Chương VI: 14 BÀI VIẾT VỀ SỰ TIẾ N HOÁ CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI TẠI CHÂU MỸ.
(30 trang, 21.324 chữ)
79. Người Mỹ da đỏ tại châu Mỹ, và 5 nền văn minh Mỹ châu.
80. Người châu Âu thám hiểm, khám phá, viễn chinh chiếm đất, đưa người đến định cư, mua người da đen làm nô lệ từ châu Phi đến làm việc trong đồn điền…
81. Người định cư dấy loạn, lập chính quyền của riêng họ: Hoa Kỳ 1776, và các nước Mỹ La tinh những năm 1800.
82. Thiếu kinh nghiệm quản lý nhà nước, và tranh chấp biên giới tạo ra vô vàn khó khăn tại vùng Mỹ La tinh.
83. Khó khăn về kinh tế, và vận động thành lập tổ chức thống nhất Mỹ châu.
84. Bất ổn chính trị, kinh tế và xã hội là vấn đề bức xúc ở vùng Mỹ La tinh
85. Qúa trình phát triển, và mục tiêu “công bằng, tự do, dân chủ, cơ hội cho mọi người” của Hoa Kỳ tại Bắc Mỹ.
86. Vùng Anh-Mỹ, vùng Mỹ-La-tinh tại Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Liên minh cho dự tiến bộ.
87. Quốc gia, lãnh thổ, sắc tộc, tôn giáo tại 23 nước Bắc Mỹ, và 12 nước ở Nam Mỹ.
88. Vài sự khác nhau ở vùng Anh-Mỹ và vùng Mỹ-La-tinh tại châu Mỹ.
89: Đời sống ở nông thôn, thành ythij tại Bắc Mỹ, và tại Mỹ-La-tinh.
90. Giáo dục, nghệ thuật tại Bắc Mỹ, và Mỹ-La-tinh cũng có vài sự khác nhau.
91. Kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, và công nghiệp dịch vụ tại châu Mỹ.
92. Vài sự khác nhau giữa Bắc Mỹ và Nam Mỹ trong vận chuyển và truyền thông.
Bài 79: NGƯỜI MỸ DA ĐỎ CỦA CHÂU MỸ, VÀ NĂM NỀN VĂN MINH TẠI MỸ CHÂU.
NGƯỜI MỸ DA ĐỎ. Hầu hết các nhà khoa học tin rằng tổ tiên của người da đỏ cư dân đầu tiên ở Châu Mỹ từ Châu Á đến Bắc Mỹ cách đây khoảng 20.000 năm. Lúc đó có một dãi đất nối liền Châu Á và Bắc Mỹ, nơi bấy giờ là eo biển Bering phân chia giữa Siberia và Alaska. Có thể theo dấu vết săn bắt thú vật hoang dã, để kiếm sống mà người Châu Á vượt qua dãi đất nối liền Châu Á với Bắc Mỹ. Con cháu người da đỏ này toả ra khắp vùng Mỹ Châu đến tận mút cực Nam của Nam Mỹ khoảng 12.500 năm gần đây. Người Eskinos đến định cư vùng Arctics của Canada cách đây khoảng 5000 năm. Người da đỏ sống theo từng nhóm nhỏ hàng ngàn năm. Họ đi từ nơi này đến nơi khác tìm kiếm thức ăn có sẵn trong tự nhiên và thú vật hoang dã.
Cuối cùng, một số người da đỏ bắt đầu gieo trồng cây lương thực trên đất. Đầu tiên họ trồng ca cao, bắp, khoa tây, đậu phụng, bí, thuốc lá và cà chua. Họ có thể ở lại một nơi nào đó, và gieo trồng đủ lương thực nuôi sống được nhiều người. Họ xây dựng nhà ở, và thường định cư thành từng làng nhỏ. Do dân số tăng lên một số làng thành thị trấn hoặc thành phố, trên dó các nền văn minh phát triển.
NĂM (5) NỀN VĂN MINH CỦA MỸ CHÂU. Nền văn minh sớm nhất của người da đỏ Mỹ Châu là văn minh Olmec.Văn minh Olmec phát triển khoảng từ năm 1200 TCN đến năm 400 SCN ở nơi bây giờ là phía Đông Mêxico. Kế đó là văn minh Maya ở phía Nam Mêxico và phía Bắc Trung Mỹ. Văn minh Maya đạt tới đỉnh cao giữa khoảng 250 đến năm 900 SCN. Họ sáng tạo kỷ thuật kiến trúc tuyệt vời, tranh vẽ, đồ gốm, và nghệ thuật điêu khắc đạt trình độ cao. Họ phát triển một loại chữ viết tiến bộ, và lịch hàng năm. Maya có kiến thức rộng về thiên văn, giúp dự báo thời vụ gieo trồng cây lương thực. Họ cũng xây dựng được một hệ thống kênh đào, dẫn nước tưới tiêu ruộng đồng khắp nơi. Nền văn minh thứ ba ở Châu Mỹ là văn minh Toltec ở miền Trung Mêxico khoảng năm 900 đến năm 1200.
Một nền văn minh khác xuất hiện đầu những năm 1400 là văn minh Aztec. Nó thay thế Toltec như là thế lực mạnh nhất trong vùng. Văn minh Aztec phát triển rực rỡ cho đến đầu những năm 1500. Cả hai nền văn minh, Teltec và Aztec cho xây dựng các Kim Tự Tháp khổng lồ, và nhiều công trình kiến trúc khác. Nền văn minh thứ năm thuộc về bộ tộc Inca.Inca cai trị một vùng đế quốc rộng lớn dọc theo bờ Nam Mỹ trong những năm 1400, và đầu những năm 1500. Văn minh Inca sản sinh ra nhiều nhà kiến trúc, và nông gia xuất sắc. Họ xây dựng được một hệ thống đường sá mở rộng, xuyên qua vùng núi Andes nối liền các thành phố xã xôi trong vùng đế quốc của họ. Các nông gia Inca cắt xẻ vùng đất cao, triền dốc, tạo thành những thửa ruộng bậc thang cạnh sườn đồi, rồi đưa nước từ kênh đào vào tưới tiêu các thửa đất gieo trồng tân tạo.
Bài 80: THÁM HIỂM, KHÁM PHÁ, VIỄN CHINH CHIẾM ĐẤT, ĐẾN ĐỊNH CƯ, MUA NGUỜI NÔ LỆ DA ĐEN CHÂU PHI ĐẾN ĐỒN ĐIỀN LÀM VIỆC…
THÁM HIỂM, KHÁM PHÁ. Năm 1492, Christopher Columbus, nhà hàng hải Ý làm việc cho Tây Ban Nha trở thành người Châu Âu đầu tiên tiến tới được Châu Mỹ. Columbus đi về phía tây từ Tây Ban Nha với hy vọng tìm ra con đường hải hành ngắn nhất tới Đông Á. Ông ta đặt chân lên đảo San Salvador trong vùng biển Caribbean (West Indies), và tin rằng ông ta đã tới được Châu Á. Trong khi đó thì Bồ Đào Nha đang tiến hành thám hiểm khu vực Nam Mỹ. Để tránh sự tranh chấp giữa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, năm 1493 Giáo hoàng Alexander VI vạch ra một đường phân ranh giữa hai nước này. Đường phân ranh chạy theo hướng Bắc - Nam dài 350 miles tương đương 563 Km, phía Tây hai quần đảo Azoros và Cape Verbe. Theo đó, tất cả phần đất "phía Tây" thuộc về Tây Ban Nha, và phần đất "phía Đông" thuộc Bồ Đào Nha.
Bồ Đào Nha cho rằng Giáo hoàng đã thiên vị Tây Ban Nha. Năm 1494, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đồng ý ký Hiệp ước Tordesillas di chuyển đường phân ranh ấy về phía Tây, cũng theo trục Bắc - Nam dài 1,295 mile tương đương 2,084 km. Kết quả Bồ Đào Nha có thêm đất phía đông Nam Mỹ, nơi bây giờ là Brazil. Năm 1500, nhà hàng hải Bồ Đào Nha Pedro Alvares Cabral đổ bộ lên bờ phía Đông Brazil. Trong khi đó, Christopher Columbus thực hiện thêm 4 cuộc hải hành đến Châu Mỹ giữa năm 1492 và 1502. Columbus khám phá thêm nhiều đảo ở vùng Caribean (biển West Indies) và vùng biển nơi bây giờ là Hondurus, Costa Rica, Nicaragua, Panama và Venezuela. Sau Columbus, các nhà thám hiểm Châu Âu khác cũng đến Mỹ Châu.
Họ lập tức xác nhận rằng vùng này không phải là Châu Á. Các nhà vẽ bản đồ đặt tên cho vùng đất gọi là “Thế giới mới" (New World) này là Châu Mỹ (America), để tưởng nhớ nhà thám hiểm người Ý là Amerigo Vespucci. Ông ta thực hiện nhiều cuộc hải hành đến Châu Mỹ cuối những năm 1400 và đầu những năm 1500. Năm 1513, nhà thám hiểm Tây Ban Nha là Vasco Nunes de Balboa đi xuyên qua nội địa Panama, và trở thành người Châu Âu đầu tiên nhìn thấy bờ phía Đông của Thái Bình Dương. Việc khám phá mới này của ông ta cung cấp thêm cơ sở để xác nhận rằng America là lục địa tách rời từ Châu Âu và Châu Á. Năm 1520, nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Ferdinand Magellan cũng là người Châu Âu đầu tiên khám phá ra đường thủy nối liền Đại Tây Dương và Thái Bình Dương tại điểm cực Nam của Nam Mỹ. Magellan đi xuống bờ phía Đông của Nam Mỹ vượt qua eo biển nơi bây giờ còn dựng tấm bia đề tên ông ta, Ferdinand Magellan.
VIỄN CHINH CHIẾM ĐẤT, ĐẾN ĐỊNH CƯ. Vài thập niên đầu của những năm 1500, một nhóm người Tây Ban Nha đã đi tiên phong trong việc đánh chiếm Mỹ Châu. Họ đánh bại được các đế quốc hùng mạnh nhất của nền văn minh da đỏ, mang về cho Tây Ban Nha một vùng đất khổng lồ, toàn bộ Trung, và Nam Mỹ (Mỹ La tinh) ngoại trừ phần đất của Bồ Đào Nha. Năm 1519, nhà xâm lược Hernanda Cortés đổ bộ vào Mexico. Đến năm 1521, ông ta đã chiếm xong vùng thống trị rộng lớn của đế quốc Aztec. Năm sau, một nhà xâm lược khác Pedrarias chiếm nhiều khu vực của người da đỏ tại nơi bây giờ là Costa Rica, và Nicaragua. Năm 1523, Pedro de Alvarado một sĩ quan thuộc cấp của Cortés chiếm nơi bây giờ là El Salvador và Guatemala. Năm 1531, nhà xâm lược Francisco Pizarro hải hành về phía Nam từ Panama tới nơi bây giờ là Peru.
Suốt hai năm sau đó, quân đội ông ta vượt qua 4.800km, xuyên núi Andes, và chiếm xong đế quốc khổng lồ Inca. Pizarro xây dựng thành phố Lima năm 1535, thành phố này trở thành thủ đô Peru, và cũng là nơi đặt chính quyền trung ương của Tây Ban Nha ở Nam Mỹ. Quân xâm lược Tây Ban Nha chỉ là lực lượng nhỏ, nhưng được trang bị vũ khí tốt nên dễ dàng đánh bại các đội quân lớn của người da đỏ không được trang bị súng ống hoặc ngựa chiến. Dù vậy, một số khu vực phía Nam Chile, Tây Ban Nha không thể chiếm được bởi bộ tộc da đỏ Araucanian ở đây kháng cự mạnh mẽ, kéo dài hơn 300 năm. Ngay cả trước khi công cuộc xâm lăng quân sự hoàn tất, người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha bắt đầu kéo vào định cư lập nghiệp ở Trung, Nam Mỹ và vùng biển Caribbean, sau nầy gọi là vùng Mỹ La tinh.
Nhiều người trong số họ đến đây tìm kiếm cơ hội làm giàu bằng cách khai thác hầm mỏ. Một số khác thì thành lập đồn điền trồng mía, thuốc lá, và các loại hạt ngủ cốc khác xuất khẩu sang thị trường Châu Âu. Trên bờ Đại Tây Dương, Bắc Mỹ giữa những năm 1500 và những năm 1600, Hoà Lan, Pháp, Anh cũng lập ra các thuộc địa và đưa người đến lập nghiệp tại vùng này. Trong những năm 1600, họ thành lập thêm một số thuộc địa nhỏ trên bờ biển Caribbean (West Indies) thuộc vùng Mỹ La tinh. Tây Ban Nha thành lập ở Mỹ La tinh một hệ thống chính quyền gọi là “Encomienda”. Theo đó, vua Tây Ban Nha ban cấp cho các nhà cai trị thuộc địa quyền thu thuế từ người da đỏ. Họ cưởng bức người da đỏ làm việc trên các đồn điền, khai thác hầm mỏ, cùng với việc cải tạo người da đỏ trở thành tín đồ Thiên chúa giáo La Mã.
NHẬP KHẨU NGUỜI NÔ LỆ DA ĐEN TỪ CHÂU PHI. Nhiều nhà cai trị thuộc địa đã đối xử tàn ác với người da đỏ. Hàng triệu người da đỏ đã chết vì làm việc quá sức, bệnh tật, và bị đối xử quá tàn ác bởi người Châu Âu. Hậu quả, là người bản địa Châu Mỹ giảm sút nghiêm trọng, không còn đủ người làm việc trong các đồn điền, và hầm mỏ. Vậy là, người Châu Âu bắt đầu nhập khẩu người nô lệ da đen từ Châu Phi đến lục địa Châu Mỹ. Từ những năm 1500 đến những năm 1800, người Châu Âu đã dùng tàu chở hơn 10 triệu người nô lệ da đen đến Châu Mỹ, không kể khoảng 2 triệu người chết trên đường vận chuyển. Người nô lệ được mang vào Brazil, Cuba, Jamica, Haiti và các thuộc địa trồng mía khác. Chỉ riêng Brazil tiếp nhận 35% người nô lệ nhập khẩu. Và khoảng 5% đưa đến Bắc Mỹ nơi bây giờ Hoa Kỳ.
Tại vùng Mỹ La tinh cư dân bị ba nhóm người nắm quyền sinh sát. Nhóm thứ nhất các nhà cai trị do mẫu quốc Châu Âu chỉ định vì lợi ích của mẫu quốc. Nhóm thứ hai là tu sĩ Thiên chúa giáo La Mã, độc quyền nắm giữ hệ thống giáo dục, và cưởng bức người bản địa da đỏ, nô lệ da đen theo Thiên chúa giáo. Nhóm thứ ba là các chủ đồn điền, và chủ nhân khai thác hầm mỏ làm chủ các vùng đất tốt, những vùng có nhiều trữ lương hầm mỏ tốt nhất. Trong nhiều trường hợp một số chủ đất, chủ hầm mỏ nắm cả quyền kinh tế lẫn chính trị. Họ thu được nhiều món lợi đáng kể từ hầm mỏ phong phú, và sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của Châu Mỹ. Các chuyến tàu chất đầy vàng, bạc đều đặn rời khỏi Châu Mỹ đến Châu Âu. Hàng nông sản xuất khẩu gồm cà phê, sợi bông, mía đường và thuốc lá.
Hàng trăm năm kinh tế Tây Ban Nha phát triển mạnh là nhờ vào nguồn lợi từ Mỹ La tinh, và cùng trở thành phụ thuộc vào nó. Nếu tàu chở hàng từ các thuộc địa này bị chìm vì bảo táp trên Đại Dương, hoặc bị cướp biển thì kinh tế Tây Ban Nha chịu ít nhiều khó khăn nhất định.
Bài 81: NGƯỜI ĐỊNH CƯ DẤY LOẠN LẬP CHÍNH QUYỀN ĐỘC LẬP CỦA RIÊNG HỌ: HOA KỲ 1776, VÀ CÁC NƯỚC MỸ LA TINH NHỮNG NĂM 1800...
DẤY LOẠN LẬP CHÍNH QUYỀN ĐỘC LẬP. Người Anh đến định cư ở Bắc Mỹ năm 1603, tại đây họ lập ra được 13 thuộc địa. Năm 1775, do bất bình về thuế khóa và mậu dịch bất công từ mẩu quốc Anh, 13 thuộc địa này đứng lên làm bạo loạn và năm sau 1776, họ tuyên bố độc lập thành lập Liên bang Hoa Kỳ tách khỏi Anh Quốc. Trong khi đó tại vùng Mỹ La tinh, Tây Ban Nha đã kéo dài sự cai trị của họ tới gần 300 năm. Nhiều người Mỹ La tinh muốn có thêm quyền trong lĩnh vực kinh tế, và chính trị sự vụ. Thế nhưng, nhà cầm quyền cứ phớt lờ! Thêm vào đó, một lớp người Tây Ban Nha thế hệ mới sinh ra ở Mỹ La tinh, gọi là “Criollos” không hài lòng việc các chức vụ chủ chốt trong chính quyền đều do người từ Tây Ban Nha đến nắm giữ. Các viên chức này lại xem thường người Criollos, bởi họ không sinh trưởng ở Tây Ban Nha. Sự không hài lòng lớn hơn là nhiều người lai Châu Âu, và người gốc da đỏ gọi là “Mestizos”.
Nhiều người Mestizos giàu có, làm chủ nhiều tài sản có giá trị muốn nắm giữ các vai trò quan trọng hơn trong chính quyền thuộc địa. Thế nhưng, họ chỉ đạt được các vị thế thấp trong chính trị cũng như trong xã hội, so với người Âu Châu đang thống trị họ. Các nguồn tài nguyên từ Mỹ La tinh tiếp tục đưa về Châu Âu, làm cho nhiều người Mỹ La tinh tức giận. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chỉ cho phép các thuộc địa giao thương với mẫu quốc của họ ở Châu Âu mà thôi, ngay cả không được phép giao thương giữa các thuộc địa với nhau. Chưa hết, Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha còn cản trở việc phát triển kinh tế vùng Mỹ La tinh. Họ không đầu tư, hoặc cản trở việc xây dựng các nhà máy sản xuất có quy mô lớn, bởi các nhà cai trị thuộc địa muốn người Mỹ La tinh mua hàng hóa từ Châu Âu, hơn là sản xuất cho sản xuất tại chỗ.
CÁC NƯỚC MỸ LA TINH ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP. Sự bất công về kinh tế, và chính trị của các nhà cai trị thuộc địa, làm trổi dậy khát vọng độc lập trong hầu hết người Mỹ La tinh. Họ muốn có sự tự do ngay trên mảnh đất họ đang sống, bất chấp cả một số cải cách của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào cuối những năm 1700. Sự thành công của cuộc đấu tranh chống lại 13 chính quyền thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ, thành lập Liên bang Hoa Kỳ năm 1776, cùng với tư tưởng “tự do, công bằng” của cách mạng Pháp (1789-1799) là những nguồn cảm hứng, kích động mạnh trong những người đấu tranh vì độc lập vùng Mỹ La tinh. Trong khi đó thì Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha đang mất dần quyền lực.
Năm 1807, quân đội của Napoleon xâm lăng Bồ Đào Nha, nguyên thủ quốc gia là Thái tử John phải đào thoát sang Brazil.Năm sau Napoleon, chiếm Tây Ban Nha truất phế nhà vua Ferdinand VII, và thay thế ngôi vị bởi anh ruột ông ta là Joseph Bonaparte. Từ đó, quyền thống trị thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha bị suy yếu. Nhiều thuộc địa Mỹ La tinh nắm lấy cơ hội, đứng lên đấu tranh giành độc lập. Tại Mexico năm 1810, hai tăng lử Thiên chúa giáo là Miguel Hidalgo y Costilla, và José María Morelos Pavón cầm đầu cuộc nổi lọan chống chính quyền thuộc địa Tây Ban Nha thất bại, và cả hai vị tu sỉ bị hành quyết. Dù vậy, quân đội Tây Ban Nha cũng không đánh bại được lực lượng nỗi dậy. Đến năm 1821 thì lực lượng nổi dậy hoàn toàn thắng lợi, thành lập chính quyền Mexico độc lập.
Cũng trong năm 1821 các thuộc địa ở Trung Mỹ đấu tranh thành công lập ra các chính quyền độc lập tách khỏi Tây Ban Nha. Năm 1822, Costa Rica, El Salvado, Guatemala, Honduras, và Nicaraqua trở thành một phần của Mexico. Nhưng đến năm 1823, họ tách ra và thành lập một Liên minh chính trị gọi là các Tỉnh Trung Mỹ thống nhất (United Provinces of Centnal America). Sự kình địch thường xảy ra giữa các thành viên trong Liên minh, khiến Liên minh tan rã năm 1838. Và mỗi tỉnh trở thành một Cộng hoà độc lập năm 1841. Khu vực Panama là một tỉnh của Colombia năm 1821. Đến năm 1903 với sự trợ giúp của Hoa kỳ, Panama tuyên bố độc lập tách khỏi Colombia. Belize một thuộc địa của Anh từ năm 1862, trở thành quốc gia độc lập năm 1981.
Tại Nam Mỹ, hai vị anh hùng lớn nhất trong công cuộc đấu tranh giành độc lập vùng Nam Mỹ thuộc Tây Ban Nha, là tướng Venezuela, tên Simón Bolívar và tướng Argentina tên José de San Martín. Tướng Bolivar giúp Bolivia, Colombia, Ecuador, Peru và Venezuela đạt thắng lợi trong đấu tranh giành độc lập của họ. Còn tướng San Martin thì chiến đấu cho độc lập của Argentina, Chile, và Peru. Năm 1806 cuộc cách mạng giành độc lập của Venezuela, do Francisco de Miranda lãnh đạo không thành công. Năm 1813, được sự ủng hộ của Bolivar, Maranda tiếp tục cuộc chiến kéo dài 10 năm cho cho đến khi thắng được quân đội Tây Ban Nha tại trận đánh Ayacucho năm 1824, Venezuela mới giành được độc lập.
Ở phía Nam các chủ đất tại Chile tuyên bố quốc gia độc lập năm 1810, nhưng quân Tây Ban Nha tái chiếm không bao lâu sau đó. Trận đánh cuối cùng giành độc lập cho Chile năm 1813, dưới sự lảnh đạo của tướng San Martin cùng với lực lượng của vị anh hùng dân tộc Chile, tên Bernardo Higgines. Từ đầu năm 1816, San Martin chiến đấu giành độc lập cho Argentina thoát khỏi sự cai trị của Tây Ban Nha. Sau đó quân đội của ông ta chiến đấu cho nền độc lập của Peru, và năm 1818 cho độc lập của Chile. Riêng Nam Mỹ thuộc Bồ Đào Nha, thì Brazil đạt tới độc lập cho quốc gia không phải bằng súng đạn. Năm 1807 khi Naploleon xâm lăng Bồ Đào Nha, nguyên thủ quốc gia là Thái tử John chạy sang Brazil. Năm 1821, sau khi Napoleon bị đánh bại hoàn toàn John trở về Bồ Đào Nha, để lại cho con trai ông ta là Pedro cai trị Brazil.
Nhưng người Brazil không muốn người Châu Âu cai trị họ lâu thêm nữa, đứng lên đòi độc lập tách khỏi Bồ Đào Nha. Năm 1822, Pedro tuyên bố quốc gia Brazil độc lập và lên ngôi vua dưới tên gọi Hoàng đế Pedro I. Còn tại vùng biển Caribbean, năm 1791 Toussaint L'Ouverture lãnh đạo người nô lệ da đen Châu Phi ở Haiti nổi dậy chống lại người Pháp đang cai trị họ thành công, và Haiti trở thành quốc gia độc lập đầu tiên ở Mỹ La tinh. Cộng hoà Dominica tuyên bố độc lập năm 1844. Cuộc bạo loạn chống lại sự cai trị của Tây Ban Nha ở Cuba đưa đến chiến tranh Tây Ban Nha - Hoa Kỳ năm 1898. Hoa Kỳ chiến thắng và Cuba trở thành một nước cộng hoà năm 1902. Tây Ban Nha trao thuộc địa Puerto Rico cho Hoa Kỳ.
Hầu hết các nhóm đảo nhỏ trong biển Caribean vẫn còn nằm dưới sự cai trị của Anh, Hà Lan, hoặc Pháp cho đến giữa những năm 1900. Từ sau đó, đa số các đảo này trở thành quốc gia độc lập. Số còn lại được quyền tự trị nhiều hơn.
Bài 82: THIẾU KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, VÀ TRANH CHẤP BIÊN GIỚI TẠO RA VÔ VÀN KHÓ KHĂN TẠI VÙNG MỸ LA TINH.
THIẾU KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC. Thời thuộc địa vùng Mỹ La tinh cai trị bằng luật lệ mẫu quốc Châu Âu quân chủ. Cư dân trong thuộc địa không có tiếng nói trong các vấn đề chính trị sự vụ. Với sự háo hức của lòng yêu nước, lại được cổ vũ bởi chiến tranh cách mạng Hoa Kỳ, cùng với tư tưởng tự do, bình đẳng của cách mạng Pháp họ nổi dậy đấu tranh, thành lập quốc gia của riêng họ, nhưng họ có rất ít kinh nghiệm trong việc quản lý nhà nước. Một số nhà lãnh đạo Mỹ La tinh lại không suy nghĩ kỹ vội thành lập chế độ Cộng hoà ngay khi giành được độc lập. Nhưng không bao lâu sau đó, họ nhận ra rằng việc thành lập chế độ cộng hòa dễ hơn là làm cho chế độ đó họat động trôi chảy. Các nhà lãnh đạo mới thiếu kinh nghiệm, làm cho xã hội rối ren, bạo loạn nỗi lên khắp nơi vùng Mỹ La tinh không chừa một quốc gia nào.
Vậy là, các nhà độc tài đầy tham vọng nhân cơ hội chiếm quyền lực. Quân đội từng chiến đấu cho độc lập quốc gia, thường giúp các nhà độc tài duy trì quyền lực. Trong một số nước các chủ đất giàu có cũng trở thành nhà lãnh đạo quốc gia ngay từ những ngày đầu độc lập. Nhiều cộng hoà Mỹ La tinh đã xoá bỏ ngay chế độ nô lệ. Đến cuối những năm 1800, tất cả các người nô lệ trong vùng điều được trả tự do. Tuy nhiên, sự độc lập cũng chỉ mang lại rất ít trong việc cải thiện đời sống của đa số người Mỹ La tinh. Những người giàu có gốc Châu Âu (Criollos), người lai Châu Âu, và Da đỏ giàu có (mestizos) nắm hết kinh tế, chính quyền, và cơ cấu xã hội. Người lai Châu Âu nghèo, người da đỏ, và da đen không có một chút quyền hành, đời sống của những người này còn khó khăn hơn cả dưới thời cai trị thuộc địa từ Châu Âu.
TRANH CHẤP BIÊN GIỚI. Kể từ khi độc lập, quan hệ giữa một số nước Mỹ La tinh bị sứt mẽ nghiêm trọng bởi các bất đồng về đường biên giới. Năm 1825, chiến tranh nổ ra giữa Argentina và Brazil trên vùng biên giới tranh chấp. Ba năm sau, họ đạt tới một thoả ước, thành lập tại vùng này một quốc gia mới là Uruguay. Từ năm 1865 đến 1870, ba nước đồng minh Argentina, Brazil và Uruguay đánh nhau với Paraguay. Họ đánh bại Paraguay, rồi xác nhận đường biên giới chung giữa các nước. Có khoảng một nửa dân số Paraguay bị giết trong cuộc tranh chấp biên giới này. Từ năm 1879 đến năm 1883, Chile đánh Bolivia và Peru trên vùng giàu trữ lượng muối axit Nitrate dọc theo bờ Thái Bình Dương. Chile chiến thắng làm chủ khu vực, không để cho Bolivia một mảnh đất nào tiếp cận được với bờ Thái Bình Dương.
Từ đó Bolivia nằm trọn trong nội địa Nam Mỹ. Từ năm 1932 đến năm 1935, chiến tranh giữa Bolivia và Paraguay tranh quyền kiểm soát khu vực Gran Chaco vùng đất giáp ranh giữa hai quốc gia. Kết quả, hầu hết khu vực Chaco được trao cho Paraguay. Đầu những năm 1900, Ecuador và Peru đánh nhau nhiều lần tại một vùng hoang dã không có trên bản đồ tại bình nguyên sông Amazon. Tranh chấp kéo dài cho đến năm 1998, họ mới đạt tới một thoả hiệp thành lập đường biên giới chung. Nhưng một số tranh chấp khác vẫn còn tiếp tục, Guatemala đòi một phần đất đang chiếm giữ bởi Belize và Venezuela tuyên bố quyền sở hữu khoảng hai phần tư đất của Guyana.
Bài 83: KHÓ KHĂN VỀ KINH TẾ, VÀ VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP TỔ CHỨC THỐNG NHẤT MỸ CHÂU.
KHÓ KHĂN VỀ KINH TẾ. Từ thời thuộc địa, kinh tế Mỹ La tinh phụ thuộc nặng nề vào việc xuất khẩu một ít mặt hàng nông sản và hâm mỏ. Thậm chí một số nước chỉ có một mặt hàng xuất khẩu duy nhất như chuối ở Honduras, càphê ở Colombia, đồng ở Chile, dầu mỏ ở Ecuador, Mexico, Venezuela, đường ở Cuba, cộng hoà Doninica, và thiết ở Bolivia. Khi giá cả các mặt hàng xuất khẩu này sút giảm trên thị trường thế giới, nó tạo ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc gia. Từ giữa những năm 1900, nhiều nước đã sử dụng một số tiền lớn phát triển thêm một số ngành công nghiệp khác. Nhờ thế, tháo bỏ được phần nào sự phụ thuộc vào một mặt hàng xuất khẩu duy nhất. Họ cũng nhận được sự trợ giúp kinh tế tài chánh từ các tổ chức quốc tế cho các công trình trọng điểm.
Trong quá khứ, các nước Mỹ La tinh nhập khẩu hàng hoá công nghiệp từ Châu Âu và Hoa Kỳ. Họ có rất ít quan hệ với các quốc gia nào khác trong vùng. Gần đây do phát triển công nghiệp và để khuyến khích trao đổi thương mại, Hiệp hội Hợp nhất Mỹ La tinh và các liên minh kinh tế cũng được thành lập. Một số tổ chức khác như Thị trường chung Trung Mỹ, Thị trường và Cộng đồng vùng Caribbean và Hiệp ước Adean. Các tổ chức này, đã giúp các nước thực hiện được việc cắt giảm hàng rào thuế quan trong việc buôn bán giữa các nước thành viên, và khuyến khích phát triển kinh tế trong vùng.vùng. Nhưng, một thời gian dài, công nghiệp chính ở Mỹ La tinh đều do người Châu Âu và Hoa Kỳ làm chủ. Các nhà kinh doanh này không hoặc ít quan tâm tới an sinh xã hội của cư dân trong vùng.
Cuối thập niên 1960, một số quốc Mỹ La tinh gia cấm người nước ngoài làm chủ các ngành công nhiệp then chốt. Chính quyền các nước Bolivia, Guyana, Pẻu, và Vanezuela tiến hành hữu hoá nhiều công ty công nghiệp do người Hoa Kỳ, và Châu Âu làm chủ. Nhưng, một số quốc gia khác lại khuyến khích nước ngoài đầu tư vào ngành công nghiệp do nhu cầu hiện đại hoá nền kinh tế. Từ thập niên 1980, có nhiều sự thay đổi đang diễn ra ở các nước Mỹ La tinh nhất là trong lĩnh vực kinh tế, và thương mại. Brazil và vài quốc gia trong vùng trở thành các nước xuất khẩu nhiều mặt hàng công nghiệp. Các nước Mỹ La tinh khác cũng có thêm những mặt hàng nông sản mới, trong đó hoa tươi là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng, đang có thị trường tiêu thụ mạnh ở nước ngoài.
VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP TỔ CHỨC THỐNG NHẤT MỸ CHÂU. Công cuộc vận động lập ra một tổ chức Nam, Bắc Mỹ thống nhất, gọi là Tổ hợp Mỹ Châu (Pan - Americanisn) từ đầu những năm 1800. Năm 1826 Tướng Simon Bolivar của Venezuela, người chủ xướng của một loạt các hội nghị đầu tiên ở Mỹ La tinh. Ông cho rằng các Cộng hoà mới thành lập, cần phải làm việc chung với nhau để giải quyết các vấn đề mới nảy sinh. Thế nhưng, trong suốt 60 năm sau đó, do mối hoài nghi, và ganh tỵ giữa các cộng hoà với nhau, khiến sự hợp tác cấp vùng không thể thực hiện được. Đến năm 1890, Hoa Kỳ và 18 quốc gia Mỹ La tinh mới thành lập được một Liên minh các Cộng hoà Châu Mỹ. Văn phòng trung ương của tổ chức này gọi là “Văn phòng Thương mại” các nước Cộng hoà Mỹ Châu. Năm 1910, Văn phòng này đổi thành “Tổ hợp thống nhất Mỹ” Châu (Pan – American Union).
Mục đích của Tổ chức thống nhất Mỹ Châu này là hợp tác chặt chẽ hơn về kinh tế, chính trị, và văn hoá giữa các nước thành viên. Năm 1948, thành lập Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ (OAS). Và Pan American Union trở thành cơ quan điều hành của tổ chức. Thành viên của nó gồm Hoa Kỳ và tất cả các quốc gia độc lập Mỹ La tinh. Tổ chức (OAS) muốn có một lực lượng phòng thủ chung, hợp tác cấp vùng, và giải quyết các vụ tranh chấp bằng thương thảo hoà bình. Hồi năm 1947, tại Rio de Janeiro, Brazil, Hoa Kỳ và các Cộng hoà Mỹ La tinh đã ký một hiệp ước hỗ tương. Nó tuyên bố rằng "một cuộc tấn công quân sự chống lại bất cứ quốc gia thành viên nào của hiệp ước Rio” sẽ được xem như tấn công chống lại tất cả các quốc gia thành viên của Hiệp ước.
Thế nhưng, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Mỹ La tinh hình như có một cái gì đó khó hiểu. Hoa Kỳ từng hậu thuẫn cho các thuộc địa Mỹ La tinh trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của họ. Năm 1823, Tổng thống Mỹ Jame Monroe đề ra “Học thuyết Monroe” cảnh cáo các thế lực Âu Châu không được can thiệp vào công việc của Tây Bán cầu. Nhưng cũng học thuyết đó, nó tạo ra sự tức giận trong nhiều người Mỹ La tinh. Họ cảm nhận rằng, Hoa Kỳ đang tự cho mình có trách nhiệm trên vùng Mỹ La tinh, để từ đó trở thành “người bảo hộ” trong vùng. Một số người Mỹ La tinh nghi ngờ về sự giàu có, và sức mạnh quân sự của mình, Hoa Kỳ đang cố gắng đạt tới sự thống trị toàn bộ phía Tây Bán cầu này. Những sự nghi ngờ như thế tăng lên khi thấy Hoa Kỳ đánh nhau với Mexico năm 1846 – 1848, để rồi sau đó sáp nhập vùng Texas vào nước Mỹ.
Họ cũng thấy rằng Hoa Kỳ nắm quyền cai trị Puerto Rico năm 1898, là kết quả chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha. Sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trong vùng Mỹ La tinh đầu những năm 1900, làm tăng thêm sự ngờ vực ấy. Năm 1903, quân đội Hoa Kỳ giúp Panama đạt thắng lợi trong việc tách khỏi Colombia để trở thành một quốc gia độc lập. Nhưng đổi lại, Panama phải trao cho Hoa Kỳ kiểm soát một vùng, tại đó kênh đào Panama được xây dựng, mở ra con đường giao thông thuận lợi cho Đông và Tây Hoa kỳ. Người Mỹ La tinh hết sức tức giận khi thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đóng căn cứ quân sự ở Nicaragua năm 1912-1933, ở Haiti năm 1915-1934, và tại cộng hoà Dominica năm 1916 - 1924.
Tất cả các căn cứ quân sự Mỹ ở các nước trên đều nhằm bảo vệ lợi ích Hoa Kỳ trong thời kỳ bất ổn chính trị. Một số quốc gia Mỹ La tinh từng đứng cạnh Hoa Kỳ chống lại Đức quốc trong chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918), nhưng đa số vẫn giữ thái độ trung lập. Sự ngờ vực của người Mỹ La tinh đối với Hoa Kỳ bắt đầu giảm bớt, sau hội nghị Pan - American năm 1933. Tại Hội nghị nầy, Tổng thống Hoa kỳ Franklin D.Roosevelt phác hoạ một chính sách gọi là "chính sách láng giềng tốt". Theo đó, tất cả các quốc gia tự mình cam kết không được quyền can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ quốc gia nào khác. Trong chiến tranh Thế giới lần thứ II (1939 – 1945), tất cả các nước Mỹ La tinh đều ủng hộ phe đồng minh, mặc dù chỉ có hai nước là Brazil và Mexico gởi quân tham chiến.
Kể từ giữa những năm 1900, Hoa Kỳ đã gởi hàng tỷ đô la, và chuyên viên kỹ thuật đến trợ giúp các nước Mỹ La tinh để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội của họ. Một số chương trình liên minh cho sự hợp tác hoà bình, và tiến bộ cũng đã giúp cải thiện vùng Mỹ La tinh, trong các lãnh vực nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục, và chăm sóc y tế. Thế nhưng, trong thập niên 1970 và 1980, quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước My La tinh có vẽ căng thẳng. Một số chính quyền không tôn trọng quyền công dân của nước họ, bị Hoa Kỳ cắt bỏ các khoản viện trợ. Và những chính quyền này cho rằng, Hoa Kỳ đã xen vào công việc nội bộ của họ.
Trái lại, một số quốc gia đề nghị Hoa Kỳ trợ giúp nhiều hơn về kinh tế, và quân sự để đối phó với làn sóng bạo loạn đòi cải cách dân chủ trong nước họ. Năm 1977, Hoa Kỳ ký với Panama một Hiệp ước theo đó, Hoa Kỳ sẽ từ bỏ hoàn toàn quyền kiểm soát kênh đào Panama kể từ ngày 31.12.1999. Qua Hiệp ước nầy, Hoa Kỳ từng bước làm dịu căng thẳng trong khu vực.
Bài 84: BẤT ỔN CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI LÀ VẤN ĐỀ BỨC XÚC Ở VÙNG MỸ LA TINH.
BẤT ỔN CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI. Trong thập niên 1950, làn sóng bạo loạn phản đối khắp các nước Mỹ La tinh đòi cải cách chính trị và kinh tế. Bao loạn đã lật đổ một số nhà độc tài. Thế nhưng, chấm dứt được chế độ độc tài cũng không mang lại dân chủ hơn. Bao loạn nỗ ra thường do các phe nhóm chính trị kình địch nhau tranh giành quyền bính. Đặt bom, bắt cóc, ám sát xảy ra nhiều lần trong một số nước. Các nhà lãnh đạo quân đội nắm quyền hành trong nhiều nước, họ thường vi phạm quyền dân sự của công dân. Họ cho rằng dẹp bao loạn là cần thiết, để ổn định xã hội mà thực hiện cải cách. Họ đóng cửa các trường Đại học, cấm xuất bản báo chí, ban hành luật kiểm soát nghiêm ngặt thông tin, và bỏ tù hàng ngàn người bị tình nghi không cần đưa ra xét xử.
Một trong những sự kiện chính trị quan trọng xuất hiện ở Mỹ La tinh năm 1959, năm Fidel Castro cầm đầu một cuộc nổi dậy ở Cuba lật đổ chế độ quân sự độc tài của Fulgencio Batista. Liền ngay sau đó, Castro cho thành lập một chế độ độc tài khác: độc tài Cộng sản. Fidel Castro còn hứa sẽ giúp các cuộc bao loạn Cộng sản giành chính quyền tại các nước Mỹ La tinh. Nhiều hoạt động của các tổ chức Cộng sản, hoặc cánh tả gia tăng mạnh mẽ vùng Mỹ La tinh. Nhằm đáp trả sự trổi dậy của Cộng sản, Hoa Kỳ gia tăng trợ giúp kinh tế, và quần sự cho nhiều nước Mỹ La tinh. Nhờ vậy, mà ngoài Cubakhông có một nước nào ở Mỹ La tinh trở thành cộng sản. Thập niên 1960 và 1970, kinh tế Mỹ La tinh phát triển nhanh, nhưng khựng lại trong thập niên 1980.
VẤN ĐỀ BỨC XÚC. Nhiều quốc gia đã vay mượn một số tiền lớn để phát triển công nghiệp và không có khả năng trả được nợ. Kết quả là sự bất ổn kinh tế, cùng với nó là các cuộc nổi dậy chống chính quyền quân sự đòi quyền dân sự dẫn đến bạo loạn khắp nơi trong những năm 1980. Cuối cùng một số chính quyền quân sự bị thay thế bởi chính quyền dân sự, thông qua các cuộc bầu cử như Argentina, Brazil và Chile đưa tới một giai đoạn mới tích cực hơn về mối quan hệ giữa Hoa kỳ và các nước Mỹ La tinh trong thập niên 1990. Việc thành lập các chính quyền mới dân sự, cùng với sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và chấm dứt chiến tranh lạnh như được củng cố thêm về mối quan hệ này. Trước đó Hoa kỳ từng lo ngại rằng, kiểu bạo loạn cộng sản như ở Cuba của Castro có thể bành trướng sang các quốc gia Mỹ La tinh.
Nay chấm dứt chiến tranh lạnh rồi, nên Hoa kỳ quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề kinh tế, và duy trì nền tảng dân chủ, cái còn đang mỏng manh và khá mới mẽ ở vùng Mỹ La tinh này. Ngày nay, hầu hết các nước Mỹ La tinh đang đương đầu với các vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc. Họ đang nổ lực giải quyết vấn đề bằng cách hiện đại hoá nền kinh tế, và mở rộng giao thương với nước ngoài. Nhưng nhiều chuyên gia nghi ngờ rằng, đơn phương các nỗ lực này không đủ sức giải quyết được các vấn đề của vùng. Khoảng cách giữa giàu và nghèo đang mở rộng trên nhiều triệu người, họ vẫn còn tiếp tục sống trong cảnh tận cùng của sự nghèo đói, và dân số thì tiếp tục gia tăng với tỷ lệ cao.
Bài 85: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN, VÀ MỤC TIÊU “CÔNG BẰNG, TỰ DO, DÂN CHỦ, CƠ HỘI CHO MỌI NGƯỜI” CỦA HOA KỲ TẠI BẮC MỸ.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN. Cho đến cuối những năm 1400, chỉ có người Mỹ Da đỏ và người Eskinos định cư ở phía Tây Bán cầu. Trong suốt 200 tiếp theo, người Châu Âu từ nhiều quốc gia khác nhau chèo thuyền vượt qua Đại Tây Dương tới Bắc Mỹ. Trong số những người đến Bắc Mỹ, phần lớn là từ Anh Quốc, họ đến và định cư dọc theo bờ phía Đông của Bắc Mỹ giữa những nơi bây giờ là Maine và Georgia. Những người đi chiếm thuộc địa đầu tiền này, làm việc rất tích cực để xây dựng quê hương mới. Hàng loạt các vùng định cư phát triển hưng thịnh ở những nơi cách đó không bao lâu còn hoang dã. Buổi đầu do chịu cai trị từ mẫu quốc Anh. Hơn một trăm năm sau, họ bắt đầu đấu tranh cho nền độc lập của riêng họ. Cuộc chiến khởi sự năm 1775, năm sau (1776) họ tuyên bố chính thức thành lập Liên bang Hoa Kỳ tự do tách khỏi Anh Quốc. Nhưng cuộc chiến còn tiếp tục thêm 6 năm nữa mới đạt chiến thắng hoàn toàn, buộc Anh Quốc phải thừa nhận nền độc lập của họ.
CÔNG BẰNG, TỰ DO, DÂN CHỦ, CƠ HỘI CHO MỌI NGƯỜI. Người Mỹ lại còn phải phấn đấu cho quốc gia tân lập của mình đạt tới nguyên tắc mục tiêu “công bằng, tự do, dân chủ và cơ hội cho mọi người”. Họ mời gọi những người định cư vào các vị trí then chốt trong chính quyền. Hấp lực tự do, công bằng, và cơ hội cho mọi người đã cuốn hút nhiều người trên những phần đất khác nhau của thế giới đổ vào Hoa Kỳ định cư, làm cho dân số tăng nhanh từ 3 triệu người năm 1776 đến nay tăng lên hơn 321 triệu. Cùng với việc gia tăng dân số, lãnh thổ Hoa Kỳ cũng được mở rộng thêm. Bất cứ nơi nào họ đến, người Mỹ tiên phong này cũng làm việc tích cực, để biến những vùng hoang vu thành những nơi trù phú. Nơi nào có đất đai mầu mỡ họ lập trang trại, phát triển chăn nuôi và gieo trồng ngủ cốc.
Họ tìm kiếm, thăm dò hầm mỏ, và các nguồn tài nguyên khác. Họ lập ra thị trấn ở những nơi tìm thấy có tài nguyên, và thành phố được xây dựng dọc theo các lộ trình vận chuyển chính. Tại đây, ngành kinh doanh và công nghiệp không ngừng tăng. Sự phát triển nhanh của những người Mỹ tích cực, đã làm cho nó trở thành một trong những quốc gia lớn nhất thế giới về cả đất đai lẫn dân số. Các hoạt động bận rộn trên khắp nước Mỹ, đã mang về cho nó một vùng đất trù phú, giàu có nhất thế giới. Hoa Kỳ được xếp vào quốc gia sản xuất hàng hoá, và cư dân có tiêu chuẩn sống cao nhất thế giới. Hoa Kỳ cũng là nước đứng đầu thế giới trong các lĩnh vực hàng không, khoa học, y khoa, kỹ thuật, và sức mạnh quân sự.
TẠI VÙNG CỰC BẮC. Vùng cực Bắc (Canada) thì người da đỏ, người Eskinos định cư ổn định ở Arctic. Năm 1497, John Cabot nhà hàng hàng hải Ý Đại Lợi làm việc cho Anh Quốc, tìm thấy một bải cá ngoài khơi bờ Đông nam Canada, từ đó đưa đến các khám phá mới của người Âu Châu trên đất Canada. Pháp dẫn đầu cuộc khám phá này, lập ra thuộc địa phía Đông Canada. Đầu những năm 1600, một thương nhân người Pháp táo bạo hơn đi xa về phía Tây gặp nhiều hồ nước nóng. Dòng sông chảy mạnh, và núi bao phủ đầy tuyết trông đẹp tuyệt vời. Năm 1763, Anh Quốc nắm quyền kiểm soát toàn khu vực, hàng ngàn người nhập cư Anh bắt đầu liên kết với người Pháp còn lại ở Canada. Năm 1867, người Canada nói tiếng Pháp và nói tiếng Anh cùng nhau thành lập một thuộc địa thống nhất, gọi là Vùng-Lãnh thổ tự trị (Dominion of Canada ) Canada thuộc Anh.
Cả hai nhóm người làm việc với nhau tích cực ổn định, và mở rộng thuộc địa từ bờ Đông tới bờ Tây. Họ khai thác các nguồn tài nguyên,và trữ lượng hầm mỏ to lớn của Canada. Năm 1931, Anh Quốc ban cấp chính quyền độc lập cho Canada. Trong suốt những năm 1900, người Canada tích cực làm việc để mang lại cho quốc gia họ một nền kinh tế phát triển vượt bậc. Canada đứng đầu thế giới về lúa mì, các loại hạt ngũ cốc, và lúa mạch. Canada cũng là quốc gia sản xuất điện lớn nhất thế giới, và là một trong những nước phát triển công nghiệp hàng đầu của thế giới. Người nói tiếng Pháp đa số sống ở tỉnh Quebec cố gắng bảo tồn nền văn hoá Pháp của họ. Họ tức giận bởi trong một thời gian dài, chính sách cai trị của chính quyền Canada chỉ dựa vào truyền thống, văn hoá Anh.
Người Pháp chiếm tới 90% dân số tại Quebec, và nhiều người trong số họ từng vận động lập ra một quốc gia Quebec độc lập. Dù vậy, họ cũng ủng hộ các đề nghị của chính quyền địa phương trên lợi ích quốc gia. Người Canada hài lòng về sự hợp tác với Hoa Kỳ trong suốt chiều dài lịch sử để cùng phòng thủ Bắc Mỹ. Nhưng sự thắt chặt về kinh tế quá mức với Hoa Kỳ, đôi khi cũng làm cho họ gặp khó khăn nhất là khi có biến động mạnh ở Hoa Kỳ. Hơn nữa, lối sống văn hoá Mỹ được yêu thích ở Canada đã thách thức nỗ lực của các nhà lãnh đạo nói tiếng Pháp đang cố gắng bảo tồn nền văn hoá Pháp của họ.
Bài 86: VÙNG ANH-MỸ, VÙNG MỸ-LA-TINH TẠI BĂC MỸ, NAM MỸ, LIÊN MINH CHO SỰ TIẾN BỘ
Về phương diện địa lý người ta chia Châu Mỹ ra làm hai lục địa Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Thế nhưng, tại Bắc Mỹ cả phương diện lịch sử, lẫn văn hoá người ta lại chia nó làm hai vùng Canada và Hoa Kỳ gọi là vùng “Anh Mỹ”, còn Mexico, Trung Mỹ, vùng đảo Caribbean và Nam Mỹ gọi là vùng "Mỹ La tinh". Bắc Mỹ là lục địa lớn đứng hàng thứ ba trong các lục địa về diện tích đất, và đứng hàng thứ tư về dân số. Năm 2016, Bắc Mỹ chiếm 22.158.109 km2, và trên 554 triệu cư dân. Ranh giới phía Bắc của Bắc Mỹ là Biển Bắc, và phía Nam là Nam Mỹ. Bắc Mỹ gồm Canada, Greenland, Hoa Kỳ, các quốc gia Trung Mỹ, và quốc gia đảo Caribbean. Canada, và Hoa Kỳ ở phía Bắc chiếm 4/5 diện tích Bắc Mỹ lập nên cái mà người ta thường gọi là vùng "Anh Mỹ" để phân biệt với một phần khác của Châu Mỹ gọi là vùng “Mỹ La tinh”.
VÙNG ANH-MỸ. Sở dĩ gọi nó là vùng “Anh Mỹ” bởi người định cư trong vùng hầu hết là từ Anh Quốc. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính chiếm đa số của vùng. Mexico, các quốc gia phía Nam, và các quốc gia đảo trên biển Caribbean tạo thành tên người ta thường gọi là khu vực Trung Mỹ. Bởi vì, chúng nằm giữa phần phía Bắc, và phía Nam Châu Mỹ. Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính, chiếm đa số tại khu vực Trung Mỹ, mặc dù tiếng Anh cũng được sử dung ở một số nơi trên các quốc gia Đảo. Vùng Anh Mỹ (Canada, Hoa Kỳ) có nhiều trữ lượng lớn than đá, dầu lửa, khí đốt thiên nhiên, và các trữ lượng hầm mỏ khác. Nó cũng có nhiều rừng rậm, và vô số đất làm nông nghiệp. Canada, và Hoa Kỳ sản xuất khoảng 1/3 lượng hàng công nghiệp thế giới. Nó cũng là nơi xuất khẩu lương thực nhiều hơn bất cứ lục địa nào.
VÙNG MỸ-LA-TINH. Trái lại, khu vực Trung Mỹ có rất ít trữ lượng hầm mỏ, và ít đất có thể làm nông nghiệp. Các nước Trung Mỹ xếp vào loại những nước nghèo. Khí hậu Bắc Mỹ, phía Bắc thảo nguyên phủ đầy tuyết, tương phản với nhiệt độ nắng ấm phía Nam trên bờ Caribbean. Cảnh tượng thiên nhiên xinh đẹp kéo dài từ đỉnh núi cao vời vợi, tới những đồng cỏ bằng phẳng vô tận. Rừng gổ đỏ quý hiếm dọc theo bờ Thái Bình Dương, tương phản với bãi cát nóng bỏng của sa mạc rộng lớn phía Tây Nam. Bắc Mỹ còn có đảo lớn nhất thế giới là đảo Greenland, và hồ nước ngọt lớn nhất thế giới, hồ Superior.
TẠI NAM MỸ. Nam Mỹ là lục địa đứng hàng thứ tư trong các lục địa về diện tích đất, và đứng hàng thứ năm về dân số. Năm 2016, Nam Mỹ chiếm 17.731.453 km2, hay 12% diện tích đất của thế giới, và trên 405 triệu cư dan, khoảng 6% về dân số. Nam Mỹ gần như có đủ các thắng cảnh, và khí hậu của trái đất. Rừng mưa nhiệt đới tại lưu vực sông Amazon, chiếm khoảng 2/5 diện tích Nam Mỹ, là khu rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới. Sa mạc Atacama phía bắc Chile là một trong những nơi khô hạn dẫn đầu thế giới. Núi tuyết, và núi lửa nổi lên dọc theo dảy núi Andes cao ngất về phía Tây. Phía Bắc, và phía Nam lục địa thì có các đồng cỏ nhấp nhô tại Venezuala, và Argentina chạy dài xa tít ngoài cả tầm nhìn mắt của người ta.
Phong cảnh khác của Nam Mỹ còn bao gồm nhiều thác nước đẹp tuyệt vời, những hồ nước rộng bao la, và các dãy núi đá hùng vĩ. Cùng với nó còn có các hải đảo quanh năm lộng gió. Nam Mỹ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi. Vô số kể đất làm nông nghiệp, đất trồng rừng lấy gổ, và đồng cỏ cho chăn nuôi. Nam Mỹ cũng có nhiều trữ lượng hầm mỏ, khoáng sản có giá trị. Thế nhưng, các quốc gia Nam Mỹ chưa làm gì nhiều để tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, và đa dạng này để phát triển đất nước, và cải thiện đời sống của người dân.
Cho đến giữa những năm 1900, đa số người Nam Mỹ sống ở nông thôn. Ngày nay, thì hầu hết sống trong các thành phố, nhưng sự khó khăn trong đời sống, và cơ hội tìm kiếm việc làm trong thành phố cũng không dễ dàng gì, bởi lẻ họ không được học hành và thiếu kỹ năng cần thiết. Kết quả là họ không có việc làm, tiếp tục sống trong tình trạng nghèo đói, khốn khó. Vùng Mỹ La tinh bao gồm từ Mexico, và tất cả các quốc gia Trung Mỹ và các Quốc gia đảo, đơn vị tự trị vùngCaribbean phía nam cho tới điểm tận cùng phía Nam của Nam Mỹ. Hầu hết cư dân vùng này thường có nhiều nguồn gốc khác nhau. Ngôn ngữ, tập quán, tôn giáo, nghệ thuật đến Mỹ La tinh phần lớn từ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, trên cơ sở văn hoá La Mã Cổ đại. Bởi vì cái văn hoá La tinh đó mà người ta gọi nó là người La tinh ở Châu Mỹ hay còn gọi là vùng Mỹ La tinh.
Thành phố lớn của Mỹ La tinh mang bóng dáng kiến trúc hiện đại, cùng với nó là xa lộ siêu tốc, trong khi hầu hết làng quê thì mái nhà tranh rạ, đường sá lầy lội. Hầu hết cư dân nghèo nàn và thường thiếu ăn. Thế nhưng, các lễ hội đủ màu sắc thường tràn ngập đường sá trong thành phố, và chật ních các quảng trường làng. Các đám đông nhảy múa theo tập tục rất vui nhộn và sinh động. Đa số người Mỹ La tinh ít được giáo dục, nhiều người không biết đọc, biết viết. Và, Mỹ La tinh chỉ có một số ít trường đại học lớn. Về sáng tạo nghệ thuật như kiến trúc, âm nhạc, văn học Mỹ La tinh cũng đoạt một số giải thưởng xuất sắc được thế giới ngưỡng mộ. Phần nhiều người Mỹ La tinh, là con cháu người Âu Châu. Nhưng cũng có một số lớn người “tạp chủng” da trắng, da đỏ, da đen pha trộn. Brazil, một số nước vùng Caribbean, và Trung Mỹ phần lớn là người da đen.
Trước khi Châu Âu xâm lược Châu Mỹ, người da đỏ Aztec ở Mexico, Maya ở Trung Mỹ, và Inca ở Nam Mỹ đã sống trong các thành phố lớn, và có tổ chức cộng đồng nông nghiệp tốt. Người xâm lược Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha phá huỷ nền văn minh và tổ chức cộng đồng này, và thay thế nó bằng một hệ thống chính trị xã hội gần giống chế độ Phong kiến Châu Âu. Dưới hệ thống này một ít người cai trị như Lãnh chúa (Lords), trong khi đa số người còn lại làm việc cho họ trong các đồn điền, hoặc trong các hầm mỏ. Sau người Anh đi xâm lược và định cư vùng Anh Mỹ (Bắc Mỹ) đứng lên đấu tranh thành lập Liên bang Hoa Kỳ năm 1776, đến đầu những năm 1800, vùng Mỹ La tinh cũng đấu tranh thành lập quốc gia độc lập của riêng họ, tách khỏi sự cai trị từ mẩu quốc Châu Âu.
Thế nhưng, của cải và quyền lực vẫn giữ nguyên trong tay một số ít gia đình, và sau đó là quân đội nắm quyền cai trị theo kiểu độc tài chuyên chế. Và, thế là bạo loạn nổi lên khắp nơi trở thành phổ biến ở vùng Mỹ La tinh. Không giống người Châu Âu định cư ở Hoa Kỳ, và Canada, hầu hết người có thế lực ở Mỹ La tinh không chia xẽ sự giàu có cho cư dân trong vùng. Tiền bạc họ kiếm được từ quốc gia họ đang sống, họ đầu tư vào các nước Châu Âu hoặc Hoa Kỳ để cho tiền đầu tư của họ được an toàn hơn. Họ có nhiều quyền lực chính trị, và thường sử dụng nó để trốn thuế. Và kết quả là, đa số các nước Mỹ La tinh không đủ sức kham nổi các dự án quan trọng, như xây dựng các công trình thuỷ điện, và xa lộ mới.
LIÊN MINH CHO SỰ TIẾN BỘ. Năm 1961 Hoa Kỳ, và 19 quốc gia Mỹ La tinh đề ra một kế hoạch hợp tác, gọi là "Liên minh cho sự tiến bộ" (Alliance of progress). Kế hoạch dự kiến sẽ đưa đến một số cải cách trong các lãnh vực y tế, nhà ở, giáo dục. Trong thập niên 1960, nhiều tỷ đô la được sử dụng thực hiện một phần kế hoạch. Trước khi thành lập Liên minh cho sự tiến bộ, Hoa Kỳ đã cho nhiều quốc gia Mỹ La tinh vay nhiều tỷ đô la để phát triển. Các công ty Hoa Kỳ, và Châu Âu cũng đã đầu tư một số lớn tiền bạc vào khai thác hầm mỏ, và sản xuất công nghiệp ở Mỹ La tinh. Thế nhưng, người Mỹ La tinh cho rằng các nhà kinh doanh nước ngoài chỉ nhắm vào số tiền lời khổng lồ sẽ kiếm được, chứ không quan tâm đến vấn đề an sinh của đa số người dân trong vùng.
Kết quả là, trong hai thập niên 1960 và 1970, các quốc gia Mỹ La tinh từng bước giảm bớt đầu tư nước ngoài. Chính quyền Bolivia, Chile, Peru, và Venezuela, còn quốc hữu hoá các công ty công nghiệp do Hoa Kỳ, và Châu Âu làm chủ. Thế là cả kế hoạch Liên minh cho sự tiến bộ, và đầu tư nước ngoài phải chựng lại.
Bài 87: QUỐC GIA, LÃNH THỔ, SẮC TỘC, TÔN GIÁO 23 NƯỚC BẮC MỸ, VÀ 12 NƯỚC NAM MỸ.
23 NƯỚC TẠI BẮC MỸ. Bắc Mỹ được chia thành 23 quốc gia độc lập, và 11 vùng phụ thuộc gồm cả quốc gia lớn đứng hàng thứ hai và thứ tư thế giới về đất đai là Canada chiếm 9.984.670 km2, và Hoa Kỳ đứng hàng chiếm 9.826.675 km2. Nhưng Bắc Mỹ, cũng có tới 7 nước mà diện tích lãnh thổ của mỗi nước, chỉ chiếm trên dưới 500 km2. Người Bắc Mỹ đầu tiên cư trú trên lục địa này là người Mỹ da đỏ họ đến đây từ Châu Á cách đây khoảng 15.000 năm. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng, người da đỏ lần theo các đàn thú săn vượt qua eo biển Bering bấy giờ là đất liền mà tìm đến đây. Cuối cùng họ định cư trải rộng ra khắp lục địa, nhưng nhiều nhất là ở Trung Mỹ. Tổ tiên người Eskimos đến sau, cũng từ Châu Á. Cuối những năm 1400 và đầu những năm 1500, các nhà thám hiểm Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha vượt Đại Tây Dương đến Trung Mỹ, mở đầu cho người Châu Âu đến Châu Mỹ định cư.
SẮC TỘC, NGÔN NGỮ, TÔN GIÁO. Khoảng 100 năm sau, người Anh, và người Pháp đến Bắc Mỹ nơi bây giờ là Canada, và Hoa Kỳ. Người da đen Châu Phi bị đưa sang Bắc Mỹ bởi Tây Ban Nha. Họ đến làm việc trong các đồn điền trồng mía vùng Caribbean như người nô lệ. Sau đó, người nô lệ Châu Phi da đen cũng bị đưa sang các khu vực đất liền dọc theo bờ Đại Tây Đương. Có trên 500 triệu người sống ở Bắc Mỹ. Hơn 1/3 người Hoa Kỳ, và gần 1/2 người Canada có nguồn gốc Châu Âu, từ các đảo nhỏ ở Anh. Hơn 1/4 dân số Canada có nguồn gốc từ Pháp. Hầu hết tổ tiên người Trung Mỹ cũng là người Châu Âu, họ đến xứ này từ Tây Ban Nha. Người da đen Châu Phi chiếm 12% dân số Hoa Kỳ. Đa số người trên các quốc gia đảo Caribbean là người Châu Phi da đen.
Những người khác đều là người lai, con cháu cuả người da đen, và da trắng kết hôn với nhau. Người Châu Á chiếm một tỉ lệ nhỏ trong cấu trúc dân số Bắc Mỹ. Họ đến Bắc Mỹ từ Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, Nhật Bản, Đại Hàn, và Philippines trong những năm 1800. Người da đỏ hiện có ở Hoa Kỳ, và Canada đều sống trong vùng đất dành riêng. Cũng có nhiều người da đỏ sống ở miền Trung Mexico, và các nơi khác của Trung Mỹ. Đa số họ là người có tổ tiên da trắng, và da đỏ hợp thành qua hôn nhân. Chỉ có khoảng 136.000 người sắc tộc Inuits, và Aleuts ở Bắc Mỹ, phần lớn sống ở Alaska bắc Canada, và Greenland.
Hầu hết người Bắc Mỹ nói tiếng Anh, Tây Ban Nha, và tiếng Pháp, ngôn ngữ của những người Châu Âu đi chiếm thuộc địa buổi đầu. Tiếng Anh được sử dụng trên toàn Liên bang Hoa Kỳ, và hầu hết cư dân ở Canada. Số còn lại tại Canada nói tiếng Pháp. Tất cả người Mexico, người Trung Mỹ, và các quốc gia đảo Caribbean nói tiếng Tây Ban Nha, Anh, Pháp hoặc Hoà Lan. Người da đỏ, và người Inuits thì sử dụng ngôn ngữ riêng của họ. Hầu như đa số người Châu Mỹ là tín đồ Thiên chúa, trong đó Thiên chúa giáo La Mã chiếm phần lớn nhất, kế đến là Thiên chúa giáo Tin lành. Tuy nhiên, có một số nước vùng Mỹ La tinh chính thức hậu thuẩn cho Thiên chúa giáo La Mã.
Châu Mỹ còn có các tôn giáo khác như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, và Do Thái giáo. Một số không nhỏ người da đỏ, da đen thờ cúng thượng đế (Gods) theo niềm tin riêng của họ. Vùng "Anh Mỹ" gồm Hoa Kỳ, và Canada, tôn giáo không chi phối chính trị, xã hội như vùng "Mỹ La tinh". Có trên 50 hệ phái Thiên chúa giáo thờ chúa khác nhau ở Hoa Kỳ. Chính Thống giáo có 6 hệ phái, Do Thái giáo có 3 hệ phái, Hồi giáo, Phật giáo cũng có nhiều hệ phái. Và hầu hết các tôn giáo đều do từ nguồn gốc tổ tiên của họ. Trên dưới 55% người Hoa Kỳ theo đạo Tin lành, lớn nhất là Baptists, kế là Episcopalians, Lutherans và Methodists.
Nhiều người Mỹ đến các thuộc địa buổi đầu là chạy trốn sự bức hại tôn giáo từ nhiều nơi khác nhau. Họ gồm tín đồ Puritans ở New England, tín đồ Roma Cathotics ở Maryland, và tín đồ Quaker ở Pensylvania. Chính những tín đồ này đã làm ra luật tự do tôn giáo. Người Pháp đầu tiên mang Thiên chúa giáo La Mã đến Canada. Hiện có trên 10 triệu nguời Canada theo Thiên chúa giáo La Mã. Kế đến là tín đồ Tin Lành. Nhà thờ Tin Lành tổng hợp Canada có trên dưới 3,5 triệu người theo, Tin Lành khác gồm Presbyterians, Lutherans, và Baptists. Nhà thờ Anh Quốc giáo có gần ba triệu tín đồ, Do Thái giáo 300.000, Hồi giáo 100.000, Phật giáo, Hindu đang phát triển từ những người mới nhập cư.
12 NƯỚC TẠI NAM MỸ. Nam Mỹ có 12 quốc gia độc lập, và 2 vùng phụ thuộc gồm cả quốc gia lớn đứng hàng thứ 5 thế giới cả diện tích đất lẫn dân số là Brazil chiếm 8.514.877 km2, và trên 202 triệu cư dân. Nhưng Nam Mỹ cũng có hai quốc gia dưới 1 triệu người là Guyana, và Suriname. Trước khi người Châu Âu đến Nam Mỹ, vùng này đã có cư dân sinh sống khá lâu, đó là người Mỹ da đỏ. Cuối những năm 1400 và đầu những năm 1500, người Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha từ phía Nam Châu Âu bắt đầu đến định cư Nam Mỹ. Không bao lâu sau khi người Châu Âu đến, họ bắt đầu đưa vào đây nhiều người Châu Phi da đen để làm nô lệ.
SẮC TỘC. Trải qua nhiều trăm năm một số lớn người da trắng, da đỏ, và da đen kết hôn với nhau. Vì vậy mà ngày nay hầu hết người Nam Mỹ có nguồn gốc pha trộn. Họ chính là con cháu của người da đỏ, và da trắng, hoặc con cháu của người da đen, và da trắng, do nguồn gốc hôn nhân của cha ông họ. Số người còn lại là người thuần da đỏ, da đen, hoặc da trắng. Người Nam Mỹ chia xẽ các truyền thống, và giá trị từ nguồn gốc kế thừa tại thuộc địa nơi họ đang sống. Sự kế thừa nguồn gốc văn hóa ấy được phản ảnh ở sự kết hợp của người Mỹ gốc Châu Phi, gốc Bản địa, và gốc Châu Âu. Christopher Colombus một thuyền trưởng người Ý làm việc cho Tây Ban Nha đặt chân lên Châu Mỹ năm 1492. Lúc ấy người da đỏ đã sống ở đây khoảng 40.000 năm. Các sắc tộc Mỹ da đỏ đã có một nền văn minh phát triển cao.
Sau cái năm 1492 lịch sử ấy, người Châu Âu nhanh chóng đến Nam Mỹ chiếm hầu hết đất của người da đỏ, và lập ra các thuộc địa định cư. Người Châu Âu cai trị thuộc địa Nam Mỹ khoảng 300 năm. Đầu những năm 1800, nhiều thuộc địa Nam Mỹ đạt tới sự độc lập của họ, và trở thành các nước Cộng hoà. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo cuả những nước cộng hoà mới thiếu kinh nghiệm cần thiết để giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội nghiêm trọng. Kết quả là các nước Cộng hoà tân lập không làm được những điều mà mọi người trông đợi. Nhân cơ hội đó, một số nhà quân sự độc tài chiếm quyền cai trị đất nước ở Nam Mỹ. Một số khác lại bị cai trị bởi một ít gia đình đầy quyền thế. Tất cả đều sử dụng vị trí cai trị, chức vụ để làm giàu cho cá nhân. Còn đại bộ phận dân chúng đến cuối những năm 1900, vẫn còn tiếp tục sống trong cảnh nghèo đói.
Nam Mỹ có 4 nhóm cư dân chính xét theo nguồn gốc tổ tiên: Mỹ da đỏ, Châu Âu da trắng, Châu Phi da đen, và người có nguồn gốc Pha trộn. Giai cấp xã hội Nam Mỹ phần lớn dựa vào nguồn gốc tổ tiên. Người có nguồn gốc pha trộn hầu hết tạo thành giai cấp trung lưu. Phần lớn người ở giai cấp thấp là những người da đỏ, và da đen. Giai cấp thượng lưu chiếm một tỷ lệ rất nhỏ chủ yếu là người da trắng. Nhưng vị trí xã hội thì không dựa vào nguồn gốc tổ tiên. Người da đỏ, da đen, hoặc người lai đều có thể giữ vị trí cao trong xã hội nếu họ có khả năng.
Tại Brazil chẳng hạn, nhiều người da đen trở thành nổi tiếng trong các lĩnh vực nghệ thuật, kinh doanh, chính trị, hoặc khoa học. Hiện người da đỏ chiếm một tỷ lệ lớn ở Bolivia, Ecuador, và Peru. Đa số người da trắng sống ở Argentina, Costa Rica, và Uruguay, cũng có một số lớn sống ở Brazil, và Chile. Còn người da đen tại Nam Mỹ thì nước nào cũng có, nhưng đông nhất là tại Brazil. Người có nguồn gốc Pha trộn da đỏ và da trắng gọi là "Mestizos" chiếm đa số cư dân ở Colombia, Paraguay, và Venezuela. Còn nhóm pha trộn da đen và da trắng gọi là "Mulattoes" phần lớn sống ở Brazil.
NGÔN NGỮ. Hầu hết người Nam Mỹ nói ngôn ngữ Châu Âu, quốc gia cai trị thuộc địa cũ của họ. Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính của Brazil. Các nước còn lại ở Nam Mỹ, tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính của họ. Ngoại trừ vài nước có ngôn ngữ pha trộn như tại Paraguay, ngôn ngữ Guarani của người da đỏ, cùng với tiếng Tây Ban Nha đều là ngôn ngữ chính. Tại Peru tiếng Quechua của người da đỏ cũng là ngôn ngữ chính, cùng với ngôn ngữ Tây Ban Nha. Riêng tại Bolivia có tới 3 ngôn ngữ chính là tiếng Tây Ban Nha, tiếng Quechua, và tiếng Aymara của người da đỏ.
TÔN GIÁO. Sau các nhà thám hiểm, những người đi chiếm thuộc địa đinh cư Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha mang niềm tin Thiên chúa giáo La Mã đến vùng Mỹ La tinh, vừa thuyết phục vừa cưỡng bức người Mỹ da đỏ theo Thiên chúa giáo. Khi người nô lệ da đen Châu Phi đến Mỹ La tinh làm việc trong các đồn điền, và hầm mỏ, họ cũng bị cưỡng bức theo Thiên chúa giáo La Mã. Trong suốt thời kỳ cai trị thuộc địa, nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã là người thực hiện quyền chính trị lớn nhất vùng Mỹ La tinh. Nhà thờ làm chủ vô số đất đai và các tài sản khác, khuynh đảo hệ thống giáo dục. Đầu những năm 1800, nhiều thuộc địa Mỹ La tinh vận động cho nền độc lập của họ, chỉ có một số rất ít thành viên trong giới tăng lữ ủng hộ cuộc vận động này, nhưng đa số giới tăng lữ thì phản đối nó.
Sau khi được độc lập, nhiều chính quyền Mỹ La tinh từng bước giảm bớt sự khuynh đảo của các nhà thờ. Họ rút bớt đất đai, tài sản, giới hạn hoặc truất quyền độc tôn của nhà thờ trong lĩnh vực giáo dục, bệnh viện, nghĩa trang, và các hội từ thiện, cái mà nhà thờ từng nắm từ nhiều trăm năm. Đầu những năm 1900, nhà thờ La Mã lại kết nối với các lãnh đạo quân sự, chủ đất giàu có đang nắm chính quyền trong tất cả các quốc gia Mỹ La tinh. Và thế là bộ ba: nhà thờ La Mã, giới lãnh đạo quân sự, giới chủ đất giàu có lại khuynh đảo gần như toàn bộ các nước Mỹ La tinh. Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970, trong vài bình luận của nhà thờ La Mã, làm nảy sinh mâu thuẩn giữa chính trị và tôn giáo trong một số nước.
Hiện Mỹ La tinh có gần 80% tín đồ Thiên chúa giáo La Mã, 5% người theo đạo Tin Lành gồm hệ phải Baptists, Episcopolians, Lutherians, và Methodists. Nhiều người da đỏ, hoặc da đen kết hợp niềm tin Thiên chúa giáo, và niềm tin thần linh theo truyền thống riêng của họ.
Bài 88: VÀI SỰ KHÁC NHAU Ở VÙNG ANH-MỸ, VÀ VÙNG MỸ LA TINH TẠI CHÂU MỸ.
VÙNG ANH-MỸ. Anh Mỹ gồm Hoa Kỳ và Canada, phần lớn có nguồn gốc từ Âu Châu. Cho nên văn hoá thuần Âu Châu tồn tại như là phong cách sống của họ. Họ xem gia đình là nền tảng, cha mẹ, và con cái có sự ràng buộc mạnh mẽ. Nhưng do phong cách tự lập cao, nên đến một lúc nào đó sự ràng buộc có giá trị tinh thần nhiều hơn là vật chất. Chẳng hạn cha mẹ kỳ vọng vào sự thành đạt của con cái như một niềm kiêu hãnh của gia đình, hơn là trông chờ con cái sẽ đưa về cho họ những lợi lộc vật chất. Đối với con cái cũng vậy, họ tự hào bởi cha ông đã để lại tiếng tăm về sự đóng góp cho quốc gia, xã hội bằng những công việc "ích nước lợi dân". Dù cha mẹ đang có chức cao, bổng hậu, con cái họ vẫn không mảy may ỷ lại để đánh mất tính tự chủ độc lập của mình.
Gia đình ở Hoa Kỳ, và Canada, phần nhiều chỉ gồm cha mẹ và con cái, rất hiếm thấy kiểu gia đình mở rộng. Tại Hoa Kỳ các cộng đồng thành phố có hơn 2500 cư dân, còn cộng đồng nông thôn thì dưới 2500 cư dân. Thống kê năm 1790 cho thấy có hơn 95% người Hoa Kỳ sống ở nông thôn, ngày nay thì có hơn 75% sống ở thành thị. Vùng rộng lớn cực Bắc Canada nơi người Mỹ da đỏ, và người Eskimos từng sống hàng ngàn năm trước đây, nay cư dân vùng này rất thưa thớt, người da đỏ và Eskimos chiếm tới một nửa. Những người còn lại là thương nhân, người khai thác hầm mỏ, lực lượng quân đội, và cảnh sát biên phòng hoàng gia Canada. Một số người Eskimos, và người Mỹ da đỏ vẫn còn theo nếp sống cổ truyền đánh cá, săn bắt, và đánh bẩy súc vật, nhưng nhìn chung đa số họ đã chấm dứt lối sống cổ truyền.
VÙNG MỸ-LA TINH. Đối với vùng Mỹ La tinh, thì gia đình luôn được xem trọng. Cảm nhận về lòng trung thành, và hợp tác đã ràng buộc họ lại với nhau, không chỉ cha mẹ với con cái mà còn cả ông bà, cô cậu, và anh em họ nữa. Những cảm nhận như thế cũng thường được chia xẽ với bạn bè, và hiệp hội kinh doanh. Kiểu gia đình mở rộng đã đưa lại cho các thành viên của nó các sự trợ giúp tài chánh, bảo đảm an toàn, và cả đời sống xã hội. Trong gia đình người đàn ông là chủ gia đình, ông ta làm việc và gánh vác toàn bộ kinh tế gia đình. Con cái được giáo dục phải vâng lời cha mẹ, ông bà, và anh chị lớn hơn mình. Truyền thống Mỹ La tinh chỉ có người đàn ông mới tìm kiếm việc làm bên ngoài gia đình, người phụ nữ luôn ở nhà nội trợ và chăm sóc con cái.
Đầu thập niên 1960, phụ nữ tất cả các quốc gia Mỹ La tinh được quyền bầu phiếu. Và nhờ được giáo dục, một số phụ nữ còn hoạt động cả trong lĩnh vực chính trị, hoặc nắm giữ chức vụ cao trong chính quyền. Hầu hết người da đỏ cảm nhận rằng lòng trung thành, và mối quan hệ dòng tộc của họ mở rộng từ gia đình đến cộng đồng. Họ tự hào về di sản kế thừa sắc tộc của họ, và hài lòng việc họ đang là thành viên của nhóm sắc tộc, hoặc bộ tộc du canh du cư hơn là công dân của quốc gia họ. Cách ăn mặc ở Mỹ La tinh khác nhau từ một vùng này với một vùng khác tuỳ thuộc vào khí hậu, và tập quán. Các thành phố mặc quần áo giống Hoa Kỳ và Canada, nhưng ở khu vực nông thôn nhiều làng thích ăn mặc quần áo theo kiểu cách truyền thống, thường là màu sắc rực rỡ, kiểu dáng sinh động. Phụ nữ người da đỏ ở cao nguyên Bolivia đội mũ len quả dưa (derby).
Người chăn bò (Cowboys) ở Argentina, và Uruguay, mặc áo chui đầu, quần dài rộng, mang giày ống thấp cổ, và đội mũ rộng vành. Hạt ngũ cốc là thực phẩm chính của hầu hết người Mỹ La tinh. Nhiều người ở Mexico, và Trung Mỹ ăn bánh mỳ lạt từ bột bắp, hoặc bột mì. Bữa ăn của người ở khu vực Caribbean thì có đậu, và gạo là phần chính. Trong khu vực núi non Nam Mỹ người ta ăn khoai tây hàng ngày. Người ở khu vực nhiệt đới lại ăn củ sắn và bột sắn. Tại Argentina, và Uruguay, người ta ăn thực phẩm chế biến từ lúa mỳ. Đa số người Mỹ La tinh ăn rất ít thịt bởi vì họ không đủ tiền mua thịt. Nhưng tại các nước nuôi bò như Argentina, và Uruguay, người ta ăn nhiều thịt bò hơn. Cư dân sống dọc theo các con sông, hoặc cạnh bờ biển thường ăn nhiều cá, và các loại nghêu sò, tôm, cua.
Khu vực nhiệt đới người ta thích ăn trái cây như chuối, xoài, cam, thơm. Họ thích uống cà phê, trà, và các thức uống có nồng độ cao như rượu rum, rượi vang, và một loại rượu mạnh "Aguardiente" chế tạo từ cây mía đường. Giai cấp trung lưu, và thượng lưu người Mỹ La tinh bữa ăn thường phong phú hơn người nghèo, có nhiều thịt, và cách chế biến cũng khác. Người Mỹ La tinh thích hoạt động vui chơi giải trí ngoài trời. Bóng đá là môn được ưa chuộng nhất trong vùng. Hàng trăm ngàn người xem ngồi chật kín các sân vận động khổng lồ trên khắp các quốc gia Mỹ La tinh để xem các đội bóng chuyên nghiệp thi đấu. Các ngôi sao bóng đá trở thành người hùng quốc gia.
Bóng chày (Baseball) là môn đặc biệt yêu thích tại các quốc gia đảo. Một kiểu chơi bóng khác, dùng gậy đánh banh vào lưới đối phương gọi là Criket được yêu chuộng ở Bahamas, Jamaica, Trinidad, và Tobago. Đấu bò Tây Ban Nha cũng được đặc biệt yêu thích ở Mexico, Colombia, Peru, và Venezuela. Các cuộc đua thuyền trên sông nước, những đoàn nhảy múa theo vũ điệu truyền thống trên đường phố, những đoàn trình diễn âm nhạc thi đấu thể thao, và những ngày đốt pháo bông, tất cả đều mang dáng dấp đặc trưng của Mỹ La tinh.
Bài 89: ĐỜI SỐNG Ở NÔNG THÔN, THÀNH THỊ TẠI BẮC MỸ, VÀ TẠI MỸ LA TINH.
NÔNG THÔN BẮC MỸ. Đất thôn quê chiếm 98% diện tích lãnh thổ Hoa Kỳ, nhưng nhiều nơi không có người ở, hoặc rất thưa thớt cư dân. Trên dưới 25% người Mỹ sống thôn quê. Nghề nông là kinh tế chủ yếu của khu vực nông thôn, nhưng khoảng 3% người thôn quê làm việc như nông dân. Người khác làm nghề kinh doanh tự do, hoặc làm những việc liên quan đến nông nghiệp như cho thuê cửa hàng, hoặc kho bãi chứa vật liệu. Khai thác mỏ cũng cung cấp nhiều việc làm cho nông thôn. Và cũng có nhiều người Mỹ ở đây làm giáo viên, viên chức chính quyền, bán hàng, hoặc nghề khác. Người nông dân Hoa Kỳ ngày nay sống khác xa cha ông họ. Máy móc giúp họ cày xới đất gieo hạt, và thu hoạch hạt ngũ cốc. Sản phẩm của họ có người khác phân phối tới các thị trường.
Hằng ngày có hệ thống chuyển tải thức ăn tới nuôi súc vật trong trang trại. Máy vắt sữa thay thế cái công việc nhàm chán hằng ngày. Gia đình người nông dân có tiện nghi sống gần như thành phố xe hơi, điện thoại, radio, máy truyền hình, máy giặt, máy rửa chén, nhà nào cũng có. Từ thập niên 1970, có nhiều người từ nông thôn di chuyển về thành phố. Nhưng cũng có nhiều người từ thành phố về sống ở nông thôn, như muốn tránh cái ồn ào, ô nhiễm, kẹt xe, tội phạm hình sự, và bao sự phiền toái của thành phố. Nông thôn cũng có khoảng cách giàu nghèo, nhưng không quá lớn như khoảng cách ấy ở thành phố.
Cũng giống Hoa Kỳ, Canada có gần 25% cư dân sống ở nông thôn, nhưng kiếm sống bằng nghề nông dưới 3%. Người khác thì khai thác hầm mỏ, khai thác rừng, và đánh cá. Hầu hết nông dân ở Canada có trang trại riêng, làm việc bởi thành viên của gia đình. Máy móc hiện đại giúp mỗi gia đình làm hết mọi công việc trong trang trại của họ. Nơi có trang trại lớn nhất ở Canada là tỉnh Prairie (tương đương Tiểu bang) mỗi trang trại trung bình 344 ha, và trang trại nhỏ nhất 120 ha. Tỉnh Prairie chiếm khoảng 75% trang trại của Canada. Nông sản thu hoạch chất vào các xe nâng hàng, dọc theo đường xe lửa nối liền trang trại tới cảng cạnh bờ hồ, hoặc bờ biển Thái Bình Dương. Thị trấn được xây dựng dọc theo đường xe lửa có cửa hàng, trường học, và có nhiều dịch vụ phục vụ công cộng.
NÔNG THÔN MỸ LA TINH. Có khoảng 30% dân số trong các quốc gia vùng Mỹ La tinh sống ở nông thôn. Nhưng không như vùng Anh Mỹ, hầu hết các gia đình nông dân, gọi là công nhân nông nghiệp đều nghèo. Họ làm việc trong các đồn điền cà phê ở cao nguyên, hoặc trên các nông trại lớn sản xuất các mặt hàng nông sản xuất khẩu, do những người giàu có làm chủ. Số còn lại làm thuê, hoặc làm chủ một mảnh đất nhỏ trên đó họ gieo trồng hạt ngũ cốc, và chăn nuôi kiếm đủ thực phẩm nuôi sống gia đình. Họ không có tiền mua máy móc và do vậy họ phải dùng công cụ bằng tay, làm việc trên mảnh đất riêng của họ. Công nhân nông nghiệp trong các đồn điền vùng đảo Caribbean trồng mía đường, bông vải, và chuối, phần lớn là người da đen.
Còn công nhân làm việc trên các đồn điền bên trong nội địa cũng sản xuất các mặt hàng tương tự, và một số hàng nông sản khác đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, thì hầu hết người pha trộn nguồn gốc da trắng, và da đỏ gọi là mestizos. Tất cả họ đều sống trong những ngôi làng nhỏ. Mỗi sáng sớm họ đi bộ, hoặc xe buýt hoặc xe tải từ nơi ở đến nông trường làm việc, và chiều trở về nhà cũng bằng phương tiện đó. Một số làng chỉ có một ít nhà chung sống với nhau, đều chật chội thiếu tiện nghi như nhau. Một số nơi định cư lớn thì có nhà thờ, cửa tiệm, và các toà nhà của chính quyền bao quanh một quảng trường gọi là "Plaza". Người ta sẽ tụ tập tại quảng trường trong những dịp lễ lạc, vui chơi giải trí, hoặc họp bàn những công việc liên quan đến tập thể của cộng đồng.
Nhiều làng cũng có chợ "lộ thiên" không có mái che, tại đây mỗi cuối tuần người ta sẽ họp nhau lại mua, bán, trao đổi hàng hoá, và thông tin mà một số người biết được qua nghe radio, xem truyền hình, và đọc báo. Đa số nhà cửa ở nông thôn vùng Mỹ La tinh có một hoặc hai phòng, mái lợp bằng cỏ rơm khô hoặc tấm thiết, tường gổ hoặc trát bùn khô kết dính lại, nền đất. Các làng ở vùng rừng núi, phần nhiều nhà được xây bằng đá hoặc bằng gạch phơi khô, và mái lợp bằng ngói đỏ. Các chủ đất giàu có sống trong những dinh thự nguy nga sang trọng trên đất của họ. Nhưng hầu hết thời gian họ sống ở thành phố, họ thuê người điều hành quản lý trang trại. Một cách tổng quát người ở nông thôn có tiêu sống thấp hơn nhiều so với thành phố.
Nhiều gia đình ở nông thôn không có tiện nghi như điện, nước, điện thoại ngay cả nhiều làng không có trường học, và cơ sở y tế. Sự thiếu vắng tổ chức y tế, cùng với sự chênh lệch giàu nghèo trong các vùng quê Mỹ La tinh dẫn đến những vấn đề kinh tế, xã hội nghiêm trọng. Một số nhỏ người giàu có cùng với các chủ trang trại ít giàu hơn, làm chủ tất cả các phần đất tốt nhất, còn đại bộ phận nông dân không có đất canh tác phải thuê những mảnh đất nhỏ, đầu thừa đuôi thẹo, hoặc đất xấu thiếu màu mỡ, để gieo trồng lương thực nuôi sống gia đình. Từ những năm 1900, nhiều chính quyền vùng Mỹ La tinh ra sức cải thiện đời sống của cư dân ở vùng quê.
Nhờ đó, mà người ta không muốn di chuyển vào thành phố như những năm trước đó. Một số chính quyền còn đưa ra các chương trình cải cách nông nghiệp, mua lại các vùng đất rộng lớn của địa chủ chia thành từng vùng nhỏ, rồi cấp phát cho nông dân nghèo. Nhiều chính phủ còn xây dựng đường sá cung cấp điện nước, và tiện nghi hiện đại khác cho hàng ngàn thị trấn, và các làng mạc. Từ thập niên 1960, nhiều gia đình rời khỏi các làng kém phát triển đến định cư tại vùng đất mới. Tuy nhiên, một số trong họ gặp phải thất bại, bởi vì chi phí cải tạo đất gieo trồng quá cao, nhưng nhà nước lại không đủ tiền tài trợ.
THÀNH THỊ BẮC MỸ. Mở rộng thị trấn bao quanh thành phố là đặc trưng của các thành phố ở Hoa Kỳ. Thành phố chỉ chiếm 2% đất, nhưng nó là nơi cư trú của 75% dân số của nước Mỹ. Người ta gọi là "Metropolitan Areas" vùng ven thành phố. Có khoảng 330 vùng ven thành phố ở Hoa Kỳ. Thành phố lớn nhất ở Hoa Kỳ là New York có trên 10 triệu cư dân, nhưng nếu tính cả khu vực bao quanh thành phố thì có trên 19 triệu người, hoặc như thành phố Los Angeles đứng hàng thứ hai với trên dưới 5 triệu cư dân, nhưng tính cả khu vực bao quanh thành phố thì có trên 15 triệu người. Khu vực thành phố cung cấp việc làm cho nhiều loại công nhân khác nhau: công nhân nhà máy, nhân viên ngân hàng, bác sĩ, quân đội, nhân viên y tế, nhân viên cảnh sát, giáo viên, công nhân xây dựng, công nhân vận tải, và cả công nhân vệ sinh.
Và ở đó, cũng có các nhu cầu tiện ích khác như nhà hàng, nhà hát, và các loại vui chơi giải trí tái phục hồi sức lao động. Người giàu có sống trong các căn nhà sang trọng với đầy đủ tiện nghi, giai cấp trung lưu ở trong các căn nhà song lập, hoặc chung cư với những tiện nghi riêng biệt nhưng không bằng giới giàu có. Trái lại, giai cấp nghèo sống trong những căn nhà dưới tiêu chuẩn. Họ thuê những căn hộ chung cư, vợ chồng con cái đôi khi có cả cha mẹ sống chen chúc nhau rất chật chội. Cũng như các thành phố khác trên thế giới tội phạm hình sự, xung đột sắc tộc, sự ồn ào náo nhiệt, và cả nạn kẹt xe thường xảy ra ở các thành phố Hoa Kỳ.
Canada có khoảng trên dưới 75% cư dân sống ở thành phố. Ba thành phố lớn nhất ở Canada là Montreal, Toronto, và Vancouver, và 23 thành phố có trên 200.000 cư dân. Tất cả thành phố đều có họat động văn hoá, nghệ thuật giải trí, như trình diễn âm nhạc, chiếu bóng, tham quan danh lam thắng cảnh, viện bảo tàng, công viên, lâm viên, và nhiều sự kiện thể thao khác. Các thành phố ở Canada phát triển rất nhanh, nhưng ít có tệ nạn tiêu cực phát sinh như các thành phố Châu Âu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây một số thành phố cắt giảm chi tiêu cho giáo dục, y tế, và an sinh xã hội đã tạo ra vài khó khăn. Hơn nữa, một số người mới nhập cư đang phát sinh một số mẫu thuẫn giữa họ, hoặc giữa họ với người xung quanh.
THÀNH THỊ MỸ LA TINH. Năm 1940, hơn 65% dân số vùng Mỹ La tinh sống ở nông thôn. Ngày nay tới 70% người Mỹ La tinh sống ở thành thị. Bốn thành phố Mỹ La tinh, và các vùng phụ cận cuả nó được xếp loại các thành phố trung tâm lớn nhất thế giới. Đó là thành phố Mexico City, của Mexico trên 20 triệu người; São Paulo của Brazil trên 20 triệu; và Buenos Aires của Argentira trên 15 triệu cư dân. Các toà nhà chọc trời khung thép, tường kính mọc lên trong các khu thương mại, và tài chánh nơi luôn bận rộn. Những dãy chung cư cao tầng cạnh các đại lộ rộng thênh thang. Nhiều cửa hàng sang trọng, nhà hàng, quán rượu, và câu lạc bộ về đêm luôn hấp dẫn và cuốn hút đông đảo khách lui tới. Hệ thống xe bus, và xe điện ngầm hiện đại đã đưa hàng triệu người đến nơi làm việc, và về nhà sau giờ tan sở.
Nhiều khu vực Cổ trong thành phố Mỹ La tinh có những toà nhà kiểu Tây Ban Nha đứng sát nhau, dọc theo các con đường rải đá sỏi chật hẹp. Những toà nhà được xây bằng đất sét hoặc gạch phơi khô, với các trang trí lưới sắt trên cửa sổ, thì chính quyền mua, trùng tu và sử dụng như những bảo tàng nhỏ. Người giàu có ở thành phố bao gồm các chủ ngân hàng, kỹ nghệ gia, lãnh đạo chính trị, chỉ huy quân đội, và các công ty nông nghiệp lớn, chủ trang trại thích sống ở thành phố. Đa số trong bọn họ nắm quyền kiểm soát toàn bộ hệ thống kinh tế, chính trị trong mỗi quốc gia. Họ sống trong các dinh thự nguy nga, lộng lẫy với những hồ bơi trang trọng, hoặc trong các chumg cư sang trọng đắt tiền. Nhiều người giàu có thường đi du lịch nước ngoài, và gởi con cái họ vào các trường đại học danh tiếng ở Hoa Kỳ.
Dưới giai cấp thượng lưu kể trên, tất cả các thành phố lớn Mỹ La tinh đều có phát triển một giai cấp trung lưu. Họ là các chuyên gia, viên chức chính quyền, nhân viên văn phòng nhiều kinh nghiệm, và một số công nhân lành nghề. Đa số gia đình trung lưu sống trong các chung cư đầy đủ tiện nghi, hoặc trong các ngôi nhà riêng nhỏ, vùng ngoại ô của thành phố. Họ có xe hơi riêng, ăn mặc đẹp, và hằng năm đi đây, đi đó vào mùa hè.
Thành phố Mỹ La tinh cũng như các thành phố khác trên thế giới, đang đối diện với các vấn đề nghiêm trọng như ô nhiễm không khí, nước thải, đông đúc vượt quá dự liệu, khan hiếm nhà ở, và tỷ lệ tội phạm hình sự gia tăng. Sự nghèo đói, và nạn thất nghiệp đang lan rộng ra trong các thành phố Mỹ La tinh. Hàng triệu người từ thôn quê di chuyển về thành phố tìm kiếm việc làm. Nhiều người trong số họ không thể nào kiếm được việc làm bởi vì ít được giáo dục, thiếu kỹ năng cần thiết. Số người kiếm được việc làm, thì hầu hết mức lương thấp. Có hơn một phần tư cư dân nghèo trong thành phố sống ở khu nhà ổ chuột. Nhiều gia đình sống chen chúc với nhau trong một túp lều làm bằng thùng gỗ đựng rượu vang thải loại, bằng giấy cát tông, hoặc những tẩm thiết nhỏ, trên đất không do họ làm chủ.
Các túp lều ổ chuột này không có điện nước, cống thoát nước. Hàng triệu trẻ em trong khu nhà ổ chuột bị bỏ rơi, bởi cha mẹ họ quá nghèo không đủ sức lo cho miếng ăn, tấm mặc đi lang thang trên đường phố, phải ăn xin, trộm cắp, và làm những việc kỳ quặc khác để sống sót. Từ thập niên 1970, một số chính quyền Mỹ La tinh đã triệt hạ một số khu nhà ổ chuột, và thay thế nó bằng những khu nhà tập thể với giá rẻ. Nhưng trong nhiều thành phố, việc xây cất không thể theo kịp với đà gia tăng dân số quá nhanh. Các chính quyền đang cố gắng phát triển công nghiệp trong các thành phố nhỏ nhằm làm giảm sức ép đáng kể lên các trung tâm thành phố lớn. Nhiều tổ chức cộng đồng, thiện nguyện đã nhận nuôi dưỡng nhiều trẻ em bị bỏ rơi.
Nhưng các khu nhà ổ chuột vượt cả sự đông đúc, chật chội, và nạn nghèo đói vẫn còn là các vấn đề nghiêm trọng ở các quốc gia vùng Mỹ La tinh.
Bài 90: GIÁO DỤC, NGHỆ THUẬT TẠI BẮC MỸ, VÀ MỸ LA TINH CŨNG CÓ VÀI SỰ KHÁC NHAU.
VÙNG ANH-MỸ. Giáo dục là yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế của Hoa Kỳ, và là thành tựu đạt được tiêu chuẩn cao của đời sống Mỹ. Nó giúp người ta hài lòng về đời sống của họ. Người Mỹ có hệ thống giáo dục tốt nhất thế giới. Trường học, thư viện, viện bảo tàng, và các tổ chức giáo dục khác cung cấp nhiều cơ hội cho mọi người ở mọi lứa tuổi có điều kiện học tập. Trong thời kỳ đầu của lịch sử Hoa Kỳ, hầu hết trường học do tư nhân làm chủ. Các nhà thờ đứng ra tổ chức, và điều hành hệ thống giáo dục. Đầu những năm 1800, bắt đầu thực hiện chương trình trường công lập miễn phí. Chính quyền Tiểu bang nhận trách nhiệm thành lập hệ thống trường công lập. Năm 1918, mỗi Tiểu bang đều có luật bắt buộc trẻ em phải đi học cho đến một hạn tuổi nào đó, hoặc phải hoàn tất một số lớp học chỉ định.
Ngày nay, 80% trường trung học, và cơ bản, và 45% cơ sở giáo dục sau trung học là trường công lập. Số trường còn lại vẫn do các tổ chức tôn giáo, và tư nhân đảm trách. Có khoảng 78.000 trường cơ bản, 30.000 trường trung học, và 3.000 trường cao đẳng, đại học cộng đồng, và viện đai học ở Hoa Kỳ. Hơn 99% trẻ em hoàn tất chương trình giáo dục cơ bản, 80% tốt nghiệp trung học. 75% học sinh tốt nghiệp trung học học lên bậc cao đẳng, và đai học. Khoảng trên 40% cư dân Hoa Kỳ đã hoàn tất chương trình ít nhất 4 năm ở bậc đại học. Hằng triệu người lớn đang theo học đại học, cao đẳng, và định hướng nghề nghiệp ở Hoa Kỳ.
Buổi đầu nền giáo dục Canada do các tổ chức tôn giáo điều hành. Năm 1867, một đạo luật Anh trao trách nhiệm điều hành giáo dục cho các chính quyền cấp tỉnh ở Bắc Mỹ, tức Canada. Ngày nay mỗi tỉnh, và vùng lãnh thổ Canada có hệ thống giáo dục của tỉnh và lãnh thổ riêng. Bậc trung học ở các tỉnh 12 năm. Tỉnh Ontario 13 năm. Còn tỉnh Quebec và Newfoudland chỉ 11 năm. Hầu hết các trường Thiên chúa giáo dạy tiếng Pháp, trường Tin Lành dạy tiếng Anh. Các trường đại học Canada dạy tiếng Anh, một số dạy tiếng Pháp. Một số khác dạy cả hai ngôn ngữ Anh Pháp. Canada có một hệ thống thư viện rộng khắp, có khoảng 1300 viện bảo tàng, nhà trưng bày nghệ thuật. Viện bảo tàng hoàng gia Ontario, ở Toronto nổi tiếng về các bảo vật trưng bày trên nhiều lĩnh vực: khảo cổ học, địa chất học, và động vật học...
VÙNG MỸ LA TINH. Có nhiều cải thiện trong lĩnh vực giáo dục vùng Mỹ La tinh kể từ đầu thập niên 1960. Nhiều người Mỹ La tinh được đến trường học nhiều hơn cả cấp giáo dục cơ bản, trung học, và đại học. Trong nhiều quốc gia tỷ lệ người 15 tuổi, hoặc trên 15 tuổi biết đọc biết viết gia tăng đáng kể. Các nước như Argentina, Chile, Cuba, và Uruguay người biết đọc biết viết trên 90%. Nhiều chính quyền đề ra chương trình xoá nạn mù chữ, bằng cách dạy cho người lớn tuổi cách đọc cách viết. Mặc dù hầu hết các nước Mỹ La tinh có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực giáo dục so với thập niên 1950, nhưng nó vẫn còn tồn tại những vấn đề khá bức xúc. Chẳng hạn, ở Haiti, và Guatemata tỷ lệ người biết đọc, biết viết dưới 60%.
Trên khắp các quốc gia Mỹ La tinh trình độ giáo dục ở khu vực nông thôn quá thấp so với khu vực thành phố. Gần như tất cả các nước Mỹ La tinh đều có luật cưỡng bức giáo dục theo đó mỗi trẻ em phải hoàn tất chương trình giáo dục cơ bản. Thế nhưng, nhiều học sinh ở vùng nông thôn, và các khu nhà ổ chuột trong các thành phố không thể thực hiện chương trình giáo dục cưỡng bức này. Bởi vì có nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan, cả phía chính quyền lẫn tình cảnh gia đình của các em. Chính phủ không có tiền xây đủ trường học, cung cấp tài liệu giáo dục và nhất là tình trạng giáo viên không được đào tạo sư phạm cơ bản. Một số lớn học sinh phải bỏ học chỉ sau vài ba năm đến trường. Các em phải bỏ học ở nhà tìm kiếm việc làm giúp gia đình.
Sự thật thì tất cả các quốc gia Mỹ La tinh đều có xây thêm nhiều trường học, và bảo trợ nhiều chương trình giáo dục đến được với nhiều người hơn. Tuy nhiên, dân số tăng quá nhanh so với trường được xây dựng, và giáo viên được đào tạo. Hơn nữa, chi phí giáo dục luôn gia tăng trong khi ngân sách dành cho giáo dục thì tăng có giới hạn. Trong nhiều nước Mỹ La tinh, học sinh được giáo dục miễn phí từ cấp mẫu giáo đến đại học. Tuy nhiên, một số lớn học sinh trong các gia đình giàu có của giai cấp thượng lưu, và trung lưu thường chọn các trường tư nổi tiếng cho con mình theo học, dù đóng học phí có khi khá cao. Tất cả các trường tư Mỹ La tinh đều có nhận một phần quỹ tài trợ từ các chính phủ. Hầu hết trường tư là trường do nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã làm chủ.
Trong một thời gian dài người ta thấy rằng chất lượng giáo dục ở các trường tư tốt hơn ở các trường công. Nhưng trong những năm gần đây nhờ chính quyền tăng thêm hổ trợ tài chính đã làm cho nhiều trường công nâng cao được chất lượng giáo dục, đạt tới trình độ giáo dục tương đương với trường tư. Một số trường, nhất là ở cấp đại học đã vượt trội so với trường tư. Có một số trường đại học công lập, và tư thục vùng Mỹ La tinh nổi tiếng đạt ngôi vị xuất sắc. Đại học Santo Domingo ở cộng hoà Dominican thành lập năm 1538. Đại học quốc gia San Macos ở Lima Peru, và đại học quốc gia tự trị Mexico, ở Mexico city đều thành lập năm 1551. Còn đại học Saint Thomas ở Bogota, Colombia thì thành lập năm 1580.
Từ thập niên 1960, số lượng sinh viên đăng ký học cao đẳng và đại học tăng nhiều. Số học sinh tốt nghiệp trung học với điểm cao muốn đăng ký vào các đại học công vượt quá số chỗ có thể thâu nhận. Nhằm đáp ứng một phần nhu cầu, hầu hết các nước thành lập trường kỹ thuật trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, kinh doanh, và phát minh sáng chế, cùng lúc với ngành sư phạm các cấp học. Phần lớn các nước Mỹ La tinh đang thiếu công nhân có kỹ năng, kỹ thuật viên, giáo viên các cấp, khoa học gia, và chuyên gia ở các ngành chuyên môn khác, kể cả khoa học quản lý.
NGHỆ THUẬT VÙNG ANH-MỸ. Trong những năm 1600, người Châu Âu đi chiếm thuộc điạ mang theo nghệ thuật truyền thống Châu Âu đến vùng đất mới. Nhưng không bao lâu sau đó, những người Mỹ gốc Âu Châu này đã sáng tạo ra các kiểu nhà, được xếp vào loại công trình nghệ thuật đầu tiên ở Bắc Mỹ. Đầu những năm 1700, các nghệ nhân Bắc Mỹ sản xuất ra các loại đồ dùng gia đình, trang trí nội thất, với những nét chạm khắc tuyệt đẹp trên gỗ, hoặc trên kim loại bạc. Cuối những năm 1700, một số hoạ sĩ thuộc địa vẽ được các bức chân dung tuyệt vời. Đầu những năm 1800, xuất hiện một số công trình về văn chương của Washington Irving, và James Fenimore Cooper. Đến cuối những năm 1800, kiến trúc sư Mỹ bắt đầu thiết kế các toà nhà cao chọc trời (Skyscrapers), làm thay đổi tận gốc các kiểu kiến trúc thành phố trên khắp thế giới.
Cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900, hai dạng nghệ thuật Mỹ là nhạc kịch, và nhạc khiêu vũ (Jaza) độc chiếm sự hâm mộ của nhiều thính giả. Trong những năm 1900, Hoa Kỳ đạt tới vị trí hàng đầu thế giới về nghệ thuật điện ảnh, và vũ điệu. Ngày nay, giới kiến trúc, sáng tác nhạc, điêu khắc, hoạ sĩ, và các thể loại khác của Hoa Kỳ được thế giới ngưỡng mộ, và ảnh hưỡng rộng rải trên các lục địa. Nghệ thuật Canada cũng là nghệ thuật truyền thống Châu Âu bởi những người đi chiếm thuộc địa mang theo vào Bắc Mỹ. Sau đệ nhị thế chiến năm 1945, nghệ thuật Canada phát triển mạnh, chính quyền tài trợ cho ngành kịch nghệ đang trên đà trỗi dậy. Năm 1957, chính quyền Canada khuyến khích phát triển loại hình nghệ thuật nâng cao mang tính nhân văn, nhân đạo, và thúc đẩy tiến hoá xã hội.
Chính phủ cung cấp tài chánh, trợ cấp cho cá nhân nghệ sĩ, cũng như các ban nhạc, nhà hát, và các tổ chức nghệ thuật khác. Mỗi tỉnh, ngoại trừ vùng đảo Prince Edward trợ cấp tài chánh thông qua các nhóm, hoặc cá nhân. Năm 1969, Liên bang Canada khai trương trung tâm trình diễn nghệ thuật quốc gia ở Ottawa. Ca kịch, nhạc kịch, biễu diễn nghệ thuật, vũ điệu ballet, và kịch nghệ điện ảnh đều được trình diễn tại trung tâm nghệ thuật quốc gia này. Nhà trưng bày nghệ thuật quốc gia, nơi tập hợp các loại hình nghệ thuật Âu Châu, và các công trình nghệ thuât Canada xuất sắc, được người xem đánh giá có hạng của thế giới.
NGHỆ THUẬT VÙNG MỸ LA TINH. Nghệ thuật truyền thống “Vùng Mỹ La tinh” có từ hàng ngàn thế kỹ, thể hiện trong văn hoá của người da đỏ Cổ đại. Các đền đài, công trình đã đổ nát và một số còn tồn tại ở Mexico, Peru, và Guatemala cho thấy nền văn minh da đỏ phát triển khá cao. Họ sản xuất được đồ gốm, đồ trang sức, và hàng dệt cùng vô số các loại hàng thủ công mỹ nghệ đẹp. Khi người Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha đến Mỹ La tinh trong những năm 1500, họ cũng đưa theo nghệ thuật truyền thống của họ vào Mỹ La tinh. Và nghệ thuật Châu Âu trong nhiều thể loại ảnh hưởng đến nghệ thuật Mỹ La tinh hàng trăm năm. Sau khi nhập khẩu người nô lệ Châu Phi da đen vào Mỹ La tinh, thì nghệ thuật truyền thống của người da đen cũng ảnh hưởng lên Mỹ La tinh nhất là lĩnh vực âm nhạc, và vũ điệu.
Trong những năm 1800 và 1900, loại hình nghệ thuật mang đặc thù Mỹ La tinh chiếm ưu thế hơn so với thuật Châu Âu. Chẳng hạn, các công trình kiến trúc đồ sộ như Kim tự tháp được xây dựng bằng các tảng đá lớn chồng lên nhau của bộ tộc Aztec, Maya, và Toltec ở Mexico, hay các toà nhà xây bằng đá viên nọ ghép lên viên kia, không cần xi măng tại thành phố tưạ sát vào núi Andes của bộ tộc Inca ở Nam Mỹ. Văn chương Mỹ La tinh bắt đầu với các nhà thám hiểm Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha đi tìm vùng đất mới cuối thế kỹ 13, và kết thúc bởi các cuộc chiến tranh đòi độc lập 300 năm sau đó. Những nhà văn buổi đầu này, hầu hết là các biên niên sử và các bài báo cáo được viết bởi các sĩ quan chỉ huy quân đội, và các nhà truyền giáo. Họ thuật lại những cuộc chạm trán nảy lửa với người bản địa, cũng như bắt gặp những cảnh tuyệt đẹp, và nền văn minh mới.
Tác giả kết hợp viễn cảnh cùng với hiện thực để mô tả công cuộc chinh phục thế giới mới của họ. Hiểm nguy xen lẫn sự thích thú của họ khi tiếp xúc với người xa lạ từ ngôn ngữ, tập quán, và cả cây cỏ, thú vật. Một số tiểu thuyết lớn hàng đầu thế giới viết bởi người Mỹ La tinh được họ gọi là "tiếng gầm" (boom) như tiểu thuyết gia Carlos Fuentes của Mexico, Julio Cortazar của Argentina, Mario Vargas Llosa của Peru, và Gabriel Garcia Marquez của Colombia. Tất cả 4 nhà văn này đều sử dụng lối văn chương kể chuyện để diễn đạt, và bày tỏ sự kế thừa văn hoá truyền thống của họ. Bằng ngôn ngữ giản dị họ trắc nghiệm một lối viết gọi là “văn chương hiện thực” thông qua hình ảnh châm biếm, và phê phán các tàn dư còn sót lại của quá khứ. Tiểu thuyết "tiếng gầm" được đánh giá như một phép thần thông của chủ nghĩa hiện thực (Magical realism). Nó hoà lẫn sự hư cấu, và xảo thuật trong diễn tả hiện thực của đời sống hàng ngày.
Về hội hoạ, điêu khắc Mỹ La tinh trước khi bị phương Tây chiếm làm thuộc địa có các bức tranh tường với màu sắc rực rỡ được vẽ bởi người da đỏ. Một số tranh loại này được sử dụng trang trí đền đài, cung điện như hình ảnh biểu trưng của đời sống thực trong các trận đánh nhau, và các ngày lễ hội. Nghệ nhân của một số bộ tộc da đỏ, còn vẻ hình hoa văn trên đồ gốm sứ và các hình tượng điêu khắc. Về âm nhạc thì người Mỹ La tinh thích thú với loại nhạc sống động, vừa đi vừa trình diễn trên các đường phố. Biễu diễn âm nhạc truyền thống của người da đỏ, da đen và các loại nhạc cổ điển phương Tây luôn cuốn hút được số đông người thưởng ngoạn. Nhạc Rock cũng được giới trẻ Mỹ La tinh ưa chuộng. Âm nhạc vùng quốc gia đảo Caribbean, và khu vực đất liền cạnh bờ biển phản ánh nhạc truyền thống Phi Châu.
Loại nhạc này được đưa vào đây bởi người nô lệ da đen làm việc trong các đồn điền. Giai điệu âm nhạc Châu Phi rất phong phú và phức tạp, có thể nghe thấy trong âm nhạc Calypso của Trinidad, trong các vũ điệu Samba, và Bossanova của Brazil. Về vũ điệu từng là một phần của đời sống trong suốt chiều dài lịch sử của người Mỹ La tinh. Người da đỏ, và da đen phát triển vũ điệu cùng với việc thờ cúng tôn giáo, lễ hội cũng như các sự kiện ngày sinh, ngày cưới, và ngày ma chay an táng. Người nhập cư Châu Âu cũng đưa vào đây các vũ điệu dân gian từ quốc gia họ. Và, vũ điệu tiếp tục đóng vai trò chính trong các lễ hội tôn giáo, và lễ hội cộng đồng của người Mỹ La tinh.
Bài 91: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, CÔNG NGHIỆP, VÀ CỘNG NGHIỆP DỊCH VỤ TẠI CHÂU MỸ.
TẠI BẮC MỸ. Bắc Mỹ đứng hàng thứ ba thế giới về sản lượng nông nghiệp, chỉ sau Châu Á và Châu Âu. Sản phẩm nông nghiệp Bắc Mỹ chiếm 1/2 hạt ngũ cốc, hạt lanh, và lúa miến của thế giới, 1/3 đậu nành, 1/5 lúa mì, và bông sợi. Nông gia Bắc Mỹ nhất là ở Hoa Kỳ, và Canada trồng một số lượng lớn hạt ngũ cốc để bán ra nước ngoài. Bắc Mỹ cung cấp tới 1/2 lượng gạo xuất khẩu của thế giới. Nhờ đất đai màu mở, khí hậu thuận lợi của miền trung và miền tây Hoa Kỳ khiến nước Mỹ trở thành trái tim của nền nông nghiệp Bắc Mỹ. Nông gia vùng này thường trồng bắp, và các loại hạt ngũ cốc khác cùng với đàn bò, và heo thịt. Các trại bò, và cừu chiếm lưu vực phía Tây, và vùng cao nguyên. Những người chủ trang trại có đầy đủ phương tiện tưới tiêu cho cây trồng, phơi sấy hạt ngũ cốc, và cỏ linh lăng làm thức ăn cho gia súc. Bắp, đậu, và gạo là hạt ngũ cốc, là nguồn thực phẩm chính của khu vực Trung Mỹ, và vùng biển Caribbean. Sợi bông, củ cải đường, trái cây cũng được sản xuất ở khu vực này.
Ngoài ra, các nông gia Trung Mỹ, và Caribbean, còn có các chủ đồn điền lớn vùng nầy chuyên sản xuất hạt ngũ cốc, chuối, cà phê, sợi bông, và mía đường để xuất khẩu. Nhiều vùng đồng bằng rộng lớn của Canada, và Hoa Kỳ được sử dụng trồng lúa mỳ. Chỉ có khoảng 2% công nhân làm nông nghiệp ở Hoa Kỳ, và Canada. Hầu hết nông gia đều làm chủ hoàn toàn hay ít nhất một phần đất canh tác của họ. Số khác làm việc trong các đồn điền lớn, như người lao động chân tay cho các chủ đồn điền giàu có. Nhưng tại Trung Mỹ thì có khoảng một phần năm công nhân làm nông nghiệp. Tại vùng biển Caribbean cũng ở trường hợp tương tự, ngoại trừ nước Cộng sản Cuba do nhà nước đứng ra tổ chức canh tác, và làm chủ đất. Một số lớn nông dân Trung Mỹ, và Caribbean thuê một mảnh đất nhỏ, trên đó họ làm việc quần quật để sản xuất đủ lương thực cho gia đình.
TẠI NAM MỸ. Có khoảng 4/5 đất đai Nam Mỹ có thể sử dụng cho nông nghiệp. Phương cách sản xuất nông nghiệp ở Nam Mỹ vừa hiện đại, vừa sử dụng công cụ bằng tay theo phương thức cổ truyền. Chỉ khoảng 1/3 đất nông nghiệp dùng sản xuất thực phẩm phần còn lại là đồng cỏ. Nam Mỹ có một số đồn điền lớn nhất thế giới ở Argentina, và Brazil. Các đồn điền được trang bị máy móc hiện đại, và sử dụng phương pháp canh tác tiên tiến. Họ thu được nhiều lợi nhuận từ việc cải tiến giống cây trồng và phân hoá học, cùng với việc trả lương công nhân thấp. Họ sản xuất các mặt hàng nông sản xuất khẩu như thịt bò, cà phê, chuối, ngũ cốc, đậu nành, đường cát, và len. Phần còn lại là đồn điền cở trung, và nhỏ. Người nông dân thì làm chủ, hoặc thuê một mảnh đất nhỏ gieo trồng đủ thực phẩm cho gia đình.
Năm 1940 cư dân thôn quê ở Nam Mỹ là 65%, ngày nay chỉ còn 25%. Hầu hết các quốc gia Nam Mỹ phụ thuộc vào sản xuất ngũ cốc đơn thuần cho xuất khẩu. Do vậy khi thị trường ngũ cốc thế giới biến động sụt giá cũng tạo ra nhiều vấn đề kinh tế nghiêm trọng. Trong những năm gần đây, nông dân đã nhận ra rằng họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn bằng cách trồng cây gai dầu (Marijuana), hoặc cây coca cung cấp các tay buôn lậu quốc tế. Giá trị các mặt hàng gây kích thích xuất khẩu bất hợp pháp này, vượt cao hơn tất cả các loại ngũ cốc xuất khẩu ở Bolovia, Colombia và Peru cộng lại. Sản phẩm rừng ở Brazil chẳng những lớn nhất ở Nam Mỹ mà còn lớn nhất thế giới nữa.
Lưu vực sông Amazon có nhiều loại gỗ cứng của vùng nhiệt đới, như gỗ nâu "dái ngựa" gỗ đỏ hồng dùng đóng bàn ghế, và trang trí nội thất. Cây cao su cung cấp mũ cho công nghiệp cao su. Cây gỗ thông dùng cho công nghiệp xây dựng. Gỗ ở Brazil còn đưa vào hầm đốt như nhiên liệu sử dụng cho quá trình luyện kim. Tuy nhiên, việc phá rừng lấy gỗ, lấy đất ở Nam Mỹ cũng đẻ ra nhiều vấn đề nghiêm trọng. Sau khi triệt hạ cây, nước mưa chảy qua mặt đất ra sông và biển hơn là thấm vào lòng đất. Nó đã để lại hai hậu quả một lúc là xói mòn mặt đất, và giảm nguồn nước dự trữ cung cấp cho nhiều khu vực. Chile, và Peru là hai quốc gia có công nghiệp đánh bắt, và chế biến cá lớn nhất lục địa.
Khu vực ngoài khơi bờ Chile, và Peru có nhiều phiêu sinh (Plankton) trôi nổi trên biển là thức ăn của nhiều loại cá, nhờ vậy mà vùng này có nhiều cá. Tàu biển của Chile, và Peru thả lưới đánh bắt cá trổng, và cá khác trên một vùng rộng lớn. Hầu hết cá đánh bắt được chế biến thành cá hộp xuất khẩu. Cá cũng là một loại thực phẩm quan trọng trong bữa ăn hàng ngày cư dân vùng xa xôi trong nội địa dọc theo sông Amazon. Cá nước ngọt cung cấp chất đạm cho bữa ăn của cư dân vùng này
CÔNG NGHIỆP BẮC MỸ. Công nghiệp Bắc Mỹ đứng hàng thứ hai thế giới chỉ sau Châu Âu. Hoa Kỳ và Canada sản xuất khoảng 1/3 lượng hàng công nghiệp trên thế giới. Hàng hoá sản xuất chính của Bắc Mỹ gồm máy bay, tàu thuỷ, xe hơi, trang thiết bị quân sự, trang thiết bị y tế, dược phẩm, thực phẩm, hàng dệt, luyện kim, hoá chất, và lọc dầu. Công nhân làm việc trong sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 1/5 lực lượng lao động Bắc Mỹ. Miền Trung tây và Đông bắc Hoa Kỳ, và hai tỉnh Ontario và Quebec của Canada là trung tâm sản xuất công nghiệp chính của Bắc Mỹ. Từ giữa những năm 1900, công nghiệp Hoa Kỳ mở rộng về phía nam, và dọc theo bờ Thái Bình Dương. Sản phẩm chính từ các nhà máy trong khu công nghiệp mới gồm máy bay, tên lửa, hạt nhân, điện toán, điện, và các bộ phận điện, dầu hoả, và sản phẩm hoá dầu. Sản phẩm công nghiệp Trung Mỹ gồm xi măng, hoá chất phân bón, hàng dệt, chế biến thực phẩm. Vùng biển Caribbean có công nghiệp chế biến đường, thuốc lá, thức uống, và du lịch.
Hầm mỏ Bắc Mỹ cung cấp nhiều loại khoáng sản khác nhau cho thế giới, 2/5 khoáng sản bạc, 1/3 kim loại trắng, 1/3 chất đốt thiên nhiên. Nó còn cung cấp 1/3 photphate, và potast, nguyên liệu chính dùng chế biến phân hoá học. Khoảng 1/4 đồng, chì, và dầu thô bán ra trên thế giới cũng từ Bắc Mỹ cùng với 1/5 than đá. Chỉ có khoảng 1% lực lượng lao động Bắc Mỹ làm việc trong lãnh vực hầm mõ. Gần như toàn bộ dầu khí, và hơi đốt thiên nhiên của Bắc Mỹ đều nằm trong vùng đồng bằng rộng lớn Alaska, và vùng ven vịnh Mexico. Các mỏ than đá nằm ở đồng bằng Appalachian miền trung Hoa Kỳ, và vùng núi đá. Còn khoáng sản kim loại hầu hết nằm ở vùng cao nguyên Appalachina, và nhiều dãy núi đá phía tây Bắc Mỹ.
CÔNG NGHIỆP NAM MỸ. Argentina, Brazil, và Chile là ba quốc gia sản xuất công nghiệp hàng đầu ở Nam Mỹ. Hầu như tất cả hàng hoá sản xuất từ công nghiệp Nam Mỹ dành cho xuất khẩu. Brazil chẳng những là quốc gia được xếp vào loại hàng đầu ở Nam Mỹ mà còn là nước công nghiệp hàng đầu của thế giới. Các nhà máy Brazil sản xuất các mặt hàng xe hơi, xe vận tải, máy bay, máy điện toán, và máy truỳên hình. Brazil còn là nước sản xuất vũ khí với một số lượng lớn của thế giới. Chín nước còn lại của Nam Mỹ sản xuất công nghiệp còn giới hạn trong các mặt hàng chế biến thực phẩm, thức uống, hàng dệt, giày dép, và trang trí nội thất. Công nghiệp Nam Mỹ từng bị cản trở bởi Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha đến những năm 1800. Họ không muốn công nghiệp Nam Mỹ phát triển, mà muốn đưa nguyên liệu thô từ lục địa này về mẫu quốc chế biến.
Sau chiến tranh, chính quyến các quốc gia Nam Mỹ bắt đầu xây dựng nhà máy, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, sản xuất các mặt hàng thay thế hàng hoá nhập khẩu. Các mặt hàng này gồm xe hơi, tủ lạnh, máy may, và một số hàng kim khí điện máy khác. Ngày nay, lực cản phát triển công nghiệp ở các nước nam Mỹ không phải là hai mẫu quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, mà là nợ nần và thiếu vốn đấu tư cho công nghiệp. Nam Mỹ còn thiếu một đội ngũ chuyên viên, nhà quản lý, kỹ thuật viên, và thiếu cả công nhân lành nghề. Nhiều chính quyền trong vùng đang nổ lực đào tạo chuyên viên, kỹ thuật viên, đáp ứng nhu cầu phát triển cuả đất nước.
Nam Mỹ có trữ lượng lớn, vàng, đồng, chì, quặng sắt, thiết, kim loại trắng, dấu khí, và nhiều loại hầm mỏ có giá trị khác. Trữ lượng hầm mỏ không phân bố đồng đều, chẳng hạn Brazil, Chile, Venezuela có nhiều hầm mỏ lớn, đa dạng nhưng Parguay thì có ít hầm mỏ có giá trị. Hàng hoá từ hầm mỏ có giá trị là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều quốc gia Nam Mỹ. Nhưng nhân công làm việc trong lãnh vực này thì rất ít bởi nhờ có máy móc hiện đại. Venezuela là quốc gia sản xuất dầu khí dẫn đầu lục địa. Argentina, Brazil, Colombia, Ecuador, và Peru có nhiều giếng dầu có giá trị lớn. Bolivia có nhiều mỏ thiết. Brazil, và Venezuela có vô số trữ lượng quặng sắt. Brazil, Gnyana và Suriname sản xuất quặng nhôm, Brazil còn sản xuất một lượng lớn nguyên tố mangan.
Chile có trữ lượng đồng đứng đầu thế giới. Chile cũng là quốc gia có nhiều trử lượng sodium nitrate, nguyên tố kim loại trắng bạc sản xuất phân bón hoá học. Peru có nhiều mỏ đồng, chì, và kim loại trắng. Colombia cung cấp ngọc quý (emerald) nhiều nhất thế giới, và cũng là nước có nhiều mỏ than hàng đầu Nam Mỹ. Khai thác hầm mỏ phần lớn nằm ở các vùng xa, như sodium nitrate và đồng của Chile ở tận Sama Atacama. Đồng, chì, thiết, kim loại trắng phải khai thác trong vùng núi cao Andes. Những năm đầu của thập niên 1980, vô số kể trữ lượng hầm mỏ, được tìm thấy ở lưu vực sông Amazon có cả trữ lượng lớn vàng, và quặng sắt.
CÔNG NGHIỆP DỊCH VỤ BẮC MỸ. Công nghiệp dịch vụ chiếm một lượng lao động khá lớn ở Bắc Mỹ và đang tăng nhanh ở Nam Mỹ. Đó là những người làm việc ở các ngân hàng, cơ quan nhà nước, trường học, bệnh viện, khách sạn, nhà hàng, và các cửa hàng kể cả thương mại quốc tế. Những công việc khác thuộc lãnh vực chuyên môn như luật sư, kỹ sư, giáo sư, chuyên viên quản lý, quảng cáo điện tử. Cũng có một số lớn công nhân công nghiệp dịch vụ không đòi hỏi kỹ năng làm việc với đồng lương rất thấp như gia nhân, gác cổng, bán hàng trên đường phố, rữa xe, và cả người để sai vặt khác. Họ là những người thất nghiệp, người già phải làm việc kiếm thêm tiền nuôi sống bản thân, bởi do trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu dưỡng không đủ sống. Có khoảng 1/2 lực lượng lao động Nam Mỹ làm việc trong ngành công nghiệp dịch vụ. Buôn bán với nước ngoài có tầm quan trọng đối với Hoa Kỳ và Canada.
CÔNG NGHIỆP DỊCH VỤ NAM MỸ. Buôn bán với nước ngoài cũng có vai trò lớn đối với nền kinh tế Nam Mỹ. Các mặt hàng nông sản, sản phẩm rừng gồm hạt ngũ cốc, chuối, ca cao, cà phê, đậu nành, đường, gổ, thịt, da súc vật và len, các loại trái cây cam, chanh. Hoặc từ hầm mỏ gồm quặng nhôm, vàng, đồng, quặng sắt, chì, nguyên tố mangan, muối, axít nitric, dầu khí, thiết, và kim loại trắng, đều là những mặt hàng xuất khẩu chính của Nam Mỹ. Kể từ giữa những năm 1900, hàng xuất khẩu ở Nam Mỹ gồm cả các mặt hàng mới từ công nghiệp như áo quần, giày dép. Brazil còn xuất khẩu xe hơi, và cơ phận xe hơi, xe vận tải sang Nigeria, cơ phận máy bay, và máy bay loại nhỏ sang Hoa Kỳ. Hàng hoá nhập cảng vào Nam Mỹ gồm dược phẩm, thực phẩm, nhiên liệu, máy móc, và trang thiết bị vận tải.
Các nước Bắc Mỹ, và Châu Âu là bạn hàng thương mại chính của Nam Mỹ trong một thời gian dài. Ngày nay, Nhật Bản là bạn hàng thương mại quan trọng của nhiều nước Nam Mỹ. Nhật mua nguyên liệu thô, sản phẩm nông nghiệp, và cung cấp quỹ đầu tư cũng như kỹ thuật cao cấp cho nhiều nước ở Nam Mỹ.
Bài 92: VÀI SỰ KHÁC NHAU GIỮA BẮC VÀ NAM MỸ TRONG VẬN CHUYỂN VÀ TRUYỀN THÔNG.
TẠI BẮC MỸ. Bắc Mỹ nằm giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, ở vào vị trí trung tâm của các con đường thương mại chính của thế giới. Kênh đào Panama ở mũi phía Nam của lục địa Bắc Mỹ là nơi giao tiếp của hai Đại Dương. Các cảng lớn nằm dọc theo bờ phía Đông và phía Tây của Bắc Mỹ. Thành phố New York, New Orleans, và Houston phục vụ tàu hàng xuất nhập cảng phía bờ Đại Tây Dương. Còn các cảng phục vụ tàu hàng xuất nhập phía bờ Thái Bình Dương gồm Valdes, Alaska, Vancouver, và Long Beach ở California. Hoa Kỳ, và Nam Canada có hệ thống chuyển chở mạnh nhất thế giới. Nó bao gồm đường sông trong nội địa, xa lộ, và các tuyến đường xe lửa. Hế thống đường sông Mississippi, hồ lớn Superior, và đường biển ở St Lawrence tạo thành một hệ thống thủy vận quan trong nhất Bắc Mỹ. Các xa lộ, và xe lửa chạy theo đường thẳng, chéo nhau rất thịnh hành ở Hoa Kỳ, và Canada. Chỉ có một ít đường chính đi vào Bắc Canada.
Tại Mexico đường tráng nhựa, và đường xe lửa nối liền các đường phố chính. Riêng tại Trung Mỹ, và vùng Caribbean hầu hết các con đường không được trải nhựa. Còn các công ty hỏa xa thì quá nhỏ, đường sắt chỉ được tư nhân sử dụng chuyển tải nông sản từ các đồn điền mía đường, hoặc chuối, cà phê tới các hải cảng. Bắc Mỹ cũng là nơi có hệ thống đường hàng không tốt nhất thế giới. Hầu hết các chuyến bay phục vụ cho thành phố lớn của Hoa Kỳ, và Nam Canada. Các sân bay bận rộn nhất thế giới đều nằm ở Hoa Kỳ. Các đội tàu biển Nam Mỹ nắm giữ vai trò vận chuyển chính trong một thời gian dài. Núi non hiểm trở, rừng cây dày đặc, và các vùng sa mạc khô khan làm cho vận chuyển trên đất liền rất khó khăn. Và kết quả tự nhiên là hầu hết các thành phố, và thị trấn đều nằm gần bờ sông hoặc bờ biển, những nơi thuận lợi cho tàu bè lui tới.
TẠI NAM MỸ. Ngày nay các xa lộ hiện đại, và đường xe lửa thương mại đan xen khắp Nam Mỹ. Nhưng vận tải hàng hải vẫn còn quan trọng trong các vùng xa dọc theo sông bên trong lục địa, và vùng bờ biển hiểm trở phía nam Chile. Hơn nữa vận chuyển bằng tàu biển vẫn là phương tiện chính trong xuất khẩu hàng hoá ở Nam Mỹ. Argentina, Brazil, Chile, Peru có các đội tàu lớn chuyên mang hàng hoá trao đổi với thế giới bên ngoài lục địa. Argentina, và Brazil còn có hệ thống xe lửa lớn nhất Nam Mỹ. Nhưng cũng giống như Bolivia, Chile, Colombia, Ecuador, và Peru đường hoả xa được dùng chuyển tải hàng hoá từ trang trại, hầm mỏ đến bờ biển để xuất khẩu, không dùng cho đại chúng. Và hầu hết đường xe lửa cùng với thiết bị hoả xa đã quá củ từ cả trăm năm nay chưa sữa chữa. Từ giữa những năm 1900, đường hàng không phát triển nhanh ở Nam Mỹ. Riêng tại Brazil có tới 1500 sân bay, máy bay phục vụ đến các thành phố nhỏ.
Đường bộ Nam Mỹ có tới 3.200.000 km trong đó 90% không được trải đá, trán nhựa. Xa lộ Pan- American là đường cao tốc nối liền các quốc gia Nam Mỹ. Brazil có hệ thống xa lộ tốt nhất lục địa. Thành phố lớn ở Nam Mỹ có xe hơi, xe bus, và xe gắn máy chạy đầy trên các đường phố. Và, cũng như các thành phố khác trên thế giới, nạn kẹt xe vẫn thường xẩy ra. Để giải toả nạn kẹt xe, một hệ thống đường phụ mới mở thêm ở nhiều thành phố Buenos Aires của Argentina. Caracas của Venezuela, Rio de la Janeira, và Sao Paulo của Brazil, và Santiago của Chile. Tuy nhiên, nhiều khu vực ở thôn quê nghèo, người ta vẫn còn phụ thuộc vào súc vật trong vận chuyển. Tại Burros, và Ilamas, người ta chất đầy hàng trên các xe thô sơ do ngựa, hoặc lừa kéo dọc theo các đường đất lầy lội. Và nó cũng được dùng chuyển tải nông sản trên cánh đồng.
TRUYỀN THÔNG TẠI BẮC MỸ. Hệ thống truyền thông Bắc Mỹ tốt hơn bất cứ lục địa nào trên thế giới. Radio, và vô truyền hình ở Mỹ, và Canada nhà nào cũng có. Các quốc gia Trung Mỹ, và vùng đảo Caribbean nhiều vùng có Radio, nhưng truyền hình thì không được sử dụng phổ biến. Có khoảng 2.000 tờ nhật báo được phát hành tại Bắc Mỹ. Hầu hết nhật báo, đài phát thanh, truyền hình ở Bắc Mỹ đều do tư nhân làm chủ, ngoại trừ Cuba, và Nicaragua, chính quyền hai quốc gia này nắm quyền điều khiển hệ thống truyền thông trên toàn xã hội.
TRUYỀN THÔNG TẠI NAM MỸ. Nhật báo, tạp chí, và sách được phát hành khắp Nam Mỹ. Nhưng tại Brazil, và Argentina số lượng ấn bản, bằng tất cả các quốc gia Nam Mỹ cộng lại. Hầu hết các thành phố Nam Mỹ ít nhất cũng có một tờ báo địa phương. Và một, hoặc nhiều tờ báo mang tính quốc gia được phát hành trong thành phố lớn, hoặc thành phố thủ đô. Radio, và truyền hình là nguồn thông tin quan trọng. Và hầu như mỗi gia đình đều có Radio, và khoảng 80% gia đình có máy truyền hình, hoặc thuê từ các cửa hàng. Điện thoại, điện tín khá phổ biến trong thành phố, nhưng vẫn chưa có đường điện thoại đến thôn quê xa xôi. Chính quyền các nước Nam Mỹ, qua từng thời điểm hạn chế sự tự do bày tỏ ý kiến của người dân. Một số chính quyền còn nắm các hoạt động thông tin, báo chí, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình. Một số khác thì chương trình phát thanh, truyền hình, và thông tin phải được chính quyền chấp nhận trước khi thực hiện.
(Hết Chương VI)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét