IV. LỤC ĐỊA CHÂU MỸ
(104 trang và 68.461 chữ)
Năm 2026, châu Mỹ có 35 quốc gia độc lập, chiếm 40.249.562 km2 diện tích đất, và 1.043.671.000 cư dân. Tổng sản lượng Quốc gia 45.953,7 tỷ USD. Thu nhập bình quân 44.030 USD; Nhập khẩu 6.577,7 tỷ; Xuất khẩu 5.744,2 tỷ; Tiêu dùng 31,4%; Lạm phát 13,3%. Số người có Xe hơi cá nhân 33,1%; Và số người sử dụng Internet 83,4%. 35 quốc gia độc lập châu Mỹ được chia thành 5 chương: Chương 12, Lịch sử và hiện trạng 2 nước tại khu vực Bác Mỹ; Chương 13, Lịch sử và hiện trạng 8 nước tại khu vực Trung Mỹ; Chương 14, Lịch sử và hiện trạng 13 nước tại khu vực Biển Caribean; Và, chương 15, Lịch sử và hiện trạng 12 nước tại khu vực Nam Mỹ.
CHƯƠNG 12: LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG 2 QUỐC GIA ĐỘC LẬP TẠI BẮC MỸ: TỪ 1-2.
Năm 2026, khu vực Bắc Mỹ có 2 quốc gia độc lập chiếm 19.811.345 km2 diện tích đất, và 377.463.000 cư dân. Tổng sản lượng 31.900,0 tỷ USD, và thu nhập bình quân đầu người 82.157 USD. Nhập khẩu 4.833,8 tỷ USD. Xuất khẩu 3.929,8 tỷ USD. Tiêu dùng 39,4%. Lạm phát 2,6%. Số người có Xe hơi cá nhân 78,1 %; Và, số người sử dụng Internet 94,5%. 2 quốc gia độc lập ở Bắc Mỹ là: Canada, và United State.
148. CANADA (GIA NÃ ĐẠI).
Tiến trình phát triển.
Nhà thám hiểm người Pháp Jacque Cartier tới được vịnh Lawrence năm 1534, là người sáng lập ra nước Canada. Nhưng một người đi biển Anh john Cabot đã nhìn thấy Newfoundland năm 1497, và người Vikings (Bắc Âu) tin rằng họ đã tới bờ Đại Tây Dương trong hàng thế kỷ trước, sớm hơn các nhà thám hiểm. Người Châu Âu định cư tại Canada đầu tiên là người Pháp. Họ xây dựng thành phố Quebec năm 1608, thành phố Montreal năm 1642, và tuyên bố thuộc địa Pháp mới (New France) năm 1683. Người Anh chiếm Acadia năm 1717. Thông qua chiến thắng quân sự trên lực lượng Pháp ở Canada, họ chiếm Quebec năm 1759 và giành được quyền kiểm soát phần còn lại của New France năm 1763.
Thế nhưng, người Pháp vẫn duy trì quyền có ngôn ngữ, tôn giáo và luật dân sự của họ dưới đạo luật Quebec năm 1774. Người Anh tại đây tăng nhanh, trong thời kỳ diễn ra cách mạng thành lập Liên bang Hoa Kỳ độc lập, từ các thuộc địa Bắc Mỹ họ di chuyển về Canada. Họ thường tự nhận với vẻ kiêu hãnh là người trung thành với đế quốc Anh.
Buôn bán lông thú và thăm dò tìm kiếm đã dẫn người Canada đi về hướng tây băng qua lục địa. Sir Alexander Mackenzie tới được bờ Thái Bình Dương năm 1793, và khắc vội lên một bờ đá cạnh Đại Dương "Tôi đến đây từ Canada bằng đường đất liền" ("From Canada by land"). Hội đồng Lập pháp xuất hiện vào thế kỷ 18 ở vùng cao, vùng thấp Canada (Ontario và Quebec), và các vùng ven biển. Hội đồng có một bộ phận gọi là trách nhiệm chính quyền, tổ chức và trách nhiệm quản lý xã hội. Nhưng chiến tranh năm 1812 đã làm gián đoạn.
Các trận đánh nhau giữa Anh và Mỹ chủ yếu diễn ra ở vùng cao Canada và được giải quyết năm 1814. Năm 1837, một cuộc vận động chính trị cho một chính quyền dân chủ hơn bắt đầu, và đỉnh cao của nó khi có nhiều cuộc bạo loạn diễn ra trên cả vùng cao lẫn vùng thấp Canada. Năm 1839, chính phủ Anh gởi Lord Durham đến nơi nghiên cứu tình hình. Trong một phúc trình nổi tiếng ông ta đề nghị hợp nhất cả hai phần thành một thuộc địa với tên gọi Canada. Từ năm 1840, các thuộc địa Canada đã giữ quyền nội trị, chính quyền tự quản. Ngày 01/07/1867, khi Anh quốc ban hành Đạo luật (gọi là Luật Hiến Pháp 1867) thành lập một chính quyền Liên bang Canada tự trị, bao gồm Ontario, Quebec và các thuộc địa củ Nova Scotia và New Brunswick .
Tổ chức chính quyền Liên bang Canada tự trị phỏng theo mô hình Quốc hội và Nội các Anh dưới chế độ Quân chủ. Năm 1931 Canada được chính thức thừa nhận là một chính quyền tự trị trong đế quốc Anh. Năm 1982, Anh Quốc phê chuẩn luật Hiến pháp của Canada, từ đây Canada chính thức kết thúc sự ràng buộc với Anh quốc trong các vấn đề lập pháp. Ngày 3/6/1987, Canada ký thoả ước Meech Lake, theo đó văn hoá, ngôn ngữ Pháp sẽ được duy trì ở Quebec, dưới sự bảo hộ của Hiến pháp. Những quyền mà từ đó người Quebec có thể được đặt cao hơn cả quyền tự do và nhân quyền ghi trong Hiến pháp năm 1982.
Các nhà bình luận chỉ trích thoả ước và nêu câu hỏi: tại sao nó không ban thêm quyền cho các sắc tộc thiểu số khác lại cứ trao cho Quebec nhiều quyền đến thế. Ngày 22/6/1990 thoả ước Meech Lake bị huỷ bỏ. Những người chủ trương ly khai lại muốn phục hồi chính quyền riêng của Quebec mà đỉnh cao là thoả ước Charlottetown 1992, đòi thay đổi Hiến pháp. Nhưng một lần nữa lại thất bại khi kêu gọi thừa nhận Quebec như là "một cộng đồng xã hội đặc trưng" khác với với các cộng đồng xã hội trong Liên bang Canada. Tại cuộc “trưng cầu dân ý” toàn Liên bang ngày 26/10/1992, cử tri Canada không chấp nhận đề nghị này.
Canada là quốc gia đầu tiên phê chuẩn "Hiệp ước Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ” giữa Canada, Mexico và Hoa Kỳ ngày 23/6/1993, Hiệp ước có hiệu lực thi hành từ 01.01.1994. Sau hơn 8 nam cầm quyền, ngày 24/02/1993, Thủ tướng Brian Mulroney từ chức. Kế vị ông ta là Kim Campbell. Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 25/10/1993, Đảng Bảo thủ cầm quyền bị đánh bại bằng một đa số áp đảo, họ chỉ còn hai ghế trên 295 tổng số ghế ở Hạ viện (Honse of Commons). Jean Chretian trở thành Thủ tướng. Trong một cuộc “trưng cầu dân ý” tổ chức ngày 30/10/1995 cho riêng Quebec trên đề nghị ly khai tách Quebec khỏi Liên bang bị đánh bại sít sao.
Cuộc bầu cử ngày 2/6/1997 đảng tự do giành thắng lợi với một đa số mỏng manh. Ngày 7/1/1998 chính quyền Canada công khai "Xin lỗi" người dân bản địa về các cung cách xử sự không đúng trong hơn 150 năm qua, và lập ra một "quỹ phục hồi" cho người bản địa. Ngày 20/8 trong một phán quyết của toà án tối cao Liên bang Canada rằng, Quebec không thể đơn phương ly khai ngay cả nếu đa số cử tri trong tỉnh chấp nhận. Thắng lợi của đảng Tự do trong cuộc bầu cử toàn quốc ngày 27/11/2000 làm cho Chrétian là Thủ tướng đầu tiên trong hơn 50 năm qua, cầm đầu chính phủ trong ba nhiệm kỳ liên tục.
Tháng 10/2001, Canada gởi 5 tàu chiến, và tháng 2/2002 gởi 850 quân vào Liên minh do Hoa Kỳ cầm đầu hành quân chống khủng bố ở Afghanistan. Ngày 17/4, bốn binh sỉ Canada bị thiệt mạng trong khi đang thực tập huấn luyện tại Kadahar bởi quân sỉ Hoa Kỳ, đây là lần đầu tiên quân sỉ Canada bị thương vong ở hải ngoại kể từ sau chiến tranh Triều Tiên. Tháng 2/2002, Canada đóng góp 100 triệu cho trợ giúp nhân đạo và tái thiết Afghanistan, và tháng 3/2003, hứa sẽ đóng góp thêm 250 triệu. Ngày 21/8/2002, Chretian tuyên bố rằng ông sẽ không ra tranh cử nhiệm kỳ thứ tư vào năm 2004.
Quan hệ Hoa Kỳ - Canada bị lạnh nhạt sau khi Thủ tướng Chretien từ chối gởi quân cùng với Hoa Kỳ xâm lăng Iraq trong tháng 3/2003. Nột hỏa tiển SARS phát nổ tại một vùng ngoại ô gần Toronto, giết chết hơn 40 người và làm thiệt hại hàng triệu đô la về vật chất. Ngày 10/6 trong một phán quyết của tòa án tối cao, rằng chính quyền Tiểu bang (tỉnh) phải mở rộng quyền kết hôn cho những cặp tình nhân đồng tính luyến ái. Ngày 14/8/ do trục trặc kỷ thuật bị mất điện trên một diện rộng phía Đông bắc vùng Ontario và Manitoba kể cả Ottawa và Toronto.
Ngày 12/12/2003, Chretian từ chức, và Paul Martin trở thành Thủ tướng. Sự tai tiếng do việc chi ra những khoảng tiền lớn để làm những bộ phim quảng cáo, và bảo trợ cho các sự kiện thể thao ở Quebec là những yếu kém trong quản lý của đảng Tự do. Cuộc bầu cử ngày 28/6/2004, đảng Tự do chỉ giành được 135/308 ghế tại Hạ viện, đảng Bảo thủ về hàng thứ hai với 99 ghế. Martin vẫn còn giữ chức Thủ tướng. Ngày 19/7/2005, Quốc hội thông qua đạo luật cho phép kết hôn trong giới đồng tính. Ngày 27/9, Michaelle Jean, một phóng viên truyền hình, sinh tại Haiti là người da đen đầu tiên tuyên thệ nhậm chức Tổng Toàn quyền Canada.
Đảng Tự do rời khỏi chính quyền sau cuộc bầu cử ngày 23/1/2006, đảng Bảo thủ đối lập dẩn đầu chiếm 124 ghế, kế đến là đảng Tự do 103 ghế. Lãnh đạo đảng Bảo thủ là Stephen Harper phải Liên minh với đảng nhỏ để thành lập chính phủ. Ngày 2 và 3/6, cảnh sát đã nhanh tay bắt 17 người, chận đứng một âm mưu khủng bố nhắm vào các toà nhà Quốc hội và Văn phòng Thủ tướng. Ngày 23/2/2007 toà án tối cao đã nhất trí xoá bỏ luật, theo đó những người tình nghi khủng bố sinh ở nước ngoài sẽ bị giam giữ không cần chứng cứ buộc tội. Ssau cuộc bầu cử Quốc hội ngày 14/10/2008, đảng Bảo thủ của ông ta phải Liên minh với đảng nhỏ để thành lập chính phủ, Stephen Harper vẫn còn tại chức.
Tại phiên họp Quốc hội ngày 27/1/2009, đảng Tự do đã ủng hộ đề nghị của Harper cấp 32,6 tỷ để cứu vãn suy thoái kinh tế. Canada sẽ là nước chủ nhà đứng ra tổ chức Thế Vận Hội mùa Đông vào ngày 12-28/2/2010 tại Vancouver, và Hội nghị Nhóm G8 và G20 vào ngày 25-27/6 tại Ontario. Cuộc bầu cử Quốc hội ngày 2/5/2011, đảng Bảo thủ dẫn đầu với 167/308 ghế tại Hạ viện, kế là đảng Tân Dân chủ 102 ghế ... Vào ngày 22 tháng 10 năm 2014, một tay súng khủng bố ở Ottowa xuất hiện dưới sự chỉ đạo của nhóm Hồi giáo cực đoan ISIS, đã giết chết một binh sĩ tại Đài tưởng niệm Chiến tranh Canada và nổ súng vào tòa nhà Quốc hội trước khi bị bắn chết. Cuộc bầu cử ngày 19 tháng 10 năm 2015 đã đưa Đảng Tự do trở lại nắm quyền và Justin Trudeau, con trai của cựu Thủ tướng Pierre Trudeau, trở thành thủ tướng.
Canada tham gia chiến dịch không kích do Mỹ dẫn đầu chống lại lực lượng ISIS ở Iraq (2014-16) và Syria (2015-16). Canada tái định cư gần 40.000 người tị nạn chạy trốn khỏi cuộc nội chiến ở Syria trong năm 2015-2016. Ngày 30 tháng 10 năm 2016, Canada-EU ký hiệp định thương mại tự do, loại bỏ gần như tất cả thuế quan. Cuộc bầu cử ngày 21 tháng 10 năm 2019 Đảng Tự do giảm bớt sự ủng hộ từ cử tri, vẫn giành chiến thắng , Justin Trudeau tiếp tục giữ chức thủ tướng. Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) giữa Canada, Mexico và Hoa Kỳ từ năm 1994, được thỏa thuận sửa đổithành Hiệp định Hoa Kỳ-Mexico-Canada (USMCA) - bao gồm những thay đổi trong ngành ô tô và tăng khả năng tiếp cận của Hoa Kỳ vào thị trường hàng ngày của Canada, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2020.
Sau cuộc bầu cử ngày 20 tháng 9 năm 2021, Justin Trudeau tiếp tục giữ chức thủ tướng. Ngày 27 tháng 9, sau khi Taliban tiếp quản Afghanistan, Canada tuyên bố vào rằng họ sẽ tiếp nhận 40.000 người tị nạn Afghanistan. Đại dịch COVID-19 lan đến Canada từ đầu năm 2020, đến tháng 1 năm 2022 các cuộc biểu tình quy mô lớn của các tài xế xe tải và những người ủng hộ họ chống lại các yêu cầu tiêm chủng và các hạn chế khác về COVID-19 đã chặn trung tâm thành phố Ottawa cũng như các cửa khẩu biên giới Canada-Hoa Kỳ làm gián đoạn nghiêm trọng hoạt động thương mại. Canada đã trải qua mùa cháy rừng tồi tệ nhất được ghi nhận vào mùa hè năm 2023, có thể liên quan đến biến đổi khí hậu. Canada cáo buộc Ấn Độ ám sát một lãnh đạo cộng đồng người Canada theo đạo Sikh gốc Ấn Độ ở Britist Columbia vào ngày 18 tháng 6 năm 2023, điều mà Ấn Độ phủ nhận.
Từ tháng 2 năm 2022, khi Nga bắt đầu xâm chiếm Ukraine, đến ngày 1 tháng 4 năm 2024, khi chương trình thị thực đặc biệt kết thúc, Canada đã tiếp nhận khoảng 300.000 người từ Ukraine đã đến Canada. Vụ hỏa hoạn gây ra mức độ ô nhiễm không khí nguy hiểm trên khắp các khu vực rộng lớn ở Canada (và Hoa Kỳ). Cháy rừng cũng là vấn đề nghiêm trọng vào mùa hè năm 2024 và 2025. Từ tháng 2 năm 2022, khi Nga bắt đầu xâm chiếm Ukraine, đến ngày 1 tháng 4 năm 2024, khi chương trình thị thực đặc biệt kết thúc, Canada đã tiếp nhận khoảng 300.000 người từ Ukraine đã đến Canada. Đối mặt với tình trạng lòng dân ngày càng suy giảm phần lớn là do điều kiện kinh tế, Justin Trudeau đã từ chức và được thay thế làm thủ tướng bởi Marka Carney vào ngày 14 tháng 3 năm 2025.
Sau một chiến dịch vận động phản đối Tổng thống Donald Trump về thuế quan và lời kêu gọi Canada trở thành tiểu bang thứ 51 của Hoa Kỳ, Carney lãnh đạo Đảng Tự do giành chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội ngày 28 tháng 4. Ngày 23 tháng 6 năm 2025, Canada-EU ký kết một thỏa thuận hợp tác quốc phòng. Ngày 7 tháng 8 năm 2025, Hoa Kỳ áp đặt mức thuế 35% đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu của Canada không nằm trong Hiệp định Hoa Kỳ-Mexico-Canada (USMCA).
Lưu ý:
Canada là một quốc gia theo thể chế Quân chủ lập hiến với hệ thống chính quyền Quốc đại diện bởi một Tổng toàn quyền người Canada. Trong thực tế Canada được cai trị bởi Thủ tướng chính phủ là người lãnh đạo Đảng chiếm đa số ghế tại Hạ viện.
Liên bang Canada ngày nay (2026).
Hiến pháp và Chính quyền: Tháng 11/1981, Chính quyền các Tỉnh trong Liên bang Canada thông qua đề nghị Luật tu chỉnh Hiến pháp trở thành Hiến pháp mới của Canada, thay thế Hiến pháp Anh dành cho Bắc Mỹ. Đề nghị nầy được Quốc Hội Canada chấp nhận, và ban hành bởi Quốc hội Anh năm 1982. Nó chấm dứt việc Quốc hội Anh ban hành Luật có hiệu lực trên Canada. Từ đó đến nay Hiến pháp được tu chỉnh bổ sung nhiều lần. Hiến pháp Canada trao quyền Lập pháp cho Quốc hội, bao gồm cả Nử hoàng Anh được đại diện bởi Toàn quyền, một Quốc hội gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện có 308 đại biểu được bầu từ các khu vực bầu cử có nhiệm kỳ 4 năm. Thượng viện có 105 nghị sỉ từ các Tỉnh không đồng đều như Ontario, Quebec mổi tỉnh 24 nghị sỉ, nhưng Tỉnh Edward Island có 4, và mỗi Vùng lảnh thổ có 1 nghị sỉ. Toàn quyền Canada đại diện Nử hoàng Anh là nguyên thủ quốc gia. Nhưng điều hành chính quyền lại trao cho Thủ tướng chính phủ, lảnh tụ đảng chiếm da số ghế đại biểu tại Hạ viện.
Cư dân và lãnh thổ: Con người: dân số 39,187.155 (năm 2016: 34.834.000); dưới 15 tuổi 15,1%, trên 65 tuổi 21,5%. Tăng dân số: 0,7%. Nhập cư: 22,2%. Mật độ dân cư: 4,3 người/km2. Thành phố: 82,1%. Sắc tộc: Các đảo Anh 28%, Pháp 23%, người Châu Âu khác 15%, người Châu Á 12%, người da đỏ Mỹ 2%. Ngôn ngữ: Anh, Pháp (chính cả hai). Tôn giáo: Thiên chúa giáo La mã 43%, Tin lành 23 %, Niềm tin khác 12%, không tôn giáo 16%.. Đất đai: Tổng diện tích: 9.984.670 km2. Diện tích đất: 9.093.507 km2. Địa điểm: phía bắc của Bắc Mỹ, quốc gia lớn nhất ở phía Tây bán cầu. Quốc gia láng giềng: Hoa Kỳ về phía nam. Địa thế: Canada kéo dài 5.512 km từ đông sang tây, và mở rộng từ cực bắc về phía nam tới biên giới Hoa Kỳ. Canada có bờ biển 58.496 km trong đất liền, và 185.249 km bờ của các hải đảo, kể cả các đảo ở Bắc cực, từ Greenland tới gần biên giới Alaskan. Khí hậu: nhiệt độ thường khác nhau từ cái lạnh đến đông đá trong mùa đông đến cái nóng khá gay gắt trong mùa hè. Đất nông nghiệp: 4,3%. Thủ đô: Ottawa 1.465.784. Thành phố đông dân: Toronto 6.491.286, Montreal 4.377.306, Vencouver 2.707.925, Calgary 1.687.902, Edmonton 1.588. 595.
Chính trị và kinh tế: Loại chính quyền: Quân chủ lập hiến Liên bang. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi Toàn quyền Mary Simon, sinh 1947, nhậm chức 26/7/2021. Thủ tướng chính phủ: Mark Carney, sinh 1965, nhậm chức 14/3/2025. Chính quyền địa phương: 10 tỉnh (tiểu bang), 3 vùng lãnh thổ. Ngân sách quốc phòng: 27,0 tỷ. Quân đội chính quy: 62.300. Kinh tế: Công nghiệp khai thác dầu mỏ, trang thiết bị vận tải, hoá chất, chế biến dầu lửa, hơi đốt, sản phẩm gỗ, giấy, và chế biến thực phẩm. Nông sản: lúa mì, lúa mạch, hạt ngũ cốc, hạt có dầu, thuốc lá, trái cây, rau quả. Tài nguyên: quặng sắt, kim loại trắng bạc dùng mạ kim loại (niken), kim loại trắng pha thép chế tạo máy cao tốc (molybdenum), kim loại trắng cứng (zine), chì, đồng, bạc vàng, bồ tạt, cali, cá, gổ, động vật hoang dã, than đá, dầu lửa, khí thiên nhiên, thủy điện. Nguồn nước: 74.753 m3/người. Sử dụng năng lượng: 311,6 triệu Btu/người. Sản xuất điện:615,1 tỷ Kwh. Phân bố lao động: nông nghiệp 1,3%; công nghiệp 19,2%; dịch vụ 79,5%. Thất nghiệp: 6,5%.
Tài chính và an sinh: Đơn vị tiền tệ: Đồng dollar (CAD): 1,38=1USD. Tổng sản lượng nội địa: 2.700,0 tỷ. Bình quân đầu người: 65.463 USD, tăng trưởng: 1,5%. Nhập khẩu: 733,8 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 55,1%, China 8,7%, Mexico 4%. Xuất khẩu: 727,8 tỷ. Bạn hàng: Hoa Kỳ 82,3%, Anh Quốc 2,2%, Nhật Bản 2,1%. Du lịch: 45,4 tỷ. Tiêu dùng: 42,5%. Lạm phát: 2,4%. Vận chuyển: Đường xe lửa: 30.709 mi = 49.134 km. Xe hơi cá nhân 675,6/1000 cư dân. Sân bay 1.459. Truyền thông: Truyền hình: 86,9/100 cư dân. Điện thoại di động: 94,1/100. Internet: 94,0%. Sức khoẻ: Chi phí y tế: 11,2%. Tuổi thọ: nam 82,4, nữ 87,4. Sinh xuất: 9,1/1000 người. Tử xuất: 7,8/1000 người. Trẻ em tử lúc sinh: 3,8/1000. Bà mẹ tử lúc đẻ: 12/100.000 ca đẻ. Thiếu dinh dưởng: dưới 2,5%. Nhiểm HIV: không có số liệu. Nhiểm COVID-19: 12.768/100.000 trong đó có 146 tử vong. Giáo dục: tuổi cưỡng bức đi học: 6-15, biết đọc biết viết: không có số liệu./.
149. UNITED STATE OF AMERICA (HOA KỲ).
Tiến trình phát triển.
Cư dân đầu tiên sống trên lục địa Bắc Mỹ có thể từ thời kỳ Đồ đá Cổ, nhưng cho đến thế kỷ 12 mới lập ra những nơi định cư cố định tại các khu vực phía Đông, nơi có nhiều thuận lợi cho việc gieo trồng và đánh bắt cá. Người Châu Âu đầu tiên đặt chân lên Bắc Mỹ là Tây Ban Nha (Spaniards). Họ lập cơ sở ở Florida trước khi thám hiểm thăm dò về phía Bắc và phía Tây. Santa Fe ở New Mexico được thành lập năm 1610. Nhưng trước đó vào giữa thế kỷ 16 đã có sự tranh giành giữa người Tây Ban Nha và người Pháp (French) đang lập thuộc địa dọc theo sông Lawrence, mà trung tâm là Quebec.
Cho dù nhà thám hiểm của Elizabeth (Anh) háo hức đi khai phá thế giới mới, nhưng cho đến năm 1607, Anh Quốc mới lập được lập được thuộc địa đầu tiên là Jamestown, nơi bây giờ là Nam Virginia. Sau buổi ban đầu đầy nguy hiểm bệnh tật, thiếu đói, hầu hết người định cư đã vượt qua thử thách. Dân số Virginia tăng nhanh, sản xuất đủ thuốc lá đáp ứng nhu cầu xuất khẩu sang Châu Âu. Maryland buổi đầu là một nơi trốn lánh của những người theo Thiên chúa giáo La Mã bị đàn áp, cũng là nơi phát triển mạnh nhờ vào việc sản xuất buôn bán thuốc lá. Sản xuất thuốc lá cung cấp cho thị trường Châu Âu đã tạo ra một sự khan hiểm sức lao động, và thế là người nô lệ da đen được nhập khẩu vào Bắc Mỹ từ Châu Phi.
Năm 1620, hơn một trăm tín đồ Thanh giáo Anh đổ bộ vào Plymonth Rock lập nên một vùng định cư riêng, nơi trở thành thuộc địa Massachusetts. Chẳng bao lâu sau xảy ra chuyện bất hoà với người định cư khác, đó là những người Thiên chúa giáo La Mã chạy thoát sự đàn áp tôn giáo cũng từ Anh Quốc. Điều này nói lên rằng, không phải tất cả những người có niềm tin tôn giáo riêng của họ dể dàng chấp nhận hoà hợp với niềm tin khác quanh họ. Penneylvenia là thuộc địa được ghi nhận như một ngoại lệ sau khi Quaker William Penn trong một đề nghị tự do thờ phụng cho tất cả mọi người thừa nhận một thượng đế tối cao và vĩnh hằng.
Năm 1664, Anh xâm chiếm và nắm quyền kiểm soát các thuộc địa của người Hoà Lan (Dutch) láng giềng, và New Armsterdam nơi trở thành New York. Hầu như tất cả bờ phía Đông được cho là vùng định cư của người Anh, họ mở rộng thám hiểm tìm kiếm từ trong nội địa đất liền. Đối thủ người Châu Âu chủ yếu của họ là người Pháp, đòi quyền lợi một vùng rộng lớn xung quanh đến tận phía Tây nam các hồ lớn (Great Lakes). Với các sắc tộc Indian bản địa đồng minh của cả hai bên, các trận đánh nhau giữa Anh và Pháp có lúc rất khốc liệt trong năm 1744 và 1748. Thế nhưng, phải trong thập kỷ 1850 lực lượng Anh mới đánh bại, và chiếm hầu hết cứ điểm trọng yếu của Pháp.
Sau Hiệp định Paris năm 1763, Anh nắm toàn bộ phía Đông Mississippi của Bắc Mỹ. Trong thời gian đó, Tây Ban Nha giao nộp Florida, và Anh còn chiếm thêm Louisiana từ Pháp. Trong thời kỳ đầu việc xâm chiếm đất làm thuộc địa bị giới hạn tới vùng phía Đông Appalachians, vùng còn lại vẫn còn do người bản địa Indian chiếm giữ. Chẳng bao lâu sau người định cư muốn mở rộng lãnh địa, và người cầm đầu họ ở Luân đôn còn muốn cộng đồng định cư ở Bắc Mỹ hậu thuẩn cho lợi ích thương mại của Anh Quốc. Có khuynh hướng ủng hộ từ Pháp, những người đi xâm chiếm thuộc địa cảm nhận đủ tự tin để thách thức mệnh lệnh từ Anh Quốc, cái mệnh lệnh không, hoặc ít quan tâm đến lợi ích của họ.
Họ đứng lên phản đối luật hàng hải, quy định hàng hoá phải được tàu Anh vận chuyển, và phải chịu nhiều loại thuế khác nhau, nhưng không hề tham khảo ý kiến của họ. "Không đại diện, không đóng thuế" đã trở thành khẩu hiệu của đám đông người tập hợp lại, la hét, nói lên sự bất mãn của người định cư. Trung tâm của sự phản đối là Boston nơi những người quá khích đã phá hoại một tàu hàng của Công ty Đông Ấn. Năm 1775, những người cầm đầu cuộc bạo loạn bị bắt, và chỉ lúc đó mới khơi dậy sự hợp tác của 13 thuộc địa trong hành động bạo loạn xa rộng hơn, kể cả việc thành lập một "Chính quyền defacto". Chính quyền này bổ nhiệm George Washington cầm đầu lực lượng quân sự Mỹ.
Cuộc chiến tranh cho độc lập của các thuộc địa kéo dài. Quân đội Anh không bao giờ có trên 50.000 quân, được hỗ trợ bởi một cơ quan đầy quyền thế của thuộc địa, những người vẫn còn trung thành với Hoàng gia. Bắt đầu từ năm 1776, chiến tranh kéo dài liên tục với cả hai bên có lúc gần như đạt tới chiến thắng. Ý nghĩa quyết định từ việc đầu hàng của tướng Burgoyne và 8.000 quân của ông ta ở thượng New York trong tháng 10/ 1777. Chiến thắng này thuyết phục Pháp cùng tham gia chiến tranh chống Anh Quốc. Sau 7 năm chiến tranh, năm 1783, một Hiệp ước hoà bình được ký, theo đó Anh Quốc giữ lại Canada, còn vùng lãnh thổ kéo dài từ Đại Tây Dương tới Mississippi thuộc về Liên hiệp Quốc gia mới gọi là Liên bang Hoa Kỳ.
Năm 1789, một Hiến pháp dựa trên các nguyên lý dân chủ cùng với các quyền không thể chuyển nhượng, kể cả quyền sở hữu tài sản được công bố và có hiệu lực thi hành. Hiến pháp thành lập thể chế Cộng hoà với chính quyền Liên bang cầm đầu bởi một Tổng thống nắm quyền Hành pháp, một Quốc hội Lưỡng viện (Hạ viện và Thượng viện) nắm quyền Lập pháp, và một cơ quan Tư pháp nắm quyền giải thích Hiến pháp, bởi một toà án tối cao. Vị Tổng thống đầu tiên của Liên bang Hoa Kỳ là George Washington được bầu năm 1789. Và năm 1800, Washington D.C chính thức công bố là thủ đô của quốc gia Liên bang Hoa Kỳ.
Chiến tranh với Anh Quốc lại bùng nổ năm 1812, Anh Quốc mượn cớ chống chiến tranh của Napoleon để tấn công mở rộng lãnh thổ vào Trung tây Hoa Kỳ. Phần nhiều các trận đánh diễn ra trên vùng biên giới Canada, nơi một nỗ lực xâm lăng đã bị đẩy lùi. Louisiana phải trả lại dưới quyền cai trị của Pháp và sau đó bán cho Hoa Kỳ. Nhiều nơi ở Châu Mỹ từng là một phần của đế quốc Tây Ban Nha lúc đó thuộc Mexico. Nhưng năm 1836, Texas tách khỏi Mexico tồn tại như một Cộng hoà độc lập cho đến năm 1845 thì bị sáp nhập vào Liên bang Hoa Kỳ. Điều này dẫn đến chiến tranh với Mêxico. Cuộc chiến kết thúc năm 1848, với việc Hoa Kỳ chiếm thêm các nơi bây giờ là tiểu bang Califonia, Arizona, Colorado, Utah, Nevada, và New Mexico.
Bất cứ một sự khích lệ nào có liên quan đến cuộc chiến của người Châu Âu trong vùng đều bị loại trừ bởi “học thuyết Monroe”. Monroe là vị Tổng thống thứ 6 của Hoa Kỳ (cầm quyền 1817-1825). Monroe công khai tuyên bố, rằng mọi sự can thiệp từ thế giới cũ (chỉ Phương Tây) vào các vấn đề liên quan đến phía “Tây Bán cầu” sẽ không được tha thứ. Nó là một xác định về lòng tự tin, về sự phát triển kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ, như một lời cảnh cáo đanh thép được phát ra trong năm 1823.
Hoa Kỳ bắt đầu bành trướng về phía Tây ngay sau khi độc lập, nhưng tốc độ nhanh hơn lúc triệt hạ được lực lượng hùng mạnh nhất của người bản xứ Indian, và đuổi họ tới một nơi định dành riêng cho người bản xứ. Năm 1846, sau một cuộc tranh chấp với Anh kéo dài, Hoa Kỳ xác định quyền sở hữu Oregon, một hành động như để khuyến khích người ta vào định cư ở California. Hai năm sau, năm 1848, dòng người đổ vào California tìm vàng. Đến thập niên 1850, hệ thống xe lửa đã đưa người và sự hưng thịnh kinh tế tới tận miền Trung và Tây.
Giữa năm 1815 đến 1860 dân số Hoa Kỳ tăng gấp 4 lần từ 8 triệu thành 31 triệu. Năm 1862, đạo luật về trang trại (Homestead Act) ban cấp 160 mẫu Anh cho bất cứ ai muốn thành lập đồn điền. Đến năm 1890, chính sách mở rộng về phía Tây. Sự chuyển đổi từ một xã hội nông thôn tới một thế giới chủ yếu bằng nguồn lực của công nghiệp cũng tạo ra những căng thẳng. Ít nhất giữa các tiểu bang phía Nam đang sở hữu người nô lệ da đen Châu Phi và các tiểu bang còn lại của Liên bang, nơi ủng hộ việc xoá bỏ chế độ sở hữu nô lệ. Các nhân tố kinh tế và nhân quyền cũng có vai trò nhất định, bởi vì nhiều tiểu bang phía Bắc không bằng lòng giá công nhân rẻ mạc ở phía Nam. Ngược lại các tiểu bang phía Nam nơi cung cấp bông sợi lớn nhất thế giới, lại phụ thuộc vào người nô lệ cho sự sống còn, và phát triển kinh tế.
Sự trái ngược về cơ bản đó đưa tới việc các tiểu bang Phía Nam ly khai, lập ra Liên minh mới gọi là Liên minh phía Nam năm 1860-1861. Từ đó thỉnh thoảng có đánh nhau, nhưng nội chiến chỉ bắt đầu khi quân đội phía Nam triệt hạ, và đốt cờ Liên bang tại Fort Sumeter. Tổng thống Lincoln ra lệnh phong toả Liên minh phía Nam và sau đó cả hai bên ráo riết tuyển quân. Chiến tranh mở rộng, và máu đổ nhiều hơn. Số thương vong của hai bên nhiều hơn cả hai cuộc chiến tranh thế giới sau này cộng lại. Sự tương quan lực lượng kéo dài cho đến khi phía bắc siết chặt vòng vây, và đạt chiến thắng tại trận đánh Gettysburg. Tuy nhiên, chiến tranh còn tiếp tục cho đến khi tướng Robert E. Lee cùng với 27.800 quân đầu hàng tướng Uysses S.Grant tại Appromatox Conrthouse ở Virginia ngày 9/4/1865.
Ngày 18/4/1865, tướng J.E. Johnston đầu hàng với 31.200 quân tại căn cứ Durham ở Bắc Carolinia. Và cuối cùng quân Liên minh phía Nam đầu hàng ngày 26/5/1865. Xin lưu ý rằng, chỉ 5 ngày sau khi tướng Lee đầu hàng thì ngày 14/4/1865, Tổng thống Lincoln bị ám sát. Nhưng sự kiện ấy không hề ảnh hưởng đến việc đầu hàng của tướng Johnston và toàn bộ quân Liên minh phía Nam trong tháng tư và tháng năm, năm1865.
Ngày 30/3/1867, thông qua nỗ lực của Bộ trưởng William.H.Seward, Hoa Kỳ đã mua được vùng Alaska phía Tây bắc Canada, nay là tiểu bang Alaska của Nga (Russian) với giá 7,2 triệu USD. Hoa Kỳ có lợi ích trên việc mở rộng đường biên giới, đó là nguyên nhân đưa đến chiến tranh với Tây Ban Nha năm 1898. Và kết quả là Hoa Kỳ trở thành thế lực mạnh nhất thống trị vùng Caribbean. Tây Ban Nha bị buộc phải nhường quyền cai trị thuộc địa Philippines, quốc gia đảo phía Đông Nam Châu Á cho Hoa Kỳ. Năm 1900, Hoa Kỳ bắt đầu cạnh tranh với Anh, và Đức về quyền lực thống trị thế giới. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên rộng lớn, và năng lực sản xuất chiếm 11% hàng hoá trao đổi trên thế giới, nó chỉ cho người ta thấy rằng không bao lâu nữa Châu Âu sẽ bị thu hẹp trên các vấn đề quốc tế sự vụ.
Dù là vậy, mỉa mai thay Châu Âu là người cung cấp lao động cho Hoa Kỳ như một nguồn lực cần thiết khác để thực hiện các dự án đầy hứa hẹn của nó. 28 triệu người Châu Âu nhập cư vào Hoa Kỳ từ năm 1881 đến 1920 minh chứng cho điều này. Sự pha trộn chủ nghĩa quốc gia đã tạo thành một Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong những năm đầu của thế kỷ 20. Tất cả điều này cộng lại đã không làm cho người ta ngạc nhiên chút nào, khi công chúng Hoa Kỳ chống lại việc can dự vào chiến tranh Thế giới lần thứ I.
Cho đến năm 1917, khi tàu chiến Đức tấn công thương thuyền Mỹ, thì Hoa Kỳ mới quyết định tham chiến cùng với phe Đồng minh chống lại Đức Quốc. Quân viễn chinh Hoa Kỳ đi vào cuộc chiến làm cho phe Đồng minh phục hồi sức mạnh. Bằng các trận đánh đột phá, trận chiến xoay chiều nghiêng hẵn về phía Đồng minh. Và, phe Đồng minh đã giành được thắng lợi cuối cùng năm 1918. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ không còn hấp dẫn lắm bởi các sự xung đột với Châu Âu. Người ta nghi ngờ rằng, quốc gia hùng mạnh này như muốn hướng đến một sự độc lập về chính trị, khi đưa ra các đề nghị dự thảo tại Hội nghị hoà bình Versailles.
Nhưng, Tổng thống Wilson đã vượt qua được nhờ kế hoạch 14 điểm về an ninh chính trị thế giới, theo đó các quốc gia thắng trận lập ra một tổ chức mới gọi là Hội Quốc Liên, với nhiệm vụ giúp các quốc gia có tranh chấp với nhau, đạt tới một giải pháp giải quyết vấn đề thông qua thương thảo hoà bình. Hội Quốc Liên đi vào hoạt động cho tới khi nó được thay thế bởi Liên Hiệp Quốc. Thế nhưng, năm 1920 Thượng viện Hoa Kỳ đã phản đối việc nước này trở thành thành viên của Hội Quốc Liên, và Hoa Kỳ lại đi vào cô lập với thế giới bên ngoài. Dĩ nhiên, sự thiếu vắng của quốc gia hùng mạnh Hoa Kỳ đã làm cho Hội Quốc Liên mất đi một nguồn lực cần thiết để làm tròn chức năng duy trì hoà bình thế giới. Và mâu thuẩn thế giới lại phát sinh, thế là chiến tranh Thế giới lần thứ II bùng nổ.
Cùng với việc phát triển kinh tế trở lại, cộng đồng người da trắng theo đạo Tin lành cũng đang phấn đấu, và đã đạt tới một sự biến đổi rất ngạc nhiên về giá trị xã hội. Ngoài ra, trong một nỗ lực nhằm nâng cao sức khoẻ công dân, chính quyền Liên bang ban hành Luật cấm uống rượu, hiệu lực thi hành đặt những người say sưa ra khỏi vòng pháp luật. Giấc mơ về sự giàu có của Liên bang Hoa Kỳ bị phá vỡ khi thị trường chứng khoán sụp đổ năm 1929. Tiếp đó một loạt các ngân hàng phá sản bởi các công ty kinh doanh không thành công. Hàng hoá bị ứ đọng, công nhân thất nghiệp làm cho nền kinh tế đi vào khủng hoảng trầm trọng.
Sự đau khổ của công chúng đến cùng cực, và được bắt đầu cải thiện khi Frankin D.Roosevelt được bầu vào chức vụ Tổng thống. Ông ta thúc đẩy Quốc hội thông qua một loạt các biện pháp cải cách triệt để, rộng lớn gọi là “giải pháp tổng hợp” giải quyết tình hình, hướng tới sự hồi sinh quốc gia. Hạ thấp lãi suất giúp các nhà máy và nông trại tái hoạt động, đầu tư nhiều hơn cho các công trình công cộng. Giải pháp tổng hợp quả đã phục hồi được nền kinh tế, dù vậy tình trạng thất nghiệp vẫn còn cao, cho đến khi nền sản xuất tăng nhanh lên bởi yêu cầu của một cuộc chiến tranh Thế giới khác (Thế chiến II).
Roosevelt được cảnh báo về sự an nguy của Hoa Kỳ, nếu chế độ độc tài phát xít Đức đạt tới sự "khải hoàng" của nó. Nhưng cũng như chiến tranh Thế giới lần thứ I, Roosevelt khó mà vượt qua được sự chống đối của nhân dân Mỹ, nên ông ta đã chọn giải pháp cung cấp trang thiết bị quân sự cho Anh Quốc với những điều kiện đặc ân. Cuối cùng các sự kiện ở Châu Á hơn là Châu Âu đã thuyết phục Hoa Kỳ tham chiến. Nhằm chống lại việc Nhật Bản xâm lăng Trung Quốc và Đông Nam Á, Hoa Kỳ áp đặt lệnh cấm vận dầu hoả và phong toả tài sản của Nhật Bản tại nước Mỹ. Để trả đũa ngày 7/12/1941, Nhật Bản tung ra một cuộc hành quân thần tốc, đánh phá hầu hết tàu chiến của Mỹ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbour) giết chết 2.300 quân Mỹ.
Ngày 8/12/1941, Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật. Ba ngày sau, ngày 11/12/1941 Đức, Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ. Lúc đầu quân đội Mỹ nhắm vào Thái Bình Dương, nhưng sau năm 1942, Hoa Kỳ được giao trách nhiệm mặt trận Bắc Phi và Châu Âu. Ngày 8.11/1942 quân Anh-Mỹ chiếm Bắc Phi, ngày 9/7/1943 quân Anh Mỹ chiếm Sicily, và chiếm nội địa Italy ngày 3/8/1943. Ngày 6/6/1944 Liên quân Hoa Kỳ và Đồng minh đổ bộ lên bờ biển Nomandy, phía Tây bắc nước Pháp, từ đó đẩy quân chiếm đóng Đức ra khỏi nước Pháp.
Ngày 4-10/2/1945, Hội nghị Yalta họp tại Grimea, Liên Xô, cả ba nhà lãnh đạo Mỹ, Anh, và Liên Xô đi đến sự thống nhất là ba quốc gia cùng với Pháp sẽ đánh chiếm Đức. Ngày 12/4/1945, Tổng thống Roosevelt từ trần, Phó Tổng thống Harry S. Truman trở thành Tổng thống. Ngày 7/5, Đức đầu hàng Đồng minh ở Châu Âu, nhưng tại Châu Á, Nhật Bản vẫn còn kháng cự. Ngày 6/8/1945, quả bom nguyên tử đầu tiên do Mỹ sản xuất ném xuống thành phố Hiroshima giết 75.000 người, và quả thứ hai ném xuống thành phố Nagasaki ngày 9/8 giết 46.000 người. Nhật Bản chính thức đầu hàng vô điều kiện ngày 14/8/1945.
Sau chiến tranh Liên Xô chi phối mạnh mẽ vào Châu Âu, đặc biệt là Đông Âu và Trung Âu. Hoa Kỳ cảm thấy cần thiết phải nhận trách nhiệm lãnh đạo thế giới tự do, ngăn chặn sự đe doạ của Liên Xô bằng cách thành lập Khối Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương gọi tắt là NATO vào ngày 24/8/1949. Trước đó, trong năm 1947, Quốc hội Hoa Kỳ đã chấp nhận chuẩn cấp 14 tỷ tái thiết Châu Âu theo đề nghị của Bộ trưởng George C.Marshall. Hoa Kỳ cũng trợ giúp Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ chống lại sự tấn chiếm của Cộng sản tại 2 nước nầy. Các việc làm này không được công chúng Hoa Kỳ ủng hộ, có nguy cơ đưa nước Mỹ vào sự cô lập, tách ra khỏi các vấn đề sự vụ của thế giới như trước Đệ I và Đệ II thế chiến. Cho đến tháng 9 năm 1949, khi Trung Quốc bị rơi vào tay Cộng sản mới thức tỉnh được dân chúng Mỹ.
Năm 1950, Hoa Kỳ gởi quân đội trợ giúp Nam Triều Tiên khi nước này bị Cộng sản Bắc Triều Tiên xâm lăng. Tuy dưới danh nghĩa lực lượng Liên Hiệp Quốc, cuộc hành quân đánh trả hoàn toàn do quân đội Hoa Kỳ lãnh đạo bởi tướng Douglas Mac Arthur. Khi thấy quân đội Trung Quốc trở thành lực lượng chính của cuộc xâm lăng, Mac Arthur tuyên bố sẽ mở rộng chiến tranh vào nội địa Trung Quốc. Lời đe doạ đó bị Tổng thống Truman phản đối, bằng cách buộc Mac Arthur từ chức. Điều này như để xác lập quyền không còn tranh cải là chính trị luôn ở trên quân sự. Cuộc thương thảo hoà bình chấm dứt chiến tranh Triều Tiên ngày 27/7/1953.
Hoa kỳ lại phải can dính vào một cuộc chiến tranh khác liên quan đến Cộng sản ở Đông Dương, bằng cách viện trợ 60 triệu USD cho Pháp. Năm 1954, trong khi Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Cộng sản Việt Nam) Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên Xô họp Hội nghị tại Geneve (Quốc gia Việt Nam thành lập năm 1949 chỉ là Quan sát viên) tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh Đông Dương, thì quân đội Pháp bị quân đội Cộng sản Việt Nam đánh bại tại Điện Biên Phủ. Sự kiện này, ảnh hưởng lên chính sách Mỹ trong một thời gian dài.
Hội nghị Geneve đạt tới việc ký Hiệp định tháng 7 năm 1954, kết thúc chiến tranh Đông Dương, quân đội Pháp rút khỏi Việt, Miên, Lào, Việt Nam tạm thời chia thành hai miền lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, hai năm sau Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Trong thời gian chờ đợi, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hồ chí Minh lãnh đạo quản lý miền Bắc và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo quản lý miền Nam. Ngày 8/9/1954, một tổ chức phòng thủ Đông Nam Á (SEATO), tương tự tổ chức NATO được ký kết tại Manila, Phi Luật Tân gồm 8 nước: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Pakistan, và Thái Lan.
Ngày 12/2/1955, Hoa kỳ đồng ý trợ giúp huấn luyện và viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. Ủng hộ Thủ tướng chống cộng Ngô Đình Diệm với ý định dùng Nam Việt Nam như một tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Mỹ cung cấp tiền bạc, và phương tiện để Ngô Đình Diệm đưa gần 1 triệu người theo Thiên Chúa giáo từ Bắc vào Nam. Tại trong nội địa nước Mỹ, các quyền dân sự được đưa lên hàng đầu trong chương trình hành động chính trị. Biện pháp chống tệ nạn xã hội, và nâng cao quyền sống của thượng nghị sĩ Mc Carthy, và Uỷ ban Xã hội Hạ viện, tập trung vào các quyền tự do dân chủ.Quyền “tự do dân chủ” bảo đảm bởi Hiến Pháp được mở rộng ra ngay cả những người chưa mang quốc tịch Mỹ.
Công cuộc vận động chống kỳ thị chủng tộc của các tổ chức xã hội cũng mang lại kết quả. Và Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật tạo thêm cơ hội bình đẳng trong việc làm, và về giáo dục. Phong trào vận động các quyền dân sự đạt tới đỉnh cáo đầu thập niên 1960, khi luật Liên bang có hiệu lực thi hành ở các Tiểu bang phía Nam, dẫn tới các hành động bạo loạn chống lại những người “phản đối tự do”. Sự căng thẳng xã hội trở nên xấu hơn khi phải đối đầu với "cuộc chiến tranh lạnh" và cũng là một trong những thử thách lớn nhất của Tổng thống Kennedy. Đó là năm 1962, lúc Liên bang Xô viết đặt các tên lửa có đầu đạn hạt nhân tại Cuba, đe doạ nền an ninh nước Mỹ.
Tại thời điểm ấy, người ta nghĩ rằng cuộc chiến tranh thế giới như đã gần kề. Nhưng rồi một thoả ước giữa hai cường quốc cũng đạt được. Theo đó, Liên Xô phải rút các tên lửa có đầu đạn hạt nhân ra khỏi Cuba, và đổi lại Hoa Kỳ cũng phải rút tên lửa có đầu đạn hạt nhân ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, tổng thống Kennedy còn phải cam kết sẽ không xâm lăng Cuba. Thật ra "chiến tranh lạnh" bắt đầu từ cuối thập niên 1940, và kéo dài tới cuối thập niên 1980, nhưng chỉ có bốn sự kiện dể thấy là cuộc chiến tranh Triều Tiên, xung đột Đông-Tây Berlin, tên lửa hạt nhân Cuba, và chiến tranh Việt Nam.
Hoa Kỳ can dính vào Nam Việt Nam đầu thập niên 1950, đạo diễn "trưng cầu dân ý" truất phế Bảo Đại; hậu thuẩn Ngô Đình Diệm chống Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam; cấp viện trợ kinh tế; đặt cố vấn quân sự, nhưng chỉ sau cái gọi là “sự kiện vịnh Bắc Bộ” thì ngày 7/8/1964, Quốc hội Hoa Kỳ mới cho phép Tổng thống Mỹ toàn quyền quyết định các biện pháp đối phó tại Việt Nam. Từ đó, Hoa Kỳ bắt đầu ném bom bắn phá Bắc Việt Nam, đến ngày 29/6/1966, thì máy bay Mỹ ném bom vào khu vực Hà Nội. Cuối năm 1966, có tới 385.300 quân sĩ Mỹ tại Nam Việt Nam, cùng với 60.000 quân ở ngoài khơi bờ biển, và 33.000 quân đóng trú ở Thái Lan. Có trên 50.000 người biểu tình chống chiến tranh Việt Nam tại Washington trong hai ngày 21-22/7/1967 .
Ngày 30.01.1968, quân Cộng sản tấn công vào Sài Gòn và Thành phố của 30 tỉnh, lực lượng Hoa Kỳ và Nam Việt Nam phản công đẩy quân đối phương ra khỏi các thành phố gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Johnson ra lệnh hạn chế ném bom Bắc Việt Nam, và ngày 10/5/1968 cuộc thương thảo hoà bình Hoa Kỳ - Bắc Việt Nam bắt đầu tại Paris. Ngày 31/10/1968, Mỹ ngưng ném bom Bắc Việt Nam. Ngày 18/1/1969, hoà hội Việt - Mỹ tại Paris, mở rộng thành bốn bên tham dự (thêm Việt Nam Cọng hoà và chính phủ Lâm thời Nam Việt Nam).
Tháng 1/1969, Richard Nixon tuyên thệ nhậm chức Tổng thống, đánh bại ứng cử viên Hubert Humphrey trong cuộc bầu cử ngày 5/10/1968. Tháng 4/1969, quân số Hoa kỳ tham chiến tại Việt Nam đạt tới đỉnh cao 543.400, và trên 50.000 quân đồng minh của Mỹ là Nam Triều Tiên, New Zealand, Australia, Philippiness. Ngày 15/11/1969, cuộc biểu tình lớn nhất chống chiến tranh Việt Nam ở Washington có tới 250.000 người tham dự. Hôm sau, ngày 16/11/1969 một phúc trình về cuộc tàn sát hàng trăm người tại làng Mỹ Lai, tỉnh Quãng Ngãi, Nam Việt Nam. Trung uý William Calley bị cáo buộc giết 22 người ở Mỹ Lai bị kết án tù chung thân ngày 31/3, và được giảm án xuống còn 20 năm ngày 20/8/1971.
Ngày 30/4/1970 quân đội Hoa Kỳ, và Nam Việt Nam tấn công căn cứ quân sự của Cộng sản Việt Nam bên trong nội địa Campuchia. Ngày 21/2/1972, Tổng thống Nixon thăm viếng Trung Quốc, trong điều người ta gọi là "Hành trình tìm kiếm hoà bình". Ngày 30/3/1972, lực lượng Bắc Việt Nam vượt qua ranh giới phi quân sự tấn công tỉnh biên giới Quảng Trị, nhiều tỉnh ở Cao nguyên và miền Nam. Hoa Kỳ đáp trả bằng cách tái ném bom Hà Nội, Hải Phòng và cài thuỷ lôi cửa cảng Hải Phòng. Ngày 22/5/1972, Nixon thăm Liên bang Xô viết họp thượng đỉnh với các nhà lãnh đạo Liên Xô về hiệp ứơc chiến lược quân sự.
Ngày 7/11/1972, tổng thống Nixon tái đắc cử nhiệm kỳ 2. Ngày 18/12/1972, dưới cái gọi là để giải toả bế tắc trong cuộc thương thảo hoà bình tại Paris, Hoa Kỳ tái ném bom Bắc Việt Nam với mức độ ác liệt hơn, nhất là tại Hà Nội. Ngày 27/1/1973, tại Paris bốn bên tham dự hoà đàm Paris chính thức ký kết Hiệp ước hoà bình tại Việt Nam. Và ngày 1/4/1973, Bắc Việt Nam phóng thích 590 tù binh Mỹ bị bắt trong chiến tranh.
Từ cuối thập niên 1940, Phong trào Cộng sản thế giới như một cơ thể thống nhất chiếm 40 triệu trên 140 triệu km2 diện tích đất của thế giới, gồm 15 nước trong Liên bang Xô viết, 8 nước Đông Âu, manh nha chiếm chính quyền Hy Lạp ở Nam Âu, Thổ Nhĩ Kỳ ở Tây Á. Trong khi Cộng sản đang nắm quyền tại Mông Cổ, Trung Quốc, Bắc Hàn ở Trung và Đông Á. Cùng thời điểm nầy, Cộng sản Đông Dương và Đông Nam Á như Việt, Miên, Lào, Mã Lai, Phi Luật Tân và Nam Dương đang trên đà lớn mạnh, thì Hoa Kỳ chưa lập được tuyến phòng thủ xa. Cho nên, Mỹ hết lòng ủng hộ chính quyền chống cộng Ngô Đình Diệm, với ý đồ dùng Nam Việt Nam như một “tiền đồn chống cộng".
Đến giữa thập niên 1960, khi phong trào Cộng sản thế giới chia rẽ: Trung Quốc với Liên Xô, Liên Xô với Nam Tư, rồi Albamia ly khai khỏi Liên Xô liên minh với Trung Quốc, cùng với việc củng cố được tuyến phòng thủ xa bằng cách ủng hộ Marcos, và Suharto nắm quyền bính ở Phi Luật Tân, và Nam Dương (1965), thì Hoa Kỳ không xem Nam Việt Nam như một tiền đồ chống cộng nữa (bởi quá tốn kém và không hiệu quả). Thế là, Nixon đưa ra học thuyết "Việt Nam hoá chiến tranh". Tháng 8/1969, Hoa Kỳ bắt đầu rút quân ra khỏi Nam Việt Nam, và đến tháng 6/1973, toàn bộ quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam đều trở về Mỹ.
Tái đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 1973-1977, Nixon với vẻ tự hào đắc thắng, thế nhưng, không bao lâu sau đó sóng gió chính trị ập đến với ông ta. Ngày 30/4/1973, ba trợ lý hàng đầu, và Bộ trưởng Tư pháp phải từ chức để bị điều tra về vụ Watergate. Ngày 10/10 người Phó của ông ta Sprio T.Agnew phải từ chức Phó Tổng thống vì bao che cho một nhà thầu trốn thuế khi Agnew còn làm Thống đốc Maryland. Ngày 24/4/1974, Toà án tối cao ra phán quyết yêu cầu Nixon phải giao nộp cho toà 24 cuộn băng ghi âm liên quan đến Watergate được lưu trữ tại toà Bạch Ốc. Ngày 9/5/1974, từ kết quả điều tra Ủy ban Tư pháp Hạ viện tiến hành thủ tục truy tố Tổng thống Nixon.
Từ ngày 24 đến 30/7, căn cứ vào điều 3 Hiến pháp, Ủy ban Tư pháp Hạ viện tiến hành xét xử Tổng thống Nixon về 3 tội trạng: (1) tội có âm mưu bất chính cản trở công lý, giấu giếm bao che vụ Watergate (27/38), (2) tội lạm dụng quyền hành (28/38, (3) tội bất tuân trát đòi hầu toà của Uỷ ban (21/38). Sau đó Hạ viện nghe tường trình của Uỷ ban Tư pháp trong đó có kết luận buộc tội Tổng thống Nixon, và đã chấp nhận với 412/414 dân biểu hiện diện. Ngày 8/8/1974, Nixon tuyên bố từ chức, và chính thức từ chức ngày 9/8. Cùng ngày, Phó Tổng thống Gerald R. Ford tuyên thệ nhận chức Tổng thống thứ 38 của nước Mỹ.
Tháng sau ngày 8/9/1974, Tổng thống Ford ban hành sắc lệnh đặc xá cho cựu Tổng thống Nixon về tất cả các tội hình sự mà ông ta đã phạm trong thời gian làm Tổng thống. Vị Tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ, Gerald R. Ford không phải do dân bầu, ông ta đảm nhiệm Phó Tổng thống do hành vi bất chính của Phó tổng thống Agnew, và bây giờ nhậm chức Tổng thống cũng tại do hành vi phạm pháp của tổng thống Nixon. Từ vị thế đó, người đứng đầu ngành hành pháp có vẻ yếu thế so với ngành lập pháp.
Tháng 3/1975, Nam Việt Nam tiền đồn chống Cộng của Mỹ bị Cộng sản tấn công, Ford không có quyền đáp trả như hai Tổng thống tiền nhiệm: Johnson trong Mậu Thân năm 1968, và Nixon Mùa hè Đỏ lửa năm 1972. Đề nghị chuẩn cấp 300 triệu mua đạn dược tiếp tế khẩn cấp cho Nam Việt Nam của Ford không được Quốc hội chấp thuận, khiến chính phủ Việt Nam Cộng hoà phải rút khỏi Cao nguyên. Ngày 29/4/1975, Hoa Kỳ tung ra một cuộc hành quân khẩn cấp sơ tán tất cả người Mỹ còn lại ở Nam Việt Nam và một số người Nam Việt Nam ra khỏi Sài Gòn. Và hôm sau 30/4/1975, Cộng sản chiếm Sài Gòn, chính quyền Nam Việt Nam tuyên bố đầu hàng.
Ngày 16/5, Quốc hội chấp thuận chi 405 triệu tài trợ cho 140.000 người tị nạn Nam Việt Nam chạy trốn Cộng sản vào nước Mỹ. Đối với công chúng Hoa Kỳ vụ Watergate chưa lắng đọng, giờ lại dằn vặt bởi mặc cảm thua trận. Họ bỏ ra nhiều trăm tỷ đôla, và 54.000 mạng sống của công dân Mỹ cho cuộc chiến Việt Nam, một cuộc chiến mà một số người Mỹ cho là "tàn nhẫn - bỉ ổi". Đảng Dân chủ giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11/1976. Sau khi nhậm chức ngày 21/1/1977, Tổng thống Jimmy Carter, ban hành lệnh ân xá cho những người trốn tránh tòng quân trong thời gian chiến tranh Việt Nam.
Ngày 4/11/1979, dân quân Hồi giáo quá khích của Khơmeini xâm nhập Toà đại sứ Mỹ ở Tehran, Iran. Sau khi chiếm Sứ quán, bắt giữ 90 người làm con tin, trong đó có 63 người Mỹ, Giáo chủ Ayatollah Khomeini đòi Mỹ phải giao trả nhà vua Iran là Shah Muhammad Reze Pahlavi đang trị bệnh ở thành phố New York về Iran. Ngày 24/4/1980, trong một nỗ lực giải cứu con tin Hoa Kỳ đang bị giam ở Iran không thành công, làm 8 người Mỹ chết và 5 người bị thương.
Trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 4/11/1980, Ronald Reagan của đảng Cộng hoà thắng cử trước đương kim Tổng thống Carter. Ngày 20/1/1981, vài phút sau khi Ronald Reagon tuyên thệ nhậm chức Tổng thống, 52 con tin người Mỹ bị giam ở Iran được trả tự do sau 444 ngày bị giam cầm. Ngày 30/3/1981, Reagon bị bắn trọng thương, nghi can John W. Hinekley Jr bị bắt nhưng được xem là vô tội vì anh ta bị điên loạn. Ngày 23/10/1983, một người mang bom tự sát vào tận Bộ tư lệnh Thuỷ quân Lục chiến Hoa Kỳ đóng tại sân bay quốc tế Beirut ở Lebanon kích nổ giết chết 241 Thuỷ quân Lục chiến.
Ngày 3/2/1984, tàu con thoi Challenger được phóng lên không trung trong chuyến hành trình lần thứ 4 của nó, và ngày 7/2, Đại tá hải quân Bruce Mc Candless và Trung tá lục quân Robert Steward trở thành những người đầu tiên của con tàu con thoi bay trong vũ trụ không hạn chế thời gian. Tháng 11/1984, Tổng thống Reagon tái đắc cử nhiệm kỳ 2 (1985-1988). Tại thời điểm này, ở Liên Xô, Mikhail Gorbachev được bầu làm Tổng bí thư đảng Cộng sản ngày 10/3/1985, bắt đầu tiến trình cải cách và đổi mới, nên quan hệ Liên Xô - Hoa Kỳ cũng được cải thiện. Ngày 8/12/1987, Tổng thống Reagon và Chủ tịch Mikhail Gorbachev họp thượng đỉnh, ký hiệp ước phá huỷ các tên lửa có tầm bắn từ 300 đến 3400 milies gồm 1.752 của Hoa Kỳ và 850 của Liên Xô.
Ngày 8/11/1988, Phó tổng thống George H.W. Bush được bầu làm Tổng thống nhiệm kỳ (1989-1992). Ngày 10/8/1989, Bush bổ nhiệm Tướng lục quân Colin Powell làm Chủ tịch Uỷ ban Tham mưu Liên quân, là người da đen đầu tiên nắm giữ chức cao nhất trong quân đội Hoa Kỳ. Ngày 20/12/1989, quân Mỹ xâm lăng Panana lật đổ chính quyền Monuel Noriego bị Mỹ tố cáo liên quan đến ma tuý. Ngày 17/1/1991, Mỹ và đồng minh Anh đánh bại Iraq trong chiến tranh vùng vịnh, đẩy Iraq ra khỏi Kuwait, quốc gia bị Iraq xâm chiếm từ tháng 8/1990.
Ngày 3/11/1992, Bill Clinton ứng cử viên của đảng Dân chủ đắc cử Tổng thống, sau 3 nhiệm kỳ chức vụ này nằm trong tay đảng Cộng hoà. Ngày 26/2/1993, một quả bom phát nổ ở bãi đậu xe tầng dưới Trung tâm Thương mại Thế giới ở thành phô New York giết chết 6 người. Ngày 19/7/1993, Bill Clinton tuyên bố không đề nghị, không cản trở, không khuyến khích đồng tính luyến ái trong quân đội. Ngày 10/8, tổng thống Clinton đưa ra kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách 496 tỷ cho 5 năm tới, thông qua chương trình giảm chi và thuế khoá. Ngày 1/1/1994, Hiệp ước Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ có hiệu lực thi hành. Ngày 21/2/1994, viên chức CIA thâm niên Aldrick Arons và vợ ông ta bị buộc tội làm gián điệp, ông ta nhận án tù chung thân và vợ 63 tháng tù.
Từ ngày 29/6 đến 4/7/1995, tàu con thoi Atlantic của Hoa Kỳ lần đầu tiên tiến hành một loạt các cuộc ráp nối với trạm không gian MIR của Nga. Ngày 21/11, các bên tham chiến ở Bosnia và Herzegovinia đạt tới thoả thuận chấm dứt xung đột chính thức ký hiệp ước ngày 14/12/1995. Ngay sau đó, 20.000 quân giữ gìn hoà bình của Mỹ đầu tiên đến Bosinia. Do bế tắc về đề nghị ngân sách giữa Quốc hội và Tổng thống Clinton, một số cơ quan của chính quyền phải đóng cửa từ ngày 14/11, và tái mở cửa hoạt động ngày 20/11/1005 bởi các giải pháp sau đó. Ngày 26/1/1996, Thượng viện phê chuẩn Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược lần thứ 2.
Ngày 26/9, Shannon Lucid hoàn thành cuộc du hành vũ trụ 188 ngày, là phi hành gia phụ nữ Hoa Kỳ đầu tiên được ghi nhận. Ngày 5/11/1996, Tổng thống Clinton tái đắc cử nhiệm kỳ II (1997-2000). Ngày 23/1/1997, Madeleine Albright tuyên thệ nhậm chức Bộ trưởng Ngoại giao, là phụ nữ đầu tiên cầm đầu bộ này. Ngày 26/3, người ta tìm thấy 39 người chết trong một căn nhà lớn ở Rancho Santa Fe, California (CA), là một cuộc tự sát tập thể của các người theo một phái giáo gọi là "Cánh cổng Thiên đường" (Heaven's Gate).
Ngày 21/1/1998, Kenneth Starr điều tra viên độc lập điều tra vụ tai tiếng Whitewater, trong báo cáo của mình ông đưa ra bằng chứng về mối quan hệ tình dục giữa Tổng thống Clinton và thư ký tập sự Monica Lewinsky trong khuôn viên toà Bạch Ốc. Clinton chối bỏ chuyện tình này. Ngày 28/7, Monica Lewinsky đồng ý cung khai trước bồi thẩm đoàn những gì liên quan đến vụ Whitewater để được ban cấp đặc ân miễn tố. Ngày 6/8/1998, cô tự nhận mình có quan hệ tình dục với Tổng thống Clinton, nhưng chưa bao giờ cô ta được đề nghị "làm tình nằm", nằm xuống để làm tình. Ngày17/8, khai với bồi thẩm đoàn và cả trong lời nói xin lỗi công chúng, Clinton thừa nhận có quan hệ tình dục không chính đáng với Monica Lewinsky.
Ngày 9/9/1998, Kenneth Starr gởi cho Hạ viện một tập hồ sơ liên quan, để từ đó hạ viện buộc tội Clinton. Ngày 5/10, Uỷ ban Tư pháp Hạ viện thông qua quyết định tiến hành thủ tục buộc tội Clinton với 21/37 thành viên. Ngày 8/10, Hạ viện đồng ý tiến hành thủ tục buộc tội Clinton theo đề nghị của Uỷ ban Tư pháp với 258/434 dân biểu hiện diện. Ngày 19/12, Hạ viện chấp thuận hai cáo buộc của Bồi thẩm đoàn về hành vi phạm tội của Tổng thống Mỹ: (1) tội man khai hữu thệ (228/434), (2) tội cản trở công lý (221/434) liên quan tới việc che dấu quan hệ tình dục của ông ta với nguyên thư ký tập sự Monica Lewinsky trong khuôn viên toà Bạch Ốc.
Tổng thống Clinton còn liên quan đến một quan hệ tình dục khác, đó là Paula Corbin Jones. Mặc dù ngày 1/4/1998, Toà án Liên bang bác bỏ vụ kiện, rằng bà Paula bị Clinton khuấy nhiễu tình dục khi ông này còn làm Thống đốc Tiểu bang, nhưng ngày 13/11, Clinton phải trả cho bà P.C.Jones 850.000 USD như một cuộc điều đình ngoài toà án. Ngày 7/1/1999, phiên xử buộc tội Tổng thống Bill Clinton lần thứ 2 được diễn ra tại Thượng viện trên 2 cáo buộc của Hạ viện. Ngày 12/2 Thượng viện biểu quyết: (1) tội man khai hữu thê (45/100) nghị sĩ hiện diện, (2) tội cản trở công lý (50/50). Cả hai tội trạng đều không đủ 2/3 số phiếu cần thiết để buộc tội.
Ngày 30/9/1998, Tổng thống Bill Clinton công bố thặng dư ngân sách 70 tỷ, là lần đầu tiên ngân sách quốc gia thu nhiều hơn chi kể từ năm 1969. Ngày 7/2/2000, Tổng thống Clinton đệ trình Quốc hội ngân sách thu chi Liên bang 2000-2001, ngân sách cuối cùng của ông ta. Dự án ngân sách thặng dư tới 184 tỷ là ngân sách thặng dư liên tục trong 3 năm nay, cũng là ngân sách thặng dư cao nhất chưa hề có trước đó.
Cuộc bầu cử Tổng thống thứ 43 (nhiệm kỳ 2001-2004) ngày 7/11/2000, còn lại 25 phiếu bầu của tiểu bang Florida vẫn chưa được xác định. Ngày 8/12, toà án tối cao Florida ra lệnh đếm lại tất cả phiếu bầu bằng tay bởi vì sự trục trặc của máy đếm phiếu. Ngày 12/12, toà án tối cao Liên bang đảo ngược quyết định đó. Ngày 13/12, Phó Tổng thống Gore chấp nhận thất bại trên truyền hình. Ngày 6/1/2001, Quốc hội xác nhận George W.Bush chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống với số phiếu 271 chọi 266. Ngày 26/5, Quốc hội chấp thuận chương trình cắt giảm ngân sách 1.350 tỷ, kéo dài trong 10 năm. Ngày 9/9, Tổng thống Bush tuyên bố ông ta sẽ giới hạn việc cấp ngân quỹ cho công trình nghiên cứu, và sử dụng các phôi thai cơ thể con người.
Sáng 11/9/2001, 2 máy bay thương mại bị không tặc cướp đâm vào phá sập toà nhà song lập của Trung tâm Thương mại Thế giới ở thành phố New York. Chiếc máy bay bị cướp thứ ba phá sập một phần Ngũ giác đài, và chiếc thứ tư bị nổ tung ở Pennsylvinia, sau khi vài tên không tặc là hành khách xông vào buồng lái. Đây là vụ tấn công khủng bố tệ hại nhất chưa hề có trên đất Mỹ. Ngày 21/9 Quốc hội chuẩn cấp 15 tỷ trợ cấp đặc biệt cho công nghiệp hàng không bị tạm hoãn các chuyến bay, và công nhân mất việc. Ngày 7/10, Mỹ và Anh tung ra một chiến dịch oanh kích nhắm vào các cứ điểm của tổ chức khủng bố al-Qaeda và dân quân Taliban đang thống trị Afghanistan. Ngày13/11, lực lượng Taliban tại Kabul thủ đô Afghanistan đầu hàng, và ngày 7/12/2001, rút chạy khỏi Kandahar, cứ điểm cuối cùng của họ.
Ngày 25/12/2001, Tổng thống Bush chính thức công bố bình thường hoá về thương mại với Trung Quốc có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2002. Đầu năm 2002, Tổng thống Bush tuyên bố Bắc Triều Tiên, Iran, và Iraq là “một trục ma quỷ” (“an axis of evil”). Đến tháng 9/2002, ông ta còn gây sức ép với Liên Hiệp Quốc thông qua Luật chống Iraq. Chính sách ngoại giao cứng rắn của Bush tạo ra những bất đồng ngay cả trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Ngày 20/3/2003, Tổng thống Bush ra lệnh tấn công vào Iraq, quân Anh và Úc cùng tham chiến với Mỹ chiếm thủ đô Baghdad ngày 9/4/2003, và chính quyền Sađam Hussein chấm dứt sự tồn tại.
Ngày 22/7/2003, trong một cuộc chạm súng quân đội Hoa Kỳ đã giết chết 2 con trai của Saddam Hussein ở Mosul phía Bắc Iraq. Ngày 13/12/2003, Saddam Hussein bị quân đội Mỹ bắt khi ông ta đang trốn dưới một hầm nhỏ ở phía Đông nam Tikrit. Cuộc bầu cử Tổng thống ngày 2/11/2004, ứng viên George W. Bush tái đắc cử nhiệm kỳ 2 (2005-2008)với 62.028.285 phiếu bầu, chiếm 50,73%, trên chân ứng viên Jhon Kerry chiếm 59.028.109 phiếu bầu, tương đương 48,27%. Ngày 20/1/2005, bà Codoleezza Rice trở thành người phụ nử da đen đầu tiên trở thành Ngoại trưởng trong nhiệm kỳ 2 vủa Tổng thống Bush.
Ngày 3/5/2006, tại phiên xử vụ “không tặc ngày 11/9”, Công tố viện đế nghị bản án tử hình cho tên khủng bố Zacarias Moussaoui, nhưng Hội đồng xét xử tuyên bố tù chung thân. Ngày 13/6/2006, trong cuộc thăm viếng Iraq, Tổng thống Bush tái xác nhận sẽ không rút quân khỏi Iraq cho đến khi nào chính quyền mới ở Iraq tự ổn định được về an ninh. Ngày 24/5/2007, trong một phiên họp lưởng viện Thượng viện và Hạ viện chấp nhận đề nghị của chính phủ về chi phí cho cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq, mà không đưa ra thời biểu rút quân. Quốc hội cũng thông qua dự luật tăng lương tối thiểu trong 3 năm đến từ 5,15 USD lên thành 7,25 USD/giờ.
Tại cuộc bầu cử tổng thống ngày 4/11/2008, ứng viên Barack Obama đắc cử, với 67.066.915 phiếu bầu, chiếm 53%, trên chân ứng viên John McCain chiếm 57.421.377 phiếu bầu tương đương 46%. Cùng với việc bầu Tổng thống, cử tri Mỹ cũng bỏ phiếu bầu 1/3 Thượng nghị sỉ ở Thượng viện, toàn bộ Dân biểu tại Hạ viện, và 11 Thống đốc các Tiểu bang. Đảng Dân chủ chiếm 19 ghế tại Thượng viện, đảng Cộng hòa chỉ có 14 ghế. Tại Hạ viện đảng Dân chủ cũng chiến thắng với 257 ghế, trong khi Cộng hòa chỉ giành được 176 ghế.
NHIỆM KỲ THỨ NHẤT (2009-2013): Ngày 20/1/2009, Barack Obama tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 44 của nước Mỹ giữa lúc quốc gia đang lâm vào cảnh suy thoái kinh tế. Dấu ấn nổi bật của tổng thống Obama trong nhiệm kỳ thứ nhất (2009-2013) này là ký ban hành Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư Hoa Kỳ năm 2009 (ARRA); đề ra kế hoạch tái cơ cấu và gói giải cứu bổ sung cho 3 tập đoàn ô tô lớn; ký ban hành Đạo luật Bảo vệ Bệnh nhân và Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền – ACA (Obamacare); bổ nhiệm hai nữ thẩm phán Tối cao Pháp viện; ký với Nga Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược Mới (New START); tiêu diệt trùm khủng bố Osama bin Laden; Và, quyết định rút quân Mỹ ra khỏi Iraq.
Ngày 17/2/2009, Tổng thống Barack Obama ký ban hành Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư Hoa Kỳ năm 2009 (ARRA), hay còn gọi là gói kích thích kinh tế, có trị giá khoảng 787 tỷ USD nhằm cứu nền kinh tế Mỹ khỏi cuộc Đại suy thoái thông qua việc tạo việc làm, cắt giảm thuế và đầu tư cơ sở hạ tầng. Mục tiêu cốt lõi là giữ chân các việc làm hiện có và thúc đẩy tạo ra hàng triệu việc làm mới; Bù đắp cho sự sụt giảm mạnh mẽ của đầu tư và tiêu dùng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính; giảm thuế thu nhập cho các cá nhân, hộ gia đình và ưu đãi thuế cho doanh nghiệp; đầu tư vào các dự án giao thông công cộng; thúc đẩy tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và nghiên cứu khoa học; hỗ trợ giáo dục các cấp, cùng với việc mở rộng trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ y tế cho người lao động khó khăn.
Ngày 30 tháng 3 năm 2009, Tổng thống Barack Obama chính thức công bố kế hoạch tái cơ cấu và gói giải cứu bổ sungcho 3 tập đoàn ô tô lớn General Motors (GM), Chrysler và Ford, nhưng chỉ có GM và Chrysler nhận tiền giải cứu, còn Ford từ chối nhận hỗ trợ tài chính từ chính phủ. Ông đưa ra tối hậu thư yêu cầu GM và Chrysler phải thay đổi triệt để bộ máy vận hành để nhận thêm hàng chục tỷ USD tài trợ từ chính phủ. Thực ra gói giải cứu này được khởi xướng cuối thời Tổng thống George W. Bush vào năm 2008 trị giá 17,4 tỷ USD và được chính quyền Tổng thống Barack Obama triển khai quyết liệt, tổng cộng gần 80 tỷ USD trong suốt mùa xuân và mùa hè năm 2009 để đưa hai tập đoàn này vượt qua thủ tục bảo hộ phá sản. Ngày 21/7/2010, Tổng thống Barack Obama ký ban hành Đạo luật Dodd-Frank Cái cách phố Wall và bảo vệ người tiêu dùng, nhằm siết chặt quản lý tài chính, ngăn ngừa khủng hoảng và bảo vệ người tiêu dùng Mỹ sau đại suy thoái 2008.
Ngày 23/03/2010, Tổng thống Barack Obama ký ban hành Đạo luật Bảo vệ Bệnh nhân và Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền – ACA (Obamacare). Mục tiêu chính của luật là mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế, giảm chi phí khám chữa bệnh và cải thiện chất lượng dịch vụ y tế cho người dân Mỹ; Cấm các công ty bảo hiểm từ chối người có bệnh từ trước (pre-existing conditions) hoặc tăng phí dựa trên tình trạng sức khỏe; Cung cấp trợ giá và tín thuế cho người có thu nhập thấp và trung bình để mua bảo hiểm trên các sàn giao dịch; Cho phép thanh thiếu niên tiếp tục ở trong gói bảo hiểm y tế của cha mẹ cho đến khi đủ 26 tuổi; Cho phép nhiều bang mở rộng chương trình Medicaid để bao phủ thêm nhiều người nghèo hơn.
Ngày 01/06/2009, Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm bà Sonia Sotomayor làm thẩm phán Tối cao Pháp viện để thay thế Thẩm phán David Souter nghỉ hưu, và được thượng viện chuẩn nhận với phiếu thuận 68, 31 phiếu chống. Bà Sonia Sotomayor trở thành người Mỹ gốc Tây Ban Nha đầu tiên trong lịch sử ngồi vào ghế thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Và ngày 10/05/2010, Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm bà Elena Kagan làm thẩm phán Tối cao Pháp viện thay thế Thẩm phán John Paul Stevens nghỉ hưu, và được thượng viện chuẩn nhận với phiếu thuận 63 và 37 phiếu chống. Bà Elena Kagan từng giữ chức Tổng biện lý Hoa Kỳ (Solicitor General) trước khi được bổ nhiệm.
Ngày 8 tháng 4 năm 2010 tại Prague, Cộng hoà Séc, Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược Mới (New START), theo đó: mỗi bên không được triển khai quá 1.550 đầu đạn hạt nhân trên các tên lửa và oanh tạc cơ; Giới hạn, tối đa 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) phóng từ tàu ngầm (SLBM) và máy bay ném bom chiến lược; không quá 800 bệ phóng đã triển khai và chưa triển khai; cho phép hai bên thực hiện các cuộc thanh tra thực tế tại các cơ sở hạt nhân của đối phương để kiểm tra số liệu. Hiệp ước có hiệu lực từ ngày 05/02/2011 với thời hạn ban đầu là 10 năm. Và, Hiệp ước này đã được Tổng thống Mỹ Joe Biden và Tổng thống Nga Vladimir Putin nhất trí gia hạn thêm 5 năm vào đầu năm 2021.
Ngày 2/5/2011, Tổng thống Barack Obama trực tiếp ra lệnh lực lượng đặc nhiệm Hải quân Mỹ (SEAL Team Six) tiêu diệt trùm khủng bố Osama bin Laden trong một cuộc đột kích vào khu nhà ẩn náu ở Abbottabad, Pakistan. Chiến dịch mang mật danh Neptune Spear. Rạng sáng ngày 2/5/2011 (giờ Pakistan), Tổng thống Obama công bố chính thức vào tối ngày 1/5/2011 (giờ Mỹ). Đội đặc nhiệm DEVGRU (hay còn gọi là SEAL Team Six) phối hợp cùng Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) bắn hạ Osama bin Laden, thi thể được đưa đi kiểm tra ADN xác nhận và sau đó được chôn cất dưới biển.Ngày 18/12/2011, những binh sĩ Mỹ cuối cùng đã rút khỏi Iraq theo lệnh của Tổng thống Barack Obama. Sự kiện này chính thức khép lại cuộc chiến tranh Iraq kéo dài gần 9 năm kể từ năm 2003, tiêu tốn nhiều nguồn lực và gây tranh cãi lớn tại Mỹ.
NHIỆM KỲ THỨ HAI (2013-2017): tại cuộc bầu cử tổng thống ngày 6/11/2012, ứng viên Barack Obama của đảng Dân chủ tái đắc cử, với 332 phiếu bầu của cử tri đoàn, trên chân ứng viên Mitt Romney của đảng Cộng hòa chỉ có 206 phiếu bầu. Sách lược trong nhiệm kỳ thứ hai (2013-2017) của tổng thống Obama: Về ĐỐI NGOẠI là sự chuyển dịch từ can thiệp quân sự trực tiếp sang ngoại giao đa phương “quyền lực thông minh (smart power)” với các dấu ấn đậm nét là: Bình thường hóa quan hệ với Cuba (2014 - 2016); Thỏa thuận Hạt nhân Iran - JCPOA (2015); Chiến lược "Xoay trục sang châu Á" và TPP; Hiệp định Khí hậu Paris (2015 - 2016); Khủng hoảng Syria và Chiến dịch chống IS (2015-2019). Về ĐỐI NỘI là đưa nền kinh tế Mỹ hoàn toàn thoát khỏi bóng tối của cuộc Đại Suy thoái (2008) bước vào chu kỳ tăng trưởng ổn định, dài hạn như: Thị trường việc làm bùng nổ, Sự phục hồi của thị trường chứng khoán, Kiểm soát thâm hụt ngân sách, Chi phí y tế thấp bởi có Đạo luật Obamacare (ACA).
Bình thường hóa quan hệ với Cuba (2014 - 2016): Tháng 12/2014, Obama cùng Chủ tịch Cuba Raúl Castro tuyên bố khôi phục quan hệ ngoại giao sau hơn 50 năm đóng băng. Năm 2015, hai nước mở lại đại sứ quán. Tháng 3/2016, Obama trở thành Tổng thống Mỹ tại vị đầu tiên thăm Cuba kể từ năm 1928, chính thức mở đường cho các hợp tác thương mại, du lịch và hàng không. Thỏa thuận Hạt nhân Iran - JCPOA (2015): Ngày 14/07/2015 tại Vienna (Áo) thỏa thuận hạt nhân lịch sử với Iran – JCPOA, Mỹ cùng với nhóm P5+1 (P5 là 5 nước thành viên thưởng trực tại Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc: Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, và Pháp + 1 là nước Đức) ký kết Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung với Iran. Thỏa thuận này buộc Iran cắt giảm 98% lượng uranium làm giàu và chấp nhận sự giám sát nghiêm ngặt của LHQ, đổi lại Mỹ và phương Tây dỡ bỏ các lệnh trừng phạt kinh tế khốc liệt lên nước này.
Chiến lược "Xoay trục sang châu Á" và TPP: Mỹ đẩy mạnh cam kết an ninh và kinh tế tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương để “tái cân bằng” tầm ảnh hưởng với Trung Quốc. Chiến lược này được công bố lần đầu từ cuối năm 2011 (nhiệm kỳ 1). Tháng 11/ 2012, ngay sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ 2, Obama thực hiện chuyến công du đến Thái Lan, Myanmar, Campuchia. Tháng 4/2014, Tổng thống Obama công du Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Philippines nhằm khôi phục động lực và đập tan những hoài nghi về chiến lược tái cân bằng. Năm 2015 – 2016: Mỹ liên tục hiện thực hóa cam kết bằng các gói hỗ trợ an ninh hàng hải cho Đông Nam Á, và chuyến thăm Việt Nam dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát vào tháng 5/2016.
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được xem là trụ cột kinh tế cốt lõi của chiến lược xoay trục sang châu Á. Ngày 04/02/2016 tại New Zealand 12 quốc gia là Úc, New Zealand (châu Đại Dương); Brunei, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Nhật Bản (châu Á); Canada, Hoa Kỳ, Mexico, Chile, Peru (châu Mỹ) ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với nội dung: cắt giảm thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ, thúc đẩy đầu tư và đưa ra các quy tắc chung về lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ. Sau khi Tổng thống Donald Trump rút Mỹ khỏi Hiệp định (TPP), 11 nước còn lại đã đàm phán và đổi tên thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Sauđó, Vương quốc Anh đã chính thức gia nhập, nâng tổng số thành viên của khối CPTPP lên 12 nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét