Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

  

 TỔNG QUAN VỀ THẾ GIỚI

(THAY LỜI DẪN NHẬP)

(Sách Thế giới Sự kiện 2026)

(5 trang và 3.269 chữ) 

I

Hành tinh mà chúng ta đang sống thường gọi là thế giới hay trái đất. Trái đất được chúng ta xem như ngôi nhà chung của nhân loại và các loài có sự sống. Nó chỉ là một trong vô vàn hành tinh của khoảng không vũ trụ bao la. Từ rất sớm, con người đã sống trên trái đất. Họ biết thích nghi với điều kiện tự nhiên để tồn tại. Buổi đầu họ sống bằng hái lượm, săn bắt cỏ cây và thú vật hoang dã có sẳn trong tự nhiên. Họ dùng lông hoặc da thú để che thân và cây lá hoang dại làm nơi cư trú. Khi thực phẩm có sẵn trong tự nhiên trở nên khan hiếm, họ mới bắt đầu tự sản xuất thực phẩm để nuôi sống mình bằng cách trồng trọt và chăn nuôi. 

Và chỉ khoảng 10 ngàn năm gần đây thôi, con người mới định cư ở một nơi nào đó thuận lợi để làm nông nghiệp. Họ sản xuất được nhiều thực phẩm hơn chẳng những đủ nuôi sống bản thân mà còn có thể nuôi sống thêm được nhiều người. Làng mạc ra đời, và người ta canh tân các cách sống của từng nhóm người lớn hơn. Theo thời gian, con người sáng tạo được kỹ thuật tốt hơn và gia tăng các tiện nghi trong đời sống xã hội. Họ bắt đầu xây dựng thành thị, phát triển văn hóa, và tạo ra sức mạnh chế ngự được phần nào sự khống chế của tự nhiên. Các thành phố thường được xây dựng trên các bờ biển, bờ hồ và ven sông, nơi thuận lợi cho tàu bè đi lại và nó trở thành các trung tâm thương mại quan trọng. 

Hình thức quốc gia nhỏ ra đời. Quốc gia chi phối mạnh mẽ vào đời sống cư dân. Các tiểu quốc muốn bành trướng lãnh thổ, huy động dân chúng, võ trang đi xâm lược các nước láng giềng. Và luật rừng “mạnh được, yếu thua” bắt đầu xuất hiện. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, bản đồ chính trị thế giới nhiều lần thay đổi. Và hầu hết sự thay đổi là kết quả từ các cuộc chiến tranh. Suốt thời kỳ cổ đại các nhà lãnh đạo quân sự như Alexander đại đế và Julius Caesar đã đi xâm lược nhiều bộ tộc khác và thiết lập đế quốc khống chế nhiều vùng rộng lớn. Các đế quốc nổi lên và sụp đổ theo chiều dài lịch sử đến cả thời cận đại. Và kết quả là đường biên giới các quốc gia thay đổi rồi lại thay đổi.

II

Khởi đầu từ phong trào Phục Hưng ở Ý Đại Lợi cuối những năm 1300’s đến giữa những năm 1500 và 1900, loài người đạt tới sự thay đổi lớn lao. Dân số thế giới gia tăng với ấn tượng lo ngại từ 450 triệu năm 1500 lên thành 1500 triệu năm 1900. Các thành phố và thị trấn mọc lên đều đặn. Văn minh Âu châu thường gọi là văn minh phương Tây dẫn đầu thế giới trong phát triển văn hóa, kinh tế và kỹ thuật. Công cuộc thám hiểm trong những năm 1400's và 1500’s mở ra một thời kỳ mới, đưa đến việc châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Úc đều bị các nước châu Âu chiếm làm thuộc địa. Sau đó, hàng trăm ngàn người châu Âu đến ‘định cư’ tại châu Mỹ (Bắc Mỹ và Nam Mỹ) và châu Úc, và hàng ngàn người đến châu Á và châu Phi dựng nên chế độ cai trị thuộc địa. Một vài nơi bị chống đối, thì họ tạm thời cấu kết với nhà Vua bản xứ để “đôi bên cùng tồn tại”.

Cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối những năm 1700's cũng bắt đầu từ châu Âu. Chẳng bao lâu Lục địa này trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp của thế giới. Các quốc gia châu Âu lập ngày càng nhiều, thuộc địa ở hải ngoại phục vụ như thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghệ của họ, và là nơi cung cấp nguyên liệu thô cho các nhà máy tại chính quốc. Việc gia tăng buôn bán với các thuộc địa mang lại sự giàu có, và sức mạnh quốc gia họ cũng theo đó mà tăng lên. Sự kình địch chính trị giữa các nước châu Âu càng khuyến khích họ tranh giành thuộc địa, mở rộng vùng thống trị ở hải ngoại. 

Các tiến bộ về kỹ thuật đã giúp châu Âu có tàu bè và vũ khí tốt hơn đi chiếm cứ các vùng đất mới. Chiếm được vùng nào, người châu Âu đến đó lập nghiệp, dựng lên chế độ cai trị thuộc địa. Họ mang theo văn hóa, nghệ thuật, kỹ thuật, luật pháp, chính quyền và nền giáo dục, cũng như tôn giáo áp đặt vào cư dân nơi họ thống trị. Do vậy, tư tưởng, kỹ năng, và văn hóa phương Tây trở thành phổ biến, chi phối rộng khắp trên tất cả các lục địa hơn bất cứ nền văn minh nào trước đó trong lịch sử.

III

Bản đồ chính trị thế giới năm 1900 ghi nhận lục địa châu Âu có 18 quốc gia độc lập. 8 trong số 18 quốc gia này là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh, Pháp Ðức, Ý và Bỉ từ năm 1500 đến năm 1900 đã đi xâm lược và chiếm cứ 5 lục địa còn lại của thế giới. Họ chiếm toàn bộ Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Úc kể cả New Zealand rồi đưa người đến định cư vĩnh viễn ở ba lục địa này. Họ thi hành chính sách nhất quán của người da trắng là, tiêu diệt dần cư dân chủ nhân trên các lục địa ấy. Đối với châu Á và châu Phi, nơi có nhiều cư dân thì họ thiết lập chế độ cai trị thuộc địa bằng cách cử người da trắng đến nắm hết chức vụ chủ chốt và điều hành chính quyền. Cần thiết lắm thì họ duy trì ngôi vua của người bản xứ để làm bù nhìn, không chút quyền hành. 

Tại châu Âu, các nước Nga, Đức, Liên minh Hung-Áo và đế quốc Ottoman còn xâm chiếm đất đai của các nước láng giềng. Các nhà nghiên cứu cho rằng, có 4 nguyên nhân đưa đến chiến tranh thế giới lần thứ I là: (1) Các thế lực châu Âu tranh giành thuộc địa ở hải ngoại; (2) Sự cạnh tranh kinh tế và thị trường trong các quốc gia châu Âu; (3) Các liên minh quân sự mờ ám trong nội bộ châu Âu, và (4) Sự mong muốn có được một quốc gia độc lập của người Âu châu trong chính phần đất họ đang sống.

IV

Chiến tranh thế giới lần thứ I khởi đầu năm 1914. Phe đồng minh gồm Anh, Pháp, Nga và Ý đánh với trung tâm quyền lực gồm Đức, Liên minh Hung-Áo và đế quốc Ottoman. Đây là một cuộc chiến ở mức độ các trận đánh lớn hơn bất cứ các trận đánh nào trong các cuộc chiến tranh trước đó. Hoa Kỳ gia nhập vào phe đồng minh năm 1917. Tháng 10 theo lịch Nga - tháng 11 theo lịch Tây cùng năm này, một cuộc bạo loạn chính trị ở Nga thành công và lập ra chế độ Cộng Sản ở quốc gia này. Cuối năm 1917, Nga rút ra khỏi cuộc chiến tranh. 

Chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc năm 1918, với sự chiến thắng của phe đồng minh. Đồng minh ký hiệp ước Versellers năm 1919 với Đức và nhiều hiệp ước riêng với các nước trong phe trung tâm quyền lực bại trận. Liên minh Hung-Áo và đế quốc Ottoman bị xóa sổ. Tại Đức, một nước Cộng Hòa mới thành lập thay thế cho chế độ quân chủ. Các quốc gia mới như Ba lan, Phần lan, Estonia, Latvia và Lithuania ra đời trên phần đất của nước Nga và nước Đức. Các quốc gia Czechoslovakia, Austria, Hungary được thành lập trên phần đất của liên minh Hung-Áo cũ. Yugoslavia tân lập bằng cách thêm vào nước Serbia, nhiều phần đất rộng lớn của liên minh Hung-Áo. Bulgaria, Montenegro, Rumania, Hy lạp và Ý đại lợi mở rộng diện tích trên phần đất của đế quốc Ottoman.

Chiến tranh thế giới lần thứ I là một cuộc chiến tốn phí khủng khiếp. Mười triệu đàn ông, đàn bà và trẻ em bị giết. Số người bị thương, bị giam cầm và bị mất tích nhiều gấp bốn lần. Nhiều thành phố bị hủy diệt, kinh tế hoàn toàn bị ngưng trệ, tê liệt. Các quốc gia thắng trận gồm Anh, Pháp, Ý, Nhật và Hoa Kỳ, thành lập Hội Quốc Liên năm 1919, với mục đích duy trì hòa bình thế giới và chống lại các cuộc xâm lăng từ bên ngoài. Do có sự bất đồng giữa các quốc gia thành viên chính, làm vô hiệu hóa tổ chức quốc tế này. 

Và, thế là chiến tranh thế giới lần thứ II lại bùng nổ, cũng khởi đầu từ châu Âu. Năm 1938, Đức chiếm Áo và một phần Czechoslovakia. Tháng 3 năm 1939, họ đánh chiếm phần còn lại của nước này. Tháng 9 năm 1939, Đức lại đánh chiếm Ba lan và chiến tranh thế giới thứ II bắt đầu. Trong chiến tranh Ðức, Ý, Nhật và một số nước gọi là phe trục đánh phe đồng minh gồm Anh, Pháp, Canada, Liên bang Xô Viết (thành lập năm 1922) và một số nước khác trong đó có Trung Quốc. Hoa Kỳ tham gia phe đồng minh năm 1941, sau khi căn cứ quân sự Mỹ tại Trân Châu Cảng ở Hawaii bị Nhật bản đánh phá. Nhật còn đánh chiếm các quần đảo Philippine, Indonesia, Malaysia, Singapore, Hong Kong, Việt Nam, Laos và Cambodia, là các thuộc địa của Mỹ, Hòa Lan, Anh và Pháp. 

Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc tại châu Âu tháng 5 năm 1945, khi quân đội Đức đầu hàng đồng minh. Nhưng tại châu Á, chiến tranh vẫn tiếp diễn cho đến tháng 8 năm 1945, khi Mỹ sử dụng hai quả bom nguyên tử ném xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, thì ngày 14 tháng 8 năm 1945, Nhật mới ký các điều khoản đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. 

Cái giá của đệ nhị thế chiến phải trả là quá lớn lao về cả nhân mạng lẫn tiền bạc. Chỉ riêng số người thiệt mạng của Liên Xô (phe đồng minh) và Đức Quốc (phe trục) cũng đã trên 10 triệu người. Người dân châu Âu chịu nhiều tan thương hơn cả so với đệ nhất thế chiến. Tình trạng đổ nát không chỉ ở thành thị mà cả ở các vùng thôn quê nơi lâm chiến bị san bằng không còn dấu vết của công trình kiến trúc. Hậu quả của cuộc chiến về mặt chính trị càng lớn lao hơn. Đức Quốc từng là quốc gia mạnh nhất ở châu Âu bị chiếm đóng bởi quân đội Đồng minh: Liên Sô, Hoa Kỳ, Anh, và Pháp. Các quốc gia mạnh nhất châu Âu trở thành quá yếu không còn đủ sức cai trị thuộc địa. Hoa Kỳ và Liên Xô nổi lên từ chiến tranh như hai thế lực lãnh đạo thế giới: thế giới Cộng Sản, và thế giới không Cộng Sản. 

Nhờ sự vận động của Liên Hiệp Quốc, một tổ chức quốc tế mới thành lập sau chiến tranh, thay thế Hội Quốc Liên, hai thế lực mạnh nhất này mặc dù kình địch nhau dưới các danh nghĩa ‘thế giới Cộng Sản’ và ‘thế giới không Cộng Sản’, chiến tranh thế giới lần III vẫn không nổ ra. Thay vào đó, họ tiến hành một cuộc “chiến tranh lạnh”  Liên xô-Hoa Kỳ kéo dài tới bốn thập niên, từ cuối thập niên 1940's đến cuối thập niên 1980's.

V

Cuộc vận động của chủ nghĩa Cộng Sản thành công ở Nga năm 1917, phát triển mạnh tại Đông Âu sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Đức Quốc bị chia đôi, chính quyền do dân bầu ở Tây Đức và chính quyền Cộng Sản cai trị ở Đông Đức. Tại Đông Nam Á, và Đông Á chính quyền Cộng Sản lập ra ở Việt Nam năm 1945, ở Bắc Hàn năm 1948 và ở Trung Quốc năm 1949. Cộng Sản cũng hoạt động ráo riết với ý đồ chiếm chính quyền nhiều nơi ở Đông Nam Á, Trung, Nam Mỹ và Bắc, Trung Phi... nhưng không thành công như họ mong muốn.

Lo sợ trước sự bành trướng của Cộng Sản, Hoa Kỳ và các nước đồng minh phương Tây bắt đầu đề ra các sự trợ giúp kinh tế và quân sự cho các quốc gia không Cộng Sản và cam kết sẽ trợ giúp cho bất cứ quốc gia nào có sự đe dọa của Cộng Sản. Hoa Kỳ đã hổ trợ tích cực Nam Hàn trong chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953) và Nam Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam (1957 - 1975). 

Một tổ chức quân sự gọi là Tổ chức Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO) gồm 15 nước không Cộng Sản ở châu Âu do Hoa Kỳ lãnh đạo được thành lập năm 1949. Và một tổ chức quân sự đối kháng có tên ”Liên minh Quân sự Hổ tương (Warsaw)” gồm 8 nước Cộng Sản Đông Âu do Liên xô lãnh đạo ra đời năm 1955. Đỉnh cao của chiến tranh lạnh là vụ khủng hoảng tên lửa hạt nhân ở Cuba năm 1962. Nhờ hoạt động tích cực của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U-than, và vì lợi ích thiết thực của cả hai cường quốc, khủng hoảng vượt qua khi Liên xô triệt thoái các tên lửa hạt nhân của họ ra khỏi Cuba. Đổi lại, Hoa Kỳ cũng phải triệt thoái các đầu đạn hạt nhân của họ ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Tổng thống Kennedy còn phải hứa Hoa Kỳ sẽ không xâm lược Cuba. 

Năm 1987, Tổng thống Liên xô Mikhail Gorbachev và Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan ký hiệp ước phá hủy nhiều tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Hoa Kỳ và Liên xô. Gorbachev còn thực hiện tại Liên xô và cổ vũ các quốc gia Cộng Sản Đông Âu các thay đổi về kinh tế và chính trị. Và kết quả là chính quyền không Cộng Sản thay thế hầu hết chính quyền Cộng Sản ở Đông Âu. Đông Đức và Tây Đức thống nhất dưới một chính quyền duy nhất không Cộng Sản. Nhiều người tin rằng các sự kiện này là điểm mốc chấm dứt chiến tranh lạnh của thế giới. 

Tháng 7 năm 1991, Tổng thống Gorbachev và lãnh đạo 15 Cộng hòa trong Liên bang Xô viết thỏa thuận ký hiệp ước theo đó, Liên bang Xô viết sẽ trao cho các Cộng hòa nhiều quyền tự trị hơn. Theo kế hoạch thì 5 trong 15 Cộng hòa này sẽ ký hiệp ước vào ngày 20 tháng 9. Nhưng vào ngày 19 tháng 9, các viên chức bảo thủ trong bộ chính trị Ðảng Cộng Sản Liên xô thực hiện một cuộc đảo chánh. Họ giam giữ Gorbachev và gia đình tại nhà nghĩ mát của ông ta. Tổng thống Cộng hòa Liên bang Nga, Boris Yeltsin, một lãnh tụ đối lập nổi tiếng chống lại cuộc đảo chánh, và đảo chánh thất bại ngày 21 tháng 9. Sau đảo chánh, Gorbachev vẫn còn ở chức vụ Tổng thống Liên xô, nhưng từ chức Tổng bí thư và giải tán Đảng Cộng sản Liên xô. Ngày 25 tháng 12 năm 1991, Gorbachev từ chức Tổng thống và chính quyền Cộng Sản của Liên bang Xô Viết cũng chấm dứt sự tồn tại.

VI

Về tình cảnh các thuộc địa thì: Tại Bắc Mỹ, do bất bình thuế khóa và mậu dịch bất công từ mẩu quốc Anh, 13 thuộc địa do người Anh định cư tại Bắc Mỹ đứng lên làm bạo loạn và thành lập liên bang Hoa Kỳ năm 1776. Theo gương Hoa Kỳ các thuộc địa người châu Âu định cư tại Trung Nam Mỹ cũng đấu tranh đòi độc lập. Và kết quả là các thuộc địa ở Trung Nam Mỹ đều được độc lập trong vài thập niên đầu của những năm 1800's.  Riêng 6 thuộc địa người Anh định cư ở Úc châu, chính quyền Anh ban hành đạo luật cho phép sáu thuộc địa này trở thành sáu tiểu bang của liên bang Úc Đại Lợi độc lập từ ngày 01-01-1901. Còn thuộc địa định cư của người Anh ở Canada, Bắc Mỹ mãi đến năm 1931, Anh Quốc mới ban cấp độc lập.

Tại châu Á, nơi chịu sự cai trị thuộc địa của châu Âu mặc dù họ không ngừng đấu tranh chống lại sự cai trị đó, mãi đến sau đệ I thế chiến mới có 5 quốc gia được trả độc lập là Yemen (1919), Mông cổ (1924), Saudi Arabia (1926), Iraq (1932) và Lebanon (1943). Cuối thập niên 1940's sau đệ II thế chiến, có thêm 13 quốc gia là Miến diện, Ấn độ, Indonesia, Israel, Jordan, Bắc Triều Tiên, NamTriều Tiên, Lào, Pakistan, Philippines, Srilanka, Syria và Đài Loan được độc lập. Trong thập niên 1950's có 2 quốc gia là Việt Nam và Cambodia. Thập niên 1960's có 5 nước Cyprus, Kuwait, Malaysia, Maldives và Singapore. Thập niên 1970's có Bahrain, Bangladesh, Qatar và UnitedArab Emirate (5 nước). Thập niên 1980's có Brunei. Và thập niên 1990's khi Liên bang Xô Viết Cộng Sản tan rả, thì có 9 quốc gia độc lập là Armenia, Azerbaijan, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyztan, Russia, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan .

Đặc biệt tại châu Phi có vẽ bi đát hơn nhiều, trước đệ II thế chiến chỉ có 3 quốc gia được trả độc lập là Liberia(1847), Egypt (1922) và Cộng Hòa Nam Phi (1931). Sau đệ II thế chiến, trong thập niên 1950's có 6 nước Libya, Sudan, Tunisia, Ghana, Morocco và Guinea. Thập niên 1960's có 33 nước gồm Algeria, Benin,Botswana, Burkina Faso, Burundi, Cameron, Cộng hòa Trung Phi, Chad, Congo, EquatorialGuinea, Gabon, Gambia, Ivory Coast, Kenya, Lesotho, Madagascar, Malawi, Mali, Mauritania,Mauritius, Niger, Nigeria, Rwanda, Senegal, Sierra Leone, Somalia, Swezealand, Tanzania,Togo, Uganda, Zaire, Zambia, và Zimbabwe. Thập niên 1970's có 8 nước là Angola, Cape Verde,Comoros, Djibouti, Guinea Bissau, Mozambique, Sao Tomé và Seychelles. Và trong thập niên 1990's có hai quốc gia độc lập là Namibia và Eritrea.

VII

Bối cảnh lịch sử liên quan ở trên làm cho chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội thế giới trong những năm đầu của thế kỷ 21 có sự khác nhau khá lớn, không chỉ khác nhau giữa các lục địa mà còn có sự khác nhau giữa quốc gia nữa. Hiện trạng 196 quốc gia độc lập của thế giới ‘Những năm đầu của thế kỷ 21’ sẽ phản ánh đầy đủ bối cảnh ấy tại mỗi nước.

Sydney ngày 01 tháng 1 năm 2006

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét