Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

 

CHƯƠNG VIII: 7 BÀI VIẾT VỀ CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC, CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN, VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.

(22 trang, 15.554 chữ)

 

105. Chủ nghĩa Đế quốc, chủ nghĩa Cộng sản, và Cộng sản Việt Nam.

106Đệ nhất quốc tế, Đệ nhị quốc tế, Đệ tam quốc tế Cộng sản, và Đệ tứ quốc tế. 

107. Chủ nghĩa Cộng sản của Karl Marx tại châu Âu.

108. Chủ nghĩa Cộng sản của Lenin, và chủ nghĩa Cộng sản của Stalin tại Nga.

109. Chủ nghĩa Cộng sản của Mao Trạch Đông tại Trung Quốc.

110. Cộng sản Đệ tứ, Cộng sản Đệ tam, và 6 Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam đến ngày giải tán Đảng tháng 11 năm 1945. 

111. Sự kiện Xô viết Nghệ Tỉnh năm 1930, và Nam Kỳ Khởi nghĩa năm 1940. 

 

 

Bài 105: CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC, CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP, CHỦ NGHĨA TƯ BẢN CHÂU ÂU.

CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC. Cách mạng công nghiệp góp phần bành trướng chủ nghĩa đế quốc, mở rộng thuộc địa. Nhờ tiến bộ về kỷ thuật, châu Âu có được tàu bè, phương tiện tốt hơn tiến hành các cuộc thám hiểm, tìm kiếm. Việc phát hiện ra châu Mỹ, vùng đất có nhiều tài nguyên thiên nhiên, khiến người châu Âu nảy sinh ý định đưa công dân đến đó định cư lập nghiệp, giải toả sức ép dân số tăng nhanh trong lục địa. Cách mạng công nghiệp dẫn đến bước thứ hai là mở rộng thuộc địa để có nơi tiêu thụ hàng hoá, và cũng là nơi cung cấp nguyên liệu thô cho nhà máy của họ. Đến cuối những năm 1800, thì 8/18 nước Châu Âu là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Đức, Ý, Hoà Lan, Bỉ đã đi xâm lược và chiếm cứ 5 lục địa còn lại của thế giới đứng đầu là Anh, kế là Pháp, Đức… 

Tại lục địa châu Mỹ (Bắc Mỹ và Nam Mỹ): Từ những năm 1500 đến đầu những năm 1800, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, lập nhiều đồn điền ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, và các đảo vùng biển Caribbean. Pháp, Anh, và Hoà Lan đưa người đến định cư, khai thác Bắc Mỹ. Năm 1775, do bất bình thuế khoá và mậu dịch bất công từ mẫu quốc Anh, 13 thuộc địa người Anh định cư tại Bắc Mỹ đứng lên làm bạo loạn, và thành lập Liên bang Hoa Kỳ độc lập năm 1776. Từ năm 1791 đến 1824 các thuộc địa Trung, Nam Mỹ cũng nổi lên đấu tranh đòi độc lập tách khỏi các mẫu quốc từ Châu Âu. Thế nhưng, tại Bắc Mỹ gần 10 triệu Km2 của Canada ở phía Bắc vẫn còn là thuộc địa Anh quốc cho đến năm 1931. 

Tại lục địa Úc Đại Lợi: Việc 13 thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ trở thành quốc gia độc lập năm 1776, khiến nước Anh không còn nơi giam giữ tù nhân bị kết án "lưu đày viển xứ". Năm 1786, Anh Quốc quyết định chiếm Úc Đại Lợi làm thuộc địa "dung chứa tù nhân". Tháng 5/1787, Phillip chỉ huy 1 đoàn tàu buồn 11 chiếc chở 730 tù nhân rời Anh Quốc. Sau 8 tháng lênh đênh trên biển cả, đoàn tàu đến vịnh Bontany ngày 19/1/1788. Bảy ngày sau, ngày 26/1/1788 tại Sydney với tư cách Thống đốc toàn quyền Arthur Phillip tuyên bố thành lập thuộc địa New South Wales. Các thuộc địa Tasmania, Westem Australia, South Australia, Victoria, và Queensland được thành lập vào các năm 1825, 1829, 1836, 1850 và 1859. Đến năm 1868, Anh đã chuyển vào Úc 160,620 tù nhân. Tháng 9 năm 1900, Anh quốc ban hành đạo luật cho phép sáu thuộc địa Úc trở thành 6 Tiểu bang của Liên bang Úc Đại Lợi độc lập.

Tại lục địa châu Phi: từ những năm 1500 và 1600, bị cuốn hút bởi việc buôn bán vàng, và người nô lệ da đen, Bồ Đào Nha lập cảng buôn bán ở Gambia nay là Ghana rồi mở rộng tới các thành phố bờ phía Đông. Hoà Lan cũng đến bờ phía Tây, rồi tiến về phía Nam lập cảng buôn bán tại Cape Town. Những năm 1700, người châu Âu bắt đầu thám hiểm vào bên trong nội địa để tìm kiếm tài nguyên, khai thác hầm mõ, dầu cọ, và nguyên liệu thô khác. Pháp đánh chiếm Algeria, Tunisia, và Anh chiếm Ai Cập (Egypt). Đến cuối những năm 1800, Anh, Pháp, Hoà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Đức, Ý, và Bỉ đã chia nhau tranh chiếm toàn bộ châu Phi, ngoại trừ Ethiopia, quốc gia duy nhất của lục địa còn giữ được độc lập, cho đến năm 1936 mới bị Ý Đại Lợi đánh chiếm.

Tại lục địa châu Á: Sự phong phú và đa dạng tài nguyên thiên nhiên của châu Á, kích thích lòng thèm muốn nơi người châu Âu. Từ những năm 1500, Bồ Đào Nha nắm quyền kiểm soát Ấn Độ Dương, chiếm Ma Cao của Trung Quốc, chiếm Indonesia, Malaysia. Còn Tây Ban Nha chiếm Philippines, Ha Uy Di và nhiều đảo khác. Trong những năm 1600, Hoà Lan chiếm Indonesia, và Malaysia từ tay Bồ Đào Nha, nhưng vẫn để đông Timor cho Bồ Đào Nha. Đến những năm 1700 và 1800, các thế lực châu Âu bắt đầu giao thương và mở rộng thuộc địa vào châu Á. Anh Quốc trở thành thế lực mạnh nhất ở Tây Nam Á, tiểu lục Ấn Độ, và Nam Trung Quốc, khuynh đảo các nước Hồi giáo, chiếm Ấn Độ, Pakistan, Bangledesh, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Tích Lan, và Sarawak, Singapore, Malaysia từ tay Hoà Lan. 

Pháp đánh chiếm ba nước Việt, Miên, Lào. Chỉ có Nhật Bản là quốc gia kháng cự thành công sự xâm lược của phương Tây. Còn Trung Quốc, sau khi bị Anh Quốc đánh bại trong chiến tranh nha phiến, mất tất cả quyền kiểm soát trên các vùng đất có sự hiện diện của người nước ngoài. Năm 1898, Tây Ban Nha chuyển giao thuộc địa Philippines cho Hoa Kỳ sau khi thua trận. 

CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP. Trước cách mạng công nghiệp, hầu hết người Châu Âu sống ở nông thôn. Làng mạc và thị trấn như là “chợ” nơi để người nông dân đến đó trao đổi hàng hoá. Trong những năm 1700 và 1800, máy động cơ được sử dụng rộng rãi trong nội địa châu Âu, nhiều nhà máy lớn bắt đầu thay thế các hảng xưởng nhỏ. Việc sử dụng máy mới và phát triển cơ sở sản xuất làm cho công nghiệp sản xuất hàng hoá gia tăng. Một hệ thống thị trường mở rộng ra trên toàn thế giới đang hình thành do công nghiệp châu Âu cần nơi tiêu thụ sản phẩm công nghệ, và nguyên liệu thô cho nhà máy của họ. Cách mạng công nghiệp khởi đầu ở Anh Quốc cuối những năm 1700. Đến giữa những năm 1800, công nghiệp hoá lan rộng ra khắp Tây Âu và Bắc Mỹ - Hoa kỳ. Ở Đông Âu thì có Nga, và ở Đông Á có Nhật Bản cũng bắt đầu phát triển công nghiệp. 

Cách mạng công nghiệp biến đổi sâu sắc đời sống của con người. Nhà máy mọc lên khắp nơi, các thị trấn trở thành thành phố, và người ta đổ dồn về các thành phố công nghiệp để tìm kiếm việc làm trong các nhà máy sản xuất. Hệ thống giao thông, truyền thông trở nên cần thiết để nối liền thành phố trung tâm với các thành phố nhỏ quanh nó đang phát triển. Đường bộ, đường xe lửa và đường thuỷ được xây dựng thêm, hoặc nâng cấp. Việc phát minh ra máy điện báo năm 1837, làm cho mạng lưới truyền thông đường xa được thuận lợi và nhanh chóng hơn. Công nghiệp hoá cũng đưa đến nhiều thay đổi xã hội. Giai cấp trung lưu thành công và thăng tiến khá nhanh. Một số trong bọn họ làm chủ hầu hết các nhà máy. Số khác hoạt động trong lãnh vực ngân hàng, khai thác hầm mỏ, và cả hệ thống đường sắt. Họ thuê mướn nhiều nhân công. 

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN. Họ nghĩ rằng, công việc kinh doanh của họ cần được quy định rõ ràng, và nên đặt bên ngoài sự kiểm soát của chính quyền. Tư tưởng này trở thành nền tảng của “chủ nghĩa tư bản” (Capitalism). Nó là một hệ thống kinh tế trong đó quá trình sản xuất chủ yếu do tư nhân làm chủ. Anh Quốc là nước phát triển kinh tế theo hướng “tư bản chủ nghĩa” đầu tiên, sau đó lan dần sang các quốc gia công nghiệp khác. Công nhân trong các nhà máy buổi đầu thường được trả lương thấp, và làm việc nhiều giờ trong những điều kiện vệ sinh không mấy tốt đẹp. Không có luật lệ quy định điều kiện làm việc cho công nhân, họ cũng không được phép lập ra các nghiệp đoàn lao động. Nhiều thành phố công nghiệp đang phát triển, không xây dựng đủ nhà cửa cung cấp cho công nhân, từ thôn quê đang đổ dồn về thành phố. 

Kết quả là sự đông đúc vượt quá mức dự liệu của các ngành phục vụ, và nhiều người phải sống trong những điều kiện thiếu vệ sinh nghiêm trọng dẫn đến bệnh tật phát sinh. Công nhân bị mất việc làm, dấy loạn phá huỷ máy móc trong một nổ lực trả thù chống lại chủ nhân các nhà máy đã sa thải họ. Họ tập trung gây bạo loạn, xuống đường biểu tình, kêu gọi toàn thể công nhân trong các nhà máy đứng lên đấu tranh với giới chủ nhân đòi bảo đảm điều kiện làm việc. Và thế là Liên đoàn nghề nghiệp ra đời, đấu tranh đòi hỏi quyền lợi cho họ dù là bất hợp pháp. Một số người cho rằng, kết quả tác hại của hệ thống công nghiệp là từ "chủ nghĩa tư bản". Những người tin như thế tập hợp lại thành một khuynh hướng, gọi là khuynh  hướng "xã hội chủ nghĩa". Theo đó, tất cả nền sản xuất công nghiệp phải đặt dưới sự điều khiển của công nhân. 

Tư tưởng nền tảng đó được Karl Marx một nhà báo, một triết gia xã hội Đức phát triển thành LÝ THUYẾT CỘNG SẢN. Marx tin rằng, giai cấp công nhân phải là động lực chính của lịch sử trong thời kỳ quá độ, bằng cách đứng lên lật đổ giai cấp giàu có, và xây dựng một hệ thống kinh tế tập thể, cùng với một xã hội không có giai cấp gọi là xã hội “xã hội chủ nghĩa”. Bốn tổ chức Quốc tế thường nghe thấy là Quốc tế thứ nhất, Quốc tế thứ hai, Quốc tế thứ ba mang tên “Quốc tế Cộng sản” tại Việt Nam thường gọi là Cộng sản Đệ tam, và Quốc tế thứ tư mang tên Chủ nghĩa Cộng sản Trotsky tại Việt Nam gọi là Cộng sản Đệ tứ.

 

Bài 106BỐN TỔ CHỨC QUỐC TẾ TRƯỚC CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN: ĐỆ NHẤT, ĐỆ NHỊ, QUỐC TAM QUỐC TẾ, VÀ ĐỆ TỨ QUỐC TẾ CỘNG SẢN.

ĐỆ NHẤT QUỐC TẾ (1864-1876). Đệ Nhất Quốc tế hay Quốc tế thứ nhất, tên đầy đủ là Hội Liên hiệp Lao động Quốc tế, tiếng Anh The International Workingmen's Association (IWA, 1864–1876), là tổ chức tranh đấu đầu tiên của các nhóm xã hội quốc tế, được thành lập ở Luân Đôn vào ngày 28 tháng 9 năm 1864, mục đích là để đoàn kết các nhóm xã hội khuynh tả, cộng sản, các nhóm vô chính phủ và các tổ chức công đoàn. Trong thời gian tồn tại, Đệ Nhất Quốc tế tiến hành năm đại hội, thông qua các nghị quyết quan trọng: tán thành bãi công, thành lập công đoàn, đấu tranh đòi ngày làm 8 giờ, đòi cải thiện đời sống công nhân. Karl Marx là một trong những người lãnh đạo từ lúc ban đầu, luôn đắc cử mỗi khi đại hội của Hiệp hội được bầu lại. Do sự đa dạng của các triết lý hiện diện trong Quốc tế thứ nhất, hiệp hội đã có mâu thuẫn từ đầu. 

Những sự phản đối Marx đến từ phái Mutualists như Proudhon, người phản đối tư tưởng "độc tài cộng sản". Không lâu những người theo chủ nghĩa vô chính phủ trở nên phân cực thành hai phe, Marx và Bakunin. Năm 1876, tại Philadelphia, Hoa Kỳ, Đệ Nhất Quốc tế tuyên bố giải tán vì sự đối nghịch giữa khuynh hướng mac-xít và Chủ nghĩa vô chính phủ mà lãnh tụ là Bakhunin.  

ĐỆ NHỊ QUỐC TẾ (1889-1916). Đệ Nhị Quốc Tế còn gọi là Quốc tế thứ hai là liên minh với sự kết hợp của các đảng xã hội chủ nghĩa và một số tổ chức công đoàn trên thế giới - chủ yếu là tại châu Âu, được thành lập ngày 14 tháng 7  năm 1889 ở Paris và giải thể năm 1916. Tham dự đại hội thành lập có hầu hết đại biểu các tổ chức công nhân của các nước châu Âu, Mỹ (Gồm 400 đại biểu với 22 quốc gia). Cũng như Đệ Nhất Quốc Tế Đệ Nhị Quốc Tế này tồn tại và hoạt động chủ yếu dưới hình thức đại hội. Đệ Nhị Quốc tế đã thông qua các nghị quyết quan trọng: nêu lên sự cần thiết phải thành lập các chính đảng của giai cấp vô sản, đề cao vai trò đấu tranh chính trị, tăng cường phong trào quần chúng, đòi tăng lương, ngày làm 8 giờ, lấy ngày 1/5 hằng năm làm ngày Quốc tế lao động để đoàn kết và biểu dương lực lượng giai cấp vô sản thế giới. 

Đệ Nhị Quốc tế có nhiều đóng góp quan trọng vào việc phát triển phong trào công nhân thế giới. Năm 1895, Frederich Engels qua đời. Các chính trị gia theo chủ nghĩa xét lại, đại diện là Eduard Bernstein, dần dần chiếm ưu thế trong Đệ Nhị Quốc tế. Do không thống nhất về chiến lược, chia rẽ về tổ chức, Đệ Nhị Quốc tế tan rã khi Chiến tranh thế giói I bùng nổ. Hầu hết những người lãnh đạo các đảng dân chủ xã hội của các nước trong Đệ Nhị Quốc tế ủng hộ chính phủ nước họ tham chiến.

3. ĐỆ TAM QUỐC TẾ (1919-1943). thường gọi là Quốc tế Cộng sản, hay  hay Đệ tam Quốc tế Cộng sản, là một tổ chức chính trị cực tả theo đường lối chủ nghĩa Marx-Lenin. Tổ chức được thành lập vào tháng 3 năm 1919 ở Moskva và giải tán vào năm 1943. Cương lĩnh hoạt động của Quốc tế Cộng sản là đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng hình thức bạo lực cách mạng, thiết lập chuyên chính vô sản. Ngày 24 tháng 1 năm 1919, Trotsky thay mặt Đảng Bolshevik gửi điện mời 39 đảng cộng sản và tổ chức cánh mạng khắp nơi đã đoạn tuyệt với Quốc tế II tới dự Đại họi Quốc tế Cộng sản lần thứ I tại Moskva. Ngày 2 tháng 3 năm 1919. Tại Moskva, tổng cộng 51 đại biểu tới dự Đại hội, chỉ 9 trong số đó là người ngoại quốc, và hầu như tất cả đại biểu đều không có giấy tờ xác minh tính đại diện cho đảng hoặc tổ chức tương ứng của họ.

Dẫu vậy, các đại biểu đồng thuận bỏ phiếu sáng lập Quốc tế Cộng sản vào ngày 4 tháng 3 năm 1919. Tuy được lập ra một cách chóng vánh và sơ sài, trên thực tế còn chưa có điều lệ hay có được sự công nhận nào, một ủy ban chấp hành vẫn được lập ra trước mắt với Zinoviev làm Chủ tịch. Việc người Nga chiếm đa số trong ban chấp hành vào buổi đầu hoàn toàn bất đắc dĩ; Lenin, Zinoviev và Trotsky cam đoan tình trạng này chỉ là tạm thời và trụ sở của Quốc tế sẽ theo làn sóng cách mạng vô sản hướng sang Tây Âu nếu mọi sự an bài. Dưới sự lãnh đạo của Vladimir Lenin, Quốc tế Cộng sản đã tiến hành 7 lần đại hội, qua đó vạch ra chiến lược, sách lược chỉ đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, hậu thuẫn các phong trào giải phóng dân tộc và đề ra biện pháp chống chủ nghĩa phát xít.  

Theo Hồi ký 1940-1945 của Trần Văn Giàu, người từng học Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông từ năm 1931-1933 thì truyền thống của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản là chỉ có một “Đảng Cộng sản” trên toàn thế giới. Tại mỗi nước, hay vùng là một “đảng bộ” đảng viên ở đâu thì sinh hoạt trong đảng bộ tại đó. Sơ đồ tổ chức của Quốc Tế Cộng sản cũng giống như “Giáo hội Công giáo La Mã” giáo dân là “dân chúa” giáo dân ở đâu thì “sinh hoạt Giáo hội” tại đó. Đảng viên Cộng sản là “dân đảng” đảng viên ở đâu thì “sinh hoạt đảng” ở đó. Do vậy, ba người Pháp sống ở Sài Gòn, đương nhiên là đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương, hoạt động dưới sự chỉ đạo của bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu...  

Vào mùa thu năm 1941 cơ sở trung ương của Quốc tế Cộng sản tại Moskva chuyển tới tỉnh phía đông Ufa thuộc Bashkortostan trước cuộc tấn công của lính Đức. Vào ngày 15 tháng 5 năm 1943 Ủy ban hành động của Quốc tế Cộng sản tuyên bố quyết định giải tán tổ chức mình vào ngày 10 tháng 6 năm 1943. Sau khi 31 đảng Cộng sản trong liên minh trả lời đồng ý, các cơ sở của Quốc tế Cộng sản đã chấm dứt hoạt động. Trong một cuộc phỏng vấn với thông tấn xã Reuters vào ngày 28 tháng 5 năm 1943, Stalin cho biết, việc giải tán của tổ chức Quốc tế Cộng sản có 2 vấn đề chính: (1) Moskva không xen vào vấn đề riêng của các nước khác. (2) Các đảng Cộng sản của các nước xử theo quyền lợi của công dân nước mình chứ không phải theo lệnh từ bên ngoài.

ĐỆ TỨ QUỐC TẾ. Đệ Tứ Quốc tế còn gọi là Cộng sản Đệ Tứ, là một tổ chức quốc tế cộng sản. Dựa trên di sản lý luận của Lev Trotsky, mục tiêu của tổ chức là thực hiện cuộc cách mạng toàn cầu, giành thắng lợi cho giai cấp công nhân và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trotsky từng là nhân vật số 2 của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ sau Lenin. Nhưng do đấu đá nội bộ bị thua Stalin, nên tháng 2 năm 1929, Trotsky bị trục xuất khỏi Liên bang Xô viết, ông tiếp tục hoạt động Cộng sản.Năm 1938, tại Pháp, Trotsky và những người ủng hộ ông ta, tin rằng Quốc tế Cộng sản đã bị phe Stalin kiểm soát hoàn toàn, và không còn khả năng lãnh đạo giai cấp công nhân quốc tế giành lấy chính quyền. Vì vậy, Trotsky thành lập "Đệ Tứ Quốc tế" như một tổ chức đối trọng. 

Khi tự xưng là Đệ Tứ Quốc tế (hoặc "Thế giới Cách mạng Xã hội Đảng"), phe Trotsky nhấn mạnh họ kế thừa truyền thống cách mạng từ Quốc tế Cộng sản và những tổ chức tiền thân, nhưng chỉ công nhận 4 kỳ đại hội đầu tiên của Quốc tế Cộng Sản. Trotsky viết rằng Đệ Tứ Quốc tế có nhiệm vụ "ngăn chặn chiến tranh; lật đổ chế độ nô lệ của giai cấp tư sản… Ngày 20 tháng 8 năm 1940, Trotsky bị một mật vụ của NKVD, Ramón Mercader dùng một chiếc rìu băng chém ngập vào sọ tại nhà ông ở México. Trotsky được đưa tới bệnh viện, tiến hành phẫu thuật và chết ngày 21 tháng 8 năm 1940 tại bệnh viện khi ông 60 tuổi.

ĐỆ TỨ QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM. Việt Nam là một trong số ít nước chủ nghĩa Trotsky tạo được phong trào lớn mạnh. Lãnh tụ Cộng sản Đệ tứ là Tạ Thu Thâu (1906-1945). Năm 1929, khi đang học kỹ sư ở Pháp, ông Thâu tham gia hội nghị Liên đoàn Phản Đế ở Frankfurt, Đức. Cùng năm đó, ông được Alfred Rosmer - một người bạn, người đồng chí, học trò của Trotsky - giới thiệu vào tổ chức Trốt-kít tại Pháp. Từ đó, ông trở thành lãnh tụ Trốt-kít ở Việt Nam. Năm 1930, Tạ Thu Thâu và các ông  Hồ Văn Ngà, Hồ Hữu Tường, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương… bị trục xuất về nước do biểu tình trước dinh tổng thống Pháp phản đối việc xử tử hình nhiều người trong vụ khởi nghĩa của Quốc Dân đảng tại Việt Nam. 

Sau vụ bạo loạn Xô viết Nghệ Tĩnh bị Pháp đàn áp, ngày 19/3/1031, Tổng Bí thư Trần Phú bị bắt tại Sài Gòn, hôm sau 20/3/1931, nguyên Tổng Bí thư Trịnh Đình Cửu và Lê Duẩn bị bắt tại Hải Phòng. Trước đó, Uỷ viên Ban Chấp hành Hoàng Quốc Việt bị bắt ngày 14/5/1930 và Phạm Hữu Lầu bị ngày 24/7/1930 tại Hải Phòng, Đảng Cộng sản Đông Dương gần như tê liệt, tan rã. Năm 1931, tại Sài Gòn, Tạ Thu Thâu thành lập nhóm Trotsky ở miền Nam. Đến năm 1932, nhóm Trotskyist bao gồm cả những người Đông Dương cộng sản Đệ Tam. Đầu năm 1933, Nguyễn An Ninh tập hợp hai nhóm cộng sản Đệ Tam và nhóm Trotsky lập "Sổ Lao động ra tờ báo La Lutte làm cơ quan đấu tranh.

Từ năm 1934-1937, cộng sản Đệ Tam và cộng sản Trotsky trong nhóm La Lutte đều có người đắc cử trong Hội đồng Thành phố và Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ như Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch. Năm 1937, Stalin tuyên bố phải loại trừ những phần tử Trotskyist. Đến năm 1938, nhóm Đệ Tam rút khỏi tờ báo La Lutte. Nhóm Đệ Tứ Trotsky chỉ tríchquan điểm của Đệ Tam như: "chế độ độc đảng", "chính sách manh động trong cuộc nổi dậy Xô viết Nghệ Tĩnh", "sùng bái Stalin"... Đệ Tam đáp trả, rằng những tên Trotskyist đã trở thành "một đàn chó săn cho phát xít Nhật và phát xít quốc tế". Trên tờ Tin tức của Mặt trận Dân chủ Đông Dương nhóm Đệ Tam kêu gọi: "củng cố hành động chiến đấu để đánh đổ quân phát xít và tay sai của nó là quân Tờ-rốt-kít phá hoại".

Rồi, tờ La Lutte bị cấm hoạt động. Tạ Thu Thâu bị bắt, bị kêu án 5 năm tù và 10 năm quản thúc. Tháng 10 năm 1940, Tạ Thu Thâu bị đày ra Côn Đảo cùng với Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch và Hồ Hữu Tường… Năm 1944, sau khi được trả tự do nhóm Trotsky Đệ Tứ tiếp tục hoạt động. Ngày 14 tháng Tám 1945, nhóm này tham gia thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất gồm nhiều tổ chức đảng phái kiên định với nền độc lập Quốc gia khi Nhật đầu hàng Đồng minh. Tháng 9 năm 1945, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Hồ Chí Minh từ Hà Nội chính thức tố cáo những người Trotskyist tức nhóm La Lutte Sài Gòn là kẻ thù của mình. 

Từ cuối tháng 9 và đầu tháng 10 năm 1945, các lực lượng kháng chiến Nam Bộ gồm cả những người Trotskyist có các trận giao tranh đẩm máu tại mặt trận Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định chống quân Pháp tái lập Liên bang Đông Dương. Khi lực lượng kháng chiến phải rút lui về vùng nông thôn, thì Đảng Cộng sản Đông Dương lần lượt truy lùng, bắt giữ và hành quyết khoảng 20 lãnh đạo phe Trotskyist chủ chốt như Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà, Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn Phương, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch... Hoạt động của Cộng sản Đệ Tứ tại Việt Nam xem như chấm dứt năm 1946. 

 

Bài 107CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN CỦA KARL MARX TẠI CHÂU ÂU.

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN CỦA KARL MARX. Karl Marx (1818-1883) chào đời tại Trier, Đức gốc Do Thái, con ông Heinrich Marx một luật sư. Ở bậc đại học, Marx lựa chọn học ngành luật và triết. Ông kết hôn với nhà phê bình kịch nghệ sân khấu tên là Jenny von Westphalen vào năm 1843. Do liên tục tung ra các ấn bản chính trị làm phật lòng chính quyền sở tại, Marx lâm vào cảnh không quốc tịch, rồi đành sống lưu vong cùng vợ và con cái tại Luân Đôn suốt nhiều thập kỷ. Tại đây, với sự trợ giúp của triết gia người Đức Friedrich Engels, ông bắt đầu xây dựng các tư tưởng của mình, và miệt mài nghiên cứu tại phòng đọc của Bảo tàng Anh.

Những lý thuyết phê phán của Marx về xã hội, kinh tế, chính trị – gọi chung là chủ nghĩa Marx – cho rằng các xã hội loài người từ xưa đến nay diễn tiến nhờ đấu tranh giai cấp. Dựa trên hướng tiếp cận mang tính phê phán mà ông gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, Marx tiên đoán rằng chủ nghĩa tư bản sẽ liên tục nảy sinh các mâu thuẫn nội bộ giống như những hình thái kinh tế chính trị đi trước; sẽ khơi mào ý thức giai cấp của công nhân lao động, thôi thúc họ vùng lên tiếm đoạt quyền lực chính trị, và cuối cùng tạo lập nên một xã hội cộng sản phi giai cấp. Marx cho rằng, giai cấp công nhân phải là động lực chính của lịch sử trong thời kỳ quá độ, bằng cách đứng lên lật đổ giai cấp giàu có và xây dựng một hệ thống kinh tế tập thể, cùng với một xã hội không có giai cấp gọi là xã hội “xã hội chủ nghĩa”. 

Luận điểm chủ nghĩa công sản của Karl Marx là lịch sử loài người đã và sẽ tuần tự xuất hiện 05 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao: Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản nguyên thuỷ; Hình thái kinh tế-xã hội chiếm hữu nộ lệ; Hình thái kinh tế-xã hội phong kiến; Hình thái kinh tế-xã hội chủ nghĩa tư bản và Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa. Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản nguyên thuỷ: Marx lý giải rằng, thời nguyên thủy lực lượng sản xuất rất thô sơ, lạc hậu, chủ yếu là săn bắt, hái lượm. Của cải vật chất thu được ít, bấp bênh, người kiếm được người thì không, do đó của cải đều là của chung và phải được phân chia đều giữa các thành viên bộ lạc để đảm bảo bộ lạc có thể duy trì sự tồn tại. Quan hệ sản xuất đặc trưng thời Cộng sản nguyên thuỷ: hợp tác sản xuất, công hữu tài sản trong mỗi bộ lạc.

Hình thái kinh tế-xã hội chiếm hữu nô lệ: với sự ra đời của nông nghiệp và chăn nuôi thời kỳ đầu (khoảng 6.000 năm trước), đã có của cải dôi dư. Bắt đầu xuất hiện một nhóm người muốn chiếm lấy phần dôi dư đó, từ đó hình thành tư hữu và quý tộc. Các bộ lạc cũng bắt đầu gây chiến với nhau để tranh giành của cải và nhân lực, kẻ thua bị bắt phải trồng trọt, chăn nuôi cho kẻ thắng, từ đó hình thành chiếm hữu nô lệ. Quan hệ sản xuất đặc trưng thời chiếm hữu nô lệ: Chủ nô - nô lệ phục vụ không công cho chủ nô. Hình thái kinh tế-xã hội phong kiến: trình độ nông nghiệp và chăn nuôi phát triển hơn, đến cách đây khoảng 1800 năm hình thức chiếm hữu nô lệ không đảm bảo năng suất cao như hình thức địa chủ - nông nô. Do nông nô được giữ lại một phần sản phẩm cho mình nên sẽ có động lực lao động cao hơn nô lệ, đồng thời nô lệ bị áp bức mạnh hơn nên cũng dễ nổi loạn hơn nông nô… Chế độ chiếm hữu nô lệ dần biến mất, thay vào đó là phong kiến với các lãnh chúa cai quản nông dân. Quan hệ sản xuất đặc trưng thời phong kiến: Địa chủ, lãnh chúa - nông dân canh tác và nộp địa tô cho địa chủ, lãnh chúa.

Hình thái kinh tế-xã hội chủ nghĩa tư bản: với sự ra đời của công nghiệp (từ thế kỷ XVI), của cải vật chất làm ra dần vượt xa nông nghiệp và chăn nuôi. Nhờ tích lũy được của cải, thế lực của các chủ xưởng công nghiệp ngày càng cao, dần lấn át cả địa chủ và vua chúa phong kiến. Giai cấp tư bản dần dần không chịu quy phục các lãnh chúa phong kiến, họ tiến hành các cuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, thay thế vào đó là hình thái tư bản chủ nghĩa. Quan hệ sản xuất đặc trưng thời chủ nghĩa tư bản: Chủ tư bản - công nhân làm thuê cho chủ tư bản. Hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa:hình thái này chưa tồn tại. Nhưng theo Marx, khi lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển, tất yếu dẫn tới nền sản xuất ngày càng mang tính xã hội hóa đòi hỏi sự hợp tác của nhiều người, khiến tư hữu mất vai trò đối với lực lượng sản xuất... 

Theo Marx: "Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hoá lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa... nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên". Quan hệ sản xuất đặc trưng thời cộng sản chủ nghĩa: quan hệ hợp tác sản xuất bình đẳng với nhau, lực lượng sản xuất được quản lý vì lợi ích của xã hội. Và, chủ nghĩa cộng sản sẽ là giai đoạn cuối cùng của lịch sử. Nhưng Marx chưa bao giờ miêu tả chi tiết về việc chủ nghĩa cộng sản sẽ vận hành như thế nào trong vai trò một hệ thống kinh tế - xã hội, nhưng người ta hiểu rằng một nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa sẽ dựa trên sở hữu toàn dân đối với các tư liệu sản xuất. 

Marx viết có hệ thống các lĩnh vực kinh tế, chính trị, triết học, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa Cộng sản. Ông nghiên cứu hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, và kết luận, rằng việc tích lũy tư bản là bản chất của chủ nghĩa tư bản trong đó “chiếm hữu giá trị thặng dư của người lao động làm ra là điểm cốt lõi. Từ đó, ông giải thích các hiện tượng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa như lợi nhuận, địa tô, lãi suất, quan hệ cung cầu, khủng hoảng kinh tế... Ông phát triển trường phái triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng, bằng cách kết hợp trường phái duy vật của Ludwig Feuerbach và phương pháp suy luận biện chứng của Georg Wilhelm Friedrich Hegel. Ông lý giải sự vận động của lịch sử bằng cách chỉ ra mối liên hệ giữa nền sản xuất và các định chế xã hội như nhà nước, gia đình, luật pháp, đạo đức... Rằng, trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản xuất cũng thay đổi, dẫn đến quan hệ xã hội cũng phải thích ứng, và kéo theo là sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị. 

Marx tiên đoán về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản bởi không giải quyết được mâu thuẫn giữa nền sản xuất đã đạt đến mức xã hội hóa cao và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không phù hợp. Chỉ có giai cấp công nhân và con đường bạo lực cách mạng để lật đổ chủ nghĩa tư bản mới giải quyết được mâu thuẫn... Marx cho rằng nền sản xuất tập trung xã hội hoá cao, cùng với trình độ kỷ thuật cao sản xuất ra một lượng của cải khổng lồ. Giai cấp tư bản chỉ là một bộ phận nhỏ, do sở hữu phương tiện sản xuất thông qua việc chiếm giữ giá trị thặng dư, nên sở hữu phần lớn tài sản xã hội. Còn đại bộ phận xã hội là giai cấp công nhân lao động cật lực nhưng chỉ sở hữu một phần nhỏ của cải. Hệ quả là người công nhân bị tha hóa trở thành nô lệ cho vật chất, cái cần thiết cho sự sinh tồn của anh ta. Chính vì thế "lao động của anh ta không phải là tự nguyện mà là bắt buộc; đó là lao động cưỡng bức”. 

Rằng, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không chỉ làm cho người lao động bị tha hóa mà cả nhà tư bản cũng bị tha hóa. Nhà tư bản trở thành kẻ chỉ biết chạy theo lợi nhuận… Do đó, giai cấp công nhân phải vùng lên dùng bạo lực cách mạng để giành lấy phương tiện sản xuất để giải phóng giai cấp mình và toàn bộ nhân dân lao động lẫn giai cấp tư sản khỏi sự tha hóa do chủ nghĩa tư bản mang đến. Nhà nước xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân sẽ thay mặt nhân dân điều hành sản xuất và nắm quyền sở hữu phương tiện sản xuất. Trong xã hội đó, con người làm việc theo năng lực hưởng thụ theo lao động. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, thì chức năng của nhà nước ngày càng suy giảm, sự tự giác của nhân dân ngày càng cao và đến lúc đó sẽ xuất hiện xã hội không có giai cấp, không còn mâu thuẫn đối kháng dẫn đến sự tự tiêu vong của nhà nước, sẽ xuất hiện một xã hội mà ở đó nguyên tắc phân phối của cải sẽ là "Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" đó là chủ nghĩa cộng sản.

Nhiều người cho rằng, mô hình Xã hội Cộng sản do Marx tiên đoán là viển vông, thiếu cơ sở khoa học, không đáng tin cậy. Họ cho rằng, chủ nghĩa cộng sản do Marx phát hoạ chỉ là ảo tưởng, và giai cấp công nhân không đủ khả năng làm chủ nền sản xuất, quản lý xã hội... Mikhail Alexandrovich Bakunin (1814-1876) một nhà chủ nghĩa xã hội tự do, nhà cách mạng người Nga cho rằng chủ nghĩa Cộng sản của Marx chỉ là chủ nghĩa độc tài để “cai trị giai cấp công nhân chứ không phải giai cấp công nhân cai trị xã hội” như nó hứa hẹn. 

Do trình độ dân trí và cơ chế dân chủ đã phát triển ở châu Âu, Chủ nghĩa cộng sản của Marx không phát triển được, phải dịch chuyển về phương Đông nơi xã hội chưa được khai hoá, trình độ dân trí còn rất hạn chế. Chủ nghĩa LeninChủ nghĩa StalinChủ nghĩa Mao…ra đời trong bối cảnh đó, và cũng ảnh hưởng từ chủ nghĩa Marx rất ít.

 

Bài 108CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN CỦA LENIN, VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN STALIN TẠI NGA.

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN CỦA LENIN. Vladimir Ilyich Lenin là nhà kinh điển lớn thứ hai của chủ nghĩa cộng sản, nhưng khác với Marx, các tác phẩm của Lenin hầu hết tập trung vào cuộc đấu tranh chống chế độ Sa hoàng, chống các xu hướng chính trị khác tại Nga và Tây Âu. Là người có trình độ học vấn và lý luận, có tài hùng biện, Lenin sử dụng khả năng diễn đạt mạnh mẽ để lôi cuốn người khác củng cố cho quan điểm của mình. Lenin còn có cá tính đặc biệt là thực tế, vị lợi và nhiều thủ đoạn chính trị. Phương châm của ông là "Có lợi là làm" bất chấp các “Quy tắc đạo đức xã hội” mà ông gọi là đạo đức tiểu tư sản. Lenin cổ súy cho cách mạng lật đổ giai cấp hữu sản, rằng "Người nô lệ nhận thức được tình cảnh nô lệ của mình và đấu tranh chống tình cảnh ấy là người cách mạng. Người nô lệ không nhận thức được sự nô lệ của mình, sống mòn mỏi trong cuộc đời nô lệ im lặng, vô ý thức và nhẫn nhục, thì chỉ thuần túy là một kẻ nô lệ...". 

Lenin khẳng định, mâu thuẫn giai cấp là quan trọng, mâu thuẫn quốc gia - dân tộc là thứ yếu. Lenin thậm chí còn đi rất xa hơn nữa khi đưa ra khẩu hiệu "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng". Lenin cho rằng chiến tranh Thế giới lần thứ nhất là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa do quý tộc phong kiến Nga phát động sẽ làm kinh tế đất nước kiệt quệ, người dân căm phẫn, giai cấp vô sản có thể nhân cơ hội hỗn loạn trong nước, chính quyền bị suy yếu để làm cách mạng vô sản. Khi quân đội Sa hoàng thất bại trên chiến trường, các đảng viên Bolshevik nhân tình trạng rối loạn trong nước đã đi đầu làm cách mạng. Theo một số ý kiến thì, điều này trái với các khái niệm và tình cảm như tính tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước và vi phạm quyền lợi của quốc gia trong chiến tranh khiến một số người đương thời chỉ trích.

Maxim Gorky cho rằng Lenin và Trotsky và những người theo họ đã bị đầu độc bởi nọc độc xấu xa của quyền lực. Những kẻ cuồng tín mù quáng và những kẻ phiêu lưu mất trí đang chạy gấp rút với tốc độ tối đa tới một cuộc cách mạng - trên thực tế, đó là một con đường tới tình trạng vô chính phủBằng chứng của điều này là thái độ của họ đối với tự do của con người, tự do ngôn luận và và tất cả những lý tưởng mà nền dân chủ đang đấu tranh vì chúng. Nhiều nhà lý luận cánh tả tại Nga như Rosa Luxemburg, Karl Kautsky... phản đối Lenin vì Lenin chủ trương xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản và dùng bạo lực trấn áp các nhóm đối lập. 

Là người chủ xướng, lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười Nga, Lenin lập ra nhà nước xã hội chủ nghĩa năm 1917. Các lý luận của Lenin có ảnh hưởng to lớn trong các đảng cộng sản và các quốc gia xã hội chủ nghĩa chậm tiến, được trích dẫn nhiều hơn cả lý luận của Marx. Sau này các phát biểu và ý tưởng của Lenin được coi là hình mẫu phát triển cho các đảng cộng sản tại các quốc gia xã hội chủ nghĩa. Mọi nhận xét và ý kiến trái với Lenin được coi là chủ nghĩa xét lại và có thể bị khai trừ khỏi phong trào cộng sản và công nhân thế giới, hoặc phải nhận những rủi ro khó mà lường trước được.

Lenin không phải là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Marx vào Nga mà là Plekhanov một nhà Marxist ôn hòa - Plekhanov người sáng lập Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga. Plekhanov cho rằng những điều kiện kinh tế - xã hội của nước Nga chưa chín muồi để làm cách mạng vô sản. Lenin thì ngược lại cố thuyết phục những đảng viên ủng hộ mình, hình thành nhóm tán thành cách mạng vô sản. Tại đại hội đảng năm 1903, nhóm tán thành cách mạng vô sản, trở thành phái Bolshevik (đa số). Thế là, phái Plekhanov trở thành phái Menshevik (thiểu số) trong đảng. Sau này, phái Bolshevik của Lenin tách ra thành lập đảng riêng, trở thành Đảng Cộng sản Liên Xô.

Khi đề ra chủ nghĩa cộng sản, Marx không tin rằng xã hội cộng sản có thể hình thành trong tương lai gần và cũng chỉ phác thảo ra những nguyên lý cơ bản nhất của mô hình xã hội đó. Ông cũng không chỉ ra được cách tiến hành cách mạng như thế nào, các đặc trưng của cách mạng đó ra sao, sau cách mạng xây dựng xã hội mới thế nào… Trái lại, với Lenin thì chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, cách mạng xã hội chủ nghĩa đã là một thực tế, Lenin tập trung mọi nỗ lực để đưa chủ nghĩa cộng sản vào cuộc sống. Có thể nói vai trò của Lenin đối với chủ nghĩa cộng sản là người cố gắng hiện thực hóa những ý tưởng của Marx. Việc giúp đỡ phát triển phong trào cộng sản ra toàn thế giới được xem là nghĩa vụ thiêng liêng và bắt buộc. 

Đệ tam Quốc tế Cộng sản của Lenin lập ra năm 1919, phân công cho đảng cộng sản mỗi nước phụ trách phát triển cách mạng trong một hoặc hai khu vực nhất định. Theo Lenin, các quốc gia cộng sản phải phối hợp hành động để lãnh đạo giai cấp vô sản trên toàn thế giới đấu tranh giành thắng lợi cuối cùng. Lenin đưa ra lý luận về "tính đảng", "tính giai cấp"nghĩa là mọi hiện tượng đều phải được phân tích rõ ra: nó làm lợi cho ai trong cuộc đấu tranh giai cấp, trên cơ sở đó khẳng định tính "địch - ta". Về "chuyên chính vô sản" theo định nghĩa của Lenin là chức năng của nhà nước vô sản trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội để trấn áp mọi sự chống đối của giai cấp tư sản, tiến hành “đấu tranh giai cấp" để củng cố thành quả của cách mạng. 

Chuyên chính vô sản, là việc tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để trấn áp bọn áp bức. Điểm đặc trưng của chuyên chính vô sản là nó không bị phụ thuộc vào các quy tắc pháp luật hay giới hạn về đạo đức, tôn giáo của xã hội đương thời, không cần thiết phải tuân thủ. Ông xem chuyên chính vô sản là "hòn đá thử vàng" để nhận ra người Marxist "đích thực" và người Marxist giả danh. Sau nội chiến Lenin đề ra “Chính sách kinh tế mới-NEP" cho phép sử dụng các cơ chế kinh tế tư bản chủ nghĩa kêu gọi đầu tư của tư bản trong nước và nước ngoài được đặt dưới sự kiểm soát, hướng dẫn của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước Liên Xô chỉ nắm độc quyền các ngành kinh tế chủ chốt như công nghiệp nặng, giao thông vận tải, ngân hàng, ngoại thương… 

Sau khi Lenin qua đời, Stalin đã chấm dứt chính sách Kinh tế mới (NEP) và chuyển nền kinh tế, xã hội sang phương thức nhà nước sở hữu toàn bộ hệ thống tư liệu sản xuất và chỉ huy toàn diện nền kinh tế theo ý tưởng của Stalin. Năm 1943, Stalin cho giải tán nốt Đệ tam Quốc tế Cộng sản của Lenin.

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN CỦA STALIN. Có những tranh luận khá gay gắt kéo dài giữa hai phái Stalin và phái Trosky. Phái Trosky cho rằng cách mạng thế giới chỉ có thể thành công và xây dựng chủ nghĩa cộng sản khi giai cấp vô sản đã nắm chính quyền ở hầu hết các nước đã phát triển, nên chủ trương phát triển cách mạng không ngừng trong Liên bang Xô viết, giúp đở, hổ trợ cách mạng các nước vừa giành độc lập. Còn phái Stalin thì cho rằng có thể xây dựng chủ nghĩa cộng sản tại nước Nga trong khi cách mạng vô sản chưa thành công ở các nước còn lại… Cuối cùng thì phái Stalin thắng thế. Là người kế tục Lenin, lãnh đạo Liên Xô trong một thời gian dài nên ảnh hưởng của Stalin trong các đảng và các quốc gia cộng sản là rất lớn. Liên Xô thuộc Phe chiến thắng của Thế chiến II, là một trong năm Quốc gia thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc và là một trong hai siêu cường của thế giới. 

Mô hình “nhà nước độc tài toàn trị” của Stalin được Mao Trạch Đông ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh ở Việt Nam, Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn, Phiden Castro ở Cu Ba coi như mô hình mẩu, còn tồn tại đến ngày nay. Luận điểm "Tăng cường đấu tranh giai cấp” là luận điểm nổi tiếng nhất của Stalin, rằng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản càng thắng lợi thì các mâu thuẫn trong lòng nó giữa giai cấp vô sản và tàn tích của giai cấp tư sản càng gia tăng, do vậy càng phải đẩy mạnh đấu tranh giai cấp để tiêu diệt sạch các tàn tích đó. VỀ MẶT CHÍNH TRỊ, chủ nghĩa Stalin đặc trưng bởi nhà nước tập quyền cao độ gắn liền với đảng: đảng kiểm soát lập pháp, hành pháp, tư pháp, công đoàn và mọi tổ chức nhà nước và xã hội khác, trong đó lãnh tụ đảng có quyền hạn rất lớn. Đảng kiểm soát toàn diện các cơ quan quyền lực nhà nước.

Hannah Arendt cho rằng Liên Xô dưới thời Stalin lẫn nước Đức dưới thời Hitler đều là những nhà nước toàn trị: một mặt nhà nước cố gắng động viên thuyết phục toàn thể dân chúng đoàn kết hỗ trợ hệ tư tưởng và các mục tiêu của nhà nước; mặt khác đi kèm với nó sự trấn áp không khoan nhượng đối với những hoạt động trái với hệ tư tưởng, các mục tiêu của nhà nước. Stalin tiến hành các cuộc thanh lọc trong nội bộ đảng, nhà nước và xã hội bằng các biện pháp khốc liệt: bắt giam, xử bắn, đày đến các trại tập trung để loại bỏ các thành phần bị xem là suy đồi, phản động, phản cách mạng, kẻ thù của nhân dân, nhưng trước và trên hết là những đối thủ chính trị của Stalin.

Theo ủy ban Schatunowskaja, điều tra theo lệnh của Nikita Sergeyevich Khrushchyov thì từ 1/1/1935 cho tới tháng 7/1940, an ninh Liên Xô đã cho thẩm vấn 19.840.000 người; 7 triệu trong số đó bị xét xử với các tội danh khác nhau, trong đó khoảng hơn 700 ngàn đã bị kết án tử hình với các tội danh gián điệp, phá hoại, tham nhũng hoặc một nhãn hiệu nào đó như "kẻ thù của nhân dân", "kulak".... VỀ MẶT KINH TẾ, chủ nghĩa Stalin đặc trưng bằng sự xóa bỏ thẳng thừng nền kinh tế thị trường, đưa nền kinh tế sang một mô hình tập trung quan liêu cao độ, mọi phương tiện sản xuất đều nằm trong tay nhà nước thông qua chỉ hai hình thức "sở hữu toàn dân" và "sở hữu tập thể". Chính sách kinh tế mới của Lenin bị bãi bỏ. Mọi công ty, nhà xưởng tư nhân đều bị đóng cửa, toàn bộ nền kinh tế được điều hành rất nghiêm ngặt. 

Liên Xô liên tiếp tiến hành các kế hoạch 5 năm, kế hoạch 7 năm để thực hiện "công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa" trong công nghiệp; và "tập thể hóa xã hội chủ nghĩa” trong nông nghiệp bằng cưỡng bức. Bên cạnh đó kỷ luật lao động hết sức cứng rắn như chỉ cần 20 phút vắng mặt trong giờ làm việc không có lý do chính đáng, hoặc cố ý chây lười thì sẽ bị truy tố hình sự, bị buộc lao động cải tạo 6 tháng hay giảm 25% lương. Đặc biệt, trong giai đoạn Thế chiến thứ 2 (1941-1945), do Liên Xô cần động viên mọi nguồn lực cho quốc phòng, việc phá hoại sản xuất được coi là tội nặng, gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị xử tử hình. Từ năm 1940 đến 1955 có 36 triệu lượt vi phạm bị xử lý, trong đó 15 triệu người từng bị giam giữ và 250.000 người bị tử hình vì các tội danh liên quan đến phá hoại sản xuất.

Dưới sự lãnh đạo của Stalin, Liên Xô đã công nghiệp hóa trong một khoảng thời gian ngắn chưa từng có. Trong lịch sử, nước Anh cần 200 năm để trở thành một nước công nghiệp, nước Mỹ cần 120 năm, Nhật Bản cần 40 năm. Trong khi đó, Liên Xô chỉ cần 18 năm để hoàn thành về cơ bản quá trình công nghiệp hóa của mình. Các nhà kinh tế học khi nghiên cứu nghiêm túc nguồn gốc sự phát, bởi nhờ nước Nga có lãnh thổ rộng lớn, giàu tài nguyên; tầng lớp trí thức còn sót lại từ thời Sa Hoàng có văn hóa cao; sự siêng năng của người Nga… Kinh tế Liên Xô tăng trưởng nhanh còn bởi sự đầu tư khổng lồ vào tư liệu sản xuất, tăng số việc làm, giáo dục phát triển, và trên tất cả là dựa hoàn toàn vào tiết kiệm, bằng cách hy sinh sự hưởng thụ hiện thời cho lợi ích đạt được trong tương lai. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế dựa vào tăng thêm tư liệu sản xuất và tăng số việc làm chỉ có tác dụng trong ngắn hạn vì quy luật hiệu xuất giảm dần. Trong dài hạn chỉ có cải tiến kỹ thuật sản xuất mới có thể tạo ra tăng trưởng kinh tế.

VỀ QUÂN SỰ, Stalin cho rằng quy luật và nghệ thuật chiến tranh của giai cấp vô sản phải khác xa so với quy luật và nghệ thuật quân sự tư sản. Stalin lý luận về xây dựng lực lượng vũ trang và sự lãnh đạo chính trị trong các lực lượng vũ trang là xác định quân đội là quân đội của đảng, chịu sự quản lý trực tiếp từ đảng. Về mối quan hệ của tiến công và phòng ngự, Stalin cho rằng học thuyết quân sự của giai cấp vô sản phải là tiến công không ngừng, phòng ngự là tạm thời, tiến công là chủ yếu, khẳng định tính tất thắng của giai cấp vô sản một khi có chiến tranh.

 

Bài 109VÀ, CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG TẠI TRUNG QUỐC.

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG. Chủ nghĩa Mao tại Trung Quốc được gọi là "Tư tưởng Mao Trạch Đông". Trong thập niên 1960 tư tưởng Mao Trạch Đông được in thành các sổ tay bìa đỏ để trang bị về tư tưởng cho cán bộ và nhân dân Trung Hoa đại lục. Điều khác nhau lớn nhất của chủ nghĩa Mao so với các học thuyết của Marx, Lenin và Stalin là ở quan niệm về động lực chính của cách mạngMarx, Lenin, Stalin đều coi động lực của cách mạng là "giai cấp công nhân" và coi nhẹ giai cấp nông dân, xem nông dân như một đồng minh cần tranh thủ mà thôi. Trái lại, xuất phát Trung Quốc là nước nông nghiệp, nên Mao Trạch Đông coi lực lượng cách mạng chủ lực là giai cấp nông dân và nông thôn là căn cứ địa của cách mạng. Mao coi học thuyết của mình là học thuyết của chủ nghĩa cộng sản cho các nước chưa phát triển thành tư bản.

Về phương pháp tiến hành cách mạng. Lenin và Stalin quan niệm về cuộc cách mạng vô sản có tính đồng loạt tại thành thị như một cuộc khởi nghĩa của giai cấp vô sản. Còn Mao Trạch Đông lại cho rằng cách mạng phải được tiến hành theo phương thức một cuộc chiến tranh du kích kéo dài, lấy nông thôn làm căn cứ địa lan dần dần và đi đến thắng lợi hoàn toàn. Hai câu nói của Mao Trạch Đông về vấn đề này rất nổi tiếng là "Súng đẻ ra chính quyền" và "Nông thôn bao vây thành thị". Tất cả các vấn đề quân sự, chính trị… được chỉ rõ trong tác phẩm "Du kích chiến". Sau khi giành được chính quyền, Mao Trạch Đông đã tiến hành nhiều cải cách kinh tế - xã hội như cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa tất cả các doanh nghiệp tư nhân, giải tán các đảng phái chính trị cánh hữu, các hội kín, triệt hạ các băng đảng tội phạm... 

Mao Trạch Đông tin rằng cần phải mạnh tay trấn áp mọi lực lượng chống đối thì mới có thể giữ được chính quyền. Trong công cuộc cải biến xã hội của Mao có hàng chục vạn địa chủ, doanh nhân, trí thức bị bắt hoặc xử tử vì bị kết tội hữu khuynh, phá hoại, phản cách mạng, tay sai của chủ nghĩa đế quốc, Hán gian...Trong quản lý kinh tế, giống như chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao cũng theo phương châm tập trung hoá cao độ theo nền kinh tế kế hoạch hoá vĩ mô. Quản lý nhà nước cũng bằng hệ thống nhà nước - đảng với sự sùng bái cá nhân cao độ. Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 1 (1953-1957), với sự giúp đỡ nhiều mặt của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, 246 công trình công nghiệp quan trọng, gồm những ngành điện lực, than, gang thép, hóa chất…được coi là xương sống của nền công nghiệp Trung Quốc được xây dựng. Tốc độ của sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 18%. 

Mao phát động phong trào Đại nhảy vọt và Công xã hoá. Đây là kế hoạch với mục tiêu nhấn mạnh biện pháp sản xuất quy mô nhỏ, sản xuất thủ công, tiến hành cuộc thực nghiệm chủ nghĩa xã hội lớn chưa từng thấy với mục tiêu công nghiệp hóa nhằm đưa Trung Quốc thành siêu cường trong thời gian chỉ 10 - 20 năm. Sự chủ quan quá mức dẫn tới việc kế hoạch bị thất bại và phải hủy bỏ. Cùng với thiên tai và lũ lụt, những chính sách kinh tế sai lầm đã gây ra một nạn đói rất lớn trong lịch sử loài người, khoảng 37,5 triệu người (khoảng 5% dân số Trung Quốc) đã chết vì nạn đói do sản xuất nông nghiệp bị đình trệ.

Chủ nghĩa Mao cho rằng để xây dựng chủ nghĩa cộng sản thì cần có con người cộng sản. Biện pháp thực hiện là tiến hành CÁCH MẠNG VĂN HOÁ. Mao bãi bỏ hệ thống quân hàm trong quân đội, khuyến khích dân chúng đả kích giới lãnh đạo nhà nước, thực hiện phê bình và tự phê bình trong nội bộ Đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc... Những biện pháp này trở nên cực đoan hóa bởi những cán bộ và công chúng quá khích, thiếu trình độ, thiếu kinh nghiệm, khiến xã hội Trung Quốc rơi vào tình trạng hỗn loạn và bạo lực trong một thập kỷ. Các phe phái, cá nhân trong Đảng Cộng sản lợi dụng để quy chụp, kết án, thanh trừng lẫn nhau, trong khi những người phản đối Mao thì cho rằng đây là thủ đoạn chính trị để ông loại bỏ các đối thủ sau khi bị mất uy tín do những sai lầm trước đó. 

Nhiều lãnh đạo cấp cao trong Đảng, nhà nước, quân đội phản đối Mao như Bành Đức HoàiLưu Thiếu KỳĐặng Tiểu Bình... lần lượt bị Hồng vệ binh kết tội là chạy theo chủ nghĩa tư bản, phản bội đất nước và bị bắt giam. Nhiều cá nhân, tổ chức trong bộ máy Đảng và nhà nước ở cấp thấp cũng bị Hồng vệ binh tấn công. Gần như tất cả các địa phương đều mất kiểm soát, Hồng vệ binh kéo nhau đi tiêu diệt những điều mà họ cho là xấu xa, là đi ngược với nền văn hóa mới, dù chẳng có chứng cứ cụ thể nào. Theo thống kê, cuộc cách mạng văn hóa của Mao Trạch Đông đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho khoảng 1 triệu người. Còn Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc (1980-1987) nhận định rằng có khoảng 100 triệu người Trung Quốc đã phải chịu một hình thức đối xử thô bạo nào đó trong thời kỳ này. 

Chủ nghĩa Mao nhấn mạnh việc "phát động quần chúng". Nó là kết hợp của rất nhiều yếu tố chính trị, xã hội, tổ chức và đặc biệt là yếu tố mê hoặc tâm lý của quần chúngÔng có thể phát động quần chúng thực hiện những việc tưởng như không thể tưởng tượng nổi từ phong trào tiêu diệt chim sẻ, các phong trào "Đại nhảy vọt", "ba ngọn cờ hồng" cho đến việc phát động quần chúng dùng Hồng vệ binh gây bạo loạn trong "đại cách mạng văn hóa vô sản" để tạo sự lãnh đạo tuyệt đối của mình.  Mao Trạch Đông nói "Chính trị là thống soái" khi có đối thủ chính trị thì không những phải loại bỏ quyền lực chính trị của đối phương mà còn phải tiêu diệt "tư tưởng" chính trị của đối phương bằng cách kiểm điểm, đấu tố, dùng áp lực quần chúng đập tan ý chí của địch thủ, Mao gọi là "cải tạo tư tưởng". 

Chủ nghĩa Mao coi cách mạng chỉ đơn giản là hoán đổi vị trí của giai cấp tư sản vào giai cấp vô sản. Mao gán ghép những quan điểm bất đồng với Mao Trạch Đông là "tư sản", "hữu khuynh" từ đó dùng các biện pháp hành chính, tuyên truyền thậm chí là bạo lực để đả kích, loại trừ. Chủ nghĩa Mao đề cao sự trong sạch coi thường vật chất. Đề cao tính đóng kín, chủ trương "tự lực cánh sinh" mọi yếu tố tiện nghi, xa hoa và nhất là từ nước ngoài đều bị đánh giá là "biểu hiện tư sản" phải đả phá. Chủ nghĩa Mao cho rằng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sau Chiến tranh thế giới thứ hai khi mà đời sống nhân dân được cải thiện nhiều và có các tiện nghi cao cấp là biểu hiện xa rời lý tưởng cộng sản, chạy theo "lối sống và đạo đức tư sản". Chủ nghĩa Mao coi mô hình của mình là thực sự cách mạng chân chính và là đầu tàu cách mạng cho thế giới thứ ba

Giai đoạn những năm 1960 - 1970 là cao trào của Trung Quốc cạnh tranh với Liên Xô trong việc lãnh đạo thế giới cộng sản. Mao đã tạo ra những phong trào kinh tế, văn hóa và chính trị; huy động toàn lực xã hội cho mục tiêu của ông ta dẫn đến những tổn thất to lớn cho Trung Quốc. Cho đến những năm cuối đời, Mao Trạch Đông mới tiến hành những hoạt động ngoại giao để bắt tay với Mỹ đưa Trung Quốc thoát dần khỏi sự đóng kín và cởi bỏ dần các đặc trưng xã hội của Chủ nghĩa Mao trong thập niên 1960. Cũng giống như Stalin, Mao đã tận dụng được tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực con người của Trung Quốc và sự thống nhất lãnh thổ, tập trung quyền lực cao độ để thực hiện các mục tiêu kinh tế, điều mà Tưởng Giới Thạch đã không làm được. 

 

Bài 110CỘNG SẢN ĐỆ TỨ, CỘNG SẢN ĐỆ TAM CHỈ THỊ THÀNH LẬP ĐẢNG, ĐẾN THÁNG 11 NĂM 1945 CÓ 6 TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG CỘNG SẢN.

CỘNG SẢN ĐỆ TỨ. Trang mạng SAIGONWEEKLY, Hoàng Long Hải viết: Tạ Thu Thâu là một nhân vật đặc biệt. Về việc học, ông là người học giỏi xuất chúng, một trí thức kiệt xuất, có tài hùng biện và lãnh đạo, ông thuộc nhóm Đệ Tứ Quốc Tế ở miền Nam… Nói tới việc nầy, có lẽ nên nhắc lại một chút về "lịch sử Nam Bộ" khi Tây bắt đầu xâm lăng nước ta. Sau khi Rigault Genouilly đánh chiếm Saigon, Tây cần thông ngôn để tiện việc cai trị dân chúng. Ban đầu, Tây phải dùng những người biết tiếng Tây ít nhiều. Vì thiếu thông ngôn, Tây nhờ Nhà Dòng mở trường đào tạo giùm. Học sinh phải là người "có đạo". Về sau, Tây tự đào tạo lấy, không phân biệt ai có đạo ai không. 

Vì đất Nam Bộ là "Nam Kỳ thuộc địa", nên Tây cần đào tạo người làm việc cho Tây. Nhiều người học giỏi được Tây cho du học bên Tây là vì vậy. Số nầy khá đông, nhiều người nổi tiếng như Bùi Quang Chiêu, Hồ Hữu Tường, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, v.v... Hồi ấy ở Paris có "ba ông già", đang ở bên đó trước. Những người qua Pháp lúc ấy đều được họ giúp đỡ: Truyền bá tư tưởng cách mạng, dạy cho học tiếng Tây. Đó là Cụ luật sư Phan Văn Trường, Phan Chu Trinh, và kỹ sư Nguyễn Thế Truyền. Học trò các cụ là du học sinh. Những người gốc Nam Bộ thì tiếng Tây đã giỏi. Riêng Nguyễn Tất Thành thì hoàn toàn "i-tờ-rít", chỉ nói được tiếng Tây bồi mà thôi. 

Một điều buồn cười là mấy ông học giỏi ở Nam Bộ nầy, Tây cho qua Tây "du học". Qua bên đó, mấy ông làm mấy việc như vầy: Một là "biểu tình chống Tây", khiến Tây phải "đuổi về nước", như Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Chánh, Trần Văn Giàu, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Hữu Phương và hơn chục người khác. Hai là Phần đông họ theo Cộng Sản, nhưng lại là "Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế", thường nói gọn là "phần tử Trotsky". Thứ nầy thì Stalin ghét lắm. Trotsky đã chạy trốn sang Nam Mỹ, nhưng Stalin cho người theo giết cho được… (Trích SÀIGÒN WEEKLY Nhân vật Lịch sử. Bài 3. 6 Tạ Thu Thâu).

ĐỆ TAM QUỐC TẾ CỘNG SẢN. Đầu năm 1930Đệ Tam Quốc tế Cộng sản chỉ thị cho đặc phái viên Nguyễn Ái Quốc tập hợp các tổ chức cộng sản Đông Dương lại thành một đảng Cộng sản Đông Dương duy nhất. Hội nghị hợp nhất các tổ chức này diễn ra tại căn nhà của một công nhân ở bán đảo Kowloon từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 8 tháng 2 năm 1930, đúng vào dịp Tết năm Canh Ngọ. Tham dự Hội nghị có 2 đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng là Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh, hai đại biểu An Nam Cộng sản Đảng là Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm và 3 đại biểu Quốc tế Cộng sản là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn. Trịnh Đình Cửu được giao nhiệm vụ Phụ trách Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam như là Tổng Bí thư.

Ngày 24 tháng 2 năm 1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ ngày 14 đến 31 tháng 10 năm 1930, theo yêu cầu của Quốc tế thứ ba, tại Hồng Kông Ban chấp hành Trung ương họp hội nghị lần thứ nhất tên đảng Cộng sản Việt Nam được đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Cho đến ngày 11 tháng 11 năm 1945, ngày Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Hồ Chí Minh ra lệnh giải tánthì Đảng Cộng sản Việt Nam có 6 Tổng Bí thư Đảng:

TRỊNH ĐÌNH CỬU (1906-1990) Trịnh Đình Cửu quê quán ở làng Định Công Hạ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, con ông Tú Mẫn từng làm quan trong chế độ Pháp thuộc và bà (không biết tên) làm nghề buôn tơ lụa Hà Đông, có nhà và có cửa hàng bán tơ lụa ở 61 phố Hàng Đào, Hà Nội. Trịnh Đình Cửu học Trường Bưởi tham gia phong trào để tang Phan Châu Trinh và đòi ân xá Phan Bội Châu. Năm 1927, Trịnh Đình Cửu bí mật sang Trung Quốc tham gia Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội được huấn luyện về lý luận tại Quảng Châu. Về nước, ông tham gia phong trào vô sản hóa của Kỳ bộ Thanh niên Bắc Kỳ. Trịnh Đình Cửu cũng là một trong 7 người thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại số nhà 5D Hàm Long, Hà Nội hồi tháng 3 năm 1929. 

Hội nghị thành lập đảng Cộng sản Việt Nam kéo dài hơn 1 tháng (6/1 – 8/2/1930), bốn đại biểu của hai đảng An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Đảng đã đồng ý gác lại các mâu thuẫn giữa họ, hợp nhất thành một đảng gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam, bầu Trịnh Đình Cửu phụ trách Ban Chấp hành Trung ương như là Tổng Bí thưSau sự kiện “Xô viết Nghệ Tỉnh” Trịnh Đình Cửu xuống Hải Phòng đón Lê Duẩn để chuẩn bị cùng sang Trung Quốc, thì ngày 20 tháng 4 năm 1931, cả Trịnh Đình Cửu và Lê Duẩn đều bị bắt, hai ông bị kết án tù khổ sai và bị đày ra Côn Đảo. Tháng 7 năm 1936, do tác động của Mặt trận Bình dân tại Pháp, Cửu và Duẩn được trả tự do. 

Ra tù, Trịnh Định Cửu về nhà sống tại Hà Nôi. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, ông được bầu vào Xứ ủy Bắc Kỳ, Chính trị viên Trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Tháng 3 năm 1949, Trịnh Đình Cửu được cử làm Phó Giám đốc trường Đảng Nguyễn Ái Quốc mới thành lập tai Định Hoá, Thái Nguyên. Tháng 8 năm 1950, khi trường này chuyển về xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang thì Trịnh Đình Cửu không còn chức phó Giám đốc mà chỉ “công tác như một cán bộ cao cấp”. Năm 1960, Trịnh Đình Cửu nghỉ hưu sớm và qua đời ngày 24 tháng 10 năm 1990 tại Hà Nội. 

TRẦN PHÚ (1904-1931) Trần Phú sinh tại thành An Thổ, phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên, con ông Trần Văn Phổ, làng Đông Thái, tỉnh Nghệ An từng đỗ Giải nguyên, làm Giáo thụ Tuy An và bà Hoàng Thị Cát, Ngày 19/4/1908, khi Trần Văn Phổ đang là Tri huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi, không hiểu vì lý do gì ông Phổ thắt cổ tự sát tại công đường. Hai năm sau, do nghèo khổ và buồn phiền, ngày 27/11/1910, mẹ ông cũng qua đời. Trần Phú cùng với người em út là Trần Ngọc Danh được cung nương Hoàng Thị Khương (dì ruột) mang về giao cho con trai là Thái Thường Tự Khanh Phạm Hoàng San làm việc ở Toà Khâm sứ Huế nuôi dưỡng và cho ăn học tại Trường tiểu học Pháp – Việt Đông Ba rồi Trường Quốc học Huế.  Năm 1922, Trần Phú đỗ đầu kỳ thi Thành chung lúc 18 tuổi, rồi về dạy học tại trường Tiểu học Pháp – Việt Cao Xuân Dục ở Vinh (Nghệ An). 

Năm 1925, ông cùng một số bạn bè như Lê Văn Huân, Trần Đình Thanh, Ngô Đức Diễn, Tôn Quang phiệt... thành lập Hội Phục Việt, sau đổi là Hội Hưng Nam, rồi lại đổi ra Tân Việt Cách mạng Đảng. Năm 1926, Trần Phú được cử sang Quảng Châu bàn việc hợp nhất với Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tại Quảng Châu, ông tham gia một số lớp huấn luyện về lý luận và chính trị. Về nước hoạt động một thời gian sau bị lộ, ông lấy bí danh Lý Viết Hoa sang Quảng Châu. Mùa xuân năm 1927, Trần Phú được cử sang học tại trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông cùng khoá với Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Nguyễn Văn Trân ... Năm 1928, Trần Phú là đại biểu dự Đại hội VI Quốc tế Cộng sản. Tháng 4 năm 1930, tốt nghiệp Trần Phú về nước và được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời của Đảng. 

Tháng 10 cùng năm 1930 này, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất họp ở Hương Cảng bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức, đổi tên đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua bản Luận cương Chính trị do Trần Phú viết, và Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 3 năm 1931, Trần Phú chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 2 tại Sài Gòn bàn việc chấn chỉnh Đảng sau đợt khủng bố phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Hội nghị khẳng định: "Đông Dương Cộng sản Đảng là đảng tiền phong của giai cấp vô sản, Đảng chiến đấu cho lợi ích sống còn của dân tộc, cho quyền lợi các giai cấp bị bóc lột, bị áp bức, nhưng không phải là đảng của Công Nông”

Ngày 19 tháng 4 năm 1931, Trần Phú bị bắt tại nhà số 66 đường Champagne, Sài Gòn. Với chí khí kiên cường, ông không bị khuất phục dù bị tra tấn, dụ dỗ… Ngày 6 tháng 9 năm 1931, Trần Phú qua đời tại Nhà thương Chợ Quán ở tuổi 27 với lời nhắn nhủ bạn bè "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu".

LÊ HỒNG PHONG (1902-1942) Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn sinh ra trong một gia đình nghèo ở thôn Đông, tổng Thông Lãng, tỉnh Nghệ An con ông Lê Huy Quán và bà Phạm Thị Sau. Mồ côi cha từ nhỏ, năm 16 tuổi, ông xin đi làm công cho một hãng buôn ở Vinh. Sau đó, ông chuyển sang làm công nhân nhà máy diêm Bến Thuỷ và bị đuổi việc vì đã vận động công nhân đấu tranh đòi quyền lợi với giới chủ bóc lột. Tháng 1 năm 1924, ông cùng 10 thanh niên sang Thái Lan, rồi qua Quảng Châu. Tại đây, ông cùng Lê Hồng Sơn, Lê Quang Đạt được kết nạp vào tổ chức cách mạng Tâm Tâm Xã, tức Tân Việt Thanh niên Đoàn. Lê Hồng Phong cũng là hạt nhân của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Mùa hè năm 1925, Lê Hồng Phong vào học Trường Quân sự Hoàng Phố do Tưởng Giới Thạch làm Chỉ huy trưởng. 

Năm sau, Lê Hồng Phong chuyển sang học Trường Không quân Quảng Châu và tháng 2 năm 1926, Phong gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 8 năm 1927, Lê Hồng Phong được chuyển tiếp sang học Trường Không quân Liên Xô. Tại đây, từ tháng 10 năm 1926 đến tháng 10 năm 1927, ông học Trường Lý luận Quân sự tại Liningrad. Từ tháng 12 năm 1927 đến tháng 11 năm 1928, ông học trường Không quân số 2 ở Borisoglebsk. Từ tháng 12 năm 1928, Lê Hồng Phong học trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Moskva. Sau khi tốt nghiệp, Phong tham gia Hồng quân Liên Xô với cấp bậc Trung tá. Cuối năm 1931, Quốc tế Cộng sản chỉ thị Lê Hồng Phong về Trung Quốc hoạt động. Tại thời điểm này, ở trong nước, các tổ chức cộng sản bị đàn áp dữ dội gần như tê liệt, tan rã. 

Năm 1932, Quốc tế Cộng sản lại chỉ thị Lê Hồng Phong tìm cách khôi phục phong trào. Tháng 3 năm 1934, tại Ma Cao, dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập gồm 3 người do Quốc tế Cộng sản chỉ định và 2 người do Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ định, Lê Hồng Phong làm Thư ký (Bí thư). Với cương vị Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại, trên thực tế ông nắm giữ vai trò Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội I của Đảng ở Ma Cao, Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Tháng 7 năm 1935, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản ở Moskva. Đại hội công nhận Đảng là Chi bộ chính thức của Quốc tế Cộng sản và bầu Lê Hồng Phong làm Ủy viên Ban Chấp hành của Quốc tế Cộng sản.

Ngày 26 tháng 7 năm 1936, Lê Hồng Phong thôi chức Tổng Bí thư, người kế nhiệm là Hà Huy Tập. Ngày 10 tháng 11 năm 1937, ông về Việt Nam hoạt động với tên là La Anh. Tháng 3 năm 1938, Lê Hồng Phong dự Hội nghị Trung ương họp tại Hóc Môn, Gia Định quyết định thành lập "Mặt trận Dân chủ Đông Dương". Ngày 22 tháng 6 năm 1939, ông bị mật thám Pháp bắt lần thứ nhất ở tại Sài Gòn, bị kết án 6 tháng tù và ông trục xuất về quê Nghệ An. Ngày 6 tháng 2 năm 1940, ông bị bắt lần thứ hai, bị kết án 5 năm tù và đày đi Khám lớn Sài Gòn và Côn Đảo. Ngày 6 tháng 9 năm 1942, Lê Hồng Phong qua đời trong lúc ở trong tù tại Côn Đảo đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 40. 

HÀ HUY TẬP (1906-1941) Hà Huy Tập nguyên quán làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh. Hà Huy Tập học Trung học tại trường Quốc học Huế. Năm 1923, ông tốt nghiệp Diplôme hạng ưu, được phân về dạy tại trường Tiểu học Nha Trang. Năm 1926. Hà Huy Tập tham gia Hội Phục Việt, sau đổi thành Tân Việt Cách mạng Đảng. Giữa năm 1926, Hà Huy Tập bị viên công sứ Pháp ở Nha Trang là P. Bréda sa thải và trục xuất khỏi Nha Trang, trở về Vinh, ông Tập dạy trường tiểu học Cao Xuân Dục, Nghệ An. Tháng 3 năm 1927, Hà Huy Tập vào Sài Gòn dạy học ở An Nam học. Tháng 1 năm 1928, ông lại bị sa thải khỏi An Nam học đường. Tháng 12 năm 1928, Hà Huy Tập sang Quảng Châu dự khóa huấn luyện do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phụ trách. 

Ngày 19 tháng 7 năm 1929, Hà Huy Tập đến Liên Xô học trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông. Cuối năm 1929, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản toàn Liên bang Bôn-sê-vich Nga. Tháng 4 năm 1934, tốt nghiệp trở về Việt Nam, trên đường đi Hà Huy Tập bị Pháp bắt và bị trục xuất sang Bỉ. Sau đó, ông trở về Trung Quốc, được Quốc tế Cộng sản chỉ định tham gia Ban Chỉ huy Hải ngoại. Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội I của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Ma Cao, khi Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư thì Hà Huy Tập được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại. Ngày 26 tháng 7 năm 1936, Ban Chỉ huy Hải ngoại họp Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương bầu Hà Huy Tập giữ chức Tổng Bí thư kế nhiệm Lê Hồng Phong. Ông lên đường về nước lập lại Trung ương cấp ủy.

 Huy Tập trực tiếp chỉ đạo các tờ báo L'Avant garde (Tiền phong) (1937), Dân chúng (1938) của Đảng dưới danh nghĩa "cơ quan lao động và dân chúng" ở Nam Kỳ. Ngày 30 tháng 3 năm 1938, Hà Huy Tập cùng nguyên Tổng Bí thư Lê Hồng Phong cùng chủ trì Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Bà Điểm. Tại hội nghị này, ông thôi giữ chức Tổng bí thư. Người kế nhiệm ông là Nguyễn Văn Cừ. Ngày 1 tháng 5 năm 1938, Hà Huy Tập bị bắt đưa về quê chịu quản thúc. Tháng 3 năm 1940, ông lại bị bắt và bị tuyên án 5 năm tù giam. Ngày 25 tháng 3 năm 1941, chính quyền Pháp đổi bản án 5 năm tù giam của Hà Huy Tập thành án tử hình vì "chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ”.Ngày 28 tháng 8 năm 1941, Hà Huy Tập bị chính quyền Pháp xử bắn tại Sở Rác Hóc Môn, Sài Gòn.

5. NGUYỄN VĂN CỪ (1912-1941) Nguyễn Văn Cừ sinh ra trong một gia đình Nho Giáo, quê ở xã Phù Khê, tổng Nghĩa Lập, huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1927, khi được 15 tuổi, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Tháng 6 năm 1929, Nguyễn Văn Cừ được kết nạp vào chi bộ Đông Dương Cộng sản đảng đầu tiên ở Hà Nội. Năm 1930, lúc 18 tuổi, Nguyễn Văn Cừ được cử làm Bí thư đặc khu Hồng Gai-Uông Bí. Sau bị Pháp bắt, kết án khổ sai, đày đi Côn Đảo. Năm 1936, ông được trả tự do, về hoạt động trở lại ở Hà Nội. Tháng 3 năm 1937 trở thành ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc KỳTháng 9 năm 1937, ở hội nghị Hóc Môn, Nguyễn Văn Cừ được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 3 năm 1838, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư kế nhiệm Hà Huy Tập, khi mới 26 tuổi. Tháng 11 năm 1939, Nghị quyết Hội nghị của Ban Chấp hành trung ương Đảng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông, Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, chống nặng lãi và tạm gác khẩu hiệu lập chính quyền xô viết công nông binh, thay bằng thành lập chính quyền cộng hòa dân chủ, thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương…Ngày 17 tháng 1 năm 1940, Nguyễn Văn Cừ và Lê Duẩn cùng với Vũ Đình Hiếu bị bắt ở Sài Gòn với nhiều tài liệu quan trọng

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11 năm 1940, Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp ghép vào tội đã thảo ra "Nghị quyết thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương”, "chủ trương bạo động" và là "người có trách nhiệm tinh thần trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ" bị kết án tử hình. Ngày 28 tháng 8 năm 1941, Nguyễn Văn Cừ bị bắn cùng lúc với một số đảng viên cộng sản khác như Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu… tại Ngã ba Giồng, Hóc Môn.

6. TRƯỜNG CHINH (1907-1988) Truòng Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh quán làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, con ông Đặng Xuân Viện một nhà nho không thành đạt và bà Nguyễn Thị Từ. Đặng Xuân Khu theo học bậc Thành chung tại Nam Định. Năm 1926, ông bị trường đuổi học vì tham gia phong trào đòi ân xá cho Phan Bội Châu và truy điệu Phan Chu Trinh. Năm 1927, Đặng Xuân Khu ra Hà Nội học ở trường Cao đảng Thương mại và tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Năm 1929, ông trở thành đảng viên Đông Dương Cộng sản đảng. Năm 1930, Đặng Xuân Khu được chỉ định vào Ban tuyên truyền của Đảng Cộng sản Đông Dương, ông bị Pháp bắt và kết án 12 năm tù và đày đi Sơn La, nhưng đến năm 1936 được trả tự do. 

Từ năm 1936 đến năm 1939, Đặng Xuân Khu là Xứ Ủy viên Bắc Kỳ cùng với Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt. Tháng 1 năm 1940, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và Thường vụ Ban chấp hành Lê Duẩn bị bắt ở Sài Gòn, Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành duy nhất còn lại Phan Đăng Lưu, bí mật ra Bắc họp Hội nghị Trung ương 7 từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 11 năm 1940 tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, tái bầu Ban Chấp hành Trung ương, Phan Đăng Lưu đề nghị chuyển trung ương Đảng từ Nam ra Bắc, Hội nghị nhất trí bầu Phan Đăng Lưu làm Tổng Bí thư Đảng, nhưng ông Lưu từ chối với lý do, ông phải trở về Nam và đề phòng ông có thể bị bắt, gây trở ngại cho Trung ương. Đặng Xuân Khu, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và cử Đặng Xuân Khu làm Quyền Tổng Bí thư Đảng. 

Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị Trung ương 8 họp tại Cao Bằng, Đặng Xuân Khu được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, kiêm Chủ bút báo "Cờ giải phóng". Trên số đầu tiên của tờ Cờ Giải Phóng, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngày 10-10-1942 bắt đầu xuất hiện bút danh Trường Chinh. Tháng 3 năm 1945, tại Chùa Đồng Kỵ, Từ Sơn, Bắc Ninh, Đặng Xuân Khu triệu tập và chủ trì Hội nghị Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị nổi tiếng "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", xác định thời cơ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong giai đoạn chuẩn bị Cách mạng tháng Tám 1945, ông chủ trì Hội nghị toàn quốc của Đảng và được cử phụ trách Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. 

Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh ra lệnh giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương, Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh trở thành Hội trưởng Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông DươngHai sự kiện nổibật của Đảng Cộng sản Việt Nam thời 1930-1945 là Xô viết Nghệ Tỉnh năn 1930, và Nam Kỳ khởi nghĩa nam 1940

 

Bài 111: HAI HOẠT ĐỘNG NỔI BẬT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆN NAM LÀ XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH NĂM 1930, VÀ NAM KỲ KHỎI NGHĨA NĂM 1940.

SỰ KIỆN XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH NĂM 1930. Thông qua Xứ ủy Trung Kỳ, Đảng Cộng sản Đông Dương đã chỉ đạo công nhân và nông dân ở Nghệ An và Hà Tĩnh đấu tranh chống lại đế quốc Pháp tại Việt Nam trong năm 1930-1931, hình thành các "Xã Bộ nông" mà những người cộng sản gọi là "Xô viết". Ngày 12 tháng 9 năm 1930, cuộc biểu tình của người dân ở Hưng Nguyên (Nghệ An) bắt đầu với hơn 8.000 nông dân kéo về phủ lị và trương các khẩu hiệu như: Bỏ sưu thuếbớt giờ làmchống khủng bố trắngbồi thường cho các gia đình bị tàn sát trong cuộc bạo động Yên Bái,... thậm chí là chia lại ruộng đấtĐả đảo chủ nghĩa đế quốc, Đả đảo Phong Kiến. Đoàn biểu tình này xếp hàng dài hơn 1 cây số, tập trung kéo về thành phố Vinh. 

Theo mô tả, đi đầu là những người cầm cờ đỏ, đi hai bên là đội viên tự vệ được trang bị các loại dao, gậy. Trên đường đi, đoàn biểu tình có lúc dừng lại để diễn thuyết và chỉnh đốn đội ngũ. Dòng người càng đi càng được bổ sung thêm cho đến khi đến gần Vinh con số đã lên tới 30.000 người và xếp hàng dài tới hơn 4 cây số. Chính quyền thực dân Pháp đã huy động cả máy bay ném bom vào đoàn biểu tình làm 217 người chết và 125 người bị thương. Dù vậy, vẫn không ngăn được đoàn người biểu tình đấu tranh kéo về huyện lỵ, đập phá nhà lao, đốt phá các huyện đường, bao vây đồn lính khố xanh làm cho bộ máy chính quyền của thực dân, phong kiến bị tê liệt, một số tan rã khiến nhiều viên chức nhà nước như lý trưởng, tri huyện phải bỏ trốn.

Chính quyền Xô viết hình thành ở các Xã thuộc huyện Thanh Chương, Nam Đàn, một phần huyện Anh Sơn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Diễn Châu ở Nghệ An vào tháng 9 năm 1930; còn ở Hà Tĩnh ở là các Xã thuộc huyện Can Lộc, Nghi Xuân, Hương Khê vào tháng 11 năm 1930. Các chính quyền Xô viết một mặt thi hành các chính sách mới, mặt khác phá bỏ hệ thống chính quyền cũ, trưng thu đất, thóc gạo, tiền bạc của các địa chủ, đồng thời đòi yêu sách với các chủ xưởng, chủ tàu. Nhưng cuối cùng đã bị Nhà Nguyễn và chính quyền Bảo hộ Pháp dẹp tan, chỉ tồn tại sau bốn, năm tháng. Nhiều cơ quan đầu não của Đảng, các cơ sở trong dân bị phá vỡ, nhiều đảng viên, người biểu tình bị bắt giam hoặc hành quyết.  

Ngày 19 tháng 4 năm 1931, Tổng Bí thư Trần Phú bị bắt tại Sài Gòn và ngày  6 tháng 9 năm 1931 chết tại Bệnh viện Chợ Quán. Ngày 20 tháng 4 năm 1931, nguyên Tổng Bí thư Trịnh Đình Cửu và Lê Duẩn bị bắt tại Hải Phòng khi đang chuẩn bị cùng sang Trung Quốc. Cả hai ông bị kết án tù khổ sai, đày ra Côn Đảo. Tháng 7 năm 1936, do tác động của Mặt trận Bình dân tại Pháp, Trịnh Đình Cửu và Lê Duẩn được thả ra khỏi nhà tù. 

SỰ KIỆN NAM KỲ KHỞI NGHĨA NĂM 1940. Tháng 3 năm 1838, tại Bà Điểm, Hóc Môn, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương bầu Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư, Lê Duẫn và Phan Đăng Lưu thường vụ Ban Chấp hành. Ngày 17 tháng 1 năm 1940, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và các ông Lê Duẩn, Vũ Đình Hiếu bị bắt ở Sài Gòn với nhiều tài liệu quan trọng. Mấy hôm sau đó, thực dân Pháp bắt tiếp các ông Phan Văn Voi, Phạm Chung... tất cả 17 người. Tháng 3 năm 1940, Ban thường vụ Xứ ủy do ông Võ Văn Tần làm bí thư đã chuẩn bị cuộc nổi dậy bằng vũ lực. Các đội tự vệ, du kích dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, phát triển ngay tại những xí nghiệp lớn ở như Sài Gòn và Ba Son, F.A.C.I., bến tàu, nhà đèn Chợ Quán, trường Bách Nghệ... 

Còn ở nông thôn phần lớn các Xã đều có từ một tiểu đội đến một trung đội du kích. Lò rèn trong các thôn làng ngày đêm sản xuất vũ khí. Người dân góp nồi đồng, mâm thau, lư hương để du kích đúc đạn. Do công tác binh vận tốt, phần lớn trong số 15.000 binh lính người Việt trong quân đội Pháp đóng ở Sài Gòn sẵn sàng phối hợp nổi dậy. Ngày 21 tháng 4 năm 1940, Võ Văn Tần bị bắt ở xã Tân Xuân, Hóc Môn. Tháng 7 năm 1940, Xứ ủy Nam kỳ họp Hội nghị mở rộng ở Mỹ Tho Mỹ để bàn về khởi nghĩa. Tạ Uyên được bầu làm Bí thư Xứ ủy thay Võ Văn Tần bị bắt. Nhưng chỉ ba ngày sau khi hội nghị bế mạc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long Trần Văn Bảy bị cò cảnh sát Vĩnh Long bắt. Ngày 30 tháng 7 năm 1940, tại Chợ Lớn, Nguyễn Hữu Tiến Ủy viên Trung ương Đảng, và Nguyễn Thị Minh Khai, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn bị bắt. 

Ở các tỉnh cũng có nhiều bí thư tỉnh ủy và tỉnh ủy viên bị bắt. Sáng ngày 22 tháng 11 năm 1940, Bí thư Thành ủy Nguyễn Như Hạnh đến gặp Trưởng ban khởi nghĩa ở 160 đường Dayot để nghe phổ biến lệnh khởi nghĩa. Vừa ra khỏi nơi gặp gỡ thì Nguyễn Như Hạnh bị bắt giải về bót Catinat. Địch khám thấy bản hiệu triệu khởi nghĩa. Chiều hôm đó, Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy (mới) rồi Phan Đăng Lưu lần lượt bị bắt. Trước giờ khởi nghĩa, Phan Nhung, Thành ủy viên, và gần 50 người khác cũng sa lưới Phòng nhì Pháp. Mặc dù vậy, đêm 22 rạng sáng 23 tháng 11 năm 1940, cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa vẫn bùng nổ với khí thế mạnh mẽ và quy mô lớn. Từ Biên Hoà đến Cà Mâu, 18 tỉnh nổi dậy giành chính quyền. 

Tại Mỹ Tho, 54 trong số 56 Xã bị nghĩa quân chiếm giữ. Tại Chợ Lớn, lực lượng khởi nghĩa giành được nhiều tổng. Tại Tân An, các xã hai bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, hữu ngạn Vàm Cỏ Đông đều về tay lực lượng nổi dậy... Cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa liềm được kéo lên trước nhà làm việc của chính quyền cách mạng. Những người Pháp và Việt gian bị xét xử. Ruộng, thóc của những địa chủ được cho là phản động bị đem chia cho dân nghèo. Thực dân Pháp đàn áp kịch liệt, máy bay dội bom xuống làng mạc, thôn xóm. Quân du kích Nam Kỳ đã chiến đấu chống trả quyết liệt. Tại Mỹ Tho, các đội tự vệ phá tan bộ máy chính quyền của Pháp ở 54 trong tổng số 57 xã thuộc hai huyện Châu Thành và Cai Lậy. Tại Hóc Môn, dưới sự chỉ huy của Xứ ủy viên Mười Đen chặn đánh quân Pháp tiếp viện ở Cầu Bông, hạ sát chủ tỉnh Tây Ninh Renou và một số lính, thu 15 súng rồi kéo lên Truông Mít. 

Tại Cần Giuộc, Bến Lức, đội du kích của nữ tướng Nguyễn Thị Bảy đã làm cho người Pháp sợ và gọi bà là "Bà Chúa Đỏ". Tại Vũng Liêm, đội du kích nơi đây đã chiếm đồn Pháp trong 3 ngày, hàng ngàn du kích do Bí thư Tỉnh uỷ chỉ huy phá hủy 2 đồn, phá hủy gần 10 km đường bộ, 14 cầu, ngăn sáu con sông, bóc đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho. Ngày 14 tháng 12 thực dân Pháp phải dùng thủy, lục, không quân 3 mũi tiến công vào Mỹ Tho nhưng mãi đến 14/1/1941 mới chiếm lại được và đẩy lui quân du kích vào Đồng Tháp Mười. Tháng 12 năm 1940, Đảng bộ Nam Kỳ họp ở Bà Quẹo quyết định rút lui để tránh tổn thất, đưa lực lượng còn lại xây dựng căn cứ U Minh và Đồng Tháp Mười. 

Hàng nghìn người bị giết và bị bắt, nhiều làng mạc bị triệt phá, nhiều lãnh đạo chủ chốt của Đảng Cộng sản Đông Dương như Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, nguyên Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Phan Đăng Lưu, Bí Thư Xứ uỷ Võ Văn Tần, Bí Thư Thành uỷ Nguyễn Thị Minh Khai bị tử hình. Còn Lê Duẩn thì bị kết án 10 năm tù và bị đày ra Côn Đảo. Cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa cuối cùng bị dập tắt. Lâu nhất là ở Mỹ Tho giữ được 49 ngày. (Trích Bách khoa toàn thư mở: Các chuyên đề liên quan).

(Hết Chương VIII)

   

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét