Chương XVIII: 14 BÀI VIẾT VỀ 3 CHÍNH QUYỀN: VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM, VÀ VIỆT NAM CỘNG HOÀ: 1968 - 1970.
(91 trang, 66.095 chữ)
CHÍNH QUYỀN MỘT
239. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tế Mậu Thân năm 1968.
240. Vây ép Căn cứ Cồn Tiên, và trộm lương thực của quân đội Mỹ: Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu ghi lại.
CHÍNH QUYỀN HAI
241. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, 3 Đợt Tổng tấn công… và Chính phủ Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam năm 1969.
CHÍNH QUYỀN BA
242. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Văn Lộc từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1968.
243. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Văn Lộc từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1968.
244. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Trần Văn Hương từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1968.
245. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Trần Văn Hương từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1968.
246. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Trần Văn Hương từ tháng 11 đến tháng 12 năm 1968.
247. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Trần Văn Hương từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1969.
248. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Trần Văn Hương từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1969.
249. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Trần Văn Hương từ tháng 5 đến tháng 6 năm 1969.
250. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Trần Văn Hương từ tháng 7 đến tháng 8 năm 1969.
251. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Trần Văn Hương từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1969.
252. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Trần Thiện Khiêm từ tháng 11 đến tháng 12 năm 1969.
CHÍNH QUYỀN MỘT
BÀI 239: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ, VÀ CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN NĂM 1968.
MỘT CÚ ĐẬP TUNG TOÉ KHẢ NĂNG CHÍNH TRỊ BUỘC MỸ PHẢI XUỐNG THANG CHIẾN TRANH ĐI VÀO ĐÀM PHÁN... Qua 3 năm chiến đấu trực tiếp với quân Mỹ, tuy vẫn đứng vững trên chiến trường và khiến quân Mỹ sa lầy, nhưng thương vong của quân Giải phóng cũng tăng lên, nếu cục diện này tiếp tục kéo dài thì không thể giành được thắng lợi quyết định. Để xoay chuyển tình thế tạo đột phá cho cuộc chiến tranh, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 nhằm tạo ra cái nhìn mới về cuộc chiến theo hướng có lợi cho mình, ("Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị" – Lê Duẩn) buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.
Cuộc tiến công đã đồng loạt nổ ra vào đêm 30 Tết Mậu Thân, tức ngày 30 tháng 1 năm 1968 trên khắp các đô thị miền Nam, và các căn cứ quân sự của đối phương. Hầu hết người Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng hòa của họ hoàn toàn bất ngờ và bị động trước cuộc tấn công này. Để khuếch đại tiếng vang đến mức tối đa, các lãnh đạo Quân Giải phóng đã lựa chọn phương án mạo hiểm nhất là đánh thẳng vào hậu phương của đối phương. Ngay đêm đầu tiên, lực lượng biệt động Sài Gòn đã nhằm vào các mục tiêu khó tin nhất trong thành phố: Toà Đại sứ Mỹ, Dinh Tổng thống, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất. Sau đó quân tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tiến công đã tạo bất ngờ lớn, gây chấn động dư luận thế giới cũng như gây tổn thất đáng kể cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.
QUÂN GIẢI PHÓNG ĐÃ MẮC PHẢI SAI LẦM TRONG KẾ KOẠCH… Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, quân Giải phóng cũng mắc phải những sai lầm trong kế hoạch tác chiến. Quân Giải phóng đã có những đánh giá không đúng với thực tế tình hình và duy ý chí, nhận định thấp về khả năng của đối phương và đánh giá quá cao khả năng của mình, nên Quân Giải phóng đã phải chịu thương vong lớn. Các chỉ huy địa phương của Quân Giải phóng miền Nam đã không tách bạch rõ đâu là “mục tiêu chính trị” của cuộc tiến công, và đâu là mục tiêu được phổ biến để “cổ vũ khí thế” chiến đấu. Mục tiêu thứ nhất là đánh lớn, gây tiếng vang hướng tới dư luận và chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, ngồi vào đàm phán. Còn khi phổ biến tuyên truyền để “cổ vũ khí thế” trong cán bộ binh sĩ, được coi trận "đánh dứt điểm" đối phương. Quân Giải phóng cũng đã không linh hoạt thay đổi tuỳ theo tình hình. Cho nên đã phát động tiếp đợt 2 vào tháng 5; đợt 3 vào tháng 8 khi mà kế hoạch đã bại lộ và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại bị tăng thêm.
Sau Tổng tiến công Mậu Thân, Quân Giải phóng bị đánh bật khỏi các đô thị. Các đơn vị quân sự chịu nhiều thương vong, nhiều lực lượng chính trị nằm vùng ở đô thị bị lộ và bị triệt phá. Do chịu quá nhiều thương vong, thậm chí đã có ý kiến trong giới lãnh đạo Quân Giải phóng đã cho giải tán các đơn vị cỡ sư đoàn, quay trở về lối đánh cấp trung đoàn trở xuống. Họ tránh giao chiến lớn tại miền Nam và rút lui về các chiến khu tại vùng nông thôn, miền núi hoặc đi ẩn náu tại bên kia biên giới Lào và Campuchia, phải tới năm 1970 lực lượng của họ mới hồi phục lại được, trong khi Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hoà lại có đủ thời gian bổ sung những thiệt hại trong năm 1968, đồng thời tiến hành các chiến dịch bình định nông thôn, đặc biệt là chiến dịch Phượng Hoàng nhằm triệt phá phong trào chính trị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ở nông thôn và thành thị.
Đó là cơ sở để giới quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa cho rằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã thất bại.Tuy nhiên, nhận định của Hoa Kỳ bị xem là quá lạc quan. Trên thực tế, phần lớn Quân giải phóng vẫn bảo toàn được lực lượng, vẫn là thành phần quan trọng trong cuộc chiến, vẫn kiểm soát đồng bằng sông Cửu Long. Mặt khác, Quân Giải phóng cũng có cơ sở để cho rằng Mậu Thân 1968 là một thắng lợi chiến lược trong chiến tranh của họ, bởi họ đã đạt mục tiêu đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có vị thế ngang với Việt Nam Cộng hòa, bắt buộc Mỹ phải xuống thang và bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Lực lượng quân Giải phóng bị suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn quân Mỹ một khi đã ra đi thì khó mà trở lại.
CHÍNH PHỦ MỸ BUỘC PHẢI XUỐNG THANG CHIẾN TRANH. Ngày 31 tháng 3 năm 1968, lần đầu tiên kể từ đầu cuộc chiến, chính phủ Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh. Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh. Tất cả những điều trên tạo cơ sở cho Quân Giải phóng thấy rằng họ đã đạt được mục tiêu đề ra của cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 cho dù phải hy sinh nhiều lực lượng. Tổn thất về lực lượng đã được bù đắp bằng thắng lợi quan trọng hơn ở tầm chiến lược, bởi nó tác động toàn diện đến tình hình quân sự, chính trị, tâm lý xã hội, chiến lược chiến tranh của cả nước Mỹ. Tại mặt trận Khe Sanh, sau 170 ngày đêm chiến đấu, Chiến dịch đường 9 Khe Sanh đã kết thúc thắng lợi, buộc quân Mỹ phải rút khỏi căn cứ quân sự này.
Về mặt chiến lược, kế hoạch xây dựng Hàng rào Điện tử McNamara nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ coi như phá sản. Quân Giải phóng miền Nam nhanh chóng tận dụng kết quả thu được: từ cuối năm 1968, thêm một tuyến đường Trường Sơn được mở, thường gọi là đường Trường Sơn đông để phân biệt với các tuyến ở phía Tây. So với các tuyến phía Tây, đường Trường Sơn đông ngắn hơn và ít khúc khuỷu hơn, nên việc đưa hàng hóa và bộ đội vào miền Nam nhanh hơn đáng kể. Đến năm 1969, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng cường đưa quân vào đồng bằng sông Cửu Long để chi viện cho lực lượng bộ đội địa phương bị thương vong nhiều trong Tết Mậu Thân, khiến bộ đội hành quân vào từ miền Bắc đóng vai trò quan trọng hơn tại khu vực này. Bằng chiến dịch Mậu Thân, Quân Giải phóng đã tạo ra bước ngoặt quan trọng cho cả cuộc chiến, đưa họ gần hơn tới chiến thắng chung cuộc.
Mùa hè năm 1969, tại quần đảo Hawaii, Tổng thống Mỹ mới đắc cử Richard Nixon gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để bàn về việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam dưới tên gọi là “Việt Nam hóa chiến tranh”.
BÀI 240: VÂY ÉP CĂN CỨ CỒN TIÊN, VÀ TRỘM LƯƠNG THỰC CỦA QUÂN ĐỘI MỸ: THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN HUY HIỆU GHI LẠI.
Ngày 13/3/68, sau trận chiến đấu tại làng Phúc Sa, Chính trị viên Cù Huy Đường, và Trung đội trưởng Nguyễn Văn Chấp đã anh dũng hy sinh. Tôi được Tiểu đoàn giao nhiệm vụ thay anh Chấp chỉ huy Trung đội. Ngày 1 tháng 5 năm 1968, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 ra lệnh cho Trung đoàn 27 vây lại căn cứ Cồn Tiên. Ban chỉ huy đại đội sau khi cân nhắc đã quyết định chọn trung đội của tôi thực hiện vây ép Cồn Tiên. Nhiệm vụ của trung đội là vừa đánh địch gây tiếng nổ, vừa bảo vệ tổ bắn tỉa được bố trí cách căn cứ Cồn Tiên khoảng 1 ki-lô-mét. Trung đội 25 người gồm cả tổ thông tin vô tuyến điện. Sau khi xây dựng công sự, hầm hào chiến đấu thực hành vây ép, trên sẽ tăng cường một tổ bắn tỉa từ Hà Nội vào, ngày nào cũng phải nổ súng.
CỒN TIÊN LÀ CĂN CỨ QUÂN SỰ MẠNH CỦA MỸ. Cồn Tiên là cao điểm 158 mét so với mặt nước biển. Mặt đồi khá bằng phẳng. Đứng ở Cồn Tiên có thể quan sát một khu vực rộng lớn, thậm chí nhìn ra tận bắc sông Bến Hải. Do vị trí quan trọng của nó nên quân Mỹ đã xây dựng Cồn Tiên thành căn cứ quân sự mạnh, có lô cốt bê tông cốt thép xen lẫn hầm lát bằng những tấm ghi và xếp những bao cát. Trong căn cứ có một tiểu đoàn lính Mỹ và một đại đội pháo 105 ly. Quanh căn cứ chúng bố trí chín lớp hàng rào dây kẽm gai, với nhiều loại mìn giữa các lớp rào. Cồn Tiên đã bị quân ta vây đánh nhiều lần nên địch rất cảnh giác. Tối ngày 8 tháng 5 năm 1968, Trung đội 3 do tôi làm trung đội trưởng được lệnh xuất kích. Trang bị ngoài súng đạn, gạo, lương khô, bông băng cá nhân, chúng tôi còn phải mang mìn định hướng, bộc phá ống, cuốc xẻng.
Khoảng 21 giờ thì đến Cồn Tiên. Xung quanh căn cứ pháo phát quang dọn sát hàng rào. Tôi phân công ba người đào một hầm khoét xuống lòng đất rồi đào hàm ếch vào sâu đủ khoảng rộng để nằm nghỉ trong đó. Riêng tiểu đội bảo vệ tổ bắn tỉa thì ra bờ suối Lăng Gô, cách hàng rào thứ nhất khoảng 1 ki-lô-mét, cũng đào hầm hàm ếch. Cả ngày anh em chúng tôi nằm dưới hầm. Trời tối tôi dẫn hai chiến sĩ dùng mìn định hướng và bộc phá ống vòng lên phía tây căn cứ phá rào để địch tưởng ta tiến công thật. Đánh xong, đợi im tiếng pháo anh em lại về hầm. Máy bay trực thăng vũ trang, máy bay trinh sát OV10, L19 quần lượn suốt ngày, chỗ nào chúng nghi ngờ có quân ta là phóng rốc-két. Sáng ngày 10 tháng 5 năm 1968, tôi điện báo cáo cho tiểu đoàn đưa tổ bắn tỉa vào chiến đấu. Tôi cử hai chiến sĩ hoạt bát ra đón tổ bắn tỉa.
ĐÀO CÔNG SỰ DƯỚI CÁC BỤI TRE ĐÃ BỊ BOM CHÁY RỤI. Tối hôm sau, năm chiến sĩ bắn tỉa với năm cây súng trường Hung-ga-ri đã vào vị trí ở suối Lăng Gô. Tôi nói với anh em: Xung quanh căn cứ địch không còn một cây cỏ, các cậu phải lợi dụng những bụi tre đã bị bom cháy rụi đào công sự dưới đó, rồi ngụy trang bằng than, tro để địch không phát hiện được. Phải chuẩn bị nhiều điểm bắn. Bắn xong phải di chuyển ngay. Anh em có ý kiến gì không? Mọi người đều nhất trí với ý kiến của tôi. Anh em tiểu đội bảo vệ và các chiến sĩ tổ bắn tỉa đã đào hầm dưới những bụi tre hóa, những chiếc hầm này thật vững chắc. Pháo bắn trúng cũng không thể phá được. Ngày đầu tiên tổ bắn tỉa ra quân đã thu được thắng lợi. Gần chục tên Mỹ đã trúng đạn bắn tỉa. Bọn địch không biết đạn từ đâu bay đến làm gần chục tên lăn ra chết.
Chúng rất hoang mang. Thế là chúng tập trung pháo cối bắn như vãi đạn. Tổ bắn tỉa hoạt động có hiệu quả. Cứ tên địch nào ngóc đầu lên là anh em tiêu diệt. Các chốt vây ép của ta là chốt cơ động. Nếu ở cố định một chỗ thì trước sau gì địch cũng phát hiện ra. Đến ngày 12 tháng 5 năm 1968, tôi bàn với anh em luồn sâu vào hàng rào thứ 5 căn cứ Cồn Tiên. Chúng tôi gỡ được 31 quả mìn các loại trong khu dự kiến xây dựng công sự hầm hào và tổ chức trận địa chết ở trong đó. Rất may là ở hàng rào có dù pháo sáng do chúng bắn ra, cả dù từ máy bay thả xuống phủ gần như kín những gốc cây, hàng rào, kín cả khu vực.
ĐỊCH ĐÃ GIÚP TA GIỮ BÍ MẬT. Dù trắng và cả màu đỏ loại 18 chéo. Tôi cho rằng không có ngụy trang nào hay như ngụy trang bằng dù của Mỹ. Địch đã "giúp" ta giữ bí mật, quả là "gậy ông đập lưng ông". Hầm nằm dưới dù vừa mát vừa kín đáo. Khi đào hầm hàm ếch, đất được cho vào ba lô rồi đổ rải ra những hố bom, hố pháo địch vừa bắn gần đó. Chuyến cuối cùng chúng tôi phải đi giật lùi, chỗ đất đỏ thì ngụy trang đất đỏ, chỗ lá khô thì rải lá khô để che mắt địch. Dưới mỗi cái dù là ba người. Chúng tôi lấy hòm gỗ do máy bay địch thả xuống ghép lại thành những căn hầm kiên cố, có thể ngủ nghỉ thoải mái. Hàng ngày địch tung thám báo và xe tăng đi tuần ở ngoài hàng rào. Chúng đâu biết rằng ở trong hàng rào lại có Quân giải phóng.
Tối nào chúng tôi cũng đánh mìn, đánh bộc phá, tập kích quân địch, vừa tiêu hao sinh lực, vừa gây tiếng nổ làm cho địch trong căn cứ ăn không ngon, ngủ không yên, luôn trong trạng thái lo nơm nớp. 20 ngày đầu, tổ bắn tỉa diệt được rất nhiều tính Mỹ. Bọn địch rút kinh nghiệm vừa đánh phá ác liệt vừa thực hiện nghi binh, giơ hình nộm đội mũ sắt để lừa ta, từ đó phát hiện các tổ bắn tỉa. Địch dùng máy bay bắn rốc-két, dùng pháo cối bắn tập trung vào một khu vực. Một số anh em trong tổ bắn tỉa hy sinh, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 cho lệnh rút tổ bắn tỉa ra ngoài củng cố. Tiểu đội bảo vệ tổ bắn tỉa trở lại đội hình của trung đội. Mấy ngày sau địch mở cuộc càn ra khu vực tổ bắn tỉa đã từng trú ẩn, phá các hầm hố, hào giao thông.
ĐÃ 52 NGÀY VÂY ÉP CỒN TIÊN, KHÔNG TẮM RỮA, SỨC KHOẺ… Tính đến ngày 30 tháng 6 năm 1968, trung đội tôi đã vây ép căn cứ Cồn Tiên 52 ngày đêm, giam chân một lực lượng lớn quân địch trong căn cứ, làm cho chúng căng thẳng, tinh thần bạc nhược. Đây cũng là một hình thức chi viện kịp thời nhất, hiệu quả nhất đối với các đơn vị bạn. Mỹ - ngụy không thể tập trung quân lớn để giải tỏa cho hướng Khe Sanh, Làng Vây. Nắm rõ hoàn cảnh khó khăn của anh em, đã gần hai tháng không tắm rửa, sức khỏe giảm sút, Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định cho chúng tôi rút ra cứ củng cố rồi vào đánh tiếp. Tối hôm chúng tôi rút, địch cho xe M113 và một trung đội Mỹ ra phục hướng tây bắc. Tôi bảo anh em không đánh mìn và bộc phá nữa mà bí mật hành quân rút ra hướng tây bắc về căn cứ cho gần. Theo đường xe tăng đi ra, chúng tôi phát hiện địch trước mặt.
Tôi quyết định đánh từ phía sau quân địch để mở đường. Địch hoàn toàn bất ngờ vì chúng tôi từ trong căn cứ địch đi ra. Tôi lấy khẩu B40 của một chiến sĩ và nói với hai chiến sĩ B40 còn lại: "Khi tôi bắn vào chiếc xe M113 các cậu cũng nhằm vào hai xe còn lại mà bắn nhé!". Nói rồi tôi giương khẩu B40 nhằm chiếc xe bóp cò. Một tiếng nổ lớn kèm theo là chớp lửa trùm lên chiếc M113. Hai chiến sĩ B40 cũng bắn hai quả đạn nữa vào hai chiếc xe M113 còn lại. Cả trung đội tập trung AK, lựu đạn, thủ pháo tiến công quân địch. Sau 15 phút chiến đấu trung đội tôi tiêu diệt hoàn toàn trung đội Mỹ, bắn cháy ba xe M113. Tôi lệnh cho anh em còn bao nhiêu mìn, bộc phá dùng phá rào bằng hết. Trận đánh kết thúc khoảng 12 giờ đêm. Cả trung đội an toàn.
Sau trận đánh xuất sắc đó tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và được chỉ định làm đại đội trưởng thay anh Tiến vì anh Tiến bị thương. Tuy thất bại phải rút khỏi Khe Sanh, nhưng quân địch tập trung lực lượng phản kích điên cuồng gây cho ta nhiều khó khăn: quân số thiếu hụt, lương thực, vũ khí, đạn dược đều thiếu, quần chúng bị địch khủng bố triền miên phong trào lắng dần.
TRỘM LƯƠNG THỰC CỦA MỸ TẠI CAO ĐIỂM 710. Đến tháng 8 năm 1968, các đơn vị chủ lực của ta bị đánh bật ra khỏi đồng bằng. Sau khi bộ đội chủ lực rút lên vùng rừng núi để củng cố, thì Trung đoàn 27 cùng bộ đội địa phương của tỉnh và du kích bám địa bàn tiệp tục chiến đấu để chiến trường lúc nào cũng có tiếng súng. Chúng tôi lợi dụng lúc mưa lũ để hành quân, vận tải tránh thương vong, chúng tôi cũng lợi dụng lúc trời nổi cơn giông để đưa bộ đội tiềm nhập. Trong mưa gió, người chiến sĩ chiến đấu tuy có vất vả hơn nhiều, song đó lại là những đòn bất ngờ giáng xuống đầu quân địch… Những ngày cuối năm 1968, tình hình càng trở nên khó khăn, việc tiếp tế từ hậu phương vào bị cản trở do gặp phải nước lũ các sông, suối ở bắc Quảng Trị và bị địch đánh phá. Có kẻ bạc nhược, đầu hàng địch đã khai báo việc ta cho gạo vào bao nylon thả từ đầu nguồn sông Ba Lòng, các đơn vị ở dọc bờ sông cứ thế mà vớt.
Thế là bọn địch cho máy bay trực thăng cán gáo bay dọc sông, cứ thấy bao gạo nổi là bắn làm nguồn tiếp tế duy nhất trên sông của bộ đội ta bị gián đoạn. Trước tình hình đó, Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 của tôi căng óc nghĩ các phương án làm thế nào để có lương thực, thực phẩm nuôi cả trăm con người, trong đó có gần sáu mươi thương binh. Tôi bàn với ban chỉ huy, cử tổ trinh sát ba người và năm chiến sĩ khỏe, hoạt bát lên cao điểm 710, nơi địch vừa đổ quân và hàng hóa xuống để moi nguồn lương thực, thực phẩm. Hôm đầu anh em mò vào kho quân lương của địch lấy được tám gùi hàng, có cả thịt hộp, thuốc lá. Ba đêm sau, cũng phương thức như vậy anh em lấy được 24 gùi nữa. Đêm thứ năm, khi đã cho thịt hộp vào gùi, trên đường ra bất ngờ anh em gặp tên Mỹ đi tuần tra, nó kêu: Vi xi! Vi xi! Vi xi! Thế là anh em đeo cả ba lô lăn xuống dốc. Đến lưng chừng anh em vướng vào mấy bụi chuối rừng mắc lại. Không ai việc gì. Địch cho pháo bắn một hồi lâu dọc theo khe suối rồi thôi.
SỐ LƯƠNG THỰC TRỘM ĐƯỢC NUÔI CẢ ĐẠI ĐỘI GẦN 1 THÁNG. Cả đại đội lấy rau môn thục, rau tàu bay, rau dớn, rau sam đá về nấu với thịt hộp. Mỗi nồi anh em còn cho thêm một bánh lương khô. Thế là bằng số thực phẩm lấy được của địch, anh em cũng nuôi nhau được gần một tháng cho đến khi Mặt trận cử chín trinh sát mang theo gạo vào Đại đội 2. (Trích Sách Một thời Quảng Trị, của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, NXB Quân đội Nhân dân, 2008).
CHÍNH QUYỀN HAI
Bài 241: MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, 3 ĐỢT TỔNG TẤN CÔNG… VÀ CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM: 1969.
Sách lịch sử miền Bắc viết: Trung ương Đảng ta, tại Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 12-1967) và Hội nghị toàn thể ban Chấp hành lần thứ 14 (tháng 1-1968), thông báo quyết định lịch sử: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kì mới, thời kì giành thắng lợi quyết định.” Nghị quyết của Đảng còn chỉ rõ: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích-tổng khởi nghĩa (TCK/TKN) để giành thắng lợi quyết định”. Chiến dịch TCK/TKN chia làm 3 đợt:
ĐỢT 1: Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền (B2) quyết định thành lập hai Bộ Tư lệnh Tiền phương (BTL/TP): BTL/TP ở cánh Bắc gồm các hướng Bắc, Tây Bắc và Đông thành phố Sài Gòn do Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh phụ trách; Và BTL/TP ở cánh Nam: gồm các hướng phía Nam, Tây Nam, các lực lượng biệt động ở nội thành Sài Gòn, do Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng phụ trách. Ở Quân khu 5, Võ Chí Công làm Bí thư Quân khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu, Chu Huy Mân làm Tư lệnh. Ở mặt trận Huế. Trung ương chỉ định Lê Minh làm Chỉ huy trưởng, Lê Chưởng làm Chính ủy. Lưu ý, lúc này Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Văn Quang là Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Ở mặt trận Đường 9 – Bắc Quảng Trị do Trần Quý Hai, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.
Theo kế hoạch, chiến dịch TCK/TKN được phát động vào nửa đêm ngày 31.1.1968 tức vào giờ Giao thừa mồng Một Tết Mậu Thân, nhưng do việc Hà Nội thay đổi âm lịch sớm hơn một ngày từ tháng Tám 1967 nên cuộc tấn công diễn ra không đồng loạt ở nhiều nơi. Tại Đà Nẵng, Hội An, Qui Nhơn, Nha Trang, Kontum, Pleiku và Ban-mê-thuột, cuộc tấn công bắt đầu vào 00:15 ngày 30.1.68. Hai mươi bốn giờ sau, Sài-gòn, Huế và các thành phố, tỉnh và thị trấn khác trên toàn lãnh thổ miền Nam mới bị tấn công. Thủ đô Sài gòn và cố đô Huế là hai địa điểm chính cần được chiếm đóng mau chóng để làm cơ sở cho cuộc “tổng nổi dậy” của dân chúng phá đổ “ngụy quyền” và đón mừng đoàn quân giải phóng.
TRỪ HUẾ VÀ CHỢ LỚN CÁC NƠI KHÁC BỊ ĐẨY LUI SAU VÀI NGÀY. Tuy nhiên, trừ Huế và Chợ Lớn, mọi cuộc tấn công vào Sài gòn và các nơi khác đều bị đẩy lui chỉ sau vài ngày tác chiến. Trận công kích Sài gòn bị thất bại mau chóng, QGP không lọt được vào Dinh Độc lập, toán tấn công Đại Sứ quán Mỹ thì bị tiêu diệt khi mới lọt vào sân trước. Những toán quân đã lọt vào thành phố không liên lạc được với nhau và bị tiêu diệt hay phải rút lui vào Chợ Lớn. Tại Chợ Lớn, QGP chiếm được truờng đua ngựa Phú Thọ làm trung tâm chỉ huy các cuộc chiến đấu với các lực lượng phòng vệ thủ đô, nhưng đến ngày 7 tháng Ba cũng phải bỏ chạy. Mặt trận ở Huế diễn ra ác liệt nhất. Chỉ trong vài ngày đầu tiên, cố đô đã bị QGP chiếm gần hết. Quân đội VNCH và Hoa Kỳ phải chiến đấu rất khó khăn để giành lại từng căn nhà, từng góc phố như hình ảnh chiến tranh trong các thành phố ở châu Âu thời đệ nhị Thế chiến. Ngày 25 tháng Hai, sau khi QGP hoàn toàn rút khỏi Huế, thành phố đã bị phá hủy gần một nửa, 116,000 người trong tổng số trên 140,000 dân không có nơi trú ngụ.
ĐỢT 2 của cuộc tổng tiến công Mậu Thân (từ 5/5-13/6/68), các tiểu đoàn "cảm tử" của QGP thọc sâu trong thành phố, tiếp tục chiến đấu, gây một số thiệt hại nhất định cho Liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, QGP cả bộ đội chủ lực, lẫn bộ đội địa phương phải chiến đấu trong khi yếu tố bí mật không còn, Liên quân Việt-Mỹ tăng cường đối phó, khiến hầu hết các cuộc tấn công đều bị ngăn chặn, QGP phải chịu tổn thất lớn. Ngày 19 tháng 6 năm 1968, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh tổng động viên. Mỹ đưa thêm một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh hiện đại vào Nam Việt Nam để bù đắp số mất mát, hư hỏng, đồng thời thay thế một số chủng loại vũ khí cũ bằng vũ khí hiện đại hơn. Súng trường M 16 đã được trang bị cho tất cả các tiểu đoàn chính quy bộ binh, nhảy dù, biệt động, thủy quân lục chiến.
Trong tháng 7 và 8/1968, liên quân Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hoà đã thực hiện 1.929 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên, 156.000 phi xuất, trong đó B52 tiến hành 6.922 phi vụ oanh tạc miền Bắc. Về phía QGP, qua hai đợt tổng tiến công liên tục Tết và tháng 5 lực lượng vũ trang, vũ khí, đạn dược đã bị tổn thất nặng nề. Lực lượng bí mật ém trong nội thành, và phần lớn nơi cất giấu vũ khí, trang bị, chỗ đứng chân, dùng làm nơi xuất phát các cuộc tiến công đã bị lộ, hoặc bị đánh phá mất gần hết.
ĐỢT 3. Trong khi Bộ Tư lệnh Khu V đề nghị Trung ương Hà Nội cho mở tiếp đợt 3 tổng tiến công và nổi dậy thì cũng có nhiều nơi xin tạm dừng tiến công để xốc lại đội hình, bổ sung, củng cố lực lượng. Ngày 24 và 25/7/1968, Thường trực Quân uỷ Trung ương, gồm: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Trần Quý Hai, Hoàng Anh, Lê Trọng Tấn, họp bàn kế hoạch tấn công đợt 3, mục tiêu được xác định: chiến trường Sài Gòn, Gia Định và miền Đông Nam Bộ, Khu V là hướng trọng điểm, phối hợp là Quảng Đà. Nhưng, tại Sài Gòn, Chợ Lớn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Liên quân Viêt Nam Cộng hoà-Mỹ đang tập trung lực lượng tới 61 tiểu đoàn VNCH, 38 tiểu đoàn Mỹ, 4 tiểu đoàn quân các nước phụ thuộc Mỹ, tổng cộng 90.000 quân cùng lực lượng Địa phương quân tổ chức hệ thống phòng thủ bảo vệ Sài Gòn, chiều sâu khoảng 100 km.
Đứng trước tình hình này, Bộ Chính trị chuyển trọng tâm tiến công ra vòng ngoài, hướng chủ yếu là địa bàn hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long. Ngày 17/8/1968, Đợt 3/TCK chính thức mở màn. Sau gần 20 ngày, QGP liên tục giữ thế chủ động bằng các chiến thuật: phục kích, tập kích, đánh bồi, đánh nhồi vào các cụm quân, tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng và phương tiện chiến tranh của Mỹ, hoàn thành cơ bản các mục tiêu chiến dịch đặt ra. Ngày 28/9/1968, kết thúc giai đoạn 3, cũng là kết thúc toàn bộ chiến dịch Tổng công kích Mậu Thân. Các sư đoàn 5, 7, 9 chủ lực Miền và du kích Tây Ninh, Bình Long đã đánh 315 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 13 tiểu đoàn, 55 đại đôi, tiêu hao nặng 7 tiểu đoàn, lên tới 18.406 quân, phá huỷ 1.507 xe quân sự, 112 máy bay, 107 khẩu pháo, thu được 24 máy vô tuyến điện, 282 súng các loại.
TÌNH HÌNH QGP SAU BA ĐỢT TIẾN CÔNG NĂM 1968. Đến cuối năm 1968, sau ba giai đoạn tiến công liên tục quân số, vũ khí đạn dược của QGP đã cạn kiệt, những bộ phận còn lại của các đơn vị được lệnh rút lên các căn cứ để củng cố và bổ sung quân số. Nhưng để lên được căn cứ, cán bộ và chiến sĩ phải tiếp tục đột phá mở đường qua các tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn từ xa của Mỹ với chiều sâu hàng trăm km, nên lực lượng lại tiếp tục bị tiêu hao thêm. Tình hình chung sau sự kiện Tết Mậu Thân, QGP đã phải chịu tổn thất rất lớn, mất đi 1 thế hệ quân kháng chiến, mất đa phần khí tài chiến tranh, cũng như nhiều đơn vị du kích bị suy yếu trầm trọng. Một số đơn vị cấp sư đoàn, trung đoàn QGP phải phân tán tạm thời hoặc rút bộ chỉ huy khỏi địa bàn. Các đơn vị chính quy còn "sống sót" phải co cụm về căn cứ cũ cố thủ để bảo vệ các sở chỉ huy và đội cán bộ, trong khi các đơn vị ở vùng biên giới đều rút hẳn ra để bảo toàn lực lượng.
QGP phải mất một thời gian dài đưa thêm quân bổ sung từ miền Bắc vào để trám chỗ trống, hồi phục chậm chạp trong nhiều điều kiện ngặt nghèo. Thời gian năm 1969 quân đội Mỹ tiếp tục tăng cường quân số, Quân lực VNCH tuyển thêm lính và hồi phục lực lượng tương đối nhanh. Cán cân lực lượng trở nên bất lợi về phía QGP. Trung ương Cục miền Nam đã phải tổ chức lại chiến trường, và quyết định tái lập Khu 7 gồm phân khu 4, tỉnh Biên Hoà, Bà Rịa, Long Khánh và Đặc khu rừng Sác. Các quận nội thành Sài Gòn trước kia tách về các phân khu, nay nhập lại như cũ. Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục kiêm Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Miền Tây Nam Bộ cũng được tăng cường lãnh đạo chỉ huy. Võ Văn Kiệt được cử làm Bí thư Khu ủy, Lê Đức Anh làm Tư lệnh Quân khu 9. Tổng số quân Giải phóng thiệt hại trong năm 1968 là 113.295 gồm: 44.824 chết, bị thương 61.267, mất tích 4.511, bị bắt 912, đi lạc 1.265, đầu hàng 416.
NGUYÊN TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG LÊ KHẢ PHIÊU NHỚ LẠI. Hơn 40 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân, Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, tướng Lê Khả Phiêu lúc đó là chính uỷ kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, đơn vị chủ lực đánh vào thành Huế và giữ Huế 25 ngày, hồi tưởng: Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, chúng tôi ở chiến trường lao đao mất 2 năm rưỡi, đến năm 1971 ta mới có được những chuyền biến tích cực. Vinh quang có thật, tinh thần chiến đấu thì anh dũng tuyệt vời, nhưng đúng là có khó khăn. Giữ được Huế 25 ngày như thế đã là "ghê" lắm rồi. Khi rút ra ngoài, cả trung đoàn chỉ còn đúng 5 cân gạo. Nhìn lại diễn biến và kết quả của đợt 2 và đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Trung ương Đảng Lao động nhận định:
"Chúng ta đã mắc một số khuyết điểm, chủ quan trong việc đánh giá tình hình cho nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó, nhất là không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm ngay, nhằm đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời", nên để mất đất, mất dân, lực lượng vũ trang, cơ sở cách mạng và vật chất chiến tranh bị tổn thất nghiêm trọng, gây những khó khăn rất lớn cho phong trào đấu tranh năm 1969. Song, thắng lợi trong đợt 2 và 3 tổng tiến công và nổi dậy cũng rất lớn, buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom phá hoại miền Bắc, chấp nhận đoàn đại biểu của Mặt trân Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một trong bốn thành viên chính thức tham gia hoà đàm tại Paris.
TRẬN MẬU THÂN ĐÃ ĐEM LẠI CHO HÀ NỘI MỘT THẮNG LỢI LỚN. Tuy nhiên, trận Tết Mậu Thân đã đem lại cho Hà Nội một thắng lợi chính trị. Hình ảnh tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn bị tấn công cùng những cảnh tượng xung đột và xác chết nạn nhân được phơi bày trên màn ảnh truyền hình và báo chí mỗi ngày, kèm theo những lời bình luận chỉ trích chính quyền đã khiến cho uy tín của Tổng thống Johnson bị suy giảm trầm trọng. Sự bế tắc trong các nỗ lực chấm dứt chiến tranh bằng thương thuyết, cùng với những khó khăn trong nội bộ đã khiến Johnson phải quyết định rời bỏ chính trường. Ngày 25.3.68, nhóm cố vấn đặc biệt lại được triệu tập, nhưng lần này thì đa số đồng ý phải giải quyết cuộc chiến bằng thương thuyết vì không thể chặn được đường xâm nhập của Bắc Việt vào miền Nam và địch quân dù thiệt hại rất nặng vẫn có thể chiến đấu lâu dài.
Ngày 31/3/1968, Johnson lên đài truyền hình loan báo quyết định ngưng các cuộc tấn công trên lãnh thổ Bắc Việt, trừ khu vực phía dưới vĩ tuyến 20, và muốn mở cuộc hòa đàm với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). Cuối bài diễn văn, Johnson loan báo thêm một tin bất ngờ là ông sẽ không ứng cử và cũng không chấp nhận Đảng Dân chủ đề cử ông tái tranh cử Tổng thống vào tháng Mười Một. Ngày 3/4/68, Việt Nam Dân chủ Công hoà (VNDCCH) cho biết sẵn sàng nói chuyện với Hoa Kỳ. Hôm sau 4/4/68, các Đại sứ của sáu quốc gia đồng minh (Hoa Kỳ, Đại Hàn, Thái Lan, Phi-líp-pin, Úc và Tân Tây-Lan) được mời đến họp tại Dinh Độc lập, đồng ý với Việt Nam Cộng hoà (VNCH) đưa ra Bản Thông cáo Chung “nhấn mạnh rằng những cuộc thương thuyết song phương giữa Washington và Hà Nội, không có sự tham dự của VNCH, sẽ chỉ có tính cách thăm dò.
HỘI NGHỊ PARIS MỸ-VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ. Ngày 2/5/68, sau gần một tháng tiếp xúc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ thỏa thuận lấy thành phố Paris làm nơi đàm phán. Ngày 13/5/68 Hội nghị Paris giữa phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ chính thức bắt đầu tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, phố Kléber. Mỹ cử Averell Harriman và Cypruc Vance, làm Trưởng và Phó đoàn. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có Xuân Thuỷ và Hà Văn Lâu làm Trưởng đoàn, Phó đoàn. Tại phiên họp đầu tiên này, Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra yêu cầu: Mỹ chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam, ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện. Phái đoàn Hoa Kỳ đưa ra đòi hỏi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải xuống thang; Và, rằng Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải cùng rút quân.
CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM. Ngày 21/4/1968, truyền thông Hà Nội loan tin một Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà Bình Việt Nam vừa được thành lập do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch. Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch, họp Đại hội Đại biểu bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn Chính phủ. THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Chủ tịch: Huỳnh Tấn Phát. Phó chủ tịch: Phùng Văn Cung, Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Đoá. Bộ trưởng Phủ chủ tịch: Trần Bửu Kiếm. Bộ trưởng Ngoại giao: Nguyễn Thị Bình. Bộ trưởng Nội vụ: Phùng Văn Cung. Bộ trưởng Kinh tế Tài chánh:Cao Văn Bổn. Bộ trưởng Thông tin Văn hoá: Lưu Hữu Phước. Bộ trưởng Giáo dục và Thanh niên: Nguyễn Văn Kiết. Bộ trưởng Thương binh Xã hội: Dương Quỳnh Hoa. Bộ trưởng Tư pháp: Trương Như Tảng.
Và, Thành viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ gồm: Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ. Phó chủ tịch: Trịnh Đình Thảo. Uỷ viên:Y-bih Alê-ô, Thích Đôn Hậu, Huỳnh Cương, Huỳnh Văn Trí, Nguyễn Công Phương, Võ Oanh, Lê Văn Giáp, Huỳnh Thanh Mừng, Phạm Ngọc Hùng, Lâm Văn Tết, Bà Nguyễn Đình Chi. Và, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình được Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cử Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam làm Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị bốn bên Paris thay Trần Bửu Kiếm.
CHÍNH QUYỀN BA
Bài 242: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN LỘC TỪ THÁNG 1 ĐẾN THÁNG 2 NĂM 1968.
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 4/1/68, tại trường Sĩ quan Trừ bi Thủ Đức, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố không bao giờ nhìn nhân Mặt Trận Giải phóng miền Nam (MTGPMN) và không có vấn đề thành lập một Chánh phủ Liên hiệp với Việt Cộng (VC). Ngày 24/1/68, TT Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc hội xác nhận lập trường đối với vấn đề hoà bình. Ngày 9/2/68, TT Nguyễn Văn Thiệu trình bày trước Lưỡng viện Quốc hội tình hình chiến sự và các biện pháp đối phó, đồng thời yêu cầu Quốc hội uỷ nhiệm cho chính phủ ban hành các biện pháp kinh tế tài chánh trong một năm. Ngày 14/2/68, TT Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu tiếp phái đoàn các giới để lãnh ý kiến về hiện tình xứ sở.
Ngày 22/2/68, Thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng được cử thay thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh làm Tư lệnh kiêm Đại biểu Chánh phủ Vùng IV Chiến thuật; Thiếu tướng Lữ Lan, thay thiếu tướng Vĩnh Lộc, làm Tư lịnh kiêm Đại biểu Chánh phủ Vùng II. Ngày 29/2/68, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trên đài Truyền hình: dẹp tan Mặt trận Liên hiệp Dân tộc Dân chủ Hòa bình, và Phong trào Nhân dân Cách mạng; lập Ủy ban đặc biệt tái thiết Huế; dùng 500 công chức trong một thời gian vào việc cứu trợ; lập một Hội đồng Cố vấn Quốc gia; mở lạc quyên trên toàn quốc từ 1/3 đến 1/1 năm 1969.
QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 4/1/68, Hạ nghị viện VNCH ra tuyên ngôn: không thừa nhận MTGPMN và không chấp nhận hình thức liên hiệp nào vời CS. Ngày 26/1/68, Tại Thượng Nghị Viện, hình thành 2 khối: Quốc Dân Xã do Huỳnh Văn Cao trưởng khối; và Công Nông Cách Mạng do Trần Văn Đôn trưởng khối. Ngày 3/2/68, Các chủ tịch Thượng và Hạ Nghị Viện lên án cuộc tấn công vi phạm hưu chiến, yêu cầu Chánh phủ áp dụng triệt để lịnh thiết quân luật, tái lập an ninh, cứu trợ nạn nhân, lập Ủy ban Hành pháp Lập phảp đối phó với tình thế tại Sài Gòn và Gia Định. Thiết lập Ủy ban cứu trợ nạn dân tại trung ương và các địa phương (SL 044/TT). Ngày 5/2/68, Hạ Nghị Viện tuyên cáo, xác nhận lập trường chống Cộng và chống mọi hình thức liên hiệp với Cộng sản, ủng hộ Hành pháp để tái lập an ninh, và kêu gọi giúp đỡ dân chúng. Ngày 19/2/68, Thượng Nghị viện biểu quyết tán thành lệnh thiết quân luật cùng các biện pháp bảo vệ an ninh và tái lâp trật tự.
CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN LỘC VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 11/1/68, ngành Thẩm phán tổ chức Đại hội toàn quốc tại Sài Gòn. Ngày 13/1/68, Đại hội Thẩm phán quyết nghị: đặt chánh sách nhân viên trên căn bản dân chủ, công bằng, kỷ luật; các tòa hòa giải rộng quyền thành tòa sơ thẩm. Cùng ngày 13/1/68, Đại hội chỉnh trang Đô thành quyết nghị: việc phát triển Đô thành phải được coi như quốc sách; cần xét lại việc xử dụng đất công; hạ tầng cơ sở phải thực hiện trước thượng tầng; cơ cấu công cộng phải thực hiện trước nhà ở; mỗi khu phố cần có đủ trường học, bệnh viện, chẩn y viện… Ngày 17/1/68, khai mạc hội thảo về vấn đề phát triển chỉ huy cao cấp tại Học viện Quốc gia Hành chánh. Ngày 19/1/68, Chánh phủ VNCH quyết định hưu chiến trong dịp Tết Nguyên đán 36 giờ kể từ 18 giờ ngày 29-1 đến 18 giờ ngày 31-1-68, MTGPMN tuyên bổ sẽ ngừng bắn 7 ngày.
Ngày 22/1/68, ký thỏa ước viện trợ Liên Hiệp Quốc để khuếch trương Trung tâm Kỹ thuật Phú Thọ thành Học viện Kỹ thuật. Ngày 26/1/68, Thông cáo của Tổng trấn Sài Gòn-Gia Đinh: đêm 29 và đêm 30-1-63, (tức đêm 29 (tháng thiếu 30)và mồng 1 Âm lịch) sẽ không có giới nghiêm tại Đô thành và Gia Định. Ngày 28/1/68, nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968, một bác sĩ và ba sĩ quan cầm đầu vụ biến cố miền Trung I966, được giảm từ 10 năm khổ sai hoặc tù, xuống 5 năm. Ngày 29/1/68, theo thông cáo từ Bộ Ngoại giao, lịnh ngừng bắn không thi hành tại vùng I Chiến thuật vì tình hình Khe Sanh, Quảng-Trị. Hội đồng Nội các nhóm họp; chánh phủ xác định tình trạng chiến tranh tuyên bổ ngày 24-6-65; lịnh giới nghiêm ban hành, cấm ra khỏi nhà từ 7 giờ tối đến 6 giờ sáng. Công chức nghỉ cho tới khi có lịnh mới, trừ những nhân viên ỵ tế, an ninh, thông tin v.v.
Ngày 5/2/68, hơn 2.500 cán bộ Xây dựng Nông thôn được triệu về Đô thành tham gia cứu trợ. Ngày 9/2/68, hôm nay, Bưu điện Sài Gòn mới nhận điện tín, thư tín, điện thoại.. v.v., và phi trường Tân Sơn Nhứt mới mở một vài đường bay quốc tế. Ngày 26/2/68, kể từ hôm nay, tại Đô thành, trong cả 9 Quận dân chúng được đi lại lừ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối. Ngày 29/2/68, Giá gạo nội địa do Tổng cuộc Tiếp tế bán ra: 2.250$ mỗi bao 100 kí; bay hạt dài, 2.100$ (gạo số 1).
CỘNG QUÂN TỔNG TẤN CÔNG TẾT MẬU THÂN 1968. Ngày 30/1/68, (Thứ Ba, mồng một Tết Nguyên đán Mậu Thân), đêm qua lúc giao thừa tại Đô thành, pháo nổ rất nhiều, trên khắp các ngả đuờng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định. Quá nửa đêm, sau giao thừa tại Cao Nguyên và Trung Phần, các tỉnh lỵ và thị xã Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Qui Nhơn, Nha-trang, Hội An bị tấn công và đột nhập ồ ạt. Phi trường Đà Nẵng cũng bị pháo kích. Nhân ngày Tết, báo chí không phát hành. Tin trên chỉ được biết qua lời hiệu triệu ngày 1-2-68, và được xác nhận trong bản thông điệp của TT Nguyễn Văn Thiệu ngày 9-2-68 như dưới đây: Đêm nay, VC pháo kích, đột nhập, tấn công vào Đô thành Sài Gòn và phụ cận, cùng 28 thị xã tỉnh lỵ hoặc căn cứ lớn trên toàn quốc: Biên Hòa, Long Bình, Hậu Nghĩa, Trảng Bàng, Bình Dương, Phước Tuy, Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Châu Đốc, Sóc Trăng, Rạch Giá, An Xuyên, Quang Trị, Huế, Phú Bùi, đèo Hải Vân, Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Darlac, Kontum, Pleiku v.v...
TẠI ĐÔ THÀNH VÀ GIA ĐỊNH. Quá nửa đêm, nhiều cơ sở bị tấn công: tòa Đại sứ Mỹ đường Thống Nhất; tòa Đại sứ Phi Luật Tân đường Trương Minh Giảng; dinh Độc Lập; trại Châu Văn Tiếp, Quang Trung; ngả tư Xa lộ và đường Hàng Xanh; bến Bạch Đằng, bộ Tư lịnh Hải quân; phi trường Tân Sơn Nhứt và trại Hoàng Hoa Thám; trường Sinh ngữ Quân đội; tiểu khu Gia Định; đài Phát thanh đường Phan Bình Phùng v.v. Tại tòa Đại sứ HK, 19 VC bị hạ; 5 binh sĩ Mỹ tử thương và 22 bị trọng thương chết tại bịnh viện, số bị thương lên tới 121. Tại tòa Đại sứ Phi Luật Tân, mìn nổ gây nhiều thiệt hại, Đại sứ và gia đình trốn thoát. Tai dinh Độc Lập, một toán VC toan đột nhập cổng Nguyen Du, nhưng bị đẩy lui, bỏ lại 4 xác, 5 súng và 1 xe vận tải chứa chất nổ, 2 VC bị bắt. Một toán khác cố thủ trong cao ốc góc đường Nguyễn Du và Thủ khoa Huân. Tại Quang Trung, 10 VC bị hạ có 1 Thượng úy, 3 bị bắt, 26 võ khí tịch thu.
Ngã tư Xa lộ và đường Hàng Xanh: kịch chiến suốt đêm sang ngày hôm nay. Một số VC bị hạ hoặc bị bắt, nhiều toán khác lẫn vào nhà dân chúng. Bến Bạch Đằng: 10 VC bị hạ, 2 bị bắt. Tân Sơn Nhứt, trường Sinh-ngữ, trại Hoàng Hoa Thám, nga lư Bà Quẹo: kịch chiên, chừng 200 VC tử thương, rất nhiều võ khí bị tịch thu. Đài Phát thanh đường Phan Bình Phùng: bị đột nhập Lừ 3 giờ sáng, kịch chiến từ 3 giờ 15. Một tiểu đoàn Nhảy Dù tới tiếp viện và tái chiếm trụ sở lúc hơn 4 giờ. Đến 9 giờ 45, VC bị tiêu diệt 14 xác tại chỗ, với một số lớn súng và mìn. 2 tiểu đoàn VC từ Sông Bé về đánh phi trường Tân Sơn Nhứt, bị các đơn vị Mỹ chặn đánh tại Hố Nai. 2 Trung tá Thiết giáp Sài Gòn và gia đình (mẹ, vợ và 2 con nhỏ) (vợ và 6 con nhỏ) đều bị sát hại, cùng 360 thân nhân binh sĩ. Ngoài ra, 400 thân nhân binh sĩ bị thương
TẠI CÁC TỈNH THÀNH KHÁC. Phi trường Biên Hòa bị 1 tiểu đoàn với trọng pháo tấn công nhiều đợt từ 3 giờ đêm đến 9 giờ sáng nay địch đã xâm nhập vào phi đạo nhưng bị đẩy lui, bỏ lại 114 xác; 25 bị bắt với một đại đội trưởng và một số súng cùng dụng cụ truyền tin. Châu Đốc bị xâm nhập, 1.200 nhà cháy, 200 thường dân chết. Đà Lạt bị xâm nhập, vài khu bị chiếm đóng. TẠI THÀNH PHỐ HUẾ. Thành phố Huế bị tấn công dữ dội từ 4 gíờ 45 sáng nay. Quân BV chiếm đóng khu Thành Nội. Nhiều súng cao xạ đặt trên nóc tòa Tỉnh trưởng Thừa Thỉên. Lao thất bị tấn công, hàng ngàn phạm nhân được thả. Cầu Bạch Hổ bị phá sập. (Thông điệp của TT Nguyễn Văn Thiệu, 9-2-68). Ngày 1/2/68 (3 tháng giêng Mậu Thân).
NẠN NHÂN, TỴ NẠN, VÀ CỘNG SẢN CHÁNH HỒI. Ngày 1/1/68, Tổng số người tỵ nạn Cộng sản (CS): 793.944.Ngày 4/2/68, từ ngày 31-1, đã có 2.107 người bị thương đưa tới các bệnh viện Đô thành. Hiện có 16.750 đồng bào tị nạn từ các khu hỗn chiến hoặc nguy hiểm tại Sài Gòn và Gia Định, và tạm trú trên 19 địa điểm. Ngày 6/2/68, Hôm nay, số nạn nhân tại Đô thành lên tới 85.494 người, tạm trú tại 59 nơi. Ngày 10/2, tại Đô thành, hiện có 21 địa điểm cứu trợ, với 50.767 người tị nạn tạm trú. Ngày 13/2/68, số dân tị nạn sau cuộc tổng tấn công, tại Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định là 221.008; tại các tỉnh 110.736. Ngày 14/2/68, các thị xã bị tàn phá nhiều nhất: Pleiku 50%, hơn 500 người chết, 11.000 tị nạn; Ban Mê Thuột 25%, khoảng 500 người chết, 20.000 tị-nạn; Vĩnh Long, 25% gần 14.000 tị nạn; Bến Tre 45%, non 1000 chết, 10.000 tị nạn; Huế 80%, 68.000 tị nạn.
Ngày 19/2/68, theo Bộ Xã hội, tổng số tị nạn trên toàn quốc lên tới 617.296 người. Có 5.274 người bị thiệt mạng, 8.681 bị thương, 39.694 nhà cháy. Tại Sàí Gòn Chợ Lớn: 140.516 người trong 81 nơi tạm trú; tại Gia-Định, 60.520 người trong 44 nơi. Ngày 22/2/68, Tổng nha cảnh sát ra thông cáo kêu những người đi lánh tạm trở về nhà. Khởi công xây cất khu tạm cư 15 mẫu giữa các đường Lê Thái Tổ, Pétrus Ký và Hùng Vương, Sài Gòn, 1.500 căn cho 30.000 người. Ngày 29/2/68, Số nạn nhân vụ Tổng tấn công trên toàn quốc: 699.785 người; 51.152 căn nhà bị cháy tại các tỉnh. Tại Sài Gòn 157.992 người trong 71 nơi tạm trú; tại Gia Định 68.391 người trong 43 nơi tạm trú. Cùng ngày 29/2/68, tới hôm nay, tổng số tiền quyên được: 63.160.050$. Chánh phủ Tây Đức giúp nạn nhân VN 1.250.000 Mỹ kim thực phẩm và các phẩm vật khác.
CỘNG SẢN VÀ HỐ CHÔN TẬP THỂ TẠI HUẾ. Ngày 11/2/68, theo Trung tá Phan Văn Khoa, Tỉnh trưởng Thừa Thiên, đã tìm thấy một hố lớn chôn trên 300 xác cảnh sát và công chức bị sát hại tại Huế. Ngày 26/2/68, theo Trung tá Phan Văn Khoa, Tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm Thị trưởng Huế, thiệt hại tại Huế, chưa kể quận tả ngạn sông Hương, có 3.976 thường dân chết, 1.909 bị thương, Số nhà cửa bị thiêu hủy lên tới 50%, 95% hay 100%. Ngày 28/2/68, TQLC tìm thấy tại Gia Hội, một hố chôn nhiều công chức bị sát hại.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 7/1/68, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William Bundy tuyên bố: BV có thể lợi dụng thời gian ngưng oanh tạc để hòa đàm. Ngày 15/1/68, Tòa Bạch ốc xác nhận: sẽ hỏi ý kiến Chánh phủ VNCH và các Đồng minh về mọi vấn đề liên quan đến cuộc điều đình chấm dứt chiến tranh. Ngày 20/1/68, TT Johnson cử Clark Clifford giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng thay McNamara được bầu làm chủ tịch Ngân hàng Thế giới. Ngày 21/1/68, Theo báo Washington, một hàng rào điện tử được thiết lập để ghi nhận sự chuyển quân BV qua Lào trên đường mòn Hồ Chí Minh, với kinh phí 750 triệu Mỹ kim. Ngày 2/2/68, Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker tuyên bố trên đài phát thanh, cải chính tin đồn Mỹ thỏa hiệp ngầm với VC để thiết lập một chánh phủ liên hiệp. Tổng thống Johnson tuyên bố: đã có đủ tài liệu của BV về những cuộc tấn công hiện nay.
Ngày 5/2/68, các cao cấp quân sự HK bảo đảm với TT Johnson: Khe Sanh sẽ và cần được bảo vệ hữu hiệu. Theo tuần báo Times, mỗi tướng Tư lịnh phải ký giấy xác nhận quan điểm. HK tăng cường lực lượng tại vùng biển Nhật Bản đề phòng cuộc xâm lăng Đại Hàn. Đã gửi tới vùng này 3 hàng không mẫu hạm với 100 phi cơ, và 20 chiến hạm. 70 khu trục và phóng phảo từ Nhật qua Đại Hàn. Ngày 7/2/68, Thượng nghị sĩ Fulbright đòi TT Johnson phải hỏi ý kiến Quốc hội việc leo thang chien tranh. Tại Dallas, TT Johnson tuyên bố: không lùi bước trước sức mạnh, phải đối phó, người tự do không từ chối trách nhiệm. Ngày 18/2/68, TT Johnson tiển chân các đơn vị Nhảy Dù và TQLC sang VN tại North Carolina và California, tuyên bố quân đội Mỹ sẵn sàng đổi phó với các cuộc tấn công mới. Ngày 12/2/68, Đại sứ Bunker trao cho TT Nguyễn Văn Thiệu ngân phiếu 25.000 Mỹ kim để cứu trợ nạn nhân các cuộc tấn công vừa qua.
QUAN HỆ VỚI ĐỒNG MINH CÓ QUÂN THAM CHIẾN.Ngày 14/2/68, hơn 10.500 quân HK sắp sang VN, đưa tổng số quân Mỹ lên 510.000.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 6/1/68, theo đài phát thanh Moscou, 10 chiếc tàu của Nga Sô đã chở trên 20.000 tấn hàng viện trợ cho Bắc Việt. Ngày 16/1/68, Mai Văn Bộ, Đại diện BV tại Ba Lê xác nhận: Mỹ phải ngưng oanh tạc và chấm dứt các hoạt động quân sự chống BV rồi mới có thể xét ngày và nơi hòa đàm. Ngày 17/1/68, theo Reuter, BV đặt mua tại Pháp hàng trăm xe đạp đặc biệt có thể đi trong rừng và tải thương binh.Có 117 phi vụ oanh tạc BV. THÁNG 2. Ngày 21/2/68, theo báo Pháp, BV lại đưa đề nghị mới về vấn đề hòa đàm: sẽ nói chuyện ngay 48 giờ sau khi Mỹ ngưng oanh tạc BV; sẽ ra lịnh ngưng bắn và rút một số đơn vị tác chiến khỏi miền Nam.
PHI CƠ MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 2/1/68, có 142 phi vu oanh tạc Bắc Việt (BV). Không chiến gần Hà Nội, 1 Mig 17 BV bị Phantom Mỹ bắn rớt Ngày 2/1, phi cơ Mỹ lại oanh tạc BV, 1 Mig BV bi hạ. Ngày 3/1/68, hơn 100 phi vụ oanh tạc ngoại ô Hà Nội, Hải Phòng và Kiến An, phá huỷ 5 vị trí SAM, 1 Phantom Mỹ bị bắn rớt. ngày 4/1, phi cơ Mỹ oanh tạc Vùng phụ cận Hà Nội, và Hải Phòng, 4 phi cơ Mỹ bị hạ; Ngày 5/1/68, có 101 phi vụ oanh tạc vùng ngoại ô Hà Nội, cầu Lạng Sơn, phi trường Kép. Ngày 6/1/68, có 81 phi vụ oanh tạc BV. ngày 7/1, phi trường Kép, và Hòa Lạc lại bị oanh tạc. Ngày 8/1/68, có 81 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/1/68, có 85 phi vụ oanh tạc BV nhắm vào phi trường Kép, và Yên Báy; Ngày 10/1/68, có 75 phi vụ oanh lạc BV BV nhắm vào Hòa Lạc, và Hòa Bình; Ngày 12/1/68, có 91 phi vụ oanh lạc BV. Ngày 13/1, phi cơ Mỹ oanh tạc Thái Nguyên;
Ngày 14/1/68, có 83 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/1/68, có 121 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/1/68, Hải Dương, và Hải Phòng bị oanh tạc; Ngày 18/1/68, có 112 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Bắc Giang, và vài nơi khác, 1 Mig bị hạ. Ngày 20/1/68, Hòn Gay, và Yên Báy bị oanh tạc; Ngày 21/1/68, có 100 phi vụ oanh tạc BV. ngày 22/1, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Dương; Ngày 22/1/68, có 75 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/1/68, có 53 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/1/68, có 59 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/1/68, có 69 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/1/68, có 60 phi vụ oanh tạc BV. Cùng ngày 27/1, tổng số phi cơ Mỹ bị tổn thất là 793 chiếc. Ngày 25/1/68, có 69 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/1/68, có 60 phi vụ oanh tạc BV.Ngày 6/2, phi cơ Mỹ oanh tạc Yên Báy, 1 Mig bị hạ. Ngày 11/2/68, Kép, và Phúc Yên bị oanh tạc. Ngày 12/2, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 1 Mig bị hạ. Ngày 14/2/68, Thái Nguyên, Phúc Yên, Hòa Lạc, và Cầu Đuống bị oanh tạc.
Ngày 16/2/68, phi cơ Mỹ liên tục oanh lạc BV. Ngày 18/2, phi cơ Mỹ oanh tạc Bái Thượng, Đồng Hới, Cát Bi, Phúc Yên, và Yên Báy. Ngày 20/2/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc Vinh, Đồng Hới, Thanh Hoá. Ngày 22/2, Đài phát thanh Hà Nội bị oanh tạc. Ngày 26/2/68, phi cơ Mỹ oanh tạc ga Hải Phòng. Ngày 27/2/68, Ga Hải Phòng lại bị oanh tạc. Ngày 29/2, phi cơ Mỹ oanh tạc Ngoại ô Hà Nội.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH VÀ GIA ĐỊNH. Ngày 1/2/68 (mồng 3 tháng giêng Mậu Thân), Khu chùa Ấn Quang, Nguyễn Tri Phương, Trần Quốc Toãn nối dài, Phú Thọ, Minh Mạng đều bị xâm nhập do nhiều toán VC mới về lẫn vào nhà dân chúng. Theo thông cáo, thì tính đến 10 giờ sáng nay, 3.237 VC tử thương, 499 bị bắt, 1.156 súng bị tịch thu trên toàn quốc; phía VNCH: 348 tử thương vẫn giao tranh lại khu Quang Trung, Hàng Xanh, Phú Thọ, Nguyễn Tri Phương, khu Nguyẽn Kim, đường Trần Quốc Toản, Sài-Gòn. Tại Sài Gòn, sau nhiều lần tấn công, cảnh sát đã chiếm lại được cao ốc góc đường Nguyễn Du - Thủ khoa Huân, lúc 1 giờ trưa. Khu phi trường Tân Sơn Nhứt bị 3 tiểu đoàn VC tấn công từ 31-1 được hoàn toàn giải vây. Khu trại Cổ Loa, Gò Vấp được giải vây, sau 3 ngày đêm kịch chiến.
Ngày 2/2/68, tại Đô thành, từ 1 giờ sáng nay, BĐQ đẩy lui VC khỏi cầu Xa lộ và giải thoát 4.000 dân. Khu chùa Ấn Quang bị cháy. 2 trái hỏa tiễn B-40 rơi trúng phòng Thượng tọa Thích Trí Quang. Một tướng và một thượng tá VC tử thương: có tin hành doanh của bộ Chỉ huy VC đặt tại chùa này. Một toán VC chiếm đóng bệnh viện Nhi đồng, gốc đường Lý Thái Tổ và Sư Vạn Hạnh, Sài Gòn. Kịch chiến tiếp tục tại nhiều tỉnh lỵ: Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, Phước Tuy, Bạc Liêu, và Châu Đốc. Tại Quảng Trị, TQLC Mỹ hạ 448 VC. Ngày 3/2/68, tai Đô thành, khu Hàng Xanh, 245 xác VC bỏ lại với 14 súng. Nhiều nhà bị cháy. Dân chúng được đi lại từ 8 giờ sáng đến 2 giờ trưa. Cũng ngày 3/2/68, tại Gia Định, vẫn giới nghiêm suốt ngày đêm. Kịch chiến tiểp tục tại Hố Nai. Tại quận lỵ Thủ Đức, 1 tiểu đoàn TQLC giao tranh với 2 tiểu đoàn VC. Trại Cổ Loa, Gò Vẩp lại bị tấn công.
Ngày 5/2/68, TQLC và Cảnh sát bao vây khu vực Phan Bình Phùng, Phan Thanh Giản, Lý Thái Tố và Minh Mạng. Nhiều nhà cháy. 3 tiều đoàn TQLC hành quân tảo thanh ở ven Đô thành, vùng Bình Hòa, Xa Lộ, Hàng Xanh. Chi khu cảnh sát Phạm Thế Hiển Chợ Lớn, bót cảnh sát Bình Hòa, đồn Địa phương quân quận 5 Đô thành bị tấn công. Ngày 6/2/68, các khu Lê Đại Hành, trường đua Phú Thọ; Chi cảnh sát Nguyễn Văn Liêng, chi Cảnh sát Nguyễn Văn Thoại, Cảnh sát đường Trần Quốc Toản, Hậu Giang, Phú Đinh bị tấn công. Một trung đội VC bị vây gần bịnh viện Chợ Rẫy, Chợ Lớn, một sổ nhà bị cháy. Giao tranh gần Hóc Môn. Ngày 7/2/68, sau hai đêm một ngày giao tranh tại Xóm Mới và Gò Vấp, chiến đoàn 3 Nhảy Dù đánh lui 3 tiểu đoàn VC, hạ 271. Có tới 17 vụ Cộng quân pháo kích, đột kích, vv. tại quận 5, quận 6, phía Chợ Lớn. Ngày 8/2/68, các báo hôm nay đang tin cảnh sát Quốc gia đã bắt trọn bộ chỉ huy VC cuộc tấn công Đô thành, tại tiệm phở Bình số 7 đường Yên Đỗ, Sài Gòn.
Ngày 9/2/68, Một tiểu đoàn VC tấn công vào phi trường Tân Sơn Nhất, bi đẩy lui. Tại Sài Gòn, quân đôi bao vây khu Nguyễn Tri Phương, Sư Vạn Hạnh, nhiều địa điểm thuộc Chợ Lớn, Thủ Đức, Gò Vấp thanh toán các toán VC còn lại. Kịch chiến nhiều ngày liền quanh căn cứ Khe Sanh. Ngày 10/2/68, hành quân tảo thanh đuờng Trần Quốc Toản, Nguyễn Văn Thoại, một số nhà bị cháy ở dường Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương. Tỉnh lỵ Bạc Liêu bị đột nhập, hơn 1.000 căn nhà bị đốt cháy. Ngày 12/2/68, giao tranh từ quá nửa đêm qua, tại Phú Lâm. Tình hình Đô thành lắng dịu. Ngày 13/2/68, theo Bộ thông tin, tướng Trần Độ có thể đã bị hạ tại Chợ Lớn. Ngày 14/2/68, tổng số thiệt hại từ ngày tổng tấn công tới hôm nay: VC+BV: chết 32.904; bị bắt 6.440; mất súng 9.095. VNCH: chết 2.357; mất tích 500; mất súng 1.359. Hoa Kỳ: chết 1.113; mất tích 14; mất súng không ghi nhận.
Ngày 16/2/68, một số VC cùng võ khí bị bắt tại Thị Nghè, Hàng Xanh, Ngã Bảy, Hạnh Thông Tây, Gò Vấp vv. Ngày 17/2/68, một hầm bí mật bị khám phá gần Tổng y viện Cộng Hoà, Gò Vấp. 3 quan tài mới được đào lên tại nghĩa địa Đô thành đường Mạc Đĩnh Chi không chứa hài cốt, lại có nhiều võ khí. Quá 22 giờ ngày 17/2/68, phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích. Chi cảnh sát Tân Định, đường Trần Quang Khải, Sài Gòn bị tấn công. Ngày 18/2/68, quá nửa đêm, VC pháo kích phi trường Tân Sơn Nhứt. Nha cảnh sát Đô thành, Kho dầu Gò Vấp, Trường Bộ binh Thủ Đức, nhà biến điện Thủ Đức, dài Radar Phú Lâm cũng bị pháo kích. 2 tiểu đoàn chính qui BV tấn công tiểu đoàn 3 TQLC tại cầu Bình Lợi. Cũng quá nửa đêm 18/2/68, Nha cảnh sát Đô thành và nhà đèn Chợ Quán lại bị pháo kích. Ngày 19/2/68, một đội VC lại tấn công lực lượng canh gác Bình Lợi. Một đội VC khác tấn công đồn Cảnh sát Bà Điểm.
Ngày 20/2/68, kịch chiến tại khu Phú Thọ Hòa, Bình Thới. Lúc 2 giờ 30 hơn 2 tiểu đoàn VC tấn công BĐQ tại Bà Tiêu, Phú Định. Kịch chiến gần Thủ Đức. Kịch chiến tại Phú Thọ Hòa. Có tới 10 vụ pháo kích, đột kích, phá hoại tại Chợ Lớn, Gia Định, Thủ Đức, phi trường Tân Sơn Nhứt. Cũng ngày 20/2/68, Bảy (7) VC gồm 3 sĩ quan và 4 binh sĩ qui chánh, trình diện báo giới tại Trung tâm Quốc gia Báo chí, Sài Gòn. Ngày 21/2, kịch chiến tiếp tục gần Thủ Đức. Ngày 25/2/68, tại Sài Gòn, 1 tiểu đoàn VC tiến vào sát phi trường Tân Sơn Nhứt bị Nhảy dù chận đánh. Giao tranh cấp tiểu đoàn gần Hóc Môn. Ngày 27/2/68, quá nửa đêm qua, VC pháo kích vào 5 nơi tại Sài Gòn và Gia Định. Phi trường Tân Sơn Nhứt bị trúng 3 hỏa tiễn và 4 đạn đại bác 122 ly. Ngày 28/2/68, phi trường Tân Sơn Nhứt lại bị pháo kích; trường Bộ binh Thủ Dức cũng bị trúng 30 đạn súng cối.
CHIẾN SỰ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ. Ngày 15/1/68, hành quân Lam Sơn 179 phía Tây Nam Huế. Cùng ngày 25/1/68,các căn cứ TQLC Mỹ tại Phú Bài đồng loạt bị pháo kích. Ngày 1/2/68, tại Huế, một đoàn thiết giáp Mỹ tiến về Huế. Chừng 1.000 quân BV cố thủ trong Thành Nội. Ngày 2/2/68, kịch chiến tại Huế. Ngày 3/2/68, kịch chiến tiếp tục tại Huế. Thành Nội được tái chiếm. Ngày 3/2/68, TQLC Mỹ và 5 tiểu đoàn VNCH tiếp tục tấn công vào Thành Nội do VC chiếm đóng. Cũng ngày 6/2/68, vẫn kịch chiến tại khu Thành Nội. VC còn đóng ở khu Kỳ Đài, Thượng Tứ, lao xá vv. Ngày 7/2/68, cầu Trường Tiền bị phá sập. Ngày 8/2/68, kịch chiến tiếp tục tại Huế. TQLC Mỹ chiếm lại được vài địa điểm như dinh Tỉnh trưởng, trường Đồng Khánh, trường Quốc Học, khu Lao xá. Song VC tăng cường 2 tiểu đoàn khác. Ngày9/2/68, TQLC Mỹ chiếm lại hết các vị trí hữu ngạn sông Hương, Huế: VC 937 tử thương; phía Mỹ 31 Mỹ tử thương, 250 bi thương.
Ngày 11/2/68, các lực lượng Mỹ và VNCH giao tranh kịch liệt với Cộng quân tại góc phía Nam Thành nội Huế. Ngày 12/2/68, TQLC Mỹ cùng quân đội VNCH thanh toán các lực lượng VC còn lại trong Thành nội. Ngày 13/2/68, một tòa án Nhân dân VC nhóm họp trong khu Gia Hội, Huế xử bắn Thiếu tá XDNT Từ Tôn Khoảng. Ngày 14/2/68, TQLC giao tranh trong khu Tây Lộc, và gần cầu Bạch Hổ. Ngày 16/2/68, kịch chiến tiếp tục tai Thành nội Huế. TQLC tiến vào khu cung diện và kỳ đài Huế để hạ cờ VC. Ngày 17/2/68, kịch chiến tiếp tục tại khu Thành nội Huế. Ngày 17/2/68, đêm qua, các phi trường Phú Bài bị pháo kích. Ngày 18/2/68, TQLC thay chiến đoàn Nhảy Dù tẩn công dịch quân tại Thành nội từ 11-2, tới nay. Ngày 20/2/68, TQLC Mỹ và Việt vẫn tiến đánh vào Thành nội Huế, Cùng ngày 20/2/68, giao tranh kịch liệt giữa hơn 2 tiểu đoàn VC và TQLC Mỹ tại phía Tây Thành nội.
Ngày 21/2/68, trong khi TQLC Việt Mỹ tiến về phía Đại nội trong Thành nội, thì BĐQ lục soát trong khu Gia Hội Huế. Ngày 23/2/68, kịch chiến tại Thành nội, Huế. Ngày 24/2/68, sau 7 giờ giao tranh, một tiểu đoàn Bộ binh tiến chiếm khu Đại nội Huế TQLC chiếm khu cửa Nhà Đồ và Nam Đài trong Đại nội. Ngày 25/2/68, từ 4 giờ sáng, Quốc kỳ VNCN được treo lên Kỳ đài Phú Vân Lâu. Huế được giải tỏa hoàn toàn sau một trận tấn công liên tiếp 11 giờ. Hơn 110 xác VC bỏ lại trong Đại nội. Cùng ngày 25/2/68, sau khi rút khỏi thị xã Huế, lui về phía Kim Long, một trung đoàn VC bị các đơn vị Sư đoàn 1 Không vận Mỹ truy kích tiêu diệt gần hết. Ngày 28/2/68, kết quả tại Huế, 6.118 VC tử thương, 191 bị bắt, 3 hồi chánh. VNCH: 583 tử thương, 2.810 bị thương.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 3/1/68, một đơn vị Mỹ tại An Hòa, và một đơn vị khác của Sư đoàn Americal Mỹ tại thung lũng Quế Sơn bị tấn công. Căn cứ không quân Đà Nẵng bị pháo kích và đột kích. Ngày 5/1/68, một căn cứ Mỹ tại Tam Kỳ bị tấn công. Ngày 10/1/68, kịch chiến gần Tam Kỳ. Ngày 12/1/68, Lữ đoàn Thanh Long Đại Hàn với hơn 6.000 quân đóng tại Bình Sơn Quảng Ngãi, di chuyển đến Hội An để bảo vệ phi trường Đà Nẵng. Ngày 14/1, kịch chiến tại Bồng Sơn. Ngày 18/1/68, giao tranh tại Nghĩa Hành. Ngày 18/1/68, hành quân Lam Sơn 180-XDNT/SBA tại Gio Linh. Kịch chiến tại Cồn Tiên. Kịch chiến tại Khe Sanh, và Gio Linh. Ngày 21/1/68, Chi khu Hương Hóa, Quảng Trị. bị tấn công. Ngày 23/1/68, hành quân 182/XDNT tại Quảng Trị. Ngày 23/1/68, B 52 dội bom xuống Khe Sanh, Quảng Trị. Ngày 24/1/68, Căn cứ Khe Sanh bị pháo kích dữ dội.
Ngày 25/1/68, phi cơ HK thực hiện 408 phi xuất tại Khe Sanh. Ngày 25/1/68, hành quân Quyết Thắng 55 tại Tam Kỳ.Ngày 28/1/68, giao tranh lớn vùng Khe Sanh. Ngày 29/1/68, theo tin quân sự Mỹ, 4 sư đoàn BV tập trung tại vùng Khe Sanh, và Phi quân sự gồm SĐ 325-C, SB 304, SB 324-B, và một sư đoàn chưa rõ số hiệu. Ngày 1/2/68, Tỉnh lỵ Quảng Trị được giải toả, 2 tiểu đoàn VC bi các đơn vị Không vận Mỹ đánh lui. Ngày 3/2/68, Căn cứ Không quân Đà Nẵng bị pháo kích lúc 3 giờ sáng. Ngày 7/2/68, tại Quảng Trị, trại Lực lượng Đặc biệt ở Làng Vei bị tấn công, 4/7 chiến xa VC bị phá hủy. Cùng ngày 8/2/68, kịch chiến tiếp lục tại Làng Vei, Quảng Trị. Cùng ngày 21/2/68, B-52 tiếp tực oanh tạc quanh Khe Sanh. Ngày 22/2/68, TQLC Việt-Mỹ chiếm góc phía Đông Nam, và cửa Hửu phía Tây Thành nội. Cùng ngày 22/2, trong 3 tuần qua, có 7.500 phi xuất và 100 phi vụ B-52 oanh tạc các vùng phụ cận Khe Sanh.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 9/1/68, phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột bị pháo kích. Cùng ngày 10/1/68, phi trường Kontum bị đột kích 4 trực thăng bị phá hủy, 25 chiếc khác bị hư hại. Ngày 10/1/68, một đơn vị Mỹ tại Phù Mỹ bị tấn công. Ngày 20/1/68, Phi trường Pleiku bị pháo kích. Ngày 23/1/68, hành quân Quyết Thắng 24 tại Quảng Ngãi. Ngày 23/1/68, kịch chiến tại Bình Định. Kịch chiến tại Kontum. Ngày 25/1/68, An-Khê bị pháo kích. Phi trường Holloway tại Pleiku vừa bị pháo kích vừa bị đột kích. Và, gần nửa đêm, Bộ Tư lịnh Quân đoàn II tại Pleiku bị pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly. Ngày 1/2/68, giao tranh tại Phú Cường 290 VC tử thương. Phía Mỹ: 6 tử thương, 33 bị thương. Ngày 1/2/68, Viện binh Mỹ tới Pleiku. Giao tranh kịch liệt tại Ninh Hòa và Nha Trang.
Ngày 3/2/68, các cuộc giao tranh tiếp tục tại Dakto, Kon Tum, Pleiku. Ban Mê Thuột, Qui Nhơn, Phú Yên, Nha Trang, Đà Lạt, Phan Thiết. Ngày 8/2/68, tại Đà Lạt VC còn chiếm đóng ga xe lửa, Viện Pasteur, vv. Ngày 12/2/68, an ninh tái lập tại Đà Lạt. Ngày 17/2/68, các tỉnh lỵ Kontum, Bình Định, Quảng Đức, Lâm Đồng, Tuyên Đức, cũng bị pháo kích. Ngày 20/2/68, Thị xã Phan Thiết được giải tỏa, VC chỉ còn chiếm đóng Bệnh viện và trường Nữ Trung học. Ngày 21/2, tại Phan Thiết, liên quân Việt Mỹ đầy VC khỏi thị xã sau 4 ngày kịch chiến.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 2/1/68, nhiều căn cứ Mỹ bị tấn công. B 52 dội bom nhiều địa điểm Cộng quân (CQ) ở Tây Ninh, Bình Định. Ngày 5/1/68, Giao tranh suổt ngày gần tỉnh lỵ Tây Ninh. Ngày 6/1/68, Quận lỵ Tân Uyên bị tấn công. Ngày 8/1/68, Tỉnh lỵ Hậu Nghĩa bị pháo kích và đột nhập. Tỉnh lỵ Mộc Hóa bị pháo kích. Ngày 10/1/68, Tiểu khu Hậu Nghĩa bị pháo kích. Ngày 10/1/68, một tiểu đoàn VC tấn công một tiểu đoàn Mỹ gần Hậu Nghĩa. Ngày 20/1/68, căn cử Mỹ tại Củ Chi, Bình Dương bị pháo kích nhiều lần. Ngày 17/2/68, Thị xã Biên Hòa bị pháo kích. Các tỉnh lỵ Bình Dương, Phước Long, Bình Long cũng bị pháo kích. Ngày 28/2/68, quá nửa đêm và gần sáng, phi trường Biên Hòa bị pháo kích.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 6/1/68, hành quân Cửu Long 71/81 tại Cái Bè. Ngày 10/1/68, Tỉnh ly Mỹ Tho bị pháo kích. Ngày 20/1/68, tại Cai Lậy, một tiểu đoàn TQLC-VN bị một tiểu đoàn VC pháo kích và tấn công. Ngày 25/1/68, Tây Ninh bị pháo kích. Ngày 26/1/68, Tỉnh lỵ Kiến Phong. Ngày 1/2/68, tại Vĩnh Long, giao tranh quanh sân bay. Ngày 8/2/68, trong số các tỉnh lỵ miền Tây, Kiến Hòa bị thiệt hại nặng nhất, 5.090 nhà dân bị cháy. Ngày 11/2/68, khoảng 2 tiểu đoàn VC tấn công Tân An, đột nhập nhiều nơi, bị đẩy lui. Ngày 11/2/68, hành quân giải tỏa khu tỉnh lỵ và phụ cận Bạc Liêu. Ngày 14/2/68, có tin tướng VC Trần Văn Trà tử trận tại Vĩnh Long. Ngày 17/2/68, Thị xã Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ bị pháo kích.
Bài 243: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN LỘC TỪ THÁNG 3 ĐẾN THÁNG 5 NĂM 1968.
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 2/3/68, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: sự về nước của tướng Nguyễn Chánh Thi chưa thuận tiện. Ngày 8/3/68, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ cho biết: đêm mồng 1 Tết, khi tấn công Sài Gòn, VC đã huy động tới 21 tiểu đoàn. Phía VNCH, ngoài các đơn vị chuyên môn, chỉ có 3 tiểu đoàn chiến đấu. Ngày 11/3/68, Tổng thống cách chức và bổ nhiệm 8 tỉnh trưởng mới gồm 1 Đại tá và 7 Trung tá, tại các tỉnh Thừa Thiên, Darlac, Quảng Đức, Tuyên Bức, Bình Thuận, Vĩnh Long, An Giang, và Ba Xuyên. Ngày 16/3/68, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: không có sự mâu thuẫn giữa ông và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 21/3/68, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bổ trên Đài Truyền hình VN: tăng quân đợt đầu 135.000 người, động viên các lớp tuổi 18 và 19, gọi tái ngũ cựu quân nhân 18-33 tuổi và dưới 5 năm quân vụ.
Ngày 26/3/68, có 4 Trung tá được bổ Tỉnh trưởng: Gò Công. Kiến Hòa, Vĩnh Bình, và Phong Dinh. Ngày 29/3, thêm 2 Trung tá được bổ Tỉnh trưởng Biên Hòa và Gia Định. Ngày 31/3/68, TT Nguyễn Văn Thiệu tuvên bố trước gần 10.000 sinh viên huấn luyện quân sự: sẽ tăng 135.000 quân, gọi nhập ngũ các lớp tuổi 18 và 19, và các cựu quân nhn 33 đến 40 tuồi, và nếu cần sẽ Tổng động viên. Nếu Đồng minh không chịu giúp nữa, cũng sẽ tiếp tục chiến đấu. Ngày 2/4/68, trong cuộc họp báo sáng nay, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: nếu lần này BV không tỏ thiện chí, thì trong thời gian ngắn, VNCH có thể động viên. Không bao giờ chịu hòa đàm với MTGPMN, chỉ nói chuyên vởi Hà Nộỉ. Ngày 4/4/68, TT Nguyễn Văn Thiệu tham khảo ý kiến các Đại sứ các Quốc gia Đồng minh về việc Hà Nội đáp ứng lời kêu gọi nghị hòa.Ngày 26/4/68, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố tại Vĩnh Long: không nhượng đất cho CS; không liên hiệp với CS; không chấp nhận CS là một chính đảng.
Ngày 16/5/68, Văn phòng phủ Tồng Thống cho biết, những điềm mà TT Nixon đề ra không trái ngược với tinh thần 6 điểm căn bản của VNCH, và chánh phủ VNCH sẽ nghiên cứu kỹ càng với chánh phủ HK để thảo luận với phía bên kia. Ngày 19/5/68, Đại sứ Bùi Diễm, cải chính tin đồn tiếp xúc với cựu Quốc trưởng Bảo Đại; phái đoàn VNCH chỉ liên lạc với Đại sứ Mỹ Harriman về cuộc hòa đàm hiện nay.
QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 2/3/68, Hạ Nghị viện với 85/95 phiếu bác bỏ dự luật ủy quyền đặc biệt cho Tổng thống ký sắc luật về kinh tế tài chánh trong hạn 1 năm. Ngày 7/3/68, Thượng Nghị viện bác bỏ với 40/42 phiếu chống dự luật ủy quyền đặc biệt cho Tổng thống ký sắc luật về kinh tế, tài chánh trong hạn 1 năm. Ngày 4/4/68, Thượng Nghị viện ra thông cáo tỏ rõ lập trường chống Cộng, chống liên hiệp với Cộng sản, tán thành sự động viên toàn lực để bảo vệ Quốc gia. Ngày 7/4/68, Hạ Nghị viện VNCH họp phiên khoáng đại và ra tuyên cáo: không chấp nhận giải pháp Trung lập hay Liên hiệp với Cộng sản bất cứ dưới hình thức nào. Ngày 29/4/68, có 46 Dân biểu công kích chánh phủ Nguyễn Văn Lộc chưa có hành động thích ứng với thời cuộc. Ngày 10/5/68, Hạ Nghị viện với 92/100 phiếu thuận thông qua dự luật tổng động viên gồm 5 chương và 12 điều. Có 14 tiêu chuẩn hoãn dịch. 21 Dân biểu thuộc khối Độc lập tại Hạ viện ra tuyên ngôn ủng hộ lập trường của TT Nguyễn Văn Thiệu: không cắt đất, không liên hiệp với Cộng sản, không trung lập hóa VN.
Ngày 13/5/68, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc cùng nhiều Tổng trưởng điều trần về tình hình và hoạt động trước Thượng viện và Hạ viện. Ngày 14/5/68, nhiều Dân biểu Hạ Nghị viện công kích sự hiện diện của phái đoàn quan sát VNCH tại Ba Lê, rằng VNCH không thể chỉ giữ vai trò quan sát; phái đoàn đó cần được triệu hồi. Đại sứ Bùi Diểm xác nhận tại Ba Lê, mọi sự dàn xếp về vấn đề VN phải được sự thỏa hiệp của chánh phủ VNCH. Không nên thắc mắc về sự vắng mặt của VNCH trong cuộc gặp gỡ hiện nay của Mỹ và BV vì chưa có bàn cãi về trọng tâm vấn đề VN. Ngày 15/5/68, Thượng viện và Hạ viện VNCH, trong một bản tuyên ngôn chung lên án cuộc tấn công đơt 2 của VC. Và tố giác Tổ chức Liên minh Dân tộc Dân chủ Hòa bình; kêu gọi thế giới tự do đừng mắc mưu hòa bình của Cộng sản, hô hào toàn dân chống Cộng. Ngày 18/5/68, Thượng viện biểu quyết chấp thuận dự luật mới về Tổng động viên.
CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN LỘC VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 2/3/68, Khai giảng khóa Quân-Chánh tại trường Quân Y Sài Gòn do Tổng cục Quân huấn tổ chức, huấn luyện trong 5 tuần lễ 127 sĩ quan từ Trung úy đến Trung tá. Ngày 15/3/68, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc tuyên bố trên đài Truyền hình: từ ngày thành lập Nội các tới nay, các tòa án đã xét xử 32 quân nhân và 8 nhân viên dân chính về các tội tham nhũng, và đã tuyên 3 án tử hình, 8 án khổ sai, và nhiều án tù ở từ 1 đến 5 năm. Ngày 25/3/68, Bộ Quốc phòng thông cáo xác nhận: chấm dứt mọi sự hoãn dịch vì lý do công vụ hay nghề nghiệp, ngoại trừ trường hợp sinh viên, học sinh, cảnh sát, cán bộ Xây dựng Nông thôn. Ngày 30/3, thiết lập Hội đồng Cải cách Hành chánh và Hội đồng Kế hoạch Quốc gia. Ngày 30/3, Thuế kiệm ước được đánh trên nhiều hàng nhập cảng trước kia được miễn; thuế suất tăng từ 10 dến 20% giá nhập cảng. Ngày 9/4/68, bãi bỏ các chức vụ Phó Bộ trưởng, Phó Thị trưỏng và Phó Tỉnh trưởng Nội an (SL. 37/SL/NV).
Ngày 17/4/68, theo Bộ Xây dựng, trong năm nay sẽ xây dựng 5.588 Ấp Đời mới quy tụ 8 triệu dân. Hiện có 640 Đoàn Cán bộ XDNT gồm 37 ngàn người, kinh phí 4,9 tỷ. Ngày 18/4/68, Bộ Ngoại giao VNCH xác nhận: Sài Gòn và Hà Nội là hai vai đối thoại chính trong cuộc hòa đàm, và lấy hiệp định Genèvc làm căn bản chung để thảo luận. VNCH và Đồng minh sẽ tham gia mọi cuộc thương thuyết sắp mở ra. Ngày 28/4/68, Luật sư Trương Đình Dzu, vì chủ trương Liên hiệp với MTGPMN, bị quản thúc tại nơi dưỡng bịnh, Sài Gòn. Ngày 3/5/68, tại Đà Lạt, lễ mãn khóa Sĩ quan Chiến tranh Chính tri: 182 sĩ-quan tổt nghiệp sau 2 năm thụ huấn. Ngày 4/5/68, tại Vũng Tàu, lễ mãn khóa 3.316 cán bộ Xây Dựng Nông thôn sau 13 tuần huấn luyện. Ngày 5/5/68, Phụ cấp hàng tháng cho các viên chức Xã và Ấp: Chủ tịch Hội đồng Xã 4.000$, Phó Chủ tịch 3.000$, Tồng thư ký 2.700$. Phụ cấp đặc biệt từ 500$ đến 1.500$ cho nhân viên Ủy Ban. Mỗi phiên họp 300$ mỗi ngày cho mỗi người.
Ngày 6/5, tại Quảng Trị, khánh thành hệ thống dẫn thủy nhập điền Cam Lộ tưới tiêu khoảng 400 mẫu ruộng; kinh phí xây dựng 14 triệu đồng. Ngày 10/5/68, khánh thành tại Cam Ranh, khu cư xá công nhân bán trả góp gồm 1.500 căn nhà, trị giá gần 1 tỷ bạc do viện trợ Mỹ. Ngày 13/5/68, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc cùng nhiều Tổng trưởng điều trần về tình hình và hoạt động trước Thượng viện và Hạ viện. Ngày 21/5/68, Khánh thành cầu Thị Nghè, xây lại và mở rộng, dài 250 thước, rộng 20 thước, tốn 60 triệu bạc. Ngày 23/5/68, Quân lực VNCH, theo số tròn: 910.000 người gồm: 420.000 Chính qui Bộ binh; 20.000 Hải quân; 20.000 Không quân; 480.000 Địa phương quân. Ngoài ra, có 90.000 cảnh sát, 40.000 Dân sự Chiến đấu; 75.000 cán bộ võ trang.
NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 4/3/68, Theo Tổng nha Cảnh sát, Thượng tọa Thích Đôn Hậu đã theo VC và kêu gọi dân chúng theo MTGPMN từ 28-2 trên Đài phát thanh VC. Ngày 10/3/68, Đại hội thành lập Mặt trận Cứu nguy Dân tộc nhóm họp tại Sài Gòn do Thượng nghị sĩ Trần Văn Đôn chủ tọa gồm 2.100 đại diện các Đoàn thể. Ngày 5/4/68, Mặt trận Cứu Nguy Dân tộc minh xác: phản đối mọi cuộc tiếp xúc với Cộng sản; kêu gọi HK đừng để Cộng sản lợi dụng thiện chí hòa bình; yêu cầu các quốc gia bạn giúp đỡ và chánh quyền cấp phương tiện bảo vệ đất nước. Ngày 1/5/68, Lực lượng Hành động Lao động miền Nam, gồm 15 nghiệp đoàn công nhân trong Đô thành, công bố bản tuyên ngôn ra mắt: chống sự nhân danh Đồng minh lũng đoạn chủ quyền quốc gia; chống sự chánh trị hóa nghiệp đoàn; hạn chế số công nhân ngoại quốc vv. Ngày 12/5/68, Mặt trận Cứu Nguy Dân tộc yêu cầu chính phủ vũ trang các đoàn chống Cộng thuộc Mặt trận.
Ngày 13/5/68, một tổ chức sinh viên học sinh thuộc Mặt trận Liên minh của Trịnh Đình Thảo bị khám phá tại Sài Gòn, một số người bị bắt. Cùng ngày 23/5/68, Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội chánh thức thành lập, và gồm các đảng Đại Việt Cách Mạng, VN Nhân Xã, Lực Lượng Đại Đoàn Kết, VN Quốc Dân Đảng, Liên Minh Dân Tộc Cách Mạng Xã Hội, VN Dân Chủ Xã Hội. Ngày 24/5/68, Hoán giảm còn 3 năm tù hình phạt 10 năm khồ sai và 5 năm cấm cố cho Đỗ Xuân Hàng, pháp danh Thích Thiện Minh sinh năm 1921 tại Quảng Trị. Ngày 25/5/68, tại rạp Rex Sài Gòn, lễ trình diện Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội gồm 6 chính đảng: TT Nguyễn Văn Thiệu là chủ tịch Hội Đồng Mặt Trận. Chủ trương: 1) tôn trọng quyền đối lập; 2) chiến thắng Cộng sản. Mặt Trận có Hiến chương Hiệu kỳ: cờ nền vàng, 6 sao đỏ ở giữa.
NẠN NHÂN, TỴ NẠN VÀ CỘNG SẢN HỒI CHÁNH. Ngày 11/3/68, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trên đài Truyền hình, cuộc Tổng tấn công của VC đã khiến 7.721 thường dân chết, 18.516 bị thương, 71.986 căn nhà cháy, và 674.273 nguời tị nạn. Ngày 19/3/68, 6 sĩ quan VC hồi chánh trình diện Trung tâm Báo chí Sài Gòn. Ngày 11/4/68, theo các tài liệu chính thức Việt và Mỹ, tổng số thiệt hại về nhà cửa trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân được ước lượng gần 4,5 tỷ bạc: 81.983 nhà bị hư hại từ 50 đến 100%: 30.343 nhà dưới 50%. Theo Trung tâm Khuyếch trương Kỹ nghệ, sự thiệt hại trong khu vực kỹ nghệ lên tới 4.541.800.000$ đối với 84 cơ xưởng. Riêng về ngành dệt, 2.985.400.000$. Ngày 21/4/68, một Đại tá VC bí danh Tám Hà, hồi chánh tại Bình Dương.
Ngày 5/5/68, riêng tại Đô thành số người tị nạn tại lên tới 56.915. Riêng tại quận 5, Chợ Lớn, có 27.411 người đến lánh nạn tại 13 trung tâm tạm trú; Và, tại quận 6, có 12.200 người phải chạy lánh nạn. Số người bị thương tại các bệnh viện là 1.738, có 11 người chết. Ngày 9/5/68, Số người bị thương tại các bệnh viện từ 5-5 lên tới 1.738. Ngày 14/5/68, trong cuộc tấn công dợt 2 vào Đô thành, 10.900 nhà bị thiêu hủy. Ngày 27/5/68, Bộ Xã Hội và Cứu trợ, hiện còn 862.037 đồng bào tị nạn trong các trại tạm trú. Đã cấp phát 547.966.750$ trợ cấp trong 4 tháng đầu năm 1968.
VÀ HỐ CHÔN TẬP THỂ TẠI HUẾ. Ngày 24/3/68, một hầm chôn 50 xác công chức, cán bộ được khám phá tại khu Long Thọ, ngoại ô Huế. Ngày 1/5/68, tại Thừa Thiên, trong 10 ngày qua, nhà chức trách địa phương tìm thấy thêm 349 xác nạn nhân vụ tấn công Tết Mậu Thân. Ngày 5/5/68, đám tang tập thể 298 nạn nhân vụ tấn công dịp Tết Mậu Thân, cử hành tại nghĩa trang Ba Đồn, Huế.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 6/3/68, Ứng cử viên Tổng thống Nixon tuyên bố, nếu đắc cử ông sẽ chấm dứt chiến tranh lại VN, bằng cách dùng áp lực kinh tế và ngoại giao đối vói CS. Cùng ngày 6/3/68, theo tòa Đại sứ Mỹ, trong cuộc Tổng tấn công vừa qua, 11 viên chức và 21 thường dân Mỹ thiệt mạng. Ngày 7/3/68, Bộ Tư lịnh HK được sắp đặt lại tổ chức: (1) Bộ Tư lịnh Quảng Trị-Thừa Thiên tức Prov. Corps VN (Pro visional Corps Viet Nam) hành dinh tại Phú Bài; (2) Bộ Tư lịnh TQLC Third MAP (Third Marine Amphibious Force) có trách nhiệm tại VI/CT gồm 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Tín và thuộc quyền chỉ huy của tướng Cushman. Ngày 15/3, Robert Kennedy tuyên bố sẽ ra tranh cử Tổng thống để chấm dứt chiến tranh tại VN, lấp hố ngăn cách Da Đen với Da Trắng và người giàu với nguời nghèo.
Ngày 21/3/68, tại Hoa Kỳ, 48.000 tbanh niên được gọi nhập ngũ trong tháng 4; và 44.000 được gọi trong tháng 5 tới. Ngày 22/3/68, TT Johnson cho biết trong một cuộc họp háo: Tướng Westmoreland, Tổng tư lệnh Mỹ tại VN, được cử làm Tham Mưu trưởng Lục quân kể từ ngày 2-7-68. Đô đốc Sharp, Tổng tư lệnh tại Thái bình Dương, sẽ về hưu trong tháng 7 tới. Ngày 28/3/68, sau lần hội đàm với Tổng thống Johnson, tướng Creighton W. Abrams, phu tá Tổng tư lịnh quân Mỹ tại VN tướng Westmoreland, rời Hoa Thinh Đốn trở lại Sài Gòn. Có tin chiến lược quân sự sẽ được xét lại toàn diện. Ngày 31/3/68, TT Johnson tuyên bố: ngưng oanh tạc BV không điều kiện, ngoại trừ vùng Phi quân sự, và sẽ ngưng hẵn nếu BV tỏ thíện chí; chỉ tăng quân 13.500 để đưa lên số 525.000 tại VN; không ra ứng cử, không nhận sự đề cử của đảng Đảng chủ. Ngày 31/3/68, Bộ Quốc phòng Mỹ loan tin đã cho tăng sản xuất loại súng M-16 để đáp ứng nhu cầu tại VN.
Ngày 1/4/68, Dư luận chung trên thế giới đối với lời tuyên bố mới của TT Johnson: ngạc nhiên, tán thành đề nghị về hòa bình; rất xúc động về quyết định không tranh cử. Ngày 2/4/68, TT Johnson cho biết đã mời TT Nguyễn Văn Thiệu sang Hoa Thịnh Đốn hội đàm về vấn đề VN với một số nhân vật quan trọng vào cuối tuần này. Ngày 3/4/68, TT Johnson ghi nhận lời tuyên bố của BV và xác nhận gửi đại diện tiếp xúc với đại diện BV. Ngày 4/4/68, Mục sư Martin Luther King, lãnh lụ ôn hòa Da Đen, bị bắn chết trước một khách sạn tại Memphis, TT Johnson tuyên bố rất xúc động về tử nạn của Mục sư King. Ngày 6/4/68, TT Johnson bãi bỏ dự định đi họp hội nghị Honolulu, vì nội tình Hoa Kỳ nghiêm trọng. TT Johnson tiếp kiến tướng Westmoreland và xét lại tình hình quân sự tại VN. Theo phát ngôn viên tòa Bạch ốc, chánh phủ Mỹ chưa nhận được trả lời chánh thức của BV về việc hòa đàm.
Ngày 7/4/68, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố tại Canberra, Úc: hiện nay không có vấn đề rút quân đội HK khỏi VN. Tướng Westmoreland tuyên bố tại Hoa Thịnh Đốn, tình hình quân sự tại VN rất lạc quan, và thuận lợi cho HK.... Ngày 8/4/68, TT Johnson tuyên bố: đã nhận được công hàm của BV nhận lời gặp đại diện chánh phủ HK cấp bậc Đại sứ. Đồng minh đã được thông báo về việc này. Ngày 9/4/68, TT Johnson tuyên bố: Khe Sanh đã được giải vây, và khen ngợi quân đội Mỹ Việt đã giữ vững vùng này để cản chân 2 sư đoàn BV không cho tham gia chiến dịch Đông-Xuân. Cùngngày 9/4/68, tại Camp Davis, TT Johnson thảo luân cùng các Cố vấn về vấn đề VN. Đại sứ Bunker trình bày về tình hình VN sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, và tỏ ý rất lạc quan.
Ngày 11/4/68, Tướng 4 sao Creighton W. Abrams, phụ tá tướng Westmoreland, được cử làm Tổng tư lịnh Quân đội HK tại VN, thay tướng Westmoreland. Sách lược lùng và diệt dịch (search and destroy) sẽ được thay bằng Sách lược quét để giữ (clear and hold). Ngày 12/4/68, con rể thứ hai của TT Johnson, Patrick Nugent, sang phục vụ tại Cam Ranh. Ngày 14/4/68, Bộ Ngoại giao HK tó ý ngạc nhiên vì Hà Nội chưa trả lời về các địa điểm gặp gở do Mỹ đề nghị: New Delhi, Rangoon, Vientiane, Djakarta, Geneve. Ngày 15/4/68, TT Johnson sang Honolulu hội thảo với các chỉ huy quân sự về chiến lược tại VN. Trong số các quốc trưởng Đồng minh, chỉ có Tổng thống Đại Hàn Phác Chinh Hy tham đự. Tại Honolulu, TT Johnson tuyên bố: sẽ cố gắng hết sức trong 9 tháng còn ở lại chánh quyền để thực hiện hòa bình tại VN bằng cách thương thuyết, nhưng sẽ cùng Đồng minh đối phó mọi sự thách thức quân sự.
Ngày 17/4/68, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk cho biết: vẫn chưa đạt tới thỏa hiệp với BV về nơi gặp gở; và VNCH vẫn bị tấn công trên khắp lãnh thổ, mặc dầu Mỹ đã ngưng oanh tạc trên phần lớn BV. Cùng ngày 17/4/68, TT Johnson hội đàm với TT Đại Hàn tại Honolulu trong suốt buổi sáng, về vấn đề VN và phòng thủ Đại Hàn. Ngày 20/4/68, theo giới quân sự HK, tính từ đầu 1961 số quân Mỹ thiệt hại tại VN: 21.701 tử thương, 70.778 bi thương phải vô bịnh viện, và 1.089 mất tích. Ngày 22/4/68, theo Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Clark Clifford, quân đội VNCH sẽ được trang bị võ khí tối tân từ nay đến tháng 11, sẽ dược cung cấp 100.000 súng M-16. Ngày 23/4/68, Tướng Wheeler trình trước một Ủy ban Thượng viện HK từ ngày 1-1-1964, Mỹ đã tổn thất một số phi cơ đáng giá 1.315 triệu Mỹ-kim. Trong cuộc Tổng tấn công 'Tết Mậu Thân, 15 phi cơ và 23 trực thăng bị phá huỷ tại sân bay, và 53 phi cơ cùng 149 trực thăng bị trúng đạn và hư hại.
Ngày 25/4/68, Cựu Phó tổng thống Nixon tuyên bố tại trường Đại-học Oregon: không chủ trương thành lập một Chánh phủ Liên hiệp tại miền Nam VN, vì như vây sẽ chấm dứt chiến tranh nhưng cũng mất cả hòa bình (that would end the war but lose the peace). Ngày 3/5/68, Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ tuyên bố: HK sẽ có thể bắt đầu rút quân nếu có một trong 3 điều kiện sau: thỏa hiệp về sự triệt thoái song phượng; quân lực VNCH tăng cường để tiếp tục chiến đấu; BV và VC xuống thang chiển tranh. Ngày 4/5/68, TT Nixon mong ước: Quốc hội và quốc-dân HK hãy để cho chánh phủ rộng tay tìm cách mềm dẻo giải quyết vấn đề chiến tranh tại VN, đừng gây áp lực khiến cho tình thế khó khăn hơn. Ngày 6/5/68, nhiều nhân vật thuộc chánh quyền Nixon thuyết phục những gỉớỉ đang nóng lòng muốn HK rút quân ngay khỏỉ VN là cần để Tổng Thống HK theo đuổi chánh sách mềm dẻo và thích ứng.
Ngày 12/5/68, Tướng Abrams đột ngột về Mỹ trình bày với TT Nixon tình hình quân sự tại VN, rồi lại trở về Sài Gòn cấp tốc. Ngày 13/5/68, TT Nixon đọc diễn văn công bổ kế hoạch hòa bình 8 điểm: (1) BV và Đồng Minh sẽ bắt đầu rút quân ngay sau khi có thỏa hiệp; (2) nếu 12 tháng sau chưa rút hết, sẽ tới đóng ở những địa điểm được chỉ định và không tác chiến; (3) sẽ rút song phương tất cả và cùng lúc, khỏi cả Mên Lào; (4) sẽ có cơ quan kiểm soát quốc tế; (5) Cơ quan này sẽ hoạt động theo chương trình được 2 bên thỏa hiệp; (6) bắt đầu tổ chức tổng tuyển cử với kiểm soát quốc tế; (7) trao đổi tù-binh; (8) hai bên cam kết tôn trọng các hiệp định Genève về VN và Mên Lào. Cùng ngày 13/5/68, Ngoại trưởng HK Wiliam Rogers, tới Sài Gòn để hội đàm với chánh giới VNCH tuyên bố tại Tân Sơn Nhất sẽ không nhượng bộ về các mục tiêu căn bản. Ngày 15/5, Quân số HK tại VN: 542.500.
Cùng ngày 15/5/68, Ngoại trưởng Dean Rusk tuyên bố: HK không thay đổi thái độ, không hề chủ trương lập, hay chánh phủ liên hiệp tại VNCH. Ngày 16/5/68, theo Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, quân đội VNCH sẽ được cấp 500.000 súng M-16 trong 2 năm tới. Ngày 16/5/68, TT Nixon cứu xét kế hoạch phát triển kinh tế hậu chiến tại VN, do nhóm Lilienthal-Vũ Quốc Thúc soạn thảo. Ngày 17/5/68, Phát ngôn viên của tòa Bạch ốc tuyên bố: quyết định của TT Johnson về sự oanh tạc, không thay đổi. Ngày 19/5/68, Bộ trưởng Quốc phòng HK Melvin Laird kêu gọi BV và MTGPMN thả các tù binh Mỹ hoặc ít nhất hãy dành cho họ một sự đối đãi nhân đạo. Hiện có 1.300 quân nhân Mỹ mất tích hoặc bị bắt, trong số đó 800 là phi công. Ngày 20/5/68, Tòa Bạch ốc loan báo: TT Nixon sẽ tới gặp TT Nguyên Văn Thiệu ngày 8-6-69 tại đảo Midway trên Thải Bình Dương. Ngày 21/5, Bộ Ngoại Giao HK ngỏ ý tiếc rằng BV không cấp danh sách tù binh Mỹ và không cho liên lạc với họ.
Ngày 23/5/68, Phát ngôn viên Mỹ tuyên bố về 9 điểm thuộc chính sách HK: (1) việc giao trả Okinawa cho Nhật sẽ do hại chánh phủ Mỹ-Nhật thỏa hiệp; (2) không chánh phủ liên hiệp nào phải thành lập tại VN trước khi có hòa bình; (3) sau khi có hòa bình, Mỹ tán thành cuộc tổng tuyên cử tại miền Nam VN với sự kỉểm soát quốc tế; (4) lập trường của Mỹ về sự tham gia tuyển cử của MTGPMN sẽ co giãn, và vấn đề này tùy người miền Nam VN giải quyết; (5) sự triệt thoái của BV phải được thu xếp một cách rõ ràng hơn là thỏa hiệp ngầm về sự ngựng oanh tạc BV; (6) HK không có ý cản trở Thủ tướng Lào tái lập chánh phủ liên-hiệp; (7) HK sẽ tham khảo ý kiến Đồng minh ở mọi giai đoạn hội đàm tại Ba Lê; (8) HK sẽ tiếp tục giữ lời cam kết đối với tổ chức Liên phòng Đông Nam Á, Thái Lan, và các nước Á Đông trong công cuộc chống phiến loạn; (9) HK nhận rằng sẽ có lơi, nếu một vài quốc gia Á Đông như Thái và Phi cải thiện được bang giao với Trung Cộng.
Ngày 24/5/68, tại Mỹ, một Ủy ban chủ trương Hòa bình trong Tự do (Peace with Freedom Committee) thành lập, với nhiều nhân vật tên tuổi như Eisenhower, Bradley vv... Ủy ban tuyên bố: không nên gây áp lực buộc miền Nam VN phải liên hiệp với Cộng sản. Cả BV lẫn Mỹ đều phải xuống thang chiến tranh; miền Nam phải được độc lập. Cùng ngày 24/5/68, Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Melvin Laird tuyên bố: địch nói đến hòa bình mà vẫn tăng các vụ tấn công. HK xúc tiến sự Việt hóa chiến tranh, phòng trường hợp cuộc hội đàm tại Ba Lê không đem lại kết quả.
QUAN HỆ VỚI ĐỒNG MINH CÓ QUÂN THAM CHIẾN.Ngày 19/5/68, Ngoại trưởng HK William Rogers, sau 4 ngày thăm VNCH, rời Sài Gòn đi Vọng Các họp hội nghị 7 nước Liên Phòng Đông Nam Á SEATO. Ngày 23/5/68, Hội nghị Tổng trưởng 7 quốc gia Đồng minh tham chiến tại VN chính thức nhóm họp tại Vọng Các. Và hôm sau, ngày 24/5/68, Hội nghị bác bỏ mọi mưu toan cưỡng bách VNCH chấp nhận một chánh phủ lỉên-hiệp với CS, và hỗ trợ nhân dân VNCH định đoạt số phận của mình.
QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 13/5/68, tại Gia Na Đại, Tổng thư ký LHQ, U-Thant lại tuyên bố: cần phải trung lập hóa toàn cõi Đông Dương gồm cả Mên, Lào, Việt, và sự trung lâp cần được các cường quốc đảm bảo. Cùng ngày 13/3/68, có 35 thiếu nhi nạn nhân cuộc Tổng tấn công được đưa sang Tây Đức chữa theo chương trình viện trợ Terre des Homines. Cũng ngày 13/5/68, từ hôm Tểt, đã có 17 ký giả ngoại quốc bị tử thương tại Sài Gòn Chợ Lớn trong các cuộc tấn công của VC.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOA VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 3/4/68, Đài phát thanh Hà Nội cho biết: nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng gửi đại diện tiếp xúc với đại diện Mỹ để quyết định về sự ngưng oanh tạc vô điều kiện và mọi hành động chiến tranh chống miền Bắc, cho cuộc hòa đàm có thể bắt đầu. Ngày 8/4/68, Theo tin AFP, dân chúng Hà Nội từ lâu lắm, mới lại đi chơi đầy đường tại trung tâm thành phố, cả trẻ con lẫn người lớn. Cùng ngày 8/4/68, theo tin CPI, Trung Cộng đe dọa không ủng hộ BV nữa, nếu BV điều đình với HK sẽ có thế cắt đứt viện trợ. Ngày 13/4/68, Thông tấn xã BV trách HK vẫn tiếp tục oanh tạc bên trên vĩ tuyến 20, vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Ngày 14/4/68, các báo Hà Nội đăng thông cáo của Bộ Ngoại giao BV kêu gọi UK xác định ngày và nơi gặp gỡ. Ngày 16/4/68, theo tin AFP, Xuân Thủy được cử lên hàng Bộ trưởng BV để phụ trách hòa đàm.
Ngày 23/4/68, theo giới quân sự HK thì BV vẫn tiếp tục đưa quân vô Nam theo đưòng Hồ Chí Minh. Ngày 26/4/68, Ngoại trưởng Trung Cộng, Trần Nghị, tuyên bố: BV nên tiếp tục chiến đấu chổng Mỹ và Đồng minh, vì vấn đề VN chỉ có thể giải quyết bằng võ lực. Ngày 5/5/68, trong 3 tháng đầu 1968, BV đa đưa vô miền Nam VN từ 80.000 đến 100.000 quân. Ngày 12/5/68, Báo Nhân Dân, Hà Nội, vẫn đòi Mỹ chăm dứt hẵn oanh tạc BV và các hành động chiến tranh trước khi các phái đoàn bàn về các vấn đề khác tại Ba-Lê. Ngày 14/5/68, theo đài phát thanh Mạc Tư Khoa, cuộc hòa đàm tại Ba Lê bị Trung Cộng coi như một sự lầm lẫn của BV. Ngày 24/5/68, báo chí Hà Nội tường thuật các phiên họp tại Ba Lê, và công kích Mỹ cố tình đưa cuộc hội đàm tới chỗ bí tắc, và Mỹ phải chịu trách nhiệm. Cùng ngày 23/5/68, MTGPMN hội họp mật để thành lập một Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời.
HỘI ĐÀM PARIS MỸ-VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ. Ngày 3/5/68, BV chấp nhận Ba-Lê là nơi gặp gỡ HK, song sẽ chỉ bàn về vấn đề ngưng oanh tạc BV. TT Johnson chấp nhân Ba Lê là nơi mở cuộc hòa đàm vào ngày 10-5 theo đề nghị của BV. Ngày 4/5/68, Bộ Ngoại giao VNCH thông cáo: chánh phủ VNCH không thấy chi trở ngại về việc chọn Ba-Lê làm nơi gặp gỡ của HK và BV. Ngày 7/5/68, Phái đoàn Mỹ dự hội đàm Ba Lê do Đại sứ Averell Harriman làm trưởng đoàn, Phụ tá cựu Thứ trưởng Quốc phòng Cyrus Vance; Phái đoàn BV do Bộ trưởng Xuân Thủy làm trưởng đoàn, Phụ tá Đại tá Hà Văn Lâu hàm Đại sứ. Ngày 10/5/68, Hai phái đoàn Mỹ và BV gặp nhau lần đầu lại Hội trường Quốc tế Ba-Lê. Phía Mỹ: Đại sứ Cyrus Vance, cựu Thứ trưởng; phía BV: Đại-tá Hà Văn Lâu. Cuộc hội họp kéo dài 2 giờ, về thủ tục và các chi tiết kỹ thuật. Ngày 11/5/68, hai Phái đoàn Mỹ và BV gặp nhau lần thứ hai và thoả hiệp về những điểm chính: chỉ có BV và Mỹ, không có MTGPMN, VNCH hay Đồng minh.
Ngày 13/5/68, hai phái đoàn Mỹ và BV nhóm họp phiên chánh thức đầu tiên tại Hội trường Quốc tế Ba-Lê. Mỗi bên có 11 nhân viên. Harriman và Xuân Thủy đọc các bản tuyên ngôn xác định lập trường: Xuân Thủy đòi hỏi Mỹ: trả lời dứt khoát về sự chấm dứt oanh tạc và các hành động chiến tranh; thừa nhận quyền tự quyết của dân tộc VN. Mỹ xâm lăng, kéo dài sự chia rẽ VN, phải đơn phương xuống thang chiến tranh, và chấm dứt xung đột. Harriman yêu cầu BV: trả lại vùng Phi quân sự tính cách Phi quân sự; BV phải có những biện pháp xuống thang chiến tranh tương xứng với sự ngưng oanh tạc; tăng cường kiểm soát và đảm bảo hòa bình với sự tham gia của các quốc gia Á Châu; dân miền Nam có quyền tự quyết với tư cách pháp nhân; tôn trọng trung lập của Lào; Mỹ sẵn sàng trao các căn cứ quân sự cho miền Nam xử dụng với mục đích xây dựng hòa bình.
Ngày 14/5/68, Đại sứ Harriman tuyên bố: đương cứu xét lại kỹ bản tuyên ngôn của BV. Phái đoàn BV vẫn chối là không có quân đội BV tại miền Nam, tuy vẫn có quân nhân BV bị bắt làm tù binh. Ngày 15/5/68, hai phái đoàn Mỹ và BV hội đàm lần thứ 2 trong 2 giờ rưỡi. Harriman nhấn mạnh về 5 điểm: cần xây dựng hòa bình trên căn bản các hiệp định Genève 1954; việc nội bộ miền Nam sẽ do người miền Nam tự quyết; không có sự can thiệp của ngoại bang; VN sẽ có thể thống nhất trong hòa bình, nhưng phải theo đường lối tự do; những điều khoản quân sự của hiệp định Genève cần được tôn trọng. Xuân Thủy xác nhận: Trước hết, Mỹ phải ngưng lìền oanh tạc và các hành động chiến tranh, không đặt điều kiện gì. Mỹ xâm lăng thì Mỹ phải tụt thang chiến tranh. BV không phải dè dặt khi chống xâm lăng. Harriman đề nghị họp mật với Xuân Thủy. Ngày 16/5/68, Đại sứ Cyrus Vance, Phó đoàn hòa đàm Mỹ tuyên bố tại Ba Lê: nếu bàn về các vấn đề chánh trị, phải có sự tham gia của VNCH.
Cùng ngày 17/5/68, Phát ngôn viên của phái đoàn BV tại Ba-Lê tuyên bố: Mỹ phải ngưng hẳn oanh tạc BV không điều kiện. Ngày 18/5/68, hai phái đoàn Mỹ và BV nhóm họp phiên thứ 3 trong 5 giờ liền. Hai bên vẫn giữ nguyên lập trường: BV đòi Mỹ ngưng hẳn oanh tạc và các hành động chiến tranh; HK nêu lên các bằng chứng, tỏ rằng quân BV đã có mặt tại miền Nam mặc dầu BV một mực chối cãi. Hai bên đều sẵng giọng, nhưng vẫn hứa sẽ họp lại. Theo Harriman, hiện nay tại miền Nam VN, có tới 85.000 quân BV gồm 9 sư đoàn, 27 trung đoàn, 99 tiểu đoàn bộ binh. Ngày 20/5/68, tại Ba-Lê, Đại sứ Harriman tuyên bố: VNCH sẽ có mặt khi bàn tới các vấn đề chánh trị VN. Ngày 22/5/68, hai phái đoàn Mỹ và BV họp phiên thứ 4 trong 1 giờ. Đại sứ Harriman đề nghị: chỉ nên công bố hạn chế thay vì tường thuật về các phiên họp. Hai bên vẫn chỉ nhắc lại những luận điệu đã đưa ra trong các phiên trước.
KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 1/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội, Hải Phòng, Uông Bí, và Hòn Gay. Ngày 3/3/68, Hà-Nội, và Nam Định bị oanh tạc. Ngày 4/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nộỉ, Hà Đông, Đồng Hới, Vinh và Thanh Hóa. Ngày 5/3/68, phi cơ Mỹ oanh tạc Nam Định, Thanh Hoá, khu Phi quân sự gần Gio Linh. Ngày 6/3/68, Hà Nội, Phúc Yên, Cẩm Phả, và Bái Thượng bị oanh tạc. Ngày 7/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội, Văn Điển, và Kép. Ngày 8/3/68, Ninh Giang, và Vinh.v.v.. bị oanh tạc. Ngày 10/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, và Bái Thượng, v.v. Ngày 11/3/68, Hà Nội, và Nam Định bị oanh tạc. Ngày 12/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Đông, Hải Phòng, Đông Triều, Cẩm Phả. Và Kép. Ngày 13/3/68, Hà Nội, Chúc Sơn, Kiến An bị oanh tạc. Ngày 14/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, Uông Bi, và Thái Nguyên. Ngày 15/3/68, Văn Điển, Kiến An, Cẩm Phả, và Hòn Gay bị oanh tạc.
Ngày 16/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc Cẩm Phả, Kiến An, Nam Định, Hải Dương, Phúc Yên, Yên Viên, và Phú Thọ. Ngày 17/3/68, Cẩm Phả, Ninh Bình, đèo Mụ Gia, Vinh, và Thanh Hóa bị oanh tạc. Ngày 18/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc phi trường Kiến An, nhà máy điện Hòn Gay, đèo Mụ Gia, các đường xe lừa Thanh Hóa, Vinh.v.v. Ngày 19/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tac nhà máy điện Uông Bí, ga xe lửa Nam Định, phi trường Đồng Hới và các trục giao thông Thanh Hóa, Vinh.v.v. Ngày 20/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc Hòn Gay, Phúc Yên, và đèo Mụ Gia. Ngày 21/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc trại quân Hà Đông, nhà máy điện Hòn Gay, nhà biến điện Cẩm Phả, trại quân Đồng Hới vv. Ngày 22/3/68, Cẩm Phả, Bái Thượng, v.v… bị oanh tạc. Ngày 23/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc Hòn Gay, Cẩm Phả, Uông Bí, Cát Bi, và Hải Dương. Ngày 24/3/68, Hà Nội, và Hà Đông bị oanh tạc. Ngày 25/3/68, Phi cơ F-111-A Mỹ xuất hiện lần đầu tiên trên chiến trường VN oanh tạc Hồng Hới.
Ngày 26/3/68, Nam Định, Yên Báy, và Đồng Hới bị oanh tạc. Ngày 28/3/68, Phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 1 chiếc F-111 mất tích. Ngày 29/3/68, Hòn Gay, Cẩm Phả, và Đồng Hới bị oanh tạc, 1 Mig-21 bị hạ. Ngày 30/3/68, có 138 phi vụ oanh tạc trại quân Chúc Sơn, cầu Hà Nội, cảng Hải Phòng, nhà biến điện Cẩm Phả, và các kho dầu vùng duỵên hải BV. Tới nay30/3/68, HK đã ngưng oanh tạc BV 6 lần: (1) từ 13 đến 17-1-1965; (2) từ 21-12-65 đến 31-1-66; (3) từ 21-12-66 đến 26-12-66; (4) từ 31-12-66 đến 2-1-67; (5) từ 28-1-67 đến 12-2-67; (6) trong dịp lễ Giáng sinh, Tết Dương dịch và Tết Nguyên đán vừa qua. Ngày 1/4/68, Ngưng oanh tạc phần lớn BV. Ngày 12/4/68, Phi cơ Mỹ vẫn oanh lạc vùng Đồng Hới, Vinh, và gần vùng Phi quân sự. Ngày 24/4/68, có 116 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/8/68, có113 phi vụ oanh tạc BV.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH VÀ GIA ĐỊNH. Ngày 1/3/68, hành quân tảo thanh tại Gia Định. Giao tranh suốt ngày tại Gò Vấp. Phi trường Tân Sơn Nhứt, Căn cứ Mỹ, và 3 đồn Nghĩa quân tại Nhà Bè bị pháo kích và tấn công. Ngày 3/3/68, Kho xăng Nhà Bè, Gia Bịnh, bị pháo kích, cháy 60.000 lít xăng. Ngày 14/3/68, hành quân Quyết Thắng của 50.000 quân Việt Mỹ quanh Biệt khu Thủ đô. Ngày 4/3/68, chạm súng gần xa lộ Thủ Đức. Ngày 7/3/68, giao tranh gần Phú Lâm, và Thủ Đức. Ngày 9/3, một toán VC tấn công nhà đèn Chợ Quán. Chi cảnh sát Phạm Thế Hiển; Chi Cảnh sát Nhà Bè bị pháo kích. Ngày 10/3/68, một đại đội Mỹ giao tranh với VC gần Tân Sơn Nhứt. Hành quân cảnh sát trong khu Trần Quổc Toản. Ngày 15/3/68, giao tranh tại Phú Hội, Sài Gòn. Ngày 19/3/68, giao tranh tại Bình Chánh, Gia Định.
Ngày 20/3/68, giao tranh tại Bình Chánh. Ngày 25/3/68, quân nhảy Dù VN tiếp tục truy kích VC tại Hóc Môn, Gia Định.Ngày 23/4/68, giao tranh suốt ngày khi 3 tiểu doàn Nhãy Dù chận đánh 1 lực lượng VC khá đông tại vùng ven Đô, dọc rạch Bến Cát, Hóc Môn, Gia Định. Ngày 30/4/68, đêm qua và hôm nay Cảnh sát Quốc gia mở nhiều cuộc hành quân kiểm soát trong Đô thành. Khám phá 3 hầm võ khí và nhiều địa đạo tại Xóm Mới, Gò Vấp, vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 1/3/68, kịch chiến tại Gio Linh, và tại Đông Hà. B-52 dội bom phá các dàn hoả tiễn, các ổ trọng pháo quanh Khe Sanh. Ngày 2/3/68, từ đêm qua, B-52 dội bom nhiều lần xuống gần Khe Sanh. Ngày 3/3/68, Khe Sanh bị tấn công, từ đêm qua và sáng nay B-52 phải dội bom 6 lần. Giao tranh gần căn cứ Cồn Tiên, Đồng Hà. Ngày 3/3/68, Quảng Tín. Quảng Ngãi, bị pháo kích. Ngày 4/3/68, Giao tranh gần Tam Kỳ. Ngày 5/3/68, giao tranh tiếp tục tại Tam Kỳ. Ngày 12/3/68, hành quân Lam Sơn 193 tiếp lục tại Quảng Trị. Giao tranh tại Gio Linh. Giao tranh suốt ngày tại Đồng Hà. Ngày 13/3/68, giao tranh tiếp tục tại Đồng Hà. Ngày 14/3/68, TQLC Mỹ tấn công 1 tiểu đoàn BV tại An Hòa, Quảng Nam. Ngày 15/3/68, Hành quân Lam Sơn 194 tại Thừa Thiên. Ngày 17/3/68, kịch chiến tại Đông Hà. Ngày 19/3/68, B-52 vẫn oanh tạc quanh Khe Sanh.
Ngày 20/3/68, B-52 tiếp tục oanh tạc quanh Khe Sanh. Ngày 21/3/68, tại Khe Sanh, tiểu đoàn 37 BĐQ đang đóng giữ vòng ngoài căn cứ. TQLC Mỹ đặt các căn cứ yềm trợ trên các đồi 861, 881, và 950. Ngày 27/3/68, hành quân Lam Sơn 201 tại Phú Thứ, Thừa Thiên. Ngày 1/4/68, hành quân Pegasus và Lam Sơn 207 với 2 sư đoàn Mỹ và một chiến đoàn Nhảy Dù VNCH, khai thông Quổc lộ 9 nổi liền Cam Lộ với Khe Sanh, và giải tỏa căn cứ này. B-52 dội bom 3 lần quanh Khe Sanh. Ngày 5/4/68, nhiều cuộc giao tranh chung quanh Khe Sanh, TQLC Mỹ đã chiếm ngọn được đồi 471. Ngày 5/4/68, giao tranh tại Thừa Thiên, Ngày 9/4/68, đêm qua, tai Khe Sanh, TQLC Mỹ đốt pháo bông nhiều màu và uổng la đe ăn mừng nhân dịp Sư đoàn 1 Không vận tới giải toả vùng này. TQLC Mỹ chuyển giao căn cứ Khe Sanh cho Sư đoàn 1 Không vận để tiến về phía Bắc gần biên giới Lào-Việt.
Ngày 12/4/68, giao tranh tại Lang Vei, gần Khe Sanh. Ngày 14/4/68, giao tranh tại Khe Sanh TQLC Mỹ tái chiếm ngọn đồi 881. Quốc lộ số 9 đưa tới Khe Sanh đã được khai thông. Ngày 16/4/68, giao tranh dữ dội tại Khe Sanh. Căn cứ TQLC Mỹ tại Khe Sanh cũng bị pháo kích. Ngày 19/4/68, theo tuần báo Times, trong 10 tuần lễ trước khi Khe Sanh được giải tỏa, phi cơ Mỹ đã dội xuống vùng phụ cận căn cứ này 103.500 tấn bom rẩt trúng đích. Số phi xuất trung bình của B-52: từ 40 đển 50 mỗi ngày. Số quân BV tử thương ước chừng 15.000. Cùng ngày 19/4/68, trong 3 tháng qua, B-52 cũng đã dội xuống khu A Shau biên giới Lào-Việt, tỉnh Thừa Thiên, 15.000 tấn bom. Ngày 20/4/68, B-52 dội bom 8 lần yểm trợ hành quân Lam Sơn 216, và quân Delaware Mỹ vùng An Hậu (A Shau) biên giới Việt-Lào thuộc Thừa Thiên.
Ngày 21/4/68, Tướng Jacob Chỉ huy phó Sư doàn 3 TQLC Mỹ tuyên bố không bỏ Khe Sanh, nhưng thay vì cố thủ bằng hành quân quanh vùng này. Ngày 22/4, các đơn vị TQLC Mỹ trên đồi 881 gần Khe Sanh, bị tấn công dữ dội. Ngày 24/4/68, B-52 vẫn oanh tạc dữ dội khu An Hâu (A Shau). Ngày 27/4, phi trường Quảng Trị và căn cứ Caroll Quảng Trị bị pháo kích. Ngày 28/4, theo tin tình báo Mỹ, có từ 15 đến 20 tiểu đoàn BV và VC chung quanh Huế. Ngày 29/4/68, giao tranh tại Quảng Trị. Ngày 2/5/68, Trong cuộc hành quân Delaware và Lam Sơn 218 tại biên giới Việt-Lào A Shau (An Hậu), Thừa Thiên, nhiều cuộc chạm súng với các đơn vị BV thuộc các Sư đoàn 325 và 324. Từ 3 tuần nay B-52 đã dội xuống khu này hơn 1.000 tấn bom.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 15/5/68, Kontum, Darlac, bị pháo kích. Đồn Địa phương quân Kon Som Luk, Kontum bị tấn công kịch liệt. Ngày 15/5/68, các đơn vị thuộc Sư đoàn Bạch Mã Đại Hàn hành quân tảo thanh vùng phu cận Cam Ranh. Ngày 20/5/68, B 52 oanh tạc các địa điểm Cộng quân tại Kontum. Cùng ngày 20/5/68, theo giới quân sự Mỹ, hiện có chừng 5.000 quân VC tụ tập quanh Dakto và chuẩn bị tấn công mạnh vào căn cứ Mỹ tại đây. Ngày 21/5/68, B 52 thực hiện 6 phi vụ oanh tạc các nơi tụ quân VC tại Kontum.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 5/3/68, Tỉnh lỵ Bình Long bị đột nhập. Tây Ninh, Phước Long bị pháo kích. Phú Cường bị tấn công. Giao tranh tại Bình Dương. Tây Ninh, Phước Long. Ngày 6/3/68, các vị trí quân sự Mỹ tại Tây Ninh, Củ Chi, Lộc Ninh, Sông Bé, Phú Lợi, Lai Khê bị pháo kích và tấn công. Ngày 12/3/68, Tiểu khu Phước Long bị pháo kích. Ngày 12/3/68, Tiểu khu Phước Long bị pháo kích. Ngày 15/3/68, giao tranh tại Đức Hòa, Hậu Nghĩa. Ngày 17/3/68, Giao tranh tại Hóc Môn, Phú Cường, Bình Dương. Ngày 18/3/68, giao tranh tại Bàu Tràm, Củ Chi. Ngày 25/3/68, giao tranh tại Hậu Nghĩa, tại Trảng Bàng, và Tây Ninh. Ngày 27/3/68, hành quân Úc tảo thanh vùng Long Hải, Phước Tuy.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT, Ngày 1/3/68, tại tỉnh lỵ Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ bị pháo kích. Ngày 3/3/68, Rạch Giá bị pháo kích. Ngày 4/3/68, hành quân Long Phi tại Vĩnh Long. Ngày 5/3/68, Mỹ Tho, Cần Thơ, Châu Đốc, Kiên Hòa, Kiến Phong bị pháo kích. Thị xã An Xuyên bị pháo kích và đột nhâp. Ngày 6/3/68, các vị trí quân sự Mỹ tại Cần Thơ, Sóc Trăng bị pháo kích và tấn công. Ngày 7/3/68, Thị xã Mỹ Tho bị pháo kích. Ngày 17/3/68, hành quân Trương Công Định 7/12/3 tại Định Tường. Chạm súng tại Mỹ Tho. Ngày 19/4/68, Phi cơ Mỹ phóng hỏa đốt một khu rừng tại U Minh, An Xuyên, để phá hủy các căn cứ VC lửa bốc mạnh trong nhiều ngày đêm. Ngày 27/4/68, giao tranh tại Long An.
ĐỢT 2 TỔNG TẤN CÔNG MẬU THÂN THÁNG 5. Ngày 5/5/68, có tới 19 tỉnh lỵ và quận lỵ tại các vùng chiến thuật bị pháo kích trong đêm qua. Và, trên 22 phi trường cũng bị pháo kích. Ngày 12/5/68, đêm qua, 106 vụ phá hoại, tấn công, pháo kích của Cộng quân trên các Vùng Chiến Thuật. Ngày 24/5/68, theo tin quân sự Mỹ, hiện có 9 sư đoàn BV xâm nhập miền Nam, cùng 4 trung đoàn và một số tiểu đoàn chủ lực tương đương với 3 sư đoàn. Tại vùng Trị-Thiên và giới tuyến: các Sư đoàn 304, 320, 324. Tại Bắc Lào: Sư-đoàn 325. Xung quanh Sài-Gòn: các Sư-đoàn 5, 7, và 9. Tại Cao nguyên và vùng Bình Định: các Sư-đoàn 1 và 2. Cùng ngày 24/5/68, theo nguồn tin quân sự VN, hiện nay ở địa hạt Tây Ninh có 2 sư-đoàn VC; các Công trường 1 và 9, cùng 1 tiểu đoàn cơ động và 1 đơn vị pháo binh.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH VÀ GIA ĐỊNH. Ngày 5/5/68, từ đêm qua, vài địa điểm tại Đô thành bị pháo kích và đột nhập: toà Hành chánh quận 5, đường Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, đường Phó Cơ Điều, Phan Thanh Giản. Thị Nghè, Bình Thới vv... Ngày 6/5/68, Trung tâm Truyền tin Quán Tre, Phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích. Giao tranh tiếp tuc tại khu Thị Nghè, Xa lộ Sài Gòn-Thủ Đức. Một đơn vị VC tiến về Đô thành, bị Nhảy Dù chặn đánh tại An Phú Đông. Một tiểu đoàn VC khác xâm nhập khu Ngã Tư Bảy Hiền, sát vòng rào phi trường Tân Sơn Nhứt. Đại tá Lưu Kim Cương Tư lịnh Không đoàn 33 kiêm Chỉ huy Yếu khu Tân Sơn Nhứt, bi tử thương. Ngày 7/5/68, giao tranh tiếp tục tại khu Thị Nghè. Giao tranh tiếp tục suốt ngày tại khu Bảy Hiền. Hàng trăm VC bám chặt trong các hẻm và cố tràn vào phía phi trưởng, nhưng bị các lực lượng Nhảy Dù ngăn chặn.
Cùng ngày 7/5/68, Một số địa điểm trong Đô thành bị pháo kích: phi trường Tân Sơn Nhửt, trại Trần Hưng Đạo, trại Võ Tánh, đường Nguyễn Huệ, đường Trần Hưng Đạo, nhà đèn Chợ Quán, khu Nguyễn cảnh Chân, quận II… Nhiều toán VC đột nhập gần cầu chữ Y Chợ Lớn. Giao tranh 2 lần tại Phú Lâm, Chợ Lớn. TQLC tấn công các đơn vị thuộc Tiều đoàn VC Phú Lợi I. Đến chiều ghi nhận chừng 200 nhà bị cháy. Tướng Lê Nguyên Khang, Tư lịnh Quân-đoàn III, cho biết: VC đặt bộ chỉ huy tiền phương tấn công Đô thành, tại hai Ấp quận Tân Bình, Gia Định, và định tiến qua khu Cầu Tre, Bình Thới, Phú Thọ Hòa. Theo tin tình báo Mỹ cũng như của một sĩ quan VC bị bắt, hai sư đoàn VC chuẩn bị tấn công Sài Gòn, vài tiểu đoàn đã lọt vô khu Phú Thọ Hòa. Đại tá Đàm Văn Quí, phụ tá Tống Giám đốc cảnh sát, bị tử thương trong cuộc hành quân trên đường Lục Tĩnh, Chợ Lớn. Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám đốc cảnh sát bị thương tại khu Tự Đức.
Ngày 8/5/68, tại Đô thành, khu Bảy Hiền đã do Nhảy Dù kiểm soát lại; tàn quân của Trung đoàn VC 762 lui về phía Bà Quẹo và Gò Vấp, Hóc Môn. Phi trường Tân Sơn Nhất bị trúng hoả tiễn 122 ly. Khu Nhà Đèn Chợ Quán cũng bi pháo kỉch. Nhiều đám cháy tại Thị Nghè, bến Phạm Thế Hiển, và đường Minh Phụng, Chợ Lớn. BĐQ tấn công truy bắt hơn 100 VC ẩn nấp tại Bình Thới. Tại khu Cầu Tre, Phú Thọ Hòa, 3 tiểu đoàn BĐQ tiếp tục truy kích 3 tiểu đoàn VC thuộc Sư đoàn 9 VC. Gần cầu Bình Lợi, TQLC chận đánh những nhóm VC rút khỏi khu Thị Nghè. Ngày 9/5/68, giao tranh tại Chợ Lớn, tiếp tục khu Minh Phụng, Phú Thọ. Giao tranh tại Tân Thới Hiệp, gần phi trường Tồn Sơn Nhứt. Giao tranh tại Khánh Hội Sài Gòn. Nhiêu dám cháy gần cầu chữ Y, Chợ Lớn. Ngày 10/5/68, tại Đô thành, vẫn có hành quân và giao tranh trong khu Minh Phụng, Hậu Giang, Phú Định, Cầu chữ Y, Chợ Lớn, Tân Thới Hiệp, Tân Quí Đông. Các trận đánh hôm nay đều rất ác liệt.
Cùng ngày 10/5/68, theo tin quân sự VNCH, tại phía Tây Đô thành VC tụ tập đông nhất tại khu Bình Trị Đông, Phú Thọ Hoà; tại phía Nam Đô thành Tân Quí Đông; tại phía Bắc Đô thành Xóm Mới. Hóc Môn. Mỗi nơi có ước chừng 2 tiểu đoàn. Ngày 11/5/68, tình hình Đô thành lắng dịu hơn. Các toán VC đã bị đẩy lui khỏi nhiều vị trí tại các quận 4, 6 và 8. Vẫn giao tranh kịch liệt tại Tân Thới Hiệp gần Hóc Môn từ sáng đến chiều. Súng cối VC bắn vào đường Phạm Ngũ Lão, quận 1. Quân đội Mỹ vẫn giao tranh với VC tại Hóc Môn và cầu chữ Y, Chợ Lớn. Ngày 12/5/68, trong đêm qua rạng sáng nay, 8 địa điểm định cư Chợ Lớn và Sài Gòn, bị pháo kích. Một toán VC xâm nhập trường học Bàn Cờ, mưu toan tấn công Chi cảnh sát gần đó. 3 giờ sáng Cộng quân bắn hỏa tỉễn vào bến Vân Đồn. Lúc 6 giờ cầu sắt trước chợ Bến Thành bị giật sập… Người nhái VC đặt mìn cầu Xa lộ Sài Gòn-Thủ Đức. Vẫn giao tranh tại khu cầu chữ Y, và gần Tân Sơn Nhất.
Ngày 13/5/68, theo tin quân sự Mỹ và Việt, VC đã huy động 24 tiểu đoàn đánh Thủ đô từ 5/5/68. Quân lực Mỹ huy động 11 tiểu đoàn, và VNCH 10 tiều đoàn ngăn chận. Ngày 14/5, Lúc gần 17 giờ, tại đường Khổng Tử Chợ Lớn, 2 nữ đặc công võ trang đốt cháy 1 xe buýt 2 hành khách chết cháy và 3 người bị thương. Ngày 15/5/68, Tình hình Đô thành tương đối yên tĩnh. Các cuộc hành quân cảnh sát tiếp tục, một số Đặc công bị bắt. Ngày 16/5/68, tại Sài Gòn một ổ đặc công bị bắt với 1 súng cối ở Cư xá Đô thành. Ngày 19/5/68, từ quá nửa đêm tới rạng sáng nay, 9 địa điểm Đô thành, trong những khu đông dân, bị pháo kích: bến Vân Đồn, đường Hàm Nghi, vườn Tao Đàn, đường Phan Thanh Giản…nhiều nhẩt là khu Phạm Ngũ Lão, Bùi Viện. Ngày 21/5/68, Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ hành quân quanh Sài Gòn. Ngày 23/5, vài chục VC lại xâm nhập tỉnh lỵ Gia Định, chợ Bà Chiểu, đường Hàng Xanh. Hàng chục đạn súng cối bắn vào khu dân cư Quận 8 Đô thành.
Ngày 25/5/68, một số VC xâm nhập tỉnh lỵ Gia Định. Giao tranh từ sáng sớm đến chiều tại khu Bình Hòa, Gia Định. Hành quân Cảnh sát trong khu Nguyễn Văn Học, Phan Văn Trị... Một phần tỉnh lỵ bị giới nghiêm suốt ngày đêm. Cũng tại ven Đô, VC tấn công một đơn vị TQLC tại Cát Lái. Ngày 26/5/68, có tin nhiều toán VC mới vào đang hoạt động vùng ven đô. Các lực lượng cảnh sát và TQLC tiếp tục hành quân lục soát, lùng bắt được khá nhiều VC mới xâm nhập tại Ngã Tư Bình-Hòa, cầu Băng Ky.v.v. Một tiểu đoàn VC khác toan xâm nhập Đô thành, bị Nhảy Dù ngăn chặn đánh tại Gò Vấp, Gia Định.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 6/5/68, Kịch chiến tại Đông Hà, Quảng Trị. Ngày 6/5/68, hành quân Lam Sơn 219 tại Thừa Thiên. Ngày 9/5/68, tại Thiên Thiên, 10.000 liên quân Việt-Mỹ hành quân về phía Tây-Nam, các đơn vị Nhảy Dù Mỹ vây đánh 3 tiểu đoàn BV và VC tại thung lũng A Shau (An Hậu). Ngày 10/5/68, Liên quân Việt Mỹ chiếm lại toàn khu An Hậu (A Shau), biên giới Việt-Lào thuộc Thừa Thiên. Ngày 12/5/68, Thành nội Huế bị pháo kích. Ngày 13/5/68, hành quân Lam Sơn 222 tại Triệu Phong, Quảng Trị. Ngày 15/5/68, hành quân Liên Kểt 63 tại Quảng Ngãi. Tại Thừa Thiên, giao tranh dữ dội giữa Liên quân Việt-Mỹ và 3 tiểu đoàn BV ở A Shau biên giới Lào Việt. Cũng ngày 15/5/68, giao tranh tại Khe Sanh.
Ngày 17/5/68, theo tướng Rosson, Tư lệnh quân Mỹ tại Thừa Thiên-Quảng Trị, kết quả hành quân Mỹ-Việt Delaware và Lam Sơn tại khu Au Hậu, 739 quân BV tử thương, 2 bệnh viện ngầm dài 18 thước, 38 quân xa, 1 xe thiết giáp Nga Sô, và nhiều võ khí quân cụ bị tịch thu, hoặc phá huỷ. Phía Mỹ-Việt: 142 tử thương, 840 bị thương, 108 trực thăng bị bắn rớt song chỉ có 20 bị phá hủy. Ngày 18/5/68, tại Thừa Thiên, giao tranh suốt ngày vùng A Shau biên giới Lào Việt. Ngày 19/5/68, kịch chiến tiểp tục tại khu A Shau, Thừa Thiên. Ngày 20/5/68, Giao tranh dữ dội tiếp tục tại khu A Shau, Thừa Thiên.Cùng ngày 20/5/68, giao tranh dữ đội tại Qụảng Nam.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 1/3/68, tại tỉnh lỵ Pleiku, Kontum lại bị pháo kích. Ngày 3/3/68, Kontum, Ban Mê Thuột bị pháo kích. Ngày 4/3/68, Chi khu Tuy Phước và đồn Kỳ Sơn, Bình Định bị một tiểu đoàn VC tấn công. Kịch chiến tại Tuy Hòa. Ban Mê Thuột bị pháo kích và đột nhập. Hành quân Tiến Bộ 4/68 tại Ban Mê Thuột. Ngày 5/3/68, Căn cứ Cam Ranh bị pháo kích. Ngày 6/3/68, các vị trí quân sự Mỹ tại Plciku... bị pháo kích và tấn công. Ngày 13/3/68, Phi trường Ban Mê Thuột bị pháo kích. Một đoàn quân xa Mỹ trên quổc lộ 14 bị phục kích gần Pleiku. Ngày 17/3/68, Giao tranh tại Kontum. Ngày 27/4/68, giao tranh tại Kontum. Ngày 28/4/68, giao tranh tại Kontum.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 5/4/68, Phi trường Biên Hoà bị pháo kích. Ngày 12/4/68, Căn cứ Mỹ tại Dầu Tiếng, đồn điền Michelin, bị tấn công ào ạt trong 5 giờ liền. Ngày 13/5/68, giao tranh kịch liệt tại Phú Cường, Bình Dương. Giao tranh tại phía Tây Củ Chi, Hậu Nghĩa. Trại Lực lượng Đặc biệt núi Bà Đen, Tây Ninh bị pháo kích. Ngày 16/4/68, Trường Bộ binh Thủ Đức bị pháo kích. Ngày 6/5/68, Kịch chiến tại Bàu Trai, Hậu Nghĩa. Ngày 15/5/68, Tây Ninh, phi trường bị pháo kích. Biên Hòa bị pháo kích. Kịch chiến tại Trảng Bàng. Ngày 17/5, hành quân Toàn Thắng C/48 tại Long Khánh. Ngày 18/5/68, theo Thiếu tướng Tư lịnh Sư đoàn 18 BB, trong 12 ngày qua, từ 2 đến 3 Trung đoàn Cộng quân đã mở một loạt tấn công vào Túc Trung, La Ngà nhắm vào tỉnh lỵ Long Khánh. Ngày 20/5/68, B 52 oanh tạc các địa điểm Cộng quân Tây Ninh, Biên Hòa, Long Khánh, Bình Long. Giao tranh tại Bình Dương. Theo Trung tướng Đỗ Cao Trí, Tư lịnh Vùng III Chiến thuật, thì trong vùng có chừng 45.000 quân BV do tưởng Song Hào chỉ huy, và có cả cố vấn Trung Cộng. Ngày 21/5/68, hành quân Toàn Thắng 14/C-18 tại Long Khánh. B 52 thực hiện 6 phi vụ oanh tạc các nơi tụ quân VC Tây Ninh.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 12/5/68, hành quân Trương Công Định VB/38 tại Vĩnh Bình khám phá 1 hầm võ khí tại Bến Lức, Long An. Ngày 15/5/68, đêm qua và sớm nay, các tỉnh lỵ Kiến Phong, Kiến Tường, Bạc Liêu, Ba Xuyênbị pháo kích. Giao tranh tại Mỹ Tho. Cùng ngày 20/5/68, một hầm võ khí của VC bị khám phá tại Cần Giuộc, Long An.Ngày 21/5/68, giao tranh tại Bến Tre.
Bài 244: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG TỪ THÁNG 5 ĐẾN THÁNG 8 NĂM 1968.
CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG. Ngày 18/5/68, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc bị lực áp lực từ chức. Người được bổ lên thay là Trần Văn Hương. Ngày 25/5/68, Nội các chánh phủ Trần Văn Hương trình diện tại dinh Độc Lập. THÀNHVIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng kiêm Tổng trưởng XDNT, Trần Văn Hương; Quốc vụ khanh kiêm Tổng trưởng Chiêu hồi, Bác sĩ Phan Quang Đán; Quốc vụ khanh kiêm Viện trưởng Giám sát, Mai Thọ Truyền; Quốc vụ khanh, Vũ Quốc Thúc; Tổng trưởng Ngoại giao, Trần Chánh Thành; Tổng trưởng Nội vụ, Đại tướng Trần Thiện Khiêm; Tổng trưởng Quốc phòng, Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ; Tổng trưởng Tư pháp, Lê Văn Thu; Tổng trưởng Giáo dục và Thanh niên;Nguyễn Văn Thơ; Tổng trưởng Y tế và Xã hội, Trần Lữ Y; Tổng trưởng Kinh tế, Âu Ngọc Hồ; Tổng trưởng Tài chánh,Lưu Văn Tính; Tổng trưởng Thông tin, Tôn Thất Thiện; Tổng trưởng Cải cách Điền địa, Trương Thái Tôn; Tổng trưởng Công chánh và Giao thông, Lương Thế Siêu; Tổng trưởng Lao động, Đàm Sỹ Hiến; Tổng trưởng Phát triển Sắc tộc, Paul Nur; Tổng trưởng Phủ thủ tướng, Huỳnh Văn Đạo; Thứ trưởng Xây dựng Nông thôn, Đại tá Hoàng Văn Lạc.
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 3/6/68, các Thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng và Nguyễn Văn Là thăng Trung tướng; Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan và Ngô Quang Trưởng thăng Thiếu tướng. Ngày4/6/68, Thiếu tướng Nguyễn Văn Minh, nguyên Tư lịnh Sư đoàn 21 Bộ binh, được cử làm Tư lịnh Biệt khu Thủ đô thay tướng Lê Nguyên Khang. Ngày 6/7/68, Đại tá Đỗ Kiến Nhiễu được cử làm Đô trưởng Sài Gòn thay Đại tá Văn Văn Của.Đại tá Trần Văn Hai được cử làm Tổng Giám đốc Cảnh sát, thay Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan. Ngày 19/6/68, nhân Ngày Quân lực VNCH, 11 Đại tá được thăng Chuẩn tướng, và 9 Chuẩn tướng thăng Thiếu tướng. Tại Huế, TT Nguyễn Văn Thiệu ký ban hành luật Tổng động viên trước Phu Văn Lâu.
Ngày 18/7/68, TT Nguyễn Văn Thiệu lên đường sang hội kiến với Tổng thống Johnson tại Honolulu, để duyệt lại các vấn đề liên quan đến chiến cuộc và hòa đàm. Ông Thiệu tuyên bố: “Tôi không đi Hạ Uy Di để bán đứng đất nước; để nhượng thêm đất đai; hoặc để chọn một giảỉ pháp liên hiệp với Cộng sản”. Ngày 5/8, Trung tướng Đỗ Cao Trí nhậm chức Tư lịnh Quân-doàn III và Vùng III Chiến thuật thay Trung tướng Lê Nguyên Khang. Ngày 28/8/68, TT Nguyễn Văn Thiệu đi thăm mặt trận Quảng Đức, từ trực thăng liên lạc bằng vô tuyến với Trung uý Quận trưởng Đức Lập và thăng cấp cho vị sĩ quan này lên Đại úy vì chiến công. Ngày 19/7/68, TT Nguyễn Văn Thiệu hội đàm với TT Johnson tại Honolulu. Tổng thống HK tuyên bố vẫn ủng hộ VNCH chống xâm lăng và bảo vệ tự do.
Ngày 20/7/68, Thông cáo chung Việt-Mỹ sau 2 ngày hội đàm tại Honolulu: (1) chiến thắng mọi nổ lực quân sự và khủng bố do Hà Nội chủ mưu; (2) tăng cường quân đội VNCH; (3) tiếp tục tìm kiếm biện pháp xuống thang chiến tranh và tạo một hòa bình vững chắc trong danh dự theo căn bản Hiệp định Genève 1954; (4) trang bị quân lực VNCH bằng trung liên cá nhân M.16; (5) HK không ép buộc VNCH chấp nhận chánh phủ Liên hiệp; (6) phải đi tới sự ngưng xung đột, nhưng chỉ có thể như vậy khi nào BV thực sự nghiên cứu các biện pháp dẫn tới mục đích đó. TT Nguyễn Văn Thiệu họp báo tại Honolulu tuyên bố: Hai Tổng thống HK và VNCH đồng ý rằng ngưng pháo kích Sài Gòn không phải là xuống thang chiến tranh.
QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 28/5/68, Hạ viện biểu quyết 109/110 bác bỏ dự luật Tổng động viên của Thượng viện chuyển xuống, giữ nguyên dự luật Hạ viện đã chấp thuận trước đó. Ngày 16/6/68, hai Viện Quốc hội chấp thuận 5 khoản phúc nghị của Hành pháp về đự luật Tổng động viên. Ngày 26/6/68, Hạ Nghị viện biểu quyết tuyên ngôn, gửi Hành pháp và Quốc hội HK, yêu cầu xác định lập trường đối với chiến cuộc, hòa đàm và liên hiệp. Ngày 18/7/68, Hạ Nghị viện VNCH gửi đến TT Nguyễn Văn Thiệu một bản khuyến cáo và lưu ý chánh phủ Hoa Kỳ về những điềm sau: (1) không chấp nhận Liên hiệp, Trung lập, trái độn; (2) quyền tự quyết của dân tộc VN và Hiến pháp 1-4-67 phải được tôn trọng; (3) VN phải đóng vai trò chính trong các cuộc hội đàm về tương lai xử sở; (4) mọi thỏa hiệp phải được sự chấp thuận của VNCH; (5) cuộc hội đàm không thể kéo dài mãi nếu Cộng sản vẫn pháo kích và xâm nhập miền Nam.
Ngày 27/8/68, Thượng viện cử 4 phái đoàn Nghị sĩ đi Mỹ châu, Âu châu, Á châu và Phi châu để giải thích về tình hình VN lập trường của VNCH. Ngày 7/8/68, hơn 90 Dân biểu yêu cầu Hạ viện can thiệp cho các phần tử quốc gia hiện ở hải ngoại, được trở về nước phục vụ. Ngày 12/8/68, ba (3) Dân biểu tới trụ sở Sinh viên Sài Gòn thăm 15 sinh viên và học sinh tuyệt thực đòi trả tự do cho các sinh viên bị cảnh sát bắt giữ, vì giữ tài liệu Cộng sản. Các sinh viên học sinh này thuộc Uỷ ban Cứu trợ đồng bào tị nạn.
CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 26/5/68, theo Chỉ huy Trung tâm 3 Tuyển mộ và Nhập ngũ, kể từ đầu năm 1968, đã có 109.549 thanh niên trình diện nhập ngũ; 92.000 người đã đươc thâu nhận so với 77.237 người cho cả năm 1967. Ngày 24/6/68, Thủ tướng Trần Văn Hương ra trước Hạ Nghị viện giải thích về tình hình và trả lời một số câu hỏi: chưa để các Tướng lãnh đã xuất ngoại trở về nước vì hoàn cảnh chưa thuận tiện.v.v. Ngày 28/6/68, tại mỗi quận Đô thành, từ nay sẽ có một Đặc khu trưởng phụ trách về các cuộc hành quân, tiếp tế cứu trợ trong trường hợp mất an ninh. Ngày 29/6/68, thành lập một bộ chỉ huy Việt-Mỹ lo việc bảo vệ thủ đô, đặt dưới quyền Tổng trấn Nguyễn Văn Minh, và tướng Hay, chỉ huy quân Mỹ tại Sài Gòn. Theo Bộ Kinh tế, nhiều giá hàng đứng vững hoặc đã sụt khá nhiều: gạo Nàng Thơm từ 3.100$ mỗi tạ xuống 3.000$, vàng từ 11.400/lượng tuần trước xuống 11.150$/lượng.
Ngày 1/7/68, Thủ tướng Trần Văn Hương tuyên bố với ký giả bảo II Resto Del Carlino không thể thoả hiệp với Cộng sản; cuộc hòa đàm tại Ba Lê chỉ là một dịp cho Cộng sản tuyên truyền; không có cách nào khác là chiến đấu. Ngày 8/7/68, ký kết tại Sài Gòn thỏa ước Việt-Mỹ, theo đó Mỹ tài trợ chương trình cải cách điền địa, để cấp phát 25.000 chứng khoán và 70.000 mẫu ruộng trong số 175.000 mẫu mua lại của Pháp kiều từ 1959. Ngày 11/7/68, có 23 sĩ quan tốt nghiệp khóa Quân Chánh I được bổ nhiệm Quận trưởng. Ngày 12/7, Tòa án Quân sự Mặt trận Vùng III xử tại Sài Gòn 10 người thuộc tổ chức Liên minh Dân tộc Dân chủ Hòa bình xuất hiện từ 20-4-68 tại thủ đô: tất cả đều bị án tử hình và tịch thu tàỉ sản.Ngày 17/7/68, chừng 2.500 cán bộ Xây dựng Nông thôn thực tập củng cố vòng đai bảo vệ Thủ đô, kiểm tra dân chúng và tồ chức Nhân dân Tự vệ tại Gia Định. Theo Trung tướng Tổng trưởng Quốc phòng, quân lực VNCH có thể tăng 135.000 người trong năm nay và được HK trang bị đầy đủ.
Ngày 28/7, khánh thành cầu Trường Tiền Huế vừa được tái thiết. Cầu Bạch Hổ bị phá Tết Mậu Thân, cũng đã được sửa chữa. Ngày 1/8/68, Theo Viện Thống kê giá sinh hoạt tại Sài Gòn trong tháng 7 vừa qua, đã tăng 3,5% cho giới trung lưu; và 3,8% cho giới lao động. Ngày 3/8/68, Tổng trưởng Phát triển Sắc tộc Paul Nur hội thảo với lãnh tụ nhóm Fuiro, Y B’Ham, về các điều kiện trở về hợp tác của nhóm này. Ngày 16/8/68, Trung tâm 3 Tuyển mộ và Nhập ngũ, từ đầu năm 1968 đã tiểp nhận 92.249 tân binh, so với 77.223 năm 1967. Ngày 17/8/68, cựu Thiếu tướng Lâm Văn Phát và 4 sĩ quan khác liên can tới vụ biến cố ngày 19-2-65, được Tòa án Quân sự Mặt trận Vùng 3 Chiến thuật xét lại tha bổng. Ngày 26/8, Bộ Quốc phòng gọi nhập ngũ các học sinh thi rớt Tú tài I có tuổi từ 18, 19, 20 và 21. Ngày 25/8/68, Đại sứ Phạm Đăng Lâm tới Ba Lê thay Đại sứ Bùi Diễm làm Trưởng phái đoàn liên lạc (qua 18 lần họp Hoa Kỳ-Bắc Việt) về cuộc hòa đàm HK và BV.
NẠN NHÂN, TỴ NẠN, VÀ CỘNG SẢN CHÁNH HỒI . Ngày 10/6/68, tại Đô thành các khu đông dân, đường Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Đình Chiểu, Trương Minh Giảng, Hòa Hưng, Lê Văn Duyệt, Tô Hiến Thành và một vài nơi bị pháo kích. Dân chúng Đô thành đổ xô mua bao cát làm hầm để phòng pháo kích. Ngày 15/6/68, theo tòa Đô chánh, số nạn nhân trong cuộc tấn công đợt 2 vào Đô thành, là 123.711 người. Ngày 18/6/68, từ sau Tết Mậu Thân tới nay, số tiền quyên cho cáo nạn nhân chiến cuộc lên tới 388.380.530$ và một số ngoại tệ bẳng 7.630.577$ VN. Ngày 28/8/68, có 88 thiếu nhi VN nạn nhân chiến tranh, được điều trị tại các bệnh viện Tây Đức, rồi gửi vào một Làng Hòa Bình vùng Wesphalie học theo chương trình Việt trong khi chờ ngày về nước.
NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 4/6/68, theo tin UPI, BS Phan Quang Đán, Quốc vụ khanh kiêm Tổng trưởng Chiêu hồi, hiện đang ở HK tuyên bố: VNCH phải bắt đầu nói chuyện với MTGPMN, bởi vì hoặc phải giết hết VC, hoặc phải nói chuyên với họ, nhưng giết hết họ là việc rất khó. Bộ Thông tin VNCH cho biết: phải đợi BS Đán về nước mới biết rõ thực hư, song chánh sách của VNCH là không điều đình với MTGPMN và không thừa nhận Mặt trận này.Ngày 6/6/68, Thủ tướng Trần Văn Hương đã cho gửi điện văn yêu cầu Quốc vụ khanh Phan Quang Đán, hiện ở HK, xác nhận hoặc cải chính lời tuyên bố về sự điều đình với MTGPMN. Bộ Ngoại giao xác nhận: Tổng thống VNCH và hai Viện đã minh định là không thừa nhận MTGPMN, không điều đình liên hiệp với Mặt trận này.
Ngày 14/6, Thông cáo của Phủ Thủ tướng: Quổc vụ khanh Phan Quang Đán bị giải nhiệm vì đã tỏ lập trường đối với MTGPMN trái Hiến pháp, trái chánh sách của Tổng thống, và 2 Viện Quốc hội. Ngày 20/6/68, cựu thiếu tướng Lâm Văn Phát, liên can tới các vụ biến cố 13-9-64 và 19-2-65, ra trình diện Bộ Nội vụ. Ngày 25/6/68, tại Hoa Thịnh Đốn, BS Phan Quang Đán cải chính lời tuyên bố do các báo HK thuật lại, và nhấn mạnh: không chủ trương thừa nhận MTGPMN và liên hiệp với VC. Ngày 26/7/68, Tòa án Lưu động Mặt trận Vùng III Chiến thuật phạt Luật sư Trương Đinh Dzu ứng cử viên về nhì trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1967, 5 năm khổ sai vì phạm tội làm suy giảm ý chí chống Cộng của nhân dân và quân đội. Ngày 2/8/68, tòa án Lưu động Mặt trận Vùng III kết án khiếm diện 10 năm khổ sai Chủ tịch ban Chấp hành Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, về tội làm suy giảm ý chí chống Cộng của nhân dân và quân đội trên tờ báo có chủ trương thân Cộng.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 31/5/68, Đại sứ Mỹ Bunker trao cho Chánh phủ VNCH chi phỉếu 25.000 Mỹ kim viện trợ nạn nhân các cuộc tấn công vào thành thị. Cùng ngày 5/6/68, tại Los Angeles, Thượng Nghị sĩ Robert Kennedy 42 tuổi, bị kẻ lạ mặt bắn trúng 4 phát đạn súng lục, 1 tình nghi bị bắt. Tình trạng nạn nhân rẩt trầm trọng. Ngày 6/6/68, Thượng Nghị sĩ Robert Kennedy từ trần, viên đạn bắn vào đầu đã xuyên tới óc. TT Johnson tuyên bố ngày chủ nhật 9/6 sẽ là ngày quốc tang. Thanh niên bắn Thượng Nghị sĩ Robert Kennedy, là Sirhan Bechara Sirhan, một người xứ Jordan sang trú ngụ tại HK từ 1957. Ngày 10/6, theo tướng Westmoreland, VC và BV đã tổn thất 113.000 người từ đầu năm nay. Ngày 11/6/68, Tướng Westmoreland, Tổng tư lịnh Mỹ tại VN, rời Sài Gòn về Mỹ nhậm chức Tham mưu trưởng Lục quân.
Ngày 17/6/68, Đại sứ Mỹ Bunker tuyên bố: không bao giờ HK tìm kiểm hoặc chấp nhận một sự liên hiệp cưỡng bách giữa VNCH và MTGPMN. Ngày 20/6/68, Phó TT Mỹ Humphrey tuyên bố: không hề thay đôi lập trường về vấn đề VN.Ngày 21/6/68, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố: nếu VC ngưng pháo kích Sài Gòn, thì sự kiện đó cũng có thể coi là một sự xuống thang chiến tranh. Ngày 23/6/68, Phó TT Mỹ Humphrey chủ trương: ngừng bắn ngay để tạo không khí thuận lợi cho cuộc hòa đàm tại Ba Lê. Ngày 27/6/68, theo phát ngôn viên tòa Bạch ốc, việc rời bỏ căn cứ Khe Sanh do chính TT Johnson quyết định. Ngày 2/7/68, Tướng Westmoreland hy vọng rằng cuối 1969 hoặc đầu 1970, quân đội HK có thể bắt đầu rút khỏi VN, vì khi đó quân đội VNGH sẽ đủ sức bảo vệ lãnh thổ.
Cùng ngày 2/7/68, theo tạp chí US News and World Report: Phí tổn chiến tranh hàng ngày của HK là 77 triệu Mỹ kim trong đó có 18 triệu tiền bom đạn. Ngày 3/7/68, Thượng Nghị sĩ McCarthy tuyên bố: không chủ trương rằng quân đội Mỹ sẽ đơn phương rút khỏi VN. Ngày 7/7/68, cho tới nay, đã có hơn 4.000 trực thăng và phi cơ rớt ở miền Nam. Ngày 9/7/68, theo tin từ Hoa Thịnh Đốn, TT Johnson sẽ gặp TT Nguyễn Văn Thiệu tại Honolulu vào ngày 20-7 sắp tới để thảo luận về tình hình VN. Ngày 11/7/68, Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford tuyên bố: khi chiến tranh chấm dứt, quân đội Mỹ cũng sẽ chỉ rút dần dần; phải bổ túc số quân cụ bị hao mòn vì chiến sự; phải tiếp tục những công tác xây dựng bị ngưng trệ.giữa hai dân tộc Việt và Mỹ.
Ngày 13/7/68, Thống đốc Rockefeller, tuyên bố: nếu được đảng Cộng hòa chỉ định làm ứng cử viên Tổng thống, thì sẽ đề nghị áp dụng một chương trinh rút quân cho cả hai bên BV và HK; giao việc kiểm soát triệt thoái cho một lực lượng quốc tế; và tố chức tổng tuyển cử tại VN dưới quyền kiểm soát quốc tế; rồi để hai miền Nam và Bắc thỏa hiệp về sự thổng nhất hay biệt lập. Ngày 15/7/68, Bộ trưởng Quốc phòng HK Clark Clifford cùng tướng Earl Wheeler, và một pháỉ đoàn sang VN duyệt lại tình hình quân sự. Ngày 21/7/68, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William Bundy trình với Hạ viện Mỹ: HK từ bỏ giải pháp nhằm chiến thắng tại VN, và sẽ trút dần gánh nặng chiến tranh cho VNCH.
Ngày 23/7/68, TT Johnson tuyên bố tại hội nghị 50 Thống đốc HK: BV chưa muốn hòa bình; HK đã cố tỏ thiện chí tới mức mà danh dự và an ninh cho phép; không thể ép buộc chánh quyền miền Nam VN liên hiệp với Cộng sản. Bộ Quốc phòng HK xác nhận phi cơ F 4 Phantom chở tướng Robert F. Worley, Tư lịnh Phó Phi đoàn 7, bị bắn rớt cách Huế 4 cây số. Tướng Worley bị tử thương. Cùng ngày 31/7/68, TT Johnson tuyên bố: BV đưa quân và vũ khí vào Miền Nam VN nhiều hơn bao giờ hết; Mỹ chờ đợi một cuộc tân công lớn, nhưng mong rằng việc đó không xẫy ra; Mỹ sẵn sàng ngưng hẳn oanh tạc nếu chắc rằng sẽ không có tổn thất lớn cho quân đội Mỹ. Ngày 2/8/68, có 3 phi công Mỹ được BV phóng thích, rời khỏi Hà Nội qua Vạn Tượng đề về HK. Ngày 5/8/68, Đảng Cộng hòa HK nhóm họp đại hội lần thứ 29 lại Miami đề chọn ứng cử viên Tổng thống trong 3 chính khách: cựu Phó TT Richard Nixon; Thống đốc Nelson Rockefeller và Thống đốc Ronald Reagan.
Ngày 6/8/68, theo Bộ Quốc phòng HK, tổng số thiệt hại của Không lực Mỹ: 877 phi cơ và 9 trực thăng bị hạ trên BV; 292 phi cơ và 807 trực thăng bị hạ trên miền Nam; 1.122 phi cơ và 1.102 trực thăng bi phá huy trên mặt đất hoặc bị hư bại vì tai nạn. Ngày 8/8/68, gần nửa đêm nay, tại Đại hội Cộng hòa Mỹ, cựu Phó T.T. Nixon được chỉ định làm ứng cử viên chánh thức của dảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử TT tháng 11 tới. Cùng ngày 8/8/68, Ứng cử viên Nixon tuyên bố: mục tiêu thứ nhất của chánh phủ HK nếu ông đắc cử, là chấm dứt chiến tranh tại VN; nhưng chỉ có thể điều đình ở một vị trí mạnh. Ngày 11/8/68, Thượng Nghị-sĩ McGovern tuyên bố muốn được đảng Dân chủ chỉ định làm ứng cử viên TT, với chương trình theo đúng đường lối của anh em Kennedy: ngưng oanh tạc, chấp nhận giải pháp Liên hiệp tại VN.
Ngày 19/8/68, TT Johnson tuyên bố 5 điều kiện tái lập hoà bình: (1) lập lại vùng Phi quân sự; (2) đề cho dân 2 miền VN có thể quyết định về sự thống nhất; (3) quân lực ngoại quốc rút khỏi Lào; (4) quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam theo các điều kiện đã vạch rõ từ 1965; (5) khuyến khích dân miền Nam tự quyết về số phận bằng cách bầu cử tự do. Ngày 27/8/68, khai mạc tại Chicago Đại hội đảng Dân chủ, với 2.091 đại biểu. Ngày 29/8/68, TT Mỹ Humphrey được chỉ định làm ứng cử viên Dân chủ với 1.761 phiếu. McCarthy được 601, McGovern 145, Edward Kennedy 12. Cựu Thống đốc Edmund Muskie, được chọn làm ứng cử viên Phó TT của đảng Dân chủ. Ngày 29/8/68, Tổng số thiệt hại của quân lực Mỹ tại VN từ đầu 1961 là 27.101 từ trận, 169.296 bị thương.
VỚI ĐỒNG MINH CÓ QUÂN THAM CHIẾN. Ngày 28/5/68, Thông cáo chung Mỹ-Úc, sau cuộc thăm viểng HK của Thủ tướng Úc John Gorton: các quốc gia tham chỉến tại VN đều phải được tham gia cuộc hòa đàm về VN. Ngày 9/6/68, sau 3 ngày thăm viếng của Thủ tướng Úc John Gorton, một Thông cáo chung Viêt-Úc với nội dung: (1) VNCH phải giữ vai trò chính trong cuộc đàm phán; (2) Đồng minh phải tham dự vào mọi dàn xếp để giải quyết vấn đề VN; (3) VNCH phải có quyền tự chọn chính thể và nếp sống. Ngày 28/5, Thông cáo chung Mỹ-Úc, sau cuộc thăm viểng HK của Thủ tướng Úc John Gorton: các quốc gia tham chỉến tại VN đều phải được tham gia cuộc hòa đàm về VN.
QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 27/5/68, khai mạc tại Sài Gòn hội nghị Liên minh Thế giới chống Cộng và Liên minh Á Châu chống Cộng, với sự tham gia của 14 Quốc gia. Ngày 28/5, Thông cáo của Liên minh Thế giới chống Cộng: (1) cuộc hòa đàm tại Ba-Lê phải tôn trọng yêu sách chánh đáng của VNCH là không nhìn nhận MTGPMN; (2) trong cuộc hòa đàm VNCH phải giữ vai chính. Ngày 27/5/68, khai mạc tại Sài Gòn hội nghị Liên minh Thế giới chống Cộng và Liên minh Á Châu chống Cộng, với sự tham gia của 14 Quốc gia. Ngày 28/5, Thông cáo của Liên minh Thế giới chống Cộng: (1) cuộc hòa đàm tại Ba-Lê phải tôn trọng yêu sách chánh đáng của VNCH là không nhìn nhận MTGPMN; (2) trong cuộc hòa đàm VNCH phải giữ vai chính.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 29/5/68, theo tin quân sự Mỹ, 2 sư đoàn VC và BV chuẩn bị đánh mạnh vào Cao nguyên để cắt miền Nam làm 2 phần. Ngày 22/6/68, theo tin quân sự Mỹ, mặc dầu bị tổn thất nặng, VC vẫn tiếp tục tụ quân trong các tỉnh quanh Sài Gòn và có thể mở cuộc tấn công đợt III vào cuối tháng 6 hoặc đầu tháng 7. Ngày 30/6/68, Lê Đức Thọ, Cố vấn Phái đoàn BV tại Ba Lê trên đường về Hà Nội qua Mạc Tư Khoa hội kiến với Thủ tướng Kossyguine và các lãnh đạo Liên Xô. Harriman về Mỹ. Theo dư luận HK và BV sẽ duyệt lại đường lối đàm phán. Cùng ngày 2/7/68, theo Đại sứ Harriman, trong tháng 5 vừa qua, BV đã đưa thêm 29.000 quân vào miền Nam. Ngày 25/7/68, theo báo Nhân Dân, Hà Nội, các cuộc oanh tạc BV đã tăng nhiều từ 31-3-68: 2.500 lần trong tháng ba; 3.500 lần trong tháng tư; 4.700 lần trong tháng năm; 5.200 lần trong tháng sáu; và 3.500 lần trong nửa tháng bảy.
Ngày 11/8/68, Hà Nội đính chính, rằng Phạm Văn Đồng không hề tuyên bố quân BV đang chiến đấu tại miền Nam, nhưng chỉ xác nhận quyền của toàn thể nhân dân VN tự vệ chống xâm lăng. Cùng ngày 13/8/68, Theo giới quân sự Mỹ, Cộng quân mở 18 trận tấn công hôm nay tại 3 Vùng Chiến thuật, mở đầu cuộc Tổng công kích đợt 3. Ngày 15/8, Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford tuyên bố: từ đầu năm, BV đưa vô Nam 150.000 quân.
HỘI ĐÀM PARIS MỸ-VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ. Ngày 27/5/68, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 5, trong hơn 4 giờ. Xuân Thủy vẫn nhắc yêu sách cũ và lên án HK. Harriman đòi tái lập vùng Phi quân sự và tăng cường Ủy hội Quốc tế Kiểm soát đình chiến. Ngày 31/5/68, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 6 trong 3 giờ 45 phút. Hai bên vẫn giữ nguyên lập trường cũ. Xuân Thủy phủ nhận chánh quyền miền Nam, và chỉ coi MTGPMN là đại diện chánh thức của dân chúng miền Nam. Harriman tuyên bố Mỹ sẵn sàng rút quân, nhưng đặt câu hỏi: bao giờ BV chịu rút khỏi miền Nam?Ngày 2/6/68, Lê Đức Thọ, yếu nhân đảng Lao động BV sang Mạc Tư Khoa hội đàm với Kossyguine trước khi qua Ba Lê tăng cường phái đoàn BV. Ngày 3/6/68, Lê Đức Thọ tới Ba Lê tuyên bố: nếu HK chịu chấm dứt các cuộc oanh tạc và các hành động chiến tranh, hai bên Mỹ và BV có thể bắt đầu thảo luận ngay về các vấn đề khác.
Ngày 5/6, hai phái đoàn HK và BV nhóm họp lần thứ 7, trong 3 giờ 40 phút. Không có kết quả nào. Ngày 12/6/68, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 8 tại Ba Lê, Lê Đức Thọ tham dự. Harriman phản kháng về các vụ pháo kích vào dân chúng Sài Gòn và các tỉnh lỵ. Xuân Thủy đòi HK định rõ ngày nào ngưng hẳn oanh tạc. Ngày 19/6/68, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 9 tại Ba Lê. Harriman muổn bàn về việc rút quân hai bên, theo tinh thần hiệp định Genève. Xuân Thủy vẫn giữ lập trường cũ. Từ nay, sẽ họp mỗi tuần 1 lần, vào ngày thử tư. Ngày 26/6/68, tai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 10 tại Ba-Lê, trong 4 giờ. Không có tiến bộ nào. Ngày 3/7/68, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 11, tại Ba-Lê, trong 3 giờ. Lập-trưởng hai bên vẫn như cũ. Ngày 10/7/68, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 12 tại Ba Lê. Không kết quả.Ngày 17/7/68, Phái đoàn HK và BV họp lần thứ 13 tại Ba Lê trong 4 giờ 25 phút. Lập trường hai bên vẫn không thay đổi.
Ngày 24/7/68, hai phải đoàn HK và BV họp lần thứ 14 tại Ba Lê trong 3 giờ. Lập trường hai bên không thay đổi. Ngày 27/7/68, Xuân Thủy Trưởng đoàn đàm phán BV tuyên bố: nếu Mỹ ngưng hẳn oanh tạc BV và các hành động chiến tranh khác, tất cả tù binh Mỹ có thể được phóng thích. Ngày 31/7/68, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 15 tại Ba Lê. Hà Văn Lâu lại bác bỏ mọi điều kiện để ngưng oanh tạc BV. Harriman trách BV lợi dụng lãnh thổ Lào để chuyển quân và võ khí vô Nam. Ngày 7/8/68, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 16 tại Ba Lê, Harriman tuyên bố: HK dự định phóng thích 14 thuỷ thủ BV bị bắt từ 1966. Ngày 13/8, Hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 17 tại Ba Lê. Không có tiến bộ nào. Cùng ngày 21/8/68, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 18 tại Ba Lê trong 3 giờ 30 phút. Không có chi lạ. Ngày 28/8, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 19 tại Ba Lê. Vẫn chỉ có công kích và đối lập về lập trường và thái độ hai bên.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH VÀ GIA ĐỊNH. Ngày 25/5/68, một số VC xâm nhập tỉnh lỵ Gia Định. Giao tranh từ sáng sớm đến chiều tại khu Bình Hòa, Gia Định. Hành quân Cảnh sát trong khu Nguyễn Văn Học, Phan Văn Trị... Một phần tỉnh lỵ bị giới nghiêm suốt ngày đêm. Cũng tại ven Đô, VC tấn công một đơn vị TQLC tại Cát Lái. Ngày 26/5/68, có tin nhiều toán VC mới vào đang hoạt động vùng ven đô. Các lực lượng cảnh sát và TQLC tiếp tục hành quân lục soát, lùng bắt được khá nhiều VC mới xâm nhập tại Ngã Tư Bình-Hòa, cầu Băng Ky.v.v. Một tiểu đoàn VC khác toan xâm nhập Đô thành, bị Nhảy Dù ngăn chặn đánh tại Gò Vấp, Gia Định. Ngày 27/5/68, đêm qua, 1 tiểu đoàn VC tấn công các đơn vị Mỹ tại Gia Định. Một số VC lọt vào khu chợ Bà Chiểu, Lò Heo chiếm đóng nhiều cao ốc bắn xuống. Nhiều cuộc chạm súng tại Bình Thới, cầu Dơi, khu Minh Phụng, Chợ Lớn. 1 trung đội VC xâm nhập Chợ Lớn, bị TQLC chặn đánh.
Cùng ngày 27/5/68, nhiều phi tuần Mỹ dội bom xuống vùng ven Đô, khu Nam Bình Thạnh, Tân Phú và Bà Quẹo. Ngày 28/5/68, có 7 nơi thuộc khu dân cư Sài Gòn và Gia Định pháo bị pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly. An ninh được tái lập tại khu Bình Hòa, Nguyễn Văn Thoại Lê Văn Duyệt. TQLC ngăn chặn các toán VC xâm nhập Chợ Lớn, chạm súng dữ dội từ 3 giờ sáng tới chiều tại Phú Định và Phú Lâm. Nhiều nhà bị cháy. Ngày 29/5/68, TQLC và BĐQ tảo thanh vùng Phú Lâm, Phú Định tại ven Đô. Kịch chiến vùng ranh giới Lái Thiêu và Thủ Đức. Ngày 30/5/68, từ 3 giờ sáng, 4 địa điểm dân cư Đô thành lại bị pháo kích. 2 tiểu đoàn VC cố tiến vào Phú Lâm ven Đô, giao tranh tiếp tục sang ngày thứ tư. Dân chúng lại chạy đi lánh nạn.
Ngày 31/5/68, giao tranh sang ngày thứ 5 tại khu Phủ Lâm. Nhiều toán VC xâm nhập khu Khổng Tử, Tổng Đốc Phương, Phạm Đình Hồ. Nhiều đám cháy trong khu Chợ Lớn mới. Vài toán VC xâm nhập quận 5 và Ngã Sáu, Kịch chiến tại khu Hậu Giang, Phạm Đình Hồ. Nhiều nhà bị cháy. 1 tiểu đoàn VC tiến tới cầu Băng Ky bị TQLC ngăn chặn. Khu Nhà Bè bị pháo kích. Ngày 1/6/68, tới hôm nay là ngày thứ 6, TQLC đã hạ hơn 200 VC trong khu Phú Lâm, Phú Định, Hậu Giang. Nhiều toán VC xâm nhập quận 5 và quận 6 Đô thành trên cảc đường Khổng Tử, Phùng Hưng, Nguyễn Trãi, Đống Khánh, Mạnh Tử, Lý Thành Nguyên, Phạm Đình Hổ; nhiều lần chạm súng với BĐQ và Cảnh sát. Nhiều cuộc giao tranh gần cầu Bình Lợi và cầu Băng Ky giữa chiến đoàn TQLC và hơn một trung đoàn VC từ 3 hôm nay.
Ngày 2/6/68, tại Gia Định, giao tranh tiếp tục tại cầu Băng Ky và khu chùa Tập Thành. Tại Chợ Lớn, khu Khổng Tử, Mạnh Tử, Hồng Bàng, đường Lục tỉnh, và vài địa điểm Đô thành bị pháo kích. Lúc 18 giờ hơn, một trực thăng Mỹ bắn lầm vào Bộ chỉ huy hành quân tại đường Khổng Tử Chợ Lớn làm 6 sĩ quan VNCH tử thương: các Trung tá Nguyễn Văn Luận, Lê Ngọc Trụ, Phó Quốc Chư, Đào Bá Phước, và cảc Thiếu tá Nguyễn Bảo Thùy và Nguyễn Ngọc Sinh. Đại tá Văn Văn Của, Đô trưởng Sài Gòn, cùng Trung tá Trần Văn Phấn cũng bị thương. Cùng ngày 2/6, ba (3) Sư đoàn 5, 7 và 9 VC luân phiên tấn công vào Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Ngày 3/6, tại Chợ Lớn, VC còn len lỏi và cầm cự tại các đường Mạnh Tử, Nguyễn Trãi, Lý Thành Nguyên, Phùng Hưng. Tại Gia Định, cuộc giao tranh tiẽp tục tại đồng ông Cộ sát tỉnh lỵ, gần cầu Băng Ky, và Xóm Thơm, Gò Vấp.
Ngày 4/6/68, quá nửa đêm, 5 nơi dân cư Đô thành bị pháo kích. Giao tranh nhiều nơi trong khu vực Sài Gòn và Gia Định: tại Gia Định, khu Xóm Thơm, Đông Ông Cộ, Cây Quéo, Hoàng Hoa Thám, Ngộ Tùng Châu; tại Chợ Lớn, khu Khổng Tử, Trần Thanh Cần, Hồng Bàng, Nguyễn Trãi, Phùng Hưng, Lý Thành Nguyên. Ngày 5/6/68, vài khu dân cư Chợ Lớn và Khánh Hộỉ bị pháo kích. Giao tranh tiếp tục tại Chợ Lớn, khu Trần Thanh Cần, Lý Thành Nguyên, Hoà Lạc. Tại Gia Định, giao tranh nhiều nơi ở Gò Vấp, khu Cầu Sơn và Đồng Ông Cộ. Ngày 6/6/68, Vài toán VC giao tranh với TQLC khu Cầu Kinh, Gia Định. Chừng 1 đại đội VC phân tán ra nhiều toán nhỏ cố thủ trong một số cao ốc đường Học Lạc, Mạnh Tử tại Chợ Lớn. Ngày 7/6/68, tại Gia Định, khu Hoàng Hoa Thám, Ngô Tòng Châu và Lê Quang Định vẫn còn chừng 3 đại đội VC lẫn quẩn. Ngày 8/6/68, một số VC còn lẫn quẩn tại Gia Định và Chợ Lớn, như ngã tư Cây Quéo, khu Khổng Tử, Hồng Bàng, cầu Ba cẳng Chợ Lớn.v.v.
Ngày 10/6/68, Nhảy Dù và TQLG truy kích những toán VC còn lẩn quẩn tại Gia Định, trong khu Hoàng Hoa Thám, Ngô Tùng Châu, và Xóm Mới Gò Vấp. Ngày 11/6/68, Đô thành lại bị pháo kích lúc 6 giờ 30 sáng bằng đạn 122 ly. Các nơi bị trúng: đường Gia Long, Công Lý, Tự Do, Nguyễn Du, Thống Nhất, Cường Để, Lê Thánh Tôn, Phan Đình Phùng, bến Bạch Đằng v.v. Ngày 12/6/68, lúc 3 giờ sáng, khu Tân Sơn Nhất bị pháo kích bằng hoả tiễn 122. Ngày 13/6, chừng 150 VC còn lẩn quất gần Cây Thị. Ngày 15/6/68, nhiều toán Biệt Kích và Nhảy Dù bao vây VC tại Gia Định, trong khu Phan Văn Trị, Ngô Tùng Châu, và Cây Thị. Kịch chiến tại An Phủ Đông gần phi trường Tân Sơn Nhứt. Các khu dân cư quận 4, quận 7 và quận 8 Đô thành bị pháo kích. Ngày 16/6/68, chừng một tiểu đoàn VC tấn công một vị trí Mỹ tại Gia Định. Giao tranh tiếp tục tại Ngã Ba Cây Thị. Ngày 17/6/68, một trung đoàn phó qui chánh và kêu gọi các đồng đội rời bỏ hàng ngũ VC.
Ngày 18/6/68, từng toán 5 hay 10 người, hơn 110 VC ra qui chánh tại mặt trận Gia Định. Vẫn chạm súng tại vùng Ngã Ba Cây Thị, Gia Định. Ngày 21/6/68, quá nửa đêm qua và gần sáng nay, một số hỏa tiễn bắn vào Đô thành, đường Cách Mạng, Trương Tẩn Bửu, Chu Mạnh Trinh, và khu Tân Sơn Nhứt. Ngày 23/6/68, lại giao tranh tại ấp Đông Hưng, Tân Sơn Nhứt. Ngày 24/6/68, từ đêm qua đến sáng nay, 68 chiếc B-52 đã dội hom quanh Sài Gòn. Ngày 25/6, theo tin quân sự Mỹ, vẫn còn chừng 25 tiểu đoàn VC ở các vùng quanh thủ đô. Ngày 27/6/68, trong tuần qua, B-52 đã thực hiện 100 phi vụ trên các địa hạt phụ cận Sài Gòn, để xua đuổi 26 tiểu đoàn VC lẩn quất quanh thủ đô. 30 trọng pháo HK và 6 trọng pháo VNCH được đặt tại vài địa điểm ven Đô để phản công các vụ pháo kích của VC. Một số VC vẫn lác đác xuất hiện tại Gia Định, vùng Bình Lợi, Ngã Ba Cây Thị, xỏm Thơm v.v...
Ngày 6/7/68, theo tướng Abrams, từ 1-3-68 tới nay, quân đội Mỹ đã tìm thấy 560 hỏa tiễn trong các vùng phụ cận Sài Gòn. Ngày 8/7/68, Khu Nhà Bè, Gia Định bị pháo kích. Ngày 11/7/68, theo các nguồn tin quân sự Việt và Mỹ, VC vẫn tập trung hàng chục tiểu đoàn quanh Sài Gòn và chờ dịp mở cuộc tẩn công đợt 3 vào thủ đô. 15 tiểu đoàn VNCH và 100.000 quân Việt Mỹ án ngữ và tảo thanh quanh Sài Gòn trong vòng 25 cây số. Ngày 12/7/68, các lực lượng phòng vệ thủ đô được đặt trong tình trạng báo động vì có tin VC sắp tấn công Tổng nha Cảnh sát. Ngày 4/8/68, quá nửa đêm qua, chạm súng gần trường đua Phú Thọ. Một hầm võ khí bị khám phán gần Sài Gòn. Cùng ngày 4/8/68, Cảnh sát Quốc gia khám phá bắt 2 đặc công tại đường Cao Thắng và Nguyễn Thông cùng một số súng đạn và chất nổ. Ngày 9/8/68, Lựu đạn nổ tại góc đường Yersin và Nguyễn Công Trứ, Sài Gòn. Mìn nổ tại văn phòng phường Khổng tử, Chợ Lớn.
Ngày 10/8/68, Liên quân Việt Mỹ mở cuộc tảo thanh Bến Cát tìm thấy nhiều kho thực phẩm. B-52 dội bom 3 lần xuống các tụ điểm VC quanh Bến Cát, và Vũng Tàu. Ngày 13/8/68, Cảnh sát khám phá 2 hầm chứa 11 súng AK, 38 đạn B.40, 100 kg thuốc nổ, và 2 bao bố đựng giấy bạc 500$ tại một tiệm chạp phô Tàu đường Nguyên Huỳnh Đức, Phú Nhuận. Ngày 19/8/68, theo phát ngôn viên quân sự Mỹ tại Sài Gòn, Cộng quân tụ tập chừng 50 tiểu đoàn hoặc 30.000 quân cách Thủ đô 3 ngày đường, và chuẩn bị tấn công 75 tiểu đoàn Việt Mỹ. Ngày 22/8/68, lúc 3 giờ 15 và 4 giờ 40 đêm qua, VC bắn hỏa tiễn 122 ly vào trụ sở Quốc hội, bến Chương Dương, đường Hàm Nghi.v.v. Ngày 22/8/68, tại góc đường Công Lý-Ngô Thời Nhiệm, Sài Gòn, 1 Thiếu tá Mỹ đi xe xích lô máy, bị 2 thanh niên cưởi xe Honda bắn chết. Ngày 23/8/68, khu vực Cát Lái, Chi khu Bình Chánh, Gia Định bị pháo kích. Ngày 24/8/68, Đoàn quân xa Mỹ bị phục kích trước xã Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 29/5/68, chừng 1 trung đoàn BV chiếm đóng 2 làng gần Đông Hà kịch chiến với TQLC Mỹ từ chiều hôm qua. Ngày 31/5/68, tại Thừa Thiên, VC giao tranh suốt ngày với các lực lượng Việt Mỹ. Tại Khe Sanh, VC và TQLC Mỹ kịch chiến 4 giờ liền. Tại Hội An, VC phục kích một đoàn quân xa Mỹ. Ngày 18/6/68, TQLC Mỹ truy kích một đơn vị BV đã tấn công vào căn cứ Khe Sanh. Ngày 25/6/68, hơn 6.000 TQLC Mỹ bắt đầu rời bỏ căn cứ Khe Sanh. Ngày 4/7/68, trong 4 ngày qua, có 28 phi vụ của pháo đài bay B-52 trong vùng giới tuyến. Ngày 7/7/68, TQLC Mỹ rút hết khỏi căn cứ Khe Sanh, và mở cuộc hành quân Scotland II gần Gio Linh. Hai đại đội BV tấn công TQLC Mỹ trên một ngọn đồi gần Khe Sanh. Ngày 14/7/68, Khe Sanh Phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc vùng Đồng Hới. B 52 tiếp tục dội bom xuống xuống nhiều địa điềm VC gần Đà Nẵng. Ngày 16/7/68, kể từ đầu tháng này, các phóng pháo B-52 dội bom 38 lần xuống BV dưới vỹ tuyến 19.
Ngày 21/7/68, một tiểu đoàn BV tấn công TQLC Mỹ gần Khe Sanh. Ngày 25/7/68, đêm qua phi trường Đà Nằng bị pháo kích; sáng nay trung tâm huấn luyện Hòa Cầm bị tấn công. Ngày 27/7/68, Quá nửa đêm qua, tỉnh lỵ Quảng Ngãi cùng 9 quận lỵ trong tỉnh bị pháo kích dữ dội suốt 3 giờ. Tòa Tỉnh trưởng và Bộ Tư lịnh Sư đoàn 2 bị trúng đạn. Cũng quá nửa đêm qua, nhiều cơ sở Mỹ tại Đà Nẵng bị pháo kích. Ngày 9/8/68, nhiều tiểu đoàn Việt Mỹ lại tiến vào khu thung lũng A Shau (An Hậu), Thừa Thiên. Ngày 14/8/68, B-52 dội bom xuống các tụ điểm VC tại Quảng Ngãi. Ngày 19/8/68, giao tranh dữ dội tại Quảng Trị. Nhiều trận đụng độ gần Hội An. Ngày 22/8/68, giao tranh tại tại Quảng Ngãi, tại Quảng Namvà tại Quảng Trị. Ngày 23/8/68, các cơ sở Mỹ tại Đà Nẵng bị pháo kích. Thị xã Quảng Trị, Huế, Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi đều bị pháo kích. Giao tranh suổt 8 giờ liền tai Tam Kỳ. Ngày 24/8/68, B-52 dội bom xuổng vùng tụ quân của VC tại Khe Sanh.
Ngày 25/8/68, kịch chiến tiếp tục tại Tam Kỳ. Tại Quảng Nam, giao tranh suốt 11 giờ gần quận lỵ Điện Bàn. Ngày 26/8/68, các căn cứ TQLC Mỹ tại Cửa Việt và Cam Lộ bị pháo kích. Ngày 28/8/68, tại Quảng Nam, quận lỵ Đại Lộc bị pháo kích. B-52 đội bom xuống các nơi tụ quân CS cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 12 cây số. Ngày 29/8/68, giao tranh kịch liệt tại Quảng Nam. Hai làng An Lâp, An Lão cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 7 cây số bị đột nhập. B-52 dội bom xuống vùng VC ở Dakto và Quảng Ngãi. Đại uý Harold Aron, một chỉ huy Lực lượng Bặc biệt, cho biết có 6 xe thiết giáp lội nước Nga, kiêu PT 76, tiến vào vùng Tây Bắc Quảng Ngãi cùng với bộ binh BV. Ngày 30/8/68, hành quân Hưng Quảng 1/65 tại Quảng Nam. Sớm nay, phi trường Đà Nẵng, Thị xã Tam Kỳ và cơ sở Mỹ tại Núi Thành bị pháo kích. Cùng ngày 30/8/68, TQLC Mỹ phá hủy các cơ sở của bộ chỉ huy 1 trung đoàn BV cách Huế 17 cây số về phía Nam.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 27/5/68, 1 đại đội VC toan xâm nhập thị xã Đà Lạt, bị đẩy lui. Ngày 30/5/68, Kịch chiến tại Dakto, quanh ngọn đồi 900 do Mỹ chiếm đóng. Ngày 31/5/68, tại Đà Lạt, 1 tiểu đoàn VC giao tranh vớiBĐQ. Ngày 15/7/68, B52 tiếp tục dội bom xuống các nơi tụ quân của VC tại Ban Mê Thuôt. Ngày 25/7/68, B 52 dội bom xuống nhiều địa điểm VC thuộc Bình Định. Ngày 29/7/68, sân bay Tuy Hòa bị pháo kích và đột nhập. Ngày 16/8/68, mộtđơn vị Mỹ bị phục kích tại Pleiku. Ngày 16/8/68, B-52 dội bom 5 lần xuống Dakto. Ngày 20/8/68, giao tranh kịch liệt tại Pleiku. Ngày 23/8/68, Trại quân Đức Lập, Quảng Đức bị tấn công ồ ạt. Một đoàn quân xa Mỹ bị phục kích tại Pleiku.Ngày 24/8/68, giao tranh tiếp tục suốt ngày tại Đức Lập. B-52 dội bom xuổng vùng tụ quân của VC tại Kontum.
Ngày 25/8/68, vài ngàn Cộng quân Sư đoàn 325 BV, tràn vào tiểu khu Đức Lập chiếm được một phần trại, bị phi cơ và viện binh đẩy lui. Ngày 26/8/68, Tiểu khu Đức Lập được giải tỏa, nhưng các lực lượng VNCH và HK tiếp tục hành quân tảo thanh quanh vùng. Ngày 28/8/68, giao tranh tiếp tục quanh Đức Lập, Quảng Đức. Ngày 29/8/68, B-52 dội bom xuống vùng VC ở Dakto. Ngày 30/8/68, tại Quảng Đức, vẫn giao tranh quanh quận lỵ Đức Lập. Ngày 30/8/68, Thị xã Pleiku, bị pháo kích.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 31/5/68, tại Tân Uyên, Biên Hòa, VC giao tranh với 1 đại đội Úc 3 giờ liền. TạiPhú Cường, VC giao tranh với Bộ binh Mỹ. Ngày 27/6/68, Đường Thủ Đức - Biên Hòa được khai thông, sau 9 tháng bị cản trở vì chiến sự. Ngày 1/7/68, B52 vẫn oanh tạc nhiều mục tiêu VC tại Tây Ninh, Bình Dương, Long Khánh, Hậu Nghĩa. Ngày 5/7/68, khám phá 1 hầm chứa 5 hỏa tiễn 122 ly và một số võ khí khác tại Hậu Nghĩa. Ngày 14/7/68, B 52 tiếp tục dội bom xuống xuống nhiều địa điềm VC gần Tây Ninh. Ngày 15/7/68, B52 tiếp tục dội bom xuống các nơi tụ quân của VC tại Tây Ninh. Ngày 16/7/68, Khám phá một hầm vũ khí, đạn súng lớn tại Thủ Đức. Ngày 25/7/68, B 52 dội bom xuống nhiều địa điểm VC thuộc Bình Long. Ngày 30/7/68, B 52 dội bom xuống 3 địa điểm VC trong địa phận Tây Ninh. Ngày 12/8/68, B-52 dội bom xuống các địa điểm tụ quân VC ở Hậu Nghĩa.
Ngày 14/8/68, B-52 dội bom xuống các tụ điểm VC tại Tây Ninh, Hậu Nghĩa. Ngày 16/8/68, một tiểu đoàn bộ binh VNCH bị phục kích tại Long Khánh. Cùng ngày 16/8/68, B-52 dội bom 5 lần xuống Củ Chi. Ngày 18/8/68, lúc 1 giờ 30 tỉnh lỵ Tây Ninh bị pháo kích và đột nhập. Những trận đánh kịch liệt cũng xảy ra tại căn cứ Katum và núi Bà Đen. Ngày 19/8/68, sau 36 giờ giao tranh, Cộng quân bị đẩy lui khỏi các khu phố Tây Ninh. Ngày 19/8/68, một số căn cứ Việt và Mỹ tại Bình Long và Tây Ninh vẫn bị pháo kích dữ dội. Ngày 19/8/68, hành quân Toàn Thắng 269/B/IKB tại Bình Dương. Ngày 20/8/68, sau 4 ngày giao tranh, trận Lộc Ninh vẫn còn tiếp tục. Ngày 20/8/68, B-52 dội bom dữ dội xuống các điểm tụ quân VC tại Tây Ninh, và Hậu Nghĩa. Các căn cứ Mỹ tại Dầu Tiếng và Lộc Ninh bị pháo kích. Ngày 22/8/68, Phi trường Biên Hòa cũng bị pháo kích. Ngày 23/8/68, giao tranh tại Bình Long, tại Phước Long.
Ngày 24/8/68, B-52 dội bom xuổng vùng tụ quân của VC tại Hậu Nghĩa. Ngày 25/8/68, Phi trường Biên Hòa bị pháo kich. Bị phục kích trên Quốc lộ 1, kịch chiến suốt ngày gần Tây Ninh. Ngày 27/8/68, ba (3) vị trí quân sự tại Hậu Nghĩa bị pháo kích. Ngày 29/8/68, giao tranh kịch liệt gần Trảng Bàng. Ngày 31/8/68, Gần nửa đêm qua, phi trường Biên Hòa bị pháo kích.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 30/5/68, Các tỉnh lỵ An Xuyên và Kiến Phong bị pháo kích. Ngày 28/6/68, cầu Bến Lức, Long An sụp đổ từ mìn của một chiếc bè trôi sông. Ngày 30/6/68, cầu Bến Lức, Long An được công binh tạm thay bằng cầu nổi. Việc tiếp tế từ các tỉnh miền Tây không bị gián đoạn. Ngày 30/7/68, giao tranh tại Vị Thanh. Ngày 4/8/68, giao tranh suốt ngày tại Cần Đước, Long An. Ngày 7/8/68, cầu nổi Bến Lức bị 1 bè mìn làm sập. Ngày 8/8/68, cầu phao Bến Lức đã được Công binh VNCH chữa lại sau vụ bè mìn phá hủy. Ngày 19/8/68, giao tranh kịch liệt tại Long An.Ngày 20/8/68, B-52 dội bom dữ dội xuống các điểm tụ quân VC tại Long An. Ngày 21/8/68, các nơi bị tấn công hôm nay: Mộc Hoá, Bến Tre, Tri Tôn, Cao Lãnh, Cầu Kè, Phong Điền. Những nơi bị pháo kích: Trà Vinh, Sóc Trăng, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cái Bè, Tam Bình, Cần Thơ, Cầu An Hữu bị mìn làm sập, giao thông trên Quổc lộ 4 bị gián đoạn.
Ngày 22/8/68, Tỉnh lỵ Kiến Hoà, tỉnh lỵ Mỹ Tho, tỉnh lỵ Cần Thơ bị pháo kích. Ngày 23/8/68, Tỉnh lỵ Cần Thơ bị pháo kích ban ngày. Hành quân Quyết Chiến 7/14 tại Định Tường. Ngày 24/8/68, B-52 dội bom xuổng vùng tụ quân của VC tại Định Tường. Ngày 25/8/68, Phi trường Trà Nóc bị pháo kich. Ngày 26/8/68, Cần Thơ và Vĩnh Long bị pháo kích. Ngày 28/8/68, hành quân Quyết Chiến 16/9 tại Vĩnh Long. Hành quân Toàn Thắng 199/690 tại Long An. Ngày 30/8/68, đêm qua, đài Phát thanh Cần Thơ và phi trường Trà Nóc bị pháo kích. Hành quân Quyết Chiến 32/27 tại An Xuyên. Hành quân Quyết Chién 56 tại Chương Thiện.
Bài 245: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG TỪ THÁNG 9 ĐẾN THÁNG 10 NĂM 1968
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 3/9, ban hành Luật 007/68 tổ chức Tối cao Pháp viện. Ngày 6/10/68, TT Nguyễn Văn Thiệu chủ tọa tại vườn Tao Đàn lễ xuất phát 810 cán bộ Tân Sinh của Liên minh Dân tộc Cách mạng Xã hội. Ngày 19/10/68, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố tại Vũng Tàu: lập trường của VNCH không thay đổi đối với vấn đề ngưng oanh tạc BV. VNCH không nhìn nhận MTGPMN; BV phải xuống thang chiến tranh và tỏ thiện chí. Ngày 20/9/68, trong cuộc họp báo tại quận lỵ Ba Tri, Kiến Hòa, TT Nguyễn Văn Thiệu cho biết: sẽ cử đại diện sang Vọng Các tiếp xúc với Đại tướng Dương Văn Minh; nhưng không tin rằng tướng Minh không đặt những điều kiện để trở về nước như một số báo ngoại quốc đã loan truyền.
Ngày 5/10/68, Đại tướng Dương Văn Minh từ Vọng Các trở về Sài Gòn. Ngày 8/10/68, Đại tướng Dương Văn Minh hội đàm với TT Nguyễn Văn Thiệu và tiếp kiến nhiều chính khách và cựu tướng lãnh. Ngày 10/10/68, Văn phòng Tổng thống cải chính những tin đồn có biến loạn và bắt giữ một số người trong hai ngày qua. Ngày 17/10/68, Đại sứ HK Bunker hội đàm lần thứ 3 trong 2 ngày qua với TT Nguyễn Văn Thiệu về tình hình VNCH. Ngày 22/10/68, Đại sứ Bunker hội đàm lần thứ 5 với TT Nguyễn Văn Thiệu về vấn đề ngưng oanh tạc BV. Cùng ngày 22/10/68, Thông cáo của Văn phòng phủ Tổng thống: TT Nguyễn Văn Thiệu xác nhận VNCH và HK hoàn toàn đồng ý lý tưởng và theo đuổi những mục tiêu tương tự để vãn hồi hòa bình; không chống sự ngưng oanh tạc BV, nếu BV xuống thang chiến tranh và tiến tới cuộc nói chuyện trực tiếp với VNCH.
Ngày 24/10/68, Đại sứ Bunker yết kiến TT Nguyễn Văn Thiệu lần thứ 6 trong 8 ngày qua. Ngày 30/10/68, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: nểu BV không tỏ thiện chí, thì sẽ không có sự ngưng oanh tạc. Lúc 22g15 giờ quốc tế ngày 31/10/68, TT Johnson tuyên bố trên đài truyền hình và phát thanh: ngưng tất cả các cuộc oanh tạc và pháo kích trên toàn thề lãnh thổ BV; cuộc hòa đàm nghiêm chỉnh sẽ tiếp tục ngày 6-11-63; chánh phủ VNCH có thể tham dự. MTGPMN sẽ tham dự, nhưng không vì thế mà được nhìn nhận.
QUỐC HỘI VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 11/10/68, Dân biểu Nguyễn Bá Lương lại đắc cử Chủ-tịch Hạ Viện; và nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền lại đắc cử Chủ tịch Thượng viện.
TỐI CAO PHÁP VIỆN, VÀ GIÁM SÁT VIỆN. Ngày 17/10/68, hai Viện Quốc hội bầu xong 9 Thẩm phán Tối cao Pháp viện. Ngày 19/10/68, Bổ nhiệm 9 Thẩm phán Tối cao Pháp viện: Trần Văn Linh, Trần Minh Tiết, Mai Văn An, Nguyễn Văn Biện, Nguyễn Văn Sĩ, Trinh Xuân Ngạn, Nguyễn Mộng Bích, Nguyễn An Thông, Trần Văn Liêm. Ngày 22/10, Lễ tuyên thệ tại Sài Gòn của 9 Thẩm phán Tối cao Pháp viện. Ngày 24/10/68, ban hành Luật ấn định tổ chức và điều hành Viện Giám Sát. Ngày 30/10/68, Lễ tuyên thệ 18 Giám sát viên tại Hội trường Diên Hồng trước 2 Viện Quốc hội và Tổng thống VNCH.
CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 1/9/68, theo Viên Thống kê VN, giá sinh hoạt trong tháng 8 vừa qua so với tháng 7 đã tăng 2,4% đối với giới trung lưu và 2,5% đối với lao dộng, và nếu so với mức lương 8-1967, thì tỷ lệ tăng là 22.9% và 23,1 %. Cùng ngày 3/9/68, khánh thành một trung tâm giải phân thần kinh với trang bị tối tân, đáng 1.300.000 Mỹ-kim do chánh phủ Nhật viện trợ tại Bịnh viện Chợ Rãy Chợ Lớn. Ngày 5/9/68, tổng số người VN xuất ngoại năm 1966: 17.941; năm 1967: 25.170 người. Trong số ra đi 6.137 qua Lào, 6.117 qua Hòng Kông, 1,122 qua Hoa Kỳ, và 1.152 qua Pháp. Ngày 6/9/68, có 3 Trung tá Tỉnh trưởng bị cách chức, giao hoàn Bộ Quốc Phòng đề truy tố, trong khuôn khổ kế hoạch bài trừ tham nhũng. Ngày 7/9/68, trong khuôn khổ kế hoạch bài trừ gian thương, cảnh sát Đô thành, từ 9-8 đến hôm nay, đã lập biên bản 1.083 vu vi phạm luậl lệ kinh tế; 248 vụ bán hàng quá giá; 34 vụ đầu cơ tích trữ; 723 vụ không niêm yết giá; 78 vụ linh tinh.
Ngày 7/9/68, hơn 10 Viện trưởng, khoa trưởng và giáo sư Đại học nhóm họp hội thảo tại Nha Trang, về kế hoạch cải tiển Đại học. Giám đốc nha Khảo thí Bộ Giáo dục bị huyền chức để chờ cuộc điều tra về sự gian lận trong các kỳ thi Tú tài vừa qua. Ngày 8/9, Chuẩn tướng Trương Quang Ân, Tư lịnh Sư đoàn 23 Bộ binh, cùng vợ và 3 quân nhân Mỹ, bị tử nạn vì trực thăng rớt và bốc cháy tại Đức Lập. Ngày 11/9/68, kết quả tổ chức Nhân dân Tự vệ trong 52 phường và 567 khóm tại Đô thành: 156.751 nam đoàn viên, 41.109 nữ đoàn viên, 22.852 nam đã huấn luyện quân sự, 1.695 nữ đã huấn luyện cứu thương. Ngày 21/9/68, Quỹ Tái thiết đã cho vay hơn 700 triệu đồng để trang bị lại, và 300 triệu để xây dựng lại nhưng cơ sở sản xuất bị phá hủy trong các cuộc Tổng công kích Tết Mậu thân và hồi tháng 5 vừa qua.
Ngày 29/9/68, Bộ Ngoại giao họp báo và công bố cuốn bạch thư về cuộc xâm lăng miền Nam và đường lối hòa bình của VNCH. Ngày 7/10/68, số thí sinh dự thí vào Dược-khoa, Y-khoa và Nha-khoa lên tới 12.123 giành 370 chỗ hoc. Ngày 9/10/68, kỷ niệm 17 năm thành lập trường Bộ binh Thủ Đức. Tới nay, trường đã đào tạo được 37.000 sĩ quan sau 28 khóa trừ bị, và 7 khóa Trừ bị đặc biệt.
NẠN NHÂN, TỴ NẠN, VÀ CỘNG SẢN CHÁNH HỒI. Ngày 19/9/68, theo Bộ Chiêu hồi, từ đầu năm nay, đã có 10.454 cán binh CS hồi chánh trong đó có 4 sĩ quan, 1 bí thư huyện ủy, 1 bác-sĩ.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 10/9/68, Phó TT Humphrey, ửng cử viên Tổng thống, tán thành giải pháp Trung lập hóa VN như đối với Áo sau Thế chiến II. Ngày 13/9/68, Trung tướng My Keith L. Ware, Tư lịnh Sư đoàn I Bộ binh bị tử nạn vì trực thăng rớt tại Bình Long. Ngày 17/9/68, Thiếu tướng William C. Chip, tư lịnh một chiến đoàn TQLC, bị tử nạn vì trực thăng gần Đồng Hà. Ngày 25/9/68, Ứng cử viên Tổng thống đảng Cộng hòa Nixon tuyên bố: sự giảm quân số tại VN sẽ có ảnh hưởng bất lợi đến cuộc hòa đàm tại Ba Lê, khi đối phương chưa tỏ rỏ là muốn điều đình. Ngày 28/9, Bộ trưởng Quốc phòng HK, Clark Clifford tuyên bố: hy vọng sẽ rút được một số quân về Mỹ trước tháng 6 năm 1969. Ngày 30/9/68, Đại diện mới của HK tại Liên hiệp Quốc, J. R. Wiggins, chủ bút báo Washington Post, tuyên bố: cần ủng hộ chánh sách Johnson tại VN dù Hồ Chí Minh không phải là Cộng sản.
Cùng ngày 30/9/68, Ngoại trưởng HK Dean Rusk hội kiến Tổng thư ký LHQ U-Thant. Ngày 4/10/68, theo Bộ Tư lịnh HK, tới nay, có 904 phi cơ cùng 9 trực thăng bị rớt trên BV, và chừng 300 phi công bị bắt giữ; Trên miền Nam, có 311 phi cơ và 883 trực thăng bị bắn rớt. Ngày 10/10/68, Ứng cử viên Humphrey tuyên bố: sẽ ngưng hẳn oanh tạc BV khi Hà Nội tỏ thiện chí chấm dứt chiến tranh. Cùng ngày 13/10/68, tại Vọng Các, Đô đốc McCain, tân Tổng tư lịnh Mỹ tại Thái Bình Dương, tuyên bố không tán thành đề nghị ngưng oanh tạc BV. Ngày 15/10/68, theo Bộ Quốc phòng HK, chưa có triệu chứng về sự xuống thang chiến tranh của BV. Ngày 16/10/68, Ứng cử viên Humphrey tuyên bố lại Nữu Ước: nếu đắc cử, sẽ xét lại tất cả các cam kết của HK từ trước đến nay, và triệt thoái quân đội khỏi VN, vì HK cũng cần đến nhiều thanh niên ngay ở trong nước.
Ngày 17/10/68, Đại sứ HK Bunker hội đàm lần thứ 3 trong 2 ngày qua với TT Nguyễn Văn Thiệu về tình hình VNCH. Nhiều báo chí Âu Mỹ nhắc lại những tin đồn về dự định của HK ngưng hẳn oanh tạc BV trong ngày sắp tới. Ngày 18/10/68, theo tạp chí Editor and Publisher có 493 tờ báo tại HK ủng hộ Nixon; 93 tờ ủng hộ Humphrey; 10 tờ ủng hộ Wallace. Ngày 21/10/68, theo Bộ Ngoại giao HK, Ngoại trưởng Dean Rusk đã tiếp kiến Đại sứ Nga lần thứ 2 trong 3 ngày qua, và có bàn tới vấn đề VN. Ngày 21/10/68, chiếc xe mới của Tổng thống HK: bọc sắt, nặng 6 tấn, với các dụng cụ truyền tin và thu hình, dài 6 thước rưỡi: giá 500.000 Mỹ-kim. Cùng ngày 21/10/68, Đồng đô la đỏ MPC của quân đội HK tại VN, bất thần được thay thế bằng một thứ chứng chỉ chi phó mới, và chỉ được đổi trong ngày hôm nay mà thôi.Ngày 22/10/68, Đại sứ Bunker hội đàm lần thứ 5 với TT Nguyễn Văn Thiệu về vấn đề ngưng oanh tạc BV.
Ngày 24/10/68, Đại sứ Bunker yết kiến TT Nguyễn Văn Thiệu lần thứ 6 trong 8 ngày qua. Ngày 27/10/68, Ứng cử viên tổng thống Nixon tuyên bố tại Nữu Ước: cho CS liên hiệp tại miền Nam, là một sự đầu hàng trá hình. Ngày 29/10, Tướng Creighton Abrams, Tổng tư lịnh HK tại VN, mật đàm với TT Johnson tại Hoa Thịnh Đốn. Ngày 31/10/68, TT Johnson mật đàm với Harriman và Cyrus Vance về các điều kiện ngưng oanh tạc BV: Cộng quân không được tấn công vào các thành phố; mở cuộc hòa đàm nghỉêm chỉnh ngay, với sự tham dự của VNCH. Lúc 22g15 giờ quốc tế ngày 31/10/68, TT Johnson tuyên bố trên đài truyền hình và phát thanh: ngưng tất cả các cuộc oanh tạc và pháo kích trên toàn thề lãnh thổ BV; cuộc hòa đàm nghiêm chỉnh sẽ tiếp tục ngày 6-11-63; chánh phủ VNCH có thể tham dự. MTGPMN sẽ tham dự, nhưng không vì thế mà được nhìn nhận.
VỚI ĐỒNG MINH CÓ QUÂN THAM CHIẾN.Ngày 4/9/68, hai tiểu đoàn hoả tiễn Hawk được rút khỏi VN để giảm bớt những lực lượng không thiết yếu và tăng cường những lực Iượng chiến đấu. Ngày 1/10/68, Tướng Cao Văn Viên ký kết bản Kế hoạch hỗn hợp quân sự Đồng minh với các Tổng tư lịnh Creighton Abrams (UK), Shin Myung Chae (Đại Hàn), Chalard (Thái Lan), MacDonald (Úc), Fcnten (Tán Tây Lan).
QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 9/9/68, tại Pnom Penh, trong khuôn khổ kế hoạch phát triển lưu vực sông Cửu Long, đại diện 10 nước họp bàn về chương trình viện trợ 17.600.000 Mỹ kim để xây hệ thống tri thủy Prek Thuot tại Cao Mên. Ngày 16/9/68, theo Phái đoàn VN Giao dịch với Uỷ hội Quốc tế, từ 30-8-68 tới hôm nay, quân đội VNCH và Đồng minh đã khám phá 17 hầm võ khí, riêng 2 kho tại Phước Long và Bình Long chứa 50 tấn súng đạn. Tổng số võ khí tìm thấy có thể trang bị cho 50 tiểu đoàn. Cùng ngày 17/9/68, Đại sứ Phạm Đăng Lâm, trưởng phái đoàn liên lạc tại Ba Lê, hội kiến với Ngoại trưởng Pháp Michel Debré nhằm cải thiện bang giao với Pháp-VNCH. Ngày 23/9/68, Chánh phủ Tây Đức viên trợ đề xây cất tại hải cảng Đà Nẳng một bệnh viện với 170 giường cùng dụng cụ trang bị tối tân, tất cả trị giá 300 triệu bạc VN để thay tàu bịnh viện Helgoland hiện đậu tại Đà Nẵng.
Ngày 2/10/68, Ngoại trưởng Trần Chánh Thành tuyên bố: thái độ vô tư của chánh phủ Pháp từ khi có cuộc hòa đàm tại Ba Lê, là một triệu chứng tốt cho phép hy vọng cải thiện bang giao Việt-Pháp. Ngày 12/10/68, Chánh phủ VNCH tuyên cáo: không hài lòng về quyết định của Chánh phủ Pháp cho phép “cái gọi là MTGPMN” lập phòng Thông tin tại Ba Lê. Ngày18/10/68, theo tài liệu của Liên hiệp Quốc dân số hoàn cầu: 3 tỷ 420 triệu.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 13/10/68, Báo Nhân Dân Hà Nội hô hào dân chúng BV chuẩn bị nghênh chiến vì Mỹ sẽ mở rộng chiến cuộc. Ngày 14/10/68, Lê Đức Thọ, cố vấn phái đoàn BV tại Ba Lê, qua Moscou hội đàm với Kossyguine, lần thứ ba từ đầu năm. Ngày 19/10/68, theo tin báo chí ngoại quốc và các hãng thông tẩn Âu Mỹ, 7 sư đoàn BV đã rút khỏi VNCH qua Lào và Mên. Ngày 29/10/68, Báo Nhân dân tại Hà Nội cải chính tin đồn BV đang điều đình ngầm với HK về sự ngưng oanh tạc BV.
HỘI ĐÀM PARIS MỸ-VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ. Ngày 4/9/68, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 20 tại Ba Lê. Không có gì mới. Ngày 11/9/68, haỉ phái đoàn BV và HK họp lần thử 21 tại Ba Lê. Không có gì mới. Ngày 17/9/68, hai phái đoàn UK và BV họp lần thứ 22 tại Ba Lê, không có thông tin gì mới. Ngày 25/9/68, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 23 lại Ba Lê. Phát ngôn viên của phái đoàn BV, Nguyễn Thành Lê tuyên bố: vấn đề VN không thuộc thẩm quyền Liên Hiệp Quốc. Ngày 2/10, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 24 tại Ba Lê. Xuân Thủy công kích Humphrey, vị ứng cử viên Tổng thống cũng chỉ hứa ngưng oanh tạc với điều kiện có sự đáp ứng của BV. Ngày 9/10/68, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 25 tại Ba-Lê. Cùng ngày 16/10/68, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 26 tại Ba Lê.
Ngày 19/10/68, Phát ngôn viên của phái đoàn BV tại Ba Lê cho biết: Chánh phủ BV đã có công hàm trả lời đề nghị của HK liên quan đến việc ngưng oanh tạc. Ngày 21/10/68, hai phái đoàn BV và HK tại Ba Lê đều bãi bỏ cuộc họp báo hàng tuần. Có nhiều tin đồn “hai bên đang mật đàm”. Ngày 24/10/68, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 27 tại Ba Lê trong 2 giờ rưởi. Không có kết quả gì. Ngày 26/10/68, Phát ngôn viên của phái đoàn HK tại Ba Lê tuyên bố: lập trường của HK về VN không thay đổi. Ngày 30/10/68, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 28 tại Ba Lê, trong 1 giờ 30 phút. Cùng ngày 30/10/68, Đại sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố tại Ba Lê: VNCH sẽ không chịu dự cuộc hòa đàm với tư cách một thành phần trong phái đoàn HK. Mọi vấn đề liên quan đến tương lai miền Nam phải được thảo luận trực tiếp giữa Sài Gòn và Hà Nộỉ.
KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 7/9/68, Có 123 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/9/68, Phi cơ Mỹ tiếp tục thám thính trên vùng trời Hà Nội sau 15 ngày đình chỉ vì thời tiết. Ngày 29/9/68, Phi cơ Mỹ vẫn tiếp tục oanh tạc BV hàng ngày vùng Vinh, Đồng Hới, v.v. Ngày 20/10/68, phi cơ Mỹ vẫn oanh tạc vùng Đồng Hới. Lúc 22g15 giờ quốc tế ngày 31/10/68, TT Johnson tuyên bố trên đài truyền hình và phát thanh: ngưng tất cả các cuộc oanh tạc và pháo kích trên toàn thề lãnh thổ BV. Lịnh ngưng oanh tạc và pháo kích có hiệu lực kể từ 8 giờ sáng thứ Sáu, tức 13 giờ quổc tế hoặc 21 giờ VN.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH VÀ GIA ĐỊNH. Ngày 3/9/68, hai (2) Đặc công VC đi xe Honda ném lựu đạn vào một trụ sở thuộc Viện trợ Mỹ đường Lê Văn Duyệt. Ngày 4/9/68, Hành quân Toàn Thắng 20/24 tại Bình Chánh. Ngày 6/9/68,Cảnh sát khám phá 50 bánh thuốc nổ đặt tại trụ sở Ty Thuế vụ quận V, Chợ Lớn. Mìn nổ tại phòng Thông tin, đường Đồng Khánh, Chợ Lớn. Một khu gia cư trong quân 7 Chợ Lớn bị pháo kích. Ngày 10/9/68, Khám phá một hầm võ khí với nhiều hỏa tiển 122 ly tại xã Vĩnh Lộc gần phi trường Tân Sơn Nhứt. Ngày 10/9/68, Có 107 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/9/68, Cảnh sát Đô thành bắt được cờ và nhiều truyền đơn cùa MTGPMN tại trụ sở sinh viên Sài Gòn. Ngày 24/9/68,trụ sở Sinh viên Sài Gòn bị cảnh sát khám xét.
Ngày 26/9/68, một tên khủng bố ném lựu đạn vào chợ Bến Thành. Ngày 27/9/68, hồi 3 giờ 30, đường Nguyễn Tiểu La, Đô thành, bị pháo kích. Ngày 29/9/68, lúc 5 giờ sáng nay, hỏa tiễn bắn vào Đô thành ở khu Nguyễn Khoái, Nguyễn Văn Sâm, Trần Hưng Đạo. Ngày 4/10/68, một đại đội Cộng quân bị bao vây, giao tranh suốt ngày tại Gia Định. Ngày 5/10/68, lúc 6 giờ sáng nay, mìn nổ tại trụ sở Hành chánh Quận 5 đường Hùng Vương, Chợ Lớn. Ngày 6/10/68, mìn nổ tại đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Ngày 7/10/68, Chi khu Bình Chánh bị pháo kích. Ngày 14/10/68, quá nửa đêm qua, nhà máy lọc nước Thủ Đức bị pháo kích.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 1/9/68, Giao tranh tại Khe Sanh. Ngày 2/9/68, quá nửa đêm qua, thị xã Đà Nẵng bị pháo kích. Ngày 3/9/68, hành quân Hưng Quảng 1/67 tại Quảng Nam. Hành quân Lam Sơn 258 tại Quảng Tri. Ngày 4/9/68, hành quân Champaign Grove tại Quảng Ngãi. Ngày 9/9/68, giao tranh tại Quảng Trị. Ngày 13/9/68 quá nửa đêm qua, Đà Nẵng bị pháo kích. B 52 dội bom xuống nhiều địa điểm VC gần Gio Linh. Hành quân Lam Sơn 263 tại Quảng Trị. TQLC Mỹ cũng đồ bộ lên vùng Phi quân sự. Ngày 14/9/68, giao tranh tại Quảng Ngãi. Hành quân Hưng Quảng 1/70 tại Quảng Nam. Hành quân Hưng Quảng 1/70 tại Quảng Nam. TQLC Mỹ khám phá 1 hầm võ khí lớn tại vùng Phi quân sự. Ngày 15/9/68, hơn 2.000 TQLC Mỹ vừa đổ bộ hành quân tảo thanh vùng Phi quân sự bị pháo kích dữ dội. Giao tranh tại Quảng Ngãi.
Ngày 17/9/68, giao tranh tại Cồn Tiên, Quảng Trị. 3 xe đò trên đường Tam Kỳ đi Đà Nẵng bị trúng mìn. Ngày 18/9/68,hành quân Lam Sơn 261 tại Thừa Thiên. Cùng ngày 18/9/68, một đại đội Mỹ bị tấn công tại Quảng Trị. Giao tranh tại Tam Kỳ. Ngày 19/9/68, sau 3 ngày hành quân lục soát, liên quân Việt-Mỹ rút lui khỏi vùng Phi quân sự. Ngày 20/9/68, từ 4 hôm nay, B-52 liên tiếp oanh tạc vùng Phi quân sự và bên trên vĩ tuyến 17. Ngày 22/9/68, hành quân Lam Sơn 266 tại Gio Linh. Tại Quảng Tín, quận lỵ Thăng Bình, thị xã Tam Kỳ và chi khu Hậu Đức bị pháo kích và tấn công. B-52 dội bom xuống các tụ điểm của Cộng quân gần Đà Nẵng. Ngày 23/9/68, quân đội Mỹ khám phá một hầm võ khí bị tại Quảng Trị. Ngày 24/9/68, giao tranh suốt ngày tại Quảng Tín. Ngày 25/9/68, kịch chiến tiếp tục tại Quảng Tín. Ngày 26/9/68,Trại định cư Đại An, Quảng Ngãi bị tấn công, đốt cháy 26 căn nhà bắt đi theo hơn 10 phụ nữ và nhi đồng.
Ngày 28/9/68, hơn 6.000 TQLC và Bộ binh Mỹ chận đánh một sư đoàn BV tại vùng Phi quân sự. Lúc gần 3 giờ sáng, đồn An Đức và Chi khu Thượng Đức bị pháo kích và tấn công. Ngày 29/9/68, Hành quân Quyết Thắng 69/CT tại Quảng Ngãi. Ngày 30/9/68, giao tranh tại Quảng Nam. Ngày 3/10/68, B-52 dội bom xuống các tụ điểm VC quanh Đà Nẵng. Ngày 5/10/68, hành quân Lam Sơn 261 tại Quảng Trị. Ngày 7/10/68, B-52 dội 2.000 tấn bom xăng đặc xuống quanh Khe Sanh. Ngày 8/10/68, hành quân Lancaster II gần vùng Phi quân sự giao tranh suốt buổi chiều. Ngày 9/10/68, hành quân Mani Peak tiếp tục tại Quảng Nam, đề giải vây khu Thường Đức. Ngày 23/10/68, phóng pháo cơ B-52 dội bom nhiều lần xuổng vùng VC ở Quảng Tín, Thừa Thiên, và Quảng Nam. Ngày 25/10/68, B-52 dội bom xuống các nơi tụ quân VC tại Quảng Nam, và Quảng Ngãi. Ngày 29/9/68, hành quân tảo thanh Việt-Mỹ tại Thừa Thiên.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 1/9/68, quá nửa đêm qua, thị xã Pleiku bị pháo kích. Ngày 2/9/68, B-52 dội bom xuống các tụ điểm VC ở Hậu Nghĩa và Quảng Đức. Ngày 2/9/68, mìn nổ trên tỉnh lộ Phan Thiết. Ngày 3/9/68, giao tranh tại Quang Đức. Ngày 4/9/68, Nha Trang bị pháo kích. Ngày 5/9/68, sớm nay, B-52 dội bom vùng Dakto. Quá nửa đêm qua, phi trường và thị xã Nha Trang bị pháo kích. Thị xã Tuy Hòa bị pháo kích. Ngày 8/9/68, giao tranh tại Quảng Đức. Hành quân Việt-Mỹ Bình Tây-Mac Arthur tai Ban Mê Thuột. Ngày 13/9/68 B 52 dội bom xuống nhiều địa điểm VC gần Kontum, Pleiku. Ngày 15/9/68, hành quân Phú Bổn 144 tại Phú Thiện.
Ngày 21/9/68, theo Thiếu tướng Tư lịnh Quân đoàn II, từ 23/8/68 tới nay tại mặt trận Đức Lập, Quảng Đức, Cộng quân đã thiệt 1.091 người, 205 súng; phia VNCH: 123 tử thương, 18 mất tích. Ngày 22/9/68, phi trường Nha Trang bị pháo kích. Ngày 22/9/68, hành quân Dân Sinh tại Bình Định. Ngày 24/9/68, B-52 dội bom xuống tụ điểm VC tại Pleiku. Ngày 25/9/68, giao tranh tại Quảng Đức. Ngày 27/9/68, giao tranh tiếp tục tại Quảng Đức. Ngày 3/10/68, B-52 dội bom xuống các tụ điểm VC trong vùng Kontum. Ngày 4/10/68, phi trường Ban Mê Thuột bị pháo kích.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 1/9/68, sáng nay tỉnh lỵ Tây Ninh bị pháo kích. Ngày 2/9/68, lúc 20 giờ 15, chi khu Long Thành bị pháo kích. Ngày 4/9/68, một đoàn xe Mỹ bị phục kích và tấn công gần Tây Ninh. Ngày 5/9/68, sớm nay, B-52 dội bom vùng phụ cận Tây Ninh. Giao tranh tại Trảng Bàng. Ngày 6/9/68, giao tranh tiếp tục tại Trảng Bàng. B-52 dội bom nhiều lần xuống vùng VC ở Tây Ninh. Ngày 9/9/68, Trại định cư Thạnh Tây, thị xã Hội An, bị pháo kích.Ngày 11/9, hơn 3 tiểu đoàn VNCH tảo thanh vùng phụ cận Tây Ninh. Ngày 12/9/68, đêm qua 5 căn cứ quân sự Mỹ gần tỉnh lỵ Tây Ninh bị pháo kích. Kịch chiến suổt ngày tại Bình Long. Giao tranh trong vùng phụ cận Tây Ninh. Ngày 13/9/68, kịch chiến tại xã Thành Phước, Tây Ninh. B 52 dội bom xuống nhiều địa điểm VC gần Bến Cát. Ngày 14/9/68,giao tranh kịch liệt ngày thứ 3 giữa các đơn vị Mỹ và 2 Trung đoàn Cộng quân 302 và 165 tại Lộc Ninh.
Ngày 16/9/68, đồn Trảng Bom bị 1 tiểu đoàn Cộng quân pháo kích và tấn công. Ngày 17/9/68, một đoàn quân xa Mỹ bị phục kích trên đường Sài Gòn-Tây Ninh. Ngày 19/9/68, hành-quân Úc/Tân Tây Lan Hawkesbury tại Núi Đất, Phưởc Tuy.Ngày 20/9/68, một (1) đại đội Cộng quân đột nhập chợ Lộc Ninh. Ngày 20/9/68, giao tranh trên đường Tày Ninh-Sài Gòn. Ngày 22/9/68, B-52 dội bom xuống các tụ điểm của Cộng quân gần Bình Long. Ngày 23/9/68, theo tướng Đỗ Cao Trí, tư lịnh Vùng III, Cộng quân có 3 sư đoàn 5, 7 và 9 quanh Tây Ninh. Ngày 24/9/68, B-52 dội bom xuống tụ điểm VC tại Tây Ninh. Ngày 25/9/68, hành quân Toàn Thắng 199/815 tại Hậu Nghĩa. Ngày 26/9/68, từ 3 giờ đốn 6 giờ sáng nay, trại Lực lượng Đặc biệt Katum, Tây Ninh bị pháo kích và tấn công ồ ạt.
Ngày 3/10/68, hành quân Quyết Thắng 500/B-23 tại Tây Ninh. Hành quân Toàn Thắng 199/885, tại Hậu Nghĩa. B-52 dội bom xuống các tụ điểm VC trong vùng Bình Dương. Ngày 23/10/68, phóng pháo cơ B-52 dội bom nhiều lần xuổng vùng VC ở Hậu Nghĩa. Ngày 25/10/68, B-52 dội bom xuống các nơi tụ quân VC tại Tây Ninh, và Bình Dương.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 1/9/68, mìn nổ tại bến xe Trúc Giang, Kiên Hòa. Ngày 2/9/68, hành quân Q11 tại Cà Mâu. Mìn nổ trên tỉnh lộ 7 Vĩnh Long. Ngày 4/9/68, B-52 dội bom xuống vài tụ điềm VC tại Vĩnh Long. Ngày 5/9/68, có 3 tiểu đoàn VNCH mở cuộc hành quân Quyết Chiến 9/11 tại Sa Đéc. Cùng ngày 5/9/68, hành quân Quyết Chiến 32/31 tại An Xuyên. Giao tranh tại Long An. Ngày 7/9/68, Chi khu Giáo Đức, Định Tường bi pháo kích. Ngày 8/9/68, các tỉnh lỵ Vĩnh Long, Định Tường, Kiến Hòa bị pháo kích. Ngày 10/9/68, giao tranh lại Long An. Hành quân Quyết Chiến tại Vĩnh Long. Ngày 11/9, giao tranh lại Vĩnh Bình. Ngày 12/9/68, hành quân Quyết Chiến SD 21/17 tại Phong Dinh. Ngày 15/9/68, hành quân Quyết Chiến 9/C/21 KG/41 tại Kiên Giang. Ngày 15/9/68, giao tranh từ sáng đến chiều tại Bến Tre. Hành quân Quyết Chiến SĐ/9/13 tại Sa Đéc.
Ngày 16/9/68 quá nửa đêm qua, tỉnh lỵ Kiến Hòa bị pháo kích. Ngày 19/9/68, hành quân Quyết Chiến SD/38 tại Sa Đéc.Ngày 22/9/68, hành quân Quyết Chiến SB/9/15 tại Sa Đéc. Ngày 23/9/68, giao tranh tại Cái Nước. Hành quân Quyết Chiến 32/42 tại Bạc Liêu. Ngày 24/9/68, quận lỵ Phong Phú, Phong Dinh bị pháo kích. Ngày 24/9/68, hành quân tảo thanh tại Kiến Phong. Ngày 27/9/68, gần sáng hôm nay, trại Thiện Ngôn, đồn Phước Tân ở Tây Ninh bi tấn công. Ngày 30/9/68, quá nửa đêm qua, tỉnh lỵ Vĩnh Long bị pháo kích. Ngày 3/10/68, hành quân Quyết Chiến 21/31 tại Chương Thiện. Ngày 5/10/68, hành quân Quyết Chiến SB/7/21 tại Định Tường. Hành quân Quyết Chiến 21/28 tại Phong Dinh.
Bài 246: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG TỪ THÁNG 11 ĐẾN THÁNG 12 NĂM 1968
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 2/11/68 tại hội trường Diên Hồng, trước hai Viện Quốc hội, TT. Nguyễn Văn Thiệu chánh thức báo tin: (1) HK đơn phương ngưng oanh tạc và pháo kích, song BV phải tỏ thiện chí xuống thang chiến tranh; (2) phải nói chuyện trực tiếp và nghiêm chỉnh với chánh phủ VNCH để đi tới hòa bình; (3) không nhìn nhận MTGPMN và không chấp nhận giải pháp liên hiệp. VNCH sẽ không tham dự cuộc hội họp tại Ba Lê ngày 6-11-68, vì chưa có cuộc nói chuyên trực tiếp nghiêm chỉnh giữa BV và VNCH. (Các Nghị sĩ và Dân biểu vổ tay nhiều lần). Ngày 4/11/68, trên đài truyền hình và phát thanh, TT Nguyễn Văn Thiệu kêu gọi dân chúng tiếp tục chiến đấu và xây dựng theo đường lối của chánh phủ.
Ngày 8/11/68, TT Nguyễn Văn Thiệu, trên đài truyền hình và phát thanh, công bố một công thức mới về cuộc hòa đàm: nói chuyện song phưong, mỗi bên chỉ có 1 phái đoàn duy nhất; phía bên này, phái đoàn VNCH lãnh đạo, với sự tham gia của HK và nếu cần, của các Đồng minh; phía bên kia, có đại diện của MTGPMN. Ngày 2/12/68, TT Nguyễn Vãn Thiệu quyết định hưu chiến 24 giờ nhân dip lễ Giáng Sinh. Ngày 21/12/68, TT Nguyên Văn Thiệu tuyên bố tại Vũng Tàu: nếu Cộng quân tấn công Sài Gòn và các thành phố, VNCH sẽ thôi không dự hội nghị Ba Lê.
QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Cùng ngày 2/11/68, Buổi trưa, hơn 140 Nghị sĩ và Dân biẽu mang cờ đi bộ từ hội trường Diên Hồng tới dinh Độc lập để hội kiến với TT. Nguyễn Văn Thiệu về vấn đề ngưng oanh tạc và pháo kích. Cùng ngày 2/11/68, Khối Độc Lập Hạ Nghị viện ra thông cáo cực lực lên án quyết định đơn phương ngưng oanh tạc và pháo kích. Ngày 3/11/68, Thượng viện họp phiên khoáng đại để thảo luận các biện pháp đối phó với tình thế sau quyết định của HK ngưng oanh tạc và pháo kích BV. Ngày 4/11/68, Hạ Nghi viện VNCH thông cáo: không chống sự ngưng oanh tạc BV, nhưng đòi BV rút quân và nói chuyện trực tiếp với chánh phủ VNCH. Thượng Nghị viện xác nhận ủng hộ lập trường của TT Nguyễn Văn Thiệu đối với việc ngưng oanh tạc và hòa đàm.
Ngày 14/11/68, có tới 14 Thượng Nghị sĩ Quốc hội VNCH công bố một tuyên ngôn yêu cầu Tổng thống ra lịnh chấm dứt những hình thức khẩu chiến với các cấp hữu trách HK, để tránh mội sự hiểu lầm, và để cho HK cùng VNCH có một lập trường chung minh bạch trong vấn đề chấm dứt chiến tranh. Ngày 7/12/68, hai Viện Quốc hội nhóm họp phiên khoáng đại để quyết định về việc gởi phái đoàn VNCH qua Ba Lê hòa đàm.
TỐI CAO PHÁP VIỆN, VÀ GIÁM SÁT VIỆN. Ngày 21/11/68, Giám sát Viện họp bầu: Ngô Xuân Tích làm chủ tich; Phó chủ tịch, Trần Tác Lâm; Tổng thơ ký, Nguyễn Đình Hưng. Ngày 22/11/68, Hội đồng Tối cao Pháp viện chỉ định Thẩm phán Trần Văn Linh làm chủ tịch, và 3 Phó chủ tịch: Nguyễn Văn Vỹ, Trần Minh Triết, Nguyễn Văn Biện.
CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Cũng ngày 2/11/68, Thông cáo của Chánh phủ VNCH: trong những tuần qua, chánh phủ HK đã trao đối ý kiến với chánh phủ VNCH về vấn đề ngưng oanh tạc và pháo kích, song chánh phủ VNCH không thấy những lý do đầy đủ và vững chắc để quyết định chung với chánh phủ HK về việc đó. Ngày 5/11/68, ban hành Luật 10/68 bổ túc Dụ số 01 ngày 24-6-65 về tình trạng chiến tranh bổ sung những biện pháp ngăn ngừa CS lợi dụng thể chế tự do để phá hoại. Theo Chuẩn tướng Tư lịnh Sư đoàn 5, hiện nay 4 sư đoàn Cộng quân còn đóng tại vùng biên giới Miên-Việt gần Bình Dương, đề chờ dịp tấn công về phía Sài Gòn. Ngày 8/11/68, Chủ tiệm Phở Bình, đường Yên Đỗ, Sài Gòn cùng 3 đồng phạm bị Tòa án Mặt trận Vùng III kết án khổ sai vì đã dùng tiệm làm trụ sở hội họp của Bộ chỉ huy CS trong cuộc tấn công Đô thành Tết Mậu Thân.
Ngày 13/11/68, Tổng trưởng Thông Tin họp báo cho biết: TT Nguyễn Văn Thiệu không hề hứa với chánh phủ HK là sẽ nói chuyện tay tư tại Ba Lê; chính thực HK đã thỏa hiệp với BV về điểm đó từ 5 tháng trước đây. Ngày 22/11/68, trước Hạ Nghị viện, tướng Nguyễn Văn Vỹ, Tổng trưởng Quốc phòng cho biết: quân lực VNCH sẽ cải tổ và chia ra: Lục quân là Lực lượng xung kích; Địa phương quân và Nghĩa quân là Lực lượng Diện địa; Lực lượng Đặc biệt hoạt động trong vùng địch. Ngày 25/11/68, Thủ tướng Trần Văn Hương xác nhận: MTGPMN phải từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản, từ bỏ vũ khí trước khi có thể nói chuyện với chính phủ VNCH.
Ngày 27/11/68, hai chánh phủ VNCH và HK cùng đưa ra một lúc tại Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn hai bản tuyên bố về cuộc hòa đàm: Bản tuyên bố của chánh phủ VNCH tại Sài Gòn: 1) lập trường đã công bố ngày 2-11 và ngày 8-11-68 đã được HK ủng hộ; 2) chủ quyền VNCH được tôn trọng; 3) VNCH tham dự cuộc hòa đàm. Bản tuyên bố của chánh phủ HK tại Hoa Thịnh Đốn: 1) cuộc hội đàm sẽ có tính cách song phương: một bên là BV với những người thuộc tổ chức gọi là MTGPMN, một bên gồm hai phái đoàn riêng biệt của HK và của VNCH; 2) HK không công nhận MTGPMN và không công nhận VNDCCH; 3) phái đoàn BV phải nói chuyện trực tiếp và nghiêm chỉnh với phái đoàn VNCH; 4) VNCH sẽ giữ vai trò lãnh đạo và làm phát ngôn viên trong mọi vấn đề liên hệ chính yếu đến miền Nam VN; 5) cuộc hội đàm này là cuộc hội đàm mới khác với cuộc hội đàm trước có mục đích tham dò và chỉ liên quan đến sự ngưng oanh tạc; 6) HK sẽ liên lạc chặt chẽ với VNCH và các chánh phủ Đồng Minh; 7) không chủ trương liên hiệp với CS, và không thừa nhận một chánh phủ nào không do nhân dân miền Nam VN tự do lựa chọn.
Cùng ngày 27/11/68, Ngoại trưởng Trần Chánh Thành họp báo và cho biết: chánh phủ VNCNCH quyết định cử một phái đoàn tham dự cuộc hộì đàm Ba Lê. Ngày 7/12/68, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ cùng một phái đoàn gồm 6 nhân viên và 10 chuyên viên rời Sài Gòn qua Ba Lê phó hội. Cùng ngày 7/12/68, TT Nguyễn Văn Thiệu ra tiễn tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Thành phần phái đoàn VNCH: Đại sứ Phạm Đăng Lâm, Trưởng phái đoàn, cựu Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phong, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, các luật sư Vương Văn Bắc, Nguyễn Thị Vui, và trưởng phái đoàn giao dịch với Ủy hội Quốc tế Nguyễn Triệu Ban. Ngày 10/12/68, Quốc vụ khanh Vũ Quốc Thúc, Trưởng phái đoàn Kinh tế hậu chiến tới Đông Kinh tiếp xúc với Bộ Ngoại giao Nhật về nhu cầu của VNCH trong công cuộc tái thiết và phát triển.
Cùng ngày 21/12/68, theo Tổng nha Thanh niên, kể từ 6-1-1969, các sinh viên Đại học sẽ thụ huấn quân sự 8 giờ một tuần, và 1 tháng trong vụ nghỉ hè. Sau 1 năm và nếu đủ số điểm, sinh viên sẽ chỉ cần tu nghiệp 1 tháng để mang cấp bậc Chuẩn úy. Ngày 28/12/68, Thủ tướng Trần Văn Hương tuyên bố: chánh phủ VNCH quyết định sẽ không hưu chiến trong dịp Tết dương lịch vì Cộng quân đã vi phạm hưu chiến nhân dịp lễ Giáng sinh.
NẠN NHÂN, TỴ NẠN, VÀ CỘNG SẢN CHÁNH HỒI. Ngày 9/11/68, theo Bộ Chiêu hồi, trong 3 tuần lễ vừa qua, có 1.500 cán binh CS hồi chánh. Tại Sa Đéc, một hồi chánh viên được thưởng 560.000$ vì đã 2 lần hưởng dẫn quân đội khám phá 2 hầm võ khí. Ngày 19/11/68, có 37 cán binh CS hồi chánh tập thể tại quận Tri Tôn, Châu Đốc. Ngày 31/12/68, theo Tổng cuộc Chiến tranh Chánh trị, tổng số thiệt hại trong năm 1968 như sau: Cộng quân: 191.387 chết, 21.050 bị bắt, thu 10.895 súng cộng đồng, 58.299 súng cá nhân. VNCH: 17.486 chết, 2.269 mất tích, mất 596 súng cộng đồng và 6.108 cá nhân. Ngày 31/12/68, Bộ Chiêu hồi cho biết trong năm 1968, đã có 17.836 cán binh CS hồi chánh. Hết tháng 12/1968).
NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 2/11/68, Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố: Mỹ đơn phương ngưng oanh tạc là chuyện đáng tiếc. Ngày 3/11/68, Lực lượng công giáo Đại Đoàn Kết chuẩn bị xuống đường tỏ thái độ chống Cộng và chống quyết định đơn phương của Mỹ. Ngày 5/11/68, Lực lượng Đại Đoàn Kết tổ chức hội thảo về thời cuộc tại rạp Thống Nhất Sầi Gòn, đòi mở cuộc hòa đàm trực tiếp giữa Hà Nội và Sài Gòn. Ngày 8/11/68, Lập trường của Phật giáo khối Ấn Quang: hoan nghênh sự xuống thang chiến tranh của cả hai bên; VNGH phải tiến ngay tới cuộc hòa đàm với các phe lâm chiến; phái đoàn VNCH phải là phản ảnh trung thực của dân nguyện và được sự hậu thuẩn của nhân dân; VNCH cần thực hiện ngay chính sách đại đoàn kết.
Cùng ngày 18/11/68, Đại hội Phật giáo, khối Việt Nam Quổc tự nhóm họp từ 3 hôm nay quyết nghị đòi hỏi chấm dứt chiến cuôc, tiến tới hòa bình trong tự do, nhân phẩm, không chấp nhận giải pháp hoà bình phi quốc gia, phi dân tộc, phi tôn giáo.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 1/11/68, Đô đốc John McCain, Tổng tư lịnh Mỹ tại Thái Bình Dương, phổ biến huấn lệnh áp dụng lịnh của TT Johnson, chấm dứt các cuộc oanh tạc và pháo kích kể từ 21 giờ địa phương ngày hôm nay 1-11-68. Và, theo Ngũ Giác Đài Hoa Thịnh Đốn, Tướng Abrams đựợc TT Johnson cho phép mở lại các cuộc oanh tạc và pháo kích mà không cần phải hỏi trước Hoa Thịnh Đốn, nếu BV lợi dụng sự ngưng oanh tạc tấn công vùng Phi quân sự và các thành phố. Ngày 2/11/68, Chiến-hạm New Jersey rút khỏi Vịnh BV. Các hàng không mẩu hạm và chiến hạm khác cũng rút về phương Nam. Ngày 3/11/68, theo Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield, HK phải nghĩ đến quyền lợi của HK trước hết. Ngày 5/11/68, hơn 75 triệu cử tri HK trên 120 triệu cử tri đi bỏ phiếu bầu Tống thống, Phó tổng thổng, 31 Thượng Nghị sĩ, 435 Dân biểu, 21 Thống đốc tiểu bang và nhiều công chức địa phương.
Cùng ngày 5/11/68, Đại sứ Mỹ Bunker tuyên bố xác nhận: HK không thừa nhận MTGPMN dưới bất cứ hình thức nào; và không ép buộc chánh phủ VNCH chấp nhận giải pháp liên hiệp với CS. Ngày 6/11/68, Cựu phó TT Richard Nixon đắc cử Tổng thống HK thứ 37, với 287/538 phiếu của các đại biểu cử tri. Chính sách của tân Tổng thống HK Nixon đối với vấn đề VN: (1) thuận ngưng oanh tạc BV, nhưng chống một sự triệt thoái không vẽ vang của quân lực Mỹ; (2) ước mong chiến cuộc sẽ thuộc trách nhiệm quân đội VNCH hơn là trách nhiệm quân đội Mỹ; (3) sẽ xử dụng quân lực đúng mức hơn; (4) chủ trương tuyển cử tự do để lập chánh phủ tương lai của VNCH. Ngày 11/11/68, Nixon hội kiến với Johnson về vấn đề VN. Nixon tuyên bố: hết sức giúp cho cuộc hòa đàm đạt kết quả từ nay tới 20/1/69.
Ngày 12/11/68, Bộ trưởng Quốc phòng HK, Clítík Cliffbrd, tuyên bố: những vụ pháo kích hiện nay không làm thay đổi quyết định ngưng oanh tạc BV; TT Johnson có trách nhiệm hòa đàm và không để cho chánh phủ VNCH có quyền phủ quyết về việc này. Theo tin UP1, TT đắc cử Nixon hoàn toàn ủng hộ lập trường Johnson đối với cuộc hòa đàm về VN. Ngày 15/11/68, TT Johnson tuyên bố: cố gắng đi tới hòa đàm với sự tham gia của VNCH. Bộ Ngoại giao HK xác nhận với chánh phủ VNCH: (1) HK sẽ không hòa đàm trực tiếp với BV nếu không có phái đoàn VNCH; (2) sự tham dự của MTGPMN không có nghĩa là tổ chức này được thừa nhận; (3) cuộc thương thuyết có thể tan vỡ nếu vùng Phi quân sự vẫn bị pháo kích. Ngày 17/11/68, theo nguồn tin quân sự Mỹ, từ ngày ngưng oanh tạc, hàng trăm quân xa chuyển quân nhu và võ khí dồn dập từ vĩ tuyến 19 đến vĩ tuyến 17; hoạt động tiếp tế của BV đã tăng gấp 4 lần.
Ngày 24/11/68, Bộ trưởng Quốc phòng HK Clark Clifford lại tuyên bố: các vụ xâm phạm vùng Phi quân sự chưa nghiêm trọng, nhưng nếu BV không tỏ thiện chí, HK sẽ oanh tạc trở lại nếu cần. Ngày 5/12/68, Phát ngôn viên của TT đắc cử Nixon cho biết sẽ thay thế tất cả phái đoàn hòa đàm tại Ba Lê sau khi tân Tổng thống nhậm chức. Ngày 11/12/68, TT đắc cử Nixon cử nhân viên chánh phủ tương lai. Ngoại trưởng: William Rogers, Bộ trưởng Quốc phòng: Melvin Laird. Ngày 29/12/68, TT đắc cử Nixon thảo luận với các Cố Vấn tại Floride đề tìm giải pháp cho vấn đề hòa đàm tại Ba Lê. Ngày 30/12/68, Bộ trưởng Quốc phòng Tổng thống đắc cử Nixon, Melvin R. Laird, tuyên bố: kinh phí chiến tranh tại VN, được dự trù là 26 tỷ 300 triệu trong tài khóa 1968- 69 còn thiếu chừng 3 tỷ 800 triệu nữa.
VỚI ĐỒNG MINH CÓ QUÂN THAM CHIẾN. Ngày 2/11/68, Thủ tướng Úc L. G. Gorton tuyên bố: có được HK cho biết về sự ngưng oanh tạc và pháo kích; Úc mong rằng quyết định này sẽ có kết quả tốt. Ngày 3/11/68, TT Phi Luật Tân, Marcos, nêu ý kiến nên nhóm họp hội nghị thượng đỉnh Đồng minh để san bằng mọi sự bất đồng giữa VNCH và HK.
QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Cùng ngày 1/11/68, chính giới Hoa Kỳ và chính giới các nước Âu châu hoan nghênh quyết định của TT Johnson. Nga Sô loan tin ngưng oanh lạc, nhưng không bình luận. Tổng thư ký LHQ U-Thant tỏ ý hoan hỷ. Ngày 2/11/68, Thủ tướng Mã Lai Abdul Rahman đề nghị cắt đôi miền Nam thành vùng CS và vùng không CS để đi tới hòa bình. Chánh phủ Nga Sô thông cáo: sự ngưng oanh tac và pháo kich BV cho phép hòa đàm để giải quyết vấn đề VN, đó là một quyết định thiết thực. Chưa thấy Trung Cộng lên tiếng về quyết định của HK. Ngày 3/11/68, Sihanouk tuyên bố: không muốn HK rời khỏi Á Đông, vì cần duy trì thế quân bình tại đây.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Cùng ngày 2/11/68, Tuyên bố của chánh phủ BV, trên đài phát thanh Hà Nội nghe được tại Tân Gia Ba và theo tin Reuter: BV tiếp tục chiến đẩu chống Mỹ cho tới thắng lợi cuổi cùng, sự ngưng oanh tạc và pháo kích là một thắng lợi lớn của nhân dân và quân đội VNDCCH. Cùng ngày 3/11/68, báo Nhân Dân tại Bắc Kinh đăng các bản tuyên bố của HK và BV về việc ngưng oanh tạc, nhưng không hình luận. Ngày 3/11/68, MTGPMN ra thông cáo dài nhấn mạnh đến sự thắng lợi của CS khiến Mỹ phải ngưng oanh tạc. Ngày 3/11/68, Hồ Chí Minh hiệu triệu: phải chiến đấu đến cùng để diệt trừ xâm lăng và cần nổ lực hơn bao giờ để chiến thắng. Ngày 7/11/68, Báo động tại Hà Nội. Ngày 13/11/68, báo động tại Hà Nội và Hải Phòng. Ngày 23/11/68, nhà cầm quyền BV vẫn không trả lời Uỷ hội Quổc tế về sự tiếp nhận 140 tù binh do quân lực VNCH dự định giao trả.
HỘI ĐÀM PARIS VÀ CÁC TRANH CẢI BỐN BÊN-HAI BÊN. Ngày 1/11/68, thông cáo của phái đoàn BV tại Ba Lê: cuộc hội đàm tại Ba Lê sẽ qui tụ cả các đại diện của MTGPMN và VNCH. Ngày 3/11/68, tại Ba Lê, các đại diện HK và BV mật đàm để ấn định thể lệ phiên họp dự đinh vào 6-11 và tìm biện pháp ra khỏi bế tắc nếu VNCH không tham dự.Ngày 4/11/68, một phái đoàn của tổ chức gọi là MTGPMN gồm 6 người, do Nguyễn Thị Bình hướng dẫn tới Ba Lê chuẩn bị dự cuộc hòa đàm. Ngày 3/11/68, Đài VOA xác nhân: phái đoàn MTGPMN chỉ là một phần của phài đoàn BV mà thôi. Nhưng Xuân Thủy tuyên bố tại Ba Lê: MTGPMN tham dự cuộc hội nghị tay tư, và nếu đủ cả 4 phái đoàn thì sẽ có phiên họp ngày 6-11. Ngày 5/11/68, Phái đoàn HK tại Ba Lê cho biết: cuộc hội họp dự định vào ngày mai 6-11 được hoãn lại.Ngày 7/11/68, hai phái đoàn BV và HK trao đổi quan điểm về thủ tục hòa đàm.
Ngày 8/11/68, Xuân Thủy, Trưởng phái đoàn BV tại Ba Lê, tuyên bố bác bỏ đề nghị của TT Nguyễn Văn Thiêu: không chấp nhân cuộc nói chuyện tay đôi, chỉ có thể nói chuyện tay ba, nếu HK và nhà cầm quyền miền Nam muốn lập chung một phái đoàn, đó là việc của họ. Cùng ngày 12/11/68, tại Ba Lê, phái đoàn BV và MTGPMN bác bỏ các điều kiện của VNCH về cuộc hội đàm; đồng thời đòi hỏi HK cứ hội họp dù VNCH vắng mặt. Ngày 13/11/68, hai phái đoàn BV và HK tại Ba Lê không họp hôm nay. Cùng ngày 13/11/68, Bộ Ngoại giao HK thông cáo: phái đoàn Mỹ tại Ba Lê coi là nghiêm trọng nhưng vụ pháo kích tấn công của BV vào vùng Phi quân sự; không thể có hội đàm nghiêm chỉnh nếu vùng này bị lợi dụng. Ngày 15/11/68, theo phái đoàn BV tại Ba Lê, quân du kích VC có quyền tiếp tục tấn công khi quân đội Mỹ cỏn có mặt tại vùng Phi quân sự; không quân Mỹ phải chấm dứt cả những phi vụ thám sát.
Ngày 17/11/68, tại Ba Lê, Thứ trưởng Cyrus Vance trong phái đoàn HK xác nhận: HK không công nhận MTGPMN, và bác bò chủ trương hội đàm tay tư. Ngày 18/11/68, tại Ba Lê, Xuân Thủy tuyên bố VNCH sẽ gởi phái đoàn tới phó hội kịp thời. Những cuộc hội đàm mở rộng sẽ không thành, nếu MTQPMN không được cử một phái đoàn riêng biệt. Ngày 19/11/68, theo báo Washington Post, một phái đoàn chung Việt-Mỹ sẽ tham dự cuộc hôi đàm Ba Lê, và có thể do Việt và Mỹ luân phiên chủ tọa. Ngày 23/11/68, tại Ba Lê, Xuân Thủy lên tíếng trách HK không đưa được VNCH vào bàn hội nghị, và đòi HK mở ngay cuộc hòa đàm. Ngày 28/11/68, tại Ba Lê, phái đoàn BV thông cáo: cuộc hội đàm sẽ mở với sự tham gia của 4 phe. MTGPMN sẽ có một phái đoàn riêng biệt. BV duy trì lập trường cũ đã công bố ngày 2-11-68 là BV tiếp tục chiến đẩu chống Mỹ cho tới thắng lợi cuổi cùng.
Ngày 29/11/68, Phái đoàn BV tại Ba Lê lên án HK vi phạm sự ngưng oanh tạc, vì trong 3 ngày liền phi cơ Mỹ thả bom và bắn xuống nhiều làng thuộc Quảng Bình. Cùng ngày 29/11/68, Bộ Ngoại giao HK giải thích: không có sự tiếp tục oanh tạc BV. Phi cơ Mỹ chỉ thi hành nghiệp vụ tiếp cứu vài phi công bị rớt. Ngày 2/12/68, tại Ba Lê, mật đàm giữa Cyrus Vance và Hà Văn Lâu, về thủ tục áp dụng trong cuộc hòa đàm sắp tới. Theo tin giới ngoại giao quốc tế, BV có thể chịu để HK triệt thoái dần quân lực trong vòng 3 năm. Ngày 3/12/68, tại Ba Lê, phát ngôn viên của phái đơàn BV cho biết, BV vẫn chủ trương hòa đàm 4 phe riêng biệt. Ngày 4/12/68, Hai phái đoàn HK và BV tiếp tục bàn về thủ tục cuộc hội đàm sắp mở: Anh ngữ và Việt ngữ sẽ là tiếng chánh thức, song có thề dùng cả Pháp ngữ. Ngày 5/12/68, tại Ba Lê, các đại diện HK và BV tiếp tục bàn cãi về thủ tục và nghi thức sẽ theo: bàn vuông, bàn tròn, bàn chữ nhạt, mấy cửa ra vào.v.v.
Ngày 8/12/68, Phái đoàn VNCH do Phó TT Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn tới Pháp tuyên bố: VNCH không đòi một ưu thế nào, cũng chẳng đòi một sự đầu hàng, chỉ đòi chấm dứt xâm lăng. VNCH không chịu một áp lực nào hết, chỉ hòa đàm vì muổn hòa bình và tự do. Ngày 9/12/68, Đại sứ Phạm Đăng Lâm Phái đoàn VNCH hội đàm với Cyrus Vance, phó Trưởng phái đoàn HK về thủ tục và nghi thức cuộc hòa đàm Ba Lê. Cùng ngày 9/12/68, hai phái đoàn HK và BV lại họp bàn về thủ tục hòa đàm. BV đề nghị rút 4 thăm xem ai nói trước, HK đề nghị rút 2 thăm. Ngày 12/12/68, Tại Ba Lê, Phái đoàn VNCH thảo luận với phái đoàn HK, cũng về thủ tục và nghi thức tại hoà hội. Xuân Thủy báo cho Harriman: tù binh HK tại BV có thế nhận bưu thiếp và quà nhân dịp lễ Giáng sinh. Trần Bửu Kiếm làm đại dỉện cho MTGPMN.
Ngày 15/12/68, Bộ trưởng Quốc phòng HK Clifford lên tiếng liên quan đến hoà đàm: tại VN, vấn đề quân sự cần được tách rời vấn đề chánh trị. Vấn đề quân sự phải được giải quyết trước, giữa HK và BV. Vấn đề chính trị sẽ được giải quyết giữa các bên VN với nhau. Ngày 16/12/68, tại Ba Lê, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: muốn ngưng bắn phải biết rõ cách thức giải quyết vấn đề chánh trị, bộ đội BV phải rút khỏi VNCH, phải có những biện pháp đảm bảo rằng Cộng sản không tái xâm lăng. Không có sự bất đồng ý kiến giữa 2 phái đoàn HK và VNCH. Không hiểu Bộ trưởng Clifford muốn gì, Clifford quả có biệt tài đưa những lời tuyên bố không đúng lúc và không nên nói. Cùng ngày 16/12/68, Xuân Thủy tuyên bố: vấn đề quân sự sẽ được nêu ra khi nào hội nghị khai mạc. HK phải rút quân khỏi VN. Trần Bửu Kiếm cùng một phái đoàn MTGPMN tới Ba Lê.
Ngày 17/12/68, theo tin Reuter, và UPI: qua lời tuyên bố của Bộ trưởng Clifford, chánh phủ HK tỏ ra sốt ruột muốn rút quân càng sớm càng hay, và để mặc VNCH dàn xếp với CS về mặt chánh trị. Ngày 17/12/68, Đại sứ Pham Đăng Lâm tuyên bố: Thông cáo chung ngỳ 27-11-68 là căn bản lập trường Việt-Mỹ: không thể chấp nhận một cuộc hội đàm riêng rẽ giữa HK và BV; chỉ có thể có hội nghị 2 phe. Ngày 18/12/68, theo tạp chí Foreign Affairs, Cố vấn An ninh Quốc gia của TT Nixon, giáo sư Henry A. Kissinger đề nghị: HK nói chuyện với BV về vấn đề quân sự, VNCH nói chuyện với MTGPMN về vấn đề chánh trị, tuy vậy, không thể dùng áp lực ép buộc VNCH chấp nhận giải pháp liên hiệp. Ngày 18/12/68, Phái đoàn VNCH tại Ba Lê cực lực phản kháng đề nghị của giáo sư Kissinger về điểm VNCH phải nói chuyện trực tiếp với MTGPMN. Ngày 19/12/68, Cyrus Vance hội đàm với Hà Văn Lâu, tại Ba Lê.
Cùng ngày 19/12/68, theo đại diện HK, nếu Sài Gòn lại bị tấn công, thì cuộc hòa đàm sẽ bị đình chỉ, và các vụ oanh tạc BV có thể tiếp tục. Ngày 20/12/68, Đại sứ Harriman hội đàm tại Ba Lê với Phó TT Nguyễn Cao Kỳ. Hai bên không tuyên bố gì hết. Cùng ngày 20/12/68, Lê Đức Thọ, cố vấn của phái đoàn BV tuyên bố: HK phải thay đổi chánh quyền Nguỵễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ vì chánh quyền này cản trở cuộc hòa đàm. Ngày 22/12/68, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ trở về Sài Gòn nhân dịp lễ Giáng sinh. Ngày 24/12/68, tại Ba Lê, Đại sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố: sau chiến tranh, VNCH sẽ chấp nhận sự hiện diện của một miền Bắc Cộng sản, và miền Nam sẽ trao đổi văn hóa, kinh tế với họ. VNCH sẽ cho phép dân hai miền tự do qua lại, chấp nhận một cuộc tranh đấu chánh trị với miền Bắc miễn là sự đấu tranh không mang tính chất một sự phá hoại bất cứ dưới hình thức nào.
Ngày 26/12/68, Trần Bửu Kiếm, đại diện MTGPMN, yết kiến ngoại trưởng Pháp Michel Debré. Phái đoàn BV tại Ba Lê ra thông cáo chung với MTGPMN, kêu gọi HK và VNCH nhóm họp ngay quanh một bàn tròn. Ngày 27/12/68, tại Ba Lê, Phái đoàn VNCH họp báo và xác nhận: không thể chấp thuận một hội nghị tay tư; phải căn cứ vào bản thông cáo Việt-Mỹ ngày 27-11-68.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH VÀ GIA ĐỊNH. Ngày 5/11/68, trong 24 giờ qua, quân đội VNCH thực hiện 39 cuộc hành quân từ cấp tiều đoàn trở lên; Không quân thực hiện 79 phi xuất. Hải quân 15 hải xuất, 117 giang xuất và 198 duyên xuất.Ngày 16/11/68, lựu đạn ném vô trụ sở phường Cây Bàng quận 4 Đô thành. Ngày 26/11/68, tại Sài Gòn, mìn nổ tại Học viện Quốc gia Hành chánh, Viện trưởng và một sinh viên bị thương. Ngày 23/11/68, trong ngày hôm nay, quân lực VNCH thực hiện 46 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn. Ngày 30/11/68, phóng thích 90 tù binh CS tại Sài Gòn. 30 tù binh tại Pleiku CS; 13 tù binh BV khác cũng được phóng thích tại Đà Nẵng.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 6/11/68, kịch chiến suốt ngày đến đêm khuya gần Hội An. Ngày 11/11/68, có tới 3 tiền đồn của Mỹ tại phía Nam vùng Phi quân sự bị pháo kích.Ngày 16/11/68, Lúc 19 giờ phi trường Đà Nẵng, căn cứ Hải quân và một số căn cứ khác tại Đà Nẵng bị pháo kích, và đột nhập. Ngày 17/11/68, ba quận lỵ Điện Bàn, Quế Sơn, và Hiếu Đức tỉnh Quảng Nam vừa bị pháo kích và tấn công. Ngày 26/11, giao tranh bên ngoài căn cứ Cồn Tiên. Một đơn vị TQLC Mỹ tiến vào vùng Phi quân sự để truy kích Cộng quân.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 3/11/68, B-52 tiếp tục dội bom xuống Kontum. Ngày 6/11/68, B-52 dội bom xuống các vị trí Cộng quân trên địa hạt Kontum. Ngày 12/11/68, Thị trấn An Khê bị pháo kích. Một căn cứ Mỹ tại Đakto,và phi trường Ban Mê Thuột cũng bị pháo kích. Ngày 13/11/68, đêm qua, căn cứ Radcliff của HK gần An Khê, phi trường Halloway tại Pleiku bi pháo kích dữ dội. Ngày 27/11/68, hành quân Quyết Chiến tại Biệt Khu 44/42.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 3/11/68, Chi khu Lộc Ninh tỉnh Bình Long bị pháo kích. B-52 tiếp tục dội bom xuống những địa điểm thuộc Bình Long, và Tây Ninh. Ngày 5/11/68, B-52 dội bom xuống các vị tri Cộng quân trên địa hạt Tây Ninh. Ngày 6/11/68, B-52 dội bom xuống các vị trí Cộng quân trên địa hạt Tây Ninh. Ngày 10/11/68, trại Lực lượng Đặc biệt Long Hải, quân lỵ Đất Đỏ bị pháo kích. Ngày 11/11/68, kịch chiến tại Bình Long. Ngày 12/11/68, B-52 dội bom xuống các địa điểm tụ quân VC tại Phước Vinh, Bình Dương và Tây Ninh. Ngày 13/11/68, sớm nay, tỉnh lỵ Long Khánh bị pháo kích. Giao tranh tại Bình Long. Ngày 27/11/68, một số căn cứ bị pháo kích trong đêm qua: Thủ Thừa, Củ Chi, Trảng Bàng, Hiếu Thiện, Phú Cường, Long Định, Tam Bình.
Ngày 27/11/68, kịch chiến tại Bình Long. Ngày 20/12/68, Trung tướng Đỗ Cao Trí, Tư lịnh Vùng III Chiến thuật chấp thuận cho các đại diện Cộng sản gặp các đại diện HK lúc 15 giờ ngày 25-12 sắp tới, để bàn về việc phóng thích tù binh.Ngày 25/12/68, có 5 sĩ quan đại diện quân đội HK đáp trực thăng xuống một nơi giữa đồng trên địa hạt Tây Ninh gần sông Vàm Cỏ để nhận lãnh 3 tù binh Mỹ. Sau 2 giờ nói chuyện, đại diện Cộng quân cho biết: không có tù binh nàọ để trả, và cũng chưa nhận được lịnh gì về việc này.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 3/11/68, phi trường Trúc Giang tỉnh Kiến Hòa, và đồn Hậu Vinh, tỉnh Định Tường bị pháo kích. Ngày 5/11/68, giao tranh gần tỉnh lỵ An Xuyên. Ngày 6/11/68, B-52 dội bom xuống các vị trí Cộng quân trên địa hạt Sa Déc. Ngày 10/11/68, quận lỵ Mang Thít, Vĩnh Long bị pháo kích. Ngày 10/11/68, Thị xã Gia Nghĩa bị pháo kích. Ngày 11/11/68, hành quân Quyết Chiến 44/10 tại Kiến Phong. Ngày 17/11/68, quá nửa đêm qua, 9 quận lỵ bị pháo kích: Mang Thít tỉnh Vĩnh Long; Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long; Phong Thuận tỉnh Phong Dinh; Quế Sơn tỉnh Kiên Giang; An Phú tỉnh Châu Đốc; Đầm Dơi tỉnh An Xuyên. Ngày 27/11/68, giao tranh tại Kiến Phong.
Bài 247: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG TỪ THÁNG 1 ĐẾN THÁNG 2 NĂM 1969
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 1/2/69, tại Ban Mê Thuột, TT Nguyền Văn Thiệu chủ tọa lễ tiếp nhận nhóm người Thượng Fulro trở về tuyên thệ hợp tác với chánh quyền. Ngày 8/1/69, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: sẽ không nhường cho Cộng sản một tấc đất, một người dân. Ngày 11/2/69, Lần đầu tiên tại VNCH, các văn sĩ, thi sĩ và nghệ sĩ các ngành được mời tới dự buổi tiếp tân tại dinh Độc Lập nhân dịp tất niên. Thi sĩ Đông Hồ cầm cưa, cưa cành đào ngâm thơ mừng TT Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 18/2/69, TT Nguyễn Văn Thiệu đi thăm một số tỉền đồn tại Quảng Trị, Thừa Thiên. Ngày 24/2/69, theo thông cáo của Văn phòng Tổng thống, trong 35 giờ qua, đã có 136 vụ pháo kích trong đó có 57 vụ vào các thị xã, tỉnh Iỵ, quận lỵ. Ngoài ra, còn có 28 vụ đột nhập. Đêm qua, còn có nhiều toán võ trang tuyên truyền CS xuẩt hiện trong Đô thành như khu Phú Thọ Hòa, Bình Thới, Phạm Thế Hiển…
Tại các tỉnh lỵ Kiến Phong, Kiến Tường, Châu Đốc, Chương Thiện bị pháo kích từ đêm qua đến rạng sáng nay. Các tỉnh lỵ Hậu Nghĩa và Quảng Ngãi cùng thị xã Kontum và 4 đồn ở Tây Ninh cũng bị pháo kích. Ngày 25/2/69, theo Tổng cuộc Chiến tranh Chánh trị, trong 48 giờ qua Cộng quân đã bắn 3.779 trái đạn súng cối và hỏa tiễn vào 24 thành thị và 30 quận lỵ. Đêm qua rạng sáng nay, các phi trường Đà Nẵng và Vĩnh Bình bị pháo kich. 2 vị trí Mỹ tại vùng Rockpile Quảng Trị bị tấn công. Ngày 28/2/69, trong tuần qua, từ ngày 22/2, đã có 25 tỉnh lỵ và 30 quận lỵ bị pháo kích.
QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 14/1/69, hai viện Quốc hội nhóm họp xét phúc nghị của Tổng thống về ngân sách quốc gia. 22 nghị sĩ yêu cầu Tối cao Pháp viện cho ý kiến, rằng về ngân sách, Hành pháp không có quyền phúc nghị. Ngày 22/1/69, Thượng Viện họp phiên khoáng đại, nhiều nghị sĩ lên tiếng công kích mạnh Bộ Ngoại Giao, sau vụ Thụy Điễn công nhận BV. Ngày 31/1/69, theo liên Ủy ban Nội vụ và Xây dựng Hạ Viện, hiện có 8.000 tù nhân tại Côn Sơn, và 34.000 can phạm bị giam trên toàn quốc, kễ cả tù Cộng Sản. Ngày 22/2/69, ba phái đoàn Dân biều, 21 vị, lại được cử đi thăm nhiều quốc gia Á châu, Phi châu và Âu châu để giải thích về tình hình và vấn đề VN.
TỐI CAO PHÁP VIỆN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 31/1/69, Tối Cao Pháp Viện phán quyết: Tổng Thống có quyền yêu cầu Quốc Hội phúc nghị dự luật ngân sách, đối với một hay nhiều chương trình thuộc Hành Pháp.
CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 12/1/69, theo bộ Tư lịnh HK tại VN, thì VNCH kiểm soát 76,3% lãnh thổ; 11% là vùng xôi đậu, và 12,3% do MTGPMN kiểm soát. Ngày 15/1/69, đường xe lửa Huế-Đà Nẵng chạy lại, sau 6 tháng sửa chữa tốn 40 triệu đồng. Ngày 23/1/69, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ cùng tùy tùng lên đường qua Ba Lê. Ngày 7/2/69, tại Qui Nhơn, tới nay đã phát 22 máy truyền hình cho 22 ấp mới bình định thuộc 6 quận. Ngày 16/2/69, giá hàng chợ Tết tại Sài Gòn: bánh chưng 300$-600$ một cặp; cam Mỹ Tho 1.000$ một chục, quít 700$ một chục, nho Mỹ 400$ một kí; Hoa cúc 300-350$ một cặp, thủy tiên 700$ -1.000$.v.v.
Ngày 17/2/69 (Tết Nguyên Đán Kỷ Dậu) chỉ nghe thấy nổ vàỉ bánh pháo ngắn trong Đô thành. Vì có giới nghiêm, các chùa không mở cửa, người đi lể đêm Giao thừa rất ít. Đường xá không bị kẹt. Các rạp hát và phòng trà đông nghẹt. Ngày 18/2/69, có 16 phái đoàn do các Quốc vụ khanh và Tổng, Bộ trưởng cũng đi thăm chiến sĩ và tặng quà tại các Vùng Chiến thuật. Ngày 24/2/69, Chánh phủ VNCH chỉ thị cho các Đại sứ Bùi Diễm và Phạm Đăng Lâm yêu cầu HK có thái độ cứng rắn nếu Cộng quân tiếp tục tấn công và pháo kích. Phó TT Nguyễn Cao Kỳ trở sang Ba Lê.
NẠN NHÂN, TỴ NẠN, VÀ CỘNG SẢN CHÁNH HỒI. Ngày 26/1/69, tình hình dân tị nạn: 837.889 người trong các trại tạm trú.
VIỆN TRỢ MỸ VÀ NƯỚC NGOÀI CHO VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 13/1/69, ký kết tại Bộ Ngoại giao thỏa ước viện trợ Việt Mỹ, Mỹ cung cấp thêm 100.000 tấn gạo Mỹ trị giá 18.500.000$ Mỹ-kim. Từ 1958 tới nay, HK đã viện trợ về nông phẩm 572.920.000$ Mỹ kim cho VNCH. Ngày 17/1/69, Bộ Kinh Tế ký kết hợp đồng với hãng Nhật Tokyo Monka Kaisha, Nhật Bản để xây dựng nhà máy đường tại khu kỹ nghệ Biên Hòa. Ngày 28/1/69, Phái đoàn Kinh tế Nhật thuộc tổ chức Keidaren tới Sài Gòn để xem xét tình hình kinh tế VN. Ngày 30/1/69, khởi công xây cất bịnh viên Tùng Nghĩa, Tuyên Đức do Chương trình Project Concern của hội từ thiện thành phố Worcester HK trị giá 100.000 Mỹ-kim.
Ngày 5/2/69, ký kết tại Bộ Ngoại Giao thỏa hiệp Việt-Mỹ về viện trợ nông phẩm năm 1969: nhập cảng 100.000 tấn gạo, 50.000 tấn bột mì, 7.900 tấn sữa đặc, 2.600 tấn sữa bột, 37.500 kiện bông, và 4.350 tấn thuốc lá. Ngày 14/2/69, có 10 trẻ em bị bịnh tê liệt được đưa sang Ba Lê điều trị, dưới sự bảo trợ của hội Appel thuộc Liên hiệp các gia đình Associations familiales.
MỸ CHUYỂN GIAO CĂN CỨ, QUÂN DỤNG CHO QLVNCH. Ngày 27/1/69, Căn cứ Dakto do Lữ đoàn 1, Sư đoàn 4 Bộ binh Mỹ chiếm đóng được chuyển giao cho quân đội VNCH. Ngày 1/2/69, chuyển giao 25 giang đĩnh trên sông Cửu Long, Định Tường. Trước đó, từ tháng 6-1968, HK đã chuyển 6 tàu đổ bộ, 10 khinh tốc đĩnh 12 tiểu đĩnh và 1 cơ xưởng nổi.
NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 24/1/69, tại trụ sở Thanh niên Phật tử đường Công Lý, Sài Gòn Thượng Tọa Thích Thiện Minh thuyết pháp nêu ra nhiều vấn đề chánh trị liên quan đến hiện tình VN. Ngày 4/2/69, Bộ Nội Vụ ra thông cáo cảnh cáo Thượng Tọa Thích Thiện Minh lần thứ nhất, về nội dụng bài thuyết pháp ngày 24/1/69 tại trụ sở đường Công Lý: mạ lỵ và vu khống chánh quyền; gây chia rẽ; phủ nhận cơ cấu dân chủ; xách động quần chúng lật đổ chế độ. Ngày 10/2/69, những bản nhạc của Trịnh Công Sơn, được giới trẻ tuổi ưa chuộng, bị cấm vì lý do “có tinh cách phản chiến”. Ngày 25/2/69, Tổng nha cảnh sát họp báo và cho biết: đã tìm thấy nhiều tài liệu CS và võ khí tại cư xá Quảng Đức do Thượng tọa Thích Thiện Minh quản trị. Thượng tọa Minh bị giữ, 66 sinh vỉên cư trú tại cư xá trên bị bắt để điều tra.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 4/1/69, quân số Mỹ tại VN 537.000 gồm: 360.000 Lục quân; 81.000 TQLC; 59.900 Không quân; 37.000 Hải quân; và 500 Tuần duyên. Thiệt hại từ 1-1-61 tới nay: Phía Mỹ: 30.644 chết; 1.238 mất tích; 192.926 bị thương, trong đó có 99.980 phải nằm viện. Phía Cộng quân: 53.349 chết. Ngày 7/1/69, Không lực HK đã bị thiệt hại: Tại miền Nam từ 1-1-61 tới hôm nay: 1.306 phi cơ và 978 trực thăng; Tại miền Bắc từ 5-8-64 tới hôm nay: 929 phi cơ và 10 trực thăng. Ngày 10/1/69, Hãng AFP loan tin: Mỹ sẽ rút đợt đầu 20.000 quân tại VN trong những tháng tới. Ngày 11/1/69, quân số HK tại VN: 532.500 người. Các nước Đồng minh: 66.000. Ngày 15/1/69, tân ngoại trưởng HK, William Rogers tuyên bố: mong có một giải pháp hòa bình trên một căn bản danh dự cho phép HK đáp ứng những cam kết chính đáng về VN.
Cùng ngày 15/1/69, Thượng Viện HK tăng lương cho Tổng thống Mỹ: 200.000 Mỹ-kim mỗi năm thay vì 100.000 nhưng trừ thuế rồỉ chỉ còn 78.000 Mỹ-kim. Ngày 15/2/69, theo tướng Westmoreland, sự triệt thoái quân đội HK tại VN phải do cuộc hội đàm Ba Lê quyết định. Ngày 23/2/69, TT Nixon lên đường qua thăm 5 quổc gia Âu châu: Bỉ, Anh, Tây Đức, Pháp, Ý, tuyên bố cho điều tra về các vụ tấn công mới của Cộng quân rồi sẽ quyết định sau. Ngày 26/2/69, Bộ Ngoại Giao HK tuyên bố, chánh phủ Nixon vẫn muốn BV tôn trọng những điều đã thỏa hiệp với cựu TT Johnson xuống thang chiến tranh khi HK ngưng oanh tạc.
QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 15/2/69, Lần đầu tiên, các nhà bác học Anh thí nghiệm thành công một cuộc thụ thai nhân tạo trong lọ thũy tinh bởi các bác-sĩ Edward, Bavister và Steptoe. Tinh trùng gặp buồng trứng trong lọ.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOA VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 26/1/69, theo tin Việt Tấn Xã, 57 trẻ em dưởi 15 tuổi tại Quảng Ngãi và Quảng Trị đã bị đưa ra Bắc theo chủ trương “Gửi cháu ra Bắc”. Ngày 21/1/69, theo tin quân sự Mỹ, 3 sư đoàn BV đã rút qua Ai Lao lên miền Bắc, lại di chuyển dần xuống miền Nam.
HỘI ĐÀM PARIS VÀ CÁC TRANH CẢI BỐN BÊN-HAI BÊN. Ngày 1/1/69, Tại Ba Lê, Đại sứ Harriman xác nhận: không tán thành đề nghị của Cố vấn Kissinger về hội đàm song song BV-HK và VNCH-MTGPMN; phải họp chung thay vì thương thuyểt riêng rẽ. Ngày 2/1/69, hai phái đoàn BV và HK lại nhóm họp trong hơn 4 giờ về thủ tục hòa đàm: không kết quả. Ngày 5/1/69, Phái đoàn VNCH tại Ba Lê lên án Hà Nội đã cố ý trì hoãn cuộc hội đàm bằng cách đòi cho VC một qui chế phái đoàn bỉệt lập và bình đẳng. Ngày 6/1/69, Đại sứ Henri Cabot-Lodge, hiện là đại diện HK tại Tây Đức, được TT Nixon cử làm Trưởng phái đoàn HK tại Ba Lê, thay Harriman; luật sư Laurence E. Walsh, làm phó Trưởng phải đoàn thay Cyrus Vance. Cùng ngày 6/1/69, Phát ngôn viên của Phái đoàn BV tại Ba Lê tuyên bố: sẽ khộng dự cuộc hòa đàm nếu MTGPMN không được hưởng quy chế biệt lập và binh đẳng.
Ngày 7/1/69, Phái đoàn HK tại Ba Lê cho biết: sẽ cố gắng cho cuộc hòa đàm mở trước ngày 20-1-69. Ngày 9/1/69, thông cáo của Phái đoàn VNCH tại Ba Lê: VNCH sẽ không chấp thuận, nếu MTGPMN được coi là ngang hàng vớỉ các Chánh phủ tham dự cuộc hòa đàm. Ngày 16/1/69, tại Ba Lê, phái đoàn VNCH thông báo: BV đã thỏa thuận về kiểu bàn thứ 14: hình tròn, không phản đối, hai bên kê hai bàn dài cách bàn tròn 45 phân để dành cho ban thư ký; không trưng cờ và tên phái đoàn; sẽ nhóm họp buồi đầu ngày 18/1/69. Phiên đầu, đại diện VNCH sẽ nói trước, phiên sau, bên kia sẽ nói trước và cử luân phiên như vậy. Chiếc bàn tròn và 2 bàn chữ nhật trong phòng hòa đàm, được các nhà chức trách Pháp cho đóng xong sau 7 tiếng đồng hồ.
Ngày 18/1/69, tại Ba Lê, nhóm họp sơ bộ phiên hòa đàm. Phía Đồng minh: 8 đại biểu và 4 thư ký. Phía Cộng sản: 8 đại biểu và 4 thư ký. Đại biểu chánh thức của phái đoàn VNCH: cựu Tổng trưởng Nguyễn Xuân Phong. Đại biểu chánh thức của HK: Cyrus Vance. Đại biểu chánh thức của phái đoàn VNDCCH: Hà Văn Lâu, Nguyễn Thị Bình. Đại biểu Nguyễn Xuân Phong nói trước trong 3 phút, kế đến Cyrus Vance, rồi Nguyễn Thị Bình, Hà Văn Lâu. Sau 5 giờ trao đổi quan điểm, hai bên thỏa thuận về thủ tục các phiên họp sau. Mỗi bên sẽ có 30 nhân viên tham dự. Ngày 19/1/69, tại Ba Lê, MTGPMN mướn một anh làm xiếc leo lên nóc nhà thờ Notre Dame treo một cờ lớn từ 8 giờ sáng. Đến 14 giờ 55, cảnh sát phải dùng trực thăng thả người xuống tháo gỡ. Ngày 20/1/69, một thỏa hiệp mới về thủ tục họp báo tại Ba Lê: các phái đoàn Việt-Mỹ họp trước, sau đến BV và MTGPMN, và sẽ luân phiên như vậy.
Ngày 21/1, Đại sứ Cabot-Lodge tới Ba Lê cầm đầu phái đoàn HK, và các ông Laurence Walsh, Phó trưởng phái đoàn, Marcell Green và William Jorden. Ngày 23/1/69, tại Ba Lê, Đại sứ Cabot Lodge cho biết: sẽ không có nghị trình rõ rệt, có thể đề cập bất cứ vấn đề nào.
HỘI ĐÀM PARIS BỐN BÊN-HAI BÊN HỌP PHIÊN ĐẦU TIÊN. Ngày 25/1/69, tại Ba Lê, Hội đàm họp phiên khoáng đại đầu tiên, mỗi bên 30 nhân viên. Các đại diện Việt Mỹ vô phòng họp bằng một cửa. Các đại diện BV và MTGPMN vô bằng một cửa khác. Không bắt tay, không nhìn nhau. Các trưởng phái đoàn đọc diễn văn: Cabot Lodge đòi: tái lập vùng Phi quân sự, rút những quân đội BV và HK ra khỏi VNCH, canh gác các biên giới Lào Miên bằng một lực lượng quốc tế. Phạm Đăng Lâm nói trong 2 giờ 30 phút; Xuân Thủy: 65 phút; Trần Bửu Kiếm: 90 phút. Buổi họp kéo dài 6 giờ rưỡi. Ngày 27/1/69, TT Nixon tuyên bố: đã đưa ra vài biện pháp cụ thể tại Ba Lê: tái lập vùng Phi quân sự, hai bên cùng rút quân, CS nên nhận và có thể nhận, về các vấn đề khác sẽ liệu sau. Không nêu vấn đề ngừng bắn, vì vô nghĩa trong chiến tranh du kích. Cùng ngày 27/1/69, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố tại Ba Lê: sẵn sàng gặp các đại diện BV hay VC ở Ba Lê hoặc nơi khác.
Ngày 30/1/69, tại Ba Lê, phiên họp khoáng đại thứ 2: HK và VNCH xác nhận: phải tái lập vùng Phi quân sự. BV và MTGPMN bác bỏ đề nghị này, và đòi giải quyết cả các vấn đề chánh trị lẫn quân sự, theo 4 điểm của BV và 5 điểm của MTGPMN. Ngày 3/2/69, tại Ba Lê, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: sẵn sàng nhượng bộ hơn nữa để cuộc hòa đàm đi tới kết quả, nếu BV chịu rút quân, và đang chờ đợi bên kia trả lời về ý kiến họp riêng, nói chuyện riêng. Ngày 6/2/69, Phiên họp khoáng đại thứ 3 cuộc hòa đàm Ba Lê, đến lượt phe CS nói trước. Đại sứ Phạm Đăng Lâm lại nêu vấn đề tái lập vùng Phi quân sự. Đại sứ Cabot-Lodge cũng vậy. Trần Bửu Kiểm vẫn đòi lập Chánh phủ Hòa bình. Ngày 7/2/69, Theo tin UPI và nhiều nguồn tin khác tại Ba Lê, HK và BV tiếp xúc mật để khai thông bế tắc tại Hòa hội. Ngày 9/2/69, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ trở về Sài Gòn, và tuyên bố phe CS chưa thay đổi thái độ.
Ngày 13/2, tại Ba Lê, phiên họp khoáng đại thứ 4 cuộc hòa đàm về VN: mỗi bên vẫn giữ nguyên lập trường củ. Cabot Lodge tuyên bố: BV và MTGPMN không có hy vọng gì phá huỷ chế độ hiện hữu của VNCH. Buổi họp kéo dài trong 6 giờ 20 phút. Ngày 14/2/69, tại Ba Lê, các giới chức liên hệ không cải chính mà cũng không xác nhận tin đồn có những cuộc hội đàm mật giữa các phảỉ đoàn Đồng minh và Cộng sản. Ngày 15/2/69, tại Ba Lê, Đại sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố: sau 4 phiên họp khoáng đại, cuộc hội đàm không đưa lại kểt quả nào, và phe Cộng sản phải chịu trách nhiệm. Ngày 16/2/69, Tướng Vĩnh Lộc tới Ba Lê để tham gia phái đoàn hòa đàm của VNCH. Cùng ngày 16/2/69, Lê Đức Thọ trở về Hà Nội thảo luận sau khi qua Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh. Ngày 19/2/69, Cyrus Vance rời khỏi phái đoàn hòa đàm HK tại Ba Lê. Lawrance Walsh được cử lên thay.
Ngày 20/2/69, Tại Ba Lê, phiên họp khoáng đại thứ 5, Phạm Đăng Lâm đòi phe CS thảo luận về các đề nghị của phe Đồng Minh. Cabot-Lodge yêu cầu giải quyết các vấn đề trên căn bản hiệp định Genève. Trần Bửu Kiếm và Xuân Thủy vẫn nhắc lại các luận điệu cũ. Ngày 25/2/69, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố tại Ba Lê: nếu CS còn tiếp tục pháo kích, thì BV có thể bị oanh tạc trở lại. Ngày 27/2/69, Phiên họp khoáng đại thứ 6 cuộc hòa đàm Ba Lê. Đại sứ Phạm Đăng Lâm phản kháng các vụ pháo kích của Cộng quân. Cabot Lodge yêu cầu thảo luận về vấn đề quân sự. Xuân Thủy và Trần Bửu Kiếm nhắc lại các quan điểm cũ. Ngày 28/2/69, Bộ Ngoại giao HK xác nhận: không có văn kiện nào ký kết về sự ngưng oanh tạc BV. Song Bộ này vẫn từ chối, không cho biết thái độ đối với các cuộc pháo kích vào thành thị VNCH.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH VÀ GIA ĐỊNH. Ngày 6/1/69, tại Sài Gòn, 3 kẻ lạ mặt cưỡi Honda ném lựu đạn vào xe Tổng trưởng Giảo Dục Lê Minh Trí trên đường Hai Bà Trưng. Ngày 12/2/69, đêm qua, Đại đội ĐPQ canh giữ cầu Bình Điền bị pháo kích và tấn công. Ngày 16/2, ngày hôm nay, Bộ binh VNCH thực hiện 46 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên; Không quân thực hiện 71 phi xuất; Hải-quân 54 hải xuất, 177 giang xuất và 201 duyên xuất. Ngày 23/2, trong đêm qua và ngày hôm nay, 104 vụ pháo kích và xâm nhập 18 tỉnh lỵ và 28 quận lỵ, cùng nhiều vị trí quân sự VNCH và Đồng Minh. 2 trực thăng Mỹ bị bắn rớt và bốc cháy trên địa hạt Tam Kỳ và Quảng Trị.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 20/1/69, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tại Thừa Thiên. Ngày 29/1/69, B 52 dội bom xuống các địa điểm tụ quân tại Đà Nẵng. Ngày 2/2/69, B 52 dội bom nhiều lần xuống các tụ điểm Cộng quân tại Thừa Thiên. Ngày 3/2/69, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tại Quảng Trị. Ngày 18/2/69, kịch chiến tại vùng A Shau Thừa Thiên.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 20/1/69, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tại Kontum. Ngày 3/2/69, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tại Kontum. Ngày 8/2/69, thị xã Phan Thiết bị pháo kích.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 20/1/69, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tại Biên Hòa. Ngày 29/1/69, B 52 dội bom xuống các địa điểm tụ quân tại Phước Long. Ngày 2/2/69, B 52 dội bom nhiều lần xuống các tụ điểm Cộng quân tại Tây Ninh, nhiều nhất vùng chiến khu C. Ngày 3/2/69, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tạiBình Long. Ngày 5/2/69, B 52 dội bom 4 lần xuống các tụ điểm Cộng quân tại Bình Dương. Ngày 8/2/69, kịch chiến suốt buổi trưa đến chiều tại Bình Dương. Ngày 11/2/69, B 52 vẫn tiếp tục những vụ ọanh tạc hàng ngày; hôm nay, dội bom xuống các vị trí Cộng quân tại Bình Dương.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 3/1/69, các đơn vị VNCH tiến sâu vào rừng U Minh, nơi đặt bản doanh của Đặc khu ủy CS miền Tây. Ngày 3/2/69, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tại Quảng Trị. Ngày 8/2/69, thị xã Rạch Giá bị pháo kích. Ngày 21/2/69, giao tranh tại Chương Thiện. Hành quân Quyết Thắng tai Vĩnh Bình.
Bài 248: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG TỪ THÁNG 3 ĐẾN THÁNG 4 NĂM 1969.
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 25/3/69, TT Nguyễn Văn Thiệu họp báo tuyên bố: VNCH sẵn sàng nói chuyện riêng với MTGPMN đề tìm biện pháp hòa giải cho xứ sở. Ngày 27/3/69, Nha Báo chí phủ Tổng thống cho biết: VNCH giữ nguyên lập trường, không công nhận MTGPMN, không liên hiệp, không chấp nhận đảng CS. Ngày 7/4/69, TT Nguyễn Văn Thiêu đọc thông điệp trước Quốc Hội, xác nhận lập trường 6 điểm: (1) Cộng sản phải chấm dứt xâm lăng; (2) Cộng sản phải triệt thoái cán binh khỏi miền Nam; (3) Không được xâm phạm các xứ láng giềng để xâm nhập VNCH; (4) VNCH sẽ áp dụng chính sách hòa giải và đại đoàn kết; (5) Sự thống nhất quốc gia sẽ do toàn dân VN quyết định; (6) Phải có hệ thống kiểm soát quốc tế hữu hiệu chống xâm lăng CS.
Ngày 21/4/69, trong lễ mãn khóa của 1.145 viên chức Xã, Ấp tại TTHL Cán bộ Quốc gia Vũng Tàu. TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: không lập đảng để làm đảng trưởng, chỉ lãnh đạo tổng quát các đảng phái chống Cộng mà thôi, không độc tài gia đình trị, không độc tài đảng trị. Phi cơ C-47 chở quan khách dự lễ trên, khi cất cánh về Sài Gòn bị rớt xuống phi đạo và bốc cháy. Một số nhân vật bị thương.
QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 29/4/69, Hạ Viện biểu quyết khiển trách và ngưng trả lương cho Dân Biều Hồ Hữu Tường đã qua Pháp mà không trở về.
CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 1/3/69, Cầu Bạch Hổ tại Huế được tái thiết xong. Ngày 3/3/69, Bộ Ngoại giao HK cảnh cáo: BV không thành thực trong cuộc hội đàm Ba Lê, và phải chịu hậu quả của những vụ pháo kích vào các thành thị VNCH. Ngày 13/3/69, có 12 Tỉnh trưởng được hoán chuyển hoặc thay thế. Và, 79 sĩ quan cấp Tá và cấp Úy tốt nghiệp khóa quân chính được cử làm phụ tá cho Tỉnh hoặc Quận trưởng. Ngày 24/3/69, Theo Bộ Lao Động, hiện có 12.000 công nhân Đại Hàn và 8.000 công nhân Phi Luật Tân tại VN. Thiết lập một Uỷ Ban Đặc trách Chương trình Nguyễn Công Trứ nhằm vấn đề phát triển các Xã, chủ tịch là Phó Thủ tướng kiêm Nội vụ đặc trách Bình định và Xây dựng Trần Thiện Khiêm.
Ngày 1/4/69, Ấn định lai thành phần và nhiệm vụ cơ quan hành chánh Xã và Ấp. Xã thuộc quyền Xã Trưởng. Hội đồng Xã thay Hội đồng Nhân dân Xã. Phó Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm họp báo và cho biết: đã bầu xong 4.598 Hội viên trong 589 xã, và 3.143 Trưởng Ấp và Phó trưởng Ấp trong 3.041 ấp. Từ nay đến cuối năm, sẽ bằu thêm cho 130 xã và 889 ấp. Ngày 2/4/68, Chiến dịch Phụng Hoàng của cảnh sát khám phá nhiều cơ sở kinh tài CS tại Bình Thuận. Ngày 7/4/69, theo Trung Tâm Khuếch Trương Kỹ Nghệ, từ 1963 tới nay, số vốn đầu tư vào các ngành kỹ nghệ đã lên tới 17 tỷ bạc: 53% của tư nhân VN, 35% của chánh phủ, 12% của ngoại quốc.
VIỆN TRỢ MỸ VÀ NƯỚC NGOÀI CHO VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 8/3/69, sau nhiều ngày khảo sát, và trao đổi với các giới chức liên quan, Phái đoàn kinh tế Nhật gồm 23 công ty; lập một Ủy ban liên lạc giúp đở VNCH phát triển về canh nông và ngư nghiệp. Ngày 9/3/69, tại Đà Nẵng, lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất 1 bịnh viện 170 giường do chánh phủ Tây Đức viện trợ, trị giả 600 triệu bạc VN. Cùng ngày 9/3/69, một phái đoàn gồm 5 Hạ nghị sĩ Pháp do nghị vỉên William Jacson hướng dẫn, tới Sài Gòn xem xẻt tình hình và tỏ tình thân thiện. Cùng ngày 12/3/69, có 21 nữ và 34 nam sinh viên cỏ bằng Tủ Tài II, thuộc thành phần Quốc gia Nghĩa tử, được học bổng lên đường qua HK du học. Ngày 29/3/69, một bịnh xá 24 giường do Công binh Sư đoàn 3 TQLC Mỹ xây cất từ 2 tháng nay, trị giá 5 triệu đồng, trao tặng cư dân thị trấn Đông Hà, Quảng Trị.
MỸ CHUYỂN GIAO CĂN CỨ, QUÂN DỤNG CHO QLVNCH. Ngày 19/4/69, tại Nha Trang, Không lực Mỹ chuyển giao cho Không Quân VNCH 1 phi đoàn phản lực HK A-37. Ngày 25/4/69, tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 77 pháo binh HK chuyển giao trang bị cho quân đội VNCH, trước khi rút về Mỹ.
NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 12/3/69, Hội VN Dân Trí được phép mở tại Long Xuyên một Viện Đại học tư thục với các Phân khoa Ngư, Nông và Kỹ thuật. Cùng ngày 12/3/69, thông cáo của Bộ Nội Vụ: Thượng tọa Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hồng bị truy tố trước tòa án Quân sự Mặt trận Vùng III về tội: chứa chấp phản nghịch, oa trữ võ khí và tài liệu bất hơp pháp, tán trợ đào binh và bất phục tòng. Ngày 15/3/69, Tòa án Quân sự lưu động vùng III tuyên phạt Thượng tọa Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng 10 năm khổ sai, từ 3 năm tù ở đến 20 năm khổ sai 8 sinh viên bị bắt tại cư xá Quảng Đức đường Công Lý, Sài Gòn. Cư xá này bị tịch thu. Ngày 16/3/69, Lễ cầu nguyện tại chùa Ấn Quang cho Thượng tọa Thích Thiện Minh. Sau buổi lễ có. cuộc họp báo, Thượng tọa Thích Trí Quang tuyên bố: người Mỹ phải chịu trách nhiệm về vụ án Thích Thiện Minh.
Ngày 17/4/69, Lực Lượng Đại Đoàn Kết tuyên bố: chấp nhận kế sách hòa bình 6 điểm của TT Nguyễn Văn Thiệụ, và sẵn sàng đáp ứng sự tập hợp chánh đảng do Tổng Thống đề xướng. Ngày 19/4, tại Viện Đại học Cần Thơ, hội thảo về hiện tình đất nước. Hơn 200 người thuộc giới trí thức tham dự. Ngày 28/4/69, sau 3 ngày hội thảo, 10 đảng phái và đoàn thể thỏa hiệp lập một Mặt trận đứng về phe cầm quyền: Đại Việt Cách Mạng của Hà Thúc Ký; Dân Chủ Xã Hội của Trình Quốc Khánh; VN Phục Quốc Hội của Nguyền Thành Phương; Quốc Dân Liên Hiệp của Huỳnh Kim Niên; Liên Minh Dân Tộc Xã Hội Cách Mạng của Ngô Ứng Tài; Cư sĩ Phật Tử VN của Phạm Ngọc Thanh; Hiệp Hội Công Nông của Trần Quổc Bửu; Nhân Xã Đảng của Trương Công Cừu; Hội Cựu Chiến Sĩ Địa Phương Quân và Nghĩa Quân; Hội Phụ Lão chống Cộng.
NẠN NHÂN, TỴ NẠN, VÀ CỘNG SẢN CHÁNH HỒI. Ngày 28/3/69, Tại Huế, Địa phương quân tìm thấy hầm chôn 135 xác bị trói tại Phú Thứ, nạn nhân Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Ngày 30/3, theo Bộ Chiêu Hồi, thì trong tuần qua, trên toàn quốc có 1.013 cán binh CS hồi chánh. Ngày 31/3/69, đám táng tập thể hơn 100 nạn nhân cuộc tấn công Tết Mậu Thân tại nghĩa địa Dưỡng Mong, Thừa Thiên. Ngày 10/4/69, tại Thừa Thiên, lại tìm thấy 43 tử thi nạn nhân vụ tấn công Tết Mậu Thân ở ấp Diên Đại quận Phú Thứ. Ngày 15/4/69, tại Thừa Thiên, đám tang tập thể 219 nạn nhân bi sát hại trong dịp Tết Mậu Thân thi thễ được tìm thấy ở Phú Thứ, Phú Vang v.v... được đưa đến cải táng tại chân núi Thiên Thai, quận Nam Hòa.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 1/3/69, TT Nixon tới Ba Lê hội đàm với De Gaulle. Ngày 2/3/69, tại Ba Lê, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ hội đàm 45 phút với TT Nixon về vấn đề VN: chi tiết chưa được công bố. Ngày 4/3/69, TT Nixon họp báo và tuyên bố: sẽ phải có đối phó thích ứng nếu Cộng quân tiếp tục tấn công và pháo kích; không thể chịu đựng những hành động có thể gây thiệt hại lớn cho quân đội HK giữa lúc Mỹ đang thực tâm tìm hòa bình tại hòa hội. Ngày 7/3/69, Bộ trưởng Quốc phòng HK Melvin Laird tới Sài Gòn và tuyên bố: nếu CS tiếp tuc tấn công, HK sẽ có biện pháp thích đáng để đối phó. Lúc này chưa thể bàn tới sự rút quân, HK vẫn cương quyết giúp đỡ VNCH. Ngày 10/3/69, Bộ trưởng Quốc phòng HK Melvin Lạird trở về HK sau 4 ngày viếng thăm VN tuyên bố: không rút quân lúc này vì CS đang tấn công mạnh; sẽ cung cấp cho quân lực VNCH các phương tiện cần thiết; cuộc tấn công hiện nay không mang lại kết quả gì cho CS.
Cùng ngày 10/3/69, Thượng nghị sĩ Mansfield tuyên bố: HK chẳng có lợi gì trong việc đảm nhận những trọng trách tại Á Đông, nên để mặc các quốc gia phát triển theo đường lối thích hợp với họ. Ngày 14/3/69, TT Nixon họp báo và tuyên bố: sẽ có phản ứng thích đáng nếu số thương vong của quân đội HK lên quá cao. Ngày 15/3/69, Hội đồng An ninh Quốc gia HK nhóm họp về vấn đề chiến tranh tại VN. Chưa thấy quyết định gì về sự trả đũa Cộng quân. Ngày 19/3/69, trước Quốc hội Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng Laird tuyên bố: chưa có chương trình triệt thoái quân lực Mỹ tại VN; phải chờ cho quân đội VNCH có thể thay thế quân đội Mỹ; cần cấp thêm 156 triệu Mỹ-kim để canh tân trang bị cho quân đội VNCH. Cũng ngày 15/3/69, theo Thượng nghị sĩ Mỹ Stephen Young, HK và BV đang mật đàm để ngừng bắn nếu HK chịu rút ngay 100.000 quân tại VN. Ngày 23/3/69, TT Nixon hội đàm với nhiều yếu nhân trong chánh phủ và Đại sứ Bunker về vấn đề VN. Vẫn chưa có quyết định gì hoặc tuyên bố nào dứt khoát.
Ngày 28/3/69, Ngoại trưởng William Rogers tuyên bố: HK không tìm chiến thắng quân sự, không leo thang chiến tranh; cần tái lập vùng Phi quân sự; không xen vào việc nội bộ của hai miền VN; tôn trọng hiệp định Genève 1962 về Lào; tôn trọng trung lập và lãnh thổ Cao Mên… Nguyên Tổng thống Mỹ, tướng Dwight David Eisenhower, từ trần tại bịnh viện Walter Reed sau 11 tháng đau tim, thọ 79 tuổi. Ngày 31/3/69, TT Nixon tiếp kiến 12 quốc khách tham dự đám táng cựu TT Eisenhower, trong đó có Phó TT Nguyễn Cao Kỳ. Có tin vấn đề VN đã được gợi ra nhân dịp này. Ngày 3/4/69, Bộ trưởng Quốc phòng HK Melvin Laird cho biết: đang có mật đàm tại Ba Lê gỉữa HK và BV, và đã có it nhiều kết quả.Ngày 5/4/69, theo giới ngoại giao tại Luân Đôn, BV và MTGPMN đặt điều kiện thành lập chánh phủ Liên hiệp tại miền Nam VN, rồi mới nói chuyện với HK về các vấn đề khác. Báo chí Âu Mỹ vẫn loan tin các cuộc mật đàm giữa HK và BVđã đưa tới một số kết quả.
Ngày 6/4/69, Tướng Westmoreland, cựu tổng tư lệnh Mỹ tại VN, và Đô đốc Sharp, cựu tổng tư lệnh Mỹ tại Thái Bình Dương, công bố bản phúc trình 347 trang về chiến cuộc tại VN trong 4 năm chỉ huy. Theo Westmoreland và Sharp, nếu HK không đưa quân sang VN năm 1965, thì VNCH chắc đã mất trong thời gian 6 tháng. Ngày 7/4/69, Ngoại trưởng HK William Rogers tuyên bố: sự triệt binh tại VNCH phải có tính cách song phương; rất có thể sẽ đi tới kết qủa này trong năm nay; HK đã có kế hoạch giải quyết vấn đề VN, nhưng chưa tiết lộ, cũng như đối với tin mật đàm. Ngày 18/4/69, TT Nixon họp báo và tuỵên bố: vấn đề triệt thoái quân đội HK tại VN chỉ được giải quyết khi nào quân đội VNCH đủ sức bảo vệ xứ sở, khi nào chiến cuộc xuống thang, và khi nào cuộc hộỉ đàm Ba Lê tiến triễn khả quan. Ngày 20/4/69, Bộ trưởng Quốc phòng HK, Melvin Laird xác nhận: không có vấn đề đơn phương triệt thoái quân đội Mỹ; không thể có áp lực nào để VNCH chấp nhận một chánh phủ Liên hiệp.
VỚI ĐỒNG MINH CÓ QUÂN THAM CHIẾN. Ngày 16/4/69, theo thông cáo của tòa Đại sứ Mỹ Sài Gòn: chánh phủ HK vừa cậy tòa Đại sử Úc tại Nam Vang chuyển tới chánh phủ Mên bản tuyên ngôn thừa nhận chủ quyền độc lập và Trung-lập, sự toàn vẹn lãnh thổ Mên trong biên giới hiện tại. Sihanouk tuyên bố: sẽ tái lập bang giao với HK ở cấp Đại lý Đại sứ; vấn đề tái lập bang giao với VNCH đã đặt ra quá muộn, BV và MTGPMN đã công nhận từ lâu biên giới của Mên nên họ đã có đại diện tại Nam Vang.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOA VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 4/3/69, trong 2 ngày qua, lại có thực tập báo động tại Hà Nội. Cùng ngày 12/4/69, theo đài phát thanh của MTGPMN, thì đảng Nhân Dân Cách Mạng trong Mặt Trận tuyên bố giải tán. MTGPMN đưa ra kế hoạch hòa bình gồm 3 điểm: HK chấm dứt chiến tranh; HK rút hết quân khỏi VN; chánh phủ VNCH chấm dứt vai trò lãnh đạo chính trị.
HỘI ĐÀM PARIS BỐN BÊN-HAI BÊN HỌP PHIÊN THỨ 7. Ngày 6/3/69, tại Ba Lê, phiên họp thứ 7 cuộc hội đàm. Sau khi đọc diễn văn phản đối các vụ pháo kích và tấn công mởi đây của Cộng quân, Đại sứ Phạm Đăng Lâm ra về. Phó TT Nguyễn Cao Kỳ rời Ba Lê về Sài Gòn. Ngày 10/4/69, tại Ba Lê, phái đoàn HK yêu cầu phái đoàn BV mật đàm để khai thông bế tắc. Ngày 11/3, tại Ba Lê, phát ngôn viên Phái đọàn BV cho biết: BV không muốn nói chuyên riêng với Mỹ khi vắng MTGPMN, nếu HK muốn đề nghị gì, thi cứ đưa ra bàn hội nghị. Ngày 13/3/69, Phiên họp thứ 8 cuộc hòa đàm Ba Lê, Đại sứ Phạm Đăng Lâm lại phản đối các vụ pháo kích của Cộng quân. Buổi họp kéo dài hơn 4 giờ rưỡi, không đưa tới kết quả nào. Ngày 20/3/69, tại Ba Lê, phiên họp thứ 9 cuộc hội đàm về VN. vẫn chỉ có những luận điệu lên án lẫn nhau. Ngày 27/3/69, tại Ba Lê, phiên họp thứ 10 cuộc hội đàm về VN. Trần Bửu Kiếm bác bỏ ý kiến nói chuyện riêng với VNCH. Ngày 3/4/69, Phiên họp thứ 11 cuộc hội đàm Ba Lê. Không có chi lạ.
Ngày 7/4/69, Phát ngôn viên của pháỉ đoàn BV tại Ba Lê phê bình bài diễn văn của TT Nguyễn Văn Thiệu không có điểm nào mớỉ lạ. Ngày 8/4/69, Theo nhiều nguồn tin ngoại quốc, chánh phủ Nixon có thể đơn phương triệt thoái một phần quân lực tại VN, và như vậy sẽ trái với những điều cam kết tại Hội nghị Manille dướỉ thời Johnson. Ngày 9/4/69, Tại Ba Lê, Trần Bửu Kiếm tuyên bố: sẵn sàng ủng hộ một chánh phủ hòa bình, dù không có MTGPMN tham gia. Phát ngôn viên của phái đoàn VNCH tại Ba Lê tuyên bố: VNCH và MTGPMN vẫn có nói chuyện riêng bên ngoài các phiên họp chánh thức. Ngày 10/4/69, Phiên họp thứ 12, cuộc hội đàm Ba Lê, Phái đoàn BV tuyên bố không biết gì về kế hoạch giải hòa của TT Nixon. Ngày 10/4/69, theo nhiều tin do các hãng thông tin quốc tế, HK có thể đơn phương rút một phần quân số tại VN từ 50.000 đến 100.000 trong 60 ngày sắp tới. Ngày 11/4/69, qua những lời tuyên bố không rõ rệt của Bộ Ngoại giao HK và Phái đoàn HK tại Ba Lê.v.v. báo chí Âu Mỹ vẫn bàn tán nhiều về những tin đồn triệt thoái quân đội HK.
Cùng ngày 11/4/69, hơn 2.300 nhà kinh doanh HK yêu cầu chánh phủ Nixon rút quân khỏi VNCH trong vòng 12 hoặc 18 tháng, và giải quyết vấn đề VN theo hiệp định Genève 1954. Ngày 12/4/69, tại Nữu Ước và 32 thành phố HK, hàng vạn người đủ các giới biểu tình đòi chấm dứt ngay chỉến tranh tại VN. Tại Philadelphia, một nhóm người xông vào Phòng Tuyển Mộ quân nhân, đọc danh sách 31.379 chiến sĩ tử thương. Ngày 17/4/69, tại Ba Lê, phiên họp khoáng đại thứ 13 cuộc hội đàm về VN: Xuân Thủy bác bỏ đề nghị hai bên cùng rút quân, và đòi HK phải cho biết kế hoạch hòa bình của TT Nixon. Ngày 23/4/69, Phiên họp thứ 14, Phái đoàn Mỹ và Phái đoàn VNCH đòi rút quân song phương. Phái đoàn BV và MTGPMN bác bỏ. Ngày 23/4/69, tại Ba Lê, trong các cuộc hội đàm về vấn đề VN, BV và MTGPMN không chịu bàn về sự rút quân khỏi Lào và Mên. Ngày 30/4/69, Tại Ba Lê, phiên họp thử 15 cuộc hội đàm về VN. Không có gì mới.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH VÀ GIA ĐỊNH. Ngày 3/3/69, tại Đô thành, lúc 5 giờ sáng, Cộng quân bắn hỏa tiễn vào bịnh viện Grall, bến Bạch Đẳng và Khánh Hội. Ngày 5/3/69, tại góc đường Nguyễn Du-Cường Để, gần phủ Thủ tướng, lúc 12 giờ 45, 2 khủng bố cưỡi Honda nhắm bắn súng lục vào xe Thủ tướng Trần Văn Hương nhưng không trúng. Ngày 16/3/69, lúc 2 giờ 30 sáng nay Cộng quân lại bắn hỏa tiễn 122 ly vào Đô thành. Ngày 17/3/69, trường Bộ binh Thủ Đức bị pháo kích. Ngày 18/3/69, có tới 12.000 Cộng quân tụ tập với mục đích tấn công thủ đô. Mỹ mở cuộc hành quân đại quy mô với 10.000 quân tiến vào đồn điền Michelin để xua đuổi. Ngày 19/3/69, Trung tâm Huấn luyện Quang Trung bị pháo kích. Ngày 21/3/69, đêm qua, 5 tỉnh lỵ và 4 quận lỵ bị pháo kích. Ngày 22/3/69, quá nửa đêm qua, trường Bộ Binh Thủ Đức, và 25 nơi khác bị pháo kích.
Ngày 30/3, tại Đô thành, buổi sáng sớm Cộng quân bắn B-40 bắn vào chi cảnh sát Nguyễn Tri Phương, Lúc 10 giờ, Ty Bưu Điện Chợ Lớn bị mìn làm sập đổ. Ngày 26/4/69, có 571 phi xuất của Không lực Mỹ trên cảc vùng chiến thuật.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 17/3/69, quận lỵ Đức Dục, và trại định cư Thanh Mỹ bị pháo kích. Ngày 27/4/69, đêm qua các căn cứ quân sự Mỹ tại Cam Lộ, và Đà Nẵng bị pháo kích. Tại Đà Nẵng, một kho đạn HK chừng 400 tấn đạn bị cháy nổ, hơn 10.000 dân quanh khu vực phải di tản. 2.012 căn nhà bị thiệt hại.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 21/3/69, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tại Kontum. Ngày 22/3/69, kho dầu Mỹ ở Qui Nhơn bị pháo kích bốc cháy 18 giờ liền. Cũng tại Bình Định, Ấp An Dương, xã Hoài Tân, quận Hoài Nhơn bị đột nhập, 460 căn nhà của người tị nạn bị thiêu hủy. Ngày 25/3/69, B-52 dội bom xuống các điểm tụ quân tại Kontum. Ngày 22/4/69, giao tranh dữ dội tại Ban Mê Thuột.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 17/3/69, giao tranh ác liệt buổi trưa đến chiều tại Trảng Bàng. Ngày 21/3/69, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tại Bình Dương, và Tây Ninh. Ngày 25/3/69, B-52 dội bom xuống các điểm tụ quân tại Hậu Nghĩa, và Bình Long. Ngày 3/4/ù69, Lúc 2 giờ 45, một đồn Nhảy Dù tại Tây Ninh bi pháo kích, và tấn công ồ ạt. Ngày 14/4/69, B 52 vẫn dội bom hàng ngày xuống các vị trí Cộng quân tại Long Khánh và Hậu Nghĩa. Ngày 27/4/69, đêm qua các căn cứ quân sự Mỹ tại Trảng Bàng bị pháo kích.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 17/3/69, quận lỵ Hòa Long bị pháo kích. Ngày 3/4/69, một đồn Nhảy Dù Bến Sỏi, Rạch Gía cũng bị tấn công. Ngày 4/4/69, Giao tranh dữ dội tại Định Tường. Ngày 27/4/69, đêm qua các căn cứ quân sự Mỹ tại Cần Thơ, và Vĩnh Long bị pháo kích.
Bài 249: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG TỪ THÁNG 5 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 1969
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 16/5/69, Văn phòng phủ Tồng Thống cho biết, những điềm mà TT Nixon đề ra không trái ngược với tinh thần 6 điểm căn bản của VNCH, và chánh phủ VNCH sẽ nghiên cứu kỹ càng với chánh phủ HK để thảo luận với phía bên kia. Ngày 27/5/69, TT Nguyễn Văn Thiệu hướng dẫn một phái đoàn 28 người qua thăm Đại Hàn và Đài Loan. Theo Ngày 28/5/69, TT Nguyễn Văn Thiệu, nhận học vị Tiến Sĩ danh dự Luật Khoa Đại Học Hán Thành. Ngày 30/5/69, Thông cáo chung Hàn-Việt: vấn đề VN phải được giải quyết trên căn bản thông cáo chung Manille 1966 và chương trình 8 điểm của TT Nixon, không thể có sự cưởng bách dân tộc VN chấp nhận một sự liên hiệp với CS. Trong cuộc họp báo trước khi rời Hán Thành, TT Nguyên Văn Thiệu tuyên bố: không thể liên hiệp với CS, không chấp nhận việc triệt binh đơn phương của Đồng Minh.
Ngày 31/5/69, TT Nguyễn Văn Thiệu hội đàm với TT Tưởng Giới Thạch. Ngày 3/6/69, TT Nguyễn Văn Thiệu họp báo và tuyên bố tại Đài Bẳc: sẽ không bàn về các vấn đề liên hiệp và tuyển cử với TT Nixón tại Midway. Cùng ngày 3/6/69, trên đài truyền hình VN, TT Nguyễn Văn Thiệu tường trình với quốc dân kết quả hai cuộc công du Đại Hàn và Đài Loan. Hai quốc gia bạn hứa hợp tác chặt chẽ về các phương diện phát triển và chống Cộng. Hai Tổng thống Phác Chinh Hy và Tưởng Giới Thạch đều thấy không thể liên hiệp với CS, và Đồng Minh không thê rút quân đơn phương. Các điều kể trên đã được ghi nhận trong một thông cảo chung Hoa-Việt. Cùng ngày 7/6/69, TT Nguyễn Văn Thiệu nhóm họp với nhiều Tổng trưởng và Cố vấn để chuẩn bị cuộc hội đàm Midway với TT Nixon. Ngày 8/6/69, TT Nguyễn Văn Thiệu lên đường phó hội Midway, cùng một số Tổng trưởng.
Ngày 9/6/69, tại Midway, TT Nguyễn Văn Thiệu hội đàm riêng với TT Nixon từ 10 giờ 30 địa phương tới 13 giờ 30, hiện diện Cố vấn Kissinger và Phụ tá Nguyên Phú Đức. Từ 14 giờ 30 mới nhóm họp cả 2 phái đoàn Việt và Mỹ. Cùng ngày 9/6/69, Thông cáo chung Việt Mỹ sau hội nghị Midway: (1) bác bỏ mưu toan ép buộc VNCH chấp nhận một thể chế nào không đếm xĩa đến nguyện vọng của dân tộc VN, tỉ như một chánh phủ liên hiệp với CS; (2) bác bỏ mưu toan của CS nhằm ấn định kết quả của những cuộc tuyển cử trong tương lai, trước khi những cuộc tuyển cử này thực hiện; (3) xác nhận lập trường của 7 Quốc gia họp tại Vọng Các về sự triệt thoái song phương, và sự triệt thoái của CS khỏi cả Mên Lào. Cùng ngày 9/6/69, Họp báo truyền hình tại dinh Độc Lập, TT Nguyễn Văn Thiệu cho biết: (1) đã thỏa thuận với TT Nixon về sự rút 25.000 quân HK trước thảng 8; (2) quân đội VNCH sẽ được tăng cường để thay thế; (3) không có vấn đề liên hiệp với CS; (4) Hiến pháp VNCH được tôn trọng; (5) HK sẽ giúp đỡ về mọi mặt quân sự và xây dựng nông thôn cùng phát triên kinh tế.
Ngày 11/6/69, tối nay, Nha Báo chí phủ Tổng Thống cho biết: MTGPMN loan tin thành lập một chánh phủ Cách mạng Lâm thời, vớỉ một Hội đồng Cố vấn. TT Nguyên Văn Thiệu đã biết trước, không thấy có gì mởi lạ, và xác nhận rằng sự xảy ra không có ảnh hưởng nào đối với cuộc hội đàm Ba Lê và lập trường của chánh quyền VNCH. Theo tín đăng trên báo Tiền Tuyến, Chánh phủ CMLT kia gồm có: Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Ưng Ngọc Kỷ, Hồ Thu, Lê Văn Phả, Nguyễn Ngọc Thương, và một sổ người thuộc Lỉên minh Trịnh Đinh Thảo: Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết, Dương Kỵ, Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị, Lê Hiếu Đằng, Lê Văn Giáp, Trương Như Toản. Ngày 21/6/69, tuần báo Newsweek, sổ đề ngày 25/6 bị cấm bán tại Sài Gòn, có đăng bài VN Expdux, trong đó kể việc bà Nguyên Văn Thiệu tậu nhà tại Thụy Sĩ và cho 3 đứa lánh nạn tạỉ La Mã. Văn phòng bà Nguyễn Văn Thiệu cải chính.
QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 6/6/69, Thượng Viện VNCH ra Tuyên cáo xác nhận lập trường: triệt thoái song phương các quân lực không phải của miền Nam; tái lập vùng phi quân sự; áp dụng hiệp định Genève về Mên và Lào; bác bỏ liên hiệp với CS; hợp nhất Nam Bắc theo tổng tuyển cử với sự giám sát quốc tế. Ngày 7/6/69, Hạ Viện VNCH ra tuyên cáo: bác bỏ giải pháp liên hiệp vởi CS, chống sự triêt thoái đơn phương của quân đội Đồng minh; bảo vệ Hiến Pháp VNCH; phản đối mọi cuộc tuyển cử tồ chức ngoài phạm vi Hiến Pháp. Ngày 26/6/69, Dân biểu Ngô Công Đửc, chủ tịch Ủy ban bài trừ tham nhũng, họp bảo cho biết: cỏ 4 trường hợp Dân biểu tham nhũng: không trả lại tiền cho quỹ xã hội tỉnh; đòi thương gia đóng gốp mua xe hơi; xuất ngoại rồị đẹm về nhiều hàng hóa; nhập cảnh 1.000 cuốn lịch thuộc loại bị cấm; bán hàng quá giá, dùng áp lực đề che đậy việc phi pháp.
TỐI CAO PHÁP VIỆN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 13/6/69, Tối cao Pháp Viện phán quyết về phúc nghị Ngân Sách Quốc Gia 1969: Về hình thức: Quốc Hội khộng họp được quá bán nghị sĩ để bác lời yêu cầu của Hành Pháp; Về nội dung: thì đáng lẽ phải tiếp tục và biểu quyết… Nhưng Tổng Thống đã ban hành dự luật khi chưa được Quốc Hội biểu quyết. Như vậy, điều 45-2e của Hiến Pháp đã không được theo đúng.
CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 3/5/69, tại Đà Lạt, lễ mãn khóa Sĩ quan Chiến tranh Chính tri: 182 sĩ-quan tổt nghiệp sau 2 năm thụ huấn. Ngày 4/5/69, tại Vũng Tàu, lễ mãn khóa sau 13 tuần thụ huấn của 3.316 cán bộ Xây Dựng Nông thôn. Ngày 5/5/69, Phụ cấp hàng tháng cho các viên chức Xã và Ấp: Chủ tịch Hội đồng Xã 4.000$, Phó Chủ tịch 3.000$, Tồng thư ký 2.700$. Phụ cấp đặc biệt từ 500$ đến 1.500$ cho nhân viên Ủy Ban. Mỗi phiên họp 300$ mỗi ngày cho mỗi người. Ngày 6/5/69, tại Quảng Trị, khánh thành hệ thống dẫn thủy nhập điền Cam Lộ tưới tiêu khoảng 400 mẫu ruộng; kinh phí xây dựng 14 triệu đồng. Ngày 9/5/69, Bộ Ngoại giao VNCH thông cáo: 10 điểm của phe CS đưa ra tại Ba Lê trong phiên họp thứ 16, chỉ là 4 điểm của BV cộng vởi 5 điểm cũ của MTGPMN. Như vậy, vẫn trái ngược quan điểm của VNCH. Ngày 10/5/69, khánh thành tại Cam Ranh, khu cư xá công nhân bán trả góp gồm 1.500 căn nhà, trị giá gần 1 tỷ bạc do viện trợ Mỹ.
Ngày 21/5/69, Khánh thành cầu Thị Nghè, xây lại và mở rộng, dài 250 thước, rộng 20 thước, tốn 60 triệu bạc. Ngày 23/5/69, Quân lực VNCH, theo số tròn: 910.000 người gồm: 420.000 Chính qui Bộ binh; 20.000 Hải quân; 20.000 Không quân; 480.000 Địa phương quân. Ngoài ra, có 90.000 cảnh sát, 40.000 Dân sự Chiến đấu; 75.000 cán bộ võ trang. Ngày 29/5/69, Bộ Ngoại Giao cho biết: không bao giờ VNCH chấp nhận một chánh phủ liên hiệp với CS hoặc một nội các Hòa bình theo yêu sách của CS. Ngày 1/6/69, kể từ hôm nay, Hải quân VNCH thay thế Hải quân HK trách nhiệm hải tuần và giang tuần 700 cây số miền duyên hảỉ thuộc Vùng IV Chiến thuật. Cùng ngày 1/6/69, Tổ hợp Công Ty Mỹ RMK-BRJ hiện dùng 4.000 công nhân ngoại quốc, và 24.000 công nhân VN sẽ thay dần người từ nay đến 1971. Ngày 12/6/69, Các Đô trưởng, Tỉnh trưởng, Thị trưởng được ùy quyền trưng tập nhân lực để thỏa mãn nhu cầu của chánh quyền và dân chúng (ND 644/KT của Thủ tướng).
Ngày 16/6/69, thiết lập một Trung Tâm Nghiên cứu Luật Pháp thuộc Bộ Tư Pháp, với nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến luật pháp, tương tự như Trung Tâm Luật Pháp thuộc Tổi Cao Pháp Viện (ND 386-BTP7ND). Ngày 20/6/69, theo Tổng trưởng Cải cách Điền Địa, từ nay đến cuối năm 1969, chánh phủ sẽ hoàn tất việc cấp phát 147.211 mẫu ruộng truất hữu cho nộng dân. Chánh phủ còn có dự án mua một triệu mẫu của chủ điền, giá 45.000$ một mẫu, để phát không cho người cày cấy, tổn 46,8 tỷ bạc. Ngày 24/6/69, theo Trung tâm Quốc gia Điện ảnh, hiên có 94 rạp chiếu bóng trên toàn quốc vởi 64.000 chỗ ngồi, đóng hàng năm 18 triệu thuế hí cuộc và 22 triệu thuế nhập cảng phim. Ngày 25/6/69, Khánh thành xa lộ vòng đai Sài Gòn, đoạn từ An Lạc tới Quang Trung, dài 14 cây số 300, phí tốn 400 triệu. Ngày 28/6/69, theo Tổng Liên Đoàn Lao Động, 2.000 xe 3 bánh Daihatsu được nhập cảng để hữu sản hóa, theo chương trình của Tổng Liên Đoàn.
VIỆN TRỢ MỸ VÀ NƯỚC NGOÀI CHO VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 22/6/69, trong 5 năm qua, từ 22-6-1964, không kể Hoa Kỳ, 43 Quốc gia đã viện trợ cho VNCH 91 triệu Mỹ kim gồm: 31.140.208 Mỹ kim về Y tế; 24.588.322 Giáo dục; 11.962.613 Huấn luyện; 6.012,581 Cứu trợ tị nạn; 5.480.797 Xã hội; 3.587.657 Công chánh; và Linh tinh 10.958.580 Mỹ kim. Ngày 27/6/69, ký kết tại Bộ Ngoại giao phụ ước viện trợ gạo: 150.000 tấn trị giá 25,5 triệu Mỹ-kim. Như vậy, tồng số gạo do HK viện trợ từ 1965 lên tới 1.800.000 tấn. Đồng thời, cũng ký kết thỏa hiệp viện trợ 10 triệu Mỹ-kim để thi hành chương trình cấp phát ruộng đất.
MỸ CHUYỂN GIAO CĂN CỨ, QUÂN DỤNG CHO QLVNCH. Ngày 2/5/69, Phi đoàn 211 của Không đoàn 74 Chiến thuật tiếp nhận những trực thăng phản lực UH-1 chở được 10 người, bay nhanh 224 cây số mỗi giờ, bay cao 3.700 thước, tầm hoạt động 320 cây số. Ngày 24/6/69, Hải quân VNCH vừa tiếp nhận 64 tàu tuần giang HK gồm 35 quân vận đĩnh, 16 kinh tốc đĩnh, 2 hỏa vận-đĩnh. Từ tháng 6-1968 đến nay, Hải quân VNCH đã tiếp nhận 167 tàu đủ loại của HK. Ngày 29/6/69, một Dương vận hạm HK/(LST603) trọng tải 3.700 tấn tại Guam được chuyển giao cho Hải quân VNCH, đặt tên Vũng Tàu 503.
NẠN NHÂN, TỴ NẠN, VÀ CỘNG SẢN CHÁNH HỒI. Ngày 1/5/69, tại Thừa Thiên, trong 10 ngày qua, nhà chức trách địa phương tìm thấy thêm 349 xác nạn nhân vụ tấn công Tết Mậu Thân. Ngày 5/5/69, đám tang tập thể 298 nạn nhân vụ tấn công dịp Tết Mậu Thân, cử hành tại nghĩa trang Ba Đồn, Huế. Ngày 27/5/69, Bộ Xã Hội và Cứu trợ, hiện còn 862.037 đồng bào tị nạn trong các trại tạm trú. Đã cấp phát 547.966.750$ trợ cấp trong 4 tháng đầu năm 1969. Ngày 31/5/69, kết thúc chiến dịch Xuân Quê Hương mở từ 7-2-69 có trên 9.945 hồi chánh gồm: 6.568 quân nhân, 2.231 cán bộ.Ngày 8/6/69, hiện có 10.792 hồỉ chánh được định cư trong 38 làng chiêu hồi. Mỗi gia đình được cấp nhà ở, gia súc, hạt giống, phân bón và 15.750$ tiền ăn trong 6 tháng. Ngày 20/6/69, Lễ cải táng tập thể 60 nạn nhân bị sát hại trong vụ tổng công kích Tết Mậu Thân tại xã Triệu Thạch, quận Triệu Phong, Quảng Trị.
NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 23/5/69, Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội chánh thức thành lập, và gồm các đảng Đại Việt Cách Mạng, VN Nhân Xã, Lực Lượng Đại Đoàn Kết, VN Quốc Dân Đảng, Liên Minh Dân Tộc Cách Mạng Xã Hội, VN Dân Chủ Xã Hội. Ngày 24/5/69, Hoán giảm còn 3 năm tù hình phạt 10 năm khồ sai và 5 năm cấm cố cho Đỗ Xuân Hàng, pháp danh Thích Thiện Minh sinh năm 1921 tại Quảng Trị. Ngày 25/5/69, tại rạp Rex Sài Gòn, lễ trình diện Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội gồm 6 chính đảng: TT Nguyễn Văn Thiệu là chủ tịch Hội Đồng Mặt Trận. Chủ trương: 1) tôn trọng quyền đối lập; 2) chiến thắng Cộng sản. Mặt Trận có Hiến chương Hiệu kỳ: cờ nền vàng, 6 sao đỏ ở giữa. Cùng ngày 28/5, Luật sư Trương Đình Dzu, bị giam tại Côn Sơn, được phép di chuyển về Sài Gòn để chữa bịnh tim.
Ngày 1/6/69, Tổ hợp Công Ty Mỹ RMK-BRJ hiện dùng 4.000 công nhân ngoại quốc và 24.000 công nhân VN sẽ thay dần người từ nay đến 1971. Ngày 2/6/69, Bộ Nội Vụ giải thích với Phái đoàn Liên tôn Mỹ về chánh sách bắt giữ người; Phải đoàn đi thăm cảc trại cải huấn, tiếp xúc với Thượng tọa Thich Thiện Minh, Luật sư Trương Đình Dzu, và một số nhân vật khác. Ngày 14/6/69, Phong Trào Tân Dân, Mặt Trận Dân Chủ Cứu Nguy Dân Tộc, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến, Mặt Trận Công Dân cảc Tôn Giảo, Lực Lượng Dân Tộc Việt, hội thảo tại Sài Gòn về tình hình xử sở và Liên minh đối lập.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 3/5/69, Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ tuyên bố: HK sẽ có thể bắt đầu rút quân nếu có một trong 3 điều kiện sau: thỏa hiệp về sự triệt thoái song phượng; quân lực VNCH tăng cường để tiếp tục chiến đấu; BV và VC xuống thang chiển tranh. Ngày 4/5/69, TT Nixon mong ước: Quốc hội và quốc-dân HK hãy để cho chánh phủ rộng tay tìm cách mềm dẻo giải quyết vấn đề chiến tranh tại VN, đừng gây áp lực khiến cho tình thế khó khăn hơn. Ngày 6/5/69, nhiều nhân vật thuộc chánh quyền Nixon thuyết phục những gỉớỉ đang nóng lòng muốn HK rút quân ngay khỏỉ VN là cần để Tổng Thống HK theo đuổi chánh sách mềm dẻo và thích ứng. Ngày 9/5/69, Ngoại trưởng HK William Rogers tuyên bố: trong 10 điểm của phe CS có những điểm không thể chấp nhận, song cũng có những điểm có thể cứu xét. Ngày 12/5, Tướng Abrams đột ngột về Mỹ trình bày với TT Nixon tình hình quân sự tại VN, rồi lại trở về Sài Gòn cấp tốc.
Ngày 13/5/69, TT Nixon đọc diễn văn công bố kế hoạch hòa bình 8 điểm: (1) BV và Đồng Minh sẽ bắt đầu rút quân ngay sau khi có thỏa hiệp; (2) nếu 12 tháng sau chưa rút hết, sẽ tới đóng ở những địa điểm được chỉ định và không tác chiến; (3) sẽ rút song phương tất cả và cùng lúc, khỏi cả Mên Lào; (4) sẽ có cơ quan kiểm soát quốc tế; (5) Cơ quan này sẽ hoạt động theo chương trình được 2 bên thỏa hiệp; (6) bắt đầu tổ chức tổng tuyển cử với kiểm soát quốc tế; (7) trao đổi tù-binh; (8) hai bên cam kết tôn trọng các hiệp định Genève về VN và Mên Lào. Cùng ngày 13/5/69, Ngoại trưởng HK Wiliam Rogers, tới Sài Gòn để hội đàm với chánh giới VNCH tuyên bố tại Tân Sơn Nhất sẽ không nhượng bộ về các mục tiêu căn bản. Ngày 16/5/69, TT Nixon cứu xét kế hoạch phát triển kinh tế hậu chiến tại VN, do nhóm Lilienthal-Vũ Quốc Thúc soạn thảo. Ngày 19/5/69, Bộ trưởng Quốc phòng HK Melvin Laird kêu gọi BV và MTGPMN thả các tù binh Mỹ hoặc ít nhất hãy dành cho họ một sự đối đãi nhân đạo. Hiện có 1.300 quân nhân Mỹ mất tích hoặc bị bắt, trong số đó 800 là phi công. Ngày 20/5/69, Tòa Bạch ốc loan báo: TT Nixon sẽ tới gặp TT Nguyên Văn Thiệu ngày 8-6-69 tại đảo Midway trên Thải Bình Dương.
Ngày 21/5/69, Bộ Ngoại Giao HK ngỏ ý tiếc rằng BV không cấp danh sách tù binh Mỹ và không cho liên lạc với họ.Ngày 23/5/69, Phát ngôn viên Mỹ tuyên bố về 9 điểm thuộc chính sách HK: (1) việc giao trả Okinawa cho Nhật sẽ do hai chánh phủ Mỹ-Nhật thỏa hiệp; (2) không chánh phủ liên hiệp nào phải thành lập tại VN trước khi có hòa bình; (3) sau khi có hòa bình, Mỹ tán thành cuộc tổng tuyên cử tại miền Nam VN với sự kỉểm soát quốc tế; (4) lập trường của Mỹ về sự tham gia tuyển cử của MTGPMN sẽ co giãn, và vấn đề này tùy người miền Nam VN giải quyết; (5) sự triệt thoái của BV phải được thu xếp một cách rõ ràng hơn là thỏa hiệp ngầm về sự ngựng oanh tạc BV; (6) HK không có ý cản trở Thủ tướng Lào tái lập chánh phủ liên-hiệp; (7) HK sẽ tham khảo ý kiến Đồng minh ở mọi giai đoạn hội đàm tại Ba Lê; (8) HK sẽ tiếp tục giữ lời cam kết đối với tổ chức Liên phòng Đông Nam Á, Thái Lan, và các nước Á Đông trong công cuộc chống phiến loạn; (9) HK nhận rằng sẽ có lơi, nếu một vài quốc gia Á Đông như Thái và Phi cải thiện được bang giao với Trung Cộng.
ĐỊCH NÓI HOÀ BÌNH MÀ VẴN TĂNG CÁC VỤ TẤN CÔNG. Ngày 24/5/69, Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Melvin Laird tuyên bố: địch nói đến hòa bình mà vẫn tăng các vụ tấn công. HK xúc tiến sự Việt hóa chiến tranh, phòng trường hợp cuộc hội đàm tại Ba Lê không đem lại kết quả. Ngày 26/5/69, Bộ trưởng Quốc phòng HK, Melvin Laird tuyên bố để trả lời những chính khách chỉ trích chiến lược Mỹ: nếu giảm hơn nữa các cuộc hành quân, số thương vong Mỹ sẽ còn tăng, phải giữ áp lực tối đa đối với Cộng quân. Tòa Bạch ốc xác nhận: từ ngày TT Nixon nhậm chức, các cuộc hành quân HK không gia tăng, trái lại, phe CS vẫn tiễp tục leo thang chiến tranh. Ngày 28/5/69, Tướng Maxwell Taylor, cựu Đại sứ HK tại VN, tuyên bố: rút quân, là làm yếu thế HK tại Hội nghị Ba Lê; không hiểu vì sao muốn rút quân giữa lúc đang còn có thế mạnh.
Ngày 30/5/69, Phó TT Mỹ Agnew đọc diễn văn tại nghĩa trang Arlington xác nhận: quân Mỹ ở Đông Nam Á bảo vệ tự do cho VN và cho cả HK. “Obligation to freedom extends beyond our consciences, our communities and I be border of our country. Thus, when our citizens question why we defend the integrity of free nations in Southeast Asia, the answer is that we are defending not only their integrity, but ours”. Ngày 31/5/69, theo phát ngôn viên tòa Bạch ốc, không có sự bất đồng ý kiến giữa TT Nixon và TT Nguyễn Văn Thiệu, và 8 điếm đề nghị của TT Nixon đã được thỏa hiệp ngay trong khi soạn thảo diễn văn 14-5. Ngày 1/6/69, có 9 Thượng nghị sĩ và 36 Dân biểu HK lập bản kíến nghị yêu cầu chánh phủ Nỉxon triệt binh sớm khỏi VNCH, dù là đơn phương, hoặc phải chấp nhận sự liên hiêp của VNCH với MTGPMN.
Ngày 3/6/69, một sổ nghị sĩ công kích những lời tuyên bố mới đây của Thượng nghị sĩ Edward Kennedy, và yêu sách của 45 nghị sĩ cùng dân biểu Mỹ, rằng họ đã xen vào nội bộ VNCH khi đòi phải liên hiệp với CS. Ngày 3/6/1969, Đại tướng Omar Bradley tại Nữu ước, phàn nàn rằng báo chí phổ biến những luận điệu phản chiến như vậy tỏ ra là kỷ luật quổc gia sút kém. Theo ông đại đa số chiến sĩ tin tưởng rằng họ chiến đẩu vì tự do tại VN. Ngày 4/6/69, TT Nixon đọc diễn văn chống thuyết cô lập tại trường Không quân Colorado Springs, rằng HK phải tiếp tục là nguồn gốc sự lãnh đạo thế giới và của sức mạnh đè bảo vệ hòa bình và tự do. HK phải khỏe và sẵn sàng chấp nhận nguy cơ. Thượng nghị sĩ Mỹ Fulbright công kích kịch liệt chủ trương chống cô lập của TT Nixon, rằng HK vẫn muốn đóng vai trò cảnh sát của thế giới, và không chịu từ bỏ sự can thiệp vào miền Nam VN.
RÚT SỚM 50.000 HAY 100.000 QUÂN HOA KỲ NƯỚC. Ngày 5/6/69, Ngoại trưởng HK William Rogers kêu gọỉ MTGPMN thảo luận cùng chánh phù VNCH về vấn đề tuyển cử; rằng HK sẽ thừa nhận bất cứ chánh quyền nào do dân miền Nam tự ý bầu lên. Ngày 6/6/69, Báo chí ngoại quốc và VN tiếp tục bàn tán về vấn đề rút sớm 50.000 hay 100.000 quân HK khỏi VN, vẫn chưa giới chức Mỹ xác nhận hay phủ nhận. TT Nixon hội họp với các Tổng trưởng và Cố vấn về các vấn đề cần thảo luận tại Midway với TT. Nguyên Văn Thiệu. Ngày 8/6/69, Quân lực HK tại VN: 539.000 gồm: 354.440 Lục-quân, 81.000 TQLC, 67.060 Không quân, 36.000 Hải quân, 500 tuần duyên. Ngày 9/6/69, tại Midway, TT Nguyễn Văn Thiệu hội đàm riêng với TT Nixon từ 10 giờ 30 địa phương tới 13 giờ 30, hiện diện Cố vấn Kissinger và Phụ tá Nguyên Phú Đức. Từ 14 giờ 30 mới nhóm họp cả 2 phái đoàn Việt và Mỹ.
Ngày 9/6/69, TT Nixon tuyên bố: vì quân đội VNCH có thể thay thế quân đội Mỹ, bắt đầu cho rút 25.000 quân HK trước tháng 8, rồi sẽ liệu sau về sự triệt thoái nhiều hơn, tùy theo sự biến chuyển của 3 sự kiện đã vạch rõ: sự tiến bộ về huấn luyện và trang bị quân lực VNCH; về cuộc hội đàm Ba Lê; mức độ chiến cuộc. Dù sao, không hề quyềt định gì nguy hại đến an ninh của quân lực HK và Đồng Minh, và đến các mục tiêu chung tại VNCH, là thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam (I want to emphasize to fundamental principles: no action will be taken which threatens the safety of our troops and the troops of our Allies) and second, no action will be taken which endangers the attainment of our objectives, the right of self determination for the people of South Viet Nam).
Ngày 9/6/69, Thông cáo chung Việt Mỹ sau hội nghị Midway: (1) bác bỏ mưu toan ép buộc VNCH chấp nhận một thể chế nào không đếm xĩa đến nguyện vọng của dân tộc VN, tỉ như một chánh phủ liên hiệp với CS; (2) bác bỏ mưu toan của CS nhằm ấn định kết quả của những cuộc tuyển cử trong tương lai, trước khi những cuộc tuyển cử này thực hiện; (3) xác nhận lập trường của 7 Quốc gia họp tại Vọng Các về sự triệt thoái song phương, và sự triệt thoái của CS khỏi cả Mên Lào. Ngày 10/6/1969, Bộ trưởng Quốc Phòng HK, Melvin Laird, cho biết: chánh phủ Mỹ dự trù 1,25 tỷ Mỹ-kim đê tối tân hóa quân lực VNCH: quân lực này từ 650.000 (1968) lên tới 857.000 hiện nay và có thể lên 875.000 người vào cuối năm nay.Melvin Laird còn cho biết: một phần 25.000 quân rút khỏi VN sẽ về Mỹ, một phần sẽ ở lại các căn cử Mỹ tại Thái Bình Dương. Bà Jeane Dixon, nổi tiếng bói giỏi, đoán trên báo Washington Daily News rằng VNCH sẽ chiến thắng Cộng sản.
Ngày 11/6/69, TT Nixon tuyên bố nhân dịp từ Midway về Hoa Thịnh Đốn: vừa rút dần quân vừa nỏi chuyện lại Ba Lê, chúng ta đã mở rộng cửa đi tới hòa bình, bây giờ đến lượt BV đáp ứng. Nếu không, BV sẽ chịu trách nhiệm. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao HK tuyên bố: Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời chỉ là rượu cũ trong bình mới (a case of old wine in a new bottle) không ảnh hưởng gì đến cuộc hội đàm Ba Lê. Ngày 16/6/69, trước Hạ Viện HK, đại diện Cơ quan Ngoại viện yêu cầu giúp VNCH trong tài khóa tới 440 triệu Mỹ-kim về chương trình thương mại, và viện trợ nông phẩm. Ngoài ra, Chánh phủ HK dự trù cấp 651,9 triệu Mỹ-kim để canh tân hóa quân lực VNCH, và xin Quốc hội chấp thuận 308 triệu cho tàỉ khóa 1969-1970. Ngày 17/6/69, theo Bộ Quốc Phòng HK, 16.000 quân rút khỏi VN sẽ được phân phối đi đóng tại Hawa'i, Okinawa, và Nhật Bản, 8.000 được đưạ về Mỹ giải ngũ, một phần võ khí trang bị để lại cho quân đội VNCH. Phát ngôn viên tòa Bạch ốc không xác nhận hoặc cải chính tin oanh tạc trên đất Mên do Không lực Mỹ theo lịnh của TT Nixon.
Ngày 18/6/69, TT Nixon họp báo và tuyên bố: chưa có tiến bộ nào về cuộc hội đàm Ba Lê, nhưng sẽ có trong vòng 2, 3 thống tới; HK ủng hộ chánh quyền hiện hữu của VNCH, và sẽ không vì áp lực nào mà rút sự ủng hộ đó; MTGPMN nên chấp nhận nguyên tắc bầu cử với sự kiểm soát quốc tế; HK còn có thể rút nhiều và mau hơn, nhưng còn tùy sự tiến triền của tinh hình hội đàm, canh tân quân lực VNCH và mức độ chiến cuộc. Ngày 22/6/69, theo Bộ Quổc Phòng HK, hiện nay HK có 2.170 căn cứ rải rảc trên 29 quổc gia, với kinh phí 13,5 tỷ Mỹ kim năm 1968, và quân số đồn trú ở nước ngoài 1.074.983 người. Ngày 29/6/69, TT Nixon sẽ đi thăm 5 xứ Đông Nam Á, và sau đó sẽ qua Bucarest, thăm một xứ Cộng Sản khiến dư luận quốc tế bàn tán sôi nổi, nhất là khi các lãnh đạo Nga Sô cũng sắp qua đây.
VỚI ĐỒNG MINH CÓ QUÂN THAM CHIẾN. Ngày 15/5, Quân số HK tại VN: 542.500. Cùng ngày 27/5/69, Bộ trưởng Quốc phòng Úc tuyên bố: từ 1963 tới hết 1968, Úc đã phải chi về sự tham chiến tại VN 76.354.000 Mỹ-kim. Theo Bộ Di trú Úc, từ 1956 tới nay, đã có 9.790 người Á châu được nhập quốc tịch Úc, trong số đó có 18 người gốc Việt Nam. Ngày 19/5/69, Ngoại trưởng HK William Rogers, sau 4 ngày thăm VNCH, rời Sài Gòn đi Vọng Các họp hội nghị Liên Phòng Đông Nam Á SEATO. Ngày 23/5/69, Hội nghị Tổng trưởng 7 quốc gia Đồng minh tham chiến tại VN, nhóm họp tại Vọng Các. Ngày 24/5/69, Hội nghị Tổng trưởng các Đồng minh tham chiến tại VN, nhóm họp tại Vọng Các, bác bỏ mọi mưu toan cưỡng bách VNCH chấp nhận một chánh phủ lỉên-hiệp với CS, và hỗ trợ nhân dân VNCH định đoạt số phận của mình.
QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 8/6/1969, Ban Chấp Hành Liên Minh Thế Giới chống Cộng họp tại Vọng Các, gửi điện văn tới đảo Midway cho TT Nixon: không tán thành sự triệt thoái đơn phương của HK và đồng minh; phản đối giải pháp liên hiệp với CS tại VNCH; đòi tôn trọng Hiến pháp VNCH. Ngày 23/6/69, Liên Hiệp Quốc phổ biến thống kê dân số toàn cầu: 3 tỷ 420 triệu người. tăng 18% trong 9 năm qua. Tại Á châu, có 1 tỷ 907 triệu dân (720 tại lục-địa Trung Hoa và 511 tại Ấn Độ); Âu châu 452 triệu; Phi châu 328 triệu; Nam Mỹ 259 triệu; Bắc Mỹ 220 triệu; và Úc châu 18 triệu.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 23/5/69, MTGPMN hội họp mật để thành lập một Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời. Ngày 5/6/1969, Báo Nhân Dân của Trung Cộng kêu gọi dân chúng chuẩn bị để chịu đựng nếu cần một cuộc chiến tranh nguyên tử chống phe xét lại Nga Sô. Ngày 7/6/69, Tại Moscow, trước Đại hội CS thế giới, lãnh tụ Cộng đảng Nga Sô, Brejnev, lên án kịch liệt Mao Trạch Đông cùng chính sách khiêu khích và phiêu lưu của Mao; đồng thời, Brejnev chủ trương lập một hệ thống liên quốc bảo vê an ninh trong vùng Đông Nam Á. Ngày 11/6/69, MTGPMN loan tin thành lập một chánh phủ Cách mạng Lâm thời, vớỉ một Hội đồng Cố vấn. Chánh phủ CMLT gồm: Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Ưng Ngọc Kỷ, Hồ Thu, Lê Văn Phả, Nguyễn Ngọc Thương, và một sổ người thuộc Lỉên minh Trịnh Đinh Thảo: Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết, Tông thất Dương Kỵ, Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị, Lê Hiếu Đằng, Lê Văn Giáp, Trương Như Toản.
HỘI ĐÀM PARIS BỐN BÊN-HAI BÊN HỌP PHIÊN THỨ 16. Ngày 8/5/69, tại Ba Lê, phiên họp thử 16 hội đàm về VN. Cabot Lodge nhắc lại: triệt binh song phương; thảo luận về cả chánh trị lẫn quân sự; kiểm soát quốc tế. Nguyễn Xuân Phong xác nhận: giảm mức chiến tranh; tôn trọng vùng phi quân sự và biên giới; chấm dứt xâm lăng VNCH; thảo luận về sự triệt thoái song phương các lực lượng ngoại lai. Trần Bửu Kiếm đưa ra chương trình 10 điềm: (1) tôn trọng chủ quyền độc lập, thống nhất và sự toàn vẹn lãnh thổ đúng theo Hiệp định Genève 1954; (2) Mỹ phải triệt thoái vô điều kỉện tất cả quân đội, kể cả Đồng minh, các căn cứ quân sự đều phải gỡ bỏ; (3) vấn đề quân lực VN tại miền Nam phải được giải quyết giữa người VN với nhau; (4) nhân dân VN tự quyết về chế độ, bằng tuyển cử tự do, một Quốc hội Lập-hiến sẽ được thiết lập, một Hiến pháp được soạn thảo, một Chánh phủ Liên hiệp sẽ thành lập; (5) giữa ngày tái lập hòa bình và ngày tổng tuyển cử, không bên nào được cưỡng ép nhân dân miền Nam theo chế độ của mình; (6) Miền Nam phải theo chính sách đối ngoại trên nguyên tắc trung lập; (7) sự thống nhất sẽ thực hiện theo giai đoạn bằng những phương tiện hòa bình, thảo luận và thỏa thuận giữa hai miền, không có sự can thiệp của bên ngoài; (8) Nam và Bẳc sẽ cam kết khước từ liên minh quân sự với nước ngoài; (9) vấn đề tù binh sẽ được thảo luận; (10) sự triêt thoái quân lực Mỹ phải được kiểm soát, sự kiểm soát này phải được thỏa thuận của các phe liên hệ.
Ngày 11/5/69, Đại Sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố tại Ba Lê: sẵn sàng bàn về 10 điểm của phe CS, nếu họ chịu thảo luận về 6 điểm của TT Nguyễn Văn Thiệu. Hai bên thường dùng những chữ giống nhau nhưng hiểu theo nghĩa khác nhau. Cùng ngày 20/5/69, tại Ba Lê, Xuân Thủy vẫn tuyên bố bác bỏ đề nghị rút quân song phương của HK. Ngày 16/5/69, tại Ba Lê, phiên họp thứ 17 cuộc hội đàm về VN, Đại sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố: không bác bỏ hẳn 9 điểm của MTGPMN, song có những điểm không thể chấp nhận. Trần Bửu Kiểm tuyên bố: 10 điểm là căn bản đàm thoại, nhưng có thể bàn cãi trên căn bản đó. Ngày 24/5/69, tại Ba Lê, phiên họp thứ 18 cuộc hội đàm về VN. Cabot Lodge tuyên bố: 10 điểm của MTGPMN và 8 điểm của HK có nhiều chỗ tương đồng, có thể đem ra thảo luận. Xuân Thủy bác bỏ đề nghị triệt thoái song-phương, và chỉ trích kế hoạch Nixon, vì không nói đến thời hạn rút số quân còn lại sau 12 tháng, và không đả động đến độc lập và chủ quyền của VN.
Cùng ngày 26/5/69, Phát ngôn viên BV tại Ba Lê tuyên bố: Xuân Thủy không hề nhận rằng có những điểm tương đồng giữa các đề nghị của TT Nixon và của MTGPMN. Ngày 27/5/69, Đại Sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố tại Ba Lê: sự đòi hỏi xóa bỏ một Hiến Pháp được nhân dân chấp thuận, là sự rất phi lý, phản dân chủ, không thể chấp nhận. Hiến Pháp VNCH không thể là một đề tài thương thuyết. Ngày 29/5/69, tại Ba Lê, phiên họp thứ 19 cuộc hội đàm về VN, Đại sứ Phạm Đăng Lâm bác bỏ yêu sách triệt binh đơn phương và thay thế chánh thể VNCH. Cabot-Lodge lại đòi BV rút quân khỏi VNCH, Lào và Mên cùng sự kiểm soát quốc tế về điểm này; đồng thời xác nhận HK vẫn ủng hộ chánh quyền hợp pháp của VNCH. Đại-diện BV và MTGPMN giữ quan điểm cũ. Ngày 5/6/1969, Tại Ba Lê, phiên họp thứ 20 cuộc hội đàm về VN không có tiến triển tích cực.
Ngày 12/6/1969, Phiên họp thứ 21 cuộc hội đàm Ba Lê, Nguyễn Thị Bình vẫn đòi lập Chánh phủ hòa bình, và triệt thoái quân đội HK vô điều kiện. Không có tiến bộ nào. Ngày 18/6/69, Phiên họp thứ 22, cuộc hội đàm Ba Lê về VN kéo dài trong 6 giờ 15 phút. Mỗi bên giữ lập trường quen thuộc. Ngày 26/6/69, Phiên họp thử 23 cuộc hội đàm Ba Lê về VN. Lập trường hai bên vẫn cứng rắn.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH, GIA ĐỊNH, VÀ... Ngày 7/5/69, có 2 vụ ném lựu đạn vào phi trường Tân Sơn Nhứt và đường Trần Hưng Đạo Sài Gòn. Ngày 8/5/69, tại Đô thành, mìn nổ ở Bưu Điện; ném chất nổ vào quân xa trên đường Duy Tân; mìn nổ trong một quán giải khát đường Nguyễn Văn Thoại, một xe hơi của tòa Đại sứ Hòa Lan bị đốt trên đường Phan Đình Phùng. Ngày 12/5/69, đêm qua, 106 vụ phá hoại, tấn công, pháo kích của Cộng quân trên các Vùng Chiến Thuật. Riêng tại Sài Gòn-Gia Định: 10 vụ. Một toán VC xâm nhập trường học Bàn Cờ, mưu toan tấn công Chi cảnh sát gần đó. 3 giờ sáng Cộng quân bắn hỏa tỉễn vào bến Vân Đồn. Lúc 6 giờ cầu sắt trước chợ Bến Thành bị giật sập… Ngày 13/5/69, đêm qua, có 3 vụ ném lựu đạn, và 1 vụ pháo kích vào Sài Gòn-Gia Định. Ngày 14/5, lúc gần 17 giờ, tại đường Khổng Tử Chợ Lớn, 2 hành khách chết cháy và 3 người bị thương trên 1 xe buýt bị đốt cháy bởi 2 nữ đặc công võ trang đốt.
Ngày 16/5/69, tại Sài Gòn một ổ đặc công bị bắt với 1 súng cối ở Cư xá Đô thành. Ngày 1/6/69, Phi cơ Mỹ cũng thực hiện 465 phi xuất phá hủy 733 công sự phòng thủ, và đánh chìm 36 thuyền của Cộng quân. Ngày 1/6/69, kể từ hôm nay, Hải quân VNCH trách nhiệm 700 cây số miền duyên hảỉ thuộc Vùng IV Chiến thuật, thay thế Hải quân HK trong việc hảituần và giang tuần. Ngày 2/6/1969, Tại Đô thành, lúc 5 giờ 30, hỏa tiễn bắn vào đường Tôn Đản, và một khu thuộc quận 9 Sài Gòn. Ngày 4/6/69, Hành quân Việt-Mỹ vào mật khu Hố Bò ngăn chặn Trung Đoàn Cộng quân thâm nhập Thủ Đô. Ngày 5/6/69, tại Đô thành, sớm nay, 5 vụ nổ ở đường Võ Di Nguy (Phú Nhuận), Cầu Bông, công viên Diên Hồng, Ngã Sáu, Ngã Bảy. Ngày 13/6/69, Không lực HK thực hiện 504 phi xuất yểm trợ hành quân và nhắm vào các tụ điểm Cộng quân trên 4 Vùng Chiến thuật. 2 trực thăng HK bị bắn rớt trên Kiến Hòa và Hậu Nghĩa.
Ngày 16/6/69, lúc 5 giờ 15, phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích. Tại Đô thành, 2 trái hỏa tiễn bắn vào trường Taberd đường Nguyễn Du và một cư xá đường Công Lý-Lê Lợi. Ngày 19/6/69, tại Đô thành, nghị viên Văn Viễn Quang bị hai khủng bố cưỡi Honda hạ sát trên đường Phùng Hưng Chợ Lớn. Ngày 22/6/69, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung bị pháo kích. Ngày 25/6/69, tại Đô thành, mìn nổ sau Ty Bưu Điện đường Hai Bà Trưng; 18 tên của Đội Trinh sát VC vừa bị cảnh Sát Quốc Gia bắt. Tổng Nha Cảnh Sát thưởng 1 triệu đồng cho 5 người giúp vào việc khám phá các tổ Đặc công và hầm vũ khí. Ngày 25/6/69, tại Đô thành, mìn nổ sau Ty Bưu Điện đường Hai Bà Trưng. Ngày 29/6/1969, tại Gia Định, Cộng quân bắn hỏa tiễn 122 ly vào Ngã Tư Bảy Hiền. Khánh thành tượng Khổng Tử trùng tu tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 9/5/69, tại Thiên Thiên, 10.000 liên quân Việt-Mỹ hành quân về phía Tây-Nam, các đơn vị Nhảy Dù Mỹ vây đánh 3 tiểu đoàn BV và VC tại thung lũng A Shau (An Hậu), giáp ranh Thừa Thiên-Lào. Ngày 15/5/69, giao tranh dữ dội tại A Shau biên giới Lào Việt. Ngày 17/5/69, hành quân Liên Kết 63 tại Quảng Ngãi. Ngày 18/5/69, giao tranh liên tục suốt ngày vùng hành quân A Shau. Ngày 19/5/69, kịch chiến tiếp tục tại khu A Shau. Ngày 20/5, giao tranh dữ dội gần 10 ngày nay tại khu A Shau, Thừa Thiên. Giao tranh dữ đội tại Qụảng Nam. Ngày 29/5/69, hành quân Cameron Falls tại Quảng Trị. Ngày 30/5/69, B52 oanh tạc các vùng tụ quân VC tại Quảng Nam. Ngày 3/6/69, Đại tá Josep. Conmy Jr, chỉ huy cuộc hành quân Mỹ-Việt Apache Show tại A Shau cho biết, phải tiêu diệt 5.000 Cộng quân tại vùng này, và ngăn chặn sự xâm nhập từ Bắc Lào. Từ 10/5 tới nay, 825 Cộng quân tử thương.
Ngày 4/6/69, tại Thừa Thiên, hành quân Lam Sơn 276 trong khu A Lưới. Ngày 7/6/69, tại thị xã Đà Nẳng, 6 vụ nổ mìn trong đêm. Ngày 8/6/69, giao tranh tại Quảng Nam. Ngày 9/6/69, Tỉnh lỵ Quảng Tín bị pháo kích. Giao tranh tại Quảng Nam. Ngày 10/6/69, hành quân Liên Kết 45 tại Quảng Ngãi. Hành quân Seung Yong 12/1 của TQLC Đại Hàn tại Quảng Nam. Ngày 11/6/69, tại Quảng Ngãi, một căn cứ Mỹ bị tấn công ồ ạt. Ngày 12/6/69, hành quân Utah Mesa tại Quảng Trị. Thừa Thiên, thị xã Huế bị pháo kích. Ngày 12/6/69, Thị xã Đà Nẵng cũng bị pháo kích. Thị xã Tam Kỳ bị đột nhập đêm qua. B52 thực hiện 7 phi vụ oanh tạc các vị trí Cộng quân tại Quảng Nam. Ngày 13/6/69, tại Quảng Nam, một vị trí Mỹ ở An Hoà bị tấn công mạnh. Quá nửa đêm qua, Đà Nẵng bị pháo kích. Ngày 15/6/69, Quảng Ngãi bị pháo kích.
Ngày 16/6/69, có 1 phản lực F.4 HK và 3 trực thăng HK bị bắn rớt trên địa phận Chu Lai, và Tam Kỳ. Ngày 17/6/69, tại Quảng Trị, giao tranh gần Đông Hà; giao tranh 2 lần ở Gio Linh. Ngày 18/6/69, tại Quảng Trị, giao tranh ở Khe Sanh. Tại Quảng Tín, hành quân Liên Kết 54 ở Tiên Phước. Tai Quảng Nam, giao trạnh ở An Hòa. Ngày 20/6/69, tại Quảng Trị, giao tranh suốt ngày ở Khe Sanh. Ngày 21/6/69, tại Quảng Tín, hành quân Quyẽt Thắng 740 ở Tam Kỳ. Hành quân Quyết Thắng 850 tại Quảng Ngãi. Ngày 22/6/69, tại Quảng Nam, một đơn vị Mỹ tìm thấy kho gạo của Cộng quân gần An Hòa.Ngày 23/6/69, tại Quảng Trị, kết quả hành-quân Utah Mesa: 161 Cộng quân tử thương. Phía HK: 28 tử thương; hành-quân Cameron Falls: 120 Cộng quân tử thương. Phia Mỹ: 24 tử thương. Ngày 28/6/69, tại Thừa Thiên, giao tranh gần quận lỵ Phong Điền. Ngày 30/6/69, tại Quảng Tín, giao tranh cách Tam Kỳ 15 cây số về phía Bắc.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 13/5/69, giao tranh tại Dakto, Pleik. Ngày 17/5/69, các đơn vị thuộc Sư đoàn Bạch Mã Đại Hàn hành quân tảo thanh vùng phu cận Cam Ranh. Ngày 20/5/69, B25 oanh tạc các địa điểm Cộng quân tại Kontum. Ngày 21/5/69, B 52 oanh tạc các nơi tụ quân VC tại Kontum. Ngày 28/5/69, hành quân Dân Quyền 38-A quanh Dakto, Kontum. Ngày 30/5/69, B52 oanh tạc các vùng tụ quân VC quanh Dakto. Ngày 31/5/69, một đơn vị Cộng quân lọt vô ổ phục kích của Bộ binh HK tại Pleiku. Ngày 5/6/69, trại Ben Hét tiếp tục bị pháo kích. Ngày 7/6/69, giao tranh tại Tân Cảnh. Ngày 8/6/69, hành quân Dân Quyền 41 tại Kontum. Ngày 10/6/69, B52 oanh tạc các vị trí Cộng quân tại Kontum. Ngày 11/6/69, tại Pleiku, một đoàn quân xa Mỹ bị phục kich trên Quốc lộ 14 gần tỉnh lỵ. Tại Kontum, nhiều hầm tiếp liệu của Cộng quân bị khám phá. Tại Quảng Đức, quận lỵ Khiêm Đức bị pháo kích.
Cùng ngày 11/6/69, tại Bình Định, 2 vụ mìn nổ trong thị xã Qui Nhơn. Ngày 13/6/69, tại Bình Định, quận lỵ An Nhơn bị pháo kích. Ngày 14/6/69, tại Bình Định, trại định cư Cát Trắng gần quận lỵ An Nhơn bị pháo kích. Ngày 17/6/69, tại Bình Thuận, một đơn vị HK bị tấn công gần Phan Thiết. Ngày 18/6/69, tại Kontum, hành quân Dân Quyền 41 ở Dakto. Ngày 22/6/69, Trại Lực lượng Đặc Biệt tại Bến Hét bị pháo kích. Hành quân Dân Quyền 43 tại Kontum. Ngày 23/6/69, tại Kontum, trại Bến Hét lại bị pháo kich và tấn công đến dữ dội. Ngày 28/6/69, tại Kontum, kết quả hành quân Dân Quyền 254 Cộng quân tử thương 254. Phía VNCH 21 tử thương. Ngày 29/6/69, tại Kontum, trọng pháo trại Lực lượng Đặc biệt Bên Hét từ 6-5 bắn ra 136.000 trái, và phi cơ Việt-Mỹ đã dội 22.000 tấn bom xuống các vị trí Cộng quân quanh trại này. Ngày 30/6/69, B52 oanh tạc các vị trí Cộng quân tại Kontum.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 17/5/69, hành quân Toàn Thắng C/48 tại Long Khánh. Ngày 18/5/69, theo Thiếu tướng Tư lịnh Sư đoàn 18BB, trong 12 ngày qua, từ 2 đến 3 Trung đoàn Cộng quân đã mở một loạt tấn công vào Túc Trung, La Ngà nhắm vào tỉnh lỵ Long Khánh. Ngày 20/5/69, theo Trung tướng Đỗ Cao Trí, Tư lịnh Vùng III Chiến thuật, thì trong vùng có chừng 45.000 quân BV do tưởng Song Hào chỉ huy, và có cả cố vấn Trung Cộng. Giao tranh dữ đội tại Bình Dương. Có 8 phi-vụ B25 oanh tạc các địa điểm Cộng quân tại Tây Ninh, Biên Hòa, Long Khánh, và Bình Long. Ngày 21/5/69, hành quân Toàn Thắng 14/C-18 tại Long Khánh. B 52 oanh tạc các nơi tụ quân VC tại Tây Ninh. Ngày 24/5/69, theo nguồn tin quân sự VN, hiện nay ở địa hạt Tây Ninh có 2 sư-đoàn VC; các Công trường 1 và 9, cùng 1 tiểu đoàn cơ động và 1 đơn vị pháo binh. Ngày 29/5/69, giao tranh suốt từ trưa đến chiều tại Xuân Lộc.
Ngày 29/5/69, giao tranh suốt ngày tại Hậu Nghĩa. Ngày 30/5/69, B52 thực hiện 10 phi vụ oanh tạc các vùng tụ quân VC trong địa hạt Tây Ninh, Long Khánh, Phước Long. Ngày 2/6/69, giao tranh tại Long Khánh. Hành-quân Toàn Thắng 17-B/BĐ tại Bình Dương. Ngày 3/6/69, giao tranh tại An Lộc. Ngày 5/6/69, giao tranh tại Tây Ninh. Giao tranh tại Hậu Nghĩa. Ngày 6/6/69, lúc 2 giờ rưỡi sớm nay, 1 căn cứ Mỹ và 2 nơi trú quân của Nhảy Dù VN tại Tây Ninh bị tấn công ồ ạt. Giao tranh tại Phước Tuy. Giao tranh tại An Lộc. Ngày 7/6/69, một tiểu đoàn Dù VN bị pháo kich và tấn công tại Tây Ninh. Ngày 9/6/69, giao tranh kịch liệt tại Tây Ninh. Cũng tại Tây Ninh, trong suốt 4 tháng qua, lực lượng Nhảy Dù VNCH hành quân, và giao tranh liên tiếp với các Trung đoàn Cộng quân 272, 273, 209, 66, 18-B, 95-C và 58, cùng Tiểu đoàn cơ động pháo binh D-14. Ngày 9/6/69, giao tranh tại Hậu Nghĩa. Giao tranh tại Bình Long.
Ngày 10/6/69, B52 oanh tạc các vị trí Cộng quân tại Tây Ninh. Cũng tại Tây Ninh, Cộng quân bắn rớt 2 trực thăng võ trang HK. Ngày 11/6/69, giao tranh tại Tây Ninh. B52 thực hiện 7 phi vụ oanh tạc các vị trí Cộng quân tại Tây Ninh. Tại Long Khánh, Biên Hòa nhiều hầm tiếp liệu của Cộng quân bị khám phá. Ngày 12/6/69, B52 oanh tạc các vị trí Cộng quân tại Bình Long, Tây Ninh. Ngày 13/6/69, tại Hậu Nghĩa, giao tranh ở Trảng Bàng. Ngày 14/6/69, tại Tây Ninh, 1 hầm võ khí Công quân bị một đơn vị Mỹ khám phá ở Phú Khương. Ngày 16/6/69, tại Hậu Nghĩa, hành quân Toàn Thắng 319 A, gần tỉnh lỵ. Ngày 18/6/69, tại Tây Ninh, Cộng quân pháo kích vào Trung tâm Cải huấn 60 can phạm thiệt mạng; giao tranh nhiều trận giữa 3 Đại đội Nhảy Dù VNCH và nhiều đơn vị Cộng quân gần thị xã. Tại Bình Long, giao tranh ở An Lộc. Ngày 18/6/69, B-52 oanh tạc các tụ điểm Cộng quân tại Bình Dương, Tây Ninh.
Ngày 20/6/69, mặt Trận Tây Ninh vẫn ác liệt trong 24 giờ qua giao tranh dữ dội tại Katum; Cộng quân tấn công gần sát Tòa Thánh Cao Đài. Ngày 21/6/69, tại Tây Ninh, sau 3 ngày giao tranh giữa các lực lượng Cộng quân và các Tiểu đoàn 6 và 8 Nhảy Dù, Tiểu đoàn 6 TQLC: 160 Cộng quân tử thương. VNCH: 14 tử thương, 117 bị thương. Ngày 22/6/69, Giao tranh ác liệt tại Tây Ninh. Giao tranh tại Hậu Nghĩa. Ngày 26/6/69, theo Đại Tá tỉnh trưởng Tây Ninh, trong các cuộc tấn công 6/6 và 18/6 nhằm chiếm tỉnh lỵ để trình diện Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời, Cộng quân đã bị thiệt 445 người và 168 súng đủ loại. Cảc sư đoàn 1 và 9 VC vẫn còn lẩn quất quanh Tây Ninh. Ngày 27/6/69, tại Tây Ninh, giao tranh gần tỉnh lỵ, trận đánh kéo dài suổt buồi sảng tới quá trưa. Tại Bình Dương, giao tranh suốt 4 giờ sát Phú Cường. Ngày 29/6/69, tại Hậu Nghĩa, 3 xe bò chở đạn của Cộng quân bị trực thăng Mỹ bẳn cháy trong khu rừng gần Củ Chi. Ngày 30/6/69, B52 oanh tạc các vị trí Cộng quân tại Bình Long.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 21/5/69, giao tranh tại Bến Tre. Ngày 27/5/69, giao tranh từ 17 giờ đến nửa đêm tại Long An. Ngày 28/5/69, giao tranh từ trưa đến chiều tối tại Long An. Ngày 29/5/69, hành quân Toàn Thắng 3 và Speedy Express tại 3 tỉnh Long An, Kiến Hòa, Định Tường. Ngày 31/5/69, giao tranh tại Kiên Giang. Ngày 1/6/69, Hành quân Quyết Thắng BL/113 tại Ba Xuyên. Ngày 6/6/69, giao tranh tại Long An. Ngày 9/6/69, Tỉnh lỵ Mỹ Tho, và Tân Anbị pháo kích. Hành quân Quyết Thắng 21/25 tại Chương Thiện. Ngày 10/6/69, giao tranh tại Kiến Hòa. Ngày 11/6/69, tại Vĩnh Long, quận lỵ Trà Ôn bị pháo kích. Ngày 12/6/69, tại Kiến Hòa, một hầm chứa võ khí bị khám phá gần quận lỵ Giồng Trôm. Ngày 14/6/69, tại Sa Đéc, hành quân Quyết Thắng SĐ/142. Tại Châu Đốc, hành quân Quyết Thắng BK/44/31 ở Tri Tôn.
Ngày 15/6/69, tại An Xuyên, một thuyền chở đạn của Cộng quân bị chặn bắt khi qua sông Cửa Lớn gần Mũi Cà Mâu. Ngày 18/6/69, tại An Xuyên, giao tranh gần tỉnh lỵ. Tại Châu Đốc, tìm thấy 52 tử thi Cộng quân gần quận Tri Tôn, nơi đã bị B 52 oanh tạc. B-52 oanh tạc các tụ điểm Cộng quân tại Châu Đốc. Ngày 24/6/69, Tại An Giang, một xe Lam bị trúng mìn, 12 hành khách thiệt mạng gần quận lỵ Tri Tôn. Ngày 25/6/69, hành quân Quyết Thắng 7/12/70 tại Định Tường. Ngày 26/6/69, hành quân Quyết Thắng 8/B/20 tại Châu Đốc. Ngày 30/6/69, tại Long An, giao tranh cách quận lỵ Tân Trụ 4 cây số.
Bài 250: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG TỪ THÁNG 7 ĐẾN THÁNG 8 NĂM 1969
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 11/7/69, TT Nguyễn Văn Thiệu họp báo và công bố sáng kiến 6 điểm để tiến tới hòa bình: (1) bầu cử tự do, với sự tham gia của các lực lượng chánh trị, kể cả MTGPMN; (2) lập một ủy ban bầu cử trong đó có cả MTGPMN; (3) lập một ban giám sát quốc tế; (4) sẵn sàng nói chuyện với phía bên kia về lịch trình và phương thức bầu cử; (5) sau bầu cử sẽ không trả thù và kỳ thị; (6) Chánh phủ cam đoan tôn trọng kết quả bầu cử, và thách phía bên kia cam đoan như vậy. Ngày 15/7/69, tại trường Cao Đẳng Quốc Phòng, phó TT Nguyễn Cao Kỳ đọc diễn văn dài về thời cuộc: (1) Không thể lùi hơn và nhường nhịn Cộng Sản hơn nữa; (2) Các cuộc oanh tạc BV không đúng mức nên vô hiệu, quân lực VNCH chưa được canh tân; (3) Vì lý do tranh cử, HK vội nói chuyện với CS; (4) Cần xét lại viện trợ HK cho thích hợp hơn; (5) VNCH phải quyết chiến thắng.
Ngày 19/7/69, TT Nguyễn Văn Thiệu họp báo và xác định lập trường: giải pháp hòa bình 6 điểm là thiện chí tối đa; nếu phía bên kia không chấp nhận, VNGH sẽ tiếp tục chiến đấu; trách Tổng Thống vi hiến là quá sớm; sẽ cải tổ sâu rộng nội các. Ngày 26/7/69, TT Nguyễn Văn Thiệu giải thích về tình hình trước 1.200 công chức cao cấp tại rạp Thống Nhất Sài Gòn: (1) chiến cuộc có phần lắng dịu chỉ vì CS suy yếu; (2) không rút khỏi hội nghị Ba Lê; (3) nếu bầu cử có đảm bảo và kiểm soát quốc tế, CS sẽ chỉ thâu được 4% sổ phiếu là cùng. Ngày 28/7/69, theo quản đốc Trung tâm Quốc gia Báo chí, Phụ tá chánh trị phủ Tổng Thống, ông Huỳnh Văn Trọng, được mời ra khai tại Tổng Nha Cảnh sát về một vụ “Cộng sản móc nối”. Ngày 5/8/69, có 21 sĩ quan cấp tướng được thăng cấp, từ nhiệm chức lên thực thụ.
Cùng ngày 5/8/69, Bộ Chiêu hồi đính chánh không có nhân viên cao cấp nào thuộc Bộ dinh líu tới vụ tình báo gián điệp A.52 của phụ tá đặc biệt phủ Tổng Thống, Huỳnh Văn Trọng. Ngày 8/8/69, TT Nguyễn Văn Thiệu tiếp kiến một số nhân vật thuộc các đảng phái và đoàn thể. Theo dư luận trên nhiều báo, vấn đề cải tổ chánh phủ vẫn gặp khó khăn. Ngày 9/8/69, báo chí chú trọng tới việc TT Nguyễn Văn Thiệu đích thân tới nhà tướng Dương Văn Minh, và nói chuyên với tướng Minh buổi trưa từ 11 giờ tớì 13 giờ. Ngày 23/8/69, Đại tướng Trần Thiện Khiêm được TT Nguyễn Văn Thiệu chỉ định thành lập nội các mới.
QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 30/8/69, Hai Viên Quốc hội nhóm họp để xét bản phúc nghị của Hành Pháp yêu cầu bỏ các chữ “Việt gổc Mên” trong dự luật tổ chức Hội đồng các Sắc Tộc. Một số nghị sĩ thấy không nên coi người Việt gốc Mên là “dân thiêu số”. Song một số Dân biểu gốc Mên và Thượng đòi thừa nhận Việt gốc Mên là thiểu số. Ngày 14/7, Khối Độc Lập Hạ Viện ra tuyên ngôn yêu cầu TT Nguyễn Văn Thiệu giữ vững lập trường 6 điểm đã trình bày trước Quốc Hội ngày 7-4-69. Ngày 17/7/69, trên Truyền hình VN, chủ tịch Thượng viện đọc bản quyết nghị: Sáng kiến hòa bình của Tổng Thống trái với lập trường căn bản đã xác nhận trong thông điệp ngày 2-11-68 và 7-4-69 cũng như những tuyên cáo liên hệ của Quốc hội lưỡng viện; MTGPMN bất cứ trong trường hợp nào cũng chỉ là Cộng Sản đội lốt Dân tộc và Dân chủ.
Ngày 23/7/69, Hạ nghị viện nhóm họp phiên bất thường, và ra quyết nghị với 92/136 Dân biểu khuyến cáo Hành Pháp: (1) cần trấn an dư luận về thái độ đối với CS; (2) không nên cho tham gia chánh phủ những người cho là MTGPMN không phải là CS; (3) Tổng Thống cần xác nhận là không nhân nhượng thêm nữa; (4) không chịu đựng áp lực nào; (5) phải cố bài trừ tham nhũng.
TỐI CAO PHÁP VIỆN, GIÁM SÁT VIỆN. Ngày 23/7/69, Giám Sát Viện tuyên bố, thực hiện chức năng, quyền hạn của mình, từ kết quả điều tra liên quan đến những tướng, tá phạm lỗi, Viện đã đề nghị bãi chức một chuẩn tướng và thuyên chuyên một đại tá.
CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 1/7/69, Lễ kỷ niệm 9 năm thành lập BĐQ, thành tích đáng kể như chiến thắng Pleime, Đồng Xoài, Thạch Trụ, Cầu Kè, Cờ đỏ, U Minh Hạ. Ngày 6/7/69, khánh thành cầu Phan Thiết trên sông Mường Mán, dài 300 thước do Công binh Mỹ xây dựng. Ngày 14/7/69, Theo Trung Tướng Đỗ Cao Trí, tư lịnh Vùng III, từ nay đến cuối năm, quân đội VNCH sẽ thay hết quân độỉ Mỹ tại Biệt khu Thủ đô. Cùng ngày 26/7/69, khánh thành đường Đà Nẵng-Huế mở rộng và lát nhựa bê tông dài 106 cây số do Công Binh HK thực hiện. Cũng ngày 26/7/69, theo Bộ Lao động, hiện có 150.000 công nhân VN làm việc cho các cơ quan quân sự và các hãng thầu HK; ngoài ra, còn có 33.000 công nhân HK và ngoại quốc đang làm việc tại VN. Ngày 12/8/69, tại Rolla, Hoa Kỳ ký kết thỏa ước viện trợ giữạ Đại Học Missouri và Cơ quan Ngoại viện giúp VNCH mở mang Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, với ngân khoản 300.000 Mỹ kim, nhằm đào tạo 300 kỹ sư mỗi năm.
Ngày 14/8/69, trên toàn quốc 27.570 thí sinh Tú Tải II, có 7.386 thi đậu, tỷ số 26,78%. Ngày 16/8/69, Bộ Giáo dục ra thông cáo cho biêt có một tổ chức làm bằng Tú Tài I giả mạo bán, và khuyên mọi người không nên mua: hiện đang điều tra về vụ này. Ngày 17/8/69, khánh thành tại quận Lạc Dương, Tuyên Đức, một ký túc xá cho học sinh Thượng, chứa được 200 người, kinh phí xây cất 2.700.000$. Ngày 19/8/69, theo Nha cảnh sát Đô Thành, từ cuối năm ngoái tới đầu năm nay, đã phá vỡ 16 cơ sở CS tại thủ đô, bắt 143 cán bộ CS trong một tổ chức binh vận, có 2 nữ sinh đệ nhị trường Marie Curie. Kể từ 1-7-69, công chức và quân nhân được hưởng một phụ cấp hàng tháng 1.000$, kế cả người đã hưu trí (SL 091/Th.T.)
NẠN NHÂN, TỴ NẠN, VÀ CỘNG SẢN HỒI CHÁNH. Cùng ngày 14/7/69, theo Bộ Xã Hội Y Tế, tổng số người tị nạn hiện nay: 1.012.025. Ngày 15/7/69, trong 1 tháng qua, chiến dịch Chiêu hồi “Nguyễn Trãi” đã có 3.180 hồi chánh gốm 116 chính qui BV, 99 cán binh VC, 2.204 du kích, 761 cán bộ chánh trị. Ngày 24/7/69, theo Trung tâm Báo chí, tới hôm nay, đã tìm thấy 578 xác nạn nhân vụ tấn công Tết Mậu Thân tại Huế, và 93 xác tại Quảng Trị.
NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 4/7/69, vụ án nhóm người liên lạc với Nguyễn Lâu, Trần Ngọc Hiền, Võ Đình Cường, Đoàn Ẳn vv...của MTGPMN, 5 người được Tòa án Mặt trận tha bổng, số còn lại bị phạt từ 2 năm tù treo đến 20 năm khổ sai. Ngày 13/7/69, Ủy Ban Vận động Thành lập Lực lượng Quốc Gia Tiến bộ do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu, công bố bản nhận định: phải lập một chánh phủ Hòa giải gồm người của hai bên để tồ chức bầu cử dưới sự giám sát quốc tế. Cùng ngày 13/7/69, Lực lượng Đại Đoàn kết (ĐĐK) hội thảo tại Sài Gòn và ra tuyên ngôn, rằng 6 điểm củạ TT Nguyễn Văn Thiệu mâu thuẩn với lập trường chống Cộng trong thông điệp đọc trước Quổc Hội ngày 7-4-69; Quốc Hội phải xét định, nhưng Lực lượng ĐĐK chống sự sửa đổi Hiến pháp và tiếp tục tranh đấu chống Cộng. Cùng ngày 17/7/69, Mặt Trận Quốc Gia Dân chủ Xã hội gồm 6 chính đảng, với TT Nguyễn Văn Thiệu là Chủ-tịch, hôm nay bầu xong Văn phòng 12 ủy viên, và thiết lập 12 ủy ban chuyên môn.
MỸ CHUYỂN GIAO CĂN CỨ QUÂN DỤNG. Ngày 22/7/69, Căn cứ Moor của Lữ đoàn 1 Sư đoàn 9 Bộ binh Mỹ, gần quốc lộ 4, cách Cai Lậy 5 cây số, được chuyển giao cho quân đội VN. Trước đây, 2 căn cứ khác ở Kiến Hòa cũng đã được giao lại.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 3/7/69, Bộ Tư lịnh HK tại VN xác nhận: đã cho lịnh phá hủy những căn cứ trọng pháo của Cộng quân đặt trên đất Mên thường yểm trợ cho trại Ben Hét cách biên giới 11 cây số. Bộ Ngoại Giao HK không xác nhận tin đồn BV đã rút khỏi miền Nam 7.500 quân. Ngày 8/7/69, tại Tận Sơn Nhứt, tiểu đoàn 3/60 Sư đoàn 9 HK lên đường về nước. Dự lễ tiễn đưa, có TT Nguyễn Văn Thiệu, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ và nhiều nhân vật Việt Mỹ. Ngày 11/7/69, TT Nixon ca ngợi: sáng kiến của TT Nguyễn Văn Thiệu thiệt đầy đủ, xứng đáng là của một chính khách và rất thích ứng với sự giải quyết vấn đề VN bẳng biện pháp chánh trị. Ngày 15/7/69, Chủ tịch Hội đồng Tham Mưu Mỹ, tướng Earl Wheeler lại qua VN xem xét tình hình hiện được coi như lắng dịu, để kết luận về vấn đề rút thêm quân Mỹ khỏi VN. Cùng ngày 13/7/69, Ngoại trưởng Mỹ William Rogers tuyên bố trước Hạ Viện Mỹ: thất vọng về thái độ tiêu cực của BV và MTGPMN.
Ngày 18/7/69, Thượng nghị sĩ Edward Kennedy lái xe đâm xuống ao gần nữa đêm. Cô Mary Jo Kopechne, 29 tuồi, cựu thư ký của Bob Kennedy, ngồi ghế sau, bị chết đuối. Theo tin, Reuter Thượng nghị sĩ Edward Kennedy chỉ báo cho cảnh sát tai nạn chết người 9 giờ sau khi xảy ra vụ xe đâm xuống ao. Cùng ngày 20/7/69, Tướng Wheeler trở về HK sau 5 ngày quan sát tại VN. Theo ông, chưa thể giao phó hết gánh nặng chỉến tranh cho quân lực VNCH trong năm 1970. Ngày 21/7/69, Cảnh sát trưởng Dominik Arena yêu cầu truy tố Edward Kennedy. Toà án thị trấn Edgarwoot chờ kết quả điểu tra, nếu quả Edward Kennedy đã bỏ mặc không cứu cô Kopechne thì sẽ bị án tù khó lòng ra tranh cử tổng thống. Cùng ngày 21/7/69, Đại tá Robert B. Rheault, chỉ huy Lực lượng Đặc biệt Mũ Xanh Special Forces, bị cất chức vì liên can đến vụ sát hại một nhân viên VN chuyên việc tình báo, tại Nha Trang.
Ngày 26/7/69, TT Nixon tới Manille hội đàm với TT Marcos, và tuyên bố: Các quốc gia Á Châu phải giải quyết lấy các vấn đề nội bộ của mình, không cần ngoại viện, trừ sự giúp đỡ phương tiện vật chất; HK sẽ không còn can thiệp bằng nhân lực nữa. (“The countries of Asia must handle their own internal problems without outside assistance, except that kind of assistance which is limited to material support, and, we of course, will therefore exclude the kind of support which would involve a commitment of manpower”.). Ngày 27/7/69, TT Nixon qua thăm Djakarta và hứa viện trợ cho Nam Dương, mà không cần một hiệp ước liên minh nào hết; và hứa gửi tặng mỗi quốc trưởng trên thế giới một mảnh đồ mặt trăng. Ngày 28/7/69, TT Nixon tới Vọng Các, và tuyên bố: sẽ giữ các cam kết đối với Thái Lan chống mọi cuộc tấn công từ trong hay ngoài xứ.
Cùng ngày 28/7/69, theo tin AP, đã có một cuộc trưng cầu dân ý do tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn làm kín đáo: (1) có tin tưởng vào HK không? 52/100 người được hỏi, có tin tưởng; 20% không; 28% không có ý kiến. (2) có thể giải quyết vấn đề VN bằng giải pháp thương thuyết không? 51% trả lời có thể và nên; 28% ưa giải pháp quân sự hơn; số còn lại, không có ý kiến. Ngày 29/7/69, các Tổng thống Phi Luật Tân, Nam Dương, và Thủ tướng Thái Lan đều chấp nhận chánh sách mới của HK do TT Nixon chủ trương: HK không gửi quân can thiệp để dẹp nội loạn, chỉ giúp về chuyên môn, trang bị và kinh tế; HK sẽ can thiệp để chống các cuộc ngoại xâm, nếu có hiệp ước, và sẽ tùy tính cách quan trọng của cuộc xâm lăng và tùy tình hình xứ bị xâm lăng. Cùng ngày 29/7/69, Tướng Abrams xác nhân: chiến cuộc đã lắng dịu trong 6 tuần qua.
Ngày 30/7/69, TT Nixon từ Thái Lan sang Sài Gòn hội đàm với TT Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập, và tuyên bố: (1) không chấp nhận một cuộc bại trận; (2) luôn luôn tìm hòa bình trong danh dự; (3) tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc VN. TT Nixon tới dinh Độc Lập bằng trực thăng, lủc 12 giờ 15 và rời khỏi lúc 18 giờ 30. TT Nixon từ Sài Gòn, lại qua Vọng Các lần nữa. Ngày 31/7/69, quân số HK tại VN, tính đến ngày hôm nay: 537.000 người gồm: 361.500 Lục quân; 79.009 TQLC; 60.500 Không quân; 35.500 Hải quân; 500 Tuần duyên. Ngoài ra, còn 32.000 Thủy quân thuộc hạm đội 7, 600 Hải-tuần. Lực lượng Đồng Minh tại VN: 70.500 người. Ngày 3/8/69, sau khi tiếp xúc với các nhà cầm quyền Đại Hàn, Đài Loan, và Nhật Bản. Ngoại trưởng HK William Rogers cho biết: chánh sách của Mỹ đối với các quốc gia kể trên không thay đổi. Okinawa sẽ được trả lại cho Nhật. HK tiếp tục chống sự gia nhập Liên Hiệp Quốc của Trung Cộng.
Cùng ngày 3/8/69, TT Nixon qua Anh quốc hội đàm với Thủ Tướng Wilson. Ngày 4/8/69, TT Nixon tiếp kiến các lãnh tụ hai đảng Quốc hội HK để trình bày về kết quả chuyến công du. Theo Thượng nghị sĩ Dirksen, sẽ có thể rút thêm quân khỏi VN. Ngày 5/8/69, theo nguồn tin chánh giới Hoa Thịnh Đốn, HK đã thảo luận với Đồng minh về vấn đề rút bớt quân đội Đồng Minh khỏi VN. Thái Lan ngỏ ý triệt thoái một phần 12.000 hiện tham chiến tại VN. Ngoài ra, số quân HK sẽ rút trong năm 1969 có thể lên tới 125 000. Ngày 11/8/69, Đồng đô la đỏ MPC của quân đội HK lại bị thay thế đột ngột bằng một thứ chứng chi chi phó khác. Quân nhân Mỹ chỉ được đổi tiền đó trong ngày hôm nay. Ngày 13/8/69, Phát ngôn viên tòa Bạch ốc cho biết, giới quân sự Mỹ ước lượng: quân số BV tại miền Nam lên tới 100.000, và còn từ 30 đến 40.000 tại vùng biên giới Việt Mên.
Ngày 18/8/69, vài hôm nay, báo chí Mỹ và Việt bàn tán khá nhiều về vụ sát hại một tình báo viên VN, và sự bắt giữ Đại tá mũ xanh Robert B. Rhéault cùng 2 Thiếu tá, 3 đại úy, 2 hạ sĩ quan HK thuộc Lực Lượng Đặc Biệt. Chưa ai hiểu vì lý do gì vụ này được Bộ Tư lịnh HK cho loan báo. Xin lưu ý rằng, vì vụ trên mà ngày 21-7-69, Đại tá Robert B. Rheault, chỉ huy Lực lượng Đặc biệt Mũ Xanh Special Forces bị cất chức. Ngày 20/8/69, Ngoại trưởng HK William Rogers tuyên bố, Mỹ sẽ rút thêm quân dù chiến sự tăng hay giảm. Ngày 21/8/69, quân số HK tại VN 526.500 người. Và, quân các nước Đồng Minh khác: 69.900 người. Ngày 24/8/69, Theo báo Times, Bộ trưởng Quốc Phòng HK Melvin Laird cho biết kế hoạch mới: sẽ để lại VN 250.000 quân tình nguyện, không chiến đấu, chỉ tự vệ nếu bị tấn công. Ngày 27/8/69, theo Ngũ Giác Đài, thì từ đầu 1969, BV đã đưa 100.000 quân nữa vào miền Nam. Ngày 31/8/69, Ngũ Giác Đài HK cho biết: quân số Mỹ tại VN tới hôm nay, còn 509.800 người.
VỀ PHI THUYỀN APOLLO 11 MỸ ĐÁP XUỐNG MẶT TRĂNG. Ngày 16/7/69, Lúc 21 giờ 25, trên Đài truyền hình Mỹ tại VN, giữa phim Mission Impossible, thấy tin báo: phi thuyền Apollo 11 đã được phóng lên không gian lúc 13 giờ 32 Quốc tế tức 9 giờ 32 HK, Phi hành gia Neil Armstrong, Michael Collins và Edwin E. Aldrin. Hơn 1 triệu người tới dự tại Cape Kennedy. Các bộ phận chính của phi thuyền: bộ phận chỉ huy Command Ship gọi là Columbia; và bộ phận phải đáp xuống mặt trăng Lunar Module mang tên Eagle. Chuyến bay dài 8 ngày, 3 giờ, 19 phút; ngày chủ nhật 20-7 Armstrong và Adrin sẽ xuống nguyệt cầu, và trong 2 giờ 30 phút sẽ đi trên mặt trăng, và ngày thứ năm 24-7 hồi 16 giờ 51 sẽ trở về trái đất trên Thái Bình Dương bằng Columbia, còn Eagle sẽ bị phóng lên quĩ đạo mặt trời. Ngày 18/7/69, Phi thuyền Apollo-11 ra khỏi vùng hấp lực của trái đất, cách địa cầu 345.045 cây số, và cách mặt trăng 69.997 cây số. Tốc độ bay chỉ còn 3.278 cây số mỗi giờ. Cùng ngày 18/7, U-Thant quyết định: Liên Hiệp Quốc nghỉ việc ngày thứ hai 21-7 để chào mừng cuộc đổ bộ xuống mặt trăng.
Ngày 20/7/69, Lúc 16 giờ 23 GMT, bộ phận Eagle của phi thuyền Apollo mở bốn chân để chuẩn bị đổ bộ xuống mặt trăng. Lúc 17 giờ 47, Eagle tách khỏi bộ phận chỉ huy Columbia để bay từ từ xuống Biển Yên Lặng trên nguyệt cầu vào lúc 20 giờ 17 phủt GMT. Luna-15 của Nga Sô bay tới sát mặt trăng, chỉ cách 16 cây số. Hôm nay, 21-7-69, tức 8 tháng 6 Kỷ Dậu, bộ phận Eagle của phi thuyền Apollo 11 từ từ đáp xuống mặt trăng và đổ bộ lúc 20 giờ 17 phút quốc tế GMT ngày 20-7. Lúc 2 giờ 56 phút 20 giây GMT, tức 10 giờ 56 phút 20 giây tại Sài Gòn, Neil Armstrong ra khỏi Eagle và bước xuống mặt trăng đi bộ, nhặt đất, nói chuyện với đài kiểm soát ở địa cầu, đáp lời ca ngợi của TT Nixon và đứng nghiêm chào. Đến 3 giờ 15 phút GMT, tức 11 giờ 15 phút tại Sài Gòn, Aldrin cũng bước xuống. Họ chập chững đi lại quanh chân Eagle, lượm đá, cắm cờ Hoa Kỳ, hình ảnh họ ần hiện lấp loáng như bóng ma, trên một vùng coi như sa mạc, với lỗ và đá mấp mô: đó là cảnh thấy trên máy truyền hình tại Sài Gòn từ 21 đến gần 23 giờ.
Lúc 5 giờ quốc tế, 13 giờ Sài gòn, Aldrin rồi kể đó Armstrong bước vô Eagle, sau khi đi trên mặt trăng 2 giờ 18 phút 16 giây. Tổng Bí thư Brejnev và Thủ tướng Kossyguine khen ngợi sự thành công của Apollo-11. Dân chúng Nga Sô đua nhau theo dõi chuyến bay. Báo chí Trung Cộng không loan tin gì hết về cuộc đổ bộ xuống nguyệt cầu này. Ngày 22/7/69, các phi hành gia Mỹ để lại trên mặt trăng: 1 cờ Hoa Kỳ, 1 đĩa thâu thanh thông điệp của 76 lãnh đạo quốc gia, trong đó có thông điệp của Tống Thống VNCH; bảng kỷ niệm 3 phi hành gia Mỹ và 2 phi hành gia Nga hy sinh vì công cuộc thám hiểm không gian; một tấm bảng thép ghi câu: đến đây với thiện chí hòa bình của nhân loại; một số dụng cụ không cần nữa như máy ảnh, máy truyền hình, các dây đai buộc phi hành gia, túi đồ linh tinh đáng giả 1 triệu Mỹ-kim, kể cả túi đựng nước tiểu của hai người. Đáng kể nhất là một máy đo địa chấn có thể nghe từ dưới đất những chuyên động trên nguyệt cầu.
Lúc 17 giờ 54 phút quốc tế, tức 1 giờ 54 Sài Gòn ngày hôm nay 22/7/69, bộ phận Eagle được khai hỏa để bay khỏi mặt trăng, sau khi ở trên nguyệt cầu vùng Biển Thầm Lặng 21 giờ 36 phút 41 giây. Đến 21 giờ 33 Quốc tế, 5 giờ 33 phút Sài Gòn, Eagle ráp nối lại với bộ phận chỉ huy Columbia. Lúc 23 giờ 37 quốc tế, Armstrong chui vào Columbia, và đến 0 giờ 15, Aldrin cũng chui qua. Lúc 4 giờ 57 quốc tế, 12 giờ 57 ngày 22/7 tại Sài Gòn, phi thuyền ra khỏi quĩ đạo mặt trăng. Ngày 23/7/69, TT Nixon lên đường ra đón phi thuyền Apollo-11 trên Thái Bình Dương, và bắt đầu cuộc hành trình thăm viếng Phi Luật Tân, Nam Dương, Thái Lan, Ấn Độ, Hồi Quốc, Lỗ Ma Ni và Anh quốc. Lúc 4 giờ 57 quốc tế, Columbiabay về trái đất, bỏ Eagle bay trên quĩ đạo mặt trăng… Tốc-độ trở về: 4.800 cây sổ mỗi giờ, vẫn truyền hình về trái đất qua 7 đài tiếp vận ở Mỹ, Úc, Nhật và Anh. Các đài này nhận hình nhờ 3 vệ tinh viễn thông bay trên quĩ đạo địa cầu cách đường xích đạo 35.000 cây số.
Ngày 22/7/69, Giáo sư Lev Sedoc, thuộc Hàn Lâm Viện Khoa Học Nga Sô, ca ngợi trên báo Pravda sự thành công của Apollo -11 được coi như một việc quan trọng nhất của thế kỷ 20. Cơ quan Không gian HK, NASA, cho biết từ nay đến 1972, sẽ có 9 chuyến bay Apollo khác. Ngày 24/7/69, Phi thuyền Apollo-11 đáp xuống Thái Bình Dương lúc 16 giờ 50 phút quốc tế, ngày 24-7 tức là 0 giờ 50 đối với VN. Ngày 25/7/69, lúc 16 giờ 50 quốc tế, tức 0 giờ 50 ngày 25-7 tại Sài Gòn, Apollo-11 trở về trái đất, trên Thái Bình Dương. Chỉ sớm 2 giây so với dự tính. Các phi hành gia khỏe mạnh, và được TT Nixon đón trên mẫu hạm Hornet. Họ phải bận đồ riêng, đưa vô phòng kín và biệt lập trong 21 ngày, đề phòng ngừa vi trùng có thể mang từ mặt trăng về. Chủ tịch Nga Sô Podgorny gửi điện văn cho TT Nixon chúc mừng về sự thảnh công của Apollo-11. Chủ tịch viện Hàn lâm Khoa học và các phi hành gia Nga cũng gửỉ điện khen ngợi cho Cơ quan Khồng gian Mỹ.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOA VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 12/7/69, Bộ Ngoại giao BV gửi giác thư cho các tòa Đại sứ tại Hà Nội: quân đội Mỹ phải rút hết, phải lập một chánh phủ lâm thời liên hiệp để tổ chức tuyển cử tại miền Nam VN. Ngày 13/7/69, Đài phát thanh VC và đài Hà Nội không chấp nhận 6 điểm của TT Nguyễn Văn Thiệu. Đài Hà Nội vẫn đòi quân Mỹ rút hết và lập chánh phủ Hòa bình tại miền Nam VN. Ngày 6/8/69, các hãng Thông tấn và đài phát thanh Nga Sô, BV, Trung Cộng, đều công kích chuyến công du của TT Nixon, rằng HK nhằm củng cố thế lực tại Á châu
HỘI ĐÀM PARIS MỸ-VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ. Ngày 3/7/69, Phiên họp thứ 24 cuộc hội đàm Ba Lê. Cabot-Lodge tỏ ý hài lòng vì BV loan tin sẽ thả 3 quân nhân Mỹ bị bắt trước đây. Ngày 5/7/69, Xuân Thuỷ từ Hà Nội trở lại Ba Lê tuyên bố, HK chẳng chịu xuống thang chiến tranh, rút lui 25.000 quân không có ý nghĩa gì khác là lừa dối dư luận. Ngày 10/7/69, Phiên họp thứ 25 cuộc hội đàm Ba Lê vẫn các lập trường cũ, các luận điệu cũ. Ngày 13/7/69, Phiên họp thứ 26 cuộc hội đàm Ba Lê, Đại sứ Phạm Đăng Lâm đưa ra đề nghị 6 điểm của TT Nguyễn Văn Thiệu về tuyển cử tại VN. Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy bác bỏ, và giữ nguyên lập trường: quân Mỹ phải rút hết, vấn đề VN sẽ phải giải quyết theo kế hoạch 10 điểm của MTGPMN. Ngày 24/7/69, Phiên họp thứ 27 cuộc hội đàm Ba Lê. Lập trường các bên không thay đổi. Ngày 31/7/69, Phiên họp thứ 28 cuộc hội đàm Ba Lê. Mỗi phe cùng trách nhau kéo dài hoặc gia tăng chiến cuộc.
Ngày 7/8/69, Phiên họp thứ 29 cuộc hội đàm Ba Lê. Không có gì mới lạ, hai bên giữ lập trường cũ. Ngày 14/8/69, Phiên họp thứ 30 cuộc hội đàm tại Ba Lê. Các lập trường mỗi bên không thay đồi. Cabot-Lodge lên án các cuộc tấn công hiện nay của Cộng quân. Ngày 21/8/69, Phiên họp thứ 31 cuộc hội đàm Ba Lê, không có thông tin nào được đưa ra. Ngày 28/8, Phiên họp thử 32 cuộc hội đàm Ba Lê. Lập trường hai bên không thay đổi. Các thái độ vẫn cứng rắn.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH VÀ GIA ĐỊNH. Ngày 1/7/69, tại Gia Định, hành quân Úc-Mỹ-Thái tảo thanh Đặc khu Rừng Sác.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 2/7/69, theo Bộ tư lịnh vùng II, sau 57 ngày giao tranh với 3 Trung Đoàn 66, 28 và 24 Cộng quân, cùng với Trung đoàn trọng pháo 40, và 7 tiểu đoàn cơ động yểm trợ từ bên kia biên giới QGP trên đất Lào. Phía QĐVNCH gồm: Liên đoàn 2 BĐQ, Chiến đoàn 53, Trung Đoàn 47, Trung Đoàn 3 Thiết giáp, Tiểu Đoàn 63 Pháo binh, Đội trọng pháo 203 ly HK, và lực lượng đồn trú tại Ben Hét (Kontum) các đại đội Dân sự Chiến đấu Thượng, 1 trung đội Lực Lượng Đặc Biệt Kinh. Kết quả trận đánh, Cộng quân bỏ lại 1.882 xác đếm được. Ngày 7/7/69, lúc 1 giờ 30 sáng, một căn cứ Mỹ tại Bình Thuận bị pháo kích và tấn công ồ ạt.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 26/8/69, giao tranh tại Long Khánh.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 26/8/69, Hành quân qui mô Quyết Thắng BK/44/40 với 10.000 quân VNCH phối hợp cùng các lực lượng HK Black Hawk tại vùng núi Thất Sơn, Châu Đốc.
Bài 251: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN THIỆN KHIÊM TỪ THÁNG 9 ĐẾN THÁNG 10 NĂM 1969
CHÍNH PHỦ TRẦN THIỆN KHIÊM. Ngày 23/8/69, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ định Đại tướng Trần Thiện Khiêm làm Thủ tướng thay thế Thủ tướng Trần Văn Hương. Ngày 1/9/1969, Trần Thiện Khiêm trình diện Chính phủ. THÀNH VIÊN NỘI CÁC: Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ, Đại tướng Trần Thiện Khiêm; Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Giáo dục, Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên; Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, Cư sĩ Mai Thọ Truyền; Quốc vụ khanh đặc trách Tái thiết Phát triển, Giáo sư Vũ Quốc Thúc; Quốc vụ khanh, Bác sĩ Nguyễn Tiến Hỷ, Bác sĩ Phan Quang Đán; Tổng trưởng Ngoại giao, Dược sĩ Trần Văn Lắm; Tổng trưởng Quốc phòng, Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ; Tồng trưởng Tư pháp, Luật sư Lê Văn Thu; Tổng trưởng Kinh tế, Phạm Kim Ngọc; Tổng trưởng Tài chánh, Nguyễn Bích Huệ; Tổng trưởng Xây dựng Nông thôn, Thiếu tướng Trần Thanh Phong; Tổng trưởng Thông tin, Luật sư Ngô Khắc Tỉnh;Tổng trưởng Chiêu hồi, Bác sĩ Hồ Văn Châm; Tổng trưởng Cải cách Canh nông, Cao Văn Thân; Tổng trưởng Công chánh, Dương Kích Nhưỡng; Tổng trưởng Giao thông, Trần Văn Viễn; Tổng trưởng Y tế, Bác sĩ Trần Minh Tùng; Tổng trưởng Xã hội, Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu; Tổng trưởng Văn hóa Giáo dục, Giáo sư Tăng Kim Đông; Tổng trưởng Lao động, Đàm Sĩ Hiến; Tổng trưởng Cựu Chiến binh, Thiếu tướngPhạm Văn Đổng; Tổng trưởng Phát triển Sắc tộc, Paul Nur; Bộ trưởng tại Phủ thủ tướng, Nguyễn Văn Vàng; Bộ trưởng Liên lạc Quốc hội, Cao Văn Tường.
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 16/9/69, Văn phòng Tồng Thống VNCH loan báo: VNCH đồng ý với HK về đợt 2 thay thế quân đội Mỹ, sẽ là 60.000 người. Ngày 19/9/69, Đài Truyền hình Việt Nam mở đầu chương trình hàng tuần NGƯỜI DÂN MUỐN BIẾT, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời nhiều câu hỏi của vài nhà báo, Tổng thống cho biết: chỉ ngừng bắn khi có giải pháp chánh trị toàn diện. Ngày 27/9/69, TT Nguyễn Văn Thiệụ tuyên bố trong cuộc phỏng vấn của tuần báo Times: (1) nếu HK rút hết quân, VNCH cũng sẽ chiến đấu đến khi thắng lợi hoặc thất bại; (2) dân chúng HK nên kiên tâm. Ngày 8/10/69, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố với bảo US News and World Report: đã chủ trương tấn công BV phía Bắc vùng Phi quân sự; Và oanh tạc BV cùng Hải Phòng bằng phi cơ của Không quân VNCH, nếu HK cung cấp đầy đủ dụng cụ và trang bị.
Ngày 31/10/69, TT Nguyễn Văn Thiệu hiệu triệu quốc dân trên đài Truyền hình, giải thích về các biện phảp thuế vụ và kêu gọi mọi người gánh vác trách nhiệm. Ngày 15/9/69, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: HK sẽ rút thêm 40.500 quân trước tháng 11; có thể sẽ rút đến 200.000 quân tới cuối 1970; nếu chánh phủ định liên hiệp với CS, sẽ có đảo chánh trong vòng 10 ngày. Ngày 14/10/69, TT Nguyễn Văn Thiệu chủ tọa lễ an táng tập thể 250 hài cốt nạn nhân bị sát hại trong dịp Tết Mậu Thân, tại núi Ngự Binh, Huế, tuyên bố “chống giải pháp liên hiệp và sự rút quân không điều kiện của Đồng minh”.
QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 6/10/69, khai mạc khóa họp Quốc hội, TT Nguyễn Văn Thiệu đọc thông điệp dài 38 trang, nói về chính sách và chương trình của chánh phủ: không liên hiệp với Cộng sản; sẵn sàng thay thế quân đội HK; tiến tới tự tủc tự cường. Ngày 10/10/69, Nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền tái đắc cử Chủ tịch Thượng Viện niên khóa 1969-1970. Ngày 27/10/69, Thượng Viện họp với 32 nghị sĩ hiện diện. Quyết nghị được 24/32 nghị sĩ chấp thuận: xét lại ngân sách quốc phòng, nhân dân hóa quân đội, cấp phát gạo cho quân nhân và công chức, kiểm soảt thị trường. Ngày 28/10/69, tại Hạ viện 81/84 Dân biểu đồng ý đưa vụ thuế kiệm ước mới ra trước Tối cao Pháp viện. 75/76 Dân biểu yêu cầu Hành Pháp thu hồi nghị định về thuế này. Ngày 30/10/69, Hạ viện phê chuẩn thỏa ước viện trợ tài chánh Tây Đức ký ngày 28-6-66: 20 triệu Đức Mã để xây lò sát sinh Đô Thành.
Ngày 4/10/69, Thượng Nghị Sĩ Nguyễn Gia Hiến, chủ tịch Lực lượng Đại Đoàn kết tuyên bố: sẽ có đảo chánh nếu có quyết định thành lập một chánh phủ Liên Hiệp với Cộng sản. Ngày 23/10/69, Hạ viện ra biểu quyết 61/95 phiếu thuận quyết nghị: (1) yêu cầu Hành pháp giữ vững lập trường cố hữu của VNCH; (2) phải Việt Nam hóa chánh trị song song với vấn đề quân sự; (3) phải có sách lược chiến đấu tự lực, thực thi những cam kết với quốc dân; (4) xét lại chánh sách ngoại giao và thông tin ngoại quốc; (5) công bố và làm sáng tỏ việc người Mỹ tham chiến tại VNCH dựa trên căn bản nào; (6) thiết lập qui ước tạm thời về việc Mỹ đóng quân hay rút quân.
CHÍNH PHỦ TRẦN THIỆN KHIÊM VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Cùng ngày 1/9, Cầu Trường Tiền Huế được Công binh HK sửa chữa hẳn lại nhịp giữa đã do Công-Ty Eiffel chữa tạm. Xe cộ được lưu thông 2 chiều như xưa. Ngày 2/10/69, Bộ Tư pháp VNCH yêu cầu bộ Tư lịnh HK cho biểt hồ sơ về vụ Thái Khắc Chuyên. Ngày 24/10/69, Chính phủ ban hành Thuế kiệm ước mới, được áp dụng từ 0 giờ hôm nay (Nghị định số 1569/BKT/BTC/NDHB). Ngày 25/10/69, giá hàng tăng nhiều sau khi ban hành nghị định về thuế kiệm ước. Giá dầu xăng, từ 11$50 lên 22$. Vàng từ 11.300$ lên 16.5008. Một bó rau muống, từ 10$ lên 16$, thịt heo ba rọi từ 250$ lên 350$ một ký... Họp báo tại Bộ Kinh tế. Giải thích về các biện pháp tăng thuế để chống lạm phát. Ngày 28/10/69, Thiết lập một Ủy ban Liên bộ ổn định thị trường với nhiệm vu: tiếp tế nhu yếu phầm, bài trừ gỉan thương, định giá chuyên chở, giúp đỡ quân nhân công chức.
Cùng ngày 28/10/69, Công nhân Sicovina đình công. Hàng ngàn nhà nhập cảng tởi phòng Thương Mại xé đơn xin nhập cảng. Hàng tăng giá: bột mì từ 31$ lên 37$ một kí; sắt từ 35$ lên 70$, vải từ 75$ lên 105$ một thước, Honda từ 33.000$ lên 70.000$, tủ lạnh lừ 50.000$ lên 80.000$, truyền hình từ 33.000$ lên 43.000$... Ngày 30/10/69, Tổng cuộc Tiếp tế bán chịu gạo cho quân nhân và công chức Đô thành, cuối tháng trả tiền, qua các ban Tiếp liệu.
MỸ CHUYỂN GIAO CĂN CỨ QUÂN DỤNG. Ngày 1/9/69, Căn cứ Mỹ tại Đồng Tâm, Mỹ Tho, được chuyển giao cho quân lực VNCH. Ngày 30/9/69, Trại Hải quân Tân Mỹ, một căn cứ lớn của HK tại Thừa Thiên, được chuyển giao cho quân lực VNCH. Ngày 24/10/69, Căn cứ Black Horse của quân đội Mỹ tại Long Khánh, được chuyển giao cho quân lực VNCH.
NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 8/9/69, tại Long An, một binh sĩ VNCH bắn chết 2 sĩ quan cấp tá HK, khi 2 người này vừa ra khỏi trại. Ngày 10/9/69, Ông Đạo Dừa tức Nguyễn Thành Nam tổ chức lễ truy điệu Hồ Chí Minh tại một cù lao tỉnh Kiến Hòa, với sự tham dự của chừng 1.000 thanh niên trốn quân dịch phía VC cũng như phía VNCH. Ngày 30/9/69, Quả phụ Thái Khắc Chuyên cho biết: sẽ cùng 2 con tự thiêu trước tòa Đại Sứ HK để phản đối sự miễn tố đối với 8 quân nhân Mũ Xanh đã sát hại chồng bà. Ngày 29/10, Thượng tọa Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng được ân xá và phóng thích cùng 310 phạm nhân, nhân dịp Quốc Khánh.
NẠN NHÂN, TỴ NẠN VÀ CỘNG SẢN HỒI CHÁNH. Ngày 25/9/69, tại Thừa Thiên, thêm một mồ chôn 200 nạn nhân vụ biến cố Tết Mậu Thân được tìm thấy phía Nam lăng Gia Long. Ngày 28/9/69, Theo Bộ Xã Hội, hiện có 99.533 trẻ mồ côi, trong đó 15.862 được nuôi trong 93 cô nhi viên công và tư, còn 83.671 trẻ nuôi tại gia trong 31 tỉnh. Ngày 12/10/69, Tại Thừa Thiên, lễ tẩm liệm 250 hài cốt nạn nhân cuộc tấn công Tết Mậu Thân, tổ chức tại trường học Bảng Lãng.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 16/9/69, TT Nixon tuyên bố: đã thỏa hiệp với VNCH để rút thêm 35.000 quân trước 15 tháng 12 sắp tới; đồng thời, nhắc lại lập trường của HK, sẵn sàng chấp nhận thảo luận về 10 điểm của đối phương, và một giải pháp chánh trị cho miền Nam VN. Ngày 17/9/69, Báo Washington Post loan tin: HK sẽ rút 200.000 quân từ nay đến 1972. Ngày 19/9, Hạ Viện HK với 339 phiếu thuận và 70 phiếu nghịch chấp thuận dự luật bãi bỏ cử tri đoàn và để công dân Mỹ trực tiếp bầu cử Tổng Thống. Ngày 20/9/69, thiệt hại của Hoa Kỳ từ 1-1-1961: 38.728 tử thương, 252.059 bị thương, 1.332 bị bắt mất tích. Ngày 21/9/69, Cựu Thứ trưởng Cyrus Vance, nguyên phó Trưởng phái đoàn HK tại hội đàm Ba Lê, đề nghị trên báo New York Times: nên ngừng bắn ngay tại VN, và chia lãnh thổ miền Nam ra nhiều khu theo vết da beo.
Ngày 24/9/69, Bộ Ngoại giao HK trả lời Thượng nghị sĩ Fulbright: HK đã gửi quân sang VN năm 1965 sau khi thỏa hiệp với chánh phủ VNCH. Sự thỏa hiệp này được coi như lời yêu cầu. Ngày 26/9/69, TT Nixon họp báo, và tuyên bố: (1) không có quân đội HK tham chiến tại Lào; Mỹ chỉ giúp Lào về huấn luyện và tiếp vận, và tiếp tục các chuyến bay thám thính trên đường mòn Hồ Chí Minh; (2) không chấp nhận ý kiến định rõ ngày rút hết quân Mỹ khỏi VN; (3) tiếp tục ủng hộ chánh quyền Nguyễn Văn Thiệu cho tới khi có cuộc tuyển cử khác; (4) không ngại áp lực của nhiều giới HK. Ngày 27/9/69, Phó TT Mỹ Spiro Agnew tuyên bố: việc rút quân khỏi VN là vấn đề của HK, người miền Nam VN muốn nói sao thì nói, HK phải tìm hết cách triệt thoái. Ngày 29/9/69, Thứ trưởng Lục quân HK Stanley Resor ra quyết định không truy tố 8 quân nhân Mũ Xanh liên can vụ hạ sát nhân viên tình báo Thái Khắc Chuyên.
Cùng ngày 29/9/69, Bộ Ngoại Giao HK cho biết: TT Nỉxon không thể ấn định trước lịch trình rủt quân khỏi VN, vì phải chờ những điều kiện thích ứng. Ngày 30/9/69, TT Nixon kêu gọi dân chúng HK: hãy giúp chánh phủ đi tới hòa bình tại VN, đừng cho đối phương cảm tưởng là HK bị chia rẽ. Các chủ tịch khối Cộng Hòa tại Thượng và Hạ Viện HK, Hugh Scott và Gerald Ford khuyên dân chúng Mỹ nếu biểu tình thì đòi BV phải thương thuyết. Cả hai người đều chống sự định rõ ngày rút quân HK khỏi VN. Ngày 1/10/69, Phát ngôn viên tòa Bạch Ốc lại cho biết: chính TT Nixon đã chấp thuận việc miễn tố quân nhân trong vụ Thái Khắc Chuyên. Ngày 2/10/69, Thượng nghị sĩ Mansfield lại đòi TT Nixon mau đi tới thỏa hiệp ngừng bắn.
Ngày 4/10/69, Tướng Wheeler, chủ tịch Hội đồng Tham Mưụ HK, tới Sài Gòn xét lại tình hình và cho biết: Cộng quân chỉ rút tạm thời để sửa soạn cuộc tấn công mới. Các nhóm phản chiến tại Quốc Hội Mỹ chuẩn bị ráo riết cuộc biểu tình 15-10-69 đòi chấm dứt chiến tranh. Ngược lại, phe diều hâu đòi đánh mạnh và oanh tạc trở lại BV. Theo tin UPI, chánh phủ HK lại tiếp xúc mật với BV ở một địa điểm không phải là Ba Lê. Ngày 7/10/69, các giáo sư Khoa học và Kỹ thuật Đại học Harvard đưa kiến nghị yêu cầu chánh phủ Mỹ rút hết quân khỏi VN. Cùng ngày 9/10/69, tại Hoa Kỳ, nhiều Dân biểu phản chiến dự định sẽ diễn thuyết suốt đêm 14-10 đòi chấm dứt chiến tranh VN; 17 nghị sĩ và 47 Dân biểu ủng hộ tổ chức biểu tình ngày 15-10. Ngày 11/10/69, các nghị sĩ HK Charles Godeii, Frank Church, Frank E. Moss, George Aiken lên tiếng phản đối TT Nixon và đòi chấm dứt ngay chiến tranh VN. Nghi sĩ Vance Hartke đòi lập chính phủ liên hiệp do luật sư Trương Đinh Dzu cầm đầu.
Ngày 13/10/69, Ngoại trưởng William Rogers cho biết: mức xâm nhập của BV đã giảm 2/3 từ đầu năm lực lượng BV tại miền Nam chỉ còn chừng 25 hoặc 35 ngàn người. Cũng ngày 13/10/69, theo viện Gallup, thì 53% dân chúng Mỹ ủng hộ chánh sách Nixon, chỉ có 32% chống đối. Cùng ngày 14/10/69, các Dân bỉểu đảng Cộng Hòa quyết nghị ủng hộ chánh sách Nixon. Ngày 15/10/69, TT Nixon kêu gọi dân chúng Mỹ: phải đi tới hòa bình, nhưng trong danh dự, Thống Đốc California là Reagan trách phe phản chiến đã tiếp tay với Cộng Sản. Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird tuyên bố: sẽ có thể rút 300.000 quân khỏi VN trong 2 năm tới. Cùng ngày 16/10/69, các nhóm phản chiến tại HK dự định tiếp tục biểu tình, và nếu cần, thì hàng tháng, cho tới khi nào chánh phủ rút hết quân khỏi VN. Cùng ngày 17/10/69, Raymond Gallagher, chủ tịch Cựu Chỉển binh HK, đi chu du các nước để yêu cầu can thiệp cho BV công bố danh sảch tù binh Mỹ.
Ngày 20/10/69, Phát ngôn viên tòa Bạch Ốc không cải chính tin loan truyền do báo Newsweek và hãng truyền tin National Broadcasting Company: TT Nixon sẽ đơn phương tuyên bố ngưng bắn, để mặc lãnh thổ VNCH chia ra 2 vùng trong thực tế, vùng Cộng sản và vùng Quốc gia. Ngày 24/10/69, theo nhiều nguồn tin quốc-tế, TT Nixon dự định rút 300.000 quân khỏi VNCH, từ nay tới cuối 1970, và TT Nguyễn Văn Thiệu đã được thông báo. Ngày 26/10/69, Kết quả thăm dò dư luận Mỹ của viện Louis Harris: 4/5 số dân được hỏi chán ghét chiến tranh; 1/2 không đồng ý rằng HK nên rút cấp tốc khỏi VN; hơn 1/2 thấy rút theo nhịp độ hiện nay là phải, hoặc còn quá nhanh. Cùng ngày 26/10/69, Bộ trưởng Quốc Phòng Melvin Laird tuyên bố: HK đang xét lại mọi cam kết quân sự để rút bớt kinh phí: 130 tỷ trong năm 1970, kể cả chiến phí tại VN. Ngày 29/10/69, giới quân sự HK theo dõi sự di chuyển và tập trung 4 sư đoàn Cộng quân tại vùng biên giới Việt Mên.
VỚI ĐỒNG MINH CÓ QUÂN THAM CHIẾN. Ngày 14/9/69, Quốc hội Đại Hàn chấp thuận tu chính Hiến Pháp cho phép ứng cử Tổng thống 3 nhiệm kỳ. Ngày 15/9, sinh viên Đại Hàn tiếp tục biểu tình phản đối sự tu chính Hiến Pháp, nhiều trường Đại Học vẫn bị đóng cửa. Ngày 20/9/69, tại New York, hội nghị 7 quốc gia tham chiến tại VN, ra Theo thông cáo chung, về vấn đề tăng cựờng quân lực VNCH và sắp đặt lại các lực lượng Đồng Minh. Ngày 18/10/69, tại Đại Hàn, kết quả trưng cầu dân ý về đạo luật sửa đổi Hiến Pháp cho TT Phác Chánh Hy tái ứng cử nhiệm kỳ thứ ba là 7.553.655 phiếu trong 11.604.038 phiếu, tức 65,1% đồng ý.
QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 18/9/69, tại Đại hội Liên Hiệp Quốc, TT Nixon tuyên bố: sẵn sàng rút hết quân đội khỏi VN, và yêu cầu 126 quốc gia có chân trong Liên Hiệp Quốc can thiệp để BV chịu điều đình nghiêm chỉnh.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 4/9/69, Đài Phát thanh Hà Nội, và Phái đoàn BV tại Ba Lê loan tin Chủ tịch BV Hồ Chỉ Minh từ trần, sau một cơn đau tim rất nặng, thọ 79 tuổi. Ngày 6/9/69, Thông tấn xã BV loan báo: các phi công Mỹ bị bắt trên địa hạt BV không được hưởng qui chế tù binh vì họ chỉ là những kẻ phạm tội ác chiến tranh. Ngày 9/9/69, Phó Chủ tịch BV Tôn Đức Thắng, 81 tuổi, nhậm chức quyền Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Di chúc của Hồ Chí Minh do Lê Duẩn đọc: “ân hận không thể phụng sự lâu hơn nhiều hơn; nên tránh làm ma lớn và bắt dân chịu quốc tang; sẽ thắng lợi cuối cùng, và phải chịu nhiều khó khăn, phải duy trì đoàn kết lao động; buồn vì có sự chia rẽ trong khối Cộng sản”. Di chúc này do Lê Duẩn đọc sau điếu văn. Ngày 11/9/69, Kossyguine sau khi dự tang lễ Hồ Chí Minh trên đường về Nga, sang Bắc Kinh và hội đàm với Chu Ân Lai từ 4 năm qua.
Ngày 12/9/69, mặc dầu có cuộc hội đàm trên, hãng thông tấn Tân Hoa xã lại đả kích chính sách xét lại của nhà cầm quyền Nga Sô. Ngày 21/9/69, Chánh quyền BV và MTGPMN lên tiếng bác bỏ đề nghị rút quân song phương của TT Nixon. Ngày 3/10/1969, theo Phó Tổng Tham mưu Trung Cộng, từ nay MTGPMN sẽ được nhận súng tối tân do TC chế tạo thẳng từ Trung Cộng. Ngày 13/10/69, Phạm Văn Đồng, Thủ Tưởng BV, ký tại Moscou thỏa ước viện trợ kinh tế và quân sự cho BV. Ngày 17/10/69, Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch đoàn Cố Vấn MTGPMN, rời Bắc Kinh sau khi hội đàm với một số lãnh đạo Trung Cộng. Ngày 19/10/69, theo các giới hữu quyền HK, thì Nga Sô đã viện trợ cho BV: 700 triệu MK năm 1967, 300 triệu năm 1968 (quân sự) 250 triệu năm 1969 (kinh-tế). Số viện trợ của Trung Cộng chừng 200 triệu MK, một nửa về quân sự, một nửa về kinh tế.
HỘI ĐÀM PARIS MỸ-VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ. Ngày 2/9/69, tại Ba Lê, Xuân Thủy tuyên bố: hội đàm Ba Lê sẽ được khai thông nếu HK chiu rút thêm độ 100.000 quân. Ngày 3/9, Thông cáo do phái đoàn BV tại Ba Lê phổ biến: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bị đau nặng từ mấy tuần nay từ trần tại Hà Nội lúc 9 giở 47 phút, giờ Hà Nội. Ngày 4/9/69, Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình về Hà Nội chịu tang Hồ Chí Minh. Ngày 13/9/69, Phiên họp thứ 33 cuộc hội đàm Ba Lê. Tranh luận gắt gao về vấn đề tù binh Mỹ. Ngày 18/9/69, Phiên họp thứ 34 cuộc hội đàm Ba Lê. Ngày 25/9/69, Phiên họp thứ 35 cuộc hội đàm Ba Lê. Cùng ngày 2/10/69, Phiên họp thứ 36 cuộc hội đàm Ba Lê. Không có gì mới. Ngày 9/10/69, Phiên họp thứ 37 cuộc hội đàm Ba Lê, Đại sứ Phạm Đăng Lâm đề nghị thảo luận về các điều kiện ngừng bắn. Phái đoàn BV bác bỏ.
Ngày 16/10/69, Phiên họp thứ 38 cuộc hội đàm Ba Lê, BV đề nghị HK nói chuyện thẳng với Chánh phủ lâm thời của MTGPMN, HK bác bỏ chỉ nói chuyện nếu có mặt VNCH. Ngày 23/10/69, Phiên họp thứ 39 cuộc hội đàm Ba Lê. Không có gì mới. Ngày 30/10/69, Phiên họp thứ 40 cuộc hội đàm Ba Lê. Cabot Lodge đề nghị họp kín, mỗi bên chỉ có 3 cố vấn. BV bác bỏ.
CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 23/9/69, không lực HK thực hiện 268 phi xuất nhắm vào các vị trí Cộng quân tại 4 Vùng Chiến thuật. Ngày 5/10/69, trong 24 giờ qua, B52 oanh tạc 8 lần các vị trí Cộng quân tại Pleiku, Bình Long, Tây Ninh, Phước Long.
Bài 252: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN THIỆN KHIÊM TỪ THÁNG 11 ĐẾN THÁNG 12 NĂM 1969
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 5/11/69, tại Đà lat, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: một số người định tổ chức một Lực Lượng đứng giữa, đó chỉ là Liên hiệp trá hình với Cộng sản. Ngày 17/11/69, TT Nguyễn Văn Thiệu chuyển qua Hạ Viện hồ sơ về 2 Dận biểu liên lạc với VC. Ngày 20/11/69, Hồ sơ về việc 1 Dân biểu thứ ba liên lạc với VC được Hành pháp chuyển qua Hạ viện. Ngày 9/12/69, tại Trung tâm Huấn luyện Cán bộ Quốc gia Chí Linh, Vũng Tàu, TT Nguyễn Văn Thiệu lên án nhóm “đứng giữa”, và tuyên bố: nếu Quốc hội bênh Cộng sản, thì quân đội và nhân đân sẽ không đễ yên. Ngày 16/12/69, Văn phòng phủ Tổng thống loan báo, TT Nguyễn Văn Thiệu đã đồng ý với chánh phủ HK về việc rút quân đợt 3. Quân số Mỹ sau đó sẽ còn lại 434.000 người. Ngày 26/12/69, TT Nguyễn Văn Thiệu cho báo Tây Đức Der Spiegel biết: không khi nào liên hiệp với Cộng sản.
Ngày 31/12/69, theo thông điệp của TT Nguyễn Văn Thiệu ngày 8-1-70, trong năm 1969, đã có 170.105 Cộng quân tử thương, 16.411 bị bắt với 70.757 sủng đủ loại. Phía VNCH: 15.184 tử thương, 10.842 Đồng minh tử thương. Kết quả của chiến dịch Phượng Hoàng: 33.185 địch bị loại trừ.
QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Cũng ngày 5/11/69, với 63/98 phiếu thuận, Hạ Viện biểu quyết một dự luật sửa đổi sắc luật 20-61 ngày 29-12-61 về thuế kiệm ưởc, và huỷ bỏ nghị định liên bộ ngày 23-10-69 tăng thuế kiệm ước. Ngày 26/11/69, Dân biểu Trần Ngọc Châu họp báo thanh minh về chuyện bị tố là liên lạc với VC, và trách Hành pháp vu oan. Ngày 22/12/69, Chủ tịch Hạ viện cho biết: sẽ truy tố 3 hội viên Hội đồng Đô thành đã tổ chức biểu tình tràn vô Hạ Viện. Ngày 30/12/69, Hạ viện nhóm họp về vụ 3 Dân biểu bị tố là thân Cộng, Ủy ban điều tra sau 3 tuần làm việc, kết luận là 3 Dân biểu đều có tội. Ngày 31/12/69, Hạ viện nhóm họp để xét vụ 3 Dân biểu bị coi là thân Cộng. 70/101 hiện diện phiếu kết tội DB Trần Ngọc Châu liên hệ đến các hoạt động của cán bộ Cộng sản; DB Phạm Thế Trúc: 69/101 phiếu kết tội; DB Hoàng Hồ: 68/101 phiếu kết tội.
CHÍNH PHỦ TRẦN THIỆN KHIÊM VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 1/11/69, trong tháng 10 vừa qua, giá sinh hoạt tại Đô thành so với giá tháng 10-1968, tăng 25% đối với giới trung lưu, và 29,1% đối với giới lao động. Theo chỉ số 100 năm 1963, thì chỉ số hiện nay là 430 và 475 đối với 2 giới này. Ngày 14/11/69, Bộ Kinh tế và Bộ Tài chánh giảm thuế kiệm ước mới cho 13 thứ hàng: dầu hôi, xăng.v.v… Ngày 7/11/69, giữa lễ bế giảng một khóa huấn chính tại Trung Tâm Chiêu hồi Thị Nghè một hồi chánh viên ném lựu đạn vào Tổng trưởng Chiêu hồi Hồ Văn Châm, nhưng không nổ. Đây là vụ bạo động thứ 303 của người hồi chánh. Ngày 21/11, tổng số Xã có chánh quyền bầu cử: 2.006, tức 94,/1%; tổng số Ấp có chánh quyền bầu cử: 9.600, tức 89,3%. Ngày 28/11/69, Tòa án Mặt trận Biệt khu Thủ đô và Vùng III Chiến thuật xử vụ gián điệp Huỳnh Văn Trọng, nguyên phụ tá Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cùng 42 người liên lạc với tổ chức điệp báo CS.
Ngày 29/11/69, vụ án Huỳnh Văn Trọng, Toà án Mặt trận tuyên án: 4 án khổ sai chung thân; 8 án khổ sai 20 năm; 5 án khồ sai từ 5 đến 7 năm. Số bị can khác bị phạt tù ở từ 3 tháng đến 3 năm, và 11 án treo; 2 ký giả được tại ngoại hậu tra. Ngày 2/12/69, Thiết lập Ủy ban An ninh Trung ương và các Ủy ban Đô thành, Thị xã và Tỉnh, để tái thẩm và chung quyết về trường hợp các nghi can bị bắt giữ trong các cuộc hành quân. Ngày 5/12/69, Ngoại trưởng Trần Văn Lắm đã trình trước Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện, rằng Đại sứ VNCH tại Nhật bị chấm dứt nhiệm vụ và gọi về nước trong 10 ngày, sau vụ báo chí Nhật loan tin dan díu với một chiêu đãi viên Nhật. Một cố vấn tòa đại sứ cũng bị sa thải vì lang chạ với một nữ thương gia VN từ Sài Gòn qua Đông Kinh. Ngày 11/12/69, tới nay, Quỹ Tái thiết đã cho 40 xí nghiệp bị hư hại do vụ tấn công Tết Mậu Thân, vay dài hạn 980 triệu của Quỹ, và 1 tỷ 180 triệu trích trong 10 triệu Mỹ kim viện trợ Mỹ.
Ngày 13/12/69, Lệ phí xuất ngoại ấn định lại từ 50.000$ đến 100.000$ cho mỗi người, mỗi xứ xin đi, và từ 1 đến 3 tháng.Ngày 20/12/69, Hải quân VNCH hạ thủy chiếc tuần duyên đĩnh và 1 tuần giang đĩnh đầu tiên chế bằng xi măng cốt sắt. Ngày 22/12/69, Quân lực VNCH hiện nay gồm có: 1.095.000 người gồm: 374.000 Lục quân; 33.000 Không quân; 28.000 Hải quân; 11.000 TQLC; 430.000 Địa phương quân, Nghĩa quân; 215.000 cảnh sát và cán bộ võ trang. Ngày 25/12/69, quân lực VNCH hưu chiến từ 18 giờ chiều qua đến 18 giờ chiều nay. Ngày 28/12/69, theo Tổng nha Thanh niên, thì trong năm 1969, đã đoàn ngũ hoá 931.503 thanh thiếu niên trên toàn quốc, và huấn luyện quân sự học đường cho 13.000 sinh viên. Ngày 30/12/69, có 6 sinh viên du học không chịu về nước, bất chấp có lịnh gọi của Bộ Quổc phòng, bị tòa án quân sự Vùng 3 Chiến thuật kết án 6 năm tù ở và 20 năm mất quyền công dân và gia tộc. Ngày 31/12/69, giá vàng chánh thức tại Sài Gòn hôm nay: bán ra, 15.200$ một lạng..
MỸ CHUYỂN GIAO CĂN CỨ QUÂN DỤNG. Ngày 5/11/69, đến nay, quân đội HK đã chuyên giao cho quân đội VNCH: 750.000 súng cá nhân và cộng đồng, 25.000 quân xa, hơn 100 phi cơ và trực thăng, hơn 1.000 đại bác và thiết giáp, 30.000 máy vô tuyến, 250 tàu chỉến, 1 phi đoàn phi cơ, 2 tiểu đoàn pháo binh, đồ trang bị cho nhiều đơn vị .v,v. Ngày 29/11/69, Căn cứ hải quân Mỹ tại Mỹ Tho được chuyển giao cho Hải quân VNCH. Ngày 22/12/69, theo tin AP, Lục quân HK đã chuyển cho quân lực VNCH: 600 đại bác; 700.000 súng M-16; 30.000 phóng lựu đạn; 10.000 liên thanh; 10.000 súng cối; 200 chiến xa; 1.000 thiết vận xa; 20.000 máy truyền tin. Không quân Mỹ đã chuyển: 150 trực thăng, một số khu trục cơ A.37 và phi cơ AC.47. Hải quân Mỹ đã chuyển: 242 giang đĩnh.
NẠN NHÂN, TỴ NẠN, VÀ CỘNG SẢN CHÁNH HỒI. Ngày 6/11/69, tại Thừa Thiên, phát hiện thêm một hầm 300 xác nạn nhân vụ tấn công Tết Mậu Thân cách Huế 12 cây số. Ngày 9/11/69, số liệu từ Bộ Chiêu hồi 39.578 người hồi chánh trong 10 tháng qua. Ngày 22/11/69, Bộ Quốc phòng VNCH ra thông cáo cải chánh tin đồn có 567 thường dân VN do sư đoàn bộ binh số 23 Mỹ sát hại tại Quảng Ngãi, rằng ngày 19-3-1968, chỉ có 20 người bị thiệt mạng lây trong trận đánh dữ dội vào làng chiến đấu CS tại xã Sơn Mỹ, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi (sau này gọi là vụ thảm sát Mỹ Lai). Ngày 30/11/69, Bộ Ngoại giao phản kháng với Ủy Hội Quốc tế, từ đầu năm tới nay đã có 4.309 thường dân thiệt mạng, 13.474 bị thương, và 1.791 bị bắt cóc trong các vụ khủng bố phá hoại của VC.
Ngày 12/12/69, có 796.701 người tị nạn trong 803 trại định cư gồm: 386.504 tại Vùng I; 227.220 tại Vùng II; 21.712 tại Vùng III; và 161.265 tại Vùng IV. Ngày 30/12, Số hồi chánh viên được thâu dụng là 15.032, gồm: trong ngành Chiêu hồi: 6.743; trong các binh chủng: 6.657; trong các cơ quan dân sự: 1.632. Cùng ngày 31/12, trong năm 1969, đã có 47.023 ngườỉ hồi chánh trên toàn quốc gồm: 28.466 quân nhân, 12.635 cán bộ, 5.922 thuộc thành phần khác.
NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 13/11/69, Đại tướng Dương Văn Minh xác định lập trường: không thân Cộng, không đồng ý với chánh quyền hiện nay; muốn trưng cầu dân ý hoặc triệu tập Quốc dân Đại hội để hiểu biết ý đa số dân chúng; ông không thiên về khối nào nhóm nào; sẽ ra tranh cử Tổng thống 1971. Ngày 15/11/69, Luật sư Trần Ngọc Lỉễng, chủ tịch “Lực lương Quốc gia tiến bộ” phổ biến bản tuyên ngôn kêu gọi: lập chánh phủ hòa giải, chống sự hiện diện của Đồng Minh, chống thuế kiệm ước. Ngày 30/11/69, Lực Lượng Đại Đoàn kết nhóm họp Đại hội tại rạp Thống Nhất Sàí Gòn, lên án các nhóm đề nghị tổ chức Quốc dân Đại hội, Trưng cầu Dân ý, lực lượng thứ ba, giải pháp liên hiệp. Ngày 20/12/69, Chừng năm bảy trăm người trong đó 3 hội viên Hội đồng Đô thành biểu tình trước tòa Đô chánh và trụ sở Hạ Viện, đòi có biện pháp dứt khoát đối với 3 Dân biểu coi như thân Cộng. Một số xông vào Hạ Viện đập phá.
Ngày 24/12/69, trong 3 ngày qua, vẫn có những cuộc biểu tình phản đối 3 Dân biểu thân Cộng tại Phú Bổn, Ban Mê Thuột, Dalat, Phước Tuy vv... Ngày 27/12/69, một số sinh viên nhóm họp tại trường Nông Lâm súc Sài Gòn hát nhiều bài ca phản chiến. Cảnh sát bắt 15 người thuộc ban Chấp hành Tổng hội Sinh viên. Ngày 29/12/69, ba (3) Nghị viện Đô thành trong ban tổ chức biểu tình ngày 20-12 xông vào Hạ viện, không chịu ra trước Ủy Ban Điều tra của Thượng viện.
QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Cùng ngày 2/11/69, Thượng Nghị Sĩ McCarthy đề nghị: TT Nixon cần cho biết chánh sách tại VN và giải pháp chánh trị trước khi rút quân; hiện nay chỉ thấy nói đến rút quân mà không nói đến chánh sách. Ngày 3/11/69, TT Nixon đọc diễn văn đã hứa hẹn: không rút quân vội vàng khỏi VN; không ấn định trước một hạn rút quân, BV đừng tưởng lầm có thể dùng bạo lực để chiến thắng, sẽ gặp phản ứng của Mỹ, HK không thể chấp nhận một sự triệt thoái hấp tấp với hậu quả rất tai hại trên khắp thế giới. Theo phát ngôn viên tòa Bạch ốc, dự thảo diễn văn của TT Nixon đọc hôm nay, đã được thỏa hiệp của chánh phủ VNCH. Ngày 4/11/69, có 50 Dân Chủ ra quyết nghị ủng hộ chánh sách Nixon, 10 Dân biểu khác chống đổi lập trường xác định trong diễn văn của TT Nixon ngày 3-11. Ngày 9/11/69, Cựu Thống Đốc Wallace, một người chủ chiến và ủng hộ TT Nixon, qua VN xem xét tình hình.
Cùng ngày 13/11/69, Cựu Thống Đốc Wallace trước khi rời Sài Gòn, tuyên bố: nếu hòa đàm không xong, VNCH và HK sẽ phải chiến đấu mạnh hơn. Cùng ngày 14/11/69, tại Hoa Thịnh Đốn, 45.000 người phản chiến biểu tình diễn hành “chống tử thần”. Vài ngàn người kéo tới trước tòa Đại sứ VNCH, nhưng bị Cảnh sát giải tán bằng lựu đạn cay. Nhiều cuộc biểu tình cũng xảy ra trên nhiều thành phố khác. Ngày 16/11/69, Phát ngôn viên tòa Bạch Ốc báo tin: TT Nixon không thay đổi chánh sách về VN, chánh sách này được đa số nhân dân Mỹ ủng hộ. Ngày 18/11/69, Ngoại trưởng Mỹ William Rogers cho biết từ hôm 3/11, sau khi TT Nixon xác định lập trường về VN, chánh phủ Mỹ đã nhiều lần tiếp xúc mật với BV nhưng không có kết quả gì. Ngày 21/11/69, Thông cáo chung Mỹ Nhật sau cuộc hội đàm 3 ngày tại Hoa Thịnh Đốn: đảo Okinawa sẽ được trả cho Nhật vào năm 1972, các võ khí nguyên tử sẽ được chuyển đi, nhưng HK sẽ được tiếp tục dùng các căn cứ.
Cũng ngày 21/11, theo tin ngoại giao từ Hoa Thịnh Dốn, TT Nixon sẽ không cử người thay Cabot Lodge và Lawrence Walsh tại Ba Lê. Ngày 23/11/69, Cựu Thống Đốc Mỹ George Wallace thăm Lào về tuyên bố phải tận diệt BV bất cứ ở đâu, dù trên đất Lào. Quân đội Mỹ không thể rút khỏỉ VN trước khi người VN nắm vững tình thế. Ngày 24/11/69, theo tin quân sự Mỹ, Sư đoàn số 4 Bộ binh HK được điều động trở lại vùng Cao Nguyên, vì những cuộc tấn công của Cộng quân gia tăng tại Quảng Đức. Cùng ngày 24/11/69, do hai quân nhân Mỹ tố giác trên đài phát thanh Nữu Ước, Trung úy Mỹ William Calley bị điều tra về tội ra lịnh hạ sát chừng 370 người xã Sơn Mỹ, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Ngày 24/11/69, Phát ngôn viên tòa Bạch ốc cho biết: đã có 11 lần hội đàm mật với BV, và bao giờ cũng muốn hội đàm mật nếu chấm dứt được chiến tranh.
Ngày 25/11/69, Bộ Quốc Phòng Mỹ thông cáo: vịệc triệt thoái quân Mỹ khỏi VN vẫn tiếp tục, mặc dầu TT Nixon không định rõ thời hạn. Ngày 5/12/69, theo thứ trưởng Quốc phòng HK, David Packard, BV đã lại gia tăng xâm nhập miền Nam VN. Mỹ có thể rút nữa cho tới mức 150.000 quân. Ngày 7/12/69, TT Nixon họp báo và tuyên bố: không chấp nhận đề nghị về sự rút quân trong 6 tháng; vụ Mỹ Lai có thể là vụ thảm sát, song chỉ là trường hợp lẻ loi; sẽ rút thêm quân trong ngày gần; chiến tranh có thể tắt dần, dù kết quả hội đàm Ba Lê ra sao. Ngày 10/12/69, các Ủy viên chánh phủ Mỹ và luật sư của trung úy William L. Calley sang VN điều tra về vụ Mỹ Lai. Ngày 15/12/69, TT Nỉxon đọc diễn văn, từ nay tới 15-4-1970, sẽ có 50.000 quân Mỹ nữa rút khỏi VN, đưa số triệt thoái lên 115.500 người kể từ ngày ông lên cầm quyền. Ngày 18/12/69, theo viện Gallup, hiện nay 64% người lớn tán thành chánh sách Nixon về VN, 25% không tán thành 11% không có ý kiến. Ngoài ra, 50% sinh viên tán thành, 44% chống đối.
Cùng ngày 18/12/69, Thượng nghị sĩ Goldwater lại khuyến cảo TT Nixon tái oanh tạc BV và triệt hạ hải cảng Hải Phòng. Ngày 19/12/69, một vụ cháy lớn tại trụ sở MACV, Ban Mê Thuột, thiệt hại chừng 5 triệu Mỹ kim. Tối ngày 24/12/69, tốihôm qua trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn, 10 Mỹ kiều, nhân viên các cơ quan dân sự Mỹ, phát truyền đơn kêu gọi các phe lâm chiến và các cường quốc tìm cách chấm dứt chiến tranh tại VN. Ngày 29/12/69, Phó TT Mỹ Agnew tới Manille, bắt đầu cuộc thăm viếng 10 quốc gia Á châu đề giải thích về chánh sách Nixon.
QUAN HỆ VỚI ĐỒNG MINH (SEATO) CÓ QUÂN THAM CHIẾN. Cũng ngày 15/11/69, Chánh phủ Phi Luật Tân chính thức thông báo cho chánh phủ VNCH quyết định rút đoàn dân sự vụ của Phi khỏi VN.
QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 2/11/69, theo Thủ tướng Cao Mên, tướng Lọn Nol, quân VC đã tăng từ 32.000 đến 40.000 ở các tỉnh vùng biên giới Việt-Mên. Ngày 17/12/69, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc kết thúc khoá họp thử 24. Chủ tịch Angie Brooks kêu gọi chấm dứt chiến tranh tại Nigeria, Trung Đông và Việt Nam.
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 20/11N/69, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird cho biết: trong 2 tuần qua, mức xâm nhập của BV vào miền Nam VN lại lên cao. Ngày 17/12/69, theo Bộ Quốc phòng HK, có 240.000 quân BV tại miền Nam VN, và 40.000 đến 50.000 tại Lào và Mên. Ngày 23/12/69, theo Ngọại trưởng Mỹ W. Rogers, mức xâm nhập cùa BV vào VNCH đã giảm 60% so với năm ngoái. Ngày 24/12/69, VC loan báo sẽ ngừng bắn nhân dịp Giáng sinh 3 ngày đêm kể từ 1 giờ sáng 24-12.
HỘI ĐÀM PARIS MỸ-VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ. Ngày 6/11/69, Phiên họp thứ 41 cuộc hội đàm Ba Lê các bên tiếp tục chỉ trích lên án lẫn nhau. Cũng ngày 13/11/69, Phiên họp thứ 42 cuộc hội đàm Ba Lê. VNCH đề nghị thả 62 tù binh, BV không nhận. Ngày 14/11/69, tại Ba Lê, tòa Tổng lãnh sự VNCH bị một nhóm 50 sinh viên phản chỉến tới treo cờ VC và ném đá, cảnh sát Pháp giải tán. Cùng ngày 15/11/69, tại Ba Lê, Nguyễn Thị Bình tán thành đề nghị của tướng Dương Văn Minh, tồ chức Trưng cầu dân ý, sẵn sàng thương thuyết với một nội các hoà bình gồm những người chống sự hiện diện quân sự của Mỹ tại VN. Ngày 20/11/69, Trưởng và Phó trưởng phái đoàn HK tại Ba Lê, Cabot-Lodge và Lawrence Walsh đều từ chức, vì BV và MTGPMN không chịu đảp ứng và nói chuyện nghiêm chỉnh.
Cùng ngày 20/11/69, Phiên họp thứ 43 cuộc hội đàm Ba Lê, BV vẫn từ chối không nhận 62 tù binh do VNCH muốn giao trả. Ngày 25/11/69, Phiên họp thứ 44 cuộc hội đàm Ba Lê. Cabot-Lodge còn tham dự. Xuân Thủy vẫn đòi bàn việc lập chánh phủ Liên Hiệp và triệt thoái quân Mỹ không đỉều kiện, dù họp kín và riêng với HK. Ngày 7/12/69, tại Ba Lê, phát ngôn viên của VC tuyên bố: nếu HK và Đồng minh chịu rút quân không điều kiện trong vòng 6 tháng, thì phe Cộng sản sẽ bàn về các bảo đảm an ninh trong thời gian triệt thoái. Ngày 11/12/69, Phiên họp thứ 46 cuộc hội đàm Ba Lê. Các trưởng phái đoàn Xuân Thủy và Phạm Đăng Lâm không tới dự. Ngày 11/12/69, Phiên họp thứ 45 cuộc hội đàm Ba Lê. Các trưởng phái đoàn Xuân Thủy và Phạm Đăng Lâm không tới dự. Ngày 18/12/69, Phiên họp thứ 46 cuộc hội đàm Ba Lê. Theo Nguyễn Thị Bình, việc rút thêm 50.000 quân Mỹ chẳng có gì đáng kể.
Ngày 23/12/69, tại Ba Lê, phiên họp thứ 47 cuộc hội đàm Ba Lê. Xuân Thủy lên án việc tỉ phú Mỹ Perot thuê máy bay chở 150 phụ nữ, nhi đồng vợ con tù binh Mỹ tớỉ Paris biểu tình đòi tin tức thân nhân. Ngày 30/12/69, Phiên họp thứ 48 cuộc hội đàm Ba Lê. Vắng mặt Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình. Không có gì mới.
CHIẾN SỰ TẠI ĐÔ THÀNH, GIA ĐỊNH, VÀ... Ngày 12/11/69, trong 24 giờ qua, quân lực VNCH thực hiện 60 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên. 364 phi xuất của phi cơ chiến đấu HK, và 10 lần B-52 dội bom xuống các vị trí Cộng quân trên các Vùng Chiến thuật. Ngày 18/11/69, trong 24 giờ qua, quân lực VNCH thực hiện 65 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn, Không quân cũng thực hiện 93 phi xuất, Hải quân 60 hải xuất, 299 giang xuất, 159/duyên xuất.
TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT.
TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 3/11/69, Đồn Bu Prang biên giớỉ Việt-Mên cách Ban Mê Thuột 65 cây số về Tây Nam có 500 người Thượng thuộc Lực lượng Đặc biệt cùng với 50 cố vấn Mỹ. Đồn vừa chuyển giao cho quân đội VNCH ngày hôm qua, bị nhiều trung đoàn BV bao vây... Ngày 5/11/69, Công quân siết chặt vòng vây Đồn Bu Prang. Phi cơ không đáp xuống được vì bị pháo kich. 2 cỗ trọng pháo 105 trong đồn đã bị phá hủy. Ngày 8/11/69, vẫn giao tranh tại vùng Đức Lập, Quảng Đức và vùng Budop, Phước Long. Ngày 9/11/69, theo bộ Tư lịnh Quân đoàn II có 2 phi cơ Mig 21 của BV xuất hiện trên vùng Bu-Prang, Quảng Đức. Ngày 14/11/69, giao tranh dữ dội gần trại Lực lượng Đặc biệt Bu Prang. Ngày 15/11/69, Giao tranh tiếp tục tại Bu Prang có cả 30 chiến xa BV. Phóng pháo cơ B52 dội hơn 180 tấn bom xuống vùng này. Ngày 16/11/69, hơn 200 đạn trọng pháo nã từ Cao Mên sang đồn Bu Prang. Phi cơ Việt Mỹ oanh tạc các vị trí pháo binh Cộng quân trên đất Mên cách biên giới gần 1 cây số.
Ngày 17/11/69, với sự trợ lực của pháo binh và không quân, 2 tiểu đoàn VNCH hành quân gần Bu Prang và Đức Lập.Ngày 19/11/69, từ chiều qua đến sớm nay, B52 dội dom 10 lần với 900 tấn bom xuống các địa đỉểm tụ quân của Cộng quân vùng phụ cận Bu Prang, Đức Lập, Bố Đức, tỉnh Quảng Đức. Ngày 22/11/69, các vị trí VNCH tại Đức Lập và Bu Prang vẫn bị pháo kích và tấn công liên miên. Ngày 23/11/69, giao tranh tiếp tục tại Bu Prang, Quảng Đức. Ngày 1/12/69, trại Lực lượng Đặc biệt Bu Prang, Quảng Đức, vẫn bị bao vây và pháo kích dữ dội trong 48 giờ qua. Ngày 3/12/69, B52 dội bom 7 lần từ đêm qua đến sáng nay, thả hơn 1.000 tấn bom vào những khu rừng quanh trại Bu Prang, Đức Lập, Quảng Đức. Ngày 6/12/69, một trực thăng chở đại tá Tự lịnh Biệt khu 24 và đại tá Cố vấn Mỹ, 2 thiếu tá VN và 5 quân nhân VN bị bắn rớt gần Dakto cả đoàn tử thương.
TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 23/11/69, giao tranh tại Dầu Tiếng, Bình Dương.
TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT.
(Hết Chương XVIII)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét