Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

 

 Chương XII: 12 BÀI VIẾT VỀ VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN: THỜI VƯƠNG TRIỀU CAI TRỊ ĐỘC LẬP VÀ THỜI VƯƠNG TRIỀU THUỘC TRỊ NƯỚC PHÁP 1802-1945.

(30 trang, 20.825 chữ)

 

147: Hoàng đế Gia Long là vị Vua mở đầu Vương triều NHÀ NGUYỄN sau nhều trăm năm đất nước nội chiến, chia cắt.

148. Vương triều Nhà Nguyễn dưới thời vua Minh Mạng, và vua Thiệu Trị.

149. Vương triều Nhà Nguyễn dưới thời vua Tự Đức, và công cuộc đánh quân Pháp xâm lươt.

150. Vương triều Nhà Nguyễn dưới thời vua Dục Đức, và vua Hiệp Hoà.

151: Vương triều Nhà Nguyễn dưới thời vua Dục Đức, và vua Kiến Phúc, vua Hàm Nghi và vua Đồng Khánh.

152: Vương triều Nhà Nguyễn dưới thời vua Thành Thái, và vua Duy Tân.

153: Vương triều Nhà Nguyễn dưới thời vua Khải Định, và vua Bảo Đại.

Kiến Phúc, vua Hàm Nghi và vua Đồng Khánh.

154: Vương triều Nhà Nguyễn thời thuộc trị nước Pháp, và Liên bang Đông Dương. 

155: Về an ninh, địa giới hành chánh, và luật pháp… thời Liên bang Đông Dương.

156, Về cư dân, di dân, quy chế dân cư ngụ, và giáo dục thời Liên bang Đông Dương.

157. Về kinh tế, thuơng mại, và giao thông thời Liên bang Đông Dương.

158. Khoa học, y tế, văn hoá xã hội, và thể chế chính trị thời Liên bang Đông Dương.

 

 

Bài 147: HOÀNG ĐẾ GIA LONG LÀ VỊ VUA MỞ ĐẦU VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN SAU NHIỀU TRĂM NĂM ĐẤT NƯỚC NỘI CHIẾN, CHIA CẮT.

HOÀNG ĐẾ GIA LONG. (1802-1820). Gia Long vị Hoàng đế đầu tiên của Vương triều nhà Nguyễn. Ông có tên thật làNguyễn Phúc Ánh ngày 8 tháng 2 năm 1762, con trai thứ ba của vương tử Nguyễn Phúc Luân  và Nguyễn Thị HoànNguyễn Ánh sinh ra vào thời kỳ nước Đại Việt bị chia làm hai, lấy ranh giới ở sông Gianh (Quảng Bình): từ sông Gianh ra Bắc là Đàng Ngoài có nhà nước của vua Lê-chúa Trịnh; lãnh thổ từ sông Gianh vào Nam là Đàng Trong, nằm dưới sự cai trị của chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn tự đặt chính sách kinh tế, quân sự, tài khóa riêng cho Đàng Trong, dù trên danh nghĩa các chúa Nguyễn vẫn là quan của nhà Lê, hàng năm nộp cống và dùng niên hiệu của vua Lê. Ông nội Nguyễn Ánh là Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát, chúa thứ 8 của họ Nguyễn. 

Năm 1765, Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát mất, trước đó thế tử Nguyễn Phúc Hiệu đã chết, con thế tử là Nguyễn Phúc Dương còn nhỏ, nên Vũ vương có di chiếu truyền ngôi cho Nguyễn Phúc Luân. Nhưng quan phụ chính Trương Phúc Loan chuyên quyền, bèn sửa di chiếu lập con thứ 12 của Vũ vương là Nguyễn Phúc Thuần làm chúa. Nguyễn Phúc Luân bị bắt giam và chết trong ngục; năm đó Nguyễn Ánh mới 4 tuổi. Năm 1771, khi Nguyễn Ánh được 9 tuổi, 3 anh emNguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dấy binh ở Tây Sơn chống chúa Nguyễn. Năm 1775, lúc ông 13 tuổi chúa Nguyễn bị  quân Lê – Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy và quân Tây Sơn đánh kẹp từ hai mặt. Nguyễn Ánh và 4 anh em trong nhà đi theo Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Quảng Nam rồi vượt biển vào khu vực Gia Định. 

Tháng 2 năm 1776, Nguyễn Ánh dù còn nhỏ tuổi, ông vẫn được cho giữ chức Chưởng sứ coi binh Tả Dực, và cho dự họp bàn việc quân. Trong thời gian ở Gia Định, nội bộ quân chúa Nguyễn xảy ra tranh chấp giữa phe ủng hộ Nguyễn Phúc Thuần của Đỗ Thành Nhơn và phe ủng hộ Nguyễn Phúc Dương của Lý Tài. Lúc này, Nguyễn Ánh trú tại Ba Giồng (Tam Phụ) với quân Đông Sơn. Đầu năm 1777, Nguyễn Huệ tiến đánh Sài Gòn. Giữa năm 1777, Thái thượng vương Nguyễn Phúc Thuần, Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương cùng vài người anh em ruột của Nguyễn Ánh và nhiều người khác trong gia tộc chúa Nguyễn bị Nguyễn Huệ bắt giết hết. Nguyễn Ánh may mắn được một đứa trẻ con nhà kép hát che giấu nên trốn thoát. 

Nguyễn Ánh bắt đầu cuộc chiến với Tây Sơn để khôi phục lại cơ nghiệp của dòng tộc. Và, sau 25 năm chiến đấu gian khổ, cuối cùng đánh bại được Nhà Tây Sơn, Ông lên ngôi Hoàng đế ngày 1 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802) lúc ông 40 tuổi. Vương triều nhà Nguyễn có công lớn là thống nhất Việt Nam sau nhiều trăm năm nội chiến và chia cắt. Vua Gia Long trị vì 18 năm (1802-1820) có 21 người vợ và phi tần với 13 hoàng tử và 18 công chúa.

Triều đại của Gia Long chính thức sử dụng quốc hiệu Việt Nam với cương thổ rộng lớn, kéo dài từ biên giới Trung Quốc tới vịnh Thái Lan bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dưới sự cai trị của ông, Việt Nam trở thành một thế lực quân sự hùng mạnh ở Đông Dương, cùng Xiêm La phân chia ảnh hưởng đối với Chân Lạp. Vua Gia Long tổ chức lại Cơ cấu quốc gia: Nội cung, không đặt Hoàng hậu; quan lại, không đặt chức Tể tướng. Triều đình gồm có Lục bộ là: bộ Lại, bộ Công, bộ Lễ, bộ Hộ, bộ Binh, và bộ Hình, mỗi Bộ do một Thượng thư đứng đầu. Ngoài lục bộ còn có Đô sát viện do Ngự sử đứng đầu để can gián nhà vua và đàn hặc các quan; Ấn định quyền hạn các chức tước, lương bổng, văn võ theo các cấp bậc; ban hành chế độ tiền dưởng liêm để phòng trừ tệ nạn tham nhũng. 

Về hành chính, Gia Long phân chia Việt Nam thành 2 tổng trấn, và 2 vùng: Tổng trần Bắc Hà: gồm 5 Nội trấn là Hải Dương, Kinh Bắc, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Sơn Tây; Và 6 Ngoại trấn là Cao Bằng, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Quảng Yên, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Tổng trấn Nam Hà: gồm 5 Trấn là Biên Hòa, Hà Tiên, Phiên An, Vĩnh Thanh, Vĩnh Tường. Hai vùng: Vùng miền Trung: gồm 7 Trấn độc lập là Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận. Vùng Kinh Kỳ:  gồm 4 Doanh là Trực Lệ Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị, và Quảng Nam. Tổng trấn Bắc Hà và Nam Hà sẽ do hai quan Tổng trấn đứng đầu, sẽ nắm toàn quyền về luật pháp, kinh tế lẫn quân sự. Về các Trấn thì có quan Lưu trấn. Dưới Trấn là phủ, huyện, châu với các vị quan đứng đầu lần lượt là Tri Phủ, Tri Huyện, Tri Châu. 

Về Nông nghiêp: dưới thời Gia Long ruộng đất được quản lý bằng các điền bạ ghi rõ về tình trạng, vị trí thứ hạng đất ruộng. Mỗi làng làm 3 quyển gửi lên bộ đóng dấu, 1 quyển sẽ lưu lại bộ, 1 quyển lưu lại tỉnh và 1 quyển gửi trả về làng. Để bảo đảm ruộng đất cho mọi người nông dân cày cấy. Ngay từ khi lên ngôi, vua Gia Long đã ra lệnh cấm buôn bán ruộng đất công. Gia Long còn cho ban hành Lệ quân điền, trong đó thời hạn chia ruộng đất công được rút xuống ba năm, và “đối tượng chia ruộng” trước hết nhằm “ưu đãi quan lại và quân lính”. Thời vua Gia Long rất đề cao và khuyến khích nông nghiệp, nhà vua đã cho đầu tư đắp rất nhiều đê ngăn mặn, trị thuỷ.

Về giáo dục, thấy các quan đầu triều của mình đều chỉ là quan võ, vua Gia Long đặc biệt quan tâm đến việc học hành thi cử để tuyển lựa quan văn. Ông cho thành lập Quốc Tử Giám ở Phú Xuân để dạy con quan, tổ chức thi Hương theo định kỳ để tuyển chọn nhân tài. Ngoài ra, ông còn đặt thêm chức đốc học ở các trấn, và cho dùng những người có công danh ở đời nhà Lê, để coi việc dạy dỗ ở địa phương. Về luật pháp, Gia Long cho soạn bộ luật mới có tên gọi là Hoàng Việt luật lệ còn được gọi là "luật Gia Long", do Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành chủ biên bao gồm 22 quyển và 398 điều. Về tôn giáo, Gia Long ưa chuộng Nho giáo, nhưng Thiên Chúa giáo cũng được khoan thứ vì mối quan hệ giữa ông với người Pháp, và các giáo sĩ được tự do đi truyền đạo khắp nơi. Gia Long chỉ đề ra vài biện pháp phòng ngừa việc truyền đạo xâm hại tới trật tự xã hội, văn hóa truyền thống.

Giết hại công thần: trước khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã giết Đỗ Thành Nhơn người có công lớn, được Ánh phong Ngoại hữu Phụ chính Thượng tướng quân, tước Quận công... Khi ở ngôi hoàng đế, Gia Long cũng đã giết hại Nguyễn Văn Thành người theo Nguyễn Ánh từ ngày đầu ông khởi binh chống Tây Sơn lập được nhiều công to đứng đầu hàng công thần; Và, Đặng Trần Thường, người cuối đời nhà Lê từ chối giúp Tây Sơn, đi theo Nguyễn Ánh, lập được nhiều công trạng làm lên tới chức Tán Lý.

 

Bài 148: VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN DƯỚI THỜI VUA MINH MẠNG, VÀ VUA THIỆU TRỊ.

VUA MINH MẠNG. (1820 -1840). Minh Mạng là vị Hoàng đế thứ hai của Vương triều nhà Nguyễn. Minh Mạng có tên huý là Nguyễn Phúc Đảm, sinh ngày 23 tháng 4 nǎm Tân Hợi (25/5/1791), là người con thứ 4 của vua Gia Long. Ông lên ngôi Hoàng đế tháng giêng năm Canh Thìn (1820) lúc ông 29 tuổi. Vua Minh Mạng trị vì 20 năm (1820-1840) có rất nhiều vợ, trong số đó có 43 người vợ từng sinh nở; 142 người con gồm 78 hoàng tử, 64 hoàng nữ. Ông được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở Kinh đô Huế, bãi bỏ chức Tổng trấn Bắc Hà và Tổng trấn Nam Hà, đổi trấn thành tỉnh. 

Quân đội được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, kỵ binh và pháo thủ binh. Minh Mạng đã đánh tan nhiều cuộc nổi loạn của Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân… ở miền Bắc, và Lê Văn Khôi ở miền Nam. Ngoài việc dẹp trừ nội loạn, Minh Mạng còn chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài. Ông đổi tên Việt Nam thành Đại Nam. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945. Nhà vua lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao, và thực sự kiểm soát Chân Lạp đổi Nam Vang thành Trấn Tây thành. Kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả. Quan lại Đại Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị. Minh Mạng không có thiện cảm với các nước phương Tây, khước từ mọi tiếp xúc với họ. Minh Mạng cũng không thích đạo Cơ đốc bởi các Cố đạo thường cung cấp thông tin tình báo cho các nước phương Tây đi xâm lược. 

Trong việc dùng người, Minh Mạng chú trọng cả tài, đức và đặc biệt là học vấn. Ông cho rằng người không học thì không rõ pháp luật, lỡ khi xử đoán sai thì pháp luật khó dung, như thế sẽ làm hại dân. Việc dùng người không ngoài mục đích muốn yên dân. Muốn yên dân thì quan phủ huyện không được phiền nhiễu dân, tham nhũng. Vì vậy, nhà Vua đã nghiêm trị nhiều viên quan tham nhũng. Từ thời Minh Mạng giai chế phẩm trật được xác định rõ ràng, từ Cửu phẩm tới Nhất phẩm, mỗi phẩm chia làm 2 bậc: chánh và tòng. Trừ khi có chiến tranh, loạn lạc còn bình thường “Quan võ phải dưới Quan văn cùng phẩm với mình. Quan Tổng đốc (Văn) vừa trị vì Tỉnh vừa chỉ huy Đội quân của tỉnh nhà. 

Minh Mạng còn định mức lương bổng cho quan lại, định tiền gạo cho mỗi cấp cùng thời hạn lãnh lương. Ngoài ra ông còn cấp tiền dưỡng liêm để tranh sự tham nhũng của quan lại. Từ cuối năm 1831 Minh Mạng cho bỏ các Dinh, Trấn và thành lập các Tỉnh. Năm 1832 cả nước có 31 tỉnh, gồm: Bắc Kỳ có 13 tỉnh: Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Hóa Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Nguyên. Trung Kỳ có 12 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận. Nam Kỳ có 06 tỉnh: Phiên An (năm 1836 đổi tên thành Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên

Nhà vua đặt các quan Tổng Đốc đối với tỉnh lớnhoặc Tuần Vũ đối với tỉnh nhỏ, riêng tỉnh Thừa Thiên gọi là Phủ doãn”. Đặt các quan Bố Chánh sứ, Án sát, cùng Lãnh binh để trông coi mọi việc tại từng tỉnh. Trong triều, Thị Thư Viện được đổi thành Văn Thư Phòng vào năm 1820, rồi thành Nội Các vào năm 1829. Năm 1830, ông đặt ra Cơ Mật viện để trông coi những việc quốc quân trọng yếu. Đối với vùng thượng du, chủ yếu là 6 ngoại trấn của Bắc Thành cũ, nhà vua quyết định nhất thể hóa về mặt hành chánh cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829, ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ tri, cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương thanh liêm, tài năng, cần mẫn, dân tin phục" làm Thổ tri các Châu, huyện.

Minh Mạng rất quan tâm đến nền khoa cử, học vấn. Ông nói: ”Đạo trị nước phải gây dựng nhân tài”. Minh Mạng còn đặt ra lệ rằng ai được thăng quan, bổ nhiệm đều phải lên kinh gặp Vua trước khi nhậm chức. Đây là cơ hội để nhà vua kiểm tra đức độ, năng lực và khuyên bảo điều hay lẽ phải, cốt sao cho “ích nước, lợi nhà”.Ông thường nói rằng:”Lâu nay cái học khoa cử làm cho người ta sai lầm, Trẫm nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những văn cử-nghiệp chỉ câu nệ cái hư sáo khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp do tự đó. Khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi. Song tập tục đã quen rồi, khó đổi ngay được, về sau dần dần đổi lại”.

Minh Mạng chú trọng việc khẩn hoanglập ấp, cho quan lại mộ dân đi “lập ấp mới”. Hoàn chỉnh hệ thốngĐê điều oả Bắc Bộ, khai hoang ven cận biển, lập các huyện Kim Sơn và Tiền Hải. Minh Mạng còn thử nghiệm giải pháp bỏ đê phía nam Hà Nội, đào sông thoát lũ Cửu An (Hưng Yên)Ở Nam Bộ, thì đẩy mạnh việc. Khi bị thiên tai, mất mùa, quan lại ở các tỉnh phải xuất lúa giống ở kho cho dân nghèo vay để làm mùa sau. Nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạo bao gồm: máy cưa, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu và sức nước.  Năm 1834, Nguyễn Văn Tuý  chế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng. Năm 1837 và 1838, chế tạo được máy hút nước tưới ruộng, xe chửa lửa. 

Năm 1839, dựa trên các kiểu mẫu phương Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khen ngợi. Quân đội thời Minh Mạng gồm bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, kỵ binh và pháo thủ binh. Bộ binh gồm Kinh binh và Cơ binh. Kinh binh là lính riêng của Triều đình, được chia làm Doanh, VệĐội, đóng ở Kinh thành hoặc đóng ở các tỉnh. Cơ binh là lính riêng của từng tỉnh, cũng được chia làm Cơ và Đội. Cơ có các quản cơ, đội có các suất đội cai quản.

Về ngoại giao, Với Trung quốc, Minh Mạng tiếp tục triều cng, nhưng vẫn duy trì quan hệ tự chủ, triều cống chỉ có ý nghĩa tượng trưng, giá trị vật chất không đáng kể. Tuy nhiên các đoàn đi sứ đều được lệnh ghi chép cẩn thận tình hình bên Trung Quốc để báo cáo lại cho nhà vua. Các sứ thần không hoàn thành nhiệm vụ này đều bị trách phạt. Dưới thời Minh Mạngnhiều vùng ở Ai Lao đã xin thuộc quyền bảo hộ của Đại Nam. Các vùng nay là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam MônSavannakhet giáp với các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị đều được sáp nhập và trở thành các châu, phủ của Đại Nam. Với Chân Lạp, sau khi phá được quân Xiêm, Trương Minh Giảng ng Tham tán Lê Đại Cương lập đồn Đại Nam gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp. 

Vua Minh Mạng luôn cảnh giác với người phương TâyVới những người Pháp đã từng giúp Gia Long trước kia, không còn được trọng dụng. Khi Chaigneau trở lại Đại Nam, mang theo Quốc thư nước Pháp xin cho Chaigneau làm Lãnh sự đại diện chính phủ Pháp ở Đại Nam, và xin ký thương ước giữa hai chính phủ. Minh Mạng trả lời không cần phải ký thương ước, người Đại Nam vẫn đối xử tử tế với người Pháp là đủMinh Mạng đếm xỉa đến Quốc thư nước Pháp. Các năm 1832 và 1836, Tổng thống Hoa Kỳ Andrew Jackson đã gửi đại sứ Edmund Robert sang đàm phán với Minh Mạng về quan hệ mậu dịch song phương giữa hai nướcnhưng không thành công. Từ khi lên ngôi, Minh Mạng đã có ý không cho người nước ngoài vào Đại Nam giảng đạo.

Năm Ất Dậu (1825) khi chiếc tàu Thetís vào cửa Đà Nẵng, có tên Rogerot, giáo sĩ tự ý ở lại đi giảng đạo khắp nơi mà không xin phép, Minh Mạng liền ra dụ cấm đạo, và truyền cho quan quân phải khám xét các tàu thuyền của ngoại quốc ra vào cửa bể. Dụ nêu rõ: “Đạo phương Tây là tà đạo, làm mê hoặc lòng người và huỷ hoại phong tục, cho nên phải nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo”. Minh Mạng ra dụ truyền cho “những ai trót lỡ theo đạo” phải bỏ đạo, và ai bắt được giáo sĩ đem nộp thì sẽ được thưởng. Từ năm Giáp Ngọ (1834)  đến năm Mậu Tuất (1838) có nhiều giáo sĩ và giáo dân bị giết, nhất là từ khi bắt được giáo sĩ Joseph Marchand (Cố Du), người tham gia vào cuộc nổi dậy của Lê văn Khôi.. 

Vua Minh Mạng không hài lòng thói lộng quyền của Tả quân Lê Văn Duyệt đã dung nạp tên phản loạn Nguyễn Hữu Khôi, từ Cao Bằng, nhận Khôi làm con nuôi với tên mới Lê Văn Khôi, đem về Gia Định cất nhắc cho làm đến chúc Phó Vệ uý. Nhưng do Duyệt có công lớn với triều đình, nên vua Minh Mạng vẫn tin dùng cho đến khi qua đời năm 1832. Năm 1833, Lê Văn Khôi (? – 1834) dấy loạn chiếm thành Phiên An (thành Gia Định) Minh Mạng mới hài tội Lê Văn Duyệt. Năm 1835, sau khi dẹp xong cuộc nổi dây của Lê Văn Khôi, Minh Mạng giao cho nhóm Nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Quýnh nghị tội Lê Văn Duyệt, có bảy tội phải chém, hai tội phải thắt cổ, một tội phải sung quân. Bản án quyết định truy đoạt quan chức, phá bỏ quan quách giết thây. 

Mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định bị cuốc bằng và bị xiềng xích, phía trên khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ: Đây chỗ tên lại cái lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phép nước”. Sang năm sau (1836), Minh Mạng lại sai đình thần làm án Lê Chất, một công thần từ thời Gia Long, đã qua đời năm 1826. Bài dụ về tội trạng Chất có đoạn viết:”Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết”.”Vậy cho Tổng đốc Bình Phú Võ Xuân Cẩn san phẳng mộ của hắn, khắc bia dựng lên trên đề to mấy chữ "Chỗ này là nơi Lê Chất phục pháp" để làm gương cho kẻ gian tặc muôn đời. 

VUA THIỆU TRỊ. (1841-1847) Thiệu Trị là vị Hoàng đế thứ ba của Vương triều nhà Nguyễn. Thiệu Trị có tên huý làNguyễn Phúc Miên Tông, sinh ngày 11 tháng 05 năm Đinh Mão (16/06/1807)con vua Minh Mạng và hoàng hậu Hồ Thị Hoa, Ông cũng là con trưởng trong số 78 hoàng tử của vua Minh Mệnh nên được nối ngôi, và là vị Hoàng đế thứ ba của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 20 tháng giêng năm Tân Sửu (1841) khi ông 34 tuổi. Vua Thiệu Trị trị vì 6 năm (1841-1847) có khoảng 39 bà vợ và phi tần với 29 hoàng tử và 35 công chúa. Ông là một người hiền hoà, siêng năng cần mẫn nhưng không có tính hoạt động như vua cha. Vả chăng, mọi định chế  pháp luật, hành chánh, học hiệu, điền địa, và binh bị đều được sắp đặt khá quy củ từ thời Minh Mạng, không có sự cải cách, thay đổi gì mới. 

Bầy tôi lúc bấy giờ có Trương Đăng Quế, Lê Văn Đức, Doãn Uẩn, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, và Lâm Duy Hiệp ra sức giúp việc. Dưới thời vua Thiệu Trị, ở Chân Lạp có nhiều cuộc nổi dậy, quan quân nhà Nguyễn tại Trấn Tây Thành đánh dẹp mãi mà vẫn không yên. Nhà Vua phải ra lệnh cho Trương Minh Giảng rút quân về trấn thủ An Giang. Đất Nam Kỳ lại có nhiều giặc giã, triều đình phải dùng binh đi đánh dẹp mãi tới năm Thiệu Trị thứ bảy 1847 mới yên được. Năm Ất Tỵ 1845, Giám mục tên Lefèbvre phải án xử tử. Thiếu tướng Pháp là Cécile xin triều đình tha mạng, và sai quân đem tàu Alcmène vào Đà Nẵng đón giám mục Lefèbvre ra khỏi nước

Năm Đinh Mùi 1847, khi biết ở Huế không còn giáo sĩ bị giam nữa, Pháp lại sai đại tá De Lapierre và trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiếc chiến thuyền vào Đà Nẵng, yêu cầu bỏ chỉ dụ cấm đạo và để cho người trong nước được tự do theo đạo mới. Khi hai bên còn đang thương nghị thì quân Pháp nổ súng đánh đắm thuyền của Đại Nam, rồi nhổ neo chạy ra biển. Vua Thiệu Trị tức giận, ra dụ cấm người ngoại quốc vào giảng đạo và trị tội những người trong nước theo đạo. Khi Thiệu Trị lâm bệnh nặngđể di chiếu truyền ngôi cho con thứ là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Thiệu Trị qua đời ngày 27 tháng 9 năm Đinh Mùi, tức ngày 4 tháng 10 năm 1847, hưởng thọ 41 tuổi.

 

Bài 149: VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN DƯỚI THỜI VUA TỰ ĐỨC, VÀ CÔNG CUỘC ĐÁNH CHỐNG QUÂN PHÁP XÂM LƯỢT.

VUA TỰ ĐỨC. (1847 -1883)Tự Đức là vị Hoàng đế thứ tư của Vương triều nhà Nguyễn. Vua Tự Đức có tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1829 tại Huế, con thứ hai của Thiệu Trị và Phạm Thị Hằng (bà Từ Dũ). Vì anh trai là Nguyễn Phúc Hồng Bảo ham cờ bạc, không chịu học hành nên vua Thiệu Trị truyền ngôi cho ông. Tháng 10 nǎm 1847, Hồng Nhậm lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Tự Đức, lúc đó 19 tuổi. Vua Tự Đức trị vì 36 năm (1847-1883)  103 bà vợ, nhưng không có con do mắc bệnh đậu mùa lúc nhỏ. Ông nhận ba người cháu ruột làm con nuôi là Ưng Chân, Ưng Đường và Ưng Đăng. Tự Đức rất thông minh và có tài vǎn học, thích nghiền ngẫm kinh điển Nho giáo, xem sách đến khuya. Tự Đức là một trong những người uyên bác về Nho học và Khổng học thời đó.

Khi Tự Đức lên cầm quyền, An Phong Công Hồng Bảo liên hệ với các giáo sĩ đạo Thiên chúa mưu phản, soán đoạt ngôi vua, Tự Đức cho công bố 2 Đạo dụ năm 1848, và 1851 cấm đạo gắt gao hơn,từ 1848-1860, đã có hàng ngàn giáo dân bị tàn sát hay lưu đày. Ngày 16 tháng 9 năm 1856, tàu chiến Catinat của Pháp đến Đà Nẵng, dưới danh nghĩa trao quốc thư phản đối việc triều đình Huế bức hại đạo Thiên chúa, nhưng đích thực là điều tra tình hình Việt Nam nhằm phục vụ ý đồ xâm lược. Triều đình Huế không tiếp. Âm mưu thất bạingày 26 tháng 9 năm 1856, chúng bắn phá các đồn biên phòng trên bờ, rồi nhổ neo bỏ đi. Một tháng sau, ngày 24 tháng 10 năm 1956, chiến hạm Capricieuse lại cập bến cảng Đà Nẵng xin được gặp các quan lại trong triều để thương lượng, nhưng cũng bị cự tuyệt. 

PHÁP GÂY HẤN. Ngày 23 tháng 1 năm 1857, một phái viên của Napoleon III tên là Montigny cập bến Đà Nẵng yêu cầu triều đình phải cho các giáo sĩ tự do truyền đạo và buôn bán. Montigny tỏ  thái độ hung hăn, nhưng triều đình Huế vẫn cương quyết cự tuyệt không tiếp. Khi xuống tàu về nước, đe dọa sẽ dùng vũ lực để trừng phạtnếu không đình chỉ việc cấm đạo. Montigny còn lén lút đưa tên giáo sĩ gián điệp Pellerin lên tàu về Pháp. Về đến Pháp, Pellerin điều trần lên Hoàng đế Napoleon III cảnh giáo sỉ bị bức hại, và giáo dân bị đàn áp, và xin Napoleon cử binh sang Việt Nam để bênh vực những người theo đạo. Pellerin nói, nếu quân Pháp vào, thì giáo dân sẽ đứng dậy giúp Pháp chống lại triều đình. Ngày 22 tháng 4 năm 1857, Napoleon III lập ra Hội đồng Nam Kì để xem xét lại Hiệp ước Versailles năm 1787. 

Kỳ thực, Pigneau de Behaine, đại diện cho Nguyễn Ánh đã kí hiệp ước 1787 với Montmorin, đại diện cho vua Louis XVI. Nhưng, hiệp ước đó đã bị thủ tiêu ngay sau khi kí kết, bởi Chính phủ Pháp lúc đó không có điều kiện thi hànhvì còn lo đối phó với ngọn sóng cách mạng (1789) kéo dài tới 10 năm, cho đến khi Napoleon lật đổ Hội đồng Cách mạng năm 1799. Thâm ý của Pháp là muốn dựa vào Hiệp ước Versailles để "hợp pháp hóa" việc mang quân sang đánh chiếm Đại Nam. Trong khi đó, Uỷ hội nghiên cứu Nam Kỳ (Commission de la Cochinchinegồm nhiều nhân vật thông thạo vùng Viễn Đông gợi ý rằng nước Pháp nên chiếm ba thương cảng Sài Gòn, Đà Nẳng, Kẻ Chợ để thuận lợi cho Pháp trên cả 3 phương diện tinh thần, chính trị và thương mại. Hoàng đế Napoléon III tâm đắc với “gợi ý” của Ủy hội. 

PHÁP ĐÁNH CHIẾM ĐÀ NẴNG, GIA ĐỊNH. Đầu năm 1858, Đô đốc Charles Rigault de Genoouilly được lệnh mang quân đánh chiếm Đà Nẵng. Ý định của Pháp lúc này là chiếm 1 căn cứ, phục vụ cho việc thương nghịĐô đốc Charles Rigault de Genoouilly thấy triều đình Huế không muốn thương nghị mà lại chuẩn bị kháng cự, quân Pháp lại nhiễm dịch tả, sốt rét nên ông gởi báo cáo về Paris, xin thay đổi mục tiêu xuống phía Nam. Ngày 18 tháng 2 năm 1859, Rigault de Genouilly đánh chiếm thành Gia Định, Tổng đốc thành Võ Duy Ninh tuẫn tiết (tự tử để giữ khí tiết). Năm 1860, cuộc xung đột với nhà Thanh bên Tàu, hai chính phủ Anh và Pháp phải điều quân sang Trung Hoa, lúc đó Chính phủ Pháp muốn rút khỏi Nam Kỳ.

Nhưng, Đô đốc Rigault de Genoouilly để lại một ít quân tại Nam Kỳ, và trao quyền chỉ huy cho tướng Francois Page trở về Paris giải trình sự cần thiết phải chiếm đóng Gai Định làm đầu cầu. Bộ trưởng Hải quân Pháp là ông Chasseloup-Laubat tán thành ý kiến của Rigault de Genouilly. Sau khi ký Hoà ước với Trung Hoa, đô đốc Pháp là Léonard Charner sang thay Francois Page. Charner mang theo 1 Hạm đội gồm 70 chiến hạm và 3.500 người tới Nam Việt Nam.Tháng 2 năm 1861, quân Pháp đánh chiếm Đại đồn Kỳ Hoà rồi Mỹ Tho cũng thất thủ hai tháng sau đó. Trong suốt năm 1861, Đô đốc Charner mở rộng việc chiếm đóng quanh vùng Gia Định, Mỹ Tho và bắt đầu xây dựng bộ máy hành chính để quản lý khu vực chiếm đóng.

PHÁP CHIẾM BIÊN HOÀ, BÀ RỊA, VĨNH LONG, HOÀ ƯỚC NHÂM TUẤT 1863. Sau khi Đại đồn Kỳ Hòa thất thủ, triều đình bổ ông Nguyễn Bá Nghi làm Khâm sai Đại thần thay Nguyễn Tri Phương. Bá Nghi thấy thế không chống đỡ nổi với quân Pháp nên gởi tấu về xin giảng hòa. Thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard vừa thay thế Charner tiếp tục cho quân Pháp đánh chiếm Biên Hoà, Bà Rịa tháng 12 năm 1861, Vĩnh Long tháng 3 năm 1862. Lúc nầy ở Bắc Kỳ đang có các cuộc nổi dậy của Tạ Văn Phụng và Cai Tổng Vàng, Nông Hùng Thạc đánh phá khắp nơi, trong khi Nam Kỳ thì Pháp đã chiếm bốn tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hoà và Vĩnh Long. 

So sánh hai mối nguy, cuối cùng triều đình Tự Đức sai Phan Thanh Giảng và Lâm Duy Hiệp và Sài Gòn giảng hòa với Pháp, để có thể đưa đại quân ra tiêu diệt các cuộc nổi dậy ở đất Bắc, cũng đang uy hiếp vương triều nhà Nguyễn. Kết quả là Hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862) được ký kết giữa đại diện ba nước Đại Nam, Pháp, và Tây Ban Nha gồm 12 điều khoản, theo đó: Giáo sỉ Pháp và Tây Ban Nha được tự do truyền đạo Gia Tô ở nước Đại Nam; 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường cũng như đảo Côn Lôn, được nhượng cho Pháp; Thành Vĩnh Long sẽ trả cho triều đình Đại Nam; Triều đình Huế phải bồi thường chiến phí 4.000.000 đồng bạc trong 10 nămcùng việc mở cửa thông thương ở Đà Nẵng, Ba Lat và Quảng Yên.

Đất Gia Định là quê ngoại, vùng khai nghiệp, và là nguồn lương thực của cả nước, nên vua Tự Đức sai Phan Thanh Giản làm Chánh sứ cùng các ông Phạm Phú Thứ và Nguỵ Khắc Đản sang Pháp thương nghị, xin chuộc lại.  Hoàng đế Napoleon III, hứa với đoàn sứ của ta là sẽ trả lời sau. Tháng 7 năm 1867, thiếu tướng De la Grandière viện cớ các tỉnh miền Tây có liên hệ với các tổ chức chống Pháp ở miền Đôngnên tập kết quân ở Mỹ Tho mở cuộc tấn công 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Biết không chống nổi, Phan Thanh Giản khuyên các quan ở 3 tỉnh nên đầu hàngcòn ông viết sớ về triều tạ tội, di chúc cho con cháu quyết không được nhận quan chức gì của Pháp ở Nam Kỳrồi nhịn ăn mà chết. Phan Thanh Giản là vị Đại quan thứ hai dưới Triều vua Tự Đức tuẫn tiết. Vậy là, không cần có Hiệp ước mới, Lục tỉnh Nam Kỳ đã biến thành thuộc địa của nước Pháp.

PHÁP ĐÁNH CHIẾM THÀNH HÀ NỘI, HOÀ ƯỚC GIÁP TUẤT 1874. Chiếm xong Nam Kỳ, người Pháp ngắm nghé Bắc Kỳ, cho rằng sông Cửu Long  không thuận tiện cho việc giao thông với Vân Nam. Năm 1868, Đại úy Garnier gặp một thương nhân Pháp là Jean Dupuis tại Hán Khẩu. Dupuis cho Garnier biết, rằng theo sông Hồng ở Bắc Kỳ có thể tới được Vân Nam. Năm 1872, Dupuis tổ chức 1 đoàn thuyền chở hang vào Hà Nội, thuê thuyền nhỏ chuyễn đi Vân Nam. Khi trở về, Jean Dupuis bị các quan địa phương ngăn cản, Dupuis cho rằng, hắn ta được phép của các quan Trung Hoa. Nguyễn Tri Phương ra yết thị cấm cho chở hàng đi Vân Nam và đòi Jean Dupuis phải rời khỏi Bắc Kỳ, nhưng Dupuis kiên quyết ở lại. Triều đình yêu cầu phía Pháp bắt Dupuis,vì theo Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862thì Hà Nội không phải nơi thông thươnghay trung chuyển hàng hoá. 

Cùng lúc, Triều đình cử quan Khâm sai Lê Tuấn cùng  Nguyễn Văn Tường, và Nguyễn Tăng Doãn vào Sài Gòn thương nghị. Đô đốc Marie Jules Dupré phái Đại úy Francis Garnier ra Bắc để giải quyết vụ việc Dupuis. Ra đến Hà Nội, Garnier gặp Nguyễn Tri Phương đề nghị ký một bản thương ước mở sông Hồng cho việc thông thươngnhưng Nguyễn Tri Phương từ chối do chưa rõ ý kiến của triều đình Huế. Đại úy Garnier lại gửi cho các quan chức Việt Nam một tối hậu thưyêu cầu phải giải giáp quânvà cho Jean Dupuis tự do đi lại. Đúng hẹn, không được thư trả lờingày 20 tháng 11 năm 1873, quân Pháp tấn công thành Hà Nộichẳng bao lâu thì thành thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, bị bắt, ông nhịn ăn và chết sau đó. Nguyễn Tri Phương là vị Đại quan thứ ba dưới Triều vua Tự Đức tuẫn tiết. 

Lấy được thành Hà Nội, quân Pháp chia nhau đi đánh chiếm các thành Nam Định, Phủ Lý, Hải Dương và Ninh Bình. Khi ấy có Lưu Vĩnh Phúc là đầu đảng của quân Cờ Đen về hàng triều đình Huế, vua Tự Đức phong cho chức Đề đốc để phụ đánh quân Pháp. Lưu Vĩnh Phúc đưa quân đến đánh thành Hà Nội. Francis Garnier đem quân ra nghênh thì bị quân Lưu Vĩnh Phúc phục kích giết chết ở cầu Giấy. Sứ thần của triều đình Huế là Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường thương thuyết với Đô đốc Marie Jules Dupré, kết quả hai bên  Hòa ước Giáp Tuất (1874), theo đóPháp đồng ý trao trả  Hà Nội và các tỉnh đã bị chiếm ở Bắc Kỳ cho triều đình Huế. Triều đình Huế công nhận cả lục tỉnh Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp.

PHÁP ĐÁNH CHIẾM THÀNH HÀ NỘI LẦN THỨ HAI. Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, Pháp xúc tiến đánh chiếm những phần còn lại của Việt Nam qua cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ. Năm 1879, thượng tướng Bernard Jaureguiberry yêu cầu Pháp gởi thêm 6.000 quân sang Bắc Kỳ để áp đặt nền bảo hộ. Phía triều đình Huế cũng cử các tướng giỏi từ Huế ra tăng cường mặt trận phía Bắc. Năm 1882, thống đốc Le Myre de Vilers gởi thư cho triều đình Huế trách cứ nhà vua bất lực, để đất nước loạn ly, rằng Pháp phải bảo vệ quyền lợi của kiều dân Pháp tại miền Bắc. Đồng thời phái Đại tá Henry Riviere ra Bắc với 233 binh sĩ để bảo vệ các thương gia Pháp. Quan binh Bắc Kỳ lo phòng bị chống giữ.  

Ngày 25 tháng 4 năm 1883, vào lúc 5 giờ sáng. Henry Rivière gởi tối hậu thư cho Tổng đốc Hoàng Diệu,  hạn đến 8 giờ sáng thì trong thành phải giải giápvà các quan lại phải đến trình diện tại Đồn Thủy. Đúng 8 giờ, các pháo thuyền Fanfare, Surprise, Massue và Carbine từ bờ sông Hồng bắn đại bác vào thành. Tới 10 giờ 45, quân Pháp đổ bộ tấn công vào thành. Lúc 11 giờ thì quân Pháp chiếm được thành. Thiếu tá Berthe des Villers và 3 binh sĩ Pháp bị thươngquân triều đình có 40 tử trận và 20 bị thương, binh lính hoảng sợ bỏ chạy khỏi thành. Tổng đốc Hoàng Diệu cố gắng chống cự nhưng quân Pháp đã tràn vào thành, đành treo cổ tự vẫn dưới một cái cây trước Võ Miếu, thọ 54 tuổi. Hoàng Diệu là vị Đại quan thứ tư dưới Triều vua Tự Đức tuẫn tiết. 

Chiếm được thành Hà Nội, quân của Pháp tiếp tục đánh chiếm nhiều nơi như Hòn Gai, Nam Định. Quân triều đình do Trương Quang Đản, Bùi Ân Niên, Hoàng Kế Viêm ra sức đánh trả, đồng thời đưa quân bao vây thành Hà Nội. Đại tá Rivièrechỉ huy một đội quân xuất thành phá vây, thì bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc hạ sát sáng ngày 19 tháng 5 năm 1883 tại Cầu Giấy, nơi mà 10 năm trước đây, ngày 21 tháng 12 năm 1873, đại úy Francis Garner cũng đã bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc giết chết.  Rheinart khâm sai Pháp sang thương thuyết, với triều đình Huế, đòi nước Việt Nam phải nhận nước Pháp bảo hộ và nhường thành thị Hà Nội cho Pháp. 

Triều đình cho người sang cầu cứu Trung Quốc. Lúc nầy, triều đình nhà Thanh vừa cho tăng cường phòng bị biên ải, cùng với đó, đưa quân chiếm đóng hết các tỉnh Bắc Ninh, và Sơn Tây dưới danh nghĩa cứu viện cho triều đình Huế. Quân triều đình tại các tỉnh Bắc Kỳđang phối hợp với quân Thanh cùng đánh Pháp. Giữa khi tình hình nước Đại Nam đang rối rắm, thì ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi, tức ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức băng hà, hưởng thọ 54 tuổi. 

 

Bài 150: VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN DƯỚI THỜI VUA DỤC ĐỨC, VÀ VUA HIỆP HOÀ.

VUA DỤC ĐỨC. (1883 -1883)Dục Đức là vị Hoàng đế thứ năm của Vương triều nhà Nguyễn. Vua Dục Đức tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Ái, sau được Tự Đức đổi thành Nguyễn Phúc Ưng Chân. Ông là con thứ hai của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y và bà Trần Thị Nga. Năm 17 tuổi, ông được vua Tự Đức chọn làm con nuôi và cho xây dựng phòng riêng để học tập, giao cho Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên trông nom dạy bảo. Chỗ học của vua về sau được gọi là Dục Đức Đường. Năm 1883, ông được phong làm Thụy Quốc công. Trước khi băng hà, Hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Ưng Chân được vua Tự Đức để lại di chiếu truyền ngôi, trong di chiếu có đoạn viết: "... Nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều chẳng tốt chưa chắc đã đảm đương được việc lớn. Nước có vua lớn tuổi là điều may cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây." Các quan Phụ chính Trần Tiễn Thành, Nguyên Văn Tường, và Tôn Thất Thuyết dâng sớ lên vua Tự Đức xin bỏ mấy đoạn có liên quan đến tính nết xấu của tự quân và câu "không chắc đảm đương nổi việc lớn" nhưng vua Tự Đức từ chối. 

NGUYỄN VĂN TƯỜNG, TÔN THẤT THUYẾT LỘNG QUYỀN. Thọ lãnh di chiếu của Tự Đức, Ưng Chân kế vị lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1883. Lúc làm lễ lên ngôi, Ưng Chân đã cho đọc lướt đoạn ghi trong di chiếu ở trên. Hai Phụ chính Đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường bèn dâng lên Hoàng Thái hậu Từ Dụ (mẹ vua Tự Đức) tờ hạch tội buộc cho vua Dục Đức bốn tội lớn: Muốn sửa di chiếu của vua chaCó đại tang mà mặc áo màuTự tiện đưa một giáo sĩ vào Hoàng thànhThông dâm với nhiều cung nữ của vua cha. Sau khi nhận được sự đồng ý của Hoàng Thái hậu Từ Dụ và Hoàng hậu Lê Thiện Anh, hai quan Phụ chính liền sai người giam vua Dục Đức ở Dục Đức Đường, rồi Thái Y viện, và cuối cùng là ngục Thừa Thiên. Ở đây, nhà vua bị bỏ đói cho đến chết. Dục Đức chỉ ở ngôi vua có 3 ngày. Khi mất, vua Dục Đức để lại 8 bà vợ, 11 người con trai và 8 người con gái. Vua Dục Đức là cha của vua Thành Thái và là ông nội của vua Duy Tân sau này.

VUA HIỆP HOÀ. (7/1883 -11/1883)Hiệp Hoà là vị Hoàng đế thứ sáu của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 30 tháng 7 năm 1883, lấy hiệu Hiệp Hoà, lúc 36 tuổi. Vua Hiệp Hòa tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Dật, sinh quán tại Huế, con thứ 29 và là út của vua Thiệu Trị; Mẹ Doãn Tấn tức bà Đoàn Thị Doãn. Đồng thời với việc truất phế Dục Đức, hai Phụ chính Tường, và Thuyết đề nghị lên Hoàng Thái Hậu Từ Dụ (mẹ vua Tự Đức), đưa Lãng Quốc công Nguyễn Phúc Hồng Dật, con thứ 29 và là con út của vua Thiệu Trị lên làm vua. Nhà Hồng Dật ở Kim Long. Theo Phạm Khắc Hoè (1902-1995), nguyên là Ngự tiền văn phòng đổng lý của Bảo Đại, khi đình thần ra đó rước, dù năn nỉ mấy, Hồng Dật cũng không đi, nên cuối cùng phải dùng đến vũ lực mới đưa được ông vào Cấm thành. Vua Hiệp Hòa trị vì 4 tháng. Ông có 11 hoàng tử và 6 công chúa, chỉ biết người con thứ là Ưng Hiệp tước vị Phong Lộcvà một hoàng hậu tên Ngọc Pha. Hai người con trai khác là Nguyễn Phúc Ưng Bác, húy là Văn Lang Hương Công và Nguyễn Phúc Ưng Chuẩn.

Vua Hiệp Hoà vừa lên ngôi được hai mươi ngày, thì ngày 20 tháng 8 năm 1883, quân Pháp tấn công đánh chiếm cửa Thuận Ankhống chế cửa ngõ thủy lộ chính vào kinh đô Huế. Trong trận tấn công nầy, quân Đại Nam tuy đánh trả quyết liệt, nhưng đến cuối ngày các pháo lũy đều bị đạn pháo Pháp phá hủy, lực lượng phòng thủ bị tổn thất rất nghiêm trọng mà quân Pháp không bị thiệt hại gì, quan trấn thành là Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận, Lâm Hoành, Trần Thúc Nhẫn nhảy xuống sông tự tử. Trong hoàn cảnh nguy ngập, quân Pháp uy hiếp sát kinh thành, triều đình Huế cử Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp ra Thuận An điều đình với Pháp. 

HOÀ ƯỚC QUÝ MÙI (1883). Tổng ủy Jules Harmand đưa ra dự thảo Hòa ước với những điều khoản ngang ngược, nặng nề, và hạn cho triều đình Huế phải trả lời trong 24 giờ, nếu không, quân Pháp sẽ khai hỏa đánh chiếm kinh thành Huế. Harmand còn đe dọa rằng: "Đế quốc Đại Nam, hoàng triều, cùng các vương công, đại thần sẽ tự tuyên án tử hình cho chính mình. Cái tên Việt Nam sẽ bị xóa khỏi lịch sử..." nếu vua quan nhà Nguyễn không chấp nhận toàn phần những điều kiện nêu ra. Lúc này, triều đình Huế đang ở thế thua, không làm được gì hơn ngoài việc phải ký chấp nhận những điều khoản do Pháp đưa ra. Đó là Hoà ước Quý Mùi (1883) còn gọi là Hoà ước Harmand được hai bên ký kết ngày 23 tháng 7 năm Quý Mùi, tức ngày 25 tháng 8 năm 1883 dưới thời vua Hiệp Hòa

Theo đó: Đại Nam phải chấp nhận sự bảo hộ của Phápvà Pháp có quyền kiểm soát quan hệ của Đại Nam với các quốc gia khác, kể cả Trung Hoa. Tỉnh Bình Thuận phải nhập vào Nam Bộ thuộc địa của Pháp. Sau Hòa ước Quý Mùi 1883, Tôn Thất Thuyết chống đối nhà vua ra mặt, không chịu quì ly và to tiếng với nhà vua. Sự thù nghịch nàylàm vua Hiệp Hòa lo ngại cho tính mạng, nên tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía Công sứ Pháp ChampeauxKhông may, việc này bị Nguyễn Văn TườngTôn Thất Thuyết phát hiện nên ra tay trước. Tường và Thuyết tâu với bà Từ Dụ lập Nguyễn Phúc Ưng Đăng, con nuôi thứ ba vua Tự Đức lên ngôi, rồi bắt vua Hiệp Hòa đem ra phủ ông Dục Đức cho uống thuốc độc chết 29 tháng 11 năm 1883. Giết vua Hiệp Hòa rồi, lại thấy quan Phụ chính Trần Tiễn Thành không theo ý mình, Tường và Thuyết cũng sai người giết nốt.

Tuy Lý Vương sợ quá, dẫn vợ con chạy ra cửa Thuận An nương nhờ Picard Destelan, chỉ huy tàu Vipère, nhưng rồi cũng bị bắt đày vào Quảng Ngãi. Cuộc khủng hoảng chính trị này đã làm cho phe chủ hòa mất tinh thần. Làn không khí khủng bố bao trùm khắp kinh thành Thuận Hoá”.

 

Bài 151: VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN THỜI VUA KIẾN PHÚC, VUA HÀM NGHI, VÀ ĐỒNG KHÁNH.

VUA KIẾN PHÚC. (12/1883-7/1884)Kiến Phúc là vị Hoàng đế thứ tám của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày  2 tháng 12 năm 1883, lấy hiệu Kiến Phúc, lúc 15 tuổi. Vua Kiến Phúc tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Đăng sinh ngày 2 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (12-2-1869con thứ 3 của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Năm 1870 lúc được 2 tuổi, Ưng Đăng được vua Tự Đức nhận làm con nuôi và giao cho bà Học Phi Nguyễn Thị Hương trông coi, dạy bảo. Sau khi vua Hiệp Hòa bị phế truất, vào ngày 2-12-1883, Ưng Đăng được đưa lên ngôi vuaVua Kiến Phúc ở ngôi được 8 tháng thì mất vào ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân (31-7-1884) lúc mới 16 tuổi. Cái chết của ông có liên hệ mật thiết với Phi tần Nguyễn Văn Thị Hương và Phụ chính sứ Nguyễn Văn Tường.

HOÀ ƯỚC BẢO HỘ GIÁP THÂN (1884). Lúc bấy giờ, ở Bắc Kỳ lực lượng của Hoàng Kế Viêm, Trương Quang Đản đang phối hợp với quân Thanh đánh Pháp. Viên Khâm sứ Pháp lấy điều đó ra trách cứ triều đình, buộc triều đình Huế phải triệu hồi hai viên tướng ấy về Kinh. Ít lâu sau quân Pháp đánh chiếm các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên và Tuyên Quang. Ngày 18 tháng 4 năm Giáp Thân (1884) Pháp ký kết hòa ước Thiên Tân với nhà Thanh, nhà Thanh thuận rút quân khỏi Bắc Kỳ, để cho nước Pháp được tự do xếp đặt mọi việc trên đất Đại Nam.. Ngày 13 tháng 5 tức ngày 6 tháng 6 năm 1884, ông Patenôtre đến Huế thương thảo, và ký hòa ước mới với triều đình nhà Nguyễn. Đó là Hoà ước Giáp Thân (1884) còn gọi là Hòa ước Patenôtre. Theo đó: Triều đình nhà Nguyễn công nhận cuộc bảo hộ của Pháp. Và nước Đại Nam chia ra làm hai khu vực là Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Đất nước đang rối ren thì ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân (31/7/1884), vua Kiến Phúc mất vì bệnh, hưởng dương 15 tuổi

 VUA HÀM NGHI. (8/1884 -7/1885)Hàm Nghi là vị Hoàng đế thứ tám của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày  2 tháng 8 năm 1884, lấy hiệu Hàm Nghi, lúc mới 13 tuổi. Hàm Nghi có tên thật Nguyễn Phúc Ưng Lịch, sinh ngày 17 tháng 6 năm Tân Mùi (03/8/1871). Ông là con thứ năm của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Nhàn, Ông là em ruột của vua Kiến Phúc (Ưng Đăng) và vua Đồng Khánh (Ưng Kỷ). Mặc dù hai phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nắm trọn quyền hành trong việc phế bỏ vua này, truất ngôi vua khác. Nhưng họ lại rất bị động trong việc tìm người trong Hoàng gia có cùng chí hướng để đưa lên ngôi. Trước thời Hàm Nghi, cả ba vua Dục Đức, Hiệp Hoà và Kiến Phúc đều lần lượt đi ngược lại ý đồ của Tường và Thuyết, và trở thành những phần tử phải bị Tường, và Thuyết loại bỏ hoặc hoặc bị mất sớm

Vua Kiến Phúc mất, đáng lẽ con nuôi thứ hai của vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Ưng Kỹ lên ngôi, nhưng Tường và Thuyết sợ lập một vị vua lớn tuổi sẽ mất quyền hành, và hai ông dứt khoát chọn Nguyễn Phúc Ưng Lịch. Đây là một người có đủ tư cách về dòng dõi, nhưng chưa bị cuộc sống giàu sang của kinh thành làm vẩn đục tinh thần tự tôn dân tộc,và quan trọng hơn hết là hai ông có thể định hướng nhà vua về đại cuộc của đất nước một cách dễ dàng. Từ nhỏ Ưng Lịch sống trong cảnh bần hàndân dã với mẹ chứ không được nuôi dạy tử tế như hai người anh ruột ở trong cung. Khi thấy sứ giả đến đón, cậu bé Ưng Lịch hoảng sợ và không dám nhận áo mũ. Ngày 12 tháng 6 Giáp Thân (2/8/1884), Nguyễn Phúc Ưng Lịch lên ngôi lấy hiệu Hàm Nghi. 

Năm 1885, Thống tướng de Courcy được chính phủ Pháp cử sang Việt Nam để phụ lực vào việc đặt nền bảo hộ theo Hoà ước Giáp Thân (1884). Tướng de Courcy vào yết kiến vua Hàm Nghi, nhưng lại muốn cả 500 binh lính cùng đi vào cửa chánh là cửa dành riêng cho đại khách. Triều đình Huế xin theo đúng nghi thức là các bậc tướng lĩnh đi cửa chánh, còn quân lính đi cửa hai bên, nhưng de Courcy nhất định không chịu. Vì thấy người Pháp xem thường nghi thức triều đình, khinh mạn vua quan ta, nên đêm 22 rạng 23 tháng 4 năm Ất Dậu (5 rạng 6/7/1885), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết mang quân tấn công trại binh Pháp ở đồn Mang Cá. Đến sáng thì quân Pháp phản công, quân triều Nguyễn thua chạy.

Tôn Thất Thuyết vào cung báo lại sự việc, đưa Hàm Nghi cùng Tam cung rời bỏ Kinh thành Huế đi lánh nạn. Nghe chuyện phải rời khỏi thành, vua Hàm Nghi đã thảng thốt nói: "Ta có đánh nhau với ai mô mà phải chạy". Chiều ngày 6 tháng 7 thì cả đoàn tới Quảng Trị. Nguyễn Văn Tường trở lại ra trình diện với quân Pháp. Tướng de Courcy hẹn cho Tường hai tháng phải tìm cách đưa vua về. Tường viết sớ ra Quảng Trị xin rước vua về lại triều đình, nhưng bị Tôn Thất Thuyết cản không cho vua biết. Hết hạn hai tháng Tường bị đày ra Côn đảo, rồi đưa tới đảo Tahiti ở Thái Bình Dương. Ít lâu sau Tường qua đời.nNgày 9 tháng 7 năm 1885, dưới áp lực của Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi đành từ biệt Tam cung, lên đường đi Tân Sở. Tại Tân Sở, vua Hàm Nghi tuyên hịch Cần Vương kêu gọi sĩ phu và dân chúng nổi dậy chống Pháp giành độc lập. Phong trào Cần Vương kéo dài đến năm 1888 thì Hàm Nghi bị bắt. Sau đó, ông bị đem an trí ở Alger (Thủ đô xứ Algerie). 

VUA ĐỒNG KHÁNH (1885-1889). Đồng Khánh là vị Hoàng đế thứ chín của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 19 tháng 9 năm 1885, lấy hiệu Đồng Khánh, lúc 21 tuổi. Đồng Khánh tên thật  Nguyễn Phúc Ưng Kỷ sinh ngày 12tháng Giêng năm Giáp Tý (19-2-1864) tại Huế, con trai cả của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Năm 1865, Ưng Kỷ được vua Tự Đức nhận làm con nuôi và giao cho bà Nhất giai Thiện phi Nguyễn Thị Cẩmchăm sóc dạy bảo. Sau khi vua Hàm Nghi rời bỏ Kinh thành Huế. Triều đình Huế đưa Nguyễn Phúc Ưng Kỷ đưa lên ngôi, nhà Vua phải thân hành sang bên Khâm sứ Pháp làm lễ thụ phong. 

Để ổn định nội trị trong nước, tháng 8 âm lịch năm 1885, Đồng Khánh phong Nguyễn Hữu Độ làm Cố mệnh Lương thần, Thái tử Thái sư, Đại Học sĩ điện Cần Chánh, Đại thần Viện Cơ mật, Kinh lược sứ Bắc Kỳ, và Phan Đình Bình m Cố mệnh Lương thần, Hiệp tá Đại Học sĩ, Đại Học sĩ điện Văn Minh, Tả quốc Huân thần, Thượng thư bộ Lại, Tổng tài Quốc sử quán... Không lâu sau, Phan Đình Bình và Nguyễn Hữu Độ xảy ra xung đột, Phan Đình Bình vốn là cha vợ vua Dục Đức, nên Nguyễn Hữu Độ mật cáo lên vua Đồng Khánh, rằng Phan Định Bình có ý muốn lập cháu ngoại mình là hoàng tôn Bửu Lân làm vua, Đồng Khánh ghép Phan Đình Bình vào tội chết, tước hết chức tước tài sản. Ít lâu sau đó Phan Đình Bình chết ở trong ngục.

Đồng Khánh là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn thừa nhận nền Bảo hộ của Pháp. Sau khi đăng quan, Đồng Khánh gửi thư đáp lễ và cam kết với chính phủ Pháp giữ mối bang giao tốt đẹp giữa hai nước. Chính phủ Pháp trao tặng cho ông Huân chương Bắc Đẩu bội tinh hạng Nhất, đồng thời "trả lại" 2 điện Hiếu Tư, Long An và Quốc sử quán bị chiếm giữ trước đó; "giao trả" 20.000 lạng bạc và 20.000 quan tiền đồng, chuẩn cho cung tiến trong Nội cung 10.000 lạng bạc, 10.000 quan tiền; lưỡng cung Thái hậu cung 10.000 lạng bạc, 10.000 quan tiền. Kho tàng vẫn do người Pháp canh giữ, chỉ theo điều khoản tới kì hạn mới trích ra cho hoàng gia mà thôi. Không lâu sau, Toàn quyền Pháp đề ra ba điều lệ đưa cho Viện Cơ mật gồm: Một, cấm chuyên chở súng ống đạn dược; Hai, nhà nước có quyền lấy ruộng tư sung vào ruộng công nếu việc đó cần cho lợi ích chung và được đền bù bằng tiền; Ba, chức quyền Kinh lược Pháp Bắc Kỳ sẽ thay mặt nhà vua ở Bắc Kỳ.  

Thời điểm này, tại Tân Sở, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương chống Pháp, Ngày 17 tháng 6 năm 1886, vua Đồng Khánh xa giá khởi hành từ kinh đô bắt đầu chuyến chiêu dụ phong trào, dựng hành tại Châu Thị, cho soạn tờ Sắc dụ để bảo các sĩ phu chống Pháp nếu biết "hối lỗi", "quy thuận" thì vẫn sẽ được cho giữ nguyên chức cũ, mà nếu vua Hàm Nghi thuận về sẽ ban cho tước công, cấp bổng lộc hậu hĩnh, đồ dùng cho xài theo kiểu vua chúa... Ngày 4 tháng 9, vua Đồng Khánh ngồi tàu từ của Nhật Lệ về kinh đô. Ngài tự nhận xét về chuyến đi không thành công của mình như sau từ Quảng Trị trở ra Bắc, các tướng giặc chưa bắt làm tội hết. Không đời nào tôi có thể tin rằng Hà Tĩnh, Quảng Bình trung thành với tôi, vì hai tỉnh ấy có nhiều sĩ phu quá!

Năm 1887, vua Đồng Khánh lại cử Hoàng Tá Viêm, một cựu thần có uy tín, làm An Hữu Kinh lý Đại thần, ra Quảng Bình  phủ dụ phe kháng chiến một lần nữa. Chiếu thư của Đồng Khánh nói rõ: nếu vua Hàm Nghi thuận về sẽ phong làm Tổng trấn Thanh Nghệ, hậu đãi bổng lộc; Tôn Thất Thuyết nếu chịu quy phục sẽ xóa tội cũ cho về làm ruộng, bọn Trương Văn Ban, Nguyễn Trực, Nguyễn Thư, Lê Mô Khởi, Nguyễn Nguyên Thành, Phan Trọng Mưu... vẫn được giữ nguyên hàm. Các ông Trần Xuân Soạn, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Đình Phùng nếu quay đầu cũng sẽ khoan giảm tội mà bố trí cho các chức hàm khác. Kết quả không có ai chịu theo hàng, và Hoàng Kế Viêm được lệnh về triều vào tháng 12 năm đó.

Mùa xuân năm Đồng Khánh thứ 2 1887, Nguyễn Hữu Độ được cử ra Bắc Kì gặp Thống tướng của Pháp de Courcy thương lượng về các khoản cấp dành cho triều đình Huế ở mỗi năm, cụ thể như sau: Chi phí hằng năm tăng thêm số tiền và gạo, mỗi năm khoản 1 triệu quan. Ngạch lính ở Kinh 1.000 người, các tỉnh từ 300 đến 400, 500, súng ống 2.000 khẩu.Các khoản thuế chợ, thuế đò và các mặt hàng đồng, tơ sợi, rượu... vẫn do người Đại Nam lãnh trưng. Vấn đề lương giáo do triều đình quản lý. Việc thay đổi và bổ dụng các quan do bản quốc tâu chuẩn định đoạt. Mùa hạ cùng năm, chuẩn cho mở trường dạy tiếng Pháp lấy Diệp Văn Cương làm Chưởng giáo, Nguyễn Hữu Mẫn làm Trợ giáo, cho con em quan lại, binh lính và dân chúng được nộp tiền mà vô học, đến cuối năm Viện Cơ mật làm cuộc sát hạch, tuyển những người ưu tú làm Hành nhân, cấp lương bổng cho việc học chữ và học việc.

Ngày 17 tháng 10 năm 1887, Tổng thống Pháp Marie Francois Sadi Carnot ra sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương gồm: thuộc địa Nam Kỳ; bán thuộc địa bán bảo hộ Bắc Kỳ; hai xứ bảo hộ Trung Kỳ và Campuchia, tất cả đều đặt dưới 1 viên quan Toàn quyền Đông Dương người Pháp. Ngày 3 tháng 10 năm 1888, triều đình Huế bị Pháp ép phải cắt nhượng năm xã của huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam nằm bên tả ngạn sông Hàn làm "nhượng địa" Tourane (sau gọi là Đà Nẵng). Hà Nội và Hải Phòng cũng chung số phận địa nhượng như vậy, và 3 khu vực này sau đó trở thành 3 thuộc địa chính thức. 

Cuối năm 1888, nhờ có nội gián Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc mà người Pháp vây bắt được vua Hàm Nghi. Triều đình Huế biết tin, sai quan lại Thừa Thiên và bộ binh ra đón rước về Huế. Nhưng người Pháp sợ dân tình sẽ bị kích động nên quyết định đày Hàm Nghi ra Algerie ở Bắc Phi. Trong tình thế đó, vua Đng Khánh, yêu cầu Toàn quyền Pháp É tienne Antione Guillaume Richaud trợ cấp hàng năm cho vua Hàm Nghi (quận công Ưng Lịch) mỗi năm 4.981 đồng bạc - một khoản tiền rất lớn ở thời điểm đó, và cho thêm một người hầu cận với lương mỗi năm 299 đồng. Từ đó các cuộc kháng chiến ở Bắc và Trung Bộ lần lượt bị đàn áp hoặc phải đầu hàng. Phong trào Cần vương suy yếu dần, nhưng còn kéo dài đến năm 1896 mới dứt hẳn. 

Đồng Khánh được xem là một ông vua không chống Pháp. Sách của Trần Trọng Kim viết: "Vua Đồng Khánh tính tình hiền lành, hay trang sức và cũng muốn duy tân, ở rất được lòng người Pháp. Vua Đồng Khánh ở ngôi được bốn năm thì bệnh và mất vào ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tý, tức ngày 28 tháng 1 năm 1889, lúc ông mới 25 tuổi. Khi đó, con trai lớn vua Đồng Khánh là Bửu Đảo (Sau nầy là vua Khải Định), mới 4 tuổi không nối ngôi được. 

 

Bài 152: VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN DƯỚI THỜI VUA THÀNH THÁI, VÀ VUA DUY TÂN.

VUA THÀNH THÁI (1889-1907). Thành Thái là vị Hoàng đế thứ mười của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 2 tháng 2 năm 1889, lấy hiệu Thành Thái, lúc 10 tuổi. Ông có tên thật là Bửu Lân, con trai thứ bảy của vua Đục Đức và bà Từ minh hoàng Hậu Phan thị Điểu, năm 4 tuổi, Vua cha Dục Đức bị phế, và chết trong tù. Năm 1889, Đồng Khánh băng hà, con trai lớn của nhà Vua là Bửu Đảo mới 4 tuổi, nên triều đình Huế trình xin ý kiến của Khâm sứ Pierre Paul Rheinart. Lúc nầy, ở tòa Khâm sứ có ông Diệp Vǎn Cương (chồng bà cô ruột của Bửu Lân) làm thông ngôn, vì thương hại vua Dục Đức, nên ông cố dịch cho Khâm sứ Rheinart nghe khác với ý của Viện Cơ mật với dụng ý để cho Bửu Lân lên ngôi.

Thế là, Bửu Lân được chọn lên ngai vàng. Tuy là vua nhưng vì còn bé nên ông vẫn thích chơi bời, nghịch ngợm. Một số quan phụ chính như Tuy Lý Vương, Nguyễn Trọng, Trương Quang Đản, thường có lời can ngǎn ông, nhưng ông không nghe lời. Các bà hậu ở Lưỡng cung đã bắt ông ra ở đảo Bồng Dinh trên hồ Tịnh Tâm, và quản thúc ông rất ngặt. Một thời gian sau, ông mới trở về Đại Nội. Vua Thành Thái dần dần bộc lộ tinh thần dân tộc rất cao. Ông khinh ghét những bọn quan lại xu nịnh. Một viên quan lớn là Nguyễn Thân đã tiến con gái là đệ nhất giai phi của Thành Thái, song cũng không được nhà Vua trọng đãi. Những người Pháp thường xuyên gần gũi không được ông trọng thị. 

Thành Thái là vị vua gần gũi với dân chúng, ông thường xuyên đi vi hành. Dân gian có “câu vè” về sự vi hành của vua Thành Thái: “Kim Long có gái mỹ miều. Trẫm thương, Trẫm nhớ, Trẫm liều, Trẫm đi.” Dưới triều Thành Thái tuy vẫn còn có những cuộc vận động chống Pháp, nhưng nhìn chung Việt Nam cũng đã đi vào ổn định, nên đã có nhiều công trình mới được xây dựng. Ở kinh đô Huế, bệnh viên Trung ương Huế, trường Quốc học, chợ Đông Ba, cầu Trường Tiền ... đều được xây dựng vào thời kỳ này. Một số tài liệu ghi rằng, vua Thành Thái bí mật chiêu nạp 4 đội nữ binh, mỗi đội 50 người, đội trước huấn luyện xong trở về nhà, và nạp đội mới, chờ thời cơ sẽ nổi dậy chống Pháp. Trước các ý tưởng khác thường của vua Thành Thái, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Thành Thái giả điên, cào cấu các bà cung phi,và làm nhiều điều không bình thường khác. Người Pháp cho rằng ông bị điên, ép ông thoái vị.

VUA DUY TÂN (1907-1916). Duy Tân là vị Hoàng đế thứ mười một của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 5 tháng 9 năm 1907, lấy hiệu Duy Tân, lúc 7 tuổi. Ông có tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh San, con trai thứ tám của vua Thành Thái và bà Hoàng phi Hoàng Thị Định. Ngày 29 tháng 7 năm 1907,  khi Thành Thái không phê chuẩn việc bổ nhiệm một số quan lại đã được Khâm sứ Lévêque và Hội đồng Thượng thư thỏa thuận, Lévêque tuyên bố truất quyền ngôi vua, và quản thúc trong Đại nội. Con ngài, nhà Vua trẻ Duy Tân kế nhiệm, người Pháp phải lập một Phụ chính gồm: Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, Miên Lịch, Lê Trinh, và Cao Xuân Dục để cai trị dưới sự điều khiển của Khâm sứ Pháp. Một tiến sĩ sinh học là Ebérhard được đưa đến để dạy học cho vua Duy Tân.

Khoảng năm 1912, Khâm sứ Georges Marie Joseph Mahé mở một chiến dịch tìm vàng: lấy tượng vàng trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, đào lăng Vua Tự Đức, và đào xới lung tung trong Đại Nội để tìm vàng. Vua Duy Tân ra lệnh đóng cửa cung không tiếp ai. Toà Khâm sứ Pháp làm áp lực, thì Duy Tân đe đọa sẽ tuyệt giao với các nhà đương cục ở Huế. Toàn quyền Albert Pierre Sarrau từ Hà Nội phải vào giải quyết vua Duy Tân mới cho mở Hoàng thành. Năm vua Duy Tân 13 tuổi, ông xem lại những hiệp ước mà hai nước Việt-Pháp đã ký. Nhà vua cảm thấy việc thi hành của hiệp ước ấy không đúng với những điều kiện mà hai bên đã ký kết với nhau nên một hôm giữa triều đình, nhà vua tỏ ý muốn cử ông Nguyễn Hữu Bài là người giỏi tiếng Pháp sang Pháp để yêu cầu duyệt lại hiệp ước ký năm 1884 (Patenôtre). Nhưng cả triều đình không ai dám nhận chuyến đi đó. 

Năm 15 tuổi, vua Duy Tân triệu tập cả sáu ông đại thần trong Phụ chính, bắt buộc các vị phải ký vào biên bản để đích thân vua sẽ cầm qua trình với Toà Khâm sứ nhưng các đại thần sợ người Pháp giận sẽ kiếm chuyện nên từ chối không ký và phải xin yết kiến bà Thái hậu để nhờ bà can gián nhà vua. Từ đó không những nhà vua có ác cảm với thực dân Pháp mà còn ác cảm với Triều đình. Biết vua Duy Tân là người yêu nước chống Pháp, nên Việt Nam Quang Phục Hội phái Trần Cao Vân, và Thái Phiên vận động người tài xế riêng của vua Duy Tân xin thôi việc, để đưa Phạm Hữu Khánh, một thành viên của Hội vào thay thế.

Tháng 4 năm 1916, khi vua Duy Tân ra nghỉ mát tại bãi tắm Cửa Tùng, Phạm Hữu Khánh trao cho nhà vua bức thư của hai lãnh tụ Trần Cao Vân và Thái Phiên. Duy Tân đọc thư rồi nói muốn gặp hai người này. Ngày hôm sau, ba người cùng đến câu cá ở Hậu hồ, vua Duy Tân đồng ý cùng tham gia khởi nghĩa. Khởi nghĩa dự định được tổ chức vào 1 giờ sáng ngày 3 tháng 5. Nhưng cuối tháng 4, một thành viên của Việt Nam Quang phục Hội ở Quảng Ngãi là Võ An đã làm lộ tin. Chiều ngày 2 tháng 5, công sứ Pháp ở Quảng Ngãi là de Taste mật điện với Khâm sứ Trung Kỳ biết tin. Nghe tin, khâm sứ Charles ra lệnh thu súng ở các trại lính người Việt cất vào kho và cấm trại không cho một người lính Việt nào ra ngoài.

Đêm 2 tháng 5, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa thuyền đến bến Thương Bạc đón vua Duy Tân. Nhà vua cải trang, đi cùng hai người hộ vệ là Tôn Thái Đề và Nguyễn Quang Siêu. Họ tới làng Hà Trung, lên nhà một hội viên Việt Nam Quang phục Hội để chờ giờ phát lệnh bằng súng thần công ở Huế. Nhưng chờ đến ba giờ sáng vẫn không nghe hiệu lệnh, biết đã thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên định đưa vua Duy Tân tới vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi. Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1916, họ bị bắt. Khâm sứ tại Huế Charles và Toàn quyền thuyết phục vua Duy Tân trở lại ngai vàng nhưng ông không đồng ý, ông nói: “Các ngài muốn bắt buộc tôi phải làm vua nước Nam, thì hãy coi tôi như là một ông vua đã trưởng thành, và có quyền tự do hành động, nhất là quyền tự do trao đổi tin tức và ý kiến với chính phủ Pháp”.

Pháp bắt triều đình Huế phải xử, Hội đồng xét xử gồm: Tham tri bộ Hình Hoàng Quảng Phu, Thị lang bộ Binh kiêm Phó sứ Hộ thành binh mã Võ Liêm, Ngự sử Viện Đô sát Tôn Thất Uyển. Bản án quy hết tội cho 4 người Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu và 14 người khác. Vai trò của Vua Duy Tân được giảm nhẹ khi phán rằng "hoàng thượng nhỏ tuổi" bị "xúi giục" và "trộm lấy chiếu văn" "tự phong quan tước" "đòi xa giá ra ngoài".  Vậy là vua Duy Tân thoát khỏi trách nhiệm trong vụ khởi nghĩa. Bốn người bị xử chém ở An Hoà. Vua Duy Tân bị đày đi đảo La Ré union ở Ấn Độ Dương cùng với vua cha Thành Thái.

Ngày 3 tháng 11 năm 1916, gia đình vua Thành Thái và Duy Tân lên tàu Guadiana ở Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu). Đến ngày 20 tháng 11 họ tới bến Pointe de Galets đảo La Réunion lúc 7 giờ rưỡi sáng. Tại đây, từ chối một biệt thự sang trọng người Pháp  dành cho, gia đình cựu hoàng sống trong một căn nhà thuê lại một người dân ở thành phố Saint-Denis. Duy Tân bất bình với cha Thành Thái vì không hợp tính tình, ông cắt đứt liên lạc với gia đình. Duy Tân ghi tên học về vô tuyến điện và mở tiệm Radio - Laboratoire bán hàng sửa chữa máy. Đồng thời, ông thi tú tài ở trường Trung học Leconte de Lisle và học thêm ngoại ngữ, luật học. Trong nhiều bức thư gởi cho Chính phủ Pháp từ 1936 cho đến 1940, để xin phục vụ trong Quân đội Pháp. 

Tất cả đơn đều bị bác vì Bộ Thuộc địa phê trong tờ lý lịch cá nhân của Duy Tân: "...parait difficile à acheter, extrêmement indépendant...intrigue pour quitter la Réunion et rétablissement trône d'Annam...". (Có vẻ khó mua chuộc, rất độc lập, mưu đồ rời khỏi đảo La Réunion để tái lập ngôi báu ở An Nam...). Sự việc nước Pháp đầu hàng phát xít Đức và sau đó lực lượng kháng chiến Pháp ở hải ngoại do De Gaulle đứng đầu được thành lập ở Anh trở về tái chiếm đất Pháp đã có tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của Cựu hoàng. Duy Tân nhờ Thống đốc La Réunion là A. Capagory (1942-1947) can thiệp cho ông đăng vào bộ binh Pháp dưới quyền của tướng Catroux với cấp bậc bimh nhì. Một thời gian sau ông được thăng lên Chuẩn úy rồi sang châu Âu.

Ngày 5 tháng 5 năm 1945, có lệnh đưa Chuẩn úy Duy Tân về phòng Quân sự của tướng Charles de Gaulle ở Paris. Duy Tân đến Pháp vào tháng 6 năm 1945. Ngày 20 tháng 7 năm 1945, ông được đưa qua phục vụ tại Bộ Tham mưu của Sư đoàn 9 Bộ binh Thuộc địa (9ème DIC) đóng ở vùng Schwarzwald, Đức. Ngày 29 tháng 10 năm 1945, Charles de Gaulle ký một sắc lệnh hợp thức hóa những sự thăng cấp liên tiếp của Duy Tân trong Quân đội Pháp: Thiếu uý từ 5 tháng 12 năm 1942, Trung uý từ 5 tháng 12 năm 1943, Đại uý từ 5 tháng 12 năm 1944, và Thiếu tá từ 25 tháng 9 năm 1945. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng cựu hoàng Duy Tân đã bị dùng như một con bài chính trị trong kế hoạch mật tái chiếm Đông Dương của Pháp.

Ngày 14 tháng 12 năm 1945, Charles de Gaulle tiếp cựu hoàng Duy Tân. Trong tập Hồi ký chiến tranh, tướng de Gaulle ghi: “Tôi sẽ tiếp Cựu hoàng [Vĩnh San] và sẽ cùng ông xét xem chúng tôi sẽ làm được những gì? Đó là một nhân vật đầy cương nghị. Mặc dù bị lưu đày ròng rã 30 năm trời, hình ảnh của ông không hề phai mờ trong tâm hồn của dân tộc ViệtNam”. Một bạn thân của Duy Tân là E.P. Thébault kể lại trong bài Destin tragique d'un Empereur d'Annam: Vĩnh San - Duy Tân: “Trở lại Paris ngày 16 tháng 12 năm 1945, tôi thấy Ngài mặc một bộ đồ nhà binh rất đẹp, có gắn bốn lon. Bây giờ Ngài trọ ở Khách sạn Louvres, trước Hý viện Pháp. Ngài nói: "Như vậy là xong rồi, quyết định rồi! Chính phủ Pháp sẽ đặt tôi lại trên ngôi Hoàng đế Việt Nam. Tướng De Gaulle sẽ theo tôi trở về bên đó [Việt Nam] vào những ngày đầu tháng 3 (1946)". 

Trong hồi ký Bên giòng lịch sử 1940-1965, linh mục Cao Văn Luận ghi lại rằng mùa đông 1944 và đầu năm 1945, cùng với một số du học sinh Việt và Việt kiều, ông có tiếp xúc ba lần với Duy Tân ở Paris. Lần đầu, cựu hoàng giải thích: “Người Pháp Pháp đang cần sự hợp tác của chúng ta để tái chiếm Đông Dương. Họ có thể chấp nhận cho ta thành một quốc gia tự trị trong Liên Hiệp Pháp. Điều đó không trái với quyền lợi quốc gia. Dần dà chúng ta đòi thêm quyền hành. Chúng ta biết làm gì hơn trước binh lực hùng hậu của Pháp và hậu thuẫn của đồng minh Tây phương? Chúng ta đã thấy những gương chống Pháp và tôi đây là nạn nhân của một lối chống nóng nảy vụng về. Rồi đất nước chúng ta phải chịu một cảnh chiến tranh tàn khốc mà kết quả chưa biết là thắng hay bại”.

Ngày 24 tháng 12 năm 1945, Duy Tân lấy phi cơ Lockheed C-60 của Pháp cất cánh từ Bourget, Paris để trở về La Réunion thăm gia đình trước khi thi hành sứ mạng mới. Lúc 13 giờ 50, phi cơ rời Fort Lami để bay đến Bangui, trạm kế tiếp. Ngày 26 tháng 12 năm 1945, khoảng 18 giờ 30 GMT, máy bay rớt gần làng Bassako, thuộc phân khu M' Baiki, Cộng hoà Trung Phi. Tất cả phi hành đoàn đều thiệt mạng bao gồm có một thiếu tá hoa tiêu, hai trung úy phụ tá, hai quân nhân và bốn thường dân. Ngày 28 tháng 3 năm 1987, hài cốt của vua Duy Tân được gia đình đưa từ M'Baiki, Trung Phi về Paris làm lễ cầu siêu tại Viện Quốc tế Phật học Vincennes và sau đó đưa về an táng tại An Lăng, Huế, cạnh nơi an nghỉ của vua cha Thành Thái, vào ngày 6 tháng 4 năm 1987./.

 

Bài 153: VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN DƯỚI THỜI VUA KHẢI ĐỊNH VÀ VUA BẢO ĐẠI.

VUA KHẢI ĐỊNH (1916-1925). Khải Định là vị Hoàng đế thứ mười hai của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 18 tháng 5 năm 1916, lấy hiệu Khải Định, lúc 31 tuổi. Ông có tên thật là Nguyễn Phúc Bữu Đảo, con trai trưởng của vua Đồng Khánh, nhưng khi vua Đồng Khánh băng hà, Bữu Đảo mới 4 tuổi nên không được lên ngôi. Sau khi buộc tội và lưu đày vua Duy Tân, người Pháp muốn xóa bỏ chế độ Quân chủ ở Việt Nam, nhưng Triều thần, đặc biệt là thượng thư Nguyễn Hữu Bài không chịu nên Pháp phải chiều ý. Dưới thời vua Khải Định, triều đình Huế không có gì xích mích với Pháp. Mọi việc đều do Toà Khâm sứ định đoạt. 

Khải Định cũng kết thân với Khâm sứ Trung Kỳ Jean Francois Eugène Charles và gửi gắm con trai mình là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy cho vợ chồng Khâm sứ. Ngày 20 tháng 5 năm 1922. Khải Định sang Pháp dự Hội chợ thuộc địa ở Marseille. Đây là lần đầu tiên một vị vua triều Nguyễn ra nước ngoài. Thời vua Khải Định có xây cất nhiều công trình, trong đó có công trình nổi tiếng là lăng của chính ông ta "Lăng Khải Định". Khải Định ở ngôi được hơn 9 năm thì bị bệnh, và mất vào ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu 1925 lúc ngài 40 tuổi. Con trai duy nhất của ngài là Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ lúc đó đang du học ở Pháp trở về thọ tang vua cha, và sau đó kế vị ngôi vua Đại Nam, hiệu Bảo Đại.

VUA BẢO ĐẠI (1926-1924). Bảo Đại là vị Hoàng đế thứ mười ba cũng là vị Vua cuối cùng của Vương triều nhà Nguyễn. Ông lên ngôi Hoàng đế ngày 8 tháng 1 năm 1926, lấy hiệu Bảo Đại, lúc 13 tuổi. Tháng 3 cùng năm 1926, Bảo Đại trở lại Pháp để tiếp tục việc học. Từ niên khóa 1930, Bảo Đại theo học trường Khoa học Chính trị (Sciences Po). Ngày 16 tháng 8 năm 1932, sau 10 năm đào tạo ở "Mẫu quốc Pháp" ngày 16 tháng 8 năm 1932, Bảo Đại về nước. Ngày 19 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại ra đạo dụ số một tuyên cáo “đích thân cầm quyền”. Ngày 8 tháng 4, năm 1933, Bảo Đại ban hành đạo dụ cải tổ nội các, quyết định “tự mình chấp chính” và sắc phong “5 thượng thư mới” xuất thân từ giới học giả và hành chính. 

Đó là các ông Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm, và Bùi Bằng Đoàn thay thế các thượng thư già yếu Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Võ Liêm, và Vương Tứ Đại. Năm 1933, Bảo Đại đề xướng hai điểm cần tu chính với chính quyền Bảo bộ Pháp: một là thống nhất Trung Kỳ và Bắc Kỳ theo Hoà ước Giáp Thân 1884, yêu cầu chính quyền Bảo hộ Pháp bãi bỏ Khâm sứ Trung Kỳ và Thống sứ Bắc Kỳ gộp lại làm một gọi là Viện Tổng trú sứ (résident général) ở Huế mà thôi; Và hai là canh tân lối cai trị cũ, để cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các vấn đề kể cả vấn đề chính trị sự vụ

Chính phủ Bảo hộ phớt lờ cả hai đề xướng trên, bởi Chính phủ Bảo hộ Pháp muốn duy trì Hoà ước Quý Mùi 1883, và Hoà ước Giáp Thân 1884 theo kiểu củ, với vua nhà Nguyễn chỉ còn cai quản Trung Kỳ theo chế độ bảo hộ: không quân đội, không tài chính, không ngoại giao. Nhà Vua chỉ còn lo việc cúng tế; nhóm họp thì dưới quyền chỉ huy của Khâm sứ người Pháp, không mang triều phục. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Bảo Đại ra đạo dụ "Tuyên cáo Việt Nam độc lập", hủy bỏ Hoà ước bảo Patenôtre với Pháp năm 1884, Việt Nam khôi phục chủ quyền, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. 

Ngày 17/3/45, vua Bảo Đại tuyên chiếu từ nay sẽ đích thân cầm quyền, theo nguyên tắc “Dân vi quý” để chỉnh đốn lại quốc gia. Đại sứ Nhật Yokoyama được cử làm Khâm sứ, thay Khâm sứ Pháp tại Huế. Học giã Trần Trọng Kim được uỷ thành lập Chính phủ. Ngày17/4/45, vua Bảo Đại chấp nhận thành phần Nội các Chính phủ Trần Trọng Kim. Ngày 8/5/45, Vua Bảo Đại tuyên chiếu kêu gọi quốc dân tham gia việc nước; hứa triệu tập một Hội nghị Lập Hiến; lập ngay một Ủy ban Cải Cách, và Hội đồng Tư vấn Địa phương. Ngày 11/6/45, Lễ kỷ niệm ngày vua Gia Long đăng quang gọi là “Hưng quốc Khánh niệm” được tổ chức tại trụ sở Thanh niên Thể thao ở Sài Gòn. 

Cùng ngày nầy, Bộ trưởng Phan Anh cổ võ thanh niên tham gia việc công ích tại nhà hát lớn Hà Nội. Ngày 20/6/45, vua Bảo Đại phục hồi quyền công dân cho các cựu chính trị phạm chưa được miển tội danh. Ngày 20/7/45, Nhật trao trả Việt Nam các cựu nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẳng kể từ 12g trưa nay. Nguyễn Khoa Phong được cử làm Thị trưởng Đà Nẳng, Vũ Trọng Khánh được bổ Thị trưởng Hải phòng, Ngày 14/8/45, Nhật trao trả Nam Bộ cho Triều đình Huế. Vua Bảo Đại tuyên chiếu hủy bỏ các Hiệp ước đã ký với Pháp về sự đô hộ Trung, Bắc, và Nam Kỳ; bổ nhiệm Nguyễn Văm Sâm làm Khâm sai Nam Bộ. 

Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, ngày 17/8/45, Vua Bảo Đại gởi điện văn kêu gọi Tổng thống Mỹ Truman, Đồng minh, và cả De Gaulle, yêu cầu bảo vệ nền độc lập của Việt Nam, rằng dân chúng Việt Nam nhất quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước. Cùng ngày 17/8/45, công chức Hà Nội tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tuần hành qua các đường lớn, để tỏ ý chí bảo vệ đất nước. Cộng sản len vào dòng người biểu tình hô khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Ngày 18/8/45, Bắc bộ phủ bị quần chúng ùa tới bao vây, Khâm sai Phan Kế Toại vắng mặt rồi tuyên bố từ chức. Ngày 19/8/45, Biểu tình trước nhà hát lớn, để nghe tuyên bố của Mặt trận Cứu quốc Việt Minh. Cùng ngày 19/8/45 nầy, Dân quân Giải phóng và cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi, chiếm đóng các công sở. Đê Đông Lao ở Hà Đông bị vỡ, nước tràn ngập nhiều vùng. 

Ngày 20/8/45, Việt Minh chiếm đài Vô tuyến điện Bạch Mai Hà Nội, và phát thanh cổ động trên làn sóng 32 thước. Ngày 21/8/45, một số thanh niên trí thức nhóm họp tại Đại học xá Hà Nội biểu quyết gởi điện văn yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 22/8/45, Mặt trận Việt Minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn Thanh niên Tiền Phong do Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lãnh đạo tuyên bố gia nhập. Ngày 23/8/45, một Chính phủ Lâm thời được thành lập tại Hà nội, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 25/8/45, Lễ thoái vị của vua Bảo Đại trước cửa Ngọ Môn, Huế: nhà Vua trao kiếm vàng cùng ấn ngọc cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, chấm dứt Vương triều nhà Nguyễn. Và, Chính phủ Trần Trọng Kim tự giải thể.

 

Bài 154: THỜI KỲ VƯƠNG TRIỀU THUỘC TRỊ NƯỚC PHÁP, VÀ LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG.

Đồng Khánh là vị vua đầu tiên của Vương triều Nhà Nguyễn thừa nhận nền Bảo hộ của Pháp được 2 năm, thì ngày 17 tháng 10 năm 1887, Pháp thành lập LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG để cai trị các xứ thuộc địa, bảo hộ, và nhượng địa trên bán đảo Đông Dương. Đứng đầu Liên bang là một Toàn quyền (Gouverneur Général de l'Indochine française) người Pháp. Từ đây, các ông Vua địa phương chỉ còn hình thức, không còn quyền hành gì trong việc "chăn dân trị nước". Gần như tất cả quyền lực đều nằm trong tay các quan chức cai trị Pháp. 

TẠI CẤP LIÊN BANG. Đứng đầu Liên bang Đông Pháp là viên Toàn quyềnngười đứng đầu về hành chính lẫn quân sự. Hỗ trợ cho chức vụ này là Hội đồng Tối cao gồmToàn quyền làm chủ tịch; Tổng tư lệnh quân đội; Thiếu tướng hải quân chỉ huy hạm đội Viễn Đông; Thống đốc Nam Kỳ; Thống sứ Bắc Kỳ; Thống sứ Ai Lao; Thống Sứ Cao Miên; Khâm sứ Trung Kỳ; Chủ tịch Đại hội đồng Kinh tế Tài chính; Bốn người bản xứ đặc bổ. Hội đồng Tối cao họp hai năm một lần, một tại Hà Nội và một tại Sài Gòn, để ban hành các đạo luật và tính toán ngân sách chung và riêng của từng xứ. Mười một bộ ở cấp Liên bang được giao cho 11 chức danh có tên gọi khác nhau điều khiển: Tài chánh (Giám đốc), Học chánh (Giám đốc), Tư pháp (Giám đốc); Công chính (Tổng Thanh tra), Công khoáng (Tổng Thanh tra), Y tế (Tổng Thanh tra); Nông lâm (Tổng Thanh tra); Bưu chánh (Giám đốc); Công an (Giám đốc), Quân sự (Tổng Tư lệnh), Hải quân (Tư lệnh).

Cấp Liên bang còn có hai nghị hội: "Hội đồng Chính phủ" và Đại Hội đồng Kinh tế Tài chánh Đông Dương, thành lập năm 1928. Hội đồng Kinh tế có 51 thành viên: 28 người Pháp và 23 đại biểu của ba xứ Việt, Miên, Lào. Trong số 23 người bản xứ thì người Việt chiếm 17 hoặc 18 ghế. Hai Hội đồng này chủ yếu là cơ quan tư vấn và thảo nghị chứ không phải là viện Lập pháp. Về mặt Tư pháp thì ở cấp Liên bang có hai toà toà án thượng thẩm đặt ở Hà Nội và Sài Gòn để nhận các bản kháng án từ những tòa án địa phương. Trong các vụ kháng án, các quan tòa người Âu được sự hỗ trợ từ quan lại người bản xứ. Về nguyên tắc, Liên bang này hoàn toàn theo chế độ tòa án và luật pháp của Pháp. 

Chính quyền Liên bang Đông Dương vào năm 1936 có khoảng 3.300 công chức người Pháp trong guồng máy cai trị, trong số đó 400 thuộc cấp Liên bang tập trung ở Hà Nội; số còn lại phụ thuộc cấp địa phương. Đa số xuất thân từ trường Thuộc địa (École Coloniale ở Paris).

TẠI CẤP ĐỊA PHƯƠNG THUỘC ĐỊA. Tại thuộc địa Nam Kỳ, Pháp cai trị trực tiếp, đứng đầu Nam Kỳ là Thống đốc, có "Hội đồng Tư mật" và Hội đồng thuộc địa là hai Nghị hội. Ở cấp nhỏ hơn thì có Chánh Tham biện đứng đầu mỗi địa hạt, sau đổi thành Chủ tỉnh và tỉnh. Dưới tỉnh là quận, và cơ sở phái viên hành chánh, đứng đầu là viên Chủ quận, và vị Phái viên hành chánh tương ứng; rồi đến cấp tổng với cai tổng quản lý. Dân Nam Kỳ hưởng quy chế "thuộc dân Pháp" và được hưởng quyền lợi nhiều hơn các xứ khác. Muốn vào Pháp tịch để bình đẳng như dân mẫu quốc thì phải nộp đơn để thành citoyens français. Nam Kỳ cũng là xứ có bầu cử định kỳ. Người có Pháp tịch hoặc hội đủ một số điều kiện tài chánh mới có quyền đi bầu. Ở cấp tỉnh thì hội đồng tỉnh bắt đầu hoạt động từ năm 1882. Thôn xã được tổ chức với khái niệm dân chủ đầu phiếu từ năm 1927. Về mặt luật pháp thì Nam Kỳ chiếu theo bộ hình luật của Pháp ban hành năm 1912.

TẠI CẤP ĐỊA PHƯƠNG BẢO HỘ. Bốn xứ bảo hộ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào và Miên, hệ thống hành chánh bản xứ được duy trì, người Pháp cai trị gián tiếp qua ngạch quan lại Việt (ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ), Miên hoặc Lào. Vì lẽ đó mà có hai hệ thống song hành, một của Pháp, một của bản xứ, trên pháp lý là bình quyền cùng giám sát quốc sự. Nhưng khi thi hành thì chế độ bản xứ, tùy thuộc vào quyền phán quyết của người Pháp. Bộ Ngoại giao Pháp đảm nhiệm việc hành chánh nhưng sang đầu thế kỷ 20 thì giao lại cho Bộ Thuộc địa Pháp. Dân cư của các xứ Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Lào và Miên trên mặt pháp lý thuộc hạng protéges français, thấp nhất trong ba hạng citoyens, sujets, và protéges ở Đông Dương.

Tại Bắc Kỳ, đứng đầu là Thống sứ người Pháp cùng ba Nghị hội "Hội đồng Bảo hộ", "Hội đồng Pháp nhân", và "Viện Dân biểu Bắc Kỳ". Viên thống sứ tuy là người Pháp, nhưng kiêm cả chức đại diện cho Nam triều, tức là Kinh lược sứ của vua nhà Nguyễn. Các quan lại bản xứ trên danh nghĩa là quan của triều đình Huế, nhưng đều trực thuộc quyền viên Thống sứ. Chủ quyền của Triều đình Huế ở Bắc Kỳ từ đó càng bị thu hẹp. Cấp tỉnh thì Hội đồng tỉnh bắt đầu hiện diện từ năm 1886, nhưng hoạt động yếu ớt. Ở cấp làng xã thì người dân được tự trị. Mãi đến năm 1941, ở Bắc Kỳ mới thực hiện cải cách, cho dân chúng đầu phiếu bầu hội đồng xã. 

Tại Trung Kỳ, đứng đầu là Khâm sứ người Pháp. Hành dinh của Khâm sứ Pháp đặt ở Huế. Sang thập niên 1950 thì chuyển vào Đà Lạt. Khâm sứ Trung Kỳ tham gia Hội đồng phụ chính, sau đó (từ 1895) thì có thêm đặc quyền chủ tọa Hội đồng Cơ mật và cả Tôn Nhơn phủ. Tất cả các công văn sắc dụ ban hành đều phải có chữ ký phê thuận của viên khâm sứ. Triều đình Huế còn phải chịu cho một viên Hội lý người Pháp làm quản sự cho mỗi vị Thượng thư trong Lục bộ cũ. Bên cạnh Khâm sứ là "Hội đồng Bảo hộ" và "Hội đồng Pháp nhân". Trung Kỳ cũng có "Viện Dân biểu Trung Kỳ" thuộc chính phủ Bảo hộ. Kể từ năm 1932, Viện Dân biểu Trung Kỳ mới thuộc triều đình Huế. Ở cấp tỉnh thì có Hội đồng tỉnh. Đến năm 1942tổ chức lại thôn xã và cho phép người dân đầu phiếu hội đồng xã. Ở Cao nguyên thì cho đến thập niên 1920,  người Việt không có giấy phép không được lên vùng này.

TẠI CẤP ĐỊA PHƯƠNG NHƯỢNG ĐỊA. Năm 1888, thời Toàn quyền Richaud, vua Đồng Khánh, ban Đạo dụ 1 Tháng Mười cắt thêm ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẳng (người Pháp gọi là Tourane) làm nhượng địa (concession) cho Pháp, tức là cùng thể chế trực trị như Nam Kỳ tuy nằm trong lãnh thổ bảo hộ bản xứ. Đứng đầu hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn là viên Thị trưởng người Pháp (Maire). Hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng tại Bắc Kỳ cùng thành phố Tourane (Đà Nẵng) tai Trung Kỳ, đứng đầu là viên Đốc lý người Pháp (Résident-maire). Bên cạnh viên Thị trưởng hay Đốc lý là Hội đồng thành phố (Conseil Municipal)Ngoài ra bốn Quân khu vùng biên giới Việt-Hoa và Lào-Hoa cũng thuộc dạng cai trị trực tiếp. Cao nguyên Trung Phần gồm các tỉnh Darlac, (lập năm 1904), Kontum (1913) Đongnai Thượng, Lang Bian (1920), và Pleiku (1932) cũng đặt ngoài quyền quản trị của người Việt.

 

Bài 155: VỀ AN NINH, ĐỊA GIỚI HÀNH CHÁNH VÀ LUẬT PHÁP…THỜI LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG.

VỀ AN NINH, ĐỊA GIỚI HÀNH CHÁNH. Lực lượng quân sự của Pháp ở Đông Dương vào năm 1937 là 10.779 lính da trắng. Đến năm 1940 trước Đ nhị Thế chiến thì con số này tăng lên thành 14.500, trong đó có 3.600 sĩ quan chỉ huy và 4.000 quân Lê dương (Legionnaires étrangères). Tổng số quân lính kể cả lính bản xứ là 90.000. Ngoài ra chính quyền Đông Dương còn dùng Sở Liêm phóng Đông Dương là cơ quan tình báo và công an, kiểm soát, và triệt phá các hoạt động chống lại chính quyền, nhất là các tổ chức chính trị. Công ước Pháp- Thanh 1887 lấy đông kinh tuyến 105º43’ làm giới hạn bên bờ Vịnh Bắc Việt, nên một dải đất Trường Bình, Bạch Long ở phía bắc sông Bắc Luân thuộc tổng Vạn Ninh bị nhượng cho nhà Thanh. Việc đóng mốc phân định biên giới hoàn thành năm 1896. 

Vì sự chia cắt đó đến năm 2000 vẫn có 22.000 người Kinh là hậu duệ người Việt cũ ở đất Quảng Tây. Ngược lại đất các vùng Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai xưa là phên giậu biên thùy, từng triều cống Lão Qua, thì nay được sáp nhập vào Bắc Kỳ. Đất Trấn Ninh, và Sầm Châu mặc dù có quan Việt cai quản, nhưng người Pháp lại cắt cho Lào kể từ năm 1895 và 1903. Vùng Cao nguyên Trung Phần thì năm 1893, người Pháp buộc Triều đình Huế cắt ra và cho phụ thuộc Lào. Đến năm 1904, thì Darlac (Ban Mê Thuột) mới được trả lại Trung Kỳ. Kontum theo chân năm 1905. Tuy nhiên, khu vực cao nguyên này gần như trực thuộc người Pháp cai trị. Triều đình Huế có quyền bổ nhiệm viên quan quản đạo nhưng thực quyền nằm trong tay Công sứ Pháp. Năm 1923 chính Công sứ Darlac là Léopold Sabatier đã ra lệnh tuyệt cấm người Việt lên lập nghiệp ở Darlac rồi lại vận động Khâm sứ Trung Kỳ là Pierre Pasquier áp dụng chung chính sách này cho toàn Cao nguyên Trung phần. 

Năm 1906, Xiêm trả lại hai tỉnh Battambang và Xiêm Riệp để nhập vào Cao Miên. Năm 1916 vì bất ổn ở vùng biên giới Việt-Hoa, chính quyền Bảo hộ cho lập năm Quân khu để kiểm soát vùng cực bắc xứ Bắc Kỳ và Lào. Từ thập niên 1890, chính quyền Bảo hộ nhân danh triều đình Huế đã có đồ án dựng ngọn Hải đăng để khẳng định chủ quyền của Pháp trên quần đảo Hoàng Sa, nhưng đồ án chưa thực hiện được, và mãi đến năm 1938 mới có lực lượng chính thức chiếm đóng quần đảo này. Dù vậy, khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạm Hoàng Sa vào những năm đầu thế kỷ 20, thì Bộ Ngoại giao Pháp đã có công văn phản đối. Cuộc tranh chấp này kéo dài cho đến khi người Pháp mất chủ quyền ở Đông Dương và vẫn chưa kết thúc.

LUẬT PHÁP. Ở Trung Kỳ thì dùng bộ Luật Gia Long bổ sung với hình luật và dân luật của Pháp. Ở cấp dưới thì quan tri phủ và tri huyện đứng làm quan tòa sơ thẩm, quan tỉnh xét phúc thẩm và công sứ Pháp có nhiệm vụ kiểm sát. Chung thẩm thì có bộ Hộ và bộ Hình cùng khâm sứ Pháp. Ở Bắc Kỳ thì có bộ "Hoàng Việt Tân luật" ban hành năm 1918 dùng bộ luật Gia Long nhưng sửa đổi theo thích ứng của chính quyền Pháp. Cũng giống như Trung Kỳ, quan tri phủ và tri huyện xét sơ thẩm. Đệ nhị cấp thì có công sứ Pháp làm chính thẩm còn quan tổng đốc và tuần phủ làm bồi thẩm. Trên hết là tòa Phúc thẩm Hà Nội. Ở Nam Kỳ thì dùng "Pháp quy giản yếu 1883" dựa trên luật pháp bên chính quốc. Đối với người Pháp thì luật lệ bản xứ không áp dụng cho họ vì họ được xét xử dưới bộ luật Pháp như ở bên Pháp./.

 

Bài 156: VỀ CƯ DÂN, DI DÂN, QUY CHẾ DÂN NGỤ CƯ, GIÁO DỤC THỜI LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG.

 VỀ CƯ DÂN. Vào đầu thế kỷ 20, thành phần dân cư của Liên bang Đông Dương gồm có người Việt, người Khmer, người Thái, người Chăm và các dân tộc thiểu số khác. Trong số đó, người Việt là đông nhất với 15 triệu người, kế đến là người Khmer với 1,3 triệu người, người Thái 1,1 triệu và người Chăm 100.000, số dân tộc thiểu số ước khoảng500.000 người. Ngoài số này, còn có khoảng 300.000 người Hoa và các dân tộc châu Á khác, 15.000 người Âu và 40.000 người Âu lai Á. Dân số của toàn Liên bang Đông Dương thập niên 1910, khoảng 18.370.000 người, mật độ trung bình 24 người trên một km2. 

Người Việt sống chủ yếu ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, người Khmer sống ở Campuchia, người Thái ở Lào, người Chăm ở Nam Kỳ và một phần Campuchia; những người thuộc dân tộc thiểu số sống rải rác dọc theo vùng núi cao trong lục địa. Trong các sắc dân bản địa, người Việt có tổ chức xã hội cao hơn cả. Qua kinh nghiệm nhiều đời, họ đã có được những tập quán nông nghiệp phát triển, nhưng về năng lực buôn bán thì thiếu kinh nghiệm. Thương mại trên khắp Đông Dương nằm trong tay những người Hoa. Người Thái thích sống ở những vùng cao, với công việc chính là nuôi gia súc và săn bắn; họ kém văn minh hơn người Việt. Người Khmer thì làm các nghề về gỗ, nông, ngư nghiệp, và săn bắn.

Trên pháp lý, người dân Đông Dương chia thành ba hạng. Đứng đầu là công dân Pháp (citoyens français) gồm những người Pháp và một số người bản xứ được nhập tịch. Thứ nhì là thuộc dân Pháp (sujets français) là dân Nam Kỳ và ba thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng và Hà Nội. Hạng ba mới là dân bảo hộ (protégés français) tức là đại đa số dân chúng Trung, Bắc Kỳ, Lào, và Cao Miên. Nhà nước Bảo hộ hậu thuẫn cho việc thông thương với Trung Hoa, Số người Hoa được nhập cảnh vào Đông Dương: năm 1923 là 19.800 người, năm 1924 là 13.800 người, năm 1925 là 15.200 người, năm 1926 là 19.000 người, năm 1927 là 31.100 người, năm 1928 là 30.100 người. Người Hoa kiều có khoảng 60.000 vào cuối thế kỷ 19, đến năm 1921 thì số di dân người Hoa đã tăng thành 156.000 riêng ở Nam Kỳ. 

Họ nắm tài lực, có hệ thống kinh tài khắp Đông Nam Á, nhất là ngành buôn gạo. Số thương gia tên tuổi lịch sử còn ghi lại có Wang-Tai, Hui Bon Hoa tục gọi là "chú Hỏa", Quách Đàm (xây chợ Bình Tây). Đến năm 1937, trong suốt ba Kỳ Trung, Nam, Bắc có 217.000 Hoa kiều, chiếm hơn 1,1% dân số toàn Liên bang. Theo hiệp ước ký giữa Pháp và nhà Thanh năm 1885 và 1886 thì người Tàu ngụ cư ở Đông Dương hưởng quy chế ngoại nhân ưu đãi (etrangers bénéficiant d'un statut privilégié) được miễn sưu thuế, không phải bắt làm tạp dịch hay nhập ngũ lại được quyền đi lại tự do. Hơn nữa vì giữ quốc tịch Trung Hoa, quyền lợi của họ có chính phủ Bắc Kinh bênh vực. Cộng đồng người Hoa tổ chức theo nguyên quán, thường gọi là bang (tiếng Pháp: congrégation). Vào năm 1885 thì có bảy bang ở Nam Kỳ nhưng sau đó gộp lại thành năm bang: Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu, và Hẹ. 

Ngoài ra có khoảng 5.000 Ấn kiều. Giống như người Hoa, người Ấn đại đa số là thương nhân, cùng làm nghề cho vay nặng lãi. Số người Âu châu đến cuối thập niên 1930 là 39.000, đa số người Pháp, nắm giữ địa vị then chốt chính trị và kinh tế trong ba ngành xuất cảng gạo, cao su, và khoáng sản. Ba nhóm ngoại kiều Pháp, Hoa và Ấn tập trung ở thành thị trong khi dân bản xứ phần lớn sinh sống ở nông thôn. Một chính sách di dân nữa được đề ra là việc mộ dân ở Bắc và Trung Kỳ đưa vào Nam làm phu đồn điền cao su hoặc nông trại miền núi Cao nguyên Trung Kỳ hay thượng du Bắc Kỳ. Riêng niên khóa 1926-27, có 35.000 người dân từ Bắc và Trung Kỳ được mộ làm phu và đưa vào Nam Kỳ làm công trong các đồn điền. 

Người Việt cũng được khuyến khích di cư sang Lào và Cao Miên. Thống kê năm 1908 ghi nhận 60.000 người Việt trên đất Miên. Đến năm 1921 thì tổng số người Việt ở Cao Miên là hơn 140.000 và 191.000 vào năm 1937. Cùng thời gian sau đó vào cuối thập niên 1930 thì số người Việt ở Lào đã tăng lên gần 40.000. Một số khác được đưa sang Tân Đảo và đảo Tân thế giới làm phu mỏ và đồn điền của Pháp.

VỀ GIÁO DỤC. Ở Nam Kỳ ngay từ năm 1867 người Pháp đã ngưng hẳn thể chế khoa cử bằng chữ Nho, và đến năm 1878 thì các công văn bằng chữ Nho cũng bị loại bỏ, thay bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Trường sở tại Nam Kỳ bắt đầu áp dụng theo mẫu trường công ở Pháp từ năm 1879. Tuy nhiên, ở Trung và Bắc Kỳ thì chữ Nho tiếp tục được giảng dạy dưới sự vận động của Giám đốc Học chính Gustave Dumoutier.

Cải cách năm 1908. Đến năm 1908 thì Hội đồng Cải cách Học vụ thời Toàn quyền Beau lập Học bộ tức Nha Giám đốc Học chính (Direction de l'Enseignement) dưới sự điều hành của Henri Gourdon và quy hoạch lại việc giáo dục ở Trung và Bắc Kỳ, chia thành ba bậc: ấu học, tiểu học và trung học. Ấu học thì giao cho xã thôn dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ; ai đậu thì gọi là "tuyển sinh."; Tiểu học thì do phủ huyện có huấn đao và giáo thụ đảm trách, tiếp tục dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ và có thể tình nguyện học thêm chữ Pháp chứ không bắt buộc; Trung học thì do quan đốc học ở tỉnh lỵ trông coi và dạy chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Đây bước đầu của chữ Quốc ngữ trong ngành giáo dục của người Việt. Tổng số trường học ở Trung và Bắc Kỳ là khoảng 15.000 với 200.000 học sinh. Bắt đầu từ khoa thi Hương năm 1909 thì thí sinh phải biết chữ Quốc ngữ để làm bài. Ở Hà Nội thì có thêm trường Bảo hộ và Huế thì có trương Hậu bổ cùng với trường Quốc học sẵn có để đào tạo thêm nhân sự.

Cải cách năm 1915. Năm 1915 thì Bắc Kỳ, rồi năm 1918 Trung Kỳ cũng theo Nam Kỳ bỏ khoa cử để theo chương trình do Nha Học chính Đông Dương soạn ra tức bộ học luật (Code de l'instruction publique) ban hành ngày 21 Tháng 12 năm 1917. Theo đó thì tiếng Pháp được đưa vào giáo trình từ bậc tiểu học. Tiểu học chia thành ba cấp: Sơ học ba năm, đỗ bằng Sơ học yếu lược Certificat d'etudes primaires Franco-Indigènes, viết tắt là CEPFI); Tiểu học ba năm, đỗ bằng Cơ thủy Certificat d'etudes elementaires), và; Cao đẳng tiểu học (bốn năm, đỗ bằng Cao đẳng tiểu học Diplôme d'études primaires supérieures); Trung học ba năm thì chỉ có bốn trường: Lycee Sisowath, Phnôm Pênh (1935); Lycee Khai-Định,Huế (1936), Lycee Petrus-Ky-Sài Gòn; và Lycée du Protectorat Hà Nội. Học xong hai năm thì thi lấy bằng Tú tài bản xứ. Ba năm thì lấy bằng baccalauréat. Bằng baccalauréat được công nhận tương đương với bên chính quốc kể từ năm 1930. Số người đậu bằng baccalauréat rất ít oi, như năm 1942 tổng cộng chỉ có 75 người.

Bậc Đại họcBắt đầu năm 1907, ở Hà Nội mới khai giảng khoá đầu tiên bậc Đại học, và nó là Viện Đại học duy nhất cho cả Đông Dương, nhưng hoạt động gián đoạn đến năm 1917 mới tái tục. Điểm đáng lưu ý là chứng chỉ do Đại học Đông Dương cấp không được công nhận là tương xứng với các trường đại học bên Pháp. Sinh viên Đông Dương muốn sang Pháp học cũng bị gây khó dễ và hạn chế. Năm 1924 mở khóa học đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương với hai phân khoa: 1) hội họa, điêu khắc & trang trí; 2) kiến trúc. Ở Phnôm Pênh thì người Pháp lập trường Bảo hộ từ năm 1893. Đến năm 1905 thì đổi thành Collège Sisowath. Những cải cách giáo dục của chính quyền Pháp một phần là để nâng cao kiến thức dân chúng, nhưng còn có dụng ý là để chuyển hướng tư duy của đại chúng. 

Thay vì trông đợi vào giới sĩ phu truyền thống dẫn dắt, nay người dân thường sẽ có nhà nước Bảo hộ đào tạo kiến thức. Đối với người Việt thì nguồn tư duy đáng sợ cho chính quyền Đông Pháp là Nho học và luồng tư tưởng xâm nhập từ Trung Hoa và Nhật Bản qua các sách vở Hán văn. Đối với Miên và Lào thì tin tức từ Xiêm là mối đe dọa. Vì vậy người Pháp đã dồn nhiều nỗ lực vào việc cải tổ nền giáo dục bản xứ. Một chứng cứ là sách giáo khoa thời Pháp không dùng danh từ "Việt Nam" mà chỉ nhắc đến "Đông Pháp" và các xứ lệ thuộc.

 

Bài 157: VỀ KINH TẾ, THƯƠNG MẠI, VÀ GIAO THÔNG THỜI LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG.

VỀ KINH TẾKinh tế Đông Pháp chủ yếu là một nền kinh tế thuộc địa để hỗ trợ cho kinh tế Pháp chứ không có kế hoạch tự túc hoặc phát triển theo khả năng bản xứ. Toàn quyền Pasquier đã khẳng định: "Il faut que les profits de l'Indochine reviennent aux Français" ("Lợi nhuận từ Đông Dương phải trao lại cho nước Pháp"). Đông Pháp là nguồn nguyên liệu, và vật liệu bán chế trong khi mẫu quốc Pháp cung ứng những sản phẩm chế biến để bán lại sang Đông Pháp. Về nông lâm, mặt hàng cao su từ Đông Pháp đã cung cấp cho thị trường Âu Mỹ một lượng lớn. Cây cao su Hevea brasiliensis đầu tiên đem từ Mã Lai sang trồng ở Đông Dương vào năm 1897 trồng thử tại Sài Gòn. 

Đến năm 1905, khi cạo mủ thấy kết quả tốt, nên mở rộng ra trồng nhiều nơi khác. Các công ty lớn của Pháp, đầu tư vào ngành này, sở hữu nhiều đồn điền với diện tích lớn, tổng cộng lên hơn 138.000 hecta trên toàn Đông Dương. Tính đến năm 1926 thì diện tích trồng cao su là hơn 166.000 ha, với 13 triệu cây cao su. Số lượng nhân công cần để khai thác nguồn lợi này cũng đã làm giao động xã hội bản xứ. Lượng cao su xuất cảng đạt hơn 10 nghìn tấn vào năm 1929 và tiếp tục gia tăng đến trước Đệ nhị thế chiến, sau đó tụt xuống chỉ còn 15% vào năm 1945. Đến cuối thập niên 1940 đã tăng lên, đạt khoảng 60% sản lượng. Lượng nông phẩm lớn nhất của Đông Dương là lúa gạo, đạt 2.140.000 tấn xuất cảng, năm 1937 với diện tích canh tác ở Nam Kỳ tăng mạnh từ 522.000 hecta năm 1880 đến 2 triệu 2 hecta năm 1937. 

Những khu vực kinh tế khác được chính phủ Bảo hộ lưu ý là khoáng sản (than đá, chì, kẽm) chè, cà phê, hạt tiêu. Kỹ nghệ nhẹ như ngành dệt, thuốc lá, xi măng cũng được phát triển. Kỹ nghệ lớn nhất với khoảng 50.000 công nhân là ngành khai thác than đá, chủ yếu ở Hà Tu, Hòn Gai (Pháp gọi là Hongay) và Cẩm Phả của công ty "Société de Charbonnages du Tonkin". Hãng "Société de Charbonnages du Đông Triều" thì khai thác ở Kê Bào. Năm 1930, sản lượng than đá khai thác là 1.890.000 tấn, trong đó 3/4 được xuất cảng. Những mặt hàng được nhập khẩu chính vào Đông Dương thời kỳ này là sửa đặc, thức ăn đóng hộp, bột mì, rau, đường, cà phê, trà, thuốc lá, chỉ bông, vải bông, rượu, than, dầu lửa, đồ kim loại, dược phẩm, xà phòng, đồ gốm, đồ thủy tinh và pha lê, giấy, máy móc, xe hơi, v.v.

THƯƠNG MẠI. Các mặt hàng xuất khẩu quan trọng gồm có: gạo, cá (cá khô và cá muối), tiêu, quế, dầu thực vật, gỗ tếch, sợi bông (thô), than và kẽm, lụa (thô), xi măng, thảm chiếu, da, v.v.  Những mặt hàng xuất khẩu chính của Đông Dương: Số liệu cao su xuất cảng: năm 1939: 66.556 tấn; năm 1940: 72.245 tấn; năm 1941: 76.069 tấn; năm 1942: 75.178 tấn; năm 1943: 74.734 tấn; năm 1944: 61.361 tấn; năm 1945: 12.000 tấn; 1946: 20.000 tấn; 1947: 38.000 tấn; 1948: 43.000 tấn; và năm 1949 45.000 tấn; Số liệu thóc gạo xuất cảng: năm 1865: 50.000 tấn; năm 1875: 268.000 tấn; năm 1890: 460.000 tấn; năm 1900: 595.000 tấn; năm 1910: 815.000 tấn; và năm 1925: 1.300.000 tấn. 

Cơ quan điều hành kinh tế cho cả sáu xứ Đông Pháp là Ngân hàng Đông Dương (Banque de l'Indochine), thành lập từ năm 1875. Ngân hàng này có đặc quyền phát hành đồng bạc Đông Dương (piastre indochinoise). Chính quyền Bảo hộ giành độc quyền bán thuốc phiện, rượu, và muối. Buôn bán các loại hàng này phải đóng thuế gọi là thuế "môn bài". Ba khoản thu này cộng thêm quan thuế xuất nhập khẩu cung ứng 95% ngân sách để trả lương công chức. Lấy trường hợp thu ngân của chính phủ Bảo hộ ở Bắc Kỳ năm 1886 trên tổng số thu 134 triệu đồng thì bốn nguồn thuế chính là: thuế thuốc phiện: 45 triệu; thuế rượu: 20 triệu đồng; thuế muối: 45 triệu đồng; thuế thân: 21 triệu đồng. Tính đến năm 1900, lợi nhuận thu được từ thuốc phiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang Đông Dương. Phân phối bán lẻ hầu hết là tư nhân người Hoa.

CÁN CÂN XUẤT, NHẬP KHẨU NĂM 1914 là: Bắc Kỳ: Nhập khẩu: 96.239.000 franc; Xuất khẩu: 100.260.000 franc. Trung Kỳ: Nhập khẩu: 6.364.000 franc; Xuất khẩu 11.360.000 franc. Nam Kỳ: Nhập khẩu: 158.998.000 franc; Xuất khẩu: 219.253.000 franc. Campuchia: Nhập khẩu: 4.891.000 franc; Xuất khẩu: 1.686.000 franc. Tổng cộng Nhập khẩu:266.492.000 franc; Xuất khẩu: 332.335.000 franc.  

GIAO THÔNGNỗ lực lớn nhất của nhà nước Bảo hộ là xây dựng hệ thống đường sắt. Đoạn đường sắt thiết lập đầu tiên là Sài Gòn - Mỹ Tho ở Nam Kỳ, dài 71 cây số, với kinh phí 11,6 triệu franc, hoàn tất tháng 7 năm 1885. Vào những năm 1897-1900 là đoạn Hà Nội - Lạng Sơn ở Bắc Kỳ, với giá trị chiến lược cao để củng cố vùng biên giới Việt-Hoa. Hệ thống đường sắt Xuyên Đông Dương (Chemin de fer Transindochinois) nối liền Hà Nội với Sài Gòn hoàn thành năm 1936. Tổng cng từ Nam Quan đến Mỹ Tho với chiều dài 1714 km. Hành trình Sài Gòn - Hà Nội mất 60 giờ đồng hồ, tức hai ngày và ba đêm. Ngoài ra còn có những nhánh đường sắt khác từ Nam Vang đến biên giới Xiêm; từ Sài Gòn đi Lộc Ninh; từ Tháp Chàm lên Đà Lạt; từ Phủ Ninh Giang qua Kẻ Sắt đến Cẩm Giàng. 

Riêng đoạn đường từ Hải Phòng lên Hà Nội, rồi từ Hà Nội ngược sông Thao vượt biên giới Việt-Hoa sang Vân Nam thì do tư nhân hãng "Compagnie Française des Chemins de fer de l'Indochine et du Yunnan" khai thác. Tính đến năm 1939 thì toàn cõi Đông Dương có 3.372 km đường sắt. 

Ở hai đô thị chính, Sài Gòn và Hà Nội chính quyền còn cho thiết lập hệ thống "tàu điện" (tramways). Tàu điện Sài Gòn khánh thành năm 1881, lúc đầu chạy bằng hơi nước và đến năm 1923 mới chính thức chạy bằng điện. Lộ trình 72 km này nối Chợ Lớn, Sài Gòn, rồi tỏa ra Hóc Môn, Gò Vấp, phục vụ đến năm 1953 mới tháo bỏ. Tàu điện Hà Nội với 29 km đường rày khởi dụng năm 1901 và mãi đến năm 1990 mới thôi. Công trình phát triển đường sá thì có cầu Sông Đáy dài hơn 1,600 m do công ty Daydé et Pillé thực hiện từ năm 1897 đến 1901 là công trình đáng kể nhất. 

Ngoài ra còn có những xây cất nhỏ hơn như cầu Hàm Rồng bắt qua sông Mã ở Thanh Hóa; cầu Trường Tiền ngang qua sông Hương ở Huế, v.v. Con đường thiên lý sau đó được dải nhựa dần để xe hơi có thể chạy suốt từ biên giới Việt-Hoa đến biên giới Miên-Xiêm. Tổng cộng trên toàn cõi có khoảng 28.000 km đường trải nhựa hoặc trải đá sỏi. Chính phủ Pháp cũng cho thiết lập hệ thống dây thép điện tín đoạn đầu tiên hoàn tất năm 1862, nối Sài Gòn, Biên Hoà và Chợ Lớn. Đến năm 1888, thì đường dây liên lạc Sài Gòn-Hà Nội cũng làm xong.

 

Bài 158KHOA HỌC, Y TẾ, VĂN HOÁ XÃ HỘI, VÀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG

KHOA HỌC, Y TẾ. Chính phủ Bảo hộ cho thành lập một số cơ sở khoa học ở Đông Dương như Viện Pasteur (Institut Pasteur de Saigon, 1890 & Nha Trang, 1895), Nha Địa chất (Service géologique, 1918), Viện Canh nông Thuộc địa (Institut agronomie coloniale, 1918), Viện Hải Dương hoc (Institut océanographique, 1922). Bác sĩ Alexandre Yersin thông qua Viện Pasteur đã có nhiều đóng góp về căn bệnh dịch hạch. Ông chọn sống tại Nha Trang, Trung Kỳ nơi ông tiếp tục những cuộc thí nghiệm khoa học cho đến khi mất.

Nhà thương theo y học Tây phương đầu tiên ở Đông Dương là nhà thương Chợ Quán, bắt đầu hoạt động năm 1864, nhưng phải đợi đến năm 1914, thì số lượng y sĩ mới đủ để đáp ứng nhu cầu dịch vụ y khoa thường xuyên. Cơ sở y tế thứ hai là Bệnh viện Trung ương Huế, thành lập năm 1894, là bệnh viện Tây y đầu tiên của Việt Nam. Bệnh viện tọa lạc tại số 16 đường Lê Lợi, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế (hiện nay)

VĂN HOÁ, LỊCH SỬ. Về văn hóa và lịch sử thì có Viện Viễn Đông Bác cổ  (École française d'Extrême-Orient) lập năm 1900 ở Sài Gòn để nghiên cứu, thu thập, và lưu trữ nhiều cổ vật cùng khai quật các di chỉ khảo cổ. Năm 1902 thì Viện này chuyển ra Hà Nội với chi nhánh ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Nam Vang, và Battambang. Một trong những "khám phá" lớn nhất trong ngành khảo cổ vào thời điểm này là cuộc khai quật di tích Angkor Wat được nhà khoa học Henri Mouhot ghi lại và phổ biến đến thế giới Tây phương. Cổ hơn thì năm 1923 khai quật được di chỉ Đông Sơn thuộc tỉnh Thanh Hoá nơi khám phá ra một số trống đồng tiêu biểu cho thời đại cổ đại của người Việt.

Henri Parmenier thì có công khảo cổ trong việc nghiên cứu giải mã các cổ vật và di tích Chiêm Thành. Bốn viện bảo tàng lớn được thành lập để lưu trữ các di vật văn hóa: Viện Bảo tàng Albert Sarraut (1920) ở Nam Vang; Viện Bảo tàng Khải Định (1923) ở Huế; Viện Bảo tàng Louis Finot (1926) ở Hà Nội; Viện Bảo tàng BlancharId de la Brosse (1927) ở Sài Gòn.

THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ. Chính trị Đông Dương thuộc thể chế thuộc địa và bảo hộ nên không có quyền tự quyết. Riêng ở Nam Kỳ thì có bầu cử định kỳ và vận động cử tri. Tuy nhiên số cử tri rất khiêm nhường. Vào khoảng thập niên 1910 thì chỉ có 1.000 cử tri người Việt, tức những người được vào Pháp tịch. Số người Pháp thì có khoảng 3.000 người ghi danh đi bầu. Sau cuộc cải tổ năm 1922, đặc quyền bầu cử được nới rộng và số cử tri người Việt tăng lên khoảng 20.000, đa số thuộc giới thượng lưu Tây học. Đây là thành phần cử tri bỏ phiếu trong những cuộc tuyển cử Hội đồng Quản hạt  so với 2-3 triệu dân của toàn xứ Nam Kỳ. Về mặt thông tin, báo chí thì chính phủ Bảo hộ áp dụng chính sách kiểm duyệt sách báo. Lệ này đến năm 1935 mới nới lỏng hơn khi Đảng Xã hội Pháp của thủ tướng Léon Blum lên chấp chính.

PHẢN KHÁNG. Chính quyền Liên bang Đông Dương dù có mang lại một số kỹ nghệ và tổ chức khoa học làm cuộc sống khá hơn về mặt vật chất, nhưng chủ yếu là tạo điều kiện cho người Pháp, chứ không vì quyền lợi của dân bản xứ. Lý tưởng "Tự do, Bình đẳng, Bác ái" ("Liberté, Égalité, Fraternité") tuy xuất xứ từ Pháp, nhưng dân của sáu xứ Đông Dương không được hưởng đầy đủ những quyền lợi đó. Một thí dụ cụ thể là đạo luật hiện hành ở chính quốc như luật cấm trẻ em lao dịch thì ở Đông Pháp không áp dụng những luật pháp đó. Chủ nghĩa dân tộc, nhất là đối với người Việt cho dù bị chính quyền Bảo hộ cố vùi lấp, vẫn là tiếng gọi vang vọng. 

Cuộc khởi nghĩa của Đề Thám ở vùng Phú Thọ và Phúc Yên kéo dài đến năm 1913 mới bị dập tắt. Trong khi đó luôn có những âm mưu đánh đuổi người Pháp như vụ Hà Thành đầu độc (1908), vụ nổ bom ở Bắc Kỳ do Việt Nam Quang Phục Hội thực hiện (1913), việc vua Duy Tân bôn tẩu (1916), vụ mưu sát Toàn quyền Merlin của Tâm Tâm Xã (1924), cuộc nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Quốc Dân Đảng (1930) làm chính phủ Bảo hộ phải luôn tìm cách trấn áp. Trước cao trào đòi độc lập, chính quyền Bảo hộ đưa ra chính sách "Pháp Việt Đề Huề" để vận động sự hợp tác giữa người Pháp và các dân tộc Đông Dương, nhất là dân tộc Việt. Ngoài việc vận động tâm lý, người Pháp còn duy trì một lực lượng quân sự để củng cố quyền lực. 

Lực lượng này gồm lính chính quy Pháp và lính bản xứ, thường gọi là lính tập. Đội quân này được dùng trong việc canh gác công sở, duy trì trật tự xã hội, và đánh dẹp cấc cuộc phản kháng nhà nước Bảo hộ. Vào đầu thập niên 1930 thì có khoảng 10.000 tù nhân chính trị trong các nhà tù lớn nhỏ ở Đông Dương.

NHẬT BẢN NHẬP CUỘC. Năm 1940, giữa đệ II thế chiến quân đội Nhật Bản tiếp thu Đông Dương với sự thỏa thuận của chính quyền Vichy theo thỏa ước giữa đại sứ Pháp Charles Arsènes-Henry ở Tokyo và ngoại trưởng Yosuke Matsuoka ký ngày 30/8/1940. Theo đó, thì Nhật Bản được quyền điều hành quân sự trên toàn cõi Đông Dương chống lại phe Đồng Minh, nhưng người Pháp vẫn duy trì bộ máy cai trị của nhà nước Bảo hộ, và Nhật công nhận chủ quyền của Pháp. Thỏa hiệp Pháp - Nhật ký ngày 30/8/1940, kéo dài được hơn bốn năm, thì ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật Bản ra lệnh tống giam nhiều viên chức Pháp, tuyên bố trao trả độc lập cho Việt, Miên, và Lào. 

XOÁ SỔ LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNGNgày 11 tháng Ba, đại sứ Nhật Yokoyama Masayuki vào Đại Nội Huế yết kiến vua Bảo Đại, và chứng kiến “lời tuyên cáo Việt Nam độc lập của vua Bảo Đại”. Ngày 13 tháng Ba, vua Cao Niên, và ngày 8 tháng Tư năm 1945, vua Lào cũng tuyên bố độc lập. Ngasau khi tuyên bố độc lâp, vua Bảo Đại chỉ định Trần Trọng Kim làm Thủ tướng thay thế Nội các Nam triều Phạm Quỳnh. Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại hơn 4 tháng, nhưng đã làm được nhiều việc mang tính lịch sử sâu sắc, cụ thể là: (1) Hợp nhất hai nhà nước Bảo hộ Pháp và nhà nước Nam triều làm một, mang tên “Đế quốc Việt Nam” do Hoàng đế Bảo Đại lãnh đạo, và Thủ tướng Trần Trong Kim cầm đầu Chính phủ. (2) Thu hồi 3 nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng, và thuộc địa Nam Kỳ về cho một nước Việt Nam độc lập và thống nhất. (3) Đưa tiếng Việt vào Chương trình dạy và học trong các cấp học Quốc gia do Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn phụ trách.

Ngày 1tháng 8 năm 1945Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, thì hai ngày sau, ngày 17 Tháng Tám, Hoàng đế Bảo Đại gởi Điện văn kêu gọi Tổng thống Mỹ Truman, Đồng Minh và cả De Gaulle yêu cầu bảo vệ nền độc lập Việt Nam, rằng dân Việt Nam nhất quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước. Cùng ngày, công chức Hà nội tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tuần hành qua các đường phố tỏ ý chí bảo vệ đất nước. Cộng sản đã cài “chuyên viên bạo loạn” vào đoàn người biểu tình, biến cuộc biểu tình của công chức “ủng hộ chính phủ” thành cuộc biểu tình “ủng hộ Mặt trận Việt Minh”. Hai ngày sau, ngày 19 Tháng Tám Việt Minh tổ chức một cuộc biểu tình khác tuyên bố “tổng khởi nghĩa”, rồi tiến thẳng tới chiếm Phủ Khâm Sai Bắc Bộ, và nhiều nơi khác. 

Việt Minh đưa kiến nghị yêu cầu Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Theo Thủ tướng Trần Trọng Kim: “trong tình thế nguy ngập như thế, ở Huế còn có người bàn sự chống cự. Tôi liền gọi trung úy Phan Tử Lăng người chỉ huy đứng coi đoàn thanh niên tiền tuyến ở Huế, hỏi xem có thể trông cậy gì bọn họ được không. Trung úy Phan Tử Lăng nói: "Tôi có thể nói riêng về phần tôi thì được. Còn về phần các thanh niên tôi không dám chắc". Đòan thanh niên tiền tuyến trước rất nhiệt thành nay còn thế, huống chi những lính bảo an, và lính hộ thành tất cả độ vài trăm người; những lính để canh giữ công sở, súng ống không ra gì, đạn dược không đủ, còn làm gì được, cũng bị Việt Minh tuyên truyền xiêu lòng hết cả rồi. Lúc ấy chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả.

Tôi (Trần Trọng Kim) vào tâu vua Bảo Ðại: "Xin ngài đừng nghe người ta bàn ra bàn vào. Việc đã nguy cấp lắm rồi, ngài nên xem lịch sử của vua Louis XVI bên Pháp, và vua Nicholas II bên Nga mà thoái vị ngay là phải hơn cả. Vì dân ta đã bị Việt Minh tuyên truyền, đang hăng hái cách mệnh như nước đang lên, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả. Mình thế lực đã không có, bọn Việt Minh lại có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của nước".  Vua Bảo Ðại là ông vua thông minh, hiểu ngay và nói: "Trẫm có thiết gì ngôi vua đâu, miễn là bọn Việt Minh giữ được nền tự chủ của nước nhà là đủ. Trẫm muốn là người dân của một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ".

Trần Trọng Kim kể tiếp: “Nhờ ngài có tư tưởng quảng đại nên có tờ chiếu thoái vị. Khi tờ chiếu ấy tuyên bố ra, nhân dân có nhiều người ngậm ngùi cảm động, nhưng lúc ấy phần tình thế nguy ngập, phần sợ hãi, còn ai dám nói năng gì nữa. Ðến bọn thanh niên tiền tuyến, người chính phủ tin cậy cũng bỏ theo Việt Minh, bọn lính hộ thành của nhà vua cũng không thấy nữa. Còn các quan cũ lẫn nấp đâu mất cả. Thật là tình cảnh rất tiều tụy”. (Một Cơn Gió Bụi của Lệ thần Trần Trọng Kim).

(Hết Chương XII)

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét