Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

 

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

IV. LỤC ĐỊA CHÂU MỸ

(104 trang và 68.461 chữ)  

Năm 2026, châu Mỹ có 35 quốc gia độc lập, chiếm 40.249.562 km2 diện tích đất, và 1.043.671.000 cư dân. Tổng sản lượng Quốc gia 45.953,7 tỷ USD. Thu nhập bình quân 44.030 USD; Nhập khẩu 6.577,7 tỷ; Xuất khẩu 5.744,2 tỷ; Tiêu dùng 31,4%; Lạm phát 13,3%. Số người có Xe hơi cá nhân 33,1%; Và số người sử dụng Internet 83,4%. 35 quốc gia độc lập châu Mỹ được chia thành 5 chương: Chương 12, Lịch sử và hiện trạng 2 nước tại khu vực Bác Mỹ; Chương 13, Lịch sử và hiện trạng 8 nước tại khu vực Trung Mỹ; Chương 14, Lịch sử và hiện trạng 13 nước tại khu vực Biển Caribean; Và, chương 15, Lịch sử và hiện trạng 12 nước tại khu vực Nam Mỹ. 

 

CHƯƠNG 12: LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG 2 QUỐC GIA ĐỘC LẬP TẠI BẮC MỸ: TỪ 1-2.

Năm 2026, khu vực Bắc Mỹ có 2 quốc gia độc lập chiếm 19.811.345 km2 diện tích đất, và 377.463.000 cư dân. Tổng sản lượng 31.900,0 tỷ USD, và thu nhập bình quân đầu người 82.157 USD. Nhập khẩu 4.833,8 tỷ USD. Xuất khẩu 3.929,8 tỷ USD. Tiêu dùng 39,4%. Lạm phát 2,6%. Số người có Xe hơi cá nhân 78,1 %; Và, số người sử dụng Internet 94,5%. 2 quốc gia độc lập ở Bắc Mỹ là: Canada, và United State.


148. CANADA (GIA NÃ ĐẠI).

Tiến trình phát triển.

Nhà thám hiểm người Pháp Jacque Cartier tới được vịnh Lawrence năm 1534, là người sáng lập ra nước Canada. Nhưng một người đi biển Anh john Cabot đã nhìn thấy Newfoundland năm 1497, và người Vikings (Bắc Âu) tin rằng họ đã tới bờ Đại Tây Dương trong hàng thế kỷ trước, sớm hơn các nhà thám hiểm. Người Châu Âu định cư tại Canada đầu tiên là người Pháp. Họ xây dựng thành phố Quebec năm 1608, thành phố Montreal năm 1642, và tuyên bố thuộc địa Pháp mới (New France) năm 1683. Người Anh chiếm Acadia năm 1717. Thông qua chiến thắng quân sự trên lực lượng Pháp ở Canada, họ chiếm Quebec năm 1759 và giành được quyền kiểm soát phần còn lại của New France năm 1763. 

Thế nhưng, người Pháp vẫn duy trì quyền có ngôn ngữ, tôn giáo và luật dân sự của họ dưới đạo luật Quebec năm 1774. Người Anh tại đây tăng nhanh, trong thời kỳ diễn ra cách mạng thành lập Liên bang Hoa Kỳ độc lập, từ các thuộc địa Bắc Mỹ họ di chuyển về Canada. Họ thường tự nhận với vẻ kiêu hãnh là người trung thành với đế quốc Anh. 

Buôn bán lông thú và thăm dò tìm kiếm đã dẫn người Canada đi về hướng tây băng qua lục địa. Sir Alexander Mackenzie tới được bờ Thái Bình Dương năm 1793, và khắc vội lên một bờ đá cạnh Đại Dương "Tôi đến đây từ Canada bằng đường đất liền" ("From Canada by land"). Hội đồng Lập pháp xuất hiện vào thế kỷ 18 ở vùng cao, vùng thấp Canada (Ontario và Quebec), và các vùng ven biển. Hội đồng có một bộ phận gọi là trách nhiệm chính quyền, tổ chức và trách nhiệm quản lý xã hội. Nhưng chiến tranh năm 1812 đã làm gián đoạn. 

Các trận đánh nhau giữa Anh và Mỹ chủ yếu diễn ra ở vùng cao Canada và được giải quyết năm 1814. Năm 1837, một cuộc vận động chính trị cho một chính quyền dân chủ hơn bắt đầu, và đỉnh cao của nó khi có nhiều cuộc bạo loạn diễn ra trên cả vùng cao lẫn vùng thấp Canada. Năm 1839, chính phủ Anh gởi Lord Durham đến nơi nghiên cứu tình hình. Trong một phúc trình nổi tiếng ông ta đề nghị hợp nhất cả hai phần thành một thuộc địa với tên gọi Canada. Từ năm 1840, các thuộc địa Canada đã giữ quyền nội trị, chính quyền tự quản. Ngày 01/07/1867, khi Anh quốc ban hành Đạo luật (gọi là Luật Hiến Pháp 1867) thành lập một chính quyền Liên bang Canada tự trị, bao gồm Ontario, Quebec và các thuộc địa củ Nova Scotia và New Brunswick .

Tổ chức chính quyền Liên bang Canada tự trị phỏng theo mô hình Quốc hội và Nội các Anh dưới chế độ Quân chủ. Năm 1931 Canada được chính thức thừa nhận là một chính quyền tự trị trong đế quốc Anh. Năm 1982, Anh Quốc phê chuẩn luật Hiến pháp của Canada, từ đây  Canada chính thức kết thúc sự ràng buộc với Anh quốc trong các vấn đề lập pháp. Ngày 3/6/1987, Canada ký thoả ước Meech Lake, theo đó văn hoá, ngôn ngữ Pháp sẽ được duy trì ở Quebec, dưới sự bảo hộ của Hiến pháp. Những quyền mà từ đó người Quebec có thể được đặt cao hơn cả quyền tự do và nhân quyền ghi trong Hiến pháp năm 1982.

Các nhà bình luận chỉ trích thoả ước và nêu câu hỏi: tại sao nó không ban thêm quyền cho các sắc tộc thiểu số khác lại cứ trao cho Quebec nhiều quyền đến thế. Ngày 22/6/1990 thoả ước Meech Lake bị huỷ bỏ. Những người chủ trương ly khai lại muốn phục hồi chính quyền riêng của Quebec mà đỉnh cao là thoả ước Charlottetown 1992, đòi thay đổi Hiến pháp. Nhưng một lần nữa lại thất bại khi kêu gọi thừa nhận Quebec như là "một cộng đồng xã hội đặc trưng" khác với với các cộng đồng xã hội trong Liên bang Canada. Tại cuộc “trưng cầu dân ý” toàn Liên bang ngày 26/10/1992, cử tri Canada không chấp nhận đề nghị này. 

Canada là quốc gia đầu tiên phê chuẩn "Hiệp ước Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ” giữa Canada, Mexico và Hoa Kỳ ngày 23/6/1993, Hiệp ước có hiệu lực thi hành từ 01.01.1994. Sau hơn 8 nam cầm quyền, ngày 24/02/1993, Thủ tướng Brian Mulroney từ chức. Kế vị ông ta là Kim Campbell. Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 25/10/1993, Đảng Bảo thủ cầm quyền bị đánh bại bằng một đa số áp đảo, họ chỉ còn hai ghế trên 295 tổng số ghế ở Hạ viện (Honse of Commons). Jean Chretian trở thành Thủ tướng. Trong một cuộc “trưng cầu dân ý” tổ chức ngày 30/10/1995 cho riêng Quebec trên đề nghị ly khai tách Quebec khỏi Liên bang bị đánh bại sít sao. 

Cuộc bầu cử ngày 2/6/1997 đảng tự do giành thắng lợi với một đa số mỏng manh. Ngày 7/1/1998 chính quyền Canada công khai "Xin lỗi" người dân bản địa về các cung cách xử sự không đúng trong hơn 150 năm qua, và lập ra một "quỹ phục hồi" cho người bản địa. Ngày 20/8 trong một phán quyết của toà án tối cao Liên bang Canada rằng, Quebec không thể đơn phương ly khai ngay cả nếu đa số cử tri trong tỉnh chấp nhận. Thắng lợi của đảng Tự do trong cuộc bầu cử toàn quốc ngày 27/11/2000 làm cho Chrétian là Thủ tướng đầu tiên trong hơn 50 năm qua, cầm đầu chính phủ trong ba nhiệm kỳ liên tục. 

Tháng 10/2001, Canada gởi 5 tàu chiến, và tháng 2/2002 gởi 850 quân vào Liên minh do Hoa Kỳ cầm đầu hành quân chống khủng bố ở Afghanistan. Ngày 17/4, bốn binh sỉ Canada bị thiệt mạng trong khi đang thực tập huấn luyện tại Kadahar bởi quân sỉ Hoa Kỳ, đây là lần đầu tiên quân sỉ Canada bị thương vong ở hải ngoại kể từ sau chiến tranh Triều Tiên. Tháng 2/2002, Canada đóng góp 100 triệu cho trợ giúp nhân đạo và tái thiết Afghanistan, và tháng 3/2003, hứa sẽ đóng góp thêm 250 triệu. Ngày 21/8/2002, Chretian tuyên bố rằng ông sẽ không ra tranh cử nhiệm kỳ thứ tư vào năm 2004. 

Quan hệ Hoa Kỳ - Canada bị lạnh nhạt sau khi Thủ tướng Chretien từ chối gởi quân cùng với Hoa Kỳ xâm lăng Iraq trong tháng 3/2003. Nột hỏa tiển SARS phát nổ tại một vùng ngoại ô gần Toronto, giết chết hơn 40 người và làm thiệt hại hàng triệu đô la về vật chất. Ngày 10/6 trong một phán quyết của tòa án tối cao, rằng chính quyền Tiểu bang (tỉnh) phải mở rộng quyền kết hôn cho những cặp tình nhân đồng tính luyến ái. Ngày 14/8/ do trục trặc kỷ thuật bị mất điện trên một diện rộng phía Đông bắc vùng Ontario và Manitoba kể cả Ottawa và Toronto. 

Ngày 12/12/2003, Chretian từ chức, và Paul Martin trở thành Thủ tướng. Sự tai tiếng do việc chi ra những khoảng tiền lớn để làm những bộ phim quảng cáo, và bảo trợ cho các sự kiện thể thao ở Quebec là những yếu kém trong quản lý của đảng Tự do. Cuộc bầu cử ngày 28/6/2004, đảng Tự do chỉ giành được 135/308 ghế tại Hạ viện, đảng Bảo thủ về hàng thứ hai với 99 ghế. Martin vẫn còn giữ chức Thủ tướng. Ngày 19/7/2005, Quốc hội thông qua đạo luật cho phép kết hôn trong giới đồng tính. Ngày 27/9, Michaelle Jean, một phóng viên truyền hình, sinh tại Haiti là người da đen đầu tiên tuyên thệ nhậm chức Tổng Toàn quyền Canada. 

Đảng Tự do rời khỏi chính quyền sau cuộc bầu cử ngày 23/1/2006, đảng Bảo thủ đối lập dẩn đầu chiếm 124 ghế, kế đến là đảng Tự do 103 ghế. Lãnh đạo đảng Bảo thủ là Stephen Harper phải Liên minh với đảng nhỏ để thành lập chính phủ. Ngày 2 và 3/6, cảnh sát đã nhanh tay bắt 17 người, chận đứng một âm mưu khủng bố nhắm vào các toà nhà Quốc hội và Văn phòng Thủ tướng. Ngày 23/2/2007 toà án tối cao đã nhất trí xoá bỏ luật, theo đó những người tình nghi khủng bố sinh ở nước ngoài sẽ bị giam giữ không cần chứng cứ buộc tội. Ssau cuộc bầu cử Quốc hội ngày 14/10/2008, đảng Bảo thủ của ông ta phải Liên minh với đảng nhỏ để thành lập chính phủ,  Stephen Harper vẫn còn tại chức. 

Tại phiên họp Quốc hội ngày 27/1/2009, đảng Tự do đã ủng hộ đề nghị của Harper cấp 32,6 tỷ để cứu vãn suy thoái kinh tế. Canada sẽ là nước chủ nhà đứng ra tổ chức Thế Vận Hội mùa Đông vào ngày 12-28/2/2010 tại Vancouver, và Hội nghị Nhóm G8 và G20 vào ngày 25-27/6 tại Ontario. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 2/5/2011, đảng Bảo thủ dẫn đầu với 167/308 ghế tại Hạ viện, kế là đảng Tân Dân chủ 102 ghế ... Vào ngày 22 tháng 10 năm 2014, một tay súng khủng bố ở Ottowa xuất hiện dưới sự chỉ đạo của nhóm Hồi giáo cực đoan ISIS, đã giết chết một binh sĩ tại Đài tưởng niệm Chiến tranh Canada và nổ súng vào tòa nhà Quốc hội trước khi bị bắn chết. Cuộc bầu cử ngày 19 tháng 10 năm 2015 đã đưa Đảng Tự do trở lại nắm quyền và Justin Trudeau, con trai của cựu Thủ tướng Pierre Trudeau, trở thành thủ tướng. 

Canada tham gia chiến dịch không kích do Mỹ dẫn đầu chống lại lực lượng ISIS ở Iraq (2014-16) và Syria (2015-16). Canada tái định cư gần 40.000 người tị nạn chạy trốn khỏi cuộc nội chiến ở Syria trong năm 2015-2016. Ngày 30 tháng 10 năm 2016, Canada-EU ký hiệp định thương mại tự do, loại bỏ gần như tất cả thuế quan. Cuộc bầu cử ngày 21 tháng 10 năm 2019 Đảng Tự do giảm bớt sự ủng hộ từ cử tri, vẫn giành chiến thắng , Justin Trudeau tiếp tục giữ chức thủ tướng. Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) giữa Canada, Mexico và Hoa Kỳ từ năm 1994, được thỏa thuận sửa đổithành Hiệp định Hoa Kỳ-Mexico-Canada (USMCA) - bao gồm những thay đổi trong ngành ô tô và tăng khả năng tiếp cận của Hoa Kỳ vào thị trường hàng ngày của Canada, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2020.

Sau cuộc bầu cử ngày 20 tháng 9 năm 2021, Justin Trudeau tiếp tục giữ chức thủ tướng. Ngày 27 tháng 9, sau khi Taliban tiếp quản Afghanistan, Canada tuyên bố vào rằng họ sẽ tiếp nhận 40.000 người tị nạn Afghanistan. Đại dịch COVID-19 lan đến Canada từ đầu năm 2020, đến tháng 1 năm 2022 các cuộc biểu tình quy mô lớn của các tài xế xe tải và những người ủng hộ họ chống lại các yêu cầu tiêm chủng và các hạn chế khác về COVID-19 đã chặn trung tâm thành phố Ottawa cũng như các cửa khẩu biên giới Canada-Hoa Kỳ làm gián đoạn nghiêm trọng hoạt động thương mại. Canada đã trải qua mùa cháy rừng tồi tệ nhất được ghi nhận vào mùa hè năm 2023, có thể liên quan đến biến đổi khí hậu. Canada cáo buộc Ấn Độ ám sát một lãnh đạo cộng đồng người Canada theo đạo Sikh gốc Ấn Độ ở Britist Columbia vào ngày 18 tháng 6 năm 2023, điều mà Ấn Độ phủ nhận. 

Từ tháng 2 năm 2022, khi Nga bắt đầu xâm chiếm Ukraine, đến ngày 1 tháng 4 năm 2024, khi chương trình thị thực đặc biệt kết thúc, Canada đã tiếp nhận khoảng 300.000 người từ Ukraine đã đến Canada. Vụ hỏa hoạn gây ra mức độ ô nhiễm không khí nguy hiểm trên khắp các khu vực rộng lớn ở Canada (và Hoa Kỳ). Cháy rừng cũng là vấn đề nghiêm trọng vào mùa hè năm 2024 và 2025. Từ tháng 2 năm 2022, khi Nga bắt đầu xâm chiếm Ukraine, đến ngày 1 tháng 4 năm 2024, khi chương trình thị thực đặc biệt kết thúc, Canada đã tiếp nhận khoảng 300.000 người từ Ukraine đã đến Canada. Đối mặt với tình trạng lòng dân ngày càng suy giảm phần lớn là do điều kiện kinh tế, Justin Trudeau đã từ chức và được thay thế làm thủ tướng bởi Marka Carney vào ngày 14 tháng 3 năm 2025.

Sau một chiến dịch vận động phản đối Tổng thống Donald Trump về thuế quan và lời kêu gọi Canada trở thành tiểu bang thứ 51 của Hoa Kỳ, Carney lãnh đạo Đảng Tự do giành chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội ngày 28 tháng 4. Ngày 23 tháng 6 năm 2025, Canada-EU ký kết một thỏa thuận hợp tác quốc phòng. Ngày 7 tháng 8 năm 2025, Hoa Kỳ áp đặt mức thuế 35% đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu của Canada không nằm trong Hiệp định Hoa Kỳ-Mexico-Canada (USMCA).

Lưu ý: 

Canada là một quốc gia theo thể chế Quân chủ lập hiến với hệ thống chính quyền Quốc  đại diện bởi một Tổng toàn quyền người Canada. Trong thực tế Canada được cai trị bởi Thủ tướng chính phủ là người lãnh đạo Đảng chiếm đa số ghế tại Hạ viện.

Liên bang Canada ngày nay (2026). 

Hiến pháp và Chính quyền: Tháng 11/1981, Chính quyền các Tỉnh trong Liên bang Canada thông qua đề nghị Luật tu chỉnh Hiến pháp trở thành Hiến pháp mới của Canada, thay thế Hiến pháp Anh dành cho Bắc Mỹ. Đề nghị nầy được Quốc Hội Canada chấp nhận, và ban hành bởi Quốc hội Anh năm 1982. Nó chấm dứt việc Quốc hội Anh ban hành Luật có hiệu lực trên Canada. Từ đó đến nay Hiến pháp được tu chỉnh bổ sung nhiều lần. Hiến pháp Canada trao quyền Lập pháp cho Quốc hội, bao gồm cả Nử hoàng Anh được đại diện bởi Toàn quyền, một Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 308 đại biểu được bầu từ các khu vực bầu cử có nhiệm kỳ 4 năm. Thượng viện có 105 nghị sỉ từ các Tỉnh không đồng đều như Ontario, Quebec mổi tỉnh 24 nghị sỉ, nhưng Tỉnh Edward Island có 4, và mỗi Vùng lảnh thổ có 1 nghị sỉ. Toàn quyền Canada đại diện Nử hoàng Anh là nguyên thủ quốc gia. Nhưng điều hành chính quyền lại trao cho Thủ tướng chính phủ, lảnh tụ đảng chiếm da số ghế đại biểu tại Hạ viện. 

Cư dân và lãnh thổ: Con người: dân số 39,187.155 (năm 2016: 34.834.000); dưới 15 tuổi 15,1%, trên 65 tuổi 21,5%. Tăng dân số: 0,7%. Nhập cư: 22,2%. Mật độ dân cư: 4,3 người/km2. Thành phố: 82,1%. Sắc tộc: Các đảo Anh 28%, Pháp 23%, người Châu Âu khác 15%, người Châu Á 12%, người da đỏ Mỹ 2%. Ngôn ngữ: Anh, Pháp (chính cả hai). Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 43%, Tin lành 23 %, Niềm tin khác 12%, không tôn giáo 16%.. Đất đai: Tổng diện tích: 9.984.670 km2. Diện tích đất: 9.093.507 km2. Địa điểm: phía bắc của Bắc Mỹ, quốc gia lớn nhất ở phía Tây bán cầu. Quốc gia láng giềng: Hoa Kỳ về phía nam. Địa thế: Canada kéo dài 5.512 km từ đông sang tây, và mở rộng từ cực bắc về phía nam tới biên giới Hoa Kỳ. Canada có bờ biển 58.496 km trong đất liền, và 185.249 km bờ của các hải đảo, kể cả các đảo ở Bắc cực, từ Greenland tới gần biên giới Alaskan. Khí hậu: nhiệt độ thường khác nhau từ cái lạnh đến đông đá trong mùa đông đến cái nóng khá gay gắt trong mùa hè. Đất nông nghiệp: 4,3%. Thủ đô: Ottawa 1.465.784. Thành phố đông dân: Toronto 6.491.286, Montreal 4.377.306, Vencouver 2.707.925, Calgary 1.687.902, Edmonton 1.588. 595.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Quân chủ lập hiến Liên bang. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi Toàn quyền Mary Simon, sinh 1947, nhậm chức 26/7/2021. Thủ tướng chính phủ: Mark Carney, sinh 1965, nhậm chức 14/3/2025. Chính quyền địa phương: 10 tỉnh (tiểu bang), 3 vùng lãnh thổ. Ngân sách quốc phòng: 27,0 tỷ. Quân đội chính quy: 62.300. Kinh tế: Công nghiệp khai thác dầu mỏ, trang thiết bị vận tải, hoá chất, chế biến dầu lửa, hơi đốt, sản phẩm gỗ, giấy, và chế biến thực phẩm. Nông sản: lúa mì, lúa mạch, hạt ngũ cốc, hạt có dầu, thuốc lá, trái cây, rau quả. Tài nguyên: quặng sắt, kim loại trắng bạc dùng mạ kim loại (niken), kim loại trắng pha thép chế tạo máy cao tốc (molybdenum), kim loại trắng cứng (zine), chì, đồng, bạc vàng, bồ tạt, cali, cá, gổ, động vật hoang dã, than đá, dầu lửa, khí thiên nhiên, thủy điện. Nguồn nước: 74.753 m3/người. Sử dụng năng lượng: 311,6 triệu Btu/người. Sản xuất điện:615,1 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 1,3%; công nghiệp 19,2%; dịch vụ 79,5%. Thất nghiệp: 6,5%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng dollar (CAD): 1,38=1USD. Tổng sản lượng nội địa: 2.700,0 tỷ. Bình quân đầu người: 65.463 USD, tăng trưởng: 1,5%. Nhập khẩu: 733,8 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 55,1%, China 8,7%, Mexico 4%. Xuất khẩu: 727,8 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 82,3%, Anh Quốc 2,2%, Nhật Bản 2,1%. Du lịch: 45,4 tỷ. Tiêu dùng: 42,5%. Lạm phát: 2,4%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 30.709 mi = 49.134 km. Xe hơi cá nhân 675,6/1000 cư dân. Sân bay 1.459. Truyền thông: Truyền hình: 86,9/100 cư dân. Điện thoại di động: 94,1/100. Internet: 94,0%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 11,2%. Tuổi thọ: nam 82,4, nữ 87,4. Sinh xuất: 9,1/1000 người. Tử xuất: 7,8/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 3,8/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 12/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: dưới 2,5%. Nhiểm HIV: không có số liệu. Nhiểm COVID-19: 12.768/100.000 trong đó có 146 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 6-15, biết đọc biết viết: không có số liệu./.

 

149. UNITED STATE OF AMERICA (HOA KỲ).

Tiến trình phát triển.    

Cư dân đầu tiên sống trên lục địa Bắc Mỹ có thể từ thời kỳ Đồ đá Cổ, nhưng cho đến thế kỷ 12 mới lập ra những nơi định cư cố định tại các khu vực phía Đông, nơi có nhiều thuận lợi cho việc gieo trồng và đánh bắt cá. Người Châu Âu đầu tiên đặt chân lên Bắc Mỹ là Tây Ban Nha (Spaniards). Họ lập cơ sở ở Florida trước khi thám hiểm thăm dò về phía Bắc và phía Tây. Santa Fe ở New Mexico được thành lập năm 1610. Nhưng trước đó vào giữa thế kỷ 16 đã có sự tranh giành giữa người Tây Ban Nha và người Pháp (French) đang lập thuộc địa dọc theo sông Lawrence, mà trung tâm là Quebec. 

Cho dù nhà thám hiểm của Elizabeth (Anh) háo hức đi khai phá thế giới mới, nhưng cho đến năm 1607, Anh Quốc mới lập được lập được thuộc địa đầu tiên là Jamestown, nơi bây giờ là Nam Virginia. Sau buổi ban đầu đầy nguy hiểm bệnh tật, thiếu đói, hầu hết người định cư đã vượt qua thử thách. Dân số Virginia tăng nhanh, sản xuất đủ thuốc lá đáp ứng nhu cầu xuất khẩu sang Châu Âu. Maryland buổi đầu là một nơi trốn lánh của những người theo Thiên chúa giáo La Mã bị đàn áp, cũng là nơi phát triển mạnh nhờ vào việc sản xuất buôn bán thuốc lá. Sản xuất thuốc lá cung cấp cho thị trường Châu Âu đã tạo ra một sự khan hiểm sức lao động, và thế là người nô lệ da đen được nhập khẩu vào Bắc Mỹ từ Châu Phi. 

Năm 1620, hơn một trăm tín đồ Thanh giáo Anh đổ bộ vào Plymonth Rock lập nên một vùng định cư riêng, nơi trở thành thuộc địa Massachusetts. Chẳng bao lâu sau xảy ra chuyện bất hoà với người định cư khác, đó là những người Thiên chúa giáo La Mã chạy thoát sự đàn áp tôn giáo cũng từ Anh Quốc. Điều này nói lên rằng, không phải tất cả những người có niềm tin tôn giáo riêng của họ dể dàng chấp nhận hoà hợp với niềm tin khác quanh họ. Penneylvenia là thuộc địa được ghi nhận như một ngoại lệ sau khi Quaker William Penn trong một đề nghị tự do thờ phụng cho tất cả mọi người thừa nhận một thượng đế tối cao và vĩnh hằng. 

Năm 1664, Anh xâm chiếm và nắm quyền kiểm soát các thuộc địa của người Hoà Lan (Dutch) láng giềng, và New Armsterdam nơi trở thành New York. Hầu như tất cả bờ phía Đông được cho là vùng định cư của người Anh, họ mở rộng thám hiểm tìm kiếm từ trong nội địa đất liền. Đối thủ người Châu Âu chủ yếu của họ là người Pháp, đòi quyền lợi một vùng rộng lớn xung quanh đến tận phía Tây nam các hồ lớn (Great Lakes). Với các sắc tộc Indian bản địa đồng minh của cả hai bên, các trận đánh nhau giữa Anh và Pháp có lúc rất khốc liệt trong năm 1744 và 1748. Thế nhưng, phải trong thập kỷ 1850 lực lượng Anh mới đánh bại, và chiếm hầu hết cứ điểm trọng yếu của Pháp. 

Sau Hiệp định Paris năm 1763, Anh nắm toàn bộ phía Đông Mississippi của Bắc Mỹ. Trong thời gian đó, Tây Ban Nha giao nộp Florida, và Anh còn chiếm thêm Louisiana từ Pháp. Trong thời kỳ đầu việc xâm chiếm đất làm thuộc địa bị giới hạn tới vùng phía Đông Appalachians, vùng còn lại vẫn còn do người bản địa Indian chiếm giữ. Chẳng bao lâu sau người định cư muốn mở rộng lãnh địa, và người cầm đầu họ ở Luân đôn còn muốn cộng đồng định cư ở Bắc Mỹ hậu thuẩn cho lợi ích thương mại của Anh Quốc. Có khuynh hướng ủng hộ từ Pháp, những người đi xâm chiếm thuộc địa cảm nhận đủ tự tin để thách thức mệnh lệnh từ Anh Quốc, cái mệnh lệnh không, hoặc ít quan tâm đến lợi ích của họ. 

Họ đứng lên phản đối luật hàng hải, quy định hàng hoá phải được tàu Anh vận chuyển, và phải chịu nhiều loại thuế khác nhau, nhưng không hề tham khảo ý kiến của họ. "Không đại diện, không đóng thuế" đã trở thành khẩu hiệu của đám đông người tập hợp lại, la hét, nói lên sự bất mãn của người định cư. Trung tâm của sự phản đối là Boston nơi những người quá khích đã phá hoại một tàu hàng của Công ty Đông Ấn. Năm 1775, những người cầm đầu cuộc bạo loạn bị bắt, và chỉ lúc đó mới khơi dậy sự hợp tác của 13 thuộc địa trong hành động bạo loạn xa rộng hơn, kể cả việc thành lập một "Chính quyền defacto". Chính quyền này bổ nhiệm George Washington cầm đầu lực lượng quân sự Mỹ. 

Cuộc chiến tranh cho độc lập của các thuộc địa kéo dài. Quân đội Anh không bao giờ có trên 50.000 quân, được hỗ trợ bởi một cơ quan đầy quyền thế của thuộc địa, những người vẫn còn trung thành với Hoàng gia. Bắt đầu từ năm 1776, chiến tranh kéo dài liên tục với cả hai bên có lúc gần như đạt tới chiến thắng. Ý nghĩa quyết định từ việc đầu hàng của tướng Burgoyne và 8.000 quân của ông ta ở thượng New York trong tháng 10/ 1777. Chiến thắng này thuyết phục Pháp cùng tham gia chiến tranh chống Anh Quốc. Sau 7 năm chiến tranh, năm 1783, một Hiệp ước hoà bình được ký, theo đó Anh Quốc giữ lại Canada, còn vùng lãnh thổ kéo dài từ Đại Tây Dương tới Mississippi thuộc về Liên hiệp Quốc gia mới gọi là Liên bang Hoa Kỳ. 

Năm 1789, một Hiến pháp dựa trên các nguyên lý dân chủ cùng với các quyền không thể chuyển nhượng, kể cả quyền sở hữu tài sản được công bố và có hiệu lực thi hành. Hiến pháp thành lập thể chế Cộng hoà với chính quyền Liên bang cầm đầu bởi một Tổng thống nắm quyền Hành pháp, một Quốc hội Lưỡng viện (Hạ viện và Thượng viện) nắm quyền Lập pháp, và một cơ quan Tư pháp nắm quyền giải thích Hiến pháp, bởi một toà án tối cao. Vị Tổng thống đầu tiên của Liên bang Hoa Kỳ là George Washington được bầu năm 1789. Và năm 1800, Washington D.C chính thức công bố là thủ đô của quốc gia Liên bang Hoa Kỳ. 

Chiến tranh với Anh Quốc lại bùng nổ năm 1812, Anh Quốc mượn cớ chống chiến tranh của Napoleon để tấn công mở rộng lãnh thổ vào Trung tây Hoa Kỳ. Phần nhiều các trận đánh diễn ra trên vùng biên giới Canada, nơi một nỗ lực xâm lăng đã bị đẩy lùi. Louisiana phải trả lại dưới quyền cai trị của Pháp và sau đó bán cho Hoa Kỳ. Nhiều nơi ở Châu Mỹ từng là một phần của đế quốc Tây Ban Nha lúc đó thuộc Mexico. Nhưng năm 1836, Texas tách khỏi Mexico tồn tại như một Cộng hoà độc lập cho đến năm 1845 thì bị sáp nhập vào Liên bang Hoa Kỳ. Điều này dẫn đến chiến tranh với Mêxico. Cuộc chiến kết thúc năm 1848, với việc Hoa Kỳ chiếm thêm các nơi bây giờ là tiểu bang Califonia, Arizona, Colorado, Utah, Nevada, và New Mexico. 

Bất cứ một sự khích lệ nào có liên quan đến cuộc chiến của người Châu Âu trong vùng đều bị loại trừ bởi “học thuyết Monroe”. Monroe là vị Tổng thống thứ 6 của Hoa Kỳ (cầm quyền 1817-1825). Monroe công khai tuyên bố, rằng mọi sự can thiệp từ thế giới cũ (chỉ Phương Tây) vào các vấn đề liên quan đến phía “Tây Bán cầu” sẽ không được tha thứ. Nó là một xác định về lòng tự tin, về sự phát triển kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ, như một lời cảnh cáo đanh thép được phát ra trong năm 1823.

Hoa Kỳ bắt đầu bành trướng về phía Tây ngay sau khi độc lập, nhưng tốc độ nhanh hơn lúc triệt hạ được lực lượng hùng mạnh nhất của người bản xứ Indian, và đuổi họ tới một nơi định dành riêng cho người bản xứ. Năm 1846, sau một cuộc tranh chấp với Anh kéo dài, Hoa Kỳ xác định quyền sở hữu Oregon, một hành động như để khuyến khích người ta vào định cư ở California. Hai năm sau, năm 1848, dòng người đổ vào California tìm vàng. Đến thập niên 1850, hệ thống xe lửa đã đưa người và sự hưng thịnh kinh tế tới tận miền Trung và Tây. 

Giữa năm 1815 đến 1860 dân số Hoa Kỳ tăng gấp 4 lần từ 8 triệu thành 31 triệu. Năm 1862, đạo luật về trang trại (Homestead Act) ban cấp 160 mẫu Anh cho bất cứ ai muốn thành lập đồn điền. Đến năm 1890, chính sách mở rộng về phía Tây. Sự chuyển đổi từ một xã hội nông thôn tới một thế giới chủ yếu bằng nguồn lực của công nghiệp cũng tạo ra những căng thẳng. Ít nhất giữa các tiểu bang phía Nam đang sở hữu người nô lệ da đen Châu Phi và các tiểu bang còn lại của Liên bang, nơi ủng hộ việc xoá bỏ chế độ sở hữu nô lệ. Các nhân tố kinh tế và nhân quyền cũng có vai trò nhất định, bởi vì nhiều tiểu bang phía Bắc không bằng lòng giá công nhân rẻ mạc ở phía Nam. Ngược lại các tiểu bang phía Nam nơi cung cấp bông sợi lớn nhất thế giới, lại phụ thuộc vào người nô lệ cho sự sống còn, và phát triển kinh tế.

Sự trái ngược về cơ bản đó đưa tới việc các tiểu bang Phía Nam ly khai, lập ra Liên minh mới gọi là Liên minh phía Nam năm 1860-1861. Từ đó thỉnh thoảng có đánh nhau, nhưng nội chiến chỉ bắt đầu khi quân đội phía Nam triệt hạ, và đốt cờ Liên bang tại Fort Sumeter. Tổng thống Lincoln ra lệnh phong toả Liên minh phía Nam và sau đó cả hai bên ráo riết tuyển quân. Chiến tranh mở rộng, và máu đổ nhiều hơn. Số thương vong của hai bên nhiều hơn cả hai cuộc chiến tranh thế giới sau này cộng lại. Sự tương quan lực lượng kéo dài cho đến khi phía bắc siết chặt vòng vây, và đạt chiến thắng tại trận đánh Gettysburg. Tuy nhiên, chiến tranh còn tiếp tục cho đến khi tướng Robert E. Lee cùng với 27.800 quân đầu hàng tướng Uysses S.Grant tại Appromatox Conrthouse ở Virginia ngày 9/4/1865. 

Ngày 18/4/1865, tướng J.E. Johnston đầu hàng với 31.200 quân tại căn cứ Durham ở Bắc Carolinia. Và cuối cùng quân Liên minh phía Nam đầu hàng ngày 26/5/1865. Xin lưu ý rằng, chỉ 5 ngày sau khi tướng Lee đầu hàng thì ngày 14/4/1865, Tổng thống Lincoln bị ám sát. Nhưng sự kiện ấy không hề ảnh hưởng đến việc đầu hàng của tướng Johnston và toàn bộ quân Liên minh phía Nam trong tháng tư và tháng năm, năm1865.

Ngày 30/3/1867, thông qua nỗ lực của Bộ trưởng William.H.Seward, Hoa Kỳ đã mua được vùng Alaska phía Tây bắc Canada, nay là tiểu bang Alaska của Nga (Russian) với giá 7,2 triệu USD. Hoa Kỳ có lợi ích trên việc mở rộng đường biên giới, đó là nguyên nhân đưa đến chiến tranh với Tây Ban Nha năm 1898. Và kết quả là Hoa Kỳ trở thành thế lực mạnh nhất thống trị vùng Caribbean. Tây Ban Nha bị buộc phải nhường quyền cai trị thuộc địa Philippines, quốc gia đảo phía Đông Nam Châu Á cho Hoa Kỳ. Năm 1900, Hoa Kỳ bắt đầu cạnh tranh với Anh, và Đức về quyền lực thống trị thế giới. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên rộng lớn, và năng lực sản xuất chiếm 11% hàng hoá trao đổi trên thế giới, nó chỉ cho người ta thấy rằng không bao lâu nữa Châu Âu sẽ bị thu hẹp trên các vấn đề quốc tế sự vụ. 

Dù là vậy, mỉa mai thay Châu Âu là người cung cấp lao động cho Hoa Kỳ như một nguồn lực cần thiết khác để thực hiện các dự án đầy hứa hẹn của nó. 28 triệu người Châu Âu nhập cư vào Hoa Kỳ từ năm 1881 đến 1920 minh chứng cho điều này. Sự pha trộn chủ nghĩa quốc gia đã tạo thành một Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong những năm đầu của thế kỷ 20. Tất cả điều này cộng lại đã không làm cho người ta ngạc nhiên chút nào, khi công chúng Hoa Kỳ chống lại việc can dự vào chiến tranh Thế giới lần thứ I.

Cho đến năm 1917, khi tàu chiến Đức tấn công thương thuyền Mỹ, thì Hoa Kỳ mới quyết định tham chiến cùng với phe Đồng minh chống lại Đức Quốc. Quân viễn chinh Hoa Kỳ đi vào cuộc chiến làm cho phe Đồng minh phục hồi sức mạnh. Bằng các trận đánh đột phá, trận chiến xoay chiều nghiêng hẵn về phía Đồng minh. Và, phe Đồng minh đã giành được thắng lợi cuối cùng năm 1918. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ không còn hấp dẫn lắm bởi các sự xung đột với Châu Âu. Người ta nghi ngờ rằng, quốc gia hùng mạnh này như muốn hướng đến một sự độc lập về chính trị, khi đưa ra các đề nghị dự thảo tại Hội nghị hoà bình Versailles. 

Nhưng, Tổng thống Wilson đã vượt qua được nhờ kế hoạch 14 điểm về an ninh chính trị thế giới, theo đó các quốc gia thắng trận lập ra một tổ chức mới gọi là Hội Quốc Liên, với nhiệm vụ giúp các quốc gia có tranh chấp với nhau, đạt tới một giải pháp giải quyết vấn đề thông qua thương thảo hoà bình. Hội Quốc Liên đi vào hoạt động cho tới khi nó được thay thế bởi Liên Hiệp Quốc. Thế nhưng, năm 1920 Thượng viện Hoa Kỳ đã phản đối việc nước này trở thành thành viên của Hội Quốc Liên, và Hoa Kỳ lại đi vào cô lập với thế giới bên ngoài. Dĩ nhiên, sự thiếu vắng của quốc gia hùng mạnh Hoa Kỳ đã làm cho Hội Quốc Liên mất đi một nguồn lực cần thiết để làm tròn chức năng duy trì hoà bình thế giới. Và mâu thuẩn thế giới lại phát sinh, thế là chiến tranh Thế giới lần thứ II bùng nổ. 

Cùng với việc phát triển kinh tế trở lại, cộng đồng người da trắng theo đạo Tin lành cũng đang phấn đấu, và đã đạt tới một sự biến đổi rất ngạc nhiên về giá trị xã hội. Ngoài ra, trong một nỗ lực nhằm nâng cao sức khoẻ công dân, chính quyền Liên bang ban hành Luật cấm uống rượu, hiệu lực thi hành đặt những người say sưa ra khỏi vòng pháp luật. Giấc mơ về sự giàu có của Liên bang Hoa Kỳ bị phá vỡ khi thị trường chứng khoán sụp đổ năm 1929. Tiếp đó một loạt các ngân hàng phá sản bởi các công ty kinh doanh không thành công. Hàng hoá bị ứ đọng, công nhân thất nghiệp làm cho nền kinh tế đi vào khủng hoảng trầm trọng. 

Sự đau khổ của công chúng đến cùng cực, và được bắt đầu cải thiện khi Frankin D.Roosevelt được bầu vào chức vụ Tổng thống. Ông ta thúc đẩy Quốc hội thông qua một loạt các biện pháp cải cách triệt để, rộng lớn gọi là “giải pháp tổng hợp” giải quyết tình hình, hướng tới sự hồi sinh quốc gia. Hạ thấp lãi suất giúp các nhà máy và nông trại tái hoạt động, đầu tư nhiều hơn cho các công trình công cộng. Giải pháp tổng hợp quả đã phục hồi được nền kinh tế, dù vậy tình trạng thất nghiệp vẫn còn cao, cho đến khi nền sản xuất tăng nhanh lên bởi yêu cầu của một cuộc chiến tranh Thế giới khác (Thế chiến II).

Roosevelt được cảnh báo về sự an nguy của Hoa Kỳ, nếu chế độ độc tài phát xít Đức đạt tới sự "khải hoàng" của nó. Nhưng cũng như chiến tranh Thế giới lần thứ I, Roosevelt khó mà vượt qua được sự chống đối của nhân dân Mỹ, nên ông ta đã chọn giải pháp cung cấp trang thiết bị quân sự cho Anh Quốc với những điều kiện đặc ân. Cuối cùng các sự kiện ở Châu Á hơn là Châu Âu đã thuyết phục Hoa Kỳ tham chiến. Nhằm chống lại việc Nhật Bản xâm lăng Trung Quốc và Đông Nam Á, Hoa Kỳ áp đặt lệnh cấm vận dầu hoả và phong toả tài sản của Nhật Bản tại nước Mỹ. Để trả đũa ngày 7/12/1941, Nhật Bản tung ra một cuộc hành quân thần tốc, đánh phá hầu hết tàu chiến của Mỹ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbour) giết chết 2.300 quân Mỹ. 

Ngày 8/12/1941, Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật. Ba ngày sau, ngày 11/12/1941 Đức, Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ. Lúc đầu quân đội Mỹ nhắm vào Thái Bình Dương, nhưng sau năm 1942, Hoa Kỳ được giao trách nhiệm mặt trận Bắc Phi và Châu Âu. Ngày 8.11/1942 quân Anh-Mỹ chiếm Bắc Phi, ngày 9/7/1943 quân Anh Mỹ chiếm Sicily, và chiếm nội địa Italy ngày 3/8/1943. Ngày 6/6/1944 Liên quân Hoa Kỳ và Đồng minh đổ bộ lên bờ biển Nomandy, phía Tây bắc nước Pháp, từ đó đẩy quân chiếm đóng Đức ra khỏi nước Pháp. 

Ngày 4-10/2/1945, Hội nghị Yalta họp tại Grimea, Liên Xô, cả ba nhà lãnh đạo Mỹ, Anh, và Liên Xô đi đến sự thống nhất là ba quốc gia cùng với Pháp sẽ đánh chiếm Đức. Ngày 12/4/1945, Tổng thống Roosevelt từ trần, Phó Tổng thống Harry S. Truman trở thành Tổng thống. Ngày 7/5, Đức đầu hàng Đồng minh ở Châu Âu, nhưng tại Châu Á, Nhật Bản vẫn còn kháng cự. Ngày 6/8/1945, quả bom nguyên tử đầu tiên do Mỹ sản xuất ném xuống thành phố Hiroshima giết 75.000 người, và quả thứ hai ném xuống thành phố Nagasaki ngày 9/8 giết 46.000 người. Nhật Bản chính thức đầu hàng vô điều kiện ngày 14/8/1945. 

Sau chiến tranh Liên Xô chi phối mạnh mẽ vào Châu Âu, đặc biệt là Đông Âu và Trung Âu. Hoa Kỳ cảm thấy cần thiết phải nhận trách nhiệm lãnh đạo thế giới tự do, ngăn chặn sự đe doạ của Liên Xô bằng cách thành lập Khối Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương gọi tắt là NATO vào ngày 24/8/1949. Trước đó, trong năm 1947, Quốc hội Hoa Kỳ đã chấp nhận chuẩn cấp 14 tỷ tái thiết Châu Âu theo đề nghị của Bộ trưởng George C.Marshall. Hoa Kỳ cũng trợ giúp Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ chống lại sự tấn chiếm của Cộng sản tại 2 nước nầy. Các việc làm này không được công chúng Hoa Kỳ ủng hộ, có nguy cơ đưa nước Mỹ vào sự cô lập, tách ra khỏi các vấn đề sự vụ của thế giới như trước Đệ I và Đệ II thế chiến. Cho đến tháng 9 năm 1949, khi Trung Quốc bị rơi vào tay Cộng sản mới thức tỉnh được dân chúng Mỹ. 

Năm 1950, Hoa Kỳ gởi quân đội trợ giúp Nam Triều Tiên khi nước này bị Cộng sản Bắc Triều Tiên xâm lăng. Tuy dưới danh nghĩa lực lượng Liên Hiệp Quốc, cuộc hành quân đánh trả hoàn toàn do quân đội Hoa Kỳ lãnh đạo bởi tướng Douglas Mac Arthur. Khi thấy quân đội Trung Quốc trở thành lực lượng chính của cuộc xâm lăng, Mac Arthur tuyên bố sẽ mở rộng chiến tranh vào nội địa Trung Quốc. Lời đe doạ đó bị Tổng thống Truman phản đối, bằng cách buộc Mac Arthur từ chức. Điều này như để xác lập quyền không còn tranh cải là chính trị luôn ở trên quân sự. Cuộc thương thảo hoà bình chấm dứt chiến tranh Triều Tiên ngày 27/7/1953. 

Hoa kỳ lại phải can dính vào một cuộc chiến tranh khác liên quan đến Cộng sản ở Đông Dương, bằng cách viện trợ 60 triệu USD cho Pháp. Năm 1954, trong khi Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Cộng sản Việt Nam) Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên Xô họp Hội nghị tại Geneve (Quốc gia Việt Nam thành lập năm 1949 chỉ là Quan sát viên) tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh Đông Dương, thì quân đội Pháp bị quân đội Cộng sản Việt Nam đánh bại tại Điện Biên Phủ. Sự kiện này, ảnh hưởng lên chính sách Mỹ trong một thời gian dài. 

Hội nghị Geneve đạt tới việc ký Hiệp định tháng 7 năm 1954, kết thúc chiến tranh Đông Dương, quân đội Pháp rút khỏi Việt, Miên, Lào, Việt Nam tạm thời chia thành hai miền lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, hai năm sau Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Trong thời gian chờ đợi, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hồ chí Minh lãnh đạo quản lý miền Bắc và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo quản lý miền Nam. Ngày 8/9/1954, một tổ chức phòng thủ Đông Nam Á (SEATO), tương tự tổ chức NATO được ký kết tại Manila, Phi Luật Tân gồm 8 nước: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Pakistan, và Thái Lan. 

Ngày 12/2/1955, Hoa kỳ đồng ý trợ giúp huấn luyện và viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. Ủng hộ Thủ tướng chống cộng Ngô Đình Diệm với ý định dùng Nam Việt Nam như một tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Mỹ cung cấp tiền bạc, và phương tiện để Ngô Đình Diệm đưa gần 1 triệu người theo Thiên Chúa giáo từ Bắc vào Nam. Tại trong nội địa nước Mỹ, các quyền dân sự được đưa lên hàng đầu trong chương trình hành động chính trị. Biện pháp chống tệ nạn xã hội, và nâng cao quyền sống của thượng nghị sĩ Mc Carthy, và Uỷ ban Xã hội Hạ viện, tập trung vào các quyền tự do dân chủ.Quyền “tự do dân chủ” bảo đảm bởi Hiến Pháp được mở rộng ra ngay cả những người chưa mang quốc tịch Mỹ. 

Công cuộc vận động chống kỳ thị chủng tộc của các tổ chức xã hội cũng mang lại kết quả. Và Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật tạo thêm cơ hội bình đẳng trong việc làm, và về giáo dục. Phong trào vận động các quyền dân sự đạt tới đỉnh cáo đầu thập niên 1960, khi luật Liên bang có hiệu lực thi hành ở các Tiểu bang phía Nam, dẫn tới các hành động bạo loạn chống lại những người “phản đối tự do”. Sự căng thẳng xã hội trở nên xấu hơn khi phải đối đầu với "cuộc chiến tranh lạnh" và cũng là một trong những thử thách lớn nhất của Tổng thống Kennedy. Đó là năm 1962, lúc Liên bang Xô viết đặt các tên lửa có đầu đạn hạt nhân tại Cuba, đe doạ nền an ninh nước Mỹ. 

Tại thời điểm ấy, người ta nghĩ rằng cuộc chiến tranh thế giới như đã  gần kề. Nhưng rồi một thoả ước giữa hai cường quốc cũng đạt được. Theo đó, Liên Xô phải rút các tên lửa có đầu đạn hạt nhân ra khỏi Cuba, và đổi lại Hoa Kỳ cũng phải rút tên lửa có đầu đạn hạt nhân ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, tổng thống Kennedy còn phải cam kết sẽ không xâm lăng Cuba. Thật ra "chiến tranh lạnh" bắt đầu từ cuối thập niên 1940, và kéo dài tới cuối thập niên 1980, nhưng chỉ có bốn sự kiện dể thấy là cuộc chiến tranh Triều Tiên, xung đột Đông-Tây Berlin, tên lửa hạt nhân Cuba, và chiến tranh Việt Nam. 

Hoa Kỳ can dính vào Nam Việt Nam đầu thập niên 1950, đạo diễn "trưng cầu dân ý" truất phế Bảo Đại; hậu thuẩn Ngô Đình Diệm chống Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam; cấp viện trợ kinh tế; đặt cố vấn quân sự, nhưng chỉ sau cái gọi là “sự kiện vịnh Bắc Bộ” thì ngày 7/8/1964, Quốc hội Hoa Kỳ mới cho phép Tổng thống Mỹ toàn quyền quyết định các biện pháp đối phó tại Việt Nam. Từ đó, Hoa Kỳ bắt đầu ném bom bắn phá Bắc Việt Nam, đến ngày 29/6/1966, thì máy bay Mỹ ném bom vào khu vực Hà Nội. Cuối năm 1966, có tới 385.300 quân sĩ Mỹ tại Nam Việt Nam, cùng với 60.000 quân ở ngoài khơi bờ biển, và 33.000 quân đóng trú ở Thái Lan. Có trên 50.000 người biểu tình chống chiến tranh Việt Nam tại Washington trong hai ngày 21-22/7/1967 . 

Ngày 30.01.1968, quân Cộng sản tấn công vào Sài Gòn và Thành phố của 30 tỉnh, lực lượng Hoa Kỳ và Nam Việt Nam phản công đẩy quân đối phương ra khỏi các thành phố gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Johnson ra lệnh hạn chế ném bom Bắc Việt Nam, và ngày 10/5/1968 cuộc thương thảo hoà bình Hoa Kỳ - Bắc Việt Nam bắt đầu tại Paris. Ngày 31/10/1968, Mỹ ngưng ném bom Bắc Việt Nam. Ngày 18/1/1969, hoà hội Việt  - Mỹ tại Paris, mở rộng thành bốn bên tham dự (thêm Việt Nam Cọng hoà và chính phủ Lâm thời Nam Việt Nam). 

Tháng 1/1969, Richard Nixon tuyên thệ nhậm chức Tổng thống, đánh bại ứng cử viên Hubert Humphrey trong cuộc bầu cử ngày 5/10/1968. Tháng 4/1969, quân số Hoa kỳ tham chiến tại Việt Nam đạt tới đỉnh cao 543.400, và trên 50.000 quân đồng minh của Mỹ là Nam Triều Tiên, New Zealand, Australia, Philippiness. Ngày 15/11/1969, cuộc biểu tình lớn nhất chống chiến tranh Việt Nam ở Washington có tới 250.000 người tham dự. Hôm sau, ngày 16/11/1969 một phúc trình về cuộc tàn sát hàng trăm người tại làng Mỹ Lai, tỉnh Quãng Ngãi, Nam Việt Nam. Trung uý William Calley bị cáo buộc giết 22 người ở Mỹ Lai bị kết án tù chung thân ngày 31/3, và được giảm án xuống còn 20 năm ngày 20/8/1971. 

Ngày 30/4/1970 quân đội Hoa Kỳ, và Nam Việt Nam tấn công căn cứ quân sự của Cộng sản Việt Nam bên trong nội địa Campuchia. Ngày 21/2/1972, Tổng thống Nixon thăm viếng Trung Quốc, trong điều người ta gọi là "Hành trình tìm kiếm hoà bình". Ngày 30/3/1972, lực lượng Bắc Việt Nam vượt qua ranh giới phi quân sự tấn công tỉnh biên giới Quảng Trị, nhiều tỉnh ở Cao nguyên và miền Nam. Hoa Kỳ đáp trả bằng cách tái ném bom Hà Nội, Hải Phòng và cài thuỷ lôi cửa cảng Hải Phòng. Ngày 22/5/1972, Nixon thăm Liên bang Xô viết họp thượng đỉnh với các nhà lãnh đạo Liên Xô về hiệp ứơc chiến lược quân sự.  

Ngày 7/11/1972, tổng thống Nixon tái đắc cử  nhiệm kỳ 2. Ngày 18/12/1972, dưới cái gọi là để giải toả bế tắc trong cuộc thương thảo hoà bình tại Paris, Hoa Kỳ tái ném bom Bắc Việt Nam với mức độ ác liệt hơn, nhất là tại Hà Nội. Ngày 27/1/1973, tại Paris bốn bên tham dự hoà đàm Paris chính thức ký kết Hiệp ước hoà bình tại Việt Nam. Và ngày 1/4/1973, Bắc Việt Nam phóng thích 590 tù binh Mỹ bị bắt trong chiến tranh. 

Từ cuối thập niên 1940, Phong trào Cộng sản thế giới như một cơ thể thống nhất chiếm 40 triệu trên 140 triệu km2 diện tích đất của thế giới, gồm 15 nước trong Liên bang Xô viết, 8 nước Đông Âu, manh nha chiếm chính quyền Hy Lạp ở Nam Âu, Thổ Nhĩ Kỳ ở Tây Á. Trong khi Cộng sản đang nắm quyền tại Mông Cổ, Trung Quốc, Bắc Hàn ở Trung và Đông Á. Cùng thời điểm nầy, Cộng sản Đông Dương và Đông Nam Á như Việt, Miên, Lào, Mã Lai, Phi Luật Tân và Nam Dương đang trên đà lớn mạnh, thì Hoa Kỳ chưa lập được tuyến phòng thủ xa. Cho nên, Mỹ hết lòng ủng hộ chính quyền chống cộng Ngô Đình Diệm, với ý đồ dùng Nam Việt Nam như một “tiền đồn chống cộng". 

Đến giữa thập niên 1960, khi phong trào Cộng sản thế giới chia rẽ: Trung Quốc với Liên Xô, Liên Xô với Nam Tư, rồi Albamia ly khai khỏi Liên Xô liên minh với Trung Quốc, cùng với việc củng cố được tuyến phòng thủ xa bằng cách ủng hộ Marcos, và Suharto nắm quyền bính ở Phi Luật Tân, và Nam Dương (1965), thì Hoa Kỳ không xem Nam Việt Nam như một tiền đồ chống cộng nữa (bởi quá tốn kém và không hiệu quả). Thế là, Nixon đưa ra học thuyết "Việt Nam hoá chiến tranh". Tháng 8/1969, Hoa Kỳ bắt đầu rút quân ra khỏi Nam Việt Nam, và đến tháng 6/1973, toàn bộ quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam đều trở về Mỹ. 

Tái đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 1973-1977, Nixon với vẻ tự hào đắc thắng, thế nhưng, không bao lâu sau đó sóng gió chính trị ập đến với ông ta. Ngày 30/4/1973, ba trợ lý hàng đầu, và Bộ trưởng Tư pháp phải từ chức để bị điều tra về vụ Watergate. Ngày 10/10 người Phó của ông ta Sprio T.Agnew phải từ chức Phó Tổng thống vì bao che cho một nhà thầu trốn thuế khi Agnew còn làm Thống đốc Maryland. Ngày 24/4/1974, Toà án tối cao ra phán quyết yêu cầu Nixon phải giao nộp cho toà 24 cuộn băng ghi âm liên quan đến Watergate được lưu trữ tại toà Bạch Ốc. Ngày 9/5/1974, từ kết quả điều tra Ủy ban Tư pháp Hạ viện tiến hành thủ tục truy tố Tổng thống Nixon.  

Từ ngày 24 đến 30/7, căn cứ vào điều 3 Hiến pháp, Ủy ban Tư pháp Hạ viện tiến hành xét xử Tổng thống Nixon về 3 tội trạng: (1) tội có âm mưu bất chính cản trở công lý, giấu giếm bao che vụ Watergate (27/38), (2) tội lạm dụng quyền hành (28/38, (3) tội bất tuân trát đòi hầu toà của Uỷ ban (21/38). Sau đó Hạ viện nghe tường trình của Uỷ ban Tư pháp trong đó có kết luận buộc tội Tổng thống Nixon, và đã chấp nhận với 412/414 dân biểu hiện diện. Ngày 8/8/1974, Nixon tuyên bố từ chức, và chính thức từ chức ngày 9/8. Cùng ngày, Phó Tổng thống Gerald R. Ford tuyên thệ nhận chức Tổng thống thứ 38 của nước Mỹ. 

Tháng sau ngày 8/9/1974, Tổng thống Ford ban hành sắc lệnh đặc xá cho cựu Tổng thống Nixon về tất cả các tội hình sự mà ông ta đã phạm trong thời gian làm Tổng thống. Vị Tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ, Gerald R. Ford không phải do dân bầu, ông ta đảm nhiệm Phó Tổng thống do hành vi bất chính của Phó tổng thống Agnew, và bây giờ nhậm chức Tổng thống cũng tại do hành vi phạm pháp của tổng thống Nixon. Từ vị thế đó, người đứng đầu ngành hành pháp có vẻ yếu thế so với ngành lập pháp. 

Tháng 3/1975, Nam Việt Nam tiền đồn chống Cộng của Mỹ bị Cộng sản tấn công, Ford không có quyền đáp trả như hai Tổng thống tiền nhiệm: Johnson trong Mậu Thân năm 1968, và Nixon Mùa hè Đỏ lửa năm 1972. Đề nghị chuẩn cấp 300 triệu mua đạn dược tiếp tế khẩn cấp cho Nam Việt Nam của Ford không được Quốc hội chấp thuận, khiến chính phủ Việt Nam Cộng hoà phải rút khỏi Cao nguyên. Ngày 29/4/1975, Hoa Kỳ tung ra một cuộc hành quân khẩn cấp sơ tán tất cả người Mỹ còn lại ở Nam Việt Nam và một số người Nam Việt Nam ra khỏi Sài Gòn. Và hôm sau 30/4/1975, Cộng sản chiếm Sài Gòn, chính quyền Nam Việt Nam tuyên bố đầu hàng. 

Ngày 16/5, Quốc hội chấp thuận chi 405 triệu tài trợ cho 140.000 người tị nạn Nam Việt Nam chạy trốn Cộng sản vào nước Mỹ. Đối với công chúng Hoa Kỳ vụ Watergate chưa lắng đọng, giờ lại dằn vặt bởi mặc cảm thua trận. Họ bỏ ra nhiều trăm tỷ đôla, và 54.000 mạng sống của công dân Mỹ cho cuộc chiến Việt Nam, một cuộc chiến mà một số người Mỹ cho là "tàn nhẫn - bỉ ổi". Đảng Dân chủ giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11/1976. Sau khi nhậm chức ngày 21/1/1977, Tổng thống Jimmy Carter, ban hành lệnh ân xá cho những người trốn tránh tòng quân trong thời gian chiến tranh Việt Nam.

Ngày 4/11/1979, dân quân Hồi giáo quá khích của Khơmeini xâm nhập Toà đại sứ Mỹ ở Tehran, Iran. Sau khi chiếm Sứ quán, bắt giữ 90 người làm con tin, trong đó có 63 người Mỹ, Giáo chủ Ayatollah Khomeini đòi Mỹ phải giao trả nhà vua Iran là Shah Muhammad Reze Pahlavi đang trị bệnh ở thành phố New York về Iran. Ngày 24/4/1980, trong một nỗ lực giải cứu con tin Hoa Kỳ đang bị giam ở Iran không thành công, làm 8 người Mỹ chết và 5 người bị thương. 

Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 4/11/1980, Ronald Reagan của đảng Cộng hoà thắng cử trước đương kim Tổng thống Carter. Ngày 20/1/1981, vài phút sau khi Ronald Reagon tuyên thệ nhậm chức Tổng thống, 52 con tin người Mỹ bị giam ở Iran được trả tự do sau 444 ngày bị giam cầm. Ngày 30/3/1981, Reagon bị bắn trọng thương, nghi can John W. Hinekley Jr bị bắt nhưng được xem là vô tội vì anh ta bị điên loạn. Ngày 23/10/1983, một người mang bom tự sát vào tận Bộ tư lệnh Thuỷ quân Lục chiến Hoa Kỳ đóng tại sân bay quốc tế Beirut ở Lebanon kích nổ giết chết 241 Thuỷ quân Lục chiến.

Ngày 3/2/1984, tàu con thoi Challenger được phóng lên không trung trong chuyến hành trình lần thứ 4 của nó, và ngày 7/2, Đại tá hải quân Bruce Mc Candless và Trung tá lục quân Robert Steward trở thành những người đầu tiên của con tàu con thoi bay trong vũ trụ không hạn chế thời gian. Tháng 11/1984, Tổng thống Reagon tái đắc cử nhiệm kỳ 2 (1985-1988). Tại thời điểm này, ở Liên Xô, Mikhail Gorbachev được bầu làm Tổng bí thư đảng Cộng sản ngày 10/3/1985, bắt đầu tiến trình cải cách và đổi mới, nên quan hệ Liên Xô - Hoa Kỳ cũng được cải thiện. Ngày 8/12/1987, Tổng thống Reagon và Chủ tịch Mikhail Gorbachev họp thượng đỉnh, ký hiệp ước phá huỷ các tên lửa có tầm bắn từ 300 đến 3400 milies gồm 1.752 của Hoa Kỳ và 850 của Liên Xô. 

Ngày 8/11/1988, Phó tổng thống George H.W. Bush được bầu làm Tổng thống nhiệm kỳ (1989-1992). Ngày 10/8/1989, Bush bổ nhiệm Tướng lục quân Colin Powell làm Chủ tịch Uỷ ban Tham mưu Liên quân, là người da đen đầu tiên nắm giữ chức cao nhất trong quân đội Hoa Kỳ. Ngày 20/12/1989, quân Mỹ xâm lăng Panana lật đổ chính quyền Monuel Noriego bị Mỹ tố cáo liên quan đến ma tuý. Ngày 17/1/1991, Mỹ và đồng minh Anh đánh bại Iraq trong chiến tranh vùng vịnh, đẩy Iraq ra khỏi Kuwait, quốc gia bị Iraq xâm chiếm từ tháng 8/1990. 

Ngày 3/11/1992, Bill Clinton ứng cử viên của đảng Dân chủ đắc cử Tổng thống, sau 3 nhiệm kỳ chức vụ này nằm trong tay đảng Cộng hoà. Ngày 26/2/1993, một quả bom phát nổ ở bãi đậu xe tầng dưới Trung tâm Thương mại Thế giới ở thành phô New York giết chết 6 người. Ngày 19/7/1993, Bill Clinton tuyên bố không đề nghị, không cản trở, không khuyến khích đồng tính luyến ái trong quân đội. Ngày 10/8, tổng thống Clinton đưa ra kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách 496 tỷ cho 5 năm tới, thông qua chương trình giảm chi và thuế khoá. Ngày 1/1/1994, Hiệp ước Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ có hiệu lực thi hành. Ngày 21/2/1994, viên chức CIA thâm niên Aldrick Arons và vợ ông ta bị buộc tội làm gián điệp, ông ta nhận án tù chung thân và vợ 63 tháng tù. 

Từ ngày 29/6 đến 4/7/1995, tàu con thoi Atlantic của Hoa Kỳ lần đầu tiên tiến hành một loạt các cuộc ráp nối với trạm không gian MIR của Nga. Ngày 21/11, các bên tham chiến ở Bosnia và Herzegovinia đạt tới thoả thuận chấm dứt xung đột chính thức ký hiệp ước ngày 14/12/1995. Ngay sau đó, 20.000 quân giữ gìn hoà bình của Mỹ đầu tiên đến Bosinia. Do bế tắc về đề nghị ngân sách giữa Quốc hội và Tổng thống Clinton, một số cơ quan của chính quyền phải đóng cửa từ ngày 14/11, và tái mở cửa hoạt động ngày 20/11/1005 bởi các giải pháp sau đó. Ngày 26/1/1996, Thượng viện phê chuẩn Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược lần thứ 2. 

Ngày 26/9, Shannon Lucid hoàn thành cuộc du hành vũ trụ 188 ngày, là phi hành gia phụ nữ Hoa Kỳ đầu tiên được ghi nhận. Ngày 5/11/1996, Tổng thống Clinton tái đắc cử nhiệm kỳ II (1997-2000). Ngày 23/1/1997, Madeleine Albright tuyên thệ nhậm chức Bộ trưởng Ngoại giao, là phụ nữ đầu tiên cầm đầu bộ này. Ngày 26/3, người ta tìm thấy 39 người chết trong một căn nhà lớn ở Rancho Santa Fe, California (CA), là một cuộc tự sát tập thể của các người theo một phái giáo gọi là "Cánh cổng Thiên đường" (Heaven's Gate). 

Ngày 21/1/1998, Kenneth Starr điều tra viên độc lập điều tra vụ tai tiếng Whitewater, trong báo cáo của mình ông đưa ra bằng chứng về mối quan hệ tình dục giữa Tổng thống Clinton và thư ký tập sự Monica Lewinsky trong khuôn viên toà Bạch Ốc. Clinton chối bỏ chuyện tình này. Ngày 28/7, Monica Lewinsky đồng ý cung khai trước bồi thẩm đoàn những gì liên quan đến vụ Whitewater để được ban cấp đặc ân miễn tố. Ngày 6/8/1998, cô tự nhận mình có quan hệ tình dục với Tổng thống Clinton, nhưng chưa bao giờ cô ta được đề nghị "làm tình nằm", nằm xuống để làm tình. Ngày17/8, khai với bồi thẩm đoàn và cả trong lời nói xin lỗi công chúng, Clinton thừa nhận có quan hệ tình dục không chính đáng với Monica Lewinsky. 

Ngày 9/9/1998, Kenneth Starr gởi cho Hạ viện một tập hồ sơ liên quan, để từ đó hạ viện buộc tội Clinton. Ngày 5/10, Uỷ ban Tư pháp Hạ viện thông qua quyết định tiến hành thủ tục buộc tội Clinton với 21/37 thành viên. Ngày 8/10, Hạ viện đồng ý tiến hành thủ tục buộc tội Clinton theo đề nghị của Uỷ ban Tư pháp với 258/434 dân biểu hiện diện. Ngày 19/12, Hạ viện chấp thuận hai cáo buộc của Bồi thẩm đoàn về hành vi phạm tội của Tổng thống Mỹ: (1) tội man khai hữu thệ (228/434), (2) tội cản trở công lý (221/434) liên quan tới việc che dấu quan hệ tình dục của ông ta với nguyên thư ký tập sự Monica Lewinsky trong khuôn viên toà Bạch Ốc. 

Tổng thống Clinton còn liên quan đến một quan hệ tình dục khác, đó là Paula Corbin Jones. Mặc dù ngày 1/4/1998, Toà án Liên bang bác bỏ vụ kiện, rằng bà Paula bị Clinton khuấy nhiễu tình dục khi ông này còn làm Thống đốc Tiểu bang, nhưng ngày 13/11, Clinton phải trả cho bà P.C.Jones 850.000 USD như một cuộc điều đình ngoài toà án. Ngày 7/1/1999, phiên xử buộc tội Tổng thống Bill Clinton lần thứ 2 được diễn ra tại Thượng viện trên 2 cáo buộc của Hạ viện. Ngày 12/2 Thượng viện biểu quyết: (1) tội man khai hữu thê (45/100) nghị sĩ hiện diện, (2) tội cản trở công lý (50/50). Cả hai tội trạng đều không đủ 2/3 số phiếu cần thiết để buộc tội. 

Ngày 30/9/1998, Tổng thống Bill Clinton công bố thặng dư ngân sách 70 tỷ, là lần đầu tiên ngân sách quốc gia thu nhiều hơn chi kể từ năm 1969. Ngày 7/2/2000, Tổng thống Clinton đệ trình Quốc hội ngân sách thu chi Liên bang 2000-2001, ngân sách cuối cùng của ông ta. Dự án ngân sách thặng dư tới 184 tỷ là ngân sách thặng dư liên tục trong 3 năm nay, cũng là ngân sách thặng dư cao nhất chưa hề có trước đó.

Cuộc bầu cử Tổng thống thứ 43 (nhiệm kỳ 2001-2004) ngày 7/11/2000, còn lại 25 phiếu bầu của tiểu bang Florida vẫn chưa được xác định. Ngày 8/12, toà án tối cao Florida ra lệnh đếm lại tất cả phiếu bầu bằng tay bởi vì sự trục trặc của máy đếm phiếu. Ngày 12/12, toà án tối cao Liên bang đảo ngược quyết định đó. Ngày 13/12, Phó Tổng thống Gore chấp nhận thất bại trên truyền hình. Ngày 6/1/2001, Quốc hội xác nhận George W.Bush chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống với số phiếu 271 chọi 266. Ngày 26/5, Quốc hội chấp thuận chương trình cắt giảm ngân sách 1.350 tỷ, kéo dài trong 10 năm. Ngày 9/9, Tổng thống Bush tuyên bố ông ta sẽ giới hạn việc cấp ngân quỹ cho công trình nghiên cứu, và sử dụng các phôi thai cơ thể con người. 

Sáng 11/9/2001, 2 máy bay thương mại bị không tặc cướp đâm vào phá sập toà nhà song lập của Trung tâm Thương mại Thế giới ở thành phố New York. Chiếc máy bay bị cướp thứ ba phá sập một phần Ngũ giác đài, và chiếc thứ tư bị nổ tung ở Pennsylvinia, sau khi vài tên không tặc là hành khách xông vào buồng lái. Đây là vụ tấn công khủng bố tệ hại nhất chưa hề có trên đất Mỹ. Ngày 21/9 Quốc hội chuẩn cấp 15 tỷ trợ cấp đặc biệt cho công nghiệp hàng không bị tạm hoãn các chuyến bay, và công nhân mất việc. Ngày 7/10, Mỹ và Anh tung ra một chiến dịch oanh kích nhắm vào các cứ điểm của tổ chức khủng bố al-Qaeda và dân quân Taliban đang thống trị Afghanistan. Ngày13/11, lực lượng Taliban tại Kabul thủ đô Afghanistan đầu hàng, và ngày 7/12/2001, rút chạy khỏi Kandahar, cứ điểm cuối cùng của họ. 

Ngày 25/12/2001, Tổng thống Bush chính thức công bố bình thường hoá về thương mại với Trung Quốc có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2002. Đầu năm 2002, Tổng thống Bush tuyên bố Bắc Triều Tiên, Iran, và Iraq là “một trục ma quỷ” (“an axis of evil”). Đến tháng 9/2002, ông ta còn gây sức ép với Liên Hiệp Quốc thông qua Luật chống Iraq. Chính sách ngoại giao cứng rắn của Bush tạo ra những bất đồng ngay cả trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Ngày 20/3/2003, Tổng thống Bush ra lệnh tấn công vào Iraq, quân Anh và Úc cùng tham chiến với Mỹ chiếm thủ đô Baghdad ngày 9/4/2003, và chính quyền Sađam Hussein chấm dứt sự tồn tại. 

Ngày 22/7/2003, trong một cuộc chạm súng quân đội Hoa Kỳ đã giết chết 2 con trai của Saddam Hussein ở Mosul phía Bắc Iraq. Ngày 13/12/2003, Saddam Hussein bị quân đội Mỹ bắt khi ông ta đang trốn dưới một hầm nhỏ ở phía Đông nam Tikrit. Cuộc bầu cử Tổng thống ngày 2/11/2004, ứng viên George W. Bush tái đắc cử nhiệm kỳ 2 (2005-2008)với 62.028.285 phiếu bầu, chiếm 50,73%, trên chân ứng viên Jhon Kerry chiếm 59.028.109 phiếu bầu, tương đương 48,27%. Ngày 20/1/2005, bà Codoleezza Rice trở thành người phụ nử da đen đầu tiên trở thành Ngoại trưởng trong nhiệm kỳ 2 vủa Tổng thống Bush. 

Ngày 3/5/2006, tại phiên xử vụ “không tặc ngày 11/9”, Công tố viện đế nghị bản án tử hình cho tên khủng bố Zacarias Moussaoui, nhưng Hội đồng xét xử tuyên bố tù chung thân. Ngày 13/6/2006, trong cuộc thăm viếng Iraq, Tổng thống Bush tái xác nhận sẽ không rút quân khỏi Iraq cho đến khi nào chính quyền mới ở Iraq tự ổn định được về an ninh. Ngày 24/5/2007, trong một phiên họp lưởng viện Thượng viện và Hạ viện chấp nhận đề nghị của chính phủ về chi phí cho cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq, mà không đưa ra thời biểu rút quân. Quốc hội cũng thông qua dự luật tăng lương tối thiểu trong 3 năm đến từ 5,15 USD lên thành 7,25 USD/giờ. 

Tại cuộc bầu cử tổng thống ngày 4/11/2008, ứng viên Barack Obama đắc cử, với 67.066.915 phiếu bầu, chiếm 53%, trên chân ứng viên John McCain chiếm 57.421.377 phiếu bầu tương đương 46%. Cùng với việc bầu Tổng thống, cử tri Mỹ cũng bỏ phiếu bầu 1/3 Thượng nghị sỉ ở Thượng viện, toàn bộ Dân biểu tại Hạ viện, và 11 Thống đốc các Tiểu bang. Đảng Dân chủ chiếm 19 ghế tại Thượng viện, đảng Cộng hòa chỉ có 14 ghế. Tại Hạ viện đảng Dân chủ cũng chiến thắng với 257 ghế, trong khi Cộng hòa chỉ giành được 176 ghế. 

NHIỆM KỲ THỨ NHẤT (2009-2013): Ngày 20/1/2009, Barack Obama tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 44 của nước Mỹ giữa lúc quốc gia đang lâm vào cảnh suy thoái kinh tế. Dấu ấn nổi bật của tổng thống Obama trong nhiệm kỳ thứ nhất (2009-2013) này là ký ban hành Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư Hoa Kỳ năm 2009 (ARRA); đề ra kế hoạch tái cơ cấu và gói giải cứu bổ sung cho 3 tập đoàn ô tô lớn; ký ban hành Đạo luật Bảo vệ Bệnh nhân và Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền – ACA (Obamacare); bổ nhiệm hai nữ thẩm phán Tối cao Pháp viện; ký với Nga Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược Mới (New START); tiêu diệt trùm khủng bố Osama bin Laden; Và, quyết định rút quân Mỹ ra khỏi Iraq.

Ngày 17/2/2009, Tổng thống Barack Obama ký ban hành Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư Hoa Kỳ năm 2009 (ARRA), hay còn gọi là gói kích thích kinh tế, có trị giá khoảng 787 tỷ USD nhằm cứu nền kinh tế Mỹ khỏi cuộc Đại suy thoái thông qua việc tạo việc làm, cắt giảm thuế và đầu tư cơ sở hạ tầng. Mục tiêu cốt lõi là giữ chân các việc làm hiện có và thúc đẩy tạo ra hàng triệu việc làm mới; Bù đắp cho sự sụt giảm mạnh mẽ của đầu tư và tiêu dùng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính; giảm thuế thu nhập cho các cá nhân, hộ gia đình và ưu đãi thuế cho doanh nghiệp; đầu tư vào các dự án giao thông công cộng; thúc đẩy tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và nghiên cứu khoa học; hỗ trợ giáo dục các cấp, cùng với việc mở rộng trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ y tế cho người lao động khó khăn. 

Ngày 30 tháng 3 năm 2009, Tổng thống Barack Obama chính thức công bố kế hoạch tái cơ cấu và gói giải cứu bổ sungcho 3 tập đoàn ô tô lớn General Motors (GM), Chrysler và Ford, nhưng chỉ có GM và Chrysler nhận tiền giải cứu, còn Ford từ chối nhận hỗ trợ tài chính từ chính phủ. Ông đưa ra tối hậu thư yêu cầu GM và Chrysler phải thay đổi triệt để bộ máy vận hành để nhận thêm hàng chục tỷ USD tài trợ từ chính phủ. Thực ra gói giải cứu này được khởi xướng cuối thời Tổng thống George W. Bush vào năm 2008 trị giá 17,4 tỷ USD và được chính quyền Tổng thống Barack Obama triển khai quyết liệt, tổng cộng gần 80 tỷ USD trong suốt mùa xuân và mùa hè năm 2009 để đưa hai tập đoàn này vượt qua thủ tục bảo hộ phá sản. Ngày 21/7/2010, Tổng thống Barack Obama ký ban hành Đạo luật Dodd-Frank Cái cách phố Wall và bảo vệ người tiêu dùng, nhằm siết chặt quản lý tài chính, ngăn ngừa khủng hoảng và bảo vệ người tiêu dùng Mỹ sau đại suy thoái 2008.

Ngày 23/03/2010, Tổng thống Barack Obama ký ban hành Đạo luật Bảo vệ Bệnh nhân và Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền – ACA (Obamacare). Mục tiêu chính của luật là mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế, giảm chi phí khám chữa bệnh và cải thiện chất lượng dịch vụ y tế cho người dân Mỹ; Cấm các công ty bảo hiểm từ chối người có bệnh từ trước (pre-existing conditions) hoặc tăng phí dựa trên tình trạng sức khỏe; Cung cấp trợ giá và tín thuế cho người có thu nhập thấp và trung bình để mua bảo hiểm trên các sàn giao dịch; Cho phép thanh thiếu niên tiếp tục ở trong gói bảo hiểm y tế của cha mẹ cho đến khi đủ 26 tuổi; Cho phép nhiều bang mở rộng chương trình Medicaid để bao phủ thêm nhiều người nghèo hơn.

Ngày 01/06/2009, Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm bà Sonia Sotomayor làm thẩm phán Tối cao Pháp viện để thay thế Thẩm phán David Souter nghỉ hưu, và được thượng viện chuẩn nhận với phiếu thuận 68, 31 phiếu chống. Bà Sonia Sotomayor trở thành người Mỹ gốc Tây Ban Nha đầu tiên trong lịch sử ngồi vào ghế thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Và ngày 10/05/2010, Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm bà Elena Kagan làm thẩm phán Tối cao Pháp viện thay thế Thẩm phán John Paul Stevens nghỉ hưu, và được thượng viện chuẩn nhận với phiếu thuận 63 và 37 phiếu chống. Bà Elena Kagan từng giữ chức Tổng biện lý Hoa Kỳ (Solicitor General) trước khi được bổ nhiệm.

Ngày 8 tháng 4 năm 2010 tại Prague, Cộng hoà Séc, Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược Mới (New START), theo đó: mỗi bên không được triển khai quá 1.550 đầu đạn hạt nhân trên các tên lửa và oanh tạc cơ; Giới hạn, tối đa 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) phóng từ tàu ngầm (SLBM) và máy bay ném bom chiến lược; không quá 800 bệ phóng đã triển khai và chưa triển khai; cho phép hai bên thực hiện các cuộc thanh tra thực tế tại các cơ sở hạt nhân của đối phương để kiểm tra số liệu. Hiệp ước có hiệu lực từ ngày 05/02/2011 với thời hạn ban đầu là 10 năm. Và, Hiệp ước này đã được Tổng thống Mỹ Joe Biden và Tổng thống Nga Vladimir Putin nhất trí gia hạn thêm 5 năm vào đầu năm 2021.

Ngày 2/5/2011, Tổng thống Barack Obama trực tiếp ra lệnh lực lượng đặc nhiệm Hải quân Mỹ (SEAL Team Six) tiêu diệt trùm khủng bố Osama bin Laden trong một cuộc đột kích vào khu nhà ẩn náu ở Abbottabad, Pakistan. Chiến dịch mang mật danh Neptune Spear. Rạng sáng ngày 2/5/2011 (giờ Pakistan), Tổng thống Obama công bố chính thức vào tối ngày 1/5/2011 (giờ Mỹ). Đội đặc nhiệm DEVGRU (hay còn gọi là SEAL Team Six) phối hợp cùng Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) bắn hạ Osama bin Laden, thi thể được đưa đi kiểm tra ADN xác nhận và sau đó được chôn cất dưới biển.Ngày 18/12/2011, những binh sĩ Mỹ cuối cùng đã rút khỏi Iraq theo lệnh của Tổng thống Barack Obama. Sự kiện này chính thức khép lại cuộc chiến tranh Iraq kéo dài gần 9 năm kể từ năm 2003, tiêu tốn nhiều nguồn lực và gây tranh cãi lớn tại Mỹ.

NHIỆM KỲ THỨ HAI (2013-2017): tại cuộc bầu cử tổng thống ngày 6/11/2012, ứng viên Barack Obama của đảng Dân chủ tái đắc cử, với 332 phiếu bầu của cử tri đoàn, trên chân ứng viên Mitt Romney của đảng Cộng hòa chỉ có 206 phiếu bầu. Sách lược trong nhiệm kỳ thứ hai (2013-2017) của tổng thống Obama: Về ĐỐI NGOẠI là sự chuyển dịch từ can thiệp quân sự trực tiếp sang ngoại giao đa phương “quyền lực thông minh (smart power)” với các dấu ấn đậm nét là: Bình thường hóa quan hệ với Cuba (2014 - 2016); Thỏa thuận Hạt nhân Iran - JCPOA (2015); Chiến lược "Xoay trục sang châu Á" và TPP; Hiệp định Khí hậu Paris (2015 - 2016); Khủng hoảng Syria và Chiến dịch chống IS (2015-2019). Về ĐỐI NỘI là đưa nền kinh tế Mỹ hoàn toàn thoát khỏi bóng tối của cuộc Đại Suy thoái (2008) bước vào chu kỳ tăng trưởng ổn định, dài hạn như: Thị trường việc làm bùng nổ, Sự phục hồi của thị trường chứng khoán, Kiểm soát thâm hụt ngân sách, Chi phí y tế thấp bởi có Đạo luật Obamacare (ACA).

Bình thường hóa quan hệ với Cuba (2014 - 2016): Tháng 12/2014, Obama cùng Chủ tịch Cuba Raúl Castro tuyên bố khôi phục quan hệ ngoại giao sau hơn 50 năm đóng băng. Năm 2015, hai nước mở lại đại sứ quán. Tháng 3/2016, Obama trở thành Tổng thống Mỹ tại vị đầu tiên thăm Cuba kể từ năm 1928, chính thức mở đường cho các hợp tác thương mại, du lịch và hàng không. Thỏa thuận Hạt nhân Iran - JCPOA (2015): Ngày 14/07/2015 tại Vienna (Áo) thỏa thuận hạt nhân lịch sử với Iran – JCPOA, Mỹ cùng với nhóm P5+1 (P5 là 5 nước thành viên thưởng trực tại Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc: Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, và Pháp + 1 là nước Đức) ký kết Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung với Iran. Thỏa thuận này buộc Iran cắt giảm 98% lượng uranium làm giàu và chấp nhận sự giám sát nghiêm ngặt của LHQ, đổi lại Mỹ và phương Tây dỡ bỏ các lệnh trừng phạt kinh tế khốc liệt lên nước này.

Chiến lược "Xoay trục sang châu Á" và TPP: Mỹ đẩy mạnh cam kết an ninh và kinh tế tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương để “tái cân bằng” tầm ảnh hưởng với Trung Quốc. Chiến lược này được công bố lần đầu từ cuối năm 2011 (nhiệm kỳ 1). Tháng 11/ 2012, ngay sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ 2, Obama thực hiện chuyến công du đến Thái Lan, Myanmar, Campuchia. Tháng 4/2014, Tổng thống Obama công du Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Philippines nhằm khôi phục động lực và đập tan những hoài nghi về chiến lược tái cân bằng. Năm 2015 – 2016: Mỹ liên tục hiện thực hóa cam kết bằng các gói hỗ trợ an ninh hàng hải cho Đông Nam Á, và chuyến thăm Việt Nam dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát vào tháng 5/2016. 

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được xem là trụ cột kinh tế cốt lõi của chiến lược xoay trục sang châu Á. Ngày 04/02/2016 tại New Zealand 12 quốc gia là Úc, New Zealand (châu Đại Dương); Brunei, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Nhật Bản (châu Á); Canada, Hoa Kỳ, Mexico, Chile, Peru (châu Mỹ)  ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với nội dung: cắt giảm thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ, thúc đẩy đầu tư và đưa ra các quy tắc chung về lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ. Sau khi Tổng thống Donald Trump rút Mỹ khỏi Hiệp định (TPP), 11 nước còn lại đã đàm phán và đổi tên thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Sauđó, Vương quốc Anh đã chính thức gia nhập, nâng tổng số thành viên của khối CPTPP lên 12 nước. 

Hiệp định Khí hậu Paris (2015 - 2016) là một điều ước quốc tế mang tính bước ngoặt về biến đổi khí hậu, được thông qua bởi 195 quốc gia tại Hội nghị COP21 ở Paris vào tháng 12 năm 2015 và chính thức có hiệu lực vào ngày 4 tháng 11 năm 2016. Mục tiêu cốt lõi của thỏa thuận là giữ mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu dưới 2°C và nỗ lực giới hạn ở mức 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, để tránh thảm họa khí hậu; Giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính; Hỗ trợ tài chính cho các nước đang phát triển ứng phó khí hậu;  Mỗi nước tự đặt ra kế hoạch giảm khí thải riêng và tự nâng dần mức độ cam kết theo thời gian. Đây là văn bản pháp lý ràng buộc, yêu cầu các nước thành viên phải báo cáo tiến độ thực hiện minh bạch.

Khủng hoảng Syria và Chiến dịch chống IS: Khủng hoảng Syria bắt đầu từ tháng 3 năm 2011 với các cuộc biểu tình chống chính quyền, leo thang thành xung đột vũ trang đẫm máu giữa chính phủ, các nhóm đối lập và các phe phái tôn giáo. Sự can thiệp của các cường quốc như Nga, Mỹ, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ khiến tình hình thêm giằng co gây ra thảm họa nhân đạo lớn với hàng triệu người tị nạn và thiệt mạng.  Tận dụng khoảng trống quyền lực năm 2013-2014, IS chiếm nhiều lãnh thổ ở miền đông Syria và tây bắc Iraq. Mỹ lập liên minh quân sự năm 2014 không kích IS và hỗ trợ lực lượng dân chủ Syria (SDF) chủ yếu là người Kurd. Nga đưa quân can thiệp từ tháng 9 năm 2015 theo đề nghị của Damascus, phối hợp tấn công mạnh mẽ vào IS và các nhóm nổi dậy khác. Kết quả lãnh thổ tự xưng của IS bị đánh sập phần lớn, mất thành lũy cuối cùng ở Baghouz vào năm 2019, dù các tàn dư vẫn ẩn nấp du kích.

Về ĐỐI NỘI. Nền kinh tế Mỹ đã hoàn toàn thoát khỏi bóng tối của cuộc Đại Suy thoái (2008) bước vào chu kỳ tăng trưởng ổn định dài hạn như: bùng nổ thị trường việc làm, phục hồi của thị trường chứng khoán, kiểm soát thâm hụt ngân sách, cải cách thuế và ngân sách, Đạo luật Obamacare và Phán quyết của Tối cao Pháp viện. Thị trường việc làm bùng nổ: Nhờ gói phục hồi kinh tế và Cục Dự trữ Liên bang (Fed) giữ lãi suất thấp mà việc làm tăng mạnh trong lĩnh vực y tế, công nghệ, dịch vụ ăn uống và năng lượng. Khu vực tư nhân và nhà nước tạo việc làm liên tục dài nhất trong lịch sử nước Mỹ tính đến thời điểm đó. Tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh từ trên 10% (giai đoạn khủng hoảng 2009) xuống dưới 5% vào cuối nhiệm kỳ 2. Nền kinh tế tạo ra hơn 15 triệu việc làm mới trong suốt 8 năm cầm quyền của Tổng thống Barack Obama. 

Phục hồi của thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán Mỹ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ tiếp nối từ giai đoạn phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Phố Wall duy trì sắc xanh nhờ nền kinh tế tạo thêm việc làm và chính sách tiền tệ nới lỏng từ Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Chỉ số Dow Jones và S&P 500 liên tục phá đỉnh cũ dù gặp một số giai đoạn biến động ngắn hạn do lo ngại về tăng trưởng toàn cầu. Chỉ số S&P 500 tăng khoảng 53% trong giai đoạn này. Kiểm soát thâm hụt ngân sách: Sau khi tăng vọt trong nhiệm kỳ một để cứu trợ kinh tế, thâm hụt ngân sách liên bang của Mỹ đã giảm đáng kể trong nhiệm kỳ hai, từ mức gần 1.000 tỷ USD xuống còn khoảng 585 tỷ USD vào năm tài khóa 2016.Cải cách thuế và ngân sách: Đầu năm 2013, Obama ký Đạo luật Cứu trợ Người đóng thuế Mỹ, chính thức tăng thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao nhất (trên 400.000 USD/năm) nhưng giữ nguyên mức thuế thấp cho tầng lớp trung lưu.

Tiếp theo Đạo luật Obamacare (ACA): Chính quyền Obama đã ban hành một số  Sắc lệnh Hành pháp (Administrative Guidance & Rules) và hàng loạt văn bản hướng dẫn quy định từ Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Mỹ (HHS) nhằm điều hành các thị trường trao đổi bảo hiểm (Health Insurance Marketplaces), mở rộng đối tượng và bảo vệ các quyền lợi cốt lõi cho người bệnh. Duy trì và vận hành hệ thống trợ cấp tài chính giúp hàng triệu người thu nhập thấp mua được bảo hiểm.Cho phép thanh thiếu niên tiếp tục được nằm trong bảo hiểm gia đình cho đến năm 26 tuổi. Đạo luật Obamacare (ACA)được củng cố bởi Phán quyết của Tối cao Pháp viện ngày 25 tháng 6 năm 2015 tại vụ kiện King v. Burwell (2015), rằng các khoản trợ cấp thuế phí bảo hiểm y tế theo Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe Hợp lý (ACA / Obamacare) được áp dụng hợp pháp cho người dân ở tất cả 50 tiểu bang, bất kể sàn giao dịch bảo hiểm đó do chính tiểu bang hay do chính phủ liên bang thiết lập.

NHIỆM KỲ THỨ NHẤT CỦA TỔNG THỐNG DONALD TRUMP. Ngày 20/1/2009, Donald Trump tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 45 của nước Mỹ, kế nhiệm Brack Obama. Donald Trump đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 8/11/2016 trên chân ứng cử viên Hillary Clinton với 304/227 phiếu Cử tri đoàn. Nhưng phiếu bầu phổ thông thì Donald Trump chỉ chiếm 62.984.828 phiếu trong khi Hillary Clinton là 65.853.514 phiếu bầu. Dưới khẩu hiệu "Nước Mỹ trên hết". những việc đã làm của Tổng thống Donald Trump trong nhiệm kỳ đầu tiên (2017–2021) trên các lĩnh vực ngoại thương, thuế khoá, nhập cư, tư pháp, và quốc phòng, Hội nghị thượng đỉnh Trump-Kim Jong-un, và thành lập lực lượng không giam Mỹ (U.S. Space Force). 

NGOẠI THƯƠNG. Ngày 23/01/2017, trong ngày làm việc đầu tiên tại Nhà Trắng nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chính thức ký sắc lệnh hành pháp rút Hoa Kỳ ra khỏi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP)với lý do TPP làm tổn hại ngành sản xuất trong nước và khiến việc làm của người lao động Mỹ dịch chuyển sang quốc gia khác. Hệ quả của việc Hoa Kỳ rút ra khỏi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương khiến tầm ảnh hưởng kinh tế của Mỹ trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương giảm sút, đồng thời cũng là một thách thức mới cho các quốc gia thành viên khác. 11 nước thành viên còn lại đã phải đàm phán điều chỉnh và đổi tên thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Sau đó, Vương quốc Anh chính thức gia nhập, nâng tổng số thành viên của khối CPTPP lên 12 nước. 

Ngày 22/3/2018, Tổng thống Mỹ Donald Trump ký bản ghi nhớ áp thuế lên tới 50 tỷ USD vào hàng hóa Trung Quốc, đến ngày 6/7/2018 Mỹ đánh thuế 25% lên 34 tỷ USD hàng Trung Quốc, khiến Bắc Kinh lập tức trả đũa. Chính quyền Trump liên tục đưa ra các mức thuế cao kỷ lục, đôi khi vượt ngưỡng trên 100% đến hơn 200% đối với nhiều mặt hàng chiến lược từ Trung Quốc. Bắc Kinh đáp trả bằng cách hạn chế xuất khẩu khoáng sản chiến lược, máy bay không người lái và trừng phạt các thực thể Mỹ. Căng thẳng mở rộng sang các lĩnh vực cốt lõi như trí tuệ nhân tạo (AI), chất bán dẫn và thiết bị viễn thông. Dù đôi bên thỉnh thoảng đạt được các thỏa thuận đóng băng ngắn hạn, quan hệ song phương vẫn mang tính chiến thuật "vừa đánh vừa đàm". Các tập đoàn lớn tái định hình sản xuất, chuyển dịch nhà máy sang các nước thứ ba như Việt Nam, Ấn Độ và Mexico. Hậu quả là làm tăng chi phí sản xuất, gây bất ổn thị trường tài chính và làm chậm đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu.

Ngày 30/11/2018, bên lề hội nghị G20 tại Argentina, Mỹ - Mexico – Canada ký thỏa thuận Hiệp định USMCA, sửa đổi vàchính thức ký kết ngày 10/12/2019, và có hiệu lực từ ngày 01/07/2020 để thay thế Hiệp định NAFTA nhằm thúc đẩy thương mại công bằng hơn tại Bắc Mỹ với 5 nội dung chính là ngành ô tô, thị trường sửa, sở hữu trí tuệ, thương mại kỷ thuật số, và lao động, môi trường. Theo đó, điều kiện để được miễn thuế trong “lắp ráp ô tô” phải có 75% linh kiện xuất tại nội khối, và công nhân “lắp ráp ô tô” phải có mức lương từ 16 USD/giờ trở lên; mở thêm thị trường sữa và bơ sữa của Canada cho nông dân Mỹ; bảo hộ bản quyền tác giả tăng lên 70 năm sau khi tác giả qua đời; Cấm đánh thuế hải quan đối với các sản phẩm số (nhạc, sách điện tử, video) và ngăn chặn việc ép buộc lưu trữ dữ liệu cục bộ; Và, đề ra các quy định ngặt nghèo, có tính ràng buộc pháp lý cao về tiêu chuẩn lao động và bảo vệ môi trường. 

THUẾ KHOÁ. Ngày 22/12/2017, Donald Trump ký ban hành Đạo luật Cắt giảm Thuế và Việc làm năm 2017 (Tax Cuts and Jobs Act - TCJA). Đây là cuộc cải cách mã số thuế lớn nhất tại Mỹ trong hơn 30 năm, tác động mạnh mẽ đến cả doanh nghiệp và cá nhân. Có nội dung: Cắt giảm vĩnh viễn thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (C-corporation) từ mức 35% xuống còn 21%; Khấu trừ khoản 20% cho doanh nghiệp nhỏ đối với thu nhập kinh doanh chuyển qua (pass-through income) cho các công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và công ty S-corporation; Chuyển đổi từ hệ thống thuế toàn cầu sang hệ thống lãnh thổ, miễn thuế đối với cổ tức từ các công ty con nước ngoài để khuyến khích các tập đoàn Mỹ hồi hương lợi nhuận; 

Hạ thấp các mức thuế suất biên ở hầu hết các bậc thu nhập và nâng ngưỡng chịu thuế của các bậc; Gần như nhân đôi mức khấu trừ chuẩn, giúp đơn giản hóa việc kê khai cho đa số người nộp thuế; Tăng gấp đôi mức tín dụng tối đa cho mỗi trẻ em; Áp trần mức khấu trừ thuế tiểu bang và địa phương (SALT) ở mức 10.000 USD và giảm hạn mức tiền lãi vay mua nhà được trừ thuế; Xóa bỏ mức phạt liên bang đối với cá nhân không mua bảo hiểm y tế theo Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền (ACA). Các điều khoản cắt giảm thuế đối với cá nhân được thiết kế có thời hạn và dự kiến hết hạn vào cuối năm 2025, trong khi các khoản giảm thuế doanh nghiệp mang tính vĩnh viễn. 

BIÊN GIỚI. Ngày 25 tháng 1 năm 2017, Tổng thống Donald Trump ký và ban hành Sắc lệnh hành pháp số 13767 về an ninh biên giới…, có nội dung chỉ đạo xây dựng một bức tường vật lý dọc theo biên giới giữa Hoa Kỳ và Mexico. Trongchiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016, Trump tuyên bố rằng nếu được bầu, ông sẽ "xây dựng một bức tường dọc theo biên giới giữa Hoa Kỳ và Mexico, và bắt Mexico phải trả tiền cho nó". Vào thời điểm đó, Tổng thống Mexico Enrique Pena Nieto đã đáp trả rằng đất nước của ông sẽ không trả tiền cho bức tường. Cho nên, khi xây dựng bức tường ban đầu sử dụng nguồn vốn liên bang hiện có, nhưng do chi phí quá lớn, Trump phải du di từ các nguồn kinh phí khác kể cả quốc phong, giáo dục… Vào tháng Chín năm 2019, Trump cho biết ông có kế hoạch xây dựng 725 – 800 km tường mới trong năm 2020. Đến ngày 17/12/2019, Quyền Ủy viên của Cục Hải quan và Biên phòng, ông Mark Morgan tuyên bố rằng 150 km của bức tường đã được xây dựng. Nhưng, theo số liệu CBP thì con số xây dựng vào khoảng 145 km.

NHẬP CƯ. Ngày 27 tháng 1 năm 2017, Tổng thống Donald Trump ký ban hành Sắc lệnh hành pháp số 13769, còn được biết đến là "Muslim Ban", tạm dừng nhập cảnh đối với công dân từ 7 quốc gia có đa số dân theo đạo Hồi bao gồm: Iran, Iraq, Libya, Somalia, Sudan, Syria và Yemen. Tháng 4 năm 2018, Trump ban hành chính sách "không khoan nhượng" đối với người nhập cư trái phép tại biên giới, áp dụng các biện pháp cực kỳ cứng rắn nhằm răn đe, ngăn chặn dòng người vượt biên và triệt phá các mạng lưới buôn người. Những người nhập cảnh vào Mỹ bất hợp pháp qua biên giới phía Nam đều bị bắt giữ và chuyển thẳng đến tòa án liên bang để truy tố hình sự kể cả những người có ý định nộp đơn xin tị nạn nhân đạo. Người vượt biên sẽ bị tạm giam hoàn toàn trong các trung tâm giam giữ của Bộ An ninh Nội địa (DHS) thay vì được tại ngoại chờ ngày ra hầu tòa. Hệ quả gây chấn động nhất là tình trạng ly tán gia đình tại biên giới.

TƯ PHÁP. Trong 4 năm làm Tổng thống Mỹ Donald Trump đã bổ nhiệm 3 thẩm phán Tòa án Tối cao giúp phe bảo thủ chiếm thế đa số 6-3 tại Tối cao pháp viện. Ngày 31 tháng 1 năm 2017, Tổng thống Donald Trump đề cử Neil Gorsuch làmThẩm phán Tòa án Tối cao Mỹ thay thế Thẩm phán Antonin Scalia qua đời, được Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn với tỷ lệ 54 phiếu thuận và 45 phiếu chống. Và, ngày 10/04/2017, ông tuyên thệ nhậm chức. Ngày 9 tháng 7 năm 2018, Trump đề cử thẩm phán Brett Kavanaugh vào Tòa án Tối cao thay thế Thẩm phán Anthony Kennedy nghỉ hưu, được Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn với tỷ lệ phiếu 50 phiếu thuận và 48 phiếu chống. Và, ngày 6/10/2018, ông tuyên thệ nhậm chức. Ngày 26 tháng 9 năm 2020, Donald Trump bổ nhiệm thẩm phán Amy Coney Barrett vào Tòa án Tối cao Hoa Kỳ thay thế Thẩm phán Ruth Bader Ginsburg qua đời, được Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn với tỷ lệ 52 phiếu thuận và 48 phiếu chống. Và ngày 26 tháng 10 năm 2020, bà tuyên thệ nhậm chức. 

Trong nhiệm kỳ đầu tiên (2017–2021), Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng đã bổ nhiệm tổng cộng 234 thẩm phán Liên bang theo Điều III của Hiến pháp, bao gồm 54 thẩm phán tòa phúc thẩm liên bang (Circuit Court) và 174 thẩm phán tòa liên bang cấp quận-khu vưc (District Court), Tất cả 54 người Thẩm phán Tòa phúc thẩm liên bang và 174 người Thẩm phán Tòa án quận khu vực đều được Thượng viện chấp thuận phê chuẩn. Việc bổ nhiệm tác động đến Đảng Cộng hòa tái cân bằng, hoặc tạo đa số bảo thủ tại nhiều tòa phúc thẩm liên bang quan trọng (như Tòa phúc thẩm khu vực số 2, số, số 11 và chuyển biến đáng kể tại khu vực số 9).

ĐỐI NGOẠI VÀ QUỐC PHÒNG. Ngày 1/6/2017. trong bài phát biểu tại Nhà Trắng, Tổng thống Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Trump cho rằng thỏa thuận này là bất công đặt gánh nặng tài chính và kinh tế lên người lao động cũng như các ngành công nghiệp Mỹ, rằng, hiệp định đã gây bất lợi kinh tế lớn cho nước Mỹ.Ngày 4/11/2019Bộ Ngoại giao Mỹ chính thức đệ trình văn bản thông báo quyết định rút khỏi hiệp định này lên Liên Hợp Quốc. Và, ngày 4/11/2020: Mỹ chính thức hoàn tất thủ tục và rời khỏi Thỏa thuận Paris. Tuy nhiên, sau đó chính quyền Tổng thống Joe Biden đã đưa Mỹ quay trở lại hiệp định này vào đầu năm 2021.  

Ngày 06/12/2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký quyết định công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel và chính thức dời Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv về thành phố này vào tháng 05/2018, gây ra nhiều tranh cãi lớn trên toàn thế giới. Phía Israel: Hoan nghênh nhiệt liệt, coi đây là hành động lịch sử và công nhận thực tế Jerusalem là thủ đô vĩnh cửu của họ.Phía Palestine: Phản đối mạnh mẽ, khẳng định Đông Jerusalem phải là thủ đô của nhà nước Palestine trong tương lai.Cộng đồng quốc tế: Nhiều nước lớn và Liên Hợp Quốc lo ngại động thái này làm tổn hại nghiêm trọng đến tiến trình hòa bình Trung Đông và tình hình ổn định trong khu vực. 

Ngày 8 tháng 5 năm 2018, Tổng thống Mỹ Donald Trump đơn phương rút nước Mỹ ra khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran (JCPOA) và tái áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế ngặt nghèo đối với Iran. Trump tuyên bố đây là một "thỏa thuận tồi tệ, phiến diện và không bao giờ nên được ký kết" rằng thỏa thuận không ngăn được bom hạt nhân; bỏ qua chương trình tên lửa xuyên lục địa; gây bất ổn khu vực tại Trung Đông; cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) không được quyền tiếp cận vô điều kiện các cơ sở quân sự nghi vấn của Iran. Và, rằng việc dỡ bỏ trừng phạt giúp Iran có thêm hàng tỷ USD, số tiền này dùng để tài trợ khủng bố thay vì phục vụ người dân.

HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH TRUMP-KỊM JONG-UN. Ngày 12 tháng 6 năm 2018 tại đảo Sentosa, Singapore, Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un, có cuộc họp thượng đỉnh Mỹ - Triều đầu tiên. Hai bên đã ký một Tuyên bố chung nhằm thiết lập quan hệ mới và hướng tới phi hạt nhân hóa. Theo đó, Mỹ và Triều Tiên cam kết xây dựng mối quan hệ song phương mới phù hợp với mong muốn hòa bình và thịnh vượng của nhân dân hai nước; Hai bên cùng nỗ lực xây dựng một nền hòa bình vững chắc và ổn định dài lâu trên bán đảo Triều Tiên; Triều Tiên tái khẳng định cam kết hoàn toàn phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, dựa trên tuyên bố trước đó tại hội nghị liên Triều; Mỹ và Triều Tiên cam kết thu hồi hài cốt của các tù binh chiến tranh và những binh sĩ mất tích (MIA/POW), bao gồm việc hồi hương những hài cốt đã được nhận dạng ngay lập tức.

Ngày 27-28/2/2019, tại Hà Nội, Việt Nam, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều lần thứ 2 giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un. Hai nội dung thảo luận chính là Phi hạt nhân hóa, dỡ bỏ lệnh trừng phạt. Phía Mỹ yêu cầu Triều Tiên từ bỏ toàn bộ chương trình vũ khí hạt nhân bao gồm cả việc dỡ bỏ hoàn toàn các cơ sở hạt nhân cốt lõi. Phía Triều Tiên đề nghị Mỹ dỡ bỏ 5 trong số 11 nghị quyết trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhắmvào các lĩnh vực gây ảnh hưởng nặng nề đến đời sống dân sinh và kinh tế nước này. Kết quả hội nghị kết thúc sớm hơn dự kiến và không đạt được thỏa thuận chung hay ký kết tuyên bố chung, do bất đồng về mức độ dỡ bỏ lệnh trừng phạt và phi hạt nhân hóa.

Ngày 30/6/2019 tại Khu phi quân sự (DMZ) ở biên giới liên Triều, cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Triều lần thứ 3 diễn ra giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã nhất trí nối lại đàm phán hạt nhân cấp chuyên viên vốn bị bế tắc từ sau hội nghị tại Hà Nội, đồng thời ghi dấu mốc lịch sử khi ông Trump bước qua ranh giới sang lãnh thổ Triều Tiên. Ba nội dung chính của cuộc gặp là Nối lại đàm phán hạt nhân, Duy trì ngoại giao cấp cao, và thúc đẩy Tuyên bố Singapore. Hai bên đồng ý tái khởi động các cuộc đàm phán cấp chuyên viên về vấn đề phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên sau nhiều tháng ngưng trệ từ đầu năm 2019. Khẳng định mối quan hệ cá nhân tốt đẹp và kênh liên lạc trực tiếp giữa hai nhà lãnh đạo. Đặt ra mục tiêu tạo động lực mới để tiếp tục thực hiện các cam kết hướng tới hòa bình và phi hạt nhân hóa đã ký kết trong lần gặp đầu tiên Singapore.

THÀNH LẬP LỰC LƯỢNG KHÔNG GIAN MỸ  (U.S. Space Force). Ngày 20 tháng 12 năm 2019 Lực lượng Không gian Mỹ (U.S. Space Force - USSF) được chính thức thành lập với mục đích: Đảm bảo an ninh cho Mỹ và đồng minh tại không gian; Duy trì, bảo vệ và mở rộng năng lực quân sự vũ trụ; Quản lý vệ tinh định vị (GPS), liên lạc và cảnh báo tên lửa. Lực lượng Không gian hoạt động độc lập nhưng trực thuộc Bộ Không quân Mỹ (Department of the Air Force). Lãnh đạo cao nhất là Tư lệnh Hành quân Không gian (Chief of Space Operations - CSO); Thành viên lực lượng là các "Vệ binh" (Guardians). Bộ chỉ huy chính gồm 3 bộ chỉ huy: SpOC (Tác chiến), SMC/SSC (Hệ thống), STARCOM (Huấn luyện). Các phát triển mới nhất là chuyển dịch toàn bộ Lực lượng Dự bị Vệ binh Quốc gia (Air National Guard) sang lực lượng chuyên trách; Thiết lập các trung tâm tác chiến chung với đồng minh (NATO, Nhật Bản, Úc);  để đối phó với thách thức từ các đối thủ cạnh tranh vũ trụ; Tập trung phát triển các chòm sao vệ tinh quỹ đạo thấp (LEO) nhằm phát hiện và bám đuôi tên lửa siêu thanh.

MỘT NHIỆM KỲ DUY NHẤT CỦA JOE BIDEN. Ngày 20 tháng 1 năm 2021, Joe Biden đã đánh bại ứng cử viên đương kim tổng thống Donald Trump trong cuộc bầu cử tổng thống ngay 7 tháng 11 năm 2020. Ngày 20 tháng 1 năm 2021, Joe Biden tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ. Lễ nhậm chức của Biden "không giống như bất kỳ lễ nhậm chức nào trước đây" do các biện pháp phòng ngừa COVID-19 cũng như những biện pháp thắt chặt an ninh được tăng cường do mối đe dọa về tình trạng bất ổn dân sự lan rộng. Biden tuyên thệ và đọc diễn văn nhậm chức ở bậc tam cấp trước cửa phía Tây Điện Capitol, nhưng không có khán giả tham dự trên Mall và cũng không có cuộc diễu hành hoặc buổi dạ tiệc nhậm chức nào. Trump đã không tham dự, trở thành tổng thống mãn nhiệm đầu tiên kể từ năm 1869 không tham dự lễ nhậm chức của người kế nhiệm.

100 NGÀY ĐẦU TIÊN. Trong hai ngày đầu tiên trên cương vị người đứng đầu Nhà Trắng, Biden đã ký 17 lệnh hành pháp, nhiều hơn so với hầu hết các vị tổng thống gần đây nhất đã làm trong 100 ngày đầu tiên của họ. Vào ngày thứ ba, các mệnh lệnh của ông bao gồm việc tái gia nhập Thoả thuậnchung Paris, chấm dứt tình trạng khẩn cấp quốc gia ở biên giới với Mexico, chỉ đạo chính phủ tái gia nhập Tổ chức Y tế thế giới, yêu cầu bắt buộc đeo khẩu trang ở các tiểu bang, những biện pháp chống nạn đói ở Hoa Kỳ, và thu hồi giấy phép xây dựng đường ống Keystone XL. Vào ngày 4 tháng 2 năm 2021, chính quyền Biden thông báo rằng Hoa Kỳ chấm dứt hỗ trợ cho chiến dịch némom do Ả Rập Xê-út dẫn đầu vào Yemen. 

Ngày 11 tháng 3, Biden đã ký ban hành Đạo luật Kế hoạch giải cứu Hoa Kỳ 2021, một gói kích thích kinh tế, trị giá 1,9 nghìn tỷ USD mà ông đề xuất và vận động hành lang nhằm tăng tốc độ phục hồi của Hoa Kỳ khỏi những tác động tiêu cực về kinh tế và sức khỏe do đại dịch COVID-19 và cuộc suy thoái đang diễn ra. Gói này bao gồm những khoản thanh toán trực tiếp cho hầu hết người Mỹ, gia tăng trợ cấp thất nghiệp, quỹ phân phối vắc xin và mở cửa trường học trở lại, hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ, chính quyền liên bang và địa phương, mở rộng trợ cấp bảo hiểm y tế và thuế trẻ em. Ngày 14 tháng 4, Biden tuyên bố Mỹ sẽ hoãn việc rút toàn bộ quân đội khỏi cuộc chiến Afghanistan cho đến ngày 11 tháng 9, báo hiệu chấm dứt sự can thiệp quân sự trực tiếp của quốc gia này vào Afghanistan sau gần 20 năm. 

Ngày 22–23 tháng 4, Biden tổ chức hội nghị thượng đỉnh quốc tế về khí hậu, tại đây ông tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ cắt giảm 50%–52% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030 so với mức năm 2005. Các nước khác cũng tham gia cam kết. Nếu các cam kết đưa ra tại hội nghị này được đáp ứng, chúng sẽ cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu xuống 2,6–3,7 GtCO2e vào năm 2030. Ngày 28 tháng 4, trước ngày thứ 100 trên cương vị tổng thống, Biden đã có bài phát biểu đầu tiên trước Quốc hội lưỡng viện, trong đó ông nhấn mạnh tính hiệu quả của vắc-xin COVID-19, giải quyết vấn đề rút quân khỏi Afghanistan, vụ sát hại George Floyd và bạo loạn Điện Capitol cũng như thúc giục Quốc hội thông qua cải cách toàn diện về nhập cư, súng đạn và chăm sóc sức khỏe.

NHỮNG THÁNG CÒN LẠI CỦA NĂM 2021. Tháng 5 năm 2021, trong thời gian bùng nổ chiến tranh giữa Israel và Palestine, Biden nói rằng "đảng của tôi vẫn luôn ủng hộ Israel".  Vào tháng 6 năm 2021, Biden có chuyến công du nước ngoài tám ngày, ông đã đến thăm Bỉ, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh. Ông tham dự hội nghị thượng đỉnh G 7, hội nghị thượng đỉnh NATO, hội nghị thượng đỉnh EU, và có cuộc hội đàm trực tiếp với tổng thống Nga Vladimir Putin. Tháng 9 năm 2021, Biden công bố hiệp ước Úc, Anh và Mỹ AUKUS bảo đảm ổn định khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Đến cuối năm 2021, Biden đã bổ nhiệm 40 thẩm phán vào cơ quan tư pháp liên bang, phần lớn là phụ nữ da màu. Sự kiện đáng chú ý của năm 2021 là cuộc triệt thoái quân Mỹ khỏi Afghanistan. Triệt thoái khỏi Afghanistan là do thoả thuận giữa tổng thống Trump và Taliban tháng từ 2 năm 2020. 

Tháng 4 năm 2021, Bộ Ngoại giao đã thúc giục thường dân Mỹ ở Afghanistan phải rời đi càng sớm càng tốt. Ngày 1 tháng 5, Taliban bắt đầu các cuộc tấn công, đến đầu tháng 7, hầu hết quân Mỹ đã rút khỏi Afghanistan. Ngày 15 tháng 8,chính phủ Afghanistan sụp đổ trước cuộc tấn công của Taliban và Tổng thống Afghanistan, Ashraf Ghani đã rời khỏi đất nước. Ngày 16 tháng 8, Biden đã có bài phát biểu về tình trạng "hỗn độn" tại Afghanistan, ông tự nhận trách nhiệm về mình và thừa nhận rằng tình hình "diễn ra nhanh hơn chúng tôi dự đoán". Ông cũng bảo vệ quyết định rút quân của mình, nói rằng người Mỹ không nên "hi sinh trong một cuộc chiến mà các lực lượng Afghanistan không sẵn sàng chiến đấu cho chính họ."

Đến cuối năm. Theo cuộc thăm dò của Morning Consult, trong tám tháng đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống, tỷ lệ ủng hộ Biden vẫn đạt trên 50%. Vào tháng 8, nó bắt đầu giảm và rơi xuống mức thấp nhất vào tháng 12. Sự suy giảm trong tỷ lệ ủng hộ Biden được cho là xuất phát từ việc rút quân khỏi Afghanistan, sự gia tăng số ca nhiễm biến thể Delta, lạm phát cao, và giá khí đốt tăng, sự bất ổn trong nội bộ Đảng Dân chủ và sự suy giảm nói chung về thông lệ chính trị.

BƯỚC SANG NĂM 2022, Tháng 1/2022, Thẩm phán Stephen Breyer được Bill Clinton đề cử, thông báo sẽ nghỉ hưu tại Tòa án Tối cao. Tháng 2, Biden đã tiến cử thẩm phán liên bang Ketanji Brown Jackson vào Tòa án Tối cao. Thượng viện đã phê chuẩn bà vào ngày 7 tháng 4, và đã tuyên thệ nhậm chức vào ngày 30 tháng 6. Đầu tháng 2, Biden đã ra lệnh thực hiện cuộc tấn công chống khủng bố ở miền bắc Syria giết chết Abu Ibrahim al-Hashimi al-Qurashi thủ lĩnh thứ hai củaNhà nước Hồi giáo. Cũng trong tháng 2, sau khi cảnh báo rằng một cuộc tấn công quân sự sắp nổ ra trong vài tuần, Biden đã dẫn đầu phản ứng của Mỹ đối với việc Nga tấn công Ukraina, áp đặt các biện pháp trừng phạt nghiêm ngặt nhắm vào Nga và ủy quyền cho các chuyến háng viện trợ vũ khí trị giá hơn 1 tỷ USD tới Ukraina.

Tháng 4, Biden đã yêu cầu Quốc hội viện trợ 33 tỷ đô la cho Ukraina, nhưng Quốc hội đã tăng mức viện trợ lên gần 40 tỷ. Biden tỏ ra lo ngại việc Solomon-Trung Quốc Hiệp ước an ninh Quần đảo, ông cho rằng “Trung Quốc có thể xây dựng các căn cứ quân sự trên khắp Nam Thái Bình Dương”. Sau thỏa thuận này, Biden tìm cách tăng cường quan hệ với Australia và New Zealand, khi Anthony Albanese kế nhiệm thủ tướng Scott Morrison ngày 23 tháng 5 năm 2022, Australia  đã có đường lối vững chắc hơn đối với sức ảnh hưởng của Trung Quốc. Cuối tháng 7, Ayman al-Zawahỉi, thủ lĩnh thứ hai của Al-Qaida và là một thành viên chủ chốt trong việc lên kế hoạch thực hiện vụ tấn công 11 tháng 9 năn 2001 bị máy bay không người lái tiêu diệt.

TỪ NĂM 2023 đến khi kết thúc nhiệm kỳ vào ngày 20 tháng 1 năm 2025, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xử lý các cuộc khủng hoảng nợ công; định hình chính sách đối ngoại trong các xung đột toàn cầu;và đưa ra quyết định lịch sử rút khỏi cuộc đua tái tranh cử: 

Về chính sách đối nội và kinh tế: Biden ký kết thỏa thuận lưỡng đảng nhằm đình chỉ trần nợ công và kìm hãm chi tiêu liên bang sau cuộc khủng hoảng trần nợ năm 2023. Duy trì mức tăng trưởng GDP vượt dự báo và tỉ lệ thất nghiệp ở mức thấp kỷ lục, tạo thêm hàng triệu việc làm mới trong hai năm cuối nhiệm kỳ qua các đạo luật cơ sở hạ tầng và năng lượng trước đó. Tiếp tục mở rộng các chương trình của Bộ Giáo dục để xóa nợ cho hàng triệu người Mỹ, đạt tổng số tiền nợ được miễn giảm lên tới hơn 183 tỷ USD trong toàn nhiệm kỳ. Đẩy mạnh thực thi Đạo luật Giảm lạm phát, thương lượng giá thuốc qua Medicare và thành lập Quân đoàn Khí hậu Mỹ (American Climate Corps). Lập ra cơ quan chuyên trách cấp Nhà Trắng đầu tiên về vấn đề an toàn súng đạn năm 2023. 

Về chính sách đối ngoại: Biden có chuyến thăm bất ngờ tới Ukraine (tháng 2/2023) là Tổng thống Mỹ đương nhiệm đầu tiên đến thăm vùng chiến sự trực diện tại Kyiv kể từ năm 1864 để cam kết viện trợ quân sự. Ứng phó với khủng hoảng Trung Đông (từ tháng 10/2023): Ủng hộ Israel sau các cuộc tấn công của Hamas, đồng thời tìm kiếm giải pháp kiểm soát xung đột khu vực và cứu trợ nhân đạo cho dải Gaza. Ngoại giao khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Củng cố quan hệ với các đối tác chiến lược tại châu Á, bao gồm chuyến thăm chính thức tới Việt Nam vào tháng 9/2023. 

Quyết định rút lui khỏi chiến dịch tranh cử 2024. Sau áp lực chính trị và màn tranh luận trước bầu cử ngày 21 tháng 7/2024, Biden tuyên bố không tìm kiếm nhiệm kỳ thứ hai, chuyển giao vai trò ứng viên tổng thống của đảng Dân chủ cho Phó Tổng thống Kamala Harris và cam kết hoàn thành trọn vẹn phần còn lại của nhiệm kỳ đến ngày 20/1/2025. Các trợ lý của ông Biden cũng lên kế hoạch cho việc tổng thống thỉnh thoảng tham gia vận động cho bà Harris vì các cuộc thăm dò cho thấy tỉ lệ ủng hộ ông đã tăng lên sau quyết định rút tranh cử.

NHIỆM KỲ THỨ HAI CỦA DONALD TRUMP. Ngày 20 tháng 1 năm 2025, Donald Trump tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 47 của Hoa Kỳ. Phát biểu trong lễ nhậm chức, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói "Mỗi ngày trong nhiệm kỳ, tôi sẽ chỉ đặt nước Mỹ lên trên hết". Nhiệm kỳ hai của Tổng thống Donald Trump đã khiến cả nước Mỹ và thế giới chao đảo bởi những chính sách đối nội, đối ngoại quyết liệt, nhắm vào cả đồng minh lẫn đối thủ. Ông tuyên bố: "Kỷ nguyên vàng của nước Mỹ bắt đầu từ ngày hôm nay. Đất nước chúng ta từ hôm nay sẽ lại thịnh vượng và được tôn trọng lần nữa trên toàn thế giới", Ông Trump đã thực hiện điều đó ngay trong ngày đầu tiên của nhiệm kỳ hai, khi ký khoảng 200 văn kiện gồm sắc lệnh hành pháp, bản ghi nhớ và tuyên bố của tổng thống, đồng thời hủy nhiều sắc lệnh được ban hành dưới thời chính quyền Biden.

CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI: Ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ, ông Trump đã tiến hành loạt động thái quyết liệt nhằm thực hiện cam kết về tái cấu trúc nền kinh tế, bộ máy hành chính liên bang, chính sách nhập cư và phần lớn đời sống văn hóa của nước Mỹ. Bất chấp nhiều tranh cãi, đội ngũ của ông Trump vẫn không ngừng nghỉ thực thi chương trình nghị sự đối nội. Họ xóa bỏ các quy định về năng lượng nhằm tăng sản lượng dầu khí của Mỹ và cắt giảm trợ cấp cho các dự án năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời. Chính quyền đã tinh giản bộ máy liên bang, giải thể và đóng cửa nhiều cơ quan chính phủ, với khoảng 300.000 công chức bị đưa ra khỏi bộ máy. Kiềm chế và kiểm soát nhập cư được xem là trọng tâm chương trình nghị sự của ông Trump kể từ lần đầu tranh cử tổng thống. 

Chính quyền Trump đã thông qua khoản ngân sách lên tới 170 tỷ USD cho chương trình kiểm soát nhập cư, với mục tiêu trục xuất một triệu người nhập cư trái phép một năm. Chính quyền cũng triển khai hàng nghìn đặc vụ Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan (ICE) để truy quét và bắt giữ người nhập cư không giấy tờ trên khắp nước Mỹ. Oxford Economics ước tính với các chính sách hiện tại của chính quyền Trump, số người nhập cư ròng vào Mỹ đang ở mức khoảng 450.000 người mỗi năm. Con số này thấp hơn nhiều so với mức 2-3 triệu người mỗi năm dưới thời chính quyền Biden. Theo số liệu Bộ An ninh Nội địa Mỹ công bố đầu tháng 12/2025, hơn 605.000 người đã bị trục xuất kể từ khi ông Trump nhậm chức. Khoảng 1,9 triệu người nhập cư trái phép khác cũng đã tự nguyện rời khỏi Mỹ trong năm qua.

Trong suốt năm 2025, ông Trump nhiều lần sử dụng khái niệm "tình trạng khẩn cấp" để giải thích cho các quyết sách của chính quyền. Ông liên tục mô tả nước Mỹ đang đối mặt với những cuộc khủng hoảng chồng chéo, từ an ninh biên giới, nhập cư bất hợp pháp cho tới "khủng bố ma túy". David Driesen, giáo sư danh dự tại Trường Luật Đại học Syracuse (Mỹ), nói "Tôi chưa từng thấy một tổng thống viện dẫn quyền khẩn cấp để giải thích cho toàn bộ chương trình chính sách như vậy"… "Với ông Trump, mọi thứ đều là khẩn cấp."

SÁCH LƯỢC ĐỐI NGOẠI. Ông Trump tự nhận mình là "Tổng thống vì hòa bình" và đã nỗ lực làm trung gian hòa giải cho nhiều cuộc xung đột toàn cầu, nhưng (có thành công hay không thì cò ở phía trước). Ông đã thúc đẩy chấm dứt xung đột Israel – Iran, chiến sự Gaza, giao tranh Ấn Độ – Pakistan, ký thỏa thuận hòa bình giữa CHDC Congo và Rwanda, làm trung gian để Campuchia – Thái Lan ký thỏa thuận hòa bình và tìm cách kết thúc chiến sự Nga – Ukraine.Dù thể hiện vai trò tích cực trong giải quyết xung đột, nước Mỹ dưới thời ông Trump tiếp tục thu hẹp vai trò trong các thể chế đa phương. Ngay sau khi nhậm chức, chính quyền ông rút Mỹ khỏi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Hiệp định Khí hậu Paris và gần đây nhất là tuyên bố rút khỏi 66 tổ chức quốc tế, trong đó có 31 tổ chức liên quan tới Liên Hợp Quốc.

Năm qua, chính quyền Trump cũng tập trung nhiều hơn vào khu vực Mỹ Latin, trong đó Venezuela, quốc gia có trữ lượng dầu mỏ hàng đầu thế giới, trở thành tâm điểm chú ý. Ban đầu, chính quyền Trump tìm cách hợp tác với chính quyền của Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro để trục xuất những người nhập cư bất hợp pháp tới quốc gia này diễn ra suông sẻ. Tuy nhiên, về sau quan hệ song phương trở nên căng thẳng sau khi Nhà Trắng cáo buộc Tổng thốngMaduro hỗ trợ các băng đảng tuồn lượng lớn ma túy vào Mỹ. Từ tháng 9/2025, Mỹ điều hạm đội tàu chiến đến Biển Caribe tiến hành các cuộc tập kích nhắm vào tàu thuyền từ Venezuela khiến hơn 100 người thiệt mạng. Đỉnh điểm là cuộc đột kích của lực lượng đặc nhiệm rạng sáng 3/1/2026 vào thủ đô Caracas bắt giữ vợ chồng tổng thống Nicolas Maduro đưa về Mỹ nói là để xét xử về tội buôn bán ma tuý. 

Quan hệ giữa Mỹ và các đồng minh NATO rạn nứt tăng lên khi chính quyền Trump bày tỏ quyết tâm kiểm soát Greenland, hòn đảo rộng lớn do Đan Mạch quản lý. Trump thậm chí để ngỏ khả năng sử dụng quân sự để giành quyền kiểm soát hòn đảo tối quan trọng đối với an ninh quốc gia và NATO. Căng thẳng giữa Mỹ và các đồng minh NATO tiếp tục gia tăng sau khi Trump tuyên bố áp thuế 10% kể từ ngày 1 tháng 2 với Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Pháp, Đức, Anh, Hà Lan và Phần Lan vì các nước này đã điều quân đến Greenland. Ông đe dọa sẽ nâng mức thuế lên 25% từ 1tháng 6 và duy trì cho đến khi Mỹ hoàn tất thương vụ mua lại đảo Greenland. Các nước châu Âu phải họp khẩn để bàn phương án đối phó, trong khi niềm tin vào vai trò, vị thế và cam kết an ninh của của Mỹ đối với phương Tây ngày càng lung lay.

Gần đây, Trump tuyên bố không loại trừ khả năng sử dụng biện pháp quân sự nếu chính quyền Iran không chấm dứt việc trấn áp người biểu tình. Trước đó, vào tháng 6/2025, ông từng ra lệnh tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran nhằm ủng hộ chiến dịch quân sự của Israel. Mặt trận kinh tế ghi nhận những giai đoạn căng thẳng khi chính quyền Trump áp dụng các biện pháp thuế quan sâu rộng khắp toàn cầu, dẫn tới các biện pháp trả đũa của các đối tác thương mại, đáng chú ý là Trung Quốc. Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới có thời điểm liên tục áp thuế đáp trả nhau trước khi các cuộc đàm phán song phương giúp xoa dịu tình hình. Tuy nhiên, ông Trump ca ngợi thuế quan như một công cụ buộc các đối tác phải "chơi công bằng". "Chúng ta không chỉ kiếm được hàng trăm tỷ USD, mà còn trở thành người giữ hòa bình nhờ thuế quan", ông Trump nói tại Phòng Bầu dục ngày 6/10/2025.

NHẬN ĐỊNH TỪ NGOÀI. Một khảo sát của Quinnipiac công bố giữa tháng 12/2025 cho thấy 54% cử tri cho rằng ông Trump đang đi quá xa trong việc khẳng định quyền lực, trong khi 37% cho rằng ông xử lý vai trò này một cách đúng đắn. Danny Kemp, nhà phân tích của AFP, nhận xét trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ, ông Trump đã làm lung lay nền tảng dân chủ Mỹ khi đất nước chuẩn bị kỷ niệm 250 năm quốc khánh, đồng thời gây ra hỗn loạn toàn cầu vì thuế quan và khiến trật tự thế giới đảo lộn. Barbara Perry nhận xét: Hiện vẫn còn quá sớm để đánh giá toàn diện nhiệm kỳ hai của Tổng thống Trump khi ông vẫn còn ba năm phía trước. Tuy nhiên, với những gì đã diễn ra từ "tốc độ thay đổi, cách tiến hành, phong cách của ông Trump mọi thứ đều không giống bất kỳ tổng thống nào trong lịch sử Mỹ". "Đây thực sự là một nhiệm kỳ tổng thống đáng kinh ngạc. Tôi không chắc có thể so sánh nó với bất kỳ nhiệm kỳ tổng thống nào khác trong lịch sử Mỹ," chuyên gia Bartlett nói. 

VÀ TRUMP TỰ ĐÁNH GIÁ. Trong cuộc phỏng vấn gần đây với New York Times, ông Trump tiết lộ tầm nhìn về quyền lực toàn cầu của mình, cho rằng chỉ "đạo đức bản thân" mới quyết định giới hạn quyền lực đó, thay vì luật pháp hay các hiệp ước quốc tế. "Giới hạn chính là đạo đức của tôi, là suy nghĩ của tôi. Đó là điều duy nhất có thể ngăn tôi lại", ông nói. "Tôi không cần luật pháp quốc tế. Tôi cũng không tìm cách làm hại con người". (Vn Express trên Google. Thanh Tâm (Theo Time, AFP, CBC, Al Jazeera, AP, Reuters).

Liên bang Hoa Kỳ ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua ngày 17/9/1787, có hiệu lực thi hành ngày 4/3/1789. Buổi đầu Liên ban Hoa Kỳ có 13 tiểu bang, theo thời gian tăng thêm 7 tiểu bang, và sau đó tăng thêm 30 tiểu bang nữa. Hiện nay Hoa Kỳ có tới 50 tiểu bang. Tính đến năm 2009, Hiến pháp Hoa Kỳ tu chỉnh tới 27 lần. Chẳng hạn, tu chỉnh Hiến pháp lần thứ 25 ngày 10/2/1967, quy định người kế nhiệm Tổng thống khi ông nầy không còn năng lực điều hành chính phủ. Theo Hiến pháp, quyền Hành pháp được trao cho Tổng thống do dân bầu với nhiệm kỳ 4 năm, giới hạn trong 2 nhiệm kỳ. Quyền Lập pháp trao cho Quốc hội gồm Thượng viện, và Hạ viện. Thượng viện có 100 đại biểu đại diện các Tiểu bang, mổi Tiểu bang có 2 Nghị sỉ với nhiệm kỳ 6 năm, cứ 2 năm bầu lại 1/3. Hạ viện gồm 435 Dân biểu, đại diện các khu vực bầu cử theo dân số kiểm kê mới nhất, với nhiệm kỳ 2 năm. Tổng thống nắm quyền Hành pháp, là nguyên thủ quốc gia, Tổng Tư lệnh Quân đội, và Tổng thống có quyền phủ quyết dự luật đã được Quốc hội thông qua. 

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số: 338.016.258 (năm 2016: 318.892.000); dưới 15 tuổi 17,2%, trên 65 tuổi 18,7%. Tăng dân số: 0,5%. Nhập cư: 15,2%. Mật độ dân cư: 37,0 người/km2.. Thành phố: 83,7%. Sắc tộc: thuần da trắng 80%, da đen 13%, Á châu 3%, tạp chủng 2%, da đỏ 1%. Ngôn ngữ: Anh (chính ) Spanish. Tôn giáo: Thiên chúa giáo Tin lành 51%, Thiên chúa giáo La mã 24%, Thiên chúa giáo khác 2%, Do Thái giáo 2%. Không tôn giáo 4%. Hầu hết tôn giáo đều có nguồn gốc từ tổ tiên. Đất đai: Tổng diện tích: 9.826.675 km2. Diện tích đất: 9.161.966 km2. Địa điểm: một nữa phía nam của Bắc Mỹ. Quốc gia láng giềng: Canada phía bắc. Địa thế: đồng bằng rộng lớn ở trung tâm, núi non phía tây, núi thấp và đồi phía đông. Chính quyền địa phương: vùng lảnh thổ 16 tiểu bang phía Nam, 13 tiểu bang phía tây, 12 tiểu bang trung tây, và 9 tiểu bang đông bắc. Đất nông nghiệp: 16,6%. Thủ đô: Washinton, D.C: 5.599.833 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà Liên bang với truyền thống dân chủ mạnh mẽ.  Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Donald Trump, sinh 1946, nhậm chức 20/1/2025. Chính quyền địa phương: 50 tiểu bang và khu vực Columbia (thủ đô Washinton, D.C). Ngân sách quốc phòng: 968,0 tỷ. Quân đội chính quy: 1.315.600. Kinh tế: Công nghiệp hàng không, không gian, xe hơi, luyện kim, lọc dầu, truyền thông, hoá chất, điện tử, chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng, gổ xẽ, khai thác hầm mỏ. Nông sản: lúa mì, bắp,  trái cây, rau quả, sợi bông. Tài nguyên: than đá, dầu lửa, khí đốt, vàng, bạc, đồng, chì, kim loại trắng cứng, muối acid, kim loại nặng có tính phóng xạ làm nhiên liệu hạt nhân (Uranium), quặng nhôm, sắt, niken, thuỷ ngân, cacbonat cali, bạc, kim loại nặng xám, kim loại trắng cứng xanh, gỗ. Nguồn nước: 8.986 m3/người. Sử dụng năng lượng: 278,3 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 4.300,0 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 1,6%; công nghiệp 19,3%; dịch vụ 79,1%. Thất nghiệp: 4,1%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar Mỹ (USD). Tổng sản lượng nội địa: 29.200,0 tỷ. Bình quân đầu người: 85.810 USD. Tăng trưỏng: 2,8%. Nhập khẩu: 4.100,0 tỷ. Bạn hàng: Canada 16%, Trung Quốc 15,9%, Mexico 10,4%, Nhật bản 7,9%, Germany 4,8%. Xuất khẩu: 3.200,0 tỷ. Bạn hàng: Canada 22,2%, Mexico 12,9%, Japan 5,8%, Trung Quốc 5,3%, Anh quốc 4,4%. Du lịch: 189,1 tỷ. Tiêu dùng: 36,3%. Lạm phát: 2,9%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 182.412 mi = 291.858 km. Xe hơi cá nhân 905/1000 cư dân. Sân bay 16.116. Truyền thông: Truyền hình: 196,7/100 cư dân. Điện thoại di động: 113,2/100. Internet: 93,1%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 16,5%. Tuổi thọ: nam 77,7, nữ 82,5. Sinh xuất: 10,8/1000 người. Tử xuất: 8,8/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 5,0/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 17/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: dưới 2,5%. Nhiểm HIV: không có số liệu. Nhiểm COVID-19: 31.250/100.000 trong đó có 370 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 6-17, biết đọc biết viết: không có số liệu./. 

 

 

CHƯƠNG 13: LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG 8 QUỐC GIA ĐỘC LẬP TẠI TRUNG MỸ: 3-10.

Năm 2026, khu vực Trung Mỹ có 8 quốc gia độc lập chiếm 2.486.251 km2 diện tích đất, và 183.760.000 cư dân. Tổng sản lượng 4.327,3 tỷ USD, và thu nhập bình quân đầu người 23.058. USD. Nhập khẩu 843,8 tỷ USD. Xuất khẩu 803,8 tỷ USD. Tiêu dùng 23,6%. Lạm phát 2,7%. Số người có Xe hơi cá nhân 14,9 %; Và, số người sử dụng Internet 68,8. 8 quốc gia độc lập ở Trung Mỹ là: Mexico, Belize, Guatemala, El Salvador, Honduras Nicaragua, Costa Rica, và Panama.

 

150. MEXICO - UNITED MECICAN STATE

(MỄ TÂY CƠ).

Tiến trình phát triển.

Mexico là nơi có nền văn minh phát triển của người Indian, cư dân bản địa. Họ đến đây từ Yucatan làm nông nghiệp, xây Kim tự tháp, và sáng tạo ra cách tính ngày tháng (lịch). Khu vực Toltecs bị xâm chiếm bởi người Aztecs, lập nên Tenochtitlan năm 1325 Sau công nguyên (SCN), bây giờ là thành phố Mexico. Hernando Cortes, người Tây Ban Nha xâm lăng, và phá vỡ đế quốc Aztecs từ năm 1519 đến 1521. Sau 300 năm cai trị của Tây Ban Nha, các cuộc nổi dậy làm bạo loạn bắt đầu năm 1810 dưới sự lãnh đạo Miguel Hidalgo y Costilla, rồi Moreles Payon năm 1812, và sau đó là tướng Agustin Iturbide, ông ta tự phong mình là Hoàng đế Agustin I năm 1821. Năm 1823, trở thành một nước cộng hoà. Vùng đất Mexico mở rộng tới nơi nay là phía tây nam Hoa Kỳ. 

Năm 1836, Texas ly khai khỏi Mexico, thành lập một Cộng hoà riêng. Quốc hội Mexico không thừa nhận nó, nhưng cũng không đủ mạnh tái lập quyền cai trị ở đó. Sau nhiều lần đụng độ, chiến tranh Hoa Kỳ - Mexico thực sự nổ ra trong thời gian 1846-1848. Kết quả là Mexico mất phần đất phía Bắc của Rio Grande. Được sự hậu thuẫn của lực lượng võ trang Pháp, Hoàng tử người Áo (Austrian Archduke) lên ngôi vua Mexico, với danh hiệu Maximillan I cai trị từ năm 1864 đến 1867. Dưới sức ép của Hoa Kỳ lực lượng Pháp rút khỏi Mexico. Tổng thống Porfirio Diaz, nhà cai trị độc tài thống trị Mexico từ năm 1877 đến 1880, dẫn đến một thời kỳ nổi dậy và đánh nhau giữa các phe đảng chính trị gần 28 năm 1884-1911.

Ngày 5/2/1917, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới mang đến những cải cách xã hội. Đảng Cách mạng (PRI) nắm quyền, và khuynh đảo chính trị từ năm 1929 đến cuối thập niên 1990. Phe đối lập Cấp tiến tiến hành đấu tranh, kể cả hoạt động du kích bị kiềm chế trên một diện rộng. Chính phủ cũng đạt được các thành tựu về nông nghiệp, công nghiệp và tiện ích công cộng, nhưng vẫn còn nhiều người chưa có việc làm. Mặc dù viễn cảnh khá sáng sủa với việc khám phá trữ lượng dầu lửa rộng lớn, thế nhưng nạn lạm phát, và giá dầu sụt giảm trên thị trường thế giới làm Mexico trầm trọng thêm các vấn đề kinh tế - xã hội trong suốt thập niên 1980. 

Ngày 12/8/1992 Mexico, Hoa Kỳ và Canada đạt tới Hiệp ước Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) có hiệu lực ngày 1/1/1994. Du kích quân của lực lượng Giải phóng Quốc gia Zapatista (AZLN) tung ra chiến dịch đánh phá phía Nam Mexico từ đầu năm, một phát thảo hoà bình được đôi bên đồng ý ngày 2/3. Ngày 23/3/1994, ứng cử viên Tổng thống của đảng Cách mạng Tổ chức (PRI) Luis Donaldo Colosio Murreta bị ám sát, ứng cử viên mới của đảng (PRI) là Ernesto Zedillo Ponce de Leons thắng cử, và tuyên thệ nhậm chức Tổng thống ngày 1/12/1994. Một kế hoạch kiểm soát nghiêm ngặt cùng với sự trợ giúp của Hoa Kỳ tiền tệ Mexico được phục hồi từ sự suy sụp đầu năm 1995. Tháng 8/1996, quân Cách mạng Quần chúng (PRA) bắt đầu tấn công vào các mục tiêu cứ điểm của chính phủ. 

Ngày 6/7/1997, đảng Cách mạng Tổ chức (PRI) lần đầu tiên từ năm 1929 thất bại không chiếm đủ số ghế trong Quốc hội. Ngày 22/12/1997, một băng đảng có vũ trang tàn sát 45 nông dân ở Chiapas. Đảng Cách mạng Tổ chức mất vị thế cầm quyền trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 2/7/2000. Vicente Fox Quesada của đảng Quốc gia Hành động (PAN) đắc cử, và nhậm chức Tổng thống ngày 1/12/2000. Con lốc Wilma ập vào Cancún ngày 21/10/2005, làm thiệt hại tài sản lên tới 2 tỷ USD. Cuộc bầu cử Tổng thống, và Quốc hội ngày 2/7/2006, có 5 ứng viên dự tranh, không có ứng viên nào hội đủ túc số. Và, tại vòng bầu chung cuộc ngày 5/9/2006, Calderón được công bố đắc cử, Calderón nhậm chức ngày 1/12/2006. Tại Quốc hội đảng PAN dẫn đầu chiếm 206 ghế tại Hạ viện và 52 ghế tại Thượng viện. 

Trận mưa lớn kéo dài từ ngày 28/10 đến 1/11/2007 đã làm hơn 1 triệu ngôi nhà chìm trong biển nước, và 13 người thiệt mạng trong 2 tiểu bang Tabasco và Chiapas. Người ta ước tính có khoảng 29,1 triệu người gốc Mexico đang sống bất hợp pháp ở Hoa Kỳ. Trong năm 2007, chính phủ Mỹ đã trục xuất về Mexico 7 triệu người. Bất chấp sự nặng tay của chính phủ trong việc triệt hạ nạn buôn bán ma tuý. Các vụ buôn bán ma tuý cứ gia tăng, và tìm cách thanh toán lẫn nhau làm chết hơn 28.000 người tính từ tháng 12/2006 đến tháng 7/2010.  

Cuộc bầu cử Tổng thống, và Quốc hội ngày 1/7/2012: Bầu Tổng thống, có 4 ứng viên dự tranh, ứng viên Enrique Pena Nieto đắc cử với 39,1% phiếu bầu, kế đó là ứng viên Andres (PRI) dẫn đầu chiếm 212/500 ghế tại Hạ viện, và 54 ghế tại Thượng viện, kế là đảng Quốc gia Hành động (PAN) đạt 114 ghế tại Hạ viện, và 38 ghế tại Thượng viện. Ngày 3 tháng 6 năm 2015, một phán quyết của Tòa án Tối cao đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới trên toàn quốc. Ngày 19 tháng 1 năm 2017, trùm ma túy khét tiếng Sinaloa, Joaquin Guzman Loera, được biết đến với cái tên EI Chapo, đã bị dẫn độ về Hoa Kỳ vào và bị kết án vào ngày 12 tháng 2 năm 2019 về tội buôn bán ma túy. 

Trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 1 tháng 7 năm 2018, người cánh tả của đảng Morana là Andres Manuel Lipez Obrador dễ dàng giành chiến thắng. Tập đoàn ma túy và bạo lực khác vẫn tiếp tục; hàng chục nghìn người đã bị sát hại hoặc 'mất tích' trong nhiệm kỳ tổng thống của Lipez Obrador. Năm 2019, hàng trăm nghìn người Trung Mỹ xin tị nạn và những người di cư khác từ Mexico vào Hoa Kỳ. Cùng năm 2019, Hoa Kỳ đề ra chính sách những người xin tị nạn bị buộc phải “chờ đợi ở Mexico” trong điều kiện giam giữ khắc nghiệt cho đến khi trường hợp của họ được Hoa Kỳ xử lý. Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) với Hoa Kỳ và Canada có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1994. Một hiệp ước sửa đổi được đổi tên thành Hiệp định Hoa Kỳ-Mexico-Canada (USMCA) có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2020. 

Mexico bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19 bắt đầu vào năm 2020; hàng trăm ngàn người chết. Chính sách “chờ ở Mexico” của Hoa Kỳ đến năm 2022 mới kết thúc. Việc vượt biên vào Hoa Kỳ lại tiếp tục vẫn ở mức cao, cho đến giữa năm 2024 mới giảm dần. Ngày 6 tháng 9 năm 2023, luật liên bang hình sự hóa việc phá thai là vi hiến, khiến việc phá thai trở nên bất hợp pháp trên toàn quốc, ít nhất là tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe liên bang. Vào những năm 2020, ngày càng nhiều các tiểu bang phải hợp pháp hóa việc phá thai theo luật của bang. Thủ lĩnh băng đảng Sinaloa Ismael Zambada Garcia, bị bắt ở Mỹ năm 2024, ngày 25 tháng 8 năm 2025,  đã nhận tội buôn bán ma túy. 

Claudia Sheinbaum của đảng cảnh tả Morana đã dễ dàng giành chiến thắng trong cuộc bầu cử ngày 2 tháng 6 năm 2024,kế nhiệm Lopez Obrador, trở thành người phụ nữ đầu tiên và tổng thống Do Thái đầu tiên của Mexico. Nêu lên mối lo ngại về việc tiếp tục buôn lậu fentanyl và các loại ma túy bất hợp pháp khác. Tổng thống. Donald Trump vào tháng 3 năm 2025, áp đặt mức thuế 25% đối với hầu hết hàng xuất khẩu của Mexico sang Hoa Kỳ không nằm trong phạm vi điều chỉnh của USMCA. Mexico, vào năm 2025, đã triển khai thêm quân tới biên giới Mỹ-Mexico, tăng cường dẫn độ các nghi phạm ma túy sang Hoa Kỳ và đàm phán để tránh bị đe dọa mức thuế cao hơn. 

Một sửa đổi hiến pháp năm 2024 có tính kiểm soát ngành tư pháp, yêu cầu tất cả các Thẩm phán phải được bầu. Vào ngày 1 tháng 6 năm 2025, trong cuộc bỏ phiếu, các ứng cử viên được đảng cánh tả Morena hậu thuẫn đã thống trị Tòa án Tối cao và các cuộc bầu cử tư pháp khác.

Liên bang Mexico ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Mexico được công bố ngày 5/2/1917, và có tu chỉnh nhiều lần xác định Mexico là một chính quyền Cộng hòa Liên bang gồm 31 Tiểu bang và 1 vùng thủ đô. Tổng thống được dân bầu trực tiếp với 1 nhiệm kỳ duy nhất 6 năm. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa nắm quyền Hành pháp. Quyền Lập pháp trao cho Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 500 đại biểu, 300 do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, và 200 đại biểu bổ nhiệm theo các tiêu chuẩn nhất định, có nhiệm kỳ 3 năm. Thượng viện có 128 nghị sỉ, Tiểu bang lớn chiếm 2 ghế và Tiểu bang nhỏ 1 ghế tổng cộng 96 ghế, 32 ghế còn lại chia cho các đảng theo tiêu chuẩn quy định, Quốc hội họp hàng năm từ 1/9 đến 31/12. Trong thời gian Quốc hội không họp, thì có một Ủy ban Thường trực điều hành gồm 15 đại biểu Hạ viện và 14 nghị sỉ thượng viện.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: dân số 131.741.347 (năm 2016: 120.286.000); dưới 15 tuổi 22,8%, trên 65 tuổi 8,4%. Tăng dân số: 0,8%. Nhập cư: 1,3%. Mật độ dân cư: 67,8 người/km2. Thành phố: 77,5%. Sắc tộc: Mestizo 60%, Amerindian 30%, Da trắng 9%. Ngôn ngữ: Spanish (chính ), Nahuatl, Mayan, Zapotec, Mixtec, và ngôn ngữ bản địa khác. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La Mã 77%, Tin lành 6%. Đất đai: Tổng diện tích: 1.964.375 km2. Diện tích đất: 1.943.945 km2. Địa điểm: phía nam của Bắc Mỹ. Quốc gia láng giềng: Hoa Kỳ phía bắc, Guatemala và Belize phía nam. Địa thế: dãy núi Madre Occidental chạy từ tây bắc đến đông nam gần bờ phía tây, dãy núi Madre Oriental chạy đến gần vịnh Mexico. Hai dãy núi gặp nhau ở phía nam thành phố Mexico. Nằm giữa  hai dãy núi là một cao nguyên khô ráo, cao độ từ 5000 đến 8000ft đi về hướng nam nhiệt độ điều hoà thuận lợi cho đời sống cây cỏ. Vùng đất thấp dọc theo bờ biển là vùng nhiệt đới, khoảng 45% là đất khô cằn. Đất nông nghiệp: 10,3%. Thủ đô: Mexico City 22.752.414. Thành phố đông dân: Guadalajara 5.578.582, Monterrey 5.272.358, Puebla 3.443.286, Tijuana 287.000 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà Liên bang. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Claudia Sheinbaum, sinh 1962, nhậm chức 1/10/2024. Chính quyền địa phương: 32 tiểu bang. Ngân sách quốc phòng: 10,2 tỷ. Quân đội chính quy: 287.000. Kinh tế: Công nghiệp khai thác hầm mỏ, chế biến dầu lửa, luyện kim (sắt và thép), xe hơi, hoá chất, thuốc lá, hàng dệt, may mặc, hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm và thức uống, gổ xẽ, du lịch. Nông sản: lúa mì, lúa gạo, bắp, đậu nành, đậu khác, cà chua, cam chanh, cà phê, bông vải. Tài nguyên: nhôm, đồng, chì, bạc, vàng, dầu lửa, khí đốt, gổ. Nguồn nước: 3.591 m3/người. Sử dụng năng lượng: 57,4 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 374,6 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 12,0%; công nghiệp 25,0%; dịch vụ 63,0%. Thất nghiệp: 2,7%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Peso mới (MXN): 18,6 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 3.400,0 tỷ. Bình quân đầu người: 25.688 USD. Tăng trưởng: 1,5%. Nhập khẩu: 697,1 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 60%, Nhật bản 4,2%, China 3,9%. Xuất khẩu: 680.8 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 78,7%, Canada 6%, Spain 4%. Du lịch: 30,7 tỷ. Tiêu dùng: 28,7%. Lạm phát: 4,7%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 14.533 mi = 23.252 km. Xe hơi cá nhân 347,7/1000 cư dân. Sân bay 1.580. Truyền thông: Truyền hình: 103,8/100 cư dân. Điện thoại di động: 116,5/100. Internet: 81,2%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 5,7%. Tuổi thọ: nam 72,9, nữ 78,5. Sinh xuất: 14,7/1000 người. Tử xuất: 6,0/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 12,3/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 42/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 2,7%. Nhiểm HIV: 0,5%. Nhiểm COVID-19: 5.917/100.000 trong đó có 260 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 4-17, biết đọc biết viết 95,3%./.

 

151. BELIZE.

Tiến trình phát triển.

Belize trước là Honduas, thuộc địa cuối cùng của Anh trên đất liền châu Mỹ, trở thành quốc gia độc lập ngày 21/8/1981. Sự căng thẳng trong quan hệ với nước láng giềng Guatemala được cải thiện trong những năm gần đây. Belize là trung tâm chuyển vận bạch phiến bất hợp pháp giữa Hoa kỳ và Colombia. Trong cuộc bầu cử Hạ viện ngày 7/2/2008, đảng Dân chủ Thống nhất đối lập chiếm 25 ghế, đảng  Nhân dân Thống nhất đương quyền chỉ chiếm có 6 ghế. Và, tại cuộc bầu cử Hạ viện ngày 7/3/2012, đảng Dân chủ Thống nhất đương quyền chiếm 17/31 ghế, đảng  Nhân dân Thống nhất 14 ghế.

Trong những thập kỷ gần đây, Belize đã trở thành điểm trung chuyển ma túy bất hợp pháp. Đảng Nhân dân Thống nhất (PUP) đã thắng lớn trong các cuộc bầu cử vào ngày 11 tháng 11 năm 2020 và ngày 12 tháng 3 năm 2025, đưa lãnh đạo PUP Jhon Briceno trở thành thủ tướng.

Belize ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Belize có hiệu lực thi hành ngày 21/9/1981, là Hiến pháp Quân chủ lập hiến, theo đó, Nử hoàng Anh là nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi một vị Toàn quyền. Thủ tướng chính phủ là lảnh tụ đảng có đa số ghế tại Hạ viện. Quốc hội gồm Hạ viện có 31 đại biểu do dân bầu, và Thượng viện có 12 nghị sỉ, bổ nhiệm bởi bởi Toàn quyền theo đề nghị của Thủ tướng 6 nghị sỉ, đảng đối lập 3, và các tổ chức khác 3 nghị sỉ. Nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số: 421.960 (năm 2016: 340.000); dưới 15 tuổi 27,3%, trên 65 tuổi 5,8%. Tăng dân số: 1,5%. Nhập cư: 16,5%. Mật độ dân cư: 18,5 người/km2. Thành phố: 47,1%. Sắc tộc: Mestizo 49%, Creole 25%, Maya 11%, Garifuna 6%. Ngôn ngữ: English (chính ), Spanish, Mayan, Carribean, Creole. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 50%, Tin lành 27%, tôn giáo khác 14%, không tôn giáo 9%. Đất đai: Tổng diện tích: 22.966 km2. Diện tích đất: 22.806 km2. Địa điểm: trên bờ phía đông của Trung Mỹ. Quốc gia láng giềng: Mexico phía bắc, Guatemala phía tây và phía nam. Địa thế: đất thấp đầm lầy ở phía bắc, núi Maya phía nam, đá ngầm san hô gần bờ, thuộc vùng nhiệt đới. Đất nông nghiệp: 4,4%. Thủ đô: Belmopan 22.964 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Quân chủ lập hiến. Nguyên thủ quốc gia: Nữ hoàng Anh Elizabeth II, đại diện bởi toàn quyền Froyla Tzalam, sinh …, nhậm chức 27/5/2021. Thủ tướng chính phủ: Jhon Briceno, sinh 1960, nhậm chức 12/11/2020 (tái bầu 2025). Chính quyền địa phương: 6 quận. Ngân sách quốc phòng: 30 triệu. Quân đội chính quy: 1.500. Kinh tế: Công nghiệp xây dựng, du lịch, may mặc, chế biến thực phẩm. Nông sản: đường, coca, chuối, chanh, cam. Tài nguyên: gỗ. đánh cá, thuỷ điện. Nguồn nước: 53.966 m3/người. Sử dụng năng lượng: 30,8 triệu Btu/người. Sản xuất điện:452,1 triệu Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 15,6%; công nghiệp 17,8%; dịch vụ 66,5%. Thất nghiệp: 7,0%...

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar (BZD): 2,01 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 6,3 tỷ. Bình quân đầu người: 15.093 USD. Tăng trưởng: 8,2%. Nhập khẩu: 1,7 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 34,8%, Mexico 14,6%, Cuba 7,5%, Guatemala 7%, Trung Quốc 4,2%. Xuất khẩu: 1,6 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 32,6%, Anh quốc 32,3%, Cote d’Ivoire 3,6%. Du lịch: 730 triệu. Tiêu dùng: 24,3%. Lạm phát: 3,3%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân 122,3/1000 cư dân. Sân bay 27. Truyền thông: Truyền hình: 43,8/100 cư dân. Điện thoại di động: 67,2/100. Internet:72,4%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 4,2%. Tuổi thọ: nam 73,4, nữ 76,6. Sinh xuất: 17,4/1000 người. Tử xuất: 4,9/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 11,3/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 67/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 7,0%. Nhiểm HIV: 1,2%. NhiểmCOVID-19: 17.965/100.000 trong đó có 173 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-12, biết đọc biết viết: không có số liệu./.

 

152. GUATEMALA - REPUBLIC OF GUATEMALA.

Tiến trình phát triển.                         

Đế quốc Mayan Indian cổ phát triển rực rỡ nơi ngày nay là Guatemala trên 1000 năm trước khi người Tây Ban Nha chiếm làm thuộc địa từ năm 1524 đến 1821. Guatemala từng có lúc thuộc Mexico, rồi sau đó là Liên bang Trung Mỹ. Cọng hòa Guatemala chính thức thành lập năm 1839. Từ năm 1945, chính quyền bầu cử thay thế cho sự cai trị độc tài của Jorge Ubico. Guatemala lại phải trải qua các chính phủ quân sự và dân sự khác nhau, kể cả nội chiến. Ngày 23/3/1982, một cuộc đảo chánh của các sỹ quan quân đội chiếm quyền, tố cáo cuộc bầu cử Tổng thống là gian lận, và cam kết sẽ phục hồi nền dân chủ đích thực cho quốc gia. 

Bạo loạn chính trị đã là nguyên nhân làm cho một số lớn người Guatemala phải chạy sang Mexico tỵ nạn. Ngày 8/10/1983, lại xẩy ra một cuộc đảo chính quân sự khác. Quốc gia trở lại chính quyền dân sự năm 1986. Sau cuộc khủng hoảng chính quyền kéo dài ngày 1/6/1993, quân đội truất phế Tổng thống Jorge Serrano Elias. Ngày 6/6/1996 Ramiro de Leon Carpio được bầu làm Tổng thống bởi Quốc hội. Ngày 7/1/1996, một nhà doanh nghiệp bảo thủ Alvaro Arzu Irigoyen, đắc cử Tổng thống. Ngày 19/9 chính quyền Guatemala, và bạo loạn cánh tả đạt tới một dự thảo Hiệp ước hoà bình và chính thức ký kết ngày 29/12/1996. 

Trong hơn 35 năm, xung đột võ trang làm cho hơn 200.000 người bị giết hoặc mất tích, trong đó một phần lớn từ quân đội chính phủ và các lực lượng võ trang của phe nổi dậy. Năm 1998, các cuộc nổi dậy lại xuất hiện, và ngày 16/1, một cuộc phục kích chiếc xe bus chở sinh viên, 5 nữ sinh Mỹ bị bắt và bị hãm hiếp. Ngày 26/4/1998, giám mục Juan Jóse Gerardi, một nhà hoạt động cho nhân quyền bị bắt và bị giết. Trong cuộc thăm viếng Guatemala ngày 10/3/1999, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton ngõ lời xin lỗi về việc Hoa kỳ trợ giúp vỏ trang (theo lời ông) cho các phe phái, cả phe nổi dậy lẫn phe đàn áp nổi dậy. Các ứng cử viên của Mặt trận Cọng hoà Guatemala cánh hữu đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 7/11/1999, và cả cuộc bầu cử Tổng thống ngày 26/12. 

Hạn hán kéo dài, hàng hoá xuất khẩu bị xuống giá trên thị trường thế giới năm 2001 và 2002 đã làm cho sự nghèo khó của Guatemala lại càng khó khăn hơn trong cư dân ít nhất là 80%. Một nhân vật bảo thủ nguyên thị trưởng thành phố Guatemala, ông Oscar Berger Perdomo, đắc cử Tổng thống trong vòng bầu chung cuộc ngày 28/12/2003. Cơn bảo nhiệt đới và đất chuồi tháng 10/2005, ập vào Stan làm 669 người thiệt mạng và 884 người mất tích cũng xem như đã chết. Ngày 19/2/2007, các nhà Lập pháp Salvador và tài xế của họ bị giết trong khi chính thức thăm viếng Guatemala, 5 nhân viên cảnh sát bị nghi có liên quan đến vụ án hình sự nầy cũng bị giết 25/2 trong một nhà tù kiên cố nơi đang giam giữ họ. 

Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 9/9/2007, đảng Triển vọng Quốc gia (UNE) dẩn đầu chiếm 48 ghế, Liên đảng Cải cách Quốc gia về nhì với 37 ghế. Và cuộc bầu cử Tổng thống ngày 4/11/2007, Álvaro Colom Caballeros một nhà kinh doanh, ứng viên của đảng Triển vọng Quốc gia đắc cử, và nhậm chức ngày 14/1/2008. Ngày 8/9/2009, ông ta tuyên bố tình trạng nguy khốn, và tập trung giải quyết nạn khan hiếm thực phẩm nghiêm trọng vùng giáp ranh miền Đông và miền Trung. 

Nước lụt và đất chuồi từ cơn bảo nhiệt đới Agatha ngày 29/5/2010 giết chết hơn 170 người. Vận chuyển ma túy của băng nhóm buôn lậu có vủ trang và sự tham nhũng của cảnh sát làm cho số người bị giết và mất tích mờ ám tại Guatemala có tỷ lệ cao nhất thế giới. Nó cũng là nguyên nhân đang đe dọa sự ổn định quốc gia của nước nầy. Cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội ngày 11/9/2011: Bầu Tổng thống, có 10 ứng viên dự tranh, không có ứng viên nào đạt được số phiếu thắng cử; Tại vòng 2 bầu chung cuộc ngày 6/11, ứng viên Perez Molina đảng Yêu nước thắng cử với 53,7% phiếu bầu. Và, tại cuộc bầu Quốc hội, đảng Yêu nước dẩn đầu chiếm 56 ghế, kế là Liên đảng Triển vọng Quốc gia và Thống nhất Quốc gia 48 ghế. Từ năm 2013-24, hàng trăm ngàn người Guatemala cố gắng vào Hoa Kỳ từ Mexico đang bị giam giữ. 

Ngày 10 tháng 5 năm 2013, tướng Efrain Rios Montt, nhà độc tài trong năm 1982-83, bị kết tội diệt chủng, nhưng ngày 20 tháng 5, Tòa án Hiến pháp đã hủy bỏ bản án chờ tái thẩm. Trong một phiên tái thẩm ngày 1 tháng 4 năm 2018, Rios Montt qua đời. Ngày 24 tháng 5 năm 2013, Cựu Tổng thống Alfonso Poetillo bị dẫn độ về Hoa Kỳ do cáo buộc tội rửa tiền. Và, ngày 18 tháng 3 năm 2014 Alfonso Poetillo nhận tội. Buôn bán ma túy buôn lậu vũ khí, cảnh sát tham nhũng và bạo lực băng đảng gây ra mối đe dọa cho sự ổn định quốc gia. Tháng 5 năm 2015, Phó tổng thống Roxana Baldetti từ chức, và ngày ngày 9 tháng 10 năm 2018, Roxana Baldetti bị kết án về tội gian lận. 

Sau nhiều cuộc biểu tình phản đối tình trạng tham nhủng trong chính quyền trên diện rộng, với quy mô lớn, ngày 2 tháng 9 năm 2015, Tổng thống Otto Perez Molina từ chức. Và, ngày 7 tháng 12 năm 2022, Perez Molina và Roxana Boldetti bị kết án về tội tham nhũng. Ngày 25 tháng 10 năm 2015, cựu diễn viên hài Jimmy Ernesto Morales Cabrera đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống. Morales Cabrera ra lệnh điều tra và các biện pháp ngăn chặn rất hiệu quả. Ông cũng thành lập một hội đồng chống tham nhũng do Liên Hợp Quốc tài trợ 2018-19. Trong cuộc bầu cử tổng thống vòng hai vào ngày 11 tháng 8 năm 2019. Alejandro Giammattel của Đảng Bảo thủ đã giành chiến thắng.

Trong cuộc tranh cử tổng thống ngày 20 tháng 8 năm 2023, bất chấp sự đàn áp các nhà báo, thẩm phán và phe đối lập chính trị của chính quyền Bảo thủ, Bernardo Arevalo tranh cử trên nền tảng chống tham nhũng, đã đánh bại Sandra Torres của đảng bảo thủ. Vượt qua Quốc hội và những nỗ lực khác nhằm ngăn cản lễ nhậm chức của ông, Arevalo tuyên thệ nhậm chức vào ngày 15 tháng 1 năm 2024. 

Cộng hoà Guatemala ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Guatemala được Quốc hội Lập hiến công bố tháng 6/1984, có hiệu lực thi hành ngày 14/1/1986. Từ đó đến nay hiến pháp được tu chỉnh 43 lần. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa cầm đầu ngành Hành pháp, được bầu trực tiếp bởi cử tri, với nhiệm kỳ 4 năm, không được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Quốc hội có 158 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 4 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 18.525.963 (năm 2016: 14.647.000); dưới 15 tuổi 31,0%, trên 65 tuổi 5,5%. Tăng dân số: 1,5%. Nhập cư: 0,5%. Mật độ dân cư: 172,9người/km2. Thành phố: 54,0%.  Sắc tộc: Mestizo (pha trộn Mỹ-Tây Ban Nha) và Châu Âu 59%, sắc dân Amerindian 41%. Ngôn ngữ: Spanish (chính), và hơn 20 ngôn ngữ Amerindian. Tôn giáo: đa số Thiên chúa giáo La mã, một số Tin lành và niềm tin truyền thống Mayan. Đất đai: Tổng diện tích: 108.889 km2. Diện tích đất: 107.159 km2. Địa điểm: vùng Trung Mỹ. Quốc gia láng giềng: Mexico phía bắc và phía tây, El Salvador phía nam, Honduras, và Belize phía đông. Địa thế: núi và cao nguyên ở trung tâm được bao quanh bởi bờ biển Pacific hẹp, đất thấp và màu mở ở lưu vực sông trên bờ biển Caribbean. Có nhiều núi lửa ở phía nam với bảy tám ngọn núi cao trên 11.000 ft. Đất nông nghiệp: 14,5%. Thủ đô:  Guatemala City 3.229.736 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cọng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Bernardo Arevalo, sinh 1958, nhậm chức 15/1/2024. Chính quyền địa phương: 22 đơn vị hành chánh. Ngân sách quốc phòng: 449triệu. Quân đội chính quy: 18.050. Kinh tế: Công nghiệp: dầu lửa, hoá chất, kim khí, cao su, du lịch, hàng dệt may, trang trí nội thất, đường. Nông sản: cà phê, bắp, mía đường, chuối, bột gia vị, bạch đậu khẩu (Cardamun). Tài nguyên: dầu lửa, kim loại trắng bạc (nickel), nước cốt cây dùng làm kẹo cao su (chicle), gổ quý hiếm, cá, thủy điện. Nguồn nước: 7.167 m3/người. Sử dụng năng lượng: 17,1 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 13,5 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 26,7%;công nghiệp 21,9%; dịch vụ 51,4%. Thất nghiệp: 2,2%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Quetzal (GTQ): 7,6 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 264,5 tỷ. Bình quân đầu người: 14.369 USD. Tăng trưởng: 3,7%. Nhập khẩu: 35,6 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 31,3%, Mexico 7,9%, Trung Quốc 6,1%, South Korea 5%, El Salvador 5%. Xuất khẩu: 18,0 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 45,2%, EL Savador 12,1%, Honduras 7,3%. Du lịch: 1,4 tỷ. Tiêu dùng: 13,7%. Lạm phát: 2,9%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 497 mi = 795 km. Xe hơi cá nhân 114,8/1000 cư dân. Sân bay 58. Truyền thông: Truyền hình: 17,0/100 cư dân. Điện thoại di động: 112,5/100. Internet:56,1%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 7,4%. Tuổi thọ: nam 71,7, nữ 75,8. Sinh xuất: 21,0/1000 người. Tử xuất: 4,9/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 24,4/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 94/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 11,8%. Nhiểm HIV: 0,2%. NhiểmCOVID-19: 6.998/100.000 trong đó có 113 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: khôn có số liệu, biết đọc biết viết 84,3%./. 

 

153. EL SALVADOR - REPUBLIC OF EL SALVADOR.

Tiến trình phát triển.

Là thuộc địa của Tây Ban Nha, El Salvador tuyên bố độc lập năm 1821, và trở thành một thành viên trong Liên bang Trung Mỹ cho đến năm 1839. Năm 1969, đánh nhau với Honduras làm 2.000 người chết. Năm 1979, cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền của Tổng thống Carlos Humberto Romero, nhưng nhóm cầm quyền quân đội- dân sự không thành công trong việc đánh dẹp quâ nổi loạn do Cuba, và Nicaragua hổ trợ. Quân cảm tử cực hữu đánh nhau với những người cánh tả, đã giết chết hàng ngàn người trong thập niên 1980. Chính quyền Reagan ủng hộ chính phủ El Salvador cấp nhiều viện trợ quân sự. Ngày 16/1/1992 chính phủ và phe bạo loạn cánh tả chính thức ký Hiệp ước hoà bình, kết thúc 12 năm nội chiến giết chết trên 75.000 người. 

Tháng 1/1990, phiên toà xử 3 sỉ quan và 6 quân nhân can tội giết 6 linh mục dòng tên ở San Salvado hồi tháng 11/1989. Hai trong số ba sĩ quan nhận bản án 30 năm tù giam. Họ được phóng thích ngày 20/3/1993, khi Quốc hội thông qua một lệnh ân xá rộng rãi. Francisco Flores, lãnh tụ đảng cánh hữu đắc cử Tổng thống ngày 7/3/1999. Ngày 13/11, và 13/2/2003 động đất làm chết hơn 1.150 người. Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 21/3/2004, Antonio Saca, nhà doanh nghiệp của Liên minh Cộng hòa Quốc gia, nguyên một tay đua xe đắc cử với 57,7% phiếu bầu. Và tại cuộc bầu cử Quốc hội ngày 12/3/2006, Liên minh Cộng hòa Quốc gia cũng dẫn đầu chiếm 34 ghế, về nhì là Mặt trận Tự do Quốc gia 32 ghế. 

Tại cuộc bầu cử tổng thống ngày 15/3/2009, Mauricio Funes, một thành viên cả Liên minh Cánh tả đắc cử, và nhậm chức ngày 1/6. Tiền do công nhân làm việc tại Hoa Kỳ là inguồn thu nhập chính của El Salvador. Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 2/2/2014, có 5 ứng viên dự tranh, không có ứng viên nào đạt đủ số phiếu đắc cử; Và, tại vòng 2 bầu chung cuộc ngày 9/3/2014, ứng viên Salvador Sanchez Ceren đắc cử với 50,1% phiếu bầu, đánh bại Norman Quijano có số phiếu 49,9% phiếu bầu. Và trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 1/3/2015, Liên minh ARENA dẫn đầu chiếm 32 ghế, về nhì là Liên minh FMLN 31 ghế. 

Trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 3 tháng 2 năm 2019, cử tri đã từ chối cả hai đảng lớn, đảng ARENA cánh hữu giữ chức tổng thống 1989-2009 và đảng cánh tả FMLN 2009-19 và bầu ra Najib Bukele, người cam kết giảm tham nhũng. Đảng của Bukele và các đồng minh đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử lập pháp năm 2021. Trong bối cảnh bạo lực băng đảng leo thang, tháng 3 năm 2022, Hội đồng Lập pháp trao cho chính phủ các quyền khẩn cấp, bao gồm cả việc đình chỉ các quyền tự do dân sự. Sau đó, bạo lực băng đảng giảm mạnh, nhưng hàng chục nghìn người đã bị bắt, trong số hàng trăm cái chết đáng ngờ trong nhà tù và các báo cáo về các vụ bắt giữ tùy tiện cũng như lạm dụng thể xác. 

Bukele đã giành chiến thắng trong cuộc tái tranh cử vào ngày 4 tháng 2 năm 2024 với 85% phiếu bầu và đảng của ông đã giành được 90% số ghế trong cơ quan lập pháp. Cơ quan lập pháp, ngày 1 tháng 8 năm 2025 đã bãi bỏ giới hạn nhiệm kỳ tổng thống. Năm 2025, El Salvador bắt đầu tống giam những người Venezuela bị chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Donal Trump trục xuất khỏi Hoa Kỳ (nhiều người được cho là thành viên băng đảng người Venezuela) để đổi lấy tiền trả. Và, khoảng 250 người đã được thả và bay đến Venezuela vào ngày 18 tháng 7 như một phần của hoạt động trao đổi tù nhân.

Cộng hoà El Salvador ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp mới El Salvador ban hành tháng 12/1983, theo đó quyền Hành pháp được trao cho Tổng thống được bầu bởi bởi cử tri với nhiệm kỳ 5 năm, không được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Quốc hội một viện có 84 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 3 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: dân số 6.839.027 (năm 2016: 6.125.000); dưới 15 tuổi 23,3%, trên 65 tuổi 8,7%. Tăng dân số: 0,7%. Nhập cư: 0,7%. Mật độ dân cư: 330,1 người/km2. Thành phố: 76,6%. Sắc tộc: Mestizo 90%, da trắng 9%, Thổ dân 1%. Ngôn ngữ:  Spanish (chính), Nahua. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 83%, Tin lành 17%. Đất đai: Tổng diện tích: 21.041 km2. Diện tích đất: 20.721 km2. Địa điểm: vùng Trung Mỹ. Quốc gia láng giềng: Guatemala phía tây, Honduras phía đông. Địa thế: một vùng bằng phẳng trên bờ Thái Bình Dương khá nóng ở phía nam, một cao nguyên mát hơn, và một lưu vực sông cư dân dày đặc. Núi non ở phía bắc trong đó có nhiều núi lửa tạo thành. Đất nông nghiệp: 34,8%. Thủ đô: San Salvador 1.132.425 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cọng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Najib Bukele, sinh 1981, nhậm chức 1/6/2019. Chính quyền địa phương: 14 đơn vị hành chánh. Ngân sách quốc phòng: 262triệu. Quân đội chính quy: 26.000. Kinh tế: Công nghiệp: dầu lửa, hoá chất, phân hoá học, chế biến thực phẩm và thức uống, hàng dệt, trang trí nội thất, kim loại nhẹ. Nông sản: lúa gạo, bắp, cà phê, đường, đậu, hạt có dầu, sợi bông. Tài nguyên: dầu lửa, thủy điện, năng lượng địa cầu. Nguồn nước: 4.183 m3/người. Sử dụng năng lượng: 24,4 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 6,5 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 14,8%; công nghiệp 23,4%; dịch vụ 61,9%. Thất nghiệp: 2,8%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Colon (SVC): 8,7 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 84,1 tỷ. Bình quân đầu người: 13.264 USD. Tăng trưởng: 2,6%. Nhập khẩu: 18,4 tỷ. Bạn   hàng: Hoa kỳ 30,6%, Guatemala 8,8%, Mexico 8,5%, Đức 6%, Trung Quốc 4,5%, Brazil 4,2%,. Xuất khẩu: 11,6 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 49,8%, Guatemala 14,4%, Hoduras 8,9%, Nicaragua 5,1%. Du lịch: 2,8 tỷ. Tiêu dùng: 30,8%. Lạm phát: 0,9%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 8 mi = 12 km. Xe hơi cá nhân 53,8/1000 cư dân. Sân bay 27. Truyền thông: Truyền hình: 73,9/100 cư dân. Điện thoại di động: 176,5/100. Internet: 67,7%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 9.8%. Tuổi thọ: nam 72,9, nữ 80,4. Sinh xuất: 15,1/1000 người. Tử xuất: 5,8/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 10,1/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 39/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 6,7%. Nhiểm HIV: 0,4%. Nhiểm COVID-19: 3.115/100.000 trong đó có 65 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 1-15, biết đọc biết viết 90,0%./.

 

154. HONDURAS - REPUBLIC OF HONDURAS.

Tiến trình phát triển.

Văn minh Mayan phát triển rực rỡ tại Honduras từ những năm đầu Sau công nguyên. Nhà thám hiểm Columbus đến Honduras năm 1502. Từ đó nó là một thuộc địa của Tây Ban Nha. Và trở thành quốc gia độc lập năm 1821, hợp nhất với Liên bang Trung Mỹ đến năm 1838. Tướng Oswaldo Lopez Arellano nắm quyền từ 1963-1975, do một lần bầu cử, và hai lần đảo chánh. Ông ta bị quân đội lật đổ năm 1975, với cáo buộc nhận hối lộ từ công ty Brand Hoa Kỳ. Cuộc bầu cử chính quyền dân sự năm 1982. Tháng 3/1988, Hoa Kỳ gởi 3.200 quân vào giúp chính quyền dẹp các cuộc xâm lăng biên giới từ Nicaragua. Là quốc gia nghèo nhất ở phía Tây Bán cầu, Honduras lại bị cơn bão Harricane Mitch cuối tháng 10/1998, tàn phá làm chết hơn 5.600 người, và gây thiệt hại tài sản gần 900 triệu trên vụ mùa và các đàn gia súc. 

Ngày 25/11/2001, một thương gia giàu có Ricardo Maduro được bầu làm Tổng thống, ông cam kết sẽ đẩy lùi bọn tội phạm hình sự. Ngày 17/5/2004, một vụ hỏa hoạn tại nhà tù San Pedro Sula giết chết 104 người do dẩm đạp lên nhau bởi quá đông tù nhân. Ngày 23/12, khủng bố nổ súng vào một chiếc xe bus ngay trong thành phố giết chết 23 hành khách. Nước lụt và đất chuồi do cơn bảo nhiệt đới Gama giữa tháng 11/2005 làm 32 người thiệt mạng. Tại cuộc bầu cử Tổng thống và Quối hội ngày 27/11/2005, Manuel Zelaya Rosales, lãnh tụ đảng Tự do đối lập đắc cử Tổng thống với 49,9% phiếu bầu trên chân đối thủ Porfirio Lobo Sosa chiếm 46,2% phiếu bầu. Tại Quốc hội thì đảng Tự do dẫn đầu chiếm 62/128 ghế, về nhì là đảng Quốc gia 55 ghế. 

Manuel Zelaya Rosales, muốn sữa đổi Hiến pháp để được thêm một nhiệm kỳ thứ hai, nhưng không thành công. Ngày 28/6/2009, Zelaya Rosales,bị quân đội lật đổ, và Chủ tịch Quốc hội, Roberto Micheletti Bain được chỉ định làm Quyền tổng thống. Tại cuộc bầu cử tổng thống ngày 29/11, Porfirio Lobo, một điền chủ bảo thủ đánh bại ứng viên của đảng Dân chủ là Elvin Santos, và ông ta nhậm chức ngày 17/1/2010. Tại cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội 24/11/2013: Bầu Tổng thống, có 8 ứng viên dự tranh, Juan Orlando Hernandez, lãnh tụ đảng Quốc gia đắc cử với 36,9% phiếu bầu, trên chân đối thủ Xiomara Castro chiếm 28,8% phiếu bầu. Và, tại cuộc bầu Quốc hội thì đảng Tự do dẫn đầu chiếm 48/128 ghế, về nhì là đảng Tự do và Cải tiến 37 ghế.

Tháng 3 năm 2016, nhà hoạt động vì môi trường Berta Caceres đã bị bắn chết, dường như được thực hiện bởi một công ty đang phải đối mặt với sự chậm trễ trong dự án đập nước. Honduras đã trở thành điểm trung chuyển ma túy bất hợp pháp được buôn lậu sang Hoa Kỳ. Trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 26 tháng 11 năm 2017, Juan Orlando Hernandez tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai. Ngày 18 tháng 10 năm 2019, anh trai của Tổng thống Hernandez bị kết án tại Hoa Kỳ vào về các tội liên quan đến ma túy. Bạo lực băng nhóm ma túy tại Honduras đã đưa số lượng ma túy xâm nhập vào Hoa Kỳ dọc biên giới Mexico tăng lên từ 2013-24. Trong cuộc bầu cử ngày 28 tháng 11 năm 2021, một người cánh tả bà Xiomara Castro de Zelaya đã giành chiến thắng, Xiomara Castro trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Honduras.

Tháng 12 đến năm 2022, nhằm chống lại bạo lực băng đảng ma tuý, chính phủ ban bố Tình trạng khẩn cấp, đình chỉ một số quyền theo hiến pháp. Chính phủ thông báo vào ngày 25 tháng 3 năm 2023 rằng Honduras đang chuyển quan hệ ngoại giao từ Đài Loan sang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tổ chức phi chính phủ Global Witness ước tính vào năm 2024 rằng ít nhất 131 nhà hoạt động môi trường hoặc những người phản đối việc thu hồi đất để phát triển đã bị giết trong giai đoạn 2012-2022. Ngày 8 tháng 3 năm 2024, cựu Tổng thống. Hernandez bị dẫn độ về Mỹ năm 2022, bị kết án về các tội danh liên quan đến ma túy.

Cộng hoà Honduras ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Honduras có hiệu lực thi hành năm 1992, và tu chính năm 1995, theo đó quyền Hành pháp trao cho Tổng thống do dân bầu với nhiệm kỳ 4 năm. Quyền lập pháp trao cho 128 đại biểu Quốc hội cũng do dân bầu trong các khu vực bầu cử có nhiệm kỳ 4 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 9.652.170 (năm 2016: 8.598.000); dưới 15 tuổi 28,2%, trên 65 tuồi 5,8%. Tăng dân số: 1,3%. Nhập cư: 0,4%. Mật độ dân cư: 86,3 người/km2. Thành phố: 61,4%. Sắc tộc: Mestizo 90%, Amerindian 7%, da đen 2%, da trắng 1%. Ngôn ngữ: Spanish (chính), phương ngữ Garifuna, Amerindian. Tôn giáo:  Thiên chúa giáo La mã 97%. Đất đai: Tổng diện tích: 112.090 km2. Diện tích đất: 112.090 km2. Địa điểm: vùng Trung Mỹ. Quốc gia láng giềng: Guatemala phía tây, El Salvador, và Nicaragua ở phía nam. Địa thế: trên bờ biển Caribbean dài 804km, bờ Thái Bình Dương, và vịnh Fonseca dài 64km. Honduras là quốc gia núi non trùng điệp, với một bình nguyên rộng phì nhiêu và rừng cây phong phú. Đất nông nghiệp: 9,1%. Thủ đô: Tegucigalpa 1.650.284 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cọng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Xiomara Castro de Zelaya, sinh 1959, nhậm chức 27/1/2022. Chính quyền địa phương: 18 đơn vị hành chánh. Ngân sách quốc phòng: 102 triệu. Quân đội chính quy: 12.000. Kinh tế: Công nghiệp sản xuất gỗ, cà phê, đường, hàng dệt, may mặc. Nông sản: cà phê, chuối, chanh, cam. Tài nguyên: than đá, chì, sắt, nhôm, kim loại trắng xanh, đồng, bạc, vàng, gỗ xẻ, cá, thủy điện. Nguồn nước: 8.808 m3/người. Sử dụng năng lượng: 16,6 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 11,7 tỷ Kwh. Phân bố lao động:nông nghiệp 22,6%; công nghiệp 22,4%; dịch vụ 56,1%. Thất nghiệp: 6,1%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Lempira (HNL): 26,1 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 81,0 tỷ. Bình quân đầu người: 7.486 USD. Tăng trưởng: 3,6%. Nhập khẩu: 18,2 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 51,7%, Guatemala 6,8%, El Salvador 4,4%, Mexico 4,1%, Costa Rica 4%. Xuất khẩu: 9,4 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 70,3%, Guatemala 3,5%, El Salvador 3,4%. Du lịch: 666 triệu. Tiêu dùng: 26,1%. Lạm phát: 4,6%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 434 mi = 678 km. Xe hơi cá nhân 23,8/1000 cư dân. Sân bay 129. Truyền thông: Truyền hình: 49,4/100 cư dân. Điện thoại di động: 70,9/100. Internet:58,3%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 8,3%. Tuổi thọ: nam 70,8, nữ 78,1. Sinh xuất: 19/7/1000 người. Tử xuất: 9,4/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 15,4/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 47/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 14,8%. Nhiểm HIV: 0,2%. NhiểmCOVID-19: 4.776/100.000 trong đó có 112 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-16, biết đọc biết viết 88,5%./.

 

155. NICARAGUA - REPUBLIC OF NICARAGUA.

Tiến trình phát triển. 

Nicaragua là nơi có nhiều bộ tộc Indian (dân bản địa) khác nhau lập nghiệp, bị xâm chiếm bởi Tây Ban Nha năm 1552. Sau khi độc lập năm 1821, Nicaragua hợp nhất với Mexico trong một thời gian ngắn, rồi lập ra Liên bang Trung Mỹ, cuối cùng trở thành một quốc gia độc lập theo chế độ cộng hoà năm 1838. Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ xâm chiếm Nicaragua tại các thời điểm khác nhau đầu thế kỷ 20, cuối cùng chiếm trị xứ này từ năm 1926 đến 1933. Năm 1967, tướng Anastasio Somaza Debayle được bầu làm Tổng thống. Ông từ chức năm 1972, nhưng năm 1974, được bầu làm Tổng thống lần nữa. Tháng 12/1974, lệnh thiết quân luật trên toàn quốc sau khi một số viên chức cao cấp của chính phủ bị bắt cóc làm con tin bởi một tổ chức "Du kích Marxist Sandinistar". 

Năm 1978, phe đối lập gây bạo loạn khắp nơi xuống đường biểu tình, kêu gọi nổi dậy chống chính quyền, và thế là nội chiến bắt đầu, và cuối cùng Tổng thống Samoza phải đào thoát khỏi Nicaragua. Tổ chức Marxist Sandinistar nắm quyền kiểm soát thủ đô Managua tháng 7/1979. Ngày 17/8/1980, Somoza bị ám sát ở Paraguay. Quan hệ với Hoa Kỳ trở nên căng thẳng khi chính quyền Nicaragua trợ giúp kháng chiến quân cánh tả ở El Salvador, trong khi Hoa Kỳ lại hậu thuẩn cho nhóm kháng chiến quân Contras chống lại Sandinistar. Năm 1983, nhóm kháng chiến Contras tung ra một chiến dịch tấn công nhiều cứ điểm quan trọng, chính quyền Sandinistar ban hành lệnh thiết quân luật và bắt đầu cai trị bằng sắc lệnh.

Năm 1985, Quốc hội Hoa Kỳ bác bỏ đề nghị của Tổng thống Reagan trợ giúp quân sự cho nhóm Contras. Sau đó Reagan tìm một nguồn quỹ khác trợ giúp Contras, bằng việc bí mật bán vũ khí cho Iran, tạo ra tai tiếng trong chính trường nước Mỹ. Ngày 25/2/1990, Violeta Barrios de Chamorro giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử toàn quốc, đánh bại tổ chức Sandinistar của Ortega làm đảo lộn chính trị Nicaragua. Ngày 20/10/1996, nguyên thị trưởng thành phố thủ đô Nicaragua, Arnoldo Aleman Lacayo, một người bảo thủ đánh bại ứng cử viên đương kim Tổng thống Ortega trong cuộc bầu cử tổng thống. 

Ngày 30/10/1998, trong vụ đất lở  tạo thành một dòng chảy từ núi phun lửa Hurricane Mitch, làm chết hơn 2.000 người phía Tây Nicaragua. Hạn hán kéo dài và sự sụt giá mặt hàng cà phê trên thị trường thế giới làm cho Nicaragua lún sâu vào cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2001. Ngày 4/11, Enrique Bolanos Geyer, nhà kinh doanh bảo thủ giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống. Ngày 7/8/2002, nguyên tổng thống Arnoldo Aleman bị tố cáo đã ăn cắp gần 95 triệu dollar, và tại phiên xử ngày 7/12/2003, Aleman bị kêu án 20 năm tù giam, cùng với 10 triệu tiền phạt. Sau khi tái khám bệnh tình, Aleman đựơc giảm hình phạt bằng cách cho thọ án tù tại gia. 

José Daniel Ortega Saavedraa đắc cử Tổng thống ngày 5/11/2006, với 38,1% phiếu bầu, đánh bại 3 ứng viên khác. Ngày 10/1/2007, sau khi nhậm chức, ông ta đã chọc tức Hoa Kỳ bằng cách lập mối quan hệ thân gần với Venezuala và Iran để được hai nước nầy viện trợ tài chánh hầu thoát khỏi cơn khũng hoảng tài chánh đang đè nặng lên quốc gia. Cơn bảo nhiệt đới Felix ngày 4/9/2007, làm chết hơn 100 người. Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội 6/11/2011: Bầu Tổng thống, có 3 ứng viên dự tranh, đương kim tổng thống José Deniel Ortega Saavedra tái đắc cử với 62,5% phiếu bầu, trên chân đối thủ Arnoldo Aleman chỉ chiếm 5,9% phiếu bầu. Và, bầu Quốc hội thì Mặt trận Quốc gia Tự do dẫn đầu chiếm 63 ghế, về nhì là đảng Tự do Độc lập 27 ghế.

Ngày 6 tháng 11 năm 2016. José Deniel Ortega Saavedra tái đắc cử nhiệm kỳ thứ ba, và bà Rosario Murillo Zambrana, vợ của Ortega được bầu làm phó tổng thống. Từ tháng 4 năm 2018, liên tục nhiều tháng các cuộc biểu tình chống chính phủ về các chính sách và sự cai trị độc tài đã dẫn đến hàng trăm người chết, hầu hết dưới bàn tay của lực lượng an ninh hoặc các nhóm bán quân sự đồng minh. Hàng trăm người đã bị bắt, một số được cho là đã bị tra tấn trong trại giam. Đến đầu năm 2021, hơn 100.000 người Nicaragua đã trốn khỏi đất nước. Những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống ngày 7 tháng 11 năm 2021, các lãnh đạo phe đối lập và những nhà hoạt động chỉ trích chính phủ đã bị bắt giữ; Ortega và Munilla vợông ta đã được bầu lại.

Tìm kiếm viện trợ của Trung Quốc, Nicaragua thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Ngày 10 tháng 12 năm 2021 cắt đứt quan hệ với Đài Loan. Chính phủ tiếp tục đàn áp sự ly khai vào năm 2022-2025, bao gồm cả việc bắt giữ các giáo sĩ Công giáo và đóng cửa các tổ chức phi chính phủ. Những thay đổi về hiến pháp có hiệu lực kể từ ngày 8 tháng 2 năm 2025 đã đưa Murillo trở thành đồng tổng thống và gia tăng quyền lực của tổng thống, bao gồm cả quyền lực trên các phương tiện truyền thông.

Cộng hoà Nicaragua ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Nicaragua có hiệu lực thi hành ngày 9/1/1987. Từ đó đến nay hiến pháp được tu chỉnh 2 lần năm 1995 và năm 2000. Theo đó, Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa nắm quyền Hành pháp, do dân bầu với nhiệm kỳ 5 năm, có thể được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai, nhưng không được liền kế. Quốc hội gồm 92 đại biểu trong đó 90 do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, và 2 ghế dành cho Tổng thống vừa mản nhiệm, và 1 ứng viên Tổng thống lần trước liền đó cũng có nhiệm kỳ 5 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số: 6.739.380 (năm 2016: 5.848.000); dưới 15 tuổi 24,6%, trên 65 tuổi 6,2%. Tăng dân số: 0,9%. Nhập cư: 0,6%. Mật độ dân cư: 56,2 người/km2. Thành phố: 60,5%. Sắc tộc: Mestizo 69%, người da trắng 17%, da đen 9%, Amerindian 5%. Ngôn ngữ: Spanish (chính), phương ngữ của người bản xứ. Tôn giáo:  Thiên chúa giáo La mã 73%, Tin lành 15%, không tôn giáo 9%. Đất đai: Tổng diện tích: 130.370 km2. Diện tích đất: 119.990 km2. Địa điểm: vùng Trung Mỹ. Quốc gia láng giềng: Honduras phía bắc, Costa Rica ở phía nam. Địa thế: cả hai bờ biển Caribbean và Thái Bình Dương dài 321km. Núi Cordillera với nhiều đỉnh cao do núi lửa tạo thành, chạy dài từ tây bắc đến đông nam xuyên qua giữa quốc gia. Hồ Managua và hồ Nicaragua kéo dài tới phía đông. Đất nông nghiệp: 12,5%. Thủ đô:  Managua 1.120.897 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống José Deniel Ortega Saavedra, sinh 1945, nhậm chức 10/1/2007 (tái bầu 2011, 2016, và 2021). Chính quyền địa phương: 15 đơn vị hành chánh và 2 vùng tự trị. Ngân sách quốc phòng: 104 triệu. Quân đội chính quy: 12.000. Kinh tế: Công nghiệp: sản phẩm kim loại, hoá học, lọc dầu, hàng dệt, may mặc, giày dép, chế biến thực phẩm, thức uống. Nông sản: cà phê, chuối, chanh, cam, lúa gao, bắp, bông sợi, mía đường, chuối, mè, đậu nành. Tài nguyên: kim loại nặng xám, đồng, bạc, vàng, chì, gõ, cá. Nguồn nước: 24.443 m3/người. Sử dụng năng lượng: 10,7 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 4,4 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 27,7%; công nghiệp 18,1%; dịch vụ 54,2%. Thất nghiệp: 4,6%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Cordoba (NIO): 36,7 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 60,2 tỷ. Bình quân đầu người: 8.709 USD. Tăng trưởng: 3,6%. Nhập khẩu: 11,4 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 22,6%, Venezuala 10,6%, Costa Rica 7,8%, Mexico 7,3%, Guatemala 6,1%. Xuất khẩu: 8,1 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 66,1%, El Salvador 7%, Honduras 3,9%. Du lịch: 739 triệu. Tiêu dùng: 26,4%. Lạm phát: 4,6%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân 73,4/1000 cư dân. Sân bay 39. Truyền thông: Truyền hình: 70,3/100 cư dân. Điện thoại di động: 106,0/100. Internet:58,2%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 9,0%. Tuổi thọ: nam 73,4, nữ 76,5. Sinh xuất: 16,1/1000 người. Tử xuất: 5,1/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 14,1/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 60/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 17,3%. Nhiểm HIV: không có số liệu. Nhiểm COVID-19: 248/100.000 trong đó có 4 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-11, biết đọc biết viết 82,6%./.

 

156. COSTA RICA - REPUBLIC OF COSTA RICA.

Tiến trình phát triển.

Sắc tộc bản địa Guaymi cư trú trong vùng trước khi người Tây Ban Nha đến năm 1502. Costa Rica trở thành quốc gia độc lập năm 1821, sau đó hợp nhất với Liên bang Trung Mỹ. Năm 1838, Costa Rica tách ra khỏi Liên bang, và thành lập Cộng hoà Costa Rica. Từ khi có nội chiến trong năm 1948-1949, ít khi có xung đột chính trị và bạo loạn xảy ra, và các tổ chức chính trị dân chủ luôn được bảo vệ. Trong năm 1993, có một sự kiện bất thường là làn sóng bắt cóc người làm con tin, một số vụ có liên quan đến đường dây buôn bán Cocaine (chất kích thích) quốc tế. Costa Rica dù vẫn còn là một quốc gia nông nghiệp, nó cũng có những thành tựu trong việc nâng cao tiêu chuẩn sống trong cư dân. Ngành du lịch đang phát triển nhanh ở đây.

Trong đầu thập niên 1990 nền kinh tế Costa Rico bị giao động mạnh bởi nhiều chính trị gia kể cả Tổng thống Calderón bị tố cáo thu lợi bất chính từ việc buôn bán ma túy. Oscar Arias Sánchez, người từng đoạt giải Nobel Hoà bình và Tổng thống hồi 1986-1990, đắc cử Tổng thống lần thứ hai ngày 5/2/2006. Ngày 1/8/2007, nguyên Tổng thống Miguel Angel Rodriguez (1998-2002) và Tổng Thư ký Liên hiệp Châu Phi (2004) bị truy tố về tội tham nhũng. Quyết định thắng cử ngày 7/2/2010, làm cho bà Laura Chinchilla Miranda ứng viên của đảng đương quyền trở thành người phụ nử đầu tiên nhậm chức tổng thống.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội 2/2/2014: Bầu Tổng thống, có 13 ứng viên dự tranh, không có ứng viên nào hội đủ số phiếu để thắng cử. Và, ngày 6/4/2014, tại vòng 2 ứng viên Luis Guillermo Solis giành chiến thắng với 77,8% phiếu bầu, trên chân đối thủ Johnny Araya chỉ chiếm 22,2% phiếu bầu. Tại cuộc bầu Quốc hội cùng ngày 2/2/2014, thì Mặt trận đảng PLN dẫn đầu chiếm 18/57 ghế, về nhì là đảng Công dân Hành động Công dân (PAC) 13 ghế. Đảng (PAC) đối lập đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2018. Ngành du lịch quan trọng đã bị tổn thương do các hạn chế đi lại và đóng cửa kinh doanh để chống lại dịch bệnh COVID-19 vốn đã lan rộng trên toàn thế giới vào năm 2020. 

Nhà kinh tế học không phải là chính trị gia Rodrigo Chavez Robles đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống vòng hai vào ngày 3 tháng 4 năm 2022. Bắt đầu từ năm 2018, những người tị nạn Nicaragua và những người xin tị nạn chạy trốn bạo lực và đàn áp chính trị đã vào Costa Rica. Đến năm 2025 có khoảng 200.000 người tị nạn Nicaragua đã vào Costa Rica.

Cộng hoà Costa Rica ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Costa Rica được công bố ngày 7/11/1949. Từ đó đến nay hiến pháp được tu chỉnh nhiều lần. Theo đó quyền Hành pháp trao cho Tổng thống được dân bầu trực tiếp, với nhiệm kỳ 4 năm, được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Quốc hội được trao quyền Lập pháp, gồm 57 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 4 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 5.304.932 (năm 2016: 4.755.000); dưới 15 tuổi 18,3%, trên 65 tuổi 11,6%. Tăng dân số: 0,8%. Nhập cư: 12,2%. Mật độ dân cư: 103,9 người/km2. Thành phố: 83,7%. Sắc tộc: da trắng (Mestizo) 94%, da đen 3%, Amreindian 1%, China 1%. Ngôn ngữ: Spanish(chính), English. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 76%, Tin lành 14%. Đất đai: Tổng diện tích: 51.100 km2. Diện tích đất: 51.060 km2. Địa điểm: vùng Trung Mỹ. Quốc gia láng giềng: Panama phía nam, Nicaragua ở phía bắc. Địa thế: vùng đất thấp cạnh bờ biển Caribbean là nhiệt đới, cao nguyên bên trong nội địa với độ cao khoảng 4.000ft, khí hậu điều hoà. Đất nông nghiệp: 3,3%. Thủ đô:  San José 1.502.635 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Rodrigo Chavez Robles, sinh 1961, nhậm chức 8/5/2022. Chính quyền địa phương: 7 tỉnh. Ngân sách quốc phòng: 570 triệu. Quân đội chính quy: 9.955. Kinh tế: Công nghiệp: mạch điện tử máy vi tính, chế biến thực phẩm, hàng dệt, may mặc, vật liệu xây dựng, phân bón, chất dẻo. Nông sản: cà phê, dứa, chuối, đậu, đường, lúa gạo, khoai tây. Tài nguyên: Thủy điện. Nguồn nước: 22.236 m3/người. Sử dụng năng lượng: 30,7 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 11,7 tỷ Kwh. Phân bố lao động:nông nghiệp 13,4%; công nghiệp 20,2%; dịch vụ 66,4%. Thất nghiệp: 7,8%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Colon (CRC): 503,9 = 1USD. Tổng sản lượng nội địa: 154,2 tỷ. Bình quân đầu người: 30.063 USD. Tăng trưởng: 4,3%. Nhập khẩu: 30,5 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 40,9%, Venezuala 45%, Mexico 5,3%, Ireland 4,9%, Japan 49,%, Brazil 4,6%, Trung Quốc 4%. Xuất khẩu: 36,8 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ: 29,1%, Netherlands 13%, Trung Quốc 12,5%, Anh Quốc 6,6%. Du lịch: 4,8 tỷ. Tiêu dùng: 18,4%. Lạm phát: 0,4%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 173 mi = 276 km. Xe hơi cá nhân 250,4/1000 cư dân. Sân bay 132. Truyền thông: Truyền hình: 103,6/100 cư dân. Điện thoại di động: 136,0/100. Internet: 85,4%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 7,2%. Tuổi thọ: nam 78,4, nữ 83,5. Sinh xuất: 10,9/1000 người. Tử xuất: 5,2/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 6,2/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 24/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: dưới 2,5%. Nhiểm HIV: 0,6%. Nhiểm COVID-19: 24.321/100.000 trong đó có 184 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 4-16, biết đọc biết viết 98,0%./. 

 

157. PANAMA - REPUBLIC OF PANAMA.

Tiến trình phát triển.

Bờ biển Panama được nhìn thấy năm 1501, bởi Rodrigo de Bastidas trên chuyến hải hành với Columbus người làm việc cho Tây Ban Nha, và được Columbus đến khảo sát năm 1502. Ngày 13/9/1513, Vasco Nunez de Balboa vượt qua eo biển và khám phá ra Thái Bình Dương. Các thuộc địa Tây Ban Nha khai phá bởi Francis Drake từ năm 1572 đến năm 1592 và Henry Morgan từ năm 1668 đến 1671. Morgan phá huỷ thành phố cổ Panama xây dựng từ năm 1519. Panama tách khỏi Tây Ban Nha và kết hợp với Colombia năm 1821. Ngày3/11/1903, Panama ly khai Colombia tuyên bố độc lập với sự thừa nhận của Hoa Kỳ. Trong nổ lực ủng hộ Panama lực lượng hải quân Hoa Kỳ gởi đến chận đứng hành động cản trở của Colombia. 

Ngày 26/2/1904, Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn hiệp ước giữa Mỹ và Panama.  Theo đó, Panama cho phép Hoa Kỳ chiếm đóng sử dụng và kiểm soát khu vực kênh đào Panama. Kênh đào này Mỹ phải xây dựng trong 10 năm với hàng ngàn lao động, máy xúc, máy nạo vét, cắt xuyên núi rừng, đồi trọc và đầm lầy để hoàn thành một kênh dài 81,63 km. Ngoài số tiền chi phí 380 triệu Dollas, công nhân công trình phải chịu bệnh tật, sốt do muỗi, và cả sốt rét da vàng. Nhờ kênh đào này, tàu hàng giữa thành phố New York và San Francisco rút ngắn còn 8.370 km so với trước đó phải đi vòng quanh Nam Mỹ kéo dài tới 20.900km.

Năm 1978, Hoa Kỳ và Panama ký hiệp ước mới, theo đó Hoa Kỳ sẽ chuyển dần quyền kiểm soát kênh đào cho Panama, và Hoa Kỳ sẽ rút hết quân đội ra khỏi kênh đào trước khi thiên niên kỷ mới. Hoa Kỳ phải trả thêm một khoản tiền gia tăng trong thời gian qúa độ chờ chuyển giao. Ngày 20/2/1988, Tổng thống Delvalle bị Quốc hội giải nhiệm sau khi ông ta sửa soạn cách chức Tổng tư lệnh quân đội Panama, tướng Manual Antonio Noriega, người bị Hoa Kỳ kết án tội buôn lậu ma tuý. Ngày 20/12/1989, quân đội Hoa Kỳ xâm lăng Panama, và ngày 3/1/1990, tướng Noriega đầu hàng. 

Ngày 30/8/1998, trong một cuộc “trưng cầu dân ý”, cử tri bác bỏ việc thay đổi Hiến pháp cho phép Tổng thống Emesto Peréz Balladaras tái ứng cử một lần nữa vào năm 1999. Mireya Moscoso, quả phụ của cố Tổng thống Arnulfo Arias được bầu làm Tổng thống ngày 2/5/1999, trở thành người phụ nữ đầu tiên làm nguyên thủ quốc gia Panama. Ngày 31/12/1999, Hoa Kỳ trao trả hoàn toàn quyền kiểm soát kênh đào Panama cho chính quyền Panama. 

Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 2/5/2004, Martin Torrijos Espino con trai của tướng Omar Torrijos Herraranhà độc tài cai trị Panama từ 1968-1981 đắc cử. Ngày 22/10/2006, một dự án mở rộng kênh đào đưa ra trưng cầu dân ý đã được cử tri chấp nhận, và sẽ đưa vào thực hiện vào ngày 3/9/2007. Ricardo Martinelli Berrocal một thương nhân siêu thị bảo thủ được bầu làm tổng thống ngày 3/5/2009, và nhậm chức ngày 1/7. Sau 2 thập kỷ ở tù trong nước Mỹ, tướng Noriega bị dẫn độ đến Pháp ngày 26/4/2010, để ngày 7/7 nhận thêm bản án 7 năm tù về tội rữa tiền.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội 4/5/2014: Bầu Tổng thống, có 7 ứng viên dự tranh, ứng viên Juan Carlos Varela Rodrigues đắc cử với 39,1% phiếu bầu, trên chân đối thủ Jose Domigo Arias chiếm 31,4% phiếu bầu. Tại cuộc bầu Quốc hội cùng ngày 2/2/2014, thì Liên minh Thống nhất cho Thay đổi (CD-MOLIRENA) dẫn đầu chiếm 32 ghế, về nhì là đảng PRD 25 ghế. Ngày 3 tháng 4 năm 2016, một số thông tin công bố được cho là bị rò rỉ từ một công ty luật ở Thành phố Panama, rằng các quan chức nhà nước đã liên kết với những người ở nhiều quốc gia khác nhau lập ra các công ty vớiý đồ để che giấu tài sản hoặc trốn thuế trong các tài khoản ngân hàng nước ngoài. 

Trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 5 tháng 5 năm 2019, ứng cử viên Laurentino Cortizo của Đảng Dân chủ Cách mạngvận động với lời thề sẽ  “triệt để chống tham nhủng” trong khi ứng cử viên Jose Raul Mulino “cam kết thúc đẩy nền kinh tế” kết quả là Jose Raul Mulino đã giành chiến thắng. Vào đầu năm 2020, hơn 1 triệu người di cư trên đường đến Hoa Kỳbao gồm cả vùng Darien Gap xa, không từ Nam Mỹ mà đã quá cảnh Panama. Đến năm 2025, những thay đổi về chính sách nhập cư vào Hoa Kỳ đã làm giảm đáng kể lượng người di cư quá cảnh. Panama. Năm 2025,  Panama cũng đã chấp nhận những người bị trục xuất từ ​​nước thứ ba khỏi Hoa Kỳ.

Cộng hoà Panama ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Panama có hiệu lực thi hành năm 1972. Từ đó đến nay Hiến pháp được tu chỉnh lần trong các năm 1978, 1983, 1994 và 2004. Theo Hiến pháp, Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa nắm quyền Hành pháp, do dân bầu trực tiếp với 1 nhiệm kỳ duy nhất 5 năm. Quốc hội chỉ có Hạ viện nắm quyền Lập pháp, gồm 78 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. 

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 4.536.008 (năm 2016: 3.608.000); dưới 15 tuổi 24,9%, trên 65 tuổi 10,4%. Tăng dân số: 1,5%. Nhập cư: 10,6%. Mật độ dân cư: 61,0 người/km2. Thành phố: 70,3%. Sắc tộc Mestizo 70%, Indian phía tây 14%, da trắng 10%, và Amerindian 6%. Ngôn ngữ: Spanish(chính), English. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 85%, Tin lành 15%. Đất đai: Tổng diện tích: 75.420 km2. Diện tích đất: 74.340 km2. Địa điểm: vùng Trung Mỹ. Quốc gia láng giềng: Costa Rica phía tây, Colombia phía đông. Địa thế: Hai dãy núi chạy dài theo eo biển, rừng mưa nhiệt đới bao trùm bờ biển Caribbean và phía đông Panama. Đất nông nghiệp: 7,6%. Thủ đô:  Panama City 2.054.541 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Jose Raul Mulino, sinh 1959, nhậm chức 1/7/2024. Chính quyền địa phương: 10 tỉnh và 5 vùng lãnh thổ tự trị. Ngân sách quốc phòng: 946 triệu. Quân đội chính quy: 27.700. Kinh tế: Công nghiệp xây dựng, vật liệu, lọc dầu, xi măng, chế biến đường, thực phẩm, thức uống. Nông sản: Cà phê, chuối, đường, lúa gạo, bắp. Tài nguyên: đồng, thủy điện, tôm, gỗ đỏ. Nguồnnước: 31.654 m3/người. Sử dụng năng lượng: 78,0 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 12,9 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 14,7%; công nghiệp 17,5%; dịch vụ 67,8%. Thất nghiệp: 6,5%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Balboa (PAB): 1,0 = 1 USD). Tổng sản lượng nội địa:  tỷ. 187,0. Bình quân đầu người: 41.405 USD. Tăng trưởng: 2,9%. Nhập khẩu: 30,9 tỷ. Bạn hàng: Japan 33,2%, Trung Quốc 16%, Hoa Kỳ 11,2%, Singapore 11,2%. Xuất khẩu: 37,4 tỷ. Bạn hàng: Tay Ban Nha 26,8%, Hoa kỳ 18,9%, Italy 5,7%, Đức 5,4%. Du lịch: 5,5 tỷ. Tiêu dùng: 21,1%. Lạm phát: 0,7%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 48 mi = 76 km. Xe hơi cá nhân 211,5/1000cư dân. Sân bay 77. Truyền thông: Truyền hình: 106,3/100 cư dân. Điện thoại di động: 156,6/100. Internet: 68,5%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 8,5%. Tuổi thọ: nam 77,2, nữ 83,0. Sinh xuất: 17,1/1000 người. Tử xuất: 5,5/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 13,2/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 37/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 5,7%. Nhiểm HIV: 1,1%. Nhiểm COVID-19: 24.230/100.000 trong đó có 204 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 4-14, biết đọc biết viết 95,7%./.

 

 

CHƯƠNG 14: LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG 13 QUỐC GIA ĐỘC LẬP VÙNG BIỂN CARIBBEAN: 11-23.

Năm 2026, khu vực Vùng Caribbean có 13 quốc gia độc lập chiếm 220.513 km2 diện tích đất, và 38.412.000 cư dân. Tổng sản lượng 573,3 tỷ USD, và thu nhập bình quân đầu người 20.220 USD. Nhập khẩu 83,5 tỷ USD. Xuất khẩu 70,5 tỷ USD. Tiêu dùng 29,2%. Lạm phát 4,3%. Số người có Xe hơi cá nhân 20,1 %; Và, số người sử dụng Internet 78,3. 13 quốc gia độc lập ở Vùng Caribbean là: Bahamas, Cuba, jamaica, Haiti, Dominican Republic, Saint Kitts, Antigua, Dominica, Saint Lucia, Barbados, Saint Vincent, Grenada, và Trinidad.

 

158. THE BAHAMAS - COMMONWEALTH OF  BAHAMAS.

Tiến trình phát triển.

Cư dân đầu tiên sống trên đảo là sắc tộc Lucay, một nhánh của bộ tộc Arawarks. Tên Bahamas được dịch ra từ “Baja Mar” có nghĩa “biển thấp” do Christopher người đặt chân lên San Salvador năm 1492. Người định cư Anh đến đây năm 1647, và nhóm đảo này trở thành thuộc địa Anh năm 1783. Được ban cấp chính quyền tự trị năm 1964, và hoàn toàn độc lập trong khối thịnh vượng Anh ngày 10/7/1973. Hoạt động ngân hàng và quản lý đầu tư đã trở thành ngành công nghiệp chính cùng với du lịch. Trong cuộc bầu cử Quốc hội 7/5/2012, đảng Tự do và Tiến bộ (PLP) dẫn đầu chiếm 29/38 ghế, về nhì là Mặt trận Quốc gia Tự do đương quyền (FNM) 9 ghế.

Bão Dorian từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 9 năm 2019 đã tàn phá miền bắc Bahamas. Đại dịch COVID-19 gây tổn hại cho ngành du lịch. GDP thực tế đã giảm hơn 16% vào năm 2020 trước khi phục hồi vào năm 2021. Ảnh hưởng của đại dịch đã gây tổn hại cho đảng chính phủ trong cuộc bầu cử quốc hội ngày 16 tháng 9 năm 2021; Philip Davis của Đảng Tự do Tiến bộ (PLP) đối lập trở thành thủ tướng  sau khi PLP giành được 32 trong số 39 ghế hạ viện. 

Bahamas ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Bahamas là Hiến pháp Quân chủ lập hiến, nhận Nử hoàng Anh làm nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi một Toàn quyền. Toàn quyền nắm giữ quyền Hành pháp cùng với Hội đồng Nội các do ông ta bổ nhiệm. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 41 đại biểu, do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 16 nghị sỉ, do Toàn quyền bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng Nội các cũng với nhiệm kỳ 5 năm.          

Cư dân và lãnh thổ: Con người: dân số 415.406 (nawm 2016: 321.000); dưới 15 tuổi 21,1%, trên 65 tuổi 9,1%. Tăng dân số: 1,1%. Nhập cư: 16,8%. Mật độ dân cư: 41,5 người/km2. Thành phố: 83,9%. Sắc tộc: da đen 85%, da trắng 12%, sắc dân khác 3%. Ngôn ngữ: English (chính), Creole. Tôn giáo: Baptist 35%, Anglican 15%, Thiên chúa giáo La mã 15%, Thiên chúa giáo khác 14%. Đất đai: Tổng diện tích: 13.880 km2. Diện tích đất: 10.010 km2. Địa điểm: trong Đại Tây Dương, phía đông là Florida. Quốc gia láng giềng: gần nhất là Hoa Kỳ phía tây, Cuba phía nam. Địa thế: gần 700 đảo (trong đó 29 đảo có cư dân) và trên 2.000 đảo nhỏ ở phía tây Đại Tây Dương, mở rộng ra 1.220 km từ tây bắc tới đông nam. Đất nông nghiệp: 0,8%. Thủ đô:  Nassau: 279.668 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Quân chủ lập hiến. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi Toàn quyền Cynthia A. Pratt, sinh 1945, nhậm chức 1/9/2023. Thủ tướng chính phủ: Philip Davis, sinh 1951, nhậm chức 18/9/2021. Chính quyền địa phương: 31 quận hành chính. Ngân sách quốc phòng: 105 triệu. Quân đội chính quy: 1.500. Kinh tế: Công nghiệp lọc dầu, tàu chở dầu, du lịch, ngân hàng, xi măng, muối rượu rum. Nông sản: chanh, cam, rau quả. Tài nguyên: gổ, muối, tôm hùm. Nguồn nước: 1.761 m3/người. Sử dụng năng lượng: 104,4 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 2,0 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 2,9%; công nghiệp 12,2%; dịch vụ 84,9%. Thất nghiệp: 8,5%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar (BSD): 1,0 = 1 USD). Tổng sản lượng nội địa: 16,5 tỷ. Bình quân đầu người: 41.198 USD. Tăng trưởng: 3,4%. Nhập khẩu: 7,1 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 20,9%, South Korea 17,9%, Brazil 16,8%, Japan 11,1%,  Spain 6,1%. Xuất khẩu: 6,8 triệu. Bạn hàng: Spain 23,3%, Hoa Kỳ 20,7%, Ba Lan 14,1%, Germany 7,2%, Anh Quốc 6%, Guatemala 5,1%. Du lịch: 4,8 tỷ. Tiêu dùng: 24,2%. Lạm phát: 0,4%. Vận chuyển: Đường xe lửa: khôngcó số liệu. Xe hơi cá nhân 394,0/1000 cư dân. Sân bay 54. Truyền thông: Truyền hình: 96,7/100 cư dân. Điện thoại di động: 96,7/100. Internet: 94,8%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 7,2%. Tuổi thọ: nam 75,6, nữ 78,9. Sinh xuất: 13,1/1000 người. Tử xuất: 5,4/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 9,2/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 76/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: không có số liệu. Nhiểm HIV: 1,1%. Nhiểm COVID-19: 9.950/100.000 trong đó có 216 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-16, biết đọc biết viết: không có số liệu./.

 

159. CUBA - REPUBLIC OF CUBA.

Tiến trình phát triển.

Khoảng 50.000 cư dân bản địa sống ở Cuba trước khi Columbus đến quần đảo này năm 1492. Tên của nó lấy từ tên Indian Cubanacan. Ngoại trừ Havana do Anh Quốc chiếm cứ năm 1762-1763, Cuba vẫn do Tây Ban Nha chiếm trị cho đến năm 1898. Lao động trong đồn điền trồng mía đường chủ yếu là từ người nô lệ da đen, cũng là kinh tế chính của Cuba từ thế kỷ 18. Cùng với các nhà máy chế biến đường được xây dựng rất sớm, công nghiệp đường vẫn là sản phẩm chủ yếu và là mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất, mặc dù chính quyền muốn thay đổi mở rộng thêm nhiều mặt hàng khác. Cuộc nổi dậy 10 năm, kết thúc năm 1878 với sự bảo đảm một số quyền cơ bản bởi chính quyền cai trị thuộc địa Tây Ban Nha.

Nhưng họ không thực hiện nó, nên một cuộc đấu tranh khác dưới sự lãnh đạo của Jose Marti bắt đầu ngày 24/2/1895. Do sự kiện một tàu Mỹ USS Maine bị nổ tung ở cảng Havana, tháng 4/1898 Hoa Kỳ tuyên chiến với Tây Ban Nha, và chiến thắng của Hoa Kỳ trong cuộc chiến buộc Tây Ban Nha phải từ bỏ tất cả các quyền lợi ở Cuba. Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Cuba năm 1902, nhưng dưới một thoả thuận năm 1903 và 1904, Cuba nhượng cho Hoa Kỳ dưới hình thức thuê mướn một địa điểm ở vịnh Guantanamo phía Đông Nam dùng làm căn cứ hải quân của Mỹ. Mỹ còn có được các quyền đầu tư khác gần như nắm giữ vai trò chủ chốt trong nền kinh tế Cuba. 

Năm 1952, Tổng thống Fulgencio Batista nắm quyền lực, và lập ra chế độ độc tài gia tăng sự khống chế xã hội. Cùng với nó là tệ nạn tham nhũng, thối nát cũng lớn mạnh theo. Fidel Castro tập hợp được một đội quân nổi dậy năm 1956, đánh du kích và lớn mạnh thách thức chính quyền. Ngày 1/1/1959, Batista đào thoát và kết quả là sự trống vắng chính trị, Castro nắm quyền lực và trở thành Thủ tướng ngày 16/2/1959. Chính quyền bắt đầu một chương trình thay đổi chính trị, kinh tế và xã hội rộng lớn. Không có một lời hứa hẹn nào khôi phục quyền tự do của công chúng. Các đối thủ chính trị bị bắt bỏ tù, và bị hành quyết. Khoảng 700.000 người Cuba chạy sang Hoa Kỳ sau khi Castro nắm quyền. 

Đất đai sử dụng cho chăn nuôi và trồng thuốc lá bị quốc hữu hoá, đồng thời một hệ thống Hợp tác xã được tạo lập. Năm 1960, tất cả các ngân hàng, và công ty công nghiệp cũng bị quốc hữu hoá, kể cả trên 1 tỷ USD, giá trị các tài sản do Hoa Kỳ làm chủ mà không hề có một lời hứa hẹn bồi thường nào cả. Mùa thu hoạch mía đường sút giảm nghiêm trọng là kết quả của việc hợp tác hoá nông nghiệp.

Mặc dù nhận được trợ giúp từ Liên bang Xô viết và các nước Cộng sản khác, chính quyền vẫn phải khẩu phần hoá lương thực, và kiểm soát nghiêm ngặt lực lượng lao động xã hội. Tháng 4/1961, khoảng 1.400 người Cuba được huấn luyện, và bảo trợ bởi cơ quan tình báo Hoa Kỳ tiến hành cuộc xâm lăng lật đổ chính quyền Castro không thành công. Sau đó Hoa Kỳ áp đặt lệnh cấm vận lên Cuba. Tháng 12/1961, Castro tuyên bố Cuba là một nước Cộng sản. Mùa thu năm 1962, Hoa Kỳ phát hiện ra Liên Xô đã đưa tên lửa có đầu đạn hạt nhân vào thiết đặt ở Cuba. 

Sau nhiều cuộc thương thảo gay go, cuối cùng ngày 22/10/1962, các tên lửa của Liên Xô triệt thoái khỏi Cuba, và đổi lại Hoa Kỳ cũng phải triệt thoái các tên lửa có đầu đạn hạt nhân ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Tổng thống Kennedy còn phải cam kết sẽ không xâm lăng Cuba. Năm 1977, Cuba và Hoa Kỳ ký hiệp ước trao đổi ngoại giao, nhưng không tái lập các mối quan hệ ràng buộc đầy đủ kể cả quy định vùng đánh cá ngoài khơi của hai quốc gia. Trong năm 1978 và 1980, Hoa Kỳ đồng ý nhận những người bị cầm tù do hoạt động chính trị được Cuba phóng thích. Nhưng khi tiếp nhận họ thì có cả một số người can tội hình sự, và bệnh nhân bệnh tâm thần. 

Năm 1987, Hoa Kỳ và Cuba đạt tới một thoả thuận, theo đó mỗi năm Hoa Kỳ sẽ nhận 20.000 người nhập cư từ Cuba, và đổi lại Cuba nhận 2.500 người tù hình sự và bệnh nhân tâm thần do Hoa Kỳ trả về. Từ năm 1975 đến 1978, Cuba gởi quân đội đến trợ giúp phe bạo loạn trong cuộc nội chiến ở Angola. Các đơn vị Cuba cuối cùng rút khỏi Angola tháng 5/1991. Cuba còn can dính giúp đỡ bạo loạn Cộng sản ở Trung Mỹ, Châu Phi, và vùng Caribbean khiến mối quan hệ với Hoa Kỳ ngày càng xấu đi. Kinh tế Cuba phụ thuộc vào sự trợ giúp của Liên Xô và các nước Cộng sản khác trở nên bấp bênh, bởi sự sụp đổ của khối Cộng sản Đông Âu vào cuối thập niên 1980. 

Lệnh cấm vận thương mại cứng ngắt của Hoa Kỳ năm 1992 làm cho vấn đề tệ hại thêm. Các cuộc biểu tình chống chính quyền tháng 8/1994, khiến Castro nới lỏng các hạn chế nghiêm ngặt về di cư. Tháng 9 một thoả thuận mới giữa Hoa Kỳ và Cuba chấm dứt tình trạng dòng người chạy trốn khỏi Cuba "boat people" sau khi hơn 30.000 người rời Cuba. Trong một biến đổi chính trị khác, ngày 2/5/1995, Hoa kỳ tuyên bố sẽ nhận trên 20.000 người Cuba tỵ nạn đang giam giữ tại căn cứ Guantanamo. Nhưng sẽ gởi trả về Cuba tất cả các thuyền nhân vượt biển đến Hoa Kỳ trong tương lai. 

Ngày 24/2/1996, sau khi Cuba bắn rơi hai máy bay thám thính của nhóm người lưu vong có căn cứ ở Miama mà Cuba tố cáo rằng họ đã ném bom vào khách sạn du lịch ở Havana. Cũng năm này, Hoa Kỳ tăng thêm lệnh cấm vận lên Cuba. Ngày 21-25/1/1998, Giáo hoàng John Paul II thăm Cuba, ông kêu gọi Hoa Kỳ chấm dứt lệnh cấm vận thương mại đối với Cuba. Trong khi đó Castro phóng thích tù chính trị, cho phép người ta được tự do hoạt động chính trị và tiến hành nghi thức tôn giáo. Hoa Kỳ gỡ bỏ lệnh giới hạn giao tiếp với Cuba năm 1999. Ngày 28/6/2000, bé trai Elian Gonzalez được cứu vớt ngoài khơi Florida từ một chiếc tàu chìm, và mẹ em bị chết được trả về Cuba với cha em sau 7 tháng tranh chấp pháp lý. 

Ngày 11/1/2002, Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng căn cứ tại vịnh Guantanamo, để giam giữ tù binh, những người bị bắt ở Afghanistan. Ngày 12-17/5/2002, cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Cater thăm Havana, ông kêu gọi cải cách dân chủ ở Cuba, và Hoa Kỳ nên tháo bỏ lệnh cấm vận thương mại lên Cuba. Tháng 3/2003, trong một cuộc đàn áp lớn nhất từ những năm gần đây, Cuba đã bắt 78 người bất đồng chính kiến. Ngày 11/4, ba người bị hành quyết về tội cướp một chiếc phà ở vịnh Havana trong một nổ lực trốn thoát sang Hoa Kỳ nhưng thất bại. Cả hai vụ đàn áp và hành hình trên bị cả thế giới lên án. Tháng 5/2004, Hoa Kỳ lại áp đặt một lệnh cấm vận mới, giới hạn những người Cuba lưu vong đang sống trong nước Mỹ thăm viếng đảo quốc Cuba, 3 năm một lần thay vì mỗi năm một lần như hiện nay.

Hoa Kỳ còn giới hạn tiền gởi về Cuba từ Hoa Kỳ, chỉ gởi cho thân nhân chứ không được gởi cho các viên chức đảng Cộng sản. Chính quyền Hoa Kỳ cũng chấp thuận một kinh phí 36 triệu USD cho chương trình truyền thông qua vệ tinh ủng hộ những người bất đồng chính kiến ở Cuba. Tháng 7/2006, Castro phải nhập viện và trao quyền tạm thời cho em trai là Rául Castro. Tháng 2/2008, Fidel Castro tuyên bố về hưu, và người thay thế không ai khác hơn là Rául Castro em trai Fidel. Cơn lốc Gustav và Ike trong tháng 8 và 9 đã phá hủy vụ mùa mía đường và 450.000 ngôi nhà, thiệt hại trên 5 tỷ USD. Tháng 4/2009, tổng thống Obama tuyên bố bắt đầu “một thời kỳ mới” với Cuba bằng cách nới lỏng việc gởi tiền và du lịch thăm thân nhân tại Cuba. Tuy nhiên, ngày 14/9, Obama tuyên bố vẫn duy trì lệnh cấm vận lên Cuba.

Ngày 13/9/2010, chính quyền Cuba công kế hoạch bố tái cấu trúc kinh tế, theo đó sẽ cắt giảm 500.000 nhân viên trong bộ máy nhà nước trong 6 tháng tới. Sau thi nhậm chức tổng thống 2 ngày, Obama ra lệnh đóng cửa Trại tù, nơi giam giữ tù nhân bị bắt tại Afghanistan ở vịnh Guatanamo, Cuba trong vòng 1 năm kể từ tháng 9/2010, nhưng đến nay vẫn còn 174 đang giam giữ tại đó. Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 3/2/2013, 50 % số ghế dành cho các Hội đồng Địa phương, 50% số ghế còn lại là từ cấp tỉnh và Trung ương. Tất cả 612 Đại biểu hợp thành Quốc hội Quốc gia, bầu ra Hội đồng Quốc gia gồm 31 thành viên như một Cơ quan Thường trực. Chủ tịch Hội đồng vừa là nguyên thủ Quốc gia, vừa cầm đầu chính phủ. 

Ngày 20 tháng 7 năm 2015, dưới thời Tổng thống. Barack Obama Obama, Hoa Kỳ đã khôi phục hoàn toàn quan hệ ngoại giao với Cuba. Một số hạn chế về du lịch và kinh tế đã được nới lỏng. Các chuyến bay thương mại theo lịch trình của Hoa Kỳ đến Cuba, bị đình chỉ từ đầu những năm 1960, đã được nối lại vào ngày 31 tháng 8 năm 2016. Ngày 29 tháng 9 năm 2017, sau khi một số viên chức sứ quán và thành viên gia đình họ phát hiện nhiều vấn đề y tế khác nhau. Hoa Kỳ đã thông báo về việc rút những nhân viên không cần thiết khỏi đại sứ quán ở Havana. 

Năm 2020, một nghiên cứu của Hoa Kỳ đã kết luận rằng “tình trạng khẩn cấp tần số vô tuyến xung trực tiếp” có thể gây ra bệnh “hội chứng Havana” (điều này cũng ảnh hưởng đến nhân viên Hoa Kỳ ở các quốc gia khác) mặc dù vẫn còn nhiều điều không chắc chắn.Ngày 19 tháng 4 năm 2018, được Quốc hội bầu chọn, Miguel Diaz-Canel Bermudez trở thành nguyên thủ quốc gia Cuba kế nhiệm Raul Castro. Hiến pháp mới, được thông qua trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 24 tháng 2 năm 2019, đã thành lập văn phòng và thủ tướng mới. Tháng 4 năm 2021, Miguel Diaz-Canel được bầu đứng đầu Đảng Cộng sản kế nhiệm Rau Castro.

Ngày 11 tháng 7 năm 2021, có nhiều cuộc biểu tình lớn ở một số thành phố phản đối tình trạng thiếu lương thực và những khó khăn khác, nhưng họ đã phải đối mặt với hàng trăm vụ bắt giữ và các biện pháp khác nhằm trấn áp những người bất đồng chính kiến của chính phủ. Khó khăn kinh tế, thiếu hụt, mất điện và đàn áp tiếp tục diễn ra trong những năm tiếp theo. Đạo luật tháng 7 năm 2022 đã được cử tri thông qua trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 25 tháng 9, cho phép các cặp đồng tính kết hôn và nhận con nuôi. Ngày 19 tháng 4 năm 2023, Miguel Diaz-Canel được bầu tiếp tục làm chủ tịch Cuba 

Cộng hoà Cuba ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Cuba có hiệu lực thi hành ngày 24/2/1976. Từ đó đến nay hiến pháp được tu chỉnh 2 lần, năm 1992, và năm 2002, khẳng định Cuba vẫn duy trì hệ thống Xã hội Chủ nghĩa. Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện Nhân dân có 612 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, với nhiệm kỳ 5 năm. Nghị viện họp hàng năm 2 lần. Nghị viện bầu ra 31 thành viên vào Hội đồng Quốc gia như là cơ quan Thường trực. Chủ tịch Hội đồng Quốc gia là nguyên thủ quốc gia, và cầm đầu chính phủ.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: dân số 10.059.519 (năm 2016: 11.047.000); dưới 15 tuổi 15,0%, trên 65 tuổi 18,4%. Tăng dân số: giảm 0, 6%. Nhập cư: 0,0%. Mật độ dân cư: 91,6 người/km2. Thành phố: 77,8%. Sắc tộc: da trắng 65%, lai Spain 25%, da đen 10%. Ngôn ngữ: Tây Ban Nha (chính). Tôn giáo: Thiên chúa giáo La Mã 85% trước khi Castro cầm quyền. Đất đai: Tổng diện tích: 110.860 km2. Diện tích đất: 110.860 km2. Địa điểm: vùng biển Caribbean, phía tây của Wesst Indies. Quốc gia láng giềng: Bahamas và Hoa Kỳ ở phía bắc, Mexico  phía tây, Jamaica phía nam, Haiti phía đông. Địa thế: bờ biển dài bao quanh khoảng 4.022km. Bờ phía bắc dốc đá thẳng đứng, bờ phía nam thấp và đầm lầy. Đồi thấp và bình nguyên màu mỡ trùm lên một nữa quốc gia. Núi Sierra Maestra ở phía đông là dãy núi cao nhất trong ba dãy núi ở Cuba. Đất nông nghiệp: 26,0%. Thủ đô:  Havana 2.158.350 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng sản. Nguyên thủ quốc gia: Miguel Diaz-Canel Bermudez, sinh 1960, nhậm chức 19/4/2018 (tái bầu năm 2023). Thủ tướng chính phủ: Manuel Marrero Cruz, sinh 1963, nhậm chức: 21/12/2019.Chính quyền địa phương: 15 tỉnh, 1 khu vực tự trị đặc biệt. Ngân sách quốc phòng: không có số liệu. Quân đội chính quy: 49.000. Kinh tế: Công nghiệp xây dựng, hoá chất, lọc dầu, thuốc lá, đường. Nông sản: mía đường, thuốc lá, lúa gạo, chanh, cam, rau quả. Tài nguyên: dầu lửa, quặng sắt, nickel, bạc, đồng, muối, muối acid, mangan đen, cabonat kali, hợp chất Côban làm thuốc nhuộm, gỗ. Nguồn nước: 3.447 m3/người. Sử dụng năng lượng: 26,1 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 13,5 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 17,1%; công nghiệp 16,0%; dịch vụ 66,9%. Thất nghiệp: 1,5%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Peso (CUP): 24,0 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: không có số liệu. Bình quân đầu người: không có số liệu. Tăng trưởng: giảm 1,9%. Nhập khẩu: 8,1 tỷ. Bạn hàng: China 21,6, Tây ban nha 13,3%, Germany 8,8%, Canada 7,6%, Italy 6,1%, Hoa Kỳ 5,9%, Brazil 5,2%. Xuất khẩu: 8,8 tỷ. Bạn hàng: Canada 20,9%, Netherlands 20,9, China 18,8%, Spain 5,7%. Du lịch: 1,0 tỷ. Tiêu dùng: không có số liệu. Lạm phát: không có số liệu. Vận chuyển: Đường xe lửa: 5.199 mi = 8.318 km. Xe hơi cá nhân 53,5/1000 cư dân. Sân bay 120. Truyền thông: Truyền hình: 52,4/100 cư dân. Điện thoại di động: 72,9/100. Internet: 71,3%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 11,8%. Tuổi thọ: nam 75,9, nữ 81,4. Sinh xuất: 7,8/1000 người. Tử xuất: 11,4/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 5,2/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 35/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: không có số liệu. Nhiểm HIV: 0,6%. Nhiểm COVID-19: 8.932/100.000 trong đó có 75 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 6-14, biết đọc biết viết 99,7%./.

 

160. JAMAICA.

Tiến trình phát triển.                  

Columbus đặt chân lên Jamaica năm 1494, và Tây Ban Nha chiếm trị cho đến năm 1655, thì bị Anh Quốc chiếm. Sắc tộc Arawak bản địa bị diệt chủng trong thời kỳ Tây Ban Nha cai trị. Ngày 6/8/1962, Jamaica giành được độc lập. Năm 1974, Jamaica tìm cách tăng thuế trên các công ty khai thác quặng nhôm do Hoa Kỳ và Canada làm chủ. Chính quyền của đảng Xã hội tái đắc cử trong năm đó. Dù chưa phải là quốc gia phát triển, luật an sinh xã hội cũng được Quốc hội thông qua. Từ thập niên 1980, thì quan hệ giữa Hoa Kỳ và Jamaica cũng được cải thiện. Bạo loạn nổ ra giữa lực lượng chính phủ và cư dân khu nhà ổ chuột phía Tây Kingston từ ngày 7 đến 10/7/2001 giết chết hơn 20 người. Ngày 10-11/9/2004, cơn bảo Hurricane Ivan ập vào phía nam Jamaica giết chết 17 người và gây thiệt hại nhiều tài sản trên đảo. 

Ngày 30 tháng 3 năm 2006, Portia Simpson-Miler của Đảng Nhân dân Quốc gia (PNP) trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của Jamaica. Tại cuộc bầu cử Quốc hội ngày 2/9/2007, đảng Lao động đối lập Jamaica (JLP) giành thắng lợi chiếm 33/60 ghế, và đảng Quốc gia Nhân dân (PNP) đương quyền chỉ có 27 ghế. Cảnh sát và quân đội đụng độ với băng đảng tội phạm tại vườn cây Tivoli ở Kingston trong tháng 5/2010 làm 76 người chết. Ngày 22/6, tên cầm đầu băng đảng là Christopher Coke ra đầu thú và được dẫn độ sang Hoa Kỳ để bị truy tố về tội buôn lậu vũ khí, và bạch phiến. 

Tại cuộc bầu cử Quốc hội ngày 29/12/2011, đảng đối lập Quốc gia Nhân dân (PNP) giành thắng lợi chiếm 42/63 ghế, và đảng Lao động đương quyền chỉ có 21. Và, cựu thủ tướng Simpson-Miller lại trở thành thủ tướng. Sau khi bà thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng, không được lòng dân để nhận viện trợ của IMF, dẫn tới việc JLP đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử ngày 25 tháng 2 năm 2016. Andrew Holness trở thành thủ tướng. JLP đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử vào tháng 9 năm 2020 và tháng 9 năm 2025, Andrew Holness tiếp tục làm thủ tướng.

Jamaica ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Jamaica là hiến pháp Quân chủ lập hiến, nhận Nử hoàng Anh làm nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi một Toàn quyền có hiệu lực thi hành tháng 8/1962. Thủ tướng chính phủ là lãnh tụ đảng chiếm đa số ghế tại Hạ viện. Quyền Lập pháp được trao cho Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 60 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 21 nghị sỉ do Toàn quyền bổ nhiệm trong đó 13 nghị sỉ theo đề nghị của Thủ tướng và 8 nghị sỉ theo đề nghị của lảnh tụ đối lập. 

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 2.826.742 (năm 2016: 2.930.000); dưới 15 tuổi 23.5%, trên 65 tuổi 10,8%. Tăng dân số: 0,1%. Nhập cư: 0,8%. Mật độ dân cư: 261,0 người/km2. Thành phố: 58,2. Sắc tộc: người da đen 91%, lai tạp 6%. Ngôn ngữ: English (chính), thổ ngữ-Anh. Tôn giáo: Tin lành 63%, Niềm tin bản địa 35%, Thiên chúa giáo La mã 4%. Đất đai: Tổng diện tích: 10.991 km2. Diện tích đất: 10.831 km2. Địa điểm: vùng biển Caribbean (West Indies). Quốc gia láng giềng: gần nhất là Cuba phía bắc, Haiti phía đông. Địa thế: bốn phần năm diện tích là núi và núi. Đất nông nghiệp: 11,1%. Thủ đô:  Kingston 603.770 cư dân. 

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Quân chủ lập hiến. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi toàn quyền Patrick Allen, sinh 1951, nhậm chức 26/2/2009. Thủ tướng chính phủ: Andrew Holness, sinh 1972, nhậm chức 3/3/2016, tiếp tục 2020 và 2025. Chính quyền địa phương: 14 khu hành chánh. Ngân sách quốc phòng: 289 triệu. Quân đội chính quy: 5.950. Kinh tế: Công nghiệp khai thác chế biến quặng nhôm, luyện kim, hóa chất, hàng dệt, du lịch, chế biến thực phẩm. Nông sản: khoai tây, mía đường, café, chuối, chanh, cam. Tài nguyên: thach cao, quặng nhôm, than nâu, đá vôi. Nguồn nước: 3.812 m3/người. Sử dụng năng lượng: 42,1 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 4,5 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 14,6%; công nghiệp 17,6%; dịch vụ 67,8%. Thất nghiệp: 4,9%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar (JMD): 160,1 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 33,1 tỷ. Bình quân đầu người: 11.662 USD. Tăng trưởng: giảm 0,7%. Nhập khẩu: 9,5 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 39,4%, Trinidad-Tobago 14,4%, Venezuela 5,8%. Xuất khẩu: 7,1 tỷ. Bạn hàng:  Hoa kỳ 23,7%, Canada 16,5%, China 15,1%, Anh 10,1%, Germany 7,5%, Netherlands 6,4%, Norway 5,9%. Du lịch: 4,3 tỷ. Tiêu dùng: 30,5%. Lạm phát: 5,4%. Vận chuyển: Đường xe lửa: khôngcó số liệu. Xe hơi cá nhân 78,8/1000 cư dân. Sân bay 20. Truyền thông: Truyền hình: 63,2/100 cư dân. Điện thoại di động: 117,7/100. Internet: 89,5%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 7,8%. Tuổi thọ: nam 74,8, nữ 78,3. Sinh xuất: 15,5/1000 người. Tử xuất: 7,5/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 10,4/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 130/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 7,7%. Nhiểm HIV: 1,1%. Nhiểm COVID-19: 5.323/100.000 trong đó có 123 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 6-11, biết đọc biết viết 88,7%./.

 

161. HAITI - REPUBLIC OF HAITI.

Tiến trình phát triển.

Columbus đặt chân lên Haiti năm 1492, và là một thuộc địa của Pháp từ năm 1697. Sau cuộc bạo loạn dưới sự lãnh đạo của một người nô lệ củ Toussaint L’ Ouverture, Haiti đạt tới sự độc lập năm 1804. Sau đó là một thời kì bất ổn chính trị, và Hoa Kỳ xâm chiếm quốc gia nầy năm 1915-1934. tháng 9/1957, Francois Duvalier được bầu làm Tổng thống. Năm 1964, ông ta tự phong mình làm Tổng thống suốt đời. Năm 1971, khi ông ta chết và con trai ông ta là Jean Claude Duvalier. Nạn hạn hán kéo dài năm 1975-1977, đưa đến sự khan hiếm thực phẩm, đói kém khắp nơi, tiếp theo là cơn bão Hurricane Hellen năm 1980 phá huỷ hầu hết vụ mùa lúa gạo, cà phê, và rau đậu. 

Ngày 7/2/1976, sau nhiều tuần bất ổn chính trị, Tổng thống Jean Claude tháo chạy khỏi Haiti trên một chiếc máy bay phản lực của không quân Mỹ, chấm dứt 28 năm cai trị độc tài của gia đình Duvalier. Hội đồng Quân dân do tướng Henri Namphy lãnh đạo đứng ra vãn hồi trật tự. Năm 1987, cử tri thông qua một cuộc “trưng cầu dân ý” chấp nhận Hiến pháp mới. Nhưng tháng 1/1988, cuộc tổng tuyển cử lại phải đương đầu với cả phe bạo loạn, và sụ tẩy chay của phe đối lập. Ngày 20/6, tướng Namphy lại chiếm quyền cai trị, nhưng bị truất phế trong một cuộc đảo chính quân sự tháng 9. Tháng 12/1990, Cha (Linh mục) Jean Bertrand Aristide được bầu làm Tổng thống. Tháng 9/1991 Aristide bị bắt, và bị trục xuất khỏi nước bởi quân đội. 

Khoảng 35.000 người tỵ nạn Haiti muốn vào Hoa Kỳ bị chận lại khi những người này đổ bộ lên bờ biển nước Mỹ năm 1991-1992. Hầu hết bị buộc phải quay trở lại Haiti. Một dòng người tỵ nạn mới lại nổi lên bắt đầu cuối năm 1993. Ngày 23/6/1993, Liên Hiệp Quốc áp đặt lệnh cấm vận lên Haiti về tài chánh, dầu lửa, và vủ trang. Lệnh cấm vận được gỡ bỏ khi phe quân đội đồng ý trao trả quyền cai trị Haiti cho Aristide vào ngày 30/10, nhưng sau đó họ lại cô lập khi ông ta trở lại Haiti. Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc tái ban hành lệnh cấm vận và ngày 31/7/1994, một lực lượng đa quốc đồng minh của Haiti đưa quân vào nước nầy. 

Với sự phòng thủ của quân đội Hoa Kỳ cuộc xâm lăng bị đẩy lùi. Ngày 18/9, bằng một thoả ước mới các nhà lãnh đạo quân đội từ chức, và Aristide phục hồi chức vụ. Theo thoả ước, hàng ngàn quân đội Mỹ đổ bộ lên Haiti ngày 19/9. Liền sau đó, Aristide trở về Haiti và tái nhậm chức lãnh đạo quốc gia ngày 15/10/1994. Một lực lượng giữ gìn hoà bình Liên Hiệp Quốc thực hiện trách nhiệm bảo vệ Haiti từ ngày 31/5/1995. Ngày 7/2/1996, Aristide chuyển quyền hành cho người kế vị ông ta là René Préval. Ngày 9/6/1997, Thủ tướng Rosny Smarth tuyên bố từ chức và chính thức rời bỏ cương vị cầm đầu chính phủ.

Ngày 20/10, Tổng thống René Préval và Quốc hội bị bế tắt trong việc đề cử Thủ tướng mới kéo dài tới 17 tháng, cho đến khi người kế vị được bổ nhiệm bởi một sắc lệnh của Tổng thống. Ngày 22/9/1998, cơn bảo Harricane Georges ập vào Haiti làm chết trên 140 người và hơn 160.000 người tiêu tan nhà cửa. Đảng Lavalas của Aristide giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội và chính quyền địa phương ngày 21/5 và 9/6/2000. Ngày 26/11/2000, Aristide cũng chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống mà các phe đối lập tẩy chay, không tham dự. Ngày 17/12/2001, một cuộc đảo chánh nổi lên và bị dập tắt. 

Đầu năm 2004, quân đội thực hiện một cuộc đảo chánh khác lật đổ Aristide. Với sức ép của Pháp và Mỹ, ngày 29/2 Aristide rời khỏi nước sống lưu vong. Nghèo đói, bệnh tật, bạo loạn chính trị, và nạn tham nhủng đã gieo tai họa cho Haiti trong nhiều thập kỷ. Theo sự ước tính của Tổ chức Y tế thế giới có ít nhất 30.000 người chết mỗi năm do nhiểm AIDS. Trận lụt tháng 5 giết chết hơn 1.000 người và làm thiệt hại nhiều tài sản chưa được khắc phục, thì cơn bảo nhiệt đới trong tháng 9/2004, làm cho 2.400 ngưòi chết hoặc mất tích. Sau nhiều lần đình hoản, cuộc bầu cử Tổng thống ngày 7/2/2006, nguyên Tổng thống René Préval đắc cử với 51,2% phiếu bầu. Và cuộc bầu cử Quốc hội ngày 7/2 và 21/4/2006, đảng Lespwa giành chiến thắng tại cả Hạ viện lẫn Thượng viện.

Tháng 4/2008, giá thực phẩm nhập khẩu cao, khiến các cuộc biểu tình, bạo loạn khắp nơi. Các cơn lốc và bảo nhiệt đới nối tiếp trong tháng 8 và 9 làm hơn 550 người thiệt mạng và trên 1 triệu ngôi nhà bị tàn phá. Ngày 7/11, một ngôi trường bị sập gần Cảng Au-Prince giết chết 91 học sinh và thầy cô giáo. Trận động đất ngày 12/1/2010, gần Cảng Au-Prince làm thiệt mạng hơn 220 người, gồm cả gần 100 người của Liên Hiệp Quốc đang làm nhiệm vụ giữ gìn hòa bình tại đây), hơn 300.000 người bị thương, và rất nhiều nhà cửa bị tiêu tan. Dinh thự tổng thống, tòa nhà quốc hội đổ nát, chính quyền trung ương tê liệt, Hoa Kỳ và các quốc gia đã cấp viện khẩn cấp làm giảm nhẹ thiên tai, và tiếp tục trợ giúp 7 tháng sau đó. 

Tuy nhiên, số thiệt hại do trận động đất gây ra quá lớn, số người Haiti phải sống trong các lều trại hơn 1,3 triệu người. Tính đến giữa năm 2010, nhân viên Liên Hiệp Quốc giúp giảm nhẹ thiên tai ở đây là 11.600 người. Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội 28/11/2010: Bầu Tổng thống, có 19 ứng viên dự tranh, không có ứng viên nào hội đủ số phiếu để đắc cử; Và tại vòng 2 chung cuộc ngày 20/3/2011, ứng viên Michel Martelly Michel Martelly, một nghệ sĩ giải trí đắc cử với 67,6% phiếu bầu, trên chân đối thủ Mirlande Manigat chiếm 31,7% phiếu bầu. Tại cuộc bầu Quốc hội cùng ngày 2/2/2014, thì Liên minh Thống nhất cho Thay đổi (CD-MOLIRENA) dẫn đầu chiếm 32 ghế, về nhì là đảng PRD 25 ghế.

Sau những cáo buộc về gian lận phổ biến trong cuộc bầu cử vòng một ngày 25 tháng 10 năm 2015 để bầu ra một tổng thống mới, một ủy ban bầu cử đã ra phán quyết rằng cuộc bỏ phiếu phải được tổ chức lại. Cuộc bỏ phiếu lại ngày 20 tháng 11 năm 2016 chiến thắng đã thuộc về doanh nhân Jovenel Moise. Năm 2019, các cuộc biểu tình chống tham nhũng và khó khăn kinh tế liên tục xảy ra. Đến đầu năm 2021, thì có thể nói bạo lực băng đảng và các cuộc biểu tình chống chính phủ đã tàn phá đất nước Haiti. Ngày 7 tháng 7 năm 2021, Tổng thống Moise bị ám sát bởi lính đánh thuê người Colombia. thủ tướng Ariel Henny được chỉ định kiêm nhiệm Quyền tổng thống. 

Ngày 14 tháng 8 năm 2021, một trận động đất mạnh, tại SW Haiti đã giết chết hơn 2.200 người và gây ra thiệt hại trên diện rộng, đồng thời gây ra nạn bạo lực băng đảng và bắt cóc đòi tiền chuộc gia tăng vào cuối năm 2021 và tiếp tục leo thang vào năm 2022-25 kèm theo bạo lực trả đũa các thành viên băng đảng. Ngày 2 tháng 10 năm 2023, LHQ đã phê chuẩn, uỷ nhiệm uỷ cho Kenya dẫn đầu sứ mệnh giảm bớt bạo lực ở Haiti. Đầu năm 2024, một liên minh các băng nhóm kiểm soát phần lớn port-au-Prince đã ngăn cản Thủ tướng kiêm nhiệm Tổng thống Haiti, Henry trở về sau một chuyến công du nước ngoài. Ngày 24 tháng 4, Henry từ chức. Một hội đồng chuyển tiếp đã bổ nhiệm thủ tướng mới vào tháng 5 năm 2024.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, Cảnh sát Kenya bắt đầu đến Haiti, nhưng đến tháng 8 năm 2025, lực lượng này đã thất bại trong việc dập tắt bạo lực. Tính đến giữa năm 2025, gần 1,3 triệu người Haiti phải di dời trong nước và 5,7 triệu người phải đối mặt với tình trạng mất an ninh lương thực. Mười một người đã bị thay đổi ở Hoa Kỳ với việc lập kế hoạch, tài trợ hoặc tạo điều kiện cho âm mưu chống lại Moise. Đến giữa năm 2025, 6 người đã nhận tội với nhiều tội danh khác nhau và 5 người đang chờ xét xử.   

Haiti ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Haiti có hiệu lực thi hành năm 1987. Từ đó đến nay Hiến pháp được tu chỉnh nhiều lần, có khi bị đình hoản thi hành như năm 1988. Hiến pháp chỉ rõ quyền Hành pháp được trao cho Tổng thống do dân bầu với nhiệm kỳ 5 năm, có thể được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai, nhưng không phải là lần liền kế. Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng. Quyền Lập pháp được trao cho Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 99 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 30 nghị sỉ cũng do dân bầu cùng ngày với bầu Hạ viện. Hiến pháp ngưng thi hành năm 1988, và có hiệu lực thi hành trở lại tháng 10/1994.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số: 11.898.812 (năm 2016:  9.996.000) dưới 15 tuổi 30,1%, trên 65 tuổi 4,3%. Tăng dân số: 1,2%. Nhập cư: 0,2%. Mật độ dân cư: 431,7 người/km2. Thành phố: 61,3%.  Sắc tộc: da đen 95%, da trắng 5%. Ngôn ngữ: Haitian-Creole, French (cả hai chính). Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 80%, Tin lành 16%. Đất đai: Tổng diện tích: 27.750 km.2. Diện tích đất: 27.560 km2. Địa điểm: trong vùng biển Caribbean, chiếm một phần ba phía tây đảo Hispaniola. Quốc gia láng giềng: Cọng hoà Dominican phía đông, Cuba phía tây. Địa thế: khoảng hai phần ba Haiti là núi, phần còn lại là một nửa khô cằn, khu vực bờ biển ấm áp và mưa. Đất nông nghiệp: 36,5%. Thủ đô: Port-au-Prince 3.133.076 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia: Thủ tướng kiêm nhiệm Quyền Tổng thống AlixDidier Fils-Aime, sinh 1971, nhậm chức 10/11/2024. Thủ tướng chính phủ: Evans Paul, sinh 1955, nhậm chức: 16/11/2015. Chính quyền địa phương: 10 khu vực hành chánh. Ngân sách quốc phòng: 28 triệu. Quân đội chính quy: 700. Kinh tế: Công nghiệp lắp ráp hàng tiêu dùng, xi măng, hàng dệt, tinh chế đường, tinh chế ngũ cốc. Nông sản: lúa gạo, bắp, đậu nành, mía đường, café, xoài. Tài nguyên: quặng nhôm, đồng, vàng, đá quý, calcium carbonate, thủy diện. Nguồnnước: 1.249 m3/người. Sử dụng năng lượng: 3,5 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 1,0 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 44,7%; công nghiệp 12,5%; dịch vụ 42,9%. Thất nghiệp: 15,1%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Gourde (HTG): 130,9 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 37,5 tỷ. Bình quân đầu người: 3.183 USD. Tăng trưởng: giảm 4,2%. Nhập khẩu: 5,3 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 46%, Netherlands Antiles 11,8%, China 3,4%. Xuất khẩu: 1,1 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 80,4%, Dominican Republic 7,7%, Canada 3%. Du lịch: 89 triệu. Tiêudùng: 6,4%. Lạm phát: 26,9%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân 9,7/1000 cư dân. Sân bay 17. Truyền thông: Truyền hình: 29,3/100 cư dân. Điện thoại di động: 65,2/100. Internet: 39,3%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 3,2%.Tuổi thọ: nam 64,6, nữ 68,1. Sinh xuất: 20,8/1000 người. Tử xuất: 7,0/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 35,0/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 328/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 54,2%. Nhiểm HIV: 1,6%. Nhiểm COVID-19: 306/100.000 trong đó có 8 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 6-11, biết đọc biết viết 61,7%./.

 

162. DOMINICAN REPUBLIC.

Tiến trình phát triển.

Bộ tộc bản địa Carib và Arawak Indians là cư dân trên đảo Hispaniola trước khi Columbus đáp thuyền vào đảo năm 1492. Thành phố Santo Domingo dựng lên năm 1496, là nơi người Châu Âu định cư cổ nhất còn lại phía Tây Bán cầu, và nó có cả tro cốt của Columbus ở một ngôi mộ trong nhà thờ chính cổ xưa. Một phần ba phía Tây của đảo được nhượng cho Pháp năm 1697, và Santo Domingo cũng tự nguyện nhượng cho Pháp năm 1795. Năm 1801, người cầm đầu đảo Haitian là Tonssaint L' Ouverture chiếm toàn bộ khu vực. Bởi vì cư dân bản địa đến rồi đi, nên từ năm 1803 đến 1821, Tây Ban Nha thỉnh thoảng có quay trở lại đảo. Haiti tái lập sự cai trị một lần nữa từ năm 1822 đến 1844. Tây Ban Nha chính thức chiếm đảo năm 1861-1863, và định cư ở đây từ đó. 

Năm 1916 đến năm 1924, thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ chiếm đảo vào lúc chính quyền vừa thành lập. Năm 1930, tướng Rafael Leonidas Trujillo Molina được bầu làm Tổng thống. Trujillo cai trị rất hung bạo cho đến khi ông ta bị ám sát 1961. Tổng thống Joaquin Balaguer được bổ nhiệm năm 1961. Dưới sức ép chính trị ông ta từ chức năm 1962. Và vị Tổng thống được bầu tự do từ 38 năm qua, ông Juan Bosch bị lật đổ năm 1963. Ngày 24/9/1965, cuộc bạo loạn bởi những người trung thành với Bosch, và cả một số đảng viên Cộng sản. Bốn ngày sau, thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ can thiệp chống lại lực lượng ủng hộ Bosch. Sau đó, 5 quốc gia Nam Mỹ gởi các đơn vị làm nhiệm vụ giữ gìn hoà bình. 

Một cuộc bầu cử chính quyền có giám sát của các nước đồng minh tháng 6/1966, trong đó Balaguer đánh bại Bosch. Balaguer nắm giữ quyền hành trong 28 năm kế tiếp, nhưng trong cuộc tái đắc cử của ông ta tháng 5/1994, bị công chúng lên án là gian lận. Ông ta tự cắt ngắn nhiệm kỳ. Và ngày 30/6/1996, Leonel Fernandez Reyna đắc cử Tổng thống với lời hứa hẹn khi vận động tranh cử là chính quyền của ông ta sẽ tận diệt nạn tham nhũng. Cơn bão Harricane Georges ập vào Dominicani ngày 22/9/1998, giết chết hơn 200 người và làm thiệt hại tài sản khắp nơi. Ứng cử viên cánh tả Hipolito Mejia, đắc cử trong cuộc bầu Tổng thống ngày 16/5/2000. 

Từ vụ tai tiếng ngân hàng và nạn lạm phát tăng vọt làm cho quốc gia điêu đứng, khiến đương kim Tổng thống Hipolit Mejia bị Fernandez đánh bại trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 16/5/2004. Trận lụt và đất chuồi cuối tháng 5/ 2004, làm 395 bị thiệt mạng. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 16/5/2006, tại Hạ viện, Liên đảng đảng Tự do dẫn đầu cả tại hạ viện và Thượng viện, kế là Liên đảng Cách mạng và sau cùng là Liên đảng Cải cách Xã hội Thiên chúa giáo. Cựu tổng thống Fernandez bị đánh bại trong cuộc bầu cử ngày 16/5/2004, được bầu làm tổng thống lần nữa ngày 16/5/2008.

Trong cuộc bầu Tổng thống ngày 20/5/2012, có 6 ứng niên dự tranh, Danilo Medina Sanchez đắc cử với 51,2%. Đồng minh của Fermandez là Danilo Medina Sanchez của Đảng Giải phóng Dominica (PLD) trung tả được bầu vào năm 2012 và 2016. Tòa án Hiến pháp đã ra phán quyết vào ngày 23 tháng 9 năm 2013 rằng những người sinh ra ở Cộng hòa Dominica sau năm 1929 với cha mẹ là người nhập cư không có giấy tờ sẽ không được hưởng quyền công dân. Vào năm 2015, chính phủ yêu cầu những người nhập cư không có giấy tờ - ước tính hơn 500.000 người, hầu hết trong số họ là người Haiti - phải đăng ký nếu không sẽ bị trục xuất. Vào cuối năm 2017, hơn 250.000 người Haiti đã tự nguyện rời khỏi đất nước hoặc bị trục xuất. 

Trong những năm 2020, để thoát khỏi bạo lực và khó khăn từ Haiti, tình trạng di cư không có giấy tờ lại gia tang. Cộng hòa Dominica đã phải tăng cường trục xuất và thắt chặt an ninh biên giới. Trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 5 tháng 7 năm 2020, doanh nhân Luis Rodolfo Abinader đã đánh bại ứng cử viên PLD Abinader, Một vụ sập mái hộp đêm vào đêm 7-8/4/2025 khiến hơn 230 người thiệt mạng ở Santo Domingo. Cuộc bầu cử tổng thống ngày 19 tháng 5 năm 2024, Rodolfo Abinader tái đắc cử; Và đảng của ông ta đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội cùng ngày. 

Cộng hoà Dominican ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Cộng hòa Dominican có hiệu lực thi hành ngày 28/11/1966, được tu chỉnh ngày 25/7/2002. Hiến pháp quy định Tổng thống nắm quyền Hành pháp, do dân bầu trực tiếp, với nhiệm kỳ 5 năm, được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Quốc hội giữ quyền Lập pháp gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 178 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 4 năm. Thượng viện có 32 nghị sỉ cũng do dân bầu và có nhiệm kỳ 4 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 10.899.292 (năm 2016: 10.349.000); dưới 15 tuổi 25,2%, trên 65 tuổi 7,9%. Tăng dân số: 0,8%. Nhập cư: 6,5%. Mật độ dân cư: 225,6 người/km2. Thành phố: 85,5%. Sắc tộc: lai tạp 73%, da trắng 16%, da đen 11%. Ngôn ngữ: Spainsh (chính). Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 95%. Đất đai: Tổng diện tích: 48.670 km2. Diện tích đất: 48.320 km2. Địa điểm: nằm ở vùng West Indies, cùng với Haiti trên đảo Hispaniola. Quốc gia láng giềng: Puerto Rico thuộc Hoa Kỳ phía đông, Haiti phía tây. Địa thế: Dãy núi Cordillera ở trung tâm xuyên qua miền trung Dominican cao trên 10.000ft, là núi cao nhất ở vùng biển Carribbean. Bình nguyên Cibao chạy về phía bắc là khu vực nông nghiệp chính. Đất nông nghiệp: 20,2%. Thủ đô: Santo Domingo 3.648.106. 

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Luis Rodolfo Abinader Corona, sinh 1957, nhậm chức 16/8/2020 (tái bầu 2024). Chính quyền địa phương: 31 tỉnh và 1 thủ đô. Ngân sách quốc phòng: 988 triệu. Quân đội chính quy: 56.800. Kinh tế: Công nghiệp: khai thác hầm mỏ, hàng dệt, tinh chế đường, xi măng, thuốc lá, du lịch. Nông sản: lúa gạo, bắp, đậu, thuốc lá, mía đường, café, coca, sợi bông. Tài nguyên: kim loại trắng, quặng nhôm, bạc, vàng. Nguồn nước: 2.092 m3/người. Sử dụng năng lượng: 39,3 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 24,6 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 7,4%; công nghiệp 19,2%; dịch vụ 73,4%. Thất nghiệp: 5,5%. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Peso (DOP): 62,7 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 314,7 tỷ. Bình quân đầu người: 27.541 USD. Tăng trưởng: 5,0%. Nhập khẩu: 36,1 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 48,6%, Colombia 6,5%, Mexico 6,1%. Xuất khẩu: 28,6 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 72,0%, Anh quốc 3,2%, Belgium 2,4%. Du lịch: 9,8 tỷ. Tiêu dùng: 19,0%. Lạm phát: 3,3%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 308 mi = 492 km. Xe hơi cá nhân 208,3/1000 cư dân. Sân bay 32. Truyền thông: Truyền hình: 76,1/100 cư dân. Điện thoại di động: 97,3/100. Internet: 91,0%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 4,6%. Tuổi thọ: nam 71,7, nữ 75,1. Sinh xuất: 17,4/1000 người. Tử xuất: 7,0/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 20,8/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 124/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 3,6%. Nhiểm HIV: 1,0%. Nhiểm COVID-19: 6.094/100.000 trong đó có 40 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 3-17, biết đọc biết viết 95,5%./.

 

163. SAINT KITTS AND NEVIS-FEDERATION OF SAINT KITTS AND NEVIS.

Tiến trình phát triển.                  

Saint Kitts và Nevis là những tên được đặt bởi Columbus năm 1493. Cả hai nơi đều định cư bởi người Anh năm 1623, nhưng chủ quyền bị tranh chấp giữa Anh và Pháp cho đến năm 1713. Nó là một phần của Liên quần đảo Leeward năm 1871 - 1956. Và là Liên đảo của West Indies 1958 -1962. Thuộc địa đạt tới chính quyền tự trị trong Liên hiệp Anh năm 1967, và trở thành độc lập hoàn toàn ngày 19/9/1983. Một cuộc “trưng cầu dân ý” trên Nevis ngày 10/8/1998, tách riêng  đảo Nevis khỏi Saint Kitts nhưng không hội đủ 2/3 của đa số theo yêu cầu. Tháng 9/1998, trận bảo George ập vào đảo, làm cho 25.000 người tiêu tan nhà cửa, và khoảng 80% nhà cửa bị thiệt hại. 

Hai mươi năm cầm quyền của Đảng Lao động kết thúc khi liên minh đối lập giành chiến thắng trong cuộc bầu cử cơ quan lập pháp ngày 16 tháng 2 năm 2015. Liên minh đảng Nhân dân Hành đã giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử ngày 5 tháng 6 năm 2020, nhưng cuộc bầu cử ngày 5 tháng 8 năm 2022 đã đưa Đảng Lao động trở lại nắm quyền.  

Saint Kitts and Nevis  ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Saint Kitts và Nevis là Hiến pháp Quân chủ lập hiến, nhận Nử hoàng Anh làm nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi Toàn quyền, có hiệu lực thi hành năm 1983. Quốc hội chỉ có một viện duy nhất, gồm 11 đại biểu: 8 đại biểu cho St Kitts và 3 cho Nevis.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 55.434 (năm 2016: 51.000); dưới 15 tuổi 19,0%, trên 65 tuổi 13,5%. Tăng dân số: 0,5%. Nhập cư: 17,0%. Mật độ dân cư: 212,4 người/km2. Thành phố: 32,3%. Sắc tộc: da đen, British, Portugal, Lebanese. Ngôn ngữ: English (chính). Tôn giáo: Anh giáo, Tin lành khác, Thiên chúa giáo khác. Đất đai: Tổng diện tích: 261 km2. Diện tích đất: 261 km2. Địa điểm: phần phía bắc của nhóm đảo Leeward, phía đông biển Carribbean. Quốc gia láng giềng: Antigua và Barbuda phía đông. Đất nông nghiệp: 19,2%. Thủ đô: Basseterre: 14.434 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Quân chủ lập hiến. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi toàn quyền Marcella Liburd, sinh ..., nhận chức 1/2/2023. Thủ tướng chính phủ: Terrance Drew, sinh 1976, nhậm chức 6/8/2022. Chính quyền địa phương: 14 khu hành chánh. Ngân sách quốc phòng: không có số liệu. Quân đội chính quy:không có số liệu. Kinh tế: Công nghiệp: khai thác hầm mỏ, hàng dệt, tinh chế đường, xi măng, thuốc lá, du lịch. Nông sản: lúa gạo, bắp, đậu, thuốc lá, mía đường, café, coca, sợi bông. Tài nguyên: kim loại trắng, quặng nhôm, bạc, vàng.Nguồn nước: 514 m3/người. Sử dụng năng lượng: 81,5 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 222,0 triệu Kwh. Phân bố lao động: không có số liệu; công nghiệp: không có số liệu; dịch vụ: không có số liệu. Thất nghiệp: không có số liệu. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar Đông Caribbean (XCD): 2,7 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 1,7 tỷ. Bình quân đầu người: 35.545 USD. Tăng trưởng: 1,2%. Nhập khẩu: 642 triệu. Bạn hàng: Hoa kỳ 49,7%, Trinidad-Tobago 13,3%, Anh quốc 4,5%. Xuất khẩu: 504 triệu. Bạn hàng: Hoa kỳ 64,7%, Canada 9,8%, Netherlands 6,9%. Du lịch: 158triệu. Tiêu dùng: 42,1%. Lạm phát: 1,1%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 31 mi = 49 km. Xe hơi cá nhân: không có số liệu. Sân bay 2. Truyền thông: Truyền hình: 137,3/100 cư dân. Điện thoại di động: 118,9/100. Internet: 76,4%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 5,6%. Tuổi thọ: nam 75,4, nữ 80,3. Sinh xuất: 11,6/1000 người. Tử xuất: 7,4/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 7,9/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 74/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: không có số liệu. Nhiểm HIV: 0,8%. Nhiểm COVID-19: 12.421/100.000 trong đó có 86 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-16, biết đọc biết viết: không có số liệu./.

 

164. ANTIGUA AND BARBUDA.

Tiến trình phát triển. 

Antigua và Barbuda được những người nói tiếng Arawak sinh sống ít nhất 1000 năm Trước công nguyên (BC). Columbus đáp tàu lên đảo Antigua năm 1493. Người định cư Anh đến đây, và lập thuộc địa năm 1632. Ngày 1/11/1981, Anh kết hợp Antigua và Barbuda thành lập quốc gia độc lập Antigua và Barbuda. Chính quyền Antigua và Barbuda vẫn duy trì quan hệ thân thiết gần gũi với Hoa Kỳ, Anh Quốc và Veneznala. Tháng 1/1995, quốc gia bị tàn phá nặng nề bởi cơn bão Harricane Luis. Khoảng 3.000 người tỵ nạn chạy trốn khỏi sự phun lửa trên mũi Montserrat đến định cư ở Antigua từ năm 1995-1997. Du lịch là nguồn thu nhập chính của Antigua và Barbuda chiếm trên 50% tổng sản lượng quốc gia đã bị giảm sút nghiêm trọng do ảnh hưởng suy thoái toàn cầu trong năm 2008-2009. 

Nền kinh tế Antigua lún sâu hơn khi Robert Allen Stanfort, một thương gia Texas có Ngân hàng mang tên Antigua-based Stanfort bị chính phủ Mỹ truy tố thực hiện một thương vụ đầu tư gian trá lên tới 8 tỷ USD. Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 12/6/2014, đảng Lao động (ABLP) đối lập dẫn đầu chiếm 14 ghế, kế là Thống nhất Cấp tiến (UPP) 3 ghế. Lãnh đạo ABLP Gaston Browne trở thành thủ tướng, ông ta hỗ trợ các dự án phát triển bị các nhóm môi trường phản đối. Từ ngày 5 đến ngày 6 tháng 9 năm 2017, Barbuda bị trận bão Irma gây thiệt hại nặng nề. Trong cuộc bầu cử ngày 21 tháng 3 năm 2018, ABLP dễ dàng giữ được quyền lực. 

Với sự sụt giảm mạnh về du lịch năm 2020-21 do đại dịch COVID-19 gây ra và đất nước đang phải đối mặt với lạm phát cao, nền kinh tế chưa phục hồi hoàn toàn, khiến ABLP chỉ giành được chiến thắng sít sao trong cuộc bầu cử vào ngày 18 tháng 1 năm 2023, 

Antigua và Barbuda ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Antigua và Barbuda là Hiến pháp Quân chủ lập hiến, nhận Nử hoàng Anh làm nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi một Toàn quyền, có hiệu lực thi hành năm 1981. Toàn quyền chỉ định Thủ tướng. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 17 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 17 nghị sỉ, do Toàn quyền chỉ định cũng có nhiệm kỳ 5 năm. 

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 103.769 (năm 2016: 91.000); dưới 15 tuổi 24,6%, trên 65 tuổi 6,7%. Tăng dân số: 1,1%. Nhập cư: 32,5%. Mật độ dân cư: 234,2 người/km2. Thành phố: 24,4%. Sắc tộc: da đen 91%, British, Portuguese, Lebanese, Syrian. Ngôn ngữ: English (chính), ngôn ngữ bản địa. Tôn giáo: Anh quốc giáo 26%, và một ít Thiên chúa giáo La mã. Đất đai: Tổng diện tích: 442 km2. Diện tích đất: 442 km2. Địa điểm: phía đông biển Carribbean. Quốc gia láng giềng: St Kitts và Nevis phía tây, Guadeloupe thuộc Pháp phía nam. Đất nông nghiệp: 9,1%. Thủ đô: Saint John's 20.764 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Quân chủ lập hiến. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi toàn quyền Rodney Williams, sinh 1947, nhậm chức 14/8/2014. Thủ tướng chính phủ: Gaston Browne, sinh 1967, nhậm chức 13/6/2014 (tái bầu 2018 và 2023). Chính quyền địa phương: 6 khu hành chánh, 2 khu phụ thuộc. Ngân sách quốc phòng: 11 triệu. Quân đội chính quy: 200. Kinh tế: Công nghiệp xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng, du lịch. Nông sản: sợi bông, rau quả, trái cây. Nguồn nước: 560 m3/người. Sử dụng năng lượng: 110,1 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 161 triệu Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp: không có số liệu; công nghiệp: không có số liệu; dịch vụ: không có số liệu. Thất nghiệp: không có số liệu. 

Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar đông Caribbean (XCD): 2,7 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 3,2 tỷ. Bình quân đầu người: 32.602 USD. Tăng trưởng: 4,3%. Nhập khẩu: 1,3 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 21,1%, China 16,4%, Germany 13,3%, Singapore 12,7%, Spain 6,5%. Xuất khẩu: 1,3 tỷ. Bạn hàng: Spain 34%, Germany 20,7%, Italy 7,7%, Singapore 5,8%, Anh 4,9%. Du lịch: 756 triệu. Tiêu dùng: 18,4%. Lạm phát: 6,2%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân: không có số liệu. Sân bay 4. Truyền thông: Truyền hình: 51,4/100 cư dân. Điện thoại di động: 200,5/100. Internet: 77,6%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 5 ,7%. Tuổi thọ: nam 76,4, nữ 80,8. Sinh xuất: 14,7/1000 người. Tử xuất: 5,8/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 13,3/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 35/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: không có số liệu. Nhiểm HIV: 1,1%. Nhiểm COVID-19: 9.299/100.000 trong đó có 148 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-15, biết đọc biết viết 99,0%./.

 

165. DOMINICA - COMMONWEATH OF DOMINICA.

Tiến trình phát triển.                                         

Là một thuộc địa Anh từ năm 1805, Dominica được ban cấp chính quyền tự trị năm 1967 và đạt tới sự độc lập hoàn toàn ngày 3/11/1978. Ngày 30/8/1979 cơn bão Harricane David ập vào tàn phá đảo và huỷ hoại các đồn điền trồng chuối kinh tế trụ cột của Dominica. Hai cuộc đảo chánh xảy ra trong năm 1980 và 1981. Dominica tham gia dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ xâm lược gần Grenada trong năm 1983. Ngày 6/1/2004, Thủ tướng Pierre Charles, 49 tuổi chết vì suy tim đột biến, và được kế vị bởi Roosevelt Skerrit. 

Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 5/5/2005, đảng Lao động dẫn đầu chiếm 12/21 ghế, kế đến là đảng Công nhân 8 ghế, 1 ghế độc lập. Đảng Tự do đương quyền không chiếm được ghế nào. Đảng Lao động thành lập chính phủ không cần Liên minh với đảng khác. Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 8/12/2014, đảng Lao động đương quyền (DLP) dẫn đầu chiếm 15/21 ghế, kế đến là đảng Công nhân (UWP) 6 ghế. Đại dịch COVID-19 đã gây tổn hại cho ngành du lịch quan trọng bắt đầu từ năm 2020. Được quốc hội bầu chọn vào ngày 27 tháng 9 năm 2023 Sylvanie Burton trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Dominica và nguyên thủ quốc gia đầu tiên của người gốc Kalinago (hay Carib).

Dominica ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Dominica có hiệu lực thi hành năm 1978. Hiến pháp chỉ rõ Dominica là một nước Cộng hòa. Nguyên thủ Quốc gia là một Tổng thống do Thủ tướng và lãnh tụ đối lập bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm, được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Thủ tướng là lảnh tụ đảng chiếm đa số ghế tại Quốc hội. Quốc hội có một viện duy nhất gồm 30 đại biểu, 21 do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, và 9 do Tổng thống bổ nhiệm, có nhiệm kỳ 5 năm. 

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 74.642 (năm 2016: 73.000); dưới 15 tuổi 20,5%, trên 65 tuổi 14,1%. Tăng dân số: giảm 0.04%. Nhập cư: 12,7%. Mật độ dân cư: 99,4 người/km2. Thành phố: 72,6%. Sắc tộc: da đen 87%, lai tạp (Creole) 9%, Carib Amerindian 3%. Ngôn ngữ: English (chính), French Patois (thổ ngữ). Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 62%, Tin lành 20%. Đất đai: Tổng diện tích: 751 km2. Diện tích đất: 751 km2. Địa điểm: phía đông biển Carribbean, hầu hết phía bắc đảo Windward. Quốc gia láng giềng: Guadeloupe phía bắc, Martinique phía nam. Địa thế: một dãy núi ở giữa chạy dài từ bắc tới nam kết thúc nơi các vách đá nhô ra biển, núi lửa từ nguyên thuỷ với những luồng khí nóng bất ngờ, lớp đất ngập mặn sâu sau hướng gió, đất sét đỏ nhiệt đới theo hướng gió thổi vào bờ. Đất nông nghiệp: 8,0%. Thủ đô: Roseau 14.942 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Dân chủ đại nghị. Nguyên thủ quốc gia: Tổng thống Sylvanie Burton, sinh …, nhậm chức 2/10/2023. Thủ tướng chính phủ: Roosevelt Skerrit, sinh 8/6/1972, nhậm chức 8/1/2004. Chính quyền địa phương: 10 khu hành chánh. Ngân sách quốc phòng: không có số liệu. Quân đội chính quy: không có số liệu. Kinh tế: Công nghiệp dầu dừa, dây dừa, trang trí nội thất, giày dép, xà phòng, du lịch. Nông sản: dừa, xoài, chuối, cam, chanh. Tài nguyên: thủy diện, gổ xẽ. Nguồn nước: 2.993 m3/người. Sử dụng năng lượng: 36,4 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 153,8 triệu Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp: không có số liệu; công nghiệp: không có số liệu; dịch vụ: không có số liệu.Thất nghiệp: không có số liệu. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar đông Caribbean (XCD): 2,7 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 1,4 tỷ. Bình quân đầu người: 21.301 USD. Tăng trưởng: 2,1%. Nhập khẩu: 387 triệu. Bạn hàng: China 23,8%, Hoa Kỳ 24,3%, China 21,8%, Trinidad-Tobago 13,2%, South Korea 7,6%. Xuất khẩu: 212 triệu. Bạn hàng: Anh quốc 22,7%, Jamaica 10,3%, South Korea 9,1%, Antigua-Barbuda 9%, Guyana 7,6%, China 7,2%. Du lịch: 79 triệu. Tiêu dùng: 61,7%. Lạm phát: 2,6%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân: không có số liệu. Sân bay 2. Truyền thông: Truyền hình: 83,1/100 cư dân. Điện thoại di động: 85,2/100. Internet: 83,8%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 6,3%. Tuổi thọ: nam 76,0, nữ 82,0. Sinh xuất: 13,0/1000 người. Tử xuất: 8,2/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 10,5/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 36/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 3,6%. Nhiểm HIV: 0,5%. Nhiểm COVID-19: 22.290/100.000 trong đó có 103 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-16, biết đọc biết viết: không có số liệu ./.

 

166. SAINT LUCIA.

Tiến trình phát triển.

Saint Lucia nhượng cho Anh bởi Pháp theo Hiệp ước Paris 1814. Từ năm 1924, và được ban cấp chính quyền tự trị theo đạo luật West Indies 1967. Saint Lucia hoàn toàn độc lập ngày 22/2/1979, nhưng vẫn lựa chọn nằm trong Liên hiệp Anh. Tại cuộc bầu cử Hạ viện ngày 11/12/2006, đảng Công nhân Thống nhất đối lập giành thắng lợi chiếm 11 ghế, đảng Lao động đương quyền chỉ có 6 ghế. Tại cuộc bầu cử Hạ viện ngày 28/11/2011, đảng Lao động đối lập giành thắng lợi chiếm 11 ghế, đảng Công nhân Thống nhất đương quyền chỉ có 6 ghế. Hai năm 2020-21, đại dịch COVID-19 ảnh hưởng nặng nề đến ngành du lịch quan trọng của Saint Lucia, GDP giảm 20% vào năm 2020. 

Trong cuộc bầu cử ngày 26 tháng 7 năm 2021, đảng Lao động St Lucia (SLP) đã giành chiến thắng. Ngày 29 tháng 7 năm 20, Tòa án Tối cao Đông Caribean tuyên bố việc hình sự hóa quan hệ tình dục đồng tính bởi các luật thời thuộc địa của Saint Lucia là vi hiến.

Saint Lucia ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Saint Lucia là Hiến pháp Quân chủ lập hiến, nhận Nử hoàng Anh làm nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi Toàn quyền. Thủ tướng là lảnh tụ đảng chiếm đa số ghế tại Hạ viện. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 17 đại biểu, do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, với nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 11 nghị sỉ, do Toàn quyền bổ nhiệm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 168.462 (năm 2016: 163.000); dưới 15 tuổi 17,6%, trên 65 tuổi 26,1%. Tăng dân số: 0,3%. Nhập cư: 4,5%. Mật độ dân cư: 278,0 người/km2. Thành phố: 19,5%. Sắc tộc: da đen 83%, lai tạp 12%, East Indian 2%, da trắng 1%. Ngôn ngữ: English ( chính), French Patois (thổ ngữ).  Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 68%, Tin lành 9%. Đất đai: Tổng diện tích: 616 km2. Diện tích đất: 606 km2. Địa điểm: phía đông biển Carribbean, lớn thứ hai của nhóm đảo WindWard. Quốc gia láng giềng: Martinique phía bắc, Saint Vincen phía nam. Địa thế: núi non tạo thành từ nguyên thuỷ núi lửa, miệng núi lửa Sonfriere ở phía nam. Núi có nhiều cây chạy dài từ hướng bắc-nam tới núi Gimie cao 3.145 ft, với nhiều dòng suối xuyên qua lưu vực bình nguyên phì nhiêu. Đất nông nghiệp: 4,4%. Thủ đô: Castries 22.258 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Quân chủ lập hiến. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi Toàn quyền Errol Charles, sinh …, nhậm chức 11/11/2021. Thủ tướng chính phủ: Philip J. Piere, sinh …, nhậm chức 28/7/2021. Chính quyền địa phương: 10 khu hành chánh. Ngân sách quốc phòng: không có số liệu. Quân đội chính quy: không có số liệu. Kinh tế: Công nghiệp lắp ráp điện tử, may mặc, chế biến thực phẩm, thức uống, sản phẩm dừa. Nông sản: dừa, rau quả, chuối, cam, chanh, cocoa, củ thực phẩm như sắn, khoai. Tài nguyên: đá bọt (pumice), túi nước ngầm, gổ xẽ. Nguồn nước: 1.678 m3/người. Sử dụng năng lượng: 47,5 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 396,2 triệu Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 10,4%; công nghiệp 17,0%; dịch vụ 72,6%. Thất nghiệp: 10,9%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar đông Caribbean (XCD): 2,7 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 5,0 tỷ. Bình quân đầu người: 27.567 USD. Tăng trưỏng 3,9%. Nhập khẩu: 1,4 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 19,9%, Trinidad-Tobago 14,1%, Italy 1,6%, France 11,1%, Anh 6,5%, Venezuela 5,1%. Xuất khẩu: 1,6 tỷ. Bạn hàng: France 69,1%, Hoa Kỳ 10,1%, Anh 87,%. Du lịch: 1,2 tỷ. Tiêu dùng: 24,0%. Lạm phát: 0,1%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân: không có số liệu. Sân bay 2. Truyền thông: Truyền hình: 65,1/100 cư dân. Điện thoại di động: 98,7/100. Internet: 70,1%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 5,0%. Tuổi thọ: nam 77,0, nữ 82,5. Sinh xuất: 11,2/1000 người. Tử xuất: 8,4/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 11,3/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 44/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: không có số liệu. Nhiểm HIV: 0,4%. Nhiểm COVID-19: 16.474/100.000 trong đó có 223 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-14, biết đọc biết viết: không có số liệu./.

 

167. BARBADOS.

Tiến trình phát triển. 

Barbados có thể được đặt tên bởi các thuỷ thủ Bồ Đào Nha để chỉ các bụi cây hoang không có giá trị. Một tàu Anh đáp lên đảo năm 1605, và người Anh đến định cư ở đây năm 1627, khi đảo chưa có người ở. Từ đó, người nô lệ được mang đến làm việc trong các đồn điền trồng mía cho đến khi chế độ nô lệ da đen Châu Phi bị bãi bỏ năm 1834. Chính quyền tự trị đến dần theo từng bước, và Barbados chính thức tuyên bố độc lập ngày 30/11/1966. Truyền thống Anh vẫn còn duy trì trên đảo. Cuộc bầu cử Hạ viện ngày 15/1/2008, đảng Lao động Dân chủ (DLP) đối lập giành thắng lợi, chiếm 20 ghế, đảng Lao động Barbados đương quyền giành 10 ghế, 2 đảng nhỏ và ứng viên độc lập không chiếm được ghế nào. Cuộc bầu cử Hạ viện ngày 21/2/2013, đảng Lao động Dân chủ (DLP) đương quyền giành thắng lợi, chiếm 16/30 ghế, đảng Lao động Barbados (BLP) chiếm 14 ghế.

Trong cuộc bầu cử ngày 24 tháng 5 năm 2018, đảng Lao động Barbados (BLP) đã giành được tất cả 30 ghế tại Hạ viện, đẩy Đảng Lao động Dân chủ ra khỏi vị thế cầm quyền, và Mia Mottley của BLP trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của đất nước. Ngày 30 tháng 11 năm 2021, Barbados trở thành một nước cộng hòa chấm dứt vai trò nguyên thủ quốc gia của quốc vương Anh. Ngày 20 tháng 10 năm 2021, quốc hội bầu chọn Sandra Mason làm tổng thống, bà là nữ tổng thống đầu tiên của đất nước. Đảng Lao động Barbados của Mottley một lần nữa giành được tất cả 30 ghế trong cuộc bầu cử ngày 19 tháng 1 năm 2022. Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tòa án Tối cao Barbados vào đã bác bỏ luật hình sự hóa tình dục đồng tính.  

Barbados ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Barbados là Hiến pháp Quân chủ lập hiến, nhận Nử hoàng Anh làm nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi Toàn quyền. Thủ tướng chính phủ là lảnh tụ đảng chiếm đa số ghế tại Hạ viện. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 30 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 21 nghị sỉ được bổ nhiệm bởi Toàn quyền, trong đó 12 theo đề nghị của Thủ tướng, 7 do lựa chọn của Toàn quyền, và 2 nghị sỉ theo đề nghị của Lảnh tụ đối lập. Hội đồng Cơ mật gồm 12 người, do Toàn quyền bổ nhiệm, theo đề nghị của Thủ tướng. Toàn quyền là Chủ tịch Hội đồng nầy, thực hiện chức năng đặc xá của Nử hoàng, và kỷ luật viên chức nếu vi phạm trách nhiệm phục vụ công chúng. Ngày 30 tháng 11 năm 2021, Barbados trở thành một nước cộng hòa.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 304.794 (năm 2016: 289.000); dưới 15 tuổi 16,5%, trên 65 tuổi 17,0%. Tăng dân số: 0,2%. Nhập cư: 12,5%. Mật độ dân cư: 708,8 người/km2. Thành phố: 37,1%. Sắc tộc: da đen 90%, da trắng 4%, khác 6%. Ngôn ngữ: English ( chính). Tôn giáo: Tin lành 67%, Thiên chúa giáo La mã 4%. Đất đai: Tổng diện tích: 430 km2. Diện tích đất: 430 km2. Địa điểm: trong Đại Tây Dương xa rẽ phía đông West Indies. Quốc gia láng giềng: gần nhất về phía tây là St Lucia, và St Vincent cũng như Grenadines. Địa thế: đảo nằm một mình trong Đại Tây Dương, bao quanh hầu hết bởi đá ngầm san hô. Điểm cao nhất là núi Hillaby 1.115 ft. Đất nông nghiệp: 16,3%. Thủ đô: Bridgetown 89,201cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà Nghị viện. Nguyên thủ quốc gia: Tổng thống Sandra Mason, sinh 1949, nhậm chức 30/11/2021. Thủ tướng chính phủ: Mia Mottley, sinh 1965, nhậm chức 25/5/2018. Chính quyền địa phương: 11 khu hành chánh và 1 thành phố. Ngân sách quốc phòng: 52 triệu. Quân đội chính quy: 610. Kinh tế: Công nghiệp du lịch, mía đường, chế biến thực phẩm, lắp ráp máy móc. Nông sản: mía đường, rau quả, bông sợi. Tái nguyên: dầu lửa, khí đốt, cá. Nguồn nước: 283 m3/người. Sử dụng năng lượng: 68,3 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 1,1 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 2,6%; công nghiệp 16,6%; dịch vụ 80,8%. Thất nghiệp: 7,5%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar (BBD): 2,0 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 6,4 tỷ. Bình quân đầu người: 22.672 USD. Tăng trưởng: 3,8%. Nhập khẩu: 2,1 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 29,1%, Trinidad-Tobago 24,6%, Anh quốc 5,8%, China 5%. Xuất khẩu: 2,2 tỷ. Bạn hàng: Trinidad-Tobaco  16,3%, Anh Quốc 11,1%, Hoa Kỳ 10,9%, St Lucia 9,2%, Jamaica 8,7%, Greenada 5,1%, St Vincent 5%. Du lịch: 1,2 tỷ. Tiêu dùng: 28,3%. Lạm phát: giảm phát 0,5%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân 434,8/1000 cư dân. Sân bay 1. Truyền thông: Truyền hình: 62,3/100 cư dân. Điện thoại di động: 114,6/100. Internet: 80,0%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 6,3%. Tuổi thọ: nam 76,5, nữ 82,0. Sinh xuất: 10,6/1000 người. Tử xuất: 8,2/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 9,4/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 35/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 4,4%. Nhiểm HIV: 1,0%. Nhiểm COVID-19: 37.876/100.000 trong đó có 206 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-15, biết đọc biết viết 99,5%./.

 

168. SAINT VINCENT AND THE GRENADINES.

Tiến trình phát triển. 

Ngày 22/1/1498, Columbus đáp tàu lên đảo St Vincent. Anh, Pháp cả hai đều đòi chủ quyền đảo trong thế kỷ 17 và 18. Cuối cùng, theo hiệp ước 1783, đảo được nhượng cho Anh. Năm 1967, hợp nhất St vincent và The Grenadines thành một đơn vị tự trị, Anh Quốc trách nhiệm ngoại giao và quốc phòng. Ngày 27/10/1979, thuộc địa được hoàn toàn độc lập với tên nước St Vincent và the Grenadines. Cuộc bầu cử ngày 7/12/2005, đảng Lao động thống nhất đương quyền (ULP) chiếm 12 ghế, đảng Dân chủ mới (NDP) đối lập chỉ có 3 ghế. Cuộc bầu cử ngày 13/12/2010, đảng Lao động thống nhất đương quyền (ULP) chiếm 8/15 ghế, đảng Dân chủ mới (NDP) đối lập chỉ có 7 ghế.

Saint Vincent và The Grenadines ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp St Vincent và Grenadines là Hiến pháp Quân chủ lập hiến, nhận Nử hoàng Anh làm nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi Toàn quyền. Thủ tướng chính phủ là lảnh tụ đảng chiếm đa số ghế tại Hạ viện. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 21 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 6 nghị sỉ do Toàn quyền bổ nhiệm, trong đó 4 theo đề nghị của Thủ tướng, và 2 theo đề nghị của lảnh tụ đối lập.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 100.498 (năm 2016: 102.000); dưới 15 tuổi 18,5%, trên 65 tuổi 13,6%. Tăng dân số: giảm 0,2%. Nhập cư: 4,8%. Mật độ dân cư: 258,3 người/km2. Thành phố: 55,2%. Sắc tộc: da đen 66%, pha trộn 19%. Ngôn ngữ: English (chính), Pháp thổ ngữ. Tôn giáo: Anh giáo 47%, Tin lành 28%, Thiên chúa giáo La mã 13%. Đất đai: Tổng diện tích: 389 km2. Diện tích đất: 389 km2. Địa điểm: phía đông biển Caribbean, St Vincent và các đảo nhỏ phía bắc Grenadines tạo thành một phần của chuỗi đảo Windward. Quốc gia láng giềng: St Lucia ở phía bắc, Barbados ở phí đông, Grenada phía nam. Địa thế: St Vincent do núi lửa tạo thành một dãy núi với cây cối dày đặc chạy dài theo nó. Đất nông nghiệp: 5,1%. Thủ đô: Kingstown  26.636 cư dân.g.  

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Quân chủ lập chiến. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi toàn quyền Susan Dougan, sinh …, nhậm chức 1/8/2019. Thủ tướng chính phủ: Ralph E.Gonsalves, sinh 1946, nhậm chức 29/3/2001 (cho đến nay).. Chính quyền địa phương: 6 khu hành chánh. Ngân sách quốc phòng: không có số liệu. Quân đội chính quy: không có số liệu. Kinh tế: Công nghiệp xi măng, trang trí nội thất, áo quần, và chế biến thực phẩm. Nông sản: chuối, dừa, khoai ngọt. Nguồn nước: 980 m3/người. Sử dụng năng lượng: 37,3 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 151,2 triệu Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 9,6%; công nghiệp 19,9%; dịch vụ 71,5%. Thất nghiệp: 18,1%.  

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar đông Caribbean (XCD): 2,7 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 2,1 tỷ. Bình quân đầu người: 21.272 USD. Tăng trưởng: 4,1%. Nhập khẩu: 641 triệu. Bạn hàng: Singapore 17,5%, Trinidad-Tobago 12,3%, Hoa Kỳ 11,2%, Italy 11,1%, Spain 9,6%, Turkey 4,6%, Germany 4,4%. Xuất khẩu: 425 triệu. Bạn hàng: France 26,3%, Greece 21,2%, Italy 18,9%, Russia 7,2%, Anh Quốc 6,9%. Du lịch: 210 triệu. Tiêu dùng: 38,0%. Lạm phát: 3,6%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân 108,4/1000 cư dân. Sân bay 5. Truyền thông: Truyền hình: 69,8/100 cư dân. Điện thoại di động: 108,4/100. Internet: 86,0%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 4,7%. Tuổi thọ: nam 75,4, nữ 79,5. Sinh xuất: 11,7/1000 người. Tử xuất: 7,8/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 12,0/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 56/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 6,1%. Nhiểm HIV: 0,8%. Nhiểm COVID-19: 8.720/100.000 trong đó có 112 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-16, biết đọc biết viết: không có số liệu./.

 

169. GRENADA.

Tiến trình phát triển. 

Năm 1498, Columbus phát hiện ra Grenada. Người Châu Âu đầu tiên đến đảo là người Pháp năm 1650. Đảo được thay đổi chiếm giữ bởi Pháp và Anh cho đến năm 1784 thì Anh chiếm toàn bộ. Grenada trở thành quốc gia độc lập ngày 7/2/1974, trong một cuộc biểu tình bạo loạn. Nó là quốc gia độc lập nhỏ nhất ở phía Tây Bán cầu. Ngày 14/10/1983, trong cuộc đảo chánh quân sự truất phế Thủ tướng Maurice Bishop và đặt ông ta dưới sự bắt giam tại gia. Sau đó, được trả tự do dưới sức ép của những người ủng hộ ông ta. Tái bắt giam và cuối cùng bị hành quyết ngày 19/10. Ngày 25-28/10/, quân đội Hoa Kỳ cùng với một lực lượng 6 quốc gia trong khu vực xâm lăng Grenada. Quân đội Grenada có cố vấn Cuba không chống cự nổi, bởi vì dân chúng tràn ra đường phố chào đón lực lượng xâm lăng. 

Ngày 1/11/1983, áp đặt lệnh thiết quân luật trên toàn quốc và chấm dứt vào cuối năm, khi phục hồi hiệu lực Hiến pháp năm 1973. Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Grenada tháng 6/1985. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 27/11/2003, đảng Quốc gia mới giành thắng lợi chiếm 8 ghế, đảng Nghị viện Dân chủ chiếm 7 ghế. Ngày 7/9/2004, một cơn lốc (Hurricane Ivan) ập vào Grenada giết chết 39 người và tàn phá tới 90% nhà cửa trên đảo. Sau cuộc bầu cử Quốc hội ngày 8/7/2008, Tilman Thomas của đảng Nghị viện Quốc gia Dân chủ trở thành Thủ tướng. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 19/2/2013, đảng Quốc gia mới giành thắng lợi chiếm tất cả 15 ghế, đảng Nghị viện Dân chủ không được ghế nào. 

Cuộc bầu cử lập pháp ngày 23 tháng 6 năm 2022, Đại hội Dân chủ Quốc gia trung tả (NDC) giành chiến, và Dickon Mitchell của NDC trở thành thủ tướng vào ngày 24 tháng 6 năm 2022. Đạo luật tháng 8 năm 2025 đã thay thế mornach của Anh bằng “Grenada” trong lời thề trung thành của đất nước. 

Grenada ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Grenada là Hiến pháp Quân chủ lập hiến, nhận Nử hoàng Anh làm nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi Toàn quyền. Thủ tướng chính phủ viện có 15 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 4 năm. Thượng viện có 13 nghị sỉ do Toàn quyền bổ nhiệm, theo đề nghị của Thủ tướng, và 2 của lảnh tụ đối lập.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 114.915 (năm 2016: 110.000); dưới 15 tuổi 21,6%, trên 65 tuổi 13,3%. Tăng dân số: 0,2%. Nhập cư: 6,3%. Mật độ dân cư: 334,1 người/km2. Thành phố: 37,5%. Sắc tộc: da đen 82%, lai tạp 13%. Ngôn ngữ: English (chính), Pháp thổ ngữ. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 53%, Tin lành 33%, Anh giáo 14%. Đất đai: Tổng diện tích: 344 km2. Diện tích đất: 344 km2. Địa điểm: vùng biển Caribbean cách 144 km về phía bắc của Venezuela. Quốc gia láng giềng: Venezuela, Trinidad-Tobago phía nam, St Vincent và  Grenada phía bắc. Địa thế: đảo chính là núi, lãnh thổ gồm các nhóm đảo Carriacou và Petit Martinigue. Đất nông nghiệp: 8,8%. Thủ đô: Saint George's 39.297 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Quân chủ lập hiến. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi toàn quyền Dame Cecile La Grenade Glean, sinh 1952, nhậm chức 7/5/2013. Thủ tướng chính phủ: Dickon Mitchell, sinh 1978, nhậm chức 24/6/2022. Chính quyền địa phương: 6 khu hành chánh, và 1 đơn vị phụ thuộc trung ương. Ngân sách quốc phòng: không có số liệu. Quân đội chính quy: không có số liệu. Kinh tế: Công nghiệp du lịch, lắp ráp hệ thống đèn điện, hàng dệt, chế biến thực phẩm, thức uống, xây dựng. Nông sản:  trái cây, đậu làm gia vị, chuối, cocoa. Tài nguyên: gỗ xẻ. Nguồn nước: 1.711 m3/người. Sử dụng năng lượng: 41,7 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 239,5 triệu Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp: không có số liệu; công nghiệp: không có số liệu;  dịch vụ: không có số liệu. Thất nghiệp: khôngcó số liệu. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar đông Caribbean (XCD): 2,7 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 2,4 tỷ. Bình quân đầu người: 20.167 USD. Tăng trưởng: 3,7%. Nhập khẩu: 990 triệu. Bạn hàng: Trinidad-Tobago 32,3%, Hoa Kỳ 23,2%, Barbados 4,6%,  Anh Quốc 4,1%. Xuất khẩu: 858 triệu. Bạn hàng: St Lucia 17,2%, Angtigua 11,7%, St Kitts 10,5%, Dominica 10,5%, Hoa kỳ 10,4%. Du lịch: 327 triệu. Tiêu dùng: 28,9%. Lạm phát: 1,1%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân: không có số liệu. Sân bay 2. Truyền thông: Truyền hình: 56,6/100 cư dân. Điện thoại di động: 95,8/100. Internet: 74,1%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 4,9%. Tuổi thọ: nam 73,9, nữ 79,3. Sinh xuất: 13,0/1000 người. Tử xuất: 8,4/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 8,8/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 48/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: không có số liệu. Nhiểm HIV: không có số liệu. Nhiểm COVID-19: 17.501/100.000 trong đó có 212 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-16, biết đọc biết viết 98,6%./.

 

170. TRINIDAD AND TOBAGO - REPUBLIC OF TRINIDAD AND TOBAGO.

Tiến trình phát triển.                                       

Columbus tìm thấy Trinidad năm 1498. Anh quốc chiếm đảo năm 1802. Trinidad và Tobago độc lập ngày 31/8/1962, và trở thành một nước Cộng hòa năm 1976. Trinidad và Tobago là quốc gia hưng thịnh nhất trong vùng biển Caribbean. Sản xuất dầu lửa gia tăng cùng với việc khám phá ra dầu khí ngoài khơi bờ. Cũng như Trung Đông, dầu Trinidad-Tobago được chế biến và xuất khẩu hầu hết là sang Hoa Kỳ. Tháng 7/1990, khoảng 120 người Hồi giáo cực đoan nổi dậy chiếm toà nhà Quốc hội và đài truyền hình, bắt giữ khoảng 50 người làm con tin kể cả Thủ tướng Arthur N.R. Robinson, ông ta bị đánh, bắn vào hai chân và trói vào chất nổ. Sau 6 ngày bị vây hãm người Hồi giáo cực đoan nổi dậy đầu hàng. 

Sau cuộc bầu cử Quốc hội năm 1995, Basdeo Panday, người có tổ tiên sắc tộc phía đông Indian, nhậm chức Thủ tướng ngày 9/11/1995-2001. Ngày 19/3/1997, Robinson được bầu làm Tổng thống. Sau cuộc bầu cử ngày 10/12/2001, Mặt trận quần chúng toàn quốc giành thắng lợi và lãnh tụ mặt trận, Patrick Manning trở thành Thủ tướng. Ngày 17/3/2003, George Maxwel Richards nguyên hiệu trưởng một trường đại học được bầu làm Tổng thống kế nhiệm Robinson. Cuộc bầu cử Hạ viện ngày 5/11/2007, Mặt trận Quốc gia Nhân dân (PNM) giành thắng lợi chiếm 26/ 41 ghế, đảng Nghị viện Quốc gia Thống nhất có 15 ghế. Bà Kamla Persad-Bissessar lãnh đạo đảng Nhân dân trở thành Thủ tướng.

Cuộc bầu cử Hạ viện ngày 24/5/2010, Mặt trận Quốc gia Nhân dân (PNM) giành thắng lợi chiếm 29/ 41 ghế, Mặt trận Quốc gia đương quyền 12 ghế.... Và, tại cuộc bầu cử Tổng thống ngày 15/2/2013, chỉ có 1 ứng viên duy nhất là Anthony Carmona, không có đối lập. Phong trào Dân tộc Nhân dân đã giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử lập pháp năm 2015 và 2020. Ngày 19 tháng 3 năm 2018, bà Paula-Mae Weekes trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Trinidad. Ngày 20 tháng 3 năm 2023, Christine Kangaloo được bầu làm tổng thống kế nhiệm Paula-Mae. 

Sau khi đảng của bà giành chiến thắng trong cuộc bầu cử ngày 28 tháng 4 năm 2025, trong đó tội phạm và chi phí sinh hoạt là những vấn đề lớn, Persad-Bissessar một lần nữa trở thành thủ tướng.

Cộng hoà Trinidad và Tobogo ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Trinidad và Tobogo có hiệu lực thi hành năm 1976. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, được bầu bởi Quốc hội với nhiệm kỳ 5 năm. Quyền Hành pháp được trao cho Thủ tướng lãnh tụ đảng có đa số ghế tại Hạ viện. Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng, và các Bộ trưởng theo đề nghị của thủ tướng. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 41 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 31 nghị sỉ do Tổng thống bổ nhiệm trong đó 16 theo đề nghị của Thủ tướng, 6 theo đề nghị của lảnh tụ đối lập, và 9 nghị sỉ hoàn toàn do Tổng thống lựa chọn. 

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 1.410.170 (năm 2016: 1.223.000); dưới 15 tuổi 18,4%, trên 65 tuổi 14,7%. Tăng dân số: 0,1%. Nhập cư: 7,5%. Mật độ dân cư: 275,0 người/km2. Thành phố: 53,7%. Sắc tộc: da đen 40%, East Indian 40%, pha trộn 20%. Ngôn ngữ: English (chính), Hindi, French, Spanish, Chinese. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 26%, Hindu 23%, Tin lành 33%, Hồi giáo 6%. Đất đai: Tổng diện tích: 5.128 km2. Diện tích đất: 5.128 km2. Địa điểm: vùng biển Caribbean ngoài khơi phía đông Venezuela. Quốc gia láng giềng: gần nhất là Venezuela ở phía tây nam. Địa thế: ba dãy núi thấp băng xuyên qua Trinidad từ đông sang tây, với một đồng bằng nước ngọt giữa phía đông và dãy núi miền trung, hai bờ phía đông và phía tây là đầm lầy. Còn Tobago với 300 km2 nằm cách xa 32km về phía đông bắc. Đất nông nghiệp: 4,9%.  Thủ đô:  Port of Saint 546.564 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Dân chủ đại nghị. Nguyên thủ quốc gia: Tổng thống Christine Kangaloo, sinh…, nhậm chức 20/3/2033. Thủ tướng chính phủ: Kamla Persad-Bissessar, sinh 1952, nhậm chức 1/5/2025. Chính quyền địa phương: 9 khu vực hành chánh, 3 đơn vị tự trị và 1 quận thủ đô. Ngân sách quốc phòng: 519 triệu. Quân đội chính quy: 4.650. Kinh tế: Công nghiệp sản xuất dầu lửa, hoá chất, du lịch, chế biến thực phẩm. Nông sản: lúa gạo, mía đường,  caphê, cocoa, cam, chanh, rau quả. Tài nguyên: dầu hắc, dầu lửa, khí đốt. Nguồn nước: 2.567 m3/người. Sử dụng năng lượng: không có số liệu. Sản xuất điện: 9,5 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 2,9%; công nghiệp 26,9%; dịch vụ 70,1%. Thất nghiệp: 4,5%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dollar (TTD): 6,7 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 49,3 tỷ. Bình quân đầu người: 36.021 USD. Tăng trưởng: 1,7%. Nhập khẩu: 10,2 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 26,9%, Venezuela 15,4%, Brazil 14,2%, Gabon 4,2%, Colombia 4,1%. Xuất khẩu: 11,1 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 60,4%, Jamaica 5,6%, Spain 5,4%. Du lịch: 429 triệu. Tiêu dùng: 29,4%. Lạm phát: 0,5%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân 330,4/1000 cư dân. Sân bay 3. Truyền thông: Truyền hình: 60,1/100 cư dân. Điện thoại di động: 118,8/100. Internet: 84,7%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 6,4%. Tuổi thọ: nam 74,8, nữ 78,7. Sinh xuất: 19,3/1000 người. Tử xuất: 8,7/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 14,7/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 54/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 11,2%. Nhiểm HIV: không có số liệu. Nhiểm COVID-19: 13.683/100.000 trong đó có 314 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-11, biết đọc biết viết 99,0%./.

 

 

CHƯƠNG 15: LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG 12 QUỐC GIA ĐỘC LẬP TẠI NAM MỸ: 24-35.

Năm 2026, khu vực Bắc Mỹ có 2 quốc gia độc lập chiếm 17.731.453 km2 diện tích đất, và 444.036 cư dân. Tổng sản lượng 9.243,1 tỷ USD, và thu nhập bình quân đầu người 31.004 USD. Nhập khẩu 816,6 tỷ USD. Xuất khẩu 940,1 tỷ USD. Tiêu dùng 33,7%. Lạm phát 48,3%. Số người có Xe hơi cá nhân 19,6 %; Và, số người sử dụng Internet 93,1%. 12 quốc gia độc lập ở Nam Mỹ là: Colombia, Ecuador, Peru, Chile, Venezuela, Guyana, Suriname, Brazil, Bolivia, Paraguay, Argentina và Uruguay.

 

171. COLOMBIA - REPUBLIC OF COLOMBIA.

Tiến trình phát triển.  

Tây Ban Nha chinh phục hai vương quốc bản địa Indian Funza, và Tunja thập niên 1530, và cai trị Colombia cùng các khu vực lân cận như New Granada khoảng 300 năm. Năm 1819 Colombia giành được độc lập bao gồm cả một vùng rộng lớn. Năm 1829 và 1830, Venezuela và Ecuador ly khai lập quốc gia riêng. Năm 1903, Panama cũng tách ra thành lập nước Panama độc lập. Colombia chịu tại hoạ thảm khốc bởi các cuộc bạo loạn khắp nơi, cả khu vực thành thị lẫn nông thôn. Cuộc nổi dậy có tên là "La Violencia" trong 10 năm 1948-1958, giết chết trên 200.000 người. Từ năm 1989, các cuộc bạo loạn chính trị cũng làm trên 35.000 người thiệt mạng. Nỗ lực cải cách ruộng đất, cải cách xã hội, và quá trình công nghiệp hoá không hề giảm thiểu các mâu thuẫn xã hội rất gay gắt và rộng lớn. 

Sự gia tăng hoạt động của chính quyền nhằm chống lại các tay buôn lậu ma tuý địa phương, làm bùng phát một loạt các vụ giết người liên quan. Ngày 18/8/1989, Luis Carlos Galan, ứng cử viên Tổng thống đầy triển vọng của đảng cầm quyền trong cuộc bầu cử năm 1990, bị mưu sát bởi  ông đưa ra lời de doạ sẽ thẳng tay trừng trị các người vận chuyển buôn bán ma tuý  trong cuộc vận động. Chính quyền Ernesto Samper Pizano chịu nhiều tai tiếng, vì có cáo buộc ông ta đã nhận tiền từ các tên vận chuyển ma tuý trong cuộc vận động bầu cử năm 1994. Dù vậy, tại cuộc bầu cử Quốc hội ngày 12/6/1996, đảng ông ta vẫn còn tại chức. Ngày 21/6/1998, Andre's Pastrana Arango, con trai cựu tổng thống Misael Pastrana Borrero (1970-1974), đăc cử trong cuộc bầu Tổng thống. 

Ngày 25/1/1999 một trận động đất phía Tây Colombia giết chết gần 1.200 người và làm cho 250.000 người mất nhà cửa. Ngày 24/10, có ít nhất 5 triệu người trong hơn 700 thành phố đồng loạt xuống biểu tình phản đối chính quyền đàn áp đối lập, và ngược đãi quyền con người. Ngày 22/8/2000, Hoa Kỳ cấp 1,3 tỷ trợ giúp Colombia mở trận chiến chống ma tuý. Ngày 22/12, lực lượng  bán quân sự cánh hữu tung ra cuộc hành quân chống lại tổ chức du kích quân bị cho là cánh tả. Ngày 13/8/2001, Quốc hội thông qua đạo luật mở rộng quyền hạn cho quân đội để vãn hồi trật tự. Tháng 2/2002, cuộc thương thảo với  quân bạo loạn bất thành đưa đến đánh nhau trở lại.

Trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 5 năm 2002, một người theo đường lối cứng rắn là Alvaro Uribe Velez, (người có cha từng bị quân nổi dậy cánh tả giết) đắc cử. Việc đắc cử nắm quyền lực của ông ta khiến một làn sóng nổi dậy của du kích. Ngày 12/8/2002, Alvaro Uribe tuyên bố tình trạng khẩn trương toàn quốc, và phát động một cuộc tấn công mới của chính phủ chống lại phiến quân FARC. Ngày 10/9, quyền hạn cảnh sát cũng được mở rộng như một biện pháp để đối phó với tình hình. Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 12/3/2006, tại Hạ viện, đảng Tự do dẫn đầu chiếm 38 ghế, kế là đảng Xã hội Thống nhất 30 ghế. Tại Thượng viện đảng Xã hội Thống nhất giành 20 ghế, đảng Bảo thủ 18 ghế. 

Và tại cuộc bầu cử Tổng thống ngày 28/5/2006, Alvaro Uribe Velez tái đắc cử với 62,3% phiếu bầu. Sức mạnh của du kích quân giảm sút trong những năm gần đây. Các nhân vật chính trị chủ chốt bị bắt vào năm 2007 với cáo buộc thông đồng với các đội hành quyết bán quân sự. Ngày 2/7/2008, sau khi 15 con tin được giải thoát gồm 1 ứng viên tổng thống, 3 nhân viên bảo vệ công trình, và 11 binh sĩ, chính phủ ra tối hậu thư cho phiến quân, hoặc buông súng đầu hàng hoặc bị tận diệt tại sào huyệt của chúng. Quan hệ với Venezuela xấu đi trong năm 2009, khi Colombia tố cáo chính quyền của tổng thống Hugo Chasvez giúp đở du kích quân Colombia, và  Chasvez phản đối việc Colombia tăng cường hợp tác quân sự với Hoa Kỳ. 

Trong vòng bầu chung cuộc tổng thống ngày 20/6/2010, ứng cử viên cựu bộ trưởng Quốc phòng Juan Manuel Santos, đồng minh Bảo thủ với Uribe đắc cử. Gần 90% cocaine tại Colombia được chuyễn vào Hoa Kỳ. Và hơn 7,3 tỷ USD Mỹ viện trợ cho Colombia từ năm 2000 là để chống việc sản xuất và buôn bán ma túy. Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 3/9/2014, đảng Tự do dẫn đầu chiếm 39 ghế, và kế là đảng Xã hội Thống nhất 37 ghế.... Và tại cuộc bầu cử Tổng thống ngày 25/5/2014, có 4 ứng viên dự tranh, không có ứng viên nào hội đủ số phiếu để đắc cử; Và, tại vòng 2 bầu chung cuộc ngày 15/6/2014, ứng viên đương kim tổng thống Juan Manuel Santos giành chiến thắng, với 51% phiếu bầu, trên chân đối thủ Oscar Ivan Zuluaga chiếm 45% phiếu bầu. 

Chính phủ ký một hiệp định hoà bình với phiến quân FARC, quy định FARC giải giáp và tái hòa nhập vào cuộc sống dân sự, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 12 năm 2016. Và, ngày 27 tháng 6 năm 2017, khoảng 7.000 phiến quân FARC đã hoàn tất giao nộp vũ khí, nhưng bạo lực giữa các băng nhóm tội phạm, cựu thành viên FARC và các phiến quân khác vẫn tiếp tục. Trong cuộc bầu cử tổng thống chung cuộc vòng hai ngày 17 tháng 6 năm 2018, ứng cử viên bảo thủ Ivan Duque đã giành chiến thắng. Năm 2019, một loạt các cuộc đình công trên toàn quốc phản đối các chính sách kinh tế, tăng thuế, và việc thực hiện hiệp định với FARC không thành công dẫn đến và các vụ giết hại người bản địa và các nhà hoạt động nhân quyền khác. Tháng 4 năm 2021, các cuộc biểu tình phản đối sự bất bình đẳng về quyền lực, và các đề xuất tăng thuế… 

Phán quyết của Tòa án Hiến pháp Colombia, ngày 21 tháng 2 năm 2022, đã hợp pháp hóa hầu hết các hoạt động phá thai.Trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 19 tháng 6 năm 2022, với lời hứa hẹn nhiều thay đổi kinh tế, ứng cử viên Gustavo Petro đã đắc cử tương đối dể dàng. Các lệnh ngừng bắn mới với một số nhóm đã được công bố vào năm 2022 và 2023, tuy nhiên bạo lực leo thang vào năm 2025 (bao gồm cả vụ ám sát một thượng nghị sĩ và người có triển vọng trở thành tổng thống). Hàng triệu người Colombia đã phải di dời trong nước do bạo lực trong nhiều thập kỷ - hơn 7 triệu người tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2025. tổng thống Petro đã ký luật tăng cường quyền lợi và bồi thường cho người lao động. 

Bắt đầu từ năm 2015, một số lượng lớn người Venezuela chạy trốn khó khăn và đàn áp đã đến Colombia. Tính đến giữa năm 2025, hơn 2,8 triệu người tị nạn Venezuela đã ở Colombia, quốc gia này đã cấp cho nhiều người trong số họ tư cách pháp nhân tạm thời.

Cộng hoà Colombia ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Colombia có hiệu lực thi hành ngày 5/7/1991. Tu chỉnh Hiến pháp tháng 10/2005, theo đó Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, và nắm quyền Hành pháp, do dân bầu với nhiệm kỳ 4 năm, được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 166 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 4 năm. Thượng viện có 102 nghị sỉ cũng do dân bầu cùng ngày và cùng nhiễm kỳ như Hạ viện. Quốc hội họp hàng năm vào ngày 20/7. Hiến pháp nhấn mạnh trách nhiệm của chính phủ là bảo vệ nhân quyền, tổ chức thực hiện các nghĩa hiến định như chăm sóc y tế, an sinh và giải trí. 

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 49.842.298 (năm 2016: 46.245.000); dưới 15 tuổi 22,1%, trên 65 tuổi 11,6%. Tăng dân số: 0,5%. Nhập cư: 5,8%. Mật độ dân cư: 48,0 người/km2. Thành phố: 82,9%. Sắc tộc: mestizo 58%, da trắng: 20%, lai tạp 14%, da đen 4%, Amerindian 1%. Ngôn ngữ: Spanish (chính). Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 90%. Đất đai: Tổng diện tích: 1.138.910 km2. Diện tích đất: 1.109.104 km2. Địa điểm: ở góc phía tây nam của Nam Mỹ. Quốc gia láng giềng:  Panama phía tây bắc, Ecuadora và Peru phía nam, Brazil và Venezuela phía đông. Địa thế: ba dãy núi Andes (tây, trung, và đông Cordilleras) chạy xuyên qua quốc gia từ bắc tới nam. Dãy phía đông gồm hầu hết đất bằng phẳng cao, mật độ dân cư cao. Sông Magdalena xuất phát ở Andes chảy về hướng bắc tới biển  Caribbean, xuyên qua một đồng bằng giàu phù sa. Đồng bằng phía đông do hệ thống sông Orinoco và Amazon. Đất nông nghiệp: 2,3%. Thủ đô:  Bogotá (Tên đầy đủ: Santa Fe de Bogotá) 11.795.829. Thành phố đông dân: Medellin 4.172.812, Cali 2.916.792, Barranquilla 2.396.395.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Gustavo Petro, sinh 1960, nhậm chức 7/8/2022. Chính quyền địa phương: 32 khu vực hành chánh, và 1 khu vực thủ đô Bogota. Ngân sách quốc phòng: 7,7 tỷ. Quân đội chính quy: 269.000. Kinh tế: Công nghiệp sản xuất dầu khí, hàng dệt, chế biến thực phẩm , thức uống, hóa chất, xi măng, may mặc, giày dép. Nông sản: lúa gạo, mía đường, cà phê, cocoa, chuối, hạt có dầu, bắp, thuốc lá. Tài nguyên: dầu lửa, khí đốt, than đá, kim loại trắng cứng, đồng, sắt, vàng, đá ngọc, thủy điện. Nguồnnước: 45.614 m3/người. Sử dụng năng lượng: 29,3 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 90,4 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 14,4%; công nghiệp 20,0%; dịch vụ 65,6%. Thất nghiệp: 9,6%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Peso (COP): 4.040,3 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 1.100,0 tỷ. Bình quân đầu người: 21.459 USD. Tăng trưởng: 1,7%. Nhập khẩu: 76,6 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 28,2%, Mexico 8,3%, Brazil 6,5%, China 6,3%, Venezuela 5,9%. Xuất khẩu: 68,9 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 35,8%, Venezuela 10,4%, Ecuador 6,6%. Du lịch: 7,6 tỷ. Tiêu dùng: 35,0%. Lạm phát: 6,6%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 1,330 mi = 2.128 km. Xe hơi cá nhân 114,1/1000 cư dân. Sân bay 661. Truyền thông: Truyền hình: 93,0/100 cư dân. Điện thoại di động: 174,1/100. Internet:77,3%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 7,7%. Tuổi thọ: nam 73,5, nữ 80,2. Sinh xuất: 14,7/1000 người. Tử xuất: 7,0/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 11,6/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 59/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 3,9%. Nhiểm HIV: 0,6%. NhiểmCOVID-19: 12.578/100.000 trong đó có 281 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-16, biết đọc biết viết 95,6%./.

 

172. ECUADOR - REPUBLIC OF ECOADOR.

Tiến trình phát triển. 

Vùng phía Bắc của đế quốc Inca bị xâm lược bởi Tây Ban Nha năm 1533. Sau gần 300 năm cai trị, Tây Ban Nha bị đánh bại bởi lực lượng giải phóng ngày 24/5/1822 gần Quito. Ecuador trở thành một phần của Cộng hoà Colombia rộng lớn. Nhưng ngày 13/5/1830, nó ly khai khỏi Colombia, trở thành Cộng hòa Ecuador. Giữa thập niên 1930, Tổng thổng José Maria Velasco Ibarra bị lật đổ bởi cuộc đảo chánh lần thứ 5 trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông ta. Từ năm 1963 đến 1966, và từ năm 1976 đến 1979, các phe đảng quân sự tranh nhau cai trị quốc gia. Hiến pháp có hiệu lực thi hành ngày 10/8/1979. Đầu thập niên 1980, xuất khẩu dầu thô là trụ cột chính của nền kinh tế giảm sút tạo ra các vấn đề nghiêm trọng về kinh tế xã hội. Năm 1987, Ecuador phải xin hoãn trả nợ nước ngoài đáo hạn khoảng 8,2 tỷ. 

Trận động đất ngày 5/6/1988, phá huỷ đường ống dẫn dầu chính của quốc gia. Cư dân bản địa "Ecuador Indian" biểu tình  đòi bảo đảm quyền con người, quyền dân sự trong thập niên 1990. Ngày 26/1/1995, chiến tranh biên giới với Peru và thoả ước ngưng bắn tạm thời ngày 1/3. Ngày 11/10/1995, Phó tổng thống Alberto Dahik từ chức và chạy trốn khỏi Ecuador để tránh bắt giam về tội tham nhũng. Cuộc bầu cử Tổng thống chung cuộc ngày 7/7/1996, Abdala Bucaram đắc cử. Ông ta đưa ra nhiều biện pháp nghiêm khắc, tăng giá hàng hoá.  Bất mãn về những chủ trương khác thường đó, dân chúng nổi dậy biểu tình chống đối, Quốc hội triệu tập một phiên họp khẩn cấp, và ngày 6/2/1997 cách chức ông ta với lí do "Mental Incapacity" không có năng lực thực hiện nhiệm vụ. Bucaram phải đi lưu vong

Ngày 11/2/1997, Quốc hội bổ nhiệm Fabian Alarcon làm Tổng thống trong 18 tháng. Cử tri phê chuẩn sự bổ nhiệm này qua cuộc “trưng cầu dân ý” ngày 25/5. Trong cuộc bầu cử Tổng thống chung cuộc ngày 12/7/1998, Jamil Mahuad Witt, thị trưởng Quito đắc cử. Tháng 9/1998 và tháng 3/1999, ông ban hành lệnh khẩn trương để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài. Dân chúng nỗi dậy phản đối, và ngày 21/1/2000, ông ta bị truất phế bởi một cuộc đảo chánh quân sự. Nhóm đảo chánh trao quyền cho cựu Phó tổng thống Gustavo Noboa Bejarano. Noboa đưa ra chương trình hướng tới sự thay thế tiền tệ Ecuador bởi đồng Dolla Mỹ. 

Lucio Gutierrez, lảnh đạo cuộc đảo chánh giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 24/11/2002. Dân chúng phản đối việc thực thi các chính sách kinh tế của Quỷ Tiền tệ, và thay thế 27/31 thẩm phán Tòa án tối cao đúng vào thời điểm 2 cựu Tổng thống bị cáo buộc tham nhũng, tháng 4/2005, làn sóng biểu tình phản đối khắp nơi, khiến Quốc hội phải họp khẩn cấp, và quyết định cách chức Tổng thống Lucio Gutíerrez. 4 ngày sau khi bị cách chức Gutíerrez đào thoát sang Brazil. Quyền Tổng thống Alfredo Palacio ra lệnh bắt giam Gutíerraz, và tháng 10/2005 Gutíerraz bị bắt. Ông ta bị cáo buộc gây hại cho quốc gia, nhưng được trả tự do trong tháng 3/2006, khi một vị thẩm phán từng bị ông ta cách chức đứng ra bào chữa cho ông ta. 

Trong cuộc bầu cử Quốc hội và Tổng thống ngày 15/10/2006, tại Quốc hội, đảng Quốc gia Hành Động (PRIAN) dẫn đầu chiếm 28 ghế, kế là đảng Xã hội Yêu nước (PSP) 23; và tại cuộc bầu Tổng thống, ứng viên Rafael Correa đắc cử với 56,7% phiếu bầu tại vòng chung cuộc ngày 29/11/2006. Việc tranh chấp quyền hành giữa Rafael và Quốc hội chấm dứt ngày 15/4/2007 khi cử tri chấp nhận kế hoạch của tổng thống là triệu tập Quốc hội để viết lại Hiến pháp. Và tại cuộc trưng cầu dân ý ngày 28/9/2008, cử tri chấp nhận Hiến pháp mới. Tháng 12, nợ nước ngoài của Ecuador lên đến 10 tỷ USD. 

Sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ 2 ngày 26/4/2009, Rafael Correa yêu cầu các công ty nước ngoài phải thương thảo lại hợp đồng để tăng phần hùn của Ecuador trong việc khai thác dầu lữa năm 2010. Ngày 30/9, sau cuộc thương thảo không thành, một cuộc chạm súng giữa quân đội chính phủ với các Sĩ quan Cảnh sát bạo loạn làm 5 người chết và 38 người bị thương. Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội ngày 17/2/2013: Bầu Tổng thống, có 4 ứng viên dự tranh, đương kim tổng thống Rafael Correa giành chiến thắng với 57,2% phiếu bầu, trên chân đối thủ Guilermo Lasso chiếm 22,7% phiếu bầu; và tại Quốc hội, Liên minh Tổ quốc Trên hết (PAIS) dẫn đầu chiếm 100/137 ghế, kế là đảng Cơ hội Bình đẳng 11 ghế.

Năm 2012, Ecuador đã cấp quyền tị nạn cho Julian Assange, người sáng lập WikiLeaks. Assange đang ở tại đại sứ quán của Ecuador ở London, Vương quốc Anh để tránh khả năng bị dẫn độ đến Hoa Kỳ liên quan đến vụ gián điệp và xuất bản thông tin mật. Ngày 11 tháng 4 năm 2019, Assange bị bắt tại đại sứ quán Ecuador sau khi nước này rút quyền tị nạn và bị bỏ tù ở Anh. Ngày 26 tháng 6 năm 2024, Assange đã nhận tội với một tội danh gián điệp của Hoa Kỳ và được trở về quê hương Australia. Bắt đầu từ năm 2015, một số lượng lớn người Venezuela chạy trốn khó khăn kinh tế và đàn áp đã đến Ecuador. Khoảng 440.000 người tị nạn Venezuela đã ở Ecuador tính đến giữa năm 2025. 

Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 11 tháng 4 năm 2021, ứng cử viên Guilermo Lasso Mendoza đắc cử. Bắt đầu từ năm 2022, việc phá thai được cho phép trong một số trường hợp hạn chế đối với nạn nhân bị hiếp dâm. Buôn bán ma túy và tội phạm của các băng đảng ma túy tăng mạnh trong những năm gần đây. Đối mặt với việc luận tội tham nhũng của Quốc hội, ngày 17 tháng 5 năm 2023, tổng thống Guilermo Lasso Mendoza giải tán Quốc hội. Cuộc bầu cử tổng thống vòng một mới được lên kế hoạch vào ngày 20 tháng 8 năm 2023. Ứng cử viên tổng thống Fernado Villavicencio hứa sẽ không khoan nhượng với tội phạm ma túy và tham nhũng đã bị bắn chết tại một sự kiện tranh cử vào ngày 29 tháng 8. 

Ngày 15 tháng 10 năm 2023, tại vòng bầu chung cuộc doanh nhân Daniel Noboa đã đánh bại ứng cử viên Luisa Gonzalez, thuộc đảng của Correa để đắc cử tổng thống. Vào tháng 1 năm 2024, Noboa triển khai quân đội để chống lại tình trạng bạo lực băng đảng ngày càng leo thang. Ngày 13 tháng 4 năm 2025, dự Luật an ninh của chính đã được quốc hội phê duyệt. Tháng 6 năm 2025, Luật an ninh đã bị đình chỉ bởi Tòa án Hiến pháp ngày 4 tháng 8, trong khi chờ dợi Tòa án xem xét liệu chúng có vi phạm quyền công dân hay không.

Lưu ý: 

Quần đảo Galapagos được xem như là ngôi nhà, quê hương của các loại rùa khổng lồ rộng lớn, và các loại động vật quý hiếm khác nằm ngoài khơi cách bờ 965 km về phía Tây, với 16.000 cư dân. Ngày 16/1/2001, chiếc tàu dầu Jessica bị mắc cạn ngoài khơi đảo San Critobal, phải xả bỏ hơn 185.000 gallons nhiên liệu. Galapagos dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu. Ecuador công bố ngày 2 tháng 11 năm 2021 sẽ tăng gần 50% diện tích khu bảo tồn biển được bảo vệ.

Cộng hoà Ecuador ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Ecuador có hiệu lực thi hành ngày 10/8/1998. Hiến pháp chỉ rõ Ecuador là một nước Cộng hòa. Quyền Hành pháp được trao cho Tổng thống được dân bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 4 năm. Với tư cách là nguyên thủ quốc gia, Tổng thống có quyền giải tán Quốc hội. Quyền Lập pháp được trao cho Quốc hội chỉ có Hạ viện gồm 100 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 4 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: dân số: 18.479.841 (năm 2016: 15.654.000); dưới 15 tuổi 26,4%, trên 65 tuổi 9,2%. Tăng dân số: 0,9%. Nhập cư: 4,1%.  Mật độ dân cư: 66,8 người/km2. Thành phố: 65,3%. Sắc tộc: Mestizo 65%, Amerindian 25%, da đen 3%. Ngôn ngữ: Spanish (chính), Quechua, Amerindian khác. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 95%. Đất đai: Diện tích: 283.561 km2. Diện tích đất: 276.841 km2. Địa điểm: nằm ở phía tây bắc Nam Mỹ, trên bờ Thái Bình Dương trùm lên đường xích đạo. Quốc gia láng giềng: Colombia ở phía bắc, Peru phía nam và bắc. Địa thế: Hai dãy núi Andes chạy dài ở phía bắc và nam, chia tách quốc gia thành 3 vùng có nhiệt độ khác nhau: nóng ẩm ướt ở phần đất thấp ven bờ biển, điều hoà ở vùng đất cao giữa hai dãy núi, và mưa ở vùng đất thấp nhiệt đới phía đông. Đất nông nghiệp: 4,1%. Thủ đô: Quito 2.017.260. Thành phố đông dân: Guayaquil 3.244.749.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Daniel Noboa, sinh …, nhậm chức 23/11/2023. Chính quyền địa phương: 24 khu vực hành chánh. Ngân sách quốc phòng: 1,6 tỷ. Quân đội chính quy: 39.600. Kinh tế: Công nghiệp sản xuất dầu khí, luyện kim, hàng dệt, chế biến thực phẩm, giấy, gỗ. Nông sản: gạo, mía đường, khoai tây, caphê, cocoa, chuối, mã đề. Tài nguyên: dầu lửa, thủy điện, gổ, cá. Nguồn nước: 24.821 m3/người. Sử dụng năng lượng: 35,7 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 34,1 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 30,0%; công nghiệp 17,5%; dịch vụ 52,5%. Thất nghiệp: 4,8%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Dolla Mỹ (USD): 1,00 = 1USD. Tổng sản lượng nội địa: 278,3 tỷ. Bình quân đầu người: 15.840 USD. Tăng trưởng: giảm 2,0%. Nhập khẩu: 34,0 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 24%, Colombia 14,4%, Venzuela 7,7%, Brazil 7%, China 6,3%. Xuất khẩu: 38,5 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 51,4%, Pẻu 8,2%, Colombia 4,4%, Chile 4,1%. Du lịch: 2,0 tỷ. Tiêu dùng: 40,2%. Lạm phát: 1,5%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 600 mi = 960 km. Xe hơi cá nhân 101,1/1000 cư dân. Sân bay 317. Truyền thông: Truyền hình: 64,7/100 cư dân. Điện thoại di động: 101,6/100. Internet:77,2%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 7,5%. Tuổi thọ: nam 70,1, nữ 80,6. Sinh xuất: 17,4/1000 người. Tử xuất: 7,1/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 11,2/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 55/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 12,1%. Nhiểm HIV: 0,4%. NhiểmCOVID-19: 6.123/100.000 trong đó có 304 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 3-17, biết đọc biết viết 94,0%./.

 

173. PERU - REPUBLIC OF PERU.

Tiến trình phát triển. 

Đế quốc Inca đầy quyền thế có căn cứ của nó ở Cuzco, Andes và chiếm hầu hết Peru, Bolivia, Ecuador và nhiều phần đất của Colombia, Chile và Argentina. Trong 800 năm kế thừa nền văn minh Andean, đế quốc Incas có trình độ cao về kiến thức cơ khí, hàng dệt, và tổ chức xã hội. Do nội chiến làm cho đế quốc suy yếu. Năm 1532, Quân xâm lược Tây Ban Nha của Francisco Pizarro đánh chiếm Peru bởi do sự giàu có của nó. Năm 1533, họ bắt nhà cai trị Inca là Atahualpa, đặt điều kiện đổi vàng như tiền chuộc mạng, rồi hành quyết ông ta và biến người dân bản địa như những tên nô lệ. Phó vương Tây Ban Nha cai trị cho đến khi quân giải phóng Argentina của Jose' de San Martin chiếm nó năm 1821, Smon Bolivar đánh bại đội quân Tây Ban Nha cuối cùng năm 1824. 

Ngày 3/10/1968, một cuộc đảo chánh quân sự lật đổ Tổng thống Fernando Belaunde Terry, từ đó cho đến năm 1974, chính quyền quân sự thực hiện chương trình xã hội chủ nghĩa. Nạn khan hiếm thực phẩm, nợ nước ngoài leo thang và các cuộc biểu tình phản đối khắp nơi đưa tới một cuộc đảo chánh khác ngày 29/8/1976. Năm 1980, sau hơn 13 năm quân đội nắm quyền hành Peru trở lại chế độ dân chủ. Thế nhưng, các vấn đề kinh tế nghiêm trọng và du kích của đảng Path cánh tả Shining (Sendero Luminoso) luôn làm cho xã hội bất ổn. Trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 6/1990, Alberto Fujimori, con trai của một người định cư Nhật Bản đắc cử. Ngày 5/4/1992, Alberto Fajimori ra lệnh ngưng thi hành nhiều phần của Hiến pháp, giải tán Quốc hội và bắt đầu kiểm duyệt báo chí. 

Ngày 12/9, lãnh tụ đảng Path Shining bị bắt. Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và các chương trình xã hội đầy ý nghĩa, cùng với sự thu hẹp hoạt động của du kích quân, Fajimori chiến thắng trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ Tổng thống lần thứ hai ngày 9/4/1995. Tuy nhiên, chính sách đàn áp chống khủng bố của ông ta bị các nhà bình luận thế giới chỉ trích. Ngày 17/12/1996, du kích quân cánh tả Tupac Amaru xâm nhập nơi cư trú đại sứ Nhật Bản ở Lima, và bắt giữ hàng trăm con tin, hầu hết được thả ra sau đó. Ngày 22/4/1997, quân đội Peru tái chiếm toà đại sứ, giải cứu 71 con tin còn bị giam giữ. Một con tin, 2 binh sĩ, và tất cả 14 du kích quân đều bị giết. 

Cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ 3 của Fujimori, 6 ngày, trước vòng bầu chung cuộc ngày 28/5/2000, các đấu thủ khác đã rút lui, chỉ còn lại một mình ông. Họ lên án cuộc bầu cử gian lận. Tai tiếng chính trị liên quan tới Vladimiro Montesinos, vị cố vấn hàng đầu và là chỉ huy trưởng ngành tình báo, khiến  Fujimori từ chức ngày 20/11/2000 khi ông đang thăm viếng Nhật Bản. Thay vì chấp nhận sự từ chức của Fujimori, Quốc hội cách chức ông ta với lý do "thiếu tinh thần trách nhiệm". Ngày 3/6/2001 Alejandro Toledo, đắc cử Tổng thống. Ngày 23/6/2001, Vladimiro Montesinos bị bắt ở Venezuela, dẫn về Peru và bị kết án lạm dụng quyền hành ngày 1/7/2002. Bản án ngày 5/9/2002, ghi vào hồ sơ chống lại việc Fujimori lưu vong, cho rằng ông ta có dính líu đến vụ giết người của đội cảm tử quân đã giết ít nhất 25 người trong năm 1991-1992. 

Ngày 29/12/2001, một vụ nổ tại xưởng làm pháo hoa giết chết 291 người trong một khu thương mại đông đúc ở Thành phố Lima. Sự thụt lùi kinh tế làm sống lại các hoạt động bạo loạn, và một loạt các vụ tai tiếng chính trị đã xói mòn niềm tin của công chúng đối với Tổng thống Teledo trong hai năm 2003-2004. Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội ngày 9/4/2006, tại vòng đầu không có ứng viên Tổng thống nào đạt được số phiếu cần thiết. và tại vòng bầu chung cuộc ngày 4/6, Alan Garcia Pérez đắc cử với 52,6% phiếu bầu. Còn tại Quốc hội, đảng Thống nhất Peru dẫn đầu chiếm 45 ghế, về nhì là đảng Aprista Peru chiếm 36 ghế. Ngày 15/8/2007, một trận động đất ven bờ phía Tây-Nam giết chết 500 người và hơn 200.000 người mất nhà cửa. 

Vụ tai tiếng lớn liên quan đến các hợp đồng khí đốt và dầu lửa đưa đến nội các phải từ chức ngày 10/10/2008. Sắc lệnh của chính phủ khuyến khích đầu tư vào vùng giàu tài nguyên Amazon, châm ngòi cho các vụ xung đột bạo loạn giữa lực lượng chính phủ và Thổ dân Peru giết chết 34 người. Và cuối cùng thì chính phủ đã phải hủy bỏ sắc lệnh vừa ban hành. Trong cuộc bầu cử Thổng thống và Quốc hội ngày 10/4/2011: Bầu Tổng thống, có 10 ứng viên dự tranh, không có ứng viên nào hội đủ số phiếu để đắc cử; Tại vòng 2 ngày 5/6/2011, Ollanta Humala Tasso giành chiến thắng với 51,5% phiếu bầu, trên chân đối thủ Keiko Fụimori chiếm 48,5% phiếu bầu. Và, bầu Quốc hội (cùng ngày), đảng Gana Peru dẫn đầu chiếm 47 ghế, kế là Liên minh Peru 21 ghế.

Cuộc bầu cử tổng thống ngày 5 tháng 6 năm 2016, Keiko Fụimori, con gái của cựu tổng thống Pedro Pablo Kuczynski, lại đánh bại Ollanta Humala Tasso. Tháng 3 năm 2018, bị luận tội về các vụ bê bối và tham nhũng, Kuczynski từ chức và được Phó Tổng thống Martin Vizcarra thay thế. Ngày 9 tháng 11 năm 2020, Vizcarra lại bị Quốc hội luận tội do các cáo buộc tham nhũng. Trong cuộc tranh cử tổng thống ngày 6 tháng 6 năm 2021, người cánh tả Jose Pedro Castillo Terrones giành chiến thắng. Các cuộc biểu tình phản đối giá cả tăng cao, cùng với các vụ tham nhũng và đã làm hỏng chính quyền của Castillo. Để tránh bị luận tội, Castillo giải tán Quốc hội. Ngày 7 tháng 12 năm 2022, sau nỗ lực bất thành Castillo bị cách chức và bị bắt. Phó Tổng thống thứ nhất. Dina Boluarte trở thành Tổng thống, bà là nữ nguyên thủ quốc gia đầu tiên của Peru. 

Trong năm 2024-25, tội phạm liên quan đến băng đảng và bạo lực khác gia tăng đáng kể. Ngày 13 tháng 8 năm 2025, Boluarte ký Đạo luật ân xá cho hầu hết lực lượng an ninh vì các hành động trong cuộc xung đột cuối thế kỷ 20 với quân du kích cánh tả. Tính đến tháng 5 năm 2025, khoảng 1,66 triệu người di cư Venezuela đã đến Peru để chạy trốn khó khăn kinh tế và đàn áp.

Cộng hoà Peru ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Peru có hiệu lực thi hành năm 1980. Hiến pháp trao quyền Hành pháp cho Tổng thống do dân bầu trực tiếp, với nhiệm kỳ 5 năm, được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai, và thứ ba. Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng, và các Bộ trưởng chính phủ. Với tư cách là nguyên thủ quốc gia, Tổng thống có quyền phủ quyết dự luật đã được Quốc hội thông qua. Quyền Lập pháp được trao cho Quốc hội, gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 120 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện bị Tổng thống Alberto Fujimori giải tán năm 1992, tái lập tháng 3/2003.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số: 32.768.614 (năm 2016: 30.147.000); dưới 15 tuổi 25,5%, trên 65 tuổi 8,0%. Tăng dân số: 0,6%. Nhập cư: 5,4%. Mật độ dân cư: 25,6 người/km2. Thành phố: 76,6%. Sắc tộc:  Amerindian 45%, Mestizo 37%, Da trắng 15%. Ngôn ngữ: Spanish, Quechua (chính cả hai), Aymara. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 81%. Đất đai: Tổng diện tích: 1.285.216 km2. Diện tích đất: 1.285.216 km2. Địa điểm: trên bờ Thái Bình Dương Nam Mỹ. Quốc gia láng giềng: Ecuador, Colombia ở phía bắc, Brazil, Bolivia phía đông, Chilê  phía nam. Địa thế: một dãy bờ biển khô từ 16-160km chiều rộng, như là quà tặng cho nhiều cư dân để mở rộng việc trồng trọt nhờ có nước tưới tiêu. Núi Andes chiếm 27% diện tích đất, vùng cao nguyên và triền phía đông cho tới bình nguyên Amazon, thuận lợi cho cây trồng, chiếm một phần hai quốc gia với rừng cây và rừng rậm nhiệt đới. Đất nông nghiệp: 3,1%. Thủ đô: Lima11.517.333. Thành phố đông dân: Arequipa 983.715.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Dina Boluarte, sinh 1962, nhậm chức 7/12/2022. Chính quyền địa phương: 24 khu vực hành chánh, 1 tỉnh đặc biệt. Ngân sách quốc phòng: 2,1 tỷ. Quân đội chính quy: 81.000. Kinh tế: Công nghiệp khai thác mỏ, dầu khí, hàng dệt, may mặc, đánh cá, chế biến thục phẩm. Nông sản: lúa gạo, lúa mì, khoai tây, bắp, mía đường, cà phê, sợi bông. Tài nguyên: dầu lửa, khí đốt, than đá, quặng sắt, đồng, bạc, vàng, gỗ, cá, thủy điện. Nguồn nước: 56.155 m3/người. Sử dụng năng lượng: 30,9 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 59,9 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 24,0%; công nghiệp 16,4%; dịch vụ 59,7%. Thất nghiệp: 4,8%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Nuevo Sol (PEN): 3,5 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 609,2 tỷ. Bình quân đầu người: 17.802 USD. Tăng trưởng: 3,3%. Nhập khẩu: 67,2tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 20,1%, Brazil 8,1%, Ecuador 7,5%, China 6,8%, Chile 6,4%, Colombo 6,2%, Argentina 6,2%. Xuất khẩu: 83,3 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 25,8%, China 12%, Canada 8,4%, Chile 5,9%, Japan 5,4%. Du lịch: 2,7 tỷ. Tiêu dùng: 22,5%. Lạm phát: 2,0%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 1.152 mi = 1.843 km. Xe hơi cá nhân 78,6/1000 cư dân. Sân bay 174. Truyền thông: Truyền hình: 92,3/100 cư dân. Điện thoại di động: 124,6/100. Internet: 82,0%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 6,1%. Tuổi thọ: nam 64,4, nữ 73,3. Sinh xuất: 16,4/1000 người. Tử xuất: 9,8/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 10,6/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 51/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 6,9%. Nhiểm HIV: 0,4%. Nhiểm COVID-13.747/100.000 trong đó có 670 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 3-16, biết đọc biết viết 94,5%./.

 

174. CHILE - OF REPUBLIC OF CHILE.

Tiến trình phát triển.                                                    

Phía bắc Chile nằm dưới sự cai trị của đế quốc Inca, trước khi người Tây Ban Nha xâm chiếm năm 1530-1540. Cư dân bản địa Araucanian phía Nam kháng cự cho đến cuối thế kỷ thứ 19. Quốc gia được độc lập năm 1810, dưới sự cai trị của Jose' de San Martin. Và, sau đó Bernardo O' Higgins 1817 -1823, trong các nỗ lực cải cách kinh tế và xã hội cho đến khi bị mất chức. Chilê đánh bại Peru và Bolivia trong chiến tranh 1836-1839, và 1879-1884 chiếm được phần đất giàu trữ lượng hầm mỏ ở phía Bắc. Năm 1970, Salvador Allende Gossenss, một người Marxist trở thành Tổng thống. Chính quyền của ông ta có cải thiện điều kiện sống cho người nghèo, nhưng các cuộc bạo loạn và các hoạt động phi pháp, làm cho chế độ không được đa số công chúng hậu thuẩn. 

Các chương trình kinh tế xã hội thô thiển, đưa đến một sự hỗn độn về chính trị và tài chánh. Ngày 11/9/1973, phe quân sự đảo chánh chiếm quyền lực, và tuyên bố Allende đã tự sát. Nhóm đảo chánh do tướng Augusto Pinochet Ugarte cầm đầu, chỉ định một chính phủ hầu hết là quân nhân và công bố kế hoạch "tân diệt chủ nghĩa Marxist" (exterminate Marxist). Các cuộc đàn áp đẫm máu diễn ra trong suốt thập niên 1980, và nó cũng không chỉ cho người ta thấy có một dấu hiệu gì về sự tự do. Ngày 5/10/1988, trong một cuộc “trưng cầu dân ý” đa số cử tri không chấp nhận chức Tổng thống của Pinochet, yêu cầu tổ chức bầu cử Tổng thống. Tháng 12/1989, cử tri bầu một vị Tổng thống dân sự, dù vậy Pinochet còn tiếp tục cầm đầu quân đội cho đến ngày 10/3/1998. 

Một tổ chức nhân quyền Chile, ước tính rằng các cuộc đàn áp quyền dân sự trong thời Pinochet cai trị đã giết chết hơn 3.100 người. Năm 1998, Pinochet bị bắt khi đang thăm và trị bệnh tại Anh Quốc. Trong một nỗ lực truy tố Pinochet về tội trạng trên bị thất bại, khi bác sỉ xác nhận chính thức rằng Pinochet không ổn định thần kinh, để ra hầu toà ở Anh Quốc và Chile. Sau 2 năm bị chính quyền Anh quản  thúc, Pinochet bị trả về Chile đầu năm 2000. Ricardo Lagos Escobar, là vị Tổng thống theo Xã hội Chủ nghĩa đầu tiên kể từ cuộc đảo chánh 1973. Ông nhậm chức ngày 11/3/2000. Ngày 6/6/2003, Chile và Hoa Kỳ ký hiệp ước mậu dịch tự do song phương. Tháng 8/2004, tòa án tối cao Chile quyết định huỷ bỏ quyết định miển tố Pinochet, cho phép đưa vụ án ra tòa xét xử trong tương lai nếu sức khỏe Pinochet có thể. 

Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 11/12/2005, Liên minh Dân chủ dẫn đầu chiếm 65 ghế, về nhì là đảng Dân chủ 21 ghế. Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 15/1/2006, ứng viên Michelle Bachelet đắc cử  với 53,5% phiếu bầu, bà là người phụ nử đầu tiên trở thành Tổng thống Chile. Pinochet chết tháng 12/2006, và vụ án chưa bao giờ được xét xử. Nhà doanh nghiệp bảo thủ Sebastián Pinera Echenique đắc cử tổng thống tại vòng bầu chung cuộc ngày 17/1/2010. Trận động đất ngày 17/2 ngoài khơi bờ miền Trung Chile làm chết 521 người và thiệt hại tài sản trên 300 tỷ USD. Trong một nổ lực kéo dài, Chile đã cứu được 33 thợ mỏ bị sập hầm tại mỏ vàng và đồng sâu 2.300 feet ở San José ngày 5/8/2010.  

Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 17/11/2013, đảng Đa số mới dẫn đầu chiếm 67 ghế, về nhì là đảng Dân chủ Thiên chúa giáo 21 ghế..... Và, tại cuộc bầu cử tổng thống ngày 15/12/2013, có 9 ứng viên dự tranh, cựu tổng thống Michelle Bachelet đắc cử  với 62,2% phiếu bầu, trên chân đối thủ là ứng viên Evelyn Matthei vởi 37% phiếu bầu. Ngày 22 tháng 10 năm 2015, Chile hợp pháp hóa kết hợp dân sự giữa các cặp đồng giới. Và, ngày 2 tháng 8 năm 2017, việc phá thai cũng được cho phép trong những trường hợp rất hạn chế. Trong cuộc bầu cử vào ngày 17 tháng 12 năm 2017, do ảnh hưởng bởi nền kinh tế trì trệ, và sự nổi tiếng của nguyên tổng thống Pinera, đảng Xã hội giành chiến thắng trở lại nắm quyền. 

Ngày 11 tháng 4 năm 2018, Đức Thánh Cha Phanxicô đã xin lỗi vì “những sai sót nghiêm trọng” trong việc các quan chức Giáo hội Công giáo ở Chile đưa ra nhiều cáo buộc về việc giáo sĩ lạm dụng tình dục trẻ em. Bắt đầu từ tháng 10 năm 2019 các biểu tình quy mô lớn kéo dài nhiều tháng để phản đối sự bất bình đẳng kinh tế. Phản ứng gay gắt của cảnh sát đã khiến hơn 30 người chết và hàng nghìn người bị thương. Trong một cuộc trưng cầu dân ý ngày 25 tháng 10 năm 2020, người dân Chile đã bỏ phiếu viết lại hiến pháp của đất nước từ thời Pinochet.

Cuộc bầu cử vòng hai ngày 19 tháng 12 năm 2021, Ứng cử viên cấp tiến Gabriel Boric đã đánh bại một ứng cử viên cánh hữu để trở thành tổng thống đắc cử trẻ nhất của Chile. Dự thảo Hiến pháp mới cấp tiến đã bị cử tri bỏ phiếu bác bỏ trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 4 tháng 9 năm 2022 . Và, ngày 17 tháng 12 năm 2023, sau nhiều tu sửa hiến pháp mới bảo thủ hơn cũng bị cử tri bác bỏ. e Tháng 2 năm 2024, các vụ cháy rừng nghiêm trọng ở miền trung Chile đã khiến hơn 130 người thiệt mạng.

Lưu ý.

Về đảo Tierra del Fuego: là đảo lớn nhất trong quần đảo cùng tên tại điểm tận cùng phía nam của Nam Mỹ, có diện tích 48.673km2 là một khu vực núi non hùng vĩ, dòng chảy quanh co và tiếng gió thổi vi vu như đưa vào lòng người một cảnh tượng hùng tráng oai phong. Nó được khám phá năm 1520 bởi Magellan, và đặt tên là vùng đất của lửa, bởi vì đây là nơi cắm trại đốt lửa vui chơi của các sắc dân Indian quanh vùng. Một phần của đảo là chủ quyền của Chilê, và một phần khác thuộc chủ quyền Argentina. Punta Arenas nằm trên đất liền của bán đảo là một trung tâm thành phố phía nam và là trung tâm nuôi cừu với khoảng 70.000 cư dân. Puerto Williams là nơi định cư phía cực Nam.

Cộng hoà Chile ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Chile có hiệu lực thi hành ngày 11/3/1981, Chile quay trở lại chế độ dân chủ sau hơn 8 năm quân đội nắm quyền. Tướng Pinochet vẫn còn tại chức cho tới khi ông ta được chính quyền đề cử như ứng viên duy nhất dự tranh chức tổng thống. Tại cuộc bầu cử ngày 5/10/1988, Tổng thống Pinochet bị cử tri phản đối với 54,6% phiếu bầu. Từ đó Hiến pháp được tu chỉnh một số điều khoản. Hiến pháp quy định quyền Hành pháp trao cho Tổng thống do dân bầu trực tiếp có nhiệm kỳ 4 năm, và với một nhiệm kỳ duy nhất. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 120 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 4 năm. Thượng viện có 38 nghị sĩ, cũng do dân bầu, với nhiệm kỳ 8 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: dân số 19.091.343 (năm 2016: 17.363.000); dưới 15 tuổi 16,6%, trên 65 tuổi 14,4%. Tăng dân số: 0,5%. Nhập cư: 7,8%. Mật độ dân cư: 25,7 người/km2. Thành phố: 88,2%. Sắc tộc: da trắng, và pha trộn da trắng 95%, Amerindian 4%. Ngôn ngữ: Spanish (chính ), Araucanian. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 70%, Tin lành 15%. Đất đai: Tổng diện tích: 756.102 km2. Diện tích đất: 743.812 km2. Địa điểm: trên bờ phía tây nam của Nam Mỹ. Quốc gia láng giềng: Peru ở phía bắc, Bolivia phía đông và phía đông bắc. Địa thế: dãy núi Andes ở biên giới phía đông gồm cả những đỉnh núi cao nhất thế giới, chạy dài 4.263 km, dọc theo bờ Thái bình dương, có chiều rộng khác nhau giữa 160 km và 402 km. Phía bắc là sa mạc Atacama, miền trung nhiều vùng nông nghiệp, và phía nam là rừng cây, và đồng cỏ bạt ngàn. Đất nông nghiệp: 1,9%. Thủ đô:  Santiago 6.999.457 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Gabriel Boric, sinh 1986, nhậm chức 11/3/2022. Chính quyền địa phương: 16 vùng hành chánh. Ngân sách quốc phòng: 4,1 tỷ. Quân đội chính quy: 68.500. Kinh tế: Công nghiệp khai thác hầm mỏ, sắt, thép, đồng, trang thiết bị vận tải, xi măng, hàng dệt, chế biến cá, thực phẩm. Tài nguyên: đồng, sắt, muối axit nitric, nguyên tố kim loại trắng chế máy cao tốc, gổ, thủy điện. Nguồn nước: 47.208 m3/người. Sử dụng năng lượng: 71,4 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 87,7 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 6,2%; công nghiệp 22,1%; dịch vụ 71,7%. Thất nghiệp: 9,1%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Peso (CLP): 965,9 = 1USD) . Tổng sản lượng nội địa: 684,6 tỷ. Bình quân đầu người: 34.637 USD. Tăng trưởng: 2,6%. Nhập khẩu: 99,2 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 15,6%, Argentina 12,6%, Brazil 11,8%, China 9%. Xuất khẩu: 111,1 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 15,6%, Japan 10,5%, China 8,6%, Hoà Lan 6,7%, Nam Triều Tiên 5,9%. Du lịch: 2,4 tỷ. Tiêu dùng: 27,4%. Lạm phát: 4,3%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 4.525 mi = 7.240 km. Xe hơi cá nhân 316,4/1000 cư dân. Sân bay 379. Truyền thông: Truyền hình: 108,8/100 cư dân. Điện thoại di động: 132,7/100. Internet: 94,5%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 10,1%. Tuổi thọ: nam 77,5, nữ 83,5. Sinh xuất: 8,8/1000 người. Tử xuất: 6,8/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 4,5/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 10/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 2,5%. Nhiểm HIV: 0,7%. Nhiểm COVID-19: 28.302/100.000 trong đó có 329 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 6-17, biết đọc biết viết 97,2%./.

 

175. VENNEZUELA - BOLIVARIAN REPUBLIC OF NENEZUELA.

Tiến trình phát triển. 

Colombus lần đầu tiên đặt chân lên lục địa Nam Mỹ trên bán đảo Paria tháng 8/1498. Năm sau, Alonso de Ojeda cũng là người Châu Âu đầu tiên phát hiện ra Hồ Maracaibo 1499. Ông ta gọi là đất Venezuela hay Little Venice, bởi vì dân bản địa Indians có nhà cửa với các trụ chống kiên cố. Tây Ban Nha thống trị Venezuela cho đến khi cuộc đấu tranh của Simon Bolivar đạt thắng lợi gần Carabobo tháng 7/1821. Năm 1830, Cộng hoà Venezuela được thành lập sau khi tách khỏi Liên bang Colombian. Quân đội nắm quyền cai trị Venezuela hầu như gần hết suốt cả thế kỷ 20. Họ khuyến khích công nghiệp hoá dầu khí và thực hiện một ít cải cách xã hội. Từ năm 1959, quốc gia đã có các cuộc bầu cử chính quyền dân chủ. Quốc gia từng là sáng lập viên của Tổ chức các quốc gia Xuất khẩu dầu lửa (OPEC). 

Ngày 1/1/1976, chính quyền Venezuela quốc hữu hoá công nghiệp dầu khí có bồi thường. Nguồn thu từ việc xuất khẩu dầu hoả là thu nhập chính của Venezuela. Quốc gia trải qua nhiều khủng hoảng kinh tế và tiền mặt nghiêm trọng trong hai thập niên 1980 và 1990, do sự giảm sút nguồn thu từ dầu hoả. Nỗ lực của chính quyền là hạn chế sự phụ thuộc vào dầu khí, đạt được thành tựu có giới hạn. Ngày 4/2/1992, cuộc đảo chánh thực hiện bởi nhóm sĩ quan trung cấp bị những người trung thành với chính phủ dập tắt. Tháng 11 cùng năm một cuộc đảo chánh quân sự thứ hai cũng bị nghiền nát. Tháng 5/1993, Tổng thống Carlos Andres Peres bị cách chức, và bị buộc tội tham nhũng. Tháng 5/1996, ông ta bị kết án xử dụng sai nguyên tắc số tiền 17 triệu quỹ mật của chính quyền cho mục đích an ninh quốc gia. 

Ngày 5/12/1993, Rafael Caldera, một người được công chúng ưa thích đắc cử Tổng thống. Ngày 27/6/1994, viện dẫn khủng hoảng kinh tế, ông ra lệnh hạn chế sự tự do trên các quyền dân sự. Ngày 6/7/1995, thì lệnh này được huỷ bỏ. Ngày 6/12/1998, người lãnh đạo cuộc đảo chánh bị quân chính phủ dập tắt năm 1992, Hogo Chaves được bầu làm Tổng thống. Quốc hội Lập hiến bầu lên ngày 25/7/1999, bị khuynh đảo bởi những người ủng hộ Chavez. Ngày 15/12, cử tri chấp nhận Hiến pháp mới gia tăng quyền hạn cho Tổng thống. Tháng 12/1999, nước lụt và đã làm chết trên 3.000 người. Là người được dân nghèo ưa thích, Chavez đưa ra chương trình cải cách kinh tế và chính trị cho giai cấp thượng lưu và trung lưu người Venezuela nhiều quyền hạn hơn. Về đối ngoại thì thù địch với Hoa Kỳ. 

Ngày 13/2/2002, sau khi tận dụng hết của cải tích luỹ, quốc gia lâm vào khủng hoảng ngân sách, Chavez ra lệnh thả nổi tiền tệ. Thế là làn sóng phản kháng leo thang từ các giới doanh nghiệp, truyền thông và quân đội. Ngày 11/4, tại Caracas quân đội nổ súng vào dòng người biểu tình làm chết 17 người. Chaves bị buộc phải từ bỏ quyền hành, nhưng trong cương vị một chính quyền chuyển tiếp, ông ta ban hành sắc lệnh hoãn thi hành Hiến pháp, giải tán Quốc hội và Toà án tối cao. Một cuộc đảo chánh nổ ra, đánh nhau với những người trung thành với Chavez, quân đảo chánh thất bại từng phần, và cuối cùng là ngày 14/4/2002, Chavez vẫn còn ở chức vụ Tổng thống. Phe đối lập gia tăng hoạt động bằng một loạt các cuộc biểu tình bạo loạn chống Chavez kéo dài từ tháng 12/2002. 

Đến tháng 2/2003, qua sự trung gian hoà giải của cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter, cùng với Tổ chức các nước Châu Mỹ (OAS) bạo loạn giảm dần. Nhiều người bất đồng chính kiến bị giết trong những tháng sau đó. Ngày 29/5/2003, các nhóm đối lập và Chavez đạt thoả thuận chấm dứt các cuộc bạo loạn chính trị. Phe đối lập đệ trình một thỉnh nguyện thư với trên 3 triệu chử ký một lần nữa kêu gọi ông Chavez tổ chức bầu cử. Sau thời gian dài tranh cải về tính hợp pháp, cuộc bầu cử Tổng thống cũng diển ra vào ngày 15/8/2004, và Chavez giành chiến thắng với 59% số phiếu bầu. Nhằm chống lại việc Hoa Kỳ cô lập ông ta bằng chính sách ngoại giao và quân sự, Chavez củng cố mối ràng buộc chặt chẽ hơn vói các nhà lãnh đạo cánh tả vùng Mỹ La tinh, với Iran và Liên bang Nga. 

Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 4/12/2005, đảng Vận động cho đệ V Cộng hòa giành thắng lợi với 114/167 ghế, phe đối lập tẩy chay bầu cử. Và, tại cuộc bầu cử Tổng thống ngày 3/12/2006, có 12 ứng viên dự tranh, đương kim Tổng thống Hugo Chávez tái đắc cử với 62,9% phiếu bầu. . Ngày 31/1/2007, Quốc hội thông qua Luật trao quyền cho Chavez cai trị quốc gia bằng sắc lệnh. Ngày 1/5/2007, Chavez cắt đứt mối quan hệ với Quỷ Tiền tệ (IMF), và Ngân hàng Thế giới (WB), hai Tổ chức mà ông cho rằng bị đế quốc Mỹ khuynh đảo, đồng thời nắm quyền kiểm soát các dự án khai thác chế biến dầu do các công ty Hoa Kỳ và Châu Âu đang điều hành. 

Ngày 2/12/2007, với 51%/49%, cử tri phản đối tu chính Hiến pháp cho phép Chavez giữ chức Tổng thống không giới hạn nhiệm kỳ. Đầu năm 2008, Chavez mở rộng kiểm soát của chính phủ lên các ngành công nghiệp sắt thép, xi măng, và mía đường. Và ngày 11/9 ông ra lệnh cho Đại sứ Hoa Kỳ phải rời khỏi Venezuela với tố cáo Hoa Kỳ đang có âm mưu lật đổ ông ta. Ngày 15/2/2009, cử tri chấp nhận tu chính Hiến pháp cho phép Chavez giữ chức Tổng thống không giới hạn nhiệm kỳ. Từ chiến thắng nầy, Chavez khống chế các lời chỉ trích phê phán ông ta, và tăng cường củng cố sự hậu thuẩn của quân đội. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 26/9/2010, đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa (PSUV) dẫn đầu chiếm 96 ghế, về nhì là Liên minh Dân chủ (MUD) 64 ghế. 

Chavez đến Cuba tái điều trị bệnh ung thư, nơi ông ta đã đến điều trị trong 2 năm năm 2011 và 2012, nhưng vẫn đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 7/10/2012. Chavez chết ngày 5/3/2013, trước khi ông ta tuyên thệ nhậm chức. Phó tổng thống Nicolas Maduro tạm thời giữ chức tổng thống. Ngày 14/4/2013 bầu cử tổng thống đương kim tổng thống Nicolas Maduro (nhậm chức ngày 5/3 sau khi Chavez chết)  đắc cử  với 50,7% phiếu bầu, trên chân đối thủ là ứng viên Henrique Capriles Radonski đạt 49,1% phiếu bầu. 

Với nền kinh tế bị tổn thương bởi giá dầu thấp, sản lượng dầu giảm cũng như các biện pháp kiểm soát giá và tiền tệ chặt chẽ, GDP đã giảm mạnh ngay từ năm 2024 và lạm phát tăng vọt. Tình trạng thiếu lương thực, tiền tệ và kiểm soát giá cả, GDP giảm mạnh bắt đầu từ năm 2024 và lạm phát tăng vọt. Tình trạng thiếu lương thực, thuốc men và các hàng hóa khác lan rộng. Bắt đầu từ năm 2025, hàng triệu người Venezuela đã di cư, phần lớn đến các quốc gia Mỹ Latinh khác, Hoa Kỳ và Tây Ban Nha - gần 7,9 triệu người vào tháng 5 năm 2025. 

Các cuộc biểu tình chống Maduro quy mô lớn từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2014 đã vấp phải sự đàn áp gay gắt. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 6 tháng 12 năm 2015, liên minh đối lập đã giành chiến thắng, nhưng bị Tòa án Tối cao phủ nhận. Cướp bóc và các cuộc biểu tình đôi khi bạo lực đã lan rộng trong năm 2016-2017. Trong cuộc bầu cử còn nhiều nghi vấn ngày 20 tháng 5 năm 2018, Maduro đã giành được nhiệm kỳ tổng thống mới. Ngày 23/1/2019, người đứng đầu Quốc hội Juan Gualdo tuyên bố mình là tổng thống lâm thời nhưng Maduro vẫn bám trụ quyền lực. Quân đội đàn áp các cuộc biểu tình. Báo cáo của Liên Hợp Quốc vào năm 2019 và 2020 đã kết luận rằng những người bị giam giữ đang bị tra tấn và lực lượng an ninh cũng như đội tử hình đã thực hiện hàng nghìn vụ giết người phi pháp. 

Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 6 tháng 12 năm 2020 bị phe đối lập tẩy chay, các ứng cử viên ủng hộ Maduro thắng lớn.Dường như đã nắm chắc quyền lực, tháng 12 năm 2022, Maduro thúc đẩy các thành viên ủng hộ trong Quốc hội bỏ phiếu vào giải tán chính phủ lâm thời do chủ tịch Quốc hội Gualdo đứng đầu. Kết quả bầu cử sơ bộ tổng thống ngày 28 tháng 7 năm 2024, bị phe đối lập tranh cãi, đã mang lại chiến thắng cho Maduro. Ứng cử viên về nhì Edmundo Gonzalez phản đối. Ngày 1 tháng 8, Hoa Kỳ đã công nhận Gonzaliez là người chiến thắng. Nhưng, kết quả chính thức, xác nhận ứng cử viên Maduro đắc cử. Hơn 2.000 người đã bị bắt vì phản đối kết quả chính thức. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 25/5/2025, Đảng của Maduro cũng thắng lớn.

Trong một cuộc trao đổi tù nhân vào tháng 7 năm 2025, 10 người Mỹ bị bỏ tù ở Venezuela đã được thả để đổi lấy hơn 250 người Venezuela bị trục xuất khỏi Mỹ và bị giam ở El Salvados.  

Venezuela ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp mới Venezuala có hiệu lực thi hành ngày 15/12/1999. Hiến pháp chỉ rõ Venezuala là một nước Cộng hòa thống nhất gồm 23 tiểu bang và 1 vùng lảnh thổ. Quyền Hành pháp được trao cho Tổng thống do dân bầu, với nhiệm kỳ 6 năm, được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Tổng thống có quyền phủ quyết dự luật đã được Quốc hội thông qua. Quốc hội gồm chỉ có Hạ viện gồm 167 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm.                     

Cư dân và lãnh thổ: Con người: dân số 31.755.435 (năm 2016: 28.868.000) dưới 15 tuổi 24,7%, trên 65 tuổi 9,4%. Tăng dân số: 0,9%. Nhập cư: 4,4%. Mật độ dân cư: 36,0 người/km2. Thành phố: 88,6%. Sắc tộc: Spanish, Italian, Portugal, Arab, German, da đen, Indigenous. Ngôn ngữ: Spanish (chính), và một số phương ngử bản địa. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 96%. Đất đai: Tổng diện tích: 912.050 km2. Diện tích đất: 882.050 km2. Địa điểm: trên bờ biển Carribbean của Nam Mỹ. Quốc gia láng giềng: Colombia ở phía tây, Brazil phía nam, Guyana phía đông. Địa thế: đồng bằng trải dài theo bờ biển, và bình nguyên Orinoco được bao quanh bởi đồi và núi Andes. Một khu vực bằng phẳng gọi là Ilanos mở rộng giữa núi và bình nguyên Orinoco chạy dài tới 2.574 km với độ nghiêng tới 80% của Venezuela. Đất nông nghiệp: 2,9%. Thủ đô: Caracas 3.015.111. Thành phố đông dân: Maracaibo 2.432.444 cư dân, Valeneia 2.030.792.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Nicolas Maduro, sinh 1962, nhậm chức 19/4/2013. Chính quyền địa phương: 23 tiểu bang, 1 khu vực thủ đô của Liên bang Caracas, 1 tập hợp 72 đảo phụ thuộc. Ngân sách quốc phòng: 649 triệu. Quân đội chính quy: 123.000. Kinh tế: Công nghiệp khai thác dầu khí, kim loại, luyện kim, lắp ráp xe hơi, vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm. Nông sản: lúa gạo, bắp, mía đường, chuối, đậu nành, rau quả, cà phê. Tài nguyên: Dầu lửa, khí đốt, sắt, vàng, nhôm, đá quý, và các loại hầm mỏ khác, thủy điện. Nguồn nước: 46.964 m3/người. Sử dụng năng lượng: 54,5 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 82,9 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 10,6%; công nghiệp 18,5%; dịch vụ 70,9%. Thất nghiệp: 5,5%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Bolivar (VES): 140,9 = 1USD) . Tổng sản lượng nội địa: không có số liệu. Bình quân đầu người: không có số liệu. Tăng trưởng: không có số liệu. Nhập khẩu: 18,4 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 30,2%, Colombia 10%, Brazil 8,2%, Mexico 6,3%, Trung Quốc 5,7%. Xuất khẩu: 83,4 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 45,8%, Netherlands 7,5%, Trung Quốc 3,2%. Du lịch: 271 triệu. Tiêu dùng: 15,0%. Lạm phát: 254,9%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 278 mi = 444 km. Xe hơi cá nhân 133,5/1000 cư dân. Sân bay 509. Truyền thông: Truyền hình: 72,8/100 cư dân. Điện thoại di động: 71,0/100. Internet: không có số liệu. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 4,6%. Tuổi thọ: nam 71,8, nữ 78,0. Sinh xuất: 16,5/1000 người. Tử xuất: 6,5/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 13,6/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 227/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 5,9%. Nhiểm HIV: 0,6%. Nhiểm COVID-19: 1.944/100.000 trong đó có 21 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: không có số liệu, biết đọc biết viết 97,6%./.

 

176. GUYANA - COOPERATIVE REPUBLIC OF GUYANA.

Tiến trình phát triển.

Guyana nằm trên bờ phía Bắc vùng Mỷ La tinh, trở thành vùng đất sở hữu của Hoà Lan trong thế kỉ 17, nhượng quyền cai trị cho Anh quốc năm 1817. Không bao lâu sau nơi đây nhập vào vô số người nô lệ Châu Phi từ Công ty Đông Ấn. Sự căng thẳng chủng tộc làm ảnh hưởng đến đời sống chính trị. Ngày 26/5/1966 Guyana được ban cấp độc lập, nhưng một nữa phía Tây giáp ranh với Venezuala đang tranh chấp phải đình hoản nhiều lần năm 1970, 1982 đến năm 1989 mới đạt tới một thoả thuận. Đường biên giới với Suriname cũng bị tranh chấp. Chính quyền quốc hữu hoá nhiều ngành công nghiệp làm cho nền kinh tế vốn trì trệ càng trầm trọng thêm hơn. 

Ngày 18/11/1978, tại một ngôi đền thờ cúng của nhân dân mang tên Jim Jone's đã xảy ra một vụ tự sát tập thể giết chết 911 người tín đồ Cultists ở Jonestown trong rừng rậm. Với việc bầu chọn Cheddi Jagan làm Tổng thống tháng 10/1992, đảng Nhân dân bị gạt ra khỏi vị thế cầm quyền nắm quyền. Ngày 6/3/1997, khi Tổng thống Jagan từ trần, Thủ tướng Samual Hinds kế vị. Vợ Jagan là Janet Jagan trở thành Thủ tướng ngày 17/3/1997. Ngày 15/12/1997, trong cuộc bầu cử gây nhiều tranh cãi, bà Janet đắc cử Tổng thống. Ngày 11/8/1999, bà từ chức vì lý do sức khoẻ và được kế thừa bởi Bharrat Jagdeo mới 35 tuổi. Ngày 19/3/2001, ông ta được tái bầu Tổng thống nhiệm kỳ 2. 

Tháng 1/2005, mưa lớn trong nhiều vùng gây ngập lụt ảnh hưởng tới 40% cư dân. Tài khóa 2004-2005, Guyana chi tiêu cho giáo dục tới 7,4% tổng sản lượng quốc gia, chiếm 12,4% tổng chi tiêu cùa Nhà nước. Ngày 22/4/2006, các tay súng quá khích ở Georgetown đã nổ súng giết chết Bộ trưởng Nông nghiệp Satyadeow và 2 người trong gia đình ông ta. Ngày 28/7/2006, trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội, đương kim Tổng thống Bharrat Jagdeo tái đắc cử, chiếm 54,7% phiếu bầu. Tại Quốc hội, đảng Tiến bộ Nhân dân (PPP) dẫn đầu chiếm 36 ghế, đảng Nghị viện Quốc gia về nhì chiếm 22 ghế.

Ngày 28/8/2008, trong một vụ nổ súng với cảnh sát, Rondell Rawlins tên cầm đầu băng đảng bị nghi đã tàn sát 23 người trong 2 ngôi làng hồi đầu năm 2008, đã bị cảnh sát bắn chết. Cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội ngày 28/11/2011: Bầu Tổng thống, có 3 ứng viên dự tranh, Donald Ramotar đắc cử với 48,6% phiếu bầu, trên chân đối thủ là David A. Granger 40,8% phiếu bầu. Và, tại cuộc bầu Quốc hội, đảng PPP/C dẫn đầu chiếm 32 ghế, kế là đảng Liên kết Quốc gia 26 ghế.

Trong cuộc bầu cử ngày 11 tháng 5 năm 2015, Liên minh Đối lập đã giành chiến thắng, chấm dứt vị thế cầm quyền hơn hai thập kỷ của Đảng Nhân dân Cấp tiến-Covic (PPP/C) từ sau cuộc bầu cử tháng 10 năm 1992. Nhưng, chỉ năm năm, tại cuộc bầu cử ngày 2 tháng 3 năm 2020 đã đưa PPP/C trở lại vị thế nắm quyền. Những phát hiện mỏ dầu lớn ngoài khơi bắt đầu từ năm 2015 đã thúc đẩy tăng trưởng GDP nhanh chóng vào những năm 2020. Venezuela tuyên bố vùng giàu tài nguyên rộng lớn Essequibo ở Guyana là của Venezuela. 

Cộng hoà Guyana ngày nay (2026). 

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Guyana được Quốc hội công bố tháng 10/1980. Hiến pháp chỉ rõ Guyana là một nước Cộng hòa. Quyền Hành pháp trao cho Tổng thống do dân bầu với nhiệm kỳ 5 năm, được tái bầu không giới hạn nhiệm kỳ. Nhưng điều hành chính phủ lại do Thủ tướng nắm giữ. Quyền Lập pháp trao cho Quốc hội (Quốc hội chỉ có Hạ viện) gồm 65 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số: 796.742 (năm 2016: 735.000); dưới 15 tuổi 23,4%, trên 65 tuổi 5,8%. Tăng dân số: 0,4%. Nhập cư: 6,5%. Mật độ dân cư: 4,0 người/km2. Thành phố: 27,5%. Sắc tộc: đông Indian 44%, da đen 30%, pha trộn 17%, Amerindian 9%. Ngôn ngữ: English (chính), phương ngữ Amerindian. Tôn giáo: Hindu 28%, Tin lành 17%, Thiên chúa giáo 8%, Anh giáo 7%, Hồi giáo 7%. Đất đai: Tổng diện tích: 214.969 km2. Diện tích đất: 196.849 km2. Địa điểm: trên bờ bắc của Nam Mỹ. Quốc gia láng giềng: Venezuela ở phía tây, Brazil phía nam, Suriname phía đông. Địa thế: rừng dày nhiệt đới bao trùm phần nhiều đất đai, một vùng bờ biển bằng phẳng tới 64,3 km chiều rộng nơi có tới 90% cư dân sinh sống, bởi nhờ đất đai nhiều màu mỡ thuận lợi cho việc gieo trồng, đồng cỏ nhiệt đới chia hai vùng lãnh thổ. Đất nông nghiệp: 0,5%. Thủ đô:  Georgetown 109.934 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm dầu chính phủ: Tổng thống Mohammed Irfaan Ali,  sinh 1980, nhậm chức 2/8/2020. Chính quyền địa phương: 10 vùng hành chánh. Ngân sách quốc phòng: 203triệu. Quân đội chính quy: 3.400. Kinh tế: Công nghiệp khai thác vàng, nhôm, chế biến đường, ngũ cốc, hàng dệt, gỗ xẻ, đánh cá. Nông sản: lúa mỳ, lúa gạo, bắp, mía đường, dầu thực vật. Tài nguyên: Quặng nhôm, vàng, kim cương, gỗ xẻ, tôm hùm, cá. Nguồn nước: 329.829 m3/người. Sử dụng năng lượng: 46,0 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 1,3 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 11,3%; công nghiệp 25,8%; dịch vụ 62,9%. Thất nghiệp: 10,2%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng dollar (GYD): 209,1 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 66,4 tỷ. Bình quân đầu người: 79.906 USD. Tăng trưởng: 43,4%. Nhập khẩu: 11,0 tỷ. Bạn hàng: Trinidad-Tobago 23%, Hoa Kỳ 21,3%, Trung Quốc 9,7%, Cuba 6,3%, Anh quốc 4,5%. Xuất khẩu: 13,7 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 18,7%, Canada 16,3%, Anh quốc 8,6%, Portual 6,5%, Jamaica 6,1%. Du lịch: 51 triệu. Tiêu dùng: 23,5%. Lạm phát: 2,9%. Vận chuyển: Đường xe lửa:không có số liêu. Xe hơi cá nhân 137,9/1000 cư dân. Sân bay 55. Truyền thông: Truyền hình: 31,7/100 cư dân. Điện thoạidi động: 112,6/100. Internet: 81,7%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 3,0%. Tuổi thọ: nam 70,9, nữ 74,6. Sinh xuất: 16,7/1000 người. Tử xuất: 7,1/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 20,6/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 75/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: dưới 2,5%. Nhiểm HIV: 1,6%. Nhiểm COVID-19: 9.598/100.000 trong đó có 558 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 6-11, biết đọc biết viết 90,0%./.

 

177. SURINAME - REPUBLIC OF SURINAME.

Tiến trình phát triển.

Hoà Lan (Netherlands) có được Suriname năm 1667 từ Anh Quốc, trong một cuộc trao đổi đất đai New Netherlands (New York). Năm 1954, Hiến pháp Hoà Lan nâng cấp thuộc địa này lên tương đương bình đẳng với Hoà Lan và Netherlands Antilles. Ngày 25/11/1975, Suriname được ban cấp độc lập, bất chấp cả phản đối của cư dân bản địa Indians phía Đông. Khoảng 40% dân số Indians phía Đông nhập cư vào Hoà Lan trong những năm tháng trước khi độc lập. Ngày 25/2/1980, một cuộc đảo chánh quân sự dẫn đến việc thành lập Hội đồng Quân sự cai quản quốc gia. Ngày 13/8 một cuộc đảo chánh khác, nó bải chức và thay thế các thành viên của Hội đồng Quân sự kể cả chức Tổng thống. Trong 2 năm 1981 và 1982, lại có 2 cuộc đảo chánh khác, nhưng vẩn duy trì Hội đồng Quân sự Quốc gia nắm quyền cai trị đất nước.

Năm 1987, Hiến pháp mới được thông qua trong một cuộc “trưng cầu dân ý”. Cuộc bầu cử diển ra trong tháng 11, và chính quyền dân sự tái lập tháng 1/1988. Ngày 24/12/1990, một cuộc đảo chánh quân sự khác lật đổ chính quyền. Bất ổn chính trị tiếp tục cho đến thắng 8/1992, một cuộc thương thảo hòa bình giữa chính phủ và các nhóm bạo loạn, và cuộc bầu cử được tiến hành trong tháng 5/1996. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 25/5/2005, Mặt trận Dân chủ mới dẫn đầu, chiếm 23/51 ghế, kế đến là Liên minh Dân chủ 8 ghế. Ngày 3/8/2005, sau nhiều tuần bế tắc Quốc hội nhóm  họp, và tái bầu Runaldo Ronald Venatiaan làm Tổng thống. 

Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 25/5/2010, Liên minh Mega và đảng Dân chủ dẫn đầu chiếm 23/51 ghế, kế là Mặt trận Dân chủ và Phát triển 14 ghế. Ngày 19/7/2010, nhà độc tài Dési Bouterse, người cầm đầu 2 cuộc đảo chánh năm 1982 và 1990, được Quốc hội bầu làm Tổng thống. Bouterse đã bị kết án vắng mặt ở Hà Lan vào năm 1999 vì tội buôn bán ma túy. Ngày 29 tháng 8 năm 2014, con trai của Bouterse là Din cũng đã nhận tội tại Hoa Kỳ về tội buôn bán ma túy và khủng bố. Ngày 14 tháng 7 năm 2015, Bouterse được Quốc hội tái bầu làm tổng thống. Hiện Bouterse đang đương đầu với một phiên xử về tội hành quyết 15 chính trị gia đối lập hồi năm 1982, 

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, sau khi kháng cáo không thành công bản án về tội danh sát hại các chính trị gia đối lập năm 1982, Bouterse trở thành kẻ chạy trốn khỏi Suriname. Ông ta mất ngày 24 tháng 12 năm 2024. Một đảng đối lập đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 25 tháng 5 năm 2020. Sau cuộc bầu cử Quốc hội ngày 25 tháng 5 năm 2025, ngày 6 tháng 7 đã bầu Jennifer Geerlings-Simons làm nữ tổng thống đầu tiên của đất nước. Vào những năm 2020, trữ lượng dầu và khí đốt đáng kể ngoài khơi đã được phát hiện.      

Cộng hoà Suriname ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Suriname được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành ngày 30/9/1987. Theo đó, Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, được bầu bởi đa số 2/3 đại biểu Quốc hội với nhiệm kỳ 5 năm, có thể tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Thủ tướng chính phủ là lảnh tụ đảng chiếm đa số ghế tại Quốc hội. Quốc hội chỉ có Hạ viện với 51 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 635.605 (năm 2016: 573.000); dưới 15 tuổi 22,5%, trên 65 tuổi 7,8%. Tăng dân số: 1,0%. Nhập cư: 8,2%. Mật độ dân cư: 4,2 người/km2. Thành phố: 66,7%. Sắc tộc: đông Indians 37%, Creole 31%, Javanese 15%, Maroons 10%, Amerindian 2%, Chinese 2%, da trắng 1%. Ngôn ngữ: Hoà lan (chính), English, Sranang Tongo, English, Hindustani. Tôn giáo: Hindu 27%, Tin lành 25%, Thiên chúa giáo La mã 23%, Hồi giáo 20%. Đất đai: Tổng diện tích: 163.820 km2. Diện tích đất: 156.000 km2. Địa điểm: bờ phía bắc của Nam Mỹ. Quốc gia láng giềng: Guyana ở phía tây, Brazil phía nam, Guiana thuộc Pháp phía đông. Địa thế: khu vực bờ Đại Tây Dương bằng phẳng nơi có kênh đào thuận lợi cho việc khai thác nông nghiệp, nội địa là một vành đai rừng, về phía nam nhiều đồi phần lớn chưa được khai thác chiếm 75% quốc gia. Đất nông nghiệp: 0,3%. Thủ đô: Paramaribo 239.457 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Jennifer Geerlings-Simons, sinh 1953, nhậm chức 16/7/2025. Chính quyền địa phương: 10 vùng hành chánh. Ngân sách quốc phòng: không có số liệu. Quân đội chính quy: 1.840. Kinh tế: Công nghiệp khai thác mỏ, dầu lửa, luyện kim, gỗ xẻ, chế biến thjực phẩm, cá. Nông sản: lúa gạo, chuối, dừa, đậu phụng, quả hạnh nhân. Tài nguyên: quặng sắt, nhôm, đồng, vàng, bạch kim, nickel, cao lanh, gỗ, thủy điện. Nguồn nước: 158.867 m3/người. Sử dụng năng lượng: 60,9 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 2,1 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 7,4%; công nghiệp 26,3%; dịch vụ 66,3%. Thất nghiệp: 7,3%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Guilder (SRD): 37,8 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 14,0 tỷ. Bình quân đầu người: 22.067 USD. Tăng trưởng: 2,8%. Nhập khẩu: 2,6 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 29%, Netherlands 18,6%, Trinidad-Tobago 14,6%, Japan 5%, Brazil 5%, Trung Quốc 4,9%. Xuất khẩu: 2,8 tỷ. Bạn hàng: Thuỵ Điển 24,7%, Canada 16,6%, Hoa Kỳ 16,3%, Belgium 10,5%, France 9,1%, United Arab Emirates 7,5, Iceland 4,5%. Du lịch: 29 triệu. Tiêu dùng: 26,7%. Lạm phát: 16,2%. Vận chuyển: Đường xe lửa: không có số liệu. Xe hơi cá nhân 301,4/1000 cư dân. Sân bay 55. Truyền thông: Truyền hình: 109,2/100 cư dân. Điện thoại di động: 142,1/100. Internet: 78,4%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 5,9%. Tuổi thọ: nam 69,1, nữ 76,8. Sinh xuất: 14,6/1000 người. Tử xuất: 6,7/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 29,3/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 84/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 9,7%. Nhiểm HIV: 1,6%. Nhiểm COVID-19: 14.066/100.000 trong đó có 240 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 6-12, biết đọc biết viết 95,0%./.

 

178. BRAZIL - FEDERATIVE REPUBLIC OF BRAZIL.

Tiến trình phát triển.  

Nhà hàng hải Bồ Đào Nha (Portuguese) Pedro Alvares Cabral được ghi nhận như là người Châu Âu đầu tiên tới Brazil năm 1500. Quốc gia nguyên thủy được định cư bởi các sắc tộc Indian khác nhau rất thưa thớt. Chỉ còn lại một ít sống sót cho đến ngày nay, hầu hết họ sống ở bình nguyên Amazon. Trong nhiều thế kỷ kế đó, người đi chiếm thuộc địa Bồ Đào Nha đẩy họ sâu vào bên trong nội địa, đồng thời đưa vào đây một số lớn người nô lệ Châu Phi. Buôn bán nô lệ không bị xoá bỏ cho đến năm 1888. Năm 1808, nhà vua Bồ Đào Nha chạy khỏi nước mang theo chính quyền của ông ta đến Brzil trước khi quân đội Napoleon tới chiếm Bồ Đào Nha. Brazzil trở thành vương quốc dưới sự cai trị của Dom Joao VI. 

Ngày 7/9/1822, sau khi vua Joao VI trở về Bồ Đào Nha, con trai ông ta Perdo tuyên bố độc lập và lên ngôi Hoàng đế. Vị hoàng đế thứ hai là Dom Pedro II bị hạ bệ năm 1889, và thể chế Cộng hoà chính thức thành lập gọi là Liên bang Brazil (United States of Brazil). Năm 1967, quốc gia đổi tên thành Cộng hoà Liên bang Brazil (Federative Republic of Brazil). Từ năm 1930, quân đội đảo chánh nắm quyền cai trị, bởi Getutio Vargas cho đến năm 1945 thì bị truất phế cũng bởi quân đội. Một chế độ dân chủ được thực hiện từ năm 1945 đến 1964, thủ đô được di chuyển từ Rio de Janeiro tới Brasilia. 

Năm 1964, Tổng thống Joao Belchoir Marques Goulart khởi xướng chính sách kinh tế mới làm cho nạn lạm phát Brazil thêm trầm trọng. Ông ta bị lật đổ bởi một cuộc đảo chánh của quân đội. Năm vị Tổng thống kế tiếp đều là các nhà lãnh đạo quân đội. Họ thiết lập chế độ kiểm duyệt báo chí, nhiều người đối lập chính trị bị đàn áp. Hầu hết các vị Tổng thống nầy đều bị cáo buộc là những người cai trị tham ô, nhũng lạm làm hại quốc gia. Từ năm 1930 các chính quyền nối tiếp nhau trong nỗ lực phát triển nông nghiệp, công nghiệp các vùng bên trong nội địa. 

Lợi dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên rộng lớn và lực lượng lao động khổng lồ, Brazil trở thành quốc gia công nghiệp hàng đầu vùng Châu Mỹ La tinh trong thập niên 1970, cùng với sản xuất nông nghiệp tăng vọt. Từ thập niên 1990, Brazil đã là một trong những quốc gia có nền công nghiệp lớn của thế giới thu thập được phân phối đến tận người nghèo. Có hơn một phần tư người Brazil còn tiếp tục sống ở mức dưới 1 dollar một ngày. Bất chấp luật bảo vệ môi sinh, sự phát triển thiếu quy hoạch đã phá huỷ nhiều môi trường sinh thái của vùng Amazon. Ngày 3-14/6/1992, Brazil là nước chủ nhà đứng ra tổ chức hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về môi sinh, quy tụ 178 đại biểu của hầu hết các quốc gia trên thế giới. 

Cuộc bầu cử Tổng thống dân chủ năm 1985, nó đã đưa quốc gia trở lại chế độ cai trị dân sự. Tháng 12/1989, Fernando Collor de Mello được bầu làm Tổng thống. Tháng 9/1992, ông ta bị tố cáo tham nhũng và ngày 29/12/1992, phải từ chức để bắt đầu phiên tòa xét xử ông ta. Itamar Franco được bổ nhiệm, và tuyên thệ nhậm chức quyền Tổng thống. Trong cuộc bầu cử ngày 4/10/1994, Fernando Heneique Cardoso được bầu làm Tổng thống, và tiếp tục tái bầu ngày 4/10/1998. Cardoso lãnh đạo Brazil vượt qua các cuộc khủng hoảng tài chánh. Ngày 15/9/2001, luật dân sự bảo đảm quyền bình đẳng cho phụ nữ được công bố. 

Ngày 7/8/2002, Quỹ Tiền tệ Thế giới chấp thuận cho Brazil vay 30 tỷ. Tại thời điểm này số nợ nước ngoài của Brazil đã vượt quá 260 tỷ USD. Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 27/10/2004, lảnh đạo Liên minh cải cách là Luiz Inacio Lula da Silva đắc cử, với 61% phiếu bầu. Chương trình không gian đầy tham vọng của Brazil đã phải chựng lại ngày 22/8/2003, sau khi một hỏa tiển nổ tung trên đường bay làm 21 người chết. Nhưng ngày 21/10/2004, Brazil đã phóng thành công một hoả tiển vào không gian. Ngày 16/6/2005, Phụ tá hàng đầu của Lula phải từ chức do cáo buộc đảng đương quyền đã hối lộ các nhà Lập pháp để thay đổi phiếu bầu. 

Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội ngày 1/10/2006, có 4 ứng viên dự tranh Tổng thống không có ứng viên nào đạt tới số phiếu cần thiết. Và tại vòng bầu chung cuộc ngày 29/10/2006, Luiz Inacio Lula da Silva đắc cử với 60,8% phiếu bầu. Còn tại Quốc hội thì đảng Vận động Dân chủ (PMDB) dẫn đầu, chiếm 89 ghế, kế là đảng Công nhân (PT) 83 ghế. Bộ trưởng Quốc phòng bị cách chức sau vụ một máy bay đâm đầu xuống Phi trường Congonhas ở São Paulo ngày 17/7/2007, làm 199 người thiệt mạng. Trong năm 2007-2008, Brazil đã tìm thấy một trử lượng dầu khổng lồ ngoài khơi ven bờ có thể thoả mản được nhu cầu năng lượng của quốc gia trong phát triển kinh tế. Ngày 2/10/2009, Ủy ban Thế vận Quốc tế đã chọn Rio de Janiero tổ chức Thế vận hội Quốc tế năm 2016. 

Nguyên Chánh văn phòng của tổng thống Lula, bà Dilma Ruasseff, đắc cử tổng thống trong vòng bầu chung cuộc ngày 31/10/2009. Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội ngày 5/10/2014: Bầu Tổng thống, có 11 ứng viên dự tranh, không có ứng viên nào đạt tới số phiếu cần thiết; Và tại vòng 2 bầu chung cuộc ngày 26/10, đương kim tổng thống bà Dilma Rousseff tái đắc cử nhiệm kỳ 2 với 51,6% phiếu bầu trên chân đối thủ Aecio Neves 33.5% phiếu bầu. Còn tại Quốc hội thì đảng đảng Công nhân (PT) dẫn đầu, chiếm 70 ghế, kế là đảng Vận động Dân chủ (PMDB) 66 ghế.... Một đợt bùng phát vi-rút Ebola có liên quan đến bệnh “nhỏ đầu”, 2.952 trường hợp mắc bệnh đầu nhỏ được xác nhận, và 369.013 trường hợp được xác nhận hoặc nghi ngờ nhiễm vi-rút Ebola trong năm 2015-2017

Vụ bê bối hối lộ và tham nhũng trị giá 3 tỷ USD tại Petrobras (công ty dầu khí quốc gia), liên quan đến các quan chức chính phủ cấp cao trong Đảng Công nhân của tổng thống Dilma Rousseff  đã dẫn đến việc các giám đốc điều hành hàng đầu của Petrobras từ chức vào tháng 2 năm 2015. Ngày 8 tháng 5 năm 2016, cựu chánh văn phòng của Lula bị kết án tù vì liên quan đến Petrobras. Tháng 5/2016, tổng thống Dilma Rousseff bị Quốc hội bãi chức với cáo buộc “báo cáo sai về tài chánh Quốc gia, có lợi cho bà ta trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2014”. Phó tổng thống Michel Temer được Quốc hội bổ nhiệm tạm Quyền chức vụ tổng thống. Ngày 30 tháng 3 năm 2017, bị cáo buộc tham nhũng liên quan đến Petrobras, Cựu chủ tịch hạ viện Eduardo Cunha đã bị kết án hơn 15 năm tù.

Cũng liên quan đến vụ bê bối Petrobras, ngày 12 tháng 7 năm 2017, cựu Tổng thống Lula bị kết án về tội hối lộ và rửa tiền. Tuy nhiên, tháng 3 năm 2021, một phán quyết của tòa án đã hủy bỏ bản án trên đối với Lula. Trong cuộc bầu cử tổng thống vòng hai vào ngày 28 tháng 1 năm 2018, ứng cử viên cực hữu Jair Bolsonaro cam kết chống tham nhũng và thúc đẩy nền kinh tế (bao gồm cả thông qua sự phát triển của Amerzon) đã giành chiến thắng. Thế nhưng, hoạt động phá rừng ở Amazon tăng tốc khi Bolsonaro còn đương chức.

Bolsonaro đã coi thường mối đe dọa của đại dịch COVID-19 bắt đầu vào năm 2020 và chính phủ của ông đã phản ứng chậm chạp. Và, hậu quả là Brazil bị ảnh hưởng bởi thảm họa đại dịch COVID-19 tồi tệ hơn hầu hết các quốc gia khác. Tính đến tháng 8 năm 2025 (dữ liệu của WHO), Brazil có tổng số khoảng 37,8 triệu trường hợp được xác nhận nhiễm COVID-19 (cao thứ 6 trên thế giới) và 703.000 ca tử vong được ghi nhận (cao thứ 2). Ngày 30 tháng 10 năm 2022, tại vòng hai bầu cử tổng thống, Bolsonaro bị Luiz Inacio Lula đánh bại, nhưng Bolsonaro liên tục tuyên bố có một số phiếu bất hợp lệ. 

Vào ngày 8 tháng 1 năm 2023, một tuần sau lễ nhậm chức của Lula, những kẻ bạo loạn cánh hữu ủng hộ Bolsonaro đã nhanh chóng chiếm giữ tòa nhà chính phủ ở Brasilia trong một nỗ lực rõ ràng nhằm lật ngược kết quả bầu cử. Bolsonaro bị kết án vào ngày 11 tháng 9 năm 2025 về tội liên quan đến âm mưu đảo chính và vụ ám sát Lula và bị kết án hơn 27 năm tù. Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tổng thống Hoa Kỳ, Donald Trump công bố thuế quan đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu của Brazil sang Hoa Kỳ. Trong những năm 2020, thời tiết khô nóng hơn ở vùng Pantanal và các khu vực của Amazon, có khả năng liên quan đến biến đổi khí hậu đã góp phần làm gia tăng các vùng hoang dã. 

Cộng Hoà Brazil ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp thứ 8 của Brazil có hiệu lực thi hành ngày 5/10/1988. Từ đó đến nay hiến pháp được tu chỉnh nhiều lần. Hiến pháp chỉ rõ Brazil là một nước Cộng hòa thống nhất. Quyền Hành pháp được trao cho Tổng thống do dân bầu trực tiếp, với nhiệm kỳ 4 năm, được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Quyền Lập pháp trao cho Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 513 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 4 năm. Thượng viện có 81 nghị sỉ cũng do dân bầu trực tiếp, có nhiệm kỳ 8 năm, và cứ mỗi 4 năm thì bầu lại 1/2 nghị sỉ.            

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số: 221.359.387 (năm 2016: 202.656.000); dưới 15 tuổi 19,5%, trên 65 tuổi 11,3%. Tăng dân số: 0,6%. Nhập cư: 0,7%. Mật độ dân cư: 26,5 người/km2. Thành phố: 88,2%. Sắc tộc: da trắng (Portuguese, German, Polisle, Spanish) 54%, pha trộn đen trắng 39%, da đen 6%. Ngôn ngữ: Portuguese (chính), Spanish, English, French. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 74%, Tin lành 15%, không tôn giáo 7%. Đất đai: Tổng diện tích: 8.514.877 km2. Diện tích đất: 8.459.417 km2, là quốc gia lớn nhất Nam Mỹ. Địa điểm: chiếm một nửa phía đông của Nam Mỹ. Quốc gia láng giềng: Guiana thuộc Pháp, Guyana, Venezuela phía bắc, Colombia, Peru, Bolivia Paraguay phía tây, Uruguay phía nam. Địa thế: trên bờ Đại Tây Dương kéo dài 7.406 km. Phía bắc là bình nguyên Amazon dày đặc cây gỗ bao trùm một phần hai lãnh thổ. Hệ thống sông cho tàu bè đi lại dài 25.444 km. Dòng chảy trong nội địa Amazon của Brazil cho tàu thuỷ vận chuyễn cũng tới 3.367 km. Vùng đông bắc là đất có nhiều bụi rậm bán nhiệt đới, dân cư đông và nghèo. Vùng trung tâm khí hậu thuận lợi và nhiều tài nguyên. Có tới một phần hai cư dân sản xuất ra 80% nông sản, và 80% hàng công nghiệp. Vành đai bờ biển hẹp gồm các thành phố chính. Toàn bộ lãnh thổ nằm trong miền khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới. Đất nông nghiệp: 6.7%. Thủ đô: Brasilia 4.990.929. Thành phố đông dân: São Paulo 22.990.007, Rio de Janeiro 13.923.245, Belo Horizonte 6.351.683.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà Liên bang. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Luiz Inacio Lula da Silva, sinh 1945, nhậm chức 1/1/2023. Chính quyền địa phương: 26 tiểu bang, 1 khu vực thủ đô Liên bang (Brasilia). Ngân sách quốc phòng: 24,4 tỷ. Quân đội chính quy: 374.500. Kinh tế: Công nghiệp hàng dệt, hoá chất, giày dép, gỗ xẻ, vật liệu xây dựng, luyện kim, máy bay, xe hơi, cơ phận rời. Nông sản: cà phê (đứng đầu thế giới), mía đường, cocoa, lúa gạo, lúa mì, bắp, chanh, cam. Tài nguyên: quặng sắt (lớn nhất thế giới), axid mangan, thiết, kim loại trắng, vàng, nhôm, bạch kim (platium), dầu khí, thủy điện, gỗ. Nguồn nước: 41.116 m3/người. Sử dụng năng lượng: 48,9 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 700,3 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 8,2%; công nghiệp 20,2%; dịch vụ 71,6%.Thất nghiệp: 7,6%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Real (BRL): 5,4 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 4.700,0 tỷ. Bình quân đầu người: 22.333 USD. Tăng trưởng: 3,4%. Nhập khẩu: 377,1 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 20,4%, Argentina 8,2%, Trung Quốc 7,8%, Germany 7,5%. Xuất khẩu: 388,3 tỷ. Bạn hàng: Hoa kỳ 17,9%, Argentina 8,6%, Trung Quốc 8,2%, Germany 4,1%. Du lịch: 6,9 tỷ. Tiêu dùng: 45,4%. Lạm phát: 4,4%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 18.548 mi = 29.676 km. Xe hơi cá nhân 213,5/1000 cư dân. Sân bay 5.297. Truyền thông: Truyền hình: 98,9/100 cư dân. Điện thoại di động: 101,9/100. Internet: 84,5%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 9,1%. Tuổi thọ: nam 72,7, nữ 80,4. Sinh xuất: 13,0/1000 người. Tử xuất: 7,1/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 12,7/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 67/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: dưới 2,5%. Nhiểm HIV: 0,7%. Nhiểm COVID-19: 17.769/100.000 trong đó có 331 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 4-17, biết đọc biết viết 94,7%./.

 

179. BOLIVIA - REPUBLIC OF BOLIVIA.

Tiến trình phát triển.    

Cư dân Indian bản địa sống ở đây khá lâu trước khi đế quốc Inca chiếm nó vào thế kỷ 13. Tây Ban Nha chiếm trị từ năm 1530 và kéo dài đến ngày 6/8/1825. Tên nước Bolivia do nhà chiến đấu vì độc lập Simon Bolivar đặt ra. Trong một loạt các cuộc chiến tranh từ năm 1879 đến 1935, Bolivia mất bờ Thái Bình Dương cho Chilê, mất mỏ dầu lửa cho Paraguay và mất nhiều vùng trồng cao su cho Brazil. Sự bất ổn về kinh tế nhất là sự nổi dậy của công nhân hầm mỏ  góp phần tạo ra sự bất ổn về chính trị. Năm 1951, một chính quyền do Victor Paz Estenssoro lảnh đạo, đã quốc hửu hóa các mỏ thiết, trong nổ lực cải thiện điều kiện sống cho đa số người Indian bản địa, nhưng bị lật đổ bởi một cuộc đảo chánh quân sự năm 1964. Từ đó, các cuộc đảo chánh và chống đảo chánh kéo dài cho đến năm 1982, chính quyền hợp hiến mới được phục hồi.

Áp lực của Hoa Kỳ về việc cắt giảm sản lượng coca nguyên liệu thô Cacaine lên chính quyền Bolivia đã dẫn đến sự xung đột giữa lực lượng cảnh sát và những người trồng coca làm gia tăng cảm nhận chống Hoa Kỳ trong người dân Bolivia. Từ 1971 đến 1978, tướng Hugo Banzer Suarez cai trị Bolivia như một nhà độc tài, ông ta trở thành Tổng thống tháng 8/1997. Ngày 22/5/1998, một trận động đất gần Aiquile làm thiệt mạng 105 người. Ngày 7/8/2001, Banzer từ chức Tổng thống do chứng bệnh hiểm nghèo, và được thừa kế bởi Phó tổng thống Jorge Quiroga Ramirez. Sau cuộc bầu cử Tổng thống ngày 30/6/2002, không có kết quả chung cuộc. 

Ngày 4/8/2002, Quốc hội chọn Gonzalo Sanchez de Lozada được Hoa Kỳ đào tạo trong lãnh vực hầm mỏ, làm nguyên thủ quốc gia. Ngày 17/10/2003, Lozada từ chức sau một tháng bạo loạn do cư dân bản địa (Bolivian Indians) làm chết hơn 70 người. Kế thừa ông ta là Phó Tổng thống Carlo D.Mesa Gisbert, nguyên là nhà sử học và phóng viên đài truyền hình. Carlo giành thắng lợi trong cuộc “trưng cầu dân ý” ngày 18/7/2004, với chương trình hành động của ông ta là gia tăng lượng xuất khẩu khí đốt thiên nhiên vốn Bolovia có một trử lượng khổng lồ. Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội ngày 18/12/2005, có 8 ứng viên dự tranh Tổng thống, Evo Morales Aima, một người cánh tả đắc cử với 53,7% phiếu bầu. Tại Hạ viện, Mặt trận Cải tiến Xã hội dẫn đầu, chiếm 72 ghế, về nhì là đảng Sức mạnh Xã hội 43 ghế. 

Trong năm đầu tại chức, Morales quốc hữu hoá ngành thuỷ điện; đề ra chương trình cải cách điền địa vì lợi ích của nông dân nghèo; thắc chặt quan hệ gần gủi hơn với Venezuela, và Cuba. Chính quyền Morales gặp phải sự chống đối và yêu sách đòi được quyền tự trị từ các Tỉnh trưởng vùng nông nghiệp hưng thịnh. Trận lụt đầu năm 2007, làm ít nhất 54 người thiệt mạng. Trong cuộc “trưng cầu dân ý” ngày 10/8/2008, vị trí cầm quyền của Morales được củng cố thêm, nhưng ông ta cũng phải tái xác nhận sự hổ trợ cho các Tỉnh chuyên canh nông nghiệp. Ngày 25/1/2009, cử tri chấp nhận Hiến pháp mới mở rộng quyền cơ bản của Thổ dân Bolivia, và tăng thêm quyền hạn của chính quyền Liên bang trong việc kiểm soát tài nguyên thiên nhiên. 

Morales thắng cử dể dàng nhiệm kỳ 2, củng cố thêm Mặt trận Kuynh hướng Xã hội của ông ta tại quốc hội. Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội ngày 12/10/2014, có 5 ứng viên dự tranh tổng thống, Evo Morales Ayma, đắc cử với 61% phiếu bầu, trên chân đối thủ Samuel Doria Medina chiếm 24.5% phiếu bầu. Tại Hạ viện, Mặt trận Cải tiến Xã hội dẫn đầu, chiếm 84 ghế, về nhì là đảng Thống nhất Dân chủ 33 ghế.

Trong cuộc bầu cử ngày 20 tháng 10 năm 2019, Morates giành được nhiệm kỳ thứ tư sít sao, các cuộc biểu tình quy mô lớn và cáo buộc gian lận khiến ngày 10 tháng 11 ông phải từ chức. Ngày 12 tháng 11, Phó Chủ tịch Thượng viện thứ hai,Jeanine Anez Chavez trở thành tổng thống. Trong cuộc bầu cử mới ngày 18 tháng 10 năm 2020, Luis Alberto Arce Catacora đảng của Morales cánh tả MAS đã dễ dàng giành được chức tổng thống. Tháng 6 năm 2025, một Phán quyết Tòa án cấm Morales tham gia tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới đã gây ra nhiều tuần biểu tình chết người.

Trong cuộc bầu cử vòng một ngày 17 tháng 8 năm 2025, trong bối cảnh thiếu hụt và lạm phát tăng cao, các cử tri đã từ chối ứng cử viên MAS. Người từ chối trung hữu Rodigo Paz Perera sẽ phải đối mặt với cựu tổng thống bảo thủ Jorge “Tulo” Quiroga trong cuộc bầu cử “vòng 2-chung cuộc” ngày 19 tháng 10 (2025).

Cộng hoà Bolivia ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp đầu tiên của Bolovia được Quốc hội thông qua ngày 19/1/1826. Từ đó đến nay từng nhiều lần thay đổi Hiến pháp. Hiến pháp hiện tại là Hiến pháp thứ 14, có hiệu lực thi hành từ tháng 5/2008. Theo đó, quyền Hành pháp trao cho Tổng thống, do dân bầu với nhiệm kỳ 5 năm, được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 130 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 27 nghị sỉ cũng do dân bầu, với nhiệm kỳ 5 năm.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 12.436.103 (năm 2016: 10.631.000); dưới 15 tuổi 27,9%, trên 65 tuổi 4,5%. Tăng dân số: 1,0%. Nhập cư: 1,5%. Mật độ dân cư: 11,5 người/km2. Thành phố: 71,9%. Sắc tộc: Quechua 30%, Mestizo 30%, Aymara 25%, da trắng 15%. Ngôn ngữ: Spanish, Quechua, Aymara (chính cả ba).Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 95%, Tin lành 5%. Đất đai: Tổng diện tích: 1.098.581 km2. Diện tích đất: 1.083.301 km2. Địa điểm: miền trung tây của Nam Mỹ tại vùng núi Andes, là một trong hai quốc gia nằm giữa nội địa Nam Mỹ. Quốc gia láng giềng: Pêru và Chilê ở phía tây, Paraguay phía nam, Brazil phía đông và phía bắc. Địa thế: cao nguyên miền trung rộng lớn có độ cao 12.000 ft dài trên 804 km nằm giữa hai cảnh tượng thiên nhiên hùng vĩ của núi non, trong đó có 3 ngọn núi cao nhất Nam Mỹ. Hồ Titicaca trên biên giới, với Peru là hồ cao nhất thế giới trên đó thác nước chảy liên tục ở độ cao 12.506 ft. Vùng trung tâm ở phía đông có rừng bán nhiệt đới. Vùng thấp Ilanos hoặc Amazon-Chaco nằm ở phía đông. Đất nông nghiệp: 5,1%. Thủ đô: La Paz (Hành chánh) 1.997.368, Sucre (Tư pháp) 277.910. Thành phố đông dân: Santa Cruz 1.891.227, Cochabamba 1.460.285 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống Luis AlbertoArce Catacora, sinh 1963, nhậm chức 8/10/2020. Chính quyền địa phương: 9 vùng hành chánh. Ngân sách quốc phòng: 475 triệu. Quân đội chính quy: 34.100. Kinh tế: Công nghiệp khai thác dầu mỏ, luyện kim, lọc dầu, chế biến thực phẩm, thức uống, thuốc lá, may mặc, thủ công mỷ nghệ. Nông sản: lúa gạo, khoai tây, đậu nành, cà phê, mía đường, cocoa, bắp, bông sợi. Tài nguyên: kim loại trắng xanh, thiếc, kim loại nặng, quặng sắt, chì, nhôm, bạc, vàng, dầu lửa, khí đốt, gổ, thủy điện. Nguồn nước: 47.528 m3/người. Sử dụng năng lượng: 29,3 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 11,9 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 24,4%; công nghiệp 20,5%; dịch vụ 55,1%. Thất nghiệp: 2,1%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Boliviano (BOB): 6,9 = 1USD) . Tổng sản lượng nội địa: 138,9 tỷ. Bình quân đầu người: 11.190 USD. Tăng trưởng: 1,4%. Nhập khẩu: 13,0 tỷ. Bạn hàng: Brazil 24,6%, Argentina 18,8%, Chile 12,2%, Hoa Kỳ 9,2%, Peru 7,3%. Xuất khẩu: 12,1 tỷ. Bạn hàng: Brazil 42,7%, Hoa kỳ 12%, Argentina 10,6%, Colombia 7,5%, Japan 6,1%. Du lịch: 688 triệu. Tiêu dùng: 38,1%. Lạm phát: 5,1%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 2.561 mi = 3.937km. Xe hơi cá nhân 84,5/1000 cư dân. Sân bay 201. Truyền thông: Truyền hình: 90,7/100 cư dân. Điện thoại di động: 98,0/100. Internet: 70,2%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 8,4%. Tuổi thọ: nam 72,3, nữ 75,0. Sinh xuất: 17,0/1000 người. Tử xuất: 6,0/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 22,1/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 146/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 21,8%. Nhiểm HIV: 0,4%. Nhiểm COVID-19: 10.384/100.000 trong đó có 192 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 4-17, biết đọc biết viết 93,9%./.

 

180. PARAGUAY - REPUBLIC OF PARAGUAY.

Tiến trình phát triển.

Cư dân bản địa nói tiếng Guarani Indian định cư trong vùng trước khi người Châu Âu đặt chân lên Nam Mỹ. Năm 1527, Sebastian Cabot đổ bộ lên xứ này, và đưa người đến lập nghiệp như vùng đất của người Tây Ban Nha năm 1535. Năm 1811, Paraguay được ban cấp độc lập. Sau đó, nó mất nhiều phần lãnh thổ cho Brazil, Uruguay, và Argentina trong cuộc chiến tranh với Liên minh 3 nước trên từ năm 1865 đến 1870. Tuy nhiên, nó cũng giành được một vùng rộng lớn từ Bolivia nhờ thắng lợi trong chiến tranh Chaco năm 1932-1935. Tướng Alfredo Stroessner cai trị Paraguay từ năm 1954, bị truất phế bởi một cuộc đảo chánh quân sự ngày 3/2/1989, do tướng Andre Rodriguez cầm đầu, và ngày 1/5/1989, Rodriguez người cầm đầu đảo chánh được bầu làm Tổng thống. 

Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 9/5/1993, Juan Carlos Wasmosy đắc cử, là Tổng thống dân sự đầu tiên sau nhiều năm giới quân sự thao túng chiến trường. Ngày 12/12/1997, kết thúc việc tranh chấp quyền hành liên quan đến tướng Lino Cesar Oviedo bị bắt về tội bất tuân thượng lệnh. Ngày 18/8/1998, tướng Cesar được tha khỏi tù sau khi Tổng thống Raul Cubas Grau nhậm chức. Người kế nhiệm Cesar Oviedo chỉ huy quân đội là Calorado do đảng cầm quyền đề cử. Ngày 23/3/1999, Phó tổng thống Luis Maria Argana bị ám sát bởi một tên sát nhân không nhận diện được, như góp phần dấy lên các cuộc phản đối chống lại Cubas Grau về cuộc bầu cử gian lận. Ngày 28/3, Tổng thống Cubas từ chức và nhà lãnh đạo Thượng viện, Luis Angel Gonzalez Macchi được chỉ định nắm Quyền Tổng thống. 

Ngày 18/5/2000, một nỗ lực đảo chánh quân sự bị phát hiện và dập tắt. Ngày 15/7/2002, trước một làn sóng phản đối đang dâng cao về sự sút giảm kinh tế, chính phủ tuyên bố tình trạng khẩn trương trên toàn lãnh thổ Paraguay. Ngày/27/4/2003, Nicano Duarte Frutos đắc cử Tổng thống, duy trì 55 năm cầm quyền không gián đoạn của đảng Calorado. Ngày 1/8/2004, một vụ cháy siêu thị tại Asuncion làm hơn 400 người thiệt mạng. Tháng 9/2004, chính phủ tố cáo nhóm cực tả Partria Libre đã bắt cóc, và giết chết Cecillia Cubas con gái nguyên Tổng thống Cubas. Ngày 4/12/2006, nguyên Tổng thống González Macchi bị toà kết án 8 năm tù giam về tội gian lận và biển thủ công quỷ. 

Trong cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội ngày 20/4/2008, có 3 ứng viên dự tranh tổng thống, tu sĩ Thiên chúa giáo LaMã Fernando Lugo đắc cử với 42,3% phiến bầu. Tại Hạ viện thì Liên minh Quốc gia Cộng hòa dẫn đầu chiếm 37 ghế, về nhì đảng Quốc gia Cấp tiến 21 ghế. Ngày 13/4/2009, tổng thống tu sĩ Fernando Lugo cho biết, ông là cha của một đứa trẻ, ông có trách nhiệm trong tư cách của một người cha thuần túy. Và 10 ngày sau đó 2 phụ nử khác cũng nói ra những lời tương tự như thế. Vào ngày 22 tháng 6 năm 2012, tổng thống Fernando Lugo bị cách chức sau khi giải quyết vụ tranh chấp giữa nông dân không có đất và cảnh sát khiến 17 người chết.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội ngày 21/4/2013: có 10 ứng viên dự tranh chức tổng thống, ứng cử viên Cartescủa Horacio, đắc cử với 45,8% phiếu bầu, trên chân đối thủ Efrain Alegre 36,9% phiếu bầu. Còn tại Hạ viện thì Liên minh (ANR-PC) dẫn đầu, chiếm 44 ghế, về nhì là đảng Lao động Cấp tiến (PLRA) 27 ghế. Các ứng cử viên.  của Colorado tiếptục giành được chức tổng thống trong các cuộc bầu cử năm 2018 và 2023. Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tổng thốngSantiago Peria Palacios ký luật cho phép chính phủ tiến hành quản lý chặt chẽ các tổ chức phi chính phủ NGOs. 

Cộng hoà Paraguay ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Paraguay được Quốc hội Lập hiến thông qua có hiệu lực thi hành ngày 18/6/1992. Hiến pháp chỉ rõ Paraguay là một nước Cộng hòa, Quyền Hành pháp trao cho Tổng thống do dân bầu, với nhiệm kỳ 5 năm, không được tái bầu. Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 80 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 45 nghị sỉ, được bầu lên từ các khu vực bầu cử với nhiệm kỳ như Hạ viện.            

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 7.604.044 (năm 2016: 6.703.000); dưới 15 tuổi 22,1%, trên 65 tuổi 9,7%. Tăng dân số: 1,1%. Nhập cư: 2,6%. Mật độ dân cư: 19,1 người/km2. Thành phố: 63,8%. Sắc tộc: Mestizo 95%, da trắng và Amerindian 5%. Ngôn ngữ: Spanish (chính), Guarani. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 90%, Tin lành 6%. Đất đai: Tổng diện tích: 406.752 km2. Diện tích đất: 397.302 km2. Địa điểm: ở giữa trung tâm của Nam Mỹ. Quốc gia láng giềng: Bolivia phía bắc, Argentina phía nam, Brazil phía đông. Địa thế: sông Paraguay chia đôi lãnh thổ, phía đông là đất đai bằng phẳng phì nhiêu triền dốc với nhiều gỗ và đồng cỏ, phía tây là đồng bằng Gran Chaco với đầm lầy và đất có nhiều bụi cây, phía cực tây đất khô cằn. Đất nông nghiệp: 11,5%. Thủ đô: Asuncion 3.627.225 cư dân.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống SantiagoPeria Palacios, sinh 1978, nhậm chức 15/8/2033. Chính quyền địa phương: 17 vùng hành chánh và 1 thành phố thủ đô. Ngân sách quốc phòng: 310 triệu. Quân đội chính quy: 13.950. Kinh tế: Công nghiệp xi măng, đường, hàng dệt, gỗ, thức uống. Nông sản: mía đường, đậu nành, bắp, lúa mỳ, thuốc lá, sắn, bông sợi. Tài nguyên: quặng sắt, nguyên tố mangan, đá vôi, gỗ, thủy điện. Nguồn nước: 57.358 m3/người. Sử dụng năng lượng: 25,7 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 44,2 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 17,2%; công nghiệp 18,0%; dịch vụ 64,3%. Thất nghiệp: 6,1%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Guarani (PYG): 7.240,9 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 128,4 tỷ. Bình quân đầu người: 18.524 USD. Tăng trưởng: 4,2%. Nhập khẩu: 18,4 tỷ. Bạn hàng: Trung Quốc 27%, Brazil 20%, Argentina 13,6%, Japan 8,3%, Hoa Kỳ 6,4%. Xuất khẩu: 17,4 tỷ. Bạn hàng: Uruguay 22%, Brazil 17,2%, Russia 11,9%, Argentina 8,8%, Chile 6,9%. Du lịch: 633 triệu. Tiêu dùng: 21,6%. Lạm phát: 3,8%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 19 mi = 34 km. Xe hơi cá nhân 182,1/1000 cư dân. Sân bay 83. Truyền thông: Truyền hình: 75,0/100 cư dân. Điện thoại di động: 126,6/100. Internet: 81,6%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 7,7%. Tuổi thọ: nam 76,5, nữ 81,8. Sinh xuất: 15,7/1000 người. Tử xuất: 5,0/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 21,4/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 58/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 5,2%. Nhiểm HIV: 0,5%. Nhiểm COVID-19: 10.316/100.000 trong đó có 279 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 5-17, biết đọc biết viết 94,5%./.

 

181. ARGENTINA - REPUBLIC OF ARGENTINA.

Tiến trình phát triển.

Bộ tộc du cư bản địa sống ở Pampas trước khi người Tây Ban Nha do Juan Diaz de Solis xâm chiếm vùng này năm 1515-1516. Đến cuối thế kỷ 19, gần như tất cả người bản địa Indian bị giết chết. Những người đi chiếm thuộc địa định cư giành độc lập năm 1816, và kế đó là một thời kỳ bất ổn kéo dài cho đến khi chính quyền trung ương tập quyền mạnh xuất hiện năm 1862. Từ năm 1880 đến thập niên 1920, lôi kéo đầu tư và lao động từ nước ngoài là mối quan tâm hàng đầu của chính quyền Argentina. Nhờ lượng người nhập cư cùng vốn đầu tư của họ từ Ý Đại Lợi, Đức Quốc, và Tây Ban Nha, trong những thập niên ấy đã đẩy nhanh tiến trình hiện đại hoá đất nước. Nhiều đạo luật cải cách xã hội cũng được ban hành trong thập niên 1920. Nhưng các cuộc đảo chánh quân sự thay ngôi đổi chủ kéo dài từ 1930 đến 1946.

Năm 1946, tướng Juan Peron được bầu làm Tổng thống. Vợ của ông ta, bà Eva Duarte được chỉ định phụ trách cải tổ lao động. Quyền phát biểu và tự do báo chí vẫn còn bị cấm, các trường tôn giáo bị đóng cửa và quốc gia lâm vào cảnh nợ nần. Năm 1955, một cuộc đảo chánh buộc Peron đi lưu vong, kế đó là một loạt các chính quyền quân sự và dân sự thay nhau trong những thời gian ngắn ngủi. Năm 1973, Peron hồi hương và một lần nữa được bầu làm Tổng thống. Mười tháng sau đó Peron chết, vợ ông ta bà Isabe Phó tổng thống trở thành Tổng thống, và là người phụ nữ đầu tiên ở cương vị lãnh đạo quốc gia của một nước Tây Bán cầu. 

Năm 1976, đảo chánh quân sự truất phế bà Perón giữa các cáo buộc tham nhũng. Quốc gia vẫn trong tình trạng bị bất ổn. Chính quyền quân sự tiếp tục đánh trả quân du kích và các lực lượng cánh tả, giết chết 30.000 người và nhiều người khác bị bắt bớ giam cầm. Ngày 9/12/1985, sau một phiên toà xét xử kéo dài 5 tháng với hơn 1.000 nhân chứng, 5 thành viên chủ chốt của phe đảo chánh bị buộc tội giết người và chà đạp nhân quyền. 

Ngày 2/4/1982, quân đội Argentina xâm chiếm quần đảo Falkland cách bờ Argentina 402 km đang do Anh Quốc chiếm giữ. Cả hai quốc gia đều cho rằng mình có quyền thống trị quần đảo. Anh Quốc gởi một lực lượng đặc nhiệm khẩn cấp đến nơi, và tuyên bố cô lập vùng trời, vùng biển xung quanh Falkland. Trận chiến bắt đầu ngày 1/5, giết chết hàng trăm người, một khu trực hạm của Anh bị phá huỷ và 1 tuần dương hạm Argentina bị đánh chìm. Ngày 21/5 quân đội Anh đổ bộ lên phía đông Falkland, và cuối cùng bao vây thành phố thủ đô Stanley cũng là căn cứ quân sự kiên cố của Argentina. Ngày 14/6, quân đội Argentina đầu hàng. Ngày 17/6/1982, Tổng thống Argentina là Leopodo Galtieri từ chức. 

Năm 1983, đảng Liên hiệp Cấp tiến của Raul Alfonsic giành thắng lợi trong cả hai cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội. Năm 1989, quốc gia lại rơi vào cuộc khủng hoảng tài chánh và chính trị. Sự lạm phát đã vượt ra ngoài vòng kiểm soát của chính quyền, làm dấy lên các vụ bạo loạn, cướp bóc trong nhiều thành phố. Chính quyền của Tổng thống Carlo Saul Menem mới nhậm chức (1989) đưa ra chương trình kiểm soát kinh tế trên nhiều lãnh vực để cắt giảm nạn lạm phát, kiểm soát nghiêm ngặt chi tiêu của chính phủ, và sắp xếp lại các khoản nợ nước ngoài. 

Ngày 18/7/1994, một vụ nổ bom khủng bố tại trung tâm văn hoá Do Thái giáo giết chết hơn 100 người. Tháng 8/1994, ban hành Hiến pháp mới. Ngày 14/5/1995, Menem được tái bầu làm Tổng thống. Ngày 14/7/1999, chính thức ký kết hiệp ước tái lập đường bay thương mại nối liền giữa Argentina và quần đảo Falkland. Ngày 24/10/1999, thị trưởng thành phố thủ đô Buenos Aires là Fernando de la Rua đắc cử Tổng thống. Nạn suy thoái kinh tế kéo dài cùng với nợ nước ngoài hơn 130 tỷ, là những di sản đắng cay mà Tổng thống Fernando phải đương đầu. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2001, ở mức độ nghiêm trọng đến độ sự trợ giúp của Quỹ tiền tệ Thế giới cũng không giải quyết được. 

Sau các cuộc bạo động và cướp bóc kéo dài ngày 19/12/2001, tổng thống De la Rua từ chức. Hai tuần trước khi Quốc hội họp, làn sóng bạo loạn và không khí phẫn uất có phần dịu bớt. Ngày 1/1/2002, Quốc hội chỉ định một môn đệ của Peron là Eduardo Alberto Duhalde làm Quyền Tổng thống. Ông ta giảm giá đồng Peso, bằng cách cắt đứt mối ràng buộc với đồng Dollas Mỹ. Tình tạng suy thoái kinh tế lún sâu hơn, làn sóng phản đối tái diễn khiến Duhalde công bố chương trình bầu cử tổng thống vào tháng 2/2003, sớm hơn dự liệu. 

Một môn đệ khác của Peron là Nestor Kirchner giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 25/3/2003, trước đối thủ Menem. Kirchner phát động một chiến dịch chấm dứt nạn tham nhũng, và vi phạm nhân quyền trong giới cảnh sát và quân đội. Ngày 10/9/2003, Quỷ tiền tệ Thế giới đã chấp thuận một giải pháp giải cứu Argentina thoát khỏi tình trạng nợ đáo hạn.  Ngày 30/4/2004, vụ cháy tại một Câu Lạc bộ Buenos Aires làm chết 194 người. Ngày 14/6/2005, Toà án tối cao ra phán quyết huỷ bỏ “luật ân xá” cản trở việc truy tố tội hình sự đối với các sĩ quan quân đội trong thời gian họ cầm quyền. 

Kinh tế phát triển mạnh trong năm 2004-2005, nhờ vậy ngày 3/1/2006, Argentina đã trả được 9,57 tỷ nợ cho Quỷ Tiền tệ Thế giới. Do sự ủng hộ của công chúng giảm sút khiến tổng thống Kirchner không ra tranh cử nhiệm kỳ 2. Vợ ông ta, Cristina Fernandez de Kirchner được xem ứng viên sáng giá nhất trong số 4 ứng viên dự tranh, và bà được bầu làm Tổng thống 28/10/2007, với 44,9%. Ngày 17/7/2008, Thượng viện đã bác bỏ dự luật tăng thuế trên nông sản xuất khẩu, đáp ứng với lòng mong chờ của đa số nông dân. Ứng viên do Kirchner đề cử bị thất bại chua cay trong cuộc bầu cử Quốc hội. Argentina là quốc gia đầu tiên tại Mỹ La tinh thừa nhận hôn nhân đồng tinh tháng 7/2010.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 23/10/2011, có 7 ứng viên dự tranh, đương kim tổng thống Cristina Fernandez de Kirchner, đắc cử với 54% phiếu bầu, trên chân đối thủ Hermes Binner 16,9% phiếu bầu. Đức Tổng Giám mục Buenos Aires Jorge Mario Bergolio được bầu làm giáo hoàng vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, ngài là vị giáo hoàng đầu tiên đến từ Châu Mỹ. Ngài lấy tên là Phanxicô và phục vụ cho đến khi qua đời vào ngày 21 tháng 4 năm 2025. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 27/10/2013, Mặt trận Thắng lợi và Liên minh của nó dẫn đầu, chiếm 132 ghế, về nhì là đảng Cấp tiến Cavic và Liên minh của nó 54 ghế. 

Năm 2013, công tố viên đặc biệt Alberto Nisman đã buộc tội Fernandez de Kirchner can thiệp vào cuộc điều tra của ông về sự liên quan của Iran trong vụ đánh bom trung tâm cộng đồng Do Thái năm 1994 ở Buenos Airies khiến 85 người thiệt mạng. Nisman được tìm thấy bị bắn chết tại nhà riêng vào ngày 18 tháng 1 năm 2015. Mauricio Macri của đảng Cộng hòa trung hữu đã được bầu làm tổng thống trong cuộc bầu cử vòng hai ngày 22 tháng 11 năm 2015. Ngày 3 tháng 9 năm 2018, Tổng thống Macri, công bố các biện pháp thắt lưng buộc bụng nhằm ngăn chặn thâm hụt ngân sách và giá trị đồng peso giảm mạnh. Cuộc bầu cử tổng thống ngày 27 tháng 10, 2-19, giữa lúc khó khăn kinh tế đang tiếp diễn, Peronist Alberto Femandez đã đánh bại đương kim tổng thống Mauricio Macri. 

Ngày 30 tháng 12 năm 2020, Quốc hội Argentina đã hoàn tất việc hợp pháp hóa việc phá thai trong 14 tuần đầu tiên của thai kỳ. Cuộc bầu cử tổng thống vòng hai vào ngày 19 tháng 1 năm 2023, trong khi lạm phát ở mức ba con số, Javier Milei của cánh hữu đã giành thắng lợi. Tháng 6 năm 2024, Javier Milei lại đưa ra các biện pháp thắt lưng buộc bụng cùngvới các mệnh lệnh hành chánh nhằm bãi bỏ quy định tư nhân hóa đã gây ra các cuộc đình công và biểu tình quy mô lớn. Mặc dù lạm phát giảm nhưng các cuộc biểu tình vẫn tiếp tục diễn ra vào năm 2025. 

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, Tòa án Tối cao đã giữ nguyên bản án năm 2022 của cựu tổng thống 2 nhiệm kỳ 2007 và 2011, Cristina Fernandez de Kirchner về tội tham nhũng, cấm bà suốt đời không được đảm nhiệm các chức vụ công. 

Cộng hoà Argentina ngày nay (2026).

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Argentina có hiệu lực thi hành ngày 10/4/1994. Hiến pháp chỉ rõ Argentina là một nước Cộng hòa, quyền Hành pháp trao cho Tổng thống do dân bầu với nhiệm kỳ 4 năm, được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Quyền Lập pháp trao cho Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 257 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 4 năm, và mổi 2 năm bầu lại một nữa đại biểu. Thượng viện có 72 nghị sỉ, cũng do dân bầu có nhiệm kỳ 6 năm, và mỗi 2 năm bầu lại một phần ba nghị sỉ.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 45.418.098 (năm 2016: 43.024.000); dưới 15 tuổi 20,2%, trên 65 tuổi 13,1%. Tăng dân số: 0,3%. Nhập cư: 4,3%. Mật độ dân cư: 16,6 người/km2. Thành phố: 92,7%. Sắc tộc: da trắng 97%, Amerindian 3%. Ngôn ngữ: Spanish (chính), English, Italian, German, France. Tôn giáo:  Thiên chúa giáo La mã 92%. Đất đai: Tổng diện tích: 2.780.400 km2 . Diện tích đất: 2.736.690 km2. Quốc gia lớn thứ hai của Nam Mỹ. Địa điểm: phía nam của Nam Mỹ. Quốc gia láng giềng: Chilê phía tây, Bolivia Paraguay phía bắc, Brazil, Uruguay phía đông bắc. Địa thế: dãy núi Andean, Central, Misiones,  ở phía tây, và rừng nguyên sinh ở phía nam. Đỉnh Aconcagua là đỉnh núi cao nhất ở phía tây Bán cầu cao 22.834 ft. Phía đông núi Andes là một vùng bằng phẳng với cây cối dày đặc gọi là Gran Chaco. Ở phía bắc đất đai nhiều màu mỡ, một vùng không cây cối miền trung gọi là Pampas. Patagonia ở phía nam hoang vu khô cằn. Rio de la Plata ở phía đông bắc dài 273km và rộng 225 km. Khu vực cửa sông hầu hết là nước ngọt, có dòng chảy từ sông Parana dài 3.998 km và sông Uruguay dòng chảy 1.609 km. Đất nông nghiệp: 14,8%. Thủ đô:  Buenos Aires15.752.275. Thành phố đông dân: Cordoba 1.640.599, Rosario 1.631.093, Mendoza 1.257.182.

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống JavierGerardo Miler, sinh 1970, nhậm chức 10/12/2023. Chính quyền địa phương: 23 tỉnh, và 1 khu vực Liên bang. Ngân sách quốc phòng: 2,2 tỷ. Quân đội chính quy: 72.100. Kinh tế: Công nghiệp xe hơi, hàng dệt, hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm. Nông sản: hạt hoa hướng dương, chanh, nho, đậu phụng, đậu nành, bắp. Tai nguyên: dầu lửa, quặng sắt, chì, thiếc, đồng, kim loại trắng, kim loại có phóng xạ (uranium). Nguồn nước: 19.297 m3/người. Sử dụng năng lượng: 78,5 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 130,3 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 8,3%; công nghiệp 21,2%; dịch vụ 70,5%. Thất nghiệp: 7,9%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Peso (ARS): 1.353,8 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 1.400,0 tỷ. Bình quân đầu người: 30.176 USD. Tăng trưởng: giảm 1,7%. Nhập khẩu: 80,0 tỷ. Bạn hàng: Brazil 36,1%, Hoa Kỳ 14,9%, Trung Quốc 6,3%, Germany 5,1%. Xuất khẩu: 96,9 tỷ. Bạn hàng: Brazil: 16,9%, Chile 8,9%, Hoa Kỳ 8,4%, China 7,3%. Du lịch: 5,5 tỷ. Tiêu dùng: 37,8%. Lạm phát: 219,9%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 11.101 mi = 17.761 km. Xe hơi cá nhân 306,2/1000 cư dân. Sân bay 764. Truyền thông: Truyền hình: 79,6/100 cư dân. Điện thoại di động: 140,2/100. Internet: 89,7%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 9,9%. Tuổi thọ: nam 75,1, nữ 81,1. Sinh xuất: 10,5/1000 người. Tử xuất: 7,9/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 7,4/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 33/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: 3,4%. Nhiểm HIV: 0,4%. Nhiểm COVID-19: 22.378/100.000 trong đó có 289 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 4-17, biết đọc biết viết 99,0%./.

 

182. URUGUAY - ORIENTAL REPUBLIC OF URUGUAY.

Tiến trình phát triển. 

Nnăm 1624, người định cư Tây Ban Nha đẩy cư dân bản địa Charrua Indians ra khỏi vùng. Người Bồ Đào Nha từ Brazil đến Uruguay, nhưng Uruguay vẫn ràng buộc với Phó vương Tây Ban Nha là Rio de la Plata. Các cuộc nổi dậy chống Tây Ban Nha bắt đầu năm 1810 đến ngày 25/8/1825 tuyên bố quốc gia độc lập. Tháng 2/1973, hoạt động khủng bố gia tăng, Tổng thống Juan Maria Bordaberry trao quyền cho quân đội kiểm soát lảnh thổ. Tháng 6, Maria giải tán Quốc hội và thành lập Hội đồng Điều hành quốc gia thay thế Quốc hội. 

Năm 1976, một cuộc đảo chánh truất phế Bordaberry. Cánh quân đội nắm quyền điều hành đất nước cho đến năm 1985, chính phủ dân sự được phục hồi. Đầu thập niên 1990, khuynh hướng Xã hội chủ nghĩa qua việc Nhà nước nắm quyền quản lý xã hội, chính trị và các ngành kinh tế then chốt như hệ thống điện thoại, viễn thông, xe lửa, nhà máy lọc dầu, xi măng. Công nghiệp chế biến dầu, xi măng, và các công nghiệp khác bị quốc doanh hoá cho đến đầu những năm 2000, mới có một số công ty tư nhân bắt đầu hình thành. Tiêu chuẩn sống của người dân Uruguay là một trong những nước có mức sống cao ở Nam Mỹ. Điều kiện sống, lao động kể cả hoạt động chính trị khá tự do. 

Ngày 4/8/2002, Hoa Kỳ đồng ý cho Uruguay vay ngắn hạn 1,5 tỷ giúp nước này vượt qua cuộc khủng hoảng tài chánh. Cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội ngày 31/10/2004, ứng viên cánh tả Tabaré Vázquez đắc cử tổng thống, và 50,4% số ghế tại Quốc hội. Trong cuộc bầu cử tổng thống chung cuộec ngày 29/11/2009, José Mujica một du kích quân, muốn chuyễn Mặt trận Tupamoro Marxist của ông ta thành một đảng chính trị giành thắng lợi, và nhậm chức ngày 1/3/2010. Năm 2013, hôn nhân đồng giới và việc sử dụng cần sa đã được hợp pháp hóa. 

Cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội ngày 26/10/2014, có 7 ứng viên dự tranh tổng thống, không có ứng viên nào hội đủ số phiếu để đắc cử; và tại vòng 2 ngày 30/11/2014, Tabare Ramon Váqueez Rosas đắc cử với 56,6% phiếu bầu, trên chân đối thủ Luis Anberto 43,4% phiếu bầu. Tại Quốc hội, Mặt trận Broad (FA) dẫn đầu, chiếm 50 ghế, về nhì là đảng Quốc gia (PN) 32 ghế. Cuộc bầu cử tổng thống vòng hai ngày 24 tháng 11 năm 2019, ứng cử viên Bảo thủ Luis Lacalle Pou của Đảng Quốc gia (PN) giành thắng lơi sít sao trước ứng cử viên liên minh Mặt trận trung tả (FA). Và, cuộc bầu cử tổng thống ngày 24 tháng 11 năm 2024, giữa lúc lạm phát cao, cùng với nó là mối lo ngại lớn về tội phạm, Yamandu Orsi của FA đã đánh bại ứng cử viên PN.

Cộng hoà Uruguay ngày nay (2026). 

Hiến pháp và Chính quyền: Hiến pháp Uruguay được Quốc hội Lập hiến thông qua ngày 27/11/1966, có hiệu lực thi hành tháng 2/1967. Từ đó đến nay hiến pháp được tu chỉnh 4 lần vào các năm 1989, 1994, 1996, và 2004. Hiến pháp chỉ rõ quyền Hành pháp trao cho Tổng thống do dân bầu, với nhiệm kỳ 5 năm, được tái bầu nhiệm kỳ thứ hai. Quyền Lập pháp trao cho Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 99 đại biểu do dân bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử, có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện có 31 nghị sỉ, cũng do dân bầu và có nhiệm kỳ như đại biểu Hạ viện.

Cư dân và lãnh thổ: Con người: Dân số 3.449.444 (năm 2016: 3.332.000); dưới 15 tuổi 17,6%, trên 65 tuổi 15,1%. Tăng dân số: giảm 0,1%. Nhập cư: 4,7%. Mật độ dân cư: 19,7 người/km2. Thành phố: 95,9%. Sắc tộc: da trắng 88%, Mestizo 8%, da đen 4%. Ngôn ngữ: Spanish. Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 66%. Đất đai: Tổng diện tích: 176.215 km2. Diện tích đất: 175.015 km2. Địa điểm: phía nam của Nam Mỹ trên bờ Đại Tây Dương. Quốc gia láng giềng: Argentina phía tây, Brazil phía bắc. Địa thế: Uruguay được tạo thành bởi các đồng cỏ bạt ngàn và đồi thấp. Các sông nước ngọt phía tây chảy vào sông Uruguay. Đất nông nghiệp: 12,6%. Thủ đô:  Montevideo 1.788.172 cư dân. 

Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Cộng hoà. Nguyên thủ quốc gia và cầm đầu chính phủ: Tổng thống YamanduOrsi, sinh 1967, nhậm chức 1/3/2025. Chính quyền địa phương: 19 khu vực hành chánh. Ngân sách quốc phòng: 592triệu. Quân đội chính quy: 21.100. Kinh tế: Công nghiệp sản xuất dầu lửa, trang thiết bị vận tải, máy điện, chế biến thực phẩm, may mặc. Nông sản: bắp, lúa mì, lúa miếng, lúa gạo. Tài nguyên: trử lượng hầm mỏ không lớn, cá ven bờ, thủy điện. Nguồn nước: 50.783 m3/người. Sử dụng năng lượng: 45,8 triệu Btu/người. Sản xuất điện: 12,9 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 7,8%; công nghiệp 19,0%; dịch vụ 72,3%. Thất nghiệp: 8,4%. 

Tài chánh và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng Peso (UYU): 39,0 = 1USD). Tổng sản lượng nội địa: 123,3 tỷ. Bình quân đầu người: 36.418 USD. Tăng trưởng: 3,1%. Nhập khẩu: 19,1 tỷ. Bạn hàng: Brazil 17,2%, Argentina 16,4%, Hoa Kỳ 8,9%, Paraguay 7,8%, China 7,7%, Venezuela 5,2%. Xuất khẩu: 23,3 tỷ. Bạn hàng: Brazil 14%, Hoa Kỳ 12,3%, Argentina 8,2%, Trung Quốc 6,1%, Đức 5%, Nga 5%, Mexico 4,3%. Du lịch: 2,5 tỷ. Tiêu dùng: 30,8%. Lạm phát: 4,8%.Vận chuyển: Đường xe lửa: 1.040 mi = 1.664 km. Xe hơi cá nhân 396,4/1000 cư dân. Sân bay 65. Truyền thông: Truyền hình: 113,5/100 cư dân. Điện thoại di động: 145,5/100. Internet: 92,0%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 8,9%. Tuổi thọ: nam 74,1, nữ 80,6. Sinh xuất: 9,1/1000 người. Tử xuất: 9,9/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 6,9/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 15/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: dưới 2,5%. Nhiểm HIV: không có số liệu. Nhiểm COVID-19: 30.020/100.000 trong đó có 222 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 4-17, biết đọc biết viết 98,8%./.

 

 

IV. VÀI SỐ LIỆU CẦN BIẾT TẠI 35 QUỐC GIA ĐỘC LẬP TẠI CHÂU MỸ: TÊN NƯỚC, DIỆN TÍCH, DÂN SỐ, TỔNG SẢN LƯỢNG, THU NHẬP, NHẬP KHẨU, XUẤT KHẤU, TIÊU DÙNG, LẠM PHÁT, XE HƠI CÁ NHÂN, INTERNET.

 

(Số liệu từ Sách World Almanac And Book Facts 2026)

 

(1)

Th

tự

(2)

Tên nước

(3)

D tích

Km2

(4)

D.số

Ngàn

(5)

T.S.L

tỷUSD

(6)

T.nhập

USD

(7)

N.kh

tỷUSD

(8)

X.kh

tỷUSD

(10)

T.dg

%

(10)

L.ph

%

(11)

X.H

%

 

(12)

Inter

%

1

Canada

9.984.670

38.187

2.700,0

65.463

733,8

729,8

42,5

2,4

65,7

94,0

2

United States

9.826.675

338.216

29.000,0

85.840

4.100,0

3.200,0

36,3

2,9

90,5

93,1

 

2  Băc Mỹ

19.811.345

377.463

31.900,0

82.127

4.833,8

3.929,8

39,4

2,6

78,1

93,5

3

Mexico

1.964.375

131.741

3.400,0

25.688

697,1

680,8

28,7

4,7

37,4

81,2

4

Belize

22.966

422

6,3

15.093

1,7

1,6

24,3

3,3

12,2

72,4

5

Guatemala

108.889

18.526

264,5

14.369

35,6

18,0

13,7

2,9

11,4

56,1

6

El. Salvador

21.041

6.839

84,1

13.246

18,4

11,6

30,8

0,9

5,3

67,7

7

Honduras

112.090

9.652

81,2

7.486

18,2

9,4

26,1

4,6

2,3

58,3

8

Nicaragua

130.370

6.739

60,2

8.709

11,4

8,1

26,4

4,6

7,3

58,2

9

Costa Rica

51.100

5.305

154,2

30.063

30,5

36,8

18,4

0,4

25,0

85,4

10

Panama

75.420

4.536

187,0

41.405

30,9

37,5

21,1

0,7

21,1

68,5

 

8 Trung  Mỹ

2.486.251

183.760

4.237,3

23.058

843,8

803,8

23,6

2,7

14,9

68,8

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

11

Bahamas

13.880

415

16,5

41.198

7,1

6,8

24,2

0,4

39,4

94,8

 

Cuba

110.860

10.060

-

-

8,1

8,8

-

-

5,3

71,3

13

Jamaica

10.991

2.827

33,1

11.662

9,5

7,1

30,5

5,4

7,8

89,5

14

Haiti

27.750

11.899

37,5

3.183

5,3

1,1

6,4

26,9

0,9

39,1

15

Dominica Rep

48.670

10.899

314,7

27.541

36,1

28,6

19,0

3,3

20,8

91,6

16

St. Kitls

261

55

1,7

35.545

0,6

0,5

42,1

1,1

-

76,4

17

Anti.andBar.

443

104

3,2

32.602

1,3

1,3

18,4

6,2

-

77,6

18

Dominica

751

75

1,4

21.203

0,3

0,2

61,7

2,6

-

83,8

19

St Lucia

616

168

5,0

27.567

1,4

1,6

24,0

0,1

-

70,1

20

Barbados

430

305

6,4

22.672

2,1

2,2

28,3

0,5

43,4

80,0

21

St. Vincent

389

100

2,1

21.272

0,6

0,4

38,0

3,6

10,8

86,0

22

Grenada

344

115

2,4

20.167

0,9

0,8

28,9

1,1

-

74,1

23

Trinidad

5.128

1.410

49,3

36.021

10,2

11,1

29,4

0,5

33,0

84,7

 

 13 . Caribbean

220.513

38.412

573,3

20.220

83,5

70,5

29,2

4,3

20,1

78,3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

24

Colombia

1.138.910

49.842

1.100,0

21.459

76,6

68,9

35,0

6,6

11,4

77,3

25

Ecuador

283.561

18.480

278,3

15.840

34,0

38,5

40,2

1,5

10,1

77,2

26

Peru

1.285.216

32.769

609,2

17.802

67,2

83,7

22,5

2,0

7,8

82,0

27

Chile

756.102

19.091

684,6

34.637

99,2

111,1

27,4

4,3

31,6

94,5

28

Venezuela

912.050

31.755

-

-

18,4

83,4

15,0

254,9

13,3

-

29

Guyana

214.969

797

66,4

79.906

11,0

13,7

23,5

2,9

13,7

81,7

30

Suriname

163.820

636

14,0

22.067

2,6

2,8

26,7

16,2

30,1

78,4

31

Brazil

8.514.877

221.359

4.700,0

22.333

377,1

388,3

45,4

4,4

21,3

84,5

32

Bolivia

1.098.581

12.436

138,9

11.190

13,0

12,1

38,1

5,1

8,4

70,2

33

Paraguay

406.752

7.604

128,4

18.524

18,4

17,4

21,6

3,8

18,2

81,6

34

Argentina

2.780.400

45.418

1.400,0

30.176

80,0

96,9

37,8

219,9

30,6

89,7

35

Uruguay

176.215

3.449

123,3

36.418

19,1

23,3

30,8

4,8

39,6

92,0

 

12 Nam  Mỹ

17.731.453

444.036

9.243,1

31.004

816,6

940,1

33,7

43,8

19,6

93,1

 

CỘNG 35 NƯỚC CHÂU MỸ

40.249.562

1.043.671

45.953,7

44.030

6.577,7

5.744,2

31,4

13,3

33,1

83,4

 

                      (Phần IV Lục địa châu Mỹ gồm 104 trang và 68.461 chữ.)   

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét