Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

 

 Chương XIV: 19 BÀI VIẾT VỀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM: 1950 - 1955.

(57 trang, 39.270 chữ)

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

169. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Chính phủ Hồ Chí Minh 1950-1955.

170. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Chiến dịch biên giới giải phóng Cao-Bắc-Lạng năm 1950

171. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Đại hội Đảng lần thứ hai, và Chỉnh huấn văn nghệ, báo chí năm 1951. 

171 Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chiến dịch Trung Du, Đường 18, và Chiến dịch Hà Nam Ninh năm 1951

173. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Chiến dịch Hoà Bình 1951-1952.

174. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và trận đánh Đại đồn Nà Sản 1952. 

175. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Luật Cải cách ruộng đất, và mở lớp Chỉnh huấn Cải cách ruộng đất 1953.

176. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và nhân sĩ tên tuổi của Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, Trung ương Mặt trận Liên Việt Nguyễn Thị Năm, người thường cùng họp long trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt bị xử bắn trong Cải cách ruộng đất 1953. 

177. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và việc huy động lương thực, thực phẩm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ 1953-1954.

178. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và việc huy động dân công làm ba tuyến vận tải cho Chiến dịch Điện Biên Phủ 1953-1954.

 

CHÍNH QUYỀN HAI

179. Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Nguyễn Phan Long 1-5/1950.

180. Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Trần Văn Hữu 5/1950-2/1951.

181. Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Trần Văn Hữu 2/1951-6/1952.

182. Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Nguyễn Văn Tâm 6/1950-1/1953. 183. Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Nguyễn Văn Tâm 1/1953-1/1954.

184. Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Nguyễn Phúc Bửu Lộc 1-7/1954. 185. Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Ngô Đình Diệm 7/1954-9/1954.

186. Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Ngô Đình Diệm 9/1954-5/1955.

187: Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Ngô Đình Diệm 5/1955-10/1955.

 

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

169: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ, VÀ CHÍNHPHỦ HỒ CHÍ MINH NĂM 1950.

TÌNH CẢNH CỦA QUÂN KHÁNG CHIẾN. Bách khoa Toàn thư mở viết: Từ 1945, quân kháng chiến Việt Nam chỉ được võ trang bằng gậy tầm vông, mã tấu, dao găm, cây phạng, nội hóa và một số rất ít súng trường cũ thu được của Nhật hay thậm chí súng của Pháp từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất sót lai như súng Mousqueton, súng lục Rouleau do hãng St. Etienne bên Pháp chế tạo. Ngay cả với các đơn vị chủ lực, trang bị đều thiếu thốn và không thống nhất, có gì dùng nấy. Vũ khí chống tăng chuyên dụng rất ít, phần lớn là bom ba càn, một loại mìn chống tăng gắn trên cán gậy thu được của Nhật. Một tiểu đoàn thường chỉ được trang bị tương đương với 1 đại đội của Pháp, với 2 đại liên, 1-2 súng cối 60 mm, tám trung liên, 140 đến 160 súng trường đủ các kiểu (Nhật, Nga, Pháp). 

Một nửa số bộ đội không có súng mà phải dùng những vũ khí thô sơ như nỏ, giáo mác và dao kiếm...Vì nhu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến nên ngay từ 1946, tại các mật khu, quân kháng chiến Việt Nam đã cho thiết lập những xưởng vũ khí thô sơ, sửa chữa hoặc chế tạo một ít bộ phận nhỏ của súng lục và súng trường, có khi cả loại trung - đai liên, đồng thời chế tạo lựu đạn nội hóa. Theo "Báo cáo tổng kết vũ khí toàn quốc năm 1947" của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trang bị của toàn quân lúc này có 26.018 khẩu súng trường, và 1.522 khẩu súng máy các loại, trên tổng số gần 90.000 người. Nghĩa là, tỷ lệ trang bị súng chưa đạt nổi 1/3. Hiệu suất sử dụng thực tế còn kém hơn nhiều, do tình trạng kỹ thuật, thiếu đạn cũng như quá nhiều chủng loại hỗn tạp. Giai đoạn này, cây mác gần như trở thành vũ khí cá nhân cơ bản trong các đơn vị bộ đội ở Bắc Bộ. 

Cho tới năm 1950, quân kháng chiến Việt Nam vẫn trong tình trạng thô sơ, họ áp dụng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến, phá hết nhà cửa, phố xá ở thành thị; còn tại thôn quê thì tre vót nhọn được cắm tua tủa khắp các bãi đất trống để ngăn cản Pháp nhảy dù. Ủy ban Hành chính Kháng chiến các xã, quận góp tiền mua ít nhất là một khẩu súng để tự vệ. Với thông cáo này, xã nào cũng đua nhau quyên góp tiền trong dân chúng để gửi đi. Nhưng, nguồn cung hầu như không có, nên du kích mỗi xã chỉ có được một khẩu súng Mousqueton đã rỉ sét với 5 viên đạn, mà có khi cả năm viên đều bắn không nổ. Ở ngoài mặt trận, gậy tầm vông vót nhọn và dao găm là vũ khí chínhMãi đến năm 1951-1952, gậy tầm vông vẫn là một thứ vũ khí lợi hại trong tay Việt Minh, không một cuộc phục kích ban đêm nào thành công mà không có một số binh sĩ Pháp chết vì bị gậy tầm vông đâm xuyên. 

Nhờ thu được chiến lợi phẩm nên các cấp chỉ huy từ Đại đội trưởng trở lên mới có súng lục mang bên hông. Còn ở hậu phương, những cán bộ được mang súng lục phải là cao cấp, cấp tỉnh hoặc cấp khu. Chiến tranh khi đó mang một hình thức thô sơ, vừa du kích, vừa cổ điển đối với phía Việt Minh. Ngược lại, Quân đội Pháp được trang bị hiện đại theo tiêu chuẩn thời bấy giờ, có đầy đủ cơ giới: có hàng không mẫu hạm, tàu chiến, máy bay ném bom, xe tăng, thiết giáp, đại bác 105-155 ly do Hoa Kỳ viện trợ. Bộ binh trang bị đầy đủ các loại vũ khí như súng trường M-36, súng FM, súng trung liên Bar, tiểu liên Thompson, súng cối 60-120 ly, súng đại liên 12,7 ly, pháo liên thanh 20 mm v.v... Trong giai đoạn 1946-1950, trên khắp các chiến trường từ Nam chí Bắc, Pháp nắm thế chủ động, còn Việt Minh vẫn áp dụng chiến thuật du kích, chưa thể tiến tới chỗ "dùng nông thôn bao vây thành thị".

HÒ CHÍ MINH ĐI CẦU VIỆN, VÀ KẾT QUẢ. Cuối tháng 1 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang Bắc Kinh để xin viện trợ, sau đó đi Moskva gặp gỡ Stalin, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cũng đang ở thăm Liên Xô, ký Hiệp ước Hợp tác Xô-TrungCác lãnh đạo Trung Quốc hứa sẽ thuyết phục Stalin công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xua tan mối nghi ngờ của Stalin về tính chất hai mặt của Hồ Chí Minh khi hợp tác với tình báo Mỹ và giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Hồ Chí Minh hứa sẽ tái lập Đảng Cộng sản, Cải cách Ruộng đất, và thực hiện chuyên chính vô sản. Trong chuyến đi tới Moscow, Hồ Chí Minh hết lời ca ngợi Stalin, thậm chí ông còn sáng tác một bài thơ ca ngợi Stalin. 

Kết quả là Stalin và Mao Trạch Đông hứa: sẽ trang bị cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 10 Đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt trang bị tức thời cho 6 Đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Ngày 2/2/1950, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 20/SL tổng động viên nhân lực, tài lực của nhân dân để thực hiện tổng phản công. Tháng 4 năm 1950, hai Trung đoàn của Đại đoàn 308 sang Mông Tự, Vân Nam. Tiếp đó một Trung đoàn của Đại đoàn 312 sang Hoa Đồng, Quảng Tây nhận vũ khí. Ngoài 3 Trung đoàn trên, còn có hai Tiểu đoàn công binh và trường sĩ quan lục quân cũng được gởi sang học tập, huấn luyện tại Trung Quốc. Những đơn vị nầy ngoài việc trang bị vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá, được bắn đạn thật nên tiến bộ rất nhanh. 

Nhờ vậy, mà quân đội được cải thiện đáng kể. Những năm qua, mỗi chiến sĩ chỉ mơ ước có một khẩu súng trong tay. Bây giờ không chỉ có súng mà đạn được cũng khá dồi dào. Tính đến tháng 6-1950, số cán bộ sang Trung Quốc học tập là 3.100 người, trong đó 650 cán bộ học bổ túc trung và sơ cấp, 1.200 học cơ bản chỉ huy bộ binh sơ cấp, còn lại học về binh chủng như pháo binh... Bên cạnh việc trang bị vũ khí, giúp đỡ huấn luyện, viện trợ lương thực, Trung Quốc còn cử Đoàn công tác Hoa Nam gồm 79 người do Vi Quốc Thanh làm trưởng đoàn, ngày 12-8-50, đoàn đến Quảng Uyên, Cao Bằng. Trung Quốc cũng cử Trần Canh cùng một số cán bộ quân sự, trực tiếp làm cố vấn trong chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950. 

 

170: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI GIẢI PHÓNG CAO-BẮC-LẠNG NĂM 1950.

GẶP PHẠM VĂN KHOA MOI CHUYỆN. Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết: “Đảng Cộng Sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán tháng 11 năm 1945, cùng với nó, tờ Cờ Giải Phóng. Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác bèn ra đời cùng với nó là tờ Sự Thật. Đầu 1949, tôi đến An toàn khu (ATK) để làm báo Sự Thật. Toà soạn báo Sự Thật lúc ấy vẻn vẹn ba cây bút sắt: (Hà) Xuân Trường (Hà Nghệ), thư ký toà soạn, Quang Đạm (Tạ Quang Đệ), Thép Mới (Hà Văn Lộc), từ báo Cờ Giải Phóng trước 1945. Và một cây bút lông: Phan Kế An, con cả cụ Phan Kế Toại, nguyên Khâm sai đại thần Bắc Bộ, nay là bộ trưởng Nội vụ. Đầu năm 1950, hơn hai tháng sau nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa ra đời, Cụ Hồ bí mật len qua vùng địch ở Phục Hoà, Cao Bằng đi Trung Quốc qua Thủy Khẩu. Trần Đăng Ninh, Vũ Đình Huỳnh và Phạm Văn Khoa phiên dịch tiếng Trung Quốc theo cụ. 

Bác xuất ngoại, trong ATêKa chúng tôi rất mực vui. Đang vô thừa nhận mà lại sắp vớ được họ hàng toàn oách ra dáng hết. Đâu có biết đại thí sinh Hồ Chí Minh sắp dự cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới. Thép Mới rủ tôi gặp Phạm Văn Khoa moi chuyện. Khoa đã được dặn cấm không hé răng. Chúng mày xì ra thì chết tao… Ừ, tao làm phiên dịch nhưng nhiều lúc Ông Cụ cũng chẳng cần tao… Ông Cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Họ không hiểu ta. Ông Cụ nhà mình nói… Thỉnh thoảng Mao lại dặng hắng ừ hừ hữ một cái rất to, kinh bỏ con bà, chẳng hiểu là tán thành hay phản đối. Sau khi Ông Cụ kiểm thảo, trình bày các cái ta chủ trương và làm, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét, chính sách tiêu thổ kháng chiến toàn bàn của Việt Nam là không cần thiết và lãng phí. 

Khoa cho biết, sau đó Mao đi Liên Xô ký kết hiệp ước Sô-Trung. Sau này tài liệu chính thức của ta nói khi Cụ Hồ qua Bắc Kinh thì Mao đã đi Liên Xô rồi. Vì sao không biết, nhưng theo tôi, Khoa nói đúng, vì về nước mới mươi ngày, anh đã kể chuyện với chúng tôi. Sau này kể cho tôi viết hồi ký, Vũ Đình Huỳnh cũng bảo có gặp Cụ Mao, nhưng khi vào họp thì Huỳnh phải ở ngoài. Lúc ấy Mao sắp sang gặp Stalin và trong nghị sự chắc sẽ trao đổi ý kiến về công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, do đó Mao phải nghe Cụ Hồ trình bày trước”...

CHIẾN DỊCH GIẢI PHÓNG CAO-BẮC-LẠNG. Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết tiếp: Để liền một dải với Trung Quốc, với phe xã hội chủ nghĩa, nói khác đi, để làm được tiền đồn của phe, để thoát cảnh một mình “chiến đấu giữa vòng vây” ta mở Chiến dịch Biên Giới giải phóng Cao Bắc Lạng. Tháng 8-1950, Dương Bích Liên, Vũ Cao, Hoàng Nghiêm điện ảnh, Thân Nhất Đài phát thanh và tôi lên Cao Bằng. Bộ đội ta sang Quảng Tây học tác chiến từ mấy tháng trước trở về rầm rập đêm ngày. Cố vấn Trung Quốc cùng với những con ngựa cao to kiểu Xích Thố chở ngất ngưởng chăn đệm, thau chậu. Cố vấn xuống tới tiểu đoàn, trung đội. Tôi ngày ngày dự các buổi trung đội trưởng Trung Quốc dạy bộ đội ta đánh bộc phá, đâm lê. “Chú ý ngoáy cổ tay, vặn thế này, xốc lên”, anh phiên dịch nói to như gắt… 

Đoàn báo chí, văn nghệ dự buổi Võ Nguyên Giáp phổ biến trên sa bàn kế hoạch đánh thị xã Cao Bằng. Tôi và Nguyễn Địch Dũng đến trung đoàn 174 của Đặng Văn Việt (Trung đoàn trưởng) và Chu Huy Mân (Chính uỷ). Tuần sau, đánh Đông Khê, không đánh Cao Bằng như kế hoạch Võ Nguyên Giáp đã giới thiệu. Đánh Đông Khê, tôi đi với tiểu đoàn 251 chủ công Nguyễn Hữu An thuộc trung đoàn 174. Khai hoả cho toàn trận đánh, là đồn tiền tiêu Cạm Phầy chợt như bị một bùi nhùi rơm khổng lồ, lửa văng tung toé. Cùng lúc súng nổ ran tứ phía. Nhưng hết một đêm không xong, Nguyễn Hữu An không vào nổi đồn! Đêm hôm sau, tôi nằm với bốn khẩu sơn pháo bắn thẳng của tiểu đoàn trưởng Thành. Thành đưa tôi một điện thoại nghe ban chỉ huy trận đánh chỉ đạo, cho bắn bao nhiêu viên 75. Nghe suốt đêm Lê Liêm chính ủy mặt trận biên giới giục lính 251 “anh dũng tiến lên, hy sinh cũng lên, không thể để đến sáng nữa…” Sáng tinh mơ sau đêm thứ hai diệt được Đông Khê, tiếng súng im hẳn... (Hết trích)

BA ĐỢT ĐÁNH CỦA CHIẾN DỊCH. Bách khoa Toàn thư mở viết: Chiến dịch biên giới bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, diễn ra trong ba đợt. Đợt 1, ngày 16 tháng 9, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến hành đánh công kiên quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng tấn công cứ điểm Đông Khê nhằm cô lập Cao Bằng, và đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ dù quân Pháp đã huy động cả không quân yểm trợ. Sự kiện này làm mất một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4 của Pháp. Sang đợt hai, quân Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng, đồng thời thực hiện cuộc "hành quân kép", gửi tiếp viện từ Lạng Sơn qua Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bố trí thế trận phục kích, bao vây sau đó lần lượt tiêu diệt cả hai cánh quân Pháp từ Thất Khê lên lẫn từ Cao Bằng rút về. 

Qua đợt ba, quân Việt Nam tiến hành truy kích quân Pháp rút chạy đồng thời liên tục quấy rối, không cho họ chuyển quân tiếp viện cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng, đến ngày 12 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn... Ngày 17 tháng 10, sau khi đã đạt được toàn bộ các mục tiêu đề ra, Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ động kết thúc chiến dịch. Thắng lợi của của chiến dịch, khai thông một đoạn biên giới dài, nối Việt Bắc với các đồng minh lớn đến tận châu Âu, 

Chiến dịch cũng đã tạo ra hiệu ứng chủ bại và hoảng sợ tại Hà Nội, Cao Ủy Pháp Leson Pignon đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp tại Bắc Việt. Đàn bà, con nít Pháp tản cư, kiều dân Pháp phải nhập ngũ trong 3 tuần l…Ngày 17 tháng 12 năm 1950, Đại tướng Jean de Lattre de Tassigny được chính phủ Pháp cử làm Cao uỷ kiêm Tổng Tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương thay thế Cao Ủy Pháp Leson Pignon. 

 

171: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ II, VÀ CHỈNH HUẤN VĂN NGHỆ BÁO CHÍ NĂM 1951.

ĐAI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ II. Cũng sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết: Ngày 11-19/2/1951 mở Đại hội II, Hồ Chủ tịch nói: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam”. Không thích chui lủi, chúng tôi rất sướng được ra ánh sáng và thế là, quên mất câu Cụ nói ngày cho đảng rút lui vào bóng tối: Nếu cần có đảng phái thì sẽ là ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM… Bọn tôi kêu cái tên Đảng Lao Động Việt Nam yếu quá thì được đả thông ngay: Ông Cụ đã thỉnh thị Stalin và Stalin bảo lấy tên này. Thế ra, lúc Cộng sản Đông Dương, lúc Lao động Việt Nam đều do Stalin quyết định cả…

Trần Đỉnh viết tiếp: Từ Trung Quốc vào ta cùng với vũ khí, với những tam tam chế, tứ khoái nhất mạn, nhất điểm lưỡng diện, tiêm đao tung thâm chia cắt còn có cố vấn, có chỉnh huấn… Có thể nói một nề nếp sinh hoạt mới, một ý tứ mới phải tuân thủ, coi trọng. Tôi đã dự lớp chỉnh huấn đầu tiên chủ yếu dành cho đảng viên văn nghệ, báo chí ở ATêKa. Cán bộ ta sang tận Hoa Nam học cách thức về chỉ đạo. Tôi cùng chi bộ với Xuân Diệu, Nguyễn Tư Nghiêm, Phan Kế An, Lê Đạt… năm cái mồm lý sự cùng một số anh chị em khác. Bắt đầu thí điểm cho nên học nặng về tranh cãi chữ nghĩa. Chi bộ tôi bỏ cả ba buổi thảo luận say sưa thế nào là tôn chỉ. Xuân Diệu cãi hăng nhất. Nhưng, hết phần lý luận, chuyển sang phần kiểm thảo thì mọi người đều cảm thấy ơn ớn. Mang máng một cái gì của sám hối tôn giáo, lờ mờ một cái gì xúc phạm nhân cách, cân cấn một cái gì muốn cưỡng lại nhưng không dám

MỤC DÍCH CHỈNH HUẤN CỦA MAOMỗi người đều phải khai hết sai lầm, khuyết điểm. Thành khẩn tự phanh phui bản thân là thước đo lòng trung thành với đảng. Một tên chỉ điểm vô hình được cài vào trong từng người. Và khi tên chỉ điểm ấy đã an vị trong anh thì từ đấy cái bóng lù lù của nó – một thằng cò sợ hay một thằng Javert của đảng – bèn trùm lên khắp người anh… Có thể nói lớp chỉnh huấn tháng 3 năm 1951 ấy là mở đầu cho các cuộc chỉnh huấn đều kỳ của cán bộ đảng viên. Trước mỗi vận động lớn hay trong các cuộc học tập lý luận thường xuyên đều có chỉnh huấn. Mục đích chỉnh huấn nham hiểm của Mao là dùng chỉnh huấn để khống chế “mỗi tôi con” của đảng, bằng cách nắm lấy cung của mỗi tôi con – một biến thể của hồ sơ mật thám. Ở đây thì lưu trữ rác rưởi của mỗi linh hồn rồi biến chúng thành một quả mìn đe nổ. Lúc ấy tôi chưa thể nhận thấy đó là cuộc xâm thực ô nhiễm nhân cách.

Song, lần truy nã tư tưởng đầu tiên chưa gay gắt. Trừ Ngô Tất Tố bị lưu lại kiểm thảo thêm mấy ngày, Tố khai hồi ở báo Cứu Quốc, trong một lần rượu Tết quá chén, Tố lỡ có nói một câu bậy bạ nghiêm trọng như sau: “Tôi là con chó, con chó thời Tây rồi thời Cộng sản. Chó thời Tây còn ủng oẳng sủa dăm ba tiếng, chứ chó thời Cộng sản thì cúp đuôi nằm im re”… Theo Như Phong, người từng dự bữa rượu kia bảo tôi: Bữa ấy, tớ có mặt, Tố cứ đấm ngực kêu ô ô lên như mày kể thật nhưng… đếch biết là hắn say thật hay là vờ để chửi, mày ạ. Kỷ luật đang bắt đầu đi vào nề nếp sau khi cuốn Bàn về tu dưỡng của người cộng sản” của Lưu Thiếu Kỳ được dịch và học tập rộng rãi. Quyển tu dưỡng đảng viên này, dạy đảng viên tuyệt đối trung thành với đảng cùng gìn giữ kỷ luật, tóm lại hãy quên cá nhân đi. 

Tôi nhớ nhất chuyện một số người hỏi Lê-nin vào Đảng Xã Hội Dân Chủ Nga của Plékhanov, rồi phá nó để lập Đảng Cộng sản Bolsevich thì có là chống đảng không, Lưu Thiếu Kỳ giải thích: không, bởi đó là Lê-nin còn anh thì chống đảng vì không là Lê-nin!  Thép Mới nổi tiếng ở Atêka về phương châm anh tự đặt ra để răn mình: “mù, què, câm, điếc”. (Hết trích)

BÀI THƠ KHÔNG VIỆC GÌ KHÓ… Về hoàn cảnh ra đời của Bài thơ “Không có việc gì khó; Sợ lòng không bền; Đào núi và lấp biển; Có chí ắt làm nên” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo lời kể của đồng chí Việt Thi, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch chỉ thị thành lập Đội thanh niên xung phong đầu tiên thành lập ngày 15/7/1950 để phục vụ chiến dịch biên giới, Sau đó, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường Cao Bằng - Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đội tổ chức thành nhiều Liên phân đội rải quân dọc tuyến đường những nơi hiểm yếu. Liên phân đội TNXP 321 nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.

Đêm 28/03/1951, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu, Bắc Kạn để đón Bác Hồ đến thăm. Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, chiếc khăn quàng cổ che kín cả chòm râu. Đi bên cạnh Bác là đồng chí Trần Đăng Ninh. Bác tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu: Các cháu ngồi cả xuống. Chúng tôi đều răm rắp nghe theo lời Bác, im lặng ngồi xuống. Bác hỏi: -Các cháu ăn uống có đủ no không?- Thưa Bác có ạ!- Các cháu có đủ muối ăn không?- Thưa Bác đủ ạ!- Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?- Thưa Bác đủ ạ!  Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn rất thiếu thốn.  

Bác lại hỏi: - Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không? - Thưa Bác có ạ! Sau đó Bác lại hỏi tiếp: - Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào? Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng. Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:- Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt. Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp: Đào núi có khó không? Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó,  người “sợ nói khó” bị cho là tư tưởng ngại khó nên trả lời không khó… Trả lời xong mà cứ nơm nớp sợ Bác hỏi thêm. 

Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi: Có ai dám đào núi không? Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa: Thưa Bác có ạ! thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ! Nghe xong, Bác cười: Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì? Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao”, có người “cần kiên gan bền chí”, có người “cần xung phong dũng cảm”… toàn khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó.  Bác động viên chúng tôi: Các cháu trả lời đều đúng cả: Tóm lại việc gì khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. 

Tục ngữ ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ: Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên. Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào. Bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ căn dặn thanh niên được ra đời như thế đó. Rất mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng sâu sắc. Bài thơ đã là nguồn cổ vũ, động viên lớp lớp thanh niên xung phong chúng tôi lao vào cuộc kháng chiến và kiến quốc... (Nguyễn Thị Diệu Trang, Tổ tuyên truyền Đảng ủy cơ quan VKS TP, (16/01/2019) Nội dung sinh hoạt dưới Cờ kỳ 1 tháng 01/2019).

 

172: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHIẾN DỊCH TRUNG DU, ĐƯỜNG 18, VÀ CHIẾN DỊCH HÀ NAM NINH NĂM 1951.

PHÒNG TUYẾN TASSIGNY. Tháng 12 năm 1950, ngay khi vừa đến nhậm chức, Tướng Jean de Lattre de Tassigny biết không còn hy vọng tiến công hay bao vây chiến khu Việt Bắc, ông ta cho tổ chức tuyến phòng thủ bảo vệ vùng đồng bằng mang tên ông gọi là “Phòng tuyến Tassigny”. Phía Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) từ khi chuyển sang chủ động tiến công, mở liên tiếp các chiến dịch – Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch đường 18, Chiến dịch Hà Nam Ninh - đã bóc vỏ Phòng tuyến Tassigny. Nhưng trong cả ba chiến dịch Trung du, Đường 18 và Hà Nam Ninh QĐNDVN đã phải chịu thiệt hại lớn trước quân Pháp do tướng Jean Lattre de Tassigny chỉ huy. 

Trong bài “Mở liên tiếp ba chiến dịch vào trung du và Đồng bằng Bắc Bộ” Lê Văn Thành, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam viết: Ngay sau Chiến dịch Biên giới năm 1950 giành thắng lợi, Trung ương Đảng chủ trương: “Nhân lúc địch đang hoang mang sau thất bại trên Đường số 4 và chưa kịp củng cố hệ thống phòng ngự chiến lược của chúng ở cửa ngõ đồng bằng, tranh thủ phát triển tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn trung du và đồng bằng, làm thay đổi cục diện chiến trường, tiến tới giải phóng Đồng bằng Bắc Bộ”.

CHIẾN DỊCH TRUNG DU. Ngày 25-12-1950, ta mở Chiến dịch Trung Du (25/12/-17/1/51) (còn gọi là Chiến dịch Trần Hưng Đạo) đánh vào phòng tuyến trung du từ Đông Việt Trì đến Tây sông Cầu. Trên địa bàn này, lực lượng bộ binh chiếm đóng của địch gồm 8 tiểu đoàn và 8 đại đội; lực lượng cơ động ứng chiến tại chỗ gồm 7 tiểu đoàn và 3 đại đội đứng chân tại ba Phân khu Bắc Giang, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc. Về phía ta, gồm Đại đoàn 308 trên hướng chính (Vĩnh Yên-Đông Đa Phúc), Đại đoàn 312 (thiếu) trên hướng thứ yếu (Đông Việt Trì-Vĩnh Yên). Trên các hướng phối hợp có 2 Trung đoàn của Bộ cùng lực lượng vũ trang tại chỗ. Mục tiêu đặt ra: “Tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng khu lương thực, phát triển du kích chiến tranh, tranh thủ thời gian phá kế hoạch củng cố của địch, tạo điều kiện mới để tiêu diệt sinh lực địch nhiều hơn nữa”. 

Cách đánh “đánh điểm diệt viện”, kết hợp “đánh vận động với công kiên”. Đợt một: từ ngày 25-12-1950, chặn đánh cuộc hành quân Bê-cát-xin của Pháp vào khu vực tập kết của ta ở Xuân Trạch-Liễn Sơn, buộc địch phải co về thị xã Vĩnh Yên. Đêm 26 và 27-12, ta vận động bao vây, tiến công diệt 5 cứ điểm kiên cố (Hữu Bằng, Tú Tạo, đồi Cà Phê, Yên Phụ, Thằn Lằn), nhưng đánh các cứ điểm Chợ Thá, Chợ Vàng không thành công. Địch tăng cường phòng thủ Vĩnh Yên. Sang đợt hai: từ ngày 30-12-1950 đến ngày 18-1-1951, vận dụng phương châm "đánh điểm diệt viện", ta tiến công diệt cứ điểm Ba Huyên, chặn đánh quân ứng cứu ở Thanh Vân-Đạo Tú, truy kích địch tới thị xã Vĩnh Yên và bao vây thị xã. Pháp tiếp tục đưa lực lượng cơ động có máy bay, pháo binh yểm trợ, mở cuộc hành quân giải tỏa, đánh chiếm Núi Đanh; ta chặn đánh và giành giật với địch từng điểm cao. 

Rạng sáng 17-1-51, nhận thấy yếu tố bất ngờ không còn, bộ đội đã trải qua ba tuần chiến đấu liên tục, lực lượng bị tiêu hao và sức khỏe giảm sút, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch.

CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 18. Ngày 21 tháng 1, khi phân tích cục diện chiến trường Bắc Bộ để đề đạt phương hướng nhiệm vụ mở chiến dịch tiếp theo, Tổng Quân ủy nhận thấy Chiến dịch Trung du kết thúc không thuận lợi nên trước mắt không thể mở chiến dịch trên hướng Liên khu 3 như dự kiến trước đây, từ đó Tổng Quân ủy nhất trí đề nghị phương hướng chiến dịch sắp tới là Đông Bắc, cụ thể là Đường 18 từ Phả Lại đến Uông Bí  (Chiến dịch mang tên Hoàng Hoa Thám). Đây là nơi địa hình nửa rừng núi, nửa đồng bằng và là nơi địch yếu hơn ở chiến trường Trung du. Tham gia chiến dịch gồm 2 đại đoàn (308 và 312), hai trung đoàn độc lập (174 và 98).

Mở đầu chiến dịch, đêm 23-3-1951, bộ đội ta tiêu diệt 4 cứ điểm nhỏ để nhử viện binh địch. Đêm 27-3, bộ đội ta tiêu diệt vị trí Bí Chợ và Tràng Bạch, mỗi vị trí có trên dưới một đại đội địch. Đêm 29 và 30-3, bộ đội ta đánh tiếp các vị trí Mạo Khê mỏ và Mạo Khê phố, nhưng không thành công. Đêm 4 và 5-4, ta đánh tiếp các vị trí Bến Tắm, Bãi Thảo, Hoàng Dán cũng không thành công, chủ yếu vì pháo địch từ Đông Triều và sông Đá Bạc bắn tới, tạo thành hàng rào lửa khiến các đợt xung phong của ta gặp khó khăn. Ngày 6-4-51, chiến dịch kết thúc.

CHIẾN DỊCH HÀ NAM NINH. Ngay sau khi Chiến dịch Hoàng Hoa Thám vừa mới kết thúc chưa đầy nửa tháng, thực hiện chủ trương tiếp tục tiến công địch ở Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, ngày 20-4, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hà Nam Ninh (20/4/51 kéo dài 3 tuần) (gọi là Chiến dịch Quang Trung) tiến công khu vực Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nhằm tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực địch, phá tan khối ngụy quân, thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển, giành giật với đối phương “kho người, kho của” ở vùng đồng bằng. Tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn (304, 308, 320) cùng công binh, pháo binh và lực lượng vũ trang tại chỗ.

Theo kế hoạch, đợt 1 ta đánh nhiều trận công kiên giành thắng lợi. Đại đoàn 308, lần đầu tiên tiêu diệt toàn bộ quân địch trong tỉnh lỵ Ninh Bình. Một đại đội huấn luyện của địch gồm toàn hạ sĩ quan người Âu bị diệt gọn trong nhà thờ Đại Phong. Hai vị trí Non Nước và Hồi Hạc, mặc dù được tăng cường thêm 2 đại đội cũng bị tiêu diệt. Bước vào đợt 2, quân địch tiếp tục tăng viện cho tuyến phòng thủ sông Đáy, thay quân trên nhiều vị trí và tăng cường càn quét trên các địa bàn trọng điểm. Quân ta tiến công và bức hàng một số vị trí, nhưng riêng trên hướng chính ta không thành công trong các trận Chùa Cao, Cầu Bút, Ngọc Lâm (Ninh Bình).

Sau trận thắng lớn của Đại đoàn 320 đẩy lui cuộc càn của địch ở Chợ Cháy (Ứng Hòa), chiến dịch kết thúc trong điều kiện so sánh lực lượng bất lợi cho ta, quyền chủ động không còn, chiến dịch không còn điều kiện phát triển… (Hết trích). (QĐND Online Thứ sáu, 31/10/2014 - 11:14 LÊ VĂN THÀNH, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

 

173: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ CHIẾN DỊCH HOÀ BÌNH NĂM 1951-1952.

PHÁP ĐÁNH CHIẾM HOÀ BÌNH. Tháng 10 năm 1951, Tướng Jean de Lattre de Tassigny quyết định đánh chiếm Hòa Bình. Ngày 10 tháng 11 năm 1951, Pháp mở cuộc hành quân "Hoa Tuylíp" (Opération Tulipe) đánh chiếm Chợ Bến cắt đường di chuyển của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) từ Việt Bắc xuống đồng bằng. Đến 5 giờ chiều cùng ngày thì Pháp kiểm soát được khắp vùng Chợ Bến, khoảng 100 cây số vuông. Ngày 14 tháng 11 năm 1951 Pháp mở cuộc hành quân "Hoa Sen" (Opération Lotus) do đích thân tướng Raoul Salan chỉ huy, cũng như hôm tấn công vào Chợ Bến, Hòa Bình bị chiếm dễ dàng, không có sự kháng cự nào của QĐNDVN. Ngày 15 tháng 11 năm 1951, tướng Salan tuyên bố Pháp kiểm soát được Hòa Bình, khoá cửa ngõ tiếp tế và giao thông của Việt Minh giữa đồng bằng và Việt Bắc. 

Ngay chiều hôm đó, Cao uỷ kiêm Tư lệnh quân đội Pháp tai Đông Dương tướng de Lattre de Tassigny đích thân chủ trì cuộc họp báo tại Hà Nội loan tin chiến thắng Hòa Bình và tuyên bố: "Tiến công Hòa Bình đã gây khó khăn lớn cho đối phương. Tiến công Hoà Bình có ý nghĩa chiến lược là chúng ta đã buộc đối phương phải xuất trận. Trận Hòa Bình có ảnh hưởng quốc tế lớn". Ngày 15 tháng 11 năm 1951 Tổng quân uỷ họp đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh "cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch khi mới chiếm đóng. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích". Tại cuộc họp, cố vấn Trung Quốc Mai Gia Sinh, nói với Hoàng Văn Thái: "Tôi nghĩ sau mấy chiến dịch gặp khó khăn, mùa đông này ta lên đánh nhỏ như kế hoạch trước đây, nhằm phát động chiến tranh du kích"

CHIẾN DỊCH HOÀ BÌNH. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: "Đó là một cơ hội hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đánh ra Hoà Bình địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình đột xuất, công sự chưa vững chắc. Mặt khác vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến Trung du đều tương đối sơ hở hơn trước". Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Tổng quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa BìnhĐại đoàn 320 đánh địch từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà và hai bên tả, hữu sông Đà. Đại đoàn 308sẵn sàng chiến đấu. Đại đoàn 304 đánh địch ở phía nam Hòa Bình, tiêu diệt một số điểm cao, cắt đường vận chuyển của Pháp trên đường số 6 để phối hợp với các đại đoàn 308, 312 hoạt động trên tuyến sông Đà và vùng thị xã Hoà Bình. Đại đoàn công binh-pháo binh 351 và lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với chiến dịch.

Các Đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng quân đội Pháp tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ, cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh Pháp, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, mở rộng du kích. Đại đoàn 316 được phối thuộc trung đoàn 246, phối hợp với bộ đội địa phương hoạt động ở Bắc Giang, Bắc Ninh. Trung đoàn 98 thâm nhập vào vùng địch hậu Bắc Ninh. Trung đoàn 174 đánh từ một đến hai vị trí ở tuyến ngoài. Trung đoàn 176 bố trí giữ mặt Lạng Sơn.Đợt đầu tiên nhằm đánh tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ, nùi Nhẹ, nằm trong tuyến phòng thủ phân khu sông Đà của Pháp. Phương châm là "đánh điểm diệt viện", kết hợp đánh công kiên với đánh phục kích, tiêu diệt quân viện trên sông, trên bộ, tiêu diệt từng bộ phận quân Pháp đi càn quét, đánh tiêu diệt quân nhảy dù, hoặc quân ứng cứu giải tỏa.

Về hậu cần, Tổng Quân ủy quyết định thành lập hai Ban cung cấp tiền phương ở bắc và nam Hòa BìnhBan cung cấp tiền phương mặt trận Bắc Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 và Đại đoàn công pháo 351 cùng các lực lượng vũ trang địa phương. Ban cung cấp tiền phương mặt trận Nam Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 304, Đại đoàn 320Thời kỳ đầu ở mặt trận Hòa Bình đã chuẩn bị được 820 tấn gạo và có 20.000 dân công phục vụ chiến dịch. Công tác quân y đã chuẩn bị đủ thuốc cứu chữa cho 4.000 thương binh. Kết quả trong 78 ngày đêm bảo đảm cho chiến dịch, đã huy động trên 330.400 lượt dân công phục vụ chiến dịch với 11.914.000 ngày công, các Ban cung cấp mặt trận đã tiếp tế cho bộ đội 6.475 tấn lương thực, thực phẩm, 280 tấn đạn, cứu chữa 6.390 thương binh.

QUÂN PHÁP NHẬN TIN XẤU. Trong lúc tình hình chiến sự căng thẳng thì quân Pháp lại nhận tin xấu: bệnh tình của tướng De Lattre đã vô vọng cứu chữa. Từ nhiều tháng qua, De Lattre bị ung thư chân. Công việc điều khiển Đông Dương, những hành trình về Pháp và qua Mỹ để xin viện trợ, sự đau buồn vì con trai độc nhất là Trung úy Bernard bị tử thương (ngày 30/5/51) đã làm De Lattre kiệt sức dần, bệnh tình càng ngày càng trầm trọng, đến ngày 19 tháng 11 năm 1951, De Lattre trở về Pháp để vào bệnh viện giải phẫu. Ngày 7 tháng 12 năm 1951 De Lattre bất tỉnh, đến ngày 12 tháng 12 năm 1951 thì từ trần. Ngày 6/1/52, Trung úy Leclere con trai Đại tướng Leclere bị thương và bị bắt làm tù binh trên Sông Đáy. Vandanberghe Trung đoàn trưởng Lê Dương tử trận gần Nam Định. 

Ngày 8 tháng 1 năm 1952, tướng Raoul Salan được cử giữ chức Quyền Chỉ huy Quân đội viễn chinh thay De Lattre. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, sáng 23 tháng 2 quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình theo cách cuốn chiếu. 17 giờ ngày 22 tháng 2 năm 1952, có 5 tiểu đoàn Pháp ở thị xã lặng lẽ vượt sông Đà. Trung tá Ducourneau và Đại tá Gilles chỉ huy cuộc triệt thoái. Hơn 1.000 dân Mường, 20.000 binh sĩ cùng các chiến cụ, đạn dược khí giới vượt qua sông, tiến về Hà Nội bằng đường số 6. Máy bay Pháp nối nhau trút bom, bảo vệ cho binh lính chạy về phía đoàn xe trên đường 6. Nhìn chung, Pháp tổ chức rút quân chặt chẽ, dùng tới 30.000 viên đạn pháo để yểm trợ cho cuộc rút quân. Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng không tổ chức tốt việc đánh quân Pháp rút lui..Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Quân uỷ quyết định kết thúc chiến dịch. 

Bách khoa toàn thư mở, viết: “Chiến dịch Hoà Bình được mở vào tháng 11 năm 1951 đã trở thành cái "cối xay thịt" đối với cả hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam chịu thương vong không nhỏ, nhưng họ đã học được cách đối phó với chiến thuật và vũ khí của Pháp, và họ đã thâm nhập được sâu hơn vào trong vòng cung phòng thủ của Pháp”.

 

174: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ TRẬN ĐÁNH NÀ SẢN 1952.

HÀNH QUÂN LẠC ĐÀ, HÀNH QUÂN SƠN DƯƠNG. Ngày 12/3/52, tại Thái Bình, với sự yểm trợ của Thủy quân và Không quân, 5 Trung đoàn Lưu động Pháp mở cuộc hành quân càn quét vùng Trà Lý và Sông Diêm Hồ. Ngày 6/5/52, tướng Salan, Tổng Tư lệnh tuyên bố sẽ dồn lực bình định Trung Châu Bắc Việt, không cho địch lấy thóc trong dân chúng. Ngày 15/5/52, Pháp mở nhiều cuộc hành quân ở Trung Châu Bắc Việt như hành quân “Lạc Đà=Dromadaire” vùng Hưng Yên và Bùi Chu, hành quân “Tango” mạn Phúc Yên và Sông Đuống.v.v. Ngày 2/6/52, Pháp mở cuộc hành quân “Sơn Dương=Antilope” vùng Duy Tiên, Phủ Lý, Hưng Yên. Ngày 29/6/52, Pháp mở cuộc hành quân tảo thanh ở Đông Triều, Kinh Môn, và Bắc Phát Diệm. Ngày 4/7/52 kịch chiến ở Thọ Lão, Kẻ Sặt một Trung đoàn Việt Minh chặn đánh một Đoàn Lưu động Pháp. 

Ngày 11/10/52, Pháp mở cuộc hành quân tảo thanh vùng Ninh Bình, Phúc Nhạc, Điền Hộ với gần 10.000 quân tham chiến. Ngày 13/10/52, đồn Nghĩa Lộ bị tấn công mạnh, với hai Sư đoàn 302 và 308 vây đánh suốt ngày đêm. Ngày 14/10/52 một Tiểu đoàn nhảy dù Pháp được thả xuống cứu viên Nghĩa Lộ, một đơn vị khác được gởi tới Sơn La. Ngày 18/10/52, Nghĩa Lộ thất thủ, tất cả miền núi, Trung du bị bỏ ngỏ. Ngày 29/10/52, Pháp mở cuộc hành quân Lorraines phản công ở Hưng Hóa và Phú Thọ, đánh tập hậu hai Sư đoàn 302 và 308 của Việt Minh. Ngày 1/11/52, quân Pháp vào được Hưng Hóa và Phú Thọ. Ngày 9/11/52, quân Pháp vào được Phủ Đoan. Ngày 14/11/52, quân Pháp tới Yên Báy, nhưng bị phản công mạnh phải rút lui. Ngày 24/11/52, quân Pháp rút khỏi Sơn La. 

TRẬN ĐÁNH NÀ SẢN: 1952. Ngày 27/11/52, quân Pháp từ Yên Báy rút được về Việt Trì, và cố thủ Nà San. Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ Nà-San. Ngày 1/12/52, nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tấn công Na San, nhưng bị đẩy lui. Ngày 2/12/52, Na San lại bị tấn công, nhưng nhờ phi cơ và pháo binh nên giữ được. Buổi chiều Việt Minh rút lui để lại vài trăm xác chết. Theo Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự thì, Tập đoàn cứ điểm Nà Sản nằm trên cao nguyên Nà Sản, là một lòng chảo thuộc địa phận xã Chiềng Mun - huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La với diện tích khoảng 10km2 được bao quanh bởi các dãy núi cao trên 700m. Dân cư thưa thớt, toàn người Thái sống về nghề làm rẫy. Nà Sản cũng nằm trên tỉnh lộ số 41 nối liền Lai Châu, Điện Biên qua Sơn La, Mộc Châu xuống Thanh Hóa hoặc sang Hoà Bình về Hà Nội 

Tại cứ điểm Nà Sản có sân bay, Sở chỉ huy, một số đồn bốt, hệ thống hỏa lực mạnh của bốn khẩu pháo 105mm và nhiều đường giao thông hào vây quanh bảo vệ khu trung tâm. Thiếu tá chỉ huy Pháp Jean Gilles lần đầu áp dụng chiến thuật “Con Nhím” tại Đông Dương ở trận Nà Sản. Giống như con nhím với các cứ điểm phòng bao quanh vệ giống như gai nhím. Đầu tháng 11 năm 1952, một cầu không vận ngày đêm hoạt động, chuyên chở các đồ tiếp tế: đạn dược, lương thực, xe ủi đất, hàng ngàn tấn dây kẽm gai và lừa ngựa từ Hà Nội lên Nà Sản. Để xây dựng hệ thống cứ điểm Nà Sản, Pháp đã sử dụng hai đại đội công binh và hàng ngàn phu phen xây cất 30 điểm tựa xung quanh lòng chảo, các cứ điểm nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, bên ngoài được phủ dây thép gai. Lực lượng phòng vệ gồm có 8 tiểu đoàn và 6 khẩu trọng pháo 105mm và sau khi trận Nà Sản diễn ra, cứ điểm được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn

Trận Nà Sản bắt đầu vào đêm 30 tháng 11 rạng ngày 1 tháng 12, Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) ồ ạt tấn công vào các điểm tựa phía đông bắc. Trung đoàn 102 cùng trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 tiến công Pú Hồng (điểm cao 753). Sau 1 giờ 45 phút chiến đấu, QĐNDVN chiếm được điểm tựa số 24 do trung úy Pipart phụ trách với một đại đội lính Thái và lính Maroc, diệt bốn trung đội của GM1 đóng tại đây, bắt sống viên quan ba chỉ huy. Cùng đêm, tiểu đoàn 115 của trung đoàn 165 Đại đoàn 312 tiến công vị trí Bản Hời. Sau hơn một giờ chiến đấu, QĐNDVN diệt một đại đội địch. Tới gần sáng, nhờ trọng pháo và không quân yểm trợ, Gilles phản công với những đơn vị dự trữ, Gilles lấy lại được đồn, QĐNDVN rút lui. 

Đêm hôm sau, 11 tiểu đoàn QĐNDVN ồ ạt tấn công vào hai đồn chính bảo vệ cứ điểm Nà Sản. Từ 9 giờ đêm đến 7 giờ sáng, nhờ thời tiết tốt nên máy bay Pháp thả pháo sáng khắp trận địa, liên tiếp ném bom và bắn pháo liên thanh xuống vị trí QĐNDVN, đồng thời các giàn đại bác nhả đạn xung quanh đồn, ở trong đồn thì lính cố sức cầm cự, QĐNDVN thiệt hại nhiều mà không chiếm được đồn. Trung đoàn 209 đánh Bản Vây cũng không kết quả. Trời sáng, Pháp dùng máy bay oanh tạc và bắn trên 5.000 quả đạn pháo để cứu nguy cho các cứ điểm. Đến sáng, QĐNDVN rút lui. Ngày 2 tháng 12, không quân Pháp thả dù tăng cường thêm cho Nà Sản hai tiểu đoàn, quyết giữ tập đoàn cứ điểm này. Những ngày sau, QĐNDVN biết là vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ, nếu tiếp tục tấn công thì bất lợi. Trước những khó khăn mới nảy sinh, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc, QĐNDVN rút lui khỏi Nà Sản không trở lại nữa.

Đầu tháng 8/1953, Navarre cho rút toàn bộ quân Pháp khỏi Nà Sản bằng đường hàng không, và ba ngày sau đó QĐNDVN mới nhận được thông tin vì quân Pháp đã khéo léo ngụy trang và nghi binh. Toàn bộ quân Pháp được chuyên chở bằng máy bay vận tải khiến QĐNDVN tưởng lầm quân Pháp đang tăng cường để chuẩn bị đối phó với QĐNDVN. Cuộc rút lui diễn ra êm thấm. Sau này QĐNDVN mới biết quân Pháp không thể duy trì Tập đoàn cứ điểm Nà Sản vì qua chiến dịch Sầm Nưa, nó đã chứng tỏ không có khả năng ngăn chặn các đại đoàn chủ lực của QĐNDVN tiến sang Thượng Lào. Từ chiến thuật “Con Nhím” thành công ở Nà Sản, Pháp đã xây dựng tập đoàn cứ điểm to lớn hơn là căn cứ Điện Biên Phủ. 

Về hình thức, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là sự phóng đại hoàn hảo của Tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Và từ bài học này ở trận Nà Sản, QĐNDVN đã tìm ra cách để đánh bại quân Pháp ở trận đánh Điện Biên Phủ lịch sử. P/S: Thất bại là mẹ thành công (Trích bài viết TRẬN NÀ SẢN, BÀI HỌC QUÝ BÁU CHO ĐIỆN BIÊN PHỦ của Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự ngày 20/9/2018).

 

Bài 175: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, VÀ LỚP CHỈNH HUẤN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT1953

LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤTBách khoa Toàn thư mở viết: Tháng 10 năm 1952, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bản "chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam" cho Stalin để "đề nghị xem xét và cho chỉ dẫn" và cho biết chương trình hành động được lập bởi chính ông dưới sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ. Từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 12 năm 1953, tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ". Ngày 4 tháng 12 năm 1953, Quốc hội thông qua và  ngày 19 tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành luật Cải cách ruộng đất 197/HL.

CHỈNH HUẤN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết: Chuẩn bị “Cải cách Ruộng đất”, từ giữa tháng 7 đến cuối tháng 9 năm 1953, Trung ương mở một lớp chỉnh huấn cho trí thức trong và ngoài đảng làm việc ở chính phủ và các đoàn thể trung ương. Nhiều tên tuổi như Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Thế Lữ… đã dự học. Mục đích sâu xa là xây dựng lập trường giai cấp, đề cao công nhân, bần cố nông, hạ uy thế chính trị và tư tưởng của trí thức và các giai tầng không lao động chân tay khác. Mấy tòa nhà lán tre nứa cao rộng vây quanh hai mặt một hội trường lớn. Riêng ở một tòa ở xế trước hội trường là ba hay bốn chi bộ (gồm cả đảng viên lẫn không đảng phái). Chi bộ đầu lán có Nguyễn Cao Luyện, Tạ Mỹ Duật. Liền với nó, trên cùng một sạp giường nứa dài cả hai ba chục mét, một chi bộ nữa và đặc biệt lại có Nguyễn Tư Nghiêm và tôi. Ở sạp đối diện, cách một lối đi là hai chi bộ nữa. Một có Đặng Đình Hưng và một có Vũ Chính, Tổng cục trưởng Tổng cục 2 sau này. 

TỐ HỮU, HỒ CHÍ MINH, VÀ LÊ DUẨNTố Hữu là bí thư học ủy. Cụ Hồ cách nhật, có khi liền ngày, đến xem điện ảnh, liên hoan với học viên. Lê Duẩn thường có mặt, giảng bài chính. Lập trường giai cấp nông dân và cách mạng dân tộc, dân chủ. Duẩn nhấn mạnh trong bước cách mạng này, người cộng sản phải có lập trường giai cấp nông dân để hiểu được nguyện vọng nông dân mà kiên quyết lãnh đạo họ cải cách ruộng đất, lấy lại quyền lợi, làm một cuộc đổi đời. Tôi ngợ: theo Mác, Lê-nin thì người cộng sản không thể có lập trường nào khác ngoài lập trường giai cấp công nhân. Có điều ý kiến của Lê Duẩn chỉ nói ở trong cái lớp mấy trăm con người này. Vả chăng không ai dám phê phán hay chất vấn sất.

Phải nhận Duẩn có nhiều ý độc đáo. Như ta mất nước cho Pháp là vì lúc đó đang là thời đại chủ nghĩa tư bản, nó chiến thắng áp đảo phong kiến. Duẩn mới ở trong Nam ra với biệt hiệu đơ-xăng bu-gi, hai trăm nến chỉ sau có Cụ Hồ xanh-xăng bu-gi, năm trăm nến. Chúng tôi hay xúm quanh Lê Duẩn để hỏi. Phải nhận ông có những cách giải thích độc đáo. Chẳng hạn, trả lời tại sao chỉ có Đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam chỉnh huấn, còn các đảng Âu Mỹ thì không, Duẩn nói, vì ta và Trung Quốc ít công nhân cho nên phải bỏ công ra tỉa gọt từng đảng viên cho có được lập trường giai cấp vô sản.

Một tối họp chi bộ nghe và nhận xét các bản tự kiểm thảo của nhau. Tố Hữu xuống dự chi bộ chúng tôi tối đó. Tôi có phần đao to búa lớn phê phán người vừa trình bày xong bản kiểm thảo. Tố Hữu bỗng giơ tay ngăn tôi lại. Rồi từ tốn, nhỏ nhẹ nói “Đồng chí vừa phê phán ai, đồng chí biết không? Phê phán đồng chí của đồng chí đấy, đồng chí phải biết điều ấy! Đồng chí của đồng chí là gì? Là hòn ngọc…, tôi nói lại, là hòn ngọc, hòn vàng của đảng, là người mà chúng ta phải yêu mến nâng niu..” Nhưng, trong con mắt Tố Hữu nhìn người vừa bị chỉnh đốn kia một ánh trắng xỉn, lạnh lẽo, một cái gì khinh khỉnh. Định nghĩa đảng viên là ngọc là vàng của đảng cho nên vào tổng kiểm thảo Tố Hữu yêu cầu học viên rất ngặt. 

KHÔNG CĂM THÙ BỐ MẸ, LÀ TỔNG KIỂM THẢO PHÁ SẢN. Thứ nhất, hễ là con em hay liên quan với địa chủ, học viên đều phải thành khẩn tự khai báo với đảng mọi sai lầm tội lỗi của bản thân, chẳng hạn đồng tình, về hùa với gia đình, thậm chí cùng với gia đình trực tiếp đàn áp, bóc lột nông dân… Thứ hai, phải vạch ra mọi thủ đoạn đàn áp, bóc lột nông dân cùng tộí ác của bố mẹ, gia đình, họ hàng địa chủ, cường hào gian ác. Thứ ba trên cơ sở thành khẩn khai báo kia mà tuyên bố là căm thù bố mẹ, tỏ ra đã dứt khoát lập trường vô sản, đoạn tuyệt với kẻ thù giai cấp. Không đạt yêu cầu căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ thì bản tổng kiểm thảo bị “phá sản,” học viên đó phải ngồi học lại cho tới khi nào lập trường vô sản, lập trường nông dân thắng, anh ta công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ mình. 

Tố Hữu làm đúng lời Bác Hồ thôi. Sắp vào tổng kết tư tưởng, Bác Hồ đến nói chuyện, thực chất “động viên” học viên dứt khoát với tư tưởng sai và lầm lạc, tội lỗi của cá nhân. Như thấy làm việc cho thực dân Pháp là nhục nhưng vẫn chưa triệt để, phải tiến lên một bước nữa là thấy tội của mình… Bữa ấy, Bác lôi cả nhục và tội của cụ Bùi Bằng Đoàn ra trước mọi người. Tôi nhớ chi tiết này, vì tôi đã ái ngại cho cụ thượng thư cũ. Nhất là khi Bác Hồ nói “Xin lỗi cụ Bùi” thì cụ Bùi Bằng Đoàn rất ôn tồn đáp lại: “Không dám, xin cụ cứ nói.” Tôi có phần thiện cảm với chữ “Không dám” mà từ khi lên ATK trên rừng bây giờ mới lại nghe đến. Cũng thương cụ Bùi chỉ được gọi là Cụ!

TỘI, NHỤC, VÀ SỢ… Lúc ấy tôi chưa biết Mao bày mẹo chỉnh huấn bắt khai tội cốt để hạ nhục bề dưới để dễ thu phục, dể sai khiến –tao bắt mày khai cái thối tha nhất của mày ra, mà mày nghe tao là mày hàng tao, tao nắm được ruột gan mày thì mày còn hòng thoát đi đâu. Làm nhục và sợ là yêu cầu sâu kín của “tự kiểm thảo”. Nhiều người đã tự sát. Người đầu tiên tự sát trong chỉnh huấn là Thân Mỡ, người đảng viên do Kỳ Vân kết nạp đầu tiên ở Đình Bảng, và chính Thân Mỡ đã kết nạp Lê Quang Đạo, Thân Mỡ treo cổ chết khi tổng kết tư tưởng, lúc ông học trường Mác-Lê ở Bắc Kinh. Ở lớp chỉnh huấn báo Cứu Quốc có Lưu Động, Chính Yên, và Thướng, biên tập viên của báo tham dự. Thướng treo cổ bên ngòi Thia, sông Đáy. Hai anh Lưu Động, Chính Yên đã phải lặn lội tìm xác kẻ “phản bội,” phá hoại chỉnh huấn, lời của bí thư học ủy Nguyễn Chương. 

 

176: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ NGUYỄN THỊ NĂM, NHÂN SĨ TÊN TUỔI, NGƯỜI TỪNG HỌP VỚI BÁC HỒ, BÁC TÔN… BỊ BẮN ĐẦU TIÊN TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT.

Cũng Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết: Là người phụ trách tổ cải cách ruộng đất của báo. Mỗi số báo tôi được hai trang để tuyên truyền cải cách ruộng đất. Chủ yếu phổ biến kinh nghiệm các đoàn đang giảm tô giảm tức ở Thanh – Nghệ. Và kinh nghiệm cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Tài liệu ở nội san các đoàn giảm tô, bản dịch được Hoàng Ước, thư ký của Hoàng Quốc Việt, người chỉ đạo cải cách ruộng đất lúc đó gửi cho. Tóm lại, các kinh nghiệm khêu gợi căm thù và tiến hành bạo lực, trong đó có cả chuyện Pavlik Morozov, cậu bé tố cáo bố phú nông ở Liên Xô.

Cải cách Ruộng đất chính thức nổ pháo hiệu đầu tiên ở xã Dân Chủ, Đồng Bẩm, Thái Nguyêntrên quốc lộ 1 lên Lạng Sơn. Đối tượng: Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, nhân sĩ tên tuổi trong Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, và cũng là Trung ương Mặt trận Liên Việt, người thường cùng họp long trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt. Nay bà trở thành địa chủ phản động, cường hào gian ác lợi dụng tiếng thân sĩ để phá hoại cách mạng và kháng chiến, có nhiều nợ máu với bần cố nông. Đặc biệt Công, con trai bà Nguyễn Thị Năm, theo Việt Minh hoạt động bí mật, nay là Chính ủy trung đoàn pháo 105 li đang học ở Côn Minh, Trung Quốc cũng bị gọi về, treo giò. 

BÁO NHÂN DÂN TƯỜNG THUẬT VỤ ĐẤU… Trần Đỉnh viết tiếp: Để có “phát pháo mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất”, Trường Chinh chỉ thị báo Nhân Dân tường thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm – Cát Hanh Long. Tôi nhận nhiệm vụ. Trường Chinh nói phân công tôi, vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội. Tôi nói tôi không dự đấu tố, thì anh bảo tôi khai thác Văn, người cấp dưỡng theo anh tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến các buổi đấu tố. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt. Thế là tôi viết bài khai hỏa cải cách ruộng đất theo sự pha phách thêm nếm khó lòng tránh khỏi của người cấp dưỡng đáng yêu của Tổng bí thư. 

Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB (Bác Hồ) gửi đến bài “Địa chủ ác ghê”. Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát – Hanh – Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã giết chết 14 nông dân; tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật; làm chết 32 gia đình gồm có 200 người (năm 1944). Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân (năm 1945). Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng. Thế là, ba mẹ con địa chủ Cát Hanh Long đã trực tiếp, gián tiếp giết chết ngót 260 người” (Nguyên văn bài báo “”Địa chủ ác ghê”).

Dăm bữa sau bài “phóng sự nghe kể lại,” tôi xuống Đồng Bẩm. Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu Quốc, trong đội cải cách về đây còn ở lại lo hậu sự. Tôi hỏi chuyện bắn, anh lè lưỡi lắc đầu mãi rồi mới kể lại. “Sợ lắm, tội lắm, đừng có nói với ai, chết tớ. Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh”. Du kích quát: “Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!”. Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. 

Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì nhỏ quá không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?”. Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…” Chính ủy trung đoàn pháo 105 li Công, con bà Nguyễn Thị Năm, được CB (Bác Hồ) nhắc đến trong bài báo ở trên, bị điệu từ Vân Nam về và ngồi cùng mẹ chịu đấu tố, nhưng nghe nói không được dự buổi chôn cất mẹ. 

CỬ CÁP, NGƯỜI BỊ BẮN THỨ HAI. Sau Nguyễn Thị Năm một tháng đến lượt xử Cử Cáp. Phát khai hoả thứ hai. Lần này tôi đến dự buổi thi hành án: bắn. Mít tinh tuyên án vào buổi tối. Bãi đất thuộc xã Phú Xuân, vùng chè Tân Cương. Vài trăm con người ngồi vây kín lấy một khoảnh đất trống. Khai mạc rất thình lình. Cũng thình lình chánh án Lê Giản xuất hiện. Lại cũng rất thình lình mấy người lính giải hai đối tượng đi ra. Cử Cáp, hơn bảy mươi tuổi, nguyên huấn đạo, Ủy viên Mặt trận Liên Việt, cũng địa chủ kháng chiến, thân sĩ như Nguyễn Thị Năm, tức là thuộc diện bị chính sách cải cách ruộng đất chiếu cố. Ấn tượng mạnh nhất ở ông già là chỏm râu bạc trắng. 

Cạnh cụ, bí thư chi bộ nhưng nay đã thành “Quốc dân đảng” thông đồng với Cử Cáp phá hoại kháng chiến. Thấp nhỏ, chạc bốn chục tuổi, anh có cái dáng quen thuộc của cán bộ xã ta thường hay lui tới nhà cụ cùng cơm nước, ngủ đêm… Không như Cử Cáp nom lớ ngớ –  vừa sợ vừa khấp khởi… Đến phút cuối cùng thế nào đảng cũng hiểu bụng dạ trung thành của anh mà tha anh. Hai bị cói lép kẹp dưới nách, hai bị cáo đứng rúm ró. Chánh án Lê Giản tuyên bố Chủ tịch nước bác đơn xin ân xá. Lim, lệt sệt đôi ủng ra hô: Giải chúng đi! Vọt ra năm sáu người lính đẩy hai người tù quay lui. Tôi thấy thô bạo quá. Nhưng kìa, họ vừa mới quay người, tốp lính đã quỳ rộp một cái xuống, đưa tiểu liên lên bóp cò. Lửa nhằng nhằng. Hai cái thân đổ vật. 

Chị cốt cán trẻ đứng bên tôi ôm chặt lấy tôi líu lưỡi lại: Anh có dầu… dầu Con Hổ, cho em…? Hai xác người nằm thẳng mềm mại. Lịch phịch đôi ủng nặng, Lim đến bên từng người bắn vào thái dương phát súng “ân huệ”…. (Hết trích).

 

177: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ, HUY  ĐỘNG LƯƠNG THỰC … CHO CHIẾN DỊCH 1953-1954

HÌNH THÀNH CHIẾN CỤC ĐÔNG-XUÂN. Mùa Xuân năm 1953, QĐNDVN mở cuộc tiến công lớn vào quân Pháp ở Lào với sự hỗ trợ của Quân đội Chính phủ Souphanouvong. Do hậu cần quá xa, QĐNDVN không đánh chiếm đồn binh Pháp ở Cánh đồng Chum được, Pháp coi đây là thành công lớn của họ. Ở các vùng khác, QĐNDVN phối hợp tấn công đồng bộ từ Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ, buộc đội quân Pháp phải phân tán, xé lẻ khối quân cơ động của họ. Khi Pháp không còn lực lượng cơ động để ứng cứu, hình thành Chiến cục Đông-Xuân 1953-1954. Ngày 8 tháng 5 năm 1953, Trung tướng Henri Navarre được cử làm Tổng Tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương thay thế tướng Raoul Salan. Tháng 7 năm 1953, Navarre đề ra một kế hoạch tổng phản công, báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre". 

Ngày 18 tháng 7 năm 1953, cùng lúc Navarre mở hai cuộc hành quân Hirondelle ("Con én") đánh vào Lạng Sơn, và cuộc hành quân "Camargue" đánh vào Quảng Trị, nhằm phá hủy các căn cứ hậu cần, kho tàng và máy móc của QĐNDVN. Giới truyền thông Pháp loan tin quân Pháp đã diệt được hai tiểu đoàn Việt minh, phá huỷ các kho tàng, và hầu hết căn cứ hậu cần của đối phương. Đầu tháng 8/1953, Navarre cho rút toàn bộ quân Pháp khỏi Cứ điểm Nà Sản. Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre lại mở cuộc hành quân Moutte đánh vào Ninh Bình và Thanh Hóa nhằm phá các căn cứ hậu cần tiền duyên, giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. 

TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM MẠNH ĐIỆN BIÊN PHỦ. Tháng 11 năm 1953, Navarre mở tiếp cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ, khu vực mà ông ta cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của QĐNDVN sang Lào. Navarre quyết tâm xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Quân số tại cứ điểm này có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo binh 105 mm, 1 đại đội pháo 155 mm, 2 đại đội súng cối 120 m, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 18 tấn, 1 đại đội xe vận tải 200 chiếc, 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc. Trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội lính nhảy dù, Pháo được tăng thêm 4 khẩu và cho đến ngày cuối cùng được thả xuống rất nhiều bộ phận thay thế khác. Lực lượng này gồm khoảng 16.200 quân, bố trí trong 49 cứ điểm, chia làm ba phân khu; bắc, nam và trung tâm, với một hệ thống công sự dày đặc.

Phân khu Bắc: Him LamĐộc LậpBản KéoĐồi Độc lập có nhiệm vụ án ngữ phía bắc, ngăn chặn con đường từ Lai Châu vê Điện Biên Phủ. Trung tâm đề kháng Him Lam, tuy thuộc khu trung tâm, nhưng cùng với các vị trí Đồi Độc lậpBản Kéo là những vị trí ngoại vi đột xuất án ngữ phía đông bắc, ngăn chặn tiến công từ hướng  Tuần Giáo vào. Phân khu Trung tâm: Các điểm cao phía đông – DominiqueEliane, sân bay Mường Thanh, và các cứ điểm phía tây Mường Thanh – HuguetteClaudine, đây là khu vực mạnh nhất của quân Pháp, tập trung hai phần ba lực lượng. Phân khu Nam: cụm cứ điểm và sân bay Hồng Cúm – Isabella.

CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ. Theo Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Văn Sự, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng thì: Sau khi nghe báo cáo của Tổng quân uỷ, tại phiên họp ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị kết luận: “Về địch, Điện Biên Phủ sẽ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng lại bị cô lập, mọi tiếp tế đều phải dựa vào đường không. Về ta, với chất lượng đã đươc nâng cao thêm một bước trong chỉnh huấn, chỉnh quân và sự tiến bộ về trang bị, kỹ thuật có thể đánh được tập đoàn cứ điểm. Vấn đề đường sá tiếp tế cho chiến dịch đúng là một khó khăn rất lớn. Nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, cả hậu phương đang chuyển động mạnh trong cải cách ruộng đất, sẽ tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến và nhất định bảo đảm cung cấp cho chiến dịch”.

Từ nhận định đó, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh “Trần Đình” cử đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh chiến dịch làm Bí thư Đảng uỷ. Bác Hồ nói:“Giao cho chú toàn quyền quyết định. Chắc thắng thì đánh. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh…”. Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Bác Hồ, khi bước vào chiến dịch, quân và dân ta phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thử thách mới nảy sinh. Trước hết là tại chiến trường Điện Biên Phủ, tình hình địch đã có nhiều thay đổi, không giống như thời điểm Bộ Chính trị thông qua phương án tác chiến (tháng 12/1953). Chúng đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội sẽ phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có. 

Vấn đề đặt ra là “có hay không” triển khai thực hiện phương án củ? Nếu đánh thì không  bảo đảm chắc thắng như lời căn dặn của Bác Hồ, nếu hoãn thì sẽ giải quyết ra sao khi pháo binh đã vào vị trí, các Đại đoàn đều đã có mặt ở tuyến xuất phát xung phong? Trên cơ sở khảo sát thực tế những thay đổi của địch tại Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh quyết định “hoãn trận đánh”, thay đổi phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Điều đó cũng có nghĩa là toàn bộ kế hoạch tác chiến phải chuẩn bị lại từ đầu, các đơn vị pháo binh sẽ phải kéo pháo ra khỏi trận địa, các đơn vị bộ binh sẽ phải rút quân khỏi vị trí xuất phát về vị trí tập kết…Đó là một quyết định khó khăn nhất trong đời như lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và cũng là vấn đề vô cùng phức tạp đối với cán bộ, chiến sỹ và các lực lượng có liên quan…

HUY ĐỘNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM… CHO CHIẾN DỊCH. Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Văn Sự viết tiếp: Khó khăn tiếp theo là làm sao để bảo đảm cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho chiến dịch Điện Biên Phủ, trong khi chiến trường ở rất xa hậu phương, mà đường tiếp tế thì độc đạo. “Đánh nhanh, thắng nhanh” bảo đảm đã khó, nay chuyển phương châm và kế hoạch tác chiến, khó khăn càng tăng thêm gấp bội. Theo số liệu tổng kết của Tổng cục Hậu cần, lượng gạo huy động cho chiến dịch là 25.056 tấn, ở tuyến chiến dịch, yêu cầu lương thực bình quân phải đáp ứng lên tới 90 tấn/ngày. Ngay tại Điện Biên Phủ phải có 50 tấn/ngày. Bộ Chính trị chủ trương: “toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Điện Biên Phủ, nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”. 

Hội đồng cung cấp mặt trận Trung ương đã được thành lập do Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, trực tiếp chỉ đạo các ngành kinh tế, tài chính dốc sức chi viện; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh vào Thanh Hoá là vùng đông dân nhiều gạo; Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng về chiến trường quen thuộc đồng bằng Liên khu III trực tiếp phổ biến nhiệm vụ, hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương huy động nhân lực, vật lực, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Đồng bào các dân tộc Tây Bắc, còn nhiều khó khăn, cấp trên không chủ trương huy động, nhưng đồng bào nơi đây vẫn hăng hái đóng góp cho chiến dịch 1.200 tấn gạo, 300 tấn thịt và gần 100 tấn rau. 

Ở Liên khu IV, chủ yếu là tỉnh Thanh Hoá đã huy động được hơn 8.000 tấn lương thưc, 2.000 tấn thức ăn khô. Liên khu Việt Bắc 7.311 tấn lương thực, riêng tại Lai Châu là 2.266 tấn. Ở Liên khu III, tuy còn nhiều vùng bị địch chiếm, cũng huy động được 1.183 tấn gạo, 57 tấn muối. Là nơi trực tiếp chiến đấu với địch, nhân dân Điện Biên Phủ cũng đóng góp được 555 tấn lương thực, vượt mức trên giao 64 tấn, 226 tấn thịt, vượt mức 43 tấn…Vấn đề tiếp theo là làm thế nào để vận chuyển một khối lượng lương thực, thực phẩm khổng lồ từ hậu phương ra tiền tuyến? Chính quyền đã huy động dân công và tất cả các phương tiện thô sơ có được từ các địa phương vận chuyển vật chất đáp ứng yêu cầu cho chiến dịch. Điển hình là hơn 2 vạn xe đạp thồ - một phương tiện vận tải độc đáo trong chiến tranh nhân dân - có vai trò hết sức quan trọng và hiệu quả. 

Ngoài việc tham gia vận tải gạo, đạn cho chiến trường, lực lượng dân công còn tích cực tham gia vận chuyển thương binh ra hậu cứ để cứu chữa, vào tận chiến hào để phục vụ chiến đấu. (Nguyễn Văn Sự Đại tá, PGS. TS. Tuyên giáo, Thứ Bảy, 4/5/2019 12:26'(GMT+7).

 

178: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ VIỆC HUY  ĐỘNG DÂN CÔNG LÀM BA TUYẾN VẬN TẢI CHO CHIẾN DỊCH 1953-1954.

 HUY ĐỘNG 12 TRIỆU NGÀY CÔNG… Trong bài “Công tác vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ” Đại tá-Thạc sĩ Trần Đình Quang viết: Tổng Quân uỷ nhận định: Để tiến hành Chiến dịch, ta gặp rất nhiều khó khăn; khó khăn lớn nhất là cung cấp mà chủ yếu là vấn đề đường sá. Theo phương án trên, nhu cầu hậu cần bảo đảm cho Chiến dịch rất lớn, gồm 434 tấn đạn, 7.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm, cứu chữa 5.000 thương binh... Trong khi đó, khả năng huy động hậu cần tại chỗ rất hạn chế, nhân dân còn rất nghèo, vì vậy chủ yếu phải chuyển từ hậu phương lên. Các tuyến vận tải rất dài từ Việt Bắc sang cách xa 700 km, từ Sơn La lên ngắn nhất cũng 150 km, rừng núi hiểm trở, nhiều sông suối, đường xấu... 

Ngành Hậu cần đã dốc toàn lực và huy động 261.451 lượt dân công bằng 12 triệu ngày công, bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia chiến dịch, trong đó 53.830 người trực tiếp chiến đấu; vận chuyển, cứu chữa 8.458 thương bệnh binh; bảo đảm 1.200 tấn đạn, 1.733 tấn xăng dầu, 14.500 tấn gạo, 268 tấn muối, 577 tấn thịt, 1.034 tấn thực phẩm và 177 tấn vật chất khác, gấp gần 3 lần dự kiến ban đầu, và hàng chục lần nếu đánh theo phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”. Điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt, khả năng của ta còn hạn chế, máy bay địch lại thường xuyên đánh vào các tuyến giao thông, ngày cao nhất sử dụng 250 lần chiếc với 1.186 trận đánh phá. 

Các đèo Lũng Lô, Pha Đin, các đầu mối giao thông Cò Nòi, Tuần Giáo, bến phà Tạ Khoa... thành trọng điểm đánh phá của địch. Bộ chỉ huy Chiến dịch đã sử dụng 4 tiểu đoàn công binh cùng hàng vạn dân công bám các trục đường đánh máy bay địch đánh phá khắc phục bảo đảm giao thông. Từ trung tuyến trở lên ta đã sửa được 308 km đường ô tô, làm mới 63 km đường kéo pháo, phá 102 thác để tổ chức vận tải thuỷ trên sông Nậm Na... Tổng khối lượng đào đắp lên tới 35.000m3 đất, 15.000m3 đá, phá hàng ngàn quả bom nổ chậm… (Trần Đình Quang, Đại tá Thạc sĩ, Quân đội Nhân dân Online 21/04/2014, 10:37).

BA HƯỚNG TUYẾN VẬN TẢI. Trong bài “Giao thông vận tải: Điểm tựa cho chiến thắng Điện Biên Phủ” Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền viết: Nhiệm vụ mở đường và bảo đảm Giao thông Vận tải cho chiến dịch, phục vụ 42.750 cán bộ, chiến sỹ gồm cả pháo binh, cơ giới; và 260.000 dân công hoạt động chuyển quân tập kết trước, trong và sau chiến dịch. Ba (3) hướng tuyến chính phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ là: Hướng tuyến phía Bắc từ biên giới Việt - Trung về Thái Nguyên; Hướng tuyến phía Nam từ Nghệ An - Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III ra Hòa Bình; và Hướng tuyến Đông - Tây từ Hòa Bình theo đường 6, và 42 đi Tuần Giáo.

Hướng tuyến phía Bắc từ biên giới Việt - Trung về Thái Nguyên đi Yên Bái theo đường 13 bến Ba Khe - Cò Nòi. Đây là trục chính vận chuyển các loại vũ khí, khí tài phục vụ chiến dịch nên phải tập trung 02 vạn dân công với khoảng 02 triệu ngày công thi công suốt ngày đêm, làm mới đoạn Yên Bái - Cò Nòi… Hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên đã huy động một khối nhân lực lớn sửa chữa, nâng cấp và mở tiếp tuyến đường từ Thủy Khẩu đi Bắc Kạn và Thái Nguyên; đường Võ Nhai - Bắc Sơn và mở rộng bến phà Thác Oánh; đường Cao Bằng - Bắc Kạn qua Chợ Mới - Bờ Đậu lên Tây Bắc hoặc Cao Bằng - Bắc Kạn - Tuyên Quang - Yên Bái - Ba Khe - Cò Nòi…; đường 31 - Chợ Chu - Quán Vuông - Khuôn Ngàn nối đường 3 lên căn cứ an toàn Đèo Khế. 

Hướng tuyến phía Nam từ Nghệ An - Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III ra Hòa Bình dài trên 320km cũng đã phải huy động tới 2,6 vạn dân công với khoảng 2,6 triệu ngày công làm đường và bảo đảm giao thông cho các loại xe thô sơ, xe thồ vận chuyển lương thực, thực phẩm ra chiến trường.. Riêng Thanh Hóa tập trung 13.564 dân công và 6.320 thanh niên xung phong của Khu làm đường 15A đoạn Hồi Xuân - Mục Sơn, Mục Sơn - Đồng Trầu dài 114km. Nhân dân vùng đồng bằng Liên khu III từ Nho Quan và các vùng Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nô nức đi dân công vận chuyển lương thực, thực phẩm lên Hòa Bình và tiếp tục về chiến trường Điện Biên Phủ.

Hướng tuyến Đông - Tây từ Hòa Bình theo đường 6 (41), 42 đi Tuần Giáo - Điện Biên Phủ cũng được gấp rút xây dựng. Do lưu lượng phương tiện vận tải, xe kéo pháo, xe thồ, bộ đội, dân công đi lại trên tuyến chính quá đông, thường ùn tắc, nên phải mở thêm một số tuyến mới để: (a) Mở tuyến từ vùng sông Mã đi Mường Luân - Nà Sang vận chuyển gạo của dân công Thanh Hóa lên phục vụ cho các đơn vị tác chiến ở phía Nam Điện Biên Phủ; (b) Mở đường cho vận tải thô sơ theo đường mòn vượt núi qua Khẩu Hu, Cò Chảy ở phía Bắc Điện Biên Phủ để tập kết gạo, đạn cho các đơn vị tác chiến ở mũi phía Bắc và phía Tây Điện Biên Phủ; (c) Mở tuyến vận chuyển từ Ba Nậm, Cúm qua Lai Châu đi Bản Tấu. Tổng chiều dài luồng tuyến vận tải cho chiến dịch Điện Biên Phủ lên tới 3.500 km(Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền, Tạp chí Điện tử Giao thông Vận tải - Thứ sáu, 25/05/2018, 06:18).

THANH HOÁ HUY ĐỘNG TRÊN 34 TRIỆU NGÀY CÔNG. Trong bài “Góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ” Mai Luận viết: Theo lịch sử Đảng bộ quân sự tỉnh, Thanh Hóa đã huy động 34.177.235 ngày công làm đường và tiếp vận, phục vụ năm chiến dịch lớn: Trung Du, Quang Trung, Hòa Bình, Thượng Lào và Điện Biên Phủ; huy động lương thực, thực phẩm đáp ứng 70% nhu cầu chiến dịch; động viên 56.792 thanh niên vào bộ đội bổ sung cho các chiến trường, 6.321 thanh niên xung phong. Riêng năm 1953 và sáu tháng đầu năm 1954 Thanh Hóa có 28.890 thanh niên nhập ngũ, bằng tổng tuyển quân giai đoạn 1946-1952. 

Các tài liệu tổng kết chiến tranh và quân sự cho thấy, chỉ riêng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã huy động 102.254 ngày công dài hạn, 76.670 ngày công ngắn hạn phục vụ chiến dịch. Ngoài ra Thanh Hóa đã huy động hơn 10 nghìn xe đạp thồ, 1.126 thuyền gỗ, 31 ô-tô, 180 xe bò, 42 ngựa, ba con voi thồ hàng và toàn tỉnh đã vận chuyển, cung ứng 50% khối lượng lương thực, 40% khối lượng thực phẩm cho cả chiến dịch(Mai Luận, Báo Nhân Dân Điện tử - Thứ Tư, 08-05-2019, 18:09 Facebook Email Bản in +).

ĐIỆN BIỆN PHỦ THẤT THỦ, VÀ HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954. Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, thì quân Pháp đầu hàng. Trong thời gian chiến dịch, Pháp không có khả năng xoay chuyển tình thế nên đã đề nghị Mỹ cứu viện. Nhưng tổng thống Eisenhower đã quyết định quân Mỹ sẽ không đổ bộ vào Việt Nam. Sau 56 ngày đêm cố thủ, ngày 7 tháng 5 năm 1954, cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ 18.000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của QĐNDVN trong toàn bộ Kháng chiến chống Pháp. Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954, ban đầu để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương.  Nhưng, do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả, nên từ ngày 8 tháng 5, vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận. 

Sau 75 ngày đàm phán với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao dồn dập đằng sau các hoạt động công khai. Ngày 20/7/54, các bản Hiệp định đã soạn thảo xong. Ngày 21/7/54, Hội nghị họp phiên cuối cùng, Chủ tịch phiên họp là đại biểu Anh Anthony Eden, hỏi lại từng Phái đoàn xem có xác nhận không. Các phái đoàn lần lượt tuyên bố xác nhận, ngoại trừ vài ý kiến dè dặt về một số điều khoản (Mên, Lào, Việt, Mỹ). Những ý kiến đó không làm thay đối các dự thảo Hiệp định. Hiệp định Genève chính thức ký kết ngày 21/7/1954. Ngày 9/10, QĐNDVN tiếp thu Hà Nội và trở thành thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hôm sau 10/10 Sư đoàn 308 Việt Minh tổ chức diển binh. Ngày 15/10/54, Hồ Chí Minh về Hà Nội. Ngày 30/10/54, tiền Bảo Đại không được tiêu dùng ở Hà Nội nữa./.

 

CHÍNH QUYỀN HAI

Bài 179: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NGUYÊN PHAN LONG: 1/1950-5/1950.

Ngày 6/1/50, Quốc trưởng Bảo Đại uỷ nhiệm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phan Long thành lập Chính phủ. Ngày17/1/50, Nguyễn Phan Long lập xong Chính phủ. Ngày 21/1/50, Thủ tướng Nguyễn Phan Long trình diện Nội các lên Quốc trưởng tại Đà Lạt. (Sắc lệnh số 6/QT ngày 21/1/50). THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng Kiêm Tổng trưởng Ngoại Giao và Nội Vụ, Nguyễn Phan Long; Tổng trưởng Tư pháp, Nguyễn Khắc Vệ; Tổng trưởng Quốc phòng, Phan Huy Quát; Tổng trưởng Tài chánh, Dương Tấn Tài; Tổng trưởng Giáo dục, Vương Quang Nhường; Tổng trưởng Giao thông Kiến thiết, Lê Quang Huy; Bộ trưởng Phủ thủ tướng, Đinh Xuân Quảng; Bộ trưởng Ngoại giao, Lê Thăng; Bộ trưởng Canh nông, Trần Văn Chỉ; Bộ trưởng Y tế, Võ Duy Thưởng; Bộ trưởng Thươg mại Kỹ nghệ, Hoàng Cung; Bộ trưởng Xã hội Lao động, Lê Văn Ngọ; Bộ trưởng Thanh niên Thể thao, Nguyễn Tôn Hoàn; Tổng Thơ ký Chính phủ, Huỳnh Văn Trọng. 

THÀNH LẬP TOÀ ÁN HÀNH CHÁNH. Ngày 5/1/50, Quốc trưởng ký Dụ cố 2, thành lập Tòa án Hành chánh tại Sài Gòn; Và, ban Sắc lệnh cử nhiệm một Phái đoàn Nghị sỉ Việt Nam tại Hội nghị Liên Hiệp Pháp, lớp đầu có 12 vị: Phạm Văn Bính, Bùi Thế Phúc, Trần Văn khá, Đỗ Hữu Tinh, Bửu Kính, Nguyễn Hữu Tuân, Nguyễn Huy Lai, Trần Văn Tuyên, Hà Văn Lan, Nguyễn văn Tỵ, Tôn Thất Can, Trần Thiện vàng. Các Nghị sĩ lãnh Phụ cấp của Chính phủ Việt Nam, và lương bổng do Pháp trả. Ngày 1/2/50, Sắc lệnh 10/TP, thiết lập ngành Thẩm phán Việt Nam, từ cấp Hòa giải, Sơ cấp, đến Thượng thẩm. Ngày 9/2/50, Quốc trưởng ký Dụ số 3, cho phép Thủ tướng, Bộ trưởng có quyền trưng tập những cá nhân cần thiết trong 6 tháng, hết hạn có thể trưng tập thêm. Ngày 24/2/50, nhiều Tòa án được Pháp chuyễn giao cho Việt Nam. 

Ngày 4/4/50, Thủ hiến Phan Văn Giáo được cử kiêm nhiệm Tổng Thanh Tra Quân đội Quốc gia Việt Nam với hàm Trung tướng. Ngày 5/4/50, một Hội đồng gồm các Tổng, Bộ trưởng được thành lập, để nghiên cứu “Quy chế Công chức Việt Nam”. Ngày 11/4/50, Quốc trưởng triệu tập một Hội nghi Quân sự tại Đà Lạt để thống nhất các lực lượng vũ trang. Ngày 15/4/50, Quốc trưởng ban hành Dụ số 6, quy định các Tỉnh có nhiều sắc dân Sơn cước trước thuộc Triều đình như Haut-Donnai, Lang-Bian, Pleiku, Darlac, Kontum, Phong-Thổ, Lạng-San, Hà-Giang, Lao-Kay, Bắc-Cạn, Cao-Bằng, Hòa-Bình, Hải-Ninh, nay trực thuộc Quốc trưởng Bảo Đại. Các Cố vấn, Công chức thuộc các tỉnh kể trên được lưu dụng, và sẽ có quy chế riêng. Ngày 24/4/50, Nghị định số 59/NĐ của Thủ tướng thành lập một Nha Tổng Giám Đốc Cảnh sát và Công an Quốc gia, mỗi Phần có một Sở Cảnh sát Công an, nhưng với một Phó Giám đốc mà thôi. 

QUAN HỆ PHÁP, MỸ VÀ VIỆT, MIÊN, LÀONgày 10/1/50, Báo Le Monde kể chi tiết về vụ tiết lộ quân sự của tướng Revers. Ngày 21/1/50, Hội nghị Liên Hiệp Pháp chấp thuận Thỏa ước Elysée 106 phiếu thuận, 38 phiếu chống. Ngày 28/1/50, sau một ngày thảo luận sôi nổi, bất chấp vài phản đối, Quốc hội Pháp vẫn chuẩn y các thoả ước với các Quốc gia Liên kết Việt Miên Lào với 401 thuận 193 nghịch. Ngày 31/1/50, Quốc hội Pháp cử một Uỷ ban điều tra vụ tướng Revers. Ngày 7/2/50, Hoa Kỳ, Anh công nhận Việt Nam, Miên, và Lào, các Tòa Lãnh sự Mỹ, Anh tại Việt Nam nâng lên thành Sứ quán. Ngày 13/2/50, tại Vọng Các Đại sứ Mỹ, Jessup chủ toạ Hội nghị các Đại sứ Hoa Kỳ tại Viễn Đông để bàn về thái độ của Mỹ đối với chiến tranh Đông Dương. Ngày 23/2/50, Hoa Kỳ tuyên bố sẽ gởi sang Đông Dương một phái đoàn Kinh tế để xem xét tình hình và đề nghị cách Viện trợ theo kế hoạch của tổng thống Truman

Ngày 6/3/50, Phái đoàn Kinh tế Mỹ do Griffin cầm đầu tới Sài Gòn, và sẽ lưu lại đến 16/3/50. Ngày 9/3/50, một trái lựu đạn ném vào Phái đoàn Kinh tế Mỹ, không ai việc gì. Ngày 17/3/50, súng cối từ bên kia sông Sài Gòn bắn sang các chiến hạm Mỹ đậu, không có thiệt hại. Ngày 28/3/1950, Hội nghị Việt Miên, Lào bàn về vấn đề tổ chức chung của ba Quốc gia theo thỏa ước 1949, và các Hiệp định 30/12/1949. Ngày 16/3/50, Hạm đội VII của Hoa Kỳ tới thăm Sài Gòn, 71 phi cơ Mỹ biểu diễn khắp bờ biển miền Trung. Ngày 17/3/50, Tướng Carpentier của Pháp phản đối viện trợ quân sự trực tiếp cho các quốc gia Liên kết, và tuyên bố rằng, nếu Mỹ muốn giúp phải gởi qua quân đội Liên hiệp Pháp. Ngày 4/4/50, Hoa Kỳ lại cử Chuyên viên Kenneth Landon sang tiếp xúc với Pháp và Việt Nam để xét lại vấn đề viện trợ.

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 19/1/50, Sân bay Bạch Mai bị đột kích, một số máy bay bị phá hủy. Ngày 12/2/50, quân Việt Minh tấn công đồn Phổ Lu, quân Pháp rút về tỉnh lỵ Lào Kay. Ngày 13/2/50, trên đường lên Đà Lạt một đoàn quân xa Pháp bị phục kích, nhiều xe bị cháy. Ngày 15/2/50, quân Pháp chiếm đóng Thái Bình. Ngày 25/3/50, nhiều đồn ở Trà Vinh bị 3.00 quân Việt Minh tấn công, Pháp mở hành quân tảo thanh.  Ngày 27/3/50, kết thúc hành quân tảo thanh ở Trà Vinh theo Pháp Việt Minh thiệt hơn 400. Ngày 1/4/50, một đoàn quân xa hơn 100 chiếc bị phục kích trên đường Đà Lạt đi Ban Mê Thuột bị thiệt hại nặng. Ngày 6/4/50, đồn Belvédère ở Hòa Bình bị tấn công mạnh. Ngày 12/4/50, nhiều đồn ở Sa-Đec bị tấn công. Ngày 13/4/50, nhiều đồn ở Biên Hòa bị tấn công. 

Ngày 23/4/50, đường xe lữa “Xuyên Việt” bị phá hủy nhiều nơi ở Nha Trang. Ngày 24/4/50, quân Pháp tái chiếm đồn Phố Lu (Lao-Kay). Ngày 2/5/50, quân Pháp chiếm đóng Phủ Lý và tỉnh lỵ Ninh Bình. Ngày 16/1/1950, Hồ Chí Minh chúc mừng chính phủ Trung Cộng mới thành lập ở Bắc Kinh. Ngày 31/1/50, Nga Xô thừa nhận chính phủ Hồ Chí Minh, Pháp phản kháng, Nga trả lại công hàm phản kháng... Ngày 14/2/1950, Nga-Trung Cộng ký Hiệp ước Liên minh Hổ tương. Ngày 1/3/50, thể theo yêu cầu của Quốc hội tại Đài Bắc, Thống chế Tưởng Giới Thạch trở lại chưc vụ Tổng thống.

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. Ngày 4/1/50, Chính phủ ban hành Nghị định số 1/NĐ/GD, thành lập Trường Đại học Văn khoa tại Hà Nội. Và, Nghị định số 2/NĐ/GD, thành lập Sở Bảo tồn Di tích Việt Nam. Ngày 9/1/50, học sinh biểu tình ở Sài Gòn, Cảnh binh bắn chết trò Ơn, và trên 50 người bị thương trong các vụ xô xát. Ngày 16/1/50, Nghị định số 102/TTP, thành lập “Việt Nam Văn hóa Hiệp Hội”. Ngày 24/1/50, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội gặp Đại sứ Hoa Kỳ Jessup, rồi đi thăm các tỉnh miền Bắc có cả Lạng Sơn và Lai Châu. Ngày 26/1/50, tỉnh Bắc Ninh đổi thành tỉnh Gia Lâm, tỉnh Bắc Giang đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Ngày 21/2/50, Thủ hiến Bắc Việt ký Nghị định 471/THP thiết lập tạm thời mỗi Thị Xã một Hội đồng Quản trị, từ 6-12 Hội viên do Tỉnh trưởng chủ tọa. 

Ngày 24/2/50, rất đông người tấp nập hồi cư về Hà Nội và các tỉnh lỵ sau ngày quân Pháp chiếm đóng Thái Bình. Ngày 27/2/50, Dược sĩ Thẩm Hoàng Tín được cử làm Thị trưởng Hà Nội; Ngày 27/2/50, Và các ông Jacques Lê Văn Đức, Trần Thành Đạt, Nguyễn Văn Mùi, Bùi Quang Nam, Đoàn Nẫm, Nguyễn Duy Xương được bổ làm Giám sát. Ngày 10/3/50, Sở Cảnh sát được chuyển giao cho Việt Nam, nhưng việc tình báo chống Cộng vẫn thuộc cơ quan An ninh Pháp. Ngày 14/3/50, thiết lập trường Huấn luyện Bảo chính đoàn. Ngày 19/3/50, tại Sài Gòn có nhiều đám biểu tình chống Mỹ, nhưng bị giải tán, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị bắt.  

Ngày 22/3/50, Khu Phát Diệm-Bùi Chu giữ tổ chức tự trị, không chịu thuộc quyền Thủ hiến Bắc Việt. Quốc trưởng mặc nhiên thừa nhận tình trạng đặc biệt của Giáo Khu này, và cấp 300.000$ mỗi tháng cho Giáo Khu (NĐ 19/MF, Văn thư 14/3/50 của Quốc trưởng). Ngày 23/3/50, các Tổng, Bộ trưởng Phan Huy Quát , Lê Thăng, Nguyễn Tôn Hoàn từ chức. Ngày 29/4/50, thành lập Hội Bảo trợ Đồng bào Hồi cư tại Bắc Việt. Ngày 27 tháng 4 năm 1950, Quốc trưởng Bảo Đại giải thể Chính phủ Nguyễn Phan Long và uỷ nhiệm Thủ hiến Trần Văn Hữu thành lập Chính phủ.

 

Bài 180: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HỮU: 5/1950 – 2/1951.

Ngày 30/4/50, Trần Văn Hữu lập xong Chính phủ, và ngày 6/5/50, Thủ tướng Trần Văn Hữu trình diện Nội các lên Quốc trưởng ở Đà Lạt. THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Ngoại giao và Quốc phòng, Trần Văn Hữu;Tổng trưởng Tư pháp, Nguyễn Khắc Vệ; Tổng trưởng Tài chánh, Dương Tấn Tài; Tổng trưởng Quân lực, Trần Quang Vinh; Tổng trưởng Giáo dục, Vương Quang Nhường; Tổng trưởng Công chánh Kế hoạch, Lê Quang Huy; Tổng trưởng Kinh tế, Hoàng Cung; Tổng trưởng Y tế, Đặng Hữu Chí; Bộ trưởng Phủ thủ tướng, Trần Văn Tuyên; Bộ trưởng Công chức, Đinh Xuân Quảng; Tổng trưởng Thanh niên Thể thao, Nguyễn Tôn Hoàn. Ngày 9/6/50, Quốc trưởng ban Dụ số 6, trao cho Thủ tướng Trần Văn Hữu đặc quyền trong 6 tháng ban hành các biện pháp đối phó với các hoạt động có hại cho an ninh. Ngày 14/6/50, Sở Liêm phóng và Cảnh sát Pháp tại Hà Nội được chuyển giao cho Thủ hiến Bắc Việt. 

BAN HÀNH QUY CHẾ CÔNG CHỨC. Ngày 17/6/50, Tổng trưởng Tài chánh Nguyễn Trung Vinh được bổ làm Thủ hiến Nam Việt. Ngày 14/7/50, Quốc trưởng ký Dụ số 9 ban hành “Quy chế Công chức” gồm 10 chương, 105 điều khoản: tổng tắc, tổ chức, tuyển bổ ngạch quốc gia, lương bổng và phụ cấp, tập sự, thực thụ, thăng thưởng, kỷ luật. Ngày 25/7/50, thiết lập Hoàng triều Cương thổ miền Nam gồm Darlac, Kontum, Pleiku, Lâm Viên, Đồng Nai thượng. Ngày 6/8/50, Quốc trưởng ký Dụ số 10, ban hành Thể lệ lập Hội: phải xin phép trước; tư cách pháp nhân hạn chế; sẽ có thể lệ đặc biệt cho các Hội truyền giáo Thiên chúa-Gia tô, và Hoa kiều Lý sự vụ. Ngày 19/8/50, Bộ trưởng Quốc phòng PhápLetourneau, và Cao ủy Pignon Hội đàm với Quốc trưởng Bảo Đại tại Cannes về việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam. 

QUÂN ĐỘI QUỐC GIA, VÀ QUY CHẾ SĨ QUAN QUÂN ĐỘI. Ngày 14/9/50, một Phái đoàn Việt Nam gồm Tổng trưởng Trần Quang Vinh, Trung tướng Thủ hiến Phan Văn Giáo, Thiếu tá Nguyễn Văn Hinh điều đình với Phái đoàn Hoa Kỳ về việc viện trợ cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ngày 13/10/50, Pháp yêu cầu Mỹ viện trợ 3.170 triệu Mỹ kim để võ trang 18 tiểu đoàn Việt Nam và quân đội Mên, Lào. Ngày 5/11/50, Hội nghi quân sự tại Đà Lạt phía Pháp có Bộ trưởng Quốc phòng Letoureneau, tướng Jiun; phía Việt Nam có Quốc trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Trần Văn Hữu, Trung tướng Phan Văn Giáo đi đến quyết định: Thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam 115.000 người với quân trang và võ khí Mỹ; Pháp cho mượn Sĩ quan trong giai đoạn đầu; kinh phí do Ngân sách Việt Nam và Mỹ đài thọ. 

Ngày 8/12/50, Việt-Pháp ký Hiệp ước về quân sự, từ nay quân đội Việt Nam thuộc hẳn quyền Quốc trưởng Bảo Đại, nhưng có Cơ quan Liên lạc với Quân đội Liện Hiệp Pháp. Ngày 9/12/50, tại Sài Gòn lễ ký kết Phụ ước thi hành Hiệp định quân sự Việt-PhápNgày 17/12/1950, tướng 5 sao De Lattre de Tassigny được cử làm Tổng tư lệnh kiêm Cao ủy Pháp tại Đông Dương thay Leson Pignon tới Sài Gòn, Ngày 24/12/50, Hiệp ước viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp và các Quốc gia Liên kết được ký: phía Pháp có Bộ trưởng Letoureneau, tướng De Lattre de Tassigny; phía Mỹ có Đại sứ Hoa Kỳ Donald Heath; phía các Quốc gia Liên kết có Thủ tướng Trần Văn Hữu, và Đại diện Mên, và LàoNgày 30/1/51, kể từ ngày này Sĩ quan Quân đội Việt Nam có Quy chế riêng, y phục và lương bổng riêng (Dụ số 1-OD/VOP/DQT/TS, và hai Sắc lệnh cùng ngày).

LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP, MỸ VÀ VIỆT, MIÊN, LÀONgày 11/5/50, ba Bộ trưởng Ngoại giao Anh, Pháp, Mỹ họp ở Ba-Lê nghiên cứu vấn đề viện trợ quân sự và kinh tế cho Đông Dương. Ngày 12/5/50, Thủ tướng Trần Văn Hữu quyết định cử Sứ thần sang Mỹ, Anh, Vatican, Thái, Miên và Lào. Ngày 17/5/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Y tế Thế giới. Ngày 6/6/50, Robert Blum, trưởng Phái đoàn Kinh tế Mỹ tới Sài Gòn, họp báo cho biết, viện trợ của Mỹ cho các quốc gia Liên kết là 23.500.000 Mỹ kim trong tài khoá tháng 6/50-6/51). Riêng viện trợ quân sự bằng võ khí quân vụ sẽ giao cho quân đội Liên Hiệp Pháp. Ngày 12/6/50, Việt Nam được Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc mời tham dự Hội nghị quốc tế Viện trợ kỹ thuật tại Lake Success. 

Ngày 23/6/50, Hội nghị cấp cao Liên quốc nhóm họp tại Ba-Lê dưới quyền chủ tọa của Tổng thống Pháp, Vincent Auriol gồm các Bộ trưởng Pháp, và Thủ tướng các Quốc gia Liên kết, Hội nghị chỉ soát qua tình hình chung, và quyết nghị lập Hội đồng Liên Hiệp Pháp. Ngày 29/6/50, Hội nghị Liên quốc họp chính thức tại Pau. Chủ tịch là trưởng đoàn Pháp Albert Sarraut, cựu Toàn quyền Đông Dương; Trưởng đoàn Việt Nam Nguyễn Trung Vinh; cùng hai phái đoàn Lào và Mên, để bàn về các vấn đề “nhập cảnh, cư trú, trang bị kỷ thuật, ngoại thương, quan thuế, và tài chánh”. Ngày 15/7/50, Phái đoàn Viện trợ Quân sự Mỹ do Melby và tướng Ershin cầm đầu sang xem xét tình hình tại Việt Nam trước khi Chánh phủ Hoa Kỳ quyết định viện trợ. 

Ngày 20/7/50, Hội nghị Liên Quốc tại Pau giải quyết được các vấn đề Bưu điện, Viễn thông, Nhập cảnh của ngoại kiều, thiết lập tại mỗi Quốc gia một Ủy ban Kế hoạch. Ngày 22/7/50, hai chuyến bay đầu tiên của Hoa Kỳ chở đồ viện trợ tới Sài Gòn gồm thuốc Pénicillinne, bột DDT, và nhiều thuốc men khác. Ngày 11/8/50, chuyến tàu Mỹ đầu tiên chở vũ khí và đồ trang bị cho quân đội các nước Việt, Miên, Lào cập bến Sài Gòn hôm nay. Ngày 10/10/50, một Phái đoàn Viện trợ quân sự Hoa Kỳ do tướng Brinsk chỉ huy đặt trụ sở ở Sài Gòn. Ngày 11/10/50, Thủ tướng Pleven cử Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jules Moch sang Hoa Kỳ yêu cầu gởi gấp vũ khí cho đoàn quân viễn chinh Pháp. Ngày 20/10/50, Hoa Kỳ thuận cấp cho Pháp 275 triệu Mỹ kim quân phí.

Ngày 28/10/50, Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ chở 40 phi cơ Helleat viện trợ cho Pháp tới Sài Gòn. Ngày 5/11/50, thêm 12 phi cơ Privateer viện trợ Mỹ tới Sài Gòn. Ngày 27/11/50, Hội nghị Liên quốc Pau bế mạc. Ngày 24/12/50, thêm 30 phi cơ B26 viện trợ Mỹ tới Sài Gòn. Ngày 1/2/51, có thêm 40 phi cơ Beereat viện trợ Mỹ cho Pháp được chở ti Sài Gòn.     

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 15/9/50, đồn Đông Khê trên đường 4 giữa Lạng Sơn Cao Bằng lại thất thủ, quân Pháp trên 3.000 chỉ còn lại 200 chạy trốn được về miền dưới. Quốc hội Pháp sôi nổi, thủ tướng Pleven cử Bộ trưởng Lettourneau cùng Đại tướng Juin sang điều tra. Ngày 18/9/50, quân Pháp nhảy dù xuống cứu nguy Đông Khê, nhưng không tái chiếm được. Hầu hết các đồn binh Pháp ở vùng Lao-Kay, Cao-Bằng, Thất-Khê đều bị áp lực mạnh. Ngày 29/9/50, quân Pháp chiếm đóng Thái Nguyên. Ngày 29/9/50, Tướng Carpentier tuyên bố tình hình khả quan ở Trung và Nam Việt, chỉ nghiêm trọng ở Bắc Việt. Ngày 1/10/50, quân Pháp phải bỏ đồn Bảo Hà ở Thượng Du. Ngày 3/10/50, Pháp bỏ đồn Hoàng Su Phi; rút khỏi tỉnh lỵ Cao Bằng theo đường 4 để được quân tiếp viện đón gặp ở Đông Khê. 

Ngày 7/10/50, Bộ Tư lệnh Pháp thông báo tình hình khả quan. Cùng ngày 7/10/50, Hộ pháp Phạm Công Tắc ra thăm Hà Nội, và hứa sẽ cho quân đội Cao Đài ra giúp, nếu Bắc Việt bị Trung Cộng xâm lăng. Ngày 8/10/50, quân Pháp từ Cao Bằng rút về bị chận đánh gần Đông Khê mất 2.000, gần 1.000 chạy thoát được. Ngày 16/10/50, Cao Ủy Pháp Leson Pignon ban bố tình trạng khẩn cấp tại Bắc Việt. Đàn bà, con nít Pháp phải tản cư, kiều dân Pháp phải nhập ngũ trong 3 tuần l. Ngày 18/10/50, Đại tướng Juin Tổng Tham Mưu trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng Letourneau tới Sài Gòn quan sát tình hình. Cùng ngày 18/10/50, Quân Pháp bắt đầu rút khỏi tỉnh lỵ Lạng Sơn. Lao-Kay vì bị áp lực mạnh. Ngày 23/10/50, Thủ tướng Pleven tuyên bố trước Quốc hội trong trận Thất Khê, Cao Bằng, Pháp đã mất 75 sĩ quan, 292 Hạ sĩ quan, và 2.949 lính. 

Ngày 27/10/50, Không quân Pháp oanh tạc dữ dội Cao Bằng và Lang Sơn, Cùng ngày nầy kịch chiến ở Chũ, Tiên Yên, Đình Lập. Ngày 31/10/50, tướng Jiun trình lên Chính phủ Pháp, tình hình chưa bi quan vẫn nắm vững được, nhưng cần gởi nhiều viện binh, và phi cơ hơnNgày 1/11/50. quân Pháp rút khỏi tỉnh lỵ Lao-Kay, về giữ Lai Châu để bảo vệ vùng đông dân Thái, bởi có tới 6.000 binh sỉ Thái trong quân đội Liên Hiệp Pháp. Ngày 5/11/50, Binh sĩ Pháp mãn hạn tòng quân bị giữ lại Đông Dương. Ngày 11/10/50, Đồn Thất Khê lại thất thủ, Quân Pháp rút chạy thoát được khỏi tỉnh Thái Nguyên. Ngày 15/11/50, Cao ủy Pignon cực lực cải chính tin đồn quân đội Liên Hiệp Pháp rút khỏi Bắc Việt. Ngày 15/11/50, quân Pháp rút từ Lao-Kay về Lai Châu, đóng tại Bình Lu và Phong Thổ. 

Ngày 23/11/50, vài ngàn viện binh Pháp tới Hà Nội, 7 Tiểu đoàn Bộ binh, 1 tiểu đoàn Cơ giới, 2 đội Pháo binh sẽ được gởi đến sau. Ngày 15/12/50, Pháp mở cuộc hành quân Đức Thắng và dọc Quốc lộ 1 để ngăn chận các vụ tấn công vào Đồng Văn, Bắc Ninh, và Thái Bình. Ngày 18/12/50, quân Pháp rút khỏi Đình Lập, và Bình Liêu cách Moncay 60 cây số, vì áp lực của Việt Minh quá mạnh. Ngày 26/12/50, Đồn Đa Phúc, Phúc Yên bị tấn công mạnh, rất nhiều quân Việt Minh tràn về phía Vĩnh Yên. Ngày 1/1/51. De Lattre hủy bỏ lệnh tản cư kiều dân Pháp khỏi Hà Nội, và Bắc Việt do Cao ủy Pignon ban hành ngày 16/10 năm ngoái (1950). Ngày 4/1/51, quân Pháp ở Tiên Yên, và Mongcay bị bao vây, nhưng phản công phá được vòng vây. Ngày 8/1/51, Việt Minh tấn công Tiên Yên, Hà Cối, Hải Dương, Việt Trì và Phúc Yên. 

Ngày 12/1/51, có tới 30 đến 40 Tiểu đoàn Việt Minh mở mặt trận dài 120 cây số và cùng tiến về Hà Nội. Ngày 14/1/50, đồn Bảo Chúc và Vĩnh Yên thất thủ, kế đến là các đồn quanh Sơn Tây. Đường từ Hà Nội đi Vĩnh Yên bị cắt đứt. Ngày 15/1/51, chừng 40.000 quân chính quy Việt Minh tấn công Vĩnh Yên và tiến về cách Hà Nội 50 cây số. Cùng ngày 15/1/51, De Lattre cho phi cơ chở quân tiếp viện từ trong Nam ra, và đích thân ông ta chỉ huy mặt trận Vĩnh Yên. Kịch chiến suốt đêmCả hai bên cùng bị thiệt hại rất lớn. Hôm nay, 16/1/51, phi cơ thả bom Napalm tới 92 lần. Cùng ngày 16/1/51Quân Việt Minh rút về Tam Đảo rồi lại tấn công. Trung đoàn Lưu động của Đại tá Edon, được giữ làm trừ bị cũng được tung ra nốt. Nhiều trận xung phong, giáp lá cà tại Mai Sơn, Lục Nam, Đông Triều kéo dài trên 130 cây số. 

Ngày 18/1/51, quân Pháp chiếm lại 4 đồn ở Vĩnh Yên. Việt Minh thiệt hại chừng 6 đến 7.000 người. Ngày 22/1/51, Mặt trận Vĩnh-Phúc-Yên yên tĩnh. Quân Việt Minh rút hết. Ngày 23/1/51, De Lattre phản công về Sơn Tây và Phủ-Lạng-Thương. Ngày 4/2/51, quân Pháp tấn công Phủ Lý. Ngày 13/2/51, quân Pháp hành quân ở Ninh Bình. Ngày 15/2/51, quân Pháp tái chiếm Phong Thổ, và Bình Lu. 

SỰ KIỆN TẠI CAO LY (ĐẠI HÀN). Ngày 25/6/50, vì đòi Hiệp thương thống nhất không được, Chính phủ Cộng sản Bắc Cao Ly cho quân đội vượt qua Vỉ tuyến 38 xâm lăng Nam Cao Ly. Ngày 27/6/50, Hán Thành thất thủ, Chính phủ chạy về Pusan ở miền Nam. Ngày 27/6/50, Tổng thống Truman ra lệnh cho Không quân và Hải quân tiếp cứu Nam Cao Ly. Ngày 7/7/50, Hội Đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ủy cho Hoa Kỳ đề cử Tổng Tư lệnh quân đội Liên Hiệp Quốc tại Cao Ly. Mỹ cử tướng Mac Arthur Tổng Tư lệnh tại Thái Bình Dương kiêm nhiệm Tổng Tư lệnh quân đội Liên Hiệp Quốc. Ngày 8/8/50, quân Bắc Cao tiến công mạnh, và quân Nam Cao phải lùi mãi về phía Nam. Đến ngày 11/8/50, Nam Cao và Liên Hiệp Quốc chỉ còn lại “một phần đất phía Đông Nam”. Nhưng không quân Hoa Kỳ oanh tạc rất dữ dội. 

Ngày 12/9/50, tướng Mac Arthur cho quân đổ bộ xuống Inchon, Bắc Cao Ly, và tổng phản công trên khắp các mặt trận. Ngày 19/9/50, Hoa Kỳ tái chiếm Hán Thành. Ngày 29/9/50, tướng Mac Arthur đưa Chính phủ Lý Thừa Vãn trở lại Hán Thành. Ngày 20/10/50, Bình Nhưỡng Thủ đô Bắc Cao Ly bị quân đội Liên Hiệp Quốc chiếm đóng. Ngày 26/10/50, hơn 20.000 quân Trung Cộng tràn sang Bắc Cao. Ngày 1/11/50, Quân Bắc Cao Ly phản công tái chiếm Bình Nhưởng, nhiều trận ác chiến khốc liệt. Ngày 3/11/50, tướng Mac Arthur báo cho Liên Hiệp Quốc rằng, có 56 Sư đoàn Trung Cộng với 868.000 quân đang tập hợp ở Mãn Châu. Ngày 24/11/50, quân Trung Cộng phản công phá vỡ trận tuyến tại Bắc Cao Ly, quân Liên Hiệp Quốc phải rút xuống dưới Vỹ tuyễn 38. 

Ngày 27/11/50, tướng Lâm Bưu nói, quân Trung Cộng tấn công mạnh vào Lộ quân III và IV của Hoa Kỳ, quân Mỹ phải rút lui, chịu mất 12.975 vừa chết, bị thương và bị bắt. Ngày 25/12/50, Hán Thành lại thất thủ, dân chúng phải tản cư lần nữa. Ngày 1/1/51. quân Trung Cộng tấn công rất mạnh ở gần vỹ tuyến 38. Ngày 8/1/51, quân Liên Hiệp Quốc triệt thoái mãi ở Cao Ly về cách Hán Thành 50 cây số về phía Nam. Ngày 13/1/51, Liên Hiệp Quốc bàn về đình chiến ở Cao Ly. Ngày 17/1/51, Trung Cộng bác bỏ đề nghị điều đình của Liên Hiệp Quốc, và đòi quân Liên Hiệp Quốc rút khỏi Cao Ly, để mặc dân Cao Ly tự quyết.

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. Ngày 20/6/50, Việt Nam được gia nhập “Tổ chức Lao động Quốc tế”. Cùng ngày Quốc trưởng và Thủ tướng sang Pháp để theo dỏi cuộc đàm phán Liên Quốc sắp họp. Ngày 25/7/50, Cảnh sát, Công an Sài Gòn, khám phá ra một tổ chức “kinh tài Việt Minh” bắt giữ nhiều người. Ngày 17/8/50, Cảnh sát, Công an Nam Việt bắt trên 1.000 người để trừ khủng bố tại Sài Gòn-Chợ Lớn. Ngày 22/8/50, Cảnh sát, Công an bắt 30 người khủng bố tại Hà Nội. Ngày 31/10/50, Quốc gia Việt Nam được gia nhập Hội đồng Hợp tác Kỹ thuật theo Kế hoạch Colombo. Ngày 5/11/50, khánh thành trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Ngày 11/11/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Lương Nông Quốc tế. Ngày 14/11/50, chuyễn giao Thành phố Đà Lạt cho Chính phủ Việt Nam, Bác sĩ Trần Đình Quế được bổ làm Thị trưởng.  Ngày 16/11/50, thành lập một trường Cao Đẳng Sư Phạm tại Hà Nội (Nghị định 344/NĐ/GD). 

Ngày 25/11/50, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội họp bàn việc Phòng thủ Bắc Việt. Ngày 6/12/50, Tổng nha Thanh tra Thanh tra Lao động, được thành lập tai Phủ Thủ tướng. Ngày 21/12/50, Phủ Thủ hiến Bắc Việt ra thông cáo khuyên dân chúng bình tĩnh trước tình thế. Ngày 10/1/51, Nha Bưu Điện Sài Gòn, và ngày 17/1/50, Nha Bưu Điện Hà Nội chuyễn giao về cho Chính phủ Việt Nam. Ngày 21/1/51, Quốc trưởng Bảo Đại giải tán Chính phủ Trần Văn Hữu, nhưng ủy Trần Văn Hữu lập Chính phủ mới. Ngày 27/1/51, Nghị định 465/NĐ/PTH tái lập tỉnh Ninh Bình. 

 

Bài 181: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HỮU: 2/1951 - 6/1952.

Ngày 21/2/51, Trần Văn Hữu trình danh sách Nội các mới lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận (SL số 10/QT). THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng, kiêm Ngoại Giao, Quốc Phòng, và Nội Vụ, Trần Văn Hữu; Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Tư pháp, Nguyễn Khắc Vệ; Tổng trưởng Phụ tá Thủ tướng kiêm Giáo dụcVương Quang NhườngTổng trưởng Tài chánhNguyễn Trung VinhTổng trưởng Kinh tế, Trần Văn Khá; Tổng trưởng Công vụ, Dương Tấn Tài; Tổng trưởng An ninhNguyễn Văn TâmTổng trưởng Viễn thông, Công chánh, Lê Quang Huy; Tổng trưởng Kế hoach Kiến thiếtNguyễn Duy ThanhTổng trưởng Y tế, Đặng Hữu Chí; Tổng trưởng Xã hội, Lê Thăng; Bộ trưởng Phủ thủ tướng, Trần Văn Tuyên; Bộ trưởng Ngoại giaoNguyễn Hữu ThuầnBộ trưởng Ngân sách, Đinh Xuân Quảng; Tổng trưởng Thanh niên Thể thao, Phạm Văn BínhBộ trưởng Lao độngNguyễn Trí Độ

BỘ QUÂN LUẬT, VÀ CHẾ ĐỘ QUÂN DỊCH. Ngày 3/3/51, Việt Nam đã thành lập xong 26 Tiểu đoàn. Ngày 15/4/51, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Bộ Quân luật Việt Nam (Dụ số 8). Ngày 25/6/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 9, Không quân Việt Nam chính thức thành lập kể từ 1/7/51. Ngày 15/7/51, Quốc trưởng ký Dụ số 12, ban bố “Chế độ Quân dịch”; tất cả các phương tiện và tài nguyên được huy động; các Y sĩ được trưng dụng. Ngày 27/7/51, Thủ tướng ban hành Nghị định số 9/ND/PTT, tư nhân có thể bị trưng dụng vì nhu cầu Quốc phòng; dân số được kiểm tra lại: 60.000 người sẽ được gọi nhập ngũ; trong hạn tuổi từ 16 đến 60 có thể được động viên hoặc trưng tập; các Y sĩ, Dược sĩ, Chuyên viên cũng vậy; thanh niên từ 18 đến 28 tuổi có bằng Cao đẳng Tiều học trở lên sẽ theo học các lớp Sĩ quan Trừ bi.

Ngày 7/8/51, một trường Quân y được mở tại Hà Nội (Nghị định 111/QP/NĐ). Ngày 16/10/51, có hơn 15.000 thanh niên gọi nhập ngũ, thụ huấn cấp tốc 2 tháng, 1.000 người có bằng Trung học đệ nhất cấp trở lên theo học Trường Sĩ quan Nam Định, và Trường Sĩ quan Thủ Đức. Ngày 8/11/51, hai trại Tân binh mới được thiết lập ở Bắc Ninh và Quảng Yên, mỗi nơi có khả năng Huấn luyện 3.000 người. Ngày 22/11/51, Tòa án Quân sự được thiết lập tại Sài Gòn (SL79/QP). Ngày 28/8/51, Hội đồng các Thủ hiến họp tại Sài Gòn để ấn định thể thức gọi nhập ngũ 15.000 thanh niên. Ngày 6/3/52, thành lập Hải Quân Việt Nam kể từ ngày 1/1/1952. Ngày 7/3/52, Trung tá Không quân Nguyễn Văn Hinh, Chánh Võ phòng Quốc trưởng Bảo Đại được thăng Thiếu tướng, và được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam.

QUY CHẾ VIÊN CHỨC NGOẠI GIAO VÀ THỦ HIẾN. Ngày 7/8/51, Sắc phục của Nhân viên Sứ quán và Lãnh sự được quy định: Quốc phục Đại lễ “nhung y” của Đại sứ: áo dài gấm, da cam, hoa chữ Thọ, quần luạ trắng, khăn đen, giàu láng, bài vàng có chữ Hán đeo ở nút áo, .v.v.. Ngày 12/2/52, lương bổng, phụ cấp và dịch vụ của các Thủ hiến: lương 14.000$; Giao tế phí 8.000$. 2 tài xế, 2 bồi, 1 bếp, 1 gác cổng, 1 làm vườn; Nhà ở, đồ đạc, điện nước, xe cộ, giặt ủi. Lễ phục có tính cách Tôn giáo, Lịch sử: áo dài chẽn, khăn đen, quần lụa trắng; Các Lễ khác: âu phục trắng, cà vạc đen, sậm, hoặc âu phục đen, sậm. Ngày 19/11/51, Thủ hiến Bắc Việt Đặng Hữu Chí nghỉ dài hạn dưởng bệnh, Tổng trưởng An ninh Nguyễn Văn Tâm được cử kiêm nhiệm Thủ hiến Bắc Việt. Ngày 10/12/51, thiết lập Khâm mạng tại “Hoàng Triều Cương Thổ miền Bắc”, Nguyễn Văn Tâm Tổng trưởng An ninh, kiêm Thủ hiến Bắc Việt được cử Đại diện Quốc trưởng Bảo Đại tại các Tỉnh Sơn cước (SL24/QT/TD).

LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP, MỸ VÀ VIỆT, MIÊN, LÀONgày 2/3/51, Hoa Kỳ giao thêm cho Pháp 1 tàu công binh xưởng, và 6 tàu tuần tiểu. Ngày 15/3/51, tướng De Lattre về Ba Lê xin 15.000 quân viện. Ngày 19/3/51, hơn 15.000 viện binh Pháp được gởi sang Sài Gòn. Ngày 23/3/51, ký Hiệp định Việt-Mỹ viện trợ 16 triệu Mỹ kim cho 3 quốc gia Liên kết Việt Mên Lào. Ngày 26/3/51, Mỹ giao thêm cho Pháp 46 phi cơ Beercats. Ngày 15/5/51, De Lattre sang Tân Gia Ba họp Hội nghị Quân sự Anh, Mỹ, Pháp để trù liệu các biện pháp Phòng thủ Đông Dương nếu Trung Công xâm lăng. Ngày 18/5/50, Hội nghị Tân Gia Ba đi đến quyết định “Không bỏ Bắc Việt nếu Trung Công xâm lăng” vì đây là “Tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á”Ngày 20/6/51, theo dự liệu hôm nay Việt-Mỹ ký “Hiệp định viện trợ Kinh tế”, nhưng Cao ủy Pháp đòi hoãn viện cớ chưa có thỏa hiệp của Thượng Hội đồng Liên Liệp Pháp, được ghi tại Thỏa ước 8/3/49. 

Ngày 21/8/51, Việt, Mên, Lào được Hoa Kỳ mời tham dự Hội nghị Quốc tế San-Francisco để xét về Hòa ước sắp ký với Nhật Bản. Phái doàn Việt Nam do Thủ tướng Trần Văn Hữu cầm đầu. Ngày 7/9/51, De Lattre sang Hoa Kỳ, giải thích cho Chính phủ cùng Dân chúng Mỹ về tính cách chống Cộng của “Chiến tranh Đông Dương” và yêu cầu Mỹ tăng gấp Viện trợ. Ngày 8/9/51, Kết thúc Hội nghị San-Francisco, 2 Hoà ước được ký kết với Nhật Bản, theo đó: (1) Nhật mất hết các thuộc địa; để cho Mỹ Giám hộ vài đảo; phải bồi thường các thiệt hại chiến tranh cho các nước liên quan, nhưng được trả lại chủ quyền Chính trị và Kinh tế. (2) Hoa Kỳ và Nhật còn ký một Hòa ước “Song phương Mỹ-Nhật” Nhật được Viện trợ, Mỹ được đóng quân tại Nhật (ngày 8/9/51). Ngày 19/9/51, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố, về tiếp vận khí giới, Việt Nam chỉ đứng sau Cao Ly. 

Ngày 21/9/51, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố, Chính phủ Hoa Kỳ đồng quan điểm với Pháp về công cuộc chống Cộng tại Đông Dương, nhưng Mỹ vẫn ngại “Pháp muốn tái lập Chế độ Thực dân”. Ngày 29/9/51, tướng Bondis được cử làm Tư lệnh kiêm Ủy viên Cộng hòa tại Nam Kỳ. Ngày 24/11/51, Williamson, trưởng phái đoàn Viện trợ Mỹ tuyên bố, trong Tài khóa 1951-1952, Hoa Kỳ Viện trợ cho Việt Nam 25 triệu Mỹ kim. Ngày 29/11/51, Khai mạc Thượng Hội đồng Liên Hiệp Pháp, Hội đồng chỉ xét tình hình chung, và ấn định thủ tục điều hành, chưa quyết định được vấn đề gì quan trọng, phía Việt Nam có Thủ tướng Trần Văn Hữu. Ngày 4/12/51, Thủ tướng Trần Văn Hữu gặp Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc ở Ba Lê nêu vấn đề gia nhập Liên Hiệp Quốc của Việt Nam. 

VỀ TƯỚNG DE LATTRE DE TASSIGNYNgày 18/12/51, Cao uỷ và Tư lệnh Pháp tại Đông Dương, tướng De Lattre bị đau về Pháp, hôm nay nhập viện. Ngày 20/12/51, De Lattre bị mổ nghe đồn khó qua khỏi. Ngày 28/12/51, Quốc hội Pháp thảo luận về Dự án Ngân sách Chiến tranh Đông Dương 326 tỷ quan. Dịp nầy các đảng phái tỏ rõ lập trường, có 3 giải pháp được nêu ra: Tái chiếm làm thuộc địa? không đảng nào dám chủ trương ra mặt! Rút khỏi Đông Dương? Chỉ có đảng Cộng sản đòi hỏi! Rút khỏi Bắc Việt? Daladier, Xã hội Cấp Tiến đề nghị bỏ Bắc, giữ Nam! Thủ tướng Pleven phản đối và viện dẫn một câu của cố Thống chế Galliéni rằng “Ai nắm Bắc Việt, nắm cả Đông Dương”. Ngày 6/1/52, tướng Raoul Salan được cử làm Quyền Tổng Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương. và Toàn quyền Gautier, một viên cai trị lâu năm tại Đông Dương làm Quyền Cao Ủy. 

Ngày 11/1/52, tướng Juin hội đàm với Chính phủ Mỹ, yêu cầu tiếp viện, rằng “nếu Không quân và Hải quân Anh-Mỹ không can thiệp thì Đông Dương sẽ mất”. Tổng Tham mưu trưởng quân đội Hoa Kỳ Bradley dè dặt vì Mỹ còn mắc ở Cao Ly. Ngày 11/1/52, De Lattre từ trần. Ngày15/1/52, Quốc hội và Hội đồng Cộng hòa biểu quyết truy tặng tước vị Thống chế cho De Lattre, và ngày mai 16/1 De Lattre sẽ được làm lễ Quốc táng. Ngày 17/1/52, Thủ tướng Pháp Edgar Paure tuyên bố trước Quốc hội, mặc dù De Lattre qua đời, chiến tranh cần được thúc đẫy mạnh. Ngày 23/1/52, Edgar cử Bộ trưởng Letourneau sang Đông Dương để trấn tỉnh quân đội sau khi De Lattre qua đời. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 29/3/51, kịch chiến tại vùng mỏ than Mạo Khê, Uông Bí với trên vài vạn quân Việt Minh.De Lattre cho Trung đoàn Lưu động của Đại tá Sizaire tới cứu ứng, có phi cơ Pháp oanh tạc dữ dội, nhưng không cản nổi các cuộc xung phong của Việt Minh. Các đồn Đông Triều bắn hàng ngàn pháp đại bác yểm trợ suốt đêm. Hôm nay 31/1/51, Mặt trận Mạo Khê mới yên. Ngày 10/4/51, quân Pháp bắt đầu tái chiếm Tsin Hô gần Lai Châu. Đồn Bình Lu lại thất thủ. Ngày 22/4/51, Pháp mở cuộc hành quân “Sứa biển-Méduse” tảo thanh vùng Ninh Giang-Vĩnh Bảo có cả “thủy, lục, không quân’ tham chiến. Ngày 23/4/51, Đạo quân Pháp tái chiếm Tsin Hô, bị đẩy lui, nhưng nhờ phi cơ dội bom xuống trên các lớp người xung phong, nên cuối cùng cũng chiếm lại được đồn này. 

Ngày 28/4/51, tướng Harteman Tư lệnh không quân đi máy bay B 26 từ Hà Nội ra Bắc bị rớt và mất tích vùng Tiên Yên. Ngày 1/5/51, đồn Gia Lộc, Hải Dương thất thủ, Đến ngày 7.5/51 tái chiếm đồn Gia LộcNgày 10/5/51, Pháp tái chiếm đồn Phong Thổ. Ngày 28/5/51, kịch chiến vùng Sông Đáy, Ninh Bình. Hơn 40.000 quân chính quy Việt Minh xuất trận, nhiều cuộc xung phong ào ạt tương tự ở Vĩnh Yên hồi đầu năm. Nhiều vị trí bị mất đi chiếm lại vài lần như ở Yên-Cư-Hạ. Riêng tỉnh lỵ Ninh Bình củ, Việt Minh chỉ chiếm và giữ được có 2 giờ, thì bị Pháp giành lại. Ngày 29/5/51, Pháp huy động cả Thủy, Lục, Không quân mở cuộc tấn công và phản công vẫn tại Ninh Bình. Ngày 13/6/51, từ kết quả từ cuộc “hành quân Sứa Biển-Mesduse”, Thủ hiến Bắc Việt thiết lập Khu Bình định Vĩnh Ninh gồm một phần Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Phụ Dực, Đồng Quan.

Ngày 30/5/51, con trai độc nhất của De Lattre, là Trung úy Bernard bị tử thương gần Ninh Bình. Ngày 1/6/51, mặt trận Ninh Bình tạm yên. Ngày 18/6/51, De Lattre mở cuộc phản công lớn ở vùng Phủ Lý, Nam Định, và Sông Đáy. Ngày 25/6/51, De Lattre họp báo tuyên bố, trận Sông Đáy đã kết thúc, vùng lúa gạo ở Trung Châu, Bắc Việt không còn bị Việt Minh về thu thuế nữa. Ngày 13/7/51, Kịch chiến tại Vân Đình, Hà Đông. Ngày 31/7/51, Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành, và tướng Chanson, Tư lệnh kiêm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Việt đang duyệt binh ở Sadec bị ném lựu đạn, Thủ hiến chết tại chỗ, Chanson tắt thở sau vài giờ, 4 sĩ quan Pháp bị thương. Ngày 13/8/51, sau 4 ngày hành quân Pháp cho biết đã phá được Tổng hành dinh của Tướng Nguyễn Bình tai Chiến khu D; và Bản doanh của Chỉ huy Phó Trần Văn Trà; đài Phát thanh Nam Bộ và 21 căn trại bị thiêu hủy. 

Ngày 24/8/51, hành quân “Gió Lốc=Tourbillon” từ 4 hôm nay tại Đồng Tháp Ngày 9/9/51, hành quân tảo thanh vùng Trà Lý, Thái Bình. Ngày 16/9/51, Pháp lập thêm 70 đồn từ Ba Đông, Cà Mâu tới Duyên hải Trung Việt. Ngày 25/9/51, Pháp mở cuộc hành quân “Trái chanh=Citron” vùng Thanh Miện và Ninh Giang phá hủy các làng chiến đấu. Từ ngày 3 đến 7/10/51, Pháp mở hành quân “Trái Quýt=Manderine” càn quét vùng Sông Đuống, Sông Trà Lý, Kết quả Việt Minh chết 1.200, bị bắt 5000, với nhiều thóc gạo và khí giới. Ngày 5/10/51, có nhiều trận đánh lớn, với hàng chục Tiểu đoàn Việt Minh tại Lai Châu, Phong Thổ và Nghĩa Lộ. Ngày 6/10/51, Pháp mở cuộc hành quân ở Hưng Yên trên một vùng 60 cây số vuông. Kết quả 850 xác chết Việt Minh, 10.000 bị bắt làm tù binh. Ngày 12/10/51, sau 14 ngày kịch chiến ở quanh Nghĩa Lộ, số người chết 1.000 Việt Minh, và 300 Pháp. 

Ngày 10/11/51, Tướng De Linarès tổ chức thành ba đạo quân chiếm đóng Chợ Đồn, Hà Đông, và xây nhiều Pháo Đài phòng thủ. Ngày 13/11/51, từ đêm qua Pháp đem Đại quân gồm 12 Tiểu đoàn Bộ binh, 2 Tiểu đoàn Việt Nam, 3 Tiểu đoàn Nhảy dù, 2 Đại đội Thiết giáp chia làm hai cánh: một từ Hà Đông, một từ Sơn Tây tái chiếm Hòa Bình. Hàng vạn người Mường và Thổ theo Pháp về Trung Châu từ năm ngoái, giờ lại hồi cư lên núi. Ngày 27/11/51, tướng Salan mở cuộc hành quân vùng Lao Đông để giảm áp lưc Việt Minh về phía Hòa Bình. Kịch chiến, hai bên cùng bị thiệt hại lớn, vừa chết vừa bị thương lên tới vài ngàn người. Ngày 30/11/51, tại Nghĩa Lộ một Tiểu đoàn Thái phải chống hơn 4 Tiểu đoàn Việt Minh trong 3 ngày 3 đêm, Việt Minh để lại hơn 1000 xác chết. Ngày 3/12/51, đêm qua đồn Tu Vũ, Hòa Bình bị tấn công mạnh, nhưng không mất. Pháp phản công càn quét quanh núi Ba Vì.

Ngày 10/12/51, Pháp mở cuộc hành quân vùng Sông Đuống, Sông Thái Bình. Ngày 30/12/51, đêm qua Chợ Bến bị nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tấn công. Ngày 6/1/52, Trung úy Leclere con trai Đại tướng Leclere bị thương và bị bắt làm tù binh trên Sông Đáy. Cùng ngày 6/1/52, Vandanberghe Trung đoàn trưởng Quyết tử Lê Dương tử trận gần Nam Định. Ngày 14/2/52, quân Pháp tảo thanh tại Trà Lý, Thái Bình. Ngày 22/2/52, vì áp lực nặng từ các Sư đoàn 304 và 320 của Việt Minh, quân Pháp rút khỏi Thái Bình, dọc đường số 6 bị nhiều trận phục kích. Trong 24 giờ qua, Pháp phải bắn 20.000 quả đại bác yểm trợ cho các đoàn quân rút về Hà Đông. Ngày 25/2/52, Pháp đã rút hết 22.000 quân đồn trú tại Hòa Bình. Nhiều dân Mường và Thổ một lần nữa lại theo về Hà Đông và Hà Nội.

TẠI NAM BẮC CAO LY. Ngày 19/2/51, quân Liên Hiệp Quốc tái chiếm Hán Thành. Ngày 14/3/51, quân Liên Hiệp Quốc tái chiếm nhiều địa điểm gần vỉ tuyến 38. Ngày 21/3/51, tái chiếm thành phố Chun-Chon. Ngày 5/4/51, tướng Mac Arthur tuyên bố có 630.000 quân Trung Cộng gần biên giới Bắc Cao Ly, và phàn nàn bị các nhà chính trị bó tay không cho oanh tạc. Ngày 10/4/51, dư luận ở Liên Hiệp Quốc và ở Âu Mỹ sôi nổi vê lời tuyên bố của Mac Arthur. Ngày 11/4/51, tướng Mac Arthur bị Tổng thống Truman cất chức Tổng tư lệnh tại Cao Ly. Tướng Ridway được cử thay Mac Arthur. Ngày 22/4/51, quân Trung Cộng tấn công rất mạnh và tiến về Hán Thành. Ngày 27/4/51, Hán Thành thất thủ lần nữa. Chánh phủ Lý Thừa Vãn lại dời về Fusan. Hơn 6.000 đại bác bị phá trên các mặt trận. 

Ngày 27/5/51, quân Liên Hiệp Quốc tái chiếm Thị trấn Ịnje. Ngày 11/6/51, tái chiếm vài Thị trấn ở bên trên Vỹ tuyến 38 phần đất Bắc Cao Ly. Ngày 23/6/51, Malik đại biểu Liên xô tuyên bố tại Liên Hiệp Quốc, hai bên đối phương ở Cao Ly nên mở cuộc đàm phán, đình chiến và rút quân. Ngày 29/6/51, tướng Ridway Tổng Tư lệnh quân Liên Hiệp Quốc, gởi thông điệp mời các Tổng Tư lệnh Trung Cộng và Bắc Cao Ly tới họp tại cảng Wonsen trên một chiếc tàu của Đan Mạch. Ngày 1/7/51, Tổng Tư lệnh Trung Cộng và Bắc Cao Ly nhận lời tới họp ngày 10/7/51, tại Thành phố Keason nguyên Thủ đô Bắc Cao Ly. Ngày 26/7/51, sau nhiều lần họp, ngưng họp, họp lại, các Phái đoàn Quân sự Trung Cộng, Bắc Cao Ly, và Liên Hiệp Quốc đạt tới một thỏa hiệp về một số điều khoản. 

Ngày 29/11/51, Hội nghị Bàn Môn Điếm (cách Keason 10 cây số) vẫn bàn về các thủ tục và chi tiết. Ngày 17/2/52, Hội nghị Bàn Môn Điếm đã đạt được Thỏa hiệp “3 tháng sau khi đình chiến phải họp Hội nghị Chính trị Nam-Bắc Cao Ly”. Các mặt trận tạm yên.

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. Ngày 31/3/51, Thủ tướng Trần văn Hữu được gia hạn quyền ban hành các biện pháp đối phó với các hành động phá hoại an ninh. Ngày 11/4/51, Quốc trưởng Bảo Đại tăng tiền cấp dưởng cho một số người Hoàng tộc: Vua Thánh Thái và gia quyến 10.000$ một tháng; Quả phụ vua Hàm Nghi và các con 900.000 quan một năm; bà Vương phi vua Thành Thái 1.500$ mỗi tháng; mỗi con vua Duy Tân 200$ mỗi tháng; hai bà Công chúa 1.000$ mỗi tháng. Ngày 12/4/51, Ngân sách ba Phần được chuẩn y: Bắc Việt 295.000.000$ (1949), 815.000.000$ (1950); Trung Việt 247.000.000$ (1949); Nam Việt 683.013.500$ (1950). Ngày 19/4/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 6 quy định “Quy chế tạm thời ngành Hàng Hải”. Ngày 19/4/51, Sở Canh Nông và Mục súc tại Hà Nôi cũng được chuyn giao cho Việt Nam. 

Ngày 6/5/51, Bác sĩ Trần Văn Đôn, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Anh Quốc trình Ủy nhiệm thư lên Anh Hoàng. Ủy nhiệm thư do Quốc trưởng Bảo Đại ký với sự thỏa hiệp của chủ tịch Liên Hiệp Pháp. Ngày 11/5/51, Thanh tra Mật thám Pháp tại Đà Lạt, ông Haaz bị một bọn khủng bố hạ sát bằng tiểu liên. Vài giờ sau đó Phó Thanh tra Jumeau đòi Thị Trưởng Trần Đình Quế giao cho y 14 tù binh và 6 nữ cán bộ bị giam, Giám đốc Công An Việt Nam đi vắng, Jumeau cho bắn hết cả 20 người. Ngày 13/5/51, Quốc trưởng Bảo Đại huyền chức Thị trưởng Trần Đình Quế. Ngày 6/6/51, ban hành Nghị định 264/Cab/SG thiết lập tỉnh Bùi Chu gồm các quận của tỉnh Nam Định củ: Hải Hậu, Giao Thủy, Xuân Trường, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Nam Trực. Ngày 9/6/51, Thủ hiến Bắc Việt ban hành Nghị định 2965/THP chỉ rõ các Quận Quản Oai, và Bất Bạt thuộc tỉnh Phú Thọ được sát nhập tỉnh Sơn Tây. 

Ngày 13/6/51, từ kết quả cuộc “hành quân Sứa Biển-Mesduse”, Thủ hiến Bắc Việt thiết lập Khu Bình định Vĩnh Ninh gồm một phần Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Phụ Dực, Đồng Quan, một Đại diện Thủ hiến được cử để lo việc bình định. Ngày 15/6/51, Tổng trưởng An ninh Nguyễn văn Tâm được ủy quyền “tiện nghi hành sự” bình định ở những vùng mới được giải phóng ở Bắc Việt do kết quả cuộc hành quân Sứa Biển Méduse, và Bò Sát Reptile đưa lại. Cùng ngày 15/6/51, Thủ tướng ký Nghị định 291/Cab/SG thiết lập Quốc gia Kiến ốc cuộc để xây nhà rẻ tiền bán cho dân chúng. Ngày 18/6/51, Tổ chức Văn hóa Quốc tế (UNESCO) chấp thuận cho Việt, Mên, Lào gia nhập. Ngày 13/7/51, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội xem xét tình hình. Ngày 20/7/51, Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo nghỉ dài hạn, Trần Văn Lý được cử lên thay. 

Ngày 16/8/51, Nghị định 399/NĐ vé số Kiến thiết được phép phát hành, sẽ xổ số lần đầu tiên vào ngày 15/11/1951, lô độc đắc là 1 triệu đồng. Ngày 15/9/51, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 747/Cab/SG, buộc các Thành phố, Thị xã, Tỉnh lỵ, phải lập “Đồ án tu chính, Khuếch trương và Mỹ thuật” hóa. Ngày 1/10/51, Pháp chuyễn giao Nha Ngân Khố cho Việt Nam. Ngày 3/10/51, Công ty Hàng Không Việt Nam (Air Việt Nam) chính thức thành lập 50% vốn của Việt Nam, và 50% vốn của PhápNgày 18/12/51, Việt Nam gởi đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc. Đơn do đại biểu Pháp Chauvel chuyễn cho Tổng Thơ Ký Trygve Lie. Ngày 7/3/52, để đáp ứng với tình hình mới, Thủ tướng Trần Văn Hữu cải tổ Nội các. Cùng ngày 7/3/52, Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận danh sách “Nội các Cải tổ” của Thủ tướng Trần Văn Hữu (SL 21/QT).

THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ (3/52 – 6/52): Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng, và Tài chánh, Trần Văn Hữu;Tổng trưởng Tư phápVương Quang NhườngTổng trưởng Ngoại giaoNguyễn Trung VinhTổng trưởng Nội vụNguyễn Văn TâmTổng trưởng Canh nông, Lê Văn Hoạch; Tổng trưởng Lao Động, Xã hội, Nguyễn Chánh Hải; Tổng trưởng Giáo dục, Nguyễn Thành Giung; Tổng trưởng Công chánh Giao thông, Lê Quang Huy; Tổng trưởng Kế hoach Kiến thiếtNguyễn Duy ThanhTổng trưởng Phụ tá Quốc phòng, Nghiêm Văn Tri; Quốc vụ khanh, Nguyễn Hữu Trác; Bộ trưởng Phủ thủ tướng, Đinh Xuân Quảng. 

THÀNH LẬP BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN ĐỘI VIỆT NAM. Ngày 12/4/52, thành lập Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Việt Nam (NĐ 147/QĐ/). Ngày 8/5/52, Khánh thành Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang. Ngày 12/5/52, Đoàn Nữ Trợ Tá Quân đội Việt Nam được thành lập gồm Nữ Trợ Tá Quân Y, và Nữ Trợ Tá Chuyên môn khác. 2. Ngày 25/5/52, nhân “ngày Quốc Khánh”, Quốc trưởng Bảo Đại duyệt 5.000 quân Việt Nam tại Hà Nội. Ngày 6/6/52, thành lập Hội đồng Phòng thủ Quốc gia, gồm: Thủ tướng, các Tổng trưởng Quốc phòng, Nội vụ, Tài chánh, Khâm mạng tại Hoàng Triều Cương Thổ (SL 50/CP).  Ngày 17/6/52, Việt Nam hiện có 40 Tiểu đoàn Bộ binh, và 1 Tiểu đoàn Không quân. Mên có 6 Tiểu đoàn. Lào cũng có 6 Tiểu đoàn. Ngày 18/6/52, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố Mỹ tăng viện trợ để giúp các Quốc gia Liên kết tăng cường Quân lực. hiện Mỹ gánh một phần ba kinh phí chiến tranh Đông Dương.

LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP, MỸ VÀ VIỆT, MIÊN, LÀO. Ngày 23/5/52, Quốc hội Mỹ chấp thuận viện trợ kinh tế cho Việt Nam 23.500.000 Mỹ kim. Một Phái đoàn Kinh tế và Kỷ thuật được đặt tại sài Gòn. Ngày 26/5/52, Pháp chuyển giao “đường Hỏa xa và Sở Hỏa xa” cho Việt Nam và Cao Mên. Ngày 10/3/52, Hoa Kỳ chuyển cho Pháp 52 phóng pháo B 26, và 12 Thủy phi cơ Grumann Goose. Ngày 11/3/52.  Sơn Ngọc Thành Cựu Thủ tướng Cao Mên mất tích, có tin là bỏ trốn ra bưng chống Pháp và chống cả Chính phủ Hoàng gia. Ngày 12/3/52, Bộ trưởng Letourneau cải chính tin đồn Pháp sắp điều đình với Hồ Chí Minh, chưa phải lúc. Ngày 1/4/52, Bộ trưởng Quốc gia Liên kết Letourneau được cử kiêm nhiệm Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Giúp việc tại đây có Salan Tổng Tư lệnh, và Gautier Tổng Thư ký Phủ Cao ủy. 

Ngày 26/5/52, Sinh viên theo Sơn Ngọc Thành biểu tình chống Pháp tại Cao Mên. Ngày 28/5/52, chuyến tàu thứ 150 của Mỹ chở vũ khí cho quân đội Liên Hiệp Pháp cập bến Sài gòn. Ngày 15/6/52 vì các đảng phái lục đục, lại có khuynh hướng chống Pháp, Mên hoàng Sihanouk giải tán chính phủ và đích thân cầm quyền. Ngày 17/6/52, Bộ trưởng Cao Ủy Letourneau tuyên bố hiện nay ở Đông Dương chỉ còn 1.400 Công chức Pháp, so với 7.000 năm 1949.

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 12/3/52, tại Thái Bình, 5 Trung đoàn Lưu động với sự yểm trợ của Thủy quân và Không quân Pháp hành quân càn quét vùng Trà Lý và Sông Diêm Hồ. Ngày 6/5/52, tướng Salan, Tổng Tư lệnh tuyên bố sẽ dồn lực bình định Trung Châu Bắc Việt, không cho địch lấy thóc trong dân chúng. Ngày 15/5/52, từ cuối tháng trước, Pháp mở nhiều cuộc hành quân ở Trung Châu Bắc Việt như hành quân “Lạc Đà=Dromadaire” vùng Hưng Yên và Bùi Chu, hành quân “Tango” mạn Phúc Yên và Sông Đuống.v.v. Ngày 2/6/52, Pháp mở cuộc hành quân “Sơn Dương=Antilope” vùng Duy Tiên, Phủ Lý, Hưng Yên.

TẠI NAM BẮC CAO LYNgày 10/3/52, tại Bàn Môn Điếm Trung Cộng tố cáo Mỹ dùng vũ khí có vi trùng. Ngày 7/5/52, tướng Clark được bổ làm Tổng Tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Quốc tại Cao Ly thay tướng Ridway. Ngày 23/6/52, có tới 500 phóng pháo Hoa Kỳ ném xuống các nhà máy Thủy điện bên sông Yalu. Có dư luận Quốc tế rằng Mỹ không đồng ý với Anh trong cuộc Nghị hòa ở Cao Ly.

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁCNgày 18/3/52, Nguyên Bộ trưởng Phạm Văn Bính được bổ Thủ hiến Bắc Việt; và Giám đốc Tài chánh Hồ Quang Hoài được bổ Thủ hiến Nam Việt. Ngày 1/4/52, quyền “Phát minh Sáng chế” được bảo vệ, và được cấp bằng. Ngày 4/4/52, các Sắc dân Sơn cước thuộc Hoàng Triều Cương Thổ được quy chế đặc biệt: Tù trưởng, Hội đồng Hoàng Triếu Cương Thổ, Tòa án Phong tục (Dụ 27/QT/TD). Ngày 7/4/52, thành lập Trường Quốc gia Hành chánh ở Đà Lạt để đào tạo các cấp Chỉ huy Hành chánh (NĐ 246/Cab/SG). Ngày 24/4/52, hai Tòa Đại diện Quốc trưởng tại hai vùng Hoàng Triều Cương Thổ Bắc và Nam sáp nhập làm một mang tên mới là thành Tòa Khâm Mạng (SL 28/QT/TD). Và, Đổng lý Văn, Võ phòng Nguyễn Đệ kiêm nhiệm chức Khâm mạng. 

Ngày 16/5/52, giá gạo tăng nhanh tại Hà Nội gạo 1,25% tấm từ 250$ lên tới 530-559$ một tạ, tại Sài Gòn cũng lên tới 345$ một tạ. Ngày 27/5/52, tại Lai Châu, Lễ sáp nhập miền Thái thuộc Đèo Văn Long vào Hoàng Triều Cương Thổ miền Bắc. Ngày 14/6/52, Phủ Thủ hiến Bắc Việt vẫn “chọn Quận trưởng trong số những người tình nguyện” qua “Hội đồng xét năng lực” sẽ được thành lập.

 

Bài 182: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN TÂM: 6/1952-1/53.

Ngày 2/6/52, Quốc trưởng Bảo Đại triệu Tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm lên Đà Lạt ủy lập Chính phủ. Ngày 3/6/52, Quốc trưởng Bảo Đại giải tán Chính phủ Trần Văn Hữu. Ngày 25/6/52, Nguyễn Văn Tâm trình danh sách Nội các lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận trong một buổi lể tựu chức trang trọng (SL 49/QT). THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng, kiêm Nội VụNguyễn Văn Tâm; Phó thủ tướng kiêm Thông tin, Tuyên truyền, Phan Văn GiáoPhó Thủ tướng kiêm Cựu binh, Phế binh, Ngô Thúc Địch; Tổng trưởng Quốc phòng, Nghiêm Văn TriTổng trưởng Tài chánh, Kinh tếNguyễn Huy LaiTổng trưởng Ngoại giaoTrương Vĩnh TốngTổng trưởng Tư phápLê Tấn NẫmTổng trưởng Giáo dục, Nguyễn Thành GiungTổng trưởng Công chánh, Bưu điệnLê Quang Huy; Tổng trưởng Y tế, Lê Văn HoạchTổng trưởng Xã hội, Lao độngLê ThăngBộ trưởng Canh nôngCung Đình QuỳBộ trưởng Bình định, Quy thuận, Hoàng Nam Hùng; Quốc vụ khanh, Vũ Hồng Khanh; Thứ trưởng Nghiên cứu, Cải cách, Trần Văn Quế.

HỘI ĐỒNG QUỐC GIA LÂM THỜI. Ngày 10/7/52, thành lập Hội đồng Quốc gia Lâm thời gồm 21 Hội viên do Quốc trưởng chỉ định với nhiệm vụ “Tư Vấn mọi vấn đề” (Dụ số 14) cho tới khi có Quốc Hội. Cùng ngày 10/7/52, ban hành Luật Lao động. Ngày 28/7/51, thành lập Ủy Ban Nghiên cứu “Cải cách Điền địa”. Ngày 30/7/52, Hoàng thân Bửu Lộc được bổ Cao ủy (Đại sứ) Việt Nam tại Pháp.Ngày 2/8/52, Chính phủ Nguyễn Văn Tâm chấp thuận “Dự án Ngân sách”, Đến bây giờ Việt Nam mới có một Dự án Ngân sách hợp lệ đầu tiên: PHẦN CHI: 8.600.000.000$ gồm: 4.700.000.000$ quân phí; 550.000.000$ an ninh; 400.000.000$ bình định; 300.000.000$ giáo dục; 475.000.000$ công chính; 270.000.000$ Y tế và Xã hội. 

PHẦN THU: 3.425.000.000$ từ ngoài gồm: 3.000.000.000$ do Pháp đóng góp về quân phí, và 425.000.000$ Viện trợ Kinh tế của Mỹ. Phần THU còn lại do các thứ thuế trong nước. Ngày 28/8/52, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ký bổ nhiệm 21 Hội viên Hội đồng Quốc gia Lâm thời; 8 Bắc, 8 Nam, 5 Trung. Ngày 1/9/52, Hội đồng Quốc gia Lâm thời nhóm họp phiên đầu tiên tại tòa Đô Sảnh Sài Gòn. Ngày 4/9/52, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Tổng thống Pháp Auroil tại nhà nghỉ Muret bàn thảo các vấn đề liên quan như Cao ủy Việt Nam nên được mang danh hiệu Đại sứ, Việt Nam nên được vào Liên Hiệp Quốc, Quân đội Việt Nam cần được phát triển nhanh hơn nữa. Ngày 16/9/52, Cao uỷ Bửu Lộc trình uỷ nhiệm thư lên tổng thống Pháp Auriol. Ngày 19/9/52, các Hội viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho Việt, Mên, Lào gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng Nga Xô phủ quyết. 

Ngày 1/10/52, Dân số Hà Nội năm 1952: người Việt 267.715; và 17.745 Pháp kiều. Ngày 10/10/52, tại Pháp Quốc trưởng Bảo Đại hội đàm với Tổng thống Pháp Auroil, lần nầy có các Bộ trưởng Cao ủy Letourneau, Chévigné. Ngày 14/11/52, Cựu Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí được tái bổ chức vụ điều khiển Bắc Việt. Ngày 15/11/52, ba tỉnh Bến Tre, Gò Công, Tân An do nhà binh Pháp quản trị, được giao trả cho Chính phủ Việt Nam. Ngày 16/11/52, ban hành “Quy chế nghề nghiệp”. Nghiệp đoàn được thành lập sau khi nộp điều lệ, và cấp biên lai (Dụ số 23). Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ đóng quân của Pháp tại Nà-Sản. Ngày 1/12/52, Bộ Quốc phòng Việt Nam gọi nhập ngũ các thanh niên từ 20 đến 28 tuổi có bằng Cao đẳng Tiểu học để theo học các lớp Sĩ quan. 

THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VÀ THỦ ĐÔ. Ngày 9/12/52, Ngân sách xây dựng dành cho Kiến Ốc Cục năm 1952 là 53 triệu đồng. Ngày 12/12/52, tại Sài Gòn, Hội đồng các Thủ hiến họp bàn về cách thức bầu cử các Hội đồng thành phố và Thị xã. Ngày 27/12/52, thành lập các Hội đồng Thành phố và Thủ đô: Hội đồng hàng Quận ở 7 Quận Đô thành tại Sài gòn-Chợ lớn; Hội đồng Quản trị Đô thành: 22 Hội viên Việt, Pháp, Tàu; Hội đồng Thành phố Hà Nội:18 Hội viên Việt, 6 Pháp; Hội đồng Thành phố Hải Phòng: 15 Hội viên Việt, 9 Pháp. Tại Huế: Hội đồng Thành phố Huế: 12 Hội viên Việt Nam; Hội đồng Thành phố Đà Nẳng:18 Hội viên Việt, 5 Pháp. Cách thức bầu cử do Thủ tướng ấn định. Hội viên Pháp do Thủ tướng chỉ định. Ngày 31/12/52, Tại Đà Lạt: cũng có Hội đồng Thành phố Đà Lạt gồm 9 Hội viên Việt Nam, 1 Hội viên Cao nguyên, và 6 Hội viên Pháp (SL 35/QT/TD)...

LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP, MỸ VÀ VIỆT, MIÊN, LÀO. Ngày 27/6/52, Bộ trưởng Chiến tranh Pháp De Chevigné tuyên bố trước Hội đồng Cộng hòa, rằng từ 1945 đến 1/4/1952 số thiệt hại của Pháp tại Đông Dương là chết 30.060 quân sĩgồm: 1.247 sĩ quan Pháp, 4.233 hạ sĩ quan Pháp, 5.488 Lê Dương, 5.024 Bắc Phi, 17.068 quân bản xứ Đông Dương. Ngày 24/7/52, Hội nghị Kinh tế Liên Quốc Pháp, Việt, Mên, Lào nhóm họp tai Sài Gòn thảo luận chương trình nhập cảng, xuất cảng; và ấn định sự điều hành một số Cơ quan chung như Viện Phát Hành, Túc Mể Cục, Ủy ban Sông Mê Kông, Trường Viễn Đông Bác Cổ.v.v.. Ngày 4/9/52, Hội nghị Kinh tế Liên quốc Pau bế mac. Kết quả: Chia thuế quan cho Việt Nam 75%; 21% cho Mên; Và 4% cho Lào; Chia phần Ngoại tệ để nhập cảng. Ngày 16/9/52, Cao uỷ Bửu Lộc trình uỷ nhiệm thư lên tổng thống Pháp Auriol. 

Ngày 19/9/51, các Hội viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho Việt, Mên, Lào gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng Nga Xô phủ quyết. Ngày 8/10/52, Pháp yêu cầu Mỹ viện trợ 650 triệu Mỹ kim, nhưng Quốc hội Mỹ chỉ chấp thuận 525 triệu. Ngày 5/11/52.. tướng Eisenhower đắc cử Tổng thống, vượt trội đối thủ Stevenson 6 triệu phiếu. Ngày 20/11/52, tại Pháp, Thượng Hội đồng Liên Hiệp Pháp họp lần thứ hai, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm tham dự. Hội đồng xác nhận “Không có Chiến tranh Đông Dương, chỉ có cuộc nổi loạn của Cộng sản chống một Quốc gia độc lập và thân hữu của Pháp”. Ngày 3/12/52, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ở Pháp về tuyên bố, cần thắt chặt tinh thần với Cao Mên, và sẽ đặt Tòa Đại sứ Việt Nam tại Nam Vang.

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 29/6/52, Pháp mở cuộc hành quân tảo thanh ở Đông Triều, Kinh Môn, và Bắc Phát Diệm. Ngày 4/7/52, Pháp mở cuộc hành quân “Làn gió mát=Zéphir ở vùng Giồng Riềng, Vị Thanh, Thới Lai (Hậu Giang) từ cuối tháng 6 tới nay, phá hủy nhiều căn cứ, tịch thu nhiều võ khí của Đại đoàn 307 Việt Minh. Cùng ngày 4/7, kịch chiến ở Thọ Lão, Kẻ Sặt một Trung đoàn Việt Minh chặn đánh một Đoàn Lưu động Pháp. Ngày 13/7/52, Pháp mở cuộc hành quân Quaddrille tảo thanh mạnh ở vùng Phú Vang, Thừa Thiên. Ngày 15/7/52, đồn Tondray cách Kontum 70 cây số bị quân Việt Minh tấn công mạnh. Ngày 20/7/52, tại Vũng Tàu, Việt Minh đột kích vào cư xá Pháp sát hại 5 sĩ quan, 3 Hạ sĩ quan, 2 phụ nữ, 6 nhi đồng Pháp, và 4 nhi đồng Việt. Ngày 24/8/52, Pháp mở cuộc hành quân “Châu chấu=Sauterelles” vùng Quảng Trị, Thừa Thiên là nơi Trung đoàn 101 vẫn lui tới. 

Ngày 11/10/52, Pháp mở cuộc hành quân vùng Ninh Bình, Phúc Nhạc, Điền Hộ với gần 10.000 quân tham chiến. Ngày 13/10/52, đồn Nghĩa Lộ bị tấn công mạnh, với hai Sư đoàn 302 và 308 vây đánh suốt ngày đêm. Ngày 18/10/52, Nghĩa Lộ thất thủ, tất cả miền núi, Trung du bị bỏ ngỏ. Ngày 29/10/52, Pháp mở cuộc hành quân Lorraines phản công ở Hưng Hóa và Phú Thọ, đánh tập hậu hai Sư đoàn 302 và 308 của Việt Minh. Ngày 1/11/52, quân Pháp vào được Hưng Hóa và Phú Thọ. Ngày 9/11/52, quân Pháp vào được Phủ Đoan. Ngày 24/11/52, quân Pháp rút khỏi Sơn La, nhưng vẫn đóng ở Phi trường Nà-Sản. Ngày 27/11/52, quân Pháp từ Yên Báy rút được về Việt Trì, và cố thủ Nà-Sản, xây nhiều Pháo đài, Lô cốt. Nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tiến về Điện Biên Phủ, Pháp đưa một Tiểu đoàn tới ngăn chặn. Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ đóng quân của Pháp tại Nà-Sản. 

Ngày 1 và 2/12/52, nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tấn công Nà-Sản, nhưng nhờ phi cơ và pháo binh nên giữ đượcBuổi chiều Việt Minh rút lui để lại vài trăm xác chết. Ngày 8/12/52, mặt trận Nà-Sản yên hẵn. Ngày 1/1/53. tính đến nay các bên tham chiến: Lưc lượng Việt Minh: 350.000 gồm: 125.000 chính quy, 75.000 chủ lực, 150.000 dân quân. Lưc lượng Liên Hiệp Pháp: 230.000 gồm: 54.000 Pháp, 30.000 Bắc Phi, 18.000 Phi, 20.000 Lê Dương, 53.000 Việt, Mên, Lào, 55.000 Phụ lực, Hải quân 5.000; Không quân 10.000 và 265 máy bay, gồm 90 phi cơ vận tải, 175 phóng pháo B26.  Quân đội Quốc gia: gồm Việt Nam: 200.000 (150.000 chủ lực, 50.000 Cảnh bị), Lào 15.000, Mên 10.000. Số Đồn ở Trung Châu Bắc Việt: 917 (gồm 80 tối tân, 25 canh tân, 810 lỗi thời) Cộng 100.000 nơi đồn trú. 

TẠI NAM BẮC CAO LYNgày 11/7/52, có hơn 650 phóng pháo cơ oanh tạc Bình Nhưỡng Thủ đô Bắc Cao Ly. Ngày 13/7/52, Chu Ân Lai phản kháng Mỹ vụ oanh tạc Bình Nhưỡng. Ngày 14/7/52, tướng Mỹ Lawton Collins tuyên bố tại Tokyo rằng còn phải đánh dữ hơn nữa cho tới khi nào Cộng sản chịu điều đình thật sự. Ngày 17/7/52, Đô đốc Fechtler Tư lệnh Hạm đội 7 tuyên bố chỉ chờ lệnh tướng Clark để tấn công Mãn Châu. Ngày 28/9/52, từ hai tháng nay Hội nghị Bàn Môn Điếm bế tắc, Mỹ đưa đề nghị mới “tù binh có quyền trở về Bắc hay Nam Cao Ly. Ngày 29/11/52, tại Cao Ly, Trung Cộng và Nga Xô bác bỏ đề nghị của Hoa Kỳ về số phận các tù binh. Cộng sản đòi “tù bình bắt buộc phải trở về nguyên xứ, không thể tự do lựa chọn cư trú sau khi phóng thích… Dư luận chung trên báo chí Âu Mỹ, rằng Nga và Trung Cộng muốn kéo dài chờ xem chính sách của chính phủ mới ở Mỹ ra sao đã.

 

Bài 183: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN TÂM: 1/1953-1/54.

Ngày 8/1/53, Sau khi Phó thủ tướng Phan Văn Giáo, và Tổng trưởng Nghiêm Văn Tri từ chức, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cải tổ Nội các. Nguyễn Văn Tâm trình danh sách Nội các lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận. THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng, kiêm Nội VụNguyễn Văn Tâm; Phó thủ tướng kiêm Thông tin, Tâm lý chiếnLê Văn HoạchPhó Thủ tướng kiêm Tài chánh, Kế hoạch, Kiến thiết, Nguyễn Huy LaiTổng trưởng Ngoại giao,Trương Vĩnh TốngTổng trưởng Quốc phòng, Phan Huy Quát; Tổng trưởng Kinh tế, Nguyễn Văn Nhung; Tổng trưởng Giáo dụcNguyễn Thành GiungTổng trưởng Tư phápLê Tấn NẫmTổng trưởng Công chánh, Viễn thôngLê Quang HuyTổng trưởng Y tế, Hàm Tấn Nghiệp; Tổng trưởng Canh nông, Cung Dình Quỳ; Tổng trưởng Lao động, Xã hộiLê Thăng; Tổng trưởng Cựu binh, Phế binhPhan Văn HuyBộ trưởng Phủ thủ tướng, Đào Đăng Vỹ; Bộ trưởng Nội vụ, Lê Quang Hộ; Bộ trưởng Thanh niên, Thể thaoVũ Hồng Khanh.

PHÁT TRIỂN QUÂN LỰC QUỐC GIA VIỆT NAM. Ngày 26/1/53, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh sang Pháp vận động phát triển Quân lực Việt Nam tuyên bố: Năm 1950 chỉ có 5 Tiểu đoàn, nay đã tổ chức xong 6 Sư đoàn, mỗi Sư đoàn gồm 9 Tiểu đoàn, 1 đội Pháo binh, và những đội chuyên môn Tình báo, Công binh, Truyền tin.v.v. Tổng số quân 167.000. Hiện có 3.500 Sĩ quan, mỗi năm đào tạo được 1.500, Còn tới 600 Sĩ quan Pháp trong quân đội Việt Nam. Ngày 28/1/53, thành lập Địa Phương Quân tại Bắc Việt để thay thế Tự Vệ Hương thôn (NĐ 314/PTH). Ngày 20/2/53, tại Bắc Việt hiện có 223 đồn Bảo Chính Đoàn, và 371 đồn Hương Dũng. Trong số 12 Tỉnh với 4.630 làng thì: có 1.442 làng có an ninh; 1.303 tạm yên; và 1.885 mất liên lạc. 

Ngày 24/2/53, tại Đà Lạt, Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa Hội nghị quân sự, có Bộ trưởng kiêm Cao Ủy Letourneau, tướng Salan, Gautier, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, Tổng trưởng Quốc phòng Lê Quang Huy, và tướng Nguyễn Văn Hinh. Hội nghị quyết định: thành lập 54 Tiểu đoàn Khinh Binh, trực thuộc Tổng Tham Mưu trưởng Việt Nam về mặt tổ chức; quản trị thì độc lập; và Tổng Tư lệnh tối cao là Quốc trưởng, nhưng vẫn chịu sự chỉ huy hợp nhất của Pháp. Ngày 29/3/53, Địa Phương Quân Bắc Việt được Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm thừa nhận, và cấp kinh phí. Ngày 10/4/53, quân đội Việt Nam nhận được 13 tàu thủy cở nhỏ của Hoa Kỳ viện trợ. Ngày 25/6/53, các Tiểu khu quân sự Vĩnh Long và Trà Vinh được chuyễn giao cho quân đội Việt Nam. Có một số Vệ binh bỏ ra bưng. 

Cùng ngày 25/6/53, thành lập một trường Cao Đẳng Võ Bị để đào tạo chỉ huy Cao cấp cho Quân đội Quốc gia Việt Nam (SL số 59/QP). Ngày 29/6/53, tất cả Công dân từ 20 đến 45 tuổi phải thi hành Quân dịch: “Một Quy chế ấn định cho Quân đội Hiện dịch và Trừ bị; Đặt lệ kiểm tra Trưng binh, Nhập ngũ, Miễn dịch, Hoãn dịnh, Trừ dịch, Đầu quân, Tái đăng, Động viên (Dụ số 29, với 109 điều). Thời hạn Quân dịch là 2 năm (Dụ số 30). Ngày 1/9/53, Tiểu khu Quân sự Bùi Chu được chuyễn giao cho Quân đội Việt Nam. Nhiều Tiểu đoàn Khinh quân Việt Nam hoạt động tại vùng này. 

LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP, MỸ VÀ VIỆT, MIÊN, LÀO. Ngày 20/1/53 Eisenhower nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ. Ngày 28/3/53, Thủ tướng Pháp René Mayer hội đàm với Tổng thống Mỹ Eisenhower và được nhận định rằng “cuộc chiến tranh ở Đông Dương cũng nhằm mục đích chống Cộng như ở Cao Ly”. Nếu nhân dịp đình chiến ở Cao Ly mà Trung Cộng tràn qua Đông Dương thì sẽ có hậu quả tai hại. Ngày 11/4/53, Mên hoàng Sihanouk sang Pháp yêu cầu Pháp trả thêm quyền, bực tức bỏ sang Mỹ, tuyên bố “nếu Pháp không trả thêm quyền, người Mên sẽ theo Cộng sản”. Ngày 13/4/1953, tại Lào, vì 3 Sư đoàn Việt Minh đang kéo tới, quân Pháp rút khỏi Sâm Neua về Đồng Chum. Ngày 19/4/53, Tại Đồng Chum, quân Pháp lập cầu không vận chở quân tiếp viện và vật liệu, xây dựng khu Phòng thủ kiên cố với 12.000 quân đồn trú. 

Ngày 22/4/53, tại Miên, Hội đồng Nội các Mên biểu quyết ủng hộ lập trường cương quyết của Mên hoàng Sihanouk đối với Pháp. Ngày 27/4/53, Pháp cải tổ Cơ cấu Đại diện Đông Dương, để phù hợp với các Thỏa ước đã ký kết với các Quốc gia Liên Kết: bỏ “Cao ủy duy nhất” thay bằng “một Tổng Ủy Viên” bỏ các “Ủy viên Cộng hòa” tại mỗi Quốc gia hoăc mỗi Phần, thay bằng “Cao Ủy”. Cùng ngày 27 tháng 4 Gautier được cử làm Cao Ủy tại Việt Nam. Ngày 10/5/53, Pháp phá giá đồng bạc Đông Dương, kể từ 11/5/53, mỗi 1$ Đông Dương từ 17 quan xuống còn 10 quan. Ba Chính phủ Việt, Mên, Lào cùng phản đối vì không được hỏi trước, trái với quy định tại các Thỏa ước đã ký ở trường hợp nầy phải hỏi ý kiến các Quốc Gia Liên Kết. Dân chúng xôn xao hoảng hốt, nhất là giới thương mại. 

Ngày 18/5/53, Việt Minh rút khỏi Luang Prabang, quân Pháp tỏa ra và tái chiếm Xieng Khoang. Ngày 28/5/53, tướng Henri Navarre, Tham mưu trưởng của thống chế Juin được cử sang làm Tổng Tư lệnh thay tướng Raoul Salan. Ngày 6/6/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm đọc diễn văn công kích chế độ Liên Hiệp Pháp và đòi thay đổi: “bãi bỏ các tòa án hổn hợp; bãi bỏ các Hiệp định Liên quốc mà Việt, Mên, Lào bị ràng buộc Pháp về kinh tế, và quan thuế; trao lại cho Quân đội Việt Nam nhiều Tiểu khu Quân sự; trả về Quốc trưởng quyền hành Tổng Tư lệnh”. Ngày 14/6/53, sau khi trao quyền cho Thủ tướng Penn Nouth, Sihanouk bỏ lánh sang Vọng Các, và gởi thông điệp: “kêu gọi dân chúng chờ ông đi vận động cho nền độc lập của Mên được hoàn toàn; ông trách Pháp giả dối trong sự “thực hiện độc lập của Cao Mên”. 

Ngày 20/6/53, Sihanouk trở về tỉnh Battambang, và tuyên bố chỉ về Thủ đô khi nào độc lập hoàn toàn. Ngày 27/6/53, Pháp gởi thêm quân sang Mên, Chính phủ Mên phản đối, và cho tăng cường quân canh gác các Công sở và Hoàng cung. Ngày 1/7/1953, tại Pháp, Joseph Laniel nhậm chức Thủ tướng, họp Hội đồng Nội các để “ấn định chính sách đối với Đông Dương”. Ngày 3/7/53, trong một bản Thông điệp gởi cho Việt, Mên, Lào, Laniel tuyên bố rằng “có nhiều tiến bộ trong các lãnh vực từ khi ký Thỏa ước năm 1949, và sửa đổi cho thích hợp với tình thế mới; Sự kiện độc lập của 3 Quốc gia Liên kết và chuyển giao nốt những thẩm quyền mà Pháp còn tạm giữ vì tình trạng chiến tranh; sẽ Thỏa hiệp với các Quốc gia Liên kết để thực hiện các điểm kể trên, và thắt chặt tình thân giữa các Quốc gia đó và Liên Hiệp Pháp. 

Ngày 21/7/53, Chính phủ Pháp chấp thuận “Kế hoạch Navarre=Plan Navarre”, theo đó: “Giao trách nhiệm nhiều hơn cho quân đội Việt Nam; Tập trung lực lượng để chờ đánh mạnh; Gởi thêm quân viện cho Không quân và Hải quân; Cử thêm Chuyên viên cho Đoàn quân viễn chinh trong quân đội Pháp”. Ngày 28/7/53, Đại sứ Maurice De Jean được cử làm Tổng Ủy Pháp tại Đông Dương. Ngày 30/7/53, Quốc hội Mỹ chấp thuận viện trợ quân sự cho Đông Dương tài khóa 1953-1954 là 400 triệu Mỹ kim. Ngày 1/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp để yêu cầu “kiện toàn độc lập theo bản tuyên ngôn 3/7/1953 của Chính phủ Laniel. Khi tới Nice, Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố rằng cần “Sửa đổi Tổ chức Liên Hiệp Pháp cho thích hợp với quyền lợi của Việt Nam và Pháp”. 

Ngày 12/8/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm gởi cho Tổng Ủy Gautier 4 bảng liệt kê những “thẩm quyền” Pháp cần giao lại cho Việt Nam, cùng với các Hiệp định cần sửa lại như: “Trưng dụng nhà cửa; Cơ quan phụ trách xăng dầu; Kiểm soát đường hỏa xa Vân Nam; Phòng thí nghiệm cảnh sát tư pháp; Điện lực; Ủy ban điều hòa vận tải; Và, các Hiệp định áp dụng Thỏa ước 8/3/1949.v.v. Ngày 28/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại, sau khi gặp Bộ trưởng Marc Jacquet, hội kiến với Tổng thống Auroil. Nhân dịp nầy, Ngoại trưởng Georges Bidault tuyên bố “Pháp sẽ thừa dịp đình chiến ở Cao Ly mà tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương”. Nhưng, không mở cuộc điều đình nào mà không hỏi ý kiến và lấy thỏa hiệp với các Chính phủ Quốc gia Liên kết. 

Ngày 2/9/53, Chính phủ Mỹ thuận viện trợ thêm 385 triệu Mỹ kim nữa trước ngày 31/12/1954, với điều kiện Pháp phải tăng cường nổ lực chiến tranh và sớm hoàn bị tổ chức các Quân đội Quốc gia Việt, Mên, Lào. Ngày 4/9/53, Quốc trưởng Bảo Đại triệu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm sang Pháp để hỏi về việc thành lập Phái đoàn thương thuyết với Pháp. Vấn đề gay go ở chỗ các đảng phái Việt Nam công kích chính phủ quá thân Pháp, và đòi hỏi triệu tập một quốc dân Đại hội….Ngày 9/9/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ở Pháp về yêu cầu các đảng phái và đoàn thể đưa 20 người tham gia Phái đoàn thương thuyết. Ngày 10/9/53, Tổng Ủy viên De Jean tuyên bố “có những dư luận quá khích muốn Việt Nam từ bỏ Liên Hiệp Pháp” rằng Pháp chiến đấu thì ít ra cũng phải có quyền lợi, rằng phải có hiệp ước để bảo vệ kinh tế và văn hóa Pháp tại Đông Dương. 

Ngày 10/9/53, Quốc trưởng Bảo Đại phái Hoàng thân Bửu Lộc về với Đạo Sắc lệnh số 73/QT triệu tập Quốc dân Đại hội. Đại hội gồm 200 đại biểu chọn trong các đảng phái, đoàn thể, tôn giáo, kinh tế, xã hội… Đại hội sẽ phát biểu ý kiến 2 vấn đề: (a) Chủ quyền quốc gia phải được tới mức nào? (b) Thể thức hợp tác Việt Pháp? Ngày 22/9/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cử một Ủy ban tổ chức Đại hội gồm đại diên 5 đoàn thể lớn “Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Công Giáo, Đại Việt, và một số nhân vật khác. Ngày 16/10/53, Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Sài Gòn và biểu quyết: “chống Liên Hiệp Pháp; đòi Việt Nam ra khỏi tổ chức này; chỉ ký với Pháp một Hiệp ước Liên minh bình đẳng mà thôi”. Ngày 15/10/53, ký Thỏa ước Lào-Pháp. 

Ngày 16/10/53, dư luận Pháp rất sôi nổi về thái độ của các Đại biểu dự Đại hội, Hoàng thân Bửu Lộc phải can thiệp cấp tốc với Đại hội, Đại hội chịu sửa lại bản Tuyên ngôn như sau: “Việt Nam độc lập không tham gia Liên Hiệp Pháp dưới hình thức hiện thời”. Ngày 17/10/53, Pháp ký Thỏa hiệp với Mên chuyển giao cho chính phủ Mên 4 Khu Quân sự gồm 11 tỉnh. Ngày 19/10/53, Quốc dân Đại hội yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại biến cải Đại hội thành Quốc hội Lập hiến. Ngày 20/10/53, Chính phủ Pháp gởi Công hàm chất vấn Quốc trưởng Bảo Đại về “lập trường của Quốc dân Đại hội”. Ngày 28/10/53, tại Pháp khi lên đường về nước, Quốc trưởng Bảo Đại bị chất vấn gắt gao về “lập trường của Quốc dân Đại hội”, Quốc trưởng hẹn trả lời sau. 

Ngày 8/11/53, Sihanouk được Quốc hội Mên suy tôn là “anh hùng dân tộc” hôm nay mới chịu hồi loan về Nam Vang và được dân chúng hoan hô. Ngày 12/11/53, Thủ tướng Pháp Laniel tuyên bố, Chính phủ Pháp không nghĩ rằng vấn đề Đông Dương nhất thiết phải có giải pháp quân sự, rằng Pháp không đòi đối phương phải đầu hàng không điều kiện, Pháp mong muốn có hòa bình. Ngày 17/11/53, Sihanouk tuyên bố nay vấn đề chủ quyền Mên đã giải quyết, Mên cương quyết chống Cộng. Ngày 26/11/53, Thượng Hội đồng Liên hiệp Pháp họp lần thứ ba, Tổng thống Auliol xác định lại rằng Liên hiệp Pháp là “Đoàn thể Huynh đệ” gồm Pháp và những Quốc gia tự do gia nhập, độc lập, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, chung lưng góp sức để phát triển văn minh riêng, tăng hạnh phúc, cùng bảo vệ an ninh. 

Ngày 12/12/53, Hội nghị Liên Hiệp Pháp bầu Albert Sarraut cựu Toàn quyền Đông Dương làm Chủ tịch, Phó chủ tịch, Nguyễn Trung Vinh. Ngày 14/12/53, trong một Thông điệp gởi quốc dân, Hồ Chí Minh tuyên bố “nếu Pháp muốn chấm dứt chiến tranh, nếu Pháp muốn giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách hòa bình, thì Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, và nhân dân Việt Nam sẵn sàng tiếp chuyện.”  Ngày 23/12/53, tại Pháp Quốc hội bỏ phiếu lần thứ 13 mới bầu được một chính khách ít người biết là René Coty làm Tổng thống nước Pháp kế nhiệm Tổng thống Auriol.

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 1/1/53. tính đến nay các bên tham chiến:  Lưc lượng Việt Minh: 350.000 gồm: 125.000 chính quy, 75.000 chủ lực, 150.000 dân quân. Lưc lượng Liên Hiệp Pháp: 230.000 gồm: 54.000 Pháp, 30.000 Bắc Phi, 18.000 Phi, 20.000 Lê Dương, 53.000 Việt, Mên, Lào, 55.000 Phụ lực, Hải quân 5.000; Không quân 10.000 và 265 máy bay, gồm 90 phi cơ vận tải, 175 phóng pháo B26. Quân đội Quốc gia: gồm Việt Nam: 200.000 (150.000 chủ lực, 50.000 Cảnh bị), Lào 15.000, Mên 10.000. Số Đồn ở Trung Châu Bắc Việt: 917 (gồm 80 tối tân, 25 canh tân, 810 lỗi thời) Cộng 100.000 nơi đồn trú. Ngày 14/1/53, Đồn lớn An Khê thất thủ, hôm sau 15/1 quân Pháp tái chiếm. Ngày 29/1/53, Pháp mở cuộc hành quân lớn tảo thanh vùng Quy Nhơn, An Khê. Ngày 6/2/53, chấm dứt cuộc hành quân vùng Quy Nhơn/ An Khê, kết quả phá hủy nhiều mật khu. 

Ngày 20/2/53, tại Bắc Việt hiện có 223 đồn Bảo Chính Đoàn, và 371 đồn Hương Dũng. Ngày 23/2/53, Tướng Cogny Tư lệnh Pháp tại Bắc Việt đích thân chỉ huy cuộc hành quân Nice ở vùng Gia Lâm, Lang Tài, Gia Bình, Đại Than, ba cánh quân xiết chặt vòng vây, cùng với máy bay ném bom napalm thiêu hủy các làng có quân Việt Minh chiếm đóng như Phú Dư, Phú Thọ, Lương Xá, Tử Nê, Ngọc Lục. Ngày 19/3/53, cuộc hành quân của 6 Tiểu đoàn Pháp tiến đánh chiếm Hòa Bình hôm 16/3, hôm nay sau khi phá hủy các cơ sở quân sự, đã rút khỏi Hòa Bình. Ngày 27/3/53 tướng Gilles chỉ huy cuộc hành quân tảo thanh “Hautes Alpes” đánh xuống vùng Phát Diệm, Thanh Hóa. Ngày 20/4/53, Tỉnh lỵ Kiến An bị đột kích, Tỉnh trưởng bị sát hại, tòa Tỉnh bị phá. Ngày 28/4/53, thành phố Nam Định bị đột nhập. Các trại lính đều bị tấn công, một trại mất 400 tân binh. Bảo Chính đoàn và Cảnh sát kháng cự mạnh. 

Ngày 4/5/53, Khu Đồng Quan, Hà Đông bị 4 tiểu đoàn Việt Minh tấn công, đồn Tri Chỉ bị phá, nhiều Bảo Chính và Hương Dũng bị chết hoặc mất tích. Ngày 10/5/53, đồn Yến Vĩ cách Hà Nội 50 cây số bị nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tấn công, nhưng đứng vững. Ngày 15/5/53, đồn Yên Vĩ lại bị tấn công, quân Pháp tiếp viện giải vây. Ngày 28/5/53, Pháp phải bỏ đồn Yên Vĩ. Ngày 19/6/53, Kho xăng dầu của hảng Shell ở Thường Lý, Kiến An, bị đột kích đốt cháy 4 triệu thùng xăng dầu. Ngày 17/7/53, hai Tiểu đoàn Pháp lại đổ bộ xuống Lạng Sơn, một Tiểu đoàn chiếm đóng Thành phố, một Tiểu đoàn phá hủy các Cơ sở quân sự. Đến trưa, một Tiểu doàn nữa được thả xuống Lộc Bình cách 20 cây số để yểm trợ cho hai Tiểu đoàn kia rút lui. Một Phân đoàn khác được gởi đến Tiên Yên để tiếp đón các Đoàn trên. 

Ngày 28/7/53 đến 4/8/53, Pháp mở cuộc hành quân “Camargue” vùng Duyên hải Quảng Trị, nơi được coi là “Phố không vui=Rue sans Joie” để phá các làng chiến đấu và căn cứ của Trung đoàn 95. Ngày 8/8/53, theo đề nghị của tướng Cogny, Tư lệnh Bắc Việt, quân Pháp rút khỏi Căn cứ Nà Sản. Mấy toán đầu về Hà Nội bằng máy bay. Hàng ngàn dân Thái, Thổ, Mường cũng theo về Thủ đô. Đến hôm nay 12/8, Pháp hoàn toàn rút khỏi Căn cứ Nà Sản. Ngày 1/9/53, Tiểu khu Quân sự Bùi Chu được chuyễn giao cho Quân đội Việt Nam. Ngày 20/9/53, Pháp mở cuộc hành quân “Brochet” tảo thanh vùng Thái Bình, Ninh Bình để phá hủy các căn cứ của Trung đoàn 52 Việt Minh. Ngày 15/10/53, Pháp mở cuộc hành quân “Hải Âu=Mouette” đánh vào các Sư đoàn 304 và 320 Việt Minh, một cánh tiến về Phủ Nho Quan và Thanh Hóa, một cánh đổ bộ ở vùng duyên hải gần Phát Diệm. 

Ngày 23/10/53, Kết quả, hành quân “Hải Âu=Mouette”, theo Bộ Tư lênh Pháp, Sư đoàn 320 Việt Minh 1.200 tử trận, 3.000 bị thương. Ngày 20/11/53, tướng Navarre mở hành quân “Castor” đổ bộ 6 Tiểu đoàn chiếm đóng Điện Biên Phủ để lập một căn cứ cố thủ ngăn chặn Việt Minh tràn qua Lào, đồng thời bảo vệ miền Trung Du. Căn cứ Điện Biên Phủ được xây dựng, có sức chứa từ 10 đên 12 Tiểu đoàn, gồm: Bộ phận Trung ương, có Phi trường và 5 đồn Claudine, Hugutte, Ann-Marie, Đominique, và Eliane; Cách 3 cây số về phía Bắc và Đông Bắc là những đồn Gabrielle và Besatrice có nhiệm vụ yểm trợ khu Trung ương; Về phía Nam cách 7 cây số là đồn Isabelle; Dây thép gai bao quanh các đồn bề rộng 50-70 thước. Ngoài ra còn có những khoảng đất gài mìn và chứa Napalm. Ngay sau đó, các tướng Ely, Blane, Bộ trưởng Pleven, Chesvigné, Mare Jacque tới thăm căn cứ, đều nhận là kiên cố. 

Ngày 22/11/53, quân Pháp ở Lai Châu đã liên lạc được với Điện Biên Phủ. Ngày 8/12/53, quân Pháp rút khỏi tỉnh lỵ Lai Châu về đóng cả ở Điện Biên Phủ. Đại tá Castries được cử làm chỉ huy Căn cứ nầy thay Thiếu tướng Gilles. Ngày 8/12/53, Các Sư đoàn Việt Minh 316, 304, 308, 312, và Đại đoàn 351, đều tiến về Điện Biên Phủ. Chừng 20.000 dân công cũng được huy động để làm công tác vận tải. Ngày 25/12/53, Pháp đã biết rõ các Sư đoàn Việt Minh bao vây căn cứ Điện Biên Phủ theo một vòng gần khép kín, Pháp chờ đợi cuộc tấn công vào thượng tuần tháng 1/1954. 

TẠI NGA VÀ NAM BẮC CAO LYNgày 5/3/53, tại Nga, Joseph Staline đứt mạch máu đầu tử 1/3 hôm nay tắt thở thọ 73 tuổi. Ngày 7/3/53, Georges Malenkov, được cử làm Thủ tướng kiêm Đệ nhất Bí thư đảng Cộng sản Nga, có 4 Phó thủ tướng là Béria, Molotov, Boulganine, Kaganovitch. Ngày 10/3/53, hai khu trục Nga Mig 15 bắn rớt một phi cơ Hoa Kỳ vì cho rằng xâm phạm không phận Đông Đức. Mỹ không phản ứng. Ngày 12/3/53, hai khu trục Nga Mig 15 lại bắn rớt một phi cơ Anh giữa Hambourg và Berlin làm 6 người chết. Và, Anh cũng không phản ứng mạnh. Ngày 14/3/53, Kroutchev được cử làm Bí thư thứ nhất đảng thay Malenkov. Ngày 15/3/53, Malenkov tuyên bố sẽ tôn trọng và bảo vệ hoà bình. Ngày 18/3/53, Nga Xô xin lỗi Anh về vụ phi cơ Anh bị bắn hạ ngày12/3. 

Ngày 20/5/53, Hội nghị Bàn Môn Điếm, gặp khó khăn vì 48.000 tù binh không muốn trở về xứ củ Bắc Cao Ly. Tới nay hai bên mới đạt thỏa thuận “Số tù binh đó sẽ được giao cho một Quốc gia Trung lập trông nom, và liệu sau. Ngày 4/6/53, Hội nghị Bàn Môn Điếm giải quyết xong vấn đề tù binh “ai không muốn về xứ củ thì được giao cho một Ủy ban gồm 5 Quốc gia Trung lập”. Ngày 17/6/53, Tổng thống Lý Thừa Vãn đột nhiên thả 27.000 tù binh Bắc Cao Ly với dụng ý phá vỡ cuộc thỏa hiệp với Cộng sản ở Bàn Môn Điếm. Ngày 17/6/53, Thợ thuyền Đông Bá Linh và nhiều thành phố Đông Đức nổi dậy chống chính phủ Cộng sản Ulbrich bởi chính phủ này buộc giới Lao động tăng năng xuất 10% mà không cho tăng lương; hàng ngàn người bị bắt giam, và 22 ngưới bị hành quyết. 

Ngày 9/7/53, tại Nga, Phó thủ tướng Béria bị cất chức Trưởng Cục Mật vụ, và trục xuất khỏi đảng Cộng sản Nga Xô. Ngày 14/7/53, đêm qua sau khi Lý Thừa Vãn tuyên bố sẽ không công nhận đình chiến, quân Trung Cộng và Bắc Cao tấn công rất mạnh vào 4 Sư đoàn quân Nam Cao. Ngày 16/7/53, quân Liên Hiệp Quốc phản công thắng lợi ở Cao Ly. Ngày 22/7/53, Bộ Ngoại giao Mỹ cam đoan với Trung Cộng và Bắc Cao Ly rằng “Nam Cao Ly sẽ tôn trọng Hiệp ước đình chiến”. Ngày 27/7/53, ký kết Hiệp ước đình chiến ở Bàn Môn Điếm, ấn định: “Một vùng Phi quân sự 2 cây số bên nầy và bên kia vĩ tuyến 38; Thành lâp một Ủy ban Kiểm soát đình chiến; Ấn Độ sẽ quản trị những tù binh không muốn trở về xứ củ; Trong vòng 3 tháng sẽ nhóm họp Hội nghị Chính trị để định việc rút quân ngoại quốc ra khỏi Cao Ly, và “bàn việc thống nhất Nam-Bắc”. 

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC CỦA CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN TÂMNgày 19/2/53, Hội đồng thành phố Hà Nội tựu chức. Hội viên Nguyễn Thế Truyền đọc diễn văn có tính cách chính trị, không nói đến công việc hành chánh, tài chánh thuộc nhiệm vụ của Hội đồng. Ngày 19/3/53, từ nay các Xã sẽ có một Hội đồng Hương Chính do dân bầu gồm: 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 Tổng thơ ký, và một số Ủy viên, tối đa là 9 người. (SL34/NV). Ngày 1/4/53, Chính phủ ban hành Nghị định (NĐ200/Cab/SG) thành lập Ủy ban Quốc gia Khảo cứu Khoa học và Kỷ thuật. Ngày 2/4/53, ban hành chế độ thuê nhà và cho thuê: người thuê có quyền lưu cư, quyền đòi lại nhà bị hạn chế (Dụ số 4). Ngày 13/4/53, ban hành các Bộ luật về thuế: Thuế Điền thổ; Thuế Môn bài; Thuế Giàn thu; Thuế Lợi tức (các Dụ số 7,8,9,và 10). Ngày 4/5/53, thành lập Hải cảng Đà nẳng, và Cơ cấu Tổ chức cho Hải cảng nầy (NĐ 281,và 283/SG). 

Ngày 11/5/53, việc Pháp phá giá đồng bạc Đông Dương ngày 10/5/53, hôm nay giá vàng 2.700$ một lạng buổi sáng tăng vọt lên 3.800$ vào buổi chiều. Ngày 12/5/53, Chính phủ Việt Nam ban hành cấp tốc một số biện pháp ứng phó với sự phá giá đồng bạc: “Đình chỉ mọi xuất cảng; Kiểm tra số thóc gạo, thực phẩm, cùng hóa phẩm tối cần; Hạn chế các vụ nhập cảng không tối yếu; Đặt thuế quân bình giữa hai giá củ và mới đối với các mặt hàng nhập cảng; Giữ nguyên mức giá hàng và lương bổng, xét lại tháng lương sau; Xét lại giá biểu quan thuế, bưu điện”. Ngày 4/6/53, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ 19,20,21, và 22 quy định “Chế độ Cải cách Điền địa”: “Địa tô tối đa 15% hoa màu; Diện tích tối đa của Điền chủ từ 36 đến 100 mẩu tây tùy từng Phần và số con; Thu hồi những phần Đồn điền không khai khẩn để chia cho Tá điền; Người cấy ruộng hoang từ 3 năm trở lên, được quyền tiếp tục”.

Ngày 22/6/53, mỗi tỉnh sẽ có một Hội Đồng hàng Tỉnh từ 10 đến 20 Hội viên do các Hội đồng Hương chính bầu lên với nhiệm kỳ 3 năm, có “Nhiệm vụ Tư vấn” cho tỉnh trưởng. Ngày 6/7/53, trên 30 ngàn quân Tàu Tưởng xâm nhập Việt Nam trái phép bị đưa ra tạm trú đảo Phú Quốc từ năm 1949-1950, nay được 30 chiếc tàu của Chính phủ Tưởng Giới Thạch chở về Đài Loan. Ngày 17/12/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm từ chức. Cùng ngày 17/12 Quốc trưởng Bảo Đại ủy Hoàng thân Bửu Lộc lập Chính phủ mới. Ngày 1/1/54, tiền cấp dưởng cho 5 người con vua Duy tân, mỗi người 1 tháng 340$ (SL số 2/CT). 

 

Bài 184: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN PHÚC BỬU LỘC:1954.

Ngày 17/12/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm từ chức. Cùng ngày 17/12 Quốc trưởng Bảo Đại ủy Hoàng thân Bửu Lộc lập Chính phủ mới. Ngày 24/12/53, Hoàng thân Bửu Lộc từ Ba Lê về nước để lập Chính phủ mới. Ngày 11/1/54, Hoàng Thân Bửu Lộc trình danh sách thành viên Chính phủ, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp nhận (SL4/CP).THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng, kiêm Nội Vụ, Nguyễn Phúc Bửu Lộc; Phó thủ tướng kiêm Canh Nông, Cải cách Điền địa,Nguyễn Trung Vinh; Quốc vụ khanh, Nguyễn ĐệTổng trưởng Cải cách Dân chủ, Phan Huy QuátTổng trưởng Quốc phòngNguyễn Đắc KhêTổng trưởng Ngoại giaoNguyễn Quốc ĐịnhTổng trưởng Tài chánh, Dương Tấn TàiTổng trưởng Kinh tế Kế hoạch, Nguyễn Văn TỵTổng trưởng Tư pháp, Nguyễn Văn ĐạmTổng trưởng Thông tinLê ThăngTổng trưởng Giao thông, Công chánh, Lê Quang Huy; Tổng trưởng Y tế, Cựu chiến binh, Tấn Hàm NghiệpTổng trưởng Xã hội, Lao độngPhạm Văn HuyếnPhó Tổng trưởng Nội vụĐinh Xuân QuảngBộ trưởng Quyền Tổng trưởng Giáo dụcVũ Quốc Thúc

BÌNH ĐỊNH NAM, NGÃI, BÌNH, PHÚ. Ngày 8/1/54, Thủ hiến Trung Việt Trung tướng Phan Văn Giáo đươc toàn quyền dân chính và quân sự để bình định Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên (SL3a/QT). Ngày 14/1/54, Tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) chỉ huy lực lương Hòa Hảo Dân Xã, được gia nhập quân đội Quốc gia với cấp bậc Trung tá thực thụ trừ bị, và Đại tá giả định. Ngày 2 6/1/54, thành lập Nha Tổng Giám đốc Công vụ (NĐ số 58/VN). Ngày 30/1/54, thành lập Ủy ban Diệt Hối lộ tại Bộ Tư pháp gồm đại diện các Bộ và 2 nhân sĩ (NĐ 96/TP). Ngày 22/2/54, Quốc trưởng chỉ định một Phái đoàn Việt Nam đàm phán với Pháp các vấn đề “độc lập và chủ quyền của Việt Nam”. Chủ tịch Bửu Lộc, Phó Chủ tịch Nguyễn Trung Vinh, Ủy viên Nguyễn Quốc Định, Phan Huy Quát, Nguyễn Đắc Khê, Dương Tấn Tài, Nguyễn Văn Đạm, Nguyễn Văn Tỵ, và Vũ Quốc Thúc. 

Cùng ngày 22/2/54, một phái đoàn Nghị sĩ mới được cử vào Hội nghị Liên hiệp Pháp thay cho Phái đoàn năm 1950 gồm: Bà Trần Văn Chương, Phạm Văn Bính, Cao Văn Chiêu, Jacques Lê Văn Định, Bửu Kính, Nguyễn Huy Lai, Phùng Bá Nghĩa, Nguyễn Khắc Sự, Đỗ Hữu Thành, Nguyễn Hữu Thuần, Nguyễn Văn Ty, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Trung Vinh, Bùi Thế Phúc, Đoàn Hửu Giám, Huỳnh Văn Chín, Nguyễn Kim Loan, Nghiêm Văn Trí. Ngày 10/3/54, Đại tá Nguyễn Văn Vỹ được cử làm Phụ tá Quân sự cho Thủ hiến Phan Văn Giáo trong việc bình định “Nam, Ngãi, Bình, Phú”. Ngày 14/3/54, Đại Hội Quốc Dân Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt v.v nhóm họp, yêu cầu thành lập một Chính phủ tiêu biểu cho dân chúng, triệu tập Quốc hội để đối phó với tình thếNgày 18/3/54, có tin hai Phái đoàn Việt và Pháp đã thỏa hiệp được các vấn đề đại cương. 

Ngày 21/3/54, cuộc đàm phán Việt-Pháp gặp khó khăn: Việt Nam đòi ký riêng 2 hiệp ước “một công nhận Việt Nam hoàn toàn độc lập; một ấn định bang giao Việt Pháp, Pháp không nhận. Ngày 26/3/54, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội xem xét tình hình, duyệt binh ở sân Cột cờ, chứng kiến Quân đội Quốc gia tuyên thệ. Ngày 29/3/54, Quốc trưởng Bảo Đại lập một Nội các Chiến tranh thu hẹp, do Quốc trưởng chủ toạ, và hứa cử một Quốc Dân Đại Hội. Nội các Chiến tranh ở bên trên Chính phủ. Ngày 10/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp tuyên bố “không thể nào để một phần đất nước thành chư hầu Trung Cộng”. Ngày 10/4/54, Các Giáo phái tuyên bố ủng hộ Quốc trưởng. Ngày 10/4/54, Các lực lượng tôn giáo được gia nhập quân đội Quốc gia. Cao Đài 8.000, Trung tá Nguyễn Văn Huê 1.500, Văn Thành Cao (Liên Minh Cao Đài) 3.500, Thiếu tá Nguyễn Văn Đây 1.000 quân. 

GỌI 5 LỚP THANH NIỆN NHẬP NGŨ. Ngày 12/4/54, Chính phủ Việt Nam gọi 5 lớp thanh niên nhập ngũ. Ngày 16/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Tổng thống René Coty để thúc đẩy cuộc đàm phán Việt-Pháp. Ngày 21/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại gặp riêng Thủ tướng Laniel. Ngày 23/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại viết thư cho Tổng thống René Coty yêu cầu triệu tập ngay Ủy ban Thường trực Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Ngày 25/4/54, tại Ba Lê, Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố, rằng “Độc lập và chủ quyền Việt Nam, quyền bình đẳng của Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp không được bảo đảm; rằng Việt Nam không thể chấp nhận giải pháp điều đình do Pháp thỏa hiệp với kẻ phản loạn, hoặc quốc gia nào chống đối dân tộc Việt Nam, mà lại gác bỏ các Quốc gia Liên kết hoặc hy sinh các Quốc gia này”(Le Việt Nam ne saurait admettre l’esventualité des négociations par lequelles la France, contrairement d’ailleurs au principe de l’Union Francaise don elle se réclam, traiterait avec des rebelles à la Nation Viêtnamienne ou vec de puissances rebelles à celle-ci). 

Ngày 28/4/54, Thủ tướng Laniel và Nguyễn Trung Vinh ký bản tuyên ngôn chung về sự Thỏa hiệp Việt Pháp, theo đó “Pháp tôn trọng lời cam kết ngày 3/7/1953 là kiện toàn nền độc lập của Việt Nam, Việt Nam tiếp tục và củng cố thân thiện với dân tộc Pháp. Sẽ ký 2 Thỏa ước một để thừa nhận Độc lập một để đặt bang giao Việt Pháp trên lập trường bình đẳng trong Liên Hiệp Pháp. Cùng ngày 28/4/54, Hội đồng Thành phố Hà Nội, yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại từ bỏ Liên hiệp Pháp và đình chỉ cuộc đàm phán ở Ba-Lê. Ngày 8/5/54, Dư luận Pháp và Quốc tế rất sôi nổi. Dân chúng Việt Nam vô cùng hoang mang trước việc Pháp thất thủ Điện Biên Phủ. Giá vàng từ 4.000 tăng thành 4.800$ một lạng. Ngày 16/5/54, Quân đội Việt Nam được tổ chức thành: Lục quân, Thủy quân và Không quân. Lục quân gồm Địa Phương quân, Bảo Chính quân, và Vệ Quốc quân (Dụ số 9). 

PHÁP- VIỆT KÝ 2 HIỆP ƯỚC ĐỘC LẬP VÀ LIÊN HẾT VIỆT-PHÁP. Ngày 19/5/54, Chính phủ Việt Nam, Tổng Ủy viên Pháp và Hộ Pháp Phạm Công Tắc ký hiệp định để lực lượng Cao Đài gia nhập Quân đội Việt Nam. Cùng ngày 26/5 Quốc dân Đại hội nhóm họp ở Sài Gòn phản đối kịch liệt “Dự định chia đôi đất nước”. Ngày 4/6/54, Ký kết 2 Hiệp ước kiện toàn độc lâp giữa hai Thủ tướng Bửu Lộc của Việt Nam và Laniel của Pháp: “Hiệp ước Độc lập (Traité d’nidépendance)” Pháp thừa nhận Việt Nam là một Quốc gia hoàn toàn độc lập, có toàn vẹn chủ quyền, đầy đủ thẩm quyền theo Quốc tế Công Pháp, Pháp sẽ chuyển giao hết các quyền hành và công sở còn giữ. “Hiệp ước Liên kết Việt-Pháp (Traité d’association franco-viêtnamienne)”. Việt Nam thuận ở lại Liên Hiệp Pháp, Pháp và Việt Nam đều bình đẳng, hai bên hợp tác tại Thương Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Mọi vụ xung đột sẽ được xử tại Hội Đồng Trọng Tài do hai bên cử ra. 

Cùng ngày 23/6/54, Chính quyền Địa phương bắt đầu rút khỏi Bùi Chu-Phát Diệm. Ngày 29/6/54, Chính quyền Địa phương triệt thoái khỏi Nam Định và Thái Bình. Ngày 2/7/54, Bộ Tư lệnh Pháp thông cáo: sự rút quân khỏi miền duyên hải Bắc Việt chỉ để xếp đặt lại hệ thống phòng thủ theo “kế hoạch hành quân Auvergne”. Chính phủ Việt Nam thông cáo “phản đối việc quân Pháp rút khỏi miền duyên hải Bắc Việt” khiến dân chúng các tỉnh Bùi Chu, Phát Diệm, Thái Bình, Nam Định, Phủ Lý có cảm giác như bị bỏ rơi. Ngày 10/3/54, Thủ tướng Pháp Laniel tuyên bố tại Hạ Nghị viện cần giải quyết vấn đề Đông Dương bằng cách điều đình. Ngày 19/3/54, Quốc hội Pháp biểu quyết Ngân sách Chiến tranh Đông Dương 1954, là 146 tỷ quan, cộng với 155 tỷ viện trợ Mỹ, không kể 135 tỷ do Mỹ cấp để tăng cường Quân đội các Quốc gia Liên kết. 

CHÍNH SÁCH MỸ TẠI ĐÔNG NAM Á VÀ HỘI NGHỊ GENÈVE. Ngày 1/4/54, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Foster Dulles đọc diễn văn nói rõ chính sách Mỹ tại Đông Á “không thừa nhận Trung Cộng, và bảo vệ tự do cho Đông Nam Á”. Ngày 2/4/54, có tin Pháp đã thỏa thuận với Việt Minh: Việt Nam sẽ bị chia đôi. Ngày 24/4/54, Ngoại trưởng Pháp Georges Bidault thông báo cho các Chính phủ Việt, Mên, Lào rằng sẽ có một Hội nghị Quốc tế họp tại Genève để bàn về vấn đề Đông Dương. Ngày 26/4/1954, Khai mạc Hội nghị Quốc tế tại Genève về Cao Ly và Đông Dương, cứ một hôm họp về  Cao Ly, thì một hôm họp về Đông Dương. Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, Phái đoàn Quốc gia Việt Nam do Ngoại trưởng Nguyễn Định Định làm trưởng đoàn. 

Ngày 3/5/54, Tổng ủy Maurice Dejean nhân danh Chính phủ Pháp tuyên bố “không hề có ý điều đình bằng cách chia đôi Việt Nam”. Ngày 26/5/54, tại Hội nghị Genève Pháp và Việt Minh đã thỏa hiệp: ngưng bắn, thu quân về những khu vực chỉ định. Việt Minh muốn chia khu vực giản dị, nghĩa là cắt đôi Việt Nam, Việt Minh rút về Bắc, Pháp rút về Nam. Pháp chưa trả lời; Anh tán thành; Mỹ phản đối; Việt Nam giữ nguyên lập trường chỉ có một Việt Nam thống nhất. Ngày 3/6/54, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, tướng Paul Ely được cử làm Cao Ủy (Tổng uỷ viên) kiêm Tổng Tư lệnh Pháp ở Đông Dương thay Maurice Dejean. Ngày 8/6/54, Frédéric Dupont được cử giữ chức Bộ trưởng Liên Quốc thay Mac Jacquet. Cùng ngày 8/6/54, Theo Pleven quân của Pháp ở Đông Dương 52.000 (1945), 162.000 (1949), và hiện nay (1954) 216.000 cùng với 525 máy bay. 

Ngày 12/6/54, Hội nghị Genève bế tắc, Việt Minh không chịu kiểm soát Quốc tế, chỉ nhận kiểm soát Pháp và Việt Minh. Anh tỏ ý bất bình, tuy từ trước vẫn mềm dẻo. Ngày 13/6/54 Chính phủ Laniel đổ. Ngày 14/6/1954, Mendès-France lập Chính phủ. Ngày 3/7/54, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố không được Pháp thông báo gì về kế hoạch của Pháp đối với Đông Dương. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 21/1/54, Tướng Navarre mở cuộc hành quân Atlante bình định miền duyên hải Nam Trung Việt. Ngày 26/1/54, Bộ trưởng các Quộc gia Kiên kết, cùng các tướng Blanc và Navarre bay lên thăm Căn cứ Điện Biện Phủ, nơi đồn trú để ngăn cản quân Việt Minh tràn qua Lào. Trước đó, các tướng Ely, Blane, Bộ trưởng Pleven, Chesvigné, Mare Jacque cũng đã tới thăm căn cứ, đều nhận là kiên cố. Ngày 8/2/54, Sư đoàn 308 Việt Minh tiến về Luang Prabang, còn cách 20 cây số, quân Pháp tới ngăn chặn. Ngày 14/2/54, Điện Biên Phủ bị bao vâyĐêm 3/3/54, Phi trường Gia Lâm bị đột kích, một số phi cơ bị phá. Đêm 6/3/54, Phi trường Cát Bi cũng bị đột kích, một số phi cơ bị phá. 

Ngày 13/3/53, Điện Biên Phủ bị tấn công mạnh, đồn Béatrice cách 3 cây số về phía Đông Bắc tiền đồn của Căn cứ bị tràn ngập. Ngày 16/3/54, đồn Ann Marie tại Khu Trung ương Điện Biên Phủ bị phá hủy, Đại bác Việt Minh từ các ngọn đồi bắn xuống rất mạnh. Ngày 19/3/54, theo tướng Navare, đoàn quân Viễn chinh Pháp hiện có: Pháp 62.632; Lê dương 19.000; Phi châu 29.086; Quân lực Quốc gia 55.772. Cộng: 172.600 người. Ngày 20/3/54, tại Điện Biên Phủ, Việt Minh tiến sát chiến lủy khu Trung tâm, đào hào án ngữ, và bắn chặn phi cơ tiếp viện. Ngày 21/3/54, mặt trận Điện Biên Phủ tạm ngớt, một số thương binh Pháp được chở đi, Việt Minh chỉ nã đại bác vào căn cứ. Ngày 28/3/54, quân Pháp phản công ở Điện Biên Phủ giải tỏa được sân bay. Ngày 2/4/54, chiến sự ngày càng khốc liệt ở Điện Biên Phủ hai bên cùng chết rất nhiều. 

Ngày 6/4/54, tin từ Điện Biên Phủ, bắt đầu ngày 30/4, đêm nào các đồn ở Điện Biên Phủ cũng bị tấn công, sân bay không sử dụng được, thương binh không thể chuyển đi, tiếp tế bằng Phi cơ rất khó khăn. Ngày 31/3/54, Việt minh tấn công kịch liệt, Pháp huy động tất cả Phi cơ ở Bắc Việt tham chiến và ném bom napalm, nhiều đồn lủy bị tràn ngập dưới các lớp sóng người xung phong ồ ạt, đại tá Castries vẫn cố giữ và đòi gấp viện binh. Ngày 14/4/54, thương vong của Pháp tại Điện Biên Phủ đã lên tới 1.100. Việt Minh đóng chặt phía Bắc Phi trường, và bắn phá không ngớt. Đại tá De Castries được thăng Thiếu tướng, 2 sao do phi cơ ném xuống. Trời mưa tầm tã. Ngày 3/5/54, mưa lớn tại Điện Biên Phủ, hai bên đánh “xáp lá cà” rất kịch liệt, một đồn nữa bị thất thủ. Ngày 7/5/54, các đồn ở Điện Biên Phủ bị tràn ngập dưới lớp sóng người xung phong. 

Ngày 8/5/1954, quân Pháp đầu hàng ở Điện Biên Phủ sau 55 ngày cầm cự. Ngót 2 vạn quân Pháp chết, bị thương, hoặc bị bắt làm tù binh. Ngày 8/5/54, Tướng Navarre họp báo tuyên bố, trong trận Điện Biên Phủ, Việt Minh đã bắn 20.000 phát đại bác 105 ly, 20.000 phát đại bác 75 ly, 100.000 đạn súng cối, 60.000 phát cao xạ. Pháp chết và bị thương hơn 4.000, và 8.000 bị bắt; Việt Minh chết 2 Sư đoàn (trên dưới 15.000). Ngày 3/7/54, Tướng Salan tuyên bố, 8 Sư đoàn Việt Minh đương sửa soạn tấn công vào Trung Châu Bắc Việt; Hai Phái đoàn Pháp và Việt Minh gặp nhau ở Trung Giá để bàn về việc ngưng bắn; Quân đội và Chính quyền rút khỏi Phủ Lý, Việt Minh chặn đánh các đồn quanh tỉnh lỵ.

 

Bài 185: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: 7/1954-9/1954.

Ngày 16/6/54, Thủ tướng và Chính phủ Bửu Lộc đệ đơn từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại ủy Ngô Đình Diệm lập Chính phủ với toàn quyền Dân sự và Quân sự (SL số 38/QT). Ngày 25/6/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước, Quốc trưởng Bảo Đại từ Paris lui về Cannes. Ngày 6/7/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập xong Chính phủ (SL43/CP). THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng kiêm Nội vụ và Quốc phòngNgô Đình DiệmQuốc vụ khanhTrần Văn ChươngTổng trưởng Ngoại giaoTrần Văn ĐỗTổng trưởng Tài chánh Kinh tếTrần Văn CủaTổng trưởng Canh nôngPhan Khắc SửuTổng trưởng Lao động Thanh niên, Nguyễn Tăng Nguyên; Tổng trưởng Giao thông Công chánh, Trần Văn Bạch; Tổng trưởng Giáo dục, Nguyễn Dương ĐônTổng trưởng Y tế Xã hội, Phạm Hữu ChươngBộ trưởng Phủ thủ tướng, Trần Chánh ThànhBộ trưởng Phụ trách Thông tinLê Quang LuậtBộ trưởng tại Phủ thủ tướngPhạm Duy KhiêmBộ trưởng Nội vụNguyễn Ngọc ThơBộ trưởng Quốc phòngLê Ngọc ChấnBộ trưởng Tư pháp, Bùi Văn ThinhBộ trưởng Kinh tếNguyễn Văn ThoạiBộ trưởng Tài chánh, Trần Hữu Phương.

SỐ PHẬN THỦ HIẾN NGUYỄN HỮU TRÍ, PHAN VĂN GIÁO, VÀ TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG TƯỚNG NGUYỄN VĂN HINH. Ngày 9/7/54, Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí được từ chức; Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo bị chấm dứt nhiệm vụ; Nguyễn Đôn Duyến được cử làm Đại biểu tại Trung Việt. Ngày 12/7/54, Hoàng Cơ Bình được cử làm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt; Trần Trung Dung làm Ủy viên Dân sự; Thiếu tướng Nguyễn Văn Vận làm Ủy viên Quân sự. Ngày 4/8/54, Dược sĩ Trần Văn Lắm được bổ Đại biểu Chính phủ tại Nam Việt; Các Phần trong nước không còn tính cách pháp nhân; Tại mỗi Phần đặt một Ủy ban gồm: 1 Chủ tịch, 1 Ủy viên Chính trị Hành chánh, 1 Ủy viên Quân sự chỉ huy Quân khu (Dụ 21). Ngày 6/8/54, Đại sứ Trần Văn Khá tại Hoa Thịnh Đốn bị chấm dứt nhiệm vụ, Quốc vụ khanh Trần Văn Chương được cử sang thay.

Cùng ngày 6/8/54, Bộ trưởng Lê Quang Luật được cử làm Đại biểu Chính phủ “Phụ trách công việc ở Bắc Việt, đặc trách việc tản cư dân tị nạn (SL 61/NV). Ngày 7/8/54, một Ủy ban Hỗn hợp đã xét xong cách thức sáp nhập lực lượng Cao Đài vào quân đội quốc gia. Ngày 13/8/54, tướng Nguyễn Giác Ngộ, chỉ huy trưởng quân đội Nguyễn Trung Trực Hòa Hảo “được thăng cấp “Thiếu tướng quân đội Bổ túc Việt Nam”. Ngày 10/9/54, tướng Nguyễn Văn Hinh bị cử sang Pháp công cán 6 tháng, nhưng ông ta không chịu đi. Cùng ngày 16/9, hai lực lượng Bảo Chính quân, và Địa Phương quân thành lập ngày 16/5/1954, không được gia nhập quân đội Quốc gia. Ngày 17/9/54, tướng Nguyễn văn Xuân lại được bổ Phó Thủ tướng kiêm Quốc Phòng (SL 84/CP). Và, hôm sau, ngày 18/9, tướng Xuân nhậm chức tại Bộ Quốc Phòng (SL 84/CP). 

Cùng ngày 18/9, tướng Nguyễn Văn Hinh điện sang Pháp yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại can thiệp giải quyết tranh chấp với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 20/8/54, Đổng lý Nguyễn Đệ gởi Diện văn cho tướng Nguyễn Văn Hinh, những điều chỉ trích chính phủ sẽ được cứu xét. Cùng ngày 20/9/54, Tướng Lê văn Viễn từ Pháp về được vài ngàn người đón tiếp tại Phi trường Tân Sơn Nhất, có cả nhiều nhân vật chính giới. 

CẦU HÀNG KHÔNG CHỞ DI CƯ VÀO NAM. Ngày 4/8/54, một cầu hàng không chở dân di cư Bắc Việt vô Nam.Ngày 9/8/54, thành lập Phủ Tổng Ủy phụ trách đồng bào tị nạn, Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Thoại kiêm nhiệm chức Tổng uỷ trưởng, Kỹ sư Đinh Quang Chiêu phụ tá. Ngày 10/8/54, một cầu hàng không bằng phi cơ quân sự Pháp chở dân di cư vô Nam tới Tân Sơn Nhất mỗi ngày có năm bảy chục phi cơ của quân đội Pháp tới Tân Sơn Nhất. Bộ Xã hội lo tiếp đón và giúp đở. Mỗi ngày có vài ngàn người về Hà Nội, nhưng không được đi máy bay, phải xuống Hải Phòng đi tàu biển của Pháp và của Mỹ vô Nam. Ngày 21/8/54, Giáo sư Nguyễn Ngọc Đối được cử làm Tổng uỷ Phụ trách đồng bào tị nạn, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thoại thôi kiệm nhiệm chức vụ trên.

PHÁP, MỸ VÀ HỘI NGHỊ GENÈVE 1954. Ngày 6/7 nầy tướng Paul Ely tới Sài Gòn nhậm chức Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh Pháp ở Đông Dương. Ngày 20/7/54, tại hội nghị Genève, các bản Hiệp định đã soạn thảo xong. Ngày 21/7/54, Hội nghị họp phiên cuối cùng, để xác nhận những thỏa hiệp đã đạt trong những văn kiện gọi là Hiệp định Genève (Accords de Genève). Chủ tịch phiên họp là đại biểu Anh Anthony Eden. Trước khi ký kết Chủ tịch hỏi lại từng Phái đoàn xem có xác nhận không. Các phái đoàn lần lược tuyên bố xác nhận, ngoại trừ vài ý kiến dè dặt về một số điều khoản (Mên, Lào, Việt, Mỹ). Những ý kiến đó không làm thay đối các dự thảo Hiệp định, song được ghi trong các Phụ bản đính theo. Hiệp định đình chiến tại Việt Nam gồm 47 điều, với một phụ lục. Các điều khoản chính, được tóm tắt:

Hiệp định đối với Việt Nam có những điều đáng chú ý: (1) Xác nhận rằng không được lập căn cứ quân sự cho ngoại quốc, không được gia nhập một Liên minh quân sự nào; (2) Xác nhận rằng đường giới tuyến có tính cách tạm thời, không đươc coi như một biên giới Chính trị và lãnh thổ, mong rằng sự đình chiến sẽ tạo cơ hội cần thiết để sớm “Giải quyết vấn đề Chính trị tại Việt Nam”;  (3) Dân tộc Việt Nam phải được hưởng “Tự do Dân chủ” và Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956 dưới sự kiểm soát quốc tế, và hai miền Nam Bắc sẽ bắt đầu trao đổi ý kiến về vấn đề nầy từ 20/7/1955; (4) Cấm trả thù ngược đãi. (5)  Pháp sẽ rút quân theo yêu cầu của các Chính phủ liên hệ.  (6) Việt, Mên, Lào sẽ không xen lấn vào việc nội bộ của nhau.

Ngoại trưởng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Đỗ phản kháng “Sự hy sinh những vùng có quân đội quốc gia kiểm soát; Sự lạm quyền của Bộ Tổng Tư lệnh Pháp dám tự ý ấn định ngày Tổng tuyển cử; Sự ký kết Hiệp định Đình chiến trái với nguyện vọng độc lập và thống nhất của Dân tộc Việt Nam”. Tuy nhiên, Việt Nam cũng cố gắng và hoan nghênh mọi nổ lực để tái lập hòa bình, và sẽ không dùng võ lực để cản trở sự thi hành Hiệp định mặc dầu có sự dè dặt kể trên. Ngày 30/8/54, tướng Paul Ely, Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh Pháp ở Đông Dương tuyên bố “Chính sách Pháp ở Đông Dương không thay đổi”. Ngày 3/9/54, cựu Tư lệnh Pháp tại Điện Biên Phủ tướng de Castries được thả về. Ngày 24/9/54, Tướng Salan gắn cấp bậc Thiếu tướng cho Đại tá Hòa Hảo Lâm Thành Nguyên. 

Ngày 20/7/54, Tổng số thiệt hại của Pháp tại Đông Dương từ năm 1945: có 92.000 chết (1.900 sĩ quan, 6.300 hạ sĩ quan); 114.000 bị thương; 28.000 bị bắt; 3.000 tỷ quan quân phí (2.385 tỷ do Ngân sách chịu). Ngày 27/7/54, im tiếng súng ở Bắc Việt. Ngày 27/7/54, Số quân Pháp phải rút: 120.000. Ngày 1/8/54, im tiếng súng ở Trung Việt. Ngày 6/8/54, im tiếng súng ở Lào. Ngày 7/8/54, im tiếng súng ở Mên. 

TỔ CHỨC LIÊN PHÒNG ĐÔNG NAM Á (SEATO). Ngày 8/9/54, tám nước Pháp, Mỹ, Anh, Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Thái Lan, và Pakistan (Hồi Quốc) ký Hiêp ước Manille thành lập Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á  gọi tắt là SEATO.

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. Ngày 28/7/54, các tội phù lạm, hối lộ, lợi dụng quyền thế, bị trừng phạt nặng (Dụ 18). Ngày 1/8/54, Thủ tướng, Tổng trưởng, Đại biểu Chính phủ được toàn quyền quyết định các công chức không phải đưa ra Hội đồng Kỷ luật (Dụ 20). Ngày 29/8/54, xuất hiện “Phong trào Bảo vệ Hòa bình” tại Sài Gòn. Ngày 30/8/54; Công chức phải kê khai tài sản. Một Uỷ ban Danh dự gồm 9 Uỷ viên thu nhận và kiểm soát các tờ khai với quyền điều tra rộng rãi (Dụ số 25); Các công chức tự nguyện biếu một ngày lương để cất nhà tạm trú cho các gia đình công chức di cư, thu được 3.300.000$. Ngày 31/8/54, Uỷ ban Quốc gia Cải cách Điền địa mở rộng cho 6 đại diện Đại diền chủ, và 6 đại diện Tá điền (NĐ 896/CN). Ngày 2/9/54, thành lập Tòa Phá Án thay thế Ban Tư Pháp Tối Cao Pháp Viện đặt ra từ năm 1949 và sửa đổi 1954 (Dụ 27). 

Ngày 7/9/54, Pháp giao trả Dinh Độc lập cho Việt Nam trong một buổi lễ trịnh trọng. các công sở được nghỉ. Ngày 15/9/54, Pháp chuyển giao Nha Công chánh cho Việt Nam. Ngày 16/9/54, ký kết Thỏa hiệp Việt Pháp, Pháp giao trả quyền Tư pháp và Công An cho Việt Nam, bãi bỏ các Tòa án Hỗn hợp (Tribunaux Mixtes); Các Tòa án và Nha Cảnh sát Công An được chuyển giao cho Việt Nam. Ngày 21/9/54, một số người biểu tình đòi trở ra Bắc, xô xát với Cảnh sát 2 chết một số bị thương. Ngày 23/9/54, các quân nhân từ Hạ sĩ quân trở lên phải kê khai tài sản; Các Ủy viên trong Ủy ban Danh Dự, được quyền “bất khả xâm phạm” và tự do ngôn luận (Dụ 31)Ngày 24/9/54, Vệ Quốc Binh được thành lập thuộc Bộ Nội Vụ để sát nhập Bảo Chính Đoàn Bắc Việt, Địa Phương Quân Bắc Việt và các Tỉnh (Dụ 32).

 

Bài 186: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: 9/1954-5/1955.

Ngày 24/9/54, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Xuân từ chức. Thủ tướng Ngô Đình Diệm quyết định cải tổ Chính phủ.  (SL94/CP). THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng kiêm Nội vụ và Quốc phòng, Ngô Đình DiệmQuốc vụ khanh Ủy viên Quốc phòng, Trung tướng Trần Văn SoáiQuốc vụ khanh Ủy viên Quốc phòng, Thiếu tướng Nguyễn Thành Phong; Tổng trưởng Ngoại giao, Trần Văn ĐỗTổng trưởng Tư pháp, Bùi Văn Thinh; Tổng trưởng Thông tin Tâm lý,Phạm Xuân TháiTổng trưởng Tài chánhTrần Hữu PhươngTổng trưởng Kinh tếLương Trọng TườngTổng trưởng Canh nôngNguyễn Công HầuTổng trưởng Công chánh, Trần Văn BạchTổng trưởng Kế hoạch Kiến thiết, Nguyễn Văn ThoạiTổng trưởng Y tế, Huỳnh Kim HữuTổng trưởng Giáo dụcNguyễn Dương ĐônTổng trưởng Xã hộiNguyễn Mạnh BảoTổng trưởng Lao động Thanh niên, Nguyễn Tăng Nguyên; Tổng trưởng Cải cách, Nguyễn Đức Thuận, Tổng trg Phụ tá Quốc phòng, Hồ Thông MinhBộ trưởng Đặc nhiệm Công vụ, Trần Ngọc Liên; Bộ trưởng Phủ thủ tướngPhạm Duy Khiêm; Bộ trưởng Đặc nhiệm Phủ Thủ tướng; Bùi Kiện TínBộ trưởng Nội vụHuỳnh Văn  NhiệmThứ trưởng Nội vụThứ trưởng Nội vụNguyễn Văn Cát.

QUAN HỆ PHÁP, MỸ VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM. Ngày 29/9/54, Chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục viên trợ cho Pháp đến 1956 để duy trì quân đội viễn chinh tại Đông Dương trong khi chờ đợi thành lập các quân đội Quốc gia. Ngày 30/12/54, ký kết 2 hiệp định Việt-Pháp: Hiệp định I về tiền tệ, Việt Nam có toàn quyền, Pháp được chuyển ngân dể dàng, đồng bạc và đồng quan được định giá; Hiệp định II, về thương mại, hàng hóa Pháp và Việt Nam đều chịu thuế nhẹ, hai bên đều hưởng điều điện tối huệ quốc. Ngày 31/12/54, Pháp chuyển giao Viện Phát hành. Ngày 1/1/1955  Pháp chuyển giao Thương cảng Sài Gòn cho Việt Nam. Ngày 1/2/55, tướng Lawton Colliins tuyên bố trước Hạ viện Hoa Kỳ rằng “có 50% hy vọng cứu được miền Nam, nếu chương trình của Chính phủ Ngô Đình Diệm được thực hiện, và nếu Việt cùng Pháp chịu hợp tác.

Ngày 2/2/55, Chính giới Hoa Kỳ “sắp hoàn tất” một chương trình viện trợ, quân sự, và kinh tế chính trị gồm 6 điểm: (1) Lập một Quân đội Việt Nam 150.000 người; (2) Cải cách Điền Địa và Tư hữu hóa tiểu nông; (3) Định cư 500.000 dân Di cư; (4) Cải tiến thuế vụ; (5) lập những cơ cấu dân chủ; (6) Bình định, dẹp các lực lượng coi là phiến loạn.  Ngày 10/2/55, Pháp chuyển giao quyền chỉ huy Quân sự cho Quân đội Việt Nam. Ngày 12/2/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm họp báo tại Dinh Độc Lập tuyên bố, từ nay tổ chức và huấn luyện Quân đội Việt Nam do Mỹ đảm trách. Huấn luyện viên Pháp được lưu dụng nhưng sẽ rút dần. Ngày 15/2/1955, kể từ hôm nay lực lượng Giáo phái không được nhận trợ cấp từ Quân đội Liên Hiệp Pháp nữa. Ngày 21/2/55, ký kết Thỏa ước Viêt Mỹ về viện trợ Kinh tế. 

Ngày 22/2/55, thành lập Cơ quan TRIM (Training Relation Instruction Mission) gồm hai Phái đoàn Quân sự Mỹ và Pháp để lo tổ chức và Huấn luyện cho Quân đội Việt Nam. Ngày 28/2/55, lần đầu tiên một phần viện trợ Mỹ 18 triệu Mỹ kim được giao thẳng cho Việt Nam không qua trung gian Pháp. Ngày 1/3/55, Ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles tới Sài Gòn gặp Thủ tướng Ngô Đình Diệm và tuyên bố triệt để ủng hộ Việt Nam. Và, hai hôm sau 4/3/55, Tống thống Mỹ Eisenhower gởi điệp văn cho Quốc trưởng Bảo Đại ở Cannes, xác nhận viện trợ chống Cộng. Ngày 16/3/55, Pháp chuyễn giao quyền chỉ huy Quân sự tại Cao Nguyên. Ngày 17/3/55, ký Hiệp ước Thương mại và thuế quan với Pháp, để áp dụng Hiệp ước 30/12/54, Pháp mua một số hàng hoá Việt Nam và ngược lại. Hai bên chịu thuế nhẹ Hiệp định có hiệu lực 1 năm và có thể triển hạn. 

Cũng ngày 28/3/55, Tướng Paul Ely hội kiến với Thủ tướng Ngô Đình Diệm, nói chuyện về tình hình, hứa sẽ gặp các Giáo phái để hòa giải, và tuyên bố “Phải tránh xung đột lớn, vì có lợi cho Cộng sản”. Cùng ngày 31/3/55, Tướng Lawton Collies, Đại sứ đặt phái viên của Tổng thống Mỹ tuyên bố, mặc dù tình hình còn rối ren, vẫn ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày14/4/55, Pháp chuyễn giao quyền chỉ huy Quân sự ở Trung Việt cho Việt Nam. Ngày 23/4/55, có tin Pháp vận động với Mỹ để lật đổ Chính phủ Ngô Đình Diệm, Đại sứ Collins bị triệu về Mỹ trình ý kiến. Ngày 24/4/55, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 29/4/55, Chính phủ Hoa Kỳ xác nhận ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm; 

QUAN HỆ HAI CHÍNH QUYỀN NAM-BẮC VIỆT NAM. Ngày 6/1/55, Giáo dân ở Ba Làng, Thanh Hóa ra Hải Phòng để di cư vô Nam, nhưng bị ngăn cản, 6 người chết hơn 40 người bị thương, chuyển giao Ủy hội Quốc tế đến điều tra. Ngày 8/2/55, hạn cuối cùng để Việt Minh rút khỏi vùng Cà Mâu. Cùng ngày 8/2/55, mở “chiến dịch Tự do” Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy tiếp thu vùng Cà MâuKết thúc Chiến dịch tiếp thu vùng Cà Mâu (12/3/55). Ngày 11/2/55, Rất nhiều hầm súng đạn của Việt Minh, bị khám phá tại nhiều nơi ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Thuận từ ngày 6/10/54 đến nay. Ngày 17/2/55, Việt Minh đòi Hiệp thương và nối lại quan hệ bình thường. Ngày 18/2/55, hai Đại diện Việt Minh trong Ủy Ban Kiểm soát Đình chiến bị dân chúng ném đá nhiều lần định về Băc rồi lại thôi. 

Ngày 15/4/55, hạn cuối cùng Việt Minh chuyển giao cho Pháp vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và rút khỏi vùng nầy. Ngày 14/3/55, kết quả hành quân tiêu hủy Chiến khu Ba Lòng, Quảng Trị, 30 địch bị hạ, 70 bị bắt, nhiều súng tự động và quân trang bị tịch thu. Ngày 24/4/55, mở “Chiến dịch giải phóng-tiếp thu” Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam sau khi Việt Minh rút khỏi vùng nầy (15/4/55). Kết thúc “Chiến dịch giải phóng-tiếp thu Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam (31/5/55).

NHỮNG VIỆC CHÍNH PHỦ ĐÃ LÀM. Ngày 27/9/54, Tổng trưởng thông tin họp báo, cho biết, nếu tướng Hinh sẵn sàng quên đi dĩ vãng và hợp tác, thì chính phủ sẽ dành cho chức vụ lớn. Tướng Hinh là dân Pháp, sẽ là gạch nối rất có ích cho Pháp và Việt Nam. Ngày 7/10/54, Pháp chuyễn giao Sở cảnh Sát, Tổng Giám đốc Lại Văn Sang tiếp nhận. Ngày 9/10/54, thành lập một Quân đoàn Cao Đài trong Quân đội Quốc gia các đơn vị Cao Đài được mang cờ hiệu riêng, với biểu hiệu Quốc gia, nhưng thêm dấu hiệu “Vũ trụ Thần giáo” là “Bánh xe Tiến hóa” có một Sở riêng trông nom về Quân đoàn nầy, và một Ban Liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu (NĐ 93/QP); Ngày 14/10/54, sau khi viếng thăm Nhật Bản và Đài Loan, Hộ pháp Phạm Công Tắc đã trở về Sài Gòn, và hôm nay ăn cơm với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 27/10/54, Giáo sư Trần Văn Hương được bổ Đô trưởng Sài Gòn Chợ Lớn thay Đốc phủ Nguyễn Phước Lộc.

Ngày 29/10/54, Đài phát thanh phát lời tướng Nguyễn Văn Hinh kêu gọi bình tĩnh, để cấp trên dàn xếp ổn thỏa mọi sự khó khăn. Ngày 8/11/54, chấm dứt nhiệm vụ Cao Ủy tại Pháp cuả Hoàng thân Bửu Lộc, Luật sư Nguyễn Đắc Khê được cử Xử lý thường vụ toà Cao Uỷ. Ngày 9/11/54, thành lập Tham Chính Viện thay thế Ban Hành chánh Tối cao Pháp viện củ (Dụ số 38). Ngày 20/11/54, tướng Hinh đi Tây. Ngày 1/12/54, Thiếu tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế tướng Nguyễn Văn Hinh; Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ, được cử làm Tổng Thanh tra Quân đội thay thế tướng Pháp Alessandri. Ngày 4/12/54, Bác sĩ Thú y Phạm Văn Huyến được cử giữ chức Tổng Ủy Phụ trách đồng bào tị nạn, thay thế Giáo sư Ngô Ngọc Đối từ chức. Bùi Văn Lương được cử làm Phụ tá thay Nguyễn Lưu Viên. Ngày 10/12/54, Bộ trưởng Phạm Duy Khiêm, được bổ Cao Ủy Việt Nam tại Pháp. 

Ngày 17/12/54, Bộ trưởng Bùi Kiện Tín từ chức, Trần Trung Dung được cử thay thế; Phụ tá Quốc phòng Hồ Thông Minh được bổ Tổng trưởng Quốc Phòng; Đinh Quang Chiêu, Tổng Ủy Nha Ngoại viện kiêm nhiệm Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng thay thế Phạm Duy Khiêm. Ngày 15/1/55, Chính phủ ra lệnh đóng cửa vĩnh viễn sòng bạc Đại Thế Giới Chợ Lớn. Ngày 20/1/55, Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thơ được bổ Đại sứ tại Nhật Bản. Ngày 15/2/55 nầy, Thủ tướng Ngô Đình Diệm khai mạc Hội nghị Quân Chính toàn quốc gồm các Tỉnh trưởng, và Chỉ huy Quân sự. Ngày 7/3/55, thành lập tạm thời Công Dân Vụ, với nhiều Đoàn Cán Bộ Lưu động (Huấn thị 11/TTP/NV). Ngày 9/3/55, thành lập Trường Quốc Gia Sư Phạm (NĐ 237/GD). Ngày 26/3/55, thành lập một Sở Cảnh sát Đô thành không thuộc quyền Tổng Giám đốc Lại Văn Sang.

Ngày 8/4/55, thành lập Bảo An Đoàn để hợp nhất các các lực lượng Cảnh bị củ ở các Phần gồm: Bảo chánh đoàn, Địa phương quân Bắc Việt, Việt binh đoàn Trung Việt, Vệ binh Nam Việt (Dụ 26). Ngày 12/4/55, Phái đoàn Việt Nam đi dự Hội nghị Bandoeng ở Nam Dương, Ngô Đình Diệm trưởng đoàn, Nguyễn Văn Thoại Phó đoàn. 

QUAN HỆ QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI VÀ THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM. Ngày 3/10/54, Quốc trưởng Bảo Đại điện về yêu cầu Thủ tướng mở rộng Chính phủ để mời các tướng Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Hinh, và Lê Văn Viễn tham gia Chính phủ. Ngày 9/10/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm trả lời Quốc trưởng sẽ xét vấn đề mở rộng Chính phủ. Ngày 10/10/54, Quốc trưởng Bảo Đại lại yêu cầu Thủ tướng mở rộng Chính phủ cho các phần tử quân nhân và Giáo phái tham gia. Ngày 19/10/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm gởi điện văn mừng Quốc trưởng Bảo Đại nhân dịp lễ Vạn thọ. Ngày 29/11/54, Quốc trưởng gởi điện văn về cất chức Tổng Tham Mưu trưởng của tướng Nguyễn Văn Hinh, lý do không tuân lệnh Quốc trưởng, cứ tuyên bố mãi những điều đáng tiếc. 

Ngày 25/3/55, Quốc trưởng Bảo Đại gởi Điện văn cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm và các Giáo Phái khuyên nên cố thực hiện đoàn kết để tình thế sáng sủa hơn. Ngày 28/4/55, Văn phòng Quốc trưởng gởi Điện về cho biết: các Giáo phái và Bình Xuyên phản đối việc cất chức Lại Văn Sang, rằng Quốc trưởng đã ra lệnh cho các nhóm tôn trọng kỷ luật, tránh bạo động, yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm đừng có biện pháp gì trái với chính sách hòa hoãn của Quốc trưởng. Cũng ngày 28/4/55, một điện văn khác báo cho Thủ tướng biết, Quốc trưởng đã cử Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam, và yêu cầu Thủ tướng sang Pháp trình bày về tình hình. Ngày 29/4/55Thủ tướng Ngô Đình Diệm trả lời Quốc trưởng Bảo Đại vì tình thế không thể rời Việt Nam

NHỮNG NGÀY SÓNG GIÓ CỦA CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM. Ngày 11/1/55, tướng Trịnh Minh Thế của Cao Đài Liên Minh tuyên bố sẽ đem 5.000 quân về hợp tác với Chính phủ, không đòi hỏi điều kiện nào. Ngày 15/1/55, Đại tá Hòa Hảo Nguyễn Văn Huê tuyên bố ly khai lực lượng của tướng Hòa Hảo Trần văn Soái đem 3.000 quân về hợp tác với chính phủ. Ngày 31/1/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm thăm Thánh Thất Cao Đài ở Tây Ninh và gặp tướng Trịnh Minh Thế. Ngày 23/2/55, tướng Nguyễn Giác Ngộ Dân xã Hòa Hảo tuyên bố đem 8.000 quân về hợp tác với Chính phủ. Ngày 4/3/55, trước nhiều đại diện các đảng phái, Hộ pháp Cao Đài Phạm Công Tắc tuyên bố rằng ngày 22/2/1955 đã thành lập Mặt trận Thống nhất (MTTN) gồm nhiều đoàn thể, và đòi hỏi lập một Chính phủ Liên hiệp Quốc Gia, Hộ pháp Tắc cho rằng, Chính phủ Ngô Đình Diệm chưa thực thi dân chủ Ngày 6/3/55, tướng Cao Đài Trình Minh Thế tuyên bố không đống ý về bản Tuyên ngôn của Hộ pháp Phạm Công Tắc.

 Ngày 10/3/55, Thiếu tá Hoà Hảo Nguyễn Thành Đây đem 1.500 quân về hợp tác với Chính phủ, và được Trung tá Nguyễn Khánh tiếp đón tại Cần Thơ.  Ngày 21/3/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố “Phải thống nhất quân đội, không thể có những lực lượng riêng biệt; Phải thống nhất hành chánh, không thể có địa phương tự trị; Phải thống nhất tài chánh, không thể để thâu những sắc thuế do địa phương tự động đặt ra”. Ngày 24/3/55, thủ tướng Ngô Đình Diệm lại tuyên bố “Các Giáo phái vừa gởi tối hậu thư, hẹn trong 5 ngày phải cải tổ chính phủ theo đường lối của các nhóm. Như vậy cũng không giải quyết được gì vì “vấn đề chính trị chỉ có thể thu xếp nếu vấn đề thống nhất các lực lượng đã được dứt khoát. Chính phủ sẵn sàng thu nhận các lực lượng vào Quân đội, nhưng không thể dành cho những điều kiện rộng rãi hơn là đối với Quân đội Quốc gia”.

 Ngày 27/3/55, tướng Trịnh Minh Thế tuyên bố rút khỏi Mặt trận Thống nhất. Và hôm sau, 28/3/55, tướng Thế lại tuyên bố với báo chí “chỉ ở trong Mặt trận để làm Trung gian hòa giải, rằng Thủ tướng Diệm hứa sẵn sàng để những người thân tín rút ra khỏi Chính quyền, thì các Giáo phái cũng nên tôn trọng Quyền lợi Quốc gia”. Ngày 29/3/55, Tổng trưởng Quốc Phòng Hồ Thông Minh từ chức, Ngô Đình Diệm kiêm nhiệm. Quá nữa đêm 29/3/55 nầy, Công An Xung Phong thuộc quyền Bình Xuyên, nổ súng đánh phá trụ sở Cảnh Sát Đô Thành và Tổng Tham Mưu, lại bắn vào Dinh Độc lập từ 12 giờ tới hơn 12 giờ 30. Cảnh sát Đô thành và quân Nhảy Dù đẩy lui nhóm tấn công. Ngày 30/3/55, các thành viên Chính phủ khác sau đây từ chức: Trần Văn Soái, Quốc Vụ Khanh, Ủy viên Quốc Phòng; Lương Trọng Tường, Tổng trưởng Kinh tế; Nguyễn Công Hầu, Tổng trưởng Canh nông; Huỳnh Văn Nhiệm, Bộ trưởng Nội vụ.

Cùng ngày 30/3/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cử: Tổng trưởng Cải cách Nguyễn Đức Thuận, Xử lý Bộ Canh nông; Tổng trưởng Tài chánh Trần Hữu Phương Xử lý Bộ Kinh tế; Bộ trưởng Phủ thủ tướng Trần Trung Dung, kiêm nhiệm Phụ tá Bộ Quốc phòng; Tổng trưởng Tư pháp Bùi Văn Thinh kiêm nhiệm Bộ Nội vụ. Ngày 31/3/55, các Tổng Bộ trưởng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Mạnh Bảo, Phạm Xuân Thái, Nguyễn Văn Cát từ chức. Lúc 13 giờ cùng ngày 31/3/55, tại Phòng ăn dinh Độc lập, các tướng Nguyễn Thành Phương, Lê Văn Tất, và 42 tướng tá Cao Đài, tuyên bố đem lực lượng bản bộ về hợp tác với Chính phủ Ngô Đình Diệm; Tướng Nguyễn Thành Phương, nhân danh Đức Hộ pháp và Quân đội Cao Đài, đặt toàn thể bộ đội dưới quyền Thủ tướng để phục vụ tổ quốc. Ngày 7/4/55, Đô trưởng Trần Văn Hương từ chức, Đốc phủ Nguyễn Phú Hải được cử thay thế

Ngày 11/4/55, Bộ Thông tin phát động “Phong trào Tố Cộng”. Ngày 19/4/55, Bộ Quốc phòng được phép cho một số Sĩ quan nghỉ giả hạn không lương, theo nhu cầu tình thế; Công an Xung phong, ném lựu đạn vào đoàn quân xa, vào trụ sở Tổng Thanh tra Quân đội, bắn phá Bộ Tổng Tham mưu, làm nhiều người bị thương. Ngày 23/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm hiệu triệu quốc dân, kêu gọi Công an Xung phong về quy thuận, và các lực lượng Giáo phái gia nhập Quân đôi, nhắn nhủ người Pháp đừng nuối tiếc dĩ vãng mà gây rối ở đây, hứa tổ chức Quốc hội và lập Thượng Hội đồng Chính trị, và đặt câu hỏi cho dân chúng: có ưng thuận Tổng tuyển cử không? thống nhất Quân đội không? kiện toàn độc lập và chủ quyền không? cải cách xã hội không? Thư trả lời gởi về Phủ Thủ tướng, giao cho Thừa Phát Lại Lâm Văn Sáu chứng kiến. 

ĐÁNH NHAU GIỮA SÀI GÒN, DÂN CHÚNG CHẠY LOẠNNgày 25/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấm dứt nhiệm vụ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an của Lại Văn Sang (Bình Xuyên) và giải tán Công An Xung Phong, cử Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ thay Đại tá Lại Văn Sang, Trung tá Trần Vĩnh Đắt thay Nguyễn Văn Tôn. Ngày 26/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm gởi thư mời tướng Trần văn Soái đến hội kiến. Trần Văn Soái không đến. Lúc 13 g 15 cùng ngày 28/4/55 nầy, Công an Xung phong bắn phá vào trụ sở mới của Nha Cảnh sát Công an, và Bộ Tổng Tham Mưu, đường Trần Hưng Đạo, và bắn súng cối vào Dinh Độc Lập, làm một số người chết và bị thương. Quân đội phản công mạnh, Công an Xung phong chiếm, chốt giữ khu trường Pétrus Ký, đốt cháy trụ sở Phủ Tổng Ủy Di Cư. Quân đội đánh trả mảnh liệt, Công an Xung phong rút về khu Đại Thế Giới, Chợ Lớn. 

Ngày 29/4/55, xung đột tiếp tục ở khu trường Pétrus Ký, Trần Hưng Đạo, khu Bàn Cờ, Cầu Ông Lãnh, Chợ cũ.v.v. Dân chúng tản cư chạy đầy các ngã đường; 2.000 dân di cư từ Bắc vào cập bến Sài Gòn; Ngày 29/4/55Các tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương, Hòa Hảo Nguyễn Giác Ngộ, Cao Đài Liên minh Trình Minh Thế ra thông cáo lên án thực dân và phản loạn gây chia rẽCùng ngày 29/4/55, một nhóm Chính trị gia thành lập “Hội đồng Nhân dân Cách mạng” (HĐNDCM) do Nguyễn Bảo Toàn (Dân Xã Đảng Hòa Hảo) làm Chủ tịch cùng với các ông nhóm họp tại Toà Đô chánh, và ngày 30/4/55, ra tuyên cáo“truất phế Bảo Đại; giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm; và Ủy Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Chính phủ khác; dẹp phiến loạn; thu hồi chủ quyền; triệu tập Quốc hội. Hội đồng Nhân dân Cách mạng cũng kêu gọi Pháp nên hiểu biết, hứa tôn trọng quyền lợi của Pháp kiều, cùng với những Hiệp ước đã ký vơi các nước bạn”.

Ngày 30/4/55, tại Dinh Độc lập, tướng Nguyễn Văn Vỹ, người vừa được Quốc trưởng Bảo Đại cử làm Tổng Tham Mưu trưởng, yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm lệnh cho tướng Lê văn Tỵ (đang có mặt tại đó) bàn giao. Ngô Đình Diệm trả lời “Hội đồng Chính phủ quyết định giữ nguyên tình trạng cũ”. Vài chính khách đứng quanh đó đòi bắt tướng Nguyễn Văn Vỹ. Các Đại tá Trần Văn Đôn, Trần Văn Minh vừa được thăng Thiếu tướng cũng vừa tới nơi. Thủ tướng Diệm mời tất cả các tướng ăn cơm; 3.000 dân di cư tới Sài Gòn; Ngày 1/5/55, 1 Đại đội Ngự Lâm quân từ Đà Lạt xuống, chiếm đóng Nha Bưu Điện, một Đại dội khác với 3 chiến xa chiếm Đài phát thanh Quân đội và Ngân hàng Quốc gia. Nhưng rút lui khi Bộ Tổng Tham Mưu đưa quân đến yêu cầu triệt thoái. Lúc 13 giờ 30, Tướng Nguyễn Văn Vỹ lên Đà Lạt. Các tướng lãnh họp tại Bộ Tổng Tham Mưu đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu: “giữ nguyên tình trạng, tướng Vỹ Tổng Thanh Tra, tướng Tỵ Tổng Tham Mưu Trưởng” 

QUÂN CHÍNH PHỦ PHẢN CÔNG, TƯỚNG THẾ TỬ TRẬN. Ngày 2/5/55, Quân đội Chính phủ gồm Trung đoàn Quang Trung, 3 Tiểu doàn Nhảy dù, Trung đoàn 51 Bộ Binh, phản công Công an Xung phong Bình Xuyên  cả 3 mặt: Cầu Chữ Y; Cầu Nhị Thiên Đường, Xóm Củi; và Phú Lâm, súng nổ dữ dội. Tại Cầu Chử Y, quân đội Chính phủ chiếm Bản doanh Bình Xuyên, tàn quân Bình Xuyên chạy về Gò Công; Ở Xóm Củi Tiểu doàn 6 Dù chiếm Lộc Trung, Chánh Hưng; Ở Phú Lâm quân đội Chính phủ chiếm các Đồn Công an Xung phong. Cháy lớn ở đường Nancy và đường Nguyễn Tấn Nhiệm, nhà cửa vừa bị đạn cháy, vừa bị đốt. Ngày 3/5/55, lúc 14 giờ, súng nổ dữ dội phía Tân Thuận, tướng Trình Minh Thế, người đem 5.000 quân Cao Đài về hợp tác với Chính phủ ngày 11/1/55, đi xe Jeep tới chỉ huy trận đánh chiếm cầu Nhà Bè, khi xe qua cầu Lang To, bị quân Bình Xuyên bắn chết lúc 19 giờ. 

Hôm sau, ngày 4/5/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đến viếng di hài tướng Thế quàn tại đường Eyriaud des Vergnes. Sau đó, được đưa ra quàn tại toà Đô chính cho dân chúng tới viếng. Cùng ngày 4/5/55, Hơn 1.000 đại biểu các Tỉnh, và Thị Xã cùng các Đại biểu đoàn thể, được mời nhóm họp trong Dinh Độc lập để “bàn xét tình thế”. Ngày 5/5/55, Số thiệt hại trong mấy ngày qua: Quân Chính phủ chết 15, bị thương 200; Quân Bình Xuyên chết 34, bị thương 300, hàng 18 Sĩ quan 190 Binh sĩ; Số nhà cháy hơn 10.000, trên 30.000 người mất chỗ ở. Ngày 6/5/55, Lễ quân táng tướng Trịnh Minh Thế, ông được truy thăng Trung tướng, và truy tặng Bảo quốc Huân chương Đệ tam, Linh cữu đưa về an táng tại Tây Ninh. 

Cũng ngày hôm nay 6/5/55, Đại hội Đại biểu các Địa phương họp tại Dinh Độc lập biểu quyết 3 kiến nghị: (1) Chống Cộng, tỏ lòng thành kính các chiến sĩ và tín nhiệm Quân đội (2) Yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại hứa trả quyền cho Quốc hội khi nào Quốc hội được bầu: (3) Trong khi chờ đợi hãy để toàn quyền cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình thế và triệu tập Quốc hội trong 6 tháng. Thế là, có sự khác nhau giữa Hội đồng Nhân dân Cách mạng và Đại hội Đại biểu các Địa phương: Ngày 3/5/55, Hội đồng Nhân dân Cách mạng đòi “Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại”; Và hôm nay 6/5/55, Đại hội Đại biểu các Địa phương chỉ “Yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại hứa trả quyền cho Quốc hội khi nào Quốc hội được bầu”.

 

Bài 187: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: 5/1955-10/1955.

Sau những ngày rối ren, trong 3 ngày 29, 30, 31/3/55 có tới 9 Tổng, Bộ trưởng từ chức. Đến ngày 7/4/55 Đô trưởng Sài Gòn Trần Văn Hương cũng từ chức. Rồi ngày 3/5/55 tướng Trịnh Minh Thế bị tử trận tại cầu Láng To… Ngày 10/5/1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm quyết định Cải tổ Chính phủ. (SL145/CP). THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Thủ tướng kiêm Quốc phòng, Ngô Đình DiệmTổng trưởng Nội vụ, Bùi Văn ThinhTổng trưởng Tư pháp, Nguyễn Văn Sĩ; Tổng trưởng Ngoại giaoVũ Văn Mẫu; Tổng trưởng Tài chánh, Kinh tếTrần Hữu PhươngTổng trưởng Thông tinTrần Chánh ThànhTổng trưởng Giáo dục, Thanh niên, Nguyễn Dương Đôn; Tổng trưởng Xã hội, Y tếVũ Quốc ThôngTổng trưởng Lao động, Huỳnh Hữu Nghĩa; Tổng trưởng Canh nông, Nguyễn Công Viên; Tổng trưởng Công chánhTrần Văn MẹoTổng trưởng Cải cách Điền địa, Nguyễn Văn ThờiTổng trưởng Phủ thủ tướngNguyễn Hữu ChâuTổng trưởng Phụ tá Quốc phòng, Trần Trung Dung.

QUAN HỆ PHÁP, MỸ VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM. Ngày 28/5/55, Đại sứ Hoa Kỳ Frederick Rheinardt trình ủy nhiệm thư lên Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 10/6/55, Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, và Cố vấn Ngô Đình Nhu sang Pháp yêu cầu Chính phủ Pháp giải quyết những vấn đề còn đọng. Việt Nam đòi “triệt thoái quân đội khỏi Việt Nam; cử một Đại sứ thay Cao Ủy”. 

Ngày 29/6/55, hiện còn 65.000 quân của Liên Hiệp Pháp tại Việt Nam. Ngày 1/7/55, Đại sứ Mỹ Rheinardt trao cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm tấm ngân phiếu 11 triệu Mỹ kim của dân chúng Hoa Kỳ tặng dân Di cư tị nạn, tiếp theo phiếu 28.751.428 Mỹ kim do tướng Lawton Collins Đại sứ Đặc phái viên Tổng thống trao tặng hồi tháng 12/1954. Ngày 23/7/55, khánh thành Hội Việt Mỹ ở đường Audouit, Sài Gòn. Ngày 16/8/55, Ký kết Hiệp ước về quốc tịch Pháp Việt giải quyết người Pháp lai và người Việt có Quốc tịch Pháp. Ngày 16/8/55, Đại sứ Henry Hoppenot sang thay thế tương Paul Ély làm Cao uỷ Pháp tại Việt Nam trình Uỷ nhiệm thư. Tuy mang danh hiệu Cao uỷ Poppenot có địa vị như Đại sứ. Ngày 17/8/55, Ký kết Hiệp định Việt-Pháp về Ngân Khố, hai Ngân khố Việt và Pháp ở hai nước trả tiền Thu hộ nhau rồi Thanh toán sau. Ngày 20/8/55, một Phái đoàn gồm các Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Dương Đôn, Trần Trung Dung, và Cố vấn Ngô Đình Nhu sang Pháp điều đình các vấn đề văn hóa và quân sự, hội kiến với Thủ tướng Pháp Edgar Faure. 

QUAN HỆ HAI CHÍNH QUYỀN NAM-BẮC VIỆT NAM. Ngày 11/7/55, Vài trăm dân di cư biểu tình ở Sài Gòn, đòi trục xuất các phần tử Cộng sản. Ngày 13/7/55, sinh viên học sinh biểu tình ở đường Champagne, đả đảo Ủy hội Quốc tế vì có ý bênh vực Việt Minh, đòi thả binh sĩ còn bị Việt Minh bắt giữ. Uỷ hội hứa sẽ xét lại vấn đề. Ngày 16/7/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố “Việt Nam không ký kết Hiệp định Genève, nên không bị ràng buộc, song vẫn trung thành với chính sách hòa bình, và sẵn sàng tổ chức Tổng tuyển cử nếu có thể bầu được tư do. Ngày 20/7/55, biểu tình khổng lồ chống Công, và chống chia đôi đất nước. Dân chúng ập vào phá nhiều phòng của Khách sạn Majestic và khách sạn đường Trần Hưng Đạo thiệt hại khá nhiều, bởi hai nơi nầy thường có Sĩ quan Việt Minh lui tới với Ủy hội Quốc tế. Ngày 16/7/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố “Việt Nam không ký kết Hiệp định Genève, nên không bị ràng buộc, song vẫn trung thành với chính sách hòa bình, và sẵn sàng tổ chức Tổng tuyển cử nếu có thể bầu được tư do.

NHỮNG VIỆC CHÍNH PHỦ ĐÃ LÀM. Ngày 11/5/55, lễ chuyễn giao Viện Đại học. Ngày 11/5/55, lễ tuyên dương công trạng các cấp chỉ huy quân sự trong vụ đánh dẹp Bình Xuyên. Ngày 12/5/55, tướng Nguyễn Văn Vỹ, bị cất chức Tổng Thanh tra Quân đội, Ngày 13/5/55, Đại sứ Nguyễn Khoa Toàn bị chấm dứt nhiệm vụ tại Vọng Các. Ngày 15/5/55, lễ sáp nhập Ngự Lâm quân vào quân đội Quốc gia. Ngày 17/5/55, Bác sĩ Phạm Văn Huyến từ chức Tổng ủy Phụ trách đồng bào tị nạn, Phụ tá Bùi Văn Lương được cử thay thế. Ngày 21/5/55, bị truy tố trước Tòa án Quân sự các tướng: tướng Cao Đài Nguyễn Văn Thành; tướng Bình Xuyên Lê Văn Viễn; tướng Quốc gia Nguyễn Văn Vỹ. Các Đại tá: đại tá Quốc gia Nguyễn Tuyên; đại tá Bình Xuyên Lại Hữu Tài, đại tá Bình Xuyên Lại Hữu Sang về tội phá hoại an ninh và phản bội quốc gia. 

Ngày 23/5/55, Kết quả vụ đánh dẹp Bình Xuyên: 7.826 nhà cháy, 88 thường dân chết, 592 người bị thương; Tại Rừng Sát, tàn quân Bình Xuyên xin quy thuận 133 người với vủ khí; Tịch thu tài sản của Bình Xuyên trị giá 132 triệu, trong đó có 42 triệu tại Ngân hàng. Số nạn nhân vụ biến cố Bình Xuyên, ước chừng 81.445 người, 26.670 người có nhà cháy đã được cấp gạo, tiền, và đưa tới 13 trại tạm trú, 54.755 người ở ngoài các trạm được cấp 8.254.800$. Đã dựng 660 căn nhà tạm trú (5/7/55). Ngày 21/9/55, mở “Chiến dịch Hoàng Diệu” truy kích tàn quân Bình Xuyên tại Rừng Sác, do Đại tá Dương Văn Minh làm Tư lệnh, Trung tá Nguyễn Khánh, Tư lệnh phó. 

Ngày 3/6/55, Bộ đội của tướng Trần Văn Soái tiến đánh một đồn gần Cái Vồn, quân Chính phủ 3 chết 3 bị thương, nhưng đồn vẫn giữ được. Ngày 5/6/55, mở “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” bình định miền Tây Nam Phần do Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy chiếm Cái Vồn, Cần Thơ nơi đặt bản doanh của tướng Soái, giải tỏa được đường Cần Thơ, Cái Vồn, Vĩnh Long. Các khu vực do Hòa Hảo kiểm soát hiện tại là: (1) Hoà Hảo Lâm Thành Nguyên vùng Châu Đốc, Cái Dầu; (2) Hoà Hảo Nguyễn Giác Ngộ vùng Chợ Mới; (3) Hoà Hảo Trần Văn Soái vùng Cần Thơ, Cái Vồn, Sa Đéc, Lai Vung; (4) Hoà Hảo Lê Quang Vinh vùng Thốt Nốt, Long Xuyên, Rạch Giá, Gò Quao, Ô Môn.v.v. Ngày 6/6/55, hơn 600 quân của tướng Trần Văn Soái về hợp tác với Chính phủ. Ngày 8/6/55 có thêm Tiểu đoàn 9 của tướng Soái về hợp tác với chính phủ. 

Ngày 10/6/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 43, đặt tướng Trần Văn Soái (Năm Lữa), và tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 17/6/55, diễn biến “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” quân Chính phủ đánh vào 1 Trung đoàn của tướng Lê Quang Vinh, và 1 Tiểu đoàn của tướng Trần Văn Soái tại vùng Ô Môn, Thốt Nốt, Thạnh Lợi. Ngày 19/6/55 quân Chính phủ bắn 1.000 trái đại bác, vào các căn cứ của Tướng Vinh và tướng Soái, hơn 800 binh sĩ Hòa Hảo về hợp tác. Ngày 25/6/55, Tiểu đoàn 18 của tướng Lê Quang Vinh gồm 118 người với võ khí về hợp tác ở Cần Thơ. Ngày 28/6/55, Bao vây Trung đoàn Lê Lợi của Lê Quang Vinh tại Thất Sơn; Ngày 29/6/55, Đại tá Dương Văn Đức hiếm được núi Ba Chúc, mặc dù quân của tướng Lê Quang Vinh chống cự rất mảnh liệt. 

Ngày 1/7/55, theo tài liệu của Phủ Tổng uỷ Di cư: Tổng số dân Di cư vào Nam: 777.525 người gồm: bằng tàu biển 533.868; bằng máy bay 243.657; Số Trại định cư: 188 trại gồm: 122 trại ở12 tỉnh Nam Phần; 55 trại ở 8 tỉnh Trung Phần; 9 trại ở 6 tỉnh Cao Nguyên; Số nhà đã dựng: 47.051 nhà gồm: 43/288 nhà chắc chắn; 3.763 nhà tạm trú; Ngân khoản được cấp: 1.058.000.000$ gồm: 480 triệu trợ cấp định cư; 300 triệu cấp cho người định cư tự làm nhà. Mỗi người được cấp: 700$ trợ cấp tài chánh; 12$ tiền ăn mỗi ngày; Số dụng sụ, vật liệu đã phát: 124.813 dụng cụ canh nông; 861.585 kiện vải; 393.994 cân chỉ; 3.471 cân chỉ làm chài lưới.  Ngày 30/7/55, Phủ Tổng uỷ Di cư phát động Phong trào “Tự lực Mưu sinh” vì không thể trợ cấp mãi cho dân Di cư. Ngày 9/8/55, thành lập Học viện Quốc gia Hành chánh, thay thế trường Hành chánh Đà Lạt (NĐ 483/PTT/TTK). Ngày 12/10/55, tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương ra lệnh khám xét nhà và bắt giữ một số người ở Tây Ninh để thanh trừng hàng ngũ Cao Đài. 

QUAN HỆ QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI VÀ THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM. Ngày 15/5/55, c ó hàng vạn người biểu tình tại Huế đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 31/5/55, Hội đồng Nhân dân Cách mạng của Nguyễn Bảo Toàn, bắt mở cửa Ngọ Môn Huế, vào Đại Nội tịch thu ấn tín, và nhiều đồ đạt trong Văn phòng Quốc trưởng Bảo Đại.  Ngày 16/6/55, Hội đồng Tôn Nhơn Phủ ở Huế tuyên bố truất phế Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 10/9/55, các báo bắt đầu đã kích “Chế độ củ và Quốc trưởng Bảo Đại”. Ngày 4/10/55, hơn 15 đoàn thể Chính trị, Tôn giáo, Thanh niên, Lao động thành lập một Ủy ban Trưng cầu Dân ý, đưa kiến nghị “đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm”. Ngày 6/10/55, Hội đồng Chính phủ quyết định tổ chức “Trưng cầu Dân ý”. Ngày 8/10/55 Bộ Nội vụ công bố ngày 23/10/1955 sẽ là ngày “Trưng cầu Dân ý”. Ngày 18/10/1955, Quốc trưởng Bảo Đại chấm dứt nhiệm vụ Thủ tướng của Ngô Đình Diệm. Ngày 23/10/55, Trưng cầu Dân ý “Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên chức vị Quốc trưởng. 

(Hết Chương XIV)

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét