Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022


 

Chương 5: CHÍN PHỤ LỤC ĐỌC THÊM.

(Chương 5 gồm 14 trang và 6.608 chữ)

 

PHỤ LỤC I: TỜ THUẬN CÚNG ĐẤT HƯƠNG HỎA.

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Độc lập Tự do Hạnh phúc.


TỜ THUẬN CÚNG ĐẤT HƯƠNG HỎA.

Hôm nay là ngày mồng mười tháng tám năm một ngàn chín trăm bảy mươi bảy (10.8.1977). Trước sự hiện diện của chú ruột Lê Tiềm, thím dâu bà Phan thị Cháu (Trưng), dượng rể ông Tôn thất Cảnh, và các em trai con của hai ông chú ruột: Lê Pháp, Lê Don, Lê Hựu, Lê Vỹ.

Tôi tên là Lê thị Bằng, 68 tuổi, cư trú tái số nhà 245 Chi Lăng, Khu phố Phú Hiệp HUẾ, là con gái của ông Lê văn Niềm chết, mẹ cải giá. Đồng thỏa thuận theo lý trí với ý hiệp của các ông trên, như sau:

Nguyên trước đây ông bà nội chúng tôi là Lê văn Yêm và bà Nguyễn thị Cơ, có tạo mãi bất động sản được một sở vườn đất thuộc trích lục số 126 trên bản đồ số hiệu khi qua đời chưa được phân sản.

Đến ngày 15 tháng 10 năm 1955, các thừa kế của chúng tôi đã lập tờ thuận phân chia di sản như sau:

               a) Chiếu theo mục b/ Phần 3 của tờ phân chia di sản trên. Phần đất vườn 2 sào thuộc trích lục số 126 số hiệu bản đồ phía Đông giáp sở vườn họ Lê, phía Tây giáp 5 sào đất trí hương hỏa, phía Nam và phía Bắc giáp đường. Đồng trí cho thân phụ tôi của tôi là con trai trưởng, ông Lê văn Niềm chết, vợ cải giá, con trai cũng chết, giao cho tôi là Lê thị Bằng con gái thừa nhận giữ để thu hoa lợi lo cúng kỵ cho cha và anh trai.

                b) Đến tháng 10 năm 1973, tôi và các thừa kế trên đã đồng thuận cúng 2 sào đất của thân sinh do tôi nhận giữ cho họ Lê như sau:

                           - Trí 01 sào cho họ Lê thu hoa lợi để hương dụ tổ tiên.

                           - Trí 01 sào cho ho Lê thu hoa lợi để cúng kỵ cho ông thân sinh và anh cả của tôi.

                c) Nhưng trong 4 năm qua họ Lê vẫn nhận trên danh nghĩa sự hảo tâm cúng dường của chúng tôi, còn hoa lợi hàng năm thu hoạch trên 2 sào đất, họ vẫn giao cho tôi để lo cúng kỵ.

                d) Đến nay tôi vì tuổi già yếu, mất sức lao động không bảo quản nỗi 2 sào đất trên, nên tôi thuận giao lại cho họ Lê quản lý để phân chia cho con cháu canh tác, thu hoa lợi để hương khói tổ tiên, và cúng kỵ như đã đề cập ở doạn b/.

Vậy chúng tôi đồng thuận lập tờ phụng cúng nầy để họ Lê làm bằng, và lập thành 3 bản, giao cho họ và con cháu chúng tôi mỗi người giữ một bản.

Làm tại Triều Thủy ngày 10-8-1977.

Ký tên

 

Lê thị Bằng (đã ký)

 

HỘI ĐỒNG LÊ TỘC NHẬN CHỨNG NHẬN CÁC THỪA KẾ.

 

Phái nhất Lê Mỏi    (điểm chỉ).              Chú ruột Lê Tiềm              (ký tên)

Phái nhì Lê Hoan   (ký tên).                   Thím dâu Phan thị Cháu   (ký tên)

Phái ba Lê Phú      (điểm chỉ).                Dượng rể Tôn thất Cảnh  (ký tên)

Tộc trưởng Lê Vọng (ký tên).                Con cháu:    Lê Pháp  (ký tên).

                                                                                   Lê Don    (ký tên).

                                                                                   Lê Hựu    (ký tên).

                                                                                   Lê Vỹ       (ký tên).

 

PHỤ LỤC II: TỜ THUẬN PHÂN TRÍ DI SẢN.

QUỐC GIA VIỆT NAM


TỜ THUẬN PHÂN TRÍ DI SẢN.

Hôm nay là ngày HAI MƯƠI LĂM THÁNG MƯỜI NĂM MỘT NGÀN CHÍN TRĂM NĂM MƯƠI LĂM. Trước sự hiện diện của ông NGUYỄN TẠO, Chủ tịch Hội đồng Hương chính làng TRIỀU THỦY, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, và ông Lê Đinh, Tộc trưởng họ LÊ.

Chúng tôi: con trai, dâu, con gái, rể, cháu nội và cháu ngoại của ông LÊ VĂN YÊM và bà NGUYỄN THỊ CƠ: Con trai là ông LÊ TIỀM, dâu là bà PHAN THỊ CHÁU (TRƯNG), con gái là bà LÊ THỊ DẢNH, rể là ông TÔN THẤT CẢNH, cháu tự tôn là LÊ SÀNG, cháu nội là LÊ THỊ BẰNG, LÊ PHÁP, LÊ DON, LÊ HỰU, LÊ VỸ, cháu ngoại TÔN NỬ THỊ QUÊ, đồng thỏa thuận theo lý trí, với ý hiệp của các ông trên lập tờ phân trí di sản của tổ phụ chúng tôi như sau:

Nguyên TỔ PHỤ chúng tôi là ông LÊ VĂN YÊM và bà NGUYỄN THỊ CƠ lúc sinh tiền có tạo mãi được các bất động sản kê sau:

1.     Một cái nhà rường ba căn hai chái, lợp tranh mây, vách xây, một cái nhà cầu lợp ngói, vách xây, một nhà vuông lợp tranh, tọa lạc tại trên một số thổ trạch đất ở là 9 sào, 12 thước, 2 tất thuộc trích lục số 106 số hiệu đồ bản N, giới cận đường N 108,107, đường N 105.

2.     Một số thổ trạch đất ruộng là 1 mẩu 2 sào 4 thước 7 tất thuộc trích lục 126 số hiệu bản đồ N, giới cận N số 125 đường, N 127 đường.

3.     Một số thổ trạch đất ruộng là 2 sào, không có trích lục giới cận đường, và một số vườn.

Và đã hạ sinh được 3 trai, 1 gái. Con trai trưởng là ông LÊ VĂN NIỀM chết, vợ tái giá, sinh hạ 1 cháu đích tôn chết, còn 1 gái. Con trai thứ hai là ông LÊ TIỀM vợ chết, hạ sinh 4 trai 3 gái. Con trai thứ ba là ông LÊ LUÂN chết, vợ là bà PHAN THỊ CHÁU (TRƯNG), sinh hạ 3 trai, 2 gái. Con gái là LÊ THỊ DẢNH làm bạn với ông TÔN THẤT CẢNH, sinh hạ được 1 gái.

Lúc tổ phụ chúng tôi quá cố không để lại chúc thư phân sản. Nay chúng tôi con, dâu, rể và các cháu đồng thuận phân trí các di sản trên như sau:

1.     Trí một số thổ trạch đất ở là 9 sào 12 thước 2 tất trong số ấy có một cái nhà rường ba căn hai chái, lợp tranh mây, vách xây, một cái nhà cầu lợp ngói vách xây, một cái nhà vuông lợp tranh, thuộc trích lục số 106, số hiệu bản đồ N giới cận đường N 108,107 và đường N 105. Và một số thổ trạch đất ruộng là 4 sào 12 thước 3 tất thuộc trích lục số 126, số hiệu bản đồ N, giới cận N 125 và đường, N 127 và đường, để lập hương hỏa cúng kỵ cho TỔ PHỤ chúng tôi là ông LÊ VĂN YÊM và bà NGUYỄN THỊ CƠ.

2.     Trí 1 sào 7 thước 5 tất đất ruộng thuộc trích lục số 126 số hiệu bản đồ N, giới cận N 125 và đường, và cận số đất trí cho ông con trưởng, đã do TỔ PHỤ chúng tôi lúc sinh tiền đã cúng cho HỌ LÊ lập nhà thờ HỌ.

3.     Trí 6 sào thổ trạch đất ruộng thuộc trích lục số 126, số hiệu bản đồ N, giới cận N 125 và đường, N 127 và đường, và 2 sào không có trích lục giới cận đường và một số đất vườn, để phân chia cho 4 người con, trai gái mỗi người một phần cân nhau.

Các phân tri hương hỏa và phân chia như sau: 

1.     Phần hương hỏa giao cho cháu tử tôn là LÊ SÀNG con của ông LÊ TIỀM nhận giữ để lấy hoa lợi thường năm cúng kỵ cho TỔ PHỤ chúng tôi là ông LÊ VĂN YÊM và bà NGUYỄN THỊ CƠ và tu bổ nhà thờ.

2.     Phần đất ruộng 2 sào thuộc trích lục số 126, số hiệu bản đồ N, phía đông giáp sở vườn họ LÊ, phía tây giáp trí đất hương hỏa, phía nam và bắc giáp đường, trí cho người con trưởng là ông LÊ VĂN NIỀM chết, vợ cải giá, con trai cũng chết sớm, nên giao cho người con gái là LÊ THỊ BẰNG nhận giữ để lo cúng kỵ cho ông ấy và cháu đích tôn là con ông ấy. Đến khi bà LÊ THỊ BẰNG trăm tuổi thì hai vợ chồng ông ấy thuận giao cho cháu tử tôn là LÊ SÀNG nhận để lo cúng kỵ cho hai cha con ông ấy.

3.     Phần đất ruộng 2 sào không có trích lục đông, nam, bắc giáp đường, tây giáp một số vườn, trí cho người con thứ hai là ông LÊ TIỀM, và giao cho ông ấy nhận dùng.

4.     Phần đất ruộng hai sào thuộc trích lục số 126, số hiệu bản đồ N, đông giáp đất trí hương hỏa, tây giáp đất trí cho người con gái, bắc giáp đường, nam giáp số hiệu N127 trí cho người con thứ ba là ông LÊ LUÂN chết, nên giao cho các con ông ấy, mà hiện người con thứ hai là LÊ HỰU nhận để lo cúng kỵ cho ông ấy.

5.     Phần đất ruộng 2 sào thuộc trích lục số 126, số hiệu bản đồ N, đông giáp phần đất trí cho người con thứ ba, tây giáp đường, nam giáp N127, bắc giáp đường trí cho người con gái là bà LÊ THỊ DẢNH và giao cho bà ấy nhận dùng.

Tất cả giấy tờ về hương hỏa thì giao cho tự tôn là LÊ SÀNG phụng giữ để lâm thời xuất trình khi cần đến.

Vậy đồng thuận lập tờ phân sản nầy để làm bằng và và lập thành năm bản để giao cho con cháu có tên trên mỗi người một bản.

Làm tại TRIỀU THỦY ngày như trên.

CÁC THỪA KẾ

                  Con trai : ông LÊ TIỀM.

Thím Dâu: bà PHAN THỊ CHÁU (Trưng) (điểm chỉ).

                  Con gái :  bà LÊ THỊ DẢNH (điểm chỉ).

Dượng Rể: ông TÔN THẤT CẢNH (chữ ký).

                  Cháu tự tôn:    LÊ SÀNG.

                  Cháu nội     : LÊ THỊ BẰNG (chữ ký).

                                        LÊ PHÁP (chữ ký).

                                        LÊ DON (chữ ký).

                                        LÊ HỰU (chữ ký).

                                        LÊ VỸ.

                   Cháu ngoại: TÔN NỬ THỊ QUẾ

 

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG HƯƠNG CHÍNH

THỊ THỰC CHỨNG KIẾN VÀ NHẬN THẬT.

Triêu Thủy ngày 25-10-1955.

(ký tên và đóng dấu)

 

CHỨNG KIẾN

Tộc Trưởng họ LÊ

(điểm chỉ)

 

PHỤ LỤC III: BỨC TÂM THƯ CỦA VỊ TRƯỞNG HỌ NĂM 2008.

TÂM THƯ CỦA VỊ TRƯỞNG HỌ.

Thân gởi: Anh, Chị……………………………………………………………………… 

Lời đầu tiên thay mặt họ Lê làng Triều Thủy, xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế, tôi xin gởi đến các gia đình Thành viên Họ Lê Triều Thuỷ…………………………lời chúc tốt đẹp nhất: sức khỏe dồi dào, việc làm thăng tiến, hạnh phúc thêm lên. 

Kế đến Họ Lê Triều Thuỷ xin thông báo đến bà con nội, ngoại là trong ba ngày 28, 29, và 30/4/2008, Họ đã tiến hành các cuộc họp bàn việc “Trùng tu, Tôn tạo lại nhà Thờ Họ Lê Ta” bị hư hỏng, xuống cấp theo thời gian. Và, Họ cũng lập ra một Ban Vận động Quyên góp, và Thi công. Dự kiến các hạn mục công trình gồm: 

1.     Xây mới tường thành bao quanh nhà Thờ Họ dài 180m.

2.     Trùng tu, sửa chữa tường bên trong và bên ngoài nhà Thờ.

3.     Xây mới nhà (Tã) phục vụ việc cúng kính, nhóm họp,… 

Chi phí cho công trình “Trùng tu Tôn tạo” nầy lên tới gần 100 trăm triệu, nên Họ Ủy nhiệm cho Ban Vận động Quyên góp viết TÂM THƯ kêu gọi sự hưởng ứng của “toàn thể Nam, Nử thành viên Họ Lê Ta” tùy theo khả năng của mình TỰ NGUYỆN đóng góp công sức để hoàn thành được các hạn mục công trình dự kiến nêu trên.  

Tiền bạc đóng góp xin gởi về Thủ quỷ của họ là Lê Xuân Tài, xóm 5, thôn Triều Thủy, xã Phú An, Phú Vang, Thừa Thiên-Huế. 

Họ cũng xin thông báo đến các Anh, Chị mừng là đến nay (ngày 12/5/2008), Họ đã nhận được tiền đóng góp từ Anh, Chị Lê Xuân Đỗ 30 triệu đồng, và Anh, Chị Lê Xuân Hạt 5 triệu đồng.  

Triều Thủy ngày 12 tháng 5 năm 2008.

T.M Ban Trùng Tu Tôn Tạo Nhà Thờ Họ Lê Triều Thủy.

Trưởng ban:                                                              Cố vấn: Niên trưởng Lê Xuân Phu

Trưởng Họ Lê Xuân Hường.                              

Thành viên:

Lê Xuân Đẳng.

Lê Xuân Don.

Lê Xuân Vĩ.

Lê Xuân Sính.

Lê Xuân Minh.

Lê Xuân Hà.

Lê Xuân Phượng.

Lê Xuân Vơ.

Lê xuân Chính

Thủ quỷ:   Lê Xuân Tài

 

PHỤ LỤC IV: THƯ CỦA MỘT THÀNH VIÊN TRONG HỌ.

TÂM HUYẾT TỪ MỘT NGƯỜI LY HƯƠNG.

Thân gởi: Các Chú, Các Cháu:      Ở Sài Gòn+Vùng phụ cận

                                              Ở Phú Túc+Vùng phụ cận

                                                           Ở Đà Nẳng+Vùng phụ cận

                                                           Ở Huế+Vùng phụ cận

                                                               (Với tư cách cá nhân)

Vì cuộc sống tôi phải ly hương: rời quê lên Thành phố, rồi rời Huế vào Đà Nẳng. Sau đó lại phải rời Đà Nẳng vào Sài Gòn. Và, một lần nữa phải rời Sài Gòn đến định cư ở Sydney, Úc Đại Lợi. Tất cả, chỉ vì một mong muốn là nơi ở sau sẽ tốt hơn nơi ở trước. Tôi tin rằng, ngoại trừ một số trường hợp cá biệt, còn thì phần nhiều lý do ly hương của "mỗi chú, mỗi cháu" cũng gần giống tôi. Và, sau nhiều nổ lực để vượt qua khó khăn ban đầu, dần dà mỗi người cũng phải "tự thích nghi" để rồi hài lòng với nơi mình đang sống, bởi nó đã, đang và sẽ mang lại cuộc sống tốt hơn cho mỗi chúng ta. 

Sự xa rời nơi chôn nhau cắt rốn của chúng ta, quả đã để lại nhiều gánh nặng cho các thành viên HỌ LÊ TRIỀU THỦY khác: mã mồ, chạp giỗ, tế tự, và cả việc đóng góp công sức, tiền bạc trung tu NHÀ THỜ HỌ bị hư hỏng bởi thiên tai và thời gian. Năm nay, ở tuổi 72 (Đinh Sửu), tuy bản thân tôi có đạt tới một vài thành quả nào đó, nhưng tôi tự thấy mình chưa có đóng góp gì đáng kể cho HỌ LÊ TA cả. Cho nên, khi được biết các bác, các chú đang họp bàn việc trùng tu, tôn tạo lại NHÀ THỜ HỌ, tôi hết sức vui mừng và xin tự nguyện đóng góp một chút gì đó để mong việc trùng tu, tôn tạo được tiến hành thuận lợi. Bởi dù sao HỌ LÊ TA cũng là HỌ có uy tín lớn trong làng Triều Thủy này. 

Vì suy nghĩ như vậy, nên tôi viết thư nầy gởi đến các chú, các cháu với mong ước mỗi người sẽ cùng cảm nhận, chia xẽ quan điểm với tôi, cố gắng thật nhiều trong khả năng có thể đóng góp với HỌ để cho việc trùng tu tôn tạo được hoàn tất mỹ mãn. Với ba hạng mục công trình như trong BỨC TÂM THƯ mà chỉ dự kiến chi gần 100 triệu, mỗi chú, mỗi cháu xem các bác, các chú ở đây đã phải tính toán xử dụng có ích đồng tiền đóng góp từ chúng ta như thế nào! Các bác, các chú nói, nếu vì lý do nào đó không quyên góp đủ tiền, chỉ thực hiện được hai trong ba hạng mục, thì hạng mục thứ ba không biết bao giờ mới làm được: 3 năm, 5 năm, hay 10 năm, hay sẽ không được nhìn thấy nó trước khi nhắm mắt rời khỏi cỏi trần. Đó là lời nói từ trái tim của tuổi xế chiều nơi các bác, các chú, tôi thuật lại để các chú hiểu thêm CÁI TÂM của DÒNG HỌ LÊ ta.

Cuối thư tôi xin gởi đến mỗi chú mỗi cháu và gia đình lời chúc tốt đẹp nhất.

Triều Thủy ngày 25 tháng 5 năm 2008

Thân ái.

 

Lê Xuân Đỗ

Điện thoại: 0416494160 (Australia).

0903173672 (Việt Nam)

 

PHỤ LỤC V: THƯ BÁO TIỀN QUYÊN GÓP.

I. Nhân danh TRƯỞNG HỌ  và TRƯỞNG BAN VẬN ĐỘNG QUYÊN GÓP TRÙNG TU TÔN TẠO NHÀ THỜ HỌ LÊ TRIỀU THUỶ, tôi thành kính ghi nhận công đức các Anh, Chị sau đây đã hưởng ứng lời kêu gọi của HỌ, gởi tiền ủng hộ giúp việc Trùng Tu Tôn Tạo NHÀ THỜ HỌ được tiến hành thuận lợi.

Đơt I: Từ ngày 12.5.2008 đến  ngày 25.6.2008, số tiền 60.500.000 đồng và 200 Mỹ kim.

HỌ VÀ TÊN

NƠI  CƯ   TRÚ

SỐ   TIỀN

(Đồng VN)

CƯỚC CHÚ

Lê Xuân Đỗ

Úc Đại Lợi

30.000.000

 

Lê Xuân Hạt

Thành phố Đà Nẵng,

5.000.000

 

Các con Anh Nghè Khởi

TP/ Huế, Đà nẳng, Quy Nhơn, Sài Gòn

4.000.000

 

Lê Thi Manh (chị Dạng)

Hoa Kỳ

200 Mỹ kim

 

Lê Xuân Nhựt

TP/Sài Gòn

2.000.000

 

Lê Xuân Hùng, Ngọc, Tý, Hoà (con thím Cảng)

Thị trấn Phú Túc

2.000.000

 

Lê Thị Đoan (chị Tư)

TP/ Huế

1.000.000

 

Lê Song Xuân 

TP/ Sài Gòn     

1.000.000

 

Lê Xuân Hướng

Thị Trấn Phú Túc

1.000.000

 

Lê Xuân Kính

         -

1.000.000

 

Lê Xuân Lộc

         -

1.000.000

 

Lê Xuân Hạnh

TP/ Sài Gòn

1.000.000

 

Lê Xuân Dũng 

 Thị trấn Phú Túc        

1.000.000

 

Lê Xuân Tới

         -

1.000.000

 

Lê Xuân Liệu

         -

1.000.000

 

Lê Xuân Tuân

         -

1.000.000

 

Lê Xuân Niên

         -

700.000

 

Lê Xuân Chu

Thị trấn Cần Giuộc

550.000

 

Lê Thị Thệ (chị Trung)

TP/ Huế

500.000

 

Lê Thị Thế (chị Ứng)

Làng Triều Thuỷ

500.000

 

Lê Xuân Thủ

Thị trấn Phú túc 

500.000

 

Nguyễn Thị Luy (con chị Đáng)

         -         

500.000

 

Lê Xuân Bé

Tp/ Sài Gòn

500.000

 

Lê Thị Hiếu 

 Thị trấn Phú Túc        

500.000

 

Lê Xuân Gạo

         -

500.000

 

Lê Xuân Tý

         -

400.000

 

Chị Bôn

TP/ Sài Gòn

300.000

 

Chị Mơ+2con gái

Thị trấn Phú Túc

250.000

 

Chị Kính+2con gái

TP/ Huế

200.000

 

Chị Mũ+Lê Xuân Nhân

         -

200.000

 

Lê Xuân Thuận (con anh Xuân)

TP/ Sài Gòn        

200.000

 

Lê Thị Hoàng Mai (Vồ)

Thị trấn Phú Túc   

200.000

 

Lê Thi Dịt (chị Chốn)

         -

100.000

 

Lê thị Khả (chị Xuân)

         -

100.000

 

Lê Thi Diệu (chị Đối)

         -

100.000

 

Chị Đay (hai Thanh)

         -

100.000

 

Lê Thị Thoà

         -

100.000

 

Lê Thị Hiền (chị Cần)

         -

100.000

 

Dượng Quyền

         -

100.000

 

Lê Thị Vui (chị Bai)

         -

100.000

 

Lê thị Thuỷ (chị Ba)

         -

100.000

 

Lê Xuân Nguyên

         -

100.000

 

TỔNG CỘNG

 

60.500.000 + 200 Mỷ kim

 

Đơt II: Từ ngày 26.6.2008 đến  ngày 22.8.2008, số tiền 21.300.000 đồng.

HỌ VÀ TÊN

NƠI  CƯ   TRÚ

SỐ   TIỀN

(Đồng VN)

CƯỚC CHÚ

Lê Xuân Đỗ

Úc Đại Lợi

15.000.000

 

Lê Xuân Hạt

Thành phố Đà Nẵng,

1.000.000

 

Lê Song Xuân 

Thành phố Sài Gòn     

1.000.000

 

Lê Xuân Nhiệm

Thành phố Đà Nẳng

1.000.000

 

Lê Xuân Thuận  

Thành phố Sài Gòn   

500.000

 

Lê Thị Thạo

 Thị trấn Phú túc 

500.000

 

Lê Thị Nhung

         -

500.000

 

Chị Tục+Chị Tạo

Làng Triều Thủy

300.000

 

Chị Tớp 

         -

200.000

 

Lê Xuân Lợi

 Thành phố Huế

200.000

 

Lê thị Bé tức chị Phước

 Thị trấn Phú túc 

200.000

 

Lê Thị Quỳ

         -

200.000

 

Chị Thừa

         -

100.000

 

Lê Xuân Hưng 

         -

100.000

 

Lê Xuân Thành

         -

100.000

 

Lê  Xuân Hòa

         -

100.000

 

Lê Thị Bé

         -

100.000

 

Lê Thị Bé tức chị Soạn

         -

100.000

 

Lê Thị Cấy

         -

100.000

 

TỔNG CỘNG

 

21.300.000

 

Đơt III: Từ ngày 23.8.2008 đến  ngày 6.9.2008, số tiền 9.600.000 đồng.

    HỌ VÀ TÊN 

NƠI   CƯ  TRÚ

SỐ   TIỀN 

(Đồng VN)

CƯỚC CHÚ

Các con anh Nghè Khởi

Hoa Kỳ, Sài Gòn, Quy Nhơn, Huế

6.000.000

 

Các con anh Tín

Quảng Bình

1.500.000

 

Lê Thị Thế (chị Ứng)

Làng Triều Thủy 

500.000

 

Lê Xuân Hiệp

Thị Trấn Phú Túc

500.000

 

Lê Xuân Phương

Thành Phố Huế

500.000

 

Lê Thị Dần (chị Dõ)

Làng Triều Thủy

200.000

 

Lê Thị Khích (chị Thang)

         -

100.000

 

Lê Thị Thoan (chị Đổng)

         -

100.000

 

Lê thị Đó (chi Phất)

         -

100.000

 

Lê Thị Xuyên (chị Hát)

 

100.000

 

TỔNG CỘNG

 

9.600.000

 

Đơt IV: Từ ngày 7.9.2008 đến  ngày 1.10.2008, số tiền 3.000.000 đồng.

HỌ VÀ TÊN

NƠI  CƯ   TRÚ

SỐ  TIỀN

(Đồng VN)

CƯỚC CHÚ

O, Dượng Từ + Thầy Tuệ Vân

Đồng Xoài, Thành Phố Huế

2.000.000

 

Thím Dật

Thành Phố Đà Nẳng

500.000

 

Thím Xay

 Thị Trấn Phú Túc 

500.000

 

TỔNG CỘNG

 

3.000.000

 

II. Số tiền ghi trên chỉ tính đến ngày 01tháng 10 năm 2008, hiện các Anh, Chị đang tiếp tục gởi về anh Tài Thủ quỷ. Ban Trùng tu Tôn tạo nhà thờ HO LÊ cũng xin thông báo để các Anh, Chị về công việc đang tiến hành: 

1.     Làm mới con đường từ nhà ông Dụ đến nhà Thờ Họ dài 75 mét, thực hiện 100%.

2.     Xây mới tường thành bao quanh khuông viên nhà thờ dài 180 mét, thực hiện được 98%.

3.     Xây mới nhà TÃ phục vụ việc cúng kính và nhóm họp, thực hiện được 97%.

III. Ban Trùng tu Tôn tạo nhà thờ HỌ LÊ TRIỀU THUỶ sẽ thông báo đến các Anh, Chị tình hình tại chánh và tiến triển công trình trong những lá thư kế tiếp.

Triều Thuỷ ngày 01tháng 10 năm 2008.

 

          THỦ QUỶ                     TRƯỞNG HỌ và TRƯỞNG BAN TRÙNG TU TÔN TẠO

         Lê Xuân Tài                                                             Lê Xuân Hường  

 

PHỤ LỤC VI: TỔNG KẾT VIỆC THU - CHI.

(Từ ngày 12/5/2008 đến ngày 1/10/2008).

A. PHẦN THU: 103.225.000 đồng VN gồm: 

Đợt I: từ ngày 12/5/2008 đến ngày 25/6/2008 là 60.500.000 $ và 200 Mỹ Kim. Tổng cộng số tiền là 63.800.000 đồng VN. (Chi tiết danh sách đính kèm ở trên).

Đợt II: từ ngày 26/6/2008 đến ngày 22/8/2008. Tổng cộng số tiền là 21.300.000 đồng VN. (Chi tiết danh sách đính kèm ở trên).

Đợt III: từ ngày 23/8/2008 đến ngày 6/9/2008. Tổng cộng số tiền là 9.600.000 đồng VN. (Chi tiết danh sách đính kèm ở trên).

Đợt IV: từ ngày 7/9/2008 đến ngày 1/10/2008. Tổng cộng số tiền là 3.000.000 đồng VN. (Chi tiết danh sách đính kèm ở trên).

Tiền đối ứng bê tông thừa: tức thu chi tiền làm đường trước nhà thờ thừa là 525.000 đồng VN. 

Tiền sau Lể Hội Thu Tế của HỌ: tức sau thu tế chuyển sang là 5.000.000 đồng VN. 

B. PHẦN CHI: 95.443.000 đồng VN gồm:

I. XÂY THÀNH: 35.709.000 đồng VN, gồm:

1. Mua vật liệu: .26.853.000 đvn. (4 đợt)

 Đợt 1 là: 16.752.000 đvn.

 Đợt 2 là: 7.916.000 đvn.

 Đợt 3 là: 1.938.000 đvn.

 Đợt 4 là: 247.000 đvn.

2. Chú Đẳng mua 2 xe rùa, cào, xên: 683.000đvn.

3. Chú Hường nhận trả công thợ Bọt (nề): 400.000đvn.

4. Chú Hường nhận trả công thợ Ngọ (nề): 400.000đvn.

5. Chú Hường nhận trả công thợ: 800.000đvn.

6. Chú Hường nhận trả công thợ: 1.500.000đvn.

7. Trả trực tiếp công thợ Bọt (nề), : 628.000đvn.

8. Trả trục tiếp công thợ Dõ (nề), : 795.000đvn.

9. Trả trực tiếp công thợ Hữu (nề), : 545.000đvn.

10. Trả trực tiếp máy Bác chạy nước làm thàmh : 40.000đvn.

11. Trả trực tiếp công thợ Đới (nề) tô thàmh : 500.000đvn.

12. Trả trực tiếp công thợ Đới (nề) tô thàmh : 1.500.000đvn.

13. Trả trực tiếp công thợ Đới (nề) tô thàmh : 1.065.000đvn.

II. CHI LÀM ĐƯỜNG BÊ TÔNG:  4.160.000 đồng VN. 

III. CHI LÀM NHÀ TĂNG (TẢ): 55.574.000 đồng VN, gồm:

1. Mua vật liệu Phượng lần I là: 14.013.000đvn.

2. Chi chú Đẳng bồi dưởng cho thợ là: 500.000đvn.

3. Chi trả thợ hồ Chiến lần I, và lần II là: 8.000.000đvn.

4. Chú Đẳng mua gổ (con Ninh) làm mái hiên là: 2.036.000đvn.

5. Chi trả thợ mộc Hiền làm bàn là: 600.000đvn.

6. Chi chú Đẳng mua thêm vật liệu là: 1.000.000đvn.

7. Chi trả công Bát  6 công là: 360.000đvn.

8. Mua vật liệu Phượng lần II là: 6.559.000đvn.

9. Chi chú Đỗ mua gổ, ngói, cửa, công thợ mộc, công phụ, dọn bải: 15.710.000đvn.

10. Chi sửa cửa sắt cổng nhà thờ Họ là: 450.000đvn.

11. Mua vật liệu Phượng lần III là: 1.926.000đvn.

12. Chi chú Đẳng mua vật liệu làm nhà bêp là: 1.000.000đvn.

13. Mua gạch men+xe chở lót nhà tăng là: 3.420.000đvn. 

C. PHẦN TỒN QUỶ: 7.782.000 đồng VN.

GHI CHÚ: Số tiền tồn quỷ 7.782.000 đồng VN ghi trên tính đến ngày 1/10/2008. Hiện còn một số khoản chi chưa thanh toán. 

                                 Triều thủy ngày 1 tháng 10 năm 2008.

 

                    Thủ quỷ                               Trưởng Họ và Trưởng Ban Trùng tu tôn tạo.  

                 Lê Xuân Tài                                                Lê Xuân Hường   

 

PHỤ LỤC VII: BÀI PHÁT BIỂU NHÂN NGÀY TẢO MỘ - HIỆP KỴ MỒNG 7 THÁNG 2 NĂM ẤT MÙI (2015)

Lê Xuân Đỗ

Thưa quý vị khách quý,

Thưa bà con nội ngoại,

“Con người có tổ có tông, như cây có gốc như sông có nguồn“

Hơn hai trăm năm trước đây, ngài “Thủy tổ HỌ LÊ TRIỀU THUỶ của chúng tôi” là thành viên Đời thứ 14 của họ LÊ VĂN, rời làng Xuân Ỗ đến “định cư, lập nghiệp” tại làng Triều Thuỷ, xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Ngài hạ sinh được 5 trai và 1 gái, trong đó có 2 người con trai mất sớm. Thế là, Đời thứ 15 còn lại 3 vị: ngài Lê Văn Quán, con trai trưởng, sau nầy đứng đầu Phái nhất; ngài Lê Văn Đắc con trai thứ tư, sau nầy đứng đầu Phái nhì, và ngài Lê Văn Tiếng con trai thứ năm, sau nầy đứng đầu Phái ba.

Sang Đời thứ 16 có 6 vị. Tại Đời thứ 16 nầy, có bà quả phụ Lê Văn Yêm (nhủ danh Nguyễn Thị Cơ) và bà Lê Thị Mẽn là “con dâu, con gái“ của ngài con trai trưởng Lê Văn Quán, tự nguyện cúng hiến một sào “đất ruộng tư“, và một ngôi nhà tranh“ để làm nhà thờ HỌ. Sang Đời thứ 17 có 19 vị đã đóng góp “công sức, tiền bac“ để xây mới ngôi nhà thờ HỌ, lợp ngói khang trang hơn. 

Thế rồi, ngôi nhà thờ HỌ của chúng ta cũng bị hư hỏng, xuống cấp, theo thời gian. Và đến thập niên 1960, một lần nữa lại phải xây mới băng “bê tông cốt sắt”. Dưới sự điều hành tích cực của vị Trưởng họ, ngài Lê Văn Vọng đã vận động quyên góp “sức người sức của” của các thành viên Đời thứ 17, và Đời thứ 18 theo “gợi ý” người đi xa “một tháng lương” người ở làng “một tháng công”, trong đó có cháu nội ngài Lê Văn Kiếm là ông Lê Xuân Kính thành viên thứ 18 cũng là người “tài trợ chủ chốt” cho công trình xây dựng này.    

Họ Lê làng Triều Thủy cũng xin “ghi nhận công đức“ bà Lê Thị Bằng, cháu nội ông bà Lê Văn Yêm, năm 1973, bà Bằng đã cúng hiến cho HỌ LÊ CHÚNG TA “2 sào đất ruộng tư“ mở rộng khuông viên TỪ ĐƯỜNG HỌ như hiện nay. 

Thưa quý vị khách quý,

Thưa bà con nội ngoại,

Ở trên là vài nét về LỊCH SỬ NGÔI TỪ ĐƯỜNG HỌ LÊ của chúng ta. Còn về PHẦN TẾ TỰ thì từ ngày có ngôi Từ Đường, các vị tiền nhân đã lấy ngày mất của Ngài Thủy Tổ, ngày mồng 7 tháng 2 Âm lịch làm ngày “Tảo mộ - Hiệp kỵ“ hàng năm. Tuy nhiên, do chiến tranh, và khó khăn về kinh tế, nên có lúc hai hoặc ba năm mới tổ chức “Tảo mộ - Hiệp kỵ“ một lần. Hiện tại, chúng tôi đã cố gắng “Phục hồi Tảo mộ - Hiệp kỵ“ hàng năm. 

Chúng tôi đã thực hiện liên tục “5 năm nay“ bắt đầu từ năm 2011. Tất nhiên, chúng tôi cũng tiên liệu trong những trường hợp “bất khả kháng“ chúng tôi không thể thực hiện được, thì năm sau chúng tôi cũng tiếp tục tổ chức “Tảo mộ - Hiệp kỵ hàng năm“ như thường lệ. 

Họ Lê Triều Thủy cũng xin “ghi nhận công đức“ bà Lê Thị Viễn, năm 2003, bà Viễn đã tài trợ toàn bộ chi phí "Đại Lể Trai Đàn Chẩn Tế" của HỌ LÊ trị giá trên dưới 30 triệu đồng tại thời điểm đó... Xin lưu ý cả bà Viễn, lẫn bà Bằng, đều là “cháu nội của ông bà Lê Văn Yêm.

Thưa quý vị khách quý,

Thưa bà con nội ngoại,

Hiện nay, năm 2015, số thành viên HỌ LÊ LÀNG TRIỀU THỦY lên tới 153 vị. Trong số 153 vị của Đời thứ 20 nầy, có trên dưới 120 vị đã rời làng đi lập nghiệp phương xa (cả trong nước lẫn ngoài nước), chỉ trên dưới 30 vị còn ở lại trong làng. Các THÀNH VIÊN CÒN LẠI TRONG LÀNG sẽ phải gánh vác công việc mà người đi xa để lai: mã mồ, tế tự, ngày đơm tháng kỵ, trùng tu, tôn tạo, bảo quản ngôi nhà THỜ HỌ thân yêu của chúng ta!

Làm gì, và làm như thế nào để chia xẽ gánh nặng từ người đi xa với người ở lại? TẢO MỘ - HIỆP KỴ hàng năm là cách CHIA XẺ THIẾT THỰC NHẤT. Đây không chỉ là cơ hội để người đi xa trở về “chiêm bái tổ tiên, hướng về cội nguồn”, mà còn là dịp để cả người đi xa lẫn người còn ở lại có dịp chung lưng đấu cật “cùng lo việc chung” việc của DÒNG HỌ TA, họ LÊ LÀNG TRIỀU THUỶ. 

Đó là mong ước sâu xa nhất của TIỀN NHÂN được ghi biên vào ĐIỀU LỆ GIA PHỔ! Đây cũng là ước mong ước của các thế hệ kế tục, với hy vọng HỌ LÊ TA ngày một phát triển, thăng tiến như đã từng phát triển và thăng tiến trong quá khứ.

Xin cám ơn quý vị, Xin cám ơn bà con nội ngoại,

Xin chúc quý vị một ngày Tảo mộ - Hiệp kỵ vui vẻ, hạnh phúc!

Triều Thuỷ ngày 26 tháng 03 năm 2015 (năm Ất Mùi)

Đại diện Họ Lê làng Triều Thủy.

 

PHỤ LỤC VIII:  BÀI PHÁT BIỂU NGÀY TẢO MỘ - HIỆP KỴ MỒNG 7 THÁNG 2 NĂM ĐINH DẬU (2017)

Lê Xuân Đỗ

Thưa quý vị khách quý

Thưa bà con nội ngoại.

Người mà chúng ta mang ơn nhiều nhất là “cha mẹ” chúng ta; Và, người mà chúng ta có nghĩa vụ lớn nhất là “vợ chồng con cái” chúng ta. Mang ơn “thì để đó”, nghĩa vụ “thì phải lo”!  Ta mang ơn cha mẹ, bởi vì “người sinh ra ta, nuôi ta lớn lên nên người”. Ta có nghĩa vụ với vợ chồng, với con cái, bởi vì “người đã cùng ta“ tạo ra các thế hệ kế tục, để “nối dỏi tông đường và kế thừa dòng giống”. 

Cha mẹ chúng ta, ông bà chúng ta, các thế hệ tiền nhân trước chúng ta cũng từng nghĩ như thế, và đều làm như thế, cho nên “không trách móc gì chúng ta”, qua câu nói hết sức mộc mạc là “Cha chết cũng không bằng hết gạo”. Điều nầy có nghĩa các vị khuyên chúng ta phải làm việc để “có gạo ăn” trước, rồi hãy nghĩ đến việc “ơn nghĩa cha mẹ” sau… Nhưng,  than ôi! Khi ta “đã có gạo ăn”, khi “nghĩa vụ với vợ chồng, với con cái” đã vơi bớt, thì cha mẹ chúng ta “không còn trên cỏi đời” nầy nữa… Đó là nổi đau của mỗi chúng ta!

Làm gì và làm như thế nào để “đền đáp công ơn” với cha mẹ đây? Nên chăng, chúng ta hãy làm những việc mà cha mẹ chúng ta “mong muốn làm” mà chưa làm được, hoặc “mong muốn làm” mà không có khả năng làm… Đó là “việc hiếu thảo đối với người đã khuất”, đó là “việc tình thâm đối với người cùng huyết thống” đang sống quanh ta!

Thưa quý vị khách quý

Thưa bà con nội ngoại.

Việc chúng ta tề tựu tại ngôi Từ đường Họ Lê Tộc ngày hôm nay là cùng một lúc chúng ta làm được hai việc “cả việc hiếu thảo, lẫn việc tình thâm”… 

HIẾU THẢO ở chỗ, chúng ta đã làm được việc mà các vị “tiền nhân mong muốn làm”. Tất cả chúng ta có mặt tại đây đều “hướng về các linh hồn đã khuất”: từ ngài Thuỷ tổ đến các thế hệ kế tục con cháu ngài “người có thừa tự” cũng như “người vô thừa tự” đều xem đây là “ngày giỗ của chính mình”. Ngày mà “mỗi linh hồn đã khuất” đều được “con cháu đến từng ngội mộ” thăm viếng, và mời về dự lễ Hiệp kỵ của “dòng Họ Lê ta” tại ngôi Từ Đường, Xóm 2, làng Triều Thuỷ này. Các vị không may phần mộ bị thất lạc cũng “đều được mời thông qua Văn tế” vừa tuyên đọc trong buổi lễ trang trọng nầy.

Ngày “Tảo mộ-Hiệp kỵ” mồng 7 tháng 2 Âm lịch hàng năm, còn là ngày “thể hiện Tình thâm”. TÌNH THÂM ở chỗ, ngày mà con cháu nội ngoại từ phương xa cũng như người ở làng đều một lòng, một dạ “chung tay, góp sức để cùng lo việc chung” việc của dòng Họ LÊ ta, tuỳ theo “khả năng và điều kiện có được” của mình…

Xin cho phép tôi, được đại diện Họ Lê làng Triều Thuỷ, nói lời biết ơn về sự chia xẻ của quý vị; Và, xin cho chúng tôi “được ghi nhận tấm lòng” của quý vị, bằng trái tim của chính mình, trái tim của mỗi thành viên Họ Lê làng Triều Thuỷ chúng tôi.

Xin cám ơn quý vị. Xin cám ơn bà con nội ngoại,

Xin chúc quý vị một ngày Tảo mộ - Hiệp kỵ vui vẻ, hạnh phúc!

Triều Thuỷ ngày 4 tháng 3 năm 2017

Đại diện Họ Lê làng Triều Thủy.

 

PHỤ LỤC IX: HAI LÁ THƯ GỞI GIÁO SƯ TIẾN SĨ BÁC SĨ NGUYỄN VŨ QUỐC HUY.

THƯ THỨ NHẤT

Triều Thuỷ ngày 4/8/2019

Thân gởi: Phó Giáo sư Tiến sĩ Bác sĩ Nguyễn Vũ Quốc Huy.

Với tư cách “tôn trưởng” - người còn sống có vai vế lớn nhất - họ Lê làng Triều Thuỷ, ông Đỗ gởi đến Huy 2 Văn bản “Phân trỉ Di sản năm 1955” và tờ “Thuận cúng đất hương hỏa năm 1977”. (Ảnh Photo 2 văn bản đính kèm).

1. Theo tờ phân trí Di sản năm 1955 thì “bà nội Huy” là người được nhận giữ “2 sào đất ruộng” của cha là ông Lê Niềm, để thu hoa lợi lo Hương khói cho “cha và anh”. Khi bà Lê Thị Bằng trăm tuổi thi hai vợ chồng ông ấy thuận giao lại cho cháu “Tự tôn Lê Sằng” nhận giữ để thu hoa lợi lo cúng kỵ cho “ông Niềm và con ông ấy”.

2. Đó là lý do, năm 1977 khi “bà nội Huy” Hiến 2 sào đất ấy cho Họ Lê có sự ưng thuận của các “chú, thím, dượng, và các em Don, Vỹ...” Đây cũng là lý do mà vài người có liên quan “hiểu sai” rằng 2 sào đất đó, là “đất của Chi”....

3. Ông Đỗ chưa nói đến khía cạnh “pháp lý hay tập tục văn hoá”... mà ông Đỗ chi nói “một thực tế” rằng sau 1975, tất cả đất của các người được phân chia “di sản của ông Yêm bà Cơ” là ông Trầm, ông Luân, bà Dảnh, đều bị nhà nước “tịch thu” và 2 sào đất của bà Bằng nhận giữ để “lo cúng kỵ cho cha và anh” cũng sẽ phải bị nhà nước tịch thu thôi...

4. Bà Bằng cúng 2 sào đất cho Họ Lê, ghi rõ tại “thời điểm 1973 và 1977” là nằm trong “tình cảnh ấy” tình cảnh “không cúng cũng mất”... May mà, nhà nước chưa có chủ trương tịch thu đến đất của các “Công đồng Cư dân Họ (Nhà thờ)”...

5. Bất luận “tình cảnh thế nào” với tư cách Tự tôn Họ Lê làng Triều Thuỷ, ông Đỗ xác định, từ trước đến giờ, và mãi mãi sau nầy “Họ Lê  Triều Thuỷ luôn công khai ghi nhận công dức của bà Bằng” rằng năm 1973, bà có “cúng hiến cho HỌ LÊ LÀNG TRIỀU THUỶ 2 sào đất ruộng” để mở rộng khuông viên nhà thờ HỌ như hiện nay. 

6. Đó là một thực tế và cả pháp lý không ai có thể “nói khác đi được”.

7. Và, từ cơ sở “thực tế và cả pháp lý” đó, nhà nước chính thức cấp Giấy Chứng Nhận Quyền sử dụng đất.... ghi rõ Người sử dụng đất: Cộng đồng Cư dân Họ Lê (Nhà thờ)...

Ông Đỗ hy vọng với thông tin trên, Huy sẽ có thêm dữ kiện để hiểu rõ vấn đề hơn.

Thân ái chào Huy.

 

THƯ THỨ HAI

Triều Thuỷ ngày 6/8/2019

Thân gởi: Phó Giáo sư Tiến sĩ Bác sĩ Nguyễn Vũ Quốc Huy.

Ông Đỗ nói thêm với Huy một chút về khía cạnh pháp lý và tập tục văn hoá (thờ cúng). Về pháp lý, bà Bằng có quyền thừa hưởng 2 sào đất của cha mình, bà muốn bán hay cho ai là quyền của bà ấy không cần phải có sự đồng ý của bất cứ ai.

Thế nhưng, trong tờ “phân trí Di sản năm 1955” lại ghi, khi bà Bằng trăm tuổi hai vợ chồng ông ấy thuận giao 2 sào đất ấy cho tự tôn Lê Sằng để lo cúng kỵ... Việc “thuận giao đất” này “luật pháp không cấm”. Nguyên tắc của luật pháp là “việc gì luật không cấm thì “người dân được quyền làm”...

Thực tế là vậy, và cũng có một thực tế khác nữa là tự tôn Lê Sằng “không thực hiện” được việc “thờ cúng” như đã ghi trong tờ phân trí Di sản 1955, thậm chí ông Sằng hình như “chết” trước cả bà Bằng... Cho nên, khi “giải quyết” vấn đề, người ta (và cả luật pháp) phải “căn cứ vào thực tế” miễn cái thực tế ấy “không trái luật”....

Và, cũng từ cái “thực tế không trái luật” ấy, nên nhà nước đã cấp “Giấy chứng nhận Quyển sử dụng đất” cho Công đồng họ Lê... Sự việc rõ ràng như vậy, mà có người còn “mơ tưởng” thế này, thế khác... chủ quan ông Đỗ nghĩ là không phù hợp cả về “thực tế” lẫn “pháp lý”... 

Tất nhiên, ông Đỗ rất tôn trọng quyền “tự do của người khác”. Ai nghĩ gì, làm gì là “quyền cá nhân” của người đó. Nếu họ thấy rằng “quyền lợi của họ” không được bảo đảm, họ có thể nhờ “luật pháp” can thiệp...

Sau cùng là lời thanh minh của ông Đỗ, rằng mình gởi 2 Tin nhắn (hôm kia và hôm nay) nầy tới Huy, vì Huy là “cháu nội đích tôn” của bà Bằng, và là Tiến sĩ Phó Giáo sư Bác sĩ nên “thấu hiểu được sự việc” dể dàng, khách quan hơn người khác.

Rất cám ơn Huy đã đọc Tin nhắn khá dài dòng của ông Đỗ... 

Thân ái chào Huy.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét