Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

 

 Chương XI: 7 BÀI VIẾT VỀ SỰ TIẾN HOÁ TẠI VIỆT NAM, QUỐC GIA TỪNG PHỤ THUỘC ĐẾ QUỐC PHÁP, VÀ CŨNG TỪNG BỊ PHÂN RANH QUỐC GIA - CỘNG SẢN.

(17 trang và 11.521 chữ)

 

140. Sơ lược về các nhà ĐINH, LÊ, LÝ, TRẦN, HỒ, LÊ SƠ, VÀ MẠC (cướp ngôi).

141. Bắc triều nhà MẠC, Nam triều nhà LÊ. Vua Lê chúa Trịnh đánh Mac thắng lợi, chấm dứt Triều MẠC.

142: TRỊNH - NGUYỄN phân tranh, Trịnh Đàng Ngoài, Nguyễn Đang Trong 100 năm. 

143. Nguyễn Tây Sơn khởi nghĩa, quân Trịnh Nam tiến, Tây Sơn thắng lợi, Nguyễn Nhạc xưng Vua hiệu Thái Đức.

144. Đánh chiếm Phú Xuân, Thăng Long, Nhà Tây Sơn mâu thuẫn, hết Nguyễn Hữu Chỉnh đến Vũ Văn Nhậm lộng quyền. 

145. Nguyn Huệ tự xưng Hoàng đế, kéo quân ra Bắc đánh quân Thanh, chiếm lại Thăng Long, tấn công để phòng thủ, dự tính dang dở.  

146. Nguyễn Phúc Ánh đánh Nguyễn Tây Sơn: đánh chiếm Gia Định, cầu viện nước Pháp, lưu vong ở Xiêm, hiệp ước với Pháp, củng cố thế lực về nước, Bắc tiến tháng lợi, Đại Việt thống nhất, lên ngôi Hoàng đế, hiệu Gia Long.

 

 

Bài 140: VÀI NÉT VỀ CÁC NHÀ ĐINH, LÊ, LÝ, TRẦN, HỒ, LÊ SƠ, VÀ MẠC CƯỚP NGÔI LÊ.

BUỔI BÌNH MINH. NƯỚC VĂN LANG của họ Hồng Bàng ở Vùng Ba Vì, Vĩnh Phú, tồn tại 2.621 năm (2879-258 TCN) nối tiếp được 18 đời, thì nước rơi vào tay Thục Phán. Cùng với phần đất của mình Vua Thục lập nước Lạc Viêt. Trị vì được 50 năm (257-207 TCN) thì nước Lạc Việt rơi vào tay Triệu Đà. Cùng với phần đất của mình, Vua Triệu lập nước Nam Việt. Trị vì được 98 năm (207-111 TCN) thì nước Nam Việt lại rơi vào tay Nam Hán. Từ đó, hơn 1000 năm (111 TCN - 938 SCN) nước Nam Việt trở thành một phần của Trung Quốc với tên mới là Giao Chỉ Bộ, và sau đó (năm 679) đổi tên thành An Nam. NGÔ, ĐINH, LÊ. Năm 939, NGÔ QUYỀN thâu hồi độc lập cho nước, rồi tiếp đến là loạn Thập nhị Sứ quân. Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh mới dẹp được loạn, thống nhất đất nước, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. 

NHÀ ĐINHNhà Đinh trị vì 22 năm (968-980), với 2 đời vua. Năm 980, Lê Hoàn kế tục Nhà Đinh lên làm vua hiệu Lê Đại Hành. NHÀ LÊNhà Lê trị vì 29 năm (890-1009), với 3 đời vua. Nhà Lê đánh thắng quân xâm lược Tống, rồi quay sang đánh Champa (năm 982). Đây là thắng lợi đầu tiên trên đường Nam tiến. NHÀ LÝ. Nhà Lý trị vì 215 năm (1009-1225), với 9 đời vua. Năm 1042, vua Lý cho ban hành bộ luật có tên Hình thư, luật thành văn đầu tiên của nước ta. Năm 1069, đánh Chiêm Thành, Chế Củ dâng đất Quảng Bình, Quảng Trị. Năm 1070, mở Quốc Tử Giám, dựng Văn Miếu, tạc tượng Khổng Tử. Năm 1075, mở khoa thi gọi là Minh kinh bác sỉ, và thi Nho học tam trường. Năm 1076, lập Quốc Tử Giám, trường Đại học ở kinh đô Thăng Long.

Năm 1077, qua bài thơ “Nam Quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt như một Tuyên ngôn độc lập, khẳng định chủ quyền của nước Nam ta. Năm 1078, nhà vua cho đắp đê Cơ Xá, ngăn nước ở kinh thành Thăng Long. Năm 1149, cho phép nước ngoài vào đảo Vân Đồn buôn bán. Năm 1194, mở khoa thi tam giáo (Nho, Lão, Phật) tuyển người thi đỗ ra làm quan. Vị vua thứ 8, là Lý Huệ Tông (1210-1224), (Lý Hạo Sãm) lên ngôi lúc 16 tuổi, do loạn lạc, vua Huệ Tông đi lánh nạn ở Lưu Gia, Thái Bình, lấy Trần thị Dung. Sau khi về triều, cho đón Dung vào làm Nguyên phi, và phong tước hầu cho anh vợ Trần Tự Khánh. Năm 1217, Lý Huệ Tông bị bệnh, giao việc triều chính cho anh vợ Trần Tự Khánh. 

Và vị vua thứ 9 là Lý Chiêu Hoàng (1224-1225), cũng là vị vua sau cùng của nhà Lý, lên ngôi lúc 7 tuổi. Năm 1224, Trần Thủ Độ em họ Nguyên phi Trần Thị Dung được cử làm Điện tiền chỉ huy sứ, bảo vệ cấm thành và giữ mọi quyền hành trong nội cung. Trần Thủ Độ cho cháu Trần Cảnh 8 tuổi, vào cung làm Chánh thủ, ngày đêm hầu hạ Lý Chiêu Hoàng. Một năm sau, năm 1225, Thủ Độ dựng lên một cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh. Rồi, buộc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh mở đầu nhà Trần. 

NHÀ TRẦNNhà Trần  trị vì 175 năm (1225-1400) với 12 đời vua. Năm 1226, Trần Thái Tông (Trần Cảnh) phong Trần Thủ Độ làm Thái Sư, Hoàng hậu Trần Thị Dung xuống làm Thiên cực Công chúa, để trở thành vợ của Trần Thủ Độ. Còn Lý Chiêu Hoàng làm Hoàng Hậu. Năm 1232, nhà Trần cho mở khoa thi Thái học sinh chia thành 3 bậc gọi là “Tam giáp”. Năm 1242, nhà Trần chia cả nước thành 12 Lộ, đặt chức An phủ sứ, hoặc An phủ phó sứ, hoặc Trấn thủ để trông coi, tại cơ sở, đặt ra chức Đại tư xã, Tiểu tư xã, xã chính, xã sử, xã giám gọi chung là xã quan để quản lý . Đến vị vua thứ 7, Trần Dụ Tông (Trần Hạo), 1324-1369. Sau khi vua Dụ Tông mất, bảo táp cung đình nhà Trần nổi lên, Hoàng Thái hậu lập “con nuôi của Cung Túc vương” là Dương Nhật Lễ lên ngôi. 

Mẹ Nhật Lễ là đào hát lấy kép hát Dương Khương có thai, rồi bỏ chồng lấy “Cung Túc vương” sinh ra Nhật Lễ. Khi Lễ làm vua, hắn giết Hoàng Thái hậu, Cung Định vương, khiến “Cung Tĩnh vương” phải chạy trốn lên Đà Giang. Tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh giết chết Nhật Lễ, rồi lên Đà Giang rước Cung Tĩnh vương về làm vua, tức vua thứ 9 Trần Nghệ Tông; Vị thứ 12, và là vị vua sau cùng của nhà Trần là Trần Thiếu Đế (Trần Án) trị vì từ năm 1398 đến năm 1400. 

NHÀ HỒ. Nhà Hồ trị vì 7 năm (1400-1407) với hai vị vua là Hồ Quý Ly hiệu Thành Nguyên (1400-1401); Và Hồ Hán Thương hiệu Thiệu Thành (1401-1407). Hồ Quý Ly là nhân vật thông minh lỗi lạc, ông đề ra nhiều cải cách táo bạo, ông viết sách “Minh Đạo” phê phán tư tưởng Tống Nho; đo đạt lại ruộng đất, điều tra dân số, phát hành tiền giấy; cải cách chế độ thi cử, mở mang giáo dục, đào tạo nhân tài; định ra hình luật, tăng cường bộ máy quyền lực của triều đình; củng cố quân đội, xây dựng các tuyến phòng thủ, lập xưởng đúc binh khí. Nhưng, Hồ Quý Ly mắc tội giết vua Thiếu Đế cùng tôn tộc quan lại nhà TrầnNhân cơ hội đó, từ tháng 9 năm 1406 nhà Minh đưa quân sang cửa ải Pha Lũy, chiếm Việt Trì, nhà Hồ phải chạy vào Thanh Hóa. Đến ngày 17 tháng 6 năm 1407, quân Minh bắt được cha con Hồ Quý Ly. Thế là, nước ta lại bị nhà Minh độ hộ kéo dài 20 năm.

NHÀ LÊ SƠ. Bình Định Vương Lê Lợi khởi nghĩa 10 năm (1417-1427) mới giành chiến thắng, lập ra Triều đại nhà Lê Sơ cai trị 99 năm (1428-1527) với 10 vị vua. Vị vua thứ nhất là Lê Thái Tổ (Lê Lợi) lên ngôi ngày 15 tháng 4 năm 1428, đặt tên nước là ĐẠI VIỆT đóng đô ở Đông Đô (Hà Nội) ban bố “Bình Ngô đại cáo” là tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của tổ quốc ta. Nhà Vua ấn định luật lệnh; chế tác lễ nhạc; mở khoa thi; đặt cấm vệ; xây dựng quan chức; thành lập phủ, huyện; mở mang trường học. Vị vua thứ tư là Lê thánh Tông, nhà vua hết lòng chăm lo việc nước: mở khoa thi, kén chọn người tài ra giúp việc nước; khuyến khích sản xuất nông nghiệp, mở mang ngành nghề; mở rộng giao lưu buôn bán; ban hành chế độ quân điền; và ban hành bộ luật Hồng Đức nổi tiếng. 

Vị vua thứ 10, cũng là vị vua sau cùng triều Lê Sơ là Lê Cung Hoàng, lên ngôi lúc 15 tuổi. Sáu năm sau, năm 1527, bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi, lúc nhà vua 21 tuổi, cả Nhà Vua và Thái hậu phải tự tử. Mạc Đăng Dung có sức khỏe phi thường, tướng mạo khôi ngô, là một thanh niên nghèo làm nghề đánh cá, đi thi võ ở kinh đô, trúng đô lực sỉ, được sung vào chức túc vệ chuyên cầm dù theo xe vua. Năm 1511, lúc 29 tuổi được phong tước Vũ Xuyên Bá. Năm 1516, Mạc Đăng Dung được cử làm trấn thủ Sơn Nam. Trải qua ba đời vua, Dung được phong Thái sư Nhân quốc công, rồi đến An Dương Vương. Lợi dụng vua Lê Cung Hoàng thiếu kinh nghiệm trong việc “chăn dân trị nước” từ Cổ Trai, Mạc Đăng Dung đem quân về kinh đô ép vua nhường ngôi, lập nên triều Mạc, tồn tại 65 năm, trải qua 5 đời vua. Vị vua sau cùng là Mạc Mậu Hợp. 

 

Bài 141: BẮC TRIỀU NHÀ MẠC, NAM TRIỀU NHÀ LÊ, VÀ VUA LÊ - CHÚA TRỊNH ĐÁNH MẠC CHẤM DỨT BẮC TRIỀU NHÀ MẠC.

BẮC TRIỀU NHÀ MẠC, NAM TRIỀU NHÀ LÊ. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê Sơ, lập ra nhà Mạc, Nguyễn Kim (1468-1545), vốn là một tướng giỏi của nhà Lê đem con em lánh sang Ai Lao, thu nạp hào kiệt khôi phục nhà Lê. Năm 1533, lập con vua Lê Chiêu Tông lên ngôi, tức là Lê Trang Tông, Kim được phong Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công trưởng nội ngoại sự. Năm Canh Tí (1540) Nguyễn Kim đem quân về chiếm Nghệ An. Năm Nhâm Dần (1542) Nguyễn Kim cùng với vua Lê tiến ra Thanh Hoá chiếm lại Tây Ðô. Công cuộc trung hưng nhà Lê đang lớn mạnh, thì năm Ất Tị (1545), Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, thọ 78 tuổi. Quyền hành từ đó rơi vào tay Trịnh Kiểm, con rể Nguyễn Kim.

Trịnh Kiểm, người mở đầu sự nghiệp của họ Trịnh, người huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá. Tương truyền thuở nhỏ nhà Trịnh Kiểm nghèo, hàng xóm rất ghét, nhân khi Trịnh Kiểm đi vắng bèn bắt mẹ ông ném xuống vực. Trịnh Kiểm về không thấy mẹ đâu bèn đi tìm, đến vực tìm ra xác mẹ thì mối đã xông đầy lên rồi. Sau có ông thầy tướng đi qua chỉ vào ngôi mộ mẹ Trịnh Kiểm đọc rằng: Phi đế phi bá. Quyền khuynh thiên hạ. Truyền tộ bát đại. Tiêu tường khởi vạ. Nghĩa là: Chẳng đế chẳng bá. Quyền nghiêng thiên hạ. Truyền được tám đời. Trong nhà dấy vạ

Mẹ mất, nghe tin Nguyễn Kim nổi dậy dựng lại nhà Lê, Trịnh Kiểm bèn đến xin gia nhập. Nhờ tài năng, ông được Nguyễn Kim tin cậy và gả con gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo cho. Nǎm 1539, ông được phong làm Đại tướng quân, tước Dực quận công. Năm 1545, Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm lên thay cầm quyền, được phong làm thái sư nắm toàn thể quân đội. Nắm quyền trong triều đình, trước hết Trịnh Kiểm lo đối phó với các con của Nguyễn Kim để củng cố quyền lực. Ông sai thuộc hạ xông vào nhà giết con cả của Kim là Nguyễn Uông. Người con thứ là Nguyễn Hoàng sợ hãi xin xuống trấn giữ vùng Thuận Hoá - Quảng Nam  ở phía Nam. 

Trịnh Kiểm cho rằng giết cả hai anh em Hoàng sẽ mang tiếng, mà Thuận - Quảng là nơi xa xôi, "ô châu ác địa" nên bằng lòng cho Hoàng vào đó để mượn tay nhà Mạc giết Hoàng. Từ đó TRỊNH KIỂM nắm toàn bộ quyền hành của nhà Lê, xây dựng sự nghiệp cho HỌ TRỊNH. Năm 1556, vua Lê Trung Tông mất sớm không có con nối, Trịnh Kiểm định giành ngôi nhà Lê, nhưng còn do dự sợ dư luận, bèn sai người tìm đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bấy giờ đang ẩn dật. Nghe theo lời khuyên của Trạng Trình ("giữ chùa thờ Phật thì ăn oản"), Trịnh Kiểm bèn đi tìm được người trong tôn thất nhà Lê là Lê Duy Bang, cháu 6 đời của Lê Trừ (anh Lê Thái Tổ), lập làm vua, tức là LÊ ANH TÔNG. Từ đó họ Trịnh nối đời cầm quyền nhưng danh nghĩa làm bề tôi cho nhà Lê, hai họ sống chung trong cơ chế lưỡng đầu phụ thuộc nhau. Bởi vậy người đời truyền lại câu: "Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong."

VUA LÊ - CHÚA TRỊNH. Năm 1570, Trịnh Kiểm mất, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh quyền. Hai anh em dàn quân đánh nhau. Cùng lúc đó quân Mạc từ bắc kéo vào. Trịnh Cối bị kẹp giữa hai đường không thể cự nổi bèn đầu hàng nhà Mạc, được thu nhận và phong chức. Vua Lê Anh Tông ủng hộ ngôi con trưởng của Trịnh Cối, cùng mưu với Lê Cập Đệ định giết Trịnh Tùng, nhưng việc bị lộ. Vua Anh Tông mang 4 người con lánh đi nơi khác. Trịnh Tùng lập người con út của vua tên Đàm lên ngôi, tức là LÊ THẾ TÔNG. Sau đó, Trịnh Tùng lùng bắt được cha con vua Anh Tông mang về lập mưu giám sát, rồi bức chết. Từ đó vua Lê hoàn toàn nép trong cung, TRỊNH TÙNG tự mình xử trí mọi việc trong triều. Các vua Lê sau có ý định chống lại đều bị bức tử và thay thế bằng một hoàng đế nhỏ tuổi hoặc dễ bảo hơn. 

Vua Lê cai quản vùng phía nam của ĐẠI VIỆT và chiến đấu với nhà Mạc ở phía bắc. Bấy giờ nhà Lê chiếm lại được Thanh Hoá và Nghệ An. Nhờ có khẩu hiệu "Phù Lê diệt Mạc" (giúp Lê diệt Mạc), thanh thế họ Trịnh ngày một lớn. Ở vùng Tây bắc, anh em Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên (Chúa Bầu) cát cứ tại Tuyên Quang sai người đến xin quy phục họ Trịnh. Sau đó, năm 1550, thái tể nhà Mạc là Lê Bá Ly là cựu thần nhà Lê sơ cùng thông gia là Nguyễn Thiến mang gia quyến về hàng. Trong suốt những năm 1545 – 1580 là giai đoạn hai bên giằng co. Được tăng sức mạnh, họ Trịnh liên tiếp tấn công ra bắc đánh Sơn Nam, Ninh Bình, Sơn Tây, Thăng Long. 

Nhà Mạc lúc đó dưới sự chèo lái của Khiêm Vương Mạc Kính Điển đã đứng vững. Mạc Kính Điển nhiều lần phải mang vua Mạc qua sông tránh sang Kim Thành (Hải Dương) nhưng quân Lê – Trịnh vẫn không vào được Thăng Long. Ngược lại, sau những đợt tấn công ra bắc, quân Trịnh cũng phải đối phó với những đợt tiến công vào Thanh Hóa - Nghệ An của Mạc Kính Điển. Hai bên khi được khi thua. Cuộc chiến giằng co nổi lên tên tuổi các tướng Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu bên Lê-Trịnh, Nguyễn Quyện bên Mạc. Năm 1580, sau khi Mạc Kính Điển chết (1580), nhà Mạc bắt đầu suy yếu. Vua Mạc là MẠC MẬU HỢP ít lo chính sự, phụ chính Mạc Đôn Nhượng không đủ năng lực. Quân Lê-Trịnh bắt đầu chiếm ưu thế. 

LÊ-TRỊNH ĐÁNH MẠC CHẤM DỨT BẮC TRIỀU NHÀ MẠCNăm 1591, Trịnh Tùng đem quân bắc tiến áp sát thành Thăng Long. Đầu năm 1592, Mạc Mậu Hợp chạy sang Gia Lâm, thống suất thủy quân để làm thanh thế trên sông Nhị Hà cho các tướng giữ kinh thành Thăng Long. Trịnh Tùng thúc quân tổng tiến công. Các tướng Mạc Ngọc Liễn, Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên tan vỡ bỏ chạy. Nguyễn Quyện bị bắt rồi bị giết, hai con tử trận. Quân Mạc chết rất nhiều. Trịnh Tùng rút quân chủ lực về. Mạc Mậu Hợp thu tàn quân án ngữ sông Nhị Hà, lại ham sắc đẹp của vợ tướng Bùi Văn Khuê, là Nguyễn Thị Niên nên muốn giết Khuê. Tháng 8 năm 1592, Bùi Văn Khuê biết chuyện bèn đem quân hàng Lê, hợp binh với Trịnh Tùng đại phá quân Mạc. Tháng 11 năm 1592, Trịnh Tùng lại tiến đánh Thăng Long. Mạc Mậu Hợp thua chạy về Kim Thành (Hải Dương). 

Thấy thế nguy cấp, Mậu Hợp lập con là MẠC TOÀN lên ngôi, tự mình làm tướng thống suất quân đội. Sau các cuộc chiến ác liệt tại khu vực các phủ Nam Sách, Hạ Hồng, Kinh Môn trong tháng 11 và 12 thì quân Mạc thua to. Mạc Mậu Hợp phải bỏ trốn đến huyện Phượng Nhãn, bị bắt sống sau đó ít ngày và bị hành hình. Sau vài cuộc chiến khác chống lại các thế lực tàn dư nhà Mạc, Trịnh Tùng rước vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long năm 1593. Họ Trịnh đánh dấu quyền lực bằng cách tiến hành xây PHỦ CHÚA TRỊNH ở Thăng Long. 

 

Bài 142: TRỊNH - NGUYỄN PHÂN TRANH, TRỊNH ĐÀNG NGOÀI - NGUYỄN ĐÀNG TRONG 100 NĂM

TRỊNH – NGUYỄN PHÂN TRANH. Sau khi đánh đuổi họ Mạc chạy lên Cao Bằng, Trịnh Tùng rước Vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long. Trịnh Tùng bắt đầu tính chuyện với người cậu ở phía Nam. m 1593, Trịnh Tùng triệu Nguyễn Hoàng ra bắc với lý do để cùng đánh tàn dư họ Mạc còn tản mát ở Bắc bộ. Hoàng vâng lệnh mang quân ra bắc, phá tan quân Mạc ở Hà Trung và Sơn Nam, sau đó được Tùng giao trách nhiệm trấn giữ Sơn Nam. Ở Sơn Nam được 8 năm, Nguyễn Hoàng cố tìm cách thoát về Nam. Năm 1600, nhân họ Mạc có cuộc nổi dậy, Hoàng ngầm xúi giục các hàng tướng Mạc cũ là Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga nổi loạn để Hoàng lấy cớ đi dẹp. Trịnh Tùng mải đối phó họ Mạc ở Cao Bằng, họ Vũ ở Tuyên Quang nên đồng ý cho Nguyễn Hoàng đi dẹp. Hoàng nhân cơ hội đó chạy thẳng ra biển đi thoát về Nam. 

Kể từ đây (năm 1600), NGUYỄN HOÀNG lấy danh xưng CHÚA NGUYỄN, để trực diện đối đầu với CHÚA TRỊNH phía Bắc… Thấy Nguyễn Hoàng trốn thoát, Trịnh Tùng sai người cầm thư vào nam dụ ra lần nữa nhưng Hoàng không ra, sau đó lại bỏ không nộp thuế đều đặn cho miền Bắc. Để xoa dịu tình hình, Nguyễn Hoàng gả con gái là Ngọc Tú cho con Trịnh Tùng là Trịnh Tráng (tức là cháu lấy cô). Năm 1613, chúa Nguyễn Hoàng qua đời, người con trai thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên kế vị, gọi là chúa Sãi. Năm 1623, Bình An Vương Trịnh Tùng qua đời, con là Trịnh Tráng lên thay, hiệu Thanh Đô Vương Trịnh Tráng.

Năm 1627, lấy cớ Nguyễn Phúc Nguyên bỏ không nộp thuế cho vua Lê, Trịnh Tráng làm sắc đứng tên vua Lê gửi trách Nguyễn, đòi đích thân hoặc sai con tải thuế ra bắc. Theo kế của mưu sĩ Đào Duy Từ, Phúc Nguyên một mặt lo tăng cường phòng thủ, một mặt tìm cách trả lại sắc thư. Chúa Nguyễn sai đúc mâm hai đáy, để sắc thư” kèm theo một bài thơ” có ẩn ý “Ta không nhận sắc” để vào đáy dưới, bên trên để vàng bạc, rồi sai Văn Khuông mang ra bắc tạ với chúa Trịnh. Dâng mâm lễ vật lên chúa Trịnh xong, Khuông xin về công quán” nghỉ, rồi trốn luôn về Nam. Phía Trịnh phát giác mâm hai đáy bên trong có tờ sắc thư” và một bài thơ” ngang ngạnh, Trịnh Tráng tức giận quyết định khởi đại binh Nam tiến. 

Cuộc chiến thứ nhất Năm 1627, Trịnh Tráng đưa 20 vạn quân thủy bộ Nam tiến chủ động tấn côngnhưng bị yếu thế trước quân Nguyễn, trong lúc khi đó có tin Trịnh Gia và Trịnh Nhạc âm mưu làm phản. Trịnh Tráng nghi ngờ vội thu quân về bắc. Khi quân Trịnh rút về Bắc. Nguyễn Phúc Nguyên theo kế của Đào Duy Từ gấp rút xây lũy Trường Dục (Lũy Thày) để phòng thủ. Năm 1631, con Nguyễn Phúc Nguyên là thế tử Nguyễn Phúc Kỳ chết, con thứ tư là Nguyễn Phúc Anh ra thay Kỳ trấn giữ Quảng Nam. Nguyễn Phúc Nguyên lập con thứ hai là Nguyễn Phúc Lan làm thế tử, Phúc Anh bất mãn không được làm thế tử, mưu thông đồng với chúa Trịnh, viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng. 

Cuộc chiến thứ hai. Năm 1633, Trịnh Tráng khởi binh Nam tiến lần thứ hai, đóng ở cửa Nhật Lệ. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến nghênh chiến. Trịnh Tráng đang đợi suốt hơn 10 hôm không thấy hiệu làm nội ứng của Phúc Anh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh hoảng loạn tan vỡ bỏ chạy. Trịnh Tráng rút về bắc, giao cho con rể là Nguyễn Khắc Liệt ở lại trấn thủ châu Bắc Bố Chính. Năm 1634, Đào Duy Từ chết, năm sau Nguyễn Phúc Nguyên chết, con là Phúc Lan lên thay. Em Lan là Phúc Anh nổi loạnbị giết chếtNăm 1637, Phúc Lan sai Nguyễn Đình Hùng mang quân đánh úp quân Trịnh chiếm Nam Bố Chính, giết tướng trấn thủ Nguyễn Tịch. Năm 1640, từ Bắc Bố Chính, Nguyễn Khắc Liệt mang quân đánh phá Nam Bố Chính rồi rút về. Nguyễn Khắc Liệt bi nghi là mưu thông với chúa Nguyễn bị Trịnh Tráng xử tử.

Cuộc chiến thứ ba. Năm 1643, Trịnh Tráng điều quân vào nam chiếm lại Bắc Bố Chính. Chúa Trịnh cử hai con là Trịnh Tạc và Trịnh Lệ đi tiên phong, cùng các tướng Phạm Công Trứ, Nguyễn Danh Thọ, Nguyễn Quang Minh. Quân Trịnh ồ ạt tiến công giết chết tướng Nguyễn là Bùi Công Thắng, chiếm lại Bắc Bố Chính, tiến lên đóng ở cửa Nhật LệHai bên đối trận chưa phân thắng bại, gặp lúc mùa hè, khí hậu oi bức, quân Trịnh bị bệnh nhiều nên Trịnh Tráng đành ra lệnh lui quân. 

Cuộc chiến thứ tưTháng 2 âm lịch năm 1648, Trịnh Tráng sai Lê Văn Hiểu khởi binh nam tiến lần thứ tư, dẫn bộ binh đánh Nam Bố Chính, còn thủy quân đánh cửa Nhật Lệ. Cha con Trương Phúc Phấn cố thủ ở lũy Trường Dục, quân Trịnh đánh không hạ được. Thế tử Phúc Tần mang quân cứu viện, chia quân thủy phục ở sông Cẩm La, sai Nguyễn Hữu Tiến mang quân đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm. Quân Trịnh chạy đến tận sông Gianh. Tháng 3 năm 1648, nghe tin chúa Nguyễn ngã bệnh chết trên thuyền trên đường về Thuận Hóa nên phải lui binh. Con Phúc Lan là Nguyễn Phúc Tần kế vị, gọi là chúa Hiền vương. 

Cuộc Đại chiến lần thứ năm 1655-1660. Cuộc chiến lần thứ năm là cuộc chiến dài nhất, lớn nhất trong cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn và là lần duy nhất quân Nguyễn chủ động đánh ra bắc. Tháng 4 năm 1655, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật mang quân vượt sông Gianh đánh Bắc Bố Chính. Tướng Trịnh là Phạm Tất Toàn đầu hàng. Tiến và Dật thừa thắng tiến lên đánh Hoành Sơn, Lê Hữu Đức thua chạy. Tiến và Dật đánh luôn Hà Trung, Lê Văn Hiểu thua chạy nốt, cùng Đức lui về giữ An Trường (Nghệ An). Trịnh Tráng thấy các tướng thua luôn, sai Trịnh Thượng làm thống lĩnh mang quân vào Nam, triệu các tướng cũ về. Trịnh Thượng tiến quân bộ vào huyện Kỳ Hoa, chia quân thủy tiến đến cửa Kỳ La. Nguyễn Hữu Tiến rút về nam sông Gianh. Trịnh Thượng thấy địch vô cớ rút, biết có mưu nhử nên không đuổi, đóng lại Lạc Xuyên, chia quân ra giữ Hà Trung.

Hữu Tiến, Hữu Dật thấy địch không đuổi, liền chia quân thủy bộ đánh ra. Quân Trịnh hai cánh đều thua, quân thủy bỏ Kỳ La về Châu Nhai, quân bộ bỏ Lạc Xuyên về giữ An Trường. Thế là 7 huyện Nghệ An ở phía nam sông Lam là Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơ, Thanh Chương về tay chúa Nguyễn. Trịnh Tráng giáng chức Trịnh Thượngrồi cử con là Trịnh Tạc vào làm Thống lĩnh. Nguyễn Hữu Tiến thấy viện binh Trịnh bèn lui về giữ Hà Trung. Gặp lúc họ Mạc phía bắc quấy rối, Trịnh Tạc phải rút về bắc, để Đào Quang Nhiêu ở lại đóng ở An Trường, Vũ Văn Thiêm lãnh thủy quân đóng ở Khu Độc; Thân Văn Quang và Mẫn Văn Liên đóng ở Tiếp Vũ. 

Năm 1656, Hữu Tiến đánh Tiếp Vũ, Quang và Liên bỏ chạy. Nguyễn Hữu Dật phá tan thủy quân của Văn Thiêm, Thiêm cũng chạy. Quân Nguyễn hợp lại đánh Đào Quang Nhiêu, Nhiêu thua chạy về giữ An Trường. Trịnh Tráng bèn cử con út là Trịnh Toàn vào cứu viện. Toàn đốc quân tiến đến Thạch Hà, sai Nhiêu và Dương Hồ tiến lên đóng ở Đại Nại và Hương Bộc, Văn Thiêm tiến lên cửa Châu Nhai (cửa khẩu sông Lam). Nguyễn Hữu Dật sai Nguyễn Cửu Kiều đánh Văn Thiêm, Thiêm lại bỏ chạy. Dật sang bờ sông Lam hợp binh với Kiều kéo đến Đại Nại. Quân bộ của Nguyễn Hữu Tiến đánh Nhiêu ở Hương Bộc, Trịnh Toàn mang quân đến cứu, giữ được Hương Bộc. Tiếp đó, Trịnh Toàn lại đánh sang Đại Nại, giết chết Cửu Kiều, quân Nguyễn thua to, chạy về Hà Trung. 

Trịnh Tráng bệnh nặng, thế tử Trịnh Tạc cầm quyền điều hành. Thấy Trịnh Toàn rất có uy tín với quân sĩ, Trịnh Tạc lo lắng. Tạc sai con là Trịnh Căn mang quân vào Nghệ An, tiếng là tăng viện nhưng để kìm chế Trịnh Toàn. Tháng 4 năm 1657, Trịnh Tráng chết, Tây Định vương Trịnh Tạc lên thay. Trịnh Tạc triệu Toàn về kinh, cử Trịnh Căn thay thế. Thủ hạ của Toàn một số sang hàng quân Nguyễn. Toàn về kinh, chúa Trịnh Tạc lấy cớ trách Toàn không chịu tang cha rồi giam vào ngục rồi giết chết…

Cuộc chiến thứ sáu 1661-1662Sau 1 năm nghỉ binh, nhân vừa thắng quân Nguyễn, tháng 10 năm 1661, Trịnh Tạc mang vua Lê Thần Tông cử đại binh vào nam, cử Trịnh Căn làm thống lĩnh cùng các tướng Hoàng Thể Giao, Đào Quang Nhiêu, Lê Thì Hiến vượt sông Gianh. Nguyễn Hữu Dật trấn thủ Nam Bố Chính chia quân đắp lũy thế thủ, quân Trịnh đánh mấy tháng không hạ được. Tháng 3 năm 1662, quân viễn chinh mệt mỏi, lương hết, chúa Trịnh bèn rút quân về bắc. Hữu Dật đuổi theo đến sông Gianh rồi rút về.

Cuộc chiến thứ bảy 1672Vua Thần Tông rồi Huyền Tông mất, vua Gia Tông lên ngôi. Sau khi dứt được họ Mạc ở Cao Bằng (1667), năm 1672, chúa Trịnh lại cử binh nam tiến, sai Trịnh Căn lĩnh thủy binh, Lê Thì Hiến lĩnh bộ binh. Bên Nguyễn năm 1666 Nguyễn Hữu Tiến chết. Chúa Nguyễn cử em là Hiệp làm chủ tướng cùng Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Mỹ Đức ra chống cự, tự chúa Nguyễn ra tiếp ứng. Quân Trịnh hăng hái đánh lũy Trấn Ninh mấy lần suýt hạ được, nhưng Nguyễn Hữu Dật cố sức chống đỡ. Quân Trịnh đánh mãi không thắng phải rút về Bắc Bố Chính, thấy Trịnh Căn bị ốm, nên Trịnh Tạc ra lệnh rút đại quân về kinh, cử Lê Thì Hiến, Lê Sĩ Triệt ở lại trấn thủ.

TRỊNH ĐÀNG NGOÀI, NGUYỄN ĐÀNG TRONG. Trước sau trong 45 năm ròng rã, hai bên Trịnh - Nguyễn đánh lớn bảy lần. Chiến trường chủ yếu ở hai bờ sông Gianh, vùng Nghệ An, Hà Tỉnh, và Quảng Bình ngày nay. Hai bên đều có lợi thế và yếu điểm nên không thể tiêu diệt được nhau, nên phải chấp nhận đình chiến, chia cắt lâu dài. Sông Gianh, sử sách hay gọi là Linh Giang, trở thành ranh giới chia nước Đại Việt thành Đàng Ngoài, và Đàng Trong. Họ Trịnh không thể tiến vào chiếm Thuận Hóa nên tập trung diệt tàn dư nhà Mạc ở Cao Bằng (1677), dứt họ Vũ ở Tuyên Quang (1699) củng cố địa bàn Bắc Bộ. Họ Nguyễn không thể ra Thăng Long nên dồn sức diệt Chiêm Thành lấn sang Chân Lạp để mở mang bờ cõi vốn nhỏ hẹp về phía Nam. Hai bên TRỊNH-NGUYỄN đều có những vị Chúa cai trị giỏi nên ổn định được lãnh thổ suốt hơn 100 năm. 

 

Bài 143TÂY SƠN KHỞI NGHĨA, QUÂN TRỊNH NAM TIẾN, TÂY SƠN THẮNG LỢI, NGUYỄN NHẠC XƯNG VƯƠNG HIỆU THÁI ĐỨC.

TÂY SƠN KHỞI NGHĨA, QUÂN TRỊNH NAM TIẾN. Một trăm năm sau khi đình chiến, một biến cố lớn ở Đàng Trong làm xáo trộn cả Nam Hà lẫn Bắc Hà. Năm 1771, Ba anh em họ Nguyễn ở Tây Sơn nổi lên khởi khởi nghĩa nhân lúc chính quyền chúa  Nguyễn lục đục rơi vào tay quyền thần Trương Phúc Loan. Khi thủ lĩnh Tây Sơn là Nguyễn Nhạc làm chủ được Nam Trung Bộ thì chúa Trịnh nghĩ rằng thời cơ tiêu diệt chúa Nguyễn đã đến. Bước đầu, Trịnh dùng danh nghĩa giúp chúa Nguyễn đánh Tây Sơn”. Tháng 9 năm Giáp Ngọ (1774), Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm cử lão tướng Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc làm Bình nam thượng tướng quân, Bùi Thế Đạt làm phó tướng mang 36.000 quân nam tiến.

Quân Trịnh tiến tới địa giới Bắc Bố Chính, tướng Nguyễn là Trần Giai chạy sang đầu hàng, làm hướng đạo cho quân Trịnh. Hoàng Ngũ Phúc vượt sông Gianh. Chúa Nguyễn biết ý Trịnh muốn đánh chiếm nên điều quân kháng cự. Được quan chúa Nguyễn là Kiêm Long gợi ý, Hoàng Ngũ Phúc sai Hoàng Đình Thể tiến đánh lũy Trấn Ninh. Các tướng Nguyễn làm nội ứng mở cửa đầu hàng. Quân Trịnh chiếm được Quảng Bình.  Tháng 11 năm 1774, Trịnh Sâm mang thủy quân vào Nghệ An tăng cường cho quận Việp. Việp đánh Lưu Đồn, Tống Hữu Trường bỏ chạy. Quận Việp tiến đến Hồ Xá, lấy cớ trừng phạt Trương Phúc Loan chuyên quyền” tiếp tục đưa quân Nam tiến.

Quân Nguyễn thấy không chống nổi, chúa Nguyễn Phúc Thuần bắt trói Trương Phúc Loan nộp quân Trịnh. Giết Loan rồi, Hoàng Ngũ Phúc lại dùng lý do giúp Nguyễn đánh Tây Sơn để tiến vào Phú Xuân hội binh. Chúa Nguyễn sai các tướng trá hàng để quấy rối Quảng Bình, Bố Chính sau lưng quân Trịnh, nhưng các cánh quân đó bị quân Trịnh nhanh chóng phá tan. Chúa Nguyễn điều Tôn Thất Chí, Nguyễn Văn Chính ra đánh đều bị quận Việp đánh bại. Quận Việp sai Hoàng Đình Thể, Hoàng Nghĩa Phác theo đường núi qua thác Trầm Ma đánh tan quân Nguyễn, giết chết Chính. Đầu năm 1775quân Trịnh tiến vào Phú Xuân. Chúa Nguyễn không chống nổi phải bỏ chạy vào Quảng Nam. 

Quân Trịnh chiếm toàn bộ Thuận Hoá. Chúa Nguyễn bỏ chạy vào Quảng Nam, Nguyễn Nhạc mang quân ra đánh, bắt được hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, chúa Nguyễn Phúc Thuần bỏ Quảng Nam theo đường biển trốn vào Gia Định. Tháng 2 năm 1775, Trịnh Sâm hạ lệnh cho quận Việp đánh Quảng Nam. Tháng 4, quân Trịnh vượt đèo Hải Vân và đụng độ với quân Tây Sơn. Hoàng Ngũ Phúc sai Hoàng Đình Thể, Hoàng Phùng Cơ đánh Tây Sơn ở Cẩm Sa, Nguyễn Nhạc phải rút quân về Quy Nhơn. Nhân lúc Nguyễn Nhạc thua trận, tướng Nguyễn là Tống Phúc Hiệp từ Bình Khang đánh ra Phú Yên, Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương trốn thoát khỏi Tây Sơnquân Tây Sơn thua trận ở Phú Yên phải rút về Quy Nhơn.

ĐẦU HÀNG TRỊNH, LÀM TIÊN PHONG ĐÁNH NGUYỄN. Tình thế của Nguyễn Nhạc rất nguy ngập, bèn sai người đến chỗ Hoàng Ngũ Phúc xin đầu hàngvà xin làm tiên phong cho quân Trịnh đánh quân Nguyễn. Hoàng Ngũ Phúc cũng muốn mượn sức Tây Sơn diệt chúa Nguyễnnên nhân danh chúa Trịnh, Ngũ Phúc chấp nhận Nhạc, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem sắc, ấn, cờ đến phong Nguyễn Nhạc làm “Tây Sơn trưởng hiệu tráng tiết tướng quân”. Dù thế, quận Việp lão luyện vẫn không lui quân, đóng sát địa giới Quảng Ngãi, định chờ nếu Tây Sơn bại trận sẽ tiến vào chiếm Quảng Ngãi và Quy Nhơn. Nhân lúc Tây Sơn mang quân vào đánh Phú Yên, quận Việp liền lấn tới đóng quân ở Chu Ổ thuộc Quảng Ngãi. 

Tháng 7 năm 1775, nghe tin Nguyễn Huệ thắng quân Nguyễn chiếm lại Phú Yên, quận Việp án binh lại. Theo yêu cầu của Nguyễn Nhạc, quận Việp phong chức cho Nguyễn Huệ làm “Tây Sơn hiệu tiền tướng quân”. Ít lâu sau, quân Trịnh bị bệnh dịch chết khá nhiều, quận Việp tuổi già sức yếu bèn bỏ Quảng Nam lui về Phú Xuân, rồi giao thành Phú Xuân cho Bùi Thế Đạt, còn mình dẫn đại quân về Bắc. Tháng 10 năm đó, quận Việp bị bệnh chết trên đường về. Lần đầu tiên sau 150 năm Nam chinh, quân Trịnh tới được Quảng Nam. Cũng lần đầu tiên chúa Nguyễn mất toàn bộ đất buổi đầu Thuận - Quảng, bị dồn vào Nam Bộ, mảnh đất chúa Nguyễn mới đặt bộ máy hành chính của mình chưa đầy 100 năm. 

Tháng 3 năm 1777, Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ đánh Gia Định lần thứ 2. Lý Tài thua trận, bỏ chạy khỏi thành, mang chúa Nguyễn về Hóc Môn, bị quân Tây Sơn truy đuổi Tài đưa tàn quân chạy về Ba Ging, tại đây Tài bị quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhân giết. Nguyễn Huệ bắt được chúa Nguyễn Phúc ThuầnNguyễn Phúc Dương, và anh ruột Nguyễn Phúc Ánh là Nguyễn Phúc Đồng, tất cả đều bị xử tử vào cuối năm 1777. Chỉ còn một mình Nguyễn Phúc Ánhmới 15 tuổi, chạy thoát ra đảo Thổ Chu.

NGUYỄN NHẠC XƯNG VƯƠNG HIỆU THÁI ĐỨC. Năm 1778, sau khi giết chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương, NGUYỄN NHẠC TỰ XƯNG VƯƠNG hiệu Thái Đức, lập triều đại nhà Nguyễn Tây Sơn, đóng đô tại thành Quy Nhơn, phong Nguyễn Lữ làm Tiết chế, Nguyễn Huệ Long Nhương tướng quân, từ đây quân Tây Sơn không còn ràng buộc với chúa Trịnh nữa. 

 

Bài 144: ĐÁNH CHIẾM PHÚ XUÂN, THĂNG LONG, NHÀ ANH EM TÂY SƠN MÂU THUẪN, NGUYỄN HỮU CHỈNH, VÀ VŨ VĂN NHẬM LỘNG QUYỀN...

ĐÁNH CHIẾM PHÚ XUÂN, THĂNG LONG. Tại Bắc Hà, năm 1782, Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm chết. Con nhỏ Trịnh Cán được lập kế vị. Phe người con lớn là Trịnh Tông (Trịnh Khải) làm binh biến, giết quan phụ chính là quận Huy Hoàng Tố Lý đưa Trịnh Tông lên ngôi. Một tướng cùng phe với quận Huy là Nguyễn Hữu Chỉnh không hợp tác với Trịnh Tông, bỏ chạy vào Nam đầu quân với Tây Sơn và được Nguyễn Nhạc tín nhiệm. Nguyễn Hữu Chỉnh đề nghị đánh chiếm Thành Phú Xuân do Tướng Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể của chúa Trịnh trấn giữ. Nguyễn Hữu Chỉnh dùng kế ly gián Cầu và phó tướng Hoàng Đình Thể. Quân Tây Sơn bất ngờ đánh úp thành Phú Xuân. Cầu bỏ mặc cho Thể chết trận, dâng thành hàng Tây Sơn. 

Thừa thắng Nguyễn Hữu Chỉnh khuyên Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc đánh chiếm Thăng Long diệt chúa Trịnh. Mặc dù chưa được lệnh của Nguyễn Nhạcvua Thái Đức. Nguyễn Huệ sai Nguyễn Hữu Chỉnh làm tiên phong Bắc tiến dưới danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh". Quân Trịnh rệu rã nhanh chóng thua trận, chạy dài. Chúa Trịnh cũng chạy khỏi thành Thăng Long. Trên đường trốn chạy, chúa Trịnh bị dân chúng bắt đem nộp cho Tây Sơn. Trên đường áp giải, Trịnh Tông tự sát. Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long yết kiến vua Lê Hiển Tông. Về danh nghĩa Nguyễn Huệ trao trả quyền chính lại cho vua Lêvà nhận phong Nguyên súy Dực chính phù vận Uy quốc công, nhưng thực tế, Nguyễn Huệ mới là người nắm toàn bộ quyền bính ở Bắc Hà. 

Do sự sắp xếp của Nguyễn Hữu Chỉnh, vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Tháng 7 năm 1786, vua Lê Hiển Tông qua đời, thọ 70 tuổi. Công chúa Ngọc Hân đề nghị lập hoàng thân Lê Duy Cận (anh ruột của Ngọc Hân) lên ngôi.  Nhưng, do áp lực của tôn thất nhà Lê đối với Ngọc Hân, Nguyễn Huệ đành thu xếp cho Lê Duy Kỳ lên ngôi vua, đó là vua Lê Chiêu Thống. 

NHÀ ANH EM TÂY SƠN MÂU THUẨN. Việc Nguyễn Huệ đem quân Bắc tiến là trái ý của vua Thái Đức. Ngay khi biết tin Nguyễn Huệ đánh Thăng Long, Nguyễn Nhạc vội mang quân ra Bắc, như “để trách cứ gọi em về” đưa vào cươngkỷ. Từ chiều sâu của nó, Nguyễn Nhạc không yên tâm với sự phát triển thế lực riêng của Nguyễn Huệ, còn Nguyễn Huệ thì lại muốn “tự mình phát triển” vượt ra ngoài tầm kiềm chế của Vua anhĐây mới chính là nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn của anh em Tây Sơn. Ít lâu sau, Nguyễn Huệ đem công chúa Ngọc Hâncùng Nguyễn Nhạc rút quân về Nam.

Và, Nguyễn Huệ đã giải quyết mâu thuẫn anh em bằng cách mang quân vào đánh Nguyễn Nhạc. Đầu năm 1787, Nguyễn Huệ mang 60.000 quân vây thành Quy Nhơn. Theo thư của một số Linh mục Pháp, để có đủ 6 vạn quân vây bọc thành Quy Nhơn, Nguyễn Huệ bắt toàn bộ đàn ông ở Thuận-Quảng làm lính, khiến nhiều vùng không còn đàn ông nữa. Nguyễn Nhạc gọi Đặng Văn Trấn, đang trấn thủ Gia Định ra cứu. Trấn vâng lệnh mang quân ra, nhưng đến Phú Yên đã bị Nguyễn Huệ bắt sống. Nguyễn Huệ nã pháo tới tấp vào thành Quy Nhơn. Vua anh Nguyễn Nhạc bị đánh bức quá phải lên thành khóc xin em đừng đánh thành nữa. Nguyễn Huệ bằng lòng giảng hòa có điều kiện với vua anh. 

Sau đó, Nguyễn Nhạc phong vương cho hai em, mỗi người chia nhau giữ một khu vực từ tháng 4 năm 1787: Nguyễn Nhạc là Trung ương Hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn. Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất Gia Định. Phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất từ Bản Tân trở ra Bắc. Nguyễn Huệ đồng ý nhận chức Bắc Bình vương của vua anh phong. Hai anh em lấy Bản Tân làm ranh giới, từ Thăng Hoa, Điện Bàn ra Bắc thuộc Nguyễn Huệ, từ Quảng Ngãi trở vào thuộc vua Thái Đức. Như vậy vua Thái Đức đã thoả mãn yêu cầu được cai quản Quảng Nam của vua em. Còn Nguyễn Lữ trấn thủ Gia Định, có thái bảo Phạm Văn Tham giúp sức.

 NGUYỄN HỮU CHỈNH, VÀ VŨ VĂN NHIỆM. Sau khi Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ rút về Nam các thế lực củ của chúa Trịnh như Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ trỗi dậy, lập Trịnh Bồng lên ngôi vương, tái lập chính quyền chúa Trịnh. Vua Lê Chiêu Thống đang muốn chấn hưng nhà Lê bèn mời Nguyễn Hữu Chỉnh đang trấn ở Nghệ An ra dẹp Trịnh Bồng. Chỉnh nhanh chóng đánh tan quân Trịnh, đốt phủ chúa, nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh lại lộng hành như chúa Trịnh trước kia, không còn theo lệnh nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhiệm, con rể của Nguyễn Nhạc, ra tiêu diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Tuy nhiên, đến lượt Vũ Văn Nhậm cũng lại chuyên quyền chống lại Nguyễn Huệ. Bất lực trước tình cảnh, tháng 4 năm 1788, Lê Chiêu Thống rời kinh đô Thăng Long lưu vong sang Trung Quốc

Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc giết Vũ Văn Nhậm. Ông tổ chức lại hệ thống cai trị ở Bắc Hà, đưa các danh sĩ có tên tuổi như Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích ra đảm đương công việc. Sau khi đã lập Sùng nhượng công Lê Duy Cận làm Giám quốc, Nguyễn Huệ lại rút quân về Phú Xuân. Cuối năm 1788, vua Thanh là Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân, từ Vân Nam và Quý Châu hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam với danh nghĩa phù Lê, vào chiếm đóng Thăng Long. Quân Tây Sơn do Đại Tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy, theo mưu kế của Ngô Thì Nhậm, chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp- Biện Sơn (Ninh Bình) cố thủ chờ lệnh./.

 

Bài 145: NGUYỄN HUỆ TỰ XƯNG HOÀNG ĐẾ, ĐÁNH QUÂN THANH CHIẾM LẠI THĂNG LONG, TẤN CÔNG ĐỂ PHÒNG THỦ, DỰ TÍNH DANG DỞ.

NGUYỄN HUỆ TỰ XƯNG HOÀNG ĐẾ. Để có danh nghĩa chính thống bởi vua Lê đã bỏ nướcvà rước giặc vềngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), tại Phú Xuân, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ tự xưng Hoàng đế, lấy hiệu Quang Trung Nguyễn Huệ cầm quân tiến ra Bắc Hà. Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), đại quân Quang Trung tới Nghệ An, dừng tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ngoài ra còn có một đội tượng binh với hơn 100 voi chiến. Để khích lệ ý chí quyết chiến, quyết thắng của tướng sĩ thuộc cấp, Quang Trung tổ chức duyệt binh ngay tại Nghệ An.  

Ngay sau lễ duyệt binh, Quang Trung tiến quân ra Bắc Hà. Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, Ninh Bình. Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung nói với toàn quân rằng chỉ trong 10 ngày quân ta sẽ quét sạch quân Thanh. Sớm hơn cả dự kiến, trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh bằng hàng loạt trận đánh tập kích, mai phục, thần tốc và chớp nhoáng mà trận Ngọc Hồi-Đống Đa là tiêu biểu. Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu - 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống chạy thoát về Trung Quốc. 

Ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu, Quang Trung trở lại Phú Xuân trao lại binh quyền cho Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm. Trở về Phú Xuân, vua Quang Trung lo sắp đặt lại việc “nội trị”: khuyến khích người hiền tài ra giúp nướcphân phối đất đai cho nông dân nghèothúc đẩy thủ công nghiệp; cho phép tự do tôn giáomở cửa ngoại thương; và chọn chữ viết chính thức của quốc gia là chữ Nôm thay cho chữ Hán. Về “ngoại giao”, Quang Trung nhanh chóng bình thường hóa bang giao với nhà Thanh. Vua Thanh là Càn Long đã cho sứ giả vào tận Phú Xuân để phong vương cho Nguyễn Huệ.

Vì mối hận thù, Nguyễn Huệ đã đánh tan và tiêu diệt gần 2 vạn quân Xiêm tại trận Rạch Gầm-Xoài Mút, Vua Xiêm bàn tính với Nguyễn Ánh lập kế hoạch đánh Nguyễn Huệ-Quang Trung. Theo đó, quân của Lê Duy Chi (em vua Lê Chiêu Thống) đánh vào từ Cao Bằng, Nguyễn Ánh đánh ra từ Gia Định, còn quân Vạn Tượng và Xiêm sẽ đánh xuống Thanh Hoá, Nghệ An. Đứng trước nguy cơ bị tấn công từ ba mặt, Quang Trung sai sứ sang Trấn Ninh, Quy Hợp để thăm dò tình hìnhnhưng các sứ đều bị quân Vạn Tượng bắt giữ, và nộp cho Xiêm La. Xiêm La sai sứ mang cờ và trống của Tây Sơn đến Gia Định trao cho Nguyễn Ánhkhích lệ Nguyễn Ánh ra quân.

TẤN CÔNG ĐỂ PHÒNG THỦ, DỰ TÍNH DANG DỞ. Quang Trung quyết định xuất trận. Ông sai hoàng tử Nguyễn Quang Thùy đang trấn thủ Thăng Long cùng các tướng Bắc Hà mang quân đánh Lê Duy Chi; sai Trần Quang Diệu và Lê Trung mang quân đánh Trấn Ninh, Quy Hợp. Quang Thùy đánh Cao Bằng bắt được Lê Duy Chi, Hoàng Văn Đồng và Nông Phúc Tấn mang về Thăng Long xử tử. Ở phía Tây, Trần Quang Diệu cũng diệt được Trần Phương Bính ở núi Hồng Lĩnh. Tới tháng 6 năm 1791, Quang Diệu mang 3 vạn quân sang Trấn Ninh bắt được các tù trưởng Thiệu Kiểu, Thiệu Đế. Tháng 8 năm đó, Quang Diệu đánh bại Quy Hợp. Tháng 10, quân Tây Sơn tiến sang Vạn Tượng. 

Vua Vạn Tượng là Chao Nan (Chao Nanthasen) không chống nổi phải bỏ trốn sang Xiêmcác tướng Vạn Tượng là tả Phan Dung, hữu Phan Siêu tử trận. Giữa năm 1792, Quang Trung đã gửi thư đến Càn Long cầu hôn một nàng công chúa nhà Thanhvà "xin lại" hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Ông cũng sai đô đốc Vũ Văn Dũng làm chánh sứ sang triều kiến vua Càn Long. Nhưng, vì cái chết đột ngột và bí ẩn của vua Quang Trung, mọi dự định đều dang dở. Con vua Quang Trung là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, hiệu Cảnh Thịnh. Nội bộ tranh chấp, quyền hành rơi vào tay ngoại thích Bùi Đắc Tuyên. 

VUA THÁI ĐỨC CẦU CỨU, QUANG TOẢN CHIẾM LUÔN… Năm 1793, Nguyễn Ánh từ Gia Định đem quân đánh Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn. Vua Thái Đức cầu cứu Phú Xuân. Quang Toản sai Ngô Văn Sở, Phạm Công Hưng đem 17.000 quân và 80 thớt voi vào cứu viện, quân Nguyễn Ánh rút lui. Quân Phú Xuân nhân đó lại đánh chiếm luôn đất đai của vua Thái Đức. Lúc đóNguyễn Nhạc đang trên giường bệnh, nghe tin cơ nghiệp của mình bị Quang Toản chiếm mất, tức quá thổ huyết mà chết. Quang Toản còbắt con vua Thái Đức là Nguyễn Văn Bảo đưa ra an trí tại huyện Phù Ly, phế làm Hiếu Công, Toản cai quản toàn bộ đất đai của vua bác. Nội bộ Tây Sơn lại mâu thuẫn: Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở. Lê Trung ở Phú Xuân bị nghi ngờ, và bị giết, Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết, mà Quang Toản không làm gì được. 

Trần Quang Diệu đang đi đánh Nguyễn Ánh, nghe tin bị nghi oan đành rút quân về, suýt bị đánh nhau với Vũ Văn Dũng. Nguyễn Văn Bảo từ Phù Ly cùng các tướng cũ nổi dậy chiếm Quy Nhơn, nhưng bị dập tắt và giết chết. Biến loạn tạm thời dẹp yên nhưng chính quyền Tây Sơn lại suy sụp. Do Quang Toản đã giết Lê Trung tại Phú Xuân nên con rể Trung là Lê Chất bỏ sang hàng Nguyễn Phúc Ánh. Ánh nhân thời cơ đó ra sức Bắc tiến. Năm 1800, Nguyễn Ánh chiếm được Quy Nhơn, tướng Vũ Tuấn đầu hàng. Quang Toản sai Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân vào chiếm lại. Tướng giữ thành Vó Tánh tử thủ cầm chân hai danh tướng Tây Sơn, để Ánh rảnh tay đánh Phú Xuân

Đầu tháng 5 năm 1801, nghe tin Phú Xuân bị đánh, Trần Quang Diệu đang vây thành Quy Nhơn sai binh về cứunhưng bị quân Nguyễn chặn đánh nên quân không về được, ông chỉ còn cách cố gắng đốc binh chiếm thành. Đầu năm 1802, Tây Sơn chiếm được thành Quy Nhơn, Võ Tánh tự vẫn để lại thư xin tha mạng binh sĩ. Trần Quang Diệu tha cho binh Nguyễn, an táng Võ Tánh và thuộc tướng. Lúc này thì quân Nguyễn Ánh đang trên đường tiến ra Bắc Hà. Trần Quang Diệu, cùng Vũ Văn Dũng vội mang quân ra cứu, bị quân Nguyễn chặn đường, phải vòng qua đường Vạn Tượng (Lào). Khi Trần Quang Diệu tới Nghệ An thì thành đã mất, quân sĩ bỏ chạy gần hết, vợ chồng Trần Quang Diệu - Bùi Thị Xuân bị bắt, Vũ Văn Dũng trốn đi đâu biệt tích. Giữa năm 1802 quân Nguyễn Ánh đánh chiếm Thăng Long, Quang Toản không chống nổi, bỏ chạy và bị bắt./.

 

Bài 146: NGUYỄN ÁNH ĐÁNH TÂY SƠN: ĐÁNH CHIẾM GIA ĐỊNH, CẦU VIỆN NƯỚC PHÁP, LƯU VONG Ở XIÊM, HIỆP ƯỚC VỚI PHÁP, CỦNG CỐ THẾ LỰC VÀ VỀ NƯỚC, BẮC TIẾN THẮNG LỢI, ĐẠI VIỆT THỐNG NHẤT LÊN NGÔI HOÀNG ĐẾ.

TỔ CHỨC ĐÁNH TÂY SƠN. Sau chừng một tháng trốn chạy, khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã về Quy Nhơn thì Nguyễn Ánh lại từ Long Xuyên tiến về Sa Đéc với Đỗ Thành Nhơn và Lê Văn Quân; ông ra hịch cáo quân và thu nhận được thêm một đội quân cùng các tướng Nguyễn Văn Hoằng, Tống Phước Khuông, Tống Phước Luông, và Hồ Văn Lân... củng cố lại lực lượng đánh trả Tây Sơn. Tháng 11 năm 1777, cùng với các tướng của mình, ông đưa một đạo quân mặc toàn áo tang bất ngờ tấn công chiếm dinh Long Hồ. Và sau đótháng 12 cùng năm, mang quân tiến về đánh Gia Định, Tống Văn Chu tướng Tây Sơn bỏ chạy, chiếm lại thành Sài Gòn. Năm1778, khi Nguyễn Nhạc tự phong vua hiệu Thái Đức ở Quy Nhơn, thì Nguyễn Phúc Ánh được 1tuổi, các tướng tôn ông làm Đại nguyên súy Nhiếp quốc chính. 

Tháng 1 năm 1780, Nguyễn Ánh xưng Vương, lấy hiệu Cảnh Hưng, và Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh Trấn chi bửu làm Quốc ấn, truyền phong cho Đỗ Thanh Nhơn chức Ngoại hữu, Phụ chính, Thượng tướng công. Cùng năm, người Chân Lạp nổi lên chống Nguyễn Ánh, ông sai Đỗ Thanh Nhơnvà Dương Công Trừng đi đánh dẹp. Đỗ Thanh Nhơn vì có nhiều công lớn nên được Nguyễn Ánh đãi trọng, nhưng lại có biểu hiện hung bạo, cậy công lấn lướt quyền hành với Nguyễn Ánh, tạo thêm vây cánh thậm chí muốn giành quyền lực. Thấy vậy, tướng Tống Phúc Thiêm bèn bày mưu giết Đỗ Thanh Nhơn. Tháng 3 năm 1781, Nguyễn Ánh giả bệnh, gọi Đỗ Thanh Nhơn đếnrồi sai võ sĩ giết chết. 

Lúc nầy quân đội của Nguyễn Ánh đã mạnh lên đến khoảng 3 vạn người với 80 chiến thuyền đi biển, 3 thuyền lớnvà 2 tàu Bồ Đào Nha do giám mục Bá Đa Lộc thuê giúp. Ông tổ chức tấn công Tây Sơnđánh tới tận Phú Yên, nhưng sau cùng phải rút chạy vì gặp bộ binh quá mạnh của Tây Sơn. Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Huệ, cùng vua Thái Đức mang quân thuỷ bộ Nam tiến. Tây Sơn đụng trận dữ dội ở sông Ngã Bảy, cửa Cần Giờquân Nguyễn do chính Nguyễn Ánh chỉ huy bị thua trận, Nguyễn Ánh phải chạy về Ba Giồng, rồi trốn sang tận rừng Romdoul, Chân Lạp. Một đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Học đem quân đuổi theobị quân Nguyễn bắt giết khiến cho Nguyễn Ánh có được 80 thuyền của Tây Sơn. 

CHÂU VĂN TIẾP ĐÁNH CHIẾM GIA ĐỊNH ĐÓN ÁNH VỀ. Châu Văn Tiếp, một tướng trước đây từng theo Tây Sơn, cùng Nguyễn Phước Mân từ Bình Thuận mang quân vào đánh chiếm được Gia Địnhvà đón Nguyễn Ánh trở về. Nguyễn Ánh tìm cách tổ chức lại Gia Địnhnhưng quân của ông quá yếu, bởi các thất bại trước. Ánh sai sứ Lê Phước Điển và Lê Phước Bình sang nhờ vua Xiêm giúp đở. Ánh cũng ủy thác Bá Đa Lộc lo thuyền bè sẵn, phòng khi Tây Sơn quá mạnh có phương tiện mà thoát. Tháng 2 năm 1783, Nguyễn Nhạc lại sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ mang quân Nam tiến. Dù Nguyễn Ánh đã lập tuyến phòng thủ trướcvẫn bị quân Tây Sơn phá tan, tướng của Nguyễn Ánh là Nguyễn Phước Mân bị giết chết, Dương Công Trừng bị bắt. 

Tháng 6 âm lịch năm 1783, Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy kích, Nguyễn Ánh phải  cưỡi trâu lội qua sông chạy trốnrồi đem mẹ và vợ con ra Phú Quốc. Quân Tây Sơn truy tới nơi, nhờ tướng Lê Phước Mân mặc áo ngự đóng giả Nguyễn Ánh khiến Tây Sơn bắt nhầm; Ánh chạy thoát chạy ra được đảo Cổ Long, mất hết thuộc tướng. Một tháng sau, dò biết được Ánh đang ở Phú Quốc, Nguyễn Huệ sai phò mã Trương Văn Đa của Tây Sơn kéo quân vây đánh 3 vòng trùng trùng điệp điệp, nhưng lúc đó có bão biển, các thuyền Tây Sơn phải giãn ra và một số bị đánh đắmNguyễn Ánh thừa cơ lên thuyền trốn chạy, sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, ông quay ra hòn Cổ Cốt rồi về đảo Phú Quốc. Tình cảnh bị đát, vì thiếu lương thựcbinh sĩ ông phải đi hái cỏ, đào củ để ăn. 

CẦU VIỆN NƯỚC PHÁP, CẦU VIÊN XIÊM LA. Với những khó khăn gặp phải, mối quan hệ của Nguyễn Ánh với Bá Đa Lộc ngày càng khắn khít, hình ảnh nước Pháp ngày càng lớn dần trong tâm trí của Nguyễn Ánh, kèm theo lời bày của Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh nảy sinh ý định cầu viện nước Pháp. Vào cuối năm 1783, Nguyễn Ánh giao cho Bá Đa Lộc một tờ quốc thưvà quốc ấn để vị giám mục này được toàn quyền thay mặt Nguyễn Ánh sang Pháp cầu viện triều đình vua XVI. Đi kèm với Bá Đa Lộc là Nguyễn Phúc Cảnhcon cả Nguyễn Ánhvà các tướng Nguyễn Văn Liêm.... Sinh mạng của cậu bé về sau trở thành hoàng tử trưởng nhà Nguyễn, khi ấy mới lên 4 tuổi bị đưa ra "thế chấp" "làm con tin" trong cuộc cầu viện này. Sau đó ông từ biệt gia quyến đi nơi khác.

Khi Bá Đa Lộc chưa kịp đi vì trái mùa gióthì Nguyễn Ánh liên tiếp gặp những thất bại trước quân Tây Sơn, do đó ông có ý chuyển sang cầu viện Xiêm La. Khi Nguyễn Ánh còn phải lênh đênh trốn chạy, tướng của ông là Châu Văn Tiếp chạy thẳng qua Xiêm cầu cứu. Đến tháng 2 năm Giáp Thìn (1884), vua Xiêm La là Rama I cho tướng Thạt Xỉ Đa đem thuyền sang Hà Tiên đón Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh tới Long Xuyên hội kiến tướng Xiêmrồi cùng quan tướng sang Xiêm La hội kiến vua Xiêm tại Vọng Các vào tháng 3 năm 1784. Vua Xiêm nhân cũng đang có chiến tranh với Tây Sơn nên đồng ý giúp Nguyễn Ánh để phân tán lực lượng của Tây Sơn

Hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương nhận lệnh đem 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền sang giúp. Quân Xiêm nhanh chóng lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc, tướng Nguyễn Ánh là Châu Văn Tiếp bị tử trận tại Mân Thít. Tướng Tây Sơn giữ đất Gia Định là phò mã Trương Văn Đa, thấy quân Xiêm quá mạnh, sai người về Quy Nhơn cấp báo. Vua Tây Sơn sai Nguyễn Huệ đem quân vào cứu việnKhông đầy một ngày, quân Tây Sơn đã tiêu diệt gần 2 vạn quân Xiêm tại trận Rạch Gầm-Xoài Mút. Các tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương chạy theo đường bộ về Xiêm; còn Nguyễn Ánh phải chạy theo đường thủy qua Thổ Chu rồi về Cổ Cốt, nhờ binh Xiêm đưa về Vọng Các.

LƯU VONG Ở XIÊM, HIỆP ƯỚC VỚI PHÁP. Tháng 12 năm 1784, giám mục Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh và phái đoàn đem quốc thư của Nguyễn Ánh xuống thuyền đi Malacca rồi Pondichery Ấn Độ (thuộc Pháp). Còn Nguyễn Ánh đưa mẹ và vợ sang trú ở Long Kì (Đông Khoai, Vọng Các). Nguyễn Ánh cũng thu nhận được thêm một số binh tướng từ Đại Việt sang, ông tổ chức lại lực lượng trên đất Xiêm, lâu lâu cho quân đột kích về Gia Định. Đồng thời, ông cũng giúp vua Xiêm đánh Miến Điện và Mã Lai, nên được vua Xiêm La hậu đãi. Tháng 2 năm 1787, Bá Đa Lộc và Nguyễn Phúc Cảnh mới tới hải cảng Lorien ở Pháp. Đầu tháng 5 năm 1787, họ mới được gặp vua Louis XVI. Và, ngày 28 tháng 11  năm 1787, tại cung điện Versailes, Bá Đa Lộc với tư cách là đại diện của Nguyễn Ánh đã ký với Thượng thư Bộ Ngoại giao Pháp là Armand Marc, bản hiệp ước "Tương trợ tấn công và phòng thủ", tức Hiệp ước Versailes.

Theo đó, vua Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến loại Frégates; 1.200 bộ binh200 pháo binhvà 250 lính da đen châu Phi. Đổi lạiNguyễn Ánh nhường cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Cô Lôn; để cho người Pháp được quyền buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài tại Việt Nammỗi năm Ánh đóng trả cho Pháp một chiếc tàu giống với loại tàu Pháp viện trợ; cam kết cung cấp lương thực và quân nhu thiết yếu khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông. 

 CỦNG CỐ THẾ LỰC VÀ VỀ NƯỚC. Sau 3 năm lưu vong ở Xiêm, thấy vua Xiêm ngày càng tỏ ra không vừa lòng vì lực lượng của Nguyễn Ánh trở nên quá mạnh, ông viết thư cảm ơn rồi ban đêm lặng lẽ trở về vùng Gia Định,vào tháng 8 năm 1787 để tập hợp lực lượng; đóng quân tại Nước Xoáy (Hồi Oa), Sa Đéc thuộc vùng Hậu Giang. Thời gian này ông cũng nhận được sự giúp đỡ mạnh mẽ hơn của người Pháp thông qua giám mục Bá Đa Lộc. Trong lúc Nguyễn Huệ bận đối phó với quân Thanh tại Bắc Hà (1788-1789), vùng Gia Định dưới quyền Tây Sơn cũng không ổn định, quân Tây Sơn bị cô lập trước dân chúng địa phương vốn có nhiều cảm tình với Chúa Nguyễn nói chung và Nguyễn Ánh nói riêng.

Tướng Tây Sơn giữ Long Xuyên là Chưởng cơ Nguyễn Văn Trương ra hàng quân Nguyễnvà Nguyễn Ánh lại thu nhận được nhiều binh lính địa phương; sau đó ông bắt đầu tổ chức tấn công Tây Sơn. Đông Định vương Nguyễn Lữ nghe tin Nguyễn Ánh trở về vội vã tránh đi nơi khác để Gia Định cho Phạm Văn Tham  chống giữ. Sau đóthế quân Nguyễn Ánh ngày càng mạnh khiến Nguyễn Lữ sợ hãi mang quân bản bộ chạy về Quy Nhơn. Và cuối cùng là cái chết vì bệnh của Nguyễn Lữ đã làm thế Tây Sơn ở Gia Định ngày càng suy yếuTừ Cù lao Hổ, Nguyễn Ánh mang quân phản công Phạm Văn Tham, Tham vẫn cố chống cựchờ viện binh, nhưng lúc đó “Thái Đức Hoàng đế chỉ lo phòng bị Bắc Bình vương Nguyễn Huệ” ở phía Bắc mà không đoái hoài đến việc cứu viện cho phía Nam. 

Không nhận được viện binh, Quân Tây Sơn càng thế cùng sức kiệt” lại bị quân Ánh bao vây chia cắt, chiêu hàng làm suy yếu tinh thần tướng sĩ. Đến năm 1788, Võ Tánh, tướng Tây Sơn, đem hơn 1 vạn quân theo Nguyễn Ánh. Cùng năm, Nguyễn Ánh tấn công và lấy được Gia Định, Phạm Văn Tham rút ra ngoài tiếp tục chống trả. Đầu năm 1789, Phạm Văn Tham bị Nguyễn Ánh vây chặt, lại bịt đường ra biển về Quy Nhơn nên buộc phải đầu hàng. Tây Sơn lại mất Nam Hà.

CÁCH MẠNG PHÁP 1789. Ngày 27 tháng 12 năm 1787, Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh rời Pháp trở lại Pondichery chờ sự chi viện từ phía chính quyền Louis. Nhưng ngày 14 tháng 7 năm 1789, giai cấp tư sản Pháp đã làm cuộc cách mạng lật đổ triều đại phong kiến Louis, thiết lập nền cộng hòa tư sản, cộng thêm việc Bá tước nhận trách nhiệm chi viện là De Conway vốn có hiềm khích với Bá Đa Lộc đã sàm tấu, khiến nước Pháp tỏ ra không muốn nhắc đến hiệp ước ấy nữa. Chờ mãi không nhận được sự chi viện từ Bá tước De Conway, Bá Đa Lộc đã tự quyên góp tiền từ các thương gia có ý định đặt cơ sở buôn bán ở Đại Việtcùng với số tiền 15.000 franc Pháp của gia đình mình cho, giám mục đem mua súng đạn và tàu chiến.  

Tháng 7 năm 1789, Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh về Sài GònSúng đạn, tàu chiến và tiền bạc từ Bá Đa Lộc đã giúp Nguyễn Ánh có phương tiện đánh Tây Sơn, sửa sang thành Gia Định, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Biên Hoà, Bà Rịa, huấn luyện cơ đội pháo thủ, tổ chức bộ binh, và luyện tập binh lính theo lối châu Âu. Lưu ý rằng, sự giúp đỡ của giám mục Bá Đa Lộc cho Nguyễn Ánh kể cả trang thiết bị quân sự không phải là sự trợ giúp của chính phủ Pháp mà là từ một nhóm người Pháp do sự vận động cá nhân của Bá Đa Lộc. Thực tế cuộc cách mạng 1789 Pháp đã vô hiệu hóa Hiệp ước Versailes năm 1787Chính phủ Pháp hoàn toàn không đưa ra được một bằng cớ nào về việc thực hiện hiệp ước” đó. Thế nhưng, nước Pháp lại biến nó thành một "sự nhập nhằng không rõ ràng", để hơn nửa thế kỷ sau nuôi hy vọng hão huyền về những quyền lợi tại Việt Nam mà họ nghĩ lý ra là họ phải được nhận. 

TÂY SƠN SUY YẾU, BẮC TIẾN THÁNG LỢI. Năm 1790, Nguyễn Ánh sai tướng đem 5000 quân thủy bộ ra đánh chiếm được Phan Rí, và Bình Thuận. Đến năm 1792, ông sai hai tướng Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thành  cùng hai sĩ quan đánh thuê người Pháp là Dayot và Vannien đánh một trận và đốt phá thủy trại Tây Sơn tại Thị Nại rồi rút về. Về phía Tây Sơn, sau khi chiến thắng quân Thanh về, Quang Trung đột ngột qua đời (1792) Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi nối ngôi, hiệu Cảnh Thịnh. Loạn lạc nổ ra khắp nơi ở Bắc Hà: sĩ phu trung thành với nhà Lê nổi dậy tôn Lê Duy Cận làm minh chủ, Duy Cận liên lạc với Nguyễn Ánh để cùng đánh Tây Sơn.

Nguyễn Ánh dồn lực mở các đợt tấn công ra Quy Nhơn. Lợi dụng sự có mặt của Lê Chiêu Thống còn ở Trung Quốc, Nguyễn Ánh cho sứ sang để nhờ Trung Quốc giúp mìnhnhưng khi sứ của Nguyễn Ánh là Ngô Nhơn Tĩnh, và Phạm Thận sang đến nơi thì Lê Chiêu Thống đã mất. Năm 1793, Nguyễn Ánh cùng các tướng Võ Di Nguy, Nguyễn Văn Trương, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Phước Hội, Philippe Vannier, Nguyễn Văn Hoà, Chưởng cơ Cố đem quân đánh Nha Trang, Diên Khánh, Phú Yên tới tận Quy Nhơn. Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc cầu cứu Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh sai Ngô Văn Sở, Phạm Công Hưng, đô đốc Hố, và Chưởng cơ Thiêm đem 17.000 quân, 80 thớt voi, và 30 chiếc thuyền chia nhiều đường tiến vào Quy Nhơn cứu viện. Quân Nguyễn Ánh rút lui, trên đường về ông sai quân đắp thành Diên Khánh, lợi dụng địa thế nơi này làm bàn đạp phản công Tây Sơn. 

NỘI BỘ TÂY SƠN LẠI MÂU THUẪN. Lúc nầy, nội bộ Tây Sơn lại mâu thuẫn, các tướng tranh quyền. Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở mà Quang Toản không làm gì được. Mối bất hoà giữa Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng càng sâu sắcQuang Toản nghe lời gièm pha tước mất binh quyền của Trần Quang Diệu. Từ đó Tây Sơn cứ lục đục mãi, các quan nghi kị giết hại lẫn nhauMột bộ phận tướng lĩnh bất mãn đã bỏ sang theo Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh nhân thời cơ đó ra sức Bắc tiến. Năm 1797, Nguyễn Ánh cho quân ra đánh Phú Yên, riêng Ánh thì cùng Nguyễn Phúc Cảnh mang thủy binh ra đánh Quy Nhơn, giao tranh với tướng Tây Sơn là Lê Trung tại cửa Thị Nại thu được nhiều khí giới, nhưng khi tới Quy Nhơn thấy thế Tây Sơn phòng thủ quá mạnh, ông vòng lên đánh Quảng Nam nhưng được mấy tháng lại rút về.

Năm 1799, Nguyễn Ánh gởi sứ sang Xiêm La, yêu cầu vua Xiêm La cho một đạo quân từ Chân Lạpvà Vạn Tượng đến sát biên giới Nghệ An nghi binh, để Nguyễn Ánh rảnh tay đánh chiếm các nơi khác. Nguyễn Ánh tự cầm quân đi đánh thành Quy Nhơn, Quang Toản sai Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân vào cứu, đến nơi thì tướng giữ thành Vũ Tuấn đã đầu hàngNguyễn Ánh đổi tên thành Quy Nhơn thành Thành Bình Định, rồi đưa quân Võ Tánh tới trấn giữ thành. Ánh rút về Nam. Tây Sơn tìm cách chiếm lại, tháng 1 năm 1800, hai danh tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng kéo quân đến vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Ánh cho quân ra cứunhưng bị bộ binh Tây Sơn chặn lại, ông chia quân đi đánh các nơi và thắng nhiều trận, trong đó có một trận lớn ở Thị Nại. 

ĐÁNH CHIẾM PHÚ XUÂN. Thấy thế Tây Sơn vây Quy Nhơn còn mạnh, Nguyễn Ánh cho người lẻn mang thư đến bảo tướng Võ Tánh mở đường máu mà thoát ranhưng Võ Tánh quyết tử thủtạo đều kiện cho Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân. Sự việc này đã cầm chân hai danh tướng Tây Sơn ở Quy Nhơn hơn một năm. Năm 1801, Nguyễn Ánh nhận thấy tinh binh Tây Sơn đều tập trung cả ở chiến trường Quy Nhơnmang quân chủ lực vượt biển ra đánh Phú Xuân. Đầu tháng 5 năm 1801, quân Ánh đánh nhau dữ dội với quân Tây Sơn ở Tư Dung, và đánh Quang Toản ở cửa Eo. Quang Toản thua trận bỏ chạy ra Bắc. Ngày 3 tháng 5 Nguyễn Ánh đánh chiếm được Phú Xuân. 

LÊN NGÔI HOÀNG ĐẾ, HIỆU GIA LONG. Sau khi chiến thắng quân Tây Sơn, hoàn toàn chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế ngày 1 tháng 6 (Âm lịch) năm Nhâm Tuất (1802). Để tượng trưng sự thống nhất Nam-Bắc lần đầu tiên sau nhiều năm, Nguyễn Ánh chọn niên hiệu là Gia Long, chữ Gia lấy từ Gia Định, và Long lấy từ Thăng Long. Rồi sai Lê Văn Duyệt kéo quân tiếp ra Bắc Hà tiêu diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn. Nguyễn Ánh không hề che đậy sự tàn bạo của mình trong việc trả thù Tây SơnÔng tuyên bố: "Trẫm vì chín đời mà trả thù"

(Hết Chương XI)  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét