Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

 

 Chương XVII: 18 BÀI VIẾT VỀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ: 1965 - 1967.

(95 trang, 67.899 chữ)

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

221. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Chính phủ Phạm Văn Đồng từ năm 1965 đến năm 1967.

222. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đối phó với chiến tranh trên không của Không quân và Hải quân Mỹ.

223. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Phong trào thanh niên “Ba sẵn sàng” và phụ nữ “Ba đảm đang”. 

224. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Phong trào thanh niên “Xung phong” chống Mỹ cứu nước. 

225. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Bác Hồ với “Thanh niên xung phong”.

 

CHÍNH QUYỀN HAI.

226. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1965.

227. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1965.

228. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1966.

229. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1966.

230. Nhà Nghiên cứu Lâm Vĩnh Thế viết về BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG năm 1966. 

231. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1966.

232. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1966.

233. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1967.

234. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1967.

235. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 5 đến tháng 6 năm 1967.

236. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 7 đến tháng 8 năm 1967.

237. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1967.

 

CHÍNH QUYỀN BA

238. Chính quyền Đệ Nhị Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Văn Lộc từ tháng 11 đến tháng 12 năm 1967.

 

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

BÀI 221: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1967.

Chính phủ Phạm Văn Đồng Thời kỳ 1965-1970 gọi là Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá III. THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng Chính phủ, Phạm Văn Đồng; Phó Thủ tướng, Võ Nguyên GiápPhan Kế ToạiLê Thanh Nghị, Phạm HùngNguyễn Duy Trinh Nguyễn CônĐỗ MườiHoàng AnhChủ nhiệm Văn phòng Nông  nghiệpTrần Hữu Dực, Hoàng Anh; Chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp, Lê Thanh Nghị, Lê Thanh NghịTrần Danh Tuyên Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính-Thương nghiệp, Phạm HùngNguyễn Thanh BìnhChủ nhiệm Văn phòng Nội chínhTrần Quốc HoànNguyễn Văn Tạo; Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáoLê LiêmTrần Quang Huy; Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Nguyễn KhangTrần Hữu Dực; Bộ trưởng Bộ Nội vụUng Văn Khiêm; Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, Xuân ThủyNguyễn Duy Trinh;

Bộ trưởng Bộ Quốc phòngVõ Nguyên GiápBộ trưởng Bộ Công an, Trần Quốc Hoàn;  Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp,Dương Quốc ChínhHoàng AnhNguyễn Văn Lộc; Bộ trưởng Bộ Nông trường, Nghiêm Xuân Yêm; Bộ trưởng Bộ Thủy lợiHà Kế Tấn; Bộ trưởng Công nghiệp nặng, Nguyễn Văn TrânLê Thanh NghịNguyễn Hữu Mai; Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹKha Vạng CânBộ trưởng Bộ Kiến trúcBùi Quang TạoBộ trg Bộ Giao thông vận tảiPhan Trọng TuệBộ trưởng Bộ Lao động, Nguyễn Văn TạoNguyễn Hữu KhiếuBộ trưởng Bộ Tài chínhHoàng AnhĐặng Việt Châu; Bộ trưởng Bộ Nội thương,  Nguyễn Thanh BìnhHoàng Quốc Thịnh; Bộ trưởng Bộ Ngoại thươngPhan AnhBộ trưởng Bộ Văn hóa, Hoàng Minh GiámBộ trưởng Bộ Giáo dụcNguyễn Văn HuyênBộ trưởng Bộ Y tếPhạm Ngọc ThạchNguyễn Văn Hưởng

Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Nguyễn Duy TrinhNguyễn Côn; Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nướcNguyễn Văn KhaĐặng ThíNguyễn LamChủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nướcNguyễn Duy Trinh; Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Trần Đại NghĩaChủ nhiệm Ủy ban Dân tộcLê Quảng BaTổng Thanh tra Ủy ban Thanh tra của Chính phủNguyễn Lương BằngChủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủNguyễn Thanh BìnhChủ nhiệm Ủy ban Thống nhấtNguyễn Văn VịnhChủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước, Trần Đại NghĩaTổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tạ Hoàng CơBộ trưởng Bộ Điện và ThanNguyễn Hữu MaiBộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kimĐinh Đức ThiệnBộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệpTạ Quang Bửu

Bộ trưởng Bộ Lương thực và Thực phẩm, Ngô Minh Loan; Bộ trưởng Bộ Vật tư, Trần Danh TuyênChủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nướcPhạm HùngNguyễn ThanhBộ trưởng Phó Chủ nhiệm thường trực Ủy ban Nông nghiệp Trung ươngNghiêm Xuân YêmNguyễn Văn Lộc; 46 Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương, Hoàng Anh

GIAI ĐOẠN ÁC LIỆT NHẤT CỦA CHIẾN TRANH VIỆT NAM. Đây là giai đoạn (1964-1971) ác liệt nhất của Chiến tranh Việt Nam. Sự kiện Vịnh Bắc Bộ vào ngày 4 tháng 8 năm 1964 tạo ra lý do khiến Quốc hội Mỹ ủy nhiệm cho chính phủ Mỹ tiến hành mọi hoạt động chiến tranh nếu thấy cần thiết mà không cần có sự phê chuẩn của Quốc hội. Ngay sau đó, Mỹ bắt đầu các cuộc ném bom trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Để thực hiện các cuộc ném bom, Mỹ phải đưa máy bay và lính không quân vào các sân bay tại miền Nam, lập căn cứ tại đó. Rồi để bảo vệ các căn cứ ở sân bay, Mỹ cần gửi thêm Thuỷ quân lục chiến vào. Sau đó, lại xuất hiện vấn đề phải phòng thủ từ xa. Và, cuối cùng, là phải tìm-diệt đối phương sâu trong các căn cứ của họ. Thế là quân Mỹ tăng nhanh, các nước Đồng minh của Mỹ như Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi, Thái Lan, nhất là Đại Hàn và Úc Đại Lợi cũng dồn dập đưa quân vào Nam Việt Nam. 

KÝ HIỆP ƯỚC VỚI TRUNG QUỐC. Trong cuộc họp ngày 5 tháng 10 năm 1964, Mao Trạch Đông nói với Phạm Văn Đồng: "Theo đồng chí Lê Duẩn, các đồng chí có kế hoạch gửi một sư đoàn vào Nam. Có lẽ các đồng chí chưa cần gửi sư đoàn đó đi ngay. Khi làm việc này, chọn đúng ngày giờ rất là quan trọng." Cuối năm 1964, Chủ tịch Mao Trạch Đông của Trung Quốc ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc xâm nhập miền Nam Việt Nam giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nâng các lực lượng tấn công lên cấp sư đoàn. Tháng 4 năm 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký hiệp định với Trung Quốc, theo đó, Trung Quốc đưa một lực lượng quân đội vào miền Bắc Việt Nam. 

Tổng số quân Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng 6-1965 đến tháng 3-1973 là gần 320.000 người trong đó có khoảng 1.000 binh sĩ tử trận. Tại thời điểm đông nhất có khoảng 130.000 người, bao gồm các đơn vị tên lữa đất đối không, pháo phòng không và các đơn vị công binh làm đường, dò mìn và vận tải. Tham chiến tại thời điểm nầy, còn có các Đội quân của Liên Xô như Đội tên lửa, Đội đặc nhiệm GRU, Đội Tình báo quân sự... Các Đội tên lửa vừa huấn luyện cách sử dụng tên lửa phòng không, vừa cùng với quân đội Việt Nam tham gia bắn máy bay Mỹ. Các đội đặc nhiệm GRU Tình báo quân sự vừa huấn luyện, vừa cùng với lực lượng nầy thực hiện các vụ đột kích vào căn cứ quân sự của đối phương.

CUỘC SỐNG XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN MIỀN BẮC. Trong thời gian nầy, cuộc sống của người dân miền Bắc ngày càng khó khăn và căng thẳng, ngay cả bộ đội cũng bị thiếu ăn. Ở thành thị, dân chúng tản cư về nông thôn để tránh bom, nhu yếu phẩm cho thị dân được bán theo chế độ tem phiếu rất nghiêm ngặt. Nông thôn vắng bóng nam thanh niên. Nữ thanh niên vừa lao động sản xuất vừa được điều động tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ bảo vệ trật tự và tham gia huấn luyện quân sự, bắn máy bay. Chính phủ huy động hàng vạn nữ thanh niên đi Thanh niên xung phong vào tuyến lửa tại các tỉnh bị đánh phá nặng nề nhất như Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, và vào tuyến đường Trường Sơn sang Lào để làm nhiệm vụ hậu cần, làm đường và đảm bảo giao thông. Tỷ lệ thương vong khá lớn vì bom đạn và bệnh tật.

Về xã hội, chính quyền địa phương cố gắng tạo điều kiện cho thanh niên lập gia đình trước khi nhập ngũ. Nhà nước tìm mọi cách nâng cao tinh thần của dân chúng cho kháng chiến. Tất cả mọi người đều tham gia các tổ chức quần chúng của đảng Lao động Việt Nam. Các tổ chức quần chúng nầy có vai trò nhất định trong việc giữ vững tinh thần, niềm tin trong dân chúng và thi hành các đường lối chính sách của Đảng trong dân. Những tin tức ác liệt của chiến trường, số thương vong nặng nề ở miền Nam và chết bom ở miền Bắc không được công bố hoặc với số lượng giảm đi rất nhiều, chủ yếu trên thông tin báo đài là các tin chiến thắng lẫy lừng. Nhiều bài hát được các nhạc sĩ sáng tác ca ngợi mục tiêu giải phóng miền Nam, ca ngợi người lính, cổ vũ thanh niên nhập ngũ.

Nhân dân miền Bắc được phổ biến đời sống kinh tế tại miền Nam rất bấp bênh, nhân dân miền Nam nhất là ở vùng nông thôn bị khốn khổ bởi những cuộc bắn phá, càn quét, rải chất độc hóa học phá hoại mùa màng và chính sách lược "thực tế là trại tập trung" của Mỹ Ngụy. Xã hội miền Bắc xuất hiện nhiều tấm gương về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Các nguồn lực được huy động tối đa và có hiệu quả để phục vụ mục tiêu giải phóng miền Nam. Một nhà báo Pháp nhận xét: "Mọi lối sống cá nhân đều biến mất để cố gắng cùng xây dựng một tập thể tuyệt vời, điều hành bởi một bộ máy thống nhất và quy củ"./.

 

BÀI 222: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ ĐỐI PHÓ VỚI CHIẾN TRANH TRÊN KHÔNG CỦA KHÔNG QUÂN VÀ HẢI QUÂN MỸ.

KHÔNG LỰC MỸ NÉM BOM MIỀN BẮC. Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phải đối phó với chiến tranh trên không rất ác liệt của Không quân và Hải quân Mỹ. Đầu tiên là chiến dịch Mũi Tên Xuyên (Pierce Arrow) ngày 5 tháng 8 năm 1964, hành động trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ do máy bay của Hải quân Mỹ thực hiện, đánh phá các căn cứ hải quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Lạch Trường, Hòn Gai. Tiếp đến là chiến dịch Sấm Rền đầu năm 1965 đánh phá các tỉnh từ Thanh Hoá trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt Nam. Chiến tranh không quân nhắm vào hệ thống đường sá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự. Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị đánh. Bị đánh phá nặng nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tỉnh, Quảng Bình là cuống họng tiếp tế vào Nam và tại khu vực Linh giáp sông Bến Hải Vĩnh Linh - nơi dân chúng phải sống trong địa đạo. 

Lực lượng phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể đua tranh với Không quân và Hải quân Mỹ nên dồn sức bảo vệ các mục tiêu rất quan trọng như Hà Nội, Hải Phòng, các thành phố lớn, các điểm giao thông quan trọng và các nơi máy bay địch hay qua lại nhiều. Những nơi còn lại được phân cho các lực lượng dân quân tự vệ trang bị pháo và súng máy phòng không đảm trách. Đến năm 1965, lực lượng phòng không tại miền Bắc có một số trang bị khá hiện đại do Liên Xô cung cấp, gồm nhiều trung đoàn pháo phòng không các tầm cỡ (có loại điều khiển bằng   radar), hệ thống radar cảnh giới và dẫn đường cho không quân, hệ thống tên lửa phòng không và không quân tiêm kích. Các lực lượng phòng không không quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu khá sáng tạo, vô hiệu hóa được các ưu thế công nghệ của đối phương, chống trả quyết liệt và gây thiệt hại đáng kể cho Không quân và Hải quân Mỹ.

TÌNH CẢNH CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM. Ngay sau khi quân đội Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, tình hình chiến sự thay đổi có lợi cho phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Quân Giải phóng miền Nam bị đẩy lui vào thế phòng thủ, bị không quân và kỵ binh bay của Mỹ truy tìm ráo riết. Các đơn vị lớn phải rời bỏ vùng đồng bằng trống trải để lui về miền nông thôn hoặc núi rừng. Ở đồng bằng, họ chỉ để lại các đơn vị nhỏ và phát động chiến tranh nhân dân đánh du kích. Ngày 18 tháng 8 năm 1965 có trận đánh quy mô đầu tiên giữa quân đi Mỹ và Trung đoàn chính quy Ba Gia, tại thôn Vạn Tường, tỉnh Quảng Ngãi. Trận đánh kết thúc đêm 18 rạng ngày 19/8/1965 khi Trung đoàn Ba Gia đã rút được ra khỏi vòng vây, với thương vong lớn, Đại đội trinh sát bị tổn thất hầu hết quân số.

Tháng 11 năm 1965 đã xảy ra một trận ác liệt khác tại vùng thung lũng sông Ia Drang gần biên giới Campuchia thuộc tỉnh Kontum. Hai trung đoàn chính quy Quân Giải phóng miền Nam và một lữ đoàn thuộc Sư đoàn I Kỵ binh bay của Mỹ đã dàn quân đánh nhau để thử sức. Thực chất đây là hai trận đánh liên tiếp, trận Xray và trận Albany diễn ra trong bốn ngày đêm. Hai bên đều bị thương vong lớn và tuy cùng tuyên bố thắng lợi, đều biết được thực lực đối phương là đáng gờm. Sau trận này, quân Giải phóng đã tìm ra cách hạn chế ưu thế quân sự áp đảo của Mỹ, Phía Mỹ có ưu thế là hỏa lực cực mạnh và trang bị rất nhiều vũ khí hiện đại. Đặc biệt, quân Mỹ có yểm trợ không quân rất mạnh mà vũ khí khủng khiếp nhất của họ là máy bay B52, bom Napalm, và trực thăng vũ trang. 

CÁCH ĐÁNH MỚI “NẮM THẮC LƯNG ĐỊCH MÀ ĐÁNH”. Quân Giải phóng miền Nam bỏ tham vọng đánh tiêu diệt các đơn vị Mỹ cấp trung đoàn, họ tránh đánh những trận dàn quân đối đầu trực tiếp mà chỉ áp dụng chiến thuật đánh tập kích. Quân của họ luôn bám sát những toán quân Mỹ nhưng không giao chiến, chỉ khi đối phương dựng trại hoặc sơ hở thì họ tập kích hoặc phục kích, đánh xong thì nhanh chóng rời chiến trường trước khi pháo binh và máy bay địch kịp đáp trả. Một khi xung phong thì luôn áp sát đánh gần, dùng lối cận chiến "Nắm thắt lưng địch mà đánh" để không cho đối phương sử dụng pháo binh và không quân. Dù rất hiện đại nhưng quân đội Mỹ không quen chiến đấu trong địa hình rừng núi quen thuộc của đối phương và vũ khí của họ cũng không phát huy hết tác dụng khi bị đối phương dùng lối đánh áp sát cận chiến.

Quân Mỹ và đồng minh mở các "chiến dịch tìm diệt" để truy lùng và tiêu diệt các đơn vị quân Giải phóng, nhưng chẳng thấy đối phương đâu trong khi bất cứ lúc nào họ cũng có thể bị tấn công. Các chiến dịch tìm diệt thường gây thương vong cho dân thường vì nhầm lẫn người dân là quân Giải phóng, thậm chí gây ra các vụ thảm sát thường dân tại các khu vực quân Giải phóng thường hoạt động hoặc do người dân ở khu vực đó che giấu và cung cấp nhân lực, vật lực, tài chính cho quân Giải phóng.

ÁM SÁT VIÊN CHỨC HÀNH CHÁNH, SĨ QUAN QUÂN ĐỘI MỸ-NGUỴ. Lực lượng du kích quân Giải phóng cũng mở rộng tầm tấn công, không những với mục tiêu quân sự mà còn tấn công vào cơ cấu tổ chức hành chính địa phương của Việt Nam Cộng hòa bằng việc thuyết phục, đe dọa, đôi khi là ám sát những viên chức hành chính, sĩ quan quân đội và chỉ điểm viên chuyên lùng bắt du kích. Chủ trương này ngoài hiệu quả triệt hạ nguồn nhân sự điều hành chính quyền địa phương mà còn tác động đến tâm lý đại chúng ở Miền Nam. Ngoài ra họ còn sử dụng lực lượng biệt động hoạt động tại các thành phố lớn chuyên ném lựu đạn vào quân Mỹ tại nơi công cộng, ám sát các chính trị gia của Việt Nam Cộng hòa và tấn công gây thương vong các sĩ quan, quan chức Mỹ và Việt Nam Cộng hòa để tạo tiếng vang. 

 

BÀI 223: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ, VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN BA SẢN SÀNG, PHỤ NỮ BA ĐẢM ĐANG.

PHONG TRÀO THANH NIÊN BA SẴN SÀNG. Đêm 7/8/1964, tại phòng họp của cơ quan Thành đoàn Hà Nội - Số 43 Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội (nay là trụ sở Thành ủy Hà Nội), Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội đã họp bất thường và quyết định phát động Phong trào “Ba sẵn sàng” với các nội dung: Sẵn sàng chiến đấu; sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang; sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội, hàng vạn thanh niên Thủ đô đã xuống đường diễu hành trên phố Hai Bà Trưng, vòng quanh Hồ Hoàn Kiếm và tụ họp tại Quảng trường Nhà hát Lớn lên án hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ, ghi tên tình nguyện “Ba sẵn sàng” và xung phong ra trận. 

Đêm 09/8/1964 đã đi vào lịch sử phong trào thanh niên Thủ đô như một dấu son tự hào của tuổi trẻ; hàng ngàn thanh niên Hà Nội đã xung phong ra trận; nhiều khẩu hiệu xuất hiện trên đường phố: “Đâu có giặc là ta cứ đi”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Cả Hà Nội như rực lửa, tòng quân, đi TNXP trở thành nguyện vọng thiết tha của tuổi trẻ Thủ đô và trên mọi miền đất nước lúc bấy giờ. Đó là những ngày mà thanh niên Hà Nội không ai muốn ngủ, không ai muốn đứng ngoài, ai cũng thiết tha muốn được góp sức mình cho đất nước. Những chàng trai, cô gái của Thủ đô dường như chỉ nghĩ duy nhất một việc: Xung phong ra trận, đánh đuổi giặc Mỹ, tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

CHIA LỮA VỚI MIỀN NAM RUỘT THỊT. Hình ảnh hàng ngàn chàng trai, cô gái Hà Nội hào hoa, duyên dáng giữa phơi phới tuổi xuân nửa đêm lên đường xuất quân tại Quảng trường Ngân hàng Trung ương, Quảng trường Nhà hát Lớn rực ánh lửa, âm vang tiếng cồng chiêng; tiếng những thanh niên dõng dạc đọc lời thề “Ba sẵn sàng” trong buổi tiễn đưa những chàng trai, cô gái Hà thành vào Nam chiến đấu, “chia lửa với miền Nam ruột thịt”, tiễn đưa các đội TNXP chống Mỹ cứu nước... là dấu ấn không thể xóa nhòa của tuổi trẻ Hà Nội trong một giai đoạn lịch sử rất đỗi vẻ vang, oanh liệt. Từ đất thiêng Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, phong trào “Ba sẵn sàng” đã nhanh chóng lan rộng ra cả nước và trở thành cao trào cách mạng của tuổi trẻ. 

Thậm chí, phong trào nhanh chóng vượt qua khỏi biên giới, nhiều thanh niên Việt Nam du học ở nước ngoài đã viết đơn xin về nước chiến đấu nếu Tổ quốc cần. Hàng trăm người chấp nhận tạm dừng việc học, kể cả ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh, nóng lòng mong được ra trận cầm súng chiến đấu. Đó là khao khát, là lý tưởng, là lẽ sống và danh dự của lớp thanh niên “Ba sẵn sàng”. Từ thực tế đó, tháng 3/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã chính thức kêu gọi thanh niên cả nước hưởng ứng phong trào “Ba sẵn sàng”, với những nội dung được bổ sung và nâng cao. Lúc này, nhiệm vụ trung tâm của cả nước là tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ, vì vậy “Ba sẵn sàng” gồm cả chiến đấu, sản xuất, học tập, xây dựng cuộc sống.

GẦN 1,5 TRIỆU NGƯỜI CON ƯU TÚ ĐÃ NHÃ XUỐNG. Khi Trung ương Đoàn phát động phong trào “Ba sẵn sàng” trên toàn quốc thì phong trào như triều dâng thác đổ; hơn 26.000 đoàn viên thanh niên Thủ đô và hàng triệu thanh niên miền Bắc nhập ngũ. Phong trào đã khơi dậy và cổ vũ lớp lớp thanh niên miền Bắc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, gợi mở phong trào “Phụ nữ ba đảm đang” và phong trào “Năm xung phong” của tuổi trẻ miền Nam. Kể từ đó, “Ba sẵn sàng” đã trở thành một trong những phong trào hành động cách mạng lớn nhất của tuổi trẻ Thủ đô và tuổi trẻ Việt Nam trong thế kỷ XX, tạo nên một đội quân tình nguyện đông đảo nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Hơn 5 triệu lượt đoàn viên thanh niên tham gia, trong đó gần 1,5 triệu người con ưu tú đã ngã xuống, hiện đang yên nghỉ tại 265 nghĩa trang dọc chiều dài đất nước; hàng vạn thanh niên đã để lại một phần xương máu của mình nơi chiến trường khốc liệt. Chính lớp thanh niên “Ba sẵn sàng” ra đi ngày ấy đã sát cánh chiến đấu quên mình cùng với lớp thanh niên “Năm xung phong” từ các vùng nông thôn, thành thị đã góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là dấu son trong lịch sử chiến đấu vẻ vang của thanh niên Hà Nội và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với những đóng góp to lớn, những hy sinh cống hiến của một thế hệ thanh niên “Ba sẵn sàng” cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ Tổ quốc. (Trích Ba sẵn sàng – Bản hùng ca bất diệt. Trang Thông tin Điện tử, Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố Hà Nội, 16:15 07/08/2019)   

PHONG TRÀO PHỤ NỮ BA ĐẢM ĐANG. Trước bối cảnh lịch sử đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động Phong trào "Ba đảm nhiệm" trong phụ nữ miền bắc. Ngày 23-3-1965, chỉ thị số 3 của Hội nêu rõ ba nội dung của Phong trào là: (1) Đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho nam giới đi chiến đấu. (2) Đảm nhiệm gia đình khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu. (3) Đảm nhiệm phục vụ chiến đấu khi cần thiết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa tên "Ba đảm nhiệm" mà Hội Phụ nữ dự kiến, thành "Ba đảm đang". Với cái tên độc đáo đó, phong trào càng có thêm sức mạnh cuốn hút phụ nữ tham gia. Chỉ sau hơn một tháng phát động đã có 1.750.000 phụ nữ đạt "Ba đảm đang" xuất sắc. 

Phong trào phụ nữ "Ba đảm đang" kết hợp chặt chẽ với cuộc vận động thanh niên "Ba sẵn sàng", vững vàng đi lên thành cao trào cách mạng sôi nổi, liên tục, phát huy hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Phụ nữ nông dân "Ba đảm đang" dũng cảm tiễn đưa chồng con đi chiến đấu, đồng thời phấn đấu sản xuất giỏi, ổn định kinh tế gia đình, nuôi dạy con ngoan, học hành tiến bộ; chăm sóc chu đáo cha mẹ già yếu; đoàn kết gắn bó với tập thể, xóm làng. Bảo đảm sự ổn định, vững vàng của hậu phương lớn miền bắc, hỗ trợ đắc lực miền nam tiền tuyến lớn. Khẩu hiệu "Gạo không thiếu một cân, quân không thiếu một người vì miền nam ruột thịt"là lời hứa danh dự thiêng liêng của phụ nữ "Ba đảm đang” miền bắc. 

TRÊN MẶT TRẬN NÔNG NGHIỆP. Ở mặt trận sản xuất nông nghiệp, hơn 70% số phụ nữ nông dân "Ba đảm đang"khí thế "tay cày, tay súng",vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu. Chị em đào hầm trú ẩn bên bờ ruộng, lũy tre, ngụy trang, nghi trang dũng cảm làm ruộng dưới bom đạn địch. Ðịch đến thì bắn hạ máy bay Mỹ, bắt giặc lái; địch đi lại tiếp tục bám đồng ruộng sản xuất. Chị em ra sức học tập ứng dụng các biện pháp khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cải tiến công cụ, hăng hái thay thế nam giới làm tốt  việc cày, bừa, thu hái; bảo đảm công tác thủy lợi, xây dựng đồng ruộng, hoàn thành xuất sắc ba mục tiêu phát triển nông nghiệp toàn diện; thâm canh tăng năng suất đạt 5 tấn thóc/ha. 

Trên mặt trận sản xuất công nghiệp, để thay thế nam giới đi chiến đấu, phụ nữ phấn đấu "Giỏi một nghề, biết nhiều việc" 70% số nữ công nhân dệt vừa đứng máy vừa kiêm bảo dưỡng, sửa chữa máyChị em ra sức thi đua tăng năng suất, chất lượng cao, hạ giá thành sản phẩm "luyện tay nghề thi thợ giỏi". Mỗi nhà máy là một "pháo đài", công nhân giữ vững "tay búa, tay súng"vừa kiên trì sản xuất dưới mưa bom, bão đạn, vừa dũng cảm bắn hạ máy bay địch khi chúng đến đánh phá. Nhà máy Dệt 8-3, Dệt kim Ðông Xuân, Thuốc lá Thăng Long... mặc dù bị địch đánh phá ác liệt, công nhân vẫn duy trì sản xuất, hoàn thành vượt mức kế hoạch. Nữ công nhân ngành may thi đua tiết kiệm, tận dụng dư phế liệu tạo thêm nhiều mặt hàng tiêu dùng, tăng thu nhập.

TRÊN MẶT TRẬN GIAO THÔNG VẬN TẢI. Ở mặt trận giao thông vận tải, địch đánh phá cực kỳ ác liệt, hòng cắt đứt những tuyến đường chiến lược huyết mạch của cuộc chiến đấu. Nhưng lực lượng bảo đảm giao thông với hàng triệu nữ thanh niên xung phong; hàng vạn nữ công nhân lao động "Ba đảm đang" đã thật sự là những chiến sĩ kiên cường, dũng cảm trước bom đạn địch với ý chí sắt đá. "Sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm". Trong lửa đạn, chị em vẫn liên tục đắp đường, sửa cầu, bám trụ vững chắc các tuyến trọng điểm, nối liền mạch máu giao thông để chuyển quân, đưa hàng ra tiền tuyến... Trong gian khổ, các đơn vị nữ công nhân bảo đảm giao thông (đội 9, đội 600, đội 104) lập thành tích xuất sắc, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng. 

Tiêu biểu là tiểu đội nữ Anh hùng 10 cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông tại Ngã ba Ðồng Lộc (Hà Tĩnh). Gần 200 ngày đêm trụ bám tuyến lửa, chị em vẫn không rời vị trí chiến đấu. Bình tĩnh theo dõi hoạt động của máy bay địch, đếm từng quả bom rơi, cắm cờ báo hiệu bom nổ chậm, xông pha sửa đường... để xe ta đi qua antoàn. 10 cô gái kiên trung, bất khuất đó đã hy sinh vô cùng oanh liệt trong khi làm nhiệm vụ. Trưa ngày 24 tháng 7 năm 1968, như mọi ngày 10 cô ra làm nhiệm vụ. Vào 16h30', trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống Đồng Lộc. Một trong số những quả bom đã rơi xuống ngay sát miệng hầm nơi các cô đang tránh bom. Tất cả đã qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ, phần lớn trong số họ chưa lấy chồng. (Trích Phong trào phụ nữ Ba đảm đang- một mốc son lịch sử chói lọi. Chủ Nhật, 27-02-2005, 03:24 LÊ CHÂN PHƯƠNG Nguyên Phó Bí thư Ðảng đoàn, Ủy viên thường trực Hội LHPN Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động).

 

BÀI 224: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN XUNG PHONG CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC.

ĐỘI QUÂN XE ĐẠP PHƯỢNG HOÀNG. Tháng 3 năm 1965, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Lao động Việt Nam phát động trong đoàn viên, thanh niên Phong trào tình nguyện gia nhập Đội TNXP chống Mỹ cứu nước. Tháng 5/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa III họp Hội nghị lần thứ 9 ra Nghị quyết về “Tổ chức các Đội TNXP chống Mỹ cứu nước, phục vụ sản xuất và chiến đấu”. Ngày 21/5/1965, Bộ Lao động ra Công văn số 659- LĐ phân bổ chỉ tiêu tuyển TNXP ở 12 tỉnh, thành phố. Ngày 25 tháng 5 năm 1965, “Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước” đầu tiên được thành lập tại tỉnh Thanh Hóa, Đội gồm 9 đại đội với 1.200 cán bộ, đội viên. Lãnh đạo Đội là: Đội trưởng Nguyễn Thuần, Đội phó kiêm Bí thư Đảng uỷ Dương Phước Tú, Đội phó kiêm Bí thư Đoàn Lê Văn Sông và Đội phó Nguyễn Đức Hợp. 

Lúc 10 giờ tối ngày 25/5/1965, Đội làm lễ xuất quân tại sân kho làng Vệ Yên, xã Quảng Thắng; đến dự có đồng chí Võ Nguyên Lượng, Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Nguyễn Văn Đệ, Bí thư Trung ương Đoàn, các đồng chí chỉ huy Tỉnh đội, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Đoàn… Mỗi cán bộ, đội viên TNXP được cấp một xe Phượng Hoàng mới và tư trang cần thiết như chăn, màn, ni lông, dày dép, mũ…. “Đội quân xe đạp Phượng Hoàng” bắt đầu cuộc hành quân “Thần tốc” bí mật, thầm lặng, đêm đi, ngày nghỉ, sau 13 ngày đêm ròng rã vào đến căn cứ “R” trình diện Ban chỉ huy tư lệnh Đoàn 559 Trường Sơn do Thượng tướng Nguyễn Văn Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ huy nhận nhiệm vụ. 

Ngày 19/6/1965 Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước Bắc Hà và Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước Nam Hà cũng được thành lập tại tỉnh Hà Tĩnh với 2.400 cán bộ đội viên. Ngày 21/6/1965, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 71/TTg-CN tổ chức các “Đội Thanh niên Xung phong phục vụ công tác giao thông vận tải, thì Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước được Trung ương Đoàn đổi tên thành Đội TNXP 21, phiên hiệu là N21. Ngay khi vào đến chiến trường, Đội TNXP 21 được Ban chỉ huy Tư lệnh Đoàn 559 giao nhiệm vụ tổ chức vận chuyển hàng hóa bằng xe đạp thồ; đóng thuyền vận tải hàng hóa trên sông; và tham gia mở đường trên Công trường 128 ở Nam Lào, đông và tây Trường Sơn. 

CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ CHO THANH NIÊN XUNG PHONGNgày 30/6/1965, Bộ Lao động ban hành Thông tư số 07-LĐ và 10 văn bản khác hướng dẫn cụ thể về chế độ đối với TNXP chống Mỹ cứu nước, trong đó quy định: Hàng tháng mỗi cán bộ đội viên được cấp tiền ăn từ 21 – 23 – 25 đồng (tùy theo khu vực phụ cấp đắt đỏ do Nhà nước quy định), 21 kg gạo, 0,35 đến 0,5 kg đường và 5 đồng tiêu vặt; Một năm mỗi cán bộ đội viên được cung cấp 02 bộ quần áo dài, 02 bộ đồ lót, 02 đôi bít tất, 02 khăn mặt, 02 đôi giầy vải, 01 đôi dép; Ba năm mỗi cán bộ đội viên được cung cấp 01 chăn bông hoặc 02 chăn sợi, 01 áo trấn thủ, 01 ba lô, 01 mũ, 01 thắt lưng, 01 bi đông đựng nước uống, 1,5 m vải áo mưa; ở vùng rét được cấp thêm 01 mũ, 01 khăn quàng, phụ nữ được cấp tiền vệ sinh phí. 

Chỗ ở, các phương tiện sinh hoạt tập thể, cơ quan sử dụng TNXP cung cấp theo tiêu chuẩn hiện hành. Cụ thể, nhà ở, nếu không có điều kiện ở nhà dân thì làm lán trại, trang bị bếp ăn tập thể, dụng cụ sinh hoạt cá nhân cho người ốm và khách đến công tác; Tổ chức trạm xá, phương tiện sinh hoạt, học tập: dụng cụ y tế, đồ dùng dạy và học tập, dụng cụ cắt tóc. Ngày 11/8/1965, Bộ Nội thương ban hành Chỉ thị số 552-NT hướng dẫn việc cung cấp định lượng đối với TNXP chống Mỹ cứu nước. Hàng tháng TNXP được hưởng: 0,6 kg thịt, 0,2 kg dầu mỡ, 0,6 kg muối, 0,008 kg mì chính, 0,8l nước chấm, 0,5 kg đậu phụ, 10kg rau quả, 0,5kg cá khô, 0,3kg mắm tôm, 0,1kg vừng lạc. 

Các Đội TNXP chống Mỹ cứu nước nhanh chóng đáp ứng nhiệm vụ đặt ra, thành lập được 41 Đội TNXP gồm 337 đại đội với tổng số 52.000 cán bộ, đội viên. Đội, và Đại đội TNXP được bàn giao cho các ngành theo yêu cầu công tác: Tổng cục đường sắt: 5.000 người; Cục Công trình I và Cục Công trình II: 23.000; Ty Giao thông vận tải Quảng Bình: 3.500 (đảm bảo giao thông đường 12A, đường 12B); Ty giao thông vận tải Hà Tĩnh: 1.200 (đảm bảo giao thông đường 1A, đường 21); Ty Giao thông Thanh Hóa và Ty Giao thông vận tải Nghệ An: 10.300 (đảm bảo giao thông đường 1A, đường 15, đường 7); Đoàn 559 và sân bay Yên Bái thuộc Bộ Quốc phòng: 7.000. 

CÁC NHIỆM KỲ HUY ĐỘNG, TUYỂN QUÂN. Tổng kết nhiệm kỳ I (6/1965 – 12/1967) đã thực hiện 25 lần tuyển quân, huy động 73.851 cán bộ, đội viên TNXP (nữ chiếm tỷ lệ 44%) ở 20 tỉnh, thành phố. Giữa năm 1968, số TNXP tuyển năm 1965 đã đáo hạn nhiệm kỳ, để có đủ lực lượng đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, ngoài một số đơn vị được gia hạn thêm thời gian và số lượng TNXP nhiệm kỳ I chưa hết hạn. Tháng 3/1968 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định giao cho Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam tuyển TNXP nhiệm kỳ II (1968 - 1971) bổ sung cho Đoàn 559, Tổng cục đường sắt, các đơn vị của Bộ Giao thông vận tải và Ty Giao thông vận tải các địa phương. Trong nhiệm kỳ II đã tổ chức 15 lần tuyển, với số lượng 27.770 cán bộ, đội viên, (nữ chiếm 64%) ở 15 tỉnh, thành phố.

Toàn bộ lực lượng TNXP nhiệm kỳ II tập trung tham gia chiến dịch vận tải VT5 (Chiến dịch vận tải tranh thủ thời gian ngừng bắn), khẩn trương lao động không kể ngày đêm, tranh thủ hoàn thành mọi công việc: xây dựng, sửa chữa và nâng cấp đường, cầu để tăng chuyến, tăng trọng tải, tăng tốc độ vận chuyển của tàu, xe trên các tuyến giao thông chiến lược từ Bắc vào Nam, như: tuyến đường sắt Bắc – Nam, quốc lộ 1A, các tuyến đường 15A, 15B, 15C, 21, 7, 8, 12A, 20, 10, 22A, 22B, 16, 18... Đến đầu năm 1972, số lượng TNXP còn khoảng trên dưới 13.000, không đủ lực lượng đáp ứng trước yêu cầu khả năng Mỹ có thể trở lại tiếp tục đánh phá miền Bắc.

Chính phủ quyết định giao cho Trung ương Đoàn tuyển TNXP nhiệm kỳ III 1972 - 1975) để tăng cường lực lượng TNXP cho quân đội và ngành giao thông vận tải để chủ động đối phó với tình hình mới. Trong nhiệm kỳ III tổ chức 35 lần tuyển quân với số lượng 43.370 cán bộ, đội viên (nữ chiếm tỷ lệ 52,9%) ở 18 tỉnh, thành phố. Tổng cộng 3 nhiệm kỳ đã có 144.991 cán bộ đội viên TNXP tình nguyện gia nhập 170 Đội và 60 đại đội độc lập TNXP chống Mỹ cứu nước tập trung. (Trích Thanh niên Xung phong Những mốc son lịch sử TNXP Việt Nam”, Thứ 4, 8/11/2017).

THANH NIÊN XUNG PHONG Ở MIỀN NAM. Tại miền Nam, ngày 20/4/1965, đơn vị Thanh niên Xung phong đầu tiên được thành lập, phát triển thành Tổng đội TNXP để phục vụ các Sư đoàn bộ đội chủ lực và làm nhiệm vụ hậu cần cho quân giải phóng ở miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1971, tổng số nam nữ TNXP đã lên tới 45.000 phục vụ ở các chiến trường. TNXP đã lập nhiều chiến công: mở được 102 con đường chiến lược với tổng chiều dài 4.130 km; Vận chuyển 10 vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực cho chiến trường; Trực chiến, chốt giữ, bảo đảm 3.000 trọng điểm giao thông quan trọng thường xuyên bị địch đánh phá ác liệt; San lấp trên 100.000 hố bom; đào 1135 km hầm hào, xây dựng 8 bệnh viện dã chiến và 272 kho tàng; 

Phá, gỡ thu gom trên 100.000 quả bom các loại; Bắn rơi 15 máy bay Mỹ; bắt sống 13 phi công và gần 1.000 tên địch (trong đó có 286 lính Mỹ); Phá hủy 20 xe tăng và xe bọc thép, phục vụ bộ đội 1000 trận đánh; Trực tiếp chiến đấu 40 trận. Đã có 16.000 người bổ sung sang quân đội; 15.000 người được kết nạp vào Đảng; 52 người là Dũng sĩ diệt Mỹ; 1.432 người là Dũng sĩ Quyết Thắng; Nhưng cũng đã có 6.051 TNXP hy sinh; 42.455 TNXP bị thương, 18.000 TNXP và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam. (Trích Thanh niên Xung phong: 70 năm nhìn lại. Thứ Hai, 13/7/2020 10:3'(GMT+7) TS. NGUYỄN CAO VÃNG, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam).

 

BÀI 225: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ, VÀ BÁC HỒ VỚI THANH NIÊN XUNG PHONG (TNXP).

TỔ CHỨC LỮA TRẠI ĐÓN BÁC HỒ ĐẾN THĂM. Hoàn cảnh ra đời Bài thơ: "Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên". Câu chuyện diễn ra trong một đêm lửa trại ở rừng Nà Tu (Bắc Cạn) vào tháng 3/1951, khi Bác Hồ đến thăm Liên phân đội thanh niên xung phong 321. Theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch ngày 15/7/1950, Đội thanh niên xung phong đầu tiên thành lập để phục vụ chiến dịch biên giới. Sau đó, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường quan trọng: Cao Bằng - Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đội đã tổ chức thành nhiều Liên phân đội rải rác quân dọc tuyến đường và nhận nhiệm vụ bám trụ những nơi hiểm yếu. Liên phân đội TNXP 321 của chúng tôi được nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù, nằm trên tuyến đường từ thị xã Bắc Kạn đi Cao Bằng. Cầu Nà Cù lúc này không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.

Theo lời kể của đồng chí Việt Thi, đêm 28/03/1951, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu, Bắc Kạn để đón Bác Hồ đến thăm. Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, chiếc khăn quàng cổ che kín cả chòm râu. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh. Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu: Các cháu ngồi cả xuống. Chúng tôi đều răm rắp nghe theo lời Bác, im lặng ngồi xuống. Bác hỏi: -Các cháu ăn uống có đủ no không? - Thưa Bác có ạ! - Các cháu có đủ muối ăn không?- Thưa Bác đủ ạ! - Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không? - Thưa Bác đủ ạ! Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn rất thiếu thốn. 

ĐÀO NÚI CÓ KHÓ KHÔNG? CÓ AI DÁM ĐÀO NÚI KHÔNG? Bác lại hỏi: - Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không? - Thưa Bác có ạ! Sau đó Bác lại hỏi tiếp: - Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào? Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng. Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở: - Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt.

Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp: Đào núi có khó không? Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó, người sợ nói khó bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó. Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm. Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi: Có ai dám đào núi không? Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa: Thưa Bác có ạ! thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ!

BÁC TẶNG CÁC CHÁU MẤY CÂU THƠ… Nghe xong, Bác cười: Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì? Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao”, có người “cần kiên gan bền chí”, “cần vượt khó vượt khổ”, có người “cần xung phong dũng cảm”, toàn là những khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó.  Bác động viên chúng tôi: Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ: Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên. 

Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào. Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ đã là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc... (Trích Nguyễn Thị Diệu Trang, Tổ tuyên truyền Đảng ủy cơ quan VKS TP, (16/01/2019) Nội dung sinh hoạt dưới Cờ kỳ 1 tháng 01/2019)

BÁC DÀNH NHIỀU TÌNH CẢM CHO THANH NIÊN XUNG PHONG. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngay từ khi thành lập, Bác đã thường xuyên quan tâm theo dõi, chỉ đạo và dành nhiều tình cảm đối với Lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước: Ngày 12-7-1965, Bác đã trực tiếp nghe TƯ Đoàn báo cáo tình hình nam nữ thanh niên tham gia TNXP. Bác nhắc Trung ương Đoàn phải thường xuyên báo cáo với Bác, nhất là những thành tích, để Bác khen thưởng. Ngày 26-9-1966, Bác đã gửi thư khen ngợi TNXP: “Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu thanh niên gái và trai đang cố gắng vượt mọi khó khăn, gian khó lập nhiều thành tích. Bác mong các cháu đoàn kết chặt chẽ, dũng cảm lao động và chiến đấu, giữ gìn sức khỏe, cố gắng học tập, lập nhiều thành tích chống Mỹ, cứu nước để xứng đáng là thanh niên anh hùng của dân tộc anh hùng”.

Ngày 19 tháng 10 năm 1966, phát biểu ý kiến tại buổi Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Bác nói: “Trong phong trào TNXP chống Mỹ cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái đã nêu gương dũng cảm trong sản xuất và chiến đấu. Nhiều thanh niên gái Vĩnh Linh vừa sản xuất giỏi vừa chiến đấu giỏi. Tổ cầu đường Trần Thị Lý ở Quảng Bình và tiêu biểu là tiểu đội 9 - Đại đội 814 đã đảm bảo giao thông dưới làn bom đạn”. 

RẤT VUI LÒNG VỚI THANH NIÊN VIÊN NAM ANH HÙNG. Ngày 12-1-1967, Đại hội thi đua các đội TNXP chống Mỹ cứu nước tập trung đã khai mạc tại Hà Nội, Bác đến dự và nói chuyện thân mật với Đại hội, Bác nói: “Bác rất vui lòng với thanh niên Việt Nam anh hùng. Việt Nam càng ngày càng anh hùng, càng đánh càng anh hùng. Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua lần thứ nhất (1952) chúng ta mới có 7 người được tuyên dương là Anh hùng. Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua lần thứ hai có 95 Anh hùng. Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua lần thứ ba có ít Anh hùng hơn. Đại hội thứ tư lần này có 111 Anh hùng. Thế là ngày càng nhiều Anh hùng. Trong số 111 Anh hùng vừa được tuyên dương ở Đại hội, có 44 Anh hùng là thanh niên. Bác càng vui lòng hơn nữa là trong 44 Anh hùng là thanh niên, có 12 Anh hùng là thanh niên gái. 

Thế là ngày càng có nhiều Anh hùng và ngày càng có nhiều thanh niên gái trở thành Anh hùng.… Nhờ có Đảng giáo dục, có Đoàn giúp đỡ, có nhân dân bồi dưỡng cho nên chúng ta mới có Anh hùng. Anh hùng ấy không phải là Anh hùng của một cá nhân. Vì dân tộc ta Anh hùng, nước ta Anh hùng, nhân dân ta Anh hùng, Đảng ta Anh hùng, cho nên mới nảy sinh nhiều đơn vị và nhiều người Anh hùng. Vì vậy, những đơn vị và người được tặng danh hiệu Anh hùng trước đây đã có cố gắng, nay lại phải khiêm tốn học tập và cố gắng hơn. Các cháu nào đã là Anh hùng thì phải cố gắng tiến lên nữa, các cháu nào chưa là Anh hùng thì cố gắng phấn đấu để trở thành Anh hùng”

BÁC HỒ GỬI TẶNG LẴNG HOA VÀ LỜI KHEN NGỢI. Trước sự đánh phá ác liệt của kẻ thù, Đại đội 333 vẫn kiên cường bám trụ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Khi biết sự chiến đấu kiên cường, anh dũng của C333, Bác Hồ đã gửi tặng lẵng hoa và viết thư khen ngợi. Thư Bác viết ngày 27/1/1969, có đoạn ghi rõ: “Suốt bốn năm nay, Đội TNXP số 333 nhận nhiệm vụ làm đường, sửa cầu ở một nơi địch thường đánh phá ác liệt, có nhiều khó khăn gian khổ. Đội phần lớn là các cháu gái đã dũng cảm chiến đấu, tích cực lao động, có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, bảo đảm cầu đường được thông suốt luôn. Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu. Bác mong các cháu mạnh khỏe, vui vẻ, lập nhiều thành tích mới”. 

Đây cũng là bức thư và lời căn dặn cuối cùng của Bác Hồ đối với TNXP trước lúc Người đi xa. Tình cảm và sự quan tâm của Bác đã khiến TNXP trong đội 333 nói riêng và TNXP toàn lực lượng TNXP nói chung rất cảm động và càng hăng hái hơn trong thực hiện nhiệm vụ đầy gian khổ, hy sinh. Thư của Bác đã trở thành động lực không chỉ của C333 mà còn để thanh niên thực hiện lý tưởng của mình - Lý tưởng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Trích Thanh niên Xung Phong “Những mốc son lịch sử TNXP Việt Nam”, Thứ 4, 8/11/2017).

SỐNG BÁM CẦU ĐƯỜNG, CHẾT KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT. Giai đoạn Chiến tranh Việt Nam (1965-1975). Tính trên toàn bộ tuyến Đường Hồ Chí Minh huyền thoại, lực lượng thanh niên xung phong với quân số bằng 10 sư đoàn đã xây dựng, bảo dưỡng và đảm bảo hoạt động của 67.700 km đường. Nếu chia ra đầu người, mỗi thanh niên xung phong đã đảm bảo duy trì sự thông suốt của gần nửa cây số đường vượt rừng, vượt đèo, vượt sông, suối bất chấp bom đạn Mỹ đánh phá ác liệt suốt ngày đêm. Tổng cộng đã có 530.000 thanh niên xung phong tham gia qua các thời kỳ. Trên 130.800 thanh niên xung phong tham gia trong chiến tranh Việt Nam trong đó hơn 40.000 thanh niên xung phong của 15 tỉnh miền Bắc làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn và ở mặt trận Quảng Bình.

Trong bốn tỉnh miền Trung bao gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình đã cung cấp tới gần 90.000 nam nữ thanh niên xung phong - chiếm 55% tổng số thanh niên xung phong toàn miền Bắc. Tỉnh Hải Hưng cũng có gần 10.000 người tham gia Thanh niên xung phong. Khẩu hiệu: "Sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm". “Nơi đâu chiến trường cần, thanh niên xung phong có mặt, nơi nào có giặc, thanh niên xung phong xuất quân. “Phục vụ quên mình, anh dũng xung phong, lập công xuất sắc"

MỘT SỐ THANH VIÊN THANH NIÊN XUNG PHONG TIÊU BIỂU. Một số thành viên TNXP tiêu biểu: 10 nữ thanh niên xung phong hi sinh ở ngã ba Đồng Lộc. 8 liệt sĩ (4 nam, 4 nữ) thanh niên xung phong hi sinh ở hang Tám Cô. Trên 300 thanh niên xung phong hy sinh ở cung đường 1C, tuyến vận tải chi viện từ Campuchia vào Kiên Giang, U Minh. 13 nữ thanh niên xung phong hy sinh tại Truông Bồn, Đô Lương, Nghệ An. Tổn thất: Khoảng 10.000 người hy sinh. 46.000 người bị thương, 10.000 người bị nhiễm chất độc màu da cam. 4.500 nữ thanh niên xung phong cô đơn không nơi nương tựa khi về già. Nhiều nữ thanh niên xung phong bị mắc bệnh hysteria một chứng bệnh tâm lý do sống cô đơn quá lâu hoặc do bị chấn thương tâm lý, lo lắng cao độ kéo dài, triệu chứng là thỉnh thoảng khóc cười không lý do, la hét điên loạn. (Trích Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Trang này được sửa đổi lần cuối vào ngày 4 tháng 1 năm 2021 lúc 09:44). 

 

CHÍNH QUYỀN HAI.

Bài 226: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 6 ĐẾN THÁNG 9 NĂM 1965.

UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 11/6/65, Các tướng lĩnh nhóm họp tại Sài gòn đồng ý nhận lời yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát, quyết định thành lập một “Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia” để lãnh đạo đất nước theo nguyên tắc “Ủy Ban quyết định, thành viên thi hành”Thành viên Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia căn cứ vào các chức vụ đương nhiệm trong quân đội gồm 11 vị: Chủ Tịch; Tổng Thư Ký; Thủ Tướng; Tổng Trưởng Quốc Phòng; Tổng Tham Mưu Trưởng; Tư Lệnh Hải Quân; Tư Lệnh Không Quân; Tư Lệnh Quân Đoàn I; Tư Lệnh Quân Đoàn II; Tư Lệnh Quân Đoàn III; và Tư Lệnh Quân Đoàn IV. 

Kết quả bầu chọn: (1) Chủ Tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu; (2) Tổng Thư Ký: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu; (3) Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tức Thủ Tướng: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Kỳ còn kiêm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Không Quân; (4) Tổng Ủy Viên Chiến Tranh tức Tổng Trưởng Quốc Phòng: Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng Có còn kiêm nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa; (5) Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân; (6) Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I; (7) Chuẩn Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II; (8) Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tư Lệnh Quân Đoàn III; (9) và Thiếu Tướng Đặng Văn Quang, Tư lệnh Quân Đoàn IV.

Ngày 19/6/65, Ban hành Ước Pháp mới gồm 7 thiên, 25 điều, thành lập Đai Hội đồng Quân lực Việt Nam Cộng hoà, Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Thượng Hội đồng thẩm phán. Các tướng Nguyễn Văn Thiệu, Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Cao Kỳ được xác định là thành phần UBLĐQG. Uỷ ban Hành pháp Trung ương tức chính phủ được thành lập. Hội đồng Quốc gia Lập pháp giải tán. Ngày 21/6/65, tại dinh Gia Long lễ bàn giao quyền lãnh đạo Quốc gia từ Quốc trưởng cho Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia. Ngày 5/8/65, Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia quyết định cho giải ngũ các tướng Nguyễn Khánh, Đ Cao Trí, Thái Quang Hoàng, Phạm Văn Đổng. Ngày 11/9/65, Hội nghị toàn quân tại Sài Gòn, có 1.686 đại biểu tham dự quyết nghị: chống Cộng sản xâm lăng; không liên hợp; không thương lượng với Việt Cộng và Bắc Việt; đã phá âm mưu gây rối chia rẽ; động viên công bằng, thực thi cách mạng xã hội; nâng đở binh sĩ và gia đình họ, huy động toàn lực quân-dân. Hội nghị bế mạc vào buổi chiều.

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀMCùng ngày 19 tháng 06 năm 1965, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ trình diện Chính phủ, lên Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, với danh xưng Ủy ban Hành pháp Trung ươngTHÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (Thủ tướng), Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ; Tổng Ủy viên Ngoại giao, Bác sĩ Trần Văn Đỗ; Tổng Ủy viên Tư pháp, Thẩm phán Lữ Văn Vi; Tổng Ủy viên Quốc phòng, Thiếu tướng Nguyễn Hữu CóTổng Ủy viên Kinh tế Tài chánhTrương Thái Tôn; Tổng ủy viên Văn hóa Xã hội, Bộ trưởng Giáo dục,Trần Ngọc Ninh; Uỷ viên Nội vụ, Trần Minh Triết; Uỷ viên Tân lý chiến, Định Trịnh ChínhUỷ viên Xây dựng Nông thônNguyễn Tất Ứng; Ủy viên Thanh niên, Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng; Ủy viên Tài chánh, Giáo sư Trần Văn Kiện; Ủy viên Canh nông, Lâm Văn Trí; Ủy viên Giao thông Công chánh, Ngô Trọng Anh; Ủy viên Y tế, Nguyễn Bá Khả; Ủy viên Lao động, Nguyễn Xuân PhongThứ uỷ Nội vụ, Nguyễn Văn Tương; Thứ uỷ Giao thông Công chánh, Bùi Hữu Tuấn.

Ngày 20/6/65, Chuẩn tướng Vĩnh Lộc Tư lệnh Biệt khu Thủ đô được cử giữ chức Tư lệnh Vung II Chiến thuật thay thế Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có. Thiếu tướng Lê Nguyên Khang Tư lênh TQLC thay thế tướng Vĩnh Lộc giữ chức Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Cùng ngày 20/7/65tại Sân Vận động Cộng hoà, Sài Gòn tổ chức lễ Ngày Toàn dân Đoàn kết chuẩn bị Giải phóng miền Bắc. Uỷ ban Thanh niên, Sinh viên tổ chức lễ “Rước Quốc Kỳ” từ Cà Mâu ra tới Bến Hải”. Ngày 21/6/65, một Việt Cộng 22 tuổi bị xử bắn tại Pháp trường cát trước chợ Bến Thành Sài Gòn, do mang 10 kg thuốc nổ định tới phá Câu Lạc Bộ Sĩ quan Mỹ đường Võ Tánh, Gia Định. Ngày 5/7/65, từ nay đến hết 20/7 nông dân Vùng IV Chiến thuật chỉ được giữ lại một số lúa để ăn và làm giống, còn dư phải bán cho thương gia theo giá chính thức 60$/giạ lúa trắng và 54$/giạ lúa đỏ.

Ngày 7/7/65, tăng lương và phụ cấp cho QLVNCH từ Chủ lực quân, Địa phương quân và Nghĩa quân. Ngày 8/7/65, Tỉnh Phước Thành bị loại bỏ, lãnh thổ phân chia cho Phước Long và Bình Dương. Ngày 3/8/65, Hội đồng Nội các quyết định chính phủ sẽ mua xe Taxi và xe Lam ba bánh bản trả góp cho công nhân nhằm “hữu sản hoá”. Ngày 4/8/65Toà án quân sự Mặt trận Quân khu Thủ đô ra phán quyết vụ án “Phong trào Hoà bình và Phong trào Tự quyết: 3 án khổ sai hữu hạn, 12 tù treo, 6 tha bổng.Ngày 15/8/65, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ Chủ tịch UBHPTƯ cùng 1 phái đoàn sang thăm Đài Bắc và Thái Lan. Ngày 18/8/65, Ban Bài trừ gian thương khám phá tại Sài Gòn 2 vụ tồn trử sắt bất hợp pháp do 2 người Việt gốc Hoa làm chủ. Ngày 25/8, Hội đồng Nội các quyết định một số chuyên viên thực sự cần thiết có thể được động viên tại chỗ theo đề nghị của Bộ sở quan. 

Ngày 27/8/65 Uỷ ban Bài trừ Gian thương lại khám phá thêm 2 vụ tồn trử sắt bất hợp pháp tại Sài Gòn. Ngày 18/8/65, Bộ Lao động cho biết, 100 Taxi và 200 xe Lam 3 bánh đã được nhập cảng và đã bán cho cho các tài xế trả góp. Ngày 27/8/65, thoả hiệp giữa chính phủ VNCH và Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn việc “dùng Đô la đỏ” MPC (Military Payment Cẻtificate). Đô la Đỏ chỉ được dùng do quân nhân Mỹ và nhân viên thuộc QĐ Mỹ trong các Hợp tác xã và Câu lạc bộ Mỹ, hoặc phải đổi ra bạc Việt Nam qua một Quỷ đặc biệt kể từ 30/8/65Ngày 31/8/65, ấn định lại tuổi nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ phòng vệ dân sự: Nam từ 17-45; nữ độc thân từ 18-25. Cùng ngày 31/8/65, thiết lập tại Ngân hàng Quốc gia 1 Quỷ đặc biệt để mua bán Ngoại tệ theo hối xuất tự do với trợ cấp đặc biệt cho người bán, và 1 đảm phụ đặc biệt do người mua phải chịu.

TUYÊN BỐ TÌNH TRẠNG CHIẾN TRANH. Ngày 24/6/65, Nội các Chiến tranh họp báo tuyên bố tình trạng chiến tranh, áp dụng biện pháp khắc khổ, giảm một nữa tiền lương của các Tổng, Bộ trưởng trong Nội các, đóng cửa 36 Nhật báo để xét lại quy chế báo chí. Một số ký giả dự thính bỏ phòng họp ra về phản đối quyết định đóng cửa Nhật báo. Đoạn giao với Pháp. Giới nghiêm Sài Gòn-Gia Định từ 11 giờ đêm đến 2 giờ sáng. Ngày 25/6/65, Uỷ viên Kinh tế được quyền trưng dụng lúa, gạo và các phó sản tại Sài Gòn và các tỉnh miền Tây để thoả mãn nhu cầu trong xứ. Thành lập Uỷ ban Tiếp tế Trung ương. Thành lập Uỷ ban bài trừ gian thương, và Tổng đoàn Thanh niên trừ gian để chống đầu cơ tích trử và hối lộ. Ngày 1/7, Kể từ hôm nay lương khoán của Chủ tịch UBLĐQG 45.000$/tháng, Chủ tịch UBHPTƯ là 35.000$, Tổng Uỷ viên 25.000$; Uỷ viên 23.000$; Thứ uỷ 21.000$/tháng. Các chí phí điện, nước do Ngân sách Quốc gia đài thọ.  

LẬP CẦU KHÔNG VẬN, VÀ XA VẬN TIẾP TẾ CAO NGUYÊNNgày 1/7/65, Hơn 55 phi cơ Vận tải C 47 của Không lực VN lập cầu không vận chở gạo lên Đà Lạt và chở rau về. Ngày 18/7/65, sau khi Quốc lộ 19 được khai thông, chiều hôm nay đoàn Quân xa đã chở lên Pleiku 600 tấn hàng hoá. Cùng ngày 20/7/65một đoàn Quân xa khác chở 580 tấn hàng hoá từ Quy Nhơn lên Pleiku. Ngày 24/7/65, Có 1.765 thí sinh tham gia dự thị 60 chỗ học tại trường Thương mại Quốc gia. Ngày 30/7, có 7 phi cơ vận tải Mỹ chở 32 tấn gạo tiếp tế từ Sài Gòn cho Ba Mê thuột, gọi là chiến dịch Kỳ Duyên Mai. 

TỴ NẠN CỘNG SẢN, VÀ CỘNG SẢN HỒI CHÁNH. Ngày 15/7/65, số đồng bào tỵ nạn cộng sản lên đến 579.710 người: đã định cư 194.982; tạm trú 384.758. Tiền đã trợ cấp: 59.888.945$, không tính vật liệu xây cất. Ngày 4/8/65, tổng số người tỵ nạn CS: 581.181 người; định cư 195.050, tạm trú 386.131. Tiền trợ cấp: 61.988.655$. Ngày 4/9/65, tổng số dân tỵ nạn CS 620.708 người.   

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 19/6/65, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố hoan hỷ thấy cuộc khủng hoảng chấm dứt và tân chính phủ VNCH mới được thành lập. Hoa Kỳ sẽ giúp đở chống Cộng. Ngày 21/6/65, Bộ trưởng QP Mỹ Mc Namara cho biết sẽ gởi thêm 21.000 quân sang VN, và đang Huấn luyện chiến tranh du kích cho 15.000 khác. Ngày 22/6/65, một Phi đội F100 Supersabre Mỹ tới VN. Ngày 8/7/65, Tổng thống Mỹ Johnson chấp nhận đơn từ chức Đại sứ Mỹ tại Việt Nam của tướng Taylor. Và, bổ nhiệm Cabot Lodge thay thế Taylor. Cùng ngày 8/7/65, Hoa Kỳ viện trợ 50.000 tấn gạo trị giá 62 triệu Mỹ Kim. Ngày 9/7/65, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố sẽ tăng quân số Mỹ tại VN theo yêu cầu của tướng Westmoreland, có thể lên quá 75.000. Ngày 16/7/65Bộ trưởng QP Mỹ, McNamara, Tổng TMT Wheeler, Đại sứ Cabot Lodge sang Việt Nam xem xét tình hình, hội thảo với nhà cầm quyền VN và các giới chức quân sự suốt ngày 17.7.65  

Ngày 21/7/65, Bộ trưởng QP McNamara và Đoàn trở về Mỹ sau 5 ngày thăm VN xem xét tình hình quân sự tại đây. Thay đổi cơ cấu tổ chức quân sự Mỹ tại VN: Bộ Tư lệnh Yểm trợ (US Army Support Command) thành Bộ Tư lệnh Quân đội Mỹ (US Army Command) với quyền chỉ huy, điều động toàn lực quân sự Mỹ tại VN. Tướng Westmoreland giữ chức Tư lệnh Quân đội Mỹ và Trưởng Phái đoàn Viện trợ Quân sự MACV. Ngày 25/7/65, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố đã tiến công hoà bình 13 lần, nhưng chưa có kết quả, chỉ còn cách là dùng võ lực, nhất quyết bảo vệ VNCH. Ngày 28/7/65, Tổng thống Mỹ Johnson họp báo truyên bố, quân Mỹ tại VN sẽ tăng từ 75.000 lên thành 125.000. Một Sư đoàn Không vận với 434 trực thăng được gởi sang VN. Ngày 4/8, Tổng thống Johnson yêu cầu Quốc hội cấp thêm 1,7 tỷ Mỹ kim để tăng quân tại VN. Ngày 6/8/65Quân đội Mỹ thành lập một Chiến đoàn ALPHA hành dinh tại Nha Trang gồm các lực lượng Thuỷ-Bô Vùng I và Vùng II Chiến thuật. 

Ngày 10/8, Đại tướng Taylor cựu ĐS Mỹ tại VNCH tuyên bố VNCH cần gọi thêm 140.000 người nhập ngũ. Ngày 20/8/65, Cabot Lodge đến Sài Gòn nhận chức Đại sứ Mỹ tại Việt Nam. Ngày 23/8/65Có 70 Y sĩ Hoa Kỳ tình nguyện sang giúp dân thường VN từ tháng 2 đến 6 tháng. Ngày 29/8/65, Tướng Edward Landale trở lại VN làm Phụ tá cho Đại sứ Cabot Lodge. Ngày 1/9/65, tướng Edward Lansdale được cử liên lạc viên giữa cơ quan viện trợ USAID và Uỷ ban Xây dựng Nông thôn. Ngày 5/9, William Porter được cử làm Phó Đại sứ Mỹ tại VN thay thế Alexix Johnson. Ngày 23/9/65, ký kết tại Bộ Ngoại giao thoả ước Viện trợ Mỹ cung cấp 100 tấn gạo Mỹ trị giá 12,5 triệu Mỹ kim. 

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 30/6/65, quân số Mỹ tại Việt Nam: ngày 31/12/63: có 16.500; ngày 31/12/64: 21.353; ngày 7/3/65: 2 tiểu đoàn TQLC Mỹ đổ bộ lên Đà Nẳng; ngày 8/4/65: 32.000; ngày 19/4/65: 33.000; ngày 7/5/65: 42.000; Và, ngày 8/6/65 là 51.000. Ngày 1/7/65, một Tiểu đoàn TQLC đổ bộ lên Quy Nhơn. Ngày 7/7/65, hơn 8.000 TQLC Mỹ đổ bộ lên Đà Nẳng và Quy Nhơn. Ngày 12/7/65, trên 3.900 quân Lữ đoàn 2 thuộc Sư Đoàn 1 BB Mỹ đổ bộ lên Cam Ranh. Ngày 26/7/65, Đội Pháo binh Tân Tây Lan 108 người, 15 xe, 4 đại bác 105 ly tới Sài Gòn. Ngày 19/8/65Quân số Mỹ tại VN 88.000 gồm: 41.000 LQ, 29.000 TQLC, 12.000 KQ, 4.650 HQ và 250 thuộc lực lương tuần dương. Ngày 24/8/65, thêm 1 tiểu đoàn TQLC nữa tới Đà Nẵng. Ngày 2/9/65, có 3 chiến hạm Mỹ chở Phi đoàn Không lực 36 Mỹ tới Chu Lai. 

Ngày 5/9/65, Tướng Harry Kinnard cho biết, Sư đoàn 1 Không vận Mỹ sẽ tới VN gồm: 16.000 người; 426 trực thăng; 1.5000 quân xa; 2 tiểu đoàn Pháo binh 105 ly sẽ hoạt động tại Cao Nguyên và Duyên hài Trung phần. Ngày 12/9/65, Sư đoàn 1 Không vận từ Mỹ tới Quy Nhơn lên đóng tại An Khê. Ngày 15/9/65, trên 2.500 quân Mỹ thuộc các đợn vị tiếp vận và yểm trợ tới Cam Ranh. 

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 26/6/65, Hội nghị các nước trong Khối Liên hiệp Anh bế mạc cử một Phái đoàn vận động hoà bình cho Việt Nam sẽ đề nghị: Mỹ chấm dứt oanh tạc Bắc Việt; Bắc Việt chấm dứt xâm nhập miền Nam; ngưng bắn để hoà đàm; kết thúc chiến tranh; triệt thoái lực lượng ngoại quốc; thành lập 1 lực lượng Quốc tế bảo vệ hoà bình cho Việt Nam.

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOA VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 29/6/65 Kossyguine kêu gọi các nước CS gia tăng viện trợ cho Bắc Việt. Ngày 6/8/65Theo Bộ Ngoại giao Mỹ, Sư đoàn 325 BV đã xâm nhập vô Nam qua ngã Lào. Ngày 7/8/65, Thông tấn xã Trung Cộng đưa tin Trung Cộng sẽ gởi quân chiến đấu sang giúp Bắc Việt. 

KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 15/6/65, không lực Mỹ oanh tạc cầu sông Đáy. Ngày 16/6/65, không lực Mỹ oanh tạc Sầm Sơn, Thanh Hoá. Ngày 17/6/65, không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt, 2 phi cơ bị bắn rớt. Ngày 20/6/65, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 1 máy báy Mig 17 bị Skyraider Mỹ bắn hạ cách Hà Nội 60 dăm về phía Nam. Ngày 21/6/65, Phi cơ Mỹ oanh tạc Mộc Châu cách Hà Nội 80 dặm về phía Tây Bắc. Ngày 22/6/65, các vụ oanh tạc của phi cơ Mỹ ngày càng lấn xa trên Vỹ tuyến 20, hôm nay oanh tạc Sơn La và Bản Nước Chiên cách Hà Nội 70 dặm về phía Tây. Cùng ngày 25/6/65, phi cơ Mỹ oanh tạc các kho đạn Quy Hậu, doanh trại Sơn La và Mộc Châu cùng phi trường Nà Sản. Ngày 2/7/65Phi cơ Mỹ oanh tạc căn cứ quân sự Điện Biện Phủ, và kho dầu Nam Định. Ngày 8/7/65, Phi cơ Mỹ oanh tạc Bến Thuỷ, Bái Thượng và các kho vũ khí Yên Bái, 2 Mig 17 bị Phantom Mỹ bị Bắc Việt bắn hạ.

Ngày 12/7, Phi cơ Mỹ oanh tạc Yên Bái. Ngày 13/7/65, phi cơ Mỹ lại oanh tạc Yên Bái. Ngày 27/7/65, phi cơ Mỹ oanh tạc nhà máy điện Thanh Hoá và 2 dàn hoả tiển SAM, 1 dàn hoả tiển SAM bị phá, 3 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Ngày 25/7/65, không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt 1 phi cơ bị hoả tiển SAM bắn rớt. Ngày 4/8/65Phi cơ Mỹ oanh tạc nhà máy điện Thanh Hoá. Ngày 6/8/65, Phi cơ Mỹ oanh tạc phá đường và các toa xe lữa Vùng Bảo Hà. Ngày 9/8/65không lực Mỹ oanh tạc BV phá huỹ 1 dàn hoả tiển SAM gần Hà Nội. Ngày 17/8/65, không lực VNCH phá huỷ 26 doanh trại ở Đông Thành, Đồng Hới. Không lực Mỹ oanh tạc Điện Biên Phủ, Sơn La, các trục giao thông từ Thanh Hoá đến Bến Hải. Ngày 21/8/65, phi cơ Mỹ ném bom Đập Mốc và nhà máy Thuỷ điện Bản Thạch. Ngày 22/8, phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc nhà máy Thuỷ điện Bản Thạch. Ngày 23/8/65, nhà máy Thuỷ điện Bản Thạch bị phi cơ Mỹ oanh tạc lần thứ 3. 

Ngày 24/8/65Phi cơ Mỹ ném bom gần Thanh Hoá, 1 Phantom Mỹ bị hoả tiển SAM bắn rớt. Ngày 26/8/65, phi cơ Mỹ thực hiện 281 phi xuất ném 248 tấn bom xuống 236 căn nhà và các cơ sở quân sự ở Bắc Việt. Ngày 3/9/65, phi cơ Mỹ oanh tạc Điện Biên Phủ và căn cứ Bàn Non Lục. Ngày 7/9/65, Phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Việt phá cầu Lào Kay. Và phi cơ VNCH oanh tạc Vĩnh Linh. Ngày 8/9/65, không lực Mỹ oanh tạc cầu Lào Kay. Ngày 15/9/65, không lực Mỹ oanh tạc Bắc Kạn, Nam Định. Ngày 20/9/65, phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Việt, 5 phi cơ bị bắn rơi. Ngày 27/9/65, không lực Mỹ oanh tạc cầu Ninh Bình và Đông Phong Thượng. Ngày 30/9/65, phi cơ Mỹ oanh tạc vùng Nam Định, Ninh Bình. 1 phi cơ Mỹ Thunderchief bị hoả tiển SAM bn rớt.   

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 13/6/65, hành quân Quyết Thắng 495 tại Quảng Nam. Ngày 21/6/65Giao tranh tại Bình Sơn, Quảng Ngãi. Ngày 22/6/65, hành quân Lam Sơn 180 tại Thừa Thiên. Kịch chiến tại Bình Kỳ, Quảng Ngãi. Ngày 23/6/65, hành quân Tự Lực 157 tại Quảng Ngãi. Ngày 1/7/65Phi trường Đà Nẳng bị pháo kích và đột kích. Ngày 2/7/65, hành quân 111 tại Hương Thuỷ, Thừa Thiên. Ngày 6/7/65, Kịch chiến tại Bà Giá, Quảng Ngãi. Ngày 10/7/65, hành quân Lam Sơn 181 tại Thừa Thiên. Ngày 15/7, kịch chiến tại Duy Xuyên, Quảng Nam. Ngày 18/7/65, hành quân Lam Sơn 184 tại Thừa Thiên. Ngày 19/7/65, hành quân Quyết Thắng 46 tại Quảng Tín. Ngày 26/7/65, Hành quân Liên Kết 5 tại Quảng Ngãi. Ngày 29/7/65, hành quân Quyết Thắng 44 tại Quảng Nam. Ngày 1/8/65, hành quân Quyết Thắng 316 tại Quảng Ngãi. Ngày 26/7/65, Hành quân Liên Kết 5 tại Quảng Ngãi. 

Ngày 29/7/65, hành quân Quyết Thắng 44 tại Quảng Nam. Ngày 1/8/65, hành quân Quyết Thắng 316 tại Quảng Ngãi. Ngày 3/8/65, hành quân Liên Kết 6 tại Quảng Nam. Hành quân Tự Lực 163 tại Quảng Ngãi. Ngày 4/8/65, Phóng pháo cơ B 52 Mỹ từ Guam sang dội 210 tấn bom xuống Mật khu Đỗ Xá, Quảng Nam-Kontum. Ngày 18/8/65hành quân TQLC Mỹ Starlight vùng Vạn Tường, đánh 1 Trung đoàn chính quy BV. Ngày 19/8/65, hành quân Mỹ Starlight Vạn Tường, sang ngày thứ hai, 23 trực thăng và nhiều đội Skyhawk tới dội 44 tấn bom và 300 hoả tiễn. Ngày 29/8/65Phóng pháo cơ B52 từ Guam bay sang VN dội bom xuống 1 vùng thuộc tỉnh Quảng TínNgày 14/9/65, hành quân Cactus tại Bình Định. Ngày 17/9/65, Đại đội Cảnh sát Bến Hải bị phi cơ Mỹ oanh tạc nhầm 7 cảnh sát và 20 thân nhân thiệt mạng. Ngày 23/9/65, hành quân Lam Sơn 196 tại Thừa Thiên. Ngày 28/9/65, Hành quân Quyết Thắng 355 tại Quảng Nam.  

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 23/6/65, kịch chiến tại Dak Dem, Kon Tum. Ngày 26/6/65, Đồn Toumorong, Kontum bị tràn ngập. Ngày 28/6, căn cứ Không quân và Hải quân Nha Trang, Khánh Hoà bị pháo kích. Ngày 30/6/65, hành quân Dân Tiến 107 tại Phú Bổn. Ngày 6/7/65, Quận lỵ Dak Tô, Kon Tum bị đột kích. Ngày 16/7/65, Hành quân Thần Phong quốc lộ 19 tại Bình Định. Ngày 1/8/65, Hành quân Bình Thuận 38 tại Phan Thiết. Ngày 3/8/65, Hành quân Quyết Thắng 160 tại Phú Yên. Hành quân Quyết Thắng 161 tại Bình Định. Ngày 8/8/65, hành quân Dân Thắng 7 tại Pleiku. Ngày 12/8/65, hành quân Bình Thuận 41/65 tại Bình Thuận. Ngày 8/9/65, hành quân Dân Thắng 12 tảo thanh Quốc lộ 14. Ngày 10/9/65, hành quân Tâm Thắng 119 tại Darlac. Ngày 22/9/65, hành quân Gibraltar (Mỹ) tại An Khê, Bình Định. Ngày 24/9/65, hành quân Quyết Thắng 165 tại Bình Định. Ngày 26/9/65, hành quân Shiloh (Mỹ) tại An Khê. Ngày 28/9/65, hành quân Bồng Sơn 18 tại Hoài Nhơn, Bình Định.  

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 12/6/65, lại kịch chiến tại Đồng Xoài, Phước Long. Ngày 26/6/65, kịch chiến tại Đức Hoà, Hậu Nghĩa. Ngày 6/7/65Liên quân Việt-Mỹ-Úc mở cuộc hành quân vùng chiến khu D, có phóng pháo B 52 từ Guam sang thả 500 tấn bom yểm trợ. Ngày 20/7/65, kịch chiến tại Bù Đốp, Phước Long. Ngày 29/8/65Phóng pháo cơ B52 từ Guam bay sang VN dội bom xuống 1 vùng tại Chiến khu C thuộc tỉnh Biên Hoà. Ngày 1/9/65, lần thứ 15 phóng pháo cơ B 52 từ đảo Guam bay sang VN oanh tạc Chiến khu D. Ngày 18/9/65, hành quân Xây Dựng 6 tại Bình Long – Bình Dương. Ngày 19/9/65, hành quân Hùng Vương 9 tại Bình Dương. Ngày 22/9/65, hành quân hỗn hợp Việt-Mỹ-Úc vào Chiến khu D, Bình Dương phá nhiều cơ sở VC: bệnh viện 200 giường; trại huấn luyệnNgày 29/9/65, Việt Cộng pháo kích và đột kích tại Hậu Nghĩa.

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 27/6/65, hành quân Tiền Giang 24/65/SĐ tại Định Tường. Ngày 29/6, hành quân Tiền Giang 25/65/SĐ tại Định Tường. Ngày 4/7/65, hành quân Dân Chí 143/SĐ tại Bạc Liêu. Ngày 7/7/65, hành quân Phi Long 902/SĐ tại Vĩnh Bình. Ngày 19/7/65, Hành quân Lê Lợi 14/2 tại Vĩnh Bình. Ngày 26/7/65, hành quân Phi Long 923 tại Vĩnh Long. Hành quân Tiền Giang 32/65 tại Kiến Tường. Hành quân Dân Chí 151/SĐ tại Phong Dinh. Ngày 16/8/65, hành quân Dân Chí 151 tại Bạc Liêu. Ngày 3/9/65, hành quân Phi Long 929 tại Vĩnh Bình. Ngày 3/9/65tại miền Nam, 65 phi xuất của không lực VNCH và 67 phi xuất của không lực Mỹ dội 215 tấn bom xuống các căn cứ và thuyền bè VC. Ngày 10/9/65, hành quân Dân Chí 159/SĐ tại Chương Thiện.

TẠI BIỆT KHU THỦ ĐÔ. Vào lúc 20 giờ ngày 25/6/65, có 2 vụ nổ liên tiếp tại Bến Bạch Đằng trước Nhà hàng Nổi Mỹ Cảnh: 35 người chết, 18 Mỹ, 17 Việt; 52 bị thương 20 Mỹ, 5 cảnh sát. Ngày 16/8/65, mấy tên Việt Cộng đi 2 xe hơi đột nhập phía sau Tổng Nha Cảnh sát đường Cộng Hoà, bắn chết 2 Cảnh sát, cho 1 xe đâm vào 1 căn phòng mìn nổ, 5 cảnh sát tử thương, 10 bị thương, 2 căn nhà sập, 5 xe hư hại. VC tẩu thoát. 

HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ CHUNG. Ngày 3/7/65, hoạt động quân sự tuần qua: VC: 224 lần tấn công, phá hoại. VNCH: 117 cuộc HQ cấp trên Đại Đội; 17.611 HQ cấp trên tiểu đoàn; 2.140 Phi xuất Không quân; 2.271 Hải xuất Hải quân. 

 

Bài 227: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 10 ĐẾN THÁNG 12 NĂM 1965.

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀMNgày 1/10/65, hôm nay 5 tử tội bị bắn tại Pháp trường Cát trước chợ Bến Thành. Ngày 10/10/65, Toà án Quân sự Mặt trận Vùng III Chiến thuật xử cựu Đại tá Bùi Dzinh và cự Trung tá Lê Hoàng Thao liên quan đến vụ đảo chánh 19.2.65. Ngày 11/10/65Hội nghị Hành chánh địa phương, khai mạc tại Sài Gòn bàn về các vấn đề: bình định, tỵ nạn Cộng sản; cải tổ guồng máy Hành chánh…” Ngày 14/10/65, giá Vàng tại Sài Gòn 9.750$/lượng, trước đó 8.700$/lượng. Ngày 25/10/65, lập một Uỷ ban Cải cách Hành chánh tại Học viện Quốc gia Hành chánh để nghiên cứu biện pháp cải tiến cách làm việc tại các công sở. Ngày 4/11/65, Tổng bộ Kinh tế Tài chánh hội thảo cùng nhiều chuyên viên, giáo sư, đại diện doanh nghiệp bàn về biện pháp ổn định thị trường. 

THÀNH LẬP TỔ CHỨC BẮC VIỆT VỤ ĐỂ GIẢI PHÓNG MIỀN BẮC. Ngày 19/10/65Thành lập tại Phủ chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương, một tổ chức mang tên Bắc Việt Vụ để lo việc thống nhất lãnh thổ và giải phóng miền Bắc (SL204/UBHP). 

TỴ NẠN CỘNG SẢN, CÁN BINH CỘNG SẢN HỒI CHÁNH. Ngày 6/10/65, tổng số người tỵ nạn CS 680.103; đã định cư 258.247; tạm trú 421.856; Trợ cấp 90. 639.220. Ngày 24/10 tổng số đồng bào tỵ nạn Cộng sản tăng lên tới 713.170 người, định cư 258.247, 454.932 tạm trú. Trợ cấp 121.076.060$ với mức 7$, người/ngày, Và 1.500 đến 2.000$ lập nhà tạm trú. Ngày 4/11/65số người về quy chánh với VNCH là 18.557 trong đó có 1.498 đang ở tại các trung tâm. Ngày 26/12/65, tổng số tỵ nạn CS là 751.845 người: 290.292 đã định cư; 461.533 tạm trú. Trợ cấp 152.572.420$. Ngày 28/12/65tổng số quy chánh từ 18/2/1965 là 27.400 cán binh, không kể gia đình họ. 

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 2/10/65, đại biểu Mỹ tại LHQ Arthur Goldberg tuyên bố “hoà bình ở VN tuỳ thuộc thái độ của B.V. Ngày 5/10/65, Quốc hội Mỹ chấp thuận Ngân sách Viện trợ TK 1965=1966: 3.218 triệu MK. Ngày 22/10/65, Tổng số quân Mỹ 148.300 gồm 89.000 LQ, 37.000 TQLC, 14.000 KQ, 8.000 HQ, 300 Tuần duyên. Ngày 23/10/65, Nhiều phi cơ Mỹ chở 13.750 tấm mền sang VN trong số 370.000 tấm mền dành cho người tỵ nạn Cộng sản. Ngày 25/10/65, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố: sẽ ngưng oanh tac BV nếu sự kiện này đưa đến cuộc đàm phán.Ngày 29/10/65theo Bộ quốc phòng Mỹ hiện BV có 20-30 dàn hoả tiển SAM. Ngày 13/11/65, Tổng thống Mỹ Johnson cho phép tăng quân Mỹ tại VN có thể lên tới 250.000 quân. Ngày 29/11/65, Bộ trưởng QP Mỹ Mc Namara tuyên bố từ nay chúng ta hết thua trận, mặc dù BV xâm nhập gấp 3 lần so với mùa mưa vừa rồi.

Ngày 4/12/65hai tên khủng bố đi xe hơi tới khách sạn Mỹ Metropole trước bến xe đường Nguyễn Cư Trinh, Sài Gòn bắn súng và cho nổ mìn khách sạn hư hại nặng, 7 người VN qua đường chết, 70 người khác bị thương. Cùng ngày 4/12/65TNS Manfield tới VN từ 2 hôm nay, tới thăm hiện trường trước khi rời Sài Gòn. Ngày 18/12/65, Thượng nghị sĩ Manfield và Phái đoàn Nghị sĩ Mỹ trở về Hoa Thịnh Đốn sau 35 ngày thăm viếng 16 thủ đô để giải thích chính sách của Hoa Kỳ tại VN tuyên bố cần giải quyết vấn đề VN càng sớm càng tốt vì càng để lâu vấn đề càng thêm phức tạp và nguy hiểm. 

MỸ VIỆN TRỢ KINH TẾ, VÀ XÂY DỰNG CHO VNCH. Ngày 19/12/65, Mỹ viện trợ cho VNCH 30 triệu Mỹ Kim để nhập cảng 100.000 tấn gạo và thực phẩm... Tổng viện trợ thương mại hoá là 186 triệu trong tài khoá 1965-1966. Ngày 27/12/65Phó tổng thống Mỹ Humbert Humprey thăm viếng nhiều thủ đô vùng Viễn Đông thăm dò về vấn đề hoà bình. 

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VNCH THAM CHIẾN. Ngày 6/10/65, Quân số Mỹ tại VN 131.700: 75.600 LQ; 36.900 TQLC; 13.100 KQ; 5.830 HQ; 280 tuần duyên. Và, 5.200/15.000 thuộc Sư đoàn Thanh Long của Đại Hàn tới Cam Ranh. Ngày 7/10/65, 2.300 quân thuộc Sư đoàn 1 BB Mỹ tới Vũng TàuNgày 8/10/65, Hành dinh của Quân đội Mỹ và Đồng minh tại VN: Tân Sơn Nhất: Bản doanh của Không quân và Lục quân Mỹ. Biên Hoà: Lữ đoàn 173 Không vận Mỹ và Sư đoàn 1 BB. Liên quân Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn. Quy Nhơn: Bộ TL Sư đoàn 1 Không vận và Lữ đoàn 101 Không vận. Các dàn hoả tiển đặt tại Tân Sơn Nhất, Biên Hoà, Quy Nhơn, và Đà Nẳng. Cùng ngày 8/10/65, Đội Hoả tiển 97 Mỹ tới VN. 3 chiến hạm Mỹ chở Phi đoàn Không lực 36 Mỹ tới Chu Lai. Ngày 21/10/65Tổng số quân Mỹ 148.300 gồm 89.000 LQ, 37.000 TQLC, 14.000 KQ, 8.000 HQ, 300 Tuần duyên. 

Cùng ngày 21/10/65, Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn tới Quy Nhơn. Tổng số quân Đại Hàn tai VN: 17.000 người. Ngày 2/11/65, hơn 2.000 quân Đại Hàn thuộc Sư đoàn Mãnh Hổ đổ bộ lên Quy Nhơn. Ngày 20/11/65Quân số Mỹ tại VN 165.700 gồm: 101.000 LQ; 39.100 TQLC; 17.130 KQ; 8.200 HQ; 250 tuần duyên. Ngày 21/11/65, trong tuần qua 240 quân nhân Mỹ tử thương, 470 bị thương, 6 mất tích. Ngày 29/12/65, hơn 2.500 quân Mỹ thuộc Sư đoàn 1 Không vận từ Guam đến PleikuNgày 5/12/65TQLC Mỹ đổ bộ lên Phú Thu cách Quy Nhơn 30 dặm về phía Bắc.

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁCNgày 15/10/65, Bế mạc Đại hội đồng LHQ về vấn đề VN 17 nước ủng hộ, 24 nước không bày tỏ lập trường, tất cả các nước đều đòi chấm dứt chiến tranh VN nhưng không tìm ra được giải pháp. 

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOA VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 1/12/65Theo giới chức quân sự Mỹ, Trung Cộng đã tăng viện trợ BV trên 500 triệu Mỹ kim và hiện có hàng ngàn Cán bộ Trung Cộng giúp BV sửa chữa tại các nơi bị oanh tạc. 

KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 5/10/65, phi cơ Mỹ dội bom cầu Bắc Giang, 1 Phantom và 2 Tunderchief bị bắn rơi. Ngày 15/10/65, oanh tạc Bắc Việt, 2 phi cơ Mỹ bị bắn rớtNgày 29/10/65, phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Việt, 1 phi cơ Mỹ bị hoả tiển SAM bắn rớt, đây là chiếc thứ 6 bị bắn rớt trên không phận BV. Ngày 31/10/65, phi cơ Mỹ phá huỷ 3 dàn hoả tiển SAM cách Hà Nôi 35 dặm về phía đông bắc, và dội 60 tấn bom đánh sập cầu Kép. Ngày 1/11/65, Phi cơ Mỹ và phi cơ VNCH oanh tạc Bắc Việt, thả xuống 5.000 gói quà và 2.000 số báo Nhân Văn 1956 từ Vĩ tuyến 17 đến Vỹ tuyến 19. Ngày 5/11/65không lực Mỹ oanh tạc phá cầu Hải Dương, phá 1 dàn hoả tiển và 1 ổ cao xạ, 1 chiếc Crusader bị bắn rớt. Ngày 6/11/65, theo Bộ QP Mỹ có 133 máy bay bị bắn rơi trên bầu trời B.V trong đó 6 chiếc do hoả tiển SAM. Ngày 7/11/65, không lực Mỹ oanh tạc phá 4 dàn hoả tiển vùng Thanh Hoá, Hải Dương, và phá 5 dàn hoả tiển gần Phủ Lý, 1 Cruisader bị bắn rớt. 

Ngày 8/11/65, không lực Mỹ oanh tạc phá 2 dàn hoả tiễn SAM. Ngày 17/11/65không lực Mỹ oanh tạc phá cầu Hải Dương và nhiều cầu khác cùng với 2 dàn hoả tiển cách Hà Nội 35 dặm, có 4 phi cơ Mỹ bị bắn rơi. Ngày 22/11/65, phi cơ Mỹ dội 67 tấn bom xuống khu vực phi truòng Phú Thọ, phá huỷ 2 dàn hoả tiển và 4 ổ phòng không. Ngày 23/11/65, phi cơ Mỹ ném 147 tấn bom xuống các kho xăng, kho tiếp liệu tại Điện Biên Phủ, Bái Thượng, Bản ĐạiNgày 24/11/65, Không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt phá 1 dàn hoả tiễn SAM. Ngày 28/11/65, phi cơ Mỹ oanh tạc phá huỷ 1 trại lính tại Tuyên Quang, 1 Thunderchief và 2 Crusader bị bắn rơi. Ngày 29/11/65, trong tháng 11 vừa qua, không lực Hoa Kỳ đã thực hiện oanh tạc BV 1.447 lần, dội 2.688 tấn bom. Ngày 1/12/65, Phi cơ Mỹ thả bom xuống cầu Cao Mày, cầu Hải Dương, phá 2 hoả tiển SAM, 2 máy bay Mỹ bị bắn rớt.

NÉM BOM 12 TẤN PHÁ HUỶ NHÀ MÁY DIỆN UÔNG BÍ. Ngày 7/12/65, không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt 3 phi cơ bị bắn rớt. Ngày 15/12/65, phi cơ Mỹ ném 12 tấn bom phá huỷ nhà máy điện Uông Bí có năng xuất 24.000 KW. Ngày 16/12/65, phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Việt, hôm nay có 5 máy bay Mig 17 xuất hiện nhưng không nghênh chiến. Ngày 19/12/65Phi cơ Mỹ dội 49 tấn bom đánh sập cầu Bắc Kạn và phá 5 ổ cao xạ, 1 Thunderchief bị bắn rơi. Ngày 21/12/65, không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt lại có 2 Mig-17 xuất hiện trên vùng trời nhưng không nghênh chiến, 5 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Ngày 22/12/65, không lực Mỹ oanh tạc nhà máy điện Uông Bí, Nghĩa Lộ, 1 dàn hoả tiển SAM phá huỹ, 3 phi cơ bị bắn rớt. Ngày 23/12/65, phi cơ Mỹ đánh phá cầu Hải Dương và 1 cầu khác ở Hải Phòng, 1 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Ngày 30/12/65, từ 5 ngày nay, phi cơ Mỹ không oanh tạc BV, nhưng vẫn tấn công và yểm trợ các cuộc hành quân tại VNCH. 

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 4/10/65, hành quân Quyết Thắng 35 tại Quảng Tín. Ngày 8/10/65, Hành quân Lam Sơn 198 tại Thừa Thiên. Ngày 19/10/65, Đồn Ba Lòng, Quảng Trị bị tấn công. Ngày 27/10/65, kịch chiến tại Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Ngày 27/10/65, Phi trường Chu Lai, Quảng Tín, và phi trường Đà Nẳng bị pháo kích và đột kích. Hành quân Lam Sơn 199 tại Quảng Trị. Ngày 27/10/65, nhiều đợn vị của Sư đoàn Không vận Mỹ được trực thăng thả xuống Pleime mở cuộc phản công, cùng nhiều thiết giáp cứu viện, 164 VC tử thương, bỏ lại 97 súng. Ngày 27/10/65gần nữa đêm Phi trường Đà Nẳng bị pháo kích và đột kích 18 trực thăng bị phá, 22 chiếc khác hư hại. Cùng lúc phi trường Chu Lai cũng bị tấn công 2 phản lúc cơ bị phá, làm hư hại 5 chiếc khác. Ngày 30/10/65, kịch chiến tại La Châu, Quảng Nam.

Ngày 17/11/65, hành quân Mỹ Blue Martin 11 tại Quảng Nam. Hành quân Lam Sơn 200 tại Thừa Thiên. Ngày 20/11/65, hành quân Quyết Thắng 445 tại Quảng Tín. Ngày 24/11/65, hành quân Lam Sơn 207 tại Quảng Trị. Ngày 5/12/65, giao tranh gần Chu Lai, Quảng Tín. Ngày 8/12/65, hành quân Mỹ Harvert Moon tại Quảng Tín. Ngày 11/12/65, hành quân liên kết 18 tại Quảng Tín. Ngày 15/12/65, giao tranh tại Mỹ Trung, Quảng Ngãi. Ngày 27/12/65, hành quân Thừa Thiên 160 tại Thừa Thiên. Ngày 28/12/65, kịch chiến tại Đại Lộc, Quảng Nam.    

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 11/10/65, hành quân Thần Phong 5 tại Bình Định. Ngày 12/10, hành quân Phú Yên 7 tại Phú Yên. Ngày 18/10/65, Trại lực lượng Đặc biệt người Thượng tại Pleime cách Pleiku 30 cây số về phía Tây-Nam bị 3 Trung đoàn thuộc Sư đoàn 325 Bắc Việt tấn công ồ ạt đêm qua, đang bị bao vây. Ngày 19/10/65, Quân tiếp viện đến giải vây đồn Pleime, hạ 100 VC tại chỗ, thu 6 súng cộng đồng và nhiều súng cá nhân. Ngày 21/10/65, hành quân Toàn Thắng 123 khai thông đường Nha Trang-Bamêthuột, 500 xe đò và quân xa chở 450 tấn hàng lên Banmêthuột. Ngày 22/10/65, kịch chiến đồn Pleime, Pleiku. Ngày 23/10/65, hành quân truy kích quanh đồn Pleime, Pleiku. Ngày 26/10/65, đồn Pleime, Pleiku lại bị tấn công, kịch chiến, nhưng vẫn giữ được. Ngày 27/10/65, viện binh phản công Pleime. Kịch chiến tại Chu Hô, Pleiku. 

Ngày 1/11/65, hành quân tảo thanh quanh Pleime, và hành quân Long Beach, Pleiku. Ngày 9/11/65, hành quân Silver Bayonet, Pleiku. Ngày 14 và 15/11/65, lại kịch chiến gần Pleime, Pleiku. Ngày 14 và 15/11/65, lại kịch chiến gần Pleime, Pleiku. Ngày 18/11/65, hành quân truy kích vùng Chu Prong, Pleuku. Ngày 20/11/65, kịch chiến gần Pleime. Pleiku. Ngày 23/11/65, hành quân tảo thanh vùng Chu Prong, Pleiku. Ngày 6/12/65, hành quân Tâm Thắng 175 Nha Trang - Ban Mê Thuột đưa hơn 182 quân xa và 100 xe đò chở 2.000 tấn thực phẩm và nhiên liệu từ Nha Trang lên Banmêthuột. Kịch chiến gần Tuy Hoà, Phú Yên. Ngày 17/12/65, một Đại đội Địa phương quân người Thượng nổi dậy tại Phú Thiện, Phú Bổn, giết 32 đồng ngũ người Kinh, bị phản công truy kích 84/97 phiến loạn đầu hàng. 

Ngày 17/12/65Tiểu đoàn 64 người Thượng Fulro từ biên giới Việt-Miên về tấn công Ty Cảnh sát và Toà Hành chánh tỉnh Quảng Đức lúc 3 giờ sáng, nhưng bị vao vây nên quy hàng. Ngày 22/12/65, hành quân Mỹ Clean House tại Bình Định. Ngày 27/12/65, hành quân Phi Hổ Đại Hàn tại Bình Định. Ngày 28/12/65, kịch chiến tại Bình Khê, Bình Định. Ngày 31/12/65, hành quân Quang Trung 65 tại Phú Yên.  

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 8/10/65, hành quân Xây Dựng 7 tại Bình Dương. Ngày 12/10, hành quân tảo thanh vùng Tam giác sắt tại Bình Dương. Ngày 14/10/65, hành quân Xây dựng tại Bình Dương. Ngày 27/10/65, kịch chiến tại Đức Lập, Hậu Nghĩa. Ngày 11/11/65, kịch chiến tại Phước Lễ, Phước Tuy. Ngày 12/11/65, kịch chiến tại Bến Cát, Bình Dương. Ngày 22/11/65, hành quân Xây Dựng 11 tại Bình Dương. Kịch chiến gần đồn điền Michelin Dầu Tiếng. Kịch chiến tại Thạch Trụ. Ngày 24/11/65, hành quân Hùng Vương 12 tại Phước Tuy. Hành quân Mỹ New Life tại Bình Tuy. Ngày 27/11/65, tiếp tục kịch chiến gần đồn điền Michelin Dầu Tiếng. Ngày 4/12/65, kịch chiến tại đồn điền Michelin, Bình Dương. Ngày 6/12/65, kịch chiến tiếp tục tại đồn điền Michelin. Ngày 8/12/65, hành quân Mỹ Bush Master II tại Bình Dương. Ngày 17/12/65, hành quân Mỹ Smashy tại Biên Hoà.    

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 2/10/65, hành quân Tiền Giang 40/SĐ tại Định Tường. Ngày 4/10/65, Hành quân Dân Chí 167 tại An Xuyên. Ngày 21/10/65hành quân Tiền Giang 41/65/SĐ. Ngày 18/11/65, hành quân Tiền Giang 48/65 tại Định Tường. Phi trường Tân Hiệp, bị pháo kích và đột nhập. Ngày 19/11/65, giao tranh tại Cầu Kho, Vĩnh Bình. Giao tranh tại Lộc Sơn, Kiến Hòa. Ngày 20/11/65, hành quân Tiền Giang 48/65 tại Định Tường. Ngày 24/11/65, hành quân An Dân 329 tại Long An. Ngày 1/12/65, hành quân Tiền Giang 51/65 tại Gò Công. Ngày 11/12/65, hành quân Tiền Giang 53/65 tại Định Tường. Ngày 11/12/65, hành quân Long Phi 946 tại Vĩnh Bình. Ngày 22/12/65, hành quân Dân Chí 191/SĐ tại Chương Thiện.  

TẠI BIỆT KHU THỦ ĐÔ. Ngày 19/11/65, giao tranh tại Bình Chánh, Gia Định. 

TRONG NĂM 1965. Ngày 31/12/65Tổng thiệt hai năm 1965:  VC-BV: 27.191 chết, 6.152 bị bắt. VNCH: 20.552 chết, 1.885 mất tích. Hoa Kỳ: 1.179 chết, 148 mất tích./.

 

Bài 228: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 1 ĐẾN THÁNG 3 NĂM 1966.

UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 14/1/66, Tại Hội nghị toàn quân, Trung tướng Nguyền Văn Thiệu tuyên bố xác định lập trường của VNCH, rằng chỉ có thể chấm dứt chiến tranh bằng sự toàn thắng về quân sự và chánh trị, bảo đảm độc lập trong danh dự. Ngày 15/2/66, Đại tướng Dương Văn Minh được giải nhiệm đại diện Quốc trưởng tại ngoại quốc, và đặt thuộc quyền Bộ Ngoại giao tỉếp tục công cán tại nước ngoài (SL. 058/CT/LĐ QG/SL). Ngày 21/2/66, mít tinh hội thảo tại vườn Dinh Độc Lập nhân “ngày Xã Hội Mới” và nói về kết quả hội nghị Honolulu “xác nhận ý chí chống Cộng cùng xây dựng nông thôn và dân chủ”. Công bố Sắc-luật 001/a/66 ngày 3/2/66 thiết lập Hội đồng Tư vấn Xây dựng Dân chủ “soạn thảo Hiến pháp và Luật bầu cử cùng Qui chế đảng phải và Bảo chí”. Ngày 11/3/66, Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân được cử lên thay tướng Thi làm Tư lịnh Vùng I kiêm Đại biểu Chính phủ

Ngày 16/3/66, Hội đồng Tướng lãnh (Ủy ban Lãnh đạo) lại nhóm họp ở dinh Gia Long để xét tình hình chung. Ngày 25/3/66, Ủy ban lãnh đạo Quốc gia quyết định triệu tập Hội đồng Tư vấn soạn thảo Hiến pháp và tổ chức bầu cử vào cuối năm nay thay vì cuối 1967 như đã dự định. Ngày 30/3/66, UBLĐQG họp phiên bất thường, quyết định triệu tập Ủy ban Thảo hiến và cấm quân nhân công chức không được tham dự các cuộc biểu tình gây rối. 

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀMNgày 8/1/66, có 100 taxi và 200 Lambretta 3 bánh được cấp cho các tài xế trúng cuộc rút thăm, theo chương trình hữu sản hóa công nhân. Ngày 24/1/66, theo Bộ Công chánh, đến tháng 6/66, thì sẽ hoàn thành hệ thổng dẫn nước sông Đồng Nai. Ngày 3/2, Ban Giám đốc Air Việt Nam họp báo cho biết cần tăng giá vé máy bay 50% vì dà bị lỗ 64 triệu … Ngày 12/2/66, Thiểu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bổ tại Kontum “sẽ tổ chức tuyền cử trong 1 năm”. Ngày 1/3/66, khai giảng lớp Sĩ quan Cảnh sát tại trại Lê Văn Duyệt, 450 sinh viên theo học. Ngày 10/3/66, thiết lập một Học viện Cảnh sát Quốc gia (ND 416/ND/NV). Ngày 22/2/66, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ tuyên b phản đối ý kiến thành lập Chánh phủ Liên hiệp. 

Ngày 26/3/66, trong bản hiệu triệu trên Đài phát thanh, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ cho biết vì những vụ lộn xộn, đình công, bãi thị ngoài Trung, kho gạo dự trữ Huể sắp cạn. Ngày 27/3/66, Trung tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng, kêu gọi Quân đội triệt để tuân kỷ luật để cùng chống Cộng. Ngày 28/3/66, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ hội đàm với các Thượng tọa Thích Tâm Châu, Thích Thiện Minh và Thích Hộ Giác về việc thành lập các cơ cấu dân chủ. Ngày 29/3/66, có 5 chiếc tàu chở gạo, sữa, xi măng ra Đà Nằng không được dỡ hàng. Cùng ngày 29/3/66, Thịếu tướng Kỳ tuyên bố với các phóng viên ngoại quốc: sẽ phải dùng biện pháp cứng rắn nếu cuộc lộn xộn cứ lan tràn. 

THIẾT LẬP TOÀ ÁN ĐẶC BIỆT XÉT XỬ HỐI LỘ, ĐẦU CƠ. Ngày 16/2/66, một tòa án đặc biệt được thiết lập đề xử không cần thẩm cứu trước, những vụ hối lộ, đầu cơ, chuyển ngân phi pháp trên 50.000$. Ngày 28/2/66, Ban Tình báo Bộ Kinh tế khám phá một vụ thụt két 7 triệu tại Ty Ngân khố Đà Lạt. Ngày 7/3/66, Tòa án đặc biệt nhóm họp phiên xử vụ Tạ Vinh, Siu Hing, Hồng Văn Tuy, Ngụy Kinh (Việt gốc Hoa) đầu cơ, bán quá giá, chuyển ngân lậu, hối lộ công chức. Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ và một số nhân viên chánh phủ tới tham dự. Buổi chiều, toà tuyên án phạt Tạ Vinh tử hình và tịch thâu gia sản. Ngày 7/3/66, lại 2 gian thương Tàu đầu cơ sắt bị Tòa án đặc bỉệt phạt 6 năm cấm cố. Ngày 10/3, Hội đồng Ân xá bác đơn xin miễn tử hình của Tạ Vinh. Ngày 12/3/66, Tạ Vinh bị bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành. Đặng Cao Sách, Trưỏng ty Ngân khố Đà Lạt bị Tòa án đặc biệt xử tử hình và tịch thu tài sản vi tội biển thủ hơn 7 triệu. 

TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI, BÙNG PHÁT BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG. Ngày 9/3/66, Hội đồng các Tướng lãnh và UBLĐQG nhóm họp 5 tiếng đồng hồ tại Bộ Tổng tham mưu và quyết định cho Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lịnh Vùng I Chiến thuật kiêm Đại bỉểu Chánh phủ tại vùng này, được nghỉ phép để đi chữa bịnh mũi. Ngày 10/3/66, Viện Hóa Đạo họp báo xác định lập trường trước tình thế: Các tướng nào có công với cuộc Cách mạng dù ở trong nước hay ở ngoại quốc, phải được trở lại quân đội. Các tướng lãnh trở về cưong vị quân sự. Lập Chánh phủ đoàn kết, với một quốc hội. Ngày 14/3/66, Tướng Nguyễn Chánh Thi lại trở ra Đà Nẵng, có Đại tá Phạm Văn Liễu, Tổng Giám đốc Cảnh sát, và Trung tá Nguyễn Ngọc Loan, Giám đốc Nha An ninh Quân đội đi theo. Ngày 17/3/66, Viện Hóa Đạo lại tuyên bố: không có ý công kích chánh phủ, chỉ đòi một Quốc hội và một Chánh phủ dân sự. 

Ngày 22/3/66, khoảng 1.500 học sinh trường Hồng Lạc đường Trần Quc Toản Sài Gòn, không chịu vào học, căng biều ngữ chống đối chánh phủ. Ngày 22/3/66, tại Huế, Đà Nẵng, và nhiều tỉnh miền Trung liên tiếp những vụ đình công bài Mỹ. Nhiều trụ sở Mỹ tại Huế đóng cửa. Ngày 23/3/66nhiều vụ biều tình, đóng cửa tiệm vẫn tiếp tục ở Đà Nẵng. Không khí vẫn sôi nổi ở Huế. Ngày 27/3/66, hơn 20.000 người biểu tình tuần hành tại Huế. Ngày 30/3/66, Sinh viên biểu tình ở Đà Nẵng. Tại Huế, vẫn có đình công, bãi khóa, đòi một chánh phủ dân sự. Ngày 31/3/66, Giỗ Hùng Vương, biểu tình trước chợ Bến Thành, nhiều biểu ngữ chống chánh phủ “Đả đảo chủ trương bóp nghẹt báo chí”; “Thực hiện gấp rút Quốc hội Lập-hiến”. Hình nộm các tướng Thiệu, Có, Kỳ, bị treo lên pháp trường cát trước chợ Bến Thành. Tại Đà Nẵng và Huế, vẫn có biểu tình tuần hành, với những khầụ hiệu: “Nước Việt Nam của người Việt Nam”; “Người Mỹ gây rối cho nhân dân Việt Nam”Khá nhiều binh sĩ tham gia, có cả một số cảnh binh.

TỴ NẠN CỘNG SẢN, VÀ CÁN BINH CỘNG SẢN HỒI CHÁNH. Ngày 13/1/66, Bộ Thông tin họp báo cho biết trong năm 1965, đã có 27.982 người mang 3.000 võ khi về qui chánh. Ngày 26/1/66, theo Bộ Xã hội số dân tị nạn Cộng sản lên tới 780.461 người. Đã được trợ cấp 98.035.110$. Và, 259 trại tạm trú. Ngày 22/2/66, Cơ quan Viện trợ Mỹ định dành 9.230.500 Mỹ kim mua 70.942 tấn thực phẩm cấp phát. Ngày 24/2/66, tổng số tị nạn lên tới 833.875 người; số tiền cứu trợ đã phát cho các tỉnh: 187.270.721$.

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 12/1/66trong thông điệp gửi Quốc hội, Tống thống Johnson xác nhận HK quyết chí  lại V.N. Ngày 15/1/66. Ngoại trưởng Dean Rusk và đại sứ lưu động Averell Harriman tới Sài Gòn họp vi Chủ tịch Nguyễn Cao Kỳ. Ngày 3/2/66, Chánh phủ Mỹ gửi thông điệp ủng hộ Chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ, và tán thưởng những kềt quả đã thâu lượm. Ngày 6/2/66, tại Honolulu, Tổng thống Johnson đọc diễn văn xác nhận với các nhà lãnh đạo VNCH cam kết giúp đỡ VN và tăng cường nỗ lực chiến đấu. Hội nghị chia ra 5 tiểu ban xét từng vấn đề trọng yếu về quân sự, bình định, kinh tế, xã hội, chính trị. Ngày 7/2/66, tại Honolulu tuyên bố chung Việt Mỹ với 5 điểm chính: (1) đánh bại xâm lăng CS; (2) thực hiện cải cách xã hội; (3) bảo vệ chánh thể tự do độc lập, (4) chống nạn đói, mù chữ và bệnh tật, (5) tiến đến hòa-bình. Ngày 8/2, Phó Tổng thống Humphreys theo phái đoàn VN sang VN tiếp tục cuộc đàm phán về cách thúc áp dụng chánh sách chung Việt-Mỹ. 

Ngày 12/2/66, Phó Tổng thống Humphreys rời Sài Gòn đi Bangkok tuyên bố Mỹ sẽ giúp VN thực hiện các chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa, và bảo vệ tự do. Ngày 15/2/66, McNamara tuyên bố trước Thượng nghị viện Mỹ, B.V. đã đưa vô Nam 200.000 quân. Ngày 17/2/66, Thượng nghị viện Mỹ vẫn tranh luận gay go về chánh sách Mỹ tại VN: một phe chống, một phẹ bênh. Phe bênh thuộc đa số. Ngày 20/2/66, Phụ tá Tổng thống Johnson, Georges Bundy khen chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ trong sạch và nghiêm chỉnh nhất. Ngày 22/2/66, Robert Kennedy tuyên bố nên có một chánh phủ Liên hiệp tại VNCH. Tòa Bạch ốc phản đối, rằng chánh phủ HK chỉ ủng hộ một cuộc bầu cử tự doNgày 28/2/66, Robert Kennedy xác nhận lại lập trường: phải cho VC tham gia điều đình, và để dân VN tuyển cử tự do chọn chánh thể của mình dù kểt quả cuộc tuyển cử ra sao.

Ngày 2/3/66, theo đề nghị của Wayne Morse, Hai viện Quốc hội Mỹ chấp nhận cho Tổng thống tiếp tục toàn quyền dùng võ lực tại Đông Nam Á ban hành từ 1964. Ngày 3/3/66, McNamara tuyên bố sẽ còn gửi thêm nhiều sư đoàn sang VN. Ngày 6/3/66, các tướng Taylor, Power, Williamson và Đô đốc Sharp đòi phong tỏa Hải Phòng. Ngày 12/3/66, có 38 Thống đốc HK họp hội nghị, biểu quyết ủng hộ chánh sách của Tổng thống Johnson tại VN. Ngày 28/3/66, Phó Tổng thống Mỹ Humphreys tuyên bố với báo Newsweek, chỉ có Trời mới lật được thế cờ ở VN là một xứ quá nhiều chuyện rắc rối; Rằng Mỹ sẵn sàng xét lại đường lối, sẵn sàng thừa nhận VN không liên kết, và Mỹ có thể chấp nhận cuộc tuyển cử tự do dù Cộng sản thắng trong cuộc tuyển cử đó.   

MỸ VIỆN TRỢ KINH TẾ, VÀ XÂY DỰNG CHO VNCH. Ngày 3/1/66, ký thỏa ước Việt Mỹ thiết lập 2 hệ thống vô tuyến truyền hình tại V.N. một cho V.N., một cho quân đội Mỹ. Ngày 19/3/66, ký kết thỏa ước Việt - Mỹ, theo đó, Mỹ viện-trợ cho VNCH 52 triệu nông phẫm (200.000 tấn gạo, 62.500 tấn bột mì, 500 tấn thuốc lá).  Ngày 30/3/66, ký kết thỏa hiệp Việt-Mỹ dành 7 triệu Mỹ kim về việc nghiên cứu xử dụng khu Cam Ranh.

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VNCH THAM CHIẾN. Ngày 16/1/66, Bộ trưởng Quốc phòng Đại Hàn tuyên bố sẽ gửi thêm 20.000 quân sang VN, vì số 18.000 hiện cỏ không đủ làm tròn nhiệm vụNgày 19/1/66, hơn 4.000 quân sĩ thuộc Lữ đoàn thứ hai của Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ đổ bộ lên Vũng Tàu. Hơn 300 TQLC Mỹ cũng đổ bộ ở Chu Lai. Ngày 18/2/66, theo giới quân sự Mỹ tại Sài Gòn: VC hiện có 237.000 quân. VNCH và Đồng minh 775.000. Ngày 25/2/66, Đại Hàn đã thỏa hiệp với HK về các điều kiện gửi một sư đoàn nữa sang VN. Ngày 2/3/66số quân Mỹ tại VN 235.000 người. Ngày 10/3/66, HK thành lập tại mỗi Vùng Chiến thuật một Field Force VN, mỗi đoàn do một tướng chỉ huy. Ngày 10/3/66, Chánh phủ Úc quyết định thêm quân ở VN từ 1.500 đến 4.500. Ngày 16/3/66, tổng số quân nhân Mỹ bị thiệt mạng kể từ 1/1/1961: 2.559 và bị thương 12.706. 

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 1/2/66, Hội đồng Bảo an ghi vấn đề VN vào chương trình nghị sự. Nga phản đối, Pháp cho là vô ích. Trung Cộng cùng B.V. phủ nhận thẫm quyền của Hội đồng Bảo an. Ngày 10/2/66, Chánh phủ Tây Đức tặng VNCH 870 tấn gạo Thái Lan.

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN CỦA HỌ. Ngày 2/2/66, Võ Nguyên Giáp gửi điệp văn trấn an dư luận BV vì dân chúng xôn xao về tin Mỹ sắp đổ bộ. Ngày 15/2, Phạm Văn Đồng tuyên bố nhất định không nói chuyện với HK. Ngày 3/3/66, BV đưa nhiều quân và chiến cụ sang Lào đề bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh. 

KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 31/1/66, phi cơ Mỹ lại thả bom xuống Đồng Hới, Vinh, Thanh Hóa sau 37 ngày tạm ngưng. Ngày 2/2/66, Phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc Vinh, Đồng Hới, 3 máy bay Mỹ bị hạ. Ngày 3/2/66, Phi cơ Mỹ oanh tạc Bến Thủy. Ngày 4/2/66, Phi cơ Mỹ bắn phố Tàu và thuyền gần Hải Phòng. Ngày 6/2/66, Phi cơ Mỹ lại oanh tạc Điện Biên Phủ, Vinh, Thanh Hóa, Hòn Cọp và phá hủy nhiều cơ sở và tàu bè, cầu, đường. Ngày 11/2/66, Phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc vùng Thanh Hoá, Nghệ An. Ngày 18/2/66, Không lực Mỹ oanh tạc Điện Biên Phủ và vùng phụ cận chặn đường tiếp viện qua Lào vô Nam. Phi cơ từ các hàng không mẫu hạm vẫn đánh Vinh, Đồng Hới và Thanh Hóa.Ngày 20/2/66, Phi cơ Mỹ lại oanh tạc Điện Biên Phủ. Ngày 4/3/66, Phi cơ Không quân và Hải quân Mỹ lại oanh tạc Yên Báy, Phú Thọ, dọc đường xe lửa Hà Nội - Lào Kay. 

Ngày 5/3/66, Phi cơ Mỹ oanh tạc BV, phá hủy cầu cống, đường sá gần Lào Kay, 1 dàn hỏa tiễn SAM bị phá hủy gần Hà Nội. Ngày 8/3/66các vụ oanh kích BV tiếp tục với cường độ mạnh hơn Vinh, Bến Thủy, Đồng Hới, và Thanh Hóa nhiều đài radar, kho đạn v.v... bốc cháy. Ngày 15/3/66, phi cơ Mỹ dội bom đường mòn Hồ Chí Minh gần Vinh. Ngày 17/3/66, Phi cơ Mỹ ném bom Vinh, Thanh Hóa, và dàn hỏa tiễn SAM tại vùng này.  

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 5/1/66, Căn cứ Mỹ tại Khe Sanh bị pháo kích và tấn công. Hành quân Jefferson hạ 288 VCNgày 6/1/66. hành quân TQLC Mỹ Long Lance gần Đà Nẵng. Ngày 30/1/66, hơn 4.000 quân Mỹ từ 13 chỉến hạm đổ bộ lên bờ biển Thạch Trụ cách Quảng Ngãi 23 cây số trong cuộc hành quân Double Eagle, để lùng đánh 5.000 quân chính quy của BV. Ngày 4/2/66, Trận đánh ở Bồng Sơn đã kéo đài tới ngày thứ 9. Hai trung đoàn VC bị Liên quân Việt-Mỹ và Đại Hàn vây chặt. Một trung đoàn nữa của BV vừa xuất hiện.  Ngày 5/3/66, hơn 5.000 quân Mỹ-Việt bao vây nhiều tiểu đoàn BV gần tỉnh lỵ Quảng Ngãi kịch chiến suốt nhiều giờ. Phi cơ thả bom suốt ngày. Ngày 6/3/66, trận Quảng Ngãi tiếp tục, tới hôm nay, đã thấy xác 446 VC. Ngày 7/3/66, hành quân Liên Kết 26 của 4 tiểu đoàn VNCH và hành quân Utah của HK tại Quảng Ngãi. Ngày 8/3/66, Đồn lực lượng đặc biệt Thượng A Shau (An Hậu) Thừa Thiên có 400 quân và 12 có vấn Mỹ, bị vài ngàn VC tấn công mạnh, phải rút bằng trực thăng. Sau đó, phi cơ tới tấp oanh tạc.Ngày 22/3/66, hành quân Texas của TQLC Mỹ tại Quảng Ngãi. 

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 2/1/66, giao tranh  Phú Yên. Cùng ngày 4/1/66tại Phú Yên, quân Đại Hàn dùng khói cay mắt hun vào các hầm trú ẩn hạ 188 VC. Ngày 10/1/66, hành quân Phi Hổ 6 Đại Hàn tại An Nhơn. Hành quân Masher Mỹ-Đại Hàn, và hành quân Thần Phong của Nhảy Dù tại Bồng Sơn bao vây 2 trung đoàn VC. Ngày 3/2/66, hành quân Van Buren của Sư đoàn Không vận Mỹ tại Phú Yên. Ngày 17/2/66, đụng độ mạnh tại Buôn Trap, cách Ban Mê Thuột 32 cây số, hạ 70 VC. Ngày 19/2/66, VC pháo kich căn cứ Mỹ tại An Khê. Ngày 19/2/66, VC pháo kich căn cứ Mỹ tại An Khê. Ngày 28/2/66, B-52 ném bom ở Kontum. Ngày 18/3/66, Phi trường Cam Ly (Đà Lạt) bị pháo kích. Ngày 24/3/66, Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn hành quân tại Bình Định. Đồn Đu-Prang tại Quảng Đức bị tấn công.   

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 2/1/66, giao tranh  Bình Dương. Ngày 9/1/66, hơn 8.000 quân Mỹ, Úc và Tân Tây Lan hành quân Crim tại Hố Bò-Tam giác Sắt. Ngày 3/2/66, hành-quân Mullet của Sư-đoàn 1 Bộ binh Mỹ tại rừng Biên Hòa. Ngày 18/2/66, Tỉnh ly Long An, quận lỵ Phước Bình bị pháo kích. Ngày 25/2/66, hơn 130 VC bị hạ tại Bình Dương khi tấn công quân Úc và Mỹ. Ngày 26/2/66, một đơn vị của Lữ đoàn Mỹ 173 bị vây hãm trong Chiến khu D, phi cơ phải tới cứu viện. Ngày 6/3/66, một tiểu đoàn Mỹ bị đánh tại Bình Dương. Một tiều đoàn khác tới tiếp viện, kịch chiến suốt ngày, kết quả 118 VC bị hạ. Ngày 12/3/66, Liên quân Mỹ-Úc tiến sâu vào Chiến khu D, trong cuộc hành quân Silver City mở từ 8/3, và phá hủy nhiều cơ-sở VC cùng nhiều kho lương thực và xe cộ. Ngày 13/3/66, một tiểu đoàn Mỹ bị tấn công khi tiến vào Chiến khu D, vùng Long Khánh. 1 tiểu đoàn nữa tới tiếp cứu hạ 142 VC. Ngày 18/3/66, chừng 1 trung đoàn VC tấn công đồn Võ Xu, quận Tánh Linh bị đẩy lui và bỏ lại 107 xác cùng 38 súng. Ngày 28/3/66, B-52 ném bom khu Rừng Sác, rung chuyển cả Đô thành.       

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 1/1/66, giao tranh lớn tại Hậu Nghĩa, Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ hạ 125 VC. Ngày2/1/66, giao tranh  Vĩnh Bình. Ngày 4/1/66, Liên quân Việt, Mỹ, Úc hành quân Marauder tại vùng Đồng Tháp và Hậu Nghĩa được lịnh vượt qua biên giới nếu cần đuổi VC. Ngày 26/1/66, Hành quân Long Phi 953/SĐ tại Mỹ Quỳ gần Cao Lãnh. Ngày 28/1/66, hành quân Dân Chí 199/SĐ tại Vị Thanh. Ngày 31/1/66, Hành quân Long Phi 954 tại Vĩnh Bình. Ngày 8/2/66, hành quân Long Phi 955 tại Kiến Giang. Ngày 11/2, hành quân An Dân 14/66 tại Long An. Ngày 14/2/66, hành quân Cửu Long 9 tại Bến Tre. Ngày 17/2/66, B-52 oanh tạc một vùng ở Châu Đốc, gần sát biên giới. Ngày 18/3/66hành quân Cửu Long 15/66 tại Vàm Cỏ Tây (Mộc Hóa) hạ 219 VC, thu nhiều súng. Ngày 27/3/66, Đồn Dầm Chích, quận Tịnh Biên bị tấn công.

 

Bài 229: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 4 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 1966.

UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 1/4/66, có tin Trung tướng Phạm Xuân Chiểu Tổng Thư ký UBLĐQG ra Huế dàn xếp các vụ lộn xộn bị đám người biểu tình giữ lại. Ngày 4/4/66, Chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu kêu gọi chấm dứt các vụ hỗn loạn, xác nhận tình trạng chìến tranh vẫn còn, và ra lịnh đóng cửa các trường học mọi cấp. Đô trưởng Sài Gòn, Bác sĩ Văn Văn Của, kêu gọi dân chúng tôn trọng trật tự. Ngày 7/4/66, UBLĐQG quyết định triệu tập Đại hội Chánh trị Toàn quốc để hỏi về việc bầu Quốc hội Lập hiến sẽ nhóm họp ngày 12-4-66. Ngày 8/4/66, Hội đồng Tướng lãnh lại nhóm họp bất thường. Ngày 9/4/66, Trung tướng Tôn Thất Đính được cử làm Tư lịnh vùng I, thay Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân. Ngày 13/4, Đại hội chính trị nhóm họp tại Hội trường Diên Hồng. Ngày 14/4/66, Sư đoàn 7 BB được lịnh kéo vô Sài Gòn. 

Cùng ngày 14/4/66, Đại-hội Chánh trị họp buổi chót. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký và tuyên đọc sắc luật 14/66 quyết định bầu cử Quốc hội Lập hiến với nhiệm vụ soạn thảo và biểu quyết Hiến-pháp Việt Nam Cộng Hòa, và sẽ bầu cử trong từ 3 tới 5 tháng. Ngày 15/5/66, Hội đồng các tướng lãnh họp khẩn cấp ở Bộ Tổng tham mưu. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: đã cử quân ra tái lập an ninh tại Đà Nằng. Ngày 16/5/66, Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao nhậm chức Tư lịnh Quân đoàn I thay thế Tôn Thất Đính. Ngày 24/5/66, Đại hội Dân Quân nhóm họp tại rạp hát Thống Nhất, với 1.000 đại diện quân đội, hội đồng Tỉnh, công chức, nhà báo, đảng phái v.v... để nghe UBLĐQG và Chánh phủ trình bày về hiện tình và vụ Đà Nẵng. Số người bị thiệt mạng tại Đà Nẵng, ti nay được xác nhân là 76. Ngày 31/5/66, Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm được bổ Quyền Tư lịnh Quân-đoàn I thay Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. 

Cùng ngày 31/5/66, Phái đoàn Phật giáo gồm một số Thượng tọa do Thượng tọa Thích Tâm Châu hướng dẫn, nhóm họp tại dinh Gia Long với 6 tướng trong Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia để tìm giải pháp cho tình hình. Ngày 1/6/66, UBLĐQG tuyên bố: quyết định mời thêm 10 nhân vật dân sự vào UBLĐQG trước ngày 5-9-66, và lập một Hội đồng Quân Dân cạnh UBHPTƯ trước 19-6-66. Ngày 5/6/66, có 10 nhân sĩ: Trần Văn Đỗ, Phạm Hữu Chương, Phan Khoang, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Ngọc Trân, Trần Văn Ân, Văn Thành Cao, Nguyễn Lưu Viên, Quan Hữu Kim, Huỳnh Văn Nhiệm được mời vào Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia. Cùng ngày 5/6/66Hội đồng các Tướng lãnh nhóm họp tại Bộ Tổng tham mưu (45 vị) và quyết định: quân đội lãnh đạo công cuộc chống Cộng và xây dựng Dân chủ, tín nhiệm các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ trong nhiệm vụ hiện tại, mở rộng Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. 

Ngày 8/6/66Thiếu tướng Lê Nguyên Khang, Tư-lịnh TQLC được cử thay Thiếu tướng Nguyễn Bảo Trị, chỉ huy Quân-đoàn III vùng III Chiến thuật, Tướng Nguyễn Bảo Trị được cử thay tướng Huỳnh Văn Cao ở chức vụ Tổng cục Chiến tranh Chính tri. Ngày 15/6/66hôm nay mới có tin thiết lập Hội đồng Quân Dân do sắc luật ngày 10-6-66. Ngày 19/6/66UBLĐQG ký S. Luật 021/66, thành lập Quốc hội Lập hiến với 108 nghị sĩ bầu lên để soạn thảo Hiến pháp. 

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀMNgày 3/4/66, UBLĐQG và ƯBHPTƯ họp báo, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố phải chấm dứt các vụ xách động có bàn tay Cộng sản; Rằng ông Thị trưởng Đà Nẵng Nguyễn Văn Mẫn đã dùng công quỹ thuê người biểu tình, sẽ bắt và xử tử. Coi Đà Nẵng như đã bị Cộng sản xâm chiếm, và cử quân đội tới giảỉ phóng. Ngày 5/4/66, có tin nhiều đoàn Nhảy Dù được gửi tới Đà Nẵng và đã đổ quân xuống phi trường. Thiếu tướng Kỳ hội đàm mật với Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân, tân Tư lịnh vùng I. Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, Thị trưởng Đà Nẵng, bị cách chức và thay thế bằng Trung tá Mã Sanh Nhơn. Nhiều đám người với gậy và dao chắn đường vào thị xã. Bác sĩ Mẫn đóng tại chùa Phổ Đà có 400 binh sĩ bảo vệ. Máy bay lượn trên thành phố rải truyền đơn kêu gọi. Dưới đất, chuông các chùa rung báo động inh ỏi. 

Ngày 14/4/66, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ gửi thư cho Thượng tọa Thích Tâm Châu xác nhận: (1) Chính phủ sẽ không giam giữ và trừng phạt những người đã tham gia các cuộc tranh đấu từ 11/3/66; (2) Rút các tiểu đoàn đã gửi ra Đà Nẵng; (3) Nội trong ngày 14 tháng 4, sẽ có sắc luật về Quc hội Lập hiến. Ngày 22/4/66, Phủ Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp đã triệu tập một Ủy ban 48 người soạn thảo luật bầu cử Quốc hội. Cùng ngày 22/4/66, Đại tá Không quân Nguyễn Ngọc Loan, được bổ Tổng Giám đốc Cảnh sát thay Đại tá Phạm Văn Liễu, và kiêm nhiệm Giám đốc Nha An ninh Quân đội. Ngày 25/4/66, gạo tăng từ 720$ lên 795$, và 600$ lên 695$ (22% tấm) giá chánh thức. Ngày 4/5/66, trong buổi họp báo tại Đà Nẵng, Trung tướng Tôn Thất Đính, Tư lịnh Vùng I tuyên bố: tình hình Huế và Đà Nẵng đã trở lại bình thường. Ngày 5/5/66, Hội đồng Thảo hiến nhóm họp soạn thảo dự án tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến. 

Ngày 6/5/66, nhân dịp khánh thành sân bay Bình Thuỷ, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố với các nhà báo Chánh phủ có thể đứng lại 1 năm nữa dù có Quốc hội Lập hiến. Cũng ngày 15/5/66, có 5 tiểu đoàn TQLC được chở bằng phi cơ ra Đà Nẵng, và sau một giờ can thiệp đã tái chiểm Đài phát thanh, và làm chủ tình thế. Trong cuộc nổ súng giữa quân đội và Lực lượng Tranh đấu, một số thiệt mạng và bị thương. Nhiều tin tức trái ngược chưa được phối kiểm. Ngày 17/5/66, Thiếu-tướng Huỳnh Văn Cao tới thị sát Sư đoàn I tại Phú Bài, lúc trực thăng cất cánh định rời bản doanh, một thiếu úy giơ súng lục bắn theo và bị đại liên của trực thăng bắn chết và 6 binh sĩ khác bị thương. 

Ngày 18/5/66, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ gửi thư chánh thức cho Viện Hóa Đạo yêu cầu can thiệp với các Thượng tọa ở Đà Nẵng đừng chứa chấp những người thuộc Lực lượng Tranh đấu ở các chùa Tỉnh Hội và Phổ Đà, hoặc rời khỏi các chùa đóNgày 20/5/66, các tướng Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất Đính được kêu gọi ra trình diện; Tư lịnh Sư đoàn I, tướng Phan Xuân Nhuận phải dứt khoát tư tưởng. Ngày 23/5/66, theo chuẩn tướng Dư Quốc Đống, phía Quân đội có 20 người chết và hơn 100 bị thương vụ dẹp quân ni dậy trong tuần qua. Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, Thị-trưởng Đà Nẵng đã bị bắt và đưa về Sài Gòn. Cùng ngày 23/5/66, một cầu Không vận được lập để tiếp tế cho Đà Nẵng. Ngày 25/5/66, theo Trung tướng Nguyễn Hữu Có thì Đại tá Đàm Quang Yêu và Thiếu tá Tôn Thất Tường, hai người cầm đầu vụ Đà Nẵng đã bị bắt và đưa về Sài Gòn. 

Ngày 30/5/66, Bộ Tư lịnh Sư đoàn I của tướng Phan Xuân Nhuận rút khỏi Huế. Ngày 2/6/66theo đài Phát thanh Sài Gòn, trung tá Trần Văn Khoa tuyên bố giới nghiêm lại Huế và đòi Lực lượng Tranh thủ nộp võ khí. Ngày 16/6/66, các ban Tuyên úy Phật giáo cấp Tiểu đoàn và Đại đội bị giải tán theo chỉ thị của Bộ Quổc-phòng. Cùng ngày 16/6/66, tại Sài Gòn, giờ giới nghiêm lại bị kéo dài từ 9 giờ tối đến 4 giờ sáng. Ngày 18/6/66nhiều biện pháp mới để chống lạm phát được ban hành: đặt trợ cấp du học 38$ một Mỹ-kim; tăng lương công chức và quân nhân từ 20% đến 30%; đặt quỹ điều hòa thị trường Vàng để bán vàng thoi theo giá hạ y.v... Ngày 28/6/66theo Bộ Xã hội, chỉ có 3 người chết, 30 bị thương trong các vụ lộn xộn ở Huế. Giá vàng hạ xuổng 12.300$. 

BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG (TIẾP THEO)Ngày 1/4/66, Trung tướng Phạm Xuân Chiểu ra Huế dàn xếp các vụ lộn xộn bị đám người biểu tình giữ lại. Ngày 4/4/66, tại Đà Nẵng, Ban Mê Thuột, Nha Trang, cũng có biểu tình chống đối chánh phủ. Buổi tối cùng ngày 4/4/66, chừng 500 người từ đường Trần Quổc Toản kéo đến Bộ Thông tin, nhưng bị giải tán bằng lựu đạn cay mắt. Ngày 6/4, nhiều sinh viên Huế được Sư đoàn I Bộ binh của Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận huấn luyện tập bắn để phòng thủ Huế chống quân đội chánh phủ. Ngày 7/4/66, Viện Hóa Đạo công bố kết quả điều đình với chánh phủ: không dùng võ lực giải quyết các vụ tranh đấu ngoài Trung, không bắt bớ, rút quân ở Đà Nẵng v Sài Gòn, triệu tập Quốc hội trong 4 đến 6 tháng. Ngày 8/4/66, Các nhóm tranh đấu ở Huế tuyên bố không thừa nhận những điểm thỏa hiệp giữa Viện Hóa Đạo và Chánh phủ, nhất định đòi hỏi chánh phủ này rút lui.

Ngày 8/4/66, Sinh viên, công chức tại Huế, Đà Nẵng, Quảng Trị, được võ trang bằng gậy gộc, lựu-đạn.v.v. Ngày 13/4/66, tại Huế và Đà Nẵng lại có biểu tình tuần hành đả đảo Đại hội Chánh trị. Ngày 15/4/66, Nhóm Lực lượng Tranh thủ Cách mạng tại Huế vẫn biểu tình, phản đối Đại hội Chánh trị, và đòi Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia cùng chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ rút lui. Ngày 17/4/66, Lực lượng Tranh thủ Cách mạng bắt giữ Tỉnh trưởng Quảng Nam Nguyễn Hữu Chi và Quận trưởng Hòa Vang cùng một số người bị coi là thân Chánh phủ. Ngày 20/4/66, tỉnh trưởng Quảng Nam, và những người bị Lực lượng Nhân dân Tranh thủ Cách mạng bắt giữ tại Đà Nẵng đã được thả ra. Cùng ngày 16/5/66, Nhóm chống chánh phủ chạm súng với TQLC trong ở ngoại ô Đà Nẵng. Một đơn vị TQLC khác kéo tới chùa Phồ Đà đòi trả 17 binh sĩ do Lực lượng Tranh đấu bắt giữ, 14 người đã trở về cùng với võ khí. Nhiều đơn vị TQLC tiến về Huế. 

Cùng ngày 16/5/66, Thượng tọa Thích Trí Quang từ Huế kêu gọi Tổng thống Johnson can thiệp. Và, cũng ngày 16/5/66, Tòa Đại sứ Mỹ được lịnh can thiệp dàn xếp giữa Chánh phủ và phe chổng đối. Ngày 18/5/66, những đơn vị TQLC và Nhảy Dù từ Đà Nẵng ra Huế, phải dừng lại ở đèo Hải Vân. Quân chống đối chánh phủ đang dàn trận trước mặt. Ngày 19/5/66, nhiều tin trái ngược về các vụ xung đột ở Huế và Đà Nẵng. Ngày 20/5/66, trước chùa Tỉnh Hội, Đà Nẵng, quân Chánh phủ và quân Tranh đấu nố súng, một số chết và bị thương. Cùng ngày 20/5/66, Thượng tọa Thích Trí Quang lại kêu gọi Tống thống Johnson can thiệp. Ông Quang cũng đòi Chánh phủ rút quân khỏi Đà Nẵng và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ phải từ chức ngay. Ngày 21/5/66, hàng trăm tăng ni tuyệt thực vô thời hạn tại Viện Hỏa Đạo. Nhiều tăng ni Phật tử ở Gia Định và Định Tường cũng tuyệt thực. 

Ngày 22/5/66, tại Đà Nẵng, hai bên vẫn nổ súng. Một số chết và bị thương tại khu chùa Phổ Đà. Ngày 22/5/66, Lịnh đại xá cho quân nhân nổi dậy ban hành tại Đà Nẵng. Trong ngày 22/5/66, đã có 600 binh sĩ cùng sĩ quan rời hàng ngũ ly khai trở về phía Chánh phủ. Ngày 23/5, Nhóm nổi dậy ở chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng chịu buông súng, hàng trăm binh sĩ trở về với Quân đội, hơn ngàn súng các loại được tìm thấy trong chùa, với 30 xác chết sặc mùi hôi thối. Ngày 25/5/66, Thượng tọa Thích Trí Quang yêu cầu lần thứ ba Tồng thổng Johnson và Quổc hội Mỹ đừng ủng hộ chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ nữa.Ngày 26/5/66, Sinh viên Huế biểu tình bài Mỹ và đốt phòng Thông tin cùng Thư viện vài ngàn cuốn sách. Ngày 27/5/66, một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn I BB được gửi vô Huế để bảo vệ an ninh cho các cơ sở Mỹ. Ngày 29/5, ni cô Thích nữ Thanh Quang, 55 tuổi, tự thiêu trước chùa Diệu Đế để phản đối Tồng thống Johnson không chịu rút sự ủng hộ chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ.

Ngày 30/5/66, Huế phát động phong trào bài Mỹ kịch lỉệt, tẩy chay, bãi công, đổt phá v.v. Ngày 1/6/66Thượng tọa Thích Pháp Siêu, Vụ Phó vụ Thanh niên phản đối giải pháp ôn hòa của Thượng tọa Thích Tâm Châu và toan tự thiêu ngay, nhưng được Phật tử ngăn chặnNgày 3/6/66Thượng tọa Thích Trí Quang cải chính các tin, theo đó quân đội Chánh phủ đã tái chiếm và kiềm soát Huế, đồng thời tuyên bố cự tuyệt cuộc bầu cử do Chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ sắp tỗ chức. Ngày 4/6/66Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm và Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận họp báo tại Đà Nẵng cho biết: Lực lượng Tranh thủ của Bửu Tôn đã nộp 520 võ khí, Trung tá Khoa đã tái lập an ninh ở Huể, các chùa bỏ ngỏ. Ngày 5/6/66Thượng tọa Thích Trí Quang vẫn phát động phong trào chống chánh phủ, và kêu gọi Phật tử đem các bàn thờ Phật bày ra đường để chắn lối đi trong thành phố Huế. 

Ngày 6/6/66, thêm 3 tiểu đoàn, vừa Nhảy Dù vừa TQLC tới trường bay Phú Bài, và đóng cách Huế 8 cây sổ. Cùng ngày 6/6, các bàn thờ Phật vẫn bày chật nhiều ngả đường và ngăn cản sự chuyên chở. Nhiều đám dân chúng đứng chắn không cho các quân xa Mỹ di chuyển. Cũng ngày 6/6/66Thượng tọa Thích Tâm Châu lại trở về giữ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo tuyên bố: chống bạo động, giải tán Lực lượng Phật tử, nhưng vẫn đòi các Tướng Thiệu và Kỳ từ chức, lập Ủy ban Bảo vệ Phật giáo và tranh đấu bất bạo động. Ngày 7/6/66, Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận tuyên bố: Thích Trí Quang là Cộng sản và sẽ bị bắt. Ngày 8/6/66Bàn thờ Phật vẫn chưa được dọn khỏi các ngả đường Huế. Thượng tọa Thích Trí Quang tuyệt thực. Ngày 9/6/66Thượng tọa Thích Tâm Châu và nhiều Thượng tọa Viện Hóa Đạo hội đàm với Đại sứ Cabot-Lodge, đòi Mỹ rút sự ủng hộ đã dành cho chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ và UBLBQG. 

Cùng ngày 9/6/66Thượng tọa Thích Trí Quang yếu sức vì tuyệt thực, phải vào nhà thương. Ngày 10/6/66một tiểu đoàn Cảnh sát Dã chiến được gửi tới Huế, đóng ở nhiều địa điểm. Ngày 11/6/66, chừng 5.000 người biều tình ủng hộ Thựợng tọa Thích Trí Quang. Ngày 12/6/66Cảnh sát Dã chiến dẹp các bàn thờ bày trên đường phố Huế. Cùng ngày 12/6/66, thêm 1 tiều đoàn TQLC được gửi đến Huế. Ngày 13/6/66nhiều nơi bàn thờ Phật vẫn còn ngăn cản giao thông, binh sĩ không chịu đụng tới. Ngày 13/6/66, hơn 150 Cảnh sát Dã chiến nữa đến Huế. Ngày 14/6/66Thượng tọa Thích Tâm Châu không rõ hiện đang ở đâu, kêu gọi dẹp bàn thờ. Ngày 15/6/66tại Huế, quân đội giải tán các cuộc biểu tình bằng lựu đạn cay mắt, và dẹp các biểu ngữ chống chánh phủ. Nhiều tăng ni, Phật tử ngồi giữa đường tụng kinh. Tại Sài Gòn, nhiều cuộc biểu tình xuất phát từ Viện Hóa Đạo bị cảnh sát Dã chiến dẹp ngay. Nhiều bàn thờ Phật bày ra đường cả trên đường Công Lý lối gần cầu, nhưng cũng bị dẹp. 

Ngày 16/6/66tại Huế, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám đốc Cảnh sát, đích thân chỉ huy dẹp các bàn thờ và các đám biểu tình. Ngày 17/6, có tới 4 tiểu đoàn Nhảy Dù và TQLC kiểm soát Huế, đóng quanh thành nội trong đó vài trăm binh sĩ ly khai cố thủ. Cùng ngày 17/6/66, Cơ quan An ninh Quân đội bắt vợ giáo sư Lê Tuyên trong Lực lượng Tranh đấu Huế, cùng một số sinh viên tình nghi là VC. Cũng ngày 17/6/66Thượng tọa Thích Trí Quang về chùa Diệu Đế. Ngày 19/6/66, các đơn vị tái chiếm Huế làm chủ tình hình, dẹp hết các ban thờ, kiềm soát thành phố và có khám xét mấy chùa. Cùng ngày 19/6/66, Thượng tọa Thích Trí Quang vẫn tuyệt thực. Ngày 20/6/66Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ gửi thư ngỏ giải thích với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Thượng tọa Thích Tâm Châu về cuộc hành quân Đà Nẵng, không có sự đàn áp Phật giáo. 

Ngày 20/6/66tại Đà Nẵng, lại có biểu tình của vài trăm người từ chùa Tỉnh Hội, nhưng bị giải tán ngay. Tại Huế, tình hình sinh hoạt gần bình thường. Bệnh viện dân y, nơi Thượng tọa Thích Trí Quang nằm tuyệt thực, bị Cảnh sát canh gác. Cùng ngày 20/6/66, vài ngàn tăng ni, Phật tử biểu tình tại Qui Nhơn ủng hộ các Thượng tọa Thích Trí Quang và Thích Thiện Minh. Ngày 21/6/66kết quả cuộc hành quân tái chiếm Huế: 7 quân nhân phía chánh phủ bị thương; tạm giữ 190 quân nhân ly khai, 109 công chức, 35 cảnh-sát. Đã bắt các lãnh tụ Tranh đấu. Ngày 21/6/66, Thượng tọa Thích Trí Quang được Quân đội đưa vô Sài Gòn. Theo thông cáo: để dưỡng sức và được bảo vệ, vì VC có thể ám sát để gây xúc động. Ngày 22/6/66Lê Tuyên, lãnh tụ Tranh đấu tại Huế đã ra trình diện Cảnh sát. TQLC và Nhảy Dù tới tỉnh lỵ Quảng Trị dẹp bàn thờ và trấn đóng giữ trật tự. 

Ngày 23/6/66Quân đội cùng Cảnh sát vào Viện Hóa Đạo luc soát, đưa vài trăm tăng ni về các chùa, bắt giữ một số thanh niên trốn quân dịch. Ngày 24/6/66tại Huế, Quân đội và Cảnh sát tới kiểm soát các chùa Từ Đàm và Diệu Đế. Xác người tự thiêu quàn tạm, được chở đi chôn. Cùng ngày 24/6/66, Giáo sư Lê Tuyên, một lãnh tụ Tranh đấu, tuyên bố tại đài phát thanh rằng các vụ gây rối đều do Thượng tọa Thích Trí Quang chủ động.

SỰ KIỆN NỘI TÌNH KHÁC. Cùng ngày 8/4, Các Lực lượng Đại đoàn kết và Tổng đoàn Thanh niên Trừ gian tuyên bố chống các cuộc bạo động. Ngày 10/4/66, Mặt trận Quốc dân Thống nhất họp tại rạp Thống Nhất yêu cầu lập Chánh phủ Dân sự. Ngày 16/4/66, Chu Tử tức Chu Văn Binh, nhà văn và chủ bảo Sống, bị mấy kẻ đi xe gắn máy bắn trúng nhiều phát trước cửa nhà. Ngày 17/4/66, Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình cho biết các Nhóm Thanh niên Công gỉáo được thành lập trên toàn quốc để ngăn chặn Cộng sản cướp chánh quyền. Ngày 1/5/66, các Tổng liên đoàn Lao công và Tổng liên đoàn Lao động mit-tinh và biểu tình tuần hành, kéo qua Tòa Đại sứ Hoa Kỳ trưng nhiều biểu ngữ bài Mỹ, kêu gọi rút quân, đình chiển, v.v... Ngày 2/5/66, Chừng vài ngàn giáo dân biểu tình tại Hóc Môn, đả đảo đại sứ Cabot Lodge, cảm ơn quân đội Mỹ, và kêu gọi chống Cộng. 

Ngày 9/5, Phật giáo Hòa Hảo họp đại hội 11 ban trị sự Tỉnh, và lập một Ủy ban Lãnh đạo Lực lượng Bảo an Phật giáo Hòa Hảo. Ngày 12/5/66, Khối Công giáo Huế lập Ủy ban Bảo vệ Giáo xứ. Ngày 13/5/66, trước trụ sở Tổng liên đoàn Lao động có căng một số biểu ngữ bài Mỹ. Cùng ngày 6/6/66, có 5 đoàn thể Công giáo như Mặt trận Công giáo dân; Quổc dân Liên hiệp; Tổng đoàn Sinh viên; Thanh niên, Học-sinh... không tham gia cuộc biểu dương lực lượng do nhóm Nguyễn Gia Hiến của Đại đoàn kết sắp tỗ chức ngày 12-6. Ngày 27/6/66Chùa Ấn Quang, Sài Gòn bị Cảnh sát khám xét: tịch thu một tiểu liên Tiệp Khắc giấu trong xe hơi ở sân chùa. 

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 1/4/66, trong buổi họp báo, Tổng thống Johnson cho biết trong 3 tháng qua, VC thiệt 50.000 người. Ngày 2/4/66, theo tin quân sự Mỹ, trong 3 tháng qua, BV cho 50.000 quân tràn vào miền Nam, phần nhiều vượt qua Bến Hải. Thêm 2 Bộ tư lịnh Mỹ cấp sư đoàn được đặt tại Quảng Trị và Thừa Thiên. Cùngngày 2/4/66, Đài phát thanh B.B.C và báo The Guardian ở Luân Đôn tỏ ý bi quan về tình hình VN. Chính giới Mỹ cũngrất lo ngại. Cùng ngày 4/4/66, giới quân sự Mỹ cho hay TQLC Mỹ không tham dự cuộc hành quân giải phóng Đà Nẵng. Ngày 5/4/66, HK cho di tản các cơ quan nằm trong thị xã Đà Nẵng. Cùng ngày 5/4, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố: rất mong việc lộn xộn sớm giải quyết và hội nghị các lãnh tụ Tôn giáo chánh trị sớm họp để đi tới một Hiến pháp dân chủ. 

Cùng ngày 6/4/66, Mỹ rút các cố vấn ra khỏi các đơn vị quân đội VNCH tại Huế và Đà Nẵng. Cũng ngày 8/4/66, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William Bundy tuyên bố: Thượng tọa Thích Trí Quang đương muốn thao túng chính trường VN, song mục dích không rõ rệt. Ngày 13/4/66, đài B.B.C lại đưa tin dư luận Hoa Thịnh Đốn rất lo ngại và thất vọng về tình hình VN. Cùng ngày 14/4/66, Phát ngôn viên Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn tuyên bố: không hề có sự nhượng đất làm căn cứ cho Mỹ tại VN. Ngày 28/4/66, giới quân sự Mỹ loan tin BV đưa thêm vô Nam 3 trung đoàn. Ngày 30/4/66, Đại sứ Cabot-Lodge về Mỹ thảo luận về tình hình VN. Ngày 11/5/66, Tổng thổng Johnson nhóm họp hội nghị duyệt lại chánh sách lâu dài tại VN. Nhiều tướng lãnh đòi thả bom xuống các kho dầu Hà Nội và Hải Phòng. 

Cùng ngày 16/5/66, Đại-sứ Cabot-Lodge trên đường từ Mỹ trở lại VN còn tạt qua Hán Thành 48 giờ. Ngày 18/5/66, tạiHán hành, Đại sứ Cabot-Lodge vận động chánh phủ Đại Hàn gửi thêm quân sang VN. Ngày 20/5/66, Đại sứ Cabot-Lodge từ Hán Thành về tới Sài Gòn, chỉ có nhân vật Mỹ đón tiếp. Ngày 3/6/66Phát ngôn viên tòa Đại sứ Mỹ cho biết: những vụ bạo động và tự thiêu chỉ nhằm gây áp lực cho Mỹ can thiệp vào việc tranh chấp nội bộ của VN, nhưng Mỹ vẫn giữ nguyên thái độ cũ. Cùng ngày 29/6/66Tổng thống Johnson xác nhận: sẽ còn tiếp tục oanh tạc mạnh để BV nhận rằng xâm lăng sẽ phải trả bằng giá quá đắt. Ngày 30/6, Tổng thống Johnson xác nhận nhất quyết đánh mạnh vì Hà Nội và Bắc Kinh không chịu điều đình. 

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 11/4/66, quân số Mỹ tại VN hiện đã lên tới 240.000: Lục quân 146.000; TQLC 48.600; Không quân 32.000; Hải quân 12.600. Ngày 28/4/66, hơn 4.000 quân Mỹ đổ bộ lên Vũng Tàu. Ngày 7/5/66, theo Bộ Quốc phòng Mỹ lực lượng của các bên tham chiến: VC 250.000 gồm 90.000 chính quy, 160.000 du kích, bộ đội địa phương. VNCH 700.000 gồm 316.000 Chủ lực quân, còn lại Địa phương quân và Nghĩa quân. Hoa Kỳ 255.000 gồm 156.000 Bộ binh, 13.500 Hải quân. Đại Hàn, Úc, Tân Tây Lan 26.000.  

QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VỚI NƯỚC KHÁC. Ngày 5/5/66, Tổng thư ký LHQ, U-Thant tuyên bố: Liên Hiệp Quốc không thể can thiệp vào VN bây giờ, vì Nga Sô không muốn. Ngày 28/6/66Ký kết hiệp định Đức-Việt, Tây Đức viện trợ 20 triệu Mỹ kim để xây lò sát sinh Đô thành và mua tàu biển.  

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 15/6/66có tin từ Hương Cảng, cuộc Thanh trừng ở Trung Cộng lan rộng từ Bắc Kinh về các địa phương. Ngày 29/6/66Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh, Lê Duẩn sang Nga hội đàm về vấn đề VN. Cùng ngày 29/6/66, Dân chúng Hà Nội phải tản cư, chỉ còn độ 300.000 trong số 1.200.000 ở lại thành phố.

KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 10/4/66, Phi cơ Mỹ vẫn oanh tạc BVNgày 13/4/66, B-52 tiếp tục ném bom BV, mục tiêu đèo Mụ Gia. Ngày 19/4/66, Phi cơ Mỹ oanh tạc một cầu gần Hải Phòng. Ngày 23/4/66, Không quân Mỹ oanh tạc vùng lân cận Hà Nội và đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn. Ngày 24/4/66, Không quân Mỹ oanh tạc BV, không chiến tại Bắc Giang, 14 Mig-17 và Mig-21 bị hạ. Ngày 27/4/66, B-52 lại ném bom đường mòn Hồ Chí Minh, về phía đèo Mụ Gia. Phi cơ Mỹ cũng tiếp tục oanh tạc nhiều vùng Bắc Giang, Vinh, Đồng Hới. Ngày 29/4/66, có 64 phi vụ oanh tạc Nam Định và Uông Bí. Ngày 31/5/66, Phi cơ Mỹ xuất trận ném bom BV, 83 phi vụ, mục tiêu cầu, xe lửa, kho hàng, radar, căn cứ hỏa tiễn v.v... số bom hôm nay bằng cả số ném trong tháng Giêng. 

Ngày 2/5/66, có 2 dàn hỏa tỉễn SAM bị phi cơ Mỹ phá hủy gần Vinh. Nhiều kho dầu và đường sá cũng bị oanh tạc. Ngày 3/5/66, Pháo đài B-52 dội bom xuổng nhiều địa điểm trên đất Lào. Ngày 5/5/66, mặc dầu trời xấu, phi cơ Mỹ vẫn dội bom dữ dội ở vùng Hòn Gay, Cẫm Phả. Ngày 8/5/66, mặc dầu trời xẩu, hàng trăm phi cơ Mỹ vẫn dội bom xuổng B.V. một dàn hỏa tiễn SAM bị phá gần Hà Nội, Các đường vô Hà Nội đều bị phá hủy. Một phản lực F-105 bị hạ. Ngày 11/5/66, mặc dầu trời xấu, BV vẫn bị oanh tạc 50 lần. Ngày 12/5/66, trong 87 phi vụ dội bom xuống BV, 2 dàn hỏa tiền SAM bị phá hủy gần Hải Phòng. Ngày 14/6/66Phi cơ Mỹ thuộc chiến hạm Ranger oanh tạc BV bắn rớt 1 máy bay BV bị tại miền Thanh Hóa. Ngày 15/6/66hai đài radar chỉ cách Hải Phòng 10 cây số bị phi cơ Mỹ phá hủy. 

Ngày 16/6/66Phi cơ Mỹ lại phá một đài radar và một căn cứ hỏa tiễn tại vùng Thanh Hóa. Ngày 18/6/66Phi cơ Mỹ ném bom BV phá một dàn hỏa tiển cách Vinh 83 cây sổ. Từ một năm nay, B-52 đã oanh tạc trong 321 phi vụ, và ném 70.000 tấn bom. Ngày 20/6/66Phi cơ Mỹ oanh tạc dữ khu kỹ nghệ Thái Nguyên và Việt Trì. Báo động tại Hà Nội: 2 phi-cơ bị hạ. Ngày 27/6/66một kho nhiên liệu lớn bị oanh tạc cách Vinh 59 cây sổ cháy 14 giờ chưa tắt. Ngày 29/6/66phi cơ Mỹ dội bom phả hủy các bồn xăng gần Gia Lâm và sát Hải Phòng, từ 60% đến 80% xăng bốc cháy.            

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 21/4/66, hành quân Liên Kết 36 của Sư đoàn II tại quận Sơn Tịnh, cùng với hành quân Hot Spring của quân đội HK hạ 111 VC, thu nhiều súng lớn Ngày 12/5/66, TQLC Mỹ kịch chiến với VC tại làng Hòa Thới cách phi trường Đà Nẵng 25 cây sổ, 175 VC bị hạ. Ngày 9/6, B-52 ném bom xuống vùng tụ quân BV, cách Huế chừng 30 cây số. Ngày 25/6/66có tin 2 sư đoàn quân BV đã tràn vào vùng Quảng Trị và Thừa Thiên. Kịch chiến cách Huế 21 cây số ở đầm lầy duyên hải từ trưa và suốt đêm. Một đại đội Mỹ bị tỗn thất nặng. Ngày 26/6/66Trong khuôn khổ hành quân Jay, TQLC Mỹ hạ 28 VC tại vùng đồng lầy duyên hải Thừa Thiên. 

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 3/5/66, có 99 tù binh VNCH bị bắt ở Kontum từ 1965, vừa được thả. Ngày 6/5/66, kịch chiến gần Bồng Sơn, hơn 100 VC bị hạ. Ngày 15/6/66theo tin của giới quân sự VN, hiên VC có 3 sư đoàn gồm 13 trung đoàn, tại Cao nguyên và miền Duyên hải Trung phần. Chỉ huy là Trung tướng Chu Huy Mân.

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 10/4/66, B-52 dội bom tại Phước Tuy và Kiến Phong. Ngày 13/4/66một đại đội Bộ binh Mỹ bị chặn đánh tại Bình Giả, Phước Tuy thiệt hại nặng. Ngày 24/4/66, Hành quân Birmingham tại biên giới Tây Ninh. Ngày 11/5/66, kịch chiến giữa một đơn vị Nhảy Dù Mỹ và 1 tiểu đoàn VC tại Phước Long.

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 23/4/66hành quân Dân Chí 219-SĐ tại Chương Thiên hạ 245 VC, thu nhiều súng lớn. Ngày 14/5, hành quân Dân Chí 227/SĐ tại xã Tân Duyệt, quận Đầm Dơi hạ 227 VC, bắt 19 cùng nhiều võ khí. Ngày 18/5/66, hành quân Dân Chí 228 B/SĐ tại Vĩnh Châu, Bạc Liêu. Ngày 14/6/66Hành quân Cửu Long 29/66, vùng xóm Trăng, Mộc Hóa hạ 11 VC, bắt rẩt nhiều súng đạn, đài điện thoại, và phá hủy nhiều hầm bê tông.

TẠI BIỆT KHU THỦ ĐÔ. Ngày 14/4/66, quá nửa đêm, Phi trường Tân Sơn Nhẩt bị pháo kích: 6 quân nhân Mỹ chết và 155 Mỹ và Việt bị thương, 1 máy bay B-57, 23 trực thăng, 2 C-47 bị phá hủy, 1.200.000 lít xăng của ESSO cháy suốt đêm ngày 13, sáng 14 chưa hết khói. Ngày 10/5/66, sáng nay mìn nổ tại đường Hai Bà Trưng, gần khách sạn Ambassador sau nhà Văn Hóa. Quân nhân Mỹ bắn nhau với đặc công VC trong hơn nửa giờ, làm 6 chết, 20 bị thương cả Mỹ lẫn Việt đi đường. Ngày 13/5/66, có 38 cán bộ đặc công VC gồm 4 tổ đã bị cơ quan an ninh bắt. 

 

Bài 230: NHÀ NGHIÊN CỨU LÂM VĨNH THẾ VIẾT VỀ “BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG” NĂM 1966.

NGUYÊN NHÂN TRỰC TIẾP. Ngày 11-3-1966, Hội-đồng các Tướng-lãnh và Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (UBLĐQG) nhóm họp 5 tiếng đồng hồ tại Bộ Tổng-tham-mưu và quyết định cho Trung-tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư-lịnh Vùng I Chiến-thuật kiêm Đại-biểu Chánh-phủ tại vùng nầy, được nghĩ phép để đi chữa bịnh mũi. (1) Ngày 13-3-1966, Hội-đồng Tướng-lãnh, gồm cả các chỉ-huy địa-phương nhóm họp tại Bộ Tổng-tham-mưu và biểu quyết với 32 phiếu thuận và 4 phiếu trắng cho Tướng Nguyễn Chánh Thi nghĩ việc. Thiếu-tướng Nguyễn Văn Chuân được cử lên thay làm Tư-lịnh Vùng I kiêm Đại-biểu Chính-phủ2) Việc cách chức Tướng Thi đã là ngòi nổ làm bùng lên cuộc Biến Động Miền Trung năm 1966.

NGUYÊN NHÂN SÂU XA. Miền Trung, từ sau cuộc khủng hoảng Phật Giáo năm 1963, dưới ảnh hưởng của Phật Giáo do Thượng Tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, đã liên tục là nơi xuất phát các phong trào chính trị đối kháng với chính phủ trung ương tại Sài Gòn, nhứt là sau năm 1965. Việc chống đối nầy có mấy nguyên nhân chánh như sau: 1) Các chính phủ kế tiếp nhau từ sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đỗ đều hứa hẹn sẽ triệu tập Quốc Dân Đại Hội để soạn thảo Hiến Pháp mới nhưng đều không giữ được lời hứa nầy; 2) Các chính phủ nầy đều, không nhiều thì ít, đã sử dụng trở lại một số phần tử Cần Lao của chế độ Ngô Đình Diệm mà Phật Giáo hoàn toàn không thể chấp nhận được; và, 3) Nội Các Chiến Tranh của Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã tích cực ủng hộ sự kiện Hoa Kỳ ồ ạt đổ quân tác chiến vào Miền Nam, mở rộng chiến tranh ra Miền Bắc, đã làm cho cuộc chiến trở nên khốc liệt gấp bội, và làm đảo lộn hoàn toàn đời sống của nhân dân Miền Nam. 

Khẩu hiệu tranh đấu của Phật Giáo có thể thay đổi tùy thời điểm nhưng nói chung đều xoay quanh hai chủ đề chính: 1) Yêu cầu chính quyền tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo Hiếp Pháp mới; và 2) Chống chế độ độc tài quân phiệt. 

TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI. Về phần Tướng Nguyễn Chánh Thi, ông là một khuôn mặt tướng lãnh rất đặc biệt và quan trọng trong giai đoạn lịch sử nầy của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).   Khi còn mang cấp bậc Đại Tá, Tư lịnh Lữ Đoàn Nhảy Dù, ông đã lãnh đạo cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 nhằm lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.  Cuộc đảo chánh thất bại, ông phải sống lưu vong 3 năm tại Cao Miên.  Sau khi cuộc đảo chánh 1-11-1963 thành công lật đổ được chế độ Ngô Đình Diệm, ông trở về nước, được phục hồi cấp bậc và được bổ nhiệm làm Tư Lệnh phó Vùng I, dưới quyền Trung Tướng Nguyễn Khánh.  Ông tham gia vào cuộc Chỉnh Lý ngày 30-1-1964 của Tướng Khánh.  Ông được Tướng Khánh thăng cấp Chuẩn Tướng ngày 29-5-1964, rồi thăng cấp Thiếu Tướng ngày 21-10-1964, và trở thành một thành viên quan trọng của nhóm Tướng trẻ mà báo chí Mỹ thường gọi chung là Young Turks.  

Cùng với nhóm nầy, ông đã tham gia vào việc chống lại cuộc đảo chánh ngày 13-9-1964 của hai tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát, và cuộc đảo chánh ngày 19-2-1965 của Đại Tá Phạm Ngọc Thảo, cũng như việc lật đổ Tướng Nguyễn Khánh và buộc Tướng Khánh phải rời khỏi Việt Nam ngày 25-2-1965.  Sau các vụ nầy, ông trở thành một trong các tướng lãnh có thế lực nhứt.  Sau khi Chính phủ Phan Huy Quát giao lại chính quyền cho Quân Đội, ông đã được các tướng lãnh đề nghị làm Thủ Tướng nhưng ông đã từ chối và các tướng lãnh đã đề cử Tướng Kỳ. Trong vai trò Tư Lệnh Vùng I kiêm Đại Biểu Chính Phủ, ông đã có những bất đồng ý kiến về chính trị với chính quyền trung ương tại Sài Gòn. Ngoài ra, với việc gia tăng ồ ạt quân số Hoa Kỳ tại VNCH, ông cũng không tránh được những đụng chạm với người Mỹ trong cương vị Tư Lệnh vùng của ông. Việc ông từ chối không đi dự Hội Nghị Thượng Đĩnh Mỹ-Việt tại Honolulu vào đầu tháng 2-1966 càng làm cho người Mỹ thiếu thiện cảm với ông hơn. 

Trên hết, việc ông được hậu thuẩn rất lớn của phe Phật Giáo cũng như đồng bào tại Vùng I làm cho các tướng lãnh rất e ngại thế lực của ông. Ngoài ra, với bản tánh nóng nảy, bộc trực, phê bình thẳng những chuyện sai quấy của người khác, nhất là đối với các tướng lãnh tham nhũng (số nầy lại là đa số), ông dần dần bị cô lập trong hội đồng các tướng lãnh. Trong hoàn cảnh bị cô lập như vậy, chính Tướng Thi lại tạo thêm những lý do thuận lợi cho phe chống ông thành công dễ dàng trong việc loại ông ra khỏi bộ máy cầm quyền. Trước tiên là vụ từ chối tham dự Hội Nghị Honolulu vào đầu tháng 2-1966.  Hội nghị nầy là hội nghị thượng đĩnh đầu tiên giữa Tổng Thống Lyndon B. Johnson của Hoa Kỳ và phái đoàn cao cấp củaVNCH cầm đầu bởi Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch UBLĐQG, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Uûy Ban Hành Pháp Trung Ương (UBHPTƯ).  

Về phía Hoa Kỳ, nó đánh dấu việc công khai chính thức xác nhận sự cam kết của Hoa Kỳ trong nỗ lực chiến tranh tại Việt Nam. Về phía VNCH, đây là cơ hội để trình bày với công chúng Hoa Kỳ và cả thế giới về mục tiêu và đường lối của Nội Các Chiến Tranh; phần quan trọng nhứt là cam kết của chính phủ VNCH là sẽ tổ chức soạn thảo hiến pháp mới, tổ chức bầu cử để tiến đến thành lập chính phủ dân cử. Việc từ chối không đi dự hội nghị nầy tạo ra thêm một bằng chứng cụ thể cho thấy Tướng Thi không cùng lập trường với UBLĐQG và UBHPTƯ, nghĩa là chống lại chính quyền trung ương tại Sài Gòn. Kế tiếp là chuyến viếng thăm Vùng I của Tướng Kỳ vào đầu tháng 3-1966. Trong buổi lễ tiếp đón phái đoàn của Tướng Kỳ, Tướng Thi đã để cho người của ông công khai chỉ trích chính quyền trung ương làm Tướng Kỳ cảm thấy bị xúc phạm nặng nề. Đây là giọt nước làm tràn ly. Tướng Kỳ nhứt quyết phải loại Tướng Thi khỏi chức vụ Tư Lệnh Vùng I. 

VIỆC LOẠI TRỪ TƯỚNG THI. Tuy là người trực tính, nóng nảy, nghĩ sao nói vậy, lần nầy Tướng Kỳ chuẩn bị việc loại trừ Tướng Thi rất kỷ lưởng. Đầu tiên, vào ngày 9 tháng Ba, Tướng Kỳ họp với các thành viên chánh (tất cả đều là tướng lãnh) của UBLĐQG và được sự đồng ý của tất cả về kế hoạch loại Tướng Thi.  Ngay sau buổi họp nầy, ông gặp đại sứ Lodge, trình bày những khó khăn mà Tướng Thi đã gây ra cho chính phủ của ông, và thông báo cho ông đại sứ quyết định của các tướng lãnh tại buổi họp trước đó. Ông nói thêm là ông sẽ không thể tiếp tục thi hành nhiệm vụ của ông nếu Tướng Thi không bị cách chức. Đại sứ Lodge khuyên ông nên hành động thận trọng và cần phải thiết lập hồ sơ đầy đủ trước khi loại Tướng Thi.

UBLĐQG cũng hành động rất thận trọng trong vụ nầy. Tướng Thi được mời vào Sài Gòn tham dự một buổi họp đặc biệt và giới hạn, chỉ có sự hiện diện của các Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), và Nguyễn Hữu Có (Ủy Viên Quốc Phòng). Các tướng lãnh cố gắng thuyết phục Tướng Thi chịu từ chức Tư Lệnh Vùng I, và rời Việt Nam sang Hoa Kỳ một thời gian với lý do chửa bệnh, nhưng Tướng Thi dứt khoát không chịu. Các tướng lãnh không còn cách nào khác, phải buộc Tướng Thi vào tình trạng quản thúc tại gia tại nhà riêng của Tướng Thi ở Sài Gòn, và triệu tập Đại Hội Đồng Quân Lực vào ngày hôm sau, 10 tháng Ba, để thảo luận về trường hợp của Tướng Thi.  Sau khi nghe hai Tướng Kỳ và Có trình bày chi tiết về trường hợp của Tướng Thi (chủ yếu là các hành động không tuân lệnh và chống lại chính quyền trung ương tại Sài Gòn), tất cả các tướng lãnh đều bỏ phiếu tán thành việc loại Tướng Thi khỏi chức vụ Tư Lệnh Vùng I; chỉ có Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù, bỏ phiếu trắng.

DIỄN TIẾN CỦA CUỘC BIẾN ĐỘNG. Một tuần lễ sau khi Tướng Thi bị cách chức Tư Lệnh Vùng I, nhiều cuộc biểu tình chống chính phủ và nhiều cuộc đình công do Phật Giáo xách động đã diễn ra tại Huế và Đà Nẳng. Lực lượng tranh đấu chiếm đài phát thanh Huế. Lời Thương Tọa Thích Trí Quang kêu gọi công chức, quân nhân và sinh viên tham gia vào cuộc đấu tranh chống chính quyền quân phiệt Thiệu-Kỳ được phát thanh hàng ngày. Đoàn Học Sinh Sinh Viên Quyết Tử được tổ chức và họ chiếm các Bộ Chỉ Huy của Cảnh Sát tỉnh Thừa Thiên và Thành phố Huế. Họ phá các kho súng, chiếm lấy tất cả súng và trang bị cho đoàn viên. Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, vừa mới được bổ nhiệm Tư Lệnh Sư Đoàn I Bộ Binh đồn trú tại Huế (thay cho Thiếu Tường Nguyễn Văn Chuân đã được cử làm Tư Lệnh Vùng I thay thế Tướng Thi) ngả theo Phật Giáo trong cuộc đấu tranh chống lại chính quyền trung ương ở Sài Gòn.  

Một số đông binh sĩ của Sư Đoàn I Bộ Binh cũng tham gia vào phong trào tranh đấu và bắt đầu huấn luyện quân sự cho học sinh sinh viên. Nhiều đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân cũng rời bỏ nơi đồn trú, trở về các thành phố Huế và Đà Nẳng để tham gia vào phong trào tranh đấu chống chính phủ. Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, Thị Trưởng Đà Nẳng, và Đại Tá Đàm Quang Yêu, Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Quảng Đà cũng công khai ủng hộ phong trào tranh đấu. Phong trào tranh đấu bắt đầu lan rộng ra các tỉnh và thành phố khác ở Miền Trung, như Nha Trang, Ban Mê Thuột và Đà Lạt. Ngay tại Sài Gòn cũng diễn ra nhiều vụ biểu tình chống chính phủ. Trên thực tế, phong trào tranh đấu chống lại chính quyền trung ương Sài Gòn đã trở thành cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng nhứt kể từ khi Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ được thành lập.  

UBLĐQG cho phép Tướng Thi được trở ra Miền Trung vào giữa tháng Ba để giải thích nội vụ cho đồng bào Vùng I cũng như để cho đồng bào biết rõ là chính ông cũng đã chấp nhận quyết định của UBLĐQG. Sự can thiệp nầy không làm giảm bớt phong trào tranh đấu vì, thật ra, mục tiêu của phong trào không còn là yêu cầu tái bổ nhiệm Tướng Thi vào chức vụ Tư Lệnh Vùng I nữa; mục tiêu của phong trào tranh đấu bây giờ là đòi hỏi chính phủ phải tổ chức bầu cử, soạn thảo Hiến pháp để thành lập chính phủ dân sự thay thế cho chính quyền quân phiệt Thiệu-Kỳ. Vào cuối tháng Ba năm 1966, chính quyền trung ương Sài Gòn hoàn toàn không còn kiểm soát được Huế và Đà Nẳng nữa. Đồng thời, trong các cuộc biểu tình tại Huế, Đà Nẳng, và ngay cả tại Sài Gòn, đã thấy xuất hiện nhiều khẩu hiệu chống Mỹ.

Dưới áp lực của người Mỹ đòi hỏi chính phủ VNCH phải chấm dứt tình trạng vô chính phủ và bài Mỹ nầy, ngày 4 tháng Tư, với sự giúp đở về phương tiện vận chuyển từ giới quân sự Mỹ, Tướng Kỳ mang hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) có chiến xa yểm trợ ra căn cứ không quân Đà Nẳng. Cùng đi với Tướng Kỳ là Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Ủy Viên Quốc Phòng, Trung Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, và Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội. Tuy nhiên, Tướng Nguyễn Văn Chuân, không đồng ý với việc sử dụng quân đội chống lại phong trào tranh đấu, đã ra lệnh phong tỏa tất cả các ngả đường từ căn cứ không quân vào thị xã Đà Nẳng. Đồng thời, từ Huế, Tướng Phan Xuân Nhuận, cũng tuyên bố ủng hộ phong trào tranh đấu và sẽ chống lại nếu quân chính phủ tiến ra Huế.

Trước sự chống đối nầy của các lực lượng quân sự tại địa phương có thể đưa đến giao tranh đẫm máu giữa các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH), các Tướng Kỳ và Viên quyết định trở về Sài Gòn; Tướng Có ở lại Đà Nẳng để tiếp tục thương thuyết với phe chống chính phủ. Tướng Kỳ đã nhận ra rằng một giải pháp chính trị, chứ không phải chỉ dùng võ lực, là cần thiết để giải quyết cuộc khủng hoảng. Chính phủ Mỹ, qua Đại sứ Henry Cabot Lodge, đã có những đóng góp tích cực vào tiến trình thương thuyết giữa chính quyền Thiệu-Kỳ và phe Phật Giáo. Đại sứ Lodge, do mối quan hệ đặc biệt giữa ông và Thượng Tọa Thích Trí Quang hình thành trong cuộc khủng hoảng Phật Giáo năm 1963, đã gặp Thượng Tọa rất nhiều lần trong suốt thời gian của cuộc khủng hoảng và báo cáo lại những yêu cầu của Phật Giáo cho chính phủ VNCH qua Tướng Kỳ.

Vào ngày 5 tháng Tư, sau khi ông từ Đà Nẳng trở về Sài Gòn, Tướng Kỳ đã có ngay một buổi họp tại nhà riêng của ông với một phái đoàn Phật Giáo do Thượng Tọa Tâm Châu lãnh đạo (Thượng Tọa Trí Quang vẫn còn ở Huế nên không có tham dự). Đòi hỏi chính yếu của Phật Giáo là chính phủ phải tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến (QHLH) trong vòng 6 tháng. Ngày hôm sau Tướng Kỳ họp với Tướng Thiệu và Tướng Viên và tất cả đều đồng ý thỏa mãn đòi hỏi nầy của Phật Giáo. Sau buổi họp nầy, Tướng Kỳ gởi văn thư cho Thượng Tọa Tâm Châu để báo cho Thượng Tọa là chính phủ đã đồng ý thực hiện đòi hỏi nầy của Phật Giáo. Nhưng vào ngày hôm sau, 7 tháng Tư, Tướng Kỳ nhận được một văn thư của Thượng Tọa Tâm Châu đòi hỏi chính phủ phải thực hiện 4 điều sau đây: 1) Không được trừng phạt các công chức và quân nhân đã tham dự phong trào tranh đấu; 2) Trả tự do cho tất cả những người đã bị giam giữ; 3) Rút tất cả các lực lượng của chính phủ ra khỏi Đà Nẳng; và 4) Triệu tập QHLH càng sớm càng tốt.  

Tướng Kỳ rất tức giận; ông tin rằng các đòi hỏi nầy cho thấy, thật ra, phe Phật Giáo chỉ muốn lật đổ chính phủ của ông mà thôi. Ông quyết định đem ra Đà Nẳng thêm 2 tiểu đoàn TQLC nữa và yêu cầu người Mỹ cung cấp phương tiện vận chuyển. Nhưng lần nầy người Mỹ từ chối. Tướng Kỳ phải sử dụng phi cơ vận tải của Không Lực VNCH để chuyên chở 2 tiểu đoàn TQLC đó ra Đà Nẳng; bộ tham mưu của ông thì đi bằng phi cơ Caravelle của Hàng Không Việt Nam.  Khi biết được tin về cuộc hành quân nầy, Tướng Có, vẫn còn đang ở tại Đà Nẳng để thương thuyết với phe tranh đấu, điện thoại ngay cho Tướng Thiệu và yêu cầu Tướng Thiệu ra lệnh rút các lực lượng đó về ngay. Tướng Thiệu, bản thân ông không đồng ý với việc dùng võ lực, đồng ý ngay với yêu cầu của Tướng Có và ký ngay công điện để ra lệnh đó.

Ngày 12 tháng Tư, UBLĐQG triệu tập Đại Hội Chính Trị Toàn Quốc tại Hội Trường Diên Hồng (khi Đại Hội khai mạc chỉ có 92 đại biểu tham dự trong số 170 được mời; vào ngày bế mạc, số đại biểu tăng lên đến 115); Bác sĩ Phan Quang Đán được bầu chủ tọa Đại Hội. Ngày hôm sau, Tướng Kỳ gởi văn thư cho Thượng Tọa Tâm Châu thông báo chính phủ đồng ý thực hiện tất cả 4 yêu cầu của Phật Giáo. Ngày 14, Tướng Thiệu đến chủ tọa lễ bế mạc Đại Hội Chính Trị Toàn Quốc và tuyên đọc Sắc Luật số 14/66 thông báo quyết định của chính phủ sẽ tổ chức bầu cử QHLH trong vòng từ 3 đến 5 tháng. Cả hai Tướng Thiệu và Tướng Kỳ đều đồng ý sẽ thực hiện các điểm mà Đại Hội Chính Trị đề nghị, trong đó có việc chính phủ quân nhân sẽ từ chức sau cuộc bầu cử QHLH.

Viện Hóa Đạo ở Sài Gòn ra thông cáo kêu gọi Phật tử chấm dứt tất cả các cuộc biểu tình vì chính phủ đã thỏa mãn tất cả các đòi hỏi của Phật Giáo. Tuy nhiên, các phần tử chống đối tại Đà Nẳng và Huế vẫn tiếp tục các cuộc biểu tình và đòi hỏi chính quyền quân nhân phải từ chức ngay để cho một chính phủ dân sự thay thế và tổ chức bầu cử. Điều nầy có vẻ xác nhận mối nghi ngờ đã có trước đó trong giới tình báo là phong trào tranh đấu ở Miền Trung đã bị các phần tử Cộng sản xâm nhập, nếu không muốn nói là đã kiểm soát. Vào ngày 19 tháng Tư, Thượng Tọa Trí Quang đã phải ra thông cáo kêu gọi ngưng tranh đấu tại Huế và Đà Nẳng, trong khi chờ đợi chính quyền thực hiện lời hứa. Giữa lúc tình hình còn khẩn trương như vậy, Trung Tướng Tôn Thất Đính, vừa được cử làm Tư Lệnh Vùng I thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, lại tuyên bố ủng hộ phong trào tranh đấu chống lại chính quyền trung ương tại Sài Gòn.  

Lời tuyên bố nầy đem lại thêm lý do cho phong trào tranh đấu tiếp tục. Nhiều cuộc biểu tình do các đơn vị địa phương của phong trào tổ chức tiếp tục khắp nơi ở Miền Trung, nhiều nơi gần như đi đến tình trạng vô chính phủ. Tại Quảng Nam, ngày 17-4, một đơn vị của phong trào đã bắt giam tỉnh trưởng Nguyễn Hữu Chi và quận trưởng quận Hòa Vang, tố cáo họ theo chính quyền Sài Gòn. Tại Đà Lạt, ngày 23-4, một cuộc biểu tình đã biến thành bạo động; nhiều binh sĩ bị đánh đập, và ngay cả vị đại úy quân trấn trưởng cũng bị bắt giam.17

PHẢN ỨNG CỦA HOA KỲTrước cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng nầy của chính phủ VNCH, phản ảnh một sự chia rẽ trầm trọng giữa các thành phần tại Miền Nam rất có thể đưa đến một cuộc nội chiến, chính phủ Mỹ nhận thấy họ cần phải duyệt xét lại chính sách của họ tại Việt Nam. Tại buổi họp ngày 9 tháng Tư, các cố vấn cao cấp của Tổng Thống Lyndon B. Johnson (tức là các vị Tổng Trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, Giám Đốc CIA –Central Intelligence Agency, Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ–, và Tham Mưu Trưởng Liên Quân) quyết định giao cho các cá nhân sau đây thực hiện một số báo cáo như sau: 1) Ông George Carver, phân tích gia cao cấp của CIA, về sau trở thành Phụ Tá Giám Đốc CIA Đặc Trách về Việt Nam, gọi tắt là SAVA (Special Assistant for Vietnam Affairs)-viết một báo cáo cho Giải Pháp A, giữ nguyên hiện trạng; 2) Ông Leonard Unger, Phụ Tá của Ông William Bundy, Thứ Trưởng Ngoại Giao Đặc Trách Đông Á và Thái Bình Dương, viết một báo cáo cho Giải Pháp B-O, giữ nguyên hiện trạng nhưng tìm cách thương thuyết với lập trường lạc quan (mẫu tự O là viết tắt cho chữ Optimistic= Lạc quan); 3) Ông John T. McNaughton, Thứ Trưởng Quốc Phòng Đặc Trách An Ninh Quốc Tế, viết một báo cáo cho Giải Pháp B-P, giữ nguyên hiện trạng nhưng tìm cách thương thuyết với lập trường bi quan (mẫu tự P là viết tắt cho chữ Pessimistic = Bi quan); và 4) Ông George Ball, Thứ Trưởng Ngoại Giao, viết một báo cáo cho Giải Pháp C, rút ra khỏi Việt Nam.  

Cả 4 báo cáo đều phải dựa trên tiền đề là chính phủ Hoa Kỳ chỉ tiếp tục ủng hộ VNCH với điều kiện là các phe phái tại Miền Nam phải đoàn kết lại và hoạt động có hiệu năng cao. Một Nhóm Công Tác được thiết lập dưới sự chủ trì của ông George Ball để thảo luận về giá trị của các báo cáo nầy. Sau hai tuần thảo luận, 4 bản báo cáo đó được ông William Bundy đúc kết lại thành một báo cáo mang tên Basic Choices in Vietnam = Những Lựa Chọn Căn Bản Tại Việt Nam và được đệ trình để thảo luận tại buổi họp ngày 25-4 giữa Tổng Thống Johnson và các vị cố vấn cao cấp của ông. 

Báo cáo đúc kết nầy cứu xét và đánh giá 3 giải pháp: 1) Giải Pháp A: tiếp tục chính sách đang thực hiện, với hy vọng là khó khăn hiện tại chỉ là tạm thời; 2) Giải Pháp B: tiếp tục gần giống như hiện trạng, có lẻ giảm bớt đi phần nào mức độ mang quân Mỹ vào Việt Nam, nhưng tích cực hơn trong việc thúc đẩy chính phủ VNCH mở những cuộc tiếp xúc với các thành phần trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam; các cuộc tiếp xúc nầy có thể bắt đầu bằng việc chính phủ VNCH công khai kêu gọi thương thuyết hoặc là những thăm dò trong bí mật; sau khi đã nắm được những điểm then chốt trong lập trường của Mặt Trận, chính phủ Hoa Kỳ sẽ quyết định hoặc thúc đẩy chính phủ VNCH tiếp tục việc thương thuyết hay ủng hộ chính phủ VNCH trong việc gạt bỏ những đòi hỏi quá đáng của phe Cộng sản; 3) Giải Pháp C: quyết định rằng bây giờ những cơ may để giúp mang lại một chính quyền không Cộng sản tại Miền Nam đã giảm bớt đến mức độ mà, trên toàn bộ, nổ lực của Hoa Kỳ không còn đáng duy trì nữa; điều nầy có nghĩa là phải chuẩn bị, để khi đến thời điểm thích hợp, có thể tiến hành việc rút quân. Báo cáo nầy được đệ trình với một văn thư mở đầu của Ngoại Trưởng Dean Rusk, trong đó ông khuyến cáo nên chọn Giải Pháp A. Tổng Thống Johnson đồng ý với khuyến cáo nầy. 

Vào đầu tháng Năm, Đại sứ Lodge được triệu hồi về Hoa Thịnh Đốn để tham khảo. Ngày 2 tháng 5, ông Leonard Unger soạn thảo một văn thư liệt kê những vấn đề cần được thảo luận giữa Thứ Trưởng Ngoại Giao William Bundy và Đại sứ Lodge. Về vấn đề cuộc bầu cử QHLH, văn thư ghi rõ là Tổng Thống Johnson muốn là Đại sứ Lodge phải nói cho các nhà lãnh đạo VNCH rõ là họ phải thực hiện cho bằng được lời cam kết nầy, nếu không việc viện trợ của Hoa Kỳ cho VNCH sẽ bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Về vấn đề chính phủ hiện nay của VNCH (tức Nội Các Chiến Tranh của Tướng Kỳ), cách giải quyết tốt nhứt là chính phủ nầy nên từ chức và giao lại quyền hành cho QHLH khi cơ cấu nầy đã được dân chúng bầu ra xong. QHLH sẽ có toàn quyền hoặc bỏ phiếu tín nhiệm và giữ lại chính phủ hiện nay hay là chọn ra một chính phủ mới. Lập trường nầy hoàn toàn phù hợp với việc chính quyền hiện nay đã đồng ý thực hiện các khuyến cáo khi Đại Hội Chính Trị Toàn Quốc kết thúc hồi giữa tháng Tư. 

GIẢI QUYẾT CUỘC KHỦNG HOẢNG. Ngày 22 tháng Tư, để thi hành Sắc Luật 14/66 mà Tướng Thiệu đã công bố khi ông đến chủ tọa lễ bế mạc Đại Hội Chính Trị Toàn Quốc, UBHPTƯ triệu tập một ủy ban gồm 48 người với nhiệm vụ soạn thảo luật bầu cử QHLH. Hai ngày sau, ủy ban nầy đề nghị thành lập một hội đồng để soạn thảo hiến pháp và theo dõi các cuộc bầu cử sắp tới. Giữa lúc mọi việc đang diển tiến tốt đẹp, ngày 6 tháng 5, tại buổi lễ khánh thành căn cứ Không Quân mới tại Bình Thủy, Cần Thơ, Tướng Kỳ tuyên bố là chính phủ của ông sẽ ở lại một năm nữa cho đến khi nào tất cả các cơ cấu của chính quyền do hiến pháp mới quy định được thiết lập xong. Chính phủ Hoa kỳ bị bất ngờ với lời tuyên bố nầy vì không được tham khảo trước; họ không thích nhưng quyết định không can thiệp vào việc nầy. Ngay lập tức sau lời tuyên bố nầy của Tướng Kỳ, phe Phật Giáo và phong trào tranh đấu tại Miền Trung kêu gọi biểu tình, và tố cáo chính phủ đã nuốt lời hứa.   

Không giống như các lần trước, lần nầy cả Tướng Kỳ và UBLĐQG đều quyết định không nhượng bộ nữa. Ngày 15-5, Tướng Thiệu, Chủ Tịch UBLĐQG, thông báo là ông đã ra lệnh gởi quân ra Đà Nẳng để lập lại trật tự. Một lần nữa, Tướng Kỳ lại đích thân ra Đà Nẳng với Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan (vừa được bổ kiêm nhiệm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia thay thế Đại Tá Phạm Văn Liễu vào ngày 22-04-1966) để chỉ huy cuộc hành quân tái chiếm Đà Nẳng với 5 tiểu đoàn TQLC. Nhờ yếu tố bất ngờ, các tiểu đoàn TQLC đã nhanh chóng chiềm giữ được Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, đài phát thanh, và Chùa Phỗ Đà, nơi đặt bộ chỉ huy của phong trào tranh đấu. Đến tối thì các lực lượng của chính phủ đã kiểm soát được thị xã Đà Nẳng và lệnh giới nghiêm từ 8 giờ tối đến 5 giờ sáng được ban hành. Thượng Tọa Trí Quang gởi điện văn yêu cầu Tổng Thống Johnson can thiệp.  

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gởi công điện trả lời rằng chính phủ Hoa Kỳ rất quan tâm đến tình hình tại Đà Nẳng và hứa rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ cố gắng tối đa để thuyết phục hai phe giải quyết những bất đồng một cách êm đẹp để tránh đổ máu. Trung Tướng Tôn Thất Đính, tân Tư Lệnh Quân Đoàn I, phản đối việc sử dụng võ lực của chính quyền trung ương và được thay thế bởi Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao, cựu Tư Lệnh Vùng 4 của chế độ Ngô Đình Diệm và cựu đảng viên Cần Lao. Việc chính quyền Sài Gòn bổ nhiệm Tướng Cao làm Tư Lệnh Vùng I, nơi mà đa số dân chúng chịu ảnh hưởng của Phật Giáo, có ác cảm rất nặng đối với chế độ nhà Ngô và đảng Cần Lao, không khác gì hành động đổ dầu vào lửa. Phong trào đấu tranh của Phật Giáo nổ bùng lên dữ dội. Việc đổ máu không còn có thể tránh được nữa.  

Ngày 17-5, khi Tướng Cao từ Đà Nẳng ra Huế, ông bị phản đối bằng một cuộc biểu tình rất đông người do phong trào tranh đấu tổ chức. Phải khó khăn lắm ông mới thoát ra khỏi vòng vây của đám đông đó để chạy vào sân bay trực thăng Tây Lộc trong Thành Nội. Khi chiếc trực thăng, do quân đội Mỹ cung cấp để đưa ông trở về Đà Nẳng, vừa cất cánh, một sĩ quan thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Trung Úy Nguyễn Đại Thức, từ trong đám biểu tình, rút súng lục ra bắn ông. May mắn cho Tướng Cao, ông không bị trúng đạn, nhưng người xạ thủ Mỹ trên trực thăng đã bắn trả và Trung Úy Thức chết ngay tại chổ. Vài ngày sau, phong trào tranh đấu thành lập một chiến đoàn gồm các quân nhân Phật tử của Sư Đoàn 1 Bộ Binh và gọi là Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức.  

Sau vụ nổ súng nầy, Tướng Cao xin tỵ nạn tại Bộ Chỉ Huy của Sư Đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ dưới quyền Tư Lệnh của Trung Tướng Lewis Walt và xin từ chức Tư Lệnh Quân Đoàn I. Ngày 20-5, Thiếu Tướng Trần Thanh Phong được cử thay thế ông. Cùng ngày, một cuộc chạm súng dữ dội đã xảy ra giữa các đơn vị TQLC và phe tranh đấu tại Chùa Tỉnh Hội, gây nhiều thương vong cho cả hai bên. Vào ngày 23-5, sau khi phe tranh đấu đầu hàng tại Chùa Tỉnh Hội, TQLC đã tịch thu được hàng ngàn súng và khám phá ra 30 xác chết đã xình thối. Hai lãnh tụ của phong trào tranh đấu tại Đà Nẳng, Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, thị Trưởng Đà Nẳng, và Đại Tá Đàm Quang Yêu, Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Quảng Đà, bị bắt và giải vào Sài Gòn. Hàng trăm sĩ quan và binh sĩ đã bỏ súng ra đầu hàng và tất cả đều được chính quyền ân xá.

Thượng Tọa Trí Quang lại kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ can thiệp, nhưng lần nầy chính phủ Hoa Kỳ lờ đi, không trả lời trực tiếp cho Thượng Tọa nữa. Tuy nhiên, trong một công điện của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gởi cho Tòa Đại sứ tại Sài Gòn, Đại sứ Lodge (vừa trở lại Sài Gòn) được chỉ thị phải báo cho Tướng Kỳ biết các điểm sau đây: 1) Chính phủ Hoa Kỳ rất quan tâm về tình hình tại VNCH; 2) Chính phủ Hoa Kỳ khuyến cáo chính phủ VNCH nên tìm cách thỏa hiệp với nhũng người chống đối để chấm dứt các cuộc biểu tình và những cuộc đụng độ đổ máu, và phải thực hiện cho bằng được cuộc bầu cử QHLH; 3) Tướng Kỳ nên có buổi họp với Tướng Thi và các tướng ly khai (Tướng Tôn Thất Đính và và Tướng Phan Xuân Nhuận) để đạt đến thỏa hiệp.

Ngày 31-5, một phái đoàn 6 người của Viện Hóa Đạo do Thượng Tọa Tâm Châu cầm đầu đã họp với 6 thành viên của UBLĐQG tại Dinh Gia Long. Ngày hôm sau, UBLĐQG thông báo sẽ nới rộng thành phần bằng cách mời thêm 10 nhân vật dân sự tham gia, đồng thời sẽ thành lập một Hội Đồng Quân Dân để cố vấn cho UBHPTƯ. Phe cứng rắn trong phong trào tranh đấu, dưới ảnh hưởng của Thượng Tọa Trí Quang lập tức phản đối lập trường ôn hòa của Thượng Tọa Tâm Châu. Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự chia rẽ trong khối Phật Giáo mà sau nầy sẽ đưa đến việc phân chia Phật Giáo thành hai phe: phe Ấn Quang (do Thượng Tọa Trí Quang lãnh đạo) va phe Việt Nam Quốc Tự (do Thượng Tọa Tâm Châu lãnh đạo). Một số Phật tử đã bị phe cứng rắn trong phong trào tranh đấu xúi dục thực hiện một loạt những vụ tự thiêu để làm áp lực với chính phủ: ngày 3-6, một ni cô trẻ tên Bảo Luân tại Sài Gòn; ngày 4-6, một tăng sinh 15 tuổi ở Quảng Trị; ngày 17-6, một nữ Phật tử tên Đỗ Thị Ngọc tại Viện Hóa Đạo; ngày 18-6, một nữ Phật tử tên Đào Thị Tuyết cũng tại Viện Hóa Đạo. Tuy nhiên, những vụ tự thiêu nầy hoàn toàn không gây được ảnh hưởng gì cả đối với chính sách cứng rắn của chính phủ đối với phong trào tranh đấu tại Miền Trung.  

Trong thời gian nầy, Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, thay đổi lập trường, quay lại cộng tác với các lực lượng của chính phủ, và rút Bộ Chỉ Huy của ông ra khỏi Huế vào ngày 30-5. Ngày 31-5, Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, được bổ nhiệm Tư Lệnh Vùng I thay cho Thiếu Tướng Trần Thanh Phong. Lực lượng của chính phủ, sau khi đã kiểm soát xong hoàn toàn Đà Nẳng, bắt đầu tiến ra Huế. Ngày 5-6, một lực lượng khoảng 3.000 quân của chính phủ đã đến Huế. Ngày 7-6, 3 tiểu đoàn TQLC và Nhảy Dù được không vận bằng trực thăng đến phi trường Phú Bài và chiếm giữ các vị trí cách Huế độ 8 km. Huế bây giờ đã trở thành một thành phố bỏ ngỏ, không có lực lượng nào của phe tranh đấu bảo vệ nữa cả. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng nầy, để ngăn chận quân chính phủ, vào ngày 6-6, Thượng Tọa Trí Quang ra lệnh cho Phật tử mang tất cả các bàn thờ Phật từ trong các chùa và tư gia ra đặt ngoài đường.  

Lệnh nầy được các đoàn viên của Đoàn Sinh Viên Học Sinh Quyết Tử thi hành triệt để. Họ đến từng nhà dân và ép buộc dân phải mang bàn thờ Phật ra đường. Kết quả của cái lệnh cực đoan nầy của Thượng Tọa Trí Quang, là tất cả đường phố trong các quận của thành phố Huế cũng như trên các ngả đường tiến vào thành phố Huế đều bị cản trở lưu thông bằng những bàn thờ Phật. Ngày 8-6, Thượng Tọa Trí Quang quyết định tuyệt thực vô hạn định. Vì các binh sĩ trong các lực lượng chính phủ từ chối không đụng vào các bàn thờ Phật nầy, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan phải sử dụng Biệt Đoàn 222 Cảnh Sát Dã Chiến, được không vận từ Sài Gòn ra Huế, để dẹp các bàn thờ trên các con đường của thành phố Huế. Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận ra trình diện và được đưa vào Sài Gòn để chờ ra xét xử truớc Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt của QLVNCH. Đại Tá Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm thay ông làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh.  

Ngày 20-6, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi cũng bị bắt tại tư gia ở Huế và cũng được dưa vào Sài Gòn chờ xét xử như Chuẩn Tướng Nhuận. Ngày 21-6, Thượng Tọa Trí Quang cũng được quân chính phủ đưa vào Sài Gòn, với lý do là để giúp Thượng Tọa phục hồi sức khoẻ sau khi tuyệt thực nhiều ngày. Thương Tọa được đưa vào bệnh viện tư của Bác sĩ Nguyễn Duy Tài trên đường Duy Tân, bên ngoài có binh sĩ canh gác. Trong những ngày kế tiếp, trên 1.000 binh sĩ đủ các cấp, trước kia đã theo phong trào tranh đấu, ra trình diện với các lực lượng chính phủ; một số được chở bằng phi cơ vào Sài Gòn để giam giữ tại Nha An Ninh Quân Đội; số còn lại được đưa ra giam giữ tại đảo Phú Quốc. Hơn 2.000 người thuộc thành phần dân sự bị giam giữ để điều tra; một số được trả tự do, số còn lại bị đưa ra toà xử về tội phá rối trị an theo bộ Hình luật.

Một số lãnh tụ của phong trào tranh đấu, phần lớn là giáo sư và sinh viên, được Mật Trận Giải Phóng Miền Nam tiếp xúc, và giúp đở cho trốn khỏi Huế để gia nhập Mặt Trận (chính những người nầy đã trở lại Huế cùng với quân của Mặt Trận trong vụ Tết Mậu Thân 1968).

KẾT LUẬN. Vào đầu tháng 7-1966, Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt của QLVNCH đã nhóm họp hai ngày liên tiếp (8 và 9 tháng 7) để xét các trường hợp của các vị tướng dính líu vào vụ Biến Động Miền Trung. Các vị tướng nầy là: Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Trung Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, và Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Vào cuối ngày thứ nhì bản án được tuyên bố như sau cho tất cả: phạt 60 ngày trọng cấm và cho ra khỏi quân đội bằng giải ngũ hoặc về hưu. Riêng Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận còn bị lột lon tướng và giáng xuống cấp Đại Tá. Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi được lệnh phải rời khỏi Việt Nam. Ông và hai người con trai rời Việt Nam sang Hoa Kỳ vào ngày 31-7-1966.

Cuộc Biến Động Miền Trung vào mùa Hè năm 1966 chấm dứt với hai h quả: 1) Chấm dứt thời kỳ chế ngự chính trường VNCH của Phật Giáo sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ; 2) Mở đầu cho thời kỳ dẫn đến sự thành lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

 

Bài 231: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 7 ĐẾN THÁNG 9 NĂM 1966.

UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 8/7/66, Hội đồng Kỷ luật Quân đội gồm 15 tướng lãnh nhóm họp để nghe đíều trần của các tướng Thi, Đính, Nhuận, Cao và Chuân liên quan đến vụ “Biến động miền Trung”. Ngày 9/7/66, Hội đồng quyết định phạt kỷ luật 5 Nguyễn Chánh Thi, Tôn Thất Đính, Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Văn Chuân và Phan Xuân Nhuận 60 ngày biệt cấm và trọng cấm, giải ngũ hoặc cho về hưu các tướng Thi, Đính, Cao, Chuân và Nhuận. Ngày 15/8/66, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: nếu được quân đội ủy nhiệm ứng cử Tổng thống, sẽ xét sau. Ngày 2/9, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố không có ý định ứng cử Tổng thống. Ngày 1/9/66, Tư lịnh Hải quân, Đại tá Trần Văn Phấn, rời khỏi chức vụ. Ngày 14/9, Trung tướng Cao Văn Viên tạm thời kiêm nhiệm chức Tư lịnh Hải quân.

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 2/7/66, các Ủy ban ổn định tình hình tại Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn tuyên bố sẽ bài trừ các phần tử bạo động quấy rối. Ngày 7/7/66, bải bỏ kỳ thi khả năng tập sự Luật sư và mở phòng tập sự do Luật sư đoàn quản trị, cho những người không được Luật sư nhận vào tập sự (S. Luật 025/66). Ngày 9/7/66, sửa đổi thuế suất quan thuế và kiệm ước theo hi xut mi 80$ = 1 Mỹ-kim. Ngày 10/7/66, Tòa Đại biểu Vùng I Chiến thuật dọn từ Huế vào Đà Nẵng. Ngày 11/7/66, Giá vàng do các Ngân hàng Sài Gòn bán ra vẫn là 10.500$ một lượng. Vàng lá: 14.000$ ở Sài Gòn, 15.000$ ở ngoài Trung. Ngày 20/7/66có 16 tù binh CS được thả về Bắc, qua cầu Hiền Lương: 3 người xin ở lại miền Nam; 13 ra Bắc được lịnh trút hết quần áo được tặng xuống sông Bến Hải. 

Ngày 29/7/66, Lễ đặt viên đá đầu tiên Nghĩa trang Quân đội 144 mẫu tại Dĩ An, Biên Hòa, tổn 150 triệu trong đó 47 triệu cho đài Trận vong Tướng sĩ, chứa được 50.000 ngôi mộ. Ngày 5/8/66, tổng số thí sinh Tú tài I: 50.000. Tổng số thi Tú tài II (Việt) là 12.880, đậu hẳn 5.917. Ngày 22/8/66, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: sẵn sàng đem tù binh BV đổi lấy tù binh Mỹ. Ngày 1/9/66, Tư lịnh Hải quân, Đại tá Trần Văn Phấn, rời khỏi chức vụ. Ngày 10/9/66, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ gửi thư cho Thượng toạ Thích Thiện Hoa yêu cầu sớm nhận lại Viện Hóa Đạo đường Trn Quốc Toản, và hứa xét sớm những trường hợp oan ức nếu có. Ngày 18/9/66, theo các giới quân sự Sài Gòn, quân đội Mỹ sẽ xuống cả Vùng IV Chiến thuật, và sẽ có tảo thanh lớn tại vùng U Minh, Đồng Tháp. Ngày 26/9, hơn 110.773 xe gắn máy đã được phép nhập cảng. Ngày 6/10, có 460 Thượng Fulro về qui thuận tại Ban Mê Thuột với võ khí. 

KHÔNG THỂ THẮNG NẾU KHÔNG ĐÁNH RA BẮC. Ngày 25/7/66, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố với báo US News and World Report: không thể thắng nếu không đánh hẳn ra Bắc, phải nghĩ đối phó ngay từ giờ với Trung Cộng không thể đợi nhiều năm nữa; không chịu điều đình với VC miền Nam. Ngày 27/7/66, Trong cuộc họp báo sáng nay, Tổng Ủy viên Quốc phòng cho biết: Cộng sản hiện có tại miền Nam: 22 trung đoàn chủ lực, 100 tiểu đoàn địa phương, 20 tiểu đọàn yềm trợ, 200 đại đội du kích. Tất cả 300.000 người. Mỗi tháng từ 5.000 đến 6.000 quân từ BV vào, và 15.000 VC vừa chết, vừa bị thương. 

HỘI ĐỒNG QUÂN DÂN, VÀ BẦU CỬ QUỐC HỘI LẬP HIẾN. Ngày 5/7, Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia ban hành sắc lệnh thành lập Hội đồng Quân Dân, và cử nhiệm 58 hội viên (Sắc lịnh 244/PT/LĐQG/SL). Hội đồng Quân Dân họp phiên đầu tiên tại Hội trường Diên Hồng, Hội viên Trần Văn Văn được bầu làm chủ tịch Văn phòng Thường trực. Ngày 4/8, có 716 ứng cử viên Quốc hội Lập hiến tranh 108 ghế, trong sổ gồm: 81 gỉáo sư đại học và trung-học, 64 công chức và cựu quân nhân, 56 quân nhân, 57 nghề tự do bác sĩ, luật sư v.v... Ngày 31/8, Hội đồng Quân Dân yêu cầu Chánh phủ truy kích địch quân vượt qua Bến Hải. Ngày 9/8/66, theo Phủ Đặc ủy Hành chánh, trên toàn quốc có 4.913.461 cử tri và 5.238 phòng phiếu bầu cử Quốc hội. Ngày 11/9, bầu cử Quốc hội Lập hiến. Từ 64% đến 93% cử tri đi bỏ phiếu. Sài Gòn: 66,4%.

Ngày 12/9, kết quả bầu cử Quốc hội Lập hiến. Trong 117 dân biểu đắc cử, có 20 quân nhân, 5 luật sư, 6 bác sĩ, 1 dược sĩ, 2 kỹ sư, 22 giáo sư, 3 thẩm phán, 1 ký gỉả, 8 nông-gia, 10 công chức, 17 hội viên các Hội đồng Dân cử, 1 nữ dân biểu. Trẻ nhất là 25 tuổi, già nhất 64 tuổi. Ngày 27/9, khai mạc trọng thể Quốc hội Lập hiến tại nhà Hát Lớn Sài Gòn.

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Năm 1966. Ngày 9/7/66, Thượng tọa Thích Trí Quang tiếp tục tuyệt thực tại bệnh viện Nguyễn Duy Tài đường Duy Tân sang tháng thứ hai. Ngày 11/7, Viện Hóa Đạo họp đại hội đồng tại chùa Ấn Quang, nhưng vắng mặt Thượng tọa Thích Tâm Châu. Ngày 12/7/66, Đại Hội đồng Viện Hóa Đạo, biểu quyết kêu gọi Thượng tọa Thích Tâm Châu trong 24 giờ phải về họp, nếu không sẽ phải chịu trách nhiệm trước Giáo hội và tín đồ. Ngày 13/7/66, Thượng tọa Thích Tâm Châu gửi thư trả lời các Thượng tọa Viện Hoá Đạo: (1) không có quyền cất chức Viện trưởng của Thượng tọa; (2) dưỡng bịnh 2 tháng; (3) không chịu trách nhiệm về Viện trong thời gian vắng mặt; (4) phải lánh vì có kẻ mưu sát. Ngày 21/7/66, Mặt trận Công dân các Tôn gỉáo nhóm họp tại trụ sở Thanh niên Phật tử đường Công Lý, do Linh mục Hoàng Quỳnh đứng mời. Thượng tọa Thích Trí Quang tới họp. 

Ngày 23/7/66, Thượng tọa Thích Thiện Hoa được bầu làm Quyền Viện trưởng Viện Hoá Đạo. Ngày 31/7/66, Trung tướng Nguyễn Chánh Thi và 2 con rời Việt Nam sang HK. Ngày 15/8/66, Viện Hoá Đạo xác nhận tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội, và đòi lập một chánh phủ chuyển tiếp để tổ chức tuyển cử. Ngày 8/9/66, Thượng tọa Thích Tâm Châu lại đệ đơn từ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo lên đức Tăng thống Thích Tịnh Khỉết. 

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 6/7/66, Tổng thống Johnson tuyên bố, phải cho tấn công BV mạnh hơn nếu cần, và tăng quân tại VN. Ngày 8/7/66, theo các giới quân sự Hoa Thịnh Đốn, BV và VC hiện đã có 270.000 quân và cán bộ tại miền Nam. Ngày 11/7/66, Bộ trưởng QP Mỹ McNamara tuyên bố sẽ tăng quân Mỹ lên 400.000 đến 425.000 để đánh mạnh hơn. Ngày 18/7/66, Bộ Quổc phòng Mỹ cải chính tin đồn oanh tạc đê điều BV. Ngày 26/7/66, các giới chánh trị Hoa Thịnh Đốn cho biết: HK không mở rộng chiến tranh, chỉ bảo vệ miền Nam mà thôi. Ngày 29/7/66, Tổng số quân HK bị tổn thất từ đầu 1962 là 4.400 chết, 24.000 bị thương, 225 mất tích. Ngày 30/7/66, Có tới 43 nghị sĩ HK tỏ ý lo ngại về lời tuyên bố của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đối với BV và cuộc đô bộ ra Bắc. 

Ngày 31/7/66, Đại sứ Cabot-Lodge đi thăm miền Tây, phải ngủ trên sông Mékong vi trực thăng gặp mưa bão không tới đón được. Ngày 5/8/66, Cựu Phó Tổng-thng Mỹ Nixon (Richard) lại tới thăm Sài Gòn và tuyên bố: không tán thành chủ trương đánh ra BV. Ngày 6/8/66, Cựu Phó Tổng thống Nixon đề nghị tăng quân Mỹ để giữ thế công và đánh lớn để sớm chấm dứt chiến tranh. Ngày 11/8/66theo McNamara, số phi cơ Mỹ bị bắn rớt tại VN là 406, gồm cả 271 trực thăng. Ngày 14/8/66, Tướng Westmoreland đã hội đàm với Tổng thống Johnson, Mỹ sẽ tăng quân vô hạn ở VN. Ngày 18/8/66, theo giới quân sự Mỹ tại Sài Gòn, đối phương hiện đã có 282.000 quân, trong sổ đó 71 tiểu đoàn từ Bắc đưa vô. Ngày 20/8/66, Tổng thống Johnson đọc diễn văn, tuyên bố: MTGPMN hãy bỏ súng vì hết đường rồi. Mỹ sẽ ngưng oanh tạc nếu BV ngưng đưa quân vô Nam. 

Ngày 22/8/66, theo cựu Phó Tổng thống Nixon, Mỹ phải tiếp tục chiến đấu chừng 5 năm nữa tại VN. Ngày 4/9/66, Tổng thống Johnson tuyên bố: Mỹ sẽ lập chương trình rủt quân, nếu BV cũng làm như vậy. Ngày 13/9/66, Tổng thống Mỹ Johnson gửi điện chúc mừng VNCH về kết quả tốt đẹp của cuộc bầu cử. Ngày 19/9/66, Uy tín của Tổng thống Johnson, theo Viện Gallup và Louis Harris: chỉ còn 48% đến 50% công chúng ủng hộ. Ngày 22/9/66, theo giới quân sự Mỹ, 3 tiều đoàn VC nữa mới từ Bắc lẻn vô Nam.Ngày 26/9/66, Đại sứ Cabot Lodge tuyên bố: chiến tranh có thể chấm dứt, nhưng chưa hẳn có cuộc hội nghị theo lối Tây phương để bàn về các điều kiện đình chiến.

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VIỆT NAM THAM CHIẾN. Ngày 6/8/66, hơn 3.000 binh sĩ thuộc Sư đoàn 4 Bộ binh HK đô bộ vào Qui Nhơn, đã lên ngay Pleiku ứng chiến. Ngày 8/8/66, Sư đoàn 5 Bộ binh HK chun bị sang VN. Ngày 11/8/66, Lữ đoàn 196 Bộ binh Mỹ đổ bộ vào Vũng Tàu và được đưa ngay tới đóng tại Tây Ninh. Tổng số quân HK hiện đã lên tới 292.000. Ngày 17/8/66, TQLC Mỹ đổ bộ lên bờ biển Tuy Hòa, Phước Tuy. Ngày 20/8/66, một tiểu đoàn Nhảy Dù Mỹ đổ bộ lên Quy Nhơn. Ngày 31/8/66, Tổng số quân đội HK tại VN: 303.000. Ngày 2/9/66, Lữ đoàn Thanh Long của Đại Hàn tới đóng tại Bình Sơn Quảng Ngãi. Ngày 5/9/66, hơn 5.500 binh sĩ Đại Hàn đổ bộ lên Nha Trang. Tổng số quân Đại Hàn lên ti 27.000. Ngày 13/9/66, một tiểu đoàn thiết giáp Mỹ đô bộ lên Vũng Tàu. 

Ngày 16/9/66, Quân số Mỹ tại VN hiện đã lên tới 308.000. Ngày 17/9/66, số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV: 376. Ngày 27/9/66, hơn 4.000 binh sĩ Đại Hàn thuộc Sư đoàn Bạch Mã đồ bộ lên Nha Trang. Ngày 30/9/66, tổng số quân Mỹ tại VN là 315 000.    

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 17/7/66, U-Thant cảnh cáo BV: nếu những phi công Mỹ bị đem ra xử tử, thì Thế chiến thứ III sẽ bùng nổ. Ngày 15/9/66, Tàu Đức Helgoland, một bệnh viện nổi với 150 giường và các y cụ tối tân và 6 bác sĩ, đến giúp VNCH đã cập bến Sài Gòn. Ngày 20/9/66, tại kỳ họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khoá 21, các bài diễn văn khai mạc đã nêu vấn đề VN và tỏ nỗi lo âu trước chiến cuộc VN. Ngày 21/9/66, Chủ tịch Đại hội Liên Hiệp Quốc kêu gọi các nước tìm giải pháp cho vấn đề VN. Ngày 22/9/66, Đại diện Mỹ tại Liên Hiệp Quốc lại xác nhận: Mỹ sẽ ngừng oanh tạc và rút quân nếu BV cũng ngưng đưa quân vô Nam và ngưng tấn công. Hà Nội tuyên bố: không hề rút điều kiện buộc HK rút quân. 

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 5/7/66, Sainteny, cựu Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Bắc Việt hội đàm với Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp, về vấn đề VN. Ngày 6/7, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng lại tiếp Sainteny, và tuyên bố không thể có thương thuyềt nếu Mỹ còn chưa rút khỏi miền Nam.Ngày 15/7/66, Báo Nhân Dân Hà Nội lại xác nhận lập trường của BV: còn đánh, chỉ đánh, và đánh đến khi nào Mỹ chịu 4 điều kiện. Ngày 17/7/66, Hồ Chí Minh tuyên bố động viên một phần lực lượng BV và sửa soạn tiếp tục giao tranh 10 năm hoặc 20 năm nếu cần. Ngày 14/7/66, các cơ quan chánh quyền BV tản cư khỏi Hà Nội trừ Phủ Chủ tịch, Phủ Thủ tướng và Bộ Ngoại giao. Ngày 15/7/66, Báo Nhân Dân Hà Nội lại xác nhận lập trường của BV: còn đánh, chỉ đánh, và đánh đến khi nào Mỹ chịu 4 điều kiện. 

Ngày 17/7/66, Hồ Chí Minh tuyên bố động viên một phần lực lượng BV và sửa soạn tiếp tục giao tranh 10 năm hoặc 20 năm nếu cần. Ngày 1/8/66, cuộc thanh trừng tại Trung Cộng mỗi ngày một quyết liệt. Đến lượt Tổng tham mưu La Thụy Khanh và Phó Thủ tướng Văn hoá Lục Đinh Nhất cũng bị loại trừ. Ngày 4/8, Chánh phủ BV ra lịnh di tản kỹ nghệ về thôn quê, và rừng núi, đồng thời tổ chức các khu kinh tế tự túc. Ngày 5/8/66, theo tin đài phát thanh Hà Nội, trong tháng 7, Mỹ đã oanh tạc 15 thị trấn, và phá đê điều 84 lần, nhưng có 121 phi cơ bị hạ. B-52 lại dội bom vùng phi-quân-sự lần thứ 4. Ngày 16/8/66, Theo tin AP, sau vụ thanh trừng lớn lao, tướng Lâm Bưu đã thực sự nắm quyền tại Trung Cộng, chủ chiến gạt Nga Sô ra, và Trung Cộng sẽ dẫn đầu Cộng sản thế giới. Ngày 19/8/66, ngót triệu người hoan hô Mao Trạch Đông và tướng Lâm Bưu trong một cuộc biểu tình tại Bắc Kinh. 

PHẠM VĂN ĐỒNG, VÕ NGUYỄN GIÁP SANG CẦU VIỆN NGA. Ngày 18/8/66, Đại diện Mặt trận Giải phóng Miền Nam tại Moscou đòi HK chấm dứt xâm lăng VN; triệt thoái quân đội và căn cứ, chấm dứt oanh tạc BV. Ngày 21/8/66, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp sang Moscou bàn về vấn đề VN. Ngày 26/8/66, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp lúc từ Nga về Hà Nội rẽ qua Bắc Kinh. Nga Sô đã viện trợ cho BV trong năm 1965 sổ dụng cụ vật liệu trị giá 555 triệu Mỹ kim. Ngày 28/8/66, chánh quyền BV ra lịnh cho dân chúng đề phòng biệt kích miền Nam. Ngày 30/8/66, Ký kết thỏa ước Việt – Trung, theo đó, Trung Cộng sẽ viện trợ nhiều võ khí để tiế tục chiến tranh chổng Mỹ. Ngày 1/9/66, nhiều phái đoàn Cộng sản Đông Âu sang Hà Nội bàn việc viện trợ cho BV. Ngày 4/9/66, theo đài phát thanh Hà Nội, phi cơ Mỹ đã tới bắn phá vùng ngoại ô Hà Nội lúc 1 giờ đêm. Ngày 24/9/66, Phạm Văn Đồng, trong bài diễn văn tiếp Thủ tướng Tiệp Khắc, lại bác bỏ đề nghị hòa bình của Mỹ.     

KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 1/7/66, hơn 50 phi công Mỹ bị bắn rớt xuống BV, phải đi bộ qua các đường phố để dân chúng đả đảo. Cùng ngày 1/7/66, phi cơ Mỹ lại oanh tạc kho dầu Đồng Nhâm, Hải Phòng. 3 chiếc thủy đỉnh BV định đánh tuần dương hạm Contz bị đánh đắm, 19 tbủy thủ BV được cứu vớt. Ngày 3/7/66, phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc BV nhắm vào đường sá, cầu cống, xe cộ v.v... Ngày 4/7/66, phi cơ Mỹ oanh tạc kho dầu Đồ Sơn, phá hủy 14.000 tấn dầu và vài chục ngôi nhà. Một dàn hỏa tiễn SAM gần Hà Nội bị phi cơ Mỹ phá hủy. Ngày 6/7/66, phi cơ Mỹ oanh tạc nhiều vùng quanh Hà Nội và Thái Nguyên 3 dàn hỏa tiễn SAM bị phá hủy gần Hà Nội. Ngày 7/7/66, phi cơ Mỹ lại oanh tạc những kho dầu cách Hải Phòng chừng 3 cây số. Đê Hồng Hà đương bị đe dọa vì nước lên quá to. Số phi vụ oanh kich BV lại tăng lên 116 trong ngày hôm nay. 

Ngày 14/7/66, hơn 114 phi vụ oanh tạc BV, 1 Mig-17 và 2 Mig-21 BV bị phi cơ Mỹ bắn rớt gần Hà Nội. Ngày 16/7/66, hơn 121 phi vụ oanh tạc BV từ Thanh Hoá đến Bến Hải. Ngày 20/7/66, phi cơ Mỹ oanh tạc lần nữa các kho dầu Ba Đồn, và Nguyên Khê gần Hà Nội. Không chiến 20 phút gần phi trường Phúc Yên, 1 F-105 Mỹ bị Mig-17 hạ, 2 phi cơ khác bị súng phòng không bắn rơi. 3 Mig-17 bị máy bay Mỹ bắn hư hại. Ngày 21/7/66, hơn 110 phi vụ ném bom BV, cầu Phú Thọ bị phá. Một số Mig bay lên nhưng không nghênh chiếnNgày 28/7/66, có 110 phi vụ oanh tạc BV, phá 14 kho dầu, 3 dàn hỏa tiễn. Kho dầu Thái Bình bị cháy. Ngày 30/7/66, B-52 dội bom trên dọc theo khu phi quân sự Bến Hải bị 13 cây số. Có123 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu 10 kho dầu ở Vinh, Đồng Hới, Thanh Hoá, và Ba Đồn. Cùng ngày 30/7/66, Một phi cơ C-47 chở 8 người, bị mất tích ở Bắc Việt: nhiệm vụ của phi cơ này được giữ bí mật. Ngày 1/8/66, có 97 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu các kho dầu Hải Phòng, Vinh, Thanh Hoá. 

CÁC KHO DẦU HẢI PHÒNG, VINH, THANH HOÁ LẠI BỊ NÉM BOMNgày 2/8/66có 38 phi vụ Mỹ oanh tạc BV, 2 F-104 bị bắn rớt. Ngày 3/8/66, B-52 oanh tạc vùng phi quân sự lần thứ 3. Các kho dầu Hải Phòng, Vinh, Thanh Hoá tiếp tục bị ném bom. Ngày 6/8/66, Phi cơ Mỹ oanh tạc hai đài radar và kho dầu ở Đồ Sơn và gần Vinh Ngày 9/8/66, có139 phi vụ oanh tạc BV dội bom 153 địa điểm, 3 phản lực F-105 bị bắn rớt. Ngày 12/8/66, phi cơ Mỹ lại oanh tạc nhà máy điện Ưông Bí lần thứ năm. Ngày 15/8/66, có 133 phi vụ oanh tạc BV, các kho dầu tại Thanh Hoá và Hải Phòng. Ngày 17/8/66, có 131 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu các kho dầu. Ngày 20/8/66, có 134 phi vụ oanh kích BV. Các kho dầu vẫn là mục tiêu chính. Ngày 21/8/66, Ga xe lửa Thanh Hoá và vùng phụ cận bị dội bom, phá huỷ 3 căn cứ hỏa tiễn và một đài radar gần Hà Nội bị phá hủy Ngày 26/8/66, có 133 phi vụ oanh tạc BV, phả 3 kho dầu gần Vinh và Thanh Hoá. Ngày 29/8/66, có 103 phi vụ oanh tạc BV, 2 tàu chiến BV bị đánh đắm, 2 chiếc khác hư hại ngoài khơi Hải Phòng

Ngày 30/8/66, có 133 phi vụ oanh tạc BV, bắn phá nhiều đoàn quân xa chạy giữa ban ngày. Ngày 31/8/66, Có 139 phi vụ oanh kích BV. Ngày 1/9/66, tổng số phi cơ Mỹ bị hạ trên BV: 348. Ngày 2/9/66, có 70 phi vụ oanh tạc BV nhắm vào đường xe lửa và kho dầu. Ngày 3/9/66có 130 phi vụ oanh tạc BV phá 1 dàn hỏa tiễn gần Hải Phòng. Ngày 7/9/66, có 136 phi vụ oanh tạc BV. Hà Nội báo động đêm vài lần. Ngày 9/9/66, hơn 135 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 10/9/66, có 122 phi vụ oanh tạc BV, phá 2 dàn hỏa tiễn gần Hải Phòng và Đồng Hới. Ngày 11/9/66, có 171 phi vụ oanh tạc BV phá một dàn hỏa tiễn, nhiều toa xe lửa, ba tàu biễn và nhiều cơ sở... Theo đài Hà Nội, dân Hà Tĩnh đã dùng các mảnh bom Mỹ chế được 16.000 lưỡi cày. Ngày 12/9/66, có170 phi vụ oanh tạc BV, phá hủy 3 dàn hỏa tiễn, nhiều kho dầu, cầu, xe lửa gần Hải Phòng, Thanh Hoá, Vinh, và Đồng Hới.

QUẢNG KHÊ BỊ NÉM BOM LẦN THỨ 8. Ngày 15/9/66, có 145 phi vụ oanh tạc BV, Quảng Khê bị ném lần thứ 8 vì phát hiện có radar và các dàn hỏa tiễn. Nhiều toa xe lửa bị phá gần Thanh Hóa. Rất nhiều cây số đường hầm được đào tại Bắc vĩ tuyến 17, và vùng lân cận đề phòng Mỹ đổ bộ. Ngày 16/9/66, có 121 phi vụ oanh tạc BV, phá huỷ 1 dàn hỏa tiễn cách Hà Nội 12 cây số. Ngày 17/9/66, có 85 phi vụ oanh tạc BV: giảm vi trời xấu. Ngày 20/9/66, có116 phi vu oanh tạc BV, nhà ga và phố Ninh Bình bị ném bom, bốc cháy dữ dộỉ. Ngày 21/9/66, có 99 phi vụ oanh tạc BV. Các đường xe lửa sang Tàu bị phả hủy nhiều quãng, 7 Mig-17 lại lên nghênh chiến. Không phi cơ nào trúng đạn. Ngày 22/9/66, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hạ 2 Mig-17 và bắn hư 2 Mig-17 khác, cùng 1 Mig-21 giữa Hà Nội và Lạng Sơn. Ngày 22/9/66, B-52 vẫn ném bom xuống gần vùng Phi quân sự Bến Hải. 

Ngày 25/9/66trong 3 ngày qua, hàng trăm phi cơ oanh tạc BV Ninh Bình và Thanh Hoá, phá hàng trăm toa xe lửa. Ngày 26/9/66, có121 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu các kho, ga xe lửa Vĩnh Yên, Thanh Hoá, Đồng Hới. Ngày 28/9/66, trên 137 phi vụ oanh tạc BV, đánh đắm và phá hư 4 tàu tuần duyên. Ngày 29/9/66, hơn 100 phi vụ oanh tạc BV chung quanh Hà Nội, Đồng Hới, mục tiêu cầu, kho, xà lan, 2 bồn dầu và 7 dàn cao xạ. Ngày 30/9/66, trên 106 phi vụ oanh tạc BV

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 3/7/66, chấm dứt hành quân Jay ở vùng sinh lầy quận Phong Điền, Thừa Thiên. Cùng ngày 16/7/66, Mỹ mở cuộc hành quân Hastings gần sát Bến Hải với lực lượng Hải, lục, không quân và nhiều tiểu đoàn VNCH, hôm nay một sư đoàn giao chiến với 2 trung đoàn BV. Kết quả đầu tiên: BV bỏ lại 140 xác chết. Ngày 17/7/66, B-52 dội bom xuống gần Bến Hải, yểm trợ cuộc hành quân Hastings. Hải quân Mỹ đổ bộ thêm hơn 1.000 người tăng cường. Ngày 19/7/66, số VC bị hạ trong Cuộc hành quân Hastings ở Quảng Trị lên tới 199. Hơn một trung đoàn BV tấn công một đại đội Mỹ tại Cam Lộ, Quảng Trị, 2 trung đội Mỹ bị thiệt-hại nặng.

Ngày 20/7/66, trận Bến Hải tiếp tục. Hành quân Hastings phối hợp với hành quân Lam Sơn 289. Số VC bị hạ hôm nay là 342. Ngày 22/7/66, cuộc giao tranh ở vùng Cam Lộ, Quảng Trị tiếp tục dữ dội. Số xác Bắc quân lên tới 521. Số quân hai bên ước tới 32.000. Chỉ huy quân Bắc là các Trung tướng Nguyễn Quang và Thiếu tướng Nam Long. Ngày 23/7/66, vẫn kịch chiến ở Cam Lộ. Số tốn thất của BV lên tới 618. Ngày 26/7/66, tổng số quân BV tử trận ở vùng Cam Lộ, Quảng Trị lên tới 736 xác. Có tin Sư đoàn 324 rút về Bắc. Ngày 29/7/66, số quân BV bị tử trận tại Quảng Trị lên tới 1.318, không kề số chết được mang đi. Ngày 3/8/66, Kết thúc hành quân Hastings vùng Phi quân sự: 883 VC bị hạ, 15 bị bắt, thu 228 súng cá nhân, và 26 súng cộng đồng. Ngày 11/8/66, hành quân hỗn hợp Colorado và Liên Kết 52 tại vùng Lạc Sơn - Tam Kỳ, Quảng Tín. Ngày 11/8/66, lại kịch chiến tại Quế Sơn, giữa TQLC VN với Cộng quân, 300 VC bị hạ.

Ngày 17/8/66mìn nặng 2 kí nổ tại Chợ phiên Từ thiện Huế: 28 người chết, 123 bị thương. Ngày 24/8/66, kịch chiến tại dãy núi gần quận Đại Lộc, Quảng Tín 44 quân BV bị hạ. Ngày 3/9/66, Tỉnh ủy Đà Nng bị bắt với 1 hầm vũ khí và 1 kho gạo. Ngày 15/9/66, hành quân Deck House Quage. Hơn 12.000 TQLC Mỹ đổ bộ Bến Hải, tiếp tay cho các đơn vị đương hành quân Prairie. Ngày 19/9/66hơn 2 đại đội Mỹ bị mất liên lạc nửa ngày tại khu Phi quân sự Bến Hải. Kết quả hành quân Prairie tại Đông Hà: 468 VC bị hạ, 3 bị bắt với 72 vũ khí. Ngày 24/9/66hành quân Prairie tiểp tục gần Đồng Hà, Quảng Trị TQLC Mỹ hạ thêm 84 VC. Ngày 29/9/66, kịch chiến sảt khu Phi quân sự trong khuôn khổ hành quân Prairie. Hạ 50 quân BV.   

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 21/7/66, hành quân Mỹ-Hàn John Paul Jones tại Phú Yên với sự yểm trợ của các tàu chiến thuộc Hạm đội VII. Ngày 1/8/66hành quân Paul Revere II bắt đầu tại Pleiku. Ngày 2/8/66, Kịch chiến gần Plei Me. Ngày 3/8/66, Kịch chiến tại Pleiku, 3 trung đoàn BV dàn trận từ la Drang tới Đức Cơ. HK đưa hơn 10.000 viện binh tới vùng này. Ngày 8/8/66, một đại đội Mỹ bị thiệt hại nặng ở gẫn Plei Me. Quân Mỹ phản công đánh tan 3 đại đội BV. Ngày 9/8/66chừng 600 quân BV tẩn công quân Mỹ-Hàn gần Plei Me. Ngày 10/8/66, quân Đại Hàn phản công, đầy lui quân BV, hạ 170 gần Plei Me, thu 53 súng và nhiều đạn. Ngày 14/8/66, kịch chiến tại Chu Prong giữa 2 trung đoàn BV và sư đoàn không vận Mỹ. Ngày 9/9/66, kịch chiến tại Phù Cát, Bình Định: 200 VC bị hạ. Ngày 14/9/66, Sư-đoàn I Không vận Mỹ dùng 120 trực thăng đổ quân hành qùng An Khê, bắt được một đoàn văn công 13 người. Ngày 25/9/66, quân Đại Hàn giao chiến với 2 tiểu đoàn VC phía Bắc QuNhơn, hạ 93 địch, thu 31 súng.  

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 3/7/66Chấm dứt hành quân E1 Paso vùng biên gíới Bình Long, hạ 615 VC, bắt 29, tịch thu 1.600 tấn gạo. Ngày 10/7/66, kết quả cuộc phản phục kích của Mỹ gần đồn điền Quản Lợi, Bình Long trên đường An Lộc đi Minh Thạnh: 238 VC thuộc Trung đoàn VG 272 bị hạ. Ngày 1/8/66Các đơn vị thuộc Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ mở hành quân Koko Head tại Hậu Nghĩa. Ngày 8/8/66hành quân Holsworthy của quân đội Úc tại Phước Tuy. Ngày 20/8/66, B-52 oanh tạc Chiến khu C 3 lần. Ngày 14/9/66, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân Attleborro vào Chiến khu C còn gọi chiến khu Dương Minh Châu cơ quan đầu nảo của Trung ương Cục miền Nam. 

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 4/9/66, hành quân vào rừng U Minh gần Chương Thiện, hạ 221 địch, bắt 12, cùng với một số võ khí. Ngày 24/9/66, hành quân Dân Chí tại Cà Mâu, hạ 166 VC, bắt 28, và thu nhiều súng đạn. Hành quân Bình Phú 27 tại Bàu Nhồng hạ 198 VC. Ngày 28/9/66, hành quân Cửu Long 42/SĐ tại Gò Công, phá hủy nhiều địa đạo, thu hàng vạn viên đạn lớn và nhiều tấn thuốc nỗ.  

TẠI BIỆT KHU THỦ ĐÔNgày 3/9/66, Tổ trưởng đặc công Sáu Nhỏ cũng bị bắt tại Đô thành. Ngày 6/9/66, mìn nổ tại phòng phiếu gần phi trường Tân Sơn Nhất. Ngày 1/9/66, một cán bộ cao cấp VC với 8 người trong tổ đặc công bị cảnh sát bắt với 3 xe du lịch. Ngày 8/9/66, Nha Cảnh sát vừa bắt thêm 1 tổ Chi hội Phụ nữ Giải phóng thuộc đặc khu Sài Gòn - Gia Định. Ngày 9/9/66, nhiều tiếng súng nổ chung quanh Sài Gòn - Chợ Lớn. Hỏa châu soi sáng về đêm, và phi cơ thả bom gần Nhà Bè. Ngày 11/9/66, trên 166 vụ khủng bố phá hoại bầu cử trên toàn lãnh thổ 20 người thiệt mạng, hơn 100 bị thương. Ngày 13/9/66, một đại đội VC tẩn công trại xe của hãng thầu Mỹ trên xa lộ: 30 xe bị phá hủy, 34 bị hư hại, 4 người Việt bị sát hại.

 

Bài 232: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 10 ĐẾN THÁNG 12 NĂM 1966.

UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 23/10/66, Phái đoàn VNCH tham dự Hội nghị Tối cao Manille, do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn, hôm nay lên đườngNgày 25/10/66, Thông cáo chung Hội nghị Thượng đĩnh Manille sau hai ngày nhóm họp: (1) quyết bảo vệ tự do miền Nam; (2) tăng cường áp lực quân sự nếu cần; (3) sẵn sàng rút quân trong 6 tháng nếu BV nhận các điều kiện điều đình; (4) sẽ mở mang các nước Đông Nam Á về kinh tế và xã hội; (5) lập hội đồng tư vẩn 7 nước để liên lạc về chánh trị, quân sự, kinh-tế.    

Ngày 1/11/66, Các Thiếu tướng Vĩnh Lộc và Lê Nguyên Khang được thăng Trung tướng. Ngày 18/11/66, Trung tướng Đặng Văn Quang, Tư lịnh Vùng IV kiêm Đại biểu Chánh phủ tại Vùng này, được cử giữ chức Tổng ủy viên Kế hoạch và Phát triển. Thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh được cử lên thay tướng Quang. Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ được cử làm Tham mưu trưởng, thay tướng Bùi Hữu Nhơn đổi làm chỉ huy trưởng trường Võ bị Thủ Đức; Đề đốc Chung Tẩn Cang, làm chỉ huy trường Võ bị Đà Lạt. Ngày 30/12/66, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: Quân đội tiếp tục lãnh đạo quốc gia cho tới khi chánh thể dân chủ và các đảng phái chánh trị được củng cố. Có hai điều lầm lẫn sau ngày Cách mạng: bỏ các Ấp Chiến đấu vài bãi Thanh niên Cộng hòa.   

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 10/10/66, Bác sĩ Trần Lữ Y nhậm chức Ủy viên Y tế thay bác sĩ Nguyên Bá Khả. Ngày 14/10/66, Bộ Giáo dục định lại qui chế thi cử: mỗi năm 1 kỳ thi Tú tài I, 2 kỳ thi Tú tài II, cấp chứng chỉ miễn thi Trung học Đệ nhất cấp nếu có điểm số trên 10/20. Ngày 16/10/66, Đại hội Kinh-Thượng ở Pleiku, 1.600 Fulro về hợp tác. Ngày 31/10/66, được hoán giảm tội khổ sai chung thân thành khổ sai 5 năm các ông: Đặng Sỹ, Nguyễn Thiện Dzai, Khưu Văn Hai, Nguyễn Tư Thái, Nguyễn Văn Hay, Nguyễn Văn Y, v.v... (SL 362/CT/LĐQG/SL). Ngày 16/11/66, khánh thành Trung tâm Y khoa đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. Chi phí xây cất 150 triệu đồng VN và 1.300.000 Mỹ kim. Ngày 18/11/66, Chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ cải tổ, có thêm Bộ Văn hoá, Phó Chủ tịch Nguyễn Lưu Viên kiêm nhiệm Tổng ủy viên Văn hoá Giáo dục. 

Ngày 21/11/66, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ cảnh cáo Cao Mên lần chót, nếu còn xâm nhập lãnh thổ VN thì VN sẽ áp dụng quyền vượt đuổi qua tận đất Mên. Ngày 25/11/66, tổng số hàng gỡ xuống tại hải cảng Cam Ranh để phân phối đi các tỉnh, lên tới 290.000 tấn trong tháng 10. Các bến tàu có thể tiếp nhận cùng một lúc 10 tàu lớn. Ngày 26/11/66, tổng số phi cơ đáp xuống hoặc bay khỏi Tân Sơn Nhứt, từ đầu năm nay, lên tới 500.000. Ngày 2/12/66, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố tại Quảng Trị: quân đội Mỹ sẽ xuống cả Vùng IV để bình định đồng bằng sông Cửu Long. Ngày 13/12/66, Trường Võ bị Đà Lạt được xếp ngang hàng Cao đẳng chuyên nghiệp với chương trình học 4 năm (NĐ.2349/QP). 

Ngày 17/12/66, Ủy viên Ngoại giao Bùi Diễm được cử làm Đại sứ tại Hoa Thịnh Đốn thay Kỹ sư Vũ Văn Thái. Ngày 19/12/66, Bác sĩ Trần Kim Tuyến được Tòa Đại hình Sơ thẫm Sài Gòn tha bỗng về tội hối mại quyền thế trong vụ thâu tiền của các nhà thầu vé số Kiến thiết nộp vào quỹ chánh trị xã hội. Ngày 24/12/66, cải tổ hành chánh Xã, Ấp, và tổ chức bầu cử các Hội đồng Nhân dân Xã và các Ủy ban Hành-chánh (S. Luật 198 và 199/SL/BUHC). 

QUỐC HỘI LẬP HIẾN, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 26/10/66, Nghị sĩ Phan Khắc Sửu được bầu Chủ tịch Quốc hội Lập hiến. Ngày 4/11/66, hôm nay Quốc hội mới bầu xong các ủy ban chuyên trách. Ngày 30/11/66, Quốc hội Lập hiến biểu quyết: quân nhân không được sinh hoạt chính trị đảng phái. Ngày 1/12/66, Giải tán Bắc Việt vụ do chính Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ lập ngày 19-10-1965. Ngày 7/12/66, Dân biểu Trần Văn Văn bị hai thanh niên cưỡi Honda bắn tử thương, hồi 9 giờ sáng nay trước nhà đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn. Một hung thủ bị bắt là Võ Văn En, khai là đội trưởng đặc công VC từ Củ Chi về. Y được đưa ra trình diện báo gii. Ngày 10/12/66, nhiều đơn vị quân đội được cử về tăng cường cho vùng phụ cận Đô thành.

Ngày 15/12/66, Quốc hội Lập hiến biểu quyết vởi 107 phiếu trên 112 dân biểu có mặt: nguyên thủ VN là Tổng thống do dân bầu trực tiếp theo phổ thông đầu phiếu; Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng, nhưng Quốc hội có quyền đòi giải tán một phần hay cả nội các. Ngày 20/12/66, với 102 phiếu trên 104, Quốc hội Lập hiến biêu quyết: các Hội đồng địa phương do dân chúng bầu, cũng như Xã trưởng, Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Đô-trưởng. Nhưng chánh phủ trung ương có quyền giải nhiệm trong vài trường hợp. Ngày 21/12/66, Quốc hội Lập hiến biểu quyết chế độ lưỡng viện vởi 78 phiếu trong 101 Dân biểu có mặt. Ngày 23/12/66, Quốc hội Lập hiến bác bỏ đề nghị lập thêm quyền Giám sát. 

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 18/10/66, vì tự do cá nhân của công chức cao cấp không được đảm bảo, Tổng Ủy viên Kinh tế và Tài chánh Âu Trường Thanh đệ đơn từ chức. Ngày 21/10/66, Đại hội Phật giáo nhóm họp tại Việt Nam Quốc tự, đường Trần Quổc Toản để xét việc bầu lại Viên Hóa Đạo. Ngày 22/10/66, Đại hội Phật giáo nhóm họp ngày thứ 2, nhiều sự lộn xộn, đấu khẩu, và xô xát giữa Phật tử, có cả nhiều tiếng súng lục bắn chỉ thiên... Đến gần sáng cùng gày 22/10/66, các tăng ni thuộc nhóm Thích Quảng Liên và Thích Trí Quang lại họp tại chùa Ẩn Quang và bầu Thượng tọa Thích Thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Thưọng tọa Thích Trí Quang từ chức chánh thư ký ở Viện Tăng thống. Ngày 23/10/66, hơn ngàn Phật tử biểu tình từ Viện Hoá Đạo tới chùa Ấn Quang phản đối cảc Thượng tọa Thích Quảng Liên và Thích Trí Quang đã gây chia rẽ giữa Phật giáo. Ngày 24/10/66, Thượng tọa Thích Tâm Châu trong thông cáo, xác nhận ông ta vẫn giữ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Hoà thượng Thích Tịnh Khiết ra lênh triệu tập đại hội Phật giáo bất thường đề giải quyết vấn đề 2 Viện Hoá Đạo 

TỴ NẠN, HỒI CHÁNH. Cùng ngày 28/11/66, Trung tá Trung đoàn trưởng 66 BV Lê Xuân Chuyên, về hồi chánh tại Binh Thuận, ra mắt báo giới tại Trung tâm Báo chí Sài Gòn. Ngày 1/12/66, số VC qui chánh trong 11 tháng năm 1966 là 17.726 so với 11.124 cả năm 1965 và 5.417 năm 1964.

CÔNG NHÂN HÃNG THẦU MỸ RMK -BRJ. Ngày 10/11/66, tình trạng hãng thầu Mỹ RMK-BRJ: 700 công trường tại 37 địa phương, 700 dự án công tác trị giá 1 tỷ Mỹ-kim, 200 triệu Mỹ kim dụng cụ vật liệu nhập cảng rồi, 15 triệu nhập cảng mỗi tháng, số nhân công VN từ 390 năm 1962, lên tới 9.500 (bàn giấy và điều khiển) 50.000 công nhân, không kể 2.000 Mỹ và 6.000 Phi Luật Tân cùng Đại Hàn. Ngày 5/12/66, sau vụ khám phá 2 thùng thuốc nố lớn, 600 lao công tại bến tàu Xa lộ Sài Gòn bị đuổi việc.    

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 2/10/66, Cựu Tống thống Eisenhower tuyên bố nên dùng mọi biện pháp cần thiết để sớm chấm dứt chiến tranh tại VN. Ngày 5/10/66, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố: ngừng oanh tạc vùng Phi quân sự Bến Hải để trả lại cho vùng này tính cách trái độn của nó. Ngày 9/10/66, Bộ trưởng McNamara cùng Tổng Tham mưu trưởng tướng Wheeler bay sang VN khảo sát để xét lại tình hình quân sự và nhu cầu của quân đội Mỹ tại đây sẽ lưu lại 4 ngày. Ngày 10/10/66, số trực thăng Mỹ hiện có tại VN là 1.800, nhiều hơn cả của Nga Sô và Trung Cộng. Ngày 13/10/66, Bộ trưởng McNamara rời Sài Gòn, sau 4 ngày hội thương, quan sát các mặt trận, và duyệt lại tình hình chiến sự. Ngày 14/10/66, Tổng thống Johnson tuyên bố: không ngừng oanh tạc BV nếu đối phương không ngừng đưa quan vô Nam.

Cùng ngày 14/10/66, Tướng Maxwell Taylor tuyên bố: HK nên đảm nhiệm việc chiến đấu vì đủ phương tiện hơn, còn quân đội VN sẽ chỉ lo việc bình định. Mỹ phải tiêu diệt đối phương. Ngày 16/10/66, Tổng thống Johnson lên đường đi thăm 6 quốc gia Á châu và dự hội nghị tối cao Manille để tìm giải pháp hòa bình cho VN. Ngày 26/10, Tổng thốngJohnson bay qua Cam Ranh thăm quân đội Mỹ trong 2 giờ, rồi lại trở về Manille để sang Thái Lan. Ngày 26/10/66, hàng không mẫu hạm Oriskany bốc cháy, 45 sĩ quan và quân nhân thiệt mạng, 16 bị thương. Tàu phải qua Phi Luật Tân sửa chữa. Ngày 30/10/66, Tổng thống Johnson thăm Mã Lai. Thủ tướng Mã Lai Abdul Rahman tuyên bố: ủng hộ VNCH bằng tinh thần, không thể bằng vật chất, vì chính nước ông cũng đương lo chống Cộng. Ngày 31/10/66, Tổng thống Johnson thăm Đại Hàn, được tiếp đón rất linh đình

Ngày 3/11/66, Tổng thống Johnson trở về đến Mỹ sau 18 ngày thăm viếng các nước Á Châu. Ngày 4/11/66, Tổng thống Johnson tuyên bố: không ngưng oanh tạc BV nhân dịp Giáng sinh, mà còn tăng quân nếu Cộng sản cứ tấn công xâm lăng. Ngày 14/11/66, Đại sứ Cabot-Lodge tuyên bố với báo US News and World Report, chiến tranh VN còn dài, đánh xong chính qui BV mới bắt đầu việc bình định chổng VC miền Nam. Ngày 14/11/66, Theo ước lượng của Bộ Quốc phòng HK, phí tổn oanh tạc hàng năm lên tớí 5 tỷ Mỹ kim. Ngày 21/11/66, Tướng Westmoreland tuyên bố: HK cần tăng quân tại VN, và tăng cả số trực thăng. Ngày 23/11/66, một cơ quan phối hợp công tác bình định nông thôn thuộc quyền Phó Đại sứ Porter mới lập ra và sẽ có chi nhánh tới cấp Quận. Ngày 23/11/66, theo nguồn tin HK, trong năm 1965, tại VN có 113.000 quân nhân đào ngũ. Năm 1966: 74.000. Đã có 7.500 ra trình diện đã được khoan hồng.

MỸ TĂNG CƯỜNG QUÂN VÙNG BẾN HẢI ĐỂ NGĂN CHẬN BV XÂM NHẬP. Ngày 2/12/66, Tướng Lewis W. Walt cho biết TQLC Mỹ được tăng cường và bố trí tại vùng Bến Hải đê ngăn chặn BV xâm nhập. Ngày 6/12/66, Đại-sứ Cabot-Lodge tuyên bố: sẽ không có cuộc nghị hòa đàm phán; tin rằng VC sẽ bị đánh bại và diệt trừ, và chiến tranh sẽ lắng xuống dần. Ngày 7/12/66, các giới quân sự Mỹ đòi hỏi oanh tạc BV mạnh hơn, vì số phi cơ Mig tăng lên nhiều. Ngày 9/12/66, Ngoại trưởng Dean Rusk qua Sài Gòn tuyên bố: sẽ bàn với chánh phủ VNCH về một qui chế đóng quân Mỹ tại VN. Ngày 9/12/66, Tướng Westmoreland ra nhật lịnh kêu gọi quân nhân Mỹ tham gia công cuộc “bình định và phát trin nổng thôn. Ngày 9/12/66, Bộ trưởng Không quân Mỹ Harold Brown tuyên bố: trong 19 thảng qua, đã phá hủy: 3.000 toa xe lửa, 7.000 cam nhông, 3.000 thuyền bè, 4.000 cây cầu. Số phi vụ oanh tạc BV từ 553 trong tháng 2/66, đã lên tới 3.621 trong tháng 9. 

Ngày 11/12/66, Đại sứ Cabot-Lodge lại xác nhận: sẽ không có điều đình, nhưng chiến tranh sẽ lịm dần đi. Ngày 12/12/66, theo bảo Newsweek, chương trlnh bình định nông thôn do cảc cơ quan dân sự Mỹ đảm trách, sẽ được giao phó cho quân đội Mỹ. Ngày 28/12/66, một số nghị sĩ Mỹ đòi mở cuộc điều tra về vụ ném bom xuống khu thường dân Hà Nội. Tòa Bạch ốc tuyên bố: Tổng thống Johnson không hề ra lịnh ném bom xuống các địa điểm nào ngoài các căn cứ quân sự. Ngày 31/12/66, Tổng thống Johnson tuyên bố xác nhận: lúc nào HK cũng sẵn sàng nghị hòa, nhưng có thể phải tiếp tục chiến đấu vì BV không muốn hòa. 

MỸ VIỆN TRỢ KINH TẾ, VÀ XÂY DỰNG CHO VNCH. Ngày 25/10/66, Thái Lan thuận bán chịu 20 triệu Mỹ kim gạo cho VN. Ngày 3/12/66, Cơ quan viện trợ kinh tế USAID tăng thêm 25 chuyên viên quan thuế để giúp việc thâu thuế tại các thương cảng. Số hàng mất cắp lên tới hàng tỷ bạc. Ngày 15/12/66, ký kết thỏa hiệp viện trợ thực phẫm lần thứ 12: Mỹ cấp 200.000 tấn gạo, 60.000 tấn bột mì, 43.000 tấn sữa. 8.480 tấn thuốc lá, và 87.500 kiện bông.  

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 1/10/66, trên 2.500 quân Mỹ đồ bộ tại Qui Nhơn. Ngày 12/10/66, quân số HK hiện lên tới 325.000. Ngày 14/10/66, Quân số Đại Hàn ở VN: 45.000; Quân số Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân: 2.000. Ngày 8/12/66, tổng số quân Mỹ tại VN lên 362.000. Quân đội Đồng minh: 52.000. Tổng số lực lượng VNCH: 319.000 quân đội Chính quy, 150.000 Địa phương quân, 146.000 Nghĩa quân. Ngày 9/12/66, hơn 1.700 quân Mỹ đổ bộ lên Vũng Tàu. Ngày 15/12/66, tổng số quân-đội HK tại VN lên 368.000. Ngày 18/12/66, tổng số phi cơ Mỹ bị hạ: tại BV 450; Tại miền Nam 144 chiếc. Ngày 19/12/66, hơn 1.416 quân nhân Mỹ thuộc Sư đoàn 9 Bộ-binh (14.500 người) đổ bộ lên Vũng Tàu, một số đã di chuyền xuống miền Tây. Ngày 21/12/66, Chánh phủ Úc quyết định tăng quân số tại VN từ 4.000 lên 6.000 người, với một phi đội thứ ba, và một chiến hạm. 

HI NGHỊ TỐI CAO SEATO TẠI MANILLE. Ngày 23/10/66, Phái đoàn VNCH tham dự Hội nghị Tối cao SEATO tại Manille, do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn, hôm nay lên đường. Phái đoàn các nước khác cũng tới hôm nay do các quốc trưởng hoặc thủ tướng hướng dẫn: Phác Chinh Hy (Đại Hàn) Johnson (HK), Harold Holt (Úc), Holyoake (Tân Tây Lan), Kittikachorn (Thái Lan). Ngày 24/10/66, Hội nghị Manille khai mạc, hơn 1.000 ký giả các nước tới nghe tin. Buổi họp đầu, dành cho Phái đoàn VN trình bày về tình hình quân sự, chánh trị, và kinh tế xã hội. Thiếu tướng Nguýễn Cao Kỳ tuyên bố trước hội nghị: sẽ phải đánh mạnh, nếu BV còn xâm lăng. VC có thể trở lại hàng ngũ quổc gia để góp phần xây dựng xử sở. Tổng thống Phác Chính Hy chủ trương đánh mạnh nếu phe Cộng sản không chịu điều đình; không thừa nhận VC và sẵn sàng giúp đỡ VNCH. Tổng thống Johnson muốn đưa vấn đề tù binh ra thử thách: nếu BV chịu nói chuyện về vấn đề này, là tỏ ý hòa hoãn… 

Ngày 25/10/66, Thông cáo chung Hội nghị Thượng đĩnh Manille sau hai ngày nhóm họp: (1) quyết bảo vệ tự do miền Nam; (2) tăng cường áp lực quân sự nếu cần; (3) sẵn sàng rút quân trong 6 tháng nếu BV nhận các điều kiện điều đình; (4) sẽ mở mang các nước Đông Nam Á về kinh tế và xã hội; (5) lập hội đồng tư vẩn 7 nước để liên lạc về chánh trị, quân sự, kinh-tế.  

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 6/10/66, Uỷ hội Quốc tế vẫn không chịu tới kiểm soát vùng Phi quân sự lý do thiếu an-ninh. Ngày 8/10/66, Nga Sô từ chối không hưởng ứng đề nghị của Anh mở lại hội nghị Genève đế bàn về VN. Ngày 5/12/66U-Thant đã thuận ở lại chức vụ Tổng thư ký Liên Hiệp Quổc 5 năm nữa, sau khi được toàn thể Đại hội biểu quyết cử nhiệm. Ngày 14/12/66, U-Thant tán thành và nhắc lại đề nghị trước: ngưng oanh tạc BV, giảm chiến sự ở miền Nam, nói chuyện với MTGPMN. Ngày 16/12/66, tại Liên Hiệp Quốc, Nga và Mỹ đã ký đươc hiệp ước về không gian: không chiếm đóng, không phóng vệ tinh nguyên tử hoặc có công dụng chiến tranh. Ngày 21/12/66, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố: HK để U-Than rộng tay tùy ý liệu cách dàn hòa. Ngày 29/12/66, Đức Hồng y Spellman xác nhận lời tuyên bố nhân dịp Noêl tại VN: HK phải chiến thắng thì cuộc chiến tranh này mới chấm dứt.

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOA VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 2/10/66, Nga Sô xác nhận có gửi quân nhân sang huấn luyện về hỏa tiễn về pháo binh cho BV. Ngày 15/10/66, theo tin từ Thụy Điển, nhiều nhà máy đã được di chuyển khỏi Hà Nội và Hải Phòng. Ngày 27/10/66, BV bác bỏ các đề nghị hòa bình của Hội nghị Manille. Ngày 14/11/66, theo giới quân sự VN tại Cao nguyên, có 5 sư đoàn BV, 1 hoạt động tại duyên hải, 4 tại miền núi. Ngày 14/11/66, theo giới quân sự VN tại Cao nguyên, có 5 sư đoàn BV, 1 hoạt động tại duyên hải, 4 tại miền núi. Ngày 16/11/66, nhiều đoàn quân xa BV lại tiếp tục vô Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh. Ngày 26/11/66, tổng số Vệ binh Đỏ lên tới 11 triệu và lần lượt tới Bắc Kinh biểu diễn trước Mao Trạch Đông cùng Lâm Bưu. Ngày 28/11/66, có 4 tiểu đoàn BV lại vừa vô Nam với súng cao xạ và súng nặng, nhưng bị phi cơ Mỹ ném bom ngăn chặn và chịu tốn thất nặng nề.

Ngày 8/12/66, BV tuyên bố sát cánh với Trung Cộng để chống HK. Ngày 12/12/66, theo giới quân sự Mỹ, BV vừa nhận được của Nga Sô thêm 100 phi cơ Mig nữa. Ngày 16/12/66, theo tin AFP, thì có 15 chết và 30 bị thương, trong vụ oanh tạc khu Nam, khu Bắc thành phố Hà Nội. Ngày 16/12/66, Trung Cộng, Lỗ Ma Ni đều phản đối vụ oanh tạc Hà Nội; Các trụ sở tòa đại sứ hai nước đều bị trúng đạn. Ngày 17/12/66, Ngoại trưởng Trung Cộng Trần Nghị, nhân dịp biểu tình chống việc Mỹ thả bom xuống Hà Nội, lại xác nhận: sẵn sàng đem quân tham chiến nếu BV yêu cầu. Ngày 21/12/66, theo giới chức hải quân, tàu ngầm Nga Sô vẫn lảng vảng ở ngoài khơi VN. Ngày 22/12/66, theo giới quân sự Mỹ, có 50 phi công Bắc Hàn tại BV. 

KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 1/10/66, các phi cơ của hạm đội Mỹ tại Vịnh BV oanh tạc vùng Phủ Lý trong nhiều giờ. Cầu, đường xe lửa và nhiều cơ sở bị thiệt hại rất nặng. Ngày 3/10/66, có 84 phi vụ oanh tạc BV đánh phá Phủ Lý, ga và đường xe lửa, kho dầu gần Đồng Hới. Ngày 5/10/66, trên 127 phi vụ oanh tạc BV gần Thanh Hoá, và Đồng Hới. Ngày 6/10/66, có 138 phi vụ oanh tạc Đồng Hới, Thanh Hóa, Điên Biên Phủ... phá hủy 1 đoàn quân xa, xe lửa, cầu cống, kho xăng v.v. Ngày 9/10/66, trong trận không chiến cách Hà Nội 56 cây sổ về phía Nam, phi cơ Mỹ Cruisader và Skyraider hạ 2 Migs-21. Ngày 11/10/66hơn 171 phi vụ oanh tạc BV, nhắm vào Điện Biên Phủ, vùng phụ cận Hải Phòng. Ngày 13/10/66, có 173 phi vụ oanh tạc BV ném bom sập một hòn núi, dưới đó các kho súng đạn phát nổ dữ dội tại Thanh Hóa. Ngày 14/10/66, có 175 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/10/66, số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV lên tới 400. Ngày 16/10/66, hơn 79 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 18/10/66, có 89 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 20/10, hôm nay có 80 phi vụ oanh tạc BV. Cùng ngày 20/10/66, số bom ném tại Nam và Bắc VN độ 45.000 tấn mỗi tháng. Và, trong một năm, bằng cả số bom đạn dùng trong chiến tranh Cao Ly 1950 - 1953. Ngày 22/10/66, máy bay Hải quân Mỹ đánh đắm 150 thuyền tại duyên hải BV. Ngày 25/10/66vì trời rất xấu, chỉ có 21 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/11/66, có 122 phi vụ oanh tạc BV, phá khu kỹ nghệ Việt Trì. Ngày 3/11/66, có 165 phi vụ oanh kích Điện Biên Phủ, đèo Mụ Gia, Vinh, phụ cận Hà Nội và Hải Phòng, phá hủy 45 cầu và 4 dàn hỏa tiễn. Ngày 4/11/66, có 155 phi vụ oanh tạc BV, 4 máy bay Mig 21 xuất hiện hai lần gần Lao Kay và Hải Phòng, nhưng không giao chiến. Ngày 6/11/66có 136 phi vụ oanh tạc BV, phá cầu Đáp Cầu và nhiều kho nhiên liệu, 3 dàn hỏa tiễn SAM bị phá huỷ gần Hải Phòng. 2 Mig-21 bị 2 phản lực Phantom Mỹ bắn hạ.

Ngày 9/11/66, hơn 100 phi vụ oanh tạc BV. Phi cơ Hải quân bắn phá cầu Hàm Rồng, nhưng cầu vẫn chưa bị phá. Ngày 9/11/66, có 83 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 12/11/66, hơn 56 phi vụ oanh tạc BV vùng Đồng Hới, Vinh, Thanh Hoá, đèo Mụ Già. Ngày 15/11/66, vì trời xấu, chỉ có 25 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/11/66, Hải quân Mỹ đánh đắm 144 thuyền và phá huỷ 144 chiếc khác tại Vịnh BV để ngân chặn tiếp tế. Ngày 18/11/66, có 52 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 19/11/66, có 46 phi vu oanh- tạc BV. Trời xấu từ mười hôm nay. Ngày 23/11/66, có 68 phi vụ oanh tạc BV. Hai căn cứ hỏa tiễn SAM bị phi cơ Mỹ phá gần Hải Phòng. Ngày 24/11/66, có 101 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/11/66, hôm nay có 59 phi vụ oanh tạc BV. 

SỐ B 52 THAM CHIẾN TẠI VN TĂNG LÊN 50 CHIẾC. Ngày 29/11/66, số B-52 tham chiến tại VN, tăng từ 30 lên 50 chiếc, mỗi chiếc mang 27 tấn bom. Cho tới nay, đã thả 100.000 tấn. Ngày 2/12/66, có 41 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu kho xăng Văn Điển, và kho xăng Hạ Gia cách Hà Nội 25 cây số về phía Đông Bắc, 8 phi cơ Mỹ bị hạ, 13 phi công mất tích. Ngày 3/12/66, có 59 phi vụ oanh-tạc BV. Cầu Lao Kay bị bắn phá. Ngày 4/12/66vùng Hà Nội lại bị phi cơ Mỹ oanh kích trong nửa giờ. Ngày 5/12/66, có 82 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu ga xe lửa Yên Viên, 1 Mig-17 bị hạ. Các chiến hạm Mỹ bắn lên các căn cứ trọng pháo ven biển Đồng Hới. Ngày 6/12/66, có 85 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu ga xe lửa Yên Báy, một đoàn 25 thuyền trên sông Cháy và nhiều căn cứ phòng không bị phá hủy. Một số Mig-17 lên nghênh chiến không thấy số thiệt hại của đôi bên. Ngày 7/12/66, hơn 70 phi vụ oanh tạc BV, quanh Hà Nội, Hải Phòng, Điện Biên Phủ. Một F-105 bị Mig-21 bắn rớt. 

Ngày 9/12/66, có 75 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu cầu Phủ Lý. Mig-21 có lên nghênh chiến. Không bên nào thiệt hại. Ngày 10/12/66, hơn 73 phi vu oanh tạc BV. Ngày 11/12/66, có 25 phi cơ B-52 lại tới oanh tạc gần đèo Mụ Gia để chặn đường xâm nhập vào Nam của BV, 750 tấn bom đã dội xuống vùng này. Ngày 12/12/66, tổng số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV lên tới 445. Ngoài ra, còn có 378 phi cơ kể cả 289 trực thăng bị rớt trên lãnh thổ VNCH. Ngày 13/12/66, có 99 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Hà Nội, cầu Long Biên, khu Cầu Đẩt, và vùng ngoại ô Hải Phòng, Văn Điển, Yên Viễn Xuân Mai. Ngày 14/12/66, nhiều đợt phi cơ Mỹ lại oanh kich trung tâm Hà Nộỉ, mặc dầu có hàng ngàn súng phòng không, từ 15 giờ 10 đến 17 giờ, 1 chiếc F-105 của Mỹ bị Mig BV bắn hạ, 2 chiếc khác bị bắn hạ do cao xạ. Cơ xưởng Gia Lâm bị thiệt hại nặng. 2 nhịp cầu Long Biên bị hư hại. 

Ngày 17/12/66có 61 phi vụ oanh tạc BV. Đường sổ 6 sang Lào bị đứt nhiều quãng. Ngày 20/12/66có 121 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu kho dầu Hạ Gia gần Phúc Yên. Ngày 21/12/66, có 87 phi vụ oanh tạc BV, phá hủy các đường giao thông. Ngày 22/12/66hơn 81 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 22/12/66có 66 phi vụ oanh tạc BV. B-52 dội bom cách Đồng Hới 50 cây số về phía Nam. Ngày 28/12/66, có 54 phi vụ oanh tạc BV, Nam Định bị đánh phá. Ngày 29/12/66, có 73 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 30/12/66, có 101 phi vụ oanh tạc BV, phá các ga xe lửa Nam Định, Thanh Hóa, Vinh v.v.

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 1/10/66, B-52 tới ném bom lần thứ ba trong 3 ngày kịch chiến cách Đông Hà 23 cây số. Ngày 11/10/66, theo giới quân sự VN, 4 sư đoàn BV dàn trận tại vùng Phi quân sự là SĐ 324, 324-B, 307 và 341. Ngày 3/10/66tại vùng phi quân sự, TQLC Mỹ kịch chiến với hơn một tiểu đoàn BV, hạ 110 tên. Ngày 6/10/66, số phi vụ yểm trợ cho cuộc hành quân Prairie đang tiếp tục vùng Phi quân sự vượt kỷ lục: 2.101 phi vụ, không kể 15 lần B-52 dội bom. Ngày 6/10/66, Nhảy Dù VN kịch chiến tại Gio Linh, hạ 200 BV. B-52 lại oanh tạc vùng Phi quân sự. Ngày 9/10/66, có 2 Sư đoàn TQLC Mỹ từ phiá Nam tiến lên gần vùng Phi quân sự ứng chiến. Cùng ngày 10/10/66, nhiều đơn vị Lục quân Mỹ được phái ra vùng Phi quân sự tăng cường cho TQLC. 

Ngày 12/10/66, Sư đoàn Bạch Mã Đại Hàn được điều ra vùng Phi Quân sự tham chiến. Ngày 16/10/66, Quân đội Mỹ xây cơ sở kiên cố phòng thủ vùng Phi quân sự. Ngày 23/10/66, Hải quân Mỹ phải bắn phá rất dữ dội để yểm trợ cho TQLC đang hành quân vùng Phi quân sự. Ngày 9/11/66, một vị trí TQLC Mỹ tại Ân Trạch cách Đà Nẵng 13 cây số, bị xâm nhập và chịu thiệt hại nặng, VC để lại 16 xác. Ngày 16/11/66, lại một máy bay nữa chở nhân viên Bộ Xây dựng Nông thôn bị rớt ở Tam Kỳ: 13 bị thương. Ngày 20/11/66kịch chiến tại Bắc Quảng Ngãi giữa Đại Hàn và quân BV. Ngày 21/11/66hành quân Liên Kết Tây Bắc Quảng Ngãi, 130 VC bị hạ do đạn và bom từ phi cơ. Ngày 6/12/66, hành quân Mississipi Kỹ cách Đà Nẵng 40 cây số về phía Nam. Ngày 17/12/66nhiều đơn vị BV lại qua Bến Hải. B-52 lại oanh tạc nhiều địa điểm gần Cam Lộ, Quảng Trị. 

Ngày 22/12/66, một đồn TQLC ở Quảng Trị bị tấn công mạnh, nhưng đẩy lui được sau một đêm kịch chiến, 54 xác BV bỏ lại. Ngày 22/12/66chiến dịch Market Times, do Hải quân Mỹ thực hiện 1.825 thuyền bị khám xét. Ngày 23/12/66, cuộc tấn công đồn TQLC ở Quảng Trị tiếp diễn sớm hôm nay, 110 xác quân BV bỏ lại. Ngày 29/12/66, nhiều đồn VNCH và TQLC Mỹ bị pháo kích dữ dội tại Đông Hà, Quảng Trị. Ngày 31/12/66, cách Huế 14 cây số về Tây Bắc, hơn 1.000 chính quy BV chuyển tới gần đồn Mỹ. Tướng Westmoreland ra lịnh oanh tạc.      

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 4/10/66, hành quân hỗn hơp Việt-Mỹ-Hàn Irving tại Bình Định trong 3 hôm nay, hạ 347 VC, bắt 131. Ngày 10/10/66, trong cuộc hành quân Irving, tuần qua, 449 VC bị bắt gần Qui Nhơn. Ngày 13/10/66, kết quả hành quân Mãnh Hổ-Đại Hàn từ ngày 23-9 tại Bình Định, hạ 878 VC, thu 296 súng với nhiều đạn dược. Ngày 25/10/66, kết thúc hành quân Irving mở từ 2-10 tại vùng Bồng Sơn, Bình Định hạ 681 VC, bắt 690, thu 191 súng cá nhân và 19 súng cộng đồng. Ngày 2/11/66, kịch chiển tại Bồng Sơn, giữa một tiểu đoàn VC và quân Mỹ. Ngày 13/11/66, các vị trí của Sư đoàn 4 Bộ binh Mỹ tại Plei-Djereng (Kontum) bị pháo kích hơn 600 trái phá và nhiều cuộc tấn công bị lực lượng phòng thủ phản công suổt đêm. 32 quân BV tử thương. Ngày 14/11/66, trận đánh quanh Plei-Djereng rất kịch liệt, các đơn vị Mỹ bị pháo kích bằng hàng ngàn đạn đại bác 82. 

Ngày 20/11/66, giao tranh dữ dội gần Plei-Djereng, giữa 3 đại đội Việt-Mỹ và các đơn vị BV trong 8 giờ liền: BV thiệt 166 người. Ngày 21/11/66, tại thung lũng Ia-Drang, một Trung đội Mỹ 21 người bị lọt ỗ phục kích, sống sót 3. Viện binh ứng cứu, đối phương để lại 122 xác. Ngày 24/11/66, một đoàn xe của hãng thầu Mỹ, có binh sĩ hộ tống, bị giật mìn cách Đà Lạt chừng 6 cây số. Cùng ngày 27/11/66, kết quả trận Plei-Djereng, Pleiku sau 5 ngày kịch chiển: BV chết 742, mất nhiều võ khí lớn. Phía Đồng minh: chết 98, mất tích 6. Ngày 17/12/66, trong cuộc hành quân Thayer II, kịch chiến tại Binh Định, giữa quân BV và Sư đoàn Không vận Mỹ suốt ngày thứ bảy và đến trưa hôm nay: 78 BV bị hạ. Phía Mỹ cũng bị thiệt hại nặng. Ngày 20/12/66, hành quân Thayer II giao tranh kịch liệt cách Qui Nhơn 80 cây sổ về Tây-Bắc 131 VC bị hạ. Ngày 31/12/66, kết thúc cuộc hành quân Paul Revere IV tại Kontum - Pleiku, 977 địch bị hạ, 90 bị bắt, 331 tình nghi bị giữ, thu 308 súng. Hành quân Paul Revere V bắt đầu.   

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 5/11/66, căn cứ Lữ đoàn 196 Mỹ tại Tây Ninh bị pháo kich dữ dội; cả trại quân Phi Luật Tân gần vùng Suối Cao cũng bị bắn phá. Ngày 6/11/66, trong cuộc hành quân Attleboro vào Chiến khu C-Dương Minh Châu giữa Tây Ninh và Dầu Tiếng, một Lữ đoàn Mỹ kịch chiến với Sư đoàn 9 BV trong khu rừng rậm tại Tây Ninh gần biên giới. S địch bị hạ lên tới 270Ngày 7/11/66, trận đánh lớn tiếp tục từ 3-11 tại Tây Ninh vùng Chiến khu C. Quân đội Mỹ chiếm 35 pháo đài kiên cố, phi cơ ném bom dữ dội; VC bỏ lại 319 xác, còn bộ đội thì đã rút. Ngày 8/11/66, kịch chiến tiếp tục vùng Chiến khu C Tây Ninh, nhiều đợt xung phong của VC bị đẫy lui, phi cơ Mỹ dội bom napalm sát vị trí quân Mỹ. Tổng số xác VC tìm thấy lên tới 758. Ngày 9/11/66, quân đội Mỹ lục soát chiến trường Tây Ninh, tìm thấy 95 xác nữa. Tổng số VC tử trận: 828. 

Ngày 11/11/66, trong trận Chiến khu C Tây Ninh, 25.000 quân Mỹ vây 4 Trung đoàn 271, 272, 273 và 101 của VC. Hôm nay, không còn chạm súng. Ngày 15/11/66, hành quân Attleboro tiếp tục tại Chiến khu C Tây Ninh. B-52 ném bom quanh vùng ngày thứ 6. Quân đội Mỹ bắt được 2 tấn thuốc men và 20 tấn gạo. Ngày 9/11/66, hơn 184 phi cơ phản lực, và B-52 oanh tạc tại mặt trận Tây Ninh. 3 trực thăng bị bắn hạ. Tổng số gạo tịch thu lên tới 2.000 tấn. Ngày 22/11/66, tại mặt trận Tây Ninh, quân Mỹ bắt được hai tù binh người Mên. Ngày 27/11/66, kết thúc hành quân Attleboro tại Chiến-khu C biên giới Tây Ninh: 19 tiểu đoàn tham dự, 1.571 phi vụ yểm trợ, 15 phi vụ oanh tạc của B-52. Có 1.101 xác VC, 44 tù binh, 60 tình nghi bị bắt, 149 võ khí bị thu, với ngót 1.000 tấn gạo tìm thấy. Ngày 30/11/66, hành quân Bismark tại Biên Hòa, hạ 40 VC. Ngày 6/12/66hành-quân Atlanta cách Phước Tuy 55 cây số về Đông Nam. 

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 7/10/66, hành quân Đồng Tiến 39/PK cách Cao Lãnh 15 cây số, hạ 44 VC, bắt 52 với nhiều súng đạn. Ngày 11/10/66, Kết quả hành quân Đồng Tiến 39 tại Bắc Cao Lãnh, hạ 118 VC, bắt 102. Ngày 17/10, hành quân Cửu Long 22 cách Mộc Hóa 20 cây số, hạ 147 VC thuộc Tiểu đoàn 502, bắt 17 vời 105 súng đủ loại. Ngày 19/10/66, hành quân trực thăng vận Dân Chí 263/SD/3 cách Vị Thanh 10 cây số, hạ 138 VC, thu nhiều võ khí. Ngày 6/11/66, hành quân Cửu Long 45-SĐ tại Long Định, Định Tường hạ 50 VC, bắt 15. Hành quân Long Phi 991-SĐ cách Vĩnh Long 12 cây số về phía Nam. Ngày 15/11/66, Nhiều đồn Địa phương quân bị tấn công tại Kiến Tường, Ba Xuyên, Phong Dinh, Vĩnh Bình. Ngày 29/12/66, hành quân Dân Chí 270/SD từ 27-12, cách Vị Thanh 25 cây sổ: hạ 124 VC, và thu nhiều súng đạn.  

TẠI BIỆT KHU THỦ ĐÔ. Ngày 29/10/66, Cảnh sát bắt 10 đặc công VC với 650 ký thuốc nổ và một số súng đạn để trong một xe hơi và ngâm dưới nước tại một địa điểm thuộc Đô thành. Ngày 1/11/66, Lễ quốc khánh tổ chức long trọng đường Thống NhấtSài Gòn, nhưng từ 7 giờ thiếu 5 phút, đạn đại bác từ đâu bắn xuống gần khán đài danh dự, rớt vào gác chuông nhà thờ Đức Bà và trước Bưu điện cùng Bộ Tư pháp, và trường Taberd. Đến 8 giờ 40, lại nhiều trái khác rơi vào khu nhà thương Grall, bến xe buýt trước chợ Bến Thành. Tất cả 15 trái, 7 người chết vài chục bị thương. Một tàu dò mìn của Mỹ trúng mìn trên sông Lòng Tảo, cách Sài Gòn 23 cây số. Thiệt hại khá nặng. Ngày 4/12/66, VC đột kích phi trường Tân Sơn Nhứt, một toán pháo kích, 1 toán chặn đánh, 1 toán xông vào sân bay, trận đánh từ 1 giờ 30 đêm đến 3 giờ, VC bỏ lại 19 xác với nhiều súng. 3 quân nhân Mỹ chết, 1 bị thương, 2 phi cơ bị hư hại. 

5 giờ sáng ngày 4/12/66, mìn nổ lớn trên nóc rạp Kinh Đô, Sài Gòn. 12 quân nhân Mỹ và một số thường dân Việt bị thương. Ngày 25/12/66, Quận trưởng Hóc Môn bị sát hại tại vùng Bà Điểm. Ngày 31/12/66, Tổng nha Cảnh sát cho hay đã bắt được chúa đảng cầm đầu các vụ trộm lớn tại Thương cảng Sài Gòn.  

 

Bài 233: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 1 ĐẾN THÁNG 2 NĂM 1967.

UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 26/1/67, Tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng ủy viên Chiến tranh, Uỷ viên Quốc phòng, công du Đài Bắc, không được phép trở về VN. Ngày 26/1/67, Tướng Nguyễn Cao Kỳ sau 10 ngày công du tại Úc và Tân Tây Lan trở về tuyên bố tại phi trường Tân Sơn Nhất: cuộc thanh trừng phải tiếp tục lâu ngày.Ngày 28/1/67, Chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ cải tổ: tướng Cao Văn Viên thay tướng Nguyễn Hữu Có, giữ chức Ủy viên Quốc phòng kiêm Tổng ủy viên Chiến tranh; Trương Thái Tôn, Tổng ủy viên Kinh tế Tài chánh kiêm Uỷ viên Phủ Chủ tịch Uỷ ban Hành phảp Trung ương; La Thành Nghệ, Uỷ viên Công kỹnghệ (S.L. 028/CT/LDQG/SL). Ngày 29/1/67,Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu Chủ tịch UBLĐQG tuyên bố với báo giới: Tướng Nguyễn Hữu Có bị giải chức, 50 sĩ quan khác bị tạm giữ đế điều tra. 

Ngày 4/2/67, Trung tướng Cao Văn Viên được thăng Đại tướng; Chuẩn tướng Nguyễn Văn Mạnh thăng Thiếu tướng, Đại tá Ngô Quang Trương thăng Chuẩn tướng. Ngày 20/2/67, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố tại Định Tường: có thể thắng VC trong 4 năm, nếu xây dựng được nông thôn, nếu không, chiến tranh sẽ kéo dài 10 năm nữa.

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 1/1/67Ngân sách quốc gia được ấn định là 75 tỷ vnđ. Tài nguyên quốc gia 28 tỷ; Quỹ Đối giá ngoại viện 30 tỷ (S-luật 001/67). Ngày 5/1/67có tới 127 nha sĩ, dược sĩ, y sĩ và sinh viên Y khoa năm thứ 6 được gọi nhập ngũ. Cùng ngày 5/1/67tổng số quân nhân VNCH đến ngày hôm nay 610.572 người gồm: Chủ lực quân: 321.544 người; Địa phương quân: 138.569 người; Nghĩa quân: 150.459 người. Ngày 9/1/67Tòa án quân sự mặt trận nhóm xử vụ Võ Văn En can tội ám sát dân biểu Trần Văn Văn. Ngày 10/1/67Tòa tuyên án Võ Văn En tử hình. Ngày 11/1/67, theo Đại úy Trưởng ty cảnh sát Thương cảng, số trộm cắp ở Thương cảng là 2.000 (năm I960); 3.400 (năm 1966), tổng sổ hàng bị mẩt ước 7,5 triệu bạc (1966). Ngày 17/1/67, Chánh phủ VNCH ra lịnh ngừng bắn từ 7 giờ ngày 8-2-67 đến 7 giờ 12-2-67. VC cũng loan tin ngừng bắn 7 ngày nhân dịp Tết. 

Ngày 17/1/67, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ-tịch UBHPTƯ, cùng một phái đoàn sang thăm Úc Đại Lợi 5 ngày và Tân Tây Lan 3 ngày. Ngày 18/1/67, tại Úc, Tướng Nguyên Cao Kỳ tuyên bố với báo giới: không hề biết trước vụ đánh đổ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, vì khi đó còn là sĩ quan cẩp dưới. Ngày 22/1/67, theo Chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn và Chủ-tịch Hiệp hội Nhập cảng, hiện nay số hàng bị kẹt tại Thương cảng lên tởi 15 tỷ bạc. Ngày 29/1/67, trước Tết Đinh Mùi, giá gạo ngon từ 2.900$ lên 3.300$ mỗi tạ tại Sài Gòn. Giá gạo hạng nhì 1.500$ lên 2.200$. Tổng cuộc Tiếp tế bán 150 tấn gà (120.000 con) ướp lạnh cho dân chúng trong dịp Tết. Dân chúng được phép đốt pháo 4 ngày nhân dịp Tết, từ 30 đến hết mồng 3. Ngày 31/1/67, thành lập Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp thay thế Nông tín cuộc (S.L. 27/SL/CN). Ngày 1/2/67, Trung tá Nay Lo, người Thượng đầu tiên, nhận chức Tỉnh trưởng tại Pleiku.

Ngày 5/2/67, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ xác nhận: sẵn-sàng gặp đại diện BV để nói chuyện về việc kéo dài thời gian ngừng bắn nhân dịp Tết. Ngày 7/2/67, quân nhân và công chức được miễn trả số lương vay nhân dịp Tết. Ngày 16/2/67, ký kết thỏa ước Việt-Đức, VN vay 15 triệu Đức mã xây lò heo tối tân tại Sài Gòn. Ngày 17/2/67, Thủ tướng Tân Tây Lan Keith Hoyoake tuyên bố: sẽ tăng viện trợ quân sự cho VNCH. Ngày 17/2/67, tới nay có 48 đoàn y tế ngoại quốc hiện đương giúp VNCH tại 40 tỉnhNgày 27/2/67, tại Bộ Ngoại giao, Đại sứ các nước đã dự Hộỉ nghị Manille nhóm họp để xét về hiện tình VN và kết quả hoạt động chung. Ngày 2/2/67, thành lập Ủy ban Kế hoạch Hậu chiến (Post-war Planning Group) có nhiệm vụ cùng các chuyên viên HK nghiên cứu các kế hoạch, chương trình, dự án phát triền kinh tế và ỗn định xã hội khả thi sau khi chiến tranh chấm dứt. 

QUỐC HỘI LẬP HIẾN, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 9/1/67, Các tiểu ban Quốc hội đã soạn thảo xong Hiến pháp. Ngày 10/1/67Quốc hội Lập hiến họp báo tuyên bố: yêu cầu biến thành Quốc hội Lập pháp cho tới khi bầu Quốc hội Lập pháp; rằng UBLĐQG có quyền đòi phúc nghị nhưng chỉ trong thời gian soạn thảo Hiến pháp. Ngày 15/1/67, Quốc hội Lập hiến làm lễ truy điệu cố dân biểu Trần Văn Văn. 

NẠN NHÂN, TỴ NẠN, VÀ CỘNG SẢN HỒI CHÁNH. Ngày 7/2/67, theo báo Japan Times, từ 1957 đến cuối 1966, tại miền Nam VN, 11.000 người bị ám sát, 40.000 bị bắt cóc.

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 4/1/67theo Edgar Hoover, Giám đốc Trinh sát FBI Mỹ, thì đảng Cộng sản đã bành trướng mau lẹ tại HK, đương khai thác chiến tranh VN và xung đột đen trắng. Ngày 6/1/67Thượng nghị sĩ Mỹ Mansfield đề nghị: nên xây lũy ngăn chặn ở vĩ tuyến 17 và vòng cả xuống Lào Mên đề bao vệ miền Nam VN. Chỉ mất 4 tỷ Mỹ-kim, bằng 2 tháng quân phí. Ngày 10/1/67Tổng thống Johnson tuyên bố trong thông điệp gửi Quốc hội về tình hình liên bang Hoa Kỳ, rằng phải kiên nhẫn và tiếp tục chiến đấu tại VN, dù ngân sách thiếu hụt 10 tỷ Mỹ kim, có thề tăng thuế; Mỹ vẫn sẵn sàng nghị hòa bất cử lúc nào và ở đâu. Ngày 10/1/67Ngoại trưởng Dean Rusk phản đối các ý kiến của U Thant về vấn đề VN. Ngày 18/1/67, theo Tổng Tham mưu trưởng HK Earl Wheeler, BV càng ngày càng đưa nhiều căn cứ phòng không vào giữa nơi đông dân để tránh các vụ oanh tạc. Ngày 20/1/67, Barry Goldwater sau khi thăm VN 3 ngày, trở về Mỹ tuyên bổ: cần đánh mạnh hơn và đừng hạn chế các mục tiêu oanh tạc BV. 

KẾ HOẠCH 8 ĐIỂM CỦA THƯỢNG NGHỊ SĨ FULBRIGHT. Ngày 21/1/67, Thượng nghị sĩ Fulbright lại đề nghị kế hoạch 8 điểm đề giải quyết vấn-đề VN: mở cuộc thương thuyết; ngừng bắn; ngưng oanh tạc và xâm nhập; giảm bớt hành quân; Mỹ rút quân trong một hạn nhất định; hội đàm về ngừng bắn và quyền tự quyết của miền Nam; triệu tập Hội nghị Quốc tế đảm bảo sự thi hành thỏa ước đình-chiến; trung lập hoá Đông Nam Ấ; sửa soạn trưng cầu dân ý về việc thống nhất. Nếu không được như trên, Mỹ sẽ ở lại VN vô hạn định trong những căn cứ kiên cố. Ngày 22/1/67, Barry Goldwater cực lực đả kích đề nghị của Fulbright. Ngày 22/1/67theo báo Netvsiveekt Mỹ sắp lập hàng rào điện tử bảo vệ miền Nam VN. Ngày 22/1/67, Tướng Seaman, chỉ huy cuộc hành quân Cedar Falls cho biết đă bắt được kế hoạch Cộng quân đánh phá nhiều địa điểm Sài Gòn.

Ngày 24/1/67, Ngân sách chiến phí của HK tại VN: 1964-1965: 103 triệu Mỹ kim; 1965-1966: 5.812 triệu Mỹ kim; 1966-1967: 19.419 triệu Mỹ kim; 1967-1968: 21.900 triệu Mỹ kim. Ngày 25/1/67, theo tướng Maxwell D. Taylor, chiến tranh có thể chấm dứt tại VN mà không có hòa ước hay điều đình. Theo Bộ trưởng McNamara, Quân số HK, cuối 1967, có thể tăng lên tới 470.000. Ngày 1/2/67, Ngoại trưởng Dean Rusk xác nhận: Mỹ không chịu một mình tụt thang chiến tranh, và chỉ ngừng oanh tạc nếu quả có lợi cho hòa bình. Ngày 4/2/67, Tổng thống Johnson tuyên bố: chưa có triệu chứng gì là BV thành thực muổn điều đình. Ngày 8/2/67, theo giới chức quân sự HK, số tù bình Mỹ tại BV là 113, đa số là phi công.Ngày 11/2/67, Ngoại trưởng Dean Rusk tuyên bố: chánh phủ HK đã ngưng oanh tạc BV, Hà Nội nên cho biết thái độ. 

CÁC VỤ OANH TẠC TIẾT TỤC VÌ HÀ NỘI KHÔNG NGỪNGNgày 13/2, Hồi 18 giờ, Tổng thống Johnson tuyên bố các vụ oanh tạc BV lại tiếp tục, vì Hà Nội không ngừng gửi tiếp viện vô Nam. Ngày 14/2/67, theo báo Daily News Washington, trong 6 năm qua, 8.790 quân nhân HK thiệt mạng tại VN. Ngày 15/2/67, Bộ Quốc phòng HK xác nhận: nhân viên VN trong quân đội Mỹ phạm tội thuộc thẩm quyền tòa án VN; nhân viên nước Đồng minh tại VN, nếu phạm tội, được giao cho bộ đội nước liên hệ để tùy nghi; nhân viên thuộc nước khác, sẽ do tòa án quân sự Mỹ xử nếu tòa án VN không thụ lý. Ngày 19/2/67, Tướng Curtis Lemay, cựu Tư lịnh Không quân HK tuyên bố: cần ném bom tiêu hủy Hải Phòng và các tỉnh BV cho tới khi không còn hai viên gạch dính vào nhau. Ngày 20/2/67, theo Bộ trưởng McNamara, không lực Mỹ từ nay có thể oanh kích cả khu Hà Nội nếu cần phá hủy cảc căn cử hỏa tiễn. 

Ngày 21/2/67, Tổng thống Johnson báo tin sắp phát hành công trái 4 năm, lời cao 4,74% từ tháng 5 tới, để đài thọ chiển phí tại VN gọi là “Công trái bảo vệ Tự do”. Ngày 23/2/67, Goldwater đề nghị bãi bỏ mọi hạn chế trong sự oanh tạc BV. Ngày 27/2/67, Bộ Ngân khố HK cấm xuất cảng vật liệu y tế và gửi tiền giúp BV. Ngày 28/2/67, Bộ Ngoại giao Mỹ cải chính tin đại sứ Goldberg đại diện HK tại Liên hiệp Quốc, sẽ tới gặp đại diện BV tại Ngưởng Quang. Ngày 28/2/67, Theo giới quân sự Mỹ, phạm vi phòng thủ phi trường Đà Nẵng phải mở rộng hơn, vì phi trường đã bị pháo kich bằng phi đạn 140 ly với tầm xa 10 cây số. 

MỸ VIỆN TRỢ KINH TẾ, VÀ XÂY DỰNG CHO VNCH. Ngày 5/1/67Hãng thầu RMK—BRJ đã xây xong trung tâm tiểp vận Mỹ lại Tân Thuận, 25 mẫu, 200 cơ sở và kho, tốn phí 3,4 triệu Mỹ kim và 400 triệu bạc. Ngày 6/1/67Đại Hàn hiện có 7.000 công nhân tại VN và muốn gửi thêm sang 2 hoặc 30.000 nữa để tham gia việc tạo tác và bình định.Ngày 6/1/67tổng số nhân viên Mỹ thuộc Phái đoàn Viện trợ Kinh tế USAID: 1.217 (620 năm 1965). Số nhân viên Việt và ngoại quốc: 1.299 (875 năm 1965). Ngày 9/1/67theo phúc trình của cơ quan Viện trợ Mỹ USAID thì trong năm 1966, ngoại viện thương mại bị mất cắp từ 2% đến 5%; viện trợ trực tiếp 1%; và viện trợ thực phầm từ 10% đến 15%.   

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 1/1/67, hơn 6.800 quân Mỹ thuộc Sư doàn 9 Bộ binh, đổ bộ lên Vũng Tàu. Ngày 5/1/67Quân Mỹ tại VN là 389.000; Đại Hàn 50.000 ; Úc và Tân Tây Lan 5.000 ; Phi Luật Tân 2.000. Ngày 7/1/67, ba chiến hạm nguyên tử Mỹ Long Beach, Enterprise, và Bainbridge đều có mặt tại Vịnh BV. Ngày 17/1/67, Tổng số quân đội HK tại VN: 395.000. Ngày 19/1/1967, Tổng số quân Mỹ tại VN: 398.000. Ngày 22/1/67, Quân số Mỹ tại VN lên tới 400.000. Ngày 29/1/67, hơn 3.200 lính Mỹ đổ bộ lên Vũng Tàu, bố túc quân số của Sư đoàn 9. Tổng số quân HK tại VN: 404 000. Ngày 12/2/67, tổng số quân Mỹ tại VN: 412.000. Ngày 18/2, tổng số quân Mỹ tại VN: 414.000.

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 2/1/67, trong điệp văn gửi quốc dân Pháp nhân dịp đầu năm, De Gaulle lên tiếng công kích HK gây chiến tranh tại VN và đòi Mỹ rút quân. Ngày 10/1/67U Thant tuyên bố: VC không phải là công cụ của BV; không tin rằng mất miền Nam VN thì sẽ mất các nước khác; không tin rằng VN là địa điểm chiến lược quan trọng của phương Tây. Ngày 11/2/67, U-Thant lại kêu gọi kéo dài hưu chiến nhân dịp Tết. Ngày 22/2/67, Sihanouk gặp De Gaulle tại Ba Lê và xác nhận quan điểm cũ về vấn đề VN: phải trung lập hoá VN, và quân ngoại quốc phải rút để mặc người Việt quyết định lấy số phận. 

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 1/1/67MTGPMN loan tin sẽ ngừng bắn 7 hôm nhân dịp Tết Nguyên đán. Ngày 2/1/67Hồ Chí Minh lại tuyên bố chiến đẩu đến cùng. Ngày 6/1/67tại Trung Cộng, hết Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, đến Đào Chu và Chu Ân Lai bị Vệ binh Đỏ lên án. Ngày 7/1/67, Vệ binh Đỏ xung đột lớn với công nhân ở Nam Kinh và Thượng Hải, sau khi Đào Chu, Giám đốc Tuyên truyền bị sa thải. Theo tin Nga và Nhật, cuộc xung đột có 40 chết, 500 bị thương, 6.000 bị bắt. Ngày 8/1/67theo thông cáo của Vệ binh Đỏ, 400.000 phần tử phản cách mạng thuộc các giới đã bị loại trừ và tịch thu tàỉ sản cùng võ khí. Ngày 12/1/67Báo Nhân Dân Hà Nội xác nhận: chỉ có thể nghị hòa nếu Mỹ chịu 3 điểm: Mỹ ngừng oanh tạc BV; rút quân khỏi VN; để MTGPMN tham gia thương thuyết. BV mời các nước tự do gửi người tới xem những nơi bị bom Mỹ tại Hà Nội. 

Ngày 13/1/67nhiều sĩ quan Trung Cộng bị bắt đi diễu ngoài đường với bảng đề: phản động, trưởng giả v.v... Cùng ngày 13/1/67Bí thư thứ nhất Nga Sô, Breznev đọc diễn văn tại thành-phố Gorky, tuyên bố muốn giúp Cộng sản Tàu và nhân dân Tàu diệt trừ bọn Mao Trạch Đông là kẻ thù của Cộng sản. Ngày 20/1/67, Giang Thanh, vợ Mao Trạch Đông, đe dọa dùng võ lực đối phó với những lực lượng công nhân các tỉnh kéo về Bắc Kinh. Ngày 27/1/67, theo báo chí Nam Tư, vợ Trần Nghị, ngoại trưởng Trung Cộng bị Vệ binh Đỏ bắt đi bêu riếu ngoài đường, con bị xử tử hình. Ngày 28/1/67, Ngoại trưởng BV Nguyễn Duy Trinh đòi Mỹ ngưng oanh tạc không điều kiện trước khi nói chuyện hòa bình. Ngày 31/1/67, Tư lịnh quân đội Trung Cộng tại Tứ Xuyên dọa chiếm khu nguyên tử Lob Nor nếu phe thân Mao đoạt chính quyền địa phương. 

NẾU MỸ NGƯNG OANH TẠC BV CÓ THỂ THƯƠNG THUYẾT. Ngày 1/2/67, Đài phát thanh Hà Nội nhắc lại lời tuyên bố mới đây của Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh, và ngỏ ý nếu Mỹ ngưng oanh tạc BV, có thể thương thuyết. Ngày 3/2/67, Nguyễn Thụy Vũ, đại diện BV tại Nam Vang, tuyên bố: có thể hòa đàm nếu Mỹ ngừng oanh tạc. Ngày 5/2/67, Báo Nhân Dân, Hà Nội, xác nhận lập trường mới của BV: có thể hoà đàm nếu Mỹ ngưng oanh tạc BV và các hoạt động cbiến tranh khác. Ngày 10/2/67, theo tướng Westmoreland, hàng ngàn tấn chiến cụ đã được vận chuyển bằng tàu thuyền vô Nam nhân dịp hưu chiến. Cùng ngày 10/2/67, Đài phát thanh Hà Nội xác nhận lời mời của Hồ Chi Minh gửi Tổng thống Johnson yêu cầu sang BV nói chuyện hòa bình. 

KHÔNG QUÂN VÀ HẢI QUÂN MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 5/1/67có 116 phi vụ oanh tạc BV, 2 phi cơ bị bắn rớt, nhưng phi công thoát nạn. Ngày 31/1/67, 39 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/2/67, theo Bộ Quổc phòng Mỹ, từ tháng 4-1966 lới nay đã thực hiên 30.000 phi vụ oanh-tạc BV. Số cao xạ ở Hà Nội và Hải Phòng là 7.000. Ngày 2/1/67, có 55 phi vụ oanh tạc BV, không chiến trên không phận Vĩnh Phúc Yên. 1 đoàn F-104 của HK hạ 7 chiếc Mig-21. Ngày 4/1/67hơn 80 phi vụ oanh tạc BV, Mig-21 xuất hiện nhưng lẩn tránh không nghênh chiến. Ngày 8/1/67, có 54 phi-vụ oạnh-tạc BV. Ngày 6/1/67, có 71 phi vụ oanh tạc BV, 2 chiếc Mig-21 của BV nữa bị Phantom F-4C Mỹ bắn rơi. Ngày 7/1/67, có 57 phi vụ oanh tạc BV nhắm vào Điện Biên Phủ, và Thanh Hỏa. Ngày 11/1/67Hơn 49 phi vụ oanh tạc BV. Không quân Mỹ được lịnh tránh đánh phá Yên Viên và Văn Điển.

Ngày 12/1/6740 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu đèo Mụ Gia. Ngày 13/1/67có 77 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Vinh, Đồng Hới, Thanh Hoá, và Phi trường Phú Thọ. Ngày 14/1/67có 65 phi-vụ oanh-tạc BV. Ngày 15/1/67, có 94 phi vu oanh tạc BV, mục tiêu nhà ga Việt Trì, kho dầu ở Hà Gia gằn phi trường Vĩnh Phúc Yên. Ngày 17/1/67, Hơn 96 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà ga Thải Nguyên. Ngày 18/1, 103 phi vụ oanh tạc BV, phá 5 dàn hỏa tiễn SAM. Ngày 19/1/67ít lâu nay Không quân không cho biết số phi xuất (sortie) tức mỗi phi cơ đánh một mục tiêu, chỉ kể ra số phi vụ (mission)  tức từng đoàn phi cơ mà thôi. Hôm nay có 109 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu khu kỹ nghệ Việt Trì và Thái Nguyên, có tới 250 phi cơ tham chiến. Ngày 21/1/67, có 87 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, có Mig BV lên giao chiến với Phantom Mỹ, nhưng không ghi nhận thiệt hại. 

NINH BÌNH, THÁI NGUYÊN, NAM ĐỊNH LẠI BỊ NÉM BOMNgày 22/1/67, có 67 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Ninh Bình, Thái Nguyên. Ngày 23/1/67, có 87 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/1, có 41 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/1/67, có 52 phi vụ oanh tạc BV, nhà ga Nam Định lại bị ném bom. Ngày 27/1/67, có 86 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu 47 sà lan trên sông Cả. Ngày 1/2/67, có 57 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 4/2, Có 57 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 5/2/67, hơn 113 phi vụ oanh tạc BV. Phi trường Xuân Mai bị đánh phá. Ngày 9/2/67, nhân Tết Nguyên đán Đinh-Mùi, 100 triệu truyền đơn có giá trị thông hành, được thả xuống BV và miền Nam. Ngày 13/2, Không quân Mỹ báo cáo: số xe chở võ khí tiếp viện từ BV trên đường mòn Hồ Chi Minh đã tăng rất nhiều. Ngày 14/2/67, có 45 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhiều vùng ở Vinh, và Đồng Hới. 

Ngày 15/2/67, có 67 phi-vụ oanh-tạc BV nhắm vào ga xe lửa Phụ Lý và Nam Định. Ngày 16/2/67, trên 68 phi vụ oanh-tạc BV. Ngày 17/2/67, Có 67 phi vụ oạnh tạc BV. Ngày 19/2/67, hơn 77 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/2/67, có 84 phi vụ oanh tạc BV, phá huỷ 42 quân xa, 20 chiếc khác bị hư hại gần đèo Mụ Gia. Ngày 22/2, hơn 70 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/2/67, có 79 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu kho đạn Vĩnh Yên. Ngày 24/2/67, Quân đội Mỹ được phép từ 22-2-67 bắn vào vùng Phi quân sự và lên trên vĩ tuyến 17 bằng đại bác 155 và 175. Hải quân Mỹ cũng có thể pháo kích vùng duyên hải BV, không cần chờ bị tấn công. Ngày 25/2/67có 60 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Hòn Gay và Bắc Giang. Theo Bộ Quốc phòng Mỹ, tới nay có 475 phi cơ Mỹ bị rớt trên BV. Ngày 28/2/67, có 69 phi vụ oanh tạc BV.        

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 31/1/67, B-52 dội bom vào mật khu Đỗ Xá, Quảng Ngãi-Kontum. Ngày 1/2/67, Kết thúc hành quân Prairie I tại Quảng Trị (từ 3-8-66) có 1.397 địch bị hạ, 126 bị giữ, thu 248 võ khí cá nhân, 15 súng cộng đồng, và 13 tấn gạo. Bắt đầu hành quân Prairie II. Ngày 2/2/67hành quân Mỹ Independence cách Đà Nẵng 36 cây số về Tây Nam, hạ 43 VC. Hành quân Mỹ De Soto tại Quảng Ngãi, hạ 12 VC. Có 72 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/2/67, Tiểu-đoàn II TQLC của QLVNCH được Tổng thống Johnson tặng huy chương Danh dự vì đã hạ 300 VC và thu nhiều võ khí trong trận Bồng Sơn tháng 4-1965. Ngày 12/2/67kết thúc hành quân Thayer II bắt đầu từ 25-10-66 tại Bồng Sơn: 1.744 VC bị hạ, 2.246 người bị giữ, 426 súng cá nbân và 53 súng cộng đồng bị tịch thu. 

Ngày 15/2/67, Quân Đại Hàn phản công, đẩy lui một cuộc xung phong ồ ạt của VC cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 13 cây số, 243 VC bị hạ, thu nhiu súng cá nhân và cộng đồng. Ngày 16/2/67, hơn 1.500 TQLC Mỹ từ các chiến hạm đổ bộ lên Sa Huỳnh, Quảng Ngãi mở cuộc hành quân Deck House VI, trong khi 15.000 quân Mỹ mở cuộc hành quân Pershing từ Kontum xuống phía Nam để phá hủy các hệ thống đường hầm chằng chịt khắp vùng. Ngày 18/2/67, hành quân Pershing, kịch chiến suốt 8 giờ tại Bồng Sơn, hạ 92 VC, thu 56 súng. Ngày 21/2/67, kết quả cuối cùng hành quân Liên Kết 81 lại Quảng Ngãi: 805 VC bị hạ, 52 bị bắt, 42 súng cộng đồng và 139 súng cá nhân bị tịch thu. Ngày 23/2/67, Hội An, tỉnh lỵ Quảng Nam, bị pháo kích: 1 thường dân chết, 13 bị thương. Ngày 27/2/67, Phi trường Đà Nẵng bị pháo kích dữ dội, nhiều cơ sở bốc cháy, cả một làng phụ cận, một số phi cơ bị hư hại. 

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 9/1/67Phi trường và trại Halloway tại Pleiku bị pháo kích lần thử 3, trong 3 giờ liền. Ngày 31/1/67hành quân Bạch Mã Đại Hàn cách Nha Trang 25 cây sổ, hạ 71 VC. Ngày 9/2/67, Mỹ mở cuộc hành quân Houston tại Kontum. Ngày 16/2/67, hơn 3 đại đội Mỹ bị một trung đoàn VC tấn công tại Kontum, phi cơ đến yểm trợ. Kết quả: 137 VC bị hạ, thu 39 súng. 

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 9/1/67Hành quân Cedar Falls Việt Mỹ đại qui mô vào Căn cứ đầu não của Quân Giải phóng vùng khu Tam giác Sắt, giữa Sài Gòn và Dầu Tiếng với nhiều sư đoàn tham gia. Hành quân Xây Dựng 69 tại vùng Bến Súc quận Bến Cát (Bình Dương) hạ 87 VC, thu hàng trăm súng, 400 tẩn gạo, giải thoát 8.000 đồng bào. Từ 4 hôm nay, B-52 dội bom lần thứ 11 nhiều địa điểm thuộc tỉnh Bình Dương. Ngày 11/1/67, kết quả hành-quân Cedar Falls: 165 VC bị hạ, phá hủy nhiều cơ sở và tịch thâu nhiều đạn dược nhưng chưa có đụng độ lớn. Ngày 13/1/67, kết quả hành quân Cedar Falls và Xây Dựng 69 tại Chiến khu D: 237 VC bị hạ, 51 bị bắt, nhiều hầm lớn bị phá hủy, 2.100 tấn gạo bị thâu. Ngày 27/1/67, kết quả hành quân Cedar Falls sau 19 ngày: 711 VC bị hạ, 488 qui hàng, 722 tình nghi bị giữ, thu 550 súng cá nhân và 22 súng cộng đồng, cùng 3.709 tấn gạo. 

Ngày 2/2/67, hành quân Mỹ Big Spring tại Chiến khu D, Bình Dương, hạ 14 VC. Ngày 4/2/67, cuộc hành quân Big Spring tiếp tục tại Chiển khu D, quân Mỹ vừa tìm ra 100 tấn gạo. Ngày 5/2/67, khi chuyển vận một đơn vị Nhảy Dù đến Hậu Nghĩa, 9 phi cơ trực thăng Mỹ bị trúng đạn VC. Ngày 19/2/67, Tỉnh lỵ Kiến Tường (Mộc Hỏa) bị pháo kích: 3 thường dân chết, 54 bị thương. Ngày 23/2/67, Bộ Tư lệnh Mỹ mở cuộc hành quân Junction City, với hơn 35.000 quân bộ chiến khép chặt Chiến khu D. Quân Nhảy Dù nhảy xuống Tây Ninh chặn đường qua biên giới. Chưa gặp địch, 5 trực thăng bị hạ. Ngày 24/2/67, liên tiếp từ 3 hôm nay, 587 phi vụ yểm trợ cuộc hành quân Junction City tại Chiến khu C Tây Ninh. Nhiều hầm bị phá hủy.

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 13/1/67nhiều đơn vị Mỹ đã về đóng tại Đồng Tâm, căn cứ của một sư đoàncách tỉnh lỵ Mỹ Tho 8 cây số về Tây NamNgày 15/1/67, Binh sĩ Sư đoàn 21 hành quân phía Tây Nam Chương Thiện, phát hiện 80 tù nhân bị VC hạ sát trong một trại giam cách quận Long Mỹ (Chương Thiện) l0 cây số. Ngày 15/2/67, hành quân Dân Chí 279 quận Kiến Thiện, Chương Thiện, hạ 255 VC, bắt 5 với nhiều võ khí. Ngày 18/2/67, Tnh lỵ Trúc Giang (Kiến Hoà) bị pháo kích: 10 thường dân chểt, 80 bị thương.   

TẠI BIỆT KHI THỦ ĐÔ. Ngày 1/2/67, kết quả hành quân Rạng Đông Mỹ quanh Sài Gòn-Gia Định, tới nay đã hạ 312 địch và tịch thu 102 vũ khí. Ngày 13/2/67, súng cối 81 đặt tại căn nhà 4/8 chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng, bắn vào tổng hành doanh tướng Westmoreland đường Pasteur, rơi xuống đoàn xe Nhảy Dù đi qua: 13 chết, 16 bị thương. 



Bài 234: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 3 ĐẾN THÁNG 4 NĂM 1967.

UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 16/3/67, trong thông điệp gửi Quốc hội về dự án Hiến pháp, của UBLĐQG nêu ra 9 nhận định như: thiếu thăng bằng, Lập pháp muốn lấn át Hành pháp; Công nhân tham gia quản trị xí nghiệp không thể là một quyền đáng ghi vào Hiến pháp Ngày 19/3/67, Hội đồng Nội các và UBLĐQG nhóm họp, quyết định chấp thuận trên nguyên tắc bản dự án Hiến pháp vùa được Quốc hội biểu quyết. Ngày 20/3/67, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ cùng phái đoàn VNCH tới Guam tham dự hội nghị quân sự với Tổng thống Johnson. Cùng ngày 20/3/67Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara cho hay hội nghị Guam không bàn về sự leo thang chiến tranh. 

Ngày 21/3/67, Thông cáo chung Việt Mỹ sau hội nghị Guam: 1) BV không thể chiếm đoạt miền Nam; 2) VN và HK sẵn sàng thương thuyết để chấm dứt chiến tranh; 3) nổ lực sẽ dồn vào các mục tiêu bình định. Trước khi rời đảo GuamTổng thống Johnson, tuyên bố: không có quyết định gì quan trọng. BV chưa muốn hoà. Chưa biết bao giờ hết chiến tranh. Ngày 27/3/67, Đại hội đồng Quân lực nhóm họp tại Bộ Tổng tham mưu, chấp nhận dự án Hiến pháp do Quc hội biểu quyết ngày 18-3-67, và sẽ ban hành vào ngày 1-4-67; đồng thời xác nhận tín nhiệm UBLĐQG cùng UBHPTƯ. Ngày 30/3/67, các ngày bầu cử được xác nhận: Tổng thống và Thượng nghị viện: 1-9-67; Hạ nghị viện: 1-10-67 (S. luật, 008/67). Ngày 1/4/67, Hiến pháp được ban hành long trọng tại dinh Độc Lập. 

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 1/3/67, Đài Loan nhận bán 20.000 tấn gạo cho VN, 175 đô la Mỹ mỗi tấn. Ngày 5/3/67, theo Bộ Xã-hội, số nạn nhân vu lụt miền Tây năm 1966, là 520.393 trong đó 421.535 được cứu trợ; 151.073 căn nhà bị hư hại. Ngày 7/3/67, dân chúng Sài Gòn xôn xao về giá gạo lên quá cao, Bộ Thương mại cho biết 50.000 tấn gạo nhập cảng đã cập bến. Ngày 13/3/67, Tổng cuộc Tiếp tế bắt đầu bán gạo nhập cảng 16$ một lít, 729$ mỗi bao 45 kí cho dân chúng Đô thành. Giá gạo thị trường: Gạo ngon: 3.900$/100 kg, Gạo số 1, 15% tấm. 2.800$/100 kg; Gạo số 1, 25% tấm. Gạo Mỹ chà lại. Gạo Mỹ nguyên chất 800$/46 kg. Ngày 18/3/67 Thống đốc Ngân hàng Quốc-gia, Nguyễn Hữu Hanh được cử làm Tổng Uỷ viên Kinh tế và Tài chánhNgày 25/3/67, tổng số sinh viên toàn quốc: 33.035 người gồm: 26.557 tại Sài Gòn, 3.001 tại Huế, 1.303 tại Đà Lạt, 1.226 tại Đại học tư thục Vạn Hạnh, 948 tại Cần Thơ. 

Ngày 14/4/67, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: không có vấn đề rút khỏi Quảng Trị, song 20.000 thường dân phải di chuyển đến các vùng an ninh đ tránh chiến tranh, theo một chương-trình của Bộ Xây-dựng. Cùng ngày 14/4/67, Tổng cuộc Tiếp tế bán xi-măng với giá chánh thức 250$ mỗi bao (giá thị trường 350$/400$). Cũng ngày 14/4/67, Giáo sư Lê Danh tức Kiêm Ái bị Tòa án Quân sự Sài Gòn phạt 5 năm khổ sai vì hoạt động cho VC. Ngày 19/4/67hơn 5 xã thuộc các quận Trung Lương vùng Phi quân sự và quận Gio Linh, với 23.700 dân được di chuyễn xuống gần quận lỵ Cam Lộ cách tỉnh lỵ Quảng Trị 20 cây số. Ngày 22/4/67, có 5 giáo sư đại học Huế bị giải chức hoặc chấm dứt khế ước vì liên can đến các vụ biến cố miền Trung 1966. Ngày 28/4/67, cháy lớn tại kho Tiếp liệu Bộ Y tế đưòng Tô Hiến Thành, Sài Gòn. Thiệt hại 100 triệu bạc. 

QUỐC HỘI LẬP HIẾN, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 16/3/67, trong thông điệp gửi Quốc hội về dự án Hiến pháp, của UBLĐQG nhận định: 1) thiếu thăng bằng, Lập pháp muốn lấn át Hành pháp; 2) Công nhân tham gia quản trị xí nghiệp không thể là một quyền đáng ghi vào Hiến pháp; 3) Quyền khuyến cáo giải nhiệm chánh phủ và quyền chất vấn sẽ đưa tới chế độ đại nghị; 4) Cử Tỉnh trưởng phải là quyền của Hành pháp; 5) Tối cao Pháp viện phải do cử tri đoàn Tư pháp cử; 6) Giám sát viện không thể là một siêu cơ quan; 7) Giải tán chánh đảng phải thuộc quyền Hành pháp; 8) Phải rút ngắn xuống từ 3 đến 6 tháng thời kỳ chuyên tiếp; 9) Quốc hội không thề biến thành Lập pháp ở lại 18 tháng. Cùng ngày 16/3/67, Quốc hội Lập hiến nhất định duy trì các điều khoản dự án Hiển pháp, không sửa đổi theo các đề nghị của UBLĐQG. 

Ngày 18/3/67Quốc hội Lập hiến họp phiên khoáng đại, chấp thuận dự án Hiến pháp, với 102/117 phiếu Dân biểu dự họp. Ngày 24/3/67, Bản dự án Hiến pháp đưọc Chủ tịch Quốc hội Phan Khắc Sửu trao cho Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tại dinh Độc Lập.  Ngày 5/4/67có 10 Dân biểu Quốc hội và 19 đại diện các tôn giáo họp kín đề bàn về vấn đề sửa đổi đoạn đầu Hiến pháp, và danh từ Đấng Tối cao cần được giữ trong bản văn Hiến pháp. Ngày 10/4/67, Quốc hội Lập hiến với 51 Dân biểu bỏ phiếu thuận ra bản Tuyên ngôn thừa nhận Hiến pháp VNCH có tính cách hữu thần, và tỏ lòng tin tưởng vào “Đấng Thiêng liêng” thay vì “Đấng Tối cao”.    

TỴ NẠN CỘNG SẢN, CÁN BINH CỘNG SẢN HỒI CHÁNH. Ngày 25/3/67, theo Bộ Tâm lý chiến và Chiêu hồi, tới nay có 7.474 VC trở về nhân dịp mở Chiến dịch Xuân đoàn-tụ. Ngày 20/4/67, nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương (11 tháng 3 Đinh- Mùi) chánh phủ VNCH tuyên bố chánh sách Đại đoàn kết theo ba nguyên lý Dân tộc, Dân hòa và Dân tiến. Người hồi chánh được hưỏng mọi quyền lợi như các công dân khác.

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 4/3/67, chừng 10.000 học sinh Sài Gòn họp mết tinh tại sân vận động Hoa Lư và biểu tình tuần hành chống De Gaulle, chống chánh phủ lưu vong và ngụy hòa. Ngày 31/3/67, Khối Công dân Công giáo biểu tình trước Quốc hội và phủ Chủ tịch, phản đối sự loại bỏ Đấng Tối cao ở phần mở đầu Hiến pháp. Ngày 4/4/67, Hội đồng Tôn giáo gồm: Công giáo, Cao đài, Hòa hảo, Tổng giáo hội Phật giáo quyết nghị: Hiến pháp VNCH phải biều lộ tín ngưỡng và xác nhận có Đấng Tối cao. 

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 2/3/67, Tổng thống Johnson họp báo xác nhận: BV quyết chiến đấu, thì HK cũng phải đối phó. Ngày 2/3/67, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy lại đề nghị ngưng oanh tạc và điều đình với cả MTGPMN. Hạ nghị viện Mỹ vởi 382 phiếu chống 18, chấp thuận quân phí bổ túc 4,5 tỷ Mỹ kim, và bác bỏ đề nghị ngưng oanh tạc BV. Ngày 8/3/67, Tổng thống Johnson tuyên bố: vẫn tiếp tục tìm cách nghị hòa không điều kiện, nhưng không ngừng oanh tạc BV vì phải bảo vệ lực lượng HK tại VN. Ngày 9/3/67, Không lực Mỹ đã được chánh phủ Thái cho đặt căn cứ để tham chiến ở VN. Sẽ có từ 70 đến 75% phi vụ xuẩt phát từ Thái Lan. Ngày 10/3/67, Công ty RMK-BRJ cho biết sẽ sa thải 25% trong số 39.000 công nhân hiện hữu đương giúp việc xây cất các cơ sở quân-sự. 

Ngày 11/3/67, theo giới quân sự Mỹ, quân đội Đại Hàn tại VN sẽ trang bị súng M-16. Quân đội VNCH cũng sẽ được thay thế súng củ bằng M-16. Ngày 13/3/67, theo Bộ Quốc phòng Mỹ, kể từ 1-4-67, các phi cơ B-52 từ Thái Lan sang oanh tạc BV sẽ chĩ mất 1 giờ thay vì 6 giờ từ Guam như trước. Phi trường chính là Sattahip cách Vọng Các 128 cây số về phía Nam. Ngày 13/3/67, Kinh phí khai quang các nơi rậm rạp tại VN (làm rụng lá cây) từ 10 triệu Mỹ kim năm 1966, tăng lên 39 triệu. Ngày 15/3/67, Ellsworth Bunker, 74 tuồi, nguyên Đại sứ HK tại Nam Dương và Saint-Domingue, được cử sang Sài Gòn thay Đại sứ Cabot-Lodge từ chức. Phụ tá sẽ là Eugene M. Locke, nguyên Đại sứ tại Hồi quốc. 

KHÔNG NGỪNG OANH TẠC CHO ĐẾN KHI NÀO HÀ NỘI… Ngày 15/3/67, Tổng thống Johnson tuyên bố tại Nashville, không ngừng oanh tạc cho tới khi nào BV chịu giảm bớt xâm nhập miền Nam VN: ((Reciprocity must be the fundamental principle of any reduction in hostilities. The U.S. will not reduce its activities unless and until there is some reduc­tion on the other side. To follow any other rule would be to violate the sacred trust we undertake when we ask a man to risk his life for his country..,). Ngày 18/3/67, Tổng thống Johnson lên đường dự Hội nghị Guam. Ngày 21/3/67, Thông cáo chung Việt-Mỹ sau hội nghị Guam: BV không thể chiếm đoạt miền Nam; VN và HK sẵn sàng thương thuyết để chấm dứt chiến tranh; nổ lực sẽ dồn vào các mục tiêu bình định. Ngày 21/3/67, Tổng thống Johnson trước khi rời đảo Guam, tuyên bố: không có quyết định gì quan trọng. BV chưa muốn hoà. Chưa biết bao giờ hết chiến tranh.

Ngày 27/3/67, Tòa Bạch ốc hoan nghênh lời tuyên bố của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ về việc thương thuyết trực tiếp giữa VNCH và BV. Ngày 29/3/67, theo Bộ Quốc phòng Mỹ, trong 20 tháng qua, quân đội Mỹ đã xử dụng 837.000 tấn đạn so với chiến tranh Gao Ly, chỉ có 635.000 tấn. Ngày 3/4/67, Bộ trưởng McNamara tuyên b trước Thượng nghị viện: chưa cần oanh tạc các phi trường BV, vì Mỹ không muốn mở rộng chiến tranh. Ngày 6/4/67, Tướng Creightt Abrams được cử làm phụ tá cho tướng Westmoreland, Tổng tư lịnh HK tại VN. Ngày 13/4/67, cựu Phó Tống thống HK Richard Nixon lại qua thăm VN 4 ngày. Ngày 14/4/67, theo Bộ Quốc phòng, số quân nhân VNCH tử thương từ 1961 đến 1967 là 47.000. Phía HK: 10.800 không kể 52.946 bị thương. Ngày 16/4/67, Bộ Quốc phòng HK không chịu bình luận về tin đồn lập một hàng rào 32 cây số ở khu Phi quân sự hầu ngăn chặn sự xâm nhập của BV. 

Ngày 19/4/67, Tướng Westmoreland cho biết: BV vẫn cho nhiều quân xâm nhập vào vùng Phi quân sự qua Lào, và trong các tháng tới, sẽ mở nhiều trận đánh lớn. Ngày 20/4/67, theo Bộ Quốc phòng Mỹ, trong 2 năm qua, phi cơ Mỹ đã phá hủy 12.000 quân xa, 3.000 toa xe lửa, 500 cây cầu tại BV. Ngày 25/4/67, Đại sứ Cabot-Lodge rời khỏi VN, về Hoa Thịnh Đổn nhận chức Đại sứ lưu động. Ngày 26/4/67, một số Thượng nghị sĩ Mỹ công kích sự leo thang chiến tranh. Tướng Westmoreland cảnh cáo rẳng những cuộc biều tình phản chiến ở Mỹ chỉ khuyển khích đối phương cự tuyệt hòa đàm. Ngày 26/4/67, theo hãng Associated Press, trong tháng 3/1967, HK đã dội 77.000 tấn bom xuống Bắc và Nam VN so với trong Thế chiến II tại Âu 80.000 tấn mỗi tháng, chống Nhật ở Thái bình Dương 29.000 tẩn , chống Cộng sản Triều Tiên 17.000 tấn ở giai đoạn kịch liệt nhất. 

Ngày 27/4/67, Tướng Westmoreland xin tăng quân. Tướng Westmoreland trình bày với Quốc hội HK về sự tiến triển quân sự tại VN: Năm 1965: Địch thiệt 36.000 người. Đồng minh: 12.000. Hơn 11.000 VC hồi chánh. Năm 1966: 20.000 VC hồi chánh. Sổ võ khí do VC mất tăng 2,5 lần. Năm 1965. VN có 3 phi trường phản lực. Năm 1966: 14 phi trưởng. Số tiểu đoàn tác chiến VN từ 30 tăng lên 154. Ngày 29/4/67, theo tướng Westmoreland, quân đội Mỹ tại VN sẽ được đưa lên số 470.000 từ nay đến cuổi năm. Các giới quân sự Mỹ chờ đợi những cuộc tấn công qui mô của BV gần vùng Phi quân sự. Trời nỏng lắm, tân Đại sứ Mỹ Bunker tuyên bổ như vậy khi được cảc báo phỏng vấn về tình hình, trong một buỗi tiếp tân.

MỸ VIỆN TRỢ KINH TẾ, VÀ XÂY DỰNG CHO VNCH. Ngày 8/3/67, Đại diện USAID tuyên bố sẽ có 147.300 tấn gạo tới Sài Gòn trong tháng 3 này. Ngày 12/3/67, Ký kết thỏa ước viện trợ Việt-Mỹ, HK sẽ cấp 47,4 triệu Mỹ kim để nhập cảng vào VN thêm 300.000 tấn gạo. Ngày 21/3/67, ngay sau tuyên bố chung Việt-Mỹ Guam, Phụ tá Tổng thống Johnson, Robert Komer tuyên bố: HK chấp thuận cung cấp cho VNCH 750.000 tấn gạo năm 1967, ngoài số 100.000 tấn nhập cảng từ Thái Lan và 20.000 tấn từ Đài Loan. Đồng thời sẽ cấp 350.000 tấn phân bón. 

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 18/3, Quân số Mỹ tại VN lên tới 427.000. Ngày 8/4/67, quân số Mỹ tăng thêm 8.000, nâng tổng số 438.000. Hiện tổng số quân Mỹ tại VN là 438.000 người, gồm 282.000 Lục quân, 95.000 TQLC, 55.000 Không quân, và 26.000 Hải quân. 

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 3/3/67, U-Thant hội đàm với đại diện BV tại tòa Tổng lãnh sự BV ở Ngưỡng Quang. Tòa Đại sứ Mỹ tại thủ đô Miến Điện cải chính tin nhân viên Mỹ tiếp xúc với đại diện BV. Ngày 14/3/67, U-Thant đưa ra đề nghị mới về vấn đề VN: hưu chiến, hội đàm trực tiếp giữa Mỹ và BV, triệu tập lại hội nghị Genève. Ngày 22/3/67, Chánh phủ Pháp báo cho HK rõ: Pháp sẽ không dự hội nghị SEATO sắp họp tại Hoa Thịnh Đốn bàn về chiến sự tại VN. Ngày 27/3/67, chánh phủ Mỹ tuyên bố chấp thuận đề nghị 3 điểm mới của U-Thant về vấn đề VN: hưu chiến; hội đàm sơ khởi; triệu tập Hội nghị Genève. Ngày 27/3/67, BV bác bỏ đề nghị của U-Thant. Ngày 29/3/67, Bộ Ngoại giao VNCH đáp thư U-Thant về vẩn đề VN, đề nghị hai Bộ Tổng tư lịnh Bắc và Nam gặp nhau tại vùng Phi quân sự thảo luận về hưu chiến; rồi sau đỏ triệu tập luôn Hội nghị Genève, thay vì qua nhiều hộỉ nghị sơ bộ. 

Ngày 1/4/67, U-Thant lại tuyên bố: HK nên đơn phương ngừng bắn để đi tới nghị hòa, vì HK là đại cường quốc có thể quyết định như thế mà không ngại quá nhiều nguy hiểm. Ngày 15/4/67, chừng 200.000 người biểu tình trước tru sở Liên hiệp Quốc tại Nữu Ước đề cao hòa bình và chống chiến tranh tại VN. Hướng dẫn: Mục sư da đen Martin Luther King. Đồng thời, nhiều nhóm biểu tình ủng hộ chánh sách Johnson và quân đội Mỹ tại VN. 50.000 người cũng biểu tình phản chiến tại San-Francisco. Ngày 20/4/67, Hội nghị Liên phòng Đông Nam Á họp tại Hoa Thịnh Đốn thông cáo: ủng hộ chánh sách tìm hòa bình tại VN, tăng cường viện trợ cho VN.   

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 4/3/67theo ước lượng của Bộ Ngoại giao Mỹ, thì lực lượng Cộng sản tại miền Nam VN lên tới 325.000 người, trong đó có 45.000 từ BV vào; Chỉ huy quân sự là Trung tướng Trần Nam Trung tức Trần Văn Trà thuộc Uỷ ban quân sự trung ương BV. Ngày 6/3/67, theo McNamara, tại BV có 30.000 quân Trung Cộng gồm pháo binh và công binh. Ngày 10/3/67, BV phát động Tuần lễ Huy động Nhân công để lăng gia sản xuất chiến tranh năm 1967. Ngày 17/3/67, theo giới quân sự Mỹ, các tướng lãnh chỉ huy của BV tại miền Nam là: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Trung tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Trần Độ. Ngày 6/4/67, theo giới quân sự Mỹ, 2 sư đoàn BV 324-B và 341 đã tràn vào Quảng Trị. 

Ngày 8/4/67, Phạm Văn Đồng tuyên bố: BV chuẩn bị chiến đấu 10 năm nếu cần để chống Mỹ và giành độc lập. Ngày 9/3, theo Thỉếu tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lịnh Vùng I, hiện tại vùng này có 4 Sư đoàn BV hoạt động: SĐ 224-B7, SĐ 341, SĐ 2, SĐ 325 tức Sao Vàng. Ngày 21/4/67, BV chánh thức bác bỏ đề nghị rút khỏi vùng Phi quân sự 16 cây số. 

KHÔNG QUÂN MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 1/3/67hơn 56 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu cơ sở quân sự Chi Nô. Ngày 2/3/67có 92 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 2/3/67có 92 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 3/3/67có 79 phi vu oanh tạc BV. Ngày 4/3/67có 110 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu kho đạn Đồng Hới. Ngày 5/3/67, theo Bộ Quốc phòng, trong ngày hôm nay. Ngày 4/3/67có 69 phi vụ oanh-tạc BV, mục tiêu kho dầu Đồ Sơn. Ngày 6/3, hơn 48 phi vụ oanh tạc BVNgày 8/3/67có 68 phi vụ oanh tạc BV. Các chiến hạm Mỹ tiếp tục bắn phá các căn cứ pháo binh và nhiều cơ sở gần Vinh. Ngày 10/3/67, có 60 phi tuần hải quân Mỹ oanh lạc nhà máy điện và Kho đạn Hòn Gay. Và, 200 máy bay khác từ 3 hàng không mẫu hạm Kitty Hawk, Bonhomme Richard và Ticonderoga. Khu thép Thái Nguyên bị dội bom và bốc cháy, 2 Mig-17 BV bị hạ và 1 bi hư hại. 

Ngày 11/3/67có 83 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Bắc Giang kho đạn Cam Ly ở Hải Phòng. Ngày 12/3/67, có 128 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Việt Trì, nhà ga Vinh. Các chiến hạm Mỹ oanh tạc nhiều căn cứ hải quân BV gần Đồng Hới và Vinh. Ngày 13/3/67, có 92 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/3/67có 116 phi vụ oanh-tạc BV. Nhiều thuyền bị đánh đắm. Ngày 15/3/67có 91 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/3/67, có 78 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu kho đạn gần Đồng Hới, nhà máy điện Bắc Giang. Ngày 17/3/67có 77 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu đoàn xe lửa gần đèo Mụ Gia.Ngày 19/3/67, có 52 phi vụ oanh tạc, mục tiêu nhà máy điện Việt Trì và Thái Nguyên, và kho đạn gần Đồng Hới.Ngày 21/3/67có 51 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy thép Thái Nguyên. Ngày 21/3/67có 51 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy thép Thái Nguyên. 

Ngày 22/3/67, có 80 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Thái Nguyên, trại quân Chi Nê. Ngày 24/3/67, có 94 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Bắc Giang, cầu, đường, xe lửa gần Vinh, Thanh Hóa, đèo Mụ Gia. Ngày 26/3/67, Có 98 phi vụ oanh tạc trên BV. Các vùng phụ cận Hà Nội bị oanh tạc dữ dội, song phi cơ Mỹ không bay qua thành phố. Ngày 27/3/67có 107 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu các kho dầu và dàn hỏa tiễn SAM gần Hải Phòng. Ngày 28/3/67, có 124 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/3/67, có 108 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 31/3, có 101 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/4/67có 98 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà ga Vinh. Ngày 2/4/67, có 108 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 3/4/67có 147 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu các kho tiếp liệu gần Vinh, Thanh Hỏa, Điện Biên Phủ và các đoàn quân xa. Ngày 4/4/67, có 70 phi vụ oanh tạc BV.

Ngày 5/4/67có 67 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Bắc Giang. Ngày 6/4/67có 80 phi vụ oanh tạc BV, phá huỷ 2 dàn hỏa tiễn SAM gần Hải Phòng. Ngày 7/4/67có 102 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy thép Thái Nguyên, Ngày 8/4/67, có 103 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/4/67, có 96 phi vụ oanh tạc BV. Nhà máy thép Thái Nguyên lại bị dội bom. Ngày 11/4/67có 78 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 12/4/67có 82 phi vụ oanh tạc BVNgày 13/4/67, theo giới quân sự Mỹ, từ 27-2-67, hải quân Mỹ được phép bắn phá BV, mỗi ngày bắn chừng 1.000 đạn đại bác nhưng không được vượt quá vĩ tuyến 20. Ngày 13/4/67có 72 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/4/67có 103 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/4/67, có 84 phi vụ oanh-tạc BV, mục tiêu kho vật liệu Hải Phòng. Ngày 16/4/67, có 96 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/4/67có 57 phi vụ oanh tạc BV. Trời xấu. 

Ngày 18/4/67có 167 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy thép Thái Nguyên. Ngày 19/4/67có 100 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu trại quân Xuân Mai, Hà Đông. Không chiến kịch liệt 1 Mig-17 bị hạ.Ngày 22/4/67số phi cơ Mỹ bị bắn rớt ở BV là 507, và ở miền Nam 170. Số trực thăng bị rớt vì mọi lý do 908, chỉ có 5 ở BV. Ngày 22/4/67hơn 110 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu trại quân ở đảo Cát Bà, Hải Phòng, và một đoàn toa xe lửa ở Bắc Lệ gần Hà Nội. Ngày 23/4/67, có 96 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy thép Thái Nguyên. Ngày 24/4, các phi trường Kép và Hòa Lạc có chừng 30 Mig bị dội bom. Ngày 25/4/67, có 88 phi vụ ở BV, mục tiêu khu Gia Lâm, ga Hon Gay, ga Việt Trì, và nhà máy xi măng Hải Phòng. Ngày 27/4/67, có 84 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu cầu sông Đuống, nhà máy biến điện Hà Nội, nhà ga Hòn Gay 4 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. B-52 vẫn dội bom hàng ngày tại miền Nam. 

Ngày 28/4/67, có 98 phi vụ oanh-tạc BV, mục tiêu cầu sông Đuống và nhà ga xe lửa Gia Lâm. 2 Mig-17 bị hạ. Tại Hà Nội đêm nay báo động 3 lần. Ngày 30/4/67, có 133 phi vu oanh tạc BV, mục tiêu các ga Hà Gia, Việt Trì, và Phi trường Bái Thượng. 3 Mig-17 bị hạ. Hà Nội lai 3 lần báo động.

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 1/3/67, trong đêm qua, các căn cứ trọng pháo Mỹ tại Gio Linh, Quảng Trị đồng loạt bị pháo kích dữ dội tới 475 lần. Ngày 2/3/67, một căn cứ trọng pháo Mỹ gần khu Phi quân sự lại bị tấn công bằng 180 đạn đại bác. Ngày 3/3/67, hành quân Prairie II giao chiến kịch liệt tại Quảng Trị, 139 BV tử thương. Ngày 6/3/67, Phi trường Chu Lai bị pháo kích: 7 binh sĩ Mỹ bị thương và một số phi cơ bị hư hại. Ngày 7/3/67, trong đêm qua, trại Carrol của Mỹ cách Quảng Trị 30 cây số, bị pháo kích 3 lần bằng 285 trái đạn súng cối 82 ly: 6 quân nhân Mỹ tử thương, 15 bị thương. Ngày 8/3/67, , B-52 dội bom xung nhiều địa điểm ở Thừa ThiênNgày 18/3/67, kết thúc hành quân Prairie II tại tuyến Quảng Trị. Kết quả 639 VC bị hạ, bắt 308, thu 114 võ khí cá nhân và 23 súng cộng đồng. Mỹ 93 chết, 483 bị thương. Tiếp tục hành quân Prairie III cũng tại tuyến đầu Quảng Trị. 

Ngày 19/3/67, Đoàn người nhái mò được ở bờ biền Khê Mang (Quảng Ngãi) nơi 1 thuyền võ khí BV bị đánh chìm 1 đại bác 57 và 1.200 súng trường bán tự động còn mới của Nga Sô. Ngày 21/3/67, khu trọng pháo Mỹ tại Gio Linh (Quảng Tri) bị pháo kích đêm qua bằng 720 đạn súng cối và phi đạn. Ngày 25/3/67, có 12 vụ đụng độ trên cấp đại đội hay tiểu đoàn tại vùng Phi quân sự. Ngày 27/3/67, kịch chiến tại vùng Phi quân sự từ 25-3-67: 400 BV tử thương. Ngày 1/4/67, chấm dứt hành-quần Beacon Hill từ 20-3-67 tại Quảng Trị, 331 quân BV tử thương. Phía Mỹ: 36 chết và 220 bị thương. Ngày 5/4/67, B-52 dội bom hai lần quanh đồn A Sao, Thừa Thiên gần biên giới Lào Việt. Ngày 6/4/67, đêm qua, tỉnh lỵ Quảng Trị bị pháo kích kịch liệt. Một số cơ sở bị phá hủy, nhiều tù binh BV thoát khỏi nhà lao. 

Ngày 7/4/67, tại vùng Phi quân sự, trước 2 sư đoàn BV đối đầu với 13.000 quân Mỹ có 13.000, vài chục đại bác 175, với 225 phi cơ, và VNCH có 17 tiểu đoàn VNCH. (Vùng I có 31 tiểu đoàn). Ngày 7/4/67, chấm dứt hành quân De Soto từ 26-1-67 tại Quảng Ngãi, 383 VC bị hạ, 222 bị bắt, thu 28 võ khí và 100 tấn gạo. Phía Mỹ: 69 chết, 556 bị thương. Ngày 17/4/67hành quân Lam Sơn 142/GĐ3 tại Thừa Thiên, 51 VC bị hạ, thu 16 súng. Ngày 18/4/67, B-52 vẫn dội hom hàng ngày các trại quân VC ở Quảng Trị. Cùng ngày 18/4/67, Cầu Nam Ô trên quốc lộ 1 gần Đà Nẵng bị phá hoại đêm 13-4-67, đã được Công  binh Mỹ chữa xong. Ngày 22/4/67, nhiều đơn vị TQLC Mỹ lại đổ bộ lên vùng Phi quân sự. Ngày 26/4/67, một đơn vị Mỹ bị phục kích tại một địa điểm gần Khe Sanh. Viện binh để cứu 22 quân Mỹ tử thương, và 43 bị thương. Ngày 27/4/67, vẫn kịch chiến gần Khe Sanh suốt đêm qua. 21 BV tử thương. Các trại quân Việt Mỹ tại Gio Linh, Quảng Trị bị pháo kích bằng đại bác 105.

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 4/3/67kết thúc hành quân Bạch Mã I của quân Đại Hàn từ 29-1 tại Khánh Hòa: hạ 393 VC, thu 271 súng cá nhân và 34 súng cộng đồng. Ngày 8/3/67, B-52 dội bom xung nhiều địa điểm ở Kontum và Bình Định. Ngày 14/3/67, kịch chiến suốt đêm qua gần Kontum, một đơn vị Mỹ bị thiệt hại khá nặng. Ngày 17/3/67, kịch chiến quanh ngọn đòi 86 tại Tuy Hòa, 28 VC bị hạ. Ngày 22/3/67, Kết quả hành quân Jack Kyo của sư đoàn Mãnh Hổ và Bạch Mã Đại Hàn mở từ 8-3-67 giữa Sông Cầu và Tuy Hòa, 149 VC tử thương, 150 bị bắt với 144 võ khí. Hơn 3.000 nông dân được giải phóng. Ngày 2/4/67khánh thành phi đạo phản lực Phù Cát cách Qui Nhơn 30 cây số về phía Tây Bắc. Ngày 5/4/67, kết thúc hành quân Sam Houston từ 1-1-67 tại Pleiku: 733 VC bị hạ, Phía Mỹ: 172 chết, và 767 bị thương. Ngày 5/4/67tiếp cuộc hành quân Sam Houston là hành quân Francis Marion bắt đầu cũng tại Pleiku. Ngày 18/4/67, Kết thúc hành quân mở đường Tuy Hòa - Qui Nhơn của các đơn vị Đại Hàn thuộc 2 sư đoàn Mãnh Hổ và Bạch Mã.  

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 1/3/67, Kịch chiến tại biên giởi Mên Việt, cách Tây Ninh 29 cây sổ về Tây Bắc, hạ 150 VC. Ngày 8/3/67, B-52 dội bom xung nhiều địa điểm ở Phưởc Tuy. Ngày 11/3/67, hành quân Junction City tại Chiến khu C, gần Tây Ninh, kịch chiến suốt ngày, từ đêm qua hạ 225 VC. Tổng số VC thiệt mạng đến nay là 744. Ngày 19/3/67, diễn biến hành quân Junction City vào Chiến khu C, Tây Ninh kịch chiến tại Lại Khê 254 VC bị hạ. Phía Mỹ 3 trực thăng bị bắn rơi, và 13 chiến khác bị hư hại. Ngày 20/3/67, kết quả hành quân Junction City tới hôm nay 1.117 VC bị hạ. Phía Mỹ: 143 tử thương, 659 bị thương. Ngày 22/3/67, kết quả trận đánh 6 giờ liền ngày hôm qua tại Tây Ninh trong khuôn khổ hành quân Junction City, 596 VC tử thương. Phía Mỹ: 31 chết, 109 bị thương. Ngày 17/4/67, chấm dứt đợt II hành quân Junction City, và mở đợt III tại Tây Ninh. Cùng ngày 17/4/67, 12 giờ đêm nay, bản doanh Lực lượng hành quân II của Mỹ cách Biên Hòa 6 cây s, bị pháo kích 4 binh sĩ Mỹ chết, 20 bị thương. Ngày 18/4/67, B-52 vẫn dội hom hàng ngày các trại quân VC ở Biên Hòa.       

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 3/3/67, Làng Trung Lương cách tỉnh lỵ Mỹ Tho 8 cây số, bị pháo kích lầm: 5 thường dân chết, 24 bị thương. 15/3/67, Tỉnh lỵ Chương Thiện bị pháo kích. Tòa Hành chánh và một số nhà khác bị hư hại nặng. Ngày 10/4/67, hành quân Enterprise từ 13-2-67 tại Long An, kịch chiến gần Tân An, 209 VC tử thương. Phía Mỹ: 16 bị thương. Ngày 11/4/67, kết thúc hành quân Enterprise tại Long An: 651 VC tử thương, thu 36 vũ khí cá nhân và 2 súng cộng đồng. Ngày 12/4/67, hành quân Dân Chí 285/SĐ mở tại Chương Thiện: hơn 10.000 quân VNCH tấn công 1 trung đoàn VC. Ngày 14/4/67, kết thúc hành quân Dân Chí 285/B đánh vào 1 trung đoàn VC tại Chương Thiện: 230 VC tử thương, thu một só võ khí.

 

Bài 235: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 5 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 1967.

UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 15/5/67, Tướng Đỗ Cao Trí được bổ Đại sứ tại Đại Hàn.Ngày 19/5/67, tuyên bố của Giám đốc Báo chí Phủ Chủ tịch UBLDQG, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu sẽ tranh cử Tổng thống. Ngày 26/5/67Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ-tịch UBLDQG gửi thông điệp cho Quốc hội yêu cầu xét lại các điều khoản của dự luật bầu Tổng thống đòi hỏi ứng cử viên phải được 30 đại biểu nhân dân giới thiệu, và lui ngày bầu cử các Nghị viện.

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 1/5/67giá chợ đen Mỹ kim xanh 153/155$, Mỹ kim Đỏ 117/118$, giá vàng 8.100$ một lượng. Ngày 5/5/67, thành lập một cơ quan gọi là “Chương trình Cam Ranh” trực thuộc phủ Chủ tịch với nhiệm vụ xây dựng thị xã và hải cảng này để khuếch trương kinh tế. Ngày 6/5/67Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố tại Huế: các đảng phái quốc gia cần hợp thành một “Mặt trận Chống Cộng Duy nhẩt”; Rằng Chánh phủ sẽ không nhượng một tấc đất nào cho Cộng sản để tạo cơ hội thương thuyết.. Ngày 13/5/67, theo Tổng cục Tiếp vận Quân đội, một Làng Quân đội sẽ được xây cất từ 2.000 đến 15.000 căn nhà tại xã Phước Long, Thủ Đức, với kinh phí 1.258.000.000$. Ngày 30/5/67khởi công xây cất 3.000 nhà (30.000$ mỗi căn) cho đồng bào bị lụt tại Kiên Giang, Kiến Tường, Châu Đốc, An Giang, Kiến Phong. Kinh phí 42 triệu. 

Ngày 1/6/67Đại hội Không quân tại căn cứ Biên Hòa, tổng kết kể từ 1-7-66, Không quân VN đã thực hiện 175.980 phi xuất với 234.533 giờ bay, 20 phản lực F-105 được chuyền giao hôm nay. Ngày 3/6/67Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố nhân dịp phát phần thưởng cho học sinh Đà Lạt: sẽ trừng trị thẳng tay những ai định đem chính trị vào học đường.Ngày 24/6/67Bộ Giáo dục xác nhận sự tương đương của văn bng Việt-Mỹ: Bachelor B.A. tương đương Cử nhân, Master tương đương Cao học, và Ph.D. tương đương Tiến sĩ quổc gia. Ngày 28/6/1967, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ khai mạc khóa hội thảo 4 ngày về tổ chửc bầu cử Tổng thống và Thượng nghị viện tại Hội trường Diên Hồng, Sài Gòn.   

QUỐC HỘI LẬP HIẾN, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 26/5/67Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ-tịch UBLDQG gửi thông điệp cho Quốc hội yêu cầu xét lại các điều khoản của dự luật bầu Tổng thống đòi hỏi ứng cử viên phải được 30 đại biểu nhân dân giới thiệu, và lui ngày bầu cử các Nghị viện. Ngày 5/6/67Quốc hội Lập hiến hoãn họp về dự luật bầu cử Thượng viện vì chỉ có 54 dân biểu tới họp. Ngày 10/6/67, Ngân sách quốc gia được ấn định lại là 64,5 tỷ thay vi 55 tỷ về phần CHI, và 58,5 tỷ thay vì 38 tỷ về phần THU trong đó có 21,3 tỷ viện trợ Mỹ. (S-luật 021/67). Ngày 12/6/67, Quốc hội Lập hiến phúc nghị dự luật bầu cử, chấp thuận với 48 phiếu trên 90, việc bầu Tổng thống và Thượng nghị viện cùng một ngày. Ngày 15/6/67, Ban hành luật bầu cử Tống thống và Thượng nghị viện (Luật 001/67 và luật 002/67). Ngày 24/6/1967Quốc hội lập hiến biểu quyết dự luật bầu cử Hạ nghị viện vào ngày 5-11-67, và yêu cầu Chánh phủ bãi bỏ kiểm duyệt.  

ỨNG CỬ, BẦU CỬ TỔNG THỐNG, VÀ THƯỢNG VIỆN. Ngày 8/5/67Đại tướng Cao Văn Viên tuyên bố: Quân lực VNCH sẽ không cử một quân nhân nào ra ứng cử Tổng thổng, vì quân lực không phải là đoàn thể chánh trị. Ngày 12/5/67, trong cuộc họp báo tại Đà Lạt, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố sẽ ra ứng cử Tổng thống, và nếu sau này tướng Nguyễn Văn Thiệu cũng ra, thì có thể rút lui vì bao giờ cũng muổn nhường nhịn. Ngày 14/6/67, tại Huế, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, tuyên bố sẽ ra ứng cử Tổng thống, và theo ông, sự tranh cử giữa hai Liên danh quân nhân không hại gì cho tình đoàn kết quân đội. Ngày 23/6/67tính đến hôm nay đã có 6 liên danh ứng cử Tổng thống và Phó tổng thổng: Phan Khắc Sửu/Phan Quang Đán; Hà Thúc Kỷ/Nguyễn Văn Định; Lý Đại Nguyên/Vũ Đình Mạnh; Hoàng Cơ Bình/Lưu Quang Khình; Lưu Quang Hồng/ Nguyễn Mạnh Hải; Trương Dinh Dzu/Trần Văn Chiêu. 

Ngày 26/6/67có thêm 2 liên danh ứng cử Tổng thổng và Phó tổng thống: Trần Văn Hương/Mai Thọ Truyền; Nguyễn Văn Thiệu/Trịnh Quốc Khánh. Ngày 27/6/67liên danh ứng cử Tổng thống và Phó tổng thống thứ 9 là Phạm Huy Cơ/ Lý Quốc Sỉnh. Ngày 28/6/67Liên danh thứ 10 ứng cử Tổng thống và Phó tổng thống: Trần Văn Lý/Huỳnh Công Đương. Ngày 29/6/67, liên danh thứ 11 ứng cử Tổng thống và Phó tổng thống: Nguyễn Cao Kỳ/Nguyên Văn Lộc. Dẩu hiệu áo “vá hai vai”, danh-hiệu “áo vá lòng vàng”. Ngày 30/6/67Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ cùng chung liên danh ứng cử với Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu: Tướng Thiệu ứng cử Tổng thống, tướng Kỳ Phó tổng thống. Quốc hội không chấp nhận Liên danh ứng cử Tổng thống của ông Trần Thượng Nhân, vì không hợp lệ. Tổng số danh sách ứng cử Tổng thống và Phó tổng thống là 18; và Thượng nghị viện 66. Ngày 30/6/1967, Tướng Dương Văn Minh ứng cử Tổng thống cùng với luật sư Trần Ngọc Liễng Phó tổng thống. 

KHÔNG THUẬN CHO TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH VỀ NƯỚC. Ngày 28/6/67, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: UBLĐQG không thuận cho Đại tướng Dương Văn Minh về nước, và đã cử 2 tướng sang Thái Lan gặp tướng Minh về vẩn đề này. Ngày 28/6/67, Hội đồng Quân lực nhóm họp tại Bộ Tổng tham mưu và quyết định: tướng Dương Văn Minh không nên về ứng cử Tổng thống.

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 26/5/67, một tổ chức trí vận VC vừa bị khám phá và một số trí thức thân Cộng bị bắt giam. Ngày 16/6/67, theo Tổng vụ Giáo dục Phật giáo, tới nay cỏ 112 trường Bồ Đề trung học, và tiểu học với 400 giảo viên và 80.000 học sinh.

TỴ NẠN CỘNG SẢN, CÁN BINH CỘNG SẢN HỒI CHÁNHNgày 2/5/67Đại díện nhóm Thượng Fulro ký thông cáo chung với Phái đoàn Chánh phủ, xác nhận trở về hợp tác với Chánh phủ vì các nguyện vọng cải tiến đồng bào Thượng đã được thỏa mãn. Ngày 4/5/67, hơn 122.418 người tị nạn được quân đội Đồng minh đưa về thị xã Tuy Hòa và vùng phụ cận; khoảng 85.000 sống trong các trại tiếp cư. Ngày 24/6/67, một tiểu đoàn trưởng BV hồi chánh tại quận Tư Nghĩa, Quảng Ngãi.

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 11/5/67, kể từ hôm nay, Tướng Westmoreland được quyền kiểm soát cả công cuộc phát triển nông thôn tại VN. Ngày 19/5/67, theo Bộ Ngoại giao Mỹ: quân đội Việt-Mỹ chỉ tiến vào vùng Phi quân sự lần thứ nhất, và với mục đích tự vệ phòng thủ. Không có sự leo thang chiến tranh và xâm lăng BV. Ngày 22/5/67Tổng thống Johnson lại kêu gọi thương thuyết để chấm dứt chiến tranh tại VN, nhưng xác nhận rằng HK sẽ tiếp tục chống xâm lăng tại xứ này. Ngày 4/6/67theo báo Newsweek, HK sẽ ngưng oanh tạc BV, vì không còn mấy mục tiêu quan trọng và để thử thách nhà cầm quyền miền Bắc về phương diện nghị hòa. Ngày 7/6/67, các hàng không mẫu hạm Mỹ Intrepid và Forrestal sang VN tham chiến. Ngày 16/6/67, theo bộ Quốc phòng Mỹ, số quân nhân Mỹ bị bắt giữ tại BV là 458 trong đó 354 là phi công. 

Ngày 21/6/67, theo Bộ Tư lịnh Không quân Mỹ, trong 2 năm qua pháo đài bay B-52 đã oanh tạc 11.000 lần, trung bình mỗi ngày 4 lần, số bom đã ném tới 200.000 tấn. Hôm nay có 133 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 22/6/67, theo Bộ Quốc phòng HK tổng số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV là 589 chiếc. Ngày 29/6/67, tới hôm nay, kể từ 1955, số thiệt hại của HK là 12.269 quân nhân tử thương và 87.773 bị thương tại VN.

MỸ VIỆN TRỢ KINH TẾ, VÀ XÂY DỰNG CHO VNCH. Ngày 22/6/67, kỷ niệm đệ tam chu niên Viện trợ Quốc tế, ngày 37 nước của thế giới tự do đã viện trợ cho VN 50.581.068 Mỹ kim. Riêng viện trợ Mỹ, Tài khoá 1964 đến 1965 đã viện trợ cho VN 590 triệu về kinh tế; 138 triệu về nông phẩm. Tài khóa 1965 đến 1966 là 704 triệu viện trợ kinh tế; 126,5 triệu viện trợ nông phầm.

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 31/5/67, tới nay lực lượng Đại Hàn lên tới 60.750 người thuộc các sư đoàn Mãnh Hổ, Bạch Mã, Lữ đoàn Thanh Long và Đoàn Bồ Câu, trong vùng Bình Định, Phú Yên, Ninh Hòa, và Bình Thuận.   

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 5/5/67, trên lãnh thổ VNCH, hiện có 19 đoàn Y tế quốc tế thuộc 12 quốc gia, với hơn 300 bác sĩ, và trên 1.000 người nhân viên. Ngày 4/5/67, Tòa án Russell nhóm phiên họp đầu tiên tại Stockholm, J.-P. Sartre chủ tọa, 17 nhân vật và 200 ký giả tham gia. Xin lưu ý, Tòa án Russell là một Tòa án tư nhân được tổ chức trong năm 1966 bởi Bertrand Russell (triết gia Anh đoạt giải Nobel), Jean-Paul Sartre (nhà văn, triết gia Pháp) cùng nhiều trí thức Tây phương rất nổi tiếng khác. Tòa án này điều tra và đánh giá việc Mỹ can thiệp quân sự vào Việt NamNgày 8/5/67Tổng thống Johnson phản đối việc Thụy Điển để cho tòa án Russell nhóm họp tại Stockholm. Thủ tướng Thụy Điển cho rằng luật lệ xứ ông không cho phép chính quyền ngăn cấm. 

Ngày 10/5/67U-Thant xác nhận: cần chấm dứt oanh tạc BV mới có thể nói chuyện hòa bình, dù BV có tiếp tục xâm nhập miền Nam thì cũng còn ít nguy hại hơn sự leo thang chiến tranh hiện nay. Ngày 16/6/67, Cơ quan Nguyên tử Quốc tế chấp thuận cấp nhiên liệu nguyên tử cho Trung tâm Nguyên tử Đà Lạt. 

KHÔNG QUÂN MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 1/5/6793 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu phi trường Kép, Hòa Lạc, nhà máy thép Thải Nguyên, ga xe lửa Nam Định… 11 Migs BV bị  bắn rớt hoặc hỏng trong cuộc không chiến. Ngày 2/5/67Có 104 phi vụ oanh tạc BV. Nhiều ga và đường hỏa xa bị phá-hủy. Ngày 3/5/67hơn 100 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu phi trường Hòa Lạc, trại quân Chi Nê, từ 4 đến 6 Mig bị phá hủy. Ngày 4/5/67có 63 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy biến điện gần Hà Nội, vị trí hoả tiễn SAM gần Thanh Hóa. Một Mig-21 BV bị Phantom Mỹ bắn rớt. Ngày 5/5/67có 97 phi vụ oanh lạc BV, mục tiêu khu Nam Hà Nội, ga xe lửa Yên Viên, kho đạn Thanh Hóa, và chuyến xe lửa chở hỏa tiễn SAM gần Đồng Hới, 3 phản lực F-105 Mỹ bị bắn rớt. Ngày 6/5/67, trên 56 phi vụ oanh tạc BV. Tống số phi cơ Mỹ bị rớt trên BV 534, và ở miền Nam 173. 

Ngày 7/5/67, có 113 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 8/5/67có 121 phi vụ oanh tạc BV. Phi trường Hòa Lạc bị dội bom lần thứ năm. Ngày 10/5/67, có 116 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Bắc Giang, Hải Phòng và trường bay Kiến An. Ngày 12/5/67, có 136 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu khu kỹ nghệ Hà Đông, 1 Mig-17 BV bị phi cơ Mỹ bắn hạ trên khu vực Hà Nội, và 1 F-4 Mỹ bị Mig BV bắn rớt. Ngày 15/5/67, có 99 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/5/67, có 137 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 19/5/67, theo bộ Quốc phòng Mỹ, có 552 phi cơ và 5 trực thăng Mỹ bị bắn rớt tại BV, 179 phi cơ và 320 trực thăng bị bắn rớt tại miền Nam. Hôm nay có 131 phi vụ oanh tạc BV. Hệ thống phòng không tại khu vực Hà Nội - Hải Phòng chừng 6.000 căn cứ. Ngày 20/5/67có 117 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/5/67hôm nay có 112 phi vụ oanh tạc BV.

Ngày 25/5/67có 92 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 26/5/67có 99 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/5/67có 102 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/5/67có120 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 30/5/67, có 103 phi vụ oanh tạc BV. Theo Bộ Quổc phòng Mỹ, thì BV đã mất 44 phi cơ Mig, còn lại 82 chiếc. Ngày 31/5/67có 112 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/6/67có 127 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 4/6/67, hôm nay có 98 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 5/6/67, có 113 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 6/6/67, có 88 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 7/667, có 112 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 8/6/67có 110 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/6/67có 99 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 10/6/67có 79 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 11/6/67, có 87 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/6/67có 125 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/6/67có 136 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/6/67, có 111 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 18/6/67có 130 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 20/6/67có 122 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 22/6/67, có 125 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/6/67có 153 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/6/67có 126 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/6/67có 152 phi vụ oanh tạc BV.     

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 1/5/67, kịch chiến tiếp tục tại Khe Sanh, Quảng Trị. Ngày 2/5/67, kịch chiến tại Khe Sanh. TQLC Mỹ chiếm được các ngọn đồi 881 và 861 do BV chiếm giữ. Ngày 3/5/67kịch chiến từ 4 giờ sáng và suổt ngày quanh Khe Sanh. Tới hôm nay, quân BV có 512 tử thương. Phía Mỹ 123 chết, 300 bị thương. Ngày 4/5/67, hành quân Lam Sơn 48 cách Huế 8 cây sổ về phía Đông. Ngày 5/5/67Ác chiến tiếp tục tại Khe Sanh. B-52 dội bom 3 lần. TQLG Mỹ chiếm trọn ngọn đồi 881 cách Khe Sanh 11 cây số về Tây Bắc. Kết thúc hành quân Lam Sơn 48 gần Huế, 107 VC bị hạ, thu 28 súng. Ngày 7/5/67, vẫn kịch chiến ở Khe Sanh và vùng phụ cận. B-52 dội bom 3 lần. Căn cứ Việt Mỹ Cồn Tiên, Quảng Trị bị tấn công bởi 2 tiểu đoàn (K2 và K4) thuộc Trung đoàn 820. Sau 1 gỉờ giao tranh, 238 BV tử thương, 7 bị bắt, 212 súng bị tịch thu. 

Ngày 8/5/67, từ 3 giờ sáng đến 11 giờ lực lượng Mỹ tại ngọn đồi 158 cách Đồng Hà 15 cây số, bị pháo kích và tấn công ồ ạt, nhưng bị đẩy lui, 197 BV tử thương, 115 súng bị tịch thu. Phía Mỹ: 44 chết, 110 bị thương. Ngày 9/5/67kịch chiến tiếp tục ở Khe Sanh. B-52 vẫn tới dội bom. Hành quân lục soát quanh vùng phát hiện một hầm chứa 203 xác quân BV cách Khe Sanh 14 cây số về Tây Bắc. Ngày 14/5/67, rồi 12 giờ khuya, VC đột kích một đơn vị  hỏa tiễn Hawk của Mỹ cách Đà Nẵng 8 cây số 36 hỏa tiễn bị hư hại. Ngày 15/5/67, hành quân Lam Sơn 57 tại Đông An Lỗ,Thừa Thiên. Ngày 17/5/67giao tranh liên tiểp ở cấp đại đội quanh căn cứ Cồn Tiên, Quảng Trị. Ngày 18/5/67, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân hỗn hợp với hơn 15.000 quân tham chiến gồmhành quân Hickory Nut, của TQLC, hành quân Bean Charger của bộ binh Mỹ, và hành quân Lam Sơn 54 của Sư đoàn I BB Việt vào vùng Phi quân sự tấn công 3 trung đoàn BV.

Cùng ngày 18/5/1967nhiều căn cứ Mỹ tại Đồng Hà và Gio Linh, Quảng Trị bị pháo kích dữ dội bằng hỏa tiễn 140 ly và đại bác 122 ly. Ngày 19/5/67, kết quả đầu tiên các cuộc hành quân vào vùng Phi quân sự: 200 BV tử thương, 16 bị bắt, 6.000 thường dân được di chuyền tới vùng an ninh. Ngày 20/5/67, tổng số tổn thất tại các mặt trận vùng Phi quân sự, tới nay lên tới 548 quân BV tử thương. Phía Mỹ 59 chết, 415 bị thương. Phía VNCH chưa rõ. Ngày 19/5/67giao tranh lớn giữa lực lượng Mỹ và nhiều đơn vị VC gần Đức Phổ, Quảng Ngãi. Ngày 24/5/67chấm dứt 3 cuộc hành quân tại vùng Phi quân sự: hành quân Hickory Nut, hành quân Bean Charger và hành quân Lam Sơn 54. Các lực lượng Việt-Mỹ rút hết, cùng trên 10.000 dân đưa về phía Cam Lộ và Hà Thanh định cư. Ngày 25/5/67giao tranh kịch liệt suốt ngày trên ngọn đồi 117 gần Cồn Tiên. Ngày 26/5/67, hành quân Union II Việt-Mỹ tại Đồng Phước Cam, Tam Kỳ.

Ngày 27/5/67, hành quân Lam Sơn 60 phía Tây-Bắc Huế Thừa Thiên. Cùng ngày 27/5/67hành quân Thunder Dragon của TQLC Đại Hàn phía Bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Ngày 28/5/67, nhiều trận giao tranh quanh căn cứ Cồn Tiên, gần vùng Phi quân sự. Kết quả hành quân Hickory Nut tại vùng Phi quân sự và phụ cận 362 BV tử thương. Phía Mỹ chết 119, bị thương 817. Ngày 29/5/67, khách sạn Hương Giang (Huế) bị đặt chất nổ hư hỏng 60%. Nhiều cơ sở quân sự và dân sự ở Huế bị pháo kích. Giao tranh kịch liệt gần Đức Phổ, Quảng Ngãi. Ngày 1/6/67, một đại đội HK lại bị tấn công gần căn cứ Cồn Tiên. Ngày 2/6/1967hành quân Lam Sơn 63 về phía Đông-Bắc Quảng Trị. Ngày 3/6/67chấm dứt giao tranh 2 ngày liền gần Tam Kỳ, Quảng Tín. Ngày 8/6/67lại kịch chiến quanh đồi 881, cách Khe Sanh 8 cây số. Ngày 9/6/67, Chấm dứt hành quân Malheur tại Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Ngày 14/6/67, hành quân Dân Chí 209 tại quận Phong Điền, Phong Dinh. Ngày 15/6/67, hành quân Adair phía Tây-Bắc Tam Kỳ, Quảng Tín. Ngày 18/6/67, hành quân Phi Phụng 27 phía Tây-Nam Hội An. Ngày 20/6/67, kịch chiến gần Hội An, Quảng Nam. Ngày 21/6/67, giao tranh kịch liệt tại phía Đông Nam, Quảng Ngãi. Hành quân Lam Sơn 70 tại Bắc Triệu Phong, Quảng Trị. Ngày 25/6/67, hành quân Lam Sơn 72 tại Hương Thủy, Thừa Thiên. Hành quân Mỹ Calhoun tại Hội An, Quảng Nam. Ngày 28/6/67, kịch chiến gần Khe Sanh, Quảng Trị. Các đơn vị Mỹ tại đây lại bị tấn công.         

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 1/5/67Kịch chiển gần Pleiku. Ngày 25/5/67, kịch chiến trên đồi 512 phía Tây-Nam Pleiku. Ngày 21/6/67, giao tranh kịch liệt tại Phú Mỹ, Bình Định. Ngày 23/6/67, một đại đội BB Mỹ bị phục kích gần Dakto 80 chết, 34 bị thương. Ngày 24/6/67, tại Đức Lập, Pleiku 140 Thượng nhóm Fulro trở về với Chánh phủ. Ngày 29/6/67, kịch chiến tại Phủ Mỹ, Bình Định.    

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 1/5/67một đồn Mỹ gần Tân An, bị tấn công 16 Mỹ tử thương, 30 bị thương.Ngày 13/5/67, phi trường Biên Hòa bị pháo kích bằng 125 trái đạn cở lớn. Phi trường Phước Vinh cũng bị pháo kích.Ngày 14/5/67chấm dứt hành quân Junction City tại vùng Tây Ninh mở từ 22-2 và hành quân Asia-Moana tại Hậu Nghĩa mở từ 5-2. Kết quả, hạ 3.110 VC, thu 584 võ khí cá nhân và 105 cộng đồng. Phía Mỹ: 319 chết, 1.734 bị thương. Ngày 26/5/67, hành quân Dallas tại ranh giới Bình Dương - Biên Hòa. Ngày 9/6/67, chấm dứt hành quân Manhattan tại Bình Dương từ 24-4. Ngày 13/6/67, hành-quân Broken Hill của quân Úc tại Phước Tuy. Ngày 17/6/67, giao tranh kịch liệt từ phía Đông-Bắc Phước Long. Ngày 19/6/67, Trung đoàn Thiết giáp 11 Mỹ, bị tấn công dữ dội gần Phưởc Lễ, Phước Tuy.Ngày 20/6/67, công binh Mỹ và BĐQ Việt Nam đang phá khu rừng Bời Lời mở đường tảo thanh một vùng 72 dặm vuông thuộc huyện Củ Chi. Ngày 27/6/67, hành quân cấp trung đoàn Mỹ-Việt, Intosh Joyce 7 tại Long Khánh.          

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 2/5/67giao tranh kịch liệt giữa nhiều đơn vị Mỹ và Tiểu đoàn 514 VC tại Ấp Bắc và Bàng Long, cách Mỹ Tho 19 cây sổ về Tây Bắc. Ngày 3/5/67hành quân Cửu Long 61 cách Cai Lậy 7 cây số hạ 72 VC, bắt 10, thu một số súng. Ngày 15/5/67hành quân Việt Mỹ Cửu Long 62/2 tại vùng Cầm Sơn, Định Tường. Ngày 10/6/67, Hành quân Cửu Long 65/12 tại Định Tường. Phi trường Vĩnh Long và tỉnh lỵ Chương Thiện bị pháo kích. Ngày 20/6/67, kịch chiến tại Rạch Hui, Cần Đước. 

TẠI BIỆT KHU THỦ ĐÔ.  Ngày 11/5/1967Cảnh sát bắt giữ 1.000 kg thuốc phiện lậu chở từ Lào về trên một cam nhông tại đường Bạch Đằng, Gia Định    

 

Bài 236: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 7 ĐẾN THÁNG 8 NĂM 1967.

UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 6/7/67, Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng cùng 4 Tư lịnh các vùng Chiến thuật gửi thư lên Quốc hội phản đối sự chấp đơn ứng cử Tổng thống của tướng Dương Văn Minh. Lý do: Hội đồng Quân lực đã không chấp thuận sự hồi hương của tướng Minh. Ngày 11/8/67, Đại tướng Cao Văn Viên họp báo và tuyên bố quân đội có hai nhiệm vụ: yểm trợ xây dựng nông thôn và giúp sức với Đồng minh trong các cuộc hành quân lùng và diệt địch. Ngày 16/8/67, Tống thống Johnson tuyên bố, rằng ông mong cuộc bầu cử sắp tới tại VN được công bằng và tự do, và đã ủy nhiệm các nhân vật HK bày tỏ ý nguyện đó với nhà cầm quyền VN

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM.Ngày 15/7/67, một hiệu trưởng Trung học, Phó chủ tịch Hội đồng Giám khảo thi Tú tài I tại Nha Trang, bị hành hung, và đâm chết do 6 học sinh phạm lỗi gian lận trong phòng thi. Ngày 18/7/67, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, họp Hội nghị các đại sứ 7 nước tham chiến tại VN, để trao đi tin tức và ý kiến. Ngày 21/7/67, các thủ phạm sát hại giáo sư Trẩn Vinh Anh bị tòa án quân sự mặt trận Vùng II kết án tử hình, 3 tòng phạm bị khồ sai từ 5 đến 20 năm. Ngày 26/7/67, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố tại Gia Định: sẽ tăng 65.000 quân nữa, đa số cho Địa phương quân và Nghĩa quân. Ngày 2/8/67, nước Đồng Nai đã về tới Sài Gòn. Có 20 máy truyền hình công cộng được đặt tại tỉnh lỵ Sa Đéc và 4 quận trong tỉnh. Ngày 3/8/67, Tổng nha Cảnh sát phát động chiến dịch bài trừ du đảng. 

Ngày 7/8/67, tổng số sinh viên ghi tên niên khoá 1966-67 tại các trường thuộc Viện Đại học, Sài Gòn: 26.221 người; Huế: 3.341; Cần Thơ: 984; Vạn Hạnh: 529; và Đà Lạt: 1.769 sinh viên. Ngày 7/8/67, thiết lập Tổng cục Gia cư để thay thế Uỷ ban Doanh lý Kiến-thiết (S-luật 112-SL/CC). Ngày 18/8/67, lễ chuyển giao các trường Pháp cho Việt Nam: tại Sài Gòn: trường J. J. Rousseau đổi tên thành Trung tâm Lê Quí Đôn; trường Ecole Franẹaise de Cholon thành Trung tâm Hồng Bàng. Tại Đà Lạt: trường Yersin đổi thành Trung tâm Hùng Vương; trường Pascal thành Nguyễn Hiền.Tại Nha Trang: trường Yersin thành Hàn Thuyên. Ngày 29/8/67, Ban hành quy chế riêng cho đồng bào Thượng (S-luật 034/67). Xác nhận quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thượng (S-luật 033/67). 

QUỐC HỘI LẬP HIẾN, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 14/7/67, Chủ tịch Quốc hội Phan Khắc Sửu gửi thư lên UBLĐQG yêu cầu bãi bỏ kiểm duyệt trong thời gian bầu cử Tồng thống, và các Viện Quốc hội. Ngày 18/7/67, Quốc hội bác bỏ 4 liên danh ứng cử Tổng thống: Lỷ Đại Nguyên/ Vũ Đình Mạnh; Trần Thượng Nhơn/Nguyễn Văn Hưng; Âu Trường Thanh/Vũ Văn Huyền; Chu Ngọc/Trần Văn Xuyên. Ngày 19/7/67, Quốc hội bác bỏ thêm 2 liên danh ứng cử Tổng thống: Dương Văn Minh/Trần Ngọc Liễng, Lưu Quang Hồng/Nguyễn Mạnh Hài. Còn 11 lỉên-danh ứng cử Tổng thống, được niêm yết lần thứ hai. Ngày 20/7/67, có 15 Liên danh sách ng cử viên Thượng nghị viện bị Quổc hội loại bỏ, trong đó có liên danh Nguyễn Duy Tài, Hồ Hữu Tường, Phó Thái Gia, Nguyễn Văn Đang. Ngày 19/8/67, ấn định số dân biểu Hạ nghị viện toàn quốc: 137, ngày bầu cử: ngày 22-10-67 (S-lệnh 325-CT/LĐQG/SL). 

ỨNG CỬ, BẦU CỬ TỔNG THỐNG, VÀ THƯỢNG VIỆN. Ngày 19/7/67, tổng số cử tri toàn quốc: 5.447.436, trong đó có 400.846 người Thượng và 736.269 tại Đô thành. Ngày 21/7/67, có 48 Liên danh ứng cử viên Thượng nghị sĩ được niêm yết lần thứ hai. Ngày 2/8, các Liên danh ứng cử Tổng thống và Thượng nghị viện nói chuyện trên đài phảt thanh về chánh sách và chương trình hành động. Ngày 6/8/67, các ứng cử viên Tổng thống và Phó tổng thống tỏ ý phẫn nộ và bực tức vì không được đón tiếp chu đáo tại Quảng Trị. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm giải thích, các vị được chuẩn bị đón ở La Vang, nhưng máy bay lại đáp xuổng Đông Hà nên có sự đón tiếp không được như ý. Ngày 10/8/67, các cuộc vận động bầu cử bắt đầu từ 11-8 đến hết 1-9-67. Ngày 15/8/67, Liên danh Trần Văn Hương/Mai Thọ Truyền họp báo tố giác những áp lực tại vài địa phương dồn phiếu cho một liên danh. Tổng số cử tri toẩn quốc niêm yết lần thứ hai 5.853.251 người.

Ngày 20/8/67, theo thông tin từ chánh phủ, có 8.000 phòng phiếu cho 5.853.251 cử tri trong cuộc bầu cử bầu Tổng thống và Thượng viện ngày 3-9-67. Ngày 21/8/67, số phòng phiếu cho ngay bầu cử 3-9-67 tại 9 quận Đồ-thành là 920 phòng.Ngày 23/8/67, hơn 20 nhân vật Nghị sĩ, Thống đc v.v. Hoa Kỳ sẽ qua VN chứng kiến cuộc bầu cử Tổng thống và Thượng viện VNCH ngày 3-9-67. Ngày 29/8/67, Phái đoàn quan sát viên Mỹ 28 người do Đại sứ Cabot-Lodge hướng dẫn cùng một s ký giả ngoại quốc được chánh phủ VN mời sang Sài Gòn chứng kiến cuộc tuyển cử ngày 3-9-67. Ngày 31/8/67, có 11 Liên danh ứng cử Tổng thống tiếp xúc với dân chúng Thủ đô tại đường Nguyên Tri Phương, Chợ Lớn. 

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 20/7/67, Hội giáo chức Luật khoa lên án vụ sát hại giáo sư Trần Vinh Anh. Ban giám khảo 8 hội đồng thi Sài Gòn Gia Định ngưng chấm thi, yêu cầu trừng trị bọn can phạm, và ban hành sắc luật đối phó với các vụ hành hung giáo chức. Ngày 18/7/67, theo đề nghị của Viên Hoá Đạo đường Trần Quổc Toản, Sài Gòn, Hiến chương mới của Giáo hội Phật giáo Việt Nan Thổng nhất được chuần y do Sắc luật 023/67. Ngày 12/8/67, Thượng tọa Thích Tâm Châu từ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Thượng tọa Thích Thiện Tường được cử lên thay. Đồng thời, Lục cả Lâm Em giữ chức Tăng thổng thay Hoà thượng Thích Tịnh Khiết. Ngày 14/8/67, các Thượng toạ Thích Thiện Minh, Thích Trí Quang, Thích Pháp Tri, Thích Thiện Hoa v.v... họp báo tại chùa Ấn Quang công kích Hiến chương Phật giáo mới chỉ do 5 Thượng tọa ký thay vì phải 11 đại diện theo quy định của Hiến chương cũ.

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 7/7/67, Bộ trưởng McNamara lại qua VN xét tình hình quân sự và kinh tể. Tướng Westmoreland đòi tăng lực lượng HK tại VN thêm 70.000 người nữa. Ngày 13/7/67, Bộ trưởng QP Mỹ, McNamara tuyên bố sẽ tăng quân ở VN, nhưng không cần gọi thêm quân trừ bị. Ngày 15/7/67, Đại sứ Bunker tuyên bố: HK không chống đối và cũng không ủng hộ một ứng cử viên nào trong cuộc bầu cử Tổng thống tại VN. Chánh phủ HK hứa với tướng Westmoreland sẽ cấp thêm từ 20 đến 30.000 quân trong 3 tháng tới. Ngày 19/7/67, tổng số dân của Liên bang Hoa Kỳ là 198.938.000 người tính đến ngày 1-6-67. Ngày 20/7/67, Tướng Taylor cùng Clark Clifford, trưởng ban tình báo hải ngoại HK, qua Sài Gòn và nhiều thủ đô để vận động các đồng minh của Mỹ tăng gia nổ lực tham chiến tại VN. Ngày 21/7/67, cựu Tổng thống Eisenhower đề nghị, HK cần tuyên chiến vi BV. Không thể thắng với chánh sách đánh cầm chừng. 

Ngày 27/7/67, Bộ Quốc phòng HK quyết định mở rộng vùng khai quang sát khu Phi quân sự từ 608 thước tới 37 cây số. Ngày 29/7/67, hàng không mẫu hạm Forrestal, 76.000 tấn, vừa tới tham chiến tại Vịnh BV 4 ngày, thì bị hỏa hoạn: 29 phi cơ trong số 80 phi cơ của tàu bị hư hại. Ngày 30/7/67, trong vụ hỏa hoạn trên tàu Forrestal, tới hôm nay, có 76 thủy thủ bị thiệt mạng, 69 mất tích và 64 bị thương, 26 phi cơ bị thiêu hủy, 31 bị hư hại. Hàng không mẫu hạm phải về Subic Bay (Phi Luật Tân) để sửa chữa. Nguyên nhân hỏa hoạn do một bình xăng rớt và bốc cháy từ một máy bay A4E Skyhawk. Ngày 3/8/67, Tổng thống Johnson tuyên bố sẽ tăng 45.000 quân tại VN. Tổng số quân Mỹ hiện có tại VN là 454.000 quân. Ngày 5/8/67, Tướng Taylor cùng Thứ trưởng QP Mỹ Clifford đã trở về Hoa Thịnh Đn, sau cuộc viếng thăm 6 quốc gia tham chiến tại VN, để thăm dò về vấn đề triệu tập một hội nghị thượng đỉnh nữa về VN.

Ngày 13/8/67, theo giới quân sự Mỹ, Tổng thổng Johnson đã cho phép oanh tạc nhiều mục tiêu mới tại BV thuộc khu vực Hà Nội, Hải Phòng, và các biên giới Việt-Hoa. Ngày 22/8/67, Thượng viện Mỹ chấp thuận dự án ngân sách 70 tỷ 100 triệu Mỹ kim, trong đó có 20 tỷ dành cho chiến cuộc tại VN. Ngày 25/8/67, Tổng thống Johnson đã cho phép oanh tạc 302 trong 309 mục tiêu chủ yếu do các tư lịnh quân đội Mỹ đề nghị. Ngày 26/8/67, Hội Cựu chiến binh Mỹ yêu cầu Tổng thống Johnson tăng gia chiến sự tại BV để sớm chấm dứt chiến tranh. Bộ trưởng McNamara, lại xác nhận trước Quổc hội HK, chủ trương chiến tranh hạn chế tại BV; nếu chiến thắng, thì phải chiến thắng tại miền Nam, thay vì tăng gia cường độ chiến tranh tại BV theo đề nghị của nhiều tướng lãnh. Ngày 28/8/67, theo Reuter, 34% dân HK muốn quân đội Mỹ rút sớm khỏi VN; 37% muốn tiếp tục chiến đấu để điều đình có lợi; 24% muốn chiến thắng hoàn-toàn.

Ngày 30/8/67, theo tin UPI, các Tư lịnh Hải quân HK đòi gài mìn phong tỏa Hải Phòng, song Bộ trưởng McNamara không đồng ý, vì như vậy Nga Sô có thể can thiệp. Ngày 31/8/67, Thượng nghị sĩ John C. Stennis, Chủ tịch ủy han chuần chi quân sự công kích chủ trương chiến tranh hạn chế, và đòi tăng gia nỗ lực tại BV để sớm chấm dứt chiến tranh.

MỸ VIỆN TRỢ KINH TẾ, VÀ XÂY DỰNG CHO VNCH. Ngày 4/7/67, Cơ quan Viện trợ HK thuận cấp 48 máy Diesel và máy turbine với 136.800 KW, đề tăng điện lực cho Sài Gòn. Ngày 10/7/67, khánh thành giang cảng New-Port cạnh Xa lộ Sài Gòn-Thủ Đức, xây tốn 50 triệu Mỹ kim, có thể tiếp nhận hàng tháng 150.000 tấn hàngNgày 17/7/67, lần đầu tiên do Cơ-quan Viện trợ HK bảo trợ cho một phái đoàn gồm 12 chủ tịch Hội đồng Xã du hành tham quan Thái Lan, Đài Loan và Phi Luật Tân trong 6 tuần.

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 22/7/67, VNCH yêu cầu Liên Hiệp Quốc cử quan sát viên đến Việt Nam chứng kiến cảc cuộc tuyển cử ngày 3-9-1967. Ngày 27/7/67U-Thant khước từ việc gửi quan sát viên Liên hiệp Quốc tới VN chứng kiến các cuộc tuyển cử ngày 3-9-67. Ngày 28/7/67, Bộ Ngoại giao VNCH ra thông cáo mời báo giớỉ quổc tế tới chứng kiến cuộc bầu cử Tổng thống và Thượng, Hạ nghị viện. Ngày 31/7/67Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ phản đối trên báo chí lời tuyên bố của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U-Thant, rằng chiển tranh tại VN không phải do xâm lăng Cộng sản mà là chiến tranh giành độc lập. Ngày 31/7/67, Tổng thống Johnson tuyên bố không đồng ý với U-Thant trong sự nhận định tính cách chiến tranh tại VN. Ngày 8/8/67, các Ngoại trưởng 5 nước Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba quyết định thành lập một tổ chức mệnh danh là Hiệp hội Hợp tác Đông Nam Á (Southeast-Asia Association for Regional Cooperation, SEARC).    

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 8/7/67, các điều kiện mới của BV đề hòa đàm: ngưng oanh tạc BV, chấp nhận MTGPMN vào hội nghị hòa bình, dùng hiệp ước Genève làm căn bản thương thuyết. Ngày 12/7/67, tại Hà Nội từ 15-5-67 tới nay có tới 87 ln báo động phòng không. Ngày 24/7/67, Phạm Văn Đồng tuyên bố: BV chuẩn bị chống cuộc đ bộ cùng những vụ oanh tạc Hà Nội của Mỹ. Ngày 25/8/67, theo giới quân sự HK, BV hiện có 8.000 dàn cao xạ và 150 dàn hỏa tỉễn. Dân chúng Hà Nội lại được lịnh triệt để tản cư. Cùng ngày 31/8/67, theo tin UPI và AP, nhiều cuộc xung đột kịch liệt vẫn tiếp diễn giữa hai phe chống và thân Mao tại Trình Châu, Vũ Hán, Tứ Xuyên, Tô Châu, và Thượng Hải.  

KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 1/7/67, có 145 phi vụ oanh tạc BV. . Ngày 2/7/67, Có 114 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 3/7/67có 32 phi cơ gồm 23 phản lực F-105 và 9 Skyraider bắn phá yễm trợ cho một trực thăng tới cứu thoát một phi công bị rớt từ 15 giờ trước ở một địa điểm gần đèo Mụ Gia. Ngày 6/7/67, tổng số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV: 597. Ngày 8/7/67có 97 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/7/67có 137 phi vụ oanh tạc tại BV. Ngày 11/7/67có 138 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 13/7/67, có 134 phi vụ oanh tạc tại BV. Ngày 14/7/67có 170 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/7/67có 94 phi vụ oanh-tạc BV. Ngày 16/7/67có 102 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/7/67, có 134 phivụ oanh tạc BV. Ngày 19/7/67có 133 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 20/7/67có 116 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/7/67, có 100 phi vụ oanh tạc BV.Ngày 22/7/67, có 97 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/7/67có 120 phi vụ oanh tạc BV

Ngày 24/7/67, có 144 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/7/67, có 126 phi vụ oanh tạc BV. B-52 dội bom xuống các căn cứ pháo binh và dàn hỏa tiễn ở Đồng Hới. Ngày 26/7/67, có 135 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 30/7/67có 117 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 31/7/67, có 90 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/8/67có 136 phi vụ oanh tạc BV. Tính đến hôm nay, tổng số máy bay Mỹ bị bắn rớt trên miền Bắc là 627 chiếc. Và, có 1.442 toa xe lửa và 1.384 quân xa của BV bị phi cơ Mỹ phá hủy từ đầu năm. Ngày 2/8/67, có 113 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 3/8/67, có 197 phi vụ oanh tạc  BV. Ngày 4/8/67, có 145 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 6/8/67, có 134 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 8/8/67, có 167 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/8/67, có 166 phi vụ oanh tạc  BV. Ngày 10/8/67, có 132 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 11/8/67có 145 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 12/8/67có 150 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 13/8/67, có 162 phi vụ oanh tạc BV. Không chiến 7 lần trên không phận Hà Nội, không cỏ phi cơ nào bị hạ. 

Ngày 14/8/67có 89 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/8/67có 161 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/8/67có 111 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/8/67, có 172 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/8, có 209 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 20/8/67, có 197 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/8/67có 132 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 22/8/67có 162 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/8/67, có 123 phi vụ oanh tạc BV, Hà Nội báo động 8 lần. Ngày 24/8/67có 152 phi vụ oanh tạc BV. Sổ phi cơ Mỹ bị bắn rởt tại BV là 660 chiếc. Ngày 25/8/67, có 146 phi vu oanh tạc BV. Số phi xuất của HK trên không phận BV: 82.500 (1965); 94.300 (1966). Đã phá hủy: 4.100 quân xa, 7.400 thuyền, 1.400 đoạn đường sắt, 57 cầu, 50 nhà ga, và 1.900 mục tiêu cố định. Ngày 27/8/67có 97 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/8/67có 151 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 30/8, có 157 phi vụ oanh tạc BV.     

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 2/7/67, giao tranh kịch liệt, cấp trung đoàn, quanh căn cứ Cồn Tiên, Quảng Trị. Các căn cứ Mỹ tại Gio Linh và Đông Hà bị pháo kích dữ dộiNgày 3/7/67, một đoàn quân xa Mỹ chở quân nhu thực phẩm trên đường Đà Nẵng ra Phú Bài (Huế) bị phục kích làm 20 chết, 16 bị thương, 17 xe bị cháy, 16 chiếc khác hư hại. Ngày 5/7/67, B-52 dội bom 8 lần trong ngày hôm nay quang vùng A Shau (Thừa Thiên) gần biên giới Lào Việt. Ngày 6/7/67, B-52 tiếp tục dội bom xuống vùng A Shau và quanh Cồn Tiên. Ngày 7/7, hơn 900 trái đại bác và súng cối dội xuống các đơn vị Mỹ tại Cồn Tiên, Gio Linh và Đồng Hà. Ngày 8/7/67, giao tranh suốt ngày tại Cồn Tiên. Một B-52 bị bốc cháy và rớt gần phi trường Đà Nẵng, không thấy ghi lý do. Ngày 9/7/67, trong tuần qua có 14 lần vào Gio Linh, 15 lần vào Đông Hà với chừng 1.649 trái đạn cở lớn từ 120 đến 140 ly. 

Ngày 10/7/67, chấm dứt hành quân Lam Sơn 79/XDNT tại Tây Bắc Quảng Trị. Ngày 14/7/67, gần nửa đêm, lao xá Hội An bị pháo kich dữ dội: 30 phạm nhân chết, hơn 1.000 trốn thoát, đa số là tù binh VC và BV. Ngày 15/7/67, lúc 2 giờ sáng nay, phi trường Đà Nẵng bị pháo kích bằng đạn Rocket và đạn 140 ly. Chấm dứt hành quân Buffalo mở từ 2-7-67 tại Đông Nam Đông Hà. Ngày 16/7/67, Đại đội Địa phương quân canh giữ cầu Mỹ Chánh bị tấn công gây thiệt hại nặng nề. Giao tranh cấp tiểu đoàn tại Gio Linh, Quảng Trị. Chấm dứt hành quân Crockett mở từ 13-5-67 tại Khe Sanh. Cùng ngày 16/7/67, chấm dứt hành quân Hickory I tại Quảng Trị. Hành quân Hickory II mới bắt đầu đã đụng trận ngay gần căn cứ Cồn Tiên. Ngày 20/7/67, hành quân Lam Sơn 87 cấp tiểu đoàn tại quận Phong Điền, Thừa Thiên. Ngày 21/7/67kịch chiến tại Khe Sanh, Quảng Trị. 

Ngày 30/7/67, giao tranh kịch liệt gần Cồn Tiên. B-52 vẫn tiếp tục dội bom xuống vùng A Shau, Thừa Thiên. Ngày 1/8/67, hành quân Mỹ Pike mở tại phía Đông Nam Đà Rằng. Ngày 8/8/67giao tranh dữ dội gần thị xã Quãng Ngãi. Ngày 9/8/67, Giao tranh dữ dội tiếp tục gần Quảng Ngãi. Ngày 10/8/67giao tranh kịch liệt giữa các đại đội Mỹ và VC tại thung lũng sông Vệ, Quảng Ngãi. Ngày 12/8/67, hành quân Liên Kết 112 tại Tiên Phước, Quảng Tín. Ngày 14/8/67, giao tranh kịch liệt giữa các đơn vị hành quân Mỹ và VC gần Tam Kỳ, Quảng Tín. Ngày 16/8/67, giao tranh kịch liệt 3 lần trong ngày quanh đồi 304 gần Tam Kỳ, Quảng Tín. Ngày 21/8/67, một đoàn quân xa Mỹ bị phục kích gần căn cứ  Khe Sanh, 5 quân nhân Mỹ chết, 3 bị bắt và 34 bị thương. Ngày 29/8, TQLC Mỹ giao tranh kịch liệt với quân BV gần căn-cứ Carroll, Quảng Trị. Các trại quân Mỹ tại tỉnh lỵ Quảng Ngãi, Thừa Thiên và Biên Hòa, bị pháo kích nhiều lần.

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 11/7/67, giao tranh dữ dội tại Dakto, Kontum. Ngày 12/7/67đụng độ kịch liệt phía Tây-Nam Đức Cơ. Ngày 23/7/67, giao tranh dữ dội cách Đức Cơ 6 cây số. Ngày 3/8/67, hành quân Kham Zei tại vùng Dak Seang, Kontum. Ngày 6/8/67, giao tranh cấp tiểu đoàn gần Kak-Seang KontumNgày 15/8/67, giao tranh kịch liệt tại Phù Mỹ, Bình Định.  

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 10/7/67, Đồn Đông An Lộc, Bình Long bị pháo kích, và tấn công dữ dội. Ngày 19/7/67, giao tranh giữa nhiều đại đội Mỹ và một tiểu đoàn VC gần Dầu Tiếng, Biên Hoà. Ngày 21/7/67, giao tranh kịch liệt tại phía Bắc Xuân Lộc. Ngày 26/7/67, Căn cứ quân sự Mỹ tại Phước Vĩnh, Bình Dương bị pháo kích. Ngày 29/7/67, Căn cứ Mỹ tại Phú Lợi bị pháo kich dữ dội. Ngày 8/8/67, Trung đoàn VC 165 tấn công đồn Tống Lê Chân gần Hớn Quản. Ngày 10/8/67, hành quân Không vận Đinh Tiên Hoàng 4/67 tại Bà Rịa, Phước Tuy. Ngày 29/8, các trại quân Mỹ tại Biên Hòa, bị pháo kích nhiều lần.  

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 12/7/67, hành quân Mỹ Colorado tại Long An có nhiều cuộc đụng độ lớn. Giao tranh cấp tiểu đoàn tại vùng Đông-Nam Cần Giuộc, Tân An. Ngày 23/7/67, Căn cứ Đồng Tâm của HK tại Mỹ Tho bị pháo kích. Ngày 26/7/67, Căn cứ quân sự Mỹ tại Phước Vĩnh, Bình Dương bị pháo kích. Ngày 29/7/67, Căn cứ Mỹ tại Lai Khê cũng bị pháo kích súng ci và hỏa tiễn 122 ly. Ngày 4/8/67, kết quả hành quân Cửu Long 64 tại Định Tường từ 27-7 trên 234 VC tử thương. Ngày 24/8/67, quân đội Mên bắn trọng pháo vào xã Vĩnh Xương quân Tân Châu, Châu Đốc làm 9 thường-dân VN chết và một số khác bị thương. Ngày 27/8/67, tỉnh lỵ Cần Thơ bị pháo kích dữ-dội làm 46 người chết và 268 bị thương. 

TẠI BIỆT KHU THỦ ĐÔ. Ngày 10/7/67, mìn định hướng nồ gần khách sạn Capitol đường Đồng Khánh, Chợ Ln. Ngày 4/8/67, theo tin Tổng nha Cảnh sát, 30 cán bộ của nhiều tổ đặc công VC đã bị bắt giữ tại Sài Gòn trong 10 ngày qua. Ngày 19/8/67, một thượng tá VC hồi chánh khai báo cho quân đội Mỹ khám phá một căn cứ quân sự gồm nhiều trại quân, một bệnh viện và một kho võ khí cách Sài Gòn 60 cây số về phía Tây.

 

Bài 237: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ TỪ THÁNG 9 ĐẾN THÁNG 10 NĂM 1967.

UỶ BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 15/9/67, có 4 sĩ quan cấp Tướng và 1 Đại tá Tĩnh trưởng bị thanh trừng. Ngày 2/10/67, Thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng, Tổng ủy viên Xây dựng Nông thôn, được cử làm Phó Tổng Tham mưu trưởng, phụ trách Địa phương quân và Nghĩa quân.

CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 1/9/67, hơn 114 kí vàng lậu bị tịch thu trên 2 phi cơ Lào tại Tân Sơn Nhứt. Ngày 14/9/67, theo Tổng cuộc Gia cư, tổng số nhà tại Đô thành hiện nay là 205.792 căn; và ở khắp miền Nam là 2.653.395 căn. Ngày 21/9/67, tại Bộ Tổng tham-mưu, lễ tiếp nhận 42 triệu Mỹ kim đồ hộp do quân đội và chính phủ HK tặng quân đội VNCH đề cải thiện đời sổng quân nhân VN. Ngày 23/9/67, ngưng chức, phạt trọng cấm 3 trung tá, 1 thiếu tá Tỉnh trưởng bị ngưng chức, thuyên chuyển; 2 thiếu tá Phó tỉnh trưởng Nội an bị ngưng chức và phạt trọng cấm; 1 đại úy, 1 trung uý Quận trưởng bị thuyên chuyển và phạt trọng cấm. Ngày 25/9/67, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ chủ toạ lễ đặt viên đá đầu tiên xây công cở tỉnh lỵ Tuyên Đức tại xã Tùng Nghĩa, quận Đức Trọng, cách Đà Lạt 33 cây số. Ngày 2/10/67, Nông dân mua ruộng truất hữu được miễn thuế điền thổ trong 12 năm kể từ ngày nhận ruộng.

Ngày 5/10/67, Ngân sách Quổc gia 1967 được ấn định lại là PHẦN CHI: 83 tỷ thay vì 75 tỷ, và PHẦN THU 66 tỷ thay vì 58 tỷ. Ngày 8/10, mưa lớn từ hai hôm nay tại Trung phần. Cầu Nam ô cách Đà Nằng 7 cây bị nước cuốn văng ra biển. Gần phi trường Phà Bài, một cầu khác cũng sập chìm. Cùng ngày 8/10Tỉnh lỵ Quảng Ngãi bị ngập nước, sập 12 cây cầu, 12 người chết, 540 căn nhà hư hại nặng hoặc bị nước cuốn trôi. Ngày 19/10/67, theo Sở Công chánh Đô thành, 320 cây số đường Sài Gòn bị hư hỏng 70%; Và 495 cây số thuộc Gia Định cũng ở tình trạng tương tự. Ngày 24/10/67, động viên từng phần nhân lực để đáp ứng nhu cầu quổc phòng. Hạn tuồi gọi nhập ngũ từ 18 đến 33; và 34 đến 45 đối với chuyên viên các ngành. (S.Luật 043/67 và S.L. 125/SL/QP). Cùng ngày 24/10/67, Khánh thành trường Trung học Kỹ thuật Thủ Đức do Tây Đức viện trợ, với kinh phí 37 triệu bạc, và dụng cụ trang bị trị giả 12 triệu. 

Ngày 29/10/67, Quy chế mới về nhân viên Ngoại giao và Lãnh sự: phải phục vụ 1 năm ở Bộ mới được cử ra ngoại quốc; thời gian phục vụ ở ngoài tối đa là 4 năm (S.L. 157/SL/NG). Ngày 29/10/67, Trường Cao đẳng Kiến trúc được biến cải thành Đại học Kỉển trúc Sài Gòn (S.L. 159/SL/GD).  

ỨNG CỬ, BẦU CỬ QUỐC HỘI VÀ TỔNG THỐNG. Ngày 2/9/67, chấm dứt cuộc vận động tranh cử Tổng thống và Thượng nghị sĩ. Ngày 3/9/67, hôm nay, bầu cử Tổng thống và Thượng nghị sĩ, nhiều vụ phá hoại xảy ra trên toàn quốc làm 65 người chết và 306 người bị thương. Ngày 3/9/67, Ứng cử viên Tổng thống Nguyễn Văn Thiêu hứa gửi đề nghị hòa đàm cho BV nếu được đắc cử. Ngày 4/9/67, đến sáng hôm nay Liên danh Nguyễn Văn Thiệu/Nguyễn Cao Kỳ dẫn đầu với 1.638.902 phiếu bầu, Liên danh Trương Đình Dzu/Trần Văn Chiêu 800.285 phiếu. Cuối cùng là Liên danh Trần Văn Lý/Huỳnh Công Dương 91.387 phiếu. Ngày 4/9/67, kết quả bầu cử Tổng thống (niêm yết tại Quốc hội lúc 19 giờ 30), Liên danh Nguyễn Văn Thiệu/Nguyễn Cao Kỳ đưọc 1.178.768 phiếu. Ngày 7/9/67, tất cả 8 Liên danh ứng cử Tổng thống thất cử họp báo trước trụ sở Quốc hội, và ký đơn khiếu nại về kết quả bầu cử bị coi là gian lận. 

Ngày 21/9/67, các ứng cử viên thất cử Tổng thống, Phan Khắc Sửu, Trương Đình Dzu, Vũ Hồng Khanh lại họp báo trước thềm Quổc hội, đòi hủy bỏ kết quả bầu cử ngày 3-9-67 vì gian lận. Ngày 18/9/67Hội đồng Tuyển cử Trung ương tuyên bố kết quả bầu cử Thượng nghị viện. Trúng-cử: các Liên danh Trần Văn Đồn (980.474 phiếu), Nguyễn Văn Huyền (631.616 phiếu), Nguyễn Gia Hiến (600.720 phiếu), Huỳnh Văn Cao (569.975 phiếu), Trần Văn Lắm (553.720 phiếu). Nguyễn Ngọc Kỷ (553.632 phiếu). Ngày 1/10, tính dến hôm nay, tổng số ứng cử viên Hạ nghị viện trên toàn quốc là 1.240 người, trong 53 đơn vị bầu cử cho 137 ghế. Ngày 22/10/67, bầu cử Hạ nghị viện VN trên toàn quổc, tỷ lệ đi bầu là 73%. Tại Đô thành, 57,8% cử tri đi bầu. 

QUỐC HỘI LẬP HIẾN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 5/9/67, Quốc hội tuyên bố kết quả tạm thời cuộc bầu cử Tổng thống, Liên danh Nguyễn Văn Thiệu/Nguyễn Cao Kỳ đắc cử với 1.649.561 phiếu. Liên danh Trương Đình Dzu/ Trần Văn Chiêu đứng hàng thứ 2 với 817.120 phiếu; Liên danh Trần Văn Lý/Huỳnh Công Dương chỉ có 92.604 phiếu. Ngày 6/9/67, kết quả tạm thời bầu cử Thượng nghị viện Liên danh Trần Văn Đôn dẫn đầu với 978.137 phiếu; Kế đến các Liên danh Nguyễn Gia Hiến, Nguyễn Văn Huyền, Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Ngọc Kỷ, Phan Bá Cầm, La Thành Nghệ, Trần Văn Lắm, Vũ Quốc Thúc, Mai Văn Lễ (521.297 phiếu). Ngày 8/9/67, tại Đô thành, có tới 301 ứng cử viên ra tranh 15 ghế Dân biểu Hạ nghị viện. Ngày 12/9/67, tính đến hôm nay, số ứng cử viên Hạ nghị viện lên tới 1.650 để tranh 137 ghế. (Được biết sẽ dành 6 cho Việt gổc Mên, 6 cho Thượng, 2 cho Chàm và 2 cho Thượng BV di-cư).

Ngày 15/9/67, Hội đồng Dân Quân, thành lập từ 5-7-1966 với 75 Hội viên nhóm họp và biểu quyết xin chẩm dứt nhiệm vụ. Ngày 1/10, tính dến hôm nay, tổng số ứng cử viên Hạ nghị viện trên toàn quốc là 1.240 người, trong 53 đơn vị bầu cử cho 137 ghế. Ngày 13/9/67, Quốc hội lưu nhiệm nhóm họp về kết quả bầu cử Tổng thng và Phó Tổng thống, có nhiều tỉnh, chưa kịp gửi hồ sơ đầy đủ, đúng hạn ngày 10-9-67. Chủ tịch QH tuyên bố: chưa thể công bổ kết quả chánh thức. Ngày 30/9/67, Uỷ ban Đặc bỉệt Quốc hội nhóm họp suốt đêm từ chiều qua, thông cáo có nhiều sự vi phạm luật lệ bầu cử Tổng thống, và biểu quyết đề nghị hủy bỏ kết quả cuộc bầu cử ngày 3-9-67, với 52 phiếu thuận, 13 chống. Ngày 2/10/67Quốc hội nhóm họp và biểu quyết thừa nhận kết quả bầu cử Tổng thống ngày 3-9-67, với 58 phiếu thuận, 43 phiếu chống, và 1 phiếu trắng, 4 phiếu không hợp lệ trên 107 dân biểu có mặt. Chủ tịch Quốc hội Phan Khắc Sửu không bỏ phiếu, và tuyên bố từ chức để phản đối sự hợp thức hóa kết quả bầu cử Tống thống. 

THƯỢNG NGHỊ VIỆN KHAI MẠC KHOÁ HỌP ĐẦU TIÊN. Ngày 11/10/67, Thượng nghị viện bầu ngày 3-9-67, khai mạc khoá họp tại Hội trường Diên Hồng, Sài Gòn. Ngày 12/10/67, trong phiên họp đầu tiên, Thượng nghị viện yêu cầu chánh phủ phóng thích một số phạm nhân và những người bị bắt giữ vì phản đối bầu cử gian lận. Ngày 19/10/67, Thượng nghị viện hợp thức hóa cả 60 nghị sĩ vừa đắc cử. 

LỄ NHẬM CHỨC CỦA TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU. Ngày 30/10, Lễ nhậm chức của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ trước Quốc hội đường Tự Do, Sài Gòn. Huy hiệu Tổng thống là hai con rồng bao quanh một cái khiên nền quổc-kỳ (S.L. 001/TT/SL) Ấn tín Tổng thống cũng mang huy hiệu đó (S.L. 002/TT/SL). Uỷ ban Hành pháp Trung ương từ chức. Luật sư Nguyễn Văn Lộc được cử làm Thủ tướng.   

TỴ NẠN, HỒI CHÁNH. Ngày 1/9/67, số cán binh VC trở về với chánh quyền quốc gia từ tháng 3-63 đến nay là 70.031 người. Ngày 16/10/67, theo Đặc ủy trưởng Tị nạn, tại các tỉnh miền Bắc Trung phần có 12 trại định cư với 10.000 dân, đương lo đói vì chỉ có thể tiếp tế bẳng trực thăng, mà phương tiện chuyên chở này rất thiếu. 

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 22/9/67, Cựu Tổng ủy viên Kinh tế Tài chánh Âu Trường Thanh bị mời đến Tổng nha Cảnh sát thẩm vấn về tin thân Cộng. Ngày 24/9/67, họp báo tại chùa Ấn Quang, cảc thượng tọa Thiện Luật, Từ Quang, Pháp Tri, Huyền Quang v.v... tham-dự, ra tuyên cáo phản đối Hiến chương Phật giáo mới, và tán thành cuộc vận động đòi hủy bỏ kết quả bầu cử Tổng thống ngày 3-9-67. Ngày 25/9, sau sinh viên Sài Gòn, hôm nay sinh viên Đại học Cần Thơ hội thảo và đòi hủy bỏ kết quả bầu cử Tổng thống ngày 3-9-67. Ngày 27/9/67, Vài trăm sinh viên thuộc Ủy ban Sinh viên Liên viện Đấu tranh Dân chủ nhóm họp tại trụ sở đường Duy Tân, Sài Gòn đòi hủy bỏ kết quả bầu cử Tổng thống ngày 3-9, và công kích HK đã xen lấn vào nội tình VN. 

Ngày 28/9/67, hồi 8 giờ hơn, các Thưọng tọa Trí Quang, Phảp Tri, Quảng Long, Pháp Lan cùng với 500 tăng ni thuộc phe Ấn Quang, tới trước dinh Độc Lập trao thư yêu cầu thu hồi Sắc luật 23/67 thừa nhận Hiến chương Phật giáo mới do Viện Hỏa Đạo đường Trần Quốc Toản soạn thảo; nhưng không chịu gặp Thượng tọa Tâm Châu. Đối thoại 20 phút giữa Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thượng tọa Thích Trí Quang. Các tăng ni ra về lúc quá trưa. Ngày 29/9/67, Văn phòng UBLĐQG thông cáo: chỉ thanh thỏa thỉnh nguyện của các giáo phái Phật giáo khi duyệt y Hiến chương mới, không xé Hiến chương cũ, không gây chia rẽ. Ngày 29/9/67, Hội đồng Dân tộc Cách mạng, nhóm bảc sĩ Nguyễn Xuân Chữ, thông cáo: quyết lập một Uỷ ban hòa giải đề dàn xếp vụ tranh chấp giữa Phật giáo và Chánh phủ. Ngày 29/9/67, Luật sư Trương Đinh Dzu bị Cảnh sát bắt giữ vì không chịu tới Biện lý cuộc theo giấy mời. 

Ngày 30/9, vài trăm sinh viên xuống đường và tụ tập trước Quốc hội, phá bảng công bố kết quả bầu cử, có xô xát với Cảnh sát. Ngày 20/10/67, Luật sư Trương Đinh Dzu lại bị tòa Sơ thẩm Sài Gòn tuyên phạt khuyết tịch lần thứ hai: 3 tháng tù ở về tội ký ngân phiếu không bảo chứng, và 6 tháng tù về tội chuyển ngân phi pháp

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 1/9/67, Bộ trưởng QP Mỹ McNamara xác nhận còn 50 mục tiêu tại khu vực Hà Nội, Hải Phòng và biên giới Hoa Việt chưa bị Không quân Mỹ oanh kích. Ngày 4/9/67, Đại sứ Mỹ Bunker tuyên bố cuộc bầu cử đã thành công có tới 83% cử tri đi bỏ phiếu, bất chấp sự đe doạ của VC. Ngày 7/9/67, Bộ trưởng QP McNamara cho biết quân độỉ HK trù tính thiết lập hàng rào điện tử để ngăn chận quân BV tràn qua vùng Phi quân sự. Ngày 7/9/67, Chánh phủ HK đề nghị 5 điểm hoà đàm đến các quốc gia sắp tham dự Đại hội Liên hiệp Quốc: (1) ngừng bắn và rút quân; (2) triệt thoái quân sự; (3) tôn trọng các biên giới quốc tế kề cả vùng phi quân sự; (4) mọi giải pháp về thống nhất do người VN giải quyết lấy không có sự can thiệp của bên ngoài; (5) kiểm soát quốc tế về thỏa ước hòa bình.

Cùng ngày 7/9/67, Bộ Quốc phòng HK cho biết sẽ xử dụng chất hoá học làm cho cây không mọc được tại vùng lập hàng rào điện tử ngăn chặn xâm nhập của BV. Ngày 8/9/67, Tổng thống Johnson gửi thư cho Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, tỏ ý hoan hỷ về cách diễn tiến và kết quả cuộc bầu cử ngày 3-9-67. Ngày 8/9/67, Ngoại trưởng HK xác nhận lần nữa, rằng không thừa nhận MTGPMN, không chấp nhận cho Trung Cộng vào Liên hiệp Quốc. Ngày 10/9/67, theo bảo New-York Times, trong 30 tháng qua, các phi cơ Mỹ đã oanh tạc 1.900 mục tiêu, và thực-hiện 13.000 phi xuất mỗi tháng, và 75% các vụ dội bom nhắm các trục giao thông. Ngày 13/9/67, Phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng HK tuyên bố: chỉ cho phép ném bom vài mục tiêu trong khu vực thành phố Hải Phòng, chứ không hề cho phép oanh tạc các cơ sở của thương cảng Hải Phòng.

Ngày 23/9/67, Trung tướng Lewis W. Walt, cựu Tư lịnh TQLG Mỹ tại VN, tuyên bố: muốn chiến thắng, phải đổ bộ lên BV. Ngày 29/9/67, khánh thành tòa Đại sứ mới của HK tại đường Thống Nhất, do Công ty RMK-BRJ xây cất tốn 2,6 triệu Mỹ kim tương đương 306,8 triệu bạc VN; 6 tầng, 240 phòng, dài 65 thước, rộng 15 thước xây gần 2 năm. Ngày 30/9/67, tại Mỹ, Tổng thống Johnson đọc diễn văn dài, nhắc lại chánh sách HK tại VN, và xác nhận: sẵn sàng gặp Hồ Chí Minh; sẵn sàng ngưng oanh tạc BV để thương thuyết, và mong rằng BV sẽ không lợi dụng cơ hội ngưng oanh kích đề tăng cường lực Iượng và tấn công ở miền Nam VN. Ngày 7/10/67, báo chí và chính giới HK bàn tán nhiều về ý kiến đổ bộ lên BV để chặn lối xâm nhập và pháo kích miền Nam. Ngày 9/10/67, Ban Chấp hành đảng Dân chủ HK biểu quyết tín nhiệm Tổng thổng Johnson và đề cử ông ra tranh cử Tổng thống cuối năm 1968. 

Ngày 17/10/67, Johnson lại tuyên bố: HK quyết tâm chiến đấu đến cùng tại VN. Ngày 26/10/67, tổng số phi cơ Mỹ bị bắn rớt tại BV là 717 chiếc. Tổng số Mig BV bị phi cơ Mỹ bắn hạ 92 chiếc. Ngày 29/10/67, từ khi HK tham chiến tại VN 1-1-61 đến nay, có 14.266 quân nhân tử thương, 805 mất tich hoặc bị bắt, 90.417 bị thương. Số quân nhân VNCH năm 1965: tử thương 11.243; Năm 1966: 9.459; Nữa năm 1967: 5.508. Có 126 phi vụ oanh tạc BV.

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 20/9/67, tổng số quân Đồng minh tham chiến tại Việt Nam: Hoa Kỳ: 465.000; Đại Hàn: 45.000; Úc: 6.000; Tân Tây Lan: 4.000; Phi Luật Tân: 2.000 người. Ngày 17/10/67, Lễ tiếp đón 2.300 quân thuộc Trung đoàn Mãng Xà Queen Cobra Thái Lan, và được đưa đến ấp Phú Hội, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa, nơi trung đoàn phụ trách bình định. Tân Tây Lan vừa đưa Đội pháo binh thứ hai (179 người) đến VN nâng  số quân nước này lên 546 người. Úc Đại Lợi cũng đưa thêm sang VN 1.000 quân. Tổng số quân Úc sẽ lên tởi 8.000 người. 

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 4/9/67, trong 22 quan sát viên HK và 93 quan sát viên của 21 quốc gia đều nhận rằng cuộc bầu cử có nhiều dấu hiệu tự doNgày 16/9, U-Thant lại họp báo và vẫn nhắc lại ý kiến cũ: Mỹ phải ngưng oanh tạc không điều kiện thì mới có thể hòa đàm với BV. Ngày 22/9/67, Đại sứ HK Goldberg lại đưa đề nghị hòa đàm trước Đại hội Liên-hiệp Quổc, và xác nhận Mỹ sẵn sàng ngừng oanh tạc nếu đối phương cũng có hành động quân sự tương xứng. Ngày 23/9/67, tại Liên hiệp Quốc, Nga Sô bác bỏ đề nghị của Anh triệu tập lại Hội nghị Genève đề giải quyết vấn đề VN. Ngày 23/9/67, trước 40.000 tụ tập trước điện Vatican, Giáo-hoàng Paul VI ngỏ ý bi quan vi hy vọng hòa bình tại VN đã tiêu tan và chiến tranh lại leo thang. Ngày 27/9/67, sau khi hội đàm với các ngoại trưởng Nga và Mỹ, cùng Tổng thống Johnson, ngoại trưởng Anh George Brown tỏ ý bi quan về viễn ảnh hòa bình tại VN, không hy vọng gì về thương thuyết. 

Ngày 5/10/67, trong tuần qua, có 49/55 diễn giả đại diện các Quốc gia tại Đại hội Liên hiệp Quổc, đã lên tiếng kêu gọi chấm dứt chiến tranh tại VN, một nửa đòi ngưng oanh tạc BV. Ngày 14/10/67, tại Liên hiệp Quốc, 46/110 quốc gia chống oanh tạc BV và quá nửa các nước đòi trở lại Hiệp định Genève1954. Ngày 15/10/67Công ty Hàng không CITCA không nhận chuyên chở Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến tại VN nữa, vì Uỷ hội còn thiếu nợ của Công ty 806.000 Mỹ-kim; HK đã không còn đóng góp gì cho Ủy hội, Anh chỉ đóng một phần. Ngày 18/10/67, Chủ tịch Đại hội Liên hiệp Quốc, Ngoại trưởng Lỗ Ma Ni, Manéscu tuyên bố, ngưng oanh tạc BV là điều kỉện tiên quyết đề đi tới hòa đàm về VN.     

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 2/9/67, Phạm Văn Đồng lại lên tiếng đòi hỏi chấm dứt các cuộc oanh kích BV. Ngày 8/9/67, Phạm Văn Đồng tuyên bố, Mỹ phải ngưng oanh tạc BV không điều kiện trước khi nói tởi hòa đàm. Ngày 23/9/67, Nga Sô quyết định tăng viên trợ cho BV. Ngày 30/9/67, Nga Sô bác bỏ đề nghị của Tổng thống Johnson: lập trường cũ, không có gì thay đổi trong chánh sách của HK tại VN. Ngày 4/10/67, theo giới quân sự HK, hình như một số lớn quân BV đã rút về phía bên kia sông Bến Hải. Ngày 25/10/67, chánh phủ Trung Cộng kêu gọi Vệ binh Đỏ trở về trường học, sau một năm tạm ngưng việc học để làm Cách mạng Văn hoá. 

KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 1/9/67có 72 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 2/9/67, trong ngày có 58 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 3/9/67, có 58 phi vụ oanh tạc BV, không chiến gần Hà Nội. Ngày 4/9, có 127 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 6/9/67có 64 phi vụ oanh tạc BV.. Ngày 7/9/67có 146 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 10/9/67có 125 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 11/9, có 110 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 12/9/67có 84 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 13/9/67, có 137 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/9/67có 71 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/9/67có 97 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/9/67có 91 pbi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/9/67có 109 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/9/67có 79 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/9/67có 69 phi vụ oanh tạc BV, không chiển cách Hà Nội 27 cây số về phía Bắc. Ngày 20/9, có 91 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/9/67, có 115 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 22/9/67có 85 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/9/67, có 74 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 25/9/67có 124 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/9/67có 159 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/9/67có 150 phi vụ oanh tạc BV. B-52 tiếp-tục dội bom quanh Cồn Tiên. Ngày 29/9/67, có 68 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 30/9/67, có 123 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/10/67, có  99 phi vụ oanh-tạc BV. Từ 26-9 đến 2/10/67, phi cơ B-52 của HK đã phá tan 109 căn cứ, kho đạn, kho dầu của BV trên vùng Phi quân sự. Ngày 2/10/67có116 phi-vụ oanh tạc BV. Ngày 3/10/67có 106 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 4/10/67có118 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 5/10/67, có 134 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 6/10/67có 129 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 7/10/67có 126 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 8/10/67có 101 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/10/67, có 94 phi vu oanh tạc BV, 1 phi cơ F-105 Mỹ bị 1 Mig-21 BV bắn rớt trong một cuộc không-chiến gần Hà Nội. Ngày 10/10/67có 93 phi vụ oanh-tạc BV. Ngày 11/10/67có 143 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 13/10/67có 154 phi vụ oanh tạc BV. B-52 tiếp tục dội bom vào các cơ sở quân sự phía Bắc khu Phi quân sự. Ngày 14/10/67có 105 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/10/67có 110 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/10/67, có 100 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 19/10/67, có 77 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 20/10/67, có 51 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/10/67có 91 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 22/10/67, có 113 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/10/67có 105 phi vụ oạnh tạc BV. Ngày 25/10/67, có 125 phi vụ oanh tạc BV. Không chiến trên không phận Hà Nội, 1 Mig-21 của Mỹ bị F-4 BV bắn rớt. Ngày 26/10/67có 142 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/10/67có 144 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/10/67có 107 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 30/10/67có 138 phi vụ oanh tạc BV.      

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 1/9/67, kịch chiến với chừng 4.000 quân BV tiếp tục ở thung lũng Quế Sơn, Quảng Tín. B-52 vẫn dội bom xuống vùng Phi quân sự. Ngày 5/9/67, giao tranh kịch liệt gần Tam Kỳ, Quảng Tín. Ngày 1/9/67, Căn cứ Mỹ ở Cồn Tiên, Quảng Trị bị pháo kích dữ dội. Ngày 6/9/67, Tỉnh ly Quảng Tín bị tấn công rất mạnh. Sau 3 giờ kịch chiến, VC bỏ lại 219 xác, bị bắt 16. Ngày 7/9/67, hành quân Liên Kết 116 mở tại quận Thăng Binh, Quảng Tin. Ngày 7/9/67một tiểu đoàn BV phục kích một đoàn công voa Mỹ gần Khe Sanh, Quảng Trị; nhưng bị phản công và bỏ lại 92 xác. Ngày 10/9/67, một tiểu đoàn BĐQ bị VC tấn công gần quận Thăng Bình, Quảng Tin. Ngày 12/9/67, Các căn cứ HK tại Quảng Trị bị pháo kích dữ dội. Ngày 14/9/67, vẫn còn tiếp tục giao tranh kịch liệt gần Tam Kỳ. 

Ngày 14/9/67, B-52 dội bom với cường độ mạnh vào vùng Phi quân sự để ngăn sự xâm nhập của 3 sư đoàn BV. Các chiến hạm HK cũng pháo kích tiếp sức. Ngày 15/9/67, Các căn cứ Mỹ tại Đông Hà bị pháo kích. Ngày 16/9/67, hành quân Balistic Charge của TQLC Mỹ tại vùng phía Bắc Quảng Tín. Ngày 17/9/67, Hành quân Pershing và đụng độ mạnh tai thung lũng An Lão, Bồng Sơn. Ngày 18/9/67, TQLC Mỹ mở cuộc hành quân Balistic Charge khu vực Bắc Quảng Tín. Ngày 19/9/67, Các căn cứ Mỹ tại Gio Linh và Cồn Tiên lại bị pháo kích. B-52 tiếp tục dội bom gần vùng Phi quân sự. Ngày 22/9/67, các căn cứ Mỹ tại Cồn Tiên, Gio Linh vẫn bị pháo kích và tấn công nhiều lần trong ngày. Ngày 25/9/67, các căn cứ TQLC Mỹ Carrol và cồn Tiên bị pháo kích dữ dội. B-52 tiếp tục dội bom phía Bắc vùng Phi quân sự để phá hủy các ổ súng đại bác BV. Ngày 25/9/67giao tranh kich liệt cách Tam Kỳ 12 cây số về phía Tây-Bắc. 

Ngày 26/9/67, Căn cứ Cồn Tiên bị pháo kích hơn 1.000 trái đạn. Quân Mỹ bắn trả sang phía BV hơn 10.000 đạn đại bác. B-52 vẫn dội bom xuống vùng Phi quân sự. Ngày 27/9/67, hành quân Lam Sơn 131 Việt-Mỹ, tại giảp giởi vùng Phi quân sự. Ngày 28/9/67, giao tranh kịch liệt giữa một đại đội TQLC Mỹ bị phục kích với quân BV gần Cồn Tiên. Ngày 30/9/67, giao tranh kịch liệt cách Tam Kỳ 28 cây sổ về phía Tây. Ngày 3/10/67, Huế bị pháo kích bằng nhiều trái đạn cở lớn. Ngày 4/10/67, hành quân Wallowa mở tại phía Tây-Bắc Tam Kỳ, Quảng Tín. Ngày 7/10/67, hành quân tại quân Vinh Lộc, Thừa Thiên. Ngày 7/10/67, B-52 oanh tạc phía Bắc khu Phi quân sự để triệt hạ các ổ súng lớn của BV. Ngày 8/10/67, giao tranh kịch liệt gần thung lũng An Hòa, Quảng Tín. Ngày 10/10/67, hơn 3.000 TQLC Mỹ được gửi tới tăng cường phòng thủ vùng Phi quân sự gần Quảng Trị. 

Ngày 11/10/67hành quân King Fisher tại Quảng Trị. Căn cứ Cồn Tiên bị pháo kích dữ dội. B-52 vẫn dội bom phỉa Bắc vùng Phi quân sự. Ngày 13/10/67các căn cứ Mỹ tại Quảng Trị, bị pháo kích dữ dội. Ngày 14/10/67, một tiểu đoàn quân BV pháo kích, và tấn công kịch liệt váo căn cứ Mỹ ở Cồn Tiên. Ngày 21/10/67, giao tranh kịch liệt cách Hội An 12 cây sổ về phía Nam. Ngày 21/10/67hành quân Lam Sơn 138/XDNT tại Quảng Trị. Ngày 23/10/67, trên 3.600 binh sĩ HK vừa sang VN, được đưa tới tăng cường lực lượng tại mặt trận Quảng Trị. Ngày 23/10/67giao tranh kịch liệt cách Tam Kỳ 21 cây số về Tây-Bắc. Ngày 26/10/67nhiều cuộc giao tranh dữ dội, giữa 5 đại đội Mỹ và 2 tiêu đoàn VC phía Tây Bắc Tam Kỳ. Ngày 29/10/67, hành quân Kentucky tại Tây Bắc Quảng Trị. Ngày 29/10/67hành quân Scotland mở tại Tây Nam Quảng Trị.         

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 16/9/67, Thành phố Tuy Hòa bị pháo kích. Ngày 19/9/67, hành quân Billing tại thung lũng sông Đà Rằng, Phú Yên. Ngày 3/10/67, giao tranh kịch liệt với Trung đoàn 95 BV tại cuộc hành quân Francis Marion về phía Đông Nam PleikuNgày 12/10/67hành quân Mac Arthur mở tại Pleiku, Darlac và Phú Bổn.  

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 1/9/67kịch chiến gần núi Bà Đen, Tây Ninh. Ngày 18/9/67, hành quân Arkansas ở ranh giới Phước Tuy, Long Khánh, Biên Hòa. Ngày 18/9/67, Căn cứ pháo binh Mỹ tại Hậu Nghĩa bị pháo kích. Ngày 23/9/67, hành quân Bluefield tại Bình Dương. Ngày 28/9/67, hành quân Kole Kole tại Hậu Nghĩa, giữa sông Vàm Cỏ Đông và biên giới Việt Miên. Ngày 2/10/67, hành quân Xây Dựng 67/9 gần quận Châu Thành, Bình Long. Ngày 4/10/67giao tranh kịch liệt tại phía Nam Bình Dương. Ngày 11/10/67, hành quân Aron 3 tại Phước Tuy. Ngày 16/10/67, Quận lỵ Đức Hoà, Hậu Nghĩa, bị pháo kích dữ dội. Ngày 17/10/67, giao tranh kịch liệt giữa một tiểu đoàn Mỹ và vài tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 241 VC tại một khu rừng thuộc tỉnh Bình Long. Ngày 26/10/67, Đồn Phước Hoà, Phước Long bị tấn công rất mạnh. Ngày 28/10/67trung đoàn 763 VC tấn công đồn Địa phương quân Lộc Ninh.     

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 7/9/67, hành quân Dân Chí 300-A/SD tại Kế Sách, Ba Xuyên. Ngày 12/9/67, hành quân Mỹ Coronado II tại Mỹ Tho. Ngày 14/9/67giao tranh dữ dội tại Định Tường. Ngày 15/9/67, hành-quân Conorađo tại Rạch Bà, Định Tường, giao tranh cấp với tiểu đoàn VC. Ngày 16/9/67, giao tranh kịch liệt cấp tiểu đoàn gần Mỹ Tho. Ngày 16/9/67, Tỉnh lỵ Mỹ Tho bị pháo kích. Ngày 4/10/67hành quân Cửu Long 66/11 tại Đông Bắc Cai Lậy, Định Tường. Ngày 6/10/67, giao tranh kịch liệt tại phía Tây căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho. Ngày 8/10/67, Căn cứ Mỹ tại Đồng Tâm, Mỹ Tho bị pháo kích, 28 quân nhân Mỹ bị thương. Ngày 11/10/67, hành quân Cửu Long 66/SĐ tại Cai Lậy, Định Tường. Ngày 12/10/67, Tỉnh ly Châu Đốc bị pháo kích. Ngày 26/10, tỉnh lỵ Mỹ Tho bị pháo kích. Ngày 26/10/67, hành quân Cửu Long 67/SB tại Kiến Hòa.      

TẠI BIỆT KHU THỦ ĐÔ. Ngày 30/10/67, tại Dinh Độc lập, hồi 7 giờ 15 tối, giữa lúc có tiệc trà mừng ngày nhậm chức của Tổng thống và Phó tổng thống 4 trái đạn sáng cối 60 ly bắn vào vườn Dinh và đường Nguyễn Du cạnh dinh.  

 

CHÍNH QUYỀN BA

Bài 238: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN LỘC TỪ THÁNG 11 ĐẾN THÁNG 12 NĂM 1967.

TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 6/11/67, Biên bản công chứng về việc tuyên thệ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 30-9-1967, phải trước bạ, và thuế trước bạ là 24$. Ngày 25/11/67, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: đã cậy nhiều quổc gia chuyển thư cho BV về vấn đề nghị hoà. Ngày 2/12/67, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố tại Đà Lạt: không ai bắt buộc VN hạn chế chiến tranh. Ngày 20/12/67, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu xác nhận: có thể tiếp xúc với những cá nhân thuộc MTGPMN, nhưng chỉ coi họ là thành phần của BV. Chỉ nhận thương thuyết với BV mà thôi. Ngày 24/12/67, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ Úc trở về, tuyên bố: không hề có sự bất đồng giữa hai Tổng thống VNCH và HK về lập trường đối vởi VC; không bao giờ thừa nhận MTGPMN. Ngày 27/12/67Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: liên hiệp với MTGPMN, là tự sát; không bao giờ nhìn nhận MTGPMN là một tổ chức hợp pháp.

CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN LỘC, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 9/11/67, Lễ trình diện chánh phủ Nguyễn Văn Lộc tại dinh Độc Lập. THÀNH VIÊN NỘI CÁC: Thủ tướngLuật sư Nguyễn Văn LộcTổng trưởng Ngoại giaoBác sĩ Trần Văn ĐỗTổng trưởng Quốc phòng, Trung tướng  Nguyễn Văn Vỹ Tổng trưởng Nội vụTrung tướng Linh Quang ViênTổng trưởg Xây dựng Nông thônTrung tướng Nguyễn Đức ThắngTổng trưởng Tài chánh, Lưu Văn TínhTổng trưởng Kinh tếTrương Thái TônTổng trưởng Văn hóa Giáo dục, Giáo sư Tăng Kim Đồng; Tổng trưởng Canh Nông Điền địa,Tôn Thất TrìnhTổng trưởng Chiêu hồi, Nguyễn Xuân PhongTổng trưởng Giao thông Vận tảiLương Thế SiêuTổng trưởng Công chánh, Bửu Đôn; Tổng trưởng Y tếBác sĩ Trần Lữ YTổng trưởng Xã hội và Tỵ nạnBác sĩ Nguyễn Phúc Quế Tổng trưởng Cựu chiến binhBác sĩ Nguyễn Tấn Hồng; Tổng trưởng Lao động, Giáo sư Phó Bá Long; Tổng trưởng Phát triển Sắc tộcPaul NurTổng trưởng Tư phápHuỳnh Đức BửuBộ trưởng Phủ Thủ tướngĐoàn Bá CangBộ trưởng liên lạc Quốc hội, Cao Văn Tường; Thứ trưởng Ngoại giao, Phạm Đăng Lâm; Thứ trưởng Giáo dục đặc trách Đại học và Chuyên mônTrần Lưu CungThứ trưởng Giáo dục đặc trách Đệ nhị, Đệ nhất và Phổ thôngLê Trọng VinhThứ trưởng Giáo dục đặc trách Thanh niên học đườngHồ Thới SangThứ trưởng Văn hóa, Bùi Xuân Bào; Thứ trưởng Thương mạiNguyễn Chánh LýThứ trưởng Công kỹ nghệVõ Văn Nhung.

Ngày 13/11/67Lễ bàn giao công việc Phủ Chủ tịch UBHPTƯ cho tân chánh phủ Nguyễn Van Lộc lại dinh Độc Lập.Ngày 14/11/67Bộ Thông tin được đổi thành Nha Tổng giám đốc Thông tin trực thuộc phủ Thủ tướng. Ngày 16/11/67, Chánh phủ VN hoãn việc hành quyết 3 tử tội VC. Hà Nội đe dọa sẽ trả đủa vào tù binh Mỹ. Ngày 20/11/67, Tòa án Quân sự vùng III xử vụ đảo chính hụt ngày 19-2-1965: tha bổng 1 đại tá, 1 trung tá và 1 thiếu tá bị phạt 3 và 6 tháng tù treo.Ngày 22/11/67, theo Bộ Lao động, hiện có 132.712 người VN và 16.851 người quốc tịch khác giúp việc các cơ sở công, tư HK. Ngày 24/11/67, theo Bộ Thương mại, mùa lúa miền Hậu giang tốt hơn mùa năm ngoái sẽ cung cẩp cho Đô thành 300.000 tn thay vì 200.000 năm 1967. Ngày 25/11/67, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc cho biết: Nội các còn đương thời kỳ tổ chức các cơ sở, nên chưa thực sự bắt tay vào các chương trình hoạt động quy mô.

Ngày 28/11/67, giá vàng chính thức tại Sài Gòn: 8.000$/lượng. Nhưng vàng đồ 10.800$, vàng lá 9.000$. Ngày 21/12/67, theo Trung tâm Khuếch trương Kỹ nghệ, thì kỹ nghệ dệt hiện nay là ngành phát đạt nhất tại VN, với 8 nhà máy dệt 68 triệu thước vải hàng năm và 2 nhà máy dệt 10 triệu thước tơ bông cùng tơ hóa hợp: 30 triệu Mỹ kim trang-bị, doanh vụ 3 tỷ bạc, 10.000 công nhân. Ngày 15/12/67, Chánh phủ VNCH thông cáo: sẽ ngừng bắn trong dịp lễ Giáng sinh từ 18 giờ ngày 24-12-67 đến 18 giờ ngày 25-12-67; và 24 giờ vào dịp 1-1-68; 48 giờ vào dịp Tết Nguyên đán. Cùng ngày 15/12/67, Đài phát thanh VC loan báo, sẽ hưu chiến 13 ngày: 3 ngày nhân dịp Giáng sinh; 3 ngày nhân dịp đầu năm 1968; và 7 ngày vào dịp Tết Nguyên đán. Ngày 26/12/67trong hai năm qua, Tổng đoàn Công Kỹ nghệ đã xây dựng được 15 cơ xưởng tại khu Kỹ nghệ Biên Hòa, với kinh phí 97.500.000$.

 Ngày 28/12/67, tại Chợ Lớn, Tổng nha Cảnh sát khám phá một tổ chức in giấy bạc và đô la Mỹ giả với nhiều dụng cụ tối tân, thu giữ 250.000 Mỹ-kim giả. Ngày 30/12/67, ký kết các văn kiện tiếp thu công ty thủy điện CEE của Công ty Pháp, theo đó, Chánh phủ VN thuận trả cho Công ty CEE số tiền 973.999.000$, trả làm hai đợt: 50% được chuyển ngân, 50% trả bẳng bạc VN. 27 chuyên viên Pháp được tạm lưu dụng.  

HẬU BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNGNgày 19/12/67, Toà án Quân sự Mặt trận Biệt khu Thủ-đô và Vùng III Chiến thuật xử vụ biến động miền Trung hồi thảng 3-1966 gồm 26 bị can từ Trung sĩ trở lên, trong đó có trung tá Trần Văn Mô, đại tá Đàm Quang Yêu, và Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn. Ngày 22/12/67, Tòa án Quân sự Mặt trận tuyên phạt vụ biến động miền Trung 2 án 10 năm khổ sai, và 2 án 10 năm tù ở đối với 1 Bác sĩ và 3 Sĩ quan. 22 bị can khác được tha bổng.

MỘT VIỆT CỘNG ĐỊNH VÀO LIÊN LẠC VỚI GIỚI NGOẠI GIAO MỸ. Ngày 1/12/67, báo chí tại Sài Gòn loan tin: có một số đại diện MTGPMN vô thủ đô tiếp xúc với Tòa Đại sứ HK, đã bị Cảnh sát VN bắt, nhưng được thả ra vì có sự can thỉệp của tòa Đại sứ Mỹ. Cùng ngày 1/12/67, tòa Đại sứ HK tuyên bố: không hề có sự tiếp xúc với đạỉ diện nào của VC. Thế nhưng, Bộ Ngoại giao Mỹ xác nhận: có thể có cuộc tiếp xúc với các đại diện MTGPMN, nhưng hạn chế trong vấn đề tù binh HK mà thôi. Ngày 4/12/67, Bộ Ngoại giao VNCH thông cáo: chỉ có thể thương thuyết với BV; Cương quyết không chấp thuận MTGPMN dưới tư cách và danh nghĩa một phái đoàn riêng biệt trong bất cứ cuộc hội đàm nào; Nhân dân VN không thể nào chấp thuận những sự dàn xếp có tính cách phản bội lại xương máu của tất cả chiến sĩ quốc gia đã anh dũng bỏ mình cho sự sinh tồn tự lập của một miền Nam VN độc lập.

Ngày 5/12/67, tại dinh Độc Lập, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc cho các nhà báo biết, một VC định vào liên lạc với giới ngoại giao HK tại Sài Gòn đã bị cảnh sát bắt giữ. Ngày 7/12/67, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ tuyên bố: không tin rng HK liên lạc với đại diện MTGPMN ngay tại Đô thành. Ngày 14/12/67, Bộ Ngoại giao VNCH thông cáo: MTGPMN chỉ có thể đứng trong phái đoàn BV để ra trước Liên hiệp Quốc. Liên hiệp Quốc có thể mời đại diện của MTGPMN với tư cách cá nhân. Song ở mọi trường hợp, phải có sự hiện diện của pháỉ đoàn VNCH, nếu không, mọi quyết định về VN sẽ vô giá trị và không ràng buộc chánh phủ VNCH. Cùng ngày 14/12/67, tại phi trường Vị Thanh, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố không chấp nhận bất cứ một hình thức liên hiệp nào với Cộng sản. 

QUỐC HỘI ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 21/11/67, có 51 Dân biểu Hạ vỉện họp thành khối “Phục-hưng Xử-sở”, chủ trương xét lại vị trí quốc gia, tranh thủ chủ quyền, thực hiên đoàn kết, phục hưng kinh tế, phục hồi văn hoá giáo dục, thực hiện ngoại giao mạnh. Ngày 18/12/67, Tổng trưởng Quốc phòng, tướng Nguyễn Văn Vỹ tuyên bố trước Thượng nghị viện: không thể rút hoặc hoãn thi hành sắc luật về động viên từng phần. Ngày 19/12, với 46/47 phiếu Thượng viện không thỏa mãn lời giải thích của Tổng trưởng Quốc phòng Nguyễn Văn Vỹ về Sắc luật động viên từng phần. 

TỴ NẠN CỘNG SẢN, VÀ CÁN BINH CỘNG SẢN HỒI CHÁNH. Ngày 21/11/67, theo Bộ Xã hội, hiện có chừng 2,5 triệu đồng bào tị nạn Cộng sản tại 500 địa điểm định-cư, 200 địa điểm tạm trú, 150 lớp học, hơn 6.000 người được huấn nghệ. Ngày 24/12/67, hơn 1.200 quy chánh viên nhóm họp đại hội tại rạp Thổng Nhất, Sài Gòn, và quyết nghị lập hội Ái hữu tương trợ. Tính đến 31/12/67, số thường dân bị sát hại: 4.080; bị thương: 8.072; bị bắt cóc: 5.554. Số cán binh VC trở về hàng ngũ Quổc gia: 27.178 người. 

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 11/11/67, Uỷ ban Bảo vệ Hiến chương Phật gíao họp báo tại chùa Ấn Quang, đòi thu hồi Hiến chương mới, có thể đưa vụ này ra trước Pháp luật. Ngày 16/12/67trường Đại học Văn khoa có cuộc trình diễn văn nghệ, hai thanh niên và thiếu nữ của MTGPMN trà trộn bất ngờ nhảy lên diền đàn giật máy vi âm tuyên bố kỷ niệm 7 năm MTGPMN, và bắn trọng thương sinh viên Ngô Vương Toại lúc anh này định giật lại máy vi âm. Ngày 18/12/67, Sinh viên Văn khoa tổ chức cuộc họp báo lên án vụ khủng bố của VC trong buổi trình diễn văn nghệ tối 16-12. Ngày 30/12, sau 3 buổi họp, đại diện Công giáo, Cao đài, Hòa hảo, Tổng giáo hội Phật giáo và hội Khổng học ra bản hiệu triệu kêu gọi ngừng chiến và hòa đàm.     

QUAN HỆ MỸ-VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 1/11/67, Tổng thống Johnson lại xác nhận tiếp tục chính sách của HK tại VN cho tói khi Hà Nội chịu nghị hòa. Cùng ngày 1/11/67, Phi cơ C-118 chở Phó tổng thống HK ra thăm vùng Phi quân sự, phải đáp xuống Phú Bài vì bị trúng đạn. Ngày 4/11/67, theo Bộ trưởng QP Mỹ, McNamara, kề từ tháng 2-1968, HK sẽ hoàn thành h thống Radar “xa quá chân trời” đề biết trước 15 phút các vụ oanh tạc từ quỷ đạo bằng bom không gian. Ngày 10/11/67, Hoa Kỳ đương thương lượng tăng viện trợ từ 60 triệu lên 110 triệu Mỹ kim cho Thái Lan với điều kiện Thái gửi 1 sư đoàn nữa sang tham chiến tại VN. Cũng ngày 10/11/67, tổng số phi cơ Mỹ bị bắn rớt trên không phận BV là 735. Ngày 12/11, tổng số thiệt hại của HK từ đầu năm 1966 ti nay là 14.621 chết, 48.565 bị thương, 826 mất tích. Ngày 14/11/67, Thái Lan báo tin sẽ gửi sang VN một lực lượng chừng 20.000 quân do HK võ trang. 

Ngày 15/11/67, Tổng thống Johnson thảo luận với đại sứ Bunker, tướng Westmore­land và các cố vấn về vấn đề VN, đề duyệt lại kết quả chiến đấu và chánh sách cần theo. Tướng Westmoreland xin tăng quân số Mỹ tại VN từ 468.000 lên 525.000 trước tháng 6-1968. Ngày 17/11/67, Hoa Kỳ lập cầu không vận nang tên hành quân Screaming Eagle chuyển từ Mỹ sang VN 10.000 quân thuộc Sư-đoàn 101 Nhảy Dù; 5.118 tấn dụng cụ, và 37 trực thăng sẽ kết thúc ngày 29-12-67. Ngày 24/11, Bộ Quốc phòng HK xét việc cung cấp cho quân đội VNCH 225.000 súng M-16. và M-60, là các loại vũ khí tối tân cho bộ binh. Ngày 28/11/67, cựu Tổng thống Eisenhower tuyên bố: cần chiếm đóng vùng Phi quân sự và truy kích Cộng quân vào Lào, Mên và Trung Cộng nếu cần. Ngày 30/11/67, tổng số thiệt hại của Mỹ kể từ khi Mỹ lâm chiến: 15.058 tử thương, 94.469 bị thương, 914 mất tích, 758 phi cơ bị bắn rớt ở BV, 215 tại miền Nam, 828 bị phá hủy ở mặt đất.

Ngày 4/12/67, theo Ngũ giác đài, HK đã thả xuống BV và miền Nam VN: 1.630.500 tấn bom từ tháng 7/1960 đến 15-11-1967 so với 1.544.463 tấn thả xuống Âu-châu trong Thế chiến II; 635.000 tấn thả xuống Hàn quốc; và 502.781 tấn xuống Thái bình Dương. tương đương 53% bom thả xuống BV. Ngày 5/12, theo Bộ Quốc phòng HK, 2.956 phi cơ và trực thăng đã bị tổn thất tại VN tương đương 3 tỷ Mỹ-kim. Ngày 12/12/67, tại Mỹ, Mục sư Martin Luther King, thành viên Ủy ban Vận động thương thuyết mang thỉnh nguyện thư có 500.000 chữ ký gửi Liên hiệp Quốc yêu cầu can thiệp ngưng oanh tạc BV và kêu gọi ngừng bắn. 

Ngày 19/12/67, Tổng thống Johnson tuyên bố tán thành lập trường của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: tiếp xúc không chánh thức với phái viên của MTGPMN nhưng không thừa nhận Mặt trận này. Đồng thi, ông đưa ra 4 điều kiện tiên quyết đễ hòa đàm: ngừng bắn ở vùng Phi quân sự; thương thuyết về vấn đề thống nhất; quân BV rút khỏi xứ Lào; s dân sống trong vùng do VC kiểm soát phải được hưởng quyền tự đo theo Hiến pháp. Ngày 22/12/67, Phát ngôn viên tòa Bạch ốc cải chính tin đồn có sự bất đồng ý kiến về vấn đề hòa bình, giữa hai Tổng thống HK và VNCH. Cùng ngày 22/12/67, theo nhiều dư luận báo chí thì Tổng thống Johnson muốn có tiếp xúc với MTGPMN nhiều hơn Tổng thống Nguyễn Văn Thiêu. Báo Newsweek còn cho rằng HK có thể theo đường lối  hòa bình riêng, nếu VNCH từ chổi. Ngày 23/12/67, sau khi dự lễ cầu hồn cho cố Thủ tướng Úc, Tổng thống Johnson ghé qua Thái Lan, rồi sang Cam Ranh ủy lạo quân đội Mỹ trong 2 giờ. 

Ngày 24/12/67, trong cuộc tiếp kiến Tổng thống Johnson, Giáo hoàng đã yêu cầu ngưng oanh tạc BV. Tổng thống Johnson trình bày đã ngưng oanh lạc 5 lần, nhưng không có hiệu quả. Ngày 24/12/67, theo Viện Thống kê Harris, thì hiện nay 63% dân chúng HK chống ngưng oanh tạc BV; 49% tán thành để bộ lên BV; 63% đồng ý phải tăng chiến đấu; 66% đòi VNCH gánh nhiều hơn trảch nhiệm về chiến tranh. Ngày 24/12/67, Cựu Tổng thống Eisenhower lại nhắc “nếu HK rút khỏi VN thì cả Đông Nam Á sẽ lọt vào tay Cộng sản”. Ngày 26/12/67, theo tướng Westmoreland, trong năm 1967, BV và VC đã tổn thất 80.000 quân. Ngày 29/12/67tổng số thiệt hại của quân đội Mỹ tại VN từ 1-1-1961: 15.812 tử thương, 52.665 bị thương, 866 mất tích. Tổng số phi cơ bị hạ trên không phận BV: 771.

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH TỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 20/12/67, Lữ-đoàn 11 Bộ-binh HK (Jungle Warriors) 4.300 người, đồ bộ lên Qui Nhơn. Quân số HK hiện nay lên tới 475.000 người. Ngày 23/12/67, Lực lượng Đồng minh tại VN: HK: 478.000; Úc, Đại Hàn, Thái Lan, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân: 60.000. VNCH: gần 700.000. Theo ước lượng của HK, thì VC và BV có từ 223.000 đến 248.000. Tính đến 31/12, tổng số quân Mỹ tại VN: 486.000 (31-12-66 là 389.000); Tổng số quân Đông-minh: Đại Hàn, Tân Tây Lan, Úc, Thái và Phi là 60.000 (31-12-66 là 53.000).      

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI KHÁC. Ngày 20/11/67, Cơ sở Ủy hội Quốc tế ở Hà Nội bị trúng bom, một nhân viên thiệt mạng. Ngày 28/11/67, Đại hội Liên hiệp Quốc biểu quyết không cho Trung Cộng gia nhập LHQ, với 58 phiếu chống gia nhập, 45 phiếu tán thành, 17 phiếu trắng. Cùng ngày 1/12/67, Chánh phủ Nga Sô nhắc lại: Đại hội Liên hiệp Quổc và Hội đồng Bảo an Liên-hiệp Quc không có quyền xét vấn đề VN. Ngày 9/12/67, Tổng thư ký Liên-hiệp Quổc, U-Thant, xác nhận, rằng VC không muốn ra Hội đồng Bảo an hoặc Đại hội Liên hiệp Quốc, song muốn đặt cạnh Liên hiêp Quổc một phái đoàn không chánh thức như của Mặt trận Giải phóng Algérie trước kia. Ngày 1/12/67, Báo chí HK loan tin: Ngoại trưởng Dean Rusk sắp gặp U-Thant để đưa vấn đề VN ra trước Đại hội Liên hiệp Quc. 

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOA VÀ ĐỒNG MINH CỘNG SẢN. Ngày 8/11/67, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng gửi công điện chủc mừng Sihanouk nhân dịp kỷ niệm Độc lập Cao Mên, và cảm ơn Sihanouk đã giúp đỡ nhiều trong công cuộc chiến đấu chổng Mỹ. Ngày 27/11/67, BV và VC bác bỏ đề nghị hòa đàm của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 25/12/67, Báo Nhân Dân Hà Nội lại bác bỏ các đề nghị hòa đàm của Tổng thống Johnson.  

KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 1/11/67, có 137 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 2/11/67có 152 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 4/11/67có 82 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 6/11/67phi cơ Mỹ oanh tạc ngoại ô Hà Nội ba đợt trong nữa giờ, 1 Mig-17 bị Phantom Mỹ bắn rớt. Ngày 7/11/67có 125 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/11/67có 113 phi vụ oanh tác BV. Ngày 10/11, có 153 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 11/11/67có 120 phi vụ oanh tạc BV. 2 chiếc F-4 của HK bi bắn rớt. Ngày 13/11/67có 93 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/11/67có 81 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/11/67có 110 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/11/67có 91 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/11/67theo hãng Tass của Nga, phi trường Bạch Mai lần đầu tiên bị oanh tạc, trung tâm truyền tin và đài radar bị trúng bom, 6 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. 

Ngày 19/11/67, hơn 154 phi vụ oanh tạc BV, các kho quân nhu quanh Hà Nội và Hải Phòng bị dội bom. Cầu nổi trong thành phố Hải Phòng cũng bị phá hủy. 4 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Ngày 20/11/67, có 175 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/11/67có 126 phi vụ oanh-tạc BV. Ngày 22/11/67có 108 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/11/67có 81 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/11/67có 97 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/11/67có 123 phi vụ oanh tạc BV. Cùng ngày 25/11/67, theo bộ Quốc phòng Mỹ, tới nay 4.800 hỏa tiễn SAM đã được phóng lên, nhưng chỉ bắn trúng 102 phi cơ Mỹ trên không phận BV. Ngày 26/11/67có 88 phi vụ oanh-tạc BV. Ngày 27/11/67, có 117 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/11/67, có 111 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/11/67có 90 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/12/67, có 65 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 2/12/67có 72 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 4/12/67, có 80 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 5/12/67có 89 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 6/12/67có 93 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 8/12/67có 73 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 12/12/67, có 88 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 13/12/67, có 92 phi vụ oanh tạc BV. Hà Nội bị dội bom từ 12 giờ đến 13 giờNgày 14/12/67có 95 phi vụ oanh tạc BV, không chiến xảy ra trên bầu trời Hà Nội. Ngày 15/12/67có 115 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu  8 vị trí hỏa tiễn SAM tại trung tâm Hà Nội, cầu Kiến An, và trung tâm Hảỉ Phòng. Ngày 16/12/67, có 132 phi vụ oanh tạc BV. Không chiến trên không phận Hà Nội, 1 Phantom Mỹ bị Mig bắn rớt. Ngày 17/12/67, có 145 phi vụ oanh tạc BV. Không chiến trên vùng trời Hà Nội 2 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Cùng ngày 18/12/67, có 110 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Hà Nội, Gia Lâm, cầu Long Biên. Đây là vụ oanh tạc thủ đô Hà Nội lần thử 6 trong tuần. Không chiến trên bầu trời thành phố Hà Nội, 3 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. 

Ngày 19/12/67, có 138 phi vu oanh tạc BV, 2 Mig-17 BV bị phi cơ Mỹ bắn rớt. Cầu Long Biên sập 8 nhịp và hư 3 nhịp.Ngày 20/12/67có 106 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/12/67có 90 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/12/67, có 115 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/12/67, ngay sau 18 giờ, hết hạn hưu chiến, Không quân Mỹ oanh tạc BV, phá hủy 91 xe trong các đoàn xe hàng trăm chiếc tiến về phía Nam, gần Vinh, Thanh Hóa, trên Quốc lộ số I. Ngày 26/12/67, có 150 phi vụ oanh tạc BV.Ngày 27/12/67có 106 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/12/67có 66 phi vụ oanh tạc BV,1 phi cơ Mỹ bị bắn rớt gần Hải Phỏng. Ngày 30/12/67có 78 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 31/12/67có 81 phi vụ oanh tạc BV.

CHIẾN SỰ TẠI VÙNG I CHIẾN THUẬT. Ngày 3/11/67giao tranh kịch liệt giữa 1 đơn vị Mỹ với 1 tiểu đoàn VC gần cầu Đại Lộc, Quảng Nam. Ngày 6/11/67, hành quân Quyết Thắng 654/XDNT tại Quảng Ngãi. Ngày 7/11/67hành quân Essex TQLC Mỹ chiếm một làng cách Đà Nẵng 41 cây số về Tây Nam do quân chính qui BV đóng, giao tranh dữ dội. Ngày 24/11/67, giao tranh tại Quế Sơn, Quảng Tín. Ngày 6/12/67, giao tranh dữ dội tại Bồng Sơn. Ngày 6/12/67, các căn cứ Mỹ ở sát vùng Phi quân sự bị pháo kích. Ngày 10/12/67giao tranh nhiều trận dữ dội tại Bồng Sơn, Quảng Ngãi. Ngày 14/12/67, B-52 dội bom vào các căn cứ pháo binh BV đặt bên trên vĩ tuyến 17. Giao tranh dữ dội gần căn cứ Cồn Tiên. Ngày 14/12/67giao tranh tiếp tục tại Bồng Sơn, Quảng Ngãi.

Ngày 26/12/67, hành quân Lam Sơn 166 tại thôn Mỹ Thủy, Quảng Trị. Ngày 27/12/67, hành quân Quyết Thắng 98/G tại Quảng Ngãi. Ngày 28/12/67, sau một ngày một đêm kịch chiển, TQLC Mỹ đã chiếm được thôn Thâm Khê tại ranh giới Thừa Thiên-Quảng Trị. Hành quân Auburn gần Hội An. Hành quân Lam Sơn 116 vùng Đông Quảng Trị giao tranh suốt 7 giờ liền. Hành quân Phi Phụng 65 tại Duy Xuyên, Quảng Nam.     

TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT. Ngày 7/11/67tại Dakto, gìao tranh và kịch chiến suổt 3 ngày đêm qua. Ngày 9/11/67, giao tranh kịch liệt gần Dakto, Kontum. Ngày 11/11/67, giao tranh dữ dội nhiều lần tại Dakto. Ngày 13/11/67, nhiều cuộc giao tranh kịch liệt tiếp tục quanh Dakto. Hoả lực pháo binh BV rất mạnh, số quân tham chiến chừng vài trung đoàn. Quân Mỹ thuộc Lữ đoàn 173, với sự yểm trợ tối đa của B-52. Ngày 15/11/67, phi trường và căn cứ lực lượng đặc biệt tại Dakto bị pháo kích dữ dội 7 lần, 2 vận tải cơ C-130 bị thiêu hủy, nhiều cơ sở bốc cháy. Có tới 114 quân nhân Mỹ tử thương, 548 bị thương quanh Dakto từ ngày 1-11. Phía BV và VC 706 chểt. Ngày 16/11/67, hành quân Kham Zei 180 cấp trung đoàn tại vùng Đông-Bắc Dakto. 4 trung đoàn BV bao vây Dakto và trọng pháo từ các đồi cao bắn xuống. Phi đạo không xử dụng được, đường tiếp tế duy nhất quân đội Mỹ còn kiễm soát là tỉnh lộ Kontum. 

Ngày 16/11/67, Mỹ đã bắn ra tới 43.000 đạn trọng pháo. Ngày 17/11/67, hành quân Kham Zoi 180 gần Dakto, sau nhiều giờ ác chiến, quân Nhảy Dù VN hạ 250 VC, và quân Mỹ chiếm được ngọn đồi 1338 Dakto. B-52 tiếp tục dội bom quanh vùng Dakto. Ngày 18/11/67, vẫn còn giao tranh gần Dakto, tại đồi 1338 quân đội Mỹ tìm thấy rất nhiều hầm hố và hệ thống điện thoại với máy chế tạo tại Anh, cùng nhiều súng đạn. Lữ đoàn 173 Mỹ truy kích quân BV từ Daklo đến sát biên giới Việt-Mên. Ngày 19/11/67, Chiến-đoàn 3 Nhảy Dù VN, sau 3 ngày kịch chiến, chiếm được ngọn đồi 1416 cách Dakto 8 cây số về phía Đông, 390 BV tử thương. Ngày 21/11/67, tài liệu bắt được tại Dakto, BV hiện có mặt tại vùng này một Nông trường, tức Sư-đoàn I BV và dự định đánh trận lớn trong 2 tháng tới. Ngày 22/11/67, tại mặt trận Dakto, Lữ-đoàn 173 HK đã chiếm được ngọn đồi 875 gần biên giới Việt-Mên.

Ngày 23/11/67, theo tin quân sự Mỹ, sau 21 ngày ác chiến tại mặt trận Dakto, quân 1.317 BV và VC tử thương, Mỹ và VNCH có 325 thiệt mạng. Ngày 24/11/67, một đoàn quân xa Mỹ bị tấn công trên Đường 19 gần Kontnm. Ngày 25/11/67, giao tranh dữ dội quanh Dakto. Ngày 26/11/67, hành quân Việt-Hàn Phi Hổ 2 tại quận Diên Khánh, Khánh Hòa. Căn cứ không quân Nha Trang bị pháo kích. Căn cứ HK tại Kontum và Dakto bị pháo kích dữ dội. Phi cơ B-52 tiếp-tục dội bom xuống những nơi tụ quân BV vùng biên giới Việt-Mên gần Dakto. Ngày 29/11/67, Chiến đoàn 3 Nhảy Dù giao tranh với Trung đoàn 24 VC tại đồi Ngok Pring gần Dakto hạ thêm 173 địch. Ngày 2/12/67, một đoàn quân xa BV chở quân nhu, võ khí tới một địa điểm cách Dakto 5 cây số, bị dội bom dữ dội. Ngày 14/12/67giao tranh tại Phù Mỹ, Bình Định. Ngày 15/12/67, hành quân Hồng Lạc 958 tại Phù Mỹ, Bình Định. Ngày 29/12/67hành quân Lam Sơn 123 tại Tây-Nam Pleiku.          

TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT. Ngày 2/11/67, hơn 3 tiểu đoàn VC tấn công vào 2.000 quân đồn trú Mỹ tại Lộc Ninh. Có 36 trực thăng tới bắn yểm trợ, đưa 6.000 tăng viện và chở tới 40 đại bác 105 và 175 cho Lộc Ninh. Ngày 3/11/67, kểt quả trận Lộc Ninh 860 VC tử thương. Phía Mỹ 11 chểt, 66 bị thương; phía VNCH 31 tử thương và 165 bị thương. Lực lượng tham chiến của VC, 3 Trung đoàn Q 761, Q 762 và Q 763 thuộc các Sư đoàn 7 và 9 BV. Ngày 4/11/67, Trại Lộc Ninh, hiện có 4 tiểu đoàn Mỹ đóng chung quanh căn cứ chính tại thị trấn, nơi đồn trú 1.000 quân. Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 VC vẫn lẫn quất trong vùng. Ngày 6/11/67một đại đội của VNCH bị phục kích tại Phước Bình gần biên giới Mên-Việt. Ngày 7/11/67, lại giao tranh đữ dội quanh Lộc Ninh. Ngày 12/11/67, Căn cứ Mỹ lại Phước Bình, Phước Long bị pháo kích. Ngày 15/11/67, Căn cử Mỹ tại Củ Chi, Hậu Nghĩa, bị pháo kích. 

Ngày 24/11/67giao tranh tại Bình Long. Ngày 29/11/67, đồn Bố Đức, Phước Long, bị một tiểu đoàn chính qui BV tấn công, nhưng vẫn giữ được. Ngày 5/12, quá nửa đêm qua, ấp Tân sinh Dakson, Phưởc Long bị pháo kích và tấn công dữ dội. Ngày 10/12/67một đơn vị chính quy BV tấn công căn cứ pháo binh Mỹ gần An Lộc, Bình Long. Ngày 27/11/67, các đơn vị của Sư đoàn 101 HK, vừa tới VN, chạm súng với VC tại vùng Củ Chi. Căn cứ Mỹ tại Dầu Tiếng, Bình Dương bị pháo kỉch. Ngày 30/12/67, hai trung đội Mỹ bị phục kích tại Phước Tuy.    

TẠI VÙNG IV CHIẾN THUẬT. Ngày 5/11/67, Tỉnh lỵ Châu Đốc bị pháo kich. Tỉnh lỵ Mỹ Tho cũng bị pháo kích. Chi khu Cai Lậy, Định Tường bị pháo kích và tấn công. Ngày 9/11/67, hành quân Long Phi 137/SĐ tại quận Kiến Văn, Kiến Phong. Ngày 14/11/67, hành quân Dân Chí 309/SB tại Long Mỹ, Chương Thiện. Ngày 18/11/67, Căn cứ Mỹ tại Định Tường bị tấn công dữ dội. Ngày 5/12, giao tranh tiếp diễn tại quận Đức Giáo, Định Tường. Ngày 8/12/67, giao tranh lớn giữa các đơn vị BĐQ và Sư đoàn 21 Bộ binh, với 2 tiểu đoàn quân chính qui BV tại Thác Lác, Vị Thanh. Ngày 10/12/67, theo Thiếu tướng Tư lịnh Sư đoàn 21 VNCH, trận đánh bên bờ kinh Thác Lác, Vị Thanh: 451 VC tử thương trong đó có rất nhiều VC từ 14 đến 16 tuổi. Hành quân Long Phi 9/143, tại Càng Long, Vĩnh Bình. Ngày 14/12/67, hành quân Cửu Long 72/SĐ/67 tại Cái Bè, Định Tường. 

Ngày 18/12/67, hành quân Long Phi 9/144 tại Tiểu Cần, Vĩnh Bình. Ngày 20/12/67, Phi trường Cần Thơ bị đột nhập, 8 trực thăng và 2 phi cơ bị hư hại. Ngày 21/12/67, hành quân Dân Chí 315/SĐ gần Vị Thanh, Chương Thiện. Ngày 28/12/67, hành quân Cửu Long 73/SĐ/67 tại Cái Bè, Định Tường. Tỉnh lỵ Mỹ Tho bị pháo kích. Ngày 29/12/67, Tỉnh lỵ Chương Thiện bi pháo kích. Ngày 29/12/67hành quân Sóng Thần 809 tại Cai Lậy, Định Tường.    

(Hết Chương XVII)

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét