Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

 

 Chương XIII: 10 BÀI VIẾT VỀ 5 CHÍNH QUYỀN: ĐẾ QUỐC VIỆT NAM, UỶ BAN HÀNH CHÁNH NAM BỘ, VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CỘNG HOÀ TỰ TRỊ NAM KỲ, VÀ QUỐC GIA VIỆT NAM 1945-1950.

(37 trang, 26.259 chữ).

 

CHÍNH QUYỀN MỘT.

159. Chính quyền Đế quốc Việt Nam, và Chính phủ Trần Trọng Kim: 3/1945-8/1945.

 

CHÍNH QUYỀN HAI.

160: Uỷ ban Hành chánh Lâm thời Nam Bộ của Trần Văn Giàu, và Phạm Văn Bạch: 8/1945-10/1945. 

 

CHÍNH QUYỀN BA.

161: Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Lâm thời, và Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Hồ Chí Minh: 9/1945-2/1946.

162. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Hồ Chí Minh: 2/1946-11/1946.

163. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Hồ Chí Minh: 11/1946 - 7/1947.

164. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Cải tổ Hồ Chí Minh7/1947 - 1950.

 

CHÍNH QUYỀN BỐN.

165. Chính quyền Cộng hoà Nam Kỳ Tự trị, và Chính phủ Nguyễn Văn Thinh: 6/1946-10/1946. 

166. Chính quyền Cộng hoà Nam Kỳ Tự trị, Chính phủ Lê Văn Hoạch, và Chính phủ Nguyễn Văn Xuân: 10/1946-5/1948. 

 

CHÍNH QUYỀN NĂM.

167. Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Nguyễn Văn Xuân: 5/1948-7/1949 

168. Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và Chính phủ Bảo Đại: 7/1949-1/1950.

 

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

Bài 159: CHÍNH QUYỀN ĐẾ QUỐC VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM: 3/1945 - 8/1945.

Chính quyền Đế quốc Việt Nam là Chính quyền Việt Nam Độc lập do Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập ngày 11/3/1945, chấm dứt 60 năm đô hộ Pháp. Ngày 12/3, Ông Yokoyama được chính phủ Nhật cử làm Khâm sứ, thay Khâm sứ Pháp tại Huế. Ngày 17/3, Hoàng đế Bảo Đại tuyên chiếu từ nay sẽ đích thân cầm quyền, theo nguyên tắc “Dân vi quý” để chỉnh đốn lại quốc gia. Học giả Trần Trọng Kim được Hoàng đế Bảo Đại uỷ thành lập Chính phủ. Ngày 17/4, Trần Trọng Kim trình danh sách thành viên Chính phủ và được Hoàng đế Bảo Đại chấp thuận. 

NỘI CÁC CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM là những người học thức, yêu nước, được xã hội kính trọng có 11 thành viên: Tổng trưởng Nội các (Thủ tướng): Học giả Trần Trọng Kim; Phó Tổng trưởng Nội các kiêm Bộ trưởng Ngoại giao: Tiến sĩ Luật Trần Văn Chương; Bộ trưởng Nội vụ: Y sỉ Đông Dương Trần Đình Nam; Bộ trưởng Tư pháp: Tiến sĩ Luật Trịnh Đình Thảo; Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ: Thạc sĩ Toán Hoàng Xuân Hãn; Bộ trưởng Tài chính: Tiến sĩ Luật Vũ Văn Hiền; Bộ trưởng Thanh niên: Luật sư Phan Anh; Bộ trưởng Công chính: Kỹ sư Lưu Văn Lang; Bộ trưởng Y tế: Bác sĩ Y khoa Vũ Ngọc Anh; Bộ trưởng Kinh tế: Bác sĩ Hồ Tá Khanh; Bộ trưởng Tiếp tế: Y sĩ, Thương gia Nguyễn Hữu Thí.

Ngoài 11 thành viên Nội các, lần lượt nhiều nhà trí thức có tiếng tăm cũng được mời tham gia công việc của chính quyền như: Khâm sai Bắc bộ Phan Kế Toại; Khâm sai Nam bộ Nguyễn Văn Sâm; Đốc lý Hà Nội Bác sĩ Trần Văn Lai; Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn Kỹ sư Kha Vạng Cân; Thị trưởng Hải Phòng Luật sư Vũ Trọng Khánh; Thị trưởng Đà Nẳng Nguyễn Khoa Phong; Thị trưởng Huế Giáo sư Nguyễn LânTỉnh trưởng Nghệ An Phó bảng Đặng Văn HướngTỉnh trưởng Hà Tĩnh Phó bảng Hà Văn ĐạiTỉnh trưởng Thanh Hóa Giáo sư Đặng Thái MaiCác ông Hoàng Đạo Thuý, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Nguyễn Xiển, Vũ Văn Cẩn, Nguỵ Như Kontum được mời ra thành lập Hội đồng Thanh niên. Tạ Quang Bửu còn mời làm Cố vấn đặc vụ y viên Bộ Thanh niên và Kỹ sư  Lê Duy Thước làm Chánh văn phòng Bộ.

NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM. Chính quyền Đế quốc Việt Nam và Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại hơn 4 tháng từ tháng 4 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945. Nhưng cũng đã làm được một số việc rất đáng trân trọng như: Ngày 8/5, Hoàng đế Bảo Đại tuyên chiếu kêu gọi quốc dân tham gia việc nước; hứa triệu tập một Hội nghị Lập Hiến. Ngày 8/5, Chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố “Chương trình Hưng quốc, lập Ủy ban Cải Cách, và Hội đồng Tư vấn Địa phương. Ngày 11/6, Bộ trưởng Phan Anh cổ võ thanh niên nêu cao ý chí, bảo vệ đất nước trước nhà hát lớn Hà Nội. Ngày 20/6, vua Bảo Đại phục hồi quyền công dân cho các cựu chính trị phạm chưa được miễn tội danh. Ngày 20/7, Nhật trao trả các cựu nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẳng cho Việt Nam. Ngày 14/8, Nhật trao trả Nam Bộ cho Triều đình Huế. Vua Bảo Đại tuyên chiếu hủy bỏ các Hiệp ước đã ký với Pháp về sự đô hộ Trung, Bắc, và Nam Kỳ. Ngày 17/8, Vua Bảo Đại gởi điện văn kêu gọi tổng thống Mỹ Truman, Đồng minh, và cả De Gaulle, yêu cầu bảo vệ nền độc lập của Việt Nam, rằng dân chúng Việt Nam nhất quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước.

GIẢI THỂ CHÍNH PHỦ: Ngày 14/8, ngay sau khi Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh, một số đảng phái và đoàn thể gồm Việt Nam Quốc Dân đảng, Hòa Hảo, Cao Đài, Tịnh Độ, Cư sĩ, Liên đoàn Công chức, Thanh niên Tiền Phong, nhóm họp Đại hội ở Sài Gòn thành lập “Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất” hô hào đoàn kết chống Pháp. Ngày 17/8, công chức Hà Nội tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tuần hành qua các đường lớn, để tỏ ý chí bảo vệ đất nước. Cộng sản len vào dòng người biểu tình hô khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Cuộc biểu tình lại biến ra biểu tình ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Ngày 18/8, Bắc bộ phủ bị quần chúng ùa tới bao vây, Khâm sai Phan Kế Toại vắng mặt rồi tuyên bố từ chức. Ngày 19/8, biểu tình trước nhà hát lớn, để nghe tuyên bố của Mặt trận Cứu quốc Việt Minh. Dân quân Giải phóng và cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi, chiếm đóng các công sở. 

Ngày 20/8, Việt Minh chiếm đài Vô tuyến điện Bạch Mai Hà Nội, và phát thanh cổ động trên làn sóng 32 thước. Ngày 21/8, một số thanh niên trí thức nhóm họp tại Đại học xá Hà Nội biểu quyết gởi điện văn yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 22/8, Mặt trận Việt Minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn Thanh niên Tiền phong của Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, một thành viên của “Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất” trở cờ  tuyên bố gia nhập Mặt trận Việt minh mới của Trần Văn Giàu. Ngày 23/8, một Chính phủ Lâm thời được thành lập tại Hà nội, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 25/8, Tại Sài Gòn một Lâm Ủy Hành Chánh Lâm thời cũng tuyên bố thành lập, Chủ tịch là Trần Văn Giàu. Cùng ngày 25/8/45, Hoàng đế Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị, Chính phủ Trần Trọng Kim tự giải thể.

HỒI KÝ TRẦN TRỌNG KIM. SÁCH MỘT CƠN GIÓ BỤI Trần Trọng Kim viết:  Ngày 29/3/1945, viên trung úy Nhật ở Sài gòn sang Băng Cốc đón tôi về Sài Gòn. Ngày 5/4/1945 tôi ra tới Huế. Từ trước tôi không biết vua Bảo Ðại là người như thế nào. Vì trong thời bảo hộ của nước Pháp, hình như ngài chán nản không làm gì cả, chỉ săn bắn và tập thể thao. Hôm mùng 7 tháng tư tôi vào yết kiến thấy ngài có vẻ trang nghiêm và nói những điều rất đúng đắn. Ngài nói: “trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó với mọi việc”. Tôi tâu rằng, việc lập chính phủ, ngài nên dùng những người, như Ngô Ðình Diệm, để có tổ chức hậu thuẩn. Tôi phần thì già yếu lại không có đảng phái, xin ngài cho tôi về nghỉ. Ngài nói, Trẫm có điện gọi cả Ngô Ðình Diệm, sao không thấy về. Vậy ông hãy ở đây nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc.

Tôi chờ đến gần mười ngày. Vua Bảo Ðại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới. Ngài nói: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước”. Tôi thấy vua Bảo Ðại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng: nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, song ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại. 

Tôi ra bàn với ông Hoàng Xuân Hãn để tìm người xứng đáng làm bộ trưởng. Nguyên tắc của chúng tôi là lựa chọn những người có đủ hai điều kiện. Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục. Ðến ngày cuối cùng tôi chọn được đủ người rồi kê rõ danh sách các bộ trưởng...  Chừng mười giờ sáng ngày 17 tháng tư năm 1945, tôi đem danh sách ấy vào trình vua Bảo Ðại. Vào đến nơi, tôi thấy ông Yokohama, tối cao cố vấn Nhật, đã ngồi đó rồi. Ông thấy tôi vào liền hỏi: Cụ đã lập thành chính phủ rồi à?. Tôi nói: Vâng, hôm nay tôi đem danh sách các bộ trưởng vào tâu trình hoàng thượng để xin ngài chuẩn y. Tôi đệ trình vua Bảo Ðại, ngài xem xong phán rằng: "Ðược". Khi ấy ông Yokohama nói: "Xin cho tôi xem là những ai". Ông xem rồi, trả lại tôi và nói: "Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn". 

Khi Pháp cai trị, mọi việc liên quan đến chính trị, quân sự, quản lý nhà nước đều do Chính phủ Bảo hộ Pháp định đoạt. Chính phủ Nam Triều có vua và triều đình, nhưng chỉ đặt ra để thi hành những mệnh lệnh của chính phủ bảo hộ, chứ không có quyền hành gì cả. Nay phải hợp nhất cả hai chính phủ này, bắt quan ở các tỉnh chỉ được trực tiếp với chính phủ Việt Nam mà thôi, không được gửi văn thư về sở tối cao cố vấn Nhật nữa. May lúc đó được viên tối cao cố vấn Nhật là ông Yokohama, một người am hiểu tình thế và nhã nhặn, cho nên mọi việc cũng giải quyết được dễ dàng. Ðem lại sự thống nhất trong việc cai trị như thế mà cũng mất hơn một tháng mới xong. Ấy là chỉ nói việc sửa đổi cai trị thôi, còn các cơ quan trọng yếu như công an, sở tuyên truyền công văn hãy còn ở trong tay người Nhật cả. 

Ưu tiên của Chính phủ chúng tôi phải lo tiếp tế miền Bắc, dân tình đói khổ, người chết đói hàng ngàn hàng vạn. Chúng tôi đặt ra Bộ Tiếp Tế chuyên coi việc vận tải thóc gạo trong Nam ra Bắc… Việc binh bị trong nước là việc quan trọng đến vận mạng cả nước, mà lúc ấy quân lính và súng ống không có. Kinh đô Huế có tất cả hơn một trăm lính bảo an, tức lính khố xanh cũ, và sáu bảy chục khẩu súng cũ đạn cũ, bắn mười phát thì năm sáu phát không nổ. Các tỉnh cũng vậy, mỗi tỉnh có độ 50 lính bảo an, các phủ huyện thì độ chừng vài chục người. Việc phòng bị do quân Nhật đảm nhiệm hết. Vì lẽ đó, và các lẽ khác nữa mà lúc đầu chúng tôi không đặt bộ quốc phòng... Chúng tôi lập ra những tư vấn hội nghị ở các địa phương. Và, trù tính tư vấn hội nghị địa phương sẽ chọn những người xứng đáng lập thành một tư vấn hội nghị toàn quốc, giúp chính phủ trong việc cải tổ quốc gia và thảo một dự án về hiến pháp... 

Việc chính trị ở Trung Bộ dần dần đã rõ rệt, nhưng ở Bắc Bộ và Nam Bộ còn trong tay người Nhật cả. Chính phủ trước hết phải lo thu lại toàn thể nước Việt Nam về một mối. Người Nhật bằng lòng trả đất Bắc Bộ cho chính phủ Việt Nam, song những đất thuộc ba thành: Hà Nội, Sài gòn, Ðà Nẵng và Nam Bộ là đất vua Việt Nam ngày trước đã ký kết cho nước Pháp thì người Nhật “đòi tạm giữ” đến khi nước Việt Nam hoàn toàn độc lập sẽ trả sau. Chúng tôi viện lẽ quân Nhật đánh quân Pháp để giải phóng cho Việt Nam và vua Bảo Ðại đã tuyên bố bỏ hết những hiệp ước đã ký với nước Pháp, thì lẽ tất nhiên là người Nhật phải trả toàn lãnh thổ cho vua Việt Nam. Nay nếu người Nhật cứ giữ lấy những đất ấy là trái với lời hứa hẹn trước… 

Trung tuần tháng 7/45, tôi định ra Hà Nội trực tiếp nới chuyện với viên tổng tư lệnh Nhật, kiêm chức toàn quyền cũ nước Pháp, nếu được thì lấy ngay ba thành thị: Hà Nội, Hải Phòng, Ðà Nẵng và đất Nam Bộ. Tôi nói chuyện đó với ông Yokohama, tối cao cố vấn Nhật, ông không nói gì, nhưng hôm sau ông nói: "Nếu cụ đi Hà Nội, thì tôi cùng đi với cụ"… Đi Hà Nội với tôi có các ông Hoàng Xuân Hãn bộ trưởng bộ giáo dục, ông Vũ Văn Hiền bộ trưởng bộ tài chính, ông Phan Anh bộ trưởng bộ Y Tế... Đến Hà Nội hôm trước, hôm sau tôi đến gặp ông Tsuchi-Hashi Yuitsu, tổng tư lệnh nhật, quyền chức toàn quyền của Pháp ở Ðông Dương, rồi bắt đầu nói chuyện. Trong cuộc nói chuyện chỉ có viên tổng tư lệnh, viên cố vấn và tôi. Viên tối cao cố vấn phiên dịch tiếng Việt ra tiếng Pháp. Nói câu nào, trước khi phiên dịch ra tiếng Pháp hay tiếng Nhật, viên ấy biên lấy những câu hỏi và những câu đáp lại.

VỀ CUỘC NÓI CHUYỆN VỚI TỔNG TƯ LỆNH NHẬT. Trần Trọng Kim viết: … Tôi nói, Quân đội Nhật đã đánh quân đội Pháp và công nhiên hứa hẹn trả quyền tự chủ cho nước Việt Nam. Bởi vậy tôi không quản tuổi già mà đứng ra lập chính phủ. Tôi làm việc một lòng giúp nước tôi, cũng như các ông lo việc giúp nước Nhật, thế mà có nhiều người nói nọ nói kia. Nếu các ông cho tôi là người làm việc cho nước Nhật, việc ấy không phải là phận sự của tôi, tôi sẵn lòng xin lui. Tổng tư lệnh Nhật nói, bao giờ người Nhật cũng giữ lời hứa hẹn, nên những việc nội trị trong nước Việt Nam là không can thiệp đến. Còn những việc chưa giải quyết được là vì cần phải có thì giờ để thu xếp cho ổn thỏa. Cụ đừng nghe người Nhật hay người Việt Nam nói nhảm không có căn cứ gì. Vả tôi phụng mệnh Thiên Hoàng sang đây, việc gì cũng trách cứ ở tôi, cụ đừng ngại. Tôi nói, Ngài đã nói thế, phận sự của chính phủ chúng tôi là phải thu lại mấy thành thị Hà Nội, Hải Phòng, Ðà Nẵng và toàn hạt đất Nam Bộ cho nước Việt Nam. Nếu việc ấy không xong, thì chúng tôi đối với quốc dân không có nghĩa lý gì cả. 

Tổng tư lệnh Nhật nói, chúng tôi bao giờ cũng định trả lại các lãnh thổ Việt Nam cho chính phủ Việt Nam. Nhưng vì sợ các ông chưa xếp đặt được sẵn sàng, nên còn trì hoãn lại ít lâu… Tôi nói, chúng tôi vẫn sẵn sàng về việc ấy, chỉ còn đợi sự quyết định của các ông mà thôi. Tổng tư lệnh Nhật nói, vậy thì cụ định bao giờ lấy lại ba thành thị kia? Tôi nói, nếu ngài bằng lòng, thì tôi xin lấy ngay tự bây giờ. Viên tổng tư lệnh Nhật nghĩ một lúc rồi nói, vậy xin để đến sáng ngày kia, vào 11 giờ ngày 20/7/45, cụ cho làm lễ thu nhận ba thành thị ấy. Còn Nam Bộ thì có nước Cao Miên còn lôi thôi về mấy tỉnh ở biên giới. Tôi nói, việc ấy hiện bây giờ không thành vấn đề được, vì địa giới Nam Bộ ngày nay với địa giới Nam Bộ ngày trước không có gì thay đổi. Còn Cao Miên có muốn nói chuyện gì về việc ấy, thì sẽ nói chuyện với chúng tôi về sau. 

Tổng tư lệnh Nhật cứ viện hết lý do nọ đến lý do kia, thành ra cứ bàn cãi đến một ngày mới chịu nhận lời trả lại Nam bộ. Tổng tư lệnh Nhật hỏi tôi, bao giờ cụ định vào nhận lấy đất Nam bộ, hay cụ định cho ai đi thay cụ. Tôi nghĩ trong cái việc khó khăn này, mình phải đi mới được và nói, tôi về Huế vài ngày để tâu bày mọi việc với hoàng thượng, rồi độ chừng ngày mùng 8 tháng tám là tôi đã ở Sài gòn rồi. Tổng tư lệnh Nhật nói: "Cụ định vào thì hôm ấy tôi cũng vào, để xếp đặt mọi chuyện cho chóng xong". Tôi nói: "Cám ơn ngài. Ðược như thế thì có thể tránh được mọi sự khó khăn lặt vặt". 

Những công việc và mấy vấn đề trên xong đâu đấy rồi, tôi xin tổng tư lệnh Nhật tha và trả lại cho chính phủ Việt Nam hết thảy những sĩ quan và quân lính Việt Nam mà quân đội Nhật còn giam giữ ở các nơi, để chúng tôi tổ chức lại quân đội bảo an. Và nhân vì súng ống không có, tôi lại xin cho chúng tôi đủ súng ống đạn dược để những đội bảo an ấy dùng. Tổng tư lệnh Nhật nhận lời và tạm cho Bắc bộ 2.000 khẩu súng và đạn dược. Tôi về lập tức cho gọi đại úy Thu và một trung úy đã được tha từ trước làm chương trình cải tổ các đội bảo an. Tôi cũng xin tha cho những thanh niên bị hiến binh Nhật bắt vì theo Việt Minh. Lúc ấy phần nhiều thanh niên hăng hái quá thường hay bạo động. Tổng tư lệnh Nhật gọi viên đại tá coi hiến binh Nhật đem sổ cho tôi xem, thì chỉ thấy độ 300 người bị bắt, và có non một trăm người đã được tha rồi. Ngày hôm sau họ tha ra được năm, sáu chục người. 

Nói rút lại, chúng tôi ra Hà Nội, điều đình với tổng tư lệnh Nhật được kết quả như là: lấy lại toàn lãnh thổ của nước Việt Nam, thu hết các công sở thuộc phủ toàn quyền cũ của Pháp, lấy hết các binh sĩ Việt Nam để tổ chức đội quân bảo an, lấy được 2.000 khẩu súng mới và đạn dược, và xin tha được một số thanh niên bị bắt… Sự điều đình của chúng tôi được ổn thỏa dễ dàng, có lẽ vì người Nhật tự biết họ sắp thua nên họ đổi thái độ để mua chuộc lòng người. Hay là họ có ý gì khác nữa, ta không thể biết được. 

Chúng tôi phải thu xếp về Huế, nhưng ông Phan Kế Toại Khâm sai Bắc bộ, một đường thì người Nhật làm khó dễ, một đường thì bọn Việt Minh bạo động, nay đánh chỗ này, mai đánh chỗ nọ, ông sợ hãi và chán nản xin từ chức. Tôi nghe nói ông Nguyễn Tường Long là người biết chính trị và có nghị lực hơn cả, nhưng lúc ấy ông đang bị bệnh thương hàn. Tôi nghĩ đến ông Nguyễn Xuân Chữ là người trong Việt Nam Ái Quốc Ðảng, có tính cương quyết và đứng đắn. Tôi gặp ông Chữ nói chuyện, ông đã nhận lời, nhưng hôm sau ông về bàn tính thế nào lại đổi ý, nói xin để thong thả. Tôi phải bảo ông Toại ở lại làm việc, khi tôi thu xong đất Nam bộ, tôi sẽ tìm người thay. Ông Toại nể tôi mà ở lại. 

Ðảng Việt Minh lúc ấy rất hoạt động, đánh huyện này, phá phủ kia. Dân gian bấy giờ rất hoang mang…Thấy tình thế ấy, tôi bảo ông Phan Kế Toại đi tìm một vài người Việt Minh đến nói chuyện, vì lúc ấy tôi còn tưởng đảng Việt Minh dù theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng chắc cũng nghĩ đến tương lai nước nhà. Hôm sau, ông Toại đưa một thiếu niên Việt Minh đến…

VỀ CUỘC ĐỐI THOẠI VỚI MỘT THIẾU NIÊN VIỆT MINH. Trần Trọng Kim viết … Tôi nói: "Chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau, nhưng cũng một mục đích như nhau, các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài, để cứu nước được không?". Người ấy nói: “Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trình nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập, chúng tôi có thể tự làm lấy được”. Tôi nói: “Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi, nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn”. 

Người ấy nói: “Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai”. Tôi nói: “Theo như ý các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được”. Người ấy nói: “Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù người trong nước mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại, còn hơn với chín phần kia”. Rồi người ấy ngồi đọc một bài hình như đã thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Tôi thấy thái độ người ấy như thế, tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được. Tôi nói: “Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, các ông không vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?”. Người ấy nói: “Chúng tôi sẽ cướp lấy quyền để tỏ cho các nước Ðồng Minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu để ai nhường”. Tôi nói: “Các ông chắc là các nước Ðồng Minh tin ở sức mạnh của các ông không?”. Người ấy nói: “Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm”. Tôi nói: “Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử”…

VỀ CUỘC HỌP HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ TẠI HUẾ. Trần Trọng Kim viết: … Về đến Huế chúng tôi tâu bày mọi việc cho vua Bảo Ðại biết. Ngày tỏ ý vui vẻ lắm. Ðến khi họp hội đồng chính phủ, tôi trình bày kết quả việc đi Hà Nội, khi nói đến việc đi Sài Gòn lấy lại đất Nam Bộ. Thấy ý kiến các ông bộ trưởng phân vân. Bộ trưởng Nội vụ Trần Ðình Nam, nói: "Nếu cụ đi Nam, ở Huế nếu có xẩy ra việc gì, không ai chịu trách nhiệm". Bộ trưởng kinh tế Hồ Tá Khanh đưa thư nói đại ý: "Phong trào Việt Minh mạnh lắm, nội các Trần Trọng Kim nên thôi đi, để họ làm việc may ra họ cứu được nước". Tôi nói: "Sự tôi thôi, thì tôi đã dự định rồi, nhưng để lấy lại đất Nam Bộ cho trọn công việc của mình, tôi thôi ngay". Đến ngày mùng 8 tháng tám tôi vẫn không đi Nam được. Tổng tư lệnh Nhật ở Hà Nội vào Sài gòn không thấy tôi, điện ra dục. Tôi điện vào xin cứ cho lấy lại Nam bộ, tôi không phải vào Nam nữa. 

Ðược người Nhật ưng thuận, và lúc ấy có ông Nguyễn Văn Sâm lãnh tụ đảng Quảng Xã, vừa ở Sài Gòn ra Huế. Tôi vào tâu vua Bảo Ðại, xin cử ông Sâm làm Nam Bộ Khâm Sai. Ngày 14 tháng tám năm 1945, ông Sâm được sắc chỉ bổ vào Nam. Ông Nguyễn Văn Sâm đi rồi, tôi cho công việc làm của tôi như thế tạm xong. Tôi tưởng Nhật khéo léo lắm cũng chỉ được năm bảy tháng nữa là cùng, rồi ra quân Ðồng Minh kéo lên Ðông Dương, những việc đã làm đó, ai kể vào đâu. Song dù sao nó cũng thành cái hằn, cái nếp, thành một việc đã có rõ ràng, theo tình thế chính trị, người ta không thể xóa bỏ hẳn đi được. Việc lấy lại đất Nam Bộ xong, tôi vào tâu vua Bảo Ðại, xin cho tôi từ chức. Ngài nói: "Ông đang làm được việc, sao lại xin thôi, và ông thôi lấy ai thay". Tôi tâu trình lên mấy người, ngài tỏ vẻ không thuận, bảo: "Các ông hãy tạm làm việc, chờ đến khi tìm được người ra lập nội các hãy thôi". 

Tôi nghĩ nên tìm những người có tiếng hoạt động về chính trị của các đảng phái như Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Ðặng Thái Mai v...v... Tôi điện đi các nơi mời những người ấy vào Huế, nhưng sợ một bức điện không được rõ, tôi nhờ ông Phan Anh ra Bắc và ông Hồ Tá Khanh vào Nam gặp và nói chuyện cho họ rõ đuôi đầu. Nhưng ông Phan Anh ra đến vùng Phủ Diễn bị quân Việt Minh bắt giữ lại, ông Hồ Tá Khanh vào đến Quảng Ngãi cũng bị giữ lại. Ðang lúc ấy được tin nước Nhật Bản bị bom nguyên tử không chịu nổi phải xin hàng. Vua Bảo Ðại gọi tôi vào nói: "Trong lúc rối loạn như thế này, các ông hãy lập ra Lâm thời chính phủ để đợi xem tình thế biến đổi ra sao đã". Tôi bất đắc dĩ phải tạm ở lại. Lâm thời chính phủ vừa làm việc mấy ngày, ông Phan Kế Toại điện vào xin từ chức. 

Lúc ấy bọn ông Nguyễn Xuân Chữ, Trần Văn Lai xin lập Ủy Ban Cứu Quốc. Chính phủ nhận lời. Cách hai ngày sau, ngày 19 tháng tám, các công chức ở Hà Nội nghe bọn Việt Minh xúi tổ chức cuộc biểu tình. Ðảng Việt Minh nhân cơ hội ấy chiếm lấy Bắc Bộ. Ðược mấy ngày ông Hồ Chí Minh về làm chủ tịch chính phủ lâm thời. Các đoàn thể thanh niên và các người trí thức ở bắc bộ điện vào Huế xin vua Bảo Ðại thoái vị và nhường cho Hồ Chí Minh. Trong tình thế nguy ngập như thế, ở Huế còn có người bàn sự chống cự. Tôi muốn biết rõ sự thực, liền gọi trung úy Phan Tử Lăng người đứng coi đoàn thanh niên tiền tuyến ở Huế, hỏi xem có thể trông cậy bọn ấy được không. 

Trung úy Trương Tử Lăng nói: "Tôi có thể nói riêng về phần tôi thì được. Còn về phần các thanh niên tôi không dám chắc".  Bọn thanh niên tiền tuyến trước rất nhiệt thành nay còn thế, huống chi những lính bảo an và lính hộ thành tất cả độ vài trăm người; những lính để canh giữ công sở, súng ống không ra gì, đạn dược không đủ, còn làm gì được, cũng bị Việt Minh tuyên truyền xiêu lòng hết cả rồi. Lúc ấy chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả. Tôi vào tâu vua Bảo Ðại: "Xin ngài đừng nghe người ta bàn ra bàn vào. Việc đã nguy cấp lắm rồi, ngài nên xem lịch sử của vua Louis XVI bên Pháp và vua Nicholas II bên Nga mà thoái vị ngay là phải hơn cả. Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và đang hăng hái về việc cách mệnh như nước đang lên mạnh, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả. Mình thế lực đã không có, bọn Việt Minh lại có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của nước". Vua Bảo Ðại là ông vua thông minh, hiểu ngay và nói: "Trẫm có thiết gì ngôi vua đâu, miễn là bọn Việt Minh giữ được nền tự chủ của nước nhà là đủ. Trẫm muốn là người dân của một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ". 

Nhờ ngài có tư tưởng quảng đại nên có tờ chiếu thoái vị. Khi tờ chiếu ấy tuyên bố ra, nhân dân có nhiều người ngậm ngùi cảm động, nhưng lúc ấy phần tình thế nguy ngập, phần sợ hãi, còn ai dám nói năng gì nữa. Ðến bọn thanh niên tiền tuyến, người chính phủ tin cậy cũng bỏ theo Việt Minh, bọn lính hộ thành của nhà vua cũng không nghĩ đến nữa. Còn các quan cũ lẫn nấp đâu mất cả. Thật là tình cảnh rất tiều tụy. Nếu không mau tay lui đi, tính mệnh nhà vua và hoàng gia chưa biết ra thế nào. Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: "Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Ðồng Minh đến thay. Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự". Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Ðồng Minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa, và lại mang tiếng "cõng rắn cắn gà nhà". Tôi từ chối không nhận. 

VIỆT MINH LÊN CẦM QUYỀN. Trần Trọng Kim viết: Việt Minh đã lên cầm quyền, vua Bảo Ðại đã thoái vị, tôi ra ở nhà đã thuê từ trước tại làng Vĩ Dạ gần Huế. Ðược mấy ngày, Việt Minh vào đưa vua Bảo Ðại, bấy giờ gọi là công dân Vĩnh Thụy, ra làm Tối Cao Cố Vấn ở Hà Nội để dễ quản thúc. Tôi ra ở làng Lại Thế. Lúc đầu ông Trịnh Ðình Thảo đến ở với chúng tôi hơn một tháng mới trở về Sài gòn. Chúng tôi ở đấy ngày ngày nghe tiếng trống mõ của dân làng, đàn bà trẻ con và dân đinh vác dao vác gậy đi biểu tình. Rồi sau lại thấy mở cuộc quyên vàng khắp cả nước. Ai có vòng xuyến hoa tai hoặc đồ gì bằng vàng phải đem nạp chính phủ để tổ chức việc nước. Hết cuộc quyên vàng đến cuộc quyên đồng, đủ mọi thứ… 

Tôi cho con ra Hà Nội thu xếp rồi vào đem chúng tôi ra… Tôi phải ở lại Huế hơn ba tháng. Ðất khách quê người hiu quạnh buồn bã, chỉ một mình vui với trăng, gió mát, với trời mưa nước lụt, ngồi nghe chim hót, ngắm cò bay, khi hứng thì đem Ðường thi ra dịch, nhờ thế khuây khỏa được qua ngày. Chờ mãi không thấy con vào, may nhờ có một người đến chơi, biết rõ tình thế, giúp tôi một món tiền, chúng tôi mới thuê mấy chỗ trên xe hơi chở hàng, rời Huế đi Hà Nội… Ấy thế là xong một giấc mộng Nam Kha, bận rộn hơn bốn tháng trời, nghĩ lại thấy nực cười. Khi ở Băng Cốc về, tôi vẫn định bụng không làm gì cả, mà thành ra phải làm việc này đến dự định làm việc nọ, rút cục tay không lại hoàn tay không.  (Trích Chương 3 và 4 Sách Một Cơn Gió Bụi của Trần Trọng Kim).

 

CHÍNH QUYỀN HAI

Bài 160: UỶ BAN HÀNH CHÁNH LÂM THỜI NAM BỘ CỦA TRẦN VĂN GIÀU VÀ PHẠM VĂN BẠCH.

UỶ BAN HÀNH CHÁNH LÂM THỜI NAM BỘ. Ngày 14/8/1945, Nhật trả Nam Kỳ lại cho Đế quốc Việt Nam, Hoàng đế Bảo Đại cử Chính trị gia Nguyễn Văn Sâm, làm Khâm sai đại thần Nam Kỳ. Cùng ngày 14/8/1945, tại Sài Gòn, các tổ chức chính trị gồm: Việt Nam Quốc gia Độc lập đảng, Thanh niên Tiền phong, Tịnh độ cư sĩ, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Liên đoàn công chức, những người Trotskyist nhóm họp thành lập một tổ chức chung mang tên Mặt trân Quốc gia Thống nhấtBan lãnh đạo Mặt trận là Hồ Văn Ngà, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Phú Sổ, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Trần Văn Thạch, v.v…Ngày 16/8/1945, Trần Văn Ân nhân danh Chủ tịch Hội Đồng Tư vấn Nam Kỳ (do Nhật thành lập), cử Hồ Văn Ngà thành viên Hội Đồng Tư vấn Nam Kỳ, và cũng là thành viên Mặt trận Quốc gia Thống nhất, tiếp quản Chính quyền Nam Kỳ từ tay Nhật, trong lúc Khâm sai Nguyễn Văn Sâm từ Huế chưa về kịp. 

Ngày 19/8/1945, Khâm sai Nguyễn Văn Sâm từ Huế về đến Sài Gòn, Hồ Văn Ngà giao lại chức chưởng cho Nguyễn Văn Sâm. Ngày 21/8/1945, Mặt trận Quốc gia Thống nhất tổ chức một cuộc biểu tình lớn, mừng sự kiện tiếp nhận Chính quyền Nam Kỳ, biểu dương, phô trương sức mạnh của Mặt trận trước khi Đồng Minh đến giải giáp quân Nhật. Ngày 22/8/45, Đại tá Pháp, Cédille được De Gaulles cử làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Bộ nhảy dù xuống Tây Ninh, được Nhật đưa về Sài Gòn. Cùng ngày 22/8/1945, Mặt trận Việt minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài gòn, Phạm Ngọc Thạch, Thủ lãnh Thanh niên Tiền phong (cũng là thành viên Mặt trân Quốc gia Thống nhất) tuyên bố gia nhập. Nhờ uy thế của Thanh niên Tiền phong, Việt Minh mới của Trần Văn Giàu treo biểu ngữ "Chánh quyền về Việt Minh" khắp Sài Gòn, rải truyền đơn tuyên bố Việt Minh được phe Đồng Minh ủng hộ và kêu gọi nhân dân ủng hộ chính quyền Việt Minh. 

Mặt trận Quốc gia Thống nhất, bất ngờ trước sự kiện nầy, liền tổ chức một cuộc họp mở rộng, yêu cầu Trần Văn Giàu giải thích sự việc. Tại cuộc họp này, Trần Văn Giàu ra sức thuyết phục, rằng nhiều vị lãnh đạo trong Mặt trận, từng cộng tác với Nhật, nên khó mà điều đình có hiệu quả với Đồng Minh khi họ vào “tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật”; Rằng, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất nên nhường quyền lãnh đạo cho Mặt trận Việt Minh, để tạo được thế mạnh trong đàm phán với Đồng Minh, bởi Việt Minh từng hợp tác với Đồng Minh, cung cấp tin tình báo cho quân sự cho OSS của Mỹ. Cuối cùng, thì Khâm sai Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm, với sự đồng ý của Mặt trận Quốc gia Thống nhất quyết định rút lui, nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh. Ngày 25/8/1945, Trần Văn Giàu công khai tuyên bố thành lập Ủy ban Hành Chánh Lâm thời Nam Bộ, thường gọi là Lâm uỷ Nam Bộ, do ông ta làm Chủ tịch. 

VIỆT MINH MỚI VÀ VIỆT MINH CŨ. Song song với Xứ ủy Tiền phong độc lập, tái lập năm 1943 do ông Trần Văn Giàu, người từng học Đại học Đông Phương tại Liên Xô 1931-1933 làm Bí thư, còn có một Xứ uỷ khác là Xứ ủy Giải phóng trực thuộc  Trung ương Cộng sản ở Hà Nội… Gọi Xứ ủy của Trần Văn Giàu là Xứ uỷ Tiền phong, xứ uỷ Việt Minh mới, bởi vì cơ quan ngôn luận của Xứ uỷ nầy là “tờ báo Tiền phong”. Còn Xứ ủy Giải phóng là Xứ uỷ Việt Minh cũ, bởi vì cơ quan ngôn luận của Xứ uỷ này là “tờ báo Giải phóng”. Khi thành lập Xứ ủy Tiền phong, ông Giàu có mời bà Nguyễn Thị Thập, một thành viên của nhóm Giải phóng, cùng tham gia Xứ ủy, nhưng không thành. Tháng 11 năm 1944, hầu hết thành viên của nhóm Giải phóng bị chính quyền Pháp bắt giam, nhà in cũng bị phá vỡ.

Ngày 20 tháng 3 năm 1945, nhóm Giải phóng họp tại Xoài Hột, Mỹ Tho tái lập Xứ ủy Lâm thời, bầu Trần Văn Vi làm Bí thư. Tháng 5 năm 1945, Xứ ủy Lâm thời họp tại Bà Điểm, Hóc Môn lập ra Xứ ủy chính thức, gọi là Ban cán sự Nam Kỳ gồm Nguyễn Thị Thập, Trần Văn Vi, Hoàng Dư Khương, do Lê Hữu Kiều làm Bí thư. Đại thể, lực lượng của Việt Minh ở miền Nam tại thời điểm nầy không vững như tại miền Bắc. Nhưng, nhờ Trần Văn Giàu vận động được Thanh niên Tiền phong từ bỏ Mặt trận Quốc gia Thống nhất gia nhập Mặt trận Việt Minh nên mới thay đổi được cuộc diện, trong khi những người Trotskyist đang kiểm soát ngành cảnh sát; Còn các tôn giáo Hoà Hảo, Cao Đài rất có ác cảm với Việt Minh. 

HOÀNG QUỐC VIỆT ĐƯỢC CỬ VÀO NAM. Ngày 24-8-45, Tổng Bộ Việt Minh ở Hà Nội phái Hoàng Quốc Việt, và Cao Hồng Lãnh vô Nam tăng cường cho nhóm Giải phóng (Việt Minh củ), kềm chế, và thay thế nhóm Tiền phong (Việt Minh mới) của Trần Văn Giàu theo từng bước thích hợp để tiến đến thống nhất hai Xứ uỷ, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh từ Hà Nội. BƯỚC 1: Hoàng Quốc Việt cho sáp Thanh niên Tiền phong của Việt Minh mới vào Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh củ. Ngày 2/9/1945, vì muốn biểu thị sự đoàn kết với Hà Nội, Trần Văn Giàu tổ chức một cuộc biểu tình lớn chào mừng Ngày Độc lập. Các lãnh đạo Việt Minh kinh ngạc khi thấy trong đám quần chúng khoảng 20 vạn người đi diễu hành dọc phố Catinat, các đảng phái chính trị hợp thành một Liên minh miền Nam, trương lên những biểu ngữ, bích chương đầy tính khiêu khích, tranh giành, chia rẽ. 

Khi đoàn người biểu tình đến gần Nhà thờ Đức Bà thì có tiếng súng nổ từ phía Câu lạc bộ Pháp. Cuộc biểu tình biến thành một sự hỗn loạn. Cảnh sát tiến hành bắt ngay hàng trăm người Pháp và thân Pháp. Bọn lưu manh thừa cơ hội cướp bóc một số nhà hàng của người Hoa và người Pháp. Việt Minh và các đảng phái nghi ngờ, đổ lỗi cho nhau, hứa hẹn một viễn cảnh chính trị đầy thách thức cho Nam Bộ. Ngày 7/9/1945, trên tờ Tranh đấu cơ quan ngôn luận của những người Trotskyist đăng một bài xã luận chỉ trích Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ không có những biện pháp bảo đảm an toàn cho cuộc biểu tình ngày 2/9/1945 khiến một số người chết. Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Lâm uỷ Trần Văn Giàu ra thông cáo tố cáo những kẻ khiêu khích ám chỉ những người Trotskyist và giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo đã phá hoại trật tự và gây đổ máu. 

Thông cáo kêu gọi người dân vì lợi ích quốc gia hãy tin cậy Ủy ban Hành chính Lâm thời, đừng để bọn phản bội tổ quốc lôi kéo làm mất đoàn kết dân tộc. Chỉ như vậy, việc đàm phán giữa phong trào độc lập của Việt Nam với Đồng Minh mới thuận lợi. Ngay sau đó, những người Trotskyist, và các giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài tổ chức biểu tình, công khai thách thức Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, đòi Trần Văn Giàu từ chức, yêu cầu Lâm uỷ cấp vũ khí cho dân chúng và kêu gọi mọi người chống lại quân Anh. Ủy ban Nhân dân các địa phương ủng hộ yêu sách này. Tại các tỉnh, xảy ra xung đột vũ trang giữa bộ đội Việt Minh và các lực lượng vũ trang của Cao Đài và Hòa Hảo. Phe đối lập kết tội Việt Minh phản bội. 

PHẠM VĂN BẠCH THAY TRẦN VĂN GIÀU. Ngày 9/9/1945, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ tổ chức cuộc họp mở rộng, sau những cuộc tranh cải gay gắt giữa các phe nhóm, do sự giới thiệu của Dương Văn Giáo và Trần Văn Ân, Luật sư Phạm Văn Bạch được bầu làm Chủ tịch, Trần Văn Giàu xuống làm Phó, kiêm Uỷ viên trưởng quân sự. Trong Ủy ban Hành chính Lâm thời mới có 1 Cao Đài, 1 Trotskyist, 2 Hòa Hảo, 3 không đảng phái, 2 thuộc các đảng phái quốc gia, và 4 Việt Minh. Bất chiến tự nhiên thành, Hoàng Quốc Việt đã đạt tới BƯỚC 2 trong việc làm giảm uy lực của Trần Văn Giàu, Lãnh tụ số 1 của nhóm Việt Minh mới. 

Để vãn hồi trật tự, ngày 12/9/45, Thiếu tướng Douglas Gracey, chỉ huy quân Đồng Minh Anh-Ấn (tới Sài Gòn ngày 6/9/45) ra lệnh cho quân đội Nhật tước vũ khí của người Việt, và đuổi Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra khỏi Dinh Toàn Quyền ở Sài Gòn. Thống chế Terauchi, chỉ huy quân đội Nhật, điều 7 tiểu đoàn vào Sài Gòn yêu cầu Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ giao nộp vũ khí, việc mà Lâm uỷ hay cả người Nhật cũng "không thể làm” bởi trên thực tế, chỉ Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên mới có lực lượng vũ trang, Việt Minh và những người Trotskyist chỉ có vài Đội tự vệ tượng trưng. Kết quả là, mệnh lệnh của tướng D. Gracey không được thi hành. Gracey lại triệu tập chỉ huy quân đội Nhật đến, và chỉ thị cho ông này phải có những biện pháp cấp bách và hiệu quả để khôi phục trật tự công cộng. 

Trong khi đó, thì Uỷ viên Cộng hoà Nam Bộ Pháp, Jean Cédile tìm gặp Chủ tịch Lâm uỷ mới Phạm Văn Bạch để đàm phán. Ngày 16/9/1945, cuộc đàm phán Jean Cédile - Phạm Văn Bạch không đạt kết quả cụ thể. Phạm Văn Bạch công khai lên án Anh không chịu công nhận Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ là chính phủ hợp pháp duy nhất ở Nam Kỳ. Ngày 17/9/1945, Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ tổ chức một cuộc tổng bãi công phản đối điều mà họ gọi là âm mưu Pháp - Anh nhằm lật đổ Chính phủ Việt Nam. Phạm Văn Bạch gửi phái đoàn OSS một bức điện thông báo tình hình, và yêu cầu phái đoàn thay mặt Đồng Minh chứng minh quyền được độc lập của nhân dân Việt Nam, rằng Việt Nam đã độc lập trên thực tế, người Việt có quyền tự quyết định số phận của mình. 

SÀI GÒN TRONG HỖN LOẠNTình hình Sài Gòn ngày càng hỗn loạn. Các toán vũ trang Bình Xuyên lùng bắt, đánh người Pháp bất kể lính hay dân thường. Đến đêm các cuộc tấn công vào người Pháp và người Việt tăng lênMâu thuẫn Pháp-Việt leo thang đến cực độ, Uỷ viên Cộng hoà Nam Bộ Pháp, Cédile nhờ Thiếu tá A. Peter Dewey, chỉ huy OSS Mỹtại Sài Gòn, gặp các lãnh đạo Việt Minh để thuyết phục họ khôi phục lại trật tự. Đêm 18/9/1945, A. Peter Dewey bí mật gặp Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch và Nguyễn Văn Tạo. Tất cả đều cho rằng đã quá muộn để thương lượng và hợp tác. Dân chúng bị xúc phạm và kích động vì thái độ kiêu căng của Pháp, họ đã ở tư thế sẵn sàng làm mọi việc để giữ vững nền độc lập. Trần Văn Giàu phát biểu: "Hiện nay, việc cực kỳ khó khăn là kiểm soát được các bè phái chính trị khác nhau vì không phải tất cả thân Việt Minh mà tất cả đều chống Pháp".

Sáng ngày 19/9/1945, Cédile tổ chức họp báo, tuyên bố Việt Minh không đại diện cho nguyện vọng của người Đông Dương và không đủ khả năng duy trì trật tự công cộng. Các cuộc thương lượng với người Việt sẽ dừng lại cho đến khi trật tự được lập lại. Ngày 20/9/1945, Thiếu tướng Anh Gracey ra bản Thông cáo số 1 tuyên bố sẽ duy trì pháp luật và trật tự ở Đông Dương phía Nam vĩ tuyến 16. Ông cấm tất cả các loại báo vì họ đưa tin sắp xảy ra nổi loạn và nội chiến. Tình hình trở nên cực kỳ tồi tệ. Các vụ phá hoại, cướp bóc, hành hung, bắt cóc,... do cả hai phía Pháp Việt gây ra bùng nổ đáng sợ. 

Ngày 21/9/1945, Để đối phó với tình hình, tướng Gracey ra lệnh thiết quân luật. Quân đội Anh thực hiện giới nghiêm; cấm tụ tập, hội họp, biểu tình công khai; hạn chế đi lại ở một số khu vực; cấm mang vũ khí; thiết lập toà án binh để xử các vụ vi phạm trật tự, xử tử hình đối với tội cướp bóc và phá hoại. Gracey cho sáp nhập cảnh sát Việt Nam vào quân đội Anh coi như một đơn vị dưới quyền chỉ huy của ông ta. Đêm 21/9/1945, tình báo Pháp SLFEO báo cho Cédile biết người Việt đang củng cố lực lượng vũ trang của họ. Cédile lại gặp Gracey để yêu cầu ông này trang bị vũ trí cho 1.400 tù binh Pháp (bị Nhật giam giữ từ ngày 9/3/1945) để hỗ trợ quân Anh giữ trật tự. Gracey đồng ý. 

Ngày 22/9/1945, Cédile cho lính Pháp thay thế lính Nhật chiếm giữ các đồn cảnh sát ở Sài Gòn, Kho bạc, Sở Mật thám, Bưu điện. Rạng sáng ngày 23/9/1945, quân Pháp tấn công Toà Thị chính Sài Gòn, nơi làm việc của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, bắt toàn bộ Ban lãnh đạo của cơ quan này. Pháp đã chiếm lại Sài Gòn. Dân thường Pháp xem đây là dịp để trả thù. Từng toán đàn ông và đàn bà Pháp xông ra đường bắt và đánh đập bất cứ người Việt nào họ gặp. Số nạn nhân có thể lên tới hàng ngàn người. Chỉ huy OSS, A. Peter Dewey, gặp Gracey để phản đối Anh, Pháp đã để tình trạng này xảy ra. Ngày hôm sau, Dewey bị Gracey trục xuất khỏi Sài Gòn.

Cédile muốn chấm dứt tình trạng này. Ông cho thả tất cả người Việt Nam vừa bị bắt. Ông ra lệnh ngừng việc bắt bớ nhưng không ai tuân thủ. Ông giải thích hành động của mình để tái lập trật tự chứ không phải để trả thù và muốn nhanh chóng nối lại điều đình trong khuôn khổ Bản Tuyên bố ngày 24/9/1945 của Pháp. Báo chí quốc tế phản ứng mạnh trước tình hình. Người Anh bị chỉ trích gay gắt. Gracey ra lệnh cho Cédile tước vũ khí tù binh Pháp, đưa họ trở về trại và giao cho người Nhật trách nhiệm khôi phục lại trật tự. Cùng ngày 24/9/1945 nầy, sau khi được thả khỏi nhà giam, Việt Minh tập hợp người Việt lại, tiến hành chiến tranh. 

SÀI GÒN CHÌM TRONG MÁU LỮA. Các đơn vị võ trang Dân quân Cách mạng của Mặt trận Quốc gia Thống nhất, cùng với đồng bào các giới nhất tề đứng lên chống lại quân Pháp bằng võ khí thô sơ. Phi trường Tân Sơn Nhất bị tấn công, một tàu Pháp ở cảng bị đốt, nhà máy, kho tàng bị đập phá, điện nước bị cắt hoàn toàn. Họ phá nhà giam thả hàng ngàn người Việt vừa bị bắt. Một số người Pháp bị giết. Đến trưa chợ Bến Thành bị đốt cháy. Chướng ngại vật được dựng lên khắp đường phố. Sài Gòn chìm trong tình trạng vô chính phủ. Đêm 24/9/1945, lực lượng Bình Xuyên tấn công khu Hérault kiều dân Pháp, tại Tân Định, Sài Gòn bắt 300 dân thường Pháp. Khoảng một nửa bị giết, số còn lại được trả về sau khi đã bị đánh đập. Để đối phó, một lần nữa tướng Anh Gracey chấp nhận yêu cầu của Cédile cấp vũ khí cho tù binh Pháp, nhưng tình hình đã quá muộn. 

Ngày 26/9/1945, Thiếu tá chỉ huy OSS A. Peter Dewey bị lực lượng Việt Minh bắn chết ở Tân Định, vì nhầm tưởng ông là người Pháp. Tin này lan khắp thế giới làm xấu đi hình ảnh Việt Nam. Thiếu tá OSS Archimedes L.A Patti đang công tác tại miền Bắc Việt Nam nói: "Họ đã giết hại người bạn độc nhất của họ ở Nam Kỳ và chắc chắn những tin này sẽ chẳng đề cao được lý tưởng của họ trước nhân dân Mỹ.". Ngày 27-9-45, Saigon bị bao vây, lửa đỏ rực trời, thực phẩm khan hiếm.  Một Ủy ban phong tỏa Sài Gòn được thành lập do Nguyễn Văn Sâm, Kha Vạng Cân, Trần Văn Ân, Hồ Văn Ngà lãnh đạo. Uỷ ban ra lệnh tản cư đàn bà trẻ em và người già. Chiến tranh du kích nổ ra khắp nơi. 

Ngày 28/9/1945, Tư lệnh quân Đồng minh, tướng Mounbatten, triệu tập Gracey và Cédile đến Singapore để nhắc nhở hai người về việc quân đội Anh không được can thiệp vào tình hình chính trị Đông Dương và nhất là không được giao chiến với người Việt. Mounbatten đề nghị nên nối lại thương lượng với các lãnh đạo Việt Nam. Ngày 1/10/1945, Gracey, và Cédile nối lại đàm phán với Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. Hai bên tạm thời ngừng bắn. Phía Anh nhấn mạnh thỏa thuận giữa các nước Đồng Minh, rằng Anh sẽ không công nhận bất kỳ sự thay đổi chủ quyền trên bất kỳ lãnh thổ nào đã bị Nhật chiếm bằng vũ lực trong thời kỳ chiến tranh. Người Pháp yêu cầu trả lại các con tin bị bắt, và xác của Thiếu tá Dewey trước khi tiếp tục thương lượng. Phía Việt Nam yêu cầu trước hết Pháp phải công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nước tự do và độc lập. Người Việt chỉ ngừng bắn với điều kiện Pháp trao trả quyền hành chính tại Sài Gòn cho Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. 

QUÂN KHÁNG CHIẾN RÚT KHỎI SÀI GÒNLúc nầy, lực lượng võ trang của Dân quân Cách mạng chống Pháp đã triển khai quân đội tại các vị trí chiến lược phía Bắc và phía Nam thành phố Sài Gòn. Hoàng Quốc Việt vẫn liên lạc chặt chẽ với Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại Hà Nội và chỉ thị cho Giàu và Bạch phải chống lại mọi mưu đồ của Đồng Minh nhằm giúp Pháp nắm quyền kiểm soát Sài Gòn. Nếu cần, chỉ sau 24 tiếng Hà Nội sẽ gửi quân tăng viện cho miền Nam. Ngày 3/10/1945, hơn 10.000 quân Pháp do tướng Leclerc chỉ huy đổ bộ xuống Sài Gòn. Ngày 5/10/1945, Leclerc tuyên bố sẽ bình định Nam Bộ. Ngày 9/10/45, quân Pháp chiếm đóng Tây Ninh. Đêm 10/10/1945, bộ đội Việt Minh tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng Việt Minh giao chiến với quân Anh, Pháp tại tất cả các cửa ngõ vào Sài Gòn. Người Anh yêu cầu Nhật hỗ trợ. Nhật đồng ý tham chiến.

Không quân Hoàng gia Anh và không quân Nhật tiếp tục ném bom vào các địa điểm đóng quân của Việt Nam. Lực lượng Anh, Pháp, Nhật đã phá vỡ cuộc phong tỏa Sài Gòn của lực lượng Kháng chiến Nam Bộ. Ngày 16/10/1945, sau 6 ngày chiến đấu liên tục và cam go, lực lượng Kháng chiến Nam Bộ ngừng bao vây Sài Gòn và rút quân về vùng nông thôn bởi lực lượng Anh, Pháp, Nhật quá mạnh. Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ kêu gọi dân chúng sơ tán về nông thôn và thi hành chiến lược dùng nông thôn bao vây thành thị bằng cách cắt đứt mọi hoạt động thương mại giữa nông thôn và thành thị. Anh, Pháp kiểm soát toàn bộ Sài Gòn.

THÂN PHẬN TRẦN VĂN GIÀU VÀ XỨ UỶ VIỆT MINH MỚI. Ngày 25/10/45, Hoàng Quốc Việt thực hiện BƯỚC CUỐI CÙNG xoá sổ Xứ uỷ Tiền phong, thường gọi là Việt Minh mới của Trần Văn Giàu bằng cách tổ chức Hội nghị Thiên Hộ, Cái Bè, Mỹ Tho thành lập Xứ ủy Nam Kỳ mới, thống nhất hai Xứ uỷ Tiền Phong và Xứ uỷ Giải Phóng làm một. Xứ uỷ mới gồm 11 thành viên của nhóm Việt Minh củ, Việt Minh mới, và từ Côn Đảo về do Tôn Đức Thắng làm Bí thư. Hội nghị quyết định giải thể các tỉnh, quận có hai Tỉnh ủy, hai Quận ủy và hai hệ thống Việt Minh cũ, Việt Minh mới. Ba lãnh tụ Xứ uỷ Tiền Phong-Việt Minh mới, là Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch và Dương Bạch Mai đều được đảng Cộng sản điều ra Hà Nội. 

Tại Hà Nội, Trần Văn Giàu đề đạt 2 nguyện vọng: (1) cho phép ông trở lại chiến trường Nam Bộ chiến đấu, nếu không được thì (2) cho ông sang Campuchia và Thái Lan lập một căn cứ hậu cần tiếp tế cho Nam Bộ. Nguyện vọng thứ hai được chấp thuận. Không lâu sau, Lê Duẩn được cử làm Bí thư thay Tôn Đức Thắng.

 

CHÍNH QUYỀN BA

Bài 161: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ LÂM THỜI, VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP LÂM THỜI CỦA HỒ CHÍ MINH.

Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là Chính quyền Việt Nam Độc lập thứ hai, sau khi cướp Chính quyền ở Hà Nội.  Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Hồ Chí Minh và ra mắt Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới thành lập và tuyên bố Việt Nam Độc lập. Đến năm 1955, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trải qua 6 chính phủ: (1) Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh; (2) Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Hồ Chí Minh; (3) Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Hồ Chí Minh; (4) Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Hồ Chí Minh; (5) Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Cải tổ Hồ Chí Minh; Và (6) Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Mở rộng Hồ Chí Minh.

CHÍNH PHỦ LÂM THỜI HỒ CHÍ MINH. Ngày 17/8/45, công chức Hà Nội tổ chức biểu tình “tỏ ý chí bảo vệ đất nước”, Việt Minh len vào dòng người biểu tình hô khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Cứu quốc, biến nó thành cuộc biểu tình ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Hôm sau, Việt Minh huy động dân chúng tiến chiếm Bắc Bộ phủ, và một số công sở trong thành phố. Ngày 23/8/45, thành lập Chính phủ Lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Lúc này, cái tên Hồ Chí Minh ít ai biết đến, trong khi Chính phủ Trần Trọng Kim đang tồn tại. Trước đóngày 17/4/1945, Chính quyến Đế quốc Việt Nam của Hoàng đế Bảo Đại cũng đã gửi lời kêu gọi đến lãnh đạo các nước Đồng Minh yêu cầu công nhận nền độc lập của Đế quốc Việt Nam. Lời kêu gọi này làm cho Hồ Chí Minh lo ngại về địa vị hợp pháp của Bảo Đại.  

Hồ Chí Minh cảm nhận rằng phải làm cho Đồng Minh chú ý đến Chính phủ của ông trước khi quân đội Đồng minh vào Việt Nam giải giáp quân Nhật. Một mặt nhóm Cộng sản Huế gây sức ép lên Bảo Đại buộc tuyên bố thoái vị, và mặt khác Hồ Chí Minh cố tìm mọi cách làm cho Mỹ tin rằng, ông không phải là một phái viên của Quốc tế Cộng sản mà là một người Quốc gia - Xã hội mong muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Thông qua Cơ quan tình báo Mỹ OSS, Hồ Chí Minh gửi 9 bức điện cho Chính phủ Mỹ, bao gồm cả bốn bức thư tay gửi trực tiếp cho Tổng thống Mỹ Harry S. Truman  đề nghị Mỹ đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồ Chí Minh hy vọng rằng, tranh thủ được sự có mặt của Mỹ ông sẽ có ưu thế trong các cuộc thương lượng với Trung Quốc và Pháp về Đông Dương. 

Hồ Chí Minh nói với viên chỉ huy Tình báo Mỹ OSS tại miền Bắc là Archimedes L.A Patti, rằng ông theo chủ nghĩa Lenin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và xin gia nhập Đệ Tam Quốc tế, vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Ông không thấy có sự lựa chọn nào khác. Nhưng trong nhiều năm sau đó những tổ chức Cộng sản này không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa. Cho nên, ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ. Hồ Chí Minh giải thích, rằng người Mỹ xem ông là một người quốc tế cộng sản, "bù nhìn của Moscow" vì ông đã ở Moscow nhiều năm, nhưng ông khẳng định mình không phải là người cộng sản theo cách mà Mỹ hiểu, mà là nhà cách mạng hoạt động vì độc lập dân tộc… Thế nhưng, chính phủ Mỹ có nhiều thông liên quan biết rõ hơn về nhân vật này, cuối tháng 9 năm 1945, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo về nước. 

Ngay sau khi tuyên bố Việt Nam độc lập và ra mắt chính phủ (2-9-1945), Hồ Chí Minh ra lệnh giải tán Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng, giải tán các nghiệp đoàn. Ngày 4/9/1945, ban hành Sắc lệnh số 4 lập "Quỹ độc lập" quyên tiền trong dân chúng. Ngày 17/9, Chính phủ phát động "Tuần lễ Vàng" thu góm vàng ủng hộ nền độc lập Quốc gia. Sau các "Quỹ độc lập", “Tuần lễ vàng” Chính quyền Cách mạng còn tổ chức nhiều hình thức quyên tiền bạc của dân chúng như "Quỹ kháng chiến", "Quỹ bình dân học vụ", "Quỹ giải phóng quân", "Ngày Nam Bộ". Chính phủ cũng phát động Phong trào cứu đói. Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo"… 

ĐỒNG MINH ĐẾN GIẢI GIỚI QUÂN NHẬTNgày 6/9/45, Phái bộ Quân sự Anh-Ấn tới Sài Gòn để giải giáp quân Nhật, cùng với đó Pháp đưa quân vào tái lập Liên bang Đông Dương. Ngày 9/9/45, quân Trung Hoa vào Hà Nội, đến ngày 15/9/45, tổng số quân đã có mặt tại Bắc Việt Nam180.000 người. Cũng với đó, một phần quân của Việt Nam Quốc Dân Đảng (VQ), và của Việt Nam Cách mệnh Đồng Minh Hội (VC) cũng theo quân Trung Hoa từ Trung Hoa về Hà Nội.Những ngày sau đó, Nguyễn Hải Thần lãnh tụ đảng Việt Cách (VC) đòi Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Liên hiệp theo đúng thỏa hiệp Liễu Châu (28/3/1944) và công khai bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Việt Nam. Hàng loạt vụ đụng độ xảy ra giữa Việt Minh và Việt Cách khiến công chúng bị sốccác chỉ huy quân đội Trung Hoa Dân quốc cũng thấy không hài lòng. 

Tư lệnh Phó, tướng Tiêu Văn gây sức ép lên tất cả các bên để buộc họ thành lập Chính phủ Liên hiệp.. Liên tiếp những ngày sau đó, Hồ Chí Minh tiếp Cố vấn Ngoại giao Pháp Léon Pignon và Đại tá Alessandri (28/9/45), tiếp kiến Đặc phái Viên Pháp Sainteny (15/10/45). Ngày 1/11/45, báo “Việt Nam” của Việt Quốc, và “Đồng Minh” của Việt Cách đăng nhiều bài đã kích Hồ Chí Minh, và tố cáo Mặt trận Việt minh là Cộng sản trá hình. Nhiều buổi phát thanh, và diễn thuyết tại đường Quan Thánh, trụ sở của Việt Cách có rất đông người đến nghe. Điều làm Hồ Chí Minh lo ngại là trong một số giới, đặc biệt là tầng lớp trung lưu Việt Nam, người ta vẫn xem Hồ Chí Minh và Việt Minh là Cộng sản vì thế ông phải làm mọi cách để thay đổi điều này. Ngày 11/11/1945, Hồ Chí Minh quyết định giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. 

THOẢ THUẬN THÀNH LẬP CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP. Ngày 19/11/1945, Hồ Chí Minh (VM), Vũ Hồng Khanh (VQ) và Nguyễn Hải Thần (VC) thỏa thuận về các nguyên tắc chung nhằm định hướng đàm phán, thành lập chính phủ Liên hiệp, thống nhất quân đội, và kết thúc các cuộc đấu tranh đảng phái để cùng nhau chống Pháp. Ngày 24/11/1945, Hồ Chí Minh thông báo cho Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh rằng các đảng phái đã thống nhất ý kiến, không cần phải thay đổi chính phủ làm cho nhân dân hoang mang, quốc tế hoài nghi mà sẽ tổ chức bầu cử quốc hội trong 3 tuần nữa. Ông cũng mời Việt Quốc và Việt Cách ứng cử và chấm dứt công kích nhau bằng lời nói và hành động cho đến ngày Quốc hội khai mạc. 

Tức thì, báo “Việt Nam” của Việt Quốc, và “Đồng Minh” của Việt Cách viết nhiều bài chỉ trích Hồ Chí Minh không quân tử, không giữ lời hứa, theo đuổi một chính sách sai lầm, thiếu hiệu quả, không xử lý nổi các vấn đề kinh tế và hoàn toàn thụ động trước việc Pháp đổ bộ vào miền Nam. Việt Quốc kêu gọi các đảng phái gạt bỏ bất đồng để thành lập Chính phủ Liên hiệp lãnh đạo nhân dân giành độc lập, kêu gọi các thành viên Việt Minh hãy nhận thức rằng lãnh đạo của họ đang đưa đất nước đến thảm họa, bạn bè quốc tế xa lánh. 

Ngày 23/12/1945, tướng Tiêu Văn tổ chức một cuộc họp hòa giải các bên để thành lập chính phủ Liên hiệp. Tại cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần đề nghị Hồ Chí Minh hợp tác với Việt Quốc, Việt Cách thành lập một chính phủ bao gồm thành viên của Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh và các đảng phái nhỏ khác. Nguyễn Hải Thần sẽ đảm nhận chức Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh làm Phó Chủ tịch. Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh, mỗi đảng nắm giữ 1/4 số ghế Bộ trưởng trong Chính phủ; 1/4 còn lại do các đảng phái nhỏ nắm. Như vậy, chính phủ Việt Nam sẽ nhận được sự ủng hộ của Trung Hoa chống lại các cố gắng của Pháp tái chiếm Việt Nam. Sau nhiều thảo luận, cuối cùng các bên đạt tới một thỏa thuận được tuyên bố là mang tính pháp lý (viết bằng chữ Hán) theo đó, cuộc bầu cử Quốc hội được hoãn lại 2 tuần. Việt Quốc và Việt Cách không chống Tổng tuyển cử, nhưng Việt Quốc sẽ được 50 ghế, và Việt Cách 20 ghế trong Quốc hội mà không quabầu cử.

Các thành viên Chính phủ sau Tổng tuyển cử sẽ phân chia như sau: Việt Minh 2 bộ trưởng, Dân Chủ 2 bộ trưởng, Việt Quốc 2 bộ trưởng, Việt Cách 2 bộ trưởng, phi đảng phái 2 bộ trưởng. Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần chấp nhận để Hồ Chí Minh tiếp tục làm chủ tịch chính phủ Liên hiệp Lâm thời, đứng ra tổ chức Tổng tuyển cử vào ngày 6 tháng 1 năm 1946 sắp đến

CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP LÂM THỜI. Ngày 1/1/1946, Hồ Chí Minh giải thể Chính phủ Lâm thời, để cùng với hai đảng Việt Quốc, Việt Cách thành lập Chính phủ Liên Hiệp Lâm thời để tổ chức Tổng tuyển cử. Thành phần chính phủ mới có thay đổi chút ít. Thêm chức vụ mới Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch Chính phủ, Bác sĩ Trương Đình Tri làm Bộ trương Y tế thay bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, và Nguyễn Tường Long làm Bộ trưởng Kinh tế thay Nguyễn Mạnh Hà. Ngày 6/1/1946, bầu cử Quốc hội, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu là 89% và có 333 người trúng cử đại biểu. Quốc hội có tên gọi là Nghị viện Nhân dân. Ngay sau bầu cử, Việt Minh, Việt Quốc, và Việt Cách lại tổ chức Hội nghị bàn thảo cách thực hiện các điều đã thoả thuận ngày 23/12/1945. Do các đảng phái đối lập phản đối, Hồ Chí Minh đồng ý loại Võ Nguyên Giáp và Trần Huy Liệu ra khỏi Nội các. 

Các bên đã phải họp nhiều lần để thảo luận trong các nhân vật Trung lập, ai sẽ nắm giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Nội vụ. Phan Anh được chọn làm Bộ trưởng Quốc phòng tuy anh trai ông ta là thành viên Việt Minh. Hội nghị cũng xem xét các nhân sĩ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn, và Trần Đình Nam xem ai thích hợp cho vị trí Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ngô Đình Diệm bị loại vì quá chống cộng còn Bùi Bằng Đoàn quá thân Việt Minh. Trong 2 người còn lại, Hồ Chí Minh chọn Huỳnh Thúc Kháng, và được thống nhất cao. Không ai phản đối Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng Nội vụ vì ông có uy tín khắp cả nước. Hội nghị cũng thành lập Ủy ban Kháng chiến gồm 9 người với Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch và Vũ Hồng Khanh làm Phó chủ tịch.

VÀI SỰ KIỆN LIÊN QUAN KHÁC. Ngày 7/1/46, ký kết Hiệp định tạm thời Mên-Pháp, Pháp thừa nhận Mên là “Quốc gia Tự Trị” trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 13/1/46, Vệ quốc quân tấn công quân Việt Quốc tại Việt Trì. Ngày 20/1/46, Vệ Quốc quân tấn công quân Việt quốc tại Vĩnh Yên và Phú Thọ. Ngày 20/1/46, tại Pháp, tướng De Gaulle rời khỏi chính quyền. Ngày 23/1/46, Vệ quốc quân đẩy lui bộ đội Việt Cách và chiếm đóng Tiên Yên.  Ngày 28/1/46, Tướng Anh, Douglas Gracey, chuyễn giao quyền hành cho quân đội Pháp và rời khỏi Sài Gòn. Ngày 5/2/46, quân Pháp đã chiếm đóng xong các tỉnh lỵ Cao Nguyên, miền Trung, và miền Nam, từ Vỹ tuyến 16 trở vào. Ngày 16/2/46, Hồ Chí Minh tiếp Sainteny, và nhận nguyên tắc điều đình với Pháp, Việt Nam có thể đứng trong Liên Hiệp Pháp. 

Ngày 19/2/46, Sainteny trở lại gặp Hồ Chí Minh nêu vấn đề hợp tác Việt-Pháp, cùng với việc quân Pháp đổ bộ lên Bắc Bộ. Ngày 23/2/46, tướng Tiêu Văn, người bênh vực cho Việt Quốc bị triệu hồi về Tàu. Ngày 28/2/46, Trung Hoa ký với Pháp một Hiệp ước thân thiện, theo đó, quân Pháp sẽ thay quân Trung Hoa để giải giáp quân Nhật từ vỹ tuyến 16 trở ra. Pháp sẽ trả lại Tàu các tô giới, bán rẻ đường xe lửa Laokay-Vân Nam Phủ, miễn quan thuế cho hàng hóa Tàu, dành mọi sự dể dàng cho Hoa kiều tại Đông Dương. Ngày 1/3/46, Pháp đòi đưa quân ra Bắc để thế quân Tàu Tưởng nhưng các Tướng Tàu chưa chịu viện cớ còn hỏi tướng Mc Arthur, Tổng Tư lệnh Đồng Minh./. 

 

Bài 162: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP KHÁNG CHIẾN CỦA HỒ CHÍ MINH NĂM 1946.

Ngày 1/3/46, Hồ Chí Minh giải thể Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ngày 2/3/46,  Quốc hội bầu ra ngày 6 tháng 1 năm 1946, nhóm họp phiên đầu tiênQuốc hội công nhận 50 Đại biểu của Việt Quốc, và 20 Đại biểu Việt Cách không qua bầu cử; Quốc hội uỷ Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến; cử một Ban Cố vấn; và một Ủy ban Kháng chiến. Thành viên Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến: Cộng sản 4 ghế: Hồ Chí Minh (Chủ tịch), Đặng Thái Mai, Nguyễn Văn Tạo, Lê Văn Hiến; 2 gế Dân chủ: Vũ Đình Hoè, Trần Đăng Khoa; 3 không đảng: Huỳnh Thúc Kháng (Bộ trưởng Nội vụ), Phan Anh (Bộ trưởng Quốc phòng), Huỳnh Thiện Lộc; 3 Việt Cách: Nguyễn Hải Thần (Phó chủ tịch), Trương Đình Tri, Bồ Xuân Luật; 2 Việt Quốc: Nguyễn Tường Tam (Bộ trưởng Ngoại giao), Chu Bá Phượng. Cố vấn tối cao: Vĩnh Thuỵ. Ủy ban Kháng chiến: Võ Nguyễn Giáp (Chủ tịch) Vũ Hồng Khanh (Phó chủ tịch).

 KẾT HIỆP ƯỚC PHÁP-VIỆT. Ngày 6/3/46, ký kết Hiệp định sơ bộ Việt-Pháp, theo đó, Chính phủ Việt Nam đồng ý để Pháp đưa 15.000 quân ra phía Bắc vĩ tuyến 16 thay thế quân Tàu để giải giáp quân Nhật; Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 quân. Đổi lại, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội, và tài chính riêng. Sự thống nhất ba Kỳ sẽ tùy thuộc vào cuộc trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ; Các vấn đề ngoại giao, quy chế Liên bang Đông Dương, quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp sẽ đàm phán sau. Ngày 16/3/46, Cố vấn Vĩnh Thụy rời Hà Nội với một phái đoàn sang thăm Trùng Khánh. 

Ngày18/3/46, quân đội của Tướng Leclere tới Hà Nội. Ngày 22/3/46, binh lính Pháp diển binh trước cột cờ Hà Nội, Võ Nguyên Giáp tới dự. Ngày 7/4/46, Quân Pháp chiếm đóng Nam Định. Ngày 24/3/46, Hồ Chí Minh ra vịnh Hạ Long gặp Cao uỷ D’ Argenlieu. Ngày 7/4/46, Quân Pháp chiếm đóng Nam Định. 

HỘI NGHỊ TRÙ BỊ PHÁP-VIỆT ĐÀ LẠT. Ngày 17/4/46, Hội nghị trù bị Pháp-Việt khai mạc tại Đà Lạt, trưởng đoàn Pháp Nghị sĩ Max André. Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường TamTạicuộc đàm phán, phía Pháp đưa ra các quan điểm áp đặt, rằng Việt Nam là một Quốc gia tự trị, không có quyền ngoại giao, không có quyền ký các hiệp ước quốc tế, không bàn đến vấn đề Nam Bộ…Do những bất đồng căn bản giữa hai bên, nên Hội nghị kết thúc ngày 11/5/1946 mà không đạt tới tới kết quả nào. Ngày19/5/46, Cao uỷ D’ Argenlieu ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh. Ngày 27/5/46, Hồ Chí Minh cùng tùy tùng lên đường sang Pháp, để mở cuộc tiếp xúc với chính phủ Felix Gouin. 

Ngày 31/5/1946, Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại lên đường sang Pháp đàm phán. Do bất đồng, Trưởng đoàn Nguyễn Tường Tam vắng mặt, Phạm Văn Đồng được cử làm trưởng đoàn, cùng với các thành viên: Phan Anh, Bửu Hội, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Văn Bính, Đặng Phúc Thông, Dương Bạch Mai, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Chu Bá Phượng, Huỳnh Thiện Lộc, Phạm Khắc Hòe. Ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Võ Nguyên Giáp quyết định Việt Minh phải một mình điều khiển bộ máy chính quyền. Ngày 19/6/46, lính Pháp tiến vào đồn Tự vệ Hải Phòng đòi thả mấy nhân viên Pháp bị bắt giam tại đây. 

Cùng ngày 19 tháng 6 năm 1946, Báo Cứu Quốc đăng xã luận kịch liệt chỉ trích "bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3". Liền ngay sau đó Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập bằng lực lượng Công an. Ngày 22/6/46, Vệ Quốc quân tấn công quân Việt Cách và chiếm đóng Lạng Sơn. Ngày 25/6/46, tướng Lư Hán, và bộ hạ rời Hà Nội về Tàu. Ngày 27/6/46, Các ông Nguyễn Hải Thần (VC), Vũ Hồng Khanh (VQ) thành viên trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến lần lượt rút khỏi Chính phủ, lưu vong sang Trung Quốc. Ngày 30/6/46, Vệ Quốc quân giao tranh với quân Việt Quốc ở phủ Lạng Thương và Lạng Sơn. Ngày 1/7/46, Hồ Chí Minh gặp Thủ tướng mới của Pháp là Georges Bidault. 

HỘI NGHỊ PHÁP-VIỆT FONTAINEBLEAU. Ngày 6-7-1946, Hội nghị Pháp-Việt được tổ chức tại lâu đài Fontainebleau, cách Paris khoảng 60km. Trưởng đoàn Pháp vẫn Nghị sĩ Max André, trưởng đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng. Chương trình nghị sư: Quyền ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Tổ chức Liên bang Đông Dương; Các quyền văn hóa và kinh tế của Pháp; Và trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ để thống nhất Việt Nam. Trưởng đoàn Pháp đọc diễn văn khai mạc; và Trưởng đoàn Việt Nam đọc diễn văn đáp từ, có đoạn: “Chúng tôi lấy làm đau đớn mà phải nói rằng, người Pháp ở Việt Nam không thi hành đúng theo những khoản trong Hiệp định. Họ đã không đình chiến lại tìm cách lấn chiếm… Nhưng trước hết chúng tôi hết sức phản đối sự chia rẽ Tổ quốc của chúng tôi, hết sức phẫn nộ người Pháp ở Sài Gòn lập ra một nước “Cộng hoà Tự trị Nam Kỳ” và một chính phủ Nam Bộ…Chúng tôi muốn cộng tác vì chúng tôi yêu mến Tổ quốc của chúng tôi, chúng tôi muốn cộng tác với nước Pháp trong một đại gia đình gồm những nước dân chủ tự do…”. 

Sáng sớm ngày 12/7/1946, dù không có bằng chứng và chưa có lệnh, một Đội Công an do Lê Hữu Qua chỉ huy đột kích khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do nghi ngờ cấu kết với Pháp âm mưu đảo chánh Chính phủ VNDCCH. Đến 7 giờ sáng cùng ngày 12/7, Công an vụ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các ông Lê Giản Giám đốc Nha Công an Bắc Bộ, Nguyễn Tuấn Thức Giám đốc Công an Hà Nội, và Nguyễn Tạo Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương đột kích căn nhà số 7 phố Ôn Như Hầu trụ sở Việt Quốc bắt hơn 100 người trong đó có một đại biểu Quốc hội là Phan Kích Nam. Tiếp sau Hà Nội, các cơ sở của Việt Quốc, Việt Cách ở Hải Phòng và một số tỉnh khác ở miền Bắc cũng bị Công an tấn công. Theo Sử gia David G. Marr, đây là một thời kỳ đầy thù hận, phản bội, tranh đấu và chết chóc. 

HỘI NGHỊ PHÁP-VIỆT FONTAINEBLEAU TAN VỠ. Tại Pháp, trong quá trình đàm phán ở Hội nghị Fontainebleau phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà luôn theo đuổi các mục tiêu độc lập chính trị và thống nhất lãnh thổ. Việt Nam là một quốc gia tự do, hợp tác bình đẳng với Pháp về mọi mặt. Việt Nam trong Liên bang Đông Dương chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế và tài chính, và Liên bang Đông Dương không phải là một quốc gia trong Liên hiệp Pháp. Quan điểm của Phái đoàn Pháp thì ngược lại, chỉ xem Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như là quốc gia tự trị, hay độc lập trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp. Và, Liên bang Đông Dương là một Liên hiệp các Quốc gia Tự trị trong Liên hiệp Pháp. 

Ngày 7/9/46, để tránh bế tắc tại Hội nghị Fontainebleau, Phái đoàn Việt Nam đề nghị điểm nào không thể thỏa hiệp để lại bàn sau, hãy ký kết những điểm đã thỏa hiệp. Ngày 9/9/46, phía Pháp đưa ra dự thảo Hiệp định tạm thời trong đó có vài điểm chưa được thỏa thuận, và không đề cập đến vấn đề Nam Bộ. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị làm rõ một số điều và bổ sung vấn đề Nam Bộ. Ngày 10/9/46, hai phái đoàn gặp nhau để ký Tạm ước Việt-Pháp về những điều đã thỏa hiệp thỏa hiệp, Đoàn Việt Nam yêu cầu Pháp xác định “thời điểm và cách thức” thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ trước khi ký Tạm ước, phía Pháp không trả lời nên phái đoàn Việt Nam rời phòng họp. Và, Hội nghị Fontainebleau chính thức tan vỡ. 

TẠM ƯỚC PHÁP- VIỆT 14/9/1946. Hôm sau, ngày 11/9/46, Hồ Chí Minh thảo một bản nghị ước và trao cho Marius Moutet, Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại. Ba ngày sau, 14 tháng 9 năm 1946, Marius Moutet hồi đáp với một bản nghị ước khác. Đạt được đồng thuận, Hồ Chí Minh đã đến tư dinh của Marius Moutet lúc nửa đêm ngày 14 tháng 9 năm 1946 để ký văn bản Tạm ước Việt-Pháp (Modus vivendi). Theo đó, hai bên VNDCCH và Pháp cùng bảo đảm quyền tự do kiều dân, chế độ tài sản, trường học Pháp tại Việt Nam, đồng bạc Đông Dương tiếp tục lưu hành; một Uỷ ban sẽ được thành lập để giải quyết vấn đề ngoại giao của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cam kết ưu tiên dùng người Pháp làm cố vấn hoặc chuyên môn; hai bên cùng chấm dứt mọi hành động xung đột, tuyên truyền chống đối nhau...Ngày 18/10/46, trên đường về nước, Hồ Chí Minh lại gặp Cao uỷ D’ Argenlieu tai Cam Ranh. 

Về Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Nguyễn Tường Tam, mặc dù Hồ Chí Minh với sự trợ giúp của Hoàng Minh Giám giữ độc quyền liên lạc với Pháp, nhưng Nguyễn Tường Tam vẫn thực hiện trách nhiệm của mình một cách nghiêm túc. Với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Nguyễn Tường Tam dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị Đà Lạt, dù trên thực tế Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo phái đoàn. Theo đại tướng Võ Nguyên Giáp, do bất đồng Tam đã không tham gia hầu hết các phiên họp, còn theo David G. Marr, Tam là người phát ngôn có năng lực và giúp giải quyết một số tranh cãi về chiến thuật đàm phán trong đoàn. 

Sau đó Tam cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau, cuối cùng rời bỏ chính phủ. Tài liệu nhà nước nêu Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ, tiền chi phí cho phái đoàn sang Pháp đàm phán, rồi đào nhiệm ra nước ngoài. Nhưng theo sử gia David G. Marr việc này khó xảy ra vì Tam khó lòng được giao trách nhiệm giữ tiền của phái đoàn. Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách như Nguyễn Hải thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, rời bỏ chính phủ, lưu vong sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các đảng phái đối lập tại miền Bắc, trong công cuộc "kháng chiến kiến quốc" mà Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến là biểu tượng.

VÀI SỰ KIỆN LIÊN QUAN KHÁCNgày 5/3/46, tất cả quân Anh và Ấn rút khỏi Nam Bộ. Ngày 20/3/46, Uỷ viên Cộng hoà Nam Bộ, Cédille muốn điều đình với Kháng chiến Nam Bộ, nhưng Nguyễn Bình không chịu, vì Pháp đòi nộp hết vũ khí. Ngày 26/3/46, Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ cử ra lập Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Ngày 29/3/46, quân Pháp kéo tới Huế. Cùng ngày 29/3/46, tại Sài Gòn, Bác sĩ Trần Tấn Phát, Hội viên Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ bị Ban Công tác Thành Bộ hạ sát. Và ngày 4/4/46, Chính khách Nguyễn Văn Thạch, Hội viên Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ lại bị Ban Công tác Thành Bộ hạ sát. 

Ngày 20/4/46, tại Nam Bộ, một Mặt trận Quốc gia Liên hiệp chống Pháp được thành lập gồm Hòa Hảo, Cao Đài, Bình Xuyên, Quốc Dân đảng. Chủ tịch Mặt trận là Huỳnh Phú Sổ. Ngày 23/4/46, Ủy viên Cộng hòa Cédille chỉ định Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân cầm đầu một Phái đoàn sang Ba-lê vận động cho Nam Kỳ tự trị. Ngày 7/5/46, Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ chấp nhận thành phần Chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Ngày 14/5/46, Cao uỷ D’ Argenlieu nhận lễ tuyên thệ trung thành của đại diện các Sắc dân Sơn cước tại Ban Mê Thuột. Ngày 26/5/46, Phái đoàn Nguyễn Văn Xuân về Sài Gòn, tuyên bố chính giới Ba-lê ủng hộ việc thành lập Chính phủ Nam Kỳ Tự trị. 

Ngày 1/6/46, Chính phủ nước Cộng hòa Nam Kỳ trình diện công chúng trước Nhà thờ Đức Bà. Nước nầy là một Quốc gia tự do được Pháp thừa nhận, có Chính phủ riêng. Song việc bổ nhiệm Công chức Cao cấp phải được thỏa hiệp với Ủy viên Cộng hòa Pháp. Thành phần Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ tăng lên thành 42 Hội viên: 28 Việt, 14 Pháp. Ngày 21/6/46, quân Pháp chiếm đóng Pleiku, và Kontum. Ngày 8/7/46, chiếm đóng Lạng Sơn. Ngày 17/7/46, chiếm đóng Đồng Đăng. Ngày 23/7/46, Cao uỷ D’ Argenlieu triệu tập một Hội nghị Liên bang Đông Dương gồm các đại biểu Việt Nam, Nam Kỳ Quốc, Tây Kỳ, Lào, và Cao Mên, đại biểu do Cao ủy chỉ định. 

Ngày 1/8/46, Hội nghị Liên bang Đông Dương nhóm họp tại Đà Lạt. Tại Pháp, Phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Fontainebleau bỏ phòng họp ra về để phản đối việc Cao uỷ D’ Argenlieu mở Hội nghị Đà Lạt. Ngày 8/8/46, Hội nghị Fontainebleau tái nhóm do phía Pháp giải thích Hội nghị Đà Lạt chỉ có mục đích thâu thập ý kiến, và nguyện vọng mà thôi. Ngày 17/8/46, Tướng Morlière được cử làm Ủy viên Cộng hòa Băc Bộ. Ngày 20/8/46, Tướng Nguyễn Bình giải tán Mặt trận Quốc gia Liên Hiệp. Ngày 27/8/46, Vua Siavong xứ Lào trở lại ngôi, sau khi Hoàng thân Phetsarath lánh sang Thái Lan. Và, hôm nay ký với Pháp một Hiệp ước tạm thời thừa nhận Lào Tự Trị trong Liên Hiệp Pháp. 

 

Bài 163: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP QUỐC DÂN CỦA HỒ CHÍ MINH: 3/11/19456 - 20/7/1947.

Ngày 28/10/46, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhóm họp (có 242/444 đại biểu dự họp) để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh thuyết trình về “thỏa ước 14/9/1946”. Sau khi tán dương công đức, Quốc hội ủy Hồ Chí Minh lập chính phủ mới. Hồ Chí Minh giải tán Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, và thành lập “Chính phủ Liên hiệp Quốc dân”. Thành viên Chính phủ Liên hiệp Quốc dân: Cộng sản 4 ghế: Hồ Chí Minh (Chủ tịch), Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Tạo, Lê Văn Hiến; 2 ghế Dân chủ: Vũ Đình Hoè, Trần Đăng Khoa; 1 ghế Xã hội: Nguyễn Văn Huyên; 5 không đảng: Huỳnh Thúc Kháng (Bộ trưởng Nội vụ), Hoàng Tích Trí,  Ngô Tấn Nhơn, Nguyễn Văn Tố, Đăng Văn Hướng (bị Việt Minh giết trong CCRĐ); 1 Việt Cách: Bồ Xuân Luật; 1 Việt Quốc: Chu Bá Phượng. Cộng 15 thành viên. 

BAN HÀNH HIẾN PHÁP, VÀ ĐÌNH CHỈ THI HÀNH HIẾN PHÁP. Ngày 6/11/46, Quốc hội biểu quyết phát hành giấy bạc Hồ Chí Minh. Ngày 9/11/46, Quốc hội chấp thuận Hiến pháp với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống. Ngày 14/11/46, Quốc hội tuyên bố đình chỉ thi hành Hiến pháp vừa chấp thuận, bầu một Ban thường trực để làm việc thay Quốc hội trong thời gian không nhóm họp.

Ngày 20/11/46, Tự vệ Hải Phòng ngăn chận thuyền chở hàng cho Pháp, khám xét và bắt nộp thuế Đoan, đồng thời bắt giữ vài lính Pháp. Hai bên nổ súng, Pháp bị chết và bị thương vài chục. Hai ngày sau, Tướng Jean-Étienne Valluy, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, ra lệnh cho quân Pháp chiếm quyền kiểm soát thành phố. Ngày 23/11/46, Đại tá Pierre Louis Dèbes gửi tối hậu thư yêu cầu Tự vệ hạ vũ khí và ra khỏi khu phố Tàu ở Hải Phòng. Không có phản hồi, Dèbes lệnh cho tàu chiến Pháp bắn phá thành phố. Sau đó, khoảng 2.000 lính Pháp tràn vào thành phố, gặp phải hỏa lực mạnh của Tự vệ Việt Minh. Chiến sự kéo dài cho đến khi người Tự vệ cuối cùng rút khỏi chiến trường vào ngày 28/11/46. 

 NỘI CHUẨN BỊ SƠ TÁN. Sau sự kiện Hải Phòng, kế hoạch phòng thủ Hà Nội bắt đầu được chuẩn bị để chính phủ có thời gian sơ tán về các vùng núi lân cận. Một số ít lực lượng chính phủ đóng tại Bắc Bộ Phủ và một doanh trại gần đó. Còn phần lớn lực lượng quân sự của Việt Nam trong vùng rút ra ngoại ô của thủ đô. Bù lại, trong nội thành có gần 10.000 du kích và tự vệ. Đối địch với họ là vài nghìn lính Lê dương Pháp. Các cơ quan của chính phủ bí mật chuyển dần ra các địa điểm đã được chuẩn bị trước ở bên ngoài thành phố. Trong thành phố, quân dân Hà Nội bắt đầu xây dựng các chiến lũy phòng thủ trên đường phố, quân Pháp cũng củng cố các vị trí phòng thủ của mình. 

Ngày 6/12/46, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Pháp rút về các vị trí họ đã giữ từ trước ngày 20 tháng 11, nhưng không nhận được phản hồi. Ngày 12/12/46, Léon Blum, Thủ tướng mới của Pháp tuyên bố ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam. Ba ngày sau, Hồ Chí Minh trao cho Sainteny một bức thông điệp gửi Brum với các “gợi ý cụ thể” về cách giải quyết xung đột. Sainteny đánh điện gởi bức thông điệp ấy vào Sài Gòn để chuyển tiếp tới Paris. Khi bức điện vào đến Sài Gòn, tướng Vallue Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương viết thêm bình luận của mình, cảnh báo rằng sẽ nguy hiểm nếu trì hoãn các hành động quân sự cho đến năm sau. 

PHÁP RA TỐI HẬU THƯ. Ngày 16/12/46, Cao uỷ Đông Dương D'Argenlie lệnh cho tướng Morlière phá các chướng ngại vật mà Việt Minh đã dựng trong thành phố. Ngày 17/2/46, quân Pháp với xe tăng yểm trợ vào các đường phố Hà Nội phá các công sự mà Việt Minh dựng trong những ngày trước đó, gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún, rồi dàn quân ra chốt giữ từ cổng thành Hà Nội đến tận cầu Long Biên và bao vây gây sức ép đồn Công an quận 2 của Hà Nội. Hôm sau, Pháp ra tối hậu thư đòi chấm dứt việc dựng chướng ngại vật trên phố. Tiếp đó là tối hậu thư đòi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp duy trì an ninh trong thành phố.

Ngày 18/12/46, Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số cơ quan trọng yếu lánh vào Tỉnh lỵ Hà Đông, và các vùng phụ cận Chùa Trầm. Sáng 19/12/46, Hồ Chí Minh viết một bức thư ngắn, cử cố vấn ngoại giao Hoàng Minh Giám tới gặp Saintrny để đàm phán "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại". Sainteny từ chối gặp Hoàng Minh Giám.

BÙNG NỔ CHIẾN TRANH. Chiều hôm đó (19/12/46), Hồ Chủ tịch triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Ðảng mở rộng tại làng Vạn Phúc, Hà Nội, Hội nghị duyệt lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do Hồ Chủ tịch viết, và thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo. Thời điểm bắt đầu nổ súng được quyết định là 8 giờ tối ngày 19/12/1946. Đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, tại Hà Nội, công nhân nhà máy Điện Yên Phụ phá máy, 20 giờ 3 phút, đèn điện trong thành phố vụt tắt, ít phút sau, pháo binh Việt Nam từ pháo đài Láng bắn dồn dập vào Thành phố. Sau đó, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát trên Đài tiến nói Việt Nam, với lời thề quyết tử: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!". 

Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Hà Nội, Nam Định, đường số 5, Vinh, Huế, Đà Nẵng... bao vây kìm chân và tiêu diệt quân Pháp, tạo thời gian cần thiết để quân chủ lực và các cơ quan, công xưởng trọng yếu di chuyển về vùng nông thôn hoặc rút lên vùng chiến khu. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại Hà Nội. Tại đây, quân Pháp phải chiến đấu giành giật từng con phố và phải chịu thương vong lớn, khoảng 100 lính Pháp được coi là bị giết, 45 công dân châu Âu thiệt mạng, 200 người mất tích. Sau 57 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng thành phố trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn và chênh lệch về vũ khí, đến đêm 17/2/1947, Tự vệ chiến đấu và Trung đoàn Thủ Đô (thành lập ngày 6 tháng 1 năm 1947) rút khỏi nội thành, Hà Nội hoàn toàn do Pháp kiểm soát. 

TIÊU THỔ KHÁNG CHIẾN, PHÁ HOẠI ĐỂ KHÁNG CHIẾN. Ngày 16/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, phá hoại để kháng chiến… “một nhát cuốc cuả đồng bào, cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy”. Tại Bắc Bộ: chỉ riêng các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, dân các tỉnh đã phá hàng chục km đường tại các QL1, 2, 3, 5, 6,11. Cầu Việt Trì và cầu Phủ Lạng Thương bị phá sập. Toàn bộ nền và đường sắt tuyến Hà Nội - Mục Nam Quan, Yên Viên - Lào Cai cũng bị bóc dỡ.  Tại Trung Bộ, đã phá trên 10.700 km đường ô tô, 30 nghìn thước cầu các loại, trong đó có cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), cầu Yên Xuân, cầu Cấm ( Nghệ An)… và gần như toàn bộ tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh; Huế - Quảng Nam đều bị phá. Tại Nam Bộ, các tuyến đường chính như QL1A Sài Gòn - Phan Thiết, Sài Gòn - Buôn Ma Thuột, Sài Gòn - Cà Mau, Biên Hòa - Long Thành, Xuân Lộc - Bà Rịa cũng bị phá.

Vài ghi nhận về kỹ thuật phá đường. Trong khi ta chỉ có cuốc, xẻng thì Pháp lại có máy móc hiện đại. Đoạn đường Văn Điển – Hà Đông, quân và dân Việt Nam mất 1.400 công mới dựng xong được hàng rào cánh sẻ bằng thanh Ray và Tà vẹt, nhưng quân Pháp chỉ cần dùng xe Ủi húc trong vài giờ lại thông đường. Đoạn Ngả tư Sở - Văn Điển, hàng nghìn công nhân ngã cây chắn đường, thì quân Pháp chỉ cần 2 tiểu đội Công binh với mìn và máy cắt cây, xe ủi thì vài ba ngày đoạn đường lại bình thường. Trên nhiều đoạn đường nhân dân Việt Nam mất hàng ngàn ngày công đào hố, quân Pháp chỉ cần dùng mìn bạt hai đầu hố là xe lại di chuyển qua lại bình thường. (Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp)

Tại Thái Nguyên: “Tôi có được đi qua Thái Nguyên ba lần: Lần đầu tiên vào hồi Pháp thuộc với nhà cửa đồ sộ của nó. Dân chúng chắc ít người có thể tưởng đến ngày chiến tranh. Lần thứ hai tôi đến nhằm hôm trời nắng: Một đám người đương hì hụi phá nhà; Một tràng tiếng hoan hô giữa những tiếng cười, ai ai cũng sung sướng triệt để phá hoại. Một câu nói của một đồng chí làm tôi nhớ mãi: “Các anh em ơi! Cố lên, ngoài mặt trận các đồng chí đương hy sinh giết giặc, ở hậu phương ta cũng phải cố sức. Mỗi người một công việc. Ta nhất định sẽ thắng”. Lần thứ ba tôi đến sau tết độc lập 1947: đâu đâu cũng là đống gạch, không còn thấy một nhà gác nào nữa. (Trích cảm tưởng của Bác sỹ quân y Nguyễn Ngọc Huy. Tác giả Tố Hương sưu tầm). 

Đến giữa năm 1947, ở Thái Nguyên công tác phá hoại căn bản hoàn thành. Khung cảnh lúc đó và những gì đã diễn ra trên mảnh đất Thái Nguyên khiến cho một vị thuyết khách phương Tây là ông Paul Mus cũng phải bất ngờ. Cuộc gặp gỡ vào khoảng 22h ngày 11/5/1947 giữa Paul Mus (Pôn Muýt) và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn ra không được như mong đợi… Sau này, Pôn Muýt đã không ngại ngần bày tỏ sự khâm phục của mình: “Tôi vừa sửng sốt, vừa khâm phục… Những người dân đã tự tay phá sập nhà mình. Khó có sức mạnh nào khuất phục nổi một dân tộc có tinh thần hy sinh như vậy” (Tố Hương sưu tầm).

Tại Thị xã Vinh, Sau khi lệnh “tiêu thổ kháng chiến” được đưa ra. Chỉ trong một thời gian ngắn, thị xã Vinh với nhiều công trình kiên cố được xây dựng từ sau năm 1989 như Nhà máy xe lửa Trường Thi, nhà máy điện, xí nghiệp sửa chữa ô tô, các cửa hiệu đã bị san phẳng… Nhắc lại ngày đó, bà Tôn Nữ Thị Cúc chậm rãi kể: “…những ngày được ngồi sau xe của bố, một thầy giáo dạy ở Trường Cao Xuân Dục chở đi khắp thị xã để xem phố phường, thích nhất là mỗi lần được ra rạp Majestic để xem chiếu bóng. Gia đình tôi thời bấy giờ được xem là gia đình có của ăn của để, trong đó nổi bật nhất là chuỗi khách sạn Vinh delagare và một cơ ngơi hàng nghìn mét vuông gồm biệt thự và dãy nhà gỗ năm gian ở khu vực nhà A3, Quang Trung hiện nay… Tài sản một đời tích góp đó, chỉ trong một ngày rưỡi đã bị xóa sạch. Cả nhà tôi hơn mười người kéo nhau lên vùng Hưng Thắng (Hưng Nguyên) thực hiện lệnh di tản”.  

Gia đình chủ xưởng ô tô Minh Tâm sau cách mạng Tháng 8, vừa xây xong ngôi nhà ba tầng khang trang, chưa kịp khánh thành thì lệnh tiêu thổ kháng chiến đưa ra, cả khu phố nhà giàu nổi tiếng đã bị xóa sạch cùng với các cửa hiệu buôn bán lớn như Ký Hai, Hàn Phượng, Bảo Nguyên, Vĩnh Hưng Tường… Cùng với tiêu thổ, quân dân thị xã Vinh cũng phá hoại các tuyến đường giao thông, hàng nghìn mét đường sắt, hàng chục phương tiện ô tô, đầu máy xe lửa cũng bị dỡ bỏ, ném xuống sông để ngăn cản tàu thuyền của địch hoạt động. Trong thị xã một loạt hầm hào giao thông cũng được đào ngang xẻ dọc, các chiến lũy được dựng lên, chỉ một đoạn ngắn từ Thị xã Vinh đến Bến Thủy đã được đắp thành 31 ụ lớn… Qua 5 tháng thực hiện tiêu thổ kháng chiến, công nhân Vinh – Bến Thủy đã đóng góp được 45.7000 ngày công, phá dỡ được 1.335 ngôi nhà, trong đó có 31 nhà cao tầng, 300 toa xe lửa và 12 đầu máy … (Mỹ Hà).

Tại Phú Yên: Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân dân Bình Kiến coi đó là lời thề và mệnh lệnh hành động trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù, đã tiến hành tiêu thổ kháng chiến. Đêm đêm, Bình Kiến cử hàng trăm người mang xẻng, cuốc, xà beng, búa tạ phá quốc lộ 1, phá các cầu giao thông trong xã, đào hào sâu, hào chữ Z, chữ L dọc ngang, băm nát mặt đường, đổ các ụ đất, làm chướng ngại vật. Đường sắt đi ngang qua địa bàn xã cũng được tổ chức phá dỡ để triệt giao thông đường sắt, vừa có thêm nguyên liệu làm công sự chiến đấu, rèn đúc chế tạo vũ khí.

Hàng trăm thanh niên cùng hội viên các đoàn thể cứu quốc tham gia đập phá các nhà kiên cố trong Thị Xã Tuy Hòa như Bungalô, nhà ga xe lửa, Sở liên nông, đồn Ông Một, Nhà thương… nhà Sáu Cò, nhà Nguyễn Tài Sý,… nhà Dũ Khương, Dũ Ký, Ngũ Nghĩa. Để chống địch nhảy dù, quân dân toàn xã huy động hàng vạn cây tre, vót nhọn đầu làm cọc dài từ 1,5-2m cắm tua tủa trên khắp các đồi trọc, các cánh đồng khô, đất vườn ở Thượng Phú, Phú Vang, rừng cát Ninh Tịnh, mỏm núi Chóp Chài, sân bay Chóp Chài… (Thứ Sáu, 09/11/2018 09:32 SA Thành Nam).

ĐỀ NGHỊ NGƯNG BẮN, ĐIỀU ĐÌNHNgày 21/3/47, Tại Ba-lê, Đặc phái viên Trần Ngọc Danh, nhân danh Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đề nghị ngưng bắn và điều đình. Ngày 1/4/47, Nghị sĩ Emile Bollaert đến Sài Gòn nhân chức Cao Ủy Đông Dương thay D’ Argenlieu. Ngày 19/4/47, Bộ trưởng Hoàng Minh Giám, ngỏ ý sẵn sàng điều đình.Ngày 23/4/47, qua Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám, Hồ Chí Minh lại gửi thông điệp tới Bollaert Cao uỷ Đông Dương đề nghị ngừng bắn lập tức, và đàm phán. Về phần mình, Hồ Chí Minh đã lặp đi lặp lại để Pháp ngưng chiến và công nhận nền độc lập của Việt Nam, thậm chí đề xuất "Khi Pháp công nhận sự độc lập và thống nhất của Việt Nam, chúng tôi sẽ lui về làng của chúng tôi, vì chúng tôi không tham vọng quyền lực, danh dự". 

Ngày 9/5/47, tự tin vào ưu thế quân sự, Cao uỷ Bollaert cử giáo sư Paul Mus đến Cầu Đuống gặp Bộ trưởng Hoàng Minh Giám, không đưa lại một kết quả nào…. Ngày 11/5/1947 (khoảng 22 giờ), sứ giả Paul Mus lại đến chiến khuViệt Bắc gặp Hồ Chí Minh để truyền đạt nội dung thông điệp trên, cũng đã bị Hồ Chủ tịch thẳng thừng từ chối các yêu cầu này. Ngày 17/6/47, Hồ Chí Minh lại kêu gọi dân chúng kiên quyết trường kỳ kháng chiến.. Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch. Vũ khí thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN KHÁC. Ngày 9/11/46, tại Sài gòn, Thủ tướng Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ, Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh treo cổ tự tử bằng dây điện. Ngày 15/11/46, Bác sĩ Lê Văn Hoạch được cử lên thay. Ngày 2/1/1947, Marius Moutet ra Hà Nội xem xét tình hình. Ngày 23/1/1947, Có nhiều truyền đơn của Việt Quốc và Việt Cách đả kích Hồ Chí Minh, và ủng hộ Vĩnh Thụy. Ngày 7/2/47, Quân Pháp chiếm đóng thành phố Huế. Ngày 11/3/47, chiếm đóng thành phố Nam Định. Ngày 12/4/47, tại Huế “Ủy ban Chấp chánh Lâm thời” được thành lập để quản trị các vùng do Pháp chiếm đóng, cầm đầu bởi Trần Văn Lý. Ngày 24/3/47, Khai mạc Quốc hội Lập hiến Lào. Ngày 15/4/47, quân Pháp chiếm đóng Hòa Bình. Ngày 17/4/47, chiếm đóng Chợ Bờ. Ngày 6/5/47, Cao Mên có Hiến Pháp mới, Hiến pháp chỉ rỏ Mên theo chế Quân chủ Lập hiến có Quốc vương và hai Nghị viện. 

Ngày 7/5/47, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp là Coste Floret tuyên bố: quân Pháp đã làm chủ các thành phố, và kiểm soát các đường giao thông lớn. Tổng số quân của Liên hiệp Pháp ở Đông Dương là 115.000 quân. Ngày 11/5/47, Lào có Hiến Pháp mới, Hiến pháp chỉ rỏ Lào theo chế Quân chủ Lập hiến, có Quốc vương, Quốc hội dân cử, và Hội đồng Hoàng gia. Ngày 15/5/47, Bollaert đọc diễn văn ca ngợi Liên hiệp Pháp, lợi ích của sự hợp tác giữa chính quốc và các thuộc địa, bác bỏ “ý niệm độc lập hoàn toàn”, rằng độc lập có lợi phải là độc lập trong “tương trợ liên đới”. Ngày 19/5/47, Pháp cho thành lập tại Hà Nội một “Ủy ban Hành chánh và Xã hội Lâm thời” thường gọi là Hội Đồng An Dân, do Bác sĩ Trương đình Tri (Bộ trưởng Y tế trong Chính phủ Hồ Chí Minh) cầm đầu.

Ngày 24/5/47, Pháp thành lập một Đoàn Vệ binh Bắc Phần. Ngày 25/5/47, quân Pháp chiếm đóng Quảng Trị. Ngày 25/6/47, quân Pháp chiếm đóng Quảng Bình và Quảng NamNgày 4/7/47, không thể hợp tác với Mao Trạch Đông sau nhiều lần điều đình, chính phủ Tưởng Giới Thạch, ra lệnh tiểu trừ Cộng sản trên toàn quốc. Ngày 6/7/47, nhiều giới cả Việt lẫn Pháp, nêu vấn đề “Pháp nên nghĩ tới việc điều đình với Cựu hoàng Bảo Đại” hơn là điều đình với Hồ Chí Minh. Ngày 19/7/47, một số báo ở Sài gòn đăng nhiều bài ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại. 

 

Bài 164: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP QUỐC DÂN CẢI TỔ CỦA HỒ CHÍ MINH: 20/7/1947-1950

Ngày 20/7/47, tại Chiến khu Việt Bắc, để đáp ứng với tình hình mới, các cơ quan Trung ương và Chính phủ phải chia thành những bộ phận nhỏ, thường xuyên di chuyển để bảo toàn lực lượng, Hồ Chí Minh quyết định Cải tổ Chính phủ mang tên mới là “Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Cải tổ” có 2 thành viên mới là Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Quốc phòng thay Võ Nguyên Giáp, và Hoàng Minh Giám làm Bộ trưởng Ngoại giao (chức vụ mới). Thành viên Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Cải tổ: Cộng sản 4 ghế: Hồ Chí Minh (Chủ tịch), Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Tạo, Lê Văn Hiến; 2 ghế Dân chủ: Vũ Đình Hoè, Trần Đăng Khoa; 2 ghế Xã hội: Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên; 5 không đảng: Huỳnh Thúc Kháng (Bộ trưởng Nội vụ), Hoàng Tích Trí, Ngô Tấn Nhơn, Nguyễn Văn Tố, Đăng Văn Hướng (bị Việt Minh giết trong CCRĐ); 1 Việt Cách: Bồ Xuân Luật; 1 Việt Quốc: Chu Bá Phượng. Cộng 16 thành viên. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Ngày 2/9/47, tại An toàn khu, Hồ Chí Minh có thư cho đồng bào các tỉnh Việt Bắc, trong đó có đoạn:“Tôi không bao giờ quên được, trong những ngày gian nan cực khổ, đồng bào trong tỉnh ta, các cụ già, các chị em phụ nữ, anh em nông dân, các em thanh niên, các cháu nhi đồng ai cũng hăng hái giúp đỡ… Đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mán, đồng bào Mèo, cho đến anh em Hoa kiều, người thì giúp chúng tôi ăn, kẻ thì cho chúng tôi áo. Có những đồng bào nhịn ăn nhịn mặc, bán trâu bán ruộng để giúp chúng tôi làm cách mệnh”. Ngày 7/10/47, Pháp quyết định tiến công lên Việt Bắc  để sớm kết thúc chiến tranh. Pháp điều động 15 tiểu đoàn chia ra nhiều cánh hôm nay chiếm đóng Tông, và Sơn Tây, bắt được Nguyễn Văn Tố, Quốc vụ khanh Chính phủ, Uỷ viên thường vụ Quốc hội. 

Ngày 12/10/47, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi dân chúng kháng chiến toàn diện, triệt để áp dụng “chiến thuật tiêu thổ, vườn không nhà trống”. Ngày 13/10/47, quân Pháp chiếm đóng Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng phụ cận. Ngày 20/10/47, quân Pháp chiếm đóng Yên Báy. Ngày 21/10/47, chiếm đóng Chapa. Ngày 30/10/47, chiếm đóng Lao Kay. Quân Pháp tiến nhanh, nhưng không định vị, tiêu diệt được các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ, chỉ cắt đường số 4 và kiểm soát biên giới Việt Trung, cô lập An Toàn Khu Việt Bắc với thế giới bên ngoài. Đến lúc này thì Bộ máy chínhquyền có nhiều thay đổi, lập thêm đơn vị hành chính Khu và Liên khu, lập ra Ủy ban Kháng chiến ở các cấp. Về quân sự, tại cấp Trung ương, thành lập Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia, sau đổi là Bộ Tổng Tư lênh, rồi Bộ Quốc Phòng Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. 

Các đội du kích được thành lập khắp các vùng bị chiếm để quấy rối, cầm chân một phần lớn quân chủ lực Pháp tại đng bằng Bắc BộTại các chiến khu, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà củng cố căn cứ, tổ chức tự sản xuất lương thực và vũ khí để có thể kháng chiến lâu dài.Hoạt động du kích tại một số nơi ở đồng bằng gây khó khăn lớn cho Pháp. Có những hội tề tức chính quyền tại các làng xã do Pháp lập ra, nhưng lại hành động theo lệnh Việt Minh. Các vùng đồng bằng màu mỡ đông dân vẫn là nguồn cung cấp nhân lực, hàng hóa và lương thực lớn nhất cho Việt Minh. Dân chúng gánh thóc gạo từ vùng Pháp chiếm đóng đi đóng thuế cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tại miền Trung Việt Nam, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát từ Hội An đến Mũi Đại Lãnh, gần như ngăn đôi đất nước. 

Ở miền Nam, quân Pháp ở tình thế tốt hơn do lực lượng chính trị và quân sự ở đây ở xa và liên lạc rất khó khăn với chủ lực ở miền Bắc. Lực lượng của tướng Nguyễn Bình bị đẩy về các chiến khu trong vùng ngập mặn và rừng núi, họ còn gặp sự chống đối của các giáo phái người Việt như Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên. Trong năm 1947, sau những xung đột quân sự với Việt Minh và nhất là sau khi giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ mất tích, Hòa Hảo cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ, cả hai giáo phái Cao Đài, và Hoà Hảo đều chấm dứt hợp tác với Việt Minh để hợp tác với Pháp chống Việt Minh. Năm 1948, một phần lực lượng Bình Xuyên cũng ra hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN KHÁCNgày 29/7/47, giáo sư Paul Mus, người đến Thái Nguyên gặp Hồ Chí Minh từ Đông Dương về đến Pháp tuyên bố với báo chí “tình hình không khả quan” du kích chiến lan tràn khắp nơi, không thể bàn tới chuyện điều đình, vì “Việt Minh và Pháp không tin tưởng được nhau”. Ngày 12/8/47, biểu tình lớn ở Huế ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 18/8/47, nhiều đoàn thể chính trị nhóm họp và gởi Điện sang Hồng Kông yêu cầu Cựu Hoàng về nước, và đứng ra điều đình với Pháp. Ngày 1/9/47, biểu tình lớn ở Hà Nội ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 5/9/47, Sau một thời gian im lặng khá lâu, Cựu hoàng Bảo Đại tuyên bố với báo chí ở Hồng Kông “sẵn lòng tiếp kiến đại diện dân chúng được cử sang tiếp xúc”. 

Ngày 9/9/47, đại diện các đảng phái và đoàn thể sang Hồng Kông gặp Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 10/9/47, Bollaert đọc diễn văn ở Hà Đông tuyên bố Pháp ưng thuận về nguyên tắc cho Việt Nam độc lập. Song, lại nhấn mạnh chữ độc lập tối nghĩa nên nói đến tự do thì hơn tự do trong Liên hiệp Pháp. Bollaert không đả động gì tới sự thống nhất Bắc, Trung, và Nam Kỳ”. Ngày 14/9/47, biểu tình lớn ở Sài gòn ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 18/9/47, Cựu hoàng Bảo Đại tuyên bố với quốc dân “đã từ ngôi báu vì hạnh phúc của dân, nay nếu dân lại muốn vời ra giúp để điều đình với Pháp, thì cũng sẵn lòng “đòi hỏi độc lập và thống nhất” cho hợp với nguyện vọng chung.  Ngày 29/9/47, thủ tướng Chính phủ Nam Kỳ Tự trị Lê Văn Hoạch từ chức...

Ngày 1/10/47, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân được Hội đồng Nam Kỳ bầu làm Thủ tướng kế nhiệm. Không lâu sauChính phủ Nam Kỳ Tự trị đổi tên mới thành “Chính phủ Nam Phần”. Lúc nầy ở Trung Phần thì Pháp đã lập “Ủy Ban Chấp Chánh Lâm Thời” tại Huế, và ở Bắc Phần thì có “Ủy Ban Hành chánh và Xã hôi Lâm thời” gọi là Hội Đồng An Dân tại Hà Nội. Ngày 18/11/47, Báo Le Monde đăng bài của André Blanchet đề nghị nên trả lại nhiều quyền cho một Việt Nam do Cựu hoàng Bảo Đại lãnh đạo. Ngày 6/12/47, Cựu hoàng Bảo Đại gặp Bollaert tại Vịnh Hạ Long 2 ngày. Ngày 12/12/47, Bollaert về Pháp tường trình kết quả đàm phán với Cựu hoàng Bảo Đại. 

 

CHÍNH QUYỀN BỐN

Bài 165: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ TỰ TRỊ NAM KỲ, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN THINH 1946.

Chính quyền Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ, là chính quyền do Pháp lập ra trong quá trình tái lập Liên bang Đông Dương,để quản lý lãnh thổ Nam Kỳ, vốn là thuộc đia Pháp từ năm 1867. Chính quyền Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ tồn tại từ ngày 1 tháng 6 năm 1946 đến ngày 25 tháng 7 năm 1948, trải qua ba vị Thủ tướng: Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh; Bác sĩ Lê Văn Hoạch; Và, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân.

 ĐẶC ĐIỂM VỀ NAM KỲ. Nam Kỳ là vùng đất mới được khai hoang có những đặc điểm lịch sử, xã hội, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hoá, tâm lý, phong tục, tập quán có phần khác với Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ là thuộc địa do người Pháp trực tiếp cai trị với một hệ thống luật pháp khác hệ thống được áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tại Nam Kỳ không tồn tại bộ máy hành chính của Triều đình Huế như ở Bắc và Trung Kỳ. Nam Kỳ hình thành một tầng lớp đại địa chủ người Việt giàu lên nhờ chính sách khai hoang của chính quyền thuộc địa. Thương mại tại Nam Kỳ khá phát triển. Mức sống tại Nam Kỳ cao hơn các miền khác. Nam Kỳ có một tầng lớp trí thức Tây học, nhiều người trong số này từng du học tại Pháp hoặc có quốc tịch Pháp. 

Nam Kỳ là vùng đất mới, những người lưu dân đến cư ngụ không còn giữ được những truyền thống xưa cũ một cách chặt chẽ, họ lại là người tứ chiếng (Việt trà trộn với Miên và Tàu)Đó là cơ sở của chánh sách đồng hóa và thuộc địa được Pháp áp dụng ở Nam Kỳ". Tất cả tạo nên một tâm lý phổ biến trong dân cư Nam Kỳ coi các vùng miền khác là những xứ sở xa lạ. Trước năm 1945, ở Nam Kỳ đã có những cá nhân và tổ chức vận động, tuyên truyền đòi người Pháp mở rộng quyền tự trị cho người Việt như Đảng Lập hiến Đông Dương. Các cuộc vận động này do tầng lớp trung lưu và thượng lưu chủ xướng. Sau năm 1945, ý tưởng chính trị này vẫn còn tồn tại. Ngày 15 tháng 8 năm 1945 thì lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống do Quân đội Anh dưới quyền chỉ huy của tướng Douglas Gracey nhân danh lực lượng Khối Đồng Minh vào tiếp quản. 

QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH. Ngày 15/8/45, Tướng Leclere de Hautecloque được De Gaulle cử làm Tư lệnh Lục quân Pháp tại Đông Dương. Ngày 22/8/45, De Gaulles cử Đại tá Cédille làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Bộ. Ngày 24/8/45, Sainteny, đặc phái viên của De Gaulles từ Trùng Khánh tới Hà Nội. Ngày 23/9/1945, Các toán quân Pháp tái võ trang đánh chiếm trụ sở Uỷ ban Hành Chánh Nam Bộ, và nhiều công sở khác ở Sài Gòn. Ngày 11/10/45, Ngoại trưởng Anh, Bevin tuyên bố “thừa nhận chủ quyền của Pháp tại Đông Dương”. Ngày 31/10/45, De Gaulle cử Đô đốc Thiery D’Argenlieu làm Cao uỷ Đông Dương tới Sài Gòn cùng với đoàn tùy tùng Phủ Cao Ủy, nhân viên Văn phòng và 10 Chuyên viên cố vấn. Ngày 28/1/46, Tướng Anh, Douglas Gracey, chuyễn giao quyền hành cho Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, và rời khỏi Sài Gòn. 

Ngày 4/2/1946, Cao uỷ Thiery D’Argenlieucho thành lập Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ (TVNK) do Ủy viên Cộng hòa(UVCH) Pháp chủ toạ gồm 13 Hội viên: 4 Pháp, 9 Việt. Tháng 3/46, Hội đồng TVNK kiến nghị lên D'Argenlieu, Cao uỷ Đông Dương xin lập một xứ Nam Kỳ Tự trị.  Đại tá Cédille UVCH Nam Kỳ tán thành kiến nghị nầy, và hậu thuẫn các đảng phái thân Pháp như đảng Nam Kỳ  của Béziat vận động công chúng. Những nhóm khác như Đông Dương Tự trị đảng, và Việt Nam Tân dân đảng cũng ngả theo lập trường "Nam Kỳ tự trị". Cùng lúc đó, thì Đảng Tân Dân chủ của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, thành viên Hội đồng Tư vấn (TVNK) lại đang cố gắng tìm chỗ đứng riêng để thu hút các lực lượng không Việt Minh. Ngày 26/3/46, Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được Hội đồng Tư vấn (HĐTV) cử ra lập Chính phủ nước Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ.

Ngày 29/3 và ngày 4/4, hai thành viên Hội dồng Tư vấn Nam Kỳ là Bác sĩ Trần Tấn Phát và Chính khách Nguyễn Văn Thạch bị Ban Công tác Thành bộ Việt minh hạ sát. Ngày 20/4/46, tại Hóc Môn các tổ chức Hòa Hảo, Cao Đài, Bình Xuyên, Quốc Dân đảng thành lập Mặt trận Quốc gia Liên hiệp chống Pháp do Huỳnh Phú Sổ làm Chủ tịch, và theo ông Nguyễn Kỳ Nam, Mặt trận chủ trương chấp nhận cho bác sĩ Nguyễn Văn Thinh thành lập chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ, vì "theo công pháp quốc tế, Nam Kỳ là lãnh thổ của Pháp, nước Pháp vẫn còn ở duyên hải Thái Bình Dương. Tiền đồ tổ quốc sẽ bị xô vào hai ngả hoặc bị đô hộ lại bởi thực dân, hoặc bị đô hộ bởi cộng sản quốc tế. Hai viễn tượng đều tai hại cho giống nòi, nếu không có một Chính phủ ở Nam Kỳ”

THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ. Ngày 7/5/46, Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ chấp nhận thành phần Chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Ngày 1/6/46, Chính phủ nước Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ ra trình diện trước Nhà thờ Đức Bà. Thành viên Nội các: Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội vụBác sĩ Nguyễn Văn ThinhPhó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quân đội, Đại tá Nguyễn Văn XuânBộ trưởng Tư phápTrần Văn TỷBộ trưởng Công chánhLương Văn MỹBộ trưởng Y Tế, Bác sĩ Khương Hữu Long; Bộ trưởng Tài chánh, Nguyễn Thành Lập; Bộ trưởng Công NôngUng Bảo ToànBộ trưởng Giáo dục, Tiến sĩNguyễn Thành Giung; Bộ trưởng An ninh, Đốc phủ sứ, Nguyễn Văn Tâm; Thứ trưởng Công an Đô thành Sài Gòn-Chợ Lớn, Nguyễn Tấn CườngCố vấn, Đốc phủ sứ Hồ Biểu Chánh.

SỰ KIỆN LIÊN QUANNgày 9/10/1945, quân Pháp chiếm đóng Tây Ninh; Ngày 25/10/45, chiếm đóng Mỹ Tho; Ngày 28/10/45, chiếm đóng Gò Công. Ngày 29/10/45,  chiếm đóng Vĩnh Long. Ngày 30/10/45, chiếm đóng Cần Thơ. Ngày 11/11/45, chiếm đóng Lộc Ninh, Bù Đốp, Hớn Quản. Ngày 16/11/45, tại Sài Gòn, xuất hiện một Phong trào chia rẽ Bắc-Nam, và một đảng Nam Kỳ được thành lập nhằm tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam. Ngày 9/1/46, quân Pháp chiếm đóng Long Xuyên và Sa Đéc. Ngày 20/1/46, chiếm đóng Châu Đốc và Hà Tiên. Ngày 26/1/46, chiếm đóng Rạch Giá. Ngày 7/1/46, Mên-Pháp ký kết Hiệp định tạm thời, Pháp thừa nhận Mên là “Quốc gia Tự Trị” trong Liên Hiệp Pháp.Ngày 5/2/46, quân Pháp đã chiếm đóng xong các tỉnh lỵ Cao Nguyên, miền Trung, và miền Nam, từ Vỹ tuyến 16 trở vào. 

Ngày 1/6/46, Cao uỷ D’ Argenlieu tuyên bố, Chính phủ nước Cộng hòa Nam Kỳ là một Quốc gia tự trị được Pháp thừa nhận. Song việc bổ nhiệm Công chức Cao cấp phải được thỏa hiệp với Ủy viên Cộng hòa Pháp. Thành phần Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ tăng lên thành 42 Hội viên: 28 Việt, 14 Pháp. Ngày 21/6/46, quân Pháp chiếm đóng Pleiku, và Kontum. Ngày 8/7/46, chiếm đóng Lạng Sơn. Ngày 17/7/46, chiếm đóng Đồng Đăng. Ngày 23/7/46, Cao uỷ D’ Argenlieu triệu tập một Hội nghị Liên bang Đông Dương gồm các đại biểu Việt Nam, Nam Kỳ Quốc, Tây Kỳ, Lào, và Cao MênVà, ngày 1/8/46, Hội nghị khai mạc tại Đà Lạt. Ngày 17/8/46, Tướng Morlière đưc cử làm Ủy viên Cộng hòa tại Bắc Bộ. 

TỰ SÁT. Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ, đã thành lập, nhưng chính phủ Pháp, nhất là Cao uỷ D'Argenlieu chưa chịu trao quyền Tự trị cho Chính phủ, không cung cấp phương tiện. Bản thân chính phủ không có tài chánh, không có quân đội, không có cả trụ sở làm việc. Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh phải lấy phòng mạch bác sĩ của ông làm nơi làm việc của chính phủ. Ngày 10 tháng 11 năm 1946, cảm thấy mình bị người Pháp lợi dụng, người Pháp không thật lòng, Thủ tướng Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tự tử bằng cách thắt cổ, trên bàn viết gần đó có quyển sách thuốc còn mở ra ở trang nói về "Thắt cổ” (Pendaison)./.

 

Bài 166: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ TỰ TRỊ NAM KỲ, CHÍNH PHỦ LÊ VĂN HOẠCH, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN XUÂN: 1946-1948.

CHÍNH PHỦ LÊ VĂN HOẠCH: 1946-1947. Sau khi Thủ tướng Nguyễn văn Thinh tự sát, ngày 15/11/46, Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ nhóm họp, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Béziat để bầu người kế nhiệm. Hội đồng chọn được 34 người, rồi 34 người này bầu ra vị tân thủ tướng. Bác sĩ Lê Văn Hoạch đắc cử Thủ tướng với đa số phiếu gần như tuyệt đối. THÀNHVIÊN CHÍNH PHỦ. Thủ tướngBác sĩ Lê Văn Hoach; Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ, Bác sĩ Trần Văn Mỹ; Tổng trưởng Tư phápHuỳnh Văn Chính; Tổng trưởng Tài chánhTrần Văn Hữu; Tổng trưởng Quốc phòng, Nguyễn Văn TâmBộ trưởng Công NôngLê Văn Định; Tổng trưởng Thương mại Kỹ nghệ, Trần Quang Nhứt; Tổng trưởng Thông tin, Nguyễn Phú Khai; Tổng trưởng Y Tế, Bác sĩ Phạm Văn Tiếng; Tổng trưởng Giáo dục, Trương Vĩnh Khanh; Tổng Tổng trưởng Giao thông Công chánh, Lương Văn TỷTng trưởng Xã hội Lao độngVõ Đống Phát; Thứ trưởng Xã hội Lao động, Trần Văn Kiệt; Thứ trưởng Dinh thủ tướngDiệp Quang Đồng.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. Đến ngày 5/2/47, quân Pháp đã chiếm đóng hết các tỉnh lỵ Cao Nguyên, miền Trung, và miền Nam, từ Vỹ tuyến 16 trở vào. Ngày 7/2/47, Quân Pháp chiếm đóng và kiểm soát thành phố Huế. Ngày 17/2/47, Tự vệ chiến đấu của Việt Minh rút khỏi Hà Nội, quân Pháp hoàn toàn kiểm soát thủ đô Hà Nội. Ngày 1/4/47, Nghị sĩ Emile Bollaert thuộc đảng Xã hội Pháp được cử làm Cao Ủy Đông Dương thay D’ Argenlieu. Lúc nầy thì lực lượng vũ trang chống Pháp, ngoài Bình Xuyên, các Giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo đã dần tách ra khỏi Mặt trận Việt Minh. 

Một thoả thuận đạt được giữa Pháp-Thủ lãnh Cao Đài Phạm Công Tắc, theo đó, Pháp trả tự do cho Hộ pháp Phạm Công Tắc rời khỏi nơi lưu đày Madagascar, Phi châu trở về Việt Nam; Pháp sẽ trang bị, huấn luyện nâng lực lượng vũ trang Cao Đài thành một Quân đội Cao Đài độc lập; Lãnh thổ do Toà thánh Tây Ninh kiểm soát có quyền tự trị. Đổi lại, Quân đội Cao Đài được xem như một lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh. Hộ pháp Phạm Công Tắc bổ nhiệm Trần Quang Vinh làm Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài với cấp bậc Trung tướng, Tổng hành dinh đặt tại Bến Kéo, Tây Ninh. 

Những người chống Việt Minh trong Giáo phái Hòa Hảo, cũng được người Pháp hỗ trợ tiền bạc, trang bị vũ khí, kiện toàn lực lượng vũ trang Hoà Hảo để đủ sức đối kháng với Việt Minh. Từ tháng 3/1947, nhóm Trần Văn Soái hoàn toàn tách khỏi Việt Minh đã cùng một tiểu đoàn Lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng do Việt Minh kiểm soát ở vùng Tân Châu, Châu Đốc. Cuối tháng 3 đầu tháng 4/1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Đốc, Liên quân Hoà Hảo và Cao Đài liên tục tập kích các vùng Việt Minh kiểm soát, truy bắt cán bộ Việt Minh và cảm tình viên của họ. Mâu thuẫn giữa Việt Minh và hai Giáo phái Hoà Hảo, Cao Đài gia tăng gần khư không thể hàn gắn.

Ngày 16 tháng 4 năm 1947, Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo, thì đột ngột mất tích. Nhiều người nghi Việt Minh đã thủ tiêu Huỳnh Giáo chủ. Người Pháp nhân cơ hội, lôi kéo những người đứng đầu Hoà Hảo hình thành 4 nhóm vũ trang mới, cứ sở tại 4 vùng chống Việt Minh: (1) Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long); (2) Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc); (3) Nhóm Lê Quang Vinh  (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên); (4) Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).

TỪ CHỨC. Cũng như Chính phủ Nguyễn Văn Thinh, chính phủ Lê Văn Hoạch không được Cao uỷ Pháp cung cấp phương tiện, và giao quyền hành. Đến tháng 9 năm 1947 thì Lê Văn Hoạch từ chức. Tướng Nguyễn Văn Xuân được uỷ lập Chính phủ mới, đến tháng 5 năm 1948 thì đổi tên Chính phủ Cộng hoà Tự trị Nam Kỳ thành chính phủ Nam Phần Việt Nam để xác nhận Nam Kỳ là một phần của Việt Nam, chuẩn bị cho "giải pháp Bảo Đại".

CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN XUÂN: 1947-1948. Sau khi thủ tướng Lê Văn Hoạch từ chức, Ngày 1/10/47, Hội đồng Nam Kỳ bầu Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân lên làm Thủ tướng. THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ. Thủ tướng kiêm Nội vụNguyễn Văn XuânPhó Thủ tướng, Trần Văn Hữu; Bộ trưởng Tư pháp, Nguyễn Khắc Vệ; Bộ trưởng Canh nông, Trần Thiện Vàng; Bộ trưởng Thông tin, Trần Văn Ân; Bộ trưởng Thương mại Kỹ nghệ, Phạm Văn Hải; Bộ trưởng Y tế, Phan Văn Tiểng; Bộ trưởng Quốc phòng, Trần Cửu Chấn; Bộ trưởng Tài chánh, Trần Văn Huệ; Bộ trưởng Canh nông, Nguyễn Văn Tỵ; Bộ trưởng Xã hội Lao động, Trần Văn Kiệt; Bộ trưởng Giáo dục, Lê Tấn Nẫm.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. Ngày 19 tháng 12 năm 1947, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân bay sang Hương Cảng yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại xác nhận ý định thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Namvà mời Cựu hoàng ra chấp chánh hầu điều đình cho một giải pháp thứ ba ngoài Pháp và Việt Minh. Ngày 24/12/47 Cựu hoàng Bảo Đại sang Ba lê gặp Đại sứ Massihli. Ngày 7/1/1948, Emile Bollaert hội đàm với Cựu hoàng Bảo Đại tại Genève kéo dài cho tới ngày 12/1/48. Hội đàm sẽ còn tiếp tục thêm nữa tại Vịnh Hạ Long. Ngày 20/10/48, Leson Pignon được cử làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương thay Emile Bollaert. Ngày 29/1/48, Tại Pháp, chính phủ bắt giam Trần Ngọc Danh, trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. 

Ngày 30/1/48, Bollaert tuyên bố tại Sài Gòn “Pháp nhất định không điều đình với Hồ Chí Minh” nữa... Ngày 5/3/48, Cựu hoàng Bảo Đại từ Genève trở về Hồng Kông. Ngày 10/3/48, Hội đồng Chấp chánh Lâm thời Bắc Phần tái lập một số tòa án Việt Nam. Ngày 26/3/48, Cựu hoàng Bảo Đại trả lời các đại diện đảng phái và đoàn thể “ưng thuận về nguyên tắc lập một Chính phủ Lâm thời để điều đình với Pháp”. Ngày 24/4/48, một số nhân vật chính trị, có cả Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu lại sang Hồng Kông gặp Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 15/5/48, Cựu hoàng Bảo Đại gởi thông diệp cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, tán thành việc thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam, do Thiếu tướng Xuân điều khiển, để giải quyết “vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận quốc tế”. 

GIẢI THỂ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ TỰ TRỊ NAM KỲ. Chính phủ Cộng hoà Tự trị Nam Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân tự giải thể để thành lập “Chính quyền Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam”. 

 

CHÍNH QUYỀN NĂM

Bài 167: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN XUÂN: 1948-1949.

Chính quyền Quốc gia Việt Nam là Chính quyền Việt Nam Độc lập thứ ba, sau Chính quyền Đế quốc Việt Nam (11.3.1945), và Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2.9.1945). Nó là kết quả của một quá trình thương thảo lâu dài giữa Chính quyền Pháp, Cao uỷ Đông Dương và Cựu hoàng Bảo Đại gồm: (1) Tuyên bố chung tại Vịnh Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948, giữa Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, ông Bollaert và Thủ tướng Chính phủ Nam Phần Nguyễn Văn Xuân. (2) Hiệp định Việt-Pháp được ký tại điện Elysée ngày 8/3/1949, giữa Tổng thống Cộng hoà Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại, trong đó Tổng thống Pháp tái xác định:“Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ, dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế, không đưa ra bất cứ cản trở nào về việc Nam Kỳ sát nhập vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt)”.

Đến ngày 23/10/1955, chính quyền Quốc gia Việt Nam trải qua 12 chính phủ: (1) Chính phủ Lâm thời Nguyễn Văn Xuân; (2) Chính phủ Quốc trưởng Bảo Đại; (3) Chính phủ Nguyễn Phan Long; (4) Chính phủ Trần Văn Hữu; (5) Chính phủ Trần Văn Hữu Cải tổ; (6) Chính phủ Trần Văn Hữu Cải tổ lần 2; (7) Chính phủ Nguyễn Văn Tâm; (8) Chính phủ Nguyễn Văn Tâm Cải tổ; (9) Chính phủ Nguyễn Phúc Bữu Lộc; (10) Chính phủ Ngô Đình Diệm; (11) Chính phủ Ngô Đình Diệm Cải tổ; Và, (12) Chính phủ Ngô Đình Diệm Cải tổ lần 2.

HỘI NGHỊ ĐẠI DIỆN CÁC PHẦN VÀ ĐẢNG PHÁI. Ngày 20/5/48, Một Hội nghị đại diện các đảng phái và các Phần trong nước, nhóm họp tại Sài Gòn gồm: Hội đồng Thẩm nghị Trung Phần; Hội đồng Chấp chánh Bắc Phần và Trung Phần; Đại biểu các đoàn thể Chính trị, và các Xu hướng Lý tưởng như Đặng Hữu Chí, Hà Xuân Hải, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, Nguyễn Khoa Toàn, Trần Quang Vinh, Hà Xuân Tế, Lê Tấn Nẫm, Trần Thiện Vàng, Nguyễn Khắc Vệ, Đỗ Hữu Thinh, Phạm Văn Hai, Đỗ Quang Giai, Lương Danh Môn, Nguyễn Văn Tuế, Nguyễn Văn Tỵ, Ngô Quốc Côn, Nguyễn Thúc Loan, Phạm Đình Thuyên, Nguyễn Thức, Ngô Khánh Thực, Trương Vĩnh Tống, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Văn Dắn.v.v… Sau khi nghe Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân giải bày, và sau khi nhận bức chiếu thư của Cựu hoàng Bảo Đại “kính cẩn đồng thanh hưởng Thánh ý” và bầu Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam. 

THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ. Chủ tịch Hội đồng Tổng trưởng Quốc phòng, Thiếu tướng Nguyễn Văn XuânPhó Chủ tịch Quốc vụ khanh kiêm Tổng Trấn Nam Phần, Kỹ sư Canh nông Pháp Trần Văn Hữu; Quốc vụ khanh kiêm Tổng Trấn Trung Phần, Dược sỉ Phan Văn Giáo; Quốc vụ khanh kiêm Tổng Trấn Bắc Phần, Kỹ sư Cambridge Anh Nghiêm Xuân ThiệnQuốc vụ khanh, Bác sĩ Pháp Lê Văn Hoạch; Tổng trưởng Nghi lễ Giáo dục, Sư phạm Pháp Nguyễn Khoa ToànTổng trưởng Nội vụ, Cử nhân Tổng đốc Nguyễn Hữu TríTổng trưởng Tư phápTiến sĩ Luật, G. sư Paris Nguyễn Khắc VệTổng trưởng Kinh tế Tài chánh, Nguyễn Trung VinhTổng trưởng Công tác và Kế hoạch, Nguyễn Văn Tỷ;Tổng trưởng Thông tin, Tuyên truyền, Báo chí, Bác sỉ Harvard MỹTổng trưởng Canh nôngTrần Thiện VàngTổng trưởng Y tế, Bác sĩ Đặng Hữu ChíQuốc vụ khanh tùng Bộ Quốc Phòng, Thông phán Pháp Trần Quang VinhThứ trưởng tùng Dinh Chủ tịch, Cử nhân Luật Đinh Xuân QuảngThứ trưởng tùng Bộ Giáo dụcHà Xuân Tế.

QUAN HỆ PHÁP-VIỆTNgày 23/5/48, Cao ủy Pháp ghi nhận sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam. Ngày 5/6/1948, trên chiến hạm Duguay Trouin tại Hạ Long, công bố Tuyên ngôn Pháp-Việt theo đó, Pháp long trọng thừa nhận Việt Nam độc lập và thống nhất, Việt Nam tuyên bố gia nhập Liên hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết. Độc lập của Việt Nam là không giới hạn, ngoại trừ giới hạn trong Liên hiệp Pháp. Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân kêu gọi quốc dân đoàn kết, bày tỏ tinh thần với các quý bạn người Pháp. Ngày 14/6/48, Chính phủ Quốc gia ban hành Sắc lệnh số 5 tổ chức: Mỗi Phần thuộc một Tổng Trấn, có cơ quan Hành chánh, Hội nghị và ngân sách riêng. Tổng Trấn có chân trong Hội đồng Chính phủ. Ngày 15/8/48, Hội đồng Nam Kỳ yêu cầu Quốc hội Pháp chuẩn y Thoả ước Hạ Long. 

Ngày 19/8/48, Quốc hội Pháp thảo luận về thỏa hiệp Vịnh Hạ Long. Nhiều quan điểm khác nhau, một vài đảng không chấp thuận. Ngày 25/8/1948, Bảo Đại báo cho phía Pháp biết ông sẽ không về nước nếu chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ không bị hủy bỏ. Yêu sách nầy, khiến một số Bộ trưởng ở Paris phát biểu: "thật sự hắn đã bắt đầu bất chấp cả chúng ta"rằng Bảo Đại không phải là “một tên bù nhìn, một vua hộp đêm" như mọi người vẫn tưởng…Ngày 20/10/48, Leson Pignon được cử làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Ngày13/2/1949, Cựu hoàng Bảo Đại, Thủ tướng Trần Văn Hữu hội đàm với Cao ủy Đông Dương Leson Pignon, và Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Coste Floret về vấn đề thỏa ước Việt-Pháp. Ngày 1/12/48, các Vùng do quân đội Pháp kiểm soát ở Bắc Phần gồm: các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh lỵ Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng phụ cận.

Ngày 21/2/49, dự thảo Thỏa ước Việt-Pháp được gởi lên Hội đồng Chính phủ Pháp rà soát và bổ sung. Ngày 2/3/49, còn một vấn đề gay go nhất trong cuộc đàm phán là Quy chế Nam Kỳ, Chính phủ dự định lập một Hội nghị Địa phương Nam Kỳ để định đoạt số phận Nam Kỳ, đưa ra Hội nghị Liên Hiệp Pháp xét duyệt. Ngày 8/3/1949, tại điện Elysée, trước sự hiện diện của Tổng thống Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại, một Thỏa ước Việt-Pháp được ký kết, theo đó, Pháp thừa nhận Việt Nam: Có tổ chức hành chánh riêng, tư pháp riêng, tài chánh riêng, quân đội riêng; Có quyền quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á; Pháp sẽ ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc; Việt Nam hứa sẽ tôn trọng quyền lợi kinh tế văn hóa của Pháp; Cho phép Pháp sử dụng các căn cứ quân sự; Cử đại diện vào Hội nghị, và Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp; Nam Kỳ sẽ tuỳ ý định đoạt số phận, nếu muốn tái nhập Việt Nam.

Ngày 9/3/49, sau một ngày bàn cải Hội nghị Liên Hiệp Pháp chấp nhận dự án lập Hội nghị Nam Kỳ của Chính phủ. Ngày 10/3/49, Hội đồng Cộng hoà Pháp đòi thay đổi một số điều khoản. Nhưng Hạ nghị viện Pháp lại cứ chấp thuận dự án đã xét với 348 thuận, 202 nghịch. Ngày 19/4/49, Hội nghị Địa phương Nam Kỳ gồm 26 Hội viên Pháp, 48 Hội viên người Việt nhóm họp chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là giải quyết việc “Nam Kỳ vẫn Tự trị hay sáp nhập nào Quốc gia Việt Nam”. Đến ngày 23/4/49, Hội nghị vẫn tranh luận gay go, trong khi đó thì Cựu hoàng Bảo Đại cho biết chỉ chịu về nước nếu “Nam Kỳ tái nhập vào Việt Nam”. Hoàng thân Bửu Lộc can thiệp nhân danh Cựu hoàng rằng “Nam Kỳ sẽ tuỳ ý tự quyết, nếu một ngày kia Việt Nam thay đổi mối liên hệ với Liên Hiệp Pháp. 

Cuối cùng, ngày 24/3/49 Hội nghị biểu quyết với đa số phiếu “tái nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam”. Ngày 3/6/49 Quốc hội Pháp chuẩn y sự sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam. Ngày 14/6/49, tại Tòa Đô Sảnh, Cao Ủy Pignon và Cựu hoàng trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée. Sau đó, Cựu hoàng hiệu triệu quốc dân, tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được Tổng tuyển cử, và tạm giữ danh hiệu Hoàng đế, để có một địa vị quốc tế hợp pháp, nhưng rồi ra quốc dân sẽ định liệu về Hiến pháp. 

HIẾN CHƯƠNG/PHÁP QUY LÂM THỜINgày 2/6/1948, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành Hiến chương Lâm thời, gọi là Pháp quy Lâm thời (Statut provisoire): Quốc kỳ: cờ vàng ba sọc đỏ; Quốc ca: Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước; Hội nghị Lâm thời Việt Nam: sẽ do Chính phủ chỉ định; Mỗi Phần do một Tổng Trấn cai trị, và có Hội nghị Lâm thời địa phương (sắc lệnh số 3). Ngày 14/6/48, chính phủ ban hành Sắc lệnh số 5 tổ chức: Mỗi Phần thuộc một Tổng Trấn, có cơ quan Hành chánh, Hội nghị và ngân sách riêng. Tổng Trấn có chân trong Hội đồng Chính phủ. Ngày 25/6/48, chính phủ ban hành Sắc lệnh số 6, lập “Tối cao Tư vấn Viện” gồm một số Tổng trưởng, chủ tịch các Hội nghị, và một số nhân sĩ giúp Thủ tướng điều hành Chính phủ. 

Ngày 4/7/48, các Phủ Tổng Trấn được thiết lập tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ngày 16/7/48, thành lập các các Tòa án đệ nhị cấp (Nghị định số 5). Ngày 19/7/48, Tổng trấn Trung phần, lập trại An trí những người có hại cho an ninh quốc gia. Ngày 2/8/48, Sắc lệnh số 48/SG thiết lập một “Ty Giám đốc Cảnh sát và Mật thám Quốc gia”. Ngày 11/8/48, Cai trị viên Pháp André Bauvais bổ làm Đổng lý Văn phòng Thủ tướng, Đổng lý thứ hai là Thái Lập Thành. Ngày 11/11/48, Hộ pháp Phạm Công Tắc, giáo sư Trương Vĩnh Tống, Hà Xuân Hải, và cựu Tổng đốc Vũ Ngọc Oánh được cử vào Tối cao Tư vấn Viện.

NHỮNG VIỆC ĐÃ LÀM. Ngày 8/10/48, một kỳ thi Trung học đệ nhất cấp được mở tại Hà Nội vào ngày 28/10/48. Ngày 22/10/48, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trợ cấp 100.000$ cho nạn nhân trận bảo ở Bắc phần. Ngày 20/12/48, một kỳ thi Tú tài Việt Nam đươc tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn. Ngày 14/2/49, Các bệnh viện Hà Nội và Nha bào chế Trung ương được trả lại cho Bộ Y tế Việt Nam. Ngày 8/3/49, thành lập một Uỷ ban để nghiên cứu quy chế công chức Việt Nam, nhưng phải trù liệu cho phù hợp với những điều khoản sắp ký kết với Pháp. Ngày 21/4/49, bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội  được giao về cho chính phủ Việt Nam. Ngày 24/4/49, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, và nhiều nhân vật chính trị sang Singapore đón Cựu hoàng, và ngày 28/4/1949, Cựu hoàng Bảo Đại về tới Đà Lạt. 

Ngày 4/5/49, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân đươc thăng Trung tướng vì đã có công trạng “đặc biệt với Pháp và Việt Nam”. Ngày 30/5/49, tại Ba Mê Thuột, nhiều đại diện sắc dân sơ cước làm lể tuyên thệ trung thành với Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 3/6/49 Quốc hội Pháp chuẩn y việc sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam. Ngày 10/6/49, Các Bệnh viện Phủ Doãn (Yersin) Bạch Mai, Nhà thương chửa mắt Hà Nội được tổ chức thành một Liên đoàn Bệnh viện thuộc Bộ Y tế. Ngày 14/6/49, tại Tòa Đô Sảnh, Cao Ủy Pignon và Cựu hoàng trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée. Sau đó, Cựu hoàng hiệu triệu quốc dân, tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức Tổng tuyển cử, và tạm giữ danh hiệu Quốc trưởng, để có một địa vị quốc tế hợp pháp, nhưng rồi ra quốc dân sẽ định liệu về Hiến pháp. Ngày 16/6/49, Phủ Toàn quyền củ ở Hà Nội được trả về Việt Nam, thành “Biệt Điện Quốc trưởng”. 

TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI. Ngày 2/7/48, Thiếu úy Vệ binh Nam Phần Nguyễn Khánh được thăng Trung úy, và Sĩ quan tập sự Trần Thiện Khiêm được thăng Thiếu úy. Ngày 20/7/48, Đại úy Lê Văn Tỵ được bổ Chánh Võ Phòng của Thủ tướng, Trung úy Trần Tử Oai Phó Võ Phòng, Trung úy Trần Văn Đôn Trưởng Phòng An Ninh. Ngày 23/8/48, Chính phủ ra chỉ Dụ 63/SG Thủ lãnh Bình Xuyên Lê Văn Viễn được đồng hóa Đại tá tạm thời, và đặt thuộc quyền Phó thủ tướng Tổng Trần Nam Phần Trần Văn Hữu.  Ngày 1/12/48, một Trường Võ Bị đào tạo Sĩ quan Hiện dịch Việt Nam được thiết lập tại Huế. Ngày 13/4/49, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành Sắc lệnh số 66/SG kể từ ngày 1/5/49, Vệ Binh Nam Việt (thành lập tháng 10 năm 1946); Việt Binh Đoàn Trung Việt (thành lập tháng 4 năm 1947); Bảo Chính Đoàn Bắc Việt (thành lập tháng 7 năm 1948) được cải đổi, mang tên mới “Vệ Binh Việt Nam Nam Phần”; “Vệ Binh Việt Nam Trung Phần”; “Vệ Binh Việt Nam Bắc Phần”. 

SỰ KIỆN LIÊN QUAN KHÁC. Sau Chiến tranh Thế giới II kết thúc, Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành “đàm phán Trùng Khánh” và ký kết Hiệp định Song Thập, nhằm chấm dứt tình trạng chia rẽ Quốc-Cộng và thiết lập chính quyền dân chủ. Tuy nhiên, hội nghị này không mang lại hòa giải giữa hai đảng. Năm 1947, nội chiến bùng phát toàn diện. Ngày 15/9/47, quân Cộng sản của tướng Lâm Bưu tổng phản công trên các Mặt trận Mãn Châu, quân Tưởng Giới Thạch thua to và lùi mãi. Ngày 15/10/47, quân Cộng sản Tàu từ Mãn Châu vây hãm Phụng Thiên. Ngày 28/12/47, Trước Ủy ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản, Mao Trạch Đông tuyên bố “đã bước sang giai đoạn chiến thắng, và phải đập tan các cuộc phản công của quân Tưởng Giới Thạch. Ngày 17/4/48, quân Tưởng Giới Thạch thua to, quân Cộng sản tái chiếm Diên An.

Ngày 24/6/48, trước Viện Lập pháp Trung Hoa Dân Quốc, Hà Ứng Khâm tuyên bố, Cộng quân của Mao Đông và mạnh gấp năm lần (1.500.000 quân, và 22.800 đại bác) so với khi Nhật mới đầu hàng. Ngày 7/10/48, Cộng quân của Mao tiến chiếm Trường Xuân và Hoa BắcNgày 17/10/48, Tướng Lâm Bưu chỉ huy 179.000 Cộng quân tấn công và chiếm đóng Trịnh Châu, bắt 100.000 tù binh Quốc quân của Tưởng. Ngày 1/11/48, Cộng quân của Mao tiến chiếm Phụng Thiên và kiểm soát toàn thể Mãn Châu. Ngày 10/12/48, Bà Tưởng Giới Thạch sang Mỹ yết kiến Tổng thống Truman, trình báo tình hình nguy khốn của Quốc quân, và cầu viện. Ngày 21/12/48, sau khi nghe đặc phái viên Hoffmann phúc trình tình hình Trung Hoa, Tổng thống Mỹ Truman quyết định “đình chỉ viện trợ kiến thiết” cho Chính phủ Tưởng Giới Thạch.  

Ngày 30/12/48, quân Cộng của Mao đã thắng ở khắp Hoa Bắc, và tràn xuống sát sông Dương Tử. Ngày 21/1/1949, Tưởng Giới Thạch từ chức tổng thống, và lui về Lư Sơn. Ngày 22/1/49, Tàu Cộng chiếm đóng Bắc KinhNgày 1/2/49, theo Bộ Quốc phòng Hoa kỳ, Quốc quân Trung hoa, sau nhiều trận đại bại đã bị thiệt hại 1.223.000 người, mất 400.000 súng, trong dó có 140.000 súng Mỹ, với 20 công binh xưởng lớn. 20/4/1949, Cộng quân của Mao đã vượt qua sông Dương Tử tràn xuống Hoa Nam. Ngày 23/4/49, quân Tàu Cộng chiếm Nam Kinh. Ngày 25/5/49, quân Tàu Cộng chiếm Thưng Hải. Ngày 2/6/49, quân Mao đã tràn xuống Hoa Nam. Tướng Diêm Tích Sơn thay Tướng Hà Ứng Khâm lập Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc.  

TỪ CHỨC THỦ TƯỚNG. Ngày 21/6/49, công bố Thoả ước Elysée 8/3/1949. Ngày 1 tháng 7 năm 1949, chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam tấn phong Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn xin từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố tạm kiêm nhiệm chức Thủ tướng, và cử nguyên Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng. 

 

Bài 168: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI:1949.

Sau khi Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân từ chức, ngày 1/7/1949, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Sắc lệnh số 1/QT/ SL thành lập Chính phủ Quốc gia Việt Nam chính thức. THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ. Quốc trưởng kiêm Thủ tướng, Cựu hoàng Bảo ĐạiPhó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòngTrung tướng Pháp Nguyễn Văn XuânTổng trưởng Ngoại giao, Đại hoc Pháp, Nhà báo, Nguyễn Phan Long; Tổng trưởng Tư phápGiáo sư trường Luật Paris Nguyễn Khắc VệTổng trưởng Kinh tế, và Kế hoạch, Cao đẳng TM Paris (HEC)Trần Văn VănBộ trưởng Phủ Thủ tướng kiêm Nội vụVũ Ngọc Trân; Bộ trưởng Tài chánh, Dương Tấn Tài; Bộ trưởng Ngoại giaoLê Thăng; Bộ trưởng Quốc phòngTrần Quang VinhBộ trưởng Thương mại, và Kỹ nghệ, Hoàng CungBộ trưởng Canh nông, Xã hội, Lao độngKỹ sư Canh nông Pháp, Phan Khc SửuBộ trưởng Công tác, Giao thông. Kiến thiếtTrần Văn CủaBộ trưởng Quốc gia Giáo dục,Bác sĩ, Tiến sĩ Y khoa Phan Huy Quát; Bộ trưởng Thanh niên, Bác sĩ Nguyễn Tôn HoànBộ trưởng Y tếNguyễn Hữu Phiếm; Tổng trưởng Thông tin, Luật sư Trần Văn Tuyên; Tổng Thư ký Chính phủ, Đặng Trinh Kỳ.

ĐẠO DỤ SỐ 1 VÀ SỐ 2 VỀ CƠ QUAN CÔNG QUYỀN. Cùng ngày 1/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành hai Đạo Dụ: Dụ số 1 “Tổ chức và điều hành các Cơ quan Công quyền Việt Nam khi chưa có Hiến Pháp". Dụ số 2 “Ấn định quy chế Công sở, Chính quyền địa phương”. Sẽ triệu tập Quốc hội Lập hiến; Quốc trưởng tạm thời giữ quyền Lập pháp, ban bố các Đạo Dụ, và giữ quyền Hành pháp ở cươnvị Quốc trưởng; Chánh phủ do Quốc trưởng bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Quốc trưởng; Một Hội đồng Tư vấn Quốc gia sẽ được thiết lập, gồm 45 nhân vật do Quốc trưởng bổ nhiệm; Quốc gia Việt Nam gồm có ba phần: Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt. Mỗi Phần có Ngân sách riêng, có tư cách Pháp nhân, do một Thủ Hiến cai trị, Thủ Hiến do Quốc trưởng bổ nhiệm; Sẽ lập một Viện Giám sát để kiểm soát Hành chánh; Trụ sở chính thức của Quốc trưởng là Sài Gòn. 

Ngày 3/7/49, Quốc trưởng bổ nhiệm: Thủ Hiến Bắc Việt: Nguyễn Hữu Trí; Thủ Hiến Trung Việt: Phan Văn Giáo; Thủ Hiến Nam Việt: Trần Văn Hữu. Ngày 12/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại về Huế. Ngày 14/7/49, Quốc trưởng hiệu triệu quốc dân, súng cồi từ đâu bắn nhiều phát vào thành phố Huế. Ngày 16/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại tới Hà Nội, tuyên bố chính sách của chính phủ. Ngày 17/7/49, đại diện các sắc dân Sơn cước miền Bắc làm lể tuyên thệ trung thành với Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 18/7/49, Quốc trưởng ký Sắc lệnh 52/QT thành lập Viện Giám sát để kiểm soát Hành chánh; Trụ sở chính thức của Quốc trưởng là Sài Gòn. Ngày 19/7/49, Hội đồng Nội các họp phiên đầu tiên tại Hà Nội. Ngày 20/7/49, tại Biệt Điện, Quốc trưởng chủ tọa lể tựu chức Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Ngày 4/8/49, tại Sài Gòn, Quốc trưởng chủ tọa lể tựu chức Thủ hiến Nam Việt Trần Văn Hữu. 

Ngày 27/8/49, ấn định chương trình giáo dục Tiểu học (N.D 4/ND/GD). Ngày 5/9/49, ấn định chương trình giáo dục Trung học (N.D 9/ND/GD). Ngày 12/9/49, ấn định chương trình Giáo dục tráng niên (N.D 14/ND/GD). Ngày 19/9/49, Chức chưởng của các Tổng và Bộ trưởng được ấn định trong một sắc lệnh đươc ký ngày hôm nay. Ngày 26/9/49, Nghị định (2.265/THP) thành lập Bảo chính Đoàn tại Bắc Việt thay Nghĩa Dũng Binh của phủ Tổng Trấn củ. Đoàn nầy có những ngạch binh và Hạ sĩ quan tương đương như của Quân đội, Nhưng sĩ quan thì gọi là Phó Đốc quân, Đốc quân, và Chánh Đốc quân. 

ĐẠO DỤ SỐ 4 VÀ SỐ 5 VỀ TƯ PHÁP VÀ TỐI CAO PHÁP VIỆN. Ngày 18/10/49, Quốc trưởng ban hành Dụ số 4 tổ chức “Tư pháp và Tòa án Việt Nam”, và Dụ số 5 thành lập “Tối Cao Pháp Viện” và tổ chức Tư pháp và Tòa án Việt Nam”. Ngày 12/12/49, Sắc lệnh 90/NV thành lập Ủy ban nghiên cứu các vấn đề “Tổ chức Hành chánh và Phân quyền địa phương. Ngày 29/12/49, Sắc lệnh số 96/GD, Cải tổ Học chính Việt Nam: bải bỏ bậc Cao đẳng Tiểu học, chỉ đề ra ba bậc học: Tiểu, Trung, và Đại học. Mỗi bậc đều có Ban Phổ thông, và Ban Chuyên nghiệp. Trung học, và Đại học thuộc Bộ Giáo dục; Tiểu học thuộc các Phủ Thủ Hiến về Hành chánh và thuộc Bộ về Chuyên môn. Ngày 4/1/50, Nghị định số 1/NĐ/GD, thành lập Trường Đại học Văn khoa tại Hà Nội. Và, Nghị định số 2/NĐ/GD, thành lập Sở Bảo tồn Di tích Việt Nam. Ngày 5/1/50, Quốc trưởng ký Dụ số 2, thành lập một Tòa án Hành chánh chung cho cả nước tại Sài Gòn. Và bãi bỏ Tòa Đại diện Chính phủ Việt Nam tại Ba Lê.  

VIỆC ĐÃ LÀM KHÁC. Ngày 9/9/49, một Hội Cấp tế nạn nhân chiến tranh Bắc Việt được thành lập để giúp đở đồng bào hồi cư. Ngày 28/9/49, Quốc trưởng Bảo Đại ra Bắc thăm nhiều tỉnh, và Hà Nội 10 ngày. Ngày 14/10/49, Một Uỷ ban điều tra được thiết lập tại Bộ Nội vụ để xét lại hồ sơ của những công chức bị thải hồi sau ngày Nhật đảo chánh 9/3/1045. Ngày 16/11/49, chỉ thị 331/QT của Quốc trưởng, công chức không được phép tuyên bố về chính trị. Ngày 1/12/49, từ 3 tháng nay giá gạo tăng vọt tới 600$ 1 tạ. Phủ thủ hiến Bắc Việt đã can thiệp với chính phủ và yêu cầu chở gạo Nam phần ra Bắc bán chi dân chúng. Ngày 9/12/49, Du thuyền Hương Giang của Quốc trưởng Bảo Đại chở 300 tạ gạo từ Nam ra Bắc, giá gạo tại Hà Nội từ 600$ giảm xuống còn 400$ mỗi tạ. Ngày 24/12/49, một quỷ danh dự được thiết lập tại Bắc Việt để cho vay và khuyến khích tái lập công nghệ, canh nông. 

QUAN HỆ PHÁP-VIỆT, MIÊN, LÀONgày 20/7/1949, Lào ký với Pháp một thỏa ước thành lập một quốc gia Liên kết tương tự thỏa ước Việt-Pháp 8/3/49. Ngày 28/7/49, tướng Carpentier được cử làm Tổng Tư lệnh Pháp tại Đông Dương thay tướng Blaizot. Ngày 28/8/49, Chính phủ Việt Nam ra thông cáo sẽ gởi Đại diện sang dự Hội nghị Liên Hiệp Pháp, rằng với sự giúp đở của Pháp Việt Nam sẽ chống Cộng mạnh mẽ hơn. Ngày 18/9/49, tại Pháp, trong một cuộc xô xát ẩu đả giữa một Việt kiều và một số lính Pháp ở Đông Dương vừa hồi hương, cảnh sát Pháp bắt được một bản Phúc trình của Đại tướng Revers về tình hình quân sự Đông Dương, lúc vị tướng nầy là Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp được phái sang Đông Dương quân sát tình hình hồi tháng 5/49. 

Sau vụ xô xát trên, một nhân vật khá bí mật tên Roger Peyré bị bắt và khai rằng chính Hoàng Văn Cơ đã mua chuộc các tướng Mast và Revers để lấy một bản Phúc trình quân sự. Có nhiều thư từ chứng tỏ tên Peyré đi lại thân mật với hai tướng Mast và Rever. Tướng Mast thì đương vận động ráo riết để được cử làm Tổng Tư lệnh tại Đông Dương. Việc nầy khiến báo chí và Quốc hội Pháp sôi nổi. Ngày 22/9/49, Chính phủ Pháp nhóm họp để xét vụ tiết lộ phúc trình Revers. Ngày 21/10/49, Việt Nam được gia nhập Ủy hội Kinh tế Á Châu và Viễn Đông. Ngày 8/11/1949, Mên ký với Pháp một thỏa ước thành lập một quốc gia Liên kết tương tự thỏa ước Việt-Pháp 8/3/49. Ngày 7/12/49, Đại tướng Revers bị cất chức Tổng Tham Mưu trưởng quân đội Pháp. 

Ngày 30/12/49, tại tòa Đô Sảnh Quốc trưởng Bảo Đại và Cao ủy Pignon ký các Hiệp định thi hành Thỏa ước 8/3/1949. Dân chúng được tập hợp đông đảo để tham dự lể nầy. Cờ Việt Nam được kéo lên trước Tòa Đô Sảnh. Theo các Hiệp ước nầy thì: các công sở như Tư pháp, Cảnh sát, Học chính được chuyển giao về chính phủ Việt Nam. Việt, Miên, Lào sẽ thoả hiệp đ tổ chức những Cơ quan Liên quốc. Ngày 5/1/50, Quốc trưởng ban Sắc lệnh cử nhiệm một Phái đoàn Nghị sĩ Việt Nam tại Hội nghị Liên Hiệp Pháp, lớp đầu có 12 vị: Phạm Văn Bính, Bùi Thế Phúc, Trần Văn khá, Đỗ Hữu Tinh, Bửu Kính, Nguyễn Hữu Tuân, Nguyễn Huy Lai, Trần Văn Tuyên, Hà Văn Lan, Nguyễn văn Tỵ, Tôn Thất Cẩn, Trần Thiện vàng. Các Nghị sĩ lãnh Phụ cấp của Chính phủ Việt Nam, và lương bổng do Pháp trả. 

CHIẾN SỰ VÀ SỰ KIỆN LIÊN QUAN KHÁC. Ngày 12/7/49, quân Pháp chiếm đóng Đáp Cầu, và Phủ Lạng Thương. Ngày 16/10/49, Quân Pháp tiến vào Phát Diệm, Bùi Chu. Ngày 3/12/49, bị quân Tàu Cộng đánh, nhiều Đoàn quân Tàu Tưởng chạy tràn qua Việt Nam. Ngày 11/12/49, Cao ủy Pignon tuyên bố nếu quân Tầu Tưởng tràn vào Bắc Việt, thì theo luật quốc tế tước khí giới, đuổi ra hoặc giam lại. Ngày 14/12/49, quân Tàu Tưởng chạy tràn qua Lạng Sơn chừng 20.000 với hơn 10.000 đi tỵ nạn Cộng sản, bị quân đội Pháp tước khí giới và đưa về tập trung tai Đông Triều, Hòn Gai. Ngày 22/12/49, lại có hơn 8.000 quân Tàu Tưởng chạy qua Thất Khê, Cao Bằng và cũng bị tước khí giới. Báo chí lo ngại có thể Trung Cộng viện cớ đánh đuổi quân Tàu Tưởng mà xâm lăng Việt Nam. 

Ngày 25/9/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Hạ Ninh, 6 Quân đoàn quân Tàu Tưởng quy hàng. Ngày 1/10/49, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc. Ngày 2/10/49, Nga Xô thừa nhận Trung Cộng. Ngày 14/10/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Quảng Châu. Ngày 29/11/49, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh gởi điện chúc mừng lẫn nhau. Ngày 30/11/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Trùng Khánh. Ngày 9/12/49, chính phủ Trung hoa Dân quốc chánh thức đặt Thủ đô tại Đài Bắc (Đài Loan). 

THÔI KIÊM NHIỆM THỦ TƯỚNG. Ngày 6/1/50, Tổng trưởng Ngoại Giao Nguyễn Phan Long được ủy lập Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân xin rút lui. Ngày 16/1/50, Nghị định số 102/TTP, hợp nhất Hội Khai Trí Tiến Đức, và Hội Văn Miếu Văn học để thành lập “Việt Nam Văn hóa Hiệp Hội”. 

(Hết Chương XIII)

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét