia; Trung đoàn Thái Lan; Đại đội pháo binh New Zealand. Tây Ban Nha; Đài Loan cũng đưa sang Nam Việt Nam 43 cố vấn quân sự và chuyên gia giúp Mỹ. Quân lực Việt Nam Cộng hoà có 520.000 quân, biên chế thành 10 Sư đoàn và 5 trung đoàn độc lập.
Bài 295: CHIẾN LƯỢC “TÌM VÀ DIỆT” QUA HAI TRẬN ĐÁNH: TRẬN ĐÁNH VẠN TƯỜNG THÁNG 8, VÀ TRẬN PLEIME THÁNG 10-11 NĂM 1965
I. TRẬN VẠN TƯỜNG THÁNG 8 NĂM 1965. Ngày 15 tháng 8, một trinh sát của Trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia) sang đầu hàng lực lượng QLVNCH. Trong cuộc thẩm vấn tại bộ tư lệnh của tướng Nguyễn Chánh Thi tư lệnh Quân đoàn I QLVNCH, người này khai rằng lực lượng của Trung đoàn 1 trong khu vực Vạn Tường cộng thêm Đại đội 52 và một Đại đội của Tiểu đoàn 45, ước lượng có vào khoảng 1.500 người. Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Quân đoàn I chuyển thông tin này cho tướng Lewis W. Walt, chỉ huy lực lượng TQLC Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Trong vòng 2 ngày sau đó, các bộ tham mưu của Quân đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ, Sư đoàn 1 TQLC, chiến đoàn không quân và Trung đoàn 7 TQLC đã tập hợp lực lượng và lên kế hoạch tấn công với 2 tiểu đoàn TQLC, một đổ bộ từ biển và một đổ bộ từ trực thăng vận. Sư đoàn TQLC điều động 2 tiểu đoàn đặt dưới quyền chỉ huy của Đại tá Oscar F. Peatross, trung đoàn trưởng Trung đoàn 7 TQLC vừa mới đến Việt Nam. Theo yêu cầu của Tướng Walt, một tiểu đoàn thuộc Lực lượng Đổ bộ Đặc biệt (LLĐBĐB) được phái làm lực lượng dự bị. Vào lúc này LLĐBĐB đang đóng quân tại vịnh Subic, cách đó 720 dặm. Do vậy, ngày N được ấn định là ngày 18 tháng 8.
CÁC BÊN THAM CHIẾN. Phía Mỹ. Chiến đoàn đổ bộ Lữ đoàn 9 Thuỷ quân Lục chiến (TQLC) gồm: 4 tiểu đoàn của Trung đoàn 7, Trung đoàn 4. Trung đoàn 3; 1 Đại đội pháo 155 mm; 1 Đại đội súng cối 106,7 mm; 1 Đại đội xe tăng M24-M41 của Sư đoàn 1 TQLC; Liên đội 6 thuộc Liên đoàn không quân của TQLC Mỹ đóng tại Đà Nẳng. Tổng cộng khoảng 5.500 quân nhân chiến đấu trên đất liền. Ngoài ra còn có tuần dương hạm USS Galveston và khu trục hạm USS Orleck yểm trợ ngoài khơi với 8 khẩu 127 mm và 6 khẩu 138 mm, 7 tàu đổ bộ 7 USS Bayfield, USS Iwo Jima, USS Talladega, USS Cabildo, USS Point Defiance và USS Vernon City. Phía Quân Giải phóng. Trung đoàn 1 (tức Trung đoàn Ba Gia thuộc Quân khu V - Quân Giải phóng) gồm 4 tiểu đoàn 40, 45, 60 và 90; Đại đội 21 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi.
DIỄN TIẾN TRẬN ĐÁNH. Lúc 6 giờ 15 sáng 18/8/1965, không quân của TQLC Mỹ ném 18 tấn bom sát thương, bom napalm xuống Vạn Tường và các địa điểm lân cận. Các pháo hạm trên biển bắn phá dọn bãi cho Tiểu đoàn 2 TQLC Mỹ đổ bộ bằng máy bay trực thăng và Tiểu đoàn 3 TQLC đổ bộ bằng tàu LCU. 6 giờ 30, 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn 3 TQLC có 5 xe tăng M-48, 3 xe tăng phun lửa M-67 dùng tàu LCU đổ bộ lên An Cường, hình thành vòng vây phía Nam; đánh chiếm thôn An Cường 1 và tiến quân về phía Tây. 6 giờ 45, Đại đội 1, Tiểu đoàn 4 TQLC Mỹ đổ bộ bằng máy bay trực thăng xuống thôn Bình Phước, Đại đội 2 và 3 Tiểu đoàn 4 TQLC đổ bộ xuống thôn Bình Long, Đại đội 4, Tiểu đoàn 4+ Đại đội 4, Tiểu đoàn 3 TQLC đổ bộ xuống thôn Bình Thạnh Tây, hình thành cánh quân bao vây phía Tây.
Từ Chu Lai, Đại đội 1 và 2, Tiểu đoàn 3 TQLC có 8 xe tăng M41 và 18 xe bọc thép M113 đột kích theo đường bộ vượt sông Trà Bồng đánh xuống, hình thành cánh quân bao vây phía Bắc. Ở phía Tây Nam Vạn Tường, cánh quân của Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 4 TQLC Mỹ tiến đến Lạc Sơn đã phải dừng lại vì Tiểu đoàn 40, và Đại đội trinh sát thuộc Trung đoàn 1 QGP phòng ngự, chốt chặn tại điểm cao BANANA. Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 3 TQLC Mỹ phải đưa thêm 1 đại đội vào tham chiến, tổ chức nhiều đợt ném bom, bắn phá mới vượt qua chốt của QGP, đến trưa 18/8 mới chiếm được thôn An Cường 2 và hội quân với C4/D3 sau khi.
Sau khi cho trực thăng và pháo binh bắn phá dọn bãi, quân Mỹ tổ chức một đoàn gồm 5 xe thiết giáp chở quân loại LVT và 3 tăng phun lửa M-67 tiến quân theo đội hình hàng dọc từ An Cường đi theo con đường mòn giữa An Thái và Nam Yên tấn công Tiểu đoàn 40 và Tiểu đoàn 60 của Trung đoàn 1 QGP. Chờ cho đoàn xe TQLC Mỹ đến cách 50m mới nổ súng. Bằng súng không giật, súng chống tăng B40 và lựu đạn phóng AT, QGP đã bắn cháy 4 chiếc đi đầu ngay trong loạt đạn đầu. Những chiếc còn lại hoảng loạn bỏ chạy, sa xuống ruộng lầy. Tiểu đội trưởng Hồ Công Thám chỉ huy tiểu đội của mình dùng lựu đạn AT và lựu đạn diệt tiếp 3 xe. Phía Mỹ ghi nhận họ đã mất 5 xe tăng và xe bọc thép trong trận phục kích này, cùng với đó là 5 lính Mỹ chết và 17 người khác bị thương.
Do không xác định dược vị trí đóng quân của QGP, hai đại đội thuộc Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 3 TQLC Mỹ đã đổ bộ xuống ngay trước trận địa của Tiểu đoàn 60 QGP và bị tập kích ngay từ lúc máy bay trực thăng còn ở trên không. 4 máy bay trực tháng H-34 bị bắn rơi. TQLC Mỹ phải gọi trực thăng vũ trang HU-1A đến chi viện và chiếm được Cao điểm 43. Chiều 18/8/1965, Đại đội 2, Tiểu đoàn 45 QGP nằm ngoài vòng vây từ Châu Bình mở một mũi đột kích đánh vào sau lưng cánh quân đổ bộ đường biển của TQLC Mỹ. Bị đánh bất ngờ từ sau lưng Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 3 TQLC và Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 4 TQLC Mỹ phải xoay chính diện về hướng Tây Nam để chống lại các mũi tập kích của Tiểu đoàn 45, Trung đoàn 1 QGP.
RÚT RA KHỎI VÒNG VÂY. Chiều 18/8/1965, Đại đội 21 bộ đội địa phương (QGP) tỉnh Quảng Ngãi mở mũi đột kích sâu từ Tây Hy, qua Thượng Hòa xuống Lệ Thủy, phối hợp với du kích các xã Đồng Lễ và Bình Trị đánh vào sau lưng cánh quân của Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 7 TQLC Mỹ, buộc cánh quân này phải tập trung đối phó, không chi viện được cho cánh quân của Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 3 và Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 4 TQLC Mỹ được. Lợi dụng vòng vây bị đứt đoạn giữa cánh Bắc và cánh Nam của TQLC Mỹ, đêm 18 rạng ngày 19/8/1965. Trung đoàn Ba Gia đã rút được phần lớn sở chỉ huy nhẹ và tiểu đoàn 40 ra khỏi vòng vây. Riêng đại đội trinh sát phòng ngự độc lập tại Cao điểm 45 (núi Đầm Tái, thôn Vạn Tường) bị tổn thất hầu hết quân số.
II. CHIẾN DỊCH PLEIME THÁNG 10-11 NĂM 1965. Ngày 19 tháng 10 năm 1965, Quân giải phóng Tây Nguyên mở Chiến dịch Pleime, cách thị xã Pleiku khoảng 30 km về phía tây nam. Không gian chiến dịch diễn ra trong tứ giác Plâyme - Bầu Cạn - Đức Cơ - Plây Thê thuộc huyện 5, nay là huyện Chư Prông với diện tích 1.200 km². Chiến dịch kéo dài 39 ngày với 3 trận đánh: (1) Trận Pleime. Đêm 19/10/65, Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 Tây Nguyên ra lệnh bao vây trại Pleime của Lực lượng đặc biệt Mỹ và Lực lượng Dân sự Chiến đấu (CIDG) người Thượng đóng giữ cách Pleiku 30 cây số, đồng thời tiến công đồn Chư Ho. Quân đội VNCH đưa lực lượng từ Plây-cu đến giải cứu, bị quân phục kích gây thiệt hại cho một bộ phận biệt động quân, bộ binh, và chiến đoàn thiết giáp trên đường số 21. Tức thời, từng toán phi cơ ném bom, oanh kích nhắm vào các ổ phục kích gây thiệt hại đáng kể cho Cộng quân.
Ngày 20 tháng 10, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II mở cuộc hành quân Dân Thắng phản kích đẩy Cộng quân ra xa, và để lại hai đại đội Lực lượng Đặc Biệt hỗn hợp VNCH-Mỹ tăng phái cho đồn Pleime. Ngày 25-10, Bộ tư lệnh Mặt trận B3 Tây Nguyên ra lệnh “mở vây đồn Pleime” để tập trung lực tượng đánh Mỹ. Tuy nhiên, việc điều dụ quân Mỹ vào các địa bàn rừng núi lựa chọn, xa căn cứ của chúng, nhằm hạn chế mặt mạnh, khoét sâu điểm yếu để đánh thắng quân Mỹ, nói thì nghe dể, nhưng thực sự không như thế. Với một đội quân nhà nghề, lực lượng áp đảo, phương thức tác chiến nhanh, phương tiện trinh sát hiện đại, lại rất linh động thay đổi, thì khó điều dụ đối phương theo ý của mình, thậm chí còn bị mắc bẩy. Đáng kể nhất là trận Ia Đrăng Mỹ đã cho đổ quân xuống Bầu Cạn và Plâyngo để thăm dò, rồi đánh úp quân chủ lực của Mặt trận B3.
(2) Trận Chuprong. Dựa vào tin tình báo, Cộng quân có thể tấn công trại Pleime lần nữa, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II của VNCH đề nghị Sư đoàn 1 Kỵ Binh Mỹ mở cuộc hành quân Long Reach lùa hai Trung đoàn 32 và 33 về rặng núi Chuprong để cho đối phương tiện kết hợp với Trung đoàn 66 mở cuộc tấn công trại Pleime như dự tính. Từ ngày 27/10/65 đến ngày 9/11/65, Lữ đoàn 1 Không Kỵ Mỹ với cuộc hành quân All the Way đã tuần tự đẩy lùi các toán quân Cộng quân từ Pleime về Chuprong. Ngày 9 tháng 11, với thế nghi binh hoán chuyển, Lữ đoàn 3 Không Kỵ mở cuộc hành quân Silver Bayonet I, đến thay thế vùng hoạt động của Lữ đoàn 1 Không Kỵ, nhằm đẩy nhanh đối phương tập trung quân tiến đánh Pleime.
Bị trúng kế, ngày 11 tháng 11, Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 ra lệnh cho ba trung đoàn tập trung: Trung đoàn 32 tại toạ độ YA820070, Trung đoàn 33 tại toạ độ YA 940011, và Trung đoàn 66 tại toạ độ quanh YA 9104 để sẵn sàng tiến đánh Pleime vào ngày 16 tháng 11. Đúng 4 giờ chiều ngày 15 tháng 11, Mỹ bắt đầu ném bom trải thảm B-52 trút xuống rặng núi Chu Prông, và tiếp tục trong 6 ngày liền: ngày 15 (YA 8607, 9007, 8702, 8600, 9000), ngày 16 (YA 8305, 8505, 8400), ngày 17 (YA 9201, 9401, 9208, 9408), ngày 18 (YA 9301, 8900, 8901), ngày 19 (YA 9009, 9209, 9006, 9206), và ngày 20 (YA 8306, 8506, 8303, 8503). Cả 3 Trung đoàn 32, 33, và 66 chịu tổn thất hết sức nặng nề.
(3) Trận Iadrang: Bộ Tư lệnh Quân đoàn II thẩm định là đối phương đã mất 2/3 tổng số lực lượng trong trận Plei Me và Chu Prông, nên quyết định đánh dứt điểm bằng cách tung Lữ đoàn Dù VNCH gồm 5 tiểu đoàn, vào chiến trường mang tên hành quân Thần Phong 7, với sự yểm trợ pháo binh tại căn cứ tân lập LZ Crooks; Và Lữ đoàn 2 Không Kỵ Mỹ, cũng thực hiện một cuộc hành quân khác tảo thanh, săn tìm và diệt sâu vào vùng hoạt động của đối phương.
KẾT THÚC CHIẾN DỊCH PLEIME. Chiến dịch Pleime kết thúc ngày 26/11/1965, khi không còn bóng dáng Cộng quân trong vùng hành quân của Liên quân Việt-Mỹ tại Quân đoàn II.
Bài 296: CHIẾN LƯỢC “TÌM VÀ DIỆT” TRONG HAI MÙA KHÔ: MÙA KHÔ NĂM 1965-1966, VÀ MÙA KHÔ NĂM 1966-1967.
Mùa khô đến là điều kiện hết sức thuận lợi cho việc sử dụng có phối hợp của không quân, hải quân, pháo binh và xe tăng, mà những thứ vũ khí hiện đại này chỉ quân Mỹ mới có, nên Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn triển khai lực lượng tiến công ồ ạt và bất ngờ trên diện rộng để: Tiêu diệt một bộ phận chủ lực quân Giải phóng giành lại chủ động trên chiến trường, buộc đối phương phải phân tán không còn đủ khả năng đánh lớn; Bình định có trọng điểm, giành dân, đánh phá hậu cần dự trữ; Ổn định tình hình chính trị, củng cố quân đội và chính phủ Việt Nam Cộng hòa; Khai thông các hệ thống giao thông giữa các vùng chúng kiểm soát với nhau; Đánh phá miền Bắc bằng máy bay của Không quân và Hải quân Mỹ.
I. CUỘC PHẢN CÔNG CHIẾN LƯỢC MÙA KHÔ 1965-1966. Mùa khô 1965-1966, Mỹ mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, huy động tới 72 vạn quân trong đó có 22 vạn quân Mĩ gồm 14 Sư đoàn, 9 lữ đoàn và trung đoàn bộ binh Mỹ - Việt Nam Cộng hòa và các nước đồng minh, hơn 1.000 khẩu đại bác, 1.342 xe tăng, xe bọc thép, 2.288 máy bay các loại, 541 tàu, xuồng chiến đấu, mục đích đánh bại quân chủ lực Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với ba vùng hành quân.
Vùng hành quân thứ nhất. Ngày 8 tháng 1 năm 1965, Bộ Chỉ huy Mỹ và QLVNCH mở cuộc hành quân "Cái bẫy" mà Củ Chi được xem là trọng điểm nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não Quân khu Sài Gòn - Gia Định và triệt hạ vùng giải phóng Củ Chi. Trong cuộc hành quân "Cái bẫy", Mỹ tập trung 12.000 quân trong đó có 8.000 lính Mỹ, 200 máy bay, 600 xe quân sự, 100 đại bác đánh vào Củ Chi, hòng dồn lực lượng quân Giải phóng vào vùng Hố Bò để tiêu diệt. Với lực lượng lớn, ưu thế binh lực, hoả lực, lính Mỹ tin chắc sẽ đánh bại quân Giải phóng. Trong cuộc hành quân tìm diệt này, quân Mỹ đã san bằng gần 3.000 ngôi nhà, triệt hạ hàng ngàn ha vườn cây, ruộng lúa, càn nát nhiều giao thông hào, đánh sập một số cửa địa đạo.
Tuy nhiên, sau 12 ngày đêm hành quân liên tục, cuộc hành quân "Cái bẫy" của Mỹ không đạt được mục tiêu đề ra là tiêu diệt cơ quan đầu não và đơn vị chủ lực Quân giải phóng. Ngày 19/1, Mỹ buộc phải kết thúc và rút các lữ đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn Anh cả đỏ xuống nam Củ Chi để lập căn cứ tại Đồng Dù. Tại đây, quân Mỹ đã đốt cháy hoặc ủi sập 2.000 ngôi nhà, nhiều vườn cây, trong đó có 350 hecta cây cao su của xã Phước Vĩnh An để làm căn cứ đóng quân cho 4.500 lính Mỹ (gồm Sư đoàn bộ và Lữ đoàn 2, Sư đoàn 25).
Vùng hành quân thứ hai. Tiếp đến, trong tháng 4 và 5-1966, Lữ đoàn 1, Lữ đoàn 3, Tiểu đoàn cơ giới của Sư đoàn 25 Tia chớp nhiệt đới Mỹ, lần lượt được điều đến chiến trường bắc Long An, cùng Lữ đoàn dù 173 càn quét từ Bàu Trai - Đức Lập (Hậu Nghĩa) sang Bến Lức, Vườn Thơm - Bà Vụ, tiến đánh Đức Hoà, Đức Huệ từng đợt năm, sáu ngày cho đến lúc kết thúc cuộc phản công mùa khô thứ nhất (30-5-1966). Ở đây, hàng ngàn lính Mỹ đã bị thương vong. Đặc biệt, lần đầu tiên trên chiến trường khu VIII, tại Bàu Sen, một đại đội Mỹ thuộc Lữ đoàn dù 173 đã bị diệt hoàn toàn. Ý đồ của Mỹ chặt đứt hành lang kháng chiến từ miền Đông xuống Đồng Tháp Mười không thực hiện được.
Vùng hành quân thứ ba. Đầu tháng 5, Mỹ mở cuộc hành quân Birminghom đánh vào, chiến khu DƯƠNG MINH CHÂU còn gọi là chiến khu C với lực lượng hai lữ đoàn thuộc Sư đoàn 1 Anh cả đỏ và Lữ đoàn dù 173. Phạm vi càn quét tương đối rộng từ Tàpang, Lò Gò, Bàu Cỏ, Sóc Ky đến suối Ông Hùng, Bến Củi nhưng đi đến đâu, Mỹ cũng không gặp được chủ lực đối phương, còn thường xuyên bị bộ đội tại chỗ, du kích cơ quan đánh chặn gây nhiều thương vong. Nắm vững thời cơ Mỹ phải đối phó với lực lượng tại chỗ, Sư đoàn 9 chủ lực Miền tiến công vào cụm quân của Sư đoàn 1 Mỹ ở Bầu Sắn (Tây Ninh), đánh thiệt hại một chiến đoàn của Mỹ, bẻ gãy cuộc hành quân vào chiến khu Dương Minh Châu.
KẾT QUẢ. Kết quả mùa khô 1965-1966, quân Giải phóng đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 104.000 địch, trong đó có 42.000 quân Mỹ, 3.500 quân các nước đồng minh của Mỹ, đánh thiệt hại 9 tiểu đoàn Mỹ, 7 tiểu đoàn quân Sài Gòn, bắn rơi, phá huỷ 1.430 máy bay (hầu hết là máy bay lên thẳng), phá huỷ và đánh hỏng 6.000 xe quân sự (có 300 xe tăng, xe bọc thép).
II. CUỘC PHẢN CÔNG CHIẾN LƯỢC MÙA KHÔ 1966-1967. Mỹ quyết định mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai vào mùa khô 1966-1967. Về chiến lược, lần này Mỹ không phân tán lực lượng đánh trên nhiều hướng mà tập trung đánh vào miền ĐÔNG NAM BỘ, đồng thời chú trọng đẩy mạnh kế hoạch bình định, mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn - Gia Định, kiềm chế các hướng Tây Nguyên, Trị - Thiên. Mỹ ưu tiên tập trung lực lượng tiến công vào hệ thống căn cứ quân Giải phóng ở Tây Ninh, Bình Dương, Long An, Hậu Nghĩa, Phước Tuy, trọng điểm là chiến khu DƯƠNG MINH CHÂU, diệt cơ quan đầu não và một bộ phận chủ lực, kết hợp với việc mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn.
Những tháng cuối năm 1966 và đầu năm 1967, Mỹ đưa thêm vào miền Nam hai Sư đoàn bộ binh số 4 và số 9, nâng tổng số quân Mỹ có mặt ở Nam Việt Nam lên 389.000 vào cuối tháng 12-1966. Mỹ còn dự kiến sẽ tăng quân Mỹ ở Nam Việt Nam lên 459.000 cho năm 1967. Nhưng mới đến tháng 8-1967, tình hình quân sự, chính trị của Mỹ và Sài Gòn ở Việt Nam biến chuyển theo chiều hướng đi xuống không có lợi cho Mỹ, nên phải trù tính tăng quân Mỹ lên 542.588 vào cuối năm 1967. Phương tiện chiến tranh cũng được bổ sung nhiều gần gấp 1,5 lần so với mùa khô lần thứ nhất. Số máy bay đưa vào Việt Nam lên tới 3.500 chiếc và đến tháng 5-1967 tăng lên 4.300 chiếc; xe tăng, thiết giáp 2.500 chiếc, pháo 2.540 khẩu, v.v...
CHIẾN DỊCH ATTLEBORO. Chiến dịch Attlebo (Át-tơn -bo-rơ) bắt đầu ngày 14-9-1966 là cuộc hành quân cấp quân đoàn đầu tiên của Liên quân Việt-Mỹ. Không gian của cuộc hành quân từ Trảng Bàng đến Gò Dầu Hạ nằm trên đường số 1 và Trại Đèn trên đường 13 (Tây Ninh), nhằm tìm diệt một bộ phận chủ lực Giải phóng (Sư đoàn 9 và Trung đoàn 16), hỗ trợ cho việc bình định quanh Sài Gòn. Tham gia cuộc hành quân này có lực lượng của Sư đoàn 1 Sư đoàn 25 (thiếu), Lữ đoàn 196, một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn dù 173 Mỹ cùng chín tiểu đoàn quân Sài Gòn, chưa kể lực lượng pháo binh, thiết giáp và không quân (có cả B-52) chi viện. Tất cả khoảng 30.000 quân. Trong 6 tuần đầu của cuộc hành quân, không có trận đụng độ lớn.
Nhưng trận chiến đã bùng nổ vào ngày 3 tháng 11 năm 1966 tại một địa điểm cách tỉnh lỵ Tây Ninh 27 km về hướng Đông-Bắc, khi Lữ đoàn 196 Hoa Kỳ kịch chiến với 3 trung đoàn Quân Giải phóng. Giao tranh ác liệt đã diễn ra từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 11 năm 1966. Lực lượng bộ binh Việt Nam Cộng hòa và một số tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 và 25 Bộ binh Hoa Kỳ đã tiếp ứng Lữ đoàn 196 để cố đẩy lùi Quân Giải phóng ra khỏi trận địa. Từ 10 đến ngày 26 tháng 11, các đơn vị Việt Nam Cộng hòa - Mỹ tiếp tục truy tìm Quân Giải phóng, trong thời gian này không có cuộc đụng độ nào đáng kể. Ngày 27 tháng 11, cuộc hành quân kết thúc, tổn thất của Quân Giải phóng theo phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa là: 1.101 chết (bị thổi phồng), 44 tù binh, 149 vũ khí bị tịch thu và khoảng 1.000 tấn gạo bị tìm thấy.
CHIẾN DỊCH CEDAR FALLS. Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân cấp quân đoàn thứ hai, chiến dịch Cedar Falls (Xê-đa Phôn) vào vùng TAM GIÁC SẮT: Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát, khu vực rộng 155 km² nằm giữa sông Sài Gòn và đường 13, khoảng 40 km phía bắc trung tâm Sài Gòn, nơi có hệ thống Địa đạo Củ Chi là căn cứ quan trọng của quân Giải phóng. Bộ Chỉ huy Mỹ ở Nam Việt Nam tập trung một lực lượng lớn binh lực vào cuộc hành quân này không kém gì cuộc hành quân Attleboro trên dưới 30.000 quân, bao gồm Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ, Lữ đoàn 3 Sư đoàn bộ binh số 4, Lữ đoàn 2 Sư đoàn bộ binh số 25, Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 196, Lữ đoàn dù 173, Trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ và một bộ phận Sư đoàn 5 chủ lực quân Việt Nam Cộng hòa cùng một số lính đánh thuê New Zealand với hơn 400 xe tăng, xe bọc thép, 800 tàu xuồng chiến đấu trên sông, hơn 100 khẩu pháo các loại và nhiều máy bay, kể cả B-52.
Quân Giải phóng tại khu vực có chừng 10.000 người, phần lớn là dân quân, trang bị thiếu thốn. Bị áp đảo cả về quân số và hỏa lực, quân Giải Phóng quyết định không giao chiến trực diện mà phân tán rút vào rừng và ẩn nấp trong các địa đạo, chỉ sử dụng các nhóm nhỏ để đánh phục kích Mỹ. Quân Mỹ dùng máy bay B-52 rải thảm bom, pháo binh bắn bắn liên tục, sử dụng 200 chó béc-giê để sục tìm địa đạo, dùng 200 xe ủi san bằng 11 km2 rừng, triệt hạ hầu hết làng mạc, nhà cửa trong vùng (6.000 căn nhà bị san ủi, bị đốt), cướp đi 3.700 tấn lúa. Gần 1.000 người, đa số là dân thường đã chết và bị thương, gần 15.000 người dân Bến Súc, Củ Chi bị bắt đi nơi khác. Quân Mỹ dùng đủ mọi cách phá địa đạo như: dùng máy ủi khổng lồ để xúc, dùng xe tăng hạng nặng để đè bẹp các địa đạo, dùng chó becgie để tìm cửa địa đạo, bơm nước hoặc xả hơi độc xuống địa đạo.
Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hoà tuyên bố đã tiêu diệt 750 quân Giải phóng và bắt 280 tù binh. Quân Mỹ thu được 23 vũ khí hạng trung, 590 vũ khí cá nhân và 200 quả mìn, lựu đạn, đạn pháo và súng cối. 100 công trình kiên cố, 250 hầm và hơn 500 công trình khác bị phá hủy. 60 ngàn băng đạn cho vũ khí cá nhân, 7.500 bộ quân phục, 3,7 ngàn tấn gạo và khoảng nửa triệu trang tài liệu bị thu giữ cùng nhiều vật liệu chiến tranh khác. Thương vong của Mỹ theo họ tuyên bố là 72 thiệt mạng và 337 bị thương; phía Việt Nam Cộng hòa là 11 chết và 8 bị thương. Phía Mỹ bị phá hủy 2 xe tăng, 5 xe bọc thép; ngoài ra còn bị hư hại 3 xe tăng, 9 xe bọc thép, 1 xe tăng hạng nặng, 2 xe ô tô và 2 trực thăng trinh sát nhẹ. Quân đội Việt Nam Cộng hòa mất 3 vũ khí cá nhân.
Bài 397: ĐỈNH CAO CỦA CHIẾN LUỢC “TÌM VÀ DIỆT” LÀ CUỘC HÀNH QUÂN JUNCTION 1967 TẤN CÔNG VÀO TRUNG ƯƠNG CỤC, BỘ CHỈ HUY MIỀN, VÀ MTDTGP MIỀN NAM.
CHIẾN DỊCH JHONSON CITY 1967. Chiến dịch Junction City là đỉnh cao của chiến lược "Tìm và Diệt". Theo tính toán của Westmoreland, Tây Ninh không chỉ là căn cứ của Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền, Mặt trận Dân tộc giải phóng, mà còn là nơi tích trữ vật chất, có nhiều kho dự trữ chiến lược; là địa bàn đóng quân của lực lượng chủ lực (tức Sư đoàn 9). Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn, tập trung lực lượng đông đảo đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh). Lực lượng tham chiến bao gồm chín lữ đoàn bộ binh Mỹ, một lữ đoàn thủy quân lục chiến Sài Gòn. Ước tính quân số khoảng 45.000 và trên 1.000 xe tăng, xe bọc thép, hàng trăm khẩu pháo các loại, cùng nhiều máy bay chiến dịch kéo dài 82 ngày từ 22 tháng 2 đến 15 tháng 4 năm 1967, chia làm 3 giao đoạn.
Về phía Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam: Tổng lực lượng bao gồm chủ lực, địa phương quân, du kích các cơ quan là 15.000 bộ đội. Lực lượng chủ lực được chia làm hai bộ phận, một bộ phận phân tán mỏng cùng với du kích các cơ quan lo bảo vệ các căn cứ, kho tàng; một bộ phận được ẩn giấu chờ đối phương sơ hở sẽ tổ chức phản công. Lực lượng chống càn do Lê Đức Anh Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ huy. Do tương quan quá chênh lệch, Bộ chỉ huy quân Giải phóng đề ra phương châm: Phải chuẩn bị sẵn sàng, bám trụ vững chắc, phản công kiên quyết, tiến công mạnh mẽ liên tục, kết hợp ba thứ quân đánh nhỏ, đánh vừa và tạo điều kiện đánh lớn, bảo đảm đánh dài ngày, mạnh bạo nhưng chắc thắng; cố gắng tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, bảo vệ cơ quan và kho tàng trong căn cứ.
Giai đoạn I. Ngày 22 tháng 2 năm 1967, mở màn cho chiến dịch là những trận pháo kích vô cùng ác liệt, ngay sau đó máy bay C-130 chở Lữ đoàn Không vận 173, nhảy dù xuống Cà Tum nằm trên tỉnh lộ số 4, nơi có ngả rẽ qua Bổ Túc, gần biên giới Campuchia. Tiếp theo là 250 lần chiếc trực thăng chở Lữ đoàn 1 và Lữ đoàn 2 Sư đoàn bộ binh 1 "Anh cả đỏ" đổ bộ xuống Sóc Mới - Rùm Đuôn - An Khắc, nhằm khóa chặt biên giới phía bắc Tây Ninh. Trong lúc đó Lữ đoàn 2 Sư đoàn 25 cùng với Trung đoàn Thiết giáp số 11 của Mỹ từ Tây Ninh, theo đường số 4 tiến lên Đồng Pan, hợp với Lữ đoàn 173 tại Cà Tum, bức tường phía đông đã hình thành. Từ ngày 23 tháng 2 đến 9 tháng 3 năm 1967, các đơn vị Quân Giải phóng tìm cách vượt thoát khỏi vòng vây của quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa.
Hiểu rõ tình thế những mặt mạnh, mặt yếu trong chiến dịch Junction City, lực lượng chủ lực Quân Giải phóng miền Nam là Sư đoàn 9 sau khi phân tán thoát vòng vây đã tập trung lại, luồn sâu vào vùng hậu cứ của cuộc hành quân để tổ chức phản công. Đêm 6 tháng 3, pháo binh Quân Giải phóng bắn phá dữ dội vào cụm đóng quân Tà Xia và Truông Bình Linh uông. Đêm 10 tháng 3, Quân Giải phóng tập kích vào hai cụm đóng quân Đồng Pan và Bào Cỏ, chọc thủng tuyến đóng quân của một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn Không vận 173 Hoa Kỳ, gần trung tâm của Chiến khu C, cách thị xã Tây Ninh 30 km về hướng đông. Ngoài ra còn có nhiều trận phản công nhỏ lẻ và đặt mìn, phục kích trên các trục tiếp tế quan trọng, làm cho chiến dịch từ chủ động tìm-diệt sang bị động đối phó.
Tính đến cuối ngày 11 tháng 3, sau 3 tuần liên tục truy kích, liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đã loại ngoài vòng chiến 744 Quân Giải phóng, tuy nhiên các mục tiêu cơ bản đặt ra vẫn chưa đạt được. Ngày 13-3-1967, các cánh quân Mỹ bắt đầu rút khỏi căn cứ Dương Minh Châu. Đợt một của cuộc hành quân Junction City kết thúc.
Giai đoạn II từ 15 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 năm 1967. Hướng tấn công chủ yếu của Chiến dịch Junction City là mạn đông tỉnh lộ số 4, được giới hạn bởi sông Sài Gòn, trọng tâm của chiến dịch nhằm về tuyến biên giới phía Đông Bắc Cà Tum và tuyến thượng nguồn sông Sài Gòn, được B-52 rải thảm không hạn chế. Tỉnh lộ 4 Tây Ninh đi Cà Tum, bây giờ là bức tường phía tây của chiến dịch, các căn cứ Quản Lợi (Bình Long), Minh Thạnh (Núi Cát), Dầu Tiếng, Suối Đá (Tây Ninh); con đường số 13 huyết mạch kết hợp với các con đường 19, 22, 26 mới được sửa chữa, tạo thế tiến công từ phía đông sang tây. Lực lượng thiện chiến của các Sư đoàn 1, Sư đoàn 25, Sư 4, Sư 9... thì do máy bay trực thăng đổ bộ, hình thành các cụm căn cứ lớn khống chế biên giới Campuchia như Sóc Con Trăng, Đồng Rùm, Ba Vũng...
Khu vực này, trên thực tế là địa bàn xung yếu nằm trong hệ thống huyết mạch chính của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, nơi đây vừa là đầu cầu tiếp nhận viện trợ từ miền Bắc, vừa là nơi cất dấu hậu cần, khí tài, quân bị. Nơi đây còn là bàn đạp, để từ đó Quân Giải phóng tiếp cận các chiến trường Nam Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Bước vào giai đoạn này, sức mạnh quân sự của Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hoà không hề suy giảm, thậm chí có phần gia tăng hơn, nhưng ý chí chiến đấu không còn như đợt ra quân ban đầu nữa. Trong khi đó về phía Quân Giải phóng miền Nam, việc kết thúc giai đoạn I của chiến dịch diễn ra gần đúng với dự kiến ban đầu: bảo đảm tuyệt đối an toàn cho Trung ương Cục miền Nam, Bộ Tư lệnh Miền, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và các ban ngành, đoàn thể, do biết cất giấu kỹ nên lực lượng chủ lực được bảo toàn.
Do vượt qua được cột mốc thử thách trước sức mạnh Mỹ cộng với kinh nghiệm va chạm thực tiễn trong giai đoạn I, Quân Giải phóng miền Nam bước vào giai đoạn II với khí thế tự tin hơn và bản lĩnh hơn. Ngày 19 tháng 3, Lữ đoàn 173 mở cuộc tấn công vào vị trí của Quân Giải phóng nằm về phía tây của Chiến khu C. Trong đêm đó, tại Bàu Bàng khi Lữ đoàn 1 Sư đoàn 9 Mỹ vừa tập kết chuẩn bị tham gia chiến dịch giai đoạn II, đã bị tấn công tại căn cứ. Ngày 20 tháng 3 năm 1967, giao tranh tiếp diễn tại nhiều hướng, theo Mỹ tuyên bố đến ngày này có 1.117 binh sĩ Quân Giải phóng tử thương; phía Hoa Kỳ có 143 tử trận, 659 người bị thương. Đêm 21 rạng sáng ngày 22 tháng 3 năm 1967, Quân Giải phóng tập kích Đồng Rùm sau 2 ngày vị trí này bị phía Mỹ đổ quân chiếm đóng, giao tranh ác liệt nổ ra kéo dài trong 6 giờ liền.
Đêm 31 tháng 3, Quân Giải phóng tập kích căn cứ Ba Vũng. Ngoài ra, cụm căn cứ Sóc Con Trăng bị bao vây uy hiếp, làm hạn chế sức đánh phá của căn cứ này. Các vùng hậu cứ của Chiến dịch Junction City cũng bị pháo binh bắn phá như: Quản Lợi, Đồng Dù, Suối Đá. Chỉ huy sở của cuộc hành quân trú đóng tại Dầu Tiếng cũng bị pháo kích. Trên toàn mặt trận, sự kháng cự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỏ ra ngày càng mãnh liệt. Từ 1 tháng 4, quân Mỹ bắt đầu triệt thoái từng bước, đến 15 tháng 4 năm 1967, quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa kết thúc giai đoạn II của chiến dịch.
Giai đoạn III. Cùng ngày 15 tháng 4, chiến dịch bước sang giai đoạn III, và chiến dịch nhưng đã phải nhanh chóng chấm dứt vào ngày 15 tháng 5 sau khi không thu được thêm nhiều kết quả. Hoa Kỳ tuyên bố đã có 2.728 quân Giải phóng tử trận, tuy nhiên con số này bị xem là phóng đại, bởi trong suốt cả chiến dịch quân Mỹ chỉ thu được 491 vũ khí cá nhân và 100 vũ khí cộng đồng của quân Giải phóng. Còn theo thống kê của Việt Nam, toàn chiến dịch quân Giải phóng thương vong khoảng 1.530 người, trong đó có 255 chết.
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố là trong trận này họ đã loại khỏi vòng chiến 11.000 quân của Mỹ và Việt Nam Cộng hoà, đã phá hủy hoặc gây hư hại 900 xe quân sự, phá hủy 119 súng đại bác hoặc súng cối của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên theo Đại tướng William Westmoreland thì con số thiệt hại của Mỹ là 282 lính chết và khoảng 1.560 bị thương (chưa kể vài trăm thương vong của quân VNCH); 107 thiết vận xa, 57 xe tăng, 28 xe vận tải và 11 khẩu đại bác bị phá hủy hoặc hư hại.
Bài 398: BÌNH ĐỊNH NÔNG THÔN LÀ SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG XUYÊN SUỐT CÁC THỜI TỔNG THỐNG EISENHOWER, KENNDY, VÀ JHONSON
BÌNH ĐỊNH NÔNG THÔN. Đối với các Chính quyền Mỹ “thôn, ấp ở miền Nam Việt Nam được xem là chỗ nương thân, là nơi đứng chân, là căn cứ cho cá nhân và tổ chức của Việt cộng. Cho nên, việc cải thiện xã hội, kinh tế và chính trị ở nông thôn miền Nam Việt Nam, giành sự ủng hộ của dân chúng cho chính quyền Sài Gòn là ưu tiên hàng đầu. Dướithời Tổng thống Eisenhower, Đại tá CIA Edward Lansdale được cử đến miền Nam Việt Nam xem xét và phác thảo các chương trình hành động về quân sự, lẫn dân sự báo cáo trực tiếp cho Giám đốc CIA Allen Dulles. Còn Cục Viễn Đông của CIA lãnh đạo và chỉ đạo, theo dỏi quá trình bình định nông thôn của chính quyền Ngô Đình Diệm Diệm để điều chỉnh, bổ sung kế hoạch. Chính quyền Ngô Đình Diệm Diệm liên tục tổ chức các “chiến dịch tố cộng” làm cho cán bộ Cộng sản nằm vùng bất động.
Đến thời Tổng thống Kennedy tăng viện trợ quân sự và kinh tế cho Ngô Đình Diệm. Đây cũng là một hình thức để kiểm tra học thuyết “chống nổi dậy” mới của Mỹ. Trong ba năm kế tiếp 1961-1963, CIA tiến hành một loạt các kế hoạch bình định hoá nông thôn, nổi trội nhất là “Quốc sách Ấp chiến lược” được xem là điểm mấu chốt của chương trình BÌNHĐỊNH HOÁ NÔNG THÔN. Chương trình này kéo dài cho đến khi xảy ra cuộc đảo chính lật đổ vào tháng 11/1963. Từnăm 1963 đến1965, khi các vị tướng Mỹ ở miền Nam Việt Nam đang mải mê tranh giành quyền lực, nhân viên của CIA đi thị sát các tỉnh để tìm ra phương thức thích hợp nhất cho chương trình bình định hoá nông thôn – đó là tập trung lôi kéo người dân chống Cộng sản.
Dưới thời Tổng thống Jhonson, công tác bình định được mở rộng, ngay từ cuối 1965, Mỹ đã tập trung một số lớn nhân tài, vật lực cho công cuộc bình định miền Nam. Về phía chính phủ Sài Gòn, lực lượng tham gia chương trình bình định gồm: 53 tiểu đoàn chủ lực, 177 đại đội địa phương, 5 đại đội cảnh sát dã chiến, 559 trung đội nghĩa quân, 552 đoàn cán bộ bình định. Riêng tại các địa bàn trọng điểm bình định ven đô Sài Gòn, và Vùng chiến thuật III như Long Khánh, Phước Tuy, Bình Dương, Long An, Tây Ninh, Bình Long. Tại Vùng chiến thuật I và II thì Trị - Thiên, Bình Định, Tuy Hoà, Quảng Ngãi, Plâyku, Kon Tum. Và, tại Vùng chiến thuật III và IV như là Vĩnh Long, Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Kiến Phong…, ngoài lực lượng quân Sài Gòn, Mỹ huy động thêm 40 tiểu đoàn Mỹ, 1.500 chuyên gia bình định, một số đơn vị quân Nam Triều Tiên, Úc.
Kế hoạch bình định năm 1966 của Mỹ là bình định 900 ấp, củng cố 1.900 ấp. Mỹ và Việt Nam Cộng hòa dự kiến đến hết năm 1967 sẽ củng cố và xây dựng được 3.500 ẤP CHIẾN LƯỢC, trong đó, xây dựng mới hoàn toàn là 1075 ấp, dồn được 1.315.000 dân. Mỹ đã nâng tổng ngân sách đầu tư cho công tác bình định từ 8 tỷ (tiền Sài Gòn) năm 1966, lên 14 tỷ năm 1967. Mục đích của chương trình bình định là "phá cho được cơ sở hạ tầng, thủ tiêu hết các tổ chức và con người Việt Cộng". Từ các nguồn tài liệu ở các cơ quan tình báo quân sự và dân sự của cả Mỹ và Sài Gòn, từ khẩu cung lấy được qua thẩm vấn những người bị bắt trong các trại giam, trại tập trung, cảnh sát đặc biệt, mật vụ điều tra thẩm định, đối chiếu với thẻ căn cước, họ được phân ra làm ba loại: loại A là cán bộ lãnh đạo chủ chốt; loại B là đảng viên; loại C là cơ sở quần chúng cách mạng. Mỗi loại có một số phận…
Bài 299: TẤN CÔNG QUÂN SỰ, BÌNH ĐỊNH NÔNG THÔN, VÀ ĐÁNHPHÁ BẮC VIỆT BẰNG KHÔNG QUÂN VÀ HẢI QUÂN MỸ LÀ TRỌNG ĐIỂM CỦA TỔNG THỐNG JHONSON NHIỆM KỲ: 1965-1968.
Tấn công quân sự, bình định nông thôn, và đánh phá Bắc Việt bằng không quân và Hải quân Mỹ là “Sách lược chính của Jhonson trong suốt nhiệm kỳ của tổng thống của ông ta 1965-1968. Tấn công quân sự và bình định nông thôn diễn tại Việt Nam Cộng hoà nằm ở phía Nam. Còn đánh phá Bắc Việt ở phía Bắc tức là đánh phá trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bằng các chiến dịch: Chiến dịch Sấm Rền từ ngày 2 tháng 3 năm 1965 đến 1 tháng 11 năm 1968; Chiến dịch Linebacker từ 9 tháng 5 đến 23 tháng 10 năm 1972; Chiến dịch Linebacker II 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1972.
Xin lưu ý rằng, trước đó trong năm 1964 Mỹ đã có chiến dịch Mũi tên Xuyên (Operation Pierce Arrow) là chiến dịch không kích của Hải quân Mỹ thực hiện ngày 5 tháng 8 năm 1964 nhằm trả đũa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về sự kiên Vịnh Bắc Bộ xảy ra vào các ngày 2 và 4 tháng 8 năm 1964. Các máy bay F-8 Crusader, A-1 Skyraider, và A-4 Skyhaw từ các hàng không mẫu hạm USS Ticonderoga và USS Constellation trên Biển Đông, đã bay 64 lượt đánh phá các mục tiêu định sẵn tại các vùng phụ cận Vinh-Bến Thuỷ, Nghệ An, vùng phụ cận thị xã Hòn Gai, Quảng Ninh, cửa Lạch Trường, Thanh Hoá, và cửa Gianh, Quảng Bình… đã phá hủy hoặc gây thiệt hại 25 tàu tuần tiễu (PT boat) của Hải quân Nhân dân Việt Nam; phá hủy 7 hệ thống phòng không tại Vinh; và làm thiệt hại nặng một kho xăng dầu tại Vinh.
Ngay sau đó, Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ đã liệt kê một danh sách 94 mục tiêu cần phá hủy miền Bắc Việt Nam như: cầu, ga xe lửa, bến cảng, doanh trại, và các kho hàng... Nhưng Tổng thống Johnson sợ rằng, nó có thể châm ngòi cho một sự can thiệp trực tiếp của Trung Quốc hay Liên Xô, điều mà đến lượt nó có thể biến thành một cuộc chiến tranh toàn thế giới. Với sự ủng hộ của Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, tổng thống Jhonson từ chối, và thay vào đó, Bộ Quốc phòng đề nghị và được Jhonson đồng ý chủ trương thực hiện các cuộc không kích "ăn miếng trả miếng".
Ngày 7 tháng 2 năm 1965 Quân giải phóng miền Nam (QGP) có cuộc pháo kích, tấn công vào doanh trại và phi trường Pleiku, và một vụ đánh bom tại nơi trú quân của Mỹ tại Quy Nhơn. Ba ngày sau đó, ngày 10 tháng 2 các doanh trai, nơi đóng quân của một lực lượng lớn Quân đội Nhân dân Việt Nam, và nơi tập trung nhiều kho hàng quân dụng tại khu vực phía Bắc giới tuyến bị các máy bay của Không quân và Hải quân Mỹ oanh tạc là chủ trương "ăn miếng trả miếng” của Mỹ trước chiến dịch Sấm Rền.
CHIẾN DỊCH SẤM RỀN. (Operation Rolling Thunder). Trước sự phát triển của Quân Giải phóng miền Nam, và áp lực của Hội đồng Tham mưu liên quân, Tổng thống Jhonson chính thức cho phép một chương trình ném bom kéo dài với mật danh Rolling Thunder (Sấm Rền) là chiến dịch ném do Sư đoàn 2 Không quân Mỹ, Hải quân Mỹ, và Không lực Việt Nam Cộng hoà thực kéo dài từ ngày 2 tháng 3 năm 1965 đến ngày 1 tháng 11 năm 1968. Mục đích của chiến dịch Sấm Rền phát triển theo thời gian như: để nâng cao tinh thần quân đôi và chính phủ Việt Nam Cộng hoà; Ép Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngừng hỗ trợ Mặt trận Giải phóng miền Nam; Phá hủy hệ thống giao thông, các cơ sở công nghiệp, các lực lượng phòng không của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Ngăn chặn dòng quân và hàng hóa chảy vào miền Nam”...
Đa số các cuộc không kích trong chiến dịch Sấm Rền xuất phát từ 4 căn cứ không quân tại Thái Lan: Korrat, Takhli, Udon, Thani, và Ubon. Sau khi tấn công các mục tiêu, máy bay sẽ hoặc bay thẳng về Thái Lan hoặc thoát ra ngoài vùng biển tương đối an toàn tại vịnh Bắc Bộ. Các cuộc không kích của Hải quân Mỹ xuất phát từ các tàu sân bay của Lực lượng đặc nhiệm 77 tuần tiễu ngoài khơi vịnh Bắc Bộ. Các máy bay của hải quân, với tầm bay ngắn hơn và sức mang bom nhẹ hơn máy bay của Không quân, chủ yếu đánh phá các mục tiêu ven bờ biển.
Tính đến 24 tháng 12 năm 1965, Mỹ đã mất 170 máy bay trong chiến dịch trong đó, 85 máy bay của Không quân, 94 của Hải quân, và 1 của Thủy quân lục chiến. Không lực Việt Nam Cộng hòa cũng mất 8 máy bay. Các phi đội của Không quân đã bay 25.971 lượt, thả 32.063 tấn bom. Hải quân bay 28.168 lượt và thả 11.144 tấn bom. Không lực Việt Nam Cộng hòa đóng góp 682 phi vụ, số bom đã thả không rõ bao nhiêu. Mỹ đã sử dụng khoảng 643.000 đến 864.000 tấn bom, gấp hơn 2 lần số lượng bom sử dụng ở mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến 2.
Trong hai năm đầu 1965-1966, Mỹ tập trung đánh phá các tuyến giao thông, cầu cống, kho tàng ở khu vực Nam Quân khu 4. Hai năm cao điểm 1967-1968, Mỹ mở rộng đánh phá các khu công nghiệp, nhà máy điện, sân bay và các mục tiêu gần Hà Nội, Hải Phòng. Do thất bại trên chiến trường và áp lực nội bộ, ngày 31/3/1968, Tổng thống Johnson tuyên bố ngừng ném bom vô điều kiện từ vĩ tuyến 20 trở ra. Và, trên toàn miền Bắc từ ngày 1 tháng 11 năm 1968. Kết quả: Mỹkhông đạt được mục tiêu cắt đứt chi viện hay khuất phục miền Bắc; trên dưới 3.000 máy bay Mỹ bị bắn rơi; 363 phi côngMỹ bị bắt sống, và 143 tàu chiến bị bắn cháy.
ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ. Tháng 2 năm 1965, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra hướng dẫn cho quân đội và nhân dân "đảm bảo giao thông liên lạc và chuẩn bị cho sự tàn phá trên toàn đất nước, trong đó có cả Hà Nội và Hải Phòng. Hà Nội tuyên bố "một cuộc chiến tranh nhân dân chống lại cuộc đánh phá trên không, mỗi công dân là một người lính, mỗi làng xóm, phố phường, nhà máy là một pháo đài trên mặt trận chống Mỹ”." Tất cả, trừ những gì "thật sự thiết yếu đối với đời sống thủ đô", đều được sơ tán về nông thôn. Đến năm 1967, dân số Hà Nội đã giảm xuống còn một nửa. Lãnh đạo miền Bắc quyết định áp dụng một chính sách khước từ không gian (air deniability), tập trung bảo vệ các khu vực quan trọng thay vì dàn mỏng lực lượng khắp lãnh thổ.
Để tránh thiệt hại, nền kinh tế miền Bắc được phân tán. Các nhà máy lớn vốn nằm tại các khu vực tập trung đông dân ở đồng bằng sông Hồng, được chia nhỏ và phân tán vào các hang núi và các làng nhỏ trên khắp vùng nông thôn. Tại vùng cán xoong bị ném bom ác liệt ở miền Trung, có nơi cả làng chuyển vào sống trong các hệ thống hầm ngầm. Tình trạng thiếu thực phẩm trở nên lan rộng, không chỉ ở các vùng đô thị mà ngay cả tại nông thôn, khi nông dân vào bộ đội hoặc tình nguyện phục vụ khắc phục thiệt hại do các trận bom. Nguồn tài nguyên lớn nhất của miền Bắc là nhân dân, những người dân được đốt lửa bằng nhiệt tình dân tộc. Khi hệ thống giao thông bị đánh phá, cầu gãy được sửa hoặc thay thế bằng các khúc sông cạn, phà, hoặc cầu phao, ngầm… phần đóng lớn nhất là từ nhân dân.
Đầu chiến dịch, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sở hữu khoảng 1500 vũ khí phòng không, hầu hết là pháo cao xạ hạng nhẹ 37 và 57mm. Dân quân ở các địa phương có nhiệm vụ bắn trả máy bay Mỹ bằng mọi loại vũ khí có được, từ súng 12,7 ly cho tới súng trường bộ binh, cũng tạo nên mối đe dọa đối với máy bay Mỹ khi chúng bay thấp hoặc bổ nhào ném bom. Hỗ trợ hỏa lực pháo phòng không là các máy bay tiêm kích của Không quân Nhân dân Việt Nam, lực lượng mà ban đầu chỉ có 53 máy bay MiG-15, và MiG-17 Fresco. Tuy bị người Mỹ coi là quá cổ lỗ khi so sánh với các máy bay phản lực siêu thanh của họ, nhưng các máy bay này có tốc độ đủ cao cho các hoạt động phục kích "đánh và chạy" khi bắn hạ các máy bay F-8 Crusader và F-105 Thần sấm cao cấp hơn nhiều.
Năm 1966, cùng tham gia với MiG-15, và MiG-17 Fresco, có loại MiG-21 Fishbed hiện đại hơn do Liên Xô chế tạo, loại có thể chiến đấu ngang sức hơn đối với máy bay Mỹ. Đến năm 1967, Không quân Nhân dân Việt Nam đã có một lực lượng gồm 100 máy bay, nhiều chiếc trong số đó đặt tại các sân bay Trung Quốc và nằm ngoài tầm với của các cuộc không kích của Mỹ. Liên Xô cũng đồng ý viện trợ hệ thống tên lửa phòng không SA-75 Dvina còn được gọi là SAM-2 đời đầu cho Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sĩ quan Việt Nam được gửi đến Liên Xô để học về hệ thống tên lửa phòng không SA-75 và 10 trung tâm huấn luyện của Lực lượng Phòng không Quốc gia (PVO-Strany) được xây dựng ở miền Bắc Việt Nam, trở thành nòng cốt của các trung đoàn tên lửa phòng không mới.
Trong năm 1967, Không quân Mỹ tiếp tục tổn thất lớn hơn năm 1966. Đã có 362 máy bay của Hoa Kỳ đã bị bắn rơi ở miền Bắc Việt Nam. Trong đó, Không quân 208 chiếc, Hải quân mất 142 và Thủy quân lục chiến mất 12 chiếc. Mỹ đã phải áp dụng các chiến thuật mới hơn, chuyên biệt hơn. Trong các cuộc không kích quy mô lớn, được gọi là các gói hỏa lực (force package) của Không quân và các cuộc không kích Alpha (multi-carrier Alpha strike) của Hải quân, nhiều máy bay hỗ trợ được cử theo để bảo vệ các máy bay ném bom chiến đấu. Dẫn đầu vào các vùng mục tiêu đánh phá là các phi vụ đặc biệt Bàn Tay Sắt (Iron Hand) với nhiệm vụ đánh chặn hỏa lực phòng không. Các phi vụ này do các đội sát thủ F-105 Chồn Hoang (Wild Weasel) được trang bị các thiết bị điện tử tinh vi để phát hiện và định vị các chùm tia liên quan đến các radar điều khiển và việc dẫn đường cho tên lửa SAM.
Cuối năm 1967, Mỹ thực hiện nỗ lực kéo dài và mạnh mẽ nhất để buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chấp nhận đàm phán hòa bình theo điều kiện Mỹ đưa ra. Hầu như tất cả các mục tiêu trong danh sách của Hội đồng Tham mưu liên quân đã được duyệt để tấn công, trong đó có cả các sân bay trước đó đã được coi là ngoài giới hạn. Chỉ có khu trung tâm Hà Nội, Hải Phòng và vùng biên giới với Trung Quốc là vẫn bị cấm đánh phá. Nỗ lực chủ yếu dược thực hiện để cô lập các khu đô thị bằng cách đánh sập cầu và tấn công các hệ thống thông tin liên lạc. Các mục tiêu bị đánh phá còn có nhà máy gang thép Thái Nguyên, các nhà máy điện, các xưởng sửa chữa tàu biển và xe lửa, các kho tàng.
Một lực lượng lớn máy bay MiG tham gia chiến đấu khi thủ đô Hà Nội bị đe dọa, tỉ lệ diệt theo Mỹ là 1 máy bay Mĩ cho 2 MiG. Tuy nhiên theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tỉ lệ này là 1 đổi 1,8 nghiêng về phía họ. Trong năm 1968, MiG là nguyên nhân của 22% trong tổng số 184 máy bay Mĩ rơi trên miền Bắc (75 Không quân, 59 Hải quân, và 5 Thủy quân lục chiến). Do kết quả này, các cuộc đánh phá các sân bay cuối cùng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà trước đây nằm ngoài phạm vi đánh phá, nay đã được cho phép…
JHONSON VỚI CÁC THÁCH THỨC. Trong ba năm 1965, 1966, 1967, tình hình chính trị, xã hội của chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà luôn bất ổn hoặc mầm mống bất ổn. Trong khi đó, nước Mỹ cũng đang lâm vào cuộc khủng hoảng về chính trị và kinh tế, về chiến lược quân sự và chính sách đối ngoại… Sự phân hoá giữa phái chủ chiến và chủ hoà, giữa các tầng lớp xã hội Mỹ với Chính phủ liên bang... ngày càng trở nên gay gắt đang là một áp lực chính trị ngày càng tăng đối với chính quyền và cá nhân của Tổng thống Mỹ Johnson.
Ngày 15-11-1966, Toà án quốc tế Bertrand Russell xét xử "tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam" được thành lập theo sáng kiến của nhà bác học người Anh Bertrand Russell. Toà án họp chính thức lần thứ nhất từ ngày 02 đến ngày 13-5-1966 tại Stockholm, Thuỵ Điển với hơn 300 đại biểu đến từ các nước và đông đảo phóng viên báo chí, vô tuyến truyền hình quốc tế, và kỳ họp thứ hai từ ngày 20-11 đến ngày 1-12-1967 tại Copenhagen, Đan Mạch, Toà án Bertrand Russell kết luận: "Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác xâm lược chống nước Việt Nam, các Chính phủ Úc, New Zealand, Nam Triều Tiên là những nước đồng lõa đã phạm những tội ác man rợ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế."
Bài 300: SỰ KIỆN TẾT MẬU THÂN 1968 “MỘT CÚ ĐẬP LỚN, TUNG TOÉ RA KHẢ NĂNG CHÍNH TRỊ, TẠO BƯỚC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC”: LÊ DUẨN.
Qua 3 năm chiến đấu trực tiếp với quân Mỹ, tuy vẫn đứng vững trên chiến trường và khiến quân Mỹ sa lầy, nhưng thương vong của quân Giải phóng cũng tăng lên, nếu cục diện này tiếp tục kéo dài thì không thể giành được thắng lợi quyết định. Để xoay chuyển tình thế tạo bước đột phá chiến lược, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 ("Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị" – Lê Duẩn) nhằm tạo ra cái nhìn mới về cuộc chiến theo hướng có lợi cho mình, buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận ngồi vào đàm phán. Chiến dịch Tổng tiến công Tết Mậu Thân, kéo dài trên 300 ngày: cả hai phía đều chịu thương vong nặng nề, quân Giải phóng bị đánh bật ra khỏi các đô thị lớn, nhưng quân Mỹ cũng không thể bình định được các vùng nông thôn miền Nam.
TỔNG TẤN CÔNG TẾT MẬU THÂN 1968. Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền (B2) đã quyết định thành lập 2 Bộ Tư lệnh tiền phương: Bộ Tư lệnh tiền phương cánh Bắc do Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh phụ trách các hướng Bắc, Tây Bắc và Đông thành phố Sài Gòn. Bộ Tư lệnh tiền phương cánh Nam do Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng phụ trách các hướng phía Nam, Tây Nam, các lực lượng biệt động và chỉ đạo quần chúng nổi dậy ở nội thành Sài Gòn. Ở Quân khu 5, Trung ương cử Võ Chí Công làm Bí thư Quân khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu, Chu Huy Mân làm Tư lệnh. Ở mặt trận Huế, Trung ương chỉ định Lê Minh làm Chỉ huy trưởng, Lê Chưởng làm Chính ủy.
Để tăng tính bất ngờ, thời điểm cuộc tấn công diễn ra đúng vào giao thừa, thời điểm mà đối phương lơi lỏng phòng bị, nhiều sĩ quan Việt Nam Cộng hòa đang nghỉ ăn Tết. Suốt từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau, các lực lượng vũ trang quân Giải phóng bất ngờ tiến công rộng khắp vào 6 thành phố lớn, 44 thị xã, hàng trăm quân lỵ, chiếm một số nơi, phát động quần chúng nổi dậy, đập tan bộ máy cơ sở của chế độ Sài Gòn ở nhiều vùng nông thôn. Hiệu lệnh mở màn là bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua, Thắng trận tin vui khắp nước nhà, Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ, Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.
I. TẠI SÀI GÒN. Các đội biệt động cảm tử của Giải phóng quân đã nhắm vào các mục tiêu khó tin nhất: Toà Đại sứ Mỹ, dinh Tổng thống, đài phát thanh, bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất. Ở Toà đại sứ Mỹ, lúc 2 giờ 30 phút ngày 31-1-1968, 17 chiến sĩ Đội biệt động số 11 do Ngô Thành Vân (Ba Đen) chỉ huy dùng xe du lịch có hoả lực B-40 yểm trợ đột nhập thẳng cổng Toà đại sứ. Sau khi diệt 4 quân cảnh Mỹ ở ngoài cổng, biệt động dùng thuốc nổ phá thủng tường, tiến đánh vào bên trong, chiếm gần hết tầng 1 phát triển lên tầng 2 và 3 Toà đại sứ. Chỉ 20 phút sau khi Đại sứ quán bị đánh, một toán quân cảnh Mỹ đến cứu viện, Cuộc chiến đấu trong sứ quán diễn ra quyết liệt. Trong 17 người của đội biệt động có 15 người tử trận, chỉ còn 1 chiến sỹ và đội trưởng Ngô Thành Vân (Ba Đen) bị thương nặng và bị bắt.
Tại dinh Độc Lập, khoảng 1h30 mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, đội biệt động số 5 do Tô Hoài Thanh (Ba Thanh) chỉ huy gồm 15 người trên ba xe tải nhỏ và hai chiếc Honda xuất phát từ hai hướng tiến thẳng vào. Xe tải đi đầu mang khối thuốc nổ gần 200 kg có nhiệm vụ phá cổng. Lính gác cổng bắn trả dữ dội, 5 người hy sinh tại chỗ. Gần sáng, không thấy quân chi viện, 8 người còn lại rút vào một cao ốc đang xây dở cạnh đó tiếp tục cố thủ, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của quân đội Mỹ nhưng mất thêm một người. Gần sáng mùng 3 Tết, lợi dụng những lỗ hổng trên tường do đạn bắn, 7 người dìu nhau thoát ra đường Thủ Khoa Huân. Đến sáng tổ bị bao vây, còn quả lựu đạn cuối cùng rút chốt nhưng không nổ, 7 người bị bắt.
Tại Bộ Tư lệnh Hải quân, 16 chiến sĩ Đội biệt động số 3 (Cụm 1) do Nguyễn Văn Lém (Bảy Lốp) chỉ huy dùng hai xe du lịch đưa lực lượng đến trước mục tiêu lúc 2 giờ 50 phút ngày 31-1-1968. Sau khi diệt hai lính gác ở đầu cầu Cửu Long, biệt động đánh bộc phá mở cửa và đột nhập vào bên trong, nhưng bị hoả lực ngăn chặn mạnh, không phát triển được. Các chiến sĩ biệt động chiến đấu cho đến khi hy sinh gần hết, chỉ còn hai người về được căn cứ và Phân khu 4. Như vậy ở nội thành Sài Gòn, lực lượng biệt động thuộc Phân khu 6 trong ngày mùng 1 Tết Mậu Thân 1968 đã tiến công 6/9 mục tiêu chủ yếu. Trong số 88 chiến sĩ biệt động tham gia tác chiến, đã có 56 người tử trận và 10 người bị bắt.
II. TẠI HUẾ. Lúc 2 giờ 33 phút ngày 30-1-1968, pháo binh Quân giải phóng đồng loạt bắn phá các mục tiêu địch ở khu Tam giác, khu Phan Sào Nam, Phú Bài, Động Toàn, Đông Ba mở đầu cho tổng tiến công vào Nội đô Huế. Sau loạt pháo mở màn, lực lượng quân Giải phóng trên hai hướng cùng lúc đánh vào 40 mục tiêu trong và ngoại thành Huế. Đến 5 giờ sáng ngày 30-1-1968, quân Giải phóng chiếm toàn bộ khu Đại Nội, diệt một đại đội thám báo và 130 cảnh sát. 8 giờ sáng, lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên trên cột cờ báo hiệu đã làm chủ trung tâm thành phố Huế. Đến ngày 1-2, phần lớn Huế với 90% dân chúng đã nằm trong tay lực lượng quân Giải phóng.
Sau những thất bại ban đầu, từ ngày 8-2-1968, quân Mỹ bắt đầu huy động lực lượng phản kích dữ dội. Mỹ huy động cả lực lượng tổng dự bị từ Sài Gòn ra và từ Vùng I chiến thuật tới. Ngày 11-2, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 5) thủy quân lục chiến Mỹ cũng được tăng cường cho khu Tam giác, đưa quân số ở đây lên 16 tiểu đoàn, khoảng gần 15.000 quân cả Mỹ lẫn Việt Nam Cộng hòa. Từ ngày 9-2 đến ngày 12-2, quân Giải phóng không còn khả năng tiến công, chuyển sang tổ chức phòng ngự, ngăn chặn phản kích quyết liệt trên bốn cổng thành: cửa Chánh Tây, cửa Hữu, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba,và từ quốc lộ 1 vào An Hoà. Ngày 16 và 17-2, quân Mỹ phản kích và chiếm được cả Đông Ba. Ngày 18 chiếm cổng Thuỷ Quan, uy hiếp cửa Hữu, cửa An Hoà, và cửa Thượng Tứ.
Tình hình xấu đi rõ rệt. Mỹ đã tăng cường cho khu Mang Cá và Đông Ba một tiểu đoàn Thủy quân lục chiến để cùng lực lượng từ bên ngoài bao vây tiêu diệt quân Giải phóng đang giữ phần còn lại ở tả ngạn thành phố. Lực lượng quân Giải phóng bị đẩy lùi dần vào trong thành nội. Chính vào thời điểm này, Mỹ ồ ạt tăng quân lên 23 tiểu đoàn (11 tiểu đoàn trong thành phố, 12 tiểu đoàn ở vòng ngoài), yểm trợ bởi hàng trăm xe tăng - thiết giáp nhằm đánh chiếm thành Huế. Sức ép của quân Mỹ ngày càng tăng. Trước tình hình đó, để bảo toàn lực lượng, tránh bị bao vây ngày 22-2-1968, Khu ủy Trị - Thiên và chỉ huy mặt trận Huế quyết định rút toàn bộ lực lượng ra ngoài thành phố.
Sau 25 ngày chiến đấu, quân Mỹ và Đồng minh có hơn 4.400 thương vong, quân Giải phóng cũng có hơn 4.000 thương vong. Tuy tổn thất lớn và phải rút lui, song với việc giữ được thành phố 25 ngày, quân Giải phóng tại Huế đã tạo thành công lớn nhất và giữ được thành phố lâu nhất so với các thành phố khác, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung về chính trị của tổng tiến công và nổi dậy trên toàn Miền.
TỔN THẤT CÁC BÊN. Theo thống kê của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, Quân Giải phóng đã có đến 97 tiểu đoàn và 18 đại đôi trực tiếp tham chiến, tổng cộng khoảng 323.500 người. Số tổn thất từ ngày 29/1 đến 29/2/1968 được Mỹ ước tính là khoảng 41.000 người, trong tháng 3 là 17.192 người. Nhưng, theo số liệu Cục tác chiến của Quân Giải phóng, tổn thất của họ trong đợt 1 (từ 29/1 tới hết tháng 3) vào khoảng 17.000 binh sĩ tử trận và 20.000 bị thương, tức là bằng khoảng 2/3 so với ước tính của đối phương. Tổn thất của quân đội Hoa Kỳ và quân đội các nước khác Hàn Quốc, Úc, New Sealand, Thái Lan theo thống kê của họ là 4.124 chết, 19.295 bị thương, 604 mất tích. Quân lực Việt Nam Cộng hòa tổn thất 4.954 chết, 15.917 bị thương, 926 mất tích. Tổng cộng tổn thất của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh của họ là 9.078 chết, 35.212 bị thương, 1.530 mất tích.
THÀNH CÔNG, VÀ THƯƠNG VONG. Quân Giải phóng đã giữ được bí mật về mục tiêu và thời điểm tiến công. Quân Giải phóng tiến công vào các đô thị khi một bộ phận sĩ quan và binh lính kể cả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang về quê nghỉ Tết Nguyên đán. Quy mô cuộc tiến công đồng loạt tại tất cả các đô thị cùng diễn ra làm sửng sốt mọi người sửng sốt. Các lãnh đạo của phía quân Giải phóng đã lựa chọn phương án mạo hiểm nhất là đánh thẳng vào hậu phương của địch đã tạo ra tiếng vang lớn. Chiếm được một số thị xã thành phố, gây thiệt hại đáng kể cho đối phương và qua đó tác động mạnh vào nhân tâm nước Mỹ. Những điều này được truyền thông nhanh chóng, gây ấn tượng rất lớn lên tâm lý dư luận thế giới.
Chỉ riêng đợt 1 trong gần một tháng các trận đánh quyết liệt cho thấy 3 năm tìm-diệt của quân đội Hoa Kỳ chỉ đạt được hiệu quả thấp. Tại nông thôn, quân Giải phóng đã phá thêm 600 Ấp chiến lược, giải phóng thêm 100 xã mới với hơn một triệu dân. Về mặt tác chiến trong số các đô thị, quân Giải phóng đã phá hủy được 1/3 vật tư chiến tranh, loại khỏi vòng chiến hàng vạn quân Mỹ. Thành công nhất tại cố đô Huế, họ chiếm giữ thành phố lâu tới 25 ngày, buộc thủy quân lục chiến Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải đánh nhau ác liệt giành giật từng khu nhà đoạn phố.
Tuy nhiên qua đợt 1, bên cạnh những thành công, Kế hoạch trên dựa trên nhận định thấp về khả năng của đối phương và đánh giá quá cao khả năng của họ, nên trong thực tế quân Giải phóng đã bị thương vong quá lớn. Mặt khác, trong quá trình phổ biến chủ trương chiến dịch, nhiều sĩ quan chỉ huy chiến đấu của quân Giải phóng đã không nắm rõ chủ trương của cấp trên khi phát động chiến dịch: đánh lớn để gây tiếng vang hướng tới dư luận và chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, đàm phán. Nhưng khi chỉ đạo xuống dưới thì chỉ phổ biến khả năng thắng lợi dứt điểm, đã khiến các chỉ huy cấp dưới lập kế hoạch tác chiến và tiến hành đánh theo kiểu trận đánh cuối cùng, không lập sẵn kế hoạch phòng thủ và rút lui, dẫn tới việc tác chiến giai đoạn sau bị lâm vào bị động đối phó.
Cuối cùng, quân Giải phóng đã không linh hoạt thay đổi tuỳ theo tình hình. Khi đợt tấn công đầu tiên kết thúc, họ đã phát động tiếp đợt 2 vào tháng 5 (5-5 đến 15-6), và đợt 3 vào tháng 8 (17-8 đến 39-9) khi mà kế hoạch đã bị lộ và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại của Giải phóng quân càng lớn.
Nhìn lại diễn biến và kết quả của đợt 2 và đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Trung ương Đảng Lao động nhận định: "Chúng ta đã mắc một số khuyết điểm, chủ quan trong việc đánh giá tình hình cho nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó, nhất là không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm ngay, nhằm đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời", nên để mất đất, mất dân, lực lượng vũ trang, cơ sở cách mạng và vật chất chiến tranh bị tổn thất nghiêm trọng, gây những khó khăn rất lớn cho phong trào đấu tranh năm 1969. Song, thắng lợi trong đợt 2 và 3 tổng tiến công và nổi dậy cũng rất lớn, ta không chỉ tiêu diệt được một lực lượng chiến lược của Mỹ - ngụy, mà điều quan trọng là ta đã đánh bồi liên tiếp, đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom phá hoại miền Bắc, chấp nhận đoàn đại biểu của Mặt trân Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một trong bốn thành viên chính thức tham gia hoà đàm tại Paris. Những thắng lợi này góp phần cho ta thế mạnh, chủ động đấu tranh ở Hội nghị Paris."
Hơn 40 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân, Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, tướng Lê Khả Phiêu lúc đó là chính uỷ kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, đơn vị chủ lực đánh vào thành Huế và giữ Huế 25 ngày, hồi tưởng: Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, chúng tôi ở chiến trường lao đao mất 2 năm rưỡi, đến năm 1971 ta mới có được những chuyền biến tích cực. Vinh quang có thật, tinh thần chiến đấu thì anh dũng tuyệt vời, nhưng đúng là có khó khăn. Giữ được Huế 25 ngày như thế đã là "ghê" lắm rồi. Khi rút ra ngoài, cả trung đoàn chỉ còn đúng 5 cân gạo.
Bài 301: NGƯNG OANH TẠC BẮC VIỆT, BẮT ĐẦU ĐÀM PHÁN MỸ- BẮC VIỆT, VÀ VỚI NGƯỜI KẾ NHIỆM LÀ TỔNG THỐNG NIXON NĂM 1968-1969.
NGƯNG OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Johnson lên đài truyền hình loan báo quyết định ngưng các cuộc oanh tạc của Không quân Mỹ lên lãnh thổ Bắc Việt, trừ khu vực phía dưới vĩ tuyến 20, và muốn mở cuộc hòa đàm với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). Cuối bài diễn văn, Johnson loan báo thêm một tin bất ngờ là ông sẽ không ứng cử và cũng không chấp nhận Đảng Dân chủ đề cử ông tái tranh cử Tổng thống vào tháng Mười Một. Ngày3/4/68, Việt Nam Dân chủ Công hoà (VNDCCH) cho biết sẵn sàng nói chuyện với Hoa Kỳ. Hôm sau 4/4/68, các Đại sứ của sáu quốc gia đồng minh (Hoa Kỳ, Đại Hàn, Thái Lan, Phi-líp-pin, Úc và Tân Tây-Lan) được mời đến họp tại Dinh Độc lập, đồng ý với Việt Nam Cộng hoà (VNCH) đưa ra Bản Thông cáo Chung “nhấn mạnh rằng những cuộc thương thuyết song phương giữa Washington và Hà Nội, không có sự tham dự của VNCH, sẽ chỉ có tính cách thăm dò.
Ngày 21/4/1968, truyền thông Hà Nội loan tin một Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà Bình Việt Nam vừa được thành lập do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch. Ngày 2/5, sau gần một tháng tiếp xúc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ thỏa thuận lấy thành phố Paris làm nơi đàm phán. Mỹ cử Averell Harriman và Cypruc Vance, làm Trưởng và Phó đoàn. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có Xuân Thuỷ và Hà Văn Lâu làm Trưởng đoàn, Phó đoàn.
ĐÀM PHÁN MỸ-BẮC VIỆT. Ngày 13/5/68 Hội nghị Paris họp phiên họp đầu tiên, Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra yêu cầu: Mỹ chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam, ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện; rằng Đất nước Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt chờ Tổng tuyển cử để bầu chính quyền thống nhất cho cả hai miền. Phái đoàn Hoa Kỳ không đề cập tới các vấn đề thống nhất cho cả hai miền, mà đưa ra đòi hỏi về việc Tôn trọng khu phi quân sự ở Vỹ tuyến 17; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải xuống thang; Và rằng Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải cùng rút quân. Phái đoàn liên lạc của Việt Nam Cộng hòa đưa ra tuyên bố nếu Việt Nam Cộng hòa không được tham gia hòa đàm sẽ không có hòa bình.
Ngày 18-20/6/1968, Tổng thống Mỹ, Johnson và Tổng tống VNCH Nguyễn Văn Thiệu gặp nhau tại Honolulu thảo luận sách lược hoà đàm Mỹ-Hà Nội. Trong quá trình đàm phán, phía Mỹ đã thường xuyên thông báo cho Việt Nam Cộng hoà, và Nguyễn Văn Thiệu luôn tỏ ra chấp nhận lập trường của phía Mỹ. Nhưng, khi Mỹ-Hà Nội đạt được sự dàn xếp về các bên cho cuộc họp sắp đến thì lại nảy sinh sự bất hoà giữa Mỹ và Sài Gòn. Ngày 29/10/68, Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn báo cáo về Toà Bạch Ốc cho biết, Nguyễn Văn Thiệu đã rất phẫn nộ với Hoa Kỳ khi nhận tin phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ tới Paris dự tham dự đàm phán. Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố VNCH sẽ tiến hành đàm phán riêng với VNDCCH.
NGƯNG OANH TẠC TOÀN DIỆN BẮC VIÊT. Ngày 31/10/68, Tổng thống Johnson tuyên bố ngưng oanh tạc toàn diện Bắc Việt. Khi đưa ra quyết định nầy, cũng như quyết định từ bỏ chính trường để tìm giải pháp hòa bình cho cuộc chiến. Tuy nhiên, những cố gắng của Tổng thống Johnson không thuyết phục Hà Nội và Sài Gòn: Hà Nội không cam kết điều gì về quyết định ngưng oanh tạc toàn diện Bắc Việt; trong khi VNCH thì chống lại sự hiện diện của MTGPMN tham dự hòa đàm với tư cách một phái đoàn độc lập ngang hàng với VNCH. Ngày 02-11-1968, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố chỉ đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chứ không nói chuyện với MTDTGPMN, cương quyết không thành lập chính phủ Liên hiệp tại miền Nam, Tổng thống Thiệu còn tuyên bố Việt Nam Cộng hoà sẽ đàm phán riêng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà độc lập với cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Ngày 04-11-1968, phía Hoa Kỳ tiếp tục đưa ra lập trường cứng rắn, buộc chính quyền Sài Gòn phải chấp nhận tham gia đàm phán với MTDTGPMN. Ngày 05-11-1968, Hoa Kỳ tuyên bố hoãn họp do phía Việt Nam Cộng hoà thiếu thiện chí trong việc tham gia hòa đàm. Ngày 7/11/68, Nixon đắc cử Tổng thống Mỹ, đánh bại đối thủ Humphrey của đảng Dân chủ. Ngày 30-11-1968, Nguyễn Văn Thiệu có cuộc họp thu hẹp với Lưỡng viện Quốc hội Việt Nam Cộng hòa. Ngày 04/12/1968, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa nhóm họp thông qua quyết định chấp nhận để Chính phủ VNCH cử một phái đoàn tham gia đàm phán tại Paris. Ngày 05/12/1968, Nguyễn Văn Thiệu cử Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa là Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ làm cố vấn. Ngày 7/12, Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa rời Sài Gòn do Nguyễn Cao Kỳ và Phạm Đăng Lâm cầm đầu đi Paris dự hội nghị. Ngày 10/12, MTGPMN cũng cử Phái đoàn đi dự Hội nghị Paris do Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, Nguyễn Thị Bình làm Phó Trưởng đoàn.
VÀ, NGƯỜI KẾ NHIỆM TỔNG THỐNG NIXON. Ngày 25/1/1969, chỉ 5 ngày sau khi Nixon nhậm chức, Phái đoàn Việt Nam Cộng hoà cùng với phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam bắt đầu tham dự đàm phán Paris, theo công thức “phe các anh, phe chúng tôi” từ đó có tên “hai bên, bốn phái đoàn.” Trước đó, VNCH chỉ có một phái bộ liên lạc bên cạnh phái đoàn Mỹ tại hội nghị. Lập trường của các bên có sự khác nhau rõ rệt. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam muốn mọi hình thức đều phải thể hiện là đàm phán 04 bên, trong khi phía Koa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà muốn thể hiện là đàm phán hai bên. Tới tháng 5-1969, Hội nghị 04 bên đã trải qua 14 phiên tranh luận, nhưng không đạt được tiến triển.
Ngày 08-05-1969, phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đưa ra "giải pháp hòa bình 10 điểm". Ngày 14-05-1969, Hoa Kỳ đưa ra giải pháp 08 điểm, rằng tất cả các lực lượng không thuộc miền Nam Việt Nam đều phải rút quân. Ngày 6/6/69, thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam, trong đó, Nguyễn Thị Bình là Bộ trưởng Ngoại giao, Trần Bửu Kiếm là Bộ trưởng Phủ Chủ tịch Chính phủ. Ngay sau đó, Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình được cử làm trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thay thế Trần Bửu Kiếm. Lúc nầy, Hoa Kỳ bắt đầu có những động thái xích lại với Trung Quốc để cô lập Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam.
Bài 302: VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH LÀ SÁCH LƯỢC CHỐNG CỘNG CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM THỜI TỔNG THỐNG NIXON 1969-1972.
VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH. Vào khoảng tháng 3 năm 1969, không lâu sau ngày tổng thống Nixon nhậm chức, tướng Andrew Goodpaster phụ tá của đại tướng Creighton Abrams Tổng Tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam trong một buổi thuyết trình trước Hội đồng An ninh Hoa Kỳ, tướng Goodpaster trình bày rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa bây giờ đã đủ mạnh, đến độ Hoa Kỳ có thể "Phi Mỹ hóa" (De-Americanization) cuộc chiến tại Việt Nam. Một số cố vấn cho rằng kiến cái tên này sẽ gián tiếp khẳng định Mỹ là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tại Việt Nam. Bộ trưởng Laird đề nghị nên dùng một danh từ nào đó GIÁN TIẾP hơn có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Việt Nam, nhưng tránh không đả động gì tới nước Mỹ. Và, tên mới "Việt Nam hóa chiến tranh" (Vietnamization) được chấp nhận.
Việt Nam hóa chiến tranh là chuyển dần trách nhiệm tiến hành cuộc chiến cho người Việt, giảm bớt sự dính líu của Mỹ. Việt Nam hóa chiến tranh cũng là bước phát triển cao hơn, phối hợp cả ba mũi hoạt động: Quân sự - bình định - ngoại giao để vừa tiêu diệt, cô lập đối phương trên trường quốc tế. Song song với rút quân đội Mỹ, Hoa Kỳ sẽ thúc đẩy các bên trong hoà đàm nhằm đạt tới kết quả với một giá chấp nhận được. Tham vọng của Sách lược Việt Nam hóa chiến tranh là: (1) Từng bước chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu cho quân đội Sài Gòn, rút quân Mỹ về nước. (2) Trang bị cho quân lực Việt Nam Cộng hoà đủ sức đánh bại quân Giải Phóng. (3) Quân Giải phóng sẽ kết thúc hoạt động, và 2 miền Việt Nam sẽ trở thành 2 quốc gia riêng biệt.
NỘI DUNG VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH. Nội dung cụ thể là: (1) Xây dựng quân lực Việt Nam Cộng hoà thành một lực lượng mạnh, hiện đại. (2) Củng cố chính quyền các cấp của Việt Nam Cộng hòa, tăng cường viện trợ kinh tế. (3) Hoàn thành chương trình bình định, phản kích ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam (sang Lào và Campuchia). (4) Tập hợp Liên minh chống Cộng khu vực do quân đội và chính quyền Sài Gòn làm nòng cốt. (5) Chặn đứng các nguồn tiếp tế chi viện cho quân Giải phóng miền Nam, xúc tiến hoạt động ngoại giao để kiềm chế, cô lập Việt Việt Nam Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng miền Nam.
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN. Bước 1: từ năm 1969 đến giữa năm 1970 bình định một số vùng đông dân quan trọng. Xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở cách mạng tại vùng quân Giải phóng kiểm soát. Rút một số đơn vị chiến đấu của Mỹ ra khỏi chiến trường Việt Nam. Khống chế và đẩy lùi quân Giải phóng, làm cho quân Giải phóng không hoạt động được ở quy mô từ đại đội trở lên. Bước 2: từ giữa những năm 1970 đến giữa năm 1971, bình định được tất cả các vùng đông dân quan trọng. Hoàn thành kế hoạch hiện đại hóa quân lực Việt Nam Cộng hoà, rút phần lớn quân Mỹ về nước. Bước 3: từ giữa năm 1971 đến giữa năm 1972: Cơ bản bình định xong cả miền Nam. Quân lực Việt Nam Cộng hoà đủ sức đánh bại Quân Giải phóng, chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Rút hết lực lượng chiến đấu trên bộ của Mỹ về nước, chỉ duy trì cố vấn quân sự và sĩ quan chỉ huy tác chiến.
Tóm lại, Việt Nam hóa chiến tranh không phải là Mỹ tìm một lối thoát gọn ghẽ mà Mỹ tìm cách để kết thúc chiến tranh trên thế mạnh. Với chiến lược mới này, Mỹ không hề từ bỏ các mục tiêu của Mỹ là ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam mà còn thực hiện nó trong điều kiện giảm dần chi phí chiến tranh, rút quân Mỹ về nước, ổn định được tình hình chính trị trong nội bộ nước Mỹ.
Ngày 8/6/1969, Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Tổng thống Thiệu gặp nhau tại đảo Midway để bàn về sách lược Việt Nam hoá, lịch trình rút quân Mỹ, Tổng thống Thiệu được thông báo đầy đủ nội dung, và kế hoạch thực hiện sách lược Việt Nam hoá. Mỹ cho hay sẽ phản kích ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam (sang Lào và Campuchia), chặn đứng các nguồn tiếp tế chi viện cho quân Giải phóng miền Nam; Không lực Mỹ sẽ yểm trợ về tối đa cho quân đội Việt Nam Cộng hòa trong các cuộc giao tranh với Quân Giải phóng; Và, Mỹ cam kết sẽ tăng thêm viện trợ kinh tế, kỹ thuật, giúp VNCH hoàn thành chương trình bình định. Mỹ và Việt Nam Cộng hoà dự kiến cứ mỗi năm tăng từ 50.000 đến 100.000 quân cho đến khi quân đội này đạt 1.100.000 vào cuối năm 1971.
HIỆN ĐẠI HOÁ QUÂN ĐỘI VNCH. Mỹ chú trọng phát triển cả ba quân chủng Hải, Lục, Không quân, nhưng ưu tiên củng cố và phát triển Lục quân. Nếu năm 1969, Lục quân Việt Nam Cộng hòa chia thành bốn loại lực lượng xung kích, lực lượng chống xâm nhập; lực lượng bảo vệ đô thị; lực lượng yểm trợ xây dựng nông thôn thì từ năm 1970 trở đi, lực lượng này được tổ chức thành hai loại: "Lực lượng lưu động" làm nhiệm vụ thường xuyên đánh phá căn cứ, hệ thống tiếp vận của quân Giải phóng, đẩy lùi, ngăn chặn chủ lực quân Giải phóng trở lại hoạt động trong nội địa. "Lực lượng lãnh thổ" làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh nội địa, bình định nông thôn.
Các sư đoàn chủ lực bộ binh được bổ sung quân số, hoàn thiện biên chế: một sư đoàn có 12 tiểu đoàn, một trung đoàn có 4 tiểu đoàn. Các đơn vị biệt kích được cải tổ thành các tiểu đoàn biệt động quân biên phòng (37 tiểu đoàn). Hỏa lực yểm trợ cho Lục quân cũng được tăng cường. Trong 3 năm Lục quân Việt Nam Cộng hoà trang bị tăng lên 1.300 khẩu pháo và 10.000 súng cối các loại, 700.000 súng M16 - loại súng trường hiện đại nhất của quân Mỹ lúc bấy giờ, 30.000 súng phóng lựu, 10.000 đại liên các loại. Tăng-thiết giáp từ 1.037 chiếc năm 1968 lên 1.879 chiếc năm 1972. Mỹ rất quan tâm xây dựng khối bộ binh cơ động, dù, thủy quân Lục chiến. Khối bộ binh cơ động năm 1968 mới có 50 tiểu đoàn, đến cuối năm 1970 tăng lên 90 tiểu đoàn.
Đến tháng 6 năm 1970, theo Mỹ, Lục quân Việt Nam Cộng hoà có thể đảm nhiệm hầu hết nhiệm vụ chiến đấu trên bộ. Ngày 1 tháng 7 năm 1970, bộ tư lệnh Lục quân Việt Nam Cộng hoà chính thức được thành lập. Hải quân cũng được phát triển. Cuối năm 1971, đầu năm 1972 lực lượng đã lên đến gần 50.000 quân, với 1.600 tàu các loại hoạt động trên biển và trên sông. Không quân Việt Nam Cộng hoà được củng cố và kiện toàn, quân số tăng nhanh từ 35.000 năm 1968 lên hơn 50.000 năm 1971. Với lực lượng đã được tăng cường, năm 1970, Không lực Việt Nam Cộng hoà được tổ chức lại thành 6 sư đoàn, 1 phi đoàn liên lạc, 1 phi đoàn vận tải, 5 phi đoàn trực thăng, 3 phi đoàn khu trục, tổng cộng gần 1.500 máy bay các loại.
Nhìn chung sau 3 năm thực hiện kế hoạch "phát triển và hiện đại hóa quân đội", Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã thu được kết quả đáng kể. Quân số quân đội Việt Nam Cộng hoà tăng nhanh, vũ khí trang bị được hiện đại hóa với tỷ lệ khá cao (vũ khí đạt 98,7%, quân xa cơ giới đạt 100%, thiết giáp, chiến xa đạt 99,5%, vô tuyến điện các loại đạt 75%), cơ cấu, tổ chức được củng cố thêm một bước. Từ năm 1968 đến năm 1972, quân số quân đội Việt Nam Cộng hoà tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1,05 triệu quân. Trong đó, Không quân tăng quân số tới 163%, Hải quân tăng 110%, Lục quân tăng gần 8%.
BÌNH ĐỊNH NÔNG THÔN. Nixon coi bình định là "trận cuối cùng, ai thắng trận này sẽ thắng cuộc chiến tranh". Theo Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì bình định, dồn dân vào các ấp Tân sinh đời mới là biện pháp chiến lược quyết định sự tồn vong của chế độ Việt Nam Cộng hoà và sự thành, bại của Việt Nam hóa chiến tranh. Cho nên, Mỹ chia bình định làm nhiều giai đoạn để thực hiện: Bình định cấp tốc từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1969; Bình định phát triển từ tháng 7 năm 1969 đến tháng 6 năm 1970; Bình định đặc biệt từ tháng 7 năm 1970 đến tháng 2 năm 1971; Rồi chương trình "cộng đồng tự vệ" và "phát triển nông thôn" từ tháng 3 năm 1971 đến tháng 3 năm 1972. Biện pháp cơ bản hàng đầu để thực hiện bình định là tăng cường mở rộng và đẩy mạnh quy mô, mật độ hành quân càn quét.
Từ năm 1969, các cuộc hành quân càn quét của quân đội Mỹ-Việt Nam Cộng hòa tăng lên một cách đột ngột so với các năm trước đó, nhất là chiến trường Nam Bộ. Năm 1968 có 2.192 cuộc hành quân càn quét, năm 1969 tăng lên 4.344 cuộc. Chỉ riêng 10 tháng đầu năm 1970 đã có tới 745 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên. Nếu tính cả hoạt động dưới cấp tiểu đoàn, thì năm 1969 có 10.980 cuộc, năm 1970 tăng lên 23.783 cuộc hành quân càn quét.
CHIẾN DỊCH PHƯỢNG HOÀNG. Cùng với tăng cường và đẩy mạnh hành quân càn quét, Mỹ còn sử dụng “chiến dịch Phượng Hoàng” do phân cục tình báo CIA Mỹ ở Sài Gòn lập ra từ cuối năm 1967 dưới danh nghĩa là Văn phòng phụ tá đặc biệt (OSA) để hỗ trợ cho chương trình bình định. Từ năm 1969, tổ chức này phát triển nhanh với quy mô to lớn và sâu rộng từ trung ương đến địa phương với phương thức hoạt động đa dạng như sử dụng các tổ chức tình báo, cảnh sát chìm kết hợp khai thác những đối tượng đầu hàng để phát hiện cán bộ đối phương nằm vùng hoặc những người dân có cảm tình với họ để bắt giam và tiêu diệt. Theo đánh giá của chính quyền Sài Gòn, từ năm 1969 đến giữa năm 1970 là thời kỳ bình định đạt kết quả tốt nhất. Cuối năm 1971, theo báo cáo, chính quyền Sài Gòn đã kiểm soát được 7.194 ấp. Hậu quả là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ co cụm phòng thủ, vùng giải phóng bị thu hẹp.
TẠI CUỘC ĐÀM PHÁN. Thành quả trên khiến Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà lại chiếm ưu thế trên bàn đàm phán và gây sức ép lên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Từ tháng 8-1969, cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn Henry Kissinger bắt đầu đối thoại trực tiếp. Và, vấn đề tù binh Hoa Kỳ cũng được nêu ra. Nhưng phải đến thời gian sau đó, với thế thượng phong trên thực địa, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà sử dụng chiến thuật lảng tránh các vấn đề chính trong đàm phán, chỉ đưa ra một vấn đề cho một phiên thảo luận mà không đi vào các nội dung cốt lõi, với ý đồ chờ tới thời điểm nhất định sẽ đánh gục hoàn toàn Cộng quân tại miền Nam và đến kết thúc đàm phán. Để phản đối hành động của Hoa Kỳ, Phái đoàn Dân chủ Việt Nam Cộng hoà đã tẩy chay tới 35 phiên họp, và Phái đoàn Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng tẩy chay 33 phiên họp.
Bài 303: HÀNH QUÂN ĐÁNH VÀO “THÁNH ĐỊA VIỆT CỘNG” BÊN TRONG ĐẤT CAMPHUCHIA TỪ THÁNG 4 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 1970.
CAMPUCHIA TRUNG LẬP. Năm 1954, ngay sau khi người Pháp rời khỏi Campuchia, Quốc trưởng Norodom Sihanouk nắm quyền cai trị đất nước. Cho dù các rắc rối với Việt Nam Cộng hoà gia tăng, ông vẫn cố giữ cho đất nước một thái độ trung lập. Campuchia đồng thời có quan hệ ngoại giao với cả Mỹ và Trung Quốc. Năm 1965, sau khi người Mỹ đưa quân vào Việt Nam bảo vệ Việt Nam Cộng hoà ông chuyển hướng sang ủng hộ Trung Quốc đồng thời cắt đứt quan hệ ngoại giao với Mỹ và Anh. Ông cũng đồng ý cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sử dụng các tuyến đường vận chuyển vũ khí vào miền Nam trên lãnh thổ Campuchia và cho phép Quân Giải phóng miền Nam thiết lập các căn cứ dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia và tin tưởng Trung Quốc sẽ bảo đảm vị thế cho mình.
Lúc còn là Phó Tổng thống Mỹ, Nixon đã coi Campuchia là một khâu trọng yếu trong việc giành thắng lợi ở Việt Nam. Khi lên làm Tổng thống Mỹ, Nixon đưa ra một kế hoạch nhằm biến Campuchia thành một quốc gia thân Mỹ. Còn Tư lệnh quân Mỹ tại Việt Nam Cộng hoà thì cho rằng Campuchia là nơi đứng chân của Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Vì vậy, viên tư lệnh chiến trường này nhận định, nếu phá được "thánh địa Việt cộng" ở Campuchia, cách mạng miền Nam sẽ bị bóp nghẹt, chiến tranh Việt Nam sẽ kết thúc trong vòng một năm. Creighton Abrams đề nghị Nixon dùng B-52 đánh vào vùng Móc Câu và Mỏ Vẹt (căn cứ 353), nơi mà Creighton Abrams cho rằng Trung ương Cục miền Nam đang đứng chân. Đề nghị của Abram được Nixon chấp thuận.
Tháng 2-1969, sau gần bốn năm cắt đứt ngoại giao, Campuchia và Mỹ lập lại quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ. Chính Đại sứ quán Mỹ ở Phnôm Pênh cùng với Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã ủng hộ Lon Nol - một đại diện phái cực hữu trong Chính phủ Campuchia do Sihanouk làm Quốc trưởng, tiến hành các hoạt động quân sự tấn công Quân giải phóng miền Nam. Đầu năm 1970, thừa lúc Sihanouk đi dưỡng bệnh ở Pháp, Lon Nol và Sisowath Sirik Matak ra tuyên bố huỷ bỏ Hiệp định thương mại với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam, đóng cảng Sihanoukvill không cho tàu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cập cảng tiếp tế vũ khí, quân trang, quân dụng cho Quân giải phóng miền Nam.
TRUẤT PHẾ QUỐC TRƯỞNG NORODOM SIHANOUK. Ngày 18 tháng 3 năm 1970, trong lúc Sihanouk đang ở nước ngoài, Thủ tướng Lon Nol cho quân đội bắt giữ một số thành viên gần gũi với Sihanouk trong chính phủ, điều động xe tăng bao vây toà nhà Quốc hội, triệu tập Quốc hội họp bỏ phiếu phế truất Quốc trưởng Norodom Sihanouk, và trao quyền khẩn cấp cho Lon Nol. Với việc Quốc hội Campuchia quyết nghị bãi nhiệm Sihanouk, quan hệ giữa Mỹ và Campuchia hoàn toàn thay đổi từ chỗ Sihanouk đã cắt đứt, rồi nối lại quan hệ ngoại giao với Mỹ nhưng lạnh nhạt, để xích lại gần các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì nay Campuchia do Lon Nol lãnh đạo trở thành đồng minh gần gũi của Mỹ.
Ngày 22-4-1970, Nixon triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia để thảo luận về bước đi tiếp theo của Mỹ ở Campuchia. Trong cuộc họp này, giới lãnh đạo Mỹ cho rằng, các vùng "đất thánh" Mỏ Vẹt và Móc Câu, nơi đứng chân của cơ quan chỉ đạo quân Giải phóng miền Nam, sau 14 tháng B-52 ném bom, gần như vẫn còn nguyên vẹn. Vì vậy, Mỹ quyết định phát động cuộc tiến công trên bộ vào Campuchia để "chộp bắt" các cơ quan chỉ đạo quân Giải phóng miền Nam. Ngày 30-4-1970, theo lệnh của Nixon, Mỹ huy động năm vạn quân Mỹ phối hợp với năm vạn quân Việt Nam Cộng hoà , mở cuộc tiến công quy mô lớn vào Campuchia. Giờ đây, Chiến tranh Việt Nam đã thực sự mở rộng ra toàn cõi Đông Dương.
HÀNH QUÂN VÀO CAMPUCHIA. Cuộc hành quân kéo dài hai tháng từ ngày 30-4 đến ngày 30-6-1970, đánh sâu vào đất Campuchia 30 km đến 40 km có nơi đến 80 km, trên toàn tuyến biên giới tiếp giáp với Việt Nam như nam Svay Riêng, Memot Snuol, Takeo, đông Kam pốt, trọng tâm là Căn cứ Ba Thu, Bến Lức, Long An và vùng Lưởi Câu ở Kampong Cham. Quân giải phóng miền Nam rút ngay khi Mỹ tiến vào nhưng họ lại kháng cự quyết liệt ở thị trấn Snoul. Hơn 90% thị trấn bị xóa sổ sau hai ngày bị oanh tạc bằng bom na-pan và pháo. Quân đội Mỹ cũng thông báo là đã phát hiện cách đó không xa một khu vực rộng hai dặm vuông của Quân giải phóng miền Nam dưới các tán rừng già gồm các hệ thống bông ke, lán trại, lối mòn, ga-ra xe tải, nhà ăn, chuồng nuôi heo, gà, bãi tập bắn và cả hồ bơi.
Quân Mỹ kiểm tra thấy có tới hơn 400 lán trại, nhà kho và boong ke, chứa đầy lương thực, quần áo và thuốc men, 182 hầm vũ khí và đạn dược. Có hầm chứa tới 480 khẩu súng và một hầm khác có 120.000 viên đạn. Vài ngày sau trực thăng phát hiện 4 xe tải của Quân Giải phóng đang di chuyển trên đường mòn giữa rừng già. Sau cuộc đọ súng với lực lượng bộ binh, Quân giải phóng miền Nam rút lui, để lại phía sau một hầm đạn lớn nhất được Hoa Kỳ khám phá được trong cuộc chiến, với hơn 6 triệu rưởi viên đạn các loại, hàng ngàn rốc két, tiểu liên, một số xe vận tải và cả 1 Tổng đài điện thoại. Dù không có tài liệu hay cơ sở hạ tầng rõ ràng để xác định, nhưng người Mỹ cho rằng đây chính là trung tâm đầu não của Trung ương Cục miền Nam huyền thoại.
PHẢN CÔNG CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG. Đến tháng 5 năm 1970, trước tình hình Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết "Về tình hình mới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mới của chúng ta là “nâng cao sức mạnh đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, tiến lên giành những thắng lợi mới." Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Trung ương Cục và Quân uỷ miền, các đơn vị bộ đội chủ lực, hậu cần, lực lượng bảo vệ căn cứ, kho tàng phối hợp với lực lượng du kích Campuchia tiến công vào một số thị trấn, chi khu quân sự, kiểm soát thêm nhiều vùng nông thôn thuộc tỉnh Kratié, sáu huyện thuộc Takéo, Kam pốt và bao vây nhiều vùng khác.
Trung đoàn 205 và 207 tiến công Kampong Thom, Kampong Chnang dọc Biển Hồ từ phía bắc xuống Précđam, từ Xiêm Riệp xuống Kampong Thom. Hai trung đoàn thuộc Sư đoàn 5 chủ lực miền tiến công tỉnh lỵ Kratié, Stung Treng và Mondulkiri. Tại hai tỉnh Svay Rieng và Prey Veng, Sư đoàn 9 chủ lực miền phối hợp với Quân giải phóng Campuchia đánh chiếm nhiều vùng nông thôn từ biên giới đến sông Mê Kông, từ nam đường số 1 đến tây đường số, đồng thời liên tục tập kích vào các cụm quân Mỹ trên các trục đường 1, 22, 15, bảo vệ hệ thống kho tàng, bệnh viện, các cơ quan Trung ương cục. Sư đoàn 7 chủ lực miền cùng các đơn vị thuộc khu vục Căn cứ 20 và lực lượng du kích cơ quan, bệnh viện đã chiến đấu quyết liệt làm thất bại cuộc hành quân lớn của 21 tiểu đoàn quân Mỹ và quân Sài Gòn.
Từ ngày 11-5-1970, Quân giải phóng bắt đầu tập trung lực lượng đánh mạnh vào các cụm hoả lực tại Krariêng, Sa Tum, Sóc Chum, bẻ gãy các đợt tiến công của Sư đoàn 25 bộ binh và Trung đoàn 7 thiết giáp của Mỹ. Tại Thủ đô Phnôm Pênh, đặc công biệt động Quân giải phóng và du kích Campuchia đẩy mạnh các hoạt động quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh, làm cho Phnômpênh hầu như bị biệt lập với cảng Côngpông Xom từ tháng 5-1970.
KẾT THÚC HÀNH QUÂN. Ngày 30 tháng 6, kết thúc cuộc hành quân triệt phá gần như hoàn toàn hệ thống căn cứ, kho tàng, bệnh viện và các tuyến tiếp tế hậu cần của Quân giải phóng miền Nam, nhưng, nhưng không tiêu diệt được các cơ quan lãnh đạo Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền. Liên quân Việt-Mỹ để lại 20 tiểu đoàn, trợ giúp cho quân đội bạn. Các Tiểu đoàn Việt-Mỹ thường là những đơn vị hoạt động lưu động nhắm vào các nơi nghi ngờ là điểm xuất phát để thâm nhập vào Việt Nam Cộng hoà.
Bài 304: HÀNH QUÂN LAM SƠN 719 ĐÁNH VÀO “TRUNG TÂM HẬU CẦN” CỦA BẮC VIỆT TẠI TCHEPONE, HẠ LÀO THÁNG 2 - 3 NĂM 1971
HÀNH QUÂN LAM SƠN 719. Sau khi tấn công vào các "thánh địa Việt Cộng" tại Campuchia, các sở chỉ huy Mỹ tại Sài Gòn quyết định rằng thời gian đang thuận lợi cho một chiến dịch tương tự tại Lào. Các tướng lĩnh Mỹ tin rằng, nếu thực hiện một chiến dịch như vậy, tốt nhất là làm thật nhanh, trong khi các phương tiện chiến tranh của Mỹ vẫn còn sẵn có tại miền Nam Việt Nam. Một chiến dịch như vậy sẽ gây ra sự thiếu thốn đạn dược vũ khí cho Giải phóng quân sau 12 đến 18 tháng, trong khi quân đội Mỹ rút dần ra khỏi miền Nam Việt Nam, và nhờ đó trì hoãn một cuộc tấn công lớn của Quân Giải phóng vào các tỉnh phía Bắc Việt Nam Cộng hòa trong vòng 1 năm, thậm chí có thể 2 năm, hoặc lâu hơn.
Một báo cáo tình báo Mỹ ước tính khoảng 90% lượng quân nhu của Quân Giải phóng miền Nam chuyển dọc đường Trường Sơn đang được điều vào 3 tỉnh cực Bắc của Việt Nam Cộng hòa, hiện tượng này cho thấy sự chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn của Quân Giải phóng miền Nam. Đây là một tín hiệu cảnh báo cho cả Washington và chỉ huy Mỹ tại Việt Nam, hối thúc về sự cần thiết của một cuộc tấn công ngăn chặn để làm trật bánh các mục tiêu của Quân Giải phóng miền Nam trong tương lai. Đối với Mỹ, một cuộc công như thế chẳng những “làm trật bánh mục tiêu của Quân Giải phóng” mà còn để “thử nghiệm về khả năng Quân lực Việt Nam Cộng hòa có thể tự chiến đấu trong tình huống Mỹ tiếp tục rút quân ra khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam.
LỰC LƯỢNG THAM CHIẾN. Quân đội Việt Nam Cộng hòa gồm có: 3 sư đoàn: Sư đoàn Dù, Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến, và Sư đoàn 1 Bộ Binh; Liên đoàn 1 Biệt động quân; 4 thiết đoàn và 2 chi đoàn thiết giáp; 13 tiểu đoàn pháo binh. Ngoài ra, còn có khoảng 10 ngàn quân hỗ trợ tuyến sau như quân y, vận tải, liên lạc… Tổng cộng trên 30 ngàn quân.Quân đội Mỹ: ban đầu có khoảng 10 ngàn quân, gồm: 12 tiểu đoàn bộ binh: 5 tiểu đoàn thuộc sư đoàn dù 101, 4 tiểu đoàn lữ 1 sư đoàn 5 bộ binh cơ giới, 3 tiểu đoàn thuộc sư đoàn Americal; 8 tiểu đoàn pháo binh; 1.200 máy bay gồm 800 trực thăng, 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải cỡ lớn và 50 máy bay ném bom chiến lược B-52. Ngoài ra còn có 2 binh đoàn Quân đội Hoàng gia Lào với khoảng 4.000 quân (thuộc 2 binh đoàn cơ động GM30 và GM33). Tổng lực lượng Mỹ-VNCH trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất có 55.000 quân.
Quân Giải phóng miền Nam. Tổng cộng có khoảng 60.000 quân, với chỉ huy là Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là "Bộ tư lệnh 702"). Các sư đoàn bộ binh: Sư 2. 304, 308, 320, 324 của Quân Giải phóng miền Nam. Ba tiểu đoàn tăng, thiết giáp: 297, 397, 198, với 88 xe tăng (Tiểu đoàn 397 trang bị 33 xe T-34/85, Tiểu đoàn 297 trang bị 33 xe T-54, Tiểu đoàn 198 trang bị 22 xe tăng lội nước PT-76. Một số tiểu đoàn đạc công. Ba trung đoàn pháo binh cơ giới: 368, 38, 45. Trung đoàn pháo mang vác 84. Ba trung đoàn pháo phòng không: 230, 241, 591. Ba trung đoàn công binh: 219, 83, 7. Bảo vệ hậu phương chiến lược, trực tiếp của chiến dịch là Sư đoàn phòng không 367 gồm 3 trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 224 và hai trung đoàn tên lửa 238, 237. Và Lực lượng chính quy và dân quân Pathet Lào.
Xét về tương quan, hai bên khá tương đương về quân số, tuy nhiên phía Mỹ và VNCH mạnh hơn hẳn về trang bị và hỏa lực hạng nặng: gấp 5 lần về thiết giáp, 3 lần về pháo hạng nặng và hơn tuyệt đối về không quân.
DIỄN TIẾN HÀNH QUÂN. Sau các đợt bắn phá dữ dội của các trận địa pháo, và các phi vụ ném bom B-52 dọc hai bên Đường 9 - Nam Lào, cuộc hành quân Lam Sơn - 719 bắt đầu vào ngày 8 tháng 2, khi cánh quân chính của Việt Nam Cộng hòa, Lữ đoàn 3 Thiết giáp và các Tiểu đoàn 1 và 8 Nhảy dù, tiến về phía Bản Đông theo đường 9 không gặp phản kháng. Để bảo vệ sườn phía bắc, Tiểu đoàn 39 Biệt động quân được không vận tới bãi đáp Ranger North, còn Tiểu đoàn 21 Biệt động quân tới Ranger South. Cùng thời gian đó, Tiểu đoàn 2 Nhảy dù chiếm cứ điểm 30, còn sở chỉ huy Lữ 3 Dù cùng Tiểu đoàn 3 Nhảy dù tới cứ điểm 31. Đồng thời, các đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ binh đánh chiếm các bãi đáp Blue, Don, White, và Brown cùng các cứ điểm Hotel, Delta, và Delta 1, che chắn sườn phía nam của đội hình chính.
Ngày 10 tháng 2, lực lượng thiết giáp QLVNCH kiểm soát được Đường 9 cho đến Bản Đông, nằm sâu 20 km trong địa phận Lào và ở khoảng giữa đường tới Tchepone. Đến 11 tháng 2, Bản Đông trở thành căn cứ và là trung tâm chỉ huy chiến dịch. Hai ngày sau, tướng Abrams và Sutherland bay đến sở chỉ huy tiền phương của Hoàng Xuân Lãm tại Đông Hà để đẩy nhanh lịch trình. Và tại đây, họ đã quyết định đẩy các tiền đồn của Sư đoàn 1 Bộ binh ở phía Nam đường 9 về phía Tây để bảo vệ sườn cho hướng tiến quân theo kế hoạch. Việc chuyển quân này tốn thêm 5 ngày nữa. Trong khoảng thời gian đó, Quân Giải phóng miền Nam đã tổ chức vây hãm Bản Đông từ nhiều phía, không để cho cánh quân chính của Việt Nam Cộng hòa theo đường 9 tiến lên Tchepone.
Ngày 16 tháng 2, Quân Giải phóng miền Nam đã bắt đầu tấn công nghi binh để cầm giữ các cứ điểm Rangers South. Đến chiều ngày 19 tháng 2 tập trung tấn công cứ điểm Rangers North. Lực lượng tấn công trên bộ là Trung đoàn 102 Thủ Đô của Sư đoàn 308 do Trung đoàn trưởng Hoàng Ngọc Tý và Chính ủy Nguyễn Hữu Ích chỉ huy, hỗ trợ bởi các xe tăng PT-76 và T-54. Tại Ranger North (điểm cao 500), vị trí này do Tiểu đoàn 39 Biệt động quân chiếm giữ, có sự hỗ trợ của B-52 và pháo. Phòng thủ đến chiều ngày 20, quân số của Tiểu đoàn 39 đã giảm từ 500 tay súng xuống còn 323, họ bắt đầu rút về phía Ranger South cách đó 6 km. Đến đêm, chỉ có 109 người đến được Ranger South. Trong các nỗ lực hỗ trợ Tiểu đoàn 39, có 10 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi. Mỹ ước tính Quân Giải phóng miền Nam thương vong khoảng 600 người trong trận này.
Ngày 21 tháng 2, đến lượt Ranger South, nơi có Tiểu đoàn 21 Biệt động quân với 400 quân, và hơn 100 quân từ Ranger North đến bị Quân Giải phóng tấn công. Lực lượng này giữ vị trí thêm 2 ngày trước khi tướng Lãm ra lệnh rút về Cứ điểm 30 cách đó 5 km về phía đông nam. Ngày 23 tháng 2, Quân Giải phóng tấn công vào cứ điểm Hotel 2 ở phía nam Đường 9. Hôm sau, lực lượng QLVNCH tại đây rút khỏi cứ điểm. Từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 2, được sự hỗ trợ đắc lực của các đơn vị tại chỗ của Đoàn 559, phối hợp với Sư đoàn 308 và Sư đoàn 320 hoạt động ở hướng bắc, các Sư đoàn 304, 324, 2 ở hướng nam và tây nam Đường 9 chuyển từ chốt chặt sang tiến công, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 1 BB và Sư đoàn TQLC của QLVNCH, phá tan các đợt "nhảy cóc" lùng sục đánh phá kho tàng.
Căn cứ 31 (điểm cao 543) - vị trí then chốt 2 ở phía bắc là cứ điểm tiếp theo bị đánh chiếm. Căn cứ này đã bị Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 Quân Giải phóng do Trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến và Chính ủy Đặng Văn Trượng chỉ huy, bao vây tiến công từ ngày 21 tháng 2. Hỏa lực phòng không dữ dội của Quân Giải phóng làm cho việc tăng viện và hậu cần cho căn cứ 31 trở nên bất khả thi. Bằng “chiến thuật vây lấn” từ ngày 21 đến 24 tháng 2, các đơn vị của Trung đoàn 64 Quân Giải phóng đã lần lượt tiêu diệt các trận địa hỏa lực và trận địa phòng ngự vòng ngoài, cắt đường bộ từ Bản Đông lên căn cứ 31. Trưa 25 tháng 2, Trung đoàn 64 được phối thuộc thêm Đại đội 9 gồm 3 xe tăng PT-76 của Tiểu đoàn xe tăng 198 nhận lệnh tấn công diệt cứ điểm.
11h30 phút ngày 25/2, Đại đội 9 được lệnh xuất kích, húc đổ những cây to đã cưa sẵn tiến lên điểm cao 543, dùng pháo bắn sập các lô cốt yểm trợ bộ binh tiến công. Trong quá trình chiến đấu, 1 xe PT-76 bị bắn cháy và 1 chiếc khác bị bắn hỏng, chiếc xe tăng còn lại mang số hiệu 555 đã một mình quần thảo trong căn cứ suốt hàng giờ. Đến một căn hầm, họ bủa vây bắt giữ 47 tù binh, trong đó có Lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ. Đáng chú ý, xe tăng 555 cũng chính là một trong những chiếc xe đánh tham gia đánh trận Làng Vây năm 1968. Bằng trận tiến công hiệp đồng binh chủng, Trung đoàn 64 đã làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù, bắt sống đại tá Lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ Ban tham mưu. Thiệt hại của Quân Giải phóng được Mỹ ước tính là 250 người chết, 11 xe tăng PT-76 và T-54 bị diệt.
Cứ điểm 30 chỉ trụ được thêm khoảng 1 tuần. Tuy độ dốc của ngọn đồi mà cứ điểm đặt trên đó đã loại trừ khả năng tấn công bằng xe tăng, sự bắn phá của pháo binh Quân Giải phóng đã rất hiệu lực. Đến ngày 3 tháng 3 cả 6 khẩu 105 li và 155 li của cứ điểm đã bị phá hỏng. Để cứu trợ cứ điểm 30, Thiết đoàn 17 QLVNCH đã tiến về phía căn cứ này. Xe tăng của Quân Giải phóng và QLVNCH đã giáp chiến lần đầu trong Chiến tranh Việt Nam tại phía bắc Đường 9. QLVNCH mất 5 xe tăng M-41 và 25 xe bọc thép chở quân (APC). Thiệt hại của Quân Giải phóng theo báo cáo của QLVNCH là 17 xe tăng hạng nhẹ PT-76 và 6 xe T-54 bị bắn cháy. Tài liệu của Quân Giải phóng thì xác nhận trong giai đoạn này, họ chỉ có 1 chiếc T-54 bị chết máy và phải tự phá hủy để tránh bị đối phương thu giữ.
Trong các cuộc tấn công kể trên vào các căn cứ hỏa lực và các đội quân cứu viện, các đơn vị của Quân Giải phóng đã chịu thương vong cao từ bom, pháo, tấn công từ trực thăng trang bị súng, và hỏa lực nhỏ. Tuy nhiên, họ luôn thể hiện sự thiện chiến và quyết tâm cao làm đối phương sửng sốt và ấn tượng. Các chiến thắng phá tung cánh cung hướng bắc và chiến thắng ở hướng nam đường 9 đã tạo điều kiện thuận lợi cho Quân Giải phóng triển khai lực lượng tiến công đội hình trung tâm của QLVNCH từ Lao Bảo đến Bản Đông. Sau trận này, trung đoàn trưởng cùng một tiểu đoàn phó và một trung đội trưởng của Trung đoàn 64, Quân Giải phóng được tuyên dương Anh hùng.
Ngày 2 tháng 3, cho rằng thời cơ đã đến, Tổng Quân uỷ Quân Giải phóng miền Nam đã chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận 702 "Tập trung tiêu diệt địch trong khu vực Bản Đông" với thời gian càng nhanh càng tốt. Sư đoàn 308 và các Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320, Trung đoàn 66 của Sư đoàn 304 được lệnh tập trung bao vây tiến công tập đoàn cứ điểm Bản Đông. Sư đoàn 2 (Quân khu 5) hoạt động ở hướng nam bao vây kìm chân hai trung đoàn của Sư đoàn 1 bộ binh VNCH, ngăn không cho chi viện Bản Đông. Trung đoàn 24 của Sư đoàn 304 và một số tiểu đoàn của Mặt trận chốt giữ đường 9 giữa Bản Đông và Lao Bảo, quyết chặn không cho đối phương chạy thoát.
TẤN CÔNG VÀO TCHEPONE. Trong khi đội hình chính của QLVNCH đang dậm chân tại Bản Đông đã được 3 tuần, Nguyễn Văn Thiệu sốt ruột lệnh tướng Hoàng Xuân Lãm bằng mọi giá "chiếm lấy Tchépone nhưng không cần cố giữ lấy nó". Hoàng Xuân Lãm quyết định thực hiện một cuộc tấn công trực thăng vận xuống chính Tchepone, nơi mà hệ thống hậu cần của Quân Giải phóng miền Nam đi qua. Nếu các lực lượng của VNCH chiếm được Tchepone thì Nguyễn Văn Thiệu sẽ có lý do để tuyên bố "chiến thắng" và rút quân về Nam Việt Nam. Cuộc tấn công này đã giao cho Sư đoàn 1 Bộ binh VNCH đang chiếm giữ các căn cứ phía nam Đường 9 thực hiện, chứ không phải cho đội hình chính với thiết giáp yểm trợ hiện đang ở Bản Đông.
Cuộc tấn công bắt đầu vào ngày 3 tháng 3, khi các đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ binh được không vận tới 2 căn cứ hỏa lực (Lolo và Sophia) và bãi đổ bộ Liz, tất cả đều ở phía nam Đường 9. 11 chiếc trực thăng đã bị bắn rơi và 44 chiếc khác bị bắn hỏng khi chở 1 tiểu đoàn tới căn cứ Lolo. Ba ngày sau, 276 trực thăng UH-1 được bảo vệ bởi các máy bay AH-1 Cobra mang rocket và máy bay tiêm kích đã đưa các tiểu đoàn 2 và 3 của Trung đoàn 2 từ Khe Sanh tới Tchepone. Đây là cuộc đổ quân bằng trực thăng lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Chỉ có 1 trực thăng bị hỏa lực phòng không bắn rơi khi quân đổ xuống bãi đổ bộ Hope, cách Tchepone 4 km về phía đông bắc. Trong hai ngày, các đội trinh sát của hai tiểu đoàn này lùng soát Tchepone và khu vực xung quanh nhưng không đến gần vùng đồi núi ở phía Tây thị trấn.
RÚT QUÂN. Ngày 9 tháng 3, Hành quân 719 vào Hạ Lào đã đạt được mục tiêu, ngày 9 tháng 3,Tổng thống Thiệu và tướng Lãm ra lệnh rút quân, cuộc rút lui sẽ kéo dài cho đến hết tháng, phá hủy Căn cứ 604 và các kho hàng gặp trên đường. Ngay khi thấy dấu hiệu rằng bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã bắt đầu rút lui, Quân Giải phóng miền Nam tăng cường nỗ lực nhằm tiêu diệt lực lượng này trước khi nó có thể về đến Nam Việt Nam. Hỏa lực phòng không được tăng cường để chặn đứng hoặc làm chậm các nỗ lực hậu cần và sơ tán của trực thăng, các căn cứ hỏa lực của QLVNCH sẽ đồng loạt bị tấn công, và các đơn vị trên bộ phải đi qua một chuỗi đầy các ổ phục kích suốt dọc Đường 9.
Sáng 16/3, Sư đoàn 2 do Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn chỉ huy, được tăng cường Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48 của Sư đoàn 320 nhận lệnh của Tư lệnh chiến dịch tiêu diệt Trung đoàn 1 bộ binh thuộc Sư đoàn 1 VNCH đang bỏ điểm cao 723 chạy về hướng Đông Bắc lọt vào khu vực phục kích. Sau hai ngày tiến công, Sư đoàn 2 đã tiêu diệt và bắt sống 1.750 lính, diệt gọn Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 VNCH, bắn rơi 50 máy bay các loại, thu hàng trăm súng, pháo, súng cốihạng nặng. Trên đà thắng, từ ngày 12 đến 17 tháng 3, các Trung đoàn 36 của Sư đoàn 308; Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320, Trung đoàn 66 của Sư đoàn 304 và các đơn vị hỏa lực xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ của Quân giải phóng đã tiến công dồn dập tập đoàn cứ điểm Bản Đông do lữ đoàn 1 dù và 2 thiết đoàn đóng giữ.
Từ ngày 18-20 tháng 3, tất cả các đợn vị của QLVNCH tham dự hành quân Lam Sơn 719 đã hoàn toàn rút khỏi khu vực Bản Đông. Trên đường rút quân, đoạn từ Bản Đông về Lao Bảo, bị Việt Cộng phục kích, chận đánh nhiều nơi, với cường độ cao, khốc liệt, khiến một số tăng, thiết giáp, pháo 105 mm và pháo 155 mm của VNCH đã phải bỏ lại. Máy bay Mỹ được gọi đến ném bom phá hủy số xe pháo này, để không cho đối phương chiếm và tái sử dụng. Lữ đoàn 1 Thiết giáp được giao nhiệm vụ bọc hậu Đường 9 bảo vệ cho cuộc rút quân. Khi một tù binh khai báo trước mặt có 2 trung đoàn Việt Cộng đang mai phục, Lữ đoàn trưởng, Đại tá Nguyễn Trọng Luật lệnh cho đội hình bỏ đường chính, chỉ còn cách biên giới 5 km để đi vào đường mòn trong rừng, lại dẫn đến ngõ cụt bên bờ dốc của sông Tchepone, đội hình bị tắc lại. Hai xe ủi đất được trực thăng cẩu vào, tạo ra một đoạn sông cạn để QLVNCH lội qua. Những binh lính cuối cùng về được Đông Hà vào ngày 23/3/1971.
KẾT QUẢ. Hành quân 719, QLVNCH chiếm được Tchepone, phá hủy được nhiều kho tàng và cơ sở vật chất của Cộng quân. Nhưng, không cắt được tuyến tiếp vận từ Bắc vào Nam là đường mòn Hồ Chí Minh. Thiệt hại của QLVNCH lại rất lớn. Trong quá trình rút lui, gần một nửa số xe tăng, xe bọc thép chở quân (APC), cùng với 54 khẩu pháo 105mm và 28 khẩu 155mm đã bị phá hủy. Sư đoàn nhảy dù, Biệt động quân đã bị thiệt hại nặng.
Bài 305: CHIẾN DỊCH HÈ-XUÂN 1972, VÀ 81 NGÀY ĐỐI ĐẦU VỚI QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ TẠI TRẬN TÁI CHIẾM THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ.
CHIẾN DỊCH HÈ – XUÂN 1972. Sau các cuộc hành quân không đạt mục đích mong muốn của Quân đội Việt Nam Cộng hoà đánh vào Campuchia năm 1970, và Hạ Lào năm 1971. Đến đầu năm 1972, Quân Giải phóng đã chuẩn bị xong lực lượng mở một cuộc tổng tiến công có quy mô lớn mang tên Chiến dịch Xuân-Hè 1972, còn được biết đến với tên gọi “Mùa hè đỏ lửa” diễn ra từ ngày 30 tháng 3 năm 1972 đến ngày 31 tháng 1 năm 1973. Đây là cuộc tổng tấn công chiến lược bằng các chiến dịch tiến công quy mô lớn, hiệp đồng binh chủng, tiến công sâu vào hệ thống phòng ngự tại những hướng chiến lược quan trọng: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; Bắc Tây Nguyên; Đông Nam Bộ, và đồng bằng Khu V, và Khu VIII (Nam Bộ).
Ngày 17/2/72, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đến thăm Trung Quốc. Sau đó Trung Quốc và Mỹ ra Thông cáo chung Thượng Hải. Tháng 3 năm 1972 quân Giải phóng bắt đầu tổng tiến công và nổi dậy chiến lược mùa Xuân 1972. Tuy rằng tên và kế hoạch như vậy nhưng rút kinh nghiệm từ năm 1968, quân du kích và cán bộ nằm vùng sẽ không "nổi dậy" tại vùng địch hậu mà chỉ đóng vai trò chỉ đường và tải đạn, họ sẽ chỉ ra mặt ở những nơi chủ lực Quân Giải phóng đã kiểm soát vững chắc. Điều đó cho thấy các nỗ lực bình định của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa trong thời gian 1969-1971 đã có những hiệu quả nhất định. Trong 2 tháng đầu, quân Giải phóng liên tiếp chọc thủng cả ba tuyến phòng ngự, tiêu diệt hoặc làm tan rã nhiều sinh lực đối phương, gây kinh ngạc cho cả Mỹ lẫn Việt Nam Cộng hòa.
Tại Bắc Tây Nguyên, sau các thắng lợi ban đầu của Quân Giải phóng tại trận Đắc Tô - Tân Cảnh chiến sự mau chóng êm dịu trở lại sau khi đội quân này bị chặn lại trong Trận Kon Tum. Tại Đông Nam Bộ, ở tỉnh Bình Long sau khi thắng lợi tại trận Lộc Ninh, Quân Giải phóng tiến công theo đường 13 để giành quyền kiểm soát thị xã An Lộc. Trong trận An Lộc, Quân Giải phóng dùng xe tăng và pháo binh tấn công dữ dội. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng quyết tâm cố thủ thị xã và đưa quân lên ứng cứu. Không quân Mỹ dùng B 52 đánh phá ác liệt các khu vực tập kết gây thiệt hại lớn cho Quân Giải phóng. Cuối cùng, Quân Giải phóng không thể lấy nổi thị xã phải rút đi. Và, sau 3 tháng đánh nhau, chiến sự đi vào ổn định.
Chiến trường chính của năm 1972 là tại tỉnh Quảng Trị. Tại đây có tập đoàn phòng ngự dày đặc của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nơi tuyến đầu giáp với miền Bắc. Cuộc tiến công của Quân Giải phóng tại Quảng Trị đã thành công to lớn, 40.000 quân Việt Nam Cộng hòa phòng ngự tại đây đã hoảng loạn và tan vỡ, thậm chí Trung tá Phạm Văn Đính, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 đã đầu hàng mà không chiến đấu. Đến ngày 2/5/72, chỉ sau hơn một tháng tiến đánh, Quân Giải phóng đã vào Thị xã chiếm Toà Hành chánh Tỉnh, Thành cổ Quảng Trị (nơi Sư đoàn 3 Bộ binh di chuyển từ Căn cứ Ái Tử vào, đặt Sở Chỉ huy) giành được quyền kiểm soát toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế. Ngày 8 tháng 5 năm 1972, Mỹ bắt đầu ném bom trở lại miền Bắc với cường độ rất ác liệt, dùng máy bay B 52 rải thảm bom xuống Hải Phòng, đưa hải quân vào thả thuỷ lôi phong tỏa các hải cảng tại miền Bắc Việt Nam.
ĐỐI ĐẦU VỚI TRẬN TÁI CHIẾM QUẢNG TRỊ. Ngày 25 tháng 5 năm 1972, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố bằng mọi giá sẽ tái chiếm Quảng Trị. Từ ngày 26 tháng 6 năm 1972, Không quân Hoa Kỳ bắt đầu ném bom rải thảm xuống Quảng Trị. Ngày 28 tháng 6 năm 1972, tướng Ngô Quang Trưởng phát lệnh khởi binh Chiến dịch Lam Sơn 72, với các đại đơn vị Lữ đoàn Dù 1, 2, 3; Liên đoàn 81/Biệt kích dù; Thiết đoàn 7, 18 kị binh; 3 Lữ đoàn Thuỷ quân lục chiến và các tiểu đoàn pháo, công binh trực tiếp tham chiến. Chiều 28 tháng 6, sau khi vượt sông Mỹ Chánh, QLVNCH đã cô lập được một bộ phận của các sư đoàn 304 và 308 của Quân Giải phóng ở hướng Nam Sông Mỹ Chánh.
Hướng Đông, ngày 29 tháng 6, các lữ TQLC 147 và 258 tấn công các khu vực Diên Khanh, Xuân Viện, Kim Giao, phối hợp với Lữ TQLC 369 từ Mỹ Thủy và Cổ Lũy đánh ra. Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 7, sau khi nhổ từng chốt chặn của Quân Giải phóng trên khoảng cách từng hecta một, bất chấp các thương vong lớn, Lữ dù 1 và Liên đoàn 1 Biệt động quân đã có mặt ở ngoại vi thị xã Quảng Trị, nhưng không lọt vào được. Ngay lập tức, Quân Giải phóng điều động Sư đoàn 325 và Sư đoàn 312 vào tham chiến cùng với các lực lượng tại chỗ giữ vững được Quảng Trị. Ngày 29 tháng 6, trong cuộc họp nội các, Tổng thống Thiệu thừa nhận Chiến dịch Lam Sơn 72 mới chỉ làm chậm bước tiến của Quân Giải phóng.
Ngày 7 tháng 7, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48) Quân Giải phóng sử dụng Đại đội 9, tăng cường 1 trung đội của Đại đội 10, với một trung đội địa phương và 3 xe tăng được Trung đoàn pháo 45 chi viện tiến hành phản kích đối phương ở phía Đông La Vang Hữu. Thấy xe tăng Quân Giải phóng xuất hiện bất ngờ, đội hình quân VNCH rối loạn, Kết quả hàng trăm binh lính bị thương vong, hai xe tăng bị bắn cháy, quân VNCH bị đánh bật ra khỏi khu vực La Vang Hữu. Phía quân Giải phóng bị hỏng hai xe tăng một chiếc do bắn nhầm và một chiếc bị phá do bom. Quân Mỹ lại tăng cường hỏa lực, nâng tổng số đạn pháo đánh phá thị xã từ 8.000 viên/ngày lên 15.000 viên/ngày, cao điểm có ngày lên tới 30.000 viên/ngày, và từ 40 đến 60 lần/ngày máy bay phản lực, dùng bom khoan đánh phá hầm hào tường thành.
Ngày 13 tháng 7, máy bay trực thăng chở đại tá Nguyễn Trọng Bảo, tham mưu phó sư dù bị bắn hạ tại thị xã Quảng Trị. Rạng sáng 14 tháng 7, một đội biệt kích quân VNCH đột nhập vào phía đông Thành cổ định cắm cờ, thì bị đại đội 14 trung đoàn 48 QGP phát hiện, một số bị tiêu diệt, số còn rút chạy bỏ lại lá cờ. Cùng ngày 14 tháng 7 nầy, Sư dù và Sư TQLC tổ chức tấn công đợt 2 đánh chiếm thị xã. Lữ dù 1 đánh Quy Thiện, Trì Bưu, Lữ dù 2 đánh Tích Tường, Như Lệ. Các lữ TQLC 147 và 369 tiến sát sông Vĩnh Định, chiếm An Tiêm, Nại Cửu và Bích La Đông. Đến ngày 16 tháng 7, Lữ dù 1 đã chiếm được các làng Trì Bưu, Cổ Thành.
TRUNG ĐOÀN 95 THAY TRUNG ĐOÀN 18. Trung đoàn 18 (Sư 325) QGP bị tổn thất nặng phải rút ra Ái Tử - Đông Hà, Bộ tư lệnh B5 điều Trung đoàn 95 (Sư 325) vào thay. Quân VNCH đã hình thành thế bao vây ba mặt quanh thị xã Quảng Trị, nhưng chưa vào được nội đô. Ngày 22 tháng 7, quân VNCH ồ ạt sử dụng xe tăng và pháo binh tấn công chính diện kết hợp máy bay ném bom để chọc thủng tuyến phòng thủ này của quân Giải phóng. Từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 7, tướng Lê Quang Lưỡng đã tung Liên đoàn biệt kích dù 81 vào chiến đấu. Tiểu đoàn biệt kích dù 27 tiến sát góc Đông Nam Thành cổ, nhiều lần lao lên định cắm cờ trên tường thành Cổ, nhưng đều bị Trung đoàn 48 đẩy lùi. Hai bên tổn thất lớn về sinh mạng.
Lúc này, trận chiến diễn ra trong mùa mưa khiến cho các chiến sỹ quân Giải phóng phải chiến đấu trong điều kiện cực kỳ khó khăn khi bên ngoài là bóng đêm và hỏa lực của đối phương, bên trong là những căn hầm ngập nước, khiến cho nguy cơ các vết thương bị nhiễm trùng tăng lên. Giao tranh diễn ra dữ dội, có nơi trên trận địa có ba lớp người chết, có cả lính quân Giải phóng, lính quân VNCH và cả cố vấn Mỹ. Hai bên giao tranh với tinh thần không khoan nhượng. Không khí chiến trường trở nên ngột ngạt và căng thẳng.
SƯ ĐOÀN 325 PHÒNG THỦ THÀNH CỔ. Trung tuần tháng 8 năm 1972, Bộ Tư lệnh B5 quân Giải phóng quyết định giao nhiệm vụ cho sư đoàn 325 chỉ huy lực lượng phòng thủ Thành cổ Quảng Trị. Lúc này, Sở chỉ huy Thành cổ ở ngay sát mép sông, dưới một căn hầm rượu của dinh tỉnh trưởng Quảng Trị đã bị bom đạn làm đổ nát, quân Giải phóng tận dụng, cải tạo khu hầm thành ba ngăn, có giao thông hào chạy ra bên ngoài. Một ngăn cho chỉ huy và trực ban tác chiến; một ngăn cho thông tin trinh sát; và một ngăn làm khu phẫu thuật. Quân Giải phóng tập trung thương binh về đây, trước khi vận chuyển khỏi chiến trường. Tại bến Vượt, nơi chuyển quân giữa hai bờ Thạch Hãn cũng là nơi hứng chịu nhiều trận pháo kích nhất.
Nhiều thương binh của Quân Giải phóng đã bị thiệt mạng bởi bom và pháo kích khi đang được vận chuyển khỏi chiến trường. Khúc sông ở bến Vượt chính là nguồn tiếp vận duy nhất của Quân Giải phóng trong Thành cổ, khi chiếc cầu sắt đã bị đối phương phá hủy. Bom và đạn pháo có ngày đã gây thương vong cho cả một Đại đội Quân Giải phóng ở bến sông. Thế trận thực sự nghiêng về Hoa Kỳ và VNCH khi họ kiểm soát được cả ba mặt của Thành cổ lẫn kiểm soát trên không, nhưng Quân Giải phóng vẫn giữ được Thành cổ trong suốt ba tháng.
Quân Giải phóng được bổ sung vào Thành đều đặn theo kế hoạch. Mỗi đêm vào trung bình được 40-50 người (đã trừ số người đào ngũ, lạc ngũ hoặc bị thương từ bên kia bờ sông, chiếm khoảng 30-40%). Hàng ngày thuyền gắn máy hậu cần từ Tả Kiên bí mật bơi vào thành, tiếp tế lương thực, đạn dược, thuốc men, kể cả quà Quốc khánh từ hậu phương tới. Dù vậy, do áp lực liên tục từ đối phương, giao thông hào chiến đấu bị bom đạn bắn phá liên tục, nên hệ thống phòng thủ ngày càng lỏng dần. Tân binh được tăng cường cho các đơn vị phòng thủ chỉ đủ để bù đắp số thương vong trong chiến đấu. Cuối tháng 8, quân VNCH lại được tăng cường thêm. Hai bên giành nhau từng mét đất. Tới trung tuần tháng 9, cả hai bên đều gồng mình khiến cuộc giao tranh cực kỳ khốc liệt.
Từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 9 năm 1972, trời mưa to, nước sông Thạch Hãn lên nhanh, chảy xiết, ảnh hưởng đến tăng cường cung cấp và quân số. Có đêm trôi dạt hàng chục chiến sĩ vượt sông. Công sự chốt bị sụt lở nhiều. Ngày 4/9/1972, Trung đoàn phó Phan, và nhiều thành viên Trung đoàn 88 bị thương đưa về Khu phẩu thuật, Sở chỉ huy Thành cổ quyết định đưa số này vượt sông lũ ra hậu phương. Cùng ngày 4/9/72 nầy, Trung đoàn 88 sư đoàn 308 quân Giải phóng rút khỏi khu Thạch Hãn tây làm sườn phía Nam bị hở. Để đối phó với tình hình quan trọng này, một bộ phận tiểu đoàn 7, trung đoàn 18 và tiểu đoàn 4, trung đoàn 95 được điều động đến thay thế trung đoàn 88 giữ sườn phía Nam thị xã.
QLVNCH TIẾN CÔNG ĐỢT 6. Ngày 7 tháng 9 năm 1972, quân VNCH tiến công đợt 6, mở đầu bằng trận tập kích hỏa lực "Phong lôi 2". Không quân, hải quân Hoa Kỳ, pháo binh Việt Nam Cộng hòa bắn suốt 48 giờ liền vào tất cả các trận địa quân Giải phóng khu Thành cổ, các bến vượt sông, đường cơ động lực lượng và vận chuyển. Oanh tạc cơ B-52 của Mỹ rải thảm tả ngạn sông Thạch Hãn, tập trung vào khu Nhan Biều-Ai Tử và các trận địa pháo của đối phương. Đêm 7 tháng 9, tiểu đoàn K2 Trung đoàn 48 quân Giải phóng tập kích khu Hành Hoa, kích khu nhà thờ Tin Lành, thương vong một số (tiểu đoàn trưởng đơn vị này cũng chết) nhưng đã chiếm được.
Sáng ngày 9 tháng 9 năm 1972, lữ đoàn 147 và 259 Thủy quân Lục chiến bắt đầu cuộc tấn công lớn: hai lữ đoàn TQLC với năm mũi, tiến công từ ba hướng vào thị xã, để tái chiếm thành cổ, cùng lúc tiến công khu La Vang-Tích Tường-Như Lệ để chặn sư đoàn 308 phản kích từ hướng này; Liên đoàn 1 Biệt động quân tiến công hướng Bích Khê-Nại Cửu để chặn sư đoàn 320 Quân Giải phóng từ bắc sông Vĩnh Định. Nhiều trận phản kích ác liệt của bộ đội ở ngay sát chân Thành cổ đã đánh bật nhiều mũi tiến công của quân VNCH. Một trung đội quân VNCH lọt vào thành cổ, bị K3 Tam Đảo phản kích dữ dội phải tháo chạy, để lại 11 xác chết.
Tiểu đoàn địa phương K8 quân Giải phóng củng cố đội hình và ém quân bên ngoài. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 chặn đánh 3 tiểu đoàn đối phương ở khu Tin Lành, quyết liệt giành đi giật lại từng công sự. Quân VNCH chiếm được khu Mỹ Tây. Đến đêm 9 tháng 9, tiểu đoàn 4 cùng tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 Quân Giải phóng tập kích chiếm lại khu Mỹ Tây, đẩy quân VNCH chạy về Nam sông con. Tiểu đoàn địa phương K8 từ nơi ém quân len lỏi được vào thành. Ngày 10, tháng 9 năm 1972, quân VNCH được tăng cường thêm 2 sư đoàn từ Huế, tổ chức tấn công trực diện Thành cổ, lấn dũi mạnh từ hướng Nam-Đông-nam. Nhiều toán nhảy vào thành nhưng đều bị quân Giải phóng tiêu diệt. Quanh Thành cổ, dưới hào nước, xác chết nằm rải rác.
TIỂU ĐOÀN 5 THAY THẾ TIỂU ĐOÀN 4. Dưới sự yểm trợ của xe tăng, quân VNCH tấn công lấn dũi phía khu Mỹ Tây, Trường Nữ, Trại giam, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95, quân Giải phóng đánh trả ác liệt, bắn hỏng một xe tăng, hai đại liên, thu một M79 và nhiều lưu đạn nhưng cũng bị chết 6, bị thương 49. Tính chung trong ngày 10-9, cả ở hướng Nam-Đông Nam, Bắc-Đông Bắc, trên toàn khu vực Thị xã, quân Giải phóng diệt hơn 200 binh lính đối phương, bắn cháy 1 xe tăng, nhưng cũng bị thương vong 126 người và để mất khu trại giam và Mỹ Tây. Đêm 10 tháng 9, Quân Giải phóng cho tiểu đoàn 4 ra ngoài củng cố, dùng tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 vào thay thế, chiến đấu ở phía Tây-nam Thành cổ.
Đêm 12, Quân Giải phóng tăng cường vào thành tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 (201 người) và 70 tân binh. Ngày 13-9-1972, trời mưa to, lũ lớn, hạn chế nhiều đến việc tăng cường lực lượng (quân số, vật chất kỹ thuật cho Thị xã). Quân VNCH sau 4 ngày liên tục tiến công lấn dũi, vẫn chưa chiếm được Thành, nhưng 6 tiểu đoàn thuộc 2 lữ đoàn Thủy quân lục chiến đã áp sát ba góc Thành cổ: Nam, Đông Nam, Đông Bắc. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 quân Giải phóng chiến đấu quyết liệt, giằng co với đối phương từng khu vực, góc tường, mảnh vườn. Kết quả trong ngày, quân Giải phóng diệt 123 lính, bắn cháy 1 xe tăng, bị thương vong 34 chiến sĩ.
Rạng sáng ngày 13 tháng 9/1972, đại đội 5 tiểu đoàn 2 QLVNCH từ ngã tư Quang Trung-Trần Hưng Đạo mở cuộc tấn công vào khu vực chợ Quảng Trị. Trận chiến đã diễn ra quanh khu vực chợ, dọc theo đường Trần Hưng Đạo ra đến bờ sông. Hai bên đã quần thảo nhau quanh các đống bê tông đổ nát mà Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã biến thành các điểm kháng cự. Cuối cùng tiểu đoàn TQLC này đã chiếm được mục tiêu, sau đó khai triển thanh toán các chốt phòng ngự dọc hai bên đường Phan Đình Phùng, cơ quan USOM và Tòa án tỉnh Quảng Trị. Mục tiêu sau cùng trong ngày 13/9 của tiểu đoàn 2 TQLC là tòa Hành chánh tỉnh Quảng Trị nơi 1 Trung đoàn Quân Giải phóng đặt bộ chỉ huy.
BỘ CHỈ HUY QUÂN GIẢI PHÓNG DỜI RA HƯỚNG SÔNG. Do các chốt bảo vệ xung quanh đã bị TQLC triệt hạ, nên bộ chỉ huy Quân Giải phóng tại đây đã phải dời ra hướng sông. Khoảng 23 giờ ngày 13 tháng 9, Bộ Tư lệnh B5 Quân Giải phóng lệnh cho trung đoàn phó trung đoàn 48, và sau đó 1 giờ sáng 14 tháng 9 lệnh cho Đại tá Nguyễn Việt chỉ huy trưởng Thành ra ngay Nhan Biều để cùng sư phó sư đoàn 325 tổ chức lực lượng còn lại của trung đoàn bộ binh 18 vào phản kích trong thành. Tiểu đoàn 7 Trung đoàn18 đã vào thành chiến đấu. Ngày 14 tháng 9 năm 1972, từ hướng Đông-nam, quân VNCH tiến sát khu chùa Bà Năm, khu trại giam, chợ. Từ hướng Nam, họ vào khu Mỹ Tây, Trường Nữ. Quân Giải phóng chống trả quyết liệt, vẫn giữ vững các chốt, nhưng bị thương vong nhiều.
Sau 4 ngày dùng bộ binh tấn công liên tục từ ba hướng, quân VNCH vẫn không chiếm được thành. Cuối cùng, họ dùng xe tăng phun lửa dữ dội vào các chốt quân Giải phóng. Tiểu đoàn phòng thủ lúc này chỉ còn gần 20 tay súng, quyết tâm thực hiện lời thề danh dự: "K3-Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn", họ đánh trả quyết liệt vào các đội hình của TQLC và khiến họ phải rút chạy. Đến 18 giờ, lợi dụng lúc trời chạng vạng tối, từ ba góc, TQLC lại tiếp tục mở đợt tấn công dữ dội vào thành. Được sự chi viện của Tiểu đoàn Địa phương K8 và các tay súng của Trung đoàn 48 Sư đoàn 320, quân Giải phóng đã đánh bật quân VNCH ra khỏi thành.
Khoảng 4 giờ sáng ngày 15 tháng 9, được yểm trợ tối đa hỏa lực từ không quân, pháo binh, xe tăng, súng phun lữa các loại, Lữ đoàn thủy quân lục chiến 258 và 147 tập trung lực lượng tổng công kích từ ba hướng vào Cổ thành: Ở hướng Đông, 4 đại đội của tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 6 TQLC đã dàn hàng ngang đồng loạt xung phong đánh vào Sở chỉ huy K1, Trung đoàn 48 Quân Giải phóng chiếm một góc khu đông bắc Thành cổ. Các chốt của Quân Giải phóng còn lại tiếp tục chiến đấu mặc dù sức chiến đấu đã giảm, quân số bị thương vong nhiều. Tiểu đoàn địa phương K8, tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 mới vào cũng đã bị tổn thất nặng.
RÚT KHỎI THỊ XÃ VÀ THÀNH CỔ. Trung đoàn bộ binh 18 Sư đoàn 325 quân Giải phóng vẫn chưa đến được nơi quy định để vượt sông vào Thành cổ. Đêm 15 tháng 9 năm 1972, các chỉ huy của Quân Giải phóng trong thành nắm lại tình hình, thấy QLVNCH đã chiếm một số góc thành cổ, nên thống nhất ra lệnh rút khỏi thị xã, và thành cổ từ 22 giờ ngày 15 tháng 9. Quân Giải phóng pháo kích vào cánh quân của tiểu đoàn 3 và 6 TQLC, yểm trợ cho quân Giải phóng đang cố thủ ở đây chuẩn bị rút lui. Gần rạng sáng, các đơn vị TQLC đồng loạt xung phong, những tổ kháng cự của Quân Giải phóng chống trả mãnh liệt, nhằm giữ chân QLVCH cho đồng đội rút lui. Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 được lệnh dừng lại, không vượt sông sang phản kích nữa.
Trong trận này, trung đoàn Triệu Hải (Trung đoàn 27 Quân Giải phóng) Trung đoàn trưởng sau này là thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, người gắn bó với Trung đoàn 27 lúc mới thành lập, từ lính nghĩa vụ, chỉ huy tổ 3 người, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, rồi Trung đoàn trưởng) với 1.500 quân đưa vào thành cố thủ là đơn vị tổn thất nặng nhất. Các chốt chiến đấu vòng ngoài đều bị xóa sổ, trung đoàn 48B thuộc sư đoàn 390 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam - đơn vị chiếm giữ trung tâm thị xã, cũng đã bị thiệt hại hơn 80% quân số. Cũng trong trận này, Hoa Kỳ đã ném xuống Quảng Trị khoảng 328 nghìn tấn bom, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hiroshima, Nhật Bản năm 1945 và đã phá hủy hoàn toàn 1 vạn ngôi nhà và tòa Thành cổ. (Hết trích).
Bài 306: HOÀ ĐÀM BA-LÊ VÀ HIỆP ĐỊNH PARIS CHẤM DỨT CHIẾN TRANH LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM: THÁNG 3/1968 ĐẾN THÁNG 1/1973.
QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN. Sau Mậu Thân, các bên đã ngồi vào thương lượng cho tương lai chiến tranh Việt Nam. Đó là việc phải xảy ra khi chẳng ai dứt điểm được ai bằng quân sự. Hội đàm bắt đầu tại Paris kéo dài từ ngày 3 tháng 5 năm 1968 đến ngày 27 tháng 1 năm 1973 ký Hiệp đinh, mang tên Hiệp định Paris về Việt Nam. Hội đàm ban đầu chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ; Việt Nam Cộng hoà chỉ tham dự với tư cách Quan sát viên. Về sau, mở rộng ra thành hội nghị bốn bên, thêm Việt Nam Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Về mặt công khai có 4 bên tham gia đàm phán, nhưng thực chất chỉ có 2 bên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ tiến hành đàm phán bí mật với nhau để giải quyết các bất đồng giữa hai bên.
Khi một bên đang thắng thế trên chiến trường thì đàm phán thường bế tắc và đó là những gì diễn ra Hội nghị Paris suốt thời kỳ từ năm 1968 đến năm 1972. Các bên dùng hội nghị như diễn đàn đấu tranh chính trị. Trong suốt quá trình hội nghị các cuộc họp chính thức chỉ mang tính tố cáo nhau, tranh luận vài điều mà không thể giải quyết được rồi kết thúc mà không đi vào thực chất. Chỉ có các cuộc tiếp xúc bí mật của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn của tổng thống Mỹ, là đi vào thảo luận thực chất nhưng không đi được đến thỏa hiệp.
LẬP TRƯỜNG CÁC BÊN. Lập trường ban đầu của các Mỹ: quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam phải đồng thời với việc rút Quân đội Nhân dân Việt Nam khỏi miền Nam Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hòa bình. Tổng tuyển cử trước, ngừng bắn sau. Lập trường ban đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam, không đả động tới sự có mặt tại miền Nam của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu không được tồn tại trong giải pháp hòa bình. Thành lập Chính phủ liên hiệp tại miền Nam thông qua Tổng tuyển cử. Ngừng bắn trước, Tổng tuyển cử sau.
Đến cuối năm 1972, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trận Thành cổ Quảng Trị, Quân Giải phóng thiệt hại quá nặng nề, phía chính phủ Mỹ, cũng chịu áp lực dư luận và Trận Thành cổ Quảng Trị kéo dài hơn dự kiiến, chính quyền Mỹ đã nhận ra họ không thể khuất phục đối phương bằng vũ lực cũng như không đủ nguồn lực để duy trì chiến tranh nên buộc phải chấp nhận xuống thang trên bàn đàm phán. Hai bên đi đến thỏa hiệp chung: Quân Mỹ và các đồng minh nước ngoài rút khỏi Việt Nam chấm dứt mọi can thiệp quân sự vào vấn đề Việt Nam; không đả động tới việc có hay không Quân đội Nhân dân Việt Nam ở chiến trường Nam Việt Nam; và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu được phép tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hòa bình.
Sau khi văn kiện hiệp định đã được ký tắt, Henry Kissinger đi Sài Gòn để thông báo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu văn bản đã đạt được. Phía Việt Nam Cộng hòa phản đối dự thảo này và tuyên bố sẽ không ký kết hiệp định như dự thảo. Sau đó, chính phủ Mỹ tuyên bố chưa thể ký được hiệp định và đòi thay đổi lại nội dung chính liên quan đến vấn đề quy chế về Quân đội Nhân dân Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ sửa đổi của Mỹ. Mỹ tiến hành ném bom lại miền Bắc Việt Nam để buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam chấp nhận ký theo phương án Mỹ đề nghị.
NÉM BOM RẢI THẢM HÀ NỘI-HẢI PHÒNG. Tháng 12 năm 1972, Mỹ mở Chiến dịch Linebacker II cho máy bay ném bom chiến lược B 52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác ở miền Bắc Việt Nam trong 12 ngày. Trong chiến dịch này, Mỹ đã huy động cả không quân chiến lược với gần 200 chiếc mát bay B 52 để ném bom rải thảm xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên trong 12 ngày đêm. Đây chỉ là cách để Mỹ thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ đối với đồng minh. Bởi dự thảo hiệp định ký tắt với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã phản đối kịch liệt và không chấp nhận, Mỹ quyết định dùng bước này để chứng tỏ họ đã cố gắng đến mức cuối cùng cho quyền lợi của Việt Nam Cộng hòa rồi.
Mục tiêu mà Mỹ đặt ra trong chiến dịch Linebacker II là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng, ngoại trừ cố gắng để "giảm thiểu nguy hiểm cho dân thường tới mức có thể cho phép mà không ảnh hưởng hiệu quả" và "tránh các khu giam giữ tù binh, bệnh viện và khu vực tôn giáo". Ở Hà Nội, tại phố Khâm Thiên bom trải thảm đã phá sập cả dãy phố và sát hại hàng trăm dân thường. Tại bệnh viện Bạch Mai, nhiều tòa nhà quan trọng đã bị phá hủy, cùng với các bệnh nhân và bác sĩ, y tá bên trong. Nhiều cơ sở vật chất, kinh tế, giao thông, công nghiệp và quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng bị phá huỷ.
Không lực Mỹ quá tin tưởng vào các biện pháp kỹ thuật gây nhiễu điện tử để vô hiệu hóa radar và tên lửa phòng không của đối phương. Nhưng, các lực lượng tên lửa phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giải quyết vấn đề bằng những biện pháp chiến thuật sáng tạo, họ đã bắn các máy bay B-52 theo các chiến thuật mới và đã thành công vượt xa mức trông đợi, hàng chục chiếc pháo đài bay B 52 đã bị bắn hạ. Lần đầu pháo đài bay B 52 bị bắn hạ bởi một máy bay tiêm kích do Phạm Tuân điều khiển. Sách báo Việt Nam gọi chiến dịch này là Điện Biên Phủ trên không, như một cách nêu bật thắng lợi của lực lượng phòng không Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến dịch.
KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH NĂM THÁNG 1 NĂM 1973. Ngày 30 tháng 12, chấm dứt ném bom, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quay lại đàm phán, sau một số sửa đổi, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý ký kết Hiệp định Paris, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không tán thành hiệp định nhưng vì áp lực nếu không chấp nhận thì Mỹ sẽ đơn phương ký với Hà Nội và cắt đứt viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa nên phải chấp nhận ký. Ngày 27/1/1973, tại Paris, bốn bên tham chiến Mỹ, Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký kết Hiệp định Paris là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Để trấn an Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống Nixon đã hứa riêng với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là trong trường hợp quân Giải phóng phát động chiến tranh đánh phá Việt Nam Cộng hòa, Mỹ sẽ phản ứng một cách thích hợp để bảo đảm an ninh cho Việt Nam Cộng hòa. Lời hứa này về sau không trở thành hiện thực vì sau đó Quốc hội Mỹ đã ra nghị quyết không cho phép Tổng thống đưa lực lượng vũ trang trở lại Đông Dương. Với các áp đặt như vậy thì dù không có sự kiện Watergate, dù Tổng thống Nixon có tại vị thì cũng không thể giữ lời hứa với Tổng thống Thiệu và Việt Nam Cộng hoà được. Vì, đối với người Mỹ, họ thực sự muốn thoát khỏi cuộc chiến, quên nó đi và mở sang một trang sử mới.
HỘI ĐỒNG HOÀ GIẢI HOÀ HỢP DÂN TỘC. Về việc thành lập HỘI ĐỒNG HOÀ GIẢI HOÀ HỢP DÂN TỘC ôngNguyễn Khắc Huỳnh, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris, giải thích "Lúc đầu đàm phán Paris, tư tưởng của ta là giành thắng lợi, buộc Mỹ rút, lập chính phủ liên hiệp và sau đó chính phủ sẽ đoàn kết toàn dân... Lúc đó chưa có khái niệm hòa hợp dân tộc. Lúc đầu mình tính chính phủ liên hiệp nhưng sau sự kiện Mậu Thân 1968 và sau đó năm 1972, ta không có những thắng lợi quyết định... Năm 1972 ta mới đề ra đường lối tìm cách mở đường cho Mỹ rút. Ta mới đưa ra khẩu hiệu là "Mỹ rút, Sài Gòn còn, miền Nam giữ nguyên trạng". Để liên kết các lực lượng miền Nam thì đặt ra vấn đề hòa hợp dân tộc.
Vấn đề ấy được đặt ra trong lúc ta tính tới phương án giữ nguyên trạng miền Nam. Vì vậy ta đưa vào dự thảo Hiệp định và bàn kỹ vấn đề hòa hợp dân tộc. Lúc đầu ta gọi là chính phủ liên hiệp ba thành phần. Chính phủ Mỹ không chấp nhận được vì chính phủ mới có nghĩa là thủ tiêu chính phủ Sài Gòn. Ta mới hạ thấp xuống là "một chính quyền hòa hợp dân tộc", gần với lập trường của Mỹ. Mỹ đề xuất một "body" - một tổ chức để tổng tuyển cử. Mỹ dùng chữ "body" thì mình cũng dịu bớt đi, đề xuất là trong lúc chính quyền hai bên tồn tại, thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc để tiến tới tổ chức tổng tuyển cử thành lập chính quyền (đưa thêm khái niệm hòa giải, vì là hai kẻ địch). Nhưng Mỹ không chấp nhận chữ "chính quyền". Chữ "chính quyền" có gì đó mang ý nghĩa thủ tiêu chính quyền Sài Gòn.
Vì thắng lợi của mình năm 1972 cũng có mức độ thôi, chưa thể lấn át Mỹ được, nên ta lấy yêu cầu Mỹ rút là chính. Mỹ “nhận rút và quân miền Nam ở lại” là đạt yêu cầu cao nhất rồi, ta mới chấp nhận thành lập một “hội đồng quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc”. Hiệp định có điều khoản thành lập một hội đồng quốc gia hòa giải hòa hợp dân tộc để tổ chức tổng tuyển cử và đôn đốc thi hành Hiệp định. Lúc đó hình thành khái niệm hòa giải hòa hợp dân tộc... Dù lập chính phủ hai thành phần, ba thành phần hay giữ nguyên trạng thì cũng vẫn phải có hòa giải, hòa hợp. Không có cách nào khác. Không có bên nào thắng bên nào. Nhờ những sách lược mềm dẻo của ta, mà trong đó có việc tạm gác vấn đề xóa Sài Gòn, thực hiện một hình thức hòa giải, hòa hợp dân tộc mà tổ chức ấy chỉ là hội đồng thôi chứ không phải chính quyền, chính phủ gì nên Mỹ chấp nhận."
NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH PARIS có 9 Chương, và 23 Điều: Chương 1: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam (Điều 1); Chương 2: Chấm dứt chiến sự, rút quân, (Điều 2, 3, 4, 5, 6 và 7); Chương 3: Việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt, và nhân viên dân sự và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ (Điều 8); Chương 4: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam (Điều 9, 10, 11, 12, 13, và 14); Chương 5: Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam (Điều 15); Chương 6: Các Ban Liên hợp Quân sự, Uỷ ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát, Hội nghị Quốc tế (Điều 16, 17, 18, và 19); Chương 7: Đối với Campuchia và Lào (Điều 20); Chương 8: Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ (Điều 21, và 22); Chương 9: Những điều khoản khác (Điều 23). (Xem nguyên văn Hiệp định tại Phụ bản cuối sách).
Điều 1: Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi hiệp định Geneva. Điều 2: Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27 tháng 1 năm 1973. Và ở miền Nam tất cả các đơn vị quân sự Mỹ và đồng minh, hai bên miền Nam Việt Nam ở nguyên vị trí. Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển, chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi và sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi miền Bắc Việt Nam. Uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng quân sự hai bên miền Nam sẽ quy định vùng của hai lực lượng quân sự do mỗi bên kiểm soát, và những thể thức trú quân.
Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ, kể cả cố vấn quân sự tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát của các nước nói trên ra khỏi miền nam Việt Nam, huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và các nước đó ở nam Việt Nam. Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hành động tấn công nhau. Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển, mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên. Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập chính phủ thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế, hai bên miền Nam Việt Nam không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.
Trong thời gian này, hai bên miền Nam, được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự kiểm soát của Ban liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
Điều 8: Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân trong vòng 60 ngày. Vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của Điều 21(b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20/7/1954. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm điều đó trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực..
Điều 9: Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ quyết định tương lai chính trị của mình qua "tổng tuyển cử tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế". Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoăc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hòa bình ở miền Nam Việt Nam, giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực.
Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau.
Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam trong vòng chín mươi ngày. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thương mà thỏa thuận. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phương theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận.
Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, "phù hợp với tình hình sau chiến tranh". Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thảo luận về việc giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm càng sớm càng tốt. Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị..
Điều 15: Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam Việt Nam thỏa thuận. Trong khi chờ đợi thống nhất, ranh giới và khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không được tính là biên giới quốc gia theo như quy định tại Hiệp định Genève. Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt bao gồm có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự trên đất mình.
Điều 16: Để bảo đảm và giám sát việc thực hiện hiệp định, một Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế và Ban liên hợp quân sự bốn bên, Ban liên hợp quân sự hai bên sẽ được thành lập. Ban liên hợp quân sự bốn bên phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện về việc ngừng bắn, việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và quân đội đồng minh, việc hủy bỏ các căn cứ quân sự của họ...và chấm dứt hoạt động trong thời gian sáu mươi ngày, sau khi Hoa Kỳ và đồng minh rút quân.
Ban liên hợp quân sự hai bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình, về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam, việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập chính phủ mới,...Các bên thỏa thuận về việc triệu tập một Hội nghị quốc tế trong vòng ba mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết.
Điều 20: Các bên tham gia Hội nghị phải triệt để tôn trọng Hiệp định Geneva năm 1954 về Campuchia và Hiệp định Geneva năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân hai nước về độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ các nước đó. Các bên phải tôn trọng nền trung lập của hai nước. Các bên tham gia Hội nghị cam kết không dùng lãnh thổ của hai nước để xâm phạm chủ quyền và an ninh của nhau và của các nước khác. Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở hai nước, rút hết và không đưa trở lại vào hai nước đó quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.
Điều 21: Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công việc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trên toàn Đông Dương để hàn gắn các thiệt hại do chiến tranh. Điều 23: Tất cả các bên đồng ý thi hành hiệp định. Và hiệp định được sự bảo trợ của quốc tế thông qua việc các quốc gia ký nghị định thư quốc tế về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam (hết trích).
Bài 307: SAU HIỆP ĐỊNH PARIS, VỀ PHÍA MỸ VÀ VIỆT NAM CỘNG HOÀ TRONG NHỮNG NĂM 1973-1975: PHẠM BÁ HOA GHI LẠI
VỀ PHÍA MỸ: Những năm 1973-1975, là lúc quân Mỹ rút hết ra khỏi Việt Nam, cùng với đó viện trợ Mỹ cũng từng bước bị cắt giảm. Viện trợ cho Việt Nam Cộng hoà trong tài khóa 1974-1975, Tổng thống Nixon đề xuất 1 tỷ đôla nhưng khi đưa ra Quốc hội xét duyệt, khoản viện trợ này bị cắt giảm chỉ còn 700 triệu. Quốc hội Mỹ còn đưa ra điều kiện Việt Nam Cộng hòa không được dùng Quỹ đối giá (tiền thu Viện Trợ Nhập Cảng (CIP) bù cho chi ngân sách) cho ngân sách Quốc phòng...
VÀ VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Chỉ được một vài tháng đầu năm 1973 là có các tiếp xúc, binh sĩ hai bên được phép gặp mặt với nhau, nhưng sau đó là thời gian hai bên liên tục lên án nhau phá hoại hiệp định và đánh lấn chiếm vùng kiểm soát của nhau, dù ở quy mô nhỏ. Quân đội Việt Nam Cộng hoà, không đủ sức để đánh lớn và quân Giải phóng cũng không cónhững trận đánh lớn nào ở thời điểm nầy. Tháng 1 năm 1974, sau một trận hải chiến ngắn ngủi, Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa, Hạm đội 7 của Mỹ cũng không có động thái nào trợ giúp Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa khi được đề nghị. Sau đó, Quân đội Việt Nam Cộng hoà cũng không có kế hoạch phản công nhằm chiếm lại đảo.
Quân đội Việt Nam Cộng hoà ngày càng gặp khó khăn, tuy phương tiện chiến tranh còn nhiều trong kho, nhưng bị hạn chế về tài chính nên không thể duy trì được trang thiết bị trong tư thế sẵn sàng sử dụng. Với một đội quân có thói quen chiến đấu theo kiểu Mỹ, tác chiến không tiếc bom đạn thì nay số tiền 700 triệu là qúa thiếu… Tuy hơn hẳn đối phương về không quân, nhưng vì thiếu kinh phí nên chỉ phát huy non một nửa uy lực. So với đối thủ là Quân Giải phóng về quân số, trang bị hạng nặng như xe tăng, máy bay..., thì Việt Nam Cộng hòa vẫn có ưu thế 2 lần về quân số, 4 lần về xe tăng và pháo binh hơn hàng chục lần về Không quân và Hải quân. Nhưng về sức chiến đấu trên thực tế của hai bên trên chiến trường, thì ưu thế đã nghiêng dần sang phía Quân Giải phóng.
Tháng 5 năm 1974, tại Vùng 1, Quân khu I, Quân Giải phóng đưa một sư đoàn đến đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng Nam. Quân lực Việt Nam Cộng hoà liền điều Sư đoàn Dù tổng trù bị chiến lược đến tái chiếm. Hai bên đánh nhau ác liệt trong vòng 3 tháng; kết quả quân Giải phóng vẫn giữ vững và kiểm soát hoàn toàn chi khu Thượng Đức và Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị buộc phải rút lui.
Sách “ĐÔI DÒNG GHI NHỚ” Phạm Bá Hoa viết tiếp: Ngày 13 tháng 12 năm 1974, một đơn vị Cộng sản có thể là cấp Tiểu Đoàn, tấn công quận lỵ Đôn Luân, bị quân trú phòng đẩy lui. Nhưng cuộc tấn công kế tiếp thì Đôn Luân thất thủ. Sau đó, một lực lượng Cộng sản khác đánh chiếm quận Bố Đức. Sư Đoàn 5 Bộ Binh được Bộ Tổng Tham Mưu điều động tăng cường cho tỉnh lỵ Phước Long. Ngày 24 tháng 12 năm 1974, chiếc trực thăng Chinook 47 chở chuyên viên từ Sài Gòn lên tỉnh lỵ Phước Long sửa chữa chiếc phi cơ vận tải C.130 bị hư đang nằm tại phi trường ngoại ô tỉnh lỵ. Lượt về, chiếc Chinook 47 đã bị hỏa lực phòng không của quân cộng sản bắn hạ sau khi cất cánh chưa đầy 5 phút.
Đang trong tình hình hết sức nguy hiểm cho lực lượng trú phòng, thì sự bất đồng quan niệm hành quân giải tỏa Phước Long giữa Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III/Quân Khu III, với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong phiên họp tại Phủ Tổng Thống, Trung Tướng Đống xin tăng cường lực lượng tổng trừ bị nhưng Tổng thống Thiệu không chấp thuận. Theo lời của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu thì Trung Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức ngay trong buổi họp, nhưng Tổng Thống không chấp thuận. Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn được cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn III thay thế Trung tướng Dư Quốc Đống. Ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long vào tay quân Cộng sản.
NGÀY 10 THÁNG 3 NĂM 1975. Sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, khi tôi vào đến văn phòng thì điện thoai reo liên hồi:“Đại Tá Hoa tôi nghe”. “Lễ (Đại tá, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy III Tiếp Vận) đây anh. Tôi mới nghe nói là Ban Mê Thuột bị mất liên lạc hữu tuyến lẫn vô tuyến từ giữa đêm qua. Đâu anh xem lại có phải vậy không? Tôi gọi khắp các cơ quan phòng sở trong Bộ Tổng Tham Mưu, không cơ quan nào liên lạc được với bất cứ cơ quan đơn vị nào ở Ban Mê Thuột cả. Chợt nhớ ra bên Sở Liên Lạc có căn cứ của Lôi Hổ trên đó hoạt động dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt, có thể còn giữ liên lạc được. Và, đúng như vậy, Trung Tá Trần Đắc Trân, điện thoại gọi tôi sang để nói chuyện trực tiếp với nhân viên của Sở Liên Lạc tai Ba Mê Thuột.
Tôi trình Đại Tá Loan xong là chạy sang anh Trân ngay. Tôi hỏi: Chào anh. Anh đang ở đâu đó? “Em đang ẩn trú ở đầu phi trường nhỏ trong thành phố Ban Mê Thuột. Chung quanh em tiếng súng nổ dữ lắm và xe tăng của tụi nó (quân cộng sản) đã vào đến cuối sân bay rồi Đại Tá ơi”! Theo anh thì tụi nó đã vào trung tâm thành phố chưa? “Xe tăng của nó tấn công kho đạn đêm qua, và tụi nó tiến vào thành phố rồi. Khu vực Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn (23 Bộ Binh) và bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đều có tiếng súng dữ lắm. Em chưa rõ lắm, nhưng em nghĩ là bị tụi nó chiếm hết rồi. Bây giờ em phải rút ra ngoại ô. Chào Đại Tá”. “Cám ơn anh, và cầu nguyện cho anh cùng các bạn vượt thoát bình an. Chào anh và các bạn”.
Tôi gọi lên Quân Đoàn II nói chuyện với Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn, được biết Quân Đoàn II đã cho phi cơ không thám trên không phận ngoại ô Ban Mê Thuột, chớ không vào sâu bên trong được vì hỏa lực phòng không của Cộng quân quá mạnh, tin tức ghi nhận khá ít, không đủ dữ kiện cho Quân Đoàn nhận định tình hình một cách rõ nét, để có phản ứng phù hợp. Sư Đoàn 23 Bộ Binh, có 2 Trung Đoàn hoạt động trên Kon Tum, và 1 Trung Đoàn giữ phi trường Phụng Dực, lực lượng phòng thủ Ban Mê Thuột chỉ gồm những đơn vị yểm trợ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và các đơn vị Địa Phương Quân Nghĩa Quân của Tiểu Khu nên sự chống trả yếu ớt. Ngày 13 tháng 3 năm 1975, Ban Mê Thuột và toàn tỉnh Darlac vào tay quân cộng sản!
NGÀY 15 THÁNG 3 NĂM 1975. Ngày 15/3/1975, ngay đầu giờ buổi làm chiều, điện thoại reo:“Đại Tá Hoa tôi nghe “Có ai ngồi gần anh không? “Dạ không, thưa Đại Tướng”. Đó là Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông tiếp: “Tuyệt đối là anh không cho ai biết lệnh này ngoài những sĩ quan trách nhiệm thi hành”. Vâng, tôi rõ thưa Đại Tướng. Tổng Cục Tiếp Vận có bao nhiêu phi cơ vận tải C.130 khả dụng? Thông thường thì sử dụng 2 hoặc 3 chiếc, nhưng trường hợp tối cần thiết có thể sử dụng được 8 hoặc 9 chiếc. Nhưng tôi sẽ hỏi bên Không Quân và sẽ trình lại Đại Tướng con số chính xác hơn, thưa Đại Tướng. Thôi được. Điều cần thiết là anh phải sử dụng tối đa vì đây là nhu cầu khẩn cấp. Anh liên lạc ngay với Quân Đoàn II, xem họ cần bao nhiêu chiếc thì cho họ bấy nhiêu, còn sử dụng vào công tác gì thì tùy họ. Nhiệm vụ kể từ ngày mai. Anh rõ chưa? Thưa Đại Tướng, tôi rõ.“Phần anh, anh chuyển các quân dụng đắt tiền ra khỏi Pleiku và muốn đem về đâu thì tùy anh”. Vâng. Tôi thi hành, thưa Đại Tướng..
Tôi gọi lên Pleiku liên lạc với Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II: “Tôi Hoa đây anh Lý. Tôi được lệnh cấp C.130 cho anh nhưng không được biết là Quân Đoàn sử dụng vào công tác gì. Vậy anh có thể cho tôi biết để tôi tiện sắp xếp phi cơ theo đúng nhu cầu của anh không? Vì chắc anh cũng biết là số phi cơ khả dụng của chúng tôi giới hạn lắm”. Anh cứ đưa lên đây cho tôi, còn sử dụng vào công tác gì thì không thể nói được đâu. Đành vậy. Nhưng anh cần bao nhiêu chiếc? Cần vào lúc nào? Và chuyển vận từ đâu tới đâu? “Anh có bao nhiêu chiếc thì đưa lên tôi bấy nhiêu kể từ sáng mai (16/3/1975). Không trình có thể là từ Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sàigòn. Sao lại là có thể mà không rõ nơi đến? “Tôi không thể cho anh biết đâu. Vậy thì như thế này. Sáng mai tôi cho lên anh 2 chiếc, trong khi 2 chiếc kế tiếp túc trực tại phi trường Tân Sơn Nhất và anh cần là cất cánh ngay, vì một lúc anh đâu sử dụng được 4 chiếc. Được không? “Được. 8 giờ sáng mai anh cho có mặt tại phi trường Cù Hanh nghe. Xong. Mình thỏa thuận như vậy”.
NGÀY 16 THÁNG 3 NĂM 1975. Sáng ngày 16/3/1975, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Đại Tá. Trưởng phi cơ C.130 đang trên không phận phi trường Cù Hanh (Plei Ku), cho biết là không thể nào đáp xuống phi trường được, vì người ta đông không thể tưởng tượng nỗi. Chẳng biết là chuyện gì xảy ra vì không liên lạc được dưới đất. Và hai chiếc C.130 đang chờ lệnh Đại Tá. Anh chuyển đến Trưởng phi cơ là hãy chờ tôi vài phút để tôi liên lạc với Quân Đoàn II xem tình hình ra sao”. Gọi Quân Đoàn II, và tôi nói chuyện với Đại Tá Lý: “Phi cơ tôi đang trên không phận của anh đó, nhưng không thể đáp được. Nếu anh muốn họ đáp xuống thì anh phải giải tỏa sân bay giùm đi. Nếu chậm quá thì họ sẽ về lại Sài Gòn đó. Mà chuyện gì xảy ra vậy Anh? Tại vì, người ta tranh nhau chờ lên phi cơ mới có chuyện tràn ngập đường băng như vậy. Để tôi cho Quân Cảnh giải tỏa, anh bảo phi cơ đáp xuống cho tôi đi. Thì phi hành đoàn đang chờ đường băng trống là đáp xuống, trừ khi anh không giải tỏa nỗi. Anh nhớ ưu tiên cho Liên Đoàn Trưởng Yểm Trợ Tiếp Vận của tôi ở Plei Ku, chở một số kiện hàng quan trọng xuống Qui Nhơn hoặc Nha Trang à nghe”.
Tôi lại nhờ Bộ Chỉ Huy Không Chiến chuyển đến phi hành đoàn C130. Và sau đó, phi cơ đáp xuống được tuy rất khó khăn vì đông nghẹt người là người hai bên đường băng. Theo lời thuật của Trưởng phi cơ, là cả một rừng người chen lấn xô đẩy, đạp lên nhau để tranh lên phi cơ, và hết sức khó khăn, phi hành đoàn mới cho phi cơ cất cánh được. Sáng ngày 17/3/1975, trong lúc 2 chiếc C130 trên không phận Plei Ku thì điện thoại nhà tôi reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Đại Tá. Trưởng phi cơ cho biết là toàn thị xã Plei Ku hôm nay không có bóng một sinh vật nào cả, và bây giờ phi hành đoàn xin phép về lại căn cứ. Anh hỏi lại phi hành đoàn giùm tôi, nếu sự thực đúng như vậy, thì tôi đồng ý phi cơ quay về. Xin nhớ, đây là trách nhiệm rất quan trọng nghe anh.
NGÀY 18 THÁNG 3 NĂM 1975. Chiều 18/3/1975, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Khương đây anh Hoa. Đó là Đại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, đồn trú tại Qui Nhơn. Anh có tin gì về anh em mình trên Plei Ku chưa? “Liên Đoàn 2 Vận Tải mới liên lạc vô tuyến với đoàn xe bị kẹt trên Plei Ku rồi anh. Đoàn xe này đang cùng với hằng ngàn quân xa và dân xa rút bỏ Plei Ku và Kon Tum, đang di chuyển trên đường liên tỉnh số 7 để xuống Tuy Hòa. Toàn bộ lực lượng gồm nhiều đơn vị chiến đấu, cùng với Pháo Binh, Thiết Giáp, bị sa lầy sau khi vượt qua Cheo Reo. Phần thì đường hư cầu sập làm nhiều chiến xa M.48 và pháo binh 175 ly cơ động xuống hố, gây tổn thất rất nặng cho cả quân đội lẫn dân sự, nhưng chưa thấy phản ứng của Quân Đoàn. Anh em mất tinh thần lắm anh ơi!
“Được rồi. Bảo vệ đoàn quân và khi nào xuống đến Tuy Hòa, chắc chắn là trách nhiệm của Quân Đoàn. Bây giờ anh nên chuẩn bị tổ chức nhiều toán do một sĩ quan của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận chỉ huy và đặt tại Tuy Hòa, mỗi toán phụ trách một công tác, để khi đoàn quân xuống đến Tuy Hòa thì cấp phát ngay cho bất cứ đơn vị nào mà không cần theo thủ tục tiếp liệu thông thường, chỉ cần viết tay và ký nhận là đủ. Hàng mang theo cấp phát là: Lương khô đủ ăn 3 ngày, 1 bộ quần áo trận, đổ đầy xăng dầu cho xe chạy bánh và xe chạy xích. “Toán Quân Y thì cấp thuốc cho các bệnh thông thường và cấp cứu đầu tiên. Anh thấy được không? Được anh. Để tôi lo”. Anh nói Liên Đoàn 2 Vận Tải ráng giữ liên lạc và khi có bất cứ tin tức gì về đoàn quân này thì anh cho tôi biết ngay nghe anh Khương”.
Sở dĩ có đoàn xe hằng trăm chiếc bị kẹt ở Plei Ku, là vì sau khi Phước Long mất, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên ra lệnh cho tôi thực hiện kế hoạch chuyển tiếp liệu loại 1 (lương thực thực phẩm), loại 3 (nhiên liệu), loại 5 (đạn dược chất nổ), lên Plei Ku dự trữ cho 20.000 quân phòng thủ trong 30 ngày mới bổ sung. Do vậy, mà hằng ngày đoàn xe cả trăm chiếc đi đi về về giữa Qui Nhơn với Plei Ku để vận chuyển tiếp liệu từ Qui Nhơn lên Plei Ku… Tôi sang văn phòng Đại Tá Loan, và sau khi trình cho anh xong, tôi điện thoại lên văn phòng Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng: “Tôi Hoa đây anh Nguyện (Đại Tá Nguyễn Kỳ Nguyện, chánh văn phòng), anh cho tôi trình vấn đề gấp với Đại Tướng. Anh chờ tôi một chút.
Tôi đây (Đại tướng Viên). Thưa Đại Tướng, tôi Hoa đây. Có việc gì vậy? Thưa Đại Tướng, cách đây vài phút, Đại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, cho tôi biết về đoàn quân rút bỏ Plei Ku và Kon Tum đang bị sa lầy ... (tôi thuật lại chi tiết mà tôi với Đại Tá Khương đã nói với nhau).“Anh có chắc là đúng như vậy không? Từ chỗ đoàn xe bị kẹt đến Đại Tá Khương như thế nào thì tôi không dám chắc, nhưng từ Đại Tá Khương đến tôi là hoàn toàn chính xác, thưa Đại Tướng. Thôi được. Anh đừng nói với ai nữa nghe. Vâng”.
THÔNG TIN NGÀY 20 THÁNG 3 NĂM 1975. Chiều tối hôm sau (19/3/1975) thì Trung Tướng Đồng Văn Khuyên từ Tokyo (Nhật Bản) về đến. Sau khi nghe chúng tôi trình bày về tình hình từ ngày ông vắng mặt đến nay, ông nói sáng mai (20/3/1975) sẽ trình diện Tổng Thống với Đại Tướng, chắc là sẽ có tin tức rõ ràng hơn. Và đây là những tin tức đó: "... Sau khi mất Ban Mê Thuột, áp lực của quân cộng sản rất mạnh. Tổng Thống nhận định là không đủ khả năng bảo vệ toàn bộ Cao Nguyên trong khi Ban Mê Thuột cần giữ hơn là Plei ku với Kon Tum, vì vậy mà trong buổi họp ngày 14/3/1975 tại Cam Ranh, Tổng Thống Thiệu đã quyết định rút bỏ Plei Ku, Kon Tum, Phú Bổn, để đem lực lượng về phản công lấy lại Ban Mê Thuột.“Tổng Thống giao cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II, nhiệm vụ thực hiện cuộc hành quân triệt thoái khỏi 3 tỉnh đó, nhưng phải giữ bí mật tối đa và bảo vệ toàn vẹn lực lượng.
Thiếu Tướng Phú trình kế hoạch là rút theo đường liên tỉnh số 7, dù rằng con đường này không sử dụng từ lâu nhưng đạt được yếu tố bất ngờ đối với lực lượng cộng sản. Với đề nghị của Thiếu Tướng Phú, Tổng Thống Thiệu thăng cấp Chuẩn Tướng cho Đại Tá Phạm Duy Tất. Lúc đầu, Tổng Thống không đồng ý, nhưng Thiếu Tướng Phú cố lặp lại đề nghị, và sau cùng thì Tổng Thống chấp thuận. Lúc bấy giờ, Đại Tá Phạm Duy Tất đang là Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân/Quân Đoàn II. Khi mang cấp bậc Chuẩn Tướng, ông được Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn giao phó trách nhiệm Tư Lệnh cuộc hành quân lui binh”.
TỔN THẤT TRONG CUỘC RÚT QUÂN KHỎI PLEIKU. Hết giờ buổi chiều khá lâu, Trung Tướng Khuyên gọi tôi lên văn phòng, và ông đưa tôi xem một xấp không ảnh đã được giải đoán đầy đủ. Toàn bộ xấp không ảnh cho thấy đoàn xe không phải theo một hình dài mà là một hình gần như tròn, vì khi phần đi đầu bị kẹt thì những chiếc sau cứ lấn qua bên trái hay bên phải với hy vọng tìm được lối đi, nhưng càng lấn vào rừng thì càng không lối thoát, và cứ như thế mà cả đoàn xe quá nhiều đó đã tạo nên hình dáng như vậy. Ghi chú bên cạnh những khoanh tròn bằng ngòi bút của chuyên viên giải đoán không ảnh, có gần 800 xe đã bị thiêu hủy. Nếu như giải đoán viên không ảnh chính xác hay ít ra cũng gần như vậy, thì chỉ mới 4 ngày dấn thân vào đường liên tỉnh số 7 mà số xe bị tổn thất trên dưới 1/3 trong tổng số xe các loại, quả là rất nặng.
Trong số tổn thất đó có “Tiểu Đoàn Pháo Binh 175 ly cơ động và Trung Đoàn Chiến Xa hạng nặng M48". Đây là hai loại vũ khí mới được Hoa Kỳ viện trợ năm 1973, lúc Hoa Kỳ chỉ rút quân về nước, và toàn bộ chiến cụ để lại cho quân đội chúng ta. Khi về đến Tuy Hòa thì tổn thất đến nỗi, không còn khả năng thực hiện kế hoạch phản công chiếm lại Ban Mê Thuột được nữa. Số dân thường bị chết dọc đường nhiều không kém số thương vong của quân đội. Chết vì súng đạn, chết vì xe cộ tranh giành lối đi mà gây tai nạn bừa bãi, chết vì tranh nhau miếng ăn nước uống, chết vì cướp giật.
Rút bỏ 3 tỉnh Cao Nguyên là Plei Ku, Kon Tum, và Phú Bổn, những tưởng bảo toàn được lực lượng gồm một phần của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh, Truyền Tin, và các ngành khác, để phản công chiếm lại thủ phủ Ban Mê Thuột, nhưng rồi toàn bộ Cao Nguyên miền Trung bỗng dưng rơi vào tay quân cộng sản. Tình trạng hỗn loạn bi đát trong cuộc hành quân lui binh trên đường liên tỉnh số 7 là khởi đầu cho sự hỗn loạn trong các cuộc hành quân lui binh của Quân Đoàn I, và các Sư đoàn 1, 2, 3, 22, 23 Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Hải Quân, Không Quân, dọc các tỉnh duyên hải từ Quảng Trị, Huế, Đà Nẳng, đến Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Cam Ranh.
TƯỚNG NGHI VÀ TUYẾN PHÒNG THỦ PHAN RANG. Đến cuối tháng 3/1975, từ Quảng Trị đến Cam Ranh đều bỏ ngỏ, thì tại Biên Hòa, nơi có bản doanh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn gấp rút tổ chức Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, và Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi tình nguyện nhận trách nhiệm chỉ huy Bộ Tư Lệnh này. Ngay sau đó, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương/Quân Đoàn III di chuyển ra Phan Rang, đặt bản doanh ngay trong căn cứ Sư Đoàn 6 Không Quân tại phi trường Bửu Sơn (Phan Rang hay là Ninh Thuận), với nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy tuyến phòng thủ tại đây.
Lực lượng dưới quyền Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi thật là phức tạp, vì lực lượng còn lại của Sư Đoàn 2 Bộ Binh, Sư Đoàn Nhẩy Dù, và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến quá mệt mỏi, trong khi tái trang bị cũng như những nhu cầu tiếp liệu khác chưa hoàn chỉnh. Tái tổ chức và trang bị xong, Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh tức tốc chuyển quân ra Phan Rang, trong khi Chuẩn Tướng Phan Đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh chuyển quân theo quốc lộ 4 xuống trấn giữ Tân An. Quốc lộ nối liền Sài Gòn với các tỉnh đồng bằng Cửu Long.
TUYẾN ĐẦU PHAN RANG THẤT THỦ, TƯỚNG NGHI BỊ BẮT. Và rồi tuyến đầu Phan Rang thất thủ. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh chiến trường, và Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, cùng nhiều sĩ quan trực thuộc bị bắt làm tù binh. Tiếp đó là Đà Lạt, Lâm Đồng, Bình Thuận (tức Phan Thiết), và Bình Tuy (tức Hàm Tân), đều bỏ ngỏ, lui về Vũng Tàu và thủ đô Sài Gòn. Sư Đoàn 25 Bộ Binh của Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, từ Tây Ninh cũng lui về căn cứ Củ Chi, sát nách Sài Gòn. Lui xuống tuyến Xuân Lộc. Tại đây, Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo giữ chức Tư Lệnh, có khoảng 2 Sư Đoàn quân cộng sản mở cuộc tấn công vào Sư Đoàn 18 Bộ Binh tại Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh.
Cộng quân cứ tưởng trên đường tiến quân cứ như “chẻ tre” từ sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) xuống đến đây, nhưng chẳng may cho chúng là sức kháng cự mãnh liệt của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, cộng với quyết định sử dụng bom CBU -loại bom hút hết dưỡng khí trong một đường kính nhất định và những ai trong khu vực đó đều không có dưỡng khí để thở- và loại bom 10 tấn dùng khai phá bãi đáp cho trực thăng giữa rừng già, đã gây thiệt hại nặng nề cho quân cộng sản. Thiệt hại đến mức chúng phải rời mục tiêu Sư Đoàn 18 Bộ Binh để đi vòng xuống tấn công Biên Hòa. Sau 12 ngày chống giữ, ngày 21/4/75, Sư Đoàn 18 Bộ Binh được lệnh Quân Đoàn III rút về trấn giữ căn cứ Long Bình.
Với những cuộc rút lui hỗn loạn của Quân Đoàn I, Quân Đoàn II, và phần lớn của Quân Đoàn III, trong khi toàn lãnh thổ Quân Đoàn IV gồm 16 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, chưa có những trận đánh quan trọng nào, và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV, đã ra lệnh báo động cho Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Sư Đoàn 9 Bộ Binh, Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Sư Đoàn 4 Không Quân, cùng với Hải Quân, và các đơn vị tác chiến khác, kể cả Địa Phương Quân Nghĩa Quân sẳn sàng chống trả các cuộc tấn công của quân cộng sản. Đến 20/4/1975, chưa thấy chỉ dấu nào về một thảm trạng rút lui hay bỏ chạy trong phạm vi Quân Đoàn IV cả.
MẤT MỘT TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU QUÂN ĐỘI CÒN… Những tin đồn đoán nào là Đại Tướng Dương Văn Minh đảo chánh, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh, nào là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị áp lực từ chức được truyền đi từ người này sang người khác, nhưng thật sự thì chẳng mấy ai biết những tin đó xuất phát từ đâu cả. Trong loạt tin đồn đoán lần này, có một tin xảy ra đúng như vậy, đó là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vị Tổng Thống thứ nhì của Việt Nam Cộng Hòa và là Tổng Thống thứ nhất của nền đệ nhị Cộng Hòa, tối 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức, sau khi ông mạnh mẽ cáo giác Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam. Và, ông cũng tuyên bố rằng: "Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu bên cạnh anh em chiến sĩ”.
Ý nói là Trung Tướng (Thiệu) sẽ tiếp tục phục vụ trong hàng ngũ quân đội. Trước đó, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm đã từ chức, và ngày 14/4/75 bàn giao chức vụ Thủ Tướng cho Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn đương nhiệm Chủ Tịch Hạ Nghị Viện. Bốn ngày sau khi từ chức, đêm 25/4/1975, cả hai cựu Tổng Thống Thiệu và cựu Thủ Tướng Khiêm lên phi cơ sang Đài Bắc. Xin nhắc lại. Đại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong từ ngày 7 tháng 10 năm 1964, sau đó giữ chức Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Chuyển sang nhiệm sở tại Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) từ tháng 10 năm 1965. Đến tháng 5 năm 1968, về Việt Nam giữ chức Tổng Trưởng Nội Vụ. Đầu năm 1969, giữ chức Phó Thủ Tướng. Và đến đầu tháng 9 năm 1969, thay giáo sư Trần Văn Hương trong chức vụ Thủ Tướng. Rồi khi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ bị cách chức Tổng Trưởng Quốc Phòng năm 1972 vì vụ Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm kiêm nhiệm thêm chức Tổng trưởng Quốc phòng.
NHẬN DIỆN BA TƯỚNG THIỆU, KHIÊM, VÀ VIÊN. Ngày 27/4/1975, Đại tướng Cao Văn Viên, cũng xin giải ngũ, để ngày 28/4/1975, mang theo gia đình cùng với vợ, con Tổng thống Thiệu lên phi cơ sang Đài Bắc. Trong những năm chiến tranh chưa đến hồi khốc liệt và được viện trợ đầy đủ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên đã sát cánh với quân đội và toàn dân chiến đấu chống cộng sản, nhưng khi tổ quốc lâm nguy thì ba vị lãnh đạo cao nhất nước, kế tiếp nhau chuyển giao chức vụ cho người khác, rồi âm thầm ra đi. Các vị đã rời bỏ tổ quốc Việt Nam, nơi mà quí vị được sinh ra và lớn lên; quí vị đã bỏ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân đội đã từng đưa quí vị lên tột đỉnh quyền uy danh vọng.
Và, quí vị cũng đã bỏ gần 20 triệu đồng bào, mà chính họ đã từng hai lần bỏ phiếu bầu một trong ba vị vào chức vụ cao nhất nước: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tướng đã hai lần đặt tay lên Hiến Pháp tuyên thệ "bảo vệ quốc gia dân tộc, bảo vệ Hiến Pháp" khi nhận chức Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội;Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, hơn 5 năm trong chức vụ Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng; và Đại Tướng Cao Văn Viên, gần 10 năm trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nói chung, quí vị đã bỏ lại đằng sau tất cả, lặng lẽ rời khỏi Việt Nam trong đêm tối, trước ngày dân tộc Việt Nam bị cộng sản độc tài cai trị! Còn gì để nói đây! (hết trích).
Bài 308: CHIẾN SỰ VÀ CHÍNH SỰ CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ TRONG THÁNG 3 VÀ THÁNG 4 NĂM 1975: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.
Sách “VIỆT NAM NHÂN CHỨNG” Tại chương 8, Trần Văn Đôn viết: Ngày 12 tháng 03 năm 1975, vì có tin đồn bỏ Huế, Tướng Ngô Quang Trưởng ra Huế họp Hội Đồng Thành Phố, tuyên bố cương quyết giữ Huế. Ngày 13 tháng 03 năm 1975, Tướng Trưởng vào Sài Gòn gặp Tổng Thống Thiệu. Trong phiên họp tại Phòng Hành Quân ở dinh Độc Lập, gồm Đại Tướng Trần Thiện Khiêm Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng, Đại Tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng và Trung Tướng Đặng Văn Quang Phụ Tá Quân sự của Tổng Thống. Tổng thống Thiệu lấy cây viết gạch trên bản đồ Việt Nam xóa vùng Cao Nguyên và vùng Miền Trung.
Rồi, vẽ một đường từ Ban Mê Thuột đến Nha Trang, và nói, chúng mình sẽ giữ phần đất dưới đường nầy. Còn từ Đèo Cả trở ra Quảng Trị là phần đất dành cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông Thiệu nói với Ông Trưởng: Đây là chỉ thị của tôi, phải thi hành nhưng đừng có nói lại cho ai! Xong hội nghị, Trung Tướng Trưởng theo Đại Tướng Cao Văn Viên về văn phòng để trình bày thêm về vấn đề vừa rồi. Tai đây ông Trưởng nói: Tôi không thể thi hành lệnh vừa rồi của Tổng Thống vì tôi đã hứa với đồng bào Huế tôi sẽ giữ Huế. Tôi xin Đại Tướng chỉ định một tướng khác để làm việc đó.
Đại Tướng Viên nói việc đó ngoài thẩm quyền của ông ta, và đề nghị ông Trưởng nên trình lại cho Tổng Thống vào ngày sau, là 14 tháng 03 năm 1975, tại cuộc họp ở Cam Ranh. Trung Tướng Trưởng điện thoại cho Đại Tá Cầm, Chánh Văn Phòng Tổng Thống xin được đến Cam Ranh sáng hôm sau để gặp Tổng Thống. Trước khi từ giã Đại Tướng Cao Văn Viên, ông Trưởng nói: Nếu được, xin Đại Tướng trình lên Tổng Thống rằng tôi không thể thi hành vì tôi coi như ruột thịt với đồng bào xứ Huế sau tám năm sống với họ. Tôi không thể bỏ người Huế, nhất là gia đình quân nhân. Ông Trưởng trở ra Huế chờ điện thoại của Đại Tá Cầm nhưng không có, nên ngày 14/3 không thể vào Cam Ranh gặp ông Thiệu.
RÚT KHỎI KONTUM, PLEIKU, PHÚ BỔN. Ngày 14 tháng 03 năm 1975, ông Thiệu họp với Tư Lệnh Quân Đoàn II, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Thủ Tướng Trần Thiện khiêm, Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Tướng Đặng Văn Quang cùng các sĩ quan tùy viên tại Nhà Trắng ở Cam Ranh. Có lời đồn rằng ông Thiệu ra lịnh rút quân khỏi Cao Nguyên, nhưng tôi phối kiểm lại thì trong phiên họp nầy ông Thiệu ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải lấy lại Ban Mê Thuột. Tướng Phú xin thêm quân thì ông Viên nói: Tôi hết quân trừ bị để cấp cho anh. Tôi chỉ có phương tiện để yểm trợ hành quân mà thôi. Vậy thì lấy quân ở đâu? Họ bàn nhau chỉnh đốn lại quân ngũ của Quân Đoàn II, và lập một đoàn quân đặc nhiệm chiếm lại Ban Mê Thuột.
Vô chi tiết ông Thiệu hỏi Tướng Phú: Anh sẽ đi đường nào để đánh lấy lại Ban Mê Thuột? Ông Phú nói: Đường 14 đi thẳng từ Pleiku lên Ban Mê Thuột chắc chắn sẽ bị phục kích, đường 19 từ Pleiku đi Qui Nhơn cũng không được. Chỉ còn đường số 7 từ Củng Sơn đi Tuy Hòa và Nha Trang rồi đánh lên Ban Mê Thuột, nhưng đường số 7 là đường xấu ít khi sử dụng nên cần có phương tiện phá mìn và vượt sông. Tướng Viên chấp thuận: Tôi sẽ cấp công binh vượt sông, có máy bay yểm trợ để di chuyển quân, ngoài ra không còn gì hết.
Tướng Phú xin thăng cấp cho Đại Tá Hoàng Văn Tất lên Chuẩn Tướng để chỉ huy đoàn quân đó. Ông Thiệu xoay qua hỏi ý kiến ông Viên, ông Viên đồng ý: Được, không có gì trở ngại. Ông Thiệu nói: Cho mang một sao để đủ uy tín chỉ huy đoàn quân. Sau đó, Tướng Phú bay về Pleiku, họp lại các sĩ quan tham mưu gồm có các Đại Tá Lý, Tất, Sang, Tường, Cẩm và cho biết: Tổng Thống Thiệu ra lịnh rút khỏi Pleiku, đem tất cả lực lượng về Nha Trang để từ đó đánh lên Ban Mê Thuột. Tướng Phú ra lịnh cho Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II nội trong ba ngày phải chuyển mọi cơ cấu về Nha Trang để Tướng Phú tổ chức, chỉ huy tái chiếm Ban Mê Thuột.
Bộ chỉ huy nhẹ đi trước, bộ tham mưu đi sau. Tất cả mọi cơ cấu của Quân Đoàn rất qui mô không thể nào thu xếp trong ba ngày mà rút hết được. Việc làm gấp rút hối hả nầy làm náo động dân chúng Pleiku vì vợ con quân nhân vội vàng rút theo chồng thì dân chúng cũng thu xếp ít vật dụng của cải để chạy theo đoàn quân di tản. Trên đường từ Pleiku rút về Nha Trang cũng bị Việt Cộng phục kích. Thật ra các cuộc phục kích nầy không qui mô, nhưng vì binh sĩ mất tinh thần, phần thì gia đình bận bịu nên bỏ chạy nhiều hơn là chiến đấu. Đến Tuy Hòa thì đoàn quân đã tan rã nhiều, vào đến Nha Trang chẳng còn quân ngũ nữa! Kế hoạch tái chiếm Ba Mê Thuột trở thành bất khả thi.
TƯỚNG TRƯỞNG GẶP TỔNG THỐNG THIỆU. Ngày 15 tháng 03 năm 1975, Trung Tướng Trưởng vô Sài Gòn gặp lại Tổng Thống và xin từ chức hoặc xin giữ Huế vì có đủ phương tiện giữ Huế. Ông Thiệu trả lời: Thôi thì giữ Huế! Trung Tướng Trưởng qua gặp Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Trưởng Quốc Phòng và cho biết quyết định chót của Tổng Thống về Huế và sẵn hỏi: Phải chăng có lệnh rút Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra khỏi Miền Trung? Đại Tướng Khiêm nói: Thằng Trưởng Phòng 3 Tổng Tham Mưu leak rồi! Đúng! Chiều đó Trung Tướng Trưởng trở ra Đà Nẵng để trình bày cho Bộ Tham Mưu dầu có lệnh của Tổng Thống đừng có nói cho ai! Nhưng, chiều tối có một phái viên của Đại Tướng Cao Văn Viên trao cho Trung Tướng Trưởng một văn thư khẩn đại ý thừa lệnh Tổng Thống bỏ Huế.
Trung Tướng Trưởng điên đầu vì trong một ngày tại Sài Gòn Tổng Thống đồng ý giữ Huế, tại Đà Nẵng thì có văn thư ra lệnh phải bỏ Huế! Ông Trưởng điện thoại vô Sài Gòn để hỏi lại chỉ thị đó là của Tổng Thống hay của Đại Tướng Thủ Tướng, nhưng chỉ gặp Thủ Tướng, ông xin Đại Tướng Khiêm ra Đà Nẵng để giải quyết vụ này, vì tin bỏ Cao Nguyên làm cho dân Miền Trung rất hoang mang lo sợ. Ngày 16 tháng 03 năm 1975, Đài BBC loan tin quân đội Việt Nam Cộng Hòa bỏ Cao Nguyên. Ngày 18 tháng 03 năm 1975, Thủ Tướng và phái đoàn chính phủ ra Đà Nẵng, sau khi họp cho phép gia đình công chức được tản cư vào Nam. Chỉ thị nầy được lan ra ngoài làm cho tất cả dân Miền Trung hoảng hốt.
RÚT KHỎI HUẾ-ĐÀ NẲNG. Chiều ngày 18/3 đó ông Thiệu điện thoại cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: Tôi đã suy nghĩ kỹ, Cụ Hương là người không rành về quân sự mà cũng nói nếu chúng ta quyết giữ Huế thì phải hy sinh 30.000 quân. Thôi bỏ Huế, đừng có đánh! Tướng Trưởng chưa ra lệnh rút lui, nhưng Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Tiền Phương phụ trách phía Bắc đèo Hải Vân đã di tản rồi. Quân đội bỏ Huế. Thủy Quân Lục Chiến rút lui. Ngày 26 tháng 3 Cộng quân tiến vào thành phố Huế. Sư đoàn I Bộ binh thu quân về Đà Nẳng. Những ngày nầy, sườn phía Tây do Sư doàn 3 Bộ binh trấn giữ cũng đang bị chọc thủng. Về phía Nam hai tỉnh Quảng Ngải và Quảng Tín do Sư đoàn 2 Bộ binh cũng đang lui quân về hướng Đà Nẳng.
Vậy là, một cảnh hỗn loạn nối tiếp diễn ra, Quân lính và dân chúng tranh nhau để lên được tàu hải quân với mong muốn chạy khỏi thành phố. Ngày 29 tháng 3, Cộng quân tiến vào Đà Nẳng mà không có kháng cự đáng kể. Hàng ngàn binh lính và sĩ quan bị bắt. Tối 29 tháng 03 năm 1975, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tướng Bùi Thế Lân, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và một số sĩ quan còn nằm ở Sơn Trà trong khi quân Bắc Việt đã chiếm Đà Nẵng. Sĩ quan tùy viên của ông Hồ Văn Kỳ Thoại, người giữ mật mã để liên lạc với tàu, hôm ấy bị đau nên được cho đi trước, ông Thoại ở lại chờ Tướng Bùi Thế Lân cùng đi. Hai ông phải đi bộ qua rừng núi tìm tàu của Hồ Văn Kỳ Tường (em ruột ông Thoại), chỉ huy trưởng Hải Khu Đà Nẵng đang đậu ngoài khơi.
Nhưng hai tướng Thoại và Lân không có mật mã nên không liên lạc được với tàu (vì sĩ quan tùy viên mang mật mã đã đi trước rồi). May mắn là một lúc sau có ca nô của Hồ Văn Kỳ Tường vào “chạy dọc bờ tìm” nên ghé vào vớt được hai tướng Thoại và Lân ra tàu. Trong hai tuần đầu tháng 4 kế tiếp, các tỉnh, thành phố miền trung lần lượt rơi vào tay Cộng quân. Họ từ phía Bắc tràn vào, và từ Tây nguyên tràn xuống. Quân lực Việt Nam Cộng hoà tập hợp số quân còn lại của Quân đoàn 2 tăng cường cho Quân đoàn 3 để lập một phòng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang.
CHÍNH PHỦ NGUYỄN BÁ CẨN. Đầu tháng 4 năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu uỷ Dân biểu Nguyễn Bá Cẩn Chủ tịch Hạ viên thành lập Chính phủ thay thế Chính phủ Trần Thiện Khiêm từ chức. Sách Việt Nam Nhân Chứng, Trần Văn Đôn viết tiếp: Lúc Tổng thống Thiệu mời tôi nhận chức Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng trong chính phủ Nguyễn Bá Cẩn, tôi đề nghị phải có một chính phủ mạnh để nói chuyện với Hà Nội, rõ hơn thành lập một Nội các Liên hiệp. Tôi vừa nói đến đó thì ông Thiệu lắc đầu cho biết: một số nghị sĩ và ông Trần Văn Lắm Chủ tịch Thượng viện, vừa ký một quyết nghị yêu cầu tôi lập một chính phủ Liên hiệp. Mà liên hiệp thế nào? Bây giờ liên hiệp mình ở thế yếu. Năm 1973, mình ở thế mạnh hơn!
Trong ngày trình diện Nội các, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn nhờ tôi thuyết trình tình hình quân sự, tôi nhờ Chuẩn tướng Thọ, Trưởng phòng 3/ hành quân và Đại tá Lung trưởng Phòng 2/ tình báo Bộ Tổng Tham mưu thuyết trình tình hình quân sự, hai ông Thọ, Lung đã trình bày rất rõ ràng, mạch lạc. Sau đó, tôi đến Bộ Tổng Tham mưu họp tất cả các tướng lãnh mà nhiều năm qua không có một cuộc họp nào. Nhiều vị tướng nói, mấy năm nay không ai mời họp để cho biết tình hình chính trị và chỉ thị phải giữ đất nào; Nếu có đình chiến thì thi hành ra sao, giữ Quân khu nào, giải pháp tương lai chính trị miền Nam ra sao… Tôi yêu cầu các Tướng cố gắng kháng cự để giữ thế, giữ đất. Sau đó tôi đi thăm các chiến trường.
Tôi có sẵn hai phi cơ, một trực thăng và một Dakota để hàng ngày đi thăm anh em quân sĩ ở các chiến trường. Ngày 15/4/75, sau khi họp các tướng, tôi báo với Đại tướng Tổng Tham Mưu trưởng Cao Văn Viên, rằng tôi sẽ lên Bộ tư lệnh Quân đoàn III gặp Trung tướng Tư lệnh Nguyễn Văn Toàn để bàn chuyện phòng thủ Thủ đô. Được biết Tướng Toàn đang ở Phan Rang. Tôi bảo tôi sẽ ra Phan Rang gặp ông Toàn. Đến đó, bốn ông Tướng đón chúng tôi là Trung tướng Toàn, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Chuẩn tướng Sang và Chuẩn tướng Nhựt, cùng các Đại tá Nhảy dù, Biệt Động quân. Tất cả chúng tôi đến Phòng họp nghe họ thuyết trình, tôi ghi nhận vài thứ quận dụng mà họ đang rất cần. Khi rời Phan Rang, ông Toàn cùng về trên máy bay của tôi để chúng tôi cùng bàn kế hoạch phòng thủ Sài Gòn.
Về đến Sài Gòn tôi cho mời Thiếu tướng Smith, Tuỳ viên quân sự Mỹ đến gặp tôi tại Văn phòng Bộ Quốc phòng, tôi yêu cầu ông ta cung cấp cho tôi hoả đạn CBU, và vài thứ quân dụng mà quân đội Việt Nam đang rất cần. Tướng Smith cho biết những món nầy, trong kho của Mỹ tại VN hiện không còn, ông sẽ hỏi lại BTL Thái Bình Dương, những kho bên ngoài Việt Nam. Chiều 16/4/75, tôi gặp Tư lệnh không quân Trần Văn Minh bàn cách làm sao có được CBU để giúp các đơn vị đang chiến đấu, rồi bay xuống Long An, gặp Sư đoàn 2, ra Vũng Tàu gặp các cấp chỉ huy Quân đoàn 1 và 2. Ngày 17/4/75 tôi thăm Bộ Tư lệnh Hải Quân. Ngày 18/4/75, tôi bay xuống miền Tây gặp tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Hai, tướng Lạc, chỉ huy Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh.
Ngày 18/4 Phan Rang mất, Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị Việt Cộng bắt. Tối 19/4 Phan Thiết bị mất. Nỗ lực cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là trông vào tuyến phòng thủ của Quân đoàn III, nhất là Sư đoàn 18 tại thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Chính Sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo đã tổ chức, chống cự có hiệu quả dài ngày gây nhiều tổn thất cho ba sư đoàn Việt Cộng (Sư đoàn 6, 7, và 341 thuộc Quân đoàn 4 Cộng quân), khiến họ phải điều chỉnh hướng tiến quân bằng cách đi vòng đường khác để tiến về phía Biên Hoà. Sau 12 ngày cầm cự, từ 9 tháng 4 đến 21 tháng 4, Sư đoàn 18 của Quân lực Việt Nam Cộng hoà cũng phải bỏ Xuân Lộc rút lui có tổ chức về bên kia sông Đồng Nai cố thủ. Vậy là tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng bảo vệ Sài Gòn không còn.
Bài 309: LÚC 10 GIỜ NGÀY 20, ĐẠI SỨ MỸ GẶP NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ TỐI 21 THÁNG 4 NĂM 1975, TỔNG THỐNG THIỆU TỪ CHỨC.
Sách “VIỆT NAM NHÂN CHỨNG” Trần Văn Đôn viết tiếp: Ngày 20/4/1975, lúc 10 giờ sáng Đại sứ Mỹ Martin đến gặp Tổng thống Thiệu tại dinh Độc lập báo cho ông Thiệu rõ tình hình, rằng muốn chận cuộc tiến công của Việt Cộng phải có một giải pháp chính trị cần phải nói chuyện với Hà Nội. Đại sứ Martin cũng cho biết Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ sẽ ngưng viện trợ nếu ông Thiệu còn tại chức. Ông Thiệu hỏi: Nếu tôi là trở ngại, vậy tôi từ chức, Quốc hội Hoa Kỳ có tiếp tục viện trợ cho miền Nam không? Nếu Tổng thống từ chức, Quốc hội Mỹ có thể viện trợ trở lại. Sau nầy Đại sứ Martin kể lại mẩu đối thoại giữa ông và Tổng thống Thiệu, rằng chính phủ Hoa Kỳ không đòi Tổng thống Thiệu từ chức, nhưng Tổng thống nên đề cử một ông Thủ tướng toàn quyền như Bảo Đại đã làm hồi 1954, để ông Thủ tướng đó thương thuyết với phía bên kia.
Ông Thiệu hỏi, theo ông ai có thể làm Thủ tướng toàn quyền. Martin trả lời Đại tướng Dương Văn Minh. Ông Thiệu im lặng không đáp. Sau nói chuyện với Đại sứ Martin, ông Thiệu biết mình phải ra đi. 10 giờ sáng ngày 21/4/75, Tổng thống Thiệu triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia gồm: Phó tổng thống Trần Văn Hương; Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn; Tổng Tham mưu trưởng, tướng Cao Văn Viên; Tổng Giám đốc Cảnh sát, tướng Nguyễn Khắc Bình; Tư lệnh Quân đoàn III, tướng Nguyễn Văn Toàn; Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, tướng Nguyễn Văn Minh; Phụ tá Quân sự, tướng Đặng Văn Quang. Tại phiên họp nầy, ông Thiệu tuyên bố sẽ từ chức, vì Quân đội định đảo chánh; và vì để Mỹ viện trợ lại cho miền Nam. Ông sẽ trao quyền cho Phó tổng thống như Hiến Pháp quy định.
TỔNG THỐNG THIỆU TỪ CHỨC. Lúc 19 giờ cùng ngày 21/4/75, thành viên chính phủ, Lưởng viên Quốc hội, Thẩm phán Tối cao Pháp viện được mời đến dinh Độc lập. Ông Thiệu trình bày diễn tiến từ Hiệp định Ba Lê 1973 đến chiến tranh leo thang năm 1974, việc mất tỉnh Phước Long, trận đánh Ban Mê Thuột, rồi mất miền Trung mà Quốc tế, và các siêu cường quốc ký bảo đảm Hiệp định Ba Lê vẫn im hơi lặng tiếng. Ông Thiệu lên án đồng minh Mỹ không giữ lời hứa. Sau cùng, ông Thiệu tuyên bố “Tôi đã quyết định từ chức Tổng thống”. Theo Hiến pháp, người thay thế tôi là Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Lúc đó, ông Hương đã 71 tuổi, lời tuyên bố của ông Hương ngắn gọn, ông “kêu gọi anh em giữ vững tay súng, ông sẽ đóng góp xương máu và chia xẽ với anh em ở chiến trường”.
Không khí buổi lễ thật buồn tẻ, mọi người ngồi nhìn ông Thiệu lúng túng trong điều hành buổi lễ, ông Hương lọm khọm nói năng không rõ ràng, mạch lạc. Mọi người buồn không phải sự ra đi của ông Thiệu, mà ai cũng thấy ông Hương không đủ khả năng lèo lái con thuyền Quốc gia đang cơn nghiêng ngữa. Sau lễ, ông Thiệu mời ông Viên và ông Bình vào Phòng bên cạnh để trực tiếp truyền hình lời Tổng Tham mưu trưởng nhắn gởi anh em quân nhân, và lời Tổng Giám đốc Cảnh sát kêu gọi anh em cảnh sát giữ vững tinh thần chiến đấu, rằng việc ông Thiệu từ chức Tổng thống không ảnh hưởng gì đến hệ thống điều hành của quân đội và Cảnh sát Việt Nam Cộng hoà.
Chiều thứ ba ngày 22/4, Cố vấn chính trị toà đại sứ Pháp Brochand đến nhà tôi. Tôi quen ông tại Câu lạc bộ thể thao. Ông ta nói với tôi là Pháp có liên lạc với Hà Nội, họ cho biết nếu có thương thuyết thì chỉ có thương thuyết với ông Dương Văn Minh mà thôi, Brochand nói tiếp, ông Dương Văn Minh cần sự hợp tác của ông Đôn. Tôi thoái thác: Lâu nay tôi không có gặp ông Minh, nếu ông Minh trở thành Quốc trưởng, tôi không phải là người tiếp xúc với ông ta. Trước khi ra về Brochand hỏi: Ông Minh gọi điện cho ông được không? Được. Mười phút sau ông Minh điện thoại cho tôi. Moa có thể gặp toa lúc nào, ở đâu? Tôi trả lời: Tối nay tôi dùng cơm tại nhà ông Nguyễn Văn Hảo, khoảng 10 giờ tối tôi ghé lại nhà anh.
Sau bửa cơm, tôi ra về ghé nhà ông Minh. Lâu quá không gặp nên chúng tôi bàn nhiều chuyện quốc phòng, chính trị…Tôi hỏi: Anh có thể thương thuyết với bên kia được không? Được, nhưng phải thật lẹ, nếu không chúng ta không có hy vọng. Sau nầy nhớ lại câu nói trên tôi phục ông Minh tiên liệu sự việc rất đúng. Ông Minh cho biết Hà Nội chờ ông Minh nắm quyền rồi sẽ thương thuyết. Ông Minh chưa tiếp xúc với Tổng thống Trần Văn Hương, vì ông Hương đã chậm chạp, lại không thích ông Minh nên kéo dài thời gian. Việc nầy rất bất lợi, nhất là vừa có tin Xuân Lộc thất thủ, Việt Cộng đang tiến vào vây thủ đô Sài Gòn. Ông Minh đề nghị, bây giờ chỉ có Mỹ nói ông Hương mới nghe. Tôi tán thành. Vậy mình phải làm cho lẹ.
TRẦN VĂN ĐÔN GẶP ĐẠI SỨ MỸ MARTIN. Tôi đi thẳng tới nhà Đại sứ Martin, dù đã gần 12 giờ khuya tôi vẫn vào xin gặp. Đại sứ Martin mời tôi vô. Tôi vừa ngồi, thì tuỳ viên đến nói nhỏ bên tai ông Martin, ông ta xin lỗi tôi, đi vào phòng riêng khi đi ra ông nói, có một Phi cơ xin đáp xuống Phi trường Manila, họ nghi trên phi cơ có Tổng thống Thiệu nên họ điện thoại hỏi thử có đúng không? Hỏi lại thì biết ông ấy còn ở trong dinh Độc lập. Tôi xin lỗi ông Martin, vì tình hình bắt buộc nên tôi phải đến gặp ông ta khuya như vậy. Tôi cho biết, tôi vừa gặp ông Minh, nếu muốn thương thuyết với Hà Nội thì ông Minh phải có chức vụ mới được. Tôi yêu cầu ông Martin đề nghị ông Hương giao quyền cho ông Minh đứng ra thương thuyết. Martin hứa với tôi sẽ thuyết phục ông Hương.
Ngày 23/4/75, Nội các Nguyễn Bá Cẩn từ chức. 10 giờ ngày 24/4/75, ông Minh gặp Tổng thống Hương tại nhà ông Khiêm trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu. Trưa hôm đó, tôi đến nhà ông Khiêm, tại đây Bác sĩ Viên, Phó Thủ tướng Hảo, cho tôi biết cuộc gặp giữa ông Minh và ông Hương hồi sáng thất bại, ông Minh từ chối chức Thủ tướng, ông Minh muốn ông Hương giao chức Tổng thống để có toàn quyền nói chuyện với bên kia. Ông Hương trả lời, ông không có quyền, Quốc hội mới có quyền. Ông Khiêm nói: Nếu vậy thì anh Đôn nên nhận chức vụ Thủ tướng để thương thuyết. Tôi kể lại lời ông Brochand, Cố vấn chính trị toà Đại sứ Pháp là “Hà Nội cho biết họ chỉ nói chuyện với ông Minh mà thôi” như vậy thì đừng đưa tên ai khác làm gì.
Tôi đến thẳng toà Đại sứ Pháp, họ lập lại ý trên và cho biết thêm rằng họ chờ đến ngày chủ nhật 27/4 nếu không có gì tiến triển thì họ sẽ pháo kích vào Sài Gòn. Sợ đổ máu cho dân chúng đang sống dày đặc trong thủ đô, tôi hứa sẽ cố gắng dàn xếp để tìm giải pháp. Chiều 24/4 ông Khiêm điện thoại cho tôi biết ông Hương sẽ chỉ định ông Nguyễn Ngọc Huy làm Thủ tướng. Theo ông Khiêm ông Huy là người chống Cộng triệt để nên khó có thể hoà giải được. Tôi điện thoại cho ông Minh biết tin nầy, ông Minh mời tôi lại nhà bàn tính công việc. Ông Minh tha thiết muốn ông Hương trao chức vụ lại để ông Minh thương thuyết gấp. Tôi nghĩ nên có áp lực từ quân đội, tôi điện thoại mời ông Khiêm, ông Viên đến nhà ông Minh, nhưng hai ông ấy được ông Hương mời trước, nên họ đến dinh Độc lập.
Tôi vào dinh Độc lập (lúc 5 giờ 55 phút 24/4) gặp ông Nguyễn Ngọc Huy đang nói chuyện với ông Nguyễn Xuân Phong từ Pháp mới về. Thoáng thấy ông Đại sứ Martin từ phòng Tổng thống ra, tôi hỏi: Có phải Tổng thống Hương chỉ định ông Nguyễn Ngọc Huy làm Thủ tướng không? Đại sứ Martin trả lời việc đó không có! Trong lúc đó, ông Khiêm vào gặp ông Hương trở ra xác nhận với tôi một lần nữa là ông Hương sẽ chỉ định ông Huy làm Thủ tướng. Đến lượt ông Huy vào nói chuyện với ông Hương. Sau đó, tôi và Cao Văn Viên vào trình bày tình hình quân sự: Vòng đai Sài Gòn đang bị thu hẹp, đạn dược thiếu, tinh thần binh sĩ quá sa sút. Ông Hương nhìn ông Viên nói: ông sẽ là Tổng Tư lệnh, rằng ông Hương chia xẻ với số phận anh em quân nhân tại chiến trường.
TRẦN VĂN ĐÔN VÀ NGUYỄN VĂN THIỆU. 8 giờ 30 sáng thứ sáu 25 tháng 4, ông Thiệu điện thoại muốn gặp tôi tại dinh Độc lập, ông ấy nhờ tôi lấy cho bạn ông một giấy chiếu khán đi ngoại quốc. Tại đây, ông Thiệu cho biết, ông hiểu rõ những diễn biến chính trị. Nếu ông Hương mời ông Huy làm Thủ tướng thì đó là điều không tốt. Câu chuyện nữa chừng, ông Thiệu điện thoại cho ông Hương khuyên nếu có thi hành giải pháp thì đừng chỉ định ông Huy làm Thủ tướng.Nếu ông Dương Văn Minh không chịu làm Thủ tướng toàn quyền, thì Cụ tìm một người khác có thể thương thuyết với bên kia, mà người đó theo tôi là ông Đôn. Đặt điện thoại xuống, ông Thiệu nói với tôi: Theo tôi, ngoài ông Minh ra, ông là người có thể nhận trách nhiệm này.
Tôi đã nghĩ đến ông từ năm 1973, tôi biết ông từng tiếp xúc với nhiều giới chức, gặp nhiều nhân vật chính trị các nước Mỹ, Pháp, Nhật…Uy tín ông có nhiều trong giới chính trị, và quân đội trong nước. Nhưng vìtôi không thay đổi lập trường chống Cộng triệt để của tôi nên không thể ngồi chung với họ. Nếu chịu thương thuyết, tôi đã mời ông làm Thủ tướng từ năm 1973 rồi. Nhưng ngày nay thì tôi đề nghị với ông Hương mời ông làm việc. Ông có nghĩ là bây giờ đã trể không? Ông Thiệu im lặng không trả lời. Trước khi từ giã, tôi nói: Còn phần ông, chừng nào đi, tôi biết Mỹ không muốn xẩy ra chuyện như ông Diệm; Xung quanh ông đang bỏ ông, ông phải đi cho nhanh. Nếu tôi làm Thủ tướng, Nội các của tôi đòi bắt ông thì tôi phải làm theo thôi!
Bài 310: SAU KHI TỪ CHỨC NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ TRẦN THIỆN KHIÊM RA KHỎI NƯỚC ĐÊM 25 THÁNG 4 BẮNG MÁY BAY DC 4 ĐẾN ĐÀI LOAN.
MỸ GIÚP THIỆU, KHIÊM RA KHỎI NƯỚC. Sáng hôm sau tôi được biết, tối hôm 25/4 đó, Mỹ đã giúp ông Thiệu và ông Khiêm ra khỏi nước bằng máy bay DC4 đến Taipei. Khoảng 10 giờ sáng ngày thứ bảy 26 tháng 4, Tổng thống Hương mời Quốc hội họp phiên đặc biệt. Tôi dự họp với tư cách Dân biểu, và Quyền Tổng trưởng Quốc phòng. Ông Hương trình bày, diễn tiến cuộc họp với ông Minh, rằng ông ta mời ông Minh làm Thủ tướng toàn quyền, nhưng ông Minh không nhận, mà yêu cầu ông Hương từ chức, giao ghế Tổng thống để ông Minh có toàn quyền nói chuyện với Việt Cộng. Ông Hương cho biết ông không thể làm như vậy được, vì đó là quyền của Quốc hội, Hiến pháp còn đó, ông chỉ có quyền mời làm Thủ tướng, còn trao ghế Tổng thống không phải là chuyện nhỏ như trao một chiếc khăn tay…
Cuối cùng ông Hương đề nghị Quốc hội chấp nhận cho ông một trong hai biện pháp: (1) cho ông được quyền chỉ định một Thủ tướng toàn quyền; (2) bầu ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống. Nói xong ông Hương ra về, Quốc hội tiếp tục họp. Dư luận hành lang đa số dân biểu nghị sĩ nghiêng về biện pháp một, họ cho rằng ông Minh xem thường Quốc hội. Khi tôi ra về Quốc hội tiếp tục họp, về đến nhà có điện thoại ông Hương, ông nói: Anh Đôn, tôi sẽ chỉ định anh làm Thủ tướng khi Quốc hội biểu quyết cho tôi chỉ định Thủ tướng. Tôi cám ơn, rồi mời nhóm anh em chính trị theo đường lối “Dân tộc Tự tồn” gồm Bác sĩ Trần Văn Du, Giáo sư Nguyễn Xuân Oánh, Giáo sư Bùi Anh Tuấn, Đại tá Vũ Quang thảo luận và chuẩn bị nhiều vấn đề… Anh em vẫn ngồi bàn thảo lời tuyên bố với quốc dân đồng bào, thì tôi gọi điện thoại đến toà Đại sứ Pháp (4 giờ chiều) để tìm hiểu và dò ý.
Khi biết tin Tổng thống Hương có thể chỉ định tôi làm Thủ tướng toàn quyền, ông Đại sứ Pháp ngần ngại: không thể được. Hà Nội chỉ muốn nói chuyện với ông Dương Văn Minh. Nếu người thương thuyết không phải ông Minh, thì họ sẽ pháo kích tối nay. Tại sao ông biết? Vì tôi có liên lạc với Hà Nội. Họ hạn định thời gian tối nay. Nếu sự thật như vậy thì Đại sứ nên trình bày lại cho Tổng thống Hương. Sau đó tôi điện thoại cho ông Đại sứ Mỹ, thì ông Martin cũng nói như vậy, tôi đề nghị: Nếu vậy yêu cầu ông Đại sứ trình bày lại cho Tổng thống Hương rõ. Tôi đến nhà ông Hương, vừa mở lời thì ông Hương nói hai ông Đại sứ Pháp và Mỹ vừa điện thoại tới, ông Hương nói tiếp: Qua hiểu rồi! Họ muốn Minh! Qua sẽ từ chức!
CAO VĂN VIÊN XIN NGHĨ DÀI HẠN KHÔNG LƯƠNG. Sáng chủ nhật 27/4/75, ông Hương họp tại nhà riêng các ông: Trần Thúc Linh, Chủ tịch Tối cao Pháp viện; Trần Văn Lắm Chủ tịch Thương viện; Phạm Văn Út, Chủ tịch Hạ viện; Phụ tá Tư pháp của ông Hương; và Trần Văn Đôn để bàn “nên làm gì” khi Quốc hội biểu quyết trao quyền Tổng thống cho người khác. Buổi họp chấm dứt lúc 12 giờ trưa. Sẵn dịp đó, Đại tướng Viên xin ông Hương ký Sắc lệnh cho ông Viên nghĩ dài hạn không lương kể từ ngày 27/4 đó, với lý do “không thể làm việc dưới quyền ông Minh”. Ông Hương chấp thuận lời yêu cầu của ông Viên. Tôi là người ra khỏi nhà ông Hương sau cùng, thấy vẻ bất bình của ông Hương khi ông nói với tôi: Họ muốn ông Minh thì có ông Minh!
Vào lúc 3 giờ trưa hôm 27/4/75, Đại sứ Pháp điện thoại cho tôi biết: sáu giờ chiều nay nếu không có gì thay đổi thì Hà nội sẽ pháo kích vào Sài Gòn bằng súng 130 ly có tầm bắn xa 30 cây số. Tôi tìm ông Trần Văn Lắm, và ông Phạm Văn Út, Chủ tịch Thượng viện và Hạ viện yêu cầu thông báo nghị sĩ dân biểu đến họp vào buổi chiều. Theo lời yêu cầu của họ, tôi mời Đại tướng Cao Văn Viên Tổng tham mưu trưởng; Trung tướng Nguyễn Văn Minh Tư lệnh Biệt khu Thủ đô; Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không quân; Trung tướng Chung Tấn Cang Tư lệnh Hải quân; Chuẩn tướng Thọ Trưởng Phòng 3 Hành quân/Bộ TTM; Đại tá Lung Trưởng phòng 2 Tình báo/ Bộ TTM cùng đi với tôi lên họp với Quốc hội để trình bày tình hình quân sự, và vòng đai phòng thủ Sài Gòn.
LƯỞNG VIỆN QUỐC HỘI HỌP PHIÊN KHẨN CẤP. 7 giờ 30 (27/4) tối cuộc họp khẩn cấp Lưởng viện Quốc hội bắt đầu với số dân biểu nghị sĩ 138 vị trên tổng số dân biểu nghị sĩ 200. Phái đoàn chúng tôi trình bày tình hình quân sự: 16 Sư đoàn Việt Cộng đang bao vây Sài Gòn cùng với một số đông thiết giáp và súng pháo binh hạng nặng; Vòng đai phòng thủ của ta đang từ từ bị thu hẹp; Chúng ta chỉ còn miền Tây. Nghị sĩ Phạm Đình Ái và Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu hỏi: Tổng trừ bị của ta ở đâu? Còn hay không? Vòng đai phòng thủ Sài Gòn thế nào? Chúng tôi cho biết Tổng trừ bị đang ở vòng đai phòng thủ Sài Gòn. Trong nội đô còn có Biệt động quân và Cảnh sát Dã chiến. Các Sư đoàn tiền tuyến ở vòng đai bảo vệ Sài Gòn đang đối diện với các Sư đoàn Bắc Việt.
Phó Thủ tướng Phụ trách Kinh tế Nguyễn Văn Hảo trình bày việc các cơ quan rút tiền ở ngân hàng, đã tạo ra khủng hoảng trong dân chúng. Nghị sĩ Tôn Thất Đính đề nghị biểu quyết vụ trao quyền Tổng thống cho nhanh, tình hình kinh tế chưa thiết yếu bây giờ, nhưng ông Hảo cũng cho biết thêm “tất cả các ngân hàng đã đóng cửa, các cơ quan không còn ai lãnh đạo”. Xong phần thuyết trình chúng tôi ra về, Quốc hội tiếp tục họp. Tôi ghé lại nhà ông Hương trình bày công việc vừa rồi ở Quốc hội, thì Sĩ quan tuỳ viên đem tin 136/138 dân biểu, nghị sĩ biểu quyết định trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh, 2 người không biểu quyết là chủ tịch Thượng viện và Hạ viện. Ông Hương nhờ tôi nói với ông Minh là ông Hương sẵn sàng trao quyền bất cứ lúc nào.
Tôi và ông Nguyễn Xuân Oánh lại toà Đại sứ Pháp và Mỹ cho biết sự việc, rồi ghé qua ông Minh báo tin để ông chuẩn bị những việc cần làm sắp tới. Tôi đến nhà ông Minh thì ông đang tiếp cựu Đại tá Bùi Dinh, người rất trung thành với ông Diệm. Ông Minh nói với tôi và ông Oánh: Chính bên Thiên chúa giáo cũng yêu cầu tôi làm cho nhanh để cứu vãn tình thế phần nào. Đây, ông Bùi Dinh đây, trước kia chống đối tôi kịch liệt, nay đến nói lên ý kiến của một số anh em bên Thiên chúa giáo. Tôi sẽ cố gắng thi hành nhiệm vụ nầy. Chờ lâu quá, nhưng sẽ cố gắng lần cuối cùng nầy.
Tôi đề nghị ông Minh, bây giờ đã quá 12 giờ khuya, sang ngày thứ hai rồi, thì giờ không cho phép kéo dài nữa. Anh nên nhận nhiệm vụ liền để bắt tay vào việc đi. Ông Minh hẹn 5 giờ chiều mai. Tôi nghĩ không phải ông ấy trì hoãn, mà ông coi ngày giờ tốt trước khi nhận việc. Đã quá khuya, chúng tôi chia tay ra về sau khi nghe ông Minh nói thêm một câu bằng tiêng Pháp Nếu có xuống âm phủ mình đi càng nhiều càng vui! Nghe ông Minh nhận chức Tổng thống, dư luận chia làm hai: một số nghĩ rằng sắp có cơ hội thương thuyết để ngưng chiến, một số khác cho rằng chúng ta đang mở cửa cho Cộng sản nuốt trọn miền Nam.
CAO VĂN VIÊN YÊU CẦU TÌM NGƯỜI THAY THẾ. Lúc 8 giờ sáng thứ hai ngày 28 tháng 4 tôi đến Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng gặp Đại tướng Cao Văn Viên để theo dõi tình hình quân sự. Ông Viên nói, ông Hương đã ký Sắc lệnh cho ông ta nghĩ, yêu cầu tôi cho người thay thế. Ngay lúc đó, có điện thoại ông Minh muốn nói chuyện với tôi, ông Minh dặn tôi giữ ông Viên ở lại chức vụ Tổng Tham mưu trưởng, đừng cho ông Viên đi. Tôi không biết xử sự làm sao, vì ông Viên đã được ông Hương cho nghỉ. Tôi hỏi ông Viên, nếu anh đi, thì theo anh ai có thể thay thế anh được? Ông Viên không trả lời câu hỏi mà hỏi lại tôi: Còn anh sẽ làm gì?
Tôi cũng chưa quyết định. Mấy ngày trước ông Minh và ông Mẫu muốn tôi tiếp tục giữ ghế Tổng trưởng Quốc phòng, nhưng tôi chưa trả lời, nay ông Minh cho tôi biết Hà Nội không muốn có một người nào trong Nội các củ ở lại trong Nội các mới. Về lại Văn phòng ông Minh gọi điện dặn huỷ bỏ Sắc lệnh mà ông Hương ký cho phép ông Viên nghỉ dài hạn không lương, nhưng Sắc lệnh đó ông Hương đã gởi thẳng cho ông Viên, khi ông Hương đương chức Tổng thống, một ngày trước khi bàn giao chức chưởng cho ông Minh.
Bài 311: ĐƯỜNG LỐI CỦA TỔNG THỐNG DƯƠNG VĂN MINH LÀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH BẰNG THƯƠNG THUYẾT VÀ HOÀ GIẢI DÂN TỘC.
DƯƠNG VĂN MINH NHẬM CHỨC TỔNG THỐNG. 5 giờ chiều thứ hai 28/4/1975, tại phòng họp, nơi ông Thiệu trao quyền cho ông Hương tuần trước, thì nay lại có cuộc lễ để ông Hương trao quyền Tổng thống lại cho ông Minh. Trong cuộc lễ nầy bên quân đội cử Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không quân và Trung tướng Đồng Văn Khuyên thay Đại tướng Cao Văn Viên đến dự lễ. Sau nghi lễ nhận chức vụ Tông thống, ông Minh giới thiệu ông Nguyễn Văn Huyền làm Phó Tổng thống và ông Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng. Ông Minh trầm tỉnh đọc bản tuyên bố đường lối của mình là chấm dứt chiến tranh bằng cách thương thuyết và hoà giải với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. 6 giờ chiều, cuộc lễ xong ông Minh tiễn ông Hương ra cổng.
Nhà tôi ở gần dinh độc lập, nên chỉ vài phút sau đã về đến nhà, lại nghe tiếng nổ ầm ầm, súng bắn lung tung, phi cơ bay trên nóc dinh Độc lập. Nữa giờ sau tiếng súng ngừng nổ, tiếng động cơ nhỏ dần rồi im lặng. Tôi điện thoại đến Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Không quân hỏi, thì được biết có ba phi cơ Việt Nam Cộng hoà làm phản, bay vào liệng bom ở phi trường Tân Sơn Nhất, phá huỷ vài máy bay và một kho xăng của chúng ta. Hai chiếc F5 đã bay đuổi theo họ. Sau mới biết máy bay đó là của Không quân Việt Nam Cộng hoà còn lại Đà Nẳng, Việt Cộng xúi dục, móc nối phi công bay vô dội bom Sài Gòn. May bay đó dội bom bắn phá xong rồi bay ra Đà Nẳng. Tối đến Việt Cộng pháo kích vào phi trường để phá phi đạo Tân Sơn Nhất.
CAO VĂN VIÊN RỜI KHỎI NƯỚC. 8 giờ 15 sáng ngày 29 tháng 4, tôi đến Tổng Tham Mưu, nhưng vừa tới cổng, viên sĩ quan ở cổng chận tôi lại không cho vô vì bên trong đang bị pháo kích. 20 phút sau tôi vô thẳng văn phòng Tổng Tham mưu trưởng, gặp Trung tướng Đồng Văn Khuyên, người được Đại tướng Cao Văn Viên đề cử Xử lý thường vụ chức Tổng Tham mưu trưởng, tôi mới biết ông Viên đã ra khỏi nước bằng chiếc trực thăng riêng đến cơ quan DAO (Defense Attaché Ofice) từ đó Mỹ chở qua Bangkok, xong lấy vé phi cơ bay thẳng qua Mỹ. Ông Viên đi ngày 28/4, lúc đi ra khỏi nước ông Viên mặc quần Jean sơ mi thường. Đến Bangkok, ông Viên lấy vé phi cơ dân sự bay thẳng đến Hoa Thịnh Đốn như một du khách, không qua thủ tục như người tỵ nạn khác.
Vậy là trong vòng hai tuần, ba ông Tướng điều khiển miền Nam, suốt 9 năm trời đã từ chức và bay ra khỏi nước: Trung tướng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại tướng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Tổng Tham mưu trửng Cao Văn Viên! Tôi hỏi Tướng Đồng Văn Khuyên về tình hình hiện tại, ông Khuyên cho biết một số đặc công Việt Cộng xâm nhập vào phá phi đạo, đồng thời quân của họ ở gần vành đai Sài Gòn, bắt đầu pháo kích... Trong khi chúng tôi nói chuyện thì có tiếng của một sĩ quan gọi máy truyền tin trực tiếp vào Bộ Tổng Tham mưu hỏi: Có nên tuân lệnh của Tướng Kỳ bắn vào các xe tăng Việt Cộng đang tiến quân không? Tôi trả lời: Phải tuân lệnh! Lúc đó, Tướng Kỳ bay quan sát tình hình, thấy Việt cộng đang tiến quân nên ra lệnh như vậy.
Trao chức cho ông Khuyên, ông Viên rãnh tay ra đi giữa lúc quân đội đang khẩn trương nguy ngập, nên suốt đêm qua ông Khuyên không ngủ. Tại đây, tôi thấy có tướng Ngô Quang Trưởng và Đỗ Kế Giai đang nói chuyện, các sĩ quan khác thì hiện vẻ lo âu. Tôi gọi điện thoại cho ông Minh biết tình hình bi đát tại Bộ Tổng Tham Mưu: Ông Viên đi rồi, ông Tướng Xử lý thường vụ không đủ thì giờ, không đủ khả năng quán xuyến mọi việc đang rối ren. Anh chỉ định gấp một Tổng Tham mưu trưởng mới, Vĩnh Lộc hay Ngô Quang Trưởng đều được. Được. Moa không muốn mời Tướng chính trị. Anh cứ tìm ông Tướng nào có khả năng, can đảm để nắm lại tình hình.
ÔNG VŨ VĂN MẨU NHẬM CHỨC THỦ TƯỚNG. Riêng ông Thủ tướng mới của anh, thì nên về Phủ Thủ tướng mà làm việc. Ông Nguyễn Bá Cẩn cựu Thủ tướng đã đi rồi! Tôi với tư cách Phó Thủ tướng cao niên, tôi sẽ bàn giao trao lại Phủ Thủ tướng để ông Thủ tướng mới có phương tiện làm việc. Ông Mẫu đang làm việc tại nhà tôi đây! Ông Minh hẹn 10 giờ 30 sẽ nhận bàn giao tại Phủ Thủ tướng. Nhìn đồng hồ mới 9 giờ, tôi xuống ghé phòng Ngô Quang Trưởng nói, tôi vừa điện đàm với ông Minh, yêu cầu Tổng thống chỉ định gấp một Tổng Tham mưu trưởng, tôi nghĩ anh có thể làm được. Nếu chỉ định thì tôi làm, nhưng Trung tướng đừng đề nghị tôi. Tôi báo cho ông Châu Bộ trưởng Phủ Thủ tướng chuẩn bị lập biên bản lễ bàn giao lúc 10 giờ 30.
10 giờ sáng ngày 29 tháng 4 tôi đến Phủ Thủ tướng, khi chạy ngang qua toà Đại sứ Mỹ thấy người ra vô vẫn tấp nập như thường ngày. Tôi đến Phủ Thủ tướng cùng với sĩ quan tuỳ viên, tại đây đã có một số Tổng, Bộ trưởng mới có mặt. Nội các cũ thì có Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, Tổng trưởng Giáo dục Dương Kích Nhưỡng, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Châu. Một lúc sau, ông Châu cho biết ông Vũ Văn Mẫu muốn điện đàm với tôi. Ông Mẫu xin lỗi đến trể một giờ, vì phải qua đài phát thanh đọc lời tuyên bố quan trọng. 11 giờ 30, ông Châu cho biết, ông Thủ tướng đến, tôi ra cầu thang đón. Ông Mẫu đến đúng nghi lễ, bằng xe Mercedes dành cho Thủ tướng có xe mô tô hộ tống.
Tôi mời ông Mẫu vào văn phòng Thủ tướng và bắt đầu cuộc lễ. Ông Mẫu ngồi bên tay mặt tôi. Ông Châu đưa biên bản bàn giao để ký. Tôi ký xong trao cho ông Mẫu ký, nhưng ông Mẫu ký hoài mà viêt của ông ấy không ra mực, nên tôi phải đưa viết của tôi cho ông ấy ký. Ký biên bản xong tôi nói vài lời cầu chúc, và ông Mẫu đáp từ. Sau đó, ông Mẫu nói chuyện với mấy ông Tổng trưởng, rằng ông ta vừa lên đài phát thanh tuyên bố yêu sầu Mỹ rút khỏi Việt Nam trong 24 giờ kể từ 5 giờ sáng nay. Nghe ông Mẫu nói, tôi dùng điện thoại màu xanh lá cây dành riêng cho Thủ tướng và Phó thủ tướng liên lạc với toà Đại sứ Mỹ. Có tiếng người bắt điện thoại tôi hỏi ngay: Có chuyện gì xảy ra đó? Tôi vừa nghe ông Tân Thủ tướng yêu cầu DAO rút khỏi Việt Nam trong 24 giờ phải không?
TẤT CẢ NGƯỜI MỸ SẼ RÚT, ÔNG MUỐN ĐI…Không phải chỉ DAO mà tất cả những người Mỹ sẽ rút. Ông muốn đi thì lên toà Đại sứ trước 12 giờ trưa nay. Về đến nhà tôi được tin gia đình ông Kim cùng một nhóm người thân gần 120 người đã ra khỏi nhà, vì phi trường đang bị pháo kích, phải nằm tại nhà một người Mỹ chờ đợi. Tôi nhờ sĩ quan tuỳ viên Lê Văn Khấn đến nơi gia đình ông Kim đang trú ngụ đem con trai tôi là Đức về cùng đi với tôi. Đại tá Khấn đem con trai tôi và cả cháu Lê Văn Phúc. Sau đó, cháu Phúc liên lạc được với Mỹ, họ cho biết phi trường đang bị pháo kích, nên sẽ đưa nhóm người nầy ra tàu Mỹ bằng xà lan trên sông Sài Gòn. Tôi đinh ninh ông bà Kim đi được, không ngờ ông Kim từ chối đi xà lan, vì sợ lập lại cái cảnh chuyển vận bằng xà lan hồi tháng trước lúc Đà Nẳng rút chạy.
Lúc đến toà Đại sứ, tôi không vào được, vì người quá đông nên mọi cửa ra vô đều đóng chặt, tôi đi vòng ngã đưởng Hồng Thập Tự cũng không vào được. Tôi trở lại Bộ Quốc phòng điện thoại cho toà Đại sứ Mỹ, sau một hồi tôi liên lạc được với ông Polgar. Ông dặn tôi đến nhà riêng của ông, rồi ông sẽ bốc tôi đi. Đến nơi tôi thấy đông nghẹt người đang chờ. Cô thư ký của ông Polgar kêu chúng tôi đến tại khách sạn Mỹ Lee Hotel gần đài Chiến sĩ Tự do, chúng tôi đến đó thấy người chờ quá đông mà cửa đóng, đành trở lại nhà ông Polgar ngồi chờ. 4 giờ chiều chúng tôi trở lại khách sạn Lee Hotel cũng không vô được.
Cô thư ký của ông Polgar đến nới với tôi: Tôi là Hà Hiếu Lang, em của Đại tá Điệp. Gia đình tôi biết Trung tướng nhiều. Cô nói nhỏ với tôi: Mình đi chỗ khác! Ông lại góc đường Hai Bà Trưng chờ tôi! Ra đường, xe chúng tôi chạy theo xe cô đến đường Gia Long gần đường Tự Do, tai một cao ốc 9 tầng, tầng dưới là Alliance Francaise của Pháp, còn 8 tầng trên là Văn phòng của CIA. Chúng tôi lên trên sân thượng tầng lầu 9. Tại đó, đã có khoảng sáu chục người đang chờ trực thăng hạ xuống, nên tôi đành phải đứng phía sau. Thấy vậy cô Lang nói, đứng vậy làm làm Trung tướng đi được? Tôi phải đứng sau người đến trước tôi. Cô ấy nói to: Tôi nhường chỗ của tôi và các em tôi cho gia đình Trung tướng.
Nghe cô Lang đề nghị, con và cháu tôi chạy lên phía trước trên cầu thang chờ chiếc trực thăng sau, Tôi, Đức, cháu Phúc và Đại tá Khấn cùng lên chuyến trực thăng bốc cuối cùng nơi cơ sở CIA trên sân thượng lầu 9 đó. Về sau tôi được biết cô Hà Hiếu Lang và gia đình cô phải khó nhọc lắm mới vào được trong toà Đại sứ vào giờ chót và rời Sài Gòn bình an. 7 giờ 30 tối ngày 29 tháng 4 năm 1975, tôi từ giã Sài Gòn, lúc Sài Gòn đã lên đèn. Trực thăng chở chúng tôi đáp xuống chiến hạm Hancock.
NHỮNG ĐIỀU NGHE BIẾT VỀ SAU. Sách Việt Nam Nhân chứng, “Những điều nghe biết về sau”, Trần văn Đôn, viết tiếp: Ngày 29 tháng 4, ông Minh chỉ định Trung tướng Vĩnh Lộc làm Tổng Tham mưu trưởng. Khoảng 10 giờ sáng, Đề đốc Chung Tấn Cang, Tư lệnh Hải quân đến cho ông Minh biết, hiện tàu bè đủ chở chính phủ và binh sĩ xuống miền Tây, nhưng ông Minh cho biết còn đang thương thuyết. Vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, Cố vấn toà Đại sứ Pháp ông Brochand cho ông Minh biết là Hà Nội không muốn nói chuyện với ông Minh nữa. 5 giờ chiều ông Minh gọi ông Chung Tấn Cang đến gấp, nhưng ông Cang cử ông Phó Đề dốc Diệp Quang Thuỷ đến. Ông Minh nói với ông Thuỷ: Tôi trao cho Hải quân được toàn quyền hoạt động.
Rồi ông cho bà Minh đi với Hải quân, bà Minh nói nếu ông Minh không đi thì bà cũng ở lại. Ông Minh nhờ Đề đốc Diệp Quang Thuỷ dẫn rể ông là Đại tá Đài, và tướng Mai Hữu Xuân, Chuẩn tướng Hoàng và con gái ra khỏi nước. Biết không thể thương thuyết, nhưng ông Minh vẫn không cho tướng Vĩnh Lộc Tổng Tham mưu trưởng và Nội các hay, có lẽ sợ các ông ấy bỏ đi sẽ gây thêm xáo trộn. Tối 29/4, ông Minh nghĩ là thua rồi, nên đưa vợ và tất cả sĩ quan, bộ tham mưu chính trị vào dinh độc lập để gặp họ ngay tại đây. 8 giờ sáng ngày 30/4/75, Tổng Tham mưu trưởng Vĩnh Lộc, điện thoại hỏi ông Minh cuộc thương thuyết đi tới đâu rồi, ông Minh vẫn chưa cho biết.
Khoảng 9 giờ, đoàn xe Việt Cộng từ miệt lăng Cha Cả xuống nhà thờ Ba Chuông thẳng đường Trương Minh Giảng vào Trung tâm Sài Gòn. Dân chúng kẻ ra đường nhìn, người mở cửa đứng ngó, thẫn thờ và ngơ ngác vì thấy đa số những kẻ chiến thắng kia vẻ mặt ngớ ngẩn, non choẹt, xanh xao. Lúc 10 giờ thì tại Bộ Tổng Tham mưu có các Trung tướng Lộc, Trung tướng Trung, Đại tá Huyến và một số sĩ quan cấp Tá cấp uý khác thấy tình hình quá khẩn cấp, chiến xa của Việt Cộng đã ồ ạt vào thủ đô, nên họ quyết đinh phải ra đi. Từ cổng Bộ Tổng Tham mưu, đoàn xe của Tướng Lộc ra đường Cách mạng xuống phía Thị Nghè ra Hải cảng, Đoàn xe của tướng Lộc đến Công xưởng Hải quân, chỉ còn một chiếc tàu hư đang sửa, ông Lộc cũng phải lấy ra đi…
SÀI GÒN KHÔNG ĐỔ MÁU LÀ NHỜ DƯƠNG VĂN MINH. Ai cứu dân chúng Sài Gòn khỏi đổ máu? Không phải Kissinger. Không phải Đại sứ Mỹ. Không phải Đại sứ Pháp. Sài Gòn không đổ máu là nhờ Dương Văn Minh. Những ngày cuối tháng tư, tôi nghĩ ông Minh biết không hy vọng ở giải pháp thương thuyết. Ngày 24/4/75, tôi thấy cô Mai, con gái ông Minh đến toà Đại sứ Pháp xin Laissez-Passer do ông Cố vấn chính trị Brochand trao để ra khỏi nước. Ông Minh có thể ra đi lúc đó, lúc chưa nhận chức Tổng thống, hoặc có thể ngày 29 tháng 4 với Hải quân, nhưng ông can đảm ở lại. Nếu tất cả đi hết thì Sài Gòn sẽ hổn loạn. Không có chính quyền sẽ không có an ninh, du đảng sẽ lộng hành, cướp giật, giết nhau vì oán thù.v.v.. Còn nếu ông Minh ra lệnh chiến đấu, thì mấy ai còn gan dạ cầm súng, chỉ gây thêm đổ máu mà thôi! Thua là điều không tránh khỏi!!!
Ngày 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố: "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào." Tuy nhiên, những sĩ quan Cộng sản không chấp nhận làm lễ bàn giao mà buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng… (Hết trích)
Bài 312: SAU HIỆP ĐỊNH PARIS, VỀ PHÍA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1973-1975.
Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam kiên trì tiếp tục các vận động chính trị nhằm khiến Việt Nam Cộng hoà tuân thủ Hiệp định, ngừng bắn trước khi tổ chức Tổng tuyển cử. Thế nhưng, phía Việt Nam Cộng hoà không có thiện chí thực thi Hiệp định, liên tục có các hoạt động vũ trang nhằm chiếm đất lấn dân. Tới tháng 10 năm 1973, sau khi nhận thấy các nỗ lực chính trị không có hiệu quả Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam chuyển sang chiến lược kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, sẵn sàng đáp trả các hoạt động vi phạm Hiệp định của Việt Nam Cộng hoà.
ĐÁNH CHIẾM QUẬN LỴ THƯỢNG ĐỨC. Tháng 5 năm 1974, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đưa một sư đoàn đến đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng Nam, Quân lực Việt Nam Cộng hoà liền điều sư đoàn dù tổng trừ bị đến tái chiếm. Hai bên đánh nhau ác liệt trong vòng 3 tháng; kết quả Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị buộc phải rút lui, và quân Giải phóng vẫn giữ vững và kiểm soát hoàn toàn chi khu Thượng Đức. Một quận lỵ quan trọng nằm gần các căn cứ quân sự lớn Quân đoàn I, Vùng I chiến thuật, mà cả quân đoàn cũng không đủ lực lượng cơ động đến giải vây, phải dùng đến lực lượng tổng dự bị chiến lược sư đoàn Dù. Quân Giải phóng đã kết luận là sức chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã giảm đi nhiều so với 1972, không còn khả năng để chiến đấu lâu dài.
ĐÁNH CHIẾM TỈNH LỴ PHƯỚC LONG. Giữa tháng 12 năm 1974, tại Vùng III, Quân khu III, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở chiến dịch Đường 14- Phước Long, và chỉ sau 3 tuần đã đánh chiếm được tỉnh lỵ Phước Longcùng toàn bộ lãnh thổ tỉnh này. Tuy mất một tỉnh ngay tại đồng bằng Nam Bộ cách Sài Gòn chỉ khoảng 100 km, nhưng Việt Nam Cộng hoà không có phản ứng thích đáng nào để khôi phục lại. Họ không còn quân trừ bị cơ động để phản kích tái chiếm. Và quan trọng nhất là Mỹ chỉ phản ứng ở mức không có dấu hiệu là sẽ can thiệp mạnh. Điều này củng cố tin tưởng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, rằng Mỹ sẽ ít có khả năng can thiệp trở lại.
TỔNG TIẾN CÔNG MÙA XUÂN 1975. Nhận thấy tương quan lực lượng thay đổi theo hướng có lợi cho mình, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nhằm buộc chính quyền Việt Nam Cộng hoà thành lập chính phủ liên hiệp 3 thành phần. Cuộc tấn công diễn ra trong 55 ngày đêm bắt đầu từ ngày 5 tháng 3 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nó còn được gọi là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Cơ quan tham mưu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lập kế hoạch tiến công đã phân cuộc tiến công này thành các chiến dịch nối tiếp nhau. họ gọi là chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẳng, và cuối cùng chiến dịch Hồ Chí Minh.
CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN. Với mục tiêu là giành quyền kiểm soát Tây nguyên mà trận mở đầu then chốt là thị xã Ban Mê Thuột tại Nam Tây Nguyên. Tại đây có hậu cứ của sư đoàn 23 của Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Ngày 10 tháng 3 quân Giải Phóng tiến công Ban Mê Thuột. Sau hơn một ngày tiến công rất ác liệt, quân đồn trú đã kháng cự rất quyết liệt nhưng với ưu thế áp đảo quân Giải Phóng đã giành quyền kiểm soát được thị xã. Liên tiếp trong các ngày sau đó họ đã chủ động tiến công quân phản kích, tái chiếm. Quân của Quân đoàn II của QLVNCH vừa đổ xuống chưa kịp đứng chân đã bị đánh tiêu diệt, không thực hiện được việc tái chiếm.
Mất Ban Mê Thuột, chính quyền Sài Gòn không có đủ lực lượng cơ động dự bị phản kích tái chiếm, các lực lượng phòng thủ Bắc Tây Nguyên cũng đang bị uy hiếp nặng nề, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh bỏ Tây Nguyên rút các lực lượng còn lại về cố thủ dải đồng bằng ven biển miền Trung. Đường rút lui sẽ là theo đường 14 từ Pleiku đi xuống phía nam sau đó đi vào đường số 7 đã bị bỏ từ lâu không sử dụng để xuống thị xã Tuy Hoà tỉnh Phú Yên. Đây là một thảm họa chết người cho Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Cuộc rút lui đã không bảo toàn được số quân mà trái lại nó làm thành làn sóng hoảng loạn lan khắp các vùng lại còn làm rệu rã hết tinh thần binh sĩ Việt Nam Cộng hòa trên toàn quốc.
Việc rút một số lượng quân lớn như thế trong một thời gian chuẩn bị gấp gáp 2–3 ngày đã diễn ra trên đoạn đường dài hàng trăm km không có kế hoạch, trong khi tinh thần binh sĩ Việt Nam Cộng hoà đã xuống rất thấp và, quan trọng hơn cả, binh sĩ mang gia đình và người chạy nạn theo cùng. Tất cả những cái đó đã biến dòng người cùng xe cộ khổng lồ ùn tắc thành một dòng náo loạn không thể chỉ huy và chiến đấu, lại bị đối phương chặn tại Cheo Reo - Phú Bổn, khi về đến Tuy Hoà, không còn tập hợp lại được nữa. Tây Nguyên vào tay quân Giải phóng, hơn 12 vạn quân đồn trú bị tan rã. Sư đoàn 23 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa hơn 1 vạn quân về đến Tuy Hòa tập hợp đếm lại được còn 36 người.
CHIẾN DỊCH HUẾ-ĐÀ NẴNG. Kể từ sau cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên tin thất bại đã bay khắp miền Nam, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa mất hết tinh thần, quân đội gần như không chiến đấu mà bỏ chạy. Các nhà lãnh đạo chiến tranh của Mặt Trận Giải Phóng nhận định ra quân đội Cộng hòa đã không còn chiến đấu có tổ chức chặt chẽ được nữa; họ liền tiến hành phương án thời cơ tung ngay quân đoàn 2 (hay Binh đoàn Hương Giang được thành lập từ các đơn vị của quân khu Trị – Thiên và khu 5) nhanh chóng tiến công giành quyền kiểm soát cố đô Huế và thành phố lớn thứ hai của Việt Nam Cộng hoà, Đà Nẳng.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa vội vã rút lui khỏi Quảng Trị về Huế và trước sức ép của đối phương, họ lại quyết định bỏ Huế, nhưng đường núi về phía Nam đã bị quân Giải phóng cắt mất, họ chỉ còn một con đường chạy ra biển để chờ tàu hải quân vào cứu. Cũng giống như cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên, cuộc rút chạy khỏi Huế đã trở thành một cuộc trang giành và cướp bốc hỗn loạn. Số nào được cứu lên tàu hải quân thì khi lên đến bờ cũng không thể tập hợp lại thành đơn vị chiến đấu được nữa, số còn lại bỏ vũ khí tự tan vỡ. Ngày 26 tháng 3 quân Giải Phóng vào Huế, thừa thắng xông lên, quân Giải Phóng tiếp tục tiến về Đà Nẵng.
Khi quân đoàn 2 của Quân Giải phóng tiến đến Đà Nẵng, cảnh hỗn loạn tại đây cũng lại tái hiện như đã diễn ra tại Huế, quân lính Việt Nam Cộng hòa hoảng loạn cùng với dân chúng tranh nhau thoát khỏi thành phố bằng tàu hải quân, các đơn vị vòng ngoài không còn tinh thần chiến đấu nữa; Quân Giải phóng bỏ qua vòng ngoài thọc sâu đánh giành quyền kiểm soát thành phố mà không có kháng cự đáng kể. Tại đây 10 vạn binh lính và sĩ quan đã ra hàng (ngày 29 tháng 3). Quân khu 1 Việt Nam Cộng hòa đã bị xoá bỏ. Trong hai tuần đầu tháng 4 các tỉnh thành phố miền trung lần lượt rơi vào tay Quân Giải phóng.
Họ từ phía Bắc tràn vào (với Quân đoàn 2) và từ Tây nguyên tràn xuống (với Quân đoàn 3). Bây giờ thì không còn sức mạnh nào có thể ngăn nổi sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa. Quân lực Việt nam Cộng hoà dồn hết các toán quân còn sót lại của Quân đoàn 2 của họ chuyển sang cho Quân đoàn 3 chỉ huy, để cố lập một phòng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang, nhưng cũng không chặn được quân Giải phóng, tư lệnh chiến trường tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cũng bị bắt. Quân khu 1 và 2 của Việt Nam Cộng hoà đã bị xoá bỏ. Bây giờ quân Giải phóng đã tấn công xuống đồng bằng Đông Nam Bộ của Quân đoàn và quân khu 3 Việt Nam Cộng hòa, chỉ còn hơn 100 km là đến Sài Gòn.
TUYẾN PHÒNG THỦ XUÂN LỘC. Nỗ lực cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là trông vào tuyến phòng thủ từ xa của Sư đoàn 18 tại thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Quân đoàn 4 (hay Binh đoàn Cửu Long) của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập từ các sư đoàn và đơn vị tại miền Đông Nam Bộ dự định giành quyền kiểm soát Xuân Lộc trên đường tiến quân. Nhưng sư đoàn 18 đã chống cự có tổ chức, đây là nỗ lực chiến đấu có tổ chức dài ngày cuối cùng của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Quân đoàn 4 của quân Giải phóng không vượt qua được Xuân Lộc, họ cũng không phải để mất thì giờ với Xuân Lộc, nên đi vòng qua vòng vây tiến về phía Biên Hoà.
Ngày 21/4/75, sau 12 ngày cầm cự, Sư đoàn 18 của Quân lực Việt Nam Cộng hoà bỏ Xuân Lộc rút lui có tổ chức về bên kia sông Đồng Nai cố thủ. Vậy là tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng bảo vệ Sài Gòn không còn. Tối ngày 21 tháng 4 năm 1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trong diễn văn từ chức, Nguyễn Văn Thiệu chỉ trích nước Mỹ là "một đồng minh thất hứa, thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo, trốn tránh trách nhiệm". Phó tổng thống Trần văn Hương kế nhiệm, tân Tổng thống tuyên bố sẽ ở lại Việt Nam chiến đấu đến cùng. Tối 25/4/75, Nguyễn Văn Thiệu, rời Việt Nam với “lý do” là đặc sứ của Việt Nam Cộng hoà đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch.
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH. Ngày 26/4/75, sau khi tập hợp đủ lực lượng gồm 15 sư đoàn và rất nhiều trung đoàn, lữ đoàn độc lập khác để đảm bảo áp đảo chắc thắng, Quân Giải phóng tổ chức 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232 tương đương 1 quân đoàn, đánh 5 mũi từ 5 hướng vào Sài Gòn. Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn còn hơn 400.000 quân đã kháng cự ác liệt trên một số hướng. Giữa lúc đó, sĩ quan, binh lính, quan chức, chính trị gia Việt Nam Cộng hòa cùng dân chúng đang hoảng loạn tranh nhau di tản ra nước ngoài. Đến cuối ngày 28 tháng 4 thì QGP đã đến được cửa ngõ Sài Gòn và có thể đi thẳng vào thành phố. Để tránh mọi rắc rối với Mỹ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam dừng lại bên ngoài thành phố 1 ngày để người Mỹ tổ chức di tản.
Ngày 28 tháng 4 năm 1975, với sự dàn xếp của các lực lượng thứ ba, Tổng thống Trần Văn Hương từ chức, và Quốc hội trao quyền Tổng thống cho Đại tướng Dương Văn Minh đứng ra thương thuyết trên căn bản vãn hối hòa bình, trên tinh thần Hiệp định Paris để tránh việc Sài Gòn sẽ bị tàn phá. Tướng Dương Văn Minh nhậm chức tổng thống với tuyên bố không thể lấy hận thù đáp trả lại hận thù, ông chủ trương hòa giải với đối phương, đó không những là đòi hỏi của nhân dân, mà còn là điều kiện thiết yếu để tránh được nguy cơ sụp đổ, thực hiện ngưng bắn, mở lại đàm phán nhằm đạt đến một giải pháp chính trị trong khuôn khổ hiệp định Paris.
Ông đã làm việc này bằng tuyên bố "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào."
Đối với hoàn cảnh chiến sự và chính trị lúc đó có lẽ đây là một giải pháp đúng đắn. Cùng với việc ra mệnh lệnh đơn phương ngừng chiến, thực tế từ sáng sớm 30 tháng 4, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã ngừng kháng cự và Quân Giải Phóng Miền Nam vào Sài Gòn mà không gặp kháng cự có tổ chức nào. Việc làm chủ Sài Gòn kết thúc chiến tranh của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã diễn ra khá ôn hòa, không có đổ máu và thành phố nguyên lành, quả có đóng góp nhiều của lực lượng thứ ba và vai trò không nhỏ của Dương Văn Minh và các phụ tá, tại bối cảnh đó, với cách nhìn thực tế và không cực đoan.
DƯƠNG VĂN MINH VÀ LỰC LƯỢNG THỨ BA. Ông Dương Văn Minh được các lực lượng chính trị thứ ba đưa lên làm tổng thống để đảm bảo một cuộc chuyển giao chế độ êm thấm không đổ máu và không trả thù là việc làm mang tính dân tộc sâu sắc. Tất nhiên, sự đầu hàng của Việt Nam Cộng hòa là kết quả của sức mạnh quân sự áp đảo của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng việc kết thúc chiến tranh ôn hòa, với trang thiết bị quân sự không bị phá huỷ, dân chúng không đổ máu, và cả bên thắng cuộc không tốn thêm xương máu, đó là điều không ai có thể phủ nhận được. Thế nhưng, Bên Thắng cuộc đã không nghĩ tới điều đó, không chấp nhận làm lễ bàn giao mà buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện.
Với tư cách Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn, Thượng tướng Trần Văn Trà nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh "giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà dân tộc Việt Nam chúng ta thắng đế quốc Mỹ" cơ mà!
Bài 313: CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, VIỆC ĐÃ LÀM TỪ NĂM 1969-1976.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) chính thức thành lập, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam. Về mặt pháp lý, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một Liên minh của các đảng phái, tổ chức chính trị - xã hội tại miền Nam và có lập trường, chủ quyền kiểm soát riêng. Từ khi ra đời, Mặt trận DTGPMN đã thu hút được nhiều nhà hoạt động chính trị chống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, bao gồm cả những người theo và không theo chủ nghĩa cộng sản, với mục tiêu kết nối tất cả những người đối nghịch với "Mỹ Diệm".
Theo ước tính của Mỹ, trong vòng vài tháng thành lập, số thành viên của Mặt trận tăng gấp đôi, gấp đôi một lần nữa vào mùa thu năm 1961, và sau đó tăng gấp đôi vào đầu năm 1962, ước tính khoảng 300.000 người. Ngày 15-2-1961 (mồng một Tết Tân Sửu), tại vùng giải phóng Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập Quân Giải phóng, bằng cách thống nhất các lực lượng du kích là những người từng tham gia Việt Minh, và cả những người từng là thành viên Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên. Hàng chục ngàn thanh thiếu niên tại miền Nam đã gia nhập Giải phóng quân mỗi năm. Trong suốt thời gian chiến tranh Miền Bắc luôn khẳng định chỉ chi viện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chứ không can thiệp trực tiếp vào chính sách đối nội, đối ngoại của Mặt trận.
Ngày 16 tháng 2 năm 1962, Đại hội lần thứ nhất khai mạc tại Tân Biên, Tây Ninh chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Mặt trận đã ra "Tuyên ngôn" và "Chương trình hành động 10 điểm". Mặt trận cũng quyết định lấy lá cờ nửa đỏ, nửa xanh có ngôi sao vàng năm cánh và bài "Giải phóng miền Nam" làm cờ và bài hát chính thức của Mặt trận... Ngày 1-11-1964, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam họp Đại hội lần thứ 2, với 150 đại biểu tham dự. Ngày 8-1-1967, Mặt trận DTGPMN họp Đại hội bất thường, công bố Cương lĩnh mới, kế tục và phát triển chương trình hành động 10 điểm, nhằm thu hút rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia đánh đuổi đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam, mà nòng cốt là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch, đã bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam do Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ do Luật sư Nguyễn Hữi Thọ làm Chủ tịch. Chính phủ CMLTCHMNVN không công khai chịu sự chỉ đạo từ ngoài Bắc hay của cấp ủy Đảng trong Nam, chỉ xem miền Bắc là "hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn" miền Nam. Các chỉ đạo chính sách trong Nam của Đảng Lao động Việt Nam là bí mật.
THAM GIA ĐÀM PHÁN VÀ KÝ HIỆP ĐỊNH PARIS 1973. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là 1 trong 4 bên tham gia hòa đàm tại Paris và ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973. Ngày 19/10/1973, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam công bố chính sách gồm 8 điểm dấu nhẹm sự chi phối của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và cũng không cho thấy bóng dáng nào của chủ nghĩa xã hội: (1) Thực hiện bình đẳng dân tộc, đoàn kết các lực lượng dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam; (2) Ra sức bảo tồn và phát triển các dân tộc anh em; (3) Thực hiện đầy đủ quyền tự do dân chủ; (4) Tôn trọng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc; (5) Tôn trọng phong tục, tập quán tín ngưỡng, tôn giáo; (6 ) Chăm lo quyền lợi về ruộng đất, nương rẫy cho đồng bào; (7) Ra sức phát triển y tế, vệ sinh phòng bệnh, chữa bệnh bảo vệ bà mẹ trẻ em; (8) Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đông đảo đội ngũ cán bộ của dân tộc anh em.
TUYÊN BỐ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ TOÀN MIỀN NAM VIỆT NAM. Ngày 30/4/1975, sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra tuyên bố: “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam hiện nay thực hiện chủ quyền của mình trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam, là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam, có đầy đủ quyền hành giải quyết những vấn đề quốc tế của miền Nam Việt Nam”. Thông qua tuyên bố này, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã khẳng định Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức thực hiện quyền kế thừa quốc gia đối với Việt Nam Cộng hòa, kế thừa chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tất cả những kế thừa nầy của Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đều được thực hiện theo đúng thông lệ quốc tế và Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước Quốc tế năm 1978. Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng đã có 1 loạt tuyên bố khẳng định quyền thừa kế đối với tài sản quốc gia của miền Nam Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ như: Tuyên bố ngày 1/5/1975, của Bộ Ngoại giao Cộng hoà miền nam Việt Nam khẳng định mọi tài sản, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ lưu trữ, tài khoản ngân hàng, trụ sở, phương tiện giao thông và tất cả những tài sản khác của các cơ quan đại diện của Việt Nam Cộng hòa ở nước ngoài (Đại sứ quán, Lãnh sứ quán, Cơ quan đại diện bên cạnh cac tổ chức quốc tế...) là tài sản của nhân dân miền Nam Việt Nam và phải do Cộng hòa Miền Nam Việt Nam quản lý...
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã đòi quyền đại diện tại hầu như tất cả các tổ chức quốc tế trong và ngoài hệ thống Liên Hợp Quốc mà trước đó Việt Nam Cộng hòa đã tham gia WHO, ILO, UNESCO, ICAO, IAEA, IMF, Ngân hàng Thế giới.... Việc Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản các cơ quan đại diện và tài sản của chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng như quy chế hội viên tại các tổ chức quốc tế diễn ra thuận lợi, không gặp 1 trở ngại nào về pháp lý vì các quốc gia và tổ chức quốc tế đều quan niệm rằng theo luật pháp quốc tế đây chỉ là sự thay đổi chính quyền trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, không làm phát sinh chủ thể mới.
Theo họ đây là thừa kế chính phủ chứ không phải thừa kế quốc gia. Việc tuyệt đại đa số thành viên Hội đồng Bảo an, và Đại Hội đồng Liên hiệp quốc khoá XXX (1975) biểu quyết ủng hộ kết nạp Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm thành viên Liên Hợp Quốc càng chứng minh rõ việc này. Nhưng, không được kết nạp là do phiếu phủ quyết của Mỹ vào ngày 30 tháng 9. Tới cuối năm 1975, Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã có hơn 50 nước trên thế giới, có cả các nước tư bản chủ nghĩa công nhận và lập quan hệ ngoại giao.
HỘI NGHỊ HIỆP THƯƠNG CHÍNH TRỊ HAI MIỀN. Trong quan hệ với Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền ở miền Nam Việt Nam. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chính quyền hợp pháp ở miền Nam Việt Nam, do đó các văn kiện của nhà nước này có lúc khẳng định có 2 chính thể độc lập nhau, nhưng có lúc vẫn khẳng định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là của cả nước. Vấn đề này chỉ được rõ ràng khi các văn kiện tại Hội nghị hiệp thương 1975, khẳng định Cộng hoà Miền Nam Việt Nam thi hành quyền lực pháp lý ở miền Nam, còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thi hành quyền lực ở miền Bắc. Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã tổ chức các cuộc bầu cử ở cấp địa phương, và ra các văn bản pháp luật quản lý theo thẩm quyền.
Từ ngày 15 đến ngày 21/11/1975, Hội nghị Hiệp thương Chính trị được tổ chức tại Sài Gòn, giữa đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), do Trường Chinh đứng đầu, và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN), do Phạm Hùng đứng đầu, đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội Thống nhất gồm: 11 đại biểu miền Bắc: Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan, Xuân Thuỷ, Nguyễn Xiển, Trần Đăng Khoa, Chu Văn Tấn, Trần Đình Tri, Nguyễn Thị Minh Nhã, Linh mục Võ Thành Trinh, Hoà thượng Trần Quảng Dung, Trương Tấn Phát. Và, 11 đại biểu miền Nam: Phạm Hùng, Trần Lương, Bùi Dan, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, và 6 người khác hoặc nhân sĩ do Ban đại diện chỉ định. Chủ tịch: Trường Chinh, Phó Chủ tịch: Phạm Hùng.
Tháng 1/1976, cuộc họp liên tịch của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội VNDCCH và Hội đồng Cố vấn Chính phủ CHMNVN đã ra quyết định: cuộc Tổng tuyển cử sẽ tiến hành vào chủ nhật 25/4/1976. Hội đồng bầu cử toàn quốc do Trường Chinh làm Chủ tịch và Phạm Hùng làm Phó Chủ tịch. Ngày 25/4/1976, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiến hành tổ chức cuộc Tổng tuyển cử để tái thống nhất Việt Nam theo đúng các điều khoản về tiến hành các biện pháp chính trị để tái thống nhất Việt Nam trong Hiệp định Paris. Có 492 đại biểu được bầu ra của Quốc hội Việt Nam thống nhất.
XOÁ BỎ MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, VÀ CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM. Từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, thông qua các nội dung: Xóa bỏ Khu phi quân sự theo Vỹ tuyến 17; Quốc Kỳ, Quốc huy, và Cờ đỏ sao vàng; Lấy tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Quốc ca là bài Tiến quân ca; Thủ đô Hà Nội; Đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Với sự kiện này, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chính thức hợp nhất thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
(Hết chương XXI)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét