Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

 

Chương V12 BÀI VIẾT VỀ SỰ TIẾN HOÁ CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI TẠI CHÂU PHI.

(23 trang và 16.618)

 

67. Châu Phi, nơi sinh trưởng của loài người, nền văn minh sơ khai, và cuộc di dân về phía Nam tại châu Phi.

68. Thiên chúa giáo. Hồi giáo, và các Vương quốc phía Tay, phía Đông, miền Trung và phía Nam châu Phi. 

69. Đế quốc phương Tây xâm lược châu Phi, người da đen Phi châu Phi bị đưa xuống tàu bán làm nô lệ…

70. Thực dân phương Tây cai trị châu Phi, châu Phi hiện nay và viễn cảnh…

71. Vài nét đặc trưng, quốc gia, lãnh thổ, sắc tộc, ngôn ngữ, và tôn giáo ở châu Phi.

72: Đời sống ở nông thôn và thành thị của 11 quốc gia ở phía Bắc châu Phi.

73. Đời sống ở nông thôn và thành thị của 43 quốc gia ở phía Nam sa mạc Sahara. 

74. Vài đặc điểm về hôn nhân và gia đình tại châu Phi.

75. Giáo dục, nghệ thuất tại châu Phi.

76. Kinh tế nông nghiệp, và kinh tế công nghiệp tại châu Phi.

77. Mậu dịch quốc tế và trợ giúp nước ngoài tại châu Phi.

78. Vận chuyển, và truyền thông tại châu Phi. 

 

 

Bài 67: CHÂU PHI, NƠI SINH TRƯỞNG CỦA LOÀI NGƯỜINỀN VĂN MINH SƠ KHAI VÀ CUỘC DI CƯ VỀ PHÍA NAM TẠI CHÂU PHI.

NƠI SINH TRƯỞNG CỦA LOÀI NGƯỜIChâu Phi được xem là nơi "sinh trưởng" của loài người. Bằng chứng xưa nhất của sinh vật giống người và người là xương, và các vật hoá thạch khác được tìm thấy tại Châu Phi đa số các nhà khoa học đã kết luận rằng, con người nguyên thuỷ có lẽ đã sống ở phía Đông Châu Phi cách đây khoảng hơn hai triệu năm. Các dụng cụ đá ban đầu sáng tạo bởi những người này, được người ta đặt tên là thời kỳ "đồ đá". Người Tiền sử trước thời kỳ đồ đá sống bằng hái lượm quả, hạt, củ cây và săn bắt thú hoang có sẵn trong tự nhiên. Bởi vì các mùa thay đổi trong năm, từng nhóm nhỏ di chuyển đến những nơi theo từng mùa chín rụng của cây, cỏ thực phẩm và vùng thú hoang sinh sống. Nhưng sau khi người ta biết được cách gieo trồng hạt ngũ cốc, và thuần dưỡng súc vật, họ không còn phải di chuyển để tìm kiếm thực phẩm nữa. 

Và thế là, họ có thể lập ra các nơi sinh sống cố định. Sự mở rộng việc trồng trọt và chăn nuôi ở Châu Phi tồn tại trong nhiều ngàn năm. Không ai biết rõ đích xác khi nào, và ở đâu nó khởi đầu trên lục địa. Nhiều chuyên gia tin rằng, nông nghiệp bắt đầu từ phía Trung, Đông và sau đó lan sang phía Tây và vào Bắc Phi. Khoảng năm 5000 Trước công nguyên (TCN), người Bắc Phi đã biết cách thuần dưỡng, chăn nuôi súc vật, và biết cách gieo trồng ngũ cốc như lúa mạch, và lúa mỳ. Các nhóm người khác nhau đã sống trên nhiều nơi tại Châu Phi. Người lùn Pygmies ở Trung Phi, người da đen nhạt ở Bắc Phi, người da vàng Khoisan sống nhiều ở Nam Phi, và người da đen sống ở Sahara cạnh vùng cỏ dại. 

Sahara tại thời điểm đó không phải là một sa mạc, nó là một đồng cỏ, nơi các tay săn có thể tìm thấy dấu vết thú hoang dể dàng. Tại đó còn có các đàn cá trong sông ngòi và ao hồ. Khoảng năm 4000 TCN, thời tiết Châu Phi dần dần trở thành khô hạn hơn. Nhiều nông dân ở Sahara bắt đầu di chuyển về phía Nam, và khởi sự gieo trồng các cây lương thực như ngô, lúa, khoai mỡ. Đến khoảng năm 1500 TCN, Sahara biến thành một sa mạc khổng lồ, làm cản trở sự đi lại giao lưu giữa người Bắc Phi và những người còn ở lại phía Nam Sahara. Tuy nhiên, cuối cùng thì các thương nhân cũng mở được lộ trình băng qua sa mạc, nối lại sự giao tiếp giữa phía Bắc và phần còn lại của phía Nam của 

NỀN VĂN MINH SƠ KHAI. Nhờ đất màu mở của lưu vực sông Nile, một số cộng đồng nông nghiệp trở nên giàu có đầu tiên ở Châu Phi. Nó cũng phát triển thành thành phố “Cộng đồng tự trị”. Thành phố phục vụ như là trung tâm chính trị, và thương mại. Khoảng năm 3400 TCN, các đơn vị tự trị kết hợp thành 2 nước lớn là Ai Cập Thượng, và Ai Cập Hạ. Vua Ai Cập Thượng là Menes, thống nhất 2 nước Ai Cập thành một quốc gia duy nhất khoảng 3100 TCN. Vương quốc thống nhất Ai Cập trở thành nền văn minh đầu tiên của Châu Phi, và là một trong bốn nền văn minh sớm nhất của thế giới. Vương quốc Ai Cập đạt tới đỉnh cao quyền lực của nó khoảng năm 1400 TCN. Phía nam của Ai Cập một quốc gia khác gọi là vương quốc Kush, xuất hiện khoảng 2000 TCN tồn tại đến năm 350 SCN và trở thành trung tâm chính của tri thức, nghệ thuật, và thương mại. 

Người Ai Cập là người đầu tiên sử dụng dụng cụ đồ đồng từ Trung Đông thay thế đồ đá. Đến khoảng năm 1000 TCN, người Bắc Phi đã biết dùng kim loại sắt. Vương quốc Kush trở thành một trong những trung tâm khai thác mỏ sắt, và sản xuất dụng cụ bằng sắt đầu tiên của lục địa. Từ những năm 1200 TCN, Ai Cập thường bị tấn công bởi những ngừơi đi biển từ Aegean, hoặc những người sống dọc theo bờ Địa Trung Hải. Ai Cập trở nên suy yếu sau năm 1000 TCN. Năm 550 TCN, tại Trung Đông hoàng đế Cyrus đánh chiếm vương quốc Mendes lập ra đế quốc Persia. Và năm 521 TCN, con trai Cyrus là Cambysee đánh chiếm Ai Cập, từ đó Ai Cập trở thành một phần của đế quốc Persia. Năm 30 TCN, quân đội La Mã của Alexander xâm lược Ai Cập và biến Ai Cập thành một tỉnh của đế quốc La Mã. Cùng thời gian này, La Mã thống trị toàn bộ phía bắc Châu Phi. 

CUỘC DI CƯ VỀ PHÍA NAMKhoảng đầu công nguyên người da đen nói tiếng Bantu là một trong những “cộng đồng di cư” lớn nhất trong lịch sử Châu Phi. Họ đi về phía Nam, nơi bây giờ là biên giới Nigeria - Cameroon, và rừng Trung Phi. Từ đó công cuộc di cư tiếp tục đến hơn 1000 năm. Cuối cùng, người nói tiếng Bantu  định cư khắp miền Trung, miền Đông, và miền Nam Châu Phi. Họ sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, và sử dụng công cụ bằng sắt. Sở dỉ họ phải di cư về phía Nam vì họ cần có đất canh tác đáp ứng dân số tăng nhanh của người Bantu, vốn có tỷ lệ sinh xuất rất cao. Người di cư mang theo kiến thức, kinh nghiệm của họ vào việc canh tác nông nghiệp. Tiếng nói, ngôn ngữ Bantu trở thành ngôn ngữ chính của người ở phía Nam sa mạc Sahara. 

Các nhà sử học nghĩ rằng, công cuộc di cư được diễn ra hoà bình. Bởi vì, người nói tiếng Bantu đi về phía Nam gặp người của các bộ tộc khác như bộ tộc người lùn Pygmies ở vùng rừng núi Trung Phi, và bộ tộc Khoisan của miền Đông, và miền Nam nhưng không hề có sự xung đột được ghi nhận. Một số thợ săn người lùn Pygmies kết hôn với người nói tiếng Bantu, và thừa nhận cách sống của họ. Các nơi khác còn lại của lục địa trở thành rừng, hoặc sa mạc của miền Trung, và miền Nam Châu Phi./.

 

Bài 68: THIÊN CHÚA GIÁOHỒI GIÁO, VÀ CÁC VƯƠNG QUỐC PHÍATÂY, PHÍA ĐÔNG, MIỀN TRUNG VÀ PHÍA NAM CHÂU PHI.

THIÊN CHÚA GIÁOCuối những năm 300 SCN, Thiên chúa giáo trở thành quốc giáo của Đế chế La Mã, và đế quốc La Mã lúc này bao gồm cả Ai Cập, và các phần còn lại dọc theo bờ Địa Trung Hải phía Bắc Châu Phi. Trong những năm 400, bộ tộc du mục Vandal của Đức xâm lăng đế quốc La Mã, chiếm quyền cai trị dọc theo phía Bắc Châu Phi. Trong những năm 500, vùng này lai chịu ảnh hưởng của Chính thống giáo, khi nó trở thành một phần của đế quốc Byzantine tức Đông La Mã. Vương quốc giàu có Aksum lập quốc trước khi Christ ra đời trở thành quốc gia Thiên chúa giáo trong những năm 300. Năm 350, Aksum đánh bại nước láng giềng Kush mở rộng vùng cai trị. Aksum kiểm soát các đường thuỷ vận trên biển cả, nối liền Châu Phi với Châu Âu, và Châu Á. 

Aksum sụp đổ sau những năm 500, Sau khi Aksum không còn, vài vương quốc nhỏ mọc lên ở Nubia. Thông qua con đường thương mại, Hội truyền giáo Ai Cập cảm hoá được nhiều người Nubia theo đạo Thiên chúa trong những năm 500. Thiên chúa giáo nở rộ, và tồn tại hàng trăm năm tại Nubia, mở rộng và ảnh hưởng của nó về phía Tây trên các vùng lân cận. 

HỒI GIÁO. Hồi giáo bắt đầu từ Ã Rập bành trướng, tạo thành một đế quốc khổng lồ kéo dài từ Trung Đông qua Bắc Phi vào đến Tây Ban Nha. Hồi giáo xâm lăng Ai Cập năm 639, và hoàn tất việc xâm lược toàn bộ Bắc Phi năm 710. Tại buổi đầu, đế quốc Hồi giáo và đạo Hồi không được đa số người Bắc Phi chấp nhận. Sự chuyển đổi từ Thiên chúa giáo thành Hồi giáo cho người Bắc Phi phải mất hàng trăm năm. Các đoàn lạc đà lữ hành băng qua sa mạc Sahara, mang người Hồi giáo phía Bắc vào truyền bá đạo Hồi cho người Châu Phi ở phía Tây. Các thương nhân Hồi giáo đi dọc theo bờ Ấn Độ Dương truyền đạo cho những người sống dọc theo bờ biển, nơi bây giờ là Somalia, Keney, và Tanzania. 

Ảnh hưởng Hồi giáo tiến xa hơn với Châu Phi khi bên cạnh việc truyền bá giáo lý, các nhà truyền giáo còn mang theo kiến thức tích lũy  của thế giới trong các lĩnh vực khoa học, triết học, địa lý, và lịch sử. Người Hồi giáo cũng đưa vào Châu Phi các lọai nghệ thuật khác nhau. Ngôn ngữ Ã Rập trở thành phổ biến trong các nhóm sắc tộc khác nhau. Các học giả Hồi giáo thành lập nhiều trường tôn giáo, thu hút sinh viên từ nhiều nơi trên lục địa về học giáo lý để trở thành nhà truyền đạo Hồi giáo.

VƯƠNG QUỐC PHÍA TÂY. Các vương quốc phía Tây Châu Phi bắt đầu nở rộ khoảng năm 1000, bởi nhờ phát triển thương mại băng qua sa mạc Sahara. Các thương nhân mang vàng, và đồng từ các mỏ ở sa mạc Sahara, và quả cola (kola) từ Tây Phi đến các vương quốc phía Bắc như Hafsid, Marinid, và Ziyanid đổi lấy muối. Thương nhân cũng mang trái cây nhiệt đới từ Bắc Phi đổi lấy vải vóc hàng dệt của châu Âu, và vật dung thủ công, mỹ nghệ đẹp của Trung Đông. Một số vương quốc ven sa mạc đạt được sự giàu có, và quyền lực đều thông qua việc kiểm soát thương mại ở Sahara. Các thành phố như Gao, và Timbuktu trở thành trung tâm thương mại bận rộn, bởi nhờ lộ trình thương mại được mở rộng xa hơn về phía Nam tới tận vương quốc Ashanti, Benin, Mossi, Oyo, và các thành phố tự trị Hause. Thành phố của các nước này cũng trở thành các trung tâm thương mại.

Ghana, một trong những vương quốc đầu tiên ở Tây Phi thành lập từ những năm 300, và đạt tới đỉnh cao của nó trong những năm 1000, khi nó chiếm nhiều phần đất bây giờ là Mali, và Mauritania. Trong những năm 1200, đế quốc Mali thay thế Ghana xem như là quốc gia hùng mạnh nhất phía tây. Nó bao gồm các nơi bây gìờ là Gambia, Guinea, Senegal, Mali, và Mauritania. Đến năm 1500, hầu hết vùng cai trị của Mali lọt vào tay đế quốc Songhai, một đế quốc lớn kéo dài từ biển Đại Tây dương tới nơi bây giờ là miền Trung Nigeria. Phía đông của Mali và Songhai, là Kanem được thành lập vào những năm 700, và kéo dài hơn 1000 năm.

Khoảng năm 1100, thương buôn gốc à Rập theo Hồi giáo bắt đầu định cư trên bờ Ấn Độ Dương nơi bây giờ là Kenya, Mozambique, Somalia, và Tanzania tăng dần lên. Họ giúp đẩy mạnh thương mại bằng đường biển nối liền Đông Phi với Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, và các quốc gia ven bờ biển và vịnh Persia. Các hải cảng ở bờ phía Đông Châu Phi xuất khẩu vàng, ngà voi, và các sản phẩm khác đổi lấy hàng tơ lụa, vải vóc, và đồ sành sứ. Cuối cùng, vùng định cư gốc à Rập Hồi giáo này phát triển như một sợi dây trói chặt các quốc gia thành phố giàu có như Kilwa, Mogadiscio, Mombasa và Sofala. Người trong các quốc gia thành phố này, nói tiếng Swahili. Văn hoá của họ trở thành văn hoá pha trộn người da đen Châu Phi địa phương, và người theo đạo Hồi truyền thống. 

MIỀN TRUNG, NAM CHÂU PHI. Vùng đồng cỏ, rừng núi miền Trung, và phía Nam Châu Phi có vài nước hùng mạnh, phát triển các loại hình nghệ thuật như âm nhạc, điêu khắc, và thơ văn truyền khẩu. Kongo là vương quốc mạnh nhất có hệ thống chính quyền hoàn chỉnh từng bước mở rộng lảnh thổ từ những năm 1400 đến đầu những năm 1700, thống trị cả vùng Trung Phi rộng lớn. Một vương quốc lớn khác là Luba xuất hiện trong những năm 1400, ở nơi bây giờ là phía Nam Kinshasa Congo (Zaire). Cũng trong những năm 1400, bộ tộc Karanga thành lập đế quốc Mwanamutapa, tại nơi bây giờ là Mozambique, và Zimbabwe. Cuối những năm 1400, đế quốc Changamire xâm lược Mwanamutapa. 

Thành phố Zimbabwe nguyên là thủ đô của đế quốc Mwanamutapa, vẫn được sử dụng như là thành phố thủ đô của đế quốc Changamire./.

 

Bài 69: ĐẾ QUỐC PHƯƠNG TÂY XÂM LƯỢC CHÂU PHI, NGƯỜI DA ĐEN PHI CHÂU BỊ ĐƯA XUỐNG TÀU BÁN LÀM NÔ LỆ...

ĐẾ QUỐC PHƯƠNG TÂY XÂM LƯỢC CHÂU PHI. Trong những năm 1400, Bồ Đào Nha bắt đầu thám hiểm bờ phía Tây Châu Phi. Họ thành lập các cảng buôn bán ở bờ biển vàng Gambia nay là Ghana, và các nơi khác bờ phía Tây lục địa. Họ thuyết phục nhà vua Kongo, và các vương quốc khác theo Đạo thiên chúa. Năm 1497 và năm 1498, thuyền trưởng Bồ Đào Nha là Vasco da Gama mở cuộc hải hành vòng quanh mủi Good Hope, dọc theo bờ phía Đông Châu Phi tới Ấn Độ. Những năm 1500, Bồ Đào Nha tiến thêm một bước, chiếm quyền thống trị các thành phố phía Đông lục địa. Trong những năm 1600, Hoà Lan tranh chiếm một số vùng ở bờ phía Tây lục địa từ tay Bồ Đào Nha. Năm 1652, Hoà Lan thành lập Cape Town, mũi tận cùng phía Nam Châu Phi. 

NGƯỜI DA ĐEN PHI CHÂU BỊ BÁN. Không bao lâu sau, người Châu Phi da đen trở thành một mặt hàng buôn bán của Bồ Đào Nha. Họ đưa nhiều người Châu Phi da đen xuống tàu, chở đến Châu Âu bán cho người ta sử dụng như những người nô lệ. Việc người Châu Âu thành lập nhiều đồn điền ở Bắc, Trung, và Nam Mỹ trong những năm 1500, khiến họ cần có thêm nhiều nô lệ hơn để làm việc trong các đồn điền, trang trại. Đến những năm 1800, người Châu Âu đã mang hơn 10 triệu người nô lệ Châu Phi da đen từ các cảng phía Tây lục địa đến vùng Mỹ La tinh, và hơn 500 ngàn người nô lệ khác đến nơi bây giờ là Hoa Kỳ, không kể hơn 1 triệu người nô lệ bị chết trên đường vận chuyển. Tại bờ phía đông, thương lái người Ai Cập cũng chở nô lệ tới Zanzibar, các nước ven bờ Biển Đỏ và vịnh Persia. 

Việc buôn bán vàng, và nô lệ cũng đã mang lại cho các vương quốc vùng núi Châu Phi như Ashanti, nay là Ghana thêm giàu có, và thực lực hơn. Các thương buôn Châu Âu cũng mang vào Châu Phi bột sắn, và hạt ngũ cốc. Thương nhân còn đưa vào Châu Phi súng đạn, cái mà cuối cùng người Châu Phi dùng nó trong các cuộc chiến tranh chống lại người khác, kể cả chống lại người Châu Âu. Cuối những năm 1700, người Châu Âu bắt đầu đi sâu vào trong bên nội địa Châu Phi. Họ muốn bành trướng đạo Thiên chúa, và mở rộng các ràng buộc mới về thương mại chủ yếu là hầm mỏ, dầu cọ, và các nguyên liệu thô khác cho công nghiệp Châu Âu. Một số người Châu Âu cảm thấy không hài lòng với việc buôn bán người nô lệ, cho đó là hành động vô nhân đạo. Năm 1807, Anh Quốc ban hành đạo luật cấm buôn bán người nô lệ. Năm 1808, Hoa Kỳ cũng ban hành luật cấm nhập cảng người nô lệ từ Châu Phi. 

HỨNG CHỊU NHIỀU CUỘC CHIẾN TRANHĐế quốc Ottoman đánh chiếm, và cai trị nhiều phần đất ở Bắc Phi từ những năm 1500. Nhưng vì đế quốc này đang trên đà suy yếu, nên các thế lực Âu Châu tiến đánh giành quyền thống trị vùng này. Hoà Lan chiếm trị Cape Town từ những năm 1700, những năm 1800, Pháp đánh chiếm Algeria, và Tunisia, Anh chiếm Ai Cập và bắt đầu tiến sâu vào nội địa. Họ đánh nhau với người da đen bản địa để mở rộng vùng kiểm soát. Đến cuối những năm 1800, thì toàn bộ lục địa Châu Phi trừ Ethiopia đều bị các nước Châu Âu chiếm trị. Trong những năm 1700 và 1800, Châu Phi còn phải hứng chịu nhiều cuộc chiến tranh khác như: một loạt các cuộc Thánh chiến giữa những người CẦM ĐẦU HỒI GIÁO với nhau ở Tây Phi và những vùng có ảnh hưởng Hồi giáo, hoặc như tại Nam Phi, quân đội thiện chiến Zulu xua quân đánh chiếm nhiều nước láng giềng bành trướng lảnh thổ đầu những năm 1800./.

 

Bài 70: THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY CAI TRỊ CHÂU PHICHÂU PHIHIỆN NAY VÀ VIỄN CẢNH...

ĐẾ QUỐC PHƯƠNG TÂY CAI TRỊ CHÂU PHIDo có nhiều nguồn lợi từ Châu Phi, các nước Châu Âu thường xuyên gia tăng sự can dính vào lục địa này. Buổi đầu bằng thương mại, rồi từ thương mại họ tiến thêm một bước là thâu tóm quỳên lực chính trị. Cuối cùng thì gần như toàn bộ các phần đất đầy lợi lộc của Châu Phi đều bị các thế lực Châu Âu tranh nhau kiểm soát. Đến trước thế chiến lần thứ I thì Anh, Pháp, Bĩ, Ý, Đức, Tây Ban nha, và Bồ Đào Nha đã chia nhau thống trị toàn bộ lục địa Châu Phi, ngoại trừ Ethiopia đến năm 1936 mới bị Italy đánh chiếm. Tại một số nơi, sự cai tri lục địa tiến hành bởi các hiệp ước giữa các nước Châu Âu và người cai trị bản địa, nhưng hầu hết là tiến hành bằng vũ lực áp đặt. Cho nên, các cuộc nỗi dậy chống người Anh ở phía Tây, người Pháp ở phía Bắc, và người Đức ở phía Đông xẩy ra liên tục. 

Tuy nhiên, các cuộc nỗi dậy này đều bị dìm trong biển máu. Và đến thập niên 1920, các nước Châu Âu đã ổn định, vững mạnh trong việc cai trị toàn bộ lục địa Châu Phi. Sự cai trị thuộc địa nầy kéo dài trên 100 năm. Người Châu Âu đã tạo ra nhiều nỗi bất hạnh cho người dân Châu Phi. Dù vậy, nó cũng có đưa lại các sự thay đổi lớn lao cho lục địa nầy. Cai trị thuộc địa tạo ra các đơn vị chính trị mới. Nhưng, việc các đường biên giới cắt xuyên qua lãnh địa của một vài sắc tộc, cũng đã tạo ra thêm các mâu thuẩn giữa các sắc tộc, và quốc gia tân lập sau nầy. Chính sách “cai trị thuộc địa” trao cho nước ngoài quyền điều khiển chính quyền ở Châu Phi. Hội truyền giáo Thiên chúa La Mã cùng với nhà cai trị thuộc địa chống lại niềm tin, tôn giáo và xã hội truyền thống Châu Phi, một truyền thống từng đi sâu vào đời sống cư dân trên lục địa. 

KINH TẾ CHÂU PHI TRỞ THÀNH PHỤ THUỘC. Cai trị thuộc địa ràng buộc Châu Phi trong một hệ thống kinh tế, nhắm vào sự cần thiết của lục địa Châu Âu, hơn là sự cần thiết của địa phương Châu Phi. Nông dân và thợ mỏ Châu Phi cung cấp nguyên liệu thô cho công nghiệp Châu Âu, sản xuất hàng hoá cho thị trường thế giới hơn là thị trường và phát triển nội địa. Nhiều người Châu Phi nhìn lại thời kỳ cai trị thuộc địa, xem đó như là một giai đoạn lịch sử nhục nhã trong quá trình tiến hóa của họ. Nhưng một số người khác lại tin rằng, thời kỳ ấy quả mang lại vài sự cải thiện, chẳng hạn người Châu Âu đã cung cấp các dịch vụ y tế, và giúp kiểm soát được một số bệnh tật. Hệ thống trưòng học cũng đã dạy cho hàng triệu người Châu Phi biết cách đọc, và viết ngôn ngữ Châu Âu.

Người Châu Phi chống lại sự cai trị thuộc địa này từ đầu. Cuối những năm 1800, các nhóm vũ trang người Châu Phi không ngừng chống cự lại lực lượng xâm lược Châu Âu trên nhiều phần của lục địa. Đầu những năm 1900, họ tổ chức thành các lực lượng quần chúng đông đảo đứng lên đòi thành lập "chính quyền tư trị" khắp nơi nhưng không thành công. Sau đệ nhất thế chiến, năm 1922, Ai Cập và năm 1931, Nam Phi được trao trả độc lập. Sau đệ nhị thế chiến, làn sóng đòi độc lập trở thành một lực lượng mạnh lan ra khắp Châu Phi. Cầm đầu các cuộc nổi dậy là những người Châu Phi được giáo dục tại Châu Âu với sự hổ trợ của đông đảo quần chúng. Các tổ chức này tiến hành từng bước biểu tình, tẩy chay, châm biếm, và đòi có nhiều quyền hơn. 

Một số trường hợp diễn ra trong bạo loạn, tấn công, khủng bố, và nỗi dậy có vũ trang. Đáng kể nhất là cuộc nỗi dậy chống Pháp có vũ trang tại Algeria năm 1954 kéo dài tới 7 năm, quốc gia này mới giành được độc lập (1962). Năm 1957, bờ biển vàng Ghana là một thuộc địa Anh trở thành quốc gia độc lập, với tên nước Ghana. Đến giữa thập niên 1960, Anh, Pháp, và B trao trả hầu hết các thuộc địa để trở thành quốc gia độc lập tại Châu Phi. Còn tại vùng phía Nam lục địa thì Bồ Đào Nha cố bám giữ Angola, và Mozambique. Người bản xứ phải đánh nhau hàng chục năm, rồi mới được ban cấp độc lập năm 1975. Ở Rhodesia, người da đen đấu tranh chống lại sự cai trị của thiểu số người da trắng liên tục nhiều năm đến năm 1979, mới có một cuộc bầu cử tự do, và người da đen chiếm được đa số ghế thành lập chính quyền mới. 

Năm 1980 Anh Quốc thừa nhận độc lập của Rhodesia và đổi tên thành nước Zimbabwe. Xa về phía tây nam, một thuộc địa của Đức, Liên Hiệp Quốc giao cho Nam Phi quản lý. Nhiều người trong vùng xem việc Nam Phi quản lý vùng này là bất hợp pháp. Liên Hiệp Quốc lại phải nổ lực tìm ra giải pháp khác, đến tháng 3/1990, vùng nầy mới thực sự độc lập. Và quốc gia mới mang tên Namibia. Riêng Nam Phi, độc lập từ Anh Quốc năm 1931, nhưng thiểu số người da trắng lại nắm chính quyền. Chính quyền của thiểu số người da trắng thực hiện một chính sách chia rẽ chủng tộc, đặt người da đen ra ngoài công việc sự vụ của chính quỳên. Hầu hết người da đen cho rằng, họ vẫn còn bị thống trị bởi một loại thực dân chủ nghĩa khác là sự “phân biệt chủng tộc” (Apartheid). 

Chủ trương phân biệt chủng tộc của chính quyền Nam Phi không những làm cho các quốc gia Châu Phi da đen giận dữ, mà còn bị nhiều quốc gia trên thế giới chỉ trích gay gắt. Bắt đầu từ thập niên 1970, trong các quan hệ luật pháp và xã hội sự phân biệt chủng tộc được cải thiện. Nhưng, người da đen vẫn không được phép hoạt động chính trị, ngay cả không được quyền bầu cử. Cho đến tháng 4 năm 1994, người da đen Nam Phi mới được phép bầu phiếu trong cuộc bầu cử chính quyền. Và người da đen đã thắng cử để nắm chính quyền Nam Phi. Buổi đầu người Châu Phi trên khắp lục địa hài lòng với nền độc lập của mình, nhưng không bao lâu sau đó họ nhận ra rằng, chỉ đơn thuần độc lập không giải quyết được tất cả các vấn đề của họ. 

Trong nhiều quốc gia, các nhà lãnh đạo không thể giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị vừa mới phát sinh. Các sĩ quan quân đội nhân cơ hội đó lật đổ chính quyền dân sự, và nắm quyền cai trị độc tài trong một thời gian dài. Hầu hết chính quyền dân sự hiện nay, đều kế tục từ chính quyền quân sự. Thế nhưng, một số nhà quân sự đầy tham vọng, lại tạo ra các cuộc nội chiến chống lại chính quyền như Kongo (Zaire), Nigeria, Chad, và nhiều quốc gia khác.

ĐỐI DIỆN VỚI NGHÈO ĐÓI, BỆNH TẬT, MÙ CHỮ… Châu Phi hiện đang đối diện với các vấn đề nghiêm trọng nghèo đói, bệnh tật, mù chữ, và nạn khan hiếm thực phẩm. Hạn hán là mỗi đe doạ thường xuyên, góp phần không nhỏ vào việc khan hiếm thực phẩm. Một trong những cơn hạn hán tệ hại nhất vào đầu thập niên 1980, đã làm nhiều người chết đói, hoặc chết bệnh liên quan đến đói. Nạn đói hoành hành trên khắp đất nước Ethiopia. Trong nhiều quốc gia Châu Phi, sự phát triển kinh tế - xã hội gặp phải bất lợi lớn, là chỉ dựa vào một loại sản phẩm xuất khẩu như nguồn thu nhập chính của quốc gia. Sự tăng giá của hàng hoá công nghiệp nhập khẩu, làm cho nền kinh tế Châu Phi điêu đứng thêm, vì phải trả nhiều tiền hơn cho hàng nhập trong khi tiền xuất khẩu nguyên liệu thô thì rất giởi hạn. 

Sự kình địch sắc tộc tiếp tục xâu xé trong nội bộ nhiều quốc gia. Các cuộc tranh chấp  biên giới, cũng thường dẫn đến các cuộc chiến tranh giữa nước này và nước khác. Và các thế lực bên ngoài từ hai khối Cộng sản, và Không Cộng sản thế giới luôn có sự can dính vào các cuộc đánh nhau ở Châu Phi. Nhiều người Châu Phi lo sợ rằng, một ngày nào đó Châu Phi cũng trở thành một bãi chiến trường của hai thế lực Cộng sản và Không Cộng sản như ở Triều Tiên và Việt Nam tại Châu Á. Rất may cho Châu Phi là chiến tranh lạnh kết thúc từ cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Mặt dù có nhiều vấn đề nội tại của Châu Phi, nhiều người nhìn thấy lục địa này cũng có nhiều triển vọng. Người Châu Phi được đi học nhiều hơn, nhiều ngành nghề đang phát triển mạnh, tiêu chuẩn sống của người dân được cải thiện một bước. 

Các nguồn nguyên liệu có giá trị với trử lượng lớn ở Angola, Gabon, Niqeria và nhiều quốc gia khác, có thể giúp họ phát triển kinh tế thuận lợi hơn. Các nước Châu Phi cũng đang cố gắng làm việc với nhau để giải quyết các vấn để của họ. Phối hợp hành động là chủ yếu trong công cuộc vận động của các quốc gia hướng tới một sự hợp nhất Châu Phi. Tổ chức Hợp nhất Châu Phi (Onganizayin of African Unity) được thành lập ngày 25/5/1963, cố gắng tìm kiếm ra giải pháp giải quyết tranh chấp giữa các nước bằng thương lượng hoà bình. Châu Phi cũng đã thành lập tổ chức cấp vùng như Cộng đồng Kinh tế Tây Phi. Mặc dù các tổ chức này không thể giải quyết được tất cả các vấn đề, nó cũng tỏ cho người ta thấy rằng, cuối cùng nó sẽ giúp tiến bộ, và ổn định trên toàn lục địa. 

Về lĩnh vực chính trị, sau khi độc lập, một hệ thống đảng phái chính trị ra đời trong nhiều quốc gia Châu Phi. Nhưng đến đầu thập niên năm 1990, một số quốc gia mới thừa nhận đa đảng chính trị. Ngày 9/7/2002, Liên hiệp Châu Phi (African Union) được thành lập gồm 53 quốc gia Châu Phi, thay thế cho Tổ chức Hợp nhất Châu Phi lập ra năm 1963. Mục tiêu của Liên hiệp Châu Phi là phục hồi kinh tế, cải thiện chính quyền, ngăn chận chiến tranh, tôn trọng nhân quyền, và cải cách tiền tệ, tài chánh. Dù vậy, Châu Phi vẫn còn phải đối diện với các vấn đề nghiêm trọng là đà gia tăng dân số, và đi kèm với nó là nghèo đói, bênh tật, và mù chữ.

 

Bài 71: VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG, QUỐC GIA, LÃNH THỔ, SẮC TỘC, NGÔN NGỮ, TÔN GIÁO

VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG. Châu Phi là lục địa lớn đứng hàng thứ hai trong các lục địa cả diện tích đất lẫn dân số, chỉ sau châu Á. Châu Phi chiếm 30.166.223 km2 hay 20% diện tích đất của thế giới, và 1.124.050.000 cư dân. Lục địa Châu Phi là một vùng cao nguyên rộng lớn bằng phẳng, chia cắt bởi núi non. Các rừng cây có ngọn cao như bảo tháp, tạo thành một vòm trời xanh dày đặc dưới các trận mưa rừng nhiệt đới ở miền Trung, và phía Tây của lục địa.  Sa mạc Sahara là sa mạc lớn nhất thế giới trải dài xuyên qua phía bắc. Nó chiếm một vùng rộng lớn gần bằng cả Liên bang Hoa Kỳ. Châu Phi cũng có sông dài nhất thế giới, sông Nile từ phía đông Trung Phi chảy về phía bắc dài hơn 6.400 km. 

Lục địa Châu Phi có nhiều đồng cỏ lớn. Voi, sư tử, hươu cao cổ, ngựa vằn, và nhiều loại động vật quý hiếm khác sống ở đồng cỏ phía Đông, và phía Nam của lục địa. Châu Phi còn là lục địa có nhiều trữ lượng hầm mỏ có giá trị lớn như kim cương, vàng, đồng, và dầu khí. Rừng cũng là tài nguyên quan trọng. Bên cạnh sông ngòi, lượng mưa hàng năm ngoài việc cung cấp nước tiêu dùng, tưới tiêu, nó còn được dùng vào việc khai thác thủy điện. Châu Phi là một trong bốn cái nôi của nền văn minh nhân loại, văn minh Ai Cập Cổ đại. Nền văn minh này phát triển dọc theo hai bên bờ sông Nile cách đây hơn 5.000 năm tức 3.200 Trước công nguyên (TCN). Sau đó, vài vương quốc có nền văn hóa tiến bộ, cùng với một số ít đế quốc đầy quyền lực phát triển ven bờ, và, vài vùng trong nội địa Châu Phi. 

Cuối năm 1400 và đầu năm 1500, người Châu Âu đến, và bắt đầu lập ra các trạm buôn ở Châu Phi. Vàng, và người nô lệ da đen trở thành hai mặt hàng xuất khẩu béo bở của lục địa kéo dài hàng trăm năm. Kết quả của việc buôn bán này nó đã mang về cho Châu Âu một mối lợi khổng lồ. Các nước Châu Âu tranh giành nhau quyết liệt, để kiểm soát nguồn tài nguyên ở Châu Phi. Đến cuối những năm 1800, họ đã cắt toàn bộ Châu Phi ra từng mảnh để trở thành thuộc địa của đế quốc phương Tây như Anh, Pháp, Đức, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hòa Lan, và Bỷ. Nhiều người Châu Phi chống lại sự cai trị thuộc địa từ đầu. Nhưng cho đến sau chiến tranh thế giới thứ II, lực lượng đấu tranh mới lớn mạnh, trong khi các thế lực Châu Âu trở nên quá yếu, không đủ sức cai trị thuộc địa thêm nữa. 

Từ cuối thập niên 1950 đến thập niên 1980, có tới 47 thuộc địa Châu Phi đã tuyên bố độc lập. Thế nhưng, các nhà lãnh đạo quốc gia mới này không thể giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội đang tồn tại sau độc lập. Giới sĩ quan quân đội trong nhiều quốc gia nhân cơ hội đó làm đảo chánh lật đổ chính quyền. Một số quốc gia, độc tài quân sự trỗi dậy, số khác thì một đảng chính trị duy nhất trở thành thế lực độc tôn chính trị. Ngày nay, sự kình địch sắc tộc các tranh chấp vùng giữa các quốc gia còn tiếp tục đe dọa sự ổn định trên lục địa này. Những vấn đề khác như gia tăng dân số vượt quá sự kiểm soát, cùng với nó là nạn nghèo đói, khan hiếm thực phẩm, và bệnh tật đang vẫn còn là mối thách thức cho các nhà lãnh đạo Châu Phi.

QUỐC GIA, LÃNH THỔ. Có 54 quốc gia độc lập ở Châu Phi. Quốc gia lớn nhất là Algeria, có diện tích 2.381.741 km2. Và quốc gia nhỏ nhất là Seychelles chỉ có 450 km2. Quốc gia đông dân cư nhất là Nigeria, hơn 175 triệu người. Tuy nhiên, Châu Phi có tới 40% quốc gia - mỗi nước có dân số dưới 5 triệu. Khoảng hai phần ba người Châu Phi sống ở nông thôn. Họ kiếm sống bằng cách gieo trồng các loại ngũ cốc, và chăn nuôi. Trong nhiều vùng quê của lục địa, người ta thường sống theo lối sống tổ tiên họ từng sống cách đây hàng trăm năm. Giữa những năm 1900, nhiều người từ thôn quê kéo về thành phố tìm cơ hội làm việc tốt hơn. Và lối sống của họ, cũng có nhiều thay đổi. Châu Phi có trên 1.124 triệu người, gần 900 triệu người sống phía Nam sa mạc Sahara. Trên dưới hai phần ba người Châu Phi sống tại các làng quê. 

Tại lưu vực sông Nile, Ai Cập nơi người Ả Rập cư trú là một trong những nơi được xếp vào hàng đông dân cư nhất thế giới, khoảng trên 1.600 người trên một cây số vuông. Các nơi đông dân cư khác gồm bờ biển Địa Trung Hải, bờ phía Tây lục địa, kể cả một số nơi ở Nigeria. Vùng quanh bờ hồ phía Đông, và bờ biển phía Đông nam Châu Phi cũng có nhiều dân cư hơn các nơi khác. Người Châu Phi có nhiều nguồn gốc văn hoá khác nhau. Chẳng hạn, ở phía Bắc đa số là người Ả Rập, trong khi phía Nam Sahara hầu hết là người Châu Phi da đen. Có hơn 800 nhóm sắc tộc ở Châu Phi, mỗi nhóm có ngôn ngữ, tôn giáo, và cách sống riêng. Trong nhiều trường hợp một vùng đất được xem như quê hương của một sắc tộc, lai thuộc lãnh thổ của hai, hoặc ba quốc gia khác nhau. Và kết quả là nhiều người cảm thấy gắn bó với sắc tộc mình, với quốc gia láng giềng hơn là gắn bó với chính quốc gia họ. 

SẮC TỘC, NGÔN NGỮ. Sự khác nhau về sắc tộc cũng đưa đến nhiều cuộc nội chiến trong nhiều quốc gia ở Châu Phi. Sắc tộc Pygmies chỉ khoảng 150.000 người. Sắc tộc Khoisan bao gồm người San, và người KhoikhoiHiện người San chỉ còn khoảng 50.000 ngườiCòn người Khoikhoi có khoảng 40.000 người. Có khoảng 80 triệu người Ả Rập sống tại Châu Phi, hầu hết ở Ai Cập, phía bắc Sudan. Người Berber trên dưới 20 triệu phần lớn sống ở Algieria, Morocco. Người có nguồn gốc Châu Âu khoảng 5 triệu. Hầu hết là người Anh, Pháp, Hoà Lan, Bồ Đào Nha đến Châu Phi trong những năm 1600. Hơn ba triệu rưởi người gốc Châu Á, gồm gần 2,5 triệu người gốc Indonesia sống ở Madagascar, họ đến đây từ đầu Công nguyên. Và hơn một triệu người gốc Ấn Độ sống ở phía Đông, và phía Nam Châu Phi, họ đến lục địa này trong những năm 1800. 

Hầu hết các nhóm sắc tộc ở Châu Phi có ngôn ngữ riêng của họ. Ngôn ngữ là cái chính giúp người ta nhận diện, họ là thành viên của nhóm sắc tộc nào. Hiếm có thành viên của một nhóm sắc tộc nầy có thể nói được ngôn ngữ của các sắc tộc khác. Có hơn 800 ngôn ngữ được sử dụng ở Châu Phi, và đây là hậu quả của việc thông tin liên lạc, giao lưu văn hoá hết sức khó khăn tại mọi thời điểm. Có khoảng 3 triệu người nói tiếng Anh. Một số lớn người Châu Phi còn được dạy nói tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha cùng ngôn ngữ địa phương trong vùng. Ba ngôn ngữ Anh, Pháp, Bồ Đào Nha được xem là ngôn ngữ chính trong nhiều quốc gia Châu Phi. Ngôn ngữ Châu Âu còn giúp các nước này thông tin liên lạc với thế giới bên ngoài, kinh doanh, thương mại, chính trị, và cả quản lý chính quyền. 

TÔN GIÁO. Trên 200 triệu người Châu Phi theo niềm tin tôn giáo địa phương của họ. Châu Phi có hàng trăm tôn giáo địa phương, mỗi nhóm sắc tộc có một niềm tin, và phương cách thực hiện niềm tin riêng. Dù vậy, họ có những nhận định chung khá phổ biến. Họ giải thích nhân loại được tạo ra như thế nào, và dạy cho các thành viên của họ hiểu được điều gì gọi “là đúng, cần làm" điều gì “là sai, cần tránh"Họ khẳng định con người có mối quan hệ giữa họ với tự nhiên, và giữa người trẻ với người già. Họ dẫn ra các nguyên nhân làm cho con người đau khổ, và chỉ dạy cho người ta cách làm như thế nào để có được một đời sống tốt đẹp. Họ còn dạy cho người ta cách làm thế nào để tránh, hoặc giảm thiểu sự bất hạnh. Tất cả các tôn giáo ở Châu Phi đều công nhận có tồn tại một đấng tối cao. 

Tuy nhiên, hầu hết các tôn giáo ở phía Nam lục địa đều nhấn mạnh rằng con người nên tìm kiếm một sự giúp đỡ bằng cách cầu xin các vị thần thấp hơn, hoặc các thần linh từ tổ tiên đã chết. Rằng con người phải ban phát, hoặc dâng hiến lễ vật cho các thần linh, thần thánh để đạt được những điều tốt lành về sức khoẻ, về mùa màng. Một số tôn giáo còn thực hiện các lễ lạc kỹ niệm cho người ta theo từng thời kỳ thời thơ ấu, thời trưởng thành. Còn những người ở phía Tây lục địa thì niềm tin của họ đa dạng hơn. Chẳng hạn người sống trong vùng Dogon của Mali vùng Yoruba cuả Nigieria, và vùng Ashanti của Ghana. Người theo tôn giáo trong các vùng này có cả hàng loạt niềm tin rất phức tạp về sự tồn tại của đấng tối cao, và các vị thần thấp hơn. Tôn giáo chiếm phần quan trọng trong đời sống của người Tây Phi, cả nam lẫn nữ. 

Có khoảng trên dưới 130 triệu người Châu Phi theo đạo Thiên chúa. Trong những năm 300, Thiên chúa giáo trở thành quốc giáo của đế quốc La Mã. Trong thời gian đó Ai Cập, và phần phía Bắc Châu Phi bị La Mã chiếm trị. Do vậy, Thiên chúa giáo cũng được phát triển. Aksum, một nước phía Nam Ai Cập trở thành quốc gia Thiên chúa giáo, cuối những năm 300. Trong những năm 500, khi đế quốc Tây La Mã sụp đổ thì ở Bắc Phi lại bị đế quốc Đông La mã- tức đế quốc Byzantine thay thế. Từ đó, ảnh hưởng Chính thống giáo lên khu vực. Nhà thờ Thiên chúa giáo Chính thống ở Ethiopia là nhà thờ lớn nhất lục địa. 

Hồi Giáo xâm chiếm Ai Cập năm 639, và hoàn tất cuộc xâm lược toàn bộ Bắc Phi năm 710. Trong những năm đầu mặc dù thống trị cả một vùng rộng lớn, đế quốc Hồi giáo không thuyết phục được nhiều người Châu Phi theo Hồi giáo. Thông qua hoạt động thương mại, và sự kiên trì của các nhà truyền giáo, cuối cùng Hồi giáo cũng cải hoá nhiều triệu người từ bỏ Thiên chúa giáo theo Hồi giáo. Quá trình này kéo dài hằng trăm năm. Hiện có trên dưới 150 triệu người Châu Phi theo Hồi giáo. Đạo Hồi là quốc giáo ở Bắc Phi. Nó cũng chiếm ưu thế trong một số quốc gia láng giềng phía Nam. Nó còn ảnh hưởng đến quốc gia Nigeria ở phía Tây, và nước Tanzania ở phía Đông nam của lục địa nữa.

 

Bài 72: ĐỜI SỐNG NÔNG THÔN VÀ THÀNH THỊ CỦA 11 QUỐC GIA TẠI PHÍA BẮC CHÂU PHI

Khu vực phía Bắc Châu Phi có 11 quốc gia, chiếm 13.200.596 km2, trên 43% diện tích Châu Phi, và hơn 271 triệu cư dân, hơn 24% dân số của lục địa. Có khá nhiều sự kiện thường xảy ra ở khu vực này. Phần lớn người Bắc Phi cùng nói một ngôn ngữ, ngôn ngữ Ả Rập, cùng theo một tôn giáo, Hồi giáo (Islam). Và cũng chính họ góp phần làm nên lịch sử của người Ả Rập. Văn hoá Bắc Phi dưới nhiều dạng khác nhau có nhiều ảnh hưởng đến các quốc gia láng giềng phía Nam. Dù vậy, về tổng thể các nước Bắc Phi lập thành một khu vực, khác xa phần phía Nam sa mạc Sahara. Bắc Phi nằm dọc theo bờ phía Nam Địa Trung Hải, tiếp giáp với Châu Âu phía bắc bờ Địa Trung Hải. Và nó cũng tiếp giáp với Trung Đông, phía đông bắc bên kia bờ Biển Đỏ (Red Sea). 

Văn minh Ai Cập của Bắc Phi là một trong bốn nền văn minh đầu tiên của nhân loại thời Thượng cổ. Nhưng lại bị đế quốc Persian xâm chiếm năm 505 Trước công nguyên (TCN). Sau đó trở thành một phần của đế quốc La Mã, rồi đế quốc Hồi giáo. Và sau cùng là thuộc địa của các thế lực Châu Âu, cho đến những năm 1900. Do tiếp giáp Châu Âu, và Trung Đông, khu vực Bắc Phi có quá trình lịch sử gần gũi với hai lục địa láng giềng này. Nước Pháp từng cai trị Algeria, Mauritania, Morocco, và Tunisia. Ý Đại Lợi cai trị Libya. Anh Quốc cai trị Ai Cập. Còn Trung Đông mặc dù thuộc lục địa Châu Á, lịch sử Trung Đông gần giống với lịch sử Bắc Phi. Và vùng Trung Đông - Bắc Phi đang là một phần quan trọng của thế giới Ả Rập ngày nay. 

Người trong các nước Bắc Phi đại đa số theo đạo Hồi, và nói tiếng Ả Rập. Nhưng cũng có một nhóm khác tôn giáo và ngôn ngữ. Chẳng hạn người Berber ở Angeria, Morocco, và Mauritania chỉ có một phần nhỏ theo Hồi giáo, phần lớn hơn vẫn duy trì nền văn hoá riêng của họ, và nói tiếng địa phương Berber. Còn người Châu Phi da đen trong khu vực thì lập ra những cộng đồng nhỏ hơn. Một số nói tiếng Ả Rập như ngôn ngữ bản địa, và thực hiện niềm tin Hồi giáo, một số khác không xem trọng tôn giáo hầu hết là người Copts. Họ nói tiếng Ả Rập, theo cách sống Ả Rập, nhưng lại là tín đồ Thiên chúa giáo, hoặc theo niềm tin truyền thống. 

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. Về hôn nhân, và gia đình thì Bắc Phi có thời Hồi giáo quản lý việc kết hôn, nghĩa là luật Hồi giáo chi phối việc kết hôn. Luật này bao gồm cả việc đa thê, tức quyền của người đàn ông có nhiều hơn một vợ. Theo luật Hồi giáo, khi kết hôn gia đình cô dâu phải trao cho chú rể một món tài sản hồi môn, hoặc một số tiền nào đó theo tập tục. Truyền thồng này làm cho nhiều bậc cha mẹ khốn đốn vì có nhiều con gái. Cha mẹ thường chọn vợ, chọn chồng cho con cái họ. Hiện nay ngoại trừ Tunisia, các quốc gia ở Bắc Phi vẫn còn thừa nhận đàn ông có nhiều vợ theo luật Hồi giáo. Nhưng của hồi môn, và cha mẹ định đoạt hôn nhân cho con cái thì không còn phổ biến như trước đây

Loại gia đình mở rộng gồm cha mẹ con cái, và cả ông bà, cô chú, và cháu chắt, như là một bảo đảm an toàn, giúp đỡ tài chánh cho người thân trong gia đình, và cả đời sống bên ngoài xã hội còn tồn tại khá nhiều nông thôn. Nhưng trong thành phố, hầu hết gia đình chỉ gồm cha mẹ, và con cái. Theo truyền thống vai trò của người phụ nữ Bắc Phi luôn có mặt ở nhà nuôi nấng con cái, và chăm sóc gia đình. Hầu hết phụ nữ trong khu vực vẫn còn theo tập tục này. Tuy nhiên, cũng có một số phụ nữ được giáo dục tốt, có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, đang làm việc ngoài xã hội. Có người trở thành bác sĩ, giáo viên, chuyên viên, kỹ thuật viên, và công nhân hành nghề trong các thành phố, cái mà trong quá khứ không hề có.

ĐỜI SỐNG Ở NÔNG THÔN. Có khoảng một phần hai dân cư Bắc Phi sống ở nông thôn. Đa số họ sống bằng nghề trồng trọt, và chăn nuôi trên đất của họ, hoặc thuê đất từ các địa chủ. Họ sử dụng công cụ thô sơ, và canh tác theo phương pháp cổ truyền. Trong một số cánh đồng do nhà nước làm chủ thì được sử dụng máy móc, và kỹ thuật hiện đại. Có hàng chục ngàn gia đình không có đất canh tác. Nông dân ở Bắc Phi sống trong những căn nhà có mái lợp ngang với tường gạch dày không nung, để che chắn cái nắng bức thường có hằng năm. Tại khu vực cao nguyên, một số nhà được xây tường bằng đá, hoặc xi măng. Hầu hết các gia đình ở nông thôn thiếu tiện nghi cần thiết như đèn điện, nước máy, điện thoại. 

Hầu hết người Bắc Phi từng là du mục à Rập, và hiện có nhiều nhóm đang chăn nuôi các đàn lạc đà, dê, cừu ở sa mạc Sahara. Và có nhiều câu chuyện thần thoại thường được kể lại về sự mạo hiểm của họ. Hiện nay, chỉ còn khoảng trên dưới 10% người Bắc Phi là dân du mục. Họ sống trong các căn lều lưu động, làm bằng lông thú cũ kỹ. Cách sống của người Bắc Phi ở nông thôn, theo các hình thức mẫu mực cổ truyền. Chồng là người cung cấp các phương tiện sống, vợ nuôi dạy con cái, và chăm sóc nhà cửa. Trẻ em thì giúp cha mẹ làm việc trên đồng ruộng, hoặc tại nhà. Khi cha mẹ già yếu thì con cái là nơi nương tựa, nuôi nấng họ. Các tiện nghi công ích ở nông thôn rất hạn chế, giới hạn trong phạm vi gia đình, và làng xóm nơi họ sống. 

Nhiều người trong số họ, một tuần mới đi chợ làng một lần. Ngoài việc mua bán trao đổi vật phẩm, chợ làng còn là nơi duy nhất để họ học hỏi, trao đổi thông tin, và các hiểu biết khác bên ngoài ngôi nhà và cánh đồng. Món ăn gọi là "Couscous" được ưa chuộng nhất trong vùng, nó gồm hạt ngũ cốc nguyên chất nấu chín bằng cách hấp hơi trên thịt hoặc nước thịt, ăn chung với thịt bằm có tẩm gia vị cay và rau sống. Thỉnh thoảng họ mới được thưởng thức các món thịt gà, dê, cừu, hoặc bò. Phần nhiều người Bắc Phi mặc quần áo theo truyền thống. Đàn ông mặc váy dài rộng với áo mi nhưng dài rộng hơn, đội khăn quấn kiểu Hồi giáo. Phụ nữ mặc áo dài đơn giản, quần dài với khăn choàng nơi công cộng, đôi khi còn che mặt bằng chiếc khăn cổ truyền của người Hồi giáo.

ĐỜI SỐNG Ở THÀNH THỊ. Cairo, thủ đô Ai Cập (Egypt) là thành phố lớn nhất Bắc Phi với khoảng trên 18 triệu cư dân. Các thành phố khác của khu vực gồm Alexandia, Giza ở Ai Cập, Tripoli ở Libya, Casablanca và Rabat ở Morocco, và Algiers ở Algeria, mỗi thành phố có trên một triệu cư dân. Kiến trúc thành phố Bắc Phi hầu hết theo kiểu Hồi giáo, và Châu Âu. Các thánh đường Hồi giáo được xây dựng nhiều nhất trong các thành phố lớn, cùng với nó là chợ củ kỹ với các cửa hàng kề sát, chật chội dọc theo những đường phố chật hẹp thông nhau rất đặc trưng kiểu dáng cổ Hồi giáo. Tương phản với nó là các đại lộ thênh thang, chung cư hiện đại, toà nhà văn phòng to lớn, và các bãi đậu xe rộng lớn mang dáng vẻ Châu Âu. Các tiện nghi như xe cộ, đèn điện, nước máy, và điện thoại được sử dụng rộng rải trong thành phố. 

Dịch vụ y tế, trường học, chợ búa, truyền thanh, truyền hình tốt hơn. Công nhân trong thành phố đều có thu nhập cao so với nông thôn nên họ mua được radio, và máy truyền hình. Sự hấp dẫn của thành phố làm cho nhiều người rời bỏ nông thôn kéo vào thành phố. Cùng với việc di dời này, nhiều căn nhà ổ chuột xuất hiện. Và, nhiều thành phố đã quá tải dẫn đến các hệ thống phục vụ như điện nước, điện thoại bị phá vỡ.

  

Bài 73: ĐỜI SỐNG NÔNG THÔN VÀ THÀNH THỊ TẠI 43 QUỐC GIA PHÍA NAM SA MẠC SAHARA.

ĐƠN VỊ LÀNG. Có khoảng 70% cư dân của 43 quốc gia phía Nam sa mạc Sahara sống ở nông thôn, chủ yếu trong các làng. Một số làng chỉ có từ 40 đến 50 nhà, nhưng các làng khác thì có hàng trăm thậm chí hàng ngàn nhà. Một làng là một cộng đồng liên kết, gần gũi phụ thuộc nhau như một sắc tộc. Người trong các làng hầu hết có quan hệ huyết thống, hoặc do hôn nhân. Giữa một số nhóm, vua là người chỉ huy tối cao được kính trọng nhất mặc dù có nhiều giới hạn về quyền uy trong chính trị. Đa số các ngôi vua được thừa kế, và phục vụ trong ý nghĩa kết nối các làng có cùng sắc tộc. Quan hệ giữa các nhóm sắc tộc không được tổ chức chặt chẽ lắm. Người lớn tuổi trong làng có thể giải quyết các vấn đề liên quan đến làng mình. 

Phần nhiều "đơn vị làng" là một tập hợp nhà bao quanh bởi đồng ruộng. Làng lớn có thể có trường học, vài cửa hiệu buôn bán, trạm y tế, và nhà công cộng. Khi có sự tranh chấp trong làng sẽ được xét xử tại nhà này. Nhà công cộng còn dùng làm nơi thu thuế. Phần lớn các làng đều có quảng trường trung tâm. Tại đây, dân làng sẽ tụ tập lại để vui chơi, và tổ chức các lễ lạc chung. Nhà ở thôn quê khác nhau từ làng này đến làng phụ thuộc khí hậu, tập tục, và lối sống. Người phía Nam Châu Phi sống trong những căn nhà xây gạch không nung với mái lợp bằng rơm, cỏ khô, hoặc lá. Các làng giàu có hơn thì nhà xây bằng bê tông với mái lợp bằng những tấm kim loại. Nhà của người theo đạo Hồi có một sân lớn, với tường bao bọc để đàn bà đến làm các việc riêng tư, mà không bị những người bên ngoài nhìn thấy. Tập quán này là một những quy định của đạo Hồi truyền thống. 

ĐỜI SỐNG Ở NÔNG THÔN. Cách sống trong làng có thay đổi chút ít trong những năm gần đây. Tại một số nước như Nam Phi, Zimbabwe, Kenya, nhiều người làm nghề nông, hoặc chăn nuôi có sử dụng máy móc, và phương pháp canh tác hiện đại, kỹ thuật tốt hơn. Nhưng đại bộ phận nông dân trong các nước phía Nam sa mạc Sahara vẫn còn sử dụng công cụ thô sơ, và phương pháp canh tác cổ truyền như cha ông họ từng sử dụng hàng trăm năm về trước. Phần lớn gia đình ở nông thôn có những mảnh đất nhỏ gần nhà, cả đàn ông lẫn đàn bà phải làm việc nhiều giờ trên đồng ruộng để kiếm sống. Một số nông dân còn làm việc bán thời, trong các đồn điền do người giàu có làm chủ chuyên sản xuất các mặt hàng nông sản để bán. 

Đất đai phía Nam sa mạc Sahara, phần lớn thiếu độ phì nhiêu cần thiết. Do vậy người ta phải thực hiện luân canh truyền thống. Từng nhóm nông dân cùng nhau dọn sạch cây cối bụi rậm, rồi gieo trồng cây lương thực trong một số năm nào đó, khi đất hết màu mỡ, bạc màu cộng đồng này bắt đầu di chuyển đến một địa điểm mới. Đất để lại cuối cùng cây cỏ tái sinh, và người ta có thể quay lại gieo trồng ngũ cốc sau năm, ba năm hoang hoá. Phương pháp luân canh này hiện vẫn còn phổ biến nhiều nơi trong khu vực phía Nam. Nhưng có một số nơi không thực hiện luân canh được, vì dân cư quá đông đúc. Và kết quả là nông dân vẫn tiếp tục làm việc trên các mảnh đất ngày càng trở nên kém màu mỡ thêm hơn. 

Hầu hết nông dân gieo trồng ngủ cốc chủ yếu tạo nguồn thực phẩm cho gia đình sử dụng. Ở phía Đông, và phía Nam lục địa, các loại hạt ngũ cốc làm thực phẩm gồm lúa mỳ, bắp, kê, và đậu phụng. Các vùng thấp, ẩm ướt cây thực phẩm gồm lúa gạo, củ sắn, củ khoai, rau đậu, trái cây. Người ta cũng chế biến củ sắn thành bột sắn tinh dùng làm thực phẩm. Một số nông dân cũng có trồng cây công nghiệp chủ yếu để bán như cà phê, ca cao, bông vải, dừa, và các loại trái cây. Họ bán các sản phẩm này lấy tiền mua xe gắn máy, các mặt hàng kim khí, máy móc, dầu lửa, đồ điện, diêm quẹt. Họ còn sử dụng tiền bán hàng để trả thuế, và các loại chi phí về y tế, và lệ phí học hành cho con cái. 

Ngoại trừ một số người sống dọc theo sông Nile dùng nước sông tưới tiêu đồng ruộng, hầu hết nông dân khu vực phía nam đều phụ thuộc vào mùa mưa để gieo hạt. Trong suốt mùa mưa, người nông dân, và cả gia đình họ làm việc cực nhọc hơn gieo trồng, chăm bón, và thu hoạch. Trong mùa khô sau khi thu hoạch xong, người ta có nhiều thời gian nghĩ ngơi hơn. Họ sử dụng thì giờ nhàn rổi sửa sang nhà cửa, dụng cụ lao động. Họ thăm viếng bà con, bạn bè, và trao đổi sản phẩm nông nghiệp để lấy các hàng hoá khác vào thời điểm này trong năm. Các lễ hội cộng đồng thường được tổ chức ở quảng trường làng. Nó là một phần quan trọng trong đời sống nông thôn Châu Phi.

Lễ hội thường được tổ chức khi có trận mưa đầu mùa báo hiệu cho thời vụ trồng trọt bắt đầu, hoặc sau thời điểm thu hoạch. Một số sắc tộc tổ chức lễ hội hằng năm. Tại lễ hội này, người lớn tuổi nhảy múa các vũ điệu huyền bí như để giải thoát cộng đồng khỏi tay những mụ phù thủy ma quái, và các lực lượng hung ác. Toàn thể cộng đồng, và nhiều người từ những làng lân cận đến tham dự chung vui. Lễ hội khá phổ biến khác như sinh nhật, kết hôn, ma chay, chữa bệnh, thay đổi vị trí trong xã hội, chẳng hạn từ thiếu niên thành người lớn. Đây là những dịp để cộng đồng tụ tập, và được cảm nhận từ mỗi người, mỗi gia đình như được thắc chặt thêm tình nghĩa. 

Nhiều vùng thôn quê trên lục địa, thanh niên khi đến tuổi trưởng thành, rời làng lên thành phố tìm kiếm việc làm vài ba năm như một người "di cư lao động". Họ đến các thành phố, hoặc thị trấn với hy vọng sẽ kiếm đủ tiền cưới vợ, hoặc mở doanh nghiệp nhỏ. Thanh nữ trong làng phải làm thêm những việc do thanh niên để lại, tự họ phải đảm trách cả công viêc ngoài đồng ruộng lẫn việc trong nhà. Phần lớn phụ nữ nông thôn Châu Phi, dùng hết thời gian vào các công việc nhàm chán như gánh nước, nhặt củi, xay bột ngũ cốc. Một số làng có lắp đặt máy bơm nước đơn giản hút nước từ giếng, hoặc bơm tay. Riêng tại phía Tây Châu Phi một số phụ nữ có đến trường học được một số ít năm, tham gia các hoạt động thương mại, và một số trong bọn họ trở nên giàu có nhờ kinh nghiệm, và chăm chỉ. 

Các cộng đồng bộ tộc du cư Dinka, Fulani, Masai, Toubou, Tuareg, và Turkana sống gần sa mạc Sahara, và cao nguyên phía Đông lục địa chuyên sống về nghề chăn nuôi, thì họ di chuyển theo lộ trình vạch sẵn có các đồng cỏ cho đàn gia súc cừu, dê, và lạc đà của họ. Lộ trình này hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn thức ăn cho gia súc. Đàn ông con trai trông nom gia súc còn phụ nữ thì lo sóc việc nhà. Ngoại trừ nhóm du cư Masai ở phía Đông có dựng chuồng trại lớn sống trong các nhà vòm trát bằng đất, hoặc phân trâu bò, tất cả các nhóm du mục khác thì sống trong các căn lều làm bằng da, hoặc lông da súc cũ kỹ.  

ĐỜI SỐNG Ở THÀNH THỊ. Cư dân thành thị phía Nam sa mạc Sahara chỉ chiếm khoảng 30%. Nhưng tỷ lệ này cao hơn tại các nước Congo (Brazzaville), Djibouti, Equatorial Guinea, Maritius, và Nam Phi. Và trên toàn bộ Châu Phi, ngày càng có nhiều người từ nông thôn di chuyển vào thành phố. Thành phố có trên một triệu cư dân phía Nam sa mạc Sahara gồm Addis Ababa ở Ethiopia, Cape Town và Johannesburg ở Nam Phi; Dar es Salaam ở Tanzania; Kinshasa ở Congo (Zair), Lagos ở Nigieria, và Niroi ở Kenya. Khu vực Nam Sahara có một số thành phố, thị trấn từ nhiều thế kỹ trước như thị trấn Aksum ở Ethiopia. Khi người Châu Âu đến Tây Phi trong những năm 1400, họ cùng lập ra các thành phố như Timbuktu ở Mali, Ibadan, và Kano ở Nigieria. Thành phố thủ đô Nam Phi Cape Town do Hoà Lan xây dựng ngay khi họ đến đây năm 1652. 

Hầu hết thành phố phía Nam Sahara kiến trúc theo truyền thống, và hiện đại. Thành phố hiện đại có các toà nhà văn phòng cao tầng, chung cư to lớn, khách sạn, cửa hàng, và cả bãi đậu xe. Nhưng cũng trong thành phố ấy có nhiều ngôi nhà cũ kỹ, cửa hàng đông đúc dọc theo các đường phố chật hẹp. Chợ búa nơi người ta đến mua bán thực phẩm, quần áo và nhiều thứ hàng hoá khác thì không có mái che, người ta gọi nó là khu vực truyền thống của thành phố. Cũng như các thành phố Bắc Phi, cư dân trong các thành phố phía Nam Sahara đều có tiêu chuẩn sống cao hơn cư dân sống ở nông thôn. Các thành phố đều có nhiều trường học, và tiện nghi y tế tôt hơn các vùng nông thôn. 

Đối với người có kỹ năng, nghề nghiệp cao thì cơ hội làm việc cũng nhiều hơn, và dĩ nhiên lương bổng cao hơn. Đời sống ở thành phố cũng không giống nhau, một số người giàu có sống trong các ngôi nhà lớn hiện đại, hoặc chung cư sang trọng, còn hầu hết sống trong các căn nhà nhỏ bẩn thỉu, hoặc trong các nhà kho tồi tàn. Nhiều nhà được xây bằng xi măng cốt sắt, hoặc bằng gỗ với các tấm lợp bằng kim loại dợn sóng. Việc tăng dân số quá nhanh trong thành phố tạo ra nhiều khó khăn, chính quyền không thể cung cấp đủ nhà ở, các phương tiện chuyên chở công cộng, trường học cho con em. Các dịch vụ cung cấp nước, cống rãnh thoát nước, và cả hệ thống điện lực đều quá tải. Và thành phố nào cũng có một số lớn công nhân thất nghiệp, nhất là những người không được đào tạo nghề cơ bản. 

Hầu hết người giàu có trong thành phố ăn nhiều thịt, và luôn ăn vào buổi tối. Họ chỉ ăn qua loa các bữa ăn khác trong ngày. Bữa ăn cũng chính là lúc các mối quan hệ gia đình, xã hội, bạn bè, láng giềng được gần gũi, và gắn bó hơn. Đàn ông con trai thường ăn riêng với đàn bà con gái. Trong các gia đình giàu có người ta còn tổ chức các bữa ăn "tự chọn". Họ tụ tập quanh các đĩa thức ăn lớn, cùng với muỗng, nĩa, kẹp gắp lấy thức ăn và các miếng bánh mì. Nhưng các người nghèo hơn, họ cũng bao quanh một đĩa thức ăn lớn, và vài thứ lấy thức ăn cùng với bánh mì, song chất lượng bữa ăn kém hơn. Bữa ăn của người da đen Châu Phi vùng phía Nam Sahara gồm bột ngũ cốc nấu nhuyễn như cháo, hoặc củ khoai xốt rau quả, và một miếng thịt. Trong các vùng nhiệt đới bữa ăn thường đạm bạc hơn.

Chuối là nguồn thực phẩm phổ biến, trong các bửa ăn hầu hết là chuối, chuối chiên hoặc nấu thành cháo. Nó cũng có thể sấy khô, hay xay nhuyễn như bột. Đa số ngươi Châu Phi chỉ ăn thịt vào những dịp lễ đặc biệt. Trong những dịp như thế, người già, và người đàn ông nhận được phần thịt nhiều hơn đàn bà, và con nít. Người ta ăn thịt bò, dê, cừu, gà. Cá là thức ăn chính của nhiều người sống dọc theo bờ sông, hồ, hoặc ven biển. Người Châu Phi nuôi các đàn gia súc lớn để lấy sữa, phoma, và thịt. Sữa chua đông đặc là loại sản phẩm gần giống sữa chua lên men được nhiều người phía nam lục địa ưa chuộng. Trong những dịp lễ lạc đặc biệt, một số gia súc bị cắt cổ lấy tiết. Người Châu Phi uống tiết sống, hoặc ăn khi nấu chín, hoặc trộn tiết với sữa làm sữa chua lên men. Hai loại rượu, và bia là thức uống phổ biến ở Châu Phi. 

Nạn hạn hán kéo dài nhiều nơi gần sa mạc, cũng thường dẫn tới sự thiếu thực phẩm nghiêm trọng, làm nhiều người bị chết đói. Tình hình trên cũng đưa tới sự suy dinh dưỡng cho hầu hết người Châu Phi, nhất là trẻ em. Về cách ăn mặc có nhiều sự khác nhau ở phía Nam Sahara phụ thuộc vào tập tục và khí hậu. Cư dân trong thành phố thường ăn mặc theo kiểu phương Tây. Nhưng cư dân ngoài thành phố lại thích ăn mặc quần áo Châu Phi, có nhiều kiểu dáng, và màu sắc rực rỡ, mang tính "đặc trưng Châu Phi". Phía Tây Châu Phi, và các khu vực gần Sahara, đàn ông mặc robe dài, rộng thùng thình thả lỏng với áo sơ mi to rộng hơn khổ người, hoặc áo không có tay. Còn phụ nữ thì dùng một tấm vải quấn quanh người họ thành cái áo, và robe dài. Một số phụ nữ che mặt bởi một tấm "mạng" (veil) theo tập tục Hồi giáo khi xuất hiện trước công chúng. 

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DU MỤC. Người "chăn nuôi du mục" ở Châu Phi thì ăn mặc đơn giản hơn, thường bằng da thuộc cũ kỹ. Cộng đồng chăn nuôi du mục này thường tự hào về nghề chăn nuôi truyền thống của họ. Các đàn gia súc là thước đo về sự giàu có, và vị trí xã hội của họ. Đa số người thôn quê đi chân không hoặc mang dép. Họ đeo vòng chân, vòng tay, bông tai, và kiềng đeo cổ như là đồ trang sức. Nhà vua, và các vị quan tòa của bộ tộc Ashanti ở Ghana, và một số bộ tộc khác mặc những bộ đồ đặc biệt với robe trong những dịp lễ lạc, hoặc trong các phiên xử án.

 

Bài 74: VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI CHÂU PHI.

Hợp tác và trung thành là hai yếu tố quan trọng nhất, được cảm nhận mạnh mẽ trong việc ràng buộc, gắn bó các gia đình Châu Phi. Cảm nhận này được chia sẻ bởi các thành viên trong gia đình như một nghĩa vụ thiêng liêng không chỉ cha mẹ và con cái, mà còn là ông bà cô chú và các cháu chắt của họ nữa. Gia đình sẽ giúp mỗi thành viên của mình thực hiện các nghĩa vụ, và các vấn đề liên quan như việc làm, pháp luật, và nhiều vấn đề khác. Gia đình là nơi chăm sóc các thành viên khi đau ốm, hoặc lúc về già. Hầu hết người Châu Phi thường tìm kiếm lời khuyên bảo, và chấp nhận lời đề nghị của người lớn tuổi trong gia đình trước khi tự mình quyết định. 

HÔN NHÂN. Niềm tin truyền thống của người Châu Phi xem hôn nhân là một cái gì đó cao cả hơn là một hợp đồng giữa một người đàn ông và một người đàn bà sống chung với nhau. Hôn nhân cũng là một cách, để có được mối quan hệ rộng hơn của cả hai người bằng việc mỗi người có thêm cha mẹ, anh em thân thích bên nhà vợ, hoặc bên nhà chồng do mối quan hệ của con cái họ. Hôn nhân Châu Phi trong đại thể phải được cha mẹ cô dâu chú rể chấp nhận trước khi tiến hành hôn lễ. Theo truyền thống, một người đàn ông bậc cha, ông, hay chú, bác phải trao một món quà cưới, hoặc bằng tiền, hoặc bằng gia súc, hoặc thứ gì có giá trị khác cho gia đình cô dâu trước ngày cưới. Người Châu Phi không xem "quà cưới” truyền thống như việc trả tiền để mua cô dâu, mà đó là một cách báo cho cô ta biết tính quan trọng và giá trị, cái mà người ta đặt lên cô ta trong mối ràng buộc mới, liên quan đến quan hệ xử sự của cô ta. 

Phần lớn các nhóm sắc tộc Châu Phi thừa nhận chế độ đa thê. Nhiều người đàn ông giàu có theo tập tục này, có nhiều hơn một người vợ. Ông ta bị buộc phải chia đều sự hiện diện, và tài sản giữa các bà vợ trong gia đình của ông ta. Mỗi bà vợ sẽ có một ngôi nhà, một đàn gia súc, và các thứ vật dụng khác. Bà ta làm chủ hoàn toàn các thứ này. Các hội truyền giáo nước ngoài, và một số người Châu Phi ra sức ngăn cản chế độ đa thê và quà cưới. Nhưng, truyền thống và tập tục vẫn còn là một trong các điều hệ trọng trong đời sống hàng ngày ở hầu hết các nhóm sắc tộc phía Nam sa mạc Sahara. 

GIA ĐÌNH. Người Châu Phi đã để lại cho gia đình họ nhiều cách ràng buộc. Hoặc làm theo cha ông họ từng làm bằng cách bắt chước cái mà họ đang làm, hoặc tổ chức "nhà thờ phụng" tương tự như các nhà thờ họ ở làng quê Việt Nam. Nhà thờ phụng là nơi mối quan hệ kế tục được kết nối bởi con cháu các thành viên nam trong gia đình. Tài sản thừa kế chỉ thông qua các thành viên nam trong gia đình. Và người cha có quyền điều khiển hợp pháp trên con cái họ. Nhà thờ phụng còn được gọi là "Tổ đường" thường có trong các nhóm sắc tộc ở Trung Phi, Congo và các vùng núi rừng Tây Phi. Cũng có nhóm sắc tộc, quan hệ kế tục được kết nối thông qua gia đình người mẹ. Và, tài sản thừa kế cũng theo gia đình bên ngoại. Và anh, hay em trai của người mẹ có quyền chỉ huy hợp pháp con cái của người chị hay em gái mình. 

Thành viên của mỗi hệ thống quan hệ ruột thịt đều có tên gọi riêng. Nó được sắp xếp thành các tầng, nhóm, khác với cách sắp xếp thường có ở phương Tây. Chẳng hạn tại Hoa Kỳ, anh của người cha, và anh của người mẹ cả hai đều gọi là "bác" hay "cậu". Bằng một phương cách tương tự, người Châu Phi không ghép nhóm cho tất cả các cháu với nhau dưới từ "cháu" (cousins). Họ quy cháu vào nhiều loại tuỳ theo ràng buộc liên quan với một gia đình cụ thể tương tự cháu nội, cháu ngoại, cháu con cậu, dì, hoặc cháu con cô bác ở Việt Nam. Nhiều nơi ở Châu Phi các dạng gia đình lớn ghép lại gọi là đại gia đình hay "tộc". Tất cả thành viên của đại gia đình, hay tộc, tương tự như " Họ, Phái" ở Việt Nam. 

Họ đều tự xem mình là con cháu có cùng huyết thống, có chung một "ông tổ". Các thành viên trong đại gia đình, trong cùng "một tộc" không được phép kết hôn với nhau. Các "đại gia đình" hay "tộc" luôn có nhiều nỗ lực để bảo vệ an toàn, an vui cho các thành viên của mình.       

 

Bài 75: GIÁO DỤC, NGHỆ THUẬT TẠI CHÂU PHI

GIÁO DỤC. Tại Bắc Phi, theo tập tục chỉ có các bậc thực giả tôn giáo, mới được học cao hơn nền giáo dục cơ bản. Trong thời kỳ cai trị thuộc địa, người định cư Châu Âu lập ra nhiều trường học nhưng chủ yếu là giáo dục trẻ em, và đào tạo nhân viên giúp việc. Chỉ có khoảng một phần ba cư dân khu vực này biết đọc biết viết. Tỷ lệ người biết đọc biết viết ở nông thôn còn thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trên ở thành phố. Sau khi thu hồi độc lập các chính quyền Bắc Phi nỗ lực cải thiện giáo dục bằng cách xây thêm nhiều trường học, đáp ứng nhu cầu học hành của cư dân nhất là các vùng nông thôn. Tuy nhiên, hiện có nhiều vấn đề đang cản trở quá trình này. Dân số tăng nhanh hơn so với trường học mới xây dựng, nhiều vùng thiếu giáo viên có khả năng đến mức trầm trọng. 

Nhiều học sinh phải bỏ học, để làm việc phụ giúp gia đình. Tại một số nơi, cha mẹ phải đảm trách việc giáo dục con cái họ, bởi vì không đủ sức trả tiền học cho con cái. Nhìn chung, các nước Bắc Phi có nhiều tiến bộ trong việc mở rộng giáo dục bậc trung học, và cao đẳng, chứ không dừng lại ở mức giáo dục cơ bản. Ngày nay, có nhiều quốc gia học sinh đăng ký học trung học, và cao đẳng cao hơn so với thời kỳ trước đó. Riêng Algeria, Morocco, Tunisia, và Ai Cập học sinh trong độ tuổi đăng ký học bậc đại học trên 10%. Khu vực phía Nam sa mạc Sahara, các học giả Hồi giáo người Ả Rập xây dựng một số trường trung học. Nhưng hầu hết người của khu vực này không phải được giáo dục từ trường học, mà là từ cha mẹ họ. Họ được chỉ dạy cách trồng trọt, chăn nuôi, hoà mình với xã hội đang sống. 

Vào những năm 1500, Hồi truyền giáo cơ đốc La Mã, bên cạnh việc dạy giáo điều cơ đốc, cũng có dạy cách đọc, cách viết cho một số người. Trong thời cai trị thuộc địa, do nhu cầu nhân viên giúp việc, công nhân trong nhà máy, nên Anh, Pháp, và các nước thực dân Châu Âu khác, thành lập một số trường học cho thuộc địa phía Nam Phi Châu. Nhưng đa số người dân trong khu vực không được dạy chữ cho đến những năm 1900. Bắt đầu từ thập niên 1960, nhiều chính quyền phía Nam Sahara xây thêm trường học. Và, mở rộng hệ thống giáo dục để nhiều người có thể đi học, kể cả bậc trung học, và cao đẳng. Tỷ lệ người biết đọc biết viết có tăng. Một số lớn trẻ em vẫn chưa được đi học, và nhiều trẻ em khác phải nghĩ học sau một, vài năm đến trường, vì các em cần ở nhà giúp cha mẹ làm việc kiếm sống.

NGHỆ THUẬT. Châu Phi từng phát triển các loại hình nghệ thuật cao, từ hàng ngàn năm về trước. Các công trình nghệ lâu đời nhất của lục địa là những bức tranh vẽ thời tiền sử, tìm thấy ở nam Namibia. Tranh vẽ còn được phát hiện ở những nơi khác quanh sa mạc Sahara, trên đá, trên tường, ở hang động, trong hốc đá, những nơi người Châu Phi cư trú. Nhiều bức tranh vẽ, công trình kiến trúc, tượng điêu khắc thời Ai Cập cổ đại là những công trình nổi tiếng nhất thế giới. Ngày nay, người Châu Phi đang sáng tạo ra các chuỗi hạt, đồ gốm, đồ da, hàng dệt, kim loại, và nhuộm vải nổi tiếng. Đối với họ, sáng tạo nghệ thuật như một phần của đời sống. Nghề thủ công mỹ nghệ tuyệt vời trên lục địa có thể nhìn thấy nơi dụng cụ, và các đồ gia dụng tại nhà, cũng như các vật trang trí, trang sức, và tại các lễ lạc, hội hè. 

Nghệ thuật Bắc Phi khác xa các phần còn lại của lục địa. Nó sáng tạo "cái đẹp" của nghệ thuật Hồi giáo. Nhiều đền đài Hồi giáo lộng lẫy được xây dựng khắp khu vực Bắc Phi. Âm nhạc Bắc Phi là những bài ca truyền thống tôn giáo Ả Rập. Nhạc cụ Ả Rập có nhiều loại khác nhau, lan ra nhiều nơi ở phía Nam như Chad, Mali, Ghana, Niger, Nigeria, Senegal, và Sudan. Âm nhạc Ethiopia phát triển từ nhạc Cổ điển. Âm nhạc truyền thống Châu Phi da đen gồm nhạc hợp xướng, nhạc cung đình, hát, và nhảy trong các lễ hội tôn giáo. Người da đen sử dụng nhiều loại trống, nhạc cụ đàn dây, kèn đồng, ống sáo, đàn tranh, đàn thập lục, đàn chữ U, và đàn mộc cầm gõ bằng búa. Nhịp điệu trong âm nhạc rất phức tạp. Các bản hợp xướng bổng trầm, hoặc nhạc buồn người da đen Châu Phi thường hát trong khi làm việc. 

Âm nhạc Châu Phi có ảnh hưởng nhạc phương Tây, nhạc jazz, miền tây Ấn Độ, và âm nhạc theo vũ điệu của khu vực Mỹ La tinh. Văn học Châu Phi có thể loại "văn học truyền khẩu" truyền thống rất phong phú. Nó được thông qua, và lan ra trong đại chúng. Văn học loại này gồm lịch sử các dân tộc, và mối quan hệ thân thuộc của sắc tộc, truyện cổ tích, thần thoại của các vị anh hùng trong quá khứ, những mẫu chuyện về các tên lừa đảo, các truyền thuyết, ca dao tục ngữ, những điều bí ẩn. Văn học truyền khẩu có vai trò quan trọng trong các lễ lạc tôn giáo. Nó phục vụ như một sự ghi nhận các điều xảy ra trong quá khứ để giáo dục đạo đức, và truyền thống tốt đẹp cho các người trẻ. Nó là những bài hát tuyên dương, ca ngợi các nhà lãnh đạo cộng đồng, các nhà vua, và các nhà lãnh đạo chính trị tốt. 

Văn học truyền khẩu thỉnh thoảng có âm nhạc phụ họa trong các nhóm thính giả, hoặc nhóm gia đình lớn. Ngày nay giới học giả ở Châu Phi đang sưu tầm, và ghi lại các loại văn học này để bảo tồn nó. Trong quá khứ, Châu Phi có rất ít văn học viết. Một số học giả Bắc Phi đang sưu tầm các loại văn học viết chữ Ả Rập ở Swahili, và Hausa. Còn ở phía Nam, từ chữ viết Copic, các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm dấu vết về văn học viết. Trong những năm 1900, các nhà văn Châu Phi sáng tạo văn học qua nhiều ngôn ngữ như Hausa, Somali, Swahili, Yoruba, và Zulu. Hầu hết các tác phẩm hiện tại lại viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha, thứ tiếng của các nước Châu Âu thời cai trị thuộc địa trước đây. 

Ngày nay, văn học viết Châu Phi bao gồm cả tiểu thuyết, thơ văn, và kinh nghệ. Về điêu khắc, chạm trổ của Châu Phi thì có các loại hình thức trang trí mặt nổi, và nhiều hình thức phục vụ tôn giáo khác. Các hộp đựng kinh thánh, bàn thờ phụng, hình chạm trổ trên gỗ sáng tạo từ rất sớm, có bức đã bị hư mục chỉ còn lại một số ít. Một số khác thực hiện trên kim loại đồng, ngà voi, và trên đồ sành sứ được xem như là mẫu mực. Có nhiều đồ sành sứ với hình chạm trổ sáng tạo từ năm 500 Trước công nguyên (TCN) bởi nền văn hóa của bộ tộc Nok, phía nam Nigeria. Sáng tạo nghệ thuật trên đồng, trên đất nung cũng được thể hiện bởi bộ tộc Ife ở Nigeria trong những năm 1200. Từ năm 1400 đến 1700, nghệ nhân vùng Tây Phi sáng tạo được các loại hình trang trí với chất lượng cao trên ngà voi, trên đồng dẫn đầu khu vực. 

Người bên ngoài lục địa cho đến những năm 1900, mới biết nghệ thuật chạm trổ, và điêu khắc Châu Phi. Nhưng nó cũng ảnh hưởng lớn vào nghệ thuật phương Tây. Những nét phát hoạ trừu tượng, đơn giản và sinh động trên đã ảnh hưởng lên nghệ thuật Châu Âu. Các nghệ sĩ Châu Âu nổi tiếng như Georges Braque của Pháp, Henry Moore của Anh, và Pablo Picasso của Tây Ban Nha đều có ít nhiều bóng dáng nghệ thuật Châu Phi. Ngày nay, nghệ nhân Châu Phi đang thực hiện các thể loại cổ điển của từng nhóm sắc tộc trên gỗ, hoặc trên kim loại khác nhau. Chạm trổ, điêu khắc của các nhóm sắc tộc này khá nổi tiếng gồm Yoruba của Nigeria, Dogon, Bambara của Mali; Senufo, Baule,và Dan của Côte d’Ivoire; Fang của Gabon; và Kongo, Kuba, zLuba, và Lega của Congo.

 

Bài 76: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP TẠI CHÂU PHI.

KINH TẾ NÔNG NGHIỆP. Nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu ở Châu Phi. Nhưng hầu hết nông dân sử dụng công cụ lạc hậu, phương pháp canh tác cổ truyền, và đất đai lại kém màu mỡ. Nhiều quốc gia Châu Phi phụ thuộc một vài loại sản phẩm nông nghiệp, hoặc hầm mỏ xuất khẩu để có thu nhập. Trong trường hợp bị mất mùa, sản phẩm từ hầm mỏ trên thế giới bị xuống giá thì kinh tế nhiều nước Châu Phi gặp rất nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp chiếm nhiều công nhân, và đóng góp cho giá trị tổng sản lượng quốc gia nhiều hơn bất cứ ngành hoạt động kinh tế nào khác. Châu Phi dẫn đầu thế giới cacao, bột tinh sắn, hạt điều, vani, đậu phộng, quả hạnh nhân, hành tỏi, và các loại khoai. Châu Phi cũng là nơi sản xuất chuối, cà phê, cao su, sợi bông, đường, và trà. 

Người Châu Phi nuôi hơn 2/3 lạc đà của thế giới, gần 1/3 dê, và 1/7 trâu bò, và cừu. Nông dân Châu Phi gieo trồng ngũ cốc chỉ để tiêu dùng cho chính họ. Các vùng nhiệt đới, ẩm ướt ở phía Tây, và miền Trung Châu Phi người ta trồng chuối, mã đề, lúa gạo, và các loại củ khoai sắn. Vùng đất cỏ phía Đông, và phía Nam họ trồng lúa miếng, hạt kê. Tại Bắc Phi, nông dân trồng lúa mỳ, rau quả, và cây ăn trái. Nông dân trên các ốc đảo của sa mạc trồng chà là, các loại ngũ cốc nhỏ hạt như lúa mạch, lúa mỳ. Khoảng 3/5 đất gieo trồng của Châu Phi, dùng gieo trồng lương thực để nuôi sống cho chính họ. Tuy nhiên, nông nghiệp tự cấp giảm sút bớt trong những năm gần đây. Ngày nay, một số nông dân Châu Phi chuyên gieo trồng hạt ngũ cốc để bán, chủ yếu là xuất khẩu. 

Sự chuyển đổi từ nông nghiệp tự cấp sang nông nghiệp để bán đang làm nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến nó. Chẳng hạn, nạn thiếu thực phẩm xuất hiện nhiều nơi vì có ít nông dân gieo trồng hạt ngũ cốc làm thực phẩm hơn. Cùng với nó là việc một số lớn nông dân đã rời bỏ nghề nông di chuyển vào thành phố tìm kiếm việc làm. Một số vấn đề khác, là thị trường nông sản thế giới luôn biến động về giá cả khiến các nông dân không ổn định về mức thu nhập. Trong quá khứ, hầu như đất nông nghiệp của Châu Phi đều do thành viên của các nhóm sắc tộc hợp tác làm chủ. Ngày nay, đất đai một phần không nhỏ do tư nhân làm chủ. Dù vậy hợp tác kiểu truyền thống vẫn còn mạnh. Nhiều nông dân góp đất lại với nhau, mua trang thiết bị, và hạt giống, như là một tổ hợp hoạt động chung, và bán sản phẩm chung của họ. 

Nông dân phía Bắc còn thuê đất canh tác mở rộng hoạt động sản xuất. Một số đồn điền do người da trắng làm chủ, chuyên sản xuất hàng nông sản để bán như dừa, dầu cọ, cao su, sợi sisal, mía đường, và trà. Hàng ngàn công nhân làm việc toàn thời, hoặc bán thời trong các trang trại này. Một cách tổng quát, năng suất nông nghiệp cũng như sản lưọng ở Châu Phi không cao. Đất nông nghiệp ở Châu Phi mỏng, thiếu độ phì nhiêu cần thiết, mưa nhiều ở phía Tây, và miền Trung Châu Phi xói mòn lớp đất màu mở trên mặt. Trong nhiều nơi thời kỳ hạn hán kéo dài, lụt lội, hoặc sự phá hoại thường xuyên của côn trùng làm các vụ mùa luôn giảm sút. Hầu hết nông dân canh tác trên các mãnh đất nhỏ, sử dụng phương tiện thô sơ. 

Các đàn gia súc, nhất là bò không nuôi được tại nhiều nơi trên lục địa, bởi vì khí hậu không phù hợp và bệnh dịch nhiệt đới. Hơn nữa, các loại bò có thể nuôi được ở Châu Phi thì nó cũng sản xuất ra ít thịt, và sữa hơn bò nuôi ở Bắc Mỹ, và Châu Âu. Châu Phi có nhiều trữ lượng hầm mỏ nhất là ở phía Nam sa mạc Sahara, giúp một số quốc gia vùng này phát triển thuận lợi hơn các phần khác của lục địa. Nhưng sự giàu có về hầm mỏ cũng như các sản phẩm từ hầm mỏ, nó lại nằm trong tay những người da trắng. Người da trắng đang nắm quyền thống trị nhiều vùng ở Châu Phi nhất là về mặt kinh tế, và hoạt động kinh doanh nói chung. Hầu hết các quốc gia Châu Phi phụ thuộc nặng nề vào sự trợ giúp các quốc gia khác ở bên ngoài lục địa. 

KINH TẾ CÔNG NGHIỆP. Công nghiệp có vai trò không lớn trong hoạt động kinh tế Châu Phi. Trong quá khứ các nhà cai trị thuộc địa Châu Âu chú trọng sản xuất nông nghiệp, và hầm mỏ để có được nguyên liệu thô cho nền công nghiệp ở quê nhà của họ. Do đó ngày nay, ngay cả các quốc gia có dư thừa nguyên liệu thô cũng có rất ít nhà máy sản xuất công nghiệp. Nhiều quốc gia Châu Phi không đủ khả năng xây dựng nhà máy mới đắt tiền, và cũng có rất ít đội ngũ chuyên viên, nhà quản lý, kỹ thuật viên, và cả công nhân lành nghề. Hơn nữa, sự cạnh tranh từ công nghiệp Châu Âu, và Bắc Mỹ là cản ngại chính trong việc phát triển công nghiệp ở Châu Phi. Giữa những năm 1900, một số thành phố lớn trong lục địa có phát triển loại công nghiệp sản xuất ra các mặt hàng như rượu bia, thuốc lá, đồ gổ gia dụng, giày dép, xà phòng, và nước giải khát. 

Một số nhà máy sản xuất các mặt hàng khác như cơ phận rời cho xe hơi, hàng dệt, may mặc. Cộng hoà Nam Phi là quốc gia có nền công nghiệp cao nhất sản xuất gần 40% sản phẩm công nghiêp Châu Phi. Nhà máy Nam Phi sản xuất các mặt hàng xuất khẩu như xe hơi, dược phẩm, công nghiệp sắt thép, chế biến thực phẩm, và quần áo. Các quốc gia công nghiệp khác ở Châu Phi gồm Ai Cập, Algieria, Morocco, ở phía Bắc, và Nigieria giáp ranh phía Tây. Sản phẩm hầm mỏ Châu Phi có giá trị lớn trong tổng thu nhập quốc gia, nhiều hơn 50% giá trị hàng xuất khẩu của toàn lục địa, nhưng chỉ có dưói một triệu công nhân làm việc trong khu vực này. Trữ lượng hầm mỏ Châu Phi phân bố không đồng đều giữa các quốc gia. 

Năm nước Nam Phi, Libya, Nigeria, Algeria, và Zambia, sản xuất 80% tổng số hầm mỏ xuất khẩu của Châu Phi. Chính quyền kiểm soát công nghiệp hầm mỏ trong nhiều quốc gia Phi Châu, và sử dụng nguồn thu từ hầm mỏ cung cấp tài chánh cho nhiều dự án của chính phủ. Nam Phi là quốc gia sản xuất vàng lớn nhất thế giới. Libya, và Nigeria là hai nước hàng đầu trong số các quốc gia sản xuất dầu khí của thế giới. Algeria cũng là nước sản xuất dầu lữa lớn, chỉ sau Libya, và Nigeria. Châu Phi còn là lục địa cung cấp gần 70% chất cô ban (cobalt) của thế giới, hơn 40% platinum nguyên tố tăng độ cứng của thép, và khoảng trên 30% kim loại Chrôm, mangan, và bạch kim. Châu Phi cũng là lục địa dẫn đầu, các lục địa về kim loại đồng, nguyên tố phóng xạ, muối axid, và kim cương. 

Các sản phẩm hầm mỏ quan trọng khác của Châu Phi gồm quặng, sắt, thiết, kim loại trắng hơi xanh, và khí đốt thiên nhiên. Thế nhưng, tất cả các nguồn lợi từ hầm mỏ người dân Châu Phi không được hưởng bao nhiêu. Mặc dù chính quyền có nhiều nổ lực kiểm soát nó, nhưng kết quả không nhiều bởi các chủ nhân khai thác hầm mỏ đều nằm trong tay người Châu Âu. Châu Phi chiếm khoảng 25% rừng của thế giới. Nhưng chỉ có dưới 15% cây có thể cung cấp được gỗ, cũng như vài sản phẩm rừng khác. Cây có giá trị lớn nhất về gỗ cứng thì có cây hồ đào, cây dái ngựa, và cây gỗ mềm thì có cây Kmê, và cây khuynh diệp. Công nghiệp rừng là công nghiệp quan trọng nhất ở các nước Cameroon, Congo dân chủ, Congo cộng hoà, Gabon, Ghana, Ivory Coast, và Nigeria. 

Vùng biển lục địa Châu Phi có nhiều cá. Các đội tàu đánh cá dọc theo bờ Châu Phi đã đánh bắt một số lượng lớn cá đủ loại, cá trổng, cá trích, cá thu, cá ngừ, và nhiều cá khác. Nhiều mặt hàng cá xuất khẩu từ Châu Phi dưới dạng cá hộp xốt dầu, và cá chế biến theo kiểu ăn liền. Sông, và hồ ở lục địa Châu Phi cũng cung cấp nhiều loại cá nước ngọt rất đa dạng. Nó là nguồn chất đạm chính trong bữa ăn hằng ngày của nhiều người Châu Phi, nhất là những người nghèo. Nguồn cá nước ngọt chủ yếu từ các hồ phía Đông lục địa, các đầm hồ ở Chad, và vùng cao sông Nile.

 

Bài 77: MẬU DỊCH QUỐC TẾ VÀ TRỢ GIÚP TỪ NƯỚC NGOÀI TẠI CHÂU PHI.

MẬU DỊCH QUỐC TẾ. Cán cân mậu dịch Châu Phi chỉ chiếm khoảng trên dưới 5% tổng giá trị trao đổi thế giới thông qua việc xuất nhập khẩu. Nhưng cân mậu dịch có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Châu Phi. Khoảng 25% tổng sản phẩm Châu Phi được xuất khẩu. Buôn bán của Châu Phi, chủ yếu với Châu Âu, Nhật Bản, và Bắc Mỹ. Buôn bán giữa các quốc gia Châu Phi với nhau là rất ít. Mặt hàng nhập khẩu chính của Châu Phi gồm thực phẩm, sắt, thép, máy móc, và xe cộ. Dầu khí chiếm 50% tổng giá trị xuất khẩu. Các mặt hàng khác gồm ca cao, cà phê, vàng, và khí thiên nhiên. Một số nước Châu Phi chỉ dựa vào một mặt hàng xuất khẩu để có thu nhập, chẳng hạn Libya, Nigeria chỉ dựa vào dầu khí. 

Botswana dựa vào kim cương, Gambia dựa vào đậu phụng, Ghana dựa vào ca cao. Guinea dựa vào quặng nhôm, Uganda dựa vào cà phê, và Zambia dựa vào đồng. Bởi phụ thuộc vào một mặt hàng xuất khẩu nên nền kinh tế Châu Phi giao động lớn nếu giá cả trên thị trường thế giới thay đổi. Châu Phi đã và đang có những nổ lực nhằm kiểm soát được phần nào các sự thay đổi giá cả, và cải tiến những điều khoản mới về mậu dịch. Algeria, Gabon, Libya, và Nigeria là thành viên tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu khí thế giới. Các quốc gia Châu Phi, có hàng xuất khẩu khác đang gia nhập với các tổ chức xuất khẩu mặt hàng tương tự.

TRỢ GIÚP TỪ NƯỚC NGOÀI. Hầu như mỗi quốc gia Châu Phi đều phụ thuộc vào một, vài nguồn trợ giúp từ nước ngoài. Những trợ giúp này gồm viện trợ tiền bạc, vay nợ, và trợ giúp kỹ thuật trong các lãnh vực nông nghiệp, giáo dục, y tế. Các quốc gia và các tổ chức quốc tế đã giúp Châu Phi bằng nhiều cách khác nhau. Các quốc gia riêng lẽ thì có Pháp, Anh, và Hoa Kỳ. Tổ chức Lương Nông trực thuộc Liên Hiệp Quốc hổ trợ Châu Phi nhiều nhất. Những tổ chức khác gồm Ngân hàng thế giới, và các tổ chức tài chánh thành viên của nó. Hiệp hội Phát triển Quốc tế, Quỹ Phát triển Kinh tế và một số quỹ của Liên hợp Châu Âu, Ngân hàng Phát triển Châu Phi, Quỹ Phát triển Châu Phi. Ai Cập nhận trợ giúp nước ngoài nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác của lục địa. Kế đó là Ethiopia, Kenya, Morocco, Mozambique, Sudan, và Tanzania. 

Nhờ trợ giúp nước ngoài, nhiều quốc gia Châu Phi xây dựng công nghiệp, cải tiến nông nghiệp, tôn tạo trường học, đường sá, công trình công cộng, nhà cửa. Trợ giúp nước ngoài cũng cung cấp thực phẩm, và tiếp liệu trong thời kỳ hạn hán, và các tai ương khác. Tuy nhiên, sự trợ giúp nước ngoài không luôn hoàn toàn có lợi. Nhiều nợ nần vay với lãi suất cao, sử dụng tiền vay vào việc xây dựng các công trình không hiệu quả như xây dựng các xa lộ, đê điều, hợăc một số dự án không mang lại lợi thiết thực cho người dân. Nhiều nhà lãnh đạo nhận ra rằng, quả có quá nhiều khó khăn trong việc trả nợ. Khi vay nợ kềm theo điều kiện, quốc gia vay nợ phải mua hàng hoá nguyên liệu từ nước cho vay. Trong nhiều trường hợp, khi đáo hạn nợ thì tiền lời nhiều hơn tìên vốn vay nợ.

 

Bài 78: VẬN CHUYỂN VÀ TRUYỀN THÔNG TẠI CHÂU PHI.

 VẬN CHUYỂN. Toàn lục địa Châu Phi có khoảng 1.300.000 cây số đường bộ giao thông, nhưng chỉ có 97.000 cây số đường được tráng nhựa. Trong nhiều vùng khi mùa mưa đến là đường sá tắt nghẻn. Dưới 2% người Châu Phi có xe hơi riêng hầu hết ở thành phố. Khắp nơi ở Châu Phi xe tải, xe buses chạy theo các lộ trình quy định chuyển tải người và hàng hoá từ làng quê về thị trấn, thành phố và ngược lại. Nhiều người đi bộ hoặc đi xe đạp. Trong nhiều nơi ở nông thôn người ta sử dụng súc vật để chuyển tải người, và hàng hoá như ngựa, hoặc lừa. Lạc đà đóng vai trò chính trong việc chuyển vận ở sa mạc Sahara. Châu Phi có 95.000 cây số đường xe lửa xuyên lục địa. Đường xe lửa được sử dụng chuyển tải nguyên liệu từ hầm mỏ, hoặc nông sản từ các đồn điền nơi sản xuất tới bến cảng xuất khẩu ra nước ngoài. Hầu hết nó xây dựng từ thời cai trị thuộc địa của phương Tây. 

Bờ biển Châu Phi có ít bến cảng thiên nhiên tốt nhưng các kỹ sư đã cho xây dựng nhiều bến cảng với nhiều tiện nghi hiện đại cho tàu bè sử dụng tại mỗi quốc gia ven bờ. Đường thủy vận trên sông phục vụ việc chuyển vận tại nhiều nơi trong lục địa. Thác ghềnh, và dòng chảy xiết làm trở ngại lộ trình chuyển vận trên một số con sông. Thêm vào đó một số con sông bị cạn vào mùa khô, không đủ sâu cho tàu bè đi lại. Nhiều làng ở vùng rừng mưa nhiệt đới, người ta sử dụng thuyền độc mộc, và các loại thuyền gỗ nhỏ phục vụ việc đi lại trên sông. Hầu hết các quốc gia Châu Phi có hệ thống đường hàng không cung cấp đường bay nội địa và quốc tế. Các thành phố chính của Châu Phi đều có đường bay quốc tế phục vụ du khách và thương mại.

TRUYỀN THÔNG. Các thành phố trên lục địa có hệ thống dịch vụ thông tin liên lạc tốt hơn ở thôn quê. Nhật báo tạp chí từ Châu Âu, và Hoa Kỳ bày bán trong các thành phố lớn. Tất cả các thành phố khắp Châu Phi đều có phát hành nhật báo địa phương. Đa số các quốc gia Châu Phi có đài truyền hình. Và trung bình 25 người thì có được một máy truyên hình. Ít người ở thôn quê được xem truyền hình. Radio là phương tiện truyền thông phổ biến nhất. Đài phát thanh quốc gia nào cũng có, và cứ 5 người Châu Phi thì có được một Radio. Ngay cả các vùng xa xôi hẻo lánh một làng cũng có được một vài Radio công cộng. Dân làng thường tập trung trước Radio đặt ở một nơi nhất định để nghe tin tức, và các chương trình truyền thông khác. 

Dịch vụ điện thoại ở Châu Phi giới hạn trong các thành phố, thị trấn lớn. Toàn lục địa có khoảng 70 triệu máy điện thoại trên hơn 1.150 triệu cư dân. Nam Phi là quốc gia có nhiều máy điện thoại nhất chiếm 50% số máy điện thoại toàn lục địa. Trong hầu hết các quốc gia Châu Phi hệ thống điện thoại được lắp đặt từ thời cai trị thuộc địa, giúp việc điều hành của chính quyền trong quản lý hành chánh. Và kết quả là, hiện nay dịch vụ điện thoại trong nội địa các quốc gia, hoặc trong nội địa lục địa Châu Phi không sử dụng tốt bằng dịch vụ từ quốc gia với bên ngoài lục địa Châu Phi. Chẳng hạn dịch vụ từ Châu Phi đến Châu Âu hay Hoa Kỳ tốt hơn, từ một nơi này đến một nơi khác trong quốc gia, hoặc trong lục địa. 

(Hết Chương V)

   

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét