Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

 

 Chương XVI: 16 BÀI VIẾT VỀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ: 1960 - 1965.

(51 trang, 36.067 chữ)

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

205. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Phạm Văn Đồng: 1960-65

206: Cộng sản miền Nam, và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam năm 1960.

207. Đời sống cac hội Bắc Việt Nam sau năm 1954: Phan Cẩm Thường ghi lại.

208. Nhà nước độc quyền sản xuất, và phân phối hàng hoá: Phan Cẩm Thường ghi lại.

209. Tham ăn và ham chuyện tình dục là hai cái đói vô cùng sau mấy chục năm bị dồn nén…: Phan Cẩm Thường ghi lại.

210. Con người thời Xã hội Chủ nghĩa rất cô đơn, rời tập thể ra nó chẳng còn ý nghĩa gì: Phan Cẩm Thường ghi lại.

 

CHÍNH QUYỀN HAI

211. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Ngô Đình Diệm: 1960-1961.

212. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Ngô Đình Diệm: 1962-5/1963.

213. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Ngô Đình Diệm: 5/1962-8/1963.

214. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Ngô Đình Diệm: 8/1963-11/1963.

 

CHÍNH QUYỀN BA

215. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ: tháng 11/1963-1/1964.  

216. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Khánh: tháng 2 đến tháng 5 năm 1964.   

217. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Khánh: tháng 6 đến ngày 15 tháng 8 năm 1964.   

218. Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Nguyễn Khánh: ngày 15 tháng 8 năm 1964 đến tháng 11 năm 1964.   

 

CHÍNH QUYỀN BỐN

219. Chính quyền Dân sự Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Trần Văn Hương: tháng 11 năm 1964 đến tháng 2 năm 1965.    

220. Chính quyền Dân sự Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Phan Huy Quát: tháng 2 năm 1965 đến tháng 6 năm 1965.   

 

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

BÀI 205: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ CHÍNHPHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: 60-64

Chính phủ Phạm Văn Đồng được Quốc hội khoá II thông qua, phê chuẩn. THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng Chính phủ, Phạm Văn Đồng; Phó Thủ tướng, Võ Nguyên GiápPhạm HùngPhan Kế ToạiNguyễn Duy TrinhLê Thanh NghịChủ nhiệm Văn phòng Nông  nghiệpPhạm HùngTrần Hữu Dực; Chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp, Lê Thanh NghịChủ nhiệm Văn phòng Tài chính-Thương nghiệp, Hoàng AnhPhạm Hùng;  Chủ nhiệm Văn phòng Nội chínhTrần Quốc Hoàn; Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáo, Tố HữuLê Liêm; Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Nguyễn Khang; Bộ trưởng Bộ Nội vụPhan Kế ToạiUng Văn Khiêm; Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, Phạm Văn ĐồngUng Văn KhiêmXuân Thủy;Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Võ Nguyên GiápBộ trưởng Bộ Công an, Trần Quốc HoànBộ trưởng Bộ Nông nghiệp,Nghiêm Xuân YêmDương Quốc Chính; Bộ trưởng Bộ Nông trường, Trần Hữu DựcNghiêm Xuân Yêm; Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Điện lực, Dương Quốc ChínhHà Kế Tấn; Bộ trưởng Công nghiệp nặng, Nguyễn Văn Trân;

Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ, Kha Vạng Cân; Bộ trưởng Bộ Kiến trúc, Bùi Quang Tạo; Bộ trưởng Giao thông và Bưu điệnPhan Trọng TuệBộ trưởng Bộ Lao động, Nguyễn Văn TạoBộ trưởng Bộ Tài chính, Hoàng Anh Bộ trưởng Bộ Nội thươngĐỗ Mười, Nguyễn Thanh Bình; Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, Phan AnhBộ trưởng Bộ Văn hoáHoàng Minh GiámBộ trưởng Bộ Giáo dục, Nguyễn Văn HuyênBộ trưởng Bộ Y tế, Phạm Ngọc Thạch; Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Nguyễn Duy Trinh; Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nướcVõ Nguyên GiápNguyễn Duy Trinh; Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Lê Quảng BaChủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủNguyễn Lương BằngChủ nhiệm Ủy ban Thống nhất, Nguyễn Văn Vịnh; Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt NamLê Viết Lượng,Tạ Hoàng CơChủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước, Lê Thanh Nghị; Bộ trưởng không bộ, phụ trách Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Lê Văn Hiến.

ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ III, VÀ HẾ HOẠCH 5 NĂM 1960-1965. Tháng 9 năm 1960 tại Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng đề ra nhiệm vụ cho Kế hoạch 5 năm: 1960 – 1965 là: "phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội". Theo đó, đến nǎm 1965, Về kinh tế, giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp có thể tǎng gần 1,5 lần so với nǎm 1960, bình quân hàng nǎm tǎng khoảng 20%.  Nhà nước ưu tiên đầu tư vốn để phát triển Công nghiệp nặng như khu gang thép Thái Nguyên, các nhà máy nhiệt điện Uông Bí, thủy điện Thác Bà, phân đạm Bắc Giang supe phốt phát Lâm Thao. Công nghiệp nhẹ, có khu công nghiệp Việt Trì, Thượng Đình (Hà Nội), các nhà máy Vạn Điểm, sứ Hải Dương, pin Vạn Điền, dệt 8-3,...

Công nghiệp quốc doanh chiếm tỉ trọng 93,1% trong tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn miền Bắc, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Ở địa phương, có hàng trăm xí nghiệp được xây dựng để hỗ trợ cho công nghiệp trung ương và giải quyết nhu cầu tại chỗ. Công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp giải quyết 80% nhu cầu hàng tiêu dùng thiết yếu của nhân dân. Nông nghiệp được coi là cơ sở của công nghiệp. Nhà nước ưu tiên xây dựng và phát triển các Nông, lâm trường quốc doanh, trại thí nghiệm cây trồng và vật nuôi... Người nông dân mạnh dạng áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật. Tỉ lệ sử dụng cơ khí trong nông nghiệp tăng lên. Diện tích nước tưới được mở rộng nhờ phát triển hệ thống thủy nông vừa và nhỏ. Nhiều hợp tác xã đạt năng xuất 5 tấn thóc trên 1 ha. Trên 90% hộ nông dân vào hợp tác xã, trong đó có 50% hộ vào hợp tác xã bậc cao, ứng dụng khoa học kĩ thuật. 

Hệ thống thủy nông phát triển, xây dựng hệ thống thuỷ lợi Bắc Hải Hưng. Nhiều HTX Nông nghiệp đạt và vượt năng suất 5 tấn thóc trên 1 hécta. Thương nghiệp quốc doanh được nhà nước ưu tiên phát triển nên đã chiếm lĩnh được thị trường, góp phần vào phát triển kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Trong giao thông vận tải, mở rộng các mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển được xây dựng, củng cố, hoàn thiện, đã phục vụ đắc lực cho yêu cầu giao lưu kinh tế và củng cố quốc phòng. Các ngành Văn hóa, Giáo dục,Y tếcó bước phát triển và tiến bộ đáng kể. Vấn đề Văn hóa - tư tưởng, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa được đặc biệt coi trọng. Về Giáo dục, so với năm học 1960 - 1961, số học sinh phổ thông năm học 1964 - 1965 tăng từ 1,9 triệu lên 2,7 triệu, số sinh viên đại học tăng từ 17.000 lên 27.000. Có 9.000 trường các cấp học và 2.6 triệu học sinh. Số trường đại học tăng gấp đôi. Ngành Y tế mở rộng mạng lưới đến tận huyện, xã. Có bước phát triển mạnh.

Được sự hỗ trợ kĩ thuật và chuyên môn từ Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và Trung Quốc nên đạt nhiều thành tựu. Xây dựng khoảng 6.000 cơ sở y tế. Thành tựu đạt được trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1961 – 1965) đã làm thay đổi bộ mặt xã hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh viết: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”. Tuy nhiên, kế hoạch Nhà nước 5 năm vấp phải một số sai lầm khuyết điểm, chủ yếu do tư tưởng chủ quan nóng vội, giáo điều thể hiện rõ nhất qua việc đề ra phương châm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu quá cao, không tính đến khả năng thực hiện và điều kiện cụ thể của đất nước. Mặc khác, sau khi dựng lên Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, từ ngày 5/8/1964, Mỹ mở chiến dịch Mủi tên xuyên, bắn phá miền Bắc, Kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961 – 1965) phải chuyển hướng và không thể tiếp tục.

TRUNG QUỐC VIỆN TRỢ SÚNG TRANG BỊ CHO 200 TIỂU ĐOÀN. Giai đoạn 1960–1965 là giai đoạn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công khai hậu thuẫn những người Cộng sản miền Nam, và bắt đầu đem quân thâm nhập miền Nam. Đầu thập niên 1960 là thời kỳ nở rộ của Khối xã hội chủ nghĩa và cũng đã xuất hiện mầm mống chia rẽ giữa hai cường quốchàng đầu của khối là Liên Xô và Trung Quốc. Đang có sự tranh cãi giữa những người thuộc "phe xét lại" là Nikita Sergeyevich Khrushchyov và Liên Xô, và những người tự nhận là "Marxist-Leninist chân chính" là Mao Trạch Đông và Trung Quốc về các biện pháp cách mạng ở thế giới bằng hòa bình hay bằng bạo lực cách mạng... Trung Quốc, không muốn vai trò của mình kém hơn đối thủ cùng tư tưởng, nên họ viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong giai đoạn này, còn nhiều hơn Liên Xô. Họ khuyến khích Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành giải phóng miền Nam mà không sợ quân đội Mỹ tham chiến. 

Mùa hè 1962, Trung Quốc  gi cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn. Trung Quốc cũng đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt Nam nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Tháng 12 năm 1964, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc thăm Hà Nội và ký Hiệp ước Hữu nghị hợp tác quân sự Việt – Trung. Về phía mình, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương giữ quan hệ tốt với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô để tranh thủ càng nhiều viện trợ vũ khí càng tốt. Ông Lưu Đoàn Huynh, cố vấn ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cho rằng vì cả hai bên Liên Xô và Trung Quốc chống nhau nên không bên nào có thể ép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo đường lối của họ vì làm như vậy sẽ tạo cơ hội cho đối phương. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận vũ khí do các đồng minh viện trợ, nhưng sẽ tự chiến đấu bằng đường lối và nhân lực của đất nước mình./.

 

Bài 206: CỘNG SẢN MIỀN NAM, VÀ MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM NĂM 1960.

CÀI NGƯỜI VÀ CHÔN VŨ KHÍ TẠI MIỄN NAM. Theo Hiệp định Genève, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến Đông Dương (1945-1955) sẽ rút khỏi lãnh thổ của phía bên kia. Lực lượng chính quy của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam phải di chuyển về phía Bắc vĩ tuyến 17, lực lượng bán vũ trang và chính trị được bố trí ở lại. Theo ước tính của Mỹ, vẫn còn 100.000 cán bộ, đảng viên các ngành vẫn được bố trí ở lại. Việt Minh cũng chôn giấu một số vũ khí và đạn dược tốt để sử dụng khi cần. Từ tháng 6 năm 1955, Việt Nam Cộng hoà mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu càn quét những khu từng là căn cứ kháng chiến chống Pháp của Việt Minh. Chính phủ tiến hành các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, cưỡng ép họ từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. 

Tháng 12 năm 1956, Xứ uỷ Nam Bộ mở Hội nghị Phnompenh, Campuchia. Hội nghị ra quyết định "Con đường tiến lên của Cách mạng miền Nam là phải dùng bạo lực, tổng khởi nghĩa giành chính quyền... Hiện nay, trong chừng mực nào đó phải có lực lượng vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tới sau này dùng nó đánh đổ Mỹ Diệm... cần tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập đội vũ trang bí mật, tranh thủ vận động cải tạo lực lượng giáo phái bị Mỹ Diệm đánh tan, đứng vào hàng ngũ nhân dân, lợi dụng danh nghĩa giáo phái ly khai để diệt ác ôn.

Chính quyền Việt Nam Cộng hoà đẩy mạnh các hoạt động chống Cộng, với những biện pháp càn quét khốc liệt khiến những người cộng sản bị thiệt hại nặng. Đến cuối năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo cho các Liên tỉnh ủy không được hoạt động vũ trang, cán bộ đảng viên tạm ngừng hoạt động hoặc đổi địa bàn hoạt động để giữ gìn lực lượng. Những người đổi địa bàn hoạt động bị bắt hơn phân nửa, một số khác mất tinh thần, bỏ công tác, lo làm ăn. Số còn hoạt động nhiều người bị mất tinh thần, giảm liên hệ với quần chúng, giảm hoạt động tuyên truyền. Ngày 13 tháng 1 năm 1959, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 15 ra Nghị quyết 15, chính thức phát động đấu tranh vũ trang kèm đấu tranh chính trị. 

CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG, NỔI DẬYTháng 2 năm 1959, sau khi nhận được thông báo nội dung cơ bản Nghị quyết 15, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo các tỉnh tăng cường hoạt động vũ trang, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở nông thôn. Ngày 6 tháng 5 năm 1959, Quốc hội Việt Nam Cộng hoà thông qua luật số 91 mang tên Luật 10-59, tổ chức các Tòa án quân sự đặc biệt "xét xử các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa". Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đẩy mạnh truy quét, bắt bớ, khủng bố, nên lực lượng cộng sản bị thiệt hại hết sức nặng nề. Hàng chục đơn vị vũ trang đầu tiên ở miền Nam trong những năm 1956-1959 có quân số thất thường, nơi nào cũng có hiện tượng "đào súng lên" rồi lại phải cất giấu súng… Các đoàn cán bộ từ miền Bắc, phần nhiều từng tập kết ra Bắc năm 1955 bắt đầu được cử vào để chi viện, tăng cường cho miền Nam. Năm 1960, Đại hội đảng thứ 3 nhóm họp từ 5 đến 10/9/1960 tại Hà Nội đã bầu ông Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất. 

Lê Duẩn là người chủ trương đấu tranh bằng vũ trang với mọi hy sinh để "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội". Ngay lập tức chiến trường miền Nam có sự đột biến. Phía Cộng sản phát động ngay một đợt tiến công quy mô, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong đó chính trị vẫn đóng vai trò chủ đạo. Họ phát động nông dân ở nông thôn nổi dậy giành chính quyền, phá Ấp chiến lược, lùng bắt và thủ tiêu các nhân viên chính quyền tại địa bàn. Họ đánh hoặc bao vây các vị trí quân sự để không cho quân chính phủ kéo về can thiệp và đồng thời, họ phát động dân chúng biểu tình. Nếu thấy đối phương yếu thế thì biểu tình phát triển thành nổi dậy cướp chính quyền. Nếu chưa thể thì đưa ra các yêu sách quấy rối làm tê liệt chính quyền. Nếu chính phủ điều quân tới thì những người biểu tình bao vây lấy quân đội bắt đầu binh vận ngay tại chỗ. 

THÀNH LẬP MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM. Phong trào có tên là Đồng Khởi và bắt đầu được thí điểm tại tỉnh Bến Tre. Khi thấy chính phủ Ngô Đình Diệm lúng túng trong việc lập lại trật tự, thì các vùng khác cũng theo nhau đồng khởi. Đến cuối năm 1960 một phần đáng kể của nông thôn miền Nam đã thành vùng do Cộng sản kiểm soát. Cứ như thế, địa bàn vùng giải phóng tiếp tục mở rộng. Để cho cuộc chiến đấu có chính danh, ngày 20 tháng 12 năm 1960, Cộng sản miền Nam thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMN) gồm nhiều đại diện các thành phần tôn giáo, tầng lớp xã hội, dân tộc khác nhau ở miền Nam Việt Nam. Ngày 15/2/1961, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam chính thức thành lập Quân Giải phóng. Ước chừng ban đầu có khoảng 30 ngàn thanh thiếu niên đã gia nhập lực lượng Quân Giải phóng. Trong 5 năm (1961-1965), một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc men,... được chuyển vào chiến trường miền Nam. 

KẾ HOẠCH CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA MỸTướng Mỹ, Maxwell D. Taylor được phái sang Việt Nam đánh giá tình hình. Kế hoạch Staley-Taylor được soạn thảo và đem thi hành để chống lại chiến tranh du kích, bình định miền Nam trong vòng 18 tháng. Kế hoạch Staley-Taylor, hay còn gọi là “kế hoạch chiến tranh đặt biệt" có công thức tổng quát là: Quân đội Việt Nam Cộng hoà + Cố vấn Mỹ + Vũ khí Mỹ + Viện trợ kinh tế Mỹ. Mỹ tăng cường sức mạnh cho quân đội Việt Nam Cộng hoà (QĐVNCH) bằng cách tăng quân số, cung cấp xe thiết giáp và máy bay, nhất là trực thăng, đưa cố vấn quân sự Mỹ xuống đến đơn vị chiến đấu, để giúp các sĩ quan Việt Nam Cộng hoà vạch kế hoạch hành quân và chỉ huy chiến đấu. Chiến thuật của quân đội Việt Nam Cộng hoà là trực thăng vận và thiết xa vận: khi phát hiện các đơn vị của địch lập tức dùng trực thăng đổ quân bao vây chặt lấy, sau đó gọi thiết giáp đến đánh giải quyết chiến trường, gọi là chiến thuật "tung lưới-phóng lao". 

Trong thời gian đầu chiến tranh đặc biệt đã phát huy tác dụng khá tốt, tình hình quân sự được ổn định, quân đội Giải Phóng bị chiến thuật cơ động nhanh "tung lưới-phóng lao" làm thương vong lớn, họ phải chuyển hoạt động ra xa, hành quân và đánh đêm là chính. Dù vậy, nhờ có hàng ngàn thanh thiếu niên gia nhập, nên Quân Giải phóng chẳng những được bổ sung quân số kịp thời mà còn giúp Quân Giải phóng phát triển khá thuận lợi.  Lực lượng quân sự ở các huyện sẽ được chọn lọc, huấn luyện và trang bị thành các Tiểu đoàn cấp tỉnh. Từ các tiểu đoàn cấp tỉnh, sẽ hình thành đơn vị cấp Trung đoàn đóng ở quân khu. Tuy nhiên qua các trận đánh, những đơn vị chính quy có thương vong tăng cao. Cuối giai đoạn chiến tranh đặc biệt, việc lấy quân tại miền Nam không còn đủ số lượng để bổ sung cho tổn thất, và đáp ứng nhu cầu tác chiến mở rộng, thế là, các đơn vị miền Bắc theo đường Trường Sơn bắt đầu hành quân chi viện cho chiến trường miền Nam. 

CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM. Tuy nhiên, lúc nầy trên chiến trường miền Nam các hoạt động tác chiến chủ yếu vẫn là Quân Giải phóng, còn các đơn vị từ Bắc vào chỉ đứng chân vòng ngoài tại tuyến đường Trường Sơn, Tây Nguyên. Sau gần hai năm kinh nghiệm chiến đấu Quân Giải phóng (QGP) đã biết cách xử lý các nhược điểm của chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của quân đội Việt Nam Cộng hoà. Ngày 2/1/1963 tại tỉnh Tiền Giang đã xảy ra trận Ấp Bắc và quân đội Việt Nam Cộng hoà đã thất bại nặng. Sau trận đánh này, cho thấy rằng QGP không còn là các nhóm quân nhỏ bất lực trước trực thăng vận, thiết xa vận nữa mà họ đã lớn mạnh đủ để đánh bại quân cơ động của đối phương. Trong các năm 1963 và 1964 QGP thắng thế tiến công trên toàn chiến trường. và đến tháng 12/1964, họ tiến hành chiến dịch Bình Giã tại tỉnh Bà Rịa. Cùng với các trận đánh lớn khác họ ép quân đội Việt Nam Cộng hoà lui về thế thủ gần các thành phố lớn./.

 

Bài 207: ĐỜI SỐNG XÃ HỘI TẠI BẮC VIỆT NAM SAU NĂM 1954, PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI.

CẢI CÁCH CÔNG THƯƠNG NGHIỆP TƯ DOANHHòa bình lập lại năm 1954, sau đó cuộc cải cách công thương nghiệp tư doanh bắt đầu. Những nhà sản xuất và thương mại cũ phải hiến những tài sản của mình cho Nhà nước theo hình thức công tư hợp doanh. Kinh tế tư nhân dần dần bị xóa bỏ và tài sản cá nhân cũng dần dần biến vào sở hữu công cộng. Tất cả mọi thứ đều như vậy. Một số gia đình đặc biệt, hoặc không quá giàu có, còn có thể giữ lại nhà, còn phần lớn bị sung công và chia lại từ đầu cho nhân dân và cán bộ công nhân viên, theo tiêu chuẩn mỗi người bốn thước vuông. Gia đình cán bộ, như Nhà tôi gồm bố mẹ và chín anh em được thuê một căn phòng rộng chừng 30 - 50 thước vuông, cả nhà chỉ có một hai cái gường, còn tất cả thường xuyên nằm trên nền nhà. Cán bộ đi làm bình quân được mua 13 kg gạo một tháng, giá 4 hào/kg không thay đổi cho đến suốt thời bao cấp. 

Người không đi làm và tuổi nhỏ hơn, được tiêu chuẩn gạo từ 13 kg trở xuống tùy theo, ví dụ một tuổi sẽ được mua 3 kg. Những người làm việc nặng nhọc, độc hại sẽ được mua trên 13 kg, từ 14 - 19 kg. Bộ đội sẽ được mua 21 kg và được cấp 6,8 hào tiền ăn một ngày, cho binh lính. Nông dân tùy theo vùng, được cấp thóc theo đầu người như vậy, tính ra gạo cũng từ 11 - 15 kg, về cơ bản lương thực gạo của nông dân thấp hơn dân thành phố, nhưng họ có thể tăng gia hoa màu, ngô khoai và mót thóc. Cán bộ thông thường được mua 3 lạng thịt/ tháng, nếu mua thịt thì thôi mua mỡ. Nước mắm một lít rưỡi, muối cân rưỡi, rau 3-5 cân, dầu hỏa 4 lít trong một tháng. Tiêu chuẩn này cũng thay đổi theo lương và tuổi lao động, nghề nghiệp lao động. Hàng ít, khan hiếm nên xếp hàng trở thành hiện tượng thông thường hàng ngày, mua bán cái gì cũng xếp hàng cả. Nên người ta gọi đùa chủ nghĩa xã hội là xếp hàng cả ngày. 

CƠM ĐỘN, QUẦN ÁO VÁ CHẰNG VÁ ĐỤP. Đó là những phân phối đều đặn hàng tháng nếu tình hình chiến sự và kinh tế còn đảm bảo được. Cuộc chiến chống Mỹ ngày một gian khó, lương thực khan hiếm dần, và người ta phải phân phối nhiều loại khác thay cho gạo, như bột mì, hạt bo bo, ngô khoai sắn. Cơm độn các loại trên là phổ biến trong mỗi bữa ăn, đôi khi nồi cơm chỉ có 30% là gạo. Vải may quần áo cũng dần trở nên khan hiếm, theo tiêu chuẩn thì cán bộ được 4 thước vải/năm, nhân dân được 2-2,5 thước/năm. Nhưng có những năm chẳng có chút vài nào, người ta sẽ bán thay vào đó chút kim chỉ, sách giấy, đường, hay phụ tùng xe đạp. Thời gian đó không ít người ăn mặc theo kiểu nhất bộ, tức là quanh năm chỉ có một bộ quần áo mà thôi, về nhà là cởi trần trùng trục. Nhiều nam thanh nữ tú cũng phải mặc quần áo vá chằng vá đụp. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng Bài 2: Trích “Phân phối và Đồng lương” Thứ Bảy, 17/05/2014).

Từng làm kế toán trong quân độitôi cũng nhớ ít nhiều về các mức lương mà cán bộ binh sĩ được hưởng, còn đồng lương của cán bộ nhà nước bên ngoài thì chỉ biết theo những gì qua bố mẹ anh chị mình. Mức lương thấp nhất của người cán bộ, trong ngành kế toán là 36 đồng vào những năm 1960. Song quãng thời gian trước chiến tranh phá hoại, năm 1960, đời sống tương đối ổn định, 36 đồng người ta có thể tạm đủ sống cho mình và nuôi một đứa con, đại khái chi phí từ 2 - 5 đồng tiền thuê nhà, tiền điện nước từ 1 - 2 đồng, 1 - 2 đồng cho con đi học, ăn hai người hết 20 đồng, mặc hết 5 đồng, ngoài ra vài chi tiêu lặt vặt, là không còn gì, nên không ai dám nghĩ gì khác ngoài cái ăn. Nếu là gia đình, có hai vợ chồng một đứa con, lương chồng 65 đồng theo hệ đại học, vợ 36 đồng theo hệ trung cấp, thì cũng có cuộc sống ổn định, hàng tuần có thể đi xem phim, mua một hai cuốn sách, cho con đi chơi công viên. 

TRONG CƠ QUAN VAY NHAU ĐIẾU THUỐC, VÀ ĐÒI NHAU ĐẾN VÀI XU. Nếu chỉ xét riêng đồng lương, người ta sẽ không hiểu vấn đề này. Nhân dân bình thường được mua 1,5 lạng thịt/tháng, nhưng cán bộ cao cấp tới 6 cân/tháng, cho nên sự chênh lệch do giá thị trường chợ đen tới 100 đồng, ngoài ra tiêu chuẩn ưu tiên đường sữa, chè thuốc, hàng phân phối cũng tạo ra sự chênh lệch đến 100 đồng nữa. Nếu cán bộ thông thường tương đối đông con, bình thường là ba con, đông là bảy đến chín con, với hai người đi làm đồng lương cán bộ thì chỉ là sao cho đủ ăn, không còn đầu óc nào cho việc khác. Trong sinh hoạt cơ quan, người ta vay nhau điếu thuốc, lạng chè, vài hào, và đòi nhau đến vài xu, cũng như sinh hoạt xóm giềng, vay nhau vài thìa nước mắm, muôi mỡ, nhúm muối, một hai bát gạo, lạng đường là hết sức thông thường. Điều mà nhiều người bây giờ không thể tưởng tượng được. 

Mẹ tôi làm ở một cửa hàng ăn uống, người ta rán bánh rán và quẩy nhiều lần trong một chảo dầu mỡ, cho đến khi chảo dầu cặn này đen kịt lại, thì mới bán rẻ cho nhân viên. Nhà tôi thường dùng mỡ dầu đen đó vừa xào rán vừa thắp đèn lúc mất điện, đến giờ mà không bị ung thư thì phải nói là trời thương. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 4: Trích “Phân phối và Đồng lương” Thứ Hai, 26/05/2014).

 

Bài 208: NHÀ NƯỚC ĐỘC QUYỀN SẢN XUẤT, VÀ PHÂN PHỐI HÀNG HOÁ: PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI.

XE ĐẠP, ÁO QUẦN, CHĂN MÀNG, XÔ CHẬU ĐƯỢC PHÂN PHỐI…Những năm đầu hòa bình, từ 1955, Nhà nước hoàn toàn nắm độc quyền về sản xuất và phân phối hàng hóa, cho nên hầu như không có hàng hóa nào không thuộc về Nhà nước. Những tư nhân và các hợp tác xã nhỏ lẻ nếu có sản xuất gì đó cũng phải bán cho quốc doanh, từ đó quốc doanh sẽ phân phối lại cho người tiêu dùng, không ai được phép tự bán hàng hóa do mình sản xuất. Trong đời sống hàng ngày các mặt hàng như: xe đạp, áo quần, chăn màn, quạt máy, xô chậu, nồi niêu, phích nước, ấm chén… được coi là những đồ dùng tối thiểu nên được phân phối tùy theo cơ quan và dân sự theo lối phân hàng hàng năm, hàng quý, hàng tháng. Nhà cửa, cả đời người vài chục năm đi làm mới mong được phân nhà, nhưng xe đạp thì hàng năm được xét cấp, ít nhất mỗi gia đình cán bộ phải được mua từ một đến hai chiếc - đó là phương tiện di chuyển duy nhất của cả nhà trong chiến tranh. 

NẾU BẠN LẤY VỢ... HÀNG PHÂN PHỐI VÀ CHỢ ĐEN. Nếu bạn lấy vợ thì sẽ được mua hai tút thuốc lá, bốn bao chè, bốn cân bánh kẹo, một bộ chăn màn và gường chiếu, một cái phích, một cái chậu và một cái mâm. Giải cờ tướng các làng hàng năm hội lễ phần thưởng cao nhất cũng là một cái phích nước. Nồi niêu xô chậu quạt phân phối hàng tháng từ các cơ quan, người ta tiến hành bắt thăm lần lượt. Ai mua tháng này thì thôi tháng sau. Những người mới lập gia đình, mới sinh con được ưu tiên mua trước. Tất cả các mặt hàng phân phối đều có thể mua được ở chợ đen với giá cao hơn. Lúc đó, theo nguyên tắc mọi hàng sản xuất đều ưu tiên cho Nhà nước thu mua trước, nhưng giá thu mua thường không hợp lý so với giá thành sản xuất, thậm chí còn thấp hơn sự đầu tư. Ví dụ chúng tôi trồng một ruộng rau muống, hàng ngày thu hoạch phải bán cho bộ đội giá năm xu một cân, trong khi mua giống và tắm tưới hàng ngày tốn gấp đôi số tiền đó. 

Nhiều ngành sản xuất phá sản dần, nông dân không chăn nuôi, trồng hoa màu nữa, thợ thủ công bỏ hợp tác xã. Bắt đầu có hiện tượng các hợp tác xã và tư nhân sản xuất một số hàng cho Nhà nước thu mua còn phần nhiều tuồn ra chợ đen. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 6: Trích “Hàng phân phối và chợ đen” Thứ Bảy, 07/06/2014).

CÁC PHƯƠNG CÁCH MUA BÁN HÀNG CHỢ ĐENChợ đen không phải là một cái chợ theo đúng nghĩa, mà là cách phân mua bán hàng hóa chui cố gắng tránh sự kiểm soát của Nhà nước. Nó diễn ra đủ mọi nơi, mọi thời điểm, thậm chí ngay cả những người quản lý thị trường cũng không phải không có lúc dùng hàng chợ đen. Một nhà nuôi con lợn sẽ lẳng lặng giết thịt sao cho lợn không kêu, những người gần đó cũng lẳng lặng đến mua từng gói nhỏ một vài người một. Cả con lợn bị phân tán lặng lẽ như chưa từng được nuôi. Đó là chợ đen, những hình thức mua bán chuyền tay phát triển hơn bao giờ hết thời hậu chiến tạo thành một mạng lưới dân gian sôi nổi không kém gì thời hoạt động bí mật. Ở nông thôn, do hầu hết các mặt hàng thiết yếu không được cung cấp như thành thị, người ta có xu hướng tự cung tự cấp trở lại. Những bà già dựng lại khung cửi, thợ mộc, thợ nề, và thợ thủ công nói chung âm thầm hoạt động nghề trở lại sau thời kỳ hợp tác xã không thành công. 

Các chợ phiên ở nông thôn sau năm 1965 có thể nói vẫn hoạt động bình thường, rau quả củ, lợn gà, đồ mây tre đan, vải mộc, chút gạo thóc, nhất là khi những người thành thị về nông thôn sơ tán chiến tranh phá hoại không thể không cần đến chợ phiên. Ngày nào cũng có cuộc giằng xé giữa những anh quản lý thị trường và mấy bà già buôn thúng bán mẹt, đôi khi rổ rá quăng quật lung tung, rau cỏ ném bừa bãi, nhưng rồi chợ vẫn họp, rồi lại đùng một cái máy bay ném bom, tất cả quăng thúng mẹt thoát thân. Lời lãi ở chợ phiên nông thôn rất thấp, có mất cả gánh hàng cũng chỉ là vài đồng bạc. Mớ rau, nải chuối, gói kẹo bột, rổ tép riu… nhưng cũng là đồng quà tấm bánh cho phong tục sống của người Việt. 

THƯƠNG BINH, BỘ ĐỘI GIẢI NGŨ. Từ sau năm 1973, ngày càng có nhiều thương binh, bộ đội giải ngũ, việc đầu tiên của họ là củng cố lại kinh tế gia đình. Chủ nghĩa công thần bắt đầu nổi lên và những thương binh, bộ đội dùng ảnh hưởng của mình trong việc buôn bán giằng co với thương nghiệp. Họ họp thành từng đoàn, thậm chí có cả đoàn thương binh hỏng mắt nắm ba lô nhau đi buôn gạo, quế, thuốc lá, chè, rượu…cảnh tượng không khỏi khiến người ta rơi nước mắt huống chi còn bắt hàng. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 7: Trích “Chợ đen” Thứ Bảy, 14/06/2014).

 

Bài 209: THAM ĂN VÀ HAM CHUYỆN TÌNH DỤC LÀ HAI CÁI ĐÓI VÔ CÙNG SAU MẤY CHỤC NĂM BỊ DỒN NÉN…: PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI

HAI TÍNH CÁCH THAM ĂN VÀ THAM CHUYỆN TÌNH DỤC. Đời sống của người dân suốt thời chiến tranh và bao cấp là vô cùng khó khăn, đó là điều không ai không nhận thấy, nhưng có nhiều điều ngoài sức tưởng tượng và cái chính là nó ảnh hưởng đến tâm tư con người cho đến tận bây giờ, ngay cả những người thời đó còn là trẻ con hay chưa sinh. Điển hình nhất là hai tính cách tham ăn và ham chuyện tình dục - hai cái đói vô cùng của thời bao cấp, khiến ngày nay hình như người ta hối hả bù đắp, một sự phản chiều tâm lý, hơn 40 năm bị dồn nén, nếu tính từ năm 1945 - 1985.  Khi những ngôi nhà riêng bị chia cho nhiều gia đình, mỗi gia đình theo tiêu chuẩn 4 m2/người trở nên quá chật chội. Rồi mỗi gia đình tự nở ra thành hai, ba, bốn gia đình, khi đàn con lớn lên và lấy vợ, lấy chồng, nhưng tất cả vẫn sinh hoạt trong một diện tích cũ. 

Buổi tối nhìn vào một căn nhà, thực chất chỉ là một căn phòng người ta có cảm giác như một doanh trại quân đội dã chiến, nó được ngăn nhỏ ra bằng các tấm Ri-đô (màn quây), mỗi một khoang ri-đô là một đôi vợ chồng. Sáng ra tất cả Ri-đô được kéo gọn và căn phòng trở nên công cộng như cũ. Vài cái giường không đủ cho tất cả, còn lại nằm đất, đám thanh niên chưa vợ, tụ tập kéo nhau ra đường ngủ, vỉa hè, hoặc các con ngõ, hoặc chui lên các gác thượng, chưa bị lấn chiếm. Đời sống tính dục phải rất tế nhị, hoặc hầu như không có, nhiều người nói rằng: Đó là thời không có tình dục. Không ai trông thấy bạn đời của mình ra làm sao, ngoài khuôn mặt. Bạn tôi mãi đến khi được phân căn hộ tập thể riêng mới thốt lên rằng: Bây giờ (sau 15 năm cưới) tôi mới biết chân vợ mình cực đẹp. Sau đó anh chết sớm vì ung thư, chúng tôi thường đùa rằng vì ông ấy ngắm chân đẹp nhiều quá nên chết sớm. 

CÓ NGƯỜI CHẾ RIÊNG MỘT BỘ ÁO MƯA ĐỂ ĐI VỆ SINH. Ở Hà Nội lúc đó, việc phân chia các gia đình trở nên quá phức tạp. Cái bếp chung của xóm ngõ không đủ cho vài chục gia đình, thậm chí có những căn nhà với nhiều hộ khác nhau, lên đến 70 gia đình nhỏ. Kết cục là từ hàng chục đến 70 cái bếp dầu, lò than cùng hun khói một lúc vào giờ nấu ăn. Nan giải nhất trong mỗi căn nhà có nhiều hộ là khu vệ sinh chung và nước sinh hoạt. Thời bao cấp mỗi lần phải đi vệ sinh giống như bị đi tra tấn, mùi hôi thối còn bám vào người và quần áo rất lâu, khiến có người chế riêng một bộ (áo mưa) để đi vệ sinh. Từ năm 1967, nước sinh hoạt trong thành phố luôn thiếu, do nguồn cung cấp điện không thường xuyên. Mất điện và mất nước đi đôi với nhau. Ngay cả khi có nước thì nước cũng không chảy được vào trong từng gia đình. 

Ở các thành phố giếng thường không được tốt lắm, do nguồn nước ngầm bị ô nhiễm lâu đời, nên nước sinh hoạt là vấn đề rất căng thẳng. Thời đó, chúng tôi thường giặt giũ từ 1 đến 3 giờ sáng, và cũng bơm nước vào bể chung vào quãng thời gian đó, nhưng phải ngồi suốt đêm canh máy bơm, nếu không mất ngay. Những cuộc “chiến tranh nước" xảy ra thường xuyên trong các khu tập thể, nhất là những nhà ở tầng cao thì càng khó khăn có được nước sinh hoạt. Trong nhà luôn có chum, vại, xô chậu tích đầy nước. Người ta tranh thủ đến cơ quan tắm giặt, đi vệ sinh, thay vì làm việc đó ở nhà.  (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 16: Trích “Ri-đô và tương cà mắm muối” Chủ nhật, 17/08/2014).

 

Bài 210: CON NGƯỜI THỜI XHCN CÓ LẼ RẤT CÔ ĐƠN, RỜI TẬP THỂRA NÓ CHẲNG CÒN CÓ Ý NGHĨA GÌ: PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI.

Cùng với sự xóa bỏ tư hữu cá nhân, độc tôn sở hữu tập thể, sinh hoạt tập thể là một nét đặc trưng trong lý tưởng Chủ nghĩa Xã hội. Mọi việc đều thống nhất trong sinh hoạt Đảng và tập thể quần chúng nói chung. Nhỏ nhất là mô hình tổ ba người - còn gọi là tổ tam tam - có lẽ theo lối của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, nghĩa là đi đâu, làm gì, thậm chí ăn gì chơi gì, cũng có ba người và ba người này tự giám sát nhau, sau đó kiểm điểm và báo cáo lên cấp trên. Về sau, chúng tôi không còn thấy sinh hoạt tổ ba người nữa, mà thay vào đó là sinh hoạt tổ đội, có thể là 10 người, hoặc ít nhiều hơn tùy thuộc vào biên chế cơ quan hay cách thức tổ chức cụ thể.

ĐỘI THIẾU NIÊN NHI ĐỒNG VÀ ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN. Từ nhỏ, thiếu nhi được vào Đội thiếu niên nhi đồng, đeo khăn quàng đỏ và phù hiệu, cùng huy hiệu Đội. Huy hiệu Đội có hình tượng búp măng non trên nền cờ đỏ, sao vàng còn huy hiệu Đoàn do họa sĩ Tôn Đức Lượng thiết kế có bàn tay phất lá cờ đỏ sao vàng trên nền xanh. Phù hiệu thì màu trắng, gạch đỏ, đeo ở vai có ba gạch là liên đội trưởng, hai gạch là đội trưởng, còn một gạch là phân đội trưởng. Liên đội trưởng đứng đầu toàn khối thiếu niên thiếu nhi trong trường cấp hai và cấp một, đội  trưởng thì tính theo đơn vị lớp, phân đội là đơn vị tổ. Họ được tập đi hành quân như bộ đội, có đội trống chỉ huy tập riêng. Vào ngày 2/9 - Tết độc lập, mùng 1/5 - Ngày Quốc tế Lao động, rằm Trung thu, ngày thành lập Đoàn - Đội 26/3, những đội thiếu niên nhi đồng hàng trăm em mặc quần xanh, áo trắng, đeo khăn quàng đỏ đánh trống diễu hành vang trời. 

Ở Trung Quốc, thời Cách mạng Văn hóa, đám trẻ con này được tổ chức thành Hồng tiểu binh cũng tham gia đập phá, dẫn đám cán bộ bị chụp mũ đi rong ngoài đường. Học sinh cấp ba, lớn hơn, vào mùa Hè phải xuống các khối phố, nông thôn làm anh phụ trách Đội, sau Hè nếu không có giấy chứng nhận làm phụ trách họ sẽ khó được vào Đoàn. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là một trong những lực lượng tập thể mạnh nhất thời chiến tranh và bao cấp ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thanh thiếu niên từ 14 tuổi đến 25 tuổi được coi là tuổi vào Đoàn. Họ hàng tuần, hàng tháng phải sinh hoạt tập thể, kiểm điểm, thi đấu thể thao, làm báo tường, đi lao động XNCN, từ lực lượng này có thể tham gia trực tiếp vào quân đội. Tất cả những ai không vào Đoàn đều không được vào trường đại học, đó là nguyên tắc. 

ĐỌC BÁO NHÂN DÂN, PHỔ BIẾN TIN MIỀN NAM CHIẾN THẮNGTrong nhân dân, thì ở thành phố chỉ có hình thức sinh hoạt duy nhất là họp tổ dân phố, còn gọi là các khối phố. Khối phố có trưởng khổi, phó trưởng khối và cũng thường là đảng viên, họ có trách nhiệm phố biến nghị quyết của Đảng và Chính phủ, đọc báo Nhân dân và Quân đội hàng tuần cho bà con nghe, tổ chức kiểm điểm thanh niên trộm cắp và vi phạm nếp sống văn minh.  Ở nông thôn, có Hợp tác xã, là một tổ chức tập thể chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp. Hàng tuần, thậm chí hàng tối, đều tổ chức họp hợp tác xã tại đình làng, hay một nhà dân nào đó.  Đầu tiên là đọc báo Nhân dân, phổ biến tin miền Nam chiến thắng, tình hình quốc tế, sau đó kiểm điểm sản xuất, phân công lao động từng đội đến từng cánh đồng nào đó, phân phối giống, phân và trâu cày, chia thịt lợn vào dịp Tết và đón khách trung ương. 

Việc ăn tập thể ở hợp tác xã chỉ vào dịp lễ Tết. Trong các cơ quan còn nhiều hình thức sinh hoạt tập thể hơn. Họp Công đoàn, họp toàn thể đại hội công nhân viên, họp Đảng, họp Đoàn thanh niên, họp Chi hội phụ nữ, và tất nhiên là họp Giao ban việc cơ quan chỉ định vào sáng thứ Hai. Tất cả các cuộc họp này nội dung đều giống nhau, tức là nghị quyết sẽ được nhắc lại tới năm bảy lần, cuối cùng là bình bầu người tốt việc tốt, lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, còn bầu anh hùng lao động thì là việc hy hữu có tính chất quốc gia rồi. Những sinh hoạt tập thể này đã tạo ra xã hội Việt Nam trong hơn 50 năm từ năm 1945 đến sau đó. Và dư âm của nó có lẽ còn rất lâu mới phai nhạt. Con người thời XHCN có lẽ rất cô đơn, rời tập thể ra nó chẳng còn ý nghĩa gì? (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng Bài 17: Trích “Sinh hoạt tập thể” Chủ nhật, 31/08/2014).

 

CHÍNH QUYỀN HAI

Bài 211: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: NĂM 1960-1961.

Đến ngày 1/1/1960, NỘI CÁC CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM GỒM 14 THÀNH VIÊN: Tổng thống kiêm Bộ trưởng Quốc phòngNgô Đình Diệm; Phó tổng thốngNguyễn Ngọc ThơTổng trưởng Nội vụ, Lâm Lễ TrinhTổng trưởng Tư phápNguyễn Văn SĩTổng trưởng Ngoại giaoVũ Văn MẫuTổng trưởng Tài chánh Kinh tếHà Văn VượngTổng trưởng Quốc gia Giáo dục và Thanh niênNguyễn Dương ĐônTổng trưởng Y tế và Xã hộiTrần VỹTổng trưởng Lao độngHuỳnh Hữu NghĩaTổng trưởng Canh nôngNguyễn Công ViênTổng trưởng Công chánhÔng Huỳnh Hữu Nghĩa; Xử lý thương vụ Tổng trưởng Điền thổ và Cải cách Điền địaHuỳnh Hữu Nghĩa; Bộ trưởng tại Phủ Tổng thốngNguyễn Hữu ChâuBộ trưởng Phụ tá Quốc phòngTrần Trung Dung

ĐƯA ĐỒNG BÀO NGHÈO MIỀN TRUNG ĐI LẬP NGHIỆP. NĂM 1960: Ngày 3/1/60, số đồng bào nghèo miền Trung lên Cao Nguyên hoặc miền Nam lập nghiệp: 5.180 bao gồm: 544 người từ Quảng Ngãi vào Bình Tuy; 907 người ở Thừa Thiên vào Bình Long; 729 người ở Quảng Nam vào Kiến Tường; 3.000 người ở Bình Định lên Cao Nguyên. Ngày 8/2/60, có 1.000 người nữa từ Quảng Nam lên lập nghiệp tại Ban Mê Thuột. Cùng ngày 17/2/60, có 584 người ở Bình Định lên Pleiku lập nghiệp. Ngày 19/2/60, có 1.102 người ở Quảng Nam, Bình Định đến lập nghiệp ở Bình Tuy, và Pleiku. Ngày 23/2/60, có 750 người ở Bình Định lên lập nghiệp tại Darlac. Ngày 14/3/60, Khánh thành Khu Trù mật Vị Thanh, Phong Dinh. Ngày 29/5/60, tại khu Trù mật Vị Thanh và Hỏa Lựu, Phong Dinh đã có 1.035 gia đình tới lập nghiệp. Ngày 2/6/60, Hiện nay đã có 38.000 mẩu lúa tại các Địa điểm Dinh điền. Ngày 25/6/60, tổng số Dinh Điền hiện nay là 127, và 200.000 người, 66.000 mẫu tây đã được khai khẩn. 

GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO NHÂN LỰC. NĂM 1960: Ngày 17/2/60, năm nay có 3.158 thí sinh dự thi Tú Tài Pháp. Ngày 4/5/60, thành lập Trường Quốc gia Thương Mại (NĐ 755/GD). Ngày 6/6/60, lễ đặt đá xây dựng Trường Võ Bị Quốc gia mới tại Đà Lạt. Ngày 28/9/60, một làng Đại học được thiết lập tại Thủ Đức. Ngày 28/9/60, một làng Đại học được thiết lập tại Thủ Đức. NĂM 1961: Ngày 1/2/61, Trung Tâm Kỹ thuật Quốc Gia Phú Thọ cải tổ gồm: Trường Công Chánh, Điện học, Công nghệ, Hàng hải (NĐ 189/GD/PC). Ngày 11/2/61, thành lập Viện Đại học Đà Lạt (NĐ 261/GD). Ngày 26/2/61, một khu đất rộng ở Suối Lồ Ồ được dành làm Trại Huấn luyện Thanh niên Cộng hòa. Ngày 28/4/61, Thành lập Khu Đại học Thủ Đức, gồm Tòa Viện trưởng, và các Trường Đại học (SL (SL 110/GD). Ngày 26/6/61, hơn 8.000 thí sinh thi vào trường Quốc gia Sư phạm 700 trúng tuyển. Và 600 thi vảo trường Nữ Hộ sinh Quốc gia, 50 trúng tuyển. Ngày 22/7/61, Bộ Quốc phòng Việt Nam gọi nhập học trường Sĩ quan trừ bị (Khoá 12 Thủ Đức) các thanh niên từ 20 đến 33 tuổi có bằng Tú tài I trở lên (SL 177/QP).

BẦU CỬ TỔNG THỐNG NĂM 1961. Ngày 8/2/61, Hôm nay thấy 3 Liên danh ứng cử Tổng thống: Ngô Đình Diệm-Nguyễn Ngọc Thơ; Nguyễn Đình Quát-Nguyễn Thành Phương; Hồ Nhật Tân-Nguyễn Thế Truyền. Ngày 2/4/61, Tổng số cử tri vụ bầu cử Tổng thống là 7.231.137 theo danh sách niêm yết lần thứ hai. Kết quả bầu cử Tổng thống ngày 9/4/61: Liên danh Ngô Đình Diệm-Nguyễn Ngọc Thơ tái đắc cử với 88% số phiếu; Liên danh Hồ Nhựt Tân-Nguyễn Thế Truyền 7%; và Liên danh Nguyễn Đình Quát-Nguyễn Thành Phương 4%. Có 75% cử tri tham gia bầu cử. Ngày 29/4/61, Ngô Đình Diệm tuyên thệ nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ II trước Quốc hội. 

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁCNĂM 1960: Ngày 13/1/60, thành lập Trung tâm Cải huấn để trông nom các trại giam và nhà lao (SL số 4/NV). Ngày 5/2/60, Đô trưởng Sài Gòn tuyên bố thành lập các Liên gia, 20 nhà; Nhiều Liên gia họp thành Khóm; Mỗi Khóm có khóm trưởng để liên lạc với Phường. Ngày 22/5/60, Cây viết Bic bắt đầu được chế tại tại Việt Nam. Ngày 29/5/60, Khánh thành Quốc lộ mới mở rộng Ninh Hoà-Ba-Mê-Thuột. Ngày 3/6/60, thành lập Cơ quan Quản trị Chương trình Danhim, phụ trách thực hiện Dự án Thủy điện Danhim (NĐ 488/CT/GT). Ngày 6/6/60, bắt đầu phát Thẻ Căn cước bọc nhựa tại Sài Gòn. Ngày 7/7/60, một đồ án chỉnh trang khu vực Sài Gòn Chợ Lớn được trưng bày tại tòa Đô Sảnh, do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người được Giải thưởng hạng nhất La Mã thiết kế. Ngày 21/9/60, Bộ Công Chánh mở kỳ thi dự án xây dựng câu Mỹ Thuận trên đường Hậu Giang dài 650 thước tốn chừng 250 triệu. 

Ngày 18/10/60, Nguyễn Văn Lượng được cử làm Bộ trưởng Bộ Tư Pháp thay Nguyễn Văn Sĩ; Bùi Văn Lương được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ  thay Lâm Lễ Trinh; Nguyễn Đình Thuần được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thay Trần Trung Dung. Ngày 26/12/60, ban hành Luật 7/60 tổ chức Viện Bảo Hiến. Ngày 29/12/60, một khu kỹ nghệ được thiết lập ở Thủ Đức gồm: nhà máy Nhiệt điện; trạm biến điện Danhim; sân dự trử than Nông Sơn; nhà máy ciment; và một cơ sở Giang thuyền (SL 317/CC/GT). NĂM 1961: Ngày 13/4/61, bãi bỏ các Quân khu lập từ 1952, và chia lãnh thổ thành 3 Vùng Chiến thuật và Biệt khu Thủ Đô (SL 98/QP). Ngày 28/4/61, khánh thành Xa Lộ Sài Gòn-Biên Hòa. Ngày 28/6/61, Khánh thành Quốc lộ 19 Quy Nhơn-Pleiku dài 149 cây số tốn 17 triệu Mỹ kim và 7 triệu đồng Việt Nam. Ngày 13/7/61, Đảo Hoàng Sa được đặt thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam (SL 174/NV). 

Ngày 25/11/61, Quốc hội lại ủy cho Tổng thống toàn quyền về ngân sách, an ninh, và các biện pháp Tài chánh (Luật 15/61). Ngày 16/12/61, Viện thống kê cho biết, dân số Việt Nam Cộng hòa hiện nay là 14.081.000 người. Ngày 24/12/61, thành lập Tỉnh Chương Thiện, tỉnh lỵ đặt tại Vị Thanh (SL 244/NV). Ngày 29/12/61, Chính phủ chính thức chấp thuận “Cải cách thuế vụ” theo chương trình Stanley-Vũ Quốc Thúc” theo đó: Bãi bỏ nhiều sắc thuế đánh vào một số hàng nhập nội (SL 17/61); Đặt đảm phụ Quốc phòng và khuếch trương Kinh tế (SL 18/61); Tu chỉnh quan thuế biểu (SL 19/61); Đặt thuế Kiệm ước đánh vào hàng nhập cảng (SL 20/61); Ấn định trợ cấp đặc biệt về chuyển ngân (SL 21/61); Đặt thuế Xuất cảng mới (SL 22/61); Ấn định trợ cấp tạm thời cho một số hàng xuất cảng (SL 23/61); Thiết lập ngân sách đặc biệt 1.200 triệu cho Khuếch trương Kinh tế (SL 25/61). 

QUAN HỆ VỚI MỸ-PHÁP VÀ NƯỚC KHÁC. NĂM 1960. Ngày 2/1/60, từ hôm nay, mọi giao dịch Việt-Pháp tính bằng đồng Phật-lăng mới. Hối xuất chinh thức của đồng bạc Việt Nam. Đối với Mỹ kim vẫn 35$=1 Mỹ kim. Các hối xuất đối với các ngoại tệ khác sẽ tính theo căn bản trên (SL1/TC). Ngày 14/6/60, Mở chiến dịch diệt trừ sốt rét (83 triệu bạc Việt Nam, 900.000 Mỹ kim viện trợ Mỹ). Ngày 10/8/60, Việt Nam ký kết Hợp đồng vay của Quỷ Phát triển (Development Loan Fund) 9,7 triệu Mỹ Kim để mua đầu máy và Toa Xe lửa. Ngày 1/10/60, có 1.331 Sinh viên Việt Nam đang học Đại học và Cao Đẳng ở Pháp. Ngày 10/10/60, có 9.314 Sinh viên học tại Viện Đại học Sài Gòn. NĂM 1961:Ngày 15/12/61, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam “trao đổi văn kiện xác định những đặc điểm trong kế hoạch chống Cộng”. Ngày 27/12/61, tại Sài Gòn, ký kết tại Bộ Kinh tế Hợp đồng nhập cảng 50.000 tấn gạo trả bằng bạc Việt Nam trong khuôn khổ viện trợ Mỹ về thực phẩm. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1960: Ngày 11/11/60, đêm qua 1 giờ 30 nhiều tiếng súng nổ phía Sở thú, tới 2 giờ có tin đảo chánh. Đại tá Nguyễn Chánh Thi Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù, cùng một số sĩ quan đem quân vây Dinh Độc lập đòi Ngô Đình Diệm rút lui. Dân chúng vẫn đi lại như thường. 10 giờ sáng 12/11/60, Ngô đình Diệm đọc hiệu triệu phát thanh gọi quân ở Mỹ Tho về. Trên Đài phát thanh nghe tiếng Bác sĩ Phan Quang Đán hô hào quốc dân hưởng ứng Cách mạng. Chiều nghe tiếng Đại tướng Lê Văn Tỵ đọc Nhật lệnh “Tổng thống Ngô Đình Diệm trao quyền cho các tướng lãnh để lập Chính phủ khác”. Ngày 12/11/60, buổi sáng đoàn quân vây Dinh Độc lập, định tiến vào nhưng lại rút lui. Súng nổ nhiều. Đài phát thanh bị Quân Chính phủ chiếm lại. Trung tá Vương Văn Đông một trong các lãnh tụ đảo chánh, họp báo giải thích tại Bộ Tổng Tham Mưu. 

Các đội quân thuộc Sư đoàn 21 và Sư đoàn 7 tiến về phía Tân Sơn Nhất, và vườn Tao Đàn. Vào lúc 16 giờ, nhiều toán Nhảy Dù trước Dinh Độc lập bỏ đi nơi khác Buổi tối, có tin Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông rời khỏi Việt Nam. Ngày 13/11/60, Quốc hội ngỏ lời trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày 15/11/60, Trung tướng Thái Quang Hoàng bị ép lên máy bay sang Cao Mên đã trở về Sài Gòn. Số thương vong trong vụ biến cố là 214 quân nhân và 54 dân thường; số thiệt mạng là 20 dân thường và 23 quân nhân trong đó có Trung tá Nguyễn Triệu Hồng./.

 

Bài 212: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: 1/1962-5/1963.

Sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ 2, ngày 28/5/61, Tổng thống Ngô Đình Diệm thành lập Nội các mới. Cũng ngày 28/5, Tổng thống ban hành 3 Sắc lệnh: thành lập hai Bộ mới là Bộ Công Dân Vụ và Bộ Cải tiến Nông thôn (SL 120 và 121/TTP); lập thêm 3 chức Bộ trưởng “Đặc nhiệm An ninh; Phát triển Kinh tế; Văn hóa và xã hội (SL 122/TTP); giao trả về các Bộ 11 Cơ quan đặt trực thuộc Phủ Tổng thống (SL 123/TTP) trước đây. Đến ngày 1/1/1962, NỘI CÁC GỒM 15 THÀNH VIÊN: Tổng thống kiêm Bộ trưởng Quốc phòngNgô Đình DiệmPhó tổng thống kiêm Bộ trưởng Đặc nhiệm Phát triển Kinh tế,Nguyễn Ngọc ThơBộ trưởng Phủ tổng thống, kiêm Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng, và Bộ trưởng Đặc nhiệm An ninh,Nguyễn Đình Thuần; Bộ trưởng Đặc nhiệm Phối hợp Văn hóa Xã hộiTrương Công CừuBộ trưởng Nội vụ, Bùi Văn LươngBộ trưởng Ngoại giaoVũ Văn MẫuBộ trưởng Tư pháp, Nguyễn Văn Lượng, Bộ trưởng Giáo dụcNguyễn Quang Trình; Bộ trưởng Công dân vụNgô Trọng Hiếu; Bộ trưởng Kinh tếHoàng Khắc ThànhBộ trưởng Tài chánhNguyễn LượngBộ trưởng Cải tiến Nông thônTrần Lê QuangBộ trưởng Y tế, Trần Đình ĐệBộ trưởng Lao Động,Huỳnh Hữu NghĩaBộ trưởng Công chánh và Giao thông, Nguyễn Văn Dinh.

UỶ BAN ĐẶC TRÁCH ẤP CHIẾN LƯỢC. NĂM 1962. Ngày 3/2/62, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thành lập Ủy ban Trung ương Đặc trách Ấp Chiến Lược, Ủy ban mỗi tuần họp 1 lần, do Cố vấn Ngô Đình Nhu chủ tọa gồm đa số các Bộ trưởng và Cao cấp quân dân chính (SL11/TTP).  Ngày 3/12/62, khai giảng tại Thị Nghè khóa 7 Huấn luyện Cán bộ Ấp Chiến Lược. Lần nầy nhiều Dân biểu và Tỉnh trưởng theo học. NĂM 1963: Ngày 26/3/63, khánh thành Trại Nhân Trí Dũng ở suối Lồ Ồ, trung tâm Huấn luyện cán bộ Áp Chiến Lược. Ngày 17/4/63, lể kỷ niệm Đệ nhất chu niên “Quốc sách Ấp Chiến Lược”. theo tường trình đã lập xong 5.917 Ấp quy tụ 8 triệu dân. Tổng thống Ngô Đình Diệm tuyên bố “Chính sách Chiêu hồi” kêu gọi những người lạc lối trở về xây dựng Xã hội mới.

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. NĂM 1962Ngày 1/1/62, Vàng Kim Thành bán ra 5.450$ 1 lượng, mua vào 5.300$ 1 lạng. Ngày 8/1/62, ban hành quy chế Luật sư và Luật sư đoàn (Luật 1/62). Ngày 18/1/62, Ban hành Luật Liên đới Quốc gia, tương trợ cựu chiến sĩ và Cô nhi Quả phụ (Luât 3/62). Ngày 13/3/62, có 132 Sĩ quan được cử đi học chống du kích tại Mã Lai. Ngày 5/5/62, Các Y sĩ tư ở Việt Nam có thể bị trưng tập để giúp việc Chính phủ trong thời hạn 1 năm, có thể triển hạn (SL 8/62). Ngày 10/5/62, thành lập trường Sư Phạm tại Quy Nhơn đào tạo Giáo viên Tiểu học (NĐ 701/GD). Ngày 21/5/62, thành lập Tóa án Quân sự mặt trận tại mỗi Vùng Chiến Thuật (SL 11/62). Ngày 23/5/62, Tòa án Quân sự đặc biệt xử tử hình 4 Việt Cộng, và phạt khổ sai 8 Việt Cộng can tội khủng bố, thuôc Liên hiệp Sinh viên Học sinh Sài Gòn-Gia Định. Ngày 31/5/62, Tổ chức việc kiến điền và quản thủ điền địa tại các Xã, và các Thành phố (SL 124/CTNT). 

Ngày 7/6/62, thành lập các trường Trung học Kỹ thuật tại Quy Nhơn và Đà Nẳng (NĐ 954 và 955/GD). Ngày 27/6/62, các ngành Cảnh sát Công An cải tổ và hợp nhất thành “Cảnh sát Quốc gia” thuộc Tổng Nha Cảnh Sát (SL 146/NV). Ngày 3/7/62, sửa đổi thuế thổ trạch, theo đó “Tư sản cơ bản cho gia đình được hưởng đặc khoản; Nhà cho thuê giá cao chịu thuế 40% đánh trên phần quá mức (Sluật 13/62). Ngày 8/7/62, nhiệm kỳ Dân biểu Quốc hội tăng từ 3 năm lên 4 năm (Luật Hiến pháp 1/62-HP). Ngày 14/7/62, Thành lập Uỷ ban Quốc gia nghiên cứu mở mang Hạ lưu vực sông Mê Kong thay thế cho Uỷ ban Phối hơp công tác nghiên cứu. Ngày 31/7/62, thành lập tỉnh Quảng Tín, từ một phần tỉnh Quảng Nam, Tỉnh lỵ đặt tại Tam Kỳ (SL 162/NV); Các vụ đại tu bổ, tân tạo không có giấp phép bị trừng phạt nặng, nhà xây bị phá hủy (Luật 16/62). Ngày 13/8/62, thành lập trường Trung học Kỹ thuật Nha Trang (NĐ 1.295/GS).

Ngày 16/8/62, Thiếu tướng Nguyễn Khánh họp báo tại Kontum cho biết, hiện có 125.000 đồng bào Thượng tỵ nạn Cộng sản, vì Cộng sản lấy mất thực phẩm của họ, hiện đã định cư được 64.233 người. Ngày 2/9/62, thành lập tỉnh Phú Bổn gồm 3 Quận trên phần đất thuộc Pleiku, Bình Định, và Phú Yên, tỉnh lỵ đặt tại Cheo Reo (Hậu Bổn) (SL 186/NV). Ngày 25/9/62 từ nay Quốc hội có thể yêu cầu các Bộ trưởng tới giải thích các vấn đề liên quân đến Bộ mình phụ trách (Luật Hiến pháp 2/62). Ngày 27/10/62, Đặc quyền của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà ban hành Sắc luật do tình trạng chiến tranh được gia hạn thêm 1 năm kể từ 19/10/62 (Luật số 18/62). Ngày 10/11/62, Một phi cơ DC3 của hàng không Việt Nam, bị rớt gần Lăng Cô, phía đèo Hải Vân 27 hành khách tử nạn. Đã tìm thấy xác phi cơ và thi thể hành khách bị nạn ở Lăng Cô. Số tiền phải bồi thường là 300.000$ cho mỗi nhân viên, và 609.021$ cho mỗi hành khách nạn nhân (13/11/62).

Ngày 8/12/62, Trung tướng Dương Văn Minh thôi giữ chức Tư lệnh hành quân để làm Cố vấn Quân sự Phủ tổng thống; Trung tướng Trần Văn Đôn Tư lệnh Vùng 1 giữ chức Tư lệnh Lục quân vừa mới thành lập. NĂM 1963: Ngày 14/2/63, Chế độ đầu tư được quy định với nhiều đặc khoản khuyến khích tư bản ngoại quốc vào Việt Nam đầu tư cho phát triển kinh tế (SL 2/63). Ngày 8/4/63, Dịch hạch phát hiện nhiều nơi, Viện trợ Mỹ cấp 300.000 liều thuốc chích ngừa. 

QUAN HỆ VỚI MỸ-PHÁP VÀ NƯỚC KHÁC. Ngày 31/3/62, Chính phủ Việt Nam gởi Thông điệp cho 92 quốc gia yêu cầu ủng hộ Việt Nam Cộng hòa chống xâm lăng Cộng sản, tố giác Miền Bắc giật dây Cộng sản miền Nam. Ngày 9/5/62, Hoa Kỳ thuận cấp 2.500 máy Thu thanh cho các Xã. Ngày 14/12/62, Du học sinh và Sinh viên Việt Nam tại Pháp được hưởng quy chế an sinh xã hội của Pháp theo thỏa hiệp giữa 2 Bộ Ngoại giao Việt-Pháp. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 27/2/62, hai phi cơ Việt Nam ném bom và bắn phá Dinh Độc lập từ 7g15 đến 7g25, một chiếc bị Hải quân bắn rơi, Phi công Phạm Phú Quốc bị bắt, chiếc thứ hai bay thoát sang Cao Mên. 

 

Bài 213: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: 5/1963- 8/1963.

SỰ KIỆN PHẬT GIÁO NĂM 1963. Ngày 7/5/63, Tăng ni Phật tử ở Huế treo cờ Phật giáo chào mừng lễ Phật Đản, Cảnh sát tới hạ cờ. Vài ngàn tín đồ kéo tới Tòa Tỉnh trưởng yêu cầu can thiệp. Ngày 8/5/63, tại Huế, buổi sáng, hàng ngàn người tham dự lễ rước Phật từ chùa Từ Đàm đến chùa Diệu Đế; buổi tối nhiều ngàn Phật tử tới Đài Phát thanh, đón nghe phát thanh lại buổi lễ ban sáng. Cuộc tụ họp bị lực lượng an ninh mạnh tay giải tán: 7 thường dân chết, 1 người bị thương, lực lượng giải tán 5 bị thương. Ngày 10/5/63, Tăng ni Phật tử họp ở chùa Từ Đàm, yêu cầu Chính phủ “bãi bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo; chấm dứt các vụ khủng bố; bồi thường cho những người bị nạn. Ngày 15/5/63, một Phái đoàn Phât giáo gồm 6 Thượng tọa và Đại đức yết kiến Tổng thống Ngô Đình Diệm từ 10g30 đến 13 giờ để bày tỏ 5 nguyện vọng. 

Ngày 16/5/63, họp báo tại chùa Xá Lợi, có Bộ trưởng Công Dân Vụ Ngô Trọng Hiếu, Thượng tọa Thích tâm Châu, trình bày 5 nguyện vọng đã đưa lên tổng thống Ngô Đình Diệm trong buổi Hội kiến là: bãi bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo; cho Phật giáo hưởng chế độ ngang hàng với các Hội Truyền giáo Thiên Chúa; chấm dứt khủng bố và các vụ bắt bớ Phật tử; để Tăng ni và Phật tử tự do truyền Đạo và hành Đạo; bồi thường cho các gia đình nạn nhân, và trừng trị nhân viên có lỗi gây đổ máu”. Ngày 1/6/63, Tổng Giám đốc Điền địa Nguyễn Xuân Khương được bổ Đại biểu Chính phủ tại Trung Phần thay Thẩm phán Hồ Đắc Khương, Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, Phó tỉnh trưởng Nội an Thiếu tá Đặng Sĩ, bị triệu về Bộ Nội vụ đợi lệnh. Ngày 3/6/63, vài trăm thanh niên biểu tình ở Bến Ngự, Huế bị giải tán bằng lựu đạn cay mắt. Ngày 4/6/63, thành lập một Ủy ban Liên bộ để giải quyết các vấn đề Phật giáo gồm Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương, Bộ trưởng tại Phủ tổng thống Nguyễn Đình Thuần. 

Ngày 5/6/63, Ủy ban Liên Bộ nhóm họp với Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo gồm các Thượng tọa Thích Thiện Minh, Thích Tâm Châu, Thích Thiện Hoa, Thích Huyền Quang, Thích Đức Nghiệp. Phật tử biểu tình ở Huế có xô xát, một số bị thương. Ngày 7/6/63, Ủy ban Liên phái gởi thư cho Ủy ban Liên bộ khiếu nại việc các chùa ở Huế bị phong tỏa. Ngày 11/6/63, trước vài trăm Tăng ni tại ngã tư đường Lê văn Duyệt-Phan Đình Phùng, Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu bằng dầu xăng lấy ở một chiếc xe hơi chạy tới. Sau vụ tự thiêu, Tổng thống Ngô Đình Diệm gởi thông điệp kêu gọi dân chúng thủ đô bình tỉnh, rằng mọi sự khó khăn sẽ được giải quyết trên “căn bản lương tri và ái quốc, trong thình đoàn kết huynh đệ”; rằng không nên tin có âm mưu trì hoãn giải quyết vấn đề; rằng “sau lưng Phật giáo trong nước, hãy còn Hiến pháp nghĩa là có tôi”. Ngày 14/6/63, Ủy ban Liên Phái Bảo vệ Phật Giáo và Ủy ban Liên Bộ họp lần thứ hai tại toà nhà Diên Hồng. 

Ngày 16/6/63, sau 3 ngày và đêm thảo luận, Hai Uỷ ban Liên bộ và Liên phái ra thông cáo chung xác định những điểm đã “thỏa hiệp” về: cách treo cờ Phật giáo và Quốc kỳ; xét lại Dụ số 10 về quy chế Tôn giáo; điều tra các vụ bắt bớ, và khoan hồng với những người đấu tranh cho Phật giáo; dành mọi sự dể dàng cho hoạt động Tôn giáo; trừng trị nhân viên có lỗi, bồi thường các gia đình nạn nhân. Ngày 19/6/63, Quốc hội Việt Nam họp xét lại Dụ số 10 về Hiệp hội. Ngày 20/6/63, Các Tăng ni Cổ Sơn Môn họp tại Phú Thọ Hòa ủng hộ chính phủ. Ngày 26/6/63, Thượng tọa Thiện Minh gởi thư lên Tổng thống Ngô Đình Diệm cho hay thông cáo chung chưa được thi hành, cụ thể: tại Phú Yên, Bình Định.v.v. chính quyền tổ chức Meeting lên án Phật giáo; nhiều chuà ở Quảng Trị vẫn còn bị phong tỏa; tăng ni bị Công An ngăn chặn trên các ngã đường; Thanh niên Cộng hòa sắp tổ chức biểu tình đòi xét lại Thông cáo chung; Cổ Sơn Môn được nâng đỡ để chống lại Tổng hội Phật giáo. 

Ngày 9/7/63, ấn định thể lệ treo cờ Phật giáo như các điểm đã thỏa hiệp trong thông cáo chung (NĐ 358/BNV/KS). Ngày16/7/63, Tăng ni và Phật tử biểu tình trước nhà Đại sứ Hoa Kỳ từ 9 g đến 11 giờ vì lý do “Thông cáo chung không được Chính phủ thi hành”. Ngày 17/7/63, Tăng ni và Phật tử biểu tình trước chùa Giác Minh đường Phan Thanh Giản và trước chợ Bến Thành, Cảnh sát can thiệp bắt lên xe, đưa xuống An Dưởng Địa Phú Lâm. Ngày 19/7/63, Cảnh sát đòi các Tăng ni ở an Dưởng Địa khai lý lịch. Ngày 20/7/63, các tăng ni từ An Dưởng Địa trở về chùa Xá Lợi. Ngày 22/7/63, Ủy ban Liên Phái họp báo tại chùa Xá Lợi phản đối việc không thi hành thông cáo chung và các vụ bắt bớ. Ngày 23/7/63, vài trăm Dân vệ và Thương Phế binh biểu tình trước chùa Xá Lợi, đòi hỏi đoàn kết tránh lợi dụng của Cộng sản. Ngày24/7/63, Trung tá Trần Thanh Chiêu Thanh Tra Dân vệ Đoàn bị cất chức vì cuộc biểu tình trước chùa Xá Lợi của Dân vệ hôm qua, và bị phạt 40 ngày trọng cấm.

UỶ BAN ĐẶC TRÁCH ẤP CHIẾN LƯỢC. Ngày 30/5/63, gần 200 giáo sư Đại học, và Khoa trưởng tham gia khóa Huấn luyện Cán bộ “Ấp Chiến Lược” tại Suối Lồ Ồ (Tác giả là một trong 200 Học viên của Khoá này). Ngày 6/7/63, đến nay có 7.204 Ấp Chiến Lược đã lập xong. Ngày 24/7/63, một Ấp Chiến Lược bị tấn công ở Suối Kiết, Tánh Linh, Quận trưởng đem quân đến cứu lọt ở phục kích, tử thương cùng với 12 binh sĩ, mất 22 súng. 

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. Ngày 21/5/63, thiết lập khu Kỹ nghệ Biên Hoà (SL 49/KT).  Ngày 2/7/63, thành lập 7 Nha Cảnh sát Quốc gia, Bắc Trung Nguyên, Nam Trung Nguyên, Cao Nguyên, Đô Thành, Miền Đông Nam Phần, Miền Tiền Giang, Miền Hậu Giang (NĐ 522/NV). Ngày 5/7/63, Tòa án Quân sự đặc biệt họp tại Sài Gòn xử 19 quân nhân và 34 nhân sĩ liên can đến vụ đảo chành hụt 11/11/1960 trước đây. Ngày 7/7/63, Nhà Văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc ngũ tự tử để phản đối việc truy tố ông ra trước tòa án. Ngày 8/7/63, Tòa Án Quân sự đặc biệt tuyên án 19 Quân nhân can vụ 11/11/60 là 13 án tù khổ sai, 6 tha bổng. Ngày 11/7/63, Tòa Án Quân sự đặc biệt xử các Nhân sĩ liên can đến vụ 11/11/63 gồm: Phan Khắc Sửu, Phan Quang Đán, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Tường Tam.v.v Tòa tuyên 20 án cấm cố, 14 tha bổng, Nguyễn tường Tam vô tội.

Ngày 12/7/63, Tòa Án Quân sự đặc biệt xử vắng mặt 9 quân nhân và nhân sĩ đã khởi vụ 11/11/60, Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, Thiếu tá Trần văn Đô, Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc, các Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Quốc Tuấn, Luật sư Hoàng Cơ Thụy, và ông Nguyễn Bảo Toàn, tòa tuyên án tử hình.  Ngày 12/7/63, Đại tá Đỗ cao Trí được thăng Thiếu tướng, và 106 sĩ quan khác cũng được thăng. Ngày 13/7/63, Tòa Án Quân sự xét xử 19 Nhân sĩ của nhóm Caravell, đã ký giấy đòi cải cách. Tất cả đều được tha bổng. Ngày 24/7/63, Thành lập Quốc gia Nghĩa Tử cuộc để nuôi con quân nhân bỏ mình vì nước (SL 72/QP). Ngày 27/7/63, Đại tướng Lê Văn Tỵ sang Mỹ chửa bệnh ung thư phổi. 

QUAN HỆ VỚI MỸ-PHÁP VÀ NƯỚC KHÁC. Ngày 20/7/63, Ký kết thỏa ước Việt-Đức về viện trợ kỹ thuật và tài chánh “vay 50 triệu Đức Mã cho Khu kỹ nghệ An Hòa, Nông Sơn, và 15 triệu để phát triển nông thôn”. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 1/7/63, hành quân “Dân Tiến 25” tại Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú, hạ 19 Việt Cộng. Ngày1/7/63, Bảo An tảo thanh tại quận Vĩnh Thành, Bình Định, đốt 200 căn trại và 100 tấn lúa. Ngày 2/7/63, hành quân tảo thanh tại quận Hiếu Liêm, Phước Thành, hạ 25 Việt Cộng. Phía ta 7 chết, 25 bị thương. Ngày 5/7/63, theo thông cáo, từ đầu năm nay Không quân Việt Nam đã bắn chết 3.500 Việt Cộng, phá 12.318 nhà, 88 trại, 61 kho lương. Ngày 13/7/63, Hành quân “Dân Tâm 21/63” tại thanh Đước và Cần Đước, Long An, hạ 63 tên của Tiểu đoàn 506 Việt Cộng. Ngày20/7/63, Hành quân “Đức Thắng 38/TG” tại quận Chợ Gạo, Định Tường hạ 58 Việt Cộng, bắt 18, tịch thu nhiều súng đạn; Phía ta 15 chết, 50 bị thương. Ngày 22/7/63, hành quân “Nhân Thắng” tại ấp Phó Bình, quận Tri Tâm, Bình Dương hạ 112 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng đạn; Phía ta 8 chết, 34 bị thương. 

Ngày 27/7/63, hành quân “Đức Thắng 27” tại quận Thạnh Trị, Ba Xuyên, hạ 53 Việt Cộng, 20 tên bị bắt sống. Ngày28/7/63, hành quân “Dân Tâm 23/63” giữa Nhà Bè, Gia Định-Thạnh Đức, Long An, hạ 32 Việt Cộng; Phía ta 10 chết, 4 bị thương. 

 

Bài 214: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: 8/1963-11/1963.

SỰ KIỆN PHẬT GIÁO NĂM 1963. Ngày 2/8/63, Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ xác nhận: đề nghị một Uỷ ban Hổn hợp để giải quyết mọi khó khăn trong việc thi hành thông cáo chung. Nếu Chính phủ đơn phương giải quyết thì Phập giáo không chấp nhận. Nay muốn cùng giải quyết và đợi trả lời. Ngày 3/8/63, bà Ngô Đình Nhu hiệu triệu Phụ nữ Bán Quân sự khóa III và lên án những vụ đấu tranh về Tôn giáo. Ngày 4/8/63, Đại đức Minh Hương tự thiêu tại Phan Thiết. Ngày 7/8/63, Văn phòng Phó tổng thống thông cáo, sẵn sàng tiếp nhận thân nhân những người bị bắt giữ về vụ Phật giáo.Ngày 8/8/63, bà Ngô Đình Nhu lại tuyên bố gián tiếp trả lời cha bà là Đại sứ Trần Văn Chương, vì theo Đài V.O.A ngày 6/8/63, Đại sứ đã trách bà “thiếu lễ độ” với Phật giáo. Nhận là “thiếu lễ độ” nhưng thấy “cần phải lên tiếng” đồng thời cám ơn Đại sứ đã cho một dịp để “bày tỏ ý kiến”. Ngày 9/8/63, bà Ngô Đình Nhu lại tuyên bố với báo New York Times “phải quyết liệt đối với cuộc đấu tranh hiện nay của Phật giáo.

Ngày 12/8/63, lễ cầu siêu tại chùa Xá Lợi cho Đại đức Nguyên Hương. Ngày 12/8/63, sau khi lễ cầu siêu tại chùa Xá Lợi cho Đại đức Nguyên Hươnghơn 12giờ đêm, Nữ sinh Mai Tuyết An 18 tuổi, ngụ ở đường Hùng Vương, Thị Nghè, cầm dao chặt bàn tay trái, tay không đứt, máu chảy nhiều, phải đưa vào Bệnh viện. Theo dư luận, nữ sinh phản đối bà Nhu đã xúc phạm tới các vị tu hành. Ngày 13/8/63, Đại đức Thích Thanh Tuệ 17 tuổi đã tự thiêu trước chùa Phước Duyên, Hương Trà, Thừa Thiên. Ngày 13/8/63, Biểu tình lớn tại Huế và Thừa Thiên, và lệnh Giới nghiêm được ban hành tại Huế Thừa Thiên. Ngày 14/8/63, họp báo tại chùa Xá Lợi, Thượng tọa Thiện Minh cho biết ba điều kiện tiên quyết để lập Ủy ban Hỗn Hợp: chấm dứt mưu mô phá Phật Giáo; phóng thích các Phật tử còn bị giam; công bố vụ tàn sát ở Huế”. Ngày 14/6/63, Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ trả lời: trong số 23 người bị bắt, chỉ giữ lại 15 người để điều tra, còn thì đã tha hoặc không hề bị bắt. 

Ngày 15/8/63, Ni cô Diệu Quang, 20 tuổi tự thiêu ở quận Ninh Hòa, Khánh Hòa. Ngày 5/8/63, Lệnh giới nghiêm ban hành ở Nha Trang. các Nam công chức phải ở lại công sở, Nữ công chức phải tới Sở làm ngày nghĩ. Ngày 16/8/63, Đại Đức Thích Tiêu Diêu, tức Thích Thiện Huệ, 71 tuổi tự thiêu tại chùa Từ Đàm, Huế. Ngày 16/8/63, Chấm dứt chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Huế của Linh Mục Cao Văn Luận, cựu Bộ trưởng Trần Hữu Thế được cử ra thay. Ngày 18/8/63, lễ cầu siêu cho các Tăng Ni tử vì Đạo tại chùa Xá Lợi. Rất đông người tham dự. Ngày 19/8/63, Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ cùng nhiều nhà báo và Ủy ban Liên Bộ ra Phú Yên xem xét tình hình Phật giáo. Ngày 20/8/63, biểu tình lớn ở Đà Nẵng và trước chùa Xá Lợi ở Sài Gòn. Lệnh giới nghiêm ban hành ở Đà Nẵng. Ngày 20/8/63, Quá nữa đêm, Cảnh sát Chiến đấu bao tới vây chùa Xá Lợi, xông vào lục soát. Có xô xát kịch liệt. Súng nổ nhiều. Các Tăng Ni bị bắt, nhiều người bị thương. Hòa thượng Thích Tịnh Khiết bị xô ngã, và bị thương ở gần mắt

Ngày 20/8/63, Các chùa Ấn Quang, Kỳ Viên Tự đều bị khám xét. Ngày 22/8/63, Thông cáo được đăng hôm nay rằng “thi hành Sắc lệnh 20/8/63, đêm hôm ấy các chùa Xá Lợi, Ấn Quang, và Theravada đã bị khám xét, một số khí giới và dụng cụ bị tịch thâu. Ngày 22/8/63, Tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa Ngô Đình Nhu kêu gọi Thanh niên Cộng hòa làm “rạng tỏ chính sách”. Ngày 24/8/63, Một phái đoàn Tăng ni và báo giới vào Bệnh viện Cộng hòa thăm Hòa thượng Thích Tịnh Khiết. Cả Sư bà Diệu Huệ cũng được đưa về đây. Ngày 24/8/63, theo một bức thư có đăng báo, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết giới thiệu cùng Tổng thống Ngô Đình Diệm, một Uỷ ban mới được Uỷ nhiệm trông nom Phật sự. Ngày 25/8/63, sinh viên học sinh biểu tình rất đông trước chợ Bến Thành ủng hộ Phật giáo, Cảnh sát can thiệp, có xô xát, một thiếu nữ tên Quách Thị Trang chết, một số bị thương, 1.380 người bị bắt đưa về trại Huấn luyện Quang Trung. 

Ngày 26/8/63, Một “Ủy ban Liên hiệp Bảo vệ Phật giáo Thuần túy” được thành lập do Thượng tọa Thích Thiện Hòa chủ tọa để chăm lo Phật sự. Ngày 31/8/63, Thanh niên Cộng hòa tổ chức một cuộc biểu tình lớn ở Công trường Lê Lợi để ủng hộ Chính phủ và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày 2/9/63, chùa Xá Lợi được giao trả cho một Ban Quản trị mới, gồm một số Hội viên Hội Phật học Nam Việt. Ngày 2/9/63, Tổng Trấn Sài Gòn Gia Định họp báo tại trại Lê văn Duyệt cho biết chỉ còn vài Tăng Ni chưa được thả về, có 2 vị Sư trú ẩn trong Tòa Đại sứ Mỹ. Ngày 4/9/63, theo Thông cáo, chỉ còn 67 Sinh viên học sinh bị giữ. Ngày 5/9/63, Có 61 tăng ni bị bắt ở Huế được tha về. Ngày 10/9/63, bà Ngô Đình Nhu dẫn một Phái đoàn Dân biểu đi dự Hội nghị Quốc tế Nghị sĩ tại Nam Tư, nhân tiện sẽ ghé qua nhiều nước Âu Mỹ để “giải độc” dư luận Quốc tế về vấn đề Phật giáo. Ngày 13/9/63, Thượng tọa Thích Thiện Hoà xác nhận tinh thần tôn trọng kỷ luật của Phật tử. 

Ngày 17/9/63, theo tin Việt Nam Press thì tín đồ Phật giáo nhiều tỉnh ủng hộ Ủy ban Liên hiệp Bảo vệ Phật giáo thuần túy. Ngày 20/9/63, Khối Á-Phi yêu cầu Việt Nam trình bày vấn đề Phật giáo trước Liên Hiệp Quốc. Ngày 24/9/63, Đại sứ Bửu Hội phản đối ý kiến đưa vụ Phật giáo Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc. Ngày 5/10/63, Đại đức Thích Quang Hương tự thiêu trước chợ Bến Thành. Ngày 8/10/63, Đại sứ Bửu Hội đề nghị với Liên Hiệp Quốc cử một Phái đoàn sang Việt Nam xem xét vụ Phật giáo. Ngày 9/10/63, Liên Hiệp Quốc hoãn cuộc bàn cải vấn đề Phật giáo Việt Nam. Ngày 10/10/63, bà Ngô Đình Nhu diễn thuyết và họp báo tại Hoa Kỳ, công kích chính sách Mỹ tại Việt Nam, và phủ nhận sự đàn áp Phật giáo. Ngày 17/10/63, một số ký giả ngoại quốc bị Công An đánh vì chụp hình các vụ rối ren trên đường phố, và các vụ xô xát với Tăng Ni. Ngày 21/10/63, cựu Đại sứ Trần Văn Chương chỉ trích bà Ngô Đình Nhu làm rối tình hình Việt Nam. 

Ngày 23/10/63, cựu Đại sứ Trần Văn Chương công kích chính sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày 25/10/63, Phái đoàn của Liên Hiệp Quốc đến điều tra vụ Phật Giáo đến gặp tổng thống Ngô Đình Diệm, và họp báo nói qua về nhiệm vụ. Ngày 25/10/63, Sư bà Diệu Huệ thân mẫu Đại sứ Bửu Hội tuyên bố bức thư lên án Đại sứ không do bà viết. Ngày 26/10/63, Cố vấn Ngô Đình Nhu phân trần khá lâu với Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ Phật giáo. Ngày 26/10/63, có tin đồn nhân viên Phái đoàn được chiều chuộng đặc biệt bằng đủ mọi cách. Ngày 27/10/63, Đại đức Thích Thiện Mỹ vị sư thứ 7 tự thiêu, trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. Ngày 29/10/63, cựu Đại sứ Trần Văn Chương lại lên tiếng công kích chính sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày 31/10/63, Cố Vấn Ngô Đình Nhu tiếp kiến Ủy ban Liên hiệp Bảo vệ Phật Giáo. Cùng ngày 31/10/63, Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc ra Huế viếng Tăng Ni. Ngày 31/10/63, Cảnh sát ngăn kịp 3 vụ tự thiêu.  

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. Ngày 4/8/63, tính đến nay, 12.211 mẫu ruộng và rẫy đã được trồng trỉa tại các Vùng Dinh Điền Cao Nguyên Trung Phần. Ngày 12/8/63, Ban Nha khoa của trường Y khoa Sài Gòn được đổi thành Trường Đại học Nha khoa (SL 63/GD). Ngày 14/8/63, Khánh thành Đợt I Quốc gia Nghĩa tử Cuộc, đường Võ Tánh, Tân Sơn Hoà, Sài Gòn. Ngày 20/8/63 Hội đồng Chính phủ được triệu tập gấp vào luc gần sáng, Tổng thống Ngô Đình Diệm tuyên bố phải hành động cương quyết, và lãnh trách nhiệm trước lịch sữ, vì có tin Cộng sản sắp tràn vào Thủ đô; đã ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn lãnh thổ, giao quân đội bảo vệ an ninh trật tự (SL84/TTP). Ngày 21/8,63, Bộ trưởng Vũ văn Mẩu xuống tóc để phản đối sự đàn áp Phập giáo. Ngày 21/8/63 Thiếu tưng Tôn Thất Đính được cử làm Tổng trấn Đô thành Sài Gòn-Gia Định, có nhiệm vụ thi hành lệnh giới nghiêm. Cấm đi lại ban đêm từ 9 giờ tối đến 5 giò sáng.

Ngày 22/8/63, Đại sứ Trần Văn Chương tại Hoa Thịnh Đốn (Hoa Kỳ) bị chấm dứt nhiệm vụ. Ngày 22/8/63, Phi trường Tân Sơn Nhất bị đóng hôm qua, nay lại được mở. Ngày 24/8/63, Bộ Giáo dục tạm đóng cửa tất cả các trường học ở Sài Gòn Gia Định. Ngày 27/8/63 Các Đoàn thể và các Tỉnh gởi kiến nghị trung thành và ủng hộ lên Phủ Tổng thống. Ngày 28/8/63, Bộ trưởng Vũ văn Mẫu được nghỉ 3 tháng lên đường hành hương sang Ấn Độ. Ngày 30/8/63, các trường Tiểu học được mở cửa trở lại. Ngày 30/8/63, Theo thông cáo của Tổng trấn Đô thành, hầu hết thanh niên bị bắt giữ đã được trả lại cho thân nhân, chỉ còn 10 người chưa được gia đình tới nhận. Ngày 4/9/63, Các trường Trung học được mở cửa lại ở Sài Gòn-Gia Định. Ngày 7/9/63, Các học sinh trường Trưng Vương, Võ Trường Toản.v.v.. chưa chịu vào lớp học. Ngày 14/9/63, chấm dứt tình trạng giới nghiêm trên toàn quốc từ 12 giờ trưa hôm nay (SL104/TTP).

Ngày 27/9/63, bầu cử Quốc Nhiệm kỳ III, đáng lẽ bầu 31/8/63, nhưng hoản lại. Ngày 5/11/63, sản xuất và buôn bán Cao đơn Hoàn tán từ nay phải theo những thể l chặt chẽ hơn. (NĐ 3.010/BYT/PC). Ngày 7/10/63, khai mc phiên họp đầu tiên của Quốc hội pháp nhiệm III. Ngày 23/10/63, đơn xin từ chức của Bộ trưởng Ngoại giao Vũ văn Mẫu được chấp nhận. Ngày 14/10/63, thành lập tỉnh Hậu Nghĩa, lấy một phần từ các tỉnh Long An, Bình Dương, và Tây Ninh, tỉnh lỵ là Khiêm Cương, ở Bàu Trai củ (SL 124/NV). Ngày 19/10/63, Cảnh sát Đô thành khám phá một tổ “Liên đoàn Sinh viên Học sinh Tự do Viết Nam”. Ngày 22/10/63, Quốc hội triển hạn thêm 2 năm nữa việc Ủy quyền cho Tổng thống ban hành Sắc luật (Luật 20/63). Ngày 23/10/63, có 70 chiến sĩ được coi như là “Anh hùng Diệt Cộng” từ các tỉnh được về dự lễ “Quốc khánh tại Thủ đô”. Ngày 25/10/63, theo Việt tấn Xã, không có cuộc vận động thỏa hiệp ngầm giữa Sài Gòn và Hà Nội như tin đồn ít lâu nay. 

Ngày 25/10/63, bỏ Tòa án quân sự đặc biệt thành lập do Luật 10/59 ngày 5/5/1959 (SL 17/SL). Ngày 29/10/63, Phê chuẩn và ban hành Thỏa ước Pháp-Việt về xử dụng Nguyên tử phụng sự hòa bình (SL 135/NG, chữ ký cuối cùng của ông Diệm). Ngày 31/10/63, Quốc hội mới mở tiệc tiếp tân. Ngày 31/10/63, Chuyên viên xây hầm trú ẩn trong Dinh Gia Long cho biết đã hoàn tất công việc, bom hơn 500 cân ném xuống cũng không việc gì, Tổng thống Ngô Đình Diệm sắp xuống coi...

QUAN HỆ VỚI MỸ-PHÁP VÀ NƯỚC KHÁC. Ngày 16/8/63, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk ngõ ý lo ngại về tình hình chính trị ở Việt Nam. Ngày 22/8/63, Đại sứ Cabot Lodge tới Sài Gòn và tuyên bố với báo chí “không muốn phát biểu ý kiến gì trong lúc này về tình hình Việt Nam”. Ngày 26/8/63, Tân Đại sứ Mỹ, Cabot Lodge trình Ủy nhiệm thư. Ngày 27/8/63, Cao Mên thông báo đoạn giao với Việt Nam Cộng hòa. Ngày 28/8/63, hơn 100.000 người biểu tình ở Hoa Thịnh Đốn chống “kỳ thị chủng tộc”. Ngày 21/9/63, có nhiều tin đồn, nhân viên Tòa Đại sứ Mỹ chia làm hai phe một phe bênh vực tổng thống Ngô Đình Diệm, một phe chống đối muốn lật đổ. Ngày 8/10/63, Dân số Thế giới theo F.A.O hiện có 3.180.000.000 người. Ngày 16/10/63, tướng Phác Chinh Hy đắc cử Tổng thống Đại Hàn. 

Ngày 16/10/63, Tổng thống Hoa Kỳ được Quốc hội giao quyền cắt đứt viện trợ nếu cần đối với Việt Nam. Tuy nhiên, Ủy ban Ngoại giao Quốc hội không đề nghị cắt, mặc dù có vụ Phật giáo và lời đả kích của bà Ngô Đình Nhu. Ngày 23/10/63, có nhiều tin đồn sẽ phá tòa Đại sứ Mỹ, ám sát nhân viên Ngoại giao Mỹ, và cả Đại sứ Cabot Lodge. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 1/8/63, hành quân tại quận Cái Nước, An Xuyên, 74 Việt Cộng, tịch thu 14 súng; Phía ta 2 bị thương. Ngày 2/8/63, nhiều cơ sở của Liên Tỉnh Ủy miền Tây tại Đầm Cùng, An Xuyên, bị phá hủy cùng với máy điện, máy phát thanh. Ngày 8/8/63, Việt Cộng đánh Ấp Chiến Lược Bình Phú Long, quận Kiến Văn, Kiến Phong, 57 tên bị hạ; Phía ta 9 chết, 15 bị thương, trong đó có Quận trưởng tới ứng cứu. Ngày 21/8/63, hành quân tại Đông Xuân, Phú Yên, khám phá một Công binh xưởng lớn thu 1.000 trái mìn và 510 lựu đạn cùng một số súng. Ngày 26/8/63, hành quân “Đức Thắng 51” tại Ấp Nhất Phú An, Vĩnh Long, hạ 35 Việt Cộng, 85 bị bắt. Ngày 29/8/63, hành quân “Đức Thắng 42” gần Cao lãnh Kiến Phong, hạ 29 Việt Cộng, bắt 7 tên cúng võ khí; Phía ta 3 bị thương. Ngày 31/8/63, hành quân “Dân Thắng 136” ở thung lũng Đại Lộc, Quảng Nam, hạ 59 Việt Cộng của 4 Tiểu đoàn chính quy, tịch thu nhiều súng có cả 2 đại bác 57 ly. 

Ngày 10/9/63, hành quân “Đức Thắng 48” tại Gò Công hạ 83 Việt Cộng, tịch thu cả đại bác. Ngày 12/9/63, hành quân tại quận Đầm Dơi, An Xuyên, 122 Việt Cộng, tịch thu được đại bác, súng cối và nhiều súng khác. Ngày 18/9/63, hành quân ở Cần Đước, Long An, hạ 122 Việt Cộng của Tiểu đoàn 506. Ngày 20/9/63, Mìn nổ ở chợ Bến Thành Sài Gòn, 5 người bị thương. Ngày 23/9/63, hành quân “Đức Thắng 48” loại trên 100 Việt Cộng. Ngày 9/10/63, Hành quân ở Hoài Sơn, Bình Định, hạ 64 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng. Ngày 23/10/63, hành quân tại Vĩnh Bình, hạ 63 Việt Cộng. Ngày 25/10/63, hành quân tại Định Tường hạ 41 Việt Cộng. 

ĐẢO CHÁNH LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM. Ngày 1/11/1963, Các công sở nghỉ lễ. Buổi sáng thứ Sáu Ngô Đình Diệm tiếp kiến Đô đốc Mỹ Harry D. Felt, Tổng Tư lệnh Thái Bình Dương. Xe thiết giáp vẫn canh gác như từ ít lâu nay trước Dinh Gia Long và Dinh Độc Lập đề phòng các cuộc biểu tình. 13 giờ 30, tiếng súng nổ ran ở nhiều nơi trong Đô Thành, Quân đội chiếm đóng Tổng Nha Cảnh sát, Đại Phát thanh, Nha Thông tin, Bộ Nội vụ.v.v. Các Lực lượng tấn công gồm 1 đội Pháo binh 105, Tiểu đoàn 1 và 4 Thủy quân Lục chiến, các Đại đội khác chuyển từ Biên Hòa, Thủ Đức, Long An, Bình Dương. 14g30, có xung đột tại Đài Phát Thanh, nhưng chiến xa của Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống bị đánh lui. 16g45, Đài Phát thanh loan tin Quân đội đứng lên lật đổ Chế độ Ngô Đình Diệm. Hội đồng các Tướng lãnh yêu cầu ông Ngô Đình Diệm từ chức, và cùng ông Ngô Đình Nhu ra khỏi Việt Nam. hai người không chịu. 20 giờ hơn Quân đội Cách mạng tấn công mạnh vào thành Cộng hòa, và chiếm được thành nầy hồi 22 giờ. Nhiều sinh viên và học sinh được phóng thích. 24 giờ, theo lời kêu gọi trên Đài Phát thanh, 4 Bộ trưởng ra trình diện tai Bộ Tổng Tham mưu. 

Ngày 2/11/63, Sự kiện nối tiếp. 3 giờ sáng, quân đội Cách mạng tấn công vào Dinh Gia Long, kịch chiến cho tới 4 giờ sáng thì quân Phòng vệ Dinh đầu hàng. Anh em ông Diệm đã rút khỏi Dinh đến nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn. Trung tướng Dương Văn Minh Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn quốc, kể từ hôm nay (Quân lệnh số 1). Số người bị đạn lạc là 20 người chết, 145 bị thương tại các bệnh viện Đô thành. 7 giờ sáng, Đài Phát thanh báo tin, Dinh Gia Long đã bị chiếm, hai anh em, ông Diệm, ông Nhu đã tự tử. Tiếng súng đã im. Dân chúng đổ xô ra các ngã đường đi xem coi, và nghe ngóng tin tức. Phần đông nô nức vui thích như ngày hội. Hàng ngàn người các giới cả phụ nữ, thanh niên, nhất là thanh niên hoan hô Quân đội, mua quà bánh tặng các chiến sĩ, và đua nhau hỏi chuyện. Buổi trưa có tin hai anh em ông Diệm bị hạ sát chớ không phải tự sát. Nhiều đoàn Thanh niên tới phá các trụ sở Việt Tấn Xã, và 9 tòa báo đã ủng hộ chế độ củ. 26 trụ sở của các cá nhân và đoàn thể ủng hộ chế độ cũ cũng bị phá. Tượng hai bà Trưng, vì giống bà Nhu và con gái bị kéo đổ và chặt đầu lôi qua nhiều đường. 

Ngày 3/11/63, Hội đồng Quân nhân Cách mạng họp báo ra Tuyên Cáo và Quyết nghị. Tuyên cáo số 1: Quân đội phải lật đổ một chế độ độc tài; Sẽ lập gấp Chính phủ Lâm thời; Sẽ thành lập một Hội đồng Nhân sĩ; Khi các định chế Dân chủ được thực hiện, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng sẽ trao quyền cho Quốc dân. Tuyên cáo số 2:  Không phóng túng, không độc tài, dân chủ trong tinh thần kỷ luật; Chống Cộng, đứng trong Thế giới Tự do; tôn trọng các Hiệp ước đã ký; đoàn kết toàn dân, cho các đảng phái hoạt động; sửa soạn định chế dân chủ; tự do tín ngưởng, bình đẳng tôn giáo; trả tự do cho các Chính trị phạm không Cộng sản; tự do báo chí... 

Cùng ngày 3/11/1963, Hội đồng Quân nhân Cách mạng cũng ra hai Quyết nghị: Quyết nghị thứ nhất, Truất phế Tổng thống Ngô Đình Diệm; bãi bỏ chế độ Tổng thống; giải tán Chính phủ do ông Diệm lãnh đạo; Hội đồng Quân nhân Cách mạng tạm thời đảm đương Hành pháp. Quyết nghị thứ hai, Tạm ngưng Hiến pháp ngày 26/10/1956; Giải tán Quốc hội bầu ngày 27/9/1963. 

 

CHÍNH QUYỀN BA

Bài 215: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ LÂM THỜI NGUYỄN NGỌC THƠ: NĂM 1963-1964.

Ngày 4/11/63, Hội đồng Quân nhân Cách mạng ban hành Hiến ước Tạm thời số 1: Việt Nam vẫn là nước Cộng hoà; quyền Lập pháp và Hành pháp thuộc Hội đồng Quân nhân Cách mạng; quyền hành Quốc trưởng thuộc Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng; quyền Hành pháp ủy cho Chính phủ Lâm thời do Hội đồng chỉ định; quyền Lập pháp ủy cho Chính phủ, ngoại trừ về Ngân sách, Thuế, An ninh, Quốc phòng; luật lệ hiện hành vẫn tạm thời áp dụng. Thành phần Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM) gồm: Chủ tịch: Trung tướng Dương Văn Minh; Đệ nhất Phó Chủ tịch: Trung tướng Trần Văn Đôn; Đệ nhị Phó Chủ tịch: Trung tướng Tôn Thất Đính; Ủy viên Quân sự: Trung tướng Trần Thiện Khiêm; Ủy viên Kinh tế: Trung tướng Trần Văn Minh; Ủy viên An ninh: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu; Ủy viên Chính trị: Thiếu tướng Đỗ Mậu; Tổng Thư Ký kiêm Ủy viên Ngoại giao: Trung tướng Lê Văn Kim; Các Ủy viên: Trung tướng Mai Hữu Xuân; Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu; Trung tướng Lê Văn Nghiêm; Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có. 

Cựu Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ được HĐQNCM uỷ thành lập Chính phủ. Ngày 4/11/63, Nguyễn Ngọc Thơ trình diện Chính phủ lên Hội đồng Quân nhân Cách mạng. THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng Kiêm Tổng trưởng Kinh tế, Tài chánhNguyễn Ngọc Thơ; Tổng trưởng Quốc phòng, Trung tướng Trần Văn Đôn; Tổng trưởng An ninhTrung tướng Tôn Thất ĐínhTổng trưởng Ngoại giaoPhạm Đăng LâmTổng trưởng Tư pháp, Nguyễn Văn MầuTổng trưởng Giáo dục, Phạm Hoàng HộTổng trưởng Cải tiến Nông thônTrần Lê QuangTổng trưởng Thông tinThiếu tướng Trần Tử OaiTổng trưởng Công chánhTrần Ngọc OànhTổng trưởng Y tếVương Quang NhườngTổng trưởng Lao độngNguyễn Lê GiangTổng trưởng Thanh niên, Nguyễn Hữu PhiBộ trưởng tại Phủ Thủ tướngNguyễn Thành CungBộ trưởng Tài chánhLưu Văn TínhBộ trưởng Kinh tếÂu Trường Thanh.

THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG NHÂN SĨ. NĂM 1963. Ngày 6/11/63, thành lập Hội đồng Nhân sĩ có nhiệm vụ cố vấn cho Chính phủ (SL số 2/HĐQN). Ngày 22/11/63, Một Hội đồng Nhân sĩ từ 40 đến 80 Hội viên các giới, do Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng mời tham gia (SL số15/CT). Ngày 22/11/63, Chủ tịch HĐQNCM ban hành Sắc lệnh thành lập một Hội đồng Nhân sĩ từ 40 đến 80 Hội viên (SL số15/CT). Ngày 19/12/63, Có 60 vị được cử vào Hội Đồng Nhân Sĩ, đa số là những người có tên tuổi trong các đảng phái chính trị quen thuộc (NĐ 47/NĐ/CT).

NĂM 1964. Ngày 2/1/1964, Khai mạc Hội Đồng Nhân sĩ tại Hội trường Diên Hồng, Sài Gòn. Ngày 15/1/64, Hội đồng Nhân sĩ biểu quyết và ra thông cáo chống Trung lập và chống Cộng sản. Ngày 16/1/64, Hội đồng Nhân sĩ họp bàn viêc soạn thảo Hiến Pháp. Ngày 21/1/64, Ủy ban Soạn thảo Hiến Pháp của Hội đồng Nhân sĩ yêu cầu các giới góp ý kiến. Ngày 23/1/64, Hội đồng Nhân sĩ yêu cầu Chính phủ đoạn giao với Pháp. Ngày 15/1/64, Hội đồng Nhân sĩ biểu quyết và ra thông cáo chống Trung lập và chống Cộng sản. Ngày 16/1/64, Hội đồng Nhân sĩ họp bàn viêc soạn thảo Hiến Pháp. Ngày 21/1/64, Ủy ban Soạn thảo Hiến Pháp của Hội đồng Nhân sĩ yêu cầu các giới góp ý kiến. Ngày 23/1/64, Hội đồng Nhân sĩ yêu cầu Chính phủ đoạn giao với Pháp. Ngày 1/2/64, Hội đồng Nhân sĩ vẫn họp và đề nghị Chính sách “Đại doàn kết”.     

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. NĂM 1963. Ngày 4/11/63, nhiều người bị giam giữ được thả về. Ngày 5/11/63, các con ông Nhu ở Đà Lạt được đưa đi Châu Âu trả cho mẹ. Ngày 5/11/63, bãi bỏ một số Sở thuộc Phủ Tổng thống củ như Sở Nghiên cứu Chính trị; Trung hoa Sự vụ; Hộp thư Dân ý; Sở Giao tế; Ban Chuyên viên Kỹ thuât (NĐ 6/PTT/VP). Ngày 6/11/63, nguyên Cố vấn Chỉ đạo Ngô Đình Cẩn bị bắt và giải từ Huế vào Sài Gòn. Ngày 6/11/63, Lệnh giới nghiêm được bãi bỏ (SL 3/HĐQN). Ngày 8/11/63, một số chính khách và quân nhân bị lưu đày ra Côn Đảo được tha và về tới Sài Gòn. Ngày 9/11/63, hơn 250 người bị chế độ bắt giam được phóng thích. Ngày 12/11/63, Hội đồng Chính phủ họp phiên đầu tiên. Ngày 12/11/63, Bãi bỏ Phủ Tổng ủy Dinh điền và Nông vụ, thay bằng Phủ Tổng ủy Dân sinh Nông thôn thay thế (SL 9/TTP). Ngày 15/11/63, Các trường Cao Đẳng và Đại học mở lại.

Ngày 16/11/63, một Ủy ban Điều tra Tài sản thủ đắc phi pháp từ 26/10/1955 (SL số 7/CT). Ngày 18/11/63, giờ làm việc tại các Công sở được thay đổi “từ 8 giờ đến 16g 30” mỗi ngày. Cùng ngày 18/11/63, Đại tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Cố vấn Quân sự cho Chính phủ. Cũng ngày 18/11/63, Đại tá Chuyễn Chánh Thi, và Vương Văn Đông trở về nước sau 3 năm lánh nạn ở ngoại quốc. Ngày 30/11/63, Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng ra Huấn thị “quân nhân nào có liên hệ với đảng phái, phải chấm dứt hoạt động chính trị. Ngày 14/12/63, thành Cộng hòa được chuyễn giao cho Bộ Giáo dục để lập một Khu Đại học. Ngày 16/12/63, Tịch thu tài sản của ông Ngô Đình Diệm, gia đình, thuộc hạ (21 người), và các Đoàn thể ủng hộ Chế độ củ như Cần Lao Nhân Vị, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Phong trào Liên đới Phụ nữ, Thanh niên Cộng hòa, Hội Việt Nam Cao đẳng Giáo dục (Sluật 26). 

Ngày 18/12/63, bãi bỏ Luật 12/63 Bảo Vệ Luân Lý (SL 2/63). Ngày 20/12/63, tái lập Tỉnh Gò Công (SL 36/TTP). Ngày 23/12/63, Thiếu tướng Cao Đài Lê Văn Tất và 1 Đại đội từ Cao Mên về nước.  Ngày 24/12/63, những người bị kết án vì chống Chế độ củ có thể xin tái thẩm (S.L 4/63). Ngày 24/12/63, thành lập Công ty Quốc gia SONADEZI với mục đích tái lập và khuếch trương các Khu Kỹ nghệ (SL 41/KT). Ngày 27/12/63, Phủ Tổng uỷ Tân sinh Nông thôn được tổ chức (NĐ 377/TTP/TRNT). Ngày 30/12/63, ban hành Quy chế Kiến Trúc Sư và Kiến Trúc Sư Đoàn (S luật 5/63). 

NĂM 1964. Ngày 3/1/64, ngành Hiến Binh Việt Nam bị giải tán (SL 4/QP). Ngày 4/1/63, Viện thống kê cho biết: Dân số Sài Gòn 1962 là 1.431.000, 49,4% đàn ông, 50,6% đàn bà. Ngày 5/1/64, cải tổ Chính phủ, Trung tướng Tôn Thất Đính Tổng trưởng An Ninh nay đổi thành Tổng trưởng Nội Vụ; Thiếu tướng Đỗ Mậu, Tông trưởng Thông tin thay Thiếu tướng Trần Tử Oai; Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng Tư lệnh, Trung Tướng Lê Văn Kim, Tổng Tham Mưu trưởng, Trung tướng Trần Thiện Khiêm, Tư lệnh Quân đoàn III; Thiếu tướng Đặng Văn Quang, Giám đốc An ninh Quân đội. Ngày 6/1/63, Thủ tướng Nguyên Ngọc Thơ họp báo nói Chính sách Cách mạng của Chính phủ là “Chính sách Cách mạng Ôn hòa”. Ngày 6/1/64, Giá vàng từ 6.200$ tăng thành 6.500$ một lạngNgày 9/1/64, Hôm nay, Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ ra mắt Hội đồng Nhân sĩ và trình bày chương trình hoạt động.

Ngày 15/1/64, Khánh thành đợt I hệ thống Thuỷ điện Danhim. Nhân dịp nầy Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ được tuyên dương công trạng và tặng đệ nhị hạng Bảo quốc Huân chương. Ngày 17/1/64, hơn 120 du đãng bị bắt và bị đưa dii Nông Sơn làm việc trong mỏ than. Ngày 22/1/64, Phủ thủ tướng tạm đóng dời về trụ sở mới số 7 đường Thống nhất. Ngày 27/1/64, Thành lập Điện lực Cuộc Việt Nam, có nhiệm vụ kiến tạo và doanh thác các cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng điện năng (SL 45/CC/GT). Ngày 28/1/64, Ban hành Nghĩa vụ Luận của Y sĩ (SL 47/YT). Ngày 29/1/64, Một số nhân vật bị kết án sau vụ Bình Xuyên 1955, đươc ân xá gồm Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hữu Thuần, Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Hiếu (SL 33/CT).  

QUAN HỆ VỚI NƯỚC NGOÀI: MỸ-PHÁP VÀ... NĂM 1963. Ngày 5/11/63, Mã Lai thừa nhận Chính phủ Việt Nam.Ngày 6/11/63, Thái Lan thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 7/11/63, Anh, Mỹ thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 11/11/63, Đại Hàn, Úc, Trung hoan Dân quốc, Tây Đức thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 12/11/63, Ý Đại Lợi thừa nhận Chính phủ Việt Nam. Ngày 13/11/63, Tới nay, có 21 quốc gia đã thừa nhận tân Chính phủ. Ngày 18/11/63, tòa Đại sứ Phi Luật Tân giao trả Chính phủ Việt Nam cựu Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu tới lánh nạn sau ngày 1/11/1963. Ngày 22/11/63, Sihanouk chính thức yêu cầu mở Hội nghị Quốc tế công nhận nền Trung lập của Cao Mên. Ngày 23/11/63, Tổng thống Hoa Kỳ, Kennedy bị ám sát trong khi kinh lý thành phố Dallas, đạn bắn từ một lầu cao. Ngày 23/11/63, Việt Nam chia buồn với Chính phủ Hoa Kỳ và treo cờ rũ 3 ngày. 

Ngày 25/11/63, mai táng cố Tổng thống Kennedy, Sài Gòn và các tỉnh ở Việt Nam tổ chức lễ cầu siêu, nhiều giới tỏ ý luyến tiếc. Ngày 18/12/63, Đại sứ Trần chánh Thành được cử sang Nam Vang tiếp xúc với Sihanouk và tỏ thiện chí của Chánh phủ Việt Nam Cộng hòa. Ngày 29/12/63, một Phái đoàn thiện chí Cao Mên tới Sài Gòn, Bộ Ngoại giao tuyên bố sẵn sàng tương thuyết mọi vấn đề liên quan đến Việt-Mên. 

NĂM 1964. Ngày 9/1/64, Chính phủ Việt Nam không chấp nhận Du Gardier sang làm Đại sứ Pháp tại Việt Nam, vì trước kia từng làm Đại sứ Pháp tại Cuba. Ngày 10/1/64, Sihanouk đề nghị Việt-Miên cùng từ bỏ mọi yêu sách về đất đai, không đòi hỏi của nhau một hòn đảo nào nữa. Ngày 23/1/64, Ngoại trưởng Mỹ, Dean Rusk tuyên bố “không cần mở lại Hội nghị Genève, chỉ cần Việt Cộng chấm dứt xâm lăng. Ngày 28/1/64, Chính phủ Việt Nam ra thông cáo chống Trung lập, phản đối Pháp đã thừa nhận Trung Cộng, và quyết định đối phó. Ngày 28/1/64, Bộ Kinh tế “Thông cáo” cấm nhập cảng hàng, và không cấp giấy phép nhập cảng cho Pháp kiều hoặc người Việt có Pháp tịch. 

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ… NĂM 1963. Ngày 12/11/63, Ủy ban Chỉ đạo Sinh viên Liên khoa đòi thanh trừng hàng ngũ Giáo chức bị coi là mật vụ chế độ cũ. Ngày 14/11/63, Học sinh Trung học ở An Giang, Long An, Kiến Tường…biểu tình đòi thay Ban Giám đốc. Ngày 19/11/63, học sinh Nông Lâm súc Bảo Lộc đòi thay đổi Ban Giám đốc.Ngày 20/11/63, học sinh Trung học Huế biểu tình đòi các giáo sư làm mật vụ phải từ chức. Ngày 20/11/63, học sinh Trung học Kiến Phong đòi thay đổi Ban Giám đốc. Ngày 22/11/63, Sinh viên, học sinh ở Huế biểu tình đã đảo những giáo chức bị coi là Mật vụ của Chế độ củ. Ngày 1/12/63, một Đại hội Nhân sĩ do vài đoàn thể triệu tập nhóm họp tại Đền Trần Hưng Đạo, Sài Gòn bàn về tình thế, và đòi hỏi thực hiện Cách mạng và thực thi dân chủ. Ngày 31/12/63, Khai mạc Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo tại chùa Xá Lợi để Hợp nhất Nam-Bắc Tông đi đến một Hiến Chương chung cho Phật Giáo Việt Nam... 

NĂM 1964. Ngày 12/1/64, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bầu Thượng tọa Tâm Châu làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Ngày 15/1/64, Ban Chấp hành Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn ra mắt báo giới và tuyên bố không tán thành những hành động quá khích. Ngày 17/1/64, Thanh niên biểu tình chống trung lập trước chợ Bến Thành và Trung tâm Văn hóa Pháp. Ngày 29/1/64, Sinh viên Sài Gòn quyết nghị yêu cầu Chính phủ quốc hữu hóa tài sản của Pháp. Ngày 1/2/64, Chủ tịch Đại hội Đại diện Sinh viên từ chức. Một Hội đồng 15 Chủ tịch các Phân khoa được cử lên thayNgày 4/2/64, Sinh viên, học sinh tuần hành hô hào Đại đoàn kết và thực thi dân chủ.

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1963. Ngày 7/11/63, Hành quân tảo thanh ở Vĩnh Bình, hạ 38 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng đạn. Ngày 11/11/63, Cộng sản vây hảm đồn Ba Chúc, An Giang từ 3 ngày nay bị đẩy lui, bỏ lại 70 xác. Ngày 12/11/63, Một Tiểu đoàn Việt Cộng đánh quận Bến Tranh, Định Tường bị đẩy lui. Ngày 15/11/63, hành quân “Bạch Phượng” ở Quảng Tín hạ 54 Việt Cộng. Ngày 15/11/63, mìn nổ ở một quán rượu đường Tự Do, Sài gòn 4 người bị thương. Ngày 17/11/63, kết quả hành quân “Dân Chí” tại Chương Thiện, hạ 74 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng đạn; Phía ta 8 chết, 34 bị thương. Ngày 26/11/63, hành quân “Đức Thắng 22” tại Định Tường, hạ 84 Việt Cộng. Ngày 5/12/63, hành quân “Đức Thắng” tại Định Tường, hạ hơn 100 tên của Tiểu đoàn 514 Việt Cộng. Ngày 10/12/63, hành quân “Bình Châu” tại Quảng Tín, hạ hơn 40 Việt Cộng và bắt sống 10 tên. 

NĂM 1964. Ngày 4/1/63, Khoảng 50 lính Mên tràn sang xã Vĩnh Gia, Tịnh Biên, An Giang bắn chết 2 người, 2 bị thương, và 3 bị bắt đi. Ngày 5/1/63, Hành quân Hậu Đức, Quảng Tín, hạ 23 Việt Cộng.  Ngày 6/1/64, Kho xăng của Quân đội tại Châu thành Vĩnh Long, bị cháy tiêu hủy 759.466 lít xăng. Ngày 9/1/64, Mìn nổ tại một quán rượu ở Lăng Cha Cả, Sài Gòn, 2 người chết, 10 người bị thương trong đó có 4 quân nhân Mỹ. Ngày 10/1/64, một Đại đội Việt Nam Cộng hòa chạm súng với môt Tiểu đoàn Việt Cộng tại Tân Uyên, Phước Thành, phía VNCH 6 chết, 31 bị thương, 19 mất tích, mất 24 súng; Việt Cộng 1 bị bắt. Ngày 17/1/64, Hành quân Phượng Hoàng I tại Kiến Hoà. Ngày 23/1/64, Kết quả hành quân “Phượng Hoàng I” ở Kiến Hòa, 87 Việt Cộng bị hạ, 137 bị bắt, 31 đầu hàng. Ngày 31/1/64, Hành quân Dân Tiến ở Quảng Tín, hạ 100 Việt Cộng... 

Ngày 5/2/64, kết quả hành quân Phượng Hoàng I, được bổ túc thêm, hạ 70 Việt Cộng, bắt 245 tên, tịch thu nhiều súng có cả bích kích pháo và đại liên với 57.100 băng đạn; hủy 10 tấn lúa, gạo, và 3 công binh xưởng. Phía Việt Nam Cộng hoà: 20 chết trong đó có 1 Cố vấn Anh và 4 Cố vấn Mỹ, 39 bị thương trong đó có 4 Cố vấn Mỹ. Ngày 7/2/64, Mìn nổ tại một quán rượu đường Nguyễn Cư Trinh, Sài Gòn, làm 8 chết, 24 bị thương. 

TƯỚNG NGUYỄN KHÁNH ĐẢO CHÁNH. Ngày 30/1/1964, từ sáng sớm, nhiều ngã đường bị quân đội canh gác, có cả chiến xa. Dân chúng đồn có đảo chánh. Các tướng lãnh họp tại Bộ Tổng Tham Mưu để thanh trừng nội bộ. Ngày Hội đồng Quân nhân Cách mạng ra Quyết định chấm dứt nhiệm vụ của Hội đồng Quân nhân Cách mạng thành lập ngày 1/11/1963. Trung tướng Nguyễn Khánh ra tuyên cáo giải thích vụ biến cố: rằng “từ ba tháng nay tình hình suy sụp mọi mặt;  rằng “ Chính quyền tỏ ra bất lực và Phản Cách mạng; rằng “một số người chạy theo thực dân và cộng sản nên một lần nữa “Quân đội lại phải can thiệp. Các Trung tướng Trần Văn Đôn, Lê văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân đã bị bắt đêm qua, Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ cũng bị bắt nhưng tới sáng thì phóng thích. 

Ngày 31/1/64, Trung tướng Nguyễn Khánh họp báo tại Bộ Tổng Tham Mưu giải thích: rằng, không có đảo chánh chỉ có “Chỉnh lý” để Chính quyền theo đúng đường lối Cách mạng; rằng, ông ta được Hội đồng Quân đội cử làm Chủ tịch kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội... Ngày 1/2/64, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố chống giải pháp Trung lập đối với Việt Nam. Cũngngày 1/2/64, Chủ nghĩa Cộng sản và Thuyết Trung lập thân Cộng bị đặt ra ngoài vòng Pháp luật (Sl 93/CT). Trung tướng Nguyễn Khánh tiếp Nhân viên Cao cấp của Ngoại Giao đoàn. Ngày 2/2/64, Tổng thống Johnson gởi thư cho trung tướng Nguyễn Khánh “vẫn tiếp tục giúp đở Việt Nam”. Ngày 3/2/64, tướng Nguyễn Khánh chấp nhận đơn từ chức của Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ. Và, bắt đầu tiếp xúc với nhiều chính khách để lập Chính phủ mới. Ngày 5/2/64, Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn về nước. Ngày 6/2/64, một số khá đông Chính trị phạm được phóng thích, và rời Côn Đảo./.

 

Bài 216: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀCHÍNH PHỦ NGUYỄN KHÁNH: THÁNG 2 ĐẾN THÁNG 5 NĂM 1964.

Ngày 7/2/64, ban hành Hiến Ước Lâm thời số 2, tu chính Hiến Ước số 1 để giao quyền hành Quốc trưởng cho Chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách mạng, hoặc cho một nhân vật do Hội đồng cử. Cùng ngày 7/2/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng quyết định cử Trung tướng Dương Văn Minh giữ quyền hành Quốc trưởng, cử Trung tướng Nguyễn Khánh thành lập Chính phủ. Ngày 8/2/64, Nguyễn Khánh thành lập Chính phủ (SL 99/TTP). THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng,Trung tướng Nguyễn Khánh; Phó Thủ tướng Đặc trách Bình Định, Bác sĩ Nguyễn Tôn HoànPhó Thủ tướng Đặc trách Tài chánhTiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh; Phó Thủ tướng Đặc trách Văn hóa Xã hội, Thiếu tướng Đỗ Mậu; Quốc Vụ KhanhBác sĩ Lê Văn HoạchTổng trưởng Ngoại giaoBác sĩ Phan Huy QuátTổng trưởng Nội vụHà Thúc KýTổng trưởng Công chánhTrần Ngọc Oành; Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục, Bùi Tường Huân; Tổng trưởng Quốc phòng; Trần Thiện Khiêm; Tổng trưởng Cải tiến Nông thôn, Nguyễn Công Hầu; Tổng trưởng Y tế, Vương Quang Nhường; Tổng trưởng Lao động, Đàm Sĩ HiếnTổng trưởng Thông tin, Phạm TháiTổng trưởng Tài chánhNguyễn Xuân OánhTổng trưởng Kinh tếÂu Trường ThanhTổng trưởng Tư pháp, Nguyễn Văn MầuTổng trưởng xã hội, Trần Quang Thuận; Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng, Nghiêm Xuân Hồng.

GIẢI TÁN HỘI ĐỒNG NHÂN SĨ. Ngày 31/3/64, Hội đồng Nhân sĩ nhóm họp và ra quyết nghị “không tự giải tán, và không lãnh lương Hội viên”. Ngày 4/4/64, Giải tán Hội đồng Nhân sĩ, để thành lập Quốc hội Lập Hiến Dân cử (SL 115/SL/CT). 

THÀNH LẬP TOÀ ÁN CÁCH MẠNG. Ngày 28/2/64, thành lập một Tòa án Cách mạng (SL 4/64). Ngày 28/2/64, các Uỷ ban điều tra tài sản và tội ác được thay thế bằng các Uỷ ban mới (SL 98/CT). Ngày 23/3/64, Triển lãm tranh ảnh và tài liệu về tội ác và tài sản của gia đình Họ Ngô tại Phòng Thông tin Đô thành. Ngày 26/3/64, Tòa án Cách mạng họp ở Huế, xử Phan Quang Đông, một nhân viên mật vụ đắc lực của Ngô Đình Cẩn. Ngày 27/3/64, các tội hối lộ, lợi dụng quyền thế, biển thủ công nho bị phạt tử hình nếu số tiền quá 100.000$; khổ sai chung thân nếu số tiền từ 2.000$ đến 100.000$, nếu dưới 2.000$ xử theo thường luật (SL 112/SL/CT). Ngày 28/3/64, Phan Quang Đông bị kêu án tử hình, tịch thu tài sản, bồi thường 18 triệu đồng cho gia đình các nạn nhân bị sát hại, về các tội “mưu sát; bắt giam trái phép; xách thủ tiền tài; lũng đoạn kinh tế”.

Ngày 16/4/64, Tòa án Cách mạng họp phiên đầu tiên xét xử Ngô Đình Cẩn. Ngày 14/4/64, tới nay có 267 người thuộc chế độ củ bị câu lưu để điều tra. Ngày 20/4/64, Ngô Đình Cẩn khai trước tòa “tôi quân sự không biết, hành chánh không biết, học tầm thường, làm sao ra lệnh đươc cho ai?”. Ngày 22/4/64, Ngô Đình Cẩn cũng bị khép vào các tội như của Phan Quang Đông, chỉ khác một tội cố sát. Cũng bị xử tử hình, tịch thu gia sản, liên đới bồi thường cho gia đình các nạn nhân. Ngày 24/4/64, Phan Quang Đông và Ngô Đình Cẩn xin ân xá. Ngày 5/5/64, Quốc trưởng Dương Văn Minh bác đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn và Phan Quang Đông. Ngày 9/5/64, Phan Quang Đông bị bắn tại Huế. Ngày 9/5/64, Ngô Đình Cẩn bị bắn tại khám Chí Hòa, Sài Gòn. Dân chúng Huế biểu tình đòi đưa tội nhân ra ngoài đó xử tử.

THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG. Ngày 21/3/64, Thành lập Hội đồng Quân đội Cách mạng. Hội đồng Quân đội Cách mạng thay Hội đồng Quân nhân Cách mạng, Trung tướng Nguyễn Khánh được các tướng lãnh bầu làm Chủ tịch Hội đồng Quận đội Cách mạng. Hội đồng có một Uỷ ban Lãnh đạo, gồm: Chủ tịch: Trung tướng Nguyễn Khánh; Đệ nhất Phó Chủ tịch Trung tướng Trần Thiện Khiêm; Đệ nhị Phó Chủ tịch Thiếu tướng Đỗ Mậu; Đệ tam Phó Chủ tịch Trung tướng Phạm Xuân Chiểu. Cố vấn tối cao, Trung tướng Dương Văn Minh.

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. Ngày 10/2/64, Chính trị gia Hồ Hữu Tường, và Trịnh Khánh Vàng được ân xá (SL 91/CT). Ngày 14/2/64, một phi cơ đi đón Thủ tướng Nguyễn Khánh ở Đà Nẵng bị nổ và rớt ở Quảng Nam, phi hành đoàn 4 người đều thiệt mạng. Ngày 16/2/64, Đài Phát thanh kêu gọi cựu Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần, và Trung tá Vương Văn Đông ra trình diện Cảnh sát. Ngày 17/2/64, Sĩ quan báo chí Bộ Quốc phòng cho biết, Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, sĩ quan cận vệ của Trung tướng Dương Văn Minh bị giữ hôm 30/1 tại Lữ đoàn Nhảy Dù đã tự vẫn bằng dây giày. Ngày 26/2/64 Bộ Công Dân Vụ được sáp nhập vào Bộ Thông Tin. Ngày 3/3/64, Và, Đại tá Viên được thăng Thiếu tướng. Ngày 8/3/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh công bố chương trình hoạt động của Chính phủ năm 1964. Ngày 9/3/64, Giải tán Ủy ban đặc trách Ấp Chiến Lược tại Trung ương và cấp Khu (SL 103/CT). 

Ngày 12/3/64, Một Uỷ ban đặc biệt Kinh tế và Tài chánh được thiết lập để thay thế Hội đồng tối cao Tiền tệ và Tín dụng lập từ năm 1957 (SL.134/KT/TC). Ngày 12/3/64, Văn hoá Vụ Thông tin sáp nhập vào Bộ Giáo dục (NĐ 528/TTP/VP). Ngày 30/3/64, Chính phủ ban hành Sắc luật, tái lập Hội đồng Kỷ luật để bảo đảm cho công chức bị buộc lỗi có cơ hội trình bày quan điểm (SL 6/61). Ngày 31/3/64, Thủ tướng ra Thông tư các công chức phải kê khai tài sản. Ngày 4/4/64, Chính phủ ban hành Sắc luật: Ấn định Nghĩa vụ Quốc gia, và Phòng vệ dân sự (SL 116/SL/CT)Ngày 4/4/64, Tổng trưởng Nội vụ Hà Thúc Ký từ chức vì bất đồng quan điểm với Thủ tướng Khánh. Ngày 7/4/64, Thiếu tướng Lâm Văn Phát được bổ Tổng trưởng Nội Vụ. Ngày 8/4/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh gắn cấp bậc Chuẩn tướng đầu tiên cho Đại tá Hải quân Chung Tấn Cang, và Đại tá Không quân Nguyễn Cao Kỳ. 

Ngày 8/4/64, các Đại sứ Lâm Lễ Trinh, Cao Thái Bảo, Nguyễn Công Viên được chấm dứt nhiệm vụ. Ngày 9/4/64, Trong năm 1963, đã xuất cảng 315 tấn gạo trị giá 2.017 triệu bạc Việt nam. Ngày 12/4/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo xác nhận thế nào là “trí thức Phòng trà”. Đó là những người hay chỉ trích mà không làm gì cả. Họ không trông rõ sự đe dọa của Cộng sản, và bởi vậy từ chối hợp tác với Chính quyền. Ngày 14/4/64, Cơ quan chuyên chở Công cộng đổi thành Công quản Xe buýt (SL 173/CC). Ngày 16/4/64, Một Hội đồng Cố vấn Xã hội được thiết lập tại Bộ Xã hội (NĐ 784/XH). Ngày 18/4/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh tuyên bố tai Phi trường Phan Rang “Vấn đề ‘nói’ không ai có thể thắng người đàn bà, nhưng bà Nhu là hạng đàn bà đặc biệt mà chúng ta phải thắng”. Ngày 21/4/64, Chính phủ ban hành Sắc luật Phát hành Công khố phiếu (SL 131/SL/CT).

Ngày 24/4//64, Chiếu đề nghị của Tổng vụ Dân nguyện, Thủ tướng Nguyễn Khánh ra lệnh đình chỉ mọi vụ đuổi nhà, đòi đất, dù đã có phán quyết của Toà. Ngày 7/5/64, Bảo An Đoàn cải thành Địa Phương Quân thuộc Bộ Quốc Phòng (SL 189/QP). Ngày 12/5/64, Dân Vệ Đoàn cải thành Nghĩa Quân (SL 191/QP). Ngày 21/5/64, Thành lập Phủ Đặc ủy Chiêu hồi (SL 200/TTP). Ngày 22/5/64, các lực lượng võ trang hợp thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm Chủ Lực Quân, Địa Phương Quân, và Nghĩa  Quân (SL 166/CT). Ngày 22/5/64, Trụ sở Quốc hội củ được đổi thành nhà Văn hoá. Ngày 29/5/64, có 5 Đại tá được thăng Chuẩn tướng, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đỗng, Bùi Hữu Nhơn, Cao Hữu Hớn, Ngô Dzu. Ngày 29/5/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng hôm qua họp tại Đà Lạt xét xử các tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính và quyết định “phạt theo kỷ luật, loại khỏi Hội đồng Cách mạng một thời gian, và không giao phó chức vụ chỉ huy. 

QUAN HỆ MỸ VỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 8/2/64, Chính giới Mỹ tỏ ý hân hoan việc thành lập Chính phủ mới tại Việt Nam. Ngày 8/3/64, Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara cùng tướng Maxwell Taylor sang Việt Nam xem xét tình hình và ấn định lại Chương trình Viện trợ cho Việt Nam. Ngày 9/3/64, Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara, tướng Maxwell Taylor cùng Thủ tướng Nguyễn Khánh đi thăm Cần Thơ, Bạc Liêu, An Giang và được rất dông dân chúng tiếp đón. Ngày 13/3/64, Vài ngàn người, ra tiễn Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara về Mỹ, ông tuyên bố “Mỹ hoàn toàn ủng hộ Chính phủ Nguyễn Khánh” và bằng tiếng Việt, ông hô “Việt Nam muôn năm”. Ngày 17/3/64, Chính phủ Hoa Kỳ thông báo: tăng viện trợ để tăng cường Quân lực Việt Nam; thực hiện kế hoạch “bình định từng vùng” của chính phủ Nguyễn Khánh; tăng 50.000 quân, và 7.500 Cán bộ Bình định Nông thôn; tăng cường Không quân và Hải quân. Số ngân khoản tăng chừng 50 triệu Mỹ kim. 

Ngày 10/5/64, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk kêu gọi các quốc gia tự do giúp đở Việt Nam. Ngày 15/5/64, các loại phi cơ T 28 và B 26 cấp cho Việt Nam được gác bỏ và thay thế bằng Skyraider mạnh hơn, nhanh hơn. Ngày 18/5/64, Tổng thống Jhonson yêu cầu Quốc hội Mỹ cấp thêm cho Việt Nam 125 triệu Mỹ kim, gồm 70 triệu viện trợ kinh tế, và 55 triệu viện trợ quân sự. Ngày 31/5/64, Hội nghị quân sự Mỹ tại Honolulu để xét toàn diện tình hình và chính sách tại Việt Nam. Có tin Hội nghi trù liệu thả bom xuống Bắc Việt, và tăng quân lực Mỹ tại Việt Nam..

QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VỚI NƯỚC KHÁC. Ngày 8/3/64, Sihanouk tuyên bố sẵn sàng tiếp xúc với các Phái đoàn Việt Nam và Thái để giải quyết các vấn đề Mên-Việt và Mên-Thái. Ngày 19/3/64, cử Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao sang Nam Vang tiếp xúc với Sihanouk. Ngày 19/4/64, tới nay, có 210 quân nhân Mỹ thiệt mạng tại Việt Nam. Ngày 10/5/64, Cao Mên triển lãm 2 Thiết vận xa, cùng 2 xác binh sĩ Việt Nam bị bắn khi lạc qua lãnh thổ Cao Mên. Ngày 21/5/64, Cao Mên khiếu naị chống lại Việt Nam trước Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Hội đồng mời Việt Nam cử  Đại diện trả lời. Ngày 25/5/64, phát biểu trước Hội đồng Bảo An, Đại sứ Vũ Văn Mẫu đề nghị lập Ủy ban Việt-Mên xét định lại biên giới hai nước; lập các đội tuần tiểu hổn hợp đặt dưới quyền kiểm soát của Liên Hiệp Quốc; và không thể mở lại Hội nghị Genène. Ngày 29/5/64, Sihanouk tuyên bố không chấp nhận Ủy ban nào khác Ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến. 

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 14/3/64, Hiến chương ngày 4/1/1964 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được công nhận bằng Sắc luật (SL14/5). Ngày 15/5/64, Phật giáo Cổ Sơn môn từ nay theo đường lối của Giáo hội Việt Nam Thống nhất, và hành đạo theo Hiến chương ngày 4/1/1964. Ngày 15/5/64, hai Thượng tọa Thích Trí Quang và Thích Tâm Châu thông bạch “không hề có sự rạn nức giữa các lãnh đạo Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nhất là giữa hai anh em chúng tôi”. Ngày 20/5/64, Một tượng Pht đng cao 8 thước, nặng 3 tấn được đặt trên đài cao tại bến Bạch Đằng nhân dịp Phật đản. Ngày 26/5/64, Lễ Phật đản cử hành trọng thể tại bến Bạch Đằng, trước hàng vạn người có 42 xe hoa đi qua nhiều đường.

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 10/2/64, Mìn nổ ở phi cảng Tân Sơn Nhất làm chết 2 quân nhân Mỹ và 23 bị thương. Ngày 16/2/64, hành quân tại ranh giới Bình Định, Quảng Tín từ ngày 21/1 hạ 41 Việt Cộng, bắt 16 tên, tịch thu một số súng; Phía ta 20 chết, 44 bị thương, 12 mất tích cùng với một số súng. Ngày 17/2/64, mìn nổ tại Rạp Chiếu bóng Kinh Đô của Mỹ kiều tại Sài Gòn: Mỹ 3 chết, 50 bị thương; 9 người Việt bị thương. Ngày 18/2/64, hành quân tại Quảng Tín, hạ 70 Việt Cộng. Ngày 29/2/64, hành quân Phượng Hoàng tại Định Tường, 86 Việt Cộng bị hạ, 24 bị bắt. Ngày 3/3/64, hành quân Quyết Thắng ở Kiến Phong, gần biên giới loại trừ 130 Việt Cộng; Phía ta 85 bị thương có cả Đại tá Cao Văn Viên. Ngày 9/3/64, hành quân tại Kontum, hạ 48 Việt Cộng. Ngày 11/3/64, hành quân Bình Định, hạ 42 Việt Cộng. Ngày 11/3/64, Biệt kích Tây Ninh, đột nhập mật khu Thanh Điền, hạ 23 Việt Cộng, tịch thu một số súng và tài liệu; Phía ta 1 chết, 1 bị thương.

Ngày 11/3/64, Quận lỵ Thuần Hòa, Ba Xuyên bị pháo Kích, làm 10 Bảo An chết, 12 bị thương, và 20 thường dân bị thương. Ngày 23/3/64, hành quân “Phượng Hoàng 13 và 14/10/KP” từ hôm qua, phá hủy làng Chiến đấu Mỷ Hội của Tiểu đoàn 502 Việt Cộng, hạ 126 tên, 16 bị bắt với nhiều súng ống; Phía ta 4 chết, 22 bị thương. Ngày 31/3/64, Hành quân ở Bình Dương, hạ 32 Việt Cộng... Ngày 3/4/64, có 16 phi cơ Việt Nam oanh tạc ban đêm lần đầu tiên thả 2.500 ký bom xuống gần biên giới Việt-Lào, nơi bị ném bốc cháy lớn. Ngày 3/4/64, Việt Cộng tấn công vào trại nuôi bò và xưởng làm làm sửa ở Bến Cát, cướp mang đi 51 con bò. Ngày 8/4/64, Trung tâm Huấn luyện Phước Lợi gần Bến Lức bị đột kích làm chết 28 binh sĩ và 36 bị thương. Ngày 8/4/64, Kết quả hành quân “Bình Lâm II” tại ranh giới Bình Thuận-Bình Tuy và Lâm Đồng, hạ 79 Việt Cộng, 37 bị bắt, giải thoát hơn 2.000 đòng bào.

Ngày 9/4/64, tại Mỏ Cày, Kiến Hòa, hành quân “trực thăng vận” hạ 42 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng ống; Phía ta 4 bị thương, 37 mất tích, 2 trực thăng trúng đạn, 1 chiếc phải phá hủy, 1 phi cơ T 28 bị cháy. Ngày 10/4/64, Nổ lớn ở Kho đạn Dân vệ tại Cầu ngang, 7 chết, 3 bị thương, 84 súng cháy. Ngày 13/4/64, tại Kiến Phong, hành quân “Phượng Hoàng” từ hôm qua, hạ 85 Việt Cộng, bắt 1, tịch thu 15 súng và 12 thùng đạn; Phía ta 14 chết, 27 bị thương. Ngày 27/4/64, hành quân đại quy mô vào mật khu Đỗ Xá, với nhiều Tiểu đoàn, 25 phi cơ, và 100 trực thăng. Ngày 27/4/64, Hành quân tảo thanh tại Kiến Long, Chương Thiện hạ 82 Việt Cộng, tịch thu một số súng; Phía ta 11 chết, 2 xe bị hư hại. Ngày 29/4/64, kết quả đầu tiên hành quân Đỗ Xá thu 160 súng. Ngày 30/4/64, Kết quả hành quân Đổ Xá, tới nay, đã ném 5.000 trái bom xuống các tụ điểm của địch quân; Phía ta, 15 trực thăng bị trúng đạn, 4 chiếc cùng 1 phóng pháo phải hạ cánh. 

Ngày 2/5/64, Hàng không mẩu hạm Card 16.500 tấn, của Mỹ đậu ở bến Sài Gòn, bị đặt mìn nổ lúc sáng sớm, nước tràn vào tàu, 73 thủy thủ bị thương. Ngày 2/5/64, Hồi 19 giờ, tại bến Bạch Đằng, lại ném lựu đạn vào lính Mỹ làm 8 người bị thương, cùng một người Việt qua đường. Ngày 8/5/64, quân đội truy kích Việt Cộng tại Ấp Bến Trai, Gò Dầu Hạ, Tây Ninh, cách biên giới 800 thước, hạ 50 Việt Cộng, tịch thu 15 súng; nhưng bị quân Mên bắn đại bác cho Việt Cộng chạy thoát. Phía ta, 3 chết, 2 bị thương, 1 thiết vận xa bị cháy, mất 18 súng. Ngày 9/5/64, Hai Việt Cộng đặt mìn ở cầu Công Lý, Sài Gòn định ám hại Tổng trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara, nhưng đều bị bắt. 

 

Bài 217: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN KHÁNH: THÁNG 6 ĐẾN NGÀY 15 THÁNG 8 NĂM 1964.

TOÀ ÁN CÁCH MẠNG. Ngày 2/6/64, Tại Sài Gòn, tòa án Cách mạng bắt đầu xét xử cựu Thiếu tá Đặng Sĩ, nguyên Phó Tỉnh trưởng Nội An Thừa Thiên, bị coi như có trách nhiệm trong vụ dẹp biểu tình ngày 8/5/63 tại Huế. Ngày 8/6/65, cựu Thiếu tá Đặng Sĩ bị kết án khổ sai chung thân, và phải bồi thường 1.350.000$ cho các gia đình nạn nhân chết ngày 8/5/1963 tại Đài Phát Thanh Huế. Ngày 8/6/65, Tòa án Cách mạng xử vụ Nguyễn Văn Y, nguyên Đặc ủy Trung ương Tình báo, và 13 người khác liên quan đến vụ mất tích một số nhân vật đối lập với chế độ củ. Ngày 18/6/64, vụ án Nguyễn Văn Y, Tòa án Cách mạng tuyên 4 khổ sai chung thân, 9 người tha bổng. Ngày 25/6/64, Trong vụ án Dương Văn Hiếu, Tòa án tuyên án 3 án khổ sai chung thân án 3 án khổ sai chung thân, 1 khổ sai hữu hạn. Ngày 23/6/64, Tòa án Cách mạng Sài Gòn xử Dương Văn Hiếu nguyên Phụ tá Tổng Giám đốc Cảnh sát, cùng các cộng sự viên Nguyễn Thiện Dzai, Nguyên Tư Thái, Phan Khanh. 

THÀNH LẬP QUỐC HỘI LẬP HIẾN. Ngày 4/6/64, ban hành Sắc luật 115/SL/CT, thành lập Quốc hội Lập hiến Dân cử. Ngày 5/6/64, Bộ Nội Vụ cho biết, t sau ngày 1/1/1963 đã phóng thích 25.969 phạm nhân, trong đó có 13.854 Chính trị phạm. Ngày 5/6/64, Hiện có 7 Đảng phái đang hoạt động, 16 đơn xin thành lập, đã cấp 15 giấy phép. Ngày 10/6/64, Ngày Cách mạng 1/11 thành ngày Quốc khánh (SL11/64). Ngày 13/6/64, một số Chính trị gia cùng với các Tổng trưởng, Bộ trưởng nhóm họp tại nhà Diên Hồng, bàn về Quy chế các Đảng phái chính trị. Ngày 16/6/64, Ban hành quy chế Lao động cho Công nhân bến tàu (S.Luật 12/64). Ngày 1/7/64, Mỗi tỉnh có một Đoàn cán bộ Hành chánh lưu động (NĐ 1/295/NV). Ngày 1/7/64, thành lập Đoàn Tuyên úy Phật giáo trong Quân đội (SL 224/QP). Ngày 2/7/64, Thành lập Hội đồng Quốc gia Giáo dục (NĐ 1.203a/GD). Ngày 6/7/64, Số thí sinh Tú tài II khóa I tại Sài gòn 20.925. 

Ngày 6/7/64, Ủy ban nghiên cứu Quy chế Đảng phái, ngưng họp ít lâu, nay tiếp tục họp lại. Ngày 15/7/64, Thiết lập trường Cao đẳng Hoá học tại Trung tâm Kỷ thuật Phú Thọ (NĐ 1.372/GD)Ngày 16/7/64, Ủy ban điều chỉnh tình trạng công chức đã được thăng thưởng quá đáng, hủy bỏ 292 trường hợp trong hơn ngàn hồ sơ bị xét lại. Ngày 16/7/64, Đô thành mở khoá Huấn luyện về Phòng vệ Dân sự cho 200 người ở mỗi Phường trong hạn tuổi từ 20 đến 45. Ngày 25/7/64, Bộ Ngoại giao Việt Nam hứa với Tòa Đại sứ Pháp “sẽ bồi thường vật chất do vụ Sinh viên biểu tình gây ra”. Ngày 26/7/64, Các cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân Địa phương được định vào ngày 4 và 11/10/1964. Ngày 29/7/64, một Phái đoàn do Tổng vụ Dân nguyện hướng dẫn ra Duy Xuyên, Quảng Nam điều tra vụ 1.300 người bị bắt bớ và giữ học tập. 

BAN BỐ TÌNH TRẠNG KHẨN TRƯƠNG. Ngày 7/8/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc (SL 215/CT). Và những biện pháp đặc biệt sẽ thi hành (S.Luật 18/64)Ngày 7/8/64, tái lập kiểm duyệt báo chí (NĐ 453/BTT). Ngày 8/8/64, Giới nghiêm tại Sài Gòn, Gia Định từ 23 đến 4 giờ sáng. Ngày 9/8/64, Tập còi báo động và đào một số hầm trú ẩn tại mấy công viên và công sở. Ngày 11/8/64, Trung tướng Trần Thiện Khiêm được thăng Đại tướng, 8 Đại tá được thăng Chuẩn tướng gồm các Đại tá Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Nguyễn Cao, Nguyễn Văn Kiểm, Đặng Văn Quang, Vĩnh Lộc, Lê Nguyên Khang, Hoàng Xuân Lãm, một số Sĩ quan cấp Tá khác cũng được thăng cấp. Ngày 13/8/64, Trong 6 tháng đầu năm 1964, Việt Nam đã xuất cảng 45.199 tấn gạo. Ngày 15/8/64, các thể nhân, tài sản có thể bị trưng dụng để đáp nhu nhu cầu Dân sự và Quân sự (SL 20/64). 

QUAN HỆ MỸ VỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 4/6/64, 6 chiếc Skyraider đầu tiên được gởi tới Sại Gòn. Ngày 10/6/64, Phi cơ Mỹ oanh tạc các vị trí của Pathet Lào tại Khang Khay. Ngày 10/6/64, tài sản của tổng thng Jhonson, được ước lượng là 9 triệu Mỹ kim. Ngày 18/6/64, Tướng Paul Harkin, trưởng đoàn Viện trợ Quân sự và Tư lệnh quân Mỹ tại Việt Nam, về Hoa Kỳ hưu trí. Ngày 20/6/64, tướng Williams Westmoreland, Phụ tá tướng Harkin trước đây được cử làm Tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam.  Ngày 23/6/64, Đại sứ Cobot Lodge từ chức. Ngày 24/6/64, Tướng Maxwell Taylor được bổ Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Alexis Johnson làm Phó Đại sứ. Ngày 24/6/64, Chính phủ Hoa Kỳ bác đơn xin chiếu khán nhập cảnh của Trần Lệ Xuân, tức bà Nhu. Ngày 28/6/64, Đại sứ Cabot Lodge rời Sài Gòn, bận áo gấm chít khăn xếp, được hàng vạn người tiển đưa ở Phi trường Tân Sơn Nhứt, với cờ Việt-Mỹ la liệt, có cả Tăng ni và sinh viên. 

Ngày 2/7/64, James Killens được bổ Giám đốc Viên Killens được bổ làm Giám đốc Viện trợ Kinh tế Mỹ tại Việt Nam. Ngày 8/7/64, Đại sứ Taylor tới Sài Gòn nhậm chức Đại sứ Mỹ. Ngày 11/7/64, Bộ Ngoại giao Mỹ xác nhận chống giải pháp Trung Lập Hóa Việt Nam. Ngày 11/7/64, Bộ trưởng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara tuyên bố rất có thể mở rộng chiến tranh ra Bắc Việt. Ngày 26/7/64, Số quân nhân Mỹ tại Việt Nam hiện tại là 16.000, tổng thống Jhonson quyết định gởi thêm 5.000, Cố vấn Mỹ sẽ đặt tới cấp Tiểu đoàn và cấp Tỉnh để giúp cả về quân sự lẫn Hành chánh Xã hội Nông thôn. Ngày 2/8/65, chiến hạm Maddox của Koa Kỳ tuần tiểu Vịnh Bắc Việt bị 3 Tiểu đĩnh Bắc Việt rượt bắn và phóng ngư lôi. Phi cơ của Hàng không mẫu hạm Ticonderoga tới đánh đuổi các Tiểu đĩnh. Ngày 3/8/64, tàu Maddox và cả Turner Joy của Mỹ lại bị các Tiểu đĩnh Bắc Việt tấn công. Chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh tăng cường tuần tiểu và phản công nếu cần. Một số phản lực cơ F 102 được gởi sang Việt Nam. 

Ngày 5/8/64, các Tiểu đĩnh Bắc Việt lại rượt đánh tàu Mỹ, 64 Phi cơ Mỹ phản công oanh tạc, 4 Phóng Ngư lôi Bắc Việt bị chìm, Hòn Gay, Lộc Châu, Phúc Lợi, Quảng Khê, Vinh bị ném bom. Ngày 6/8/64, Quốc hội Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Johnson áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đối phó với thời cuộc Đông Nam Á, kể cả dùng vũ lực. 

QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VỚI NƯỚC KHÁC. Ngày 4/6/64, Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc quyết định cử một Phái đoàn Điều tra về các vụ xung đột Việt-Mên. Ngày 5/7/64, Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc tới Sài Gòn gồm 3 Đại diện của Mễ Tây Cơ, Ma Rốc, và Coote d’ Ivoire. Ngày 9/7/64, lần đầu tiên Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, U Thant đề nghị giải pháp cho vấn đề Việt Nam là triệu tập Hội nghị Genève. Ngày 10/7/64, Các chính phủ Anh, Mỹ và Việt Nam phản đối đề nghị của U Thant. Ngày 1/8/64, Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc đề nghị lập một “Ủy ban xem xét lại Biên giới Việt-Mên” và đặt tại chổ một Ủy ban kiểm soát, Sihanouk phản đối kịch liệt và dọa sẽ điều đình với Việt Cộng. 

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 7/6/64, hơn 29 họ Đạo Hố Nai và các vùng Phụ cận Sài Gòn, cùng hàng vạn Giáo dân Đô thành biểu tình tại Công trường Lam Sơn với các biểu ngữ “Lột mặt nạ bọn lợi dụng Cách mạng để đàn áp Công giáo”, “Mị dân là phản bội dân chủ”, “Ủng hộ cuộc đấu tranh cuả Công giáo miền Trung”. Ngày 15/6/64, Vài vạn Giáo dân biểu tình ở Huế, cũng như ở Sài gòn ngày 7/6 vừa qua. Ngày 22/6/64, Viện Hóa Đạo được phép quyên trong 1 năm, 20 triệu để xây Việt Nam Quốc Tự và các cơ sở Phật giáo. Ngày 12/7/64, Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, Phó thủ tướng cùng một số Chính trị gia cùng nhân sĩ lập “Lực lượng Quốc gia Thống nhất”. Ngày 19/7/64, biểu tình lớn tại Công trường Lam Sơn lên án Cộng sản và Thực dân nhân ngày Quốc hận 20/7. Ngày 20/7/64, Sinh viên Sài Gòn tổ chưc “Đêm không ngũ” tại Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, nhân 10 năm ngày đất nước bị chia đôi. 

Ngày 20/7/64, Biểu tình lớn tại Bờ Sông Bến Hải “đả đảo Cộng Sản”. Ngày 21/7/64, hơn 100 Sinh viên biểu tình trước Tòa Đại sứ Pháp ở Sài Gòn, đốt xe, đập phá gây một số thiệt hại, Pháp chính thức phản kháng, Tổng Hội Sinh viên tuyên bố không chịu trách nhiệm về sự bạo động của một thiểu số Sinh viên. Ngày 22/7/54, Tổng hội Sinh viên họp báo “đề nghị quốc hữu hóa tài sản của Pháp và đọan giao với Pháp. Ngày 26/7/64, tối nay Sinh viên học sinh Sài Gòn tụ họp, giật đổ tượng đài “Chiến sĩ Trận vong” đường Duy Tân. Ngày 3/8/64, Phái đoàn Phật giáo do Thượng Thích Thiện Minh hướng dẫn tới gặp Thủ tướng Nguyễn Khánh và đưa các hồ sơ về vụ đàn áp Phật giáo ở các địa thương như “bắt bớ ở Duy Xuyên, đốt nhà ơ Tuy Phước, sát hại Phật tử ở An Thạch. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 13/6/64, Tình hình chiến sự trong tuần lể từ 7/6 đến 13/6/64: Chết: Việt Cộng 160, Việt Nam Cộng hòa 121; Bị bắt, mất tích: Việt Cộng 25, Việt Nam Cộng hòa 5; Súng bị mất: Việt Cộng 76, Việt Nam Cộng hòa 156; Tổng số hoạt động: Việt Cộng 217, Việt Nam Cộng hòa 178 cuộc hành quân. Ngày 17/6/64, Quận lỵ Đức Hòa bị bắn phá và tn công mạnh, thiệt hại khá nhiều, Việt Cộng cũng chết khá đông. Ngày 19/6/64, xe lửa bị giật mìn cách Nha Trang 16 cây số, 20 hành khách chết, 40 bị thương, 2 toa tàu bị cháy. Ngày 21/6/64, hành quân “Thăng Long-Hải Yến” tại ranh giới Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường, sau 1 giờ giao tranh, hạ 93 Việt Cộng, bắt 23 với 22 súng; Phía ta 23 tử thương. Ngày 26/6/64, trên 35 phi cơ Việt Nam hạ hơn 200 Việt Cộng tại Suối Đá, Tây Ninh. 

Ngày 4/7/64, Đồn Polei-Krong cách Kontum 40 cây số, do Lực lượng Đặc biệt Thượng trú đóng bị tấn công mạnh 45 chết, 27 bị thương có 2 Cố vấn Mỹ, mất 105 súng. Trực thăng chuyễn quân tiếp viện tới tái chiếm ngay. Ngày 6/7/64, một Tiểu đoàn Việt Cộng với hỏa lực mạnh tấn công Lực lượng Đặc biệt tại Nam Đông, Thừa Thiên, bị hạ 49 tên; Phía ta 58 chết trong đó có 1 Mỹ 1 Úc. Ngày 6/7/64, Hành quân “Quyết Thắng 404” cách Tuy Hòa 16 cây số, hạ 25 Việt Cộng. Ngày 15/7/64, hành quân ở Cầu Ngang, Vĩnh Bình, hạ 100 Việt Cộng; Phía ta 17 tử thương. Ngày 21/7/64, Hành quân tiếp cứu Đồn Xóm Cụt, Chương Thiện hạ 200 Việt Cộng,  phi cơ bắn chìm 3 thuyền chở xác; Phía ta 41 chết, 56 bị thương, 31 mất tích. Ngày 26/7/64, Đồn Lai Khê gần Bến Cát, Bình Dương bị tấn công, 19 mất tích cùng với súng ống. Quân tiệp viện đến giao tranh kịch liệt hạ gần 300 Việt Cộng; Phía ta 25 chết, 23 bị thương, 11 mất tịch, và 35 súng, 1 chiến xa, và 1 xe vận tải bị hư hại. 

Ngày 30/7/64, Việt Cộng lại tụ quân tấn công gần Bến Cát, 3 Tiểu đoàn viện binh đến đẩy lui. Phía ta: 11 chết trong đó có 1 Cố vấn Mỹ, 25 bị thương, 1 mất tích. Ngày 1/8/64, Mìn nổ lớn tại một quán rượu đường Nguyễn Minh Chiếu, Gia Định, 2 người chết, 20 người cả Việt lẫn Mỹ bị thương, quán rượu bị phá. Ngày 10/8/64, Hành quân “Thăng Long 17” tại Long Định, Định Tường, hạ 12 Việt Cộng, bắt 3 tình nghi. Ngày 14/8/64, tin tức chiến sự tuần qua: Việt Cộng 235 chết, 35 bị bắt, 76 súng bị mất. Phía ta, 167 chết,121 mất tích, 307 súng bị mất.      

 

Bài 218: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN KHÁNH: NGÀY 15 THÁNG 8 ĐẾN THÁNG 11 NĂM 1964.

BAN HÀNH HIẾN CHƯƠNG VŨNG TÀU. Ngày 16/8/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng họp ở Vũng Tàu, ban hành một Hiến chương mới, và bầu Trung tướng Nguyễn Khánh làm Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa. Cũng theo Hiến chương, Chủ tịch lãnh quyền Quốc trưởng với nhiều quyền hạn đặc biệt. Sẽ có một Quốc hội Lâm thời gồm 100 Hội viên Dân sự và 50 Hội viên Quân nhân do Hội đồng Quân đội Cách mạng chỉ định. Hội đồng Quân đội Cách mạng vẫn là Cơ quan lãnh đạo tối cao. Ngày 18/8/64, nhiều địa phương và Đoàn thể gởi Điện văn và Kiến nghị “Nhiệt liệt hoan nghênh Hiến chương ban bố đúng lúc, kính dâng Trung tướng Chủ tịch lời chúc mừng nồng nhiệt nguyện đồng tâm nhất trí, đoàn kết sau lưng...(nhiều báo có đăng). 

PHẢN ĐỐI  HIẾN CHƯƠNG VŨNG TÀU. Ngày 19/8/64, rất đông Sinh viên nhóm họp ở trụ sở đường Duy Tân, Sài Gòn và mấy trường để bàn xét Chế độ mới do Hiến chương vừa ban hành. Ngày 20/8/64, Sinh viên tiếp tuc Hội thảo về Hiến chương Vũng Tàu. Ngày 22/8/64, Sinh viên kéo khá đông tới Phủ Thủ tướng: Buổi sáng, đưa kiến nghị phản đối Hiến chương 16/8/64, Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng tiếp thay Chủ tịch Nguyễn Khánh vắng mặt. Buổi trưa, Chủ tịch Nguyễn Khánh tiếp Đại diện sinh viên, Sinh viên ngỏ ý “không chấp nhận Hiến chương Vũng Tàu”, yêu cầu thành lập một Chính phủ trong sạch, trẻ trung, các tướng lãnh trở về nhiệm vụ quân sự. Ngày 23/8/64Lúc 11-12 giờ, Sinh viên học sinh kéo tới Đài Phát thanh: đòi cải chính tin “Sinh viên đến gặp Chủ tịch Nguyễn Khánh để ủng hộRồi xuống đường biểu tình tới Bộ Thông tin chất vấn Tổng trưởng, Thứ trưởng đòi bãi bỏ kiểm duyệt và loan tin chính xác. Có đập phá, mất một số đồ đạt

Cùng ngày 23/8/64Lúc 15 giờ chừng 200 người đi xe buýt tới trụ sở Sinh viên,  đường Duy Tân với Gậy, Dao, Búa đốt phá nhiều đồ đạt và giấy tờ. Cũng ngày 23/8/64, Ba nhóm Chính khách Đại Việt, Dân chủ Xã hội, và Quốc Dân Đảng lên tiếng công kích “Hiến chương Vũng Tàu”Ngày 25/8/64, Sinh viên, học sinh và hàng ngàn thanh niên, ông già, bà lảo biểu tình kỷ niệm Quách Thị Trang trước chợ Bến Thành, rồi kéo tới Phủ Chủ tịch đã đảo Hiến Chương Vũng Tàu, đả đả độc tài. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh, và Chủ tịch Nguyễn Khánh phải ra phủ dụ và hứa hẹn sẽ xét gấp vấn đề. Ngày 26/8/64, nhiều tin đồn sẽ phá chùa, phá nhà thờ Đức Bà.v.v. Phật tử đổ xô tới canh gác Viện Hóa Đạo, tượng Quách Thị Trang. Các khu Công giáo cũng sôi động, nhiều nhà chuẩn bị gậy, dao, búa.v.v. 

THU HI HIẾN CHƯƠNG VŨNG TÀU, VÀ LẬP TAM ĐẦU CHẾ… Ngày 25/8/64, HỘI ĐỒNG QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG nhóm họp khẩn cấp tại Bộ Tổng Tham Mưu. Và hôm sau, ngày 26/8/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng ra Tuyên cáo “Thu hồi Hiến chương 16/7/64; sẽ bầu Nguyên thủ Quốc gia và Ủy Nguyên thủ thực hiện cơ cấu dân chủ; Quân đội sẽ trở về nhiệm vụ quân sự; Ủy Chính phủ hiện thời tạm điếu khiển Quốc gia. Ngày 27/8/64, Hội đồng Quân Đội Cách mạng quyết định: Lập một Ủy ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực gồm các tướng Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, và Nguyễn Khánh; Cử Chính phủ Nguyễn Khánh tiếp tục nhiệm vụ, nhưng phải triệu tập Quốc dân Đại hội trong 2 tháng; Có thể Ủy quyền cho một Phó Thủ tướng điều khiển Thừa ủy nhiệm Thủ tướng.

BẠO LOẠN BỘC PHÁT TẠI MỘT SỐ NƠI. Ngày 27/8/64Lúc 13 giờ, tại Bộ Tổng Tham mưu, khi các Tướng lãnh còn đang họp: chừng 2.000 người từ ngoại ô kéo tới trước cổng Bộ Tổng Tham Mưu với gậy, dao, búa đòi vào gặp Hội đồng Quân đội Cách mạng. Họ trưng biểu ngữ “Ủng hộ Hội đồng Quan đội Cách mạng; Chống Cộng và chống Trung lập; chống Âm mưu chia rẽ”.v.v. Quân Cảnh ngăn cản, đám người cứ xông lên, bị bắn chết 4, bị thương 11. Lúc 14 giờ, một đoàn người khác cũng trang bị như trên, kéo đến Đài Phát thanh, đòi Phát thanh bản Tuyên ngôn của họ, qua đường Phan Đình Phùng gây lộn với một số học sinh trường Kỷ thuật Nguyễn Tường Tộ, học sinh trường này, cùng trường bạn Nguyễn Cao Thắng đánh lại 13 người bị thương, 8 người bị bắt. Đoàn người biểu tình lại kéo tới đòi thả 8 người bị bắt, rồi xông vào đánh lộn lẫn nữa. Có 2 học sinh trường Nguyễn Tường Tộ, và Cao Thắng bị đoàn người biểu tình đâm chết.  

Buổi chiều tối cùng ngày 27/8/64, các Khu Công giáo Phú Nhuận, Trương Minh Giảng báo động và thanh niên ra các đầu đường canh gác. Tại Viện Hóa Đạo, Chợ Bến Thành cũng nhan nhản thanh niên đứng canh. Tòa Tổng Giám Mục và Viện Hóa Đạo ra “Thông cáo chung” khuyên nhủ hai bên Giáo đồ bình tỉnh, và tránh mọi xách động. Báo giới Thủ đô, Tòa Đô Chánh cũng kêu gọi dân chúng giữ hòa khí và trật tự. Ngày 28/8/64, các trường học vẫn sôi nổi. Thanh niên vẫn tụ tập rất đông tại các công trường Lam Sơn, Diên Hồng v.v. Cảnh sát bắt 19 người trong đó có một số du đảngLúc 14 giờ cùng ngày 28/8/64, khoảng vài trăm người mang gậy gộc tới trường Nguyễn Bá Tòng, Thanh niên Công giáo đến giải vây. Hai bên đánh lộn. Xe của Đức Giám mục Nguyễn Văn Thiên cũng bị xô đẩy. Đến 17g30, bọn người biểu tình tấn công lại kéo đến đông hơn tới đập phá Tòa báo Xây Dựng và Nhà in trong trường. Quân đội phải đến giữ trật tự. 

Nhưng đến tối 28/8/64, nhiều đoàn khác lại kéo đến đánh phá. Du đảng cũng xen vào quấy rối. Đội Nhảy dù phải nổ súng đến 11 giờ đêm mới giải tán được, có 2 người chết, 48 người phải vào bệnh viện. Ngày 29/8/64, Viện Hóa Đạo thông cáo Nguyện vọng của Phật giáo đã được thỏa mãn, cuộc vận đng tranh đấu chấm dứttừ nay không chịu trách nhiệm về các vụ bạo động. Ngày 1/9/64, Thượng tọa Tâm Châu ra Thông bạch, những việc xẩy ra trong ngày 28/8/64, chứng tỏ Phật giáo vẫn bị đe dọa, Chánh quyền phải dứt khoát với nhóm người phá hoại thuộc chế độ cũ, không thể chụp mũ là du đảng để bắt bớ, nếu tới ngày 27/10/64 mà nguyện vọng của Phật giáo chưa đạt thì sẽ bãi thị bãi khóa. Ngày 8/9/64, Linh mục Hoàng Quỳnh Chủ tịch Ủy ban Tranh đấu Công giáo gởi thư ngỏ cho Thủ tướng Nguyễn Khánh trách Chính phủ không quan tâm đến các vụ đàn áp Công giáo trong những ngày vừa qua, yêu cầu điều tra vô tư, giải quyết các vụ ở Đà nẳng, Quy Nhơn và vãn hồi an ninh, nếu không Công giáo sẽ tự vệ và không chịu trách nhiệm về hậu quả.

Ngày 21/9/64, Tổng Liên đoàn Lao công, cho biết sẽ đình công 48 giờ để ủng hộ Công nhân hãng dệt Vimytex bị sa thải.Vài ngàn thợ biểu tình trước phủ Thủ tướng, đòi tự do nghiệp đoàn, tự do hội họp dù có lệnh giới nghiêm. Ngày 27/9/64, Chừng vài trăm người tự xưng “Lực lượng Sinh viên, học sinh Bảo vệ Giáo dục thuần túy” biểu tình trước Viện Đại học Sài Gòn với biểu ngữ “Đưa Chính trị ra khỏi Học đường”. Ngày 27/9/64, Hội đồng Chỉ đạo Sinh viên, học sinh Sài Gòn quyết nghị và Thông cáo “Chống đảng phái chính trị xen vào lấn vào học đường, và chống sự lôi cuốn Sinh viên làm chính trị". Ngày 30/9/64, Tổng hội Sinh viên nhóm họp, phản đối các vụ gây rối ở Trung Phần, yêu cầu các giới đoàn kết, trừng trị Cần lao, chấm dứt tình trạng Chính phủ Xử lý thường vụ... Ngày 5/10/64, Tổng Liên đoàn Lao Công vẫn chuẩn bị đình công, quân đội tới gác trụ sở. Ngày 5/10/64, Hội đồng Chỉ đạo Sinh viên họp tại rạp Thống Nhất đả kích các Hội đồng Nhân dân Cứu quốc Miền Trung. 

THƯỢNG HỘI ĐỒNG QUỐC GIA. Ngày 7/9/64, Trung tướng Dương Văn Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lựcNgày 8/9/64, Ban lãnh đạo Quốc gia ban hành Quyết định (số 7/BLĐQGQL) thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia với nhiệm vụ triệu tập Quốc dân Đại hội, soạn thảo Hiến Pháp, thực hiện các cơ cấu Quốc gia, và làm Cố vấn cho Chính phủ và Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực.

TƯỚNG DỨC VÀ TƯỚNG PHÁT ĐẢO CHÁNH. Ngày 13/9/64, Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát kéo quân về Sài Gòn chiếm đóng một số địa điểm, cả Phủ Thủ tướng, Đài Phát thanh đả kích Thủ tướng Nguyễn Khánh, và nhân danh “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” tuyên bố vãn hồi trật tự đã bị phá hoại, cùng uy quyền Quốc gia đã bị miệt thị (10 giờ). Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Tư lệnh ra lệnh cho Quân đội không theo phe đảo chánh. Thủ tướng Nguyễn Khánh ở Đà Lạt lên án tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát trên Đài Phát thanh. Cùngngày 13/9/64, nhiều Tướng lãnh khác họp tại Bộ Tư lệnh Không quân, và hôm sau, ngày 14/9/64, quyết định đòi Tướng Dương Văn Đức phải rút quân về các vị trí củ tại Vùng IV nếu không sẽ đối phó. Ngày 14/9/64, Sáng nay quân của tướng Đức đã rút dần khỏi Đô Thành không xẩy ra vụ xô xát nào. 

Ngày 15/9/64, tướng Dương Văn Đức tuyên bố không có đảo chánh chỉ có biểu dương lực lượng để cứu vãn uy tín cho Chính phủ và Quân đội, đồng thời chống lại sự trở về của 5 tướng bị an trí ở Đà Lạt. Ngày 16/9/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh về Sài Gòn ra lệnh điều tra vụ đảo chánh hụt. Một số nhân vật bị bắt. Những sĩ quan liên can bị bắt. Những sĩ quan liên can bị kêu ra trình diện. Ngày 17/9/64, bị cách chức những tướng tá liên can đến vụ 13/9 là Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm, Đại tá Huỳnh Văn Tồn, Trung tá Dương Hiếu Nghĩa. Ngày 15/10/64 Tòa án quân sự Mặt trận xử vụ đảo chánh của Tướng Dương Văn Đức. Ngày 23/10/64, Tòa án quân sự Mặt trận tuyên án tất cả 12 người liên can đến vụ 13/9/64 đều được tha bổng. 

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỨU QUỐC. Ngày 14/9/64, Sinh viên nhóm họp và biểu tình đả đảo Dư đảng Cần lao đã mưu toan đảo chánh. Ngày 18/9/64, một số Giáo sư và sinh viên Đại học Huế đòi Linh mục Cao Văn Luận từ chức để khỏi trở ngại cho Phong trào đấu tranh của "Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” mới thành lập với mục đích “bài trừ Cần Lao”. Ngày 21/9/64, Hàng ngàn thanh niên do Hội đồng Nhân dân Cứu quốc kích động chiếm Đài Phát thanh và nhiều Công sở ở Quy Nhơn, đồng thời lùng bắt Cần Lao. Ngày 21/9/64, Ở Phan Thiết, hàng ngàn thanh niên cũng phát động Phong trào đấu tranh diệt trừ Cần Lao, nhiều cuộc xô xát xẩy ra. Ngày 27/9/64, Tỉnh Thừa Thiên cùng nhiều tỉnh khác ở Trung Phần lập Hội đồng Nhân dân Cứu quốc để thanh toán Cần Lao. Ngày 28/9/64, Nhiều cuôc biểu tình bạo động tiếp tục ở Quy Nhơn. 

Ngày 2/10/64, các Hội đồng Nhân dân Cứu quốc ở Trung Phần vẫn hoạt động quá khích ở Trung Phần, và định nhóm họp Đại hội tại Huế để ấn định chính sách chung. Ngày 8/10/64, sáu Sinh viên từ Huế vào Sài Gòn họp báo, tuyên bố ủng hộ Hội đồng Nhân dân Cứu quốc.

LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT NGƯỜI THƯỢNG NỔI LOẠNNgày 20/9/64, lực lượng Đặc biệt người Thượng do Mỹ huấn luyện nổi loạn ở đồn Sapar, Ban Mê Thuột, chiếm Đài Phát thanh, bắt giữ 60 Sĩ quan, và Hạ sĩ quan làm con tin, đòi quy chế tự trị. Thủ tướng Nguyễn Khánh lên điều đìnhNgày 22/9/64, qua Đại tá Mỹ Freund làm trung gian điều đình, vụ Thượng nổi loạn sắp được dàn xếp ổn thỏa, Thủ tướng Nguyễn Khánh hứa hẹn nhiều cải cách. Ngày 28/9/64, Lực lượng Đặc biệt Thượng ở Ban Mê Thuột chịu ra đầu hàng. Đồn đã được giao trả cho Quân đội. Ngày 9/10/64, Nha Đác tách Thượng vụ, sau ngày Cách mạng được đưa qua Bộ Quốc phòng, nay đặt trực thuộc Phủ Thủ tướng. Ngày 18/10/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh công bố Chính sách đối với đồng bào Thượng và những biện pháp cải cách sẽ thi hành. Đại hội các Sắc dân Thượng tại Pleiku.      

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. Ngày 23/8/64, kể từ hôm nay thu hồi giấy bạc củ 500$ và Phát hành loại mới. Theo Việt Nam Press hôm qua, có tin đồn bọn đầu cơ đem bạc củ sang Hồng Kông đổi lấy lời. Ngày 28/8/1964, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử điều khiển Chính phủ, thừa Ủy nhiệm Thủ tướng. Cùng ngày 23/8/64, Phó Thủ tướng Oánh ban bố tình trạng giới nghiêm trong Sài Gòn Gia Định. Lúc 13 giờ, Thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo, đã kích ông Nguyễn Tôn Hoàn và  Hà Thúc Ký đã mưu đảo chánh. Ngày 29/8/64, Quân đội giải tán các đám thanh niên canh gác hoặc tụ họp trước chợ Bến Thành và nhiều ngã đường. Ngày 30/8/64, Bộ Tổng Tư lệnh Thông cáo Quân đội quyết chống lại các cuộc biểu tình bạo động, và nếu cần sẽ nổ súng. Ngày 31/8/64, theo Nha Cảnh sát 661 người bị bắt ngày 28 hầu hết đã được thả ra, chỉ còn 16 người đợi điều tra. Ngày 1/9/64, Phó Thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn từ chức. 

Ngày 1/9/64, một văn phòng Tôn giáo được thành lập gồm Đại diện Công giáo, Phật giáo và cả Cảnh sát để giải quyết các khó khăn và hiểu lầm. Ngày 3/9/64, Trung tướng Dương Văn Minh và Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh ra Huế trấn tĩnh dư luận. Ngày 3/9/64, Đại tá Trần Ngọc Huyến từ chức Tổng trưởng Thông Tin. Ngày 8/9/64, tái lập Tỉnh Bạc Liêu, Châu Đốc, và lập Thị Xã Vũng Tàu. (SL 245, 246, 247/NV). Ngày 8/9/64, thu hồi Ủy quyền Thủ tướng cho Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh. Ngày 9/9/64, ba quân nhân rút khỏi Chính phủ Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, và Đại tá Trần Ngọc Huyến (từ chức ngày 6/9). Ngày 9/9/64, Giáo sư Trần Văn Hương được bổ Đô trưởng Sài Gòn thay Đại tá Dương Ngọc Lắm. Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên được bổ Tổng trưởng Nội vụ. Ngày 9/9/64, bốn tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính được về Sài Gòn.

Ngày 10/9/64, các Tổng trưởng Bùi Tường Huân (Giáo dục), và Trần Quang Thuận (Xã hội) từ chức. Ngày 10/9/64, Đại tá Nguyễn Quang Sanh được cử làm Tổng Giám đốc Cảnh sát thay Đại tá Trần Thanh Bền. Ngày 19/9/64, Chuẩn tướng Nguyễn Chánh Thi được cử làm Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật. Ngày 20/9/64, Trong cuộc họp báo Chuẩn tướng Nguyễn Đức Thắng cho biết từ 1/1/63 đến 8/9/63, Cao Mên đã xâm nhập lãnh thổ Việt Nam 134 lần (15 lần bắn sang, 76 lần cướp bóc). Ngày 30/9/64, Phó thủ tướng Đỗ Mậu từ chức. Ngày 1/10/64, Luật sư Nghiêm Xuân Hồng Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng, và Đặc y Chiêu Hồi từ chức. Ngày 5/10/64, Đặt chức Tổng thư ký Toà Đô chánh và 2 Phó Đô trưởng (SL 284/TTP). Ngày 7/10/64, Đại tướng Trần Thiện Khiêm lên đường thăm viếng thiện chí nhiều nước đã giúp đở Việt Nam.Ngày 14/10/64, lần đầu tiên từ 10 năm nay lương căn bản Công chức được tăng 10%, Phụ cấp đắc đỏ các hạng đều bằng nhau (SL 300-e và 300-g/TTP). 

Ngày 17/10/64, các cấp chỉ huy trong quân đội được ấn định lại (SL302a/QP). Ngày 20/10/64, ban hành Quy chế Quân nhân Hiện dịch (SL 13/CT/LĐQGQL). Ngày 20/10/64, năm Tướng bị an trị tại Đà Lạt tha về được tái xử dụng, làm Phụ tá cho Tổng Tư lệnh trong 5 lãnh vực khác nhau. Ngày 21/10/64, Đại tướng Lê Văn Tỵ mới được thăng Thống tướng từ trần, thọ 61 tuổi. Ngày 21/10/64, sáu Chuẩn tướng được thăng Thiếu tướng: Nguyễn Cao Kỳ, Lê Nguyên Khang, Chung Tấn Cang, Bùi Hữu Nhơn, Phạm Văn Đổng, Nguyễn Chánh Thi. Ngày 22/10/64, “Quận đội là cha Quốc gia”, Phủ Thủ tướng minh xác về lời tuyên bố nầy của Thủ tướng Nguyễn Khánh tại Pleiku, rằng chỉ muốn nói “vai trò của Quân đội là tối quan trọng”. Ngày 24/10/64, Đại tướng Trần Thiện Khiêm được bổ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ. Ngày 24/10/64, Quy chế Ngân hàng tại Việt Nam được ban hành (SL 18/CT/UBLĐQG). Ngày 25/10/64 Thủ tướng Nguyễn Khánh tiếp tân từ giã mọi người. 

QUAN HỆ MỸ VỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 14/9/64, ngay sau khi hai tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát triệt thoái quân đảo chánh khỏi Đô thành Sài Gòn, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố, Hoa kỳ vẫn ủng hộ Chính phủ Nguyễn Khánh. Ngày 19/9/64, bốn tàu tuần tiểu của Bắc Việt lại đánh đuổi chiến hạm Hoa Kỳ, Tổng thống Johnson ra lệnh cứ canh phòng trên Vịnh Bắc Việt. Ngày 22/9/64, chiến hạm Mỹ bị 5 chiếc tàu Bắc Việt rượt đánh, 3 chiếc bị tàu Mỹ bắn chìm. Ngày 27/9/64, Tổng thống Johnson cho phép các lực lượng Mỹ đánh tới cả bên trong biên giới của địch nếu bị tấn công. Ngày 27/10/64, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một lần nữa, tỏ ý hân hoan về tình hình Chính trị tại Việt Nam. 

QUAN HỆ VIỆT NAM CỘNG HOÀ VỚI NƯỚC KHÁC. Ngày 19/8/64 Ký kết thỏa ước Việt Đức, Việt Nam vay 15 triệu Đức Mã để nhập cảng máy móc cho kỹ nghệ Việt Nam. Ngày 20/8/64, một số Quốc trưởng như Phi Luật Tân, Đại Hàn gởi điện mừng Chủ tịch Nguyễn Khánh. Ngày 5/9/64, Quân Mên bắn đại bác sang xã Vĩnh Xương quận Tân Châu, làm 2 người chết 4 người bị thương, phi cơ Mig 15 của Mên lại đuổi bắn 2 phi cơ Việt Nam. Ngày 5/9/64, Bộ Ngoại giao Việt Nam phản kháng Chính phủ Mên và thông báo cho Liên Hiệp Quốc. Ngày 17/9/64, Việt Nam Cộng hòa gởi Thông điệp cho Hội động Bảo An Liên Hiệp Quốc về các vụ rắc rối ở biên giới Việt-Miên. Ngày 14/10/64, tại Nga, Kroutchev phải từ chức, và Alexis Kossyguine lên làm Thủ tướng. Brejnev lên làm Tổng Bí Thư đảng Cộng sản Nga.

Ngày 20/10/64, Phi cơ Việt Nam oanh tạc lầm vào 1 làng Mên, An Long Chrey cách biên giới 1 cây số, bị bắn rơi, 3 Phi công Việt Nam 1 Mỹ bị bắt, và bị hạ sát. Ngày 24/10/64, một phi cơ C123 của Mỹ bay lạc qua Mên, bị Mên bắn rơi gần đồn Dak Dam. Ngày 29/10/64, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ tuyên bố, nếu Mên còn tấn công, Mỹ sẽ trả đủa mạnh.  Ngày 2/11/64, có phong trào bài Mỹ ở Nam Vang, kiều dân Mỹ phải di tản. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 17/8/64, hơn 400 Việt Cộng tấn công các đồn Hòa Mỹ, Hiệp Hưng, Phong Dinh, 60 Việt Cộng bị hạ; Phía ta 22 chết, 53 bị thương. Ngày 23/8/64, Hành quân Phú Cát, Bình Định hạ 26 Việt Công; Phía ta, 2 chết, 2 bị thương. Ngày 23/8/64, Mìn nổ tại Rạp chiếu bóng Eden, Sại gòn, 1 chết, 3 bị thương. Ngày 25/8/64, Mìn nổ tại Khách sạn Caravelle lúc 12 giờ 11 người bị thương, 12 phòng bị phá. Ngày 5/9/64, hành quân Quảng Ngãi, hạ 103 Việt Cộng, tịch thu nhiều súng. Ngày 13/9/64, một Đại đội Việt Cộng tấn công đồn Ấp Chân Hưng, quận Hiếu Liêm, Phước Thành. Phía ta, 3 chết, 3 bị thương, 16 mất tích, và 33 súng. Ngày 17/9/64, Hành quân ở Quảng Nam, hạ 80 Việt Cộng. Ngày 19/9/64, Hành quân ở An Giang, hạ hơn 100 Việt Cộng; Phía ta 23 chết, 41 bị thương, 18 mất tích. Ngày 23/9/64, Việt Cộng tấn công Lương Phước, Kiến Hòa bị đẩy lui, bỏ lại 40 xác. 

Ngày 3/10/64, hành quân ở Tân Phước, Cà Mâu, hạ 46 Việt Cộng, bắt 36 tên. Ngày 4/10/64, hai thanh niên mặc quân phục ném lựu đạn vào Khu Tân Sinh làm 3 người chết, 45 người bị thương. Ngày 4/10/64, Việt Cộng phục kích trên đường Sài Gòn-Bình Dương gây cho ta 25 chết, 42 bị thương, 14 mất tích; Phía địch 13 tên bị hạ. Ngày 7/10/64, chạm súng gần Đức Hòa, Việt Cộng bỏ lại 16 xác; Phía ta 33 chết, 43 bị thương, 20 mất tích. Ngày 7/10/64, Quận lỵ Đức Phổ, Quảng Ngãi bị tấn công, 60 tên bị hạ. Ngày 11/10/64, nhiều Tiểu đoàn Việt Công tấn công Gò Dầu Hạ, bỏ lại 55 xác, 12 bị bắt cùng với súng ống; Phía ta 28 chết, 38 bị thương, 32 mất tích, mất vài chục súng có 1 đại bạc 57 ly. Ngày 12/10/64, hành quân Phụng Sơn, Bình Định hạ 96 Việt Cộng, bắt sống 46 tên. 

Ngày 15/10/64, hành quân tai Châu Thới, quận Vĩnh Lợi, Bạc Liêu, nơi căn cứ của Tiểu đoàn Cơ động Việt Cộng Sóc Trăng, 89 Việt Cộng chết tại chỗ, 13 bị bắt, nhiều súng đạn bị tịch thu. Phía ta 6 chết, 25 bị thương. Ngày 16/10/64, Việt Cộng với hỏa lực rất mạnh tấn công Mỹ Thạnh, Cầu Dinh, Bến Cát, Bình Dương. Trận đánh diễn ra giữa ban ngày. Buổi trưa chúng lại đánh 2 đồn gần Hậu Nghĩa, và 1 đồn gần Đức Huệ. Kết quả, Việt Cộng bỏ lại 70 xác, với nhiều súng ống; Phía ta 16 chết, 25 bị thương, 3 chiến xa bị hư hại. Ngày 1/11/64, Căn cứ Không quân Biên Hòa bị bắn phá, làm 6 chết, 32 bị thương, 28 phi cơ bị phá hủy hoặc hư hại. Ngày 3/11/64, Quận Bình Chánh, Gò Đen, Bến Lức đều bị Việt Cộng tấn công, quân ta chống trả, địch bỏ lại 23 xác. 

THƯỢNG HỘI ĐỒNG QUỐC GIA. Tại Quyết định số 7/BLĐQGQL ngày 8  tháng 9 năm 1964, của Ban lãnh đạo Quốc gia và Quân lực thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia, đồng thời cũng cử nhiệm 16 Nhân sĩ sau đây vào Thượng Hội đồng: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Xuân Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Đình Luyện, Hồ Đắc Thắng. Ngày 26/9/64, Thượng Hội đồng Quốc gia làm lể trình diện tại Hội trường Diên Hồng. Ngày 27/9/64, Phan Khắc Sữu được bầu làm Chủ tịch Thượng Hội đồng. Ngày 19/10/64, sau hơn ba tuần lễ làm việc tích cực, Thượng Hội đồng Quốc gia đã soạn thảo xong và trình lên Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực bản Dự thảo “Hiến chương Lâm thời.

Cùng ngày 19/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực tuyên bố “Thượng Hội đồng Quốc gia có quyền và có bổn phận thực hiện các Cơ cấu Quốc gia, chọn vị Nguyên thủ, lập Chính phủ trước ngày 27/10/64”. Ngày 20/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực, ban hành Hiến chương Lâm thời, theo đó, sẽ có 1 Quốc trưởng tuyển nhiệm theo thể thức do Quốc dân Đại hội ấn định. Quyền Lập pháp thuộc Quốc dân Đại hội. Thủ tướng do Quốc trưởng chọn và Đại hội chấp nhận. Ngày 24/10/64, Thượng Hội đồng Quốc gia tuyển nhiệm Chủ tịch Pham Khắc Sữu làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa (Quyết nghị số 1). Ngày 25/10/64, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ được bầu Quyền Chủ tịch Thượng Hội Đồng.  

 

CHÍNH QUYỀN BỐN

Bài 219: CHÍNH QUYỀN DÂN SỰ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG: THÁNG 11 NĂM 1964 ĐẾN THÁNG 2 NĂM 1965.

Ngày 26/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực chính thức chuyn giao quyền hành cho Quốc trưởng. Tướng Nguyễn Khánh và Chính phủ đệ đơn từ chức. Ngày 27/10/64, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một lần nữa, tỏ ý hân hoan về tình hình Chính trị tại Việt Nam. Ngày 29/10/64, Quốc trưởng Phan Khắc Sữu mời Bác sĩ Hồ Văn Nhựt lập Chính phủ, Bác sĩ Nhựt từ chối. Ngày 31/10/64, Giáo sư Trần Văn Hương được bổ nhiệm Thủ tướng (SL số 5/QT). Ngày 1/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trình bày Chương trình hành động trước Thượng Hội Đồng. Ngày 4/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trình diện Nội các lên Quốc trưởng và được chấp thuận (SL số 6/QT).

THÀNH VIÊN NỘI CÁC: Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quân lực, Trần Văn Hương; Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụNguyễn Lưu ViênPhó Thủ tướng kiêm Thống đốc Nhân hàngNguyễn Xuân OánhTổng tưởng Ngoại giao,Phạm Đăng Lâm; Tổng trưởng Tư pháp, Lữ Văn Vy; Tổng trưởng Thông tin, Lê Văn TuấnTổng trưởng Kinh tếNguyễn Duy Xuân; Tổng trưởng Tài chánh, Lưu Văn Tính; Tổng trưởng Cải tiến Nông thôn, Ngô Ngọc Đối; Tổng trưởng Công chánh, Lê Sĩ Ngạc; Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục, Phan Tấn ChứcTổng trưởng Y tếTrần Quang Diệu; Tổng trưởng Xã hội, Đàm Sĩ Hiến; Tổng trưởng Lao động, Nguyễn Hữu HùngTổng trưởng tại Phủ Thủ tướng, Phạm Văn Toàn.

TAM ĐẦU CHẾ LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VÀ QUÂN LỰC. Ngày 7-10-1964 Đại tướng Trần Thiện Khiêm đã ra nước ngoài thăm thiện chí các quốc gia giúp đở Việt Nam Cộng hoà. Hơn hai tuần sau ngày 24-10-1964, ông Khiêm được bổ Đại sứ tại Hoa Kỳ, Ngày 7-11-64, Trung tướng Dương Văn Minh được cử làm Đặc phái viên của Quốc trưởng tại ngoại quốc. Và ngày 24-12-1964, ông Minh từ Đài Bắc trở về Sài Gòn. Riêng Trung tướng Nguyễn Khánh thì còn ở lại trong nước, và được Thủ tướng Trần Văn Hương bổ nhiệm Tổng Tư Lệnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Từ đây, Hội đồng Quân nhân Cách mạng, Hội đồng Quân đội Cách mạng, Tam đầu chế lãnh đạo Quốc gia và Quân lực và các “Chính quyền Quân quản” đã đi vào dĩ vãng chỉ còn lại trong sử sách.  

ĐỐI DIỆN VỚI THÁCH THỨC CỦA CHÍNH QUYỀN DÂN SỰ. NĂM 1964. Ngày 4/11/64, Tổng hội Sinh viên nhóm họp tỏ ý dè dặt về thành phần Chính phủ, mong rằng Chính phủ sẽ có chính sách cách mạng thật sự. Ngày 5/11/64, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ từ chức Quyền Chủ tịch Thượng Hội đồng, vì không đồng ý việc thành lập Chính phủ Trần Văn Hương. Ngày 6/11/64, Sinh viên Sài Gòn nhóm họp đả kích thành phần Chính phủ Trần Văn Hương, đòi xét lại toàn diện vấn đề, và chỉnh đốn lại Thượng Hội đồng vì lý do có nhiều phần tử gây chia rẽ. Ngày 7/11/64, Có nhiều tin đồn Sinh viên và Phật tử sẽ xuống đường phản đối chính phủ. Ngày 11/11/64, Sinh viên Sài Gòn tiếp tục Hội thảo sôi nổi, tuyên bố không thể chờ đợi, phải hành động mạnh, không chịu “một Chính phủ Chuyên viên già nua” lại bị “Nhóm Tinh thần giật dây”. Ngày 16/11/64, Sinh viên yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, yêu cầu giải tán Chính phủ Trần Văn Hương. 

Ngày 16/11/64, Thượng Hội đồng Quốc gia quyết định lập một Ủy ban điều tra về thành phần Chính phủ. Ngày 18/11/64, Luật sư Lê Văn Thu được bầu làm Chủ tịch Thương Hội đồng Quốc gia. Ngày 19/11/64, Một số thanh niên và Chính khách họp tại Hồ tắm Chi Lăng, Gia Định công kích Chính phủ Trần Văn Hương. Ngày 24/11/64, Thượng tọa Tâm Châu gởi thư lên Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, và Thượng Hội đồng Quốc gia yêu cầu có thái độ dứt khoát với Chính phủ, chấm dứt bắt bớ, thả những người bị giam, ra lệnh không được đàn áp. Ngày 28/11/64, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ họp báo tuyên bố cùng với nhiều đảng phái thành lập một “Hội đồng Dân tộc Cách mạng” để cứu vãn tình thế. Ngày 12/12/64, Thượng tọa Tâm Châu kêu gọi Phật tử bình tỉnh, tránh xách động. Ngày 16/12/64, Thượng Hội đồng Quốc gia thăm dò ý kiến của một số nhân vật của một số nhân vật về việc triệu tập Quốc dân Đại hội. 

BẠO LOẠN BỘC PHÁT TẠI MỘT SỐ NƠI. Ngày 20/11/64, biểu tình chống Chính phủ tại Tuy An, Phú Yên, 2 người bị thương. Ngày 22/11/64, biểu tình lớn ở nhiều nơi, Chợ Bến Thành, đường Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Sài Gòn, với biểu ngữ đả kích Thủ tướng Trần Văn Hương và Chính phủ. Cảnh sát giải tán bằng lựu đạn cay mắt. Người biểu tình ném đá lung tung nhiều người bị thương. Ngày Học sinh hai Trường Cao Thắng, và Nguyễn Tường Tộ đánh nhau với học sinh trường Nguyễn Trãi, 12 bị thương. Cảnh sát phải ném lựu đạn cay mắt mới giải tán được. Ngày 24/11/64 Nhiều trường hoc bải khóa, học sinh trường tư Lê Quý Đôn đóng chặt cửa, không chịu về. Cảnh sát phải phá cửa vào nhưng bị ném gạch, đá, trường bị hư hại nhiều, Phụ huynh học sinh mang đồ ăn tiếp tế cho con em. 

Ngày 25/11/64, tại trường Hồng Lạc, và Trần Quốc Toản: Buổi sáng học sinh bãi khóa, phản đối việc bắt bớ những người biểu tình. Buổi trưa, một đội Nhảy Dù tới cùng với 1 biện lý, một lựu đạn nổ, một số người bị thương. Buổi chiều nhiều đám người khác lại kéo đến đến nhập với học sinh biểu tình, cũng bị ném gạch, đá. Cảnh sát và quân đội phải can thiệp mãi tới 21 giờ mới giải tán được, 85 người bị thương, 238 bị bắt. Các trường học đóng cửa cho đến khi có lệnh mới. Giới nghiêm từ 10 giờ đêm đến 5 giờ sáng. NĂM 1965. Tối ngày 23/1/65, tại Huế, một đoàn biểu tình kéo tới phòng Thông tin Hoa kỳ ném đá và đốt cháy thư viện Mỹ với 5.000 cuốn sách. Sinh viên đại học Huế đặt chướng ngại vật chặn các lối vào lớp học. Các cuộc biểu tình của Phật giáo, Hội đồng Nhân dân Cứu quốc và sinh viên vẫn tiếp diễn cho đến ngày 27 tháng giêng năm 1965 mới tạm thời lắng dịu. 

BẢO LŨ MIỀN TRUNG. Ngày 7/11/64, Bão Iris thổi quá mạnh. Phú Yên ngập 3,5 thước nước. Quy Nhơn, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam đều bị ngập. Ngày 8/11/64, Bão Iris đã ngớt. Bão Joan lại tới gần, và thổi mạnh. Ngày 11/11/64, Trên 4 vạn dân lánh lụt đổ xô về Đà Nẵng. Mùa màng trôi sạch ở Quảng Nam, từ Quảng Ngãi đến Thừa Thiên hoa màu mất khoảng 80%, nhà cửa bị trôi 50%. Riêng Quảng Ngãi 1.400 nhà sụp đổ. Mưa suốt tuần nay, nước biển dâng mạnh, 7.000 người bị nước cuốn, cùng với 53.697 nhà bị trôi (theo Bộ Xã hội). Tổn thất về công chánh ước 88 triệu (theo Bộ Công chánh). Ngày 16/11/64, Gió thổi 120 cây số một giờ về miền Nha Trang. Các trường học trong Đô thành phải đóng cửa. Ngày 16/11/64, Chính phủ Việt Nam kêu gọi các nước giúp dân bị bão lụt. Ngày 20/11/64, Thiết quân luật ở các tỉnh bị bão lụt trong 2 tháng (SL 27QT/SL). 

Ngày 24/11/64, Uỷ ban cứu trợ bão lụt thu được 25 triệu đồng. Ngày 24/11/64, Hoa kỳ viện trợ 25.000 tấn gạo cho dân bị bão lụt, nhưng sự chuyên chở khó khăn, vì đường sá bị huỷ hoại nhiều, tàu biển lại thiếu, và nhiều khi không cập bến được vì sóng gió. Ngày 7/12/64, Uỷ ban Cứu trợ bảo lụt thu được 50 triệu. Ngày 13/12/64, lại mưa lớn và ngập lụt phen nữa ở khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận. Hơn 500 người bị nước cuốn trôi, 20 căn nhà cũng bị nước cuốn đi. Ngày 15/12/64, tiền quyên bảo lụt thu được 56 triệu. Việc tiếp tế, cứu tế, chuyên chở khó khăn, thực phẩm quyên được chất đống tại Sài Gòn. Ngày 31/12/64, Uỷ ban Cứu trợ cho biết tiền quyên về bảo lụt thu được 59 triệu.

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. NĂM 1964. Ngày 4/11/64, Trung tướng Nguyễn Khánh được cử làm Tổng Tư Lệnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Ngày 7/11/64, Trung tướng Dương Văn Minh được cử làm Đặc phái viên của Quốc trưởng tại ngoại quốc. Ngày 9/11/64, Bộ Thông tin tuyên bố, Chính phủ không cải tổ, không từ chức. Ngày 13/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trả lời thắc mắc của Thượng Hội đồng, và tuyên bố “phải lập uy quyền quốc gia, tách rời chính trị và tôn giáo, đưa tôn giáo ra khỏi Chính trị”. Ngày 14/11/64, thành lập Uỷ ban Cứu trợ đồng bào bị lụt Miền Trung, do Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh chủ toạ (SL 334/TTP). Ngày 14/11/64, Có 6 Nhật báo bị tịch thu vì đăng tin có hại cho chính phủ.Ngày 14/11/64, Bộ Quân lực thông cáo, thanh niên trong độ tuổi quân dịch bị bắt trong cuộc biểu tình phải nhập ngũ tức khắc. Ngày 15/11/64, Quân đội và Cảnh sát canh gác trong nhiều ngã đường Sài Gòn cả trước dinh Gia Long. 

Ngày 20/11/64, Văn phòng Thủ tướng Chính phủ cho biết có 148 nhà trí thức ký giấy ủng hộ Chính phủ và Thủ tướng. Ngày 24/11/64, Trung tướng Dương Văn Minh, và Trung tướng Nguyễn Khánh được thăng Đại tướng. Ngày 27/11/64, Thiết quân luật tại Sài Gòn và Gia Định trong 1 tháng (SL 29/QT). Ngày 27/11/64, Thiếu tướng Phạm Văn Đỗng, được cử làm Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định. Đại tá Trần Thanh Bền tái bổ Tổng Giám đốc Cánh sát. Ngày 27/11/64, Ấn định lại các Vùng Chiến Thuật và các Khu Chiến Thuật: 4 Vùng Chiến Thuật, 1 Biệt Khu Thủ Đô, 1 Đặc Khu Rừng Sát (SL số 343/QL). Ngày 28/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương tuyên bố “không lùi bước; phải dùng mọi cách tái lập trật tự”. Và cho biết, trong các vụ biểu tình vừa qua, có bắt 228 người, nhưng đã thả 202 người, gọi nhập ngũ 35, chỉ còn giữ 1 người. Có 71 Cảnh sát bị thương. 

Ngày 28/11/64, Thành lập Trung tâm Khuếch trương Xuất cản (SL 345/KT). Ngày 5/12, Chuẩn tướng Đặng Văn Quang được thăng Thiếu tướng. Ngày 8/12/64, một số dụng cụ tài sản tịch thu của gia đình Họ Ngô đem ra bán đấu giá lấy tiền sung vào quỷ Cứu trợ bão lụt. Ngày 8/12/64, Chính phủ Trần văn Hương phản đối sự chỉ định một Ủy ban của Thượng Hội đồng để xét lại thành phần Chính phủ. Ngày 15/12/64, Luật sư Phan Tấn Chức từ chức Tổng trưởng Giáo dục, Giáo sư Nguyễn Văn Trường được cử thay thế. Ngày 24/12/64, Đại tướng Dương Văn Minh từ Đài Bắc trở về Sài Gòn.

NĂM 1965. Ngày 6/1/65, Theo Phủ Đặc uỷ Chiêu hồi, từ 28-2-63 tới nay có 16.934 Việt Cộng về quy chánh. Số tỵ nạn Cộng sản: 19.750 người. Ngày 10/1/65, sáu (6) Hội viên Thượng Hội đồng Quốc gia, 14 chính khách, giáo sư và sinh viên bị bắt ngày 20/12/64 được trả tự do tại Kontum. Ngày 14/1/65, Bộ Ngoại giao thông báo Đại tá Phạm Ngọc Thảo, tuỳ viên Báo chí toà đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ được triệu hồi về Sài Gòn phải ra trình diện trước ngày 18/1/65. Ngày 18/1/65, chính phủ Trần Văn Hương cải tổ có 4 tướng tham gia: Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Minh, Linh Quang Viên và Nguyễn Cao Kỳ. Ngày 20 tháng 1, tướng Thiệu bàn giao chức Tư lệnh Quân đoàn IV cho Thiếu tướng Đặng Văn Quang.Ngày 23/1/65, Thủ tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân kêu gọi mọi người tránh các vụ xách động, rằng ông sẽ lãnh trách nhiệm trước tình thế, rồi lên án "lũ lưu manh cạo đầu rồi mặc sắc phục tăng ni”.  

QUAN HỆ MỸ VỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. NĂM 1964. Ngày 1/12/64, theo tin từ Đông Kinh, một số phi cơ Mỹ ném bom xuống 4 địa điểm gần Bến Hải, Bắc Việt. Ngày 24/12/64, Mìn nổ dữ dội tại Khách sạn Brink của quân nhân Mỹ, gần Quốc hội củ 20 phòng bị sập, 13 xe cháy, 3 người Mỹ chết, hơn 100 bị thương trong đó có cả khách qua đường. Ngày 26/12/64, không quân Mỹ oanh tạc Tchépone, Xiêng Khouang và đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào. NĂM 1965. Ngày 2/1/65Đại diện toà Đại sứ Mỹ hội đàm với các Thượng toạ lãnh đạo Phật giáo về cuộc khủng hoảng chính trị. Ngày 3/1/65, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố Hoa Kỳ sẽ rút quân nếu Cộng sản để cho Nam Việt Nam yên ổn. Đại sứ Taylor hội đàm với Thủ tướng Trần Văn Hương về tình hình Việt Nam và cuộc khủng hoảng chính trị. Ngày 8/1/65, chính phủ Đại Hàn quyết định gởi sang Việt Nam 2.000 binh sĩ không chiến đấu.

Ngày 21/1/65, tin từ Hoa Thịnh Đốn, số quân Bắc Việt xâm nhập Nam Việt Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh tăng lên đến mức lo ngại. Ngày 24/1/65, Phụ tá Ngoại trưởng Mỹ William Bundy tuyên bố tình hình Việt Nam rất nghiêm trọng. Đại sứ Taylor hội đàm với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, Thủ tướng Trần Văn Hương và Đại tướng Nguyễn Khánh. Ngày 7/2/65, Căn cứ không quân Tuy Hoà và trại Haloway của Mỹ gần Phi trường Pleiku bị pháo kích dữ dội. Tại Pleiku 7 quân nhân Mỹ tử thương, 100 bị thương, 5 trực thăng bị phá huỹ, 9 trực thăng và 5 phi cơ thám thính bị hư hại. 14 phi cơ từ Hàng không mẫu hạm và 49 chiếc từ các Căn cứ khác bay tới Đồng Hới dội bom vào các Căn cứ quân sự Bắc Việt, 1 chiếc không trở về. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ họp báo tuyên bố các vụ tấn công, và oanh tạc trả đũa. Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố không có cách nào khác là phải trả đũa chống lại các hành động xâm lược. 

DỘI BOM VÀO CÁC CĂN CỨ QUÂN SỰ BẮC VIỆT. Ngày 8/2/65, cùng với một số phi cơ của không lực Hoa Kỳ, 24 khu trục cơ của không quân Việt Nam do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn dội bom xuống các Căn cứ quân sự tại Vinh. Ngày 10/2, căn cứ Không quân Mỹ tại Quy Nhơn bị pháo kích và đột kích 4 căn nhà đổ 12 người tử thương. 40 người bị thương, 18 mất tích hoặc bị chôn vùi dưới đống gạch ngói. Tổng thống Johnson nhóm họp Hội đồng An ninh Quốc gia bàn về Việt Nam và xem xét vụ Căn cứ Quy Nhơn bị tấn công. Ngày 11/2/65, có 150 phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc Chánh Hoà và Chấp Lễ gần Đồng Hới, 3 phi cơ mất tích. Và 2 Phi đôi Không lực VNCH do Trung tá Phạm Phú Quốc hướng dẫn oanh tạc Đồi 83, vùng sông Rào Quang và Quang Tây, cách Bến Hải 15 cây số.   

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1964. Ngày 4/11/64, Hành quân An Xuyên, hạ 50 Việt Cộng, tịch thu 28 súng; Phía ta 1 chết, 16 bị thương. Ngày 7/11/64, có 24 phi cơ Việt Nam dội 120 tấn bom xuống Chiến khu D gần Phước Thành, phá hủy 150 cân trại nhiều kho lương, súng đạn. Ngày 12/11/64, hành quân ở Phú Hữu, Vĩnh Bình, hạ 30 Việt Cộng. Ngày 18/11/64, Hành quân “Phong Hóa I” đại tấn công Chiến khu D, cách Biên Hòa 40 cây số, 115 trực thăng chở quân đổ bộ, Trung tướng Nguyễn Khánh đích thân chỉ huy. Ngày 18/11/64, Mìn nổ tại Câu Lạc bộ Phi trường Tân Sơn Nhất làm 18 Người Mỹ và 1 người Việt bị thương. Ngày 19/11/64, hành quân “Quyết Thắng 436” tại vùng Gia Hòa, Quảng Nam, hạ 57 Việt Cộng, 7 tên bị bắt; Phía ta, 3 chết 19 bị thương. Ngày 20/11/64, Hành quân “Đà Nẵng II” vùng Lê Mỹ, Quảng Nam, hạ 35 Việt Cộng, bắt sống 1 tên, thu một số súng. 

Ngày 21/11/64, chấm dứt hành quân “Thăng Long 27” vùng Liên ranh Sùng Hiếu-Khiêm Ích, Đinh Tường, hạ 106 Việt Cộng, bắt sống 55 tên, thu một số súng. Ngày 22/11/64, Hơn 100 lính Mên ở biên giới bắn bích kích pháo vào toán tuần tiểu đồn Vĩnh Xương, Châu Đốc, rồi kéo sang bắn vào đồn 1 binh sĩ bị thương. Ngày 25/11/64, hành quân vùng Ba Dừa, Cai Lậy, Định Tường, hạ 90 Việt Cộng, bắt sống 54 tên. Ngày 25/11/64, Không quân oanh kích một căn cứ Việt Cộng ở Gò Công, hạ 37 Việt Cộng, phá hủy một số trạiNgày 27/11/64, Hành quân tại Cam Lộ, Quảng Trị, hạ hơn 100 Việt Cộng. Ngày 30/11/64, Kết quả hành quân Ba Dừa, Chợ Gạo, Định Tường, hạ 285 Việt Cộng, bắt sống 146 tên, bắn bị thương vài trăm. Ngày 30/11/64, Hành quân “Đà Nẵng 5” vùng Viêm Minh, Hòa Vang, Quảng Nam, hạ 54 Việt Cộng, bắt sống 21 tên; Phía ta 1 bị thương.

Ngày 30/11/64, hơn 100 lính Miên ở biên giới, bắn bích kích pháo vào toán tuần tiểu của đồn Vĩnh Xương, Châu Đốc. Sau lại kéo sang bằn vào đồn, 1 binh sĩ của ta bị tử thương. Ngày 3/12/64, hành quân Bời Lời, Tây Ninh, hạ 50 Việt Cộng, tịch thu nhiều tấn thực phẩm. Ngày 5/12/64, hành quân “Dân Chí 92/SĐ” tại Tân Lập, Cà Mâu, hạ 138 Việt Cộng của Tiểu đoàn U Minh 2, bắt được nhiều vũ khí, phá huỷ Công binh xưởng; Phía ta 5 chết, 30 bị thương. Ngày 7/12/64, Tu viện Nguyên Thiều, ở Phước Tuy, nơi đồng bào bão lụt tạm trú bị Việt Cộng tấn công làm 5 thường dân chết, 15 bị thương, 5 binh sĩ chết, mất 3 súng, và 1 máy truyền tin. Ngày 8/12/64, Quận lỵ An Lão, Bình Định bị tấn công mạnh, viện binh tới phản công có phi cơ yểm trợ thả bom Napalm. Đồi 193 bị chiếm và giành lại nhiều lần. Ngày 10/12/64, Việt Cộng đánh đồn Bà Dừa, Định Tường, Phía ta, 12 chết, 15 bị thương. 15 Việt Cộng bị hạ, và 51 xác bỏ lại trên ghe.

Ngày 10/12/64, Tại An Lão vẫn còn giao tranh kịch liệt, Việt Cộng mở mặt trận thứ hai đánh vào Tiểu đoàn Việt Nam Cộng hòa tại Đồi 159 cách Tam Kỳ 8 cây số. Không quân phải dội nhiều bom Napalm. Ngày 11/12/64, trận An Lão tiếp tục dữ dội, Việt Cộng mở nhiều cuộc xung phong ồ ạt, máy bay lại phải can thiệp mạnh. Ngày 11/12/64, Việt Cộng tấn công Vị Thanh, Chương Thiện, bị hạ 180 tên; Phía ta 8 chết, 56 bị thương. Ngày 12/12/64, mìn nổ tại 1 quán rượu đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, 16 người bị thương. Ngày 12/12/64, trận Tam Kỳ tiếp tục, tại Đồi 159, Việt Cộng bỏ lại 124 xác. Ngày 27/12/64, Hành quân Dân Chí 100/SD ở Sóc Trăng, 2 Tiểu đoàn Việt Nam Cộng hoà đánh 4 Tiểu doàn Việt Cộng, hạ 82, bắt sống 8, với nhiều súng các loại.

Ngày 27/12/64, Việt Cộng tập trung rất đông tại Bình Giả, Phước Lể và mở trận đánh lớn. Quân tiếp viện bằng trực thăng khó đổ bộ. Nhiều Tiểu đoàn Biệt Động Quân tham chiến, có phi cơ yểm trợ bắn phá mạnh. Ngày 29/12/64, Việt Cộng rút bớt quân ở Bình Giả. Khám phá được nhiều đường hầm kiên cố và rất dài, với các kho thực phẩm và đạn dược. Ngày 31/12/64, đã tái chiếm Bình Giả, kết quả 3 ngày đêm ác chiến 132 Việt Cộng chết; Phía Việt Nam Cộng hòa 44 chết, 34 bị thương, 41 mất tích. NĂM 1965. Ngày 2/1/65, trận Bình Giả kết thúc sau 7 ngày kịch chiến.  

TỪ HỘI ĐỒNG TƯỚNG LÃNH ĐẾN HỘI ĐỒNG QUÂN LỰC. NĂM 1964. Ngày 4/12/64, Hội đồng Tướng lãnh họp tại Đà Lạt tuyên bố ủng hộ một Chính quyền Dân sự lành mạnh, yêu nước, không bị áp lực, và chuẩn bị thành lập một Hội đồng Quân lực. Ngày 17/12/64, một số Tướng lãnh trẻ yết kiến Quốc trưởng trình bày việc cho một số Tướng lãnh già về hưu. Ngày 18/12/64, thành lập một Hội đồng Quân lực do Huấn lệnh của tổng Tư lệnh Nguyễn Khánh để đở giúp Tổng Tư lệnh với tư cách Cố vấn và thực hiện công bằng trong Quân đội. Ngày 20/12/64, Hội đồng Quân lực tuyên bố “không tín nhiệm Thượng Hội đồng Quốc gia” vì đã gây chia rẽ, mua chuộc một số Tướng lãnh, có óc bè phái; Giải tán Thượng Hội đồng Quốc gia, một số Thành viên của Thượng Hội đồng, cùng chính khách bị “coi là xôi thịt” đã bị “cô lập hóa”. 

Cùng ngày 20/12/64, Thông cáo chung của của Hội đồng Quân lực và Chính phủ: Ông Phan Khắc Sửu vẫn được lưu nhiệm Quốc trưởng; Ông Trần Văn Hương và Chính phủ vẫn được Quân lực tín nhiệm cho tới khi có Quốc dân Đại hội. Quốc trưởng tạm giữ Quyền Lập pháp; Chánh phủ phải triệu tập Quốc dân Đại hội; Quân lực giữ nhiệm vụ hòa giải mọi cuộc tranh chấp. Ngày 20/12/64, Nhật lệnh của Đại tướng Nguyễn Khánh: “Quân lực không thực hiện chính sách của ngoại bang nào cả; Thà thanh bạch trong độc lập còn hơn giàu sang mà tủi nhục trong nô lệ ngoại bang”. Ngày 23/12/64, Bộ Tổng Tư lệnh thông cáo “Hội đồng Quân lực” không phải là “Hội đồng Quân đội Cách mạng”, nhưng chỉ có nhiệm vụ tư vấn đối với Tổng Tư lệnh. Sau “Quyết định tối cần ngày 20/12/64” Hội đồng đã trở về với cương vị củ. 

Ngày 25/12/64, Đại tướng Nguyễn Khánh tuyên bố với báo New York Herald Tribune: rằng “Tướng Taylor đã có những hành động không thể tưởng tượng, muốn dùng áp lực đối với người hữu trách Việt Nam”; rằng “nếu ông ta không khéo xử thì Việt Nam sẽ mất’; rằng “Mỹ nên tính việc lớn với những ai có thực lực ở xứ nầy”; rằng “ông Taylor không thể buộc dân Việt Nam phải chịu đựng những nhà lãnh đạo mà dân Việt Nam không muốn”. Cùng ngày 25/12/64, Tòa Đại sứ Mỹ minh xác “Đại sứ Taylor chỉ làm đúng nhiệm vụ của một Đại sứ”. Ngày 31/12/64, Các Tướng lãnh vẫn họp bàn tại Vũng Tàu để tìm “Giải pháp cho tình thế” 

NĂM 1965. Ngày 1/1/65, tướng Nguyễn Khánh hội đàm cùng Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Trần Văn Hương để tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng chính trị: lập một cơ quan thay thế Thượng Hội đồng Quốc gia vừa bị giải tán. Tại Cần Thơ, Nguyễn Khánh gắn lon Trung tướng cho thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu Tư lệnh Vùng IV Chiến thuật. Ngày 6/1/65, các tướng lãnh họp tại Vũng Tàu để tìm giải pháp cho tình hình khủng hoảng chính trị. Ngày 27/1/65, Hội đồng Quân lực ra thông cáo, Quân đội đã trả quyền từ 27-10-64 cho chính quyền Dân sự, nhưng tình thế ngày một rối ren. Sau 3 ngày thảo luận Hội đồng tướng lãnh quyết định Quân lực Việt Nam Cộng hoà phải đứng ra nhận trách nhiệm trước lịch sử. Hội đồng quyết định uỷ Đại tướng Nguyễn Khánh giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị; triệu tập ngay một Hội đồng Quân Dân gồm 20 đại diện Tôn giáo, Nhân sĩ, Quân lực, chính quyền tương lai phải triệu tập Quốc dân Đại hội. 

Ngày 28/1/65, Hội đồng Quân lực quyết định Quốc trưởng Phan Khắc Sửu được lưu nhiệm, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử làm Quyền Thủ tướng. Ngày 16/2/65, thừa Uỷ nhiệm Hội đồng Quân lực, Đại tướng Nguyễn Khánh, Tổng Tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng hoà, ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bổ nhiệm ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng thành lập Nội các.

 

Bài 220: CHÍNH QUYỀN DÂN SỰ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ PHAN HUY QUÁT: THÁNG 2 NĂM 1965 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 1965

Ngày 16/2/65, Thủ tướng Phan Huy Quát trình diện Nội các lên Quốc trưởng. THÀNH VIÊN NỘI CÁC. Thủ tướngBác sĩ Phan Huy Quát; Phó thủ tướng, Tổng trưởng Ngoại giao, Bác sĩ Trần Văn Đỗ; Phó thủ tướng, Tổng trưởng Quốc phòngTrung tướng Nguyễn Văn ThiệuPhó thủ tướng, Tổng trưởng Kế hoạch, Luật sư Trần Văn TuyênTổng trưởng Nội vụ, Nguyễn Hòa HiệpTổng trưởng Tư phápLuật sư Lữ Văn ViTổng trưởng Tài chánhGiáo sư Trần Văn KiệnTổng trưởng Kinh tế, Giáo sư Nguyễn Văn Vinh; Tổng trưởng Thanh niên Thể thao, Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng; Tổng trưởng Giao thông Công chánh, Kỷ sư Ngô Trọng AnhTổng trưởng Xã hội, Giáo sư Trần Quang ThuậnTổng trưởng Chiêu hồiTrần Văn ÂnTổng trưởng Lao động, Nguyễn Văn Hoàng; Tổng trưởng Điền địaNguyễn NgọcTổng trưởng Chiến tranh Tâm lý và Thông tin, Thiếu tướng Linh Quang Viên; Tổng trưởng không BộBác sĩ Lê Văn Hoạch; Tổng trưởng không Bộ, Quyền Tổng trưởng Giáo dục, Bác sĩ Nguyễn Tiến HỷTổng trưởng Bộ Nội vụ, Nguyễn Văn TườngĐổng lý Văn phòng Phủ thủ tướng, Bùi Diễm.

HỘI ĐỒNG QUỐC GIA LẬP PHÁP. Ngày 17/2/65, Hội đồng Quân lực ra quyết định thiết lập Hội đồng Quốc gia Lập pháp (HĐQGLP) gồm 20 Hội viên gồm: Luật sư, Bác sĩ, Giáo sư, Nhân sĩ, và 6 sĩ quan cấp tướng và tá. Chủ tịch Hội đồng là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu. Ngày 9/3/65, Hội đồng Quốc gia Lập pháp tán thành việc Hoa Kỳ gởi TQLC Mỹ sang giúp Việt Nam.

ĐẠI TÁ PHẠM NGỌC THẢO ĐẢO CHÁNH. Ngày 19/2/65, lúc 12 giờ đêm Đại tá Phạm Ngọc Thảo đem một số binh sĩ và chiến xa chiếm Trại Lê Văn Duyệt, Đài Phát thanh, Bến Bạch Đằng… Các tướng lãnh họp tại Bộ Tư lệnh Không quân Tân Sơn Nhất, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân bay trên thủ đô ra lệnh cho quân nổi dậy phải rút nếu không sẽ bị ném bom. Trên đài phát thanh Ba Xuyên, Tổng Tư lệnh Quân đội Trung tướng Nguyễn Khánh ra lệnh cho các binh sĩ bị lôi cuốn vào cuộc nổi dậy hãy trở về đơn vị. Tại Huế, lực lượng sinh viên học sinh lên án những "phần tử Cần lao" trong cuộc nổi dậy của Phạm Ngọc Thảo. Ngày 20/2/65, Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi Tư lệnh Quân đoàn I từ Đà Nẳng vào Sài gòn đảm nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn giải phóng thủ đô, ra lệnh cho đại tá Thảo và 13 sĩ quan khác phải trình diện trong 24 giờ, nhưng Thảo và một số sĩ quan cùng những nhân vật Công giáo đều đã trốn. 

Cùng ngày 20/2/65 này, Hội đồng Quân lực nhóm họp và quyết định cử Trung tướng Trần Văn Minh làm Tổng tư lệnh quân đội, thay thế Trung tướng Nguyễn Khánh; Rằng Tướng Khánh âm mưu tạo ra xáo trộn để trở lại nắm chính quyền. Ngày 21/2/65, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ và Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi bắt đầu kết hợp với nhau để chống Trung tướng Nguyễn Khánh. Ngày 22/2/65, Trung tướng Nguyễn Khánh được thăng Đại tướng, bổ nhiệm chức đại sứ lưu động. Ngày 25/2, tướng Nguyễn Khánh được tặng hạng nhất Kim Khánh, trưa nay rời Việt Nam với nắm đất trên tay và hứa sẽ trở về. Ngày 26/2, tướng Nguyễn Chánh Thi công bố Bức Tâm thư gởi các tướng lãnh phân tích tình hình bi đát hiện tại và đề nghị “tinh thần công lợi và tổ chức hoá nhân dân”.

Theo Phạm Bá Hoa trong “Đôi Dòng Ghi Nhớ” thì Quân lực Việt Nam cho đến ngày hôm đó có bốn vị đại tướng, một ông chết và ba ông ra đi, dù ra đi với chức đại sứ, nhưng sự thật đã bị nhóm tướng trẻ đuổi ra khỏi Việt Nam. Việc tướng Khánh ra đi đã đặt Quân lực Việt Nam Cộng hoà nằm trong tay nhóm tướng trẻ Young Turk. Các "tướng già" còn lại như Trung tướng Trần Văn Minh, Trung tướng Phạm Xuân Chiểu, Trung tướng Linh Quang Viên, Trung tướng Phạm Văn Đống... là chỉ để cho các tướng trẻ điều động đặt đâu ngồi đó, việc quốc gia đại sự, việc lãnh đạo chiến tranh này hoàn toàn nằm trong tay các tướng trẻ, đặc biệt là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. 

LẬP BAN THƯỜNG VỤ HỘI ĐỒNG QUÂN LỰC. Hội đồng Quân lực do Nguyễn Khánh lập ra ngày 18.12.64, do Huấn lệnh của tổng Tư lệnh Nguyễn Khánh để ngày 20.12.64Nguyễn Khánh nhân danh nó “Giải tán Thượng Hội đồng Quốc gia” cái mà Khánh gọi là “Quyết định tối cần” đến ngày 23.12.64, Khánh cho nó “trở về với cương vị củ. Ngày20.2.65, nhóm Tướng trẻ lại cho nó tái sinh để nhân danh nó quyết định cử Trung tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư lệnh Quân đội thay thế Tướng Nguyễn Khánh và đẩy Khánh ra khỏi nước. Hôm nay, ngày 3/3/65, nhóm Tướng trẻ củng cố bắng cách lập ra BAN THƯỜNG VỤ gồm 5 người: Tổng thư ký, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu; Uỷ viên Ngoại giao, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ; Uỷ viên Chính trị, Thiếu tướng Linh Quang Viên; Uỷ viên An ninh Thiếu tướng Phạm Văn Đổng; Phụ tá, Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. 

Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ công bố Bức Tâm thư gởi đồng bào và chiến hữu nhắc lại nổi thống khổ và thất vọng từ thời ngoại thuộc và 10 năm qua. Chủ trương của Quân lực phải thực hiện Cách mạng toàn diện trên mọi lãnh vực. Ngày 5/5/65, Hội đồng quân lực do tướng Nguyễn Khánh thành lập cuối năm 1964 tuyên bố tự giải tán để các tướng lĩnh trở về nhiệm vụ quân sự thuần tuý. Ngày 14/5/65, Bộ Quân lực đổi thành Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu thay thế Tổng Tư lệnh. 

NỘI TÌNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 27/2/65, một số người nhân danh “Phong trào Dân tộc Tự quyết và Phong trào Bảo vệ Hoà bình” rải truyền đơn, gởi kiến nghị, họp báo tuyên truyền vấn đề “Hoà bình tại Việt Nam”. Ngày 9/3/65, Tại chùa Ấn Quang, Thượng toạ Quảng Liên giải thích chủ trương của Phong trào Bảo vệ Hoà bình và Hạnh phúc Dân tộc: các lực lượng Bắc Việt rút về Bắc; lực lượng MTDTGPMN giải giới; Quân đội Mỹ sẽ rời khỏi Việt Nam; Vấn đề thống nhất Việt Nam sẽ do dân tộc Việt Nam giải quyết. Ngày 11/3, Bộ Nội vụ công bố danh sách 358 người ký kiến nghị của Uỷ ban Vận động Hoà bình: 24 sinh viên; 77 học sinh; 78 lao động; 67 buôn bán; 22 công chức; 20 giáo viên; 11 ký giả, 5 kỹ sư, 5 bác sĩ-dược sĩ; 3 luật sư. Ngày 17/3/65, Thượng toạ Quảng Liên từ chức Chủ tịch Phong trào Bảo vệ Hoà bình và Hạnh phúc Đân tộc.

Ngày 19/3/65, ba người thuộc Phong trào Hoà Bình bị trục xuất ra Bắc qua cầu Hiền Lương Bến Hải: Bác sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến, ký giả Cao Minh Chiếm, và Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ. Ngày 27/5/65, một phái đoàn đại diện lực lượng Đại đoàn kết Công giáo do Linh mục Hoàng Quỳnh hướng dẫn yết kiến Quốc trưởng cùng Hội đồng Quốc gia lập pháp, đưa kiến nghị không tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát. Đêm mồng 5/6/65, vài trăm người Công giáo chống đối chính phủ Quát tụ họp trên đường Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký, Gia định. Họ đốt xe hơi, hành hung 5 người, và gây thương tích cho hai cảnh sát viên. Ngày 7/6/65, hơn 200 cụ già thuộc các đoàn thể công giáo tới dinh Gia Long yết kiến Quốc trưởng cùng Chủ tịch Hội đồng quốc gia lập pháp, rồi ngồi lại trong Dinh từ 16 đến 22 giờ mới chịu ra về. Ngày 8/6/65, hơn 100 thanh niên Đại đoàn kết và sinh viên học sinh Tự dân tới dinh Gia Long yêu cầu giải quyết cuộc khủng hoảng và cũng ở lại đó từ 10 giờ đến 16 giờ mới về. 

NGƯỜI DÂN CHẠY LÁNH CỘNG SẢN. Ngày 10/4/65, theo Bộ Xã hội có 230.000 người tỵ nạn Cộng sản gồm: Vùng I/CT 76.000, Vùng II/CT 99.000, Vùng III/CT 36.000, Vùng IV/CT 16.000. Mỗi gia đình được cấp 3.500$ và 50 kg gạo/tháng trong thời gian 6 tháng. Ngày 20/5/65 số người tỵ nạn CS tới nay 198.291. Bộ Xã hội đã trợ cấp 42.553.820$.

NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. Ngày 1/3/65, Thủ tướng Phan Huy Quát họp báo xác định lập trường của chính phủ “chỉ có thể nói chuyện hoà bình khi nào Cộng sản chấm dứt xâm lăng”. Ngày 7/3/65, Phủ Thủ tướng thông báo, vì Bắc Việt vẫn gia tăng các cuộc gây hấn nên chính phủ Việt Nam Cộng hoà đã yêu cầu và đã được Hoa Kỳ chấp thuận gởi 2 tiểu doàn Thuỷ quân Lục chiến đến đóng tại Đà Nẳng. Ngày 12/3/65, Thủ tướng Phan Huy Quát trình bày chương trình hoạt động của chính phủ trước Hội đồng Quốc gia Lập pháp. Ngày 2/4/65sau 6 ngày họp, Hội nghị QGGD đã quyết nghị Cải cách Chương trình Giáo dục: một chương trình duy nhất về kỷ luật học đường; sửa đổi môn Công dân Giáo dục; định lại tiêu chuẩn cấp học bổng và miễn học phí. Hội nghị chấp thuận thu học phí cấp Trung học lấy tiền xây thêm trường ốc, tuyển thêm giáo sư, và mua thêm dụng cụ.

Ngày 11/4/65, Chính phủ VNCH thông cáo, chỉ mở cuộc nghị hoà khi đối phương nhận một số điều kiện: VC phải chấm dứt khủng bố và phá hoại; Rút hết các lực lượng cán binh về Bắc; VNCH không thừa nhận Mặt trận Giải phóng miền Nam. Ngày 24/4/65, Ngoại trưởng VNCH Trần Văn Đỗ gởi thông điệp cho HĐBA/LHQ tại Stockholm giải thích về thực chất cuộc chiến tại VN, và lập trường của VNCH về hoà bình. Ngày 26/4/65, Toà án Quân sự Mặt trận Vùng III Chiến thuật xử vụ biến cố 19/2/65 trong số 45 bị cáo, 26 có mặt, 19 tại đào. Trong số bị cáo có 1 thiếu tướng, 5 đại tá, 3 trung tá, 10 thiếu tá, 14 đại uý, 1 trung uý, 2 thiếu uý, 1 Sinh viên, 5 đảng phái chính trị. Ngày 28/4/65, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố nên thành lập một Mặt trận Quốc gia Giải phóng miền Bắc, không cần đặt một Bộ Tư lệnh Hỗn hợp Việt-Mỹ, chính phủ hiện tại là chính phủ tốt nhất từ trước đến nay nên cần được quân đội ủng hộ

Ngày 21/5/65, Phủ Thủ tướng thông cáo rằng cơ quan an ninh đã bắt được 17 quân nhân và 12 dân sự âm mưu đảo chính ngày hôm qua. Những quân nhân trên đây cũng đã từng liên can đến vụ biểu dương lực lượng của Phạm Ngọc Thảo ngày 19.2.65. Ngày 25/5/65, Thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ. Giữa buổi trình diện Chính phủ, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu cho biết không thể ký bổ nhiệm các ông Nguyễn Văn Thoàn và Nguyễn Trung Trinh vì lẽ các ông Nguyễn Hoà Hiệp và Nguyễn Văn Vinh không từ chức. Ngày 26/5/65, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát bày tỏ những bất đồng quan điểm về quyền hạn thay thế Bộ trưởng. Ngày 3/6/65, Thủ tướng Phan Huy Quát cùng các tướng lĩnh sang yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Trong lúc đó một số nhân vật khác nhân danh 11 đoàn thể gởi kiến nghị lên Quốc trưởng và Hội đồng Quốc gia lập pháp chống chia rẽ và tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát. 

Ngày 9/6/65, Thủ tướng Phan Huy Quát họp báo giải thích về cuộc khủng hoảng. Ông thuật lại các nỗ lực hoà giải của ông mà vẫn không thành, trình bày chi tiết về âm mưu đảo chính đêm 20/5/65, của phe Công giáo và âm mưu lập chính phủ Liên hiệp Trung lập của phe "Hoà bình", đồng thời ông cũng trả lời các luận điệu chỉ trích rồi kết luận rằng ông yêu cầu quân đội đứng ra lãnh vai trò trung gian để giữ thế quân bình cho đến khi có một chính quyền dân cử. 

QUAN HỆ MỸ VỚI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 18/2/65, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara tuyên bố Hoa Kỳ sẽ tăng viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hoà và Quân lực Việt Nam Công hoà sẽ tăng lên 500.000 quân. Ngày 26/2/65, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara cho hay hiện có 23.500 quân Mỹ tại Việt Nam. Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam tăng 100.000 quân. Chính phủ Hoa Kỳ công bố cuốn “Bạch thư về thình hình Việt Nam” cuộc xâm lăng của Cộng sản và chính sách của Mỹ tại Việt Nam; Rằng các chiến hạm Mỹ sẽ gia tăng tuần tiểu bờ biển Việt Nam để ngăn chận các thuyền chở vũ khí vô Nam. Ngày 4/3/65, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk, các lãnh tụ Cộng hoà Dirksen và Ford đều tuyên bố “phải đánh mạnh không thương thuyết cho tới khi xâm lăng chấm dứt. Ngày 7/3/65, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố “không thương thuyết” vì thương thuyết là tưởng thưởng xâm lăng. 

Ngày 10/3/65, Tổng thống Johnson họp Hội đồng An ninh (HĐAN) thu hẹp tại Trại Davis, Hội đồng quyết định: tiếp tục oanh tạc Bắc Việt cả các khu vực quanh Hà Nội, Hải Phòng; sử dụng Hạm đôi 7 ngăn chận tiếp tế bằng đường biển; khép kín đường xâm nhập gần vỹ tuyến 17. Ngày 20/3/65, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ tuyên bố có thể dùng bom Napalm để oanh tạc các cơ sở quan trọng ở Bắc Việt. Miền Duyên hải do Hạm đội Mỹ pháo kích. Ngày 25/3/65, Tổng thống Johnson xác nhận chính sách trong một tuyên cáo quan trọng rằng Hoa Kỳ không có tham vọng lãnh thổ; không muốn mở rộng chiến tranh; mong muốn hoà bình và phát triển tại Á Châu; nhưng Cộng sản phải chấm dứt xâm lăng; Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ VNCH chống khủng bố và xâm lăng cho tới khi nào sự giúp đở không còn cần thiết. 

Ngày 30/3, có 5 Việt Cộng đi xe hơi tới toà Đại sứ Mỹ đường Võ Di Nguy, Sài Gòn bắn chết 1 cảnh sát cho mìn nổ và chạy vào đám đông. Toà Đại sứ hư hại nặng, 21 người chết, 190 người bị thương, hàng chục xe cộ qua lại bị hư hại. 1 khủng bố chết vì mìn. Ngày 2/4/65, Đại sứ Mawell Taylor đề nghị tăng quân lực Mỹ và VN để đánh mạnh và ngăn chận CS cắt VNCH làm 2 phần tại Vỹ tuyến 14. QLVNCH cần thêm 160.000 quân nữa. Ngày 7/4/65, TT Mỹ Johnson đọc diễn văn tại Baltimore xác nhận Chính sách Mỹ tại Việt Nam rằng, Việt Nam Cộng hoà (VNCH) phải được tự do, độc lập; rằng muốn tiến tới hoà bình, nhưng phải chuẩn bị chiến tranh lâu dài. Ngày 13/4/65, TT Mỹ Johnson cử cựu Đại sứ Cabot Lodge qua các nước Á Đông trao đổi quan điểm về vấn đề VN. Ngày 17/4/65, TT Mỹ Johnson lại tuyên bố: sẫn sàng thương thuyết không điều kiện về vấn đề VN bất cứ lúc nào và ở đâu. 

Ngày 20/4/65, Hội nghị quân sự Mỹ tại Honolulu để xét tình hình và chiến cuộc VN. Ngày 21/4/65, Bộ trưởng QP Mỹ McNamara tuyên bố sẽ tăng cường viện trợ cho VN, tăng tốc độ vận chuyển và hoả lực của QĐVNCH; giúp Huấn luyện 100 đến 150.000 tân binh. Viện trợ quân sự được nâng từ 207 triệu lên 330 triệu Mỹ kim. Số hàng không mẫu hạm Mỹ tại Thái Bình Dương hiện có 9 chiếc. Mẫu hạm Bonhome Richard từ Địa Trung Hải được gởi sang tăng cường tham chiến tại VN. Ngày 26/4/65, Viện trợ Mỹ cho VNCH trong Tài khoá 1965-1966 lên tới 1,5 tỷ Mỹ kim: 300 triệu Viện trợ Kinh tế, 330 triệu Viện trợ Quân sự, 800 triệu chi phí về quân đội Mỹ 70 triệu và thực phm. Ngày 4/5/65, Đại sứ Mỹ Cabot Lodge trở về Hoa Thịnh Đốn sau khi đi thăm 10 quốc gia Đông Á giải thích chính sách cử Mỹ ở VN. 

Tướng Westmoreland trình lên Nhà Trắng kế hoạch sử dụng quân Mỹ, và quân các nước đồng minh của Mỹ, trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, cùng lúc với việc mở rộng việc ném bom miền Bắc Việt Nam cho đến khi đạt được thắng lợi, dự kiến trong vòng hai năm rưỡi. Kế hoạch mang tên mang tên “Chiến lược Tìm và Diệt” với ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Từ tháng 7-1965 đến tháng 12-1965 đưa nhanh quân Mỹ và quân Đồng minh vào Nam Việt Nam để ngăn chặn tình hình đang xấu đi, bảo đảm an ninh cho những khu vực đông dân cư; triển khai các cuộc “hành quân phản công giành lại quyền chủ động chiến trường”. Giai đoạn 2: Từ đầu năm 1966 đến tháng 6-1966, quân Mỹ và lực lượng Đồng minh mở các cuộc hành quân “tìm và diệt ở những khu vực ưu tiên đã được xác định”, hỗ trợ cho chương trình bình định. Giai đoạn 3: Từ tháng 7-1966 đến giữa hoặc cuối 1967, dốc toàn bộ lực lượng mở các cuộc hành quân tiến công “tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân giải phóng” và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định, giành lại quyền chủ động trên chiến trường

QUÂN MỸ VÀ ĐỒNG MINH VÀO THAM CHIẾN. Ngày 8/3/65, hơn 1.500 TQLC Mỹ đổ bộ lên Đà Nẳng, Toà Đại sứ Mỹ thông báo 2 Tiểu đoàn TQLC được gởi sang để tăng cường hệ thống An ninh của Căn cứ Không quân Đà Nẳng để cho QLVNCH rnh tay chiến đấu. Ngày 16/3/65, hơn 1.400 quân nhân Đại Hàn tới Việt Nam. Ngày 9/4/65, có 1 tiểu đoàn TQLC và 1 phi đội F4 của Mỹ đến Đà Nẵng, và 1 tiểu đoàn khác tới Phú Bài, Huế. Ngày 10/4/65, có 1.400 TQLC tới Đà Nẳng tăng cường bảo vệ căn cứ Không quân tại đây. Nâng quân Mỹ lên tới 32.000 quân. Ngày 14/4/65, thêm 1 tiểu đoàn TQLC Mỹ đổ bộ lên Đà Nẳng, nâng con số LĐ 9 TQLC Mỹ tại VN lên đến 8.000 quân. Ngày 3/5/65, có 3 tiểu đoàn Nhảy Dù Mỹ tới VN bảo vệ các căn cứ Mỹ ở Biên Hoà và Vũng Tàu. Ngày 7/5/65, có 3 tiểu đoàn TQLC Mỹ đến để bảo vệ căn cứ Chu Lai, Quảng Tín. Nâng tổng số quân Mỹ tại VN 42.000 gồm 18.000 LQ, 12.300 TQLC, 9.300 KQ, 1.800 HQ. Ngày 10/6/65, theo giới chức quân sự Mỹ số quân Mỹ tại VN có thể tăng lên 100.000 quân. 

KHÔNG LỰC MỸ OANH TẠC BẮC VIỆT. Ngày 3/2/65, trên 160 phi cơ Mỹ oanh tạc Căn cứ tiếp liệu Xóm Bàng cách Bến Hải 16 cây số về phía Bắc, 6 phi cơ bị bắn rớt, 5 phi công được cứu thoát. Lúc 15giờ cùng ngày 3/2/65, có 5 Phi đội gồm 20 phi cơ của Không lực Việt Nam do Đại tá Nguyễn Ngọc Loan hướng dẫn, oanh tạc Căn cứ Hải quân Quảng Khê, cách Đồng Hới 30 cây số. 1 phi cơ bị bắn rớt, phi công nhảy dù xuống biển và được cứu vớt. Ngày 14/3/65, lúc 14 giờ 24 phi cơ không lực Việt Nam (KLVN) do tướng Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn oanh tạc đảo Hòn Cọp Căn cứ Thuỷ đoàn 4 Bắc Việt. Ngày 15/3/65, hơn 100 phi cơ không lực Mỹ oanh tạc Phủ Quỳ trung tâm Tiếp vận đạn dược của Bắc Việt, lúc trở về 1 chiếc đâm xuống biển. Ngày 19/3/65, hơn 120 Phi cơ Mỹ oanh tạc kho vũ khí Phù Vân, Nghệ An, cách Vinh 50 cây số, và kho tiếp liệu Vinh Sơn ở vùng phụ cận. 

Ngày 21/3/65có tới 26 phi cơ của không lực Việt Nam oanh kích căn cứ Vu Bôn cách Bến Hải 25 cây số về phía Tây Bắc. Ngày 23/3/65có 8 phi cơ của không lực Việt Nam oanh kích trên Quốc lộ 1 từ Bến Hải đến Đồng Hới. Ngày 25/3/65, có 40 phi cơ của Không lực Mỹ phá huỷ các Đài Radar, căn cứ quân sự Vinh, Bạch Long Vỹ, Mũi Ròn, Vinh Sơn. 2 phi cơ bị bắn rớt, phi công được cứu thoát. Ngày 30/3, có 24 phi cơ của không lực VN oanh tạc phi trường Đồng Hới. Ngày 31/3/65, có 14 phi cơ của không lực VN oanh tạc đài Radar Hà Tỉnh. Ngày 3/4/65, trên 90 phi cơ Mỹ oanh tạc cầu Đò Lèn, Thanh Hoá, 50 máy bay khác dội bom xuống cầu Hàm Rồng, 3 chiếc bị bắn rớt, 2 phi công được cứu thoát. Ngày 4/4/65, trên 50 phi cơ Mỹ lại oanh tạc cầu Hàm Rồng, Máy bay BV lên nghênh chiến 2 PC F105 Mỹ bị bắn rớt, 1 Mig 21 BV bị hạ. 12 phi cơ Mỹ và 24 phi cơ của VNCH oanh tạc cầu Đồng Hới, 2 chiếc bị bắn rơi. 60 phi cơ Mỹ oanh tạc đường QL1 từ Bến Hải đến Thanh Hoá, 2 chiếc bị bắn rớt. 

Ngày 5/4/65, trên 10 phi cơ Mỹ oanh tạc dọc QL7 và 8 cách Bến Hải 120 cây số về phía Bắc, 1 chiếc bị bắn rớt, phi công được cứu thoát. Ngày 6/4/65, trên 35 phi cơ Mỹ oanh tạc dọc QL1 từ Bến Hải ra Vinh, 1 chiếc bị bắn rơi. Ngày 9/4/65, có 50 phi cơ Mỹ oanh tạc cầu Quý Vinh và cầu Khe Kiến. 70 phi cơ khác oanh tạc cơ sở Quân sự Tam Đa, Vĩnh Linh. Không chiến trên Vịnh BV 1 Mig 21 BV bị bắn hạ, 2 máy bay Mỹ bị bắn rớt. Ngày 10/4/65, có 35 phi cơ Mỹ oanh tạc cầu Kim Cương cách vùng Phi quân sự 200 cây số, và 70 máy bay khác oanh tạc dọc QL 7 và QL 8. Ngày 13/4/65có 15 phi cơ VNCH oanh tạc cầu Thanh Yên, Đồng Hới và 15 phi cơ Mỹ oanh tạc đài Radar Hoà Mật và Cửa Lò. Ngày 14/4/65có15 phi cơ Mỹ lại oanh tạc Hoà Mật. Một Phi đội không lực VNCH bay đêm trên BV và thả 3 triệu truyền đơn. Ngày 15/4/65, có 15 phi cơ Mỹ lại oanh tạc bến tàu Mường Sén và dọc theo QL 7 và 8. 

Ngày 19/4/65, một Phi đội Không quân VNCH oanh tạc QL1 Bắc Vỹ tuyến 17, phi cơ của Trung tá Phạm Phú Quốc bị bắn hạ gần Hà Tĩnh. Ngày 28/4/65theo Bộ QP Mỹ từ 27/2-30/4/65, các phi cơ Mỹ đã oanh tạc BV 89 lần với 2.788 phi xuất, ném 1.380 tấn bom không kể hàng ngàn tấn đạn và rocketts phá huỹ 30 căn cứ quân sự, 127 ổ súng phòng không, 34 cầu, 17 đoàn quân xa 17 đoàn hoả xa, 1 căn cứ không quân, 2 căn cứ Hải quân, 5 bến phà, 20 đài Radar, 33 tiểu đỉnh. Ngày 7/5/65, có 25 phi cơ Mỹ oanh tạc kho đạn Phú Văn cách Hà Nội 120 dặm về phía Nam. Cầu Hàm Rồng bị oanh tạc lần thứ 3 nhưng không trúng bom. Phi cơ Mỹ hàng ngày vẫn oanh tạc Bắc Việt từ vỹ tuyến 20 trở vào nhắm vào cầu cống, đường giao thông, xe cộ tuyền bè, đài Radar trại lính. Ngày 18/5/65, sau 6 ngày tạm ngưng, không lưc Hoa Kỳ tiếp tục oanh tạc BV: 30 phi cơ dội bom xuống kho xăng Phú Quỳ. 

LIÊN QUAN ĐẾN BẮC VIỆT VÀ PHE CỘNG SẢN. Ngày 23/3/65, Mặt trận DTGPMN kêu gọi các quốc gia giúp đở để chiến đấu. Có tin đồn Trung Cộng và Liên Xô gởi Chí Nguyện Quân sang Việt Nam. Ngày 12/4/65. Bắc Kinh và Hà Nội không hoan nghênh cuộc thăm viếng của Tổng Thư ký LHQ U-Than. Lý do: LHQ không có quyền can thiệp và vấn đề Việt Nam. Ngày 25/4/65, tại Bắc Kinh, Chu Ân Lai tuyên bố: Trung Cộng không muốn gia nhập LHQ nữa, nhưng sẽ tổ chức một cơ quan Quốc tế khác tiến bộ hơn. Ngày 13/5/65, chính quyền Hà Nội yêu cầu các toà Đại sứ ngoại quốc tản cư khỏi Hà Nội để tránh các cuộc oanh tạc của Mỹ. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 18/2/65, Hành quân Vũ Ngọc Điện đổ bộ lên Vũng Rô (Cap Varella), Phú Yên để bắt tàu VC do phi cơ thám thính theo dỏi từ 16/2. Ngày 19/2, QĐVNCH lục soát tại Vũng Rô tìm ra rất nhiều vũ khí đạn dược chất trong hầm kho của chiếc tàu Việt Cộng bị đánh chìm: 2.000 súng Mauser, 1.000 trung liên, hơn 100 carabine 7,62, 2 đại liên, 15 tiểu liên, 1 đại bác 57, hơn 1.000 lựu đạn, hơn 1 triệu đạn súng trường, và nhiều đạn khác cùng với thuốc nổ. Các vũ khí đều do Trung Cộng chế tạo còn mới, Uỷ hội Quốc tế được mời đến chứng kiến. Ngày 18-19/3/65, một chiếc tàu dài 18 mét, rộng 4 mét chở vũ khí cho Việt Cộng bị bắt tại Cửa Việt, Quảng Trị cách Bến Hải 25 cây số về phía Nam. Đội người Nhái Hải quân VNCH vớt được 75 súng trường Nga, 6 thùng thuốc nổ 26 thùng đạn, 3 thùng lựu đạn, 2 thùng kíp nổ. Ngày 30/3, hơn 100 phi cơ Việt- Mỹ oanh tạc mật khu Bời Lời, quận Khiêm Hanh, Tây Ninh phá huỷ kho lương thực, đạn dược và Cơ sở của Trụng ương Cục miền Nam. 

Ngày 15/4/65tại miền Nam trên 230 phi cơ Mỹ khác oanh tạc suốt ngày Chiến khu Dương Minh Châu, dội hơn 1.000 tấn bom xuống 1 vùng 6x4 cây số. Ngày 10/6/65chừng 6 tiểu đoàn VC tấn công quận lỵ Đôn Luân, Đồng Xoài, Phước Long, tràn ngập trại Lực lượng đặc biệt, đánh xáp lá cà. Phi cơ can thiệp và ngăn chận.

(Hết Chương XVI)

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét