Chương XX: 5 BÀI VIẾT VỀ 3 CHÍNH QUYỀN: CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM, VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ HOÀ, VÀ CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 1975 - 1976.
(13 trang, 9.218 chữ).
CHÍNH QUYỀN MỘT
277. Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Chính phủ Huỳnh Tấn Phát, và Tuyên bố thực hiện chủ quyền toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam năm 1975.
278. Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Chính phủ Huỳnh Tấn Phát, và hai Chiến dịch X2 và X3 năm 1975.
279: Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Chính phủ Huỳnh Tấn Phát: Sự kiện liên quan, Việc đã làm năm 1976.
CHÍNH QUYỀN HAI
280. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Phạm Văn Đồng: Sự kiện liên quan, Việc đã làm năm 1975 - 1976.
CHÍNH QUYỀN BA
281. Quốc hội Việt Nam thống nhất họp phiên đầu tiên, đổi tên nước thành nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, và Phạm Văn Đồng tiếp tục làm Thủ tướng.
CHÍNH QUYỀN MỘT
Bài 277: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM, CHÍNH PHỦ HUỲNH TẤN PHÁT, VÀ TUYÊN BỐ THỰC HIỆN CHỦ QUYỀN NĂM 1975
TUYÊN BỐ THỰC HIỆN CHỦ QUYỀN TOÀN BỘ LÃNH THỔ MIỀN NAM VIỆT NAM. Sau ngày 30/4/1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra tuyên bố: “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam hiện nay thực hiện chủ quyền của mình trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam, là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam, có đầy đủ quyền hành giải quyết những vấn đề quốc tế của miền Nam Việt Nam”. Thông qua tuyên bố này tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, khẳng định Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức thực hiện quyền kế thừa quốc gia đối với Việt Nam Cộng hòa, đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tất cả những kế thừa nầy của Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đều được thực hiện theo đúng thông lệ quốc tế và Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước Quốc tế năm 1978.
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng đã có 1 loạt tuyên bố khẳng định quyền thừa kế đối với tài sản quốc gia của miền Nam Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ như: Tuyên bố ngày 1/5/1975, của Bộ Ngoại giao Cộng hoà miền nam Việt Nam khẳng định mọi tài sản, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ lưu trữ, tài khoản ngân hàng, trụ sở, phương tiện giao thông và tất cả những tài sản khác của các cơ quan đại diện của Việt Nam Cộng hòa ở nước ngoài (Đại sứ quán, Lãnh sứ quán, Cơ quan đại diện bên cạnh cac tổ chức quốc tế...) là tài sản của nhân dân miền Nam Việt Nam và phải do Cộng hòa Miền Nam Việt Nam quản lý... Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã thực hiện quyền đại diện tại hầu như tất cả các tổ chức quốc tế trong và ngoài hệ thống Liên Hợp Quốc mà trước đó Việt Nam Cộng hòa đã tham gia WHO, ILO, UNESCO, ICAO, IAEA, IMF, Ngân hàng Thế giới....
Việc Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản các cơ quan đại diện và tài sản của chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng như quy chế hội viên tại các tổ chức quốc tế diễn ra thuận lợi, không gặp 1 trở ngại nào về pháp lý vì các quốc gia và tổ chức quốc tế đều quan niệm rằng theo luật pháp quốc tế, đây chỉ là sự thay đổi chính quyền trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, không làm phát sinh chủ thể mới. Theo họ đây là thừa kế chính phủ chứ không phải thừa kế quốc gia. Việc tuyệt đại đa số thành viên Hội đồng Bảo an, và Đại Hội đồng Liên hiệp quốc khoá XXX (1975) biểu quyết ủng hộ kết nạp Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm thành viên Liên Hợp Quốc càng chứng minh rõ việc này. Nhưng, không được kết nạp là do phiếu phủ quyết của Mỹ vào ngày 30 tháng 9. Tới cuối năm 1975, Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã có hơn 50 nước trên thế giới, có cả các nước tư bản chủ nghĩa công nhận và lập quan hệ ngoại giao.
Trong quan hệ với Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền ở miền Nam Việt Nam. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chính quyền hợp pháp ở miền Nam Việt Nam, do đó các văn kiện của nhà nước này có lúc khẳng định có 2 chính thể độc lập nhau, nhưng có lúc vẫn khẳng định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là của cả nước. Vấn đề này chỉ được rõ ràng khi các văn kiện tại Hội nghị hiệp thương 1975, khẳng định Cộng hoà Miền Nam Việt Nam thi hành quyền lực pháp lý ở miền Nam, còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thi hành quyền lực ở miền Bắc. Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã tổ chức các cuộc bầu cử ở cấp địa phương, và ra các văn bản pháp luật quản lý theo thẩm quyền.
UỶ BAN QUÂN QUẢN SÀI GÒN - GIA ĐỊNH. Sách “Bên Thắng Cuộc” Huy Đức viết: Ngày 1-5-1975, khi đang ở Sở chỉ huy tiền phương, Thượng tướng Trần Văn Trà được ông Lê Đức Thọ và ông Phạm Hùng thông báo: “Điện anh Ba Lê Duẩn nói Bộ Chính trị quyết định cậu làm chủ tịch Uỷ Ban Quân quản Sài Gòn-Gia Định. Đi ngay cho kịp”. Ngày 2-5, Tướng Trần Văn Trà mới về đến Dinh Độc Lập. Ông kể: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, tôi cho thả tất cả những nhân vật trọng yếu của ngụy quyền mà bộ đội ta đã giữ họ tại. Tôi chỉ gặp những người đứng đầu: Dương Văn Minh, tổng thống, Nguyễn Văn Huyền, phó tổng thống và Vũ Văn Mẫu, thủ tướng ngụy quyền, giải thích cho họ chính sách của cách mạng là quang minh, chính đại, độ lượng, khoan hồng. Dương Văn Minh đã phát biểu: Tôi vui mừng được là công dân của một nước Việt Nam độc lập” (Trích chương 1).
Sách Bên Thắng Cuộc, Huy Đức viết tiếp: Sáng 3-5-1975, Ủy ban Quân quản ra thông báo: Căn cứ quyết định của Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, chúng tôi xin thông báo danh sách Uỷ ban Quân Quản thành phố Sài Gòn - Gia Định”: Chủ tịch: Thượng tướng Trần Văn Trà, Phó chủ tịch - Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Thiếu tướng Hoàng Cầm, Thiếu tướng Trần Văn Danh và ông Cao Đăng Chiếm. Khi chiến dịch bắt đầu, Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã tuyên truyền về việc sẽ lập ở miền Nam một “chính phủ ba thành phần”. Nhưng, khi cờ đã được cắm trên Dinh Độc Lập, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn quyết định dẹp bỏ ý tưởng này. “Ngày 1-5-1975, Tố Hữu đã chuyển “lệnh” tới Trung ương Cục: “Gửi anh Tám, anh Bảy [Nhờ Trung ương Cục chuyển anh Tám]. Xin báo để các anh biết: Theo ý kiến anh Ba, về Chính phủ, không còn vấn đề ba thành phần. Khi tổ chức lễ mừng trong cả nước, theo ý kiến Bộ Chính trị, nên có đoàn đại biểu miền Nam ra dự mít tinh ở Hà Nội và có đoàn Miền Bắc vào dự ở Sài Gòn. LÀNH”.
MỆNH LỆNH SỐ 1. Một tuần sau, ngày 5-5-1975, Chủ tịch Ủy Ban Quân quản Sài Gòn-Gia Định, Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ ban bố “mệnh lệnh số 1 về việc ra trình diện, đăng ký và nộp vũ khí của sĩ quan, binh lính, cảnh sát, và nhân viên ngụy quyền: Điều I: Tất cả các sĩ quan, binh lính, cảnh sát, tình báo mật vụ, nhân viên ngụy quyền trong thành phố Sài Gòn và tỉnh Gia Định đều phải ra trình diện và đăng ký. Thời hạn bắt đầu từ ngày 8-5-1975 cho đến ngày 31-5-1975 là ngày cuối cùng. Điều II: Cấp tướng và tá trình diện và đăng ký tại số nhà 213 Đại lộ Hồng Bàng, cấp uý trình diện và đăng ký tại uỷ ban nhân dân cách mạng quận, cấp hạ sĩ và binh lính trình diện và đăng ký tại uỷ ban nhân dân cách mạng phường. Cảnh sát, công an tình báo mật vụ trình diện và đăng ký tại trụ sở Ban an ninh nội chính thuộc Ủy ban Quân Quản thành phố Sài Gòn. Nhân viên công chức làm việc tại nhiệm sở nào trình diện và đăng ký tại nhiệm sở nấy.
Điều III: Khi ra trình diện và đăng ký nhất thiết phải mang nộp chứng minh thư, các loại giấy tờ cá nhân, tất cả vũ khí, trang bị, hồ sơ tài liệu, phương tiện, ngân quỹ… Điều IV: Người nào, nhà nào, tập thể nào, cơ sở nào có giữ vũ, khí chất nổ và các phương tiện, khí tài thông tin đều phải tới khai và nộp tất cả. Điều V: Mệnh lệnh này phải được triệt để chấp hành đến 24 giờ ngày 31 (ba mươi mốt) tháng 5 (năm) năm 1975, những người không ra trình diện cố tình lẩn trốn sẽ bị nghiêm trị, những người đã ra trình diện, đăng ký nhưng còn khai gian, giấu diếm võ khí tài liệu, phương tiện nghĩa là chưa thành thật, sau này phát hiện ra thì xem như chưa tuân lệnh, người nào đăng nạp vũ khí, tài liệu, khí tài vật tư quý giá và phát hiện nhiều vấn đề có giá trị khác sẽ được xem xét khen thưởng xứng đáng. Tất cả những người đã ra trình diện đăng ký tạm thời trước khi có lịch này đều phải làm đăng ký chánh thức lại theo mệnh lệnh này”.
Việc ra trình diện không kéo quá dài như dự kiến. Chỉ trong vòng năm ngày, đã có 23 viên tướng có mặt tại Sài Gòn tự động đến Trung tâm Dự bị Viện Đại học Sài Gòn: Tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh Sư đoàn 3; Tướng trẻ Trần Quốc Lịch, 40 tuổi, tư lệnh Sư 5; Tướng Phan Duy Tất, chỉ huy trưởng Biệt động Quân khu II; Tướng Hồ Trung Hậu, nguyên phó tư lệnh Sư Đoàn Dù… Nhưng chủ yếu là những viên tướng đã nghỉ hưu từ trước: Trung tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu tướng Nguyễn Thanh Sằng, Trung tướng Lê Văn Nghiêm… Cũng có những người đã thôi chức từ rất lâu như Trung tướng Lê Văn Kim, về hưu từ năm 1964; Trung tướng Nguyễn Văn Vĩ, nguyên Tổng trưởng Quốc phòng, về hưu từ năm 1972; Thiếu tướng Lâm Văn Phát, người từng bị Sài Gòn kết án tử hình vắng mặt từ năm 1965…
Ở Sài Gòn, 443.360 người ra trình diện, trong đó có hai mươi tám viên tướng, 362 đại tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu tá, 39.304 sỹ quan cấp uý, 35.564 cảnh sát,1.932 nhân viên tình báo các loại, 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền, 9.306 người trong các đảng phái được cách mạng coi là “phản động”. Chỉ 4.162 người phải truy bắt trong đó có một viên tướng và 281 sỹ quan cấp tá. Gần một tháng sau sau Lệnh Trình diện, ngày 10-6-1975, Uỷ Ban Quân quản ra thông cáo “Về việc Học tập Cải tạo Sỹ quan, Hạ sỹ quan, Binh lính và Nhân viên Quân đội Ngụy, Tình báo, Cảnh sát và Ngụy quyền đã trình diện đăng ký”. Cũng trong ngày hôm ấy, lệnh học tập cải tạo được thông báo đến các sỹ quan theo đó, “sỹ quan quân đội Nguỵ, cảnh sát, tình báo biệt phái từ thiếu uý đến đại uý” được hướng dẫn: “Phải mang giấy bút, quần áo, mùng màn, các vật dụng cá nhân, lương thực, thực phẩm đủ dùng trong mười ngày kể từ ngày đến tập trung”. “Sỹ quan cấp tướng, tá”, được hướng dẫn mang theo “thực phẩm, lương thực đủ dùng trong một tháng”.
CHỈ THỊ 218/CT-TW. Không ai biết rằng, từ ngày 18-4-1975, Chỉ thị 218/CT-TW của Ban Bí thư đã quy định: “Đối với sỹ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau này tùy sự tiến bộ của từng tên sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể”. Những người có chuyên môn kỹ thuật mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau này tuỳ theo yêu cầu của ta và tuỳ theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo, an ninh quân đội, sỹ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sỹ quan hay sỹ quan đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ”.
“CHIẾN DỊCH X-1”. Ở nhiều địa phương, một số “tên ác ôn đầu sỏ” đã được “xử lý” ngay và chỉ vài ngày sau 30-4, các sỹ quan gần như đã được đưa đi cải tạo. Tuy nhiên, Sài Gòn, nơi tập trung gần nửa triệu sỹ quan và binh lính chế độ cũ, nơi tập trung sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, nên mọi quyết định đều được Trung ương Cục và Đảng ủy Đặc biệt bàn bạc lên kế hoạch. Ngay trong phòng làm việc của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Trung ương Cục đã bàn cách đưa các sỹ quan của ông đi “cải tạo lâu dài”. Kế hoạch được gọi là Chiến dịch X-1, Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: Việc công bố ba mức thời gian học tập: hạ sỹ quan binh lính, ba ngày; cấp úy, mười ngày; tướng, tá, một tháng, là có ý để cho các đối tượng ngầm hiểu rằng, thời gian học tập tối đa của các sỹ quan chỉ là một tháng.
Chính sách cải tạo cũng đã đi vào lịch sử Tòa thánh Vatican từ ngày 15-8-1975, khi Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận được mời tới Dinh Độc Lập, tại đây ông bị bắt giữ và trong ngày hôm ấy được di lý ra trại giam Cây Vông, Phú Khánh. Việc Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Thuận, người gọi ông Ngô Đình Diệm là cậu ruột, làm giám mục phó Tổng Giáo phận Sài Gòn vào ngày 25-4-1975 đã làm cho Cách mạng lo lắng. Bản thân nội bộ công giáo cũng có những hoạt động được cho là “mờ ám”; một số linh mục được coi là “cấp tiến” đã ám chỉ các tín hữu của Đức Cha Thuận là “PHẢN ĐỘNG”. Ngày 13-5-1975, một nhóm sinh viên công giáo đã đột nhập vào Tòa Tổng Giám mục đòi Đức Cha Thuận phải từ chức. Ngày hôm sau, 14-5, chính họ lại cũng đột nhập vào Tòa Khâm xua đuổi Đức Khâm sứ Henri Lemaitre.
VỤ TÀU VIỆT NAM THƯƠNG TÍN. Trưa 29-4-1975, Dân biểu Nguyễn Hữu Chung có được một “sự vụ lệnh” do Tổng thống Dương Văn Minh ký cho phép tàu Việt Nam Thương Tín thực hiện chuyến di tản cuối cùng. Sáng 30-4-1975, khi con tàu này ra tới cửa sông, đã bị B40 bắn theo, giết chết nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm Nhật báo Sống. Con tàu Việt Nam Thương Tín và hàng nghìn người nằm đợi ở đảo Guam gần năm tháng. Sự chờ đợi trước một tương lai vô định trong khi vợ con, cha mẹ vẫn đang kẹt lại quê nhà đã khiến cho nhiều người muốn quay lại Việt Nam, nơi mà họ tin là đã bắt đầu thống nhất và chắc chắn có hòa bình. Một trong số ấy là Đại úy tình báo Võ Tính. Ông Võ Tính được người Mỹ tạo điều kiện đưa toàn bộ gia đình di tản. Tuy nhiên, cha ông nói: “Tao chờ đến ngày đất nước thống nhất, tại sao tao phải đi khi ngày đó gần kề”. Còn cha vợ ông thì khi đó đang mong hai người con trai tập kết từ năm 1954 trở lại.
Ông Võ Tính đã định ở lại Việt Nam, nhưng vào những ngày cuối tháng 4-1975, người Mỹ khuyến cáo là sẽ vô cùng nguy hiểm. Ông Tính được đưa ra Phú Quốc và khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, ông được đưa ra Hạm đội 7 để rồi sau đó tới Guam. Cũng như nhiều người lính khác, Đại úy Võ Tính không chắc có bị “Việt Cộng” trả thù trong khi, từ trong thẳm sâu, ông nhận thấy chỉ có Việt Nam mới là tổ quốc. Không tìm được lý do hợp lý để bỏ nước, bỏ cha mẹ già, người vợ trẻ và 3 đứa con thơ, Đại úy Võ Tính đã tham gia vận động để người Mỹ cho phép những người Việt quay lại Việt Nam bằng con tàu Việt Nam Thương Tín. Ngày 29-9-1975, sau khi Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc nhận được sự đồng ý của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, tàu Việt Nam Thương Tín rời Guam trong một buổi lễ tiễn đưa trang trọng: có những phụ nữ mặc áo dài, chào cờ và được truyền hình Mỹ tường thuật. Trung tá Hải quân Trần Đình Trụ được ủy nhiệm chỉ huy chuyến trở về của con tàu này.
Sau hai tuần hải hành, tàu Việt Nam Thương Tín về đến hải phận Vũng Tàu. Mãi tới hôm sau, hai tàu Hải Quân treo cờ đỏ sao vàng mới chạy ra và dừng lại cách tàu Việt Nam Thương Tín gần 200m. Những người lính Hải quân dùng ống nhòm quan sát rất kỹ và sau mấy giờ, họ hướng dẫn tàu Việt Nam Thương Tín chạy ngược ra phía miền Trung. Những người trở về bắt đầu linh cảm điều gì đó bất thường nhưng họ vẫn còn hy vọng và vẫn còn chờ đợi. Tới Nha Trang, tàu bị dẫn vào Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân. Tất cả mọi người đều bị dồn lên những chiếc xe bít bùng và khi được chở tới Trung Tâm Thẩm Vấn của Quân đoàn II thì mọi người được lệnh “phải trút bỏ hết quần áo, bị khám xét rất nhiều lần từ đầu đến chân, được phát cho hai bộ đồ lính rộng thùng thình, một chiếc chiếu rộng 8 tấc rồi dẫn đi nhốt vào phòng giam”. Trừ một đứa bé khi ấy 7 tuổi, tất cả đều phải đi tù, người ít nhất 9 tháng, người lâu nhất - Trung tá Trần Đình Trụ phải ở tù tới 13 năm. (Trích chương 2 Bên Thắng Cuộc của Huy Đức).
Bài 278: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM, CHÍNH PHỦ HUỲNH TẤN PHÁT, VÀ HAI CHIẾN DỊCH X-2 VÀ X-3 NĂM 1975.
“CHIẾN DỊCH X-2”. Sách Bên Thắng Cuộc Huy Đức viết: Sau khi hàng trăm ngàn binh lính đã được “học tập”, đã nhận thấy “tội lỗi” của mình, còn các sỹ quan thì đã bị giữ trong các trại cải tạo, Sài Gòn lại náo động bởi chiến dịch đánh tư sản mại bản. Vào lúc 7 giờ 30 phút sáng ngày 10-9-1975, Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn họp báo, đưa ra “Bản Tuyên bố của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam”, ra lệnh “bắt giữ một số tư sản mại bản có chứng cứ đầu cơ tích trữ, phá rối thị trường: Mã Hỷ, vua lúa gạo; Lưu Tú Dân, lũng đoạn vải vóc; Bùi Văn Lự, nhập cảng, đầu cơ phụ tùng xe máy; Hoàng Kim Quy, thầu cung cấp kẽm gai cho quân đội Mỹ; Trần Thiện Tứ, độc quyền xuất cảng cà phê…”. Hơn bảy giờ trước đó, phần lớn các đối tượng nằm trong danh sách sáu mươi tên đánh đợt đầu đã bị bắt. Theo ông Nguyễn Văn Trân, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục, danh sách “tư sản mại bản” bị đánh chủ yếu từ một tài liệu về “Chính sách hậu chiến” năm 1974 của Chính quyền Sài Gòn.
Giờ G của Chiến dịch X-2 lúc 12 giờ khuya ngày 9-9-1975. Hơn 10.000 công nhân, học sinh, sinh viên đã được điều động áp sát các mục tiêu. Hàng vạn “quần chúng” khác được đưa xuống đường để gây áp lực về dư luận. Về lý luận, “tư sản mại bản” được chính quyền cách mạng coi là “địch” nên phương thức mà Chiến dịch X-2 tiến hành được xác định rõ là “đánh”. Tài liệu đã dẫn viết tiếp: “Phản ứng của địch nói chung là yếu. Tư sản mại bản đối phó chủ yếu bằng cách phân tán tài sản cho bà con thân thuộc. Số đã bị bắt thì tuy hoang mang, sợ sệt nhưng lại tiếc của nên ngoan cố, không chịu khai ra của chìm, tiền bạc, hột xoàn”. Tối 10-9-1975, “tin chiến thắng” liên tục được báo về “Đại bản doanh” của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập. Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục ký vàng, cả “kho” kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm “7.000 con gà, thu hoạch 4.000 trứng mỗi ngày” ở Thủ Đức.
Trong buổi giao ban của Thường vụ Trung ương Cục vào lúc 7 giờ tối ngày 10-9-1975, tại Dinh Độc Lập, với sự có mặt của ông Phạm Hùng, bí thư Trung ương Cục, Nguyễn Văn Trân, ủy viên thường vụ, cùng các lãnh đạo Quân quản như Nguyễn Võ Danh, Phan Văn Đáng… Ông Mai Chí Thọ cho rằng các đoàn, các đội chỉ mới bắt được đối tượng, mới nắm được tài sản nổi chứ chưa lấy hết tài sản chìm. Ông Mai Chí Thọ tuyên bố: “Một tên tư sản Hoa có thể có từ 500 đến 1 ngàn lượng vàng. Qua chiếm lĩnh và khai thác ta mới hỏi sơ chứ chưa lục xét, chưa truy sâu nên có thu được vàng và ngoại tệ, nhưng so với số chúng đã có thì chưa bao nhiêu. Vì vậy, các đoàn cần đi sâu lục soát hơn nữa trong nhà chúng để truy vàng bạc và ngoại tệ. Phải dựa vào quần chúng, người làm công ở mướn phát động họ để phát hiện nơi giấu cất”.
Khi bị Tòa án Nhân dân Đặc biệt đưa công khai xét xử, “một số tên tư sản mại bản”, trong đó có “tên” Hoàng Kim Quy, đã bị xử “hai mươi năm tù, tịch thu toàn bộ tài sản”. “Tội trạng” của ông Hoàng Kim Quy được Ủy viên Công tố Nguyễn Hoàn kết luận đanh thép: Bức thư y [Hoàng Kim Quy] gửi cho Tổng trưởng Ngoại giao Ngụy thúc giục Chính quyền vay của Ả-Rập Xê-út 500 triệu đô la để mớm hơi cho chiến tranh Việt Nam Hóa của Mỹ đang phá sản và trả dài hạn bằng cách cho đầu tư khai thác mỏ dầu ở thêm lục địa Việt Nam. Quy đã suy nghĩ và hành động như một tên xâm lược Mỹ với ý thức chống cộng sâu sắc, cam tâm bán đứng cả miền Nam để duy trì chế độ thối nát của Ngụy quyền… Hoàng Kim Quy đã không mơ hồ về mưu đồ của đế quốc Mỹ. Điều y thật sự mơ hồ là không hiểu hết sức mạnh của nhân dân ta. Không hiểu hết được thắng lợi thần kỳ của Cách mạng Việt Nam…
Cũng với cách luận tội như trên, máy móc nông cụ nhập khẩu của “tên tư sản mại bản” Lưu Trung được Ủy viên Công tố Nguyễn Hoàn gắn với một “âm mưu xảo quyệt” của “đế quốc Mỹ” dùng viện trợ kinh tế để “biến nông thôn thành chỗ dựa của ngụy quyền”. Tiến trình cơ giới hóa của nền nông nghiệp miền Nam được Công tố ủy viên Nguyễn Hoàn phân tích: “Thông qua viện trợ Mỹ về nông nghiệp, chúng tìm cách tạo ra cảnh phồn vinh giả tạo, nhằm lừa mị nông dân, lôi kéo họ ra khỏi ảnh hưởng của Cách mạng”. Phiên tòa diễn ra theo thủ tục đặc biệt. Cho dù, “với bản chất ngoan cố, tên tư sản mại bản Lưu Trung tìm cách nói quanh co để che lấp phần nào tội trạng của y”, nhưng mọi lập luận kể cả của bào chữa viên nhân dân đều bị “tòa bác bỏ”. Những “tên tư sản mại bản” khác như Lý Sen, kinh doanh sắt thép, Trương Dĩ Nhiên, “nhập cảng và sản xuất phim ảnh đồi trụy phản động”… cũng đều lần lượt lãnh án tù.
“CHIẾN DỊCH X-3”. Ngày 22 và 23-9-75, đồng tiền cũ của chế độ Sài Gòn đã được thay thế bởi đồng tiền mới. Đổi tiền cũng được coi là “chiến dịch” với MẬT DANH “X-3”. Ba yêu cầu mà Trung ương Cục đưa ra cho Chiến dịch X-3 gồm: “Thiết lập một chế độ tiền tệ mới; ngăn chặn giai cấp tư sản sử dụng tiền mặt để thao túng thị trường, đồng thời tước đoạt bớt phương tiện hoạt động của bọn gián điệp, tình báo; đẩy lùi lạm phát”. Tiền “Chánh quyền Sài Gòn cũ”: 500 đồng đổi được một đồng tiền mới Ngân hàng Việt Nam. Mỗi hộ gia đình được đổi tối đa 100.000 đồng. Cán bộ công nhân viên chức trong các tổ chức tập thể được đổi mỗi người 15.000; hộ kinh doanh tiểu công nghệ, thương nghiệp, vận tải được đổi 100.000 đồng; tổ chức kinh doanh lớn được đổi từ 100.000 đến 500.000 đồng; khách vãng lai, mỗi người được đổi 20.000, số còn lại nộp cho ban đổi tiền, lấy biên lai về địa phương giải quyết.
Quyết định đổi tiền được báo Sài Gòn Giải Phóng coi là để kết thúc “30 năm sống dơ và chết nhục của đồng bạc Sài Gòn”. Đồng tiền Sài Gòn bắt đầu được phát hành ngày 1-1-1955, được Chính quyền mới gắn cho nhiều tội lỗi. Ba ngày sau đổi tiền, báo Đảng ở Sài Gòn viết: “Miên Nam đã có một nền tiền tê mới, khai sinh từ sư độc lập toàn vẹn của xứ sở, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã nâng niu từng tờ bạc của Ngân hàng Việt Nam với một niềm hảnh diên chưa từng thấy sau bao nhiêu thế kỷ mất nước, phải ép mình sống với đồng bạc của ngoại bang”. Không biết “tủi nhục” đã mất đi bao nhiêu sau Chiến dịch X-3, nhưng rất nhiều tiền bạc của người dân miền Nam đã trở thành giấy lộn. Kể từ sáng 23-9-1975, những ai còn đồng bạc của chính quyền Sài Gòn cũ mà chưa đăng ký thì coi như hết giá trị.
Ở Huế, chiều ngày 21-9-1975, Hiệu phó kiêm Bí thư Đoàn trường Nguyễn Tri Phương Trần Kiêm Đoàn được Thành đoàn Huế giao phối hợp với Đoàn trường Đồng Khánh, dẫn 200 đoàn viên theo cửa Thượng Tứ vào Đại Nội. Trước khi đi, Thành đoàn ra lệnh: “Chuẩn bị khăn gói, thức ăn ba ngày, sẵn sàng chiến đấu”. Ông Đoàn kể: “Tụi tôi hồi hộp: Mỹ quay lại hay binh lính Sài Gòn nổi dậy? Tới 3 giờ sáng thì mới hay tin sáng mai đổi tiền. Khi ấy tôi còn trẻ, hào hứng với những cái mới nên nghe nói một đồng tiền mới giá trị bằng 500 đồng tiền cũ cũng có cái gì đó tự hào. Sáng ra vẫn tả xung hữu đột đôn đốc đoàn viên hoàn thành nhiệm vụ”. Nhưng, tới trưa, theo ông Trần Kiêm Đoàn: “Đi đâu cũng thấy dân kêu gào thất vọng. Ba giờ chiều, tôi tranh thủ về nhà, thấy vợ ngồi thẫn thờ, nước mắt lưng tròng: Anh! Mình trắng tay rồi!”. Mỗi gia đình chỉ được đổi tối đa 100 nghìn tiền Sài Gòn trong khi tiền mặt trong nhà vẫn còn tới gần mười triệu.
Không chỉ nhà ông Đoàn, nhiều gia đình buôn bán ở cửa Đông Ba, hàng xóm của ông, cũng đang kêu khóc. Những người càng tin tưởng vào chế độ mới càng mất mát lớn hơn, vì khi chiến tranh kết thúc, họ đã đào vàng lên bán, lấy vốn kinh doanh. Ông Đoàn kể: “Tôi trở về Đại Nội. Một vị chỉ huy lực lượng đổi tiền biết chuyện kêu lại nói: ‘Muốn đổi bao nhiêu cũng được nhưng phải chia 5:5. Về xóm coi có ai thì kêu họ đổi luôn’. Tôi về lấy tiền và móc nối với mấy người trong xóm. Đúng là đổi bao nhiêu cũng được thật”. (Trích Chương 3).
HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 24. Tháng 9/1975, Hội nghị Trung ương lần thứ 24 của đảng Lao động Việt Nam xác định mục tiêu thống nhất đất nước về mọi mặt. Từ ngày 15 đến ngày 21/11/1975, Hội nghị Hiệp thương Chính trị được tổ chức tại Sài Gòn, giữa đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Trường Chinh đứng đầu, và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, do Phạm Hùng đứng đầu, đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội Thống nhất. Hội đồng Bầu cử gồm: 11 đại biểu miền Bắc: Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan, Xuân Thuỷ, Nguyễn Xiển, Trần Đăng Khoa, Chu Văn Tấn, Trần Đình Tri, Nguyễn Thị Minh Nhã, Linh mục Võ Thành Trinh, Hoà thượng Trần Quảng Dung, Trương Tấn Phát. Và, 11 đại biểu miền Nam: Phạm Hùng, Trần Lương, Bùi Dan, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, và 6 người khác hoặc nhân sĩ do Ban đại diện chỉ định. Tháng 1/1976, cuộc họp liên tịch của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Việt Nam Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra quyết định: cuộc Tổng tuyển cử sẽ tiến hành vào chủ nhật 25/4/1976. Hội đồng bầu cử toàn quốc được thành lập do Trường Chinh làm Chủ tịch và Phạm Hùng làm Phó Chủ tịch.
Bài 279: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM, CHÍNH PHỦ HUỲNH TẤN PHÁT, SỰ KIỆN LIÊN QUAN VÀ VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1976.
TẤN CÔNG VÀ NHÀ THỜ VINH SƠN. Sách Bên Thắng Cuộc Huy Đức viết: Đêm 12 rạng sáng 13-2-1976, lực lượng an ninh Thành phố bắt đầu tấn công nhà thờ Vinh Sơn, thu giữ các thiết bị phát thanh và in tiền giả. Hai linh mục cố thủ trong nhà thờ đã dùng súng và lựu đạn chống trả quyết liệt, bắn chết Nguyễn Văn Ràng, một cán bộ an ninh. Mãi tới gần sáng, lực lượng bao vây mới khống chế được nhà thờ, hai linh mục Nguyễn Hữu Nghị và Nguyễn Quang Minh cùng 3 người khác bị bắt. Vụ nhà thờ Vinh Sơn chưa kịp lắng xuống thì ngày 1-4-1976, xảy ra một vụ nổ ở Hồ Con Rùa làm cho một người chết, bốn người bị thương và phá hủy hoàn toàn con rùa làm bằng đồng đặt giữa hồ. Cùng ngày, tờ Giải Phóng, đăng tin: “Trừng trị tại chỗ bọn phản động và phá hoại: Tối 1-4-1976, bọn phản động và phá hoại, trong âm mưu phá rối trật tự trị an và cuộc sống yên lành của nhân dân ta, đã gây tiếng nổ tại công trường quốc tế. Một tên trong bọn phản động bị chết tại chỗ và bọn còn lại đã bị an ninh ta tóm cổ đưa về điều tra”.
Ngày 2-4-1976, tức là chỉ mười hai giờ sau vụ nổ, những người như Nhã Ca, Trần Dạ Từ đã bị bắt… Một chiến dịch bắt bớ văn nghệ sỹ được kéo dài cho đến ngày 28-4-1976. Duyên Anh kể: “Đêm ấy, đêm kinh hoàng, đêm mở đầu chiến dịch khủng bố văn nghệ sĩ. Hôm sau, cả Sài Gòn xôn xao vụ bắt bớ nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Đến chiều ngày 8-4-1976 thì chính Duyên Anh cũng chịu chung số phận. Duyên Anh kể “Cảnh tượng gia đình tôi, bấy giờ, thật bi thảm. Vợ tôi đang đau nặng, vụt tỉnh, tung mền chạy ra phòng khách. Tôi nhìn cái còng nhãn hiệu Mỹ do cộng sản siết dính trên tay mình, nhìn vợ tôi mặt mày tái mét, nhìn ba đứa con tôi ngơ ngác, nước mắt chảy ròng ròng. Tôi đợi công an đến bắt tôi sau khi tôi hay tin họ đã bắt Nguyễn Mạnh Côn, Trịnh Viết Thành, Doãn Quốc Sĩ…”.
TẤN CÔNG VÀO SÀO HUYỆT CỦA BỌN PHẢN CÁCH MẠNG. Ngày 6-04-1976, Chính quyền quyết định tấn công vào nơi được coi là “sào huyệt của bọn phản cách mạng”, đặt trong một khu rừng ở Tùng Nghĩa, Lâm Đồng, bắn chết sáu người, bắt sống “Chủ tịch Trần Duy Ninh và tám tên khác”. Ngày 8-04-1976, bốn mươi ba mục tiêu ở Sài Gòn bị đồng loạt tấn công: “bắt thêm năm mươi tên, thu giữ một điện đài, hai máy in bạc giả, một máy phát điện, toàn bộ máy móc để xây dựng đài phát thanh, tám mươi súng các loại, 100kg thuốc nổ TNT và một số tài liệu phản động”. Nhiều người đã bị bắt mà cho đến tận khi nhắm mắt lìa đời vẫn không biết lý do là gì. Hành động này còn mang ý nghĩa trấn áp, vì ngày 25-4-1976, trên cả nước sẽ diễn ra một sự kiện hết sức quan trọng của Chính quyền Cách mạng: Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Thống nhất đầu tiên của Việt Nam. Chính quyền muốn đảm bảo rằng sẽ không xảy ra sự cố.
Ngày 26-4-1976, An ninh ra lệnh bắt Luật sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông Bích không bao giờ biết vì sao mình bị bắt. Ông từng làm cho cơ quan trợ giúp Mỹ USAID trong chương trình “cấp căn cước cho người từ mười sáu tuổi trở lên” và sau khi tốt nghiệp cử nhân luật, ông nhận được học bổng đi học thêm một năm tại Đại học Harvard, Mỹ. Tháng 4-1975, ông là “chuyên viên đặc nhiệm” cho Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản. Những cuộc bắt bớ tương tự kéo dài tới năm 1978.
NHÀ TRÍ THỨC HỒ HỮU TƯỜNG. Hồ Hữu Tường là một trong số các nhà trí thức cách mạng. Từ giữa thập niên 1920 khi du học ở Paris, ông Hồ Hữu Tường từng tham gia phong trào Đệ tứ Quốc tế cùng với các ông Phan Văn Trường, Tạ Thu Thâu. Mặc dù năm 1939, ông Tường từ bỏ chủ nghĩa Marx và phong trào Đệ tứ, nhưng năm 1940 ông vẫn bị người Pháp bắt và đày ra Côn Đảo cho tới năm 1944. Ra tù, với tư cách là một nhà trí thức, ông Hồ Hữu Tường có nhiều bài viết nổi tiếng về cả chính trị, kinh tế và văn hóa phổ biến ở Hà Nội. Năm 1946, ông làm cố vấn cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Hội nghị Đà Lạt. Ông là một trong những người biên soạn sách giáo khoa tiếng Việt cho bậc trung học của nước Việt Nam lúc ấy, và tuyên ngôn độc lập.
Ông Hồ Hữu Tường bị người Pháp bắt lại năm 1948, và năm 1957, sau khi về sống ở Sài Gòn, bị chính quyền Ngô Đình Diệm tuyên án tử hình vì làm cố vấn cho Mặt trận Thống nhất của Hòa Hảo, Cao Đài và Bình Xuyên. Nhờ có sự can thiệp của những nhân vật nổi tiếng trên thế giới như Albert Camus, Nehru, ông được giảm xuống khổ sai. Ông được trả tự do sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Ra tù, ông được mời làm phó viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh và năm 1967, ông tham gia chính trường với tư cách là một dân biểu đối lập. Ông Hồ Hữu Tường không phải đi cải tạo cho đến khi ông có một vài “sáng kiến chính trị” vào năm 1978, năm ông Tường sáu mươi tám tuổi.
Ba lần ông thoát khỏi nhà tù, của người Pháp và của chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng tới lần thứ tư thì không. Ngày 26-6-1980, ông Hồ Hữu Tường được đưa từ trại Z30D ở Hàm Tân về Sài Gòn, nhưng trên đường đi thì ông mất. (Trích chương 2 Sách Bên Tháng Cuộc).
BẦU QUỐC HỘI CHUNG CHO CẢ NƯỚC. Ngày 25-4-1976, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung cgo cả nước. Có 492 đại biểu trúng cử gồm: công nhân 16,26%; nông dân 20,33%; cán bộ chính trị 28,66%; quân nhân cách mạng 10,97%; tri thức 18,50%; đại biểu nữ 26,21%; đại biểu các dân tộc thiểu số 14,28%... Từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, thông qua các nội dung: Xóa bỏ Khu phi quân sự theo Vỹ tuyến 17; Quốc Kỳ, Quốc huy, và Cờ đỏ sao vàng; Lấy tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Quốc ca là bài Tiến quân ca; Thủ đô Hà Nội; Đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh.
XOÁ SỔ CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM. Với sự kiện này, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức Xoá sổ để hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam tồn tại 7 năm 1 tháng từ tháng 6 năm 1969 đến tháng 7 năm 1976.
CHÍNH QUYỀN HAI
Bài 280: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1975-1976.
HAI NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN. Sau ngày 30/4/1975, ở hai miền Nam-Bắc tồn tại hai nhà nước với hai chính phủ, đó là Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Phạm Văn Đồng TẠI MIỀN BẮC, và Nhà nước Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Chính phủ Huỳnh Tấn Phát TẠI MIỀN NAM. Từ ngày 15 đến ngày 21-11-1975, tại thành phố Sài Gòn, đại biểu hai miền Nam-Bắc đã tổ chức Hội nghị Hiệp thương chính trị để bàn việc thống nhất nước Việt Nam về mặt Nhà nước. Hội nghị nhận định: “Cần tổ chức Tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam để bầu ra Quốc hội chung cho cả nước. Quốc hội đó sẽ xác định thể chế Nhà nước, bầu ra các cơ quan lãnh đạo Nhà nước và quy định Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất”.
Ngày 3-1-1976, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 228-CT/TW chỉ rõ, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung sẽ được tiến hành trong cả nước cùng một ngày. Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cùng thống nhất việc thành lập Hội đồng bầu cử toàn quốc với số đại biểu ngang nhau của mỗi miền gồm 22 đại biểu. Mỗi miền cử 11 đại biểu. Chủ tịch Hội đồng bầu cử, Trường Chinh; Phó Chủ tịch Hội đồng bầu cử, Phạm Hùng. Căn cứ vào điều kiện cụ thể lúc đó, ở mỗi miền đã thành lập Hội đồng bầu cử riêng. Ở miền Bắc, cơ quan chủ trì bầu cử là Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở miền Nam, cơ quan chủ trì bầu cử là Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
HIỆP THƯƠNG GIỚI THIỆU ỨNG CỬ VIÊN. Tại nhiều địa phương ở miền Nam, việc giới thiệu những người ra ứng cử đã được thực hiện dân chủ, theo Pháp lệnh bầu cử đại biểu Quốc hội ngày 20-2-1976 của Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, trong đó Mặt trận Dân tộc thống nhất cùng các đoàn thể quần chúng đóng vai trò quan trọng. Danh sách những người ra ứng cử đã được các tổ chức quần chúng ở cơ sở thảo luận để đưa lên Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Ủy ban Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thống nhất hiệp thương và chính thức giới thiệu.
Đối với các tỉnh, thành phố miền Bắc, việc giới thiệu những người ra ứng cử được áp dụng theo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 13-1-1960. Những người ra ứng cử đều do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu. Việc niêm yết danh sách cử tri và tổ chức các cuộc tiếp xúc giữa ứng cử viên đại biểu Quốc hội với cử tri ở các khu vực bầu cử được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm công khai và dân chủ để cử tri trao đổi ý kiến, tự mình lựa chọn bầu những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội. Trước ngày bầu cử, hầu hết các thị xã, thành phố đều có mít tinh, diễu hành của quần chúng hoan nghênh Tổng tuyển cử. Riêng thành phố Sài Gòn, hàng chục vạn công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh đã xuống đường tuần hành.
CÓ 23 TRIỆU CỬ TRI ĐI BẦU QUỐC HỘI. Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được tổ chức ngày 25-4-1976 với trên 23 triệu cử tri. Cuộc bầu cử được tiến hành nhanh, gọn và đạt kết quả tốt. Tỷ lệ cử tri đi bầu trong cả nước đạt 98,77%, trong đó miền Bắc 99,36%, miền Nam 98,59%. Có nhiều xã, huyện, thị, đơn vị vũ trang và khu vực bỏ phiếu đạt 100% cử tri đi bầu. Trong tổng số 492 đại biểu trúng cử ở các tỉnh, thành phố như sau: Thành phố Hà Nội: 22 đại biểu; Thành phố Hồ Chí Minh: 35 đại biểu; Thành phố Hải Phòng: 13 đại biểu; Tỉnh Lai Châu: 3 đại biểu; Tỉnh Sơn La: 4 đại biểu; Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 7 đại biểu; Tỉnh Hà Tuyên: 7 đại biểu; Tỉnh Cao Lạng: 9 đại biểu; Tỉnh Bắc Thái: 8 đại biểu; Tỉnh Quảng Ninh: 8 đại biểu; Tỉnh Hà Sơn Bình: 21 đại biểu; Tỉnh Hà Bắc: 15 đại biểu; Tỉnh Vĩnh Phú: 16 đại biểu; Tỉnh Hải Hưng: 20 đại biểu; Tỉnh Thái Bình: 15 đại biểu; Tỉnh Hà Nam Ninh: 26 đại biểu;
Tỉnh Thanh Hóa: 23 đại biểu; Tỉnh Nghệ Tĩnh: 27 đại biểu; Tỉnh Bình Trị Thiên: 19 đại biểu; Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: 15 đại biểu; Tỉnh Nghĩa Bình: 18 đại biểu; Tỉnh Phú Khánh: 11 đại biểu; Tỉnh Gia Lai - Kon Tum: 6 đại biểu; Tỉnh Đắk Lắk: 5 đại biểu; Tỉnh Lâm Đồng: 4 đại biểu; Tỉnh Thuận Hải: 9 đại biểu; Tỉnh Đồng Nai: 13 đại biểu; Tỉnh Sông Bé: 6 đại biểu; Tỉnh Tây Ninh: 6 đại biểu; Tỉnh Long An: 8 đại biểu; Tỉnh Tiền Giang: 11 đại biểu; Tỉnh Bến Tre: 9 đại biểu; Tỉnh Cửu Long: 13 đại biểu; Tỉnh Đồng Tháp: 10 đại biểu; Tỉnh An Giang: 14 đại biểu; Tỉnh Hậu Giang: 19 đại biểu; Tỉnh Kiên Giang: 8 đại biểu; Tỉnh Minh Hải: 10 đại biểu. Tỷ lệ 492 đại biểu trúng cử gồm: cán bộ chính trị 28,66%; đại biểu nữ 26,21%; nông dân 20,33%; trí thức 18,50%; công nhân 16,26%; đại biểu các dân tộc thiểu số 14,28%; quân nhân cách mạng 10,97%; nhân sĩ dân chủ và tôn giáo 4,06%; thợ thủ công 1,22%.
CHÍNH QUYỀN BA
Bài 281: QUỐC HỘI VIỆT NAM THỐNG NHẤT HỌP PHIÊN ĐẦU TIÊN, KHAI SINH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, VÀ NỘI CÁC MỚI CỦA CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG.
QUỐC HỘI HỌP PHIÊN ĐẦU TIÊN. Từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, Tất cả 492 đại biểu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được bầu ngày 25-4-1976 họp phiên đầu tiên, thông qua các nội dung: Xóa bỏ Khu phi quân sự theo Vỹ tuyến 17; Quốc Kỳ, Quốc huy, và Cờ đỏ sao vàng; Lấy tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Quốc ca là bài Tiến quân ca; Thủ đô Hà Nội; Đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Với sự kiện này, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức Xoá sổ để hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam tồn tại 7 năm 1 tháng từ tháng 6 năm 1969 đến tháng 7 năm 1976.
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã trình bày trước Quốc hội Báo cáo chính trị Toàn dân đoàn kết xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất xã hội chủ nghĩa. Báo cáo nêu rõ: Xuất phát từ tình hình mới của đất nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: “Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”.
QUỐC HỘI THÔNG QUA CÁC NGHỊ QUYẾT. Ngày 2-7-1976, Quốc hội đã thông qua các nghị quyết về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô và Quốc ca của nước Việt Nam thống nhất: (1) Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa lấy tên là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2) Quốc kỳ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. (3) Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng cưa và dòng chữ “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. (4) Thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội. (5) Quốc ca nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bài Tiến quân ca. Trong khi chờ đợi có Hiến pháp mới, Quốc hội cũng đã thông qua nghị quyết về việc quy định Nhà nước Việt Nam sẽ tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Tổ chức nhà nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở Trung ương gồm có: Quốc hội; Chủ tịch nước và hai Phó Chủ tịch nước; Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Hội đồng Chính phủ; Hội đồng Quốc phòng; Toà án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội cũng đã thông qua nghị quyết thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và các ủy ban của Quốc hội gồm: (1) Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách do ông Nguyễn Văn Trân làm Chủ nhiệm và 35 ủy viên. (2) Ủy ban Dự án pháp luật do ông Trương Tấn Phát làm Chủ nhiệm và 17 ủy viên. (3) Ủy ban Dân tộc do ông Chu Văn Tấn làm Chủ nhiệm và 26 ủy viên. (4) Ủy ban Văn hóa và Giáo dục do ông Lưu Hữu Phước làm Chủ nhiệm và 27 ủy viên. (5) Ủy ban Y tế và Xã hội do ông Nguyễn Văn Thủ làm Chủ nhiệm và 21 ủy viên. (6) Ủy ban Đối ngoại do ông Hoàng Minh Giám làm Chủ nhiệm và 11 ủy viên.
QUỐC HỘI BẦU CÁC VỊ LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC. Ngày 2-7-1976, Quốc hội bầu các vị lãnh đạo Nhà nước và thành lập Chính phủ mới để điều hành công việc của nước nhà. Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước: Chủ tịch: Tôn Đức Thắng; Phó Chủ tịch: Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Hữu Thọ. Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chủ tịch: Trường Chinh; Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký: Xuân Thuỷ; Phó Chủ tịch: Hoàng Văn Hoan, Phan Văn Đáng, Nguyễn Thị Thập, Chu Văn Tấn, Nguyễn Xiển, Trần Đăng Khoa. Các ủy viên: Lê Thành, Nguyễn Đức Thuận, Trần Đình Tri, Trương Tấn Phát, Võ Thành Trinh, Nguyễn Công Tâm, Đào Văn Tập, Hoà thượng Thích Thiện Hào, Nguyễn Thị Như, Phan Minh Tánh, Cầm Ngoan, Huỳnh Cương, Anh hùng Núp. Ủy viên dự khuyết: Vũ Định, Nguyễn Thị Được.
Hội đồng Chính phủ: Thủ tướng Chính phủ: Phạm Văn Đồng. Phó Thủ tướng Phạm Hùng; Huỳnh Tấn Phát; Võ Nguyên Giáp; Nguyễn Duy Trinh; Lê Thanh Nghị; Võ Chí Công; Đỗ Mười. Bộ trưởng Nội vụ: Trần Quốc Hoàn; Bộ trưởng Ngoại giao: Nguyễn Duy Trinh; Bộ trưởng Quốc phòng: Võ Nguyên Giáp; Bộ trưởng Nông nghiệp: Võ Thúc Đồng; Bộ trưởng Lâm nghiệp: Hoàng Văn Kiểu; Bộ trưởng Thuỷ lợi: Nguyễn Thanh Bình; Bộ trưởng Cơ khí và Luyện kim: Nguyễn Côn; Bộ trưởng Điện và Than: Nguyễn Chấn; Bộ trưởng Xây dựng: Đỗ Mười; Bộ trưởng Giao thông vận tải: Phan Trọng Tuệ; Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ: Vũ Tuân; Bộ trưởng Lương thực và Thực phẩm: Ngô Minh Loan; Bộ trưởng Hải sản: Võ Chí Công; Bộ trưởng Nội thương: Hoàng Quốc Thịnh; Bộ trưởng Ngoại thương: Đặng Việt Châu; Bộ trưởng Tài chính: Đào Thiện Thi; Bộ trưởng Lao động: Nguyễn Thọ Chân; Bộ trưởng Vật tư: Trần Sâm; Bộ trưởng Văn hoá: Nguyễn Văn Hiếu;
Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp: Nguyễn Đình Tứ; Bộ trưởng Giáo dục: Nguyễn Thị Bình; Bộ trưởng Y tế: Vũ Văn Cẩn; Bộ trưởng Thương binh-Xã hội: Dương Quốc Chính, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng: Đặng Thí. Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước: Lê Thanh Nghị; Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước: Nguyễn Hữu Mai; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng: Phan Mỹ; Bộ trưởng phụ trách công tác văn hoá, giáo dục ở Phủ Thủ tướng: Trần Quang Huy; Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí: Đinh Đức Thiện; Bộ trưởng phụ trách công trình sông Đà: Hà Kế Tấn; Bộ trưởng phụ trách công tác khoa học-kỹ thuật nông nghiệp: Nghiêm Xuân Yêm; Tổng Giám đốc Ngân hàng nhà nước: Hoàng Anh; Chủ nhiệm Ủy ban vật giá nhà nước: Tô Duy; Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc: Lê Quảng Ba; Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước: Trần Đại Nghĩa; Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Chính phủ: Trần Nam Trung.
Hội đồng Quốc phòng: Chủ tịch: Tôn Đức Thắng. Phó Chủ tịch: Phạm Văn Đồng. Các ủy viên: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Phạm Văn Bạch. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Trần Hữu Dực. Ngày 3-7-1976, Phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá VI, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh đã nhấn mạnh: “Với thắng lợi của kỳ họp này, chúng ta đã thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Nhân dân ta vô cùng phấn khởi. Anh em bầu bạn trên thế giới chia sẻ vui mừng với chúng ta... Chúng ta cần tiếp tục phấn đấu, ra sức khắc phục những khó khăn về thanh toán những ảnh hưởng còn lại của chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ; về phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân; về khôi phục kinh tế, ổn định đời sống; về cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; về tăng cường và cải tiến quản lý nền kinh tế quốc dân”.
TUYÊN BỐ VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG THƯƠNG NGHIỆP… Ngày 25-9-1976, Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về chính sách đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam. Đây là một chính sách lớn của Nhà nước nhằm hướng dẫn và cải tạo kinh tế tư bản tư doanh đi dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội thông qua con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa. Ngày 14-10-1976, Chính phủ Quyết định thành lập Tổng cục Khí tượng và Thuỷ văn trực thuộc Hội đồng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất Nha Khí tượng và Cục Thuỷ văn. Ngày 16-10-1976, Thủ tướng Chính phủ Quyết định huyện Côn Sơn (trên đảo Côn Sơn) thuộc tỉnh Hậu Giang./.
(Hết chương XX)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét