Chương XIX: 24 BÀI VIẾT VỀ 3 CHÍNH QUYỀN: VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIÊT NAM 1970-1975
(46 trang, 31.426 chữ)
CHÍNH QUYỀN MỘT
253. Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà, Chính phủ Trần Thiện Khiêm: Sự kiện, Chiến sự, Việc đã làm: 1970-1975.
254. Từ hành quân vào biên giới Việt-Miên tháng 4/1970 đến cuộc hành quân Lam Sơn 719 vào hạ Lào tháng 2/1971.
255. Chiến sự năm 1972 và trận đánh tái chiếm Cổ thành Quảng Trị tháng 6 đến 9/1972.
256. Bản nháp Hiệp định, Nguyễn Văn Thiệu phản đối 9 điểm, Nixon ra lệnh ném bom rải thảm Hà Nội-Hải Phòng, và Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973 tại Paris.
257. Nuyễn Văn Thiệu và chính sách “bốn không”, Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa, Cộng quân đánh chiếm Thượng Đức 1974. Và Ban-mê-thuột năm 1957
258. Cuộc họp tại Dinh Độc lập, cuộc họp tại Cam Ranh, rút quân khỏi Pleiku, khỏi Đà Nẳng tháng 3/1975, Trần Văn Đôn ghị lại.
259. Chiến trường và chính trường Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà tháng 4/1975: hết Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, rồi đến Tổng thống Nguyễn Văn Thiêu từ chức, Trần Văn Đôn ghị lại.
260. Chiến trường và chính trường Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà ngày 22, 23, 24, 25 tháng 4 năm 1975, Trần Văn Đôn ghị lại.
261. Phiên họp khẩn cấp của Luõng viện Quốc hội Việt Nam Cộng hoà lúc 7 giờ 30 tối ngày 27 tháng 4 năm 1975, Trần Văn Đôn ghị lại.
262. Bàn giao chức vụ Tổng thống Việt Nam Cộng hoà ngày 28 tháng 4, và Thủ thướng chính phủ ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trần Văn Đôn ghị lại.
263. Về cảnh tượng tranh nhau lên trực thăng Mỹ di tản khỏi Sài Gòn ngày 29 tháng 4 năm 1975. Trần Văn Đôn ghị lại.
264. Ngày 7 tháng 1 năm 1975, Tỉnh lỵ Phước Long thất thủ, và ngày 10 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột mất liên lạc, Phạm Bá Hoa ghi lại.
265. Lộn xộn tại phi trường Cù Hanh, Pleiku ngày 16 và 17 tháng 3 năm 1975, và thông tin từ Đại tá Bửu Khương, Phạm Bá Hoa ghi lại.
266. Rút bỏ Pleiku, Kontum, Phú Bổn những tưởng để chiếm lại Ban Mê Thuột, nhưng rồi toàn bộ Cao Nguyên bỏ ngõ cho Cộng quân, Phạm Bá Hoa ghi lại.
267. Nguyên Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu, nguyên Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, nguyên Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên lặng lẽ rời Việt Nam trong đêm tối giữa lúc đất nước lâm nguy, Phạm Bá Hoa ghi lại.
268. Trung tướng Vĩnh Lộc nhận chức Tổng Tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hoà ngày 29 tháng 4 năm 1975, Phạm Bá Hoa ghi lại.
CHÍNH QUYỀN HAI
269. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Phạm Văn Đồng: Sự kiện, Chiến sự, Việc đã làm: 1970-1975.
270. Chiến dịch Hè - Xuân năm 1972, trận đối đầu với Quân lực Việt Nam Cộng hoà tại Cổ thành Quảng Trị từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1972.
271. Cuộc rút lui của Quân Giải phóng sau 81 ngày đêm cố thủ “Thành cổ Quảng Trị” đêm 15 tháng 9 năm 1972.
272. Hoà hội Paris, và qúa trình đàm phán từ ngày 3 tháng 5 năm 1968 đến ngày ký kết Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973.
273. Hai trận đánh chiếm Quận lỵ Thượng Đức tháng 6 năm 1974, và trận đánh chiếm Tỉnh lỵ Phước Long tháng 1 năm 1975.
274. Chiến dịch Tây nguyên, và Chiến dịch Huế-Đà Nẵng tháng 3 năm 1975.
275. Phỏng tuyến Xuân Lộc thất thủ, Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu từ chức, và Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4 năm 1975.
CHÍNH QUYỀN BA
276. Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Chính phủ Huỳnh Tấn Phát: Sự kiện, Chiến sự, Việc đã làm: 1970-1975.
CHÍNH QUYỀN MỘT
Bài 253: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ TRẦN THIỆN KHIÊM: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM 1970-1975.
Ngày 18 tháng 3, 1970, lúc Sihanouk đang ở nước ngoài, Thủ tướng Lon Nol triệu tập Quốc hội Campuchia bỏ phiếu phế truất Norodom Sihanouk và trao quyền khẩn cấp cho Thủ tướng Lon Nol. Sau đó Lon Nol, phát động chiến tranh chống Cộng tại Campuchia. Một thoả thuận nhanh chóng đạt được giữa Lon Nol và chính quyền Mỹ. Cuối tháng 4 năm 1970, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân tấn công vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại biên giới Campuchia giáp Tây Ninh, tập trung vào các hướng đông và đông nam Sway Rieng, Memot-Snoul, Taheo-đông Kam pốt trọng tâm là căn cứ Ba Thu (Bến Lức-Long An) và vùng Lưởi Câu ở Kampong Cham.
Việt Cộng rút ngay khi Liên quân Viêt-Mỹ tiến vào, nhưng họ lại kháng cự quyết liệt ở Thị trấn Snoul. Hơn 90% thị trấn bị xóa sổ sau hai ngày bị oanh tạc bằng bom na-pan và pháo. Liên quân Viêt-Mỹ tiến hành lục soát, thấy có hơn 400 lán trại, nhà kho và boong ke, chứa đầy lương thực, quần áo, và thuốc men, 182 hầm vũ khí và đạn dược. Có hầm chứa tới 480 khẩu súng, và một hầm khác có hơn 6 triệu rưởi viên đạn các loại, hàng ngàn rốc két, và súng tiểu liên, một số xe vận tải và cả 1 Tổng đại điện thoại. Chỉ tại đây, Liên quân Việt-Mỹ đã thu được 4.793 vũ khí cá nhân, 730 súng cối, hơn 3 triệu viên đạn dành cho vũ khí cá nhân, 7.285 rốc két, 124 xe tải và 2 triệu pound gạo.
Người Mỹ cho rằng đây chính là trung tâm đầu não của Trung ương Cục miền Nam. Cuộc hành quân kết thúc ngày 30/6/1970, Liên quân Việt-Mỹ triệt phá được phần lớn căn cứ, kho tàng, bệnh viện và các tuyến tiếp tế hậu cần của Việt Cộng, nhưng không tiêu diệt các cơ quan đầu nảo của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Miền. Liên quân Việt-Mỹ để lại 20 tiểu đoàn, trợ giúp cho quân đội bạn. Các Tiểu đoàn Việt-Mỹ thường là những đơn vị hoạt động lưu động nhắm vào các nơi nghi ngờ là điểm xuất phát để thâm nhập vào Việt Nam Cộng hoà.
Tại thời điểm này, QLVNCH gia tăng quân số đều đặn từ 50.000 đến 100.000 mỗi năm theo đà rút quân của quân đội Hoa Kỳ. Đến cuối năm 1971 QLVNCH đã lên tới trên dưới 1 triệu quân, gồm ba quân chủng: Lục quân, Hải quân và Không quân. Lục quân tổ chức thành Lực lượng lưu động và Lực lượng diện địa. “Lực lượng lưu động” làm nhiệm vụ an ninh lãnh thổ và biên giới, thường xuyên đánh phá các căn cứ, hệ thống tiếp vận của Cộng sản từ Bắc vào Nam, săn lùng đẩy lùi, ngăn chặn không cho quân Việt Cộng hoạt động trở lại; Còn "Lực lượng diện địa” làm nhiệm vụ an ninh nội địa, bảo đảm công tác bình định nông thôn.
Các đơn vị biệt kích (do Mỹ tổ chức, chỉ huy) được cải tổ thành các tiểu đoàn Biệt động quân biên phòng (37 tiểu đoàn). Ngày 01 tháng 10 năm 1971, thành lập thêm Sư đoàn 3 Bộ binh, trách nhiệm an ninh khu vực giới tuyến, địa bàn tỉnh Quảng Trị. Các sư đoàn Bộ binh được bổ sung quân số, hoàn thiện biên chế. Quân dụng, vũ khí trang bị cho Lục quân cũng được tăng lên: 1.300 khẩu pháo và 10.000 súng cối các loại, 30.000 súng phóng lựu, 10.000 đại liên, 700.000 súng M 16 là loại súng trường hiện đại nhất của quân Mỹ lúc bấy giờ.
Khối bộ binh cơ động như Nhày dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân năm 1968 mới có 50 tiểu đoàn, đến cuối năm 1970 tăng lên 90 tiểu đoàn. Tăng-thiết giáp từ 1.037 chiếc năm 1968 lên 1.879 chiếc năm 1972. Với sự phát triển Lục quân như trên, đến tháng 6 năm 1970, theo Mỹ, quân VNCH có thể đảm nhiệm hầu hết nhiệm vụ chiến đấu trên bộ. Cuối năm 1971, đầu năm 1972 lực lượng Hải quân đã lên đến gần 50.000 quân, với 1.600 tàu các loại hoạt động trên biển và trên sông. Không quân Việt Vam Cộng hoà cũng được củng cố và kiện toàn, tăng nhanh quân số từ 35.000 năm 1968 lên hơn 50.000 năm 1971.
Năm 1970, không quân Việt Nam Cộng hòa được tổ chức lại thành 6 sư đoàn, 1 phi đoàn liên lạc, 1 phi đoàn vận tải, 5 phi đoàn trực thăng, 3 phi đoàn khu trục, tổng cộng gần 1.500 máy bay các loại. Từ năm 1968 đến năm 1972, quân số Việt Nam Cộng hòa tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1,05 triệu quân. Trong đó, Không quân tăng quân số tới 163%, Hải quân tăng 110%, Lục quân tăng gần 8% quân số.
Bài 254: TỪ HÀNH QUÂN VÀO BIÊN GIỚI VIỆT-MIÊN THÁNG 4/1970, ĐẾN CUỘC HÀNH QUÂN LAM SƠN 719 VÀO HẠ LÀO THÁNG 2/1971.
Hành quân Lam Sơn 719 vào Hạ Lào. Tháng 2 năm 1971, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, từ căn cứ Khe Sanh, Quảng Trị tiến vào Hạ Lào nhằm cắt đứt đường nối thông từ Lào vào Campuchia, và phá hủy hệ thống kho tàng trung tâm hậu cần của Việt Cộng tại Tchepone (Xê-pôn) Lào. Sau các đợt pháo kích của hàng trăm khẩu pháo từ 105 mm tới 175 mm, và các phi vụ ném bom B 52 dọc hai bên Đường 9 - Nam Lào, ngày 8 tháng 2, cánh quân chính của VNCH, gồm Lữ đoàn 3 Thiết giáp cùng các Tiểu đoàn 1 và 8 Nhảy dù, theo đường 9 tiến về phía Bản Đông.
Ngày 10 tháng 2, quân Việt Nam Cộng hòa đã đến Bản Đông, nằm sâu 20 km trong địa phận Lào và ở khoảng giữa đường tới Tchepone. Bản Đông trở thành căn cứ, và là trung tâm chỉ huy cuộc hành quân. Ngày 11 tháng 2, Tướng Abrams và tướng Sutherland bay đến sở chỉ huy tiền phương của Hoàng Xuân Lãm tại Đông Hà, sau trao đổi, họ quyết định đưa Sư đoàn 1 Bộ binh ở phía Nam đường 9 về phía Tây để bảo vệ sườn phía tây cho hướng tiến quân vào Tchepone. Từ ngày 16-21 tháng 2, ở phía bắc Đường 9, Cộng quân tấn công vào Tiểu đoàn 39 Biệt động quân chiếm giữ Điểm cao 500, Tiểu đoàn nầy phải rút về cứ điểm Ranger South cách đó 6 km.
Từ ngày 21 tháng 2, Lữ đoàn 3 Dù tại Căn cứ 31 (điểm cao 543), bị bao vây, đường bộ từ Bản Đông lên căn cứ 31 cũng bị cắt đứt. Trưa 25 tháng 2, Cộng quân có xe tăng PT 76 yểm trợ tấn công vào căn cứ, cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Cuối cùng, Cứ điểm 31 thất thủ, Đại tá Nguyễn Văn Thọ Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù bị bắt. Phía Việt Cộng Mỹ ước tính là 250 người chết, 11 xe tăng PT-76 và T-54 bị cháy. Trong 5 ngày tiếp theo từ 25 tháng 2 đến 1 tháng 3, có 3 trận đánh lớn, quân Việt Cộng đã phải chịu thương vong nhiều từ bom, pháo, và cả từ trực thăng trang võ trang, có 17 xe tăng hạng nhẹ PT 76 và 6 xe T 54 bị bắn cháy. Phía quân VNCH mất 5 xe tăng M 41 và 25 xe bọc théo chở quân (APC).
Ngày 3/3/1971, Bộ Tư lệnh hành quân VNCH quyết định sử dụng Sư đoàn 1 Bộ binh đang ở phía nam Đường 9 làm nổ lực chính đánh chiếm Thị trấn Tchepone, thay vì giao cho Lữ đoàn Dù số 1, và 2 thiết đoàn đang đóng ở Bản Đông như dự tính ban đầu. Bộ Tư lệnh QLVNCH cũng quyết định đưa thêm Lữ đoàn Dù số 2, Lữ đoàn TQLC số 147 và 258 cùng tham chiến. Cuộc tấn công bắt đầu khi các đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ binh được không vận tới 2 căn cứ hỏa lực Lolo, Sophia, và bãi đổ bộ Liz. Tất cả đều ở phía Nam Đường 9. Ba ngày sau, 276 trực thăng UH-1 được bảo vệ bởi các máy bay AH-1 Cobra mang rocket và máy bay tiêm kích đưa các tiểu đoàn 2 và 3 của Trung đoàn 2 từ Khe Sanh tới Tchepone.
Đây là cuộc đổ quân bằng trực thăng lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Chỉ có 1 trực thăng bị hỏa lực phòng không bắn rơi khi quân đổ xuống bãi đổ bộ Hope, cách Tchepone 4 km về phía đông bắc. Trong những ngày kế tiếp, các đội trinh sát của hai tiểu đoàn này lùng soát Tchepone và khu vực xung quanh trung tâm hậu cần của Việt Cộng, phá hủy được nhiều kho tàng, cơ sở vật chất, và khá nhiều xác chết Việt Cộng do trúng bom, đạn pháo quân Cộng sản chưa kịp mang đi. Cắt đứt đường nối thông từ Lào vào Campuchia, và phá hủy hệ thống kho tàng trung tâm hậu cần của Việt Cộng tại Tchepone (Xê-pôn) Lào, mục đích của cuộc hành quân Lam sơn 719 đã đạt.
Ngày 9/3/71, Bộ Tư lệnh hành quân VNCH ra lệnh rút quân. Ngay khi thấy dấu hiệu quân bộ chiến VNCH bắt đầu rút lui, Cộng quân tổ chức các ổ phục kích dọc Đường 9, có xe tăng yểm trợ, hỏa lực phòng không cũng được tăng cường để ngăn chặn, hoặc làm chậm các nỗ lực yểm trợ của trực thăng, nhằm gây thiệt hại lớn cho đoàn quân rút lui. Sáng 16/3/71, Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 QLVNCH đang rút khỏi điểm cao 723 đi về hướng Đông Bắc thì bị Sư đoàn 2 Cộng quân chận đánh gây thiệt hại nặng. Từ ngày 18-20 tháng 3, tất cả các đợn vị của QLVNCH tham dự hành quân Lam Sơn 719 đã hoàn toàn rút khỏi khu vực Bản Đông.
Trên đường rút quân, đoạn từ Bản Đông về Lao Bảo, bị Việt Cộng phục kích, chận đánh nhiều nơi, với cường độ cao, khốc liệt, khiến một số tăng, thiết giáp, pháo 105 mm và pháo 155 mm của VNCH đã phải bỏ lại. Máy bay Mỹ đến ném bom phá hủy số xe pháo này, để không cho đối phương chiếm và tái sử dụng. Lữ đoàn 1 Thiết giáp được giao nhiệm vụ bọc hậu Đường 9 bảo vệ cho cuộc rút quân. Khi được tù binh khai báo trước mặt có 2 trung đoàn Việt Cộng đang mai phục, Lữ đoàn trưởng, Đại tá Nguyễn Trọng Luật lệnh cho đội hình bỏ đường chính, chỉ còn cách biên giới 5 km để đi vào đường mòn trong rừng, lại dẫn đến ngõ cụt bên bờ dốc của sông Tchepone, đội hình bị tắc lại.
Hai xe ủi đất được trực thăng cẩu vào, tạo ra một đoạn sông cạn để QLVNCH lội qua. Những binh lính cuối cùng về được Đông Hà vào ngày 23/3/1971. Kết quả, Hành quân 719, QLVNCH chiếm được Tchepone, phá hủy được nhiều kho tàng và cơ sở vật chất của Cộng quân. Nhưng, không cắt được tuyến tiếp vận từ Bắc vào Nam là đường mòn Hồ Chí Minh. Thiệt hại của QLVNCH lại rất lớn. Trong quá trình rút lui, gần một nửa số xe tăng, xe bọc thép chở quân (APC), cùng với 54 khẩu pháo 105mm và 28 khẩu 155mm đã bị phá hủy. Sư đoàn nhảy dù, Biệt động quân đã bị thiệt hại nặng.
Bài 255: CHIẾN SỰ NĂM 1972 VÀ TRẬN ĐÁNH TÁI CHIẾM CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ THÁNG 6-9/1972.
Ngày 17/2/72, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đến thăm Trung Quốc. Sau đó Trung Quốc và Mỹ ra Thông cáo chung Thượng Hải. Cuối tháng 3 năm 1972, Cộng quân tung ra một cuộc tiến công chiến lược với quy mô lớn, tiến sâu vào hệ thống phòng ngự của VNCH trên ba hướng: Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Trong những ngày đầu, Cộng quân liên tiếp chọc thủng cả ba tuyến phòng ngự của Quân lực VNCH. TẠI BẮC TÂY NGUYÊN, ngày 24/3/1972, Cộng quân đánh chiếm được Đắc Tô - Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự của Quân lực VNCH ở Bắc Tây Nguyên. Nhưng, bị chặn lại trong trận Kon Tum bởi quân Phòng thủ VNCH. Chiến sự mau chóng êm dịu trở lại.
Ngày 6/4/72, Tổng thống Mỹ Richard Nixon hạ lệnh ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam. TẠI ĐÔNG NAM BỘ, ngày 7 tháng 4 năm 1972, Cộng quân đánh chiếm được Lộc Ninh. Các tiền đồn Thiện Ngôn, Katum, Bổ Túc, Bù Gia Mập lần lượt bị bức rút trước áp lực của đối phương. Trên đà thắng thế Cộng quân bao vây và tấn công thị xã An Lộc. Tại đây, gặp phải sức kháng cự quyết liệt của quân VNCH phòng thủ thị xã. Không quân Mỹ sử dụng B 52 liện tục ném bom rãi thảm vào các khu vực tập kết, gây thiệt hại lớn cho đối phương. Cuối cùng, Cộng quân phải rút lui.
TẠI CHIẾN TRƯỜNG TRỊ THIÊN, Cộng quân đánh chiếm được nhiều cứ điểm phòng thủ từ xa của Quảng Trị kể cả Cứ điểm Tân Lâm, nơi Bộ Chỉ huy Trung đoàn 56, Sư đoàn 3 Bộ binh do Trúng tá Phạm Văn Đính làm Trung đoàn trưởng đã phải buông súng đầu hàng. Cộng quân từng bước lấn chiếm, và cuối cùng phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng thủ Quảng Trị. Đến ngày 2/5/72, chỉ sau hơn một tháng tiến đánh, Cộng quân đã vào Thị xã chiếm Toà Hành chánh Tỉnh, Thành cổ Quảng Trị (nơi Sư đoàn 3 Bộ binh di chuyển từ Căn cứ Ái Tử vào, đặt Sở Chỉ huy) giành được quyền kiểm soát toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế.
Ngày 8 tháng 5 năm 1972, Không lực Hoa Kỳ, ném bom đánh phá miền Bắc trên diện rộng, bằng lực lượng không quân chiến lược, thả mìn ngư lôi phong toả cảng Hải Phòng cùng các cửa sông, lạch, trên vùng biển miền Bắc Việt Nam. Ngày 28/6/1972, Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) mở cuộc hành quân Lam Sơn 72, tái chiếm thị xã và thành cổ Quảng Trị. Với sự hỗ trợ máy bay B 52 của Mỹ, các Sư đoàn Dù, và Thuỷ quân Lục chiến quyết tâm tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Cộng quân cũng quyết tâm cố thủ Cổ thành. Chiến sự diễn ra cực kỳ ác liệt, thương vong hai bên rất lớn để tranh chấp từng mẩu đất nhỏ, không dân đã bị tàn phá hoàn toàn.
Sau 12 tuần lễ (81 ngày) liên tục tổng công kích với sự hỗ trợ hỏa lực tối đa của quân đội Hoa Kỳ, đến giữa đêm ngày 15 rạng ngày 16 tháng 9 năm 1972, lực lượng Thủy quân Lục chiến đã tiến vào thị xã Quảng Trị và kiểm soát toàn bộ khu vực Cổ Thành. Rạng sáng ngày 16 tháng 9 năm 1972, hai tiểu đoàn 3 và 6 Thủy quân Lục chiến từ các vị trí vừa chiếm được trong Cổ Thành, đã bung ra lục soát và đánh các chốt còn lại của quân Cộng sản. Đến 8 giờ sáng ngày 16 tháng 9 năm 1972, một toán Cọp Biển của tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến đã dựng cờ của Việt Nam Cộng hòa trên cổng tường phía Tây Cổ Thành Quảng Trị, biểu tượng cho việc Quân lực VNCH đã hoàn tất cuộc tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị.
Trong trận chiến này, Hoa Kỳ đã ném xuống Quảng Trị khoảng 328 nghìn tấn bom, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) năm 1945 và đã phá hủy hoàn toàn 1 vạn ngôi nhà và tòa Thành cổ. Báo Quân đội Nhân dân miền Bắc số ra ngày (18-8?)1972 viết: “Mỗi mét vuông đất tại Thành cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngày đêm, từ ngày 28-6 đến 16-9-1972, Thành cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn bom đạn. Trung bình mỗi chiến sĩ phải hứng lấy 100 quả bom, 200 quả đạn pháo. Mỗi ngày có 1 đại đội vượt dòng Thạch Hãn để tiếp viện quân số, nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn lại vài người sống sót”.
Từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 7 năm 2005, tại một cuộc Hội thảo “Hoài niệm về Chiến trường xưa và đồng đội” ở Quảng Trị, trong một Tham luận, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị viết: “Quảng Trị chính là hình ảnh thu nhỏ của cuộc kháng chiến đầy hy sinh gian khổ của cả dân tộc. Từ bãi biển Cửa Tùng đến tận biên giới Việt - Lào không nơi nào không có vết tích của bom đạn Mỹ tàn phá. Máu của hàng vạn người đã đổ trên quê hương Quảng Trị. Chỉ tính số liệt sĩ đã hy sinh và đang yên nghỉ ở 72 nghĩa trang liệt sĩ trong tỉnh Quảng Trị, đã lên tới gần 60 nghìn người. Trong 72 nghĩa trang liệt sĩ thì có hai nghĩa trang Quốc gia: Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, hơn 10 nghìn mộ liệt sĩ, và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường 9 cũng hơn 10 nghìn mộ. Có đến 18.484 liệt sĩ là con em của tỉnh Quảng Trị.
Chỉ trong cuộc chiến đấu 81 ngày đêm để giữ Thành Cổ Quảng Trị, 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, nhiều người mãi mãi nằm lại dưới đáy sông Thạch Hãn. Tính bình quân cứ 8 người dân Quảng Trị, lo một phần mộ liệt sĩ. Nói cách khác cứ 8 người dân Quảng Trị được sống trong thanh bình hôm nay, phải đổi bằng sinh mạng của một chiến sĩ. Ngày xưa Quảng Trị là “vùng đất lữa”, ngày nay Quảng Trị là vùng của “đất tâm linh”… ( Hết trích)
Bài 256: BẢN NHÁP HIỆP ĐỊNH 9 ĐIỂM, NGUYỄN VĂN THIỆU PHẢN ĐỐI, NIXON RA TỐI HẬU THƯ NÉM BOM RẢI THẢM HÀ NỘI-HẢI PHÒNG, VÀ KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH PARIS 27/1/1973.
Ngày 31/5/1971, tại cuộc họp riêng giữa Bộ trưởng Xuân Thủy và Kissinger ở Paris, phía Mỹ đưa ra đề nghị “Bảy điểm”, giải pháp cho toàn Đông Dương, tách hai vấn đề quân sự và vấn đề chính trị riêng ra. Ngày 26/6/71, Phái đoàn VNDCCH đưa ra đề nghị “Chín điểm”. Ngày 16-8-1971, phía Mỹ đưa ra đề nghị “Tám điểm”. Về cơ bản Mỹ vẫn giữ lập trường cũ: Không muốn giải quyết toàn bộ vấn đề mà chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự, lấy được tù binh. Ngày 25/1/72, Tổng thống Mỹ Nixon đơn phương công bố nội dung các cuộc gặp riêng và đề nghị “Tám điểm” đưa ra ngày 16 tháng 8 năm 1971.
Ngày 31/1/72, Phái đoàn VNDCCH công bố đề nghị “Chín điểm” đã trao cho ông Kissinger ngày 26 tháng 6 năm 1971 tố cáo Nhà Trắng vi phạm thỏa thuận giữa hai bên không công bố các nội dung cuộc họp riêng. Ngày 24/3/1972, Tổng thống Nixon tuyên bố hoãn vô thời hạn các phiên họp công khai Hội nghị Paris về Việt Nam. Ngày 13/7/72, Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể bốn bên tại Paris. Ngày 11/9/72, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gợi ý rằng họ có thể sẽ chấp nhận một cuộc ngừng bắn tại Nam Việt Nam. Ngày 12/10/72, Kissinger và Lê Đức Thọ đi đến một bản nháp hiệp định gồm 9 điểm, đã tạo được một bước đột phá lớn.
Bản nháp hiệp định đã tách các vấn đề quân sự khỏi các vấn đề chính trị. Nó cho phép một cuộc ngừng bắn tại chỗ, sự rút quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài về nước, sự trao trả tù binh Mỹ trong vòng 60 ngày, và thiết lập một quy trình mơ hồ mà người Việt Nam sau đó sẽ tự quyết định tương lai của mình. Theo đó, chính quyền Việt Nam Cộng hoà của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hoà bình; Cộng sản miền Nam có một vị thế chính thức tại Nam Việt Nam. Dự thảo này đáp ứng được yêu cầu của Hoa Kỳ là ra đi trong danh dự.
Ngày 13-16/10/72, Tổng thống thống Rechard Nixon cử Kissinger đến Sài Gòn thuyết phục Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 18-23/10/72, Kissinger đến Sài Gòn gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tổng thống Thiệu không tỏ thái độ mà chỉ yêu cầu làm rõ và so sánh giữa hai bản tiếng Việt và tiếng Anh. Ngày 23/10/72, tại cuộc gặp lần thứ năm, Tổng thống Thiệu đã tuyên bố chính thức các đánh giá của mình: ông phản đối kịch liệt bản dự thảo 9 điểm coi đây là hiệp định hy sinh quyền lợi của Việt Nam Cộng hoà, ông đòi quân đội Bắc Việt Nam phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, thiết lập vùng phi quân sự làm biên giới với miền Bắc.
Ông Thiệu coi giải pháp Hội đồng hiệp thương là một hình thức chính phủ Liên bang trá hình. Tổng thống Thiệu lên đài truyền hình tuyên bố bác bỏ nguyên tắc một nước Việt Nam thống nhất: "Bắc Việt Nam là Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam là Nam Việt Nam, mọi người phải chấp nhận thực tế là tồn tại hai nước Việt Nam, không bên nào được xâm lược bên nào". Nixon gửi thông điệp cho Hà Nội nói rằng do các khó khăn với Sài Gòn, việc ký kết vào ngày 31 là không thể thực hiện, và đề nghị một vòng đàm phán mới. Ngày 25/10/72, Hà Nội công bố tóm tắt nội dung bản dự thảo và cảnh báo về các hậu quả nghiêm trọng nếu Mỹ không ký kết vào ngày 31 tháng 10.
Ngày 2/11/72, Nixon tuyên bố trên truyền hình rằng dự thảo còn có những phần "mập mờ" cần làm rõ trước khi ký kết bản hiệp định cuối cùng. Ông quyết định sẽ thỏa mãn mọi ngờ vực của Thiệu về vấn đề chủ quyền, và chỉ thị Kissinger tìm kiếm một nhượng bộ về khu phi quân sự, và nếu đạt được điều đó thì họ sẽ ép Thiệu ký. Ngày 20-25/11/72, Kissinger quay lại Paris. Hai bên đạt được đồng thuận khẳng định rằng khu vực phi quân sự là đường phân chia chính trị khu vực. Ngày 29/11/72, Nguyễn Phú Đức, đặc phái viên của Thiệu, bay đến Washington D.C. báo với Nixon rằng nhượng bộ của Hà Nội là chưa đủ.
Và, Tổng thống Nixon vẫn chưa yên tâm về vấn đề quân đội Bắc Việt, và khu phi quân sự, và yêu cầu Kissinger đưa vấn đề này ra bàn lại tại Paris. Ngày 4-13/12/72, đàm phán tiếp tục tại Paris suôn sẻ cho đến khi phía Mỹ một lần nữa lật lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ thể là vấn đề quân đội Bắc Việt hiện diện tại Nam Việt Nam, và nêu vấn đề khu phi quân sự. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản ứng, bằng cách thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước trong đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đồng ý trao trả tù binh Mỹ vô điều kiện trong vòng 60 ngày. và đưa ra đòi hỏi mới. lật lại vấn đề về trao trả tù binh với việc thả hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam.
Tổng thống Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán. Ngày 14/12/72, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: trong 72 giờ đồng hồ để quay lại ký theo phương án Hoa Kỳ đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam. Không được Hà Nội phản hồi. Ngày 18/12/72, Hoa Kỳ bắt đầu cho máy bay B 52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác. Ngày 22 tháng 12, Hoa Kỳ gửi công hàm yêu cầu họp lại. Ngày 26/12, Việt Nam yêu cầu Mỹ trở lại tình hình trước ngày 18/12, tức ngưng ném bom, mới trở lại đàm phán.
Ngày 30/12/72, Không lực Hoa Kỳ ngưng ném bom Hà Nội, Hải Phòng. Ngày 8/1/1973, nối lại đàm phán lúc 11 giờ trưa tại ngôi nhà ở Gif-sur-Yvette. Ngày 13/1/1973, trong cuộc gặp riêng lần cuối cùng hoàn thành hiệp định. Ngày 16/1/1973, Nixon cử Đại tướng Haig phụ tá Kissinger đến Sài Gòn gặp Tổng thống Thiệu, và trao cho Nguyễn Văn Thiệu bức thư của Nixon, trong thư có đoạn: "Vì vậy chúng tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt Hiệp định ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần thiết, chúng tôi sẽ làm như thế một mình. Trong trường hợp đó, tôi phải giải thích công khai rằng Chính phủ của ông cản trở hoà bình. Kết quả là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức của viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự sắp xếp lại Chính quyền của ông cũng chẳng thay đổi được tình hình".
Trước sức ép của Mỹ, Việt Nam Cộng hòa cuối cùng phải chấp nhận ký kết hiệp định Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973, tại Khách sạn Majestic, Paris, trước sự hiện diện của Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc. Hiệp định được ký bởi: Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, William P. Rogers, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà Trần Văn Lắm; Và, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà hoà miền Nam Việt Nam, Nguyễn Thị Bình.
Nội dung Hiệp định có 9 Chương, và 23 Điều: Chương 1: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam (Điều 1); Chương 2: Chấm dứt chiến sự, rút quân, (Điều 2, 3, 4, 5, 6 và 7); Chương 3: Việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt, và nhân viên dân sự và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ (Điều 8); Chương 4: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam (Điều 9, 10, 11, 12, 13, và 14); Chương 5: Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam (Điều 15); Chương 6: Các Ban Liên hợp Quân sự, Uỷ ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát, Hội nghị Quốc tế (Điều 16, 17, 18, và 19); Chương 7: Đối với Campuchia và Lào (Điều 20); Chương 8: Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ (Điều 21, và 22); Chương 9: Những điều khoản khác (Điều 23).
Bài 257: NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ CHÍNH SÁCH BỐN KHÔNG, TRUNG CỘNG CHIẾM HOÀNG SA, CỘNG QUÂN ĐÁNH CHIẾM THƯỢNG ĐỨC 1974, PHƯỚC LONG VÀ BAN MÊ THUỘT NĂM 1975.
Dù Hiệp định Paris đã được ký kết, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn kiên trì chính sách “4 không”: không chấp nhận; không thương lượng; không liên hiệp; không nhượng đất cho Cộng sản. Ông chủ trương "tràn ngập lãnh thổ" bằng cờ Việt Nam Cộng hòa để lấn thêm lãnh thổ, giành thêm dân. Việt Nam Cộng hòa đều cho vẽ cờ trên tường nhà dân, mặt tiền đình chợ, quán xá, để "đánh dấu" vùng "quốc gia kiểm soát". Chỉ một vài tháng đầu sau ngày 27/1/1973 binh sĩ hai bên được phép tiếp xúc, gặp mặt với nhau, nhưng sau đó là thời gian hai bên liên tục lên án nhau phá hoại hiệp định và đánh lấn chiếm vùng kiểm soát của nhau ở quy mô nhỏ.
Quân đội Việt Nam Cộng hoà, không đủ sức để đánh lớn và quân Giải phóng cũng không đánh lớn vào thời điểm nầy. Tháng 1 năm 1974, sau một trận hải chiến ngắn ngủi Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa, Hạm đội 7 của Đồng minh Mỹ cũng không có động thái nào trợ giúp Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa khi được đề nghị. Sau đó, Quân đội Việt Nam Cộng hoà cũng không có kế hoạch phản công nhằm chiếm lại đảo.
Những năm 1973-1975, là giai đoạn kết thúc chiến tranh, cũng là lúc quân Mỹ rút hết ra khỏi Việt Nam, cùng với viện trợ Mỹ từng bước bị cắt giảm. Viện trợ cho Việt Nam Cộng hoà trong tài khóa 1974-1975 dù được Tổng thống Nixon đề xuất 1 tỷ đôla nhưng khi đưa ra Quốc hội xét duyệt, khoản viện trợ này bị cắt giảm chỉ còn 700 triệu. Quốc hội Mỹ còn đưa ra điều kiện Việt Nam Cộng hòa không được dùng Quỹ đối giá (tiền thu Viện Trợ Nhập Cảng (CIP) bù cho chi ngân sách) cho ngân sách Quốc phòng.
Với một đội quân có thói quen chiến đấu theo kiểu Mỹ, tác chiến không tiếc bom đạn thì số tiền này là quá thiếu. Quân đội Việt Nam Cộng hoà ngày càng gặp khó khăn, tuy phương tiện chiến tranh còn nhiều trong kho, nhưng họ hạn chế về tài chính nên không thể duy trì được trang thiết bị trong tư thế sẵn sàng sử dụng. Tuy hơn hẳn đối phương về không quân, nhưng vì thiếu kinh phí nên chỉ phát huy non một nửa uy lực. So với đối thủ là Quân Giải phóng về quân số, trang bị hạng nặng như xe tăng, máy bay..., thì Việt Nam Cộng hòa vẫn có ưu thế 2 lần về quân số, 4 lần về xe tăng và pháo binh hơn hàng chục lần về Không quân và Hải quân.
Nhưng về sức chiến đấu trên thực tế của hai bên trên chiến trường, thì ưu thế đã nghiêng dần sang phía Quân Giải phóng. Việc họ nhanh chóng đè bẹp quân đội Việt Nam Cộng hòa trong những tháng cuối năm 1974, và chiến dịch mùa Xuân năm 1975 là phản ánh đúng cán cân lực lượng thực tế giữa hai bên. Tháng 5 năm 1974, tại Vùng 1, Quân khu I, Quân Giải phóng đưa một Sư đoàn đến đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng Nam. Quân lực Việt Nam Cộng hoà liền điều Sư đoàn Dù tổng trù bị chiến lược đến tái chiếm. Hai bên đánh nhau ác liệt trong vòng 3 tháng. Kết quả quân Giải phóng vẫn giữ vững và kiểm soát hoàn toàn chi khu Thượng Đức và Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị buộc phải rút lui.
Ngày 13 tháng 12 năm 1974, tại Vùng III, Quân khu III, Cộng quân tấn công quận lỵ Đôn Luân, bị quân trú phòng đẩy lui. Nhưng cuộc tấn công kế tiếp thì Đôn Luân thất thủ, tiếp theo là quận Bố Đức và các nơi khác trong tỉnh Phước Long và đường 14 đồng loạt bị tấn công. Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III/Quân Khu III, xin Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tăng cường lực lượng tổng trừ bị để giải toả Phước Long, nhưng Thổng thống Thiệu không chấp thuận, Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức. Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Tướng Nguyễn Văn Toàn được cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn III thay thế tướng Đống. Ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long kể cả Tỉnh lỵ đều rơi vào tay Cộng quân.
Khoảng 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, Cộng quân tấn công vào Thị xã Ban Mê Thuột, sân bay Hòa Bình, khu kho đạn Mai Hắc Đế, hậu cứ của trung đoàn 53. Đến cuối ngày 10/3/75, thì toàn bộ Thị xã, Bộ chỉ huy Tiểu khu Darlac, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 BB đều bị thất thủ, Đại tá Nguyễn Trọng Luật Tỉnh trưởng và Tiểu khu trưởng Darlac, Đại tá Vũ Thế Quang, Sư đoàn phó Sư đoàn 23, thoát được ra ngoài nhưng sau đó bị Cộng quân bắt. Những nỗ lực tái chiếm Buôn Ma Thuột của Quân lực Việt Nam Cộng hoà (QLVNCH) trong các trận phản công ngày 11 và 12 tháng 3 đều thất bại.
Bài 258: HỌP TẠI DINH ĐỘC LẬP, TẠI CAM RANH, RÚT QUÂN KHỎI PLEIKU, KHỎI ĐÀ NẴNG THÁNG 3/75, TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.
SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết: Ngày 12 tháng 03 năm 1975, vì có tin đồn bỏ Huế, Tướng Ngô Quang Trưởng ra Huế họp Hội Đồng Thành Phố, tuyên bố cương quyết giữ Huế. Ngày 13 tháng 03 năm 1975, Tướng Trưởng vào Sài Gòn gặp Tổng Thống Thiệu, và trong phiên họp tại Phòng Hành Quân ở dinh Độc Lập, gồm Đại Tướng Trần Thiện Khiêm Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng, Đại Tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng và Trung Tướng Đặng Văn Quang Phụ Tá Quân sự của Tổng Thống. Tổng thống Thiệu lấy cây viết gạch trên bản đồ Việt Nam xóa vùng Cao Nguyên và vùng Miền Trung.
Rồi, vẽ một đường từ Ban Mê Thuột đến Nha Trang, và nói, chúng mình sẽ giữ phần đất dưới đường nầy. Còn từ Đèo Cả trở ra Quảng Trị là phần đất dành cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông Thiệu nói với Ông Trưởng: Đây là chỉ thị của tôi, phải thi hành nhưng đừng có nói lại cho ai! Xong hội nghị, Trung Tướng Trưởng theo Đại Tướng Cao Văn Viên về văn phòng để trình bày thêm về vấn đề vừa rồi. Tai đây ông Trưởng nói: Tôi không thể thi hành lệnh vừa rồi của Tổng Thống vì tôi đã hứa với đồng bào Huế tôi sẽ giữ Huế. Tôi xin Đại Tướng chỉ định một tướng khác để làm việc đó.
Đại Tướng Viên nói việc đó ngoài thẩm quyền của ông ta, và đề nghị ông Trưởng nên trình lại cho Tổng Thống vào ngày sau, là 14 tháng 03 năm 1975, tại cuộc họp ở Cam Ranh. Trung Tướng Trưởng điện thoại cho Đại Tá Cầm, Chánh Văn Phòng Tổng Thống xin được đến Cam Ranh sáng hôm sau để gặp Tổng Thống. Trước khi từ giã Đại Tướng Cao Văn Viên, ông Trưởng nói: Nếu được, xin Đại Tướng trình lên Tổng Thống rằng tôi không thể thi hành vì tôi coi như ruột thịt với đồng bào xứ Huế sau tám năm sống với họ. Tôi không thể bỏ người Huế, nhất là gia đình quân nhân.
Ông Trưởng trở ra Huế chờ điện thoại của Đại Tá Cầm nhưng không có, nên ngày 14/3 không thể vào Cam Ranh gặp ông Thiệu. Ngày 14 tháng 03 năm 1975, ông Thiệu họp với Tư Lệnh Quân Đoàn II, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Thủ Tướng Trần Thiện khiêm, Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Tướng Đặng Văn Quang cùng các sĩ quan tùy viên tại Nhà Trắng ở Cam Ranh. Tôi phối kiểm lại thì trong phiên họp nầy ông Thiệu ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải lấy lại Ban Mê Thuột. Tướng Phú xin thêm quân thì ông Viên nói: Tôi hết quân trừ bị để cấp cho anh. Tôi chỉ có phương tiện để yểm trợ hành quân mà thôi. Vậy thì lấy quân ở đâu? Họ bàn nhau chỉnh đốn lại quân ngũ của Quân Đoàn II, và lập một đoàn quân đặc nhiệm chiếm lại Ban Mê Thuột.
Đi vô chi tiết ông Thiệu hỏi Tướng Phú: Anh sẽ đi đường nào để đánh lấy lại Ban Mê Thuột? Ông Phú nói: Đường 14 đi thẳng từ Pleiku lên Ban Mê Thuột chắc chắn sẽ bị phục kích, đường 19 từ Pleiku đi Qui Nhơn cũng không được. Chỉ còn đường số 7 từ Củng Sơn đi Tuy Hòa và Nha Trang rồi đánh lên Ban Mê Thuột, nhưng đường số 7 là đường xấu ít khi sử dụng nên cần có phương tiện phá mìn và vượt sông. Tướng Viên chấp thuận: Tôi sẽ cấp công binh vượt sông, có máy bay yểm trợ để di chuyển quân, ngoài ra không còn gì hết. Tướng Phú xin thăng cấp cho Đại Tá Hoàng Văn Tất lên Chuẩn Tướng để chỉ huy đoàn quân đó.
Ông Thiệu xoay qua hỏi ý kiến ông Viên, ông Viên đồng ý: Được, không có gì trở ngại. Ông Thiệu nói: Cho mang một sao để đủ uy tín chỉ huy đoàn quân. Sau đó, Tướng Phú bay về Pleiku, họp lại các sĩ quan tham mưu gồm có các Đại Tá Lý, Tất, Sang, Tường, Cẩm và cho biết: Tổng Thống Thiệu ra lịnh rút khỏi Pleiku, đem tất cả lực lượng về Nha Trang để từ đó đánh lên Ban Mê Thuột. Tướng Phú ra lịnh cho Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II nội trong ba ngày phải chuyển mọi cơ cấu về Nha Trang để Tướng Phú tổ chức, chỉ huy tái chiếm Ban Mê Thuột. Bộ chỉ huy nhẹ đi trước, bộ tham mưu đi sau.
Tất cả mọi cơ cấu của Quân Đoàn rất qui mô không thể nào thu xếp trong ba ngày mà rút hết được. Việc làm gấp rút hối hả nầy làm náo động dân chúng Pleiku vì vợ con quân nhân vội vàng rút theo chồng thì dân chúng cũng thu xếp ít vật dụng của cải để chạy theo đoàn quân di tản. Trên đường từ Pleiku rút về Nha Trang cũng bị Việt Cộng phục kích. Thật ra các cuộc phục kích nầy không qui mô, nhưng vì binh sĩ mất tinh thần, phần thì gia đình bận bịu nên bỏ chạy nhiều hơn là chiến đấu. Đến Tuy Hòa thì đoàn quân đã tan rã nhiều, vào đến Nha Trang chẳng còn quân ngũ nữa! Kế hoạch tái chiếm Ba Mê Thuột trở thành bất khả thi.
Ngày 15 tháng 03 năm 1975, Trung Tướng Trưởng vô Sài Gòn gặp lại Tổng Thống và xin từ chức hoặc xin giữ Huế vì có đủ phương tiện giữ Huế. Ông Thiệu trả lời: Thôi thì giữ Huế! Trung Tướng Trưởng qua gặp Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Trưởng Quốc Phòng và cho biết quyết định chót của Tổng Thống về Huế và sẵn hỏi: Phải chăng có lệnh rút Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra khỏi Miền Trung? Đại Tướng Khiêm nói: Thằng Trưởng Phòng 3 Tổng Tham Mưu leak rồi! Đúng! Nhưng, chiều tối có một phái viên của Đại Tướng Cao Văn Viên trao cho Trung Tướng Trưởng một văn thư khẩn đại ý thừa lệnh Tổng Thống bỏ Huế.
Trung Tướng Trưởng điên đầu vì trong một ngày tại Sài Gòn Tổng Thống đồng ý giữ Huế, tại Đà Nẵng thì có văn thư ra lệnh phải bỏ Huế! Ông Trưởng điện thoại vô Sài Gòn để hỏi lại chỉ thị đó là của Tổng Thống hay của Đại Tướng Thủ Tướng, nhưng chỉ gặp Thủ Tướng, ông xin Đại Tướng Khiêm ra Đà Nẵng để giải quyết vụ này. Ngày 16 tháng 03 năm 1975, Đài BBC loan tin quân đội Việt Nam Cộng Hòa bỏ Cao Nguyên. Ngày 18 tháng 03 năm 1975, Thủ Tướng và phái đoàn chính phủ ra Đà Nẵng cho phép gia đình công chức được tản cư vào Nam. Chỉ thị nầy được lan ra ngoài làm cho tất cả dân Miền Trung hoảng hốt.
Chiều ngày 18/3 đó ông Thiệu điện thoại cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: Tôi đã suy nghĩ kỹ, Cụ Hương là người không rành về quân sự mà cũng nói nếu chúng ta quyết giữ Huế thì phải hy sinh 30.000 quân. Thôi bỏ Huế, đừng có đánh! Tướng Trưởng chưa ra lệnh rút lui, nhưng Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Tiền Phương phụ trách phía Bắc đèo Hải Vân đã di tản rồi. Quân đội bỏ Huế. Thủy Quân Lục Chiến rút lui. Ngày 26 tháng 3 Cộng quân tiến vào thành phố Huế. Sư đoàn I Bộ binh thu quân về Đà Nẳng. Những ngày nầy, sườn phía Tây do Sư doàn 3 Bộ binh trấn giữ cũng đang bị chọc thủng. Về phía Nam hai tỉnh Quảng Ngải và Quảng Tín do Sư đoàn 2 Bộ binh cũng đang lui quân về hướng Đà Nẳng.
Quân lính và dân chúng tranh nhau để lên được tàu hải quân với mong muốn chạy khỏi thành phố. Ngày 29 tháng 3, Cộng quân tiến vào Đà Nẳng mà không có kháng cự đáng kể. Hàng ngàn binh lính và sĩ quan bị bắt. Tối 29 tháng 03 năm 1975, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tướng Bùi Thế Lân, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và một số sĩ quan còn nằm ở Sơn Trà trong khi quân Bắc Việt đã chiếm Đà Nẵng. Sĩ quan tùy viên của ông Hồ Văn Kỳ Thoại, người giữ mật mã để liên lạc với tàu, hôm ấy bị đau nên được cho đi trước, ông Thoại ở lại chờ Tướng Bùi Thế Lân cùng đi. Hai ông phải đi bộ qua rừng núi tìm tàu của Hồ Văn Kỳ Tường, chỉ huy trưởng Hải Khu Đà Nẵng đang đậu ngoài khơi.
Nhưng hai tướng Thoại và Lân không có mật mã nên không liên lạc được với tàu. May mắn là một lúc sau có ca nô của Hồ Văn Kỳ Tường vào “chạy dọc bờ tìm” nên ghé vào vớt được hai tướng Thoại và Lân ra tàu. Trong hai tuần đầu tháng 4 kế tiếp, các tỉnh, thành phố miền trung lần lượt rơi vào tay Cộng quân. Quân lực Việt Nam Cộng hoà tập hợp số quân còn lại của Quân đoàn 2 tăng cường cho Quân đoàn 3 để lập một phòng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang.
Bài 259: CHIẾN TRƯỜNG VÀ CHÍNH TRƯỜNG ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ THÁNG 4/75: KHIÊM, RỒI THIỆU TỪ CHỨC: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.
SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết tiếp: Đầu tháng 4 năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu uỷ Dân biểu Nguyễn Bá Cẩn Chủ tịch Hạ viên thành lập Chính phủ thay thế Chính phủ Trần Thiện Khiêm từ chức, ông mời tôi nhận chức Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng trong chính phủ Nguyễn Bá Cẩn, tôi đề nghị phải có một chính phủ mạnh để nói chuyện với Hà Nội, rõ hơn thành lập một Nội các Liên hiệp. Tôi vừa nói đến đó thì ông Thiệu lắc đầu cho biết: một số nghị sĩ và ông Trần Văn Lắm Chủ tịch Thượng viện, vừa ký một quyết nghị yêu cầu tôi lập một chính phủ Liên hiệp. Mà liên hiệp thế nào? Bây giờ liên hiệp mình ở thế yếu. …
Ngày 14/4/1975, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn trình diện Nội các, nhờ tôi thuyết trình tình hình quân sự, tôi nhờ Chuẩn tướng Thọ, Trưởng phòng 3/ hành quân và Đại tá Lung trưởng Phòng 2/ tình báo Bộ Tổng Tham mưu thuyết trình tình hình quân sự, hai ông Thọ, Lung đã trình bày rất rõ ràng, mạch lạc. Sau đó, tôi đến Bộ Tổng Tham mưu họp tất cả các tướng lãnh. Nhiều vị tướng nói, mấy năm nay không ai mời họp để cho biết tình hình chính trị và chỉ thị phải giữ đất nào; Nếu có đình chiến thì thi hành ra sao, giữ Quân khu nào, giải pháp tương lai chính trị miền Nam ra sao… Tôi yêu cầu các Tướng cố gắng kháng cự để giữ thế, giữ đất. Sau đó tôi đi thăm các chiến trường.
Tôi có sẵn hai phi cơ, một trực thăng và một Dakota để hàng ngày đi thăm anh em quân sĩ ở các chiến trường. Ngày 15/4/75, sau khi họp các tướng, tôi báo với Đại tướng Tổng Tham Mưu trưởng Cao Văn Viên, rằng tôi sẽ lên Bộ tư lệnh Quân đoàn III gặp Trung tướng Tư lệnh Nguyễn Văn Toàn để bàn chuyện phòng thủ Thủ đô. Được biết Tướng Toàn đang ở Phan Rang. Tôi bảo tôi sẽ ra Phan Rang gặp ông Toàn. Đến đó, bốn ông Tướng đón chúng tôi là Trung tướng Toàn, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Chuẩn tướng Sang và Chuẩn tướng Nhựt, cùng các Đại tá Nhảy dù, Biệt Động quân. Tất cả chúng tôi đến Phòng họp nghe họ thuyết trình, tôi ghi nhận vài thứ quân dụng mà họ đang rất cần. Khi rời Phan Rang, ông Toàn cùng về trên máy bay của tôi để chúng tôi cùng bàn kế hoạch phòng thủ Sài Gòn.
Về đến Sài Gòn tôi cho mời Thiếu tướng Smith, Tuỳ viên quân sự Mỹ đến gặp tôi tại Văn phòng Bộ Quốc phòng, tôi yêu cầu ông ta cung cấp cho tôi hoả đạn CBU, và vài thứ quân dụng mà quân đội Việt Nam đang rất cần. Tướng Smith cho biết những món nầy, trong kho của Mỹ tại VN hiện không còn, ông sẽ hỏi lại BTL Thái Bình Dương, những kho bên ngoài Việt Nam. Chiều 16/4/75, tôi gặp Tư lệnh không quân Trần Văn Minh bàn cách làm sao có được CBU để giúp các đơn vị đang chiến đấu, rồi bay xuống Long An, gặp Sư đoàn 2, ra Vũng Tàu gặp các cấp chỉ huy Quân đoàn 1 và 2. Ngày 17/4/75, tôi thăm Bộ Tư lệnh Hải Quân. Ngày 18/4/75, tôi bay xuống Quân đoàn IV gặp tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Hai, tướng Lạc, chỉ huy Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh.
Ngày 18/4 Phan Rang mất, Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị Việt Cộng bắt. Tối 19/4 Phan Thiết bị mất. Nỗ lực cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là trông vào tuyến phòng thủ của Quân đoàn III, nhất là Sư đoàn 18 tại thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Chính Sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo đã tổ chức, chống cự có hiệu quả dài ngày gây nhiều tổn thất cho ba sư đoàn Việt Cộng, khiến họ phải điều chỉnh hướng tiến quân bằng cách đi vòng đường khác để tiến về phía Biên Hoà. Sau 12 ngày cầm cự, từ 9 tháng 4 đến 21 tháng 4, Sư đoàn 18 cũng phải bỏ Xuân Lộc rút về bên kia sông Đồng Nai cố thủ. Vậy là tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng bảo vệ Sài Gòn không còn.
Ngày 20/4/1975, lúc 10 giờ sáng Đại sứ Mỹ Martin đến gặp Tổng thống Thiệu tại dinh Độc lập báo cho ông Thiệu rõ tình hình, rằng muốn chận cuộc tiến công của Việt Cộng phải có một giải pháp chính trị cần phải nói chuyện với Hà Nội. Hai vấn đề được đưa ra trong cuộc trao đổi là viện trợ và từ chức. Ông Thiệu hỏi: Nếu tôi là trở ngại, vậy tôi từ chức, Quốc hội Hoa Kỳ có tiếp tục viện trợ cho miền Nam không? Nếu Tổng thống từ chức, Quốc hội Mỹ có thể viện trợ trở lại. Sau nầy Đại sứ Martin kể lại mẩu đối thoại giữa ông và Tổng thống Thiệu, rằng chính phủ Hoa Kỳ không đòi Tổng thống Thiệu từ chức, nhưng Tổng thống nên đề cử một ông Thủ tướng toàn quyền như Bảo Đại đã làm hồi 1954, để ông Thủ tướng đó thương thuyết với phía bên kia.
Ông Thiệu hỏi, theo ông ai có thể làm Thủ tướng toàn quyền. Martin trả lời Đại tướng Dương Văn Minh. Ông Thiệu im lặng không đáp. Sau nói chuyện với Đại sứ Martin, ông Thiệu biết mình phải ra đi. 10 giờ sáng ngày 21/4/75, Tổng thống Thiệu triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia gồm: Phó tổng thống Trần Văn Hương; Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn; Tổng Tham mưu trưởng, tướng Cao Văn Viên; Tổng Giám đốc Cảnh sát, tướng Nguyễn Khắc Bình; Tư lệnh Quân đoàn III, tướng Nguyễn Văn Toàn; Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, tướng Nguyễn Văn Minh; Phụ tá Quân sự, tướng Đặng Văn Quang, ông Thiệu tuyên bố sẽ từ chức, vì Quân đội định đảo chánh; và vì để Mỹ viện trợ lại cho miền Nam. Ông sẽ trao quyền cho Phó tổng thống như Hiến Pháp quy định.
Lúc 19 giờ cùng ngày 21/4/75, thành viên chính phủ, Lưởng viên Quốc hội, Thẩm phán Tối cao Pháp viện được mời đến dinh Độc lập. Ông Thiệu trình bày diễn tiến từ Hiệp định Ba Lê 1973 đến chiến tranh leo thang năm 1974, việc mất tỉnh Phước Long, trận đánh Ban Mê Thuột, rồi mất miền Trung mà Quốc tế, và các siêu cường quốc ký bảo đảm Hiệp định Ba Lê vẫn im hơi lặng tiếng. Ông Thiệu lên án đồng minh Mỹ không giữ lời hứa. Sau cùng, ông Thiệu tuyên bố “Tôi đã quyết định từ chức Tổng thống”. Theo Hiến pháp, người thay thế tôi là Phó Tổng thống Trần Văn Hương lời tuyên bố của ông Hương ngắn gọn, ông “kêu gọi anh em giữ vững tay súng, ông sẽ đóng góp xương máu và chia xẽ với anh em ở chiến trường”.
Không khí buổi lễ thật buồn tẻ, mọi người ngồi nhìn ông Thiệu lúng túng trong điều hành buổi lễ, ông Hương (71 tuổi), lọm khọm nói năng không rõ ràng, mạch lạc. Mọi người buồn không phải sự ra đi của ông Thiệu, mà ai cũng thấy ông Hương không đủ khả năng lèo lái con thuyền Quốc gia đang cơn nghiêng ngữa. Sau lễ, ông Thiệu mời ông Viên và ông Bình vào Phòng bên cạnh để trực tiếp truyền hình lời Tổng Tham mưu trưởng nhắn gởi anh em quân nhân, và lời Tổng Giám đốc Cảnh sát kêu gọi anh em cảnh sát giữ vững tinh thần chiến đấu, rằng việc ông Thiệu từ chức Tổng thống không ảnh hưởng gì đến hệ thống điều hành của quân đội và Cảnh sát Việt Nam Cộng hoà.
Bài 260: CHIẾN TRƯỜNG VÀ CHÍNH TRƯỜNG ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ NGÀY 22, 23, 24, 25 VÀ 26 THÁNG 4/1975: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.
SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết tiếp: Chiều thứ ba ngày 22/4, Cố vấn chính trị toà đại sứ Pháp Brochand đến nhà tôi. Ông ta nói với tôi là Pháp có liên lạc với Hà Nội, họ cho biết nếu có thương thuyết thì chỉ có thương thuyết với ông Dương Văn Minh mà thôi, Brochand nói tiếp, ông Dương Văn Minh cần sự hợp tác của ông Đôn. Lâu nay tôi không có gặp ông Minh, nếu ông Minh trở thành Quốc trưởng, tôi không phải là người tiếp xúc với ông ta. Trước khi ra về Brochand hỏi: Ông Minh gọi điện cho ông được không? Được. Mười phút sau ông Minh điện thoại cho tôi. Moa có thể gặp toa lúc nào, ở đâu? Tôi trả lời: Tối nay tôi dùng cơm tại nhà ông Nguyễn Văn Hảo, khoảng 10 giờ tối tôi ghé lại nhà anh.
Sau bửa cơm, tôi ra về ghé nhà ông Minh. Lâu quá không gặp nên chúng tôi bàn nhiều chuyện quốc phòng, chính trị…Tôi hỏi: Anh có thể thương thuyết với bên kia được không? Được, nhưng phải thật lẹ, nếu không chúng ta không có hy vọng. Sau nầy nhớ lại câu nói trên tôi phục ông Minh tiên liệu sự việc rất đúng. Ông Minh cho biết Hà Nội chờ ông Minh nắm quyền rồi sẽ thương thuyết. Vì ông Hương đã rất chậm chạp, lại không thích ông Minh nên kéo dài thời gian. Việc nầy rất bất lợi, nhất là vừa có tin Xuân Lộc thất thủ, Việt Cộng đang tiến vào vây thủ đô Sài Gòn. Ông Minh đề nghị, bây giờ chỉ có Mỹ nói ông Hương mới nghe. Tôi tán thành. Vậy mình phải làm cho lẹ.
Tôi đi thẳng tới nhà Đại sứ Martin, dù đã gần 12 giờ khuya tôi vẫn vào xin gặp. Đại sứ Martin mời tôi vô. Tôi xin lỗi ông Martin, vì tình hình bắt buộc nên tôi phải đến gặp ông ta khuya như vậy. Tôi cho biết, tôi vừa gặp ông Minh, nếu muốn thương thuyết với Hà Nội thì ông Minh phải có chức vụ mới được. Tôi yêu cầu ông Martin đề nghị ông Hương giao quyền cho ông Minh đứng ra thương thuyết. Martin hứa với tôi sẽ thuyết phục ông Hương. Ngày 23/4/75, Nội các Nguyễn Bá Cẩn từ chức. 10 giờ ngày 24/4/75, ông Minh gặp Tổng thống Hương tại nhà ông Khiêm trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu.
Trưa hôm đó, tôi đến nhà ông Khiêm, tại đây Bác sĩ Viên, Phó Thủ tướng Hảo, cho tôi biết cuộc gặp giữa ông Minh và ông Hương hồi sáng thất bại, ông Minh từ chối chức Thủ tướng, ông Minh muốn ông Hương giao chức Tổng thống để có toàn quyền nói chuyện với bên kia. Ông Hương trả lời, ông không có quyền, Quốc hội mới có quyền. Tôi đến thẳng toà Đại sứ Pháp, họ lập lại ý trên và cho biết thêm rằng họ chờ đến ngày chủ nhật 27/4 nếu không có gì tiến triển thì họ sẽ pháo kích vào Sài Gòn. Sợ đổ máu cho dân chúng đang sống dày đặc trong thủ đô, tôi hứa sẽ cố gắng dàn xếp để tìm giải pháp.
Chiều 24/4 ông Khiêm điện thoại cho tôi biết ông Hương sẽ chỉ định ông Nguyễn Ngọc Huy làm Thủ tướng. Theo ông Khiêm ông Huy là người chống Cộng triệt để nên khó có thể hoà giải được. Tôi điện thoại cho ông Minh biết tin nầy, ông Minh mời tôi lại nhà bàn tính công việc. Ông Minh tha thiết muốn“ông Hương trao chức vụ lại để ông Minh thương thuyết gấp”. Tôi nghĩ nên có áp lực từ quân đội, tôi điện thoại mời ông Khiêm, ông Viên, nhưng hai ông ấy đã vào họ dinh Độc lập. Tôi vào dinh Độc lập (lúc 5 giờ 55 phút 24/4) gặp ông Nguyễn Ngọc Huy đang nói chuyện với ông Nguyễn Xuân Phong từ Pháp mới về.
Thoáng thấy ông Đại sứ Martin từ phòng Tổng thống ra, tôi hỏi: Có phải Tổng thống Hương chỉ định ông Nguyễn Ngọc Huy làm Thủ tướng không? Đại sứ Martin trả lời việc đó không có! Đến lượt ông Huy vào nói chuyện với ông Hương. Sau đó, tôi và Cao Văn Viên vào trình bày tình hình quân sự: Vòng đai Sài Gòn đang bị thu hẹp, đạn dược thiếu, tinh thần binh sĩ quá sa sút. Ông Hương nhìn ông Viên nói: ông sẽ là Tổng Tư lệnh, rằng ông Hương chia xẻ với số phận anh em quân nhân tại chiến trường.
8 giờ 30 sáng thứ sáu 25 tháng 4, ông Thiệu điện thoại muốn gặp tôi tại dinh Độc lập, ông ấy nhờ tôi lấy cho bạn ông một giấy chiếu khán đi ngoại quốc. Tại đây, ông Thiệu cho biết, ông hiểu rõ những diễn biến chính trị. Nếu ông Hương mời ông Huy làm Thủ tướng thì đó là điều không tốt. Câu chuyện nữa chừng, ông Thiệu điện thoại cho ông Hương khuyên nếu có thi hành giải pháp thì đừng chỉ định ông Huy làm Thủ tướng. “Nếu ông Dương Văn Minh không chịu làm Thủ tướng toàn quyền, thì Cụ tìm một người khác có thể thương thuyết với bên kia, mà người đó theo tôi là ông Đôn”.
Đặt điện thoại xuống, ông Thiệu nói với tôi: Theo tôi, ngoài ông Minh ra, ông là người có thể nhận trách nhiệm này. Tôi đã nghĩ đến ông từ năm 1973, tôi biết ông từng tiếp xúc với nhiều giới chức, gặp nhiều nhân vật chính trị các nước Mỹ, Pháp, Nhật…Uy tín ông có nhiều trong giới chính trị, và quân đội trong nước. Nhưng vì tôi không thay đổi lập trường chống Cộng triệt để của tôi nên không thể ngồi chung với họ. Nếu chịu thương thuyết, tôi đã mời ông làm Thủ tướng từ năm 1973 rồi. Nhưng ngày nay thì tôi đề nghị với ông Hương mời ông làm việc. Tôi nói, ông có nghĩ là bây giờ đã trể không?
Ông Thiệu im lặng không trả lời. Trước khi từ giã, tôi nói: Còn phần ông, chừng nào đi, tôi biết Mỹ không muốn xẩy ra chuyện như ông Diệm; Xung quanh ông đang bỏ ông, ông phải đi cho nhanh. Nếu tôi làm Thủ tướng, Nội các của tôi đòi bắt ông thì tôi phải làm theo thôi! Sáng hôm sau tôi được biết, tối hôm 25/4 đó, Mỹ đã giúp ông Thiệu và ông Khiêm ra khỏi nước bằng máy bay DC4 đến Taipei.
Khoảng 10 giờ sáng ngày thứ bảy 26 tháng 4, Tổng thống Hương mời Quốc hội họp phiên đặc biệt. Tôi dự họp với tư cách Dân biểu, và Quyền Tổng trưởng Quốc phòng. Ông Hương trình bày, diễn tiến cuộc họp với ông Minh, rằng ông ta mời ông Minh làm Thủ tướng toàn quyền, nhưng ông Minh không nhận, mà yêu cầu ông Hương từ chức, giao ghế Tổng thống để ông Minh có toàn quyền nói chuyện với Việt Cộng. Ông Hương cho biết ông không thể làm như vậy được, vì đó là quyền của Quốc hội, Hiến pháp còn đó, ông chỉ có quyền mời làm Thủ tướng, còn trao ghế Tổng thống không phải là chuyện nhỏ như trao một chiếc khăn tay…
Cuối cùng ông Hương đề nghị Quốc hội chấp nhận cho ông một trong hai biện pháp: (1) cho ông được quyền chỉ định một Thủ tướng toàn quyền; (2) bầu ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống. Nói xong ông Hương ra về, Quốc hội tiếp tục họp.
Bài 261: CHUYỆN KỂ VỀ PHIÊN HỌP KHẨN CẤP CỦA LƯỠNG VIỆN QUỐC HỘI VNCH LÚC 7 GIỜ 30 TỐI 27/4/1975: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.
SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết tiếp: Dư luận hành lang đa số dân biểu nghị sĩ nghiêng về biện pháp một, họ cho rằng ông Minh xem thường Quốc hội. Khi tôi ra về Quốc hội tiếp tục họp, về đến nhà có điện thoại ông Hương, ông nói: Anh Đôn, tôi sẽ chỉ định anh làm Thủ tướng khi Quốc hội biểu quyết cho tôi chỉ định Thủ tướng. Tôi cám ơn, rồi mời nhóm anh em chính trị theo đường lối “Dân tộc Tự tồn” gồm Bác sĩ Trần Văn Du, Giáo sư Nguyễn Xuân Oánh, Giáo sư Bùi Anh Tuấn, Đại tá Vũ Quang thảo luận và chuẩn bị nhiều vấn đề…
Tôi điện thoại cho Nguyễn Cao Kỳ, ông Kỳ nói được vậy thì tốt, và đề nghị tôi nên mời Nguyễn Đức Thắng làm Tổng trưởng Quốc phòng. Tôi nói với ông Kỳ: Các anh em Tổng Tham mưu về miền Tây để tiếp tục tổ chức phòng thủ và kháng cự. Tôi cố gắng tìm giải pháp thương thuyết đình chiến, nếu không được tôi sẽ bay về miền Tây lo việc phòng thủ với anh em. Ông Kỳ đồng ý. Tôi điện thoại cho ông Minh cho biết tôi có thể được chỉ định làm Thủ tướng, chức vụ mà ông từ chối với ông Hương. Ông Minh cười… hơi khinh… Anh em vẫn ngồi bàn thảo lời tuyên bố với quốc dân đồng bào, thì tôi gọi điện thoại đến toà Đại sứ Pháp (4 giờ chiều) để tìm hiểu và dò ý.
Khi biết tin Tổng thống Hương có thể chỉ định tôi làm Thủ tướng toàn quyền, ông Đại sứ Pháp ngần ngại: không thể được. Hà Nội chỉ muốn nói chuyện với ông Dương Văn Minh. Nếu người thương thuyết không phải ông Minh, thì họ sẽ pháo kích tối nay. Tại sao ông biết? Vì tôi có liên lạc với Hà Nội. Họ hạn định thời gian tối nay. Nếu sự thật như vậy thì Đại sứ nên trình bày lại cho Tổng thống Hương. Sau đó tôi điện thoại cho ông Đại sứ Mỹ, thì ông Martin cũng nói như vậy, tôi đề nghị: Nếu vậy yêu cầu ông Đại sứ trình bày lại cho Tổng thống Hương rõ. Tôi đến nhà ông Hương, vừa mở lời thì ông Hương nói hai ông Đại sứ Pháp và Mỹ vừa điện thoại tới, ông Hương nói tiếp: Qua hiểu rồi! Họ muốn Minh! Qua sẽ từ chức!
Sáng chủ nhật 27/4/75, ông Hương họp tại nhà riêng các ông: Trần Thúc Linh, Chủ tịch Tối cao Pháp viện; Trần Văn Lắm Chủ tịch Thương viện; Phạm Văn Út, Chủ tịch Hạ viện; Phụ tá Tư pháp của ông Hương; và Trần Văn Đôn để bàn “nên làm gì” khi Quốc hội biểu quyết trao quyền Tổng thống cho người khác. Buổi họp chấm dứt lúc 12 giờ trưa. Sẵn dịp đó, Đại tướng Viên xin ông Hương ký Sắc lệnh cho ông Viên nghĩ dài hạn không lương kể từ ngày 27/4 đó, với lý do “không thể làm việc dưới quyền ông Minh”. Ông Hương chấp thuận lời yêu cầu của ông Viên. Tôi là người ra khỏi nhà ông Hương sau cùng, thấy vẻ bất bình của ông Hương khi ông nói với tôi: Họ muốn ông Minh thì có ông Minh!
Vào lúc 3 giờ trưa hôm 27/4/75, Đại sứ Pháp điện thoại cho tôi biết: sáu giờ chiều nay nếu không có gì thay đổi thì Hà nội sẽ pháo kích vào Sài Gòn bằng súng 130 ly có tầm bắn xa 30 cây số. Tôi tìm ông Trần Văn Lắm, và ông Phạm Văn Út, Chủ tịch Thượng viện và Hạ viện yêu cầu thông báo nghị sĩ dân biểu đến họp vào buổi chiều. Theo lời yêu cầu của họ, tôi mời Đại tướng Cao Văn Viên Tổng tham mưu trưởng; Trung tướng Nguyễn Văn Minh Tư lệnh Biệt khu Thủ đô; Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không quân; Trung tướng Chung Tấn Cang Tư lệnh Hải quân; Chuẩn tướng Thọ Trưởng Phòng 3 Hành quân/Bộ TTM; Đại tá Lung Trưởng phòng 2 Tình báo/ Bộ TTM cùng đi với tôi lên họp với Quốc hội để trình bày tình hình quân sự, và vòng đai phòng thủ Sài Gòn.
7 giờ 30 (27/4) tối cuộc họp khẩn cấp Lưởng viện Quốc hội bắt đầu với số dân biểu nghị sĩ 138 vị trên tổng số dân biểu nghị sĩ 200. Phái đoàn chúng tôi trình bày tình hình quân sự: 16 Sư đoàn Việt Cộng đang bao vây Sài Gòn cùng với một số đông thiết giáp và súng pháo binh hạng nặng; Vòng đai phòng thủ của ta đang từ từ bị thu hẹp; Chúng ta chỉ còn miền Tây. Nghị sĩ Phạm Đình Ái và Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu hỏi: Tổng trừ bị của ta ở đâu? Còn hay không? Vòng đai phòng thủ Sài Gòn thế nào? Chúng tôi cho biết Tổng trừ bị đang ở vòng đai phòng thủ Sài Gòn. Trong nội đô còn có Biệt động quân và Cảnh sát Dã chiến. Các Sư đoàn tiền tuyến ở vòng đai bảo vệ Sài Gòn đang đối diện với các Sư đoàn Bắc Việt.
Phó Thủ tướng Phụ trách Kinh tế Nguyễn Văn Hảo trình bày việc các cơ quan rút tiền ở ngân hàng, đã tạo ra khủng hoảng trong dân chúng. Nghị sĩ Tôn Thất Đính đề nghị biểu quyết vụ trao quyền Tổng thống cho nhanh, tình hình kinh tế chưa thiết yếu bây giờ, nhưng ông Hảo cũng cho biết thêm “tất cả các ngân hàng đã đóng cửa, các cơ quan không còn ai lãnh đạo”. Xong phần thuyết trình chúng tôi ra về, Quốc hội tiếp tục họp. Tôi ghé lại nhà ông Hương trình bày công việc vừa rồi ở Quốc hội, thì Sĩ quan tuỳ viên đem tin 136/138 dân biểu, nghị sĩ biểu quyết định trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh, 2 người không biểu quyết là chủ tịch Thượng viện và Hạ viện. Ông Hương nhờ tôi nói với ông Minh là ông Hương sẵn sàng trao quyền bất cứ lúc nào.
Tôi và ông Nguyễn Xuân Oánh lại toà Đại sứ Pháp và Mỹ cho biết sự việc, rồi ghé qua ông Minh báo tin để ông chuẩn bị những việc cần làm sắp tới. Tôi đến nhà ông Minh thì ông đang tiếp cựu Đại tá Bùi Dinh, người rất trung thành với ông Diệm. Ông Minh nói với tôi và ông Oánh: Chính bên Thiên chúa giáo cũng yêu cầu tôi làm cho nhanh để cứu vãn tình thế phần nào. Đây, ông Bùi Dinh đây, trước kia chống đối tôi kịch liệt, nay đến nói lên ý kiến của một số anh em bên Thiên chúa giáo. Tôi sẽ cố gắng thi hành nhiệm vụ này. Chờ lâu quá, nhưng sẽ cố gắng lần cuối cùng này.
Tôi đề nghị ông Minh, bây giờ đã quá 12 giờ khuya, sang ngày thứ hai rồi, thì giờ không cho phép kéo dài nữa. Anh nên nhận nhiệm vụ liền để bắt tay vào việc đi. Ông Minh hẹn 5 giờ chiều mai. Tôi nghĩ không phải ông ấy trì hoãn, mà ông coi ngày giờ tốt trước khi nhận việc. Đã quá khuya, chúng tôi chia tay ra về sau khi nghe ông Minh nói thêm một câu bằng tiêng Pháp Nếu có xuống âm phủ mình đi càng nhiều càng vui! Nghe ông Minh nhận chức Tổng thống, dư luận chia làm hai: một số nghĩ rằng sắp có cơ hội thương thuyết để ngưng chiến, một số khác cho rằng chúng ta đang mở cửa cho Cộng sản nuốt trọn miền Nam.
Bài 262: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC BÀN GIAO CHỨC TỔNG THỐNG VNCH NGÀY 28 VÀ THỦ TƯỚNG NGÀY 29/4/1975: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.
SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết tiếp: Lúc 8 giờ sáng thứ hai ngày 28 tháng 4 tôi đến Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng gặp Đại tướng Cao Văn Viên để theo dõi tình hình quân sự. Ông Viên nói, ông Hương đã ký Sắc lệnh cho ông ta nghĩ, yêu cầu tôi cho người thay thế. Ngay lúc đó, có điện thoại ông Minh muốn nói chuyện với tôi, ông Minh dặn tôi giữ ông Viên ở lại chức vụ Tổng Tham mưu trưởng, đừng cho ông Viên đi. Tôi không biết xử sự làm sao, vì ông Viên đã được ông Hương cho nghỉ. Tôi hỏi ông Viên, nếu anh đi, thì theo anh ai có thể thay thế anh được? Ông Viên không trả lời câu hỏi mà hỏi lại tôi: Còn anh sẽ làm gì?
Tôi cũng chưa quyết định. Mấy ngày trước ông Minh và ông Mẫu muốn tôi tiếp tục giữ ghế Tổng trưởng Quốc phòng, nhưng tôi chưa trả lời, nay ông Minh cho tôi biết Hà Nội không muốn có một người nào trong Nội các củ ở lại trong Nội các mới. Về lại Văn phòng ông Minh gọi điện dặn huỷ bỏ Sắc lệnh mà ông Hương ký cho phép ông Viên nghỉ dài hạn không lương, nhưng Sắc lệnh đó ông Hương đã gởi thẳng cho ông Viên, khi ông Hương đương chức Tổng thống, một ngày trước khi bàn giao chức chưởng cho ông Minh.
5 giờ chiều thứ hai 28/4/1975, tại phòng họp, nơi ông Thiệu trao quyền cho ông Hương tuần trước, thì nay lại có cuộc lễ để ông Hương trao quyền Tổng thống lại cho ông Minh. Trong cuộc lễ nầy bên quân đội cử Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không quân và Trung tướng Đồng Văn Khuyên thay Đại tướng Cao Văn Viên đến dự lễ. Sau nghi lễ nhận chức vụ Tông thống, ông Minh giới thiệu ông Nguyễn Văn Huyền làm Phó Tổng thống và ông Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng. Ông Minh trầm tỉnh đọc bản tuyên bố đường lối của mình là chấm dứt chiến tranh bằng cách thương thuyết và hoà giải với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. 6 giờ chiều, cuộc lễ xong ông Minh tiễn ông Hương ra cổng.
Nhà tôi ở gần dinh độc lập, nên chỉ vài phút sau đã về đến nhà, lại nghe tiếng nổ ầm ầm, súng bắn lung tung, phi cơ bay trên nóc dinh Độc lập. Tôi điện thoại đến Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Không quân hỏi, thì được biết có ba phi cơ Việt Nam Cộng hoà làm phản, bay vào liệng bom ở phi trường Tân Sơn Nhất. Hai chiếc F5 đã bay đuổi theo họ. Sau mới biết máy bay đó là của Không quân Việt Nam Cộng hoà còn lại Đà Nẳng, Việt Cộng xúi dục, móc nối phi công bay vô dội bom Sài Gòn. Tối đến Việt Cộng pháo kích vào phi trường để phá phi đạo Tân Sơn Nhất.
8 giờ 15 sáng ngày 29 tháng 4, tôi đến Tổng Tham Mưu, nhưng vừa tới cổng, viên sĩ quan ở cổng chận tôi lại không cho vô vì bên trong đang bị pháo kích. 20 phút sau tôi vô thẳng văn phòng Tổng Tham mưu trưởng, gặp Trung tướng Đồng Văn Khuyên, người được Đại tướng Cao Văn Viên đề cử Xử lý thường vụ chức Tổng Tham mưu trưởng, tôi mới biết ông Viên đã ra khỏi nước bằng chiếc trực thăng riêng đến cơ quan DAO từ đó Mỹ chở qua Bangkok. Đến Bangkok, ông Viên lấy vé phi cơ dân sự bay thẳng đến Hoa Thịnh Đốn như một du khách, không qua thủ tục như người tỵ nạn khác.
Vậy là trong vòng hai tuần, ba ông Tướng điều khiển miền Nam, suốt 9 năm trời đã từ chức và bay ra khỏi nước: Trung tướng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại tướng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên! Tôi hỏi Tướng Đồng Văn Khuyên về tình hình… Trong khi chúng tôi nói chuyện thì có tiếng của một sĩ quan gọi máy truyền tin trực tiếp vào Bộ Tổng Tham mưu hỏi: Có nên tuân lệnh của Tướng Kỳ bắn vào các xe tăng Việt Cộng đang tiến quân không? Tôi trả lời: Phải tuân lệnh! Lúc đó, Tướng Kỳ bay quan sát tình hình, thấy Việt cộng đang tiến quân nên ra lệnh như vậy.
Tại Bộ Tổng Tham, tôi thấy có tướng Ngô Quang Trưởng và Đỗ Kế Giai đang nói chuyện, các sĩ quan khác thì hiện vẻ lo âu. Tôi gọi điện thoại cho ông Minh biết tình hình bi đát tại Bộ Tổng Tham Mưu: Ông Viên đi rồi, ông Tướng Xử lý thường vụ không đủ thì giờ, không đủ khả năng quán xuyến mọi việc đang rối ren. Anh chỉ định gấp một Tổng Tham mưu trưởng mới, Vĩnh Lộc hay Ngô Quang Trưởng đều được. Được. Moa không muốn mời Tướng chính trị. Anh cứ tìm ông Tướng nào có khả năng, can đảm để nắm lại tình hình.
Riêng ông Thủ tướng mới của anh, thì nên về Phủ Thủ tướng mà làm việc. Ông Nguyễn Bá Cẩn cựu Thủ tướng đã đi rồi! Tôi với tư cách Phó Thủ tướng cao niên, tôi sẽ bàn giao trao lại Phủ Thủ tướng để ông Thủ tướng mới có phương tiện làm việc. Ông Mẫu đang làm việc tại nhà tôi đây! Ông Minh hẹn 10 giờ 30 sẽ nhận bàn giao tại Phủ Thủ tướng. Nhìn đồng hồ mới 9 giờ, tôi xuống ghé phòng Ngô Quang Trưởng nói, tôi vừa điện đàm với ông Minh, yêu cầu Tổng thống chỉ định gấp một Tổng Tham mưu trưởng, tôi nghĩ anh có thể làm được. Nếu chỉ định thì tôi làm, nhưng Trung tướng đừng đề nghị tôi. Tôi báo cho ông Châu Bộ trưởng Phủ Thủ tướng chuẩn bị lập biên bản lễ bàn giao lúc 10 giờ 30.
10 giờ sáng ngày 29 tháng 4 tôi đến Phủ Thủ tướng, khi chạy ngang qua toà Đại sứ Mỹ thấy người ra vô vẫn tấp nập như thường ngày. Tôi đến Phủ Thủ tướng cùng với sĩ quan tuỳ viên, tại đây đã có một số Tổng, Bộ trưởng mới có mặt. Nội các cũ thì có Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, Tổng trưởng Giáo dục Dương Kích Nhưỡng, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Châu. Một lúc sau, ông Châu cho biết ông Vũ Văn Mẫu muốn điện đàm với tôi. Ông Mẫu xin lỗi đến trể một giờ, vì phải qua đài phát thanh đọc lời tuyên bố quan trọng. 11 giờ 30, ông Châu cho biết, ông Thủ tướng đến, tôi ra cầu thang đón. Ông Mẫu đến đúng nghi lễ, bằng xe Mercedes dành cho Thủ tướng có xe mô tô hộ tống.
Tôi mời ông Mẫu vào văn phòng Thủ tướng và bắt đầu cuộc lễ. Ông Mẫu ngồi bên tay mặt tôi. Ông Châu đưa biên bản bàn giao để ký. Tôi ký xong trao cho ông Mẫu ký, nhưng ông Mẫu ký hoài mà viết của ông ấy không ra mực, nên tôi phải đưa viết của tôi cho ông ấy ký. Ký biên bản xong tôi nói vài lời cầu chúc, và ông Mẫu đáp từ. Sau đó, ông Mẫu nói chuyện với mấy ông Tổng trưởng, rằng ông ta vừa lên đài phát thanh tuyên bố yêu sầu Mỹ rút khỏi Việt Nam trong 24 giờ kể từ 5 giờ sáng nay.
Nghe ông Mẫu nói, tôi dùng điện thoại màu xanh lá cây dành riêng cho Thủ tướng và Phó thủ tướng liên lạc với toà Đại sứ Mỹ. Có tiếng người bắt điện thoại tôi hỏi ngay: Có chuyện gì xảy ra đó? Tôi vừa nghe ông Tân Thủ tướng yêu cầu DAO rút khỏi Việt Nam trong 24 giờ phải không? Không phải chỉ DAO mà tất cả những người Mỹ sẽ rút. Ông muốn đi thì lên toà Đại sứ trước 12 giờ trưa nay.
Bài 263: CHUYỆN KỂ VỀ TÌNH CẢNH TRANH NHAU LÊN TRỰC THĂNG MỸ DI TẢN KHỎI SÀI GÒN NGÀY 29/4/1975: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.
SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết tiếp: Lúc đến toà Đại sứ, tôi không vào được, vì người quá đông nên mọi cửa ra vô đều đóng chặt, tôi đi vòng ngã đưởng Hồng Thập Tự cũng không vào được. Tôi trở lại Bộ Quốc phòng điện thoại cho toà Đại sứ Mỹ, sau một hồi tôi liên lạc được với ông Polgar. Ông dặn tôi đến nhà riêng của ông, rồi ông sẽ bốc tôi đi. Đến nơi tôi thấy đông nghẹt người đang chờ. Cô thư ký của ông Polgar kêu chúng tôi đến tại khách sạn Mỹ Lee Hotel gần đài Chiến sĩ Tự do, chúng tôi đến đó thấy người chờ quá đông mà cửa đóng, đành trở lại nhà ông Polgar ngồi chờ. 4 giờ chiều chúng tôi trở lại khách sạn Lee Hotel cũng không vô được.
Cô thư ký của ông Polgar đến nới với tôi: Tôi là Hà Hiếu Lang, em của Đại tá Điệp. Cô nói nhỏ với tôi: Mình đi chỗ khác! Ông lại góc đường Hai Bà Trưng chờ tôi! Xe chúng tôi chạy theo xe cô ta đến đường Gia Long gần đường Tự Do, tai một cao ốc 9 tầng, tầng dưới là Alliance Francaise của Pháp, còn 8 tầng trên là Văn phòng của CIA. Chúng tôi lên trên sân thượng tầng lầu 9. Có khoảng sáu chục người đang chờ, tôi đành phải đứng phía sau. Thấy vậy cô Lang nói to: Tôi nhường chỗ của tôi và các em tôi cho gia đình Trung tướng.
7 giờ 30 tối ngày 29 tháng 4 năm 1975, tôi từ giã Sài Gòn, lúc Sài Gòn đã lên đèn. Trực thăng chở chúng tôi đáp xuống chiến hạm Hancock. Trần văn Đôn viết tiếp “Những điều nghe biết về sau”: Đề đốc Chung Tấn Cang, Tư lệnh Hải quân đến cho ông Minh biết, hiện tàu bè đủ chở chính phủ và binh sĩ xuống miền Tây, nhưng ông Minh cho biết còn đang thương thuyết. Vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, Cố vấn toà Đại sứ Pháp ông Brochand cho ông Minh biết là Hà Nội không muốn nói chuyện với ông Minh nữa. 5 giờ chiều ông Minh gọi ông Chung Tấn Cang đến gấp, nhưng ông Cang cử ông Phó Đề dốc Diệp Quang Thuỷ đến.
Ông Minh nói với ông Thuỷ: Tôi trao cho Hải quân được toàn quyền hoạt động. Ông Minh nhờ Đề đốc Diệp Quang Thuỷ dẫn rể ông là Đại tá Đài, tướng Mai Hữu Xuân, Chuẩn tướng Hoàng và con gái ra khỏi nước. Biết không thể thương thuyết, nhưng ông Minh vẫn không cho tướng Vĩnh Lộc Tổng Tham mưu trưởng và Nội các hay, có lẽ sợ các ông ấy bỏ đi sẽ gây thêm xáo trộn. Tối 29/4, ông Minh nghĩ là thua rồi, nên đưa vợ và tất cả sĩ quan, bộ tham mưu chính trị vào dinh độc lập để gặp họ ngay tại đây.
8 giờ sáng ngày 30/4/75, Tổng Tham mưu trưởng Vĩnh Lộc, điện thoại hỏi ông Minh cuộc thương thuyết đi tới đâu rồi, ông Minh vẫn chưa cho biết. Khoảng 9 giờ, đoàn xe Việt Cộng từ miệt lăng Cha Cả xuống nhà thờ Ba Chuông thẳng đường Trương Minh Giảng vào Trung tâm Sài Gòn. Lúc 10 giờ thì tại Bộ Tổng Tham mưu có các Trung tướng Lộc, Trung tướng Trung, Đại tá Huyến và một số sĩ quan cấp Tá cấp uý khác thấy tình hình quá khẩn cấp, chiến xa của Việt Cộng đã ồ ạt vào thủ đô, nên họ quyết đinh phải ra đi. Từ cổng Bộ Tổng Tham mưu, đoàn xe của Tướng Lộc ra đường Cách mạng xuống phía Thị Nghè ra Hải cảng, Đoàn xe của tướng Lộc đến Công xưởng Hải quân, chỉ còn một chiếc tàu hư đang sửa, ông Lộc cũng phải lấy ra đi…
Ai cứu dân chúng Sài Gòn khỏi đổ máu? Không phải Kissinger. Không phải Đại sứ Mỹ. Không phải Đại sứ Pháp. Sài Gòn không đổ máu là nhờ Dương Văn Minh. Ông Minh có thể ra đi lúc đó, lúc chưa nhận chức Tổng thống, hoặc có thể ngày 29 tháng 4 với Hải quân, nhưng ông can đảm ở lại. Nếu tất cả đi hết thì Sài Gòn sẽ hổn loạn. Không có chính quyền sẽ không có an ninh, du đảng sẽ lộng hành, cướp giật, giết nhau vì oán thù.v.v.. Còn nếu ông Minh ra lệnh chiến đấu, thì mấy ai còn gan dạ cầm súng, chỉ gây thêm đổ máu mà thôi! Thua là điều không tránh khỏi!!!
Ngày 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố: "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào."
Tuy nhiên, những sĩ quan Cộng sản không chấp nhận làm lễ bàn giao mà buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng… (Hết trích)
Bài 264: NGÀY 7/1/1975 TỈNH LỴ PHƯỚC LONG THẤT THỦ, VÀ NGÀY 10/3/1975 BAN MÊ THUỘT MẤT LIÊN LẠC: PHẠM BÁ HOA GHI LẠI.
Tại chương 8 SÁCH ĐÔI DÒNG GHI NHỚ, Phạm Bá Hoa viết: Ngày 13 tháng 12 năm 1974, một đơn vị Cộng sản có thể là cấp Tiểu Đoàn, tấn công quận lỵ Đôn Luân, bị quân trú phòng đẩy lui. Nhưng cuộc tấn công kế tiếp thì Đôn Luân thất thủ. Sau đó, một lực lượng Cộng sản khác đánh chiếm quận Bố Đức. Sư Đoàn 5 Bộ Binh được Bộ Tổng Tham Mưu điều động tăng cường cho tỉnh lỵ Phước Long. Ngày 24 tháng 12 năm 1974, chiếc trực thăng Chinook 47 chở chuyên viên từ Sài Gòn lên tỉnh lỵ Phước Long sửa chữa chiếc phi cơ vận tải C.130 bị hư đang nằm tại phi trường ngoại ô tỉnh lỵ. Lượt về, chiếc Chinook 47 đã bị hỏa lực phòng không của quân cộng sản bắn hạ sau khi cất cánh chưa đầy 5 phút.
Đang trong tình hình hết sức nguy hiểm cho lực lượng trú phòng, thì sự bất đồng quan niệm hành quân giải tỏa Phước Long giữa Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III/Quân Khu III, với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong phiên họp tại Phủ Tổng Thống, Trung Tướng Đống xin tăng cường lực lượng tổng trừ bị nhưng Thổng thống Thiệu không chấp thuận. Theo lời của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu thì Trung Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức ngay trong buổi họp, nhưng Tổng Thống không chấp thuận. Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Tướng Nguyễn Văn Toàn được cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn III thay thế tướng Đống. Ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long vào tay quân Cộng sản.
Sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, khi tôi vào đến văn phòng thì điện thoai reo liên hồi: “Đại Tá Hoa tôi nghe”. “Lễ (Đại tá, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy III Tiếp Vận) đây anh. Tôi mới nghe nói là Ban Mê Thuột bị mất liên lạc hữu tuyến lẫn vô tuyến từ giữa đêm qua. Đâu anh xem lại có phải vậy không? Tôi gọi khắp các cơ quan phòng sở trong Bộ Tổng Tham Mưu, không cơ quan nào liên lạc được với bất cứ cơ quan đơn vị nào ở Ban Mê Thuột cả. Chợt nhớ ra bên Sở Liên Lạc có căn cứ Lôi Hổ trên đó hoạt động dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt, có thể còn giữ liên lạc được. Và, đúng như vậy, Trung Tá Trần Đắc Trân, điện thoại gọi tôi sang để nói chuyện trực tiếp với nhân viên của Sở Liên Lạc tai Ba Mê Thuột.
Tôi trình Đại Tá Loan xong là chạy sang anh Trân ngay. Tôi hỏi: “Chào anh. Anh đang ở đâu đó “Em đang ẩn trú ở đầu phi trường nhỏ trong thành phố Ban Mê Thuột. Chung quanh em tiếng súng nổ dữ lắm và xe tăng của tụi nó (quân cộng sản) đã vào đến cuối sân bay rồi Đại Tá ơi! “Theo anh thì tụi nó đã vào trung tâm thành phố chưa? “Xe tăng của nó tấn công kho đạn đêm qua, và tụi nó tiến vào thành phố rồi. Khu vực Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn (23 Bộ Binh) và bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đều có tiếng súng dữ lắm. Em chưa rõ lắm, nhưng em nghĩ là bị tụi nó chiếm hết rồi. Bây giờ em phải rút ra ngoại ô. Chào Đại Tá”. “Cám ơn anh, và cầu nguyện cho anh cùng các bạn vượt thoát bình an. Chào anh và các bạn”.
Tôi gọi lên Quân Đoàn II nói chuyện với Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn, được biết Quân Đoàn II đã cho phi cơ không thám trên không phận ngoại ô Ban Mê Thuột, chớ không vào sâu bên trong được vì hỏa lực phòng không của Cộng quân quá mạnh, tin tức ghi nhận khá ít, không đủ dữ kiện cho Quân Đoàn nhận định tình hình một cách rõ nét, để có phản ứng phù hợp. Sư Đoàn 23 Bộ Binh, có 2 Trung Đoàn hoạt động trên Kon Tum, và 1 Trung Đoàn giữ phi trường Phụng Dực, lực lượng phòng thủ Ban Mê Thuột chỉ gồm những đơn vị yểm trợ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và các đơn vị Địa Phương Quân Nghĩa Quân của Tiểu Khu nên sự chống trả yếu ớt.
Ngày 13 tháng 3 năm 1975, Ban Mê Thuột và toàn tỉnh Darlac vào tay quân cộng sản! Trước đó, ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long vào tay quân cộng sản. Thế là, hai tỉnh của Việt Nam Cộng Hòa đã vào tay Cộng quân. Ngày 15/3/1975, ngay đầu giờ buổi làm chiều, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe “Có ai ngồi gần anh không? “Dạ không, thưa Đại Tướng”. Đó là Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông tiếp:“Tuyệt đối là anh không cho ai biết lệnh này ngoài những sĩ quan trách nhiệm thi hành”. “Vâng, tôi rõ thưa Đại Tướng”.
Tổng Cục Tiếp Vận có bao nhiêu phi cơ vận tải C.130 khả dụng? Thông thường thì sử dụng 2 hoặc 3 chiếc, nhưng trường hợp tối cần thiết có thể sử dụng được 8 hoặc 9 chiếc. Nhưng tôi sẽ hỏi bên Không Quân và sẽ trình lại Đại Tướng con số chính xác hơn, thưa Đại Tướng. Thôi được. Điều cần thiết là anh phải sử dụng tối đa vì đây là nhu cầu khẩn cấp. Anh liên lạc ngay với Quân Đoàn II, xem họ cần bao nhiêu chiếc thì cho họ bấy nhiêu, còn sử dụng vào công tác gì thì tùy họ. Nhiệm vụ kể từ ngày mai. Anh rõ chưa? Thưa Đại Tướng, tôi rõ.“Phần anh, anh chuyển các quân dụng đắt tiền ra khỏi Pleiku và muốn đem về đâu thì tùy anh”.“Vâng. Tôi thi hành, thưa Đại Tướng”.
Bài 265: LỘN XỘN TẠI PHI TRƯỜNG CÙ HANH, PLEIKU NGÀY 16, 17/3/1975, VÀ THÔNG TIN TỪ ĐẠI TÁ BỬU KHƯƠNG: PHẠM BÁ HOA GHI LẠI.
Tôi gọi lên Pleiku liên lạc với Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II: “Tôi Hoa đây anh Lý. Tôi được lệnh cấp C.130 cho anh nhưng không được biết là Quân Đoàn sử dụng vào công tác gì. Vậy anh có thể cho tôi biết để tôi tiện sắp xếp phi cơ theo đúng nhu cầu của anh không? Vì chắc anh cũng biết là số phi cơ khả dụng của chúng tôi giới hạn lắm”. Anh cứ đưa lên đây cho tôi, còn sử dụng vào công tác gì thì không thể nói được đâu. Đành vậy. Nhưng anh cần bao nhiêu chiếc? Cần vào lúc nào? Và chuyển vận từ đâu tới đâu? “Anh có bao nhiêu chiếc thì đưa lên tôi bấy nhiêu kể từ sáng mai (16/3/1975). Không trình có thể là từ Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sàigòn.
“Sao lại là có thể mà không rõ nơi đến?“Tôi không thể cho anh biết đâu. Vậy thì như thế này. Sáng mai tôi cho lên anh 2 chiếc, trong khi 2 chiếc kế tiếp túc trực tại phi trường Tân Sơn Nhất và anh cần là cất cánh ngay, vì một lúc anh đâu sử dụng được 4 chiếc. Được không? “Được. 8 giờ sáng mai anh cho có mặt tại phi trường Cù Hanh nghe. Xong. Mình thỏa thuận như vậy”.
Sáng ngày 16/3/1975, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Đại Tá. Trưởng phi cơ C.130 đang trên không phận phi trường Cù Hanh (Plei Ku), cho biết là không thể nào đáp xuống phi trường được, vì người ta đông không thể tưởng tượng nỗi. Chẳng biết là chuyện gì xảy ra vì không liên lạc được dưới đất. Và hai chiếc C.130 đang chờ lệnh Đại Tá. Anh chuyển đến Trưởng phi cơ là hãy chờ tôi vài phút để tôi liên lạc với Quân Đoàn II xem tình hình ra sao”.
Gọi Quân Đoàn II, và tôi nói chuyện với Đại Tá Lý: “Phi cơ tôi đang trên không phận của anh đó, nhưng không thể đáp được. Nếu anh muốn họ đáp xuống thì anh phải giải tỏa sân bay giùm đi. Nếu chậm quá thì họ sẽ về lại Sài Gòn đó. Mà chuyện gì xảy ra vậy Anh? Tại vì, người ta tranh nhau chờ lên phi cơ mới có chuyện tràn ngập đường băng như vậy. Để tôi cho Quân Cảnh giải tỏa, anh bảo phi cơ đáp xuống cho tôi đi. Thì phi hành đoàn đang chờ đường băng trống là đáp xuống, trừ khi anh không giải tỏa nỗi. Anh nhớ ưu tiên cho Liên Đoàn Trưởng Yểm Trợ Tiếp Vận của tôi ở Plei Ku, chở một số kiện hàng quan trọng xuống Qui Nhơn hoặc Nha Trang à nghe”.
Tôi lại nhờ Bộ Chỉ Huy Không Chiến chuyển đến phi hành đoàn C130. Và sau đó, phi cơ đáp xuống được tuy rất khó khăn vì đông nghẹt người là người hai bên đường băng. Theo lời thuật của Trưởng phi cơ, là cả một rừng người chen lấn xô đẩy, đạp lên nhau để tranh lên phi cơ, và hết sức khó khăn, phi hành đoàn mới cho phi cơ cất cánh được.
Sáng ngày 17/3/1975, trong lúc 2 chiếc C130 trên không phận Plei Ku thì điện thoại nhà tôi reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Đại Tá. Trưởng phi cơ cho biết là toàn thị xã Plei Ku hôm nay không có bóng một sinh vật nào cả, và bây giờ phi hành đoàn xin phép về lại căn cứ. Anh hỏi lại phi hành đoàn giùm tôi, nếu sự thực đúng như vậy, thì tôi đồng ý phi cơ quay về. Xin nhớ, đây là trách nhiệm rất quan trọng nghe anh. Tôi điện thoại qua nhà Đại Tá Phạm Kỳ Loan, và ngay sau đó Đại Tá Loan liên lạc Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ (Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu) nhưng Chuẩn Tướng Thọ vẫn không nhỏ được một giọt thông tin nào về tình hình đó cả.
Chiều 18/3/1975, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Khương đây anh Hoa. Đó là Đại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, đồn trú tại Qui Nhơn. Anh có tin gì về anh em mình trên Plei Ku chưa? “Liên Đoàn 2 Vận Tải mới liên lạc vô tuyến với đoàn xe bị kẹt trên Plei Ku rồi anh. Đoàn xe này đang cùng với hằng ngàn quân xa và dân xa rút bỏ Plei Ku và Kon Tum, đang di chuyển trên đường liên tỉnh số 7 để xuống Tuy Hòa. Toàn bộ lực lượng gồm nhiều đơn vị chiến đấu, cùng với Pháo Binh, Thiết Giáp, bị sa lầy sau khi vượt qua Cheo Reo. Phần thì đường hư cầu sập làm nhiều chiến xa M.48 và pháo binh 175 ly cơ động xuống hố, gây tổn thất rất nặng cho cả quân đội lẫn dân sự, nhưng chưa thấy phản ứng của Quân Đoàn. Anh em mất tinh thần lắm anh ơi!
“Được rồi. Bảo vệ đoàn quân và khi nào xuống đến Tuy Hòa, chắc chắn là trách nhiệm của Quân Đoàn. Bây giờ anh nên chuẩn bị tổ chức nhiều toán do một sĩ quan của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận chỉ huy và đặt tại Tuy Hòa, mỗi toán phụ trách một công tác, để khi đoàn quân xuống đến Tuy Hòa thì cấp phát ngay cho bất cứ đơn vị nào mà không cần theo thủ tục tiếp liệu thông thường, chỉ cần viết tay và ký nhận là đủ. Hàng mang theo cấp phát là: Lương khô đủ ăn 3 ngày, 1 bộ quần áo trận, đổ đầy xăng dầu cho xe chạy bánh và xe chạy xích. “Toán Quân Y thì cấp thuốc cho các bệnh thông thường và cấp cứu đầu tiên. Anh thấy được không? Được anh. Để tôi lo”. Anh nói Liên Đoàn 2 Vận Tải ráng giữ liên lạc và khi có bất cứ tin tức gì về đoàn quân này thì anh cho tôi biết ngay nghe anh Khương”.
Sở dĩ có đoàn xe hằng trăm chiếc bị kẹt ở Plei Ku, là vì sau khi Phước Long mất, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên ra lệnh cho tôi thực hiện kế hoạch chuyển tiếp liệu loại 1 (lương thực thực phẩm), loại 3 (nhiên liệu), loại 5 (đạn dược chất nổ), lên Plei Ku dự trữ cho 20.000 quân phòng thủ trong 30 ngày mới bổ sung. Do vậy, mà hằng ngày đoàn xe cả trăm chiếc đi đi về về giữa Qui Nhơn với Plei Ku để vận chuyển tiếp liệu từ Qui Nhơn lên Plei Ku. Tôi sang văn phòng Đại Tá Loan, và sau khi trình cho anh xong, tôi điện thoại lên văn phòng Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng:
“Tôi Hoa đây anh Nguyện (Đại Tá Nguyễn Kỳ Nguyện, chánh văn phòng), anh cho tôi trình vấn đề gấp với Đại Tướng. Anh chờ tôi một chút. Tôi đây (Đại tướng Viên).Thưa Đại Tướng, tôi Hoa đây. Có việc gì vậy? Thưa Đại Tướng, cách đây vài phút, Đại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, cho tôi biết về đoàn quân rút bỏ Plei Ku và Kon Tum đang bị sa lầy ... (tôi thuật lại chi tiết mà tôi với Đại Tá Khương đã nói với nhau). “Anh có chắc là đúng như vậy không? Từ chỗ đoàn xe bị kẹt đến Đại Tá Khương như thế nào thì tôi không dám chắc, nhưng từ Đại Tá Khương đến tôi là hoàn toàn chính xác, thưa Đại Tướng. Thôi được. Anh đừng nói với ai nữa nghe. Vâng”.
Bài 266: RÚT BỎ PLEIKU-KON TUM-PHÚ BỔN NHỮNG TƯỞNG ĐỂ CHIẾM LẠI BAN MÊ THUỘT NHƯNG RỒI TOÀN BỘ CAO NGUYÊN BỎ NGÕ CHO CỘNG QUÂN: PHẠM BÁ HOA GHI LẠI.
Đại Tá Loan và tôi đều ngẩn ngơ về câu nói sau cùng của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng. Chúng tôi ngẩn ngơ vì không hiểu tại sao tình hình đến như vậy mà vẫn muốn giấu kín chúng tôi nữa! Vài phút sau đó, Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu, điện thoại cho tôi: “Cưng ơi (Chuẩn Tướng Thọ thường gọi tôi như vậy), cưng có liên lạc với đoàn xe trên đường số 7 hả?. Tôi không trực tiếp liên lạc nhưng Liên Đoàn 2 Vận Tải của chúng tôi đã liên lạc được với đoàn xe chở tiếp liệu lên Plei Ku và bị kẹt trên đó, nay thì cùng trong đoàn quân sa lầy mà vừa rồi tôi đã trình Đại Tướng. Có. Đại Tướng mới gọi anh đây. Cưng cứ biết vậy thôi nghe”. Cũng lại giấu nhau!
Chiều tối hôm sau (19/3/1975) thì Trung Tướng Đồng Văn Khuyên từ Tokyo (Nhật Bản) về đến. Sau khi nghe chúng tôi trình bày về tình hình từ ngày ông vắng mặt đến nay, ông nói sáng mai (20/3/1975) sẽ trình diện Tổng Thống với Đại Tướng, chắc là sẽ có tin tức rõ ràng hơn. Và đây là những tin tức đó: "... Sau khi mất Ban Mê Thuột, áp lực của quân cộng sản rất mạnh. Tổng Thống nhận định là không đủ khả năng bảo vệ toàn bộ Cao Nguyên trong khi Ban Mê Thuột cần giữ hơn là Plei ku với Kon Tum, vì vậy mà trong buổi họp ngày 14/3/1975 tại Cam Ranh, Tổng Thống Thiệu đã quyết định rút bỏ Plei Ku, Kon Tum, Phú Bổn, để đem lực lượng về phản công lấy lại Ban Mê Thuột.
“Tổng Thống giao cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II, nhiệm vụ thực hiện cuộc hành quân triệt thoái khỏi 3 tỉnh đó, nhưng phải giữ bí mật tối đa và bảo vệ toàn vẹn lực lượng. Thiếu Tướng Phú trình kế hoạch là rút theo đường liên tỉnh số 7, dù rằng con đường này không sử dụng từ lâu nhưng đạt được yếu tố bất ngờ đối với lực lượng cộng sản. Với đề nghị của Thiếu Tướng Phú, Tổng Thống Thiệu thăng cấp Chuẩn Tướng cho Đại Tá Phạm Duy Tất. Lúc đầu, Tổng Thống không đồng ý, nhưng Thiếu Tướng Phú cố lặp lại đề nghị, và sau cùng thì Tổng Thống chấp thuận. Lúc bấy giờ, Đại Tá Phạm Duy Tất đang là Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân/Quân Đoàn II. Khi mang cấp bậc Chuẩn Tướng, ông được Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn giao phó trách nhiệm Tư Lệnh cuộc hành quân lui binh”...
Hết giờ buổi chiều khá lâu, Trung Tướng Khuyên gọi tôi lên văn phòng, và ông đưa tôi xem một xấp không ảnh đã được giải đoán đầy đủ. Toàn bộ xấp không ảnh cho thấy đoàn xe không phải theo một hình dài mà là một hình gần như tròn, vì khi phần đi đầu bị kẹt thì những chiếc sau cứ lấn qua bên trái hay bên phải với hy vọng tìm được lối đi, nhưng càng lấn vào rừng thì càng không lối thoát, và cứ như thế mà cả đoàn xe quá nhiều đó đã tạo nên dáng như vậy. Ghi chú bên cạnh những khoanh tròn bằng ngòi bút của chuyên viên giải đoán không ảnh, có gần 800 xe đã bị thiêu hủy.
Nếu như giải đoán viên không ảnh chính xác hay ít ra cũng gần như vậy, thì chỉ mới 4 ngày dấn thân vào đường liên tỉnh số 7 mà số xe bị tổn thất trên dưới 1/3 trong tổng số xe các loại, quả là rất nặng. Trong số tổn thất đó có “Tiểu Đoàn Pháo Binh 175 ly cơ động và Trung Đoàn Chiến Xa hạng nặng M48". Đây là hai loại vũ khí mới được Hoa Kỳ viện trợ năm 1973, lúc Hoa Kỳ chỉ rút quân về nước, và toàn bộ chiến cụ để lại cho quân đội chúng ta. Khi về đến Tuy Hòa thì tổn thất đến nỗi, không còn khả năng thực hiện kế hoạch phản công chiếm lại Ban Mê Thuột được nữa.
Rút bỏ 3 tỉnh Cao Nguyên là Plei Ku, Kon Tum, và Phú Bổn, những tưởng bảo toàn được lực lượng gồm một phần của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh, Truyền Tin, và các ngành khác, để phản công chiếm lại thủ phủ Ban Mê Thuột, nhưng rồi toàn bộ Cao Nguyên miền Trung bỗng dưng rơi vào tay quân cộng sản.
Tình trạng hỗn loạn bi đát trong cuộc hành quân lui binh trên đường liên tỉnh số 7, là khởi đầu cho sự hỗn loạn trong các cuộc hành quân lui binh của Quân Đoàn I, và các Sư đoàn 1, 2, 3, 22, 23 Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Hải Quân, Không Quân, dọc các tỉnh duyên hải từ Quảng Trị, Huế, Đà Nẳng, đến Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Cam Ranh.
Đến cuối tháng 3/1975, từ Quảng Trị đến Cam Ranh đều bỏ ngỏ, thì tại Biên Hòa, nơi có bản doanh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn gấp rút tổ chức Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, và Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi tình nguyện nhận trách nhiệm chỉ huy Bộ Tư Lệnh này. Ngay sau đó, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương/Quân Đoàn III di chuyển ra Phan Rang, đặt bản doanh ngay trong căn cứ Sư Đoàn 6 Không Quân tại phi trường Bửu Sơn, với nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy tuyến phòng thủ tại đây.
Lực lượng dưới quyền Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi thật là phức tạp, vì lực lượng còn lại của Sư Đoàn 2 Bộ Binh, Sư Đoàn Nhẩy Dù, và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến quá mệt mỏi, trong khi tái trang bị cũng như những nhu cầu tiếp liệu khác chưa hoàn chỉnh. Tái tổ chức và trang bị xong, Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh tức tốc chuyển quân ra Phan Rang, trong khi Chuẩn Tướng Phan Đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh chuyển quân theo quốc lộ 4 xuống trấn giữ Tân An. Quốc lộ nối liền Sài Gòn với các tỉnh đồng bằng Cửu Long.
Và rồi tuyến đầu Phan Rang thất thủ. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh chiến trường, và Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, cùng nhiều sĩ quan trực thuộc bị bắt làm tù binh. Tiếp đó là Đà Lạt, Lâm Đồng, Bình Thuận và Bình Tuy, đều bỏ ngỏ, lui về Vũng Tàu và thủ đô Sài Gòn. Sư Đoàn 25 Bộ Binh của Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, từ Tây Ninh cũng lui về căn cứ Củ Chi, sát nách Sài Gòn. Lui xuống tuyến Xuân Lộc. Tại đây, Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo giữ chức Tư Lệnh, có khoảng 2 Sư Đoàn quân cộng sản mở cuộc tấn công vào Sư Đoàn 18 Bộ Binh tại Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh.
Cộng quân cứ tưởng trên đường tiến quân cứ như “chẻ tre” từ sông Bến Hải xuống đến đây, nhưng chẳng may cho chúng là sức kháng cự mãnh liệt của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, cộng với quyết định sử dụng bom CBU -loại bom hút hết dưỡng khí trong một đường kính nhất định và những ai trong khu vực đó đều không có dưỡng khí để thở- và loại bom 10 tấn dùng khai phá bãi đáp cho trực thăng giữa rừng già, đã gây thiệt hại nặng nề cho quân cộng sản. Thiệt hại đến mức chúng phải rời mục tiêu Sư Đoàn 18 Bộ Binh để đi vòng xuống tấn công Biên Hòa. Sau 12 ngày chống giữ, ngày 21/4/75, Sư Đoàn 18 Bộ Binh được lệnh Quân Đoàn III rút về trấn giữ căn cứ Long Bình.
Bài 267: NGUYÊN TỔNG THỐNG THIỆU, THỦ TƯỚNG KHIÊM VÀ TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG VIÊN LẶNG LẼ RỜI VIỆT NAM TRONG ĐÊM TỐI GIỮA LÚC ĐẤT NƯỚC..: PHẠM BÁ HOA GHI LẠI.
Với những cuộc rút lui hỗn loạn của Quân Đoàn I, Quân Đoàn II, và phần lớn của Quân Đoàn III, trong khi toàn lãnh thổ Quân Đoàn IV gồm 16 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, chưa có những trận đánh quan trọng nào, và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV, đã ra lệnh báo động cho Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Sư Đoàn 9 Bộ Binh, Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Sư Đoàn 4 Không Quân, cùng với Hải Quân, và các đơn vị tác chiến khác, kể cả Địa Phương Quân Nghĩa Quân sẳn sàng chống trả các cuộc tấn công của quân cộng sản. Đến 20/4/1975, chưa thấy chỉ dấu nào về một thảm trạng rút lui hay bỏ chạy trong phạm vi Quân Đoàn IV cả.
Những tin đồn đoán nào là Đại Tướng Dương Văn Minh đảo chánh, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh, nào là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị áp lực từ chức, ..v..v.. được truyền đi từ người này sang người khác, nhưng thật sự thì chẳng mấy ai biết những tin đó xuất phát từ đâu cả. Trong loạt tin đồn đoán lần này, có một tin xảy ra đúng như vậy, đó là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vị Tổng Thống thứ nhì của Việt Nam Cộng Hòa và là Tổng Thống thứ nhất của nền đệ nhị Cộng Hòa, tối 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức, sau khi ông mạnh mẽ cáo giác Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam.
Và, ông cũng tuyên bố rằng: "Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu bên cạnh anh em chiến sĩ”. Trước đó, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm đã từ chức, và ngày 14/4/75 bàn giao chức vụ Thủ Tướng cho Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn đương nhiệm Chủ Tịch Hạ Nghị Viện. Bốn ngày sau khi từ chức, đêm 25/4/1975, cả hai cựu Tổng Thống Thiệu và cựu Thủ Tướng Khiêm lên phi cơ sang Đài Bắc.
Xin nhắc lại. Đại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong từ ngày 7 tháng 10 năm 1964, sau đó giữ chức Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Chuyển sang nhiệm sở tại Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) từ tháng 10 năm 1965. Đến tháng 5 năm 1968, về Việt Nam giữ chức Tổng Trưởng Nội Vụ. Đầu năm 1969, giữ chức Phó Thủ Tướng. Và đến đầu tháng 9 năm 1969, thay giáo sư Trần Văn Hương trong chức vụ Thủ Tướng. Rồi khi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ bị cách chức Tổng Trưởng Quốc Phòng năm 1972 vì vụ Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm kiêm nhiệm thêm chức Tổng trưởng Quốc phòng.
Ngày 27/4/1975, Đại tướng Cao Văn Viên, cũng xin giải ngũ, để ngày 28/4/1975, mang theo gia đình cùng với vợ, con Tổng thống Thiệu lên phi cơ sang Đài Bắc. Trong những năm chiến tranh chưa đến hồi khốc liệt và được viện trợ đầy đủ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên đã sát cánh với quân đội và toàn dân chiến đấu chống cộng sản, nhưng khi tổ quốc lâm nguy thì ba vị lãnh đạo cao nhất nước, kế tiếp nhau chuyển giao chức vụ cho người khác, rồi âm thầm ra đi.
Các vị đã rời bỏ tổ quốc Việt Nam, nơi mà quí vị được sinh ra và lớn lên; quí vị đã bỏ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân đội đã từng đưa quí vị lên tột đỉnh quyền uy danh vọng. Và, quí vị cũng đã bỏ gần 20 triệu đồng bào, mà chính họ đã từng hai lần bỏ phiếu bầu một trong ba vị vào chức vụ cao nhất nước: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tướng đã hai lần đặt tay lên Hiến Pháp tuyên thệ "bảo vệ quốc gia dân tộc, bảo vệ Hiến Pháp" khi nhận chức Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội; Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, hơn 5 năm trong chức vụ Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng; và Đại Tướng Cao Văn Viên, gần 10 năm trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Nói chung, quí vị đã bỏ lại đằng sau tất cả, lặng lẽ rời khỏi Việt Nam trong đêm tối, trước ngày dân tộc Việt Nam bị cộng sản độc tài cai trị! Còn gì để nói đây!
Bài 268: TRUNG TƯỚNG VĨNH LỘC NHẬN CHỨC TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG BỘ TỔNG THAM MƯU 29/4/1975: PHẠM BÁ HOA GHI LẠI.
Khoảng 11 giờ 30 phút sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên Tham Mưu trưởng và Tổng Cục trưởng Tổng cục Tiếp vận, Xử lý Thường vụ Tổng Tham mưu trưởng rời Bộ Tổng Tham mưu. Lúc 3 giờ chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung Tướng Vînh Lộc, đã một thời là Tư Lệnh Quân Đoàn II, rồi Chỉ Huy trưởng trường Cao Đẳng Quốc Phòng, vào nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Cùng lúc, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhận chức Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Và một vài Đại Tá nhận chức Trưởng Phòng.
Đại Tá Nguyễn Khắc Tuân, chánh văn phòng Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng gọi tôi lên trình diện Trung Tướng tân Tổng Tham Mưu Trưởng. Trung tướng Vĩnh Lộc nói: Những vị Tướng cầm quyền đã chạy hết rồi. Bây giờ chúng mình hãy cùng nhau cố gắng làm nhiệm vụ trọng đại của Quốc Gia. Vào giờ phút lâm nguy này mới thấy được giá trị của mỗi người như thế nào đối với Tổ Quốc”. “Thưa Trung Tướng, giờ này tôi có mặt ở đây và đang trình diện Trung Tướng, trong khi các cấp chỉ huy trên tôi đã rời khỏi nhiệm sở, và các cấp chỉ huy dưới tôi cũng vậy, có nghĩa là tôi vẫn tiếp tục trách nhiệm của tôi, thưa Trung Tướng”.
“Nhiệm vụ yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị phòng thủ Sài Gòn, tôi trông cậy vào anh”. Vâng. Tôi đã và đang làm tất cả những gì thuộc về trách nhiệm của tôi, và tôi vẫn tiếp tục như vậy. Và nếu không có vị nào khác thì xin Trung Tướng cử Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức vào chức vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, vì tôi được biết Chuẩn Tướng Chức sẳn sàng nhận chức vụ này, thưa Trung Tướng”. “Anh sẽ có vị Tổng Cục Trưởng ngay hôm nay”. “Vâng. Chào Trung Tướng”.
Lúc 5 giờ chiều 29 tháng 4 năm 1975, Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, trước là Cục Trưởng Cục Công Binh, kế đến là biệt phái sang phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách khẩn hoang lập ấp, đến nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Tôi trình bày tình hình chung và tình hình riêng của ngành Tiếp Vận như đã cung cấp cho các vị chỉ huy Tiếp Vận trong buổi họp ngắn ngủi lúc 2 giờ, và tình hình yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị chiến đấu. Chuẩn Tướng Chức viết tay lệnh bổ nhiệm Đại Tá Trần Văn Lễ, đang là Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp Vận trở lại chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Tiếp Vụ. Các vị Cục Trưởng đã bỏ nhiệm sở thì ông cử các vị Cục Phó giữ chức Quyền Cục Trưởng.
Bây giờ xin phép anh tôi về nhà dùng cơm rồi trở lại ngay. Trong thời gian đó nếu có đơn vị nào xin yểm trợ thì anh bảo họ điện thoại cho tôi và tôi giải quyết”. “Được rồi, anh về đi.
Cơm xong tôi ra xe, nhưng đến 10 giờ đêm mà vẫn chưa ra đến đường Tô Hiến Thành mặc dù chỉ cách nhà tôi hơn 100 thước. Chừng như tất cả mọi người đều đổ xô ra khỏi nhà để tìm đường sống vậy! Tôi xuống xe và chen nhau từng bước giữa khối người là người, mới trở vào được trong khu cư xá do các thanh niên trong cư xá canh gác bảo vệ, vì ngay ngoài cổng trước của cư xá đã có vài nhà bị cướp giật rồi. Tôi điện thoại sang Tổng Cục Tiếp Vận: “Chào anh Chức, Hoa đây anh. Bây giờ tôi không có cách nào ra ngoài cư xá được vì hỗn loạn đến mức không sao tưởng tượng nỗi. Anh cho phép tôi ở nhà. “Được rồi. Có gì tôi gọi anh”.
Khoảng 2 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, điện thoại (nhà tôi) reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe”.“Trung Tướng Lộc đây anh. Lúc nảy, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh có xin tiếp tế xăng và đạn, không biết là họ liên lạc với anh chưa? “Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III có gọi tôi, và tôi đã cung cấp rồi, thưa Trung Tướng”. “Cố gắng nghe anh Hoa”. “Vâng. Tôi đã trình bày với Trung Tướng chiều qua rồi, tôi vẫn thi hành nhiệm vụ của tôi cho đến khi nào tôi không thể tiếp tục được nữa, thưa Trung Tướng”.
Khoảng 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Thiếu Tá Ông Kim Miêng, chánh văn phòng Tổng Cục Phó, và từ chiều qua là chánh văn phòng Tổng Cục Trưởng, từ văn phòng Tổng Cục Tiếp Vận điện thoại tôi: Thưa Đại Tá, Chuẩn Tướng Chức đã lên xe đi rồi. Chuẩn Tướng đi một mình hay đi với ai vậy anh? Dạ đi một mình. Chuẩn Tướng đi mà không xách cái cặp theo, và cũng không cho xe hộ tống (xe có còi hụ mà chiều qua ông mang đến) theo nữa”. Thôi được. Sáng sáng một chút, tôi tìm cách đến Tổng Cục hẳn hay. Vừa mờ sáng là tôi lên xe. Hướng ngã tư Bảy Hiền, tôi cho xe chạy ngang chợ ông Tạ rồi rẽ sang Võ Tánh nối dài đến Tổng Tham Mưu, nhưng không vào được.
Bởi Đại Tá Trần Văn Thăng, mới nhận chức Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu ra lệnh cho toán Quân Cảnh gác cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu, không cho bất cứ ai vào nếu không có thẻ an ninh do Sĩ quan an ninh Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã cấp. Tôi có thẻ, nhưng để trong cặp xách tay, và cái cặp thì tối qua tôi vẫn để trên bàn viết ở văn phòng. Đạn đại bác của quân cộng sản nổ nhiều ở Tân Sơn Nhất và bắt đầu nổ trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu trong lúc tôi đang nói chuyện với anh sĩ quan Quân Cảnh. Chúng tôi phải nép vào thân cây trước văn phòng Tổng Hành Dinh.
Vậy là, tôi sang trại Lê văn Duyệt, ngồi tạm trong văn phòng Đại Tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu Trưởng Biệt Khu Thủ Đô. Tôi báo cho Thiếu Tá Ông Kim Miêng bên Tổng Cục Tiếp Vận biết vị trí của tôi và dặn anh chuyển tất cả điện thoại sang tôi nếu có ai gọi. Tại Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh, đã bỏ chạy rồi. Thiếu Tướng Lâm Văn Phát, người đảo chánh Trung Tướng Khánh ngày 19 tháng 2 năm 1965 thất bại được Tổng Thống Dương Văn Minh được cử giữ chức Tư Lệnh Biệt Khu. Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, giữ chức Tư Lệnh Phó. Thiếu Tướng Phát từ sáng sớm đã lên trực thăng quan sát tình hình, vừa đáp xuống là ông gọi Tư Lệnh Không Quân cho các phi tuần khu trục liên tục oanh kích quân cộng sản đang quanh quẩn dọc con đường từ phía trên ngã tư Bảy Hiền lên đến Hóc Môn.
Vị Tư Lệnh Không Quân lúc bấy giờ là Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, vì Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân đã cao bay xa chạy rồi. Và, Bộ Tư Lệnh Không Quân cùng các phi đoàn còn lại, từ căn cứ Sư Đoàn 5 Không Quân Tân Sơn Nhất và căn cứ Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, rút xuống căn cứ Sư Đoàn 4 Không Quân tại Trà Nóc, cách Cần Thơ khoảng 7 cây số. Khi trực thăng Thiếu Tướng Lâm Văn Phát vừa đáp xuống sân Bộ Tư Lệnh, Chuẩn Tướng Lê Văn Thân bảo Đại Tá Ngô Văn Minh ghi lên bản đồ mà ông đang cầm trên tay, vị trí của các đơn vị bạn để ông bay quan sát và hướng dẫn các khu trục tấn công các đơn vị địch. Khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, chiếc trực thăng trở về nhưng không có Chuẩn Tướng Thân. Tôi hỏi: Chuẩn Tướng Thân đâu rồi các bạn? Chuẩn Tướng bảo tôi đáp xuống Cần Giờ, ổng xuống đó rồi bảo tôi về đi. Vậy là Chuẩn Tướng Thân cũng đã chạy!
Trung Tướng Vĩnh Lộc điện thoại cho tôi, ông đồng ý cho tôi ngồi ở Biệt Khu Thủ Đô điều hành công tác yểm trợ Tiếp Vận. Và ông cho biết là ông phải xuống dinh Độc Lập để dự lễ ra mắt chánh phủ lúc 9 giờ (sáng). Sau đó tôi mới biết là Trung Tướng Vĩnh Lộc cũng bỏ chạy. Nhưng nghĩ cho cùng, Trung Tướng Vĩnh Lộc chỉ ngồi ghế Tổng Tham Mưu Trưởng vỏn vẹn có 18 tiếng đồng hồ, và là 18 tiếng đồng hồ cuối cùng của cuộc chiến 20 năm 9 tháng 10 ngày. Tôi nghĩ ông không phải là vị Tổng Tham Mưu Trưởng góp phần trách nhiệm về cái chết tức tưởi của một quân đội hơn 1.000.000 người!
Lúc 10 giờ 15 ngày 30 tháng 4 năm 1975, từ máy thu thanh trong phòng Đại Tá Ngô Văn Minh, có âm thanh "... ông nói đi...., nhanh lên,.... chờ gì nữa,....". Một giọng nói gần như quát: "Ông tuyên bố nhanh lên..."Và đại ý lời của Tổng Thống Dương Văn Minh như là một mệnh lệnh đối với quân đội".... các đơn vị không được nổ súng, ở yên tại chỗ và bàn giao cho lực lượng giải phóng...". Tôi xem đây là giây thứ 3.600, giây cuối cùng của giờ thứ 25, giờ cuối cùng của ngày thứ 7.583, và là ngày cuối cùng của một giai đoạn chiến đấu bảo vệ tự do dân chủ! Thế là hết!!! (Hết trích).
CHÍNH QUYỀN HAI
Bài 269: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM 1970-1975.
Giai đoạn sau Mậu Thân, tình hình miền Nam tương đối yên tĩnh trong các năm 1969–1971. Lực lượng vũ trang của QGP tích cực dự trữ lương thực, đạn dược tại các căn cứ ở Lào, Campuchia và các vùng rừng núi mà quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa chưa với tới được. QGP sử dụng vùng biên giới Lào và Campuchia, làm bàn đạp tấn công vào lực lượng Mỹ-Việt Nam Cộng hòa, sau đó rút lui trở lại bên kia biên giới. Chính quyền Sihanouk đã thỏa thuận với Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho phép các căn cứ QGP ở sát biên giới Việt Nam-Campuchia nhận viện trợ từ Trung Quốc thông qua các cảng Campuchia. Đổi lại Campuchia được đền bù bằng cách Trung Quốc mua gạo của Campuchia với giá cao.
Tháng 3 năm 1970, Tổng thống Mỹ Nixon muốn chấm dứt tình trạng đó, nên ủng hộ Thủ tướng chính phủ Campuchia là Lon Nol triệu tập Quốc hội bỏ phiếu phế truất hoàng thân Norodom Sihanouk khỏi vị trí Quốc trưởng, sau đó phát động chiến tranh chống Cộng tại Campuchia. Tháng 4 năm 1970, khoảng 40.000 lính Việt Nam Cộng hòa và 31.000 lính Mỹ được huy động mở chiến dịch tấn công vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại biên giới Tây Ninh giáp ranh Campuchia. Do được chuẩn bị trước, ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam và phần lớn lực lượng QGP đã di chuyển sâu vào lãnh thổ Campuchia và tiến hành các trận phản công, gây cho đối phương những thiệt hại đáng kể.
Ngày 30 tháng 6 năm 1970 cuộc hành quân chấm dứt, Mỹ tuyên bố tiêu diệt khoảng 2.000 QGP, nhưng họ đã không tiêu diệt được Ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam. Sau đó, lực lượng QGP gồm các sư đoàn 5, 7, 9 cùng quân Khmer Đỏ đánh lui các đội quân của chính phủ Lon Nol, và quân đồn trú của Việt Nam Cộng hòa giành kiểm soát các tỉnh Đông và Đông Bắc Campuchia mở rộng căn cứ nối thông với Lào. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng cung cấp vũ khí, quân trang quân dụng giúp Khmer Đỏ xây dựng nhiều đơn vị quân sự mới. Vùng lãnh thổ do QGP và Khmer Đỏ kiểm soát tại Campuchia trở thành hậu cứ lớn, QGP đã có thể thu mua nhu yếu phẩm, thuốc men ngay trên đất Campuchia không phải chờ vào chi viện của miền Bắc cách xa hàng ngàn cây số.
Tiến trình Việt Nam hoá chiến tranh diễn ra tương đối thuận lợi. Quân lực Việt Nam Cộng hoà sau Mậu Thân được trang bị hiện đại đã tỏ ra tự tin hơn và đã nắm thế chủ động trên phần lớn chiến trường miền Nam từ năm 1969 đến tận cuối năm 1971. Nhưng điều đó chưa nói lên điều gì lớn, vì QGP trong thời kỳ này vẫn chưa hồi phục sau Mậu Thân và không chủ trương đánh lớn. Sự yên tĩnh trên chiến trường cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút quân Mỹ mà không gây ra một sự xấu đi trầm trọng nào. Tranh thủ thời gian yên tĩnh, Việt Nam Cộng hòa đổ công sức vào tiến hành bình định nông thôn. Một chương trình tái thiết nông thôn được thi hành với viện trợ kinh tế lớn của Mỹ.
Chiến dịch Phượng Hoàng được triển khai, nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Các toán nhân viên Phượng hoàng áo đen được tình báo Mỹ huấn luyện phái xuống các xóm ấp, họ ở cùng trong dân nghe ngóng thu thập tin tức tình báo, bắt các phần tử nghi ngờ là cộng sản hoặc thân cộng sản tra khảo để phanh ra tổ chức, nếu không khai thác được và vẫn nghi là Cộng sản thì sẽ bị thủ tiêu. Tính tới năm 1972, Mỹ tuyên bố đã "loại bỏ" 81.740 người ủng hộ QGP, trong đó 26.000 tới 41.000 đã bị giết. Số người bị thủ tiêu lên đến hàng ngàn người. Các biện pháp này đã có hiệu quả tốt về an ninh, tình hình nông thôn trở nên an toàn hơn.
Việc QGP cùng quân Khmer Đõ giành kiểm soát các tỉnh Đông Bắc Campuchia đã mở rộng căn cứ nối thông với Lào giúp QGP thiết lập một hệ thống kho tàng tại Hạ Lào nhận quân dụng từ miền Bắc, rồi chuyển đến các tỉnh Đông Bắc Campuchia, đổ vào các căn cứ Tây Ninh và nhiều nơi khác. Tháng 2 năm 1971, hơn 21.000 binh lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa, dưới sự yểm trợ của không quân Mỹ mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, từ căn cứ Khe Sanh, Quảng Trị đánh vào Hạ Lào nhằm phá hủy hệ thống kho tàng, cắt đứt nguồn tiếp tế của Bắc Việt cho Quân Giải phóng miền Nam. Quân Giải phóng đã dự đoán và chuẩn bị đón đánh từ trước.
Kết quả cuộc hành quân Liên quân Việt-Mỹ bị thiệt hại nặng nề, hơn nữa các lực lượng hành quân Lam Sơn 719 bị tiêu diệt là các đơn vị dự bị chiến lược tốt nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH). Riêng tại Cứ điểm 31, Đại tá Nguyễn Văn Thọ Lữ đoàn trưởng Dù, cùng Bộ tham mưu và gần 100 binh sĩ Lữ đoàn 3 Dù bị bắt, trên 100 người chết. Cuộc hành quân hành quân Lam Sơn 719 còn thất bại ở chỗ tuy có phá được một số kho tàng hậu cần, nhưng về cơ bản đã không làm hại gì cho hệ thống tiếp tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) cho Quân Giải phóng (QGP) miền Nam.
Bài 270: CHIẾN DỊCH HÈ-XUÂN NĂM 1972, TRẬN ĐỐI ĐẦU VỚI QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ TẠI CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ THÁNG 6-9/1972.
Đến đầu năm 1972, QGP đã chuẩn bị xong lực lượng và mở một cuộc tổng tiến công có quy mô lớn mang tên Chiến dịch Xuân-Hè 1972, còn được biết đến với tên gọi Mùa hè đỏ lửa, diễn ra từ ngày 30 tháng 3 năm 1972 đến ngày 31 tháng 1 năm 1973. Đây là cuộc tổng tấn công chiến lược bằng các chiến dịch tiến công quy mô lớn, hiệp đồng binh chủng, tiến công sâu vào hệ thống phòng ngự tại những hướng chiến lược quan trọng: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; Bắc Tây Nguyên; Đông Nam Bộ, và đồng bằng Khu V, và Khu VIII (Nam Bộ). Tuy rằng, tên và kế hoạch như vậy nhưng rút kinh nghiệm từ năm 1968, quân du kích và cán bộ nằm vùng sẽ không "nổi dậy" tại vùng địch hậu mà chỉ đóng vai trò chỉ đường và tải đạn, họ sẽ chỉ ra mặt tại những nơi chủ lực QGP đã kiểm soát vững chắc.
Trong 2 tháng đầu, QGP liên tiếp chọc thủng cả ba tuyến phòng ngự, tiêu diệt hoặc làm tan rã nhiều sinh lực đối phương, gây kinh ngạc cho cả Mỹ lẫn Việt Nam Cộng hòa. Tại Bắc Tây Nguyên, sau các thắng lợi ban đầu của QGP tại trận Đắc Tô - Tân Cảnh chiến sự mau chóng êm dịu trở lại sau khi đội quân này bị chặn lại trong Trận Kon Tum. Tại Đông Nam Bộ, ở tỉnh Bình Long sau khi thắng lợi tại trận Lộc Ninh, QGP tiến công theo đường 13 để giành quyền kiểm soát thị xã An Lộc. Không quân Mỹ dùng B 52 đánh phá ác liệt các khu vực tập kết gây thiệt hại lớn cho QGP. Cuối cùng, QGP không thể lấy nổi thị xã phải rút đi. Và, sau 3 tháng đánh nhau, chiến sự đi vào ổn định.
Chiến trường chính của năm 1972 là tại tỉnh Quảng Trị. Tại đây có tập đoàn phòng ngự dày đặc của QLVNCH, nơi tuyến đầu giáp với miền Bắc. Cuộc tiến công của QGP tại Quảng Trị đã thành công to lớn, 40.000 quân cua VNCH phòng ngự tại đây đã hoảng loạn và tan vỡ, thậm chí Trung tá Phạm Văn Đính, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 đã đầu hàng mà không chiến đấu. Chỉ sau một tháng và qua 2 đợt tấn công, QGP đã giành quyền kiểm soát toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế. Mỹ phản ứng bằng việc ném bom trở lại miền Bắc, đưa hải quân vào thả thuỷ lôi phong tỏa các hải cảng tại miền Bắc Việt Nam.
Ngày 25 tháng 5 năm 1972, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố sẽ tái chiếm Quảng Trị. Từ ngày 26 tháng 6 năm 1972, Không quân Hoa Kỳ bắt đầu ném bom rải thảm xuống Quảng Trị. Ngày 28 tháng 6 năm 1972, tướng Ngô Quang Trưởng phát lệnh khởi binh Chiến dịch Lam Sơn 72, với các đại đơn vị Lữ đoàn Dù 1, 2, 3; Liên đoàn 81/Biệt kích dù; Thiết đoàn 7, 18 kị binh; 3 Lữ đoàn Thuỷ quân lục chiến và các tiểu đoàn pháo, công binh trực tiếp tham chiến. Chiều 28 tháng 6, sau khi vượt sông Mỹ Chánh, QLVNCH đã cô lập được một bộ phận của các Sư đoàn 304 và 308 của QGP ở hướng Nam Sông Mỹ Chánh.
Ngày 29 tháng 6, về phía Đông các Lữ TQLC 147 và 258 tấn công các khu vực Diên Khanh, Xuân Viện, Kim Giao, Lữ TQLC 369 từ Mỹ Thủy và Cổ Lũy đánh ra. Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 7, sau khi nhổ từng chốt chặn của QGP trên khoảng cách từng hecta một, bất chấp các thương vong lớn, Lữ đoàn Dù 1 và Liên đoàn 1 Biệt động quân đã có mặt ở ngoại vi thị xã Quảng Trị, nhưng không lọt vào được. Ngay lập tức, QGP điều động Sư đoàn 325 và Sư đoàn 312 vào tham chiến cùng với các lực lượng tại chỗ giữ vững được Quảng Trị.
Ngày 7 tháng 7, Tiểu đoàn 3 QGP sử dụng Đại đội 9, tăng cường 1 trung đội của Đại đội 10, với một trung đội địa phương và 3 xe tăng được Trung đoàn pháo 45 chi viện tiến hành phản kích đối phương ở phía Đông La Vang Hữu. Kết quả hàng trăm binh lính VNCH bị thương vong, hai xe tăng bị bắn cháy phải rút ra khỏi khu vực La Vang Hữu. Phía QGP bị hỏng hai xe tăng một chiếc do bắn nhầm và một chiếc bị phá do bom. Quân Mỹ lại tăng cường hỏa lực, nâng tổng số đạn pháo đánh phá thị xã từ 8.000 viên/ngày lên 15.000 viên/ngày, cao điểm có ngày lên tới 30.000 viên/ngày, và từ 40 đến 60 lần/ngày máy bay phản lực, dùng bom khoan đánh phá hầm hào tường thành.
Ngày 13 tháng 7, máy bay trực thăng chở đại tá Nguyễn Trọng Bảo, tham mưu phó Sư đoàn Dù bị bắn hạ tại thị xã Quảng Trị. Rạng sáng 14 tháng 7, một đội biệt kích quân VNCH đột nhập vào phía đông Thành cổ định cắm cờ, thì bị đại đội 14 trung đoàn 48 QGP phát hiện bị tiêu diệt một số, số còn rút chạy bỏ lại lá cờ. Cùng ngày 14 tháng 7 nầy, Sư đoàn Dù và Sư TQLC tổ chức tấn công đợt 2 đánh chiếm thị xã. Lữ dù 1 đánh Quy Thiện, Trì Bưu, Lữ đoàn Dù 2 đánh Tích Tường, Như Lệ. Các lữ TQLC 147 và 369 tiến sát sông Vĩnh Định, chiếm An Tiêm, Nại Cửu và Bích La Đông. Đến ngày 16 tháng 7, Lữ đoàn Dù 1 đã chiếm được các làng Tri Bưu, Cổ Thành.
Trung đoàn 18 QGP (Sư 325) bị tổn thất nặng phải rút ra Ái Tử - Đông Hà, Bộ tư lệnh B5 điều Trung đoàn 95 (Sư 325) vào thay. Quân VNCH đã hình thành thế bao vây ba mặt quanh thị xã Quảng Trị. Ngày 22 tháng 7, quân VNCH ồ ạt sử dụng xe tăng và pháo binh tấn công chính diện kết hợp máy bay ném bom để chọc thủng tuyến phòng thủ này của QGP. Từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 7, tướng Lê Quang Lưởng tung Liên đoàn biệt kích Dù 81 vào chiến đấu. Tiểu đoàn biệt kích Dù 27 tiến sát góc Đông Nam Thành cổ định cắm cờ trên tường thành Cổ, nhưng đều bị Trung đoàn 48 QGP đẩy lùi.
Lúc này, trận chiến diễn ra trong mùa mưa khiến cho các chiến sỹ quân Giải phóng phải chiến đấu trong điều kiện cực kỳ khó khăn khi bên ngoài là bóng đêm và hỏa lực của đối phương, bên trong là những căn hầm ngập nước, khiến cho nguy cơ các vết thương bị nhiễm trùng tăng lên. Giao tranh diễn ra dữ dội, có nơi trên trận địa có ba lớp người chết, có cả lính QGP, lính VNCH và cả cố vấn Mỹ. Hai bên giao tranh với tinh thần không khoan nhượng. Không khí chiến trường trở nên ngột ngạt và căng thẳng.
Trung tuần tháng 8 năm 1972, Bộ Tư lệnh B5 quyết định giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 325 QGP chỉ huy lực lượng phòng thủ Thành cổ Quảng Trị. Lúc này, Sở chỉ huy Thành cổ ở ngay sát mép sông, dưới một căn hầm rượu của dinh tỉnh trưởng Quảng Trị đã bị bom đạn làm đổ nát, QGP cải tạo khu hầm thành ba ngăn, có giao thông hào chạy ra bên ngoài. Một ngăn cho chỉ huy và trực ban tác chiến; một ngăn cho thông tin trinh sát; và một ngăn làm khu phẫu thuật. Thương binh QGP tập trung về đây, trước khi vận chuyển khỏi chiến trường.
Tại bến Vượt, nơi chuyển quân giữa hai bờ Thạch Hãn cũng là nơi QGP hứng chịu nhiều bom đạn nhất. Nhiều thương binh QGP đã bị thiệt mạng bởi bom và pháo kích khi đang vận chuyển khỏi chiến trường. Khúc sông ở bến Vượt cũng chính là nguồn tiếp vận duy nhất cho QGP trong Thành cổ. Bom và đạn pháo có ngày đã gây thương vong cho cả một Đại đội Quân Giải phóng ở bến sông. Thế trận thực sự nghiêng về Hoa Kỳ và VNCH khi họ kiểm soát được cả ba mặt của Thành cổ lẫn kiểm soát trên không, nhưng QGP vẫn giữ được Thành cổ trong suốt ba tháng.
Bài 271: CUỘC RÚT LUI CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG SAU 81 NGÀY ĐÊM CỐ THỦ THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ ĐÊM 15 THÁNG 9 NĂM 1972.
Quân Giải phóng được bổ sung vào Thành đều đặn theo kế hoạch. Mỗi đêm vào trung bình được 40-50 người. Tân binh được tăng cường cho các đơn vị phòng thủ chỉ đủ để bù đắp số thương vong trong chiến đấu. Từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 9 năm 1972, trời mưa to, nước sông Thạch Hãn lên nhanh, chảy xiết, ảnh hưởng đến tăng cường cung cấp tiếp tế và quân số. Có đêm trôi dạt hàng chục chiến sĩ vượt sông. Công sự chốt hầu hết bị sụt lở khiến QGP phải chiến đấu trong điều kiện cực kỳ tồi tệ.
Ngày 7 tháng 9 năm 1972, quân VNCH tiến công đợt 6, mở đầu bằng trận tập kích hỏa lực "Phong lôi 2". Không quân, hải quân Hoa Kỳ, pháo binh VNCH bắn suốt 48 giờ liền vào tất cả các trận địa QGP và vực khu Thành cổ, các bến vượt sông, đường cơ động. Oanh tạc cơ B-52 liên tục rải thảm tả ngạn sông Thạch Hãn khu Nhan Biều-Ai Tử. Đêm 7 tháng 9, tiểu đoàn K2 Trung đoàn 48 QGP tập kích khu Hành Hoa, chiếm một số công sự, cải thiện thế phòng thủ ở Tri Bưu. Tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 5 trung đoàn 95 bị tử thương trong khi tập kích khu nhà thờ Tin Lành.
Sáng ngày 9 tháng 9 năm 1972, Lữ đoàn 147 và 259 Thủy quân Lục chiến bắt đầu cuộc tấn công lớn: hai lữ đoàn TQLC với năm mũi, tiến công từ ba hướng vào thị xã, để tái chiếm thành cổ, cùng lúc tiến công khu La Vang-Tích Tường-Như Lệ để chặn sư đoàn 308 QGP phản kích từ hướng này. Liên đoàn 1 Biệt động quân tiến công hướng Bích Khê-Nại Cửu để chặn sư đoàn 320 QGP từ bắc sông Vĩnh Định. Nhiều trận phản kích ác liệt của bộ đội ở ngay sát chân Thành cổ.
Ngày 10, tháng 9 năm 1972, quân VNCH được tăng cường thêm 2 sư đoàn từ Huế, tổ chức tấn công trực diện Thành cổ, lấn dũi mạnh từ hướng Nam-Đông-nam. Nhiều toán nhảy vào thành nhưng đều bị QGP tiêu diệt. Quanh Thành cổ, dưới hào nước, xác chết nằm rải rác. Dưới sự yểm trợ của xe tăng, quân VNCH tấn công lấn dũi phía khu Mỹ Tây, Trường Nữ, Trại giam, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95, QGP đánh trả ác liệt, bắn hỏng một xe tăng, nhưng cũng bị chết 6, bị thương 49. Ngày 10-9, cả ở hướng Nam-Đông Nam, Bắc-Đông Bắc, trên toàn khu vực Thị xã, QGP diệt hơn 200 binh lính đối phương, bắn cháy 1 xe tăng, nhưng cũng bị thương vong 126 người và để mất khu trại giam và Mỹ Tây.
Đêm 12/9, QGP tăng cường vào thành tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 (201 người) và 70 tân binh giữa lúc trời mưa to, lũ lớn. Quân VNCH sau 4 ngày liên tục tiến công lấn dũi, vẫn chưa chiếm được Thành, nhưng 6 tiểu đoàn thuộc 2 Lữ đoàn Thủy quân lục chiến đã áp sát ba góc Thành cổ: Nam, Đông Nam, Đông Bắc. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 QGP chiến đấu quyết liệt, giằng co với đối phương từng khu vực, góc tường, mảnh vườn. Kết quả trong ngày, QGP diệt 123 lính, bắn cháy 1 xe tăng, QGP bị thương vong 34 chiến sĩ.
Rạng sáng ngày 13 tháng 9/1972, đại đội 5 tiểu đoàn 2 QLVNCH từ ngã tư Quang Trung-Trần Hưng Đạo mở cuộc tấn công vào khu vực chợ Quảng Trị. Trận chiến đã diễn ra quanh khu vực chợ, dọc theo đường Trần Hưng Đạo ra đến bờ sông. Hai bên đã quần thảo nhau quanh các đống bê tông đổ nát mà QGP đã biến thành các điểm kháng cự. Cuối cùng tiểu đoàn TQLC đã chiếm được mục tiêu, sau đó khai triển thanh toán các chốt phòng ngự dọc hai bên đường Phan Đình Phùng, cơ quan USOM và Tòa án tỉnh Quảng Trị. Mục tiêu sau cùng trong ngày 13/9 của tiểu đoàn 2 TQLC là tòa Hành chánh tỉnh Quảng Trị nơi 1 Trung đoàn Quân Giải phóng đặt bộ chỉ huy.
Do các chốt bảo vệ xung quanh đã bị TQLC triệt hạ, nên bộ chỉ huy QGP tại đây đã phải dời ra hướng sông. Khoảng 23 giờ ngày 13 tháng 9, Bộ Tư lệnh B5 QGP lệnh cho trung đoàn phó trung đoàn 48, và sau đó 1 giờ sáng 14 tháng 9 lệnh cho Đại tá Nguyễn Việt chỉ huy trưởng Thành cổ ra ngay Nhan Biều để cùng Sư phó sư đoàn 325 tổ chức lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 QGP vào thành phản kích. Ngày 14 tháng 9 năm 1972, từ hướng Đông-nam, quân VNCH tiến sát khu chùa Bà Năm, khu trại giam, chợ. Từ hướng Nam, họ vào khu Mỹ Tây, Trường Nữ. QGP chống trả quyết liệt bị thương vong nhiều nhưng vẫn giữ vững các chốt.
Khoảng 4 giờ sáng ngày 15 tháng 9, được yểm trợ tối đa hỏa lực từ không quân, pháo binh, xe tăng, súng phun lữa các loại, Lữ đoàn TQLC 258 và 147 tập trung lực lượng tổng công kích từ ba hướng vào Cổ thành: Ở hướng Đông, 4 đại đội của tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 6 TQLC đã dàn hàng ngang đồng loạt xung phong đánh vào Sở chỉ huy K1, Trung đoàn 48 QGP chiếm được một góc khu đông bắc Thành cổ. Các chốt của QGP còn lại tiếp tục chiến đấu mặc dù sức chiến đấu đã giảm, quân số bị thương vong nhiều. Tiểu đoàn địa phương K8, tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 mới vào cũng đã bị tổn thất nặng.
Trung đoàn bộ binh 18 Sư đoàn 325 QGP vẫn chưa đến được nơi quy định để vượt sông vào Thành cổ. Đêm 15 tháng 9 năm 1972, các chỉ huy của QGP trong thành nắm lại tình hình, thấy QLVNCH đã chiếm một số góc thành cổ, nên thống nhất ra lệnh rút khỏi thị xã, và thành cổ từ 22 giờ ngày 15 tháng 9. QGP pháo kích vào cánh quân của tiểu đoàn 3 và 6 TQLC, yểm trợ cho QGP đang cố thủ ở đây chuẩn bị rút lui. Gần rạng sáng, các đơn vị TQLC đồng loạt xung phong, những tổ kháng cự của QGP chống trả mãnh liệt, nhằm giữ chân QLVCH cho đồng đội rút lui.
Sau 81 ngày đêm cố thủ tại Cổ Thành và thị xã Quảng Trị, 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, QGP rút lui khỏi Thành cổ. Riêng trung đoàn Triệu Hải (Trung đoàn 27 QGP), Trung đoàn trưởng sau này là thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, người gắn bó với Trung đoàn 27 lúc mới thành lập, từ lính nghĩa vụ, chỉ huy tổ 3 người, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, rồi Trung đoàn trưởng với 1.500 quân đưa vào thành cố thủ là đơn vị tổn thất nặng nhất. Các chốt chiến đấu vòng ngoài đều bị xóa sổ, trung đoàn 48B thuộc sư đoàn 390 QGP, đơn vị chiếm giữ trung tâm thị xã, cũng đã bị thiệt hại hơn 80% quân số.
Trong một hồi ký phổ biến vào năm 1997, trung tướng Lê Tự Đồng nguyên tư lệnh lực lượng QGP tại mặt trận tỉnh Quảng Trị ghi nhận là các sư đoàn và trung đoàn QGP tham chiến đã bị tổn thất quá nửa quân số. Tướng Lê Phi Long của QGP nói: "Chiến dịch Quảng Trị kéo dài, thương vong rất lớn, có thể nói là lớn nhất so với tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến. Mỗi lần nghĩ lại tôi rất đau lòng. Mãi đến bây giờ (2008), tôi và nhiều đồng nghiệp vẫn chưa hiểu vì sao ta phải cố thủ Cổ thành với một giá đắt như vậy? Có cán bộ cấp trên giải thích rằng do “yêu cầu của đấu tranh ngoại giao, cần giữ vững Cổ thành để phối hợp với cuộc đàm phán tại hội nghị Paris...".
Lê Bá Dương một chiến binh tham gia trận đánh Quảng Trị có Bài thơ “Lời gọi bên sông” viết:
Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ.
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước.
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.
Bài 272: HOÀ HỘI PARIS VÀ QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN TỪ NGÀY 3/5/1968 ĐẾN NGÀY 27/1/1973.
Sau Mậu Thân, các bên đã ngồi vào thương lượng cho tương lai chiến tranh Việt Nam. Đó là việc phải xảy ra khi chẳng ai dứt điểm được ai bằng quân sự. Hội đàm bắt đầu tại Paris kéo dài từ ngày 3 tháng 5 năm 1968 đến ngày 27 tháng 1 năm 1973 ký Hiệp đinh, mang tên Hiệp định Paris về Việt Nam. Hội đàm ban đầu chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ; sau mở rộng ra thành hội nghị bốn bên, thêm Việt Nam Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Về mặt công khai có 4 bên tham gia đàm phán, nhưng thực chất chỉ có 2 bên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ tiến hành đàm phán bí mật với nhau để giải quyết các bất đồng giữa hai bên.
Khi một bên đang thắng thế trên chiến trường thì đàm phán thường bế tắc và đó là những gì diễn ra Hội nghị Paris suốt thời kỳ từ năm 1968 đến năm 1972. Các bên dùng hội nghị như diễn đàn đấu tranh chính trị. Trong suốt quá trình hội nghị các cuộc họp chính thức chỉ mang tính tố cáo nhau, tranh luận vài điều mà không thể giải quyết được rồi kết thúc mà không đi vào thực chất. Chỉ có các cuộc tiếp xúc bí mật giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn của tổng thống Mỹ, là đi vào thảo luận thực chất nhưng không đi được đến thỏa hiệp.
Mục đích của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) khi tham gia đàm phán là buộc Mỹ rút quân và buộc chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) dù do bất kỳ ai lãnh đạo cũng phải giải tán thay thế bằng một chính phủ Liên hiệp. Vì VNDCCH cho rằng chính phủ VNCH không muốn độc lập và hòa bình, mà chỉ muốn nắm quyền vì lợi ích của họ. Phía Mỹ cho rằng phía VNDCCH làm ra vẻ muốn hoà bình và độc lập, nhưng thực tế chẳng khác nào ép Mỹ phải làm mọi cách để lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa từ chức rồi lập ra chính quyền Liên hiệp để đàm phán và kết quả là một Liên minh mà thực chất người cộng sản nắm toàn quyền.
Lập trường ban đầu của các Mỹ: quân đội Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam phải đồng thời với việc Quân đội Miền Bắc cũng rút khỏi miền Nam Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hòa bình. Tổng tuyển cử trước, ngừng bắn sau. Lập trường ban đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam, không đả động tới sự có mặt tại miền Nam của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu không được tồn tại trong giải pháp hòa bình. Thành lập Chính phủ liên hiệp tại miền Nam thông qua Tổng tuyển cử. Ngừng bắn trước, Tổng tuyển cử sau.
Cho đến cuối năm 1972, trận Thành cổ Quảng Trị kéo dài, tổn thất lớn, mỗi bên đều nhận ra rằng không thể khuất phục đối phương bằng vũ lực cũng như không đủ nguồn lực để duy trì chiến tranh nên buộc phải chấp nhận xuống thang trên bàn đàm phán. Hai bên đã đi đến thỏa hiệp chung: Quân Mỹ và các đồng minh nước ngoài rút khỏi Việt Nam chấm dứt mọi can thiệp quân sự vào vấn đề Việt Nam; không đả động tới việc có hay không Quân đội Nhân dân Việt Nam ở chiến trường Nam Việt Nam; và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu được phép tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hòa bình.
Sau khi văn kiện hiệp định đã được ký tắt, Henry Kissinger đi Sài Gòn để thông báo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu văn bản đã đạt được. Phía Việt Nam Cộng hòa phản đối dự thảo này và tuyên bố sẽ không ký kết hiệp định như dự thảo. Sau đó, chính phủ Mỹ tuyên bố chưa thể ký được hiệp định và đòi thay đổi lại nội dung chính liên quan đến vấn đề quy chế về Quân đội Nhân dân Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ sửa đổi của Mỹ. Mỹ tiến hành ném bom lại miền Bắc Việt Nam để buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam chấp nhận ký theo phương án Mỹ đề nghị.
Tháng 12 năm 1972, Mỹ mở Chiến dịch Linebacker II cho máy bay ném bom chiến lược B 52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác ở miền Bắc Việt Nam trong 12 ngày. Trong chiến dịch này, Mỹ đã huy động cả không quân chiến lược với gần 200 chiếc máy bay B 52 để ném bom rải thảm xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên trong 12 ngày đêm. Đây chỉ là cách để Mỹ thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ đối với đồng minh. Bởi dự thảo hiệp định ký tắt với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị chính phủ Việt Nam Cộng hòa phản đối kịch liệt và không chấp nhận, Mỹ quyết định dùng bước này để chứng tỏ họ đã cố gắng đến mức cuối cùng cho quyền lợi của Việt Nam Cộng hòa rồi.
Mục tiêu mà Mỹ đặt ra trong chiến dịch Linebacker II là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng, ngoại trừ cố gắng để "giảm thiểu nguy hiểm cho dân thường tới mức có thể cho phép mà không ảnh hưởng hiệu quả" và "tránh các khu giam giữ tù binh, bệnh viện và khu vực tôn giáo". Ở Hà Nội, tại phố Khâm Thiên bom trải thảm đã phá sập cả dãy phố và sát hại hàng trăm dân thường. Tại bệnh viện Bạch Mai, nhiều tòa nhà đã bị phá hủy, cùng với các bệnh nhân và bác sĩ, y tá bên trong. Nhiều cơ sở vật chất, kinh tế, giao thông, công nghiệp và quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng bị phá huỷ.
Không lực Mỹ quá tin tưởng vào các biện pháp kỹ thuật gây nhiễu điện tử để vô hiệu hóa radar và tên lửa phòng không của đối phương. Nhưng, các lực lượng tên lửa phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giải quyết vấn đề bằng những biện pháp chiến thuật sáng tạo, họ đã bắn các máy bay B-52 theo các chiến thuật mới và đã thành công vượt xa mức trông đợi, hàng chục chiếc pháo đài bay B 52 đã bị bắn hạ. Lần đầu pháo đài bay B 52 bị bắn hạ bởi một máy bay tiêm kích do Phạm Tuân điều khiển.
Ngày 30 tháng 12, chấm dứt ném bom, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quay lại đàm phán, sau một số sửa đổi, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý ký kết Hiệp định Paris, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không tán thành hiệp định nhưng vì áp lực nếu không chấp nhận thì Mỹ sẽ đơn phương ký với Hà Nội và cắt đứt viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa nên phải chấp nhận ký. Ngày 27/1/1973, tại Paris, bốn bên tham chiến Mỹ, Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký kết Hiệp định Paris là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Bài 273: HAI TRẬN ĐÁNH CHIẾM QUẬN LỴ THƯỢNG ĐỨC THÁNG 6/1974, VÀ TRẬN ĐÁNH CHIẾM TỈNH LỴ PHƯỚC LONG THÁNG 1/1975.
TRẬN THƯỢNG ĐỨC: Chi khu, quận lỵ Thượng Đức ở phía Tây tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 40 km. Các năm 1968, 1969, rồi năm 1970, Quân Giải phóng Khu 5 đã 3 lần tiến công Thượng Đức đều bất thành, cứ sau mỗi lần bị đánh, QLVNCH lại rút kinh nghiệm và tăng cường, hệ thống phòng thủ kiên cố, liên hoàn hơn. Tại Chi khu Thượng Đức, quân bố phòng gồm: Tiểu đoàn 79 biệt động; 1 đồn biên phòng; 1 đại đội bảo an; 17 trung đội dân vệ; 1 trung đội pháo binh 105mm; 1 trung đội cảnh sát dã chiến và 1 trung đội thám báo. Toàn bộ lực lượng là 950 lính, do Thiếu tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng chỉ huy.
Diễn tiến trận đánh: Đêm 28, rạng sáng 29/07/1974, QGP bắt đầu triển khai trận địa pháo, và tấn công vào Chi khu Thượng Đức. Đồng thời, QGP cũng tiến hành sơ tán dân thường để tránh gây thương vong dân sự, hạn chế khả năng QLVNCH sử dụng dân thường làm lá chắn. Do thực lực của QLVNCH còn mạnh, hệ thống lô cốt rất kiên cố nên đợt tấn công đầu tiên của Quân Giải phóng không có hiệu quả dù kéo dài trong 3 ngày. Rạng sáng 7-8-1974, QGP tiếp tục nã pháo vào các mục tiêu từ các điểm cao trên đồi, và gia tăng cường độ tấn công cuối cùng chiếm được căn cứ Thượng Đức. Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng bị trúng đạn, biết không thể thoát nên đã tự sát tại chỗ. Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng 79 biệt động quân Hà Văn Lầu và quận phó Vũ Trung Tín bị bắt.
Để tái chiếm Thượng Đức, QLVNCH tiến đánh cao điểm 1062. Lực lượng lính dù VNCH được huy động để tham chiến. QGP và QLVNCH giằng co từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 năm 1974, đặc biệt tại các cao điểm 700, 383 và 1062. Để hỗ trợ bộ binh, QLVNCH điều máy bay cường kích và pháo binh yểm hộ. Đầu tháng 10, QLVNCH chiếm được cao điểm 1062, nhưng tới cuối tháng 11 thì QGP đã tái chiếm thành công cao điểm 1062. Cuối năm 1974, sau 3 đợt giao tranh, QGP làm chủ hoàn toàn căn cứ Thượng Đức còn sư đoàn dù VNCH đã bị đánh quỵ và phải rút khỏi mặt trận Thượng Đức.
TRẬN PHƯỚC LONG: Phước Long là một trong số 11 tỉnh bao quanh Biệt khu thủ đô Sài Gòn-Gia Định, cách Sài Gòn khoảng 120 km về phía Bắc. Tiểu khu Phước Long gồm các chi khu Đôn Luân ở Đồng Xoài, Bố Đức, Đức Phong, có 5 tiểu đoàn bảo an và 48 trung đội dân vệ, trong đó: Các tiểu đoàn 341 và 352 giữ Đồng Xoài và kiểm soát đoạn đường 14 từ Đồng Xoài đến cầu số 12; tiểu đoàn 363 giữ Bù Na và kiểm soát đường 14 từ cầu 11 đến ngã ba Liễu Đức; tiểu đoàn 362 giữ Vĩnh Thuận và kiểm soát đường 1 từ ngã ba Liễu Đức đến Bù Đăng; tiểu đoàn 340 là lực lượng dự bị cơ động đóng trong thị xã Phước Long.
Tiểu khu Phước Long cũng có một tiểu đoàn pháo binh riêng với tám khẩu HM-2 105 mm và bốn khẩu HM-3 155 mm với trận địa chính bố trí trong trung tâm thị xã. Đơn vị lớn hơn có khả năng tiếp cận giải tỏa cho Phước Long nhanh nhất khi bị tấn công từ Quân đoàn III là sư đoàn 18 đóng ở Biên Hòa, Liên đoàn biệt kích dù 81 cũng đóng tại Biên Hòa. Máy bay của các sư đoàn không quân số 3 và số 5 tại các sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa có thể yểm hộ cho các lực lượng phòng thủ ở Phước Long chỉ sau hơn chục phút bay.
Diễn biến trận đánh. Ngày 12 tháng 12 năm 1974, tiểu đoàn 4 của trung đoàn 165, sư đoàn 7 QGP đánh chiếm một tiền đồn của QLVNCH tại cây số 19 - đường 14 do một đại đội bảo an đóng giữ. Đêm 12 tháng 12, đại đội đặc công QGP của tỉnh đội Phước Bình tấn công chi khu Bù Đốp. Ngày 13 tháng 12, đại tá Nguyễn Thống Thành, tiểu khu trưởng Phước Long đến thị sát Bù Đăng và ra lệnh nâng mức báo động từ "vàng" lên "da cam" đối với tất cả các đồn bốt của QLVNCH trong tỉnh. Rạng ngày 14 tháng 12, trung đoàn 271 của sư đoàn 302 QGP tấn công tiểu đoàn bảo an 362 đóng tại chi khu Bù Đăng. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, đã tràn ngập chi khu Bù Đăng.
Ngày 15 tháng 12, hai tiểu đoàn đặc công thuộc trung đoàn 429 QGP tấn công yếu khu Bù Na. Trận chiến diễn ra quyết liệt từ sáng đến chiều thì yếu khu Bù Na thất thủ. Ngày 16 tháng 12, tướng Dư Quốc Đống bay lên thị sát Phước Long và tăng phái cho khu phòng thủ này tiểu đoàn bộ binh số 2 rút từ trung đoàn 7, sư đoàn 5 BB. Cùng ngày, đại tá Đỗ Công Thành tổ chức phản kích khai thông đường 14 nối với Bố Đức nhưng đều bị các lực lượng mạnh hơn của QGP đẩy lùi.
Ngày 22 tháng 12, chi khu và quận lỵ Bố Đức do tiểu đoàn bảo an 341 đóng giữ bị tấn công và đánh chiếm lần thứ hai. Cùng ngày các đồn quan trọng trên đường 14 như Phước Tín, Phước Quả, Phước Lộc thất thủ. Đại tá Thành điều tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 7, và 2 đại đội thám báo phản kích nhưng bị tiểu đoàn 6, trung đoàn 165 QGP đẩy lùi, phải rút về núi Bà Rá. Ngày 24 tháng 12, Tướng Dư Quốc Đống dự định điều 1 chiến đoàn của sư đoàn 18 lên giữ Phước Long nhưng không được Nguyễn Văn Thiệu chấp thuận. Tướng Đống lệnh cho chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ dùng trực thăng đưa 1 tiểu đoàn đổ quân xuống Đồng Xoài, nhưng chỉ đổ được 1 đại đội xuống Đồng Xoài.
5 giờ 37 phút sáng 26 tháng 12, chi khu Đôn Luân bị các đơn vị của trung đoàn 141, sư đoàn 7 QGP tấn công từ bốn hướng. Đến 10 giờ 30 phút, chi khu Đôn Luân thất thủ. Thiếu tá Đặng Vũ Khoái, chỉ huy chi khu Đôn Luân bị bắt làm tù binh. Từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 12, các đơn vị của Quân đoàn 4 QGP đã hành quân đến các tuyến xuất quanh Phước Long và Phước Bình. Rạng sáng ngày 31 tháng 12 năm 1974, các trung đoàn 165, 141 và tiểu đoàn 3, bộ đội địa phương Phước Long nổ súng tấn công quận lỵ Phước Bình. Chiến chiến đoàn 7, sư đoàn 5 QLVNCH điều tiểu đoàn 1 từ chân núi Bà Rá đánh vào sườn tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 6 QGP. 13 giờ chiều ngày 31 tháng 12, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 điều 4 xe tăng T-54 yểm hộ cuộc tiến công. 15 giờ chiều cùng ngày, quận lỵ, chi khu Phước Bình thất thủ.
Sở chỉ huy nhẹ của tiểu khu Phước Long được chuyển về trại Lê Lợi. Tiểu đoàn bảo an 340 và đại đội thám báo số 5 giữ cầu Suối Dung và chốt Vân Kiều. Trong ngày 1 tháng 1 năm 1975, Không lực Việt Nam cộng hòa đã tổ chức 53 phi vụ oanh tạc vào tuyến tấn công của QGP. Sáng ngày 2 tháng 1, trung đoàn 165 QGP chiếm trại Đoàn Văn Kiều, trung đoàn 141 giằng co với tiểu đoàn 1 chiến đoàn 9 QLVNCH, hai bên đều tổn thất nặng. Sáng ngày 3 tháng 1, các đơn vị đi đầu của trung đoàn 141 QGP đã lọt vào thị xã nhưng bị cô lập. Trưa ngày 3 tháng 1, tướng Dư Quốc Đống điều động chiến đoàn 8, sư đoàn 5 QLVNCH sử dụng trực thăng định đổ bộ xuống thị xã nhưng bị pháo binh của QGP bắn chặn. Tại Sở chỉ huy tiểu khu Phước Long phó chỉ huy trưởng tiểu khu tử thương, chỉ huy trưởng chi khu Phước Bình bị thương nặng cũng do đạn pháo của QGP.
10 giờ ngày 4 tháng 1, trong nỗ lực cuối cùng để ứng cứu Phước Long, tướng Dư Quốc Đống điều động liên đoàn biệt kích dù số 81 bằng không vận lên Phước Long, liên lạc và hội quân với các lực lượng đang phòng thủ trong thị xã. Dù vậy, tình hình đã quá muộn. Hai phần ba thị xã đã rơi vào tay QGP. Ngày 5 tháng 1, các đơn vị của trung đoàn 201 và trung đoàn 165 QGP tiếp tục vây ép các lực lượng phòng thủ còn lại của QLVNCH trong khu hành chính tỉnh. 10 giờ 30 phút sáng ngày 6 tháng 1, dinh tỉnh trưởng Phước Long bị các đơn vị QGP đánh chiếm. Trong số 5.400 sĩ quan và bình sĩ QLVNCH phòng thủ Phước Long, chỉ có 850 thoát được về trình diện tại Quân đoàn III.
Bài 274: CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN, VÀ CHIẾN DỊCH HUẾ-ĐÀ NẲNG THÁNG 3 NĂM 1975.
Nhận thấy tương quan lực lượng thay đổi theo hướng có lợi, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (CPCMLT/CHMNVN) tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nhằm buộc chính quyền VNCH thành lập chính phủ Liên hiệp 3 thành phần. Cuộc tấn công diễn ra trong 55 ngày đêm bắt đầu từ ngày 5 tháng 3 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nó còn được gọi là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Cơ quan tham mưu của VNDCCH lập kế hoạch tiến công đã phân cuộc tiến công này thành các chiến dịch nối tiếp nhau. Họ gọi là chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẳng, và cuối cùng chiến dịch Hồ Chí Minh.
CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN: với mục tiêu là giành quyền kiểm soát Tây nguyên mà trận mở đầu then chốt là thị xã Ban Mê Thuột tại Nam Tây Nguyên. Tại đây có hậu cứ của sư đoàn 23 Bộ binh của QLVNCH. Ngày 10 tháng 3 QGP tiến công Ban Mê Thuột. Sau hơn một ngày tiến công rất ác liệt, quân đồn trú đã kháng cự rất quyết liệt nhưng với ưu thế áp đảo QGP đã giành quyền kiểm soát được thị xã. Liên tiếp trong các ngày sau đó họ đã chủ động tiến công quân phản kích, tái chiếm. Quân của Quân đoàn II của QLVNCH vừa đổ xuống chưa kịp đứng chân đã bị đánh tiêu diệt, không thực hiện được việc tái chiếm.
Mất Ban Mê Thuột, chính quyền VNCH không có đủ lực lượng cơ động dự bị phản kích tái chiếm, các lực lượng phòng thủ Bắc Tây Nguyên cũng đang bị uy hiếp nặng nề, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh bỏ Tây Nguyên rút các lực lượng còn lại về cố thủ giải đồng bằng ven biển miền Trung. Đường rút lui sẽ là theo đường 14 từ Pleiku đi xuống phía nam sau đó đi vào đường số 7 đã bị bỏ từ lâu không sử dụng để xuống thị xã Tuy Hoà tỉnh Phú Yên. Đây là một thảm họa chết người cho QLVNCH.
Cuộc rút lui đã không bảo toàn được số quân mà trái lại nó làm thành làn sóng hoảng loạn lan khắp các vùng lại còn làm rệu rã hết tinh thần binh sĩ VNCH trên toàn quốc. Việc rút một số lượng quân lớn như thế trong một thời gian chuẩn bị gấp gáp 2–3 ngày đã diễn ra trên đoạn đường dài hàng trăm cây số không có kế hoạch tương ứng, không chỉ trong quân sĩ VNCH mà còn cả gia đình chạy thoát theo cùng. Tất cả những cái đó đã biến dòng người cùng xe cộ khổng lồ ùn tắc thành một dòng náo loạn không thể chỉ huy và chiến đấu, lại bị đối phương chặn tại Cheo Reo - Phú Bổn, khi về đến Tuy Hoà, không còn tập hợp lại được nữa.
CHIẾN DỊCH HUẾ-ĐÀ NẲNG: Kể từ sau cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên tin thất bại đã bay khắp miền Nam, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa mất hết tinh thần, quân đội gần như không chiến đấu mà bỏ chạy. Các nhà lãnh đạo chiến tranh của Mặt Trận Giải Phóng nhận định, quân đội VNCH đã không còn chiến đấu có tổ chức chặt chẽ được nữa, họ liền tiến hành phương án thời cơ tung ngay Quân đoàn 2 (hay Binh đoàn Hương Giang được thành lập từ các đơn vị của quân khu Trị – Thiên và khu 5) nhanh chóng tiến công giành quyền kiểm soát cố đô Huế và thành phố lớn thứ hai của Việt Nam Cộng hoà, Đà Nẳng.
Trước sức ép của đối phương, Quân đội VNCH vội vã rút lui khỏi Quảng Trị về Huế họ lại quyết định bỏ Huế, nhưng đường núi về phía nam đã bị QGP cắt đứt, họ chỉ còn một con đường chạy ra biển để chờ tàu hải quân vào cứu. Cũng giống như cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên, cuộc rút chạy khỏi Huế đã trở thành một cuộc tranh cướp hỗn loạn. Số nào được cứu lên tàu hải quân thì khi lên đến bờ cũng không thể tập hợp lại thành đơn vị chiến đấu được nữa, số còn lại bỏ vũ khí tự tan vỡ. Ngày 26 tháng 3 QGP vào tới Huế không gặp sự chống cự nào. Thừa thắng xông lên, QGP tiếp tục tiến về Đà Nẵng.
Khi quân đoàn 2 của QGP tiến đến Đà Nẵng, cảnh hỗn loạn tại đây cũng lại tái hiện như đã diễn ra tại Huế, quân lính VNCH cùng với dân chúng tranh nhau thoát khỏi thành phố bằng tàu hải quân, quân lính VNCH vòng ngoài không còn tinh thần chiến đấu nữa, thế là QGP bỏ qua vòng ngoài thọc sâu vào giành quyền kiểm soát thành phố mà không có kháng cự nào đáng kể. Tại đây 10 vạn binh lính và sĩ quan QĐVNCH đã ra hàng (ngày 29 tháng 3). Quân khu 1 VNCH đã bị xoá bỏ.
Trong hai tuần đầu tháng 4 các tỉnh thành phố miền trung lần lượt rơi vào tay QGP. Họ từ phía Bắc tràn vào và từ Tây nguyên tràn xuống. Bây giờ thì không còn sức mạnh nào có thể ngăn nổi sự sụp đổ của VNCH. Quân lực VNCH dồn hết các toán quân còn sót lại của Quân đoàn 2 chuyển sang cho Quân đoàn 3 chỉ huy, để cố lập một phòng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang, nhưng cũng không chặn được QGP, trong đó tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3 của VNCH tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị bắt. Bây giờ quân Giải phóng đã tấn công xuống đồng bằng Đông Nam Bộ của Quân đoàn và quân khu 3 của VNCH, chỉ còn hơn 100 km là đến Sài Gòn.
Bài 275: PHÒNG TUYẾN XUÂN LỘC THẤT THỦ, TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU TỪ CHỨC, VÀ CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH THÁNG 4/1975.
Nỗ lực cuối cùng của VNCH là tuyến phòng thủ từ xa của Sư đoàn 18 tại thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Quân đoàn 4 của QGP được thành lập từ các Sư đoàn và đơn vị tại miền Đông Nam Bộ dự định giành quyền kiểm soát Xuân Lộc trên đường tiến quân. Nhưng Sư đoàn 18 của QLVNCH đã chống cự có tổ chức, đây là nỗ lực chiến đấu có tổ chức dài ngày cuối cùng của quân đội VNCH. Quân đoàn 4 của QGP không vượt qua được Xuân Lộc, họ cũng không phải để mất thì giờ với Xuân Lộc, nên đi vòng qua vòng vây tiến về phía Biên Hoà.
Ngày 21/4/75, sau 12 ngày cầm cự, Sư đoàn 18 của QLVNCH bỏ Xuân Lộc rút lui có tổ chức về bên kia sông Đồng Nai cố thủ. Vậy là tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng bảo vệ Sài Gòn không còn. Tối ngày 21 tháng 4 năm 1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trong diễn văn từ chức, Nguyễn Văn Thiệu chỉ trích nước Mỹ là "một đồng minh thất hứa, thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo, trốn tránh trách nhiệm". Phó tổng thống Trần văn Hương kế nhiệm, tân Tổng thống tuyên bố sẽ ở lại Việt Nam chiến đấu đến cùng. Tối 25/4/75, Nguyễn Văn Thiệu, rời Việt Nam với “lý do” là đặc sứ của Việt Nam Cộng hoà đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch.
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH: Ngày 26/4/75, sau khi tập hợp đủ lực lượng gồm 15 sư đoàn và rất nhiều trung đoàn, lữ đoàn độc lập khác để đảm bảo áp đảo chắc thắng, QGP tổ chức 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232 tương đương 1 quân đoàn, đánh 5 mũi từ 5 hướng vào Sài Gòn. Quân lực VNCH vẫn còn hơn 400.000 quân đã kháng cự ác liệt trên một số hướng. Giữa lúc đó, sĩ quan, binh lính, quan chức, chính trị gia VNCH cùng dân chúng đang hoảng loạn tranh nhau di tản ra nước ngoài. Đến cuối ngày 28 tháng 4 thì QGP đã đến được cửa ngõ Sài Gòn và có thể đi thẳng vào thành phố. Để tránh mọi rắc rối với Mỹ, QGP dừng lại bên ngoài thành phố 1 ngày để người Mỹ tổ chức di tản.
Ngày 28 tháng 4 năm 1975, với sự dàn xếp của các lực lượng thứ ba, Tổng thống Trần Văn Hương từ chức, và Quốc hội trao quyền Tổng thống cho Đại tướng Dương Văn Minh đứng ra thương thuyết trên căn bản vãn hồi hòa bình theo tinh thần Hiệp định Paris 1973 để tránh việc Sài Gòn sẽ bị tàn phá. Tướng Dương Văn Minh tuyên bố, ông chủ trương hòa giải với đối phương, đó không những là đòi hỏi của nhân dân, mà còn là điều kiện thiết yếu để tránh dự tàn phá cho đất nước, không thể lấy hận thù đáp trả lại hận thù mà phải thực hiện ngưng bắn, mở lại đàm phán nhằm đạt đến một giải pháp chính trị trong khuôn khổ hiệp định Paris.
Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào."
Đối với hoàn cảnh chiến sự và chính trị lúc đó có lẽ đây là một giải pháp đúng đắn. Cùng với việc ra mệnh lệnh đơn phương ngừng chiến, thực tế từ sáng sớm 30 tháng 4, QLVNCH đã ngừng kháng cự và QGP vào Sài Gòn mà không gặp kháng cự có tổ chức nào. Việc làm chủ Sài Gòn kết thúc chiến tranh của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã diễn ra khá ôn hòa, không có đổ máu và thành phố nguyên lành, quả có đóng góp nhiều của lực lượng thứ ba và vai trò không nhỏ của Dương Văn Minh và các phụ tá, tại bối cảnh đó, với cách nhìn thực tế và không cực đoan.
Ông Dương Văn Minh được các lực lượng chính trị thứ ba đưa lên làm tổng thống để đảm bảo một cuộc chuyển giao chế độ êm thấm không đổ máu và không trả thù là việc làm mang tính dân tộc sâu sắc. Tất nhiên sự đầu hàng của VNCH là kết quả của sức mạnh quân sự áp đảo của QGP, nhưng việc kết thúc chiến tranh ôn hòa, với trang thiết bị quân sự không bị phá huỷ, dân chúng không đổ máu, và cả bên thắng cuộc không tốn thêm xương máu, đó là điều không ai có thể phủ nhận được. Thế nhưng, Bên Thắng cuộc đã không nghĩ tới điều đó, không chấp nhận làm lễ bàn giao mà buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện.
Với tư cách Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn, Thượng tướng Trần Văn Trà nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh "giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà dân tộc Việt Nam chúng ta thắng đế quốc Mỹ" cơ mà!Tom Polgar nhân viên cao cấp tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản, đã ghi lại ngày hôm ấy: “Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Nhưng... Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử”./.
CHÍNH QUYỀN BA
Bài 276: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM, CHÍNH PHỦ HUỲNH TẤN PHÁT: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM 1970-1975.
Hiệp định Genève 1954, quy định Việt Nam tạm thời phân chia thành hai vùng tập kết quân sự. Phía Bắc vỹ tuyến 17 là nơi tập kết của Quân đội Nhân dân Việt Nam; Và phía Nam vỹ tuyến 17 là nơi tập kết của Quân đội Pháp cùng quân đội Quốc gia Việt Nam. Với sự hổ trợ của người Mỹ, chỉ trong một thời gian ngắn Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã làm được nhiều việc hơn cả mong đợi, lên nắm quyền trong vòng 10 tháng vượt qua các cuộc chính biến, ổn định tình hình, thành lập một nhà nước mới Việt Nam Cộng hoà vào năm 1955 được 36 quốc gia công nhận, soạn thảo một hiến pháp, và mở rộng kiểm soát tới các khu vực do Giáo phái, hoặc Việt Minh kiểm soát trong Chiến tranh Đông Dương...
Tháng 1-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố không có Tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp định Genève với lý do là tại miền Bắc được cai trị bởi "nhà nước cảnh sát". Tháng 6 năm 1956, Ngô Đình Diệm hủy bỏ cuộc bầu cử hội đồng làng, xã. Năm 1956, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiết lộ rằng khoảng 15.000-20.000 người cộng sản đang được học tập trong các "trại cải huấn". Tháng 4 năm 1960, một nhóm các nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa không Cộng sản ra Tuyên ngôn Caravelle biểu lộ sự bất bình đối với quyền Ngô Đình Diệm. Tháng 11 năm 1960, một cuộc đảo chánh quân sự lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm bất thành những người cầm đầu đảo chánh phải đào thoát sang Cao Mên.
Ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) chính thức thành lập, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương. Đồng thời, Mặt trận đưa ra Chương trình 10 điểm. Các phương tiện truyền thông miền Bắc ban đầu không nhắc đến vai trò của Đảng Lao động và chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chỉ hoan nghênh Mặt trận được thành lập.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một Liên minh của các đảng phái, tổ chức chính trị - xã hội tại miền Nam và có lập trường, chủ quyền kiểm soát riêng. Từ khi ra đời, Mặt trận DTGPMN đã thu hút được nhiều nhà hoạt động chính trị chống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, bao gồm cả những người theo và không theo chủ nghĩa cộng sản, với mục tiêu kết nối tất cả những người đối nghịch với "Mỹ Diệm". Theo ước tính của Mỹ, trong vòng vài tháng thành lập, số thành viên của Mặt trận tăng gấp đôi, gấp đôi một lần nữa vào mùa thu năm 1961, và sau đó tăng gấp đôi vào đầu năm 1962, ước tính khoảng 300.000 người.
Ngày 15-2-1961 (mồng một Tết Tân Sửu), tại vùng giải phóng Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập Quân Giải phóng, bằng cách thống nhất các lực lượng du kích là những người từng tham gia Việt Minh, và cả những người từng là thành viên Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên. Quân Giải phóng được kết nạp làm thành viên chính thức của Mặt trận DTGPMN. Hàng chục ngàn thanh thiếu niên tại miền Nam đã gia nhập Giải phóng quân mỗi năm. Trong suốt thời gian chiến tranh Miền Bắc luôn khẳng định chỉ chi viện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chứ không can thiệp trực tiếp vào chính sách đối nội, đối ngoại của Mặt trận.
Quân Giải phóng (QGP) phát triển dần bao gồm cả lực lượng tình nguyện ngoài Bắc vào, và lực lượng được tuyển mộ tại chỗ ở miền Nam, tất cả đều do sự chỉ đạo từ Tổng quân ủy ngoài Bắc thông qua Trung ương Cục miền Nam, tiền thân là Xứ uỷ Nam Bộ. Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam, một bộ phận của đảng Lao động Hà Nội trực tiếp chỉ huy, nắm giữ các vị trí quan trọng trong QGP, giám sát tất cả các hoạt động đến cấp thôn, bản. Đảng Lao động Việt Nam chia chiến trường miền Nam thành 5 khu vực: B-5: Quảng Trị; B4: Bình Trị Thiên - Huế; B3: Tây Nguyên, B1: Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. B2: Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, và Khu VI, VII, VIII, IX, X, Sài Gòn - Gia Định.
Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang QGP nhận chỉ đạo từ Trung ương Cục miền Nam, chỉ huy QGP trên toàn miền Nam (B2). Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Hà Nội chỉ đạo, giám sát trên toàn chiến trường miền Nam từ Vỹ tuyến 17 đến mủi Cà Mâu; Và trực tiếp chỉ huy các khu Quảng Trị, Trị Thiên, Khu V và Tây Nguyên, tức B 5, B4, B3 và B1. Tại mỗi Khu, Khu ủy thực hiện chỉ đạo đối với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn Khu. Trên thực tế cơ cấu tổ chức của phía cách mạng phức tạp và linh động, uyển chuyển hơn các tin tức từ phía đối phương khai thác được.
Ngày 16 tháng 2 năm 1962, Đại hội lần thứ nhất khai mạc tại Tân Biên, Tây Ninh chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Huỳnh Tấn Phát, Ybil Aleo, Đại đức Sơn Vọng, Trần Nam Trung, và Nguyễn Văn Hiếu Tổng thư ký Mặt trận. Ủy viên Đoàn Chủ tịch gồm có: Trần Bạch Đằng, Phan Văn Đáng, Nguyễn Hữu Thế, Trần Bửu Kiếm, bà Nguyễn Thị Định, Hoà thượng Thích Thiện Hào, Ngọc đầu sư Nguyễn Văn Ngợi, Lê Quang Thành, và ông Đặng Trần Thi. Mặt trận đã ra "Tuyên ngôn" và "Chương trình hành động 10 điểm". Mặt trận cũng quyết định lấy lá cờ nửa đỏ, nửa xanh có ngôi sao vàng năm cánh và bài "Giải phóng miền Nam" làm cờ và bài hát chính thức của Mặt trận...
Ngày 1-11-1964, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam họp Đại hội lần thứ 2, với 150 đại biểu tham dự. Đoàn Chủ tịch Mặt trận: Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ, đại diện liên minh các đảng yêu nước; Các Phó chủ tịch: Abil Aleo, đại diện dân tộc Êđê, chủ tịch Phong trào tự trị các dân tộc Tây Nguyên; Phùng Văn Cung, đại diện liên minh các đảng yêu nước; Võ Chí Công, chủ tịch Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam!; Huỳnh Tấn Phát, Tổng thư ký Đảng Dân chủ; Thích Thơm Mê Thế Nhêm, đại diện người Khmer yêu nước; Trần Nam Trung, đại diện Quân giải phóng Miền Nam; Các ủy viên: Nguyễn Thị Định, Trần Bạch Đằng, Thích Thiện Hào, Trần Bửu Kiếm… Ban Thư ký: Huỳnh Tấn Phát (TTK), Lê Văn Huân, Hồ Thu, Ung Ngọc Kỳ, Hồ Xuân Sơn (phó TTK).
Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam, mà nòng cốt là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch, đã bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam do Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ do Luật sư Nguyễn Hữi Thọ làm Chủ tịch. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) có quyền lực hành pháp. Hội đồng Cố vấn ban đầu có nhiệm vụ góp ý kiến với Chính phủ.
Chính phủ CMLTCHMNVN không công khai chịu sự chỉ đạo từ ngoài Bắc hay của cấp ủy Đảng trong Nam, chỉ xem miền Bắc là "hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn" miền Nam. Các chỉ đạo chính sách trong Nam của Đảng Lao động Việt Nam là bí mật. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là 1 trong 4 bên tham gia hòa đàm tại Paris và ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973. Sau Hiệp định Paris, thị xã Đông Hà trở thành nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Ngày 30/4/1975, sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà, Ủy ban Quân quản, nhân danh Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra Mệnh lệnh số 1: yêu cầu quân cán chính Việt Nam Cộng hòa ra trình diện chính quyền mới, đăng ký và nộp vũ khí bắt đầu từ ngày 8/5 đến 31/5, quân nhân cấp Tướng và Tá phải trình diện ở địa chỉ 213 Đại lộ Hồng Bàng, Sài Gòn. Cấp Úy thì trình diện ở quận. Cảnh sát, tình báo thì phải đến Ủy ban An ninh Nội chính ở Sài Gòn. Hạ sĩ và binh lính thì đến Ủy ban phường. Sang tháng 6 thì mở đợt bắt giam các đối tượng trên trong các trại học tập cải tạo.
(Hết chương XIX)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét