CHƯƠNG XV: 17 BÀI VIẾT VỀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM: 1955 - 1960.
(43 trang, 31.403 chữ)
CHÍNH QUYỀN MỘT.
188. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Chính phủ Phạm Văn Đồng: 1955-1959.
189. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Cải cách ruộng đất: 1953-1956.
190. Các bước Cải cách ruộng đất tại Bắc Việt Nam 1953-1956: Hoàng Văn Chí ghi lại.
191. Bước 1. Huấn luyện cán bộ, và nội dung 5 bái học: Hoàng Văn Chí ghi lại.
192. Viết kiểm thảo sơ bộ, ký lịch, và tổng kiểm thảo: Hoàng Văn Chí ghi lại.
193. Bước 2. Chiến dịch giảm tô, chính sách ba cùng: Hoàng Văn Chí ghi lại .
194. Phân định thành phần, phân loại địa chủ, tống tiền công khai: Hoàng Văn Chí ghi lại.
195. Lớp học tội ác, và đấu trường đấu tố địa chủ: Hoàng Văn Chí ghi lại.
196. Năm cuọc đấu tố mà tác giả H. V. Chí có dịp tham dự: Hoàng Văn Chí ghi lại.
197. Xử án địa chủ, và chính sách cô lập địa chủ: Hoàng Văn Chí ghi lại.
198. Bước 3. Chiến dịch Cải cách ruộng đất, nhiều đảng viên củ bị quy Việt gian phản động, và…: Hoàng Văn Chí ghi lại.
199. Bước 4. Chiến dịch sửa sai, tha đảng viên ra khỏi nhà tù, hoàn lại tài sản, và trả lại vợ…: Hoàng Văn Chí ghi lại.
200. Đảng viên mới “thịt” đảng viên củ khi về tới làng: Hoàng Văn Chí ghi lại.
CHÍNH QUYỀN HAI
201. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Ngô Đình Diệm: 1955-1956.
202. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1957.
203. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1958.
204. Chính quyền Việt Nam Cộng hoà, và Chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1959.
CHÍNH QUYỀN MỘT
188: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ, VÀ CHÍNHPHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: 1955-59
Tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa I từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955, Quốc hội đã thông qua quyết định mở rộng Chính phủ: Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng được cử làm Thủ tướng Chính phủ. THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh; Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, Phạm Văn Đồng; Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội vụ, Phan Kế Toại; Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng, Võ Nguyên Giáp; Phó Thủ tướng, Trường Chinh, Phạm Hùng; Bộ trưởng Công an, Trần Quốc Hoàn; Bộ trưởng Giáo dục, Nguyễn Văn Huyên; Bộ trưởng Tài chính, Lê Văn Hiến, Hoàng Anh; Bộ trưởng Giao thông và Bưu điện, Nguyễn Văn Trân; Bộ trưởng Thủy lợi và Kiến trúc, Trần Đăng Khoa; Bộ trưởng Công nghiệp, Lê Thanh Nghị; Bộ trưởng Thương nghiệp, Phan Anh; Bộ trưởng Nội thương, Đỗ Mười; Bộ trưởng Y tế, Hoàng Tích Trí, Phạm Ngọc Thạch; Bộ trưởng Lao động, Nguyễn Văn Tạo; Bộ trưởng Tư pháp, Vũ Đình Hòe; Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Hoàng Minh Giám; Bộ trưởng Bộ Thương binh,Vũ Đình Tụng; Bộ trưởng Bộ Cứu tế, Nguyễn Xiển; Bộ trưởng Bộ Nông lâm, Nghiêm Xuân Yêm; Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Khang; Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Duy Trinh; Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Lê Văn Hiến; Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước, Trường Chinh.
XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC THEO MÔ HÌNH LIÊN XÔ, VÀ TRUNG QUỐC. Tình hình Miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1959 là thời kỳ phục hồi tổ chức, xây dựng lại đất nước. Về Nông nghiệp miền Bắc không thuận lợi như miền Nam do đất canh tác ít hơn, lại hay bị lũ lụt. Nông nghiệp miền Bắc có những năm thậm chí còn không đủ để nuôi sống người dân chứ đừng nói đến thặng dư xuất khẩu. Nhưng, miền Bắc có thuận lợi về khoáng sản để phát triển công nghiệp. Chiến tranh cũng đã tàn phá nặng nề cơ sở vật chất, các công trình cầu đường bị phá hủy, nhiều làng xóm bị đốt trụi. Những người lãnh đạo bắt tay vào việc tổ chức, xây dựng đất nước theo “mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên xô và Trung quốc, đặc biệt là vận dụng các phương pháp cực đoan của Mao Trạch Đông trong "công tác phát động quần chúng", “đấu tranh giai cấp”, và “thực hành chuyên chính vô sản”.
Các chiến dịch Cải cách ruộng đất; Hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo tư bản tư doanh. Chống Nhân văn Giai phẩm đã san bằng các thành phần xã hội, tiêu diệt giai cấp tư sản, địa chủ…Đời sống xã hội dựa trên nguyên tắc kỷ luật hoá cao độ, các quyền tự do các nhân và các tổ chức bị hạn chế tối đa. Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố: Thời kỳ khôi phục kinh tế đã kết thúc và mở đầu thời kỳ phát triển kinh tế một cách có kế hoạch. Tháng 11/1958, Đảng Lao động quyết định đề ra kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa trong 3 năm 1958-1960 và tiến hành Cải tạo xã hội chủ nghĩa được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 12 năm 1958. Đã có tới 84,8% số hộ nông dân ở miền Bắc gia nhập hợp tác xã, chiếm 76% tổng diện tích canh tác, 520 hợp tác xã ngư nghiệp chiếm 77,2% tổng số hộ đánh cá, có 269 hợp tác xã nghề muối chiếm 85% tổng số hộ làm muối.
Ở thành thị, 100% số cơ sở công nghiệp tư bản tư doanh thuộc diện cải tạo đã được tổ chức thành xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp tác, 1.553 doanh nhân thành người lao động. Có 90% tổng số thợ thủ công trong diện cải tạo đã tham gia các hợp tác xã thủ công nghiệp, trong đó hơn 70.000 thợ thủ công chuyển sang sản xuất nông nghiệp. Trong lĩnh vực thương nghiệp, 60% tổng số người buôn bán nhỏ, làm dịch vụ, kinh doanh ngành ăn uống thuộc diện cải tạo đã tham gia hợp tác xã, tổ mua bán, làm đại lý cho thương nghiệp quốc doanh và trên 10.000 người đã chuyển sang sản xuất.
NHÂN VĂN GIAI PHẨM BỊ GHÉP TỘI GIÁN ĐIỆP. Theo Đại cương Lịch sử Việt Nam do Lê Mậu Hãn chủ biên, trong bối cảnh phương Tây đang tiến hành gây rối loạn ở hệ thống xã hội chủ nghĩa, lực lượng tình báo nước ngoài đã kích động một bộ phận văn nghệ sĩ có chính kiến đối lập tạo nên Phong trào Nhân văn Giai phẩm. Ban đầu, phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ phê phán những sai lầm, nhưng về sau dần phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, phủ nhận quyền lãnh đạo duy nhất của đảng Lao động Việt Nam về Chính trị và Nhà nước thậm chí kích động kêu gọi nhân dân xuống đường biểu tình. Cuối năm 1956, chính quyền quyết định chấm dứt Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm.
Ngày 10/4/58, những người liên can đến vụ Nhân Văn 1956 bị ghép tội “Gián điệp” bắt giam gồm: Nữ sĩ Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Lê Nguyên Chí.v.v. Ngày 17/4/58, nhiều nhà văn nghệ như Đào Duy Anh, Văn Cao, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Từ Phác, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Cầm, Trần Duy, Trần Dần, Thụy An, Hoàng Tích Linh.v.v. bị Tổng cục Chính trị kết tội phản động, phản đảng, phản Mác-Lê. Ngày 19/1/60, Nguyễn Hữu Đang, Lê Nguyên Chí, Trần Thiếu Bảo bị Toà án Hà Nội kêu án khổ sai hoặc tù về tội “gián điệp Mỹ”.
CHÍNH QUYỀN ĐIỀU KHIỂN, CHI PHỐI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI. Trong thời kỳ này, xã hội Miền Bắc hoàn toàn bị chi phối bởi sự điều khiển của chính quyền, các quyền dân sự bị thu hẹp, các quyền tự do chính trị, tự do ngôn luận, xuất bản báo chí bị hạn chế tối đa, quyền làm việc, cư ngụ, đi lại, giao thiệp, cưới hỏi đều phải có sự cho phép của Nhà nước. Đời sống xã hội dựa trên nguyên tắc kỷ luật hóa cao độ dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng Lao động Việt Nam. Xã hội nhanh chóng chuẩn bị cho cuộc sống quân sự hóa cao "Toàn dân - Toàn diện" theo phương châm "Mỗi người dân đều là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài". Việc hiện đại hóa quân đội được tiến hành, nhưng chậm và không đồng bộ, nhiều Sư đoàn bộ binh được thành lập thêm, nhưng vẫn mang tính bộ binh đơn thuần, hỏa lực hạng nặng thiếu và chắp vá.
Quân đội chưa có các quân binh chủng kỹ thuật cao như không quân, radar, hải quân, tăng, thiết giáp... còn đang trong quá trình sơ khai; phương tiện vận tải, thông tin liên lạc còn yếu kém. Vào cuối năm 1959, miền Bắc đã bí mật cho tiến hành thăm dò, phát triển tuyến đường tiếp vận chiến lược: Đường Trường Sơn còn được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh.
189: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ, VÀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: 1953-1956.
LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Bách khoa Toàn thư mở viết: Tháng 10 năm 1952, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bản "chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam" cho Stalin để "đề nghị xem xét và cho chỉ dẫn" và cho biết chương trình hành động được lập bởi chính ông dưới sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ. Từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 12 năm 1953, tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ". Ngày 4 tháng 12 năm 1953, Quốc hội thông qua luật Cải cách ruộng đất 197/HL, và Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành ngày 19 tháng 12 năm 1953.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhóm họp, và chỉ định một Ủy ban Lãnh đạo Cải cách Ruộng đất gồm: (1) Hồ Chí Minh, Chủ tịch Đảng Lao động, Chủ tịch nhà nước Việt Nam, Phát động và làm tư tưởng cuộc Cải cách. (2) Trường Chinh, Tổng Bí thư đảng, Trưởng ban chỉ đạo. (3) Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban chỉ đạo thí điểm Thái Nguyên. Lê Văn Lương Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Trưởng ban chỉ đạo thí điểm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh. Hồ Viết Thắng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương đảng, Giám đốc trực tiếp điều hành chiến dịch.
Về phía nhà nước: (1) Chủ nhiệm Ban cải cách ruộng đất Trung ương: Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng. (2) Ba Phó chủ nhiệm: Trường Chinh Tổng Bí thư Đảng Lao động. Nghiêm Xuân Yêm, Bộ trưởng canh nông. Hồ Viết Thắng, Thứ trưởng canh nông, trưởng ban liên lạc nông dân toàn quốc. (3) Các Ủy viên: Trần Văn Đức, ủy viên Trung ương Đảng dân chủ; Nguyễn Công Hoà, ủy viên BCH Tổng liên đoàn lao động. Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng công an; Vũ Đình Hoè, bộ trưởng tư pháp; Tố Hữu, tổng giám đốc nha tuyên truyền và văn nghệ; Linh mục Vũ Xuân Kỳ, ủy viên Liên Việt toàn quốc. Nguyễn Lam, bí thư đoàn thanh niên cứu quốc; Trần Lương, đại biểu quân đội. Phan Tư Nghĩa, Tổng thư ký Đảng xã hội; Tôn Quang Phiệt, đại biểu Ban thường trực Quốc hội….
THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT QUA BỐN BƯỚC. Chương trình Cải cách Ruộng đất được thực hiện qua bốn bước chính: Huấn luyện cán bộ; Chiến dịch Giảm tô; Chiến dịch Cải cách Ruộng đất; và Chiến dịch Sửa sai. Bước 1: HUẤN LUYỆN CÁN BỘ. Các cán bộ Đảng Lao động tham gia Cải cách ruộng đất được đưa đi học khóa chỉnh huấn 1953 nhằm giúp cán bộ nắm vững đường lối của đảng trong Cải cách ruộng đất, và quán triệt quan điểm. Tổng số cán bộ được điều động vào công tác là 48.818 người. Bước 2: CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ. Chiến dịch Giảm tô được thực hiện qua 6 bước nhỏ: Phân định thành phần; Phân loại địa chủ; Áp dụng thoái tô; Học tập tố khổ, truy bắt địa chủ; Tố cáo địa chủ; Và, Xử án địa chủ.
Bắt đầu chiến dịch Giảm tô, các “Đội Cải cách Ruộng đất” đi vào làng xã, thực hiện "3 Cùng" (cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm) với các bần cố nông trong làng xã, kết nạp họ thành "rễ", thành "cành" của đội, sau đó triển khai chiến dịch theo trình tự 6 bước nhỏ: (1) Phân định thành phần: Tất cả các gia đình trong xã được họ phân loại thành 5 thành phần: (a) địa chủ; (b) phú nông; (c) trung nông (cứng; vừa; yếu) (d) bần nông; (e) cố nông. (2) Phân loại địa chủ: Có 3 loại: Địa chủ gian ác; Địa chủ thường; Địa chủ có ủng hộ kháng chiến. Thành phần “Địa chủ gian ác” bị đội cải cách bắt ngay, và bị quản thúc. (3) Áp dụng thoái tô: Đối với các gia đình có địa chủ bị bắt và bị quản thúc, Đội cải cách thông báo với họ về các sắc lệnh giảm tô của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bao gồm: Sắc lệnh tháng 11 năm 1945, giảm tô xuống 25%; Sắc lệnh số 87/SL năm 1952 và 149/SL năm 1953 giảm tô thêm 25%. Căn cứ theo đó, địa chủ nào chưa giảm tô cho nông dân thì bây giờ phải trả cho nông dân khoản nợ đó - gọi là "thoái tô". Nếu địa chủ nào không trả đủ nợ thì tài sản bị tịch thu, phân phát cho nông dân.
(4) Học tập tố khổ, truy bắt địa chủ: Trước đó, các bần nông, cố nông, "chuỗi", "rễ" được Đội cải cách “cho học một lớp tố khổ” do họ mở, qua đó học viên được nhận dạng các tội ác của địa chủ, đã bóc lột, chèn ép họ như thế nào. (5) Tố cáo địa chủ: Các buổi tố cáo được tổ chức công khai, thông thường vào ban đêm. Số lượng người tham gia tố cáo từ vài trăm đến cả ngàn người, huy động từ các làng xóm lân cận, và thời gian từ một đến ba đêm tùy theo mức độ tội trạng của địa chủ. Trong buổi đấu tố, các nông dân bước ra tố cáo địa chủ đã bóc lột, áp bức họ như thế nào. Sau khi bị quần chúng tố cáo, các địa chủ được tạm giam trở lại, để chờ tòa án nhân dân xét xử. (6) Xử án địa chủ: Tại các huyện, một Tòa án Nhân dân Đặc biệt được lập ra và đi về các xã xét xử địa chủ. Sau khi kết án, nếu bị kết án tử hình, đội tự vệ xã sẽ thi hành án, có thể là trước công chúng.
Bước 3: CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Sau khi chiến dịch Giảm tô được triển khai nhiều tháng, chương trình Cải cách Ruộng đất chính thức bắt đầu, với hình thức tương tự, nhưng trên địa bàn rộng lớn hơn. Từ cuối năm 1954, dưới sức ép của cố vấn Trung Quốc, chiến dịch cải cách ruộng đất bắt đầu được đẩy mạnh và nhanh, với cường độ lớn. Quyết liệt nhất là ở Thái Bình, nơi có đến 294 xã được đưa vào cải cách. Tổng cộng có năm đợt cải cách ruộng đất từ 1953 đến 1956 tiến hành tại 3.314 xã, 810.000 hecta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho 2 triệu hộ, chiếm khoảng 72,8% số hộ nông dân ở miền Bắc. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, việc thực hiện cải cách ruộng đất đã gây ra nhiều hậu quả lớn. Ở các đợt đầu, cải cách diễn ra có kiểm soát và trật tự, đạt hiệu quả tốt.
Nhưng từ giữa năm 1955, do tiến hành vội vã, ở một số nơi đã xuất hiện hiện tượng nông dân địa phương trở nên quá khích, đấu tố tràn lan mất kiểm soát, đã có nhiều người bị oan sai. Do sự quá khích và trình độ dân trí thấp của nông dân địa phương, các gia đình địa chủ có thành tích kháng chiến, kể cả các gia đình có đảng viên, cán bộ, bộ đội phục vụ trong kháng chiến cũng bị tố cáo. Có những nơi cả cán bộ đảng viên, sĩ quan quân đội cũng bị nông dân địa phương bắt giữ, chính quyền địa phương không dám ngăn chặn vì sợ kích động bạo lực với đám đông quần chúng. Ví dụ như tướng Vương Thừa Vũ, Chủ tịch Ủy ban Quân quản từng bị nông dân địa phương bắt giữ, chính quyền trung ương phải tới can thiệp mới giải cứu được. Mức 5,68% địa chủ trong dân số địa phương là cao hơn rất nhiều so với thực tế. Tổng số người bị quy là địa chủ trong Cải cách ruộng đất đã được thống kê là 172.008 người; trong đó số người bị quy sai là 123.266 người, chiếm tỷ lệ 71,66%.
Bước 4: CHIẾN DỊCH SỬA SAI. Tháng 2/1956, Hội nghị Trung ương đảng lần thứ 9 tuyên bố các sai lầm trong cải cách ruộng đất. Tháng 3/1956, Quốc hội họp lần thứ 4 tường trình bản báo cáo các sai lầm và biện pháp sửa sai. Ngày 18/81956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm và cho biết Trung ương đảng và chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm các sai lầm. Ngày 24/8/1956, báo Nhân dân công bố có một số “đảng viên trung kiên” đã bị hành quyết sai lầm trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất. Tháng 9/1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương đảng nhận định các nguyên nhân đưa đến sai lầm, và thi hành biện pháp kỷ luật đối với Ban lãnh đạo chương trình Cải cách Ruộng đất như sau: ông Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư đảng, nhưng vẫn là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; ông Hoàng Quốc Việt ra khỏi Bộ Chính trị, xuống ủy viên Trung ương; ông Lê Văn Lương ra khỏi Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và Bí thư Trung ương Đảng xuống ủy viên dự khuyết TW; và ông Hồ Viết Thắng bị loại ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Có hơn 70% người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông là quy sai. Có trường hợp là cán bộ, đảng viên lãnh đạo cũng bị dân chúng kéo đến đấu tố mà không cần chứng cứ. Chẳng hạn như: Phó Bảng Đặng Văn Hướng, Bộ trưởng phụ trách Thanh - Nghệ - Tĩnh của Chính phủ, là bố đẻ Đại tá Đặng Văn Việt, Trung đoàn trưởng đầu tiên, anh hùng lực lượng vũ trang Việt Minh, khi ông Hướng về quê đã bị dân địa phương đấu tố, vì ông Hướng từng làm quan cho triều Nguyễn, ông không bị bắn, nhưng tự tử chết tại quê nhà Diễn Châu. Hoàng Giáp Thượng Thư Nguyễn Khắc Niêm cha của nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện cũng bị dân địa phương tại quê nhà Hương Sơn, Hà Tĩnh quy tội vì từng làm quan to cho triều Nguyễn, bị giam trong chuồng nuôi hươu, phải ăn cả cơm thiu, gạo hẩm.
Ông Phan Đăng Dư cha của Phan Đăng Lưu, Uỷ viên thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ông Dư bị quy địa chủ, và kết án 20 năm tù, giải đi nhà lao Bến Hới (Tân Kỳ), sau đó qua đời trên đường đi. Dân điạ phương gọi là ông Phán Dư, vì ông có ba người con làm Thông phán Phan Đăng Lưu (Phán Tằm), Phan Đăng Triều (Phán Triều), Phan Đăng Tài (Phán Tài). Cả ba người đều theo cách mạng. Hoặc bà Nguyễn Thị Năm, mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, và Trường Chinh, có con trai Nguyễn Văn Công là trung đoàn trưởng lớp đầu tiên của Quân đội Nhân dân. Bà Năm cũng đã từng hiến 100 lạng vàng cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khi mới thành lập. Hoặc trường hợp Thiếu tướng Vương Thừa Vũ, Tư lệnh Đại đoàn 308, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Hà Nội cũng bị một nhóm người dân bắt ở ngoại thành Hà Nội vì có người tố cáo ông là "địa chủ, có xuất thân là tư sản, lập trường chính trị không rõ ràng".
Trong Cải cách ruộng đất, Đảng Lao động Việt Nam cũng thực hiện chỉnh huấn. Tổng số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật trong Chỉnh huấn là 84.000 người, chiếm tỷ lệ hơn 55%. Có những chi bộ tốt lại bị người dân tố cáo là chi bộ phản động, bí thư hoặc chi ủy viên chịu kỷ luật nặng, có bí thư bị xử bắn. Tình hình chỉnh đốn ở cấp huyện và cấp tỉnh cũng hỗn loạn, số cán bộ lãnh đạo các cấp này bị kỷ luật oan sai cũng chiếm tỷ lệ lớn. Hà Tĩnh là tỉnh cá biệt, có 19 cán bộ tỉnh ủy viên, công an, huyện đội tham dự chỉnh đốn đảng đều bị kỷ luật.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói về tình trạng kết án oan sai trong bài diễn văn đọc trước Mặt Trận Tổ Quốc, ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại Hà Nội: Qua cuộc Cải cách ruộng đất ta thấy bao nhiêu các chiến sĩ cách mạng với thành tích lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai huy chương kháng chiến, bị kết án là phản động, cường hào gian ác, và sau khi nhận tội, bị tống giam hay bị hành hình. [...] Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói được, họ chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng, vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được?”. (Hết trích)
190: CÁC BƯỚC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI BẮC VIỆT NAM 1953-1956: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
SÁCH TỪ THỰC DÂN TỚI CỘNG SẢN, Hoàng Văn Chí viết: Cộng sản thực hiện Cải cách Ruộng đất bằng hai chiến dịch liên tiếp: CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ (CDGT) vào những năm 1953 và 1954, và CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (CDCCRĐ) vào những năm 1954 và 1956. Năm 1955, cộng sản tạm thời đình chỉ cải cách ruộng đất vì… Hết thời hạn 300 ngày, nhất là sau khi chiếm đóng Hải Phòng, họ tiếp tục đấu tố trở lại. Mục đích của “Giảm tô” và “Cải cách Ruộng đất” là tiêu diệt toàn bộ giai cấp địa chủ để tiến tới việc thành lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn. Nói một cách rõ hơn thì Chiến dịch Giảm tô cốt tiêu diệt sơ bộ những phần tử “có máu mặt” ở nông thôn, mà cộng sản gọi là “phản động chính”, tịch thu tiền bạc, nữ trang hoặc châu báu, tức là những “của nổi, của chìm” mà họ giấu giếm hoặc giao cho gia đình, quyến thuộc cất giữ.
Còn Chiến dịch Cải cách Ruộng đất nhằm vào những người chỉ “có đủ bát ăn”, mệnh danh là “phản động phụ”. Nhóm thứ hai này tương đối nghèo hơn, không có vàng bạc châu báu. Muốn có một ý niệm rõ ràng hơn, chúng ta hãy lấy một ví dụ sau đây: Giả sử trong một làng nào đó có 25 gia đình tạm gọi là A, B, C, D, vân vân, theo thứ tự bản mẫu tự và theo giầu, nghèo. A giầu nhất và Z nghèo nhất. Lúc khởi đầu CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ, Đảng dạy cho nông dân cách phân định nhân dân trong làng thành nhiều thành phần khác nhau. Chiếu theo bản điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn, mà họ phải học tập kỹ lưỡng trong 10 hôm. Sau đó, họ phân định dân làng, đại khái theo thứ tự sau đây:
· A, B, C: địa chủ.
· D, E, F: phú nông.
· G, H, I, J: trung nông cứng.
· K, L, M, N: trung nông vừa.
· O, P, Q, R: trung nông yếu.
· S, T, U, V: bần nông.
· X, Y, Z: cố nông.
DỰA VÀO BẦN CỐ NÔNG, ĐOÀN KẾT VỚI TRUNG NÔNG…Đồng thời cộng sản cũng đề ra khẩu hiệu: “Dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông để tiêu diệt địa chủ”. Cộng sản kêu gọi những người từ G đến Z thành lập một khối Liên minh hùng hậu để tiêu diệt mấy kẻ bất hạnh: A, B, C bị quy là “địa chủ”. Những phú nông D, E, F kế sát với địa chủ A, B, C không được phép tham gia đấu tranh, nhưng được hứa hẹn “yên thân” nếu “ngoan ngoãn”. Đấy là ý nghĩa của khẩu hiệu “Liên hiệp phú nông”. Những người được quy là “phú nông D, E, F” hết đỗi mừng rỡ vì lẽ ranh giới giữa “địa chủ” và “phú nông” quả là huyền huyền ảo ảo, không một người nào có thể biết trước mình sẽ là địa chủ hay phú nông. Trung nông được vinh dự đứng cùng hàng ngũ với bần cố nông cũng mừng rơn, vì cảm thấy sẽ được an toàn dưới chế độ mới, mặc dầu không phải là “Cánh ta”.
Để củng cố lập trường, họ hăng hái đấu tranh chống mấy tên A, B, C. Họ muốn chứng minh với Đảng họ đứng hẳn về phe đảng, phe bần cố nông. Theo lệ thường, A sẽ bị bắn trước công chúng, B sẽ bị án khổ sai, nặng nhẹ tuỳ trường hợp. Nhưng câu chuyện đến đấy chưa phải là hết. Khoảng một năm sau, Đảng lại phái một Đội cải cách thứ hai tới làng để phát động một cuộc khủng bố thứ hai: đó là CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Một đoàn cán bộ mới tới làng, quan sát qua loa, rồi tuyên bố rằng việc phân định thành phần năm trước cả làng đã làm sai. Họ nói: “Các đồng chí nông dân không nắm vững các tiêu chuẩn phân định thành phần, nên năm ngoái đã để quá nhiều địa chủ LỌT LƯỚI”. Họ bắt nông dân học tập lại bản Điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn và thúc đẩy nông dân phát hiện thêm địa chủ. Họ nói rằng theo sự tính toán rất khoa học của các đồng chí cố vấn Trung Quốc, đã điều tra rất cẩn thận ở các làng thì lẽ ra số địa chủ phải nhiều hơn gấp bội.
BẮT NÔNG DÂN QUY ĐỊNH LẠI THÀNH PHẦN. Họ bắt nông dân quy định thành phần lại, và lần này những người D, E, F (trước đây là phú nông) và G, H, I, J (trước đây chỉ là trung nông cứng) đều trở thành địa chủ, trong khi K, L, M, N (trung nông vừa) trở thành phú nông v.v. Như vậy tổng số địa chủ mới “tìm ra” đông gấp 5 lần số địa chủ phát hiện trong Chiến dịch Giảm tô năm trước. Theo lệnh của Trung ương đảng, con số tối thiểu những án tử hình cũng tăng từ 1 lên 5 tại mỗi xã. Tổng số nạn nhân của phong trào Cải cách ruộng đất tại Bắc Việt chưa hề được công bố, nhưng nếu tin lời ông Gérard Tongas, một giáo sư Pháp ở lại Hà Nội cho tới năm 1959 thì “kết quả của cuộc tàn sát kinh khủng này là một trăm ngàn người”. Cho tới nay chưa một ai có thể ước lượng được số người chết trong hai chiến dịch LONG TRỜI LỞ ĐẤT này, nhưng theo lời những người vượt tuyến vào Sài Gòn năm 1957 thì khắp các vùng nông thôn Bắc Việt nhân dân mang toàn khăn trắng.
Bài 191: BƯỚC 1 HUẤN LUYỆN CÁN BỘ, VÀ NỘI DUNG 5 BÀI HỌC: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
“Tiến trình thực hiện Cải cách Ruộng đất” qua bốn bước: Huấn luyện cán bộ; Chiến dịch Giảm tô; Chiến dịch Cải cách Ruộng đất, và Chiến dịch sửa sai.
BƯỚC MỘT: HUẤN LUYỆN CÁN BỘ. Người ngoài cuộc thường hay nói đến danh từ “tẩy não”và thường không biết có nhiều loại “tẩy não” khác nhau. Hình thức nặng nhất là “quản huấn” dành riêng cho “địa chủ ngoan cố”; hình thức vừa vừa, gọi là “cải tạo” dành cho tù binh ngoại quốc. Các hình thức này đều nặng về khủng bố tinh thần, và nhẹ về thuyết phục. Chỉnh huấn thì trái lại, nặng về thuyết phục và tương đối nhẹ về khủng bố, vì mục đích của chỉnh huấn là “thêm bạn bớt thù”. Chỉnh huấn bắt đầu trở thành “quốc sách” năm 1949, sau khi Trung cộng thành lập chế độ Dân chủ Nhân dân.
Từ ngày ấy trở đi, theo thường lệ mỗi lần cộng sản thay đổi đường lối là một lần tất cả cán bộ chính quyền và đảng viên, từ bộ trưởng xuống đến thư ký hạng bét, phải đi chỉnh huấn để học tập chính sách mới của Đảng. Đúng như Trường Chinh đã nói:“Mỗi công tác tư tưởng đều nhằm một mục tiêu chính trị”.
Như vậy, mục đích chỉnh huấn là nhằm sửa soạn tinh thần cán bộ trước khi thực hiện một chính sách mới, để đến khi thực hiện, cán bộ không thể phản ứng và mọi việc được êm đềm. Học viên khoá chỉnh huấn năm 1953-1954 đều là “bạn”: đảng viên, cán bộ và một số “nhân sĩ tiến bộ”. Tất cả đều học một chương trình, nhưng tuỳ theo cấp bực công vụ và tuỳ theo trình độ hiểu biết chính trị, họ được chia thành nhiều loại: Đảng viên cao cấp, cán bộ trung ương và một số nhân sĩ quan trọng, lên Việt Bắc học. Địa điểm dạy gần nơi Chính phủ trung ương để ông Hồ và ông Trường Chinh có thể thân hành đến dạy. Đảng viên, cán bộ cấp giữa và một số nhân sĩ địa phương, học tại khu, do khu uỷ phụ trách giảng dạy. Đảng viên và cán bộ cấp dưới học ở tỉnh, do tỉnh uỷ giảng dạy. Công nhân và nhân viên cấp dưới học ngay tại chỗ: sau giờ làm việc, buổi chiều hoặc tối.
ĂN UỐNG, SINH HOẠT TRONG TRẠI CHỈNH HUẤN. Địa điểm chỉnh huấn bao giờ cũng đặt sâu trong chiến khu ở những nơi rất hẻo lánh. Học viên tạm trú trong nhà nhân dân địa phương, còn giảng đường thì do học viên xây cất lấy, bằng sàn gỗ và tre nứa đốn trong rừng. Chủ nhật, học viên phải vào rừng đốn củi cho nhà bếp nấu cơm. Mỗi người đi dự chỉnh huấn phải mang theo quần áo, chăn mùng, một cái bát, một đôi đũa, và một số tiền tương đương với giá một trăm cân gạo cho 3 tháng. Tiền ăn 75 cân (mỗi tháng 25 cân), tính mỗi người ăn hết 15 cân gạo, còn mắm muối hết 10 cân. Số tiền tương đương với 25 cân còn lại tính vào phí tổn giấy bút, dầu đèn, và tài liệu quay bằng rô-nê-ô. Học viên chia thành từng tổ, mỗi tổ ba người: tổ trưởng là một đảng viên có trách nhiệm điều tra và kiểm soát hai tổ viên khác không đảng. Mỗi tổ ở nhờ một gia đình nông dân và mỗi ngày hai lần cử một tổ viên đến ban “cấp dưỡng” (nhà bếp) lĩnh thức ăn do các “anh nuôi” (đầu bếp) cấp phát.
Mỗi lần đi mang theo một cái rổ và một cái nồi đất mượn của chủ nhà, rổ để đựng cơm và nồi để đựng canh. Cơm nấu bằng gạo “mậu dịch” để lâu trong kho nên thường mốc, và thức ăn là rau nấu với muối. Mỗi tuần lễ được ăn thịt một lần nhưng thịt cắt thành từng miếng nhỏ nấu lẫn với rau. Thịt hiếm đến nỗi người phụ trách lĩnh cơm thường phải vớt ra chia từng miếng cho đều để khỏi hơn thiệt. Những người có tiền mang theo cũng bắt buộc phải ăn uống như vậy vì trước khi tới trại, đảng uỷ đã ra lệnh cấm dân địa phương không được mua bán thức ăn cho các học viên. Học viên không được phép ra khỏi khu vực, không được liên lạc với xã hội bên ngoài; được phép viết thư về nhà (qua kiểm duyệt), nhưng không được nhận thư ở ngoài gửi đến. Thư từ gửi đến đều bị giữ lại, chờ khi nào mãn khoá mới được nhận. Có trường hợp một bác sĩ (Trịnh Đình Cung) chỉnh huấn xong, mới nhận được thư báo vợ chết, từ hai tháng trước.
Kỷ luật trong trại chỉnh huấn cũng đại khái như trong trại lính. Sáng dậy từ 6 giờ, tập thể thao nửa giờ. Học từ 7 đến 11 giờ. Về nhà ăn cơm và nghỉ từ 11 giờ đến 1 giờ, rồi lại học từ 1 giờ đến 5 giờ, ăn cơm tối và làm bài vở từ 7 đến 10 giờ tối. Mười lăm phút trước khi đi ngủ dành cho “hội thảo” tức là trong tổ kiểm thảo lẫn nhau qua loa về hành vi trong ngày. Chủ nhật ra suối tắm và công tác lao động như vào rừng kiếm củi cho nhà bếp, hoặc đào hầm trú ẩn để tránh máy bay. Tối thứ Bẩy có biểu diễn văn nghệ do học viên trình bày. Trong một khoá được xem chiếu bóng một lần, phim Nga hoặc phim Tầu. Năm bài học cho Khoá chỉnh huấn 1953 – 54 gồm: Bài thứ nhất: Thái độ học tập; Bài thứ hai: Lịch sử cách mạng Việt Nam; Bài thứ ba: Tình hình mới, nhiệm vụ mới; Bài thứ tư: Tác phong cán bộ và đảng viên; Bài thứ năm Cải cách ruộng đất.
Bài 1: THÁI ĐỘ HỌC TẬP. Mỗi học viên phải có thái độ đúng đắn trong lớp chỉnh huấn. Mỗi người phải “thực sự cầu thị” nghĩa là thành tâm học hỏi để mong “tiến bộ” cho bản thân, không được “vờ vịt” làm bộ hối cải để mong đánh lừa Đảng. Mỗi lần phê bình bạn, phải có tinh thần “chữa bệnh cứu người”, nghĩa là yêu bạn mà chữa cho bạn thoát khỏi những tư tưởng phản động để bạn chóng lành mạnh. Đảng cấm dùng “đao to búa lớn”, cấm “chụp mũ”, “truy kích”. Đảng nói: “bất cứ tội nặng bằng mấy, nhưng hễ thành thực bộc lộ cũng sẽ được hoàn toàn tha thứ” và “nếu đồng chí không chịu bộc lộ ngay bây giờ thì sau này anh em nông dân sẽ bộc lộ hộ cho đồng chí”.
Nhờ có lời đe doạ này, mà mọi người đều phải rán sức học tập, mặc dù Đảng không sử dụng những phương pháp khủng bố tinh thần khác, vì mỗi người đều cảm thấy có một chiếc gươm của ông Damoclès treo lủng lẳng trên đầu mình. Trong tình trạng ấy, tất nhiên mọi người đều rán sức học tập và tuân theo lời Đảng. Những người khôn ngoan không ngần ngại lúc đầu làm ra bộ hết sức phản động, nêu nhiều thắc mắc rất lớn, rồi về sau bộc lộ rất nhiều tội lỗi, cũng rất lớn, để chứng minh rằng nhờ có chỉnh huấn mà mình đã hoàn toàn “lột xác”, quyết tâm đi hẳn vào con đường mới do đảng đã chỉ dẫn cho mình theo.
Bài 2: LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VIỆT NAM. Thực dân là một chế độ hết sức tàn ác và những công cuộc khai hoá của người Pháp ở Việt Nam chỉ nhằm mục đích phục vụ quyền lợi của chúng. Họ mở đại học và các trường chuyên nghiệp để đào tạo thêm tay sai, làm đường xe lửa để tăng thêm thuế ruộng. Vì vậy nên mọi người Việt Nam đều có nhiệm vụ đấu tranh chống Pháp, đuổi Pháp ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Suốt trong thời kỳ Pháp thuộc ngọn lửa cách mạng lúc nào cũng bùng cháy, nhưng tất cả các cuộc khởi loạn đều đã thất bại vì lẽ giới lãnh đạo thuộc thành phần phong kiến hoặc trí thức tiểu tư sản, không được quảng đại quần chúng ủng hộ.
Nhưng từ ngày Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời năm 1930, thì cách mạng Việt Nam tiến bộ rất nhanh và rất vững vàng. Đấy là nhờ ở chủ nghĩa Mác Lê, ở sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và nhờ ở kinh nghiệm quý báu của cách mạng thế giới. Vì vậy, nên mọi người nhiệt thành yêu nước phải tham gia kháng chiến chống Pháp và chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Lao động. Mục đích của bài này là thuyết phục mọi người về một điểm: cộng sản tức là yêu nước, và mọi người yêu nước phải gia nhập Đảng Cộng sản, hoặc ít nhất cũng phải chấp nhận sự lãnh đạo của cộng sản.
Bài 3: TÌNH HÌNH NHIỆM VỤ MỚI. Bài học bắt đầu bằng một bản báo cáo về tình hình trong nước. Cả lớp đều hết sức phấn khởi khi nghe giảng viên báo tin những thắng lợi mới nhất về quân sự và ngoại giao. Giảng viên cũng trình bày tầm quan trọng và tính cách bất vụ lợi của việc Liên Xô và Trung Quốc viện trợ Việt Nam. So sánh nền kinh tế tư bản và nền kinh tế cộng sản, giảng viên nói hiện không có một công ty tư bản nào có đủ tiền để mua số lông lợn do mậu dịch Trung Quốc thu được trong một năm. Giảng viên phân tích kỹ lưỡng tình hình thế giới và tình hình trong nước để kết luận rằng chế độ tư bản đã đến ngày tàn. Cho dầu được đế quốc Mỹ viện trợ quân sự, thực dân Pháp thế nào cũng thất bại.
Muốn đạt tới thắng lợi hoàn toàn, chính phủ và nhân dân phải thực hiện ngay một số nhiệm vụ khẩn cấp như: (a). Thành lập chế độ dân chủ nhân dân chuyên chính, nghĩa là dân chủ đối với nhân dân và chuyên chính đối với “kẻ thù của nhân dân”. Chúng ta có dân chủ với nhân dân mới có thể chuyên chính với kẻ thù, và chúng ta phải chuyên chính đối với kẻ thù mới có thể bảo vệ được chế độ dân chủ nhân dân”. (b). Cần phải tăng cường đoàn kết toàn dân bằng cách loại trừ những phần tử phản động trong guồng máy hành chính và để cho giai cấp vô sản tham dự chính quyền. (c). Cần phải liên kết mật thiết với các nước trong khối xã hội chủ nghĩa và cách mạng Việt Nam rất cần sự viện trợ của họ.
Có một số học viên tỏ thái độ thắc mắc, rằng nhiều nước như Ấn Độ và In-đô-nê-sia chẳng cần liên kết với khối nào mà vẫn kiện toàn được nền độc lập. Họ đứng trung lập giữa hai khối nên cả hai đều phải kính nể họ. Không giảng viên nào “đả thông” nổi, cuối cùng, ông Hồ phải thân chinh đến thuyết phục. Ông đả phá “trung lập”, ông gọi các nước trung lập là những nước “làm đĩ chính trị”, nay ngả với phe này, mai ngả với phe khác để kiếm ăn. Ông nói: “Đối với những chú không dứt khoát tư tưởng, còn đang lưng chừng, thì tôi khuyên nên dứt khoát ngay từ bây giờ: một bên là tổ quốc, một bên là quân thù. Chú nào muốn dinh tề thì xin cứ việc. Công an địa phương sẽ “cấp giấy ngay tức khắc”.
Bài 4: TÁC PHONG CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN. Bài này, học viên chia làm hai nhóm: Cán bộ học riêng và đảng viên học riêng. Đối với cán bộ ngoài đảng thì bài học đại khái như cuốn SỬA ĐỔI LỀ LỐI LÀM VIỆC do chính ông Hồ viết năm 1946. Trong cuốn sách nhỏ này ông Hồ đã liệt kê những thói hư tật xấu của công chức dưới thời Pháp thuộc, như tham ô, lười biếng, nịnh trên nạt dưới, hống hách với nhân dân. Có một điểm đặc biệt là đối với các học viên không đảng thì tất cả các thói hư tật xấu này đều trút lên đầu giai cấp địa chủ và muốn diệt trừ những “chứng bệnh truyền nhiễm” này. Đảng dạy mọi người phải dứt khoát với giai cấp địa chủ và lật đổ giai cấp xấu xa ấy.
Nhưng đối với các đảng viên, Đảng lại giảng rằng có một số bệnh phát xuất từ tư tưởng tiểu tư sản, và Đảng dạy các đảng viên phải tích cực đấu tranh chống tư tưởng tiểu tư sản (tác giả không phải là đảng viên nên chỉ biết qua loa như vậy, không biết được nhiều điều giảng dạy khác). Sau khi học xong bài này, đảng viên bộc lộ riêng, những học viên không đảng không được dự; nhưng trái lại các đảng viên vẫn dự những buổi bộc lộ công khai của những học viên không đảng. Tất cả đều bộc lộ những “bệnh” có liên quan đến bài học, và có một bệnh được mọi người ưa nghe nhất là bệnh hủ hoá, một danh từ mới có nghĩa là dâm ô.
Bài 5: CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Mục đích của khoá chỉnh huấn 1953-54 là chuẩn bị tư tưởng cho chiến dịch Cải cách ruộng đất, nghĩa là thuyết phục đảng viên và cán bộ, bắt họ phải công nhận thực hiện Cải cách ruộng đất. Mặc dầu Đảng đã nắm quyền sinh quyền sát, Đảng không muốn thực hiện cải cách ruộng đất bằng sắc lệnh và nghị định từ trên ban xuống, mà Đảng muốn “phóng tay phát động quần chúng đấu tranh”, nghĩa là dùng hình thức quần chúng bạo động. Tất cả năm bài học trong khóa chỉnh huấn này đều được xếp đặt trước sau theo một thứ tự rất khôn ngoan, để lái học viên, từ lòng yêu nước tự nhiên đến chỗ chấp nhận việc thi hành chính sách Cải cách Ruộng đất theo đúng sách lược Mao Trạch Đông. Rằng, bản chất anh chị em nông dân là rất “thực tế” (tránh chữ hám lợi). Trong khi anh chị em tích cực tham gia kháng chiến chịu đựng hy sinh, anh chị em cũng muốn được hưởng ngay tức khắc một vài quyền lợi vật chất.
Nếu chúng ta muốn anh chị em nông dân tích cực hơn nữa, chúng ta phải làm cho anh chị em phấn khởi thêm bằng cách cấp phát cho mọi người có đủ ruộng đất để cày cấy, và để các anh chị em có toàn quyền tự làm chủ lấy vận mạng của mình. Đường lối của Đảng, nói chung vẫn đúng, nhưng Đảng đã phạm một sai lầm nghiêm trọng trong việc chấp nhận giai cấp địa chủ là một trong bốn thành phần chính yếu của chế độ dân chủ nhân dân. Thực tế cho biết là giai cấp địa chủ không phải là bạn của nhân dân, mà là kẻ thù số một của chế độ dân chủ nhân dân. Chỉ có anh chị em nông dân mới biết rõ ai là địa chủ và mỗi tên địa chủ phản động tới mức nào và đã phạm những tội ác gì. Vì vậy chúng ta phải “phóng tay” phát động các anh chị em nông dân “tố khổ” và trị tội bọn chúng. Đấy là công việc của anh chị em nông dân, còn về phần Đảng chỉ giữ nhiệm vụ “hướng dẫn”. Đảng không trực tiếp lãnh đạo.
Bài 192: VIẾT KIỂM THẢO SƠ BỘ, LÝ LỊCH, VÀ TỔNG KIỂM THẢO: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
GIẢNG BÀI, THẢO LUẬN, ĐẢ THÔNG. Mỗi khoá chỉnh huấn gồm một số bài sắp xếp như thế nào đó để tuần tự đưa học viên đến một mục đích nhất định. Mỗi bài phải học chừng nửa tháng, mất tất cả chừng 150 giờ. Cách thức giảng dạy đã được nghiên cứu rất tỉ mỉ: (a) Tất cả học viên (vào khoảng 500) họp tại giảng đường. Mỗi người được phát một tài liệu quay rô-nê-ô. Một đại diện Đảng giảng bài và các học viên ghi chép tại lớp giảng. (b) Học viên về tổ thảo luận nội dung các danh từ dùng trong bài học, ý nghĩa từng đoạn văn một nếu có đoạn nào tối nghĩa quá, cả tổ không ai hiểu thì tổ trưởng báo cáo với ban giáo uỷ. (c) Sau khi nhận được báo cáo các tổ gửi đến, ban học uỷ giải thích lại cho toàn thể lớp học. Đôi khi ban học uỷ chấp nhận ý kiến học viên đề nghị sửa chữa một vài danh từ cho rõ nghĩa hơn. (d) Mỗi học viên lần lượt phát biểu ý kiến của mình. Đảng khuyến khích mọi người thẳng thắn nói lên ý kiến của mình.
Theo thường lệ mỗi người đều nêu lên một vài thắc mắc, vì nếu không nêu thắc mắc tức là giấu kín ý nghĩ của mình. Càng thắc mắc bao nhiêu càng có vẻ thành khẩn bấy nhiêu. Sau khi một tổ viên nêu thắc mắc, thì hai tổ viên khác tìm cách đả thông. Nhưng nếu trong tổ không đả thông nổi thì tổ trưởng lập tức báo cáo lên ban học uỷ. (e) Sau khi tập trung tất cả thắc mắc, ban học uỷ triệu tập học viên tới giảng đường để đả thông. Đại diện Đảng đọc lên từng thắc mắc một, và lần lượt đả thông cho cả lớp nghe. (f) Học viên lại trở về tổ để thảo luận về những câu giải thích của đại diện Đảng. Nếu có người vẫn nhất định không chấp nhận, đảng uỷ cử một giáo viên đến tận nhà để đả thông tư tưởng cho học viên kể trên. Nếu giáo viên đả thông không nổi thì ông Trường Chinh, tổng bí thư Đảng đến. Nếu ông Trường Chinh cũng không thuyết phục nổi thì ông Hồ thân hành đến để thuyết phục cho kỳ được.
(g) Trong thời gian học, ban giáo ủy tổ chức một vài buổi thực nghiệm. Thí dụ, trong khi học bài về chế độ thực dân thì Đảng mời một cán bộ trước kia đã bị giam ở Sơn La hoặc Lao Bảo đến kể chuyện cho cả lớp nghe ngày trước họ bị hành hạ dã man như thế nào. Trong khi học bài nói về Cải cách ruộng đất, thì cả lớp được đi dự một cuộc đấu tố gần đấy. (h) Khi học xong một số bài, nghĩa là tất cả học viên đã hoàn toàn công nhận quan điểm của Đảng đối với vấn đề trình bày trong bài, thì mỗi người bắt đầu viết một bài “kiểm thảo sơ bộ”.
VIẾT “KIỂM THẢO SƠ BỘ”. Mỗi học viên phải căn cứ vào những điểm mới học được để tự xét mình và nói ra những hành động và tư tưởng mà bây giờ, nhờ sự giáo dục của Đảng, mình nhận thấy là sai. Thí dụ, sau khi học xong bài về chế độ thực dân thì học viên phải bộc lộ thái độ của mình, ý nghĩ, việc làm công chức cho Pháp trước kia là có lợi cho chính quyền thực dân Pháp. Để giúp các học viên nhớ lại các “tội lỗi” cũ, ban giáo uỷ đọc cho cả lớp nghe một bản lược kê những “tội lỗi” mà học viên mấy khoá trước đã bộc lộ. Ban giáo uỷ cũng đọc cho nghe những bản bộc lộ điển hình của mấy nhân vật có tiếng tăm, nghệ sĩ, văn sĩ, như Nguyễn Tuân chẳng hạn. (i) Sau khi mọi người đã viết xong bản “Kiểm thảo sơ bộ” thì tổ trưởng mang nộp cho ban giáo uỷ. Ban giáo uỷ đọc qua và chọn những bản xuất sắc nhất, nghĩa là những bản kê khai những tội ghê gớm nhất, rồi mời tác giả mấy bản kiểm thảo này ra trước lớp học bộc lộ công khai cho mọi người thưởng thức.
Cả lớp chăm chú nghe thỉnh thoảng hô “đả đảo” (tội lỗi nào đó), nhưng cấm không được ghi chép. Có người công khai thú nhận đã làm Việt gian cho Pháp; có người vừa khóc nức nở vừa bộc lộ là đã gian dâm với em gái. Không ai hiểu họ nói thực hay họ bịa để tâng bốc Đảng, ra vẻ nhờ Đảng đã giáo dục mà nay quyết tâm lột bỏ cái “xác” dơ bẩn thuở trước. (k). Sau khi học hết chương trình mỗi học viên phải viết một bản lý lịch và một bản “tổng kiểm thảo”.
VIẾT “TỔNG KIỂM THẢO” Nhà trường dành riêng cho hai tuần để viết hai bản này, mỗi bản viết vào một quyển vở 60 trang, và viết hai lần, tức là bốn quyển vở tất cả. Bản lý lịch ghi đủ tên, họ, nơi và ngày sinh, lịch trình học vấn, nghề nghiệp, chức vụ, khả năng về ngoại ngữ, bằng cấp, thành tích công tác, khen thưởng, v.v. Điểm đặc biệt là phải khai mọi khoản rất tỷ mỷ. Tỉ dụ về thành phần phải khai rõ ba họ: họ nội, họ ngoại và họ nhà vợ (hoặc nhà chồng) cho đến tam đại. Phải nêu rõ ảnh hưởng tốt hoặc xấu của những người trong gia đình và trong ba họ. Học viên cũng phải khai ảnh hưởng của thầy hoặc cô giáo, của bạn học, của đồng nghiệp, ảnh hưởng của các sách vở đã học, của các tác giả, các nhà văn, những triết lý nào đã ảnh hưởng đến tính tình và tư tưởng của mình. Sau đấy phải ghi rõ những tư tưởng và hành động chính trị, giải thích cặn kẽ lý do tại sao đã thay đổi tư tưởng.
Cuối cùng học viên phải trả lời những câu hỏi như: công tác hiện thời? Lương bổng? Tài sản? Gia cảnh? Đời sống gia đình? Tình hình tài chính? v.v. Bản lý lịch đầy đủ tới mức bất cứ ai đọc cũng biết ngay hoàn cảnh và thành phần của đương sự, có thể nhận định đương sự là hạng người như thế nào. Viết bản “Tổng kiểm thảo” là công việc khó khăn và cực nhọc nhất, mặc dầu mọi người đã từng hơi quen với công việc bằng cách viết các bản “Kiểm thảo sơ bộ”, sau mỗi bài học. Thú nhận các tội lỗi không phải là việc khó, mà chỉ khó ở chỗ không “moi” đâu ra cho đủ tội lỗi sai lầm, thiếu sót, để viết cho đầy 60 trang giấy. Tuy nhiên, khó dễ cũng tuỳ thành phần xã hội và hoàn cảnh sinh hoạt của mỗi người. Văn nghệ sĩ chỉ cần phải “tự phê” một cách nghiêm khắc, “đấm ngực xưng tội và từ bỏ” tất cả các sáng tác cũ, dù là tác phẩm hay nhất của mình. Nhưng về phần kết luận các văn nghệ sĩ vẫn phải tỏ ý tán thành chính sách cải cách ruộng đất mặc dầu không có liên hệ trực tiếp.
HAI GỌNG KỀM TAM ĐOẠN LUẬN VÀ LỜI CẢNH CÁO. Viết bản “Tổng kiểm thảo” quả là gay go đối với những học viên thuộc thành phần địa chủ, vì họ bị lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan: hoặc phải tự gán cho mình đủ thứ tội lỗi đối với nông dân, hoặc để mặc nông dân quy mình là địa chủ gian ác khi nào chiến dịch Cải cách Ruộng đất lan đến làng mình. Họ bị kẹp ở giữa hai gọng kìm: một bên là tam đoạn luận “Địa chủ là gian ác, anh là địa chủ, vậy thế tất anh phải gian ác” và một bên là lời cảnh cáo rất nhẹ nhàng “Nếu anh không chịu bộc lộ hết tội lỗi nông dân bộc lộ hộ anh”. Đảng đã trịnh trọng tuyên bố rằng “bất cứ tội gì, hễ thành thật bộc lộ sẽ được tha thứ”. Tuy nhiên cũng có một số học viên, vì khí khái “Trí thức-tiểu tư sản” không chịu “sáng tác” tội lỗi để viết cho đầy trang, mà trái lại chỉ ngồi ngậm bút hoặc kê khai những “thiếu sót” vớ vẩn không đáng kể là “tội”, không vừa ý Đảng.
Như vậy là hễ chiến dịch Cải cách ruộng đất lan tới làng họ, những học viên kể trên thế tất sẽ bị quy là “địa chủ cường hào gian ác” và sẽ bị “tố” vô số tội lội tầy trời. Chỉnh huấn quả thực là “một nơi luyện tội” để những linh hồn không được trong sạch lắm, nhưng còn có thể cứu vớt được, trút rửa tất cả những tư tưởng phản động để thoát khỏi địa ngục “kẻ thù của nhân dân”.
Bài 193: BƯỚC 2 CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ, CHÍNH SÁCH BA CÙNG: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
BƯỚC HAI: CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ. Vài tháng sau cuộc “Đấu tranh chính trị” chấm dứt một đoàn cán bộ đã được huấn luyện tại Trung Quốc giả dạng làm nông dân bí mật tới làng. Nhờ tổ đảng địa phương mách mối làm quen với một vài cố nông túng bấn nhất trong làng, và xin cho ngụ cư trong nhà. Họ thực hành một chính sách gọi là “ba cùng”, nghĩa là cùng làm việc với chủ nhà mà không lấy công, cùng ăn với chủ nhà nhưng góp phần mình, và cùng ngủ một giường với chủ nhà. Nếu chủ nhà có vợ, như trường hợp thông thường, thì một nữ cán bộ tới ngủ cùng với bà vợ, và một nam cán bộ ngủ với ông chồng. Họ ở như vậy trong ba tháng. Anh nông dân rất hài lòng vì bỗng dưng có người giúp việc không công. Họ làm đủ mọi việc, cày bừa hoặc gặt hái, tuỳ theo vụ.
Họ quét nhà, trông trẻ, và trò chuyện luôn mồm. Họ tìm hiểu đời tư của chủ nhà, rất chăm chú nghe và tỏ vẻ thông cảm mỗi khi chủ nhân kể cho nghe một cảnh cực khổ của mình. Chẳng bao lâu người nông dân chất phác coi họ là đồng tình đồng cảm với mình và có bao nhiêu tâm sự “to nhỏ” với họ cho kỳ hết. Họ chịu khó nghe và giảng giải cho anh thấy rõ nguyên nhân của mọi nỗi khổ của đời anh. Tỉ dụ trường hợp một anh nông dân bị vợ bỏ, đi lấy chồng khác, thì cán bộ giải thích ngay rằng: “Giá anh không bị tên địa chủ độc ác ấy bóc lột thì anh đâu đến nỗi túng thiếu. Anh đã sắm được cho chị ấy đủ thứ thì việc gì chị ấy lại nỡ bỏ anh!”. Tóm lại, theo cán bộ thì mọi nỗi đau khổ mà nông dân đã phải chịu, đều xuất phát từ sự bóc lột tàn bạo của bọn địa chủ lang sói. Đấy chính là điều mà họ cố nhồi vào óc mấy anh bần cố nông đã chứa họ trong nhà.
CÁN BỘ BA CÙNG SẼ BÀY VẼ CHO NÔNG DÂN.. Sau đó họ bày vẽ cho nông dân biết rằng, chỉ có một phương pháp duy nhất để cải thiện đời sống của mình là tin theo chính sách của Đảng, vùng lên tiêu diệt cho kỳ hết bọn địa chủ cường hào ác bá trong làng. Công tác tích cực nhồi sọ này tiếp diễn mỗi ngày đến gần 18 giờ, cho tới khi người nông dân trước kia hiền lành ngoan ngoãn, nay sẵn sàng đứng dậy chống lại chủ đất của mình. Người nông dân được giác ngộ nầy gọi là cái “rễ”, và công tác kể trên được gọi là “bắt rễ”. Tới giai đoạn này, người cán bộ chấm dứt mọi hành vi xách động của mình trong làng, và từ đó chỉ ở miết trong căn nhà mà anh đã “ba cùng”. Từ đấy cán bộ chỉ hành động qua cái “rễ” của anh ta, người mà anh ta cấp dưỡng tiền nong và dùng làm gián điệp thường xuyên.
Anh ta cổ động cái “rễ” mà ta tạm gọi là A đi kết nạp B, rồi đến lượt B đi kết nạp C, và cứ thế mãi. Công việc này gọi là “xâu chuỗi”, và B, C, D, v.v, được gọi là “cốt cán”. Phương pháp kết nạp này (mỗi rễ và mỗi cốt cán chỉ được phép giới thiệu một người mà thôi) nhằm phòng ngừa trường hợp vô tình kết nạp một số lớn “phản động” và nhằm tránh những cạm bẫy mà địa chủ trong làng có thể giăng ra. “Rễ” còn giữ nhiệm vụ bí mật liên lạc với những cán bộ khác, đang công tác tại những xóm lân cận, để trao đổi và đối chiếu những tin tức do các cốt cán cung cấp. Họ điều tra tỉ mỉ mọi chi tiết của đời sống trong làng, tình trạng sở hữu ruộng đất và tài sản, thái độ chính trị, hoạt động quá khứ, và ngay cả những cuộc tình duyên kín đáo nhất của từng người một.
ĐIỀU TRA NHỮNG CUỘC TÌNH DUYÊN. Việc điều tra những cuộc tình duyên này nhằm một mục đích đặc biệt: người đàn bà nào thời còn con gái, có “dính líu” với một địa chủ nào, sẽ bị bắt buộc phải “tố” trước công chúng rằng chị đã bị người địa chủ kia “hãm hiếp”. Sau vài ba tháng hoạt động như vậy, người cán bộ thu thập được đầy đủ chi tiết cần thiết về cái làng mà anh phụ trách, để đích thân báo cáo trước một phiên họp bí mật của Đoàn Cải cách ruộng đất đóng trong tỉnh. Tại đây, sau khi tham khảo ý kiến của Đoàn, anh cán bộ đề nghị qui định thành phần cho tất cả dân làng, đặc biệt là thành phần địa chủ, và gán cho người nào “tội” gì? Tới lúc đó Đội cải cách ruộng đất mới ra mắt công khai, Uỷ ban hành chính xã và Chi bộ đảng ở xã tức thì bị giải tán. “Đội” đứng lên điều khiển mọi công việc trong làng, cắt cử một đội Công an mới gồm toàn nông dân cốt cán, và ra lệnh phong toả làng.
Thường thường mỗi làng ở Bắc Việt có một luỹ tre xanh bao quanh, và có hai cổng. Họ đóng cổng lại, canh gác suốt ngày đêm và không cho ai ra vào nếu không có giấy phép của Đội Cải cách ruộng đất. Đội liên lạc với Đoàn bằng một đường dây điện thoại mới dựng lên. Khách bộ hành hễ thấy hàng cột tre con đang xanh mang dây điện thoại là biết ngay trong làng nào đó ở phía đầu dây đang có đấu tố khủng khiếp. Người nào khôn hồn hãy tránh ngay đường dây ấy, nếu không, có thể bị tai bay vạ gió, nguy hiểm đến tính mạng không chừng. “Chiến dịch Giảm tô” chính thức mở đầu như vậy và được thực hiện làm sáu bước nhỏ liên tiếp: (1) Phân định thành phần; (2) Phân loại địa chủ; (3) Tống tiền công khai; (4) Tố khổ; (5) Đấu địa chủ; Và (6) Xử án địa chủ.
Bài 194: PHÂN ĐỊNH THÀNH PHẦN, PHÂN LOẠI ĐỊA CHỦ, VÀ TỐNG TIỀN CÔNG KHAI: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
Bước nhỏ 1. PHÂN ĐỊNH THÀNH PHẦN. Nông dân thuộc thành phần bản bộ, tức là bần cố nông, phải đi dự một lớp đặc biệt để học cách phân định thành phần tất cả dân làng. Những tài liệu học tập gồm có bản Điều lệ phân định thành phần ở nông thôn, các văn kiện về thể thức áp dụng bản điều lệ này cùng những tiêu chuẩn phân loại. Mỗi tỉnh có tiêu chuẩn khác nhau mà báo chí cộng sản không hề nói đến. Thí dụ: trong một tỉnh, những tiêu chuẩn phân định các loại trung nông như sau:
· Trung nông cứng: Những trung nông có 1 con bò, 1 con heo và 1 đàn gà.
· Trung nông vừa: Những trung nông có một con heo và một đàn gà.
· Trung nông yếu: Những trung nông chỉ có một đàn gà hoặc không có gì hết.
Không những tiêu chuẩn ở mỗi tỉnh một khác mà còn thay đổi mỗi đợt đấu tố một khác. Sau mười ngày tích cực học tập và “bình nghị dân chủ”, các học viên biểu quyết một bản phân định thành phần mà thường thường là y hệt tài liệu cán bộ đã soạn thảo từ trước. Tất nhiên lúc đầu mỗi người một ý, nhưng sau khi thảo luận mọi người đều chấp nhận ý kiến của cán bộ. Điều này chẳng có gì lạ vì thực tế chứng tỏ cán bộ biết rõ về dân làng hơn hẳn người làng.
Bước nhỏ 2. PHÂN LOẠI ĐỊA CHỦ. Ngay sau khi đội Cải cách ruộng đất ra mắt công khai, tức là mười ngày trước khi thành lập danh sách địa chủ, những người sẽ bị quy là địa chủ đã bị bắt ngay và nhà cửa của họ đã có “cốt cán” canh gác suốt ngày đêm. Nhưng mỗi loại địa chủ sẽ bị đối đãi một cách khác nhau. Trên lý thuyết và theo lời ông Trường Chinh tuyên bố trong bản báo cáo của ông thì có ba loại địa chủ chính: (1) địa chủ Việt gian phản động, cường hào, gian ác; (2) địa chủ thường; và (3) địa chủ kháng chiến. Ngoài ra còn có một loại nữa gọi là “nhân sĩ tiến bộ” dành riêng cho mấy ông cựu quan lại hiện được cộng sản trọng dụng, như các ông Hồ Đắc Điềm, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn .v.v.Nhưng trên thực tế, chính sách của cộng sản là tuyệt đối không để một ai có thể ngồi không, không có “công tác”. Thanh niên và những người tráng kiện thì gia nhập quân đội hoặc làm cán bộ chính quyền, ở xã, huyện, hoặc tỉnh.
Những người tuổi tác thì tham gia những tổ chức bù nhìn như “Phụ lão cứu quốc”, “Mặt trận liên Việt”, v.v. Mọi người đã tham gia kháng chiến trong bảy năm trời nên tin tưởng rằng mình sẽ được xếp vào loại “địa chủ kháng chiến”, hoặc ít nhất cũng là “địa chủ thường” vì sau khi tự xét, họ thấy họ chẳng hề phạm một tội gì đối với nông dân. Nhưng đến khi chiến dịch Cải cách ruộng đất lan đến làng họ, mọi người đều giật mình thấy mình bị xếp vào loại “Việt gian phản động”. Ngay cả những người tích cực phục vụ chính quyền kháng chiến và đã được ông Hồ Chí Minh tuyên dương công trạng, cũng bị tố cáo là đã cố tình “chui vào cơ quan của Đảng và chính phủ để phá hoại cách mạng”. Không cần phải bằng cớ, chỉ cần một nông dân nào đó nói rằng đã trông thấy địa chủ vẫy tay ra hiệu cho máy bay Pháp là đủ lên án địa chủ đó là Việt gian, làm giáp điệp cho Pháp.
LOẠI ĐỊA CHỦ ĐẦU SỎ. Loại địa chủ đầu sỏ này, lại được chia thành ba hạng nặng nhẹ khác nhau: A, B, và C. Địa chủ hạng A phải đi dự một lớp cải tạo đặc biệt kéo dài trong ba bốn tuần, suốt ngày đêm không được ngủ. Mục đích của lớp cải tạo này là khủng bố tinh thần địa chủ để bắt cung khai những chỗ chôn giấu vàng bạc. Họ bị khủng bố liên miên đến nỗi họ trở thành nửa tỉnh nửa điên và sẵn sàng thú nhận bất cứ điều gì cán bộ bắt họ phải thú nhận. Họ phải viết thư về cho vợ con chỉ chỗ giấu vàng, bạc, bảo đào lên mang nộp cho nông hội. Họ còn phải viết tờ kê khai tất cả những người còn nợ họ tiền. Họ khai ra người nào thì lập tức đội cải cách bắt người ấy phải “trả” ngay cho nông hội. Vì địa chủ mất tinh thần, nhiều khi khai vu vơ nên có nhiều thương gia bị “vạ vịt”, mất sạch cơ nghiệp dù không có liên quan trực tiếp đến Cải cách ruộng đất.
Địa chủ hạng B bị giữ trong một nhà nông dân cùng làng, nhưng đêm đến lại bị công an cầm kiếm đến điệu đi, chuyển từ nhà này sang nhà khác. Một điều đáng chú ý là việc quy định thành phần lúc nào cũng chỉ có tính cách tạm thời, và địa chủ hạng nào cũng có thể “kích” lên “hạ” xuống tuỳ theo thái độ của đương sự, hoặc “ngoan cố” hoặc ngoan ngoãn phục tòng. Nhưng vì Đảng đã ấn định một số tử hình tối thiểu cho mỗi xã nên dù tất cả địa chủ có khúm núm bằng mấy cũng có một số không sao tránh khỏi án xử tử.
Bước nhỏ 3. TỐNG TIỀN CÔNG KHAI. Sau khi chủ gia đình bị bắt và điệu đi, cán bộ Đội Cải cách gọi vợ con địa chủ đến và bảo cho biết phải lo trả ngay tức khắc số tiền gọi là “THOÁI TÔ”, hoặc còn gọi NỢ NÔNG DÂN. Trước đấy bốn năm năm, chính quyền cộng sản có ra một THÔNG CÁO buộc địa chủ phải giảm tô 25 phần trăm. Hồi ấy, mới bắt đầu kháng chiến, báo chí chưa phát hành rộng rãi nên nhiều người không biết, và SAU KHI BAN HÀNH BẢN THÔNG CÁO, chính quyền cũng bỏ bẵng hàng năm không đả động tới. Giờ đây, nông hội cho rằng tất cả địa chủ đều không tuân luật và đòi gia đình địa chủ phải “THOÁI TÔ”, tức là trả ngay tức khắc số tô đã thu quá mức trong bốn năm năm. Sự thực thì đa số địa chủ đã giảm tô, hoặc tuân theo THÔNG CÁO hoặc sợ chế độ mà phải tự ý giảm, nhưng vì họ quen thói luộm thuộm và tự xét ruộng đất chẳng có là bao nên không nghĩ tới việc biên lai, sổ sách.
Bây giờ có khiếu nại cũng vô ích và cũng không có quyền khiếu nại nên địa chủ đều phải nhận “trả”. Cán bộ cải cách thường phán như sau: “Anh em nông dân đã khai rằng mày đã thu một số tô quá mức là X tạ, Y ký và Z gam (con số rành mạch từng gam một). Anh em hẹn cho mày đến ngày… giờ… phút… phải trả cho kỳ đủ, nếu thiếu thì coi chừng!”. Nói xong hắn đưa ra một mảnh giấy bắt vợ con địa chủ phải ký nhận. Còn số “nợ” là do cán bộ ước định, căn cứ trên sự ước lượng về “khả năng có thể trả được” của mỗi địa chủ: liệu chừng có bao nhiêu tiền mặt, nữ trang, v.v. và bao giờ cũng ấn định một mức tối đa. Mục đích của “thoái tô” là làm cho địa chủ và gia đình chỉ còn hai bàn tay trắng. Việc làm cho toàn thể giai cấp địa chủ chỉ còn hai bàn tay trắng, ông Trường Chinh gọi một cách “văn hoá” là “LÀM GIẢM UY THẾ KINH TẾ CỦA ĐỊA CHỦ”. Chủ tâm bần cùng hoá địa chủ, cho tới mức độ cuối cùng biểu hiện tăng giảm số “nợ” tuỳ theo khả năng tột bực của “con nợ”.
Nếu địa chủ hoặc gia đình địa chủ trả hết số “nợ” trong thời gian hạn định thế nào cán bộ cũng giở giọng nói: “Hôm nọ chúng tao tính lầm. Hôm nay tính lại thấy số nợ của mày thực sự là… thường đưa ra một con số gấp đôi con số trước”. Trái lại, nếu “con nợ” khôn khéo, đúng kỳ hạn trả một phần rồi gãi đầu gãi tai, van nài xin khất một thời hạn nữa sẽ cố gắng trả nốt, cứ mỗi kỳ lại trả thêm một chút, vừa trả vừa nằn nì để chứng tỏ cả thiện chí lẫn sự bất lực của mình, thì cán bộ có thể bớt dần số nợ, mỗi chuyến giảm xuống một ít. Nhưng, nếu địa chủ cứ ì ra, vì không xoay đâu ra tiền, hoặc vì liều chết bướng bỉnh thì nhất thiết số “nợ” cũ đứng nguyên và địa chủ sẽ bị “kích” lên hạng trên, quy thêm nhiều tội và cuối cùng có thể bị bắn. Trong khi địa chủ phải chạy tiền trả nợ hoặc bằng tiền mặt hoặc bằng vàng bạc thì nhà cửa của họ bị niêm phong, không được bán chác một thứ gì.
MỘT CÁCH TỐNG TIỀN KHÁC. Tất cả nhà cửa, trâu bò cho đến đồ đạc trong nhà đều được coi là tài sản của nhân dân. Những thứ này sẽ bị tịch thu sau, nên địa chủ không được phép bán. Mục đích của việc đòi “nợ” không phải là đòi cho đủ số tiền mà chính là lấy cho hết những thứ địa chủ có, mà có thể còn giấu như tiền mặt, vàng bạc, v.v. Mỗi khi địa chủ, hoặc vợ địa chủ chậm trả thì nông hội phái một nhóm hội viên (phần nhiều là bà con trong họ) đến thúc giục phải trả cho mau. Họ sẽ hỏi vặn những câu như: “Đôi vòng mày đeo hôm cưới đâu rồi?”(đám cưới có thể là 20 năm về trước), hoặc: “Mày bảo không có tiền, thế phần gia tài của bà ngoại mày để cho con mẹ mày tiêu đi đâu hết?” (việc thừa hưởng gia tài có thể là 40, 50 năm trước). Một cách “tống tiền” khác là bắt vợ địa chủ lôi đi biểu diễn khắp làng, mỗi tay mang một bãi phân bò tươi, cổ đeo một tấm biển lớn đề “Tôi là địa chủ ngoan cố”.
Nếu bà ta có con mọn thì chắc chắn là hai mẹ con phải giữ ở hai nhà để con không được bú và mẹ bị căng sữa, trong một thời gian rất lâu. Nếu con đã lớn thì mỗi đứa cũng phải giữ ở một nơi, và đứa nào cũng bị doạ nạt cho tới khi chúng cung khai “đúng hoặc không đúng” những nơi cha mẹ chúng chôn giấu của cải. Trẻ con non gan nên thường khai lung tung. Mặc dầu vậy, hễ chúng khai chỗ nào là cốt cán lập tức đưa cuốc, bắt mẹ chúng phải đào chỗ ấy. Công việc “đào mỏ” này có thể kéo dài hàng tháng nên nền nhà địa chủ gần như không còn chỗ nào không đào bới. Nhiều nông dân, sau đấu tố, được lĩnh nhà địa chủ để ở thường không có phương tiện để sửa sang lại nên nhà cho bằng phẳng.
Bài 195: LỚP HỌC TỘI ÁC, VÀ ĐẤU TRƯỜNG ĐẤU TỐ ĐỊA CHỦ: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
Bước nhỏ 4: LỚP HỌC TỘI ÁC, BA LOẠI LIÊN QUAN. Trong khi gia đình địa chủ bị “tống tiền” một cách hợp pháp thì nông dân được triệu tập đi học một lớp đặc biệt về “tội ác của giai cấp địa chủ”. Mục đích của lớp học là giảng cho nông dân hiểu địa chủ đã phỉnh phờ, cướp đoạt, bóc lột và áp bức như thế nào. Học xong, mỗi người bắt buộc phải “kể khổ”, nghĩa là phải tố chủ ruộng của mình, ít nhất là một tội đối với mình. Để ôn lại trí nhớ nông dân, giảng viên đọc một bản kê khai những “tội điển hình”, nói là đã thu thập trong những lớp học trước. Kết quả là nhiều nông dân trước kia vẫn từ tốn với chủ ruộng, đứng lên gán cho chủ cũ một số tội ác nào đó trong số những tội ác mà giảng viên đã đọc cho họ nghe. Những người đứng ra “tố khổ địa chủ” có thể chia đại khái thành ba loại. Loại thứ nhất gồm những người “mong có địa vị” trong chế độ mới, hoặc ham được “quả thực” tức là lấy của địa chủ chia cho nông dân.
Họ tố hăng vì đội cải cách có hứa rằng “ai tố nhiều sẽ được hưởng nhiều” và “ai tích cực đấu tranh sẽ được kết nạp vào các tổ chức của Đảng”. Loại thứ hai gồm những người “cầu an bảo mạng”, họ tố để tỏ vẻ “dứt khoát lập trường với giai cấp địa chủ” và đứng hẳn “về phe Đảng”. Những người “tố hăng” phần nhiều là những phần tử có thành tích bất hảo. Những người tố “quấy quá” phần nhiều là con cái địa chủ, cha mẹ cho phép tố để giữ lấy thân, tránh cho toàn gia khỏi bị tiêu diệt. Loại thứ ba là những người tố “chỉ vì sợ hãi” sợ có thể bị quy là địa chủ, hoặc có LIÊN QUAN VỚI ĐỊA CHỦ. Có ba loại liên quan, mỗi loại được đối xử một cách khác nhau: Loại có “liên quan nặng” với địa chủ, gồm những người “có tư tưởng địa chủ”, có thái độ bênh vực địa chủ. Những người này sẽ bị đối xử y hệt địa chủ, nghĩa là bị “cô lập”, bị đặt ra ngoài vùng pháp luật, bị bao vây kinh tế tức là bị quản thúc với vợ con ở ngay trong nhà của họ cho tới khi đói mà chết.
Loại có “liên quan vừa” gồm những người trước kia có nhiều “ân tình” với địa chủ. Loại này sẽ bị cùng với gia đình đưa đến một làng nào đó, đổi nhà, đổi cửa với một người nào khác cũng có “liên quan vừa” với địa chủ ở làng ấy và cũng bị đuổi khỏi làng. Loại có “liên quan sơ” gồm những người bị nghi là chưa dứt khoát lập trường đối với địa chủ, không chịu đấu tố hăng. Loại này chỉ bị trục xuất ra khỏi Nông hội. Sau khi giai cấp địa chủ bị tiêu diệt thì chỉ có Nông hội, là nơi mà nông dân có thể thuê trâu bò hoặc vay giống mạ khi thiếu. Trong một làng mà mọi người đều nghèo như nhau thì vận mạng của mọi người hoàn toàn nằm trong tay Nông hội. Dù vậy, nhiều nông dân vẫn gan dạ, nhất định không chịu “tố điêu”. Họ bất chấp mọi sự cưỡng ép, phỉnh phờ vì, họ xem việc tố cáo người khác là một việc đáng khinh. Hơn nữa các Phật tử đều tin ở thuyết “nhân quả” và sợ “quả báo” nếu vu oan giá họa cho kẻ khác.
Trong phong trào TRĂM HOA ĐUA NỞ, Phùng Quán đã làm một bài thơ đả kích chính sách bắt buộc nhân dân phải “nói điêu”. Bài thơ nhan đề “Lời mẹ dặn”có mấy câu như sau: Yêu ai cứ bảo là yêu! Ghét ai cứ bảo là ghét! Dù ai ngon ngọt nuông chiều! Cũng không nói yêu thành ghét! Dù ai cầm dao dọa giết! Cũng không nói ghét thành yêu! (Báo VĂN số 21, ngày 27/9/1957) Vì bài thơ kể trên Phùng Quán bị đưa lên mạn ngược “học tập lao động” cùng nhiều văn nghệ sĩ khác trong nhóm Nhân văn Giai phẩm. Từ ngày ấy không ai biết số phận ông ra sao.
Bước 5: ĐẤU TRƯỜNG ĐẤU TỐ ĐỊA CHỦ. Sau khi lập xong danh sách tội ác của mỗi địa chủ, những người được chỉ định ra “đấu trường” tố khổ công khai bắt đầu tập dượt vai trò của mình để có thể biểu diễn một cách trôi chảy, trước công chúng và trước người bị “đấu”. Đấu địa chủ là “trò” then chốt của cả chiến dịch, nên cần phải chuẩn bị hết sức chu đáo. Y hệt các diễn viên phải tập đi tập lại vai trò của mình trước khi lên sân khấu, những người đứng ra “đấu” cũng phải luyện tập lời ăn tiếng nói bộ điệu của mình cho thật hoàn hảo để khán giả có cảm tưởng là mình chân thật và những tội mình buộc cho địa chủ là có thực. Họ tập dượt về đêm, rất kín đáo, nhưng con cái nông dân thường có dịp thấy bố mẹ vừa xay lúa, giã gạo, vừa lặp đị lặp lại một câu để thuộc lòng. Đóng vai trò “đạo diễn”, cán bộ phụ trách còn bày vẽ dáng điệu và uốn nắn lời nói cho họ. Trong những buổi diễn thử, có một hình nộm bằng rơm đặt ở giữa nhà thay thế cho địa chủ, để những người “đấu” tiến đến sát, đọc thử những lời họ sẽ phải đọc.
Sau khi chuẩn bị đầy đủ, Đội công tác Cải cách Ruộng đất công bố ngày “đấu”. Vì có ba loại địa chủ, A, B và C nên cũng có ba loại đấu. Địa chủ loại A bị đấu trong ba ngày liền, trước một đám đông từ một chục đến hai chục ngàn người, tức là dân một “liên xã”, một đơn vị hành chính gồm từ mười đến mười lăm làng. Địa chủ loại B bị đấu trước một đám đông một hai ngàn người, tức là tất cả dân trong một làng, liên tiếp trong hai ngày. Họ cũng bị gán những tội thường gán cho địa chủ hạng A, nhưng tương đối nhẹ hơn. Địa chủ loại C chỉ bị “đấu lưng”, nghĩa là “đấu vắng mặt”. Trong khi nông dân tố cáo những tội ác của họ thì họ bị giữ ở một nơi khác, đến khi tố xong họ mới bị điệu ra trước cuộc họp để nghe đọc một bản tổng kê các tội ác mà các tá điền, chỉ có tá điền của địa chủ mới được dự cuộc đấu này, đã “tố” họ. Nghe xong, địa chủ phải tuyên bố “nhận” hay “không nhận”. Nếu nhận, địa chủ phải ký tên vào biên bản buổi họp họp.
Đảng giải thích rằng sở dĩ có “đấu lưng” là tại Đảng muốn khoan hồng đối với những “phản động phụ”, những phần tử mà Đảng còn hy vọng cải hoán được. Vì còn hy vọng họ sẽ cải hoán nên Đảng không muốn “cạn tầu ráo máng” đối với họ, làm họ mất mặt trước công chúng. Thực ra thì chẳng phải vì vậy, mà vì một lý do khác hẳn. Phần lớn những người bị quy là địa chủ loại C là những người buôn bán ở thành thị nhưng có ít nhiều ruộng ở “quê cha đất tổ”, không cốt để thu lợi mà cốt để “đóng góp với làng nước”, khỏi mang tiếng “bỏ làng”. Vì họ thường sống ở tỉnh thành, thỉnh thoảng mới về làng cúng giỗ và nhân thể thu tô, nên người làng không biết nhiều về đời tư của họ. Vì không có đụng chạm trực tiếp nên việc “bịa” ra tội là một việc rất khó. Muốn cho “xuôi tai”, người “tố” phải nói rõ bị chủ ruộng đánh đập hoặc hiếp đáp trong dịp nào, ở đâu. Đảng biết rằng toàn là chuyện bịa nên sợ đứng trước mặt đương sự người tố có thể ấp úng, làm mất uy tín “anh em nông dân” và gián tiếp mất uy tín Đảng.
Vì vậy Đảng tổ chức “đấu lưng”, giấu địa chủ đi một chỗ, để cho những người “bịa tội” được vững tâm hơn. Thật vậy, đã có một vài cuộc đấu phải bỏ dở vì địa chủ, khi thấy nông dân buộc tội một cách lố bịch quá, nhịn không nổi, phải phá lên cười. Mỗi lần đấu một địa chủ loại A thì toàn thể nhân dân trong xã phải bắt buộc đi dự, kể cả phú nông và các địa chủ khác, mỗi nhà chỉ được một người lớn ở nhà để trông nom củi lửa và trẻ nhỏ. Người đi dự xếp hàng thành từng nhóm riêng. Trung nông và bần cố nông đứng theo “tổ nông hội”. Phú nông đứng riêng và đi riêng, nhưng địa chủ và con cái địa chủ thì đứng lẫn với bần cố nông, mỗi người do một “tổ nông hội” canh chừng. Cứ năm người họ thành một nhóm, mang theo một bình nước uống và một điếu cày vì một khi ngồi vào chỗ trong hội trường thì không ai được phép đứng dậy, đi lại. Mỗi làng vác theo biểu ngữ và cờ quạt trẻ con đi đầu đánh trống ếch. Địa chủ bị bắt đi giữa bần cố nông cũng phải vừa đi vừa hô khẩu hiệu như mọi người, thỉnh thoảng cũng dơ nắm đấm hô “đả đảo!”.
Mọi cuộc đấu đều tổ chức ngoài trời, thường là sân banh, hay tốt hơn trên sườn đồi. Dân mỗi làng ngồi trong một khoảng đất có vạch vôi trắng làm giới hạn. Khán đài bằng gỗ và tre, cao ba từng. Từng dưới 14 người, 1 “thư ký” và 13 bần cố nông chỉ ngồi làm vì, một người là trung nông, biết đọc biết viết, ngồi hí hoáy, có vẻ làm thư ký thực. Từng trên là chủ tọa gồm bảy bần cố nông, trong số có chủ tịch nông hội làm chủ tọa cuộc họp, và một phụ nữ đóng vai công an trưởng. Trên tầng cao nhất của khán đài treo ba bức ảnh khổng lồ, Hồ Chí Minh ở giữa, Malenkov bên phải và Mao Trạch Đông bên trái, trên mỗi chân dung lãnh tụ có cờ mỗi nước. Hai bên khán đài là những biểu ngữ rất lớn như “Phóng tay phát động quần chúng đấu tranh giảm tô (hoặc Đấu tranh cải cách ruộng đất)”, và “Đả đảo tên địa chủ… Việt gian, phản động, cường hào, gian ác”.
Bài 196: NĂM CUỘC ĐẤU TỐ ĐỊA MÀ TÁC GIẢ CÓ DỊP THAM DỰ: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
Trong năm cuộc đấu tác giả có dịp tham dự, tác giả nhận thấy vai trò công an trưởng bao giờ cũng do phụ nữ đóng. Tác giả có cảm tưởng Đảng dành vai trò có tính cách hống hách nầy, cho phụ nữ để đề cao uy quyền chính trị của phụ nữ trước công chúng. Người đàn bà này chỉ huy tự vệ xã, và cứ năm phút lại hò hét, ra lệnh cho người bị đấu đứng trước khán đài phải quỳ xuống, đứng lên, giơ tay lên trời, khoanh tay trước ngực, giang tay ra hai bên, v.v. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp mọi cuộc họp đều phải tổ chức về đêm để tránh máy bay oanh tạc. Những cuộc đấu tố giữa trời đều đốt sáng bằng đuốc, lửa khói cao ngất từng mây, tạo nên một quang cảnh quái đản, một cảnh tượng ác mộng. Người tham dự có cảm tưởng chứng kiến một cảnh quỷ sứ đương hành hạ những vong hồn rơi xuống địa ngục. Khán đài soi sáng bằng đèn điện. Đôi khi có máy phát điện nhỏ nhưng thường là dynamo xe đạp. Bốn năm chiếc xe đạp buộc phía sau khán đài, mỗi chiếc có người đạp luôn chân.
Cán bộ đội Cải cách ruộng đất nấp phía sau khán đài để nhắc và ra lệnh cho chủ tọa đoàn. Đôi khi có cố vấn Tầu mặc quần áo Việt cùng ngồi với họ. Chủ tịch chủ tọa đoàn khai mạc hội nghị và tuyên bố lý do. Sau đó là một bài thuyết trình về ý nghĩa và sự cần thiết của cuộc đấu tranh chống địa chủ; đại khái là vai trò chính yếu của nông dân trong kháng chiến, tính cách bội phản của giai cấp địa chủ, v.v. Sau đó người đàn bà giữ chức công an trưởng ra lệnh cho tự vệ xã lôi tên địa chủ Việt gian, phản động, cường hào, gian ác ra để “anh chị em nông dân hỏi tội”. Tức thì hàng vạn người đồng thanh hô: “Đả đảo thằng Việt gian, phản động, cường hào, gian ác (tên họ người địa chủ bị lôi ra)”. Nạn nhân không được đi bằng hai chân, mà phải bò bằng hai tay và đầu gối từ ngoài hội trường vào đến trước khán đài.
NGƯỜI BỊ ĐẤU LÀ LINH MỤC HAY HOÀ THƯỢNG PHẢI CỞI ÁO TU SĨ RA. Phía khán đài đắp hai ụ đất cách nhau chừng một thước, mỗi ụ cao độ một thước (để khán giả trông rõ) và rộng chừng một thước vuông. Địa chủ bước lên một ụ, và ụ đối diện để cho những người đấu lên đứng. Nếu người bị đấu là một linh mục Gia tô giáo, hoặc một hòa thượng Phật giáo thì cán bộ bắt phải cởi áo ngoài ra (áo tu sĩ hoặc áo nhà chùa). Cộng sản thanh minh rằng đương sự bị đấu với tư cách cá nhân là địa chủ, không dính dáng gì về tôn giáo nên không cho mặc áo tôn giáo. Chủ tịch chủ tọa đoàn gọi “anh chị em nông dân” lên “kể tội”. Tức thì, hàng trăm cánh tay giơ lên, nhưng liếc qua vào tờ giấy trước mặt, y gọi một tên. Người được chọn nhảy lên đài, chỉ tay vào mặt địa chủ, hỏi: “Mày có nhớ tao là ai không?”, và chẳng đợi câu trả lời, hắn tiếp luôn: “Tao là… ở làng… đã đi ở (hoặc làm ruộng cho mày trong… năm)”. Bao giờ người lên đấu cũng bắt đầu như vậy, hỏi “bâng quơ” một câu “Mày có nhớ tao là ai không?” rồi tự xưng danh, tóm tắt “tiểu sử” của mình.
Người ngồi xem nhớ lại những buổi tuồng Tầu, mỗi khi một vai mới ra bao giờ cũng xưng danh: “Mỗ đây tên tự là… “. Sau đó người đấu tuôn ra một tràng những tội ác, kể lể nào là bị cướp trâu, cướp bò, đánh đập, nhét phân vào mồm, hiếp vợ, giết con, rủ vào hội “Việt gian”, vẫy tay cho máy bay Pháp, v.v. Điều đáng chú ý là người đứng lên đấu thường dùng đủ danh từ tục tĩu; hình như cán bộ xui họ chửi rủa địa chủ bằng những câu tục tĩu nhất, một là để “hạ uy tín” địa chủ xuống tận đất đen, hai là để làm ra vẻ tự nhiên, dùng những lời ăn tiếng nói “một trăm phần trăm nông dân”. Người bị đấu không được phép trả lời, hoặc phản ứng. Họ chỉ được phép nói “có” hay “không”. Nhưng hễ họ nói không thì tức khắc toàn thể đám đông gầm lên như sấm: “Đả đảo thằng… ngoan cố”. Trong khi ấy, cứ chừng năm phút một, người bị đấu lại được chị Công an trưởng ra lệnh quỳ xuống, đứng lên, giơ tay lên, giang tay ra, và cứ như thế mãi.
ĐỊA CHỦ HÀNG A BỊ ĐẤU BA ĐÊM LIỀN. Mỗi người được phép tố địa chủ trong 15 phút, và sau bốn người tố, nghĩa là vào khoảng một giờ đồng hồ, thì người địa chủ bị điệu đến trước “thư ký đoàn” ký nhận vào một biên bản. Trong khi đấu, người thư ký hí hoáy giả vờ biên chép, nhưng kỳ thực bản tội ác mà địa chủ phải ký nhận đã đánh máy sẵn từ trước. Địa chủ hạng A bị đấu như vậy trong ba đêm liền. Đêm đầu họ bị đấu về các “món nợ mồ hôi”, tức là những tội bóc lột nông dân, như cướp trâu, cướp bò, cho vay nặng lãi, v.v. Đêm thứ hai dành cho những “món nợ hạnh phúc” nghĩa là những người lên đấu kể tội địa chủ đã hiếp vợ mình (nếu là đàn ông) hoặc đã hiếp chính mình (nếu người đấu là đàn bà). Đêm thứ ba dành cho những “món nợ máu”. Địa chủ bị tố nào là giết vợ, giết con nông dân, ra hiệu cho máy bay Pháp bắn chết dân làng.
Đêm thứ ba cũng là đêm tố cáo địa chủ về các tội có tính cách chính trị, đại khái như rủ rê người này người nọ vào tổ chức phản động, do thám tin tức quân sự, lời hứa hẹn, rằng Pháp sẽ cho làm tỉnh trưởng, huyện trưởng, v.v. Nếu người bị đấu cứ khăng khăng chối “không” thì những người lên đấu ngày hôm sau sẽ tố những tội càng ngày càng nặng cho đến cuối cùng sẽ phải đưa ra tòa án nhân dân đặc biệt, kết án tử hình và xử bắn. Trái lại, nếu người bị đấu tỏ vẻ ngoan ngoãn, bị tố bất cứ tội gì cũng cứ nhận và ký vào biên bản thì thường thường không bị tố những tội quá nặng. Nhưng dù tất cả địa chủ có ngoan ngoãn, hay ngoan cố đến đâu thì cũng có một số không thể nào thoát chết, vì Đảng đã ấn định một số tối thiểu phải chịu tử hình tại mỗi xã. Đúng ra thì Đảng chỉ ấn định một số tối thiểu nhưng nếu có nhiều người “ngoan cố” thì số tử hình có thể tăng thêm.
ĐỊA CHỦ Ở MỌI NƠI ĐỀU BỊ TỐ MỘT KIỂU TỘI ÁC NHƯ… Thực ra thì Đảng không muốn vượt qua con số tối thiểu, nhưng nếu nhiều địa chủ nhất định không chịu nhận tội, thì người đi dự có cảm tưởng là tất cả đều là bịa đặt, đều nói điêu. Trái lại nếu địa chủ nào cũng ngoan ngoãn nhận hết “tội ác” thì cảm tưởng sẽ là “anh chị em nông dân chất phác, bao giờ cũng nói thật”. Trong đợt đầu, nhiều địa chủ không hiểu nguyên tắc đó nên cứ khăng khăng chối. Kết quả là đa số bị xử tử. Tuy nhiên, cái chết của họ đã là bài học cho những người sau. Dần dần mọi người đều hiểu rằng tất cả chỉ là một tấn bi hài kịch. Người đấu cũng như người bị đấu chỉ là diễn viên của một tấn tuồng do “Đảng bày đặt ra” và bắt mỗi người phải đóng một vai không ai được phép trái ý Đảng. Địa chủ ở mọi nơi đều bị tố những tội ác cùng một kiểu. Những tội điển hình là: treo cổ nông dân lên cây, nhốt nông dân vào cũi chó, bắt nông dân liếm đờm, ăn phân, đốt nhà nông dân, dìm trẻ con xuống ao cho chết, bỏ thuốc độc xuống giếng, phá các cuộc họp của nông dân, giết người, hãm hiếp, v.v.
Đoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, cơ quan chính của Đảng, xuất bản ngày 2 tháng 2, 1956 kê khai những tội tương tự: “Ở xã Nghĩa Khê, thuộc tỉnh Bắc Ninh, bọn địa chủ tổ chức mấy em thiếu nhi đi ăn cắp tài liệu, ném đá vào các cuộc họp của nông dân. Ở Liễu Sơn, chúng dùng một em thiếu nhi đi đốt nhà khổ chủ, nhưng bà con nông dân kịp ngăn được. Thâm độc hơn, ở Liễu Hà, chúng cho mấy em thiếu nhi ăn bánh chưng có thuốc độc, làm mấy em bị ngộ độc suýt chết. Ở Vân Trường chúng dụ dỗ em Sửu, 13 tuổi, rủ hai em gái nữa nhẩy xuống giếng tự tử để gây hoang mang trong thôn xóm. Ở Đức Phong (Hà Tĩnh) chúng mua bài tú lơ khơ (bài Trung cộng mang sang) cho các em mải chơi, bỏ trâu ăn lúa để phá hoại mùa màng”.
ĐỊA CHỦ CÀNG ĐẠO ĐỨC, CÀNG BỊ TỐ NHIỀU TỘI HIẾP DÂM. Điều đáng chú ý là địa chủ càng đạo đức bao nhiêu, như thể linh mục, hòa thượng, và nhất là các nhà nho, thì càng bị quy nhiều “tội” hiếp dâm bấy nhiêu. Nói chung thì hễ địa chủ có vẻ đạo mạo (râu dài, trán sói, mục kỉnh) thì thế nào cũng bị quy những tội loạn luân. Trong rất nhiều trường hợp chính con gái địa chủ lên trước khán đài tố rằng chính bố mình đã hiếp mình. Người trong cuộc mới biết có sự thông đồng giữa bố con; biết là thế nào bố cũng chết, người con gái đành tâm phải tố như vậy để theo lời cán bộ được quy là trung nông, và như vậy có hy vọng sống yên tâm nuôi lũ em dại. Cũng theo kiểu ấy, địa chủ càng có thành tích yêu nước bao nhiêu thì lại càng bị tố nhiều tội phản quốc bấy nhiêu. Vì tố không cần bằng cớ, nên từ cố kiếp nào, bất cứ trong làng có người nào chết cũng có thể tố là đã bị địa chủ giết.
Bác sĩ Nguyễn Đình Phát, chủ đồn điền ở Phủ Quỳ, Nghệ An và đại biểu quốc hội Việt Minh, bị tố là đã giết 35 người, vì bấy nhiêu người đã chết vì bệnh sốt rét trong đồn điền của ông ta. Trong một buổi đấu cụ cử Lê Trọng Nhị, làng Cổ Định, tỉnh Thanh Hóa, một lãnh tụ phong trào Văn Thân năm 1897-1908 đã từng bị đầy ra Côn Đảo trong chín năm, một mụ đàn bà trong làng chỉ vào mặt cụ và tố: “Mày biết thằng con tao không phải là con bố nó, mà chính là con mày? Trong khi chồng tao đi vắng, mày hiếp dâm tao rồi sinh ra nó”. Cụ Cử Nhị năm ấy 75 tuổi, mụ đàn bà vào khoảng 60 và người con mụ chừng 40. Người làng tính nhẩm và nhớ lại, hồi mụ sinh người con, cụ Cử Nhị còn đang nằm trong xà lim Côn Đảo, cách xa hai nghìn cây số. Có nhiều địa chủ tỏ ra rất bình tĩnh suốt mấy buổi đấu tố. Một bà già ở Nghệ An chẳng nói “có” mà cũng chẳng nói “không” hỏi câu nào bà ta cũng chỉ nhắc đi nhắc lại: “Xin anh em một viên đạn!”.
Ở Thanh Hóa một người lên đấu bắt đầu bằng câu thường lệ: “Mày có nhớ tao là ai không?”. Địa chủ nghiễm nhiên trả lời “Có chứ! mày là thằng… Năm ngoái mày ăn cắp tao con gà”. Chủ tọa buổi đấu ra lệnh bế mạc cuộc họp tức khắc. Một tuần sau, tổ chức lại, địa chủ tỏ vẻ ngoan ngoãn hơn trước và tên “trộm gà” không thấy lên đấu nữa. Trong ba ngày đấu tố, người bị đấu được ăn uống đầy đủ. Bữa cơm có thể có thịt gà, thịt bò và nhiều thứ bổ béo khác, chè tầu, cà phê. Địa chủ được tẩm bổ có lẽ là để có đủ sức chịu đựng ba ngày ba đêm đấu tố ngoài trời, đứng lên quỳ xuống luôn luôn mà không bị ngất xỉu. Sau đó, địa chủ bị đưa đi trại giam chờ ngày tòa án nhân dân đặc biệt xét xử. Tất cả công chức trong tỉnh đều phải đi “tham quan”, nghĩa là về các làng có đấu tố để am tường nỗi khổ của anh em nông dân và công nhận chính sách tiêu diệt giai cấp địa chủ của Đảng là “hợp tình hợp lý”.
Bài 197: XỬ ÁN ĐỊA CHỦ, VÀ CHÍNH SÁCH CÔ LẬP ĐỊA CHỦ: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
Bước 6: XỬ ÁN ĐỊA CHỦ. Vài ngày sau cuộc đấu, một tòa án nhân dân đặc biệt từ huyện tới xã xử những người bị tố. Mỗi huyện thành lập một tòa án gồm toàn bần cố nông không có mảy may kiến thức về pháp luật và án lệ. Tòa gồm có một chánh án, vài thẩm phán và một công cán ủy viên nhưng không hề có người biện hộ cho bị cáo. Tòa xử theo “Biên bản cuộc đấu” và không cho bị cáo tự bào chữa. Bồi thẩm đoàn cũng gồm toàn nông dân đã làm chủ tịch đoàn trong cuộc đấu tố. Án có thể từ năm năm khổ sai đến tử hình, kèm theo tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Những người bị kêu án tử hình bị bắn ngay sau khi tuyên án, và hố chôn đã đào sẵn trước khi tòa nhóm họp. Hồi đầu, những người bị xử tử hình được phép tuyên bố vài lời trước khi bị bắn, nhưng sau khi một người, trước khi chết, hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm! Đảng Lao động muôn năm!” thì thủ tục “tư sản” này bị bãi bỏ.
Từ đó về sau, hễ tòa tuyên án tử hình thì tức khắc một cán bộ đứng sau nạn nhân, nhanh tay nhét giẻ vào miệng và lôi đi bắn. Mồ chôn địa chủ bao giờ cũng san phẳng và cấy cỏ lên trên. Những cuộc xử bắn địa chủ bao giờ cũng tổ chức thành biểu tình. Công chúng vỗ tay hoan hô khi nạn nhân ngã ngục dưới làn đạn. Người tham dự đấu tố không khỏi liên tưởng đến cảnh mèo vồ chuột, mèo vờn đi vờn lại con chuột chán chê rồi mới cắn chết. Cộng sản đối với địa chủ cũng y hệt như vậy. Mang địa chủ ra đấu tố chán chê trong ba ngày liền, rồi vài hôm sau mới mang địa chủ ra bắn. Họ làm như vậy hình như nhằm hai mục đích: thỏa mãn bản năng tàn ác của một số cuồng tín; và gieo rắc khiếp đảm trong tâm hồn toàn thể nhân dân. Cải cách ruộng đất còn một hình thức khác cần phải nói tới là chính sách “Cô lập địa chủ”. Số người chết vì chính sách “Cô lập địa chủ”này, còn đông gấp mười lần số người bị tòa án nhân dân đặc biệt kêu án tử hình.
CHÍNH SÁCH CÔ LẬP ĐỊA CHỦ. Hễ bị quy là địa chủ thì tức khắc bị toàn thể dân làng coi như con chó ghẻ. Không ai được chào hỏi hoặc trò chuyện, trẻ con được phép, hoặc nói đúng hơn được khuyến khích ném đá, nếu chúng thấy địa chủ ra đường hoặc đứng trước sân. Trong hơn một năm trời, từ ngày bắt đầu chiến dịch thứ nhất đến ngày kết thúc chiến dịch thứ hai, địa chủ và gia đình không được phép ra khỏi ngõ, trừ khi bị gọi ra Ủy ban có việc. Vì chính sách cô lập này, phần lớn gia đình địa chủ bị chết đói, trẻ con và người già chết trước, người lớn chết sau. Mục đích của “chính sách cô lập” vô cùng kinh khủng này là nhằm tiêu diệt cho kỳ tuyệt giống “bóc lột” ở nông thôn. Như đã nói ở phần trên, không hề có thống kê về số người bị chết đói vì chính sách “Cô lập địa chủ” nhưng có thể ước đoán rằng đa số thành phần giai cấp “địa chủ” đã bị chết như vậy.
Trong bài diễn văn đọc trước Đại hội toàn quốc của Mặt trận tổ quốc, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói: “Trong khi đập tan giai cấp địa chủ, ta không phân biệt đối xử, ta để cho chết chóc thê thảm những người già cả, hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu diệt”. Cũng về mục này Nguyễn Hữu Đang, Bộ trưởng bộ Văn hóa trong chính phủ Việt minh đầu tiên, đã viết trong báo NHÂN VĂN như sau:“Trong Cải cách ruộng đất, những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tử, xử bắn, tịch thu tài sản hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây làm cho chết đói những thiếu nhi vô tội trong các gia đình địa chủ, hoặc gia đình nông dân bị quy sai thành phần”. Quả thực, ông Hồ đã chủ tâm diệt chủng giai cấp địa chủ không khác Đức Quốc xã diệt chủng người Do Thái. Nhưng nếu so sánh, chúng ta có thể nói Hitler và Eichmann đường hoàng hơn ông Hồ và ông Mao, vì khi họ ra lệnh lùa người Do Thái vào phòng hơi ngạt, họ ngang nhiên nhận lãnh trách nhiệm về quyết định của họ trước công luận và trước lịch sử.
Trái lại, ông Hồ và ông Mao muốn ban cho giai cấp địa chủ một “cái chết tự nhiên”, để hai ông không bị mang tiếng giết họ, bắt họ phải chết một cách “bất đắc kỳ tử”. Ngay cả sau Cải cách ruộng đất, nếu ốm đau, địa chủ và thân thuộc cũng không được chữa chạy thuốc men. Tình trạng này đã được luật sư Nguyễn Mạnh Tường tóm tắt như sau:“Khi đưa tới bệnh viện, một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là: Bệnh nhân thuộc thành phần giai cấp nào? Chữa cho địa chủ thì “mất lập trường”. Để nó chết mới chứng minh mình có “lập trường giai cấp”. Những địa chủ còn sống sót tới phong trào Sửa sai sau phong trào hạ bệ Stalin ở Nga, là nhờ được hàng xóm mủi lòng giúp đỡ bằng cách, tối đến, ném cơm và thuốc men qua hàng rào để cứu họ và gia đình khỏi chết.
Bài 198: BƯỚC 3 CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, NHIỀU ĐẢNG VIÊN CỦ BỊ QUY VIỆT GIAN PHẢN ĐỘNG, VÀ …: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
BƯỚC BA: CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Mặc dù tàn bạo quá sức tưởng tượng “Chiến dịch Giảm tô” chỉ mới là màn khai mào tương đối ôn hòa hơn so với Chiến dịch Cải cách ruộng đất khốc liệt bội phần. Khoảng một năm sau chiến dịch Giảm tô, thì đến “Chiến dịch Cải cách Ruộng đất”. Sở dĩ có một năm xả hơi là vì cần phải chỉnh đốn lại làng mạc, cả về kinh tế lẫn về hành chính. Trong suốt mấy tháng nông dân đã mất quá nhiều thì giờ họp hành, biểu tình, đấu tố nên xao lãng công việc đồng áng. Làng nào mới qua chiến dịch Giảm tô cũng như mới qua một trận bão, rào giậu đổ nát, nhà cửa siêu vẹo, chó, lợn và cả trâu bò đi lang thang không người chăn dắt. Người nông dân thất điên, bát đảo, rã rời, không mấy ai còn bụng dạ làm ăn. Họ “đầu tắt mặt tối” bao đời để mong có ngày “mát mặt” với làng nước, chắt bóp dành được ít nhiều của cải để lại cho con cháu.
Bỗng nhiên, họ thấy hễ có của ăn của để hơn người là đắc tội, nên không muốn làm lụng làm gì cho “vừa tốn sức vừa nguy hại đến bản thân”… Để khắc phục thái độ uể oải của nông dân, Đảng bèn đề ra chính sách “Thi đua xã hội chủ nghĩa”, đốc thúc nông dân sửa nhà sửa cửa, đào kênh đắp đường, chống lụt, chống hạn. Cứ liên miên như vậy cho đến ngày họ cảm thấy nếp sống tập thể đã thay thế cho nếp sống riêng rẽ, họ chỉ cần tuân theo chỉ thị của nông hội, không cần có sáng kiến cá nhân. Năm xả hơi cũng là năm cải tổ lại Ủy ban hành chính và Chi bộ xã vì cả hai đều đã bị giải tán lúc chiến dịch Giảm tô mới bắt đầu. Tất cả cán bộ và đảng viên cũ, nếu có ít nhiều liên quan với giai cấp địa chủ, dù có tích cực và có thành tích bằng mấy cũng bị gạt ra ngoài. Lần này, Ủy ban Hành chánh và Chi bộ gồm toàn đảng viên mới được kết nạp, đa số là bần nông và cốt cán, những người đã “đấu hăng” trong chiến dịch vừa qua, dù có mù chữ cũng không sao.
NHIỀU ĐẢNG VIÊN CỦ BỊ QUY LÀ VIỆT GIAN, PHẢN ĐỘNG. Tất nhiên, có sự xung đột giữa hai loại đảng viên, và kết quả là các “đảng viên mới” có quyền bính trong tay và nhân dịp chiến dịch Cải cách ruộng đất, họ quy hầu hết các “đảng viên cũ” là địa chủ và bắt tống giam. Vô số đảng viên cũ bị quy là Việt gian phản động, cường hào, gian ác và bị xử bắn, con số những người còn bị giam, chưa kịp mang bắn, và được thoát chết nhân dịp Sửa sai lên tới 12 ngàn người (con số của báo Nhân dân). Những người này nhờ Sửa sai mà thoát chết, nhưng khi được tha về cũng đã mất cửa mất nhà, có khi mất cả vợ. Một câu hỏi cần được đặt ra là: Tại sao các đảng viên cũ còn đang được kính nể trong chiến dịch thứ nhất (Giảm tô) lại bị bạc đãi trong chiến dịch thứ hai (Cải cách ruộng đất)?
Việc Đảng trở mặt đối với họ hình như có những lý do: (1) Cải cách ruộng đất là một cuộc thanh trừng đại quy mô, các đảng viên cũng phải thanh trừng như “quần chúng” không Đảng, và Đảng ủy thác cho bần cố nông thực hiện cuộc thanh trừng này. (2) Hầu hết các đảng viên cũ đều thuộc thành phần phú nông địa chủ, nên đến lúc Đảng cần “vô sản hóa” hàng ngũ, các đảng viên cũ bị quy là địa chủ, và bị loại trừ thì cũng chẳng có gì là lạ. (3) Sở dĩ có sự xung đột giữa đảng viên cũ và đảng viên mới, là vì trong mười năm đảng viên cũ cầm quyền ở nông thôn họ đã trở thành một giai cấp cai trị mới.(4) Họ nói, họ có lập trường vô sản, nhưng thực sự thì họ vẫn kỳ thị vô sản, miệng vẫn nói: “anh chị em nông dân” nhưng trong thâm tâm vẫn coi bần cố nông là “dân ngu khu đen”. (5) Hơn nữa, trong chiến dịch Cải cách ruộng đất, Đảng ấn định cho mỗi xã một con số tối thiểu địa chủ bị tù đày và bị tử hình cao quá mức, năm lần nhiều hơn trong chiến dịch giảm tô, nên nếu lần này đảng viên cũ vẫn được ngoại lệ thì không kiếm đâu cho đủ số người mang đi xử tử hoặc cho vào tù.
Vì những lý do kể trên nên thế tất, phải xảy ra cuộc xung đột giữa hai loại đảng viên, giữa đảng viên cũ mà đa số thuộc thành phần ưu tú, có học ở nông thôn hầu hết là phú nông địa chủ, gia nhập Đảng không phải vì quyền lợi giai cấp mà chỉ vì “yêu nước, chống ngoại xâm” hoặc bị hấp dẫn bởi lý thuyết Mác-xít, hoặc vì tham vọng nào khác. Ngược lại, những đảng viên mới gồm bần cố nông và một số bất lương du đãng. Bọn đảng viên mới này không có tham vọng gì hơn là lôi tuột tất cả mọi thành phần trong xã hội xuống ngang mức với mình. Sự xung đột giữa mới và cũ cũng là điều mà Đảng muốn vì Đảng quan niệm có xung đột “thanh trừng mới hữu hiệu” mới có điều kiện để chuyển từ thế “phản đế” sang thế “phản phong”. Chứng cớ là mặc dù vô số đảng viên kỳ cựu bị tù đày hoặc hành quyết mà Đảng không hề can thiệp.
VÀ SỐ NGƯỜI CHẾT CŨNG TĂNG LÊN GẤP BỘI. Cũng in hệt Giảm tô, Cải cách ruộng đất cũng bắt đầu bằng một cuộc quy định thành phần, lần này là quy định lại, rồi đến đấu tố và sau đó là xử án và xử bắn. Thủ đoạn reo rắc khủng khiếp cũng y hệt chiến dịch trước, chỉ khác ở một điểm là lần này số nạn nhân đông hơn gấp bội. Mỗi xã tối thiểu phải xử tử năm mạng. Số người tự vẫn có phần tăng nhiều hơn, vì lẽ những người mới bị “vạch mặt” (phát hiện là địa chủ) không chịu nổi nỗi nhục vì trước đây một năm, họ còn “tố hăng” những người bị quy là địa chủ trong chiến dịch trước. Số người chết đói vì “cô lập” cũng tăng nhiều hơn vì những phú nông hoặc trung nông mới lên chức địa chủ không có đủ điều kiện tinh thần và vật chất để sống qua thời kỳ cô lập bằng các địa chủ chính cống. Các địa chủ chính cống lâu nay đã chuẩn bị tinh thần để chịu “búa rìu” của thời đại. Họ lại còn có bà con, bạn bè làm cán bộ bí mật giúp đỡ.
Trái lại, những địa chủ mới bị đôn lên, trước kia là phú nông, trung nông, đều là những người chỉ biết trồng cây cuốc đất, và suốt đời không ra khỏi làng. Sở dĩ họ “có đủ bát ăn” hơn người khác là chỉ tại họ suốt đời thực hiện phương châm “làm nhiều ăn ít”. Ngày nay, bỗng dưng bị quy là địa chủ, họ không có chỗ sở cậy nên không tránh khỏi chết đói trong thời gian cô lập. Về truất hữu tài sản thì hai chiến dịch chỉ khác nhau ở một điểm: Trong GIẢM TÔ, tịch thu tài sản chỉ là một hình phạt của tòa án nên chỉ có địa chủ “đầu sỏ” mới bị tịch thu hoặc một phần, hoặc toàn bộ tài sản. Trong CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, toàn bộ tài sản của tất cả mọi địa chủ đều bị trưng thu nghĩa là sung công mà không được trả tiền, trên thực tế, không khác tịch thu gì hết.
TỊCH THU, TRƯNG THU, TRƯNG MUA TÀI SẢN ĐỊA CHỦ. Xin lưu ý, trong chiến dịch đầu, chiến dịch GIẢM TÔ, chỉ có địa chủ “đầu sỏ” mới bị xử án và bị tòa tuyên án tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Đấy là một hình phạt để trị tội những địa chủ Việt gian phản động. Nhưng địa chủ không bị ra tòa, hoặc có ra tòa nhưng tòa không tuyên án tịch thu tài sản thì vẫn giữ nguyên sở hữu nhà cửa ruộng nương của mình. Nhưng đấy chỉ là trên lý thuyết. Thực tế thì ngay từ hồi mới phát động chiến dịch, tất cả đồ đạc trong nhà họ đã bị ghi vào biên bản. Họ không được phép bán bất cứ thứ gì, dù nhỏ nhặt nhất, và hễ mất mát hoặc hư hỏng, họ sẽ phải chịu trách nhiệm. Từ ngày ấy trở đi, một thửa vườn của địa chủ chẳng hạn, vẫn là tài sản hợp pháp của địa chủ, nhưng trái cây trong vườn đã bị coi là của “nhân dân” rồi.
Theo một đạo luật (Sắc lệnh số 197/SL, ban hành ngày 19 tháng 12 năm 1953. Chương 2, Điều 4) thì chỉ có ruộng đất, trâu bò và nông cụ thừa mới bị sung công, còn tất cả mọi thứ khác đều không đụng đến. Nhưng đến thực tế thì địa chủ và gia đình bị đuổi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng. Cũng theo sắc lệnh này, có ba loại truất hữu khác nhau: (1). TỊCH THU ruộng đất và tài sản của “thực dân, đế quốc và Việt gian phản động”. Đối với thực dân đế quốc thì tịch thu toàn bộ, còn đối với Việt gian phản động thì tịch thu nhiều ít tùy theo tội trạng. (2). TRƯNG THU phần tài sản của Việt gian phản động còn lại, sau khi đã tịch thu một phần. Trưng thu cũng là lấy không trả tiền, chỉ khác tịch thu ở chỗ không cần phải đưa ra tòa. (3). TRƯNG MUA tài sản của những địa chủ không phản động. Theo sắc lệnh thì trưng mua nghĩa là truất hữu có bồi thường. Người bị truất hữu sẽ được trả bằng quốc trái. Giá ruộng ấn định bằng số MỘT NĂM HOA LỢI, và chính phủ HỨA sau mười năm sẽ trả, và chịu lãi cho người bị truất hữu mỗi năm một phân rưỡi.
LUẬT PHÁP THÌ MINH BẠCH, NHƯNG THỰC TẾ THÌ… Chính phủ tỏ vẻ rất sòng phẳng và pháp luật rất minh bạch, nhưng trên thực tế thì chẳng địa chủ nào được “trưng mua” cả, vì một lẽ rất giản dị: không có địa chủ không phản động. Vì vậy nên biện pháp trưng mua chỉ có trên giấy tờ. Trên thực tế, tất cả tài sản của mọi địa chủ đều bị trưng thu, nếu không bị tịch thu. Mãi đến chiến dịch Sửa sai mới có một số địa chủ được tha khỏi tù, được hạ xuống làm “địa chủ thường” hoặc “địa chủ kháng chiến” có khi xuống thành trung nông và ngay cả bần nông. Họ được hoàn lại tài sản, nhưng thực sự thì họ chỉ được lấy lại một phần ruộng nương và nhà cửa. Nói là nhà cửa, nhưng chỉ còn mái nhà và mấy hàng cột, vì trước khi giao trả cho họ và dọn đi nơi khác, những bần cố nông được phép chiếm cứ nhà cửa của họ đã đánh tháo cánh cửa và vách ván làm củi đun.
Cây cối trong vườn cũng bị chặt mang đi bán và trâu bò cũng bị đánh què làm thịt. Đồ đạc phân chia cho bần cố nông thì bần cố nông đã bán đi bán lại qua tay nhiều người không còn tìm thấy tung tích. Có thể có một số “nhân sĩ tiến bộ” như ông Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại và ông Hồ Đắc Điềm được TRƯNG MUA tài sản và được giao tờ quốc trái bồi thường, nhưng tới nay đã đủ 10 năm, mà chưa nghe nói hoặc đăng trên báo chí Hà Nội là đã có ai được lĩnh tiền bồi thường cùng với số lãi 15 phần trăm trong 10 năm. Có điều chắc là nếu chính quyền Bắc Việt làm ngơ thì chẳng có ai to gan dám mở miệng đòi, vì nếu đòi tiền bồi thường ruộng đất tức là còn “óc địa chủ”; và như vậy tất nhiên không đáng được chức “nhân sĩ tiến bộ” hoặc bất cứ thành phần nào khác ngoài thành phần địa chủ. Như thông cảm lẫn nhau, cả Đảng lẫn người mất ruộng đều làm ngơ sắc lệnh 197 SL. Như vậy, là trên thực tế, cả ba hình thức truất hữu: tịch thu, trưng thu và trưng mua đều giống hệt nhau…
CỬ HÀNH NGHI THỨC TRUẤT HỮU TÀI SẢN. Việc truất hữu tài sản của địa chủ cũng được cử hành với hình thức rất uy nghi. Sau đây là một bài báo tả cảnh buổi tịch thu tài sản đăng trong báo Cứu quốc số 2741, ngày 1 tháng 1 năm 1956: “Nông dân thôn Thượng rùng rùng kéo đến nhà tên Phong (địa chủ). Cờ phơi phới. Tiếng trống thiếu nhi rồn rập. Những tiếng hô khẩu hiệu “đả đảo” và “hoan hô” không ngớt. Giữa sân lù lù một đống cày cuốc, ô doa, liềm hái, thúng mủng cho tới nồi ba mươi, nồi mười, mâm đồng, chậu thau… hàng dẫy. Quanh sân những cây hải đường, cây mẫu đơn rực rỡ. Đồng chí cốt cán gọi vợ tên Phong ra. Đồng chí nhân danh nông hội tuyên bố tịch thu toàn bộ tài sản của nó. Tiếng đấu tranh của nông dân mỗi lúc càng gay gắt, như không chấm dứt... Đồng chí cốt cán tuyên bố, vạch rõ cho con mẹ địa chủ thấy đời nó, đời cha, đời ông nó không lao động, chuyên bóc lột, chiếm đoạt, mới có những của này. Của này là của nông dân…
Con mẹ địa chủ mặt tái mét. Cả người nó run run. Đồng chí dõng dạc tuyên bố xóa bỏ hẳn quyền chiếm hữu gồm 24 mẫu ruộng và toàn bộ tài sản của nó. Tiếng vỗ tay ran lên “Hồ chủ tịch muôn năm!”, “Hoan nghênh chính sách tịch thu, trưng thu, trưng mua của Đảng và của chính phủ!”. Hàng đoàn thanh niên nam nữ quẩy những gánh thóc từ nhà ngang qua sân... Hai con trâu cũng vừa dắt ra. Tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô vang dậy. Bà con thu xếp quẩy đổ đi. Khiêng, vác, gánh lũ lượt. Trống ếch các thiếu nhi càng ròn rã”.
TRIỂN LÃM VẬT DỤNG RIÊNG CỦA ĐỊA CHỦ. Sau lễ tịch thu, một số vật dụng riêng của địa chủ được mang ra triển lãm trước khi chia cho nông dân. Để làm nổi bật mức sống “xa hoa” của địa chủ, đồng thời cũng triển lãm cả vật dụng của bần cố nông. Một bên phòng triển lãm bày nào là áo gấm, mũ tây, can, giầy tây, điếu khách, ống nhổ, an bom ảnh (trong an bom nhiều khi có cả ảnh cán bộ), còn một bên là váy đụp, áo rách, vài chiếc nồi đất để nói lên sự nghèo nàn của nông dân. Đôi khi có cả hai mâm cơm. Mâm của địa chủ thì nào là gà, cá, heo quay, rượu đế, còn mâm cơm của nông dân thì chỉ có cơm hẩm, cà thâm và một bát tương nặng mùi. Và, năm 1954, sau khi cộng sản tiếp thu Hà Nội được vài tuần, họ có tổ chức một cuộc triển lãm như vậy tại vườn hoa Hàng Đậu, ở giữa thủ đô. Mục đích là để chứng minh cho dân thành thị thấy việc đánh đổ giai cấp địa chủ là một việc “hợp tình hợp lý”, để lôi cuốn họ theo cách mạng vô sản.
Nhưng chẳng bao lâu cuộc triển lãm bị dẹp ngay vì dư luận của những người đi xem cho rằng, nếu đó là mức sống của địa chủ nông thôn (áo gấm đã bạc màu, mũ tây “phở”) thì hãy còn thấp hơn mức sống của một công nhân Hà Nội.
Bài 199: BƯỚC BỐN CHIẾN DỊCH SỬA SAI, THA ĐẢNG VIÊN KHỎI NHÀ TÙ, HOÀN LẠI TÀI SẢN, VÀ TRẢ LẠI VỢ…: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
BƯỚC BỐN: CHIẾN DỊCH SỬA SAI. Năm 1956, chương trình Cải cách ruộng đất vừa thực hiện, và sau khi thiết lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn, thì đột nhiên Đảng Lao động tuyên bố là đã phạm nhiều sai lầm. Vì vậy, nên Đảng phát động ngay một chiến dịch “Sửa sai” bắt đầu bằng việc “tự rút lui” của ông Trường Chinh, tổng bí thư Đảng và ông Hồ Viết Thắng, thứ trưởng phụ trách Cải cách ruộng đất. Võ Nguyên Giáp, tạm thời làm phát ngôn viên của đảng đọc một bản kê khai những “sai lầm”, của Cải cách ruộng đất, trước Hội nghị thứ 10 của Trung ương đảng. Nhiều quan sát viên ngoại quốc tin rằng “quả có sai lầm” và chính quyền Hà Nội thực tình sửa chữa. Có người lại cho rằng Cải cách Ruộng đất của cộng sản đã thất bại.
Sự thực thì khác hẳn, CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT có những động cơ thầm kín là Tịch thu và phân chia ruộng đất chỉ là giai đoạn chuyển tiếp, tập thể hóa ruộng đất mới là mục đích tối hậu. Muốn bắt buộc toàn thể nông dân phải cam chịu số phận sống dưới chế độ tập thể, các lãnh tụ cộng sản thấy cần phải tiêu diệt tận gốc “tư tưởng tư hữu tài sản từ mấy ngàn năm đã chôn sâu trong tiềm thức của mọi người dù là bần cố nông”. Muốn đạt tới kết quả họ áp dụng câu cách ngôn “sát nhất nhân, vạn nhân cụ”. Áp dụng vào Cải cách Ruộng đất, câu cách ngôn trên có thể đổi thành “Giết một số địa chủ để không còn một ai muốn sở hữu ruộng đất”. Chính vì vậy, cộng sản ấn định cho mỗi xã một số tử hình nhất định, ngay cả ở những xã mà toàn thể ruộng đất là công điền. Quả nhiên, mọi người mất hồn mất vía ngay tức khắc.
Đảng bắt nông dân phải đấu tố và chém giết địa chủ để làm bàn tay nông dân phải dính máu. Một khi tay đẫm máu thì chỉ còn một cách là đi với Đảng cho đến tận cùng. Người nông dân đành phải chấp nhận số phận nào mà Đảng đã dành cho. Sau khi tàn sát một số người lên tới 5% dân số Bắc Việt, người nông dân có cảm giác tội lỗi, thì lại được cộng sản đề cao là “Tinh thần của anh chị em nông dân đã vươn lên làm chủ lấy vận mệnh của mình”.
TỪ LẬP TRƯỜNG PHẢN ĐẾ SANG LẬP TRƯỜNG PHẢN PHONG. Về phương diện chính trị, CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT đánh dấu một bước ngoặt từ lập trường Phản đế sang lập trường Phản phong, hay nói một cách khác, từ Kháng chiến chống thực dân Pháp sang Chém giết địa chủ người Việt. Vì mục tiêu đấu tranh đột nhiên thay đổi nên Đảng thấy cần thiết phải thanh trừng tất cả các phần tử quốc gia trí thức, tiểu tư sản trong hàng ngũ kháng chiến, ngay cả những đảng viên mà Đảng nghi ngờ không hoàn toàn là công nông chính thống. Đảng cho rằng một cuộc thanh trừng triệt để không thể nào thực hiện được bằng cách ủy thác cho cấp trên nhiệm vụ chọn lọc và khai trừ cấp dưới. Vì đầu óc bè phái hãy còn ăn sâu nên, nếu dùng phương pháp kể trên, sẽ có rất nhiều người lọt lưới.
Theo nhận thức của Đảng thì thanh trừng phải thực hiện từ dưới lên trên, nghĩa là phải bắt đầu từ cấp xã “phóng tay”. Do bần cố nông trong xã thanh trừng “phản động”, vì chỉ có người cùng làng mới biết rõ thái độ chính trị của mỗi người trong làng, Đảng nói: “Nhân dân rất sáng suốt, và trong nhân dân, “chỉ có bần cố nông là đáng tin cậy hơn cả”. Đảng thừa biết rằng nếu phóng tay thì quần chúng sẽ đấu tố bừa bãi, nhưng suy đi tính lại, thà bừa bãi một chút mà “tiệt nọc” còn hơn thận trọng mà kết quả hời hợt. Đảng vẫn nhắm mắt làm ngơ để mặc cho sai lầm tiếp diễn. Hàng vạn người bị giết oan, bị tù đày, hoặc bị bao vây cho đến chết đói, mà Đảng chẳng hề giơ một ngón tay nhỏ cứu vớt lấy một người. Theo luật pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì người bị kết án tử hình có quyền ký đơn xin Hồ chủ tịch ân xá, nhưng thực tế, ông Hồ không hề ân xá lấy một người gọi là, ngay cả những đảng viên trung kiên trước khi bị bắn hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm!”
Tháng 3 năm 1956, ông Hồ có ra lệnh tạm đình chỉ mọi vụ hành quyết, nhưng đấy là hậu quả xa xôi của Phong trào “Hạ bệ Stalin phát xuất từ Moscou, nhân kỳ Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô. Những người may mắn thoát chết – vì bản án xử tử chưa kịp thi hành – và sau này được trả tự do không hề chịu ơn ông Hồ, mà một cách gián tiếp, họ đã chịu ơn Khrushchev.
THA HẾT ĐỊA CHỦ ĐẢNG VIÊN RA KHỎI NHÀ TÙ. Biện pháp đầu tiên của Sửa sai là tha hết địa chủ và đảng viên ra khỏi nhà tù hoặc trại giam. Tổng số những người được tha chưa hề tiết lộ, trong số người được tha có ông Ngô Đức Mậu, một đảng viên cộng sản kỳ cựu đã từng sống nhiều năm trong ngục Lao Bảo hồi Pháp thuộc, đã tả nỗi đau khổ trong ngục thất cộng sản như sau: “Những lúc bị giam giữ trong buồng riêng cô quạnh, rét mướt, đau khổ, những anh em thường an ủi nhau ‘củng cố lòng tin để chịu đựng ngược đãi, củng cố lòng tin để sống’ vì ở tù đế quốc và ở tù hiện nay (cộng sản) nó khác xa nhau. Ở tù đế quốc bị hành hạ bằng thể xác nhưng tinh thần lành mạnh được an ủi, khoan khoái… Còn ở đây (tù cộng sản) chúng tôi bị giày xéo cả thể chất lẫn tinh thần. Chung quanh chúng tôi, ai nấy đều cho chúng tôi là địch, là kẻ bán nước hại dân, thì bảo họ đồng tình với chúng tôi sao được…”
Ngô Đức Mậu còn than vãn là bị chính các đồng chí cộng sản của ông tra tấn, không cho ông tự bào chữa: “Những việc mà một số anh em cán bộ ở Hà Tĩnh dựng đứng lên, hoặc lật ngược lại những thành tích đã qua của tôi (từ thời Đông Dương Cộng sản Đảng) để truy bức tôi suốt ngày đêm, để buộc tội phải nhận những việc mà tôi chưa hề làm, mà cũng chưa bao giờ nghĩ tới… Cuộc truy bức càng ngày càng nặng, nó vượt ra ngoài khuôn khổ của một cuộc đấu tranh về nguyên tắc. Tôi ỳ ra mãi cũng không được. Nhiều ý nghĩ khác (tự tử chẳng hạn) lại nảy nở ra và xoay quanh trong đầu óc tối như chong chóng”. (NHÂN DÂN, 30 tháng 10, 1956). Tuy nhiên, trước khi được ra về, họ phải ở lại nhà tù một tháng để học lớp “sửa soạn ra về”. Dưới sự chỉ dẫn của một đại diện Đảng, họ phải học tập, nghiên cứu những vấn đề phức tạp của bản thú nhận sai lầm của ông Võ Nguyên Giáp, bài nói về thái độ tự phê bình của Đảng, chủ nghĩa Mác-xít không bao giờ sai, và “thái độ đúng đắn đối với những người đã tố sai”.
SAU NỔI LÒNG CỦA ĐỒNG CHÍ MÂỤ, LÀ TÌNH CẢNH ĐỒNG CHÍ TÂN. Đảng hứa sẽ hồi phục công quyền và hoàn lại tất cả tài sản mà Đảng đã tịch thu của họ. Đảng khuyên họ nên quên những nỗi đau khổ vừa qua, củng cố lại lòng tin nơi Đảng và tiếp tục phục vụ Đảng một cách trung thành như đã phục vụ từ trước. Điều cần nhất là tuyệt đối không được trả thù những người đã vu oan giá họa cho mình. Các Uỷ ban xã được lệnh cử phái đoàn đến tận nhà tù đón rước những người bị giam và đưa họ về quê quán. Dĩ nhiên là họ vui mừng khôn xiết khi họ đặt chân tới làng cũ gặp lại vợ con. Tờ NHÂN DÂN đã kể trường hợp của Tân, một trong số những người cùng cảnh ngộ. “Gia đình đồng chí xưa nay là trung nông. Từ đời ông, đời cha, đến đời đồng chí (Tân) vẫn cày sâu, cuốc bẫm. Đồng chí tham gia cách mạng từ những ngày đầu khởi nghĩa. Năm 1947, xã đồng chí bị địch chiếm đóng, cũng là năm đồng chí được rèn luyện, thử thách nhiều và được kết nạp vào Đảng. Làm bí thư chi bộ và chủ tịch xã, đồng chí đã lãnh đạo nhân dân anh dũng đánh giặc.
Bao nhiêu lần xã bị địch càn quét đồng chí phải nằm hầm nhịn đói, có lần phải bật ra vùng du kích, nhưng rồi vẫn tìm cách trở về xây dựng lại cơ sở tiếp tục chiến đấu cho đến ngày kháng chiến thắng lợi. Sau ngày hòa bình lập lại, thi hành chỉ thị của cấp trên, đồng chí đã chuẩn bị cho cuộc đấu tranh chống phong kiến (Cải cách Ruộng đất). Nhưng chẳng những đồng chí không được tham gia cuộc đấu tranh ấy mà trái lại, đã bị quy là địa chủ cường hào gian ác phản động đầu sỏ và bị đánh đổ (đấu tố) một cách quyết liệt. Thật là đau xót! Mỗi lần nghĩ tới không sao nén nổi phẫn uất”! Nhân dịp Sửa sai, Tân được tha về, và: “Đồng chí (Tân) lẩm nhẩm tính: “Ngót tám tháng bị giam cầm, chờ duyệt án tử hình, hơn một tháng học tập trước khi trả tự do”. Thấm thoát đã xa nhà chín tháng. Mai về gặp lại vợ con, họ hàng, làng xóm. Đồng chí hồi hộp nghĩ tới những phút sẽ được gần lại vợ, gần lại con, những hơi thở, những bàn tay ấm áp… Đồng chí chưa lên nhà ông Lễ (anh Tân) vội, lại rẽ vào gian bếp lụp xụp nơi ở của vợ con đồng chí sau ngày tất cả tài sản của gia đình đồng chí bị tịch thu.
Đồng chí phải khom người mới bước được vào trong bếp. Bồ hóng chằng chịt trên nóc, trên vách. Một chõng ọp ẹp kê chật cả nửa bếp. Em gái đồng chí chạy vào, khóc lóc: “Sung sướng chưa anh ơi! Trong khi anh đi tù, người ta bắt chị và các cháu phải sống chui sống rúc thế này!” Đồng chí thấy đau lòng trước cảnh sống khổ cực của vợ con trong những ngày qua. Đồng chí còn trấn tĩnh, xua tay bảo em gái, mà chính mình cũng là nói với lòng mình: ‘Khóc lóc, oán hận chẳng có ích gì mà chỉ gây cho mình thêm đau khổ’. Rồi đồng chí đi ra thẳng lên nhà ông Lễ. Nhà ông Lễ tối hôm ấy đông vui hơn cả ngày cưới anh Bái, con trai ông… Hết ấm nước này đến ấm nước khác, câu chuyện đi sâu vào tình cảm gia đình, họ mạc, xóm giềng. Bà con nhắc lại những chuyện sai lầm trong Cải cách ruộng đất, những chuyện buộc lòng phải đấu, tố nhau, dứt tình dứt nghĩa. Lòng ai nấy xót xa. Không khí nhiều lúc trầm trầm lặng xuống”. (NHÂN DÂN, 14 tháng 11, 1956).
HOÀN LẠI TÀI SẢN, VÀ TRẢ LẠI VỢ, NẾU… Biện pháp thứ hai của Sửa sai là hoàn lại những tài sản đã tịch thu của họ, nếu còn có để hoàn lại. Những thứ được trả lại phần nhiều chỉ là nhà cửa, vườn tược, nhưng tất cả đều điêu tàn vì những bần cố nông được thụ hưởng không đủ phương tiện chăm nom. Còn trâu bò đã bị làm thịt mang ra chợ bán. Nhưng mặc dầu của cải hoàn lại chẳng còn được là bao, những người được trả lại cũng hết sức hoan hỉ. Ý nghĩ sẽ được trở về nơi chôn rau cắt rốn và sống dưới mái nhà tổ tiên xây cất cũng đủ làm cho họ vui lòng. Chỉ có những bần cố nông được ở trong nhà của địa chủ trong mấy năm, bây giờ phải cuốn gói ra đi mới là thật đau lòng. Biện pháp thứ ba của Sửa sai là “trả lại vợ” cho những người đã bị “tịch thu” mất vợ. Có trường hợp người vợ tự ý bỏ, vì sợ bị “liên hệ”, hoặc vì hai bên thông gia đã “tố” nhau nên gây thù oán.
Nhưng, thông thường là người vợ còn trẻ và duyên dáng, nên một đảng viên “mới” nào đó ép phải lấy hắn trong khi chồng đi tù. Một số đông những người phụ nữ bất hạnh này đã sống với chồng mới tới hai ba năm, nên khi chồng cũ tha về thì đã có con với chồng mới, thành ra vấn đề “hoàn vợ lại cho chồng cũ” là một vấn đề nan giải. Vấn đề này đã được giải quyết bằng một Thông tư của Bộ Tư pháp ban hành ngày 19 tháng 4 năm 1957, do Thứ trưởng Bộ trưởng Bộ tư pháp Trần Công Tường ký, theo đó, bộ đề ra chủ trương sau: (1). Đối với vợ chồng bỏ nhau đã có con hoặc chưa có con, nhưng vợ chưa lấy chồng khác, chồng chưa lấy vợ khác, thì phương châm là kiên trì giải quyết tư tưởng cho hai bên thông cảm nhau là do sai lầm chung mà vợ chồng bỏ nhau, vậy nên về đoàn tụ với nhau như cũ, nhất là khi hai bên đã có con còn bé.
(2). Đối với những vợ chồng bỏ nhau mà một bên đã lấy người khác rồi có hai trường hợp: (a) Nếu vợ đã đi lấy chồng mới mà chưa có con, nay vợ muốn trở về với chồng cũ và chồng cũ muốn đoàn tụ thì cho đoàn tụ và giải quyết cho người chồng mới thông. Nếu người vợ một mực ở với chồng mới dù chưa có con với người này thì nên giải thích cho người chồng cũ thoả thuận ly hôn với người vợ. (b) Trường hợp người vợ đã có con với chồng cũ, nhất là khi đứa con còn bé thì cẩn thận trong việc cho ly hôn. Trường hợp chồng đã lấy vợ mới, có con hay chưa có con, nay muốn về với vợ cũ, nhưng vợ cũ không muốn trở lại thì cần cho ly dị; trường hợp vợ cũ còn muốn trở lại với chồng thì nên căn cứ vào tình cảm của ba người đối với nhau và tùy tập quán địa phương mà giải quyết cho ổn thỏa.
(3). Trường hợp hai bên đều lấy vợ lấy chồng khác rồi thì nên cho họ ly hôn để họ chính thức lập gia đình mới. (4). Trường hợp đa thê, nhân vì đấu tố mà vợ lẽ bỏ chồng thì nói chung nên giải quyết cho họ ly hôn, nhưng có trường hợp vì sinh kế, vì con cái hay vì tình cảm, người vợ lẽ muốn đoàn tụ thì giải quyết cho đoàn tụ. Bản Thông tư không nói đến trường hợp những người vợ goá, vì chồng bị xử tử, và sau đó bị cán bộ ức hiếp phải lấy họ, cũng không nói tới trường hợp con gái địa chủ bị ép lấy bần cố nông, vì đối với Đảng, đấy chẳng phải là một sai lầm. Đảng không hề chú ý tới sự đau khổ và nhục nhã mà những phụ nữ kể trên phải chịu đựng trong mấy năm liền. Phụ nữ cũng chỉ là một thứ tài sản mà Đảng tự cho mình quyền phân phối theo ý muốn, y hệt ruộng đất, nhà cửa, đồ đạc vậy!
Bài 200: ĐẢNG VIÊN MỚI “THỊT” ĐẢNG VIÊN CỦ KHI VỀ TỚI LÀNG: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.
Các lãnh tụ Đảng yên trí rằng bấy nhiêu biện pháp: phóng thích khỏi trại giam; hồi phục danh dự những đảng viên bị giết oan; trả lại tài sản và vợ bị tịch thu là đủ xoa dịu lòng uất hận của nhân dân đối với Đảng, và bình thường hoá lại đời sống. Đảng tin rằng với thế lực của Đảng có thể ngăn chặn mọi cuộc chống đối, và một phần khác Đảng cũng tin rằng dân chúng đã bị khủng bố nên mất hết tinh thần, không còn, không dám nổi loạn.
Thế nhưng, các “đảng viên mới” không hài lòng khi thấy các “đảng viên cũ” ra khỏi trại giam, và được khôi phục công quyền và đảng tịch. Họ thấy họ bị “mất mặt” và uy quyền của họ sẽ bị tiêu tan. Báo Nhân dân viết:“Hiện tượng phổ biến là trên tư tưởng các đồng chí (mới) đó ngại thấy đảng viên, cán bộ, đồng chí (cũ) bị xử trí oan được trả lại tự do về, sẽ “vào bè” công kích đảng viên mới và cốt cán. Có đồng chí (mới) lo có những cuộc ẩu đả, trả thù…Có đồng chí (mới) lo không biết cách đối xử với các đồng chí (cũ) bị xử oan ra sao, ngượng ngùng vì đã tố cáo đồng chí (cũ) ấy, bây giờ niềm nở với nhau thế nào được… Do nhận thức lệch lạc trên đã dẫn đến một số hành động sai lầm như: Cuộc họp bàn đón rước các đồng chí (cũ) được trả tự do đã biến thành cuộc thảo luận để đối phó với các đồng chí (cũ) đó”. (NHÂN DÂN ngày 22 tháng 11 năm 1956).
ĐẢNG VIÊN MỚI “THIT” ĐẢNG VIÊN CỦ… Vì lo quá nên tại nhiều nơi “đảng viên mới” thấy giản tiện nhất là “thịt” các “đảng viên cũ” ngay khi họ mới trở về làng. Vụ giết người sau đây, xử tại toà án khu Ba chứng tỏ tình trạng nổi loạn kể trên. “GIẾT NGƯỜI CÓ VŨ KHÍ”! Vụ này gây cho hội trường một không khí căng thẳng và rất thương tâm. Hình ảnh gia đình nạn nhân với một bà mẹ già 72 tuổi, người vợ trẻ mới đẻ được 3 ngày, 9 người con còn nhỏ và nạn nhân chết một cách ghê rợn lởn vởn trong trí óc những người dự phiên toà. Mười hai can phạm đều là những thanh niên khỏe mạnh từ 18 đến 24 tuổI. Ông Vũ Văn Tiện người thôn Phú Nông, xã Lô Giang huyện Tiên Hưng, nguyên chủ tịch uỷ ban Hành chính xã Lô Giang. Trong thời gian cải cách ruộng đất ông Tiện bị quy nhầm là địa chủ gian ác. Khi Sửa sai bước 1, ông Tiện được xuống thành phần trung nông và ngay sau khi được trả tự do, ông Tiện bị giết chết.
Vũ Văn Hiển tức Tiến 22 tuổi, Chi uỷ viên kiêm chính trị viên xã đội đồng mưu với Vũ Văn Thung, Vũ Văn Đức công an phó, Vũ Văn Tư xóm đội, và cùng với Hồ, Xuyến, Soạn, Thiệp, Xế, Thất, Đán, Thư đều là quân dân du kích, đã giết chết ông Tiện. Sau khi ông Tiện người vừa được trả tự do, Hiển liền tập hợp mọi người tại nhà Thung định mưu giết. Hai lần họ đã bố trí sẵn sàng nhưng không gặp. 10 giờ đêm ngày 28/1/57, Hiển cấp tốc tập trung anh em du kích rồi chia nhau bố trí. Khi ông Tiện về qua, Hiển bắn một phát súng trường. Ông Tiện ngã xấp xuống. Đoạn cả bốn xông ra chém, rồi Xuyến bắn luôn 6 phát súng tiểu liên nữa… Sau khi hành sự họ rất bình tĩnh. Hiển ra lệnh cho mọi người trở về chỗ bố trí cũ, nếu thân nhân ông Tiện ra sẽ giết luôn…” (THỜI MỚI, 14/03/1957). Vụ “đảng viên mới” giết “đảng viên cũ” kể trên chỉ là một trong vô số vụ khác mà báo chí Hà Nội hồi đó đã nêu lên.
Vụ này chứng tỏ một cách minh bạch rằng những bần cố nông, sau khi đã lên chức “đồng chí” không muốn rút bỏ uy quyền mà ba năm trước Đảng đã “phóng tay” trao cho. Sau nhiều vụ giết tróc, các “đảng viên mới” phải tìm cách tự vệ, và trong nhiều trường hợp cương quyết trả thù. Vì được phục hồi công quyền, đảng tịch và được dân làng có cảm tình, họ lùng bắt những kẻ đã tố oan cho họ, và hễ trước kia đã tố cho họ tội ác gì thì bây giờ họ thi hành đúng tội ác ấy. Những kẻ trước kia “bịa ra tội ác” gì bây giờ được “hưởng” chính tội ác mình đã bịa ra. Trường hợp thông thường là nhét phân vào mồm những người tố điêu. Sở dĩ có chuyện bắt ăn phân là tại hồi đấu tố Đảng xúi giục bần cố nông khai rằng họ đã bị địa chủ nhét phân vào mồm. Nhiều người bị đánh chết giữa đám đông và một số khác bị rạch mồm, cắt lưỡi.
BỘ TƯ PHÁP RA THONG TƯ KÊU GỌI ĐÌNH CHỈ CHÉM GIẾT. Tình trạng trả thù trả oán trầm trọng đến nỗi ngày 1 tháng 12 năm 1956, Bộ Tư pháp phải công bố một bản Thông tư đặc biệt kêu gọi đình chỉ mọi cuộc chém giết. Thông tư do Nguyễn Văn Hưởng, thứ trưởng Bộ Tư pháp ký. Trong bản Thông tư có một đoạn ai oán thiết tha như sau: “Quyền lợi của nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân, quyền lợi thiết thân của nhân dân như các quyền tự do, dân chủ, v.v. đã bị xâm phạm, nhiều khi một cách nặng nề. Có nơi pháp luật đã không được tôn trọng, có nơi pháp luật bị chà đạp. Những hiện tượng đó đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, đến uy tín của chính phủ…” (CỨU QUỐC ngày 2/12/1956). Để tự bào chữa trước dư luận quần chúng, các “đảng viên mới” đổ hết mọi tội lỗi cho Đảng, nói chỉ tại chính sách của Đảng sai mà xảy ra tình trạng như vậy.
Tờ Học tập, cơ quan lý luận chính trị của Đảng Lao động viết:“Một số đồng chí đứng trước sai lầm trong công tác Cải cách Ruộng đất có thái độ oán trách các đồng chí đã chỉ đạo, thậm chí oán trách cả Đảng, rồi bất cứ ở rạp hát hay ở vườn hoa, trên tầu hoả hay trong hiệu cắt tóc v.v. cũng đem những điều sai lầm đó ra nói một cách vô trách nhiệm. Lại có đồng chí đem gán hết trách nhiệm về những sai lầm đó cho cấp trên. Có đồng chí trước đây làm Đội trưởng hoặc đoàn, uỷ viên, thế mà khi kiểm thảo sai lầm trước nhân dân thì nói “đó là cấp trên thúc ép, do cơ sở (cốt cán) phát hiện tình hình sai (vu khống)”, còn mình thì chỉ có khuyết điểm “biết sai mà không mạnh dạn đấu tranh” . (HỌC TẬP số 10 tháng 10/1957). Một điều cần phải nhận rõ là: trong khi cố gắng vỗ về những “đảng viên cũ” bằng cách đền bù cho họ một vài thiệt hại tinh thần hoặc vật chất, Đảng vẫn “cố tình che chở cho các đảng viên mới”.
Lý do là tại chỉ có đảng viên mới, mới thực sự thuộc thành phần vô sản. Đảng thấy cần thiết phải có một số “vô sản chính cống” để trang trí cho cái mà Đảng mệnh danh là “vô sản chuyên chính”. Lý do thứ hai là Đảng muốn có một số “thiên lôi chỉ đâu đánh đấy” để bảo vệ Đảng phòng khi có những phong trào chống Đảng do những phần tử khác gây nên. Trong ba năm làm mưa làm gió trong xã, thôn, các “đảng viên mới” được mặc sức hà lạm nên dân chúng rất oán ghét. Vì họ thiếu học nên họ chỉ hành động theo những kích thích tự nhiên. Do đó, Đảng cho rằng họ là những “phần tử dễ chiều và đáng tin” hơn những phần tử phi vô sản đã gia nhập Đảng với lý tưởng. Còn bần cố nông thì không cần lý tưởng, lý thuyết, chỉ biết lợi cho bản thân. Ngày nào mà họ còn quyền lợi thì họ vẫn trung thành với Đảng. (Hết trích).
CHÍNH QUYỀN HAI
Bài 201: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: 1955-1956.
HIẾN ƯỚC TẠM THỜI. Từ kết quả “Trưng cầu Dân ý”, ngày 26/10/55, Ngô Đình Diệm tuyên bố Hiến ước Tạm thời: “Việt Nam là một nước Cộng hòa”; Quốc trưởng lấy danh hiệu là “Tổng thống Việt Nam Cộng hòa”. Các “Luật lệ hiện hành” vẫn tạm giữ nguyên. Cũng ngày, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành 2 Sắc lệnh: Sắc Lệnh số 1/TTP “Chính phủ cũ được lưu lại Xử lý Thường vụ”; và Sắc Lệnh số 2/TTP “Ngày 26/10 sẽ là ngày Quốc khánh”. Ngày 29/10/1955, thành lập Chính phủ Ngô Đình Diệm, là Chính phủ đầu tiên của thể chế mới “Việt Nam Cộng hòa”. THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ: Tổng thống kiêm Bộ trưởng Quốc phòng, Ngô Đình Diệm; Tổng trưởng Nội vụ, Bùi Văn Thinh; Tổng trưởng Tư pháp, Nguyễn Văn Sĩ; Tổng trưởng Ngoại giao, Vũ Văn Mẫu; Tổng trưởng Tài chánh Kinh tế, Trần Hữu Phương; Tổng trưởng Thông tin, Trần Chánh Thành; Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục và Thanh niên, Nguyễn Dương Đôn; Tổng trưởng Y tế và Xã hội, Vũ Quốc Thông; Tổng trưởng Lao động, Huỳnh Hữu Nghĩa; Tổng trưởng Canh nông, Nguyễn Công Viên; Tổng trưởng Công chánh kiêm Bộ trưởng Kinh tế, Trần Văn Mẹo; Tổng trưởng Điền thổ và Cải cách Điền địa, Nguyễn Văn Thời; Bộ trưởng đại diện Phủ Thủ tướng, Nguyễn Hữu Châu; Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng, Trần Trung Dung.
BAN HÀNH DỤ SỐ 10 VỀ QUỐC TỊCH VIỆT NAM. NĂM 1955. Ngày 6/11/55, Đại tá chỉ huy trưởng chiến dịch Rừng Sác Dương Văn Minh, và Đại tá Lê Văn Nghiêm được thăng Thiếu tướng. Ngày 14/11/55, thành lập ba Tổng Nha Ngân sách, Công vụ và Kế hoạch được đặt trưc thuộc Phủ Tổng thống (SL17/TTP). Ngày 18/11/55, thành lập Phủ Đặc ủy Công Dân vụ cũng đặt trực thuộc Phủ Tổng thống (SL22/TTP). Ngày 7/12/55, ban hành Dụ số 10, quy định Quốc tịch Việt Nam. Ngày 17/12/55, Hối xuất chính thức của Đồng bạc Việt Nam là: 10 quan Pháp bắng 1$ Việt Nam; 1 bảng Anh bằng 98$ Việt Nam; 1 Mỹ kim bằng 35$ Việt Nam (Dụ 15). NĂM 1956: Ngày 13/1/56, tòa án quân sự xử phạt các lãnh tụ Bình Xuyên Lê Văn Viễn, Lại Văn Sang, Lại Hữu Tài, và Jean Léon Leroy tử hình, tước đoạt binh quyền và tịch thu tài sản. Cũng trong phiên tòa nầy, Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ, Đại tá Nguyễn Tuyên cũng bị phạt như trên.
TỔNG TUYỂN CỬ BẦU QUỐC HỘI LẬP HIẾN. Ngày 14/1/56, Đã có 43.000 người xin đi lập nghiệp ở Khu định cư Cái Sắn. Ngày 23/1/56, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 8 thành lập Quốc hội; và Dụ số 9 ấn định thể thức bầu cử. Ngày 4/3/1956, tổng tuyển cử bầu Quốc hội Lập hiến. Ngày 15/3/56, Khai mạc Quốc hội Lập hiến, Niên trưởng là ông Dư Phước Thiện, 67 tuổi (sinh 1889). Ít tuổi nhất là ông Đinh Thế Sĩ. Ngày 22/3/56, Dân biểu Trần Văn Lắm được bầu làm Chủ tịch Quốc hội. Ngày 1/4/56, Tổng hội Phật giáo Việt Nam họp Đại hội lần II, tại trụ sở chùa Ấn Quang, thông qua nhiều “Quy lệ Nghi thức và Huấn luyện”, và yêu cầu Chính phủ đặt ngày Đức Phật Giáng sinh là “Ngày lễ chính thức”. Ngày 4/4/56, thành lập Dân Vệ đoàn để thay thế các Tự vệ Hương thôn và bảo vệ an ninh Xã-Ấp.
Ngày 12/4/56, khánh thành Học viện Quốc gia Hành chánh tại đường Alexandre de Rhodes. Ngày 18/4/56, Quốc hội cử 15 Đại biểu vào Ủy ban soạn thảo Hiến pháp, gồm: Nguyễn Hữu Châu, Vũ Quốc Thông, Trương Vĩnh Lễ, Trần Văn Trai, Nguyễn Phương Thiệp, Trần Chánh Thành, Huỳnh Ngọc Nữ, Trần Sĩ Đôn, Tôn Thất Toại, Hà Huy Liêm, Hà Huy Chi, Y Kré, Trần Quang Ngọc, Nguyễn Văn Liên và Nguyễn Cao Thăng. Ngày 30/4/56, Tại Khu định cư Cái Sắn, 110 máy cày Viện trợ Mỹ đã cày 150.000 mẫu, sẽ dành 1/2 cho dân định cư, và 1/2 cho dân địa phương và tị nan. Tổng số Trại Định cư là 255 trại (156 tai Nam Phần, 65 tai Trung phần, 34 tại Cao nguyên). Tổng số dân được định cư là 596.031 người. Ngoài ra, còn có 140.039 người di cư sống rãi rát khắp nơi. Gia đình binh sĩ 125.393 người…. Tổng số người Di cư Tị nạn là 887.890 người.
LẬP CƠ QUAN MÃI DỊCH MUA SẮM VỆT LIỆU CHO CHÍNH PHỦ. Ngày 23-29/5/56, các Giáo sư Đại học Michigan thuyết trình các môn “Hành chánh và Tổ chức” tại Toà Đô Sảnh. Rất đông thính giả. Ngày 30/5/56, Tù nhân ở khám Chí Hòa nổi loạn từ 24/4 bạo động bằng võ chai, mãnh bất đĩa và thanh sắt. Hôm nay đã dẹp yên sau 40 ngày rối ren. Ngày 6/6/56, tòa Đại hình họp tại Cần Thơ xử tướng Lê Quang Vinh (bị bắt 13/4/56) và ngày 11/6/56, Lê Quang Vinh bị tuyên án tử hình. Ngày 29/6/56, thành lập Cơ quan Mãi dịch để mua sắm các vật liệu, dụng cụ cần thiết cho Chính quyền (SL 88/TC). Ngày 30/6/56, thị trường ngoại tệ tự do được thiết lập để cung cấp ngoại tệ cho những vụ chuyễn ngân không được hưởng hối xuất chính thức (Dụ 36). Ngày 3/7/56, lễ đặt đá xây dựng Trung tâm Văn hóa và Thư viện Quốc gia tại khu đất cạnh Dinh Gia Long. Kinh phí xây cất do Viện trợ Mỹ đài thọ.
Ngày 6/7/56, Đại hội Không quân kỷ niệm đệ nhất chu niên, ngày chuyễn giao Căn cứ Không quân cho Việt Nam. Ngày 29/8/56, Thiếu tướng Dương Văn Minh được bổ Tổng thơ ký Thường trực Quốc phòng, kiêm nhiệm chỉ huy Phân khu Sài Gòn Chợ Lớn và chỉ huy Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Ngày 5/9/56, tại Bộ Giáo dục, khai mạc Hội nghị thống nhất ngôn ngữ với nhiều tiểu ban: Pháp âm. Chính tả, Đồng nghĩa, Đồng âm dị nghĩa, Thổ âm, Danh từ địa lý, Danh từ khoa học, kỹ thuật. Ngày 22/9/56, Việt Nam trở thành Hội viên của Quỷ Tiền tề Quốc tế và Ngân hàng Quốc tế Khuếch trương Kiến thiết. Cùng ngày 22/9/56, Hội nghị toàn quốc chủ điền và tá điền nhóm họp tại Bộ Cải cách Điền Địa để thoả hiệp các điểm chính yếu trong sự tương quan giữa hai giới. Ngày 15/10/56 khai giảng các khoá học tại Trung Tâm Kỷ thuật Phú Thọ và trong đợt đầu tiên có 16 Chuyên viên Việt Nam từ nước ngoài về nước giảng dạy (Sắc lệnh (SL 213/GD thành lập ngày 29/6/56).
BAN HÀNH CHẾ ĐỘ CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA. Viện Đại học Việt Nam được phép tặng bằng Doctor (Tiến sĩ) Danh dự cho Nhân vật ngoại quốc (SL 140/GD). Ngày 17/10/56, thành lập trường Thương mại, và trường Sinh ngữ (NĐ 2576/TTP/CV ). Ngày 22/10/56, Chính phủ ban hành Chế độ Cải cách Điền địa, theo đó, mỗi địa chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất, và 15 ha ruộng hương hoả. Ruộng bị truất hữu sẽ được đem bán lại cho những người thiếu ruộng, mỗi hộ không quá 5 ha, người mua sẽ trả tiền trong thời gian 6 năm. Trong thời gian đó ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu của chính quyền. Trong 10 năm kế tiếp, người được phát ruộng không được cho mướn hay đem bán lại. Địa chủ sẽ được bồi thường 10% tiền mặt, số còn lại được trả bằng trái phiếu trong 12 năm, mỗi năm lời 5%. (Dụ 57).
Kể từ ngày 22/10/56 nầy, tên mới các Tỉnh được thay đổi như sau: Sài Gòn/Chợ Lớn thành Sài Gòn. Bà Rịa/Vũng Tàu thành Phước Tuy. Biên Hòa thành Long Khánh, Phước Long, Bình Long, và Biên Hòa. Chợ Lớn/Tân An thành Long An. Mộc Hóa thành Kiến Tường. Phong Thạnh thành Kiến Phong. Mỹ Tho/Gò Công thành Định Tường. Bến Tre thành Kiến Hòa. Vĩnh Long/Sa Đéc thành Vĩnh Long. Trà Vinh thành Vĩnh Bình. Long Xuyên/Châu Đốc thành An Giang. Cần Thơ thành Phong Dinh. Bạc Liêu/Sóc Trăng thành Ba Xuyên. Rạch Giá/Hà Tiên thành Kiên Giang. Cà Mâu thành An Xuyên. Thủ Dầu Một thành Bình Dương. Đồng Nai Thượng/Bình Thuận thành Bình Tuy. Côn Đảo thành Côn Sơn (SL 143/NV)...Ngày 23/10/56, Nam Việt, Trung Việt, Bắc Việt đổi thành Nam Phần, Trung Phần, và Băc Phần (SL 113a/TTP); Ban hành “Quy chế Y sĩ, Nha sĩ, và Hộ sinh” (Dụ 57/3); và “Quy chế các Trường Tư Thục” (Dụ 57/4).
CẢI TỔ NỀN HÀNH CHÁNH QUỐC GIA. Ngày 24/10/54, nền Hành chánh toàn quốc được cải tổ, các Phần bị bãi bỏ, tăng quyền hạn của Tỉnh trưởng, nhiệm vụ của các Đại biểu Chính phủ bị thu hẹp (Dụ 57a). Trung Phần chia làm Cao nguyên Trung Phần, và Trung nguyên Trung Phần (Dụ 57b). Công dân có thể được trưng tập để làm những việc cứu tế xã hội (Dụ 57b). Ngày 31/5/56, thành lập thêm 4 Tỉnh: Phong Thạnh, Mộc Hóa, Tam Cần, và Cà Mâu... Ngày 26/10/56, Công bố Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. Ngày 5/11/56, Tổng thống chấp thuận việc xin từ chức của 4 Bộ trưởng: Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Nguyễn Hữu Châu; Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng, Trần Trung Dung; Bộ trưởng Thông tin, Trần Chánh Thành; Bộ trưởng Y tế Xã hội, Vũ Quốc Thông. Ngày 9/11/56, khai mạc Quốc hội Lập Pháp.
Ngày 1/12/56, Giải tán Tiểu đoàn An ninh Phủ Tổng thống, và tổ chức lại thành Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống. Ngày 8/12/56, Trung tướng Lê Văn Tỵ được thăng Đại tướng. Ngày 9/12/56, Đại tá Phạm Xuân Chiểu được bổ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an thay tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Các Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lễ, Trần Văn Đôn được thăng Trung tướng. Ngày 10/12/56, các Thiếu tướng Trần Văn Minh, Thái Quang Hoàng được thăng Trung tướng; Đại tá Lê văn Kim được thăng Thiếu tướng. Ngày 28/12/1956, Quốc hội chấp thuận bổ nhiệm Ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Ngày 29/12/56, có 800 người ở Quảng Ngãi lên lập nghiệp tại Pleiku.
QUAN HỆ HAI MIỀN NAM- BẮC. Năm 1955. Ngày 12/12/55, Đại sứ Trần Văn Chương tuyên bố tại Hoa Kỳ “sẽ không có Tổng Tuyển cử năm 1956 ở Việt Nam”. Hiệp định Genève không bắt buộc. Chính phủ Mỹ ủng hộ lập trường nầy. Năm 1956. Ngày 6/4/56, Chính phủ Việt Nam tuyên bố “không có Tổng tuyển cử 1956, nhưng bằng lòng giúp đở Ủy hội Quốc tế làm tròn nhiệm vụ".
QUAN HỆ VỚI MỸ-PHÁP. Năm 1955. Ngày 29/10/55, Chính phủ Việt Nam thông báo cho Chính phủ Pháp rằng Chính phủ Việt Nam không triển hạn Hiệp định Thương mại sẽ hết hạn ngày 31/12/1955. Năm 1956. Ngày 5/1/56, Chương trình viện trợ kỷ thuật do Đại học Michigan State University, Mỹ bắt đầu thi hành ở Việt Nam. Ngày 7/2/56, Phái đoàn Chuyên viên Liên Hiệp Quốc đến nghiên cứu Kinh tế Xã hội Việt Nam từ 18/11/55, đã hoàn tất công việc, thảo tờ trình khuyến cáo về sự phát triển kế hoạch, hôm nay rời Việt Nam. Ngày 26/1/56, gần 3.000 người lính Liên hiệp Pháp rời Việt Nam sang Châu Phi. Ngày 6/7/56, Phó tổng thống Mỹ Richard Nixon sang thăm thiện chí Việt Nam. Ngày 6/11/56, Tổng thống Mỹ Eisenhower tái đắc cử (34.751.000 phiếu, Stevenson 27.315.000 phiếu). Ngày 3/3/56, Tổng số quân Pháp ở Việt Nam còn trên 20.000 và sẽ triệt thoái dần.
Ngày 30/3/56, ký kết thỏa hiệp Việt Pháp, theo đó quân Pháp sẽ triệt thoái khỏi Việt Nam trước ngày 30/6/56. Ngày 24/4/56, Tướng Jacquot và Đô đốc Jozan, được Tổng thống Ngô Đình Diệm gắn Đệ nhất và Đệ nhị Bảo Quốc Huân chương, rồi thết tiệc đãi tiễn. Pháp tổ chức cuộc diễn Thuỷ quân lần cuối cùng tại bến Bạch Đằng. Ngày 28/4/56, Bộ Tư lệnh Pháp tại Đông Dương giải thể. Ngày 6/6/56, Một Phái đoàn Nghị sĩ Pháp gồm Frédéric, Gupont, André, Mẻcier, Montalat… được chính phủ Pháp cử sang tỏ tình thân hữu với chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 17/9/56, Đại sứ Pháp Jean Payart trình ủy nhiệm thư với tư cách là Đại sứ.
QUAN HỆ QUỐC TẾ. Năm 1955. Ngày 7/12/55, Tòa thánh Vatican thừa nhận nước Việt Nam Cộng hòa, và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Năm 1956. Ngày 8/2/56, Hội nghị Lào, Thái, Mỹ, và Việt Nam nhóm họp tại Bộ Ngoại giao để cứu xét về việc mở mang Sông Mê Kông. Sẽ thành lập một cơ quan quốc tế chuyên trách vấn đề nầy. Ngày 22/9/56, Việt Nam trở thành Hội viên của Quỷ Tiền tề Quốc tế và Ngân hàng Quốc tế Khuếch trương Kiến thiết. Ngày 29/5/56, Bộ trưởng Ngoại giao Trung hoa Dân quốc tuyên bố các đảo Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spratley) thuộc Trung Quốc. Ngày 8/6/56, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu tuyên bố các đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn thuộc chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam.
CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Năm 1955. Ngày 28/10/55, kết thúc “Chiến dịch Hoàng Diệu” với kết quả: thu được 1.500 súng các loại, phá hủy nhiều kho đạn; Bảy Môn, Lại Hữu Tài, Lại Hữu Sang, lánh sang Pháp cùng lãnh tụ Bảy Viễn. Ngày 29/10/55, Mở “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” bình định miền Tây Nam Phần. Ngày 9/12/55, Bảo An hành quân quanh Cái Vồn bắt được Thiếu tá Võ Hùng Vương em của Phàn Lê Hoa vợ tướng Trần Văn Soái. Ngày 29/12/55, kết thúc Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng ở miền Tây, thu được 1.600 súng, phá hủy nhiều căn cứ. Năm 1956. Ngày 1/1/56, mở Chiến dịch Nguyễn Huệ bình định miền Tây, do Tướng Dương Văn Minh làm Tư lệnh. Ngày 18/1/56, Bảo An Long Xuyên đã bắt 30 binh sĩ cuả tướng Lê Quang Vinh, với hơn 100 súng, và 3 tấn đạn. Ngày 2/3/56, tướng Trần Văn Soái tuyên bố sẽ trở về hợp tác với Chính phủ.
Hôm sau 3/3, Thiếu tướng Dương Văn Minh họp báo nói về Chiến dịch bình định miền Tây, và sự hợp tác của tướng Trần Văn Soái, ông cho hay rằng chiến dịch đã tịch thu 20 ký vàng, và 16,5 tiệu rưởi bạc, số tiền nầy sẽ dùng để xây cất một Cô Nhi Viện Quốc gia. Ngày 8/3/56, Tướng Trần Văn Soái với 1.056 sĩ quan và 4.600 binh sĩ Hòa Hảo dự lễ hợp tác tại Cái Vồn, trước Thiếu tướng Dương Văn Minh. Ngày 13/4/56, tướng Hoà Hảo Dân Xã, Lê Quang Vinh (Ba Cụt) bị 1 tiểu đội Bảo An bắt tại Chắc Cà Dao cách Long Xuyên 15 km cùng với 5 hộ vệ. Các ngày sau đó quân của của tướng Lê Quang Vinh tuần tự về với Chính phủ: ngày 28/4/56 có 286 binh sĩ; ngày 6/5/56, có 110 binh sĩ; đặc biệt ngày 8/5/56, Chỉ huy trưởng Trung đoàn Lê Lợi của tướng Lê Quang Vinh cũng về hợp tác với Chính phủ. Ngày 26/5/56, mở Chiến dịch Chiêu An miền Tây do Đại tá Nguyễn Hữu Có chỉ huy.
Ngày 31/5/56, chấm dứt Chiến dịch Nguyễn Huệ bình định miền Tây do tướng Dương Văn Minh chỉ huy, kết quả, quân của Trần Văn Soái và Lê Quang Vinh 681 tử trận, 1.005 bị bắt, thu gần 5.000 súng đủ loại trong đó có 142 bích kích pháo, 50 đại liên, 291 trung liên, 1.163 tiểu liên. Một số lớn bộ đội của Trần Văn Soái và Lê Quang Vinh về hợp tác với Chính phủ. Ngày 10/6/56, Đại tá Đỗ Cao Trí chỉ huy cuộc hành quân vùng Ratum Bà Đen, Tây Ninh thu được nhiều võ khí. Ngày 30/6/56, mở Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu bình định các tỉnh Tiền giang và Hậu giang, do Thiếu tướng Dương Văn Minh chỉ huy. Ngày 13/7/56, mở Chiến dịch Trương Tấn Bửu tại miền Đông do Thiếu tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy. Ngày 2/8/56, Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu bắt được 221 tù binh, tịch thu vài trăm vũ khí.
Ngày 17/8/56, tư thất của tướng Nguyễn Thành Phương bị cảnh sát khám xét. Ngày 30/10/56, kết thúc chiến dịch Thoại Ngọc Hầu bình định các tỉnh Tiền giang và Hậu giang (từ 30/6/56) kết quả: 441 địch tử trận, 948 quy thuận, 1.169 bị bắt, hơn 1.000 súng bị tịch thu; Và cũng hôm nay, kết thúc Chiến dịch Trương Tấn Bửu tại miền Đông (từ 13/7/56) kết quả: địch 102 tử trận 412 quy thuận, 470 bị bắt với nhiều súng ống trong đó có 4 đại bác, 33 bích kích pháo, 17 đại liên, 42 trung liên, 2 tấn thuốc nổ. Ngày 30/11/56, Khám phá một hầm vũ khí của Việt Minh. Suốt năm, tuần nào cũng có thông cáo nói nơi nầy, nơi khác tìm ra vũ khí, đạn dược của bộ đội Việt Minh chôn dấu trước khi tập kết ra Bắc, hôm nay là hầm vũ khí được khám phá lớn nhất từ trước đến nay...
Bài 202: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM NĂM 1957.
TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM BỊ BẮN TẠI… Năm 1957: Ngày 12/1/57, giá vàng 5.700$ một lạng tại Sài Gòn. Ngày 6/2/57, có 2.400 kiều bào từ Mên về được đưa tới lập nghiệp ở Rạch Giá. Ngày 20/2/57, Bộ Ngoại giao xác nhận, các quần đảo Tây Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam, và vẫn được Chính phủ kiểm soát. Ngày 1/3/57, thành lập Viện Đại Học Huế (SL 45/GD). Ngày 22/3/57, khánh thành Hội chợ Ban Mê Thuột, lúc 8g30 Tổng thống Ngô Đình Diệm bị một thanh niên bắn bằng Tiểu liên Mas 49. Thủ phạm bị bắt ngay, tên Hà Minh Chi từng làm việc ở Ty Thông tin Tây Ninh. Ngày 23/4/57, thành lập Phủ Tổng ủy Dinh Điền thay thế Phủ Tổng ủy Di cư (SL103/TTP. Ngày 2/5/57, thanh niên tuổi từ 20 đến 21 tuổi phải thi hành quân dịch trong 12 tháng (NĐ 183/QP).
Ngày 6/5/57, các ông Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán, Nghiêm Xuân Thiện, và một số chính khách họp báo tuyên bố thành lập “Khối Dân chủ” đối lập với Chính quyền. Cùng ngày 6/5/57, Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Mỹ 2 tuần. Ngày 19/6/57, tại vùng Đồng Tháp Mười dân cư đông gấp đôi trước 1954, quân đội xây lại Tháp Mười tầng theo kiểu Chàm cao 36 thước. Ngày 29/6/57, thành lập Trung tâm Kỷ thuật Phú Thọ, để tập trung các trường Kỷ thuật Chuyên môn (SL 213/GD). Ngày 3/7/57, thành lập Nha Công tác Xã hội miền Thượng trực thuộc Phủ Tổng thống, (NĐ 302/NV). Ngày 6/7/57, Theo chương trình giải toả Đô thành, nhiều vựa than, vựa củi, nhà lá ở Bến Chương Dương phải dọn đi nơi khác, cả các ghe, thuyền cũng phải dời đi. Ai về quê được trợ cấp 500$, ai sang ở trú khu Chánh Hưng được mua nhà trả góp trong 5 năm. Ngày 8/8/57, Sắc lệnh 278/KT, thiết lập đường Xa Lộ Sài Gòn- Biên Hòa.
CỐ VẤN NGÔ ĐÌNH NHU VÀ VỢ CẢI CHÍNH TIN CHUYỂN NGÂN… Ngày 13/8/57, Toà án Quân sự xử tử hình tướng Nguyễn Văn Thành, nguyên Tư lệnh Quân đội Cao Đài, vì đã liên kết với Bình Xuyên. Ngày 20/8/57, tòa án quân sự xử 23 người liên can đến biến cố Bình Xuyên 1955: Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hữu Thuần, Trịnh Khánh Vàng, Nguyễn Thành Nghi, Nguyễn Văn Hớn, Nguyễn Triệu Phương, Nguyễn Văn Hiếu. Ngày 22/8/57, Cố vấn Ngô Đình Nhu, và bà Nhu đăng báo thanh minh tin đồn “không hề chuyển ngân ra ngoại quốc; không tham gia vào thương mại, kỹ nghệ, tài chánh ở Việt Nam cũng như nước ngoài; không nhận đồ lễ để can thiệp cho ai …” Ngày 25/9/57, thành lập 6 Vùng Dinh Điền: Cao nguyên Trung Phần; Đồng Tháp Mười; An Xuyên; Ba Xuyên; Cái Sắn; và Vùng số 1, số 2 Nam Phần.
Ngày 28/9/57, Tòa án Quân sự xử vụ Bình Xuyên tuyên án 8 tử hình, 3 khổ sai chung thân, 1 khổ sai 20 năm. Ngày 2/10/57, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Ngọc Bích, và một số trí thức ở Pháp viết thư yêu cầu tổng thống Ngô Đình Diệm khoan hồng đối với những người liên can đến vụ Bình Xuyên. Ngày 26/10/57, tại nạn khủng khiếp ở Hội chợ Thị Nghè, vì chen nhau ở cầu nổi, 45 người rớt xuống nước chết, 50 người bị thương phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Ngày 12/11/57, Khánh thành Viện Đại học Huế. Ngày 16/12/57, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Dụ 17/57, nội dung “Tất cả tài sản hiện hữu hay vị lai của Cựu Quốc trưởng Bảo Đại và một số người thân tín đều bị tịch thu gồm: ông Vĩnh Thụy, bà Nam Phương, các bà bé, Vĩnh Cẩn và các vợ, ông Nguyễn Đệ và vợ. Ngày 18/12/57, Bộ giáo dục thông báo chưa thể dạy hết các môn bắng tiếng Việt ở bậc Đại học.
QUAN HỆ HAI MIỀN NAM- BẮC. Năm 1957. Ngày 18/7/57, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi thơ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm yêu cầu Hiệp thương. Ngày 27/7/57, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố trả lời Phạm Văn Đồng rằng “khi nào miền Bắc chấm dứt khủng bố, phá hoại, và thực thi dân chủ tự do, khi đó mới có thể tổng tuyển cử và thống nhất đất nước”.
QUAN HỆ MỸ-PHÁP VÀ VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Ngày 20/1/57, Eisenhower, nhậm chức Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ II. Ngày 13/4/57, Tân Đại sứ Mỹ, Elbridge Durbrow tới Sài Gòn nhậm chức. Ngày 7/11/57, Việt Nam và Mỹ ký Hiệp ước đầu tư. Tư nhân Mỹ đem vốn đầu tư ở Việt Nam được Chính phủ Hoa Kỳ bảo đảm về sự thay đổi Hối xuất đồng bạc Việt Nam và các bất trắc về chiến tranh.
QUAN HỆ QUỐC TẾ. Năm 1957. Ngày 23/5/57, Phái đoàn Ai Lao sang trao đổi hàng hóa giữa hai nước, và việc vận chuyển hàng hóa qua Hải cảng Đà Nẳng. Ngày 29/5/57, hai Chính phủ Việt Nam và Đài Bắc đạt được thỏa thuận cho hồi hương 630 Hoa kiều sinh tại Việt Nam, nhưng không nhập Việt tịch. Ngày 21/6/57, Chính phủ Cao Mên cấm ngoại kiều làm 18 nghề, nhiều Việt kiều thất nghiệp phải hồi hương. Ngày 18/7/57, từ nay người Việt qua Mên, Lào và ngược lại phải có giấy thông hành thay vị giấy “chu lưu” như trước. Ngày 10/9/57, Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc bỏ 10 phiếu thuận cho Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc, Nga chống. Ngày 21/10/57, khai mạc Kế hoạch Colombo tại Hội trường Diên Hồng, Sài Gòn. Ngày 28/10/57, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc lại đề nghị cho Việt Nam gia nhập, 49 thuận, 9 chống, 23 không bỏ thăm.
CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Năm 1957. Ngày 2/2/57, Kho đạn Gò Vấp nổ lớn, bốc cháy từ trưa đến 5 giờ chiều. Ngày 22/10/57, một xe chở Sĩ quan Mỹ bị gài mìn nổ lúc 7g 45 làm 3 người chết, 8 người bị thương ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Và lúc 8g15, mìn lại nổ ở một Khách sạn có Mỹ ở gần Chợ An Đông làm 4 người Mỹ 1 người Việt bị thương, ngôi nhà bị hư hai nặng. Ngày 7/11/57, hành quân ở Ô Môn, Cần Thơ, bắt 12 Việt Cộng và nhiều vũ khí.
Bài 203: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM NĂM 1958.
CHÍNH PHỦ QUYẾT ĐỊNH ĐƯA 20. 000 NGƯỜI NGHÈO... Ngày 10/1/58, Luật quy định hành nghề Dược sĩ, một Dược sĩ Đoàn được thành lập. Ngày 18/1/58, Hối xuất mới của đồng bạc Việt Nam “35$=1 Mỹ kim; 1$=12 quan Pháp 98$=1 Anh kim (SL 37/TC). Cùng ngày 18/1/58, Bộ Ngoại giao tuyên bố sẽ đặt nhiều Tòa Lãnh sự tại Lào. Ngày 19/1/58, tại Quốc hội bà Nhu chê trách nhiều Dân biểu làm ngơ không muốn biểu quyết Luật Gia đình chỉ vì muốn lấy vợ lẽ, có thái độ “thật hèn”. Các Dân biểu giận dữ cho rằng, đó là lời “xúc phạm Quốc hội”. Ngày 22/1/58, bà Nhu cho đăng báo, rằng bà ta đã nói “thất hẹn” chứ không nói “thật hèn”. Ngày 27/2/58, các Đại tá Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Văn Là, Trần Ngọc Tám được thăng Thiếu tướng. Ngày 2/3/58, Chính phủ quyết định đưa 20.000 người nghèo miền Trung lên Cao nguyên (Pleiku) khai khẩn.
Ngày 7/3/58, Thiếu tướng Nguyễn Văn Là được cử giữ chức Tổng Giám đốc Cảnh sát. Ngày 13/3/58, ông Nghiêm Xuân Thiện chủ báo Thời Luận bị tòa phạt 10 ngày tù treo, 100.000$ tiền vạ, và rút giấy phép Xuất bản, vì đã đăng bài “Thư gởi ông Nghị cửa tôi” xúc phạm Chính quyền. Ngày 15/4/58, Bác sĩ Phan Quang Đán tuyên bố tái lập đảng Dân chủ, Hoàng Cơ Thụy làm Tổng Thư ký. Ngày 5/5/58, Bộ trưởng Nguyễn Hữu Châu từ chức. Ngày 29/5/58, tại Quốc hội Dân biểu Nguyễn Huy Chương đã kích kịch liệt Dự luật Gia đình của bà Nhu, rằng Dự luật nầy trái với luật thiên nhiên khiến vợ chồng kiện nhau gây nhiều bất công và xui ra rối loạn. Ngày 2/6/58, một rừng quế tốt tìm thấy trên đường Ba Tơ-Kontum. Ngày 14/6/58, đấu lý trước 2.000 thính giả trong 6 giờ liền giữa Tỉnh trưởng Mỹ Tho Nguyễn Trân với 11 ký giả và 3 cán bộ cao cấp Việt Cộng, có Nguyễn Văn Hiếu và vợ là bà Mã Thị Chu.
BAN HÀNH THỂ LỆ XUẤT-NHẬP CẢNH VÀ NGOẠI KIỀU CƯ TRÚ. Ngày 7/7/58, số thí sinh Tú tài I khóa I là 8.402 trên toàn quốc. Ngày 22/7/58, kết quả gần 1000 thí sinh được vào vấn đáp. Cùng ngày 22/7/58, hai mạc Hội nghị Giáo dục toàn quốc để xét lại các chương trình dạy và học. Ngày 28/7/58, Bộ Kinh tế xác nhận ấn định giá gạo sỉ loại 1 với 25% tấm 500$ mỗi tạ. Ngày 21/8/58, thành lập trường Đại học Sư phạm Sài Gòn (SL 426/GD); Ngày 22/8/58, khánh thành đường xe lửa Tuy Hòa- Quy Nhơn. Ngày 24/9/58, bải bỏ Tòa Đại biểu Chính phủ tại Nam Phần (SL 480/TTP). Ngày 25/9/56, Lễ phát thưởng Văn chương 1957 tại Dinh Độc Lập, không ai được Ưu hạng: 2 giải 40.000$, 2 giải 30.000$, và 9 giải 20.000$. Ngày 3/10/58, Ban hành thể lệ Xuất, Nhập cảnh và cư trú của ngoại kiều.
Ngày 7/10/58, Tòa án Quân sự Nha Trang xét xử vụ Đại Việt của Trương Tử Anh ở Phú Yên, 54 bị cáo mà chỉ nhờ một Luật sư biện hộ. Ngày 11/10/58, thành lập Cuộc Nguyên tử lực (SL507/TTP). Ngày 2/12/58, Tỉnh lỵ Lâm Đồng ở Di Linh được dời về Bảo Lộc (Blao củ). Ngày 17/12/58, thành lập và tổ chức những Hiệp hội Nông dân mục đích gây tinh thần tương trợ, trau dồi kiến thức chuyên môn, giúp tăng gia sản xuất nông nghiệp và cải tiến sinh hoạt nông thôn (SL 569/TTP).
QUAN HỆ HAI MIỀN NAM- BẮC. Năm 1958. Ngày 7/2/58, Chính phủ Việt Nam yêu cầu trục xuất Phái đoàn Liên lạc của Bắc Việt trong Ủy hội khỏi Sài Gòn. Ngày 7/3/58, Phạm Văn Đồng gởi công hàm phản đối chính sách can thiệp của Mỹ, và đề nghị thiết lập quan hệ bình thường. Ngày 26/4/58, chính phủ Việt Nam tuyên cáo bác bỏ các đề nghi Hiệp thương của Bắc Việt, và trả lời từng điểm: tổng tuyển cử; tự do đi lại; giảm quân số; buôn bán; thư tín và bưu thiếp. Kết luận, rằng miền Bắc hãy thực thi các quyền tự do dân chủ. Ngày 15/5/58, kể từ hôm nay, Phái đoàn Việt Minh cạnh Ủy hội Quốc tế chấm dứt hoạt động và rời Sài Gòn. Lý do theo chính phủ, vì Phái đoàn đó chỉ do Bộ Tư lệnh Pháp thoả hiệp với Chính quyền miền Bắc mà được thành lập.
QUAN HỆ VỚI MỸ-PHÁP. Năm 1958. Ngày 7/3/58, Ngoại trưởng Pháp Christian Pineau, sang Sài Gòn, nhân danh Tổng thống Pháp mời Tổng thống Ngô Đình Diệm qua thăm Pháp. Ngày 15/3/58, dưới sự bảo trợ của Chính phủ Mỹ, Chuyên viên Johnstone thuộc hãng Day et Zimmerman đã hoàn thành 50 Dự án kỹ nghệ cho Chính phủ Việt Nam, hôm nay rời Sài Gòn. Ngày 11/6/58, De Gaulle gởi Thông điệp cho Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm báo tin nhậm chức và tỏ tình thân thiện. Ngày 10/9/58, ký thỏa ước Việt-Pháp mua lại ruộng của Pháp kiều để cấp cho dân. Pháp bỏ ra 1.490 triệu quan mua lại 246.094 mẫu để giao cho Chính phủ Việt Nam. Ngày 24/10/58, Tân Đại sứ Pháp tại Việt Nam, Roger Lalouctte trình Uỷ nhiệm thư.
Ngày 25/11/58, ký thỏa ước Việt-Pháp chuyển nhượng các Viện Pasteur cho Việt Nam, và xác định sự liên lạc chuyên môn giữa Viện Pasteur Việt Nam và Viện Pasteur Pháp. Ngày 30/11/58, Leland Barrows Giám đốc Viện trợ Mỹ rời Việt Nam. Ngày 21/12/58, tại Pháp, bầu cử tổng thống theo Hiến pháp mới De Gaulles đắc cử với 62.338 phiếu trong 81.233 phiếu. Ngày 29/12/58, Chính phủ Pháp quyết định sụt giá đồng Franc từ 14,93% đến 17,55% đối với đồng Mỹ kim, đặt đồng Franc mới “1 mới=100 củ.
QUAN HỆ QUỐC TẾ. Năm 1958. Ngày 3/1/1958, tại Bộ Ngoại giao, hai Phái đoàn Kinh tế Việt Nam và Lào đã thỏa hiệp về thương mại, quá cảnh, kiều cư, và kiểm soát biên giới. Ngày 9/5/58, Chính phủ Thái Lan thông báo sẽ cho hồi hương chừng 40.000 Việt kiều. Ngày 2/7/58, người Mên ở Nam Vang biểu tình đả kích Việt Nam, nhiều Việt kiều bị hành hung. Ngày 2/7/58, Tổng thống Ngô Đình Diệm mời Sihanouk sang Sài Gòn hội đàm. Ngày 4/7/58, một Phái đoàn Chuyên viên Kinh tế Đài Loan sang Việt Nam nghiên cứu hợp tác kinh tế Việt-Hoa. Ngày 5/8/58, Cố vấn Ngô Đình Nhu sang Nam Vang gặp Sihanouk để bàn về cuộc đàm phán Việt-Mên. Ngày 8/8/58, Sihanouk nhận lời mời sang Việt Nam. Ngày 6/11/58, Tổng thống Lý Thừa Vãn, sang thăm Việt Nam đến Sài Gòn, và tối nay 7/11/58, Lý Thừa Vãn về Đại Hàn. Ngày 9/12/58, Nga lại dùng quyền phủ quyết ngăn cản không cho Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.
CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Năm 1958. Ngày 10/3/58 hơn 80 lính Mên vượt biên giới sang cướp phá 2 làng ở Định Tường và bắn vào lính Bảo An Việt. Ngày 21/3/58, Lính Mên lại vượt biên giới sang cướp phá một làng quận Tuyên Bình, Kiến Tường. Ngày 3/5/58, quân đội Mên tự ý lùi biển ranh giới Việt-Mên sang phía Việt Nam gần 3 cây số tại địa phận Pleiku. Ngày 5/5/58, có 30 tên cướp Mên lại tràn sang cướp làng Phước Vinh, Tây Ninh. Ngày 8/5/58, hơn 300 quân Hoà Hảo Dân Xã, do Đại tá Nguyễn Mạnh Tân chỉ huy cùng 9 sĩ quan về hợp tác với chính phủ tai Long Xuyên. Ngày 7/6/58, quân đội Mên tràn qua Pleiku đánh tháo cho một số tù nhân. Ngày 15/6/58, quân Mên lại bắn sang đội Bảo An đi tuần ở Pleiku, và lui cột biên giới vào 3 km phía Việt Nam. Ngày 19/8/58, Phạm Văn Liễu, tức Bởi Liễu chúa đảng Rừng Xanh bị hạ sát tại Bình Chánh, Bình Dương.
Bài 204: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM NĂM 1959.
BAN HÀNH LUẬT GIA ĐÌNH. Ngày 1/1/1959, ấn định hối xuất chính thức của đồng bạc đối với đồng Franc là: 1$ Việt Nam=14,10 Franc (SL số 1/TC). Ngày 2/1/59, ban hành Luật Gia đình, Luật số 1/59, gồm 135 điều, theo đó cấm li dị; cấm đa thê; truất quyền lợi của con ngoại hôn.v.v. Ngày 5/1/58, Phủ Tổng Ủy Dinh Diền cho biết đã có hơn 80.000 đồng bào nghèo ở miền Trung lên lập nghiệp tại 47 Địa điểm trồng trỉa ở Cao Nguyên. Ngày 23/1/59, tại Cao nguyên, thành lập tỉnh Quảng Đức trên phần đất quận Dak-Song, một phần quận Di Linh, và quận Phước Hòa, tỉnh lỵ đặt tại Gia Nghĩa (SL 24/NV). Và, tại Nam Phần, thành lập tỉnh Phước Thành một phần đất của Bình Dương, Long Khánh, Biên Hòa và Phước Long, tỉnh lỵ đặt tại Phước Vĩnh (SL 25/NV). Ngày 21/2/59, tại Viện Đại học Huế, các trường Đại học Văn khoa, Luật khoa, Khoa học, Sư phạm, và Cao đẳng Mỹ thuật thành lập (SL51/GD).
Ngày 8/3/59, số thí sinh nộp đơn xin học bổng Du học Hoa Kỳ là 384, nhưng chỉ có 15/384 xuất Học bổng Du học. Ngày 14/3/59, Nhân ngày lễ Hai bà Trưng, có lễ tặng thưởng “Chương Mỹ Bội tinh” cho 3 Hiền mẩu có công ở vậy nuôi con là Lê Thị Quý (Bình Thuận), Trần Thị Ngân, (Đà Nẳng), Lê Thị Giỏi (Tuyên Đức). Ngày 23/3/59, Đô thành Sài Gòn được cải tổ và chia thành 8 quận, Đô trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và trực thuộc Phủ Tổng thống. Ngày 1-3/4/59, Hội nghị Giáo dục toàn quốc nhóm họp tại Sài Gòn, đề nghị miển thi Tiểu học. Ngày 15/4/59, thành lập chức Đại biểu Chính phủ Miền Tây Nam Phần. Ngày 18/4/59, Luật số 9/59, ấn định hình phạt về các tội oa trử của công, biển thủ, thiện thủ, hoặc làm tiêu tán tài vật, do nhân viên công quyền vi phạm. Ngày 23/4/59, Trường Quốc gia Bưu điện được thiết lập. Ngày 6/5/59, thành lập Công quản Mỏ than Nông Sơn.) Ngày 7/5/59, Xi-măng tăng giá từ 72-75$ lên thành 135$ một bao.
KHÁNH THÀNH ĐƯỜNG XE LỬA XUYÊN VIỆT. Ngày 18/6/59, thành lập Chức vụ Đại biểu Chính phủ tại Miền Đông Nam Phần (SL138/TTP). Ngày 26/6/59, phê chuẩn Thỏa ước Việt-Mỹ về nguyên tử năng xây dựng Trung Tâm Nguyên Tử với 350.000 Mỹ kim viện trợ. Ngày 30/6/59, ban hành Luật 10/59, ấn định thể thức bầu cử Quốc hội. Ngày 15/7/59, Luật 22/59, trừng phạt việc Xuất ngoại và Nhập nội bất hợp pháp. Ngày 7/8/59, khánh thành đường xe lữa xuyên Viêt, từ Sài Gòn ra Đồng Hà, Quảng Trị. Theo Bộ Công Chánh, từ 1948 đến 1954, đường nầy đã bị phá hoại 3.407 lần. Ngày 21/8/59, thành lập trường Đại học Y khoa ở Huế. Ngày 25/8/59, Bộ Giáo dục quyết định đồng phục cho học trò “Nam: quần xanh nước biển, sơ mi trắng cộc tay; Nữ: áo dài trắng, quần trắng; Lễ phúc áo dài xanh Lam.
Ngày 30/8/59, bầu cử Quốc hội Lập pháp khóa II, có 460 ứng cử viên cho 123 đơn vị. Ngày 31/8/59, kết quả đầu tiên, tại Đô thành, 6 Độc lập, 3 Phong trào Cách mạng trúng cử. Được nhiều phiếu nhất, Bác sĩ Phan Quang Đán (32.166), Nguyễn Phương Thiệp, Phan Khắc Sửu. Ngày 5/9/59, Bộ Công Chánh cho biết sẽ xây một cầu ở Mỹ Thuận bắt qua sông Cửu Long. Ngày 5/10/59, Khai mạc Quốc hội khóa II. Ngày 14/10/59, Ủy ban Hợp thức hóa bầu cử Dân biểu không thừa nhận hai ông Phan Quang Đán và Nguyễn Trân. Ngày 31/10/59, Toà Đại hình tuyên án vụ Huyện Thung biển thủ, có 3 tử hình, Còn lại khổ sai và tù ở. Ngày 30/11/59, Quân nhân bị hạ sát, tử nạn, hy sinh, mất tích, bị bắt được trợ cấp 12 tháng lương (SL 360/QP). Phát hành vé số Kiến thiết loại Đặc biệt 4 kỳ để lấy tiền xây Thư viện Quốc gia. Ngày 31/12/59, Có 3.586 Đông Y đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Bộ Y tế.
QUAN HỆ VỚI MỸ-PHÁP. Ngày 6/4/59, Chuyên viên Lapeyre thuộc Bộ Tài chánh Pháp sang điều đình với chính phủ Việt Nam về vấn đề bồi thường cho Việt Nam vì sự thiệt hại gây ra cho Việt Nam, sau các vụ “sụt giá đồng Franc” vào tháng 7-8/57 và tháng 12/58. Ngày 28/4/59, Kết quả đàm phán Việt-Pháp về tiền tệ và Tài chánh, chi phó giữa Pháp và Việt sẽ giao dịch bằng đồng Franc đoái hoán trên thị trường Hối đoái Ba Lê. Ngày 6/5/59, Đô đốc Mỹ Felix Stump trao cho Tổng thống Ngô Đình Diệm giải thưởng Danh dự “Lãnh dạo Tự do” của Hội Bảo vệ Tự do Pensylvanie Hoa Kỳ. Ngày 26/6/59, phê chuẩn Thỏa ước Việt-Mỹ về nguyên tử năng, xây dựng Trung Tâm Nguyên Tử với 350.000 Mỹ kim viện trợ. Ngày 20/7/59, Chính phủ Việt Nam triển hạn cho đến hết tháng 6/1962, thỏa ước viện trợ kỹ thuật hành chánh với Đại học Michigan.
Ngày 3/8/59, Quốc hội Mỹ sôi nổi về loạt bài phê phán viện trợ Mỹ, có tính tố giác của phóng viên Colegrove thuộc hãng thông tin Seripps-Howard. Nhân viên cao cấp Mỹ bị gọi về chất vấn mầy lần. Ngày 14/8 59, Hạ Nghị viện Mỹ, biểu quyết, ủy Nghị sĩ Mansfield cùng một Phái đoàn sang điều tra tại chỗ. Đại sứ Mỹ Durbrow, Giám đốc USOM Gardiner về Mỹ phúc trình các vấn đề liên quan từ tố cáo của Colegrove. Ngày 11/11/59, Bộ trưởng Tài chánh Pháp, Antoine Pinay đến Việt Nam đàm phán các vấn đề Pháp-Việt còn tồn đọng như “nợ của Pháp đối với Việt Nam và ngược lại; các nhà cửa Pháp còn giữ chưa trả lại; hưu bổng của một số nhân viên Đông Dương củ”. Các chuyên viên Việt-Pháp sẽ bàn thảo từ 15/11.
QUAN HỆ QUỐC TẾ. Ngày 24/1/59, Chính phủ Việt Nam công nhận Chính phủ Cuba, do Urrutia lãnh đạo. Ngày 23/2/59, Chính phủ Cao Mên bắt tướng Choun, tỉnh trưởng Xiêm Reap do nghi ngờ mưu phản, Tướng Choun nguyên thuộc lực lượng Khmer Issrak về quy thuận. Ngày 26/2/59, Chính phủ Mên truyên bố, bắt được 2 Sĩ quan Việt Nam với nhiều tiền Franc và võ khí của Việt Nam tai nhà tướng Choun ở Xiêm Reap, và ngờ vực Đại diện Việt Nam có dính díu tới vụ mưu loạn. Ngày 1/3/59, Đại diện Việt Nam tại Cao Mên Ngô Trọng Hiếu được triệu hồi. Ngày 13/3/59, Chính phủ Việt Nam phản kháng Chính phủ Mên về việc tịch thu 5.000 mẫu ruộng vẫn do người Việt canh tác từ lâu đời, ở Xã An Phú và Nhân Hưng ranh giới Long Xuyên và Mên. Ngày 18/3/59 Trung hoa Dân quốc (Đài Loan) ký thỏa ước viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa, và sẽ cử chuyên viên sang giúp.
Ngày 10/4/59, Bộ Ngoại giao xác nhận Quần đảo Hoang Sa thuộc Việt Nam. Ngày 13/5/59, ký kết Thỏa ước Việt-Nhật, theo đó “Nhật bồi thừơng chiến tranh cho Việt Nam 39 triệu Mỹ kim, và cho Việt Nam vay thêm 7,5 triệu Mỹ kim. Ngày 21-24//5/59, một Phái đoàn Lào tới Sài Gòn thương thuyết về Kinh tế giữa hai nước, hai Phái đoàn đã đạt thỏa hiệp 8 vấn đề: “xuyên quá; chi phó; lập nghiệp ở hai xứ; biên giới; dẫn độ và tương trợ tư pháp; bài trừ buôn lậu; thâu thuế”. Ngày 27/5/59, ký kết thỏa ước Việt-Đức về viện trợ kỷ thuật. Ngày 11/6/59, ký kết tại Vạn Tượng các Hiệp ước Kinh tế Việt Lào. Ngày 22/6/59, Đại diện Bắc Việt hội đàm với nhà chức trách Thái Lan việc: Bắc Việt muốn Việt kiều ở lại Thái; Thái muốn cho hồi hương. Ngày 3/8/59, Thái tử Sihanouk sang thăm Việt Nam với tư cách riêng, nhưng được tiếp đón trọng thể.
CHIẾN SỰ CÁC NƠI. Năm 1959. Ngày 17/1/59, Một số lính Mên sang cướp làng Mỹ Quý, Long An. Ngày 4/4/59, Bảo an đang đi tuần tiểu gần Hồng Ngự, Kiến Phong bị khoảng 80 lính Mên tràn sang nổ súng đánh nhau gần 2 giờ, Mên có một số bị thương phải rút lui. Ngày 10/4/59, 20 binh sĩ Mên ngăn chận quân đội Việt Nam truy kích Việt Cộng tại xã Phước Lợi, Tây Ninh. Ngày 8/7/59, tại Biên Hòa, ném mìn vào 1 biệt thự Mỹ 2 quân nhân Mỹ chết, 1 hung thủ bị bắn tử thương. Ngày 31/12/59, ba hung thủ ném lựu đạn sát hại 2 Sĩ quan Mỹ ở Tân Mai ngày 8/7/59, bị tòa án quân sự kết án tử hình.
(Hết Chương XV)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét