Chọn Ngôn ngữ (Translate)

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025

 

LÊ XUÂN ĐỖ

Nhà Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn

 

 

 

 

 

  QUA HAI CHẾ ĐỘ      

QUỐC GIA-CỘNG SẢN

1945 - 1976

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2024

 

 

 

 

 

 

Ý tưởng gian trá, hứa hẹn viễn vông, kích động hận thù, cổ vũ bạo loạn nhân danh bất cứ thứ gì cũng đều là ý đồ của những kẻ bất lương, bởi nó trái với quy luật tiến hoá, đạo lý và lẽ sống tự nhiên của con người.

Lê Xuân Đỗ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC SÁCH

Thay lời Dẫn nhập

Chương I: THỬ TÌM HIỂU CÁI TÔI -CON NGƯỜI- VÀ TÌM ĐỊNH HƯỚNG CHO NÓ: 3 bài viết: 1-3.

(1) Con Người là gì, Họ sống ra sao? 

(2) Tìm Định hướng gì cho Con Người? 

(3) Mục đích ý nghĩa của MỘT ĐỜI NGƯỜI là gì?

Chương II: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 7 CHÍNH QUYỀN VÀ 15 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1945-1950: 19 bài viết: 4-22.

(1) Vương triều Nguyễn và Triều đại Tự Đức.

(2) Liên bang Đông Dương thuộc Pháp.

(3) Chính quyền Đế quốc Việt Nam. 

(4) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. 

(5) Chính quyền và Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ. 

(6) Chính quyền Cộng hoà Tự Trị Nam Kỳ. 

(7)  Chính quyền Quốc gia Việt Nam.

Chương III: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 2 CHÍNH QUYỀN VÀ 6 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1950-1955: 21 bài viết: 23-43.

(1) Chính quyền Quốc gia Việt Nam. 

(2) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Chương IV: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 2 CHÍNH QUYỀN VÀ 2 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1955-1960: 20 bài viết: 44-63.

(1) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

(2) Chính quyền Việt Nam Cộng hoà.

Chương V: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 4 CHÍNH QUYỀN VÀ 6 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1960-1964: 17 bài viết: 64-80.

(1) Chính quyền Việt Nam Cộng hoà.

(2) Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà.

(3) Chính quyền Dân sự Việt Nam Cộng hoà.

(4) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà.

Chương VI: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 3 CHÍNH QUYỀN VÀ 3 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1965-1967: 25 bài viết: 81-105.

(1) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

(2) Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà.

(3) Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng hoà.

Chương VII: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 3 CHÍNH QUYỀN VÀ 5 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1968-1969: 16 bài viết: 106-121.

(1) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

(2) Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

(2) Chính quyền Đệ Nhị Việt Nam Cộng hoà.  

Chương VIII: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 3 CHÍNH QUYỀN VÀ 5 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1970-1975: 24 bài viết: 122-145.

(1) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

(2) Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

(3) Chính quyền Đệ Nhị Việt Nam Cộng hoà.

Chương IX: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 3 CHÍNH QUYỀN VÀ 3 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1975-1976: 3 bài viết: 146-148.

(1) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

(2) Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

(3) Chính quyền Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam


Thay lời Kết.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Thông tin trong sách QUA HAI CHẾ ĐỘ QUỐC GIA-CỘNG SẢN tác giả sử dụng thông tin trong “Sách Văn Minh Nhân Loại”; Sách 143 Năm Vương Triều Nhà Nguyễn (1802-1945); Sách 31 Năm Quốc Gia-Cộng Sản (1945-1976) với tên chung “Việt Nam Sự Kiện 1802-1976”; Và “Sách 324 Chuyện Kể Về Con Người Và Cuộc Sống của Họ” của chính tác giả, cùng với rất nhiều thông tin trong các “Chuyên đề, Chuyên mục” có sẵn khác trên GOOGLE như: Chiến tranh Đông Dương, Chiến tranh Việt Nam, Hoà hội Paris, Các Chiến dịch, Trận đánh…  

2. Thông tin tiếng Việt còn tham khảo các sách “Hai Mươi Năm Qua”: Việc từng ngày 1945-1964 và các năm 1965, 1966, 1967, 1968, 1969 của Đoàn Thêm”; Hồi ký “Con Rồng An Nam” của Cựu hoàng Bảo Đại; “Từ Thực Dân Tới Cộng Sản” của Hoàng Văn Chí; ”Đôi Dòng Ghi Nhớ” của Phạm Bá Hoa; “Việt Nam Nhân Chứng” của Trần Văn Đôn; “Đèn Cù” của Trần Đỉnh; “Hồi ký 1940-1945“ của Trần Văn Giàu, và rất nhiều sách của nhiều tác giả khác… 

3. Thông tin trong mỗi “Sự kiện đều có xuất xứ gắn liền với ngày tháng năm” và tư liệu tham khảo, trích dẫn. Xin gõ Bách khoa toàn thư mỡ tiếng Việt để kiểm chứng. 

 

VÀI HÀNG VỀ TÁC GIẢ.

 

Nhà nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn Lê Xuân Đỗ, sinh năm 1936 tại Huế. Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông là Thiếu tá Hiện dịch Quân Lực Việt Nam Cộng hòa; Sinh viên Luật tại Viện Đại học Huế. Ông Đỗ tốt nghiệp: (1) Khóa 3 Chuẩn úy hiện dịch Nha Trang năm 1962; (2) Khoá Cán bộ Ấp Chiến lược tại Trại Nhân Trí Dũng, Suối Lồ Ồ, Biên Hoà năm 1963; (3) Khóa 11 Đại đội trưởng Bộ Binh Thủ Đức năm 1965; (4) Tác chiến Trong rừng Mã Lai năm 1965; (5) Khóa 16 Sĩ quan Căn bản Hành chánh Tài chánh năm 1966; (6) Khóa 1 Đại đội trưởng Hành chánh Tiếp vận năm 1969; Và (7) Khoá 1/71 Điều khiển Tiếp vận năm 1971, tại trường Tiếp Vận Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu). Chức vụ 3 năm sau cùng của ông Lê Xuân Đỗ là Trưởng ban 4, kiêm Chỉ huy Hậu cứ Trung đoàn 56, Sư đoàn 3 Bộ Binh. 

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Đỗ bị tập trung cải tạo trong các trại: Long Giao, Biên Hòa, Yên Bái, Vĩnh Phú, và Xuân Lộc. Ông Đỗ được tha ra khỏi trại Xuân Lộc, tháng 9 năm 1984. 

Từ tháng 10 năm 1985 đến tháng 12 năm 1995, ông Lê Xuân Đỗ theo học các khóa: (1) Đại học Ngữ văn khóa 1 (1985-1990); (2) Triết sau Đại học khóa 7 (1990-1991); (3) Đại học Luật khóa 5 (1991-1995); (4) Đại học Xã hội học khóa 1 (1993-1995); (5) Cao học Kinh tế khóa 1 (1991-1993) tại trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. (6) Cao học Lịch sử khóa 2 (1989-1991) tại Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. Và (7) Khóa “Quản lý Kinh tế Vĩ mô” (Ngân hàng Thế giới tài trợ theo Dự án V.I.E/88/543), do Văn phòng Hội Đồng Bộ Trưởng tổ chức tại trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (4/11/1991 - 14/12/1991).

Ông Lê Xuân Đỗ đến Úc đoàn tụ với con cái năm 1996, học Luật tại Đại học Sydney năm 1998-2000. Tham luận của ông tại các Đại hội Chuyên gia Úc Châu: (1) Việt Nam với kinh tế thị trường (1996); (2) Thử tìm hiểu Cái Tôi - CON NGƯỜI - và tìm định hướng cho nó (1997); (3) Việt Nam trước ngưởng cửa của Thế kỷ 21 (1998); (4) Tổ chức Thế giới những năm đầu của Thế kỷ 21 (1999); (5) Việt Nam trong tương quan với Thế giới những năm đầu của Thế kỷ 21 (2000); (6) Thử tìm hiểu Úc Đại Lợi và định hướng cho sự thích nghi (2001); (7) Kinh tế Thế giới những năm đầu của Thế kỷ 21 (2002); (8) Úc Đại Lợi những năm đầu của Thế kỷ 21 (2003); (9) Chính trị Thế giới những năm đầu của Thế kỷ 21 (2008); Và (10), Văn minh Nhân loại những năm đầu của Thế kỹ 21 (2010). 

Sách đã xuất bản: (1) THẾ GIỚI SỰ KIỆN, Nxb TRẺ năm 2006. (2) 10 NƯỚC GIÀU MẠNH, Nxb THUẬN HÓA năm 2010. Sách đã đưa lên mạng 2012: (1) Châu Âu và Liên Hiệp Châu Âu; (2) Châu Á và Hợp Tác Châu Á-Thái Bình Dương; (3) Văn Minh Nhân Loại (2012) Và (4) Gia Phổ Họ LÊ Xuân Ổ-Triều Thuỷ (lexuando.blogspot.com). Sách đưa lên mạng 2016-2023: (1) Văn Minh Nhân Loại (2016), (2) Việt Nam Sự Kiện (1802-1976), (3) Chuyện Kể Con Người và Cuộc Sống của họ (2023); Gia Phổ Họ Lê Xuân Ổ - Triều Thuỷ; Và (4) Gia Phổ Họ Lê Triều Thuỷ (lexuando36.blogspot.com). 



 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THAY LỜI DẪN NHẬP

 

Sách Qua Hai Chế Độ Quốc gia-Cộng sản 1945-1976 ghi lại các sự kiện liên quan, những việc mỗi chính quyền đã làm qua 148 bài viết. Nó là một “giai đoạn ngắn” của một “lịch sử Việt Nam dài” nhưng có tới 12 chính quyền và 46 Chính phủ. Mỗi chính quyền-chính phủ đều nhân danh “vì dân vì nước” hoặc ít ra cũng tự cho chính quyền của mình là “phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân… 

Ở đây, không chúng tôi không bàn về cái đúng cái sai cái hay cái dở của mỗi chính quyền vì chúng tôi không có khả năng làm việc đó, chúng tôi chỉ ghi lại tình cảnh của “Người Dân Việt Nam” dưới thời “Hai chế độ Quốc gia-Cộng sản” trong 31 năm 1945-1976 với mong muốn để mỗi bạn đọc tự suy nghĩ, so sánh và tìm ra kết luận cho riêng mình.

Và, sau cùng chúng tôi trân trọng gởi đến các nhà viết sử, các nhà giáo dục trong viết “Sách Giáo Khoa” giáo dục thế hệ trẻ cần thực tế một chút, nghiêm túc hơn một chút, không nên “ơn đảng ơn bác”… Không ơn ai cả, chức năng của chính quyền là quản lý nhà nước, quản lý xã hội, trong đó QUỐC KẾ DÂN SINH phải được đặt lên hàng đầu. Mỗi chính quyền trong một thời điểm lịch sử nhất định phải có đóng góp ít nhiều cho quá trình tiến hoá của đất nước! 

Hãy để người dân GHI CÔNG, lịch sử ĐÁNH GIÁ. Không nên “nói thay nói hộ” người dân. Cũng không nên “tuyên dương, tâng công” thay lịch sử. Càng không nên viết sách giáo dục thế hệ trẻ bằng LỊCH SỬ THIÊN LỆCH. Đó là mục đích và ý nghĩa sách “Qua Hai Chế Độ Quốc gia-Cộng sản 1945-1976, tác giả trân trọng gởi đến bạn đọc./.

Sydney ngày 1 tháng 1 năm 2924.


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I: THỬ TÌM HIỂU CÁI TÔI - CON NGƯỜI - VÀ TÌM ĐỊNH HƯỚNG CHO NÓ… 

(3 bài viết, 7 trang và 3.954 chữ).

 

Trong nghiên cứu CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG của họ, chúng tôi xuất phát từ hai quan điểm:

·      Quan Điểm 1: Chân lý là cụ thể. Khoa học là phương pháp. Mối quan hệ giữa chân lý và khoa học là: không có chân lý, thì khoa học không có đối tượng nghiên cứu. Và, không có khoa học thì chân lý cũng không được phát hiện, không được làm sáng tỏ.

·      Quan Điểm 2: Lùi về quá khứ để hiểu hiện tại. Có hiểu đúng hiện tại, mới dự báo được tương lai. Và tương lai trong dự báo, dù có lạc quan đến thế mấy, cái hiện thực của tương lai vẫn đến nhanh đến sớm hơn là dự báo.

 

Bài 1: CON NGƯỜI LÀ GÌ, HỌ SỐNG RA SAO?

Theo cách hiểu của chúng tôi, ở hành tinh nào thì chúng tôi không biết, chứ hành tinh TRÁI ĐẤT, nơi chúng ta đang sống, mỗi CON NGƯỜI chỉ có một lần sinh, một lần chết, không lập lại, không tái sinh. Và, con người cũng chỉ là một SẢN PHẨM CỦA TỰ NHIÊN một loài của giới động vật. Nhưng trong giới động vật, con người là một con vật có văn hóa.

Văn hóa của con người được thể hiện trên đời sống vật chất và đời sống tinh thần ở con người cao hơn và tiến bộ hơn so với con vật. Song, đó chỉ là cái bên ngoài, cái hiện tượng của văn hóa. Còn cái bên trong, bản chất của văn hóa chính là SỰ HIỂU BIẾT của con người, và CÁC CÁCH ỨNG DỤNG SỰ HIỂU BIẾT ĐÓ vào tổ chức đời sống.

***

Đến giờ này thì sự HIỂU BIẾT CỦA LOÀI NGƯỜI đã trải qua ba bước phát triển: hiểu biết từ thử và sai, hiểu biết từ kinh nghiệm, và hiểu biết từ khoa học. 

Hiểu biết từ THỬ VÀ SAI là hiểu biết do chưa biết mà cứ làm, qua sai lầm “để có được hiểu biết”. Hiểu biết này đã đưa bầy người nguyên thủy sống bằng hái lượm và săn bắt, lên thành xã hội loài người sống bằng trồng trọt và chăn nuôi.

Hiểu biết từ KINH NGHIỆM là hiểu biết do bắt chước người khác, hoặc do kinh nghiệm của chính bản thân mình “mà có hiểu biết”. Hiểu biết này đã đưa con người đến sự phân công lao động xã hội: nông nghiệp thì cung cấp lương thực thực phẩm, tiểu thủ công nghiệp thì cung cấp hàng tiêu dùng, và thương nghiệp thì làm trung gian trao đổi. 

Hiểu biết từ KHOA HỌC là hiểu biết do suy nghĩ, hoạt động sáng tạo của con người “để đạt tới hiểu biết”. Hiểu biết này đã đưa người ta đến việc ứng dụng khoa học vào sản xuất, vào quản lý xã hội, làm cho đời sống con người ngày càng tốt hơn cả lãnh vực vật chất lẫn lãnh vực tinh thần.

***

Trong quá trình ứng dụng hiểu biết vào tổ chức đời sống con người đã để lại nhiều dấu ấn, chúng tôi gọi đó là DẤU ẤN VĂN HOÁ. Tấm lòng của người mẹ, thuỷ chung của người vợ, trách nhiệm của người cha, nghĩa vụ của người chồng, hiếu thảo của người con, chuẩn mực của đạo đức, quy tắc trong xử sự, truyền thống bất khuất, kim tự tháp, vạn lý trường thành, trống đồng Việt Nam, đều là những dấu ấn văn hoá. 

Dấu ấn văn hoá là các “giá trị vật chất, và giá trị tinh thần” là cái đã đưa lại sự an bình cho cuộc sống. Dấu ấn văn hoá là “niềm vui, niềm tự hào” trong quá trình sống. Dấu ấn văn hoá, còn là cái tự trong mình nó chứa đựng cả “sức sống và mầm sống” là cái tạo ra “tính tích cực” trong mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc, và cả nhân loại.

Bên cạnh các “Dấu ấn Văn hoá” con người cũng để lại nhiều CÁI MỐC ĐÁNG NHỚ. Chỉ riêng nước Mỹ thôi người ta cũng đã thấy: Năm 1492, Columbus, nhà thám hiểm Châu Âu khám phá ra Châu Mỹ. Năm 1607, cư dân Anh thành lập thuộc địa Jamestown, là thuộc địa đầu tiên của người Anh đến định cư tại Bắc Mỹ. Năm 1775, do bất bình về thuế khóa và mậu dịch bất công từ mẫu quốc Anh, 13 thuộc địa người Anh định cư tại đây đứng lên làm bạo loạn. Và năm sau, năm 1776, họ thành lập Liên Bang Hoa Kỳ độc lập, tách khỏi Anh Quốc. 

Năm 1789, chỉ 13 năm sau ngày độc lập, nước Mỹ ban hành Hiến Pháp, là Hiến pháp thành văn đầu tiên của loài người, dùng làm nền tảng để “tổ chức chính quyền”. Năm 1865, hơn 76 năm sau khi có Hiến Pháp, Tổng thống Lincoln mới xóa bỏ được chế độ NGƯỜI NÔ LỆ NGƯỜI. Năm 1875, Bell sáng chế ra điện thoại. Năm 1897, Edison sáng chế đèn điện. Năm 1903, nhà anh em WRIGHT sáng chế máy bay. Năm 1908, hãng Ford sản xuất xe vận tải. Năm 1927, Baird sáng chế ra máy truyền hình.

***

Cuộc CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ ĐẦU TIÊN của loài người là “máy hơi nước, khung dệt” ra đời năm 1791. Giai đoạn hưng thịnh của cuộc cách mạng từ năm 1791 đến năm 1814, và giai đoạn suy vong của nó từ năm 1815 đến 1847. Anh Quốc là quốc gia thống lĩnh cuộc cách mạng này. Cuộc cách mạng công nghệ thứ nhì là “hỏa xa, than đá, vật liệu xây dựng” ra đời từ năm 1848. Giai đoạn hưng thịnh của nó từ năm 1848 đến năm 1874 và giai đoạn suy vong từ năm 1875 đến năm 1895. Anh Quốc và vài nước Châu Âu thống lĩnh cuộc cách mạng này. 

Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba là “thép, điện tử, máy đốt năng lượng nội tại, cơ khí, hóa học, khoáng chất” bắt đầu từ năm 1896. Giai đoạn hưng thịnh từ năm 1896 đến năm 1919, và giai đoạn suy vong từ năm 1920 đến năm 1939. Hoa Kỳ và Đức Quốc là hai quốc gia thống lĩnh cuộc cách mạng công nghệ thứ ba này. Cuộc cách mạng công nghệ thứ tư là “dầu hỏa, động cơ nhỏ, điện tử, phi cơ, hóa học, các chất nhựa, vô tuyến truyền thanh, và vô tuyến truyền hình” ra đời năm 1940. Giai đoạn hưng thịnh từ năm 1940 đến năm 1967, và giai đoạn lỗi thời, thế hệ mới thay thế từ năm 1968. Quốc gia thống trị cuộc cách mạng này là Hoa Kỳ và vài nước Tây Âu. 

Cuộc cách mạng công nghệ thứ năm là “vi điện tử, điện toán, viễn thông, người máy, điện nguyên tử, sinh học, không gian” ra đời năm 1969. Cuộc cách mạng này đang tiếp diễn. Quốc gia thống lĩnh là Hoa Kỳ, Nhật Bản, và một số nước Tây Âu.

Đáng lưu ý trong các cuộc cách mạng này là từ năm 1848, khi khởi đầu cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai, lúc mà Anh Quốc và vài nước Châu Âu là các nước thống trị, thì Hoa Kỳ là nước phụ thuộc. Nhưng đến năm 1896, khi cuộc cách mạng công nghệ thứ ba ra đời, Hoa Kỳ đã vươn lên và trở thành nước thống trị. Hoa Kỳ đã duy trì sự thống trị nầy trong suốt các cuộc cách mạng lần thứ ba, thứ tư, thứ năm, dẫn đầu thế giới trong nhiều lãnh vực, đúng như tên gọi là cường quốc số 1 của thế giới.

Nhật Bản, quốc gia duy nhất trên trái đất bị hai quả bom nguyên tử tàn phá năm 1945, thua trận kiệt quệ, là quốc gia phụ thuộc trong thời kỳ tiến hành cách mạng công nghệ lần thứ tư thì, đến năm 1968 khởi đầu cuộc cách mạng công nghệ lần thứ năm, Nhật Bản đã vươn tới đứng hàng thứ hai chỉ sau Hoa Kỳ, thống lĩnh cuộc cách mạng lần này cho đến ngày nay.

Sydney ngày 1 tháng 1 năm 2024

 

Bài 2: TÌM ĐỊNH HƯỚNG GÌ CHO CON NGƯỜI?

Hiểu con người là gì, biết được họ sống ra sao rồi, thì vấn đề tiếp theo là cần tìm định hướng gì cho nó. Đến giờ này tuổi thọ của loài người đang ở ngưỡng cửa trên dưới 80. Vì vậy, chúng ta cũng nên định hướng 85 năm cho một đời người. Trong tám mươi lăm năm ấy, mỗi người chúng ta có ba thời kỳ sống khác nhau: trên dưới hai mươi năm đầu “còn non yếu thì sống phụ thuộc”, trên dưới bốn mươi lăm năm tiếp theo thì “lớn mạnh sống độc lập”, và trên dưới hai mươi năm sau cùng thì “già yếu, lại sống phụ thuộc”. Cho nên, bên cạnh các định hướng xuyên suốt, còn phải đặc biệt quan tâm đến định hướng cho các thời kỳ.

***

ĐỊNH HƯỚNG XUYÊN SUỐT là định hướng cho cả một đời người. Đó là định hướng về thể lực, định hướng về tâm lực, định hướng về trí lực, và định hướng về nghị lực. Định hướng thể lực là định hướng cho sức mạnh của cơ thể, là rèn luyện và nâng cao thể chất để đủ sức đương đầu với mọi gian khó, cam go trong đời sống hiện thực. Sức khỏe luôn là tiền đề đầu tiên, tiền đề số một của đời sống, đúng như cha ông ta từng đánh giá “sức khỏe là vàng”. 

Định hướng tâm lực là định hướng cho sức mạnh của lương tâm, là nâng cao tình cảm trong sáng, biết trọng công bằng, biết yêu khoa học, biết thích tiến bộ, và biết muốn tự do. Biết trọng công bằng là biết trọng lẽ phải, không dùng ưu thế có được để bắt chẹt, chèn ép người khác yếu thế hơn mình. Yêu khoa học là yêu giờ nào việc đó, là yêu thời biểu do chính mình đặt ra, và tuân thủ nó một cách vô điều kiện. Thích tiến bộ là thích điều mình nghĩ, việc mình làm hôm nay phải tốt hơn hôm qua, và ngày mai phải tốt hơn hôm nay. Muốn tự do là muốn trong hoàn cảnh hiện có, tự mình suy nghĩ và chủ động trong hành động, không bị chi phối bởi bất cứ điều kiện nào và từ đâu đến.

Định hướng trí lực là định hướng cho sức mạnh của trí tuệ, biết phân biệt một cách biện chứng điều phải điều trái, điều đúng điều sai, việc cần làm và điều nên tránh. Định hướng trí lực còn là định hướng cách giải quyết vấn đề. Giải quyết thế nào đó để đạt điều mong muốn, để có được sự chủ động trong mọi tình huống, để đạt tới sự “vui tươi và thoải mái” mỗi ngày. 

Định hướng xuyên suốt sau cùng là định hướng về nghị lực. Định hướng nghị lực là định hướng cho sức mạnh của sự kiên trì. Xét đến cùng định hướng nghị lực là định hướng sức chịu. Bởi vì có chịu đựng được với mọi phong ba bão táp, có vượt qua được mọi thác ghềnh thì mới đưa “con thuyền đời mình” đến được bến vinh quang đã định. Định hướng nghị lực còn có nghĩa là định hướng về “sự siêng năng”, bởi lẽ mọi thành quả mà ta đạt được hầu hết đều do sự siêng năng chăm chỉ mà có.

***

ĐỊNH HƯỚNG THỜI KỲ. Nếu định hướng xuyên suốt là định hướng chủ đạo, định hướng tổng quát, thì định hướng thời kỳ là định hướng cụ thể, định hướng chi tiết, là định hướng của lúc thiếu thời, khi trưởng thành và cả lúc già yếu. Chúng tôi gọi nó với ba cái tên vui là thời kỳ chuẩn bị vào đời, thời kỳ thật sự vào đời, và thời kỳ chuẩn bị lìa đời. 

THỜI KỲ CHUẨN BỊ VÀO ĐỜI là thời kỳ còn non yếu, sống phụ thuộc. Thời kỳ này kéo dài trên dưới hai mươi năm, từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi làm được việc, lấy vợ lấy chồng. Cha mẹ, gia đình, dòng tộc, tôn giáo, tập quán địa phương, văn hóa dân tộc, và cộng đồng xã hội có vai trò to lớn trong thời kỳ chuẩn bị vào đời này. Sự giàu có của gia đình, và quốc gia sẽ là một môi trường đặc biệt thuận lợi mang tính quyết định sau “nỗ lực của bản thân”. 

Điều quan trọng ở thời kỳ chuẩn bị vào đời là cứ để cho trẻ “tự phát suy nghĩ, và hành động” như một con người trên đà trưởng thành có nhân cách. Cha mẹ phải theo dõi từng ngày, từng giờ tính tích cực và tiêu cực nơi trẻ, khuyến khích và cổ vũ kịp thời các mặt tích cực để tạo thành “thói quen tốt” cho trẻ. Ngăn chận và đẩy lùi tức khắc các hiện tượng tiêu cực vừa phát hiện, quyết không để hiện tượng tiêu cực trở thành “thói quen xấu” nơi trẻ.

Chuẩn bị vào đời cho con là một việc làm hết sức công phu, giống như người “chơi cây cá kiểng”, khi nào thì bón phân, tưới nước, lúc nào thì bắt sâu, uốn cành. Phải làm nó một cách thường xuyên, liên tục chứ không phải làm định kỳ theo kiểu người làm vườn. Có một điều tế nhị nếu không muốn nói là “cấm kỵ” là đừng bao giờ tranh công với con cái mình. Nghĩa là phải hiểu cho được rằng, tính tích cực nơi trẻ là do chính bản thân chúng nghĩ ra, làm nên, chứ không phải do ta áp đặt mà có. 

Cần gieo cho trẻ một nhận thức giản đơn là muốn sống phải “làm việc để kiếm sống”, muốn sống tốt hơn “phải làm việc tốt hơn”. Rằng, con người có được hạnh phúc hay gặp bất hạnh, có thành công hay bị thất bại đều có nguyên nhân từ thời kỳ chuẩn bị vào đời này: ta làm tốt nó, làm đầy đủ thì thuận lợi trong cuộc sống như là điều tất yếu, ngược lại khó khăn đến, hầu như là điều khó tránh. 

THỜI KỲ THỰC SỰ VÀO ĐỜI là thời kỳ lớn mạnh, trưởng thành. Thời kỳ này kéo dài trên dưới bốn mươi lăm năm. Đây là thời kỳ mỗi người tự tổ chức đời sống cho chính mình: “công ăn việc làm, lấy vợ lấy chồng, sinh đẻ con cái, tạo dựng sự nghiệp”. Phải hiểu cho được rằng người vợ người chồng của ta có vai trò hết sức quan trọng. Họ là “người bạn đời, người bạn chung chăn gối, là người cùng mình tạo dựng sự nghiệp, tạo ra các thế hệ kế tục nối dõi tông đường, kế thừa dòng giống”. 

Chính họ, người vợ, người chồng mới là người “mang lại hạnh phúc, hay tạo ra nỗi bất hạnh” cho ta. Việc chọn vợ, chọn chồng, bước đầu của thời kỳ thực sự vào đời là “thử thách đầu tiên” về sức mạnh của tình cảm và trí tuệ, là sự thống nhất giữa lý trí và tình cảm. Cố gắng chọn người “tâm đầu ý hợp, có sức khỏe, siêng năng, có khả năng làm việc và làm được nhiều việc khác nhau, có khả năng sinh và nuôi dạy con cái, sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm, và chia xẻ ngọt bùi với mình trong suốt cả cuộc đời”.  

Nên nhớ rằng, trên dưới tám mươi năm của một đời người, người ta chỉ sống với cha mẹ, anh chị em mình có hai mươi năm đầu, trên sáu mươi lăm năm còn lại là sống với vợ với chồng. Và, hạnh phúc của con người xét đến cùng là “hạnh phúc gia đình, hạnh phúc trong tình chồng vợ, hạnh phúc trong tình thương yêu con cái, hạnh phúc nơi lòng hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, tổ tiên”. Hạnh phúc còn có thể có được do nơi niềm tin tôn giáo, niềm vui ở dòng tộc, và cả nơi truyền thống văn hóa của dân tộc mình nữa. Yêu cầu hàng đầu của thời kỳ thật sự vào đời là yêu cầu làm việc tích cực: làm việc là “cách duy nhất” tạo ra phương tiện để có hạnh phúc.

THỜI KỲ CHUẨN BỊ LÌA ĐỜI: Một thời kỳ khác, thời kỳ không vui, đó là thời kỳ chuẩn bị lìa đờiThời kỳ này kéo dài trên dưới hai mươi năm. Đây là thời kỳ không còn sức làm việc, thời kỳ già yếu. Thời kỳ mà nếu là người giàu có thì vui thú điền viên, đi đây đi đó, ngắm cảnh nhìn người trước khi nhắm mắt lìa đời sang bên kia thế giới. Còn nếu là người nghèo khó thì trở lại nương tựa vào con cái, sống “lây lất” chờ ngày nhắm mắt rời khỏi cõi trần. 

***

Ở Việt Nam ta, cha mẹ nào cũng thương yêu con cái, lo sao cho con mình lớn lên nên người mới an lòng khi bóng xế về chiều. Nhưng truyền thống gia đình, và tập tục văn hóa Việt Nam thì khi cha mẹ già yếu, thường được con trai mình chăm sóc như một bổn phận của lòng hiếu thảo. Còn con gái mình, khi đã đi lấy chồng thì phải có trách nhiệm nuôi nấng cha mẹ chồng, như con gái nhà người ta về nuôi nấng mình vậy. Đây là một sự phân công của “tập tục văn hóa”, chứ không hề có sự bất công, phân biệt đối xử “trọng nam khinh nữ” gì ở đây cả.  

Tất nhiên, điều này sẽ không còn phù hợp lắm với “tập tục văn hóa công nghiệp” đang hình thành. Phải tùy cơ ứng biến, ta phải “điều chỉnh mình” để thích nghi với môi trường, chứ không thể bắt môi trường thích nghi với ta được. Mọi sự chê bai, than vãng đều không mang lại lợi ích gì. Mặt khác, văn hóa công nghiệp, là một định hướng phát triển tích cực. Bằng cách nầy hay cách khác, nó đang cho ta một môi trường, và điều kiện sống thuận lợi hơn nhiều so với trước đây. Văn hóa công nghiệp là văn hóa tri thức, là văn hóa của ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay.

Sydney ngày 2 tháng 1 năm 2024

 

Bài 3: MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI LÀ GÌ?

Hiểu con người là gì, biết được họ sống ra sao, và tìm định hướng cho nó rồi, vấn đề đặt ra sau cùng vậy thì, mục đích ý nghĩa cuộc sống của con người là gì, nên như thế nào? Như trên đã nói, con người là một sản phẩm của tự nhiên, nhờ hiểu biết và ứng dụng sự hiểu biết vào tổ chức đời sống mà loài người có được một đời sống vật chất và đời sống tinh thần vượt trội đời sống muôn loài trên trái đất.

Thật vậy, nhờ hiểu biết ban đầu chúng tôi gọi là hiểu biết từ “Thử và Sai” mà nó đưa bầy người nguyên thủy sống bằng hái lượm săn bắt lên thành xã hội loài người sống bằng trồng trọt và chăn nuôi. Rồi nhờ hiểu biết từ “Kinh nghiệm” mà nó đưa người ta đến sự phân công lao động xã hội: nông nghiệp thì cung cấp lương thực thực phẩm, thủ công nghiệp thì cung cấp hàng tiêu dùng, thương nghiệp thì làm trung gian trao đổi. Và hiện nay, nhờ hiểu biết từ “Khoa học” mà người ta ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất, vào tổ chức quản lý xã hội làm cho đời sống con người ngày càng được nâng lên mãi, cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần.

Có thể nói rằng đến giờ này thì cơm ta ăn, áo ta mặc, nhà ta ở, chữ ta học, đồ vật ta dùng được thuận lợi, tốt đẹp như thế này là của cho của người khác: của cho của các thế hệ tiền nhân đã lao động sáng tạo ra để ta có mà hưởng. Nhận của cho và biết cho lại luôn luôn và mãi mãi là cơ sở, là tiêu chuẩn, là thước đo của đạo đức cả trong nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, cả trong nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng, cả trong hiện tại cho đến muôn thuở.

Ta đang nhận của cho từ các thế hệ trước, đến lượt mình, ta cũng phải làm cái gì để lại cho các thế hệ sau có mà hưởng. Tất nhiên, các thế hệ sau ta đến lượt họ, họ cũng làm như thế. Đó là quy luật phát triển tự nhiên của xã hội loài người, không theo ý đồ chủ quan, hay sự áp đặt từ một cá nhân, phe nhóm, quốc gia nào cả.

***

Là một nhà nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn, tôi ngạc nhiên đến độ thích thú khi phát hiện BỐN CẤP ĐỘ ĐẠO ĐỨC CỦA VĂN HOÁ VIỆT đó là đạo đức 9/1, đạo đức 7/3, đạo đức 6/4, và đạo đức 5/5. 

ĐẠO ĐỨC 9/1 là đạo đức được thể hiện nơi mối “quan hệ cha mẹ với con cái”, tại đây cha mẹ cho con cái tới 9 và nhận lại từ con cái có 1 mà không hề có sự tính toán được mất. ĐẠO ĐỨC 7/3  là đạo đức được thể hiện nơi mối “quan hệ vợ chồng”, tại đây người chồng (hay vợ) lo toan mọi chuyện gia đình tới 7 và người kia có 3 mà không bao giờ có ý so đo hơn thiệt. 

ĐẠO ĐỨC 6/4 là đạo đức được thể hiện nơi mối quan hệ anh em”, tại đây người anh cho em (hay em cho anh) tới 6 và nhận lại từ em hay anh có 4, mà không hề chờ mong đáp trả. ĐẠO ĐỨC 5/5 là đạo đức được thể hiện nơi mối “quan hệ xã hội”, người nầy không dùng ưu thế có được hay trí trá để bắt chẹt, lợi dụng, sống trên sức chịu của người kia. Phải chăng, đó là “tập tục văn hoá tích cực” và lẽ công bằng của tạo hóa! Tiếc thay, các cấp độ đạo đức trên đang xuống cấp đến mức khá trầm trọng!

***

Sau cùng, theo chúng tôi, mục đích cuộc sống của mỗi người là nên cùng với người xung quanh đưa cuộc sống lên phía trước. Còn ý nghĩa của cuộc sống thì MỖI NGƯỜI cố  tạo cho được “sự vui tươi thoải mái mỗi ngày”. Nhưng ý nghĩa của cuộc đời thì nên có sự nghiệp để lại. Chỉ một gương sáng về sự siêng năng thôi cũng đã là sự nghiệp để lại, huống là những phát kiến, sáng tạo ra cái mới đưa lại điều tốt lành hơn cho từng con người, và cả nhân loại. 

 Sydney ngày 3 tháng 1 năm 2024

 (Hết Chương 1 gồm 3 bài: 1 – 3) 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Chương II: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 7 CHÍNH QUYỀN VÀ 15 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1945-1949.

(19 bài viết, 37 trang và 23.445 chữ). 

Bảy chính quyền từ 1945-1949 gồm: (1) Vương triều Nhà Nguyễn và Triểu đình Tự Đức; (2) Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, và Toàn quyền Jean Decou; (3) Chính quyền Đế quốc Việt Nam, và chính phủ Trần Trọng Kim; (4) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và chính phủ Lâm thời, chính phủ Liên hiệp Lâm thời, chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, chính phủ Liên hiệp Quốc dân, chính phủ Mỡ rộng Hồ Chí Minh; (5) Chính quyền Nam Bộ, và Lâm uỷ Hành chánh Trần Văn Giàu, Lâm uỷ Phạm Văn Bạch; (6) Chính quyền Nam Kỳ Tự trị, và chính phủ Nguyễn Văn Thinh, chính phủ Lê Văn Hoạch, chính phủ Nguyên Văn Xuân; Và, (7) Chính quyền Quốc gia Việt Nam và Chính phủ Nguyễn Văn Xuân, chính phủ Quốc trưởng Bảo Đại kiêm nhiệm.

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

Bài 4: VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN, VÀ CÔNG CUỘC ĐÁNH CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC PHÁP DƯỚI THỜI VUA TỰ ĐỨC NĂM 1858-1883.

Nước Văn Lang của họ Hồng Bàng ở Vùng Ba Vì, Vỉnh Phú, nối tiếp được 18 đời thì nước rơi vào tay Thục Phán. Cùng với phần đất của mình Vua Thục lập nước Lac Viêt. Trị vì được 50 năm thì nước Lạc Việt rơi vào tay Triệu Đà. Cùng với phần đất của mình, Vua Triệu lập nước Nam Việt. Trị vì được 100 năm thì nước Nam Việt lại rơi vào tay Nam Hán. Từ đó, (năm 111 TCN) hơn 1000 năm nước Nam Việt trở thành một phần của Trung Quốc với tên mới là Giao Chỉ Bộ, và sau đó (năm 679) đổi tên thành An Nam. 

Trong khi An Nam chịu sự thống trị của Trung Quốc, thì ở phía Nam, vào những năm 100 Sau Công nguyên (SCN), hai Vương quốc Phù Nan, và Champa phát triển rực rở. Phù Nan chiếm ngự vùng đồng bằng sông Mê Kông. Còn Champa thì chiếm ngự vùng giữa Giao Chỉ và Phù Nan. Những năm 500 và 600 SCN, người Du mục Khmer phía Tây Champa trở nên hùng mạnh xâm chiếm Vương quốc Phù Nan. Chỉ trong vài trăm năm người Khmer đã chiếm lĩnh, và xoá sổ nước Phù Nan. 

Năm 939, Ngô Quyền thâu hồi độc lập cho nước, rồi tiếp đến là loạn Thập nhị Sứ quân. Đến năm 968, Đinh Bộ Lỉnh mới thống nhất được đất nước, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Năm 980, Lê Hoàn kế tục Nhà Đinh lên làm vua hiệu Lê Đại Hành. Nhà Lê đánh thắng quân Tống sang xâm lược, rồi quay sang đánh Champa. Đây là thắng lợi đầu tiên trên đường Nam tiến. 

Suốt 900 năm sau đó, ngoại trừ 20 năm bị Trung Quốc chiếm trị (1507-1527), và phải trải qua nhiều sự thăng trầm “tranh chức đoạt ngôi”, quân dân Đại Việt từng bước lớn mạnh, mở rộng lảnh thổ về phía Nam: đánh chiếm và xoá sổ nước Champa, rồi đánh chiếm một phần nước Khmer. Việt Nam quả là một đế quốc nhỏ trong vùng vậy. 

Từ những năm 1600, vài cố đạo đến nước Đại Việt, họ chiêu mộ được hàng ngàn người Việt theo đạo Ki-tô. Khi đánh nhau với Tây Sơn, Nguyễn Ánh có nhờ cố đạo Bá Đa Lộc mang con trai trưởng là Hoàng tử Cảnh qua Pháp cầu viện. Không may cho Ánh, nước Pháp lúc đó cũng đang nổ ra Cách mạng (1789-1799) nên không giúp đựoc gì cho Ánh. Dù vậy, khi Nguyễn Ánh lên ngôi Vua, cũng bị buộc phải thâu nhận người Pháp làm quan trong Triều đình. 

Hội truyền giáo La Mã cũng nhân cơ hội đó “kéo vào Việt Nam cắm dùi” (chữ dùng của Bảo Đại), họ lập nhiều cơ sở nhà chung quan trọng. Cộng đồng nhà chung nầy gây cho Triều đình nhiều điều khó xử: họ không cho giáo dân thờ cúng tổ tiên ông bà, bắt giáo dân tuân theo luật lệ của nhà chung, xúi giáo dân tranh giành ruộng đất, vi phạm luật lệ của nhà nước, đẩy giáo dân đến chỗ “bất trung với vua với nước, bất hiếu với tổ tiên, dòng tộc”. 

Trước hiểm hoạ làm băng hoạ xã hội từ nền móng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Năm 1833, vua Minh Mạng (1820-1840) ban hành Dụ “cấm đạo”. Giới quan lại tích cực thi hành, gây đổ máu hàng loạt giáo sĩ và hàng ngàn giáo dân. Các giáo sĩ truyền giáo kích động gây yếu tố cực đoan “tử vì đạo”. Từ năm 1843 đến năm 1847, dưới triều Thiệu Trị nhiều tàu chiến Pháp biểu dương lực lượng sát bờ biển nước ta, tưởng như có lúc phải dùng đến vũ lực. Những sự gây chiến ấy, cho thấy rằng Ki-tô-giáo chỉ là cái cớ bên ngoài, ý đồ bên trong chính là người Pháp muốn chiếm Việt Nam làm thuộc địa cho chúng.  

Năm 1858, dưới thời Tự Đức (1847-1983) lấy cớ bảo vệ Hội Truyền Giáo, Pháp tấn công Đà Nẳng. Ngày 18 tháng 2 năm 1859, đánh chiếm thành Gia Định, Tổng đốc thành Võ Duy Ninh tuẫn tiết (tự tử để giữ khí tiết). Tháng 2 năm 1861 Pháp đánh chiếm Đại đồn Kỳ Hoà, rồi Mỹ Tho cũng thất thủ hai tháng sau đóPháp tiếp tục đánh chiếm Biên Hoà, Bà Rịa, Vĩnh Long, buộc Triều đình Tự Đức phải ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862), nhường cho Pháp ba tỉnh miền Đông, Pháp phải trả Vĩnh Long lại cho Triều đình Đại Nam. Năm 1867, Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền tây Vỉnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Phan Thanh Giản tuẫn tiết. 

Năm 1873, Pháp đánh thành Hà Nội, Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết, vài ngày sau đó, nhiều tỉnh phía Bắc cũng rơi vào tay giặc, Triều đình Tự Đức phải ký Hòa ước Giáp Tuất (1874), để Pháp trả lại Hà Nội và các tỉnh đã chiếm, Triều đình Huế phải cắt Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kỳ làm thuộc địa của Pháp. Ngày 25 tháng 4 năm 1883, Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai, Hoàng Diệu tuẩn tiết, ông là vị Đại quan thứ tư dưới Triều vua Tự Đức tuẫn tiết vì nghĩa lớn. Ngày 19 tháng 7, 1883, Vua Tự Đức băng hà.

Năm 1884, Pháp buộc Ấu vương Kiến Phúc (15 tuổi), ký Hiệp ước bảo hộ. Từ đây dưới dưới danh nghĩa bảo hộ, Pháp chia Việt Nam thành 3 miền với 3 chế độ cai trị khác nhau: trực trị ở miền Nam, tự trị ở miền Trung, và bảo hộ ở miền Bắc, nhưng thực tế Pháp cai trị toàn bộ Việt Nam bằng chế độ “cai trị thuộc địa”. 

Xin lưu ý: Khi xâm chiếm nước Đại Nam, người Pháp tổ chức cai trị qua các bước: Từ 1861 đến 1879, thành lập Soái phủ Nam Kỳ (Gouvernement des Amiraux) do các đô đốc Hải quân Pháp đứng đầu, trông coi việc cai trị hành chính và binh bị. Từ năm 1879 Pháp đặt chức vụ Thống đốc Nam Kỳ (Gouverneur-général de la Cochinchine) cai trị trực tiếp thuộc địa này. Từ năm 1884, sau khi áp đặt chế độ bảo hộ, Pháp đặt thêm chức vụ Khâm sứ Trung Kỳ (Résident supérieur d'Annam) và Thống sứ Bắc Kỳ (Résident supérieur du Tonkin). Hai người này trực thuộc bộ Ngoại giao Pháp.

Sydney ngày 4 tháng 1 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN HAI

Bài 5: LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP, VÀ THÂN PHẬN DÂN VIỆT TRONG HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 1914-1918 VÀ 1939-1945.

Năm 1887, Pháp lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp để cai trị 5 xứ: thuộc địa Nam Kỳ, và bốn xứ bảo hộ Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Ai Lao và Cao Mên. Đặc biệt Trung Kỳ kinh đô của nước Đại Nam thì Hoàng đế nhà Nguyễn vẫn là người có quyền tối thượng. Đứng đầu Liên bang là viên Toàn quyền người Pháp nắm cả quyền hành chính lẫn quân sự, với một Hội đồng Tối cao gồm: Toàn quyền, Tổng tư lệnh Quân đội, Chỉ huy trưởng Hạm đội Viễn Đông, Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, Thống sứ Ai Lao, Thống sứ Cao Miên. 

Đứng đầu thuộc địa Nam Kỳ là Thống đốc người Pháp, với hai cơ quan Tư vấn là Hội đồng Tư mật và Hội đồng thuộc địa. Đứng đầu xứ Trung Kỳ là Khâm sứ cũng người Pháp. Khâm sứ Trung Kỳ chỉ giới hạn trong phạm vi tham gia Hội đồng Phụ chính của Vương triều, đến tháng 6 năm 1895 thì có thêm đặc quyền chủ tọa Hội đồng Cơ mật. Từ đây, chính phủ Nam triều không còn quân đội, không ngoại giao, không tài chính. Chính phủ Bảo hộ Pháp phụ trách thu thuếvà giao cho Nam Triều một số ngân sách cần thiết cho việc điều hành Triều chính. 

Đứng đầu xứ Bắc Kỳ là Thống sứ người Pháp, kiêm cả chức đại diện cho Nam Triều, gọi là Kinh lược sứ của vua nhà Nguyễn, nhưng sau tháng 6 năm 1895 lại không theo lệnh Vua nhà Nguyễn. Các quan lại bản xứ, tuy là quan của triều đình Huế, nhưng thực sự thuộc quyền viên Thống sứ người Pháp. 

Khi chiến tranh thế giới lần thứ Nhất (1914-1918) nổ ra, chính phủ Pháp ban hành lệnh tuyển lính bản xứ Đông Dương sang Pháp chiến đấu. Lệnh ban hành vào tháng 11 năm 1915. Sang tháng 1 năm1916, triều đình nhà Nguyễn cũng có chỉ Dụ ban thưởng 80  đồng bạc Đông dương cho các thanh niên nhập ngũ. Đến năm 1918 khi có lệnh đình chiến thì đã có 1.548 thanh niên Việt tử vong tại chiến trường châu Âu. 

Khi chiến tranh thế giới lần thứ Hai (1939-1945) bùng nổ, chính quốc Pháp lại có lệnh tuyển mộ người Việt sang làm lao công thuộc địa (viết tắt tiếng Pháp MOI: main-d'oeuvre indigène), nhưng lần này với dạng cưỡng bách. Năm 1939 đã có 93.000 người, cả lính thợ lẫn lính chiến, bị đưa sang Pháp sung vào quân ngũ hỗ trợ chính quốc theo "Kế hoạch Mandel". Ông Nguyễn Ngọc Châu, một trong những nhân chứng còn sống cuối cùng, nhớ lại, trước năm 1939, người ta nhìn thấy những tắm áp phích ghi rằng: "Mẫu quốc đang gặp nguy. Nghĩa vụ của bạn là giúp đỡ mẫu quốc". 

Vì tôi học trường Pháp, nên tôi chấp nhận ra đi. Tôi gia nhập với tư cách là giám thị - phiên dịch. Chúng tôi, những người phiên dịch, cùng với các quan chức địa phương, tới nhiều ngôi làng khác nhau để tuyển mộ lính. Ví dụ một làng có 20 hộ gia đình, thì phải tuyển đủ 20 người. Các gia đình có 3 hay 4 người con trai, người anh trai cả 35 tuổi đã có gia đình, thì người thứ hai hoặc thứ ba phải đi thay. Nếu gia đình không có con trai thứ nào để thay thế, thì người con cả, dù đã 35 tuổi, có gia đình và con cái vẫn bị bắt buộc đi. 

Theo ông Lê Hữu Thọ, tất cả lính thợ trên con tàu của ông được chuyển tới tạm trú tại nhà tù cũ Baumettes ở Marseille. Ngày 2/6/1940, nước Pháp thất bại trước phát xít Đức. Những người thợ Đông Dương phải tập trung hết trong Vùng Tự do (Zone libre). Ngày lịch sử này, cũng đánh dấu chính quyền Pháp mất các thuộc địa Đông Dương. Pháp không nhận được gạo từ Đông Dương nữa. Nước Pháp đói! Nước Pháp đầy người thất nghiệp! 

Chính lúc này, chính quyền Vichy đã sử dụng nguồn nhân lực Đông Dương đang có tại chỗ để gieo trồng giống lúa nước tại Pháp và làm việc trong nhiều hãng, xưởng khác nhau. Tiền công một ngày làm việc của người lao động Đông Dương chỉ tương tương khoảng 1/10 lương của một người lao động Pháp thời đó… 

Ngày 19 tháng 6 năm 1940, Toàn Quyền Đông Dương, tướng Catroux nhận được điện văn của Đại sứ Pháp ở Tokyo là Arsène Henry chuyển tối hậu thư của Nhật yêu cầu Pháp phải đóng cửa biên giới Đông Dương, và phải để cho quân đội Nhật kiểm soát biên giới này. Ngày 20 tháng 7 năm 1940, Đô Đốc Jean Decoux vừa đến thay thế tướng Catroux thì lại nhận được một tối hậu thư khác, đòi Pháp phải để cho Nhật đưa quân vào Đông Dương. Cuộc điều đình đang diễn ra, thì ngày 22 tháng 9 năm 1940, Nhật tung quân đánh các Đồn biên giới Lạng Sơn, chỉ trong ba ngày quân Pháp đã đầu hàng. 

Kết qủa là, Pháp chính thức nhìn nhận sự hiện diện của quân đội Nhật tại Đông Dương, và Nhật bằng lòng để cho Pháp tiếp tục cai trị về hành chánh. Khi tình hình Thái Bình Dương thay đổi, bất lợi cho Nhật, ngày 9/3/1945, lúc 18g đại sứ Nhật Matsumoto gởi "tối hậu thư" đòi Toàn quyền Pháp Decoux phải cam kết chống Đồng minh, nếu Anh, Mỹ đổ bộ, tất cả quân đội và công sở Pháp phải đặt dưới quyền điều động của Tổng tư lệnh Nhật, và hẹn trong 2 giờ phải trả lời.

Đúng 20 giờ cùng ngày 9/3/1945, Nhật nổ súng dữ dội ở Hà nội và khắp Đông Dương đánh quân Pháp. Rất nhiều nơi quân Pháp đầu hàng. Trong đêm Toàn quyền Decoux và các viên chức cao cấp của Pháp đều bị bắt, Nhật làm chủ tình hình... Ngày 10/3/1945, Nhật thiết quân luật trên toàn cỏi Đông Dương, Bộ Tổng tư lệnh Nhật thông cáo, Nhật chỉ hạ Pháp, nhưng ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc Đông Dương. Chính phủ Nhật cũng tuyên bố, phải “lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương, vì đã vi phạm các Hiệp ước hợp tác Nhật-Pháp. Nhật sẽ giúp các nước Đông Dương thực hiện độc lập. 

Ngày 11/3/45, Viện Cơ mật Triều đình Huế tuyên bố “bãi bỏ Hiệp ước bảo hộ năm 1884, Việt Nam khôi phục chủ quyền”. Hôm sau, ngày 12/3/45 Cao Mên tuyên bố độc lập. Và, ngày 15/4/45 Lào tuyên bố độc lập. Liên bang Đông Dương thuộc Pháp chấm dứt sự tồn tại./. 

Sydney ngày 5 tháng 1 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN BA

Bài 6: CHÍNH QUYỀN ĐẾ QUỐC VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM 1945: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VÀ VIỆC ĐÃ LÀM TỪ 17/4 - 25/8/45.

Ngày 17/3/45, Hoàng đế Bảo Đại tuyên chiếu từ nay sẽ đích thân cầm quyền, theo nguyên tắc “Dân vi quý” để chỉnh đốn lại quốc gia. Đại sứ Nhật Yokoyama được cử làm Khâm sứ, thay Khâm sứ Pháp tại Huế. Ngày 17/4/45, Trần Trọng Kim được Hoàng đế Bảo Đại uỷ thành lập Chính phủ, trình diện Nội các lên nhà Vua, và được chấp thuận. Nội các của ông gồm những người học thức, yêu nước, được xã hội kính trọng, gồm: 2 Giáo sư, 4 Luật sư, 4 Bác sĩ, và 1 Kỹ sư. Tổng trưởng Nội các là Giáo sư Học giả Trần Trọng Kim.

Ngoài 11 thành viên Nội các, lần lượt nhiều nhà trí thức có tiếng tăm cũng được mời tham gia công việc của chính quyền như: Khâm sai Bắc bộ Phan Kế Toại; Khâm sai Nam bộ Nguyễn Văn Sâm; Đốc lý Hà Nội Bác sĩ Trần Văn Lai; Đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn Kỹ sư Kha Vạng Cân; Thị trưởng Hải Phòng Luật sư Vũ Trọng Khánh; Thị trưởng Đà Nẳng Nguyễn Khoa Phong; Thị trưởng Huế Giáo sư Nguyễn LânTỉnh trưởng Nghệ An Phó bảng Đặng Văn HướngTỉnh trưởng Hà Tĩnh Phó bảng Hà Văn ĐạiTỉnh trưởng Thanh Hóa Giáo sư Đặng Thái MaiCác ông Hoàng Đạo Thuý, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Nguyễn Xiển, Vũ Văn Cẩn, Nguỵ Như Kontum được mời ra thành lập Hội đồng Thanh niên. Tạ Quang Bửu còn mời làm Cố vấn đặc vụ y viên Bộ Thanh niên và Kỹ sư  Lê Duy Thước làm Chánh văn phòng Bộ.

Ngày 8/5/45, Vua Bảo Đại tuyên chiếu kêu gọi quốc dân tham gia việc nước; hứa triệu tập một Hội nghị Lập Hiến; lập ngay một Ủy ban Cải Cách, và Hội đồng Tư vấn Địa phương. Chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố “Chương trình Hưng quốc, Quốc kỳ và Quốc ca”. Ngày 11/6/45, Bộ trưởng Phan Anh cổ võ thanh niên biểu tình trước nhà hát lớn Hà Nội. Ngày 20/6/45, vua Bảo Đại phục hồi quyền công dân cho các cựu chính trị phạm chưa được miển tội danh. 

Ngày 3/7/45, Quyền Thống đốc Nam Bộ, Minoda thành lập một Hội Nghị Nam Kỳ với nhiệm vụ tư vấn. Các Hội viên gồm Ký giả Trần văn Ân, Nha sĩ Nguyễn Văn Bái, Kỹ sư Lưu Văn Lang, Giáo sư Hồ Văn Ngà, Kỹ Nghệ gia Kha Vạng Cân.v.v. Sau gần 2 tháng nổ lực, Trần Trọng Kim đã hợp nhất hai chính quyền Bảo hộ và Nam triều thành một chính phủ Việt Nam duy nhất. Trung tuần tháng 7 năm 1945, đích thân Thủ tướng Trần Trọng Kim đi Hà Nội trực tiếp thương thảo với Toàn quyền Nhật đòi lại 3 thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng và thuộc địa Nam Kỳ từ Bình Thuận trở vào Nam (Nam Bộ). 

Kết quả là Nhật trả cho Đế quốc Việt Nam các cựu nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng kể từ 12 giờ trưa hôm nay (20 tháng 7 năm 1945) và thoả thuận sẽ trả thuộc địa Nam Kỳ vào đầu tháng 8. Nguyễn Khoa Phong được cử làm Thị trưởng Đà Nẳng, Vũ Trọng Khánh được bổ Thị trưởng Hải phòng. Ngày 26/7/45, Hội nghị Postdam ra Thông cáo chung, đòi Nhật đầu hàng vô điều kiện, Nhật sẽ mất hết thuộc địa, bài trừ phái quân phiệt, những kẻ phạm tội gây chiến tranh sẽ bị Tòa án đặc biệt xét xử. 

Ngày 6/8/45, thành phố Hiroshima bị phá bằng trái bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ, giết chết 66.000 người. Ngày 7/8/45, Thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức, nhưng được lưu Xử lý thường vụ. Ngày 9/8/45, thành phố Nagasaki, bị ném trái bom nguyên tử thứ hai. Ngày 10/8/45, Nhật hoàng họp Nội các và quyết định xin hàng, cậy đại sứ Thụy Điển làm trung gian. Ngày 14/8/45, Thống chế Pestain, do Quốc hội Pháp cử làm Quốc trưởng năm 1940, bị Tối cao Pháp viện tuyên án tử hình, nhưng yêu cầu không hành quyết, vì tuổi cao (90 tuổi). 

Ngày 14/8/45, Nhật trả Nam Bộ cho Triều đình Huế. Vua Bảo Đại tuyên chiếu hủy bỏ các Hiệp ước đã ký với Pháp về sự đô hộ Nam, Trung và Bắc Kỳ. Nhà Vua cử chính trị gia Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam Kỳ. Ngày 14/8/45, Một số đảng phái và đoàn thể gồm Việt Nam Quốc Dân đảng, Hòa Hảo, Cao Đài, Tịnh Độ, Cư sĩ, Liên đoàn Công chức, Thanh niên Tiền Phong, nhóm họp Đại hội ở Sài Gòn thành lập “Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất” hô hào đoàn kết chống Pháp. Ngày 14/8/45, Hoa Kỳ chấp nhận cho Nhật đầu hàng. 

Ngày 15/8/45, Đại tướng Mỹ, Mac Arthur được cử làm Tổng tư lệnh tại Thái Bình Dương. Ngày 15/8/45, Tướng Pháp, Leclere de Hautecloque được De Gaulle cử làm Tư lệnh Lục quân Pháp tại Đông Dương. Ngày 17/8/45, Vua Bảo Đại gởi điện văn kêu gọi tổng thống Mỹ Truman, Đồng minh, và cả De Gaulle, yêu cầu bảo vệ nền độc lập của Việt Nam, rằng dân chúng Việt Nam nhất quyết tranh đấu đến cùng để giữ nước. Ngày 17/8/45, Đô đốc Thierry d’Argenlieu được De Gaulle cử làm Cao Ủy Pháp kiêm Tổng Tư lệnh ở Đông Dương. 

Cùng ngày 17/8/45, công chức Hà Nội tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tuần hành qua các đường lớn, để tỏ ý chí bảo vệ đất nước. Cộng sản len vào dòng người biểu tình hô khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Cuộc biểu tình lại biến ra biểu tình ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Các đoàn Dân quân Giải phóng, chiếm đoạt chính quyền ở một số nơi. Ngày 18/8/45, Bắc bộ phủ bị quần chúng ùa tới bao vây, Khâm sai Phan Kế Toại vắng mặt rồi tuyên bố từ chức. 

Ngày 19/8/45, Quân Nhật vẫn canh gác trên nhiều ngã đường Hà Nội. Biểu tình trước nhà hát lớn, để nghe tuyên bố của Mặt trận Cứu quốc Việt Minh. Dân quân Giải phóng và cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi, chiếm đóng các công sở. Đê Đông Lao ở Hà Đông bị vỡ, nước tràn ngập nhiều vùng. Ngày 20/8/45, Việt Minh chiếm đài Vô tuyến điện Bạch Mai Hà Nội, và phát thanh cổ động trên làn sóng 32 thước. 

Ngày 21/8/45, một số thanh niên trí thức nhóm họp tại Đại học xá Hà Nội biểu quyết gởi điện văn yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. Ngày 22/8/45, Đại tá Cédille được De Gaulles cử làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Bộ, nhảy dù xuống Tây Ninh được Nhật đưa về Sài gòn. Ngày 22/8/45, Mặt trận Việt Minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn Thanh niên Tiền Phong tuyên bố gia nhập.

Ngày 23/8/45, một Chính phủ Lâm thời tuyên bố thành lập tại Hà Nội, Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, nhưng chỉ do nhóm Cộng sản cướp chính quyền Hà Nội tuyên bố, chứ Hồ Chí Minh thì còn đang ở tại vùng rừng núi Việt Bắc. Ngày 25/8/45, một Uỷ ban Hành Chánh Lâm thời Nam Bộ (UBHCLTNB) cũng được thành lập tại Sài Gòn do nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu (không trực thuộc Đảng Cộng sản Hà Nội) làm Chủ tịch. Cùng ngày 25/8/45, Lễ thoái vị trước cửa Ngọ Môn, Huế: Vua Bảo Đại trao kiếm vàng cùng ấn ngọc cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu. Chính phủ Trần Trọng Kim tự giải thể.

Sydney ngày 6 tháng 1 năm 2024

 

Bài 7: QUAN HỆ VIỆT-NHẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐẾ QUỐC VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM: BẢO ĐẠI GHI LẠI.

Hồi ký CON RỒNG AN NAM, Bảo Đại viết:… Tôi không lạ gì thái độ giả trá tôn phù của người Nhật, họ hy sinh Cường Để giữ tôi ở lại để trong trường hợp thất bại họ có thể dùng ngoại giao, bởi tôi có giao hảo tốt với người Pháp…Còn đối với Nam Kỳ họ muốn giữ lại hầu làm con bài trao đổi khi cần đến sau nầy. Liệu tôi có thể bỏ qua không chấp nhận cái đề nghị độc lập khi người ta đưa tặng, trong khi nền độc lập vốn là mong ước của tất cả mọi người Việt Nam.

Ý thức được như vậy, nên tôi quyết định phải nắm thời cơ, đồng thời làm giảm thiểu những đòi hỏi về sự thâu lạm của Nhật. Đến chiều tôi cho họp Hội đồng Cơ mật, Hoàng thân và các Thượng thư tôi báo cho họ biết lời đề nghị của Đại sứ Yokoyama, và họ cũng nghĩ như tôi. Riêng tôi, tôi sẵn sàng nhận hết trách nhiệm, nhưng tôi yêu cầu Hội đồng Cơ mật cùng dấn thân với tôi. Đây là lần dầu tiên một tuyên ngôn được toàn thể Hội đồng Cơ mật đồng ý ký: Lai bộ Phạm Quỳnh, Hộ bộ Hồ Đắc Khải, Lễ bộ Ưng Hy, Hinh bộ Bùi Bằng Đoàn, Học bộ Bùi Thanh Đạt, Trương Như Đính, tôi cho mời Đại sứ Yokoyama và trao cho ông ta bản tuyên ngôn độc lập này: 

“Chiếu tình hình thế giới nói chung, và Á châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp bị bải bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền quốc gia.

“Nước Việt Nam cố gắng tự lực tư cường để xứng đáng là một quốc gia độc lập...

“Vì vậy chính phủ nước Việt Nam đặt tin tưởng vào sự thành tín của nước Nhật, và quyết định cộng tác với nước này hầu đạt mục đích nêu trên.

Huế ngày 27 tháng giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại”.

Sau khi chính thức biết bản tuyên ngôn này, viên Đại sứ Nhật đến trình diện tôi, sau đây là lời đối thoại: Tâu Hoàng thượng, nước Việt Nam nhờ Hoàng thượng mà thâu hồi được nền độc lập quốc gia. Nước Nhật chúng tôi xin kính mừng. Nước chúng tôi luôn tôn trọng chủ quyền chính thống, và Đức Đại Nam Hoàng đế là đại diện chính thực của chủ quyền này. Thưa ngài Đại sứ, tôi chỉ hành động cho quyền lợi của nhân dân tôi, cho tất cả thần dân và vì nhân dân, tôi ước mong được biết với điều kiện nào nền độc lập kia được thực hiện. Tôi cũng không dấu gì ngài Đại sứ là hy vọng của chúng tôi là được trông thấy xứ Nam Kỳ cũng được hưởng nền độc lập ấy như ở Bắc và Trung Kỳ vậy.

Chúng tôi buộc lòng tâu trình Hoàng thượng rằng, xin Hoàng thượng vui lòng kiên nhẫn. Tình hình quân sự bắt buộc nước chúng tôi phải coi Nam Kỳ như một điểm chiến lược, để có thể thực hiện mọi quyền hành cần thiết. Nhưng khi chúng tôi đã đạt được thắng lợi nằm trong chiến lược “Á châu của người châu Á, thì tất nhiên xứ Nam Kỳ phải được trả về cho nước Việt Nam độc lập sau này”. Quả nhiên tôi đã không nhầm, chúng tôi đang ớ trong tay quân Nhật. Tôi không nài nỉ gì thêm, nhưng tôi trở về nhiệm vụ, vì nền thống nhất của đất nước vẫn buộc tôi nhớ nằm lòng ngang với nền độc lập của quốc gia.

Trước khi cáo lui, Đại sứ Yokoyama nói thêm như gợi ý bằng một giọng gần như dò hỏi: Tâu Hoàng thượng giữa lúc Việt Nam đi vào con đường mới, Hoàng thượng không có ý định lập một chính phủ gồm những người mới, hầu đáp ứng cho một nước VN muốn canh tân... Tôi đáp lại bằng một nu cười nhẹ nhàng... Trao sự điều khiển quốc gia cho những người mới.... Đó chính là một trong những mục đích mà tôi đã có ngay từ khi mới lên ngôi...

Giới thân cận tôi đề nghị nên gọi Trần Trọng Kim, vị sử gia này là người liêm khiết, chưa từng quan tâm đến chính trị. Ái quốc chân thành, rất thẳng thắn. Mặc dù theo ngoài mặt, ông ta không tin rằng Nhật sẽ thắng trận, nhưng cần phải tránh mọi cách để kẻ xâm lăng không tìm cớ nắm chính quyền. Ông đã tập hợp được một số người giá trị, đều xuất thân từ nền văn hóa Pháp, và ngày 17 tháng 4, ông trình với tôi chính phủ do ông thành lập: 2 giáo sư (Kim, Hãn), 4 luật sư (Chương, Thảo, Hiền, Anh), 4 bác sĩ (Nam, Thí, Anh, Khanh), 1 kỷ sư (Lang). Trẻ tuổi, can đảm, ý thức được nhiệm vụ ngắn ngủi của mình, họ muốn rằng chủ quyền quốc gia được đánh dấu khởi đầu từ họ. 

Ngày 8 tháng 5, tôi ban bố thiết lập một nền Hiến pháp căn cứ vào sự thống nhất đất nước, vào cần lao, vào quyền tự do chính trị, tự do tôn giáo và tự do thành lập nghiệp đoàn. Tập hợp giới trẻ ở Việt Nam là điểm quan trọng thứ nhất của Nội các Trần Trọng Kim, viên luật sư trẻ tuổi Phan Anh - năm ấy ba mươi ba tuổi, phát động phong trào thanh niên yêu nước trước nhà hát lớn Hà Nội, giới trẻ trở thành nơi ươm mầm và huấn luyện cán bộ. Ở Huế, thứ trưởng Thanh niên Tạ Quang Bửu, là một chuyên viên về điện, tổ chức Thanh niên Tiền tuyến. Tại Nam Kỳ, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đặt tên cho phong trào là “Thanh niên Tiền phong”. Phong trào này được Nhật nâng đỡ mạnh mẽ, nên đã đạt kết quả mỹ mãn.

Trong suốt thời gian ấy, không ngày nào mà Đại sứ Yokoyama không đến thăm tôi, ông đã rất cởi mở trong tất cả mọi cuộc đàm thoại. Dần dà, sợi giây tình cảm đã nở ra rất thành thực, và có thể nói là thân ái giữa tôi với ông. Ông cho tôi biết nhiều sự thực về nước ông. Khi đến Việt Nam, người Nhật muốn áp dụng đúng như in nền cai trị của người Pháp. Đứng đầu mỗi kỳ sẽ có một viên Khâm sứ: ở Sài Gòn thì Minoda với một nhà ngoại giao. Ở Hà Nội thì Tsukamoto, còn ở Huế thì chính là Đại sứ Yokoyama. Nhưng Đại sứ than phiền rằng phía quân sự chẳng để mấy chỗ cho giới ngoại giao hành động. 

Tướng Tsushihasni, Tư lệnh quân đội Nhật ở Đông Dương khi qua Huế, ngỏ ý muốn đến yết kiến tôi. Tôi tiếp ông cùng toàn thể bộ Tham mưu tại điện Thái Hòa. Viên tướng nói: “Tâu Hoàng thượng, nước Nhật đang đi đến một chỗ ngoặt về chiến tranh, nước Việt Nam cần phải đứng sát chúng tôi, xin Đức Hoàng đế ra lệnh tổng động viên toàn quốc”. Thực sự, nước Nhật đang bị xuống dốc đậm, vì thế, tôi chỉ có thể dùng một hình thức ngoại giao: “Nền độc lập của Việt Nan còn phôi thai, thưa Đại tướng, và chính phủ chưa nắm vững toàn thể dân chúng để có thể động viên họ được. Nước Việt Nam không có quân đội, giờ phải tổ chức toàn diện…

Vài hôm sau đó, tôi cho Đại sứ Yokoyama biết chuyện ấy và hỏi ông ta sao không đi cùng Tướng Tsushihasni. Ông đáp: Tâu Hoàng thượng, Hoàng thượng đã thấy chúng tôi bị bỏ ra lề đối với phía quân sự như thế nào. Tháng sáu, chính phủ Trần Trọng Kim lại đạt được hai điều tốt đẹp: Đó là lời hứa hẹn sẽ được trao trả tất cả các cơ quan thuộc phủ Toàn quyền, và sự trả lại các nhượng địa Pháp ở Hà Nội, Hải Phòng, và Tourane. Thêm vào đó lệnh ân xá toàn thể các chính trị phạm, và cho phép mọi đoàn thể chính trị được hoật động công khai được ban bố. Vấn đề Nam Kỳ tôi luôn quan tâm, vẫn còn lơ lửng. Tôi hy vọng sẽ sát nhập Nam kỳ vào Tổ quốc một ngày không xa. 

Trong một dịp yết kiến tôi của Đại sứ Yokoyama, Đại sứ có đệ trình tôi một văn thư của Quốc vương Shihanouk đòi xét lại vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Cao Miên. Đại sứ yêu cầu tôi mở một cuộc thương thuyết với vị thiếu vương nước Cao Miên này. Tôi đáp: Thưa Ngài Đại sứ, làm sao mà tôi giải quyết được vấn đề này. Nó vốn nằm trong phần đất chưa thuộc thẩm quyền của tôi. Xin nước Nhật hãy trả lại cho tôi xứ Nam Kỳ, sau đó tôi mới có thể xét lại vấn đề này được. Viên Đại sứ không nài nỉ nữa. Tình thế mỗi ngày một suy thoái. Những cuộc oanh tạc càng gia tăng, cô lập thực tế miền Bắc, nên dân chúng đã sống những giờ phút vô cùng nặng nề. Một bộ trưởng trong chính phủ của chúng tôi đã bị máy bay Mỹ oanh tạc chết trong khi di chuyển. 

Ngày mùng 6 tháng 8 nổ ra tiếng sấm Hiroshima. Ba ngày sau, trái bom nguyên tử thứ hai nổ ở Nagasaki. Kể từ lúc ấy, tôi được viên Đại sứ Yokoyamabáo cho biết tin tức hàng ngày… Thủ tướng Trần Trọng Kim đệ trình tôi đơn từ chức, tôi yêu cầu ông giải quyết các vấn đề thường trực cho đến khi có lệnh mới. Ngày 14 tháng 8, Đại sứ đến báo cho tôi biết Nhật hoàng đã gởi thông điệp ra lệnh ngưng chiến. Viên Đại sứ lão thành này, mắt đẫm lệ, bọn quân phiệt đã làm cho chúng tôi thua trận… Tâu Hoàng thượng, đối với nước Việt Nam đây là ngày đại vinh quang. Theo thỏa ước của chúng tôi, đất Nam Kỳ kể từ nay được đặt dưới quyền uy của Hoàng thượng. Tôi cũng vô cùng cảm động. Nguyện vọng mà tổ tiên tôi theo đuổi không đạt thì nay tôi đã đi tới đích. Nước Việt Nam đã thống nhất và độc lập. Những nỗi đau thương mà dân tộc tôi phải chịu, không còn là vô ích nữa. 

Tôi đã có viên Khâm sai ở Hà Nội. Viên Khâm sai ở Nam Kỳ mà tôi đã bổ nhiệm, sẽ rời Huế vào Sài Gòn ngày mai. Vào giờ phút lịch sử ấy, Thủ tướng Trần Trọng Kim vốn quan tâm đến sự tập họp mọi lực lượng quốc gia, đã lập ra một ủy ban Cứu quốc, và ngày 18 tháng 8, ra một tuyên ngôn kêu gọi các đảng phái chính trị đồng thanh hưởng ứng phong trào cổ võ nền thống nhất và độc lập quốc gia. Cũng ngày hôm ấy, để tỏ tính chất nhất định về nền độc lập của quốc gia đối với mọi cường quốc trên thế giới, tôi đánh điện báo cho Tổng thống Mỹ Truman, cho Quốc vương Anh George VI, cho Thống chế Trung quốc Tưởng Giới Thạch và cho Đại tướng De Gaulle, tôi không điện cho Stalin. Tôi đã chọn thế đứng của mình... (hết trích)

Sydney ngày 7 tháng 1 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN BỐN

Bài 8: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CÁC CHÍNH PHỦ LÂM THỜI, LIÊN HIỆP LÂM THỜI, LIÊN HIỆP KHÁNG CHIẾN CỦA HỒ CHÍ MINH: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1945-1946.

Lúc tuyên bố thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Hồ Chí Minh ít được biết đến, trong khi Chính phủ Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam đang tồn tại. Hồ Chí Minh cảm thấy phải ra sức làm cho Đồng Minh chú ý đến Chính phủ của ông trước khi quân đội Đồng minh vào Việt Nam giải giáp quân Nhật. Trước đó ngày 18/4/1945, Hoàng đế Bảo Đại cũng đã gửi lời kêu gọi đến lãnh đạo các nước Đồng Minh yêu cầu công nhận nền độc lập của Đế quốc Việt Nam. Lời kêu gọi này làm cho Hồ Chí Minh lo ngại về địa vị hợp pháp của Bảo Đại.

Một mặt nhóm Cộng sản Huế gây sức ép lên Bảo Đại buộc tuyên bố thoái vị, và mặt khác Hồ Chí Minh cố tìm mọi cách làm cho Mỹ tin rằng, ông không phải là một phái viên của Quốc tế Cộng sản mà là một người Quốc gia - Xã hội mong muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Thông qua OSS, Hồ Chí Minh gửi 9 bức điện cho Chính phủ Mỹ, bao gồm cả bốn bức thư tay gửi trực tiếp cho Tổng thống Mỹ Harry S. Truman  đề nghị Mỹ đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. 

Hồ Chí Minh hy vọng rằng, tranh thủ được sự có mặt của Mỹ ông sẽ có ưu thế trong các cuộc thương lượng với Trung Quốc và Pháp về Đông Dương. Hồ Chí Minh nói với chỉ huy OSS tại miền Bắc, Archimedes L.A Patti, rằng ông theo chủ nghĩa Lenin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và xin gia nhập Đệ Tam Quốc tế, vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Ông không thấy có sự lựa chọn nào khác. Nhưng trong nhiều năm sau đó những tổ chức Cộng sản này không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa. 

Cho nên, ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ. Hồ Chí Minh giải thích, rằng người Mỹ xem ông là một người quốc tế cộng sản, "bù nhìn của Moscow" vì ông đã ở Moscow nhiều năm, nhưng ông khẳng định mình không phải là người cộng sản theo cách mà Mỹ hiểu, mà là nhà cách mạng hoạt động vì độc lập dân tộc… Thế nhưng, chính phủ Mỹ có nhiều thông liên quan biết rõ hơn về nhân vật nầy, cuối tháng 9 năm 1945, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo về nước. 

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngay sau khi tuyên bố Việt Nam độc lập và ra mắt chính phủ, Hồ Chí Minh ra lệnh giải tán các đảng Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng, và các nghiệp đoàn. Ngày 4/9/1945, ban hành Sắc lệnh số 4 lập "Quỹ độc lập" quyên tiền trong dân chúng. Ngày 17/9, Chính phủ phát động "Tuần lễ Vàng" thu góp vàng ủng hộ nền độc lập Quốc gia. Sau các "Quỹ độc lập", “Tuần lễ vàng” Chính quyền Cách mạng còn tổ chức nhiều hình thức quyên tiền bạc của dân chúng như "Quỹ kháng chiến", "Quỹ bình dân học vụ", "Quỹ giải phóng quân", "Ngày Nam Bộ"... 

Chính phủ cũng phát động Phong trào cứu đói. Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo"… 

Theo sự phân công của các nước Đồng Minh quân Anh và Trung Hoa vào Việt Nam giải giáp quân Nhật: Anh từ Vỹ tuyến 16 trở vào Nam, và Trung Hoa Dân Quốc từ Vỹ tuyến 16 trở ra Bắc. Ngày 6/9/45, Phái bộ Quân sự Anh-Ấn tới Sài Gòn và ngày 9/9/45, quân Trung Hoa do tướng Lư Hán chỉ huy cũng vào Hà Nội. Nhân cơ hội, Pháp theo chân Anh vào Sài Gòn với ý đồ tái chiếm Đông Dương. Việt Cách, Việt Quốc cũng theo quân Trung Hoa trở về Hà Nội cũng tranh đòi chia quyền lực với Hồ Chí Minh. Đến ngày 15/9/1945, tổng số quân Tàu Tưởng đã có mặt tại Bắc Việt Nam 180.000 người. 

Dưới sức ép của Tướng Lư Hán và Tiêu Văn (Phó của Lư Hán), sau một loạt các cuộc đàm phán giữa Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc, các bên đạt tới thoả thuận Hồ Chí Minh phải cải tổ chính phủ để cho một số nhân vật của Việt Quốc, Việt Cách tham gia Chính phủ. Ngoài ra, Việt Quốc được dành 50 Đại biểu và Việt Cách 20 Đại biểu trong Quốc hội không qua bầu cử. Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố tự giải tán. Ngày 1/1/1946, Hồ Chí Minh giải thể Chính phủ Lâm thời, để thành lập Chính phủ Liên Hiệp Lâm thời Nguyễn Hải Thần được cử làm Phó chủ tịch. 

Ngày 6/1/1946, bầu cử Quốc hội và ngày 2/3/46 Quốc hội họp phiên đầu tiên, công nhận 50 Đại biểu của Việt quốc, và 20 Đại biểu Việt cách không qua bầu cử; Quốc hội uỷ Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến; cử một Ban Cố vấn; và một Ủy ban Kháng chiến.  

Sydney ngày 8 tháng 1 năm 2024

 

Bài 9: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ QUAN HỆ HỒ CHÍ MINH- BẢO ĐẠI SAU THOÁI VỊ: TỪ 4/9/1945 – 7/1/1946.

Hồi ký CON RỒNG AN NAM, Bảo Đại viết:…Tôi rời Huế ngày 4/9/45 bằng đường bộ, tôi muốn gặp người tôi đã trao quyền: nhân vật Hồ chí Minh bí mật kia. Đến Hà nội ngày 6/9/45, vào buổi trưa. Hôm sau 11g gặp Hồ chí Minh. Ông tỏ ra hết sức lễ độ, dùng tiếng ngài để gọi tôi. Thưa ngài, tôi không liên quan gì đến bức điện mà ngài nhận được ở Huế yêu cầu thoái vị. Riêng cá nhân tôi, tôi vẫn nghĩ để ngài lãnh đạo quốc gia, và đặt tôi vào địa vị Thủ tướng lãnh đạo chính phủ mà thôi. Tôi không đồng ý với những người đã ép ngài đến chỗ thoái ngôi...

Tôi trả lời bằng một giọng trang trọng, và gọi ông bằng Cụ, và trấn an ông rằng tôi chỉ muốn được là một “công dân thường” để xây dựng nước “Việt Nam mới thống nhất và độc lập”... Ông ta thoái mái ra mặt, ra vẽ lạc quan. Tất cả mộng ước chúng ta sẽ đạt được hết: chẳng những thống nhứt và độc lập mà tất cả các nước Đồng minh sẽ công khai chấp nhận... Toàn dân sẽ hăng say hưởng ứng, đồng lao cộng tác giữ vững nền độc lập này. Độc lập là hai tiếng thiêng liêng trong đầu óc toàn dân, sẽ là nguồn thiêng tác động. Nay thì cái gì cũng có thể đạt được...

Trong câu chuyện dài hơn một giờ đồng hồ, ông kết luân: Thưa ngài, xin ngài đừng quên ngài là bậc “quốc phu” tôi xin ngài tham dự buổi họp của Hội đồng Bộ trưởng, và nhận chức cố vấn tối cao cho chính phủ. Quả thật ông cụ này đã thành thật hăng say với nền độc lập và thống nhất của đất nước. Tôi nhận lời. HĐBT họp mỗi tuần một lần, ngày 9/8/45 là phiên họp đầu tiên tôi dự. HĐBT có 3 loại: Loại tiền phong, bạn chiến đấu của HCM như Trần Huy Liệu. Loại thứ 2, giáo sư tư thục Thăng Long như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng. Loại cuối cùng liên kết như Dương Đức Hiền, Nguyễn Mạnh Hà… 

Dù họ là cựu tù nhân, giáo sư, kỹ thuật gia liên kết những người cầm đầu chính phủ này không phải là nhân vật chính trị. Họ không biết làm cách nào để đặt một “kế hoạch tương lai” cho đất nước. Là các đô thị lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế họ tìm cách giữ thể diện, giữ trị an, hầu tỏ quyền năng của họ với Phái đoàn Quốc tế đang đến Hà Nội và Sài Gòn... Còn ở vùng thôn quê, thì than ôi, đây quả là một cuộc “Cách mạng đổ máu, tàn bạo” một sự nhiểu loạn rối bời... Những biện pháp đầu tiên đưa ra đưa đến những kết quả tại hại: mở cửa trại giam để nhặt vài cán bộ chính trị, đã thả ra khắp phố phường đã một đống cặn bã sẵn sàng làm bậy. 

Thủ tiêu Hội đồng Kỳ mục thay bằng Uỷ ban Nhân dân đưa đến sự tan rã nền “cai trị xã hội” sẵn có tự nhiên. Việc bãi bỏ ngành quan lại, cả văn lẫn võ để thay vào bằng những cán bộ không biết việc đã làm tan nát các cơ cấu quốc gia... Họ chỉ đi tìm một thứ “mị dân rẽ tiền”. Họ đặt ra cơ cấu mới: Hội Phụ lão, Phụ nữ, Thanh niên, Công nhân Cứu quốc. Rồi đội Tự vệ thành, Tự vệ xã, Thanh niên quyết tử... Trong một cuộc họp HĐBT, HCM tranh luận với một Bộ trưởng. Vũ Trọng Khánh, chìa cho tôi xem một cuốn sách nhỏ và nói: Thưa ngài, hẵn ngài ngạc nhiên về phản ứng của chủ tịch, xin ngài đọc đây thì hiểu. Cuốn sách “Đời của Nguyễn Ái Quốc” do A. Marty chánh mật thám Toàn quyền củ...

Tôi dược tin Phạm Quỳnh cựu Thủ tướng của tôi bị bắt, rồi đến Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huấn, bí thư của đại sứ Tokoyama, tôi gặp HCM để xin can thiệp... Ông ta nói, thưa ngài, thật khó có thể làm được, vì dân chúng không thể hiểu nổi... Tôi nói: ít nhất xin cụ thả các cộng sự viên của tôi. Họ không có trách nhiệm gì.. Ông nói, tôi sẽ cố gắng lo việc ấy... Thật sự Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi đã bị giết mà ông HCM không biết.

Tuy nhiên, HCM vẫn cố gắng chinh phục tín nhiệm của tôi....chúng tôi không bao giờ đả động đến những lý thuyết chính trị nầy nọ... Chúng tôi đi thăm Jean Sainteny, thượng sứ Pháp ở Bắc Kỳ, thăm người Mỹ, nhân vật đặc biệt Lándale và Thiếu tá Patti, về sau cả tướng Gallagher nữa. Đi đâu bao giờ ông cũng để tôi đi bên phải của ông ta, như chiếc bình phong trước khách quốc tế.

Phạm Văn Đồng báo cáo trong cuộc họp của HĐCP, ngân quỷ chỉ còn 3 đồng 25 xu. Trong sự hỗn độn tột cùng, người ta quyết định đánh thuế gián thu các hàng ăn, các sản phẩm đóng thuế được đưa ra: con gà, con vịt con trâu... Không nhịn được sự kê khai điên rồ, lố bịch đó, tôi nói các anh còn quên con chó... Người cười đầu tiên là HCM... Vài hôm sau, HCM nói tất cả sự khó khăn với tôi, và phàn nàn không được Bộ trưởng nào giúp đở đắc lực trong công cuộc điều khiển quốc gia. Tôi bảo, sao Cụ không không kêu gọi đồng bào từng du học Pháp, họ có kinh nghiệm điều khiển quốc gia rất quý báu... Ông Hồ đáp “tôi không thể tin họ được”…

Qua việc nầy, tôi nhớ lại cùng một vấn đề khi thảo luận với Ngô Đình Diệm, Pham Quỳnh, Trần Trọng Kim, tôi thấy ở họ là những người cao khiết, đầy tinh thần trách nhiêm, tài ba, sung mãn nhiều ý kiến, nhưng chỉ khổ nỗi họ không có phương tiện để thực hiện quyền hành. Thế mà đồng nghiệp của tôi bây giờ chỉ là những nhà lý thuyết suông. Họ ngây ngô đối với tâm lý con người đến độ không tưởng...

Ngày 9/9/45 quân Trung hoa theo Nghị quyết Potsdam tiếp thu quân đội Nhật từ Bắc vĩ tuyến 16. Ngày 18/9 Lư Hán đến chiếm ngay dinh thự Puginnier, đuổi Sainteny ra khỏi nơi nầy. Họ yêu cầu tôi tiếp họ, tôi trả lời có Chủ tịch Lâm thời HCM, thế là một thỏa thuận đặt ra: HCM tiếp Lư Hán trước mặt tôi. Họ can thiệp vào nội tình chính trị Việt Nam. Từng đoàn đảng viên quốc gia, bị cách mạng ruồng bỏ theo quân QDĐ Tàu, các lãnh tụ VNQDĐ và CMĐMH muốn lợi dụng cơ hội chiếm thế thượng phong. Được bọn tướng tình báo Tàu là Tiêu Văn nâng đở, họ tước khí giới và thay thế các Uỷ ban Hành chánh thôn xã do HCM đặt ra. Tại thành phố QDĐ và VM thường đụng độ nhau.

Hoàn cảnh mỗi ngày một khó khăn, HCM phải thay đổi chỗ ở hàng đêm, ông ta vẫn tín nhiệm tôi, và chỉ mình tôi biết chỗ ngủ của ông ta. Một buổi chiều ông ta bảo tôi: Thưa ngài, tôi rất thất vọng về thái độ của đồng minh: người Nga chẳng làm được gì, họ sững dưng, người Anh đáng ngờ, thiên về Pháp. Còn người Mỹ, khi tôi từ Tàu về họ hứa hẹn đủ thứ, tôi đã chiều lòng họ đặt câu đầu của “tuyên ngôn độc lập” nguyên văn lời tuyên ngôn độc lập của họ do Jefferson viết năm 1776. Nhưng chúng ta gặt hái được gì? Chẳng được tý gì! Còn bọn Tàu là cái bụng kinh niên, tướng Tàu là lũ cú vọ, kền kền, chẳng bao giờ thỏa được lòng tham không đáy. Suy đi tính lại, chỉ còn Pháp.... 

Với Công giáo, ông ta bổ nhiệm Nguyễn Mạnh Hà người có ảnh hưởng lớn làm Bộ trưởng. Rất trung kiên, Hà theo Hồ, kéo theo ông ta cả một đoàn thanh niên đầy nhiệt huyết. Trong bầu không khí ấy, giáo hội sửa soạn lễ tấn phong Đức cha Lê Hữu Từ làm Giám mục địa phận Phát Diệm. HCM yêu cầu tôi thay ông ta đến dự lễ tấn phong nầy, vì ngày 28/9 HCM bận tiếp tướng Lư Hán.” Tối hôm trước khi tôi đi Phát Diệm, HCM đến căn dặn: Thưa ngài, người Pháp đang tiêu hao lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ, họ không rời bỏ nơi đây. Cần nhất cố tránh chớ để họ nắm được. Ngài là người độc nhất tượng trưng cho nước Việt Nam độc lập. Xin ngài lợi dụng cơ hội nầy, để đi ra khỏi Hà Nội. Xin ngài nên đứng ngoài bất cứ hoạt động công khai nào ở đây.....

Sydney ngày 9 tháng 1 năm 2024

 

Bài 10: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ QUAN HỆ HỒ CHÍ MINH-BẢO ĐẠI SAU BẦU CỬ QUỐC HỘI: 7/1/1946-15/4/1946.

SÁCH CON RỒNG AN NAM, Bảo Đại viết tiếp: Ngày 7/1/1946, một phái đoàn đến báo cho tôi biết cuộc bầu cử Quốc hội đã hoàn tất hôm trước, tôi trúng cử đại biểu Thanh Hoá với 93% số thăm. Tôi yêu cầu, họ báo cho Ủy ban tỉnh Thanh Hoá là tôi muốn chóng được về Hà Nội. Tám hôm sau tôi rời Sầm Sơn về Hà Nội. Một buổi chiều Hồ Chí Minh (HCM) bảo tôi: Thưa ngài trong thời gian ngài vắng mặt, chúng tôi nhân danh ngài gởi một Thông điệp cho nước Pháp. Đây thưa ngài bản thông điệp ấy:

“Thông điệp của Hoàng thân Vĩnh Thụy, cựu Hoàng đế Việt Nam gởi cho nước Pháp. Nội dung:

“Đầu tiên tôi xin bày tỏ cùng chính phủ Cộng hoà Pháp quốc, và tôi trân trọng Thông báo rằng tại Việt Nam đã thiết lập một nước Dân chủ Cọng hoà. Năm 1940, chính phủ thuộc địa Đông dương đã trao hết nước tôi cho Phát xít Nhật. Nhưng, sau 5 năm chiến đấu với người Nhật, chúng tôi đã giành lại nền độc lập của chúng tôi kể từ ngày 20/8/1045. “Để quyền lợi của tổ quốc lên trên ngai vàng của tổ tiên tôi, và muốn được làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ, tôi tự nguyện bằng quyền lực của mình, thoái vị ngày 25/8/1945 vừa qua. Chính phủ Dân chủ Cộng hoà Việt Nam đã tuyên bố sự hình thành và chấp chính vào ngày 26 tháng 8.

“Trước thực tế đó, nước Pháp lẽ ra, cử đến nước Cọng hoà trẻ tuổi của chúng tôi, những nhà ngoại giao bạn, lại sai những sĩ quan tình báo có dụng ý rõ rệt là tái đặt trong nước tôi nền bảo hộ áp bức cũ. Nhiều binh sĩ nhảy dù được thả xuống nhiều nơi trên đất nước tôi, và được lệnh tái chiếm lấy các cơ sở hành chánh và căn cứ quân sự. “Chính phủ chúng tôi cực lực phản đối sự khiêu khích đó. Ở vị trí Cố vấn của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tôi kêu gọi chính phủ Pháp nên ý thức trách nhiệm về sự có thể xẩy ra chiến tranh giữa hai nước chúng ta…

… “Hởi dân tộc Pháp, con dân của xứ tự do, dòng dõi của các bậc anh hùng liệt sĩ, của nền Cách mạng 1789, chúng tôi tin cậy nơi các bạn. Liệu các bạn có tha thứ cho bọn phát xít, tà gian bôi đen lên trang sử oai hùng của nước bạn? Hãy đứng cả dậy, và hãy ngăn cản mộng tranh bá đồ vương của họ… “Hỡi dân chúng Pháp… 

“Dù xa cách nhau hàng nghìn cây số, tôi xin mời các bạn cùng tôi, chúng ta nắm tay nhảy hoà bình với nhau, để mừng cho nền hoà bình và tình hữu nghị giữa hai dân tộc chúng ta.

Ký tên: Hoàng thân Vĩnh Thụy, cựu Hoàng đế Bảo Đại, cố vấn tối cao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

Tôi không hiểu được ai là người nhận bức thông điệp nầy và bằng cách nào thông điệp được gởi đi. Tôi tin người nhận được nó, sẽ hiểu được để dàng đây chỉ là một “văn thư ngụy tạo với tên tôi mà thôi”. Họ sẽ nhận ra được “cách hành văn của tôi”... Và tôi tin rằng tôi không phải là người thứ nhứt, bị Hồ Chí Minh đem ra lợi dụng. 

Chính phủ cử Giáp đi thanh tra các tỉnh, đến tận biên giới phía Nam. Đi về, Giáp đến gặp tôi: Thưa ngài, cần phải thực tế! Anh định nói gì? Tôi muốn nói, cần phải chịu thằng Pháp vậy. Dù sao, cũng không đến nổi trở lại thời đô hộ củ chứ? Có khi phải trở lại nếu cần. Tôi thật không hiểu nổi các anh, tôi nhận độc lập từ tay Nhật. Tôi thoái vị, để các anh nắm quyền, thế mà bây giờ đi thụt lùi... Làm cách nào bây giờ thưa ngài! Ở miền Nam, bọn Tây đã phá guồng máy mà bọn tôi mất bao công sức đặt ra, nay chúng đã nắm lại hết. Chẳng bao lâu, chúng sẽ đổ bộ ra Bắc. Chúng ta làm cách nào để chống lại đây. Chúng ta có quân đội, nhưng không có đạn...

Mấy ngày sau, Hồ Chí Minh (HCM) và phe nhóm bối rối, ông ta và Giáp thường xuyên gặp Sainteny bàn về việc trở lại của Pháp, họ đang điều đình để chia xẻ quyền hành giữa hai bên Pháp-Việt. Đối với hành động nầy, một hành động “bị coi là phản quốc”. Đại Việt. Việt Nam Quốc Dân đảng (VNQDĐ), Cách mạng Đồng minh Hội (CMĐMH) đồng thanh đòi “tống cổ bọn Việt gian đã bán rẽ nền độc lập nầy”.

7 giờ sáng 27/2/1946, Hồ Chí Minh gọi Điện thoại cho tôi, hỏi ông ta đến gặp tôi bây giờ được không? Tôi bảo được. Ông ta đến ngay. Thưa ngài, tình thế rất khó khăn, tôi biết chắc bọn Pháp không muốn điều đình với tôi. Tôi không được Đồng minh tín nhiệm. Ai cũng thấy tôi quá đỏ. Vậy xin ngài làm cuộc hy sinh thứ hai, Ngài nhận lại quyền hành như trước. Tôi đã thoái vị, và tôi không bao giờ muốn trở lại nữa. Ông ta nài nỉ: Ngài thay chỗ tôi, và tôi trở thành cố vấn cho Ngài... Ai trao quyền cho tôi? Ngài sẽ được Quốc hội trấn phong. Tôi có quyền tự do lập chính phủ hay phải lấy nhân viên của Cụ? Ngài được hoàn toàn lấy ai tuỳ ngài. Nếu cụ cho rằng, vì quyền lợi và nền độc lập quốc gia thì tôi nhận. Nhưng xin cụ cho tôi một chút suy nghĩ, thăm dò bạn bè của tôi đã. 

Tôi Điện gọi ông Nguyễn Xuân Hà, Trần Trọng Kim, bàn với các ông, tập hợp ngay các bạn bè tôi đến sau. 8,30 tôi đến nhà họ, tôi cho họ biết cuộc nói chuyện giữa Hồ Chí Minh với tôi, tôi bảo họ: có phải đây là một cái bẩy sập?  Không ai nghĩ thế, Trần Trọng Kim nói: Ai cũng biết Việt Minh đang thường xuyên gặp Sainteny, và bàn cải sự ký kết với Pháp. Nếu ông ta không ký được các điều khoản ấy. Theo ý tôi ngài nên nhận. 10g sáng, HCM lại gọi tôi và thúc dục tôi nhận lời. Ngài đã gặp bạn bè chưa, xin ngài cho tôi biết danh sách để trình trước Quốc hội. Đến trưa tôi bảo ông ta, tôi đồng ý. 

13 giờ Hồ Chí Minh đến gặp, ông ta: thưa Ngài, xin ngài hãy quên những điều tôi nói ban sáng. Tôi không có quyền từ bỏ trách nhiệm. Tôi xin Ngài tha lỗi cho một phút yếu lòng đã nghĩ trả trách nhiệm cho Ngài, tôi đã nghĩ đến từ nhiệm....

Kể từ phút ấy, Hồ Chí Minh yêu cầu tôi cùng làm việc với ông ta trong các bản dự thảo quý hoá nầy. Đối với ông ta, nhờ ký Hiệp ước với Pháp, ông ta sẽ rũ được bọn Tàu.... Sợ bị các tướng Tàu phản bội, Hồ Chí Minh yêu cầu tôi, nhân danh Cố vấn tối cao Chính phủ cầm đầu Phái đoàn đại diện mọi xu hướng chính trị sang Trùng Khánh gặp Thống chế Tưởng Giới Thạch... Tôi nói Cụ không nên mạo hiểm như thế. Trùng Khánh vừa thỏa hiệp với Pháp cho phép quân đội Pháp đổ bộ ra Hà Nội. Hơn nữa, Trùng Khánh không bao giờ công nhận chính phủ của chúng ta, Tưởng Giới Thạch sẽ không tiếp tôi, như vậy cả Cụ và tôi đều mất mặt. Hồ Chí Minh cho là đúng, nhưng ông ta vẫn cử một Phái đoàn không có tôi trong đó.

Quân đội Pháp đã đổ bộ Hải Phòng, đã có chạm súng, có nhiều người chết. Tôi cần phải giữ mình cho tương lai. Người Pháp đã quyết định điều đình với Hồ Chí Minh. Sự có mặt của tôi không nên làm cản trở tình thế. Tôi đến gặp Hồ Chí Minh nói: Cụ chẳng cần tôi ở đây, Giáp và Đồng sẽ giúp cụ. Tôi đi chơi một chuyến sang Tàu. Thưa Hoàng thượng, Ngài có thể đi chơi, đừng ngại gì, vì chúng ta làm việc vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam…

Ngày 15/4/1946, chúng tôi trở lại Côn Minh, khi chúng tôi sẵn sàng lên máy bay, thì một mảnh điện tín được mang đến cho tôi. Đây là bức điện của Hồ Chí Minh: Thưa ngài, công việc ở đây đang tốt đẹp. Ngài có thể đi chơi nữa. Ngài sẽ có ích cho chúng tôi nếu ngài còn ở lại bên Tàu. Đừng lo ngại gì cả. Khi nào sự trở về của Ngài là cần thiết, tôi sẽ báo sau. Xin Ngài cứ tịnh dưỡng để sẵn sàng cho công tác mới. Ôm hôn thắm thiết. Ký tên Hồ Chí Minh.

“Ôm hôn thắm thiết”. Quả nhiên, đây là một tay đại hề, đóng kịch rất tài: khi thì đạo mạo như cha già; khi thì thân thiết, rồi lại ẻo lả yếu mềm, hay nghiêm trang trịnh trọng; nhiều khi trào lộng mĩa mai… Tất cả những ai đã gần ông ta đều tự lừa, hay đã bị lầm. Người Mỹ, rồi Sainteny, thêm tôi nữa... Tôi biết trước mặt tôi là ai rồi, sau cái mặt nạ nầy là một chiến binh mac-xít; một kẻ đã chai đá sau hơn 30 năm chiến đấu; một đảng viên bị đảng chi phối, trói chặt; một chiến sĩ đầy thủ đoạn. Thừa khả năng chịu đựng, dám làm tất cả mọi sự lừa lọc; biết người biết nhược điểm của họ để khinh bỉ họ; kiên nhẫn cùng cực, và quyết theo đuổi kỳ cùng mục tiêu của mình. 

Sẵn sàng trả giá mọi mặt, nhưng cuối cùng thì quyết liệt, rắn như sắt. Đầy tế nhị, thông minh, và tàn bạo đến độ bất nhân. Lúc nào cũng như sẵn sàng ôm ấp, yêu đương mình để bóp chặt kín đáo, không ai có thể ngờ được… Theo đảng Cộng sản Mác-xít do hoàn cảnh thực tế giai đoạn… sự trổi dậy của tất cả các dân bị trị nên ông ta nhắm mắt tuân theo... Khi đã vào đảng rồi, ông ta đã nhìn với nhãn quan của chủ nghĩa nầy qua lăng kính của nó… (hết trích)

Sydney ngày 10 tháng 1 năm 2024 

 

Bài 11: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP KHÁNG CHIẾN: HIỆP ƯỚC SƠ BỘ VIỆT-PHÁP 6/3/1946

Ngày 7 tháng 1 năm 1946, Pháp cho thành lập chính quyền Quốc gia Miên Tự trị do một Uỷ viên Cộng hoà (UVCH) Pháp đứng đầu. Ngày 28/1/46, Tướng Anh, Douglas Gracey, chuyễn giao quyền hành cho Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu Cao uỷ (Toàn quyền) Pháp tại Đông Dương, và rời khỏi Sài Gòn. Ngày 28/2/46, Pháp-Trung ký Hiệp ước thân thiện, theo đó, quân Pháp sẽ thay thế quân Tàu giải giáp quân Nhật từ 16 Vĩ tuyến trở ra Bắc, đổi lại Pháp sẽ trả lại Tàu các tô giới…  

Ngày 6/3/46, Pháp ký với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh Hiệp ước Sơ bộ với nội dung: 

1. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng.

2. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc Dân để giải giáp quân Nhật. Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 quân.

3. Pháp đồng ý thực hiện “trưng cầu dân ý” tại Nam Kỳ về việc tái thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

4. Hai bên thực hiện ngừng bắn, giữ nguyên quân đội tại vị trí hiện thời để đàm phán về chế độ tương lai của Đông Dương, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Việt Nam Cộng hoà và nước ngoài và quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.

5. Quân đội Pháp có trách nhiệm hỗ trợ và huấn luyện cho Quân đội Việt Nam Dân chủ Việt Nam Cộng hoà.

Từ ngày 17/4 đến ngày 11/5/1946, hội nghị trù bị Pháp-Việt triển khai Hiệp ước sơ bộ 6/3 tại Đà Lạt không đạt tới tới kết quả nào. Ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Ngày 19 tháng 6 năm 1946, Báo Cứu Quốc đảng Cộng sản đăng xã luận kịch liệt chỉ trích "bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3". Liền ngay sau đó Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập. Ngày 25/6/46, tướng Lư Hán rời Hà Nội về Tàu. Ngày 27/6/46, Các ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, và Vũ Hồng Khanh đào thoát sang Tàu.

Sáng sớm ngày 12/7/1946, một Đội Công an do Lê Hữu Qua chỉ huy, đột kích khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do nghi ngờ cấu kết với Pháp âm mưu đảo chánh Chính phủ VNDCCH. Đến 7 giờ sáng cùng ngày 12/7, Công an vụ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các ông Lê Giản Giám đốc Nha Công an Bắc Bộ, Nguyễn Tuấn Thức Giám đốc Công an Hà Nội, và Nguyễn Tạo Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương đột kích căn nhà số 7 phố Ôn Như Hầu trụ sở Việt Quốc bắt hơn 100 người trong đó có một trong những lãnh đạo của Việt Quốc là Phan Kích Nam. Ông Nam cũng là Đại biểu Quốc hội Khoá I của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Sydney ngày 11 tháng 1 năm 2024

 

Bài 12: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP KHÁNG CHIẾN: TẠM ƯỚC VIỆT-PHÁP 14/9/1946.

Hội nghị trù bị Việt-Pháp tại Đà Lạt từ ngày 17/4 đến ngày 11/5/1946 không đạt tới tới kết quả nào. Hội nghị Việt-Pháp tại Fontainebleau từ ngày 6/7 đến ngày 13/9/1946 cũng thất bại. Hôm sau, vào lúc nửa đêm 14/9/1946, Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh thân hành đến nhà riêng Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Pháp là Marius Moutet ký tạm ước Việt – Pháp 14 tháng 9 năm 1946 với những điểm chính sau đây:

1. Quyền bình đẳng cho Pháp kiều ở Việt Nam cũng như Việt kiều tại Pháp;

2. Tài sản của người Pháp bị tịch thu sẽ được hoàn trả và quyền sở hữu được tôn trọng;

3. Đồng bạc Đông Dương lệ thuộc vào đồng franc Pháp; 

4. Thiết lập hệ thống thuế quan và tự do mậu dịch cho các xứ Đông Dương;

5. Tái lập trật tự và ngưng bắn ở Nam Kỳ, trao đổi tù binh, và ngưng tuyên truyền kích động dân chúng.

Ký Tạm ước 14 tháng 9 xong, Hồ Chí Minh lên đường về nước, chiều ngày 21/10 về đến Hà Nội. Ngày 28/10/46, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhóm họp (242/444 đại biểu dự họp) để nghe Hồ Chí Minh thuyết trình về “Tạm ước 14/9/1946”. Sau khi tán dương công đức, Quốc hội ủy Hồ Chí Minh thành lập chính phủ mới. Hồ Chí Minh giải tán Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, và thành lập “Chính phủ Liên hiệp Quốc dân” gồm: 4 Cộng sản (Minh, Giáp, Hiến, Tạo), 2 Dân chủ (Khoa. Hoè), 1 Việt Quốc (Phượng), 1 Việt Cách (Luật), 6 Không đảng (Kháng, Huyên, Trí, Nhơn, Tố và Hướng).

Ngày 6/11/46, Quốc hội biểu quyết phát hành giấy bạc Hồ Chí Minh. Ngày 9/11/46, Quốc hội chấp thuận Hiến pháp với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống. Ngày 14/11/46, Quốc hội tuyên bố đình chỉ thi hành Hiến pháp vừa chấp thuận, bầu một Ban thường trực để làm việc thay Quốc hội trong thời gian không nhóm họp. Sau sự kiện Hải Phòng (ngày 20-28/11/46), kế hoạch phòng thủ Hà Nội bắt đầu được chuẩn bị để chính phủ có thời gian sơ tán về các vùng núi lân cận. 

Ngày 16/12/46, Cao uỷ Đông Dương D'Argenlie lệnh cho tướng Morlière phá các  chướng ngại vật mà Việt Minh đã dựng trong thành phố Hà Nội. Hôm sau, Pháp ra tối hậu thư đòi chấm dứt việc dựng chướng ngại vật trên phố. Tiếp đó là tối hậu thư đòi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp duy trì an ninh trong thành phố. Ngày 18/12/46, Hồ Chí Minh và một số cơ quan trọng yếu lánh vào Tỉnh lỵ Hà Đông, và các vùng phụ cận Chùa Trầm. 

Sáng 19/12/46, Hồ Chí Minh viết một bức thư ngắn, cử cố vấn ngoại giao Hoàng Minh Giám tới gặp Saintrny đề nghị đàm phán "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại". Sainteny không tiếp Hoàng Minh Giám. Chiều hôm đó (19/12/46), Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Ðảng mở rộng tại làng Vạn Phúc, Hà Nội, Hội nghị duyệt lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do ông ta viết, và thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo. 

Sydney ngày 12 tháng 1 năm 2024

 

Bài 13: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP QUỐC DÂN 1946: BÙNG NỔ CHIẾN TRANH, VÀ MỆNH LỆNH TIÊU THỔ, PHÁ HOẠI ĐỂ KHÁNG CHIẾN.

Thời điểm bắt đầu nổ súng được quyết định là 8 giờ tối ngày 19/12/1946. Đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, tại Hà Nội, công nhân nhà máy Điện Yên Phụ phá máy, 20 giờ 3 phút, đèn điện trong thành phố vụt tắt, ít phút sau, pháo binh Việt Nam từ pháo đài Láng bắn dồn dập vào Thành phố. Sau đó, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát trên Đài tiến nói Việt Nam, với lời thề quyết tử: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!"

Ngày 16/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh toàn dân thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, phá hoại để kháng chiến, trong đó có đoạn: “phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc cuả đồng bào, cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy”. Tại Bắc Bộ: chỉ riêng các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, dân các tỉnh đã phá hàng chục km đường tại các QL1, 2, 3, 5, 6,11. Cầu Việt Trì và cầu Phủ Lạng Thương bị phá sập. Toàn bộ nền và đường sắt tuyến Hà Nội - Mục Nam Quan, Yên Viên - Lào Cai cũng bị bóc dỡ. 

Tại Trung Bộ, đã phá trên 10.700 km đường ô tô, 30 nghìn thước cầu các loại, trong đó có cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), cầu Yên Xuân, cầu Cấm ( Nghệ An)… và gần như toàn bộ tuyến đường sắt Hà Nội – Vinh; Huế - Quảng Nam đều bị phá. Tại Nam Bộ, các tuyến đường chính như QL1A Sài Gòn - Phan Thiết, Sài Gòn - Buôn Ma Thuột, Sài Gòn - Cà Mau, Biên Hòa - Long Thành, Xuân Lộc - Bà Rịa cũng bị phá.

Vài ghi nhận về kỹ thuật phá đường: trong khi ta chỉ có cuốc, xẻng thì Pháp lại có máy móc hiện đại. Đoạn đường Văn Điển – Hà Đông, quân và dân Việt Nam mất 1.400 công mới dựng xong được hàng rào cánh sẻ bằng thanh Ray và Tà vẹt, nhưng quân Pháp chỉ cần dùng xe Ủi húc trong vài giờ lại thông đường. Đoạn Ngả tư Sở - Văn Điển, hàng nghìn công nhân ngã cây chắn đường, thì quân Pháp chỉ cần 2 tiểu đội Công binh với mìn và máy cắt cây, xe ủi thì vài ba ngày đoạn đường lại bình thường. Trên nhiều đoạn đường nhân dân Việt Nam mất hàng ngàn ngày công đào hố, quân Pháp chỉ cần dùng mìn bạt hai đầu hố là xe lại di chuyển qua lại bình thường. (Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp)

Tại Thái Nguyên: “Tôi có được đi qua Thái Nguyên ba lần: Lần đầu tiên vào hồi Pháp thuộc với nhà cửa đồ sộ của nó. Dân chúng chắc ít người có thể tưởng đến ngày chiến tranh. Lần thứ hai tôi đến nhằm hôm trời nắng: Một đám người đương hì hụi phá nhà; Một tràng tiếng hoan hô giữa những tiếng cười, ai ai cũng sung sướng triệt để phá hoại. Một câu nói của một đồng chí làm tôi nhớ mãi: “Các anh em ơi! Cố lên, ngoài mặt trận các đồng chí đương hy sinh giết giặc, ở hậu phương ta cũng phải cố sức. Mỗi người một công việc. Ta nhất định sẽ thắng”… Lần thứ ba tôi đến sau tết độc lập 1947: đâu đâu cũng là đống gạch, không còn thấy một nhà gác nào nữa… 

Đến giữa năm 1947, ở Thái Nguyên công tác phá hoại căn bản hoàn thành. Khung cảnh lúc đó và những gì đã diễn ra trên mảnh đất Thái Nguyên khiến cho một vị thuyết khách phương Tây là ông Paul Mus cũng phải bất ngờ. Cuộc gặp gỡ vào khoảng 22h ngày 11/5/1947 giữa Paul Mus (Pôn Muýt) và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn ra không được như mong đợi… Sau này, Pôn Muýt đã không ngại ngần bày tỏ sự khâm phục của mình: “Tôi vừa sửng sốt, vừa khâm phục… Những người dân đã tự tay phá sập nhà mình. Khó có sức mạnh nào khuất phục nổi một dân tộc có tinh thần hy sinh như vậy” (Trích cảm tưởng của Bác sỹ quân y Nguyễn Ngọc Huy. Tác giả Tố Hương sưu tầm). 

Tại Thị xã Vinh, Sau khi lệnh “tiêu thổ kháng chiến” được đưa ra. Chỉ trong một thời gian ngắn, thị xã Vinh với nhiều công trình kiên cố được xây dựng từ sau năm 1989 như Nhà máy xe lửa Trường Thi, nhà máy điện, xí nghiệp sửa chữa ô tô, các cửa hiệu đã bị san phẳng… 

Nhắc lại ngày đó, bà Tôn Nữ Thị Cúc chậm rãi kể: “…những ngày được ngồi sau xe của bố, một thầy giáo dạy ở Trường Cao Xuân Dục chở đi khắp thị xã để xem phố phường, thích nhất là mỗi lần được ra rạp Majestic để xem chiếu bóng. Gia đình tôi thời bấy giờ được xem là gia đình có của ăn của để, trong đó nổi bật nhất là chuỗi khách sạn Vinh delagare và một cơ ngơi hàng nghìn mét vuông gồm biệt thự và dãy nhà gỗ năm gian ở khu vực nhà A3, Quang Trung hiện nay… Tài sản một đời tích góp đó, chỉ trong một ngày rưỡi đã bị xóa sạch. Cả nhà tôi hơn mười người kéo nhau lên vùng Hưng Thắng (Hưng Nguyên) thực hiện lệnh di tản”.  

Gia đình chủ xưởng ô tô Minh Tâm sau cách mạng Tháng 8, vừa xây xong ngôi nhà ba tầng khang trang, chưa kịp khánh thành thì lệnh tiêu thổ kháng chiến đưa ra, cả khu phố nhà giàu nổi tiếng đã bị xóa sạch cùng với các cửa hiệu buôn bán lớn như Ký Hai, Hàn Phượng, Bảo Nguyên, Vĩnh Hưng Tường… Cùng với tiêu thổ, quân dân thị xã Vinh cũng phá hoại các tuyến đường giao thông, hàng nghìn mét đường sắt, hàng chục phương tiện ô tô, đầu máy xe lửa cũng bị dỡ bỏ, ném xuống sông để ngăn cản tàu thuyền của địch hoạt động. 

Trong thị xã một loạt hầm hào giao thông cũng được đào ngang xẻ dọc, các chiến lũy được dựng lên, chỉ một đoạn ngắn từ Thị xã Vinh đến Bến Thủy đã được đắp thành 31 ụ lớn… Qua 5 tháng thực hiện tiêu thổ kháng chiến, công nhân Vinh – Bến Thủy đã đóng góp được 45.7000 ngày công, phá dỡ được 1.335 ngôi nhà, trong đó có 31 nhà cao tầng, 300 toa xe lửa và 12 đầu máy … (Mỹ Hà ghi lại).

5. Tại Phú Yên: Đêm đêm, Bình Kiến cử hàng trăm người mang xẻng, cuốc, xà beng, búa tạ phá quốc lộ 1, phá các cầu giao thông trong xã, đào hào sâu, hào chữ Z, chữ L dọc ngang, băm nát mặt đường, đổ các ụ đất, làm chướng ngại vật. Đường sắt đi ngang qua địa bàn xã cũng được tổ chức phá dỡ để triệt giao thông đường sắt, vừa có thêm nguyên liệu làm công sự chiến đấu, rèn đúc chế tạo vũ khí.

Hàng trăm thanh niên cùng hội viên các đoàn thể cứu quốc tham gia đập phá các nhà kiên cố ở Thị Xã Tuy Hòa như Bungalô, nhà ga xe lửa, Sở liên nông, đồn Ông Một, Nhà thương, Sở dây thép, xưởng rượu Ni-ca, và cả các nhà lầu kiên cố của dân như phòng ngủ Hòa Hưng, phòng ngủ Tân Hiệp, nhà Sáu Cò, nhà Nguyễn Tài Sý,… phụ giúp bà con người Hoa đập phá các ngôi nhà lầu của chính họ như nhà Dũ Khương, Dũ Ký, Ngũ Nghĩa.… Thứ Sáu, 09/11/2018 09:32 SA Thành Nam).

Sydney ngày 13 tháng 1 năm 2024

 

Bài 14: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP QUỐC DÂN: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM 1946-1949.

TẠI HÀ NỘI. Sau 57 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng thành phố trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn và chênh lệch về vũ khí, đến đêm 17/2/1947, Tự vệ chiến đấu và Trung đoàn Thủ Đô (thành lập ngày 6 tháng 1 năm 1947) rút khỏi nội thành, Hà Nội hoàn toàn do Pháp kiểm soát. Đa số nhân dân Hà Nội và vùng ven cũng đã bỏ thành phố vượt sông Hồng tản cư lên phía Bắc, tạo thế "Vườn không nhà trống". Quân Pháp chiếm đóng thành phố Huế (7/2/47). Ngày 11/3/47, chiếm đóng Nam Định. 1/4/47, Nghị sĩ Emile Bollaert đến Sài Gòn nhận chức Cao Ủy thay thế D’ Argenlieu.

Ngày 12/4/47, tại Huế, Pháp thành lập một Ủy ban Chấp chánh Lâm thời, gọi là cơ quan Hành chánh Lâm thời để quản trị các vùng do Pháp chiếm đóng và kiểm soát cầm đầu bởi Trần Văn Lý. Ngày 15/4/47, quân Pháp chiếm đóng Hòa Bình. Ngày 17/4/47, chiếm đóng Chợ Bờ. Ngày 7/5/47, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp là Coste Floret tuyên bố: quân Pháp đã làm chủ các thành phố lớn và kiểm soát các đường giao thông lớn. Tổng số quân của Liên hiệp Pháp ở Đông Dương là 115.000 quân. 

Ngày 19/5/47, tại Hà Nội Pháp thành lập một Ủy ban Hành chánh và Xã hội Lâm thời, gọi là Hội Đồng An Dân do Bác sĩ Trương đình Tri cầm đầu. (Bác sỉ Tri bị ám sát tại Hà Nội ngày 10/10/47). Ngày 25/5/47, quân Pháp chiếm đóng Quảng Trị. Ngày 17/6/47, Hồ Chí Minh lại kêu gọi dân chúng kiên quyết trường kỳ kháng chiến. Ngày 25/6/47, Pháp chiếm đóng Quảng Bình và Quảng Nam. Ngày 20/7/47, Hồ Chí Minh cải tổ và đổi tên thành Chính phủ Liên hiệp Quốc dân, trong đó có Bộ trưởng Không bộ đương nhiệm Đặng Văn Hướng bị Việt Minh giết trong Cải cách ruộng đất.

Ngày 29/7/47, giáo sư Paul Mus, người được Cao uỷ Đông Dương Bollaert đến vùng núi Việt Bắc gặp Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh, từ Đông Dương về đến Pháp tuyên bố với báo chí “tình hình không khả quan” du kích chiến lan tràn khắp nơi, không thể bàn tới chuyện điều đình, vì “Việt Minh và Pháp không tin tưởng được nhau”. Ngày 10/9/47, Bollaert đọc diễn văn ở Hà Đông tuyên bố Pháp ưng thuận về nguyên tắc cho Việt Nam độc lập, và kêu gọi sự hưởng ứng của các “gia đình tinh thần Việt Nam”. 

Sau khi hoàn thành việc chiếm đóng vùng đồng bằng, Pháp quyết định tiến công lên Việt Bắc  để sớm kết thúc chiến tranh. Ngày 7/10/47, Pháp điều động 15 tiểu đoàn chia ra nhiều cánh hôm nay chiếm đóng Tông và Sơn Tây, Quốc vụ khanh Chính phủ, Uỷ viên thường vụ Quốc hội, Nguyễn Văn Tố bị bắt và hy sinh. Có một chi tiết đáng chú ý là cụ Nguyễn Văn Tố có thân hình mảnh dẻ và dong dỏng cao nên ban đầu quân đội Pháp nhầm tưởng ông là chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 13/10/47, quân Pháp chiếm đóng Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng phụ cận. Ngày 20/10/47, quân Pháp chiếm đóng Yên Báy. Ngày 21/10/47, chiếm đóng Chapa. Ngày 30/10/47, chiếm đóng Lao Kay. Quân Pháp tiến nhanh, nhưng không định vị được các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ, chỉ cắt đường số 4 và kiểm soát biên giới Việt Trung, cô lập An Toàn Khu Việt Bắc với thế giới bên ngoài. Ở miền Nam Việt Nam, Lực lượng của tướng Nguyễn Bình bị đẩy về các chiến khu trong vùng ngập mặn và rừng núi, họ còn luôn gặp sự chống đối của các giáo phái người Việt như Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên... 

Bách khoa Toàn thư mở viết: Từ 1945, quân kháng chiến Việt Nam chỉ được võ trang bằng gậy tầm vông, mã tấu, dao găm, cây phạng, nội hóa và một số rất ít súng trường cũ thu được của Nhật hay thậm chí súng của Pháp từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất sót lai như súng Mousqueton, súng lục Rouleau do hãng St. Etienne bên Pháp chế tạo. Ngay cả với các đơn vị chủ lực, trang bị đều thiếu thốn và không thống nhất, có gì dùng nấy. Vũ khí chống tăng chuyên dụng rất ít, phần lớn là bom ba càn, một loại mìn chống tăng gắn trên cán gậy thu được của Nhật. 

Một tiểu đoàn thường chỉ được trang bị tương đương với 1 đại đội của Pháp, với 2 đại liên, 1-2 súng cối 60 mm, tám trung liên, 140 đến 160 súng trường đủ các kiểu (Nhật, Nga, Pháp). Một nửa số bộ đội không có súng mà phải dùng những vũ khí thô sơ như nỏ, giáo mác và dao kiếm...Vì nhu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến nên ngay từ 1946, tại các mật khu, quân kháng chiến Việt Nam đã cho thiết lập những xưởng vũ khí thô sơ, sửa chữa hoặc chế tạo một ít bộ phận nhỏ của súng lục và súng trường, có khi cả loại trung - đai liên, đồng thời chế tạo lựu đạn nội hóa. 

Theo "Báo cáo tổng kết vũ khí toàn quốc năm 1947" của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trang bị của toàn quân lúc này có 26.018 khẩu súng trường, và 1.522 khẩu súng máy các loại, trên tổng số gần 90.000 người. Nghĩa là, tỷ lệ trang bị súng chưa đạt nổi 1/3. Hiệu suất sử dụng thực tế còn kém hơn nhiều, do tình trạng kỹ thuật, thiếu đạn cũng như quá nhiều chủng loại hỗn tạp. Giai đoạn này, cây mác gần như trở thành vũ khí cá nhân cơ bản trong các đơn vị bộ đội ở Bắc Bộ. 

Sau sự kiện xung đột giữa Nguyễn Bình và Bảy Viễn, thủ lãnh Bình Xuyên, Lê Văn Viễn và lực lượng Bình Xuyên của ông ta ra hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh. Tại Pháp, ngày 29/1/48, Chính phủ Pháp bắt giam Trần Ngọc Danh, trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Ba Lê. Ngày 1/12/48, các Vùng do quân đội Pháp kiểm soát ở Bắc Phần gồm: các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh kỵ Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng phụ cận. Ngày 12/7/49, quân Pháp chiếm đóng Đáp Cầu, và Phủ Lạng Thương. 16/10/49, Quân Pháp tiến vào Phát Diệm, Bùi Chu... 

Tại Trung Quốc: Ngày 22/1/49, Cộng quân của Mao chiếm đóng Bắc Kinh, Bà Tống Mỹ Linh tức bà Tưởng Giới Thạch lại sang cầu viện Hoa Kỳ. Ngày 20/4/1949, Tàu Cộng tràn xuống Hoa Nam. Ngày 23/4/49, chiếm Nam Kinh. Ngày 25/9/49, quân Tàu Cộng đánh chiếm Hạ Ninh, 6 Quân đoàn quân Tàu Tưởng quy hàng. Ngày 1/10/49, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc. Ngày 29/11/49, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh gởi điện chúc mừng lẫn nhau. 

Sydney ngày 14 tháng 1 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN NĂM

Bài 15: CHÍNH QUYỀN NAM BỘ, UỶ BAN HÀNH CHÁNH LÂM THỜI CỦA TRẦN VĂN GIÀU: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 8-9/45. 

Ngày 16/8/1945, ngay sau khi Nhật trả Nam Kỳ lại cho Việt Nam, Khâm sai đại thần Nguyễn Văn Sâm từ Huế chưa vào đến Sài Gòn, Trần Văn Ân nhân danh Chủ tịch Hội Đồng Tư vấn Nam Kỳ (do Nhật thành lập), cử Hồ Văn Ngà thành viên Hội Đồng Tư vấn Nam Kỳ, và cũng là thành viên Mặt trận Quốc gia Thống nhất, tiếp quản Chính quyền Nam Kỳ từ tay Nhật. Ngày 19/8/1945, Khâm sai Nguyễn Văn Sâm từ Huế về đến Sài Gòn, Hồ Văn Ngà giao lại chức chưởng cho Nguyễn Văn Sâm. Ngày 21/8/1945, Mặt trận Quốc gia Thống nhất tổ chức một cuộc biểu tình lớn, mừng sự kiện tiếp nhận Chính quyền Nam Kỳ và phô trương sức mạnh của Mặt trận trước khi Đồng Minh đến giải giáp quân Nhật. 

Ngày 22/8/1945, Mặt trận Việt minh xuất hiện ở Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn, Phạm Ngọc Thạch, Thủ lãnh Thanh niên Tiền phong (cũng là thành viên Mặt trân Quốc gia Thống nhất) tuyên bố gia nhập. Nhờ uy thế của Thanh niên Tiền phong, nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu treo biểu ngữ "Chánh quyền về Việt Minh" khắp Sài Gòn, rải truyền đơn tuyên bố Việt Minh được phe Đồng Minh ủng hộ và kêu gọi nhân dân ủng hộ chính quyền Việt Minh. Mặt trận Quốc gia Thống nhất, bất ngờ trước sự kiện nầy, liền tổ chức một cuộc họp mở rộng, yêu cầu Trần Văn Giàu giải thích sự việc. 

Tại cuộc họp nầy, Trần Văn Giàu ra sức thuyết phục, rằng nhiều vị lãnh đạo trong Mặt trận Quốc gia Thống nhất, từng cộng tác với Nhật, nên khó mà điều đình có hiệu quả với Đồng Minh khi họ vào “tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật”; Rằng, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất nên nhường quyền lãnh đạo cho Mặt trận Việt Minh, để tạo được thế mạnh trong đàm phán với Đồng Minh. Cuối cùng, thì Khâm sai Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm, với sự đồng ý của Mặt trận Quốc gia Thống nhất quyết định rút lui, nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh. 

Ngày 25/8/1945, Trần Văn Giàu Bí thư Xứ uỷ Việt Minh Nam Kỳ công khai tuyên bố thành lập Ủy ban Hành Chánh Lâm thời Nam Bộ, thường gọi là Lâm uỷ Nam Bộ, do ông ta làm Chủ tịch. Xin lưu ý rằng, Trần Văn Giàu là Bí thư Xứ uỷ Tiền phong tức xứ uỷ Việt Minh mới do ông ta làm Bí thư. Nam Kỳ còn có một Xứ ủy khác, Xứ ủy Giải phóng gọi là Xứ uỷ Việt Minh cũ trực thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương Bắc Kỳ. Ngày 24-8-45, Hoàng Quốc Việt, và Cao Hồng Lãnh Đảng Cộng sản Đông Dương Bắc Kỳ được phái vô Nam tăng cường cho nhóm Giải phóng, kềm chế, và thay thế nhóm Tiền phong theo từng bước thích hợp. BƯỚC 1: Hoàng Quốc Việt cho sáp Thanh niên Tiền phong của Việt Minh mới vào Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh củ. 

Ngày 2/9/1945, theo yêu cầu của Hoàng Quốc Việt, hoặc muốn biểu thị sự đoàn kết với Hà Nội, Trần Văn Giàu tổ chức một cuộc biểu tình lớn chào mừng Ngày Độc lập. Khi đoàn người biểu tình đến gần Nhà thờ Đức Bà thì có tiếng súng nổ từ phía Câu lạc bộ Pháp. Cuộc biểu tình biến thành một sự hỗn loạn. Cảnh sát tiến hành bắt ngay hàng trăm người Pháp và thân Pháp. Bọn lưu manh thừa cơ hội cướp bóc một số nhà hàng của người Hoa và người Pháp. Việt Minh và các đảng phái nghi ngờ, đổ lỗi cho nhau, hứa hẹn một viễn cảnh chính trị đầy thách thức cho Nam Bộ. 

Ngày 7/9/1945, trên tờ Tranh đấu cơ quan ngôn luận của những người Trotskyist đăng một bài xã luận chỉ trích Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ không có những biện pháp bảo đảm an toàn cho cuộc biểu tình ngày 2/9/1945 khiến một số người chết. Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Lâm uỷ Trần Văn Giàu ra thông cáo tố cáo những kẻ khiêu khích ám chỉ những người Trotskyist và giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo đã phá hoại trật tự và gây đổ máu, kêu gọi người dân vì lợi ích quốc gia hãy tin cậy Ủy ban Hành chính Lâm thời, đừng để bọn phản bội tổ quốc lôi kéo làm mất đoàn kết dân tộc. 

Ngay sau đó, những người Trotskyist, và các giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài tổ chức biểu tình, đòi Trần Văn Giàu từ chức. Ngày 9/9/1945, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ tổ chức cuộc họp mở rộng, do sự giới thiệu của Dương Văn Giáo và Trần Văn Ân, Luật sư Phạm Văn Bạch được bầu làm Chủ tịch, Trần Văn Giàu xuống làm Phó, kiêm Uỷ viên trưởng quân sự. Trong Ủy ban Hành chính Lâm thời mới có 4 Việt Minh, 1 Cao Đài, 1 Trotskyist, 2 Hòa Hảo, 3 không đảng phái, 2 thuộc các đảng phái quốc gia. Bất chiến tự nhiên thành, Hoàng Quốc Việt đã đạt tới BƯỚC 2 trong việc làm giảm uy thế của Trần Văn Giàu, Lãnh tụ số 1 của nhóm Việt Minh mới. 

Ngày 12/9/45, Thiếu tướng Douglas Gracey, chỉ huy quân Đồng Minh Anh-Ấn ra lệnh cho quân đội Nhật đuổi Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra khỏi Dinh Toàn quyền ở Sài Gòn và tước vũ khí của người Việt. Thống chế Terauchi, chỉ huy quân đội Nhật, điều 7 tiểu đoàn vào Sài Gòn yêu cầu Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ giao nộp vũ khí, nhưng "không làm được” bởi Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ chỉ có vài Đội tự vệ tượng trưng. Các Giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên mới có lực lượng vũ trang. Kết quả là, mệnh lệnh của tướng D. Gracey không thi hành được. 

Cuộc đàm phán giữa Uỷ viên Cộng hoà Nam Bộ Pháp, Jean Cédile và Phạm Văn Bạch Chủ tịch Lâm uỷ mới ngày 16/9/1945, không đạt kết quả. Tướng Anh, Gracey lại triệu tập chỉ huy quân đội Nhật đến, và chỉ thị cho ông này phải có những biện pháp cấp bách và hiệu quả để khôi phục trật tự công cộng. Ngày 17/9/1945, Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ tổ chức một cuộc tổng bãi công phản đối điều mà họ gọi là âm mưu Pháp - Anh nhằm lật đổ Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ là chính phủ hợp pháp duy nhất ở Nam Kỳ. Phạm Văn Bạch gửi phái đoàn OSS một bức điện thông báo tình hình.

Tình hình Sài Gòn ngày càng hỗn loạn. Các toán vũ trang Bình Xuyên lùng bắt, đánh người Pháp bất kể lính hay dân thường. Mâu thuẫn Pháp-Việt leo thang đến cực độ, Uỷ viên Cộng hoà Nam Bộ Pháp, Cédile nhờ Thiếu tá A. Peter Dewey, chỉ huy OSS tại Sài Gòn, gặp các lãnh đạo Lâm uỷ Hành chánh Nam Bộ để thuyết phục họ khôi phục lại trật tự. Đêm 18/9/1945, A. Peter Dewey bí mật gặp Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu,  Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch và Nguyễn Văn Tạo. Tất cả đều cho rằng đã quá muộn để thương lượng và hợp tác. 

Sydney ngày 15 tháng 1 năm 2024

 

Bài 16: CHÍNH QUYỀN NAM BỘ, UỶ BAN HÀNH CHÁNH LÂM THỜI CỦA PHẠM VĂN BẠCH: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 9-10/45. 

Sáng ngày 19/9/1945, Cédile tổ chức họp báo, tuyên bố Việt Minh không đại diện cho nguyện vọng của người Đông Dương và không đủ khả năng duy trì trật tự công cộng. Các cuộc thương lượng với người Việt sẽ dừng lại cho đến khi trật tự được lập lại. Ngày 20/9/1945, Thiếu tướng Anh Gracey ra bản Thông cáo số 1 tuyên bố sẽ duy trì pháp luật và trật tự ở Đông Dương phía Nam vĩ tuyến 16. Ông cấm tất cả các loại báo vì họ đưa tin sắp xảy ra nổi loạn và nội chiến. Tình hình trở nên cực kỳ tồi tệ. Các vụ phá hoại, cướp bóc, hành hung, bắt cóc,... do cả hai phía Pháp Việt gây ra bùng nổ đáng sợ. 

Đêm 21/9/1945, tình báo Pháp SLFEO báo cho Cédile biết người Việt đang củng cố lực lượng vũ trang của họ. Cédile lại gặp Gracey để yêu cầu ông này trang bị vũ trí cho 1.400 tù binh Pháp (bị Nhật giam giữ từ ngày 9/3/1945) để hỗ trợ quân Anh giữ trật tự. Gracey đồng ý. Ngày 22/9/1945, Cédile cho lính Pháp thay thế lính Nhật chiếm giữ các đồn cảnh sát ở Sài Gòn, Kho bạc, Sở Mật thám, Bưu điện. Rạng sáng ngày 23/9/1945, quân Pháp tấn công Toà Thị chính Sài Gòn, nơi làm việc của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, bắt toàn bộ Ban lãnh đạo của cơ quan này. Pháp đã chiếm lại Sài Gòn.

Dân thường Pháp xem đây là dịp để trả thù. Từng toán đàn ông và đàn bà Pháp xông ra đường bắt và đánh đập bất cứ người Việt nào họ gặp. Số nạn nhân có thể lên tới hàng ngàn người. Chỉ huy OSS, A. Peter Dewey, gặp Gracey để phản đối Anh, Pháp đã để tình trạng này xảy ra. Ngày hôm sau, Dewey bị Gracey trục xuất khỏi Sài Gòn. Báo chí quốc tế phản ứng mạnh, người Anh bị chỉ trích gay gắt. Gracey ra lệnh cho Cédile thả tất cả người Việt Nam vừa bị bắt, tước vũ khí tù binh Pháp, đưa họ trở về trại và giao cho người Nhật trách nhiệm khôi phục lại trật tự. 

Ngày 24/9/1945, sau khi được thả khỏi nhà giam, Việt Minh tập hợp người Việt lại, tiến hành chiến tranh. Phi trường Tân Sơn Nhất bị tấn công, một tàu Pháp ở cảng bị đốt, nhà máy, kho tàng bị đập phá, điện nước bị cắt hoàn toàn. Họ phá nhà giam thả hàng ngàn người Việt vừa bị bắt. Một số người Pháp bị giết. Đến trưa chợ Bến Thành bị đốt cháy. Chướng ngại vật được dựng lên khắp đường phố. Sài Gòn chìm trong tình trạng vô chính phủ. Đêm 24/9/1945, lực lượng Bình Xuyên tấn công khu Hérault kiều dân Pháp, tại Tân Định, Sài Gòn bắt 300 dân thường Pháp. Khoảng một nửa bị giết. 

Để đối phó, một lần nữa tướng Anh Gracey chấp nhận yêu cầu của Cédile cấp vũ khí cho tù binh Pháp, nhưng tình hình đã quá muộn. Ngày 26/9/1945, Thiếu tá chỉ huy OSS A. Peter Dewey bị lực lượng Việt Minh bắn chết ở Tân Định. Tin này lan khắp thế giới làm xấu đi hình ảnh Việt Nam. Thiếu tá OSS Archimedes L.A Patti đang công tác tại miền Bắc Việt Nam nói: "Họ đã giết hại người bạn độc nhất của họ ở Nam Kỳ và chắc chắn những tin này sẽ chẳng đề cao được lý tưởng của họ trước nhân dân Mỹ.". Ngày 27-9-45, Saigon bị bao vây, lửa đỏ rực trời, thực phẩm khan hiếm. 

Một Ủy ban phong tỏa Sài Gòn được thành lập do Nguyễn Văn Sâm, Kha Vạng Cân, Trần Văn Ân, Hồ Văn Ngà lãnh đạo. Uỷ ban ra lệnh tản cư đàn bà trẻ em và người già. Chiến tranh du kích nổ ra khắp nơi. Ngày 28/9/1945, Tư lệnh quân Đồng minh, tướng Mounbatten, triệu tập Gracey và Cédile đến Singapore để nhắc nhở hai người về việc quân đội Anh không được can thiệp vào tình hình chính trị Đông Dương và nhất là không được giao chiến với người Việt. Mounbatten đề nghị nên nối lại thương lượng với các lãnh đạo Việt Nam. 

Ngày 1/10/1945, Gracey, và Cédile nối lại đàm phán với Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. Hai bên tạm thời ngừng bắn. Phía Anh nhấn mạnh thỏa thuận giữa các nước Đồng Minh, rằng Anh sẽ không công nhận bất kỳ sự thay đổi chủ quyền trên bất kỳ lãnh thổ nào đã bị Nhật chiếm bằng vũ lực trong thời kỳ chiến tranh. Người Pháp yêu cầu trả lại các con tin bị bắt, và xác của Thiếu tá Dewey trước khi tiếp tục thương lượng. Phía Việt Nam yêu cầu người Việt chỉ ngừng bắn với điều kiện Pháp trao trả quyền hành chính tại Sài Gòn cho Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. 

Lúc nầy, lực lượng võ trang của Dân quân Cách mạng chống Pháp đã triển khai quân đội tại các vị trí chiến lược phía Bắc và phía Nam thành phố Sài Gòn. Ngày 3/10/1945, hơn 10.000 quân Pháp do tướng Leclerc chỉ huy đổ bộ xuống Sài Gòn. Ngày 5/10/1945, Leclerc tuyên bố sẽ bình định Nam Bộ. Ngày 9/10/45, quân Pháp chiếm đóng Tây Ninh. Đêm 10/10/1945, bộ đội Việt Minh tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng Dân quân Cách mạng chống Pháp giao chiến với quân Anh, Pháp tại tất cả các cửa ngõ vào Sài Gòn. 

Không quân Hoàng gia Anh liên tục ném bom vào các địa điểm bố trí quân của lực lượng Kháng chiến Nam, phá vỡ cuộc phong tỏa Sài Gòn. Ngày 16/10/1945, sau 6 ngày chiến đấu liên tục với nhiều tổn thất nặng nề, lực lượng Kháng chiến Nam Bộ ngừng bao vây Sài Gòn và rút quân về vùng nông thôn. Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ kêu gọi dân chúng sơ tán khỏi Sài Gòn thực hiện chiến lược dùng nông thôn bao vây thành thị bằng cách cắt đứt mọi hoạt động thương mại giữa nông thôn và thành thị. Anh, Pháp kiểm soát toàn bộ Sài Gòn.

Ngày 25/10/1945, Hoàng Quốc Việt thực hiện BƯỚC CUỐI CÙNG xoá sổ Xứ uỷ Tiền phong, thường gọi là Việt Minh mới của Trần Văn Giàu bằng cách tổ chức Hội nghị Thiên Hộ, Cái Bè, Mỹ Tho thống nhất hai Xứ uỷ Tiền Phong và Xứ uỷ Giải Phóng làm một, và cử Tôn Đức Thắng từ Côn Đảo về làm Bí thư. Ba lãnh tụ Xứ uỷ Tiền Phong-Việt Minh mới, là Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch và Dương Bạch Mai đều được đảng Cộng sản điều ra Hà Nội. Tại Hà Nội, Trần Văn Giàu đề đạt 2 nguyện vọng (1) cho phép ông trở lại chiến trường Nam Bộ chiến đấu, hoặc (2) cho ông sang Campuchia và Thái Lan lập một căn cứ hậu cần tiếp tế cho Nam Bộ. Nguyện vọng thứ hai được chấp thuận. 

Sydney ngày 16 tháng 1 năm 2024

 

Bài 17: NHẬN DIỆN VỊ CHỦ TỊCH LÂM UỶ NAM BỘ, CHỦ TỊCH UỶ BAN KHÁNG CHIẾN NAM BỘ, QUA HỒI KÝ 1940-1945 CỦA TRẦN VĂN GIÀU.

Trần Văn Giàu viết: tôi viết tập “hồi ký” này từ cuối những năm 1970, chỉ viết khoảng thời gian 1940-1945 vì đó là thời gian tôi sống có chất lượng hơn hết trong cuộc đời dài quá 80 năm, xấp xỉ 90 năm. Tôi viết “Lời nói đầu” này ngày 27 tháng 10 năm 1995, sau khi tôi đọc lại bản hồi ký lần thứ ba. Nội dung Hồi ký gồm 5 phần: Phần Một: TỪ NGỒI TÙ KHÁM LỚN ĐẾN VƯỢT NGỤC TÀ LÀI có 5 tiêu đề. Phần Hai: ĐÀ LẠT, PHÚ LẠC, U MINH, có 3 tiêu đề. Phần Ba: TỔ CHỨC LẠI XỨ UỶ, có 9 tiêu đề. Phần Bốn: TIẾN TỚI TỔNG KHỞI NGHĨA có 12 tiêu đề. Và, Phần Năm: TỔNG KHỞI NGHĨA THÀNH CÔNG: KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP BẮT ĐẦU, có 19 tiêu đề, trong đó có tiêu đề thứ 16 “Hai bản kêu gọi”.. và thứ 18 “Câu chuyện 10 năm kết thúc” được tác giả Hồi ký thổ lộ như sau:  

Tại tiêu đề 16 Hai bản kêu gọi, Trần Văn Giàu viết: (1) Lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ (nội dung…) ký tên Trần Văn Giàu; và (2) Tuyên cáo của Hoàng Quốc Việt dưới danh nghĩa Uỷ ban nhân dân Nam Bộ (nội dung…). Vậy ai chủ trương đánh ngay? Ai chủ trương chờ lệnh? Thì sao lại tuyên truyền rằng ông Giàu vì không chịu đánh nên “bị triệu ra Bắc”? Vu cáo này tiếp vu cáo khác, đổ vào đầu tôi, chẳng hạn:

1. Rằng Giàu bán Deschamps cho Pháp; 
2. Rằng Pháp tổ chức cuộc “vượt ngục Tà Lài”cho Giàu và đồng bọn;

3. Rằng Thanh niên Tiền phong do bọn Giàu chủ trương là tổ chức của Nhật Bản.
4. Rằng bọn Giàu không chịu rước chính trị phạm Côn Lôn, sợ anh em họ về thì Giàu mất quyền;
5. Rằng Pháp đánh chiếm Sài Gòn thì Giàu không chịu phát động kháng chiến ngay. 

Trong vòng mấy năm mà chịu bao nhiêu điều vu cáo tày trời như vậy, chịu đựng sao nổi? Sống sao nổi? Chết đi có sướng hơn không? Nhưng, nếu chết tức là chịu thua, cái láo sẽ trở thành cái thiệt...

Tại tiêu đề 18 mười năm kết thúc, Việc gì rồi cũng phải có kết thúc, duy kết thúc hay dở, đúng sai là vấn đề khác. Một ngày, tôi nhớ đâu là đầu năm 1988, tốt trời, tôi được Lê Đức Thọ mời dự buổi chiêu đãi ở T.78 với một số đồng chí. Tôi lấy làm lạ: là bởi vì, ở Hà Nội từ 1954 đến 1976, anh Thọ chưa hề đến nhà riêng tôi, chưa hề gọi tôi lên văn phòng hay nhà riêng của anh. Còn tôi thì tôi quen cái tánh “mọi rợ” là chưa bao giờ tự mình đến thăm bất cứ ai có chức, có quyền lớn hơn tôi –trừ trường hợp duy nhất là cụ Tôn Đức Thắng mà tôi thỉnh thoảng lên thăm, trước hết là vì anh Hai Thắng cứ vài ba tháng thì xuống thăm hai vợ chồng tôi một lần. 

Bữa chiêu đãi hôm đó của anh Thọ, có mặt bốn người được mời: chị Năm Bi, Tào Tỵ, Tô Ký, và tôi –Trần Văn Giàu. Ăn uống, trò chuyện thân mật. Không có ai riêng bàn về vấn đề gì cả. Lúc buổi tiệc tàn, anh em sắp chia tay, thì tôi xin nói một tâm sự, nói với Thọ, giữa Bi, Tỵ, Ký: “Tôi cảm ơn anh Sáu mời cơm với các bạn đều là quen thân từ lâu. Tôi có việc tâm sự cần nói với anh Sáu, có các anh chị nghe, nghe tôi và nghe anh Sáu sẽ nói sau. Các đồng chí cho phép tôi nói lối nói ở trong tù, tôi và Thọ cùng ở banh 1, khám 8; Côn Lôn những năm 1935/1936. Đồng ý chứ? 

Tao là Giàu, mày là Khải, Phan Đình Khải; hôm nay chúng ta nói chuyện thân mật như cách đây mấy mươi năm, khi còn ở ngoài Côn Lôn. (Tới đây, thì Thọ liền nói với các đồng chí khách kia: hồi ở khám, ở banh tụi mình gọi nhau bằng mày tao như vậy đó, không khi nào có thưa anh, thưa chú; hồi ở Côn Lôn chính Giàu dạy tôi học chủ nghĩa Mác-Lênin, chớ trước đó mình có học gì bao nhiêu đâu!). 

Tôi nói với Thọ: “Chúng ta là những người quá 70 tuổi, xấp xỉ 80 rồi, sắp đi theo cụ Hồ rồi. Mấy mươi năm nay, tao chịu những cái hàm oan mà mày, Khải, mày biết hết, biết rõ trắng đen. Chúng ta đều muốn đi theo cụ Hồ một cách thanh thản. Vậy lần này, Thọ về Hà Nội hãy có quyết định rõ, bằng văn bản của Ban Tổ chức Trung ương về tất cả những điều người ta vu cáo cho Giàu, được không?” Thọ hứa, hứa trước mặt chị Năm Bi, anh Tào Tỵ, chú Ba Tô Ký. 

Chủ khách chia tay nhau trong vui vẻ, thân ái nữa. Một tháng sau, ủy viên thường vụ Thành ủy là Bảy Dự đến nhà tôi, đem cho tôi một bức thơ, mở ra, thấy cái quyết nghị của Ban Tổ chức Trung ương mà tôi chờ đợi mấy chục năm nay. Người ký tên không phải là Lê Đức Thọ mà là Nguyễn Đức Tâm, đương chức bí thư phụ trách tổ chức như Thọ trước đây. Tôi đọc lên cho Dự nghe. Vả lại bức thư không niêm, chỉ chuyển tải quyết nghị. Chắc ở Trung ương có bản lưu: bốn việc tố cáo, vu cáo, quyết nghị này cho là không căn cứ; còn một vụ là Deschamps 1935 thì quyết nghị nói rằng tôi, Giàu, có chịu trách nhiệm. 

Tôi tuyên bố ngay với Bảy Dự rằng tôi không bằng lòng và tôi sẽ cãi. Dự bảo với tôi rằng, như thế này thì tốt lắm rồi, cãi làm gì nữa. Tôi nói lại rằng tôi sẽ nhờ Thành ủy gởi cho Ban Tổ chức một bức thơ để tỏ rõ lại mọi việc…

THƯ CỦA TRẦN VĂN GIÀU GỞI CHO BAN TỔ CHỨC THÀNH UỶ VÀ BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG.

Kính gửi: Ban Tổ chức Thành ủy
Đồng kính gửi: Ban Tổ chức Trung ương 

Ngày 13 tháng 5 năm 1988, đồng chí Bảy Dự trao cho tôi, tại 70 Phạm Ngọc Thạch, bản “Kết luận một số vấn đề tồn tại về lịch sử đồng chí Trần Văn Giàu”(số 182 –CV/TW) do đồng chí Nguyễn Đức Tâm ký.  

Thế là “chung thẩm”rồi! Song tôi thấy cần nói vài lời: 

1) Rất buồn là việc đã xảy ra từ 1945 đến 1988 mới có kết luận. Kết luận mà không có tranh biện giữa bên tiên cáo và bên bị cáo. Dù sao, vẫn có kết luận và tôi xin thành thật cảm ơn các đồng chí đã quan tâm đến việc của tôi, đã kết luận căn cứ vào một phần lớn sự thật khách quan, và đã giải quyết phần lớn các vấn đề làm cho tôi đỡ tủi phận. 

2) Về vụ vượt ngục Tà Lài. Bản kết luận viết: “Chưa có chứng cớ gì là Pháp tổ chức cho đồng chí Giàu vượt ngục”. Đáng lẽ phải nói: “Không có chứng cớ gì... ”; việc đã xảy ra từ 1941, đợi tới bao giờ mới có bằng cớ mà nay hãy còn nói là chưa? Không phải một mình tôi vượt ngục, có cả Tô Ký, Năm Đông, v.v.... họ còn sống, có Tào Tỵ biết rõ mọi việc. Đáng lẽ phải hỏi tội vu cáo của kẻ nào cố ý bày chuyện hại người ngay trong lúc làm khởi nghĩa tháng Tám, có hậu quả ghê gớm hơn 40 năm trường. Hỏi tội cho biết vậy thôi, chớ cũng sống chết cả rồi, còn hơn thua làm chi.

3) Về vụ Deschamps: “việc khai nhận (của đồng chí Giàu) gây tổn thất cho phong trào cách mạng Nam Bộ và gây tổn thất cho đường giao liên quốc tế”. Đúng là tôi không được anh hùng như Trần Phú: Trần Phú không hở môi. Tôi có hở môi, nhận một số việc đã rồi, nghĩa là có trách nhiệm trong sự tổn thất. Song, Nguyễn Văn Trân còn sống, làm chứng rằng người khai ra Deschamps không phải là tôi... 

4) Điểm 5 của Kết luận nói tôi làm sai đường lối Trung ương. Sai với đường lối, thì sai thật. Nhưng mà tôi có biết đường lối của Trung ương là thế nào đâu? Trung ương có gửi ai vào trực tiếp với tôi đâu? 

Một tháng sau nữa, tôi được giấy của Ban Tổ chức Trung ương cho đi Liên Xô nghỉ hè ở Sotchi (Hắc Hải). Tôi gởi lại cho Ban Tổ chức cái giấy mời ấy với lời cảm ơn thành thật và lời cắt nghĩa vì sao tôi không đi, dù ý thì rất muốn. Tôi trình bày lý do là... Nay, hoà bình lập lại, tôi không đi nghỉ hè đâu xa mà không có vợ tôi cùng đi. Không tới một tuần sau, Ban Tổ chức Trung ương gởi vào giấy cho vợ tôi cùng đi nghỉ mát hơn một tháng ở Hắc Hải, viếng Moscou, Lêningrad. 

Đó là vào năm 1988 thì phải, tôi nhớ không rõ. Kiểm lại, tôi thấy trong hơn ba, bốn mươi năm bị hàm oan, tôi không hề rời công tác, việc gì giao cho dầu nhỏ tôi cũng làm tròn, không giao việc gì thì tôi viết sách, viết báo, dạy học và tôi đã đạt những thành tựu tôi mong muốn, giữ vững tư cách đảng viên, giữ vững nhân cách Việt Nam. (hết trích) 

Sydney ngày 17 tháng 1 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN SÁU

Bài 18: CAO UỶ ĐÔNG DƯƠNG PHÁP TỚI SÀI GÒN, LẬP HỘI ĐỒNG TƯ VẤN NAM KỲ, CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ TỰ TRỊ NAM KỲ VỚI CÁC THỦ TƯỚNG NGUYỄN VĂN THINH... 1946-1948.

Ngày 16/10/1945, sau khi lực lượng vũ trang chống Pháp rút khỏi thành phố, Anh, Pháp kiểm soát toàn bộ Sài Gòn. Ngày 31/10/45, De Gaulle cử Đô đốc Thiery D’Argenlieu làm Cao uỷ Đông Dương tới Sài Gòn cùng với đoàn tùy tùng Phủ Cao Ủy, nhân viên Văn phòng và 10 Chuyên viên cố vấn. Ngày 28/1/46, Tướng Anh, Douglas Gracey, chuyễn giao quyền hành cho Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, và rời khỏi Sài Gòn. Ngày 4/2/1946, Cao uỷ Thiery D’Argenlieu thành lập Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ (TVNK) do Uỷ viên Cộng hoà (UVCH) Pháp chủ toạ gồm 13 Hội viên: 4 Pháp, 9 Việt. 

Tháng 3/46, Hội đồng TVNK kiến nghị lên D'Argenlieu, Cao uỷ Đông Dương xin lập một xứ Nam Kỳ Tự trị.  Đại tá Cédille UVCH Nam Kỳ tán thành kiến nghị nầy, và hậu thuẫn các đảng phái thân Pháp như đảng Nam Kỳ  của Béziat vận động công chúng. Ngày 26/3/46, Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được Hội đồng HĐTV cử ra lập Chính phủ nước Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Ngày 29/3 và ngày 4/4, hai thành viên Hội dồng Tư vấn Nam Kỳ là Bác sĩ Trần Tấn Phát và Chính khách Nguyễn Văn Thạch bị Ban Công tác Thành bộ Việt minh hạ sát. 

Ngày 7/5/46, Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ chấp nhận thành phần Chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Ngày 1/6/46, Chính phủ nước Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ ra trình diện trước Nhà thờ Đức Bà. Tuy mang danh Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ, nhưng nước Pháp, nhất là Cao uỷ Đông Dương D'Argenlieu chưa chịu trao quyền Tự trị cho Chính phủ, không cung cấp phương tiện, không có tài chánh, không có quân đội, không có cả trụ sở làm việc. Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh phải lấy phòng mạch bác sĩ của ông làm nơi làm việc của chính phủ.

Cảm thấy mình bị người Pháp lợi dụng, ngày 10 tháng 11 năm 1946, Thủ tướng Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tự sát. Ngày 15/11/46, Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ nhóm họp bầu Bác sĩ Lê Văn Hoạch làm Thủ tướng. Ngày 1/4/47, Nghị sĩ Emile Bollaert thuộc đảng Xã hội Pháp được cử làm Cao Ủy Đông Dương thay D’ Argenlieu. Lúc nầy thì lực lượng vũ trang chống Pháp, ngoại trừ Bình Xuyên, các Giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo đã dần tách ra khỏi Mặt trận Việt Minh. 

Một thoả thuận đạt được giữa Pháp và lãnh tụ Cao Đài Phạm Công Tắc, theo đó, Pháp trả tự do cho Hộ pháp Phạm Công Tắc rời khỏi nơi lưu đày Madagascar, Phi châu trở về Việt Nam; Pháp sẽ trang bị, huấn luyện nâng lực lượng vũ trang Cao Đài thành một Quân đội Cao Đài độc lập; Lãnh thổ do Toà thánh Tây Ninh kiểm soát có quyền tự trị. Đổi lại, Quân đội Cao Đài được xem như là lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh. Hộ pháp Phạm Công Tắc bổ nhiệm Trần Quang Vinh làm Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài với cấp bậc Trung tướng, Tổng hành dinh đặt tại Bến Kéo, Tây Ninh. 

Những người chống Việt Minh trong Giáo phái Hòa Hảo, cũng được người Pháp hỗ trợ tiền bạc, trang bị vũ khí, kiện toàn lực lượng vũ trang Hoà Hảo để đủ sức đối kháng với Việt Minh. Từ tháng 3/1947, nhóm Trần Văn Soái hoàn toàn tách khỏi Việt Minh đã cùng một tiểu đoàn Lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng do Việt Minh kiểm doát ở vùng Tân Châu, Châu Đốc. Cuối tháng 3 đầu tháng 4/1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Đốc, Liên quân Hoà Hảo và Cao Đài liên tục tập kích các vùng Việt Minh kiểm soát, truy bắt cán bộ Việt Minh và cảm tình viên của họ. 

Mâu thuẫn giữa Việt Minh và hai Giáo phái Hoà Hảo, Cao Đài gia tăng gần như không thể hàn gắn. Ngày 16 tháng 4 năm 1947, Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo, thì đột ngột mất tích. Người Pháp nhân cơ hội, lôi kéo những người đứng đầu Hoà Hảo hình thành 4 nhóm vũ trang mới, cứ sở tại 4 vùng chống Việt Minh: (1) Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long); (2) Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc); (3) Nhóm Lê Quang Vinh  (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên); (4) Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).

Cũng như Chính phủ Nguyễn Văn Thinh, chính phủ Lê Văn Hoạch không được Cao uỷ Pháp cung cấp phương tiện, và giao quyền hành. Đến tháng 9 năm 1947 thì Lê Văn Hoạch từ chức. Ngày 1/10/47, Tướng Nguyễn Văn Xuân được uỷ lập chính phủ mới, sau đó đổi tên Chính phủ Cộng hoà Tự trị Nam Kỳ thành Chính phủ Nam Phần Việt Nam. Ngày 19 tháng 12 năm 1947, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân bay sang Hương Cảng yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại xác nhận ý định thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Namvà mời Cựu hoàng ra chấp chánh hầu điều đình cho một giải pháp thứ ba ngoài Pháp và Việt Minh. Ngày 24/12/47 Cựu hoàng Bảo Đại sang Ba lê gặp Đại sứ Massihli. 

Ngày 7/1/1948, Emile Bollaert hội đàm với Cựu hoàng Bảo Đại tại Genève, kéo dài cho tới ngày 12/1/48. Hội đàm sẽ còn tiếp tục thêm nữa tại Vịnh Hạ Long. Ngày 30/1/48, Bollaert tuyên bố tại Sài Gòn “Pháp nhất định không điều đình với Hồ Chí Minh” nữa... Ngày 26/3/48, Cựu hoàng Bảo Đại trả lời các đại diện đảng phái và đoàn thể “ưng thuận về nguyên tắc lập một Chính phủ Lâm thời để điều đình với Pháp”. Ngày 24/4/48, một số nhân vật chính trị, và Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu lại sang Hồng Kông gặp Cựu hoàng Bảo Đại. 

Ngày 15/5/48, Cựu hoàng Bảo Đại gởi thông điệp cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, tán thành việc thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam, do Thiếu tướng Xuân điều khiển, để giải quyết “vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận quốc tế”. 

Sydney ngày 18 tháng 1 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN BẢY

Bài 19: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN XUÂN: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1948-1949.

Ngày 20/5/48, Một Hội nghị đại diện các đảng phái và các Phần trong nước, nhóm họp tại Sài Gòn gồm các ông: Đặng Hữu Chí, Hà Xuân Hải, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, Nguyễn Khoa Toàn, Trần Quang Vinh, Hà Xuân Tế, Lê Tấn Nẫm, Trần Thiện Vàng, Nguyễn Khắc Vệ, Đỗ Hữu Thinh, Phạm Văn Hai, Đỗ Quang Giai, Lương Danh Môn, Nguyễn Văn Tuế, Nguyễn Văn Tỵ, Ngô Quốc Côn, Nguyễn Thúc Loan, Phạm Đình Thuyên, Nguyễn Thức, Ngô Khánh Thực, Trương Vĩnh Tống, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Văn Dắn.v.v. 

Sau khi nghe Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân giải bày, và bức chiếu thư của Cựu hoàng Bảo Đại tất cả “kính cẩn đồng thanh hưởng Thánh ý” và bầu Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia Việt Nam. Cao ủy Pháp ghi nhận sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Quốc gia. Ngày 5/6/1948, trên chiến hạm Duguay Trouin tại Hạ Long, công bố Tuyên ngôn Pháp-Việt, theo đó, Pháp long trọng thừa nhận Việt Nam độc lập và thống nhất.

Việt Nam tuyên bố gia nhập Liên hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết. Độc lập của Việt Nam là không giới hạn, ngoại trừ giới hạn trong Liên hiệp Pháp. Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân kêu gọi quốc dân đoàn kết, bày tỏ tinh thần với các quý bạn người Pháp. Ngày 14/6/48, Chính phủ Quốc gia ban hành Sắc lệnh số 5 tổ chức: Mỗi Phần thuộc một Tổng Trấn, có cơ quan Hành chánh, Hội nghị và ngân sách riêng. Tổng Trấn có chân trong Hội đồng Chính phủ. 

Ngày 19/8/48, Quốc hội Pháp thảo luận về thỏa hiệp Vịnh Hạ Long. Nhiều quan điểm khác nhau, một vài đảng không chấp thuận. Ngày 25/8/1948, Bảo Đại báo cho phía Pháp biết ông sẽ không về nước nếu chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ không bị hủy bỏ. Yêu sách này, khiến một số Bộ trưởng ở Paris phát biểu: "thật sự ông ta đã bắt đầu bất chấp cả chúng ta"rằng Bảo Đại không phải là “một tên bù nhìn, một vua hộp đêm" như mọi người vẫn tưởng…Ngày 20/10/48, Leson Pignon được cử làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương thay Emile Bollaert.

Ngày 13/2/1949, Cựu hoàng Bảo Đại, Phó Thủ tướng Trần Văn Hữu hội đàm với Cao ủy Đông Dương Leson Pignon, và Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Coste Floret về vấn đề thỏa ước Việt-Pháp. Ngày 21/2/49, dự thảo Thỏa ước Việt-Pháp được gởi lên Hội đồng Chính phủ Pháp rà soát và bổ sung. Ngày 2/3/49 còn một vấn đề gay go nhất trong cuộc đàm phán là Quy chế Nam Kỳ, Chính phủ dự định lập một Hội nghị Địa phương Nam Kỳ để định đoạt số phận Nam Kỳ, đưa ra Hội nghị Liên Hiệp Pháp xét duyệt. 

Ngày 8/3/1949, tại điện Elysée, trước sự hiện diện của Tổng thống Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại, một Thỏa ước Việt-Pháp được ký kết, theo đó, Pháp thừa nhận Việt Nam: Có tổ chức hành chánh riêng, tư pháp riêng, tài chánh riêng, quân đội riêng; Có quyền quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á; Pháp sẽ ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc; Việt Nam hứa sẽ tôn trọng quyền lợi kinh tế văn hóa của Pháp; Cho phép Pháp sử dụng các căn cứ quân sự; Cử đại diện vào Hội nghị, và Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp; Nam Kỳ sẽ tuỳ ý định đoạt số phận, nếu muốn tái nhập Việt Nam.

Đáng chú ý là Tổng thống Cộng hoà Pháp Vincent Auriol tái xác định bằng văn bản rằng: “Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ, dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế, không đưa ra bất cứ cản trở nào về việc Nam Kỳ sát nhập vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt)”.

Ngày 19/4/49, Hội nghị Địa phương Nam Kỳ gồm 26 Hội viên Pháp, 48 Hội viên người Việt nhóm họp chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là giải quyết việc “Nam Kỳ vẫn Tự trị hay sáp nhập nào Quốc gia Việt Nam”. Đến ngày 23/4/49, Hội nghị vẫn tranh luận gay go, trong khi đó thì Cựu hoàng Bảo Đại cho biết chỉ chịu về nước nếu “Nam Kỳ tái nhập vào Việt Nam”. Hoàng thân Bửu Lộc can thiệp nhân danh Cựu hoàng rằng “Nam Kỳ sẽ tuỳ ý tự quyết, nếu một ngày kia Việt Nam thay đổi mối liên hệ với Liên Hiệp Pháp. 

Cuối cùng, ngày 24/3/49 Hội nghị biểu quyết với đa số phiếu “tái nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam”. Ngày 3/6/49 Quốc hội Pháp chuẩn y sự sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam. Ngày 14/6/49, tại Tòa Đô Sảnh, Cao Ủy Pignon và Cựu hoàng trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée. Sau đó, Cựu hoàng hiệu triệu quốc dân, tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được Tổng tuyển cử, và tạm giữ danh hiệu Quốc trưởng, để có một địa vị quốc tế hợp pháp, nhưng rồi ra quốc dân sẽ định liệu về Hiến pháp. 

Sydney ngày 19 tháng 1 năm 2024

 

Bài 20: BAN HÀNH HIẾN CHƯƠNG LÂM THỜI, LẬP TRƯỜNG VÕ BỊ ĐÀO TẠO SĨ QUAN TẠI ĐẬP ĐÁ-HUẾ, THÀNH LẬP VỆ BINH VIỆT NAM, NHẬP NAM KỲ VÀO NƯỚC VIỆT NAM THỐNG NHẤT...

Ngày 2/6/1948, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành Hiến chương Lâm thời, gọi là Pháp quy Lâm thời (Statut provisoire): Quốc kỳ: cờ vàng ba sọc đỏ; Quốc ca: Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước; Hội nghị Lâm thời Việt Nam: sẽ do Chính phủ chỉ định; Mỗi Phần do một Tổng Trấn cai trị, và có Hội nghị Lâm thời địa phương (sắc lệnh số 3). Ngày 14/6/48, chính phủ ban hành Sắc lệnh số 5 tổ chức: Mỗi Phần thuộc một Tổng Trấn, có cơ quan Hành chánh, Hội nghị và ngân sách riêng. Tổng Trấn có chân trong Hội đồng Chính phủ.

Ngày 25/6/48, chính phủ ban hành Sắc lệnh số 6, lập “Tối cao Tư vấn Viện” gồm một số Tổng trưởng, chủ tịch các Hội nghị, và một số nhân sĩ giúp Thủ tướng điều hành Chính phủ. Ngày 2/7/48, Thiếu úy Vệ binh Nam Phần Nguyễn Khánh được thăng Trung úy, và Sĩ quan tập sự Trần Thiện Khiêm được thăng Thiếu úy. Ngày 4/7/48, các Phủ Tổng Trấn được thiết lập tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ngày 16/7/48, thành lập các các Tòa án đệ nhị cấp (Nghị định số 5). Ngày 19/7/48, Tổng trấn Trung phần, lập trại An trí những người có hại cho an ninh quốc gia. 

Ngày 20/7/48, Đại úy Lê Văn Tỵ được bổ Chánh Võ Phòng của Thủ tướng, Trung úy Trần Tử Oai Phó Võ Phòng, Trung úy Trần Văn Đôn Trưởng Phòng An Ninh. Ngày 2/8/48, Sắc lệnh số 48/SG thiết lập một “Ty Giám đốc Cảnh sát và Mật thám Quốc gia”. Ngày 11/8/48, Cai trị viên Pháp André Bauvais bổ làm Đổng lý Văn phòng Thủ tướng, Đổng lý thứ hai là Thái Lập Thành. Ngày 23/8/48, Chỉ Dụ 63/SG Thủ lãnh Bình Xuyên Lê Văn Viễn được đồng hóa Đại tá tạm thời, và đặt thuộc quyền Phó thủ tướng Tổng Trần Nam Phần Trần Văn Hữu. 

Ngày 8/10/48, một kỳ thi Trung học đệ nhất cấp được mở tại Hà Nội vào ngày 28/10/48. Ngày 22/10/48, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trợ cấp 100.000$ cho nạn nhân trận bảo ở Bắc phần. Ngày 11/11/48, Hộ pháp Phạm Công Tắc, giáo sư Trương Vĩnh Tống, Hà Xuân Hải, và cựu Tổng đốc Vũ Ngọc Oánh được cử vào Tối cao Tư vấn Viện. Ngày 1/12/48, một Trường Võ Bị đào tạo Sĩ quan Hiện dịch Việt Nam được thiết lập tại Huế. Ngày 20/12/48, một kỳ thi Tú tài Việt Nam đươc tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn. 

1949: Ngày 14/2/49, Các bệnh viện Hà Nội và Nha bào chế Trung ương được trả lại cho Bộ Y tế Việt Nam. Ngày 8/3/49, thành lập một Uỷ ban để nghiên cứu quy chế công chức Việt Nam. Ngày 21/4/49, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ban hành Sắc lệnh số 66/SG kể từ ngày 1/5/49, Vệ Binh Nam Việt (thành lập tháng 10 năm 1946); Việt Binh Đoàn Trung Việt (thành lập tháng 4 năm 1947); Bảo Chính Đoàn Bắc Việt (thành lập tháng 7 năm 1948) được cải đổi, mang tên mới “Vệ Binh Việt Nam Nam Phần”; “Vệ Binh Việt Nam Trung Phần”; “Vệ Binh Việt Nam Bắc Phần”. 

Cùng ngày 21/4/49, bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội  được giao về cho chính phủ Việt Nam. Ngày 24/4/49, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, và nhiều nhân vật chính trị sang Singapore đón Cựu hoàng, và ngày 28/4/1949, Cựu hoàng Bảo Đại về tới Đà Lạt. Ngày 4/5/49, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân đươc thăng Trung tướng vì đã có công trạng “đặc biệt với Pháp và Việt Nam”. Ngày 30/5/49, tại Ba Mê Thuột, nhiều đại diện sắc dân sơ cước làm lể tuyên thệ trung thành với Cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 3/6/49 Quốc hội Pháp chuẩn y việc sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam. 

Ngày 10/6/49, Các Bệnh viện Phủ Doãn (Yersin) Bạch Mai, Nhà thương chữa mắt Hà Nội được tổ chức thành một Liên đoàn Bệnh viện thuộc Bộ Y tế. Ngày13/6/49, Cựu hoàng Bảo Đại từ Đà Lạt về Sài Gòn. Ngày 14/6/49, tại Tòa Đô Sảnh, Cao Ủy Pignon và Cựu hoàng trao đổi các văn kiện về Thỏa ước Elysée. Sau đó, Cựu hoàng hiệu triệu quốc dân, tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức Tổng tuyển cử, và tạm giữ danh hiệu Quốc trưởng, để có một địa vị quốc tế hợp pháp, nhưng rồi ra quốc dân sẽ định liệu về Hiến pháp. 

Ngày 16/6/49, Phủ Toàn quyền củ ở Hà Nội được trả về Việt Nam, thành “Biệt Điện Quốc trưởng”. Ngày 1 tháng 7 năm 1949, chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam tấn phong Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đệ đơn xin từ chức. 

Sydney ngày 20 tháng 1 năm 2024

 

Bài 21: CHUYỆN KỂ VỀ THỦ LĨNH BÌNH XUYÊN LÊ VĂN VIỄN, TỨC BẢY VIỄN BỎ KHÁNG CHIẾN VỀ HỢP TÁC VỚI CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA 1948

Sách Phật giáo Hoà Hảo trong lòng Lịch sử Dân tộc, viết: “Ngày 15/5/1948, Thủ lĩnh Bình Xuyên, Bảy Viễn nhận được một mật điện của Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Nam bộ (UBKCNB) mời “anh Bảy” Tư lịnh Liên khu Bình Xuyên đến chiến khu Đồng Tháp Mười dự họp. Ngày 28/5/48, phiên họp bắt đầu. Tướng độc nhãn Nguyễn Bình nói: Bây giờ ta xét đến vấn đề tổ chức quân sự và lãnh thổ. Từ khi đồng chí Bảy Viễn được bổ nhiệm làm Khu trưởng Chiến khu 7, đồng chí không còn là Tư lịnh Bình Xuyên hợp tác với kháng chiến nữa, mà là một Sĩ quan cao cấp của quân đội cách mạng. 

Có nghĩa đồng chí phải tuân hành mệnh lệnh của Uỷ ban Kháng chiến Nam Bộ, và Ủy viên Quân sự. Chúng ta không thể chống giặc mà không thống nhứt hệ thống. Mọi đặc điểm riêng không còn tồn tại nữa. Phía Bảy Viễn, một vị đại diện đứng lên xin nói: Tôi xin trình bày cho rõ một điểm. Tổ chức Bình Xuyên không đợi đến khi Trung tướng Nguyễn Bình tới chiến trường Nam Bộ mới bắt đầu chiến đấu. Từ ba mươi tháng nay, chúng tôi đã đánh nhau với Pháp và đã có hơn 300 chiến sĩ hy sinh tại các mặt trận.

Suốt 1.000 ngày chiến đấu đó, chúng tôi không hề nhận được của Cục quân nhu Việt Minh một hột gạo tiếp tế, một con cá khô hay một khẩu súng, một viên đạn nào cả. Không một chiến sĩ Bình Xuyên nào được lãnh một xu lương bổng. Cả UBKCNB lẫn Quân ủy không ai cung cấp cái gì cho Bình Xuyên… Tướng Nguyễn Bình lạnh lùng nói: “Các đồng chí đã có Maurice Thiên và người Tàu Chợ Lớn tiếp tế tiền bạc và nhu cầu rồi”! “Đúng vậy, chúng tôi phải thâu thuế trong khu vực chúng tôi kiểm soát, cũng như các đồng chí thâu thuế trong khu vực do quý cơ quan kiểm soát”! 

Nguyễn Bình tiếp: “Vậy đồng chí còn than phiền điều chi?” “Chúng tôi không than phiền, mà chỉ nói cho rõ vấn đề”. Tất cả chúng tôi đều tin tưởng nơi sự sáng suốt và lòng can đảm của đồng chí. Nhưng chúng tôi không hài lòng về cung cách đồng chí đối xử với Bình Xuyên chúng tôi, đồng chí không hề đề nghị giúp đỡ gì chúng tôi, mà chỉ hạ lịnh bắt chúng tôi phải thi hành. Tướng Nguyễn Bình cười gằn: Các đồng chí có tuân hành mệnh lệnh của tôi đâu, đồng chí hiểu chớ! Đồng chí nói sai rồi. Tất cả những nhiệm vụ mà đồng chí chỉ thị, chúng tôi đã thi hành trọn vẹn. 

Chúng tôi chỉ từ chối sự kiểm soát của những chánh trị viên mà đồng chí gửi tới, đồng chí có hiểu lý do tại sao không? “Tôi muốn nghe đồng chí nói rõ” Lời của Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ chủ toạ! “Đây là sự thực. Chúng tôi nghĩ rằng các chánh trị viên không có gì để dạy dỗ chúng tôi. Chúng tôi đã ý thức cầm súng chiến đấu vì nền độc lập của tổ quốc, và để đòi tự do. Chúng tôi không chiến đấu cho một chế độ đảng trị, hay để củng cố uy quyền lãnh đạo đã nhẫn tâm tàn sát đồng đội một cách ác độc hơn là đối với quân thù”…

Tướng Nguyễn Bình đã đặt tay lên bá súng lục đeo bên hông gằn tiếng hỏi: “Đồng chí muốn ám chỉ ai?”. “Là đồng chí Nguyễn Bình” đúng vậy! Tướng Nguyễn Bình vụt rút súng ra khỏi vỏ. Phía bên Bình Xuyên, người chỉ huy đội hộ vệ cũng lên cò cây tiểu liên tự động Thomson, nhắm ngay vào Nguyễn Bình, xin “Trung tướng bình tĩnh lại!!! Vị Chủ tịch UBKCNB nhìn người chỉ huy Bình Xuyên, thấy nét mặt cương quyết, ngón tay đặt sẵn trên cò “sẵn sàng nổ súng”. Ông ta run giọng can gián: Tất cả bình tĩnh lại. Chúng ta đều là anh em đồng chí cả… Không khí bớt nặng nề, đôi bên bỏ súng xuống.

Viên chủ tịch nói: “Đồng chí vừa phát biểu những điều kết tội, vậy đồng chí có thể chứng minh cho rõ trắng đen không”? Tức thì Bảy Viễn đứng lên tiến tới phía trước, bên hông đeo tòn ten khẩu súng lục, tôi xin nói. Và, Bảy Viễn nhìn thẳng về phía Nguyễn Bình: “Nếu tôi phải kể hết mọi tội ác mà đồng chí đã phạm đối với các chiến sĩ quốc gia, thì phải nói cả giờ đồng hồ mới hết. Tôi chỉ muốn nói đến một vụ: Tại sao đồng chí ám hại Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ”? 

Nguyễn Bình nói: “Đó là kẻ lúc nào cũng mưu tính diệt Cộng Sản và cá nhân tôi, cho nên phải tiêu diệt”, Nguyễn Bình đáp! “Nói láo”. Bảy Viễn gầm lên. Nguyễn Bình cũng nổi giận đùng đùng. Chủ tịch UBKCNB phải can gián. Bảy Viễn lại lên tiếng: “Đồng chí tự tin bởi đồng chí nghĩ rằng kẻ khuất mặt không thể nói lên sự thật được. Nhưng còn tôi đây, tôi còn sờ sờ đây, thì tôi phải nói. Tôi kết tội đồng chí đã hai lần âm mưu ám sát chính tôi”. Nguyễn Bình bậm môi cười, phản công: “Không thể kết án vô bằng chứng như thế. Tôi thách đồng chí trưng bằng cớ ra đây”. 

Bảy Viễn tiếp: “Đồng chí lầm rồi: Tôi đang nắm trong tay một bằng cớ còn hùng biện hơn là nhân chứng nữa. Đó là tài liệu do chính tay đồng chí Nguyễn Bình ký tên chỉ thị cho ban ám sát”… Bảy Viễn rút trong túi ra một mảnh giấy gấp tư, đã lấy được trong người của tên sát thủ năm 1947, và đặt tờ giấy đó lên mặt bàn. Nguyễn Bình lặng lẽ mở tấm giấy, nét mặt mờ đi, giận đến run lên. Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam bộ cầm lấy tờ giấy, và chính ông cũng giận run. Một bầu không khí im lặng nặng nề đè trên phòng họp. 

Viên Chủ tịch quay sang hỏi Nguyễn Bình: Có phải đây là chữ ký và con dấu của đồng chí không? Nguyễn Bình quay mặt đi, nghiến răng nói: “Chính hắn đã nhiều lần mưu sát tôi, đoàn hộ vệ của tôi đã chết về tay hắn”.Viên Chủ tịch nói nhỏ: Chuyện này quan trọng lắm, phải báo cáo về Trung Ương. Yêu cầu các đồng chí chờ tôi. Bảy Viễn không trả lời, từ từ đi ra khỏi phòng họp. Trên đường từ Đồng Tháp trở về Rừng Sát, Bảy Viễn và đoàn tùy tùng bị phục kích trong đêm tối. Nhưng Bình Xuyên đã đề phòng chuyện đó, cho nên họ đã thoát vòng phục kích của Trung đoàn 306 do chính Nguyễn Bình bố trí…

Sau lần đụng độ này, Bình Xuyên biết không còn cách nào cộng tác với Việt Minh được nữa, cho nên tìm cách liên lạc với Saigon, và ngày 17-6-1948, Lê Văn Viễn cùng toàn bộ binh sĩ Bình Xuyên về hợp tác với Chánh phủ Quốc gia thời Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân. Lê Văn Viễn được Tướng De la Tour gắn lon Đại tá. 

Sydney ngày 21 tháng 1 năm 2024

 

Bài 22: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1949.

Ngày 1 tháng 7 năm 1949, Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố tạm kiêm nhiệm chức Thủ tướng, và cử nguyên Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng. Cùng ngày 1/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành hai Đạo Dụ: Dụ số 1 “Tổ chức và điều hành các Cơ quan Công quyền Việt Nam khi chưa có Hiến Pháp". Dụ số 2 “Ấn định quy chế Công sở, Chính quyền địa phương”. Sẽ triệu tập Quốc hội Lập hiến; Quốc trưởng tạm thời giữ quyền Lập pháp, ban bố các Đạo Dụ, và giữ quyền Hành pháp ở cương vị Quốc trưởng; Chánh phủ do Quốc trưởng bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Quốc trưởng; Một Hội đồng Tư vấn Quốc gia sẽ được thiết lập, gồm 45 nhân vật do Quốc trưởng bổ nhiệm; Quốc gia Việt Nam gồm có ba phần: Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt. 

Mỗi Phần có Ngân sách riêng, có tư cách Pháp nhân, do một Thủ Hiến cai trị, Thủ Hiến do Quốc trưởng bổ nhiệm; Sẽ lập một Viện Giám sát để kiểm soát Hành chánh; Trụ sở chính thức của Quốc trưởng là Sài Gòn. Ngày 3/7/49, Quốc trưởng bổ nhiệm: Thủ Hiến Bắc Việt: Nguyễn Hữu Trí; Thủ Hiến Trung Việt: Phan Văn Giáo; Thủ Hiến Nam Việt: Trần Văn Hữu. Ngày 12/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại về Huế. Ngày 14/7/49, Quốc trưởng hiệu triệu quốc dân, súng cồi từ đâu bắn nhiều phát vào thành phố Huế. Ngày 16/7/49, Quốc trưởng Bảo Đại tới Hà Nội, tuyên bố chính sách của chính phủ. 

Ngày 17/7/49, đại diện các sắc dân Sơn cước miền Bắc làm lể tuyên thệ trung thành với Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 18/7/49, Quốc trưởng ký Sắc lệnh 52/QT thành lập Viện Giám sát để kiểm soát Hành chánh; Trụ sở chính thức của Quốc trưởng là Sài Gòn. Ngày 19/7/49, Hội đồng Nội các họp phiên đầu tiên tại Hà Nội. Ngày 20/7/49, tại Biệt Điện, Quốc trưởng chủ tọa lể tựu chức Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Ngày 4/8/49, tại Sài Gòn, Quốc trưởng chủ tọa lể tựu chức Thủ hiến Nam Việt Trần Văn Hữu. Ngày 27/8/49, ấn định chương trình giáo dục Tiểu học (N.D 4/ND/GD). 

Ngày 5/9/49, ấn định chương trình giáo dục Trung học (N.D 9/ND/GD). Ngày 9/9/49, một Hội Cấp tế nạn nhân chiến tranh Bắc Việt được thành lập để giúp đở đồng bào hồi cư. Ngày 12/9/49, ấn định chương trình Giáo dục tráng niên (N.D 14/ND/GD). Ngày 19/9/49, Chức chưởng của các Tổng và Bộ trưởng được ấn định trong một sắc lệnh đươc ký ngày hôm nay. Ngày 26/9/49, Nghị định (2.265/THP) thành lập Bảo chính Đoàn tại Bắc việt thay Nghĩa Dũng Binh của phủ Tổng Trấn củ. Sĩ quan của Bảo chính Đoàn thì gọi là Phó Đốc quân, Đốc quân, và Chánh Đốc quân. 

Ngày 28/9/49, Quốc trưởng Bảo Đại ra Bắc thăm nhiều tỉnh. Ngày 14/10/49, Một Uỷ ban điều tra được thiết lập tại Bộ Nội vụ để xét lại hồ sơ của những công chức bị thải hồi sau ngày Nhật đảo chánh 9/3/1045. Ngày 18/10/49, Quốc trưởng ban hành Dụ số 4 tổ chức “Tư pháp và Tòa án Việt Nam”, và Dụ số 5 thành lập “Tối Cao Pháp Viện” và tổ chức Tư pháp và Tòa án Việt Nam”. Ngày 16/11/49, chỉ thị 331/QT của Quốc trưởng, công chức không được phép tuyên bố về chính trị. Ngày 1/12/49, từ 3 tháng nay giá gạo tăng vọt tới 600$ 1 tạ. 

Phủ thủ hiến Bắc Việt đã can thiệp với chính phủ và yêu cầu chở gạo Nam phần ra Bắc bán cho dân chúng. Ngày 9/12/49, Du thuyền Hương Giang của Quốc trưởng Bảo Đại chở 300 tạ gạo từ Nam ra Bắc, giá gạo tại Hà Nội từ 600$ giảm xuống còn 400$ mỗi tạ.  Ngày 12/12/49, Sắc lệnh 90/NV thành lập Ủy ban nghiên cứu các vấn đề “Tổ chức Hành chánh và Phân quyền địa phương. Ngày 24/12/49, một quỷ danh dự được thiết lập tại Bắc Việt để cho vay và khuyến khích tái lập công nghệ, canh nông. Ngày 29/12/49, Sắc lệnh số 96/GD, Cải tổ Học chính Việt Nam.Theo đó, bải bỏ bậc Cao đẳng Tiểu học, chỉ đề ra ba bậc học: Tiểu, Trung, và Đại học. Mỗi bậc đều có Ban Phổ thông, và Ban Chuyên nghiệp. Trung học, và Đại học thuộc Bộ Giáo dục; Tiểu học thuộc các Phủ Thủ Hiến về Hành chánh và thuộc Bộ về Chuyên môn.  

Ngày 4/1/50, Nghị định số 1/NĐ/GD, thành lập Trường Đại học Văn khoa tại Hà Nội. Và, Nghị định số 2/NĐ/GD, thành lập Sở Bảo tồn Di tích Việt Nam. Ngày 5/1/50, Quốc trưởng ký Dụ cố 2, thành lập một Tòa án Hành chánh chung cho cả nước tại Sài Gòn.  Cùng ngày, Quốc trưởng ban Sắc lệnh cử nhiệm một Phái đoàn Nghị sĩ Việt Nam tại Hội nghị Liên Hiệp Pháp, lớp đầu có 12 vị: Phạm Văn Bính, Bùi Thế Phúc, Trần Văn khá, Đỗ Hữu Tinh, Bửu Kính, Nguyễn Hữu Tuân, Nguyễn Huy Lai, Trần Văn Tuyên, Hà Văn Lan, Nguyễn văn Tỵ, Tôn Thất Cẩn, Trần Thiện Vàng. Các Nghị sĩ lãnh Phụ cấp của Chính phủ Việt Nam, và lương bổng do Pháp trả. 

Sydney ngày 22 tháng 1 năm 2024.

(Hết Chương 2 gồm 19 bài: 4-22)

























 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương III: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 2 CHÍNH QUYỀN VÀ 5 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1950-1955.

(21 bài viết, 39 trang và 24.781 chữ). 

Hai chính quyền từ 1950 đến 1955: (1) Chính quyền Quốc gia Việt Nam, và chính phủ Nguyễn Phan Long, chính phủ Trần Văn Hữu, chính phủ Nguyễn Văn Tâm, chính phủ Nguyễn Phúc Bửu Lộc, chính phủ Ngô Đình Diệm. Và, (2) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Hồ Chí Minh.

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

Bài 23: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN PHAN LONG: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM TỪ THÁNG 1-4/1950.

Ngày 6/1/50, Ngoại trưởng Nguyễn Phan Long được Quốc trưởng Bảo Đại uỷ nhiệm thành lập Chính phủ. Ngày 21/1/50, Thủ tướng Nguyễn Phan Long trình diện Nội các lên Quốc trưởng tại Đà Lạt. (Sắc lệnh số 6/QT ngày 21/1/50). Ngày 9/1/50, Học sinh biểu tình ở Sài Gòn, Cảnh binh bắn chết trò Ơn, và trên 50 người bị thương trong các vụ xô xát. Ngày 16/1/50, Nghị định số 102/TTP, thành lập “Việt Nam Văn hóa Hiệp Hội”. Ngày 24/1/50, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội gặp Đại sứ Hoa Kỳ Jessup, rồi đi thăm các tỉnh miền Bắc có cả Lạng Sơn và Lai Châu. 

Ngày 26/1/50, tỉnh Bắc Ninh đổi thành tỉnh Gia Lâm, tỉnh Bắc Giang đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Ngày 1/2/50, Sắc lệnh 10/TP, thiết lập ngành Thẩm phán Việt Nam, từ cấp Hòa giải, Sơ cấp, đến Thượng thẩm. Ngày 9/2/50, Quốc trưởng ký Dụ số 3, cho phép Thủ tướng, Bộ trưởng có quyền trưng tập những cá nhân cần thiết trong 6 tháng, hết hạn có thể trưng tập thêm. Ngày 21/2/50, Thủ hiến Bắc Việt ký Nghị định 471/THP thiết lập tạm thời mỗi Thị Xã một Hội đồng Quản trị, từ 6-12 Hội viên do Tỉnh trưởng chủ tọa. Ngày 24/2/50, nhiều Tòa án được Pháp chuyễn giao cho Việt Nam. 

Rất đông người tấp nập hồi cư về Hà Nội và các tỉnh lỵ sau ngày quân Pháp chiếm đóng Thái Bình. Ngày 27/2/50, Dược sĩ Thẩm Hoàng Tín được cử làm Thị trưởng Hà Nội. Ngày 10/3/50, Sở Cảnh sát được chuyển giao cho Việt Nam, nhưng việc tình báo chống Cộng vẫn thuộc cơ quan An ninh Pháp. Ngày 14/3/50, thiết lập trường Huấn luyện Bảo chính đoàn. Ngày 19/3/50, tại Sài Gòn có nhiều đám biểu tình chống Mỹ, nhưng bị giải tán, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị bắt. Ngày 22/3/50, Khu Phát Diệm-Bùi Chu giữ tổ chức tự trị, không chịu thuộc quyền Thủ hiến Bắc Việt. 

Ngày 4/4/50, Thủ hiến Phan Văn Giáo được cử kiêm nhiệm Tổng Thanh Tra Quân đội Quốc gia Việt Nam với hàm Trung tướng. Ngày 5/4/50, một Hội đồng gồm các Tổng, Bộ trưởng được thành lập, để nghiên cứu “Quy chế Công chức Việt Nam”. Ngày 11/4/50, Quốc trưởng triệu tập một Hội nghị Quân sự tại Đà Lạt để thống nhất các lực lượng vũ trang. Ngày 15/4/50, Quốc trưởng ban hành Dụ số 6, quy định các Tỉnh có nhiều sắc dân Sơn cước trước thuộc Triều đình như Haut-Donnai, Lang-Bian, Pleiku, Darlac, Kontum, Phong-Thổ, Lạng-San, Hà-Giang, Lao-Kay, Bắc-Cạn, Cao-Bằng, Hòa-Bình, Hải-Ninh, nay trực thuộc Quốc trưởng Bảo Đại. 

Các Cố vấn, Công chức thuộc các tỉnh kể trên được lưu dụng, và sẽ có quy chế riêng.  Ngày 24/4/50, Nghị định số 59/NĐ của Thủ tướng thành lập một Nha Tổng Giám Đốc Cảnh sát và Công an Quốc gia, mỗi Phần có một Sở Cảnh sát Công an, nhưng với một Phó Giám đốc mà thôi. Ngày 29/4/50, thành lập Hội Bảo trợ Đồng bào Hồi cư tại Bắc Việt. Ngày 2/5/50, quân Pháp chiếm đóng Phủ Lý và tỉnh lỵ Ninh Bình. Ngày 27 tháng 4 năm 1950, Quốc trưởng Bảo Đại giải thể Chính phủ Nguyễn Phan Long và uỷ nhiệm Thủ hiến Trần Văn Hữu thành lập Chính phủ.

Sydney ngày 23 tháng 1 năm 2024

 

Bài 24: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HỮU: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1950-1951.

1950: Ngày 30/4/50, Trần Văn Hữu lập xong Chính phủ, và ngày 6/5/50, Thủ tướng Trần Văn Hữu  trình diện Nội các lên Quốc trưởng ở Đà Lạt. Ngày 11/5/50, Thủ hiến Bắc Việt ra lệnh cấm đưa bà con, họ hàng vào các Công sở (thông tư số 13/VP7PTH). Ngày 12/5/50, ngoại trừ các công văn giao thiệp với nhà chức trách Pháp, tất cả các công văn khác phải dùng tiếng Việt. Ngày 17/5/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Y tế Thế giới. Ngày 3/6/50, tái lập tỉnh Hà Nam. Ngày 4/6/50, Tổng trưởng Giáo dục Vương Quang Nhường bị kẻ lạ mặt bắn bị thương nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng. 

Ngày 9/6/50, Quốc trưởng ban Dụ số 6, trao cho Thủ tướng Trần Văn Hữu đặc quyền trong 6 tháng ban hành các biện pháp đối phó với các hoạt động có hại cho an ninh. Ngày 14/6/50, Sở Liêm phóng và Cảnh sát Pháp tại Hà Nội được chuyển giao cho Thủ hiến Bắc Việt. Ngày 17/6/50, Tổng trưởng Tài chánh Nguyễn Trung Vinh được bổ làm Thủ hiến Nam Việt. Ngày 20/6/50, Việt Nam được gia nhập “Tổ chức Lao động Quốc tế”. Cùng ngày Quốc trưởng và Thủ tướng sang Pháp để theo dỏi cuộc đàm phán Liên Quốc sắp họp. 

Ngày 3/7/50, nhiều vụ khủng bố xẩy ra tại Sài gòn, Chợ Lớn. Ngày 12/7/50, Cảnh sát Sài Gòn bắt được một tổ khủng bố hơn 30 người. Ngày 14/7/50, Quốc trưởng ký Dụ số 9 ban hành “Quy chế Công chức” gồm 10 chương, 105 điều khoản: tổng tắc, tổ chức, tuyển bổ ngạch quốc gia, lương bổng và phụ cấp, tập sự, thực thụ, thăng thưởng, kỷ luật. Ngày 25/7/50, Cảnh sát, Công an Sài Gòn, khám phá ra một tổ chức “kinh tài Việt Minh” bắt giữ nhiều người. Ngày 25/7/50, thiết lập Hoàng triều Cương thổ miền Nam gồm Darlac, Kontum, Pleiku, Lâm Viên, Đồng Nai thượng. 

Ngày 6/8/50, Quốc trưởng ký Dụ số 10, ban hành Thể lệ lập Hội: phải xin phép trước; tư cách pháp nhân hạn chế; sẽ có thể lệ đặc biệt cho các Hội truyền giáo Thiên chúa-Gia tô, và Hoa kiều Lý sự vụ. Ngày 15/8/50, Quốc trưởng Bảo Đại ký Dụ số 10a và 10b đặt ra hai loại Bảo quốc Huân chương, và Anh dũng Bội tinh. Ngày 17/8/50, Cảnh sát, Công an Nam Việt bắt trên 1000 người để trừ khủng bố tại Sài Gòn-Chợ Lớn. Ngày 22/8/50, Cảnh sát, Công an bắt 30 người khủng bố tại Hà Nội. Ngày 12/10/50, một trường Thiếu Sinh Quân được thiết lập tại Hà Nội. 

Ngày 5/11/50, khánh thành trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Cùng ngày, Hội nghi quân sự tại Đà Lạt phía Pháp có Bộ trưởng Quốc phòng Letoureneau, tướng Jiun; phía Việt Nam có Quốc trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Trần Văn Hữu, Trung tướng Phan Văn Giáo đi đến quyết định: Thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam 115.000 người với quân trang và võ khí Mỹ; Pháp cho mượn Sĩ quan trong giai đoạn đầu; kinh phí do Ngân sách Việt Nam và Mỹ đài thọ. Ngày 11/11/50, Việt Nam được gia nhập Tổ chức Lương Nông Quốc tế. 

Ngày 14/11/50, Thành phố Đà Lạt được chuyễn giao cho Chính phủ Việt Nam, Bác sĩ Trần Đình Quế được bổ làm Thị trưởng. Ngày 16/11/50, thành lập một trường Cao Đẳng Sư Phạm tại Hà Nội. Ngày 25/11/50, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội họp bàn việc Phòng thủ Bắc Việt. Ngày 6/12/50, Tổng nha Thanh tra Thanh tra Lao động, được thành lập tai Phủ Thủ tướng. Ngày 8/12/50, Việt-Pháp ký Hiệp ước về quân sự, từ nay quân đội Việt Nam thuộc hẳn quyền Quốc trưởng Bảo Đại, nhưng có Cơ quan Liên lạc với Quân đội Liện Hiệp Pháp. 

1951: Ngày 9/12/50, tại Sài Gòn lễ ký kết Phụ ước thi hành Hiệp định quân sự Việt- Pháp. Ngày 21/12/50, Phủ Thủ hiến Bắc Việt ra thông cáo khuyên dân chúng bình tĩnh trước tình thế. Ngày 19/2/51, Quốc trưởng Bảo Đại ra Huế làm lể ở Thái Miếu, tuyên bố đoàn kết các lực lượng Quốc gia, và hợp tác thân thiện với Pháp. Ngày 21/1/51, Quốc trưởng Bảo Đại giải tán Chính phủ, nhưng vẫn ủy Thủ tướng Trần Văn Hữu lập Chính phủ mới. Ngày 22/1/51, Việt Nam Thông tấn xã được tổ chức thành cơ quan tự trị; Xuất bản mỗi ngày hai bản tin của Việt Nam Thông tấn xã và của hảng A.F.P.

Ngày 27/1/51, Nghị định 465/NĐ/PTH tái lập tỉnh Ninh Bình. Ngày 30/1/51, kể từ ngày nầy Sĩ quan Quân đội Việt Nam có Quy chế riêng, y phục và lương bổng riêng. Ngày 21/2/51, Trần Văn Hữu trình danh sách Nội các mới lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận. Ngày 23/2/51, Quốc trưởng Bảo Đại gởi thông điệp yêu cầu Chính phủ tổ chức Hội nghị Tư vấn Quốc gia, và Hội nghị các Địa phương. Cũng ngày 3/3/51 nầy Việt Nam đã thành lập xong 26 Tiểu đoàn. Ngày 2/4/51, thành lập một Đoàn Vệ binh Miền nam Trung Việt (NDD28/CP). 

Ngày 11/4/51, Quốc trưởng Bảo Đại tăng tiền cấp dưởng cho một số người Hoàng tộc: Vua Thánh Thái và gia quyến 10.000$ một tháng; Quả phụ vua Hàm Nghi và các con 900.000 quan một năm; bà Vương phi vua Thành Thái 1.500$ mỗi tháng; mỗi con vua Duy Tân 200$ mỗi tháng; hai bà Công chúa 1.000$ mỗi tháng. Ngày 12/4/51, Ngân sách ba Phần được chuẩn y: Bắc Việt 295.000.000$ (1949), 815.000.000$ (1950); Trung Việt 247.000.000$ (1949); Nam Việt 683.013.500$ (1950). Ngày 19/4/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 6 quy định “Quy chế tạm thời ngành Hàng Hải”.

Cũng ngày 19/4/51 nầy, Thủ tướng Trần Văn Hữu cùng Cao ủy tướng De Lattre tới viếng mặt trận Vĩnh-Phúc-Yên, De Lattre tuyên bố dùng võ lực để kiện toàn độc lập cho Việt Nam chớ không phải để hạn chế chủ quyền Việt Nam; Thủ tướng Hữu cũng tuyên bố “Việt Minh là kẻ thù của Dân tộc, sẽ cương quyết chống Cộng và tin tưởng ở nước Pháp. Ngày 6/5/51, Bác sĩ Trần Văn Đôn, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Anh Quốc trình Ủy nhiệm thư lên Anh Hoàng. Ủy nhiệm thư do Quốc trưởng Bảo Đại ký với sự thỏa hiệp của chủ tịch Liên Hiệp Pháp. 

Ngày 11/5/51, vài giờ sau vụ ông Haaz, Thanh tra Mật thám Pháp tại Đà Lạt, bị hạ sát, Phó Thanh tra Jumeau đòi Thị Trưởng Trần Đình Quế giao cho y 14 tù binh và 6 nữ cán bộ bị giam, Giám đốc Công An Việt Nam đi vắng, Jumeau cho bắn hết cả 20 người. Ngày 13/5/51, Quốc trưởng Bảo Đại huyền chức Thị trưởng Trần Đình Quế. Ngày 15/4/51, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Bộ Quân luật Việt Nam (Dụ số 8). Ngày 21/5/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 16/QT/TD quy định riêng cho các Sắc dân Sơn cước tại Hoàng triều Cương thổ Miền Nam; sẽ có một Hội đồng Kinh tế Xã hội, các tòa án Phong tục, kế hoạch phát triển thích hợp. 

Sydney ngày 24 tháng 1 năm 2024

 

Bài 25: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HỮU: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1951-1952.

Ngày 6/6/51, Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa lể Kỷ niệm long trọng ngày Thống nhất Việt Nam trước Đại diện các Phần, các Sắc dân. Mỗi Đại diện dâng một ít đất địa phương, Quốc trưởng trộn chung lại cho vào một chiếc bình để đặt trên “bàn thờ Tổ quốc”. Cùng ngày 6/6/51, Chính phủ ban hành Nghị định 264/Cab/SG thiết lập tỉnh Bùi Chu gồm các quận của tỉnh Nam Định củ: Hải Hậu, Giao Thủy, Xuân Trường, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Nam Trực. Ngày 9/6/51, Thủ hiến Bắc Việt ban hành Nghị định 2965/THP chỉ rõ các Quận Quản Oai, và Bất Bạt thuộc tỉnh Phú Thọ được sát nhập tỉnh Sơn Tây. 

Ngày 13/6/51, từ kết quả cuộc “hành quân Sứa Biển-Mesduse”, Thủ hiến Bắc Việt thiết lập Khu Bình định Vĩnh Ninh gồm một phần Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Phụ Dực, Đồng Quan, một Đại diện Thủ hiến được cử để lo việc bình định. Ngày 15/6/51, Thủ tướng chính phủ ký Nghị định 291/Cab/SG thiết lập Quốc gia Kiến ốc cuộc để xây nhà rẻ tiền bán cho dân chúng. Ngày 20/6/51, theo dự liệu hôm nay Việt-Mỹ ký “Hiệp định viện trợ Kinh tế”, nhưng Cao ủy Pháp đòi hoãn viện cớ chưa có thỏa hiệp của Thượng Hội đồng Liên Liệp Pháp, được ghi tại Thỏa ước 8/3/49. 

Ngày 25/6/51, Quốc trưởng ban hành Dụ số 9, Không quân Việt Nam chính thức thành lập kể từ 1/7/51. Ngày 11/7/51, tại buổi lể phát thưởng tại trường Trung học Chassloup Laubat, De Lattre kêu gọi thanh niên Việt Nam nên có thái độ rõ rệt trước thời cuộc.  Ngày 15/7/51, Quốc trưởng ký Dụ số 12, ban bố “Chế độ Quân dịch”; tất cả các phương tiện và tài nguyên được huy động; các Y sĩ được trưng dụng. Ngày 20/7/51, Trần Văn Lý được cử Thủ hiến Trung Việt thay Phan Văn Giáo. 

Ngày 27/7/51, Thủ tướng ban hành Nghị định số 9/ND/PTT, tư nhân có thể bị trưng dụng vì nhu cầu Quốc phòng; dân số được kiểm tra lại: 60.000 người sẽ được gọi nhập ngũ; trong hạn tuổi từ 16 đến 60 có thể được động viên hoặc trưng tập; các Y sĩ, Dược sĩ, Chuyên viên cũng vậy; thanh niên từ 18 đến 28 tuổi có bằng Cao đẳng Tiều học trở lên sẽ theo học các lớp Sĩ quan Trừ bi. Ngày 7/8/51, Cấm xuất ngoại trong thời kỳ kiểm tra thanh niên. Một trường Quân y được mở tại Hà Nội. Ngày 28/8/51, Hội đồng các Thủ hiến họp tại Sài Gòn để ấn định thể thức gọi nhập ngũ 15.000 thanh niên. 

Ngày 16/10/51, có hơn 15.000 thanh niên gọi nhập ngũ, thụ huấn cấp tốc 2 tháng, 1.000 người có bằng Trung học đệ nhất cấp trở lên theo học Trường Sĩ quan Nam Định, và Trường Sĩ quan Thủ Đức. Ngày 8/11/51, hai trại Tân binh mới được thiết lập ở Bắc Ninh và Quảng Yên, mỗi nơi có khả năng Huấn luyện 3.000 người. Ngày 22/11/51, Tòa án Quân sự được thiết lập tại Sài Gòn (SL79/QP). Ngày 10/12/51, thiết lập Khâm mạng tại “Hoàng Triều Cương Thổ miền Bắc”, Nguyễn Văn Tâm Tổng trưởng An ninh, kiêm Thủ hiến Bắc Việt được cử Đại diện Quốc trưởng Bảo Đại tại các Tỉnh Sơn cước (SL24/QT/TD). 

1952: Ngày 12/2/52, lương bổng, phụ cấp và dịch vụ của các Thủ hiến: lương 14.000$; Giao tế phí 8.000$. 2 tài xế, 2 bồi, 1 bếp, 1 gác cổng, 1 làm vườn; Nhà ở, đồ đạc, điện nước, xe cộ, giặt ủi. Lễ phục có tính cách Tôn giáo, Lịch sử: áo dài chẽn, khăn đen, quần lụa trắng; Các Lễ khác: âu phục trắng, cà vạc đen, sậm, hoặc âu phục đen, sậm. Trước đó, Sắc phục của Nhân viên Sứ quán và Lãnh sự cúng đã được quy định: Quốc phục Đại lễ “nhung y” của Đại sứ: áo dài gấm, da cam, hoa chữ Thọ, quần luạ trắng, khăn đen, giày láng, bài vàng có chữ Hán đeo ở nút áo...

Ngày 6/3/52, Hải Quân Việt Nam được thành lập từ ngày 1/1/1952. Ngày 7/3/52, để đáp ứng với tình hình mới, Thủ tướng Trần Văn Hữu cải tổ Nội các và đã được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận danh sách “Nội các Cải tổ (SL 21/QT). Cùng ngày 7/3/52, Trung tá Không quân Nguyễn Văn Hinh, Chánh Võ phòng Quốc trưởng Bảo Đại được thăng Thiếu tướng, và được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam. Ngày 18/3/52, Nguyên Bộ trưởng Phạm Văn Bính được bổ Thủ hiến Bắc Việt; và Giám đốc Tài chánh Hồ Quang Hoài được bổ Thủ hiến Nam Việt. 

Ngày 1/4/52, quyền “Phát minh Sáng chế” được bảo vệ, và được cấp bằng. Ngày 4/4/52, các Sắc dân Sơn cước thuộc Hoàng Triều Cương Thổ được quy chế đặc biệt: Tù trưởng, Hội đồng Hoàng Triếu Cương Thổ, Tòa án Phong tục (Dụ 27/QT/TD). Ngày 7/4/52, thành lập Trường Quốc gia Hành chánh ở Đà Lạt để đào tạo các cấp Chỉ huy Hành chánh. Ngày 12/4/52, thành lập Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Việt Nam. Ngày 24/4/52, hai Tòa Đại diện Quốc trưởng tại hai vùng Hoàng Triều Cương Thổ Bắc và Nam sáp nhập làm một mang tên mới là thành Tòa Khâm Mạng (SL 28/QT/TD). 

Ngày 8/5/52, Khánh thành Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang. Ngày 12/5/52, thành lập Đoàn nữ Trợ tá Quân đội Việt Nam gồm nữ Trợ tá Quân Y, và nữ Trợ tá Chuyên môn khác. Ngày 23/5/52, Quốc hội Mỹ chấp thuận viện trợ kinh tế cho Việt Nam 23.500.000 Mỹ kim. Một Phái đoàn Kinh tế và Kỷ thuật Mỹ được đặt tại sài Gòn. Ngày 26/5/52, Pháp chuyển giao “đường Hỏa xa và Sở Hỏa xa” cho Việt Nam và Cao Mên. Ngày 27/5/52, tại Lai Châu, Lễ sáp nhập miền Thái thuộc Đèo Văn Long vào Hoàng Triều Cương Thổ miền Bắc. 

Ngày 6/6/52, thành lập Hội đồng Phòng thủ Quốc gia, gồm: Thủ tướng, các Tổng trưởng Quốc phòng, Nội vụ, Tài chánh, Khâm mạng tại Hoàng Triều Cương Thổ (SL 50/CP). Ngày 14/6/52, Phủ Thủ hiến Bắc Việt vẫn “chọn Quận trưởng trong số những người tình nguyện” qua “Hội đồng xét năng lực” sẽ được thành lập.

Sydney ngày 25 tháng 1 năm 2024

 

Bài 26: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN TÂM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1952-1953.

1952: Ngày 2/6/52, Quốc trưởng Bảo Đại triệu Tổng trưởng Nguyễn Văn Tâm lên Đà Lạt ủy lập Chính phủ. Ngày 3/6/52, Quốc trưởng Bảo Đại giải tán Chính phủ Trần Văn Hữu. Ngày 25/6/52, Nguyễn Văn Tâm trình danh sách Nội các lên Quốc trưởng, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận trong một buổi lể tựu chức trang trọng (SL 49/QT). Ngày 10/7/52, thành lập Hội đồng Quốc gia Lâm thời gồm 21 Hội viên do Quốc trưởng chỉ định với nhiệm vụ “Tư Vấn mọi vấn đề” (Dụ số 14) cho tới khi có Quốc Hội. Cùng ngày 10/7/52, ban hành Luật Lao động.

Ngày 28/7/51, thành lập Ủy Ban Nghiên cứu “Cải cách Điền địa”. Ngày 2/8/52, Chính phủ Nguyễn Văn Tâm chấp thuận “Dự án Ngân sách”, theo đó: PHẦN CHI: 8.600.000.000$ gồm: 4.700.000.000$ quân phí; 550.000.000$ an ninh; 400.000.000$ bình định; 300.000.000$ giáo dục; 475.000.000$ công chính; 270.000.000$ Y tế và Xã hội. PHẦN THU: 3.425.000.000$ từ ngoài gồm: 3.000.000.000$ do Pháp đóng góp về quân phí, và 425.000.000$ Viện trợ Kinh tế của Mỹ. Phần THU còn lại do các thứ thuế trong nước. 

Ngày 28/8/52, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ký bổ nhiệm 21 Hội viên Hội đồng Quốc gia Lâm thời; 8 Bắc, 8 Nam, 5  Trung. Ngày 1/9/52, Hội đồng Quốc gia Lâm thời nhóm họp phiên đầu tiên tại tòa Đô Sảnh Sài Gòn. Ngày 4/9/52, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Tổng thống Pháp Auroil tại nhà nghỉ Muret bàn thảo các vấn đề liên quan như Cao ủy Việt Nam nên được mang danh hiệu Đại sứ, Việt Nam nên được vào Liên Hiệp Quốc, Quân đội Việt Nam cần được phát triển nhanh hơn nữa. Ngày 19/9/52, các Hội viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chấp thuận cho Việt, Mên, Lào gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng Nga Xô phủ quyết. 

Ngày 1/10/52, Dân số Hà Nội năm 1952: người Việt 267.715; và 17.745 Pháp kiều. Ngày 8/10/52, thành lập Nha Chiến tranh Tâm lý tại Phủ Thủ tướng. Ngày 10/10/52, tại Pháp Quốc trưởng Bảo Đại hội đàm với Tổng thống Pháp Auroil, lần nầy có các Bộ trưởng Cao ủy Letourneau, Chévigné. Ngày 14/11/52, Cựu Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí được tái bổ chức vụ điều khiển Bắc Việt. Ngày 15/11/52, ba tỉnh Bến Tre, Gò Công, Tân An do nhà binh Pháp quản trị, được giao trả cho Chính phủ Việt Nam. Ngày 16/11/52, ban hành “Quy chế nghề nghiệp”. 

Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ đóng quân của Pháp tại Nà-Sản. Ngày 1/12/52, Bộ Quốc phòng Việt Nam gọi nhập ngũ các thanh niên từ 20 đến 28 tuổi có bằng Cao đẳng Tiểu học để theo học các lớp Sĩ quan. Ngày 12/12/52, tại Sài Gòn, Hội đồng các Thủ hiến họp bàn về cách thức bầu cử các Hội đồng thành phố và Thị xã. Ngày 27/12/52, thành lập các Hội đồng Thành phố và Thủ đô: Tại Sài Gòn: Hội đồng hàng Quận ở 7 Quận Đô thành tại Sài gòn-Chợ lớn; Hội đồng Quản trị Đô thành: 22 Hội viên Việt, Pháp, Tàu.

Tại Hà Nội: Hội đồng Thành phố gồm 18 Hội viên Việt, 6  Pháp; Tại Hải Phòng: Hội đồng Thành phố có 15 Hội viên Việt, 9 Pháp. Tại Huế: Hội đồng Thành phố có 12 Hội viên Việt Nam; Tại Đà Nẳng: Hội đồng Thành phố có 18 Hội viên Việt, 5 Pháp. Cách thức bầu cử do Thủ tướng ấn định. Hội viên Pháp do Thủ tướng chỉ định (SL105,106,107,108/NV). Ngày 31/12/52, Tại Đà Lạt: cũng có Hội đồng Thành phố Đà Lạt gồm 9 Hội viên Việt Nam, 1 Hội viên Cao nguyên, và 6 Hội viên Pháp (SL 35/QT/TD)... Ngày 6/1/53. Ngân khố Trung Việt ở Huế được tái lập từ 1/1/53.

1953: Ngày 8/1/53, Sau khi Phó thủ tướng Phan Văn Giáo, và Tổng trưởng Nghiêm Văn Tri từ chức, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cải tổ Nội các, và danh sách Nội các mới đã được Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận. Ngày 26/1/53, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh sang Pháp vận động phát triển Quân lực Việt Nam tuyên bố: Năm 1950 chỉ có 5 Tiểu đoàn, nay đã tổ chức xong 6 Sư đoàn, mỗi Sư đoàn gồm 9 Tiểu đoàn, 1 đội Pháo binh, và những đội chuyên môn Tình báo, Công binh, Truyền tin.v.v. Tổng số quân 167.000. Hiện có 3.500 Sĩ quan, mỗi năm đào tạo được 1.500, Còn tới 600 Sĩ quan Pháp trong quân đội Việt Nam. 

Ngày 28/1/53, thành lập Địa Phương Quân tại Bắc Việt để thay thế Tự Vệ Hương thôn (NĐ 314/PTH). Ngày 20/2/53, tại Bắc Việt hiện có 223 đồn Bảo Chính Đoàn, và 371 đồn Hương Dũng. Trong số 12 Tỉnh với 4.630 làng thì: có 1.442 làng có an ninh; 1.303 tạm yên; và 1.885 mất liên lạc. Ngày 24/2/53, tại Đà Lạt, Quốc trưởng Bảo Đại chủ tọa Hội nghị quân sự, có Bộ trưởng kiêm Cao Ủy Letourneau, tướng Salan, Gautier, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, Tổng trưởng Quốc phòng Lê Quang Huy, và tướng Nguyễn Văn Hinh. 

Hội nghị quyết định: thành lập 54 Tiểu đoàn Khinh Binh, trực thuộc Tổng Tham Mưu trưởng Việt Nam về mặt tổ chức; quản trị thì độc lập; và Tổng Tư lệnh tối cao là Quốc trưởng, nhưng vẫn chịu sự chỉ huy hợp nhất của Pháp. Ngày 27/2/53, Ngân sách Hà Nội năm 1952: 160.390.200$; Ngân sách Hải Phòng: 60.148.000$. Ngày 19/3/53, từ nay các Xã sẽ có một Hội đồng Hương Chính do dân bầu gồm: 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 Tổng thơ ký, và một số Ủy viên, tối đa là 9 người. (SL34/NV). Ngày 29/3/53, Địa Phương Quân Bắc Việt được Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm thừa nhận, và cấp kinh phí.

Ngày 1/4/53, Chính phủ ban hành Nghị định (NĐ200/Cab/SG) thành lập Ủy ban Quốc gia Khảo cứu Khoa học và Kỷ thuật. Ngày 2/4/53, ban hành chế độ thuê nhà và cho thuê: người thuê có quyền lưu cư, quyền đòi lại nhà bị hạn chế (Dụ số 4). Ngày 13/4/53, ban hành các Bộ luật về thuế: Thuế Điền thổ; Thuế Môn bài; Thuế Gián thu; Thuế Lợi tức (các Dụ số 7,8,9,và 10). Ngày 4/5/53, thành lập Hải cảng Đà nẳng, và Cơ cấu Tổ chức cho Hải cảng nầy (NĐ 281,và 283/SG). Ngày 5/5/53, thành lập Nha Thủy Vận tại Bộ Công Chánh (NĐ 53, và 55/BCC). 

Sydney ngày 26 tháng 1 năm 2024

 

Bài 27: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN TÂM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1953-1954.

Ngày 11/5/53, việc Pháp phá giá đồng bạc Đông Dương ngày 10/5/53, hôm nay giá vàng 2.700$ một lạng buổi sáng tăng vọt lên 3.800$ vào buổi chiều. Ngày 12/5/53, Chính phủ Việt Nam ban hành cấp tốc một số biện pháp ứng phó với sự phá giá đồng bạc: “Đình chỉ mọi xuất cảng; Kiểm tra số thóc gạo, thực phẩm, cùng hóa phẩm tối cần; Hạn chế các vụ nhập cảng không tối yếu; Đặt thuế quân bình giữa hai giá củ và mới đối với các mặt hàng nhập cảng; Giữ nguyên mức giá hàng và lương bổng, xét lại tháng lương sau; Xét lại giá biểu quan thuế, bưu điện”. 

Ngày 4/6/53, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ 19,20,21, và 22 quy định “Chế độ Cải cách Điền địa”: “Địa tô tối đa 15% hoa màu; Diện tích tối đa của Điền chủ từ 36 đến 100 mẩu tây tùy từng Phần và số con; Thu hồi những phần Đồn điền không khai khẩn để chia cho Tá điền; Người cấy ruộng hoang từ 3 năm trở lên, được quyền tiếp tục”. Ngày 6/6/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm yêu cầu Liên Hiệp Pháp: “bãi bỏ các tòa án hổn hợp; bãi bỏ các Hiệp định Liên quốc ràng buộc Pháp về kinh tế, và quan thuế; trao lại cho Việt Nam các Tiểu khu Quân sự; trả về Quốc trưởng quyền hành Tổng Tư lệnh”. 

Ngày 25/6/53, các Tiểu khu quân sự Vĩnh Long và Trà Vinh được chuyễn giao cho quân đội Việt Nam. Có một số Vệ binh bỏ ra bưng. Cùng ngày 25/6/53 nầy, thành lập một trường Cao Đẳng Võ Bị để đào tạo chỉ huy Cao cấp cho Quân đội Việt Nam (SL số 59/QP). Ngày 29/6/53, tất cả Công dân từ 20 đến 45 tuổi phải thi hành Quân dịch: “Một Quy chế ấn định cho Quân đội Hiện dịch và Trừ bị; Đặt lệ kiểm tra Trưng binh, Nhập ngũ, Miễn dịch, Hoãn dịnh, Trừ dịch, Đầu quân, Tái đăng, Động viên (Dụ số 29, với 109 điều). Thời hạn Quân dịch là 2 năm (Dụ số 30).

Ngày 1/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp để yêu cầu “kiện toàn độc lập theo bản tuyên ngôn 3/7/1953. Khi tới Nice, Quốc trưởng tuyên bố cần “Sửa đổi Tổ chức Liên Hiệp Pháp cho thích hợp với quyền lợi của Việt Nam và Pháp”. Ngày 12/8/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm gởi cho Tổng Ủy Gautier 4 bảng liệt kê những “thẩm quyền” Pháp cần giao, các Hiệp định cần sửa lại như: “Trưng dụng nhà cửa; Cơ quan phụ trách xăng dầu; Kiểm soát đường hỏa xa Vân Nam; Phòng thí nghiệm cảnh sát tư pháp; Điện lực; Ủy ban điều hòa vận tải; Và, các Hiệp định áp dụng Thỏa ước 8/3/1949.

Ngày 28/8/53, Quốc trưởng Bảo Đại, sau khi gặp Bộ trưởng Marc Jacquet, hội kiến với Tổng thống Auroil. Nhân dịp nầy, Ngoại trưởng Georges Bidault tuyên bố “Pháp sẽ thừa dịp đình chiến ở Cao Ly mà tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương”. Nhưng, không mở cuộc điều đình nào mà không hỏi ý kiến và lấy thỏa hiệp với các Chính phủ Quốc gia Liên kết. Ngày 1/9/53, Tiểu khu Quân sự Bùi Chu được chuyễn giao cho Quân đội Việt Nam. Nhiều Tiểu đoàn Khinh quân Việt Nam hoạt động tại vùng nầy.

Ngày 4/9/53, Quốc trưởng Bảo Đại triệu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm sang Pháp để hỏi về việc thành lập Phái đoàn thương thuyết với Pháp. Tại Sài Gòn, các đảng phái công kích chính phủ quá thân Pháp, và đòi hỏi triệu tập một quốc dân Đại hội…. Ngày 9/9/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm ở Pháp về yêu cầu các đảng phái và đoàn thể đưa 20 người tham gia Phái đoàn thương thuyết. Ngày 10/9/53, Tổng Ủy viên De Jean tuyên bố “có những dư luận quá khích muốn Việt Nam từ bỏ Liên Hiệp Pháp” rằng Pháp chiến đấu thì ít ra cũng phải có quyền lợi, phải có hiệp ước để bảo vệ kinh tế và văn hóa Pháp tại Đông Dương. 

Ngày 10/9/53, Quốc trưởng Bảo Đại phái Hoàng thân Bửu Lộc về với Đạo Sắc lệnh số 73/QT triệu tập Quốc dân Đại hội. Đại hội gồm 200 đại biểu chọn trong các đảng phái, đoàn thể, tôn giáo, kinh tế, xã hội… Đại hội sẽ phát biểu ý kiến 2 vấn đề: (a) Chủ quyền quốc gia phải được tới mức nào? (b) Thể thức hợp tác Việt Pháp? Ngày 22/9/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm cử một Ủy ban tổ chức Đại hội gồm đại diên 5 đoàn thể lớn “Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Công Giáo, Đại Việt, và một số nhân vật khác. 

Ngày 16/10/53, Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Sài Gòn và biểu quyết: “chống Liên Hiệp Pháp; đòi Việt Nam ra khỏi tổ chức này; chỉ ký với Pháp một Hiệp ước Liên minh bình đẳng mà thôi”. Cùng gày 16/10/53 nầy, Dư luận Pháp rất sôi nổi về thái độ của các Đại biểu dự Đại hội, Hoàng thân Bửu Lộc phải can thiệp cấp tốc với Đại hội, Đại hội chịu sửa lại bản Tuyên ngôn như sau: “Việt Nam độc lập không tham gia Liên Hiệp Pháp dưới hình thức hiện thời”. Ngày 19/10/53, Quốc dân Đại hội yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại biến cải Đại hội thành Quốc hội Lập hiến. 

Ngày 20/10/53, Chính phủ Pháp gởi Công hàm chất vấn Quốc trưởng Bảo Đại về “lập trường của Quốc dân Đại hội”. Ngày 28/10/53, tại Pháp khi lên đường về nước, Quốc trưởng Bảo Đại bị chất vấn gắt gao về “lập trường của Quốc dân Đại hội”, Quốc trưởng hẹn trả lời sau. Ngày 17/12/53, Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm từ chức. Cùng ngày 17/12 Quốc trưởng Bảo Đại ủy Hoàng thân Bửu Lộc lập Chính phủ mới. Ngày 24/12/53, Hoàng thân Bửu Lộc từ Ba Lê về nước để lập Chính phủ mới. 

Sydney ngày 27 tháng 1 năm 2024

 

Bài 28: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN PHÚC BỬU LỘC: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM TỪ THÁNG 1-6/1954.

Ngày 11/1/54, Hoàng Thân Bửu Lộc trình danh sách thành viên Chính phủ, và được Quốc trưởng Bảo Đại chấp nhận (SL4/CP). Ngày 14/1/54, Tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) chỉ huy lực lương Hòa Hảo Dân Xã, được gia nhập quân đội Quốc gia với cấp bậc Trung tá thực thụ trừ bị, và Đại tá giả định. Ngày 23/1/54, thủ tướng Bửu Lộc ra thông tư cho các cơ quan thảo công văn bằng tiếng Việt trừ khi giao thiệp với Pháp, hoặc có vấn đề “chưa dùng tiếng Việt được” vì có tính chuyên môn thuần tuý. Ngày 26/1/54, thành lập Nha Tổng Giám đốc Công vụ (NĐ số 58/VN).

Ngày 30/1/54, thành lập Ủy ban Diệt Hối lộ tại Bộ Tư pháp gồm đại diện các Bộ và 2 nhân sĩ (NĐ 96/TP). Ngày 22/2/54, một phái đoàn Nghị sĩ mới được cử vào Hội nghị Liên hiệp Pháp thay cho Phái đoàn năm 1950 gồm: Bà Trần Văn Chương, Phạm Văn Bính, Cao Văn Chiêu, Jacques Lê Văn Định, Bửu Kính Nguyễn Huy Lai, Phùng Bá Nghĩa, Nguyễn Khắc Sự, Đỗ Hữu Thành, Nguyễn Hữu Thuần, Nguyễn Văn Ty, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Trung Vinh, Bùi Thế Phúc, Đoàn Hửu Giám, Huỳnh Văn Chín, Nguyễn Kim Loan, Nghiêm Văn Trí.  

Cùng ngày 22/2/54, Quốc trưởng chỉ định một Phái đoàn Việt Nam đàm phán với Pháp các vấn đề “độc lập và chủ quyền của Việt Nam”. Chủ tịch Bửu Lộc, Phó Chủ tịch Nguyễn Trung Vinh, Ủy viên Nguyễn Quốc Định, Phan Huy Quát, Nguyễn Đắc Khê, Dương Tấn Tài, Nguyễn Văn Đạm, Nguyễn Văn Tỵ, và Vũ Quốc Thúc. Ngày 8/3/54, Phái đoàn Việt Nam bắt đầu bàn thảo với Phái đoàn Pháp về “độc lập và chủ quyền của Việt Nam”. Ngày 10/3/54, Đại tá Nguyễn Văn Vỹ được cử làm Phụ tá Quân sự cho Thủ hiến Phan Văn Giáo trong việc bình định “Nam, Ngãi, Bình, Phú”. Trước đó Sắc lệnh 3a/QT ngày 8/1/54, Quốc trưởng đã cho phép Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo được toàn quyền dân chính và quân sự để bình định Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.

Ngày 14/3/54, Đại Hội Quốc Dân Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt v.v nhóm họp, yêu cầu thành lập một Chính phủ tiêu biểu cho dân chúng, triệu tập Quốc hội để đối phó với tình thế. Ngày 18/3/54, có tin hai Phái đoàn Việt và Pháp đã thỏa hiệp được các vấn đề đại cương. Ngày 21/3/54, cuộc đàm phán Việt-Pháp gặp khó khăn: Việt Nam đòi ký riêng 2 hiệp ước “một công nhận Việt Nam hoàn toàn độc lập; một ấn định bang giao Việt Pháp, Pháp không nhận. Ngày 26/3/54, Quốc trưởng Bảo Đại ra Hà Nội xem xét tình hình, duyệt binh ở sân Cột cờ, chứng kiến Quân đội Quốc gia tuyên thệ. 

Ngày 29/3/54, Quốc trưởng Bảo Đại lập một Nội các Chiến tranh thu hẹp, do Quốc trưởng chủ toạ, và hứa cử một Quốc Dân Đại Hội. Nội các Chiến tranh ở bên trên Chính phủ. Ngày 10/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại sang Pháp tuyên bố “không thể nào để một phần đất nước thành chư hầu Trung Cộng”. Ngày 10/4/54, Các Giáo phái tuyên bố ủng hộ Quốc trưởng. Ngày 10/4/54, Các lực lượng tôn giáo được gia nhập quân đội Quốc gia. Cao Đài 8.000, Trung tá Nguyễn Văn Huê 1.500, Văn Thành Cao (Liên Minh Cao Đài) 3.500, Thiếu tá Nguyễn Văn Đây 1.000 quân. 

Ngày 12/4/54, Chính phủ Việt Nam gọi 5 lớp thanh niên nhập ngũ. Ngày 16/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại gặp Tổng thống René Coty, và ngày 21/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại gặp riêng Thủ tướng Laniel để thúc đẩy cuộc đàm phán Việt Pháp. Ngày 23/4/54, Quốc trưởng Bảo Đại viết thư cho Tổng thống René Coty yêu cầu triệu tập ngay Ủy ban Thường trực Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Ngày 25/4/54, tại Ba Lê, Quốc trưởng Bảo Đại tuyên bố, rằng: 

“Độc lập và chủ quyền Việt Nam, quyền bình đẳng của Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp không được bảo đảm; rằng Việt Nam không thể chấp nhận giải pháp điều đình do Pháp thỏa hiệp với kẻ phản loạn, hoặc quốc gia nào chống đối dân tộc Việt Nam, mà lại gác bỏ các Quốc gia Liên kết hoặc hy sinh các Quốc gia nầy”(Le Việt Nam ne saurait admettre l’esventualité des négociations par lequelles la France, contrairement d’ailleurs au principe de l’Union Francaise don elle se réclam, traiterait avec des rebelles à la Nation Viêtnamienne ou vec de puissances rebelles à celle-ci). 

Ngày 28/4/54, Thủ tướng Laniel và Nguyễn Trung Vinh ký bản tuyên ngôn chung về sự Thỏa hiệp Việt Pháp, theo đó “Pháp tôn trọng lời cam kết ngày 3/7/1953 là kiện toàn nền độc lập của Việt Nam, Việt Nam tiếp tục và củng cố thân thiện với dân tộc Pháp. Sẽ ký 2 Thỏa ước một để thừa nhận Độc lập một để đặt bang giao Việt Pháp trên lập trường bình đẳng trong Liên Hiệp Pháp. Cùng ngày 28/4/54, Hội đồng Thành phố Hà Nội, yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại từ bỏ Liên hiệp Pháp và đình chỉ cuộc đàm phán ở Ba-Lê. Ngày 7/5/54, Đại đồn Pháp tại Điện Biên Phủ thất thủ.

Ngày 8/5/54, Dư luận Pháp và Quốc tế rất sôi nổi. Dân chúng Việt Nam vô cùng hoang mang trước sự kiện thất thủ Điện Biên Phủ. Giá vàng từ 4.000 tăng thành 4.800$ một lạng. Ngày 16/5/54, Quân đội Việt Nam được tổ chức thành: Lục quân, Thủy quân và Không quân. Lục quân gồm Địa Phương quân, Bảo Chính quân, và Vệ Quốc quân (Dụ số 9). Ngày 19/5/54, Chính phủ Việt Nam, Tổng Ủy viên Pháp và Hộ Pháp Phạm Công Tắc ký hiệp định để lực lượng Cao Đài gia nhập Quân đội Việt Nam. Cùng ngày 26/5 Quốc dân Đại hội nhóm họp ở Sài Gòn phản đối kịch liệt “Dự định chia đôi đất nước”.

Ngày 4/6/54, Ký kết 2 Hiệp ước kiện toàn độc lâp giữa hai Thủ tướng Bửu Lộc của Việt Nam và Laniel của Pháp: “Hiệp ước Độc lập (Traité d’nidépendance)” Pháp thừa nhận Việt Nam là một Quốc gia hoàn toàn độc lập, có toàn vẹn chủ quyền, đầy đủ thẩm quyền theo Quốc tế Công Pháp, Pháp sẽ chuyển giao hết các quyền hành và công sở còn giữ. “Hiệp ước Liên kết Việt-Pháp (Traité d’association franco-viêtnamienne)”. Việt Nam thuận ở lại Liên Hiệp Pháp, Pháp và Việt Nam đều bình đẳng, hai bên hợp tác tại Thương Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Mọi vụ xung đột sẽ được xử tại Hội Đồng Trọng Tài do hai bên cử ra. 

Ngày 16/6/54, Thủ tướng và Chính phủ Bửu Lộc đệ đơn từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại ủy Ngô Đình Diệm lập Chính phủ với toàn quyền Dân sự và Quân sự (SL số 38/QT). Cùng ngày 23/6/54, Chính quyền Địa phương bắt đầu rút khỏi Bùi Chu-Phát Diệm. Ngày 25/6/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước lập chính phủ. Ngày 29/6/54, Chính quyền Địa phương triệt thoái khỏi Nam Định và Thái Bình. Ngày 30/6/54, Ngô Đình Diệm ra Hà Nội xem xét tình hình. 

Sydney ngày 28 tháng 1 năm 2024

 

Bài 29: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM TỪ THÁNG 7-12/1954.

1954: Ngày 6/7/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập xong Chính phủ (SL43/CP). Cùng ngày 6/7/54, Chính phủ ban hành Dụ 16, Sl 47/NV, lập một Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt thay thế Phủ Thủ hiến gồm: 1 Đại biểu Chính phủ, 1 Ủy viên Dân sự, 1 Ủy viên Quân sự. Cũng ngày 6/7 nầy tướng Paul Ely tới Sài Gòn nhậm chức Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh Pháp ở Đông Dương. Ngày 9/7/54, Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí từ chức, Hoàng Cơ Bình được cử làm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt; Trần Trung Dung Ủy viên Dân sự; Thiếu tướng Nguyễn Văn Vận Ủy viên Quân sự. 

Cùng ngày 9/7/54, Nguyễn Đôn Duyến được cử làm Đại biểu tại Trung Việt thay thế  Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo. Ngày 1/8/54, Thủ tướng, Tổng trưởng, Đại biểu Chính phủ được toàn quyền quyết định các công chức không phải đưa ra Hội đồng Kỷ luật (Dụ 20). Ngày 4/8/54, Dược sĩ Trần Văn Lắm được bổ Đại biểu Chính phủ tại Nam Việt; Các Phần trong nước không còn tính cách pháp nhân; Tại mỗi Phần đặt một Ủy ban gồm: 1 Chủ tịch, 1 Ủy viên Chính trị Hành chánh, 1 Ủy viên Quân sự chỉ huy Quân khu (Dụ 21). 

Cùng ngày 4/8/54, một cầu hàng không chở dân di cư Bắc Việt vô Nam. Ngày 7/8/54, một Ủy ban Hỗn hợp đã xét xong cách thức sáp nhập lực lượng Cao Đài vào quân đội quốc gia. Ngày 9/8/54, Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Thoại kiêm nhiệm chức Tổng uỷ trưởng phụ trách đồng bào tị nạn, đến ngày 21/8, thì bàn giao cho Giáo sư Nguyễn Ngọc Đối. Ngày 10/8/54, cầu hàng không mỗi ngày có năm bảy chục phi cơ quân sự Pháp chở dân di cư vô Nam tới Tân Sơn Nhất Có hàng ngàn người về Hà Nội, không được đi máy bay, phải xuống Hải Phòng đi tàu biển của Pháp và của Mỹ vô Nam. 

Ngày 13/8/54, tướng Nguyễn Giác Ngộ, chỉ huy trưởng quân đội Nguyễn Trung Trực Hòa Hảo được thăng cấp “Thiếu tướng quân đội Bổ túc Việt Nam”. Ngày 29/8/54, xuất hiện “Phong trào Bảo vệ Hòa bình” tại Sài Gòn. Ngày 30/8/54; Công chức phải kê khai tài sản. Một Uỷ ban Danh dự gồm 9 Uỷ viên thu nhận và kiểm soát các tờ khai với quyền điều tra rộng rãi (Dụ số 25). Ngày 31/8/54, Uỷ ban Quốc gia Cải cách Điền địa mở rộng cho 6 đại diện Đại diền chủ, và 6 đại diện Tá điền. Ngày 2/9/54, thành lập Tòa Phá Án thay thế Ban Tư Pháp Tối Cao Pháp Viện đặt ra từ năm 1949 và sửa đổi 1954 (Dụ 27). 

Ngày 10/9/54, tướng Nguyễn Văn Hinh bị cử sang Pháp công cán 6 tháng, nhưng ông ta không chịu đi. Ngày 16/9/54, ký kết Thỏa hiệp Việt-Pháp, Pháp giao trả quyền Tư pháp và Công An, các Tòa án và Nha Cảnh sát Công An được chuyển giao cho Việt Nam, bãi bỏ các Tòa án Hỗn hợp. Cùng ngày 16/9, hai lực lượng Bảo Chính quân, và Địa Phương quân thành lập ngày 16/5/1954, không được gia nhập quân đội Quốc gia. Xin lưu ý, Dụ số 9 ngày 16/5/54, Quân đội Việt Nam được tổ chức thành: Lục quân, Thủy quân và Không quân. Lục quân gồm Địa Phương quân, Bảo Chính quân, và Vệ Quốc quân.

Ngày 17/9/54, nguyên thủ tướng Nguyễn văn Xuân được bổ Phó Thủ tướng kiêm Quốc Phòng. Ngày 18/9, tướng Nguyễn Văn Hinh điện sang Pháp yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại can thiệp giải quyết tranh chấp với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 20/8/54, Đổng lý Nguyễn Đệ gởi Diện văn cho tướng Nguyễn Văn Hinh, những điều trình bày… sẽ được cứu xét. Cùng ngày 20/9/54, Tướng Lê văn Viễn từ Pháp về được vài ngàn người đón tiếp tại Phi trường Tân Sơn Nhất, có cả nhiều nhân vật chính giới. Ngày 21/9/54, một số người biểu tình đòi trở ra Bắc, xô xát với Cảnh sát 2 chết.

Ngày 23/9/54, các quân nhân từ Hạ sĩ quan trở lên phải kê khai tài sản; Các Ủy viên trong Ủy ban Danh Dự, được quyền “bất khả xâm phạm” và tự do ngôn luận (Dụ 31); Ngày 24/9/54, Vệ Quốc Binh được thành lập thuộc Bộ Nội Vụ để sát nhập Bảo Chính Đoàn Bắc Việt, Địa Phương Quân Bắc Việt và các Tỉnh (Dụ 32). Ngày 24/9/54, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Xuân từ chức. Thủ tướng Ngô Đình Diệm quyết định cải tổ Chính phủ, trong đó có Trung tướng Hoà Hảo Trần Văn Soái, và Thiếu tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương được bổ Quốc vụ khanh, Uỷ viên Quốc phòng. 

Ngày 27/9/54, Tổng trưởng thông tin họp báo, cho biết, nếu tướng Hinh sẵn sàng quên đi dĩ vãng và hợp tác, thì chính phủ sẽ dành cho chức vụ lớn. Tướng Hinh là dân Pháp, vậy là gạch nối rất có ích cho Pháp và Việt Nam. Ngày 3/10/54, Quốc trưởng Bảo Đại điện về yêu cầu Thủ tướng mở rộng Chính phủ để mời các tướng Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Hinh, và Lê Văn Viễn tham gia Chính phủ. Ngày 7/10/54, Pháp chuyễn giao Sở cảnh Sát, Tổng Giám đốc Lại Văn Sang tiếp nhận. Ngày 10/10/54, Quốc trưởng Bảo Đại lại yêu cầu Thủ tướng mở rộng Chính phủ cho các phần tử quân nhân và Giáo phái tham gia.

Cùng ngày 10/10/54, Thành lập một Quân đoàn Cao Đài trong Quân đội Quốc gia các đơn vị Cao Đài được mang cờ hiệu riêng, với biểu hiệu Quốc gia, nhưng thêm dấu hiệu “Vũ trụ Thần giáo” là “Bánh xe Tiến hóa” có một Sở riêng trông nom về Quân đoàn nầy, và một Ban Liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu (NĐ 93/QP). Ngày 14/10/54, sau khi viếng thăm Nhật Bản và Đài Loan, Hộ pháp Phạm Công Tắc đã trở về Sài Gòn, và hôm nay ăn cơm với Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 27/10/54, Giáo sư Trần Văn Hương được bổ Đô trưởng Sài Gòn Chợ Lớn thay Đốc phủ Nguyễn Phước Lộc. 

Ngày 29/10/54, Đài phát thanh phát lời tướng Nguyễn Văn Hinh kêu gọi bình tĩnh, để cấp trên dàn xếp ổn thỏa. Ngày 3/11/54, thành lập một Tổ chức Chính trị, có tên “Tập đoàn Công Dân”. Ngày 9/11/54, thành lập Tham Chính Viện thay thế Ban Hành chánh Tối cao Pháp viện củ (Dụ số 38). Ngày 20/11/54, tướng Hinh đi Tây. Ngày 29/11/54, Quốc trưởng gởi điện văn về cất chức Tổng Tham Mưu trưởng của tướng Nguyễn Văn Hinh, lý do không tuân lệnh Quốc trưởng, cứ tuyên bố mãi những điều đáng tiếc. 

Ngày 1/12/54, Thiếu tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế tướng Nguyễn Văn Hinh; Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ, được cử làm Tổng Thanh tra Quân đội thay thế tướng Pháp Alessandri. Ngày 4/12/54, Bác sĩ Thú y Phạm Văn Huyến được cử giữ chức Tổng Ủy Phụ trách đồng bào tị nạn, thay thế Giáo sư Ngô Ngọc Đối từ chức. Bùi Văn Lương được cử làm Phụ tá thay Nguyễn Lưu Viên. Ngày 10/12/54, Bộ trưởng Phạm Duy Khiêm, được bổ Cao Ủy Việt Nam tại Pháp. Ngày 17/12/54, Bộ trưởng Bùi Kiện Tín từ chức, Trần Trung Dung được cử thay thế.

Cùng ngày 17/12/54, Phụ tá Quốc phòng Hồ Thông Minh được bổ Tổng trưởng Quốc Phòng; Đinh Quang Chiêu, Tổng Ủy Nha Ngoại viện kiêm nhiệm Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng thay thế Phạm Duy Khiêm. Ngày 31/12/54, Pháp chuyển giao Viện Phát hành. 

Sydney ngày 29 tháng 1 năm 2024

 

Bài 30: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM TỪ NGÀY 1/1 - 28/4/1955.

Ngày 1/1/1955  Pháp chuyển giao Thương cảng Sài Gòn cho Việt Nam. Ngày 11/1/55, tướng Trịnh Minh Thế của Cao Đài Liên Minh tuyên bố sẽ đem 5.000 quân về hợp tác với Chính phủ. Cùng ngày 15/1/55, Đại tá Hòa Hảo Nguyễn Văn Huê thuộc cấp của tướng Trần văn Soái ly khai đem 3.000 quân về hợp tác với chính phủ. Ngày 31/1/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm thăm Thánh Thất Cao Đài ở Tây Ninh và gặp tướng Trịnh Minh Thế. Ngày 8/2/55, mở “chiến dịch Tự do” Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy tiếp thu vùng Cà Mâu khi Việt Minh rút khỏi vùng nầy. Ngày 11/2/55, tại các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Thuận nhiều hầm súng đạn của Việt Minh, bị khám phá. 

Ngày 15/2/55, thành lập Quốc hội Lâm thời, để nghiên cứu thành lập Quốc hội Lập hiến, và Tư vấn cho Chính phủ (Dụ 11). Cũng ngày 15/2/55 nầy, Thủ tướng Ngô Đình Diệm khai mạc Hội nghị Quân Chính toàn quốc gồm các Tỉnh trưởng, và Chỉ huy Quân sự. Ngày 4/3/55, Hộ pháp Phạm Công Tắc tuyên bố ngày 22/2/1955 đã thành lập Mặt trận Thống nhất (MTTN) gồm nhiều đoàn thể và ngày 3/3/1955 Mặt trận đã ra Tuyên ngôn nhận định Chính phủ Ngô Định Diệm chưa thực thi dân chủ, Mặt trận đòi hỏi Thủ tướng Ngô Đình Diệm phải thành lập một Chính phủ Liên hiệp Quốc Gia.

Ngày 6/3/55, tướng Trình Minh Thế tuyên bố không đống ý về bản Tuyên ngôn của Hộ pháp Tắc, và kêu gọi các đảng phái ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 10/3/55, Thiếu tá Hoà Hảo Nguyễn Thành Đây đem 1.500 quân về hợp tác với Chính phủ. Ngày 21/3/54, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố“Phải thống nhất quân đội, không thể có những lực lượng riêng biệt; Phải thống nhất hành chánh, không thể có địa phương tự trị; Phải thống nhất tài chánh, không thể để thâu những sắc thuế do địa phương tự động đặt ra”.

Ngày 24/3/55, thủ tướng Ngô Đình Diệm lại tuyên bố “Các Giáo phái vừa gởi tối hậu thư, hẹn trong 5 ngày phải cải tổ chính phủ theo đường lối của các nhóm. Như vậy cũng không giải quyết được gì vì “vấn đề chính trị chỉ có thể thu xếp nếu vấn đề thống nhất các lực lượng đã được dứt khoát. Chính phủ sẵn sàng thu nhận các lực lượng vào Quân đội, nhưng không thể dành cho những điều kiện rộng rãi hơn là đối với Quân đội Quốc gia”.Cùng ngày 24/3/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm bãi bỏ chức Khâm mạng Hoàng Triều Cương thổ. 

Ngày 25/3/55, Quốc trưởng Bảo Đại gởi Điện văn cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm và các Giáo Phái khuyên nên cố thực hiện đoàn kết để tình thế sáng sủa hơn. Ngày 26/3/55, thành lập một Sở Cảnh sát Đô thành không thuộc quyền Tổng Giám đốc Lại Văn Sang. Ngày 27/3/55, tướng Trịnh Minh Thế tuyên bố rút khỏi Mặt trận Thống nhất. Và hôm sau, 28/3/55, tướng Thế lại tuyên bố với báo chí “chỉ ở trong Mặt trận để làm Trung gian hòa giải, rằng Thủ tướng Diệm hứa sẵn sàng để những người thân tín rút ra khỏi Chính quyền, thì các Giáo phái cũng nên tôn trọng Quyền lợi Quốc gia”.

Ngày 29/3/55, Tổng trưởng Quốc Phòng Hồ Thông Minh từ chức. Quá nữa đêm, Công An Xung Phong thuộc quyền Bình Xuyên đánh phá trụ sở Cảnh Sát Đô Thành, Tổng Tham Mưu và bắn vào Dinh Độc lập. Ngày 30/3/55, các thành viên Chính phủ khác sau đây từ chức: Trần Văn Soái, Quốc Vụ Khanh, Ủy viên Quốc Phòng; Lương Trọng Tường, Tổng trưởng Kinh tế; Nguyễn Công Hầu, Tổng trưởng Canh nông; Huỳnh Văn Nhiệm, Bộ trưởng Nội vụ. Ngày 31/3/55, các Tổng Bộ trưởng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Mạnh Bảo, Phạm Xuân Thái, Nguyễn Văn Cát từ chức.

Tướng Lawton Collies, Đại sứ đặt phái viên của Tổng thống Mỹ tuyên bố, mặc dù tình hình còn rối ren, Hoa Kỳ vẫn ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Lúc 13 giờ cùng ngày 31/3/55, tại Phòng ăn dinh Độc lập, các tướng Nguyễn Thành Phương, Lê Văn Tất, và 42 tướng tá Cao Đài, tuyên bố đem lực lượng bản bộ về hợp tác với Chính phủ Ngô Đình Diệm; Tướng Nguyễn Thành Phương, nhân danh Đức Hộ pháp và Quân đội Cao Đài, đặt toàn thể bộ đội dưới quyền Thủ tướng để phục vụ tổ quốc. Các tướng Pháp, Ngoại giao đoàn và báo giới được mời chứng kiến lễ nầy. 

Ngày 7/4/55, Đô trưởng Trần Văn Hương từ chức, Đốc phủ Nguyễn Phú Hải được cử thay thế. Ngày 9/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm mời nhiều đảng phái đến họp bàn việc thành lập một Thượng Hội Đồng Chính trị. Ngày 11/4/55, Bộ Thông tin phát động “Phong trào Tố Cộng”. Ngày 12/4/55, Phái đoàn Việt Nam do đích thân Thủ tướng Ngô Đình Diệm làm trưởng đoàn, Nguyễn Văn Thoại Phó đoàn đi dự Hội nghị Bandoeng ở Nam Dương. Ngày 13/4/55, Phong trào Cách mạng Quốc gia đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp để “Thống nhất các lực lượng và chấm dứt nạn Thập nhị Sứ quân”.

Ngày 23/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm hiệu triệu quốc dân, kêu gọi Công an Xung phong về quy thuận, và các lực lượng Giáo phái gia nhập Quân đôi, nhắn nhủ người Pháp đừng nuối tiếc dĩ vãng mà gây rối ở đây, hứa tổ chức Quốc hội và lập Thượng Hội đồng Chính trị, và đặt câu hỏi cho dân chúng: có ưng thuận Tổng tuyển cử không? thống nhất Quân đội không? kiện toàn độc lập và chủ quyền không? cải cách xã hội không? Thư trả lời gởi về Phủ Thủ tướng, giao cho Thừa Phát Lại Lâm Văn Sáu chứng kiến. 

Ngày 24/4/55, mở “Chiến dịch giải phóng-tiếp thu” Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam sau khi Việt Minh rút khỏi vùng nầy và ngày 15/4/55. Cùng ngày 24/4/55, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 25/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm giải tán Công An Xung Phong, chấm dứt nhiệm vụ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an Bình Xuyên của Lại Văn Sang và cử Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ thay Đại tá Lại Văn Sang, Trung tá Trần Vĩnh Đắt thay Nguyễn Văn Tôn. Ngày 26/4/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm gởi thư mời tướng Trần văn Soái đến hội kiến, nhưng Soái không đến. 

Ngày 28/4/55, Văn phòng Quốc trưởng gởi Điện về cho biết: các Giáo phái và Bình Xuyên phản đối việc cất chức Lại Văn Sang, rằng Quốc trưởng đã ra lệnh cho các nhóm tôn trọng kỷ luật, tránh bạo động, yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm đừng có biện pháp gì trái với chính sách hòa hoãn của Quốc trưởng. Cũng ngày 28/4/55, một điện văn khác báo cho Thủ tướng biết, Quốc trưởng đã cử Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội Việt Nam, và yêu cầu Thủ tướng sang Pháp trình bày về tình hình. 

Sydney ngày 30 tháng 1 năm 2024

 

Bài 31: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM TỪ NGÀY 28/4 - 21/5/1955.

Lúc 13 g 15 cùng ngày 28/4/55 này, Công an Xung phong bắn phá vào trụ sở mới của Nha Cảnh sát Công an, Bộ Tổng Tham Mưu, đường Trần Hưng Đạo và bắn súng cối vào Dinh Độc Lập làm một số người chết và bị thương. Quân đội phản công mạnh, Công an Xung phong chiếm, chốt giữ khu trường Pétrus Ký, đốt cháy trụ sở Phủ Tổng Ủy Di Cư. Ngày 29/4/55, Xung đột tiếp tục ở khu trường Pétrus Ký, Trần Hưng Đạo, khu Bàn Cờ, Cầu Ông Lãnh, Chợ cũ.v.v. Dân chúng tản cư chạy đầy các ngã đường. Hơn 2.000 dân di cư từ Bắc vào cập bến Sài Gòn. 

Chính phủ Hoa Kỳ xác nhận ủng hộ Chính phủ Ngô Đình Diệm; Thủ tướng Ngô Đình Diệm trả lời Quốc trưởng Bảo Đại vì tình thế không thể rời Việt Nam; Các tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương, Hòa Hảo Nguyễn Giác Ngộ, Cao Đài Liên minh Trình Minh Thế ra thông cáo lên án thực dân và phản loạn gây chia rẽ, phủ nhận tướng Nguyễn Văn Vỹ, không coi là Tổng Tham Mưu Trưởng.

Cùng ngày nầy, một nhóm Chính trị gia thành lập “Hội đồng Nhân dân Cách mạng” (HĐNDCM) do Nguyễn Bảo Toàn (Dân Xã Đảng Hòa Hảo) làm Chủ tịch cùng với các ông Văn Ngọc, Hà Huy Diễm, Nguyễn Phổ, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Hữu Khai, Huỳnh Minh Ý, Đoàn Trung Côn, Nguyễn Văn Quyền, nhóm họp tại Toà Đô chánh, và ngày 30/4/55, ra tuyên cáo: “truất phế Bảo Đại; giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm; và Ủy Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Chính phủ khác; dẹp phiến loạn; thu hồi chủ quyền; triệu tập Quốc hội. 

Cũng ngày 30/4/55, tại Dinh Độc lập, tướng Nguyễn Văn Vỹ yêu cầu Ngô Đình Diệm ra lệnh cho tướng Lê văn Tỵ (đang có mặt tại đó) bàn giao chức Tổng Tham Mưu Trưởng cho ông ta. Ngô Đình Diệm trả lời “Hội đồng Chính phủ quyết định giữ nguyên tình trạng cũ”. Vài chính khách đứng quanh đó đòi bắt tướng Nguyễn Văn Vỹ. Các tướng Trần Văn Đôn, Trần Văn Minh vừa được thăng cấp vừa tới. Thủ tướng Diệm mời tất cả các tướng ăn cơm. Trong ngày có hơn 3.000 dân di cư từ Bắc tới Sài Gòn.

Ngày 1/5/55, 1 Đại đội Ngự Lâm quân từ Đà Lạt xuống, chiếm đóng Nha Bưu Điện, một Đại dội khác với 3 chiến xa chiếm Đài phát thanh Quân đội và Ngân hàng Quốc gia. Nhưng rút lui khi Bộ Tổng Tham Mưu đưa quân đến yêu cầu triệt thoái. Khoảng 12 giờ cùng ngày 1/5/1955, một Ủy ban Dân-Quân nhóm họp trong Dinh Độc lập, ra quyết nghị ủng hộ Quân đội; tướng Lê Văn Tỵ là Tổng Tham trưởng; tướng Nguyễn Văn Vỹ do Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm không có quyền Quân sự. Lúc 13 giờ 30, Tướng Nguyễn Văn Vỹ lên Đà Lạt. 

Các tướng lãnh họp tại Bộ Tổng Tham Mưu đánh điện sang Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu: “giữ nguyên tình trạng, tướng Vỹ Tổng Thanh Tra, tướng Tỵ Tổng Tham Mưu Trưởng”, rằng “chỉ biết có Chính phủ Ngô Đình Diệm, nếu Chính phủ nầy không được công nhận nữa, thì Quân đội sẽ tuân lệnh Chính phủ nào do Nhân dân cử ra”. Ngày 2/5/55, Quân đội Chính phủ gồm Trung đoàn Quang Trung, 3 Tiểu doàn Nhảy dù,  Trung đoàn 51 Bộ Binh, phản công Công an Xung phong Bình Xuyên  cả 3 mặt: Cầu Chữ Y; Cầu Nhị Thiên Đường, Xóm Củi; và Phú Lâm, súng nổ dữ dội. 

Tại Cầu Chử Y, quân đội Chính phủ chiếm Bản doanh Bình Xuyên, tàn quân Bình Xuyên chạy về Gò Công. Cháy lớn ở đường Nancy và đường Nguyễn Tấn Nhiệm, nhà cửa vừa bị đạn cháy, vừa bị đốt. Hôm nay 10.000 dân di cư vẫn tới bến Sài Gòn trên 2 tàu Mỹ Marine Sepent và Marine Adler. Ngày 3/5/55, trời mưa tầm tã, trước Tòa Đô Sảnh, Hội đồng Nhân dân Cách mạng biểu quyết: Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại kể từ 29/4/1955; Giải tán từ ngày đó Chính phủ Ngô Đình Diệm; Ủy Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Chính phủ mới”

Lúc 14 giờ 3/5/55, súng nổ dữ dội phía Tân Thuận, tướng Trình Minh Thế, người đem 5.000 quân Cao Đài về hợp tác với Chính phủ ngày 11/1/55, đi xe Jeep tới chỉ huy trận đánh chiếm cầu Nhà Bè, khi xe qua cầu Lang To, bị quân Bình Xuyên bắn chết lúc 19 giờ. Hôm sau, ngày 4/5/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đến viếng di hài tướng Thế quàn tại đường Eyriaud des Vergnes. Sau đó, được đưa ra quàn tại toà Đô chính cho dân chúng tới viếng. Cùng ngày 4/5/55, Hơn 1.000 đại biểu các Tỉnh, và Thị Xã cùng các Đại biểu đoàn thể, được mời nhóm họp trong Dinh Độc lập để “bàn xét tình thế”. 

Ngày 5/5/55, Số thiệt hại trong mấy ngày qua: Quân Chính phủ chết 15, bị thương 200; Quân Bình Xuyên chết 34, bị thương 300, hàng 18 Sĩ quan 190 Binh sĩ; Số nhà cháy hơn 10.000, trên 30.000 người mất chỗ ở. Ngày 6/5/55, Đại hội Đại biểu các Địa phương họp tại Dinh Độc lập biểu quyết 3 kiến nghị: (1) Chống Cộng, tỏ lòng thành kính các chiến sĩ và tín nhiệm Quân đội (2) Yêu cầu Quốc trưởng Bảo Đại hứa trả quyền cho Quốc hội khi nào Quốc hội được bầu: (3) Trong khi chờ đợi hãy để toàn quyền cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình thế và triệu tập Quốc hội trong 6 tháng. 

Sau những ngày rối ren, trong 3 ngày 29, 30, 31/3/55 có tới 9 Tổng, Bộ trưởng từ chức. Đến ngày 7/4/55 Đô trưởng Sài Gòn Trần Văn Hương cũng từ chức. Rồi ngày 3/5/55 tướng Trịnh Minh Thế bị tử trận tại cầu Láng To… Ngày 10/5/1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm quyết định Cải tổ Chính phủ. (SL145/CP). Ngày 11/5/55, lễ tuyên dương công trạng các cấp chỉ huy quân sự trong vụ đánh dẹp Bình Xuyên. Ngày 12/5/55, tướng Nguyễn Văn Vỹ, bị cất chức Tổng Thanh tra Quân đội, Ngày 13/5/55, Đại sứ Nguyễn Khoa Toàn bị chấm dứt nhiệm vụ tại Vọng Các. 

Ngày 15/5/55, có hàng vạn người biểu tình tại Huế đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 17/5/55, Bác sĩ Phạm Văn Huyến từ chức Tổng ủy Phụ trách đồng bào tị nạn. Ngày 21/5/55, bị truy tố trước Tòa án Quân sự các tướng: tướng Cao Đài Nguyễn Văn Thành; tướng Bình Xuyên Lê Văn Viễn; tướng Quốc gia Nguyễn Văn Vỹ. Các Đại tá: đại tá Quốc gia Nguyễn Tuyên; đại tá Bình Xuyên Lại Hữu Tài, đại tá Bình Xuyên Lại Hữu Sang về tội phá hoại an ninh và phản bội quốc gia. 

Sydney ngày 31 tháng 1 năm 2024

 

Bài 32: CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VIỆT NAM, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM TỪ NGÀY 23/5 - 23/10/1955.

Ngày 23/5/55, Kết quả vụ đánh dẹp Bình Xuyên: 7.826 nhà cháy, 88 thường dân chết, 592 người bị thương. Ngày 28/5/55, Đại sứ Hoa Kỳ Frederick Rheinardt trình ủy nhiệm thư lên Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ngày 31/5/55, Hội đồng Nhân dân Cách mạng của Nguyễn Bảo Toàn, bắt mở cửa Ngọ Môn Huế, vào Đại Nội tịch thu ấn tín, và nhiều đồ đạt trong Văn phòng Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 5/6/55, mở “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” bình định miền Tây Nam Phần do Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy chiếm Cái Vồn, Cần Thơ nơi đặt bản doanh của tướng Soái.

Ngày 10/6/55, Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, và Cố vấn Ngô Đình Nhu sang Pháp yêu cầu Chính phủ Pháp giải quyết những vấn đề còn đọng. Ngày 10/6/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 43, đặt tướng Trần Văn Soái (Năm Lữa), và tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 1/7/55, Đại sứ Mỹ Rheinardt trao cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm tấm ngân phiếu 11 triệu Mỹ kim của dân chúng Hoa Kỳ tặng dân Di cư tị nạn, tiếp theo phiếu 28.751.428 Mỹ kim do tướng Lawton Collins Đại sứ Đặc phái viên Tổng thống trao tặng hồi tháng 12/1954. 

Ngày 1/7/55, theo tài liệu của Phủ Tổng uỷ Di cư: Tổng số dân Di cư vào Nam: 777.525 người: bằng tàu biển 533.868; bằng máy bay 243.657; Số Trại định cư: 188 trại: 122 trại ở 12 tỉnh Nam Phần; 55 trại ở 8 tỉnh Trung Phần; 9 trại ở 6 tỉnh Cao Nguyên; Số nhà đã dựng: 47.051 nhà: 43/288 nhà chắc chắn; 3.763 nhà tạm trú; Ngân khoản được cấp: 1.058.000.000$ gồm: 480 triệu trợ cấp định cư; 300 triệu cấp cho người tự làm nhà. Mỗi người được cấp 700$; 12$ tiền ăn mỗi ngày; Số vật liệu đã phát: 124.813 dụng cụ canh nông; 861.585 kiện vải; 393.994 cân chỉ; 3.471 cân chỉ làm chài lưới. 

Ngày 5/7/55, số nạn nhân vụ biến cố Bình Xuyên, ước chừng 81.445 người, 26.670 người có nhà cháy đã được cấp gạo, tiền, và đưa tới 13 trại tạm trú, 54.755 người ở ngoài các trạm được cấp 8.254.800$. Đã dựng 660 căn nhà tạm trú. Viện trợ Mỹ tặng 360 căn nhà làm sẵn. Viện trợ Pháp tặng 350 căn. Ngày 11/7/55, Vài trăm dân di cư biểu tình ở Sài Gòn, đòi trục xuất các phần tử Cộng sản. Ngày 13/7/55, sinh viên học sinh biểu tình ở đường Champagne, đả đảo Ủy hội Quốc tế vì có ý bênh vực Việt Minh, đòi thả binh sĩ còn bị Việt Minh bắt giữ. Uỷ hội hứa sẽ xét lại vấn đề. 

Ngày 16/7/55, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố “Việt Nam không ký kết Hiệp định Genève, nên không bị ràng buộc, song vẫn trung thành với chính sách hòa bình, và sẵn sàng tổ chức Tổng tuyển cử nếu có thể bầu được tư do. Ngày 20/7/55, biểu tình khổng lồ chống Công, và chống chia đôi đất nước. Dân chúng ập vào phá nhiều phòng của Khách sạn Majestic và khách sạn đường Trần Hưng Đạo thiệt hại khá nhiều, bởi hai nơi nầy thường có Sĩ quan Việt Minh lui tới với Ủy hội Quốc tế. Ngày 9/8/55, thành lập Học viện Quốc gia Hành chánh, thay thế trường Hành chánh Đà Lạt. 

Ngày 16/8/55, Đại sứ Henry Hoppenot sang thay thế tương Paul Ély làm Cao uỷ Pháp tại Việt Nam trình Uỷ nhiệm thư. Tuy mang danh hiệu Cao uỷ Poppenot có địa vị như Đại sứ. Ngày 17/8/55, Ký kết Hiệp định Việt-Pháp về Ngân Khố, hai Ngân khố Việt và Pháp ở hai nước trả tiền Thu hộ nhau rồi Thanh toán sau. Ngày 20/8/55, một Phái đoàn gồm các Tổng trưởng Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Dương Đôn, Trần Trung Dung, và Cố vần Ngô Đình Nhu sang Pháp điều đình các vấn đề văn hóa và quân sự, hội kiến với Thủ tướng Pháp Edgar Faure. 

Ngày 10/9/55 nầy, các báo bắt đầu đã kích “Chế độ củ và Quốc trưởng Bảo Đại”. Ngày 15/9/55, khánh thành đường Điện thoại Sài Gon-Manilla, Thủ tướng Ngô Đình Diệm nói chuyện với Tổng thống Phi Luật Tân Magsaysay. Ngày 21/9/55, mở “Chiến dịch Hoàng Diệu” truy kích tàn quân Bình Xuyên tại Rừng Sác, do Đại tá Dương Văn Minh làm Tư lệnh, Trung tá Nguyễn Khánh, Tư lệnh phó. Ngày 4/10/55, hơn 15 đoàn thể Chính trị, Tôn giáo, Thanh niên, Lao động thành lập một Ủy ban Trưng cầu Dân ý, đưa kiến nghị “đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm”.

Ngày 18/10/1955, Quốc trưởng Bảo Đại chấm dứt nhiệm vụ Thủ tướng của Ngô Đình Diệm. Ngày 23/10/55, Trưng cầu Dân ý “Truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và suy tôn Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên chức vị Quốc trưởng. 

Sydney ngày 1 tháng 2 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN HAI

Bài 33: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ VIỆC CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐI TRUNG QUỐC, LIÊN XÔ CẦU VIỆN NĂM 1950.

Cho tới năm 1950, quân kháng chiến Việt Nam vẫn trong tình trạng thô sơ, họ áp dụng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến, phá hết nhà cửa, phố xá ở thành thị; còn tại thôn quê thì tre vót nhọn được cắm tua tủa khắp các bãi đất trống để ngăn cản Pháp nhảy dù. Ủy ban Hành chính Kháng chiến các xã, quận góp tiền mua ít nhất là một khẩu súng để tự vệ. Với thông cáo này, xã nào cũng đua nhau quyên góp tiền trong dân chúng để gửi đi. Nhưng, nguồn cung hầu như không có, nên du kích mỗi xã chỉ có được một khẩu súng Mousqueton đã rỉ sét với 5 viên đạn, mà có khi cả năm viên đều bắn không nổ. 

Ở ngoài mặt trận, gậy tầm vông vót nhọn và dao găm là vũ khí chính. Mãi đến năm 1951-1952, gậy tầm vông vẫn là một thứ vũ khí lợi hại trong tay Việt Minh, không một cuộc phục kích ban đêm nào thành công mà không có một số binh sĩ Pháp chết vì bị gậy tầm vông đâm xuyên. Nhờ thu được chiến lợi phẩm nên các cấp chỉ huy từ Đại đội trưởng trở lên mới có súng lục mang bên hông. Còn ở hậu phương, những cán bộ được mang súng lục phải là cao cấp, cấp tỉnh hoặc cấp khu. Chiến tranh khi đó mang một hình thức thô sơ, vừa du kích, vừa cổ điển đối với phía Việt Minh. 

Ngược lại, Quân đội Pháp được trang bị hiện đại theo tiêu chuẩn thời bấy giờ, có đầy đủ cơ giới: có hàng không mẫu hạm, tàu chiến, máy bay ném bom, xe tăng, thiết giáp, đại bác 105-155 ly do Hoa Kỳ viện trợ. Bộ binh trang bị đầy đủ các loại vũ khí như súng trường M-36, súng FM, súng trung liên Bar, tiểu liên Thompson, súng cối 60-120 ly, súng đại liên 12,7 ly, pháo liên thanh 20 mm v.v... Trong giai đoạn 1946-1950, trên khắp các chiến trường từ Nam chí Bắc, Pháp nắm thế chủ động, còn Việt Minh vẫn áp dụng chiến thuật du kích, chưa thể tiến tới chỗ "dùng nông thôn bao vây thành thị".

Cuối tháng 1 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang Bắc Kinh để xin viện trợ, sau đó đi Moskva gặp gỡ Stalin, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cũng đang ở thăm Liên Xô, ký Hiệp ước Hợp tác Xô-Trung. Các lãnh đạo Trung Quốc hứa sẽ thuyết phục Stalin công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xua tan mối nghi ngờ của Stalin về tính chất hai mặt của Hồ Chí Minh khi hợp tác với tình báo Mỹ và giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Hồ Chí Minh hứa sẽ tái lập Đảng Cộng sản, Cải cách Ruộng đất, và thực hiện chuyên chính vô sản. 

Trong chuyến đi tới Moscow, Hồ Chí Minh hết lời ca ngợi Stalin, thậm chí ông còn sáng tác một bài thơ ca ngợi Stalin. Kết quả là Stalin và Mao Trạch Đông hứa: sẽ trang bị cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 10 Đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt trang bị tức thời cho 6 Đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Ngày 2/2/1950, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 20/SL tổng động viên nhân lực, tài lực của nhân dân để thực hiện tổng phản công. Tháng 4 năm 1950, hai Trung đoàn của Đại đoàn 308 sang Mông Tự, Vân Nam. Tiếp đó một Trung đoàn của Đại đoàn 312 sang Hoa Đồng, Quảng Tây nhận vũ khí. 

Ngoài 3 Trung đoàn trên, còn có hai Tiểu đoàn công binh và trường sĩ quan lục quân cũng được gởi sang học tập, huấn luyện tại Trung Quốc. Những đơn vị nầy ngoài việc trang bị vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá, được bắn đạn thật nên tiến bộ rất nhanh. Nhờ vậy, mà quân đội được cải thiện đáng kể. Những năm qua, mỗi chiến sĩ chỉ mơ ước có một khẩu súng trong tay. Bây giờ không chỉ có súng mà đạn được cũng khá dồi dào. 

Tính đến tháng 6-1950, số cán bộ sang Trung Quốc học tập là 3.100 người, trong đó 650 cán bộ học bổ túc trung và sơ cấp, 1.200 học cơ bản chỉ huy bộ binh sơ cấp, còn lại học về binh chủng như pháo binh... Bên cạnh việc trang bị vũ khí, giúp đỡ huấn luyện, viện trợ lương thực, Trung Quốc còn cử Đoàn công tác Hoa Nam gồm 79 người do Vi Quốc Thanh làm trưởng đoàn, ngày 12-8-50, đoàn đến Quảng Uyên, Cao Bằng. Trung Quốc cũng cử Trần Canh cùng một số cán bộ quân sự, trực tiếp làm cố vấn. 

Sydney ngày 2 tháng 2 năm 2024

 

Bài 34: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ HỒ CHÍ MINH VÀ CHIẾN DỊCH GIẢI PHÓNG CAO-BẮC-LẠNG 1950.

SÁCH ĐÈN CÙ, Trần Đỉnh viết: “Đảng Cộng Sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán tháng 11 năm 1945, cùng với nó, tờ Cờ Giải Phóng. Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác bèn ra đời cùng với nó là tờ Sự Thật. Đầu 1949, tôi đến An toàn khu (ATK) để làm báo Sự Thật. Toà soạn báo Sự Thật lúc ấy vẻn vẹn ba cây bút sắt: (Hà) Xuân Trường (Hà Nghệ), thư ký toà soạn, Quang Đạm (Tạ Quang Đệ), Thép Mới (Hà Văn Lộc), từ báo Cờ Giải Phóng trước 1945. Và một cây bút lông: Phan Kế An, con cả cụ Phan Kế Toại, nguyên Khâm sai đại thần Bắc Bộ, nay là bộ trưởng Nội vụ. 

Đầu năm 1950, hơn hai tháng sau nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa ra đời, Cụ Hồ bí mật len qua vùng địch ở Phục Hoà, Cao Bằng đi Trung Quốc qua Thủy Khẩu. Trần Đăng Ninh, Vũ Đình Huỳnh và Phạm Văn Khoa phiên dịch tiếng Trung Quốc theo cụ. Bác xuất ngoại, trong ATêKa chúng tôi rất mực vui. Đang vô thừa nhận mà lại sắp vớ được họ hàng toàn oách ra dáng hết. Đâu có biết đại thí sinh Hồ Chí Minh sắp dự cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới.

Thép Mới rủ tôi gặp Phạm Văn Khoa moi chuyện. Khoa đã được dặn cấm không hé răng. Chúng mày xì ra thì chết tao… Ừ, tao làm phiên dịch nhưng nhiều lúc Ông Cụ cũng chẳng cần tao… Ông Cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Họ không hiểu ta. Ông Cụ nhà mình nói… Thỉnh thoảng Mao lại dặng hắng ừ hừ hữ một cái rất to, kinh bỏ con bà, chẳng hiểu là tán thành hay phản đối. Sau khi Ông Cụ kiểm thảo, trình bày các cái ta chủ trương và làm, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét, chính sách tiêu thổ kháng chiến toàn bàn của Việt Nam là không cần thiết và lãng phí. 

Khoa cho biết, sau đó Mao đi Liên Xô ký kết hiệp ước Sô-Trung. Sau này tài liệu chính thức của ta nói khi Cụ Hồ qua Bắc Kinh thì Mao đã đi Liên Xô rồi. Vì sao không biết, nhưng theo tôi, Khoa nói đúng, vì về nước mới mươi ngày, anh đã kể chuyện với chúng tôi. Sau này kể cho tôi viết hồi ký, Vũ Đình Huỳnh cũng bảo có gặp Cụ Mao, nhưng khi vào họp thì Huỳnh phải ở ngoài. Lúc ấy Mao sắp sang gặp Stalin và trong nghị sự chắc sẽ trao đổi ý kiến về công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, do đó Mao phải nghe Cụ Hồ trình bày trước”...

Sách Đèn Cù, Trần Đỉnh viết tiếp: Để liền một dải với Trung Quốc, với phe xã hội chủ nghĩa, nói khác đi, để làm được tiền đồn của phe, để thoát cảnh một mình “chiến đấu giữa vòng vây” ta mở Chiến dịch Biên Giới giải phóng Cao Bắc Lạng. Tháng 8-1950, Dương Bích Liên, Vũ Cao, Hoàng Nghiêm điện ảnh, Thân Nhất Đài phát thanh và tôi lên Cao Bằng. Bộ đội ta sang Quảng Tây học tác chiến từ mấy tháng trước trở về rầm rập đêm ngày. Cố vấn Trung Quốc cùng với những con ngựa cao to kiểu Xích Thố chở ngất ngưởng chăn đệm, thau chậu. Cố vấn xuống tới tiểu đoàn, trung đội. 

Tôi ngày ngày dự các buổi trung đội trưởng Trung Quốc dạy bộ đội ta đánh bộc phá, đâm lê. “Chú ý ngoáy cổ tay, vặn thế này, xốc lên”, anh phiên dịch nói to như gắt… Đoàn báo chí, văn nghệ dự buổi Võ Nguyên Giáp phổ biến trên sa bàn kế hoạch đánh thị xã Cao Bằng. Tôi và Nguyễn Địch Dũng đến trung đoàn 174 của Đặng Văn Việt (Trung đoàn trưởng) và Chu Huy Mân (Chính uỷ). Tuần sau, đánh Đông Khê, không đánh Cao Bằng như kế hoạch Võ Nguyên Giáp đã giới thiệu. Đánh Đông Khê, tôi đi với tiểu đoàn 251 chủ công Nguyễn Hữu An thuộc trung đoàn 174. 

Khai hoả cho toàn trận đánh, là đồn tiền tiêu Cạm Phầy chợt như bị một bùi nhùi rơm khổng lồ, lửa văng tung toé. Cùng lúc súng nổ ran tứ phía. Nhưng hết một đêm không xong, Nguyễn Hữu An không vào nổi đồn! Đêm hôm sau, tôi nằm với bốn khẩu sơn pháo bắn thẳng của tiểu đoàn trưởng Thành. Thành đưa tôi một điện thoại nghe ban chỉ huy trận đánh chỉ đạo, cho bắn bao nhiêu viên 75. Nghe suốt đêm Lê Liêm chính ủy mặt trận biên giới giục lính 251 “anh dũng tiến lên, hy sinh cũng lên, không thể để đến sáng nữa…” Sáng tinh mơ sau đêm thứ hai diệt được Đông Khê, tiếng súng im hẳn... (Hết trích)

Bách khoa Toàn thư mở viết: Chiến dịch biên giới bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, diễn ra trong ba đợt. Đợt 1, ngày 16 tháng 9, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến hành đánh công kiên quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng tấn công cứ điểm Đông Khê nhằm cô lập Cao Bằng, và đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ dù quân Pháp đã huy động cả không quân yểm trợ. Sự kiện này làm mất một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4 của Pháp.

Sang đợt hai, quân Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng, đồng thời thực hiện cuộc "hành quân kép", gửi tiếp viện từ Lạng Sơn qua Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bố trí thế trận phục kích, bao vây sau đó lần lượt tiêu diệt cả hai cánh quân Pháp từ Thất Khê lên lẫn từ Cao Bằng rút về. Qua đợt ba, quân Việt Nam tiến hành truy kích quân Pháp rút chạy đồng thời liên tục quấy rối, không cho họ chuyển quân tiếp viện cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng, đến ngày 12 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn... 

Ngày 17 tháng 10, sau khi đã đạt được toàn bộ các mục tiêu đề ra, Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ động kết thúc chiến dịch. Thắng lợi của của chiến dịch, khai thông một đoạn biên giới dài, nối Việt Bắc với các đồng minh lớn đến tận châu Âu, Chiến dịch cũng đã tạo ra hiệu ứng chủ bại và hoảng sợ tại Hà Nội, Cao Ủy Pháp Leson Pignon đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp tại Bắc Việt. Đàn bà, con nít Pháp tản cư, kiều dân Pháp phải nhập ngũ trong 3 tuần lể… Ngày 17 tháng 12 năm 1950, Đại tướng Jean de Lattre de Tassigny được chính phủ Pháp cử làm Cao uỷ kiêm Tổng Tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương thay thế Cao Ủy Pháp Leson Pignon. 

Sydney ngày 3 tháng 2 năm 2024

 

Bài 35: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ HỒ CHÍ MINH, ĐẠI HỘI ĐẢNG, CHỈNH HUẤN VĂN NGHỆ BÁO CHÍ, VÀ BÀI THƠ “ĐÀO NÚI LẤP BIỂN…” NĂM 1951.

Cũng SÁCH ĐÈN CÙ, Trần Đỉnh viết: Ngày 11-19/2/1951 mở Đại hội II, Hồ Chủ tịch nói: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam”. Không thích chui lủi, chúng tôi rất sướng được ra ánh sáng và thế là, quên mất câu Cụ nói ngày cho đảng rút lui vào bóng tối: Nếu cần có đảng phái thì sẽ là ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM… Bọn tôi kêu cái tên Đảng Lao Động Việt Nam yếu quá thì được đả thông ngay: Ông Cụ đã thỉnh thị Stalin và Stalin bảo lấy tên này. Thế ra, lúc Cộng sản Đông Dương, lúc Lao động Việt Nam đều do Stalin quyết định cả…

Trần Đỉnh viết tiếp: Từ Trung Quốc vào ta cùng với vũ khí, với những tam tam chế, tứ khoái nhất mạn, nhất điểm lưỡng diện, tiêm đao tung thâm chia cắt còn có cố vấn, có chỉnh huấn… Có thể nói một nề nếp sinh hoạt mới, một ý tứ mới phải tuân thủ, coi trọng. Tôi đã dự lớp chỉnh huấn đầu tiên chủ yếu dành cho đảng viên văn nghệ, báo chí ở ATêKa. Cán bộ ta sang tận Hoa Nam học cách thức về chỉ đạo. Tôi cùng chi bộ với Xuân Diệu, Nguyễn Tư Nghiêm, Phan Kế An, Lê Đạt… năm cái mồm lý sự cùng một số anh chị em khác. Bắt đầu thí điểm cho nên học nặng về tranh cãi chữ nghĩa. 

Chi bộ tôi bỏ cả ba buổi thảo luận say sưa thế nào là tôn chỉ. Xuân Diệu cãi hăng nhất. Nhưng, hết phần lý luận, chuyển sang phần kiểm thảo thì mọi người đều cảm thấy ơn ớn. Mang máng một cái gì của sám hối tôn giáo, lờ mờ một cái gì xúc phạm nhân cách, cân cấn một cái gì muốn cưỡng lại nhưng không dám. Mỗi người đều phải khai hết sai lầm, khuyết điểm. Thành khẩn tự phanh phui bản thân là thước đo lòng trung thành với đảng. Một tên chỉ điểm vô hình được cài vào trong từng người. Và khi tên chỉ điểm ấy đã an vị trong anh thì từ đấy cái bóng lù lù của nó – một thằng cò sợ hay một thằng Javert của đảng – bèn trùm lên khắp người anh…

Có thể nói lớp chỉnh huấn tháng 3 năm 1951 ấy là mở đầu cho các cuộc chỉnh huấn đều kỳ của cán bộ đảng viên. Trước mỗi vận động lớn hay trong các cuộc học tập lý luận thường xuyên đều có chỉnh huấn. Chỉnh huấn là chìa khoá vạn năng thúc đẩy tiến bộ tư tưởng! Mục đích chỉnh huấn nham hiểm của Mao là dùng chỉnh huấn để khống chế “mỗi tôi con” của đảng, bằng cách nắm lấy cung của mỗi tôi con – một biến thể của hồ sơ mật thám. Ở đây thì lưu trữ rác rưởi của mỗi linh hồn rồi biến chúng thành một quả mìn đe nổ. Lúc ấy tôi chưa thể nhận thấy đó là cuộc xâm thực ô nhiễm nhân cách.

Song, lần truy nã tư tưởng đầu tiên chưa gay gắt. Trừ Ngô Tất Tố bị lưu lại kiểm thảo thêm mấy ngày, Tố khai hồi ở báo Cứu Quốc, trong một lần rượu Tết quá chén, Tố lỡ có nói một câu bậy bạ nghiêm trọng như sau: “Tôi là con chó, con chó thời Tây rồi thời Cộng sản. Chó thời Tây còn ủng oẳng sủa dăm ba tiếng, chứ chó thời Cộng sản thì cúp đuôi nằm im re”… Theo Như Phong, người từng dự bữa rượu kia bảo tôi: Bữa ấy, tớ có mặt, Tố cứ đấm ngực kêu ô ô lên như mày kể thật nhưng… đếch biết là hắn say thật hay là vờ để chửi, mày ạ. 

Kỷ luật đang bắt đầu đi vào nề nếp sau khi cuốn “Bàn về tu dưỡng của người cộng sản” của Lưu Thiếu Kỳ được dịch và học tập rộng rãi. Quyển tu dưỡng đảng viên này, dạy đảng viên tuyệt đối trung thành với đảng cùng gìn giữ kỷ luật, tóm lại hãy quên cá nhân đi. Tôi nhớ nhất chuyện một số người hỏi Lê-nin vào Đảng Xã Hội Dân Chủ Nga của Plékhanov, rồi phá nó để lập Đảng Cộng sản Bolsevich thì có là chống đảng không, Lưu Thiếu Kỳ giải thích: không, bởi đó là Lê-nin còn anh thì chống đảng vì không là Lê-nin! Thép Mới nổi tiếng ở Atêka về phương châm anh tự đặt ra để răn mình: “mù, què, câm, điếc”. (Hết trích)

Và, Bài thơ “Đào núi, lấp biển…” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo lời kể của đồng chí Việt Thi, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch chỉ thị thành lập Đội thanh niên xung phong đầu tiên ngày 15/7/1950 để phục vụ chiến dịch biên giới, Sau đó, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường Cao Bằng - Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đội tổ chức thành nhiều Liên phân đội đóng rải quân dọc tuyến đường những nơi hiểm yếu. Liên phân đội TNXP 321 nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi.

Đêm 28/03/1951, chúng tôi tổ chức lửa trại trong rừng Nà Tu, Bắc Kạn để đón Bác Hồ đến thăm. Bác vẫn giản dị với bộ quần áo bà ba màu nâu, tươi cười nhìn chúng tôi và giơ tay ra hiệu: Các cháu ngồi cả xuống. Bác hỏi: -Các cháu ăn uống có đủ no không?- Thưa Bác có ạ!- Các cháu có đủ muối ăn không?- Thưa Bác đủ ạ!- Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh chữa bệnh có đủ không?- Thưa Bác đủ ạ! 

Qua nụ cười hiền hậu trên nét mặt của Bác, chúng tôi thấy Bác biết thừa là chúng tôi nói dối để Bác vui lòng. Bác đã được đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp báo cáo đầy đủ về chế độ cấp phát lương thực, thuốc men, quân trang cho thanh niên xung phong còn rất thiếu thốn.  Bác lại hỏi: - Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không? - Thưa Bác có ạ! Sau đó Bác lại hỏi tiếp: - Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Cộng sản Đông Dương khác nhau ở điểm nào? Một số người trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi, nên trả lời rất lúng túng. 

Sau đó bằng những câu ngắn gọn, Bác đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II vừa mới họp về việc đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam. Tiếp đó Bác nhắc nhở:- Lần sau cái gì không biết các cháu phải nói không biết, không biết mà nói biết là giấu dốt. Rồi Bác đột ngột hỏi tiếp: Đào núi có khó không? Chúng tôi ai cũng dè dặt không dám trả lời ào ào như trước nữa. Thế là người trả lời: khó! Bác chưa kết luận mà hỏi thêm chúng tôi: Có ai dám đào núi không? Và chỉ định một đội viên gái ngồi ngay trước mặt Bác, đồng chí này mạnh dạn đứng lên thưa: Thưa Bác có ạ! thanh niên xung phong chúng cháu ngày ngày vẫn đang đào núi để đảm bảo giao thông đấy ạ!

Nghe xong, Bác cười: Đào núi không khó là không đúng, nhưng khó mà con người vẫn dám làm và làm được. Chỉ cần cái gì? Chúng tôi đã bình tĩnh, lấy lại được tinh thần và mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay lên phát biểu, có người trả lời “cần quyết tâm cao”, có người “cần kiên gan bền chí”, có người “cần xung phong dũng cảm”… toàn khẩu hiệu hành động của thanh niên xung phong chúng tôi hồi đó. Bác động viên chúng tôi: Các cháu trả lời đều đúng cả…  

Để ghi nhớ buổi nói chuyện của Bác cháu ta hôm nay, Bác tặng các cháu mấy câu thơ: Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên. Đọc xong mỗi câu thơ, Bác lại bảo chúng tôi đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ cho tất cả đơn vị nghe. Thật may mắn, tôi đã nhắc trôi chảy không sai chữ nào… (Trích Nguyễn Thị Diệu Trang, Tổ tuyên truyền Đảng ủy cơ quan VKS TP, (16/01/2019) Nội dung sinh hoạt dưới Cờ kỳ 1 tháng 01/2019).

Sydney ngày 4 tháng 2 năm 2024

 

Bài 36: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ CHIẾN DỊCH TRUNG TRUNG DU, ĐƯỜNG 18, CHIẾN DỊCH HÀ NAM NINH NĂM 51.

Tháng 12 năm 1950, ngay khi vừa đến nhậm chức, Tướng Jean de Lattre de Tassigny biết không còn hy vọng tiến công hay bao vây chiến khu Việt Bắc, ông ta cho tổ chức tuyến phòng thủ bảo vệ vùng đồng bằng mang tên ông gọi là “Phòng tuyến Tassigny”. Phía Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) từ khi chuyển sang chủ động tiến công, mở liên tiếp các chiến dịch – Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch đường 18, Chiến dịch Hà Nam Ninh - đã bóc vỏ Phòng tuyến Tassigny.Nhưng trong cả ba chiến dịch Trung du, Đường 18 và Hà Nam Ninh QĐNDVN đã phải chịu thiệt hại lớn trước quân Pháp do tướng Jean Lattre de Tassigny chỉ huy. 

Trong bài “Mở liên tiếp ba chiến dịch vào trung du và Đồng bằng Bắc Bộ” Lê Văn Thành, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam viết: Ngay sau Chiến dịch Biên giới năm 1950 giành thắng lợi, Trung ương Đảng chủ trương: “Nhân lúc địch đang hoang mang sau thất bại trên Đường số 4 và chưa kịp củng cố hệ thống phòng ngự chiến lược của chúng ở cửa ngõ đồng bằng, tranh thủ phát triển tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn trung du và đồng bằng, làm thay đổi cục diện chiến trường, tiến tới giải phóng Đồng bằng Bắc Bộ”.

Ngày 25-12-1950, ta mở Chiến dịch Trung Du (25/12/-17/1/51) (còn gọi là Chiến dịch Trần Hưng Đạo) đánh vào phòng tuyến trung du từ Đông Việt Trì đến Tây sông Cầu. Trên địa bàn này, lực lượng bộ binh chiếm đóng của địch gồm 8 tiểu đoàn và 8 đại đội; lực lượng cơ động ứng chiến tại chỗ gồm 7 tiểu đoàn và 3 đại đội đứng chân tại ba Phân khu Bắc Giang, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc. Về phía ta, gồm Đại đoàn 308 trên hướng chính (Vĩnh Yên-Đông Đa Phúc), Đại đoàn 312 (thiếu) trên hướng thứ yếu (Đông Việt Trì-Vĩnh Yên). Trên các hướng phối hợp có 2 Trung đoàn của Bộ cùng lực lượng vũ trang tại chỗ. 

Mục tiêu đặt ra: “Tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng khu lương thực, phát triển du kích chiến tranh, tranh thủ thời gian phá kế hoạch củng cố của địch, tạo điều kiện mới để tiêu diệt sinh lực địch nhiều hơn nữa”. Cách đánh “đánh điểm diệt viện”, kết hợp “đánh vận động với công kiên”. Đợt một: từ ngày 25-12-1950, chặn đánh cuộc hành quân Bê-cát-xin của Pháp vào khu vực tập kết của ta ở Xuân Trạch-Liễn Sơn, buộc địch phải co về thị xã Vĩnh Yên. Đêm 26 và 27-12, ta vận động bao vây, tiến công diệt 5 cứ điểm kiên cố (Hữu Bằng, Tú Tạo, đồi Cà Phê, Yên Phụ, Thằn Lằn), nhưng đánh các cứ điểm Chợ Thá, Chợ Vàng không thành công. Địch tăng cường phòng thủ Vĩnh Yên.

Sang đợt hai: từ ngày 30-12-1950 đến ngày 18-1-1951, vận dụng phương châm "đánh điểm diệt viện", ta tiến công diệt cứ điểm Ba Huyên, chặn đánh quân ứng cứu ở Thanh Vân-Đạo Tú, truy kích địch tới thị xã Vĩnh Yên và bao vây thị xã. Pháp tiếp tục đưa lực lượng cơ động có máy bay, pháo binh yểm trợ, mở cuộc hành quân giải tỏa, đánh chiếm Núi Đanh; ta chặn đánh và giành giật với địch từng điểm cao. Rạng sáng 17-1, nhận thấy yếu tố bất ngờ không còn, bộ đội đã trải qua ba tuần chiến đấu liên tục, lực lượng bị tiêu hao và sức khỏe giảm sút, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch.

Ngày 21 tháng 1, khi phân tích cục diện chiến trường Bắc Bộ để đề đạt phương hướng nhiệm vụ mở chiến dịch tiếp theo, Tổng Quân ủy nhận thấy Chiến dịch Trung du kết thúc không thuận lợi nên trước mắt không thể mở chiến dịch trên hướng Liên khu 3 như dự kiến trước đây, từ đó Tổng Quân ủy nhất trí đề nghị phương hướng chiến dịch sắp tới là Đông Bắc, cụ thể là Đường 18 từ Phả Lại đến Uông Bí  (Chiến dịch mang tên Hoàng Hoa Thám). Đây là nơi địa hình nửa rừng núi, nửa đồng bằng và là nơi địch yếu hơn ở chiến trường Trung du. Tham gia chiến dịch gồm 2 đại đoàn (308 và 312), hai trung đoàn độc lập (174 và 98).

Mở đầu chiến dịch, đêm 23-3-1951, bộ đội ta tiêu diệt 4 cứ điểm nhỏ để nhử viện binh địch. Đêm 27-3, bộ đội ta tiêu diệt vị trí Bí Chợ và Tràng Bạch, mỗi vị trí có trên dưới một đại đội địch. Đêm 29 và 30-3, bộ đội ta đánh tiếp các vị trí Mạo Khê mỏ và Mạo Khê phố, nhưng không thành công. Đêm 4 và 5-4, ta đánh tiếp các vị trí Bến Tắm, Bãi Thảo, Hoàng Dán cũng không thành công, chủ yếu vì pháo địch từ Đông Triều và sông Đá Bạc bắn tới, tạo thành hàng rào lửa khiến các đợt xung phong của ta gặp khó khăn. Ngày 6-4, chiến dịch kết thúc.

Ngay sau khi Chiến dịch Hoàng Hoa Thám vừa mới kết thúc chưa đầy nửa tháng, thực hiện chủ trương tiếp tục tiến công địch ở Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, ngày 20-4, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hà Nam Ninh (20/4/51 kéo dài 3 tuần) (gọi là Chiến dịch Quang Trung) tiến công khu vực Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nhằm tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực địch, phá tan khối ngụy quân, thúc đẩy chiến tranh du kích phát triển, giành giật với đối phương “kho người, kho của” ở vùng đồng bằng. Tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn (304, 308, 320) cùng công binh, pháo binh và lực lượng vũ trang tại chỗ.

Theo kế hoạch, đợt 1 ta đánh nhiều trận công kiên giành thắng lợi. Đại đoàn 308, lần đầu tiên tiêu diệt toàn bộ quân địch trong tỉnh lỵ Ninh Bình. Một đại đội huấn luyện của địch gồm toàn hạ sĩ quan người Âu bị diệt gọn trong nhà thờ Đại Phong. Hai vị trí Non Nước và Hồi Hạc, mặc dù được tăng cường thêm 2 đại đội cũng bị tiêu diệt. Bước vào đợt 2, quân địch tiếp tục tăng viện cho tuyến phòng thủ sông Đáy, thay quân trên nhiều vị trí và tăng cường càn quét trên các địa bàn trọng điểm. Quân ta tiến công và bức hàng một số vị trí, nhưng riêng trên hướng chính ta không thành công trong các trận Chùa Cao, Cầu Bút, Ngọc Lâm (Ninh Bình).

Sau trận thắng lớn của Đại đoàn 320 đẩy lui cuộc càn của địch ở Chợ Cháy (Ứng Hòa), chiến dịch kết thúc trong điều kiện so sánh lực lượng bất lợi cho ta, quyền chủ động không còn, chiến dịch không còn điều kiện phát triển… (Hết trích). (QĐND Online Thứ sáu, 31/10/2014 - 11:14 LÊ VĂN THÀNH, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

Sydney ngày 5 tháng 2 năm 2024

 

Bài 37: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ CHIẾN DỊCH HOÀ BÌNH … ĐÃ TRỞ THÀNH “CÁI CỐI XAY THỊT” 1951-1952.

Tháng 10 năm 1951, Tướng Jean de Lattre de Tassigny quyết định đánh chiếm Hòa Bình. Ngày 10 tháng 11 năm 1951, Pháp mở cuộc hành quân "Hoa Tuylíp" (Opération Tulipe) đánh chiếm Chợ Bến cắt đường di chuyển của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) từ Việt Bắc xuống đồng bằng. Đến 5 giờ chiều cùng ngày thì Pháp kiểm soát được khắp vùng Chợ Bến, khoảng 100 cây số vuông. Ngày 14 tháng 11 năm 1951 Pháp mở cuộc hành quân "Hoa Sen" (Opération Lotus) do đích thân tướng Raoul Salan chỉ huy, cũng như hôm tấn công vào Chợ Bến, Hòa Bình bị chiếm dễ dàng, không có sự kháng cự nào của QĐNDVN.

Ngày 15 tháng 11 năm 1951, tướng Salan tuyên bố Pháp kiểm soát được Hòa Bình, khoá cửa ngõ tiếp tế và giao thông của Việt Minh giữa đồng bằng và Việt Bắc. Ngay chiều hôm đó, Cao uỷ kiêm Tư lệnh quân đội Pháp tai Đông Dương tướng de Lattre đích thân chủ trì cuộc họp báo tại Hà Nội loan tin chiến thắng Hòa Bình và tuyên bố: "Tiến công Hòa Bình đã gây khó khăn lớn cho đối phương. Tiến công Hoà Bình có ý nghĩa chiến lược là chúng ta đã buộc đối phương phải xuất trận. Trận Hòa Bình có ảnh hưởng quốc tế lớn".

Ngày 15 tháng 11 năm 1951 Tổng quân uỷ họp đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh "cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch khi mới chiếm đóng. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích". Tại cuộc họp, cố vấn Trung Quốc Mai Gia Sinh, nói với Hoàng Văn Thái: "Tôi nghĩ sau mấy chiến dịch gặp khó khăn, mùa đông này ta lên đánh nhỏ như kế hoạch trước đây, nhằm phát động chiến tranh du kích"

Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: "Đó là một cơ hội hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đánh ra Hoà Bình địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình đột xuất, công sự chưa vững chắc. Mặt khác vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến Trung du đều tương đối sơ hở hơn trước".

Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Tổng quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, Đại đoàn 320 đánh địch từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà và hai bên tả, hữu sông Đà. Đại đoàn 308 sẵn sàng chiến đấu. Đại đoàn 304 đánh địch ở phía nam Hòa Bình, tiêu diệt một số điểm cao, cắt đường vận chuyển của Pháp trên đường số 6 để phối hợp với các đại đoàn 308, 312 hoạt động trên tuyến sông Đà và vùng thị xã Hoà Bình. Đại đoàn công binh-pháo binh 351 và lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với chiến dịch.

Các Đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng quân đội Pháp tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ, cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh Pháp, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, mở rộng du kích. Đại đoàn 316 được phối thuộc trung đoàn 246, phối hợp với bộ đội địa phương hoạt động ở Bắc Giang, Bắc Ninh. Trung đoàn 98 thâm nhập vào vùng địch hậu Bắc Ninh. Trung đoàn 174 đánh từ một đến hai vị trí ở tuyến ngoài. Trung đoàn 176 bố trí giữ mặt Lạng Sơn. Đợt đầu tiên nhằm đánh tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ, nùi Nhẹ, nằm trong tuyến phòng thủ phân khu sông Đà của Pháp. 

Phương châm là "đánh điểm diệt viện", kết hợp chặt chẽ đánh công kiên với đánh phục kích giao thông, tiêu diệt quân viện trên sông, trên bộ, vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận quân Pháp đi càn quét sục sạo, buộc Pháp phải co vào các vị trí dã chiến, đánh tiêu diệt quân nhảy dù hoặc quân ứng cứu giải tỏa. Về hậu cần, Tổng Quân ủy quyết định thành lập hai Ban cung cấp tiền phương ở bắc và nam Hòa Bình. Ban cung cấp tiền phương mặt trận Bắc Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 và Đại đoàn công pháo 351 cùng các lực lượng vũ trang địa phương. 

Ban cung cấp tiền phương mặt trận Nam Hòa Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 304, Đại đoàn 320. Thời kỳ đầu ở mặt trận Hòa Bình đã chuẩn bị được 820 tấn gạo và có 20.000 dân công phục vụ chiến dịch. Công tác quân y đã chuẩn bị đủ thuốc cứu chữa cho 4.000 thương binh. Kết quả trong 78 ngày đêm bảo đảm cho chiến dịch, đã huy động trên 330.400 lượt dân công phục vụ chiến dịch với 11.914.000 ngày công, các Ban cung cấp mặt trận đã tiếp tế cho bộ đội 6.475 tấn lương thực, thực phẩm, 280 tấn đạn, cứu chữa 6.390 thương binh.

Trong lúc tình hình chiến sự căng thẳng thì quân Pháp lại nhận tin xấu: bệnh tình của tướng De Lattre đã vô vọng cứu chữa. Từ nhiều tháng qua, De Lattre bị ung thư chân. Công việc điều khiển Đông Dương, những hành trình về Pháp và qua Mỹ để xin viện trợ, sự đau buồn vì con trai độc nhất là Trung úy Bernard bị tử thương (ngày 30/5/51) đã làm De Lattre kiệt sức dần, bệnh tình càng ngày càng trầm trọng, đến ngày 19 tháng 11 năm 1951, De Lattre trở về Pháp để vào bệnh viện giải phẫu. Ngày 7 tháng 12 năm 1951 De Lattre bất tỉnh, đến ngày 12 tháng 12 năm 1951 thì từ trần. 

Ngày 6/1/52, Trung úy Leclere con trai Đại tướng Leclere bị thương và bị bắt làm tù binh trên Sông Đáy. Vandanberghe Trung đoàn trưởng Lê Dương tử trận gần Nam Định. Ngày 8 tháng 1 năm 1952, tướng Raoul Salan được cử giữ chức Quyền Chỉ huy Quân đội viễn chinh thay De Lattre. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, sáng 23 tháng 2 quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình theo cách cuốn chiếu. 17 giờ ngày 22 tháng 2 năm 1952, có 5 tiểu đoàn Pháp ở thị xã lặng lẽ vượt sông Đà. Trung tá Ducourneau và Đại tá Gilles chỉ huy cuộc triệt thoái. 

Hơn 1.000 dân Mường, 20.000 binh sĩ cùng các chiến cụ, đạn dược khí giới vượt qua sông, tiến về Hà Nội bằng đường số 6. Máy bay Pháp nối nhau trút bom, bảo vệ cho binh lính chạy về phía đoàn xe trên đường 6. Nhìn chung, Pháp tổ chức rút quân chặt chẽ, dùng tới 30.000 viên đạn pháo để yểm trợ cho cuộc rút quân. Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng không tổ chức tốt việc đánh quân Pháp rút lui nên chỉ diệt được một số, còn phần lớn quân đội Pháp chạy thoát về Xuân Mai. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Quân uỷ quyết định kết thúc chiến dịch. 

Bách khoa toàn thư mở, viết: “Chiến dịch Hoà Bình được mở vào tháng 11 năm 1951 đã trở thành cái "cối xay thịt" đối với cả hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam chịu thương vong không nhỏ, nhưng họ đã học được cách đối phó với chiến thuật và vũ khí của Pháp, và họ đã thâm nhập được sâu hơn vào trong vòng cung phòng thủ của Pháp”.

Sydney ngày 6 tháng 2 năm 2024

 

Bài 38. CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ TRẬN ĐÁNH VÀO TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM NÀ SẢN TỪ ĐÊM 30/11 ĐẾN NGÀY 2/12/1952.

Ngày 12/3/52, tại Thái Bình, với sự yểm trợ của Thủy quân và Không quân, 5 Trung đoàn Lưu động Pháp mở cuộc hành quân càn quét vùng Trà Lý và Sông Diêm Hồ. Ngày 6/5/52, tướng Salan, Tổng Tư lệnh tuyên bố sẽ dồn lực bình định Trung Châu Bắc Việt, không cho địch lấy thóc trong dân chúng. Ngày 15/5/52, Pháp mở nhiều cuộc hành quân ở Trung Châu Bắc Việt như hành quân “Lạc Đà=Dromadaire” vùng Hưng Yên và Bùi Chu, hành quân “Tango” mạn Phúc Yên và Sông Đuống.v.v. Ngày 2/6/52, Pháp mở cuộc hành quân “Sơn Dương=Antilope” vùng Duy Tiên, Phủ Lý, Hưng Yên. 

Ngày 29/6/52, Pháp mở cuộc hành quân tảo thanh ở Đông Triều, Kinh Môn, và Bắc Phát Diệm. Ngày 4/7/52 kịch chiến ở Thọ Lão, Kẻ Sặt một Trung đoàn Việt Minh chặn đánh một Đoàn Lưu động Pháp. Ngày 11/10/52, Pháp mở cuộc hành quân tảo thanh vùng Ninh Bình, Phúc Nhạc, Điền Hộ với gần 10.000 quân tham chiến. Ngày 13/10/52, đồn Nghĩa Lộ bị tấn công mạnh, với hai Sư đoàn 302 và 308 vây đánh suốt ngày đêm. Ngày 14/10/52 một Tiểu đoàn nhảy dù Pháp được thả xuống cứu viên Nghĩa Lộ, một đơn vị khác được gởi tới Sơn La. Ngày 18/10/52, Nghĩa Lộ thất thủ, tất cả miền núi, Trung du bị bỏ ngỏ. 

Ngày 29/10/52, Pháp mở cuộc hành quân Lorraines phản công ở Hưng Hóa và Phú Thọ, đánh tập hậu hai Sư đoàn 302 và 308 của Việt Minh. Ngày 1/11/52, quân Pháp vào được Hưng Hóa và Phú Thọ. Ngày 9/11/52, quân Pháp vào được Phủ Đoan. Ngày 14/11/52, quân Pháp tới Yên Báy, nhưng bị phản công mạnh phải rút lui. Ngày 24/11/52, quân Pháp rút khỏi Sơn La. Ngày 27/11/52, quân Pháp từ Yên Báy rút được về Việt Trì, và cố thủ Nà San. Ngày 28/11/52, Quốc trưởng Bảo Đại viếng căn cứ Nà-San. Ngày 1/12/52, nhiều Tiểu đoàn Việt Minh tấn công Na San, nhưng bị đẩy lui. Ngày 2/12/52, Na San lại bị tấn công, nhưng nhờ phi cơ và pháo binh nên giữ được. Buổi chiều Việt Minh rút lui để lại vài trăm xác chết. 

Theo Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự 20 tháng 9, 2018 thì, Tập đoàn cứ điểm Nà Sản nằm trên cao nguyên Nà Sản, là một lòng chảo thuộc địa phận xã Chiềng Mun - huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La với diện tích khoảng 10km2 được bao quanh bởi các dãy núi cao trên 700m. Nà Sản cách Hà nội 190 km theo đường chim bay, và cách khoảng 40 phút bằng máy bay. Dân cư thưa thớt, toàn người Thái sống về nghề làm rẫy. Nà Sản cũng nằm trên tỉnh lộ số 41 nối liền Lai Châu, Điện Biên qua Sơn La, Mộc Châu xuống Thanh Hóa hoặc sang Hoà Bình về Hà Nội, vì vậy vị trí Nà Sản quan trọng trong việc tiếp tế bằng đường bộ cho khu vực Thái và trấn giữ vùng Thượng Lào.

Tại cứ điểm Nà Sản có sân bay, Sở chỉ huy, một số đồn bốt, hệ thống hỏa lực mạnh của bốn khẩu pháo 105mm và nhiều đường giao thông hào vây quanh bảo vệ khu trung tâm. Lực lượng chiếm đóng tại Nà Sản gồm 8 tiêu đoàn, sau được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn. Thiếu tá chỉ huy Pháp Jean Gilles lần đầu áp dụng chiến thuật “Con Nhím” tại Đông Dương ở trận Nà Sản, chiến thuật là 1 hệ thống tập đoàn cứ điểm bao quanh và giữ mối tiếp viện bằng đường hàng không. Giống như con nhím với các cứ điểm phòng vệ giống như gai nhím. Chiến thuật có tác dụng phòng ngự, chống lại những đợt tấn công của đối phương chứ không phải tấn công đối phương, do đó sẽ không rơi vào bẫy phục kích

Đầu tháng 11 năm 1952, một cầu không vận ngày đêm hoạt động, chuyên chở các đồ tiếp tế: đạn dược, lương thực, xe ủi đất, hàng ngàn tấn dây kẽm gai và lừa ngựa từ Hà Nội lên Nà Sản. Để xây dựng hệ thống cứ điểm Nà Sản , Pháp đã sử dụng hai đại đội công binh và hàng ngàn phu phen xây cất 30 điểm tựa xung quanh lòng chảo, các cứ điểm nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, bên ngoài được phủ dây thép gai. Lực lượng phòng vệ gồm có 8 tiểu đoàn và 6 khẩu trọng pháo 105mm và sau khi trận Nà Sản diễn ra, cứ điểm được tăng cường thêm 2 tiểu đoàn

Trận Nà Sản bắt đầu vào đêm 30 tháng 11 rạng ngày 1 tháng 12, Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) ồ ạt tấn công vào các điểm tựa phía đông bắc. Trung đoàn 102 cùng trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 tiến công Pú Hồng (điểm cao 753). Sau 1 giờ 45 phút chiến đấu, QĐNDVN chiếm được điểm tựa số 24 do trung úy Pipart phụ trách với một đại đội lính Thái và lính Maroc, diệt bốn trung đội của GM1 đóng tại đây, bắt sống viên quan ba chỉ huy. Cùng đêm, tiểu đoàn 115 của trung đoàn 165 Đại đoàn 312 tiến công vị trí Bản Hời. Sau hơn một giờ chiến đấu, QĐNDVN diệt một đại đội địch. 

Tới gần sáng, nhờ trọng pháo và không quân yểm trợ, Gilles phản công với những đơn vị dự trữ, Gilles lấy lại được đồn, QĐNDVN rút lui. Đêm hôm sau, 11 tiểu đoàn QĐNDVN ồ ạt tấn công vào hai đồn chính bảo vệ cứ điểm Nà Sản. Từ 9 giờ đêm đến 7 giờ sáng, nhờ thời tiết tốt nên máy bay Pháp thả pháo sáng khắp trận địa, liên tiếp ném bom và bắn pháo liên thanh xuống vị trí QĐNDVN, đồng thời các giàn đại bác nhả đạn xung quanh đồn, ở trong đồn thì lính cố sức cầm cự, QĐNDVN thiệt hại nhiều mà không chiếm được đồn. 

Trung đoàn 209 đánh Bản Vây cũng không kết quả. Trời sáng, Pháp dùng máy bay oanh tạc và bắn trên 5.000 quả đạn pháo để cứu nguy cho các cứ điểm. Đến sáng, QĐNDVN rút lui. Ngày 2 tháng 12, không quân Pháp thả dù tăng cường thêm cho Nà Sản hai tiểu đoàn, quyết giữ tập đoàn cứ điểm này. Những ngày sau, QĐNDVN biết là vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ, nếu tiếp tục tấn công thì bất lợi. Trước những khó khăn mới nảy sinh, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch Tây Bắc, QĐNDVN rút lui khỏi Nà Sản không trở lại nữa.

Đầu tháng 8/1953, Navarre cho rút toàn bộ quân Pháp khỏi Nà Sản bằng đường hàng không và ba ngày sau đó QĐNDVN mới nhận được thông tin vì quân Pháp đã khéo léo ngụy trang và nghi binh. Toàn bộ quân Pháp được chuyên chở bằng máy bay vận tải khiến QĐNDVN tưởng lầm quân Pháp đang tăng cường để chuẩn bị đối phó với QĐNDVN. Cuộc rút lui diễn ra êm thấm. Sau này QĐNDVN mới biết quân Pháp không thể duy trì Tập đoàn cứ điểm Nà Sản vì qua chiến dịch Sầm Nưa, nó đã chứng tỏ không có khả năng ngăn chặn các đại đoàn chủ lực của QĐNDVN tiến sang Thượng Lào.

Từ chiến thuật “Con Nhím” thành công ở Nà Sản, Pháp đã xây dựng tập đoàn cứ điểm to lớn hơn là căn cứ Điện Biên Phủ. Về hình thức, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là sự phóng đại hoàn hảo của Tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Và từ bài học này ở trận Nà Sản, QĐNDVN đã tìm ra cách để đánh bại quân Pháp ở trận đánh Điện Biên Phủ lịch sử. P/S: Thất bại là mẹ thành công (Trích bài viết TRẬN NÀ SẢN, BÀI HỌC QUÝ BÁU CHO ĐIỆN BIÊN PHỦ của Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự ngày 20/9/2018).

Sydney ngày 7 tháng 2 năm 2024

 

Bài 39: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHỈNH HUẤN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, VÀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT THÍ ĐIỂM 1953.

Cũng SÁCH ĐÈN CÙ, Trần Đỉnh viết: Chuẩn bị “Cải cách Ruộng đất”, từ giữa tháng 7 đến cuối tháng 9 năm 1953, Trung ương mở một lớp chỉnh huấn cho trí thức trong và ngoài đảng làm việc ở chính phủ và các đoàn thể trung ương. Nhiều tên tuổi như Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Thế Lữ… đã dự học. Mục đích sâu xa là xây dựng lập trường giai cấp, đề cao công nhân, bần cố nông, hạ uy thế chính trị và tư tưởng của trí thức và các giai tầng không lao động chân tay khác. 

Mấy tòa nhà lán tre nứa cao rộng vây quanh hai mặt một hội trường lớn. Riêng ở một tòa ở xế trước hội trường là ba hay bốn chi bộ (gồm cả đảng viên lẫn không đảng phái). Chi bộ đầu lán có Nguyễn Cao Luyện, Tạ Mỹ Duật. Liền với nó, trên cùng một sạp giường nứa dài cả hai ba chục mét, một chi bộ nữa và đặc biệt lại có Nguyễn Tư Nghiêm và tôi. Ở sạp đối diện, cách một lối đi là hai chi bộ nữa. Một có Đặng Đình Hưng và một có Vũ Chính, Tổng cục trưởng Tổng cục 2 sau này. Tố Hữu là bí thư học ủy. Cụ Hồ cách nhật, có khi liền ngày, đến xem điện ảnh, liên hoan với học viên. 

Lê Duẩn thường có mặt, giảng bài chính. Lập trường giai cấp nông dân và cách mạng dân tộc, dân chủ. Duẩn nhấn mạnh trong bước cách mạng này, người cộng sản phải có lập trường giai cấp nông dân để hiểu được nguyện vọng nông dân mà kiên quyết lãnh đạo họ cải cách ruộng đất, lấy lại quyền lợi, làm một cuộc đổi đời. Tôi ngợ: theo Mác, Lê-nin thì người cộng sản không thể có lập trường nào khác ngoài lập trường giai cấp công nhân. Có điều ý kiến của Lê Duẩn chỉ nói ở trong cái lớp mấy trăm con người này. Vả chăng không ai dám phê phán hay chất vấn sất.

Phải nhận Duẩn có nhiều ý độc đáo. Như ta mất nước cho Pháp là vì lúc đó đang là thời đại chủ nghĩa tư bản, nó chiến thắng áp đảo phong kiến. Duẩn mới ở trong Nam ra với biệt hiệu đơ-xăng bu-gi, hai trăm nến chỉ sau có Cụ Hồ xanh-xăng bu-gi, năm trăm nến. Chúng tôi hay xúm quanh Lê Duẩn để hỏi. Phải nhận ông có những cách giải thích độc đáo. Chẳng hạn, trả lời tại sao chỉ có Đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam chỉnh huấn, còn các đảng Âu Mỹ thì không, Duẩn nói, vì ta và Trung Quốc ít công nhân cho nên phải bỏ công ra tỉa gọt từng đảng viên cho có được lập trường giai cấp vô sản.

Một tối họp chi bộ nghe và nhận xét các bản tự kiểm thảo của nhau. Tố Hữu xuống dự chi bộ chúng tôi tối đó. Tôi có phần đao to búa lớn phê phán người vừa trình bày xong bản kiểm thảo. Tố Hữu bỗng giơ tay ngăn tôi lại. Rồi từ tốn, nhỏ nhẹ nói “Đồng chí vừa phê phán ai, đồng chí biết không? Phê phán đồng chí của đồng chí đấy, đồng chí phải biết điều ấy! Đồng chí của đồng chí là gì? Là hòn ngọc…, tôi nói lại, là hòn ngọc, hòn vàng của đảng, là người mà chúng ta phải yêu mến nâng niu..” Nhưng, trong con mắt Tố Hữu nhìn người vừa bị chỉnh đốn kia một ánh trắng xỉn, lạnh lẽo, một cái gì khinh khỉnh.

Định nghĩa đảng viên là ngọc là vàng của đảng cho nên vào tổng kiểm thảo Tố Hữu yêu cầu học viên rất ngặt. Thứ nhất, hễ là con em hay liên quan với địa chủ, học viên đều phải thành khẩn tự khai báo với đảng mọi sai lầm tội lỗi của bản thân, chẳng hạn đồng tình, về hùa với gia đình, thậm chí cùng với gia đình trực tiếp đàn áp, bóc lột nông dân… Thứ hai, phải vạch ra mọi thủ đoạn đàn áp, bóc lột nông dân cùng tộí ác của bố mẹ, gia đình, họ hàng địa chủ, cường hào gian ác. Thứ ba trên cơ sở thành khẩn khai báo kia mà tuyên bố là căm thù bố mẹ, tỏ ra đã dứt khoát lập trường vô sản, đoạn tuyệt với kẻ thù giai cấp. 

Không đạt yêu cầu căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ thì bản tổng kiểm thảo bị “phá sản,” học viên đó phải ngồi học lại cho tới khi nào lập trường vô sản, lập trường nông dân thắng, anh ta công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ mình. Tố Hữu làm đúng lời Bác Hồ thôi. Sắp vào tổng kết tư tưởng, Bác Hồ đến nói chuyện, thực chất “động viên” học viên dứt khoát với tư tưởng sai và lầm lạc, tội lỗi của cá nhân. Như thấy làm việc cho thực dân Pháp là nhục nhưng vẫn chưa triệt để, phải tiến lên một bước nữa là thấy tội của mình… Bữa ấy Bác lôi cả nhục và tội của cụ Bùi Bằng Đoàn ra trước mọi người.

Tôi nhớ chi tiết này, vì tôi đã ái ngại cho cụ thượng thư cũ. Nhất là khi Bác Hồ nói “Xin lỗi cụ Bùi” thì cụ Bùi Bằng Đoàn rất ôn tồn đáp lại: “Không dám, xin cụ cứ nói.” Tôi có phần thiện cảm với chữ “Không dám” mà từ khi lên ATK trên rừng bây giờ mới lại nghe đến. Cũng thương cụ Bùi chỉ được gọi là Cụ! Lúc ấy tôi chưa biết Mao bày mẹo chỉnh huấn bắt khai tội cốt để hạ nhục bề dưới để dễ thu phục, dể sai khiến –tao bắt mày khai cái thối tha nhất của mày ra, mà mày nghe tao là mày hàng tao, tao nắm được ruột gan mày thì mày còn hòng thoát đi đâu. Làm nhục và sợ là yêu cầu sâu kín của “tự kiểm thảo”. Nhiều người đã tự sát. 

Người đầu tiên tự sát trong chỉnh huấn là Thân Mỡ, người đảng viên do Kỳ Vân kết nạp đầu tiên ở Đình Bảng, và chính Thân Mỡ đã kết nạp Lê Quang Đạo, Thân Mỡ treo cổ chết khi tổng kết tư tưởng, lúc ông học trường Mác-Lê ở Bắc Kinh. Ở lớp chỉnh huấn báo Cứu Quốc có Lưu Động, Chính Yên, và Thướng, biên tập viên của báo tham dự.  Thướng treo cổ bên ngòi Thia, sông Đáy. Hai anh Lưu Động, Chính Yên đã phải lặn lội tìm xác kẻ “phản bội,” phá hoại chỉnh huấn, lời của bí thư học ủy Nguyễn Chương. 

Sydney ngày 8 tháng 2 năm 2024

 

Bài 40: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ XỬ BẮN ĐỊA CHỦ PHẢN ĐỘNG NGUYỄN THỊ NĂM, NGƯỜI TỪNG… NĂM 1953. 

Cũng SÁCH ĐÈN CÙ, Trần Đỉnh viết tiếp: Là người phụ trách tổ cải cách ruộng đất của báo. Mỗi số báo tôi được hai trang để tuyên truyền cải cách ruộng đất. Chủ yếu phổ biến kinh nghiệm các đoàn đang giảm tô giảm tức ở Thanh – Nghệ. Và kinh nghiệm cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Tài liệu ở nội san các đoàn giảm tô, bản dịch được Hoàng Ước, thư ký của Hoàng Quốc Việt, người chỉ đạo cải cách ruộng đất lúc đó gửi cho. Tóm lại, các kinh nghiệm khêu gợi căm thù và tiến hành bạo lực, trong đó có cả chuyện Pavlik Morozov, cậu bé tố cáo bố phú nông ở Liên Xô.

Cải cách Ruộng đất chính thức nổ pháo hiệu đầu tiên ở xã Dân Chủ, Đồng Bẩm, Thái Nguyên, trên quốc lộ 1 lên Lạng Sơn. Đối tượng: Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, nhân sĩ tên tuổi trong Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, và cũng là Trung ương Mặt trận Liên Việt, người thường cùng họp long trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt. Nay bà trở thành địa chủ phản động, cường hào gian ác lợi dụng tiếng thân sĩ để phá hoại cách mạng và kháng chiến, có nhiều nợ máu với bần cố nông. Đặc biệt Công, con trai bà Nguyễn Thị Năm, theo Việt Minh hoạt động bí mật, nay là Chính ủy trung đoàn pháo 105 li đang học ở Côn Minh, Trung Quốc cũng bị gọi về, treo giò. 

Để có “phát pháo mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất”, Trường Chinh chỉ thị báo Nhân Dân tường thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm – Cát Hanh Long. Tôi nhận nhiệm vụ. Trường Chinh nói phân công tôi, vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội. Tôi nói tôi không dự đấu tố, thì anh bảo tôi khai thác Văn, người cấp dưỡng theo anh tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến các buổi đấu tố. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.

Thế là tôi viết bài khai hỏa cải cách ruộng đất theo sự pha phách thêm nếm khó lòng tránh khỏi của người cấp dưỡng đáng yêu của Tổng bí thư. Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB (Bác Hồ) gửi đến bài “Địa chủ ác ghê”. Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát – Hanh – Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã giết chết 14 nông dân; tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật; làm chết 32 gia đình gồm có 200 người (năm 1944). Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân (năm 1945). Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng. Thế là, ba mẹ con địa chủ Cát Hanh Long đã trực tiếp, gián tiếp giết chết ngót 260 người” (Nguyên văn bài báo “”Địa chủ ác ghê”).

Dăm bữa sau bài “phóng sự nghe kể lại,” tôi xuống Đồng Bẩm. Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu Quốc, trong đội cải cách về đây còn ở lại lo hậu sự. Tôi hỏi chuyện bắn, anh lè lưỡi lắc đầu mãi rồi mới kể lại. “Sợ lắm, tội lắm, đừng có nói với ai, chết tớ. Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh”. Du kích quát: “Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!”. Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. 

Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì nhỏ quá không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?”. Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…” Chính ủy Công, con bà Nguyễn Thị Năm, được CB (Bác Hồ) nhắc đến trong bài báo ở trên, bị điệu từ Vân Nam về và ngồi cùng mẹ chịu đấu tố, nhưng nghe nói không được dự buổi chôn cất mẹ. 

Sau Nguyễn Thị Năm một tháng đến lượt xử Cử Cáp. Phát khai hoả thứ hai. Lần này tôi đến dự buổi thi hành án: bắn. Mít tinh tuyên án vào buổi tối. Bãi đất thuộc xã Phú Xuân, vùng chè Tân Cương. Vài trăm con người ngồi vây kín lấy một khoảnh đất trống. Khai mạc rất thình lình. Cũng thình lình chánh án Lê Giản xuất hiện. Lại cũng rất thình lình mấy người lính giải hai đối tượng đi ra. Cử Cáp, hơn bảy mươi tuổi, nguyên huấn đạo, Ủy viên Mặt trận Liên Việt, cũng địa chủ kháng chiến, thân sĩ như Nguyễn Thị Năm, tức là thuộc diện bị chính sách cải cách ruộng đất chiếu cố. 

Ấn tượng mạnh nhất ở ông già là chỏm râu bạc trắng. Cạnh cụ, bí thư chi bộ nhưng nay đã thành “Quốc dân đảng” thông đồng với Cử Cáp phá hoại kháng chiến. Thấp nhỏ, chạc bốn chục tuổi, anh có cái dáng quen thuộc của cán bộ xã ta thường hay lui tới nhà cụ cùng cơm nước, ngủ đêm… Không như Cử Cáp nom lớ ngớ –  vừa sợ vừa khấp khởi… Đến phút cuối cùng thế nào đảng cũng hiểu bụng dạ trung thành của anh mà tha anh. Hai bị cói lép kẹp dưới nách, hai bị cáo đứng rúm ró. 

Chánh án Lê Giản tuyên bố Chủ tịch nước bác đơn xin ân xá. Lim, lệt sệt đôi ủng ra hô: Giải chúng đi! Vọt ra năm sáu người lính đẩy hai người tù quay lui. Tôi thấy thô bạo quá. Nhưng kìa, họ vừa mới quay người, tốp lính đã quỳ rộp một cái xuống, đưa tiểu liên lên bóp cò. Lửa nhằng nhằng. Hai cái thân đổ vật. Chị cốt cán trẻ đứng bên tôi ôm chặt lấy tôi líu lưỡi lại: Anh có dầu… dầu Con Hổ, cho em…? Hai xác người nằm thẳng mềm mại. Lịch phịch đôi ủng nặng, Lim đến bên từng người bắn vào thái dương phát súng “ân huệ”…. (Hết trích).

Sydney ngày 9 tháng 2 năm 2024

 

Bài 41: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHIẾN CỤC ĐÔNG XUÂN, VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1953-1954.

Mùa Xuân năm 1953, QĐNDVN mở cuộc tiến công lớn vào quân Pháp ở Lào với sự hỗ trợ của Quân đội Chính phủ Souphanouvong. Do hậu cần quá xa, QĐNDVN không đánh chiếm đồn binh Pháp ở Cánh đồng Chum được, Pháp coi đây là thành công lớn của họ. Ở các vùng khác, QĐNDVN phối hợp tấn công đồng bộ từ Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ, buộc đội quân Pháp phải phân tán, xé lẻ khối quân cơ động của họ. Khi Pháp không còn lực lượng cơ động để ứng cứu, hình thành Chiến cục Đông-Xuân 1953-1954. 

Ngày 8 tháng 5 năm 1953, Trung tướng Henri Navarre được cử làm Tổng Tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương thay thế tướng Raoul Salan. Tháng 7 năm 1953, Navarre đề ra một kế hoạch tổng phản công, báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre". Ngày 18 tháng 7 năm 1953, cùng lúc Navarre mở hai cuộc hành quân Hirondelle ("Con én") đánh vào Lạng Sơn, và cuộc hành quân "Camargue" đánh vào Quảng Trị, nhằm phá hủy các căn cứ hậu cần, kho tàng và máy móc của QĐNDVN. Giới truyền thông Pháp loan tin quân Pháp đã diệt được hai tiểu đoàn Việt minh, phá huỷ các kho tàng, và hầu hết căn cứ hậu cần của đối phương. 

Đầu tháng 8/1953, Navarre cho rút toàn bộ quân Pháp khỏi Cứ điểm Nà Sản. Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre lại mở cuộc hành quân Moutte đánh vào Ninh Bình và Thanh Hóa nhằm phá các căn cứ hậu cần tiền duyên, giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Tháng 11 năm 1953, Navarre mở tiếp cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ, khu vực mà ông ta cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của QĐNDVN sang Lào. Navarre quyết tâm xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.

Quân số tại cứ điểm này có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo binh 105 mm, 1 đại đội pháo 155 mm, 2 đại đội súng cối 120 m, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 18 tấn, 1 đại đội xe vận tải 200 chiếc, 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc. Trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội lính nhảy dù, Pháo được tăng thêm 4 khẩu và cho đến ngày cuối cùng được thả xuống rất nhiều bộ phận thay thế khác. Lực lượng này gồm khoảng 16.200 quân, bố trí trong 49 cứ điểm, chia làm ba phân khu; bắc, nam và trung tâm, với một hệ thống công sự dày đặc.

Phân khu BắcHim LamĐộc LậpBản KéoĐồi Độc lập có nhiệm vụ án ngữ phía bắc, ngăn chặn con đường từ Lai Châu vê Điện Biên Phủ. Trung tâm đề kháng Him Lam, tuy thuộc khu trung tâm, nhưng cùng với các vị trí Đồi Độc lậpBản Kéo là những vị trí ngoại vi đột xuất án ngữ phía đông bắc, ngăn chặn tiến công từ hướng  Tuần Giáo vào. Phân khu Trung tâm: Các điểm cao phía đông – DominiqueEliane, sân bay Mường Thanh, và các cứ điểm phía tây Mường Thanh – HuguetteClaudine, đây là khu vực mạnh nhất của quân Pháp, tập trung hai phần ba lực lượng. Phân khu Nam: cụm cứ điểm và sân bay Hồng Cúm – Isabella.

Theo Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Văn Sự, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng thì: Sau khi nghe báo cáo của Tổng quân uỷ, tại phiên họp ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị kết luận: “Về địch, Điện Biên Phủ sẽ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng lại bị cô lập, mọi tiếp tế đều phải dựa vào đường không. Về ta, với chất lượng đã đươc nâng cao thêm một bước trong chỉnh huấn, chỉnh quân và sự tiến bộ về trang bị, kỹ thuật có thể đánh được tập đoàn cứ điểm. Vấn đề đường sá tiếp tế cho chiến dịch đúng là một khó khăn rất lớn. Nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, cả hậu phương đang chuyển động mạnh trong cải cách ruộng đất, sẽ tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến và nhất định bảo đảm cung cấp cho chiến dịch”.

Từ nhận định đó, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh “Trần Đình” cử đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh chiến dịch làm Bí thư Đảng uỷ. Bác Hồ nói:“Giao cho chú toàn quyền quyết định. Chắc thắng thì đánh. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh…”.Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Bác Hồ, khi bước vào chiến dịch, quân và dân ta phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thử thách mới nảy sinh. Trước hết là tại chiến trường Điện Biên Phủ, tình hình địch đã có nhiều thay đổi, không giống như thời điểm Bộ Chính trị thông qua phương án tác chiến (tháng 12/1953). 

Chúng đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội sẽ phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có. Vấn đề đặt ra là “có hay không” triển khai thực hiện phương án củ? Nếu đánh thì  không bảo đảm chắc thắng như lời căn dặn của Bác Hồ, nếu hoãn thì sẽ giải quyết ra sao khi pháo binh đã vào vị trí, các Đại đoàn đều đã có mặt ở tuyến xuất phát xung phong? Trên cơ sở khảo sát thực tế những thay đổi của địch tại Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh quyết định “hoãn trận đánh”, thay đổi phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. 

Điều đó cũng có nghĩa là toàn bộ kế hoạch tác chiến phải chuẩn bị lại từ đầu, các đơn vị pháo binh sẽ phải kéo pháo ra khỏi trận địa, các đơn vị bộ binh sẽ phải rút quân khỏi vị trí xuất phát về vị trí tập kết…Đó là một quyết định khó khăn nhất trong đời như lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và cũng là vấn đề vô cùng phức tạp đối với cán bộ, chiến sỹ và các lực lượng có liên quan… Quá trình thực hành tác chiến theo phương châm mới, cán bộ, chiến sĩ ta dù phải “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt; máu trộn bùn non…”, nhưng “gan không núng, chí không mòn” ra sức thi đua giết giặc lập công. 

Sydney ngày 10 tháng 2 năm 2024

 

Bài 42:  CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ VIỆC HUY ĐỘNG LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM, DÂN CÔNG, XE ĐẠP THỒ VẬN TẢI CHO CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954.

Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Văn Sự viết tiếp: Khó khăn tiếp theo là làm sao để bảo đảm cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho chiến dịch Điện Biên Phủ, trong khi chiến trường ở rất xa hậu phương, mà đường tiếp tế thì độc đạo. “Đánh nhanh, thắng nhanh” bảo đảm đã khó, nay chuyển phương châm và kế hoạch tác chiến, khó khăn càng tăng thêm gấp bội. Theo số liệu tổng kết của Tổng cục Hậu cần, lượng gạo huy động cho chiến dịch là 25.056 tấn, ở tuyến chiến dịch, yêu cầu lương thực bình quân phải đáp ứng lên tới 90 tấn/ngày. Ngay tại Điện Biên Phủ phải có 50 tấn/ngày.

Bộ Chính trị chủ trương: “toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Điện Biên Phủ, nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”. Hội đồng cung cấp mặt trận Trung ương đã được thành lập do Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, trực tiếp chỉ đạo các ngành kinh tế, tài chính dốc sức chi viện; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh vào Thanh Hoá là vùng đông dân nhiều gạo; Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng về chiến trường quen thuộc đồng bằng Liên khu III trực tiếp phổ biến nhiệm vụ, hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương huy động nhân lực, vật lực, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đồng bào các dân tộc Tây Bắc, còn nhiều khó khăn, cấp trên không chủ trương huy động, nhưng đồng bào nơi đây vẫn hăng hái đóng góp cho chiến dịch 1.200 tấn gạo, 300 tấn thịt và gần 100 tấn rau. Ở Liên khu IV, chủ yếu là tỉnh Thanh Hoá đã huy động được hơn 8.000 tấn lương thưc, 2.000 tấn thức ăn khô. Liên khu Việt Bắc 7.311 tấn lương thực, riêng tại Lai Châu là 2.266 tấn. Ở Liên khu III, tuy còn nhiều vùng bị địch chiếm, cũng huy động được 1.183 tấn gạo, 57 tấn muối. Là nơi trực tiếp chiến đấu với địch, nhân dân Điện Biên Phủ cũng đóng góp được 555 tấn lương thực, vượt mức trên giao 64 tấn, 226 tấn thịt, vượt mức 43 tấn…

Vấn đề tiếp theo là làm thế nào để vận chuyển một khối lượng lương thực, thực phẩm khổng lồ từ hậu phương ra tiền tuyến? Chính quyền đã huy động dân công và tất cả các phương tiện thô sơ có được từ các địa phương vận chuyển vật chất đáp ứng yêu cầu cho chiến dịch. Điển hình là hơn 2 vạn xe đạp thồ - một phương tiện vận tải độc đáo trong chiến tranh nhân dân - có vai trò hết sức quan trọng và hiệu quả. Ngoài việc tham gia vận tải gạo, đạn cho chiến trường, lực lượng dân công còn tích cực tham gia vận chuyển thương binh ra hậu cứ để cứu chữa, vào tận chiến hào để phục vụ chiến đấu. (Nguyễn Văn Sự Đại tá, PGS. TS. Tuyên giáo, Thứ Bảy, 4/5/2019 12:26'(GMT+7).

Trong bài “Công tác vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ” Đại tá-Thạc sĩ Trần Đình Quang viết: Tổng Quân uỷ nhận định: Để tiến hành Chiến dịch, ta gặp rất nhiều khó khăn; khó khăn lớn nhất là cung cấp mà chủ yếu là vấn đề đường sá. Theo phương án trên, nhu cầu hậu cần bảo đảm cho Chiến dịch rất lớn, gồm 434 tấn đạn, 7.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm, cứu chữa 5.000 thương binh... Trong khi đó, khả năng huy động hậu cần tại chỗ rất hạn chế, nhân dân còn rất nghèo, vì vậy chủ yếu phải chuyển từ hậu phương lên. Các tuyến vận tải rất dài từ Việt Bắc sang cách xa 700 km, từ Sơn La lên ngắn nhất cũng 150 km, rừng núi hiểm trở, nhiều sông suối, đường xấu... 

Ngành Hậu cần đã dốc toàn lực và huy động 261.451 lượt dân công bằng 12 triệu ngày công, bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia chiến dịch, trong đó 53.830 người trực tiếp chiến đấu; vận chuyển, cứu chữa 8.458 thương bệnh binh; bảo đảm 1.200 tấn đạn, 1.733 tấn xăng dầu, 14.500 tấn gạo, 268 tấn muối, 577 tấn thịt, 1.034 tấn thực phẩm và 177 tấn vật chất khác, gấp gần 3 lần dự kiến ban đầu, và hàng chục lần nếu đánh theo phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”. Điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt, khả năng của ta còn hạn chế, máy bay địch lại thường xuyên đánh vào các tuyến giao thông, ngày cao nhất sử dụng 250 lần chiếc với 1.186 trận đánh phá. 

Các đèo Lũng Lô, Pha Đin, các đầu mối giao thông Cò Nòi, Tuần Giáo, bến phà Tạ Khoa... thành trọng điểm đánh phá của địch. Bộ chỉ huy Chiến dịch đã sử dụng 4 tiểu đoàn công binh cùng hàng vạn dân công bám các trục đường đánh máy bay địch đánh phá khắc phục bảo đảm giao thông. Từ trung tuyến trở lên ta đã sửa được 308 km đường ô tô, làm mới 63 km đường kéo pháo, phá 102 thác để tổ chức vận tải thuỷ trên sông Nậm Na... Tổng khối lượng đào đắp lên tới 35.000m3 đất, 15.000m3 đá, phá hàng ngàn quả bom nổ chậm. 

Cùng với đó, công tác chính trị, tư tưởng, nuôi dưỡng, bảo đảm sức khoẻ cũng được quan tâm nên lực lượng vận tải luôn có quyết tâm cao và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. (Trần Đình Quang, Đại tá Thạc sĩ, Quân đội Nhân dân Online 21/04/2014, 10:37).

Sydney ngày 11 tháng 2 năm 2024

 

Bài 43: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ VIỆC HUY ĐỘNG DÂN CÔNG LÀM ĐƯỜNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ… , VÀ HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954.

Trong bài “Giao thông vận tải: Điểm tựa cho chiến thắng Điện Biên Phủ” Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền viết: Nhiệm vụ mở đường và bảo đảm Giao thông Vận tải cho chiến dịch, phục vụ 42.750 cán bộ, chiến sỹ gồm cả pháo binh, cơ giới; và 260.000 dân công hoạt động chuyển quân tập kết trước, trong và sau chiến dịch, Trung ương Đảng đã chỉ đạo triển khai xây dựng ba hướng tuyến chính phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ là: Hướng tuyến phía Bắc từ biên giới Việt - Trung về Thái Nguyên; Hướng tuyến phía Nam từ Nghệ An - Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III ra Hòa Bình; và Hướng tuyến Đông - Tây từ Hòa Bình theo đường 6, (41), 42 đi Tuần Giáo.

Hướng tuyến phía Bắc từ biên giới Việt - Trung về Thái Nguyên đi Yên Bái theo đường 13 bến Ba Khe - Cò Nòi. Đây là trục chính vận chuyển các loại vũ khí, khí tài phục vụ chiến dịch nên phải tập trung 02 vạn dân công với khoảng 02 triệu ngày công thi công suốt ngày đêm, làm mới đoạn Yên Bái - Cò Nòi… Hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên đã huy động một khối nhân lực lớn sửa chữa, nâng cấp và mở tiếp tuyến đường từ Thủy Khẩu đi Bắc Kạn và Thái Nguyên; đường Võ Nhai - Bắc Sơn và mở rộng bến phà Thác Oánh; đường Cao Bằng - Bắc Kạn qua Chợ Mới - Bờ Đậu lên Tây Bắc hoặc Cao Bằng - Bắc Kạn - Tuyên Quang - Yên Bái - Ba Khe - Cò Nòi…; đường 31 - Chợ Chu - Quán Vuông - Khuôn Ngàn nối đường 3 lên căn cứ an toàn Đèo Khế. 

Hướng tuyến phía Nam từ Nghệ An - Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III ra Hòa Bình dài trên 320km cũng đã phải huy động tới 2,6 vạn dân công với khoảng 2,6 triệu ngày công làm đường và bảo đảm giao thông cho các loại xe thô sơ, xe thồ vận chuyển lương thực, thực phẩm ra chiến trường.. Riêng Thanh Hóa tập trung 13.564 dân công và 6.320 thanh niên xung phong của Khu làm đường 15A đoạn Hồi Xuân - Mục Sơn, Mục Sơn - Đồng Trầu dài 114km. Nhân dân vùng đồng bằng Liên khu III từ Nho Quan và các vùng Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình nô nức đi dân công vận chuyển lương thực, thực phẩm lên Hòa Bình và tiếp tục về chiến trường Điện Biên Phủ.

Hướng tuyến Đông - Tây từ Hòa Bình theo đường 6 (41), 42 đi Tuần Giáo - Điện Biên Phủ cũng được gấp rút xây dựng. Do lưu lượng phương tiện vận tải, xe kéo pháo, xe thồ, bộ đội, dân công đi lại trên tuyến chính quá đông, thường ùn tắc, nên phải mở thêm một số tuyến mới để: (a) Mở tuyến từ vùng sông Mã đi Mường Luân - Nà Sang vận chuyển gạo của dân công Thanh Hóa lên phục vụ cho các đơn vị tác chiến ở phía Nam Điện Biên Phủ; (b) Mở đường cho vận tải thô sơ theo đường mòn vượt núi qua Khẩu Hu, Cò Chảy ở phía Bắc Điện Biên Phủ để tập kết gạo, đạn cho các đơn vị tác chiến ở mũi phía Bắc và phía Tây Điện Biên Phủ; (c) Mở tuyến vận chuyển từ Ba Nậm, Cúm qua Lai Châu đi Bản Tấu. Tổng chiều dài luồng tuyến vận tải cho chiến dịch Điện Biên Phủ lên tới 3.500 km. (Tiến sĩ Nguyễn Văn Quyền, Tạp chí Điện tử Giao thông Vận tải - Thứ sáu, 25/05/2018, 06:18).

Trong bài “Góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ” Mai Luận viết: Theo lịch sử Đảng bộ quân sự tỉnh, Thanh Hóa đã huy động 34.177.235 ngày công làm đường và tiếp vận, phục vụ năm chiến dịch lớn: Trung Du, Quang Trung, Hòa Bình, Thượng Lào và Điện Biên Phủ; huy động lương thực, thực phẩm đáp ứng 70% nhu cầu chiến dịch; động viên 56.792 thanh niên vào bộ đội bổ sung cho các chiến trường, 6.321 thanh niên xung phong. Riêng năm 1953 và sáu tháng đầu năm 1954 Thanh Hóa có 28.890 thanh niên nhập ngũ, bằng tổng tuyển quân giai đoạn 1946-1952. 

Các tài liệu tổng kết chiến tranh và quân sự cho thấy, chỉ riêng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã huy động 102.254 ngày công dài hạn, 76.670 ngày công ngắn hạn phục vụ chiến dịch. Ngoài ra Thanh Hóa đã huy động hơn 10 nghìn xe đạp thồ, 1.126 thuyền gỗ, 31 ô-tô, 180 xe bò, 42 ngựa, ba con voi thồ hàng và toàn tỉnh đã vận chuyển, cung ứng 50% khối lượng lương thực, 40% khối lượng thực phẩm cho cả chiến dịch. (Mai Luận, Báo Nhân Dân Điện tử - Thứ Tư, 08-05-2019, 18:09 Facebook Email Bản in +).

Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, thì quân Pháp đầu hàng. Trong thời gian chiến dịch, Pháp không có khả năng xoay chuyển tình thế nên đã đề nghị Mỹ cứu viện. Nhưng tổng thống Eisenhower đã quyết định quân Mỹ sẽ không đổ bộ vào Việt Nam. Sau 56 ngày đêm cố thủ, ngày 7 tháng 5 năm 1954, cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ 18.000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của QĐNDVN trong toàn bộ Kháng chiến chống Pháp. 

Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954, ban đầu để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương.  Nhưng, do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả, nên từ ngày 8 tháng 5, vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận. Sau 75 ngày đàm phán với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao dồn dập đằng sau các hoạt động công khai. Ngày 20/7/54, các bản Hiệp định đã soạn thảo xong. Ngày 21/7/54, Hội nghị họp phiên cuối cùng, Chủ tịch phiên họp là đại biểu Anh Anthony Eden, hỏi lại từng Phái đoàn xem có xác nhận không. 

Các phái đoàn lần lượt tuyên bố xác nhận, ngoại trừ vài ý kiến dè dặt về một số điều khoản (Mên, Lào, Việt, Mỹ). Những ý kiến đó không làm thay đối các dự thảo Hiệp định. Hiệp định Genève chính thức ký kết ngày 21/7/1954. Ngày 9/10, QĐNDVN tiếp thu Hà Nội và trở thành thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hôm sau 10/10 Sư đoàn 308 Việt Minh tổ chức diển binh. Ngày 15/10/54, Hồ Chí Minh về Hà Nội. Ngày 30/10/54, tiền Bảo Đại không được tiêu dùng ở Hà Nội nữa.

Sydney ngày 12 tháng 2 năm 2024

(Hết Chương 3 có 21 bài: 23-43)

 

 

 

 

 

 

 

 Chương IV: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 2 CHÍNH QUYỀN VÀ 2 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1955-1960.

(20 bài viết, 41 trang và 28.188 chữ). 

Hai chính quyền từ 1955 đến 1959: (1) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và chính phủ Phạm Văn Đồng tại Bắc Việt Nam; (2) Chính quyền Việt Nam Cộng hoà và chính phủ Ngô Đình Diệm tại Nam Việt Nam. 

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

Bài 44: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM 1955-1959.

Tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa I từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955, Quốc hội đã thông qua quyết định mở rộng Chính phủ: Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng được cử làm Thủ tướng Chính phủ, và hai Phó Thủ tướng: Phan Kế Toại kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Võ Nguyên Giáp kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đến Kỳ họp thứ mười, từ ngày 20 đến ngày 27 tháng 5 năm 1959, Quốc hội phê chuẩn việc cử  Phạm Văn Bạch giữ chức Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao.

Tình hình Miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1959 là thời kỳ phục hồi, tổ chức, xây dựng lại đất nước, và tích lũy để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp tới. Về Nông nghiệp miền Bắc không thuận lợi như miền Nam do đất canh tác ít hơn, lại hay bị lũ lụt. Nông nghiệp miền Bắc có những năm thậm chí còn không đủ để nuôi sống người dân chứ đừng nói đến thặng dư xuất khẩu. Nhưng, miền Bắc có thuận lợi về khoáng sản để phát triển công nghiệp. Chiến tranh cũng đã tàn phá nặng nề cơ sở vật chất, các công trình cầu đường bị phá hủy, nhiều làng xóm bị đốt trụi. 

Những người lãnh đạo bắt tay vào việc tổ chức, xây dựng đất nước theo “mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên xô và Trung quốc, đặc biệt là vận dụng các phương pháp cực đoan của Mao Trạch Đông trong "công tác phát động quần chúng", “đấu tranh giai cấp”, và “thực hành chuyên chính vô sản”. Các chiến dịch Cải cách ruộng đất; Hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo tư bản tư doanh. Chống Nhân văn Giai phẩm đã san bằng các thành phần xã hội, tiêu diệt giai cấp tư sản, địa chủ…Đời sống xã hội dựa trên nguyên tắc kỷ luật hoá cao độ, các quyền tự do các nhân và các tổ chức bị hạn chế tối đa. 

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố: Thời kỳ khôi phục kinh tế đã kết thúc và mở đầu thời kỳ phát triển kinh tế một cách có kế hoạch. Tháng 11/1958, Đảng Lao động quyết định đề ra kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa trong 3 năm 1958-1960 và tiến hành Cải tạo xã hội chủ nghĩa được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 12 năm 1958. Đã có tới 84,8% số hộ nông dân ở miền Bắc gia nhập hợp tác xã, chiếm 76% tổng diện tích canh tác, 520 hợp tác xã ngư nghiệp chiếm 77,2% tổng số hộ đánh cá, có 269 hợp tác xã nghề muối chiếm 85% tổng số hộ làm muối. 

Ở thành thị, 100% số cơ sở công nghiệp tư bản tư doanh thuộc diện cải tạo đã được tổ chức thành xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp tác, 1.553 doanh nhân thành người lao động. Có 90% tổng số thợ thủ công trong diện cải tạo đã tham gia các hợp tác xã thủ công nghiệp, trong đó hơn 70.000 thợ thủ công chuyển sang sản xuất nông nghiệp. Trong lĩnh vực thương nghiệp, 60% tổng số người buôn bán nhỏ, làm dịch vụ, kinh doanh ngành ăn uống thuộc diện cải tạo đã tham gia hợp tác xã, tổ mua bán, làm đại lý cho thương nghiệp quốc doanh và trên 10.000 người đã chuyển sang sản xuất.

Theo Đại cương Lịch sử Việt Nam do Lê Mậu Hãn chủ biên, trong bối cảnh phương Tây đang tiến hành gây rối loạn ở hệ thống xã hội chủ nghĩa từ đầu năm 1955, lực lượng tình báo nước ngoài đã kích động một bộ phận văn nghệ sĩ có chính kiến đối lập tạo nên Phong trào Nhân văn Giai phẩm. Ban đầu, phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ phê phán những sai lầm, nhưng về sau dần phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, phủ nhận quyền lãnh đạo duy nhất của đảng Lao động Việt Nam về Chính trị và Nhà nước thậm chí kích động kêu gọi nhân dân xuống đường biểu tình. 

Cuối năm 1956, chính quyền quyết định chấm dứt Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. Ngày 10/4/58, những người liên can đến vụ Nhân Văn 1956 bị ghép tội “Gián điệp” bắt giam gồm: Nữ sĩ Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Lê Nguyên Chí.v.v. Ngày 17/4/58, nhiều nhà văn nghệ như Đào Duy Anh, Văn Cao, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Từ Phác, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Cầm, Trần Duy, Trần Dần, Thụy An, Hoàng Tích Linh.v.v. bị Tổng cục Chính trị kết tội phản động, phản đảng, phản Mác-Lê. Ngày 19/1/60, Nguyễn Hữu Đang, Lê Nguyên Chí, Trần Thiếu Bảo bị Toà án Hà Nội kêu án khổ sai hoặc tù về tội “gián điệp Mỹ”. 

Trong thời kỳ này, xã hội Miền Bắc hoàn toàn bị chi phối bởi sự điều khiển của chính quyền, các quyền dân sự bị thu hẹp, các quyền tự do chính trị, tự do ngôn luận, xuất bản báo chí bị hạn chế tối đa, quyền làm việc, cư ngụ, đi lại, giao thiệp, cưới hỏi đều phải có sự cho phép của Nhà nước. Đời sống xã hội dựa trên nguyên tắc kỷ luật hóa cao độ dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng Lao động Việt Nam. Xã hội nhanh chóng chuẩn bị cho cuộc sống quân sự hóa cao "Toàn dân - Toàn diện" theo phương châm "Mỗi người dân đều là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài"

Việc hiện đại hóa quân đội được tiến hành, nhưng chậm và không đồng bộ, nhiều Sư đoàn bộ binh được thành lập thêm, nhưng vẫn mang tính bộ binh đơn thuần, hỏa lực hạng nặng thiếu và chắp vá. Quân đội chưa có các quân binh chủng kỹ thuật cao như không quân, radar, hải quân, tăng, thiết giáp... còn đang trong quá trình sơ khai; phương tiện vận tải, thông tin liên lạc còn yếu kém. Vào cuối năm 1959, miền Bắc đã bí mật cho tiến hành thăm dò, phát triển tuyến đường tiếp vận chiến lược: Đường Trường Sơn còn được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh.  

Sydney ngày 13 tháng 2 năm 2024

 

Bài 45: CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT BẮT ĐẦU TỪ NĂM 1953 ĐƯỢC ĐẨY NHANH CHO ĐẾN NĂM 1956: BÀI VIẾT TỪ BÁCH KHOA TOÀN THƯ

BÁCH KHOA TOÀN THƯ mở viết: Tháng 10 năm 1952, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bản "chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam" cho Stalin để "đề nghị xem xét và cho chỉ dẫn" và cho biết chương trình hành động được lập bởi chính ông dưới sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ. Từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 12 năm 1953, tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lý hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ".

Ngày 4 tháng 12 năm 1953, Quốc hội thông qua luật Cải cách ruộng đất 197/HL, và Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành ngày 19 tháng 12 năm 1953. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhóm họp, và chỉ định một Ủy ban Lãnh đạo Cải cách Ruộng đất gồm: (1) Hồ Chí Minh, Chủ tịch Đảng Lao động, Chủ tịch nhà nước Việt Nam, Phát động và làm tư tưởng cuộc Cải cách. (2) Trường Chinh, Tổng Bí thư đảng, Trưởng ban chỉ đạo. (3) Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban chỉ đạo thí điểm Thái Nguyên. Lê Văn Lương Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Trưởng ban chỉ đạo thí điểm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh. Hồ Viết Thắng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương đảng, Giám đốc trực tiếp điều hành chiến dịch.

Về phía nhà nước: (1) Chủ nhiệm Ban cải cách ruộng đất Trung ương: Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng. (2) Ba Phó chủ nhiệm: Trường Chinh Tổng Bí thư Đảng Lao động. Nghiêm Xuân Yêm, Bộ trưởng canh nông. Hồ Viết Thắng, Thứ trưởng canh nông, trưởng ban liên lạc nông dân toàn quốc. (3) Các Ủy viên: Trần Văn Đức, ủy viên Trung ương Đảng dân chủ; Nguyễn Công Hoà, ủy viên BCH Tổng liên đoàn lao động. Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng công an; Vũ Đình Hoè, bộ trưởng tư pháp; Tố Hữu, tổng giám đốc nha tuyên truyền và văn nghệ; Linh mục Vũ Xuân Kỳ, ủy viên Liên Việt toàn quốc. Nguyễn Lam, bí thư đoàn thanh niên cứu quốc; Trần Lương, đại biểu quân đội.  Phan Tư Nghĩa, Tổng thư ký Đảng xã hội; Tôn Quang Phiệt, đại biểu Ban thường trực Quốc hội…. 

Chương trình Cải cách Ruộng đất được thực hiện qua bốn bước chính: Huấn luyện cán bộ; Chiến dịch Giảm tô; Chiến dịch Cải cách Ruộng đất; và Chiến dịch Sửa sai. Bước 1: HUẤN LUYỆN CÁN BỘ. Các cán bộ Đảng Lao động tham gia Cải cách ruộng đất được đưa đi học khóa chỉnh huấn 1953 nhằm giúp cán bộ nắm vững đường lối của đảng trong Cải cách ruộng đất, và quán triệt quan điểm. Tổng số cán bộ được điều động vào công tác là 48.818 người. Bước 2: CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ. Chiến dịch Giảm tô được thực hiện qua 6 bước nhỏ: Phân định thành phần; Phân loại địa chủ; Áp dụng thoái tô; Học tập tố khổ, truy bắt địa chủ; Tố cáo địa chủ; Và, Xử án địa chủ. 

Bắt đầu chiến dịch Giảm tô, các “Đội Cải cách Ruộng đất” đi vào làng xã, thực hiện "3 Cùng" (cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm) với các bần cố nông trong làng xã, kết nạp họ thành "rễ", thành "cành" của đội, sau đó triển khai chiến dịch theo trình tự 6 bước nhỏ: (1) Phân định thành phần: Tất cả các gia đình trong xã được họ phân loại thành 5 thành phần: (a) địa chủ; (b) phú nông; (c) trung nông (cứng; vừa; yếu) (d) bần nông; (e) cố nông. (2) Phân loại địa chủ: Có 3 loại: Địa chủ gian ác; Địa chủ thường; Địa chủ có ủng hộ kháng chiến. Thành phần “Địa chủ gian ác” bị đội cải cách bắt ngay, và bị quản thúc. 

(3) Áp dụng thoái tô: Đối với các gia đình có địa chủ bị bắt và bị quản thúc, Đội cải cách thông báo với họ về các sắc lệnh giảm tô của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bao gồm: Sắc lệnh tháng 11 năm 1945, giảm tô xuống 25%; Sắc lệnh số 87/SL năm 1952 và 149/SL năm 1953 giảm tô thêm 25%. Căn cứ theo đó, địa chủ nào chưa giảm tô cho nông dân thì bây giờ phải trả cho nông dân khoản nợ đó — gọi là "thoái tô". Nếu địa chủ nào không trả đủ nợ thì tài sản bị tịch thu, phân phát cho nông dân. (4) Học tập tố khổ, truy bắt địa chủ: Trước đó, các bần nông, cố nông, "chuỗi", "rễ" được Đội cải cách “cho học một lớp tố khổ” do họ mở, qua đó học viên được nhận dạng các tội ác của địa chủ, đã bóc lột, chèn ép họ như thế nào. 

(5) Tố cáo địa chủ: Các buổi tố cáo được tổ chức công khai, thông thường vào ban đêm. Số lượng người tham gia tố cáo từ vài trăm đến cả ngàn người, huy động từ các làng xóm lân cận, và thời gian từ một đến ba đêm tùy theo mức độ tội trạng của địa chủ. Trong buổi đấu tố, các nông dân bước ra tố cáo địa chủ đã bóc lột, áp bức họ như thế nào. Sau khi bị quần chúng tố cáo, các địa chủ được tạm giam trở lại, để chờ tòa án nhân dân xét xử. (6) Xử án địa chủ: Tại các huyện, một Tòa án Nhân dân Đặc biệt được lập ra và đi về các xã xét xử địa chủ. Sau khi kết án, nếu bị kết án tử hình, đội tự vệ xã sẽ thi hành án, có thể là trước công chúng. 

Bước 3: CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Sau khi chiến dịch Giảm tô được triển khai nhiều tháng, chương trình Cải cách Ruộng đất chính thức bắt đầu, với hình thức tương tự, nhưng trên địa bàn rộng lớn hơn. Từ cuối năm 1954, dưới sức ép của cố vấn Trung Quốc, chiến dịch cải cách ruộng đất bắt đầu được đẩy mạnh và nhanh, với cường độ lớn. Quyết liệt nhất là ở Thái Bình, nơi có đến 294 xã được đưa vào cải cách. Tổng cộng có năm đợt cải cách ruộng đất từ 1953 đến 1956 tiến hành tại 3.314 xã, 810.000 hecta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho 2 triệu hộ, chiếm khoảng 72,8% số hộ nông dân ở miền Bắc. 

Tuy nhiên, ở một góc độ khác, việc thực hiện cải cách ruộng đất đã gây ra nhiều hậu quả lớn. Ở các đợt đầu, cải cách diễn ra có kiểm soát và trật tự, đạt hiệu quả tốt. Nhưng từ giữa năm 1955, do tiến hành vội vã, ở một số nơi đã xuất hiện hiện tượng nông dân địa phương trở nên quá khích, đấu tố tràn lan mất kiểm soát, đã có nhiều người bị oan sai. Do sự quá khích và trình độ dân trí thấp của nông dân địa phương, các gia đình địa chủ có thành tích kháng chiến, kể cả các gia đình có đảng viên, cán bộ, bộ đội phục vụ trong kháng chiến cũng bị tố cáo. 

Có những nơi cả cán bộ đảng viên, sĩ quan quân đội cũng bị nông dân địa phương bắt giữ, chính quyền địa phương không dám ngăn chặn vì sợ kích động bạo lực với đám đông quần chúng. Ví dụ như tướng Vương Thừa Vũ, Chủ tịch Ủy ban Quân quản từng bị nông dân địa phương bắt giữ, chính quyền trung ương phải tới can thiệp mới giải cứu được. Mức 5,68% địa chủ trong dân số địa phương là cao hơn rất nhiều so với thực tế. Tổng số người bị quy là địa chủ trong Cải cách ruộng đất đã được thống kê là 172.008 người; trong đó số người bị quy sai là 123.266 người, chiếm tỷ lệ 71,66%.

Bước 4: CHIẾN DỊCH SỬA SAI. Tháng 2/1956,  Hội nghị Trung ương đảng lần thứ 9 tuyên bố các sai lầm trong cải cách ruộng đất. Tháng 3/1956, Quốc hội họp lần thứ 4 tường trình bản báo cáo các sai lầm và biện pháp sửa sai. Ngày 18/81956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm và cho biết Trung ương đảng và chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm các sai lầm. Ngày 24/8/1956, báo Nhân dân công bố có một số “đảng viên trung kiên” đã bị hành quyết sai lầm trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất.

Tháng 9/1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương đảng nhận định các nguyên nhân đưa đến sai lầm, và thi hành biện pháp kỷ luật đối với Ban lãnh đạo chương trình Cải cách Ruộng đất như sau: ông Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư đảng, nhưng vẫn là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; ông Hoàng Quốc Việt ra khỏi Bộ Chính trị, xuống ủy viên Trung ương; ông Lê Văn Lương ra khỏi Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và Bí thư Trung ương Đảng xuống ủy viên dự khuyết TW; và ông Hồ Viết Thắng bị loại ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng. 

Có hơn 70% người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông là quy sai. Có trường hợp là cán bộ, đảng viên lãnh đạo cũng bị dân chúng kéo đến đấu tố mà không cần chứng cứ. Chẳng hạn như: Phó Bảng Đặng Văn Hướng, Bộ trưởng phụ trách Thanh - Nghệ - Tĩnh của Chính phủ, là bố đẻ Đại tá Đặng Văn Việt, Trung đoàn trưởng đầu tiên, anh hùng lực lượng vũ trang Việt Minh, khi ông Hướng về quê đã bị dân địa phương đấu tố, vì ông Hướng từng làm quan cho triều Nguyễn, ông không bị bắn, nhưng tự tử chết tại quê nhà Diễn Châu. 

Hoàng Giáp Thượng Thư Nguyễn Khắc Niêm cha của nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện cũng bị dân địa phương tại quê nhà Hương Sơn, Hà Tĩnh quy tội vì từng làm quan to cho triều Nguyễn, bị giam trong chuồng nuôi hươu, phải ăn cả cơm thiu, gạo hẩm.  Ông Phan Đăng Dư cha của Phan Đăng Lưu, Uỷ viên thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ông Dư bị quy địa chủ, và kết án 20 năm tù, giải đi nhà lao Bến Hới (Tân Kỳ), sau đó qua đời trên đường đi. Dân điạ phương gọi là ông Phán Dư, vì ông có ba người con làm Thông phán Phan Đăng Lưu (Phán Tằm), Phan Đăng Triều (Phán Triều), Phan Đăng Tài (Phán Tài). Cả ba người đều theo cách mạng. 

Hoặc bà Nguyễn Thị Năm, mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, và Trường Chinh, có con trai Nguyễn Văn Cônglà trung đoàn trưởng lớp đầu tiên của Quân đội Nhân dân. Bà Năm cũng đã từng hiến 100 lạng vàng cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khi mới thành lập. Hoặc trường hợp Thiếu tướng Vương Thừa Vũ, Tư lệnh Đại đoàn 308, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Hà Nội cũng bị một nhóm người dân bắt ở ngoại thành Hà Nội vì có người tố cáo ông là "địa chủ, có xuất thân là tư sản, lập trường chính trị không rõ ràng". 

Trong Cải cách ruộng đất, Đảng Lao động Việt Nam cũng thực hiện chỉnh huấn. Tổng số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật trong Chỉnh huấn là 84.000 người, chiếm tỷ lệ hơn 55%. Có những chi bộ tốt lại bị người dân tố cáo là chi bộ phản động, bí thư hoặc chi ủy viên chịu kỷ luật nặng, có bí thư bị xử bắn. Tình hình chỉnh đốn ở cấp huyện và cấp tỉnh cũng hỗn loạn, số cán bộ lãnh đạo các cấp này bị kỷ luật oan sai cũng chiếm tỷ lệ lớn. Hà Tĩnh là tỉnh cá biệt, có 19 cán bộ tỉnh ủy viên, công an, huyện đội tham dự chỉnh đốn đảng đều bị kỷ luật.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói về tình trạng kết án oan sai trong bài diễn văn đọc trước Mặt Trận Tổ Quốc, ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại Hà Nội: Qua cuộc Cải cách ruộng đất ta thấy bao nhiêu các chiến sĩ cách mạng với thành tích lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai huy chương kháng chiến, bị kết án là phản động, cường hào gian ác, và sau khi nhận tội, bị tống giam hay bị hành hình. [...] Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói được, họ chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng, vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được?”. (Hết trích)

Sydney ngày 14 tháng 2 năm 2024

 

Bài 46: CỘNG SẢN THỰC HIỆN CÁC BƯỚC TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI BẮC VIỆT NAM 1953-1956: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

SÁCH TỪ THỰC DÂN TỚI CỘNG SẢN, Hoàng Văn Chí viết: Cộng sản thực hiện Cải cách Ruộng đất qua bốn bước chính: Huấn luyện cán bộ; Chiến dịch Giảm tô; Chiến dịch Cải cách Ruộng đất; và Chiến dịch Sửa sai, trong đó CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ (CDGT) vào những năm 1953 và 1954, và CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (CDCCRĐ) vào những năm 1954 và 1956 là khốc liệt nhất. Năm 1955, cộng sản tạm thời đình chỉ cải cách ruộng đất vì, theo Hiệp định Genève sẽ có 300 ngày, để người ta có thể vào Nam hoặc ra Bắc, và đã có gần một triệu người từ Bắc di cư vào Nam. Hết thời hạn 300 ngày, nhất là, sau khi chiếm đóng Hải Phòng, hải cảng cuối cùng, người Bắc không thể thoát vào Nam được, họ tiếp tục đấu tố trở lại. 

Mục đích của “Giảm tô” và “Cải cách Ruộng đất” là tiêu diệt toàn bộ giai cấp địa chủ để tiến tới việc thành lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn. Nói một cách rõ hơn thì Chiến dịch Giảm tô cốt tiêu diệt sơ bộ những phần tử “có máu mặt” ở nông thôn, mà cộng sản gọi là “phản động chính”, tịch thu tiền bạc, nữ trang hoặc châu báu, tức là những “của nổi, của chìm” mà họ giấu giếm hoặc giao cho gia đình, quyến thuộc cất giữ. Còn Chiến dịch Cải cách Ruộng đất nhằm vào những người chỉ “có đủ bát ăn”, mệnh danh là “phản động phụ”. Nhóm thứ hai này tương đối nghèo hơn, không có vàng bạc châu báu. 

Muốn có một ý niệm rõ ràng hơn, chúng ta hãy lấy một ví dụ sau đây: Giả sử trong một làng nào đó có 25 gia đình tạm gọi là A, B, C, D, vân vân, theo thứ tự bản mẫu tự và theo giầu, nghèo. A giầu nhất và Z nghèo nhất. Lúc khởi đầu CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ, Đảng dạy cho nông dân cách phân định nhân dân trong làng thành nhiều thành phần khác nhau. Chiếu theo bản điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn, mà họ phải học tập kỹ lưỡng trong 10 hôm. Sau đó, họ phân định dân làng, đại khái theo thứ tự sau đây:

·       A, B, C: địa chủ.

·       D, E, F: phú nông.

·       G, H, I, J: trung nông cứng.

·       K, L, M, N: trung nông vừa.

·       O, P, Q, R: trung nông yếu.

·       S, T, U, V: bần nông.

·       X, Y, Z: cố nông.

Đồng thời cộng sản cũng đề ra khẩu hiệu: “Dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông để tiêu diệt địa chủ”. Cộng sản kêu gọi những người từ G đến Z thành lập một khối Liên minh hùng hậu để tiêu diệt mấy kẻ bất hạnh: A, B, C bị quy là “địa chủ”. Những phú nông D, E, F kế sát với địa chủ A, B, C không được phép tham gia đấu tranh, nhưng được hứa hẹn “yên thân” nếu “ngoan ngoãn”. Đấy là ý nghĩa của khẩu hiệu “Liên hiệp phú nông”. 

Những người được quy là “phú nông D, E, F” hết đỗi mừng rỡ vì lẽ ranh giới giữa “địa chủ” và “phú nông” quả là huyền huyền ảo ảo, không một người nào có thể biết trước mình sẽ là địa chủ hay phú nông. Trung nông được vinh dự đứng cùng hàng ngũ với bần cố nông cũng mừng rơn, vì cảm thấy sẽ được an toàn dưới chế độ mới, mặc dầu không phải là “Cánh ta”. Để củng cố lập trường, họ hăng hái đấu tranh chống mấy tên A, B, C. Họ muốn chứng minh với Đảng họ đứng hẳn về phe đảng, phe bần cố nông.

Theo lệ thường, A sẽ bị bắn trước công chúng, B sẽ bị án khổ sai, nặng nhẹ tuỳ trường hợp. Nhưng câu chuyện đến đấy chưa phải là hết. Khoảng một năm sau, Đảng lại phái một Đội cải cách thứ hai tới làng để phát động một cuộc khủng bố thứ hai: đó là CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Một đoàn cán bộ mới tới làng, quan sát qua loa, rồi tuyên bố rằng việc phân định thành phần năm trước cả làng đã làm sai. Họ nói: “Các đồng chí nông dân không nắm vững các tiêu chuẩn phân định thành phần, nên năm ngoái đã để quá nhiều địa chủ LỌT LƯỚI”. 

Họ bắt nông dân học tập lại bản Điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn và thúc đẩy nông dân phát hiện thêm địa chủ. Họ nói rằng theo sự tính toán rất khoa học của các đồng chí cố vấn Trung Quốc, đã điều tra rất cẩn thận ở các làng thì lẽ ra số địa chủ phải nhiều hơn gấp bội. Họ bắt nông dân quy định thành phần lại, và lần này những người D, E, F (trước đây là phú nông) và G, H, I, J (trước đây chỉ là trung nông cứng) đều trở thành địa chủ, trong khi K, L, M, N (trung nông vừa) trở thành phú nông v.v. Như vậy tổng số địa chủ mới “tìm ra” đông gấp 5 lần số địa chủ phát hiện trong Chiến dịch Giảm tô năm trước. 

Theo lệnh của Trung ương đảng, con số tối thiểu những án tử hình cũng tăng từ 1 lên 5 tại mỗi xã. Con số những người tự tử hoặc chết đói vì chính sách “cô lập địa chủ” cũng tăng theo. Tổng số nạn nhân của phong trào Cải cách ruộng đất tại Bắc Việt chưa hề được công bố, nhưng nếu tin lời ông Gérard Tongas, một giáo sư Pháp ở lại Hà Nội cho tới năm 1959 thì “kết quả của cuộc tàn sát kinh khủng này là một trăm ngàn người”. Cho tới nay chưa một ai có thể ước lượng được số người chết trong hai chiến dịch LONG TRỜI LỞ ĐẤT này, nhưng theo lời những người vượt tuyến vào Sài Gòn năm 1957 thì khắp các vùng nông thôn Bắc Việt nhân dân mang toàn khăn trắng. 

Sydney ngày 15 tháng 2 năm 2024

 

Bài 47: BƯỚC MỘT HUẤN LUYỆN CÁN BỘ TRƯỚC KHI TIẾN HÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

 “Tiến trình thực hiện Cải cách Ruộng đất” qua bốn bước: Huấn luyện cán bộ; Chiến dịch Giảm tô; Chiến dịch Cải cách Ruộng đất, và Chiến dịch sửa sai. 

BƯỚC MỘT: HUẤN LUYỆN CÁN BỘNgười ngoài cuộc thường hay nói đến danh từ “tẩy não”và thường không biết có nhiều loại “tẩy não” khác nhau.  Hình thức nặng nhất là “quản huấn” dành riêng cho “địa chủ ngoan cố”; hình thức vừa vừa, gọi là “cải tạo” dành cho tù binh ngoại quốc. Các hình thức này đều nặng về khủng bố tinh thần, và nhẹ về thuyết phục. Chỉnh huấn thì trái lại, nặng về thuyết phục và tương đối nhẹ về khủng bố, vì mục đích của chỉnh huấn là “thêm bạn bớt thù”. Chỉnh huấn bắt đầu trở thành “quốc sách” năm 1949, sau khi Trung cộng thành lập chế độ Dân chủ Nhân dân. 

Từ ngày ấy trở đi, theo thường lệ mỗi lần cộng sản thay đổi đường lối là một lần tất cả cán bộ chính quyền và đảng viên, từ bộ trưởng xuống đến thư ký hạng bét, phải đi chỉnh huấn để học tập chính sách mới của Đảng. Đúng như Trường Chinh đã nói:“Mỗi công tác tư tưởng đều nhằm một mục tiêu chính trị”. Như vậy, mục đích chỉnh huấn là nhằm sửa soạn tinh thần cán bộ trước khi thực hiện một chính sách mới, để đến khi thực hiện, cán bộ không thể phản ứng và mọi việc được êm đềm. 

Học viên khoá chỉnh huấn năm 1953-1954 đều là “bạn”: đảng viên, cán bộ và một số “nhân sĩ tiến bộ”. Tất cả đều học một chương trình, nhưng tuỳ theo cấp bực công vụ và tuỳ theo trình độ hiểu biết chính trị, họ được chia thành nhiều loại: Đảng viên cao cấp, cán bộ trung ương và một số nhân sĩ quan trọng, lên Việt Bắc học. Địa điểm dạy gần nơi Chính phủ trung ương để ông Hồ và ông Trường Chinh có thể thân hành đến dạy. Đảng viên, cán bộ cấp giữa và một số nhân sĩ địa phương, học tại khu, do khu uỷ phụ trách giảng dạy. Đảng viên và cán bộ cấp dưới học ở tỉnh, do tỉnh uỷ giảng dạy. Công nhân và nhân viên cấp dưới học ngay tại chỗ: sau giờ làm việc, buổi chiều hoặc tối.

Địa điểm chỉnh huấn bao giờ cũng đặt sâu trong chiến khu ở những nơi rất hẻo lánh. Học viên tạm trú trong nhà nhân dân địa phương, còn giảng đường thì do học viên xây cất lấy, bằng sàn gỗ và tre nứa đốn trong rừng. Chủ nhật, học viên phải vào rừng đốn củi cho nhà bếp nấu cơm. Mỗi người đi dự chỉnh huấn phải mang theo quần áo, chăn mùng, một cái bát, một đôi đũa, và một số tiền tương đương với giá một trăm cân gạo cho 3 tháng. Tiền ăn 75 cân (mỗi tháng 25 cân), tính mỗi người ăn hết 15 cân gạo, còn mắm muối hết 10 cân. Số tiền tương đương với 25 cân còn lại tính vào phí tổn giấy bút, dầu đèn, và tài liệu quay bằng rô-nê-ô.

Học viên chia thành từng tổ, mỗi tổ ba người: tổ trưởng là một đảng viên có trách nhiệm điều tra và kiểm soát hai tổ viên khác không đảng. Mỗi tổ ở nhờ một gia đình nông dân và mỗi ngày hai lần cử một tổ viên đến ban “cấp dưỡng” (nhà bếp) lĩnh thức ăn do các “anh nuôi” (đầu bếp) cấp phát. Mỗi lần đi mang theo một cái rổ và một cái nồi đất mượn của chủ nhà, rổ để đựng cơm và nồi để đựng canh. Cơm nấu bằng gạo “mậu dịch” để lâu trong kho nên thường mốc, và thức ăn là rau nấu với muối. Mỗi tuần lễ được ăn thịt một lần nhưng thịt cắt thành từng miếng nhỏ nấu lẫn với rau. 

Thịt hiếm đến nỗi người phụ trách lĩnh cơm thường phải vớt ra chia từng miếng cho đều để khỏi hơn thiệt. Những người có tiền mang theo cũng bắt buộc phải ăn uống như vậy vì trước khi tới trại, đảng uỷ đã ra lệnh cấm dân địa phương không được mua bán thức ăn cho các học viên. Học viên không được phép ra khỏi khu vực, không được liên lạc với xã hội bên ngoài; được phép viết thư về nhà (qua kiểm duyệt), nhưng không được nhận thư ở ngoài gửi đến. Thư từ gửi đến đều bị giữ lại, chờ khi nào mãn khoá mới được nhận. Có trường hợp một bác sĩ (Trịnh Đình Cung) chỉnh huấn xong, mới nhận được thư báo vợ chết, từ hai tháng trước.

Kỷ luật trong trại chỉnh huấn cũng đại khái như trong trại lính. Sáng dậy từ 6 giờ, tập thể thao nửa giờ. Học từ 7 đến 11 giờ. Về nhà ăn cơm và nghỉ từ 11 giờ đến 1 giờ, rồi lại học từ 1 giờ đến 5 giờ, ăn cơm tối và làm bài vở từ 7 đến 10 giờ tối. Mười lăm phút trước khi đi ngủ dành cho “hội thảo” tức là trong tổ kiểm thảo lẫn nhau qua loa về hành vi trong ngày. Chủ nhật ra suối tắm và công tác lao động như vào rừng kiếm củi cho nhà bếp, hoặc đào hầm trú ẩn để tránh máy bay. Tối thứ Bẩy có biểu diễn văn nghệ do học viên trình bày. Trong một khoá được xem chiếu bóng một lần, phim Nga hoặc phim Tầu.

Sydney ngày 16 tháng 2 năm 2024

 

Bài 48: NĂM (5) BÀI HỌC ĐỂ HUẤN LUYỆN CÁN BỘ CHO CÔNG CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

Năm bài học cho Khoá chỉnh huấn 1953 – 54 gồm: Bài thứ nhất: Thái độ học tập; Bài thứ hai: Lịch sử cách mạng Việt Nam; Bài thứ ba: Tình hình mới, nhiệm vụ mới; Bài thứ tư: Tác phong cán bộ và đảng viên; Bài thứ năm Cải cách ruộng đất. 

Bài 1: THÁI ĐỘ HỌC TẬP. Mỗi học viên phải có thái độ đúng đắn trong lớp chỉnh huấn. Mỗi người phải “thực sự cầu thị” nghĩa là thành tâm học hỏi để mong “tiến bộ” cho bản thân, không được “vờ vịt” làm bộ hối cải để mong đánh lừa Đảng. Mỗi lần phê bình bạn, phải có tinh thần “chữa bệnh cứu người”, nghĩa là yêu bạn mà chữa cho bạn thoát khỏi những tư tưởng phản động để bạn chóng lành mạnh. Đảng cấm dùng “đao to búa lớn”, cấm “chụp mũ”, “truy kích”. Đảng nói: “bất cứ tội nặng bằng mấy, nhưng hễ thành thực bộc lộ cũng sẽ được hoàn toàn tha thứ” và “nếu đồng chí không chịu bộc lộ ngay bây giờ thì sau này anh em nông dân sẽ bộc lộ hộ cho đồng chí”.  

Nhờ có lời đe doạ này, mà mọi người đều phải rán sức học tập, mặc dù Đảng không sử dụng những phương pháp khủng bố tinh thần khác, vì mỗi người đều cảm thấy có một chiếc gươm của ông Damoclès treo lủng lẳng trên đầu mình. Trong tình trạng ấy, tất nhiên mọi người đều rán sức học tập và tuân theo lời Đảng. Những người khôn ngoan không ngần ngại lúc đầu làm ra bộ hết sức phản động, nêu nhiều thắc mắc rất lớn, rồi về sau bộc lộ rất nhiều tội lỗi, cũng rất lớn, để chứng minh rằng nhờ có chỉnh huấn mà mình đã hoàn toàn “lột xác”, quyết tâm đi hẳn vào con đường mới do đảng đã chỉ dẫn cho mình theo. 

Bài 2: LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VIỆT NAM. Thực dân là một chế độ hết sức tàn ác và những công cuộc khai hoá của người Pháp ở Việt Nam chỉ nhằm mục đích phục vụ quyền lợi của chúng. Họ mở đại học và các trường chuyên nghiệp để đào tạo thêm tay sai, làm đường xe lửa để tăng thêm thuế ruộng. Vì vậy nên mọi người Việt Nam đều có nhiệm vụ đấu tranh chống Pháp, đuổi Pháp ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Suốt trong thời kỳ Pháp thuộc ngọn lửa cách mạng lúc nào cũng bùng cháy, nhưng tất cả các cuộc khởi loạn đều đã thất bại vì lẽ giới lãnh đạo thuộc thành phần phong kiến hoặc trí thức tiểu tư sản, không được quảng đại quần chúng ủng hộ. 

Nhưng từ ngày Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời năm 1930, thì cách mạng Việt Nam tiến bộ rất nhanh và rất vững vàng. Đấy là nhờ ở chủ nghĩa Mác Lê, ở sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và nhờ ở kinh nghiệm quý báu của cách mạng thế giới. Vì vậy, nên mọi người nhiệt thành yêu nước phải tham gia kháng chiến chống Pháp và chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Lao động. Mục đích của bài này là thuyết phục mọi người về một điểm: cộng sản tức là yêu nước, và mọi người yêu nước phải gia nhập Đảng Cộng sản, hoặc ít nhất cũng phải chấp nhận sự lãnh đạo của cộng sản. 

Bài 3: TÌNH HÌNH NHIỆM VỤ MỚI. Bài học bắt đầu bằng một bản báo cáo về tình hình trong nước. Cả lớp đều hết sức phấn khởi khi nghe giảng viên báo tin những thắng lợi mới nhất về quân sự và ngoại giao. Giảng viên cũng trình bày tầm quan trọng và tính cách bất vụ lợi của việc Liên Xô và Trung Quốc viện trợ Việt Nam. So sánh nền kinh tế tư bản và nền kinh tế cộng sản, giảng viên nói hiện không có một công ty tư bản nào có đủ tiền để mua số lông lợn do mậu dịch Trung Quốc thu được trong một năm. Giảng viên phân tích kỹ lưỡng tình hình thế giới và tình hình trong nước để kết luận rằng chế độ tư bản đã đến ngày tàn. Cho dầu được đế quốc Mỹ viện trợ quân sự, thực dân Pháp thế nào cũng thất bại. 

Muốn đạt tới thắng lợi hoàn toàn, chính phủ và nhân dân phải thực hiện ngay một số nhiệm vụ khẩn cấp như: (a). Thành lập chế độ dân chủ nhân dân chuyên chính, nghĩa là dân chủ đối với nhân dân và chuyên chính đối với “kẻ thù của nhân dân”. Chúng ta có dân chủ với nhân dân mới có thể chuyên chính với kẻ thù, và chúng ta phải chuyên chính đối với kẻ thù mới có thể bảo vệ được chế độ dân chủ nhân dân”. (b). Cần phải tăng cường đoàn kết toàn dân bằng cách loại trừ những phần tử phản động trong guồng máy hành chính và để cho giai cấp vô sản tham dự chính quyền. (c). Cần phải liên kết mật thiết với các nước trong khối xã hội chủ nghĩa và cách mạng Việt Nam rất cần sự viện trợ của họ.

Có một số học viên tỏ thái độ thắc mắc, rằng nhiều nước như Ấn Độ và In-đô-nê-sia chẳng cần liên kết với khối nào mà vẫn kiện toàn được nền độc lập. Họ đứng trung lập giữa hai khối nên cả hai đều phải kính nể họ. Không giảng viên nào “đả thông” nổi, cuối cùng, ông Hồ phải thân chinh đến thuyết phục. Ông đả phá “trung lập”, ông gọi các nước trung lập là những nước “làm đĩ chính trị”, nay ngả với phe này, mai ngả với phe khác để kiếm ăn. Ông nói: “Đối với những chú không dứt khoát tư tưởng, còn đang lưng chừng, thì tôi khuyên nên dứt khoát ngay từ bây giờ: một bên là tổ quốc, một bên là quân thù. Chú nào muốn dinh tề thì xin cứ việc. Công an địa phương sẽ “cấp giấy ngay tức khắc”.

Bài 4: TÁC PHONG CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN. Bài này, học viên chia làm hai nhóm: Cán bộ học riêng và đảng viên học riêng. Đối với cán bộ ngoài đảng thì bài học đại khái như cuốn SỬA ĐỔI LỀ LỐI LÀM VIỆC do chính ông Hồ viết năm 1946. Trong cuốn sách nhỏ này ông Hồ đã liệt kê những thói hư tật xấu của công chức dưới thời Pháp thuộc, như tham ô, lười biếng, nịnh trên nạt dưới, hống hách với nhân dân. Có một điểm đặc biệt là đối với các học viên không đảng thì tất cả các thói hư tật xấu này đều trút lên đầu giai cấp địa chủ và muốn diệt trừ những “chứng bệnh truyền nhiễm” này. Đảng dạy mọi người phải dứt khoát với giai cấp địa chủ và lật đổ giai cấp xấu xa ấy. 

Nhưng đối với các đảng viên, Đảng lại giảng rằng có một số bệnh phát xuất từ tư tưởng tiểu tư sản, và Đảng dạy các đảng viên phải tích cực đấu tranh chống tư tưởng tiểu tư sản (tác giả không phải là đảng viên nên chỉ biết qua loa như vậy, không biết được nhiều điều giảng dạy khác). Sau khi học xong bài này, đảng viên bộc lộ riêng, những học viên không đảng không được dự; nhưng trái lại các đảng viên vẫn dự những buổi bộc lộ công khai của những học viên không đảng. Tất cả đều bộc lộ những “bệnh” có liên quan đến bài học, và có một bệnh được mọi người ưa nghe nhất là bệnh hủ hoá, một danh từ mới có nghĩa là dâm ô.

Bài 5: CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Mục đích của khoá chỉnh huấn 1953-54 là chuẩn bị tư tưởng cho chiến dịch Cải cách ruộng đất, nghĩa là thuyết phục đảng viên và cán bộ, bắt họ phải công nhận thực hiện Cải cách ruộng đất. Mặc dầu Đảng đã nắm quyền sinh quyền sát, Đảng không muốn thực hiện cải cách ruộng đất bằng sắc lệnh và nghị định từ trên ban xuống, mà Đảng muốn “phóng tay phát động quần chúng đấu tranh”, nghĩa là dùng hình thức quần chúng bạo động. Tất cả năm bài học trong khóa chỉnh huấn này đều được xếp đặt trước sau theo một thứ tự rất khôn ngoan, để lái học viên, từ lòng yêu nước tự nhiên đến chỗ chấp nhận việc thi hành chính sách Cải cách Ruộng đất theo đúng sách lược Mao Trạch Đông. 

Rằng, bản chất anh chị em nông dân là rất “thực tế” (tránh chữ hám lợi). Trong khi anh chị em tích cực tham gia kháng chiến chịu đựng hy sinh, anh chị em cũng muốn được hưởng ngay tức khắc một vài quyền lợi vật chất. Nếu chúng ta muốn anh chị em nông dân tích cực hơn nữa, chúng ta phải làm cho anh chị em phấn khởi thêm bằng cách cấp phát cho mọi người có đủ ruộng đất để cày cấy, và để các anh chị em có toàn quyền tự làm chủ lấy vận mạng của mình.

Đường lối của Đảng, nói chung vẫn đúng, nhưng Đảng đã phạm một sai lầm nghiêm trọng trong việc chấp nhận giai cấp địa chủ là một trong bốn thành phần chính yếu của chế độ dân chủ nhân dân. Thực tế cho biết là giai cấp địa chủ không phải là bạn của nhân dân, mà là kẻ thù số một của chế độ dân chủ nhân dân. Chỉ có anh chị em nông dân mới biết rõ ai là địa chủ và mỗi tên địa chủ phản động tới mức nào và đã phạm những tội ác gì. Vì vậy chúng ta phải “phóng tay” phát động các anh chị em nông dân “tố khổ” và trị tội bọn chúng. Đấy là công việc của anh chị em nông dân, còn về phần Đảng chỉ giữ nhiệm vụ “hướng dẫn”. Đảng không trực tiếp lãnh đạo.

Sydney ngày 17 tháng 2 năm 2024

 

Bài 49: SAU KHI HỌC XONG, HỌC VIÊN PHẢI VIẾT KIỂM THẢO SƠ BỘ, LÝ LỊCH, VÀ TỔNG KIỂM THẢO: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

Mỗi khoá chỉnh huấn gồm một số bài sắp xếp như thế nào đó để tuần tự đưa học viên đến một mục đích nhất định. Mỗi bài phải học chừng nửa tháng, mất tất cả chừng 150 giờ. Cách thức giảng dạy đã được nghiên cứu rất tỉ mỉ: (a) Tất cả học viên (vào khoảng 500) họp tại giảng đường. Mỗi người được phát một tài liệu quay rô-nê-ô. Một đại diện Đảng giảng bài và các học viên ghi chép tại lớp giảng. (b) Học viên về tổ thảo luận nội dung các danh từ dùng trong bài học, ý nghĩa từng đoạn văn một nếu có đoạn nào tối nghĩa quá, cả tổ không ai hiểu thì tổ trưởng báo cáo với ban giáo uỷ. 

(c) Sau khi nhận được báo cáo các tổ gửi đến, ban học uỷ giải thích lại cho toàn thể lớp học. Đôi khi ban học uỷ chấp nhận ý kiến học viên đề nghị sửa chữa một vài danh từ cho rõ nghĩa hơn. (d) Mỗi học viên lần lượt phát biểu ý kiến của mình. Đảng khuyến khích mọi người thẳng thắn nói lên ý kiến của mình. Theo thường lệ mỗi người đều nêu lên một vài thắc mắc, vì nếu không nêu thắc mắc tức là giấu kín ý nghĩ của mình. Càng thắc mắc bao nhiêu càng có vẻ thành khẩn bấy nhiêu. Sau khi một tổ viên nêu thắc mắc, thì hai tổ viên khác tìm cách đả thông. Nhưng nếu trong tổ không đả thông nổi thì tổ trưởng lập tức báo cáo lên ban học uỷ..

(e) Sau khi tập trung tất cả thắc mắc, ban học uỷ triệu tập học viên tới giảng đường để đả thông. Đại diện Đảng đọc lên từng thắc mắc một, và lần lượt đả thông cho cả lớp nghe. (f) Học viên lại trở về tổ để thảo luận về những câu giải thích của đại diện Đảng. Nếu có người vẫn nhất định không chấp nhận, đảng uỷ cử một giáo viên đến tận nhà để đả thông tư tưởng cho học viên kể trên. Nếu giáo viên đả thông không nổi thì ông Trường Chinh, tổng bí thư Đảng đến. Nếu ông Trường Chinh cũng không thuyết phục nổi thì ông Hồ thân hành đến để thuyết phục cho kỳ được. 

(g) Trong thời gian học, ban giáo ủy tổ chức một vài buổi thực nghiệm. Thí dụ, trong khi học bài về chế độ thực dân thì Đảng mời một cán bộ trước kia đã bị giam ở Sơn La hoặc Lao Bảo đến kể chuyện cho cả lớp nghe ngày trước họ bị hành hạ dã man như thế nào. Trong khi học bài nói về Cải cách ruộng đất, thì cả lớp được đi dự một cuộc đấu tố gần đấy. (h) Khi học xong một số bài, nghĩa là tất cả học viên đã hoàn toàn công nhận quan điểm của Đảng đối với vấn đề trình bày trong bài, thì mỗi người bắt đầu viết một bài “KIỂM THẢO SƠ BỘ”. 

Mỗi học viên phải căn cứ vào những điểm mới học được để tự xét mình và nói ra những hành động và tư tưởng mà bây giờ, nhờ sự giáo dục của Đảng, mình nhận thấy là sai. Thí dụ, sau khi học xong bài về chế độ thực dân thì học viên phải bộc lộ thái độ của mình, ý nghĩ, việc làm công chức cho Pháp trước kia là có lợi cho chính quyền thực dân Pháp. Để giúp các học viên nhớ lại các “tội lỗi” cũ, ban giáo uỷ đọc cho cả lớp nghe một bản lược kê những “tội lỗi” mà học viên mấy khoá trước đã bộc lộ. Ban giáo uỷ cũng đọc cho nghe những bản bộc lộ điển hình của mấy nhân vật có tiếng tăm, nghệ sĩ, văn sĩ, như Nguyễn Tuân chẳng hạn. 

(i) Sau khi mọi người đã viết xong bản “Kiểm thảo sơ bộ” thì tổ trưởng mang nộp cho ban giáo uỷ. Ban giáo uỷ đọc qua và chọn những bản xuất sắc nhất, nghĩa là những bản kê khai những tội ghê gớm nhất, rồi mời tác giả mấy bản kiểm thảo này ra trước lớp học bộc lộ công khai cho mọi người thưởng thức. Cả lớp chăm chú nghe thỉnh thoảng hô “đả đảo” (tội lỗi nào đó), nhưng cấm không được ghi chép. Có người công khai thú nhận đã làm Việt gian cho Pháp; có người vừa khóc nức nở vừa bộc lộ là đã gian dâm với em gái. Không ai hiểu họ nói thực hay họ bịa để tâng bốc Đảng, ra vẻ nhờ Đảng đã giáo dục mà nay quyết tâm lột bỏ cái “xác” dơ bẩn thuở trước. 

(k). Sau khi học hết chương trình mỗi học viên phải viết một bản lý lịch và một “TỔNG KIỂM THẢO”. Nhà trường dành riêng cho hai tuần để viết hai bản này, mỗi bản viết vào một quyển vở 60 trang, và viết hai lần, tức là bốn quyển vở tất cả. Bản lý lịch ghi đủ tên, họ, nơi và ngày sinh, lịch trình học vấn, nghề nghiệp, chức vụ, khả năng về ngoại ngữ, bằng cấp, thành tích công tác, khen thưởng, v.v. Điểm đặc biệt là phải khai mọi khoản rất tỷ mỷ. Tỉ dụ về thành phần phải khai rõ ba họ: họ nội, họ ngoại và họ nhà vợ (hoặc nhà chồng) cho đến tam đại. Phải nêu rõ ảnh hưởng tốt hoặc xấu của những người trong gia đình và trong ba họ. 

Học viên cũng phải khai ảnh hưởng của thầy hoặc cô giáo, của bạn học, của đồng nghiệp, ảnh hưởng của các sách vở đã học, của các tác giả, các nhà văn, những triết lý nào đã ảnh hưởng đến tính tình và tư tưởng của mình. Sau đấy phải ghi rõ những tư tưởng và hành động chính trị, giải thích cặn kẽ lý do tại sao đã thay đổi tư tưởng. Cuối cùng học viên phải trả lời những câu hỏi như: công tác hiện thời? Lương bổng? Tài sản? Gia cảnh? Đời sống gia đình? Tình hình tài chính? v.v. Bản lý lịch đầy đủ tới mức bất cứ ai đọc cũng biết ngay hoàn cảnh và thành phần của đương sự, có thể nhận định đương sự là hạng người như thế nào.

Viết bản “Tổng kiểm thảo” là công việc khó khăn và cực nhọc nhất, mặc dầu mọi người đã từng hơi quen với công việc bằng cách viết các bản “Kiểm thảo sơ bộ”, sau mỗi bài học. Thú nhận các tội lỗi không phải là việc khó, mà chỉ khó ở chỗ không “moi” đâu ra cho đủ tội lỗi sai lầm, thiếu sót, để viết cho đầy 60 trang giấy. Tuy nhiên, khó dễ cũng tuỳ thành phần xã hội và hoàn cảnh sinh hoạt của mỗi người. Văn nghệ sĩ chỉ cần phải “tự phê” một cách nghiêm khắc, “đấm ngực xưng tội và từ bỏ” tất cả các sáng tác cũ, dù là tác phẩm hay nhất của mình. Nhưng về phần kết luận các văn nghệ sĩ vẫn phải tỏ ý tán thành chính sách cải cách ruộng đất mặc dầu không có liên hệ trực tiếp.

Trái lại, viết bản “Tổng kiểm thảo” quả là gay go đối với những học viên thuộc thành phần địa chủ, vì họ bị lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan: hoặc phải tự gán cho mình đủ thứ tội lỗi đối với nông dân, hoặc để mặc nông dân quy mình là địa chủ gian ác khi nào chiến dịch Cải cách Ruộng đất lan đến làng mình. Họ bị kẹp ở giữa hai gọng kìm: một bên là tam đoạn luận “Địa chủ là gian ác, anh là địa chủ, vậy thế tất anh phải gian ác” và một bên là lời cảnh cáo rất nhẹ nhàng “Nếu anh không chịu bộc lộ hết tội lỗi nông dân bộc lộ hộ anh”. Đảng đã trịnh trọng tuyên bố rằng “bất cứ tội gì, hễ thành thật bộc lộ sẽ được tha thứ”.

Tuy nhiên cũng có một số học viên, vì khí khái “Trí thức-tiểu tư sản” không chịu “sáng tác” tội lỗi để viết cho đầy trang, mà trái lại chỉ ngồi ngậm bút hoặc kê khai những “thiếu sót” vớ vẩn không đáng kể là “tội”, không vừa ý Đảng. Như vậy là hễ chiến dịch Cải cách ruộng đất lan tới làng họ, những học viên kể trên thế tất sẽ bị quy là “địa chủ cường hào gian ác” và sẽ bị “tố” vô số tội lội tầy trời. Chỉnh huấn quả thực là “một nơi luyện tội” để những linh hồn không được trong sạch lắm, nhưng còn có thể cứu vớt được, trút rửa tất cả những tư tưởng phản động để thoát khỏi địa ngục “kẻ thù của nhân dân”. 

Sydney ngày 18 tháng 2 năm 2024

 

Bài 50: CHÍNH SÁCH “BA CÙNG” TRONG CHIẾN DỊCH GIẢM TÔ: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

BƯỚC HAI: CHIẾN DỊCH GIẢM TÔVài tháng sau cuộc “Đấu tranh chính trị” chấm dứt một đoàn cán bộ đã được huấn luyện tại Trung Quốc giả dạng làm nông dân bí mật tới làng. Nhờ tổ đảng địa phương mách mối làm quen với một vài cố nông túng bấn nhất trong làng, và xin cho ngụ cư trong nhà. Họ thực hành một chính sách gọi là “ba cùng”, nghĩa là cùng làm việc với chủ nhà mà không lấy công, cùng ăn với chủ nhà nhưng góp phần mình, và cùng ngủ một giường với chủ nhà. Nếu chủ nhà có vợ, như trường hợp thông thường, thì một nữ cán bộ tới ngủ cùng với bà vợ, và một nam cán bộ ngủ với ông chồng.

Họ ở như vậy trong ba tháng. Anh nông dân rất hài lòng vì bỗng dưng có người giúp việc không công. Họ làm đủ mọi việc, cày bừa hoặc gặt hái, tuỳ theo vụ. Họ quét nhà, trông trẻ, và trò chuyện luôn mồm. Họ tìm hiểu đời tư của chủ nhà, rất chăm chú nghe và tỏ vẻ thông cảm mỗi khi chủ nhân kể cho nghe một cảnh cực khổ của mình. Chẳng bao lâu người nông dân chất phác coi họ là đồng tình đồng cảm với mình và có bao nhiêu tâm sự “to nhỏ” với họ cho kỳ hết. Họ chịu khó nghe và giảng giải cho anh thấy rõ nguyên nhân của mọi nỗi khổ của đời anh. 

Tỉ dụ trường hợp một anh nông dân bị vợ bỏ, đi lấy chồng khác, thì cán bộ giải thích ngay rằng: “Giá anh không bị tên địa chủ độc ác ấy bóc lột thì anh đâu đến nỗi túng thiếu. Anh đã sắm được cho chị ấy đủ thứ thì việc gì chị ấy lại nỡ bỏ anh!”. Tóm lại, theo cán bộ thì mọi nỗi đau khổ mà nông dân đã phải chịu, đều xuất phát từ sự bóc lột tàn bạo của bọn địa chủ lang sói. Đấy chính là điều mà họ cố nhồi vào óc mấy anh bần cố nông đã chứa họ trong nhà.

Sau đó họ bày vẽ cho nông dân biết rằng, chỉ có một phương pháp duy nhất để cải thiện đời sống của mình là tin theo chính sách của Đảng, vùng lên tiêu diệt cho kỳ hết bọn địa chủ cường hào ác bá trong làng. Công tác tích cực nhồi sọ này tiếp diễn mỗi ngày đến gần 18 giờ, cho tới khi người nông dân trước kia hiền lành ngoan ngoãn, nay sẵn sàng đứng dậy chống lại chủ đất của mình. Người nông dân được giác ngộ nầy gọi là cái “rễ”, và công tác kể trên được gọi là “bắt rễ”.

Tới giai đoạn này, người cán bộ chấm dứt mọi hành vi xách động của mình trong làng, và từ đó chỉ ở miết trong căn nhà mà anh đã “ba cùng”. Từ đấy cán bộ chỉ hành động qua cái “rễ” của anh ta, người mà anh ta cấp dưỡng tiền nong và dùng làm gián điệp thường xuyên. Anh ta cổ động cái “rễ” mà ta tạm gọi là A đi kết nạp B, rồi đến lượt B đi kết nạp C, và cứ thế mãi. Công việc này gọi là “xâu chuỗi”, và B, C, D, v.v, được gọi là “cốt cán”. Phương pháp kết nạp này (mỗi rễ và mỗi cốt cán chỉ được phép giới thiệu một người mà thôi) nhằm phòng ngừa trường hợp vô tình kết nạp một số lớn “phản động” và nhằm tránh những cạm bẫy mà địa chủ trong làng có thể giăng ra. 

“Rễ” còn giữ nhiệm vụ bí mật liên lạc với những cán bộ khác, đang công tác tại những xóm lân cận, để trao đổi và đối chiếu những tin tức do các cốt cán cung cấp. Họ điều tra tỉ mỉ mọi chi tiết của đời sống trong làng, tình trạng sở hữu ruộng đất và tài sản, thái độ chính trị, hoạt động quá khứ, và ngay cả những cuộc tình duyên kín đáo nhất của từng người một. Việc điều tra những cuộc tình duyên này nhằm một mục đích đặc biệt: người đàn bà nào thời còn con gái, có “dính líu” với một địa chủ nào, sẽ bị bắt buộc phải “tố” trước công chúng rằng chị đã bị người địa chủ kia “hãm hiếp”. 

Sau vài ba tháng hoạt động như vậy, người cán bộ thu thập được đầy đủ chi tiết cần thiết về cái làng mà anh phụ trách, để đích thân báo cáo trước một phiên họp bí mật của Đoàn Cải cách ruộng đất đóng trong tỉnh. Tại đây, sau khi tham khảo ý kiến của Đoàn, anh cán bộ đề nghị qui định thành phần cho tất cả dân làng, đặc biệt là thành phần địa chủ, và gán cho người nào “tội” gì? Tới lúc đó Đội cải cách ruộng đất mới ra mắt công khai, Uỷ ban hành chính xã và Chi bộ đảng ở xã tức thì bị giải tán. “Đội” đứng lên điều khiển mọi công việc trong làng, cắt cử một đội Công an mới gồm toàn nông dân cốt cán, và ra lệnh phong toả làng. 

Thường thường mỗi làng ở Bắc Việt có một luỹ tre xanh bao quanh, và có hai cổng. Họ đóng cổng lại, canh gác suốt ngày đêm và không cho ai ra vào nếu không có giấy phép của Đội Cải cách ruộng đất. Đội liên lạc với Đoàn bằng một đường dây điện thoại mới dựng lên. Khách bộ hành hễ thấy hàng cột tre con đang xanh mang dây điện thoại là biết ngay trong làng nào đó ở phía đầu dây đang có đấu tố khủng khiếp. Người nào khôn hồn hãy tránh ngay đường dây ấy, nếu không, có thể bị tai bay vạ gió, nguy hiểm đến tính mạng không chừng.

“Chiến dịch Giảm tô” chính thức mở đầu như vậy và được thực hiện làm sáu bước nhỏ liên tiếp: (1) Phân định thành phần; (2) Phân loại địa chủ; (3) Tống tiền công khai; (4) Tố khổ; (5) Đấu địa chủ; Và (6) Xử án địa chủ.

Sydney ngày 19 tháng 2 năm 2024

 

Bài 51: VỀ PHÂN ĐỊNH THÀNH PHẦN, PHÂN LOẠI ĐỊA CHỦ: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

Bước 1. PHÂN ĐỊNH THÀNH PHẦN. Nông dân thuộc thành phần bản bộ, tức là bần cố nông, phải đi dự một lớp đặc biệt để học cách phân định thành phần tất cả dân làng. Những tài liệu học tập gồm có bản Điều lệ phân định thành phần ở nông thôn, các văn kiện về thể thức áp dụng bản điều lệ này cùng những tiêu chuẩn phân loại. Mỗi tỉnh có tiêu chuẩn khác nhau mà báo chí cộng sản không hề nói đến. Thí dụ: trong một tỉnh, những tiêu chuẩn phân định các loại trung nông như sau:

·       Trung nông cứng: Những trung nông có 1 con bò, 1 con heo và 1 đàn gà.

·       Trung nông vừa: Những trung nông có một con heo và một đàn gà.

·       Trung nông yếu: Những trung nông chỉ có một đàn gà hoặc không có gì hết.

Không những tiêu chuẩn ở mỗi tỉnh một khác mà còn thay đổi mỗi đợt đấu tố một khác. Sau mười ngày tích cực học tập và “bình nghị dân chủ”, các học viên biểu quyết một bản phân định thành phần mà thường thường là y hệt tài liệu cán bộ đã soạn thảo từ trước. Tất nhiên lúc đầu mỗi người một ý, nhưng sau khi thảo luận mọi người đều chấp nhận ý kiến của cán bộ. Điều này chẳng có gì lạ vì thực tế chứng tỏ cán bộ biết rõ về dân làng hơn hẳn người làng.

Bước 2. PHÂN LOẠI ĐỊA CHỦ. Ngay sau khi đội Cải cách ruộng đất ra mắt công khai, tức là mười ngày trước khi thành lập danh sách địa chủ, những người sẽ bị quy là địa chủ đã bị bắt ngay và nhà cửa của họ đã có “cốt cán” canh gác suốt ngày đêm. Nhưng mỗi loại địa chủ sẽ bị đối đãi một cách khác nhau. Trên lý thuyết và theo lời ông Trường Chinh tuyên bố trong bản báo cáo của ông thì có ba loại địa chủ chính: (1) địa chủ Việt gian phản động, cường hào, gian ác; (2) địa chủ thường; và (3) địa chủ kháng chiến. Ngoài ra còn có một loại nữa gọi là “nhân sĩ tiến bộ” dành riêng cho mấy ông cựu quan lại hiện được cộng sản trọng dụng, như các ông Hồ Đắc Điềm, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn .v.v.

Nhưng trên thực tế, chính sách của cộng sản là tuyệt đối không để một ai có thể ngồi không, không có “công tác”. Thanh niên và những người tráng kiện thì gia nhập quân đội hoặc làm cán bộ chính quyền, ở xã, huyện, hoặc tỉnh. Những người tuổi tác thì tham gia những tổ chức bù nhìn như “Phụ lão cứu quốc”, “Mặt trận liên Việt”, v.v. Mọi người đã tham gia kháng chiến trong bảy năm trời nên tin tưởng rằng mình sẽ được xếp vào loại “địa chủ kháng chiến”, hoặc ít nhất cũng là “địa chủ thường” vì sau khi tự xét, họ thấy họ chẳng hề phạm một tội gì đối với nông dân. 

Nhưng đến khi chiến dịch Cải cách ruộng đất lan đến làng họ, mọi người đều giật mình thấy mình bị xếp vào loại “Việt gian phản động”. Ngay cả những người tích cực phục vụ chính quyền kháng chiến và đã được ông Hồ Chí Minh tuyên dương công trạng, cũng bị tố cáo là đã cố tình “chui vào cơ quan của Đảng và chính phủ để phá hoại cách mạng”. Không cần phải bằng cớ, chỉ cần một nông dân nào đó nói rằng đã trông thấy địa chủ vẫy tay ra hiệu cho máy bay Pháp là đủ lên án địa chủ đó là Việt gian, làm giáp điệp cho Pháp. Loại địa chủ đầu sỏ này, lại được chia thành ba hạng nặng nhẹ khác nhau: A, B, và C. 

Địa chủ hạng A phải đi dự một lớp cải tạo đặc biệt kéo dài trong ba bốn tuần, suốt ngày đêm không được ngủ. Mục đích của lớp cải tạo này là khủng bố tinh thần địa chủ để bắt cung khai những chỗ chôn giấu vàng bạc. Họ bị khủng bố liên miên đến nỗi họ trở thành nửa tỉnh nửa điên và sẵn sàng thú nhận bất cứ điều gì cán bộ bắt họ phải thú nhận. Họ phải viết thư về cho vợ con chỉ chỗ giấu vàng, bạc, bảo đào lên mang nộp cho nông hội. Họ còn phải viết tờ kê khai tất cả những người còn nợ họ tiền. Họ khai ra người nào thì lập tức đội cải cách bắt người ấy phải “trả” ngay cho nông hội.

Vì địa chủ mất tinh thần, nhiều khi khai vu vơ nên có nhiều thương gia bị “vạ vịt”, mất sạch cơ nghiệp dù không có liên quan trực tiếp đến Cải cách ruộng đất. Địa chủ hạng B bị giữ trong một nhà nông dân cùng làng, nhưng đêm đến lại bị công an cầm kiếm đến điệu đi, chuyển từ nhà này sang nhà khác. Một điều đáng chú ý là việc quy định thành phần lúc nào cũng chỉ có tính cách tạm thời, và địa chủ hạng nào cũng có thể “kích” lên “hạ” xuống tuỳ theo thái độ của đương sự, hoặc “ngoan cố” hoặc ngoan ngoãn phục tòng. Nhưng vì Đảng đã ấn định một số tử hình tối thiểu cho mỗi xã nên dù tất cả địa chủ có khúm núm bằng mấy cũng có một số không sao tránh khỏi án xử tử. 

Sydney ngày 20 tháng 2 năm 2024

 

Bài 52: SỐ TIỀN THOÁI TÔ, THỰC RA LÀ TỐNG TIỀN CÔNG KHAI: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

Bước 3. TỐNG TIỀN CÔNG KHAI. Sau khi chủ gia đình bị bắt và điệu đi, cán bộ Đội Cải cách gọi vợ con địa chủ đến và bảo cho biết phải lo trả ngay tức khắc số tiền gọi là “THOÁI TÔ”, hoặc còn gọi NỢ NÔNG DÂN. Trước đấy bốn năm năm, chính quyền cộng sản có ra một THÔNG CÁO buộc địa chủ phải giảm tô 25 phần trăm. Hồi ấy, mới bắt đầu kháng chiến, báo chí chưa phát hành rộng rãi nên nhiều người không biết, và SAU KHI BAN HÀNH BẢN THÔNG CÁO, chính quyền cũng bỏ bẵng hàng năm không đả động tới. Giờ đây, nông hội cho rằng tất cả địa chủ đều không tuân luật và đòi gia đình địa chủ phải “THOÁI TÔ”, tức là trả ngay tức khắc số tô đã thu quá mức trong bốn năm năm. 

Sự thực thì đa số địa chủ đã giảm tô, hoặc tuân theo THÔNG CÁO hoặc sợ chế độ mà phải tự ý giảm, nhưng vì họ quen thói luộm thuộm và tự xét ruộng đất chẳng có là bao nên không nghĩ tới việc biên lai, sổ sách. Bây giờ có khiếu nại cũng vô ích và cũng không có quyền khiếu nại nên địa chủ đều phải nhận “trả”. Cán bộ cải cách thường phán như sau: “Anh em nông dân đã khai rằng mày đã thu một số tô quá mức là X tạ, Y ký và Z gam (con số rành mạch từng gam một). Anh em hẹn cho mày đến ngày… giờ… phút… phải trả cho kỳ đủ, nếu thiếu thì coi chừng!”. Nói xong hắn đưa ra một mảnh giấy bắt vợ con địa chủ phải ký nhận. 

Còn số “nợ” là do cán bộ ước định, căn cứ trên sự ước lượng về “khả năng có thể trả được” của mỗi địa chủ: liệu chừng có bao nhiêu tiền mặt, nữ trang, v.v. và bao giờ cũng ấn định một mức tối đa. Mục đích của “thoái tô” là làm cho địa chủ và gia đình chỉ còn hai bàn tay trắng. Việc làm cho toàn thể giai cấp địa chủ chỉ còn hai bàn tay trắng, ông Trường Chinh gọi một cách “văn hoá” là “LÀM GIẢM UY THẾ KINH TẾ CỦA ĐỊA CHỦ”. Chủ tâm bần cùng hoá địa chủ, cho tới mức độ cuối cùng biểu hiện tăng giảm số “nợ” tuỳ theo khả năng tột bực của “con nợ”. 

Nếu địa chủ hoặc gia đình địa chủ trả hết số “nợ” trong thời gian hạn định thế nào cán bộ cũng giở giọng nói: “Hôm nọ chúng tao tính lầm. Hôm nay tính lại thấy số nợ của mày thực sự là… thường đưa ra một con số gấp đôi con số trước”. Trái lại, nếu “con nợ” khôn khéo, đúng kỳ hạn trả một phần rồi gãi đầu gãi tai, van nài xin khất một thời hạn nữa sẽ cố gắng trả nốt, cứ mỗi kỳ lại trả thêm một chút, vừa trả vừa nằn nì để chứng tỏ cả thiện chí lẫn sự bất lực của mình, thì cán bộ có thể bớt dần số nợ, mỗi chuyến giảm xuống một ít. Nhưng, nếu địa chủ cứ ì ra, vì không xoay đâu ra tiền, hoặc vì liều chết bướng bỉnh thì nhất thiết số “nợ” cũ đứng nguyên và địa chủ sẽ bị “kích” lên hạng trên, quy thêm nhiều tội và cuối cùng có thể bị bắn.

Trong khi địa chủ phải chạy tiền trả nợ hoặc bằng tiền mặt hoặc bằng vàng bạc thì nhà cửa của họ bị niêm phong, không được bán chác một thứ gì. Tất cả nhà cửa, trâu bò cho đến đồ đạc trong nhà đều được coi là tài sản của nhân dân. Những thứ này sẽ bị tịch thu sau, nên địa chủ không được phép bán. Mục đích của việc đòi “nợ” không phải là đòi cho đủ số tiền mà chính là lấy cho hết những thứ địa chủ có, mà có thể còn giấu như tiền mặt, vàng bạc, v.v. 

Mỗi khi địa chủ, hoặc vợ địa chủ chậm trả thì nông hội phái một nhóm hội viên (phần nhiều là bà con trong họ) đến thúc giục phải trả cho mau. Họ sẽ hỏi vặn những câu như: “Đôi vòng mày đeo hôm cưới đâu rồi?”(đám cưới có thể là 20 năm về trước), hoặc: “Mày bảo không có tiền, thế phần gia tài của bà ngoại mày để cho con mẹ mày tiêu đi đâu hết?” (việc thừa hưởng gia tài có thể là 40, 50 năm trước). Một cách “tống tiền” khác là bắt vợ địa chủ lôi đi biểu diễn khắp làng, mỗi tay mang một bãi phân bò tươi, cổ đeo một tấm biển lớn đề “Tôi là địa chủ ngoan cố”. 

Nếu bà ta có con mọn thì chắc chắn là hai mẹ con phải giữ ở hai nhà để con không được bú và mẹ bị căng sữa, trong một thời gian rất lâu. Nếu con đã lớn thì mỗi đứa cũng phải giữ ở một nơi, và đứa nào cũng bị doạ nạt cho tới khi chúng cung khai “đúng hoặc không đúng” những nơi cha mẹ chúng chôn giấu của cải. Trẻ con non gan nên thường khai lung tung. Mặc dầu vậy, hễ chúng khai chỗ nào là cốt cán lập tức đưa cuốc, bắt mẹ chúng phải đào chỗ ấy. 

Công việc “đào mỏ” này có thể kéo dài hàng tháng nên nền nhà địa chủ gần như không còn chỗ nào không đào bới. Nhiều nông dân, sau đấu tố, được lĩnh nhà địa chủ để ở thường không có phương tiện để sửa sang lại nên nhà cho bằng phẳng.

Sydney ngày 21 tháng 2 năm 2024

 

Bài 53: LỚP HỌC TỐ KHỔ “TỘI ÁC CỦA GIAI CẤP ĐỊA CHỦ”: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

Bước 4: LỚP HỌC TỐ KHỔ. Trong khi gia đình địa chủ bị “tống tiền” một cách hợp pháp thì nông dân được triệu tập đi học một lớp đặc biệt về “tội ác của giai cấp địa chủ”. Mục đích của lớp học là giảng cho nông dân hiểu địa chủ đã phỉnh phờ, cướp đoạt, bóc lột và áp bức như thế nào. Học xong, mỗi người bắt buộc phải “kể khổ”, nghĩa là phải tố chủ ruộng của mình, ít nhất là một tội đối với mình. Để ôn lại trí nhớ nông dân, giảng viên đọc một bản kê khai những “tội điển hình”, nói là đã thu thập trong những lớp học trước. Kết quả là nhiều nông dân trước kia vẫn từ tốn với chủ ruộng, đứng lên gán cho chủ cũ một số tội ác nào đó trong số những tội ác mà giảng viên đã đọc cho họ nghe.

Những người đứng ra “tố khổ địa chủ” có thể chia đại khái thành ba loại. Loại thứ nhất gồm những người “mong có địa vị” trong chế độ mới, hoặc ham được “quả thực” tức là lấy của địa chủ chia cho nông dân. Họ tố hăng vì đội cải cách có hứa rằng “ai tố nhiều sẽ được hưởng nhiều” và “ai tích cực đấu tranh sẽ được kết nạp vào các tổ chức của Đảng”. Loại thứ hai gồm những người “cầu an bảo mạng”, họ tố để tỏ vẻ “dứt khoát lập trường với giai cấp địa chủ” và đứng hẳn “về phe Đảng”. Những người “tố hăng” phần nhiều là những phần tử có thành tích bất hảo. Những người tố “quấy quá” phần nhiều là con cái địa chủ, cha mẹ cho phép tố để giữ lấy thân, tránh cho toàn gia khỏi bị tiêu diệt. 

Loại thứ ba là những người tố “chỉ vì sợ hãi” sợ có thể bị quy là địa chủ, hoặc có LIÊN QUAN VỚI ĐỊA CHỦ. Có ba loại liên quan, mỗi loại được đối xử một cách khác nhau: Loại có “liên quan nặng” với địa chủ, gồm những người “có tư tưởng địa chủ”, có thái độ bênh vực địa chủ. Những người này sẽ bị đối xử y hệt địa chủ, nghĩa là bị “cô lập”, bị đặt ra ngoài vùng pháp luật, bị bao vây kinh tế tức là bị quản thúc với vợ con ở ngay trong nhà của họ cho tới khi đói mà chết. Loại có “liên quan vừa” gồm những người trước kia có nhiều “ân tình” với địa chủ. Loại này sẽ bị cùng với gia đình đưa đến một làng nào đó, đổi nhà, đổi cửa với một người nào khác cũng có “liên quan vừa” với địa chủ ở làng ấy và cũng bị đuổi khỏi làng. 

Loại có “liên quan sơ” gồm những người bị nghi là chưa dứt khoát lập trường đối với địa chủ, không chịu đấu tố hăng. Loại này chỉ bị trục xuất ra khỏi Nông hội. Sau khi giai cấp địa chủ bị tiêu diệt thì chỉ có Nông hội, là nơi mà nông dân có thể thuê trâu bò hoặc vay giống mạ khi thiếu. Trong một làng mà mọi người đều nghèo như nhau thì vận mạng của mọi người hoàn toàn nằm trong tay Nông hội. Dù vậy, nhiều nông dân vẫn gan dạ, nhất định không chịu “tố điêu”. Họ bất chấp mọi sự cưỡng ép, phỉnh phờ vì, họ xem việc tố cáo người khác là một việc đáng khinh. Hơn nữa các Phật tử đều tin ở thuyết “nhân quả” và sợ “quả báo” nếu vu oan giá họa cho kẻ khác. 

Trong phong trào TRĂM HOA ĐUA NỞ, Phùng Quán đã làm một bài thơ đả kích chính sách bắt buộc nhân dân phải “nói điêu”. Bài thơ nhan đề “Lời mẹ dặn”có mấy câu như sau: Yêu ai cứ bảo là yêu! Ghét ai cứ bảo là ghét! Dù ai ngon ngọt nuông chiều! Cũng không nói yêu thành ghét! Dù ai cầm dao dọa giết! Cũng không nói ghét thành yêu! (Báo VĂN số 21, ngày 27/9/1957) Vì bài thơ kể trên Phùng Quán bị đưa lên mạn ngược “học tập lao động” cùng nhiều văn nghệ sĩ khác trong nhóm Nhân văn Giai phẩm. Từ ngày ấy không ai biết số phận ông ra sao.

Sydney ngày 22 tháng 2 năm 2024

 

Bài 54: NĂM CUỘC ĐẤU TỐ ĐỊA CHỦ, TÁC GIẢ CÓ DỊP THAM DỰ: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

Bước 5: ĐẤU TỐ ĐỊA CHỦ. Sau khi lập xong danh sách tội ác của mỗi địa chủ, những người được chỉ định ra “đấu trường” tố khổ công khai bắt đầu tập dượt vai trò của mình để có thể biểu diễn một cách trôi chảy, trước công chúng và trước người bị “đấu”. Đấu địa chủ là “trò” then chốt của cả chiến dịch, nên cần phải chuẩn bị hết sức chu đáo. Y hệt các diễn viên phải tập đi tập lại vai trò của mình trước khi lên sân khấu, những người đứng ra “đấu” cũng phải luyện tập lời ăn tiếng nói bộ điệu của mình cho thật hoàn hảo để khán giả có cảm tưởng là mình chân thật và những tội mình buộc cho địa chủ là có thực. 

Họ tập dượt về đêm, rất kín đáo, nhưng con cái nông dân thường có dịp thấy bố mẹ vừa xay lúa, giã gạo, vừa lặp đị lặp lại một câu để thuộc lòng. Đóng vai trò “đạo diễn”, cán bộ phụ trách còn bày vẽ dáng điệu và uốn nắn lời nói cho họ. Trong những buổi diễn thử, có một hình nộm bằng rơm đặt ở giữa nhà thay thế cho địa chủ, để những người “đấu” tiến đến sát, đọc thử những lời họ sẽ phải đọc. Sau khi chuẩn bị đầy đủ, Đội công tác Cải cách Ruộng đất công bố ngày “đấu”.

Vì có ba loại địa chủ, A, B và C nên cũng có ba loại đấu. Địa chủ loại A bị đấu trong ba ngày liền, trước một đám đông từ một chục đến hai chục ngàn người, tức là dân một “liên xã”, một đơn vị hành chính gồm từ mười đến mười lăm làng. Địa chủ loại B bị đấu trước một đám đông một hai ngàn người, tức là tất cả dân trong một làng, liên tiếp trong hai ngày. Họ cũng bị gán những tội thường gán cho địa chủ hạng A, nhưng tương đối nhẹ hơn. Địa chủ loại C chỉ bị “đấu lưng”, nghĩa là “đấu vắng mặt”. Trong khi nông dân tố cáo những tội ác của họ thì họ bị giữ ở một nơi khác, đến khi tố xong họ mới bị điệu ra trước cuộc họp để nghe đọc một bản tổng kê các tội ác mà các tá điền, chỉ có tá điền của địa chủ mới được dự cuộc đấu này, đã “tố” họ. 

Nghe xong, địa chủ phải tuyên bố “nhận” hay “không nhận”. Nếu nhận, địa chủ phải ký tên vào biên bản buổi họp. Đảng giải thích rằng sở dĩ có “đấu lưng” là tại Đảng muốn khoan hồng đối với những “phản động phụ”, những phần tử mà Đảng còn hy vọng cải hoán được. Vì còn hy vọng họ sẽ cải hoán nên Đảng không muốn “cạn tầu ráo máng” đối với họ, làm họ mất mặt trước công chúng. Thực ra thì chẳng phải vì vậy, mà vì một lý do khác hẳn. Phần lớn những người bị quy là địa chủ loại C là những người buôn bán ở thành thị nhưng có ít nhiều ruộng ở “quê cha đất tổ”, không cốt để thu lợi mà cốt để “đóng góp với làng nước”, khỏi mang tiếng “bỏ làng”. 

Vì họ thường sống ở tỉnh thành, thỉnh thoảng mới về làng cúng giỗ và nhân thể thu tô, nên người làng không biết nhiều về đời tư của họ. Vì không có đụng chạm trực tiếp nên việc “bịa” ra tội là một việc rất khó. Muốn cho “xuôi tai”, người “tố” phải nói rõ bị chủ ruộng đánh đập hoặc hiếp đáp trong dịp nào, ở đâu. Đảng biết rằng toàn là chuyện bịa nên sợ đứng trước mặt đương sự người tố có thể ấp úng, làm mất uy tín “anh em nông dân” và gián tiếp mất uy tín Đảng. Vì vậy Đảng tổ chức “đấu lưng”, giấu địa chủ đi một chỗ, để cho những người “bịa tội” được vững tâm hơn. Thật vậy, đã có một vài cuộc đấu phải bỏ dở vì địa chủ, khi thấy nông dân buộc tội một cách lố bịch quá, nhịn không nổi, phải phá lên cười.

Mỗi lần đấu một địa chủ loại A thì toàn thể nhân dân trong xã phải bắt buộc đi dự, kể cả phú nông và các địa chủ khác, mỗi nhà chỉ được một người lớn ở nhà để trông nom củi lửa và trẻ nhỏ. Người đi dự xếp hàng thành từng nhóm riêng. Trung nông và bần cố nông đứng theo “tổ nông hội”. Phú nông đứng riêng và đi riêng, nhưng địa chủ và con cái địa chủ thì đứng lẫn với bần cố nông, mỗi người do một “tổ nông hội” canh chừng. Cứ năm người họ thành một nhóm, mang theo một bình nước uống và một điếu cày vì một khi ngồi vào chỗ trong hội trường thì không ai được phép đứng dậy, đi lại. 

Mỗi làng vác theo biểu ngữ và cờ quạt trẻ con đi đầu đánh trống ếch. Địa chủ bị bắt đi giữa bần cố nông cũng phải vừa đi vừa hô khẩu hiệu như mọi người, thỉnh thoảng cũng dơ nắm đấm hô “đả đảo!”. Mọi cuộc đấu đều tổ chức ngoài trời, thường là sân banh, hay tốt hơn trên sườn đồi. Dân mỗi làng ngồi trong một khoảng đất có vạch vôi trắng làm giới hạn. 

Khán đài bằng gỗ và tre, cao ba từng. Từng dưới 14 người, 1 “thư ký” và 13 bần cố nông chỉ ngồi làm vì, một người là trung nông, biết đọc biết viết, ngồi hí hoáy, có vẻ làm thư ký thực. Từng trên là chủ tọa gồm bảy bần cố nông, trong số có chủ tịch nông hội làm chủ tọa cuộc họp, và một phụ nữ đóng vai công an trưởng. Trên tầng cao nhất của khán đài treo ba bức ảnh khổng lồ, Hồ Chí Minh ở giữa, Malenkov bên phải và Mao Trạch Đông bên trái, trên mỗi chân dung lãnh tụ có cờ mỗi nước. Hai bên khán đài là những biểu ngữ rất lớn như “Phóng tay phát động quần chúng đấu tranh giảm tô (hoặc Đấu tranh cải cách ruộng đất)”, và “Đả đảo tên địa chủ… Việt gian, phản động, cường hào, gian ác”. 

Trong năm cuộc đấu tác giả có dịp tham dự, tác giả nhận thấy vai trò công an trưởng bao giờ cũng do phụ nữ đóng. Tác giả có cảm tưởng Đảng dành vai trò có tính cách hống hách nầy, cho phụ nữ để đề cao uy quyền chính trị của phụ nữ trước công chúng. Người đàn bà này chỉ huy tự vệ xã, và cứ năm phút lại hò hét, ra lệnh cho người bị đấu đứng trước khán đài phải quỳ xuống, đứng lên, giơ tay lên trời, khoanh tay trước ngực, giang tay ra hai bên, v.v. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp mọi cuộc họp đều phải tổ chức về đêm để tránh máy bay oanh tạc. 

Những cuộc đấu tố giữa trời đều đốt sáng bằng đuốc, lửa khói cao ngất từng mây, tạo nên một quang cảnh quái đản, một cảnh tượng ác mộng. Người tham dự có cảm tưởng chứng kiến một cảnh quỷ sứ đương hành hạ những vong hồn rơi xuống địa ngục. Khán đài soi sáng bằng đèn điện. Đôi khi có máy phát điện nhỏ nhưng thường là dynamo xe đạp. Bốn năm chiếc xe đạp buộc phía sau khán đài, mỗi chiếc có người đạp luôn chân. Cán bộ đội Cải cách ruộng đất nấp phía sau khán đài để nhắc và ra lệnh cho chủ tọa đoàn. Đôi khi có cố vấn Tầu mặc quần áo Việt cùng ngồi với họ.

Chủ tịch chủ tọa đoàn khai mạc hội nghị và tuyên bố lý do. Sau đó là một bài thuyết trình về ý nghĩa và sự cần thiết của cuộc đấu tranh chống địa chủ; đại khái là vai trò chính yếu của nông dân trong kháng chiến, tính cách bội phản của giai cấp địa chủ, v.v. Sau đó người đàn bà giữ chức công an trưởng ra lệnh cho tự vệ xã lôi tên địa chủ Việt gian, phản động, cường hào, gian ác ra để “anh chị em nông dân hỏi tội”. Tức thì hàng vạn người đồng thanh hô: “Đả đảo thằng Việt gian, phản động, cường hào, gian ác (tên họ người địa chủ bị lôi ra)”. 

Nạn nhân không được đi bằng hai chân, mà phải bò bằng hai tay và đầu gối từ ngoài hội trường vào đến trước khán đài. Phía khán đài đắp hai ụ đất cách nhau chừng một thước, mỗi ụ cao độ một thước (để khán giả trông rõ) và rộng chừng một thước vuông. Địa chủ bước lên một ụ, và ụ đối diện để cho những người đấu lên đứng. Nếu người bị đấu là một linh mục Gia tô giáo, hoặc một hòa thượng Phật giáo thì cán bộ bắt phải cởi áo ngoài ra (áo tu sĩ hoặc áo nhà chùa). 

Cộng sản thanh minh rằng đương sự bị đấu với tư cách cá nhân là địa chủ, không dính dáng gì về tôn giáo nên không cho mặc áo tôn giáo. Chủ tịch chủ tọa đoàn gọi “anh chị em nông dân” lên “kể tội”. Tức thì, hàng trăm cánh tay giơ lên, nhưng liếc qua vào tờ giấy trước mặt, y gọi một tên. Người được chọn nhảy lên đài, chỉ tay vào mặt địa chủ, hỏi: “Mày có nhớ tao là ai không?”, và chẳng đợi câu trả lời, hắn tiếp luôn: “Tao là… ở làng… đã đi ở (hoặc làm ruộng cho mày trong… năm)”. Bao giờ người lên đấu cũng bắt đầu như vậy, hỏi “bâng quơ” một câu “Mày có nhớ tao là ai không?” rồi tự xưng danh, tóm tắt “tiểu sử” của mình. 

Cán bộ bắt họ làm như vậy để công chúng biết qua loa về quan hệ giữa người đấu và người bị đấu. Người ngồi xem nhớ lại những buổi tuồng Tầu, mỗi khi một vai mới ra bao giờ cũng xưng danh: “Mỗ đây tên tự là… “. Sau đó người đấu tuôn ra một tràng những tội ác, kể lể nào là bị cướp trâu, cướp bò, đánh đập, nhét phân vào mồm, hiếp vợ, giết con, rủ vào hội “Việt gian”, vẫy tay cho máy bay Pháp, v.v. Điều đáng chú ý là người đứng lên đấu thường dùng đủ danh từ tục tĩu; hình như cán bộ xui họ chửi rủa địa chủ bằng những câu tục tĩu nhất, một là để “hạ uy tín” địa chủ xuống tận đất đen, hai là để làm ra vẻ tự nhiên, dùng những lời ăn tiếng nói “một trăm phần trăm nông dân”. 

Người bị đấu không được phép trả lời, hoặc phản ứng. Họ chỉ được phép nói “có” hay “không”. Nhưng hễ họ nói không thì tức khắc toàn thể đám đông gầm lên như sấm: “Đả đảo thằng… ngoan cố”. Trong khi ấy, cứ chừng năm phút một, người bị đấu lại được chị Công an trưởng ra lệnh quỳ xuống, đứng lên, giơ tay lên, giang tay ra, và cứ như thế mãi. Mỗi người được phép tố địa chủ trong 15 phút, và sau bốn người tố, nghĩa là vào khoảng một giờ đồng hồ, thì người địa chủ bị điệu đến trước “thư ký đoàn” ký nhận vào một biên bản. Trong khi đấu, người thư ký hí hoáy giả vờ biên chép, nhưng kỳ thực bản tội ác mà địa chủ phải ký nhận đã đánh máy sẵn từ trước.

Địa chủ hạng A bị đấu như vậy trong ba đêm liền. Đêm đầu họ bị đấu về các “món nợ mồ hôi”, tức là những tội bóc lột nông dân, như cướp trâu, cướp bò, cho vay nặng lãi, v.v. Đêm thứ hai dành cho những “món nợ hạnh phúc” nghĩa là những người lên đấu kể tội địa chủ đã hiếp vợ mình (nếu là đàn ông) hoặc đã hiếp chính mình (nếu người đấu là đàn bà). Đêm thứ ba dành cho những “món nợ máu”. Địa chủ bị tố nào là giết vợ, giết con nông dân, ra hiệu cho máy bay Pháp bắn chết dân làng. Đêm thứ ba cũng là đêm tố cáo địa chủ về các tội có tính cách chính trị, đại khái như rủ rê người này người nọ vào tổ chức phản động, do thám tin tức quân sự, lời hứa hẹn, rằng Pháp sẽ cho làm tỉnh trưởng, huyện trưởng, v.v. 

Nếu người bị đấu cứ khăng khăng chối “không” thì những người lên đấu ngày hôm sau sẽ tố những tội càng ngày càng nặng cho đến cuối cùng sẽ phải đưa ra tòa án nhân dân đặc biệt, kết án tử hình và xử bắn. Trái lại, nếu người bị đấu tỏ vẻ ngoan ngoãn, bị tố bất cứ tội gì cũng cứ nhận và ký vào biên bản thì thường thường không bị tố những tội quá nặng. Nhưng dù tất cả địa chủ có ngoan ngoãn, hay ngoan cố đến đâu thì cũng có một số không thể nào thoát chết, vì Đảng đã ấn định một số tối thiểu phải chịu tử hình tại mỗi xã. Đúng ra thì Đảng chỉ ấn định một số tối thiểu nhưng nếu có nhiều người “ngoan cố” thì số tử hình có thể tăng thêm. 

Thực ra thì Đảng không muốn vượt qua con số tối thiểu, nhưng nếu nhiều địa chủ nhất định không chịu nhận tội, thì người đi dự có cảm tưởng là tất cả đều là bịa đặt, đều nói điêu. Trái lại nếu địa chủ nào cũng ngoan ngoãn nhận hết “tội ác” thì cảm tưởng sẽ là “anh chị em nông dân chất phác, bao giờ cũng nói thật”. Trong đợt đầu, nhiều địa chủ không hiểu nguyên tắc đó nên cứ khăng khăng chối. Kết quả là đa số bị xử tử. Tuy nhiên cái chết của họ đã là bài học cho những người sau. Dần dần mọi người đều hiểu rằng tất cả chỉ là một tấn bi hài kịch. Người đấu cũng như người bị đấu chỉ là diễn viên của một tấn tuồng do “Đảng bày đặt ra” và bắt mỗi người phải đóng một vai không ai được phép trái ý Đảng.

Địa chủ ở mọi nơi đều bị tố những tội ác cùng một kiểu. Những tội điển hình là: treo cổ nông dân lên cây, nhốt nông dân vào cũi chó, bắt nông dân liếm đờm, ăn phân, đốt nhà nông dân, dìm trẻ con xuống ao cho chết, bỏ thuốc độc xuống giếng, phá các cuộc họp của nông dân, giết người, hãm hiếp, v.v.  Đoạn văn sau đây trích ở tờ Nhân Dân, cơ quan chính của Đảng, xuất bản ngày 2 tháng 2, 1956 kê khai những tội tương tự: 

“Ở xã Nghĩa Khê, thuộc tỉnh Bắc Ninh, bọn địa chủ tổ chức mấy em thiếu nhi đi ăn cắp tài liệu, ném đá vào các cuộc họp của nông dân. Ở Liễu Sơn, chúng dùng một em thiếu nhi đi đốt nhà khổ chủ, nhưng bà con nông dân kịp ngăn được. Thâm độc hơn, ở Liễu Hà, chúng cho mấy em thiếu nhi ăn bánh chưng có thuốc độc, làm mấy em bị ngộ độc suýt chết. Ở Vân Trường chúng dụ dỗ em Sửu, 13 tuổi, rủ hai em gái nữa nhẩy xuống giếng tự tử để gây hoang mang trong thôn xóm. Ở Đức Phong (Hà Tĩnh) chúng mua bài tú lơ khơ (bài Trung cộng mang sang) cho các em mải chơi, bỏ trâu ăn lúa để phá hoại mùa màng”.

Điều đáng chú ý là địa chủ càng đạo đức bao nhiêu, như thể linh mục, hòa thượng, và nhất là các nhà nho, thì càng bị quy nhiều “tội” hiếp dâm bấy nhiêu. Nói chung thì hễ địa chủ có vẻ đạo mạo (râu dài, trán sói, mục kỉnh) thì thế nào cũng bị quy những tội loạn luân. Trong rất nhiều trường hợp chính con gái địa chủ lên trước khán đài tố rằng chính bố mình đã hiếp mình. Người trong cuộc mới biết có sự thông đồng giữa bố con; biết là thế nào bố cũng chết, người con gái đành tâm phải tố như vậy để theo lời cán bộ được quy là trung nông, và như vậy có hy vọng sống yên tâm nuôi lũ em dại. Cũng theo kiểu ấy, địa chủ càng có thành tích yêu nước bao nhiêu thì lại càng bị tố nhiều tội phản quốc bấy nhiêu.

Vì tố không cần bằng cớ, nên từ cố kiếp nào, bất cứ trong làng có người nào chết cũng có thể tố là đã bị địa chủ giết. Bác sĩ Nguyễn Đình Phát, chủ đồn điền ở Phủ Quỳ, Nghệ An và đại biểu quốc hội Việt Minh, bị tố là đã giết 35 người, vì bấy nhiêu người đã chết vì bệnh sốt rét trong đồn điền của ông ta. Trong một buổi đấu cụ cử Lê Trọng Nhị, làng Cổ Định, tỉnh Thanh Hóa, một lãnh tụ phong trào Văn Thân năm 1897-1908 đã từng bị đầy ra Côn Đảo trong chín năm, một mụ đàn bà trong làng chỉ vào mặt cụ và tố: “Mày biết thằng con tao không phải là con bố nó, mà chính là con mày? 

Trong khi chồng tao đi vắng, mày hiếp dâm tao rồi sinh ra nó”. Cụ Cử Nhị năm ấy 75 tuổi, mụ đàn bà vào khoảng 60 và người con mụ chừng 40. Người làng tính nhẩm và nhớ lại, hồi mụ sinh người con, cụ Cử Nhị còn đang nằm trong xà lim Côn Đảo, cách xa hai nghìn cây số. Có nhiều địa chủ tỏ ra rất bình tĩnh suốt mấy buổi đấu tố. Một bà già ở Nghệ An chẳng nói “có” mà cũng chẳng nói “không” hỏi câu nào bà ta cũng chỉ nhắc đi nhắc lại: “Xin anh em một viên đạn!”. 

Ở Thanh Hóa một người lên đấu bắt đầu bằng câu thường lệ: “Mày có nhớ tao là ai không?”. Địa chủ nghiễm nhiên trả lời “Có chứ! mày là thằng… Năm ngoái mày ăn cắp tao con gà”. Chủ tọa buổi đấu ra lệnh bế mạc cuộc họp tức khắc. Một tuần sau, tổ chức lại, địa chủ tỏ vẻ ngoan ngoãn hơn trước và tên “trộm gà” không thấy lên đấu nữa. Trong ba ngày đấu tố, người bị đấu được ăn uống đầy đủ. Bữa cơm có thể có thịt gà, thịt bò và nhiều thứ bổ béo khác, chè tầu, cà phê. Địa chủ được tẩm bổ có lẽ là để có đủ sức chịu đựng ba ngày ba đêm đấu tố ngoài trời, đứng lên quỳ xuống luôn luôn mà không bị ngất xỉu. Sau đó, địa chủ bị đưa đi trại giam chờ ngày tòa án nhân dân đặc biệt xét xử.

Trong khoảng thời gian đấu tố, mỗi tỉnh xuất bản một tờ báo địa phương lấy tên là LÁ RỪNG để tường thuật những vụ đấu tố trong toàn tỉnh. Tất cả công chức trong tỉnh đều phải đi “tham quan”, nghĩa là về các làng có đấu tố để quan sát chính sách Cải cách ruộng đất. Đảng muốn họ đi sát với “anh em nông dân” để am tường nỗi khổ của anh em nông dân và công nhận chính sách tiêu diệt giai cấp địa chủ của Đảng là “hợp tình hợp lý”. Họ cũng “ba cùng” với nông dân, nhưng chỉ được quan sát, không được phát biểu ý kiến.

Sydney ngày 23 tháng 2 năm 2024

 

Bài 55: TOÀ ÁN NHÂN DÂN ĐẶC BIỆT TỪ HUYỆN TỚI XỬ ÁN ĐỊA CHỦ: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

Bước 6: XỬ ÁN ĐỊA CHỦ. Vài ngày sau cuộc đấu, một tòa án nhân dân đặc biệt từ huyện tới xã xử những người bị tố. Mỗi huyện thành lập một tòa án gồm toàn bần cố nông không có mảy may kiến thức về pháp luật và án lệ. Tòa gồm có một chánh án, vài thẩm phán và một công cán ủy viên nhưng không hề có người biện hộ cho bị cáo. Tòa xử theo “Biên bản cuộc đấu” và không cho bị cáo tự bào chữa. Bồi thẩm đoàn cũng gồm toàn nông dân đã làm chủ tịch đoàn trong cuộc đấu tố. Án có thể từ năm năm khổ sai đến tử hình, kèm theo tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. 

Những người bị kêu án tử hình bị bắn ngay sau khi tuyên án, và hố chôn đã đào sẵn trước khi tòa nhóm họp. Hồi đầu, những người bị xử tử hình được phép tuyên bố vài lời trước khi bị bắn, nhưng sau khi một người, trước khi chết, hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm! Đảng Lao động muôn năm!” thì thủ tục “tư sản” này bị bãi bỏ. Từ đó về sau, hễ tòa tuyên án tử hình thì tức khắc một cán bộ đứng sau nạn nhân, nhanh tay nhét giẻ vào miệng và lôi đi bắn. Mồ chôn địa chủ bao giờ cũng san phẳng và cấy cỏ lên trên. Những cuộc xử bắn địa chủ bao giờ cũng tổ chức thành biểu tình. Công chúng vỗ tay hoan hô khi nạn nhân ngã ngục dưới làn đạn.

Người tham dự đấu tố không khỏi liên tưởng đến cảnh mèo vồ chuột, mèo vờn đi vờn lại con chuột chán chê rồi mới cắn chết. Cộng sản đối với địa chủ cũng y hệt như vậy. Mang địa chủ ra đấu tố chán chê trong ba ngày liền, rồi vài hôm sau mới mang địa chủ ra bắn. Họ làm như vậy hình như nhằm hai mục đích: thỏa mãn bản năng tàn ác của một số cuồng tín; và gieo rắc khiếp đảm trong tâm hồn toàn thể nhân dân. Cải cách ruộng đất còn một hình thức khác cần phải nói tới là chính sách “Cô lập địa chủ”. Số người chết vì chính sách “Cô lập địa chủ”này, còn đông gấp mười lần số người bị tòa án nhân dân đặc biệt kêu án tử hình.

Hễ bị quy là địa chủ thì tức khắc bị toàn thể dân làng coi như con chó ghẻ. Không ai được chào hỏi hoặc trò chuyện, trẻ con được phép, hoặc nói đúng hơn được khuyến khích ném đá, nếu chúng thấy địa chủ ra đường hoặc đứng trước sân. Trong hơn một năm trời, từ ngày bắt đầu chiến dịch thứ nhất đến ngày kết thúc chiến dịch thứ hai, địa chủ và gia đình không được phép ra khỏi ngõ, trừ khi bị gọi ra Ủy ban có việc. Vì chính sách cô lập này, phần lớn gia đình địa chủ bị chết đói, trẻ con và người già chết trước, người lớn chết sau. 

Mục đích của “chính sách cô lập” vô cùng kinh khủng này là nhằm tiêu diệt cho kỳ tuyệt giống “bóc lột” ở nông thôn. Như đã nói ở phần trên, không hề có thống kê về số người bị chết đói vì chính sách “Cô lập địa chủ” nhưng có thể ước đoán rằng đa số thành phần giai cấp “địa chủ” đã bị chết như vậy. Trong bài diễn văn đọc trước Đại hội toàn quốc của Mặt trận tổ quốc, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói: “Trong khi đập tan giai cấp địa chủ, ta không phân biệt đối xử, ta để cho chết chóc thê thảm những người già cả, hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu diệt”. 

Cũng về mục này Nguyễn Hữu Đang, Bộ trưởng bộ Văn hóa trong chính phủ Việt minh đầu tiên, đã viết trong báo NHÂN VĂN như sau:“Trong Cải cách ruộng đất, những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tử, xử bắn, tịch thu tài sản hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây làm cho chết đói những thiếu nhi vô tội trong các gia đình địa chủ, hoặc gia đình nông dân bị quy sai thành phần”.

Quả thực ông Hồ đã chủ tâm diệt chủng giai cấp địa chủ không khác Đức Quốc xã diệt chủng người Do Thái. Nhưng nếu so sánh, chúng ta có thể nói Hitler và Eichmann đường hoàng hơn ông Hồ và ông Mao, vì khi họ ra lệnh lùa người Do Thái vào phòng hơi ngạt, họ ngang nhiên nhận lãnh trách nhiệm về quyết định của họ trước công luận và trước lịch sử. Trái lại, ông Hồ và ông Mao muốn ban cho giai cấp địa chủ một “cái chết tự nhiên”, để hai ông không bị mang tiếng giết họ, bắt họ phải chết một cách “bất đắc kỳ tử”.

Ngay cả sau Cải cách ruộng đất, nếu ốm đau, địa chủ và thân thuộc cũng không được chữa chạy thuốc men. Tình trạng này đã được luật sư Nguyễn Mạnh Tường tóm tắt như sau:“Khi đưa tới bệnh viện, một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là: Bệnh nhân thuộc thành phần giai cấp nào? Chữa cho địa chủ thì “mất lập trường”. Để nó chết mới chứng minh mình có “lập trường giai cấp”. Những địa chủ còn sống sót tới phong trào Sửa sai sau phong trào hạ bệ Stalin ở Nga, là nhờ được hàng xóm mủi lòng giúp đỡ bằng cách, tối đến, ném cơm và thuốc men qua hàng rào để cứu họ và gia đình khỏi chết. 

Sydney ngày 24 tháng 2 năm 2024

 

Bài 56: VÔ SỐ ĐẢNG VIÊN CỦ BỊ QUY VIỆT GIAN, PHẢN ĐỘNG, CƯỜNG  HÀO… VÀ BỊ XỬ BẮN: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

BƯỚC BA: CHIẾN DỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤTMặc dù tàn bạo quá sức tưởng tượng “Chiến dịch Giảm tô” chỉ mới là màn khai mào tương đối ôn hòa hơn so với Chiến dịch Cải cách ruộng đất khốc liệt bội phần. Khoảng một năm sau chiến dịch Giảm tô, thì đến “Chiến dịch Cải cách Ruộng đất”. Sở dĩ có một năm xả hơi là vì cần phải chỉnh đốn lại làng mạc, cả về kinh tế lẫn về hành chính. Trong suốt mấy tháng nông dân đã mất quá nhiều thì giờ họp hành, biểu tình, đấu tố nên xao lãng công việc đồng áng. Làng nào mới qua chiến dịch Giảm tô cũng như mới qua một trận bão, rào giậu đổ nát, nhà cửa siêu vẹo, chó, lợn và cả trâu bò đi lang thang không người chăn dắt. 

Người nông dân thất điên, bát đảo, rã rời, không mấy ai còn bụng dạ làm ăn. Họ “đầu tắt mặt tối” bao đời để mong có ngày “mát mặt” với làng nước, chắt bóp dành được ít nhiều của cải để lại cho con cháu. Bỗng nhiên, họ thấy hễ có của ăn của để hơn người là đắc tội, nên không muốn làm lụng làm gì cho “vừa tốn sức vừa nguy hại đến bản thân”… Để khắc phục thái độ uể oải của nông dân, Đảng bèn đề ra chính sách “Thi đua xã hội chủ nghĩa”, đốc thúc nông dân sửa nhà sửa cửa, đào kênh đắp đường, chống lụt, chống hạn. Cứ liên miên như vậy cho đến ngày họ cảm thấy nếp sống tập thể đã thay thế cho nếp sống riêng rẽ, họ chỉ cần tuân theo chỉ thị của nông hội, không cần có sáng kiến cá nhân. 

Năm xả hơi cũng là năm cải tổ lại Ủy ban hành chính và Chi bộ xã vì cả hai đều đã bị giải tán lúc chiến dịch Giảm tô mới bắt đầu. Tất cả cán bộ và đảng viên cũ, nếu có ít nhiều liên quan với giai cấp địa chủ, dù có tích cực và có thành tích bằng mấy cũng bị gạt ra ngoài. Lần này, Ủy ban Hành chánh và Chi bộ gồm toàn đảng viên mới được kết nạp, đa số là bần nông và cốt cán, những người đã “đấu hăng” trong chiến dịch vừa qua, dù có mù chữ cũng không sao. Tất nhiên, có sự xung đột giữa hai loại đảng viên, và kết quả là các “đảng viên mới” có quyền bính trong tay và nhân dịp chiến dịch Cải cách ruộng đất, họ quy hầu hết các “đảng viên cũ” là địa chủ và bắt tống giam. 

Vô số đảng viên cũ bị quy là Việt gian phản động, cường hào, gian ác và bị xử bắn, con số những người còn bị giam, chưa kịp mang bắn, và được thoát chết nhân dịp Sửa sai lên tới 12 ngàn người (con số của báo Nhân dân). Những người này nhờ Sửa sai mà thoát chết, nhưng khi được tha về cũng đã mất cửa mất nhà, có khi mất cả vợ. 

Một câu hỏi cần được đặt ra là: Tại sao các đảng viên cũ còn đang được kính nể trong chiến dịch thứ nhất (Giảm tô) lại bị bạc đãi trong chiến dịch thứ hai (Cải cách ruộng đất)? Việc Đảng trở mặt đối với họ hình như có những lý do: (1) Cải cách ruộng đất là một cuộc thanh trừng đại quy mô, các đảng viên cũng phải thanh trừng như “quần chúng” không Đảng, và Đảng ủy thác cho bần cố nông thực hiện cuộc thanh trừng này. Sở dĩ kỳ trước đảng viên được yên thân và kỳ này đảng viên mới bị là tại Đảng có một chiến lược đặc biệt: quần chúng trước, đảng viên sau: đũa không bẻ cả nắm. 

(2) Hầu hết các đảng viên cũ đều thuộc thành phần phú nông địa chủ, nên đến lúc Đảng cần “vô sản hóa” hàng ngũ, các đảng viên cũ bị quy là địa chủ, và bị loại trừ thì cũng chẳng có gì là lạ. (3) Sở dĩ có sự xung đột giữa đảng viên cũ và đảng viên mới, là vì trong mười năm đảng viên cũ cầm quyền ở nông thôn họ đã trở thành một giai cấp mới. (4) Họ nói họ có lập trường vô sản, nhưng thực sự thì họ vẫn kỳ thị vô sản, miệng vẫn nói: “anh chị em nông dân” nhưng trong thâm tâm vẫn coi bần cố nông là “dân ngu khu đen”. Có thể nói rằng hình phạt họ phải chịu trong chiến dịch Cải cách ruộng đất một phần do hậu quả của thái độ hống hách của các đảng viên củ (phú nông, địa chủ) trong mười năm qua (1945-1955). 

(5) Hơn nữa, trong chiến dịch Cải cách ruộng đất, Đảng ấn định cho mỗi xã một con số tối thiểu địa chủ bị tù đày và bị tử hình cao quá mức, năm lần nhiều hơn trong chiến dịch giảm tô, nên nếu lần này đảng viên cũ vẫn được ngoại lệ thì không kiếm đâu cho đủ số người mang đi xử tử hoặc cho vào tù. 

Vì những lý do kể trên nên thế tất, phải xảy ra cuộc xung đột giữa hai loại đảng viên, giữa đảng viên cũ mà đa số thuộc thành phần ưu tú, có học ở nông thôn hầu hết là phú nông địa chủ, gia nhập Đảng không phải vì quyền lợi giai cấp mà chỉ vì “yêu nước, chống ngoại xâm” hoặc bị hấp dẫn bởi lý thuyết Mác-xít, hoặc vì tham vọng nào khác. Ngược lại, những đảng viên mới gồm bần cố nông và một số bất lương du đãng. Bọn đảng viên mới này không có tham vọng gì hơn là lôi tuột tất cả mọi thành phần trong xã hội xuống ngang mức với mình. 

Sự xung đột giữa mới và cũ cũng là điều mà Đảng muốn vì Đảng quan niệm có xung đột “thanh trừng mới hữu hiệu” mới có điều kiện để chuyển từ thế “phản đế” sang thế “phản phong”. Chứng cớ là mặc dù vô số đảng viên kỳ cựu bị tù đày hoặc hành quyết mà Đảng không hề can thiệp. Mãi đến khi chiến dịch kết thúc, ông Võ Nguyên Giáp mới thay mặt Đảng, tuyên bố việc chém giết tràn lan là một việc đại sai lầm.

Cũng in hệt Giảm tô, Cải cách ruộng đất cũng bắt đầu bằng một cuộc quy định thành phần, lần này là quy định lại, rồi đến đấu tố và sau đó là xử án và xử bắn. Thủ đoạn reo rắc khủng khiếp cũng y hệt chiến dịch trước, chỉ khác ở một điểm là lần này số nạn nhân đông hơn gấp bội. Mỗi xã tối thiểu phải xử tử năm mạng. Số người tự vẫn có phần tăng nhiều hơn, vì lẽ những người mới bị “vạch mặt” (phát hiện là địa chủ) không chịu nổi nỗi nhục vì trước đây một năm, họ còn “tố hăng” những người bị quy là địa chủ trong chiến dịch trước. 

Số người chết đói vì “cô lập” cũng tăng nhiều hơn vì những phú nông hoặc trung nông mới lên chức địa chủ không có đủ điều kiện tinh thần và vật chất để sống qua thời kỳ cô lập bằng các địa chủ chính cống. Về tâm lý, các địa chủ chính cống lâu nay đã chuẩn bị tinh thần để chịu “búa rìu” của thời đại. Về vật chất họ cũng có nhiều thuận lợi. Nhiều gia đình địa chủ có con cái kèm theo nghề khác mà theo luật Cải cách ruộng đất không đụng chạm tới, như công nghệ hoặc buôn bán. Họ lại còn có bà con, bạn bè làm cán bộ bí mật giúp đỡ. Trái lại, những địa chủ mới bị đôn lên, trước kia là phú nông, trung nông, đều là những người chỉ biết trồng cây cuốc đất, và suốt đời không ra khỏi làng. 

Sở dĩ họ “có đủ bát ăn” hơn người khác là chỉ tại họ suốt đời thực hiện phương châm “làm nhiều ăn ít”. Ngày nay, bỗng dưng bị quy là địa chủ, họ không có chỗ sở cậy nên không tránh khỏi chết đói trong thời gian cô lập. Về truất hữu tài sản thì hai chiến dịch chỉ khác nhau ở một điểm: Trong GIẢM TÔ, tịch thu tài sản chỉ là một hình phạt của tòa án nên chỉ có địa chủ “đầu sỏ” mới bị tịch thu hoặc một phần, hoặc toàn bộ tài sản. Trong CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, toàn bộ tài sản của tất cả mọi địa chủ đều bị trưng thu nghĩa là sung công mà không được trả tiền, trên thực tế, không khác tịch thu gì hết.

Sydney ngày 25 tháng 2 năm 2024

 

Bài 57: TỊCH THU, TRƯNG THU, HOẶC TRƯNG MUA TÀI SẢN ĐỊA CHỦ, NHƯNG …: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

Xin lưu ý, trong chiến dịch đầu, chiến dịch GIẢM TÔ, chỉ có địa chủ “đầu sỏ” mới bị xử án và bị tòa tuyên án tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Đấy là một hình phạt để trị tội những địa chủ Việt gian phản động. Nhưng địa chủ không bị ra tòa, hoặc có ra tòa nhưng tòa không tuyên án tịch thu tài sản thì vẫn giữ nguyên sở hữu nhà cửa ruộng nương của mình. Nhưng đấy chỉ là trên lý thuyết. Thực tế thì ngay từ hồi mới phát động chiến dịch, tất cả đồ đạc trong nhà họ đã bị ghi vào biên bản. Họ không được phép bán bất cứ thứ gì, dù nhỏ nhặt nhất, và hễ mất mát hoặc hư hỏng, họ sẽ phải chịu trách nhiệm. 

Từ ngày ấy trở đi, một thửa vườn của địa chủ chẳng hạn, vẫn là tài sản hợp pháp của địa chủ, nhưng trái cây trong vườn đã bị coi là của “nhân dân” rồi. Có nhiều địa chủ bị đánh đập thậm tệ cũng chỉ vì, như ông Adam và bà Êva, họ không cưỡng lại được sự cám dỗ của những “trái chín” trong vườn họ, trước mắt họ… Biện pháp phi lý này cũng áp dụng cho cả lúa ruộng. Trên lý thuyết, ruộng vẫn còn là của tư hữu của địa chủ, nhưng tá điền phải nộp cho nông hội. Tình trạng rắc rối này kéo dài trong một năm cho đến phát động chiến dịch CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, chính quyền mới tuyên bố tịch thu, hoặc trưng thu tất cả ruộng đất “thừa” của địa chủ.

Theo một đạo luật (Sắc lệnh số 197/SL, ban hành ngày 19 tháng 12 năm 1953. Chương 2, Điều 4) thì chỉ có ruộng đất, trâu bò và nông cụ thừa mới bị sung công, còn tất cả mọi thứ khác đều không đụng đến. Nhưng đến thực tế thì địa chủ và gia đình bị đuổi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng. Cũng theo sắc lệnh này, có ba loại truất hữu khác nhau: (1). TỊCH THU ruộng đất và tài sản của “thực dân, đế quốc và Việt gian phản động”. Đối với thực dân đế quốc thì tịch thu toàn bộ, còn đối với Việt gian phản động thì tịch thu nhiều ít tùy theo tội trạng. (2). TRƯNG THU phần tài sản của Việt gian phản động còn lại, sau khi đã tịch thu một phần. Trưng thu cũng là lấy không trả tiền, chỉ khác tịch thu ở chỗ không cần phải đưa ra tòa. 

(3). TRƯNG MUA tài sản của những địa chủ không phản động. Theo sắc lệnh thì trưng mua nghĩa là truất hữu có bồi thường. Người bị truất hữu sẽ được trả bằng quốc trái. Giá ruộng ấn định bằng số MỘT NĂM HOA LỢI, và chính phủ HỨA sau mười năm sẽ trả, và chịu lãi cho người bị truất hữu mỗi năm một phân rưỡi. Chính phủ tỏ vẻ rất sòng phẳng và pháp luật rất minh bạch, nhưng trên thực tế thì chẳng địa chủ nào được “trưng mua” cả, vì một lẽ rất giản dị: không có địa chủ không phản động. Vì vậy nên biện pháp trưng mua chỉ có trên giấy tờ. Trên thực tế, tất cả tài sản của mọi địa chủ đều bị trưng thu, nếu không bị tịch thu.

Mãi đến chiến dịch Sửa sai mới có một số địa chủ được tha khỏi tù, được hạ xuống làm “địa chủ thường” hoặc “địa chủ kháng chiến” có khi xuống thành trung nông và ngay cả bần nông. Họ được hoàn lại tài sản, nhưng thực sự thì họ chỉ được lấy lại một phần ruộng nương và nhà cửa. Nói là nhà cửa, nhưng chỉ còn mái nhà và mấy hàng cột, vì trước khi giao trả cho họ và dọn đi nơi khác, những bần cố nông được phép chiếm cứ nhà cửa của họ đã đánh tháo cánh cửa và vách ván làm củi đun. Cây cối trong vườn cũng bị chặt mang đi bán và trâu bò cũng bị đánh què làm thịt. Đồ đạc phân chia cho bần cố nông thì bần cố nông đã bán đi bán lại qua tay nhiều người không còn tìm thấy tung tích.

Có thể có một số “nhân sĩ tiến bộ” như ông Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại và ông Hồ Đắc Điềm được TRƯNG MUA tài sản và được giao tờ quốc trái bồi thường, nhưng tới nay đã đủ 10 năm, mà chưa nghe nói hoặc đăng trên báo chí Hà Nội là đã có ai được lĩnh tiền bồi thường cùng với số lãi 15 phần trăm trong 10 năm. Có điều chắc là nếu chính quyền Bắc Việt làm ngơ thì chẳng có ai to gan dám mở miệng đòi, vì nếu đòi tiền bồi thường ruộng đất tức là còn “óc địa chủ”; và như vậy tất nhiên không đáng được chức “nhân sĩ tiến bộ” hoặc bất cứ thành phần nào khác ngoài thành phần địa chủ. 

Như thông cảm lẫn nhau, cả Đảng lẫn người mất ruộng đều làm ngơ sắc lệnh 197 SL, không đả động gì đến cả vốn lẫn lãi. Như vậy, là trên thực tế, cả ba hình thức truất hữu: tịch thu, trưng thu và trưng mua đều giống hệt nhau. Không kể những ông “nhân sĩ tiến bộ” chỉ mất ruộng không, nhưng được yên trên Việt Bắc, còn mọi loại địa chủ đều bị đuổi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng và vài mảnh áo rách… Việc truất hữu tài sản của địa chủ cũng được cử hành với hình thức rất uy nghi. Sau đây là một bài báo tả cảnh buổi tịch thu tài sản đăng trong báo Cứu quốc số 2741, ngày 1 tháng 1 năm 1956:  

Nông dân thôn Thượng rùng rùng kéo đến nhà tên Phong (địa chủ). Cờ phơi phới. Tiếng trống thiếu nhi rồn rập. Những tiếng hô khẩu hiệu “đả đảo” và “hoan hô” không ngớt. Giữa sân lù lù một đống cày cuốc, ô doa, liềm hái, thúng mủng cho tới nồi ba mươi, nồi mười, mâm đồng, chậu thau… hàng dẫy. Quanh sân những cây hải đường, cây mẫu đơn rực rỡ. Đồng chí cốt cán gọi vợ tên Phong ra. Đồng chí nhân danh nông hội tuyên bố tịch thu toàn bộ tài sản của nó. Tiếng đấu tranh của nông dân mỗi lúc càng gay gắt, như không chấm dứt... 

Đồng chí cốt cán tuyên bố, vạch rõ cho con mẹ địa chủ thấy đời nó, đời cha, đời ông nó không lao động, chuyên bóc lột, chiếm đoạt, mới có những của này. Của này là của nông dân… Con mẹ địa chủ mặt tái mét. Cả người nó run run. Đồng chí dõng dạc tuyên bố xóa bỏ hẳn quyền chiếm hữu gồm 24 mẫu ruộng và toàn bộ tài sản của nó. Tiếng vỗ tay ran lên “Hồ chủ tịch muôn năm!”, “Hoan nghênh chính sách tịch thu, trưng thu, trưng mua của Đảng và của chính phủ!”. Hàng đoàn thanh niên nam nữ quẩy những gánh thóc từ nhà ngang qua sân... Hai con trâu cũng vừa dắt ra. Tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô vang dậy. Bà con thu xếp quẩy đổ đi. Khiêng, vác, gánh lũ lượt. Trống ếch các thiếu nhi càng ròn rã”.

Sau lễ tịch thu, một số vật dụng riêng của địa chủ được mang ra triển lãm trước khi chia cho nông dân. Để làm nổi bật mức sống “xa hoa” của địa chủ, đồng thời cũng triển lãm cả vật dụng của bần cố nông. Một bên phòng triển lãm bày nào là áo gấm, mũ tây, can, giầy tây, điếu khách, ống nhổ, an bom ảnh (trong an bom nhiều khi có cả ảnh cán bộ), còn một bên là váy đụp, áo rách, vài chiếc nồi đất để nói lên sự nghèo nàn của nông dân. Đôi khi có cả hai mâm cơm. Mâm của địa chủ thì nào là gà, cá, heo quay, rượu đế, còn mâm cơm của nông dân thì chỉ có cơm hẩm, cà thâm và một bát tương nặng mùi.

Năm 1954, sau khi cộng sản tiếp thu Hà Nội được vài tuần, họ có tổ chức một cuộc triển lãm như vậy tại vườn hoa Hàng Đậu, ở giữa thủ đô. Mục đích là để chứng minh cho dân thành thị thấy việc đánh đổ giai cấp địa chủ là một việc “hợp tình hợp lý”, để lôi cuốn họ theo cách mạng vô sản. Nhưng chẳng bao lâu cuộc triển lãm bị dẹp ngay vì dư luận của những người đi xem cho rằng, nếu đó là mức sống của địa chủ nông thôn (áo gấm đã bạc màu, mũ tây “phở”) thì hãy còn thấp hơn mức sống của một công nhân Hà Nội. 

Sydney ngày 26 tháng 2 năm 2024

 

Bài 58: “CHIẾN DỊCH SỬA SAI” CỦA CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

BƯỚC BỐN: CHIẾN DỊCH SỬA SAINăm 1956,  Chương trình Cải cách ruộng đất vừa thực hiện, và sau khi thiết lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn, thì đột nhiên Đảng Lao động tuyên bố là đã phạm nhiều sai lầm. Vì vậy, nên Đảng phát động ngay một chiến dịch “Sửa sai” bắt đầu bằng việc “tự rút lui” của ông Trường Chinh, tổng bí thư Đảng và ông Hồ Viết Thắng, thứ trưởng phụ trách Cải cách ruộng đất. Võ Nguyên Giáp, tạm thời làm phát ngôn viên của đảng đọc một bản kê khai những “sai lầm”, của Cải cách ruộng đất, trước Hội nghị thứ 10 của Trung ương đảng. Nhiều quan sát viên ngoại quốc tin rằng “quả có sai lầm” và chính quyền Hà Nội thực tình sửa chữa. Có người lại cho rằng Cải cách Ruộng đất của cộng sản đã thất bại. 

Sự thực thì khác hẳn, CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT có những động cơ thầm kín là Tịch thu và phân chia ruộng đất chỉ là giai đoạn chuyển tiếp, tập thể hóa ruộng đất mới là mục đích tối hậu. Muốn bắt buộc toàn thể nông dân phải cam chịu số phận sống dưới chế độ tập thể, các lãnh tụ cộng sản thấy cần phải tiêu diệt tận gốc “tư tưởng tư hữu tài sản từ mấy ngàn năm đã chôn sâu trong tiềm thức của mọi người dù là bần cố nông”. Muốn đạt tới kết quả họ áp dụng câu cách ngôn “sát nhất nhân, vạn nhân cụ”. Áp dụng vào Cải cách Ruộng đất, câu cách ngôn trên có thể đổi thành “Giết một số địa chủ để không còn một ai muốn sở hữu ruộng đất”

Chính vì vậy, cộng sản ấn định cho mỗi xã một số tử hình nhất định, ngay cả ở những xã mà toàn thể ruộng đất là công điền. Quả nhiên, mọi người mất hồn mất vía ngay tức khắc. Đảng bắt nông dân phải đấu tố và chém giết địa chủ để làm bàn tay nông dân phải dính máu. Một khi tay đẫm máu thì chỉ còn một cách là đi với Đảng cho đến tận cùng. Người nông dân đành phải chấp nhận số phận nào mà Đảng đã dành cho. Sau khi tàn sát một số người lên tới 5% dân số Bắc Việt, người nông dân có cảm giác tội lỗi, thì lại được cộng sản đề cao là “Tinh thần của anh chị em nông dân đã vươn lên làm chủ lấy vận mệnh của mình”.

Về phương diện chính trị, CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT đánh dấu một bước ngoặt từ lập trường Phản đế sang lập trường Phản phong, hay nói một cách khác, từ Kháng chiến chống thực dân Pháp sang Chém giết địa chủ người Việt. Vì mục tiêu đấu tranh đột nhiên thay đổi nên Đảng thấy cần thiết phải thanh trừng tất cả các phần tử quốc gia trí thức, tiểu tư sản trong hàng ngũ kháng chiến, ngay cả những đảng viên mà Đảng nghi ngờ không hoàn toàn là công nông chính thống. Đảng cho rằng một cuộc thanh trừng triệt để không thể nào thực hiện được bằng cách ủy thác cho cấp trên nhiệm vụ chọn lọc và khai trừ cấp dưới. Vì đầu óc bè phái hãy còn ăn sâu nên, nếu dùng phương pháp kể trên, sẽ có rất nhiều người lọt lưới. 

Theo nhận thức của Đảng thì thanh trừng phải thực hiện từ dưới lên trên, nghĩa là phải bắt đầu từ cấp xã “phóng tay”. Do bần cố nông trong xã thanh trừng “phản động”, vì chỉ có người cùng làng mới biết rõ thái độ chính trị của mỗi người trong làng, Đảng nói: “Nhân dân rất sáng suốt, và trong nhân dân, “chỉ có bần cố nông là đáng tin cậy hơn cả”. Đảng thừa biết rằng nếu phóng tay thì quần chúng sẽ đấu tố bừa bãi, nhưng suy đi tính lại, thà bừa bãi một chút mà “tiệt nọc” còn hơn thận trọng mà kết quả hời hợt. Đảng vẫn nhắm mắt làm ngơ để mặc cho sai lầm tiếp diễn. Hàng vạn người bị giết oan, bị tù đày, hoặc bị bao vây cho đến chết đói, mà Đảng chẳng hề giơ một ngón tay nhỏ cứu vớt lấy một người. 

Theo luật pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì người bị kết án tử hình có quyền ký đơn xin Hồ chủ tịch ân xá, nhưng thực tế, ông Hồ không hề ân xá lấy một người gọi là, ngay cả những đảng viên trung kiên trước khi bị bắn hô to: Hồ Chí Minh muôn năm!” Tháng 3 năm 1956, ông Hồ có ra lệnh tạm đình chỉ mọi vụ hành quyết, nhưng đấy là hậu quả xa xôi của Phong trào “Hạ bệ Stalin phát xuất từ Moscou, nhân kỳ Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô. Những người may mắn thoát chết – vì bản án xử tử chưa kịp thi hành – và sau này được trả tự do không hề chịu ơn ông Hồ, mà một cách gián tiếp, họ đã chịu ơn Khrushchev.

Sydney ngày 27 tháng 2 năm 2024

 

Bài 59: THA ĐỊA CHỦ ĐẢNG VIÊN RA KHỎI NHÀ TÙ, HOÀN LẠI TÀI SẢN, VÀ TRẢ LẠI VỢ NẾU…: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

Biện pháp đầu tiên của Sửa sai là tha hết địa chủ và đảng viên ra khỏi nhà tù hoặc trại giam. Tổng số những người được tha chưa hề tiết lộ, trong số người được tha có ông Ngô Đức Mậu, một đảng viên cộng sản kỳ cựu đã từng sống nhiều năm trong ngục Lao Bảo hồi Pháp thuộc, đã tả nỗi đau khổ trong ngục thất cộng sản như sau: “Những lúc bị giam giữ trong buồng riêng cô quạnh, rét mướt, đau khổ, những anh em thường an ủi nhau ‘củng cố lòng tin để chịu đựng ngược đãi, củng cố lòng tin để sống’ vì ở tù đế quốc và ở tù hiện nay (cộng sản) nó khác xa nhau. Ở tù đế quốc bị hành hạ bằng thể xác nhưng tinh thần lành mạnh được an ủi, khoan khoái… Còn ở đây (tù cộng sản) chúng tôi bị giày xéo cả thể chất lẫn tinh thần. Chung quanh chúng tôi, ai nấy đều cho chúng tôi là địch, là kẻ bán nước hại dân, thì bảo họ đồng tình với chúng tôi sao được…”

Ngô Đức Mậu còn than vãn là bị chính các đồng chí cộng sản của ông tra tấn, không cho ông tự bào chữa: “Những việc mà một số anh em cán bộ ở Hà Tĩnh dựng đứng lên, hoặc lật ngược lại những thành tích đã qua của tôi (từ thời Đông Dương Cộng sản Đảng) để truy bức tôi suốt ngày đêm, để buộc tội phải nhận những việc mà tôi chưa hề làm, mà cũng chưa bao giờ nghĩ tới… Cuộc truy bức càng ngày càng nặng, nó vượt ra ngoài khuôn khổ của một cuộc đấu tranh về nguyên tắc. Tôi ỳ ra mãi cũng không được. Nhiều ý nghĩ khác (tự tử chẳng hạn) lại nảy nở ra và xoay quanh trong đầu óc tối như chong chóng”. (NHÂN DÂN, 30 tháng 10, 1956)

Tuy nhiên, trước khi được ra về, họ phải ở lại nhà tù một tháng để học lớp “sửa soạn ra về”. Dưới sự chỉ dẫn của một đại diện Đảng, họ phải học tập, nghiên cứu những vấn đề phức tạp của bản thú nhận sai lầm của ông Võ Nguyên Giáp, bài nói về thái độ tự phê bình của Đảng, chủ nghĩa Mác-xít không bao giờ sai, và “thái độ đúng đắn đối với những người đã tố sai”. Đảng hứa sẽ hồi phục công quyền và hoàn lại tất cả tài sản mà Đảng đã tịch thu của họ. Đảng khuyên họ nên quên những nỗi đau khổ vừa qua, củng cố lại lòng tin nơi Đảng và tiếp tục phục vụ Đảng một cách trung thành như đã phục vụ từ trước. Điều cần nhất là tuyệt đối không được trả thù những người đã vu oan giá họa cho mình.

Các Uỷ ban xã được lệnh cử phái đoàn đến tận nhà tù đón rước những người bị giam và đưa họ về quê quán. Dĩ nhiên là họ vui mừng khôn xiết khi họ đặt chân tới làng cũ gặp lại vợ con. Tờ NHÂN DÂN đã kể trường hợp của Tân, một trong số những người cùng cảnh ngộ. “Gia đình đồng chí xưa nay là trung nông. Từ đời ông, đời cha, đến đời đồng chí (Tân) vẫn cày sâu, cuốc bẫm. Đồng chí tham gia cách mạng từ những ngày đầu khởi nghĩa. Năm 1947, xã đồng chí bị địch chiếm đóng, cũng là năm đồng chí được rèn luyện, thử thách nhiều và được kết nạp vào Đảng. Làm bí thư chi bộ và chủ tịch xã, đồng chí đã lãnh đạo nhân dân anh dũng đánh giặc. 

Bao nhiêu lần xã bị địch càn quét đồng chí phải nằm hầm nhịn đói, có lần phải bật ra vùng du kích, nhưng rồi vẫn tìm cách trở về xây dựng lại cơ sở tiếp tục chiến đấu cho đến ngày kháng chiến thắng lợi. Sau ngày hòa bình lập lại, thi hành chỉ thị của cấp trên, đồng chí đã chuẩn bị cho cuộc đấu tranh chống phong kiến (Cải cách Ruộng đất). Nhưng chẳng những đồng chí không được tham gia cuộc đấu tranh ấy mà trái lại, đã bị quy là địa chủ cường hào gian ác phản động đầu sỏ và bị đánh đổ (đấu tố) một cách quyết liệt. Thật là đau xót! Mỗi lần nghĩ tới không sao nén nổi phẫn uất”! 

Nhân dịp Sửa sai, Tân được tha về, và: “Đồng chí (Tân) lẩm nhẩm tính: “Ngót tám tháng bị giam cầm, chờ duyệt án tử hình, hơn một tháng học tập trước khi trả tự do”. Thấm thoát đã xa nhà chín tháng. Mai về gặp lại vợ con, họ hàng, làng xóm. Đồng chí hồi hộp nghĩ tới những phút sẽ được gần lại vợ, gần lại con, những hơi thở, những bàn tay ấm áp… Đồng chí chưa lên nhà ông Lễ (anh Tân) vội, lại rẽ vào gian bếp lụp xụp nơi ở của vợ con đồng chí sau ngày tất cả tài sản của gia đình đồng chí bị tịch thu. Đồng chí phải khom người mới bước được vào trong bếp. Bồ hóng chằng chịt trên nóc, trên vách. Một chõng ọp ẹp kê chật cả nửa bếp. Em gái đồng chí chạy vào, khóc lóc: “Sung sướng chưa anh ơi! Trong khi anh đi tù, người ta bắt chị và các cháu phải sống chui sống rúc thế này!” 

Đồng chí thấy đau lòng trước cảnh sống khổ cực của vợ con trong những ngày qua. Đồng chí còn trấn tĩnh, xua tay bảo em gái, mà chính mình cũng là nói với lòng mình: ‘Khóc lóc, oán hận chẳng có ích gì mà chỉ gây cho mình thêm đau khổ’. Rồi đồng chí đi ra thẳng lên nhà ông Lễ. Nhà ông Lễ tối hôm ấy đông vui hơn cả ngày cưới anh Bái, con trai ông… Hết ấm nước này đến ấm nước khác, câu chuyện đi sâu vào tình cảm gia đình, họ mạc, xóm giềng. Bà con nhắc lại những chuyện sai lầm trong Cải cách ruộng đất, những chuyện buộc lòng phải đấu, tố nhau, dứt tình dứt nghĩa. Lòng ai nấy xót xa. Không khí nhiều lúc trầm trầm lặng xuống”. (NHÂN DÂN, 14 tháng 11, 1956).

Biện pháp thứ hai của Sửa sai là hoàn lại những tài sản đã tịch thu của họ, nếu còn có để hoàn lại. Những thứ được trả lại phần nhiều chỉ là nhà cửa, vườn tược, nhưng tất cả đều điêu tàn vì những bần cố nông được thụ hưởng không đủ phương tiện chăm nom. Còn trâu bò đã bị làm thịt mang ra chợ bán. Nhưng mặc dầu của cải hoàn lại chẳng còn được là bao, những người được trả lại cũng hết sức hoan hỉ. Ý nghĩ sẽ được trở về nơi chôn rau cắt rốn và sống dưới mái nhà tổ tiên xây cất cũng đủ làm cho họ vui lòng. Chỉ có những bần cố nông được ở trong nhà của địa chủ trong mấy năm, bây giờ phải cuốn gói ra đi mới là thật đau lòng.

Biện pháp thứ ba của Sửa sai là “trả lại vợ” cho những người đã bị “tịch thu” mất vợ. Có trường hợp người vợ tự ý bỏ, vì sợ bị “liên hệ”, hoặc vì hai bên thông gia đã “tố” nhau nên gây thù oán. Nhưng, thông thường là người vợ còn trẻ và duyên dáng, nên một đảng viên “mới” nào đó ép phải lấy hắn trong khi chồng đi tù. Một số đông những người phụ nữ bất hạnh này đã sống với chồng mới tới hai ba năm, nên khi chồng cũ tha về thì đã có con với chồng mới, thành ra vấn đề “hoàn vợ lại cho chồng cũ” là một vấn đề nan giải. Vấn đề này đã được giải quyết bằng một Thông tư của Bộ Tư pháp ban hành ngày 19 tháng 4 năm 1957, do Thứ trưởng Bộ trưởng Bộ tư pháp Trần Công Tường ký, theo đó, bộ đề ra chủ trương sau:

1. Đối với vợ chồng bỏ nhau đã có con hoặc chưa có con, nhưng vợ chưa lấy chồng khác, chồng chưa lấy vợ khác, thì phương châm là kiên trì giải quyết tư tưởng cho hai bên thông cảm nhau là do sai lầm chung mà vợ chồng bỏ nhau, vậy nên về đoàn tụ với nhau như cũ, nhất là khi hai bên đã có con còn bé.

2. Đối với những vợ chồng bỏ nhau mà một bên đã lấy người khác rồi có hai trường hợp: (a) Nếu vợ đã đi lấy chồng mới mà chưa có con, nay vợ muốn trở về với chồng cũ và chồng cũ muốn đoàn tụ thì cho đoàn tụ và giải quyết cho người chồng mới thông. Nếu người vợ một mực ở với chồng mới dù chưa có con với người này thì nên giải thích cho người chồng cũ thoả thuận ly hôn với người vợ. (b) Trường hợp người vợ đã có con với chồng cũ, nhất là khi đứa con còn bé thì cẩn thận trong việc cho ly hôn. Trường hợp chồng đã lấy vợ mới, có con hay chưa có con, nay muốn về với vợ cũ, nhưng vợ cũ không muốn trở lại thì cần cho ly dị; trường hợp vợ cũ còn muốn trở lại với chồng thì nên căn cứ vào tình cảm của ba người đối với nhau và tùy tập quán địa phương mà giải quyết cho ổn thỏa.

3. Trường hợp hai bên đều lấy vợ lấy chồng khác rồi thì nên cho họ ly hôn để họ chính thức lập gia đình mới.

4. Trường hợp đa thê, nhân vì đấu tố mà vợ lẽ bỏ chồng thì nói chung nên giải quyết cho họ ly hôn, nhưng có trường hợp vì sinh kế, vì con cái hay vì tình cảm, người vợ lẽ muốn đoàn tụ thì giải quyết cho đoàn tụ.

Bản Thông tư không nói đến trường hợp những người vợ goá, vì chồng bị xử tử, và sau đó bị cán bộ ức hiếp phải lấy họ, cũng không nói tới trường hợp con gái địa chủ bị ép lấy bần cố nông, vì đối với Đảng, đấy chẳng phải là một sai lầm. Đảng không hề chú ý tới sự đau khổ và nhục nhã mà những phụ nữ kể trên phải chịu đựng trong mấy năm liền. Phụ nữ cũng chỉ là một thứ tài sản mà Đảng tự cho mình quyền phân phối theo ý muốn, y hệt ruộng đất, nhà cửa, đồ đạc vậy! 

Sydney ngày 28 tháng 2 năm 2024

 

Bài 60: ĐẢNG VIÊN MỚI “THỊT” ĐẢNG VIÊN CỦ KHI VỀ TỚI LÀNG: HOÀNG VĂN CHÍ GHI LẠI.

Các lãnh tụ Đảng yên trí rằng bấy nhiêu biện pháp: phóng thích khỏi trại giam; hồi phục danh dự những đảng viên bị giết oan; trả lại tài sản và vợ bị tịch thu là đủ xoa dịu lòng uất hận của nhân dân đối với Đảng, và bình thường hoá lại đời sống. Đảng tin rằng với thế lực của Đảng có thể ngăn chặn mọi cuộc chống đối, và một phần khác Đảng cũng tin rằng dân chúng đã bị khủng bố nên mất hết tinh thần, không còn, không dám nổi loạn. Thế nhưng, các “đảng viên mới” không hài lòng khi thấy các “đảng viên cũ” ra khỏi trại giam, và được khôi phục công quyền và đảng tịch. Họ thấy họ bị “mất mặt” và uy quyền của họ sẽ bị tiêu tan. 

Báo Nhân dân viết:“Hiện tượng phổ biến là trên tư tưởng các đồng chí (mới) đó ngại thấy đảng viên, cán bộ, đồng chí (cũ) bị xử trí oan được trả lại tự do về, sẽ “vào bè” công kích đảng viên mới và cốt cán. Có đồng chí (mới) lo có những cuộc ẩu đả, trả thù…Có đồng chí (mới) lo không biết cách đối xử với các đồng chí (cũ) bị xử oan ra sao, ngượng ngùng vì đã tố cáo đồng chí (cũ) ấy, bây giờ niềm nở với nhau thế nào được… Do nhận thức lệch lạc trên đã dẫn đến một số hành động sai lầm như: Cuộc họp bàn đón rước các đồng chí (cũ) được trả tự do đã biến thành cuộc thảo luận để đối phó với các đồng chí (cũ) đó”. (NHÂN DÂN ngày 22 tháng 11 năm 1956)

Vì lo quá nên tại nhiều nơi “đảng viên mới” thấy giản tiện nhất là “thịt” các “đảng viên cũ” ngay khi họ mới trở về làng. Vụ giết người sau đây, xử tại toà án khu Ba chứng tỏ tình trạng nổi loạn kể trên. “GIẾT NGƯỜI CÓ VŨ KHÍ”! Vụ này gây cho hội trường một không khí căng thẳng và rất thương tâm. Hình ảnh gia đình nạn nhân với một bà mẹ già 72 tuổi, người vợ trẻ mới đẻ được 3 ngày, 9 người con còn nhỏ và nạn nhân chết một cách ghê rợn lởn vởn trong trí óc những người dự phiên toà. Mười hai can phạm đều là những thanh niên khỏe mạnh từ 18 đến 24 tuổi. 

Ông Vũ Văn Tiện người thôn Phú Nông, xã Lô Giang huyện Tiên Hưng, nguyên chủ tịch uỷ ban Hành chính xã Lô Giang. Trong thời gian cải cách ruộng đất ông Tiện bị quy nhầm là địa chủ gian ác. Khi Sửa sai bước 1, ông Tiện được xuống thành phần trung nông và ngay sau khi được trả tự do, ông Tiện bị giết chết. Vũ Văn Hiển tức Tiến 22 tuổi, Chi uỷ viên kiêm chính trị viên xã đội đồng mưu với Vũ Văn Thung, Vũ Văn Đức công an phó, Vũ Văn Tư xóm đội, và cùng với Hồ, Xuyến, Soạn, Thiệp, Xế, Thất, Đán, Thư đều là quân dân du kích, đã giết chết ông Tiện. 

Sau khi ông Tiện người vừa được trả tự do, Hiển liền tập hợp mọi người tại nhà Thung định mưu giết. Hai lần họ đã bố trí sẵn sàng nhưng không gặp. 10 giờ đêm ngày 28/1/57, Hiển cấp tốc tập trung anh em du kích rồi chia nhau bố trí. Khi ông Tiện về qua, Hiển bắn một phát súng trường. Ông Tiện ngã xấp xuống. Đoạn cả bốn xông ra chém, rồi Xuyến bắn luôn 6 phát súng tiểu liên nữa… Sau khi hành sự họ rất bình tĩnh. Hiển ra lệnh cho mọi người trở về chỗ bố trí cũ, nếu thân nhân ông Tiện ra sẽ giết luôn…” (THỜI MỚI, 14/03/1957)

Vụ “đảng viên mới” giết “đảng viên cũ” kể trên chỉ là một trong vô số vụ khác mà báo chí Hà Nội hồi đó đã nêu lên. Vụ này chứng tỏ một cách minh bạch rằng những bần cố nông, sau khi đã lên chức “đồng chí” không muốn rút bỏ uy quyền mà ba năm trước Đảng đã “phóng tay” trao cho. Sau nhiều vụ giết tróc, các “đảng viên mới” phải tìm cách tự vệ, và trong nhiều trường hợp cương quyết trả thù. Vì được phục hồi công quyền, đảng tịch và được dân làng có cảm tình, họ lùng bắt những kẻ đã tố oan cho họ, và hễ trước kia đã tố cho họ tội ác gì thì bây giờ họ thi hành đúng tội ác ấy. 

Những kẻ trước kia “bịa ra tội ác” gì bây giờ được “hưởng” chính tội ác mình đã bịa ra. Trường hợp thông thường là nhét phân vào mồm những người tố điêu. Sở dĩ có chuyện bắt ăn phân là tại hồi đấu tố Đảng xúi giục bần cố nông khai rằng họ đã bị địa chủ nhét phân vào mồm. Nhiều người bị đánh chết giữa đám đông và một số khác bị rạch mồm, cắt lưỡi. Dân Việt Nam thường cho rằng những kẻ chuyên vu oan giá hoạ thì rạch mồm cắt lưỡi là hình phạt xứng đáng nhất. Trong các chùa chiền thường có tranh vẽ cảnh những người nói điêu trên trần gian chết xuống âm phủ bị quỷ sứ rạch mồm cắt lưỡi.

Tình trạng trả thù trả oán trầm trọng đến nỗi ngày 1 tháng 12 năm 1956, Bộ Tư pháp phải công bố một bản Thông tư đặc biệt kêu gọi đình chỉ mọi cuộc chém giết. Thông tư do Nguyễn Văn Hưởng, thứ trưởng Bộ Tư pháp ký. Trong bản Thông tư có một đoạn ai oán thiết tha như sau: “Quyền lợi của nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân, quyền lợi thiết thân của nhân dân như các quyền tự do, dân chủ, v.v. đã bị xâm phạm, nhiều khi một cách nặng nề. Có nơi pháp luật đã không được tôn trọng, có nơi pháp luật bị chà đạp. Những hiện tượng đó đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, đến uy tín của chính phủ…” (CỨU QUỐC ngày 2/12/1956)

Để tự bào chữa trước dư luận quần chúng, các “đảng viên mới” đổ hết mọi tội lỗi cho Đảng, nói chỉ tại chính sách của Đảng sai mà xảy ra tình trạng như vậy. Tờ Học tập, cơ quan lý luận chính trị của Đảng Lao động viết:“Một số đồng chí đứng trước sai lầm trong công tác Cải cách Ruộng đất có thái độ oán trách các đồng chí đã chỉ đạo, thậm chí oán trách cả Đảng, rồi bất cứ ở rạp hát hay ở vườn hoa, trên tầu hoả hay trong hiệu cắt tóc v.v. cũng đem những điều sai lầm đó ra nói một cách vô trách nhiệm. Lại có đồng chí đem gán hết trách nhiệm về những sai lầm đó cho cấp trên. Có đồng chí trước đây làm Đội trưởng hoặc đoàn, uỷ viên, thế mà khi kiểm thảo sai lầm trước nhân dân thì nói “đó là cấp trên thúc ép, do cơ sở (cốt cán) phát hiện tình hình sai (vu khống)”, còn mình thì chỉ có khuyết điểm “biết sai mà không mạnh dạn đấu tranh” . (HỌC TẬP số 10 tháng 10/1957)

Một điều cần phải nhận rõ là: trong khi cố gắng vỗ về những “đảng viên cũ” bằng cách đền bù cho họ một vài thiệt hại tinh thần hoặc vật chất mà họ đã phải chịu đựng một cách oan uổng, Đảng vẫn “cố tình che chở cho các đảng viên mới”. Lý do là tại chỉ có đảng viên mới, mới thực sự thuộc thành phần vô sản. Đảng thấy cần thiết phải có một số “vô sản chính cống” để trang trí cho cái mà Đảng mệnh danh là “vô sản chuyên chính”. Lý do thứ hai là Đảng muốn có một số “thiên lôi chỉ đâu đánh đấy” để bảo vệ Đảng phòng khi có những phong trào chống Đảng do những phần tử khác gây nên.

Trong ba năm làm mưa làm gió trong xã, thôn, các “đảng viên mới” được mặc sức hà lạm nên dân chúng rất oán ghét. Vì họ thiếu học nên họ chỉ hành động theo những kích thích tự nhiên. Do đó, Đảng cho rằng họ là những “phần tử dễ chiều và đáng tin” hơn những phần tử phi vô sản đã gia nhập Đảng với lý tưởng. Những “đảng viên cũ” đã giúp Đảng rất nhiều nhưng vì họ là những con người “lý tưởng” nên rất có thể mắc phải những “khuynh hướng sai lầm”. Còn bần cố nông thì trái lại không cần lý thuyết mà chỉ biết lợi cho bản thân. Ngày nào mà họ còn quyền lợi thì họ vẫn trung thành với Đảng. (Hết trích). 

Sydney ngày 29 tháng 2 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN HAI

Bài 61: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1955-1956.

Năm 1955: Ở cương vị Quốc trưởng, Ngô Đình Diệm đổi tên Chính quyền Quốc gia Việt Nam, thành Chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Và, chức Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam của ông ta đổi thành Tổng thống Việt Nam Cộng hoà. Ngày 6/11/55, Đại tá chỉ huy trưởng chiến dịch Rừng Sác Dương Văn Minh, và Đại tá Lê Văn Nghiêm được thăng Thiếu tướng.

Ngày 14/11/55, thành lập ba Tổng Nha Ngân sách, Công vụ và Kế hoạch được đặt trưc thuộc Phủ Tổng thống (SL17/TTP). Ngày 18/11/55, thành lập Phủ Đặc ủy Công Dân vụ cũng đặt trực thuộc Phủ Tổng thống (SL22/TTP). Ngày 7/12/55, ban hành Dụ số 10, quy định Quốc tịch Việt Nam. Ngày 17/12/55, Hối xuất chính thức của Đồng bạc Việt Nam là: 10 quan Pháp bắng 1$ Việt Nam; 1 bảng Anh bằng 98$ Việt Nam; 1 Mỹ kim bằng 35$ Việt Nam (Dụ 15). 

Năm 1956: Ngày 12/1/56, thành lập Hội đồng Quốc gia Ngoại viện (SL số 5/TTP). Ngày 13/1/56, tòa án quân sự xử phạt các lãnh tụ Bình Xuyên Lê Văn Viễn, Lại Văn Sang, Lại Hữu Tài, và Jean Léon Leroy tử hình, tước đoạt binh quyền và tịch thu tài sản. Cũng trong phiên tòa nầy, Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ, Đại tá Nguyễn Tuyên cũng bị phạt như trên. Ngày 14/1/56, Đã có 43.000 người xin đi lập nghiệp ở Khu định cư Cái Sắn. Ngày 23/1/56, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 8 thành lập Quốc hội; và Dụ số 9 ấn định thể thức bầu cử. 

Ngày 4/3/1956, tổng tuyển cử bầu Quốc hội Lập hiến. Ngày 15/3/56, Khai mạc Quốc hội Lập hiến, Niên trưởng là ông Dư Phước Thiện, 67 tuổi (sinh 1889). Ít tuổi nhất là ông Đinh Thế Sĩ. Ngày 22/3/56, Dân biểu Trần Văn Lắm được bầu làm Chủ tịch Quốc hội. Ngày 1/4/56, Tổng hội Phật giáo Việt Nam họp Đại hội lần II, tại trụ sở chùa Ấn Quang, thông qua nhiều “Quy lệ Nghi thức và Huấn luyện”, và yêu cầu Chính phủ đặt ngày Đức Phật Giáng sinh là “Ngày lễ chính thức”. Ngày 4/4/56, thành lập Dân Vệ đoàn để thay thế các Tự vệ Hương thôn và bảo vệ an ninh Xã-Ấp. 

Ngày 12/4/56, khánh thành Học viện Quốc gia Hành chánh tại đường Alexandre de Rhodes. Ngày 18/4/56, Quốc hội cử 15 Đại biểu vào Ủy ban soạn thảo Hiến pháp, gồm: Nguyễn Hữu Châu, Vũ Quốc Thông, Trương Vĩnh Lễ, Trần Văn Trai, Nguyễn Phương Thiệp, Trần Chánh Thành, Huỳnh Ngọc Nữ, Trần Sĩ Đôn, Tôn Thất Toại, Hà Huy Liêm, Hà Huy Chi, Y Kré, Trần Quang Ngọc, Nguyễn Văn Liên và Nguyễn Cao Thăng. Ngày 30/4/56, Tại Khu định cư Cái Sắn, 110 máy cày Viện trợ Mỹ đã cày 150.000 mẫu, sẽ dành 1/2 cho dân định cư, và 1/2 cho dân địa phương và tị nan. 

Tổng số Trại Định cư là 255 trại (156 tai Nam Phần, 65 tai Trung phần, 34 tại Cao nguyên). Tổng số dân được định cư là 596.031 người. Ngoài ra, còn có 140.039 người di cư sống rãi rát khắp nơi. Gia đình binh sĩ 125.393 người…. Tổng số người Di cư Tị nạn là 887.890 người. Ngày 23-29/5/56, các Giáo sư Đại học Michigan thuyết trình các môn “Hành chánh và Tổ chức” tại Toà Đô Sảnh. Rất đông thính giả. Ngày 30/5/56, Tù nhân ở khám Chí Hòa nổi loạn từ 24/4 bạo động bằng võ chai, mãnh bất đĩa và thanh sắt. Hôm nay đã dẹp yên sau 40 ngày rối ren. 

Ngày 6/6/56, tòa Đại hình họp tại Cần Thơ xử tướng Lê Quang Vinh (bị bắt 13/4/56) và ngày 11/6/56, Lê Quang Vinh bị tuyên án tử hình. Ngày 29/6/56, thành lập Cơ quan Mãi dịch để mua sắm các vật liệu, dụng cụ cần thiết cho Chính quyền (SL 88/TC). Ngày 30/6/56, thị trường ngoại tệ tự do được thiết lập để cung cấp ngoại tệ cho những vụ chuyễn ngân không được hưởng hối xuất chính thức (Dụ 36). Ngày 3/7/56, lễ đặt đá xây dựng Trung tâm Văn hóa và Thư viện Quốc gia tại khu đất cạnh Dinh Gia Long. Kinh phí xây cất do Viện trợ Mỹ đài thọ. 

Ngày 6/7/56, Đại hội Không quân kỷ niệm đệ nhất chu niên, ngày chuyễn giao Căn cứ Không quân cho Việt Nam. Ngày 29/8/56, Thiếu tướng Dương Văn Minh được bổ Tổng thơ ký Thường trực Quốc phòng, kiêm nhiệm chỉ huy Phân khu Sài Gòn Chợ Lớn và chỉ huy Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Ngày 5/9/56, tại Bộ Giáo dục, khai mạc Hội nghị thống nhất ngôn ngữ với nhiều tiểu ban: Pháp âm. Chính tả, Đồng nghĩa, Đồng âm dị nghĩa, Thổ âm, Danh từ địa lý, Danh từ khoa học, kỹ thuật. Ngày 22/9/56, Việt Nam trở thành Hội viên của Quỷ Tiền tề Quốc tế và Ngân hàng Quốc tế Khuếch trương Kiến thiết.

Cùng ngày 22/9/56, Hội nghị toàn quốc chủ điền và tá điền nhóm họp tại Bộ Cải cách Đièn Địa để thoả hiệp các điểm chính yếu trong sự tương quan giữa hai giới. Ngày 15/10/56 khai giảng các khoá học tại Trung Tâm Kỷ thuật Phú Thọ và trong đợt đầu tiên có 16 Chuyên viên Việt Nam từ nước ngoài về nước giảng dạy (Sắc lệnh (SL 213/GD thành lập ngày 29/6/56). Viện Đại học Việt Nam được phép tặng bằng Doctor (Tiến sĩ) Danh dự cho Nhân vật ngoại quốc (SL 140/GD). Ngày 17/10/56, thành lập trường Thương mại, và trường Sinh ngữ (NĐ 2576/TTP/CV ).

Ngày 22/10/56, Chính phủ ban hành Chế độ Cải cách Điền địa, theo đó, mỗi địa chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất, và 15 ha ruộng hương hoả. Ruộng bị truất hữu sẽ được đem bán lại cho những người thiếu ruộng, mỗi hộ không quá 5 ha, người mua sẽ trả tiền trong thời gian 6 năm. Trong thời gian đó ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu của chính quyền. Trong 10 năm kế tiếp, người được phát ruộng không được cho mướn hay đem bán lại. Địa chủ sẽ được bồi thường 10% tiền mặt, số còn lại được trả bằng trái phiếu trong 12 năm, mỗi năm lời 5%. (Dụ 57). 

Kể từ ngày 22/10/56 nầy, tên mới các Tỉnh được thay đổi như sau: Sài Gòn/Chợ Lớn thành Sài Gòn. Bà Rịa/Vũng Tàu thành Phước Tuy. Biên Hòa thành Long Khánh, Phước Long, Bình Long, và Biên Hòa. Chợ Lớn/Tân An thành Long An. Mộc Hóa thành Kiến Tường. Phong Thạnh thành Kiến Phong. Mỹ Tho/Gò Công thành Định Tường. Bến Tre thành Kiến Hòa. Vĩnh Long/Sa Đéc thành Vĩnh Long. Trà Vinh thành Vĩnh Bình. Long Xuyên/Châu Đốc thành An Giang. Cần Thơ thành Phong Dinh. Bạc Liêu/Sóc Trăng thành Ba Xuyên. Rạch Giá/Hà Tiên thành Kiên Giang. Cà Mâu thành An Xuyên. Thủ Dầu Một thành Bình Dương. Đồng Nai Thượng/Bình Thuận thành Bình Tuy. Côn Đảo thành Côn Sơn (SL 143/NV)...

Ngày 23/10/56, Nam Việt, Trung Việt, Bắc Việt đổi thành Nam Phần, Trung Phần, và Băc Phần (SL 113a/TTP); Ban hành “Quy chế Y sĩ, Nha sĩ, và Hộ sinh” (Dụ 57/3); và “Quy chế các Trường Tư Thục” (Dụ 57/4). Ngày 24/10/54, nền Hành chánh toàn quốc được cải tổ, các Phần bị bãi bỏ, tăng quyền hạn của Tỉnh trưởng, nhiệm vụ của các Đại biểu Chính phủ bị thu hẹp (Dụ 57a). Trung Phần chia làm Cao nguyên Trung Phần, và Trung nguyên Trung Phần (Dụ 57b). Công dân có thể được trưng tập để làm những việc cứu tế xã hội (Dụ 57b). 

Ngày 26/10/56, Công bố Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. Ngày 5/11/56, Tổng thống chấp thuận việc xin từ chức của 4 Bộ trưởng: Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Nguyễn Hữu Châu; Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng, Trần Trung Dung; Bộ trưởng Thông tin, Trần Chánh Thành; Bộ trưởng Y tế Xã hội, Vũ Quốc Thông. Ngày 9/11/56, khai mạc Quốc hội Lập Pháp. Ngày 1/12/56, Giải tán Tiểu đoàn An ninh Phủ Tổng thống, và tổ chức lại thành Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống. Ngày 8/12/56, Trung tướng Lê Văn Tỵ được thăng Đại tướng.

Ngày 9/12/56, Đại tá Phạm Xuân Chiểu được bổ Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an thay tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Các Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lễ, Trần Văn Đôn được thăng Trung tướng. Ngày 10/12/56, các Thiếu tướng Trần Văn Minh, Thái Quang Hoàng được thăng Trung tướng; Đại tá Lê văn Kim được thăng Thiếu tướng. Ngày 28/12/1956, Quốc hội chấp thuận bổ nhiệm Ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Ngày 29/12/56, có 800 người ở Quảng Ngãi lên lập nghiệp tại Pleiku.

Sydney ngày 1 tháng 3 năm 2024

 

Bài 62: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1957-1958.

Năm 1957: Ngày 12/1/57, giá vàng 5.700$ một lạng tại Sài Gòn. Ngày 24/1/57, có 150 Sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Liên quân Đà Lạt (người thuộc các Giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, Thiên chúa). Ngày 6/2/57, có 2.400 kiều bào từ Mên về được đưa tới lập nghiệp ở Rạch Giá. Ngày 20/2/57, Bộ Ngoại giao xác nhận, các quần đảo Tây Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam, và vẫn được Chính phủ kiểm soát. Ngày 1/3/57, thành lập  Viện Đại Học Huế (SL 45/GD). Ngày 22/3/57, khánh thành Hội chợ Ban Mê Thuột, lúc 8g30 Tổng thống Ngô Đình Diệm bị một thanh niên bắn bằng Tiểu liên Mas 49. Thủ phạm bị bắt ngay, tên Hà Minh Chi từng làm việc ở Ty Thông tin Tây Ninh. 

Ngày 23/4/57, thành lập Phủ Tổng ủy Dinh Điền thay thế Phủ Tổng ủy Di cư (SL 103/TTP). Ngày 2/5/57, thanh niên tuổi từ 20 đến 21 tuổi phải thi hành quân dịch trong 12 tháng (NĐ 183/QP). Ngày 6/5/57, các ông Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán, Nghiêm Xuân Thiện, và một số chính khách họp báo tuyên bố thành lập “Khối Dân chủ” đối lập với Chính quyền. Cùng ngày 6/5/57, Tổng thống Ngô Đình Diệm sang thăm Mỹ 2 tuần. Ngày 19/6/57, tại vùng Đồng Tháp Mười dân cư đông gấp đôi trước 1954, quân đội xây lại Tháp Mười tầng theo kiểu Chàm cao 36 thước. 

Ngày 29/6/57, thành lập Trung tâm Kỷ thuật Phú Thọ, để tập trung các trường Kỷ thuật Chuyên môn (SL 213/GD). Ngày 3/7/57, thành lập Nha Công tác Xã hội miền Thượng trực thuộc Phủ Tổng thống, (NĐ 302/NV). Ngày 6/7/57, Theo chương trình giải toả Đô thành, nhiều vựa than, vựa củi, nhà lá ở Bến Chương Dương phải dọn đi nơi khác, cả các ghe, thuyền cũng phải dời đi. Ai về quê được trợ cấp 500$, ai sang ở trú khu Chánh Hưng được mua nhà trả góp trong 5 năm. Ngày 8/8/57, Sắc lệnh 278/KT, thiết lập đường Xa Lộ Sài Gòn- Biên Hòa. 

Ngày 13/8/57, Toà án Quân sự xử tử hình tướng Nguyễn Văn Thành, nguyên Tư lệnh Quân đội Cao Đài, vì đã liên kết với Bình Xuyên. Ngày 20/8/57, tòa án quân sự xử 23 người liên can đến biến cố Bình Xuyên 1955: Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hữu Thuần, Trịnh Khánh Vàng, Nguyễn Thành Nghi, Nguyễn Văn Hớn, Nguyễn Triệu Phương, Nguyễn Văn Hiếu. Ngày 22/8/57, Cố vấn Ngô Đình Nhu, và bà Nhu đăng báo thanh minh tin đồn “không hề chuyển ngân ra ngoại quốc; không tham gia vào thương mại, kỹ nghệ, tài chánh ở Việt Nam cũng như nước ngoài; không nhận đồ lễ để can thiệp cho ai …” 

Ngày 25/9/57, thành lập 6 Vùng Dinh Điền: Cao nguyên Trung Phần; Đồng Tháp Mười; An Xuyên; Ba Xuyên; Cái Sắn; và Vùng số 1, số 2  Nam Phần. Ngày 28/9/57, Tòa án Quân sự xử vụ Bình Xuyên tuyên án 8 tử hình, 3 khổ sai chung thân, 1 khổ sai 20 năm. Ngày 2/10/57, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Ngọc Bích, và một số trí thức ở Pháp viết thư yêu cầu tổng thống Ngô Đình Diệm khoan hồng đối với những người liên can đến vụ Bình Xuyên. Ngày 26/10/57, tại nạn khủng khiếp ở Hội chợ Thị Nghè, vì chen nhau ở cầu nổi, 45 người rớt xuống nước chết, 50 người bị thương phần lớn là phụ nữ và trẻ em. 

Ngày 31/10/57, Chính phủ trợ cấp 1 triệu đồng cho gia đình các nạn nhân. Ngày 12/11/57, Khánh thành Viện Đại học Huế. Ngày 13/12/57, Quốc hội họp bàn về Dự án Luật Gia đình của bà Dân biểu Ngô Đình Nhu. Ngày 16/12/57, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Dụ 17/57, nội dung “Tất cả tài sản hiện hữu hay vị lai của Cựu Quốc trưởng Bảo Đại và một số người thân tín đều bị tịch thu gồm: ông Vĩnh Thụy, bà Nam Phương, các bà bé, Vĩnh Cẩn và các vợ, ông Nguyễn Đệ và vợ. Ngày 18/12/57, Bộ giáo dục thông báo chưa thể dạy hết các môn bắng tiếng Việt ở bậc Đại học.

Năm 1958: Ngày 10/1/58, Luật quy định hành nghề Dược sĩ, một Dược sĩ Đoàn được thành lập. Ngày 18/1/58, Hối xuất mới của đồng bạc Việt Nam “35$=1 Mỹ kim; 1$=12 quan Pháp 98$=1 Anh kim (SL 37/TC). Cùng ngày 18/1/58, Bộ Ngoại giao tuyên bố sẽ đặt nhiều Tòa Lãnh sự tại Lào. Ngày 19/1/58, tại Quốc hội bà Nhu chê trách nhiều Dân biểu làm ngơ không muốn biểu quyết Luật Gia đình chỉ vì muốn lấy vợ lẽ, có thái độ “thật hèn”. Các Dân biểu giận dữ cho rằng, đó là lời “xúc phạm Quốc hội”. Ngày 22/1/58, bà Nhu cho đăng báo, rằng bà ta đã nói “thất hẹn” chứ không nói “thật hèn”.   

Ngày 27/2/58, các Đại tá Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Văn Là, Trần Ngọc Tám được thăng Thiếu tướng. Ngày 2/3/58, Chính phủ quyết định đưa 20.000 người nghèo miền Trung lên Cao nguyên (Pleiku) khai khẩn. Ngày 7/3/58, Thiếu tướng Nguyễn Văn Là được cử giữ chức Tổng Giám đốc Cảnh sát. Ngày 13/3/58, ông Nghiêm Xuân Thiện chủ báo Thời Luận bị tòa phạt 10 ngày tù treo, 100.000$ tiền vạ, và rút giấp phép Xuất bản, vì đã đăng bài “Thư gởi ông Nghị cửa tôi” xúc phạm Chính quyền. Ngày 15/4/58, Bác sĩ Phan Quang Đán tuyên bố tái lập đảng Dân chủ, Hoàng Cơ Thụy làm Tổng Thư ký.

Ngày 5/5/58, Bộ trưởng Nguyễn Hữu Châu từ chức. Ngày 29/5/58, tại Quốc hội Dân biểu Nguyễn Huy Chương đã kích kịch liệt Dự luật Gia đình của bà Nhu, rằng Dự luật nầy trái với luật thiên nhiên khiến vợ chồng kiện nhau gây nhiều bất công và xui ra rối loạn. Ngày 2/6/58, một rừng quế tốt tìm thấy trên đường Ba Tơ-Kontum. Ngày 14/6/58, đấu lý trước 2.000 thính giả trong 6 giờ liền giữa Tỉnh trưởng Mỹ Tho Nguyễn Trân với 11 ký giả và 3 cán bộ cao cấp Việt Cộng, có Nguyễn Văn Hiếu và vợ là bà Mã Thị Chu. Ngày 27/6/58, Nguyễn Tường Tam xuất bản “Văn hóa Ngày nay”. Ngày 3/7/58, thành lập Toà án Thiếu nhi. (Luật 11/58).

Ngày 7/7/58, số thí sinh Tú tài I khóa I là 8.402 trên toàn quốc. Ngày 22/7/58, kết quả gần 1000/8.402 thí sinh được vào vấn đáp. Cùng ngày 22/7/58, hai mạc Hội nghị Giáo dục toàn quốc để xét lại các chương trình dạy và học. Ngày 28/7/58, Bộ Kinh tế xác nhận ấn định giá gạo sỉ loại 1 với 25% tấm 500$ mỗi tạ. Ngày 21/8/58, thành lập trường Đại học Sư phạm Sài Gòn (SL 426/GD); Ngày 22/8/58, khánh thành đường xe lửa Tuy Hòa- Quy Nhơn. Ngày 24/9/58, bải bỏ Tòa Đại biểu Chính phủ tại Nam Phần (SL 480/TTP). Ngày 25/9/56, Lễ phát thưởng Văn chương 1957 tại Dinh Độc Lập, không ai được Ưu hạng: 2 giải 40.000$, 2 giải 30.000$, và 9 giải 20.000$. 

Ngày 3/10/58, Ban hành thể lệ Xuất, Nhập cảnh và cư trú của ngoại kiều. Ngày 7/10/58, Tòa án Quân sự Nha Trang xét xử vụ Đại Việt của Trương Tử Anh ở Phú Yên, 54 bị cáo mà chỉ nhờ một Luật sư biện hộ. Ngày 11/10/58, thành lập Cuộc Nguyên tử lực (SL507/TTP). Ngày 2/12/58, Tỉnh lỵ Lâm Đồng ở Di Linh được dời về Bảo Lộc (Blao củ). Ngày 17/12/58, thành lập và tổ chức những Hiệp hội Nông dân mục đích gây tinh thần tương trợ, trau dồi kiến thức chuyên môn, giúp tăng gia sản xuất nông nghiệp và cải tiến sinh hoạt nông thôn (SL 569/TTP).

Sydney ngày 2 tháng 3 năm 2024

 

Bài 63: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1959.

Năm 1959: Ngày 1/1/1959, ấn định hối xuất chính thức của đồng bạc đối với đồng Franc là: 1$ Việt Nam=14,10 Franc (SL số 1/TC). Ngày 2/1/59, ban hành Luật Gia đình, Luật số 1/59, gồm 135 điều, theo đó cấm li dị; cấm đa thê; truất quyền lợi của con ngoại hôn.v.v. Ngày 5/1/58, Phủ Tổng Ủy Dinh Diền cho biết đã có hơn 80.000 đồng bào nghèo ở miền Trung lên lập nghiệp tại 47 Địa điểm trồng trỉa ở Cao Nguyên. Ngày 23/1/59, tại Cao nguyên, thành lập tỉnh Quảng Đức trên phần đất quận Dak-Song, một phần quận Di Linh, và quận Phước Hòa, tỉnh lỵ đặt tại Gia Nghĩa (SL 24/NV). 

Và, tại Nam Phần, thành lập tỉnh Phước Thành một phần đất của Bình Dương, Long Khánh, Biên Hòa và Phước Long, tỉnh lỵ đặt tại Phước Vĩnh (SL 25/NV). Ngày 21/2/59, tại Viện Đại học Huế, các trường Đại học Văn khoa, Luật khoa, Khoa học, Sư phạm, và Cao đẳng Mỹ thuật thành lập (SL51/GD). Ngày 8/3/59, số thí sinh nộp đơn xin học bổng Du học Hoa Kỳ là 384, nhưng chỉ có 15/384 xuất Học bổng Du học. Ngày 14/3/59, Nhân ngày lễ Hai bà Trưng, có lễ tặng thưởng “Chương Mỹ Bội tinh” cho 3 Hiền mẩu có công ở vậy nuôi con là Lê Thị Quý (Bình Thuận), Trần Thị Ngân, (Đà Nẳng), Lê Thị Giỏi (Tuyên Đức). 

Ngày 23/3/59, Đô thành Sài Gòn được cải tổ và chia thành 8 quận, Đô trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và trực thuộc Phủ Tổng thống. Ngày 1-3/4/59, Hội nghị Giáo dục toàn quốc nhóm họp tại Sài Gòn, đề nghị miển thi Tiểu học. Ngày 15/4/59, thành lập chức Đại biểu Chính phủ Miền Tây Nam Phần. Ngày 18/4/59, Luật số 9/59, ấn định hình phạt về các tội oa trử của công, biển thủ, thiện thủ, hoặc làm tiêu tán tài vật, do nhân viên công quyền vi phạm. Ngày 23/4/59, Trường Quốc gia Bưu điện được thiết lập. Ngày 6/5/59, thành lập Công quản Mỏ than Nông Sơn.) Ngày 7/5/59, Xi-măng tăng giá từ 72-75$ lên thành 135$ một bao. 

Ngày 18/6/59, thành lập Chức vụ Đại biểu Chính phủ tại Miền Đông Nam Phần (SL138/TTP). Ngày 26/6/59, phê chuẩn Thỏa ước Việt-Mỹ về nguyên tử năng xây dựng Trung Tâm Nguyên Tử với 350.000 Mỹ kim viện trợ. Ngày 30/6/59, ban hành Luật 10/59, ấn định thể thức bầu cử Quốc hội.  Ngày 15/7/59, Luật 22/59, trừng phạt việc Xuất ngoại và Nhập nội bất hợp pháp. Ngày 7/8/59, khánh thành đường xe lữa xuyên Viêt, từ Sài Gòn ra Đồng Hà, Quảng Trị. Theo Bộ Công Chánh, từ 1948 đến 1954, đường nầy đã bị phá hoại 3.407 lần. 

Ngày 21/8/59, thành lập trường Đại học Y khoa ở Huế. Ngày 25/8/59, Bộ Giáo dục quyết định đồng phục cho học trò “Nam: quần xanh nước biển, sơ mi trắng cộc tay; Nữ: áo dài trắng, quần trắng; Lễ phúc áo dài xanh Lam. Ngày 30/8/59, bầu cử Quốc hội Lập pháp khóa II, có 460 ứng cử viên cho 123 đơn vị. Ngày 31/8/59, kết quả đầu tiên, tại Đô thành, 6 Độc lập, 3 Phong trào Cách mạng trúng cử. Được nhiều phiếu nhất, Bác sĩ Phan Quang Đán (32.166), Nguyễn Phương Thiệp, Phan Khắc Sửu. Ngày 5/9/59, Bộ Công Chánh cho biết sẽ xây một cầu ở Mỹ Thuận bắt qua sông Cửu Long. 

Ngày 5/10/59, Khai mạc Quốc hội khóa II. Ngày 14/10/59, Ủy ban Hợp thức hóa  bầu cử Dân biểu không thừa nhận hai ông Phan Quang Đán và Nguyễn Trân. Ngày 31/10/59, Toà Đại hình tuyên án vụ Huyện Thung biển thủ, có 3 tử hình, Còn lại khổ sai và tù ở. Ngày 30/11/59, Quân nhân bị hạ sát, tử nạn, hy sinh, mất tích, bị bắt được trợ cấp 12 tháng lương (SL 360/QP). Phát hành vé số Kiến thiết loại Đặc biệt 4 kỳ để lấy tiền xây Thư viện Quốc gia. Ngày 31/12/59, Có 3.586 Đông Y đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Bộ Y tế.

Sydney ngày 3 tháng 3 năm 2024

(Hết Chương 4 có 20 bài: 44-63)

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương V: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 4 CHÍNH QUYỀN VÀ 6 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1960-1965.

(17 bài viết, 34 trang và 21.780 chữ).

 

Bốn chính quyền và một tổ chức từ 1960 đến 1964: (1) Chính quyền Việt Nam Cộng hoà và chính phủ Ngô Đình Diệm; (2) Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà và Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ, chính phủ Nguyễn Khánh; (3) Chính quyền Dân sự Việt Nam Cộng hoà và chính phủ Trần Văn Hương, chính phủ Phan Huy Quát tại Nam Việt Nam. (4) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và chính phủ Phạm Văn Đồng tại Bắc Việt Nam. Và, Cộng sản miền Nam và Tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. 

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

Bài 64: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1960-1961.

Năm 1960. Ngày 2/1/60, từ hôm nay, mọi giao dịch Việt-Pháp tính bằng đồng Phật-lăng mới. Hối xuất chinh thức của đồng bạc Việt Nam. Đối với Mỹ kim vẫn 35$=1 Mỹ kim. Các hối xuất đối với các ngoại tệ khác sẽ tính theo căn bản trên (SL1/TC). Ngày 3/1/60, số đồng bào nghèo miền Trung lên Cao Nguyên hoặc miền Nam lập nghiệp: 5.180 bao gồm: 544 người từ Quảng Ngãi vào Bình Tuy; 907 người ở Thừa Thiên vào Bình Long; 729 người ở Quảng Nam vào Kiến Tường; 3.000 người ở Bình Định lên Cao Nguyên. Ngày 13/1/60, thành lập Trung tâm Cải huấn để trông nom các trại giam và nhà lao (SL số 4/NV). 

Ngày 5/2/60, Đô trưởng Sài Gòn tuyên bố thành lập các Liên gia, 20 nhà; Nhiều Liên gia họp thành Khóm; Mỗi Khóm có khóm trưởng để liên lạc với Phường. Ngày 8/2/60, có 1.000 người nữa từ Quảng Nam lên lập nghiệp tại Ban Mê Thuột. Ngày 17/2/60, năm nay có 3.158 thí sinh dự thi Tú Tài Pháp. Cùng ngày 17/2/60, có 584 người ở Bình Định lên Pleiku lập nghiệp. Ngày 19/2/60, có 1.102 người ở Quảng Nam, Bình Định đến lập nghiệp ở Bình Tuy, và Pleiku. Ngày 23/2/60, có 750 người ở Bình Định lên lập nghiệp tại Darlac. Ngày 14/3/60, Khánh thành Khu Trù mật Vị Thanh, Phong Dinh. 

Ngày 4/5/60, thành lập Trường Quốc gia Thương Mại (NĐ 755/GD). Ngày 22/5/60, Cây viết Bic bắt đầu được chế tại tại Việt Nam. Ngày 29/5/60, Khánh thành Quốc lộ mới mở rộng Ninh Hoà-Ba-Mê-Thuột. Ngày 29/5/60, tại khu Trù mật Vị Thanh và Hỏa Lựu, Phong Dinh đã có 1.035 gia đình tới lập nghiệp. Ngày 2/6/60, Hiện nay đã có 38.000 mẩu lúa tại các Địa điểm Dinh điền. Ngày 3/6/60, thành lập Cơ quan Quản trị Chương trình Danhim, phụ trách thực hiện Dự án Thủy điện Danhim (NĐ 488/CT/GT). Ngày 6/6/60, bắt đầu phát Thẻ Căn cước bọc nhựa tại Sài Gòn. 

Ngày 6/6/60, lễ đặt đá xây dựng Trường Võ Bị Quốc gia mới tại Đà Lạt. Ngày 14/6/60, Mở chiến dịch diệt trừ sốt rét (83 triệu bạc Việt Nam, 900.000 Mỹ kim viện trợ Mỹ). Ngày 25/6/60, tổng số Dinh Điền hiện nay là 127, và 200.000 người, 66.000 mẫu tây đã được khai khẩn. Ngày 7/7/60, một đồ án chỉnh trang khu vực Sài Gòn Chợ Lớn được trưng bày tại tòa Đô Sảnh, do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người được Giải thưởng hạng nhất La Mã thiết kế. Ngày 10/8/60, Việt Nam ký kết Hợp đồng vay của Quỷ Phát triển (Development Loan Fund) 9,7 triệu Mỹ Kim để mua đầu máy và Toa Xe lửa. 

Ngày 21/9/60, Bộ Công Chánh mở kỳ thi dự án xây dựng câu Mỹ Thuận trên đường Hậu Giang dài 650 thước tốn chừng 250 triệu. Ngày 28/9/60, một làng Đại học được thiết lập tại Thủ Đức. Ngày 1/10/60, có 1.331 Sinh viên Việt Nam đang học Đại học và Cao Đẳng ở Pháp. Ngày 10/10/60, có 9.314 Sinh viên học tại Viện Đại học Sài Gòn. Ngày 18/10/60, Nguyễn Văn Lượng được cử làm Bộ trưởng Bộ Tư Pháp thay Nguyễn Văn Sĩ; Bùi Văn Lương được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ  thay Lâm Lễ Trinh; Nguyễn Đình Thuần được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thay Trần Trung Dung. 

Ngày 11/11/60, đêm qua 1 giờ 30 nhiều tiếng súng nổ phía Sở thú, tới 2 giờ có tin đảo chánh. Đại tá Nguyễn Chánh Thi Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù, cùng một số sĩ quan đem quân vây Dinh Độc lập đòi Ngô Đình Diệm rút lui. Dân chúng vẫn đi lại như thường. 10 giờ sáng 12/11/60, Ngô đình Diệm đọc hiệu triệu phát thanh gọi quân ở Mỹ Tho về. Trên Đài phát thanh nghe tiếng Bác sĩ Phan Quang Đán hô hào quốc dân hưởng ứng Cách mạng. Chiều nghe tiếng Đại tướng Lê Văn Tỵ đọc Nhật lệnh “Tổng thống Ngô Đình Diệm trao quyền cho các tướng lãnh để lập Chính phủ khác”. 

Ngày 12/11/60, buổi sáng đoàn quân vây Dinh Độc lập, định tiến vào nhưng lại rút lui. Súng nổ nhiều. Đài phát thanh bị Quân Chính phủ chiếm lại. Trung tá Vương Văn Đông một trong các lãnh tụ đảo chánh, họp báo giải thích tại Bộ Tổng Tham Mưu. Các đội quân thuộc Sư đoàn 21 và Sư đoàn 7 tiến về phía Tân Sơn Nhất, và vườn Tao Đàn. Vào lúc 16 giờ, nhiều toán Nhảy Dù trước Dinh Độc lập bỏ đi nơi khác Buổi tối, có tin Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông rời khỏi Việt Nam. Ngày 13/11/60, Quốc hội ngỏ lời trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm. 

Ngày 15/11/60, Trung tướng Thái Quang Hoàng bị ép lên máy bay sang Cao Mên đã trở về Sài Gòn. Số thương vong trong vụ biến cố là 214 quân nhân và 54 dân thường; số thiệt mạng là 20 dân thường và 23 quân nhân trong đó có Trung tá Nguyễn Triệu Hồng. Ngày 26/12/60, ban hành Luật 7/60 tổ chức Viện Bảo Hiến. Ngày 29/12/60, một khu kỹ nghệ được thiết lập ở Thủ Đức gồm: nhà máy Nhiệt điện; trạm biến điện Danhim; sân dự trử than Nông Sơn; nhà máy ciment; và một cơ sở Giang thuyền (SL 317/CC/GT). 

Năm 1961: Ngày 1/2/61, Trung Tâm Kỹ thuật Quốc Gia Phú Thọ cải tổ gồm: Trường Công Chánh, Điện học, Công nghệ, Hàng hải (NĐ 189/GD/PC). Ngày 8/2/61, Hôm nay thấy 3 Liên danh ứng cử Tổng thống: Ngô Đình Diệm-Nguyễn Ngọc Thơ; Nguyễn Đình Quát-Nguyễn Thành Phương; Hồ Nhật Tân-Nguyễn Thế Truyền. Ngày 11/2/61, thành lập Viện Đại học Đà Lạt (NĐ 261/GD). Ngày 26/2/61, một khu đất rộng ở Suối Lồ Ồ được dành làm Trại Huấn luyện Thanh niên Cộng hòa. Ngày 2/4/61, Tổng số cử tri vụ bầu cử Tổng thống là 7.231.137 theo danh sách niêm yết lần thứ hai. 

Kết quả bầu cử Tổng thống ngày 9/4/61: Liên danh Ngô Đình Diệm-Nguyễn Ngọc Thơ tái đắc cử với 88% số phiếu; Liên danh Hồ Nhựt Tân-Nguyễn Thế Truyền 7%; và Liên danh Nguyễn Đình Quát-Nguyễn Thành Phương 4%. Có 75% cử tri tham gia bầu cử. Ngày 13/4/61, bãi bỏ các Quân khu lập từ 1952, và chia lãnh thổ thành 3 Vùng Chiến thuật và Biệt khu Thủ Đô (SL 98/QP). Ngày 28/4/61, khánh thành Xa Lộ Sài Gòn-Biên Hòa. Thành lập Khu Đại học Thủ Đức, gồm Tòa Viện trưởng, và các Trường Đại học (SL (SL 110/GD). 

Ngày 29/4/61, Ngô Đình Diệm tuyên thệ nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ II trước Quốc hội. Ngày 26/6/61, hơn 8.000 thí sinh thi vào trường Quốc gia Sư phạm 700 trúng tuyển. Và 600 thi vảo trường Nữ Hộ sinh Quốc gia, 50 trúng tuyển. Ngày 28/6/61, Khánh thành Quốc lộ 19 Quy Nhơn-Pleiku dài 149 cây số tốn 17 triệu Mỹ kim và 7 triệu đồng Việt Nam. Ngày 13/7/61, Đảo Hoàng Sa được đặt thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam (SL 174/NV). Ngày 22/7/61, Bộ Quốc phòng Việt Nam gọi nhập học trường Sĩ quan trừ bị (Khoá 12 Thủ Đức) các thanh niên từ 20 đến 33 tuổi có bằng Tú tài I trở lên (SL 177/QP). 

Ngày 25/11/61, Quốc hội lại ủy cho Tổng thống toàn quyền về ngân sách, an ninh, và các biện pháp Tài chánh (Luật 15/61). Ngày 15/12/61, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam “trao đổi văn kiện xác định những đặc điểm trong kế hoạch chống Cộng”. Ngày 16/12/61, Viện thống kê cho biết, dân số Việt Nam Cộng hòa hiện nay là 14.081.000 người. Ngày 24/12/61, thành lập Tỉnh Chương Thiện, tỉnh lỵ đặt tại Vị Thanh (SL 244/NV). Ngày 27/12/61, tại Sài Gòn, ký kết tại Bộ Kinh tế Hợp đồng nhập cảng 50.000 tấn gạo trả bằng bạc Việt Nam trong khuôn khổ viện trợ Mỹ về thực phẩm. 

Ngày 29/12/61, Chính phủ chính thức chấp thuận “Cải cách thuế vụ” theo chương trình Stanley-Vũ Quốc Thúc” theo đó: Bãi bỏ nhiều sắc thuế đánh vào một số hàng nhập nội (SL 17/61); Đặt đảm phụ Quốc phòng và khuếch trương Kinh tế (SL 18/61); Tu chỉnh quan thuế biểu (SL 19/61); Đặt thuế Kiệm ước đánh vào hàng nhập cảng (SL 20/61); Ấn định trợ cấp đặc biệt về chuyển ngân (SL 21/61); Đặt thuế Xuất cảng mới (SL 22/61); Ấn định trợ cấp tạm thời cho một số hàng xuất cảng (SL 23/61); Thiết lập ngân sách đặc biệt 1.200 triệu cho Khuếch trương Kinh tế (SL 25/61). 

Sydney ngày 4 tháng 3 năm 2024

 

Bài 65: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1962 ĐẾN 10/5/1963.

Năm 1962: Ngày 1/1/62, Vàng Kim Thành bán ra 5.450$ 1 lượng, mua vào 5.300$ 1 lạng. Ngày 8/1/62, ban hành quy chế Luật sư và Luật sư đoàn (Luật 1/62). Ngày 18/1/62, Ban hành Luật Liên đới Quốc gia, tương trợ cựu chiến sĩ và Cô nhi Quả phụ (Luât 3/62). Ngày 3/2/62, thành lập Ủy ban Trung ương Đặc trách Ấp Chiến Lược, Ủy ban mỗi tuần họp 1 lần, do Cố vấn Ngô Đình Nhu chủ tọa gồm đa số các Bộ trưởng và Cao cấp quân dân chính (SL11/TTP). Ngày 27/2/62, hai phi cơ Việt Nam ném bom và bắn phá Dinh Độc lập từ 7g15 đến 7g25, một chiếc bị Hải quân bắn rơi, Phi công Phạm Phú Quốc bị bắt, chiếc thứ hai bay thoát sang Cao Mên. 

Ngày 28/2/62, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố tình hình Việt Nam vẫn vững. Ngày 13/3/62, có 132 Sĩ quan được cử đi học chống du kích tại Mã Lai. Ngày 31/3/62, Chính phủ Việt Nam gởi Thông điệp cho 92 quốc gia yêu cầu ủng hộ Việt Nam Cộng hòa chống xâm lăng Cộng sản, tố giác Miền Bắc giật dây Cộng sản miền Nam. Ngày 5/5/62, Các Y sĩ tư ở Việt Nam có thể bị trưng tập để giúp việc Chính phủ trong thời hạn 1 năm, có thể triển hạn (SL 8/62). Cũng ngày 9/5/62 nầy, Hoa Kỳ thuận cấp 2.500 máy Thu thanh cho các Xã. Ngày 10/5/62, thành lập trường Sư Phạm tại Quy Nhơn đào tạo Giáo viên Tiểu học (NĐ 701/GD).

Ngày 21/5/62, thành lập Tóa án Quân sự mặt trận tại mỗi Vùng Chiến Thuật (SL 11/62). Ngày 23/5/62, Tòa án Quân sự đặc biệt xử tử hình 4 Việt Cộng, và phạt khổ sai 8 Việt Cộng can tội khủng bố, thuôc Liên hiệp Sinh viên Học sinh Sài Gòn-Gia Định. Ngày 31/5/62, Tổ chức việc kiến điền và quản thủ điền địa tại các Xã, và các Thành phố (SL 124/CTNT). Ngày 7/6/62, thành lập các trường Trung học Kỹ thuật tại Quy Nhơn và Đà Nẳng (NĐ 954 và 955/GD). Ngày 27/6/61, các ngành Cảnh sát Công An cải tổ và hợp nhất thành “Cảnh sát Quốc gia” thuộc Tổng Nha Cảnh Sát (SL 146/NV). 

Ngày 3/7/62, sửa đổi thuế thổ trạch, theo đó “Tư sản cơ bản cho gia đình được hưởng đặc khoản; Nhà cho thuê giá cao chịu thuế 40% đánh trên phần quá mức (Sluật 13/62). Ngày 8/7/62, nhiệm kỳ Dân biểu Quốc hội tăng từ 3 năm lên 4 năm (Luật Hiến pháp 1/62-HP). Ngày 14/7/62, Thành lập Uỷ ban Quốc gia nghiên cứu mở mang Hạ lưu vực sông Mê Kong thay thế cho Uỷ ban Phối hơp công tác nghiên cứu. Ngày 31/7/62, thành lập tỉnh Quảng Tín, từ một phần tỉnh Quảng Nam, Tỉnh lỵ đặt tại Tam Kỳ (SL 162/NV); Các vụ đại tu bổ, tân tạo không có giấp phép bị trừng phạt nặng, nhà xây bị phá hủy (Luật 16/62).

Ngày 13/8/62, thành lập trường Trung học Kỹ thuật Nha Trang (NĐ 1.295/GS). Ngày 16/8/62, Thiếu tướng Nguyễn Khánh họp báo tại Kontum cho biết, hiện có 125.000 đồng bào Thượng tỵ nạn Cộng sản, vì Cộng sản lấy mất thực phẩm của họ, hiện đã định cư được 64.233 người. Ngày 2/9/62, thành lập tỉnh Phú Bổn gồm 3 Quận trên phần đất thuộc Pleiku, Bình Định, và Phú Yên, tỉnh lỵ đặt tại Cheo Reo (Hậu Bổn) (SL 186/NV). Ngày 25/9/62 từ nay Quốc hội có thể yêu cầu các Bộ trưởng tới giải thích các vấn đề liên quân đến Bộ mình phụ trách (Luật Hiến pháp 2/62). 

Ngày 27/10/62, Đặc quyền của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà ban hành Sắc luật do tình trạng chiến tranh được gia hạn thêm 1 năm kể từ 19/10/62 (Luật số 18/62). Ngày 10/11/62, Một phi cơ DC3 của hàng không Việt Nam, bị rớt gần Lăng Cô, phía đèo Hải Vân 27 hành khách tử nạn. Đã tìm thấy xác phi cơ và thi thể hành khách bị nạn ở Lăng Cô. Số tiền phải bồi thường là 300.000$ cho mỗi nhân viên, và 609.021$ cho mỗi hành khách nạn nhân (13/11/62). Ngày 3/12/62, khai giảng tại Thị Nghè khóa 7 Huấn luyện Cán bộ Ấp Chiến Lược. Lần nầy nhiều Dân biểu và Tỉnh trưởng theo học. 

Ngày 8/12/62, Trung tướng Dương Văn Minh thôi giữ chức Tư lệnh hành quân để làm Cố vấn Quân sự Phủ tổng thống; Trung tướng Trần Văn Đôn Tư lệnh Vùng 1 giữ chức Tư lệnh Lục quân vừa mới thành lập. Ngày 14/12/62, Du học sinh và Sinh viên Việt Nam tại Pháp được hưởng quy chế an sinh xã hội của Pháp theo thỏa hiệp giữa 2 Bộ Ngoại giao Việt-Pháp. Ngày 19/12/62, ký kết tại Hán thành thương ước Hàn-Việt.

Năm 1963: Ngày 14/2/63, Chế độ đầu tư được quy định với nhiều đặc khoản khuyến khích tư bản ngoại quốc vào Việt Nam đầu tư cho phát triển kinh tế (SL 2/63). Ngày 26/3/63, khánh thành Trại Nhân Trí Dũng ở suối Lồ Ồ, trung tâm Huấn luyện cán bộ Áp Chiến Lược. Ngày 8/4/63, Dịch hạch phát hiện nhiều nơi, Viện trợ Mỹ cấp 300.000 liều thuốc chích ngừa. Ngày 17/4/63, lể kỷ niệm Đệ nhất chu niên “Quốc sách Ấp Chiến Lược”. theo tường trình đã lập xong 5.917 Ấp quy tụ 8 triệu dân. Tổng thống Ngô Đình Diệm tuyên bố “Chính sách Chiêu hồi” kêu gọi những người lạc lối trở về xây dựng Xã hội mới.

Ngày 7/5/63, Tăng ni Phật tử ở Huế treo cờ Phật giáo chào mừng lễ Phật Đản, Cảnh sát tới hạ cờ. Vài ngàn tín đồ kéo tới Tòa Tỉnh trưởng yêu cầu can thiệp. Ngày 8/5/63, tại Huế, buổi sáng, hàng ngàn người tham dự lễ rước Phật từ chùa Từ Đàm đến chùa Diệu Đế; buổi tối nhiều ngàn Phật tử tới Đài Phát thanh, đón nghe phát thanh lại buổi lễ ban sáng. Cuộc tụ họp bị lực lượng an ninh mạnh tay giải tán: 7 thường dân chết, 1 người bị thương, lực lượng giải tán 5 bị thương. Ngày 10/5/63, Tăng ni Phật tử họp ở chùa Từ Đàm, yêu cầu Chính phủ “bãi bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo; chấm dứt các vụ khủng bố; bồi thường cho những người bị nạn. 

Sydney ngày 5 tháng 3 năm 2024

 

Bài 66: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM TỪ 10/5/1963 ĐẾN 20/8/1963.

Ngày 15/5/63, một Phái đoàn Phât giáo gồm 6 Thượng tọa và Đại đức yết kiến Tổng thống Ngô Đình Diệm từ 10g30 đến 13 giờ để bày tỏ 5 nguyện vọng. Ngày 16/5/63, họp báo tại chùa Xá Lợi, có Bộ trưởng Công Dân Vụ Ngô Trọng Hiếu, Thượng tọa Thích tâm Châu, trình bày 5 nguyện vọng đã đưa lên tổng thống Ngô Đình Diệm trong buổi Hội kiến là: bãi bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo; cho Phật giáo hưởng chế độ ngang hàng với các Hội Truyền giáo Thiên Chúa; chấm dứt khủng bố và các vụ bắt bớ Phật tử; để Tăng ni và Phật tử tự do truyền Đạo và hành Đạo; bồi thường cho các gia đình nạn nhân, và trừng trị nhân viên có lỗi gây đổ máu”. 

Ngày 21/5/63, thiết lập khu Kỹ nghệ Biên Hoà (SL 49/KT). Ngày 30/5/63, gần 200 giáo sư Đại học, và Khoa trưởng tham gia khóa Huấn luyện Cán bộ “Ấp Chiến Lược” tại Suối Lồ Ồ (Tác giả là một Học viên của Khoá này). Ngày 1/6/63, Tổng Giám đốc Điền địa Nguyễn Xuân Khương được bổ Đại biểu Chính phủ tại Trung Phần thay Thẩm phán Hồ Đắc Khương, Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, Phó tỉnh trưởng Nội an Thiếu tá Đặng Sĩ, bị triệu về Bộ Nội vụ đợi lệnh. Ngày 3/6/63, vài trăm thanh niên biểu tình ở Bến Ngự, Huế bị giải tán bằng lựu đạn cay mắt. 

Ngày 4/6/63, thành lập một Ủy ban Liên bộ để giải quyết các vấn đề Phật giáo gồm Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương, Bộ trưởng tại Phủ tổng thống Nguyễn Đình Thuần. Phật tử biểu tình ở Huế có xô xát, một số bị thương. Ngày 5/6/63, Ủy ban Liên Bộ nhóm họp với Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo gồm các Thượng tọa Thích Thiện Minh, Thích Tâm Châu, Thích Thiện Hoa, Thích Huyền Quang, Thích Đức Nghiệp. Ngày 7/6/63, Ủy ban Liên phái gởi thư cho Ủy ban Liên bộ khiếu nại việc các chùa ở Huế bị phong tỏa. 

Ngày 11/6/63, trước vài trăm Tăng ni tại ngã tư đường Lê văn Duyệt-Phan Đình Phùng, Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu bằng dầu xăng lấy ở một chiếc xe hơi chạy tới. Sau vụ tự thiêu, Tổng thống Ngô Đình Diệm gởi thông điệp kêu gọi dân chúng thủ đô bình tỉnh, rằng mọi sự khó khăn sẽ được giải quyết trên “căn bản lương tri và ái quốc, trong thình đoàn kết huynh đệ”; rằng không nên tin có âm mưu trì hoãn giải quyết vấn đề; rằng “sau lưng Phật giáo trong nước, hãy còn Hiến pháp nghĩa là có tôi”. 

Ngày 14/6/63, Ủy ban Liên Phái Bảo vệ Phật Giáo và Ủy ban Liên Bộ họp lần thứ hai tại toà nhà Diên Hồng. Ngày 16/6/63, sau 3 ngày và đêm thảo luận, Hai Uỷ ban Liên bộ và Liên phái ra thông cáo chung xác định những điểm đã “thỏa hiệp” về: cách treo cờ Phật giáo và Quốc kỳ; xét lại Dụ số 10 về quy chế Tôn giáo; điều tra các vụ bắt bớ, và khoan hồng với những người đấu tranh cho Phật giáo; dành mọi sự dể dàng cho hoạt động Tôn giáo; trừng trị nhân viên có lỗi, bồi thường các gia đình nạn nhân. 

Ngày 19/6/63, Quốc hội Việt Nam họp xét lại Dụ số 10 về Hiệp hội. Ngày 20/6/63, Các Tăng ni Cổ Sơn Môn họp tại Phú Thọ Hòa ủng hộ chính phủ. Ngày 26/6/63, Thượng tọa Thiện Minh gởi thư lên Tổng thống Ngô Đình Diệm cho hay thông cáo chung chưa được thi hành, cụ thể: tại Phú Yên, Bình Định.v.v. chính quyền tổ chức Meeting lên án Phật giáo; nhiều chuà ở Quảng Trị vẫn còn bị phong tỏa; tăng ni bị Công An ngăn chặn trên các ngã đường; Thanh niên Cộng hòa sắp tổ chức biểu tình đòi xét lại Thông cáo chung; Cổ Sơn Môn được nâng đỡ để chống lại Tổng hội Phật giáo. 

Ngày 2/7/63, thành lập 7 Nha Cảnh sát Quốc gia, Bắc Trung Nguyên, Nam Trung Nguyên, Cao Nguyên, Đô Thành, Miền Đông Nam Phần, Miền Tiền Giang, Miền Hậu Giang (NĐ 522/NV). Ngày 6/7/63, đến nay có 7.204 Ấp Chiến Lược đã lập xong. Ngày 7/7/63, Nhà Văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc ngũ tự tử để phản đối việc truy tố ông ra trước tòa án. Tòa Án Quân sự đặc biệt xét xử vụ “đảo chánh hụt ngày 11/11/60” từ 8 đến 12 /7/63 tuyên án: trong số 19 Quân nhân có 13 án tù khổ sai, 6 tha bổng; trong số 35 Nhân sĩ có 20 án tù cấm cố, 14 tha bổng, Nguyễn tường Tam vô tội;

Và 9 tử hình cho Quân nhân và nhân sĩ vắng mặt là Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, Thiếu tá Trần văn Đô, Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc, các Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Quốc Tuấn, Luật sư Hoàng Cơ Thụy, và ông Nguyễn Bảo Toàn. Cùng ngày 12/7/63 nầy, Đại tá Đỗ Cao Trí được thăng Thiếu tướng, và 106 sĩ quan cấp tá và cấp uý khác cũng được thăng cấp. Hôm sau, ngày 13/7/63, Tòa Án Quân sự xét xử tiếp vụ 19 Nhân sĩ của nhóm Caravell, đã ký giấy đòi cải cách. Tất cả đều được tha bổng. 

Ngày 23/7/63, vài trăm Dân vệ và Thương Phế binh biểu tình trước chùa Xá Lợi. Ngày 24/7/63, Trung tá Trần Thanh Chiêu Thanh Tra Dân vệ Đoàn bị cất chức vì cuộc biểu  của Dân vệ hôm qua. Ngày 3/8/63, bà Ngô Đình Nhu lên án những vụ đấu tranh về Tôn giáo. Ngày 4/8/63, Đại đức Nguyên Hương tự thiêu tại Phan Thiết. Ngày 8/8/63, bà Ngô Đình Nhu lại tuyên bố gián tiếp trả lời cha bà là Đại sứ Trần Văn Chương, vì theo Đài V.O.A, Đại sứ đã trách bà “thiếu lễ độ” với Phật giáo. Bà nói, nhận là “thiếu lễ độ” nhưng thấy “cần phải lên tiếng” đồng thời cám ơn Đại sứ đã cho bà một dịp để “bày tỏ ý kiến”. 

Ngày 9/8/63, bà Ngô Đình Nhu lại tuyên bố với báo New York Times “phải quyết liệt đối với cuộc đấu tranh hiện nay của Phật giáo. Ngày 13/8/63, Đại đức Thích Thanh Tuệ 17 tuổi tự thiêu trước chùa Phước Duyên, Hương Trà, Thừa Thiên. Ngày 14/8/63, họp báo tại chùa Xá Lợi, Thượng tọa Thiện Minh cho biết ba điều kiện tiên quyết để lập Ủy ban Hỗn Hợp: chấm dứt mưu mô phá Phật Giáo; phóng thích các Phật tử còn bị giam; công bố vụ tàn sát ở Huế”. Ngày 15/8/63, Ni cô Diệu Quang, 20 tuổi tự thiêu ở quận Ninh Hòa, Khánh Hòa. Lệnh giới nghiêm ban hành ở Nha Trang. Ngày 16/8/63, Đại Đức Thích Tiêu Diêu, tức Thích Thiện Huệ, 71 tuổi tự thiêu tại chùa Từ Đàm, Huế. Ngày 20/8/63, biểu tình lớn ở Đà Nẵng và trước chùa Xá Lợi ở Sài Gòn. 

Sydney ngày 6 tháng 3 năm 2024

 

Bài 67: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGÔ ĐÌNH DIỆM: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM TỪ 20/5/1963 ĐẾN 2/11/1963.

Quá nữa đêm 20/8/63, Cảnh sát Chiến đấu tới tấn công, lục soát chùa Xá Lợi xô xát kịch liệt. Súng nổ, nhiều người bị thương, trong đó có Hòa thượng Thích Tịnh Khiết bị xô ngã, và bị thương ở gần mắt. Các Tăng Ni bị bắt. Các chùa Ấn Quang, Kỳ Viên Tự đều bị khám xét. Ngày 21/8/63, Tổng thống Ngô Đình Diệm triệu tập Hội đồng Chính phủ vào lúc gần sáng, tuyên bố phải hành động cương quyết, và ban bố lệnh giới nghiêm trên toàn lãnh thổ (SL84/TTP). 

Bộ trưởng Ngoại giao Vũ văn Mẩu xuống tóc phản đối Tổng thống Ngô Đình Diệm. Thiếu tưởng Tôn Thất Đính được cử làm Tổng trấn Đô thành Sài Gòn-Gia Định. Cấm đi lại ban đêm từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng. Ngày 22/8/63, Đại sứ Trần Văn Chương tại Hoa Thịnh Đốn bị chấm dứt nhiệm vụ. Tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa Ngô Đình Nhu kêu gọi Thanh niên Cộng hòa làm “rạng tỏ chính sách”. Ngày 24/8/63, Bộ Giáo dục tạm đóng cửa tất cả các trường học ở Sài Gòn Gia Định. Ngày 25/8/63, sinh viên học sinh biểu tình rất đông trước chợ Bến Thành ủng hộ Phật giáo, Cảnh sát can thiệp, có xô xát, một thiếu nữ tên Quách Thị Trang bị bắn chết.

Ngày 27/8/63, các Đoàn thể và các Tỉnh gởi kiến nghị trung thành và ủng hộ Tổng thống. Ngày 31/8/63, Thanh niên Cộng hòa tổ chức một cuộc biểu tình lớn ở Công trường Lê Lợi để ủng hộ Chính phủ và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày 2/9/63, Tổng Trấn Sài Gòn Gia Định họp báo tại trại Lê văn Duyệt cho biết chỉ còn vài Tăng Ni chưa được thả về, có 2 vị Sư trú ẩn trong Tòa Đại sứ Mỹ. Ngày 10/9/63, bà Ngô Đình Nhu dẫn một Phái đoàn Dân biểu đi dự Hội nghị Quốc tế Nghị sĩ tại Nam Tư, nhân tiện sẽ ghé qua nhiều nước Âu Mỹ để “giải độc” dư luận Quốc tế về vấn đề Phật giáo. 

Ngày 20/9/63, Khối Á-Phi yêu cầu Việt Nam trình bày vấn đề Phật giáo trước Liên Hiệp Quốc. Ngày 24/9/63, Đại sứ Bửu Hội phản đối ý kiến đưa vụ Phật giáo Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc. Ngày 27/9/63, bầu cử Quốc hội Nhiệm kỳ III, Ngày 5/10/63, Đại đức Thích Quang Hương tự thiêu trước chợ Bến Thành. Ngày 7/10/63, Quốc hội nhiệm kỳ III khai mạc khóa đầu tiên. Ngày 10/10/63, bà Ngô Đình Nhu diễn thuyết và họp báo tại Hoa Kỳ, công kích chính sách Mỹ tại Việt Nam, và phủ nhận sự đàn áp Phật giáo. 

Dân số Thế giới (tháng 10/1963) theo F.A.O hiện có 3.180.000.000 người. Ngày 14/10/63, thành lập tỉnh Hậu Nghĩa, lấy một phần từ các tỉnh Long An, Bình Dương, và Tây Ninh, tỉnh lỵ là Khiêm Cương, ở Bàu Trai củ (SL 124/NV). Ngày 21/10/63, cựu Đại sứ Trần Văn Chương chỉ trích bà Ngô Đình Nhu làm rối tình hình Việt Nam. Ngày 22/10/63, Quốc hội triển hạn thêm 2 năm nữa việc Ủy quyền cho Tổng thống ban hành Sắc luật (Luật 20/63). Ngày 25/10/63, Phái đoàn của Liên Hiệp Quốc vào điều tra vụ Phật Giáo đến gặp tổng thống Ngô Đình Diệm, và họp báo nói qua về nhiệm vụ.

Ngày 26/10/63, Cố vấn Ngô Đình Nhu phân trần khá lâu với Phái đoàn Điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ Phật giáo. Ngày 27/10/63, Đại đức Thích Thiện Mỹ vị sư thứ 7 tự thiêu, trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. Ngày 31/10/63, Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc ra Huế viếng Tăng Ni. Cùng ngày 31/10/63, Quốc hội mới mở tiệc tiếp tân. Chuyên viên xây hầm trú ẩn trong Dinh Gia Long cho biết đã hoàn tất công việc, bom hơn 500 cân ném xuống cũng không việc gì. 

Ngày 1/11/1963, 13 giờ 30, tiếng súng nổ ran ở nhiều nơi trong Đô Thành, Quân đội chiếm đóng Tổng Nha Cảnh sát, Đại Phát thanh, Nha Thông tin, Bộ Nội vụ.v.v. 14g30, có xung đột tại Đài Phát Thanh, nhưng chiến xa của Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống bị đánh lui; 16g45, Đài Phát thanh loan tin Quân đội đứng lên lật đổ Chế độ Ngô Đình Diệm; 20 giờ hơn Quân đội Cách mạng tấn công mạnh vào thành Cộng hòa, và chiếm được thành nầy hồi 22 giờ. Nhiều sinh viên và học sinh được phóng thích; 24 giờ, theo lời kêu gọi trên Đài Phát thanh, 4 Bộ trưởng ra trình diện tai Bộ Tổng Tham mưu. 

Ngày 2/11/63, Sự kiện nối tiếp: 3 giờ sáng, quân đội Cách mạng tấn công vào Dinh Gia Long, kịch chiến cho tới 4 giờ sáng thì quân Phòng vệ Dinh đầu hàng. Anh em ông Diệm đã thoát khỏi Dinh đến nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn; Trung tướng Dương Văn Minh Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn quốc (Quân lệnh số 1); Số người bị đạn lạc là 20 người chết, 145 bị thương tại các bệnh viện Đô thành; 7 giờ sáng, Đài Phát thanh báo tin, Dinh Gia Long đã bị chiếm, hai anh em, ông Diệm, ông Nhu đã tự tử. Buổi trưa có tin hai anh em ông Diệm bị hạ sát chớ không phải tự sát.

Sydney ngày 7 tháng 3 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN HAI

Bài 68: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN NGỌC THƠ: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM 1963.

Ngày 3/11/63, Hội đồng Quân nhân Cách mạng họp báo ra Tuyên Cáo và Quyết nghị. Tuyên cáo số 1: Quân đội phải lật đổ một chế độ độc tài; Sẽ lập gấp Chính phủ Lâm thời; Sẽ thành lập một Hội đồng Nhân sĩ; Khi các định chế Dân chủ được thực hiện, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng sẽ trao quyền cho Quốc dân. Tuyên cáo số 2:  Không phóng túng, không độc tài, dân chủ trong tinh thần kỷ luật; Chống Cộng, đứng trong Thế giới Tự do; tôn trọng các Hiệp ước đã ký; đoàn kết toàn dân, cho các đảng phái hoạt động; sửa soạn định chế dân chủ; tự do tín ngưởng, bình đẳng tôn giáo; trả tự do cho các Chính trị phạm không Cộng sản; tự do báo chí... 

Hội đồng Quân nhân Cách mạng cũng ra hai Quyết nghị: Quyết nghị thứ nhất, Truất phế Tổng thống Ngô Đình Diệm; bãi bỏ chế độ Tổng thống; giải tán Chính phủ do ông Diệm lãnh đạo; Hội đồng Quân nhân Cách mạng tạm thời đảm đương Hành pháp. Quyết nghị thứ hai, Tạm ngưng Hiến pháp ngày 26/10/1956; Giải tán Quốc hội bầu ngày 27/9/1963. Ngày 4/11/63, Hội đồng Quân nhân Cách mạng ban hành Hiến ước Tạm thời số 1: Việt Nam vẫn là nước Cộng hoà; quyền Lập pháp và Hành pháp thuộc Hội đồng Quân nhân Cách mạng; quyền hành Quốc trưởng thuộc Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng; quyền Hành pháp ủy cho Chính phủ Lâm thời do Hội đồng chỉ định; quyền Lập pháp ủy cho Chính phủ, ngoại trừ về Ngân sách, Thuế, An ninh, Quốc phòng; luật lệ hiện hành vẫn tạm thời áp dụng.

Thành phần Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM) gồm: Chủ tịch: Trung tướng Dương Văn Minh; Đệ nhất Phó Chủ tịch: Trung tướng Trần Văn Đôn; Đệ nhị Phó Chủ tịch: Trung tướng Tôn Thất Đính; Ủy viên Quân sự: Trung tướng Trần Thiện Khiêm; Ủy viên Kinh tế: Trung tướng Trần Văn Minh; Ủy viên An ninh: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu; Ủy viên Chính trị: Thiếu tướng Đỗ Mậu; Tổng Thư Ký kiêm Ủy viên Ngoại giao: Trung tướng Lê Văn Kim; Các Ủy viên: Trung tướng Mai Hữu Xuân; Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu; Trung tướng Lê Văn Nghiêm; Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có. 

Nguyễn Ngọc Thơ được HĐQNCM uỷ thành lập Chính phủ. Ngày 4/11/63, Nguyễn Ngọc Thơ trình diện Chính phủ lên Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Ngày 6/11/63, Thành lập Hội đồng Nhân sĩ có nhiệm vụ cố vấn cho Chính phủ (SL số 2/HĐQN). Bãi bỏ Lệnh giới nghiêm (SL 3/HĐQN). Nguyên Cố vấn Chỉ đạo miền Trung Ngô Đình Cẩn bị bắt và giải từ Huế vào Sài Gòn. Ngày 8/11/63, một số chính khách và quân nhân bị lưu đày ra Côn Đảo được tha và về tới Sài Gòn. Ngày 12/11/63, thành lập Phủ Tổng ủy Dân sinh Nông thôn thay thế Phủ Tổng ủy Dinh điền (SL 9/TTP). 

Ngày 18/11/63, Đại tướng Lê Văn Tỵ được cử làm Cố vấn Quân sự cho Chính phủ. Ngày 18/11/63, Đại tá Nguyễn Chánh Thi, và Trung tá Vương Văn Đông về nước sau 3 năm lánh nạn ở ngoại quốc. Ngày 22/11/63, Chủ tịch HĐQNCM ban hành Sắc lệnh thành lập một Hội đồng Nhân sĩ từ 40 đến 80 Hội viên (SL số15/CT). Ngày 19/12/63, Có 60 vị được cử vào Hội Đồng Nhân Sĩ, đa số là những người có tên tuổi trong các đảng phái chính trị quen thuộc (NĐ 47/NĐ/CT). Ngày 20/12/63, tái lập Tỉnh Gò Công (SL 36/TTP). 

Ngày 2/1/1964, Khai mạc Hội Đồng Nhân sĩ tại Hội trường Diên Hồng, Sài Gòn. Ngày 3/1/64, ngành Hiến Binh Việt Nam bị giải tán (SL 4/QP). Ngày 4/1/63, Viện thống kê cho biết: Dân số Sài Gòn 1962 là 1.431.000, 49,4% đàn ông, 50,6% đàn bà. Ngày 5/1/64, cải tổ Chính phủ, Trung tướng Tôn Thất Đính Tổng trưởng An Ninh nay đổi thành Tổng trưởng Nội Vụ; Thiếu tướng Đỗ Mậu, Tổng trưởng Thông tin thay Thiếu tướng Trần Tử Oai; Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng Tư lệnh, Trung Tướng Lê Văn Kim, Tổng Tham Mưu trưởng, Trung tướng Trần Thiện Khiêm, Tư lệnh Quân đoàn III; Thiếu tướng Đặng Văn Quang, Giám đốc An ninh Quân đội. 

Cũng ngày 6/1/64, Giá vàng từ 6.200$ tăng thành 6.500$ một lạng. Ngày 9/1/64, Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ ra mắt Hội đồng Nhân sĩ và trình bày chương trình hoạt động. Ngày 13/1/63, nhân Giám đốc Văn hóa Pháp là Basdevant qua thăm Sài Gòn, Sinh viên, hoc sinh biểu tình chống Trung lập. Ngày 15/1/64, Hội đồng Nhân sĩ biểu quyết và ra thông cáo chống Trung lập và chống Cộng sản. Ngày 16/1/64, Hội đồng Nhân sĩ họp bàn viêc soạn thảo Hiến Pháp. Ngày 21/1/64, Ủy ban Soạn thảo Hiến Pháp của Hội đồng Nhân sĩ yêu cầu các giới góp ý kiến. Ngày 22/1/64, Phủ thủ tướng tạm đóng dời về trụ sở mới số 7 đường Thống nhất.

Ngày 23/1/64, Hội đồng Nhân sĩ yêu cầu Chính phủ đoạn giao với Pháp. Ngày 29/1/64, Một số nhân vật bị kết án sau vụ Bình Xuyên 1955, đươc ân xá gồm Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hữu Thuần, Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Hiếu (SL 33/CT). 

Sydney ngày 8 tháng 3 năm 2024

 

Bài 69: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, VÀ CHÍNH PHỦ NGUYỄN KHÁNH: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1964.

Ngày 30/1/1964, từ sáng sớm, nhiều ngã đường bị quân đội canh gác, có cả chiến xa. Dân chúng đồn có đảo chánh. Các tướng lãnh họp tại Bộ Tổng Tham Mưu để thanh trừng nội bộ. Trung tướng Nguyễn Khánh ra tuyên cáo giải thích vụ biến cố rằng:“từ ba tháng nay tình hình suy sụp mọi mặt; “Chính quyền tỏ ra bất lực và Phản cách mạng; “một số người chạy theo thực dân và cộng sản; nên một lần nữa “Quân đội lại phải can thiệp”. Các Trung tướng Trần Văn Đôn, Lê văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân đã bị bắt đêm qua, Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ cũng bị bắt nhưng tới sáng thì phóng thích. 

Ngày 31/1/64, Trung tướng Nguyễn Khánh họp báo tại Bộ Tổng Tham Mưu giải thích: rằng, không có đảo chánh chỉ có “Chỉnh lý” để Chính quyền theo đúng đường lối Cách mạng; rằng, ông ta được Hội đồng Quân đội cử làm Chủ tịch Hội đồng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội”. Đại tá Dương Ngọc Lắm được bổ Đô trưởng Sài Gòn thay Trung tướng Mai Hữu Xuân. Ngày 1/2/64, Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ từ chức; Trung tướng Nguyễn Khánh tiếp Nhân viên Cao cấp của Ngoại Giao đoàn. Ngày 2/2, Chủ nghĩa Cộng sản và Thuyết Trung lập thân Cộng bị đặt ra ngoài vòng Pháp luật (Sl 93/CT). 

Ngày 3/2/64, tướng Nguyễn Khánh chấp nhận đơn từ chức của Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ. Ngày 7/2/64, ban hành Hiến Ước Lâm thời số 2, tu chính Hiến Ước số 1 để giao  quyền hành Quốc trưởng cho Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng (HĐQNCM), hoặc cho một nhân vật do Hội đồng cử. Cùng ngày 7 tháng 2, HĐQNCM quyết định cử Trung tướng Dương Văn Minh giữ quyền hành Quốc trưởng, cử Trung tướng Nguyễn Khánh thành lập Chính phủ. Ngày 10/2/64, Chính trị gia Hồ Hữu Tường, và Trịnh Khánh Vàng được ân xá (SL 91/CT).

Ngày 17/2/64, Sĩ quan báo chí Bộ Quốc phòng cho biết, Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, sĩ quan cận vệ của Trung tướng Dương Văn Minh bị giữ hôm 30/1 tại Lữ đoàn Nhảy Dù đã tự vẫn bằng dây giày. Ngày 3/3/64 Đại tá Cao Văn Viên được thăng Thiếu tướng. Ngày 8/3/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh công bố chương trình hoạt động của Chính phủ năm 1964. Ngày 9/3/64, Giải tán Ủy ban đặc trách Ấp Chiến Lược tại Trung ương và cấp Khu (SL 103/CT). Ngày 12/3/64, một Uỷ ban đặc biệt Kinh tế và Tài chánh được thiết lập để thay thế Hội đồng tối cao Tiền tệ và Tín dụng lập từ năm 1957 (SL.134/KT/TC). 

Ngày 21/3/64, Thành lập Hội đồng Quân đội Cách mạng thay Hội đồng Quân nhân Cách mạng, Trung tướng Nguyễn Khánh được các tướng lãnh bầu làm Chủ tịch Hội đồng Quận đội Cách mạng. Ngày 31/3/64, Hội đồng Nhân sĩ nhóm họp và ra quyết nghị “không tự giải tán, và không lãnh lương Hội viên”. Ngày 4/4/64, Chính phủ Giải tán Hội đồng Nhân sĩ, để thành lập Quốc hội Lập Hiến Dân cử (SL 115/SL/CT). Cùng ngày 4/4, Tổng trưởng Nội vụ Hà Thúc Ký từ chức. Ngày 7/4/64, Thiếu tướng Lâm Văn Phát được bổ Tổng trưởng Nội Vụ. 

Ngày 8/4/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh gắn cấp bậc Chuẩn tướng đầu tiên cho Đại tá Hải quân Chung Tấn Cang, và Đại tá Không quân Nguyễn Cao Kỳ. Ngày 7/5/64, Bảo An Đoàn cải thành Địa Phương Quân thuộc Bộ Quốc Phòng (SL 189/QP). Ngày 12/5/64, Dân Vệ Đoàn cải thành Nghĩa Quân (SL 191/QP). Ngày 21/5/64, Thành lập Phủ Đặc ủy Chiêu hồi (SL 200/TTP). Ngày 22/5/64, các lực lượng võ trang hợp thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm Chủ Lực Quân, Địa Phương Quân, và Nghĩa  Quân (SL 166/CT). Trụ sở Quốc hội củ được đổi thành nhà Văn hoá. 

Ngày 29/5/64, có 5 Đại tá được thăng Chuẩn tướng, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đỗng, Bùi Hữu Nhơn, Cao Hữu Hớn, Ngô Dzu. Hội đồng Quân đội Cách mạng hôm qua họp tại Đà Lạt xét xử các tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính và quyết định “phạt theo kỷ luật, loại khỏi Hội đồng Cách mạng một thời gian, và không giao phó chức vụ chỉ huy. Ngày 4/6/64, ban hành Sắc luật 115/SL/CT, thành lập Quốc hội Lập hiến Dân cử. Ngày 13/6/64, một số Chính trị gia cùng với các Tổng trưởng, Bộ trưởng nhóm họp tại Hội trường Diên Hồng, bàn về Quy chế các Đảng phái chính trị. 

Ngày 1/7/64, Mỗi tỉnh có một Đoàn cán bộ Hành chánh lưu động (NĐ 1/295). Thành lập Đoàn Tuyên úy Phật giáo trong Quân đội (SL 224/QP). Ngày 2/7/64, Thành lập Hội đồng Quốc gia Giáo dục (NĐ 1.203a/GD). Ngày 12/7/64, Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, Phó thủ tướng cùng một số Chính trị gia cùng nhân sĩ lập “Lực lượng Quốc gia Thống nhất”. Ngày 19/7/64, biểu tình lớn tại Công trường Lam Sơn lên án Cộng sản và Thực dân nhân ngày Quốc hận 20/7. Sinh viên tổ chưc “Đêm không ngũ” tại Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Cũng có biểu tình lớn tại Bờ sông Bến Hải “đả đảo Cộng Sản”. 

Ngày 21/7/64, hơn 100 Sinh viên biểu tình trước Tòa Đại sứ Pháp ở Sài Gòn, đốt xe, đập phá gây một số thiệt hại, Pháp chính thức phản kháng. Ngày 22/7/54, Tổng hội Sinh viên họp báo “nhiều người đề nghị quốc hữu hóa tài sản của Pháp và đọan giao với Pháp. Ngày 26/7/64, Tối nay Sinh viên học sinh Sài Gòn tụ họp, giật đổ tượng đài “Chiến sĩ Trận vong” đường Duy Tân. Ngày 7/8/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc (SL 215/CT). Và những biện pháp đặc biệt sẽ thi hành (S.Luật 18/64). Tái lập kiểm duyệt báo chí (NĐ 453/BTT). 

Sydney ngày 9 tháng 3 năm 2024

 

Bài 70: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN KHÁNH, VÀ HIẾN CHƯƠNG VŨNG TÀU 16/8/1965.

Ngày 8/8/64, Giới nghiêm tại Sài Gòn, Gia Định từ 23 đến 4 giờ sáng. Ngày 11/8/64, Trung tướng Trần Thiện Khiêm được thăng Đại tướng, 8 Đại tá được thăng Chuẩn tướng gồm các Đại tá Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Nguyễn Cao, Nguyễn Văn Kiểm, Đặng Văn Quang, Vĩnh Lộc, Lê Nguyên Khang, Hoàng Xuân Lãm, một số Sĩ quan cấp Tá khác cũng được thăng cấp. Ngày 13/8/64, Trong 6 tháng đầu năm 1964, Việt Nam đã xuất cảng 45.199 tấn gạo. Ngày 15/8/64, các thể nhân, tài sản có thể bị trưng dụng để đáp nhu nhu cầu Dân sự và Quân sự (SL 20/64).

Ngày 16/8/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng họp ở Vũng Tàu, ban hành một Hiến chương mới, và bầu Trung tướng Nguyễn Khánh làm Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa. Cũng theo Hiến chương, Chủ tịch lãnh quyền Quốc trưởng với nhiều quyền hạn đặc biệt. Sẽ có một Quốc hội Lâm thời gồm 100 Hội viên Dân sự và 50 Hội viên Quân nhân do Hội đồng Quân đội Cách mạng chỉ định. Hội đồng Quân đội Cách mạng vẫn là Cơ quan lãnh đạo tối cao. Ngày 18/8/64, Nhiều địa phương và Đoàn thể gởi Điện văn và Kiến nghị Nhiệt liệt hoan nghênh Hiến chương, kính dâng Trung tướng Chủ tịch lời chúc mừng nồng nhiệt nguyện đồng tâm nhất trí, đoàn kết sau lưng... 

Ngày 19/8/64, tại trụ sở đường Duy Tân, Sài Gòn, rất đông Sinh viên nhóm họp để bàn xét Chế độ mới do Hiến chương vừa ban hành. Ngày 20/8/64, Sinh viên tiếp tuc bàn thảo về Hiến chương Vũng Tàu. Ngày 22/8/64, Buổi sáng, khá đông Sinh viên kéo tới Phủ Thủ tướng đưa kiến nghị phản đối Hiến chương, Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng tiếp thay Chủ tịch Nguyễn Khánh vắng mặt. Buổi trưa, Chủ tịch Nguyễn Khánh tiếp Đại diện sinh viên, Sinh viên ngỏ ý “không chấp nhận Hiến chương Vũng Tàu”, yêu cầu thành lập một Chính phủ trong sạch, trẻ trung, các tướng lãnh trở về nhiệm vụ quân sự, diệt trừ Cần Lao, và Thực dân Cộng sản ẩn nấp trong Chính quyền. 

Ngày 23/8/64, sinh viên học sinh kéo tới Đài Phát thanh: đòi cải chính tin “Sinh viên đến gặp Chủ tịch Nguyễn Khánh để ủng hộ. Chưa thỏa mãn, sinh viên xông vào đập phá đồ đạt, hồ sơ, máy móc; Rồi xuống đường biểu tình qua trường J.J Rousseau, tới Bộ Thông tin chất vấn Tổng trưởng, Thứ trưởng đòi bãi bỏ kiểm duyệt và loan tin chính xác. Cùng ngày 23/8/64, Ba nhóm Chính khách cũng lên tiếng công kích “Hiến chương Vũng Tàu”, Nguyễn Tôn Hoàn của Đại Việt, Trương Bảo Sơn của Dân chủ Xã hội, và Quốc Dân Đảng của Biệt bộ Nguyễn Tường Tam. 

Lúc 15 giờ cũng ngày 23/8/64,  chừng 200 người đi xe buýt tới trụ sở Sinh viên, đường Duy Tân với “gậy, dao, búa” đốt phá nhiều đồ đạt và giấy tờ. Ngày 25/8/64, Sinh viên, học sinh và hàng ngàn thanh niên các giới cả ông già, bà lảo biểu tình kỷ niệm Quách Thị Trang trước chợ Bến Thành, rồi kéo tới Phủ Chủ tịch đã đảo Hiến Chương Vũng Tàu, đả đả độc tài. Số người tới dự mỗi lúc một đông, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh, và Chủ tịch Nguyễn Khánh phải ra phủ dụ và hứa hẹn sẽ xét gấp vấn đề.  Cùng ngày 25/8/64, Hội đồng Quân Đội Cách mạng nhóm họp tại Bộ Tổng Tham Mưu. 

Ngày 26/8/64, Hội đồng Quân đội Cách mạng họp từ hôm qua, ra Tuyên cáo: (1) Thu hồi Hiến chương 16/7/64; (2) sẽ bầu Nguyên thủ Quốc gia và Ủy Nguyên thủ thực hiện cơ cấu dân chủ; (3) Quân đội sẽ trở về nhiệm vụ quân sự; (4) Ủy Chính phủ hiện thời tạm điếu khiển Quốc gia”. Cùng ngày 26/8, tại Đà Nẳng, một đoàn biểu tình qua trại quân Mỹ ở Đà nẳng, có xô xát, đám đông chạy tràn vào làng Thanh Bồ, Tự vệ Công giáo tưởng bị tấn công đối phó lại. Ẩu đả lớn 11 người chết, 42 bị thương, nhiều nhà bị đốt. 

Ngày 27/8/64, Hội đồng Quân Đội Cách mạng quyết định: (1) Lập một Ủy ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực gồm các tướng Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, và Nguyễn Khánh; (2) Cử Chính phủ Nguyễn Khánh tiếp tục nhiệm vụ, nhưng phải triệu tập Quốc dân Đại hội trong 2 tháng; (3) Có thể Ủy quyền cho một Phó Thủ tướng điều khiển Thừa ủy nhiệm Thủ tướng. Lúc 13 giờ cùng ngày 27/8, khi Hội đồng Quân đội Cách mạng đang họp tại Bộ Tổng Tham mưu, chừng 2.000 người từ ngoại ô kéo tới trước cổng với “gậy, dao, búa” đòi vào gặp Hội đồng. 

Quân Cảnh ngăn cản, đám người cứ xông lên, bị bắn chết 4, bị thương 11. Phía Quân cảnh 1 bị chém và một số bị thương. Lúc 14 giờ, một đoàn người khác cũng trang bị như trên, kéo đến Đài Phát thanh, đòi Phát thanh bản Tuyên ngôn của họ, qua đường Phan Đình Phùng gây lộn với một số học sinh trường Kỷ thuật Nguyễn Tường Tộ, học sinh trường nầy, cùng trường bạn Nguyễn Cao Thắng kéo tới đánh lại 13 người bị thương, 8 người thuộc đoàn người biểu tình bị bắt. Đoàn người biểu tình kéo tới hai trường đòi thả 8 người bị bắt kia, rồi xông vào đánh lộn lẫn nữa. Có 2 học sinh bị đoàn người biểu tình đâm chết.. 

Buổi chiều tối, cũng ngày 27/7/64 nầy, các Khu Công giáo Phú Nhuận, Trương Minh Giảng báo động và thanh niên ra đầu đường canh gác. Tại Viện Hóa Đạo, Chợ Bến Thành cũng nhan nhản thanh niên đứng canh. Tòa Tổng Giám Mục và Viện Hóa Đạo ra “Thông cáo chung” khuyên nhủ hai bên Giáo đồ bình tỉnh, và tránh mọi xách động. Báo giới Thủ đô, Tòa Đô Chánh cũng kêu gọi dân chúng giữ hòa khí và trật tự. Ngày 28/8/64, các trường học vẫn sôi nổi. Thanh niên vẫn tụ tập rất đông tại các công trường Lam Sơn, Diên Hồng v.v. Cảnh sát bắt 19 người trong đó có một số du đảng. 

Cùng ngày 28/8/1964, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử điều khiển Chính phủ, thừa Ủy nhiệm Thủ tướng. Phó Thủ tướng Oánh ban bố tình trạng giới nghiêm trong Sài Gòn Gia Định. Lúc 13 giờ cùng ngày 28/8/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo, đã kích Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký đã mưu đảo chánh. Bộ Giáo dục ra lệnh tạm đóng cửa các trường học ở Sài Gòn Gia Định. Ngày 29/8/64, Quân đội giải tán các đám thanh niên canh gác hoặc tụ họp trước chợ Bến Thành và nhiều ngã đường. Ngày 30/8/64, Bộ Tổng Tư lệnh Thông cáo Quân đội quyết chống lại các cuộc biểu tình bạo động, và nếu cần sẽ nổ súng. 

Ngày 1/9/64, Phó Thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn từ chức. Ngày 1/9/64, Một văn phòng Tôn giáo được thành lập gồm Đại diện Công giáo, Phật giáo và cả Cảnh sát để giải quyết các khó khăn và hiểu lầm. Ngày 3/9/64, Trung tướng Dương Văn Minh và Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh ra Huế trấn tĩnh dư luận. Ngày 7/9/64, Trung tướng Dương Văn Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực (QĐ số 2/LĐQGQL). Ngày 8/9/64, thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia với nhiệm vụ: (1) triệu tập Quốc dân Đại hội; (2)  soạn thảo Hiến Pháp; (3) thực hiện các cơ cấu Quốc gia, và (4) làm Cố vấn cho Chính phủ và Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực (QĐ số 7/BLĐQGQL).

Thượng Hội đồng Quốc gia Thượng Hội đồng Quốc gia có 16 thành viên: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Xuân Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Đình Luyện, Hồ Đắc Thắng. Cùng ngày 8/9/64, tái lập tỉnh Bạc Liêu, Châu Đốc, và lập mới Thị xã Vũng Tầu (SL 245,246,247/NV). Thu hồi Ủy quyền Thủ tướng cho Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh;

Sydney ngày 10 tháng 3 năm 2024

 

Bài 71: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN KHÁNH VÀ TƯỚNG ĐỨC-TƯỚNG PHÁT ĐẢO CHÁNH 13/9/64.

Ngày 9/9/64, các tướng bị bắt giam trong cuộc đảo chánh của tướng Nguyễn Khánh là Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, và Tôn Thất Đính Đính được thả từ Đà Lạt về Sài Gòn. Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, và Đại tá Trần  Ngọc Huyến rút khỏi Chính phủ. Ngày 10/9/64, các Tổng trưởng Bùi Tường Huân, và Trần Quang Thuận từ chức. 

Ngày 13/9/64, Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát kéo quân về Sài Gòn chiếm đóng một số địa điểm, cả Phủ Thủ tướng, Đài Phát thanh đả kích Thủ tướng Nguyễn Khánh, và nhân danh “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” tuyên bố vãn hồi trật tự đã bị phá hoại, cùng uy quyền Quốc gia đã bị miệt thị (10 giờ). 

Tổng Tư lệnh Quân đội, Đại tướng Trần Thiện Khiêm ra lệnh cho Quân đội không theo phe đảo chánh. Thủ tướng Nguyễn Khánh ở Đà Lạt lên án tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát trên Đài Phát thanh. Nhiều Tướng lãnh khác họp tại Bộ Tư lệnh Không quân. Ngày 14/9/64, các Tướng lãnh họp ở Bộ Tư lệnh Không quân cương quyết đòi Tướng Dương Văn Đức phải rút quân về các vị trí củ tại Vùng IV, nếu không sẽ đối phó. Sáng nay quân của tướng Đức đã rút dần khỏi Đô Thành không xẩy ra vụ xô xát nào. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố, Hoa kỳ vẫn ủng hộ Chính phủ Nguyễn Khánh.

Ngày 15/9/64, tướng Dương Văn Đức tuyên bố không đảo chánh chỉ có biểu dương lực lượng để cứu vãn uy tín cho Chính phủ và Quân đội, đồng thời chống lại sự trở về Sài Gòn của 5 tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính và Vỹ. Ngày 16/9/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh về Sại Gòn. Ngày 17/9/64, bị cách chức những tướng tá liên can đến vụ 13/9 là Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm, Đại tá Huỳnh Văn Tồn, Trung tá Dương Hiếu Nghĩa. 

Ngày 18/9/64, một số Giáo sư và sinh viên Đại học Huế đòi Linh mục Cao Văn Luận từ chức để khỏi trở ngại cho Phong trào đấu tranh của "Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” mới thành lập với mục đích “bài trừ Cần Lao”. Ngày 19/9/64, Chuẩn tướng Nguyễn Chánh Thi được cử làm Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật. Ngày 20/9/64, lực lượng Đặc biệt người Thượng do Mỹ huấn luyện nổi loạn ở đồn Sapar, Ban Mê Thuột, chiếm Đài Phát thanh, bắt giữ 60 Sĩ quan, và Hạ sĩ quan làm con tin, đòi quy chế tự trị. Thủ tướng Nguyễn Khánh lên điều đình. Đại tá Mỹ Freund làm trung gian.  

Ngày 21/9/64, Hàng ngàn thanh niên do Hội đồng Nhân dân Cứu quốc (HĐNDCQ) kích động chiếm Đài Phát thanh và nhiều Công sở ở Quy Nhơn, đồng thời lùng bắt Cần Lao. Tại Phan Thiết, hàng ngàn thanh niên cũng phát động Phong trào đấu tranh diệt trừ Cần Lao, nhiều cuộc xô xát xẩy ra. Ngày 26/9/64, Thượng Hội đồng Quốc gia làm lể trình diện tại Hội trường Diên Hồng. Cùng ngày 26/9/64, Tỉnh Thừa Thiên cùng nhiều tỉnh khác ở Trung Phần thành lập HĐNDCQ để thanh toán Cần Lao. Ngày 27/9/64, Phan Khắc Sữu được bầu làm Chủ tịch Thượng Hội đồng. 

Ngày 28/9/64, Lực lượng Đặc biệt Thượng ở Ban Mê Thuột chịu ra đầu hàng. Đồn đã được giao trả cho Quân đội. Ngày 30/9/64, Tổng hội Sinh viên nhóm họp, phản đối các vụ gây rối ở Trung Phần, yêu cầu các giới đoàn kết, trừng trị Cần lao, chấm dứt tình trạng Chính phủ Xử lý thường vụ... Ngày 2/10/64, các Hội đồng Nhân dân Cứu quốc các tỉnh vẫn hoạt động quá khích ở Trung Phần, và định nhóm họp Đại hội tại Huế để ấn định chính sách chung. Cũng ngày 5/10/64, Hội đồng Chỉ đạo Sinh viên họp tại rạp Thống Nhất đả kích các Hội đồng Nhân dân Cứu quốc Miền Trung. 

Ngày 7/10/64, Đại tướng Trần Thiện Khiêm lên đường thăm viếng thiện chí nhiều nước đã giúp đở Việt Nam. Ngày 8/10/64, Sáu Sinh viên từ Huế vào Sài Gòn họp báo, tuyên bố ủng hộ Hội đồng Nhân dân Cứu quốc. Ngày 14/10/64, lần đầu tiên từ 10 năm nay lương căn bản Công chức được tăng 10%, Phụ cấp đắc đỏ các hạn đều bằng nhau (SL 300-e và 300-g/TTP). Ngày 17/10/64, các cấp chỉ huy trong quân đội được ấn định lại (SL302a/QP). Ngày 18/10/64, Thủ tướng Nguyễn Khánh công bố Chính sách đối với đồng bào Thượng và những biện pháp cải cách sẽ thi hành. 

Ngày 19/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực tuyên bố “Thượng Hội đồng Quốc gia có quyền và có bổn phận thực hiện các Cơ cấu Quốc gia, chọn vị Nguyên thủ, lập Chính phủ trước ngày 27/10/64”. Ngày 20/10/64, Ban bố Hiến chương Lâm thời do Thượng Hội đồng Quốc gia soạn thảo, theo đó: (1) Sẽ có 1 Quốc trưởng tuyển nhiệm theo thể thức do Quốc dân Đại hội ấn định; (2) Quyền Lập pháp thuộc Quốc dân Đại hội; (3) Thủ tướng do Quốc trưởng chọn và Đại hội chấp nhận. Cùng ngày 20/10, Ban hành Quy chế Quân nhân Hiện dịch (SL 13/CT/LĐQGQL).

Và, năm Tướng bị an trị tại Đà Lạt tha về được tái xử dụng, làm Phụ tá cho Tổng Tư lệnh trong 5 lãnh vực khác nhau.  Sáu Chuẩn tướng được thăng Thiếu tướng: Nguyễn Cao Kỳ, Lê Nguyên Khang, Chung Tấn Cang, Bùi Hữu Nhơn, Phạm Văn Đổng, Nguyễn Chánh Thi. Ngày 24/10/64, Đại tướng Trần Thiện Khiêm được bổ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ. Cùng ngày 24/10/64, Thượng Hội đồng Quốc gia tuyển nhiệm Chủ tịch Pham Khắc Sữu làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa. Ngày 25/10/64, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ được bầu Quyền Chủ tịch Thượng Hội Đồng. 

Sydney ngày 11 tháng 3 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN BA

Bài 72: CHÍNH QUYỀN DÂN SỰ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1964-1965.

Ngày 26/10/64, Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân lực chính thức chuyễn giao quyền hành cho Quốc trưởng. Cùng ngày 26/10, Chính phủ Nguyễn Khánh đệ đơn từ chức. Ngày 27/10/64, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một lần nữa, tỏ ý hân hoan về tình hình Chính trị tại Việt Nam. Ngày 29/10/64, Quốc trưởng Phan Khắc Sữu mời Bác sĩ Hồ Văn Nhựt lập Chính phủ, Bác sĩ Nhựt từ chối. Ngày 30/10/64, Quốc trưởng Phan Khắc Sữu mời Giáo sư Trần Văn Hương lập Chính phủ. Ngày 4/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương trình diện Nội các lên Quốc trưởng, và cử Trung tướng Nguyễn Khánh làm Tổng Tư Lệnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa. 

Ngày 4/11/64, Tổng hội Sinh viên nhóm họp tỏ ý dè dặt về thành phần Chính phủ. Ngày 5/11/64, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ từ chức Quyền Chủ tịch Thượng Hội đồng. Ngày 7/11/64, Trung tướng Dương Văn Minh được cử làm Đặc phái viên của Quốc trưởng tại ngoại quốc. Ngày 11/11/64, Sinh viên Sài Gòn Hội thảo, tuyên bố không thể chờ đợi, phải hành động mạnh, không chịu “một Chính phủ Chuyên viên già nua” lại bị “Nhóm Tinh thần giật dây”. Ngày 16/11/64, Thượng Hội đồng Quốc gia quyết định lập một Ủy ban điều tra về thành phần Chính phủ. Cùng ngày, Sinh viên yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, yêu cầu giải tán Chính phủ Trần Văn Hương. 

Ngày 18/11/64, Luật sư Lê Văn Thu được bầu làm Chủ tịch Thương Hội đồng Quốc gia. Ngày 19/11/64, một số thanh niên, chính khách họp tại Hồ tắm Chi Lăng, Gia Định công kích chính phủ Trần Văn Hương. Ngày 20/11/64, Văn phòng Thủ tướng Chính phủ cho biết có 148 nhà trí thức ký giấy ủng hộ Chính phủ và Thủ tướng. Ngày 22/11/64, biểu tình lớn ở nhiều nơi, Chợ Bến Thành, đường Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Sài Gòn, với  biểu ngữ đả kích Thủ tướng Trần Văn Hương và Chính phủ. Ngày 27/11/64, Thiết quân luật tại Sài Gòn và Gia Định trong 1 tháng (SL 29/QT). 

Ngày 28/11/64, Thủ tướng Trần Văn Hương tuyên bố “không lùi bước; phải dùng mọi cách tái lập trật tự”. Cũng ngày 28/11, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ họp báo tuyên bố cùng với nhiều đảng phái thành lập một “Hội đồng Dân tộc Cách mạng” để cứu vãn tình thế. Ngày 4/12/64, Hội đồng Tướng lãnh họp tại Đà Lạt tuyên bố ủng hộ một Chính quyền Dân sự lành mạnh, và chuẩn bị thành lập một Hội đồng Quân lực. Ngày 8/12/64, Chính phủ Trần văn Hương phản đối Quyết định của Thượng Hội đồng Quốc gia thành lập Uỷ ban để xét lại thành phần Chính phủ. 

Ngày 16/12/64, Thượng Hội đồng Quốc gia thăm dò ý kiến của một số nhân vật của một số nhân vật về việc triệu tập Quốc dân Đại hội. Ngày 17/12/64, một số Tướng lãnh trẻ yết kiến Quốc trưởng trình bày việc cho một số Tướng lãnh già về hưu. Ngày 18/12/64, Tổng Tư lệnh Nguyễn Khánh ra Huấn lệnh thành lập một Hội đồng Quân lưc để giúp đở Tổng Tư lệnh với tư cách Cố vấn. Ngày 20/12/64, Hội đồng Quân lực tuyên bố "không tín nhiệm, giải tán Thượng Hội đồng Quốc gia”Ông Phan Khắc Sửu vẫn được lưu nhiệm Quốc trưởng; Ông Trần Văn Hương và Chính phủ vẫn được lưu nhiệm; 

Cùng ngày 20/12/64, Nhật lệnh của Trung tướng Nguyễn Khánh: “Quân lực không thực hiện chính sách của ngoại bang nào cả; Thà thanh bạch trong độc lập còn hơn giàu sang mà tủi nhục trong nô lệ ngoại bang”. Ngày 23/12/64, Bộ Tổng Tư lệnh thông cáo Hội đồng Quân lực không phải là Hội đồng Quân đội Cách mạng, Hội đồng Quân lực chỉ có nhiệm vụ tư vấn đối cho Tổng Tư lệnh. Sau “Quyết định tối cần ngày 20/12/64” Hội đồng đã trở về với cương vị củNgày 24/12/64, Đại tướng Dương Văn Minh (thăng Đại tướng ngày 24/11/1964) từ Đài Bắc trở về Sài Gòn. Ngày 25/12/64, Triển hạn 1 tháng tình trạng thiết Quân luật tại Sài Gòn-Gia Định (SL 49/QT/SL). 

Cũng ngày 25/12/64, tướng Nguyễn Khánh tuyên bố với báo New York Herald Tribune: “Tướng Taylor đã có những hành động không thể tưởng tượng, muốn dùng áp lực đối với người hữu trách Việt Nam”; rằng “nếu ông ta không khéo xử thì Việt Nam sẽ mất”; rằng “Mỹ nên tính việc lớn với những ai có thực lực ở xứ nầy”; rằng “ông Taylor không thể buộc dân Việt Nam phải chịu đựng những nhà lãnh đạo mà dân Việt Nam không muốn”. Hôm sau, ngày 26/12/64, Tòa Đại sứ Mỹ minh xác “Đại sứ Taylor chỉ làm đúng nhiệm vụ của một Đại sứ”. Ngày 31/12/64, Các Tướng lãnh vẫn họp bàn tại Vũng Tàu để tìm “Giải pháp cho tình thế”. 

NĂM 1965. Ngày 1/1/65, sau khi thảo luận với các tướng lãnh tại Vũng Tàu, tướng Nguyễn Khánh hội đàm cũng Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Trần Văn Hương để tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng chính trị: lập một cơ quan thay thế Thượng Hội đồng Quốc gia vừa bị giải tán. Tại Cần Thơ, Nguyễn Khánh gắn lon Trung tướng cho thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu Tư lệnh Vùng IV Chiến thuật. Ngày 2/1/65, trận Bình Giả kết thúc sau 7 ngày kịch chiến. Đại diện toà Đại sứ Mỹ hội đàm với các Thượng toạ lãnh đạo Phật giáo về cuộc khủng hoảng chính trị. Ngày 3/1/65, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố Hoa Kỳ sẽ rút quân nếu Cộng sản để cho Nam Việt Nam yên ổn. Đại sứ Taylor hội đàm với Thủ tướng Trần Văn Hương về tình hình Việt Nam và cuộc khủng hoảng chính trị. 

Ngày 6/1/65, các tướng lãnh họp tại Vũng Tàu để tìm giải pháp cho tình hình khủng hoảng chính trị. Theo Phủ Đặc uỷ Chiêu hồi, từ 28-2-63 tới nay có 16.934 Việt Cộng về quy chánh. Số tỵ nạn Cộng sản: 19.750 người. Ngày 8/1, chính phủ Đại Hàn quyết định gởi sang Việt Nam 2.000 binh sĩ không chiến đấu. Ngày 10/1, sáu (6) Hội viên Thượng Hội đồng Quốc gia, 14 chính khách, giáo sư và sinh viên bị bắt ngày 20/12/64 được trả tự do tại Kontum. Ngày 14/1, Bộ Ngoại giao thông báo Đại tá Phạm Ngọc Thảo, tuỳ viên Báo chí toà đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ được triệu hồi về Sài Gòn phải ra trình diện trước ngày 18/1/65. 

Ngày 18/1/65, chính phủ Trần Văn Hương cải tổ có 4 tướng tham gia: Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Minh, Linh Quang Viên và Nguyễn Cao Kỳ. Ngày 20 tháng 1, tướng Thiệu bàn giao chức Tư lệnh Quân đoàn IV cho Thiếu tướng Đặng Văn Quang. Ngày 21/1, tin từ Hoa Thịnh Đốn, số quân Bắc Việt xâm nhập Nam Việt Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh tăng lên đến mức lo ngại. Ngày 23/1, Thủ tướng Trần Văn Hương hiệu triệu quốc dân kêu gọi mọi người tránh các vụ xách động, rằng ông sẽ lãnh trách nhiệm trước tình thế, rồi lên án "lũ lưu manh cạo đầu rồi mặc sắc phục tăng ni”. 

Tối ngày 23/1/65, tại Huế, một đoàn biểu tình kéo tới phòng Thông tin Hoa kỳ ném đá và đốt cháy thư viện Mỹ với 5.000 cuốn sách. Sinh viên đại học Huế đặt chướng ngại vật chặn các lối vào lớp học. Các cuộc biểu tình của Phật giáo, Hội đồng Nhân dân Cứu quốc và sinh viên vẫn tiếp diễn cho đến ngày 27 tháng giêng năm 1965 mới tạm thời lắng dịu. Ngày 24/1, Phụ tá Ngoại trưởng Mỹ William Bundy tuyên bố tình hình Việt Nam rất nghiêm trọng. Đại sứ Taylor hội đàm với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, Thủ tướng Trần Văn Hương và Đại tướng Nguyễn Khánh. 

Ngày 27/1, Hội đồng Quân lực ra thông cáo, Quân đội đã trả quyền từ 27-10-64 cho chính quyền Dân sự, nhưng tình thế ngày một rối ren. Sau 3 ngày thảo luận Hội đồng tướng lãnh quyết định Quân lực Việt Nam Cộng hoà phải đứng ra nhận trách nhiệm trước lịch sử. Hội đồng quyết định uỷ Đại tướng Nguyễn Khánh giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị; triệu tập ngay một Hội đồng Quân Dân gồm 20 đại diện Tôn giáo, Nhân sĩ, Quân lực, chính quyền tương lai phải triệu tập Quốc dân Đại hội. Ngày 28/1, Hội đồng Quân lực quyết định Quốc trưởng Phan Khắc Sửu được lưu nhiệm, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử làm quyền Thủ tướng. 

Ngày 7/2/65, Căn cứ không quân Tuy Hoà và trại Haloway của Mỹ gần Phi trường Pleiku bị pháo kích dữ dội. Tại Pleiku 7 quân nhân Mỹ tử thương, 100 bị thương, 5 trực thăng bị phá huỹ, 9 trực thăng và 5 phi cơ thám thính bị hư hại. 14 phi cơ từ Hàng không mẫu hạm và 49 chiếc từ các Căn cứ khác bay tới Đồng Hới dội bom vào các Căn cứ quân sự Bắc Việt, 1 chiếc không trở về. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ họp báo tuyên bố các vụ tấn công, và oanh tạc trả đũa. Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố không có cách nào khác là phải trả đũa chống lại các hành động xâm lược. Ngày 8/2, cùng với một số phi cơ của không lực Hoa Kỳ, 24 khu trục cơ của không quân Việt Nam do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn dội bom xuống các Căn cứ quân sự tại Vinh. 

Ngày 10/2, căn cứ Không quân Mỹ tại Quy Nhơn bị pháo kích và đột kích 4 căn nhà đổ 12 người tử thương. 40 người bị thương, 18 mất tích hoặc bị chôn vùi dưới đống gạch ngói. Tổng thống Johnson nhóm họp Hội đồng An ninh Quốc gia bàn về Việt Nam và xem xét vụ Căn cứ Quy Nhơn bị tấn công. Ngày 11/2, có 150 phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc Chánh Hoà và Chấp Lễ gần Đồng Hới, 3 phi cơ mất tích. Và 2 Phi đôi Không lực VNCH do Trung tá Phạm Phú Quốc hướng dẫn oanh tạc Đồi 83, vùng sông Rào Quang và Quang Tây, cách Bến Hải 15 cây số. 

Sydney ngày 12 tháng 3 năm 2024

 

Bài 73: CHÍNH QUYỀN DÂN SỰ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHAN HUY QUÁT VÀ ĐAI TÁ PHẠM NGỌC THẢO ĐẢO CHÁNH NGÀY 13/9/64.

Ngày 16/2/65, thừa Uỷ nhiệm Hội đồng Quân lực, Đại tướng Nguyễn Khánh, Tổng Tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng hoà, ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bổ nhiệm ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng thành lập Nội các. Cùng ngày 16/2/65, Thủ tướng Phan Huy Quát trình diện Nội các lên Quốc trưởng. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quân lực. Ngày 17/2, Hội đồng Quân lực ra quyết định thiết lập Hội đồng Quốc gia Lập pháp (HĐQGLP) gồm 20 Hội viên gồm: Luật sư, Bác sĩ, Giáo sư, Nhân sĩ, và 6 sĩ quan cấp tướng và tá. Chủ tịch Hội đồng là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu.

Ngày 18/2, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara tuyên bố Hoa Kỳ sẽ tăng viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hoà và Quân lực Việt Nam Công hoà sẽ tăng lên 500.000 quân. Hành quân Vũ Ngọc Điện đổ bộ lên Vũng Rô (Cap Varella), Phú Yên để bắt tàu VC do phi cơ thám thính theo dỏi từ 16/2. Ngày 19/2, QĐVNCH lục soát tại Vũng Rô tìm ra rất nhiều vũ khí đạn dược chất trong hầm kho của chiếc tàu Việt Cộng bị đánh chìm: 2.000 suáng Mauser, 1.000 trung liên, hơn 100 carabine 7,62, 2 đại liên, 15 tiểu liên, 1 đại bác 57, hơn 1.000 lựu đạn, hơn 1 triệu đạn súng trường, và nhiều đạn khác cùng với thuốc nổ. Các vũ khí đều do Trung Cộng chế tạo còn mới, Uỷ hội Quốc tế được mời đến chứng kiến.

Cùng ngày 19/2, lúc 12 giờ đêm Đại tá Phạm Ngọc Thảo đem một số binh sĩ và chiến xa chiếm Trại Lê Văn Duyệt, Đài Phát thanh, Bến Bạch Đằng… Các tướng lãnh họp tại Bộ Tư lệnh Không quân Tân Sơn Nhất, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân bay trên thủ đô ra lệnh cho quân nổi dậy phải rút nếu không sẽ bị ném bom. Trên đài phát thanh Ba Xuyên, Tổng Tư lệnh Quân đội Trung tướng Nguyễn Khánh ra lệnh cho các binh sĩ bị lôi cuốn vào cuộc nổi dậy hãy trở về đơn vị. Tại Huế, lực lượng sinh viên học sinh lên án những "phần tử Cần lao" trong cuộc nổi dậy của Phạm Ngọc Thảo. 

Ngày 20/2/65, Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi Tư lệnh Quân đoàn I từ Đà Nẳng vào Sài gòn đảm nhiệm chức Tư lệnh Quân đoàn giải phóng thủ đô, ra lệnh cho đại tá Thảo và 13 sĩ quan khác phải trình diện trong 24 giờ, nhưng Thảo và một số sĩ quan cùng những nhân vật Công giáo đều đã trốn. Cùng ngày Ngày 20/2/65 này, Hội đồng Quân lực nhóm họp và quyết định cử Trung tướng Trần Văn Minh làm Tổng tư lệnh quân đội, thay thế Trung tướng Nguyễn Khánh; Rằng Tướng Khánh âm mưu tạo ra xáo trộn để trở lại nắm chính quyền. Ngày 21/2/65, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ và Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi bắt đầu kết hợp với nhau để chống Trung tướng Nguyễn Khánh.

Ngày 22/2/65, Trung tướng Nguyễn Khánh được thăng Đại tướng, bổ nhiệm chức đại sứ lưu động. Theo Phạm Bá Hoa trong “Đôi Dòng Ghi Nhớ” thì Quân lực Việt Nam cho đến ngày hôm đó có bốn vị đại tướng, một ông chết và ba ông ra đi, dù ra đi với chức đại sứ, nhưng sự thật đã bị nhóm tướng trẻ đuổi ra khỏi Việt Nam. Việc tướng Khánh ra đi đã đặt Quân lực Việt Nam Cộng hoà nằm trong tay nhóm tướng trẻ Young Turk. Các "tướng già" còn lại như Trung tướng Trần Văn Minh, Trung tướng Phạm Xuân Chiểu, Trung tướng Linh Quang Viên, Trung tướng Phạm Văn Đống... là chỉ để cho các tướng trẻ điều động đặt đâu ngồi đó, việc quốc gia đại sự, việc lãnh đạo chiến tranh này hoàn toàn nằm trong tay các tướng trẻ, đặc biệt là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. 

Ngày 25/2, tướng Nguyễn Khánh được tặng hạng nhất Kim Khánh, trưa nay rời Việt Nam với nắm đất trên tay và hứa sẽ trở về. Ngày 26/2, tướng Nguyễn Chánh Thi công bố Bức Tâm thư gởi các tướng lãnh phân tích tình hình bi đát hiện tại và đề nghị cho “tinh thần công lợi và tổ chức hoá nhân dân”. Cùng ngày 26/2, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara cho hay hiện có 23.500 quân Mỹ tại Việt Nam. Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam tăng 100.000 quân. Chính phủ Hoa Kỳ công bố cuốn “Bạch thư về thình hình Việt Nam” cuộc xâm lăng của Cộng sản và chính sách của Mỹ tại Việt Nam; Rằng các chiến hạm Mỹ sẽ gia tăng tuần tiểu bờ biển Việt Nam để ngăn chận các thuyền chở vũ khí vô Nam. 

Ngày 27/2, một số người nhân danh “Phong trào Dân tộc Tự quyết và Phong trào Bảo vệ Hoà bình” rải truyền đơn, gởi kiến nghị, họp báo tuyên truyền vấn đề “Hoà bình tại Việt Nam”. Ngày 1/3, Thủ tướng Phan Huy Quát họp báo xác định lập trường của chính phủ “chỉ có thể nói chuyện hoà bình khi nào Cộng sản chấm dứt xâm lăng”. Ngày 3/2, trên 160 phi cơ Mỹ oanh tạc Căn cứ tiếp liệu Xóm Bàng cách Bến Hải 16 cây số về phía Bắc, 6 phi cơ bị bắn rớt, 5 phi công được cứu thoát. Lúc 15giờ 5 Phi đội 2 gồm 20 phi cơ của Không lực Việt Nam do Đại tá Nguyễn Ngọc Loan hướng dẫn, oanh tạc Căn cứ Hải quân Quảng Khê, cách Đồng Hới 30 cây số. 1 phi cơ bị bắn rớt, phi công nhảy dù xuống biển và được cứu vớt. 

Ngày 3/3, Hội đồng Quân lực lập ra Uỷ ban Thường vụ gồm 5 người: Tổng thư ký, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu; Uỷ viên Ngoại giao, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ; Uỷ viên Chính trị, Thiếu tướng Linh Quang Viên; Uỷ viên An ninh Thiếu tướng Phạm Văn Đổng; Phụ tá, Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ công bố Bức Tâm thư gởi đồng bào và chiến hữu nhắc lại nổi thống khổ và thất vọng từ thời ngoại thuộc và 10 năm qua. Chủ trương của Quân lực phải thực hiện Cách mạng toàn diện trên mọi lãnh vực. Ngày 4/3, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk, các lãnh tụ Cộng hoà Dirksen và Ford đều tuyên bố “phải đánh mạnh, không thương thuyết cho tới khi xâm lăng chấm dứt. 

Ngày 7/3, Phủ Thủ tướng thông báo, vì Bắc Việt vẫn gia tăng các cuộc gây hấn nên chính phủ Việt Nam Cộng hoà đã yêu cầu và đã được Hoa Kỳ chấp thuận gởi 2 tiểu doàn Thuỷ quân Lục chiến đến đóng tại Đà Nẳng. Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố “không thương thuyết” vì thương thuyết là tưởng thưởng xâm lăng. 

Ngày 8/3, hơn 1.500 TQLC Mỹ đổ bộ lên Đà Nẳng, Toà Đại sứ Mỹ thông báo 2 Tiểu đoàn TQLC được gởi sang để tăng cường hệ thống An ninh của Căn cứ Không quân Đà Nẳng để cho QLVNCH rãnh tay chiến đấu. Ngày 9/3, Hội đồng Quốc gia Lập pháp tán thành việc Hoa Kỳ gởi TQLC Mỹ sang giúp Việt Nam. Tại chùa Ấn Quang, Thượng toạ Quảng Liên giải thích chủ trương của Phong trào Bảo vệ Hoà bình và Hạnh phúc Dân tộc: các lực lượng Bắc Việt rút về Bắc; lực lượng MTDTGPMN giải giới; Quân đội Mỹ sẽ rời khỏi Việt Nam; Vấn đề thống nhất Việt Nam sẽ do dân tộc Việt Nam giải quyết.

Ngày 10/3, Tổng thống Johnson họp Hội đồng An ninh (HĐAN) thu hẹp tại Trại Davis, Hội đồng quyết định: tiếp tục oanh tạc Bắc Việt cả các khu vực quanh Hà Nội, Hải Phòng; sử dụng Hạm đôi 7 ngăn chận tiếp tế bằng đường biển; khép kín đường xâm nhập gần vỹ tuyến 17. Ngày 11/3, Bộ Nội vụ công bố danh sách 358 người ký kiến nghị của Uỷ ban Vận động Hoà bình: 24 sinh viên; 77 học sinh; 78 lao động; 67 buôn bán; 22 công chức; 20 giáo viên; 11 ký giả, 5 kỹ sư, 5 bác sĩ-dược sĩ; 3 luật sư. Ngày 12/3, Thủ tướng Phan Huy Quát trình bày chương trình hoạt động của chính phủ trước Hội đồng Quốc gia Lập pháp.

Ngày 14/3, lúc 14 giờ 24 phi cơ không lực Việt Nam (KLVN) do tướng Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn oanh tạc đảo Hòn Cọp Căn cứ Thuỷ đoàn 4 Bắc Việt. Ngày 15/3, hơn 100 phi cơ không lực Mỹ oanh tạc Phủ Quỳ trung tâm Tiếp vận đạn dược của Bắc Việt, lúc trở về 1 chiếc đâm xuống biển. Một đoàn quân xa 168 chiếc chở 300 tấn hàng hoá thực phẩm từ Quy Nhơn  lên Pleiku, có 20 phi cơ yểm trợ. Ngày 16/3, có 1.400 quân nhân Đại Hàn tới Việt Nam. Ngày 17/3, Thượng toạ Quảng Liên từ chức Chủ tịch Phong trào Bảo vệ Hoà bình và Hạnh phúc Đân tộc.

Ngày 18-19/3, một chiếc tàu 18/4 mét chở vũ khí cho Việt Cộng bị bắt tại Cửa Việt, Quảng Trị cách Bến Hải 25 cây số về phía Nam. Đội người Nhái Hải quân VNCH vớt được 75 súng trường Nga, 6 thùng thuốc nổ 26 thùng đạn, 3 thùng lựu đạn, 2 thùng kíp nổ. 120 Phi cơ Mỹ oanh tạc kho vũ khí Phù Vân, Nghệ An, cách Vinh 50 cây số, và kho tiếp liệu Vinh Sơn ở vùng phụ cận. Ba người thuộc Phong trào Hoà Bình bị trục xuất ra Bắc qua cầu Hiền Lương Bến Hải: Bác sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến, ký giả Cao Minh Chiếm, và Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ.

Ngày 20/3, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ tuyên bố có thể dùng bom Napalm để oanh tạc các cơ sở quan trọng ở Bắc Việt. Miền Duyên hải do Hạm đội Mỹ pháo kích. Ngày 21/3, Có tới 26 phi cơ của không lực Việt Nam oanh kích căn cứ Vu Bôn cách Bến Hải 25 cây số về phía Tây Bắc. Ngày 23/3, Có 8 phi cơ của không lực Việt Nam oanh kích trên Quốc lộ 1 từ Bến Hải đến Đồng Hới. Mặt trận DTGPMN kêu gọi các quốc gia giúp đở để chiến đấu. Có tin đồn Trung Cộng và Liên Xô gởi Chí Nguyện Quân sang Việt Nam.

Ngày 25/3, Tổng thống Johnson xác nhận chính sách trong một tuyên cáo quan trọng rằng Hoa Kỳ không có tham vọng lãnh thổ; không muốn mở rộng chiến tranh; mong muốn hoà bình và phát triển tại Á Châu; nhưng Cộng sản phải chấm dứt xâm lăng; Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ VNCH chống khủng bố và xâm lăng cho tới khi nào sự giúp đở không còn cần thiết. Có 40 phi cơ của Không lực Mỹ phá huỷ các Đài Radar, căn cứ quân sự Vinh, Bạch Long Vỹ, Mũi Ròn, Vinh Sơn. 2 phi cơ bị bắn rớt, phi công được cứu thoát.

Ngày 30/3, Có 5 Việt Cộng đi xe hơi tới toà Đại sứ Mỹ đường Võ Di Nguy, Sài Gòn bắn chết 1 cảnh sát cho mìn nổ và chạy vào đám đông. Toà Đại sứ hư hại nặng, 21 người chết, 190 người bị thương, hàng chục xe cộ qua lại bị hư hại. 1 khủng bố chết vì mìn. Có 24 phi cơ của không lực VN oanh tạc phi trường Đồng Hới. Ngày 31/3, có 14 phi cơ của không lực VN oanh tạc đài Radar Hà Tỉnh. Và, có 100 phi cơ Việt- Mỹ oanh tạc mật khu Bời Lời, quận Khiêm Hanh, Tây Ninh phá huỷ kho lương thực, đạn dược và Cơ sở của Trụng ương Cục miền Nam.       

 

Ngày 2/4, Đại sứ Mawell Taylor đề nghị tăng quân lực Mỹ và VN để đánh mạnh và ngăn chận CS cắt VNCH làm 2 phần tại Vỹ tuyến 14. QLVNCH cần thêm 160.000 quân nữa. Sau 6 ngày họp, Hội nghị QGGD đã quyết nghị Cải cách Chương trình Giáo dục: một chương trình duy nhất về kỷ luật học đường; sửa đổi môn Công dân Giáo dục; định lại tiêu chuẩn cấp học bổng và miễn học phí. Hội nghị chấp thuận thu học phí cấp Trung học lấy tiền xây thêm trường ốc, tuyển thêm giáo sư, và mua thêm dụng cụ. Ngày 3/4, trên 90 phi cơ Mỹ oanh tạc cầu Đò Lèn, Thanh Hoá, 50 máy bay khác dội bom xuống cầu Hàm Rồng, 3 chiếc bị bắn rớt, 2 phi công được cứu thoát. 

Ngày 4/4 trên 50 phi cơ Mỹ lại oanh tạc cầu Hàm Rồng, Máy bay BV lên nghênh chiến 2 PC F105 Mỹ bị bắn rớt, 1 Mig 21 BV bị hạ. 12 phi cơ Mỹ và 24 phi cơ của VNCH oanh tạc cầu Đồng Hới, 2 chiếc bị bắn rơi. 60 phi cơ Mỹ oanh tạc đường QL1 từ Bến Hải đến Thanh Hoá, 2 chiếc bị bắn rớt. Ngày 5/4 trên 10 phi cơ Mỹ oanh tạc dọc QL7 và 8 cách Bến Hải 120 cây số về phía Bắc, 1 chiếc bị bắn rớt, phi công được cứu thoát. Ngày 6/4, trên 35 phi cơ Mỹ oanh tạc dọc QL1 từ Bến Hải ra Vinh, 1 chiếc bị bắn rơi.

Sydney ngày 13 tháng 3 năm 2024

 

Bài 74: CHÍNH QUYỀN DÂN SỰ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHAN HUY QUÁT VÀ MÂU THUẨN PHAN KHẮC SỬU - PHAN HUY QUÁT.

Ngày 7/4/65, TT Mỹ Johnson đọc diễn văn tại Baltimore xác nhận Chính sách Mỹ tại Việt Nam rằng, Việt Nam Cộng hoà (VNCH) phải được tự do, độc lập; rằng muốn tiến tới hoà bình, nhưng phải chuẩn bị chiến tranh lâu dài. Ngày 9/4, có 1 tiểu đoàn TQLC và 1 phi đội F4 của Mỹ đến Đà Nẵng, và 1 tiểu đoàn khác tới Phú Bài, Huế. Có 50 phi cơ Mỹ oanh tạc cầu Quý Vinh và cầu Khe Kiến. 70 phi cơ khác oanh tạc cơ sở Quân sự Tam Đa, Vĩnh Linh. Không chiến trên Vịnh BV 1 Mig 21 BV bị bắn hạ, 2 máy bay Mỹ bị bắn rớt. Ngày 10/4,  có 1.400 TQLC tới Đà Nẳng tăng cường bảo vệ căn cứ Không quân tại đây. Nâng quân Mỹ lên tới 32.000 quân. Có 35 phi cơ Mỹ oanh tạc cầu Kim Cương cách vùng Phi quân sự 200 cây số, và 70 máy bay khác oanh tạc dọc QL 7 và QL 8. 

Theo Bộ Xã hội có 230.000 người tỵ nạn CS gồm: Vùng I/CT 76.000, Vùng II/CT 99.000, Vùng III/CT 36.000, Vùng IV/CT 16.000. Mỗi gia đình được cấp 3.500$ và 50 kg gạo/tháng trong thời gian 6 tháng. Ngày 11/4, Chính phủ VNCH thông cáo, chỉ mở cuộc nghị hoà khi đối phương nhận một số điều khiện: VC phải chấm dứt khủng bố và phá hoại; Rút hết các lực lượng cán binh về Bắc; VNCH không thừa nhận Mặt trận Giải phóng miền Nam. Ngày 12/4. Bắc Kinh và Hà Nội không hoan nghênh cuộc thăm viếng của Tổng Thư ký LHQ U-Than. Lý do: LHQ không có quyền can thiệp và vấn đề Việt Nam. 

Ngày 13/4, TT Mỹ Johnson cử cựu Đại sứ Cabot Lodge qua các nước Á Đông trao đổi quan điểm về vấn đề VN. Có 15 phi cơ VNCH oanh tạc cầu Thanh Yên, Đồng Hới và 15 phi cơ Mỹ oanh tạc đài Radar Hoà Mật và Cửa Lò. Ngày 14/4, thêm 1 tiểu đoàn TQLC Mỹ đổ bộ lên Đà Nẳng, nâng con số LĐ 9 TQLC Mỹ tại VN lên đến 8.000 quân. Một Phi đội không lực VNCH bay đêm trên BV, oanh tạc và thả 3 triệu truyền đơn. Có15 phi cơ Mỹ lại oanh tạc Hoà Mật. Ngày 15/4, có 15 phi cơ Mỹ lại oanh tạc bến tàu Mường Sén và dọc theo QL 7 và 8. Tại miền Nam trên 230 phi cơ Mỹ khác oanh tạc suốt ngày Chiến khu Dương Minh Châu, dội hơn 1.000 tấn bom xuống 1 vùng 6x4 cây số. 

Ngày 17/4, TT Mỹ Johnson lại tuyên bố: sẫn sàng thương thuyết không điều kiện về vấn đề VN bất cứ lúc nào và ở đâu. Ngày 19/4, một Phi đội Không quân VNCH oanh tạc QL1 Bắc Vỹ tuyến 17, phi cơ của Trung tá Phạm Phú Quốc bị bắn hạ gần Hà Tĩnh. Ngày 20/4, Hội nghị quân sự Mỹ tại Honolulu để xét tình hình và chiến cuộc VN. Ngày 21/4, Bộ trưởng QP Mỹ McNamara tuyên bố sẽ tăng cường viện trợ cho VN, tăng tốc độ vận chuyển và hoả lực của QĐVNCH; giúp Huấn luyện 100 đến 150.000 tân binh. Viện trợ quân sự được nâng từ 207 triệu lên 330 triệu Mỹ kim. Số hàng không mẫu hạm Mỹ tại Thái Bình Dương hiện có 9 chiếc. Mẫu hạm Bonhome Richard từ Địa Trung Hải được gởi sang tăng cường tham chiến tại VN. 

Ngày 24/4, Ngoại trưởng VNCH Trần Văn Đỗ gởi thông điệp cho HĐBA/LHQ tại Stockholm giải thích về thực chất cuộc chiến tại VN, và lập trường của VNCH về hoà bình. Ngày 25/4, tại Bắc Kinh, Chu Ân Lai tuyên bố: Trung Cộng không muốn gia nhập LHQ nữa, nhưng sẽ tổ chức một cơ quan Quốc tế khác tiến bộ hơn. Ngày 26/4, Toà án Quân sự Mặt trận Vùng III Chiến thuật xử vụ biến cố 19/2/65 trong số 45 bị cáo, 26 có mặt, 19 tại đào. Trong số bị cáo có 1 thiếu tướng, 5 đại tá, 3 trung tá, 10 thiếu tá, 14 đại uý, 1 trung uý, 2 thiếu uý, 1 Sinh viên, 5 đảng phái chính trị. Viện trợ Mỹ cho VNCH trong Tài khoá 1965-1966 lên tới 1,5 tỷ Mỹ kim: 300 triệu Viện trợ Kinh tế, 330 triệu Viện trợ Quân sự, 800 triệu chi phí về quân đội Mỹ 70 triệu và thực phẩm.

Ngày 28/4, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố nên thành lập một Mặt trận Quốc gia Giải phóng miền Bắc, không cần đặt một Bộ Tư lệnh Hỗn hợp Việt-Mỹ, chính phủ hiện tại là chính phủ tốt nhất từ trước đến nay nên cần được quân đội ủng hộ. Theo Bộ QP Mỹ từ 27/2-30/4/65, các phi cơ Mỹ đã oanh tạc BV 89 lần với 2.788 phi xuất, ném 1.380 tấn bom không kể hàng ngàn tấn đạn và rocketts phá huỹ 30 căn cứ quân sự, 127 ổ súng phòng không, 34 cầu, 17 đoàn quân xa 17 đoàn hoả xa, 1 căn cứ không quân, 2 căn cứ Hải quân, 5 bến phà, 20 đài Radar, 33 tiểu đỉnh. 

Ngày 1-5-1965, tướng Westmoreland trình lên Nhà Trắng kế hoạch sử dụng quân Mỹ, và quân các nước đồng minh của Mỹ, trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, cùng lúc với việc mở rộng việc ném bom miền Bắc Việt Nam cho đến khi đạt được thắng lợi, dự kiến trong vòng hai năm rưỡi. Kế hoạch mang tên mang tên “Chiến lược Tìm và Diệt” với ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Từ tháng 7-1965 đến tháng 12-1965 đưa nhanh quân Mỹ và quân Đồng minh vào Nam Việt Nam để ngăn chặn tình hình đang xấu đi, bảo đảm an ninh cho những khu vực đông dân cư; triển khai các cuộc “hành quân phản công giành lại quyền chủ động chiến trường”. 

Giai đoạn 2: Từ đầu năm 1966 đến tháng 6-1966, quân Mỹ và lực lượng Đồng minh mở các cuộc hành quân “tìm và diệt ở những khu vực ưu tiên đã được xác định”, hỗ trợ cho chương trình bình định. Giai đoạn 3: Từ tháng 7-1966 đến giữa hoặc cuối 1967, dốc toàn bộ lực lượng mở các cuộc hành quân tiến công “tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân giải phóng” và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định, giành lại quyền chủ động trên chiến trường

Ngày 3/5, có 3 tiểu đoàn Nhảy Dù Mỹ tới VN bảo vệ các căn cứ Mỹ ở Biên Hoà và Vũng Tàu. Ngày 4/5, Đại sứ Mỹ Cabot Lodge trở về Hoa Thịnh Đốn sau khi đi thăm 10 quốc gia Đông Á giải thích chính sách cử Mỹ ở VN. Ngày 5/5/65, Hội đồng quân lực do tướng Nguyễn Khánh thành lập cuối năm 1964 tuyên bố tự giải tán để các tướng lĩnh trở về nhiệm vụ quân sự thuần tuý. Ngày 7/5, có 3 tiểu đoàn TQLC Mỹ đến để bảo vệ căn cứ Chu Lai, Quảng Tín. Nâng tổng số quân Mỹ tại VN 42.000 gồm 18.000 LQ, 12.300 TQLC, 9.300 KQ, 1.800 HQ. Có 25 phi cơ Mỹ oanh tạc kho đạn Phú Văn cách Hà Nội 120 dặm về phía Nam. Cầu Hàm Rồng bị oanh tạc lần thứ 3 nhưng không trúng bom. Phi cơ Mỹ hàng ngày vẫn oanh tạc Bắc Việt từ vỹ tuyến 20 trở vào nhắm  và cầu cống, đường giao thông, xe cộ tuyền bè, đài Radar trại lính.

Ngày 13/5, chính quyền Hà Nội yêu cầu các toà Đại sứ ngoại quốc tản cư khỏi Hà Nội để tránh các cuộc oanh tạc của Mỹ. Ngày 14/5, Bộ Quân lực đổi thành Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu thay thế Tổng Tư lệnh. Ngày 16/5, lúc 8,30, một máy bay B57 phát nổ từ Phi trường Biên Hoà, cháy lan ra 10 B57 bị thiêu huỷ, 25 chiếc khác của KQVN bị hư hại, 25 quân nhân Mỹ thiệt mạng, 63 bị thương. Theo giới chức quân sự Mỹ, đây là một tai nạn rủi ro, chứ không phải là một vụ phá hoại. Ngày 18/5, sau 6 ngày tạm ngưng, không lưc Hoa Kỳ tiếp tục oanh tạc BV: 30 phi cơ dội bom xuống kho xăng Phú Quỳ. Ngày 20/5 số người tỵ nạn CS tới nay 198.291. Bộ Xã hội đã trợ cấp 42.553.820$.

Ngày 21/5/65, Phủ Thủ tướng thông cáo rằng cơ quan an ninh đã bắt được 17 quân nhân và 12 dân sự âm mưu đảo chính ngày hôm qua. Những quân nhân trên đây cũng đã từng liên can đến vụ biểu dương lực lượng của Phạm Ngọc Thảo ngày 19/2/65. Ngày 25/5/65, Thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ. Giữa buổi trình diện Chính phủ, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu cho biết không thể ký bổ nhiệm các ông Nguyễn Văn Thoàn và Nguyễn Trung Trinh vì lẽ các ông Nguyễn Hoà Hiệp và Nguyễn Văn Vinh không từ chức. Ngày 26/5, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát bày tỏ những bất đồng quan điểm về quyền hạn thay thế Bộ trưởng. 

Ngày 27/5/65, một phái đoàn đại diện lực lượng Đại đoàn kết Công giáo do Linh mục Hoàng Quỳnh hướng dẫn yết kiến Quốc trưởng cùng Hội đồng Quốc gia lập pháp, đưa kiến nghị không tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát. Ngày 3/6/65, Thủ tướng Phan Huy Quát cùng các tướng lĩnh sang yết kiến Quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Trong lúc đó một số nhân vật khác nhân danh 11 đoàn thể gởi kiến nghị lên Quốc trưởng và Hội đồng Quốc gia lập pháp chống chia rẽ và tín nhiệm Thủ tướng Phan Huy Quát. Ngày 4/6, nhiều truyền đơn chống chính phủ Quát được tung ra trên nhiều ngả đường. 

Đêm mồng 5/6/65, vài trăm người Công giáo chống đối chính phủ Quát tụ họp trên đường Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký, Gia định. Họ đốt xe hơi, hành hung 5 người, và gây thương tích cho hai cảnh sát viên. Ngày 7/6/65, hơn 200 cụ già thuộc các đoàn thể công giáo tới dinh Gia Long yết kiến Quốc trưởng cùng Chủ tịch Hội đồng quốc gia lập pháp, rồi ngồi lại trong Dinh từ 16 đến 22 giờ mới chịu ra về. Ngày 8/6, hơn 100 thanh niên Đại đoàn kết và sinh viên học sinh Tự dân tới dinh Gia Long yêu cầu giải quyết cuộc khủng hoảng và cũng ở lại đó từ 10 giờ đến 16 giờ mới về. 

Ngày 9/6, Thủ tướng Phan Huy Quát họp báo giải thích về cuộc khủng hoảng. Ông thuật lại các nỗ lực hoà giải của ông mà vẫn không thành, trình bày chi tiết về âm mưu đảo chính đêm 20/5/65, của phe Công giáo và âm mưu lập chính phủ Liên hiệp Trung lập của phe "Hoà bình", đồng thời ông cũng trả lời các luận điệu chỉ trích rồi kết luận rằng ông yêu cầu quân đội đứng ra lãnh vai trò trung gian để giữ thế quân bình cho đến khi có một chính quyền dân cử. Ngày 10/6, theo giới chức quân sự Mỹ số quân Mỹ tại VN có thể tăng lên 100.000 quân. Chừng 6 tiểu đoàn VC tấn công quận lỵ Đôn Luân, Đồng Xoài, Phước Long, tràn ngập trại Lực lượng đặc biệt, đánh xáp lá cà. Phi cơ can thiệp và ngăn chận.

Sydney ngày 14 tháng 3 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN BỐN

Bài 75: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1960-1964.

Tháng 9 năm 1960 tại Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng đề ra nhiệm vụ cho Kế hoạch 5 năm: 1960 – 1965 là: "phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội". Nhà nước ưu tiên đầu tư vốn để phát triển Công nghiệp nặng như khu gang thép Thái Nguyên, các nhà máy nhiệt điện Uông Bí, thủy điện Thác Bà, phân đạm Bắc Giang supe phốt phát Lâm Thao. 

Công nghiệp nhẹ, có khu công nghiệp Việt Trì, Thượng Đình (Hà Nội), các nhà máy Vạn Điểm, sứ Hải Dương, pin Vạn Điền, dệt 8-3,...Công nghiệp quốc doanh chiếm tỉ trọng 93,1% trong tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn miền Bắc, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Ở địa phương, có hàng trăm xí nghiệp được xây dựng để hỗ trợ cho công nghiệp trung ương và giải quyết nhu cầu tại chỗ. Công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp giải quyết 80% nhu cầu hàng tiêu dùng thiết yếu của nhân dân. Nông nghiệp được coi là cơ sở của công nghiệp. 

Các Nông, lâm trường quốc doanh, trại thí nghiệm cây trồng và vật nuôi được thành lập và phát triển. Người nông dân mạnh dạng áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật. Tỉ lệ sử dụng cơ khí trong nông nghiệp tăng lên. Diện tích nước tưới được mở rộng nhờ phát triển hệ thống thủy nông vừa và nhỏ. Nhiều hợp tác xã đạt năng xuất 5 tấn thóc trên 1 ha. Trên 90% hộ nông dân vào hợp tác xã, trong đó có 50% hộ vào hợp tác xã bậc cao, ứng dụng khoa học kĩ thuật. Hệ thống thủy nông phát triển, xây dựng hệ thống thuỷ lợi Bắc Hải Hưng. Nhiều HTX Nông nghiệp đạt và vượt năng suất 5 tấn thóc trên 1 hécta. 

Thương nghiệp quốc doanh đã chiếm lĩnh được thị trường, góp phần vào phát triển kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Trong giao thông vận tải, mở rộng các mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển được xây dựng, củng cố, hoàn thiện, đã phục vụ đắc lực cho yêu cầu giao lưu kinh tế và củng cố quốc phòng. Các ngành Văn hóa, Giáo dục,Y tế có bước phát triển và tiến bộ đáng kể. Vấn đề Văn hóa - tư tưởng, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa được đặc biệt coi trọng. 

Về Giáo dục, so với năm học 1960 - 1961, số học sinh phổ thông năm học 1964 - 1965 tăng từ 1,9 triệu lên 2,7 triệu, số sinh viên đại học tăng từ 17.000 lên 27.000. Có 9.000 trường các cấp học và 2.6 triệu học sinh. Số trường đại học tăng gấp đôi. Ngành Y tế mở rộng mạng lưới đến tận huyện, xã xây dựng khoảng 6.000 cơ sở y tế. Thành tựu đạt được trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1961 – 1965)  đã làm thay đổi bộ mặt xã hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh nói: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”.

Tuy nhiên, kế hoạch Nhà nước 5 năm vấp phải một số sai lầm khuyết điểm, chủ yếu do tư tưởng chủ quan nóng vội, giáo điều thể hiện rõ nhất qua việc đề ra phương châm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu quá cao, không tính đến khả năng thực hiện và điều kiện cụ thể của đất nước. Sau khi dựng lên Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, từ ngày 5/8/1964, Mỹ mở chiến dịch Mủi tên xuyên, bắn phá miền Bắc, nên phải chuyển hướng và không thể tiếp tục.

Sydney ngày 15 tháng 3 năm 2024

 

Bài 76: HOÀ BÌNH LẬP LẠI, SAU ĐÓ LÀ CUỘC CẢI CÁCH…TRONG CƠ QUAN NGƯỜI TA VAY NHAU ĐIẾU THUỐC, LẠNG CHÈ… VÀ ĐÒI NHAU ĐẾN VÀI XU PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI.

Hòa bình lập lại năm 1954, sau đó cuộc cải cách công thương nghiệp tư doanh bắt đầu. Những nhà sản xuất và thương mại cũ phải hiến những tài sản của mình cho Nhà nước theo hình thức công tư hợp doanh. Kinh tế tư nhân dần dần bị xóa bỏ và tài sản cá nhân cũng dần dần biến vào sở hữu công cộng. Tất cả mọi thứ đều như vậy. Một số gia đình đặc biệt, hoặc không quá giàu có, còn có thể giữ lại nhà, còn phần lớn bị sung công và chia lại từ đầu cho nhân dân và cán bộ công nhân viên, theo tiêu chuẩn mỗi người bốn thước vuông. Gia đình cán bộ, như Nhà tôi gồm bố mẹ và chín anh em được thuê một căn phòng rộng chừng 30 - 50 thước vuông, cả nhà chỉ có một hai cái gường, còn tất cả thường xuyên nằm trên nền nhà. 

Cán bộ đi làm bình quân được mua 13 kg gạo một tháng, giá 4 hào/kg không thay đổi cho đến suốt thời bao cấp. Người không đi làm và tuổi nhỏ hơn, được tiêu chuẩn gạo từ 13 kg trở xuống tùy theo, ví dụ một tuổi sẽ được mua 3 kg. Những người làm việc nặng nhọc, độc hại sẽ được mua trên 13 kg, từ 14 - 19 kg. Bộ đội sẽ được mua 21 kg và được cấp 6,8 hào tiền ăn một ngày, cho binh lính. Nông dân tùy theo vùng, được cấp thóc theo đầu người như vậy, tính ra gạo cũng từ 11 - 15 kg, về cơ bản lương thực gạo của nông dân thấp hơn dân thành phố, nhưng họ có thể tăng gia hoa màu, ngô khoai và mót thóc. 

Cán bộ thông thường được mua 3 lạng thịt/ tháng, nếu mua thịt thì thôi mua mỡ. Nước mắm một lít rưỡi, muối cân rưỡi, rau 3-5 cân, dầu hỏa 4 lít trong một tháng. Tiêu chuẩn này cũng thay đổi theo lương và tuổi lao động, nghề nghiệp lao động. Hàng ít, khan hiếm nên xếp hàng trở thành hiện tượng thông thường hàng ngày, mua bán cái gì cũng xếp hàng cả. Nên người ta gọi đùa chủ nghĩa xã hội là xếp hàng cả ngày. Đó là những phân phối đều đặn hàng tháng nếu tình hình chiến sự và kinh tế còn đảm bảo được. Cuộc chiến chống Mỹ ngày một gian khó, lương thực khan hiếm dần, và người ta phải phân phối nhiều loại khác thay cho gạo, như bột mì, hạt bo bo, ngô khoai sắn. 

Cơm độn các loại trên là phổ biến trong mỗi bữa ăn, đôi khi nồi cơm chỉ có 30% là gạo. Vải may quần áo cũng dần trở nên khan hiếm, theo tiêu chuẩn thì cán bộ được 4 thước vải/năm, nhân dân được 2-2,5 thước/năm. Nhưng có những năm chẳng có chút vài nào, người ta sẽ bán thay vào đó chút kim chỉ, sách giấy, đường, hay phụ tùng xe đạp. Thời gian đó không ít người ăn mặc theo kiểu nhất bộ, tức là quanh năm chỉ có một bộ quần áo mà thôi, về nhà là cởi trần trùng trục. Nhiều nam thanh nữ tú cũng phải mặc quần áo vá chằng vá đụp. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng Bài 2: Trích “Phân phối và Đồng lương” Thứ Bảy, 17/05/2014).

Từng làm kế toán trong quân đội, tôi cũng nhớ ít nhiều về các mức lương mà cán bộ binh sĩ được hưởng, còn đồng lương của cán bộ nhà nước bên ngoài thì chỉ biết theo những gì qua bố mẹ anh chị mình. Mức lương thấp nhất của người cán bộ, trong ngành kế toán là 36 đồng vào những năm 1960. Song quãng thời gian trước chiến tranh phá hoại, năm 1960, đời sống tương đối ổn định, 36 đồng người ta có thể tạm đủ sống cho mình và nuôi một đứa con, đại khái chi phí từ 2 - 5 đồng tiền thuê nhà, tiền điện nước từ 1 - 2 đồng, 1 - 2 đồng cho con đi học, ăn hai người hết 20 đồng, mặc hết 5 đồng, ngoài ra vài chi tiêu lặt vặt, là không còn gì, nên không ai dám nghĩ gì khác ngoài cái ăn. 

Nếu là gia đình, có hai vợ chồng một đứa con, lương chồng 65 đồng theo hệ đại học, vợ 36 đồng theo hệ trung cấp, thì cũng có cuộc sống ổn định, hàng tuần có thể đi xem phim, mua một hai cuốn sách, cho con đi chơi công viên. Nếu chỉ xét riêng đồng lương, người ta sẽ không hiểu vấn đề này. Nhân dân bình thường được mua 1,5 lạng thịt/tháng, nhưng cán bộ cao cấp tới 6 cân/tháng, cho nên sự chênh lệch do giá thị trường chợ đen tới 100 đồng, ngoài ra tiêu chuẩn ưu tiên đường sữa, chè thuốc, hàng phân phối cũng tạo ra sự chênh lệch đến 100 đồng nữa. Nếu cán bộ thông thường tương đối đông con, bình thường là ba con, đông là bảy đến chín con, với hai người đi làm đồng lương cán bộ thì chỉ là sao cho đủ ăn, không còn đầu óc nào cho việc khác. 

Trong sinh hoạt cơ quan, người ta vay nhau điếu thuốc, lạng chè, vài hào, và đòi nhau đến vài xu, cũng như sinh hoạt xóm giềng, vay nhau vài thìa nước mắm, muôi mỡ, nhúm muối, một hai bát gạo, lạng đường là hết sức thông thường. Điều mà nhiều người bây giờ không thể tưởng tượng được. Mẹ tôi làm ở một cửa hàng ăn uống, người ta rán bánh rán và quẩy nhiều lần trong một chảo dầu mỡ, cho đến khi chảo dầu cặn này đen kịt lại, thì mới bán rẻ cho nhân viên. Nhà tôi thường dùng mỡ dầu đen đó vừa xào rán vừa thắp đèn lúc mất điện, đến giờ mà không bị ung thư thì phải nói là trời thương. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 4: Trích “Phân phối và Đồng lương” Thứ Hai, 26/05/2014).

Sydney ngày 16 tháng 3 năm 2024

 

Bài 77: NẾU BẠN CƯỚI VỢ ĐƯỢC MUA: 2 TÚT THUỐC LÁ, 4 BAO CHÈ, 4 CÂN BÁNH KẸO, 1 BỘ CHĂN MÀN …: PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI.

Những năm đầu hòa bình, từ 1955, Nhà nước hoàn toàn nắm độc quyền về sản xuất và phân phối hàng hóa, cho nên hầu như không có hàng hóa nào không thuộc về Nhà nước. Những tư nhân và các hợp tác xã nhỏ lẻ nếu có sản xuất gì đó cũng phải bán cho quốc doanh, từ đó quốc doanh sẽ phân phối lại cho người tiêu dùng, không ai được phép tự bán hàng hóa do mình sản xuất. Trong đời sống hàng ngày các mặt hàng như: xe đạp, áo quần, chăn màn, quạt máy, xô chậu, nồi niêu, phích nước, ấm chén… được coi là những đồ dùng tối thiểu nên được phân phối tùy theo cơ quan và dân sự theo lối phân hàng hàng năm, hàng quý, hàng tháng. 

Nhà cửa là chương trình lâu dài, cả đời người vài chục năm đi làm mới mong được phân nhà, nhưng xe đạp thì hàng năm được xét cấp, ít nhất mỗi gia đình cán bộ phải được mua từ một đến hai chiếc - đó là phương tiện di chuyển duy nhất của cả nhà trong chiến tranh. Nếu bạn lấy vợ thì sẽ được mua hai tút thuốc lá, bốn bao chè, bốn cân bánh kẹo, một bộ chăn màn và gường chiếu, một cái phích, một cái chậu và một cái mâm. Giải cờ tướng các làng hàng năm hội lễ phần thưởng cao nhất cũng là một cái phích nước. Nồi niêu xô chậu quạt phân phối hàng tháng từ các cơ quan, người ta tiến hành bắt thăm lần lượt. Ai mua tháng này thì thôi tháng sau. Những người mới lập gia đình, mới sinh con được ưu tiên mua trước. 

Tất cả các mặt hàng phân phối đều có thể mua được ở chợ đen với giá cao hơn. Lúc đó, theo nguyên tắc mọi hàng sản xuất đều ưu tiên cho Nhà nước thu mua trước, nhưng giá thu mua thường không hợp lý so với giá thành sản xuất, thậm chí còn thấp hơn sự đầu tư. Ví dụ chúng tôi trồng một ruộng rau muống, hàng ngày thu hoạch phải bán cho bộ đội giá năm xu một cân, trong khi mua giống và tắm tưới hàng ngày tốn gấp đôi số tiền đó. Nhiều ngành sản xuất phá sản dần, nông dân không chăn nuôi, trồng hoa màu nữa, thợ thủ công bỏ hợp tác xã. Bắt đầu có hiện tượng các hợp tác xã và tư nhân sản xuất một số hàng cho Nhà nước thu mua còn phần nhiều tuồn ra chợ đen. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 6: Trích “Hàng phân phối và chợ đen” Thứ Bảy, 07/06/2014).

Chợ đen không phải là một cái chợ theo đúng nghĩa, mà là cách phân mua bán hàng hóa chui cố gắng tránh sự kiểm soát của Nhà nước. Nó diễn ra đủ mọi nơi, mọi thời điểm, thậm chí ngay cả những người quản lý thị trường cũng không phải không có lúc dùng hàng chợ đen. Một nhà nuôi con lợn sẽ lẳng lặng giết thịt sao cho lợn không kêu, những người gần đó cũng lẳng lặng đến mua từng gói nhỏ một vài người một. Cả con lợn bị phân tán lặng lẽ như chưa từng được nuôi. Đó là chợ đen, những hình thức mua bán chuyền tay phát triển hơn bao giờ hết thời hậu chiến tạo thành một mạng lưới dân gian sôi nổi không kém gì thời hoạt động bí mật. 

Ở nông thôn, do hầu hết các mặt hàng thiết yếu không được cung cấp như thành thị, người ta có xu hướng tự cung tự cấp trở lại. Những bà già dựng lại khung cửi, thợ mộc, thợ nề, và thợ thủ công nói chung âm thầm hoạt động nghề trở lại sau thời kỳ hợp tác xã không thành công. Các chợ phiên ở nông thôn sau năm 1965 có thể nói vẫn hoạt động bình thường, rau quả củ, lợn gà, đồ mây tre đan, vải mộc, chút gạo thóc, nhất là khi những người thành thị về nông thôn sơ tán chiến tranh phá hoại không thể không cần đến chợ phiên. Ngày nào cũng có cuộc giằng xé giữa những anh quản lý thị trường và mấy bà già buôn thúng bán mẹt, đôi khi rổ rá quăng quật lung tung, rau cỏ ném bừa bãi, nhưng rồi chợ vẫn họp, rồi lại đùng một cái máy bay ném bom, tất cả quăng thúng mẹt thoát thân. 

Lời lãi ở chợ phiên nông thôn rất thấp, có mất cả gánh hàng cũng chỉ là vài đồng bạc. Mớ rau, nải chuối, gói kẹo bột, rổ tép riu… nhưng cũng là đồng quà tấm bánh cho phong tục sống của người Việt. Từ sau năm 1973, ngày càng có nhiều thương binh,bộ đội giải ngũ, việc đầu tiên của họ là củng cố lại kinh tế gia đình. Chủ nghĩa công thần bắt đầu nổi lên và những thương binh, bộ đội dùng ảnh hưởng của mình trong việc buôn bán giằng co với thương nghiệp. Họ họp thành từng đoàn, thậm chí có cả đoàn thương binh hỏng mắt nắm ba lô nhau đi buôn gạo, quế, thuốc lá, chè, rượu…cảnh tượng không khỏi khiến người ta rơi nước mắt huống chi còn bắt hàng. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 7: Trích “Chợ đen” Thứ Bảy, 14/06/2014).

Sydney ngày 17 tháng 3 năm 2024

 

Bài 78: THAM ĂN VÀ HAM CHUYỆN TÌNH DỤC LÀ HAI CÁI ĐÓI VÔ CÙNG SAU MẤY CHỤC NĂM  NĂM BỊ DỒN NÉN PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI.

Đời sống của người dân suốt thời chiến tranh và bao cấp là vô cùng khó khăn, đó là điều không ai không nhận thấy, nhưng có nhiều điều ngoài sức tưởng tượng và cái chính là nó ảnh hưởng đến tâm tư con người cho đến tận bây giờ, ngay cả những người thời đó còn là trẻ con hay chưa sinh. Điển hình nhất là hai tính cách tham ăn và ham chuyện tình dục - hai cái đói vô cùng của thời bao cấp, khiến ngày nay hình như người ta hối hả bù đắp, một sự phản chiều tâm lý, hơn 40 năm bị dồn nén, nếu tính từ năm 1945 - 1985. 

Khi những ngôi nhà riêng bị chia cho nhiều gia đình, mỗi gia đình theo tiêu chuẩn 4 m2/người trở nên quá chật chội. Rồi mỗi gia đình tự nở ra thành hai, ba, bốn gia đình, khi đàn con lớn lên và lấy vợ, lấy chồng, nhưng tất cả vẫn sinh hoạt trong một diện tích cũ. Buổi tối nhìn vào một căn nhà, thực chất chỉ là một căn phòng người ta có cảm giác như một doanh trại quân đội dã chiến, nó được ngăn nhỏ ra bằng các tấm Ri-đô (màn quây), mỗi một khoang ri-đô là một đôi vợ chồng. Sáng ra tất cả Ri-đô được kéo gọn và căn phòng trở nên công cộng như cũ. Vài cái giường không đủ cho tất cả, còn lại nằm đất, đám thanh niên chưa vợ, tụ tập kéo nhau ra đường ngủ, vỉa hè, hoặc các con ngõ, hoặc chui lên các gác thượng, chưa bị lấn chiếm. 

Đời sống tính dục phải rất tế nhị, hoặc hầu như không có, nhiều người nói rằng: Đó là thời không có tình dục. Không ai trông thấy bạn đời của mình ra làm sao, ngoài khuôn mặt. Bạn tôi mãi đến khi được phân căn hộ tập thể riêng mới thốt lên rằng: Bây giờ (sau 15 năm cưới) tôi mới biết chân vợ mình cực đẹp. Sau đó anh chết sớm vì ung thư, chúng tôi thường đùa rằng vì ông ấy ngắm chân đẹp nhiều quá nên chết sớm. Ở Hà Nội lúc đó, việc phân chia các gia đình trở nên quá phức tạp. Cái bếp chung của xóm ngõ không đủ cho vài chục gia đình, thậm chí có những căn nhà với nhiều hộ khác nhau, lên đến 70 gia đình nhỏ. Kết cục là từ hàng chục đến 70 cái bếp dầu, lò than cùng hun khói một lúc vào giờ nấu ăn. 

Nan giải nhất trong mỗi căn nhà có nhiều hộ là khu vệ sinh chung và nước sinh hoạt. Thời bao cấp mỗi lần phải đi vệ sinh giống như bị đi tra tấn, mùi hôi thối còn bám vào người và quần áo rất lâu, khiến có người chế riêng một bộ (áo mưa) để đi vệ sinh. Từ năm 1967, nước sinh hoạt trong thành phố luôn thiếu, do nguồn cung cấp điện không thường xuyên. Mất điện và mất nước đi đôi với nhau. Ngay cả khi có nước thì nước cũng không chảy được vào trong từng gia đình. Ở các thành phố giếng thường không được tốt lắm, do nguồn nước ngầm bị ô nhiễm lâu đời, nên nước sinh hoạt là vấn đề rất căng thẳng.

Thời đó, chúng tôi thường giặt giũ từ 1 đến 3 giờ sáng, và cũng bơm nước vào bể chung vào quãng thời gian đó, nhưng phải ngồi suốt đêm canh máy bơm, nếu không mất ngay. Những cuộc “chiến tranh nước" xảy ra thường xuyên trong các khu tập thể, nhất là những nhà ở tầng cao thì càng khó khăn có được nước sinh hoạt. Trong nhà luôn có chum, vại, xô chậu tích đầy nước. Người ta tranh thủ đến cơ quan tắm giặt, đi vệ sinh, thay vì làm việc đó ở nhà. (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng, Bài 16: Trích “Ri-đô và tương cà mắm muối” Chủ nhật, 17/08/2014).

Sydney ngày 18 tháng 3 năm 2025

 

Bài 79: SỞ HỮU TẬP THỂ, SINH HOẠT TẬP THỂ LÀ 2 NÉT ĐẶT TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI: ĐI ĐÂU, LÀM GÌ, ĂN GÌ … ĐỀU CÓ TỔ TAM TAM TỰ GIÁM SÁT … PHAN CẨM THƯỜNG GHI LẠI.

Cùng với sự xóa bỏ tư hữu cá nhân, độc tôn sở hữu tập thể, sinh hoạt tập thể là một nét đặc trưng trong lý tưởng Chủ nghĩa Xã hội. Mọi việc đều thống nhất trong sinh hoạt Đảng và tập thể quần chúng nói chung. Nhỏ nhất là mô hình tổ ba người - còn gọi là tổ tam tam - có lẽ theo lối của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, nghĩa là đi đâu, làm gì, thậm chí ăn gì chơi gì, cũng có ba người và ba người này tự giám sát nhau, sau đó kiểm điểm và báo cáo lên cấp trên. Về sau, chúng tôi không còn thấy sinh hoạt tổ ba người nữa, mà thay vào đó là sinh hoạt tổ đội, có thể là 10 người, hoặc ít nhiều hơn tùy thuộc vào biên chế cơ quan hay cách thức tổ chức cụ thể.

Từ nhỏ, thiếu nhi được vào Đội thiếu niên nhi đồng, đeo khăn quàng đỏ và phù hiệu, cùng huy hiệu Đội. Huy hiệu Đội có hình tượng búp măng non trên nền cờ đỏ, sao vàng còn huy hiệu Đoàn do họa sĩ Tôn Đức Lượng thiết kế có bàn tay phất lá cờ đỏ sao vàng trên nền xanh. Phù hiệu thì màu trắng, gạch đỏ, đeo ở vai có ba gạch là liên đội trưởng, hai gạch là đội trưởng, còn một gạch là phân đội trưởng. Liên đội trưởng đứng đầu toàn khối thiếu niên thiếu nhi trong trường cấp hai và cấp một, đội  trưởng thì tính theo đơn vị lớp, phân đội là đơn vị tổ. Họ được tập đi hành quân như bộ đội, có đội trống chỉ huy tập riêng. 

Vào ngày 2/9 - Tết độc lập, mùng 1/5 - Ngày Quốc tế Lao động, rằm Trung thu, ngày thành lập Đoàn - Đội 26/3, những đội thiếu niên nhi đồng hàng trăm em mặc quần xanh, áo trắng, đeo khăn quàng đỏ đánh trống diễu hành vang trời. Ở Trung Quốc, thời Cách mạng Văn hóa, đám trẻ con này được tổ chức thành Hồng tiểu binh cũng tham gia đập phá, dẫn đám cán bộ bị chụp mũ đi rong ngoài đường. Học sinh cấp ba, lớn hơn, vào mùa Hè phải xuống các khối phố, nông thôn làm anh phụ trách Đội, sau Hè nếu không có giấy chứng nhận làm phụ trách họ sẽ khó được vào Đoàn. 

Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là một trong những lực lượng tập thể mạnh nhất thời chiến tranh và bao cấp ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thanh thiếu niên từ 14 tuổi đến 25 tuổi được coi là tuổi vào Đoàn. Họ hàng tuần, hàng tháng phải sinh hoạt tập thể, kiểm điểm, thi đấu thể thao, làm báo tường, đi lao động XNCN, từ lực lượng này có thể tham gia trực tiếp vào quân đội. Tất cả những ai không vào Đoàn đều không được vào trường đại học, đó là nguyên tắc. 

Trong nhân dân, thì ở thành phố chỉ có hình thức sinh hoạt duy nhất là họp tổ dân phố, còn gọi là các khối phố. Khối phố có trưởng khổi, phó trưởng khối và cũng thường là đảng viên, họ có trách nhiệm phố biến nghị quyết của Đảng và Chính phủ, đọc báo Nhân dân và Quân đội hàng tuần cho bà con nghe, tổ chức kiểm điểm thanh niên trộm cắp và vi phạm nếp sống văn minh.  Ở nông thôn, có Hợp tác xã, là một tổ chức tập thể chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp. Hàng tuần, thậm chí hàng tối, đều tổ chức họp hợp tác xã tại đình làng, hay một nhà dân nào đó. 

Đầu tiên là đọc báo Nhân dân, phổ biến tin miền Nam chiến thắng, tình hình quốc tế, sau đó kiểm điểm sản xuất, phân công lao động từng đội đến từng cánh đồng nào đó, phân phối giống, phân và trâu cày, chia thịt lợn vào dịp Tết và đón khách trung ương. Việc ăn tập thể ở hợp tác xã chỉ vào dịp lễ Tết. Trong các cơ quan còn nhiều hình thức sinh hoạt tập thể hơn. Họp Công đoàn, họp toàn thể đại hội công nhân viên, họp Đảng, họp Đoàn thanh niên, họp Chi hội phụ nữ, và tất nhiên là họp Giao ban việc cơ quan chỉ định vào sáng thứ Hai. 

Tất cả các cuộc họp này nội dung đều giống nhau, tức là nghị quyết sẽ được nhắc lại tới năm bảy lần, cuối cùng là bình bầu người tốt việc tốt, lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, còn bầu anh hùng lao động thì là việc hy hữu có tính chất quốc gia rồi. Những sinh hoạt tập thể này đã tạo ra xã hội Việt Nam trong hơn 50 năm từ năm 1945 đến sau đó. Và dư âm của nó có lẽ còn rất lâu mới phai nhạt. Con người thời XHCN có lẽ rất cô đơn, rời tập thể ra nó chẳng còn ý nghĩa gì? (Thethaovanhoa.vn. Phan Cẩm Thượng Bài 17: Trích “Sinh hoạt tập thể” Chủ nhật, 31/08/2014).

Sydney ngày 19 tháng 3 năm 2024

 

TỔ CHỨC NĂM

 

 

Bài 80: CỘNG SẢN MIỀN NAM, TỔ CHỨC MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM 1960: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM. 

Tại miền Nam, Theo Hiệp định Genève, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến Đông Dương (1945-1955) sẽ rút khỏi lãnh thổ của phía bên kia. Lực lượng chính quy của  Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam phải di chuyển về phía Bắc vĩ  tuyến 17, lực lượng bán vũ trang và chính trị được bố trí ở lại. Theo ước tính của Mỹ, vẫn còn 100.000 cán bộ, đảng viên các ngành vẫn được bố trí ở lại. Việt Minh cũng chôn giấu một số vũ khí và đạn dược tốt để sử dụng khi cần. Từ tháng 6 năm 1955, Việt Nam Cộng hoà mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu càn quét những khu từng là căn cứ kháng chiến chống Pháp của Việt Minh. Chính phủ tiến hành các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, cưỡng ép họ từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. 

Tháng 12 năm 1956, Xứ uỷ Nam Bộ mở Hội nghị Phnompenh, Campuchia. Hội nghị ra quyết định "Con đường tiến lên của Cách mạng miền Nam là phải dùng bạo lực, tổng khởi nghĩa giành chính quyền... Hiện nay, trong chừng mực nào đó phải có lực lượng vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tới sau này dùng nó đánh đổ Mỹ Diệm... cần tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập đội vũ trang bí mật, tranh thủ vận động cải tạo lực lượng giáo phái bị Mỹ Diệm đánh tan, đứng vào hàng ngũ nhân dân, lợi dụng danh nghĩa giáo phái ly khai để diệt ác ôn.

Chính quyền Việt Nam Cộng hoà đẩy mạnh các hoạt động chống Cộng, với những biện pháp càn quét khốc liệt khiến những người cộng sản bị thiệt hại nặng. Đến cuối năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo cho các Liên tỉnh ủy không được hoạt động vũ trang, cán bộ đảng viên tạm ngừng hoạt động hoặc đổi địa bàn hoạt động để giữ gìn lực lượng. Những người đổi địa bàn hoạt động bị bắt hơn phân nửa, một số khác mất tinh thần, bỏ công tác, lo làm ăn. Số còn hoạt động nhiều người bị mất tinh thần, giảm liên hệ với quần chúng, giảm hoạt động tuyên truyền. Ngày 13 tháng 1 năm 1959, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 15 ra Nghị quyết 15, chính thức phát động đấu tranh vũ trang kèm đấu tranh chính trị. 

Tháng 2 năm 1959, sau khi nhận được thông báo nội dung cơ bản Nghị quyết 15, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo các tỉnh tăng cường hoạt động vũ trang, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở nông thôn. Ngày 6 tháng 5 năm 1959, Quốc hội Việt Nam Cộng hoà thông qua luật số 91 mang tên Luật 10-59, tổ chức các Tòa án quân sự đặc biệt "xét xử các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa". Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đẩy mạnh truy quét, bắt bớ, khủng bố, nên lực lượng cộng sản bị thiệt hại hết sức nặng nề. Hàng chục đơn vị vũ trang đầu tiên ở miền Nam trong những năm 1956-1959 có quân số thất thường, nơi nào cũng có hiện tượng "đào súng lên" rồi lại phải cất giấu súng… Các đoàn cán bộ từ miền Bắc, phần nhiều từng tập kết ra Bắc năm 1955 bắt đầu được cử vào để chi viện, tăng cường cho miền Nam. 

Năm 1960, Đại hội đảng thứ 3 nhóm họp từ 5 đến 10/9/1960 tại Hà Nội đã bầu ông Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất. Lê Duẩn là người chủ trương đấu tranh bằng vũ trang với mọi hy sinh để "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội". Ngay lập tức chiến trường miền Nam có sự đột biến. Phía Cộng sản phát động ngay một đợt tiến công quy mô, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong đó chính trị vẫn đóng vai trò chủ đạo. Họ phát động nông dân ở nông thôn nổi dậy giành chính quyền, phá Ấp chiến lược, lùng bắt và thủ tiêu các nhân viên chính quyền tại địa bàn. 

Các hoạt động nổi dậy này được phối hợp nhịp nhàng cùng lúc với việc thành lập lực lượng vũ trang. Họ đánh hoặc bao vây các vị trí quân sự để không cho quân chính phủ kéo về can thiệp và đồng thời, họ phát động dân chúng biểu tình. Nếu thấy đối phương yếu thế thì biểu tình phát triển thành nổi dậy cướp chính quyền. Nếu chưa thể thì đưa ra các yêu sách quấy rối làm tê liệt chính quyền. Nếu chính phủ điều quân tới thì những người biểu tình bao vây lấy quân đội bắt đầu binh vận ngay tại chỗ. Phương cách này được phía Cộng sản đúc kết thành phương châm "Ba mũi giáp công" quân sự, chính trị, binh vận. 

Phong trào có tên là Đồng Khởi và bắt đầu được thí điểm tại tỉnh Bến Tre. Khi thấy chính phủ Ngô Đình Diệm lúng túng trong việc lập lại trật tự, thì các vùng khác cũng theo nhau đồng khởi. Đến cuối năm 1960 một phần đáng kể của nông thôn miền Nam đã thành vùng do Cộng sản kiểm soát. Cứ như thế, địa bàn vùng giải phóng tiếp tục mở rộng. Để cho cuộc chiến đấu có chính danh, ngày 20 tháng 12 năm 1960, Cộng sản miền Nam thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMN) gồm nhiều đại diện các thành phần tôn giáo, tầng lớp xã hội, dân tộc khác nhau ở miền Nam Việt Nam. 

Ngày 15/2/1961, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam chính thức thành lập Quân Giải phóng. Mùa hè 1962, Trung Cộng gửi cho Bắc Việt Nam súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn. Trung Cộng cũng đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt Nam nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Ước chừng ban đầu có khoảng 30 ngàn thanh thiếu niên đã gia nhập lực lượng Quân Giải phóng. Trong 5 năm (1961-1965), một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc men,... được chuyển vào chiến trường miền Nam. Ngày càng có nhiều đơn vị vũ trang, nhiều cán bộ quân sự, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế được huấn luyện đưa vào chiến trường tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng vùng giải phóng. 

Tướng Mỹ, Maxwell D. Taylor được phái sang Việt Nam đánh giá tình hình. Kế hoạch Staley-Taylor được soạn thảo và đem thi hành để chống lại chiến tranh du kích, bình định miền Nam trong vòng 18 tháng. Kế hoạch Staley-Taylor, hay còn gọi là “kế hoạch chiến tranh đặt biệt" có công thức tổng quát là: Quân đội Việt Nam Cộng hoà + Cố vấn Mỹ + Vũ khí Mỹ + Viện trợ kinh tế Mỹ. Mỹ tăng cường sức mạnh cho quân đội Việt Nam Cộng hoà (QĐVNCH) bằng cách tăng quân số, cung cấp xe thiết giáp và máy bay, nhất là trực thăng, đưa cố vấn quân sự Mỹ xuống đến đơn vị chiến đấu, để giúp các sĩ quan Việt Nam Cộng hoà vạch kế hoạch hành quân và chỉ huy chiến đấu. 

Chiến thuật của quân đội Việt Nam Cộng hoà là trực thăng vận và thiết xa vận: khi phát hiện các đơn vị của địch lập tức dùng trực thăng đổ quân bao vây chặt lấy, sau đó gọi thiết giáp đến đánh giải quyết chiến trường, gọi là chiến thuật "tung lưới-phóng lao". Trong thời gian đầu chiến tranh đặc biệt đã phát huy tác dụng khá tốt, tình hình quân sự được ổn định, quân đội Giải Phóng bị chiến thuật cơ động nhanh "tung lưới-phóng lao" làm thương vong lớn, họ phải chuyển hoạt động ra xa, hành quân và đánh đêm là chính. Dù vậy, nhờ có hàng ngàn thanh thiếu niên gia nhập, nên Quân Giải phóng chẳng những được bổ sung quân số kịp thời mà còn giúp Quân Giải phóng phát triển khá thuận lợi. 

Lực lượng quân sự ở các huyện sẽ được chọn lọc, huấn luyện và trang bị thành các Tiểu đoàn cấp tỉnh. Từ các tiểu đoàn cấp tỉnh, sẽ hình thành đơn vị cấp Trung đoàn đóng ở quân khu. Tuy nhiên qua các trận đánh, những đơn vị chính quy có thương vong tăng cao. Cuối giai đoạn chiến tranh đặc biệt, việc lấy quân tại miền Nam không còn đủ số lượng để bổ sung cho tổn thất, thế là, các đơn vị miền Bắc theo đường Trường Sơn bắt đầu hành quân chi viện cho chiến trường miền Nam. Tuy nhiên, lúc nầy trên chiến trường miền Nam các hoạt động tác chiến chủ yếu vẫn là Quân Giải phóng, còn các đơn vị từ Bắc vào chỉ đứng chân vòng ngoài tại tuyến đường Trường Sơn, Tây Nguyên.

Sau gần hai năm kinh nghiệm chiến đấu Quân Giải phóng (QGP) đã biết cách xử lý các nhược điểm của chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của quân đội Việt Nam Cộng hoà. Ngày 2/1/1963 tại tỉnh Tiền Giang đã xảy ra trận Ấp Bắc và quân đội Việt Nam Cộng hoà đã thất bại nặng. Sau trận đánh này, cho thấy rằng QGP không còn là các nhóm quân nhỏ bất lực trước trực thăng vận, thiết xa vận nữa mà họ đã lớn mạnh đủ để đánh bại quân cơ động của đối phương. Trong các năm 1963 và 1964 QGP thắng thế tiến công trên toàn chiến trường. Tháng 12 năm 1964, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Cộng thăm Hà Nội và ký Hiệp ước Hữu nghị hợp tác quân sự Việt – Trung. Cuối tháng 12/1964, QGP tiến hành chiến dịch Bình Giã tại tỉnh Bà Rịa. 

Sydney ngày 20 tháng 3 năm 2024

 (Hết Chương 5 gồm 17 bài: 64– 80).


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương VI: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 3 CHÍNH QUYỀN VÀ 3 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1965-1967.

25 bài viết, 101 trang và 73.333 chữ).

 

Bốn chính quyền và một tổ chức từ 1965 đến 1967: (1) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và chính phủ Phạm Văn Đồng tại Bắc Việt Nam; Cộng sản miền Nam và Tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. (2) Chính quyền Quân quản Việt Nam Cộng hoà và chính phủ Nguyễn Cao Kỳ; (3) Chính quyền Đệ nhị Việt Nam Cộng Hoà và chính phủ Nguyễn Văn Lộc tại Nam Việt Nam. 

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

Bài 81: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1965-1967.

Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phải đối phó với chiến tranh trên không rất ác liệt của Không quân và Hải quân Mỹ. Đầu tiên là chiến dịch Mũi Tên Xuyên  (Pierce Arrow) ngày 5 tháng 8 năm 1964 gọi là trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ, do máy bay của Hải quân Mỹ thực hiện, đánh phá các căn cứ hải quân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Lạch Trường, Hòn Gai. Tiếp đến là chiến dịch Sấm Rền đầu năm 1965 đánh phá các tỉnh từ Thanh Hoá trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt Nam. Chiến tranh không quân nhắm vào hệ thống đường sá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự. 

Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị đánh. Bị đánh phá nặng nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tỉnh, Quảng Bình là cuống họng tiếp tế vào Nam và tại khu vực giáp sông Bến Hải  Vĩnh Linh - nơi dân chúng phải sống trong địa đạo. Lực lượng phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể đua tranh với Không quân và Hải quân Mỹ, nên dồn sức bảo vệ các mục tiêu rất quan trọng như Hà Nội, Hải Phòng, các thành phố lớn, các điểm giao thông quan trọng và các nơi máy bay địch hay qua lại nhiều. Những nơi còn lại được phân cho các lực lượng dân quân tự vệ trang bị pháo và súng máy phòng không đảm trách. 

Đến năm 1965, lực lượng phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Bắc có một số trang bị khá hiện đại do Liên Xô cung cấp, gồm nhiều trung đoàn pháo phòng không các tầm cỡ, hệ thống radar cảnh giới và dẫn đường cho không quân, hệ thống tên lửa phòng không và không quân tiêm kích. Các lực lượng phòng không không quân này đã chiến đấu khá sáng tạo, vô hiệu hóa được ưu thế công nghệ của đối phương, chống trả quyết liệt và gây thiệt hại đáng kể cho Không quân và Hải quân Mỹ.

Ngay sau khi quân đội Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, tình hình chiến sự thay đổi có lợi cho phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Quân Giải phóng miền Nam bị đẩy lui vào thế phòng thủ, bị không quân và kỵ binh bay của Mỹ truy tìm ráo riết. Các đơn vị lớn phải rời bỏ vùng đồng bằng trống trải để lui về miền nông thôn hoặc núi rừng. Ở đồng bằng, họ chỉ để lại các đơn vị nhỏ và phát động chiến tranh nhân dân đánh du kích. 

Ngày 18 tháng 8 năm 1965 có trận đánh quy mô đầu tiên giữa quân đội Mỹ và Trung đoàn chính quy Ba Gia, tại thôn Vạn Tường, tỉnh Quảng Ngãi. Trận đánh kết thúc đêm 18 rạng ngày 19/8/1965 khi Trung đoàn Ba Gia đã rút được ra khỏi vòng vây, với thương vong lớn, Đại đội trinh sát bị tổn thất hầu hết quân số. Tháng 11 năm 1965 đã xảy ra một trận ác liệt khác tại vùng thung lũng sông Ia Drang gần biên giới Campuchia thuộc tỉnh Kontum. Hai trung đoàn chính quy Quân Giải phóng miền Nam và một lữ đoàn thuộc Sư đoàn I Kỵ binh bay của Mỹ đã dàn quân đánh nhau để thử sức. 

Sau trận này, quân Giải phóng đã tìm ra cách hạn chế ưu thế quân sự áp đảo của Mỹ, Phía Mỹ có ưu thế là hỏa lực cực mạnh và trang bị rất nhiều vũ khí hiện đại. Đặc biệt, quân Mỹ có yểm trợ không quân rất mạnh mà vũ khí khủng khiếp nhất của họ là máy bay B52, bom Napalm, và trực thăng vũ trang. Quân Giải phóng miền Nam bỏ tham vọng đánh tiêu diệt các đơn vị Mỹ cấp trung đoàn, họ tránh đánh những trận dàn quân đối đầu trực tiếp mà chỉ áp dụng chiến thuật đánh tập kích. 

Quân của họ luôn bám sát những toán quân Mỹ nhưng không giao chiến, chỉ khi đối phương dựng trại hoặc sơ hở thì họ tập kích hoặc phục kích, đánh xong thì nhanh chóng rời chiến trường trước khi pháo binh và máy bay địch kịp đáp trả. Một khi xung phong thì luôn áp sát đánh gần, dùng lối cận chiến "Nắm thắt lưng địch mà đánh" để không cho đối phương sử dụng pháo binh và không quân. Dù rất hiện đại nhưng quân đội Mỹ không quen chiến đấu trong địa hình rừng núi quen thuộc của đối phương và vũ khí của họ cũng không phát huy hết tác dụng khi bị đối phương dùng lối đánh áp sát cận chiến.

Quân Mỹ và đồng minh mở các "chiến dịch tìm diệt" để truy lùng và tiêu diệt các đơn vị quân Giải phóng, nhưng chẳng thấy đối phương đâu trong khi bất cứ lúc nào họ cũng có thể bị tấn công. Lực lượng du kích quân Giải phóng cũng mở rộng tầm tấn công, không những với mục tiêu quân sự mà còn tấn công vào cơ cấu tổ chức hành chính địa phương của Việt Nam Cộng hòa bằng việc thuyết phục, đe dọa, đôi khi là ám sát những viên chức hành chính, sĩ quan quân đội và chỉ điểm viên chuyên lùng bắt du kích. 

Chủ trương này ngoài hiệu quả triệt hạ nguồn nhân sự điều hành chính quyền địa phương mà còn tác động đến tâm lý đại chúng ở Miền Nam. Họ còn sử dụng lực lượng biệt động hoạt động tại các thành phố lớn chuyên ném lựu đạn vào quân Mỹ tại nơi công cộng, ám sát các chính trị gia của Việt Nam Cộng hòa và tấn công gây thương vong các sĩ quan, quan chức Mỹ và Việt Nam Cộng hòa để tạo tiếng vang. 

Sydney ngày 21 tháng 3 năm 2024

 

Bài 82: PHONG TRÀO THANH NIÊN 3 SẴN SÀNG  SÀNG, 5 TRIỆU LƯỢT NGƯỜI THAM GIA, VÀ 1,5 TRIỆU NGƯỜI CON ƯU TÚ ĐÃ NGÃ XUỐNG.

Lúc này, tại miền Bắc dấy lên Phong trào Thanh niên 3 Sẵn sàng. Đêm 7/8/1964, tại phòng họp của cơ quan Thành đoàn Hà Nội - Số 43 Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội đã họp bất thường và quyết định phát động Phong trào “Ba sẵn sàng” với các nội dung: Sẵn sàng chiến đấu; sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang; sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội, hàng vạn thanh niên Thủ đô đã xuống đường diễu hành trên phố Hai Bà Trưng, vòng quanh Hồ Hoàn Kiếm và tụ họp tại Quảng trường Nhà hát Lớn lên án hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ, ghi tên tình nguyện “Ba sẵn sàng” và xung phong ra trận. 

Đêm 09/8/1964 hàng ngàn thanh niên Hà Nội đã xung phong ra trận; nhiều khẩu hiệu xuất hiện trên đường phố: “Đâu có giặc là ta cứ đi”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”... Cả Hà Nội như rực lửa, tòng quân, đi TNXP trở thành nguyện vọng thiết tha của tuổi trẻ Thủ đô và trên mọi miền đất nước lúc bấy giờ. Đó là những ngày mà thanh niên Hà Nội không ai muốn ngủ, không ai muốn đứng ngoài, ai cũng thiết tha muốn được góp sức mình cho đất nước. Những chàng trai, cô gái của Thủ đô dường như chỉ nghĩ duy nhất một việc: Xung phong ra trận, đánh đuổi giặc Mỹ, tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

Hình ảnh hàng ngàn chàng trai, cô gái Hà Nội hào hoa, duyên dáng giữa phơi phới tuổi xuân nửa đêm lên đường xuất quân tại Quảng trường Ngân hàng Trung ương, Quảng trường Nhà hát Lớn rực ánh lửa, âm vang tiếng cồng chiêng; tiếng những thanh niên dõng dạc đọc lời thề “Ba sẵn sàng” trong buổi tiễn đưa những chàng trai, cô gái Hà thành vào Nam chiến đấu, “chia lửa với miền Nam ruột thịt”, tiễn đưa các đội TNXP chống Mỹ cứu nước... là dấu ấn không thể xóa nhòa của tuổi trẻ Hà Nội trong một giai đoạn lịch sử rất đỗi vẻ vang, oanh liệt. 

Từ đất thiêng Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, phong trào “Ba sẵn sàng” đã nhanh chóng lan rộng ra cả nước và trở thành cao trào cách mạng của tuổi trẻ. Thậm chí, phong trào nhanh chóng vượt qua khỏi biên giới, nhiều thanh niên Việt Nam du học ở nước ngoài đã viết đơn xin về nước chiến đấu nếu Tổ quốc cần. Hàng trăm người chấp nhận tạm dừng việc học, kể cả ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh, nóng lòng mong được ra trận cầm súng chiến đấu. Đó là khao khát, là lý tưởng, là lẽ sống và danh dự của lớp thanh niên “Ba sẵn sàng”. 

Từ thực tế đó, tháng 3/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã chính thức kêu gọi thanh niên cả nước hưởng ứng phong trào “Ba sẵn sàng”, với những nội dung được bổ sung và nâng cao. Lúc này, nhiệm vụ trung tâm của cả nước là tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ, vì vậy “Ba sẵn sàng” gồm cả chiến đấu, sản xuất, học tập, xây dựng cuộc sống. Hơn 26.000 đoàn viên thanh niên Thủ đô và hàng triệu thanh niên miền Bắc nhập ngũ. Phong trào đã khơi dậy và cổ vũ lớp lớp thanh niên miền Bắc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, gợi mở Phong trào “Phụ nữ ba đảm đang” và phong trào “Năm xung phong” của tuổi trẻ miền Nam. 

Kể từ đó, “Ba sẵn sàng” đã trở thành một trong những phong trào hành động cách mạng lớn nhất của tuổi trẻ Thủ đô và tuổi trẻ Việt Nam trong thế kỷ XX, tạo nên một đội quân tình nguyện đông đảo nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Hơn 5 triệu lượt đoàn viên thanh niên tham gia, trong đó gần 1,5 triệu người con ưu tú đã ngã xuống, hiện yên nghỉ tại 265 nghĩa trang dọc chiều dài đất nước; hàng vạn thanh niên đã để lại một phần xương máu của mình nơi chiến trường khốc liệt. (Trích Ba sẵn sàng – Bản hùng ca bất diệt. Trang Thông tin Điện tử, Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố Hà Nội, 16:15 07/08/2019)

Sydney ngày 22 tháng 3 năm 2024

 

Bài 83: PHONG TRÀO PHỤ NỮ BA ĐẢM ĐANG “SỐNG BÁM CẦU ĐƯỜNG, CHẾT KIÊN CƯỜNG DŨNG CẢM” TIÊU BIỂU LÀ TIỂU ĐỘI NỮ ANH HÙNG 10 CÔ GÁI… TẠI NGÃ BA ĐỒNG LỘC.

Trước bối cảnh lịch sử đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động Phong trào "Ba đảm nhiệm" trong phụ nữ miền Bắc. Ngày 23-3-1965, chỉ thị số 3 của Hội nêu rõ ba nội dung của Phong trào là: (1) Đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho nam giới đi chiến đấu. (2) Đảm nhiệm gia đình khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu. (3) Đảm nhiệm phục vụ chiến đấu khi cần thiết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa tên "Ba đảm nhiệm" thành "Ba đảm đang". Với cái tên độc đáo đó, phong trào càng có thêm sức mạnh cuốn hút phụ nữ tham gia. Chỉ sau hơn một tháng phát động đã có 1.750.000 phụ nữ đạt "Ba đảm đang" xuất sắc. 

Phong trào phụ nữ "Ba đảm đang" kết hợp chặt chẽ với cuộc vận động thanh niên "Ba sẵn sàng", vững vàng đi lên thành cao trào cách mạng sôi nổi, liên tục, phát huy hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Phụ nữ nông dân "Ba đảm đang" dũng cảm tiễn đưa chồng con đi chiến đấu, đồng thời phấn đấu sản xuất giỏi, ổn định kinh tế gia đình, nuôi dạy con ngoan, học hành tiến bộ; chăm sóc chu đáo cha mẹ già yếu; đoàn kết gắn bó với tập thể, xóm làng. Bảo đảm sự ổn định, vững vàng của hậu phương lớn miền bắc, hỗ trợ đắc lực miền nam tiền tuyến lớn. Khẩu hiệu "Gạo không thiếu một cân, quân không thiếu một người vì miền nam ruột thịt" là lời hứa danh dự thiêng liêng của phụ nữ "Ba đảm đang” miền bắc. 

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, hơn 70% số phụ nữ nông dân "Ba đảm đang" với khí thế "tay cày, tay súng", vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu. Chị em đào hầm trú ẩn bên bờ ruộng, lũy tre, ngụy trang, nghi trang dũng cảm làm ruộng dưới bom đạn địch. Ðịch đến thì bắn hạ máy bay Mỹ, bắt giặc lái; địch đi lại tiếp tục bám đồng ruộng sản xuất. Chị em ra sức học tập ứng dụng các biện pháp khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cải tiến công cụ, hăng hái thay thế nam giới làm tốt việc cày, bừa, thu hái; bảo đảm công tác thủy lợi, xây dựng đồng ruộng, hoàn thành xuất sắc ba mục tiêu phát triển nông nghiệp toàn diện; thâm canh tăng năng suất đạt 5 tấn thóc/ha. 

Trên mặt trận sản xuất công nghiệp, để thay thế nam giới đi chiến đấu, phụ nữ phấn đấu "Giỏi một nghề, biết nhiều việc" 70% số nữ công nhân dệt vừa đứng máy vừa kiêm bảo dưỡng, sửa chữa máy. Chị em ra sức thi đua tăng năng suất, chất lượng cao, hạ giá thành sản phẩm "luyện tay nghề thi thợ giỏi". Mỗi nhà máy là một "pháo đài", công nhân giữ vững "tay búa, tay súng" vừa kiên trì sản xuất dưới mưa bom, bão đạn, vừa dũng cảm bắn hạ máy bay địch khi chúng đến đánh phá. Nhà máy Dệt 8-3, Dệt kim Ðông Xuân, Thuốc lá Thăng Long... mặc dù bị địch đánh phá ác liệt, công nhân vẫn duy trì sản xuất, hoàn thành vượt mức kế hoạch. Nữ công nhân ngành may thi đua tiết kiệm, tận dụng dư phế liệu tạo thêm nhiều mặt hàng tiêu dùng, tăng thu nhập.

Trên mặt trận giao thông vận tải, địch đánh phá cực kỳ ác liệt, hòng cắt đứt những tuyến đường chiến lược huyết mạch của cuộc chiến đấu. Nhưng lực lượng bảo đảm giao thông với hàng triệu nữ thanh niên xung phong; hàng vạn nữ công nhân lao động "Ba đảm đang" đã thật sự là những chiến sĩ kiên cường, dũng cảm trước bom đạn địch với ý chí sắt đá. "Sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm". Trong lửa đạn, chị em vẫn liên tục đắp đường, sửa cầu, bám trụ vững chắc các tuyến trọng điểm, nối liền mạch máu giao thông để chuyển quân, đưa hàng ra tiền tuyến... 

Trong gian khổ, các đơn vị nữ công nhân bảo đảm giao thông (đội 9, đội 600, đội 104) lập thành tích xuất sắc, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng. Tiêu biểu là tiểu đội nữ Anh hùng 10 cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông tại Ngã ba Ðồng Lộc (Hà Tĩnh). Gần 200 ngày đêm  trụ bám tuyến lửa, chị em vẫn không rời vị trí chiến đấu. Bình tĩnh theo dõi hoạt động của máy bay địch, đếm từng quả bom rơi, cắm cờ báo hiệu bom nổ chậm, xông pha sửa đường... để xe ta đi qua an toàn. 10 cô gái kiên trung, bất khuất đó đã hy sinh vô cùng oanh liệt trong khi làm nhiệm vụ. 

Trưa ngày 24 tháng 7 năm 1968, như mọi ngày 10 cô ra làm nhiệm vụ. Vào 16h30', trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống Đồng Lộc. Một trong số những quả bom đã rơi xuống ngay sát miệng  hầm nơi các cô đang tránh bom. Tất cả đã qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ, phần lớn trong số họ chưa lấy chồng. (Trích Phong trào phụ nữ Ba đảm đang- một mốc son lịch sử chói lọi. Chủ Nhật, 27-02-2005, 03:24 LÊ CHÂN PHƯƠNG Nguyên Phó Bí thư Ðảng đoàn, Ủy viên thường trực Hội LHPN Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động).

Bách khoa toàn thư mở viết: Vào thời điểm ngày 24/7/1968, Tiểu đội 4 của chị Võ Thị Tần gồm 12 người. Chị Lê Thị Hồng (Đức Lạc, Đức Thọ) được cử đi Quảng Bình lấy gỗ về làm hầm, còn chị Nguyễn Thị Thanh thì bị ốm nằm ở nhà, không ra hiện trường nên ngày 24/7/1968, Tiểu đội 4 chỉ có 10 người ra mặt trận và đều hy sinh. 

1. Tiểu đội trưởng Võ Thị Tần: Chị sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo. Năm 1963–1964, chị là Phó bí thư chi đoàn địa phương. Trước khi nhập ngũ, chị Tần có cảm tình với anh Nguyễn Đức Hồng, bạn học cùng lớp từ thuở ấu thơ. Trước lúc anh Hồng nhập ngũ, 2 người đã tổ chức lễ đính hôn. Tần trao cho anh Hồng lọn tóc thề thay lời hẹn ước. Kỷ vật ấy của Tần theo anh Hồng suốt những tháng năm chinh chiến và sau này đã được bàn giao lại cho Ban quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc. Giữa năm 1968, anh Hồng bị trọng thương trong một trận chiến đấu tại đảo Cồn Cỏ, hiện còn 6 mảnh đạn trong người. Mẹ chị Tần cũng đã mất vì bị bom Mỹ đánh sập hầm sau ngày chị hy sinh không lâu. Anh Hồng sau này đã rước ảnh chị Tần về thờ trong ngôi nhà của mình 

2. Tiểu đội phó Hồ Thị Cúc: Chị sinh trong một gia đình nông dân nghèo, được 7 tháng tuổi thì cha và bà nội chết trong nạn đói năm 1945, 4 tuổi thì mẹ tái giá. Cúc sống với ông nội, ông qua đời rồi ở với cô chú. 18 tuổi, chị Cúc lấy anh Cứ, người Sơn Tây trong huyện. Chồng chị cũng mồ côi cả cha lẫn mẹ, lại bị bệnh tâm thần. Nhà của đôi vợ chồng là một cái lều tranh nép bên chân đồi, chồng chị Cúc những lúc lên cơn tâm thần là đập phá và đánh chị. Rồi anh Cứ trong một lần đi chở vôi cho hợp tác xã về đến Hói Động bị lật thuyền và tử nạn. Chị Cúc lại về ở với cô chú. Tháng 7 năm 1965, chị Cúc tình nguyện lên đường gia nhập thanh niên ba sẵn sàng. Chị và chị Võ Thị Tần cùng ở chung đơn vị suốt 3 năm, cùng được kết nạp vào Đảng vào ngày 3/2/1967. Lúc hy sinh, chị Cúc nấp vào hố cá nhân nên người ta chỉ tìm được 9 cô gái trong hầm, phải ba ngày sau mới tìm được thi hài chị ở cách chỗ 9 cô gái kia hy sinh vài chục mét.

3. Võ Thị HợiChị sinh trưởng trong một gia đình nông dân ở xã Thiên Lộc – Can Lộc, Hà Tĩnh, là con thứ 5 trong gia đình. Năm 1965, học xong lớp 7, Hợi xung phong đi "Ba sẵn sàng". Thi thoảng Hợi mới có dịp về thăm nhà, chị kể: "Bom đạn dội xuống ghê gớm lắm mẹ ạ! Tiếng bom nổ, tiếng máy bay gầm xé suốt đêm ngày, đất đá bụi tung mù mịt. Nhưng tất cả bọn con đều không sợ. Cứ đợi dứt đợt bom là chúng con ra đường ngay, để xe khỏi bị tắc trên đường vào Nam mẹ ạ!"

4. Nguyễn Thị Xuân: Chị nhập ngũ năm năm 1967. Tại mặt trận, chị quen anh Vĩnh, tiểu đội phó Đơn vị bộ đội công binh phá bom. Anh Vĩnh là một đảng viên, một tiểu đội phó dũng cảm và kiên quyết, chị Xuân càng quý và tin anh, 2 người viết cho nhau nhiều lá thư giữa các trận đánh. Chị Xuân tâm sự với bạn bè: "Nhiều đêm nằm em thấy anh Vĩnh về thăm. Bẵng đi một thời gian không có thư anh về, em đã lo. Em nghĩ đến tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Nhưng em vẫn đợi...". Sau này Xuân mới biết anh Vĩnh nhiều lần bị thương. Mối tình giữa 2 người vừa chớm nở thì chị Xuân hy sinh.

5. Dương Thị Xuân: Chị sinh ra và lớn lên ở vùng quê Đức Tân - Đức Thọ, trong một gia đình đông con. Trước khi đi thanh niên xung phong, chị Xuân có quen anh Tân người cùng xã. Cũng như mối tình chị Tần – anh Hồng, Xuân và anh Tân đã không thực hiện được lời hẹn ước vì đất nước có giặc, chuyện riêng tư đành gác lại. Xuân mến anh Tân nhưng chưa muốn vấn vương chuyện gia đình, cô hẹn anh khi nào thống nhất đất nước thì sẽ liệu. Anh Tân nghĩ vậy là đúng. Trước khi Xuân lên đường, anh trao cho Xuân một quyển điều lệ Đảng mà anh vẫn dùng và lấy sợi ni lông xanh, đỏ buộc vào cổ tay Xuân rồi nói: "Màu đỏ là của anh, màu xanh lam này là của em. Khi nào nhớ đến anh, em hãy nhìn chiếc vòng này".

6. Trần Thị Rạng: Chị sinh ra tại xóm chài Thọ Thủy - Đức Vĩnh – Đức Thọ, thời thơ ấu theo cha mẹ làm nghề chèo lái trên sông La. Ngày ngày 3 tháng 11 năm 1967, chị vào Thanh niên xung phong. Ngoài giờ ra trận địa, Rạng cùng chị em làm toán, làm văn, tập hát, lúc nghỉ giải lao lại trêu đùa đại đội trưởng và mấy anh lái xe ủi. Chị hy sinh khi 18 tuổi.

7. Hà Thị Xanh: Chị Xanh đậm người, khoẻ mạnh, làm việc gì cũng xốc vác, hay nhận việc khó về mình. Một lần được nghỉ phép, chị Xanh đã rủ chị Hà về nhà mình chơi. Chị Hà nói với mẹ chị Xanh: "Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước chúng con thực hiện phong trào "ba khoan", nghĩa là khoan lấy chồng".

8. Nguyễn Thị NhỏBố mẹ chị mất sớm, nhà chỉ có 2 chị em gái: chị Miên và Nhỏ. Chị Miên thay bố mẹ nuôi chị Nhỏ từ bé. Khi chiến tranh phá hoại của Mỹ ngày một ác liệt, chị Nhỏ xin vào Thanh niên xung phong. Chị hy sinh năm 24 tuổi, khi chưa lập gia đình.

9. Võ Thị Hà: Chị sinh ra ở thị trấn Đức Thọ, là con thứ ba trong gia đình có năm con. 17 tuổi, chị lên đường vào TNXP. Có hôm Hà về thăm nhà, ăn vội ăn vàng để đi kẻo chậm. Lúc nào về Hà cũng mang theo một vài quyển truyện để đọc và nói "Không có sách, ngoài giờ ra trận địa con buồn lắm mẹ ạ". Hà ít tuổi nhất tiểu đội nên bao gìơ cũng được chị Tần, chị Cúc, chị Nhỏ coi như em út, không cho làm việc nặng. Sau đó mẹ Hà gửi mấy con gà con đến Đồng Lộc để chị em nuôi, rồi có lần Hà đem về nhà một con gà mái. Một hôm tự nhiên con gà mái vỗ cánh gáy như gà trống, mẹ của Hà bảo"thế nào chị Hà cũng có chuyện rồi". 2 ngày sau thì nghe tin chị Hà hy sinh.

10. Trần Thị Hường: Chị Hường là con của một liệt sĩ chống Pháp. Cha chị hy sinh năm 1953 ở mặt trận, khi Hường mới 4 tuổi. Hai năm sau, mẹ đi lấy chồng khác, Hường ở với bà ngoại và cậu mợ tại xóm Đông Quế, thị xã Hà Tĩnh. Chị có giọng hát hay, được mệnh danh là "chim sơn ca" của tiểu đội và của cả Đại đội 522.

Ngày 23/7/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức lễ khởi công phụng tượng 10 nữ thanh niên xung phong ngã ba Đồng Lộc", ngày 19/8/2010 đã tổ chức trọng thể lễ khánh thành cụm tượng đài. Công trình phụng tượng 10 nữ thanh niên xung phong ngã ba Đồng Lộc là công trình có giá trị lịch sử, tâm linh sâu sắc, được xây dựng bằng sự tự nguyện đóng góp của các viên chức ngành giáo dục, học sinh, sinh viên trong cả nước. (Trích Bách khoa toàn thư mở 2024). 

Sydney ngày 23 tháng 3 năm 2024

 

Bài 84: CHẾ ĐỘ CHO THANH NIÊN XUNG PHONG: MỘT THÁNG:GẠO 21 KG, ĐƯỜNG 0,5 KG, TIỀN TIÊU 5 ĐỒNG. MỘT NĂM: 2 BỘ QUẦN ÁO, 2 BỘ ĐỒ LÓT, 1 ĐÔI DÉPBA NĂM: 1 ÁO TRẤN THỦ, 1 BI ĐÔNG, 1m5 VẢI ÁO MƯA.

Tháng 3 năm 1965, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Lao động Việt Nam phát động trong đoàn viên, thanh niên Phong trào tình nguyện gia nhập Đội TNXP chống Mỹ cứu nước. Tháng 5/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa III họp Hội nghị lần thứ 9 ra Nghị quyết về “Tổ chức các Đội TNXP chống Mỹ cứu nước, phục vụ sản xuất và chiến đấu”. Ngày 21/5/1965, Bộ Lao động ra Công văn số 659- LĐ phân bổ chỉ tiêu tuyển TNXP ở 12 tỉnh, thành phố. 

Ngày 25 tháng 5 năm 1965, “Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước” đầu tiên được thành lập tại tỉnh Thanh Hóa, Đội gồm 9 đại đội với 1.200 cán bộ, đội viên. Lãnh đạo Đội là: Đội trưởng Nguyễn Thuần, Đội phó kiêm Bí thư Đảng uỷ Dương Phước Tú, Đội phó kiêm Bí thư Đoàn Lê Văn Sông và Đội phó Nguyễn Đức Hợp. Lúc 10 giờ tối ngày 25/5/1965, Đội làm lễ xuất quân tại sân kho làng Vệ Yên, xã Quảng Thắng; đến dự có đồng chí Võ Nguyên Lượng, Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Nguyễn Văn Đệ, Bí thư Trung ương Đoàn, các đồng chí chỉ huy Tỉnh đội, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Đoàn… 

Mỗi cán bộ, đội viên TNXP được cấp một xe Phượng Hoàng mới và tư trang cần thiết như chăn, màn, ni lông, dày dép, mũ…. “Đội quân xe đạp Phượng Hoàng” bắt đầu cuộc hành quân “Thần tốc” bí mật, thầm lặng, đêm đi, ngày nghỉ, sau 13 ngày đêm ròng rã vào đến căn cứ “R” trình diện Ban chỉ huy tư lệnh Đoàn 559 Trường Sơn do Thượng tướng Nguyễn Văn Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ huy nhận nhiệm vụ. 

Ngày 19/6/1965  Đội TNXP chống Mỹ cứu nước Bắc Hà và Đội TNXP chống Mỹ cứu nước Nam Hà cũng được thành lập tại tỉnh Hà Tĩnh với 2.400 cán bộ đội viên. Ngày 21/6/1965, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 71/TTg-CN tổ chức các “Đội Thanh niên Xung phong phục vụ công tác giao thông vận tải, thì Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước được Trung ương Đoàn đổi tên thành Đội TNXP 21, phiên hiệu là N 21. Ngay khi vào đến chiến trường, Đội TNXP 21 được Ban chỉ huy Tư lệnh Đoàn 559 giao nhiệm vụ tổ chức vận chuyển hàng hóa bằng xe đạp thồ; đóng thuyền vận tải hàng hóa trên sông; và tham gia mở đường trên Công trường 128 ở Nam Lào, đông và tây Trường Sơn. 

Ngày 30/6/1965, Bộ Lao động ban hành Thông tư số 07-LĐ và 10 văn bản khác hướng dẫn cụ thể về chế độ đối với TNXP chống Mỹ cứu nước, trong đó quy định: Hàng tháng mỗi cán bộ đội viên được cấp tiền ăn từ 21 – 23 – 25 đồng (tùy theo khu vực phụ cấp đắt đỏ do Nhà nước quy định), 21 kg gạo, 0,35 đến 0,5 kg đường và 5 đồng tiêu vặt; Một năm mỗi cán bộ đội viên được cung cấp 02 bộ quần áo dài, 02 bộ đồ lót, 02 đôi bít tất, 02 khăn mặt, 02 đôi giầy vải, 01 đôi dép; Ba năm mỗi cán bộ đội viên được cung cấp 01 chăn bông hoặc 02 chăn sợi, 01 áo trấn thủ, 01 ba lô, 01 mũ, 01 thắt lưng, 01 bi đông đựng nước uống, 1,5 m vải áo mưa; ở vùng rét được cấp thêm 01 mũ, 01 khăn quàng, phụ nữ được cấp tiền vệ sinh phí. 

Chỗ ở, các phương tiện sinh hoạt tập thể, cơ quan sử dụng TNXP cung cấp theo tiêu chuẩn hiện hành. Cụ thể, nhà ở, nếu không có điều kiện ở nhà dân thì làm lán trại, trang bị bếp ăn tập thể, dụng cụ sinh hoạt cá nhân cho người ốm và khách đến công tác; Tổ chức trạm xá, phương tiện sinh hoạt, học tập: dụng cụ y tế, đồ dùng dạy và học tập, dụng cụ cắt tóc. Ngày 11/8/1965, Bộ Nội thương ban hành Chỉ thị số 552-NT hướng dẫn việc cung cấp định lượng TNXP chống Mỹ cứu nước. Hàng tháng TNXP được hưởng: 0,6 kg thịt, 0,2 kg dầu mỡ, 0,6 kg muối, 0,008 kg mì chính, 0,8l nước chấm, 0,5 kg đậu phụ, 10kg rau quả, 0,5kg cá khô, 0,3kg mắm tôm, 0,1kg vừng lạc. 

Các Đội TNXP chống Mỹ cứu nước nhanh chóng đáp ứng nhiệm vụ đặt ra, thành lập được 41 Đội TNXP gồm 337 đại đội với tổng số 52.000 cán bộ, đội viên. Đội, và Đại đội TNXP được bàn giao cho các ngành theo yêu cầu công tác: Tổng cục đường sắt: 5.000 người; Cục Công trình I và Cục Công trình II: 23.000; Ty Giao thông vận tải Quảng Bình: 3.500 (đảm bảo giao thông đường 12A, đường 12B); Ty giao thông vận tải Hà Tĩnh: 1.200 (đảm bảo giao thông đường 1A, đường 21); Ty Giao thông Thanh Hóa và Ty Giao thông vận tải Nghệ An: 10.300 (đảm bảo giao thông đường 1A, đường 15, đường 7); Đoàn 559 và sân bay Yên Bái thuộc Bộ Quốc phòng: 7.000. 

Tổng kết nhiệm kỳ I (6/1965 – 12/1967) đã thực hiện 25 lần tuyển quân, huy động 73.851 cán bộ, đội viên TNXP (nữ chiếm tỷ lệ 44%) ở 20 tỉnh, thành phố. Giữa năm 1968, số TNXP tuyển năm 1965 đã đáo hạn nhiệm kỳ, để có đủ lực lượng đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, ngoài một số đơn vị được gia hạn thêm thời gian và số lượng TNXP nhiệm kỳ I chưa hết hạn. Tháng 3/1968 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định giao cho Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam tuyển TNXP nhiệm kỳ II (1968 - 1971) bổ sung cho Đoàn 559, Tổng cục đường sắt, các đơn vị của Bộ Giao thông vận tải và Ty Giao thông vận tải các địa phương. 

Trong nhiệm kỳ II đã tổ chức 15 lần tuyển, với số lượng 27.770 cán bộ, đội viên, (nữ chiếm 64%) ở 15 tỉnh, thành phố. Toàn bộ lực lượng TNXP nhiệm kỳ II tập trung tham gia chiến dịch vận tải VT 5 (Chiến dịch vận tải tranh thủ thời gian ngừng bắn), khẩn trương lao động không kể ngày đêm, tranh thủ hoàn thành mọi công việc: xây dựng, sửa chữa và nâng cấp đường, cầu để tăng chuyến, tăng trọng tải, tăng tốc độ vận chuyển của tàu, xe trên các tuyến giao thông chiến lược từ Bắc vào Nam, như: tuyến đường sắt Bắc – Nam, quốc lộ 1A, các tuyến đường 15A, 15B, 15C, 21, 7, 8, 12A, 20, 10, 22A, 22B, 16, 18... Đến đầu năm 1972, số lượng TNXP còn khoảng trên dưới 13.000. 

Chính phủ quyết định giao cho Trung ương Đoàn tuyển TNXP nhiệm kỳ III 1972 - 1975) để tăng cường lực lượng TNXP cho quân đội và ngành giao thông vận tải để chủ động đối phó với tình hình mới. Trong nhiệm kỳ III tổ chức 35 lần tuyển quân với số lượng 43.370 cán bộ, đội viên (nữ chiếm tỷ lệ 52,9%) ở 18 tỉnh, thành phố. Tổng cộng 3 nhiệm kỳ đã có 144.991 cán bộ đội viên TNXP tình nguyện gia nhập 170 Đội và 60 đại đội độc lập TNXP chống Mỹ cứu nước tập trung. (Trích Thanh niên Xung phong Những mốc son lịch sử TNXP Việt Nam”, Thứ 4, 8/11/2017).

Tại miền Nam, ngày 20/4/1965, đơn vị Thanh niên Xung phong đầu tiên được thành lập, phát triển thành Tổng đội TNXP để phục vụ các Sư đoàn bộ đội chủ lực và làm nhiệm vụ hậu cần cho quân giải phóng ở miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1971, tổng số nam nữ TNXP đã lên tới 45.000 phục vụ ở các chiến trường. TNXP đã lập nhiều chiến công: mở được 102 con đường chiến lược với tổng chiều dài 4.130 km; Vận chuyển 10 vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực cho chiến trường; Trực chiến, chốt giữ, bảo đảm 3.000 trọng điểm giao thông quan trọng thường xuyên bị địch đánh phá ác liệt; San lấp trên 100.000 hố bom; đào 1135 km hầm hào, xây dựng 8 bệnh viện dã chiến và 272 kho tàng; 

Phá, gỡ thu gom trên 100.000 quả bom các loại; Bắn rơi 15 máy bay Mỹ; bắt sống 13 phi công và gần 1.000 tên địch (trong đó có 286 lính Mỹ); Phá hủy 20 xe tăng và xe bọc thép, phục vụ bộ đội 1000 trận đánh; Trực tiếp chiến đấu 40 trận. Đã có 16.000 người bổ sung sang quân đội; 15.000 người được kết nạp vào Đảng; 52 người là Dũng sĩ diệt Mỹ; 1.432 người là Dũng sĩ Quyết Thắng. (Trích Thanh niên Xung phong: 70 năm nhìn lại. Thứ Hai, 13/7/2020 10:3'(GMT+7) TS. NGUYỄN CAO VÃNG, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam).

Sydney ngày 24 tháng 3 năm 2024

 

Bài 85: BÁC HỒ VỚI THANH NIÊN XUNG PHONG, VÀ THANH NIÊN XUNG PHONG VỚI ĐƯỜNG MÒN HỐ CHÍ MINH.

Ngày 15 tháng 7 năm 1950, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành lập lực lượng thanh niên xung phong tập trung dài ngày phục vụ cho chiến dịch Biên giới. Sau đó, Đội được giao nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường quan trọng: Cao Bằng - Bắc Kạn - Thái Nguyên. Vào một đêm cuối tháng 3 năm 1951, Bác Hồ đến thăm Liên phân đội thanh niên xung phong 321 đang làm đường tại rừng Nà Tu, Bắc Kạn. Tại đây, Bác đã tặng Liên phân đội thanh niên xung phong 321 mấy câu thơ: Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên. 

Đối với TNXP chống Mỹ cứu nước, ngay từ khi thành lập, Bác đã thường xuyên quan tâm theo dõi và chỉ đạo: Ngày 12-7-1965, Bác đã trực tiếp nghe Trung ương Đoàn báo cáo tình hình nam nữ thanh niên tham gia TNXP. Bác nhắc Trung ương Đoàn phải thường xuyên báo cáo với Bác, nhất là những thành tích, để Bác khen thưởng. Ngày 26-9-1966, Bác đã gửi thư khen ngợi TNXP: “Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu thanh niên gái và trai đang cố gắng vượt mọi khó khăn, gian khó lập nhiều thành tích. Bác mong các cháu đoàn kết chặt chẽ, dũng cảm lao động và chiến đấu, giữ gìn sức khỏe, cố gắng học tập, lập nhiều thành tích chống Mỹ, cứu nước để xứng đáng là thanh niên anh hùng của dân tộc anh hùng”.

Ngày 19 tháng 10 năm 1966, phát biểu ý kiến tại buổi Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Bác nói: “Trong phong trào TNXP chống Mỹ cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái đã nêu gương dũng cảm trong sản xuất và chiến đấu. Nhiều thanh niên gái Vĩnh Linh vừa sản xuất giỏi vừa chiến đấu giỏi. Tổ cầu đường Trần Thị Lý ở Quảng Bình và tiêu biểu là tiểu đội 9 - Đại đội 814 đã đảm bảo giao thông dưới làn bom đạn”. 

Ngày 12-1-1967, Đại hội thi đua các đội TNXP chống Mỹ cứu nước tập trung đã khai mạc tại Hà Nội, Bác đến dự và nói chuyện thân mật với Đại hội, Bác nói: “Bác rất vui lòng với thanh niên Việt Nam anh hùng. Việt Nam càng ngày càng anh hùng, càng đánh càng anh hùng. Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua lần thứ nhất (1952) chúng ta mới có 7 người được tuyên dương là Anh hùng. Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua lần thứ hai có 95 Anh hùng. Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua lần thứ ba có ít Anh hùng hơn. Đại hội thứ tư lần này có 111 Anh hùng. Thế là ngày càng nhiều Anh hùng. Trong số 111 Anh hùng vừa được tuyên dương ở Đại hội, có 44 Anh hùng là thanh niên. Bác càng vui lòng hơn nữa là trong 44 Anh hùng là thanh niên, có 12 Anh hùng là thanh niên gái. 

Thế là ngày càng có nhiều Anh hùng và ngày càng có nhiều thanh niên gái trở thành Anh hùng.… Nhờ có Đảng giáo dục, có Đoàn giúp đỡ, có nhân dân bồi dưỡng cho nên chúng ta mới có Anh hùng. Anh hùng ấy không phải là Anh hùng của một cá nhân. Vì dân tộc ta Anh hùng, nước ta Anh hùng, nhân dân ta Anh hùng, Đảng ta Anh hùng, cho nên mới nảy sinh nhiều đơn vị và nhiều người Anh hùng. Vì vậy, những đơn vị và người được tặng danh hiệu Anh hùng trước đây đã có cố gắng, nay lại phải khiêm tốn học tập và cố gắng hơn. Các cháu nào đã là Anh hùng thì phải cố gắng tiến lên nữa, các cháu nào chưa là Anh hùng thì cố gắng phấn đấu để trở thành Anh hùng”

Trước sự đánh phá ác liệt của kẻ thù, Đại đội 333 vẫn kiên cường bám trụ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Khi biết sự chiến đấu kiên cường, anh dũng của C333, Bác Hồ đã gửi tặng lẵng hoa và viết thư khen ngợi. Thư Bác viết ngày 27/1/1969, có đoạn ghi rõ: “Suốt bốn năm nay, Đội TNXP số 333 nhận nhiệm vụ làm đường, sửa cầu ở một nơi địch thường đánh phá ác liệt, có nhiều khó khăn gian khổ. Đội phần lớn là các cháu gái đã dũng cảm chiến đấu, tích cực lao động, có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, bảo đảm cầu đường được thông suốt luôn. Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu. Bác mong các cháu mạnh khỏe, vui vẻ, lập nhiều thành tích mới”. 

Đây cũng là bức thư và lời căn dặn cuối cùng của Bác Hồ đối với TNXP trước lúc Người đi xa. Tình cảm và sự quan tâm của Bác đã khiến TNXP trong đội 333 nói riêng và TNXP toàn lực lượng TNXP nói chung rất cảm động và càng hăng hái hơn trong thực hiện nhiệm vụ đầy gian khổ, hy sinh. Thư của Bác  đã trở thành động lực không chỉ của C333 mà còn để thanh niên thực hiện lý tưởng của mình - Lý tưởng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Trích Thanh niên Xung Phong “Những mốc son lịch sử TNXP Việt Nam”, Thứ 4, 8/11/2017).

Và Thanh niên xung phong với Đường mòn Hồ Chí Minh. Tổng cộng đã có 530.000 thanh niên xung phong tham gia qua các thời kỳ. Tính trên toàn bộ tuyến Đường Hồ Chí Minh huyền thoại, lực lượng thanh niên xung phong với quân số bằng 10 sư đoàn đã xây dựng, bảo dưỡng và đảm bảo hoạt động của 67.700 km đường. Nếu chia ra đầu người, mỗi thanh niên xung phong đã đảm bảo duy trì sự thông suốt của gần nửa cây số đường vượt rừng, vượt đèo, vượt sông, suối bất chấp bom đạn Mỹ đánh phá ác liệt suốt ngày đêm.  

Trên 130.800 thanh niên xung phong tham gia trong chiến tranh Việt Nam trong đó hơn 40.000 thanh niên xung phong của 15 tỉnh miền Bắc làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn và ở mặt trận Quảng Bình. Trong bốn tỉnh miền Trung bao gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình đã cung cấp tới gần 90.000 nam nữ thanh niên xung phong - chiếm 55% tổng số thanh niên xung phong toàn miền Bắc. Tỉnh Hải Hưng cũng có gần 10.000 người tham gia Thanh niên xung phong. 

Khẩu hiệu: "Sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm". “Nơi đâu chiến trường cần, thanh niên xung phong có mặt, nơi nào có giặc, thanh niên xung phong xuất quân. “Phục vụ quên mình, anh dũng xung phong, lập công xuất sắc". Một số thành viên TNXP tiêu biểu: 10 nữ thanh niên xung phong hi sinh ở ngã ba Đồng Lộc. 8 liệt sĩ (4 nam, 4 nữ) thanh niên xung phong hi sinh ở hang Tám Cô. Trên 300 thanh niên xung phong hy sinh ở cung đường 1C, tuyến vận tải chi viện từ Campuchia vào Kiên Giang, U Minh. 13 nữ thanh niên xung phong hy sinh tại Truông Bồn, Đô Lương, Nghệ An. 

Tổn thất: Khoảng 10.000 người hy sinh. 46.000 người bị thương, 10.000 người bị nhiễm chất độc màu da cam. 4.500 nữ thanh niên xung phong cô đơn không nơi nương tựa khi về già. Nhiều nữ thanh niên xung phong bị mắc bệnh hysteria một chứng bệnh tâm lý do sống cô đơn quá lâu hoặc do bị chấn thương tâm lý, lo lắng cao độ kéo dài, triệu chứng là thỉnh thoảng khóc cười không lý do, la hét điên loạn. (Trích Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Trang này được sửa đổi lần cuối vào ngày 4tháng 1 năm 2021 lúc 09:44). 

Sydney ngày 25 tháng 3 năm 2024

 

Bài 86: CHIẾN TRANH TRÊN KHÔNG ĐỐI ĐẦU VỚI KHÔNG QUÂN VÀ HẢI QUÂN MỸ TRONG NHỮNG NĂM 1965-1967: ĐOÀN THÊM GHI LẠI.

NĂM 1965: Tháng 1/65: Ngày 13/1, phi cơ Mỹ oanh tạc các đường tiếp tế qua Lào; ngày 15/1, các đường tiếp tế qua Lào lại bị phi cơ Mỹ oanh tạc. Tháng 2/65: Ngày 7/2, phi cơ Mỹ oanh tạc vùng Đồng Hới; ngày 8/2, vùng Vĩnh Linh bị phi cơ VNCH oanh tạc; ngày 11/2/1965: phi cơ Mỹ và VNCH oanh tạc gần  Bến Hải và Đồng Hới. Tháng 3/65: Ngày 2/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Quảng Khê, Xóm Bàng; ngày 14/3, phi cơ VNCH oanh Hòn Cọp; ngày 15/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Phủ Quỳ; ngày 19/3, Phú Vân, Nghệ An bị phi cơ Mỹ oanh tạc; ngày 21/3, phi cơ VNCH oanh tạc Vũ Vôn; ngày 23/3, Ba Đình, Quốc lộ 1 bị phi cơ VNCH oanh tạc; ngày 26/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Vinh, Vinh Sơn, Bạch Long Vỹ; ngày 29/3, Bach Long Vỹ lại bị phi cơ Mỹ oanh tạc; ngày 30/3, phi cơ VNCH oanh tạc Đồng Hới.

Tháng 4/65: Ngày 3/4, phi cơ Mỹ oanh tạc Đò Lèn, Hàm Rồng, 3 phi cơ bị bắn rớt; ngày 4/4/1965: cầu Hàm Rồng lại bị phi cơ Mỹ oanh tạc, 2 phi cơ bị bắn rớt; ngày 5/4, phi cơ Mỹ oanh tạc Quốc lộ 7 và Quốc lộ 8; ngày 7/4, phi cơ Mỹ oanh tạc Quốc lộ 1; ngày 9/4, Quý Linh, Khe Kiến, Tam Đa bị phi cơ Mỹ oanh tạc, 2 phi cơ bị bắn rớt; ngày 10/4, phi cơ Mỹ oanh tạc cầu Kim Cương, Quốc lộ 7 và 8. Từ nay, vì các cuộc oanh tạc gần như hàng ngày, nên chỉ ghi lại những vụ quan trọng: ngày 19/4, phi cơ VNCH oanh tạc gần Hà Tĩnh, phi cơ của Đại tá Phạm Phú Quốc bị bắn rớt; ngày 30/4, phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Việt. Tháng 5/65: Ngày 12-18/5, Mỹ ngưng oanh tạc Bắc Việt; ngày 30/5, phi cơ Mỹ oanh tạc cách Hà Nội 65 cây số.

Tháng 6/65: Ngày 4/6, phi cơ Mỹ oanh tạc nhà máy Bến Thuỷ; ngày 15/6, cầu sông Đáy bị oanh tạc; ngày 16/6, phi cơ Mỹ oanh tạc Sầm Sơn, Thanh Hoá; ngày 17/6, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 2 phi cơ bị bắn rớt; ngày 22/6/1965: phi cơ Mỹ oanh tạc Sơn La; ngày 25/6, Sơn La, Mộc Châu, Nà Sản bị oanh tạc. Tháng 7/65: Ngày 1/7, máy bay Mỹ rắc truyền đơn xuống BV cảnh cáo sẽ oanh tạc dữ dội hơn nữa; ngày 2/7, phi cơ Mỹ oanh tạc Điện Biên Phủ, Nam Định, ngày 9/7, Bến Thuỷ, Bái Thượng, Yên Bái, Nam Định bị oanh tạc; ngày 10/7, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 2 phi cơ bị bắn rớt; ngày 12/7, máy bay Mỹ rắc truyền đơn xuống Phát Diệm, Nam Định; ngày 25/7, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, chiếc bị hoả tiển SAM bắn rớt; ngày 27/7, nhà máy Điện Thanh Hoá bị oanh tạc; ngày 28/7, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, phá huỷ một dàn hoả triển SAM, 2 phi cơ bị bắn rớt.

Tháng 8/65: Ngày 8/8, Nam Định bị oanh tạc; ngày 5/8, phi cơ Mỹ oanh tạc Bảo Hà sát biên giới Việt-Hoa. Tháng 9/65: Ngày 8/9, cầu Lào Kay bị oanh tạc; ngày 15/9, phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Kạn, Nam Định; ngày 20/9, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 6 chiếc bị bắn rơi; ngày 27/9, cầu Ninh Bình và Đông Phong Thượng bị oanh tạc. Tháng 10/65: ngày 5/10, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 3 chiếc bị bắn rớt; ngày 16/10, phi cơ Mỹ oanh tạc BV 2 chiếc bị bắn rớt. Tháng 11/65: Ngày 5/11, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, phá dàn hoả tiễn SAM, 1 phi cơ bị bắn rớt; ngày 6/11, số phi cơ Mỹ bị bắn rớt tại BV là 133, trong đó có 6 chiếc do hoả tiễn SAM; ngày 7/11, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, phá 4 dàn hoả tiễn SAM, 1 phi cơ bị bắn rớt; ngày 8/11, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, phá 2 dàn hoả tiễn SAM; ngày 17/11, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, phá 2 dàn hoả tiễn SAM, 4 phi cơ bị bắn rớt; ngày 22/11, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, phá 2 dàn hoả tiễn SAM; ngày 27/11, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, phá 1 dàn hoả tiễn SAM; ngày 28/11, Tuyên Quang bị oanh tạc, 2 phi cơ bị bắn rớt; ngày 30/11/1965: phi cơ Mỹ thả 7 triệu truyền đơn xuống BV. 

Tháng 12/65: Ngày 1/12, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, phá 2 dàn hoả tiễn SAM, 2 phi cơ bị bắn rớt; ngày 5/12, phi cơ Mỹ thả truyền đơn xuống Hà Nội và Ninh Bình; ngày 7/12, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 3 chiếc bị bắn rớt; ngày 15/12, nhà máy điện Uông Bí bị oanh tạc; ngày 16/12, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, có 5 Mig 17 xuất hiện, nhưng không nghênh chiến; ngày 21/12, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 5 chiếc bị bắn rớt; ngày 22/12, nhà máy điện Uông Bí, Nghĩa Lộ bị oanh tạc, một dàn hoả tiển SAM bị phá, 3 phi cơ bị bắn rớt; ngày 23/12, phi cơ Mỹ oanh tạc cầu Hải Dương, 1 chiếc bị bắn rớt; ngày 24/12/1965: phi cơ Mỹ thả nhiều gói quà xuống BV; từ 25 tháng 12, phi cơ Mỹ nhưng oanh tạc BV. 

NĂM 1966: Tháng 1/66: Ngày 28/1, kéo dài thời gian ngưng oanh tạc Bắc Việt. Tháng 2/66: Ngày 2/2, phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc BV, 3 chiếc bị bắn hạ. Tháng 3/66: Ngày 5/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Lạng Sơn, hoả tiển SAM bị phá; ngày 19/3, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá. Tháng 4/66: Ngày 18/4, Phủ Lý, Hải Dương bị oanh tạc, hoả tiển SAM bị phá; ngày 19/4, phi cơ Mỹ oanh tạc khu phụ cận Hải Phòng, 2 Mig 17 bị hạ. Tháng 5/66: Ngày 2/5, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá; ngày 8/5, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá, 1 chiếc bị bắn hạ; ngày 15/5, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá, 1 chiếc bị bắn hạ. 

Tháng 6/66: Ngày 1/6, Yên Bái bị oanh tạc, 3 phi cơ Mỹ bị bắn hạ; ngày 13/6, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 2 chiếc bị bắn rơi, 1 Mig 17 bị hạ; ngày 15/6, khu phụ cận Hải Phòng bị oanh tạc, 2 Mig 17 bị hạ; ngày 16/6, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá; ngày 20/6, Việt Trì, Thái Nguyên bị oanh tạc, ngày 22/6, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 2 chiếc bị bắn rơi, 1 Mig 17 bị hạ, 1 bị hư; ngày 24/6, Đèo Mụ Gia bị oanh tạc; ngày 29/6, phi cơ Mỹ oanh tạc Gia Lâm, Hải Phòng, Hà Nội tản cư; ngày 30/6, khu phụ cận Hà Nội bị oanh tạc. Tháng 7/66: ngày 4/7, phi cơ Mỹ oanh tạc Đồ Sơn, hoả tiển SAM bị phá; ngày 5/7, phi công Mỹ bị bắt làm tù binh trình diện trước dân chúng; ngày 6/7, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá; ngày 14/7, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 3 Mig 17 bị hạ, 1 máy bay Mỹ bị hạ; ngày 15/7, Phủ Lý, Nam Định, Đáp Cầu bị oanh tạc; ngày 20/7, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 3 chiếc bị bắn rơi.

Tháng 8/66: Ngày 2/8, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, 2 chiếc bị bắn rơi; ngày 3/8, Hải Phòng lại bị oanh tạc; ngày 6/8, phi cơ Mỹ oanh tạc Đồ Sơn; ngày 7/8, Hải Phòng bị oanh tạc, 6 phi cơ Mỹ bị bắn rơi; ngày 10/8, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 7 trực thăng Mỹ bị bắn rơi; ngày 12/8, Uông Bí bị oanh tạc; ngày 13/8, phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nôi, Hải Phòng; ngày 15/8, Hải Phòng bị oanh tạc; ngày 18/8, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá, 1 Mig 17 bị hạ; ngày 21/8, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá; ngày 27/8, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 3 chiếc bị hạ. Tháng 9/66: Ngày 3/9, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá; ngày 5/9, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 4 chiếc bị bắn rơi; ngày 10/9, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá; ngày 11/9, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá, số phi vụ phi cơ Mỹ oanh tạc BV lên tới 171 phi vụ, 60 nơi bốc cháy; ngày 12/9, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá; ngày 16/9, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá; ngày 20/9, Ninh Bình bị oanh tạc.

Tháng 10/66: Ngày 1/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Phủ Lý; ngày 3/10, Phủ Lý lại bị oanh tạc; ngày 9/10, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 2 Mig 17 bị hạ; ngày 14/10, Ninh Bình, Thanh Hoá bị oanh tạc. Tháng 11/66: Ngày 1/11, phi cơ Mỹ oanh tạc Việt Trì; ngày 3/11, đèo Mụ Gia, vùng phụ cận Hà Nội, và Hải Phòng bị oanh tạc, toả tiển SAM bị phá; ngày 6/11, phi cơ Mỹ oanh tạc Đáp Cầu, 2 Mig 21 bị hạ; ngày 7/11, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hoả tiển SAM bị phá; ngày 9/11, cầu Hàm Rồng bị oanh tạc, 5 phi cơ Mỹ bị bắn rớt; ngày 23/11, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, hoả tiển SAM bị phá. Tháng 12/65: Ngày 3/12, Lao Kay bị oanh tạc; ngày 5/12, phi cơ Mỹ oanh tạc Yên Viên, 5 Mig 17 bị hạ; ngày 7/12, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 1 phi cơ Mỹ bị bắn rớt; ngày 9/12, Phủ Lý bị oanh tạc; ngày 13/12, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, Hà Nội, Cầu Long Biên, Văn Điển, Xuân Mai, Yên Viên; ngày 14/12, trung tâm Hà Nội bị oanh tạc, 1 phi cơ Mỹ bị bắn rớt; ngày 28/12, phi cơ Mỹ oanh tạc Nam Định; ngày 30/12, số phi cơ Mỹ đã bị bắn rớt trên lãnh thổ Bắc Việt 451 chiếc; ngày 31/12, số phi vụ Mỹ sử dụng oanh tạc Bắc Việt 13.000 vụ.  

NĂM 1967: Tháng 1/67: Ngày 2/1, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 1 Mig bị hạ. Tháng 2/67: không oanh tạc. Tháng 3/67: Ngày 9/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Hòn Gay. Tháng 4/67: Ngày 6/4, phi cơ Mỹ oanh tạc ngoại ô Hải Phòng; ngày 28/4, Gia Lâm, cầu Sông Đuống bị oanh tạc. Tháng 5/67: Ngày 5/5, phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội; ngày 10/5/1967, Hải Phòng, Kiển An bị oanh tạc; ngày 11/5, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 11 Mig bị hạ; ngày 13/5, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 3 Mig bị hạ; ngày 21/5/1967, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 3 Mig bị phá hủy; ngày 27/5, Văn Điển, Hà Nội, Kép, Hòa Lạc bị oanh tạc. Tháng 6/67: Ngày 5/6/1967, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 3 Mig bị hạ. Tháng 7/67: Ngày 5/7/1967, phi cơ Mỹ oanh tạc Đồ Sơn; ngày 8/7/1967, phi cơ Mỹ oanh tạc Bần Yên Nhân; ngày 9/7, Lợi Đông, Hải Phòng bị oanh tạc; ngày 18/7, phi cơ Mỹ oanh tạc Đồ Sơn; ngày 21/7, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 3 Mig bị hạ; ngày 27/7, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 1 Mig bị hạ.

Tháng 8/67: Ngày 10/8, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 2 Mig bị hạ; ngày 11/8, Cầu Long Biên bị oanh tạc; ngày 21/8, phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội; ngày 22/8/1967, Hà Nội lại bị oanh tạc. Ngày 23/8/1967, phi cơ Mỹ oanh tạc Gia Lâm, Sông Đuống. Yên Viên. Tháng 9/67: Ngày 1/9, phi cơ Mỹ oanh tạc Hòn gay; ngày 4/9, Hải Phòng bị oanh tạc; ngày 9/9, phi cơ Mỹ oanh tạc Nam Định, Uông Bí; ngày 10/9, Cẩm Phả bị oanh tạc; ngày 11/9, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng; ngày 12/9, Uông Bí lại bị oanh tạc; ngày 15/9, phi cơ Mỹ oanh tạc Thái Nguyên; ngày 17/9, Hải Phòng lại bị oanh tạc; ngày 20/9, phi cơ Mỹ oanh tạc Kiến An; ngày 26/9, Hải Phòng, Kiến An lại bị oanh tạc; ngày 27/9, phi cơ Mỹ oanh tạc Hòn Gay; ngày 28/9, Hải Phòng bị oanh tạc; ngày 29/9, phi cơ Mỹ oanh tạc Hòa Lạc; ngày 30/9, Cửa Cấm, Kép bị oanh tạc.

Tháng 10/67: Ngày 3/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Hòn Gay, Đáp Cầu; ngày 4/10, Hải Dương, Kiến An bị oanh tạc; ngày 5/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, Kiến An, Hòa Lạc; ngày 6/10, Nam Định bị oanh tạc; ngày 8/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Cát Bi, Kiến An, Thái Nguyên; ngày 9/10, Hải Phòng, Cát Bi lại bị oanh tạc, 1 F-105 bị hạ; ngày 12/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, Cát Bi, Uông Bí; ngày 13/10, Cẩm Phả bị oanh tạc; ngày 14/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, 3 phi cơ Mỹ bị hạ; ngày 16/10, Hải Phòng, Kiến An, Đáp Cầu bị oanh tạc; ngày 17/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Cẩm Phả, Kiến An, Hải Phòng; ngày 22/10, Hải Phòng bị oanh tạc; ngày 24/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, Kép, Phú Yên, 4 phi cơ Mỹ bị hạ, 1 Mig bị hạ; ngày 25/10, Hà Nội, Gia Lâm, cầu Long Biên bị oanh tạc, 1 Mig bị hạ, 9 Mig bị phá hủy; ngày 26/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội, Hòa Lạc, Phúc Yên, 3 phi cơ Mỹ bị hạ, 2 Mig bị hạ; ngày 27/10, Sông Đuống, Uông Bí bị oanh tạc, 1 Mig bị hạ; ngày 28/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, Nam Định, 1 F-105 bị hạ; ngày 30/10, Hà Nội, Kép, Kiến An bị oanh tạc, Mig bị hạ; ngày 31/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Sông Đuống. 

Tháng 11/67: Ngày 4/11, phi cơ Mỹ oanh tạc Nam Định; ngày 6/11, Gia Lâm, Sông Đuống bị oanh tạc, 2 Mig bị hạ; ngày 7/11, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 2 phi cơ Mỹ bị hạ; ngày 9/11, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 1 Mig bị hạ, 1 Phantom bị hạ; ngày 11/11, Hòn Gay bị oanh tạc, 2 F-4 Mỹ bị hạ; ngày 15/11/1967, phi cơ Mỹ oanh tạc Kép, Hòa Lạc, Nam Định, Hải Dương; ngày 16/11, Hòn Gay, Kiến An bi oanh tạc; ngày 19/11, phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội, Hải Phòng, 4 phi cơ Mỹ bị hạ; ngày 20/11, Cát Bi, Hải Phòng bị oanh tạc, 2 phi cơ Mỹ bị hạ; ngày 21/11, phi cơ Mỹ oanh tạc Kiến An; ngày 24/11, Nam Định bị oanh tạc; ngày 27/11, phi cơ Mỹ oanh tạc Kiến An.

Tháng 12/67: Ngày 10/12, Nam Định, Kiến An bị oanh tạc; ngày 12/12, phi cơ Mỹ oanh tạc Nam Định, Cẩm Phả; ngày 13/12, Hà Nội bị oanh tạc; ngày 15/12, phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội, Kiến An, Hải Phòng, Hòa Lạc, Sông Đuống; ngày 16/12, Hà Nội, Yên Viên bị oanh tạc, 1 phi cơ Mỹ bị hạ; ngày 18/12, phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội, Gia Lâm, 2 phi cơ Mỹ bị hạ; ngày 30/12, tổng số phi cơ bị hạ tại BV: 772 chiếc, so với 451 chiếc ngày 30/12/1966.

Sydney ngày 26 tháng 3 năm 2024

 

TỔ CHỨC HAI

Bài 87: CỘNG SẢN MIỀN NAM, TỔ CHỨC MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ 5 TRẬN ĐÁNH TIÊU BIỂU CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG TỪ THÁNG 1/1961-7/1965.

1. TRẬN ẤP BẮC: Trận Ấp Bắc diễn ra vào ngày 2 tháng 1 năm 1964, gần Ấp Bắc thuộc tỉnh Mỹ Tho. Phía Quân đội Việt Nam Cộng hoà: (1) 3 tiểu đoàn của Sư đoàn 7; (2) 2 đại đội biệt động quân, (3) 4 đại đội lính bảo an biệt kích, (4) 4 đại đội lính bảo an tỉnh, (5) 3 đại đội dân vệ biệt kích, (6) 1 tiểu đoàn lính dù; (7) 3 tàu gồm FOM, LCVP, LCM, (8) 13 xe lội nước M113... Chỉ huy trực tiếp mặt trận chính do Thiếu tá Lâm Quang Thơ, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Định Tường. Phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam: 2 đại đội bộ binh, và khoảng 30 du kích Ấp Bắc. Hầu hết quân số chỉ trang bị súng trường và lựu đạn, vũ khí cỡ lớn duy nhất là 1 khẩu súng cối 60 mm làm hoả lực chi viện.

Đặc điểm của từng đơn vị QGP: Đại đội 1 tiểu đoàn 261 được thành lập tháng 2 năm 1961 do lực lượng các tỉnh trong Khu đưa về. Cán bộ, chiến sĩ có thành tích, có kinh nghiệm chiến đấu từ kháng chiến chống Pháp, trước đồng khởi và trong đồng khởi 1960-1961. Tất cả đều là súng lấy được của Mỹ nên có nhiều đạn. Súng trường cơ số 100 viên. Mỗi tiểu đội có 1 trung liên, 2 súng trường tự động M1 Garand, 2 tiểu liên Thompson, 1 súng trường MAS 36, 3 trái đạn trôm blông, 2 súng trường hoặc carbine. 

 

Đại đội 1 tiểu đoàn 514 được thành lập từ trung đội vũ trang tuyên truyền của tỉnh, có thành tích và kinh nghiệm chiến đấu kết hợp đấu tranh chính trị, binh vận, tập kích sát đồn bót địch trong những năm 1960, 1961 và 1962. Đặc biệt đơn vị được tổ chức bằng việc tập hợp, lựa chọn cán bộ chiến sĩ và vũ khí từ những đơn vị bộ đội địa phương huyện sau một năm đồng khởi, nên chiến sĩ đều có kinh nghiệm chiến đấu và trang bị tương đối khá. Mỗi tiểu đội có 1 trung liên, 1 khẩu M1 Garand, 1 tiểu liên Thompson, 6 súng trường hoặc carbine. Các đơn vị khác và du kích xã trước nay chưa có kinh nghiệm đánh càn tập trung thành mặt trận mà chỉ đánh phân tán lẻ tẻ rồi rút lui tránh né, nhưng trận này dựa vào đại đội 1 tiểu đoàn 261 và đại đội 1 tiểu đoàn 514 nên nói chung tin tưởng vào việc đánh càn thắng lợi.

Diễn tiến trận đánh: Đêm 31-12-1962, đại đội 1 tiểu đoàn 514 và đại đội 1 Tiểu đoàn 261 từ Cống Quế, xã Mỹ Hạnh Đông chuyển về đóng quân tại Ấp Bắc, dự định đêm 1-1-1963 đi phá "ấp chiến lược" Giồng Dứa thuộc xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành và hành quân về đóng ở kinh Năng thuộc xã Long Định, huyện Châu Thành, chuẩn bị đón đánh địch càn vào đây sau khi "ấp chiến lược" Giồng Dứa bị phá. Nhưng do có một đơn vị QGP khác từ miền Tây trên đường hành quân về Trung ương Cục đã đóng quân ở kinh Năng nên hai đại đội của QGP quay lại đóng quân theo đội hình cũ tại Ấp Bắc. 

Sáng sớm ngày 2/1/1963, nhiều máy bay trinh sát L19 của Mỹ đã quần lượn trên bầu trời Ấp Bắc, hướng dẫn đường tiến quân cho bộ binh và cơ giới càn quét vào ấp. 2 Đại đội bảo an từ Điền Hy bắt đầu xung phong vào xóm Hội Đồng Vàng, xã Tân Phú nhưng bị chặn đánh và thiệt hại nặng. Cánh quân khác tiến công bằng đường thủy theo kênh Nguyễn Tấn Thành gồm 13 tàu chiến chở 2 Đại đội biệt động quân cũng bị trung đội du kích và 2 đội công binh săn tàu đánh chặn quyết liệt. Bằng thủy lôi tự tạo và hỏa lực bố trí sẵn trong các công sự, hố bắn dọc theo hai bờ kênh, quân Giải phóng đánh chìm 1 tàu và đánh hỏng một số chiếc khác. Đoàn tàu chững lại, sau đó tìm đường tháo lui.

Sau đợt tiến công đầu tiên thất bại, quân đội Sài Gòn sử dụng chiến thuật “trực thăng vận”, dùng 5 máy bay trực thăng vũ trang loại UH-1A làm nhiệm vụ yểm trợ cho 10 chiếc trực thăng chở quân loại CH-21 đổ 2 Tiểu đoàn bộ binh xuống phía sau ấp, rồi hình thành 2 gọng kìm bao vây lực lượng quân Giải phóng bên trong. Lần lượt ba chiếc trực thăng chiến đấu xuất hiện, bắt đầu bắn súng máy và rocket. Chờ trực thăng tới gần, quân Giải phóng khai hỏa hàng loạt súng tự động và súng trường từ kênh tưới. Bằng cách đánh phục kích này, đến trưa ta loại khỏi vòng chiến đấu 5 chiếc trực thăng. Đợt tấn công thứ 2 bằng trực thăng đã thất bại.

Các toán quân của Sư đoàn 7 Việt Nam Cộng hòa tiến vào ấp từ phía bắc. Đến 12 giờ 15 phút, cuối cùng tiểu đoàn Sài Gòn đến Tân Thới. Rồi trước 13 giờ những chiếc xe thiết giáp M-113 tiến lại dần dần trên đồng ruộng. Quân Giải phóng không có vũ khí chóng tăng nên không thể chiến đấu chống xe bọc thép M-113 có hiệu quả. Để truyền cho các toán quân can đảm đứng lên chống xe bọc thép với vũ khí nhẹ và lựu đạn, các chỉ huy của quân Giải phóng đã lên một bản danh sách những điểm yếu của xe bọc thép: người bắn súng máy trên đỉnh đứng sau giá súng để lộ từ thắt lưng trở lên, hoặc có thể bắn trúng lái xe qua khe ngắm, những chiến sĩ dũng cảm thì có thể tiếp cận rồi ném lựu đạn lên nóc xe. 

Các chỉ huy cũng đã truyền thụ cho chiến sĩ tập trung bắn vào M-113 như đã bắn máy bay. Mỗi tiểu đội hoặc trung đội phải chọn chiếc xe gần nhất rồi bắn tập trung vào đấy, không để hỏa lực bị phân tán. Khi tốp đi đầu gồm 3 xe thiết giáp M113 đã vào đúng tầm, các loại hỏa lực của quân Giải phóng gồm súng trường, đại liên, súng cối, súng phóng lựu được lệnh đồng loạt phát hỏa, 1 xe M113 bị diệt, một số chiếc khác bị đánh hỏng. Mũi tấn công bằng thiết giáp bị chặn lại.

Khoảng 17h00 ngày 2/1, đợt tiến công mới được thực hiện bằng máy bay vận tải C47 chở Tiểu đoàn nhảy dù số 8 tới ấp Tân Thới. Nhưng phần lớn quân nhảy dù đều rơi vào trận địa mai phục của Đại đội 1 – Tiểu đoàn 514, nhiều lính bị tiêu diệt khi chưa kịp thoát khỏi dù. Cùng lúc đó, ở hướng Đại đội 1 – Tiểu đoàn 216, những chiếc thiết xa M113 còn lại tiếp tục bị chặn đánh… Về phía quân Giải phóng, tuy giành thắng lợi lớn nhưng dự trữ đạn dược cũng đã hao hụt nhiều (trang bị của quân Giải phóng khi đó rất thiếu thốn, dự trữ súng đạn đều ít nên khi bắn phải thật tiết kiệm). Nhận thấy đã đạt mục đích là gây thiệt hại nặng cho địch và đúc kết được nhiều kinh nghiệm tác chiến, lúc 22 giờ cùng ngày 2/11/63, quân Giải phóng theo hàng dọc rút về hướng căn cứ Đồng Tháp Mười. 

Kết quả: Sau một ngày chiến đấu, với 5 đợt tấn công bằng những phương pháp tác chiến "tân kì nhất" như thiết xa vận, trực thăng vận, bủa lưới phóng lao... từ nhiều hướng, kể cả đổ bộ đường không bằng nhảy dù, song Quân lực Việt Nam Cộng hòa đều bị đẩy lùi. Kết quả trong trận này Quân lực Việt Nam Cộng hòa có 83 người thiệt mạng trên tổng số gần 200 lính thương vong, 3 cố vấn Mỹ bị giết và 16 cố vấn, phi công Mỹ bị thương. Phía Quân Giải phóng chỉ có 18 người chết.

Thượng tướng Trần Văn Trà cho biết: “Sau trận Ấp Bắc, xe thiết giáp, và các loại trực thăng không còn là nỗi kinh hoàng cho mọi người, không còn là bất khả trị nữa. Từng người du kích với khẩu súng trường, từng đơn vị nhỏ với súng liên thanh dám bắn và biết bắn hạ trực thăng theo gương thực tế của các chiến sĩ Ấp Bắc". Trung ương Cục miền Nam phát động cao trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”.  

2. TRẬN BÌNH GIẢ: Trận Bình Giã là trận đánh xảy ra vào cuối tháng 12 năm 1964 tại địa bàn làng Bình Giã, tỉnh Phước TuyPhía Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa: (1) Vài chục sỹ quan cố vấn Mỹ; (2) Tiểu đoàn 4 Thủy quân Lục chiến Quân lực Việt Nam Cộng hòa; (3) Tiểu đoàn 30 và Tiểu đoàn 31 Biệt động quân; (4) Hàng chục trực thăng, máy bay, xe tăng, xe thiết giáp các loại. Phía Quân Giải phóng miền Nam: (1) Trung đoàn bộ binh Q761; (2) 4 tiểu đoàn trợ chiến gồm Cối 81, DKZ75, trọng liên 12ly7; (3) Quân khu 7 chi viện 2 tiểu đoàn tập trung là tiểu đoàn 700 và tiểu đoàn 800; (4) Quân khu 6 hỗ trợ bằng tiểu đoàn tập trung là Tiểu đoàn 186; (6) Đại đội 445 bộ đội địa phương tỉnh Bà Rịa cũng tham gia phục vụ chiến dịch

Diễn tiến trận đánh: Ngày 28 tháng 12 năm 1964: Một tiểu đoàn của Quân Giải phóng (QGP) tấn công và chiếm làng Bình Giã do 2 trung đội Địa phương quân của QLVNCH trấn giữ. Tiểu đoàn 30 Biệt Động Quân QLVNCH được trực thăng vận đến tái chiếm làng Bình Giã bị phục kích và thiệt hại nặng, phần còn lại rút và cố thủ trong nhà thờ làng. Hôm sau, ngày 29 tháng 12, Tiểu đoàn 38 Biệt Động Quân được trực thăng vận xuống phía nam làng và tổ chức đánh trả. Trận chiến kéo dài cả ngày nhưng lực lượng Biệt Động Quân không tái chiếm được làng Bình Giã.

Ngày 30: Vào buổi sáng, tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến được gởi đến tăng cường, nhưng QGPMN đã rút lui ra khỏi làng. Ngày 31: Tiểu đoàn 4 TQLC nhận lệnh đi tìm chiếc trực thăng và phi hành đoàn bị bắn rơi trước đó trong đồn điền cao su cách Bình Giã 4 km. Đại đội 2 TĐ4 TQLC lọt vào ổ phục kích của QGP và bị tiêu diệt, phần còn lại của TĐ4 TQLC đến cứu viện cũng bị thiệt hại nặng và phải lui về Bình Giã. Ngày 1 tháng 1 năm 1965: hai tiểu đoàn Nhảy Dù, TĐ1 và TĐ3 được trực thăng vận đến phía đông làng để tăng viện nhưng Quân Giải phóng đã rút lui.

Kết quả: Phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tổng cộng có 201 quân nhân thiệt mạng, 192 người bị thương, và 68 người mất tích. Các Cố vấn TĐ4 TQLC Donald G. Cook, và Cố vấn TĐ33 BĐQ Harold G. Bennett và Charles E. Crafts bị bắt làm tù binh. Tháng 6 năm 1965, Thông tấn xã Việt Nam ở Hà Nội đã loan tin rằng ngày 24 tháng 6 năm 1965, Bennet đã bị xử bắn để trả đũa việc quân lực VNCH xử tử hình công khai ông Trần Văn Đang bị bắt ngày 3 tháng 5 năm 1965 khi mang chất nổ dự định tấn công cư xá sĩ quan Hoa Kỳ trên đường Võ Tánh, Sài Gòn. 

Sau trận này, Đại tướng Hoàng Văn Thái đánh giá đây là một thắng lợi quan trọng, là "… một chiến dịch quy mô nhỏ nhưng có ý nghĩa chiến lược, mở đầu thời kỳ mới của chiến tranh cách mạng miền Nam". Trung đoàn chính quy đầu tiên của quân Giải phóng thành lập ở miền Nam, trung đoàn Q761, được gọi là "đoàn Bình Giã" để tuyên dương.

3. TRẬN ĐỒNG XOÀI: Trận Đồng Xoài là trận đánh tiếp theo sau chiến thắng tại Bình Giã chỉ huy của QGP đã quyết định thực hiện các cuộc tấn công tiếp theo trong một nỗ lực hủy diệt nhiều đơn vị của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trận Đồng Xoài diễn ra từ 10 tháng 6 đến 12 tháng 7 năm 1965. Phía Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa: Quận Đồng Xoài do các đơn vị lực lượng đặc biệt và địa phương quân trú đóng. 2 trung đoàn BB vừa được tăng viện. Và 1 trại của Lực lượng đặc biệt Đồng Xoài dù nằm ở tỉnh Tây Ninh nhưng cách đó không xa. Phía Quân Giải phóng (QGP) miền NamTrung đoàn Q762 và một số bộ phận của Trung đoàn Q763 mới được thành lập.

Diễn tiến trận đánh: Trận đánh bắt đầu vào rạng ngày 10 tháng 6 sau nửa đêm, Trung đoàn Q762 với một số đơn vị từ Q763 tấn công quận Đồng Xoài bằng súng cối vào các boong ke và các vị trí súng máy. Vòng phòng thủ ngoài bị phá hủy và QGP chiếm được các hệ thống boong ke chủ chốt. Thiếu úy Charles W. Williams, chỉ huy biệt đội đặc biệt ra lệnh cho quân mình giữ vững vị trí phòng thủ bên trong sở chỉ huy quận. Cùng lúc không lực Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa không kích vào các vị trí của QGP bằng bom napalm… Một trực thăng Huey UH-1 của Không lực Hoa Kỳ chở một số binh lính Sư đoàn 5 Việt Nam Cộng hòa tăng viện cho quân phòng thủ, bị hỏa lực phòng không của QGP ngăn trở không hạ cánh được. Hôm sau Tiểu đoàn 42 QLVNCH đến tăng viện phải hạ cánh xuống Thuận Lợi. 

Một tiểu đoàn Mỹ đáp xuống đường băng Đồng Xoài được, nhưng tướng William Westmoreland không cho tham chiến. Trong khi đó Trung đoàn Q762 QGP tiếp tiếp bao vây, tiêu diệt đối phương, phần lớn là lực lượng tăng viện. Sáng 11/6, Tiểu đoàn Dù 7 và Tiểu đoàn Biệt động quân 46 cùng 1 đại đội pháo 105mm tiếp ứng cho Đồng Xoài. Ngày 12/6, khi Tiểu đoàn Dù 7 tiến vào khu vực đồn điền Thuận Lợi, bị Trung đoàn Q762 vận động phục kích tiêu diệt gần hết. Đây là tiểu đoàn dù đầu tiên thuộc lực lượng cơ động chiến lược và là thần tượng về sức mạnh của quân đội Sài Gòn bị QGP tiêu diệt, khiến cho quân Việt Nam Cộng hòa đóng ở Củ Chi, Cây Trắc... dọc quốc lộ 1 hoang mang.

Các điều kiện bên trong quận Đồng Xoài tiếp tục xấu đi với việc thực phẩm, nước, thuốc men và đạn dược còn ít. Sau một đêm kinh sợ bên trong trại, các cố vấn Hoa Kỳ đã quyết định rút quân. Trước sáng sớm ngày 12 tháng 6, QGP đã rút lui và biến mất trong rừng để lại Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị đánh tan tác. Từ chiến thắng ở Đồng Xoài, QGP tiếp tục thực hiện đợt 3 chiến dịch, từ ngày 24-6 đến ngày 22 tháng 7 năm 1965. Trên hướng Đường 13, Trung đoàn Q762 tập kích một chiến đoàn hỗn hợp địch ở khu vực Bàu Bàng. Trên hướng Bù Đốp, Trung đoàn 273 tiến công trại huấn luyện biệt kích và chi khu Bù Đốp, diệt 2 đại đội, buộc địch phải rút bỏ cứ điểm Bù Gia Mập. Ngày 22 tháng 7 năm 1965, QGP chủ động kết thúc chiến dịch.

Kết quả, Sau hơn 2 tháng (10/5-22/7/1965) tiến công, chiến dịch Đồng Xoài kết thúc với thắng lợi của QGP. Cùng với các trận Ấp Bắc, Bình Giã, thắng lợi của chiến dịch Đồng Xoài góp phần làm thất bại hoàn toàn chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ở miền Nam; đánh dấu bước trưởng thành mới về trình độ tổ chức chuẩn bị và tác chiến tập trung của quân Giải phóng.

4. TRẬN NÚI THÀNH: Trận Núi Thành là trận đánh diễn ra vào đêm ngày 25, rạng sáng ngày 26 tháng 5 năm 1965 khi một đại đội QGP tấn công Đại đội 2, Sư đoàn 3 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ tại địa bàn huyện Nam Tam Kỳ (huyện Núi Thành), tỉnh Quảng Nam. Trận chiến đấu diễn ra gần 30 phút, sử dụng kĩ thuật tiềm nhập của đặc công từ 3 hướng. Theo phía Quân Giải phóng, họ đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng gần như toàn bộ đơn vị lính Mỹ trong trận đánh này. Hiện nay, hầu như không có một tài liệu nào ở Mỹ nói về trận đánh.

5. TRẬN BA GIA: Chiến dịch Ba Gia diễn ra từ ngày 28 tháng 5 đến 20 tháng 7 năm 1965 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Phía Quân Giải phóng: lực lượng Quân khu 5 của Quân Giải phóng miền Nam gồm trung đoàn 1 bộ binh, tiểu đoàn 45 độc lập bộ đội chủ lực và tiểu đoàn 48, tiểu đoàn 83 bộ đội địa phương tỉnh đội Quảng Ngãi. Phía Quân lực Việt Nam Cộng hoà gồm trung đoàn 51 bộ binh, và lực lượng cơ động ứng cứu, Chiến đoàn B Thủy quân lục chiến (tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 3) và Liên đoàn 1 Biệt động quân (tiểu đoàn 37, tiểu đoàn 39).

Diễn tiến trận đánh: Khêu ngòi: Đêm 28/5, QGP dùng một trung đội bộ đội địa phương huyện Sơn Tịnh tập kích hai trung đội dân vệ đóng ở ấp chiến lược Diên Niên, Sáng sớm 29/5, đại đội dã ngoại VNCH thuộc tiểu đoàn 1/51 từ núi Tròn xuống ứng cứu lọt vào trận địa phục kích của đại đội 2/90 QGP ở núi Khỉ, phần lớn toán đi đầu bị tiêu diệt, số còn lại dựa vào địa hình chống trả và kêu cứu viện. Đánh điểm: Đến 10 giờ sáng 29/5, phần lớn lực lượng còn lại của tiểu đoàn 1/51 VNCH từ Gò Cao kéo xuống tiếp viện, lọt vào trận địa phục kích của tiểu đoàn 90 QGP ở khu vực giữa Núi Tròn và Núi Khỉ. Bị tấn công bất ngờ, đội hình tiểu đoàn 1/51, không thể phản kích hiệu quả và bị tiêu diệt sau 5 giờ chiến đấu, QGP diệt và làm bị thương 270, bắt sống 217 tù binh VNCH.

Điều quân: Sáng 30/5/1965, chỉ huy quân đoàn 1 VNCH điều tiểu đoàn 39 BĐQ của vùng 1, tiểu đoàn 3 TQLC thuộc lực lượng tổng trừ, cùng tiểu đoàn 2/51, thành lập Chiến đoàn từ thị xã Quảng Ngãi tiến lên Ba Gia, nhằm giải vây cho đồn Gò Cao. Chiến đoàn này dùng 20 chiếc xe GMC và 12 xe bọc thép M113 từ Quảng Ngãi chở quân theo tỉnh lộ 5 lên Tịnh Hà. Đến ngã ba Lâm Lộc, chiến đoàn chia thành hai cánh: Cánh của tiểu đoàn 2/51 BB và tiểu đoàn 3 TQLC tiếp tục tiến theo trục tỉnh lộ 5 từ Sơn Tịnh đi Sơn Hà hướng tây tới Ba Gia. Cánh tiểu đoàn 39 BĐQ rẽ theo đường An Thuyết - Vĩnh Lộc - Vĩnh Khánh hướng tây bắc chiếm núi Chóp Nón hình thành thế bao vây phía sau đội hình QGP.

Diệt viện: Đến 14 giờ ngày 30/5, tiểu đoàn 39 BĐQ chạm súng với tiểu đoàn 45 QGP tại núi Chóp Nón, bị tiêu diệt một bộ phận. Phía QLVNCH dùng phi pháo bắn phá dữ dội vùng xung quanh để hỗ trợ tiểu đoàn 39 BĐQ. QGP chủ trương vây chặt, kìm chân địch tại chỗ. Trên hướng Phước Lộc, tiểu đoàn 3 TQLC và tiểu đoàn 2/51 QLVNCH tiến đến Phước Lộc và cao điểm 47 trên đồi Mả Tổ, chiếm lĩnh địa hình có lợi, chuẩn bị đối phó với QGP.  Không còn yếu tố bí mật nữa, QGP nhanh chóng chuyển cách đánh từ "vận động phục kích" sang "vận động tấn công". Tiểu đoàn 60 QGP xuất kích tiêu diệt một bộ phận của tiểu đoàn 3 TQLC ở cao điểm 47, đồi Mả Tổ phía bắc ấp Phước Lộc, QGP và QLVNCH giành giật nhau cao điểm 47 quyết liệt… Sau 2 giờ bị lực lượng QGP tấn công chia cắt đội hình, tới tối chiến đoàn VNCH co cụm lại ở ba điểm nhưng không liên lạc với nhau được. 

Trung đoàn 1 QGP quyết định xốc lại lực lượng, chuẩn bị đánh đêm. Tiểu đoàn 45 QGP bí mật, bất ngờ, nhanh chóng tập kích tiêu diệt gọn tiểu đoàn 39 BĐQ ở Chóp Nón. Ở ấp Phước Lộc, tiểu đoàn 2/51 VNCH dựa vào các đường hào ấp chiến lược cũ chống trả quyết liệt, đến 4 giờ sáng 31/5, tiểu đoàn 40 QGP mới tiêu diệt được tiểu đoàn 2/51 VNCH. Cùng lúc đó, tiểu đoàn 60 GQP tập kích tiêu diệt đại bộ phận tiểu đoàn 3 TQLC ở cao điểm 47 đồi Mả Tổ. Đến 4 giờ 30 phút sáng 31/5, toàn bộ trận đánh kết thúc. Thừa thắng, từ ngày 1/6 đến 30/6/1965, trung đoàn 1 QGP đã phối hợp với các lực lượng tại chỗ hoạt động tác chiến, hỗ trợ quần chúng phá banh hàng chục ấp chiến lược, giải phóng 15.000 dân ở 5 xã Sơn Trung, Sơn Thành, Sơn Mỹ, Bình Khánh, Bình Kỳ. 

Sydney ngày 27 tháng 3 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN BA

Bài 88: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 6-9/1965.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1965. Ngày 19/6, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố hoan hỷ thấy cuộc khủng hoảng chấm dứt và tân chính phủ VNCH mới được thành lập. Hoa Kỳ sẽ giúp đở chống Cộng. Ngày 21/6, Bộ trưởng QP Mỹ Mc Namara cho biết sẽ gởi thêm 21.000 quân sang VN, và đang Huấn luyện chiến tranh du kích cho 15.000 khác. Ngày 22/6, một Phi đội F100 Supersabre Mỹ tới VN. Ngày 26/6, Hội nghị các nước trong Khối Liên hiệp Anh bế mạc cử một Phái đoàn vận động hoà bình cho Việt Nam sẽ đề nghị: Mỹ chấm dứt oanh tạc Bắc Việt; Bắc Việt chấm dứt xâm nhập miền Nam; ngưng bắn để hoà đàm; kết thúc chiến tranh; triệt thoái lực lượng ngoại quốc; thành lập 1 lực lượng Quốc tế bảo vệ hoà bình cho Việt Nam. Ngày 29/6 Kossyguine kêu gọi các nước CS gia tăng viện trợ cho Bắc Việt. 

Ngày 30/6, quân số Mỹ tại Việt Nam: ngày 31/12/63: có 16.500; ngày 31/12/64: 21.353; ngày 7/3/65: 2 tiểu đoàn TQLC Mỹ đổ bộ lên Đà Nẳng; ngày 8/4/65: 32.000; ngày 19/4/65: 33.000; ngày 7/5/65: 42.000; Và, ngày 8/6/65 là 51.000. Ngày 1/7, một Tiểu đoàn TQLC đổ bộ lên Quy Nhơn. Ngày 8/7, Tổng thống Mỹ Johnson chấp nhận đơn từ chức Đại sứ Mỹ tại Việt Nam của tướng Taylor. Và, bổ nhiệm Cabot Lodge thay thế Taylor. Ngày 9/7, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố sẽ tăng quân số Mỹ tại VN theo yêu cầu của tướng Westmoreland, có thể lên quá 75.000. Ngày 12/7, trên 3.900 quân Lữ đoàn 2 thuộc Sư Đoàn 1 BB Mỹ đổ bộ lên Cam Ranh. Ngày 16/7, Bộ trưởng QP Mỹ, McNamara, Tổng TMT Wheeler, Đại sứ Cabot Lodge sang Việt Nam xem xét tình hình, hội thảo với nhà cầm quyền VN và các giới chức quân sự suốt ngày 17/7. 

Ngày 21/7, Bộ trưởng QP McNamara và Đoàn trở về Mỹ sau 5 ngày thăm VN xem xét tình hình quân sự tại đây. Thay đổi cơ cấu tổ chức quân sự Mỹ tại VN: Bộ Tư lệnh Yểm trợ (US Army Support Command) thành Bộ Tư lệnh Quân đội Mỹ (US Army Command) với quyền chỉ huy, điều động toàn lực quân sự Mỹ tại VN. Tướng Westmoreland giữ chức Tư lệnh Quân đội Mỹ và Trưởng Phái đoàn Viện trợ Quân sự MACV. Ngày 25/7, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố đã tiến công hoà bình 13 lần, nhưng chưa có kết quả, chỉ còn cách là dùng võ lực, nhất quyết bảo vệ VNCH. Ngày 26/7, Đội Pháo binh Tân Tây Lan 108 người, 15 xe, 4 đại bác 105 ly tới Sài Gòn. Ngày 28/7, Tổng thống Mỹ Johnson họp báo truyên bố, quân Mỹ tại VN sẽ tăng từ 75.000 lên thành 125.000. Một Sư đoàn Không vận với 434 trực thăng được gởi sang VN. Ngày 30/7, Đại sứ Mỹ Maxwell D. Taylor rời VN trở về Mỹ. 

Ngày 4/8, Tổng thống Johnson yêu cầu Quốc hội cấp thêm 1,7 tỷ Mỹ kim để tăng quân tại VN. Ngày 6/8, Quân đội Mỹ thành lập một Chiến đoàn ALPHA hành dinh tại Nha Trang gồm các lực lượng Thuỷ-Bô Vùng I và Vùng II Chiến thuật. Ngày 6/8, Theo Bộ Ngoại giao Mỹ, Sư đoàn 325 BV đã vô Nam qua ngã Lào. Ngày 7/8, Thông tấn xã Trung Cộng đưa tin Trung Cộng sẽ gởi quân chiến đấu sang giúp Bắc Việt. Ngày 10/8, Đại tướng Taylor cựu ĐS Mỹ tại VNCH truyên bố VNCH cần gọi thêm 140.000 người nhập ngũ. Ngày 19/8, Quân số Mỹ tại VN 88.000 gồm: 41.000 LQ, 29.000 TQLC, 12.000 KQ, 4.650 HQ và 250 thuộc lực lương tuần dương. Ngày 20/8, Cabot Lodge đến Sài Gòn nhận chức Đại sứ Mỹ tại Việt Nam. Ngày 23/8, Có 70 Y sĩ Hoa Kỳ tình nguyện sang giúp dân thường VN từ tháng 2 đến 6 tháng. Ngày 24/8, thêm 1 tiểu đoàn TQLC nữa tới Đà Nẵng. Ngày 29/8, Tướng Edward Landale trở lại VN làm Phụ tá cho Đại sứ Cabot Lodge. 

Ngày 1/9, tướng Edward Lansdale được cử liên lạc viên giữa cơ quan viện trợ USAID và Uỷ ban Xây dựng Nông thôn. Ngày 2/9, có 3 chiến hạm Mỹ chở Phi đoàn Không lực 36 Mỹ tới Chu Lai. Ngày 5/9, William Porter được cử làm Phó Đại sứ Mỹ tại VN thay thế Alexix Johnson. Tướng Harry Kinnard cho biết, Sư đoàn 1 Không vận Mỹ sẽ tới VN gồm: 16.000 người; 426 trực thăng; 1.5000 quân xa; 2 tiểu đoàn Pháo binh 105 ly sẽ hoạt động tại Cao Nguyên và Duyên hài Trung phần. Ngày 12/9, Sư đoàn 1 Không vận từ Mỹ tới Quy Nhơn lên đóng tại An Khê. Ngày 15/9, trên 2.500 quân Mỹ thuộc các đợn vị tiếp vận và yểm trợ tới Cam Ranh. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1965. Ngày 12/6, lại kịch chiến tại Đồng Xoài, Phước Long. Ngày 13/6, hành quân Quyết Thắng 495 tại Quảng Nam. Ngày 15/6, không lực Mỹ oanh tạc cầu sông Đáy. Ngày 16/6, không lực Mỹ oanh tạc Sầm Sơn, Thanh Hoá. Ngày 17/6, không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt, 2 phi cơ bị bắn rớt. Ngày 18/6, máy bay B52 Mỹ ném bom chiến khu D. Ngày 19/6, Hành quân Tự Lực 156, tại Quảng Ngãi. Ngày 20/6, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 1 máy báy Mig 17 bị Skyraider Mỹ bắn hạ cách Hà Nội 60 dăm về phía Nam. Ngày 21/6, Phi cơ Mỹ oanh tạc Mộc Châu cách Hà Nội 80 dặm về phía Tây Bắc. Giao tranh tại Bình Sơn, Quảng Ngãi. Ngày 22/6, hành quân Lam Sơn 180 tại Thừa Thiên. Kịch chiến tại Bình Kỳ, Quảng Ngãi. Các vụ oanh tạc của phi cơ Mỹ ngày càng lấn xa trên Vỹ tuyến 20, hôm nay oanh tạc Sơn La và Bản Nước Chiên cách Hà Nội 70 dặm về phía Tây. 

Ngày 23/6, hành quân Tự Lực 157 tại Quảng Ngãi. Kịch chiến tại Dak Dem, Kon Tum. Cùng ngày 25/6, phi cơ Mỹ oanh tạc các kho đạn Quy Hậu, doanh trại Sơn La và Mộc Châu cùng phi trường Nà Sản. Vào lúc 20 giờ 2 vụ nổ liên tiếp tại Bến Bạch Đằng trước Nhà hàng Nổi Mỹ Cảnh: 35 người chết, 18 Mỹ, 17 Việt; 52 bị thương 20 Mỹ, 5 cảnh sát. Ngày 26/6, kịch chiến tại Đức Hoà, Hậu Nghĩa. Đồn Toumorong, Kontum bị tràn ngập. Ngày 27/6, hành quân Tiền Giang 24/65/SĐ tại Định Tường. Ngày 28/6, căn cứ Không quân và Hải quân Nha Trang, Khánh Hoà bị pháo kích. Ngày 29/6, hành quân Tiền Giang 25/65/SĐ tại Định Tường. Ngày 30/6, hành quân Dân Tiến 107 tại Phú Bổn. Ngày 1/7, Phi trường Đà Nẳng bị pháo kích và đột kích. Ngày 2/7, hành quân 111 tại Hương Thuỷ, Thừa Thiên. Phi cơ Mỹ oanh tạc căn cứ quân sự Điện Biện Phủ, và kho dầu Nam Định. 

Ngày 3/7, hoạt động quân sự tuần qua: VC: 224 lần tấn công, phá hoại. VNCH: 117 cuộc HQ cấp trên Đại Đội; 17.611 HQ cấp trên tiểu đoàn; 2.140 Phi xuất Không quân; 2.271 Hải xuất Hải quân. Ngày 4/7, hành quân Dân Chí 143/SĐ tại Bạc LiêuNgày 6/7, Liên quân Việt-Mỹ-Úc mở cuộc hành quân vùng chiến khu D, có phóng pháo B 52 từ Guam sang thả 500 tấn bom yểm trợ. Quận lỵ Dak Tô, Kon Tum bị đột kích. Kịch chiến tại Bà Giá, Quảng Ngãi. Ngày 7/7, hành quân Phi Long 902/SĐ tại Vĩnh Bình. Ngày 8/7, Phi cơ Mỹ oanh tạc Bến Thuỷ, Bái Thượng và các kho vũ khí Yên Bái, 2 Mig 17 bị Phantom Mỹ bị Bắc Việt bắn hạ. Ngày 10/7, hành quân Lam Sơn 181 tại Thừa Thiên. Ngày 12/7, Phi cơ Mỹ oanh tạc Yên Bái. Ngày 13/7, phi cơ Mỹ lại oanh tạc Yên Bái. Ngày 15/7, kịch chiến tại Duy Xuyên, Quảng Nam. Ngày 16/7, Hành quân Thần Phong quốc lộ 19 tại Bình Định. Ngày 18/7, hành quân Lam Sơn 184 tại Thừa Thiên. 

Ngày 19/7, hành quân Quyết Thắng 46 tại Quảng Tín. Hành quân Lê Lợi 14/2 tại Vĩnh Bình. Ngày 20/7, kịch chiến tại Bù Đốp, Phước Long. Ngày 27/7, phi cơ Mỹ oanh tạc nhà máy điện Thanh Hoá và 2 dàn hoả tiển SAM, 1 dàn hoả tiển SAM bị phá, 3 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Ngày 25/7, không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt 1 phi cơ bị hoả tiển SAM bắn rớt. Ngày 26/7, hành quân Phi Long 923 tại Vĩnh Long. Hành quân Liên Kết 5 tại Quảng Ngãi. Ngày 29/7, hành quân Quyết Thắng 44 tại Quảng Nam. Ngày 1/8, hành quân Quyết Thắng 316 tại Quảng Ngãi. Hành quân Bình Thuận 38 tại Phan Thiết. Ngày 3/8, hành quân Liên Kết 6 tại Quảng Nam. Hành quân Tự Lực 163 tại Quảng Ngãi. Hành quân Quyết Thắng 160 tại Phú Yên. Hành quân Quyết Thắng 161 tại Bình Định. Ngày 4/8, Phóng pháo cơ B 52 Mỹ từ Guam sang dội 210 tấn bom xuống Mật khu Đỗ Xá, Quảng Nam-Kontum. Phi cơ Mỹ oanh tạc nhà máy điện Thanh Hoá. 

Ngày 6/8, Phi cơ Mỹ oanh tạc phá đường và các toa xe lữa Vùng Bảo Hà. Ngày 8/8, hành quân Dân Thắng 7 tại Pleiku. Ngày 9/8, không lực Mỹ oanh tạc BV phá huỹ 1 dàn hoả tiển SAM gần Hà Nội. Ngày 12/8, hành quân Bình Thuận 41/65 tại Bình Thuận. Hành quân Tiền Giang 32/65 tại Kiến Tường. Hành quân Dân Chí 151/SĐ tại Phong Dinh. Ngày 16/8, hành quân Dân Chí 151 tại Bạc Liêu. Mấy tên Việt Cộng đi 2 xe hơi đột nhập phía sau Tổng Nha Cảnh sát đường Cộng Hoà, bắn chết 2 Cảnh sát, cho 1 xe đâm vào 1 căn phòng mìn nổ, 5 cảnh sát tử thương, 10 bị thương, 2 căn nhà sập, 5 xe hư hại. VC tẩu thoát. Ngày 17/8, không lực VNCH phá huỷ 26 doanh trại ở Đông Thành, Đồng Hới. Không lực Mỹ oanh tạc Điện Biên Phủ, Sơn La, các trục giao thông từ Thanh Hoá đến Bến Hải. Ngày 18/8, hành quân TQLC Mỹ Starlight vùng Vạn Tường, đánh 1 Trung đoàn chính quy BV. Ngày 19/8, hành quân Mỹ Starlight Vạn Tường, sang ngày thứ hai, 23 trực thăng và nhiều đội Skyhawk tới dội 44 tấn bom và 300 hoả tiễn. 

Ngày 21/8, phi cơ Mỹ ném bom Đập Mốc và nhà máy Thuỷ điện Bản Thạch. Ngày 22/8, phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc nhà máy Thuỷ điện Bản Thạch. Ngày 23/8, nhà máy Thuỷ điện Bản Thạch bị phi cơ Mỹ oanh tạc lần thứ 3. Ngày 24/8, Phi cơ Mỹ ném bom gần Thanh Hoá, 1 Phantom Mỹ bị hoả tiển SAM bắn rớt. Ngày 26/8, phi cơ Mỹ thực hiện 281 phi xuất ném 248 tấn bom xuống 236 căn nhà và các cơ sở quân sự ở Bắc Việt. Ngày 29/8, Phóng pháo cơ B52 từ Guam bay sang VN dội bom xuống 1 vùng thuộc tỉnh Quảng Tín và 1 vùng khác tại Chiến khu C thuộc tỉnh Biên Hoà. Ngày 1/9, lần thứ 15 phóng pháo cơ B 52 từ đảo Guam bay sang VN oanh tạc Chiến khu D. Ngày 3/9, hành quân Phi Long 929 tại Vĩnh Bình. Ngày 3/9, phi cơ Mỹ oanh tạc Điện Biên Phủ và căn cứ Bàn Non Lục. Tại miền Nam, 65 phi xuất của không lực VNCH và 67 phi xuất của không lực Mỹ dội 215 tấn bom xuống các căn cứ và thuyền bè VC. 

Ngày 7/9, Phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Việt phá cầu Lào Kay. Và phi cơ VNCH oanh tạc Vĩnh Linh. Ngày 8/9, hành quân Dân Thắng 12 tảo thanh Quốc lộ 14. Ngày 8/9, không lực Mỹ oanh tạc cầu Lào Kay. Ngày 10/9, hành quân Tâm Thắng 119 tại Darlac. Hành quân Dân Chí 159/SĐ tại Chương Thiện. Ngày 14/9, hành quân Cactus tại Bình Định. Ngày 15/9, không lực Mỹ oanh tạc Bắc Kạn, Nam Định. Ngày 17/9 Đại đội Cảnh sát Bến Hải bị phi cơ Mỹ oanh tạc nhầm 7 cảnh sát và 20 thân nhân thiệt mạng. Ngày 18/9, hành quân Xây Dựng 6 tại Bình Long – Bình Dương. Ngày 19/9, hành quân Hùng Vương 9 tại Bình Dương. Ngày 20/9, phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Việt, 5 phi cơ bị bắn rơi. Ngày 22/9, hành quân Gibraltar (Mỹ) tại An Khê, Bình Định. Ngày 22/9, hành quân hỗn hợp Việt-Mỹ-Úc vào Chiến khu D, Bình Dương phá nhiều cơ sở VC: bệnh viện 200 giường; trại huấn luyện… 

Ngày 23/9, hành quân Lam Sơn 196 tại Thừa Thiên. Ngày 24/9, hành quân Quyết Thắng 165 tại Bình Định. Ngày 26/9, hành quân Shiloh (Mỹ) tại An Khê. Ngày 27/9, không lực Mỹ oanh tạc cầu Ninh Bình và Đông Phong Thượng. Ngày 27/9, phi cơ Mỹ oanh tạc cầu Ninh Bình và cầu Đông Phong Thượng. Ngày 28/9, hành quân Bồng Sơn 18 tại Hoài Nhơn, Bình Định. Hành quân Quyết Thắng 355 tại Quảng Nam. Ngày 29/9, Việt Cộng pháo kích và đột kích tại Hậu Nghĩa. Ngày 30/9, phi cơ Mỹ oanh tạc vùng Nam Định, Ninh Bình. 1 phi cơ Mỹ Thunderchief bị hoả tiển SAM bán rớt.  

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1965. Ngày 11/6, Các tướng lĩnh nhóm họp tại Sài gòn để xét thư của Thủ tướng Phan Huy Quát, kết quả là các tướng lĩnh đồng ý nhận lời yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát, quyết định thành lập một “Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia” để lãnh đạo đất nước theo nguyên tắc “Ủy Ban quyết định, thành viên thi hành” Thành viên Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia căn cứ vào các chức vụ đương nhiệm trong quân đội gồm 11 vị: Chủ Tịch; Tổng Thư Ký; Thủ Tướng; Tổng Trưởng Quốc Phòng; Tổng Tham Mưu Trưởng; Tư Lệnh Hải Quân; Tư Lệnh Không Quân; Tư Lệnh Quân Đoàn I; Tư Lệnh Quân Đoàn II; Tư Lệnh Quân Đoàn III; và Tư Lệnh Quân Đoàn IV. 

Kết quả bầu chọn: (1) Chủ Tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu; (2) Tổng Thư Ký: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu; (3) Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tức Thủ Tướng: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Kỳ còn kiêm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Không Quân; (4) Tổng Ủy Viên Chiến Tranh tức Tổng Trưởng Quốc Phòng: Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng Có còn kiêm nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa; (5) Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân; (6) Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I; (7) Thiếu Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II; (8) Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tư Lệnh Quân Đoàn III; (9) và Thiếu Tướng Đặng Văn Quang, Tư lệnh Quân Đoàn IV.

Ngày 19/6, Ban hành Ước Pháp mới gồm 7 thiên, 25 điều, thành lập Đai Hội đồng Quân lực Việt Nam Cộng hoà, Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Thượng Hội đồng thẩm phán. Các tướng Nguyễn Văn Thiệu, Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Cao Kỳ được xác định là thành phần UBLĐQG. Uỷ ban Hành pháp Trung ương tức chính phủ được thành lập. Hội đồng Quốc gia Lập pháp giải tán. Cùng ngày 19 tháng 06 năm 1965, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ trình diện Chính phủ, lên Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, với danh xưng Ủy ban Hành pháp Trung ương gồm: 5 Tổng Uỷ viên, 10 Uỷ viên, 2 Thứ uỷ. Cùng ngày 20/6, Chuẩn tướng Vĩnh Lộc Tư lệnh Biệt khu Thủ đô được cử giữ chức Tư lệnh Vung II Chiến thuật thay thế Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có. Thiếu tướng Lê Nguyên Khang Tư lênh TQLC thay thế tướng Vĩnh Lộc giữ chức Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. 

Ngày 21/6, lễ bàn giao quyền lãnh đạo tại dinh Gia Long cho Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia. Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ tựu chức. Cùng ngày 21/6, một Việt Cộng 22 tuổi bị xử bắn tại Pháp trường cát trước chợ Bến Thành Sài Gòn, do mang 10 kg thuốc nổ định tới phá Câu Lạc Bộ Sĩ quan Mỹ đường Võ Tánh, Gia Định. Ngày 24/6, Nội các Chiến tranh họp báo tuyên bố tình trạng chiến tranh, áp dụng biện pháp khắc khổ, giảm một nữa tiền lương của các Tổng, Bộ trưởng trong Nội các, đóng cửa 36 Nhật báo để xét lại quy chế báo chí. Một số ký giả dự thính bỏ phòng họp ra về phản đối quyết định đóng cửa Nhật báo. Đoạn giao với Pháp. Giới nghiêm Sài Gòn-Gia Định từ 11 giờ đêm đến 2 giờ sáng. Ngày 25/6, Thiếu tướng Lê Nguyên Khang được bổ Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định. Cùng ngày 25/6, Uỷ viên Kinh tế được quyền trưng dụng lúa, gạo và các phó sản tại Sài Gòn và các tỉnh miền Tây để thoả mãn nhu cầu trong xứ. 

Cũng ngày 25/6, Thành lập Uỷ ban Tiếp tế Trung ương. Thành lập Uỷ ban bài trừ gian thương, và Tổng đoàn Thanh niên trừ gian để chống đầu cơ tích trử và hối lộ. Ngày 1/7, Hơn 55 phi cơ Vận tải C 47 của Không lực VN lập cầu không vận chở gạo lên Đà Lạt và chở rau về. Ngày 1/7, Kể từ hôm nay lương khoán của Chủ tịch UBLĐQG 45.000$/tháng, Chủ tịch UBHPTƯ là 35.000$, Tổng Uỷ viên 25.000$; Uỷ viên 23.000$; Thứ uỷ 21.000$/tháng. Các chí phí điện, nước do Ngân sách Quốc gia đài thọ. Ngày 5/7, từ nay đến hết 20/7 nông dân Vùng IV Chiến thuật chỉ được giữ lại một số lúa để ăn và làm giống, còn dư phải bán cho thương gia theo giá chính thức 60$/giạ lúa trắng và 54$/giạ lúa đỏ. Cùng ngày 7/7, hơn 8.000 TQLC Mỹ đổ bộ lên Đà Nẳng và Quy Nhơn. Ngày 7/7, tăng lương và phụ cấp cho QLVNCH từ Chủ lực quân, Địa phương quân và Nghĩa quân. 

Ngày 8/7, Tỉnh Phước Thành bị loại bỏ, lãnh thổ phân chia cho Phước Long và Bình Dương. Ngày 8/7, Hoa Kỳ viện trợ 50.000 tấn gạo trị giá 62 triệu Mỹ Kim. Ngày 18/7, sau khi Quốc lộ 19 được khai thông, chiều hôm nay đoàn Quân xa đã chở lên Pleiku 600 tấn hàng hoá. Ngày 20/7, Uỷ ban Thanh niên, Sinh viên tổ chức lễ “Rước Quốc Kỳ” từ Cà Mâu ra tới Bến Hải”. Tại Sân Vận động Cộng hoà, Sài Gòn tổ chức lễ Ngày Toàn dân Đoàn kết chuẩn bị Giải phóng miền Bắc. Ngày 20/7, Một đoàn Quân xa khác chở. 580 tấn hàng hoá từ Quy Nhơn lên Pleiku. Ngày 24/7, Có 1.765 thí sinh tham gia dự thị 60 chỗ học tại trường Thương mại Quốc gia. Ngày 30/7, có 7 phi cơ vận tải Mỹ chở 32 tấn gạo tiếp tế từ Sài Gòn cho Ba Mê thuột, gọi là chiến dịch Kỳ Duyên Mai. 

Ngày 3/8, Hội đồng Nội các quyết định chính phủ sẽ mua xe Taxi và xe Lam ba bánh bản trả góp cho công nhân nhằm “hữu sản hoá”. Ngày 15/8, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ Chủ tịch UBHPTƯ cùng 1 phái đoàn sang thăm Đài Bắc và Thái Lan. Ngày 18/8, an Bài trừ gian thương khám phá tại Sài Gòn 2 vụ tồn trử sắt bất hợp pháp do 2 người Việt gốc Hoa làm chủ. Ngày 25/8, Hội đồng Nội các quyết định một số chuyên viên thực sự cần thiết có thể được động viên tại chỗ theo đề nghị của Bộ sở quan. Ngày 27/8 Uỷ ban Bài trừ Gian thương lại khám phá thêm 2 vụ tồn trử sắt bất hợp pháp tại Sài Gòn. Cùng ngày 27/8, thoả hiệp giữa chính phủ VNCH và Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn việc “dùng Đô la đỏ” MPC (Military Payment Cẻtificate). Đô la Đỏ chỉ được dùng do quân nhân Mỹ và nhân viên thuộc QĐ Mỹ trong các Hợp tác xã và Câu lạc bộ Mỹ, hoặc phải đổi ra bạc Việt Nam qua một Quỷ đặc biệt kể từ 30/8. 

Ngày 31/8, thiết lập tại Ngân hàng Quốc gia 1 Quỷ đặc biệt để mua bán Ngoại tệ theo hối xuất tự do với trợ cấp đặc biệt cho người bán, và 1 đảm phụ đặc biệt do người mua phải chịu. Ngày 31/8, Định lại tuổi nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ phòng vệ dân sự: Nam từ 17-45; nữ độc thân từ 18-25. Ngày 4/9, tổng số dân tỵ nạn CS 620.708 người. Ngày 11/9, Hội nghị toàn quân tại Sài Gòn, có 1.686 đại biểu tham dự quyết nghị: chống Cộng sản xâm lăng; không liên hợp; không thương lượng với Việt Cộng và Bắc Việt; đã phá âm mưu gây rối chia rẽ; động viên công bằng, thực thi cách mạng xã hội; nâng đở binh sĩ và gia đình họ, huy động toàn lực quân- dân. Hội nghị bế mạc vào buổi chiều. Ngày 18/8 Bộ Lao động cho biết, 100 Taxi và 200 xe Lam 3 bánh đã được nhập cảng và đã bán cho cho các tài xế trả góp. Ngày 23/9, ký kết tại Bộ Ngoại giao thoả ước Viện trợ Mỹ cung cấp 100 tấn gạo Mỹ trị giá 12,5 triệu Mỹ kim. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1965. Ngày 4/8, Toà án quân sự Mặt trận Quân khu Thủ đô ra phán quyết vụ án “Phong trào Hoà bình và Phong trào Tự quyết: 3 án khổ sai hữu hạn, 12 tù treo, 6 tha bổng. Ngày 5/8, Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia quyết định cho giải ngũ các tướng Nguyễn Khánh, Đổ Cao Trí, Thái Quang Hoàng, Phạm Văn Đổng.

TỴ NẠN, HỒI CHÁNH. NĂM 1965. Ngày 15/7, số đồng bào tỵ nạn cộng sản đến 15/7 là 579.710 người: đã định cư 194.982; tạm trú 384.758. Tiền đã trợ cấp: 59.888.945$, không tính vật liệu xây cất. Ngày 4/8, tổng số người tỵ nạn CS: 581.181 người; định cư 195.050, tạm trú 386.131. Tiền trợ cấp: 61.988.655$.

Sydney ngày 28 tháng 3 năm 2024

 

Bài 89: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 10-12/65.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1965. Ngày 7/10, có 2.300 quân thuộc Sư đoàn 1 BB Mỹ tới Vũng Tàu. Và, 5.200/15.000 thuộc Sư đoàn Thanh Long của Đại Hàn tới Cam Ranh. Ngày 8/10, Hành dinh của Quân đội Mỹ và Đồng minh tại VN: Tân Sơn Nhất: Bản doanh của Không quân và Lục quân Mỹ. Biên Hoà: Lữ đoàn 173 Không vận Mỹ và Sư đoàn 1 BB. Liên quân Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn. Quy Nhơn: Bộ TL Sư đoàn 1 Không vận và Lữ đoàn 101 Không vận. Đội Hoả tiển 97 Mỹ tới VN. 3 chiến hạm Mỹ chở Phi đoàn Không lực 36 Mỹ tới Chu Lai. Các dàn hoả tiển đặt tại Tân Sơn Nhất, Biên Hoà, Quy Nhơn, và Đà Nẳng. Ngày 21/10, Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn tới Quy Nhơn. Tổng số quân Đại Hàn tai VN: 17.000 người. Tổng số quân Mỹ 148.300 gồm 89.000 LQ, 37.000 TQLC, 14.000 KQ, 8.000 HQ, 300 Tuần duyên. 

Ngày 2/11, hơn 2.000 quân Đại Hàn thuộc Sư đoàn Mãnh Hổ đổ bộ lên Quy Nhơn. Ngày 6/11, theo Bộ QP Mỹ có 133 máy bay bị bắn rơi trên bầu trời B.V trong đó 6 chiếc do hoả tiển SAM. Ngày 13/11, Tổng thống Mỹ Johnson cho phép tăng quân Mỹ tại VN có thể lên tới 250.000 quân. Ngày 20/11, Quân số Mỹ tại VN 165.700 gồm: 101.000 LQ; 39.100 TQLC; 17.130 KQ; 8.200 HQ; 250 tuần duyên. Ngày 21/11, trong tuần qua 240 quân nhân Mỹ tử thương, 470 bị thương, 6 mất tích. Ngày 29/11, Bộ trưởng QP Mỹ Mc Namara tuyên bố từ nay chúng ta hết thua trận, mặc dù BV xâm nhập gấp 3 lần so với mùa mưa vừa rồi. 

Ngày 1/12, Theo giới chức quân sự Mỹ, Trung Cộng đã tăng viện trợ BV trên 500 triệu Mỹ kim và hiện có hàng ngàn Cán bộ Trung Cộng giúp BV sửa chữa tại các nơi bị oanh tạc. Ngày 18/12, Thượng nghị sĩ Manfield và Phái đoàn Nghị sĩ Mỹ trở về Hoa Thịnh Đốn sau 35 ngày thăm viếng 16 thủ đô để giải thích chính sách của Hoa Kỳ tại VN tuyên bố cần giải quyết vấn đề VN càng sớm càng tốt vì càng để lâu vấn đề càng thêm phức tạp và nguy hiểm. Ngày 27/12, Phó tổng thống Mỹ Humbert Humprey thăm viếng nhiều thủ đô vùng Viễn Đông thăm dò về vấn đề hoà bình. Ngày 29/12, hơn 2.500 quân Mỹ thuộc Sư đoàn 1 Không vận từ Guam đến Pleiku

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1965. Ngày 2/10, hành quân Tiền Giang 40/SĐ tại Định Tường. Ngày 4/10, hành quân Quyết Thắng 35 tại Quảng Tín. Hành quân Dân Chí 167 tại An Xuyên. Ngày 5/10, phi cơ Mỹ dội bom cầu Bắc Giang, 1 Phantom và 2 Tunderchief bị bắn rơi. Ngày 8/10, hành quân Xây Dựng 7 tại Bình Dương. Hành quân Lam Sơn 198 tại Thừa Thiên. Ngày 11/10, hành quân Thần Phong 5 tại Bình Định. Ngày 12/10, hành quân Phú Yên 7 tại Phú Yên. Hành quân tảo thanh vùng Tam giác sắt tại Bình Dương. Ngày 14/10, hành quân Xây dựng tại Bình Dương. Ngày 15/10, oanh tạc Bắc Việt, 2 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Ngày 18/10, Trại lực lượng Đặc biệt người Thượng tại Pleime cách Pleiku 30 cây số về phía Tây-Nam bị 3 Trung đoàn thuộc Sư đoàn 325 Bắc Việt tấn công ồ ạt đêm qua, đang bị bao vây. Ngày 19/10, Quân tiếp viện đến giải vây đồn Pleime, hạ 100 VC tại chỗ, thu 6 súng cộng đồng và nhiều súng cá nhân. Đồn Ba Lòng, Quảng Trị bị tấn công. 

Ngày 21/10, hành quân Toàn Thắng 123 khai thông đường Nha Trang-Bamêthuột, 500 xe đò và quân xa chở 450 tấn hàng lên Banmêthuột. Hành quân Tiền Giang 41/65/SĐ. Ngày 22/10, kịch chiến đồn Pleime, Pleiku. Ngày 23/10, hành quân truy kích quanh đồn Pleime, Pleiku. Ngày 26/10, đồn Pleime, Pleiku lại bị tấn công, kịch chiến, nhưng vẫn giữ được. Ngày 27/10, viện binh phản công Pleime. Kịch chiến tại Chu Hô, Pleiku . Kịch chiến tại Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Kịch chiến tại Đức Lập, Hậu Nghĩa. Phi trường Chu Lai, Quảng Tín, và phi trường Đà Nẳng bị pháo kích và đột kích. Hành quân Lam Sơn 199 tại Quảng Trị. Ngày 27/10, nhiều đợn vị của Sư đoàn Không vận Mỹ được trực thăng thả xuống Pleime mở cuộc phản công, cùng nhiều thiết giáp cứu viện, 164 VC tử thương, bỏ lại 97 súng. Gần nữa đêm Phi trường Đà Nẳng bị pháo kích và đột kích 18 trực thăng bị phá, 22 chiếc khác hư hại. Cùng lúc phi trường Chu Lai cũng bị tấn công 2 phản lúc cơ bị phá, làm hư hại 5 chiếc khác. 

Ngày 29/10, phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Việt, 1 phi cơ Mỹ bị hoả tiển SAM bắn rớt, đây là chiếc thứ 6 bị bắn rớt trên không phận BV. Ngày 30/10, kịch chiến tại La Châu, Quảng Nam. Ngày 31/10, phi cơ Mỹ phá huỷ 3 dàn hoả tiển SAM cách Hà Nôi 35 dặm về phía đông bắc, và dội 60 tấn bom đánh sập cầu Kép. Ngày 1/11, hành quân tảo thanh quanh Pleime, và hành quân Long Beach, Pleiku. Phóng pháo cơ B52 dội bom mật khu Bời Lời, Tây Ninh. Phi cơ Mỹ và phi cơ VNCH oanh tạc Bắc Việt, thả xuống 5.000 gói quà và 2.000 số báo Nhân Văn 1956 từ Vĩ tuyến 17 đến Vỹ tuyến 19. Ngày 5/11, không lực Mỹ oanh tạc phá cầu Hải Dương, phá 1 dàn hoả tiển và 1 ổ cao xạ, 1 chiếc Crusader bị bắn rớt. Ngày 7/11, không lực Mỹ oanh tạc phá 4 dàn hoả tiển vùng Thanh Hoá, Hải Dương, và phá 5 dàn hoả tiển gần Phủ Lý, 1 Cruisader bị bắn rớt. Ngày 8/11, không lực Mỹ oanh tạc phá 2 dàn hoả tiễn SAM. Ngày 9/11, hành quân Silver Bayonet, Pleiku. Ngày 11/11, kịch chiến tại Phước Lễ, Phước Tuy. 

Ngày 12/11, kịch chiến tại Bến Cát, Bình Dương. Ngày 14 và 15/11, lại kịch chiến gần Pleime, Pleiku.  Ngày 17/11, hành quân Mỹ Blue Martin 11 tại Quảng Nam. Hành quân Lam Sơn 200 tại Thừa Thiên. Không lực Mỹ oanh tạc phá cầu Hải Dương và nhiều cầu khác cùng với 2 dàn hoả tiển cách Hà Nội 35 dặm, có 4 phi cơ Mỹ bị bắn rơi. Ngày 18/11, hành quân truy kích vùng Chu Prong, Pleuku. Hành quân Tiền Giang 48/65 tại Định Tường. Phi trường Tân Hiệp, bị pháo kích và đột nhập. Ngày 19/11, giao tranh vùng thung lũng Ia Drang, Pleiku. Giao tranh tại Bình Chánh, Gia Định. Giao tranh tại Cầu Kho, Vĩnh Bình. Giao tranh tại Lộc Sơn, Kiến Hòa. Ngày 20/11, kịch chiến gần Pleime. Pleiku. Hành quân Quyết Thắng 445 tại Quảng Tín. Hành quân Tiền Giang 48/65 tại Định Tường. Ngày 22/11, phi cơ Mỹ dội 67 tấn bom xuống khu vực phi truòng Phú Thọ, phá huỷ 2 dàn hoả tiển và 4 ổ phòng không. Ngày 23/11, phi cơ Mỹ ném 147 tấn bom xuống các kho xăng, kho tiếp liệu tại Điện Biên Phủ, Bái Thượng, Bản Đại…. 

Ngày 22/11, hành quân Xây Dựng 11 tại Bình Dương. Kịch chiến gần đồn điền Michelin Dầu Tiếng. Kịch chiến tại Thạch Trụ. Không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt phá 2 dàn hoả tiễn SAM. Ngày 23/11, hành quân tảo thanh vùng Chu Prong, Pleiku. Ngày 24/11, hành quân Lam Sơn 207 tại Quảng Trị. Hành quân Hùng Vương 12 tại Phước Tuy. Hành quân Mỹ New Life tại Bình Tuy. Ngày 27/11, tiếp tục kịch chiến gần đồn điền Michelin Dầu Tiếng. Hành quân An Dân 329 tại Long An. Không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt phá 1 dàn hoả tiễn SAM. Ngày 28/11, phi cơ Mỹ oanh tạc phá huỷ 1 trại lính tại Tuyên Quang, 1 Thunderchief và 2 Crusader bị bắn rơi. Ngày 29/11, trong tháng 11 vừa qua, không lực Hoa Kỳ đã thực hiện oanh tạc BV 1.447 lần, dội 2.688 tấn bom.  Trong năm 1965, không lực Hoa Kỳ thực hiện 32.189 phi xuất tại miền Nam; và không lực VNCH thực hiện 20.657 phi xuất. Mỗi phi xuất là 1 chuyến bay của 1 phi cơ nhắm vào 1 mục tiêu cụ thể. 

Ngày 1/12, hành quân Tiền Giang 51/65 tại Gò Công. Phi cơ Mỹ thả bom xuống cầu Cao Mày, cầu Hải Dương, phá 2 hoả tiển SAM, 2 máy bay Mỹ bị bắn rớt. Ngày 4/12, kịch chiến tại đồn điền Michelin, Bình Dương. Hai tên khủng bố đi xe hơi tới khách sạn Mỹ Metropole trước bến xe đường Nguyễn Cư Trinh, Sài Gòn bắn súng và cho nổ mìn khách sạn hư hại nặng, 7 người VN qua đường chết, 70 người khác bị thương. TNS Manfield tới VN từ 2 hôm nay, tới thăm hiện trường trước khi rời Sài Gòn. Ngày 5/12, giao tranh gần Chu Lai, Quảng Tín. TQLC Mỹ đổ bộ gần Phú Thu cách Quy Nhơn 30 dặm về phía Bắc. Ngày 6/12, kịch chiến tiếp tục tại đồn điền Michelin. Hành quân Tâm Thắng 175 Nha Trang - Ban Mê Thuột đưa hơn 182 quân xa và 100 xe đò chở 2.000 tấn thực phẩm và nhiên liệu từ Nha Trang lên Banmêthuột. Kịch chiến gần Tuy Hoà, Phú Yên. Ngày 7/12, không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt 3 phi cơ bị bắn rớt. Ngày 8/12, hành quân Mỹ Bush Master II tại Bình Dương. Hành quân Mỹ Harvert Moon tại Quảng Tín.

Ngày 11/12, hành quân Tiền Giang 53/65 tại Định Tường. Hành quân liên kết 18 tại Quảng Tín. Hành quân Long Phi 946 tại Vĩnh Bình. Ngày 13/12, phi cơ VNCH và Mỹ hàng ngày vẫn oanh tạc trên chiến trường miền Nam, hôm nay có 492 lần xuất trận dội 350 tấn bom phá huỷ 371 cơ sở VC, làm hư hại 388 cơ sở khác và đánh đắm 31 ghe. Ngày 15/12, phi cơ Mỹ ném 12 tấn bom phá huỷ nhà máy điện Uông Bí có năng xuất 24.000 KW. Ngày 15/12, giao tranh tại Mỹ Trung, Quảng Ngãi. Không lực Mỹ lại oanh tạc phá nhà máy điện Uông Bí. Ngày 16/12, phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Việt, hôm nay có 5 máy bay Mig 17 xuất hiện nhưng không nghênh chiến. Ngày 17/12, hành quân Mỹ Smashy tại Biên Hoà. Tiểu đoàn 64 người Thượng Fulro từ biên giới Việt-Miên về tấn công Ty Cảnh sát và Toà Hành chánh tỉnh Quảng Đức lúc 3 giờ sáng, nhưng bị vao vây nên quy hàng. 

Ngày 19/12, Phi cơ Mỹ dội 49 tấn bom đánh sập cầu Bắc Kạn và phá 5 ổ cao xạ, 1 Thunderchief bị bắn rơi. Ngày 21/12, không lực Mỹ oanh tạc Bắc Việt lại có 2 Mig-17 xuất hiện trên vùng trời nhưng không nghênh chiến, 5 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Ngày 22/12, hành quân Dân Chí 191/SĐ tại Chương Thiện. Hành quân Mỹ Clean House tại Bình Định. Không lực Mỹ oanh tạc nhà máy điện Uông Bí, Nghĩa Lộ, 1 dàn hoả tiển SAM phá huỹ, 3 phi cơ bị bắn rớt. Ngày 23/12, phi cơ Mỹ đánh phá cầu Hải Dương và 1 cầu khác ở Hải Phòng, 1 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Ngày 27/12, hành quân Thừa Thiên 160 tại Thừa Thiên. Hành quân Phi Hổ Đại Hàn tại Bình Định. Ngày 28/12, kịch chiến tại Bình Khê, Bình Định. Kịch chiến tại Đại Lộc, Quảng Nam. Ngày 30/12, từ 5 ngày nay, phi cơ Mỹ không oanh tạc BV, nhưng vẫn tấn công và yểm trợ các cuộc hành quân tại VNCH. Ngày Ngày 31/12, hành quân Quan Trung 65 tại Phú Yên. Tổng thiệt hai năm 1965:  VC-BV: 27.191 chết, 6.152 bị bắt. VNCH: 20.552 chết, 1.885 mất tích. Hoa Kỳ: 1.179 chết, 148 mất tích.

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1965. Ngày 1/10, hôm nay 5 tử tội bị bắn tại Pháp trường Cát trước chợ Bến Thành. Ngày 10/10, Toà án Quân sự Mặt trận Vùng III Chiến thuật xử cựu Đại tá Bùi Dzinh và cự Trung tá Lê Hoàng Thao liên quan đến vụ đảo chánh 19/2/65. Ngày 11/10, Hội nghị Hành chánh địa phương, khai mạc tại Sài Gòn bàn về các vấn đề: bình định, tỵ nạn Cộng sản; cải tổ guồng máy Hành chánh…” Ngày 14/10, giá Vàng tại Sài Gòn 9.750$/lượng, trước đó 8.700$/lượng. Ngày 19/10, Thành lập tại Phủ chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương, một tổ chức mang tên Bắc Việt Vụ để lo việc thống nhất lãnh thổ và giải phóng miền Bắc (SL204/UBHP). Ngày 25/10, lập một Uỷ ban Cải cách Hành chánh tại Học viện Quốc gia Hành chánh để nghiên cứu biện pháp cải tiến cách làm việc tại các công sở. 

Ngày 4/11, Tổng bộ Kinh tế Tài chánh hội thảo cùng nhiều chuyên viên, giáo sư, đại diện doanh nghiệp bàn về biện pháp ổn định thị trường. Ngày 19/12, Mỹ viện trợ cho VNCH 30 triệu Mỹ Kim để nhập cảng 100.000 tấn gạo và thực phẩm... Tổng viện trợ thương mại hoá là 186 triệu trong tài khoá 1965-1966. Ngày 30/12, Trưa nay, ký giả Từ Chung tức Vũ Nhất Huy bị một đặc công VC sát hại bằng 4 phát súng lục tại tư thất đường Bà Hạt, Sài Gòn. 

NỘI TÌNH VNCH. Năm 1966. Ngày 17/12, một Đại đội Địa phương quân người Thượng nổi dậy tại Phú Thiện, Phú Bổn, giết 32 đồng ngũ người Kinh, bị phản công truy kích 84/97 phiến loạn đầu hàng. 

TỴ NẠN, HỒI CHÁNH. Năm 1965. Ngày 24/10 tổng số đồng bào tỵ nạn Cộng sản tăng lên tới 713.170 người, định cư 258.247, 454.932 tạm trú. Trợ cấp 121.076.060$ với mức 7$, người/ngày, Và 1.500 đến 2.000$ lập nhà tạm trú. Ngày 4/11, số người về quy chánh với VNCH là 18.557 trong đó có 1.498 đang ở tại các trung tâm. Ngày 26/12, tổng số tỵ nạn CS là 751.845 người: 290.292 đã định cư; 461.533 tạm trú. Trợ cấp 152.572.420$. Ngày 28/12, tổng số quy chánh từ 18/2/1965 là 27.400 cán binh, không kể gia đình họ.    

Sydney ngày 29 tháng 3 năm 2024

 

Bài 90: TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN ĐỘI MỸ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM LÀ TRẬN VẠN TƯỜNG, VÙNG I CHIẾN THUẬT 18-19/1965.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia ngày 25 tháng 1 năm 2024 viết: TRẬN VẠN TƯỜNG là trận đánh chính trong cuộc hành quân Starlite do quân đội Mỹ tiến hành để thử nghiệm chiến thuật “tìm và diệt” (search and destroy) diễn ra vào ngày 18 tháng 8 năm 1965 tại thôn Vạn Tường, xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, cách Căn cứ Chu Lai của quân đội Mỹ 17 km. Đây là trận đánh quy mô đầu tiên giữa quân đội Mỹ và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên bộ. Phía Mỹ thường gọi đây là Trận Chu Lai (Battle of Chu Lai).

Cuối tháng 7 năm 1965, Trung đoàn 1 chủ lực của Quân khu V Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, do Lê Hữu Trữ làm Trung đoàn trưởng và Nguyễn Đình Trọng làm Chính ủy, chỉ huy, sau các trận giao chiến với các đơn vị Quân lực Việt Nam Cộng hoà tại Vùng I trong Chiến dịch Ba Gia (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi), đã di chuyển về đóng quân ở khu vực Vạn Tường để chấn chỉnh và bổ sung. Ngày 9 tháng 8 năm 196, lãnh đạo Quân khu V ra quyết định thành lập các sư đoàn chủ lực. Trung đoàn 1 (còn có tên hiệu là Trung đoàn Ba Gia) được biên chế vào Sư đoàn 2. Trung đoàn trưởng Lê Hữu Trữ kiêm Sư đoàn phó.

Phát hiện sự di chuyển của đối phương, Tư lệnh Vùng I, Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi thông báo cho các chỉ huy quân đội Mỹ tại Vùng I và lưu ý vị trí tập kết của Trung đoàn Ba Gia mà ông dự đoán sẽ rất gần với Căn cứ Chu Lai mới thành lập hồi tháng 5. Tướng Lewis W. Walt, chỉ huy trưởng quân Mỹ tại Vùng I, quyết định lập kế hoạch cho một cuộc càn quét tiêu diệt Trung đoàn 1, xóa sổ sự uy hiếp đối với căn cứ Chu Lai, đồng thời biểu dương sức mạnh của quân Mỹ trong khu vực. 

Theo kế hoạch, cuộc hành quân được thực hiện như là một cuộc tấn công liên hợp cấp tập từ trên bộ, trên không và trên biển. Các đơn vị TQLC Mỹ sẽ được triển khai đồng thời bằng trực thăng và cả tàu đổ bộ, tập kích nhiều hướng để gây bất ngờ cho đối phương. Đại tá Oscar F. Peatross được chỉ định làm chỉ huy lực lượng đổ bộ. Nhằm giữ bí mật cho cuộc hành quân, kế hoạch phổ biến rất hạn chế trong các sĩ quan Mỹ và dĩ nhiên phía Mỹ cũng không thông tin cho phía đồng minh Việt Nam Cộng hòa.

LỰC LƯỢNG THAM CHIẾN. Phía Quân đội Hoa Kỳ. Tổng cộng khoảng 9.000 quân, 105 xe tăng và xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70 máy bay phản lực chiến đấu, 6 tàu chiến. Lữ đoàn Thủy quân lục chiến số 9 thuộc Sư đoàn Thủy quân lục chiến số 3 tham gia trực tiếp, có 5.500 binh sĩ gồm: Tiểu đoàn 1/7 TQLCTiểu đoàn 2/4 TQLCTiểu đoàn 3/3 TQLCTiểu đoàn 3/7 TQLC (Special Landing Force - SLF, Lực lượng đổ bộ đặc biệt). Hỏa lực yểm trợ do tàu USS Galveston, USS Cabildo và tiểu đoàn pháo binh TQLC 3/12 cùng đảm nhận. Trợ giúp không quân do tàu USS Iwo Jima hỗ trợ. Phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tổng cộng có gần 2000 người. Trung đoàn Ba Gia của Quân khu 5, sau chiến thắng Ba Gia, trung đoàn còn lại khoảng 1500 quân. Đại đội 21, 31 bộ đội địa phương tỉnh. Lực lượng du kích.

DIỄN BIẾN TRẬN ĐÁNH. Khai trận lúc 6 giờ 15 sáng 18 tháng 8 năm 1965, không quân của TQLC Mỹ cho xuất kích 20 lần chiếc F-4 và A-4, ném 18 tấn bom sát thương, bom napalm xuống Vạn Tường và các địa điểm lân cận. Các pháo hạm trên biển bắn phá dọn bãi cho Tiểu đoàn 2/4 TQLC đổ bộ bằng máy bay trực thăng và Tiểu đoàn 3/3 TQLC đổ bộ bằng tàu LCU. 6 giờ 30, 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn 3/3 TQLC có 5 xe tăng M-48, 3 xe tăng phun lửa M-67 dùng tàu LCU đổ bộ lên An Cường (mật danh Green Beach - Vịnh Lục), hình thành vòng vây phía Nam; đánh chiếm thôn An Cường 1 và tiến quân về phía Tây.

Lúc 6 giờ 45, C1/D4 TQLC đổ bộ bằng máy bay trực thăng xuống thôn Bình Phước (trên bản đồ là Bãi Đỏ - LZ Red), C2, C3/D4 TQLC đổ bộ xuống thôn Bình Long (trên bản đồ là Bãi Trắng - LZ White), C4/D4 +C4/D3 TQLC đổ bộ xuống thôn Bình Thạnh Tây (Bãi Xanh - LZ Blue), hình thành cánh quân bao vây phía Tây. Từ Chu Lai, C1 và C2/D3 TQLC có 8 xe tăng M41 và 18 xe bọc thép M113 đột kích theo đường bộ vượt sông Trà Bồng đánh xuống, hình thành cánh quân bao vây phía Bắc. Ý đồ của Bộ chỉ huy Mỹ là dồn lực lượng QGP ra biển, buộc họ phải giao chiến trên địa bàn trống trải. Ở đó, không quân, pháo binh và xe tăng - thiết giáp Mỹ có thể phát huy hết khả năng tác chiến.

Ở phía Tây Nam Vạn Tường, cánh quân của D3 + C7/D4 TQLC Mỹ tiến đến Lạc Sơn đã phải dừng lại vì D40/E1 và Đại đội trinh sát thuộc E1 QGP phòng ngự, chốt chặn tại điểm cao BANANA (Cao điểm 30 thuộc thôn An Cường 2). D3/E3 TQLC phải đưa thêm 1 đại đội vào tham chiến, tổ chức nhiều đợt ném bom, bắn phá mới vượt qua chốt của QGP, đến trưa 18/8 mới chiếm được thôn An Cường 2 và hội quân với C4/D3 sau khi đã bị tổn thất khoảng 1 trung đội (5 chết, 17 bị thương). Sau khi cho trực thăng và pháo binh bắn phá dọn bãi, quân Mỹ tổ chức một đoàn gồm 5 xe thiết giáp chở quân loại LVT và 3 tăng phun lửa M-67 tiến quân theo đội hình hàng dọc từ An Cường đi theo con đường mòn giữa An Thái và Nam Yên tấn công D40 và D60/E1 QGP. 

Lợi dụng địa hình kín đáo, các đơn vị thuộc Tiểu đoàn 40 và Tiểu đoàn 60 chờ cho đoàn xe TQLC Mỹ đến cách 50m mới nổ súng. Bằng súng không giật, súng chống tăng B40 và lựu đạn phóng AT, QGP đã bắn cháy 4 chiếc đi đầu ngay trong loạt đạn đầu. Những chiếc còn lại hoảng loạn bỏ chạy, sa xuống ruộng lầy. Tiểu đội trưởng Hồ Công Thám chỉ huy tiểu đội của mình dùng lựu đạn AT và lựu đạn diệt tiếp 3 xe. Do không xác định dược vị trí đóng quân của QGP, hai đại đội thuộc D3/E3 TQLC Mỹ đã đổ bộ xuống ngay trước trận địa của D60/E2 QGP và bị tập kích ngay từ lúc máy bay trực thăng còn ở trên không. 4 máy bay trực thăng H-34 bị bắn rơi. TQLC Mỹ phải gọi trực thăng vũ trang UH-1A đến chi viện và chiếm được Cao điểm 43 sau khi đã bị tổn thất hơn 150 quân. 

Chiều 18/8/1965, D45/E2 BB QGP nằm ngoài vòng vây từ Châu Bình mở một mũi đột kích đánh vào sau lưng cánh quân đổ bộ đường biển của TQLC Mỹ. Bị đánh bất ngờ từ sau lưng D3/E3 và D2/E4 TQLC Mỹ phải xoay chính diện về hướng Tây Nam để chống lại các mũi tập kích của D45/E1 QGP. Do đó cánh quân này đã bị hở sườn phía Bắc, bị D40/E1 QGP phản kích và buộc phải lùi về co cụm tại Bình Hòa với sự yểm họ của các xe tăng và trực thăng vũ trang.

Phối hợp với chiến trường chính, chiều 18/8/1965, Đại đội 21 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi mở mũi đột kích sâu từ Tây Hy, qua Thượng Hòa xuống Lệ Thủy, phối hợp với du kích các xã Đồng Lễ và Bình Trị đánh vào sau lưng cánh quân của trung đoàn 7 TQLC Mỹ, buộc cánh quân này phải tập trung đối phó, không chi viện được cho cánh quân của tiểu đoàn 3,4 TQLC Mỹ. Trong khi dùng hỏa lực yểm hộ cho trung đoàn 7 TQLC Mỹ, có thêm 3 máy bay trực thăng HU-1A bị bắn rơi tại thôn Lệ Thủy.

Lợi dụng vòng vây bị đứt đoạn giữa cánh Bắc và cánh Nam của TQLC Mỹ, đêm 18 rạng ngày 19/8/1965. Trung đoàn Ba Gia đã rút được phần lớn sở chỉ huy nhẹ và tiểu đoàn 40 ra khỏi vòng vây. Riêng đại đội trinh sát phòng ngự độc lập tại Cao điểm 45 núi Đầm Tái, thôn Vạn Tường bị tổn thất hầu hết quân số. Từ ngày 19/8 đến ngày 24/8, TQLC Mỹ càn quét khu vực Vạn Tường và các xã lân cận nhưng chỉ bắt được một số ít thương binh QGP chưa kịp rút ra và nhiều thường dân (Bộ chỉ huy Mỹ tính cả số dân thường này vào số tù binh bắt được?!)

Ý NGHĨA CHIẾN THUẬT, CHIẾN LƯỢC CỦA TRẬN ĐÁNH. Theo phía Mỹ, Quân Giải phóng bị tổn thất nặng với khoảng từ 599 đến 614 người bị giết. Đối với Mỹ, chiến dịch được coi là một thành công lớn khi đã đánh bại một đơn vị chủ lực của Việt Cộng. Tuy nhiên, Quân Giải phóng cũng coi đây là một trận thắng lớn sau khi đã loại khỏi vòng chiến đấu 919 lính Mỹ, bắn cháy 22 xe tăng và xe bọc thép, hạ 13 máy bay (Mỹ chỉ thừa nhận có 51 người chết và 203 người bị thương, đây chỉ là số bộ binh bị hạ trực tiếp trên trận địa). Trên thực tế, quân Mỹ đã không thể đánh bại được trung đoàn Ba Gia, và Quân Giải phóng vẫn còn giữ được một vài ấp trên bán đảo.

Trong cuộc hành quân Starlite, quân Mỹ hoàn toàn chủ động tổ chức hành quân, lựa chọn chiến trường, đối tượng, thời gian và cách đánh, tập trung lực lượng gấp bội đối phương và có ưu thế tuyệt đối về binh khí kỹ thuật, nhưng biểu tượng "sức mạnh của Hoa Kỳ" đã thất bại. Bình luận về cách đánh tài tình của QGPMN, hãng AP (Mỹ) thuật lại lời một số sĩ quan Mỹ đã tham dự cuộc hành quân Starlite: "Trận đánh này giống như trận đánh Okinawa trong Thế chiến thứ hai… Việt Cộng xuất hiện từ trong các hầm hố mà lính thủy đánh bộ không trông thấy. Việt Cộng xuất hiện thình lình cả đằng trước mặt và đằng sau lưng…". Rõ ràng thua ở trận Vạn Tường quân Mỹ không thể đổ lỗi cho sự bị động.

THƯƠNG VONG. Của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ tự ước tính: Có 51 lính Mỹ chết. 203 lính bị thương. Phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố hạ được 900 binh lính Mỹ, 22 xe tăng, xe bọc thép, 13 máy bay bị bắn hỏng. Phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Phía quân đội Mỹ tuyên bố theo cách đếm xác của họ thì có 614 du kích bị tiêu diệt trong trận này. Con số này quá khuếch đại so với số tay súng QGP (hết trích).

Sydney ngày 30 tháng 3 năm 2024

 

Bài 91: VÀ, TRẬN THỨ HAI CỦA QUÂN ĐỘI MỸ… LÀ TRẬN PLEIME- CHU PRONG-IA DRANG TẠI VÙNG II CHIẾN THUẬT VÀO THÁNG 10-11/1965.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia ngày 9 tháng 12 năm 2023 viết: Cuối năm 1964, Chủ tịch MAO TRẠCH ĐÔNG của Trung Quốc ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nâng các lực lượng tấn công lên cấp sư đoàn trong việc xâm nhập miền Nam Việt Nam. Trong cuộc họp ngày 5 tháng 10 năm 1964, Mao Trạch Đông nói với Phạm Văn Đồng: "Theo đồng chí Lê Duẩn, các đồng chí có kế hoạch gửi một sư đoàn vào Nam. Có lẽ các đồng chí chưa cần gửi sư đoàn đó đi ngay. Khi làm việc này, chọn đúng ngày giờ rất là quan trọng." Đầu năm 1965, Sư đoàn 304 nhận lệnh chuẩn bị vào Miền Nam hỗ trợ Quân Giải phóng. Tháng 8 năm 1965, Sư đoàn 304 lại nhận lệnh gấp rút chuẩn bị đi tới vùng Cao Nguyên Trung Phần vào tháng 10.

Thực hiện chủ trương phối hợp với các chiến trường trên toàn miền Nam tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ để củng cố và mở rộng vùng giải phóng, xây dựng niềm tin đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ, đầu tháng 10-1965, Bộ tư lệnh Mặt trận B3 (Tây Nguyên) - QGP quyết định mở chiến dịch Plây Me. Bộ chỉ huy chiến dịch do Thiếu tướng Chu Huy Mân làm Tư lệnh kiêm Chính ủy. Phạm vi chiến dịch rộng khoảng 16.000 km2, từ khu vực Bầu Cạn-Plây Me đến Đức cơ-Ia Đrăng thuộc tỉnh Gia Lai. Lực lượng Mỹ và VNCH trên địa bàn chiến dịch có 3 Lữ đoàn thuộc Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ, 1 chiến đoàn dù, 1 chiến đoàn thiết giáp quân đội Sài Gòn, có pháo binh, máy bay, kể cả B52 sẵn sàng yểm trợ khi cần thiết.

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN. Mặt Trận B3 trù tính chinh phục vùng Cao Nguyên với ba Trung đoàn - 32, 33 và 66 - áp dụng chiến thuật công đồn trại Pleime đả viện lực lượng chính của Quân đoàn II. Kế hoạch dự tính khởi đầu vào tháng 12 năm 1965. Trung đoàn 320 đã hoạt động tại vùng Cao nguyên từ đầu năm; Trung đoàn 33 mới xâm nhập vào tháng 9; Trung đoàn 66 cuối tháng 10 mới sẵn sàng xuất trại lên ̣đường xâm nhập vào Nam, dự tính phải mất hai tháng mới tới chiến trường Cao Nguyên. Vào tháng 9 năm 1965, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II phối hợp với Ban 3/MACV điều nghiên một kế hoạch triệt hủy ba trung đoàn của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đúng vào lúc ba trung đoàn qui tụ tại các vùng tập trung tại rặ̣ng núi Chu Prông để chuẩn bị tiến công.

Khi Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 lấy quyết định khới phát chiến dịch Plâyme vào ngày 19 tháng 10 năm 1965 sớm hơn dự tính với chỉ duy hai Trung đoàn 32 và 33, lợi dụng khi các toán lính kỵ binh Mỹ mới lên vùng Cao Nguyên lập trại tại An Khê chưa sẵn sàng chiến đấu, trong khi Trung đoàn 66 - QGP chưa có mặt tại chiến trường. Về phía QLVNCH, Chiến dịch Pleime khai triển qua ba giai đoạn: Pleime, Chuprong và Iadrang.

Giại đoạn I: Pleime kéo dài từ 19 đến 26 tháng 10. Khi Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3-QGP phát lệnh tiến công trại Pleime ngày 19 tháng 10, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II-VNCH phản ứng với cuộc hành quân Dân Thắng 21 với chủ đích đẩy lui chứ không tiêu hủy hai trung đoàn tấn công. Chỉ có hai đại đội Lực lượng Đặc Biệt hỗn hợp VNCH-Mỹ được tăng phái cho trại và một thiết đoàn đặc nhiệm tiếp cứu gồm một ngàn quân lính được phái đi tiếp cứu trại ngày hôm sau 20 tháng 10. Phận vụ đẩy lui được giao cho hỏa lực không quân tại vùng quanh trại và các ổ phục kích. Bộ Tư lệnh Quân đoàn II-VNCH biết là đối phương sẽ tập trung quân và trở lại tiến công trại lần thứ hai. Lực lượng Mặt trận B3 thực hiện vây điểm diệt viện, bao vây đồn Plây Me (19-10) và tấn công đồn Chư Ho và cách Plây-cu 30 km, buộc QĐHK và QLVNCH đưa lực lượng từ Plây-cu đến giải tỏa, bị QGP phục kích đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn biệt động quân, tiểu đoàn 1 bộ binh và chiến đoàn thiết giáp VNCH trên đường số 21. 

Ngày 25-10, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên ra lệnh mở vây để tập trung đánh Mỹ. Việc điều dụ quân Mỹ vào các địa bàn rừng núi lựa chọn, xa căn cứ của họ, nhằm hạn chế mặt mạnh, khoét sâu điểm yếu để đánh thắng các trận then chốt là vấn đề rất quan trọng. Tuy nhiên, với một đội quân nhà nghề, khả năng thay đổi tương quan lực lượng và phương thức tác chiến nhanh, có nhiều phương tiện trinh sát hiện đại thì việc điều dụ quân đội Hoa Kỳ theo ý định của mình đòi hỏi rất công phu. Thực tiễn trận Ia Đrăng cho thấy, khi viện binh VNCH (cơ động giải tỏa đồn Plây-me) bị Quân Giải phóng đánh thiệt hại nặng, Mỹ đã cho đổ quân xuống Bầu Cạn và Plâyngo (cách Plây-me 10 km về phía Tây) để thăm dò, thừa cơ đánh úp chủ lực của Mặt trận B3.

Giại đoạn II: Chuprong kéo dài từ 27 tháng 10 đến 18 háng 11. Biết được là Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 vẫn có tham vọng chiếm cứ trại Pleime, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II-VNCH đề nghị Sư đoàn 1 Kỵ Binh Mỹ giữ trọng trách thực hiện cuộc hành quân Long Reach. Cuộc hành quân này được thực hiện qua hai giai đoạn: (1) lùa hai Trung đoàn 32 và 33 về rặng núi Chu Prông; và (2) khuyến dụ hai trung đoàn này kết tụ với Trung đoàn 66 để chuẩn bị tiến công trại Pleime lần thứ hai, với một thế nghi binh là hoán chuyển hướng hành quân từ tây sang đông. Động tác lùa địch được giao cho Lữ đoàn 1 Không Kỵ với cuộc hành quân All the Way. Từ ngày 27 tháng 10 đến ngày 9 tháng 1, các toán QGP lẻ tẻ bị tuần tự đẩy lui từ Pleime về Chuprong. Ngày 9 tháng 11, Lữ đoàn 3 Không Kỵ thay thế Lữ đoàn 1 Không Kỵ với cuộc hành quân Silver Bayonet I nhằm khuyến dụ đối phương tập trung quân để chuẩn bị tiến công lần thứ hai.. 

Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 bị trúng kế và ngày 11 tháng 11 ra lệnh cho ba trung đoàn tập trung lại (Trung đoàn 32 tại YA820070, Trung đoàn 33 tại YA 940011, và Trung đoàn 66 tại quanh YA 9104) để chuẩn bị tiến công ấn định vào ngày 16 tháng 11. Bộ Tư Lệnh Quân đoàn II thừa cơ ấn định oanh tạc trải thảm B-52 tại trung tâm khối quanh YA 8702, cách xa bãi đáp X-Ray 7 cây số về hướng tây, vào chiều ngày 15 tháng 11.

Trận đánh bãi đáp X-Ray. Ngày 14 tháng 11, để thích nghi với mức độ chuyển vận chậm chạp của các phóng pháo cơ B-52, tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ - Hoa Kỳ được cho đổ bộ xuống bãi đáp X-Ray để ghìm các mục tiêu lại cho cuộc trải thảm bom B-52 bằng cách thực hiện một thế nghi binh khiến cho Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 hoãn cuộc tiến công trại Pleime. Vì chủ đích chỉ là gây sự chú ý của các toán quân của QGP đang chuẩn bị tiến công, mọi phương thế cẩn trọng đã được thi hành để tránh các toán quân đó hoảng sợ mà phân tán đi. Tiểu đoàn 1/7 Không Kỵ loan báo cuộc đổ bộ với một trận hỏa lực phi pháo kéo dài 20 phút, sau đó là 16 chiến trực thăng với quân lính đáp xuống bãi đáp. Tuy nhiên để khỏi có vẻ đe dọa lớn mạnh, tiến trình đổ bộ quân được thực hiện một cách chậm tiến (5 tiếng đồng hồ từ 10giờ20 sáng tới 3giờ chiều).

Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 buộc phải hoãn đánh Pleime. Bộ Tư lệnh Mặt B3 tung hai Tiểu đoàn 7 và 9 thuộc Trung đoàn 66 ra ứng chiến. Không Kỵ Mỹ phản ứng lại cho đổ bộ thêm Tiểu đoàn 2/7 Không Kỵ cho tương xứng. Và thay vì phải nằm ở bãi đáp để bảo vệ an toàn cho các đơn vị xuống sau thì Đại úy John Herren, chỉ huy Tiểu đoàn 1, theo lệnh của Trung tá Moore, lại xua quân đi trinh sát. Hệ quả là những nhóm xuống sau bị Quân Giải phóng tiêu diệt 79 người, bị thương 121 người. Khi Tiểu đoàn 1/7 Không Kỵ không giải cứu nổi một trung đội bị vây khốn, Tiểu đoàn 2/5 thuộc Lữ đoàn 2 Không Kỵ được phái vào chiến trường sáng ngày 15 tháng 11. Tuy nhiên, để che mắt đối phương nghĩ là tương quan lực lượng vẫn là 2:2, tiểu đoàn tăng phái này được trực thăng vận đến bãi đáp Victor cách bãi đáp X-Ray 5 số và âm thầm lội bộ đến chiến trường, tới nơi vào lúc trưa. Trung đội bị cô lập được giải thoát vào lúc 3 giờ chiều.

Thả bom trải thảm bom B-52. Đúng 4 giờ chiều ngày 15 tháng 11, các đợt đầu của bom trải thảm B-52 trút xuống rặng núi Chu Prông và tiếp tục trong 5 ngày kế tiếp: ngày 15 (YA 8607, 9007, 8702, 8600, 9000), ngày 16 (YA 8305, 8505, 8400), ngày 17 (YA 9201, 9401, 9208, 9408), ngày 18 (YA 9301, 8900, 8901), ngày 19 (YA 9009, 9209, 9006, 9206), và ngày 20 (YA 8306, 8506, 8303, 8503). Ngày 16 tháng 11 vào lúc trưa, Tiểu đoàn 1/7 Không Kỵ được rút đi bằng trực thăng, tương quan lực lượng trở lui lại 2:2, khiến cho Bộ Tư lệnh Mặt Trận B3 không bị buộc phải thay đổi vị trí các đội toán quân. Thành thử hai Tiểu đoàn 7 và 9 bất ngờ bị oanh tạc cơ B-52 thả bom lên đầu ngay tại bãi đáp X-Ray ngày 17 tháng 11.

Trước cuộc thả bom trải thảm này, hai Tiểu đoàn 2/7 và 2/5 Không Kỵ được lệnh lội bộ ra khỏi bãi tiến tới bãi đáp Columbus và bãi đáp Albany trong thế nút chận để tiếp tục hỗ trợ cho các cuộc trải thảm bom B-52. Trong khi tiến gần tới bãi đáp Albany, Tiểu đoàn 2/7 Không Kỵ rơi vào ổ phục kích của địch quân.

Giại đoạn III: Iadrang kéo dài từ 18 đến 26 tháng 11. Ngày 17 tháng 11, dựa vào nguồn tình báo, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II thẩm định là đối phương đã mất 2/3 tổng số lực lượng và lấy quyết định đánh dứt điểm chiến dịch bằng cách tung vào chiến trường Lữ đoàn Dù VNCH gồm 5 tiểu đoàn. Đó là cuộc hành quân Thần Phong 7, được yểm trở bởi hỏa lực pháo binh đặt tại căn cứ tân lập LZ Crooks và bởi Lữ đoàn 2 Không Kỵ Mỹ, thực hiện một thế gọng kìm mang tên hành quân Silver Bayonet II. Ngày 17 tháng 11, dựa vào nguồn tình báo, Bộ Tư lệnh Quân đoàn II-VNCH thẩm định là đối phương đã mất 2/3 tổng số lực lượng và lấy quyết định đánh dứt điểm chiến dịch bằng cách tung vào chiến trường Lữ đoàn Dù VNCH gồm 5 tiểu đoàn. Đó là cuộc hành quân Thần Phong 7, được yểm trở bởi hỏa lực pháo binh đặt tại căn cứ tân lập LZ Crooks và bởi Lữ đoàn 2 Không Kỵ Mỹ, thực hiện một thế gọng kìm mang tên hành quân Silver Bayonet II.

Chiến dịch Pleime kết thúc ngày 26 tháng 11 năm 1965, khi không còn bóng dáng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong vùng hành quân của Mỹ-VNCH.

KẾT QUẢ. Tuyên bố của Mỹ - VNCH. Việt Nam Cộng hòa ước tính tổn thất phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam như sau: chết (đếm xác) 4.254, bị thương (ước tính) 1.293, bị bắt 179, mất 169 súng cộng đồng và 1,027 súng cá nhân. Tổng số này bao gồm tổn thất do 5 ngày bom trải thảm B-52 gây nên. Tổn thất phía HK: chết 300, bị thương 524, mất tích 4. Không lực Mỹ mất 6 HU-1B, 2 B-57, 3 A-1E bị bắn hạ và 3 C-123 bị trúng đạn hư hỏng ít nhiều. Tổn thất phía VNCH: chết 132, bị thương 248, mất tích 18. Không rõ tổn thất về trang bị vũ khí. 

Tuy nhiên, theo nguồn của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thì tổn thất của họ trong chiến dịch là 554 chết và 669 bị thương, chiếm 23% quân số tác chiến (hết trích)

Sydney ngày 31 tháng 3 năm 2024

 

Bài 92: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 1-2/66.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1966. Ngày 3/1, ký thỏa ước Việt Mỹ thiết lập 2 hệ thống vô tuyến truyền hình tại V.N. một cho V.N., một cho quân đội Mỹ. Ngày 12/1, trong thông điệp gửi Quốc hội, Tống thống Johnson xác nhận HK quyết chí ở lại V.N. Ngày 15/1. Ngoại trưởng Dean Rusk và đại sứ lưu động Averell Harriman tới Sài Gòn họp vởi Chủ tịch Nguyễn Cao Kỳ. Ngày 16/1, Bộ trưởng Quốc phòng Đại Hàn tuyên bố sẽ gửi thêm 20.000 quân sang VN, vì số 18.000 hiện cỏ không đủ làm tròn nhiệm vụ. Ngày 19/1, hơn 4.000 quân sĩ thuộc Lữ đoàn thứ hai của Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ đổ bộ lên Vũng Tàu. Hơn 300 TQLC Mỹ cũng đổ bộ ở Chu Lai. Ngày 1/2, Hội đồng Bảo an ghi vấn đề VN vào chương trình nghị sự. Nga phản đối, Pháp cho là vô ích. Trung Cộng cùng B.V. phủ nhận thẫm quyền của Hội đồng Bảo an. Ngày 2/2, Võ Nguyên Giáp gửi điệp văn trấn an dư luận BV vì dân chúng xôn xao về tin Mỹ sắp đổ bộ. 

Ngày 3/2 Chánh phủ Mỹ gửi thông điệp ủng hộ Chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ, và tán thưởng những kềt quả đã thâu lượm. Ngày 6/2, tại Honolulu, Tổng thống Johnson đọc diễn văn xác nhận với các nhà lãnh đạo VNCH cam kết giúp đỡ VN và tăng cường nỗ lực chiến đấu. Hội nghị chia ra 5 tiểu ban xét từng vấn đề trọng yếu về quân sự, bình định, kinh tế, xã hội, chính trị. Ngày 7/2, tại Honolulu tuyên bố chung Việt Mỹ với 5 điểm chính: (1) đánh bại xâm lăng CS; (2) thực hiện cải cách xã hội; (3) bảo vệ chánh thể tự do độc lập, (4) chống nạn đói, mù chữ và bệnh tật, (5) tiến đến hòa-bình. Ngày 8/2, Phó Tổng thống Humphreys theo phái đoàn VN sang VN tiếp tục cuộc đàm phán về cách thúc áp dụng chánh sách chung Việt-Mỹ. Ngày 10/2, Chánh phủ Tây Đức tặng VNCH 870 tấn gạo Thái Lan. Ngày 12/2, Phó Tổng thống Humphreys rời Sài Gòn đi Bangkok tuyên bố Mỹ sẽ giúp VN thực hiện các chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa, và bảo vệ tự do. 

Ngày 15/2, McNamara tuyên bố trước Thượng nghị viện Mỹ, B.V. đã đưa vô Nam 200.000 quân. Cùng ngày 15/2, Phạm Văn Đồng tuyên bố nhất định không nói chuyện với HK. Ngày 17/2, Thượng nghị viện Mỹ vẫn tranh luận gay go về chánh sách Mỹ tại VN: một phe chống, một phẹ bênh. Phe bênh thuộc đa số. Ngày 18/2, theo giới quân sự Mỹ tại Sài Gòn: VC hỉện cỏ 237.000 quân. VNCH và Đồng minh 775.000. Ngày 20/2 Phụ tá Tổng thống Johnson, Georges Bundy khen chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ trong sạch và nghiêm chỉnh nhất. Ngày 22/2, Robert Kennedy tuyên bố nên có một chánh phủ Liên hiệp tại VNCH. Tòa Bạch ốc phản đối, rằng chánh phủ HK chỉ ủng hộ một cuộc bầu cử tự do. Ngày 25/2 Đại Hàn đã thỏa hiệp với HK về các điều kiện gửi một sư đoàn nữa sang VN. Ngày 28/2 Robert Kennedy xác nhận lại lập trường: phải cho VC tham gia điều đình, và để dân VN tuyển cử tự do chọn chánh thể của mình dù kểt quả cuộc tuyển cử ra sao.

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1966. Ngày 1/1, giao tranh lớn tại Hậu Nghĩa, Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ hạ 125 VC. Ngày2/1, giao tranh ở Vĩnh Bình, Phú Yên, Bình Dương. Ngày 4/1, Liên quân Việt, Mỹ, Úc hành quân Marauder tại vùng Đồng Tháp và Hậu Nghĩa được lịnh vượt qua biên giới nếu cần đuổi VC. Cùng ngày 4/1, ại Phú Yên, quân Đại Hàn dùng khói cay mắt hun vào các hầm trú ẩn hạ 188 VC. Ngày 5/1, hành quân Jefferson hạ 288 VC. Đồn Khe Sanh bị pháo kích và tấn công. Ngày 6/1. hành quân TQLC Mỹ Long Lance gần Đà Nẵng. Ngày 9/1, hơn 8.000 quân Mỹ, Úc và Tân Tây Lan hành quân Crim tại Hố Bò-Tam giác Sắt. Ngày 10/1, hành quân Phi Hổ 6 Đại Hàn tại An Nhơn. Ngày 26/1, Hành quân Long Phi 953/SĐ tại Mỹ Quỳ gần Cao Lãnh. Hành quân Masher Mỹ-Đại Hàn, và hành quân Thần Phong của Nhảy Dù tại Bồng Sơn bao vây 2 trung đoàn VC. Ngày 28/1, hành quân Dân Chí 199/SĐ tại Vị Thanh. 

Ngày 30/1, hơn 4.000 quân Mỹ từ 13 chỉến hạm đổ bộ lên bờ biển Thạch Trụ cách Quảng Ngãi 23 cây số trong cuộc hành quân Double Eagle, để lùng đánh 5.000 quân chính quy của BV. Ngày 31/1, phi cơ Mỹ lại thả bom xuống Đồng Hới, Vinh, Thanh Hóa sau 37 ngày tạm ngưng. Ngày 31/1, Hành quân Long Phi 954 tại Vĩnh Bình. Ngày 2/2, Phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc Vinh, Đồng Hới, 3 máy bay Mỹ bị hạ. Ngày 3/2, Phi cơ Mỹ oanh tạc Bến Thủy. Hành-quân Mullet của Sư-đoàn 1 Bộ binh Mỹ tại rừng Biên Hòa. Ngày 4/2, Phi cơ Mỹ bắn phố Tàu và thuyền gần Hải Phòng. Trận đánh ở Bồng Sơn đã kéo đài tới ngày thứ 9. Hai trung đoàn VC bị Liên quân Việt-Mỹ và Đại Hàn vây chặt. Một trung đoàn nữa của BV vừa xuất hiện. Ngày 3/2, hành quân Van Buren của Sư đoàn Không vận Mỹ tại Phú Yên. Ngày 6/2, Phi cơ Mỹ lại oanh tạc Điện Biên Phủ, Vinh, Thanh Hóa, Hòn Cọp và phá hủy nhiều cơ sở và tàu bè, cầu, đường.

Ngày 8/2, hành quân Long Phi 955 tại Kiến Giang. Ngày 11/2, hành quân An Dân 14/66 tại Long An. Cùng ngày 11/2, Phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc vùng Thanh, Nghệ. Ngày 14/2, hành quân Cửu Long 9 tại Bến Tre. Ngày 17/2, B-52 oanh tạc một vùng ở Châu Đốc, gần sát biên giới. Đụng độ mạnh tại Buôn Trap, cách Ban Mê Thuột 32 cây số, hạ 70 VC. Ngày 18/2 Không lực Mỹ oanh tạc Điện Biên Phủ và vùng phụ cận chặn đường tiếp viện qua Lào vô Nam. Phi cơ từ các hàng không mẫu hạm vẫn đánh Vinh, Đồng Hới và Thanh Hóa. Tỉnh ly Long An, quận lỵ Phước Bình bị pháo kích. Ngày 20/2, Phi cơ Mỹ lại oanh tạc Điện Biên Phủ. Đêm qua, VC pháo kich căn cứ Mỹ tại An Khê. Ngày 25/2, hơn 130 VC bị hạ tại Bình Dương khi tấn công quân Úc và Mỹ. Ngày 26/2 một đơn vị của Lữ đoàn Mỹ 173 bị vây hãm trong Chiến khu D, phi cơ phải tới cứu viện. Ngày 28/2 B-52 ném bom ở Kontum.     

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1966. Ngày 8/1, có 100 taxi và 200 Lambretta 3 bánh được cấp cho các tài xế trúng cuộc rút thăm, theo chương trình hữu sản hóa công nhân. Ngày 14/1, Tại Hội nghị toàn quân, Trung tướng Nguyền Văn Thiệu tuyên bố xác định lập trường của VNCH, rằng chỉ có thể chấm dứt chiến tranh bằng sự toàn thắng về quân sự và chánh trị, bảo đảm độc lập trong danh dự. Ngày 24/1, theo Bộ Công chánh, đến tháng 6/66, thì sẽ hoàn thành hệ thổng dẫn nước sông Đồng Nai. Ngày 3/2, Ban Giám đốc Air Việt Nam họp báo cho biết cần tăng giá vé mảy bay 50% vì dà bị lỗ 64 triệu … Ngày 5/2 Tướng Nguyễn Chánh Thi, Đại biều tại miền Trung tuyên bố không thể tăng giá vé máy bay. Ngày 12/2 Thiểu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bổ tại Kontum “sẽ tổ chức tuyền cử trong 1 năm”. Ngày 15/2, Đại tướng Dương Văn Minh được giải nhiệm đại diện Quốc trưởng tại ngoại quốc, và đặt thuộc quyền Bộ Ngoại giao tỉếp tục công cán tại nước ngoài (SL. 058/CT/LĐ QG/SL). 

Ngày 16/2, một tòa án đặc biệt được thiết lập đề xử không cần thẩm cứu trước, những vụ hối lộ, đầu cơ, chuyển ngân phi pháp trên 50.000$. Ngày 21/2, mít tinh hội thảo tại vườn Dinh Độc Lập nhân “ngày Xã Hội Mới” và nói về kết quả hội nghị Honolulu “xác nhận ý chí chống Cộng cùng xây dựng nông thôn và dân chủ”. Công bố Sắc-luật 001/a/66 ngày 3/2/66 thiết lập Hội đồng Tư vấn Xây dựng Dân chủ “soạn thảo Hiến pháp và Luật bầu cử cùng Qui chế đảng phải và Bảo chí”. Ngày 22/2 Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ tuyên bổ phản đối ý kiến thành lập Chánh phủ Liên hiệp. Thành lập một Tổng cuộc Tiếp tế, một Phủ Đặc ủy Tị nạn Cộng sản trực thuộc phủ Chu tịch UBHPTƯ (SL-22/SL/HP). Cơ quan Viện trợ Mỹ định dành 9.230.500 Mỹ kim mua 70.942 tấn thực phẩm cấp phát. Ngày 28/2, Ban Tình báo Bộ Kinh tế khám phá một vụ thụt két 7 triệu tại Ty Ngân khố Đà Lạt.

NỘI TÌNH VNCH. Năm 1966.

NỘI TÌNH VNCH. Năm 1966. Ngày 13/1, Bộ Thông tin họp báo cho biết trong năm 1965, đã có 27.982 người mang 3.000 võ khi về qui chánh. Ngày 26/1, theo Bộ Xã hội số dân tị nạn Cộng sản lên tới 780.461 người. Đã được trợ cấp 98.035.110$. Và, 259 trại tạm trú. Ngày 24/2, tổng số tị nạn lên tới 833.875 người; số tiền cứu trợ đã phát cho các tỉnh: 187.270.721$.

Sydney ngày 1 tháng 4 năm 2024

 

Bài 93: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 3-4/66. 

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1966. Ngày 2/3, theo đề nghị của Wayne Morse, 2 viện Quốc hội Mỹ chấp nhận cho Tổng thống tiếp tục toàn quyền dùng võ lực tại Đông Nam Á ban hành từ 1964. Số quân Mỹ tại VN 235.000 người. Ngày 3/3, McNamara tuyên bố sẽ còn gửi thêm nhiều sư đoàn sang VN. Ngày 3/3, BV đưa nhiều quân và chiến cụ sang Lào đề bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh. Ngày 6/3, các tướng Taylor, Power, Williamson và Đô đốc Sharp đòi phong tỏa Hải Phòng. Ngày 10/3, HK lập tại mỗi Vùng Chiến thuật một Field Force VN, mỗi đoàn do một tướng chỉ huy. Chánh phủ Úc quyết định thêm quân ở VN từ 1.500 đến 4.500. Ngày 12/3, có 38 Thống đốc HK họp hội nghị, biểu quyết ủng hộ chánh sách của Tổng thống Johnson tại VN. Ngày 16/3, Tổng số quân nhân Mỹ bị thiệt mạng kể từ 1/1/1961: 2.559 và bị thương 12.706. 

Ngày 1/4, trong buổi họp báo, Tổng thống Johnson cho biết trong 3 tháng qua, VC thiệt 50.000 người. Ngày 2/4, theo tin quân sự Mỹ, trong 3 tháng qua, BV cho 50.000 quân tràn vào miền Nam, phần nhiều vượt qua Bến Hải. Thêm 2 Bộ tư lịnh cấp sư đoàn được đặt tại Quảng Trị và Thừa Thiên. Ngày 11/4, quân số Mỹ tại VN hiện đã lên tới 240.000: Lục quân 146.000; TQLC 48.600; Không quân 32.000; Hải quân 12.600. Ngày 13/4, Theo đài B.B.C, dư luận Hoa Thịnh Đốn rất lo ngại và thất vọng về tình hình VN. Cùng ngày 14/4, Phát ngôn viên Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn tuyên bố: không hề có sự nhượng đất làm căn cứ cho Mỹ tại VN. Ngày 28/4, giới quân sự Mỹ loan tin BV đưa thêm vô Nam 3 trung đoàn. Ngày 28/4, hơn 4.000 quân Mỹ đổ bộ lên Vũng Tàu. Ngày 30/4, Đại sứ Cabot-Lodge về Mỹ thảo luận về tình hình VN.  

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1966. Ngày 4/3, Phi cơ Không quân và Hải quân Mỹ lại oanh tạc Yên Báy, Phú Thọ, dọc đường xe lửa Hà Nội - Lào Kay. Ngày 5/3, hơn 5.000 quân Mỹ-Việt bao vây nhiều tiểu đoàn BV gần tỉnh lỵ Quảng Ngãi kịch chiến suốt nhiều giờ. Phi cơ thả bom suốt ngày. Phi cơ Mỹ oanh tạc BV, phá hủy cầu cống, đường sá gần Lào Kay, 1 dàn hỏa tiễn SAM bị phá hủy gần Hà Nội. Ngày 6/3, trận Quảng Ngãi tiếp tục, tới hôm nay, đã thấy xác 446 VC. Một tiểu đoàn Mỹ bị đánh tại Bình Dương. Một tiều đoàn khác tới tiếp viện, kịch chiến suốt ngày, kết quả 118 VC bị hạ. Ngày 7/3, hành quân Liên Kết 26 của 4 tiểu đoàn VNCH và hành quân Utah của HK tại Quảng Ngãi. Ngày 8/3, Đồn lực lượng đặc biệt Thượng A Shau (An Hậu) Thừa Thiên có 400 quân và 12 có vấn Mỹ, bị vài ngàn VC tấn công mạnh, phải rút bằng trực thăng. Sau đó, phi cơ tới tấp oanh tạc. Các vụ oanh kích BV tiếp tục với cường độ mạnh hơn  Vinh, Bến Thủy, Đồng Hới, và Thanh Hóa nhiều đài radar, kho đạn v.v... bốc cháy. 

Ngày 12/3, Liên quân Mỹ-Úc tiến sâu vào Chiến khu D, trong cuộc hành quân Silver City mở từ 8/3, và phá hủy nhiều cơ-sở VC cùng nhiều kho lương thực và xe cộ. Ngày 13/3, một tiểu đoàn Mỹ bị tấn công khi tiến vào Chiến khu D, vùng Long Khánh. 1 tiểu đoàn nữa tới tiếp cứu hạ 142 VC. Ngày 15/3, phi cơ Mỹ dội bom đường mòn Hồ Chí Minh gần Vinh. Ngày 17/3, Phi cơ Mỹ ném bom Vinh, Thanh Hóa, và dàn hỏa tiễn SAM tại vùng này. Ngày 18/3, chừng 1 trung đoàn VC tấn công đồn Võ Xu, quận Tánh Linh bị đẩy lui và bỏ lại 107 xác cùng 38 súng. Phi trường Cam Ly (Đà Lạt) bị pháo kích. Hành quân Cửu Long 15/66 tại Vàm Cỏ Tây (Mộc Hóa) hạ 219 VC, thu nhiều súng. Ngày 22/3, hành quân Texas của TQLC Mỹ tại Quảng Ngãi. Ngày 24/3, Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn hành quân tại Bình Định. Đồn Đu-prang tại Quảng Đức bị tấn công. Ngày 27/3, Đồn Dầm Chích, quận Tịnh Biên bị tấn công. 

Ngày 28/3, B-52 ném bom khu Rừng Sác, rung chuyển cả Đô thành. Ngày 30/3, ký kết thỏa hiệp Việt-Mỹ dành 7 triệu Mỹ kim về việc nghiên cứu xử dụng khu Cam Ranh. Ngày 10/4, Phi cơ Mỹ vẫn oanh tạc BV, và B-52 dội bom tại Phước Tuy và Kiến Phong. Ngày 13/4, B-52 tiếp tục ném bom BV, mục tiêu đèo Mụ Gia. Một đại đội Bộ binh Mỹ bị chặn đánh tại Bình Giả, Phước Tuy thiệt hại nặng. Ngày 14/4, quá nửa đêm, Phi trường Tân Sơn Nhẩt bị pháo kích: 6 quân nhân Mỹ chết và 155 Mỹ và Việt bị thương, 1 máy bay B-57, 23 trực thăng, 2 G-47 bị phá hủy, 1.200.000 lít xăng của ESSO cháy suốt đêm ngày 13, sáng 14 chưa hết khói. Ngày 19/4, Phi cơ Mỹ oanh tạc một cầu gần Hải Phòng. Ngày 21/4, hành quân Liên Kết 36 của Sư đoàn II tại quận Sơn Tịnh, cùng với hành quân Hot Spring của quân đội HK hạ 111 VC, thu nhiều súng lớn.

Ngày 23/4, Không quân Mỹ oanh tạc vùng lân cận Hà Nội và đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn. Hành quân Dân Chí 219-SĐ tại Chương Thiên hạ 245 VC, thu nhiều súng lớn. Ngày 24/4, Không quân Mỹ oanh tạc BV, không chiến tại Bắc Giang, 14 Mig-17 và Mig-21 bị hạ. Hành quân Birmingham tại biên giới Tây Ninh. Ngày 27/4, B-52 lại ném bom đường mòn Hồ Chí Minh, về phía đèo Mụ Gia. Phi cơ Mỹ cũng tiếp tục oanh tạc nhiều vùng Bắc Giang, Vinh, Đồng Hới. Ngày 29/4, có 64 phi vụ oanh tạc Nam Định và Uông Bí.           

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1966. Ngày 1/3, khai giảng lớp Sĩ quan Cảnh sát tại trại Lê Văn Duyệt, 450 sinh viên theo học. Ngày 7/3/66, Tòa án đặc biệt nhóm họp phiên xử vụ Tạ Vinh, Siu Hing, Hồng Văn Tuy, Ngụy Kinh (Việt gốc Hoa) đầu cơ, bán quá giá, chuyển ngân lậu, hối lộ công chức. Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ và một số nhân viên chánh phủ tới tham dự. Buổi chiều, toà tuyên án phạt Tạ Vinh tử hình và tịch thâu gia sản. Ngày 7/3/66, lại 2 gian thương Tàu đầu cơ sắt bị Tòa án đặc bỉệt phạt 6 năm cấm cố. Ngày 10/3, Hội đồng Ân xá bác đơn xin miễn tử hình của Tạ Vinh. Ngày 10/3, thiết lập một Học viện Cảnh sát Quốc gia (ND 416/ND/NV). Ngày 12/3, Tạ Vinh bị bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành. Đặng Cao Sách, Trưỏng ty Ngân khố Đà Lạt bị Tòa án đặc biệt xử tử hình và tịch thu tài sản vi tội biển thủ hơn 7 triệu. Ngày 16/3, Hội đồng Tướng lãnh (Ủy ban Lãnh đạo) lại nhóm họp ở dinh Gia Long để xét tình hình chung.

Ngày 19/3, ký kết thỏa ước Việt - Mỹ, theo đó, Mỹ viện-trợ cho VNCH 52 triệu nông phẫm (200.000 tấn gạo, 62.500 tấn bột mì, 500 tấn thuốc lá). Ngày 25/3, Ủy ban lãnh đạo Quốc gia quyết định triệu tập Hội đồng Tư vấn soạn thảo Hiến pháp và tổ chức bầu cử vào cuối năm nay thay vì cuối 1967 như đã dự định. Ngày 26/3, trong bản hiệu triệu trên Đài phát thanh, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ cho biết vì những vụ lộn xộn, đình công, bãi thị ngoài Trung, kho gạo dự trữ Huể sắp cạn. Ngày 27/3, Trung tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng, kêu gọi Quân đội triệt để tuân kỷ luật để cùng chống Cộng. Ngày 29/3, có 5 chiếc tàu chở gạo, sữa, xi măng ra Đà Nằng không được dỡ hàng, Thịếu tướng Kỳ tuyên bố với các phóng viên ngoại quốc: sẽ phải dùng biện pháp cứng rắn nếu cuộc lộn xộn cứ lan tràn. Ngày 30/3, UBLĐQG họp phiên bất thường, quyết định triệu tập Ủy ban Thảo hiến và cấm quân nhân công chức không được tham dự các cuộc biểu tình gây rối. 

Ngày 4/4, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu kêu gọi chấm dứt các vụ hỗn loạn, xác nhận tình trạng chìến tranh vẫn còn, và ra lịnh đóng cửa các trường học mọi cấp. Đô trưởng Sài Gòn, Bác sĩ Văn Văn Của, kêu gọi dân chúng tôn trọng trật tự. Ngày 7/4, UBLĐQG quyết định triệu tập Đại hội Chánh trị Toàn quốc để hỏi về việc bầu Quốc hội Lập hiến sẽ nhóm họp ngày 12-4-66. Ngày 8/4, Hội đồng Tướng lãnh lại nhóm họp bất thường. Cùng ngày 8/4, ác Lực lượng Đại đoàn kết và Tổng đoàn Thanh niên Trừ gian tuyên bố chống các cuộc bạo động. Ngày 13/4, Đại hội chính trị nhóm họp tại Hội trường Diên Hồng. Ngày 14/4, Sư đoàn 7 BB được lịnh kéo vô Sài Gòn. Đại-hội Chánh trị họp buổi chót. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký và tuyên đọc sắc luật 14/66 quyết định bầu cử Quốc hội Lập hiến với nhiệm vụ soạn thảo và biểu quyết Hiến-pháp Việt Nam Cộng Hòa, và sẽ bầu cử trong từ 3 tới 5 tháng. 

Ngày 16/4, Chu Tử tức Chu Văn Binh, nhà văn và chủ bảo Sống, bị mấy kẻ đi xe gắn máy bắn trúng nhiều phát trước cửa nhà. Ngày 22/4, Phủ Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp đã triệu tập một Ủy ban 48 người soạn thảo luật bầu cử Quốc hội. Cùng ngày 22/4, Đại tá Không quân Nguyễn Ngọc Loan, được bổ Tổng Giám đốc Cảnh sát thay Đại tá Phạm Văn Liễu, và kiêm nhiệm Giám đốc An ninh Quân đội. Ngày 25/4, gạo tăng từ 720$ lên 795$, và 600$ lên 695$ (22% tấm) giá chánh thức.

NỘI TÌNH VNCH. Năm 1966. Ngày 9/3/66, Hội đồng các Tướng lãnh và UBLĐQG nhóm họp 5 tiếng đồng hồ tại Bộ Tổng tham mưu và quyết định cho Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lịnh Vùng I Chiến thuật kiêm Đại bỉểu Chánh phủ tại vùng này, được nghỉ phép để đi chữa bịnh mũi. Ngày 11/3, Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân được cử lên thay tướng Thi làm Tư lịnh Vùng I kiêm Đại biểu Chính phủ. Ngày 10/3, Viện Hóa Đạo họp báo xác định lập trường trước tình thế: Các tướng nào có công với cuộc Cách mạng dù ở trong nước hay ở ngoại quốc, phải được trở lại quân đội. Các tướng lãnh trở về cưong vị quân sự. Lập Chánh phủ đoàn kết, với một quốc hội. Ngày 13/4, Theo đài B.B.C, dư luận Hoa Thịnh Đốn rất lo ngại và thất vọng về tình hình VN. Ngày 14/3, Tướng Nguyễn Chánh Thi lại trở ra Đà Nẵng, có Đại tá Phạm Văn Liễu, Tổng Giám đốc Cảnh sát, và Trung tá Nguyễn Ngọc Loan, Giám đốc An ninh Quân đội đi theo. 

Ngày 17/3, Viện Hóa Đạo lại tuyên bố: không có ý công kích chánh phủ, chỉ đòi một Quốc hội và một Chánh phủ dân sự. Ngày 22/3, khoảng 1.500 học sinh trường Hồng Lạc đường Trần Quổc Toản Sài Gòn, không chịu vào học, căng biều ngữ chống đối chánh phủ. Ngày 22/3, tại Huế, Đà Nẵng, và nhiều tỉnh miền Trung liên tiếp những vụ đình công bài Mỹ. Nhiều trụ sở Mỹ tại Huế đóng cửa. Ngày 23/3, Nhiều vụ biều tình, đóng cửa tiệm vẫn tiếp tục ở Đà Nẵng. Không khí vẫn sôi nổi ở Huể. Ngày 27/3, hơn 20.000 người biểu tình tuần hành tại Huế. Ngày 28/3, Phó Tổng thống Mỹ Humphreys tuyên bố với báo Newsweek, chỉ có Trời mới lật được thế cờ ở VN là một xứ quá nhiều chuyện rắc rối; Rằng Mỹ sẵn sàng xét lại đường lối, sẵn sàng thừa nhận VN không liên kết, và Mỹ có thể chấp nhận cuộc tuyển cử tự do dù Cộng sản thắng trong cuộc tuyển cử đó. Ngày 28/3, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ hội đàm với các Thượng tọa Thích Tâm Châu, Thích Thiện Minh và Thích Hộ Giác về việc thành lập các cơ cấu dân chủ.

Ngày 30/3, Sinh viên biểu tình ở Đà Nẵng. Tại Huế, vẫn có đình công, bãi khóa, đòi một chánh phủ dân sự. Ngày 31/3, Giỗ Hùng Vương, biểu tình trước chợ Bến Thành, nhiều biểu ngữ chống chánh phủ “Đả đảo chủ trương bóp nghẹt báo chí”; “Thực hiện gấp rút Quốc hội Lập-hiến”. Hình nộm các tướng Thiệu, Có, Kỳ, bị treo lên pháp trường cát trước chợ. Tại Đà Nẵng và Huế, vẫn có biểu tình tuần hành, với những khầụ hiệu: “Nước Việt Nam của người Việt Nam”; “Người Mỹ gây rối cho nhân dân Việt Nam”… Khá nhiều binh sĩ tham gia, cả một số cảnh binh. Ngày 1/4, có tin Trung tướng Phạm Xuân Chiểu ra Huế dàn xếp các vụ lộn xộn ở Huế, bị đám người biểu tình giữ lại. Ngày 2/4, Đài phát thanh B.B.C., báo The Guardian ở Luân Đôn, tỏ ý bi quan về tình hình VN. Chính giới Mỹ rất lo ngại. 

Ngày 3/4, UBLĐQG và ƯBHPTƯ họp báo, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố phải chấm dứt các vụ xách động có bàn tay Cộng sản; Rằng ông Thị trưởng Đà Nẵng Nguyễn Văn Mẫn đã dùng công quỹ thuê người biểu tình, sẽ bắt và xử tử. Coi Đà Nẵng như đã bị Cộng sản xâm chiếm, và cử quân đội tới giảỉ phóng. Ngày 4/4, tại Đà Nẵng, Ban Mê Thuột, Nha Trang, cũng có biểu tình chống đối chánh phủ. Buổi tối cùng ngày 4/4, chừng 500 người lại từ đường Trần Quổc Toản kéo đến Bộ Thông tin, nhưng bị giải tán bằng lựu đạn cay mắt. Ngày 4/4, giới quân sự Mỹ cho hay TQLC Mỹ không tham dự cuộc hành quân giải phóng Đà Nẵng. Ngày 5/4, có tin nhiều đoàn Nhảy Dù được gửi tới Đà Nẵng và đã đổ quân xuống phi trường. Ngày 5/4, HK cho di tản các cơ quan nằm trong thị xã. Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, Thị trưởng Đà Nẵng, bị cách chức và thay thế bằng Trung tá Mã  Sanh Nhơn. Thiếu tướng Kỳ cùng 2 tiểu đoàn ra Đà Nẵng, hội đàm mật với Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân, tân Tư lịnh vùng I. 

Cùng ngày 5/4, tại Đà Nẵng, nhiều đám người với gậy và dao chắn đường vào thị xã. Bác sĩ Mẫn đóng tại chùa Phổ Đà có 400 binh sĩ bảo vệ. Máy bay lượn trên thành phố rải truyền đơn kêu gọi. Dưới đất, chuông các chùa rung báo động inh ỏi. Ngày 5/4, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố: rất mong việc lộn xộn sớm giải quyết và hội nghị các lãnh tụ Tôn giáo chánh trị sớm họp để đi tới một Hiến pháp dân chủ. Ngày 6/4, nhiều sinh viên Huế được Sư đoàn I Bộ binh của Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận huấn luyện tập bắn để phòng thủ Huế chống quân đội chánh phủ. Ngày 6/4, Mỹ rút các cố vấn ra khỏi các đơn vị quân đội VNCH tại Huế và Đà Nẵng. Ngày 7/4, Viện Hóa Đạo công bố kết quả điều đình với chánh phủ: không dùng võ lực giải quyết các vụ tranh đấu ngoài Trung, không bắt bớ, rút quân ở Đà Nẵng vào Sài Gòn, triệu tập Quốc hội trong 4 đến 6 tháng. 

Ngày 8/4, Các nhóm tranh đấu ở Huế tuyên bố không thừa nhận những điểm thỏa hiệp giữa Viện Hóa Đạo và Chánh phủ, nhất định đòi hỏi chánh phủ này rút lui. Ngày 8/4, Sinh viên, công chức tại Huế, Đà Nẵng, Quảng Trị, được võ trang bằng gậy gộc, lựu-đạn.v.v. Cùng ngày 8/4, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William Bundy tuyên bố: Thượng tọa Thích Trí Quang đương muốn thao túng chính trường VN, song mục dích không rõ rệt. Ngày 9/4, Trung tướng Tôn Thất Đính được cử làm Tư lịnh vùng I, thay tướng Chuân. Ngày 10/4, Mặt trận Quốc dân Thống nhất họp tại rạp Thống Nhất yêu cầu lập Chánh phủ Dân sự. Ngày 13/4, tại Huế và Đà Nẵng lại có biểu tình tuần hành đả đảo Đại hội Chánh trị. Ngày 14/4, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ gửi thư cho Thượng tọa Thích Tâm Châu xác nhận: (1) Chính phủ sẽ không giam giữ và trừng phạt những người đã tham gia các cuộc tranh đấu từ 11/3/66; (2) Rút các tiểu đoàn đã gửi ra Đà Nẵng; (3) Nội trong ngày 14, sẽ có sắc luật về Quổc hội Lập hiến. 

Ngày 15/4, Nhóm Lực lượng Tranh thủ Cách mạng tại Huế vẫn biểu tình, phản đối Đại hội Chánh trị, và đòi Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia cùng chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ rút lui. Ngày 17/4, Lực lượng Tranh thủ Cách mạng ở Huế và Đà Nẵng bắt giữ Tỉnh trưởng Quảng Nam Nguyễn Hữu Chi và Quận trưởng Hòa Vang cùng một số người bị coi là thân Chánh phủ. Cùng ngày 17/4, Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình cho biết các Nhóm Thanh niên Công gỉáo được thành lập trên toàn quốc để ngăn chặn Cộng sản cướp chánh quyền. Ngày 20/4, tỉnh trưởng Quảng Nam, và những người bị Lực lượng Nhân dân Tranh thủ Cách mạng bắt giữ tại Đà Nẵng đã được thả ra.  

Sydney ngày 2 tháng 4 năm 2024

 

Bài 94: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 5-6/66.  

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1966. Ngày 3/5, có 99 tù binh VNCH bị bắt ở Kontum từ 1965, vừa được thả. Ngày 5/5, Tổng thư ký LHQ, U-Thant tuyên bố: Liên Hiệp Quốc không thể can thiệp vào VN bây giờ, vì Nga Sô không muốn. Ngày 7/5, theo Bộ Quốc phòng Mỹ lực lượng của các bên tham chiến: VC 250.000 gồm 90.000 chính quy, 160.000 du kích, bộ đội địa phương. VNCH 700.000 gồm 316.000 Chủ lực quân, còn lại Địa phương quân và Nghĩa quân. Hoa Kỳ 255.000 gồm 156.000 Bộ binh, 13.500 Hải quân. Đại Hàn, Úc, Tân Tây Lan 26.000. Ngày 11/5, Tổng thổng Johnson nhóm họp hội nghị duyệt lại chánh sách lâu dài tại VN. Nhiều tướng lãnh đòi thả bom xuống các kho dầu Hà Nội và Hải Phòng. Cùng ngày 16/5, Đại-sứ Cabot-Lodge trên đường từ Mỹ trở lại VN còn tạt qua Hán Thành 48 giờ. Ngày 18/5, Đại sứ Cabot-Lodge ghé qua Hán Thành vận động chánh phủ Đại Hàn gửi thêm quân sang VN.

Ngày 20/5, Đại sứ Cabot-Lodge từ Hán Thành về tới Sài Gòn, chỉ có nhân vật Mỹ đón tiếp. Ngày 31/5, Phi cơ Mỹ xuất trận ném bom BV, 83 phi vụ, mục tiêu cầu, xe lửa, kho hàng, radar, căn cứ hỏa tiễn v.v... số bom hôm nay bằng cả số ném trong tháng Giêng. Ngày 15/6, Có tin từ Hương Cảng, cuộc Thanh trừng ở Trung Cộng lan rộng từ Bắc Kinh về các địa phương. Ngày 29/6, Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh, Lê Duẩn sang Nga hội đàm về vấn đề VN. Cùng ngày 29/6, Tổng thống Johnson xác nhận: sẽ còn tiếp tục oanh tạc mạnh để BV nhận rằng xâm lăng sẽ phải trả bằng giá quá đắt. Cùng ngày 29/6, Dân chúng Hà Nội phải tản cư, chỉ còn độ 300.000 trong số 1.200.000 ở lại thành phố. Ngày 30/6, Tổng thống Johnson xác nhận nhất quyết đánh mạnh vì Hà Nội và Bắc Kinh không chịu điều đình. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1966. Ngày 2/5, có 2 dàn hỏa tỉễn SAM bị phi cơ Mỹ phá hủy gần Vinh. Nhiều kho dầu và đường sá cũng bị oanh tạc. Ngày 3/5, Pháo đài B-52 dội bom xuổng nhiều địa điểm trên đất Lào. Ngày 5/5, mặc dầu trời xấu, phi cơ Mỹ vẫn dội bom dữ dội ở vùng Hòn Gay, Cẫm Phả. Ngày 6/5/ kịch chiến gần Bồng Sơn, hơn 100 VC bị hạ. Ngày 8/5, mặc dầu trời xẩu, hàng trăm phi cơ Mỹ vẫn dội bom xuổng B.V. một dàn hỏa tiễn SAM bị phá gần Hà Nội, Các đường vô Hà Nội đều bị phá hủy. Một phản lực F-105 bị hạ. Ngày 10/5, sáng nay mìn nổ tại đường Hai Bà Trưng, gần khách sạn Ambassador sau nhà Văn Hóa. Quân nhân Mỹ bắn nhau với đặc công VC trong hơn nửa giờ, làm 6 chết, 20 bị thương cả Mỹ lẫn Việt đi đường. Ngày 11/5, mặc dầu trời xấu, BV vẫn bị oanh tạc 50 lần. Kịch chiến giữa một đơn vị Nhảy Dù Mỹ và 1 tiểu đoàn VC tại Phước Long. Ngày 12/5, trong 87 phi vụ dội bom xuống BV, 2 dàn hỏa tiền SAM bị phá hủy gần Hải Phòng. 

Ngày 12/5, TQLC Mỹ kịch chiến với VC tại làng Hòa Thới cách phi trường Đà Nẵng 25 cây sổ, 175 VC bị hạ. Ngày 13/5, Trong 24 giờ qua, quân lực VNCH mở 15 cuộc hành quân mới. 38 cán bộ đặc công VC gồm 4 tổ đã bị cơ quan an ninh bắt. Ngày 14/5, hành quân Dân Chí 227/SĐ tại xã Tân Duyệt, quận Đầm Dơi hạ 227 VC, bắt 19 cùng nhiều võ khí. Ngày 18/5, hành quân Dân Chí 228 B/SĐ tại Vĩnh Châu, Bạc Liêu. Ngày 9/6, B-52 ném bom xuống vùng tụ quân BV, cách Huế chừng 30 cây số. Ngày 14/6, Phi cơ Mỹ thuộc chiến hạm Ranger oanh tạc BV bắn rớt 1 máy bay BV bị tại miền Thanh Hóa. Hành quân Cửu Long 29/66, vùng xóm Trăng, Mộc Hóa hạ 11 VC, bắt rẩt nhiều súng đạn, đài điện thoại, và phá hủy nhiều hầm bê tông. Ngày 15/6, theo tin của giới quân sự VN, hiên VC có 3 sư đoàn gồm 13 trung đoàn, tại Cao nguyên và miền Duyên hải Trung phần. Chỉ huy là Trung tướng Chu Huy Mân. Cùng ngày 15/6, hai đài radar chỉ cách Hải Phòng 10 cây số bị phi cơ Mỹ phá hủy. 

Ngày 16/6, Phi cơ Mỹ lại phá một đài radar và một căn cứ hỏa tiễn tại vùng Thanh Hóa. Ngày 18/6, Phi cơ Mỹ ném bom BV phá một dàn hỏa tiển cách Vinh 83 cây sổ. Từ một năm nay, B-52 đã oanh tạc trong 321 phi vụ, và ném 70.000 tấn bom. Ngày 20/6, Phi cơ Mỹ oanh tạc dữ khu kỹ nghệ Thái Nguyên và Việt Trì. Báo động tại Hà Nội: 2 phi-cơ bị hạ. Ngày 25/6, có tin 2 sư đoàn quân BV đã tràn vào vùng Quảng Trị và Thừa Thiên. Kịch chiến cách Huế 21 cây số ở đầm lầy duyên hải từ trưa và suốt đêm. Một đại đội Mỹ bị tỗn thất nặng. Ngày 26/6, Trong khuôn khổ hành quân Jay, TQLC Mỹ hạ 28 VC tại vùng đồng lầy duyên hải Thừa Thiên. Ngày 27/6, Chùa Ấn Quang, Sài Gòn bị Cảnh sát khám xét: tịch thu một tiểu liên Tiệp Khắc giấu trong xe hơi ở sân chùa. Ngày 27/6, một kho nhiên liệu lớn bị oanh tạc cách Vinh 59 cây sổ cháy 14 giờ chưa tắt. Ngày 29/6, phi cơ Mỹ dội bom phả hủy các bồn xăng gần Gia Lâm và sát Hải Phòng, từ 60% đến 80% xăng bốc cháy. 

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1966. Ngày 5/5, Hội đồng Thảo hiến nhóm họp soạn thảo dự án tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến. Ngày 7/5, nhân dịp khánh thành sân bay Bình Thuỷ, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố với các nhà báo Chánh phủ có thể đứng lại 1 năm nữa dù có Quốc hội Lập hiến. Ngày 1/6, UBLĐQG tuyên bố: quyết định mời thêm 10 nhân vật dân sự vào UBLĐQG trước ngày 5-9-66, và lập một Hội đồng Quân Dân cạnh UBHPTƯ trước 19-6-66. Ngày 5/6, Hội đồng các Tướng lãnh nhóm họp tại Bộ Tổng tham mưu (45 vị) và quyết định: quân đội lãnh đạo công cuộc chống Cộng và xây dựng Dân chủ, tín nhiệm các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ trong nhiệm vụ hiện tại, mở rộng Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Và, 10 nhân sĩ: Trần Văn Đỗ, Phạm Hữu Chương, Phan Khoang, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Ngọc Trân, Trần Văn Ân, Văn Thành Cao, Nguyễn Lưu Viên, Quan Hữu Kim, Huỳnh Văn Nhiệm được mời vào Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia. 

Ngày 8/6, Thiếu tướng Lê Nguyên Khang, Tư-lịnh TQLC được cử thay Thiếu tướng Nguyễn Bảo Trị, chỉ huy Quân-đoàn III vùng III Chiến thuật, Tướng Nguyễn Bảo Trị được cử thay tướng Huỳnh Văn Cao ở chức vụ Tổng cục Chiến tranh Chính tri. Ngày 15/6, hôm nay mới có tin thiết lập Hội đồng Quân Dân do sắc luật ngày 10-6-66. Ngày 16/6, tại Sài Gòn, giờ giới nghiêm lại bị kéo dài từ 9 giờ tối đến 4 giờ sáng. Ngày 18/6, nhiều biện pháp mới để chống lạm phát được ban hành: đặt trợ cấp du học 38$ một Mỹ-kim; tăng lương công chức và quân nhân từ 20% đến 30%; đặt quỹ điều hòa thị trường Vàng để bán vàng thoi theo giá hạ y.v... Cùng ngày 19/6, UBLĐQG ký S. Luật 021/66, thành lập Quốc hội Lập hiến với 108 nghị sĩ bầu lên để soạn thảo Hiến pháp. Ngày 28/6, Ký kết hiệp định Đức-Việt, Tây Đức viện trợ 20 triệu Mỹ kim để xây lò sát sinh Đô thành và mua tàu biển. Ngày 28/6, theo Bộ Xã hội, chỉ có 3 người chết, 30 bị thương trong các vụ lộn xộn ở Huế. Giá vàng hạ xuổng 12.300$. 

NỘI TÌNH VNCH. Năm 1966. Ngày 1/5, các Tổng liên đoàn Lao công và Tổng liên đoàn Lao động mit-tinh và biểu tình tuần hành, kéo qua Tòa Đại sứ Hoa Kỳ trưng nhiều biểu ngữ bài Mỹ, kêu gọi rút quân, đình chiển, v.v... Ngày 2/5, Chừng vài ngàn giáo dân biểu tình tại Hóc Môn, đả đảo đại sứ Cabot Lodge, cảm ơn quân đội Mỹ, và kêu gọi chống Cộng. Ngày 4/5, trong buổi họp báo tại Đà Nẵng, Trung tướng Tôn Thất Đính, Tư lịnh Vùng I tuyên bố: tình hình Huế và Đà Nẵng đã trở lại bình thường. Ngày 9/5, Phật giáo Hòa Hảo họp đại hội 11 ban trị sự Tỉnh, và lập một Ủy ban Lãnh đạo Lực lượng Bảo an Phật giáo Hòa Hảo. Ngày 12/5, Khối Công giáo Huế lập Ủy ban Bảo vệ Giáo xứ. Ngày 13/5, trước trụ sở Tổng liên đoàn Lao động có căng một số biểu ngữ bài Mỹ. Ngày 15/5, Hội đồng các tướng lãnh họp khẩn cấp ở Bộ Tổng tham mưu. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: đã cử quân ra tái lập an ninh tại Đà Nằng. 

Cùng ngày 15/5, có 5 tiểu đoàn TQLC được chở bằng phi cơ ra Đà Nẵng, và sau một giờ can thiệp đã tái chiểm Đài phát thanh, và làm chủ tình thế. Trong cuộc nổ súng giữa quân đội và Lực lượng Tranh đấu, một số thiệt mạng và bị thương. Nhiều tin tức trái ngược chưa được phối kiểm. Ngày 16/5, Nhóm chống chánh phủ chạm súng với TQLC trong ở ngoại ô Đà Nẵng. Một đơn vị TQLC khác kéo tới chùa Phồ Đà đòi trả 17 binh sĩ do Lực lượng Tranh đấu bắt giữ, 14 người đã trở về cùng với võ khí. Nhiều đơn vị TQLC tiến về Huế. Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao nhậm chức Tư lịnh Quân đoàn I. Cùng ngày 16/5, Thượng tọa Thích Trí Quang từ Huế kêu gọi Tổng thống Johnson can thiệp. Hội đồng Viện Hóa Đạo ra thông cáo: yêu cầu Chánh phủ rút quân khỏi Đà Nẵng, và tìm biện pháp ổn định, kêu gọi Phật tử sẵn sàng hy sinh. Và, cũng ngày 16/5, Tòa Đại sứ Mỹ được lịnh can thiệp dàn xếp giữa Chánh phủ và phe chổng đối. 

Ngày 17/6, Thiếu-tướng Huỳnh Văn Cao tới thị sát Sư đoàn I tại Phú Bài, lúc trực thăng cất cánh định rời bản doanh, một thiếu úy giơ súng lục bắn theo và bị đại liên của trực thăng bắn chết và 6 binh sĩ khác bị thương. Ngày 18/5 những đơn vị TQLC và Nhảy Dù từ Đà Nẵng ra Huế, phải dừng lại ở đèo Hải Vân. Quân chống đối chánh phủ đang dàn trận trước mặt. Cùng ngày 18/5, có 24 Tuyên úy Phật giáo tuyệt thực 48 giờ. Bộ Quốc phòng ra lịnh cấm quân nhân và các Tuyên úy hoạt động chánh trị. Cũng ngày 18/5, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ gửi thư chánh thức cho Viện Hóa Đạo yêu cầu can thiệp với các Thượng tọa ở Đà Nẵng đừng chứa chấp những người thuộc Lực lượng Tranh đấu ở các chùa Tỉnh Hội và Phổ Đà, hoặc rời khỏi các chùa đó. Ngày 19/5, nhiều tin trái ngược về các vụ xung đột ở Huế và Đà Nẵng. Ngày 20/5, trước chùa Tỉnh Hội, Đà Nẵng, quân Chánh phủ và quân Tranh đấu nố súng, một số chết và bị thương. 

Ngày 20/5, Thượng tọa Thích Trí Quang lại kêu gọi Tống thống Johnson can thiệp. Ông Quang cũng đòi Chánh phủ rút quân khỏi Đà Nẵng và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ phải từ chức ngay. Cùng ngày 20/5, các tướng Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất Đính được kêu gọi ra trình diện; Tư lịnh Sư đoàn I, tướng Phan Xuân Nhuận phải dứt khoát tư tưởng. Ngày 21/5, hàng trăm tăng ni tuyệt thực vô thời hạn tại Viện Hỏa Đạo. Nhiều tăng ni Phật tử ở Gia Định và Định Tường cũng tuyệt thực. Ngày 22/5, tại Đà Nẵng, hai bên vẫn nổ súng. Một số chết và bị thương tại khu chùa Phổ Đà. Ngày 22/5, Lịnh đại xá cho quân nhân nổi dậy ban hành tại Đà Nẵng. Trong ngày 22/5, đã có 600 binh sĩ cùng sĩ quan rời hàng ngũ ly khai trở về phía Chánh phủ. Ngày 23/5, Nhóm nổi dậy ở chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng chịu buông súng, hàng trăm binh sĩ trở về với Quân đội, hơn ngàn súng các hạng được tìm thấy trong chùa, với 30 xác chết sặc mùi hôi thối. 

Cùng ngày 23/5, theo chuẩn tướng Dư Quốc Đống, phía Quân đội có 20 người chết và hơn 100 bị thương trong vụ dẹp quân nôi dậy trong tuần qua. Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, Thị-trưởng Đà Nẵng đã bị bắt và đưa về Sài Gòn. Cùng ngày 23/5, một cầu Không vận được lập để tiếp tế cho Đà Nẵng. Ngày 24/5, Đại hội Dân Quân nhóm họp tại rạp hát Thống Nhất, với 1.000 đại diện quân đội, hội đồng Tỉnh, công chức, nhà báo, đảng phái v.v... để nghe UBLĐQG và Chánh phủ trình bày về hiện tình và vụ Đà Nẵng. Số người bị thiệt mạng tại Đà Nẵng, tởi nay được xác nhân là 76. Ngày 25/5, Thượng tọa Thích Trí Quang yêu cầu lần thứ ba Tồng thổng Johnson và Quổc hội Mỹ đừng ủng hộ chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ nữa. Cùng ngày 25/5, theo Trung tướng Nguyễn Hữu Có thì Đại tá Đàm Quang Yêu và Thiếu tá Tôn Thất Tường, hai người cầm đầu vụ Đà Nẵng đã bị bắt và đưa về Sài Gòn. 

Ngày 26/5, Sinh viên Huế biểu tình bài Mỹ và đốt phòng Thông tin cùng Thư viện vài ngàn cuốn sách. Cùng ngày 26/5, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ gửi thư cho bộ Ngoại giao Mỹ ngỏ ý rất tiếc vụ đổt phòng Thông tin Mỹ ở Huế. Ngày 27/5, một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn I BB được gửi vô Huế để bảo vệ an ninh cho các cơ sở Mỹ. Ngày 29/5, ni cô Thích nữ Thanh Quang, 55 tuổi, tự thiêu trước chùa Diệu Đế để phản đối Tồng thống Johnson không chịu rút sự ủng hộ chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ. Ngày 29/5, Tòa Đại sứ Mỹ ngỏ ý buồn tiếc về vụ tự thiêu của ni cô Thanh Quang. Ngày 30/5, Huế phát động phong trào bài Mỹ kịch lỉệt, tẩy chay, bãi công, đổt phá v.v. Cùng ngày 30/5, Bộ Tư lịnh Sư đoàn I của tướng Phan Xuân Nhuận rút khỏi Huế. Ngày 31/5, Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm được bổ Quyền Tư lịnh Quân-đoàn I thay Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. 

Ngày 31/5, Phái đoàn Phật giáo gồm một số Thượng tọa do Thượng tọa Thích Tâm Châu hướng dẫn, nhóm họp tại dinh Gia Long với 6 tướng trong Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia để tìm giải pháp cho tình hình. Ngày 1/6, Thượng tọa Thích Pháp Siêu, Vụ Phó vụ Thanh niên phản đối giải pháp ôn hòa của Thượng tọa Thích Tâm Châu và toan tự thiêu ngay, nhưng được Phật tử ngăn chặn. Ngày 2/6, theo đài Phát thanh Sài Gòn, trung tá Trần Văn Khoa tuyên bố giới nghiêm lại Huế và đòi Lực lượng Tranh thủ nộp võ khí. Ngày 3/6, Thượng tọa Thích Trí Quang cải chính các tin, theo đó quân đội Chánh phủ đã tái chiếm và kiềm soát Huế, đồng thời tuyên bố cự tuyệt cuộc bầu cử do Chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ sắp tỗ chức.Ngày 3/6, Phát ngôn viên tòa Đại sứ Mỹ cho biết: những vụ bạo động và tự thiêu chỉ nhằm gây áp lực cho Mỹ can thiệp vào việc tranh chấp nội bộ của VN, nhưng Mỹ vẫn giữ nguyên thái độ cũ.

Ngày 4/6, Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm và Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận họp báo tại Đà Nẵng cho biết: Lực lượng Tranh thủ của Bửu Tôn đã nộp 520 võ khí, Trung tá Khoa đã tái lập an ninh ở Huể, các chùa bỏ ngỏ. Ngày 5/6, Thượng tọa Thích Trí Quang vẫn phát động phong trào chống chánh phủ, và kêu gọi Phật tử đem các bàn thờ Phật bày ra đường để chắn lối đi trong thành phố Huế. Ngày 6/6, thêm 3 tiểu đoàn, vừa Nhảy Dù vừa TQLC tới trường bay Phú Bài, và đóng cách Huế 8 cây sổ. Cùng ngày 6/6, các bàn thờ Phật vẫn bày chật nhiều ngả đường và ngăn cản sự chuyên chở. Nhiều đám dân chúng đứng chắn không cho các quân xa Mỹ di chuyển. Cũng ngày 6/6, Thượng tọa Thích Tâm Châu lại trở về giữ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo tuyên bố: chống bạo động, giải tán Lực lượng Phật tử, nhưng vẫn đòi các Tướng Thiệu và Kỳ từ chức, lập Ủy ban Bảo vệ Phật giáo và tranh đấu bất bạo động. 

Ngày 7/6, Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận tuyên bố: Thích Trí Quang là Cộng sản và sẽ bị bắt. Nhưng không xảy ra vụ bắt giữ. Cùng ngày 6/6, có 5 đoàn thể Công giáo như Mặt trận Công giáo dân; Quổc dân Liên hiệp; Tổng đoàn Sinh viên; Thanh niên, Học-sinh... không tham gia cuộc biểu dương lực lượng do nhóm Nguyễn Gia Hiến của Đại đoàn kết sắp tỗ chức ngày 12-6. Ngày 8/6, Bàn thờ Phật vẫn chưa được dọn khỏi các ngả đường Huế. Thượng tọa Thích Trí Quang tuyệt thực. Ngày 9/6, Thượng tọa Thích Tâm Châu và nhiều Thượng tọa Viện Hóa Đạo hội đàm với Đại sứ Cabot-Lodge, đòi Mỹ rút sự ủng hộ đã dành cho chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ và UBLBQG. Cùng ngày 9/6, Thượng tọa Thích Trí Quang yếu sức vì tuyệt thực, phải vào nhà thương. Ngày 10/6, một tiểu đoàn Cảnh sát Dã chiến được gửi tới Huế, đóng ở nhiều địa điểm. Ngày 11/6, chừng 5.000 người biều tình ủng hộ Thựợng tọa Thích Trí Quang. 

Ngày 12/6, Cảnh sát Dã chiến dẹp các bàn thờ bày trên đường phố Huế. Cùng ngày 12/6, thêm 1 tiều đoàn TQLC được gửi đến Huế. Ngày 13/6, nhiều nơi bàn thờ Phật vẫn còn ngăn cản giao thông, binh sĩ không chịu đụng tới. Ngày 13/6, hơn 150 Cảnh sát Dã chiến nữa đến Huế. Ngày 14/6, Thượng tọa Thích Tâm Châu không rõ hiện đang ở đâu, kêu gọi dẹp bàn thờ. Ngày 15/6, tại Huế, quân đội giải tán các cuộc biểu tình bằng lựu đạn cay mắt, và dẹp các biểu ngữ chống chánh phủ. Nhiều tăng ni, Phật tử ngồi giữa đường tụng kinh. Tại Sài Gòn, nhiều cuộc biểu tình xuất phát từ Viện Hóa Đạo bị cảnh sát Dã chiến dẹp ngay. Nhiều bàn thờ Phật bày ra đường cả trên đường Công Lỷ lối gần cầu, nhưng cũng bị dẹp. Ngày 16/6, tại Huế, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám đốc Cảnh sát, đích thân chỉ huy dẹp các bàn thờ và các đám biểu tình. Cùng ngày 16/6, các ban Tuyên úy Phật giáo cấp Tiểu đoàn và Đại đội bị giải tán theo chỉ thị của Bộ Quổc-phòng. Ngày 17/6, có tới 4 tiểu đoàn Nhảy Dù và TQLC kiểm soát Huế, đóng quanh thành nội trong đó vài trăm binh sĩ ly khai cố thủ. 

Cùng ngày 17/6, An ninh Quân đội bắt vợ giáo sư Lê Tuyên trong Lực lượng Tranh đấu Huế, cùng một số sinh-viên tình nghi là VC. Cũng ngày 17/6, Thượng tọa Thích Trí Quang về chùa Diệu Đế. Ngày 19/6, các đơn vị tái chiếm Huế làm chủ tình hình, dẹp hết các ban thờ, kiềm soát thành phố và có khám xét mấy chùa. Cùng ngày 19/6, Thượng tọa Thích Trí Quang vẫn tuyệt thực. Ngày 20/6, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ gửi thư ngỏ giải thích với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Thượng tọa Thích Tâm Châu về cuộc hành quân Đà Nẵng, không có sự đàn áp Phật giáo. Ngày 20/6, tại Đà Nẵng, lại có biểu tình của vài trăm người từ chùa Tỉnh Hội, nhưng bị giải tán ngay. Tại Huế, tình hình sinh hoạt gần bình thường. Bệnh viện dân y, nơi Thượng tọa Thích Trí Quang nằm tuyệt thực, bị Cảnh sát canh gảc. Cùng ngày 20/6, vài ngàn tăng ni, Phật tử biểu tình tại Qui Nhơn ủng hộ các Thượng tọa Thích Trí Quang và Thích Thiện Minh. Viện Hóa Đạo vẫn bị bao vây. 

Ngày 21/6, kết quả cuộc hành quân tái chiếm Huế: 7 quân nhân phía chánh phủ bị thương; tạm giữ 190 quân nhân ly khai, 109 công chức, 35 cảnh-sát. Đã bắt các lãnh tụ Tranh đấu. Ngày 21/6, Thượng tọa Thích Trí Quang được Quân đội đưa vô Sài Gòn. Theo thông cáo: để dưỡng sức và được bảo vệ, vì VC có thể ám sát để gây xúc động. Ngày 22/6, Lê Tuyên, lãnh tụ Tranh đấu tại Huế đã ra trình diện Cảnh sát. TQLC và Nhảy Dù tới tỉnh lỵ Quảng Trị dẹp bàn thờ và trấn đóng giữ trật tự. Ngày 23/6, Quân đội cùng Cảnh sát vào Viện Hóa Đạo luc soát, đưa vài trăm tăng ni về các chùa, bắt giữ một số thanh niên trốn quân dịch. Ngày 23/6, Thượng tọa Thích Tâm Châu được Hội đồng Viện Hóa Đạo ủy quyền thương thuyết với chánh phủ để chấm dứt chống đối. Ngày 24/6, tại Huế, Quân đội và Cảnh sát tới kiểm soát các chùa Từ Đàm và Diệu Đế. Xác người tự thiêu quàn tạm, được chở đi chôn. 

Cùng ngày 24/6, Giáo sư Lê Tuyên, một lãnh tụ Tranh đấu, tuyên bố tại đài phát thanh rằng các vụ gây rối đều do Thượng tọa Thích Trí Quang chủ động. Ngày 30/6, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đã hội đàm vởi Thượng tọa Thích Tâm Châu, và gửi thư ngỏ chấp thuận 5 điểm của Thượng tọa đưa ra: tôn trọng chùa chiền; bảo vệ an ninh cho tăng ni; thả người bị bắt; khoan hồng đối vớì những phần tử Tranh đẩu, trừ kẻ chủ mưu và Cộng sản. 

Sydney ngày 3 tháng 4 năm 2024

 

Bài 95: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 7-8/66. 

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1966. Ngày 1/7, hơn 50 phi công Mỹ bị bắn rớt xuống BV, phải đi bộ qua các đường phố để dân chúng đả đảo. Ngày 5/7, Sainteny, cựu Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Bắc Việt hội đàm với Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp, về vấn đề VN. Ngày 6/7, Tổng thống Johnson tuyên bố, phải cho tấn công BV mạnh hơn nếu cần, và tăng quân tại VN. Cùng ngày 6/7, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng lại tiếp Sainteny, và tuyên bố không thể có thương thuyềt nếu Mỹ còn chưa rút khỏi miền Nam. Ngày 8/7, theo các giới quân sự Hoa Thịnh Đốn, BV và VC hiện đã có 270.000 quân và cán bộ tại miền Nam. Ngày 11/7, Bộ trưởng QP Mỹ McNamara tuyên bố sẽ tăng quân Mỹ lên 400.000 đến 425.000 để đánh mạnh hơn. Ngày 14/7, các cơ quan chánh quyền BV tản cư khỏi Hà Nội trừ Phủ Chủ tịch, Phủ Thủ tướng và Bộ Ngoại giao. 

Ngày 15/7, Báo Nhân Dân Hà Nội lại xác nhận lập trường của BV: còn đánh, chỉ đánh, và đánh đến khi nào Mỹ chịu 4 điều kiện. Ngày 17/7, Hồ Chí Minh tuyên bố động viên một phần lực lượng BV và sửa soạn tiếp tục giao tranh 10 năm hoặc 20 năm nếu cần. Cùng ngày 17/7, U-Thant cảnh cáo BV: nếu những phi công Mỹ bị đem ra xử tử, thì Thế chiến thứ III sẽ bùng nổ. Ngày 18/7, Bộ Quổc phòng Mỹ cải chính tin đồn oanh tạc đê điều BV. Ngày 26/7, các giới chánh trị Hoa Thịnh Đốn cho biết: HK không mở rộng chiến tranh, chỉ bảo vệ miền Nam mà thôi. Ngày 30/7, Có tới 43 nghị sĩ HK tỏ ý lo ngại về lời tuyên bố của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đối với BV và cuộc đô bộ ra Bắc. Ngày 30/7, Một phi cơ C-47 chở 8 người, bị mất tích ở Bắc: nhiệm vụ của phi cơ này được giữ bí mật. Ngày 31/7, Trung tướng Nguyễn Chánh Thi và 2 con rời Việt Nam sang HK. Ngày 31/7, Đại sứ Cabot-Lodge đi thăm miền Tây, phải ngủ trên sông Mékong vi trực thăng gặp mưa bão không tới đón được. 

Ngày 1/8, cuộc thanh trừng tại Trung Cộng mỗi ngày một quyết liệt. Đến lượt Tổng tham mưu La Thụy Khanh và Phó Thủ tướng Văn hoá Lục Đinh Nhất cũng bị loại trừ. Ngày 4/8, Chánh phủ BV ra lịnh di tản kỹ nghệ về thôn quê, và rừng núi, đồng thời tổ chức các khu kinh tế tự túc. Ngày 5/8, Cựu Phó Tổng-thổng Mỹ Nixon (Richard) lại tới thăm Sài Gòn và tuyên bố: không tán thành chủ trương đánh ra BV. Ngày 5/8, theo tin đài phát thanh Hà Nội, trong tháng 7, Mỹ đã oanh tạc 15 thị trấn, và phá đê điều 84 lần, nhưng có 121 phi cơ bị hạ. B-52 lại dội bom vùng phi-quân-sự lần thứ 4. Ngày 6/8, hơn 3.000 binh sĩ thuộc Sư đoàn 4 Bộ binh HK đô bộ vào Qui Nhơn, đã lên ngay Pleiku ứng chiến. Ngày 6/8, Cựu Phó Tổng thống Nixon đề nghị tăng quân Mỹ để giữ thế công và đánh lớn để sớm chấm dứt chiến tranh. Ngày 8/8, Sư đoàn 5 Bộ binh HK chuẫn bị sang VN. 

Ngày 11/8, Lữ đoàn 196 Bộ binh Mỹ đổ bộ vào Vũng Tàu và được đưa ngay tới đóng tại Tây Ninh. Tổng số quân HK hiện đã lên tới 292.000. Theo McNamara, số phi cơ Mỹ bị bắn rớt tại VN là 406, gồm cả 271 trực thăng. Ngày 14/8, Tướng Westmoreland đã hội đàm với Tổng thống Johnson, Mỹ sẽ tăng quân vô hạn ở VN. Ngày 16/8, Theo tin AP, sau vụ thanh trừng lớn lao, tướng Lâm Bưu đã thực sự nắm quyền tại Trung Cộng, chủ chiến gạt Nga Sô ra, và Trung Cộng sẽ dẫn đầu Cộng sản thế giới. Ngày 17/8, TQLC Mỹ đổ bộ lên bờ biển Tuy Hòa, Phước Tuy. Ngày 18/8, theo giới quân sự Mỹ tại Sài Gòn, đối phương hiện đã có 282.000, trong sổ đó 71 tiểu đoàn từ Bắc đưa vô. Ngày 19/8, ngót triệu người hoan hô Mao Trạch Đông và tướng Lâm Bưu trong một cuộc biểu tình tại Bắc Kinh. Ngày 18/8, Đại diện Mặt trận Giải phóng Miền Nam tại Moscou đòi HK chấm dứt xâm lăng VN; triệt thoái quân đội và căn cứ, chấm dứt oanh tạc BV. 

Ngày 20/8, Tổng thống Johnson đọc diễn văn, tuyên bố: MTGPMN hãy bỏ súng vì hết đường rồi. Mỹ sẽ ngưng oanh tạc nếu BV ngưng đưa quân vô Nam. Cùng ngày 20/8, một tiểu đoàn Nhảy Dù Mỹ đổ bộ lên Quy Nhơn. Ngày 21/8, đến nay Nga Sô vẫn giữ kín việc Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp sang Moscou bàn về vấn đề VN. Ngày 22/8, theo cựu Phó Tổng thống Nixon, Mỹ phải tiếp tục chiến đấu chừng 5 năm nữa tại VN. Ngày 26/8, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp qua Nga, lúc về rẽ qua Bắc Kinh. Nga Sô đã viện trợ cho BV trong năm 1965 sổ dụng cụ vật liệu trị giá 555 triệu Mỹ kim. Ngày 28/8, chánh quyền BV ra lịnh cho dân chúng đề phòng biệt kích miền Nam. Ngày 30/8, Ký kết thỏa ước Việt – Trung, theo đó, Trung Cộng sẽ viện trợ nhiều võ khí để tiế tục chiến tranh chổng Mỹ. Ngày 31/8, Tổng số quân đội HK tại VN: 303.000. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1966. Ngày 1/7, phi cơ Mỹ lại oanh tạc kho dầu Đồng Nhâm, Hải Phòng. 3 chiếc thủy đỉnh BV định đánh tuần dương hạm Contz bị đánh đắm, 19 tbủy thủ BV được cứu vớt. Ngày 3/7, phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc BV nhắm vào đường sá, cầu cống, xe cộ v.v... Ngày 3/7, chấm dứt hành quân Jay ở vùng sinh lầy quận Phong Điền, Thừa Thiên. Chấm dứt hành quân E1 Paso vùng biên gíới Bình Long, hạ 615 VC, bắt 29, tịch thu 1.600 tấn gạo. Ngày 4/7, phi cơ Mỹ oanh tạc kho dầu Đồ Sơn, phá hủy 14.000 tấn dầu và vài chục ngôi nhà. Một dàn hỏa tiễn SAM gần Hà Nội bị phi cơ Mỹ phá hủy. Ngày 6/7, phi cơ Mỹ oanh tạc nhiều vùng quanh Hà Nội và Thái Nguyên 3 dàn hỏa tiễn SAM bị phá hủy gần Hà Nội. Ngày 7/7, phi cơ Mỹ lại oanh tạc những kho dầu cách Hải Phòng chừng 3 cây số. Đê Hồng Hà đương bị đe dọa vì nước lên quá to. Số phi vụ oanh kich BV lại tăng lên 116 trong ngày hôm nay. 

Ngày 10/7, kết quả cuộc phản phục kích của Mỹ gần đồn điền Quản Lợi, Bình Long trên đường An Lộc đi Minh Thạnh: 238 VC thuộc Trung đoàn VG 272 bị hạ. Ngày 14/7, hơn 114 phi vụ oanh tạc BV, 1 Mig-17 và 2 Mig-21 BV bị phi cơ Mỹ bắn rớt gần Hà Nội. Ngày 16/7, hơn 121 phi vụ oanh tạc BV từ Thanh Hoá đến Bến Hải. Cùng ngày 16/7, Mỹ mở cuộc hành quân Hastings gần sát Bến Hải với lực lượng Hải, lục, không quân và nhiều tiểu đoàn VNCH, hôm nay một sư đoàn giao chiến với 2 trung đoàn BV. Kết quả đầu tiên : BV bỏ lại 140 xảc chết. Ngày 17/7, B-52 dội bom xuống gần Bến Hải, yểm trợ cuộc hành quân Hastings. Hải quân Mỹ đổ bộ thêm hơn 1.000 người tăng cường. Ngày 19/7, số VC bị hạ trong Cuộc hành quân Hastings ở Quảng Trị lên tới 199. Hơn một trung đoàn BV tấn công một đại đội Mỹ tại Cam Lộ, Quảng Trị, 2 trung đội Mỹ bị thiệt-hại nặng. 

Ngày 20/7, phi cơ Mỹ oanh tạc lần nữa các kho dầu Ba Đồn, và Nguyên Khê gần Hà Nội. Không chiến 20 phút gần phi trường Phúc Yên, 1 F-105 Mỹ bị Mig-17 hạ, 2 phi cơ khác bị súng phòng không bắn rơi. 3 Mig-17 bị máy bay Mỹ bắn hư. hại. Cùng ngày 20/7, trận Bến Hải tiếp tục. Hành quân Hastings phối hợp với hành quân Lam Sơn 289. Số VC bị hạ hôm nay là 342. Ngày 21/7, hơn 110 phi vụ ném bom BV, cầu Phú Thọ bị phá. Một số Mig bay lên nhưng không nghênh chiến. Lữ đoàn giới tuyến và Sư đoàn 324-B của BV đã vượt qua Bến Hải. Ngày 21/7, hành quân Mỹ-Hàn John Paul Jones tại Phú Yên với sự yểm trợ của các tàu chiến thuộc Hạm đội VII. Ngày 22/7, cuộc giao tranh ở vùng Cam Lộ, Quảng Trị tiếp tục dữ dội. Số xác Bắc quân lên tới 521. Ngày 22/7, Số quân hai bên ước tới 32.000. Chỉ huy quân Bắc là các Trung tướng Nguyễn Quang và Thiếu tướng Nam Long. Ngày 23/7, vẫn kịch chiến ở Cam Lộ. Số tốn thất của BV lên tới 618. 

Ngày 26/7, tổng số quân BV tử trận ở vùng Cam Lộ, Quảng Trị lên tới 736 xác. Có tin Sư đoàn 324 rút về Bắc. Ngày 28/7, có 110 phi vụ oanh tạc BV, phá 14 kho dầu, 3 dàn hỏa tiễn. Kho dầu Thái Bình bị cháy. Ngày 29/7, số quân BV bị tử trận tại Quảng Trị lên tới 1.318, không kề số chết được mang đi. Ngày 29/7, Tổng số quân HK bị tổn thất từ đầu 1962 là 4.400 chết, 24.000 bị thương, 225 mất tích. Ngày 30/7, B-52 dội bom trên dọc theo khu phi quân sự Bến Hải bị 13 cây số.Có123 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu 10 kho dầu ở Vinh, Đồng Hới, Thanh Hoá, và Ba Đồn. Ngày 1/8, có 97 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu các kho dầu Hải Phòng, Vinh, Thanh Hoá. Hành quân Paul Revere II bắt đầu tại Pleiku. Ngày 2/8, phi cơ Mỹ oanh tạc các kho dầu và nhà máy Hải Phòng. Kịch chiến gần Plei Me. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ mở hành quân Koko Head tại Hậu Nghĩa. Có 38 phi vụ Mỹ oanh tạc BV, 2 F-104 bị bắn rớt. 

Ngày 3/8, B-52 oanh tạc vùng phi quân sự lần thứ 3. Các kho dầu Hải Phòng, Vinh, Thanh Hoá tiếp tục bị ném bom. Kịch chiến tại Pleiku, 3 trung đoàn BV dàn trận từ la Drang tới Đức Cơ. HK đưa hơn 10.000 viện binh tới vùng này. Kết thúc hành quân Hastings vùng Phi quân sự: 883 VC bị hạ, 15 bị bắt, thu 228 súng cá nhân, và 26 súng cộng đồng. Ngày 6/8, Phi cơ Mỹ oanh tạc hai đài radar và kho dầu ở Đồ Sơn và gần Vinh. Ngày 8/8, một đại đội Mỹ bị thiệt hại nặng ở gẫn Plei Me. Quân Mỹ phản công đánh 3 đại đội BV. Hành quân Holsworthy của quân đội Úc tại Phước Tuy. Ngày 9/8, có139 phi vụ oanh tạc BV dội bom 153 địa điểm, 3 phản lực F-105 bị bắn rớt. Chừng 600 quân BV tẩn công quân Mỹ-Hàn gần Plei Me. Ngày 10/8, quân Đại Hàn phản công, đầy lui quân BV, hạ 170 gần Plei Me, thu 53 súng và nhiều đạn. Ngày 11/8, hành quân hỗn hợp Colorado và Liên Kết 52 tại vùng Lạc Sơn - Tam Kỳ, Quảng Tín. Ngày 11/8, lại kịch chiến tại Quế Sơn, giữa TQLC VN với Cộng quân, 300 VC bị hạ. 

Ngày 12/8, phi cơ Mỹ lại oanh tạc nhà máy điện Ưông Bí lần thứ năm. Ngày 14/8, kịch chiến tại Chu Prong giữa 2 trung đoàn BV và sư đoàn không vận Mỹ. Ngày 15/8, có 133 phi vụ oanh tạc BV, các kho dầu tại Thanh Hoá và Hải Phòng. Ngày 17/8, có 131 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu các kho dầu. Mìn 2 kí nổ tại Chợ phiên Từ thiện Huế: 28 người chết, 123 bị thương. Ngày 20/8, có 134 phi vụ oanh kích BV. Các kho dầu vẫn là mục tiêu chính. B-52 oanh tạc Chiến khu C 3 lần. Ngày 21/8, Ga xe lửa Thanh Hoá và vùng phụ cận bị dội bom, phá huỷ 3 căn cứ hỏa tiễn và một đài radar gần Hà Nội bị phá hủy. Ngày 24/8, kịch chiến tại dãy núi gần quận Đại Lộc, Quảng Tín 44 quân BV bị hạ. Ngày 26/8, có 133 phi vụ oanh tạc BV, phả 3 kho dầu gần Vinh và Thanh Hoá. Ngày 29/8, có 103 phi vụ oanh tạc BV, 2 tàu chiến BV bị đánh đắm, 2 chiếc khác hư hại ngoài khơi Hải Phòng. Ngày 30/8, có 133 phi vụ oanh tạc BV, bắn phá nhiều đoàn quân xa chạy giữa ban ngày. Ngày 31/8, Có 139 phi vụ oanh kích BV

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1966. Ngày 2/7, các Ủy ban ổn định tình hình tại Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn tuyên bố sẽ bài trừ các phần tử bạo động quấy rối. Ngày 5/7, Hội đồng Quân Dân được cử nhiệm gồm 58 hội viên họp phiên đầu tiên tại Hội trường Diên Hồng (Sắc lịnh 244/PT/LĐQG/SL). Hội viên Trần Văn Văn được bầu làm chủ tịch Văn phòng Thường trực. Ngày 7/7, bải bỏ kỳ thi khả năng tập sự Luật sư và mở phòng tập sự do Luật sư đoàn quản trị, cho những người không được Luật sư nhận vào tập sự (S.Luật 025/66). Ngày 9/7, sửa đổi thuế suất quan thuế và kiệm ước theo hổi xuẩt mởi 80$ = 1 Mỹ-kim. Ngày 10/7, Tòa Đại biểu Vùng I Chiến thuật dọn từ Huế vào Đà Nẵng. Ngày 11/7, Giá vàng do các Ngân hàng Sài Gòn bán ra vẫn là 10.500$ một lượng. Vàng lá: 14.000$ ở Sài Gòn, 15.000$ ở ngoài Trung. Ngày 13/7, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tăng cường Chánh phủ lên thành 26 vi Tồng ủy viên và Ủy viên. 

Ngày 20/7, Lễ quốc hận tổ chức trước dinh Độc Lập: chôn đất cũ miền Bắc đưa vô từ 1954 với đất các tỉnh mỉền Nam. Có 16 tù binh CS được thả về Bắc, qua cầu Hiền Lương: 3 người xin ở lại miền Nam; 13 ra Bắc được lịnh trút hết quần áo được tặng xuống sông Bến Hải. Ngày 24/7, Dinh Độc Lập sắp xây cất lại xong. Tốn 210 triệu, 22.000 tấn sắt, 116.000 bao xi măng. 12.680 thước khối bê tông. Ngày 25/7, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố với báo US News and World Report: không thể thắng nếu không đánh hẳn ra Bắc, phải nghĩ đối phó ngay từ giờ với Trung Cộng không thể đợi nhiều năm nữa; không chịu điều đình với VC miền Nam. Ngày 27/7, Trong cuộc họp báo sáng nay, Tổng Ủy viên Quốc phòng cho biết: Cộng sản hiện có tại miền Nam: 22 trung đoàn chủ lực, 100 tiểu đoàn địa phương, 20 tiểu đọàn yềm trợ, 200 đại đội du kích. Tất cả 300.000 người. Mỗi tháng từ 5.000 đến 6.000 quân từ BV vào, và 15.000 VC vừa chết, vừa bị thương. 

Ngày 29/7, Lễ đặt viên đá đầu tiên Nghĩa trang Quân đội 144 mẫu tại Dĩ An, Biên Hòa, tổn 150 triệu trong đó 47 triệu cho đài Trận vong Tướng sĩ, chứa được 50.000 ngôi mộ. Ngày 4/8, có 716 ứng cử viên Quốc hội tranh 108 ghế, trong sổ gồm: 81 gỉáo sư đại học và trung-học, 64 công chức và cựu quân nhân, 56 quân nhân, 57 nghề tự do bác sĩ, luật sư v.v... Vàng do các ngân hàng bán ra, hạ giá từ 10.450$ xuống 10.200$ một lạng. Ngày 5/8, tổng số thí sinh Tú tài I: 50.000. Tổng số thi Tú tài II (Việt) là 12.880, đậu hẳn 5.917. Ngày 9/8, theo Phủ Đặc ủy Hành chánh, trên toàn quốc có 4.913.461 cử tri và 5.238 phòng phiếu bầu cử Quốc hội. Ngày 15/8, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: nếu được quân đội ủy nhiệm ứng cử Tổng thống, sẽ xét sau. Ngày 22/8, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: sẵn sàng đem tù binh BV đổi lấy tù binh Mỹ. Ngày 31/8, Hội đồng Quân Dân yêu cầu Chánh phủ truy kích địch quân vượt qua Bến Hải. 

NỘI TÌNH VNCH. Năm 1966. Ngày 9/7, Thượng tọa Thích Trí Quang tiếp tục tuyệt thực tại bệnh viện Nguyễn Duy Tài đường Duy Tân sang tháng thứ hai. Ngày 11/7, Viện Hóa Đạo họp đại hội đồng tại chùa Ấn Quang, nhưng vắng mặt Thượng tọa Thích Tâm Châu. Ngày 12/7, Đại Hội đồng Viện Hóa Đạo, biểu quyết kêu gọi Thượng tọa Thích Tâm Châu trong 24 giờ phải về họp, nếu không sẽ phải chịu trách nhiệm trước Giáo hội và tín đồ. Ngày 13/7, Thượng tọa Thích Tâm Châu gửi thư trả lời các Thượng tọa Viện Hoá Đạo: (1) không có quyền cất chức Viện trưởng của Thượng tọa; (2) dưỡng bịnh 2 tháng; (3) không chịu trách nhiệm về Viện trong thời gian vắng mặt; (4) phải lánh vì có kẻ mưu sát. Ngày 21/7, Mặt trận Công dân các Tôn gỉáo nhóm họp tại trụ sở Thanh niên Phật tử đường Công Lý, do Linh mục Hoàng Quỳnh đứng mời. Thượng tọa Thích Trí Quang tới họp. 

Ngày 23/7, Thượng tọa Thích Thiện Hoa được bầu làm Quyền Viện trưởng Viện Hoá Đạo. Ngày 15/8, Viện Hoá Đạo xác nhận tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội, và đòi lập một chánh phủ chuyển tiếp để tổ chức tuyển cử. Ngày 8/7/66, Hội đồng Kỷ luật gồm 15 tướng lãnh nhóm họp để nghe đíều trần của các tướng Thi, Đính, Nhuận, Cao và Chuân liên quan đến vụ “Biến động miền Trung”. Ngày 9/7, Hội đồng Kỷ luật Quân đội tuyên phạt 60 ngày biệt cấm và trọng cấm, giải ngũ hoặc cho về hưu các tướng Thi, Đính, Cao, Chuân và Nhuận. 

Sydney ngày 4 tháng 4 năm 2024

 

Bài 96: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 9-10/66.   

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1966. Ngày 1/9, tổng số phi cơ Mỹ bị hạ trên BV: 348. Cùng ngày 1/9, nhiều phái đoàn Cộng sản Đông Âu sang Hà Nội bàn việc viện trợ cho BV. Ngày 2/9, Lữ đoàn Thanh Long của Đại Hàn tới đóng tại Bình Sơn Quảng Ngãi. Ngày 4/9, theo đài phát thanh Hà Nội, phi cơ Mỹ đã tới bắn phá vùng ngoại ô Hà Nội lúc 1 giờ đêm. Ngày 4/9, Tổng thống Johnson tuyên bố: Mỹ sẽ lập chương trình rủt quân, nếu BV cũng làm như vậy. Ngày 5/9, hơn 5.500 binh sĩ Đại Hàn đổ bộ lên Nha Trang. Tổng số quân Đại Hàn lên tởi 27.000. Ngày 13/9, Tổng thống Mỹ Johnson gửi điện chúc mừng VNCH về kết quả tốt đẹp của cuộc bầu cử. Ngày 13/9,  một tiểu đoàn thiết giáp Mỹ đô bộ lên Vũng Tàu. Ngày 15/9,  Tàu Đức Helgoland, một bệnh viện nổi với 150 giường và các y cụ tối tân và 6 bác sĩ, đến giúp VNCH đã cập bến Sài Gòn. Ngày 16/9,  Quân số Mỹ tại VN hiện đã lên tới 308.000. 

Ngày 17/9, số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV: 376. Ngày 18/9, theo các giới quân sự Sài Gòn, quân đội Mỹ sẽ xuống cả Vùng IV Chiến thuật, và sẽ có tảo thanh lớn tại vùng U Minh, Đồng Tháp. Ngày 19/9,  Uy tín của Tổng thống Johnson, theo Viện Gallup và Louis Harris: chỉ còn 48% đến 50% công chúng ủng hộ. Ngày 20/9, tại kỳ họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khoá 21, các bài diễn văn khai mạc đã nêu vấn đề VN và tỏ nỗi lo âu trước chiến cuộc VN. Ngày 21/9, Chủ tịch Đại hội Liên Hiệp Quốc kêu gọi các nước tìm gỉảỉ pháp cho vấn đề VN. Ngày 22/9, Đại diện Mỹ tại Liên Hiệp Quốc lại xác nhận: Mỹ sẽ ngừng oanh tạc và rút quân nếu BV cũng ngưng đưa quân vô Nam và ngưng tấn công. Hà Nội tuyên bố: không hề rút điều kiện buộc HK rút quân. Ngày 22/9, theo giới quân sự Mỹ, 3 tiều đoàn VC nữa mới từ Bắc lẻn vô Nam. Ngày 24/9, Phạm Văn Đồng, trong bài diễn văn tiếp Thủ tướng Tiệp Khắc, lại bác bỏ đề nghị hòa bình của Mỹ. 

Ngày 26/9, Đại sứ Cabot Lodge tuyên bố: chiến tranh có thể chấm dứt, nhưng chưa hẳn có cuộc hội nghị theo lối Tây phương để bàn về các điều kiện đình chiến. Ngày 27/9, hơn 4.000 binh sĩ Đại Hàn thuộc Sư đoàn Bạch Mã đồ bộ lên Nha Trang. Ngày 30/9, tổng số quân Mỹ tại VN là 315 000. Ngày 1/10, trên 2.500 quân Mỹ đồ bộ tại Qui Nhơn. Ngày 2/10, Nga Sô xác nhận có gửi quân nhân sang huấn luyện về hỏa tiễn về pháo binh cho BV. Ngày 2/10, Cựu Tống thống Eisenhower tuyên bố nên dùng mọi biện pháp cần thiết để sớm chấm dứt chiến tranh tại VN. Ngày 5/10, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố: ngừng oanh tạc vùng Phi quân sự Bến Hải để trả lại cho vùng này tính cách trái độn của nó. Ngày 6/10, Uỷ hội Quốc tế vẫn không chịu tới kiểm soát vùng Phi quân sự lý do thiếu an-ninh. Ngày 8/10, Nga Sô từ chối không hưởng ứng đề nghị của Anh mở lại hội nghị Genève đế bàn về VN. 

Ngày 9/10, Bộ trưởng McNamara cùng Tổng Tham mưu trưởng Wheeler bay sang VN khảo sát để xét lại tình hình quân sự và nhu cầu của quân đội Mỹ tại đây sẽ lưu lại 4 ngày. Ngày 10/10, số trực thăng Mỹ hiện có tại VN là 1.800, nhiều hơn cả của Nga Sô và Trung Cộng. Ngày 11/10, theo giới quân sự VN, 4 sư đoàn BV dàn trận tại vùng Phi quân sự là SĐ 324, 324-B, 307 và 341. Ngày 12/10, quân số HK hiện lên tới 325.000. Ngày 13/10, Bộ trưởng McNamara rời Sài Gòn, sau 4 ngày hội thương, quan sát các mặt trận, và duyệt lại tình hình chiến sự. Ngày 14/10, Tổng thống Johnson tuyên bố: không ngừng oanh tạc BV nếu đối phương không ngừng đưa quan vô Nam. Tướng Maxwell Taylor tuyên bố: HK nên đảm nhiệm việc chiến đấu vì đủ phương tiện hơn, còn quân đội VN sẽ chỉ lo việc bình định. Mỹ phải tiêu diệt đối phương. Ngày 14/10, Quân số Đại Hàn ở VN: 45.000; Quân số Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân: 2.000. 

Ngày 14/10, số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV lên tới 400. Ngày 15/10, theo tin từ Thụy Điển, nhiều nhà máy đã được di chuyển khỏi Hà Nội và Hải Phòng. Ngày 16/10, Quân đội Mỹ xây cơ sở kiên cố phòng thủ vùng Phi quân sự. Ngày 16/10, Tổng thống Johnson lên đường đi thăm 6 quốc gia Á châu và dự hội nghị tối cao Manille để tìm giải pháp hòa bình cho VN. Ngày 20/10, số bom ném tại Nam và Bắc VN độ 45.000 tấn mỗi tháng. Và, trong một năm, bằng cả số bom đạn  dùng trong chiến tranh Cao Ly 1950 - 1953. Ngày 23/10, Phái đoàn VNCH tham dự Hội nghị Tối cao Manille, do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn, hôm nay lên đường. Phái đoàn các nước khác cũng tới hôm nay do các quốc trưởng hoặc thủ tướng hướng dẫn: Phác Chinh Hy (Đại Hàn) Johnson (HK), Harold Holt (Úc), Holyoake (Tân Tây Lan), Kittikachorn (Thái Lan). 

Ngày 24/10, Hội nghị Manille khai mạc, hơn 1.000 ký giả các nước tới nghe tin. Buổi họp đầu, dành cho Phái đoàn VN trình bày về tình hình quân sự, chánh trị, và kinh tế xã hội. Thiếu tướng Nguýễn Cao Kỳ tuyên bố trước hội nghị: sẽ phải đánh mạnh, nếu BV còn xâm lăng. VC có thể trở lại hàng ngũ quổc gia để góp phần xây dựng xử sở. Tổng thống Phác Chính Hy chủ trương đánh mạnh nếu phe Cộng sản không chịu điều đình; không thừa nhận VC và sẵn sàng giúp đỡ VNCH. Tổng thống Johnson muốn đưa vấn đề tù binh ra thử thách: nếu BV chịu nói chuyện về vấn đề này, là tỏ ý hòa hoãn… Ngày 25/10, Thông cáo chung Hội nghị Thượng đĩnh Manille sau hai ngày nhóm họp: (1) quyết bảo vệ tự do miền Nam; (2) tăng cường áp lực quân sự nếu cần; (3) sẵn sàng rút quân trong 6 tháng nếu BV nhận các điều kiện điều đình; (4) sẽ mở mang các nước Đông Nam Á về kinh tế và xã hội; (5) lập hội đồng tư vẩn 7 nước để liên lạc về chánh trị, quân sự, kinh-tế. 

Ngày 25/10, Thái Lan thuận bán chịu 20 triệu Mỹ kim gạo cho VN. Ngày 26/10, Tổng thống Johnson bay qua Cam Ranh thăm quân đội Mỹ trong 2 giờ, rồi lại trở về Manille để sang Thái Lan. Ngày 26/10, hàng không mẫu hạm Oriskany bốc cháy, 45 sĩ quan và quân nhân thiệt mạng, 16 bị thương. Tàu phải qua Phi Luật Tân sửa chữa. Ngày 27/10, BV bác bỏ các đề nghị hòa bình của Hội nghị Manille. Ngày 27/10, theo tin giới quân sự HK, quân Mỹ sẽ kéo đến Vùng IV để xúc tiến việc bình định. Ngày 27/10, tổng số quân Mỹ tại VN: 336.000. Ngày 30/10, Tổng thống Johnson thăm Mã Lai. Thủ tướng Mã Lai Abdul Rahman tuyên bố: ủng hộ VNCH bằng tinh thần, không thể bằng vật chất, vì chính nước ông cũng đương lo chống Cộng. Ngày 31/10, Tổng thống Johnson thăm Đại Hàn, được tiếp đón rất linh đình.            

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1966. Ngày 2/9, có 70 phi vụ oanh tạc BV nhắm vào đường xe lửa và kho dầu. Ngày 3/9,có 130 phi vụ oanh tạc BV phá 1 dàn hỏa tiễn gần Hải Phòng. Ngày 3/9, Tỉnh ủy Đà Nằng bị bắt với 1 hầm vũ khí và 1 kho gạo. Tổ trưởng đặc công Sáu Nhỏ cũng bị bắt tại Đô thành. Ngày 4/9, hành quân vào rừng U Minh gần Chương Thiện, hạ 221 địch, bắt 12, cùng với một số võ khí. Ngày 5/9, có 134 phi vụ oanh tạc BV, 4 phi cơ Mỹ bị rớt. Nhiều vùng gần Hà Nội và Hải Phòng bị bắn phá. 3 dàn hỏa tiễn bị hủy. Ngày 6/9, mìn nổ tại phòng phiếu gần phi trường Tân Sơn Nhất. Ngày 7/9, có 136 phi vụ oanh tạc BV. Hà Nội báo động đêm vài lần. Ngày 1/9, một cán bộ cao cấp VC với 8 người trong tổ đặc công bị cảnh sát bắt với 3 xe du lịch. Ngày 8/9, Nha Cảnh sát vừa bắt thêm 1 tổ Chi hội Phụ nữ Giải phóng thuộc đặc khu Sài Gòn - Gia Định. 

Ngày 9/9, hơn 135 phi vụ oanh tạc BV. Kịch chiến tại Phù Cát, Bình Định: 200 VC bị hạ. Nhiều tiếng súng nổ chung quanh Sài Gòn - Chợ Lớn. Hỏa châu soi sáng về đêm, và phi cơ thả bom gần Nhà Bè. Ngày 10/9,  có 122 phi vụ oanh tạc BV, phá 2 dàn hỏa tiễn gần Hải Phòng và Đồng Hới. Ngày 11/9, trên 166 vụ khủng bố phá hoại bầu cử trên toàn lãnh thổ 20 người thiệt mạng, hơn 100 bị thương. Ngày 11/9,  có 171 phi vụ oanh tạc BV phá một dàn hỏa tiễn, nhiều toa xe lửa, ba tàu biễn và nhiều cơ sở... Theo đài Hà Nội, dân Hà Tĩnh đã dùng các mảnh bom Mỹ chế được 16.000 lưỡi cày. Ngày 12/9,  có170 phi vụ oanh tạc BV, phá hủy 3 dàn hỏa tiễn, nhiều kho dầu, cầu, xe lửa gần Hải Phòng, Thanh Hoá, Vinh, và Đồng Hới. Ngày 13/9,  một đại đội VC tẩn công trại xe của hãng thầu Mỹ trên xa lộ: 30 xe bị phá hủy, 34 bị hư hại, 4 người Việt bị sát hại. Ngày 14/9, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân Attleborro vào Chiến khu C còn gọi chiến khu Dương Minh  Châu cơ quan đầu nảo của Trung ương Cục miền Nam. 

Cùng ngày 14/9, Sư-đoàn I Không vận Mỹ dùng 120 trực thăng đổ quân hành qùng An Khê, bắt được một đoàn văn công 13 người. Ngày 15/9, hành quân Deck House Quage. Hơn 12.000 TQLC Mỹ đổ bộ Bến Hải, tiếp tay cho các đơn vị đương hành quân Prairie. Ngày 15/9, có 145 phi vụ oanh tạc BV, Quảng Khê bị ném lần thứ 8 vì phát hiện có radar và các dàn hỏa tiễn. Nhiều toa xe lửa bị phá gần Thanh Hóa. Rất nhiều cây số đường hầm được đào tại Bắc vĩ tuyến 17, và vùng lân cận đề phòng Mỹ đổ bộ. Ngày 16/9,  có 121 phi vụ oanh tạc BV, phá huỷ 1 dàn hỏa tiễn cách Hà Nội 12 cây số. Ngày 17/9, có 85 phi vụ oanh tạc BV: giảm vi trời xấu. Ngày 19/9, hơn 2 đại đội Mỹ bị mất liên lạc nửa ngày tại khu Phi quân sự Bến Hải. Kết quả hành quân Prairie tại Đông Hà: 468 VC bị hạ, 3 bị bắt với 72 vũ khí. Ngày 20/9, có116 phi vu oanh tạc BV, nhà ga và phố Ninh Bình bị ném bom, bốc cháy dữ dộỉ. 

Ngày 21/9, có 99 phi vụ oanh tạc BV. Các đường xe lửa sang Tàu bị phả hủy nhiều quãng, 7 Mig-17 lại lên nghênh chiến. Không phi cơ nào trúng đạn. Ngày 22/9, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, hạ 2 Mig-17 và bắn hư 2 Mig-17 khác, cùng 1 Mig-21 giữa Hà Nội và Lạng Sơn. Ngày 22/9, B-52 vẫn ném bom xuống gần vùng Phi quân sự Bến Hải. Ngày 24/9, hành quân Dân Chí tại Cà Mâu, hạ 166 VC, bắt 28, và thu nhiều súng đạn. Hành quân Bình Phú 27 tại Bàu Nhồng hạ 198 VC. Hành quân Prairie tiểp tục gần Đồng Hà, Quảng Trị TQLC Mỹ hạ thêm 84 VC. Ngày 25/9, quân Đại Hàn giao chiến với 2 tiểu đoàn VC phía Bắc Qui Nhơn, hạ 93 địch, thu 31 súng. Trong 3 ngày qua, hàng trăm phi cơ oanh tạc BV Ninh Bình và Thanh Hoá, phá hàng trăm toa xe lửa. Ngày 26/9, có121 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu các kho, ga xe lửa Vĩnh Yên, Thanh Hoá, Đồng Hới. Ngày 28/9, trên 137 phi vụ oanh tạc BV, đánh đắm và phá hư 4 tàu tuần duyên. 

Xùng ngày 28/9, hành quân Cửu Long 42/SĐ tại Gò Công, phá hủy nhiều địa đạo, thu hàng vạn viên đạn lớn và nhiều tấn thuốc nỗ. Ngày 29/9, hơn 100 phi vụ oanh tạc BV chung quanh Hà Nội, Đồng Hới, mục tiêu  cầu, kho, xà lan, 2 bồn dầu và 7 dàn cao xạ. Ngày 29/9, kịch chiến sảt khu Phi quân sự trong khuôn khổ hành quân Prairie. Hạ 50 quân BV. Ngày 30/9, trên 106 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/10, các phi cơ của hạm đội Mỹ tại Vịnh BV oanh tạc vùng Phủ Lý trong nhiều giờ. Cầu, đường xe lửa và nhiều cơ sở bị thiệt hại rất nặng. Ngày 1/10, B-52 tới ném bom lần thứ ba trong 3 ngày kịch chiến cách Đông Hà 23 cây số. Ngày 3/10, có 84 phi vụ oanh tạc BV đánh phá Phủ Lý, ga và đường xe lửa, kho dầu gần Đồng Hới. Tại vùng phi quân sự, TQLC Mỹ kịch chiến với hơn một tiểu đoàn BV, hạ 110. Ngày 4/10, hành quân hỗn hơp Việt-Mỹ-Hàn Irving tại Bình Định trong 3 hôm nay, hạ 347 VC, bắt 131. 

Ngày 5/10, trên 127 phi vụ oanh tạc BV gần Thanh Hoá, và Đồng Hới. Ngày 6/10, có 130 phi vụ oanh tạc Đồng Hới, Thanh Hóa. Điên Biên Phủ... Ngày 6/10, số phi-cơ Mỹ bị hạ tại BV lên tới 393. Ngày 6/10, số phi vụ yểm trợ cho cuộc hành quân Prairie đang tiếp tục vùng Phi quân sự vượt kỷ lục: 2.101 phi vụ, không kể 15 lần B-52 dội bom. Ngày 6/10, Nhảy Dù VN kịch chiến tại Gio Linh, hạ 200 BV. B-52 lại oanh tạc vùng Phi quân sự. Có 138 phi vụ oanh tạc BV, phá hủy 1 đoàn quân xa, xe lửa, cầu cống, kho xăng v.v. Ngày 7/10, hành quân Đồng Tiến 39/PK cách Cao Lãnh 15 cây số, hạ 44 VC, bắt 52 với nhiều súng đạn. Ngày 9/10, trong trận không chiến cách Hà Nội 56 cây sổ về phía Nam, phi cơ Mỹ Cruisader và Skyraider hạ 2 Migs-21. Ngày 9/10, có 2 Sư đoàn TQLC Mỹ từ phiá Nam tiến lên gần vùng Phi quân sự ứng chiến. Ngày 10/10, nhiều đơn vị Lục quân Mỹ được phái ra vùng Phi quân sự tăng cường cho TQLC. 

Ngày 10/10, trong cuộc hành quân Irving, tuần qua, 449 VC bị bắt gần Qui Nhơn. Ngày 11/10, Kết quả hành quân Đồng Tiến 39 tại Bắc Cao Lãnh, hạ 118 VC, bắt 102. Hơn 171 phi vụ oanh tạc BV, nhắm vào Điện Biên Phủ, vùng phụ cận Hải Phòng. Ngày 12/10, Sư đoàn Bạch Mã Đại Hàn được điều ra vùng Phi Quân sự tham chiến. Ngày 12/10, phi cơ Mỹ vẫn tiếp tục oanh tạc hàng ngày trên lãnh thồ miền Nam để yểm trợ các cuộc hành quân, hôm nay có 395 phi-xuất. Ngày 13/10, có 173 phi vụ oanh tạc BV ném bom sập một hòn núi, dưới đó các kho súng đạn phát nổ dữ dội tại Thanh Hóa. Ngày 13/10, kết quả hành quân Mãnh Hổ-Đại Hàn từ ngày 23-9 tại Bình Định, hạ 878 VC, thu 296 súng với nhiều đạn dược. Ngày 14/10, có 175 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/10, hơn 79 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/10, hành quân Cửu Long 22 cách Mộc Hóa 20 cây số, hạ 147 VC thuộc Tiểu đoàn 502, bắt 17 vời 105 súng đủ loại. 

Ngày 18/10, có 89 phi vụ oanh tạc. Ngày 19/10, hành quân trực thăng vận Dân Chí 263/SD/3 cách Vị Thanh 10 cây số, hạ 138 VC, thu nhiều võ khí. Ngày 20/10, hôm nay có 80 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 22/10, máy bay Hải quân Mỹ đánh đắm 150 thuyền tại duyên hải BV. Ngày 23/10, Hải quân Mỹ phải bắn phá rất dữ dội để yểm trợ cho TQLC đang hành quân vùng Phi quân sự. Ngày 25/10, kết thúc hành quân Irving mở từ 2-10 tại vùng Bồng Sơn, Bình Định hạ 681 VC, bắt 690, thu 191 súng cá nhân và 19 súng cộng đồng. Vì trời rất xấu, chỉ có 21 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/10, Cảnh sát bắt 10 đặc công VC với 650 ký thuốc nổ và một số súng đạn để trong một xe hơi và ngâm dưới nước tại một địa điểm thuộc Đô thành. 

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1966. Ngày 1/9, Tư lịnh Hải quân, Đại-tá Trần Văn Phấn, rời khỏi chức vụ. Ngày 2/9, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố không có ý định ứng cử Tổng thống. Ngày 11/9, bầu cử Quốc hội Lập hiến. Từ 64% đến 93% cử tri đi bỏ phiếu. Sài Gòn: 66,4%. Ngày 12/9, kết quả bầu cử Quốc hội Lập hiến. Trong 117 dân biểu đắc cử, có 20 quân nhân, 5 luật sư, 6 bác sĩ, 1 dược sĩ, 2 kỹ sư, 22 giáo sư, 3 thẩm phán, 1 ký gỉả, 8 nông-gia, 10 công chức, 17 hội viên các Hội đồng Dân cử, 1 nữ dân biểu. Trẻ nhất là 25 tuổi, già nhất 64 tuổi. Ngày 14/9, Trung tướng Cao Văn Viên tạm thời kiêm nhiệm chức Tư lịnh Hải quân. Ngày 22/9, Tòa Thượng thẩm Đại hình phúc lại án Tòa Sơ thẩm Đại hình 16-9-65, tha bổng Bác sĩ Trần Kim Tuyến đã bị kết án 5 năm cấm cố về vụ hối lộ gần 5 triệu bạc gỗ khai thác lại Biên Hòa năm 1958. Ngày 27/9, khai mạc trọng thể Quốc hội Lập hiến tại nhà Hát Lớn Sài Gòn.

Ngày 26/9, hơn 110.773 xe gắn máy đã được phép nhập cảng. Ngày 6/10, có 460 Thượng Fulro về qui thuận tại Ban Mê Thuột với võ khí. Ngày 10/10, Bác sĩ Trần Lữ Y nhậm chức Ủy viên Y tế thay bác sĩ Nguyên Bá Khả. Ngày 14/10, Bộ Giáo dục định lại qui chế thi cử: mỗi năm 1 kỳ thi Tú tài I, 2 kỳ thi Tú tài II, cấp chứng chỉ miễn thi Trung học Đệ nhất cấp nếu có điểm số trên 10/20. Ngày 15/10, Bộ Xã hội đã trợ cấp15 triệu cho dân bị lụt miền Tây. Viện trợ Mỹ hứa giúp tái thiết theo một chương trình gần 80 triệu bạc. Ngày 16/10, Đại hội Kinh-Thượng ở Pleiku, 1.600 Fulro về hợp tác.Ngày 26/10, Nghị sĩ Phan Khắc Sửu được bầu Chủ tịch Quốc hội Lập hiến. Ngày 31/10, được hoán giảm tội khổ sai chung thân thành khổ sai 5 năm các ông: Đặng Sỹ, Nguyễn Thiện Dzai, Khưu Văn Hai, Nguyễn Tư Thái, Nguyễn Văn Hay, Nguyễn Văn Y, v.v... (SL 362/CT/LĐQG/SL). 

NỘI TÌNH VNCH. Năm 1966. Ngày 8/9, Thượng tọa Thích Tâm Châu lại đệ đơn từ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo lên đức Tăng thống Thích Tịnh Khỉết. Ngày 9/9, Hội đồng Quân Dân liên lạc với Viên Hoá Đạo bàn về việc hòa giải Phật giáo và Chánh phủ. Ngày 10/9, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ gửi thư cho Thượng toạ Thích Thiện Hoa yêu cầu sớm nhận lại Viện Hóa Đạo đường Tràn Quốc Toản, và hứa xét sớm những trường hợp oan ức nếu có. Ngày 18/10, vì tự do cá nhân của công chức cao cấp không được đảm bảo, Tổng Ủy viên Kinh tế và Tài chánh Âu Trường Thanh đệ đơn từ chức. Ngày 21/10, Đại hội Phật giáo nhóm họp tại Việt Nam Quốc tự, đường Trần Quổc Toản để xét việc bầu lại Viên Hóa Đạo. Ngày 22/10, Đại hội Phật giáo nhóm họp ngày thứ 2, nhiều sự lộn xộn, đấu khẩu, và xô xát giữa Phật tử, có cả nhiều tiếng súng lục bắn chỉ thiên...

Đến gần sáng cùng ngày 22/10, các tăng ni thuộc nhóm Thích Quảng Liên và Thích Trí Quang lại họp tại chùa Ẩn Quang và bầu Thượng tọa Thích Thiện Hoa làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Thưọng tọa Thích Trí Quang từ chức chánh thư ký ở Viện Tăng thống. Ngày 23/10, hơn ngàn Phật tử biểu tình từ Viện Hoá Đạo tới chùa Ấn Quang phản đối cảc Thượng tọa Thích Quảng Liên và Thích Trí Quang đã gây chia rẽ giữa Phật giáo. Ngày 24/10, Thượng tọa Thích Tâm Châu trong thông cáo, xác nhận ông ta vẫn giữ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Ngày 28/10, Đức Tăng thống lại ra lịnh triệu tập đại hội Phật giảo bất thường đề giải quyết vấn đề 2 Viện Hoá Đạo.

Sydney ngày 5 tháng 4 năm 2024

 

Bài 97: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 11-12/66. 

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1966. Ngày 3/11, Tổng thống Johnson trở về đến Mỹ sau 18 ngày thăm viếng các nước Á Châu. Ngày 4/11, Tổng thống Johnson tuyên bố: không ngưng oanh tạc BV nhân dịp Giáng sinh, mà còn tăng quân nếu Cộng sản cứ tấn công xâm lăng. Ngày 7/11, tổng số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV là 419. Ngày 10/11, tổng số quân Mỹ tại VN 352.000. Quân đội Đồng minh: 52.000. Cùng ngày 10/11, tình trạng hãng thầu Mỹ RMK-BRJ: 700 công trường tại 37 địa phương, 700 dự án công tác trị giá 1 tỷ Mỹ-kim, 200 triệu Mỹ kim dụng cụ vật liệu nhập cảng rồi, 15 triệu nhập cảng mỗi tháng, số nhân công VN từ 390 năm 1962, lên tới 9.500 (bàn giấy và điều khiển) 50.000 công nhân, không kể 2.000 Mỹ và 6.000 Phi Luật Tân cùng Đại Hàn. 

Ngày 14/11, Đại sứ Cabot-Lodge tuyên bố với báo US News and World Report, chiến tranh VN còn dài, đánh xong chính qui BV mới bắt đầu việc bình định chổng VC miền Nam. Theo ước lượng của Bộ Quốc phòng HK, phí tổn oanh tạc hàng năm lên tớí 5 tỷ Mỹ kim. Ngày 16/11, tổng số quân Mỹ tại VN lên 358.000. Ngày 21/11, Tướng Westmoreland tuyên bố: HK cần tăng quân tại VN, và tăng cả số trực thăng. Ngày 23/11, một cơ quan phối hợp công tác bình định nông thôn thuộc quyền Phó Đại sứ Porter mới lập ra và sẽ có chi nhánh tới cấp Quận. Ngày 23/11, theo nguồn tin HK, trong năm 1965, tại VN có 113.000 quân nhân đào ngũ. Năm 1966: 74.000. Đã có 7.500 ra trình diện đã được khoan hồng. Ngày 26/11, tổng số Vệ binh Đỏ lên tới 11 triệu và lần lượt tới Bắc Kinh biểu diễn trước Mao Trạch Đông cùng Lâm Bưu. 

Ngày 1/12, toàn thể Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc yêu cầu U-Thant ở lại chức vụ Tổng thư ký trong 5 năm nữa. Ngày 2/12, Tướng Lewis W. Walt cho biết TQLC Mỹ được tăng cường và bố trí tại vùng Bến Hải đê ngăn chặn BV xâm nhập. Ngày 3/12, Cơ quan viện trợ kinh tế USAID tăng thêm 25 chuyên viên quan thuế để giúp việc thâu thuế tại các thương cảng. Số hàng mất cắp lên tới hàng tỷ bạc. Ngày 3/12, Hàng ngày có 700 nhà báo được quân đội Mỹ chuyên chở khỏi Sài Gòn để đi lấy tin tức ở các nơi có chiến sự. Ngày 5/12, U-Thant đã thuận ở lại chức vụ Tổng thư ký Liên Hiệp Quổc 5 năm nữa, sau khi được toàn thể Đại hội biểu quyết cử nhiệm. Ngày 6/12, Đại-sứ Cabot-Lodge tuyên bố: sẽ không có cuộc nghị hòa đàm phán; tin rằng VC sẽ bị đánh bại và diệt trừ, và chiến tranh sẽ lắng xuống dần. 

Ngày 7/12, các giới quân sự Mỹ đòi hỏi oanh tạc BV mạnh hơn, vì số phi cơ Mig tăng lên nhiều. Ngày 8/12, BV tuyên bố sát cánh với Trung Cộng để chống HK. Ngày 8/12, tổng số quân Mỹ tại VN lên 362.000. Tổng số lực lượng VNCH: 319.000 quân đội Chính quy, 150.000 Địa phương quân, 146.000 Nghĩa quân. Ngày 9/12, Ngoại trưởng Dean Rusk qua Sài Gòn tuyên bố: sẽ bàn với chánh phủ VNCH về một qui chế đóng quân Mỹ tại VN. Ngày 9/12, Tướng Westmoreland ra nhật lịnh kêu gọi quân nhân Mỹ tham gia công cuộc “bình định và phát triên nổng thôn. Cùng ngày 9/12, hơn 1.700 quân Mỹ đổ bộ lên Vũng Tàu. Ngày 9/12, Bộ trưởng Không quân Mỹ Harold Brown tuyên bố: trong 19 thảng qua, đã phá hủy: 3.000 toa xe lửa, 7.000 cam nhông, 3.000 thuyền bè, 4.000 cây cầu. Số phi vụ oanh tạc BV từ 553 trong tháng 2/66, đã lên tới 3.621 trong tháng 9. 

Ngày 11/12, Đại sứ Cabot-Lodge lại xác nhận: sẽ không có điều đình, nhưng chiến tranh sẽ lịm dần đi. Ngày 12/12, theo giới quân sự Mỹ, BV vừa nhận được của Nga Sô thêm 100 phi cơ Mig nữa. Ngày 12/12, tổng số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV lên tới 445. Ngoài ra, còn có 378 phi cơ kể cả 289 trực thăng bị rớt trên lãnh thổ VNCH. Ngày 12/12, theo bảo Newsweek,chương trlnh bình định nông thôn do cảc cơ quan dân sự Mỹ đảm trách, sẽ được giao phó cho quân đội Mỹ. Ngày 14/12, Thượng nghị sĩ Mansfield đề nghị HK ngưng oanh tạc BV 45 ngày. U-Thant tán thành và nhắc lại đề nghị trước: ngưng oanh tạc BV, giảm chiến sự ở miền Nam, nói chuyện với MTGPMN. Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bổ sẵn sàng thảo luận với BV về việc đình chiến nhiều ngày. Ngày 15/12, tổng số quân-đội HK tại VN lên 368.000. 

Ngày 16/12, theo tin AFP, thì có 15 chết và 30 bị thương, trong vụ oanh tạc khu Nam, khu Bắc thành phố Hà Nội. Trung Cộng, Lỗ Ma Ni đều phản đối vụ oanh tạc Hà Nội; Các trụ sở tòa đại sứ hai nước đều bị trúng đạn. Tại Liên Hiệp Quốc, Nga và Mỹ đã ký đươc hiệp ước về không gian: không chiếm đóng, không phóng vệ tinh nguyên tử hoặc có công dụng chiến tranh. Ngày 17/12, Ngoại trưởng Trung Cộng Trần Nghị, nhân dịp biểu tình chống việc Mỹ thả bom xuống Hà Nội, lại xác nhận: sẵn sàng đem quân tham chiến nếu BV yêu cầu. Ngày 18/12, tổng số phi cơ Mỹ bị hạ: tại B V 450; Tại miền Nam 144 chiếc. Ngày 19/12, hơn 1.416 quân nhân Mỹ thuộc Sư đoàn 9 Bộ-binh (14.500 người) đổ bộ lên Vũng Tàu, một số đã di chuyền xuống miền Tây. Ngày 21/12,  Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố: HK để U-Than rộng tay tùy ý liệu cách dàn hòa. Ngày 21/12, Chánh phủ Úc quyết định tăng quân số tại VN từ 4.000 lên 6.000 người, với một phi đội thứ ba, và một chiến hạm. 

Ngày 21/12,  theo giới chức hải quân, tàu ngầm Nga Sô vẫn lảng vảng ở ngoài khơi VN. Ngày 22/12,  theo giới quân sự Mỹ, có 50 phi công Bắc Hàn tại BV. Ngày 28/12, một số nghị sĩ Mỹ đòi mở cuộc điều tra về vụ ném bom xuống khu thường dân Hà Nội. Tòa Bạch ốc tuyên bố: Tổng thống Johnson không hề ra lịnh ném bom xuống các địa điểm nào ngoài các căn cứ quân sự. Ngày 29/12, Đức Hồng y Spellman xác nhận lời tuyên bố nhân dịp Noêl tại VN: HK phải chiến thắng thì cuộc chiến tranh này mới chấm dứt. Ngày 31/12, Tổng thống Johnson tuyên bố xác nhận: lúc nào HK cũng sẵn sàng nghị hòa, nhưng có thể phải tiếp tục chiến đấu vì BV không muốn hòa.   

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1966. Ngày 1/11, Lễ quốc khánh tổ chức long trọng tại Sài Gòn, điểm binh tại đường Thống Nhất. Quân đội 7 nước tham dự. Nhưng từ 7 giờ thiếu 5 phút, đạn đại bác từ đâu bắn xuống gần khán đài danh dự, rớt vào gác chuông nhà thờ Đức Bà và trước Bưu điện cùng Bộ Tư pháp, và trường Taberd. Đến 8 giờ 40, lại nhiều trái khác rơi vào khu nhà thương Grall, bến xe buýt trước chợ Bến Thành. Tất cả 15 trái, 7 người chết vài chục bị thương. Một tàu dò mìn của Mỹ trúng mìn trên sông Lòng Tảo, cách Sài Gòn 23 cây số. Thiệt hại khá nặng. Các Thiếu tướng Vĩnh Lộc và Lê Nguyên Khang được thăng Trung tướng. Có 122 phi vụ oanh tạc BV, phá khu kỹ nghệ Việt Trì. Ngày 2/11, kịch chiển tại Bồng Sơn, giữa một tiểu đoàn VC và quân Mỹ. Ngày 3/11, có 165 phi vụ oanh kích Điện Biên Phủ, đèo Mụ Gia, Vinh, phụ cận Hà Nội và Hải Phòng, phá hủy 45 cầu và 4 dàn hỏa tiễn. 

Ngày 4/11, có 155 phi vụ oanh tạc BV, 4 máy bay Mig 21 xuất hiện hai lần gần Lao Kay và Hải Phòng, nhưng không giao chiến. Ngày 5/11, căn cứ Lữ đoàn 196 Mỹ tại Tây Ninh bị pháo kich dữ dội; cả trại quân Phi Luật Tân gần vùng Suối Cao cũng bị bắn phá. Ngày 6/11, trong cuộc hành quân Attleboro vào Chiến khu C-Dương Minh Châu giữa Tây Ninh và Dầu Tiếng, một Lữ đoàn Mỹ kịch chiến với Sư đoàn 9 BV trong khu rừng rậm tại Tây Ninh gần biên giới. Sổ địch bị hạ lên tới 270, Hành quân Cửu Long 45-SĐ tại Long Định, Định Tường hạ 50 VC, bắt 15. Hành quân Long Phi 991-SĐ cách Vĩnh Long 12 cây số về phía Nam. Có 136 phi vụ oanh tạc BV, phá cầu Đáp Cầu và nhiều kho nhiên liệu. 2 Mig-21 bị 2 phản lực Phantom Mỹ bắn hạ gấn Hà Nội. Ngày 7/11, trận đánh lớn tiếp tục từ 3-11 tại Tây Ninh vùng Chiến khu C. Quân đội Mỹ chiếm 35 pháo đài kiên cố, phi cơ ném bom dữ dội; VC bỏ lại 319 xác, còn bộ đội thì đã rút. Có 127 phi vu oanh tạc BV, 3 dàn hỏa tiễn SAM bị phá  huỷ gần Hải Phòng. 

Ngày 8/11, kịch chiến tiếp tục vùng Chiến khu C Tây Ninh. Nhiều đợt xung phong của VC bị đẫy lui, phi cơ Mỹ dội bom napalm sát vị trí quân Mỹ. Tổng số xác VC tìm thấy lên tới 758. Ngày 9/11, quân đội Mỹ lục soát chiến trường Tây Ninh, tìm thấy 95 xác nữa. Tổng số VC tử trận: 828. Hơn 100 phi vụ oanh tạc BV. Phi cơ Hải quân bắn phá cầu Hàm Rồng, nhưng cầu vẫn chưa bị phá. Ngày 11/11, trong trận Chiến khu C Tây Ninh, 25.000 quân Mỹ vây 4 Trung đoàn 271, 272, 273 và 101 của VC. Hôm nay, không còn chạm súng. Có 83 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 12/11, hơn  56 phi vụ oanh tạc BV vùng Đồng Hới, Vinh, Thanh Hoá, đèo Mụ Già. Một vị trí TQLC Mỹ tại Ân Trạch cách Đà Nẵng 13 cây số, bị xâm nhập và chịu thiệt hại nặng, VC để lại 16 xác. Ngày 13/11, các vị trí của Sư đoàn 4 Bộ binh Mỹ tại Plei-Djereng (Kontum) bị pháo kích hơn 600 trái phá và nhiều cuộc tấn công bị lực lượng phòng thủ phản công suổt đêm. 32 quân BV tử thương. 

Ngày 14/11, trận đánh quanh Plei-Djereng rất kịch liệt, các đơn vị Mỹ bị pháo kích bằng hàng ngàn đạn đại bác 82. Ngày 15/11, hành quân Attleboro tiếp tục tại Chiến khu C Tây Ninh. B-52 ném bom quanh vùng ngày thứ 6. Quân đội Mỹ bắt được 2 tấn thuốc men và 20 tấn gạo. Nhiều đồn Địa phương quân bị tấn công tại Kiến Tường, Ba Xuyên, Phong Dinh, Vĩnh Bình. Vì trời xấu, chỉ có 25 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/11, Hải quân Mỹ đánh đắm 144 thuyền và phá huỷ 144 chiếc khác tại Vịnh BV để ngân chặn tiếp tế. Hơn 184 phi cơ phản lực, và B-52 oanh tạc tại mặt trận Tây Ninh. 3 trực thăng bị bắn hạ. Tổng số gạo tịch thu lên tới 2.000 tấn. Ngày 16/11, lại một máy bay nữa chở nhân viên Bộ Xây dựng Nông thôn bị rớt ở Tam Kỳ: 13 bị thương. Ngày 16/11, nhiều đoàn quân xa BV lại tiếp tục vô Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh. Ngày 18/11, có 52 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 19/11/66, có 46 phi vu oanh- tạc BV. Trời xấu từ mười hôm nay. 

Ngày 20/11, giao tranh dữ dội gần Plei-Djereng, giữa 3 đại đội Việt-Mỹ và các đơn vị BV trong 8 giờ liền: BV thiệt 166 người. Kịch chiến tại Bắc Quảng Ngãi giữa Đại Hàn và quân BV. Ngày 21/11, tại thung lũng Ia-Drang, một Trung đội Mỹ 21 người bị lọt ỗ phục kích, sống sót 3. Viện binh ứng cứu, đối phương để lại 122 xác. Hành quân Liên Kết Tây Bắc Quảng Ngãi, 130 VC bị hạ do đạn và bom từ phi cơ. Ngày 22/11, tại mặt trận Tây Ninh, quân Mỹ bắt được hai tù binh người Mên. Ngày 23/11, có 68 phi vụ oanh tạc BV. Hai căn cứ hỏa tiễn SAM bị phi cơ Mỹ phá gần Hải Phòng. Ngày 24/11, có 101 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/11, một đoàn xe của hãng thầu Mỹ, có binh sĩ hộ tống, bị giật mìn cách Đà Lạt chừng 6 cây số. Ngày 26/11, chỉ có 36 phi vụ oanh tạc BV, vì trời xấu. Ngày 27/11, kết thúc hành quân Attleboro tại Chiến-khu C biên giới Tây Ninh: 19 tiểu đoàn tham dự, 1.571 phi vụ yểm trợ, 15 phi vụ oanh tạc của B-52. Có 1.101 xác VC, 44 tù binh, 60 tình nghi bị bắt, 149 võ khí bị thu, với ngót 1.000 tấn gạo tìm thấy. 

Cùng ngày 27/11, kết quả trận Plei-Djereng, Pleiku sau 5 ngày kịch chiển: BV chết 742, mất nhiều võ khí lớn. Phía Đồng minh: chết 98, mất tích 6. Ngày 28/11, Trung tá Trung đoàn trưởng 66 BV Lê Xuân Chuyên, về hồi chánh tại Binh Thuận, ra mắt báo giới tại Trung tâm Báo chí Sài Gòn. Ngày 28/11, có 4 tiểu đoàn BV lại vừa vô Nam với súng cao xạ và súng nặng, nhưng bị phi cơ Mỹ ném bom ngăn chặn và chịu tốn thất nặng nề. Chỉ có 32 phi vụ oanh tạc BV, vì trời xấu. Ngày 29/11, số B-52 tham chiến tại VN, tăng từ 30 lên 50 chiếc, mỗi chiếc mang 27 tấn bom. Cho tới nay, đã thả 100.000 tấn. Ngày 14/11, theo giới quân sự VN tại Cao nguyên, có 5 sư đoàn BV, 1 hoạt động tại duyên hải, 4 tại miền núi. Hôm nay có 59 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 30/11, hành quân Bismark tại Biên Hòa, hạ 40 VC. 

Ngày 1/12, số VC qui chánh trong 11 tháng năm 1966 là 17.726 so với 11.124 cả năm 1965 và 5.417 năm 1964. Ngày 2/12, có 41 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu kho xăng Văn Điển, và kho xăng Hạ Gia cách Hà Nội 25 cây số về phía Đông Bắc, 8 phi cơ Mỹ bị hạ, 13 phi công mất tích. Ngày 3/12, có 59 phi vụ oanh-tạc BV. Cầu Lao Kay bị bắn phá. Ngày 4/12, VC đột kích phi trường Tân Sơn Nhứt, một toán pháo kích, 1 toán chặn đánh, 1 toán xông vào sân bay, trận đánh từ 1 giờ 30 đêm đến 3 giờ, VC bỏ lại 19 xác với nhiều súng. 3 quân nhân Mỹ chết, 1 bị thương, 2 phi cơ bị hư hại. 5 giờ sáng, mìn nổ lớn trên nóc rạp Kinh Đô, Sài Gòn. 12 quân nhân Mỹ và một số thường dân Việt bị thương. Vùng Hà Nội lại bị phi cơ Mỹ oanh kích trong nửa giờ. Ngày 5/12, có 82 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu ga xe lửa Yên Viên, 1 Mig-17 bị hạ. Các chiến hạm Mỹ bắn lên các căn cứ trọng pháo ven biển Đồng Hới.

Ngày 6/12, hành quân Mississipi Kỹ cách Đà Nẵng 40 cây số về phía Nam. Hành-quân Atlanta cách Phước Tuy 55 cây số về Đông Nam. 85 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu ga xe lửa Yên Báy, một đoàn 25 thuyền trên sông Cháy và nhiều căn cứ phòng không bị phá hủy. Một số Mig-17 lên nghênh chiến không thấy số thiệt hại của đôi bên. Ngày 7/12, hơn 70 phi vụ oanh tạc BV, quanh Hà Nội, Hải Phòng, Điện Biên Phủ. Một F-105 bị Mig-21 bắn rớt. Ngày 9/12, có 75 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu cầu Phủ Lý. Mig-21 có lên nghênh chiến. Không bên nào thiệt hại. Ngày 10/12, hơn 73 phi vu oanh tạc BV. Ngày 11/12, có 25 phi cơ B-52 lại tới oanh tạc gần đèo Mụ Gia để chặn đường xâm nhập vào Nam của BV, 750 tấn bom đã dội xuống vùng này. Ngày 13/12, có 99 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Hà Nội, cầu Long Biên, khu Cầu Đẩt, và vùng ngoại ô Hải Phòng, Văn Điển, Yên Viễn Xuân Mai. 

Ngày 14/12, nhiều đợt phi cơ Mỹ lại oanh kich trung tâm Hà Nộỉ, mặc dầu có hàng ngàn súng phòng không, từ 15 giờ 10 đến 17 giờ, 1 chiếc F-105 của Mỹ bị Mig BV bắn hạ, 2 chiếc khác bị bắn hạ do cao xạ. Cơ xưởng Gia Lâm bị thiệt hại nặng. 2 nhịp cầu Long Biên bị hư hại. Ngày 14/12, hơn 58 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/12, trong cuộc hành quân Thayer II, kịch chiến tại Binh Định, giữa quân BV và Sư đoàn Không vận Mỹ suốt ngày thứ bảy và đến trưa hôm nay: 78 BV bị hạ. Phía Mỹ cũng bị thiệt hại nặng. Nhiều đơn vị BV lại qua Bến Hải. B-52 lại oanh tạc nhiều địa điểm gần Cam Lộ, Quảng Trị. Có 61 phi vụ oanh tạc BV. Đường sổ 6 sang Lào bị đứt nhiều quãng. Ngày 20/12, hành quân Thayer II tiếp diễn tại Bình Định, giao tranh kịch liệt cách Qui Nhơn 80 cây sổ về Tây-Bắc 131 VC bị hạ. Có 121 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu kho dầu Hạ Gia gần Phúc Yên. 

Ngày 21/12,  có 87 phi vụ oanh tạc BV, phá hủy các đường giao thông. Tại miền Nam, 512 phi vụ. Ngày 22/12, một đồn TQLC ở Quảng Trị bị tấn công mạnh, nhưng đẩy lui được sau một đêm kịch chiến, 54 xác BV bỏ lại. Hơn 81 phi vụ oanh tạc BV; Và, 527 phi vụ oanh tạc ở miền Nam. Chiến dịch Market Times, do Hải quân Mỹ thực hiện 1.825 thuyền bị khám xét. Ngày 23/12, cuộc tấn công đồn TQLC ở Quảng Trị tiếp diễn sớm hôm nay, 110 xác quân BV bỏ lại. Có 66 phi vụ oanh tạc BV. B-52 dội bom cách Đồng Hới 50 cây số về phía Nam. Ngày 25/12, Quận trưởng Hóc Môn bị sát hại tại vùng Bà Điểm. Ngày 28/12, có 54 phi vụ oanh tạc BV. Nam Định bị đánh phá. 454 phi vụ tại miền Nam. Ngày 29/12, nhiều đồn VNCH và TQLC Mỹ bị pháo kích dữ dội tại Đông Hà, Quảng Trị. Hành quân Dân Chí 270/SD từ 27-12, cách Vị Thanh 25 cây sổ: hạ 124 VC, và thu nhiều súng đạn. 73 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 30/12, 101 phi vụ oanh tạc BV, phá các ga xe lửa Nam Định, Thanh Hóa, Vinh v.v. Ngày 31/12, hôm nay là ngày ngừng bắn như đã hẹn. Nhưng nhiều toán tuần tiểu Mỹ bị đột kích và phải chống trả. Nhiều nơi khác bị nẻm lựu-đạn. Cách Huế 14 cây số về Tây Bắc, hơn 1.000 chính quy BV chuyển tới gần đồn Mỹ. Tướng Westmoreland ra lịnh oanh tạc. Kết thúc cuộc hành quân Paul Revere IV tại Kontum - Pleiku, 977 địch bị hạ, 90 bị bắt, 331 tình nghi bị giữ, thu 308 súng. Hành quân Paul Revere V bắt đầu. Tổng nha Cảnh sát cho hay đã bắt được chúa đảng cầm đầu các vụ trộm lớn tại Thương cảng Sài Gòn.  

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1966. Ngày 4/11, hôm nay Quốc hội mới bầu xong các ủy ban chuyên trách. Ngày 16/11, khánh thành Trung tâm Y khoa đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. Chi phí xây cất 150 triệu đồng VN và 1.300.000 Mỹ kim. Ngày 18/11, Chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ cải tổ, có thêm Bộ Văn hoá, Phó Chủ tịch Nguyễn Lưu Viên kiêm nhiệm Tổng ủy viên Văn hoá Giáo dục. Ngày 18/11, Trung tướng Đặng Văn Quang, Tư lịnh Vùng IV kiêm Đại biểu Chánh phủ tại Vùng này, được cử giữ chức Tổng ủy viên Kế hoạch và Phát triển. Thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh được cử lên thay tướng Quang. Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ được cử làm Tham mưu trưởng, thay tướng Bùi Hữu Nhơn đổi làm chỉ huy trưởng trường Võ bị Thủ Đức; Đề đốc Chung Tẩn Cang, làm chỉ huy trường Võ bị Đà Lạt. 

Ngày 21/11, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ cảnh cáo Cao Mên lần chót, nếu còn xâm nhập lãnh thổ VN thi VN sẽ áp dụng quyền vượt đuổi qua tận đất Mên. Ngày 25/11/66, tổng số hàng gỡ xuống tại hải cảng Cam Ranh để phân phối đi các tỉnh, lên tới 290.000 tấn trong tháng 10. Các bến tàu có thể tiếp nhận cùng một lúc 10 tàu lớn. Ngày 26/11, tổng số phi cơ đáp xuống hoặc bay khỏi Tân Sơn Nhứt, từ đầu năm nay, lên tới 500.000. Ngày 28/11, hai đệ tử ông Đạo Dừa xông vào đài phát thanh Sài Gòn rung chuông “hòa bình” có khắc hình ông Đạo, nhưng bị Cảnh sát mời ra. Ngày 30/11, Quốc hội Lập hiến biểu quyết: quân nhân không được sinh hoạt chính trị đảng phái. Một Thượng sĩ Không quân bị Tòa án Quân sự Huế kết án tử hình vì tội biển thủ 809.083$. Ngày 1/12, Giải tán Bắc Việt vụ do chính Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ lập ngày 19-10-1965.  

Ngày 2/12, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố tại Quảng Trị: quân đội Mỹ sẽ xuống cả Vùng IV để bình định đồng bằng sông Cửu Long. Ngày 5/12, sau vụ khám phá 2 thùng thuốc nố lớn, 600 lao công tại bến tàu Xa lộ Sài Gòn bị đuổi việc. Ngày 7/12, Dân biểu Trần Văn Văn bị hai thanh niên cưỡi Honda bắn tử thương, hồi 9 giờ sáng nay trước nhà đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn. Một hung thủ bị bắt là Võ Văn En, khai là đội trưởng đặc công VC từ Củ Chi về. Y được đưa ra trình diện báo giởi. Ngày 10/12, nhiều đơn vị quân đội được cử về tăng cường cho vùng phụ cận Đô thành. Ngày 12/12, khánh thành nhà máy lọc nước Thủ Đức. Công trình này xây dựng tốn 3 tỷ bạc. Mỗi ngày lọc 580 thưởc khối nưởc. Ngày 13/12, Trường Võ bị Đà Lạt được xếp ngang hàng Cao đẳng chuyên nghiệp với chương trình học 4 năm (NĐ.2349/QP). 

Ngày 15/12, Quốc hội Lập hiến biểu quyết vởi 107 phiếu trên 112 dân biểu cỏ mặt: nguyên thủ VN là Tổng thống do dân bầu trực tiếp theo phổ thông đầu phiếu; Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng, nhưng Quốc hội có quyền đòi giải tán một phần hay cả nội cảc. Một ngân khoản 340 triệu được dành cho việc tái thiết các vùng bị lụt miền Tây. Ký kết thỏa hiệp viện trợ thực phẫm lần thứ 12: Mỹ cấp 200.000 tấn gạo, 60.000 tấn bột mì, 43.000 tấn sữa. 8.480 tấn thuốc lá, và 87.500 kiện bông. Ngày 17/12, Ủy viên Ngoại giao Bùi Diễm được cử làm Đại sứ tại Hoa Thịnh Đốn thay Kỹ sư Vũ Văn Thái. Ngày 19/12, Bác sĩ Trần Kim Tuyến được Tòa Đại hình Sơ thẫm Sài Gòn tha bỗng về tội hối mại quyền thế trong vụ thâu tiền của các nhà thầu vé số Kiến thiết nộp vào quỹ chánh trị xã hội. Ngày 19/12, Tòa Đại hình ra lịnh quật mồ Quách Thị Trang để khám nghiệm, vì Cò Nguyễn Văn Khánh vẫn chối không bắn y thị. 

Ngày 20/12, với 102 phiếu trên 104, Quốc hội Lập hiến biêu quyết: các Hội đồng địa phương do dân chúng bầu, cũng như Xã trưởng, Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Đô-trưởng. Nhưng chánh phủ trung ương có quyền giải nhiệm trong vài trường hợp. Ngày 21/12, Quốc hội Lập hiến biểu quyết chế độ lưỡng viện vởi 78 phiếu trong 101 Dân biểu có mặt. Ngày 23/12, Quốc hội Lập hiến bác bỏ đề nghị lập thêm quyền Giám sát. Ngày 24/12, cải tổ hành chánh Xã, Ấp, và tổ chức bầu cử các Hội đồng Nhân dân Xã và các Ủy ban Hành-chánh (S.Luật 198 và 199/SL/BUHC). Ngày 30/12, Thượng tọa Thích Tâm Châu gửi thư lên Chánh phủ yêu cầu can thiệp để tránh việc quật mồ Quách Thị Trang đã do Tòa Đại hình phán quyết. Ngày 30/12, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: Quân đội tiếp tục lãnh đạo quốc gia cho tới khi chánh thể dân chủ và các đảng phái chánh trị được củng cố. Có hai điều lầm lẫn sau ngày Cách mạng: bỏ các Ấp Chiến đấu vài bãi Thanh niên Cộng hòa.

Sydney ngày 6 tháng 4 năm 2024

 

Bài 98: HÀNH QUÂN ATTLEBORO CỦA LIÊN QUÂN VIỆT MỸ  VÀO CHIẾN KHU C TÂY NINH TẠI VÙNG III CHIẾN THUẬT THÁNG 8/1966

Trước cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng ở Nam Việt Nam, tại buổi họp ngày 9 tháng Tư 1966, nhóm cố vấn cao cấp của Tổng Thống Lyndon B. Johnson là Tổng Trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, Giám Đốc CIA –Central Intelligence Agency, Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ–, và Tham Mưu Trưởng Liên Quân, đã đưa ra 3 giải pháp: Giải Pháp A: tiếp tục chính sách đang thực hiện, với hy vọng “khó khăn hiện tại” chỉ là tạm thời; Giải Pháp B: tiếp tục gần giống như hiện trạng, hy vọng chiến sự sẽ giảm bớt khi quân Mỹ vào Việt Nam tăng lên, và tích cực hơn là thúc đẩy chính phủ VNCH mở những cuộc tiếp xúc với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) để thăm dò lập trường của Mặt trận này; Giải Pháp C: quyết định rằng những cơ may giúp mang lại một chính quyền không Cộng sản tại Miền Nam đã giảm bớt đến mức độ mà, trên toàn bộ, nổ lực của Hoa Kỳ không còn đáng duy trì nữa; điều nầy có nghĩa là phải chuẩn bị, để khi đến thời điểm thích hợp, có thể tiến hành rút quân.

Ngoại Trưởng Dean Rusk khuyến cáo nên chọn Giải Pháp A. Tổng Thống Johnson đồng ý với khuyến cáo nầy. Vào đầu tháng 5/1966, Đại sứ Lodge (kế nhiệm Đại sứ Maxwell D. Taylor) được triệu hồi về Hoa Thịnh Đốn để tham khảo. Tổng Thống Johnson muốn Đại sứ Lodge phải nói cho các nhà lãnh đạo VNCH rõ, là họ phải thực hiện lời cam kết bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, nếu không việc viện trợ của Hoa Kỳ cho VNCH sẽ bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Cách giải quyết tốt nhứt là chính phủ nầy nên từ chức và giao quyền hành cho Quốc Hội Lập Hiến (QHLH) khi cơ cấu nầy đã được dân chúng bầu ra xong.  Quốc Hội Lập Hiến sẽ bỏ phiếu tín nhiệm và giữ lại chính phủ hiện nay, hay là chọn ra một chính phủ mới… Phương cách nầy, phù hợp với các khuyến cáo của Đại Hội Chính Trị Toàn Quốc kết thúc tại Sài Gòn hồi giữa tháng Tư, và được chính quyền hiện nay đồng ý thực hiện. 

Giữa lúc mọi việc đang diển tiến tốt đẹp, thì ngày 5/6/66, tại buổi lễ khánh thành căn cứ Không Quân mới tại Bình Thủy, Cần Thơ, Tướng Kỳ tuyên bố là chính phủ của ông sẽ ở lại một năm nữa cho đến khi nào tất cả các cơ cấu của chính quyền do hiến pháp mới quy định được thiết lập xong. Chính phủ Hoa Kỳ bị bất ngờ với lời tuyên bố nầy, vì không được tham khảo trước. Họ không thích, nhưng quyết định không can thiệp vào việc nầy. Tại thời điểm này, Ngoài quân bộ chiến Mỹ, còn có 20.500 quân đồng minh gồm Sư đoàn bộ binh Mãnh hổ, Lữ doàn lính thuỷ đánh bộ Rồng xanh Hàn Quốc, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Australia, Trung đoàn Thái Lan, Đại đội pháo binh New Zealand, Tây Ban Nha, Đài Loan cũng đưa sang Nam Việt Nam 43 cố vấn quân sự và chuyên gia, cùng với 520.000 quân VNCH, biên chế thành 10 sư đoàn và 5 trung đoàn độc lập. 

Đây cũng là Giai đoạn quân Mỹ và Đồng minh dốc toàn bộ lực lượng mở các cuộc hành quân “tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân giải phóng” và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định. Chiến trường lúc nầy tập trung vào Vùng III Chiến thuật. Tháng 8 năm 1966, Lữ đoàn khinh binh Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam, Bộ tư lệnh Hoa Kỳ chỉ định Lữ đoàn nầy đóng quân hoạt động khu vực ven Chiến khu C, nơi mà Sư đoàn 9 Cộng quân mới tập trung trở lại, cùng với một Trung đoàn cơ động biệt lập từ miền Bắc vừa xâm nhập vào. Ngày 14, tháng 9 năm 1966,  Bộ tư lệnh Dã chiến số 2 Hoa Kỳ tại Vùng 3, đã cùng với Thiếu tướng Lê Nguyên Khang Tư lệnh Quân đoàn III tổ chức cuộc hành quân Attleboro. Không gian của cuộc hành quân là từ Trảng Bàng đến Gò Dầu Hạ nằm trên đường số 1 và Trại Đèn trên đường 13, với quân số tham chiến trên dưới 20 ngàn Liên quân Việt-Mỹ, cùng với pháo binh, thiết giáp và không quân có cả B52  chi viện. 

Trong 6 tuần đầu của cuộc hành quân, không có trận đụng độ lớn. Nhưng trận chiến đã bùng nổ vào ngày 3 tháng 11 năm 1966 tại một địa điểm cách tỉnh lỵ Tây Ninh 27 km về hướng Đông-Bắc, khi Lữ đoàn 196 Hoa Kỳ kịch chiến với 3 trung đoàn Việt Cộng. Lực lượng bộ binh Việt Nam Cộng hòa và một số tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 và 25 Bộ binh Hoa Kỳ đến tiếp ứng Lữ đoàn 196 để cố đẩy lùi Cộng quân ra khỏi trận địa. Đến ngày 6 tháng 11 năm 1966, theo ước tính của Mỹ, cái giá để bảo vệ bộ chỉ huy Việt Cộng phải đổi lấy là thiệt mạng lên đến 270. Hôm sau Liên quân Việt-Mỹ tuyên bố đã hạ thêm 319 quân Việt Cộng, chiếm được 35 pháo đài kiên cố. Ngày 7 tháng 11, Cộng quân mở nhiều đợt xung phong tấn công trở lại, nhưng phi cơ Hoa Kỳ đã dội napalm xuống sát ngay cả vị trí quân bộ chiến Mỹ, đẩy lùi cuộc tiến công. Tổng số quân Việt Cộng thiệt mạng được Mĩ tuyên bố là 758.

Ngày 9 tháng 11, liên quân Việt Nam Cộng hòa - Mỹ bung rộng lục soát chiến trường, tìm thấy thêm 95 xác nữa, đưa tổng số Cộng quân tử thương lên 828 người. Từ 10 đến ngày 26 tháng 11, các đơn vị Việt-Mỹ tiếp tục truy tìm, nhưng không có cuộc đụng độ nào đáng kể. Ngày 27 tháng 11, cuộc hành quân kết thúc, tổn thất của quân Việt Cộng theo phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa là: 1.101 chết, 44 tù binh, 149 vũ khí bị tịch thu và khoảng 1.000 tấn gạo bị tìm thấy. Sau trận nầy này, quân Việt Cộng rút lui về bên kia biên giới Việt-Campuchia.

Sydney ngày 7 tháng 4 năm 2024

 

Bài 99: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 1-2/67. 

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1967. Ngày 1/1, hơn 6.800 quân Mỹ thuộc Sư doàn 9 Bộ binh, đổ bộ lên Vũng Tàu. Ngày 2/1, Hồ Chí Minh lại tuyên bố chiến đẩu đến cùng. Ngày 2/1, trong điệp văn gửi quốc dân Pháp nhân dịp đầu năm, De Gaulle lên tiếng công kích HK gây chiến tranh tại VN và đòi Mỹ rút quânNgày 3/1, Jack Ruby, kẻ bắn chết Harvey Oswald, người bị buộc tội ám sát cựu Tổng thống Kennedy, từ trần vì mắc bệnh ung thư. Ngày 4/1, theo Edgar Hoover, Giám đốc Trinh sát FBI Mỹ, thì đảng Cộng sản đã bành trướng mau lẹ tại HK, đương khai thác chiến tranh VN và xung đột đen trắng. Ngày 5/1, Quân Mỹ tại VN là 389.000; Đại Hàn 50.000 ; Úc và Tân Tây Lan : 5.000 ; Phi Luật Tân : 2.000. 116 phi vụ oanh tạc BV, 2 phi cơ bị bắn rớt, nhưng phi công thoát nạn. Ngày 6/1, Thượng nghị sĩ Mỹ Mansfield đề nghị: nên xây lũy ngăn chặn ở vĩ tuyến 17 và vòng cả xuống Lào Mên đề bao vệ miền Nam VN. Chỉ mất 4 tỷ Mỹ-kim, bằng 2 tháng quân phí. 

Ngày 6/1, Ngoại trưởng Dean Rusk trả lời các sinh viên Mỹ đã gửi thư trình bày thắc mắc về vấn đề VN, rằng HK sẵn sàng thương thuyết, nhưng mục đích và ý nghĩa cuộc chiến đấu không thay đồi, phải chống xâm lược và bạo lực. Ngày 6/1, Đại Hàn hiện cỏ 7.000 công nhân tại VN và muốn gửi thêm sang 2 hoặc 30.000 nữa để tham gia việc tạo tác và bình định. Ngày 6/1, tổng số nhân viên Mỹ thuộc Phái đoàn Viện trợ Kinh tế USAID: 1.217 (620 năm 1965). Số nhân viên Việt và ngoại quốc: 1.299 (875 năm 1965). Ngày 6/1, tại Trung Cộng, hết Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, đến Đào Chu và Chu Ân Lai bị Vệ binh Đỏ lên án. Ngày 7/1/67, Vệ binh Đỏ xung đột lớn với công nhân ở Nam Kinh và Thượng Hải, sau khi Đào Chu, Giám đốc Tuyên truyền bị sa thải. Theo tin Nga và Nhật, cuộc xung đột có 40 chết, 500 bị thương, 6.000 bị bắt. Ngày 7/1, ba chiến hạm nguyên tử Mỹ Long Beach, Enterprise, và Bainbridge đều có mặt tại Vịnh BV. 

Ngày 8/1, theo thông cáo của Vệ binh Đỏ, 400.000 phần tử phản cảch mạng thuộc các giới đã bị loại trừ và tịch thu tàỉ sản cùng võ khí. Ngày 8/1, Hãng AP loan tin: Cựu hoàng Bảo Đại ở Phảp không tiếp nhà báo và không tuyên bố gì hết. Ngày 8/1, Hồng y Spellman tuy đã bị công kích vẫn xác nhận: không có hòa bình nếu Mỹ không chiến thắng. Ngày 9/1, theo phúc trình của cơ quan Viện trợ Mỹ USAID thì trong năm 1966, ngoại viện thương mại bị mất cắp từ 2% đến 5%; viện trợ trực tiếp 1%; và viện trợ thực phầm từ 10% đến 15%. Ngày 10/1, Tổng thống Johnson tuyên bố trong thông điệp gửi Quốc hội về tình hình liên bang Hoa Kỳ, rằng phải kiên nhẫn và tiếp tục chiến đấu tại VN, dù ngân sách thiếu hụt 10 tỷ Mỹ kim, có thề tăng thuế; Mỹ vẫn sẵn sàng nghị hòa bất cử lúc nào và ở đâu. Ngày 10/1, U Thant tuyên bố: VC không phải là công cụ của BV; không tin rằng mất miền Nam VN thì sẽ mất các nước khác; không tin rằng VN là địa điểm chiến lược quan trọng của phương Tây. 

Ngày 10/1, Ngoại trưởng Dean Rusk phản đối cảc ý kiến của U Thant về vấn đề VN. Ngày 12/1, Báo Nhân Dân Hà Nội xác nhận: chỉ có thể nghị hòa nếu Mỹ chịu 3 điểm: Mỹ ngừng oanh tạc BV; rút quân khỏi VN; để MTGPMN tham gia thương thuyết. BV mời các nước tự do gửi người tới xem những nơi bị bom Mỹ tại Hà Nội. Ngày 13/1, nhiều sĩ quan Trung Cộng bị bắt đi diễu ngoài đường với bảng đề: phản động, trưởng giả v.v... Ngày 13/1, Bí thư thứ nhất Nga Sô, Breznev đọc diễn văn tại thành-phố Gorky, tuyên bố muốn giúp Cộng sản Tàu và nhân dân Tàu diệt trừ bọn Mao Trạch Đông là kẻ thù của Cộng sản. Ngày 16/1, những ảnh do Luna-13 gửi về, thì đất tại mặt trăng mềm sốp hơn của địa cầu. Ngày 17/1, Tổng số quân đội HK tại VN: 395.000. Ngày 18/1, vẫn nhiều tin trái ngược về nội tình Trung Cộng: Vợ Mao là Giang Thanh cầm đầu cuộc cách mạng văn hoá và át cả các nhân vật khác tại Trung Cộng v.v... 

Ngày 18/1, theo Tổng Tham mưu trưởng HK Earl Wheeler, BV càng ngày càng đưa nhiều căn cứ phòng không vào giữa nơi đông dân để tránh các vụ oanh tạc. Ngày 19/1, Tổng số quân Mỹ tại VN: 398.000. Ngày 20/1, Giang Thanh, vợ Mao Trạch Đông, đe dọa dùng võ lực đối phó với những lực lượng công nhân các tỉnh kéo về Bắc Kinh. Ngày 20/1, Barry Goldwater sau khi thăm VN 3 ngày, trở về Mỹ tuyên bổ: cần đánh mạnh hơn và đừng hạn chế các mục tiêu oanh tạc BV. Ngày 21/1, Thượng nghị sĩ Fulbright lại đề nghị kế hoạch 8 diêm đề giải quyết vấn-đề VN: mở cuộc thương thuyết; ngừng bắn; ngưng oanh tạc và xâm nhập; giảm bớt hành quân; Mỹ rút quân trong một hạn nhất định; hội đàm về ngừng bắn và quyền tự quyết của miền Nam; triệu tập Hội nghị Quốc tế đảm bảo sự thi hành thỏa ước đình-chiến; trung lập hoá Đông Nam Ấ; sửa soạn trưng cầu dân ý về việc thống nhất. Nếu không được như trên, Mỹ sẽ ở lại VN vô hạn định trong những căn cứ kiên cố. 

Ngày 22/1, Barry Goldwater cực lực đả kích đề nghị của Fulbright. Ngày 22/1, Quân số Mỹ tại VN lên tới 400.000. Theo báo Netvsiveekt Mỹ sắp lập hàng rào điện tử bảo vệ miền Nam VN. Ngày 22/1, Tướng Seaman, chỉ huy cuộc hành quân Cedar Falls cho biết đă bắt được kế hoạch đánh phá nhiều địa điểm Sài Gòn. Ngày 24/1, Ngân sách chiến phí của HK tại VN: 1964-1965: 103 triệu Mỹ kim; 1965-1966: 5.812 triệu Mỹ kim; 1966-1967: 19.419 triệu Mỹ kim; 1967-1968: 21.900 triệu Mỹ kim. Ngày 25/1/67, theo tướng Maxwell D. Taylor, chiến tranh có thể chấm dứt tại VN mà không có hòa ước hay điều đình. Theo Bộ trưởng McNamara, Quân số HK, cuối 1967, có thể tăng lên tới 470.000. Ngày 27/1, theo báo chí Nam Tư, vợ Trần Nghị, ngoại trưởng Trung Cộng bị Vệ binh Đỏ bắt đi bêu riếu ngoài đường, con bị xử tử hình. Ngày 28/1, Ngoại trưởng BV Nguyễn Duy Trinh đòi Mỹ ngưng oanh tạc không điều kiện trước khi nói chuyện hòa bình. Ngày 28/1, giới quân sự Hoa Thịnh Đốn dè dặt. 

Ngày 29/1, hơn 3.200 lính Mỹ đổ bộ lên Vũng Tàu, bố túc quân số của Sư đoàn 9. Tổng số quân HK tại VN: 404 000. Ngày 31/1, Tư lịnh quân đội Trung Cộng tại Tứ Xuyên dọa chiếm khu nguyên tử Lob Nor nếu phe thân Mao đoạt chính quyền địa phương. 39 phi vụ oanh tạc BV. Trời xấu. Ngày 1/2, theo Bộ Quổc phòng Mỹ, từ tháng 4-1966 lới nay đã thực hiên 30.000 phi vụ oanh-tạc BV. Số cao xạ ở Hà Nội và Hải Phòng là 7.000. Ngày 1/2, Đài phát thanh Hà Nội nhắc lại lời tuyên bố mới đây của Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh, và ngỏ ý nếu Mỹ ngưng oanh tạc BV, có thể thương thuyết. Ngày 1/2, Ngoại trưởng Dean Rusk xác nhận: Mỹ không chịu một mình tụt thang chiến tranh, và chỉ ngừng oanh tạc nếu quả có lợi cho hòa bình. Ngày 3/2, 30 tù binh BV được phóng thích tại cầu Hiền Lương, Bến Hải. 2 người xin ở lại miền Nam. Ngày 3/2, Nguyễn Thụy Vũ, đại diện BV tại Nam Vang, tuyên bố: có thể hòa đàm nếu Mỹ ngừng oanh tạc. 

Ngày 4/2, Tổng thống Johnson tuyên bố: chưa có triệu chứng gì là BV thành thực muổn điều đình. Ngày 5/2, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ xác nhận: sẵn-sàng gặp đại diện BV để nói chuyện về việc kéo dài thời gian ngừng bắn nhân dịp Tết. Ngày 5/2, Báo Nhân Dân, Hà Nội, xác nhận lập trường mới của BV: có thể hoà đàm nếu Mỹ ngưng oanh tạc BV và các hoạt động cbiến tranh khác. Ngày 6/2, lại biểu tình lớn tại Bắc Kinh chống Nga, vây hãm cả Đạỉ sứ Ba Lan. Tất cả đàn bà trẻ con Nga ở Bắc Kinh đã về Moscou. Tại phi trường Bắc Kinh, Đạỉ sứ Pháp Lucien Paye bị Vệ binh Đỏ xô té lăn xuống đất. Ngày 7/2, theo báo Japan Times, từ 1957 đến cuối 1966, tại miền Nam VN, 11.000 người bị ám sát, 40.000 bị bắt cóc. Ngày 7/2, Tòa Đại sứ Nga bị Vệ binh Đỏ bao vây. Ngày 8/2, theo giới chức quân sự HK, số tù bình Mỹ tại BV là 113, đa số là phi công. Ngày 10/2, Đài phát thanh Hà Nội xác nhận lời mời của Hồ Chi Minh gửi Tổng thống Johnson yêu cầu sang BV nói chuyện hòa bình. 

Ngày 10/2, theo tướng Westmoreland, hàng ngàn tấn chiến cụ đã được vận chuyển bằng tàu thuyền vô Nam nhân dịp hưu chiến. Ngày 11/2, U-Thant lại kêu gọi kéo dài hưu chiến nhân dịp Tết. Ngày 11/2, Ngoại trưởng Dean Rusk tuyên bố: chánh phủ HK đã ngưng oanh tạc BV, Hà Nội nên cho biết thái độ. Ngày 12/2, Tòa Đại sứ Nga tại Trung Cộng đã được giải tỏa. Bắc Kinh bị đặt dưởi quyền kiểm soát của quân đội. Ngày 12/2, tổng số quân Mỹ tại VN: 412.000. Ngày 13/2, Hồi 18 giờ, Tổng thống Johnson tuyên bố các vụ oanh tạc BV lại tiếp tục, vì Hà Nội không ngừng gửi tiếp viện vô Nam. Ngày 14/2, theo báo Daily News Washington, trong 6 năm qua, 8.790 quân nhân HK thiệt mạng tại VN. Ngày 14/2, theo đài phát thanh Nga Sô, nhiều cuộc nổi dậy chống Mao Trạch Đông tiếp tục ở 6 tỉnh: Hồ Nam, Hồ Bắc, Hắc Long Giang, Tây Tạng và Ngoại Mông. 

Ngày 15/2, Bộ Quốc phòng HK xác nhận: nhân viên VN trong quân đội Mỹ phạm tội thuộc thẩm quyền tòa án VN; nhân viên nước Đồng minh tại VN, nếu phạm tội, được giao cho bộ đội nước liên hệ để tùy nghi; nhân viên thuộc nước khác, sẽ do tòa án quân sự Mỹ xử nếu tòa án VN không thụ lý. Ngày 17/2, tới nay có 48 đoàn y tế ngoại quốc hiện đương giúp VNCH tại 40 tỉnh. Ngày 17/2, Thủ tướng Tân Tây Lan Keith Hoyoake tuyên bố: sẽ tăng viện trợ quân sự cho VNCH. Ngày 17/2, Đài phát thanh Bắc Kinh khuyên học sinh, sinh viên trở lại trường học. Ngày 18/2, tổng số quân Mỹ tại VN: 414.000. Ngày 19/2, Ủy ban Tranh thủ Hòa bình tại các họ đạo di cư Biên Hòa, Hóc Môn tổ chức biểu tình với hơn 5.000 người tham gia tại ngã ba Ông Tạ phản đối nhóm chủ hoà không điều kiện với Cộng sản và cả Hồng y Bĩ Gardijn (tại Bruxelles).Ngày 19/2, Tướng Curtis Lemay, cựu Tư lịnh Không quân HK tuyên bố: cần ném bom tiêu hủy Hải Phòng và các tỉnh BV cho tới khi không còn hai viên gạch dính vào nhau. 

Ngày 19/2, theo tin Nhật và Nga, Lưu Thiếu Kỳ bị lột hết các chức vụ. Chu Đức bị đả kích tuy đã ngoài 80 tuôi. Ngày 20/2, theo Bộ trưởng McNamara, không lực Mỹ từ nay có thể oanh kích cả khu Hà Nội nếu cần phá hủy cảc căn cử hỏa tiễn. Ngày 21/2, các báo loan tin một Chánh phủ lưu vong thân Cộng đương thành lập tại Pháp, do một số chánh khách lưu vong cầm đầu. Ngày 21/2, Tổng thống Johnson báo tin sắp phát hành công tráỉ 4 năm, lời cao 4,74% từ tháng 5 tới, để đài thọ chiển phí tại VN gọi là “Công trái bảo vệ Tự do”. Ngày 22/2, Tình hình rổi-ren ở Vũ Hán. Các chánh quyền địa phương ở Hồ Nam, Hồ Bắc và Tử Xuyên liên kết chổng Mao Trạch Đông. Ngày 22/2, Sihanouk gặp De Gaulle tại Ba Lê và xác nhận quan điểm cũ về vấn đề VN: phải trung lập hoá VN, và quân ngoại quốc phải rút để mặc người Việt quyết định lấy số phận. Ngày 23/2, Goldwater đề nghị bãi bỏ mọi hạn chế trong sự oanh tạc BV. 

Ngày 25/2, theo tin báo chí Mỹ, 16 người lần lượt chết hoặc bị tử nạn có dính líu đến vụ ám sát Tồng thống Kennedy. Thẩm phán Jim Garrison tại New-Orleans quả quyết có nhiều âm mưu về việc ám sát này, cần phải tiếp lục điều tra. Ngày 27/2, tại Bộ Ngoại giao, Đại sứ các nước đã dự Hộỉ nghị Manille nhóm họp để xét về hiện tình VN và kết quả hoạt động chung. Ngày 28/2, Bộ Ngoại giao Mỹ cải chính tin đại sứ Goldberg đại diện HK tại Liên hiệp Quốc, sẽ tới gặp đại diện BV tại Ngưởng Quang. Ngày 28/2, Theo giới quân sự Mỹ, phạm vi phòng thủ phi trường Đà Nẵng phải mở rộng hơn, vì phi trường đã bị pháo kich bằng phi đạn 140 ly với tầm xa 10 cây số.

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1967. Ngày 1/1, MTGPMN loan tin sẽ ngừng bắn 7 hôm nhân dịp Tết Nguyên đán. Ngày 2/1/67, có 55 phi vụ oanh tạc BV, không chiến trên không phận Vĩnh Phúc Yên. 1 đoàn F-104 của HK hạ 7 chiếc Mig-21.Ngày 4/1, hơn 80 phi vụ oanh tạc BV, Mig-21 xuất hiện nhưng lẩn tránh không nghênh chiến. Ngày 8/1, có 54 phi-vụ oạnh-tạc BV. Ngày 6/1, có 71 phi vụ oanh tạc BV, 2 chiếc Mig-21 của BV nữa bị Phantom F-4C Mỹ bắn rơi. Ngày 7/1, có 57 phi vụ oanh tạc BV nhắm vào Điện Biên Phủ, và Thanh Hỏa. 408 phi vụ ở miền NamNgày 9/1, Hành quân Cedar Falls Việt Mỹ đại qui mô vào Căn cứ đầu não của Quân Giải phóng vùng khu Tam giác Sắt, giữa Sài Gòn và Dầu Tiếng với nhiều sư đoàn tham gia. Hành quân Xây Dựng 69 tại vùng Bến Súc quận Bến Cát (Bình Dương) hạ 87 VC, thu hàng trăm súng, 400 tẩn gạo, giải thoát 8.000 đồng bào. Từ 4 hôm nay, B-52 dội bom lần thứ 11 nhiều địa điểm thuộc tỉnh Bình Dương. Phi trường và trại Halloway tại Pleiku bị pháo kích lần thử 3, trong 3 giờ liền. 

Ngày 11/1, kết quả hành-quân Cedar Falls: 165 VC bị hạ, phá hủy nhiều cơ sở và tịch thâu nhiều đạn dược nhưng chưa có đụng độ lớn. Ngày 11/1, Hơn 49 phi vụ oanh tạc BV. Không quân Mỹ được lịnh tránh đánh phá Yên Viên và Văn Điển.Ngày 12/1, số gạo tịch thu trong cuộc hành quân Cedar Falls lên tới 508 tấn, và số VC bị hạ là 189. Ngày 12/1, 40 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu đèo Mụ Gia. Ngày 13/1, kết quả hành quân Cedar Falls và Xây Dựng 69 tại Chiến khu D: 237 VC bị hạ, 51 bị bắt, nhiều hầm lớn bị phá hủy, 2.100 tấn gạo bị thâu. Ngày 13/1, nhiều đơn vị Mỹ đã về đóng tại Đồng Tâm, cách tỉnh lỵ Mỹ Tho 8 cây số về Tây Nam, căn cứ của một sư đoàn. Ngày 13/1, có 77 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Vinh, Đồng Hới, Thanh Hoá, và Phi trường Phú Thọ. Ngày 14/1/, kết quả hành quân Cedar Falls Việt Mỹ vùng Tam giảc sắt: 526 VC bị hạ, 72 bị bắt, 289 súng bị thâu. Số gạo tịch thu lên tới 2.550 tấn. Có 65 phi-vụ oanh-tạc BV. 

Ngày 15/1, Binh sĩ Sư đoàn 21 hành quân phía Tây Nam Chương Thiện, phát hiện 80 tù nhân VC bị hạ sát trong một trại giam cách quận Long Mỹ (Chương Thiện) l0 cây số. Ngày 15/1, có 94 phi vu oanh tạc BV, mục tiêu nhà ga Việt Trì, kho dầu ở Hà Gia gằn phi trường Vĩnh Phúc Yên. 371 phi vụ tại miền Nam. Ngày 17/1, Hơn 96 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà ga Thải Nguyên. Ngày 18/1, 103 phi vụ oanh tạc BV, phá 5 dàn hỏa tiễn SAM. Ngày 19/1, Bộ Quốc phòng HK tuyên bố không có gì thay đổi trong việc oanh tạc BV. Ít lâu nay Không quân không cho biết số phi xuất (sortie) tức mỗi phi cơ đánh một mục tiêu) chỉ kể ra số phi vụ (mission)  tức từng đoàn phi cơ mà thôi. Hôm nay có 109 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu khu kỹ nghệ Việt Trì và Thái Nguyên, có tới 250 phi cơ tham chiến. Ngày 21/1, có 87 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, có Mig BV lên giao chiến với Phantom Mỹ, nhưng không ghi nhận thiệt hại. 

Ngày 22/1, có 67 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Ninh Bình, Thái Nguyên. Ngày 23/1, có 87 phi vụ oanh tạc BV. Trời xấu. Ngày 24/1, có 41 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/1, có 52 phi vụ oanh tạc BV, nhà ga Nam Định lại bị ném bom. Ngày 27/1, kết quả hành quân Cedar Falls sau 19 ngày: 711 VC bị hạ, 488 qui hàng, 722 tình nghi bị giữ, thu 550 súng cá nhân và 22 súng cộng đồng, cùng 3.709 tấn gạo. Ngày 27/1, có 86 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu 47 sà lan trên sông Cả. Ngày 28/1, các vụ oanh tạc và oanh kích tại miền Nam vẫn tăng nhiều, như trong ngày hôm nay, 535 phi vụ gồm 165 của Không quân, 236 của Hải quân, và vài vụ nữa của TQLC đánh phá các cơ sở VC, trại, kho, thuyền bè v.v... hoạc yểm trợ các cuộc hành quân tại Quảng Nam, Quảng Trị, Thừa Thiên, Kontum, Chương Thiện… Ngày 31/1, B-52 dội bom vào mật khu Đỗ Xá. Hành quân Bạch Mã Đại Hàn cách Nha Trang 25 cây sổ, hạ 71 VC.

Ngày 1/2, kết quả hành quân Rạng Đông Mỹ quanh Sài Gòn-Gia Định, tới nay đã hạ 312 địch và tịch thu 102 vũ khí. Kết thúc hành quân Prairie I tại Quảng Trị (từ 3-8-66) có 1.397 địch bị hạ, 126 bị giữ, thu 248 võ khí cá nhân, 15 súng cộng đồng, và 13 tấn gạo. Bắt đầu hành quân Prairie II. Ngày 1/2, có 57 phi vụ oanh tạc BV. Trời sương mù. Ngày 2/2, hành quân Mỹ Big Spring tại Chiến khu D, Bình Dương, hạ 14 VC. Hành quân Mỹ Independence cách Đà Nẵng 36 cây số về Tây Nam, hạ 43 VC. Hành quân Mỹ De Soto tại Quảng Ngãi, hạ 12 VC. Có 72 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 4/2, cuộc hành quân Big Spring tiếp tục tại Chiển khu D, quân Mỹ vừa tìm ra 100 tấn gạo. Ngày 4/2, Có 57 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 5/2, khi chuyển vận một đơn vị Nhảy Dù đến Hậu Nghĩa, 9 phi cơ trực thăng Mỹ bị trúng đạn VC. Ngày 5/2, hơn 113 phi vụ oanh tạc BV. Phi trường Xuân Mai bị đánh phá. 

Ngày 9/2, nhân Tết Nguyên đán Đinh-Mùi, 100 triệu truyền đơn có giá trị thông hành, được thả xuống BV và miền Nam. Tiểu-đoàn II TQLC của QLVNCH được Tổng thống Johnson tặng huy chương Danh dự vì đã hạ 300 VC và thu nhiều võ khí trong trận Bồng Sơn tháng 4-1965. Ngày 11/2, theo giới quân sự VNCH, VC đã vi phạm hưu chiến 306 lần. Ngày 12/2,  Kết thúc hành quân Thayer II bắt đầu từ 25-10-66 tại Bồng Sơn: 1.744  VC bị hạ, 2.246 người bị giữ, 426 súng cá nbân và 53 súng cộng đồng bị tịch thu. Ngày 13/2, súng cối 81 đặt tại căn nhà 4/8 chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng, bắn vào tổng hành doanh tướng Westmoreland đường Pasteur, rơi xuống đoàn xe Nhảy Dù đi qua: 13 chết, 16 bị thương. Ngày 13/2, Không quân Mỹ báo cáo: số xe chở võ khí tiếp viện từ BV trên đường mòn Hồ Chi Minh đã tăng rất nhiều. Ngày 14/2, có 45 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhiều vùng ở Vinh, và Đồng Hới. 

Ngày 15/2, Quân Đại Hàn đẩy lui và phản công một cuộc xung phong ồ ạt của VC cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 13 cây số, 243 VC bị hạ, thu nhiếu súng cá nhân và cộng đồng. Hành quân Dân Chí 279 quận Kiến Thiện, Chương Thiện, hạ 255 VC, bắt 5 với nhiều võ khí. Có 67 phi-vụ oanh-tạc BV nhắm vào ga xe lửa Phụ Lý và Nam Định. Ngày 16/2, hơn 1.500 TQLC Mỹ từ các chiến hạm đổ bộ lên Sa Huỳnh, Quảng Ngãi mở cuộc hành quân Deck House VI, trong khi 15.000 quân Mỹ mở cuộc hành quân Pershing từ Kontum xuống phía Nam để phá hủy các hệ thống đường hầm chằng chịt khắp vùng. Trong khuôn khổ hành quân Mỹ Houston mở từ 9-2-67, hơn 3 đại đội Mỹ bị một trung đoàn VC tấn công tại Kontum, phi cơ đến yểm trợ. Kết quả: 137 VC bị hạ, thu 39 súng. Ngày 16/2, trên 68 phi vụ oanh-tạc BV. 

Ngày 18/2, trong khuôn khỗ hành quân Pershing, kịch chiến suốt 8 giờ tại Bồng Sơn, hạ 92 VC, thu 56 súng. Tĩnh lỵ Trúc Giang (Kiến Hoà) bị pháo kích: 10 thường dân chểt, 80 bị thương. Có 67 phi vụ oạnh tạc BV. Ngày 19/2, Tỉnh lỵ Kiến Tường (Mộc Hỏa) bị pháo kích: 3 thường dân chết, 54 bị thương. Ngày 19/2, hơn 77 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/2, kết quả cuối cùng hành quân Liên Kết 81 lại Quảng Ngãi: 805 VC bị hạ, 52 bị bắt, 42 súng cộng đồng và 139 súng cá nhân bị tịch thu. Ngày 21/2, có 84 phi vụ oanh tạc BV, phá huỷ 42 quân xa, 20 chiếc khác bị hư hại gần đèo Mụ Gia. Ngày 22/2, hơn 70 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/2, Bộ Tư lệnh Mỹ mở cuộc hành quân Junction City, với hơn 35.000 quân bộ chiến khép chặt Chiến khu D. Quân Nhảy Dù nhảy xuống Tây Ninh chặn đường qua biên giới. Chưa gặp địch, 5 trực thăng bị hạ. Ngày 23/2, Hội An, tỉnh lỵ Quảng Nam, bị pháo kích: 1 thường dân chết, 13 bị thương. 

Ngày 23/2, có 79 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu kho đạn Vĩnh Yên. Ngày 24/2, Quân đội Mỹ được phép từ 22-2-67 bắn vào vùng Phi quân sự và lên trên vĩ tuyến 17 bằng đại bác 155 và 175. Hải quân Mỹ cũng có thể pháo kích vùng duyên hải BV, không cần chờ bị tấn công. Ngày 24/2, liên tiếp từ 3 hôm nay, 587 phi vụ yểm trợ cuộc hành quân Junction City tại Chiến khu C Tây Ninh. Nhiều hầm bị phá hủy. Ngày 25/2, theo Bộ Quốc phòng Mỹ, tới nay có 475 phi cơ Mỹ bị rớt trên BV. Có 60 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Hòn Gay và Bắc Giang. Ngày 26/2, giới quân sự HK cho biết: phi cơ Mỹ thả mìn ở các sông ngòi ở phía Nam BV để ngăn chặn việc chuyên chở tiếp tế vào Nam. Ngày 27/2, Phi trường Đà Nẵng bị pháo kích dữ dội, nhiều cơ sở bốc cháy, cả một làng phụ cận, một số phi cơ bị hư hại. Ngày 28/2, có 69 phi vụ oanh tạc BV. Trời xấu.    

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1967. Ngày 1/1, tổng số quân nhân VNCH đến ngày hôm nay 610.572 người gồm: Chủ lực quân: 321.544 người; Địa phương quân: 138.569 người; Nghĩa quân: 150.459 người. Ngày 1/1, Ngân sách quốc gia được ấn định là 75 tỷ vnđ. Tài nguyên quốc gia 28 tỷ; Quỹ Đối giá ngoại viện 30 tỷ (S-luật 001/67). Ngày 5/1, có tới 127 nha sĩ, dược sĩ, y sĩ và sinh viên Y khoa năm thứ 6 được gọi nhập ngũ. Ngày 5/1, Hãng thầu RMK—BRJ đã xây xong trung tâm tiểp vận Mỹ lại Tân Thuận, 25 mẫu, 200 cơ sở và kho, tốn phí 3,4 triệu Mỹ kim và 400 triệu bạc. Ngày 9/1/67, Các tiểu ban Quốc hội đã soạn thảo xong Hiến pháp. Cùng ngày 9/1, Tòa án quân sự mặt trận nhóm xử vụ Võ Văn En can tội ám sát dân biểu Trần Văn Văn. Bị cáo phản cung và khai chỉ đi cùng với cán bộ Đực để bảo vệ cho tên này, chớ hắn không bắn giết.

Ngày 10/1, Quốc hội Lập hiến họp báo tuyên bố: yêu cầu biến thành Quốc hội Lập pháp cho tới khi bầu Quốc hội Lập pháp; rằng UBLĐQG có quyền đòi phúc nghị nhưng chỉ trong thời gian soạn thảo Hiến pháp. Ngày 10/1, Tòa án quân sự mặt trận tuyên án tử hình Võ Văn En tội ám sát Dân biểu Trần Văn Văn. Ngày 11/1, theo Đại úy Trưởng ty cảnh sát Thương cảng, số trộm cắp ở Thương cảng là 2.000 (năm I960); 3.400 (năm 1966), tổng sổ hàng bị mẩt ước 7,5 triệu bạc (1966). Ngày 11/1, Bộ Tài chánh HK tuyên bố: nhất định chống các đề nghị tăng giá vàng (35 Mỹ-kim một Once) đã định từ 1934. Ngày 15/1, Quốc hội Lập hiến làm lễ truy điệu cố dân biểu Trần Văn Văn. Ngày 17/1, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ-tịch UBHPTƯ, cùng một phái đoàn sang thăm Úc Đại Lợi 5 ngày và Tân Tây Lan 3 ngày. Chánh phủ VNCH ra lịnh ngừng bắn từ 7 giờ ngày 8-2-67 đến 7 giờ 12-2-67. VC cũng loan tin ngừng bắn 7 ngày nhân dịp Tết. 

Ngày 18/1/67, tại Úc, Tướng Nguyên Cao Kỳ tuyên bố với báo giới: không hề biết trước vụ đánh đổ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, vì khi đó còn là sĩ quan cẩp dưới. Ngày 22/1, theo Chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn và Chủ-tịch Hiệp hội Nhập cảng, hiện nay số hàng bị kẹt tại Thương cảng lên tởi 15 tỷ bạc. Ngày 28/1, Chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ cải tổ: tướng Cao Văn Viên thay tướng Nguyễn Hữu Có, giữ chức Ủy viên Quốc phòng kiêm Tổng ủy viên Chiến tranh; Trương Thái Tôn, Tổng ủy viên Kinh tế Tài chánh kiêm Uỷ viên Phủ Chủ tịch Uỷ ban Hành phảp Trung ương; La Thành Nghệ, Uỷ viên Công kỹnghệ (S.L. 028/CT/LDQG/SL). Ngày 29/1, trước Tết Đinh Mùi, giá gạo ngon từ 2.900$ lên 3.300$ mỗi tạ tại Sài Gòn. Giá gạo hạng nhì 1.500$ lên 2.200$. Tổng cuộc Tiếp tế bán 150 tấn gà (120.000 con) ướp lạnh cho dân chúng trong dịp Tết. Dân chúng được phép đốt pháo 4 ngày nhân dịp Tết, từ 30 đến hết mồng 3. Ngày 31/1, thành lập Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp thay thế Nông tín cuộc (S.L. 27/SL/CN)

Ngày 1/2, Trung tá Nay Lo, người Thượng đầu tiên, nhận chức Tỉnh trưởng tại Pleiku. Ngày 2/2, thành lập Ủy ban Kế hoạch Hậu chiến (Post-war Planning Group) có nhiệm vụ cùng các chuyên viên HK nghiên cứu các kế hoạch, chương trình, dự án phát triền kinh tế và ỗn định xã hội khả thi sau khi chiến tranh chấm dứt (Sự vụ Văn thư của ƯBHPTƯ sổ 088/SVVT/HP/VV). Ngày 4/2, Trung tướng Cao Văn Viên được thăng Đại tướng; Chuẩn tướng Nguyễn Văn Mạnh thăng Thiếu tướng, Đại tá Ngô Quang Trương thăng Chuẩn tướng. Ngày 7/2, quân nhân và công chức được miễn trả số lương vay nhân dịp Tết. Ngày 16/2, ký kết thỏa ước Việt-Đức, VN vay 15 triệu Đức mã xây lò heo tối tân tại Sài Gòn. Ngày 20/2, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố tại Định Tường: có thể thắng VC trong 4 năm, nếu xây dựng được nông thôn, nếu không, chiến tranh sẽ kéo dài 10 năm nữa. Ngày 27/2, Bộ Ngân khố HK cấm xuất cảng vật liệu y tế và gửi tiền giúp BV. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1967. Ngày 26/1/67, Tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng ủy viên Chiến tranh, Uỷ viên Quốc phòng, công du Đài Bắc, không được phép trở về VN. Ngày 26/1, Tướng Nguyễn Cao Kỳ sau 10 ngày công du tại Úc và Tân Tây Lan trở về tuyên bố tại phi trường Tân Sơn Nhất: cuộc thanh trừng phải tiếp tục lâu ngày. Ngày 29/1, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố với báo giới: Tướng Nguyễn Hữu Có bị giải chức, 50 sĩ quan khác bị tạm giữ đế điều tra. 

Sydney ngày 8 tháng 4 năm 2024

 

Bài 100: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 3-4/67. 

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1967. Ngày 2/3, Tổng thống Johnson họp báo xác nhận: BV quyết chiến đấu, thì HK cũng phải đối phó. Ngày 2/3, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy lại đề nghị ngưng oanh tạc và điều đình với cả MTGPMN. Hạ nghị viện Mỹ vởi 382 phiếu chống 18, chấp thuận quân phí bổ túc 4,5 tỷ Mỹ kim, và bác bỏ đề nghị ngưng oanh tạc BV. Ngày 3/3, U-Thant hội đàm với đại diện BV tại tòa Tổng lãnh sự BV ở Ngưỡng Quang. Tòa Đại sứ Mỹ tại thủ đô Miến Điện cải chính tin nhân viên Mỹ tiếp xúc với đại diện BV. Ngày 4/3, Theo ước lượng của Bộ Ngoại giao Mỹ, thì lực lượng Cộng sản tại miền Nam VN lên tới 325.000 người, trong đó có 45.000 từ BV vào; Chỉ huy quân sự là Trung tướng Trần Nam Trung tức Trần Văn Trà thuộc Uỷ ban quân sự trung ương BV. Có 110 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu kho đạn Đồng Hới. Ngày 6/3, theo McNamara, tại BV có 30.000 quân Trung Cộng gồm pháo binh và công binh.

Ngày 8/3, Đại diện USAID tuyên bố sẽ có 147.300 tấn gạo tới Sài Gòn trong tháng 3 này. Ngày 8/3, Tổng thống Johnson tuyên bố: vẫn tiếp tục tìm cách nghị hòa không điều kiện, nhưng không ngừng oanh tạc BV vì phải bảo vệ lực lượng HK tại VN. Ngày 9/3, Không lực Mỹ đã được chánh phủ Thái cho đặt căn cứ để tham chiến ở VN. Sẽ có từ 70 đến 75% phi vụ xuẩt phát từ Thái Lan. Ngày 10/3, Công ty RMK-BRJ cho biết sẽ sa thải 25% trong số 39.000 công nhân hiện hữu đương giúp việc xây cất các cơ sở quân-sự. Ngày 10/3, BV phát động Tuần lễ Huy động Nhân công để lăng gia sản xuất chiến tranh năm 1967. Ngày 11/3, theo giới quân sự Mỹ, quân đội Đại Hàn tại VN sẽ trang bị súng M-16. Quân đội VNCH cũng sẽ được thay thế súng củ bằng M-16. Ngày 12/3, Ký kết thỏa ước viện trợ Việt-Mỹ, HK sẽ cấp 47,4 triệu Mỹ kim để nhập cảng vào VN thêm 300.000 tấn gạo. Ngày 12/3, Tướng Suharto nhậm chức Tổng thống Nam Dương.

Ngày 13/3, theo Bộ Quốc phòng Mỹ, kể từ 1-4-67, các phi cơ B-52 từ Thái Lan sang oanh tạc BV sẽ chĩ mất 1 giờ thay vì 6 giờ từ Guam như trước. Phi trường chính là Sattahip cách Vọng Các 128 cây số về phía Nam. Ngày 13/3, Kinh phí khai quang các nơi rậm rạp tại VN (làm rụng lả cây) từ 10 triệu Mỹ kim năm 1966, tăng lên 39 triệu. Ngày 14/3, U-Thant đưa ra đề nghị mới về vấn đề VN: hưu chiến, hội đàm trực tiếp giữa Mỹ và BV, triệu tập lại hội nghị Genève. Ngày 15/3, Ellsworth Bunker, 74 tuồi, nguyên Đại sứ HK tại Nam Dương và Saint-Domingue, được cử sang Sài Gòn thay Đại sứ Cabot-Lodge từ chức. Phụ tá sẽ là Eugene M. Locke, nguyên Đại sứ tại Hồi quốc. Ngày 15/3, Tổng thống Johnson tuyên bố tại Nashville, không ngừng oanh tạc cho tới khi nào BV chịu giảm bớt xâm nhập miền Nam VN: ((Reciprocity must be the fundamental principle of any reduction in hostilities. The U.S. will not reduce its activities unless and until there is some reduc­tion on the other side. To follow any other rule would be to violate the sacred trust we undertake when we ask a man to risk his life for his country..,)). 

Ngày 17/3, theo giới quân sự Mỹ, các tướng lãnh chỉ huy của BV tại miền Nam là: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Trung tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Trần Độ. Ngày 18/3, Tổng thống Johnson lên đường dự Hội nghị Guam. Ngày 18/3, Quân số Mỹ tại VN lên tới 427.000. Ngày 21/3, Thông cáo chung Việt-Mỹ sau hội nghị Guam: BV không thể chiếm đoạt miền Nam; VN và HK sẵn sàng thương thuyết để chấm dứt chiến tranh; nổ lực sẽ dồn vào các mục tiêu bình định. Ngày 21/3, Tổng thống Johnson trước khi rời đảo Guam, tuyên bố: không có quyết định gì quan trọng. BV chưa muốn hoà. Chưa biết bao giờ hết chiến tranh. Ngày 21/3, Phụ tá Tổng thống Johnson, Robert Komer tuyên bố: HK chấp thuận cung cấp cho VNCH 750.000 tấn gạo năm 1967, ngoài số 100.000 tấn nhập cảng từ Thái Lan và 20.000 tấn từ Đài Loan. Đồng thời sẽ cấp 350.000 tấn phân bón. 

Ngày 22/3, Chánh phủ Pháp báo cho HK rõ: Pháp sẽ không dự hội nghị SEATO sắp họp tại Hoa Thịnh Đốn bàn về chiến sự tại VN. Ngày 27/3, chánh phủ Mỹ tuyên bố chấp thuận đề nghị 3 điểm mới của U-Thant về vấn đề VN: hưu chiến; hội đàm sơ khởi; triệu tập Hội nghị Genève. Ngày 27/3, BV bác bỏ đề nghị của U-Thant. Ngày 27/3, Tòa Bạch ốc hoan nghênh lời tuyên bố của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ về việc thương thuyết trực tiếp giữa VNCH và BV. Ngày 29/3, Bộ Ngoại giao VNCH đáp thư U-Thant về vẩn đề VN, đề nghị hai Bộ Tổng tư lịnh Bắc và Nam gặp nhau tại vùng Phi quân sự thảo luận về hưu chiến; rồi sau đỏ triệu tập luôn Hội nghị Genève, thay vì qua nhiều hộỉ nghị sơ bộ. Ngày 29/3, theo Bộ Quốc phòng Mỹ, trong 20 tháng qua, quân đội Mỹ đã xử dụng 837.000 tấn đạn so với chiến tranh Gao Ly, chỉ có 635.000 tấn. 

Ngày 1/4, Hoàng thân Souvana Phouma tuyên bố: tại Lào, có chừng 30.000 quân BV. U-Thant lại tuyên bố: HK nên đơn phương ngừng bắn để đi tới nghị hòa, vì HK là đại cường quốc có thể quyết định như thế mà không ngại quá nhiều nguy hiểm. Ngày 3/4, Bộ trưởng McNamara tuyên bổ trước Thượng nghị viện: chưa cần oanh tạc các phi trường BV, vì Mỹ không muốn mở rộng chiến tranh. 147 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu các kho tiếp liệu gần Vinh, Thanh Hỏa, Điện Biên Phủ và các đoàn quân xa. 497 phi vụ oanh tạc ở miền Nam VN. Ngày 6/4, theo giới quân sự Mỹ, 2 sư đoàn BV 324-B và 341 đã tràn vào Quảng Trị. Ngày 6/4, Tướng Creightt Abrams được cử làm phụ tá cho tướng Westmoreland, Tổng tư lịnh HK tại VN. Ngày 8/4, Phạm Văn Đồng tuyên bố: BV chuẩn bị chiến đấu10 năm nếu cần để chống Mỹ và giành độc lập. Ngày 8/4, quân số Mỹ tăng thêm 8.000, nâng tổng số 438.000. 

Ngày 13/4, cựu Phó Tống thống HK Richard Nixon lại qua thăm VN 4 ngày. Ngày 14/4, theo Bộ Quốc phòng, số quân nhân VNCH tử thương từ 1961 đến 1967 là 47.000. Phía HK: 10.800 không kể 52.946 bị thương. Ngày 15/4, chừng 200.000 người biểu tình trước tru sở Liên hiệp Quốc tại Nữu Ước đề cao hòa bình và chống chiến tranh tại VN. Hướng dẫn: Mục sư da đen Martin Luther King. Đồng thời, nhiều nhóm biểu tình ủng hộ chánh sách Johnson và quân đội Mỹ tại VN. 50.000 người cũng biểu tình phản chiến tại San-Francisco. Ngày 16/4, Bộ Quốc phòng HK không chịu bình luận về tin đồn lập một hàng rào 32 cây số ở khu Phi quân sự hầu ngăn chặn sự xâm nhập của BV. Ngày 19/4, Tướng Westmoreland cho biết: BV vẫn cho nhiều quân xâm nhập vào vùng Phi quân sự qua Lào, và trong các tháng tới, sẽ mở nhiều trận đánh lớn. Có 100 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu trại quân Xuân Mai, Hà Đông. Không chiến kịch liệt 1 Mig-17 bị hạ.

Ngày 20/4, Hội nghị Liên phòng Đông Nam Á họp tại Hoa Thịnh Đốn thông cáo: ủng hộ chánh sảch tìm hòa bình tại VN, tăng cường viện trợ cho VN. Ngày 20/4, theo Bộ Quốc phòng Mỹ, trong 2 năm qua, phi cơ Mỹ đã phá hủy 12.000 quân xa, 3.000 toa xe lửa, 500 cây cầu tại BV.Ngày 21/4, BV chánh thức bác bỏ đề nghị rút khỏi vùng Phi quân sự 16 cây số. Ngày 25/4, Đại sứ Cabot-Lodge rời khỏi VN, về Hoa Thịnh Đổn nhận chức Đại sứ lưu động. Ngày 26/4, một số Thượng nghị sĩ Mỹ công kích sự leo thang chiến tranh. Tướng Westmoreland cảnh cáo rẳng những cuộc biều tình phản chiến ở Mỹ chỉ khuyển khích đối phương cự tuyệt hòa đàm. Đại sứ Cabot-Lodge cũng tuyên bố, các cuộc biểu tình sẽ kéo dài chiến tranh. Ngày 26/4, theo hãng Associated Press, trong tháng 3/1967, HK đã dội 77.000 tấn bom xuống Bắc và Nam VN so với trong Thế chiến II tại Âu 80.000 tấn mỗi tháng, chống Nhật ở Thái bình Dương 29.000 tẩn , chống Cộng sản Triều Tiên 17.000 tấn ở giai đoạn kịch liệt nhất. 

Ngày 27/4, Tướng Westmoreland xin tăng quân. Hiện tổng số quân Mỹ tại VN là 438.000 người, gồm 282.000 Lục quân, 95.000 TQLC, 55.000 Không quân, và 26.000 Hải quân. Ngày 28/4, Tướng Westmoreland trình bày với Quốc hội HK về sự tiến triển quân sự tại VN: Năm 1965: Địch thiệt 36.000 người. Đồng minh: 12.000. Hơn 11.000 VC hồi chánh. Năm 1966: 20.000 VC hồi chánh. Sổ võ khí do VC mất tăng 2,5 lần. Năm 1965. VN có 3 phi trường phản lực. Năm 1966: 14 phi trưởng. Số tiểu đoàn tác chiến VN từ 30 tăng lên 154. Ngày 29/4, theo tướng Westmoreland, quân đội Mỹ tại VN sẽ được đưa lên số 470.000 từ nay đến cuổi năm. Các giới quân sự Mỹ chờ đợi những cuộc tấn công qui mô của BV gần vùng Phi quân sự. Trời nỏng lắm, tân Đại sứ Mỹ Bunker tuyên bổ như vậy khi được cảc báo phỏng vấn về tình hình, trong một buỗi tiếp tân.    

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1967Ngày 1/3, Kịch chiến tại biên giởi Mên Việt, cách Tây Ninh 29 cây sổ về Tây Bắc, hạ 150 VC. Trong đêm qua, các căn cứ trọng pháo Mỹ tại Gio Linh, Quảng Trị đồng loạt bị pháo kích dữ dội tới 475 lần. Hơn 56 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu cơ sở quân sự Chi Nô. Ngày 2/3, một căn cứ trọng pháo Mỹ gần khu Phi quân sự lại bị tấn công bằng 180 đạn đại bác. Có 92 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 3/3, hành quân Prairie II giao chiến kịch liệt tại Quảng Trị, 139 BV tử-thương. Làng Trung Lương cách tỉnh lỵ Mỹ Tho 8 cây số, bị pháo kích lầm: 5 thường dân chết, 24 bị thương. Có 79 phi vu oanh tạc BV. Ngày 5/3, theo Bộ Quốc phòng, trong ngày hôm nay, có 36 cuộc hành quân của các lực lượng VN. Không quân thực hiện 236 phi xuất, Hải quân 24 hải xuẩt, 497 ghe bị khám xét. Kết thúc hành quân Bạch Mã I của quân Đại Hàn từ 29-1 tại Khánh Hòa: hạ 393 VC, thu 271 súng cá nhân và 34 súng cộng đồng. Có 69 phi vụ oanh-tạc BV, mục tiêu kho dầu Đồ Sơn. 

Ngày 6/3, Phi trường Chu Lai bị pháo kích: 7 binh sĩ Mỹ bị thương và một số phi cơ bị hư hại. Ngày 6/3, hơn 48 phi vụ oanh tạc BV, trời xấu. Ngày 7/3, trong đêm qua, trại Carrol của Mỹ cách Quảng Trị 30 cây số, bị pháo kích 3 lần bằng 285 trái đạn súng cối 82 ly: 6 quân nhân Mỹ tử thương, 15 bị thương. Ngày 8/3, B-52 dội bom xuổng nhiều địa điểm ở Phưởc Tuy, Thừa Thiên, Kontum và Bình Định. Có 68 phi vụ oanh tạc BV, 364 phi vụ oanh tạc tại miền Nam. Các chiến hạm Mỹ tiếp tục bắn phá các căn cứ pháo binh và nhiều cơ sở gần Vinh. Ngày 10/3, có 60 phi tuần hải quân Mỹ oanh lạc nhà máy điện và Kho đạn Hòn Gay. Và, 200 máy bay khác từ 3 hàng không mẫu hạm Kitty Hawk, Bonhomme Richard và Ticonderoga. Khu thép Thái Nguyên bị dội bom và bốc cháy, 2 Mig-17 BV bị hạ và 1 bi hư hại. Tại miền Nam, cũng có trên 390 phi vụ, không kê các vụ can thiệp của B-52 yểm trợ cảc cuộc hành-quân. 

Ngày 11/3, hành quân Junction City tại Chiến khu C, gần Tây Ninh, kịch chiến suốt ngày, từ đêm qua hạ 225 VC. Tổng số VC thiệt mạng đến nay là 744. Có 83 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Bắc Giang kho đạn Cam Ly ở Hải Phòng. Ngày 12/3, có 128 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Việt Trì, nhà ga Vinh. Các chiến hạm Mỹ oanh tạc nhiều căn cứ hải quân BV gần Đồng Hới và Vinh. Ngày 13/3, có 92 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/3, kịch chiến suốt đêm qua gần Kontum, một đơn vị Mỹ bị thiệt hại khá nặng. Có 116 phi vụ oanh-tạc BV. Nhiều thuyền bị đánh đắm. Ngày 15/3, Tỉnh lỵ Chương Thiện bị pháo kích. Tòa Hành chánh và một số nhà khác bị hư hại nặng. Có 91 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/3, có 78 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu kho đạn gần Đồng Hới, nhà máy điện Bắc Giang. Ngày 17/3, kịch chiến quanh ngọn đòi 86 tại Tuy Hòa, 28 VC bị hạ. Có 77 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu đoàn xe lửa gần đèo Mụ Gia.

Ngày 18/3, kết thúc hành quân Prairie II tại tuyến Quảng Trị. Kết quả 639 VC bị hạ, bắt 308, thu 114 võ khí cá nhân và 23 súng cộng đồng. Mỹ 93 chết, 483 bị thương. Tiếp tục hành quân Prairie III cũng tại tuyến đầu Quảng Trị. Ngày 19/3, diễn biến hành quân Junction City vào Chiến khu C, Tây Ninh kịch chiến tại Lại Khê 254 VC bị hạ. Phía Mỹ 3 trực thăng bị bắn rơi, và 13 chiến khác bị hư hại. Đoàn người nhái mò được ở bờ biền Khê Mang (Quảng Ngãi) nơi thuyền võ khí BV bị đánh chìm 1 đại bác 57 và 1.200 súng trường bán tự động còn mới của Nga Sô. Trong ngày có 52 phi vụ oanh tạc, mục tiêu nhà máy điện Việt Trì và Thái Nguyên, và kho đạn gần Đồng Hới. Ngày 20/3, kết quả hành quân Junction City tới hôm nay 1.117 VC bị hạ. Phía Mỹ: 143 tử thương, 659 bị thương. Ngày 21/3, khu trọng pháo Mỹ tại Gio Linh (Quảng Tri) bị pháo kích đêm qua bằng 720 đạn súng cối và phi đạn. Có 51 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy thép Thái Nguyên. 

Ngày 22/3, kết quả trận đánh 6 giờ liền ngày hôm qua tại Tây Ninh trong khuôn khổ hành quân Junction City, 596 VC tử thương. Phía Mỹ: 31 chết, 109 bị thương. Có 62 phi vụ oanh tạc BV. Kết quả hành quân Jack Kyo của sư đoàn Mãnh Hổ và Bạch Mã Đại Hàn mở từ 8-3-67 giữa Sông Cầu và Tuy Hòa, 149 VC tử thương, 150 bị bắt với 144 võ khí. Hơn 3.000 nông dân được giải phóng. Ngày 22/3, có 80 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Thái Nguyên, trại quân Chi Nê.Ngày 24/3, có 94 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Bắc Giang, cầu, đường, xe lửa gần Vinh, Thanh Hóa, đèo Mụ Gia. Ngày 26/3, Có 98 phi vụ oanh tạc trên BV. Các vùng phụ cận Hà Nội bị oanh tạc dữ dội, song phi cơ Mỹ không bay qua thành phố. Ngày 27/3, kịch chiến tại vùng Phi quân sự từ 25-3-67: 400 BV tử thương. Có 107 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu các kho dầu và dàn hỏa tiễn SAM gần Hải Phòng. 

Ngày 27/3, có 124 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/3, có 108 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 31/3, có 101 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/4, chấm dứt hành-quần Beacon Hill từ 20-3-67 tại Quảng Trị, 331 quân BV tử thương. Phía Mỹ: 36 chết và 220 bị thương. Có 98 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà ga Vinh. Ngày 2/4, có 108 phi vụ oanh tạc BV. Khánh thành phi đạo phản lực Phù Cát cách Qui Nhơn 30 cây số về phía Tây Bắc. Ngày 4/4, có 70 phi vụ oanh tạc BV, 436 phi xuất yểm trợ các cuộc hành quân tại miền Nam. Và, 2.110 phi xuất trực thăng tải quân và 680 tấn quân nhu đạn dược. Ngày 5/4, kết thúc hành quân Sam Houston từ 1-1-67 tại Pleiku: 733 VC bị hạ, Phía Mỹ: 172 chết, và 767 bị thương. Tiếp cuộc hành quân Sam Houston là hành quân Francis Marion bắt đầu cũng tại Pleiku. B-52 dội bom hai lần quanh đồn A Sao, Thừa Thiên gần biên giới Lào Việt. Có 67 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Bắc Giang.

Ngày 6/4, đêm qua, tỉnh lỵ Quảng Trị bị pháo kích kịch liệt. Một số cơ sở bị phá hủy, nhiều tù binh BV thoát khỏi nhà lao. Có 80 phi vụ oanh tạc BV, phá huỷ 2 dàn hỏa tiễn SAM gần Hải Phòng. Ngày 7/4, tại vùng Phi quân sự, trước 2 sư đoàn BV, quân Mỹ có 13.000, vài chục đại bác 175, với 225 phi cơ. VNCH có 17 tiểu đoàn (Vùng I có 31 tiểu đoàn). Chấm dứt hành quân De Soto từ 26-1-67 tại Quảng Ngãi, 383 VC bị hạ, 222 bị bắt, thu 28 võ khí và 100 tấn gạo. Phía Mỹ: 69 chết, 556 bị thương. Có 102 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy thép Thái Nguyên, và 434 phi vụ yểm trợ hành quân tại miền Nam. B-52 dội bom 4 lần: Quảng Trị, Tây Ninh, Long An. Ngày 8/4, có 103 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/4, có 96 phi vụ oanh tạc BV. Nhà máy thép Thái Nguyên lại bị dội bom. Ngày 10/4, hành quân Enterprise từ 13-2-67 tại Long An, kịch chiến gần Tân An, 209 VC tử thương. Phía Mỹ: 16 bị thương. 

Ngày 11/4, kết thúc hành quân Enterprise tại Long An: 651 VC tử thương, thu 36 vũ khí cá nhân và 2 súng cộng đồng. Có 78 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 12/4, hành quân Dân Chí 285/SĐ mở tại Chương Thiện: hơn 10.000 quân VNCH tấn công 1 trung đoàn VC. Có 82 phi vụ oanh tạc BV, 334 phi xuất của Không quân, 28 hải vụ của Hải quân VNCH, 113 giang-vụ. Ngày 13/4, theo giới quân sự Mỹ, từ 27-2-67, hải quân Mỹ được phép bắn phá BV, mỗi ngày bắn chừng 1.000 đạn đại bác nhưng không được vượt quá vĩ tuyến 20. Có 72 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/4, kết thúc hành quân Dân Chí 285/B đánh vào 1 trung đoàn VC tại Chương Thiện: 230 VC tử thương, thu một só võ khí. Có 103 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/4, có 84 phi vụ oanh-tạc BV, mục tiêu kho vật liệu Hải Phòng. Ngày 16/4, có 96 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 17/4, chấm dứt đợt II hành quân Junction City, và mở đợt III tại Tây Ninh. Hành quân Lam Sơn 142/GĐ3 tại Thừa Thiên, 51 VC bị hạ, thu 16 súng. 12 giờ đêm nay, bản doanh Lực lượng hành quân II của Mỹ cách Biên Hòa 6 cây sổ, bị pháo kích 4 binh sĩ Mỹ chết, 20 bị thương. 57 phi vụ oanh tạc BV. Trời xấu. Ngày 18/4, Kết thúc hành quân mở đường Tuy Hòa - Qui Nhơn của các đơn vị Đại Hàn thuộc 2 sư đoàn Mãnh Hổ và Bạch Mã. Cầu Nam Ô trên quốc lộ 1 gần Đà Nẵng bị phá hoại đêm 13-4-67, đã được Công  binh Mỹ chữa xong. Có 167 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy thép Thái Nguyên. B-52 vẫn dội hom hàng ngày các trại quân VC ở Biên Hòa và Quảng Trị. Ngày 22/4, nhiều đơn vị TQLC Mỹ lại đổ bộ lên vùng Phi quân sự. Số phi cơ Mỹ bị bắn rớt ở BV là 507, và ở miền Nam 170. Số trực thăng bị rớt vì mọi lý do 908, chỉ có 5 ở BV. Hơn 110 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu trại quân ở đảo Cát Bà, Hải Phòng, và một đoàn toa xe lửa ở Bắc Lệ gần Hà Nội. 

Ngày 23/4, có 96 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy thép Thái Nguyên. Ngày 24/4, các phi trường Kép và Hòa Lạc có chừng 30 Mig bị dội bom. Ngày 25/4, có 88 phi vụ ở BV, mục tiêu khu Gia Lâm, ga Hon Gay, ga Việt Trì, và nhà máy xi măng Hải Phòng. Ngày 26/4, một đơn vị Mỹ bị phục kích tại một địa điểm gần Khe Sanh. Viện binh để cứu 22 quân tử thương, và 43 bị thương. Ngày 27/4, vẫn kịch chiến gần Khe Sanh suốt đêm qua. 21 BV tử thương. Các trại quân Việt Mỹ tại Gio Linh, Quảng Trị bị pháo kích bằng đại bác 105. Ngày 27/4, có 84 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu cầu sông Đuống, nhà máy biến điện Hà Nội, nhà ga Hòn Gay 4 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. B-52 vẫn dội bom hàng ngày tại miền Nam. Ngày 28/4, có 98 phi vụ oanh-tạc BV, mục tiêu cầu sông Đuống và nhà ga xe lửa Gia Lâm. 2 Mig-17 bị hạ. Tại Hà Nội đêm nay báo động 3 lần. Ngày 30/4, có 133 phi vu oanh tạc BV, mục tiêu các ga Hà Gia, Việt Trì, và Phi trường Bái Thượng. 3 Mig-17 bị hạ. Hà Nội lai 3 lần báo động.  

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1967. Ngày 1/3, Đài Loan nhận bán 20.000 tấn gạo cho VN, 175 đô la Mỹ mỗi tấn. Ngày 4/3, chừng 10.000 học sinh Sài Gòn họp mết tinh tại sân vận động Hoa Lư và biểu tình tuần hành chống De Gaulle, chống chánh phủ lưu vong và ngụy hòa. Ngày 5/3, theo Bộ Xã-hội, số nạn nhân vu lụt miền Tây năm 1966, là 520.393 trong đó 421.535 được cứu trợ; 151.073 căn nhà bị hư hại. Ngày 7/3, dân chúng Sài Gòn xôn xao về giá gạo lên quá cao, Bộ Thương mại cho biết 50.000 tấn gạo nhập cảng đã cập bến. Ngày 9/3, theo Thỉếu tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lịnh Vùng I, hiện tại vùng này có 4 Sư đoàn BV hoạt động: SĐ 224-B7, SĐ 341, SĐ 2, SĐ 325 tức Sao Vàng. Ngày 11/3, theo Tổng giám đốc Điện lực VN, tại Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa chỉ có 89.000/154.000 nhà có đồng hồ điện. 

Ngày 13/3, Tổng cuộc Tiếp tế bắt đầu bán gạo nhập cảng 16$ một lít, 729$ mỗi bao 45 kí cho dân chúng Đô thành. Giá gạo thị trường: Gạo ngon: 3.900$/100 kg, Gạo số 1, 15% tấm.  2.800$/100 kg; Gạo số 1, 25% tấm. Gạo Mỹ chà lại. Gạo Mỹ nguyên chất 800$/46 kg. Ngày 16/3, trong thông điệp gửi Quốc hội về dự án Hiến pháp, của UBLĐQG nhận định: thiếu thăng bằng, Lập pháp muốn lấn át Hành pháp; Công nhân tham gia quản trị xí nghiệp không thể là một quyền đáng ghi vào Hiến pháp; Quyền khuyến cáo giải nhiệm chánh phủ và quyền chất vấn sẽ đưa tới chế độ đại nghị; Cử Tỉnh trưởng phải là quyền của Hành pháp; Tối cao Pháp viện phải do cử tri đoàn Tư pháp cử; Giám sát viện không thể là một siêu cơ quan; Giải tán chánh đảng phải thuộc quyền Hành pháp; Phải rút ngắn xuống từ 3 đến 6 tháng thời kỳ chuyên tiếp; Quốc hội không thề biến thành Lập pháp ở lại 18 tháng. Quốc hội Lập hiến nhất định duy trì các điều khoản dự án Hiển pháp, không sửa đổi theo các đề nghị của UBLĐQG. 

Ngày 18/3, Thống đốc Ngân hàng Quốc-gia, Nguyễn Hữu Hanh được cử làm Tổng Uỷ viên Kinh tế và Tài chánh. Quốc hội Lập hiến họp phiên khoáng đại, chấp thuận dự án Hiến pháp, với 102/117 phiếu Dân biểu dự họp. Ngày 19/3, Hội đồng Nội các và UBLĐQG nhóm họp, quyết định chấp thuận trên nguyên tắc bản dự án Hiến pháp vùa được Quốc hội biểu quyết. Ngày 20/3, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ cùng phái đoàn VNCH tới Guam tham dự hội nghị quân sự với Tổng thống Johnson. Theo McNamara, hội nghị Guam không bàn về sự leo thang chiến tranh. Ngày 24/3, Bản dự án Hiến pháp đưọc Chủ tịch Quốc hội Phan Khắc Sửu trao cho Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tại dinh Độc Lập. Ngày 25/3, tổng số sinh viên toàn quốc: 33.035 người gồm: 26.557 tại Sài Gòn, 3.001 tại Huế, 1.303 tại Đà Lạt, 1.226 tại Đại học tư thục Vạn Hạnh, 948 tại Cần Thơ. 

Ngày 25/3, theo Bộ Tâm lý chiến và Chiêu hồi, tới nay có 7.474 VC trở về nhân dịp mở Chiến dịch Xuân đoàn-tụ. Có 12 vụ đụng độ trên cấp đại đội hay tiểu đoàn tại vùng Phi quân sự. Ngày 27/3, Đại hội đồng Quân lực nhóm họp tại Bộ Tổng tham mưu, chấp nhận dự án Hiến pháp do Quổc hội biểu quyết ngày 18-3-67, và sẽ ban hành vào ngày 1-4-67. Sẽ bầu cử Tổng thống và Thượng viện ngày 1-9-67, Hạ viện ngày 1-10-67; đồng thời xác nhận tin nhiệm UBLĐQG cùng UBHPTƯ. Ngày 30/3, các ngày bầu cử được xác nhận: Tổng thống và Thượng nghịviện: 1-9-67; Hạ nghị viện: 1-10-67 (S. luật, 008/67). Ngày 1/4, Hiến pháp được ban hành long trọng tại dinh Độc Lập. Ngày 2/4, bầu cử Hội đồng Xã tại 220 xã, 85% cử tri đi bỏ phiếu. Sẽ tiếp tục bầu trong tất cả cảc xã có an ninh (1.264 trên 2.526 xã). Ngày 7/4, Chánh phủ VNCH quyết định ngừng bắn 24 giờ nhân ngày Phật đản 23-5-67 bắt đầu từ 0 giờ. 

Ngày 9/4, tổ chức bầu cử trong 252 xã, trên 81% cử-tri đi bỏ phiếu. Ngày 14/4, Tổng cuộc Tiếp tế bán xi-măng với giá chánh thức 250$ mỗi bao (giá thị trường 350$/400$). Giáo sư Lê Danh tức Kiêm Ái bị Tòa án Quân sự Sài Gòn phạt 5 năm khổ sai vì hoạt động cho VC. Ngày 14/4, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: không có vấn đề rút khỏi Quảng Trị, song 20.000 thường dân phải di chuyển đến các vùng an ninh đề tránh chiến tranh, theo một chương-trình của Bộ Xây-dựng (165 triệu đồng). Ngày 15/4, theo Bộ Giáo dục, Hải học viện Nha Trang sẽ được quốc tế hóa và đặt thuộc quyền xử dụng của South East Asian Ministers of Education (SEAMS). Ngày 16/4, bầu cử Hội đồng Xã, đợt 3, tại 244 xã. Ngày 19/4, Hơn 5 xã thuộc các quận Trung Lương vùng Phi quân sự và quận Gio Linh, với 23.700 dân được di chuyễn xuống gần quận lỵ Cam Lộ cách tỉnh lỵ Quảng Trị 20 cây số. 

Ngày 20/4, nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương (11 thảng 3 Đinh- Mùi) chánh phủ VNCH tuyên bố chánh sách Đại đoàn kết theo ba nguyên lý Dân tộc, Dân hòa và Dân tiến. Người hồi chánh được hưỏng mọi quyền lợi như các công dân khác. Ngày 22/4, có 5 giáo sư đại học Huế bị giải chức hoặc chấm dứt khế ước vì liên can đến các vụ biến cố miền Trung 1966. Ngày 23/4, bầu cử Hội đồng Xã, đợt IV, tại 185 xã. Ngày 26/4, sau 4 lượt bầu cử, 900 xã đã có Hội đồng. Ngày 28/4, cháy lớn tại kho Tiếp liệu Bộ Y tế đưòng Tô Hiến Thành, Sài Gòn. Thiệt hại 100 triệu bạc. Ngày 30/4, bầu cử 84 Hội đồng Xã đợt V. Tổng số xã có Hội đồng đã lên tởi 984. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1967. Ngày 31/3, Khối Công dân Công giáo biểu tình trước Quốc hội và phủ Chủ tịch, phản đối sự loại bỏ Đấng Tối cao ở phần mở đầu Hiến pháp. Ngày 4/4, Hội đồng Tôn giáo gồm: Công giáo, Cao đài, Hòa hảo, Tổng giáo hội Phật giáo quyết nghị: Hiến pháp VNCH phải biều lộ tín ngưỡng và xác nhận có Đấng Tối cao. Ngày 5/4, có 10 Dân biểu Quốc hội và 19 đại diện các tôn giáo họp kín đề bàn về vấn đề sửa đổi đoạn đầu Hiến pháp, và danh từ Đấng Tối cao cần được giữ trong bản văn Hiến pháp. Ngày 10/4, Quốc hội Lập hiến với 51 Dân biểu bỏ phiếu thuận ra bản Tuyên ngôn thừa nhận Hiến pháp VNCH có tính cách hữu thần, và tỏ lòng tin tưởng vào “Đấng Thiêng liêng” thay vì “Đấng Tối cao”.    

Sydney ngày 9 tháng 4 năm 2024

 

Bài 101: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 5-6/67. 

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1967. Ngày 4/5, Tòa án Russell nhóm phiên họp đầu tiên tại Stockholm, J.-P. Sartre chủ tọa, 17 nhân vật và 200 ký giả tham gia. Ngày 8/5/, Tổng thống Johnson phản đối việc Thụy Điển để cho tòa án Russell nhóm họp tại Stockholm. Thủ tướng Thụy Điển cho rằng luật lệ xứ ông không cho phép chính quyền ngăn cấm. Ngày 10/5, U-Thant xác nhận: cần chấm dứt oanh tạc BV mới có thể nói chuyện hòa bình, dù BV có tiếp tục xâm nhập miền Nam thì cũng còn ít nguy hại hon sự leo thang chiến tranh hiện nay. Ngày 11/5, kể từ nay, Tướng Westmoreland được quyền kiểm soát cả công cuộc phát triển nông thôn tại VN. Ngày 19/5/, theo Bộ Ngoại giao Mỹ: quân đội Việt-Mỹ chỉ tiến vào vùng Phi quân sự lần thứ nhất, và với mục đích tự vệ phòng thủ. Không có sự leo thang chiến tranh và xâm lăng BV. Ngày 22/5, Tổng thống Johnson lại kêu gọi thương thuyết để chấm dứt chiến tranh tại VN, nhưng xác nhận rằng HK sẽ tiếp tục chống xâm lăng tại xứ này. 

Ngày 4/6, theo báo Newsweek, HK sẽ ngưng oanh tạc BV, vì không còn mấy mục tiêu quan trọng và để thử thách nhà cầm quyền miền Bắc về phương diện nghị hòa. Ngày 7/6, các hàng không mẫu hạm Mỹ Intrepid và Forrestal sang VN tham chiến. Ngày 16/6, theo bộ Quốc phòng Mỹ, số quân nhân Mỹ bị bắt giữ tại BV là 458 trong đó 354 là phi công. Cùng ngày 16/6, Cơ quan Nguyên tử Quốc tế chấp thuận cấp nhiên liệu nguyên tử cho Trung tâm Nguyên tử Đà Lạt. Ngày 21/6, theo Bộ Tư lịnh Không quân Mỹ, trong 2 năm qua pháo đài bay B-52 đã oanh tạc 11.000 lần, trung bình mỗi ngày 4 lần, số bom đã ném tới 200.000 tấn. Hôm nay có 133 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 22/6, theo Bộ Quốc phòng HK tổng số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV là 589 chiếc. Ngày 29/6, tới hôm nay, kể từ 1955, số thiệt hại của HK là 12.269 quân nhân tử thương và 87.773 bị thương tại VN.   

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1967Ngày 1/5/, kịch chiến tiếp tục tại Khe Sanh, Quảng Trị. Kịch chiển gần Pleiku. Một đồn Mỹ gần Tân An, bị tấn công 16 Mỹ tử thương, 30 bị thương. 93 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu phi trường Kép, Hòa Lạc, nhà máy thép Thải Nguyên, ga xe lửa Nam Định… 11 Migs BV bị  bắn rớt hoặc hỏng trong cuộc không chiến. Ngày 2/5/, kịch chiến tại Khe Sanh. TQLC Mỹ chiếm được các ngọn đồi 881 và 861 do BV chiếm giữ. Giao tranh kịch liệt giữa nhiều đơn vị Mỹ và Tiểu đoàn 514 VC tại Ấp Bắc và Bàng Long, cách Mỹ Tho 19 cây sổ về Tây Bắc. Có 104 phi vụ oanh tạc BV. Nhiều ga và đường hỏa xa bị phá-hủy. Ngày 3/5, kịch chiến từ 4 giờ sáng và suổt ngày quanh Khe Sanh. Tới hôm nay, quân BV có 512 tử thương. Phía Mỹ 123 chết, 300 bị thương. Hành quân Cửu Long 61 cách Cai Lậy 7 cây số hạ 72 VC, bắt 10, thu một số súng. Hơn 100 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu phi trường Hòa Lạc, trại quân Chi Nê, từ 4 đến 6 Mig bị phá hủy. 

Ngày 4/5/, hành quân Lam Sơn 48 cách Huế 8 cây sổ về phía Đông. Có 63 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy biến điện gần Hà Nội, vị trí hoả tiễn SAM gần Thanh Hóa. Một Mig-21 BV bị Phantom Mỹ bắn rớt. Ngày 5/5, Ác chiến tiếp tục tại Khe Sanh. B-52 dội bom 3 lần. TQLG Mỹ chiếm trọn ngọn đồi 881 cách Khe Sanh 11 cây số về Tây Bắc. Kết thúc hành quân Lam Sơn 48 gần Huế, 107 VC bị hạ, thu 28 súng. Có 97 phi vụ oanh lạc BV, mục tiêu khu Nam Hà Nội, ga xe lửa Yên Viên, kho đạn Thanh Hóa, và chuyến xe lửa chở hỏa tiễn SAM gần Đồng Hới, 3 phản lực F-105 Mỹ bị bắn rớt.Ngày 6/5/, trên 56 phi vụ oanh tạc BV. Trời xấu. Tống số phi cơ Mỹ bị rớt trên BV 534, và ở miền Nam 173. Ngày 7/5/67, vẫn kịch chiến ở Khe Sanh và vùng phụ cận. B-52 dội bom 3 lần. Căn cứ Việt Mỹ Cồn Tiên, Quảng Trị bị tấn công bởi 2 tiểu đoàn (K2 và K4) thuộc Trung đoàn 820. Sau 1 gỉờ giao tranh, 238 BV tử thương, 7 bị bắt, 212 súng bị tịch thu. Có 113 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 8/5/, từ 3 giờ sáng đến 11 giờ lực lượng Mỹ tại ngọn đồi 158 cách Đồng Hà 15 cây số, bị pháo kích và tấn công ồ ạt, nhưng bị đẩy lui, 197 BV tử thương, 115 súng bị tịch thu. Phía Mỹ: 44 chết, 110 bị thương. Có 121 phi vụ oanh tạc BV. Phi trường Hòa Lạc bị dội bom lần thứ năm. Ngày 9/5, kịch chiến tiếp tục ở Khe Sanh. B-52 vẫn tới dội bom. Hành quân lục soát quanh vùng phát hiện một hầm chứa 203 xác quân BV cách Khe Sanh 14 cây số về Tây Bắc. Ngày 10/5/, có 116 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu nhà máy điện Bắc Giang, Hải Phòng và trường bay Kiến An. Ngày 12/5/, có 136 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu khu kỹ nghệ Hà Đông, 1 Mig-17 BV bị phi cơ Mỹ bắn hạ trên khu vực Hà Nội, và 1 F-4 Mỹ bị Mig BV bắn rớt. Ngày 13/5, phi trường Biên Hòa bị pháo kích bằng 125 trái đạn cở lớn. Phi trường Phước Vinh cũng bị pháo kích. Kết quả hoạt động quân sự trong tuần qua: quân đội VNCH mở 62 cuộc hành quân, không quân yểm trợ 2.028 phi xuất, và 1.842 hải xuất. Có 121 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 14/5, rồi 12 giờ khuya, VC đột kích một đơn vị  hỏa tiễn Hawk của Mỹ cách Đà Nẵng 8 cây số 36 hỏa tiễn bị hư hại. Chấm dứt hành quân Junction City tại vùng Tây Ninh mở từ 22-2 và hành quân Asia-Moana tại Hậu Nghĩa mở từ 5-2. Kết quả, hạ 3.110 VC, thu 584 võ khí cá nhân và 105 cộng đồng. Phía Mỹ: 319 chết, 1.734 bị thương. Ngày 15/5, hành quân Lam Sơn 57 tại Đông An Lỗ,Thừa Thiên. Hành quân Việt Mỹ Cửu Long 62/2 tại vùng Cầm Sơn, Định Tường. Có 99 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/5, giao tranh liên tiểp ở cấp đại đội quanh căn cứ Cồn Tiên, Quảng Trị. Có 137 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/5, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân hỗn hợp với hơn 15.000 quân tham chiến: hành quân Hickory Nut, của TQLC, hành quân Bean Charger của bộ binh Mỹ, và hành quân Lam Sơn 54 của Sư đoàn I BB Việt vào vùng Phi quân sự tấn công 3 trung đoàn BV. Nhiều căn cứ Mỹ tại Đồng Hà và Gio Linh, Quảng Trị bị pháo kích dữ dội bằng hỏa tiễn 140 ly và đại bác 122 ly. 

Ngày 19/5, kết quả đầu tiên các cuộc hành quân vào vùng Phi quân sự: 200 BV tử thương, 16 bị bắt, 6.000 thường dân được di chuyền tới vùng an ninh. Ngày 19/5/, theo bộ Quốc phòng Mỹ, có 552 phi cơ và 5 trực thăng Mỹ bị bắn rớt tại BV, 179 phi cơ và 320 trực thăng bị bắn rớt tại miền Nam. Hôm nay có 131 phi vụ oanh tạc BV. Hệ thống phòng không tại khu vực Hà Nội - Hải Phòng chừng 6.000 căn cứ. Ngày 20/5, tổng số tổn thất tại các mặt trận vùng Phi quân sự, tới nay lên tới 548 quân BV tử thương. Phía Mỹ 59 chết, 415 bị thương. Phía VNCH chưa rõ. Giao tranh lớn giữa lực lượng Mỹ và nhiều đơn vị VC gần Đức Phổ, Quảng Ngãi. Có 117 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/5, chấm dứt 3 cuộc hành quân tại vùng Phi quân sự: hành quân Hickory Nut, hành quân Bean Charger và hành quân Lam Sơn 54. Các lực lượng Việt-Mỹ rút hết, cùng trên 10.000 dân đưa về phía Cam Lộ và Hà Thanh định cư. Hôm nay có 112 phi vụ oanh tạc BV.

Ngày 25/5, giao tranh kịch liệt suốt ngày trên ngọn đồi 117 gần Cồn Tiên. Kịch chiến trên đồi 512 phía Tây-Nam Pleiku. Có 92 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 26/5, hành quân Union II Việt-Mỹ tại Đồng Phước Cam, Tam Kỳ. Hành quân Dallas tại ranh giới Bình Dương - Biên Hòa. Có 99 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/5, hành quân Lam Sơn 60 phía Tây-Bắc Huế Thừa Thiên. Hành quân Thunder Dragon của TQLC Đại Hàn phía Bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Có 102 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/5, nhiều trận giao tranh quanh căn cứ Cồn Tiên, gần vùng Phi quân sự. Kết quả hành quân Hickory Nut tại vùng Phi quân sự và phụ cận 362 BV tử thương. Phía Mỹ chết 119, bị thương 817. Có120 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/5, khách sạn Hương Giang (Huế) bị đặt chất nổ hư hỏng 60%. Nhiều cơ sở quân sự và dân sự ở Huế bị pháo kích. Giao tranh kịch liệt gần Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Ngày 30/5, có 103 phi vụ oanh tạc BV. Theo Bộ Quổc phòng Mỹ, thì BV đã mất 44 phi cơ Mig, còn lại 82 chiếc. Ngày 31/5, tới nay lực lượng Đại Hàn lên tới 60.750 người thuộc các sư đoàn Mãnh Hổ, Bạch Mã, Lữ đoàn Thanh Long và Đoàn Bồ Câu, trong vùng Bình Định, Phú Yên, Ninh Hòa, và Bình Thuận. Có 112 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/6, một đại đội HK lại bị tấn công gần căn cứ Cồn Tiên. Có 127 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 2/6, hành quân Lam Sơn 63 về phía Đông-Bắc Quảng Trị. Ngày 3/6, chấm dứt giao tranh 2 ngày liền gần Tam Kỳ, Quảng Tín. Ngày 4/6, hôm nay có 98 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 5/6, có 113 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 6/6, có 88 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 7/6, có 112 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 8/6, lại kịch chiến quanh đồi 881, cách Khe Sanh 8 cây số. Có 110 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/6, chấm dứt hành quân Manhattan tại Bình Dương từ 24-4. Chấm dứt hành quân Malheur tại Đức Phổ, Quảng Ngãi. Có 99 phi vụ oanh tạc BV.

Ngày 10/6, Hành quân Cửu Long 65/12 tại Định Tường. Phi trường Vĩnh Long và tỉnh lỵ Chương Thiện bị pháo kích. Có 79 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 11/6, có 87 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 13/6, hành-quân Broken Hill của quân Úc tại Phước Tuy. Ngày 14/6, hành quân Dân Chí 209 tại quận Phong Điền, Phong Dinh. Có 125 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/6, hành quân Adair phía Tây-Bắc Tam Kỳ, Quảng Tín. Có 136 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/6, có 111 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/6, giao tranh kịch liệt từ phía Đông-Bắc Phước Long. Ngày 18/6, hành quân Phi Phụng 27 phía Tây-Nam Hội An. Có 130 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 19/6, Trung đoàn Thiết giáp 11 Mỹ, bị tấn công dữ dội gần Phưởc Lễ, Phước Tuy. Ngày 20/6, công binh Mỹ và BĐQ Việt Nam đang phá khu rừng Bời Lời mở đường tảo thanh một vùng 72 dặm vuông thuộc huyện Củ Chi. Kịch chiến tại Rạch Hui, Cần Đước. Kịch chiến gần Hội An, Quảng Nam. Có 122 phi vụ oanh tạc BV.

Ngày 21/6, giao tranh kịch liệt tại Phú Mỹ, Bình Định. Giao tranh kịch liệt tại phía Đông Nam, Quảng Ngãi. Hành quân Lam Sơn 70 tại Bắc Triệu Phong, Quảng Trị. Ngày 22/6, có 125 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/6, một đại đội BB Mỹ bị phục kích gần Dakto 80 chết, 34 bị thương. Ngày 24/6, tại Đức Lập, Pleiku 140 Thượng nhóm Fulro trở về với Chánh phủ. Một tiểu đoàn trưởng BV hồi chánh tại quận Tư Nghĩa, Quảng Ngãi. Ngày 25/6, hành quân Lam Sơn 72 tại Hương Thủy, Thừa Thiên. Hành quân Mỹ Calhoun tại Hội An, Quảng Nam. Có 153 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/6, hành quân cấp trung đoàn Mỹ-Việt, Intosh Joyce 7 tại Long Khảnh. Có 126 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/6, kịch chiến gần Khe Sanh, Quảng Trị. Các đơn vị Mỹ tại đây lại bị tấn công. Ngày 29/6, kịch chiến tại Phủ Mỹ, Bình Định. Có 152 phi vụ oanh tạc BV. 

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1967. Ngày 1/5/, giá chợ đen Mỹ kim xanh 153/155$, Mỹ kim Đỏ 117/118$, giá vàng 8.100$ một lượng. Ngày 2/5, Đại díện nhóm Thượng Fulro ký thông cáo chung với Phái đoàn Chánh phủ, xác nhận trở về hợp tác với Chánh phủ vì các nguyện vọng cải tiến đồng bào Thượng đã được thỏa mãn. Ngày 4/5/, hơn 122.418 người tị nạn được quân đội Đồng minh đưa về thị xã Tuy Hòa và vùng phụ cận; khoảng 85.000 sống trong các trại tiếp cư. Ngày 5/5/, thành lập một cơ quan gọi là “Chương trình Cam Ranh” (NĐ/1001/NB/HP/PC) trực thuộc phủ Chủ tịch với nhiệm vụ xây dựng thị xã và hải cảng này để khuếch trương kinh tế. Cùng ngày 5/5/, trên lãnh thổ VNCH, hiện có 19 đoàn Y tế quốc tế thuộc 12 quốc gia, với hơn 300 bác sĩ, và trên 1.000 người nhân viên. Ngày 6/5, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố tại Huế: các đảng phái quốc gia cần hợp thành một “Mặt trận Chống Cộng Duy nhẩt”; Rằng Chánh phủ sẽ không nhượng một tấc đất nào cho Cộng sản để tạo cơ hội thương thuyết.

Ngày 8/5, Đại tướng Cao Văn Viên tuyên bố: Quân lực VNCH sẽ không cử một quân nhân nào ra ứng cử Tổng thổng, vì quân lực không phải là đoàn thể chánh trị. Ngày 11/5/, Cảnh sát bắt giữ 1.000 kg thuốc phiện lậu chở từ Lào về trên một cam nhông tại đường Bạch Đằng, Gia Định. Ngày 12/5, trong cuộc họp báo tại Đà Lạt, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố sẽ ra ứng cử Tổng thống, và nếu sau này tướng Nguyễn Văn Thiệu cũng ra, thì có thể rút lui vì bao giờ cũng muổn nhường nhịn. Ngày 13/5/, theo Tổng cục Tiếp vận Quân đội, một Làng Quân đội sẽ được xây cất từ 2.000 đến 15.000 căn nhà tại xã Phước Long, Thủ Đức, với kinh phí 1.258.000.000$. Ngày 14/5/, bầu cử Trưởng ấp trong 1.000 ấp.Ngày 15/5, Tướng Đỗ Cao Trí được bổ Đại sứ tại Đại Hàn. Ngày 19/5/, tuyên bố của Giám đốc Báo chí Phủ Chủ tịch UBLDQG, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu sẽ tranh cử Tổng thống. 

Ngày 23/5, Lễ Phật đản các lực lượng Việt-Mỹ và Đồng minh ngưng bắn kẽ từ 0 giờ. Trong ngày hưu chiến, phi cơ Mỹ chỉ bay trên BV đề thám thính. Ngày 26/5, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ-tịch UBLDQG gửi thông điệp cho Quốc hội yêu cầu xét lại các điều khoản của dự luật bầu Tổng thống đòi hỏi ứng cử viên phải được 30 đại bỉểu nhân dân giới thiệu, và lui ngày bầu cử các Nghị viện. Ngày 26/5, một tổ chức trí vận VC vừa bị khám phá và một số trí thức thân Cộng bị bắt giam. Ngày 27/5, Bộ Thương mại ấn định giá gạo lúa chánh thức: gạo nội địa từ 2.000$ đến 2.800$ mỗi tạ cả bao; gạo Mỹ 1.500$, gạo Thái 2.100$. Lúa từ 210$ đến 240$ mỗi giạ 40 lít. Giá gạo trên thị trường: gạo số 1 với 15% tấm 2.500$. Nàng Hương 3.500$, Nanh Chồn 4.200$ mỗi tạ. Ngày 28/5, Bộ Ngoại giao VNCH nghiên cứu đề nghị của Chánh phủ Thái Lan về việc hồi hương 36.000 Việt kiều tại các tỉnh Bắc Thái. 

Ngày 30/5, khởi công xây cất 3.000 nhà (30.000$ mỗi căn) cho đồng bào bị lụt tại Kiên Giang, Kiến Tường, Châu Đốc, An Giang, Kiến Phong. Kinh phí 42 triệu. Ngày 1/6, Đại hội Không quân tại căn cứ Biên Hòa, tổng kết kể từ 1-7-66, Không quân VN đã thực hiện 175.980 phi xuất với 234.533 giờ bay, 20 phản lực F-105 được chuyền giao hôm nay. Ngày 3/6, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố nhân dịp phát phần thưởng cho học sinh Đà Lạt: sẽ trừng trị thẳng tay những ai định đem chính trị vào học đường. Ngày 5/6, Quốc hội Lập hiến hoãn họp về dự luật bầu cử Thượng viện vì chỉ có 54 dân biểu tới họp. Ngày 10/6, Ngân sách quốc gia được ấn định lại là 64,5 tỷ thay vi 55 tỷ về phần CHI, và 58,5 tỷ thay vì 38 tỷ về phần THU trong đó có 21,3 tỷ viện trợ Mỹ. (S-luật 021/67). Ngày 12/6, Chánh phủ VNCH phóng thích 40 tù binh BV, và VC tại Đông Hà. Quốc hội Lập hiến phúc nghị dự luật bầu cử, chấp thuận với 48 phiếu trên 90, việc bầu Tổng thống và Thượng nghị viện cùng một ngày. 

Ngày 13/6, trong 13.805 ấp toàn xứ, đã bầu được Trưởng ấp tại 4.476 ấp. Ngày 14/6, tại Huế, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, tuyên bố sẽ ra ứng cử Tổng thống, và theo ông, sự tranh cử giữa hai Liên danh quân nhân không hại gì cho tình đoàn kết quân đội. Ngày 15/6, Ban hành luật bầu cử Tống thống và Thượng nghị viện (Luật 001/67 và luật 002/67). Ngày 16/6, theo Tổng vụ Giáo dục Phật giáo, tới nay cỏ 112 trường Bồ Đề trung học, và tiểu học với 400 giảo viên và 80.000 học sinh. Ngày 22/6, kỷ niệm đệ tam chu niên Viện trợ Quốc tế, ngày 37 nước của thế giới tự do đã viện trợ cho VN 50.581.068 Mỹ kim. Riêng viện trợ Mỹ, Tài khoá 1964 đến 1965 đã viện trợ cho VN 590 triệu về kinh tế; 138 triệu về nông phẩm. Tài khóa 1965 đến 1966 là 704 triệu viện trợ kinh tế; 126,5 triệu viện trợ nông phầm. 

Ngày 23/6, tính đến hôm nay đã có 6 liên danh ứng cử Tổng thống và Phó tổng thổng: Phan Khắc Sửu/Phan Quang Đán; Hà Thúc Kỷ/Nguyễn Văn Định; Lý Đại Nguyên/Vũ Đình Mạnh; Hoàng Cơ Bình/Lưu Quang Khình; Lưu Quang Hồng/ Nguyễn Mạnh Hải; Trương Dinh Dzu/Trần Văn Chiêu. Ngày 24/6, Bộ Giáo dục xác nhận sự tương đương của văn bẳng Việt-Mỹ: Bachelor B.A. tương đương Cử nhân, Master tương đương Cao học, và Ph.D. tương đương Tiến sĩ quổc gia. Ngày 24/6, Quốc hội lập hiến biểu quyết dự luật bầu cử Hạ nghị viện vào ngày 5-11-67, và yêu cầu Chánh phủ bãi bỏ kiểm duyệt. Cùng ngày 24/6, hơn 125 hành khách trên một chiếc tàu Việt Nam hỏng máy, lênh đênh trên vùng biển phía Nha Trang được tàu Hải quân HK cứu thoát. Ngày 26/6, có thêm 2 liên danh ứng cử Tổng thổng và Phó tổng thống: Trần Văn Hương/Mai Thọ Truyền; Nguyễn Văn Thiệu/Trịnh Quốc Khánh. 

Ngày 27/6, liên danh ứng cử Tổng thống và Phó tổng thống thứ 9 là Phạm Huy Cơ/ Lý Quốc Sỉnh. Ngày 28/6, Liên danh thứ 10 ứng cử Tổng thống và Phó tổng thống: Trần Văn Lý/Huỳnh Công Đương. Ngày 28/6, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ khai mạc khóa hội thảo 4 ngày về tổ chửc bầu cử Tổng thống và Thượng nghị viện tại Hội trường Diên Hồng, Sài Gòn. Ngày 29/6, liên danh thứ 11 ứng cử Tổng thống và Phó tổng thống: Nguyễn Cao Kỳ/Nguyên Văn Lộc. Dẩu hiệu ảo “vá hai vai”, danh-hiệu “áo vá lòng vàng”. Cùng ngày 30/6, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ cùng chung liên danh ứng cử với Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu: Tướng Thiệu ứng cử Tổng thống, tướng Kỳ Phó tổng thống. Quốc hội không chấp nhận Liên danh ứng cử Tổng thống của ông Trần Thượng Nhân, vì không hợp lệ. Tổng số danh sách ứng cử Tổng thống và Phó tổng thống là 18; và Thượng nghị viện 66.

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1967. Ngày 28/6, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: UBLĐQG không thuận cho tướng Dương Văn Minh về nước, và đã cử 2 tướng sang Thái Lan gặp tướng Minh về vẩn đề này. Ngày 28/6, Hội đồng Quân lực nhóm họp tại Bộ Tổng tham mưu và quyết định: tướng Dương Văn Minh không nên về ứng cử Tổng thống.Ngày 30/6, Tướng Dương Văn Minh ứng cử Tổng thống cùng với luật sư Trần Ngọc Liễng Phó tổng thống. 

Sydney ngày 10 tháng 4 năm 2024

 

Bài 102: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 7-8/67. 

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1967. Ngày 4/7, Cơ quan Viện trợ HK thuận cấp 48 máy Diesel và máy turbine với 136.800 KW, đề tăng điện lực cho Sài Gòn. Ngày 6/7, tổng số phi cơ Mỹ bị hạ tại BV: 597. Ngày 7/7, Bộ trưởng McNamara lại qua VN xét tình hình quân sự và kinh tể. Tướng Westmoreland đòi tăng lực lượng HK tại VN thêm 70.000 người nữa. Ngày 8/7, các điều kiện mới của BV đề hòa đàm: ngưng oanh tạc BV, chấp nhận MTGPMN vào hội nghị hòa bình, dùng hiệp ước Genève làm căn bản thương thuyết. Ngày 12/7, tại Hà Nội từ 15-5-67 tới nay có tới 87 làn báo động phòng không. Ngày 13/7, Bộ trưởng QP Mỹ, McNamara tuyên bố sẽ tăng quân ở VN, nhưng không cần gọi thêm quân trừ bị. Ngày 15/7, Đại sứ Bunker tuyên bố: HK không chống đối và cũng không ủng hộ một ứng cử viên nào trong cuộc bầu cử Tổng thống tại VN. Chánh phủ HK hứa với tướng Westmoreland sẽ cấp thêm từ 20 đến 30.000 quân trong 3 tháng tới. 

Ngày 17/7, lần đầu tiên một phái đoàn gồm 12 chủ tịch Hội đồng Xã du hành tham quan Thái Lan, Đài Loan và Phi Luật Tân trong 6 tuần, cuộc du hành do Cơ-quan Viện trợ HK bảo trợ. Ngày 19/7, tổng số dân của Liên bang Hoa Kỳ là 198.938.000 người tính đến ngày 1-6-67. Ngày 20/7, Tướng Taylor cùng Clark Clifford, trưởng ban tình báo hải ngoại HK, qua Sài Gòn và nhiều thủ đô để vận động các đồng minh của Mỹ tăng gia nổ lực tham chiến tại VN. Ngày 21/7, cựu Tổng thống Eisenhower đề nghị, HK cần tuyên chiến vởi BV. Không thể thắng với chánh sách đánh cầm chừng. Ngày 21/7, Bộ Quốc phòng HK quyết định khai quang một vùng rộng lớn gần khu Phi quân sự Bến Hải. Ngày 22/7, VNCH yêu cầu Liên Hiệp Quốc cử quan sát viên đến Việt Nam chứng kiến cảc cuộc tuyển cử ngày 3-9-1967. 

Ngày 23/7, nhiều vụ khủng bố phá hoại đã xảy ra tại thành phố Detroit, tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ. Tình trạng khẩn trương đã phải ban bố, 6.000 vệ binh quốc gia đã được gửi tới giúp cảnh sảt giữ trật tự. Song nhiều nhóm đa đen đã đốt phá 20 nơi trong thành phố, thỉệt hạỉ chừng 100 triệu Mỹ kim. Tại Harlem, Nữu Ưởc, thanh niên Porto-Rico cũng cướp phá nhiều tiệm buôn và xung đột với cảnh sát. Đại hội Da Đen tại Neward lại quyết định: huấn luyện quân sự cho tẩt cả thanh niên da đen, và lập các tổ chức tài chánh, kinh tế, giáo dục riêng cho người da đen. Ngày 23/7, theo cuộc điều tra của hãng DPI, thì từ đầu năm nay, 37 thành phố HK bị náo loạn vì các vụ xung đột giữa Da Đen và Da Trắng. Ngày 24/7, sau 2 ngày bạo động, tại Detroit, có 15 người chết, hơn 1.000 bị thương, 1.800 bị bắt, thiệt hại 150 triệu Mỹ kim. Các nhà máy xe hơi ngưng hoạt động. Tổng thổng Johnson quyết định cử 5.000 quân Liên bang dưới quyền điều động của Thứ trưởng Quốc phòng Cyrus Vance tới giữ trật tự. 

Ngày 24/7, Phạm Văn Đồng tuyên bố: BV chuẩn bị chống cuộc đô bộ cùng những vụ oanh tạc Hà Nội của Mỹ. Ngày 25/7, một số người quá khích vẫn bắn lén và ném chai xăng gây nhiều đám cháy tại Detroit. 3.200 binh sĩ Nhảy Dù hợp lực cùng 8.000 vệ binh giữ trật tự ở các khu da đen. Nhiều vụ lộn xộn tiếp tục ở Nữu Uởc và Toledo. Ngày 26/7, các vụ xung đột tại Detroit: 36 người chết, 2.000 bị thương, 1.304 đám cháy, thiệt hại về nhà cửa trị giá 500 triệu Mỹ-kim. Trong đêm qua, các vụ đập phá và cướp bóc đã xầy ra tại nhiều đường phổ Nửu Ước, San Francisco, South Bond, Cambridge, Mount Vernon, Phoenix, Cincinnati. Ngày 27/7, U-Thant khước từ việc gửi quan sát viên Liên hiệp Quốc tới VN chứng kiến các cuộc tuyển cử ngày 3-9-67. Ngày 27/7, Bộ Quốc phòng HK quyết định mở rộng vùng khai quang sát khu Phi quân sự từ 608 thước tới 37 cây số. Ngày 28/7, các vụ lộn xộn và khủng bố tiếp tục ở 15 thành phố Hoa Kỳ. Tống thổng Johnson lại phải lên tiểng kêu gọi chấm dứt bạo động. 

Ngày 28/7, Bộ Ngoại giao VNCH ra thông cáo mời báo giớỉ quổc tế tới chứng kiến cuộc bầu cử Tổng thống và Thượng, Hạ nghị viện. Ngày 29/7, hàng không mẫu hạm Forrestal, 76.000 tấn, vừa tới tham chiến tại Vịnh BV 4 ngày, thì bị hỏa hoạn: 29 phi cơ trong số 80 phi cơ của tàu bị hư hại. Ngày 30/7, trong vụ hỏa hoạn trên tàu Forrestal, tới hôm nay, có 76 thủy thủ bị thiệt mạng, 69 mất tích và 64 bị thương, 26 phi cơ bị thiêu hủy, 31 bị hư hại. Hàng không mẫu hạm phải về Subic Bay (Phi Luật Tân) để sửa chữa. Nguyên nhân hỏa hoạn do một bình xăng rớt và bốc cháy từ một máy bay A4E Skyhawk. Ngày 31/7, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ phản đối trên báo chí lời tuyên bố của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U-Thant, rằng chiển tranh tại VN không phải do xâm lăng Cộng sản mà là chiến tranh giành độc lập. Ngày 31/7, Tổng thống Johnson tuyên bố không đồng ý với U-Thant trong sự nhận định tính cách chiến tranh tại VN. 

Ngày 1/8, tổng số máy bay Mỹ bị bắn rớt trên miền Bắc là 627 chiếc. Và, có 1.442 toa xe lửa và 1.384 quân xa của BV bị phi cơ Mỹ phá hủy từ đầu năm. Ngày 3/8, Tổng thống Johnson tuyên bố sẽ tăng 45.000 quân tại VN. Tổng số quân Mỹ hiện có tại VN là 454.000 quân. Ngày 5/8, Tướng Taylor cùng Thứ trưởng QP Mỹ Clifford đã trở về Hoa Thịnh Đổn, sau cuộc viếng thăm 6 quốc gia tham chiến tại VN, để thăm dò về vấn đề triệu tập một hội nghị thượng đỉnh nữa về VN. Ngày 8/8, các Ngoại trưởng 5 nước Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba quyết định thành lập một tổ chức mệnh danh là Hiệp hội Hợp tác Đông Nam Á (Southeast-Asia Association for Regional Cooperation, SEARC). Ngày 13/8, theo giới quân sự Mỹ, Tổng thổng Johnson đã cho phép oanh tạc nhiều mục tiêu mới tại BV thuộc khu vực Hà Nội, Hải Phòng, và các biên giới Việt-Hoa. Có 162 phi vụ oanh tạc BV. Không chiến 7 lần trên không phận Hà Nội, không cỏ phi cơ nào bị hạ. 

Ngày 16/8, Tống thống Johnson tuyên bố, rằng ông mong cuộc bầu cử sắp tới tại VN được công bằng và tự do, và đã ủy nhiệm các nhân vật HK bày tỏ ý nguyện đó với nhà cầm quyền VN. Ngày 17/8, Ngoại trưởng HK Dean Rusk gửi thư khen ngợi kết quả giải tỏa Thương cảng Sài Gòn về hàng ối đọng từ 250.000 tấn rút xuống 60.000 tấn, Ngày 22/8, Thượng viện Mỹ chấp thuận dự án ngân sách 70 tỷ 100 triệu Mỹ kim, trong đó có 20 tỷ dành cho chiến cuộc tại VN. Có 162 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/8, hơn 20 nhân vật Nghị sĩ, Thống đổc v.v. Hoa Kỳ sẽ qua VN chứng kiến cuộc bầu cử Tổng thống và Thượng viện VNCH ngày 3-9-67. Ngày 25/8, Tổng thống Johnson đã cho phép oanh tạc 302 trong 309 mục tiêu chủ yếu do các tư lịnh quân đội Mỹ đề nghị. Ngày 25/8, theo giới quân sự HK, BV hiện có 8.000 dàn cao xạ và 150 dàn hỏa tỉễn. Dân chúng Hà Nội lại được lịnh triệt để tản cư. 

Ngày 26/8, Hội Cựu chiến binh Mỹ yêu cầu Tổng thống Johnson tăng gia chiến sự tại BV để sớm chấm dứt chiến tranh. Bộ trưởng McNamara, lại xác nhận trước Quổc hội HK, chủ trương chiến tranh hạn chế tại BV; nếu chiến thắng, thì phải chiến thắng tại miền Nam, thay vì tăng gia cường độ chiến tranh tại BV theo đề nghị của nhiều tướng lãnh. Ngày 27/8, một phi công Mỹ phi cơ rớt bị bắt ở vùng biên giởi Việt-Hoa trình diện dân chúng trong một cuộc biểu tình lớn tại Nam Ninh. Ngày 28/8, theo Reuter, 34% dân HK muốn quân đội Mỹ rút sớm khỏi VN; 37% muốn tiếp tục chiến đấu để điều đình có lợi; 24% muốn chiến thắng hoàn-toàn. Ngày 29/8, Phái đoàn quan sát viên Mỹ 28 người do Đại sứ Cabot-Lodge hướng dẫn cùng một sổ ký giả ngoại quốc được chánh phủ VN mời sang Sài Gòn chứng kiến cuộc tuyển cử ngày 3-9-67. 

Ngày 30/8, theo tin UPI, các Tư lịnh Hải quân HK đòi gài mìn phong tỏa Hải Phòng, song Bộ trưởng McNamara không đồng ý, vì như vậy Nga Sô có thể can thiệp. Ngày 31/8, Thượng nghị sĩ John C. Stennis, Chủ tịch ủy han chuần chi quân sự công kích chủ trương chiến tranh hạn chế, và đòi tăng gia nỗ lực tại BV để sớm chấm dứt chiến tranh. Cùng ngày 31/8, theo tin UPI và AP, nhiều cuộc xung đột kịch liệt vẫn tiếp diễn giữa hai phe chống và thân Mao tại Trình Châu, Vũ Hán, Tứ Xuyên, Tô Châu, và Thượng Hải. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1967. Ngày 1/7, có 145 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 2/7, giao tranh kịch liệt, cấp trung đoàn, quanh căn cứ Cồn Tiên, Quảng Trị. Các căn cứ Mỹ tại Gio Linh và Đông Hà bị pháo kích dữ dội. Có 114 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 3/7, một đoàn quân xa Mỹ chở quân nhu thực phẩm trên đường Đà Nẵng ra Phú Bài (Huế) bị phục kích làm 20 chết, 16 bị thương, 17 xe bị cháy, 16 chiếc khác hư hại. Có 32 phi cơ gồm 23 phản lực F-105 và 9 Skyraider bắn phá yễm trợ cho một trực thăng tới cứu thoát một phi công bị rớt từ 15 giờ trước ở một địa điểm gần đèo Mụ Gia. Ngày 5/7, B-52 dội bom 8 lần trong ngày hôm nay quang vùng A Shau (Thừa Thiên) gần biên giới Lào Việt. Ngày 6/7, B-52 tiếp tục dội bom xuống vùng A Shau và quanh Cồn Tiên. Ngày 7/7, hơn 900 trái đại bác và súng cối dội xuống các đơn vị Mỹ tại Cồn Tiên, Gio Linh và Đồng Hà. Ngày 8/7, giao tranh suốt ngày tại Cồn Tiên. Một B-52 bị bốc cháy và rớt gần phi trường Đà Nẵng, không thấy ghi lý do. Có 97 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 9/7, trong tuần qua có 14 lần vào Gio Linh, 15 lần vào Đông Hà với chừng 1.649 trái đạn cở lớn từ 120 đến 140 ly. Có 137 phi vụ oanh tạc tại BV. Ngày 10/7, mìn định hướng nồ gần khách sạn Capitol đường Đồng Khánh, Chợ Lỏn. Ngày 10/7, chấm dứt hành quân Lam Sơn 79/XDNT tại Tây Bắc Quảng Trị. Đồn Đông An Lộc, Bình Long bị pháo kích, và tấn công dữ dội. Ngày 11/7, giao tranh dữ dội tại Dakto, Kontum. Có 138 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 12/7, hành quân Mỹ Colorado tại Long An có nhiều cuộc đụng độ lớn. Giao tranh cấp tiểu đoàn tại vùng Đông-Nam Cần Giuộc, Tân An. Đụng độ kịch liệt phía Tây-Nam Đức Cơ. Ngày 13/7, có 134 phi vụ oanh tạc tại BV. Ngày 14/7, gần nửa đêm, lao xá Hội An bị pháo kich dữ dội: 30 phạm nhân chết, hơn 1.000 trốn thoát, đa số là tù binh VC và BV. Có 170 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/7, lúc 2 giờ sáng nay, phi trường Đà Nẵng bị pháo kích bằng đạn Rocket và đạn 140 ly. Chấm dứt hành quân Buffalo mở từ 2-7-67 tại Đông Nam Đông Hà. Có 94 phi vụ oanh-tạc BV. 

Ngày 16/7, Đại đội Địa phương quân canh giữ cầu Mỹ Chánh bị tấn công gây thiệt hại nặng nề. Giao tranh cấp tiểu đoàn tại Gio Linh, Quảng Trị. Có 102 phi vụ oanh tạc BV. Chấm dứt hành quân Crockett mở từ 13-5-67 tại Khe Sanh. Ngày 16/7, chấm dứt hành quân Hickory I tại Quảng Trị. Hành quân Hickory II mới bắt đầu đã đụng trận ngay gần căn cứ Cồn Tiên. Có 100 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/7, có 134 phivụ oanh tạc BV. Ngày 18/7, có 134 phivụ oanh tạc BV. Ngày 19/7, giao tranh giữa nhiều đại đội Mỹ và một tiểu đoàn VC gần Dầu Tiếng, Biên Hoà. Có 133 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 20/7, hành quân Lam Sơn 87 cấp tiểu đoàn tại quận Phong Điền, Thừa Thiên. Có 116 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/7, giao tranh kịch liệt tại phía Bắc Xuân Lộc. Kịch chiến tại Khe Sanh, Quảng Trị. Ngày 21/7, có 100 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 22/7, có 97 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/7, giao tranh dữ dội cách Đức Cơ 6 cây số. Căn cứ Đồng Tâm của HK tại Mỹ Tho bị pháo kích. Có 120 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 24/7, có 144 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/7, có 126 phi vụ oanh tạc BV. B-52 dội bom xuống các căn cứ pháo binh và dàn hỏa tiễn ở Đồng Hới. Ngày 26/7, Căn cứ quân sự Mỹ tại Phước Vĩnh, Bình Dương bị pháo kích. Có 135 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/7, Căn cứ Mỹ tại Phú Lợi bị pháo kich dữ dội. Căn cứ Mỹ tại Lai Khê cũng bị pháo kích súng cổi và hỏa tiễn 122 ly. Ngày 30/7, giao tranh kịch liệt gần Cồn Tiên. Có 117 phi vụ oanh tạc BV. B-52 vẫn tiếp tục dội bom xuống vùng A Shau, Thừa Thiên. Ngày 31/7, có 90 phi vụ oanh tạc BV.Ngày 1/8, hành quân Mỹ Pike mở tại phía Đông Nam Đà Nằng. Có 136 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 2/8, có 113 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 3/8, hành quân Kham Zei tại vùng Dak Seang, Kontum. Hôm nay có 197 phi vụ oanh tạc  BV. Ngày 4/8, kết quả hành quân Cửu Long 64 tại Định Tường từ 27-7 trên 234 VC tử thương. Có 145 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 6/8, giao tranh cấp tiểu đoàn gần Kak-Seang Kontum. Có 134 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 8/8, Trung đoàn VC 165 tấn công đồn Tống Lê Chân gần Hớn Quản. Giao tranh dữ dội gần thị xã Quẵng Ngãi. Có 167 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/8, Giao tranh dữ dội tiếp tục gần Quảng Ngãi. Có 166 phi vụ oanh tạc  BV. Ngày 10/8, hành quân Không vận Đinh Tiên Hoàng 4/67 tại Bà Rịa, Phước Tuy. Giao tranh kịch liệt giữa các đại đội Mỹ và VC tại thung lũng sông Vệ, Quảng Ngãi. Có 132 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 12/8, hành quân Liên Kết 112 tại Tiên Phước, Quảng Tín. Có 150 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/8, giao tranh kịch liệt giữa các đơn vị hành quân Mỹ và VC gần Tam Kỳ, Quảng Tín. Có 89 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/8, giao tranh kịch liệt tại Phù Mỹ, Bình Định. Có 161 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/8, giao tranh kịch liệt 3 lần trong ngày quanh đồi 304 gần Tam Kỳ, Quảng Tín. Có 111 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/8, có 172 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/8, ó 209 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 19/8, một thượng tá VC hồi chánh khai báo cho quân đội Mỹ khám phá một căn cứ quân sự gồm nhiều trại quân, một bệnh viện và một kho võ khí cách Sài Gòn 60 cây số về phía Tây. Ngày 20/8, có 197 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/8, một đoàn quân xa Mỹ bị phục kích gần căn cứ  Khe Sanh, 5 quân nhân Mỹ chết, 3 bị bắt và 34 bị thương. Có 132 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/8, có 123 phi vụ oanh tạc BV, Hà Nội báo động 8 lần. Ngày 24/8, quân đội Mên bắn trọng pháo vào xã Vĩnh Xương quân Tân Châu, Châu Đốc làm 9 thường-dân VN chết và một số khác bị thương. Có 152 phi vụ oanh tạc BV. Sổ phi cơ Mỹ bị bắn rởt tại BV là 660 chiếc. Ngày 25/8, có 146 phi vu oanh tạc BV. Số phi xuất của HK trên không phận BV: 82.500 (1965); 94.300 (1966). Đã phá hủy: 4.100 quân xa, 7.400 thuyền, 1.400 đoạn đường sắt, 57 cầu, 50 nhà ga, và 1.900 mục tiêu cố định. 

Ngày 27/8, tỉnh lỵ Cần Thơ bị pháo kích dữ-dội làm 46 người chết và 268 bị thương. Có 97 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/8, TQLC Mỹ giao tranh kịch liệt với quân BV gần căn-cứ Carroll, Quảng Trị. Các trại quân Mỹ tại tỉnh lỵ Quảng Ngãi, Thừa Thiên và Biên Hòa, bị pháo kích nhiều lần. Có 151 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 30/8, có 157 phi vụ oanh tạc BV.  

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1967. Ngày 1/7, Tỉnh trưởng Cần Thơ họp báo tại Sài Gòn rút lại những lời xúc phạm đến các giáo chức trong ban giám khảo kỳ thi Tú tài II. Ngày 10/7, khánh thành gỉang cảng New-Port cạnh Xa lộ Sài Gòn-Thủ Đức, xây tốn 50 triệu Mỹ kim, có thể tiếp nhận hàng tháng 150.000 tấn hàng. Ngày 14/7, Chủ tịch Quốc hội Phan Khắc Sửu gửi thư lên UBLĐQG yêu cầu bãi bỏ kiểm duyệt trong thời gian bầu cử Tồng thống, và các Viện Quốc hội. Ngày 15/7, một hiệu trưởng Trung học, Phó chủ tịch Hội đồng Giám khảo thi Tú tài I tại Nha Trang, bị hành hung, và đâm chết do 6 học sinh phạm lỗi gian lận trong phòng thi. Ngày 18/7, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, họp Hội nghị các đại sứ 7 nước tham chiến tại VN, để trao đôi tin tức và ý kiến. Cùng ngày 18/7, Quốc hội bác bỏ 4 liên danh ứng cử Tổng thống: Lỷ Đại Nguyên/ Vũ Đình Mạnh; Trần Thượng Nhơn/Nguyễn Văn Hưng; Âu Trường Thanh/Vũ Văn Huyền; Chu Ngọc/Trần Văn Xuyên. 

Ngày 19/7, tổng số cử tri toàn quốc: 5.447.436, trong đó có 400.846 người Thượng và 736.269 tại Đô thành. Quốc hội bác bỏ thêm 2 liên danh ứng cử Tổng thống: Dương Văn Minh/Trần Ngọc Liễng, Lưu Quang Hồng/Nguyễn Mạnh Hài. Còn 11 lỉên-danh ứng cử Tổng thống, được niêm yết lần thứ hai. Ngày 19/7, theo đề nghị của Viên Hoá Đạo đường Trần Quổc Toản, Sài Gòn. Lễ truy điệu tại trường Gia Long, Sài Gòn, cố giáo sư Trần Vinh Anh vừa bị một nhóm thí sinh sát hại tại Nha Trang. Ngày 20/7, Hội giáo chức Luật khoa lên án vụ sát hại giáo sư Trần Vinh Anh. Ban giám khảo 8 hội đồng thi Sài Gòn Gia Định ngưng chấm thi, yêu cầu trừng trị bọn can phạm, và ban hành sắc luật đối phó với các vụ hành hung giáo chức. Cùng ngày 20/7, có 15 Liên danh sách ửng cử viên Thượng nghị viện bị Quổc hội loại bỏ, trong đó có liên danh Nguyễn Duy Tài, Hồ Hữu Tường, Phó Thái Gia, Nguyễn Văn Đang.

Ngày 21/7, các thủ phạm sát hại giáo sư Trẩn Vinh Anh bị tòa án quân sự mặt trận Vùng II kết án tử hình, 3 tòng phạm bị khồ sai từ 5 đến 20 năm. Ngày 21/7, có 48 Liên danh ứng cử viên Thượng nghị sĩ được niêm yết lần thứ hai. Ngày 26/7, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố tại Gia Định: sẽ tăng 65.000 quân nữa, đa số cho Địa phương quân và Nghĩa quân. Ngày 2/8, nước Đồng Nai đã về tới Sài Gòn. Ngày 2/8, có 20 máy truyền hình công cộng được đặt tại tỉnh lỵ Sa Đéc và 4 quận trong tỉnh. Ngày 2/8, các Liên danh ứng cử Tổng thống và Thượng nghị viện nói chuyện trên đài phảt thanh về chánh sách và chương trình hành động. Ngày 3/8, Tổng nha Cảnh sát phát động chiến dịch bài trừ du đảng. Ngày 4/8, theo tin Tổng nha Cảnh sát, 30 cán bộ của nhiều tổ đặc công VC đã bị bắt giữ tại Sài Gòn trong 10 ngày qua. 

Ngày 7/8, tổng số sinh viên ghi tên niên khoá 1966-67 tại các trường thuộc Viện Đại học, Sài Gòn: 26.221 người; Huế: 3.341; Cần Thơ: 984; Vạn Hạnh: 529; và Đà Lạt: 1.769 sinh viên. Ngày 7/8, thiết lập Tổng cục Gia cư để thay thế Uỷ ban Doanh lý Kiến-thiết (S-luật 112-SL/CC). Ngày 10/8, các cuộc vận động bầu cử bắt đầu từ 11-8 đến hết 1-9-67. Ngày 11/8, Đại tướng Cao Văn Viên họp báo và tuyên bố quân đội cỏ hai nhiệm vụ: yểm trợ xây dựng nông thôn và giúp sức với Đồng minh trong các cuộc hành quân lùng và diệt địch. Có 145 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/8, Liên danh Trần Văn Hương/Mai Thọ Truyền họp báo tố giác những áp lực tại vài địa phương dồn phiếu cho một liên danh. Tổng số cử tri toẩn quốc niêm yết lần thứ hai 5.853.251 người. 

Ngày 18/8, lễ chuyển giao các Pháp cho Việt Nam: tại Sài Gòn: trường J. J. Rousseau đổi tên thành Trung tâm Lê Quí Đôn; trường Ecole Franẹaise de Cholon thành Trung tâm Hồng Bàng. Tại Đà Lạt: trường Yersin đổi thành Trung tâm Hùng Vương; trường Pascal thành Nguyễn Hiền.Tại Nha Trang: trường Yersin thành Hàn Thuyên. Ngày 19/8, ấn định số dân biểu Hạ nghị viện toàn quốc: 137, ngày bầu cử: ngày 22-10-67 (S-lệnh 325-CT/LĐQG/SL). Ngày 20/8, theo thông tin từ chánh phủ, có 8.000 phòng phiếu cho 5.853.251 cử tri trong cuộc bầu cử bầu Tổng thống và Thượng viện ngày 3-9-67. Ngày 21/8, số phòng phiếu cho ngay bầu cử 3-9-67 tại 9 quận Đồ-thành là 920 phòng. Ngày 29/8, Ban hành quy chế riêng cho đồng bào Thượng (S-luật 034/67). Xác nhận quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thượng (S-luật 033/67). Ngày 31/8, có 11 Liên danh ứng cử Tổng thống tiếp xúc với dân chúng Thủ đô tại đường Nguyên Tri Phương, Chợ Lớn. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1967. Ngày 6/7, Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng cùng 4 Tư lịnh các vùng Chiến thuật gửi thư lên Quốc hội phản đối sự chấp đơn ứng cử Tổng thống của tướng Dương Văn Minh. Lỷ do: Hội đồng Quân lực đã không chấp thuận sự hồi hương của tướng Minh. Ngày 18/7, theo đề nghị của Viên Hoá Đạo đường Trần Quổc Toản, Sài Gòn, Hiến chương mới của Giáo hội Phật giáo Việt Nan Thổng nhất được chuần y do Sắc luật 023/67. Ngày 6/8, các ứng cử viên Tổng thống và Phó tổng thống tỏ ý phẫn nộ và bực tức vì không được đón tiếp chu đáo tại Quảng Trị. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm giải thích, các vị được chuẩn bị đón ở La Vang, nhưng máy bay lại đáp xuổng Đông Hà nên có sự đón tiếp không được như ý. 

Ngày 12/8, Thượng tọa Thích Tâm Châu từ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Thượng tọa Thích Thiện Tường được cử lên thay. Đồng thời, Lục cả Lâm Em giữ chức Tăng thổng thay Hoà thượng Thích Tịnh Khiết. Ngày 14/8, các Thượng toạ Thích Thiện Minh, Thích Trí Quang, Thích Pháp Tri, Thích Thiện Hoa v.v... họp báo tại chùa Ấn Quang công kích Hiến chương Phật giáo mới chỉ do 5 Thượng tọa ký thay vì phải 11 đại diện theo quy định của Hiến chương cũ.

Sydney ngày 11 tháng 4 năm 2024

 

Bài 103: CHÍNH QUYỀN QUÂN QUẢN VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN CAO KỲ: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 9-10/67. 

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1967. Ngày 1/9, Bộ trưởng QP Mỹ McNamara xác nhận còn 50 mục tiêu tại khu vực Hà Nội, Hải Phòng và biên giới Hoa Việt chưa bị Không quân Mỹ oanh kích. Ngày 2/9, Phạm Văn Đồng lại lên tiếng đòi hỏi chấm dứt các cuộc oanh kích BV. Ngày 4/9, trong 22 quan sát viên HK và 93 quan sát viên của 21 quốc gia đều nhận rằng cuộc bầu cử có nhiều dấu hiệu tự do. Ngày 4/9, Đại sứ Mỹ Bunker tuyên bố cuộc bầu cử đã thành công có tới 83% cử tri đi bỏ phiếu, bất chấp sự đe doạ của VC. Ngày 7/9, Bộ trưởng QP McNamara cho biết quân độỉ HK trù tính thiết lập hàng rào điện tử để ngăn chận quân BV tràn qua vùng Phi quân sự. Ngày 7/9, Chánh phủ HK đề nghị 5 điểm hoà đàm đến các quốc gia sắp tham dự Đại hội Liên hiệp Quốc: (1) ngừng bắn và rút quân; (2) triệt thoái quân sự; (3) tôn trọng các biên giới quốc tế kề cả vùng phi quân sự; (4) mọi giải pháp về thống nhất do người VN giải quyết lấy không có sự can thiệp của bên ngoài; (5) kiểm soát quốc tế về thỏa ước hòa bình. 

Ngày 7/9, Bộ Quốc phòng HK cho biết sẽ xử dụng chất hoá học làm cho cây không mọc được tại vùng lập hàng rào điện tử ngăn chặn xâm nhập của BV. Ngày 8/9, Tổng thống Johnson gửi thư cho Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, tỏ ý hoan hỷ về cách diễn tiến và kết quả cuộc bầu cử ngày 3-9-67. Ngày 8/9, Ngoại trưởng HK xác nhận lần nữa, rằng không thừa nhận MTGPMN, không chấp nhận cho Trung Cộng vào Liên hiệp Quốc. Ngày 8/9, Phạm Văn Đồng tuyên bố, Mỹ phải ngưng oanh tạc BV không điều kiện trước khi nói tởi hòa đàm. Ngày 10/9, theo bảo New-York Times, trong 30 tháng qua, các phi cơ Mỹ đã oanh tạc 1.900 mục tiêu, và thực-hiện 13.000 phi xuất mỗi tháng, và 75% các vụ dội bom nhắm các trục giao thông. Ngày 11/9, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu Hà Nội thương thuyết hòa bình, và sẽ đề nghị ngừng bắn nếu lời kêu gọi được hưởng ứng. 

Ngày 13/9, Phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng HK tuyên bố: chỉ cho phép ném bom vài mục tiêu trong khu vực thành phố Hải Phòng, chứ không hề cho phép oanh tạc các cơ sở của thương cảng Hải Phòng. Ngày 16/9, U-Thant lại họp báo và vẫn nhắc lại ý kiến cũ: Mỹ phải ngưng oanh tạc không điều kiện thì mới có thể hòa đàm với BV. Ngày 20/9, tổng số quân Đồng minh tham chiến tại Việt Nam: Hoa Kỳ: 465.000; Đại Hàn: 45.000; Úc: 6.000; Tân Tây Lan: 4.000; Phi Luật Tân: 2.000 người. Ngày 22/9, Đại sứ HK Goldberg lại đưa đề nghị hòa đàm trước Đại hội Liên-hiệp Quổc, và xác nhận Mỹ sẵn sàng ngừng oanh tạc nếu đối phương cũng có hành động quân sự tương xứng. Ngày 23/9, Trung tướng Lewis W. Walt, cựu Tư lịnh TQLG Mỹ tại VN, tuyên bố: muốn chiến thắng, phải đổ bộ lên BV. Ngày 23/9, tại Liên hiệp Quốc, Nga Sô bác bỏ đề nghị của Anh triệu tập lại Hội nghị Genève đề giải quyết vấn đề VN. 

Ngày 23/9, Nga Sô quyết định tăng viên trợ cho BV. Ngày 23/9, trước 40.000 tụ tập trước điện Vatican, Giáo-hoàng Paul VI ngỏ ý bi quan vi hy vọng hòa bình tại VN đã tiêu tan và chiến tranh lại leo thang. Ngày 27/9, sau khi hội đàm với các ngoại trưởng Nga và Mỹ, cùng Tổng thống Johnson, ngoại trưởng Anh George Brown tỏ ý bi quan về viễn ảnh hòa bình tại VN, không hy vọng gì về thương thuyết. Ngày 29/9, khánh thành tòa Đại sứ mới của HK tại đường Thống Nhất, do Công ty RMK-BRJ xây cất tốn 2,6 triệu Mỹ kim tương đương 306,8 triệu bạc VN; 6 tầng, 240 phòng, dài 65 thước, rộng 15 thước xây gần 2 năm. Ngày 30/9, tại Mỹ, Tổng thống Johnson đọc diễn văn dài, nhắc lại chánh sách HK tại VN, và xác nhận: sẵn sàng gặp Hồ Chí Minh; sẵn sàng ngưng oanh tạc BV để thương thuyết, và mong rằng BV sẽ không lợi dụng cơ hội ngưng oanh kích đề tăng cường lực Iượng và tấn công ở miền Nam VN.

Ngày 30/9, Nga Sô bác bỏ đề nghị của Tổng thống Johnson: lập trường cũ, không có gì thay đổi trong chánh sách của HK tại VN. Ngày 4/10, theo giới quân sự HK, hình như một số lớn quân BV đã rút về phía bên kia sông Bến Hải. Số thỉệt hại vì bị quân BV pháo kích tại căn cứ Cồn Tiên trong tháng qua, hơn 300 quân Mỹ tử thương, và 3.000 bị thương. Ngày 5/10, trong tuần qua, có 49/55 diễn giả đại diện các Quốc gia tại Đại hội Liên hiệp Quổc, đã lên tiếng kêu gọi chấm dứt chiến tranh tại VN, một nửa đòi ngưng oanh tạc BV. Ngày 6/10/67, từ 1-1-1961 đến 30-9-67, số quân Mỹ tử trận tại VN là 13.034, bị thương 86.635, và mất tích 756. Ngày 7/10, báo chí và chính giới HK bàn tán nhiều về ý kiến đổ bộ lên BV để chặn lối xâm nhập và pháo kích miền Nam. Ngày 9/10, Ban Chấp hành đảng Dân chủ HK biểu quyết tín nhiệm Tổng thổng Johnson và đề cử ông ra tranh cử Tổng thống cuối năm 1968. 

Ngày 14/10, tại Liên hiệp Quốc, 46/110 quốc gia chống oanh tạc BV và quá nửa các nước đòi trở lại Hiệp định Genève1954. Ngày 15/10, Công ty Hàng không CITCA không nhận chuyên chở Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến tại VN nữa, vì Uỷ hội còn thiếu nợ của Công ty 806.000 Mỹ-kim; HK đã không còn đóng góp gì cho Ủy hội, Anh chỉ đóng một phần. Ngày 17/10, Lễ tiếp đón 2.300 quân thuộc Trung đoàn Mãng Xà Queen Cobra Thái Lan, và được đưa đến ấp Phú Hội, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa, nơi trung đoàn phụ trách bình định. Tân Tây Lan vừa đưa Đội pháo binh thứ hai (179 người) đến VN nâng  số quân nước này lên 546 người. Úc Đại Lợi cũng đưa thêm sang VN 1.000 quân. Tổng số quân Úc sẽ lên tởi 8.000 người. Ngày 17/10, Johnson lại tuyên bố: HK quyết tâm chiến đấu đến cùng tại VN. 

Ngày 18/10, Chủ tịch Đại hội Liên hiệp Quốc, Ngoại trưởng Lỗ Ma Ni, Manéscu tuyên bố, ngưng oanh tạc BV là điều kỉện tiên quyết đề đi tới hòa đàm về VN. Ngày 25/10, chánh phủ Trung Cộng kêu gọi Vệ binh Đỏ trở về trường học, sau một năm tạm ngưng việc học để làm Cách mạng Văn hoá. Ngày 26/10, tổng số phi cơ Mỹ bị bắn rớt tại BV là 717 chiếc. Tổng số Mig BV bị phi cơ Mỹ bắn hạ 92 chiếc. Ngày 29/10, từ khi HK tham chiến tại VN, có 14.266 quân nhân tử thương, 805 mất tich hoặc bị bắt, 90.417 bị thương. Số quân nhân VNCH năm 1965: tử thương 11.243; Năm 1966: 9.459; Nữa năm 1967: 5.508. Có 126 phi vụ oanh tạc BV. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1967Ngày 1/9, kịch chiến với chừng 4.000 quân BV tiếp tục ở thung lũng Quế Sơn, Quảng Tín. B-52 vẫn dội bom xuống vùng Phi quân sự. Ngày 1/9, số cán binh VC trở về với chánh quyền quốc gia từ tháng 3-63 đến nay là 70.031 người. Ngày 2/9, việc bố phòng khu vực thủ đô trước và trong ngày bầu cử do 12 tiểu đoàn QĐVNCH đảm trách, với sự trợ lực của các đơn vị Sư đoàn 25 Bộ binh HK. Ngày 2/9, trong ngày có 58 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 3/9, có 58 phi vụ oanh tạc BV, không chiến gần Hà Nội. Ngày 4/9, có 127 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 5/9, giao tranh kịch liệt gần Tam Kỳ, Quảng Tín. Kịch chiến gần núi Bà Đen, Tây Ninh. Căn cứ Mỹ ở Cồn Tiên, Quảng Trị bị pháo kích dữ dội. Có 72 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 6/9, Tỉnh ly Quảng Tín bị tấn công rất mạnh. Sau 3 giờ kịch chiến, VC bỏ lại 219 xác, bị bắt 16. Có 64 phi vụ oanh tạc BV. B-52 vẫn tiểp-tục dội bom quanh Cồn Tiên. 

Ngày 7/9, hành quân Dân Chí 300-A/SD tại Kế Sách, Ba Xuyên. Hành quân Liên Kết 116 mở tại quận Thăng Binh, Quảng Tin. Một tiểu đoàn BV phục kích một đoàn công voa Mỹ gần Khe Sanh, Quảng Trị; nhưng bị phản công và bỏ lại 92 xác. Có 146 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 10/9, một tiểu đoàn BĐQ bị VC tấn công gần quận Thăng Bình, Quảng Tin. Có 125 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 11/9, có 110 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 12/9, hành quân Mỹ Coronado II tại Mỹ Tho. Các căn cứ HK tại Quảng Trị bị pháo kích dữ dội. Có 84 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 13/9, có 137 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/9, vẫn còn tiếp tục giao tranh kịch liệt gần Tam Kỳ. Giao tranh dữ dội tại Định Tường. B-52 dội bom với cường độ mạnh vào vùng Phi quân sự để ngăn sự xâm nhập của 3 sư đoàn BV. Các chiến hạm HK cũng pháo kích tiếp sức. Có 71 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/9, hành-quân Conorađo tại Rạch Bà, Định Tường, giao tranh cấp với tiểu đoàn VC. Các căn cứ Mỹ tại Đông Hà bị pháo kích. Có 97 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 16/9, giao tranh kịch liệt cấp tiểu đoàn gần Mỹ Tho. Ngày 16/9, hành quân Balistic Charge của TQLC Mỹ tại vùng phía Bắc Quảng Tín. Tỉnh lỵ Mỹ Tho bị pháo kích. Thành phố Tuy Hòa bị pháo kích. Có 91 pbi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/9, Hành quân Pershing và đụng độ mạnh tai thung lũng An Lão, Bồng Sơn. Có 109 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/9, hành quân Arkansas ở ranh giới Phước Tuy, Long Khánh, Biên Hòa. TQLC Mỹ mở cuộc hành quân Balistic Charge khu vực Bắc Quảng Tín. Căn cứ pháo binh Mỹ tại Hậu Nghĩa bị pháo kích. Có 79 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 19/9, hành quân Billing tại thung lũng sông Đà Rằng, Phú Yên. Các căn cứ Mỹ tại Gio Linh và Cồn Tiên lại bị pháo kích. B-52 tiếp tục dội bom gần vùng Phi quân sự. Có 69 phi vụ oanh tạc BV, không chiển cách Hà Nội 27 cây số về phía Bắc. Ngày 20/9, có 91 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/9, có 115 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 22/9, các căn cứ  Mỹ tại Cồn Tiên, Gio Linh vẫn bị pháo kích và tấn công nhiều lần trong ngày. Ngày 23/9, hành quân Bluefield tại Binh Dương. Có 85 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/9, có 74 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/9, các căn cứ TQLC Mỹ Carrol và cồn Tiên bị pháo kích dữ dội. B-52 tiếp tục dội bom phía Bắc vùng Phi quân sự để phá hủy các ổ súng đại bác BV. Giao tranh kich liệt cách Tam Kỳ 12 cây số về phía Tây-Bắc. Có 124 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 26/9, Căn cứ Cồn Tiên bị pháo kích hơn 1.000 trái đạn. Quân Mỹ bắn trả sang phía BV hơn 10.000 đạn đại bác. B-52 vẫn dội bom xuống vùng Phi quân sự. Ngày 27/9, hành quân Lam Sơn 131 Việt-Mỹ, tại giảp giởi vùng Phi quân sự. Có 159 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/9, hành quân Kole Kole tại Hậu Nghĩa, giữa sông Vàm Cỏ Đông và biên giới Việt Miên. Giao tranh kịch liệt giữa một đại đội TQLC Mỹ bị phục kích với quân BV gần Cồn Tiên. Có 150 phi vụ oanh tạc BV. B-52 tiếp-tục dội bom quanh Cồn Tiên. 

Ngày 29/9, có 68 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 30/9, giao tranh kịch liệt cách Tam Kỳ 28 cây sổ về phía Tây. Ngày 30/9, có 123 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 1/10, có  99 phi vụ oanh-tạc BV. Ngày 2/10, hành quân Xây Dựng 67/9 gần quận Châu Thành, Bình Long. Có116 phi-vụ oanh tạc BV. Ngày 3/10, giao tranh kịch liệt với Trung đoàn 95 BV tại cuộc hành quân Francis Marion về phía Đông Nam Pleiku. Huế bị pháo kích bằng nhiều trái đạn cở lớn. Có 106 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 4/10, hành quân Wallowa mở tại phía Tây-Bắc Tam Kỳ, Quảng Tín. Hành quân Cửu Long 66/11 tại Đông Bắc Cai Lậy, Định Tường. Giao tranh kịch liệt tại phía Nam Bình Dương. Có118 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 5/10, có 134 phi vụ oanh tạc BV. Số phi xuẩt tăng nhiều tại miền Nam. B-52 vẫn tiếp tục dội bom gần vùng Phi quân sự. Ngày 6/10, giao tranh kịch liệt tại phía Tây căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho. Có 129 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 7/10, hành quân tại quân Vinh Lộc, Thừa Thiên. B-52 oanh tạc phía Bắc khu Phi quân sự để triệt hạ các ổ súng lớn của BV. Có 126 phi vụ oanh tạc BV.  Ngày 8/10, giao tranh kịch liệt gần thung lũng An Hòa, Quảng Tín. Căn cứ Mỹ tại Đồng Tâm, Mỹ Tho bị pháo kích, 28 quân nhân Mỹ bị thương. Có 101 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/10, có 94 phi vu oanh tạc BV, 1 phi cơ F-105 Mỹ bị 1 Mig-21 BV bắn rớt trong một cuộc không-chiến gần Hà Nội. Ngày 10/10, hơn 3.000 TQLC Mỹ được gửi tới tăng cường phòng thủ vùng Phi quân sự gần Quảng Trị. Có 93 phi vụ oanh-tạc BV. Ngày 11/10, hành quân Aron 3 tại Phước Tuy. Hành quân Cửu Long 66/SĐ tại Cai Lậy, Định Tường. Hành quân King Fisher tại Quảng Trị. Căn cứ Cồn Tiên bị pháo kích dữ dội. B-52 vẫn dội bom phỉa Bắc vùng Phi quân sự. Ngày 12/10, Tỉnh ly Châu Đốc bị pháo kích. Hành quân Mac Arthur mở tại Pleiku, Darlac và Phú Bổn. Có 143 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 13/10, các căn cứ Mỹ tại Quảng Trị, bị pháo kích dữ dội. Có 154 phi vụ oanh tạc BV. B-52 tiếp tục dội bom vào các cơ sở quân sự phía Bắc khu Phi quân sự. Ngày 14/10, một tiểu đoàn quân BV pháo kích, và tấn công kịch liệt váo căn cứ Mỹ ở Cồn Tiên. Từ 26-9 đến 2-10, phi cơ B-52 của HK đã phá tan 109 căn cứ, kho đạn, kho dầu của BV trên vùng Phi quân sự. Ngày 16/10, Quận lỵ Đức Hoà, Hậu Nghĩa, bị pháo kích dữ dội. Có 105 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 17/10, giao tranh kịch liệt giữa một tiểu đoàn Mỹ và vài tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 241 VC tại một khu rừng thuộc tỉnh Bình Long. Có 110 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/10, có 100 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 19/10, có 77 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 20/10, có 51 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/10, giao tranh kịch liệt cách Hội An 12 cây sổ về phía Nam. Hành quân Lam Sơn 138/XDNT tại Quảng Trị. Có 91 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 22/10, có 113 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/10, trên 3.600 binh sĩ HK vừa sang VN, được đưa tới tăng cường lực lượng tại mặt trận Quảng Trị. Giao tranh kịch liệt cách Tam Kỳ 21 cây số về Tây-Bắc. Có 105 phi vụ oạnh tạc BV. Ngày 25/10, có 125 phi vụ oanh tạc BV. Không chiến trên không phận Hà Nội, 1 Mig-21 của Mỹ bị F-4 BV bắn rớt. Ngày 26/10, tỉnh lỵ Mỹ Tho bị pháo kích. Có 142 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/10,  hành quân Cửu Long 67/SB tại Kiến Hòa. Nhiều cuộc giao tranh dữ dội, giữa 5 đại đội Mỹ và 2 tiêu đoàn VC phía Tây Bắc Tam Kỳ. Đồn Phước Hoà, Phước Long bị tấn công rất mạnh. Có 144 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/10, trung đoàn 763 VC tấn công đồn Địa phương quân Lộc Ninh. Có 107 phi vụ oanh tạc BV. Thiệt hại trong tuần qua: VC-BV 1.389 chết; VNCH 210 chết, 693 bị thương; Hoa Kỳ 196 chết, 547 bị thương; Đồng Minh 60 chết, 120 bị thương. 

Ngày 30/10, tại Dinh Độc lập, hồi 7 giờ 15 tối, giữa lúc có tiệc trà mừng ngày nhậm chức của Tổng thống và Phó tổng thống 4 trái đạn sáng cối 60 ly bắn vào vườn Dinh và đường Nguyễn Du cạnh dinh. Ngày 30/10, hành quân Kentucky tại Tây Bắc Quảng Trị. Hành quân Scotland mở tại Tây Nam Quảng Trị. Có 138 phi vụ oanh tạc BV. 

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1967. Ngày 1/9, hơn 114 kí vàng lậu bị tịch thu trên 2 phi cơ Lào tại Tân Sơn Nhứt. Ngày 2/9, chấm dứt cuộc vận động tranh cử Tổng thống và Thượng nghị sĩ. Ngày 3/9, hôm nay, bầu cử Tổng thống và Thượng nghị sĩ, nhiều vụ phá hoại xảy ra trên toàn quốc làm 65 người chết và 306 người bị thương. Ngày 3/9, Ứng cử viên Tổng thống Nguyễn Văn Thiêu hứa gửi đề nghị hòa đàm cho BV nếu được đắc cử. Ngày 4/9, đến sáng hôm nay Liên danh Nguyễn Văn Thiệu/Nguyễn Cao Kỳ dẫn đầu với 1.638.902 phiếu bầu, Liên danh Trương Đình Dzu/Trần Văn Chiêu 800.285 phiếu. Cuối cùng là Liên danh Trần Văn Lý/Huỳnh Công Dương 91.387 phiếu. Ngày 4/9, kết quả bầu cử Tổng thống (niêm yết tại Quốc hội lúc 19 giờ 30), Liên danh Nguyễn Văn Thiệu/Nguyễn Cao Kỳ đưọc 1.178.768 phiếu. 

Ngày 5/9, Quốc hội tuyên bố kết quả tạm thời cuộc bầu cử Tổng thống, Liên danh Nguyễn Văn Thiệu/Nguyễn Cao Kỳ đắc cử với 1.649.561 phiếu. Liên danh Trương Đình Dzu/ Trần Văn Chiêu đứng hàng thứ 2 với 817.120 phiếu; Liên danh Trần Văn Lý/Huỳnh Công Dương chỉ có 92.604 phiếu. Ngày 6/9, kết quả tạm thời bầu cử Thượng nghị viện Liên danh Trần Văn Đôn dẫn đầu với 978.137 phiếu; Kế đến các Liên danh Nguyễn Gia Hiến, Nguyễn Văn Huyền, Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Ngọc Kỷ, Phan Bá Cầm, La Thành Nghệ, Trần Văn Lắm, Vũ Quốc Thúc, Mai Văn Lễ (521.297 phiếu). Ngày 8/9, tại Đô thành, có tới 301 ứng cử viên ra tranh 15 ghế Dân biểu Hạ nghị viện. Ngày 12/9, tính đến hôm nay, số ứng cử viên Hạ nghị viện lên tới 1.650 để tranh 137 ghế. (Được biết sẽ dành 6 cho Việt gổc Mên, 6 cho Thượng, 2 cho Chàm và 2 cho Thượng BV di-cư). 

Ngày 13/9, Quốc hội lưu nhiệm nhóm họp về kết quả bầu cử Tổng thổng và Phó Tổng thống, có nhiều tỉnh, chưa kịp gửi hồ sơ đầy đủ, đúng hạn ngày 10-9-67. Chủ tịch QH tuyên bố: chưa thể công bổ kết quả chánh thức. Ngày 14/9, theo Tổng cuộc Gia cư, tổng số nhà tại Đô thành hiện nay là 205.792 căn; và ở khắp miền Nam là 2.653.395 căn. Ngày 15/9, Hội đồng Dân Quân, thành lập từ 5-7-1966 với 75 Hội viên nhóm họp và biểu quyết xin chẩm dứt nhiệm vụ. Ngày 15/9, có 4 sĩ quan cấp Tướng và 1 Đại tá Tĩnh trưởng bị thanh trừng. Ngày 18/9, Hội đồng Tuyển cử Trung ương tuyên bố kết quả bầu cử Thượng nghị viện. Trúng-cử: các Liên danh Trần Văn Đồn (980.474 phiếu), Nguyễn Văn Huyền (631.616 phiếu), Nguyễn Gia Hiến (600.720 phiếu), Huỳnh Văn Cao (569.975 phiếu), Trần Văn Lắm (553.720 phiếu). Nguyễn Ngọc Kỷ (553.632 phiếu). Ngày 21/9, tại Bộ Tổng tham-mưu, lễ tiếp nhận 42 triệu Mỹ kim đồ hộp do quân đội và chính phủ HK tặng quân đội VNCH đề cải thiện đời sổng quân nhân VN. 

Ngày 23/9, ngưng chức, phạt trọng cấm 3 trung tá, 1 thiếu tá Tỉnh trưởng bị ngưng chức, thuyên chuyển; 2 thiếu tá Phó tỉnh trưởng Nội an bị ngưng chức và phạt trọng cấm; 1 đại úy, 1 trung uý Quận trưởng bị thuyên chuyển và phạt trọng cấm. Ngày 25/9, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ chủ toạ lễ đặt viên đá đầu tiên xây công cở tỉnh lỵ Tuyên Đức tại xã Tùng Nghĩa, quận Đức Trọng, cách Đà Lạt 33 cây số. Ngày 26/9, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố, sẽ có biện pháp mạnh nếu cần đối với các phe nhóm biểu tình gây rối. Ngày 30/9, Uỷ ban Đặc bỉệt Quốc hội nhóm họp suốt đêm từ chiều qua, thông cáo có nhiều sự vi phạm luật lệ bầu cử Tổng thống, và biểu quyết đề nghị hủy bỏ kết quả cuộc bầu cử ngày 3-9-67, với 52 phiếu thuận, 13 chống. Ngày 1/10, tính dến hôm nay, tổng số ứng cử viên Hạ nghị viện trên toàn quốc là 1.240 người, trong 53 đơn vị bầu cử cho 137 ghế. 

Ngày 2/10, Quốc hội nhóm họp và biểu quyết thừa nhận kết quả bầu cử Tổng thống ngày 3-9-67, với 58 phiếu thuận, 43 phiếu chống, và 1 phiếu trắng, 4 phiếu không hợp lệ trên 107 dân biểu có mặt. Chủ tịch Quốc hội Phan Khắc Sửu không bỏ phiếu, và tuyên bố từ chức để phản đối sự hợp thức hóa kết quả bầu cử Tống thống. Ngày 2/10, Nông dân mua ruộng truất hữu được miễn thuế điền thổ trong 12 năm kể từ ngày nhận ruộng. Ngày 2/10, Thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng, Tổng ủy viên Xây dựng Nông thôn, được cử làm Phó Tổng Tham mưu trưởng, phụ trách Địa phương quân và Nghĩa quân. Ngày 5/10, Ngân sách Quổc gia 1967 được ấn định lại là PHẦN CHI: 83 tỷ thay vì 75 tỷ, và PHẦN THU 66 tỷ thay vì 58 tỷ. Ngày 8/10, mưa lớn từ hai hôm nay tại Trung phần. Cầu Nam ô cách Đà Nằng 7 cây bị nước cuốn văng ra biển. Gần phi trường Phà Bài, một cầu khác cũng sập chìm. Tỉnh lỵ Quảng Ngãi bị ngập nước, sập 12 cây cầu, 12 người chết, 540 căn nhà hư hại nặng hoặc bị nước cuốn trôi. 

Ngày 11/10, Thượng nghị viện bầu ngày 3-9-67, khai mạc khoá họp tại Hội trường Diên Hồng, Sài Gòn. Ngày 12/10, trong phiên họp đầu tiên, Thượng nghị viện yêu cầu chánh phủ phóng thích một số phạm nhân và những người bị bắt giữ vì phản đối bầu cử gian lận. Ngày 16/10, theo Đặc ủy trưởng Tị nạn, tại các tỉnh miền Bắc Trung phần có 12 trại định cư với 10.000 dân, đương lo đói vì chỉ có thể tiếp tế bẳng trực thăng, mà phương tiện chuyên chở này rất thiếu. Ngày 19/10, Thượng nghị viện hợp thức hóa cả 60 nghị sĩ vừa đắc cử. Ngày 19/10, theo Sở Công chánh Đô thành, 320 cây số đường Sài Gòn bị hư hỏng 70%; Và 495 cây số thuộc Gia Định cũng ở tình trạng tương tự. Ngày 22/10, bầu cử Hạ nghị viện VN trên toàn quổc, tỷ lệ đi bầu là 73%. Tại Đô thành, 57,8% cử tri đi bầu. Ngày 24/10, Khánh thành trường Trung học Kỹ thuật Thủ Đức do Tây Đức viện trợ, với kinh phí 37 triệu bạc, và dụng cụ trang bị trị giả 12 triệu. 

Ngày 24/10, động viên từng phần nhân lực để đáp ứng nhu cầu quổc phòng. Hạn tuồi gọi nhập ngũ từ 18 đến 33; và 34 đến 45 đối với chuyên viên các ngành. (S.Luật 043/67 và S.L. 125/SL/QP). Ngày 29/10, Quy chế mới về nhân viên Ngoại giao và Lãnh sự: phải phục vụ 1 năm ở Bộ mới được cử ra ngoại quốc; thời gian phục vụ ở ngoài tối đa là 4 năm (S.L. 157/SL/NG). Ngày 29/10, Trường Cao đẳng Kiến trúc được biến cải thành Đại học Kỉển trúc Sài Gòn (S.L. 159/SL/GD). Ngày 30/10, Lễ nhậm chức của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ trước Quốc hội đường Tự Do, Sài Gòn. Huy hiệu Tổng thống là hai con rồng bao quanh một cái khiên nền quổc-kỳ (S.L. 001/TT/SL) Ấn tín Tổng thống cũng mang huy hiệu đó (S.L. 002/TT/SL). Uỷ ban Hành pháp Trung ương từ chức. Luật sư Nguyễn Văn Lộc được cử làm Thủ tướng.   

NỘI TÌNH VNCH: NĂM 1967. Ngày 7/9, tất cả 8 Liên danh ứng cử Tổng thống thất cử họp báo trước trụ sở Quốc hội, và ký đơn khiếu nại về kết quả bầu cử bị coi là gian lận. Ngày 21/9, các ứng cử viên thất cử Tổng thống, Phan Khắc Sửu, Trương Đình Dzu, Vũ Hồng Khanh lại họp báo trước thềm Quổc hội, đòi hủy bỏ kết quả bầu cử ngày 3-9-67 vì gian lận. Ngày 22/9, Cựu Tổng ủy viên Kinh tế Tài chánh Âu Trường Thanh bị mời đến Tổng nha Cảnh sát thẩm vấn về tin thân Cộng. Ngày 24/9/67, họp báo tại chùa Ấn Quang, cảc thượng tọa Thiện Luật, Từ Quang, Pháp Tri, Huyền Quang v.v... tham-dự, ra tuyên cáo phản đối Hiến chương Phật giáo mới, và tán thành cuộc vận động đòi hủy bỏ kết quả bầu cử Tổng thống ngày 3-9-67. Ngày 24/9, Ủy ban Bảo vệ Hiến chương Phật giáo (củ) tổ chức hội thảo tại Huế và chùa Tỉnh hội Đà Nẵng. Ngày 25/9, sau sinh viên Sài Gòn, hôm nay sinh viên Đại học Cần Thơ hội thảo và đòi hủy bỏ kết quả bầu cử Tổng thống ngày 3-9-67. 

Ngày 26/9, các Thượng tọa chùa Ấn Quang thông báo sẽ tố chức các cuộc biểu tình trên toàn quổc yêu cầu thu hồi Hiến chương Phật giáo mới; Các đoàn tăng ni sẽ mang đơn tới dinh Độc Lập và các toà Thị trưỏng, Tỉnh trưởng. Ngày 27/9, Vài trăm sinh viên thuộc Ủy ban Sinh viên Liên viện Đấu tranh Dân chủ nhóm họp tại trụ sở đường Duy Tân, Sài Gòn đòi hủy bỏ kết quả bầu cử Tổng thống ngày 3-9, và công kích HK đã xen lấn vào nội tình VN. Ngày 28/9 hồi 8 giờ hơn, các Thưọng tọa Trí Quang, Phảp Tri, Quảng Long, Pháp Lan cùng với 500 tăng ni thuộc phe Ấn Quang, tới trước dinh Độc Lập trao thư yêu cầu thu hồi Sắc luật 23/67 thừa nhận Hiến chương Phật giáo mới do Viện Hỏa Đạo đường Trần Quốc Toản soạn thảo; nhưng không chịu gặp Thượng tọa Tâm Châu. Đối thoại 20 phút giữa Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thượng tọa Thích Trí Quang. Các tăng ni ra về lúc quá trưa. 

Ngày 29/9, Văn phòng UBLĐQG thông cáo: chỉ thanh thỏa thỉnh nguyện của các giáo phái Phật giáo khi duyệt y Hiến chương mới, không xé Hiến chương cũ, không gây chia rẽ. Nếu các lãnh tụ Phật giáo nhóm Ấn Quang thỏa thuận xét lại vấn đề cùng nhóm Thích Tâm Châu, thì UBLĐQG cũng sẵn sàng chấp nhận. Ngày 29/9, Hội đồng Dân tộc Cách mạng, nhóm bảc sĩ Nguyễn Xuân Chữ, thông cáo: quyết lập một Uỷ ban hòa giải đề dàn xếp vụ tranh chấp giữa Phật giáo và Chánh phủ. Ngày 29/9, Luật sư Trương Đinh Dzu bị Cảnh sát bắt giữ vì không chịu tới Biện lý cuộc theo giấy mời. Ngày 30/9, vài trăm sinh viên xuống đường và tụ tập trước Quốc hội, phá bảng công bố kết quả bầu cử, có xô xát với Cảnh sát. 

Ngày 2/10, Thượng tọa Thích Trí Quang và 4 Thượng tọa vẫn ngồi hoặc nằm ở gốc cây trên bãi cỏ trước dinh Độc Lập. Thượng tọa Thích Hải Trang dọa tự thiêu nếu cần. Ngày 3/10, Thượng tọa Thích Tâm Châu cử Thượng tọa Thích Trí Dũng đến bãi cỏ trước dinh Độc Lập điều đình cho hai bên Ấn Quang và VN Quổc tự gặp nhau dàn xếp vụ tranh chấp. Thích Trí Quang giữ nguyên lập trường: không nói chuyện với Thích Tâm Châu. Ngày 20/10, Luật sư Trương Đinh Dzu lại bị tòa Sơ thẩm Sài Gòn tuyên phạt khuyết tịch lần thứ hai: 3 tháng tù ở về tội ký ngân phiếu không bảo chứng, và 6 tháng tù về tội chuyển ngân phi pháp

Sydney ngày 12 tháng 4 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN BA

Bài 104: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN LỘC: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 11-12/1967.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1967. Ngày 1/11, Tổng thống Johnson lại xác nhận tiếp tục chính sách của HK tại VN cho tói khi Hà Nội chịu nghị hòa. Cùng ngày 1/11, Phi cơ C-118 chở Phó tổng thống HK ra thăm vùng Phi quân sự, phải đáp xuống Phú Bài vì bị trúng đạn. Có 137 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 4/11, theo Bộ trưởng QP Mỹ, McNamara, kề từ tháng 2-1968, HK sẽ hoàn thành hê thống Radar “xa quá chân trời” đề biết trước 15 phút các vụ oanh tạc từ quỷ đạo bằng bom không gian. Ngày 8/11, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng gửi công điện chủc mừng Sihanouk nhân dịp kỷ niệm Độc lập Cao Mên, và cảm ơn Sihanouk đã giúp đỡ nhiều trong công cuộc chiến đấu chổng Mỹ. Ngày 10/11, Hoa Kỳ đương thương lượng tăng viện trợ từ 60 triệu lên 110 triệu Mỹ kim cho Thái Lan với điều kiện Thái gửi 1 sư đoàn nữa sang tham chiến tại VN. 

Cũng ngày 10/11, tổng số phi cơ Mỹ bị bắn rớt trên không phận BV là 735. Ngày 12/11, tổng số thiệt hại của HK từ đầu năm 1966 tởi nay là 14.621 chết, 48.565 bị thương, 826 mất tích. Ngày 14/11, Thái Lan báo tin sẽ gửi sang VN một lực lượng chừng 20.000 quân do HK võ trang. Thủ tướng Sato cho biết, Nhật chỉ có thế giúp VN về mặt kinh tế. Ngày 15/11, Tổng thống Johnson thảo luận với đại sứ Bunker, tướng Westmore­land và các cố vấn về vấn đề VN, đề duyệt lại kết quả chiến đấu và chánh sách cần theo. Tướng Westmoreland xin tăng quân số Mỹ tại VN từ 468.000 lên 525.000 trước tháng 6-1968. Ngày 17/11, Hoa Kỳ lập cầu không vận nang tên hành quân Screaming Eagle chuyển từ Mỹ sang VN, 10.000 quân thuộc Sư-đoàn 101 Nhảy Dù; 5.118 tấn dụng cụ, và 37 trực thăng sẽ kết thúc ngày 29-12-67. Ngày 20/11, Cơ sở Ủy hội Quốc tế ở Hà Nội bị trúng bom, một nhân viên thiệt mạng. Ngày 24/11, Bộ Quốc phòng HK xét việc cung cấp cho quân đội VNCH 225.000 súng M-16. và M-60, là các loại vũ khí tối tân cho bộ binh.

Ngày 25/11, theo bộ Quốc phòng Mỹ, tới nay 4.800 hỏa tiễn SAM đã được phóng lên, nhưng chỉ bắn trúng 102 phi cơ Mỹ trên không phận BV. Cũng ngày 27/11, BV và VC bác bỏ đề nghị hòa đàm của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Cùng ngày 27/11, có nhiều tin đồn Bộ trưởng McNamara từ chức, và được cử làm Chủ tịch Ngân hàng Quốc tế. Ngày 28/11, Đại hội Liên hiệp Quốc biểu quyết không cho Trung Cộng gia nhập LHQ, với 58 phiếu chống gia nhập, 45 phiếu tán thành, 17 phiếu trắng. Trong số tán thành, có Anh và Pháp. Ấn Độ, Nam Dương, Gia Nã Đại bỏ phiếu trắng. Ngày 28/11, cựu Tổng thống Eisenhower tuyên bố: cần chiếm đóng vùng Phi quân sự và truy kích Cộng quân vào Lào, Mên và Trung Cộng nếu cần. Ngày 30/11, tổng số thiệt hại của Mỹ kể từ khi Mỹ lâm chiến: 15.058 tử thương, 94.469 bị thương, 914 mất tích, 758 phi cơ bị bắn rớt ở BV, 215 tại miền Nam, 828 bị phá hủy ở mặt đất.

Ngày 1/12, báo chí tại Sài Gòn loan tin: có một số đại diện MTGPMN vô thủ đô tiếp xúc với Tòa Đại sứ HK, đã bị Cảnh sát VN bắt, nhưng được thả ra vì có sự can thỉệp của tòa Đại sứ Mỹ. Cùng ngày 1/12, tòa Đại sứ HK tuyên bố: không hề có sự tiếp xúc với đạỉ diện nào của VC. Thế nhưng, Bộ Ngoại giao Mỹ xác nhận: có thể có cuộc tiếp xúc với các đại diện MTGPMN, nhưng hạn chể trong vấn đề tù binh HK mà thôi.  Cũng ngày 1/12, Báo chí HK loan tin: Ngoại trưởng Dean Rusk sắp gặp U-Thant để đưa vấn đề VN ra trước Đại hội Liên hiệp Quổc. Chánh phủ Nga Sô nhắc lại: Đại hội Liên hiệp Quổc và Hội đồng Bảo an Liên-hiệp Quổc không có quyền xét vấn đề VN. Ngày 4/12, theo Ngũ giác đài, HK đã thả xuống BV và miền Nam VN: 1.630.500 tấn bom từ tháng 7/1960 đến 15-11-1967 so với 1.544.463 tấn thả xuống Âu-châu trong Thế chiến II; 635.000 tấn thả xuống Hàn quốc; và 502.781 tấn xuống Thái bình Dương. tương đương 53% bom thả xuống BV. 

Cùng ngày 4/12, Báo Newsweek loan tin: theo tài liệu do một cựu Bộ trưởng miền Nam cung cấp, thì miền Bắc chủ trương lập một Chánh phủ liên hiệp tại miền Nam; MTGPMN sẽ đổi thành một chánh đảng, và quân BV sẽ rút ra Bắc. Cũng ngày 4/12, Bộ Ngoại giao HK cho biết: tin này đáng chú ý. Ngày 5/12, theo Bộ Quốc phòng HK, 2.956 phi cơ và trực thăng đã bị tổn thất tại VN tương đương 3 tỷ Mỹ-kim. Ngày 9/12, Tổng thư ký Liên-hiệp Quổc, U-Thant, xác nhận, rằng VC không muốn ra Hội đồng Bảo an hoặc Đại hội Liên hiệp Quốc, song muốn đặt cạnh Liên hiêp Quổc một phái đoàn không chánh thức như của Mặt trận Giải phóng Algérie trước kia. Ngày 12/12, tại Mỹ, Mục sư Martin Luther King, thành viên Ủy ban Vận động thương thuyết mang thỉnh nguyện thư có 500.000 chữ ký, gửi Liên hiệp Quốc yêu cầu can thiệp ngưng oanh tạc BV và kêu gọi ngừng bắn. Ngày 13/12, tin ngoại giao từ Hoa Thịnh Đốn, giới hữu quyền Mỹ có thể tiếp xúc với những phần tử bất mãn của MTGPMN. 

Ngày 17/12, Thủ tướng Úc, Harold Holt, bơi ra ngoài khơi Portsea, bị sóng cuốn mất tích. Ngày 18/12, Chánh phủ HK lại xác nhận giữ nguyên giá vàng 35 Mỹ kim mỗi once. Song dư luận giới tài chánh và tiền tệ quổc tế vẫn bi quan về tương lai đồng Mỹ kim. Ngày 19/12, Tổng thống Johnson tuyên bố tán thành lập trường của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: tiếp xúc không chảnh thức với phái viên của MTGPMN nhưng không thừa nhận Mặt trận này. Đồng-thởi, ông đưa ra 4 điều kiện tiên quyết đễ hòa đàm: ngừng bắn ở vùng Phi quân sự; thương thuyết về vấn đề thống nhất; quân BV rút khỏi xứ Lào; sổ dân sống trong vùng do VC kiểm soát phải được hưởng quyền tự đo theo Hiến pháp. Ngày 20/12, Lữ-đoàn 11 Bộ-binh HK (Jungle Warriors) 4.300 người, đồ bộ lên Qui Nhơn. Quân số HK hiện nay lên tới 475.000 người. Ngày 22/12, Phát ngôn viên tòa Bạch ốc cải chính tin đồn có sự bất đồng ý kiến về vấn đề hòa bình, giữa hai Tổng thống HK và VNCH. 

Cùng ngày 22/12, theo nhiều dư luận báo chí thì Tổng thống Johnson muốn có tiếp xúc với MTGPMN nhiều hơn Tổng thống Nguyễn Văn Thiêu. Báo Newsweek còn cho rằng HK có thể theo đường lối  hòa bình riêng, nếu VNCH từ chổi. Ngày 23/12, sau khi dự lễ cầu hồn cho cố Thủ tướng Úc, Tổng thống Johnson ghé qua Thái Lan, rồi sang Cam Ranh ủy lạo quân đội Mỹ trong 2 giờ. Ngày 23/12, Lực lượng Đồng minh tại VN: HK: 478.000; Úc, Đại Hàn, Thái Lan, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân: 60.000. VNCH: gần 700.000. Theo ước lượng của HK, thì VC và BV có từ 223.000 đến 248.000.Ngày 24/12, trong cuộc tiếp kiến Tổng thống Johnson, Giáo hoàng đã yêu cầu ngưng oanh tạc BV. Tổng thống Johnson trình bày đã ngưng oanh lạc 5 lần, nhưng không cỏ hiệu-quả. Ngày 24/12, theo Viện Thống kê Harris, thì hiện nay 63% dân chúng HK chống ngưng oanh tạc BV; 49% tán thành để bộ lên BV; 63% đồng ý phải tăng chiến đấu; 66% đòi VNCH gánh nhiều hơn trảch nhiệm về chiến tranh. 

Ngày 24/12, Cựu Tổng thống Eisenhower lại nhắc “nếu HK rút khỏi VN thì cả Đông Nam Á sẽ lọt vào tay Cộng sản”. Ngày 25/12, Báo Nhân Dân Hà Nội lại bác bỏ các đề nghị hòa đàm của Tổng thống Johnson. Ngày 26/12, theo tướng Westmoreland, trong năm 1967, BV và VC đã tổn thất 80.000 quân. Ngày 29/12, tổng số thiệt hại của quân đội Mỹ tại VN từ 1-1-1961: 15.812 tử thương, 52.665 bị thương, 866 mất tích. Tổng số phi cơ bị hạ trên không phận BV: 771. Ngày 30/12, Thủ tướng Souvanna Phouma tuyên bố: thất vọng đối với chánh sách liên hiệp tại Lào theo Hiệp ước Genève 1962, vì các hoạt động của Pathet và sự can thiệp của BV. Tính đến 31/12, tổng số quân Mỹ tại VN: 486.000 (31-12-66 là 389.000); Tổng số quân Đông-minh: Đại Hàn, Tân Tây Lan, Úc, Thái và Phi là 60.000 (31-12-66 là 53.000).       

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1967. Ngày 2/11, hơn 3 tiểu đoàn VC tấn công vào 2.000 quân đồn trú Mỹ tại Lộc Ninh. Có 36 trực thăng tới bắn yểm trợ, đưa 6.000 tăng viện và chở tới 40 đại bác 105 và 175 cho Lộc Ninh. Có 152 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 3/11, quận lỵ Bình Chánh, Gia Định bị pháo kich. Giao tranh kịch liệt giữa 1 đơn vị Mỹ với 1 tiểu đoàn VC gần cầu Đại Lộc, Đại Lộc. Kểt quả trận Lộc Ninh 860 VC tử thương. Phía Mỹ 11 chểt, 66 bị thương; phía VNCH 31 tử thương và 165 bị thương. Lực lượng tham chiến của VC, 3 Trung đoàn Q 761, Q 762 và Q 763 thuộc các Sư đoàn 7 và 9 BV. Ngày 4/11, Trại Lộc Ninh, hiện có 4 tiểu đoàn Mỹ đóng chung quanh căn cứ chính tại thị trấn, nơi đồn trú 1.000 quân. Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 VC vẫn lẫn quất trong vùng. Có 82 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 5/11, Tỉnh lỵ Châu Đốc bị pháo kich. Tỉnh lỵ Mỹ Tho cũng bị pháo kích. Chi khu Cai Lậy, Định Tường bị pháo kích và tấn công.

Ngày 6/11, hành quân Quyết Thắng 654/XDNT tại Quảng Ngãi. Một đại đội của VNCH bị phục kỉch tại Phước Bình gần biên giới Mên-Việt. Phi cơ Mỹ oanh tạc ngoại ô Hà Nội ba đợt trong nữa giờ, 1 Mig-17 bị Phantom Mỹ bắn rớt. Ngày 7/11, lại giao tranh đữ dội quanh Lộc Ninh. Tại Dakto, gìao tranh và kịch chiến suổt 3 ngày đêm qua. Hành quân Essex TQLC Mỹ chiếm một làng cách Đà Nẵng 41 cây số về Tây Nam do quân chính qui BV đóng, giao tranh dữ dội. Có 125 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/11, hành quân Long Phi 137/SĐ tại quận Kiến Văn, Kiến Phong. Giao tranh kịch liệt gần Dakto, Kontum. Có 113 phi vụ oanh tác BV. Ngày 10/11, có 153 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 11/11, giao tranh dữ dội nhiều lần tại Dakto. Có 120 phi vụ oanh tạc BV. 2 chiếc F-4 của HK bi bắn rớt. Ngày 12/11, Căn cứ Mỹ lại Phước Bình, Phước Long bị pháo kích. Trung tâm Huấn luyện Quang Trung bị pháo kích. 

Ngày 13/11, nhiều cuộc giao tranh kịch liệt tiếp tục quanh Dakto. Hoả lực pháo binh BV rất mạnh, số quân tham chiến chừng vài trung đoàn. Quân Mỹ thuộc Lữ đoàn 173, với sự yểm trợ tối đa của B-52. Có 93 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 14/11, hành quân Dân Chí 309/SB tại Long Mỹ, Chương Thiện. Có 81 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/11,  phi trường và căn cứ lực lượng đặc biệt tại Dakto bị pháo kích dữ dội 7 lần, 2 vận tải cơ C-130 bị thiêu hủy, nhiều cơ sở bốc cháy. Có tới 114 quân nhân Mỹ tử thương, 548 bị thương quanh Dakto từ ngày 1-11. Phía BV và VC 706 chểt. Căn cử Mỹ tại Củ Chi, Hậu Nghĩa, bị pháo kích. Có110 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 16/11, hành quân Kham Zei 180 cấp trung đoàn tại vùng Đông-Bắc Dakto. 4 trung đoàn BV bao vây Dakto và trọng pháo từ các đồi cao bắn xuống. Phi đạo không xử dụng được, đường tiếp tế duy nhất quân đội Mỹ còn kiễm soát là tỉnh lộ Kontum. 

Ngày 16/11, Mỹ đã bắn ra 43.000 đạn trọng pháo trong tuần qua. Có 91 phi vụ oanh tạc BV. Và 568 phi vụ tại miền Nam. Ngày 17/11, hành quân Kham Zoi 180 gần Dakto, sau nhiều giờ ác chiến, quân Nhảy Dù VN hạ 250 VC, và quân Mỹ chiếm được ngọn đồi 1338 Dakto. B-52 tiếp tục dội bom quanh vùng Dakto. Theo hãng Tass của Nga, phi trường Bạch Mai lần đầu tiên bị oanh tạc, trung tâm truyền tin và đài radar bị trúng bom, 6 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Ngày 18/11, vẫn còn giao tranh gần Dakto, tại đồi 1338 quân đội Mỹ tìm thấy rất nhiều hầm hố và hệ thống điện thoại với máy chế tạo tại Anh, cùng nhiều súng đạn. Lữ đoàn 173 Mỹ truy kích quân BV từ Daklo đến sát biên giới Việt-Mên. Căn cứ Mỹ tại Định Tường bị tấn công dữ dội. Ngày 19/11, Chiến-đoàn 3 Nhảy Dù VN, sau 3 ngày kịch chiến, chiếm được ngọn đồi 1416 cách Dakto 8 cây số về phía Đông, 390 BV tử thương. 

Cùng ngày 19/11, hơn 154 phi vụ oanh tạc BV, các kho quân nhu quanh Hà Nội và Hải Phòng bị dội bom. Cầu nổi trong thành phố Hải Phòng cũng bị phá hủy. 4 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Ngày 20/11, có 175 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/11, tài liệu bắt được tại Dakto, BV hiện có mặt tại vùng này một Nông trường, tức Sư-đoàn I BV và dự định đánh trận lớn trong 2 tháng tới. Có 126 phi vụ oanh-tạc BV. Ngày 22/11, tại mặt trận Dakto, Lữ-đoàn 173 HK đã chiếm được ngọn đồi 875 gần biên giới Việl-Mên. Có 108 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/11, theo tin quân sự Mỹ, sau 21 ngày ác chiến tại mặt trận Dakto, quân 1.317 BV và VC tử thương, Mỹ và VNCH có 325 thiệt mạng. Có 81 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/11, Ngày 21/11, giao tranh tại Quế Sơn, Quảng Tín. Giao tranh tại Bình Long. Ngày 24/11, một đoàn quân xa Mỹ bị tấn công trên Đường 19 gần Kontnm. Có 97 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 25/11, giao tranh dữ dội quanh Dakto. Có 123 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 26/11, hành quân Việt-Hàn Phi Hổ 2 tại quận Diên Khánh, Khánh Hòa. Căn cứ không quân Nha Trang bị pháo kích. Căn cứ HK tại Kontum và Dakto bị pháo kích dữ dội. Phi cơ B-52 tiếp-tục dội bom xuống những nơi tụ quân BV vùng biên giới Việt-Mên gần Dakto. Có 88 phi vụ oanh-tạc BV. Ngày 27/11, có 117 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/11, có 111 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 29/11, đồn Bố Đức, Phước Long, bị một tiểu đoàn chính qui BV tấn công, nhưng vẫn giữ được. Chiến đoàn 3 Nhảy Dù giao tranh với Trung đoàn 24 VC tại đồi Ngok Pring gần Dakto hạ thêm 173 địch. Có 90 phi vụ oanh tạc BV.

Ngày 1/12, có 65 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 2/12, một đoàn quân xa BV chở quân nhu, võ khí tới một địa  điểm cách Dakto 5 cây số, bị dội bom dữ dội. Có 72 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 4/12, có 80 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 5/12, quá nửa đêm qua, ấp Tân sinh Dakson, Phưởc Long bị pháo kích và tấn công dữ dội. Giao tranh tiếp diễn tại quận Đức Giáo, Định Tường. Có 89 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 6/12, giao tranh dữ dội tại Bồng Sơn. Các căn cứ Mỹ ở sát vùng Phi quân sự bị pháo kích. Có 93 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 8/12, giao tranh lớn giữa các đơn vị BĐQ và Sư đoàn 21 Bộ binh, với 2 tiểu đoàn quân chính qui BV tại Thác Lác, Vị Thanh. Có 73 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 10/12, theo Thiếu tướng Tư lịnh Sư đoàn 21 VNCH, trận đánh bên bờ kinh Thác Lác, Vị Thanh: 451 VC tử thương trong đó có rất nhiều VC từ 14 đến 16 tuổi. Hành quân Long Phi 9/143, tại Càng Long, Vĩnh Bình. Giao tranh nhiều trận dữ dội tại Bồng Sơn, Quảng Ngãi. Một đơn vị chính quy BV tấn công căn cứ pháo binh Mỹ gần An Lộc, Bình Long.

Ngày 12/12, có 88 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 13/12, có 92 phi vụ oanh tạc BV. Hà Nội bị dội bom từ 12 giờ đến 13 giờ. Ngày 14/12, hành quân Cửu Long 72/SĐ/67 tại Cái Bè, Định Tường. Giao tranh tại Phù Mỹ, Bình Định. B-52 dội bom vào các căn cứ pháo binh BV đặt bên trên vĩ tuyến 17. Có 95 phi vụ oanh tạc BV, không chiến xảy ra trên bầu trời Hà Nội. Ngày 15/12, hành quân Hồng Lạc 958 tại Phù Mỹ, Bình Định. Giao tranh tiếp tục tại Bồng Sơn, Quảng Ngãi. Giao tranh dữ dội gần căn cứ Cồn Tiên. Có 115 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu  8 vị trí hỏa tiễn SAM tại trung tâm Hà Nội, cầu Kiến An, và trung tâm Hảỉ Phòng. Ngày 16/12, có 132 phi vụ oanh tạc BV. Không chiến trên không phận Hà Nội, 1 Phantom Mỹ bị Mig bắn rớt. Ngày 17/12, có 145 phi vụ oanh tạc BV. Không chiến trên vùng trời Hà Nội 2 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Ngày 18/12, hành quân Long Phi 9/144 tại Tiểu Cần, Vĩnh Bình. 

Cùng ngày 18/12, có 110 phi vụ oanh tạc BV, mục tiêu Hà Nội, Gia Lâm, cầu Long Biên. Đây là vụ oanh tạc thủ đô Hà Nội lần thử 6 trong tuần. Không chiến trên bầu trời thành phố Hà Nội, 3 phi cơ Mỹ bị bắn rớt. Ngày 19/12, có 138 phi vu oanh tạc BV, 2 Mig-17 BV bị phi cơ Mỹ bắn rớt. Cầu Long Biên sập 8 nhịp và hư 3 nhịp. Ngày 20/12, Phi trường Cần Thơ bị đột nhập, 8 trực thăng và 2 phi cơ bị hư hại. Có 106 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 21/12, hành quân Dân Chí 315/SĐ gần Vị Thanh, Chương Thiện. Có 90 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/12, có115 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/12, ngay sau 18 giờ, hết hạn hưu chiến, Không quân Mỹ oanh tạc BV, phá hủy 91 xe trong các đoàn xe hàng trăm chiếc tiến về phía Nam, gần Vinh, Thanh Hóa, trên Quốc lộ số I. Ngày 26/12, hành quân Lam Sơn 166 tại thôn Mỹ Thủy, Quảng Trị. Ngày 26/12, có 150 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/12, hành quân Quyết Thắng 98/G tại Quảng Ngãi. 

Cùng ngày 27/11, các đơn vị của Sư đoàn 101 HK, vừa tới VN, chạm súng với VC tại vùng Củ Chi. Căn cứ Mỹ tại Dầu Tiếng, Bình Dương bị pháo kỉch. Có 106 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/12, sau một ngày một đêm kịch chiển, TQLC Mỹ đã chiếm được thôn Thâm Khê tại ranh giới Thừa Thiên-Quảng Trị. Hành quân Auburn gần Hội An. Hành quân Lam Sơn 116 vùng Đông Quảng Trị giao tranh suốt 7 giờ liền. Hành quân Cửu Long 73/SĐ/67 tại Cái Bè, Định Tường. Hành quân Phi Phụng 65 tại Duy Xuyên, Quảng Nam. Tỉnh lỵ Mỹ Tho bị pháo kích. Ngày 29/12, Tỉnh lỵ Chương Thiện bi pháo kích. Hành quân Lam Sơn 123 tại Tây-Nam Pleiku. Hành quân Sóng Thần 809 tại Cai Lậy, Định Tường. Có 66 phi vụ oanh tạc BV,1 phi cơ Mỹ bị bắn rớt gần Hải Phỏng. Ngày 30/12, hai trung đội Mỹ bị phục kích tại Phước Tuy. Có 78 phi vụ oanh tạc BV. Trong tuần qua, quân lực VNCH đã thực hiện 73 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn; 11 cuộc hành quân hỗn hợp; 10.252 hoạt động tuần tiễu và phục kích; 2.390 phi xuất yểm trợ hành quân và tiếp vận; 5.272 hảỉ xuất tuần tiễu, yềm trợ và tiếp vận.  

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1967. Ngày 6/11, Biên bản công chứng về việc tuyên thệ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 30-9-1967, phải trước bạ, và thuế trước bạ là 24$. Ngày 9/11, Lễ trình diện chánh phủ Nguyễn Văn Lộc tại dinh Độc Lập gồm 17 Tổng trưởng, 2 Bộ trưởng, và 7 Thứ trưởng. Ngày 13/11, Lễ bàn giao công việc Phủ Chủ tịch UBHPTƯ cho tân chánh phủ Nguyễn Van Lộc lại dinh Độc Lập. Ngày 14/11, Bộ Thông tin được đổi thành Nha Tổng giám đốc Thông tin trực thuộc phủ Thủ tướng. Ngày 16/11, Chánh phủ VN hoãn việc hành quyết 3 tử tội VC. Hà Nội đe dọa sẽ trả đủa vào tù binh Mỹ. Ngày 20/11, theo Bộ Tài chánh, từ đầu năm nay có 418 xe hơi tạm nhập cảnh, phần lởn do người VN xuất ngoại mua về, có nhiều vụ trổn thuế, thiếu thuế v.v... Ngày 20/11, Tòa án Quân sự vùng III xử vụ đảo chính hụt ngày 19-2-1965: tha bổng 1 đại tá, 1 trung tá và 1 thiếu tá bị phạt 3 và 6 tháng tù treo.

Ngày 21/11, có 51 Dân biểu Hạ vỉện họp thành khối “Phục-hưng Xử-sở”, chủ trương xét lại vị trí quốc gia, tranh thủ chủ quyền, thực hiên đoàn kết, phục hưng kinh tể, phục hồi văn hoá giáo dục, thực hiện ngoại giao mạnh. Ngày 22/11, Lễ ra mắt Nha Tổng giám đổc Công vụ được tái lập. Cùng ngày 22/11, theo Bộ Lao động, hiện có 132.712 người VN và 16.851 người quốc tịch khác giúp việc các cơ sở công, tư HK. Ngày 24/11, theo Bộ Thương mại, tình hình lúa gạo năm tới sẽ khả quan. Mùa lúa tốt hơn mùa năm ngoái, và Hậu-giang sẽ cung cẩp cho Đô thành 300.000 tẩn thay vì 200.000 năm 1967.Ngày 25/11, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: đã cậy nhiều quổc gia chuyển thư cho BV về vấn đề nghị hoà. Cùng ngày 25/11, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc cho biết: Nội các còn đương thời kỳ tổ chức các cơ sở, nên chưa thực sự bắt tay vào các chương trình hoạt động quy mô. 

Ngày 28/11, giá vàng chính thức tại Sài Gòn: 8.000$/lượng. Nhưng vàng đồ 10.800$, vàng lá 9.000$. Ngày 2/12, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố tại Đà Lạt: không ai bắt buộc VN hạn chế chiến tranh. Ngày 4/12, Bộ Ngoại giao VNCH thông cáo: chỉ có thể thương thuyết với BV; Cương quyết không chấp thuận MTGPMN dưới tư cách và danh nghĩa một phái đoàn riêng biệt trong bất cứ cuộc hội đàm nào; Nhân dân VN không thể nào chấp thuận những sự dàn xếp cỏ tính cách phản bội lại xương máu của tất cả chiến sĩ quốc gia đã anh dũng bỏ mình cho sự sinh tồn tự lập của một miền Nam VN độc lập. Ngày 5/12, tại dinh Độc Lập, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc cho các nhà báo biết, một VC định vào liên lạc với giới ngoại giao HK tại Sài Gòn đã bị cảnh sát bắt giữ. Ngày 7/12, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ tuyên bố: không tin rẳng HK liên lạc với đại diện MTGPMN ngay tại Đô thành. 

Ngày 14/12, Bộ Ngoại giao VNCH thông cáo: MTGPMN chỉ có thể đứng trong phái đoàn BV để ra trước Liên hiệp Quốc. Liên hiệp Quốc có thể mời đại diện của MTGPMN với tư cách cá nhân. Song ở mọi trường hợp, phải cỏ sự hiện diện của pháỉ đoàn VNCH, nếu không, mọi quyết định về VN sẽ vô giá trị và không ràng buộc chánh phủ VNCH. Cùng ngày 14/12, tại phi trường Vị Thanh, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố không chấp nhận bất cứ một hình thức liên hiệp nào với Cộng sản. Ngày 15/12, Chánh phủ VNCH thông cáo: sẽ ngừng bắn trong dịp lễ Giáng sinh từ 18 giờ ngày 24-12-67 đến 18 giờ ngày 25-12-67; và 24 giờ vào dịp 1-1-68; 48 giờ vào dịp Tết Nguyên đán. Cùng ngày 15/12, Đài phát thanh VC loan báo, sẽ hưu chiến 13 ngày: 3 ngày nhân dịp Giáng sinh; 3 ngày nhân dịp đầu năm 1968; và 7 ngày vào dịp Tết Nguyên đán.

Ngày 18/12, Tổng trưởng Quốc phòng, tướng Nguyễn Văn Vỹ tuyên bố trước Thượng nghị viện: không thể rút hoặc hoãn thi hành sắc luật về động viên từng phần. Ngày 19/12, với 46/47 phiếu Thượng viện không thỏa mãn lời giải thích cũa Tổng trưởng Quốc phòng Nguyễn Văn Vỹ về Sắc luật động viên từng phần. Ngày 20/12, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu xác nhận: có thể tiếp xúc với những cá nhân thuộc MTGPMN, nhưng chỉ coi họ là thành phần của BV. Chỉ nhận thương thuyết với BV mà thôi. Ngày 21/12, theo Trung tâm Khuếch trương Kỹ nghệ, thì kỹ nghệ dệt hiện nay là ngành phát đạt nhất tại VN, với 8 nhà máy dệt 68 triệu thước vải hàng năm và 2 nhà máy dệt 10 triệu thước tơ bông cùng tơ hóa hợp: 30 triệu Mỹ kim trang-bị, doanh vụ 3 tỷ bạc, 10.000 công nhân. 

Ngày 21/12, giá Mỹ-kim chợ đen, vào khoảng 154$/156$ trong thảng 10/1967 lên dần trong tháng 11, và tới hôm nay là 170$/172$ mỗi đô la xanh. Vàng lá mỗi lượng từ 8.300$ ngày 20-10-67, lên 9.500$. Gạo Nàng Hương, 3.650$ lên 3.900$. Ngày 24/12, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ Úc trở về, tuyên bố: không hề có sự bất đồng giữa hai Tổng thống VNCH và HK về lập trường đối vởi VC; không bao giờ thừa nhận MTGPMN. Cùng ngày 24/12, hơn 1.200 quy chánh viên nhám họp đại hội tại rạp Thổng Nhất, Sài Gòn, và quyết nghị lập hội Ái hữu tương trợ. Ngày 26/12trong hai năm qua, Tổng đoàn Công Kỹ nghệ đã xây dựng được 15 cơ xưởng tại khu Kỹ nghệ Biên Hòa, với kinh phí 97.500.000$. Ngày 27/12, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: liên hiệp với MTGPMN, là tự sát; không bao giờ nhìn nhận MTGPMN là một tổ chức hợp pháp. 

Ngày 28/12, tại Chợ Lớn, Tổng nha Cảnh sát khám phá một tổ chức in giấy bạc và đô la Mỹ giả với nhiều dụng cụ tối tân, thu giữ 250.000 Mỹ-kim giả. Ngày 30/12, ký kết các văn kiện tiếp thu công ty thủy điện CEE của Công ty Pháp, theo đó, Chánh phủ VN thuận trả cho Công ty CEE số tiền 973.999.000$, trả làm hai đợt: 50% được chuyển ngân, 50% trả bẳng bạc VN. 27 chuyên viên Pháp được tạm lưu dụng. Tính đến 31/12, số thường dân bị sát hại: 4.080; bị thương: 8.072; bị bắt cóc: 5.554. Số cán binh VC trở về hàng ngũ Quổc gia: 27.178 người. Số tai nạn lưu thông: 15.619 vụ làm 227 người chết, 9.033 bị thương. Trước gỉờ hưu chiến, quân lực VNCH đã mở 50 cuộc hành quân. Có 81 phi vụ oanh tạc BV.

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1967. Ngày 11/11, Uỷ ban Bảo vệ Hiến chương Phật gíao họp báo tại chùa Ấn Quang, đòi thu hồi Hiến chương mới, có thể đưa vụ này ra trước Pháp luật. Ngày 16/12, trường Đại học Văn khoa có cuộc trình diễn văn nghệ, hai thanh niên và thiếu nữ của MTGPMN trà trộn bất ngờ nhảy lên diền đàn giật máy vi âm tuyên bố kỷ niệm 7 năm MTGPMN, và bắn trọng thương sinh viên Ngô Vương Toại lúc anh này định giật lại máy vi âm. Ngày 18/12, Sinh viên Văn khoa tổ chức cuộc họp báo lên án vụ khủng bố của VC trong buổi trình diễn văn nghệ tối 16-12. Ngày 19/12, Toà án Quân sự Mặt trận Biệt khu Thủ-đô và Vùng III Chiến thuật xử vụ biến động miền Trung hồi thảng 3-1966 gồm 26 bị can từ Trung sĩ trở lên, trong đó có trung tá Trần Văn Mô, đại tá Đàm Quang Yêu, và Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn. 

Ngày 22/12, Tòa án Quân sự Mặt trận tuyên phạt vụ biến động miền Trung 2 án 10 năm khổ sai, và 2 án 10 năm tù ở đối với 1 Bác sĩ và 3 Sĩ quan. 22 bị can khác được tha bổng. Ngày 30/12, sau 3 buổi họp, đại diện Công giáo, Cao đài, Hòa hảo, Tổng giáo hội Phật giáo và hội Khổng học ra bản hiệu triệu kêu gọi ngừng chiến và hòa đàm.

NẠN NHÂN, TỴ NẠN CS. NĂM 1967. Ngày 21/11, theo Bộ Xã hội, hiện có chừng 2,5 triệu đồng bào tị nạn Cộng sản tại 500 địa điểm định-cư, 200 địa điểm tạm trú, 150 lớp học, hơn 6.000 người được huấn nghệ.      

Sydney ngày 13 tháng 4 năm 2024.

 

Bài 105: HAI CUỘC HÀNH QUÂN CẤP QUÂN ĐOÀN TRONG NĂM 1967 LÀ CEDAR FALLS VÀO VÙNG TAM  GIÁC SẮT THÁNG 1, VÀ JUNCTION CITY VÀO TRUNG ƯƠNG CỤC THÁNG 2-4/67.

HÀNH QUÂN CEDAR FALLS: Từ ngày 8 tháng 1 đến 16 tháng 1 năm 1967, Liên quân Việt-Mỹ, mở cuộc hành quân cấp quân đoàn thứ hai, hành quân Cedar Falls, đánh vào vùng "tam giáp sắt" Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát, là nơi có cơ quan đầu não của Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Lực lượng hành quân, gồm Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ, Lữ đoàn 3 Sư đoàn bộ binh số 4, Lữ đoàn 2 Sư đoàn bộ binh số 25, Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 196, Lữ đoàn dù 173, Trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ và một bộ phận Sư đoàn 5 chủ lực quân VNCH, cùng một số quân New Zealand với hơn 400 xe tăng, xe bọc thép, 800 tàu xuồng chiến đấu trên sông, hơn 100 khẩu pháo các loại và nhiều máy bay, kể cả B-52.

Bị áp đảo về quân số và hỏa lực, quân Việt Cộng lẫn tránh, không giao chiến, phân tán rút vào rừng và ẩn nấp trong các địa đạo, chỉ sử dụng các nhóm nhỏ để đánh phục kích. Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hoà tuyên bố đã tiêu diệt 750 quân Giải phóng và bắt 280 tù binh, thu 23 vũ khí hạng trung, 590 vũ khí cá nhân và 200 mìn, lựu đạn, đạn pháo và súng cối. Hơn 100 công trình kiên cố, 250 hầm và hơn 500 công trình khác bị phá hủy. 60 ngàn băng đạn cho vũ khí cá nhân, 7.500 bộ quân phục, 3,7 ngàn tấn gạo và khoảng nửa triệu trang tài liệu bị thu giữ cùng nhiều vật liệu chiến tranh khác. 

Thương vong về phía Mỹ là 72 thiệt mạng và 337 bị thương; phía Việt Nam Cộng hòa là 11 chết và 8 bị thương; 2 xe tăng, 5 xe bọc thép bị phá huỷ; hư hại 3 xe tăng, 9 xe bọc thép, 1 xe tăng hạng nặng, 2 xe ô tô và 2 trực thăng trinh sát nhẹ. Phía Cộng quân thì họ cho rằng, rất ít quân du kích thiệt mạng, về cơ bản các đơn vị của họ không bị đánh bật ra ngoài. Hệ thống hầm ngầm không bị triệt phá mà chỉ bị hư hại một phần. Hố bom loang lổ, hàng mảng đất bị cày xới lên bằng máy xúc. Song không có quả bom nào, không có máy xúc nào khoét đủ sâu để phá hoại được hầm ngầm. 

HÀNH QUÂN JUNCTION CITY: Từ ngày 22/2-14/5/1967, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc mở cuộc hành quân cấp quân đoàn thứ ba, hành quân Junction City đánh vào Chiến khu C Tây Ninh, nơi không chỉ là căn cứ của Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền, Mặt trận Dân tộc giải phóng, mà còn là nơi tích trữ vật chất, có nhiều kho dự trữ chiến lược; là địa bàn đóng quân của Sư đoàn 9 chủ lực Việt Cộng. Về phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, tổng số quân và thiết bị quân sự tham chiến trên 30.000 quân gồm 9 lữ đoàn bộ binh Mỹ; 1 Lữ đoàn Thuỷ quân Lục chiến VNCH, trên 1.000 xe tăng, xe bọc thép, hàng trăm khẩu pháo các loại, 300 trực thăng; 3 phi đoàn máy bay vận tải... do tướng 3 sao Jonathan Seaman, Tư lệnh Dã chiến II trực tiếp chỉ huy. 

Về phía quân Việt Cộng bao gồm chủ lực, địa phương, du kích các cơ quan là 10.000 bộ đội, được chia làm hai bộ phận, một bộ phận phân tán mỏng cùng với du kích các cơ quan lo bảo vệ các căn cứ, kho tàng; một bộ phận được ẩn giấu chờ đối phương sơ hở sẽ tổ chức phản công. Chỉ huy quân Việt Cộng là Lê Đức Anh, Tham mưu trưởng đảm trách. Với ưu thế áp đảo về mọi mặt, cuộc hành quân của Liên quân Việt-Mỹ tiến hành thuận lợi. Đến ngày 15/4/1967, sau 53 ngày hành quân, Liên quân Việt-Mỹ thu được một lượng đáng kể vũ khí, đạn dược, lương thực... nhưng đã không có một trận giao tranh nào lớn với quân Việt Cộng. 

Cộng quân luôn tránh né, chỉ đánh tập kích khi Mỹ sơ hở, rồi rút lui nhanh. Các cơ quan đầu não như Trung ương Cục miền Nam, Bộ chỉ huy Miền, Mặt trận Dân tộc giải phóng, đều thoát khỏi được vòng vây của quân Mỹ. Ngày 14/5/1967, cuộc hành quân Junction City chính thức kết thúc, Hoa Kỳ tuyên bố có 2.728 quân Giải phóng tử trận. Phía Việt Cộng thì cho rằng, con số này là phóng đại; rằng họ đã hạ 282 lính Mỹ chết và hơn 1.500 bị thương, chưa kể thương vong của quân VNCH. Bắc Việt cũng tuyên bố là trong trận này, họ đã loại khỏi vòng chiến 11.000 quân của Mỹ và Việt Nam Cộng hoà, đã phá hủy hoặc gây hư hại 900 xe quân sự, phá hủy 119 súng đại bác hoặc súng cối của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa. 

Sydney ngày 14 tháng 4 năm 2024

(Hết Chương 6 gồm 25 bài: 81– 105)


 




















Chương VII: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 3 CHÍNH QUYỀN VÀ 5 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1968-1969.

(16 bài viết, 79 trang và 57.712 chữ).

Ba chính quyền từ 1968 đến 1969: (1) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Phạm Văn Đồng tại Bắc Việt Nam; (2) Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Huỳnh Tấn Phát; (3) Chính quyền Đệ Nhị Việt Nam Cộng hoà và chính phủ Nguyễn Văn Lộc, chính phủ Trần Văn Hương, chính phủ Trần Thiện Khiêm.

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

Bài 106: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1968-1969. 

Qua 3 năm chiến đấu trực tiếp với quân Mỹ, tuy vẫn đứng vững trên chiến trường và khiến quân Mỹ sa lầy, nhưng thương vong của quân Giải phóng cũng tăng lên, nếu cục diện này tiếp tục kéo dài thì không thể giành được thắng lợi quyết định. Để xoay chuyển tình thế tạo đột phá cho cuộc chiến tranh, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 nhằm tạo ra cái nhìn mới về cuộc chiến theo hướng có lợi cho mình, ("Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị" – Lê Duẩn) buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán. 

Cuộc tiến công đã đồng loạt nổ ra vào đêm 30 Tết Mậu Thân, tức ngày 30 tháng 1 năm 1968, trên khắp các đô thị miền Nam. Cuộc tấn công và nổi dậy diễn ra sau khi phía Việt Nam Cộng hòa hủy lệnh ngừng bắn của họ. Để khuếch đại tiếng vang đến mức tối đa, các lãnh đạo Quân Giải phóng đã lựa chọn phương án mạo hiểm nhất là đánh thẳng vào hậu phương của đối phương. Ngay đêm đầu tiên, lực lượng biệt động Sài Gòn đã nhằm vào các mục tiêu khó tin nhất trong thành phố: Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Sau đó quân tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tiến công đã tạo bất ngờ lớn, gây chấn động dư luận thế giới cũng như gây tổn thất đáng kể cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, quân Giải phóng cũng mắc phải những sai lầm trong kế hoạch tác chiến. Trong việc lập kế hoạch cho cuộc tổng tiến công, Quân Giải phóng đã có những đánh giá không đúng với thực tế tình hình và duy ý chí, nhận định thấp về khả năng của đối phương và đánh giá quá cao khả năng của mình, nên Quân Giải phóng đã phải chịu thương vong lớn. Các chỉ huy địa phương của Quân Giải phóng miền Nam đã không tách bạch rõ đâu là mục tiêu chính trị và đâu là mục tiêu được phổ biến trong quân để cổ vũ khí thế. Đánh lớn là để gây tiếng vang hướng tới dư luận và chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, ngồi vào đàm phán. Còn phổ biến tuyên truyền thì đây là trận "đánh dứt điểm" để nâng cao khí thế chiến đấu.

Các cán bộ địa phương khi lập kế hoạch tác chiến đã không nắm rõ mục tiêu thực chất mà cấp trên đề ra, nên họ lập kế hoạch và tiến hành đánh theo kiểu trận đánh dứt điểm. Ngoài ra, Quân Giải phóng đã không linh hoạt thay đổi tuỳ theo tình hình. Sau đợt tấn công đầu tiên, họ lại phát động tiếp đợt 2 vào tháng 5, đợt 3 vào tháng 8 khi mà kế hoạch đã bại lộ và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại bị tăng thêm. Sau Tổng tiến công Mậu Thân, Quân Giải phóng bị đánh bật khỏi các đô thị: Các đơn vị quân sự chịu nhiều thương vong, nhiều lực lượng chính trị nằm vùng ở đô thị bị lộ và bị triệt phá, thương vong cao hơn hẳn những năm trước. Thậm chí đã có ý kiến trong giới lãnh đạo Quân Giải phóng là cho giải tán các đơn vị cỡ sư đoàn, quay trở về lối đánh cấp trung đoàn trở xuống. 

Họ tránh giao chiến lớn tại miền Nam và rút lui về các chiến khu tại vùng nông thôn, miền núi hoặc đi ẩn náu tại bên kia biên giới Lào và Campuchia, phải tới năm 1970 lực lượng của họ mới hồi phục lại được. Nhờ thế, chiến trường yên tĩnh hơn, giúp Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa có thời gian bổ sung lại những thiệt hại lớn trong năm 1968, đồng thời tiến hành các chiến dịch bình định nông thôn, đặc biệt là chiến dịch Phượng hoàng nhằm triệt phá phong trào chính trị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ở nông thôn và thành thị. Đó là cơ sở để giới quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa cho rằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã thất bại. Tuy nhiên, nhận định của Hoa Kỳ bị xem là quá lạc quan. Trên thực tế, phần lớn Quân giải phóng vẫn bảo toàn được lực lượng, vẫn là thành phần quan trọng trong cuộc chiến, vẫn kiểm soát đồng bằng sông Cửu Long

Mặt khác, Quân Giải phóng cũng có cơ sở để cho rằng Mậu Thân 1968 là một thắng lợi chiến lược trong chiến tranh của họ, bởi họ đã đạt mục tiêu đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có vị thế ngang với Việt Nam Cộng hòa, khiến Mỹ phải xuống thang chiến tranh và bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam. Lực lượng quân Giải phóng bị suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn quân Mỹ một khi đã ra đi thì khó mà trở lại. Ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh, không tăng thêm quân theo yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến trường và từ chối tranh cử nhiệm kỳ tới. 

Tại tỉnh cực Bắc Quảng Trị, sau 170 ngày đêm chiến đấu, Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh đã kết thúc thắng lợi, buộc quân Mỹ phải rút khỏi căn cứ quân sự này. Về mặt chiến lược, kế hoạch xây dựng Hàng rào điện tử McNamara nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ coi như phá sản và không còn căn cứ nào của Mỹ có thể uy hiếp trực tiếp tuyến đường chiến lược này. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam nhanh chóng tận dụng kết quả thu được, từ cuối năm 1968, thêm một tuyến đường Trường Sơn được mở, thường gọi là đường Trường Sơn đông để phân biệt với các tuyến ở phía Tây. So với các tuyến phía Tây, đường Trường Sơn đông ngắn hơn và ít khúc khuỷu hơn, nên việc đưa hàng hóa và bộ đội vào miền Nam nhanh hơn đáng kể. 

Thắng lợi tại Khe Sanh cũng đã cho thấy một bước trưởng thành mới của Quân Giải phóng miền Nam về chỉ đạo chiến lược, chiến thuật, hợp đồng binh chủng. Tất cả những điều trên tạo cơ sở cho Quân Giải phóng thấy rằng họ đã đạt được mục tiêu đề ra của cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 cho dù phải hy sinh nhiều lực lượng. Chính phủ Mỹ phải đề ra chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh khiến chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa phải tự mình chiến đấu mà không còn lính viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến cùng. Về mặt chiến lược lâu dài, đây là bất lợi lớn vì quân đội Việt Nam Cộng hòa, dù trang bị hiện đại vẫn không thể so sánh về chất lượng so với quân viễn chinh Mỹ. Bằng chiến dịch Mậu Thân, Quân Giải phóng đã tạo ra bước ngoặt quan trọng cho cả cuộc chiến, đưa họ gần hơn tới chiến thắng chung cuộc.

Mùa hè năm 1969, tại quần đảo Hawaii, Tổng thống Mỹ mới đắc cử Richard Nixon gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để bàn về việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam. Người Mỹ muốn gọi tiến trình đó là "Phi Mỹ hóa chiến tranh" nhưng phía Việt Nam Cộng hòa phản đối vì gọi như vậy chẳng khác gì thừa nhận rằng đây là cuộc chiến của người Mỹ. Cuối cùng hai bên đồng ý gọi việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam là Việt Nam hóa chiến tranh.

Sydney ngày 15 tháng 4 năm 2024

 

Bài 107: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG, VÀ CHUYỆN KỂ VỀ 52 NGÀY VÂY ÉP CĂN CỨ CỒN TIÊN 3-1968: NGUYỄN HUY HIỆU GHI LAI.

Sách Một Thời Quảng Trị, Nguyễn Huy Hiệu viết: Ngày 13/3/68, sau trận chiến đấu tại làng Phúc Sa, Chính trị viên Cù Huy Đường, và Trung đội trưởng Nguyễn Văn Chấp đã anh dũng hy sinh. Tôi được Tiểu đoàn giao nhiệm vụ thay anh Chấp chỉ huy Trung độiNgày 1 tháng 5 năm 1968, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 ra lệnh cho Trung đoàn 27 vây lại căn cứ Cồn Tiên. Ban chỉ huy đại đội quyết định chọn trung đội của tôi thực hiện. Nhiệm vụ của trung đội là vừa đánh địch gây tiếng nổ, vừa bảo vệ tổ bắn tỉa được bố trí cách căn cứ Cồn Tiên khoảng 1 ki-lô-mét. Trung đội 25 người gồm cả tổ thông tin vô tuyến điện. Trên sẽ tăng cường một tổ bắn tỉa từ Hà Nội vào, ngày nào cũng phải nổ súng. 

Cồn Tiên là cao điểm 158 mét so với mặt nước biển. Mặt đồi khá bằng phẳng. Đứng ở Cồn Tiên có thể quan sát một khu vực rộng lớn, thậm chí nhìn ra tận bắc sông Bến Hải. Do vị trí quan trọng của nó nên quân Mỹ đã xây dựng Cồn Tiên thành căn cứ quân sự mạnh, có lô cốt bê tông cốt thép xen lẫn hầm lát bằng những tấm ghi và xếp những bao cát. Trong căn cứ có một tiểu đoàn lính Mỹ và một đại đội pháo 105 ly. Quanh căn cứ chúng bố trí chín lớp hàng rào dây kẽm gai, với nhiều loại mìn giữa các lớp rào. Cồn Tiên đã bị quân ta vây đánh nhiều lần nên địch rất cảnh giác.  

Tối ngày 8 tháng 5 năm 1968, Trung đội 3 do tôi làm trung đội trưởng được lệnh xuất kích. Trang bị ngoài súng đạn, gạo, lương khô, bông băng cá nhân, chúng tôi còn phải mang mìn định hướng, bộc phá ống, cuốc xẻng. Khoảng 21 giờ thì đến Cồn Tiên. Xung quanh căn cứ pháo phát quang dọn sát hàng rào. Tôi phân công ba người đào một hầm khoét xuống lòng đất rồi đào hàm ếch vào sâu đủ khoảng rộng để nằm nghỉ trong đó. Riêng tiểu đội bảo vệ tổ bắn tỉa thì ra bờ suối Lăng Gô, cách hàng rào thứ nhất khoảng 1 ki-lô-mét, cũng đào hầm hàm ếch. 

Cả ngày anh em chúng tôi nằm dưới hầm. Trời tối tôi dẫn hai chiến sĩ dùng mìn định hướng và bộc phá ống vòng lên phía tây căn cứ phá rào để địch tưởng ta tiến công thật. Đánh xong, đợi im tiếng pháo anh em lại về hầm. Máy bay trực thăng vũ trang, máy bay trinh sát OV10, L19 quần lượn suốt ngày, chỗ nào chúng nghi ngờ có quân ta là phóng rốc-két. Sáng ngày 10 tháng 5 năm 1968, tôi điện báo cáo cho tiểu đoàn đưa tổ bắn tỉa vào chiến đấu. Tôi cử hai chiến sĩ hoạt bát ra đón tổ bắn tỉa. Tối hôm sau, năm chiến sĩ bắn tỉa với năm cây súng trường Hung-ga-ri đã vào vị trí ở suối Lăng Gô. 

Tôi nói với anh em: Xung quanh căn cứ địch không còn một cây cỏ, các cậu phải lợi dụng những bụi tre hóa đã bị bom cháy rụi đào công sự dưới đó, rồi ngụy trang bằng than, tro để địch không phát hiện được. Phải chuẩn bị nhiều điểm bắn. Bắn xong phải di chuyển ngay. Mọi người đều nhất trí với ý kiến của tôi. Anh em tiểu đội bảo vệ và các chiến sĩ tổ bắn tỉa đã đào hầm dưới những bụi tre hóa, những chiếc hầm này thật vững chắc. Pháo bắn trúng cũng không thể phá được. Ngày đầu tiên tổ bắn tỉa ra quân đã thu được thắng lợi. Gần chục tên Mỹ đã trúng đạn bắn tỉa. Bọn địch không biết đạn từ đâu bay đến làm gần chục tên lăn ra chết. 

Tổ bắn tỉa hoạt động có hiệu quả. Cứ tên địch nào ngóc đầu lên là anh em tiêu diệt. Các chốt vây ép của ta là chốt cơ động. Nếu ở cố định một chỗ thì trước sau gì địch cũng phát hiện ra. Đến ngày 12 tháng 5 năm 1968, tôi bàn với anh em luồn sâu vào hàng rào thứ 5 căn cứ Cồn Tiên. Chúng tôi gỡ được 31 quả mìn các loại trong khu dự kiến xây dựng công sự hầm hào và tổ chức trận địa chết ở trong đó. Rất may là ở hàng rào có dù pháo sáng do chúng bắn ra, cả dù từ máy bay thả xuống phủ gần như kín những gốc cây, hàng rào, kín cả khu vực. 

Dù trắng và cả màu đỏ loại 18 chéo. Tôi cho rằng không có ngụy trang nào hay như ngụy trang bằng dù của Mỹ. Địch đã "giúp" ta giữ bí mật, quả là "gậy ông đập lưng ông". Hầm nằm dưới dù vừa mát vừa kín đáo. Khi đào hầm hàm ếch, đất được cho vào ba lô rồi đổ rải ra những hố bom, hố pháo địch vừa bắn gần đó, chỗ đất đỏ thì ngụy trang đất đỏ, chỗ lá khô thì rải lá khô để che mắt địch. Chúng tôi lấy hòm gỗ do máy bay địch thả xuống ghép lại thành những căn hầm kiên cố, có thể ngủ nghỉ thoải mái. Hàng ngày địch tung thám báo và xe tăng đi tuần ở ngoài hàng rào. Chúng đâu biết rằng ở trong hàng rào lại có Quân giải phóng.

Tối nào chúng tôi cũng đánh mìn, đánh bộc phá, tập kích quân địch, vừa tiêu hao sinh lực, vừa gây tiếng nổ làm cho địch trong căn cứ ăn không ngon, ngủ không yên, luôn trong trạng thái lo nơm nớp. 20 ngày đầu, tổ bắn tỉa diệt được rất nhiều tính Mỹ. Bọn địch rút kinh nghiệm vừa đánh phá ác liệt vừa thực hiện nghi binh, giơ hình nộm đội mũ sắt để lừa ta, từ đó phát hiện các tổ bắn tỉa. Địch dùng máy bay bắn rốc-két, dùng pháo cối bắn tập trung vào một khu vực. Một số anh em trong tổ bắn tỉa hy sinh, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 cho lệnh rút tổ bắn tỉa ra ngoài củng cố. 

Tính đến ngày 30 tháng 6 năm 1968, trung đội tôi đã vây ép căn cứ Cồn Tiên 52 ngày đêm, giam chân một lực lượng lớn quân địch trong căn cứ, làm cho chúng căng thẳng, tinh thần bạc nhược. Đây cũng là một hình thức chi viện kịp thời nhất, hiệu quả nhất đối với các đơn vị bạn. Mỹ - ngụy không thể tập trung quân lớn để giải tỏa cho hướng Khe Sanh, Làng Vây. Nắm rõ hoàn cảnh khó khăn của anh em, đã gần hai tháng không tắm rửa, sức khỏe giảm sút, Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định cho chúng tôi rút ra cứ củng cố rồi vào đánh tiếp. 

Tối hôm chúng tôi rút, địch cho xe M113 và một trung đội Mỹ ra phục hướng tây bắc. Theo đường xe tăng đi ra, chúng tôi phát hiện địch trước mặt. Tôi quyết định đánh từ phía sau quân địch để mở đường. Địch hoàn toàn bất ngờ vì chúng tôi từ trong căn cứ địch đi ra. Tôi lấy khẩu B40 của một chiến sĩ và nói với hai chiến sĩ B40 còn lại: "Khi tôi bắn vào chiếc xe M113 các cậu cũng nhằm vào hai xe còn lại mà bắn nhé!". Nói rồi tôi giương khẩu B40 nhằm chiếc xe bóp cò. Một tiếng nổ lớn kèm theo là chớp lửa trùm lên chiếc M113. Hai chiến sĩ B40 cũng bắn hai quả đạn nữa vào hai chiếc xe M113 còn lại. 

Cả trung đội tập trung AK, lựu đạn, thủ pháo tiến công quân địch. Sau 15 phút chiến đấu trung đội tôi tiêu diệt hoàn toàn trung đội Mỹ, bắn cháy ba xe M113. Trận đánh kết thúc khoảng 12 giờ đêm. Cả trung đội an toàn. Sau trận đánh xuất sắc đó tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và được chỉ định làm đại đội trưởng thay anh Tiến vì anh Tiến bị thương. 

Sydney ngày 16 tháng 4 năm 2024

                                         

Bài 108: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG, VÀ CHUYỆN KỂ VIỆC TRỘM LƯƠNG THỰC CỦA MỸ 8-1968: NGUYỄN HUY HIỆU GHI LAI.

Cũng Sách Một Thời Quảng Trị, Nguyễn Huy Hiệu viết: Đến tháng 8 năm 1968, các đơn vị chủ lực của ta bị đánh bật ra khỏi đồng bằng rút lên vùng rừng núi để củng cố, thì Trung đoàn 27 cùng bộ đội địa phương của tỉnh và du kích bám địa bàn tiệp tục chiến đấu để chiến trường lúc nào cũng có tiếng súng. Lúc dồn dập, lúc cầm canh ri rả. Chúng tôi lợi dụng lúc mưa lũ để hành quân, vận tải tránh thương vong, chúng tôi cũng lợi dụng lúc trời nổi cơn giông để đưa bộ đội tiềm nhập. Những lúc như thế là những lúc bất ngờ nhất. Trong mưa gió, người chiến sĩ chiến đấu tuy có vất vả hơn nhiều, song đó lại là những đòn bất ngờ làm cho địch khiếp đảm, kinh hoàng. 

Những ngày cuối năm 1968, tình hình càng trở nên khó khăn, việc tiếp tế từ hậu phương vào bị cản trở do gặp phải nước lũ các sông, suối ở bắc Quảng Trị và bị địch đánh phá. Có kẻ bạc nhược, đầu hàng địch đã khai báo việc ta cho gạo vào bao nylon thả từ đầu nguồn sông Ba Lòng, các đơn vị ở dọc bờ sông cứ thế mà vớt. Thế là bọn địch cho máy bay trực thăng cán gáo bay dọc sông, cứ thấy bao gạo nổi là bắn làm nguồn tiếp tế duy nhất trên sông của bộ đội ta bị gián đoạn. Trước tình hình đó, Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 của tôi căng óc nghĩ các phương án làm thế nào để có lương thực, thực phẩm nuôi cả trăm con người, trong đó có gần sáu mươi thương binh. 

Tôi bàn với ban chỉ huy, cử tổ trinh sát ba người và năm chiến sĩ khỏe, hoạt bát lên cao điểm 710, nơi địch vừa đổ quân và hàng hóa xuống để moi nguồn lương thực, thực phẩm. Hôm đầu anh em mò vào kho quân lương của địch lấy được tám gùi hàng, có cả thịt hộp, thuốc lá. Ba đêm sau, cũng phương thức như vậy anh em lấy được 24 gùi nữa. Đêm thứ năm, khi đã cho thịt hộp vào gùi, trên đường ra bất ngờ anh em gặp tên Mỹ đi tuần tra, nó kêu: Vi xi! Vi xi! Vi xi! Thế là anh em đeo cả ba lô lăn xuống dốc. Địch cho pháo bắn một hồi lâu dọc theo khe suối rồi thôi. Không ai việc gì. 

Cả đại đội lấy rau môn thục, rau tàu bay, rau dớn, rau sam đá về nấu với thịt hộp. Mỗi nồi anh em còn cho thêm một bánh lương khô. Thế là bằng số thực phẩm lấy được của địch, anh em cũng nuôi nhau được gần một tháng cho đến khi Mặt trận cử chín trinh sát mang theo gạo vào Đại đội 2. Sau đợt này tôi cho anh em lấy thịt hộp chôn giấu ở Kiềng và các điểm dừng chân để đến khi gặp khó khăn bị bao vây phong tỏa, có cái để dùng, để sống và chiến đấu. (Trích Sách Một thời Quảng Trị, của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, NXB Quân đội Nhân dân, 2008). 

Sydney ngày 17 tháng 4 năm 2024

 

Bài 109: CHIẾN TRANH TRÊN KHÔNG ĐỐI ĐẦU VỚI KHÔNG QUÂN VÀ HẢI QUÂN MỸ TRONG NHỮNG NĂM 1968: ĐOÀN THÊM GHI LẠI.

NĂM 1968. Tháng 1/68: Ngày 2/1, phi cơ Mỹ lại oanh tạc BV, 1 Mig BV bi hạ; ngày 3/1, Hà Nội, Hải Phòng, và Kiến An bị oanh tạc; ngày 4/1, phi cơ Mỹ oanh tạc Vùng phụ cận Hà Nội, và Hải Phòng, 4 phi cơ Mỹ bị hạ; ngày 7/1, Kép, và Hòa Lạc bị oanh tạc; ngày 8/1, phi cơ Mỹ oanh tạc Cát Bi; ngày 9/1, Kép, và Yên Báy bị oanh tạc; ngày 10/1, phi cơ Mỹ oanh tạc Hòa Lạc, và Hòa Bình; ngày 13/1, Hòa Lạc lại bị oanh tạc; ngày 13/1, phi cơ Mỹ oanh tạc Thái Nguyên; ngày 17/1/68, Hải Dương, và Hải Phòng bị oanh tạc; ngày 18/1, phi cơ Mỹ oanh tạc Bac Giang, 1 Mig bị hạ; ngày 20/1/68, Hòn Gay, và Yên Báy bị oanh tạc; ngày 22/1, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Dương; ngày 27/1, tổng số phi cơ Mỹ bị tổn thất là 793 chiếc.

Tháng 2/68: Ngày 6/2, phi cơ Mỹ oanh tạc Yên Báy, 1 Mig bị hạ; ngày 11/2/68, Kép, và Phúc Yên bị oanh tạc; ngày 12/2, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 1 Mig bị hạ; ngày 14/2/68, Thái Nguyên, Phúc Yên, Hòa Lạc, và Cầu Đuống bị oanh tạc; ngày 18/2, phi cơ Mỹ oanh tạc Bái Thượng, Đồng Hới, Cát Bi, Phúc Yên, và Yên Báy; ngày 22/2, Đài phát thanh Hà Nội bị oanh tạc; ngày 26/2/68, phi cơ Mỹ oanh tạc ga Hải Phòng; ngày 27/2/68, Ga Hải Phòng lại bị oanh tạc; ngày 29/2, phi cơ Mỹ oanh tạc Ngoại ô Hà Nội.

Tháng 3/68: Ngày 1/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội, Hải Phòng, Uông Bí, và Hòn Gay; ngày 3/3/68, Hà Nội, và Nam Định bị oanh tạc; ngày 5/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Nam Đinh, và Thanh Hóa; gày 6/3/68, Hà Nội, Phúc Yên, Cẩm Phả, và Bái Thượng bị oanh tạc; ngày 7/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội, Văn Điển, và Kép; ngày 8/3, Ninh Giang, và Vinh. v.v.. bị oanh tạc; ngày 10/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, và Bái Thượng, v.v; ngày 11/3/68, Hà Nội, và Nam Định bị oanh tạc, ngày 12/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Đông, Hải Phòng, Đông Triều, Cẩm Phả, và Kép; ngày 13/3, Hà Nội, Chúc Sơn, Kiến An bị oanh tạc; ngày 14/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Hải Phòng, Uông Bi, và Thái Nguyên; ngày 15/3, Văn Điển, Kiến An, Cẩm Phả, và Hòn Gay bị oanh tạc; ngày 16/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Cẩm Phả, Kiến An, Nam Định, Hải Dương, Phúc Yên, Yên Viên, và Phú Thọ; ngày 17/3/68, Cẩm Phả, Ninh Bình, đèo Mụ Gia, Vinh, và Thanh Hóa bị oanh tạc;

Ngày 18/3 phi cơ Mỹ oanh tạc Kiến An, Hon Gay, đèo Mụ Gia, Vinh, và Thanh Hóa; gày 19/3/68, Uông Bí, Nam Định, Đồng Hới, Vinh, và Thanh Hoá bị oanh tạc; ngày 20/3, hi cơ Mỹ oanh tạc Hòn Gay, Phúc Yên, và đèo Mụ Gia; ngày 22/3, Cẩm Phả, Bái Thượng, v.v… bị oanh tạc; ngày 23/3, phi cơ Mỹ oanh tạc Hòn Gay, Cẩm Phả, Uông Bí, Cát Bi, và Hải Dương; ngày 24/3, Hà Nội, và Hà Đông bị oanh tạc; ngày 25/3, phi cơ F-111-A Mỹ xuất hiện lần đầu tiên trên chiến trường VN oanh tạc Hồng Hới; ngày 26/3/68, Nam Định, Yên Báy, và Đồng Hới bị oanh tạc; ngày 28/3, phi cơ Mỹ oanh tạc BV, 1 chiếc F-111 mất tích; ngày 29/3, Hòn Gay, Cẩm Phả, và Đồng Hới bị oanh tạc, 1 Mig-21 bị hạ; ngày 30/3, hi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nội, Chúc Sơn, Hải Phòng, và Cẩm Phả; ngày 31/3, Hà Nội, Cẩm Phả, và Cát Bi bị oanh tạc.

Tháng 4/68: Ngày 1/4, ngưng oanh tạc phần lớn BV. Tháng 10/68: Ngày 31/10, phi cơ Mỹ ngưng oanh tạc BV.

Sydney ngày 18 tháng 4 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN HAI

Bài 110: MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, 3 ĐỢT TỔNG TẤN CÔNG CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG TRONG TẾT MẬU THÂN 1968, VÀ CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM.

Sách lịch sử miền Bắc viết: Trung ương Đảng ta, tại Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 12-1967) và Hội nghị toàn thể ban Chấp hành lần thứ 14 (tháng 1-1968), thông báo quyết định lịch sử: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kì mới, thời kì giành thắng lợi quyết định.” Nghị quyết của Đảng còn chỉ rõ: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích-tổng khởi nghĩa (TCK/TKN) để giành thắng lợi quyết định”. Chiến dịch TCK/TKN chia làm 3 đợt:

ĐỢT 1: Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền (B2) quyết định thành lập hai Bộ Tư lệnh Tiền phương (BTL/TP): BTL/TP ở cánh Bắc gồm các hướng Bắc, Tây Bắc và Đông thành phố Sài Gòn do Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh phụ trách; Và BTL/TP ở cánh Nam: gồm các hướng phía Nam, Tây Nam, các lực lượng biệt động ở nội thành Sài Gòn, do Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng phụ trách. Ở Quân khu 5, Võ Chí Công làm Bí thư Quân khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu, Chu Huy Mân làm Tư lệnh. Ở mặt trận Huế. Trung ương chỉ định Lê Minh làm Chỉ huy trưởng, Lê Chưởng làm Chính ủy. Lưu ý, lúc này Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Văn Quang là Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên. Ở mặt trận Đường 9 – Bắc Quảng Trị do Trần Quý Hai, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.

Theo kế hoạch, chiến dịch TCK/TKN được phát động vào nửa đêm ngày 31.1.1968 tức vào giờ Giao thừa mồng Một Tết Mậu Thân, nhưng do việc Hà Nội thay đổi âm lịch sớm hơn một ngày từ tháng Tám 1967 nên cuộc tấn công diễn ra không đồng loạt ở nhiều nơi. Tại Đà Nẵng, Hội An, Qui Nhơn, Nha Trang, Kontum, Pleiku và Ban-mê-thuột, cuộc tấn công bắt đầu vào 00:15 ngày 30.1.68. Hai mươi bốn giờ sau, Sài-gòn, Huế và các thành phố, tỉnh và thị trấn khác trên toàn lãnh thổ miền Nam mới bị tấn công. Thủ đô Sài gòn và cố đô Huế là hai địa điểm chính cần được chiếm đóng mau chóng để làm cơ sở cho cuộc “tổng nổi dậy” của dân chúng phá đổ “ngụy quyền” và đón mừng đoàn quân giải phóng. 

Tuy nhiên, trừ Huế và Chợ Lớn, mọi cuộc tấn công vào Sài gòn và các nơi khác đều bị đẩy lui chỉ sau vài ngày tác chiến. Trận công kích Sài gòn bị thất bại mau chóng, QGP không lọt được vào Dinh Độc lập, toán tấn công Đại Sứ quán Mỹ thì bị tiêu diệt khi mới lọt vào sân trước. Những toán quân đã lọt vào thành phố không liên lạc được với nhau và bị tiêu diệt hay phải rút lui vào Chợ Lớn. Tại Chợ Lớn, QGP chiếm được truờng đua ngựa Phú Thọ làm trung tâm chỉ huy các cuộc chiến đấu với các lực lượng phòng vệ thủ đô, nhưng đến ngày 7 tháng Ba cũng phải bỏ chạy. 

Mặt trận ở Huế diễn ra ác liệt nhất. Chỉ trong vài ngày đầu tiên, cố đô đã bị QGP chiếm gần hết. Quân đội VNCH và Hoa Kỳ phải chiến đấu rất khó khăn để giành lại từng căn nhà, từng góc phố như hình ảnh chiến tranh trong các thành phố ở châu Âu thời đệ nhị Thế chiến. Ngày 25 tháng Hai, sau khi QGP hoàn toàn rút khỏi Huế, thành phố đã bị phá hủy gần một nửa, 116,000 người trong tổng số trên 140,000 dân không có nơi trú ngụ. Tài liệu của Mỹ về thiệt hại nhân sự tại Huế cho thấy có trên 5,000 QGP bị giết, 89 bị bắt, còn con số bị thương rất lớn nhưng không biết rõ. Phía VNCH có 384 chết và 1.830 bị thương, Mỹ có 216 chết và 1.354 bị thương. 

Đáng nói hơn hết là những nạn nhân dân sự bị giết gồm công chức, trí thức, lãnh tụ tôn giáo, chính trị và các “phần tử phản động”, tổng số tìm thấy trong các mồ chôn tập thể là 2,810 người, không kể hàng ngàn người khác bị mất tích. Theo Douglas Pike, một chuyên gia về Việt Nam, số nạn nhân bị giết có thể lên tới 5,700 người. Một số giáo sư ngoại quốc hợp tác với Viện Đại Học Huế cũng bị tàn sát trong trận này. Sau trận tổng công kích trên toàn thể miền Nam, lực lượng QGP bị tiêu diệt gần hết, và việc tuyển quân để bù đắp rất khó khăn. Từ nay cho đến khi chiến tranh chấm dứt quân QGP từ miền Bắc là thành phần chủ lực trong tất cả các trận đánh. 

Ngày 1/3/68, Cố vấn Clark Clifford được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng thay thế Robert S. McNamara sang làm Giám đốc Ngân hàng Thế giới. Clark Clifford, chỉ thị cho Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam thực thi ba biện pháp cấp bách: một là, ra sức xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc ở trong và xung quanh các thành phố, các căn cứ, các tiểu khu, chi khu quân sự các điểm chốt trên các trục đường giao thông. Hai là, lập những vành đai đủ sức ngăn chặn các cuộc tiến công mới của Cộng quân. Đẩy chiến tranh ra xa các thành phố, thị xã quan trọng có ý nghĩa chiến lược. Ba là, mở các cuộc hành quân càn quét để giải toả các thành thị, căn cứ, đường giao thông, ngăn chặn triệt để các cuộc tấn công của Việt Cộng.

Tính đến cuối tháng Ba 1968, tổng số binh sĩ tử trận: phía QGP 58,000 người; phía quân VNCH 4,954; Hoa Kỳ 3,895 và các nước Đồng Minh 214. Tổng số thường dân miền Nam bị chết là 14.300 người. Tuy nhiên, trận Tết Mậu Thân đã đem lại cho Hà Nội một thắng lợi chính trị. Hình ảnh tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn bị tấn công cùng những cảnh tượng xung đột và xác chết nạn nhân được phơi bày trên màn ảnh truyền hình và báo chí mỗi ngày, kèm theo những lời bình luận chỉ trích chính quyền đã khiến cho uy tín của Tổng thống Johnson bị suy giảm trầm trọng. Sự bế tắc trong các nỗ lực chấm dứt chiến tranh bằng thương thuyết, cùng với những khó khăn trong nội bộ đã khiến Johnson phải quyết định rời bỏ chính trường. 

Ngày 25.3.68, nhóm cố vấn đặc biệt lại được triệu tập, nhưng lần này thì đa số đồng ý phải giải quyết cuộc chiến bằng thương thuyết vì không thể chặn được đường xâm nhập của Bắc Việt vào miền Nam và địch quân dù thiệt hại rất nặng vẫn có thể chiến đấu lâu dài. Ngày 31/3/1968, Johnson lên đài truyền hình loan báo quyết định ngưng các cuộc tấn công trên lãnh thổ Bắc Việt, trừ khu vực phía dưới vĩ tuyến 20, và muốn mở cuộc hòa đàm với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). Cuối bài diễn văn, Johnson loan báo thêm một tin bất ngờ là ông sẽ không ứng cử và cũng không chấp nhận Đảng Dân chủ đề cử ông tái tranh cử Tổng thống vào tháng Mười Một. 

Ngày 3/4/68, Việt Nam Dân chủ Công hoà (VNDCCH) cho biết sẵn sàng nói chuyện với Hoa Kỳ. Hôm sau 4/4/68, các Đại sứ của sáu quốc gia đồng minh (Hoa Kỳ, Đại Hàn, Thái Lan, Phi-líp-pin, Úc và Tân Tây-Lan) được mời đến họp tại Dinh Độc lập, đồng ý với Việt Nam Cộng hoà (VNCH) đưa ra Bản Thông cáo Chung “nhấn mạnh rằng những cuộc thương thuyết song phương giữa Washington và Hà Nội, không có sự tham dự của VNCH, sẽ chỉ có tính cách thăm dò. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đọc diễn văn về việc ném bom hạn chế miền Bắc Việt Nam và đề nghị nói chuyện với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Ngày 21/4/1968, truyền thông Hà Nội loan tin một Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà Bình Việt Nam vừa được thành lập do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch. Ngày 2/5, sau gần một tháng tiếp xúc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ thỏa thuận lấy thành phố Paris làm nơi đàm phán. Ngày 13/5/68 Hội nghị Paris giữa phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ chính thức bắt đầu tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, phố Kléber. Mỹ cử Averell Harriman và Cypruc Vance, làm Trưởng và Phó đoàn. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có Xuân Thuỷ và Hà Văn Lâu làm Trưởng đoàn, Phó đoàn. 

Tại phiên họp đầu tiên này, Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra yêu cầu: Mỹ chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam, ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện; rằng Đất nước Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt chờ Tổng tuyển cử để bầu chính quyền thống nhất cho cả hai miền. Phái đoàn Hoa Kỳ không đề cập tới các vấn đề thống nhất cho cả hai miền, mà đưa ra đòi hỏi về việc Tôn trọng khu phi quân sự ở Vỹ tuyến 17; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải xuống thang; Và, rằng Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải cùng rút quân. Phái đoàn liên lạc của Việt Nam Cộng hòa đưa ra tuyên bố nếu Việt Nam Cộng hòa không được tham gia hòa đàm sẽ không có hòa bình.

ĐỢT 2 của cuộc tổng tiến công Mậu Thân (từ 5/5-13/6/68), các tiểu đoàn "cảm tử" của QGP thọc sâu trong thành phố, tiếp tục chiến đấu, gây một số thiệt hại nhất định cho Liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, QGP cả bộ đội chủ lực, lẫn bộ đội địa phương phải chiến đấu trong khi yếu tố bí mật không còn, Liên quân Việt-Mỹ tăng cường đối phó, khiến hầu hết các cuộc tấn công đều bị ngăn chặn, QGP phải chịu tổn thất lớn. Ngày 19 tháng 6 năm 1968, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh tổng động viên. Mỹ đưa thêm một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh hiện đại vào Nam Việt Nam để bù đắp số mất mát, hư hỏng, đồng thời thay thế một số chủng loại vũ khí cũ bằng vũ khí hiện đại hơn. 

Súng trường M 16 đã được trang bị cho tất cả các tiểu đoàn chính quy bộ binh, nhảy dù, biệt động, thủy quân lục chiến. Trong tháng 7 và 8/1968, liên quân Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hoà đã thực hiện 1.929 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên, 156.000 phi xuất, trong đó B52 tiến hành 6.922 phi vụ oanh tạc miền Bắc. Về phía QGP, qua hai đợt tổng tiến công liên tục Tết và tháng 5 lực lượng vũ trang, vũ khí, đạn dược đã bị tổn thất nặng nề. Lực lượng bí mật ém trong nội thành, và phần lớn nơi cất giấu vũ khí, trang bị, chỗ đứng chân, dùng làm nơi xuất phát các cuộc tiến công đã bị lộ, hoặc bị đánh phá mất gần hết. 

ĐỢT 3, Riêng mặt trận Quảng - Đà (Khu V) và một số nơi khác, do vẫn giữ được thế và lực còn mạnh, nên Bộ Tư lệnh Khu V đã đề nghị Trung ương Hà Nội cho mở tiếp đợt 3 tổng tiến công và nổi dậy. Ngược lại, cũng có nhiều nơi xin tạm dừng tiến công để xốc lại đội hình, bổ sung, củng cố lực lượng, vũ khí trang bị. Ngày 24 và 25/7/1968, Thường trực Quân uỷ Trung ương, gồm: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Trần Quý Hai, Hoàng Anh, Lê Trọng Tấn, họp bàn kế hoạch tấn công đợt 3, mục tiêu Tổng tiến công vẫn được Bộ Chính trị xác định: chiến trường Sài Gòn, Gia Định và miền Đông Nam Bộ, Khu V là hướng trọng điểm, phối hợp là Quảng Đà. 

Nhưng, tại Sài Gòn, Chợ Lớn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Liên quân Viêt Nam Cộng hoà-Mỹ đang tập trung lực lượng tới 61 tiểu đoàn VNCH, 38 tiểu đoàn Mỹ, 4 tiểu đoàn quân các nước phụ thuộc Mỹ, tổng cộng 90.000 quân cùng lực lượng Địa phương quân tổ chức hệ thống phòng thủ bảo vệ Sài Gòn, chiều sâu khoảng 100 km. Đứng trước tình hình này, Bộ Chính trị chuyển trọng tâm tiến công ra vòng ngoài, hướng chủ yếu là địa bàn hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long. 

Ngày 17/8/1968, Đợt 3/TCK chính thức mở màn. Sau gần 20 ngày, QGP liên tục giữ thế chủ động bằng các chiến thuật: phục kích, tập kích, đánh bồi, đánh nhồi vào các cụm quân, tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng và phương tiện chiến tranh của Mỹ, hoàn thành cơ bản các mục tiêu chiến dịch đặt ra. Ngày 28/9/1968, kết thúc giai đoạn 3, cũng là kết thúc toàn bộ chiến dịch Tổng công kích Mậu Thân. Các sư đoàn 5, 7, 9 chủ lực Miền và du kích Tây Ninh, Bình Long đã đánh 315 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 13 tiểu đoàn, 55 đại đôi, tiêu hao nặng 7 tiểu đoàn, lên tới 18.406 quân, phá huỷ 1.507 xe quân sự, 112 máy bay, 107 khẩu pháo, thu được 24 máy vô tuyến điện, 282 súng các loại.

Đến cuối năm 1968, sau ba giai đoạn tiến công liên tục quân số, vũ khí đạn dược của QGP đã cạn kiệt, những bộ phận còn lại của các đơn vị được lệnh rút lên các căn cứ để củng cố và bổ sung quân số. Nhưng để lên được căn cứ, cán bộ và chiến sĩ phải tiếp tục đột phá mở đường qua các tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn từ xa của Mỹ với chiều sâu hàng trăm km, nên lực lượng lại tiếp tục bị tiêu hao thêm. Tình hình chung sau sự kiện Tết Mậu Thân, QGP đã phải chịu tổn thất rất lớn, mất đi 1 thế hệ quân kháng chiến, mất đa phần khí tài chiến tranh, cũng như nhiều đơn vị du kích bị suy yếu trầm trọng. 

Một số đơn vị cấp sư đoàn, trung đoàn QGP phải phân tán tạm thời hoặc rút bộ chỉ huy khỏi địa bàn. Các đơn vị chính quy còn "sống sót" phải co cụm về căn cứ cũ cố thủ để bảo vệ các sở chỉ huy và đội cán bộ, trong khi các đơn vị ở vùng biên giới đều rút hẳn ra để bảo toàn lực lượng. QGP phải mất một thời gian dài đưa thêm quân bổ sung từ miền Bắc vào để trám chỗ trống, hồi phục chậm chạp trong nhiều điều kiện ngặt nghèo. Thời gian năm 1969 quân đội Mỹ tiếp tục tăng cường quân số, Quân lực VNCH tuyển thêm lính và hồi phục lực lượng tương đối nhanh. Cán cân lực lượng trở nên bất lợi về phía QGP.

Trung ương Cục miền Nam đã phải tổ chức lại chiến trường, và quyết định tái lập Khu 7 gồm phân khu 4, tỉnh Biên Hoà, Bà Rịa, Long Khánh và Đặc khu rừng Sác. Các quận nội thành Sài Gòn trước kia tách về các phân khu, nay nhập lại như cũ. Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục kiêm Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Miền Tây Nam Bộ cũng được tăng cường lãnh đạo chỉ huy. Võ Văn Kiệt được cử làm Bí thư Khu ủy, Lê Đức Anh làm Tư lệnh Quân khu 9. Tổng số quân Giải phóng thiệt hại trong năm 1968 là 113.295 gồm: 44.824 chết, bị thương 61.267, mất tích 4.511, bị bắt 912, đi lạc 1.265, đầu hàng 416. 

Hơn 40 năm sau sự kiện Tết Mậu Thân, Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, tướng Lê Khả Phiêu lúc đó là chính uỷ kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, đơn vị chủ lực đánh vào thành Huế và giữ Huế 25 ngày, hồi tưởng: Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, chúng tôi ở chiến trường lao đao mất 2 năm rưỡi, đến năm 1971 ta mới có được những chuyền biến tích cực. Vinh quang có thật, tinh thần chiến đấu thì anh dũng tuyệt vời, nhưng đúng là có khó khăn. Giữ được Huế 25 ngày như thế đã là "ghê" lắm rồi. Khi rút ra ngoài, cả trung đoàn chỉ còn đúng 5 cân gạo.

Nhìn lại diễn biến và kết quả của đợt 2 và đợt 3 Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Trung ương Đảng Lao động nhận định: "Chúng ta đã mắc một số khuyết điểm, chủ quan trong việc đánh giá tình hình cho nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó, nhất là không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm ngay, nhằm đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời", nên để mất đất, mất dân, lực lượng vũ trang, cơ sở cách mạng và vật chất chiến tranh bị tổn thất nghiêm trọng, gây những khó khăn rất lớn cho phong trào đấu tranh năm 1969. Song, thắng lợi trong đợt 2 và 3 tổng tiến công và nổi dậy cũng rất lớn, buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom phá hoại miền Bắc, chấp nhận đoàn đại biểu của Mặt trân Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một trong bốn thành viên chính thức tham gia hoà đàm tại Paris. 

Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch, họp Đại hội Đại biểu bầu raChính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn Chính phủ. Thành viên Chính phủ gồm: Chủ tịch: Huỳnh Tấn Phát. Phó chủ tịch: Phùng Văn Cung, Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Đoá. Bộ trưởng Phủ chủ tịch: Trần Bửu Kiếm. Bộ trưởng Ngoại giao: Nguyễn Thị Bình. Bộ trưởng Nội vụ: Phùng Văn Cung. Bộ trưởng Kinh tế Tài chánh: Cao Văn Bổn. Bộ trưởng Thông tin Văn hoá: Lưu Hữu Phước. Bộ trưởng Giáo dục và Thanh niên: Nguyễn Văn Kiết. Bộ trưởng Thương binh Xã hội: Dương Quỳnh Hoa. Bộ trưởng Tư pháp: Trương Như Tảng. 

Và, Thành viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ gồm: Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ. Phó chủ tịch: Trịnh Đình Thảo. Uỷ viên:Y-bih Alê-ô, Thích Đôn Hậu, Huỳnh Cương, Huỳnh Văn Trí, Nguyễn Công Phương, Võ Oanh, Lê Văn Giáp, Huỳnh Thanh Mừng, Phạm Ngọc Hùng, Lâm Văn Tết, Bà Nguyễn Đình Chi. Và, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình được Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cử Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam làm Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị bốn bên Paris thay Trần Bửu Kiếm.

Sydney ngày 19 tháng 4 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN BA

Bài 111: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN LỘC: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 1-2/1968.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1968. Ngày 6/1, theo đài phát thanh Moscou, 10 chiếc tàu của Nga Sô đã chở trên 20.000 tấn hàng viện trợ cho Bắc Việt. Ngày 7/1, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William Bundy tuyên bố: BV có thể lợi dụng thời gian ngưng oanh tạc để hòa đàm. Ngày 12/1, Thông cáo chung Mỹ-Mên sau cuộc hội đàm Sihanouk- Bowles: Hoa Kỳ tôn trọng chủ quyền, trung lập, lãnh thổ Mên, và mong muốn Uỷ hội Quốc tế kiểm soát biên giới tránh các vụ xâm nhập. Ngày 15/1, Tòa Bạch ốc xác nhận: sẽ hỏi ý kiến Chánh phủ VNCH và các Đồng minh về mọi vấn đề liên quan đến cuộc điều đình chấm dứt chiến tranh. Ngày 16/1, Mai Văn Bộ, Đại diện BV tại Ba Lê xác nhận: Mỹ phải ngưng oanh tạc và chấm dứt các hoạt động quân sự chống BV rồi mới có thể xét ngày và nơi hòa đàm. Ngày 17/1, theo Reuter, BV đặt mua tại Pháp hàng trăm xe đạp đặc biệt có thể đi trong rừng và tải thương binh. Có 117 phi vụ oanh tạc BV.

Ngày 20/1, TT Johnson cử Clark Clifford giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng thay McNamara được bầu làm chủ tịch Ngân hàng Thế giới. Ngày 21/1, Theo báo Washington, một hàng rào điện tử được thiết lập để ghi nhận sự chuyển quân BV qua Lào trên đường mòn Hồ Chí Minh, với kinh phí 750 triệu Mỹ kim. Ngày 2/2, Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker tuyên bố trên đài phát thanh, cải chính tin đồn Mỹ thỏa hiệp ngầm với VC để thiết lập một chánh phủ liên hiệp. Tổng thống Johnson tuyên bố: đã có đủ tài liệu của BV về những cuộc tấn công hiện nay. Ngày 27/2, Thượng nghị sĩ Fulbright đòi TT Johnson phải hỏi ý kiến Quốc hội việc leo thang chien tranh. Tại Dallas, TT Johnson tuyên bố: không lùi bước trước sức mạnh, phải đối phó, người tự do không từ chối trách nhiệm. Ngày 14/2, hơn 10.500 quân HK sắp sang VN, đưa tổng số quân Mỹ lên 510.000.

Ngày 18/2, TT Johnson tiển chân các đơn vị Nhảy Dù và TQLC sang VN tại North Carolina và California, tuyên bố quân đội Mỹ sẵn sàng đổi phó với các cuộc tấn công mới. Ngày 12/2, Đại sứ Bunker trao cho TT Nguyễn Văn Thiệu ngân phiếu 25.000 Mỹ kim để cứu trợ nạn nhân các cuộc tấn công vừa qua. Ngày 21/2, theo báo Pháp, BV lại đưa đề nghị mới về vấn đề hòa đàm: sẽ nói chuyện ngay 48 giờ sau khi Mỹ ngưng oanh tạc BV; sẽ ra lịnh ngưng bắn và rút một số đơn vị tác chiến khỏi miền Nam.   

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1968. Ngày 2/1, nhiều căn cứ Mỹ gần Tây Ninh bị tấn công. B 52 dội bom nhiều địa điểm Cộng quân (CQ) ở Tây Ninh, Bình Định và Thừa Thiên. Có 142 phi vu oanh tạc Bắc Việt (BV). Không chiến gần Hà Nội, 1 Mig 17 BV bị Phantom Mỹ bắn rớt. Ngày 3/1, tại Quảng Nam, một đơn vị Mỹ tại An Hòa, và một đơn vị khác của Sư đoàn Americal Mỹ tại thung lũng Quế Sơn bị tấn công. Căn cứ không quân Đà Nẵng bị pháo kích và đột kích. Hơn 100 phi vụ oanh tạc ngoại ô Hà Nội, Hải Phòng phá huỷ 5 vị trí SAM, 1 Phantom Mỹ bị bắn rớt. Ngày 5/1, một căn cứ Mỹ tại Tam Kỳ bị tấn công. Giao tranh suổt ngày gần tỉnh lỵ Tây Ninh. Có 101 phi vụ oanh tạc vùng ngoại ô Hà Nội, cầu Lạng Sơn, phi trường Kép. Ngày 6/1, hành quân Cửu Long 71/81 tại Cái Bè. Quận lỵ Tân Uyên bị tấn công. Có 81 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 8/1, Tỉnh lỵ Hậu Nghĩa bị pháo kích và đột nhập. Tỉnh lỵ Mộc Hóa bị pháo kích. Có 76 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/1, phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột bị pháo kích. Có 85 phi vụ oanh tạc BV. 

Ngày 10/1, kịch chiến gần Tam Kỳ. Tiểu khu Hậu Nghĩa bị pháo kích. Một tiểu đoàn VC tẩn công một tiểu đoàn Mỹ gần Hậu Nghĩa. Cùng ngày 10/1, phi trường Kontum bị đột kích 4 trực thăng bị phá hủy, 25 chiếc khác bị hư hại. Có 75 phi vụ oanh lạc BV. Một đơn vị Mỹ tại Phù Mỹ bị tấn công. Tỉnh ly Mỹ Tho bị pháo kích. Ngày 12/1, hơn 6.000 TQLC Lữ đoàn Thanh Long Đại Hàn đóng tại Bình Sơn Quảng Ngãi, di chuyển đến Hội An để bảo vệ phi trường Đà Nẵng. Có 91 phi vụ oanh lạc BV. Ngày 14/1, kịch chiến tại Bồng Sơn. Có 83 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 15/1, hành quân Lam Sơn 179 phía Tây Nam Huế. Có 121 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 18/1, giao tranh tại Nghĩa Hành. Hành quân Lam Sơn 180-XDNT/SBA tại Gio Linh. Kịch chiến tại Cồn Tiên. Có 112 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 20/1, tại Cai Lậy, một tiểu đoàn TQLC-VN bị một tiểu đoàn VC pháo kích và tấn công. Kịch chiến tại Khe Sanh, và Gio Linh. Phi trường Pleiku, và căn cử Mỹ tại Củ Chi, Bình Dương bị pháo kích nhiều lần. 

Ngày 21/1, Chi khu Hương Hóa, Quảng Trị. bị tấn công. Có 100 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 22/1, có 75 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 23/1, hành quân 182/XDNT tại Quảng Trị. Hành quân Quyết Thắng 24 tại Quảng Ngãi. Kịch chiến tại Bình Định. Kịch chiến tại Kontum. B 52 dội bom xuống Khe Sanh, Quảng Trị. Có 53 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 24/1, Căn cứ Khe Sanh bị pháo kích dữ dội. Có 59 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 25/1, hành quân Quyết Thắng 55 tại Tam Kỳ. Phi cơ HK thực hiện 408 phi xuất tại Khe Sanh; và 69 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 26/1, Tỉnh lỵ Kiến Phong; Các căn cứ TQLC Mỹ tại Phú Bài, An-Khê, Tây Ninh đồng loạt bị pháo kích. Phi trường Holloway tại Pleiku vừa bị pháo kích vừa bị đột kích. Và, gần nửa đêm, Bộ Tư lịnh Quân đoàn II tại Plciku bị pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly. Ngày 27/1, có 60 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 28/1, giao tranh lớn vùng Khe Sanh. Ngày 29/1, theo tin quân sự Mỹ, 4 sư đoàn BV tập trung tại vùng Khe Sanh, và Phi quân sự gồm SĐ 325-C, SB 304, SB 324-B, và một sư đoàn chưa rõ số hiệu. 

Ngày 1/2 (3 tháng giêng Mậu Thân)Khu chùa Ấn Quang, Nguyễn Tri Phương, Trần Quốc Toãn nối dài, Phú Thọ, Minh Mạng đều bị xâm nhập do nhiều toán VC mới về lẫn vào nhà dân chúng. Theo thông cáo, thì tính đến 10 giờ sáng nay, 3.237 VC tử thương, 499 bị bắt, 1.156 súng bị tịch thu trên toàn quốc; phía VNCH: 348 tử thương vẫn giao tranh lại khu Quang Trung, Hàng Xanh, Phú Thọ, Nguyễn Tri Phương, khu Nguyẽn Kim, đường Trần Quốc Toản, Sài-Gòn. Tại Sài Gòn, sau nhiều lần tấn công, cảnh sát đã chiếm lại được cao ốc góc đường Nguyễn Du - Thủ khoa Huân, lúc 1 giờ trưa. Khu phi trường Tân Sơn Nhứt bị 3 tiểu đoàn VC tấn công từ 31-1 được hoàn toàn giải vây. Khu trại Cổ Loa, Gò Vấp được giải vây, sau 3 ngày đêm kịch chiến. Tỉnh lỵ Quảng Trị được giải toả, 2 tiểu đoàn VC bi các đơn vị Không vận Mỹ đánh lui. Một đoàn thiết giáp Mỹ tiến về Huế. Tại Vĩnh Long, giao tranh quanh sân bay. Giao tranh tại Phú Cường 290 VC tử thương. Phía Mỹ: 6 tử thương, 33 bị thương. 

Cũng ngày 1/2 tại Huế, chừng 1.000 quân BV cố thủ trong Thành Nội. Viện binh Mỹ tới Pleiku. Giao tranh kịch liệt tại Ninh Hòa và Nha Trang. Ngày 2/2, từ 1 giờ sáng nay, BĐQ đẩy lui VC khỏi cầu Xa lộ và giải thoát 4.000 dân. Khu chùa Ấn Quang bị cháy. 2 trái hỏa tiễn B-40 rơi trúng phòng Thượng tọa Thích Trí Quang. Một tướng và một thượng tá VC tử thương: có tin hành doanh của bộ Chỉ huy VC đặt tại chùa này. Một toán VC chiếm đóng bệnh viện Nhi đồng, gốc đường Lý Thái Tổ và Sư Vạn Hạnh, Sài Gòn. Kịch chiến tiếp tục tại nhiều tỉnh lỵ: Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, Phước Tuy, Bạc Liêu, và Châu Đốc. Tại Quảng Trị, TQLC Mỹ hạ 448 VC. Kịch chiến tại Huế. Ngày 3/2, Căn cứ Không quân Đà Nẵng bị pháo kích lúc 3 giờ sáng. Tại Huế. Thành Nội được tái chiếm. Tại khu Hàng Xanh, 245 xác VC bỏ lại với 14 súng. Nhiều nhà bị cháy. Tại Đô thành, dân chúng được đi lại từ 8 giờ sáng đến 2 giờ trưa. 

Cũng ngày 3/2, tại Gia Định, vẫn giới nghiêm suốt ngày đêm. Kịch chiến tiểp tục tại Hố Nai. Tại quận lỵ Thủ Đức, 1 tiểu đoàn TQLC giao tranh với 2 tiểu đoàn VC. Trại Cổ Loa, Gò Vẩp lại bị tấn công. Tại Vùng II Chiến thuật các cuộc giao tranh tiếp tục tại Dakto, Kon Tum, Pleiku. Ban Mê Thuột, Qui Nhơn, Phú Yên, Nha Trang, Đà Lạt, Phan Thiết. Tại Huế, kịch chiến tiếp tục. TQLC Mỹ và 5 tiểu đoàn VNCH tiếp tục tấn công vào Thành Nội do VC chiếm đóng. Ngày 5/2,TQLC và Cảnh sát bao vây khu vực Phan Bình Phùng, Phan Thanh Giản, Lý Thái Tố và Minh Mạng. Nhiều nhà cháy. 3 tiều đoàn TQLC hành quân tảo thanh ở ven Đô thành, vùng Bình Hòa, Xa Lộ, Hàng Xanh. Chi khu cảnh sát Phạm Thế Hiển Chợ Lớn, bót cảnh sát Bình Hòa, đồn Địa phương quân quận 5 Đô thành bị tấn công. Ngày 6/2, các khu Lê Đại Hành, trường đua Phú Thọ; Chi cảnh sát Nguyễn Văn Liêng, chi Cảnh sát Nguyễn Văn Thoại, Cảnh sát đường Trần Quốc Toản, Hậu Giang, Phú Đinh bị tấn công. Một trung đội VC bị vây gần bịnh viện Chợ Rẫy, Chợ Lớn, một sổ nhà bị cháy. Giao tranh gần Hóc Môn. 

Cũng ngày 6/2, tại Huế, vẫn kịch chiến tại khu Thành Nội. VC còn đóng ở khu Kỳ Đài, Thượng Tứ, lao xá vv. Ngày 7/2, sau hai đêm một ngày giao tranh tại Xóm Mới và Gò Vấp, chiến đoàn 3 Nhảy Dù đánh lui 3 tiểu đoàn VC, hạ 271. Có tới 17 vụ Cộng quân pháo kích, đột kích, vv. tại quận 5, quận 6, phía Chợ Lớn. Ngày 7/2, tại Quảng Trị, trại Lực lượng Đặc biệt ở Làng Vei bị tấn công, 4/7 chiến xa VC bị phá hủy. Tại Huế, cầu Trường Tiền bị phá sập. Ngày 8/2, kịch chiến tiếp lục tại Làng Vei, Kịch chiến tiếp tục tại Huế. TQLC Mỹ chiếm lại được vài địa điểm như dinh Tỉnh trưởng, trường Đồng Khánh, trường Quốc Học, khu Lao xá. Song VC tăng cường 2 tiểu đoàn khác. Tại Đà Lạt VC còn chiếm đóng ga xe lửa, Viện Pasteur, vv. Trong số các tỉnh lỵ miền Tây, Kiến Hòa bị thiệt hại nặng nhất, 5.090 nhà dân bị cháy. Các báo hôm nay đang tin cảnh sát Quốc gia đã bắt trọn bộ chỉ huy VC cuộc tấn công Đô thành, tại tiệm phở Bình số 7 đường Yên Đỗ, Sài Gòn. 

Ngày 9/2, Một tiểu đoàn VC tấn công vào phi trường Tân Sơn Nhất, bi đẩy lui. Tại Sài Gòn, quân đôi bao vây khu Nguyễn Tri Phương, Sư Vạn Hạnh, nhiều địa điểm thuộc Chợ Lớn, Thủ Đức, Gò Vấp thanh toán các toán VC còn lại. Kịch chiến nhiều ngày liền quanh căn cứ Khe Sanh. Tại Huế, TQLC Mỹ chiếm lại hết các vị trí hửu ngạn sông Hương: VC 937 tử thương; phía Mỹ 31 Mỹ tử thương, 250 bi thương. Ngày 10/2, hành quân tảo thanh đuờng Trần Quốc Toản, Nguyễn Văn Thoại, một số nhà bị cháy ở dường Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương. Tỉnh lỵ Bạc Liêu bị đột nhập, hơn 1.000 căn nhà bị đốt cháy. Ngày 11/2, khoảng 2 tiểu đoàn VC tấn công Tân An, đột nhập nhiều nơi, bị đẩy lui. Tại Huế, các lực lượng Mỹ và VNCH giao tranh kịch liệt với Cộng quân tại góc phía Nam Thành nội Huế. Hành quân giải tỏa khu tỉnh lỵ và phụ cận Bạc Liêu. Không lực Mỹ oanh tạc các phi trường Kép, Phúc Yên.v.v. 

Ngày 12/2, giao tranh từ quá nửa đêm qua, tại Phú Lâm. Tình hình Đô thành lắng dịu. Tại Huế, TQLC Mỹ cùng quân đội VNCH thanh toán các lực lượng VC còn lại trong Thành nội. An ninh tái lập tại Đà Lạt. Ngày 13/2, theo Bộ thông tin, tướng Trần Độ chỉ huy cuộc tấn công vào Sài Gòn và Gia Định, có thể đã bị hạ tại Chợ Lớn. Tại Huế, một tòa án Nhân dân VC nhóm họp trong khu Gia Hội, xử bắn Thiếu tá XDNT Từ Tôn Khoảng. Ngày 14/2, Tại Huế, TQLC giao tranh trong khu Tây Lộc, và gần cầu Bạch Hổ. Có tin tướng VC Trần Văn Trà tử trận tại Vĩnh Long. Ngày 16/2, kịch chiến tiếp tục tai Thành nội Huế. TQLC tiến vào khu cung diện và kỳ đài để hạ cờ VC. Một số VC cùng võ khí bị bắt tại Thị Nghè, Hàng Xanh, Ngã Bảy, Hạnh Thông Tây, Gò Vấp vv. Phi cơ Mỹ liên tục oanh lạc BV. Ngày 17/2, một hầm bí mật bị khám phá gần Tổng y viện Cộng Hoà, Gò Vấp. 3 quan tài mới được đào lên tại nghĩa địa Đô thành đường Mạc Đĩnh Chi không chứa hài cốt, lại có nhiều võ khí. 

Quá 22 giờ ngày 17/2, phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích. Chi cảnh sát Tân Định, đường Trần Quang Khải, Sài Gòn bị tấn công. Kịch chiến tiếp tục tại khu Thành nội Huế. Đêm qua, các phi trường Phú Bài, Biên Hòa, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ bị pháo kích. Các tỉnh lỵ Kontum, Bình Định, Quảng Đức, Lâm Đồng, Tuyên Đức, Bình Dương, Phước Long, Bình Long cũng bị pháo kích. Ngày 18/2, quá nửa đêm, VC pháo kích phi trường Tân Sơn Nhứt. Nha cảnh sát Đô thành, Kho dầu Gò Vấp, Trường Bộ binh Thủ Đức, nhà biến điện Thủ Đức, dài Radar Phú Lâm cũng bị pháo kích. 2 tiểu đoàn chính qui BV tấn công tiểu đoàn 3 TQLC tại cầu Bình Lợi. Tại Huế, TQLC thay chiến đoàn Nhảy Dù tẩn công dịch quân tại Thành nội từ 11-2, tới nay. Cũng quá nửa đêm 18/2, Nha cảnh sát Đô thành và nhà đèn Chợ Quán lại bị pháo kích. Ngày 19/2, một đội VC lại tấn công lực lượng canh gác Bình Lợi. Một đội VC khác tấn công đồn Cảnh sát Bà Điểm. 

Lúc 2 giờ 30 ngày 20/2, hơn 2 tiểu đoàn VC tấn công BĐQ tại Bà Tiêu, Phú Định. Tại Huế, 2 tiểu đoàn VC tấn công TQLC tại phía Tây Thành nội. Thị xã Phan Thiết được giải tỏa, VC chỉ còn chiếm đóng Bệnh viện và trường Nữ Trung học. Bảy (7) VC gồm 3 sĩ quan và 4 binh sĩ qui chánh, trình diện báo giới tại Trung tâm Quốc gia Báo chí, Sài Gòn. Kịch chiến gần Thủ Đức. Kịch chiến tại Phú Thọ Hòa. Có tới 10 vụ pháo kích, đột kích, phá hoại tại Chợ Lớn, Gia Định, Thủ Đức, phi trường Tân Sơn Nhứt. TQLC Mỹ và Việt vẫn tiến đánh vào Thành nội Huế. Kịch chiến tại khu Phú Thọ Hòa, Bình Thới. Phi cơ Mỹ oanh tạc Vinh, Đồng Hới, Thanh Hoá. Ngày 21/2, kịch chiến tiếp tục gần Thủ Đức. Tại Phan Thiết, liên quân Việt Mỹ đầy VC khỏi thị xã sau 4 ngày kịch chiến. Cùng ngày 21/2, tại Huế, trong khi TQLC Việt Mỹ tiến về phía Đại nội trong Thành nội, thì BĐQ lục soát trong khu Gia Hội. B-52 tiếp tực oanh tạc quanh Khe Sanh. 

Ngày 22/2, tại Huế, TQLC Việt-Mỹ chiếm góc phía Đông Nam, và cửa Hửu phía Tây Thành nội. Cùng ngày 22/2, trong 3 tuần qua, có 7.500 phi xuất và 100 phi vụ B-52 oanh tạc các vùng phụ cận Khe Sanh. Ngày 23/2, kịch chiến tại Thành nội, Huế. Ngày 24/2, tại Huế, sau 7 giờ giao tranh, một tiểu đoàn Bộ binh tiến chiếm khu Đại nội  TQLC chiếm khu cửa Nhà Đồ và Nam Đài trong Đại nội. Ngày 25/2, từ 4 giờ sáng, Quốc kỳ VNCN được treo lên Kỳ đài Phú Vân Lâu. Huế được giải tỏa hoàn toàn sau một trận tấn công liên tiếp 11 giờ. 110 xác VC bỏ lại trong Đại nội. Tại Sài Gòn, 1 tiểu đoàn VC tiến vào sát phi trường Tân Sơn Nhứt bị Nhảy dù chận đánh. Giao tranh cấp tiểu đoàn gần Hóc Môn. Ngày 27/2, quá nửa đêm qua, VC pháo kích vào 5 nơi tại Sài Gòn và Gia Định. Phi trường Tân Sơn Nhứt bị trúng 3 hỏa tiễn và 4 đạn đại bác 122 ly. Sau khi rút khỏi thị xã Huế, lui về phía Kim Long, một trung đoàn VC bị các đơn vị Sư đoàn 1 Không vận Mỹ truy kích tiêu diệt gần hết. 

Ngày 28/2, quá nửa đêm và gần sáng, phi trường Biên Hòa, phi trường Tân Sơn Nhứt lại bị pháo kích; trường Bộ binh Thủ Dức cung bị trúng 30 đạn súng cối. Cùng ngày 28/2, tại Huế, 6.118 VC tử thương, 191 bị bắt, 3 hồi chánh. VNCH: 583 tử thương, 2.810 bị thương. 

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1968. Ngày 4/1, tại trường Sĩ quan Trừ bi Thủ Đức, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bổ không bao giờ nhìn nhân Mặt Trận Giải phóng miền Nam (MTGPMN) và không có vấn đề thành lập một Chánh phủ Liên hiệp với Việt Cộng (VC). Ngày 11/1, ngành Thẩm phán tổ chức Đại hội toàn quốc tại Sài Gòn. Ngày 13/1, Đại hội Thẩm phán quyết nghị: đặt chánh sách nhân viên trên căn bản dân chủ, công bằng, kỷ luật; các tòa hòa giải rộng quyền thành tòa sơ thẩm. Cùng ngày 13/1, Đại hội chỉnh trang Đô thành quyết nghị: việc phát triển Đô thành phải được coi như quốc sách; cần xét lại việc xử dụng đất công; hạ tầng cơ sở phải thực hiện trước thượng tầng; cơ cấu công cộng phải thực hiện trước nhà ở; mỗi khu phố cần có đủ trường học, bệnh viện, chẩn y viện… Ngày 17/1, khai mạc hội thảo về vấn đề phát triển chỉ huy cao cấp tại Học viện Quốc gia Hành chánh.

Ngày 19/1, Chánh phủ VNCH quyết định hưu chiến trong dịp Tết Nguyên đán 36 giờ kể từ 18 giờ ngày 29-1 đến 18 giờ ngày 31-1-68, MTGPMN tuyên bổ sẽ ngừng bắn 7 ngày. Ngày 22/1, ký thỏa ước viện trợ Liên Hiệp Quốc để khuếch trương Trung tâm Kỹ thuật Phú Thọ thành Học viện Kỹ thuật. Ngày 24/1, TT Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc hội xác nhận lập trường đối với vấn đề hoà bình. Ngày 26/1, Thông cáo của Tổng trấn Sài Gòn-Gia Đinh: đêm 29 và đêm 30-1-63, (tức đêm 30 và mồng 1 Âm lịch) sẽ không có giới nghiêm tại Đô thành và Gia Định. Ngày 27/1, theo thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng, trong 2 năm qua, các cán bộ Xây dựng Nông thôn đã lập được 1.298 Ấp mới, củng cố 1.111 ấp cũ, giải phóng gần 3 triệu nông dân. Ngày 28/1, nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968, một bác sĩ và ba sĩ quan cầm đầu vụ biến cố miền Trung I966, được giảm từ 10 năm khổ sai hoặc tù, xuống 5 năm. 

Ngày 29/1, theo thông cáo từ Bộ Ngoại giao, lịnh ngừng bắn không thi hành tại vùng I Chiến thuật vì tình hình Khe Sanh, Quảng-Trị. Ngày 30/1, (Thứ Ba, mồng một Tết Nguyên đán Mậu Thân), tại Đô thành, pháo nổ rất nhiều lúc giao thừa, trên khắp các ngả đuờng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định. Quá nửa đêm qua, sau giao thừa, tại Cao Nguyên và Trung Phần, các tỉnh lỵ và thị xã Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Qui Nhơn, Nha-trang, Hội An bị tấn công và đột nhập ồ ạt. Phi trường Đà Nẵng cũng bị pháo kích. Nhân ngày Tết, báo chí không phát hành. Tin trên chỉ được biết qua lời hiệu triệu ngày 1-2-68, và được xác nhận trong bản thông điệp của TT Nguyễn Văn Thiệu ngày 9-2-68 như dưới đây: Đêm nay, VC pháo kích, đột nhập, tấn công vào Đô thành Sài Gòn và phụ cận, cùng 28 thị xã tỉnh lỵ hoặc căn cứ lớn trên toàn quốc: Biên Hòa, Long Bình, Hậu Nghĩa, Trảng Bàng, Bình Dương, Phước Tuy, Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Châu Đốc, Sóc Trăng, Rạch Giá, An Xuyên, Quang Trị, Huế, Phú Bùi, đèo Hải Vân, Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Darlac, Kontum, Pleiku v.v...

Tại Đô thành và Gia Định, quá nửa đêm, nhiều cơ sở bị tấn công: tòa Đại sứ Mỹ đường Thống Nhất; tòa Đại sứ Phi Luật Tân đường Trương Minh Giảng; dinh Độc Lập; trại Châu Văn Tiếp, Quang Trung; ngả tư Xa lộ và đường Hàng Xanh; bến Bạch Đằng, bộ Tư lịnh Hải quân; phi trường Tân Sơn Nhứt và trại Hoàng Hoa Thám; trường Sinh ngữ Quân đội; tiểu khu Gia Định; đài Phát thanh đường Phan Bình Phùng v.v. Tại tòa Đại sứ HK, 19 VC bị hạ; 5 binh sĩ Mỹ tử thương và 22 bị trọng thương chết tại bịnh viện, số bị thương lên tới 121. Tại tòa Đại sứ Phi Luật Tân, mìn nổ gây nhiều thiệt hại, Đại sứ và gia đình trốn thoát. Tai dinh Độc Lập, một toán VC toan đột nhập cổng Nguyen Du, nhưng bị đẩy lui, bỏ lại 4 xác, 5 súng và 1 xe vận tải chứa chất nổ, 2 VC bị bắt. Một toán khác cố thủ trong cao ốc góc đường Nguyễn Du và Thủ khoa Huân. Tại Quang Trung, 10 VC bị hạ có 1 Thượng úy, 3 bị bắt, 26 võ khí tịch thu. 

Ngã tư Xa lộ và đường Hàng Xanh: kịch chiến suốt đêm sang ngày hôm nay. Một số VC bị hạ hoặc bị bắt, nhiều toán khác lẫn vào nhà dân chúng. Bến Bạch Đằng: 10 VC bị hạ, 2 bị bắt. Tân Sơn Nhứt, trường Sinh-ngữ, trại Hoàng Hoa Thám, nga lư Bà Quẹo: kịch chiên, chừng 200 VC tử thương, rất nhiều võ khí bị tịch thu. Đài Phát thanh đường Phan Bình Phùng: bị đột nhập Lừ 3 giờ sáng, kịch chiến từ 3 giờ 15. Một tiểu đoàn Nhảy Dù tới tiếp viện và tái chiếm trụ sở lúc hơn 4 giờ. Đến 9 giờ 45, VC bị tiêu diệt 14 xác tại chỗ, với một số lớn súng và mìn. Phi trường Biên Hòa bị 1 tiểu đoàn với trọng pháo tấn công nhiều đợt từ 3 giờ đêm đến 9 giờ sáng nay địch đã xâm nhập vào phi đạo nhưng bị đẩy lui, bỏ lại 114 xác; 25 bị bắt với một đại đội trưởng và một số súng cùng dụng cụ truyền tin. 

Thành phố Huế bị tấn công dữ dội từ 4 gíờ 45 sáng nay. Quân BV chiếm đóng khu Thành Nội. Nhiều súng cao xạ đặt trên nóc tòa Tỉnh trưởng Thừa Thỉên. Lao thất bị tấn công, hàng ngàn phạm nhân được thả. Cầu Bạch Hổ bị phá sập. Châu Đốc bị xâm nhập, 1.200 nhà cháy, 200 thường dân chết. Đà Lạt bị xâm nhập, vài khu bị chiếm đóng. 2 tiểu đoàn VC từ Sông Bé về đánh phi trường Tân Sơn Nhứt, bị các đơn vị Mỹ chặn đánh tại Hố Nai. 2 Trung tá Thiết giáp Sài Gòn và gia đình (mẹ, vợ và 2 con nhỏ) (vợ và 6 con nhỏ) đều bị sát hại, cùng 360 thân nhân binh sĩ. Ngoài ra, 400 thân nhân binh sĩ bị thương (Thông điệp của TT Nguyễn Văn Thiệu, 9-2-68).

Ngày 1/2 (3 tháng giêng Mậu Thân)Hội đồng Nội các nhóm họp; chánh phủ xác định tình trạng chiến tranh tuyên bổ ngày 24-6-65; lịnh giới nghiêm ban hành, cấm ra khỏi nhà từ 7 giờ tối đến 6 giờ sáng. Công chức nghỉ cho tới khi có lịnh mới, trừ những nhân viên ỵ tế, an ninh, thông tin v.v. Ngày 5/2, hơn 2.500 cán bộ Xây dựng Nông thôn được triệu về Đô thành tham gia cứu trợ. Ngày 9/2, TT Nguyễn Văn Thiệu trình bày trước Lưỡng viện Quốc hội tình hình chiến sự và các biện pháp đối phó, đồng thời yêu cầu Quốc hội uỷ nhiệm cho chính phủ ban hành các biện pháp kinh tế tài chánh trong một năm. Ngày 9/2, hôm nay, Bưu điện Sài Gòn mới nhận điện tín, thư tín, điện thoại.. v.v., và phi trường Tân Sơn Nhứt mới mở một vài đường bay quốc tếNgày 14/2, tổng số thiệt hại từ ngày tổng tấn công tới hôm nay: VC+BV: chết 32.904; bị bắt 6.440; mất súng 9.095. VNCH: chết 2.357; mất tích 500; mất súng 1.359. Hoa Kỳ: chết 1.113; mất tích 14; mất súng không ghi nhận. 

Ngày 14/2, TT Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu tiếp phái đoàn các giới để lãnh ý kiến về hiện tình xứ sở. Ngày 22/2, Tổng nha cảnh sát ra thông cáo kêu những người đi lánh tạm trở về nhà. Khởi công xây cất khu tạm cư 15 mẫu giữa các đường Lê Thái Tổ, Pétrus Ký và Hùng Vương, Sài Gòn, 1.500 căn cho 30.000 người. Ngày 22/2, Thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng được cử thay thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh làm Tư lệnh kiêm Đại biểu Chánh phủ Vùng IV Chiến thuật; Thiếu tướng Lữ Lan, thay thiếu tướng Vĩnh Lộc, làm Tư lịnh kiêm Đại biểu Chánh phủ Vùng II. Ngày 26/2, kể từ hôm nay, tại Đô thành, trong cả 9 Quận dân chúng được đi lại lừ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối. Ngày 29/2, Giá gạo nội địa do Tổng cuộc Tiếp tế bán ra: 2.250$ mỗi bao 100 kí; bay hạt dồi, 2.100$ (gạo số 1). Ngày 29/2, Tới hôm nay, tổng số tiền quyên được: 63.160.050$. Chánh phủ Tây Đức giúp nạn nhân VN 1.250.000 Mỹ kim thực phẩm và các phẩm vật khác. 

NẠN NHÂN, TỴ NẠN CỘNG SẢN. NĂM 1968. Ngày 1/1, Tổng số người tỵ nạn Cộng sản (CS): 793.944. Ngày 4/2, từ ngày 31-1, đã có 2.107 người bị thương đưa tới các bệnh viện Đô thành. Hiện có 16.750 đồng bào tị nạn từ các khu hỗn chiến hoặc nguy hiểm tại Sài Gòn và Gia Định, và tạm trú trên 19 địa điểm. Ngày 6/2, Hôm nay, số nạn nhân tại Đô thành lên tới 85.494 người, tạm trú tại 59 nơi. Ngày 10/2, tại Đô thành, hiện có 21 địa điểm cứu trợ, với 50.767 người tị nạn tạm trú. Ngày 11/2, theo Trung tá Phan Văn Khoa, Tỉnh trưởng Thừa Thiên, đã tìm thấy một hố lớn chôn trên 300 xác cảnh sát và công chức bị sát hại tại Huế. Ngày 13/2, số dân tị nạn sau cuộc tổng tấn công, tại Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định là 221.008; tại các tỉnh 110.736. Ngày 14/2, Các thị xã bị tàn phá nhiều nhất: Pleiku 50%, hơn 500 người chết, 11.000 tị nạn; Ban Mê Thuột 25%, khoảng 500 người chết, 20.000 tị-nạn; Vĩnh Long, 25% gần 14.000 tị nạn; Bến Tre 45%, non 1000 chết, 10.000 tị nạn; Huế 80%, 68.000 tị nạn.  

Ngày 19/2, theo Bộ Xã hội, tổng số tị nạn trên toàn quốc lên tới 617.296 người. Có 5.274 người bị thiệt mạng, 8.681 bị thương, 39.694 nhà cháy. Tại Sàí Gòn Chợ Lớn: 140.516 người trong 81 nơi tạm trú; tại Gia-Bịnh, 60.520 người trong 44 nơi. Ngày 26/2, theo Trung tá Phan Văn Khoa, Tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm Thị trưởng Huế, thiệt hại tại Huế, chưa kể quận tả ngạn sông Hương, có 3.976 thường dân chết, 1.909 bị thương, Số nhà cửa bị thiêu hủy lên tới 50%, 95% hay 100%. Ngày 28/2, TQLC tìm thấy tại Gia Hội, một hố chôn nhiều công chức bị sát hại. Ngày 29/2, Số nạn nhân vụ Tổng tấn công trên toàn quốc: 699.785 người; 51.152 căn nhà bị cháy tại các tỉnh. Tại Sài Gòn 157.992 người trong 71 nơi tạm trú; tại Gia Định 68.391 người trong 43 nơi tạm trú.   

Sydney ngày 20 tháng 4 năm 2024

 

Bài 112: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN LỘC: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 3-5/1968.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1968. Ngày 6/3, Ứng cử viên Tổng thống Nixon tuyên bố, nếu đắc cử ông sẽ chấm dứt chiến tranh lại VN, bằng cách dùng áp lực kinh tế và ngoại giao đối vói CS. Cùng ngày 6/3, theo tòa Đại sứ Mỹ, trong cuộc Tổng tấn công vừa qua, 11 viên chức và 21 thường dân Mỹ thiệt mạng. Ngày 7/3, Bộ Tư lịnh HK được sắp đặt lại tổ chức: (1) Bộ Tư lịnh Quảng Trị-Thừa Thiên tức Prov. Corps VN (Pro visional Corps Viet Nam) hành dinh tại Phú Bài; (2) Bộ Tư lịnh TQLC Third MAP (Third Marine Amphibious Force) có trách nhiệm tại VI/CT gồm 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Tín và thuộc quyền chỉ huy của tướng Cushman. Ngày 13/3, có 35 thiếu nhi nạn nhân cuộc Tổng tấn công được đưa sang Tây Đức chữa theo chương trình viện trợ Terre des HominesNgày 15/3, Robert Kennedy tuyên bố sẽ ra tranh cử Tổng thống để chấm dứt chiến tranh tại VN, lấp hố ngăn cách Da Đen với Da Trắng và người giàu với nguời nghèo. 

Ngày 21/3, tại Hoa Kỳ, 48.000 tbanh niên được gọi nhập ngũ trong tháng 4; và 44.000 được gọi trong tháng 5 tới. Ngày 22/3, TT Johnson cho biết trong một cuộc họp háo: Tướng Westmoreland, Tổng tư lệnh Mỹ tại VN, được cử làm Tham Mưu trưởng Lục quân kể từ ngày 2-7-68. Đô đốc Sharp, Tổng tư lệnh tại Thái bình Dương, sẽ về hưu trong tháng 7 tới. Ngày 27/3, Mặc dầu giá vàng tăng trên các thị trường Âu Châu và Hương Cảng, giá tại Sài Gòn vẫn đứng 9.100$ - 9.300$/lượng. Ngày 28/3, sau lần hội đàm với Tổng thống Johnson, tướng Creighton W. Abrams, phu tá Tổng tư lịnh quân Mỹ tại VN tướng West­moreland, rời Hoa Thinh Đốn trở lại Sài Gòn. Có tin chiến lược quân sự sẽ được xét lại toàn diện. Ngày 31/3, TT Johnson tuyên bố: ngưng oanh tạc BV không điều kiện, ngoại trừ vùng Phi quân sự, và sẽ ngưng hẵn nếu BV tỏ thíện chí; chỉ tăng quân 13.500 để đưa lên số 525.000 tại VN; không ra ứng cử, không nhận sự đề cử của đảng Đảng chủ.

Ngày 31/3, Bộ Quốc phòng Mỹ loan tin đã cho tăng sản xuất loại súng M-16 để đáp ứng nhu cầu tại VN. Ngày 1/4, dư luận chung trên thế giới đối với lời tuyên bố mới của TT Johnson: ngạc nhiên, tán thành đề nghị về hòa bình; rất xúc động về quyết định không tranh cử. Ngày 2/4, TT Johnson cho biết đã mời TT Nguyễn Văn Thiệu sang Hoa Thịnh Đốn hội đàm về vấn đề VN với một số nhân vật quan trọng vào cuối tuần này. Ngày 4/4, Mục sư Martin Luther King, lãnh lụ ôn hòa Da Đen, bị bắn chết trước một khách sạn tại Memphis, TT Johnson tuyên bố rất xúc động về tử nạn của Mục sư King.Ngày 6/4, TT Johnson bãi bỏ dự định đi họp hội nghị Honolulu, vì nội tình Hoa Kỳ nghiêm trọng. TT Johnson tiếp kiến tướng Westmoreland và xét lại tình hình quân sự tại VN. Ngày 7/4, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố tại Canberra, Úc: hiện nay không có vấn đề rút quân đội HK khỏi VN. Tướng Westmoreland tuyên bố tại Hoa Thịnh Đốn, tình hình quân sự tại VN rất lạc quan, và thuận lợi cho HK.... 

Ngày 8/4, Theo tin AFP, dân chúng Hà Nội từ lâu lắm, mới lại đi chơi đầy đường tại trung tâm thành phố, cả trẻ con lẫn người lớn. Ngày 9/4, TT Johnson tuyên bố: Khe Sanh đã được giải vây, và khen ngợi quân đội Mỹ Việt đã giữ vững vùng này để cản chân 2 sư đoàn BV không cho tham gia chiến dịch Đông-Xuân. Tại Camp Davis, TT Johnson thảo luân cùng các Cố vấn về vấn đề VN. Đại sứ Bunker trình bày về tình hình VN sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, và tỏ ý rất lạc quan. Cùng ngày 11/4, Tướng 4 sao Creighton W. Abrams, phụ tá tướng Westmoreland, được cử làm Tổng tư lịnh Quân đội HK tại VN, thay tướng Westmoreland. Sách lược lùng và diệt dịch (search and destroy) sẽ được thay bằng Sách lược quét để giữ (clear and hold). Ngày 12/4, con rể thứ hai của TT Johnson, Patrick Nugent, sang phục vụ tại Cam Ranh. Ngày 13/4, Thông tấn xã BV trách HK vẫn tiếp tục oanh tạc bên trên vĩ tuyến 20, vùng Nghệ An Hà Tĩnh. 

Ngày 15/4, TT Johnson sang Honolulu hội thảo với các chỉ huy quân sự về chiến lược tại VN. Trong số các quốc trưởng Đồng minh, chỉ có Tổng thống Đại Hàn Phác Chinh Hy tham đự. Tại Honolulu, TT Johnson tuyên bố: sẽ cố gắng hết sức trong 9 tháng còn ở lại chánh quyền để thực hiện hòa bình tại VN bằng cách thương thuyết, nhưng sẽ cùng Đồng minh đối phó mọi sự thách thức quân sự. Cùng ngày 17/4, TT Johnson hội đàm với TT Đại Hàn tại Honolulu trong suốt buổi sáng, về vấn đề VN và phòng thủ Đại Hàn. Ngày 20/4, theo giới quân sự HK, tính từ đầu 1961 số quân Mỹ thiệt hại tại VN: 21.701 tử thương, 70.778 bi thương phải vô bịnh viện, và 1.089 mất tích. Ngày 22/4, theo Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Clark Clifford, quân đội VNCH sẽ được trang bị võ khí tối tân từ nay đến tháng 11, sẽ dược cung cấp 100.000 súng M-16. 

Ngày 23/4, Tướng Wheeler trình trước một Ủy ban Thượng viện HK từ ngày 1-1-1964, Mỹ đã tổn thất một số phi cơ đáng giá 1.315 triệu Mỹ-kim. Trong cuộc Tổng tấn công 'Tết Mậu Thân, 15 phi cơ và 23 trực thăng bị phá huỷ tại sân bay, và 53 phi cơ cùng 149 trực thăng bị trúng đạn và hư hại. Theo giới quân sự HK thì BV vẫn tiếp tục đưa quân vô Nam theo đưòng Hồ Chí Minh. Ngày 25/4,  Cựu Phó tổng thống Nixon tuyên bố tại trường Đại-học Oregon: không chủ trương thành lập một Chánh phủ Liên hiệp tại miền Nam VN, vì như vây sẽ chấm dứt chiến tranh nhưng cũng mất cả hòa bình (that would end the war but lose the peace). Ngày 26/4, Ngoại trưởng Trung Cộng, Trần Nghị, tuyên bố: BV nên tiếp tục chiến đấu chổng Mỹ và Đồng minh, vì vấn đề VN chỉ có thể giải quyết bằng võ lực. Cùng ngày 15/5, Ngoại trưởng Dean Rusk tuyên bố: HK không thay đổi thái độ, không hề chủ trương lập, hay chánh phủ liên hiệp tại VNCH. 

Ngày 16/5, theo Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, quân đội VNCH sẽ được cấp 500.000 súng M-16 trong 2 năm tới. Cũng ngày 16/5, TT Johnson đã không cho phép dội bom xuống các đê điều BV, nếu không, tất đã xảy ra những vụ lụt khủng khiếp.Ngày 24/5, tại Mỹ, một Ủy ban chủ trương Hòa bình trong Tự do (Peace with Freedom Committee) thành lập, với nhiều nhân vật tên tuổi như Eisenhower, Bradley vv... Ủy ban tuyên bố: không nên gây áp lực buộc miền Nam VN phải liên hiệp với Cộng sản. Cả BV lẫn Mỹ đều phải xuống thang chiến tranh; miền Nam phải được độc lập.

HOÀ ĐÀM MỸ-BẮC VIỆT. NĂM 1968. Ngày 22/3, Đại diện BV tại Ba-Lê, Mai Văn Bộ tuyên bố VNDCCH sẵn sàng thương thuyết sau khi Mỹ ngưng oanh tạc BV không điều kiện. Ngày 3/4, Đài phát thanh Hà Nội cho biết: nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng gửi đại diện tiếp xúc với đại diện Mỹ để quyết định về sự ngưng oanh tạc vô điều kiện và mọi hành động chiến tranh chống miền Bắc, cho cuộc hòa đàm có thể bắt đầu. TT Johnson ghi nhận lời tuyên bố của BV và xác nhận gửi đại diện tiếp xúc với đại diện BV. Ngày 6/4, theo phát ngôn viên tòa Bạch ốc, chánh phủ Mỹ chưa nhận được trả lời chánh thức của BV về việc hòa đàm. Ngày 8/4, TT Johnson tuyên bố: đã nhận được công hàm của BV nhận lời gặp đại diện chánh phủ HK cấp bậc Đại sứ. Đồng minh đã được thông báo về việc này. Ngày 8/4, theo tin CPI, Trung Cộng đe dọa không ủng hộ BV nữa, nếu BV điều đình với HK sẽ có thế cắt đứt viện trợ.

Ngày 14/4, các báo Hà Nội đăng thông cáo của Bộ Ngoại giao BV kêu gọi UK xác định ngày và nơi gặp gỡ. Cùng ngày 14/4, Bộ Ngoại giao HK tó ý ngạc nhiên vì Hà Nội chưa trả lời về các địa điểm gặp gở do Mỹ đề nghị: New Delhi, Rangoon, Vientiane, Djakarta, Geneve. Ngày 16/4, theo tin AFP, Xuân Thủy được cử lên hàng Bộ trưởng BV để phụ trách hòa đàm. Ngày 17/4, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk cho biết: vẫn chưa đạt tới thỏa hiệp với BV về nơi gặp gở; và VNCH vẫn bị tấn công trên khắp lãnh thổ, mặc dầu Mỹ đã ngưng oanh tạc trên phần lớn BV. Ngày 3/5, BV chấp nhận Ba-Lê là nơi gặp gỡ HK, song sẽ chỉ bàn về vấn đề ngưng oanh tạc BV. TT Johnson chấp nhân Ba Lê là nơi mở cuộc hòa đàm vào ngày 10-5 theo đề nghị của BV. Ngày 4/5, Bộ Ngoại giao VNCH thông cáo: chánh phủ VNCH không thấy chi trở ngại về việc chọn Ba-Lê làm nơi gặp gỡ của HK và BV. Ngày 7/5, Phái đoàn Mỹ dự hội đàm Ba Lê do Đại sứ Averell Harriman làm trưởng đoàn, Phụ tá cựu Thứ trưởng Quốc phòng Cyrus Vance; Phái đoàn BV do Bộ trưởng Xuân Thủy làm trưởng đoàn, Phụ tá Đại tá Hà Văn Lâu hàm Đại sứ. 

Ngày 10/5, Hai phái đoàn Mỹ và BV gặp nhau lần đầu lại Hội trường Quốc tế Ba-Lê. Phía Mỹ: Đại sứ Cyrus Vance, cựu Thứ trưởng; phía BV: Đại-tá Hà Văn Lâu. Cuộc hội họp kéo dài 2 giờ, về thủ tục và các chi tiết kỹ thuật. Ngày 11/5, hai Phái đoàn Mỹ và BV gặp nhau lần thứ hai và thoả hiệp về những điểm chính: chỉ có BV và Mỹ, không có MTGPMN, VNCH hay Đồng minh. Ngày 13/5, hai phái đoàn Mỹ và BV nhóm họp phiên chánh thức đầu tiên tại Hội trường Quốc tế Ba-Lê. Mỗi bên có 11 nhân viên. Harriman và Xuân Thủy đọc các bản tuyên ngôn xác định lập trường: Xuân Thủy đòi hỏi Mỹ: trả lời dứt khoát về sự chấm dứt oanh tạc và các hành động chiến tranh; thừa nhận quyền tự quyết của dân tộc VN. Mỹ xâm lăng, kéo dài sự chia rẽ VN, phải đơn phương xuống thang chiến tranh, và chấm dứt xung đột. Harriman yêu cầu BV: trả lại vùng Phi quân sự tính cách Phi quân sự; BV phải có những biện pháp xuống thang chiến tranh tương xứng với sự ngưng oanh tạc; tăng cường kiểm soát và đảm bảo hòa bình với sự tham gia của các quốc gia Á Châu; dân miền Nam có quyền tự quyết với tư cách pháp nhân; tôn trọng trung lập của Lào; Mỹ sẵn sàng trao các căn cứ quân sự cho miền Nam xử dụng với mục đích xây dựng hòa bình. 

Ngày 14/5, Đại sứ Harriman tuyên bố: đương cứu xét lại kỹ bản tuyên ngôn của BV. Phái đoàn BV vẫn chối là không có quân đội BV tại miền Nam, tuy vẫn có quân nhân BV bị bắt làm tù binh. Theo đài phát thanh Mạc Tư Khoa, cuộc hòa đàm tại Ba Lê bị Trung Cộng coi như một sự lầm lẫn của BV. Ngày 15/5, hai phái đoàn Mỹ và BV hội đàm lần thứ hai trong 2 giờ rưỡi. Harriman nhấn mạnh về 5 điểm: cần xây dựng hòa bình trên căn bản các hiệp định Genève 1954; việc nội bộ miền Nam sẽ do người miền Nam tự quyết; không có sự can thiệp của ngoại bang; VN sẽ có thể thống nhất trong hòa bình, nhưng phải theo đường lối tự do; những điều khoản quân sự của hiệp định Genève cần được tôn trọng. Xuân Thủy xác nhận: Trước hết, Mỹ phải ngưng lìền oanh tạc và các hành động chiến tranh, không đặt điều kiện gì. Mỹ xâm lăng thì Mỹ phải tụt thang chiến tranh. BV không phải dè dặt khi chống xâm lăng. Harriman đề nghị họp mật với Xuân Thủy. Ngày 16/5, Đại sứ Cyrus Vance, Phó đoàn hòa đàm Mỹ tuyên bố tại Ba Lê: nếu bàn về các vấn đề chánh trị, phải có sự tham gia của VNCH. Ngày 17/5, Phát ngôn viên của phái đoàn BV tại Ba-Lê tuyên bố: Mỹ phải ngưng hẳn oanh tạc BV không điều kiện. Phát ngôn viên của tòa Bạch ốc tuyên bố: quyết định của TT Johnson về sự oanh tạc, không thay đổi.

Ngày 18/5, hai phái đoàn Mỹ và BV nhóm họp phiên thứ ba trong 5 giờ liền. Hai bên vẫn giữ nguyên lập trường: BV đòi Mỹ ngưng hẳn oanh tạc và các hành động chiến tranh; HK nêu lên các bằng chứng, tỏ rằng quân BV đã có mặt tại miền Nam mặc dầu BV một mực chối cãi. Hai bên đều sẵng giọng, nhưng vẫn hứa sẽ họp lại. Theo Harriman, hiện nay tại miền Nam VN, có tới 85.000 quân BV gồm 9 sư đoàn, 27 trung đoàn, 99 tiểu đoàn bộ binh. Ngày 20/5, tại Ba-Lê, Đại sứ Harriman tuyên bố: VNCH sẽ có mặt khi bàn tới các vấn đề chánh trị VN. Ngày 22/5, hai phái đoàn Mỹ và BV họp phiên thứ 4 trong 1 giờ. Đại sứ Harriman đề nghị: chỉ nên công bố hạn chế thay vì tường thuật về các phiên họp. Hai bên vẫn chỉ nhắc lại những luận điệu đã đưa ra trong các phiên trước. Ngày 24/5, báo chí Hà Nội tường thuật các phiên họp tại Ba Lê, và công kích Mỹ cố tình đưa cuộc hội đàm tới chỗ bí tắc, và Mỹ phải chịu trách nhiệm.     

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1968. Ngày 1/3, hành quân tảo thanh tại Gia Định. Giao tranh suốt ngày tại Gò Vấp. Kịch chiến tại Gio Linh, và tại Đông Hà. Các tỉnh lỵ Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Pleiku, Kontum lại bị pháo kích. Phi trường Tân Sơn Nhứt, Căn cứ Mỹ, và 3 đồn Nghĩa quân tại Nhà Bè bị pháo kích và tấn công. B-52 dội bom phá các dàn hoả tiễn, các ổ trọng pháo quanh Khe Sanh. Ngày 2/3, từ đêm qua, B-52 dội bom nhiều lần xuống gần Khe Sanh. Ngày 3/3, Khe Sanh bị tấn công, từ đêm qua và sáng nay B-52 phải dội bom 6 lần. Giao tranh gần căn cứ Cồn Tiên, Đồng Hà, Quảng Tín. Quảng Ngãi, Kontum, Ban Mê Thuột. Rạch Giá bị pháo kích. Kho xăng Nhà Bè, Gia Bịnh, bị pháo kích, cháy 60.000 lít xăng. Ngày 4/3, Chi khu Tuy Phước và đồn Kỳ Sơn, Bình Định bị một tiểu đoàn VC tấn công. Kịch chiến tại Tuy Hòa. Hành quân Long Phi tại Vĩnh Long. Giao tranh gần Tam Kỳ. Chạm súng gần xa lộ Thủ Đức. Ban Mê Thuột bị pháo kích và đột nhập. Hành quân Tiến Bộ 4/68 tại Ban Mê Thuột. Phi cơ Mỹ oanh tạc Hà Nộỉ, Hà Đông, Đồng Hới, Vinh và Thanh Hóa. 

Ngày 5/3, Mỹ Tho, Cần Thơ, Châu Đốc, Tây Ninh, Phước Long, Kiến Phong, Kiên Hòa bị pháo kích. Tỉnh lỵ Bình Long bị đột nhập. Thị xã An Xuyên bị pháo kích và đột nhâp. Phú Cường bị tấn công. Giao tranh tại Bình Dương. Căn cứ Cam Ranh bị pháo kích. Giao tranh tiếp tục tại Tam Kỳ. Phi cơ Mỹ oanh tạc Nam Định, Thanh Hoá, khu Phi quân sự gần Gio Linh. Ngày 6/3, các vị trí quân sự Mỹ tại Tây Ninh, Củ Chi, Lộc Ninh, Sông Bé, Phú Lợi, Lai Khê, Can Thơ, Sóc Trăng, Plciku... bị pháo kích và tấn công. Ngày 7/3, giao tranh gần Phú Lâm, và Thủ Đức. Ngày 9/3, một toán VC tấn công nhà đèn Chợ Quán. Chi cảnh sát Phạm Thế Hiển; Chi Cảnh sát Nhà Bè bị pháo kích. Thị xã Mỹ Tho bị pháo kích. Ngày 10/3, một đại đội Mỹ giao tranh với VC gần Tân Sơn Nhứt. Hành quân cảnh sát trong khu Trần Quổc Toản. Ngày 12/3, hành quân Lam Sơn 193 tiếp lục tại Quảng Trị. Giao tranh tại Gio Linh. Giao tranh suốt ngày tại Đồng Hà. Tiểu khu Phước Long bị pháo kích. 

Ngày 13/3, giao tranh tiếp tục tại Đồng Hà. Phi trường Ban Mê Thuột bị pháo kích. Một đoàn quân xa Mỹ trên quổc lộ 11 bị phục kích gần Pleiku. Ngày 14/3, hành quân Quyết Thắng của 50.000 quân Việt Mỹ quanh Biệt khu Thủ đô. TQLC Mỹ tấn công 1 tiểu đoàn BV tại An Hòa, Quảng Nam. Ngày 15/3, Hành quân Lam Sơn 194 tại Thừa Thiên. Giao tranh tại Đức Hòa, Hậu Nghĩa, và Phú Hội, Sài Gòn. Trong tuần qua, không lực VNCH đã thực hiện 1.837 phi vụ yềm trợ và oanh kích miền Nam. Ngày 17/3, hành quân Trương Công Định 7/12/3 tại Định Tường. Chạm súng tại Mỹ Tho. Giao tranh tại Hóc Môn, Phú Cường, Bình Dương, Konlum. Ngày 18/3, giao tranh tại Bàu Tràm, Củ Chi. Kịch chiến tại Đông Hà. Phi cơ Mỹ oanh tạc phi trường Kiến An, nhà máy điện Hòn Gay, đèo Mụ Gia, các đường xe lừa Thanh Hóa, Vinh .v.v. Ngày 19/3, 6 sĩ quan VC hồi chánh trình diện Trung tâm Báo chí Sài Gòn. Giao tranh tại Bình Chánh, Gia Định. B-52 vẫn oanh tạc quanh Khe Sanh. Phi cơ Mỹ oanh tac nhà máy điện Uông Bí, ga xe lửa Nam Định, phi trường Đồng Hời và các trục giao thông Thanh Hóa, Vinh .v.v. 

Ngày 20/3, giao tranh tại Bình Chánh; tại Đức Hòa; tại Hội An. B-52 tiếp tục oanh tạc quanh Khe Sanh. Ngày 21/3, tại Khe Sanh, tiểu đoàn 37 BĐQ đang đóng giữ vòng ngoài căn cứ. TQLC Mỹ đặt các căn cứ yềm trợ trên các đồi 861, 881, và 950. Phi cơ Mỹ oanh tạc trại quân Hà Đông, nhà máy điện Hòn Gay, nhà biến điện Cẩm Phả, trại quân Đồng Hới vv. Ngày 25/3, quân nhảy Dù VN tiếp tục truy kích VC tại Hóc Môn, Gia Định. Giao tranh tại Hậu Nghĩa, tại Trảng Bàng, và Tây Ninh. Phi cơ cánh xếp l;-l11-A dội bom lần đầu liên xuống BV. Ngày 27/3, hành quân Lam Sơn 201 tại Phú Thứ, Thừa Thiên. Hành quân Úc tảo thanh vùng Long Hải, Phước Tuy. Ngày 30/3, có 138 phi vụ oanh tạc trại quân Chúc Sơn, cầu Hà Nội, cảng Hải Phòng, nhà biến điện Cẩm Phả, và các kho dầu vùng duỵên hải BV. Tới nay, HK đã ngưng oanh tạc BV 6 lần: (1) từ 13 đến 17-1-1965; (2) từ 21-12-65 đến 31-1-66; (3) từ 21-12-66 đến 26-12-66; (4) từ 31-12-66 đến 2-1-67; (5) từ 28-1-67 đến 12-2-67; (6) trong dịp lễ Giáng sinh, Tết Dương dịch và Tết Nguyên đán vừa qua.

Ngày 1/4, hành quân Pegasus và Lam Sơn 207 với 2 sư đoàn Mỹ và một chiến đoàn Nhảy Dù VNCH, khai thông Quổc lộ 9 nổi liền Cam Lộ với Khe Sanh, và giải tỏa căn cứ này. B-52 dội bom 3 lần quanh Khe Sanh. Ngày 5/4, nhiều cuộc giao tranh chung quanh Khe Sanh, TQLC Mỹ đã chiếm ngọn được đồi 471. Giao tranh tại Thừa Thiên, Kontum, Tuy Hòa. Phi trường Biên Hoà, Kontum bị pháo kích. Ngày 9/4, đêm qua, tai Khe Sanh, TQLC My đốt pháo bông nhiều màu và uổng la đe ăn mừng nhân dịp Sư đoàn 1 Không vận tới giải toả vùng này. TQLC Mỹ chuyển giao căn cứ Khe Sanh cho Sư đoàn 1 Không vận để tiến về phía Bắc gần biên giới Lào-Việt. Ngày 12/4, Căn cứ Mỹ tại Dầu Tiếng, đồn điền Michelin, bị tấn công ào ạt trong 5 giờ liền. Giao tranh tại Lang Vei, gần Khe Sanh. Phi cơ Mỹ vẫn oanh lạc vùng Đồng Hới, Vinh, và gần vùng Phi quân sự. 

Ngày 14/4, giao tranh tại Khe Sanh TQLC Mỹ tái chiếm ngọn đồi 881. Quốc lộ số 9 đưa tới Khe Sanh đã được khai thông. Ngày 16/4, Trường Bộ binh Thủ Đức bị pháo kích. Giao tranh dữ dội tại Khe Sanh. Căn cứ TQLC Mỹ tại Khe Sanh cũng bị pháo kích. Ngày 19/4, theo tuần báo Times, trong 10 tuần lễ trước khi Khe Sanh được giải tỏa, phi cơ Mỹ đã dội xuống vùng phụ cận căn cứ này 103.500 tấn bom rẩt trúng đích. Số phi xuất trung bình của B-52: từ 40 đển 50 mỗi ngày. Số quân BV tử thương ước chừng 15.000. Trong 3 tháng qua, B-52 cũng đã dội xuống khu A Shau biên giới Lào-Việt, tỉnh Thừa Thiên, 15.000 tấn bom. Phi cơ Mỹ phóng hỏa đốt một khu rừng tại U Minh, An Xuyên, để phá hủy các căn cứ VC lửa bốc mạnh trong nhiều ngày đêm. Ngày 20/4, B-52 dội bom 8 lần yểm trợ hành quân Lam Sơn 216, và quân Delaware Mỹ vùng An Hậu (A Shau) biên giới Việt-Lào thuộc Thừa Thiên. 

Ngày 21/4, Tướng Jacob Chỉ huy phó Sư doàn 3 TQLC Mỹ tuyên bố không bỏ Khe Sanh, nhưng thay vì cố thủ bằng hành quân quanh vùng này. Cùng ngày 21/4, một Đại tá VC bí danh Tám Hà, hồi chánh tại Bình Dương. Ngày 22/4, các đơn vị TQLC Mỹ trên đồi 881 gần Khe Sanh, bị tấn công dữ dội. Ngày 23/4, giao tranh suốt ngày khi 3 tiểu doàn Nhãy Dù chận đánh 1 lực lượng VC khá đông tại vùng ven Đô, dọc rạch Bến Cát, Hóc Môn, Gia Định. Ngày 24/4, B-52 vẫn oanh tạc dữ dội khu An Hâu (A Shau). Có 116 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 27/4, phi trường Quảng Trị và căn cứ Caroll Quảng Trị bị pháo kích. Giao tranh tại Kontum. Giao tranh tại Long An. Ngày 28/4, theo tin tình báo Mỹ, có từ 15 đến 20 tiểu đoàn BV và VC chung quanh Huế. Có 106 phi vu oanh tạc BV. Ngày 29/4, giao tranh tại Quảng Trị. Giao tranh tại Kontum. 

Ngày 30/4, đêm qua và hôm nay Cảnh sát Quốc gia mở nhiều cuộc hành quân kiểm soát trong Đô thành. Khám phá 3 hầm võ khí và nhiều địa đạo tại Xóm Mới, Gò Vấp, vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt. Ngày 2/5, Trong cuộc hành quân Delaware và Lam Sơn 218 tại biên giới Việt-Lào A Shau (An Hậu), Thừa Thiên, nhiều cuộc chạm súng với các đơn vị BV thuộc các Sư đoàn 325 và 324. Từ 3 tuần nay B-52 đã dội xuống khu này hơn 1.000 tấn bom. Ngày 5/5, từ đêm qua, vài địa điểm tại Đô thành bị pháo kích và đột nhập: toà Hành chánh quận 5, đường Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, đường Phó Cơ Điều, Phan Thanh Giản. Thị Nghè, Bình Thới vv... Có tới 19 tỉnh lỵ và quận lỵ tại các vùng chiến thuật bị pháo kích trong đêm qua. Và, trên 22 phi trường cũng bị pháo kích. Trong 3 tháng đầu 1968, BV đa đưa vô miền Nam VN từ 80.000 đến 100.000 quân. 

Ngày 6/5 Trung tâm Truyền tin Quán Tre, Phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích. Giao tranh tiếp tuc tại khu Thị Nghè, Xa lộ Sài Gòn-Thủ Đức. Một đơn vị VC tiến về Đô thành, bị Nhảy Dù chặn đánh tại An Phú Đông. Cùng ngày 6/5, một tiểu đoàn VC khác xâm nhập khu Ngã Tư Bảy Hiền, sát vòng rào phi trường Tân Sơn Nhứt. Đại tá Lưu Kim Cương Tư lịnh Không đoàn 33 kiêm Chỉ huy Yếu khu Tân Sơn Nhứt, bi tử thương. Ngày 7/5, tại Đô thành, giao tranh tiếp tục tại khu Thị Nghè, khu Bảy Hiền, khu Tân Sơn Nhứt, trại Trần Hưng Đạo, trại Võ Tánh, đường Nguyễn Huệ, đường Trần Hưng Đạo .v.v. Theo tin tình báo Mỹ cũng như của một sĩ quan VC bị bắt, hai sư đoàn VC chuẩn bị tấn công Sài Gòn, vài tiểu đoàn đã lọt vô khu Phú Thọ Hòa. Đại tá Đàm Văn Quí, phụ tá Tống Giám đốc cảnh sát, bị tử thương trong cuộc hành quân trên đường Lục Tĩnh, Chợ Lớn. Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám đốc cảnh sát bị thương tại khu Tự Đức.

Ngày 8/5, tại Đô thành, khu Bảy Hiền đã do Nhảy Dù kiểm soát lại; tàn quân của Trung đoàn VC 762 lui về phía Bà Quẹo và Gò Vấp, Hóc Môn. Phi trường Tân Sơn Nhất bị trúng hoả tiễn 122 ly. Khu Nhà Đèn Chợ Quán cũng bi pháo kích. Cùng ngày 8/5, nhiều đám cháy tại Thị Nghè, bến Phạm Thế Hiển, và đường Minh Phụng, Chợ Lớn. Ngày 9/5, giao tranh tại Chợ Lớn, khu Minh Phụng, Phú Thọ. Giao tranh tại Tân Thới Hiệp. Giao tranh tại Khánh Hội. Trực thăng oanh kích yểm trợ các cuộc giao tranh. Quân đội Mỹ trợ chiến tạỉ ven Chợ Lớn và Gia Định. Nhiều dám cháy gần cầu chữ Y, Chợ Lớn. Từ 5-5 tới nay, số người tị nạn tại Đô thành lên tới 56.915. Ngày 10/5, tại Đô thành, vẫn có hành quân và giao tranh trong khu Minh Phụng, Hậu Giang, Phú Định, Cầu chữ Y, Chợ Lớn, Tân Thới Hiệp, Tân Quí Đông. Các trận đánh hôm nay đều rất ác liệt. Theo tin quân sự VNCH, tại phía Tây Đô thành VC tụ tập đông nhất tại khu Bình Trị Đông, Phú Thọ Hoà; tại phía Nam Đô thành Tân Quí Đông; tại phía Bắc Đô thành Xóm Mới. Hóc Môn. Mỗi nơi có ước chừng 2 tiểu đoàn. 

Ngày 11/5, các toán VC đã bị đẩy lui khỏi nhiều vị trí tại các quận 4, 6 và 8. Ngày 12/5, trong đêm qua rạng sáng nay, 8 địa điểm định cư Chợ Lớn và Sài Gòn, bị pháo kích. Người nhái VC đặt mìn cầu Xa lộ Sài Gòn-Thủ Đức. Vẫn giao tranh tại khu cầu chữ Y, và Tân Sơn Nhất. Khám phá 1 hầm võ khí tại Bến Lức, Long An. Ngày 15/5, đêm qua và sớm nay, các tỉnh lỵ Kiến Phong, Kiến Tường, Bạc Liêu, Ba Xuyên, Kontum, Darlac, Tây Ninh, phi trường Biên Hòa, và đường Chợ Lớn bị pháo kích. Giao tranh tại Khe Sanh. Kịch chiến tại Trảng Bàng. Giao tranh tại Mỹ Tho. Đồn Địa phương quân Kon Som Luk, Kontum bị tấn công kịch liệt. Tại Đô thành, các cuộc hành quân cảnh sát tiếp tục, một số Đặc công bị bắt. Ngày 17/5, theo tướng Rosson, Tư lệnh quân Mỹ tại Thừa Thiên-Quảng Trị, kết quả hành quân Mỹ-Việt Delaware và Lam Sơn tại khu Au Hậu, 739 quân BV tử thương, 2 bệnh viện ngầm dài 18 thước, 38 quân xa, 1 xe thiết giáp Nga Sô, và nhiều võ khí quân cụ bị tịch thu, hoặc phá huỷ. Phía Mỹ-Việt: 142 tử thương, 840 bị thương, 108 trực thăng bị bắn rớt song chỉ có 20 bị phá hủy.

Ngày 20/5, theo giới quân sự Mỹ, hiện có chừng 5.000 quân VC tụ tập quanh Dakto và chuẩn bị tấn công mạnh vào căn cứ Mỹ tại đây. Một hầm võ khí của VC bị khám phá tại Cần Giuộc. Ngày 21/5, Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ hành quân quanh Sài Gòn. Ngày 23/5, vài chục VC lại xâm nhập tỉnh lỵ Gia Định, chợ Bà Chiểu, đường Hàng Xanh. Hàng chục đạn súng cối bắn vào khu dân cư Quận 8 Đô thành. Ngày 24/5, theo tin quân sự Mỹ, hiện có 9 sư đoàn BV xâm nhập miền Nam, cùng 4 trung đoàn và một số tiểu đoàn chủ lực tương đương với 3 sư đoàn. Tại vùng Trị-Thiên và giới tuyến: các Sư đoàn 304, 320, 324; tại Bắc Lào: Sư-đoàn 325; quanh Sài-Gòn: các Sư-đoàn 5, 7, và 9; tại Cao nguyên và vùng Bình Định: các Sư-đoàn 1 và 2. 

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1968. Ngày 2/3, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: sự về nước của tướng Nguyễn Chánh Thi chưa thuận tiện. Khai giảng khóa Quân-Chánh tại trường Quân Y Sài Gòn do Tổng cục Quân huấn tổ chức, huấn luyện trong 5 tuần lễ 127 sĩ quan từ Trung úy đến Trung tá. Hạ Nghị viện với 85/95 phiếu bác bỏ dự luật ủy quyền đặc biệt cho Tổng thống ký sắc luật về kinh tế tài chánh trong hạn 1 năm. Ngày 7/3, Thượng Nghị viện bác bỏ với 40/42 phiếu chống dự luật ủy quyền đặc biệt cho Tổng thống ký sắc luật về kinh tế, tài chánh trong hạn 1 năm. Ngày 8/3, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ cho biết: đêm mồng 1 Tết, khi tấn công Sài Gòn, VC đã huy động tới 21 tiểu đoàn. Phía VNCH, ngoài các đơn vị chuyên môn, chỉ có 3 tiểu đoàn chiến đấu.

Ngày 11/3, Tổng thống cách chức và bổ nhiệm 8 tỉnh trưởng mới gồm 1 Đại tá và 7 Trung tá, tại các tỉnh Thừa Thiên, Darlac, Quảng Đức, Tuyên Bức, Bình Thuận, Vĩnh Long, An Giang, và Ba Xuyên. Ngày 15/3, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc tuyên bố trên đài Truyền hình: từ ngày thành lập Nội các tới nay, các tòa án đã xét xử 32 quân nhân và 8 nhân viên dân chính về các tội tham nhũng, và đã tuyên 3 án tử hình, 8 án khổ sai, và nhiều án tù ở từ 1 đến 5 năm. Ngày 16/3, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: không có sự mâu thuẫn giữa ông và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 21/3, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bổ trên Đài Truyền hình VN: tăng quân đợt đầu 135.000 người, động viên các lởp tuỗi 18 và 19, gọi tái ngũ cựu quân nhân 18-33 tuổi và dưới 5 năm quân vụ.

Ngày 25/3, Bộ Quốc phòng thông cáo xác nhận: chấm dứt mọi sự hoãn dịch vì lý do công vụ hay nghề nghiệp, ngoại trừ trường hợp sinh viên, học sinh, cảnh sát, cán bộ Xây dựng Nông thôn. Ngày 26/3, có 4 Trung tá được bổ Tỉnh trưởng: Gò Công. Kiến Hòa, Vĩnh Bình, và Phong Dinh. Ngày 29/3, thêm 2 Trung tá được bổ Tỉnh trưởng Biên Hòa và Gia Định. Ngày 30/3, thiết lập Hội đồng Cải cách Hành chánh và Hội đồng Kế hoạch Quốc gia. Thuế kiệm ước được đánh trên nhiều hàng nhập cảng trước kia được miễn; thuế suất tăng từ 10 dến 20% giá nhập cảng. Ngày 31/3, TT Nguyễn Văn Thiệu tuvên bố trước gần 10.000 sinh viên huấn luyện quân sự: sẽ tăng 135.000 quân, gọi nhập ngũ các lớp tuổi 18 và 19, và các cựu quân nhn 33 đến 40 tuồi, và nếu cần sẽ Tổng động viên. Nếu Đồng minh không chịu giúp nữa, cũng sẽ tiếp tục chiến đấu.

Ngày 2/4, trong cuộc họp báo sáng nay, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: nếu lần này BV không tỏ thiện chí, thì trong thời gian ngắn, VNCH có thể động viên. Không bao giờ chịu hòa đàm với MTGPMN, chỉ nói chuyên vởi Hà Nộỉ. Ngày 4/4, TT Nguyễn Văn Thiệu tham khảo ý kiến các Đại sứ các Quốc gia Đồng minh về việc Hà Nội đáp ứng lời kêu gọi nghị hòa. Thượng Nghị viện ra thông cáo tỏ rõ lập trường chống Cộng, chống liên hiệp với Cộng sản, tán thành sự động viên toàn lực để bảo vệ Quốc gia. Ngày 7/4, Hạ Nghị viện VNCH họp phiên khoáng đại và ra tuyên cáo: không chấp nhận giải pháp Trung lập hay Liên hiệp với Cộng sản bất cứ dưới hình thức nào. Ngày 9/4, bãi bỏ các chức vụ Phó Bộ trưởng, Phó Thị trưỏng và Phó Tỉnh trưởng Nội an (SL. 37/SL/NV). Ngày 10/4, TT Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn trước 2 Viện Quốc hội, nhận định tình hình nghiêm trọng, xác định lập trường về vấn đề hòa đàm, và yêu cầu Quốc hội xét gấp dự thảo luật tổng động viên đã chuyển cho Hạ viện. 

Ngày 16/4, dư luận xôn xao về tin một vài Dân biểu và Nghị sĩ đề nghị động viên phụ nữ từ 18 đến 25 tuổi. Ngày 17/4, theo Bộ Xây dựng, trong năm nay sẽ xây dựng 5.588 Ấp Đời mới quy tụ 8 triệu dân. Hiện có 640 Đoàn Cán bộ XDNT gồm 37 ngàn người, kinh phí 4,9 tỷ. Ngày 18/4, Bộ Ngoại giao VNCH xác nhận: Sài Gòn và Hà Nội là hai vai đối thoại chính trong cuộc hòa đàm, và lấy hiệp định Genèvc làm căn bản chung để thảo luận. VNCH và Đồng minh sẽ tham gia mọi cuộc thương thuyết sắp mở ra. Ngày 26/4, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố tại Vĩnh Long: không nhượng đất cho CS; không liên hiệp với CS; không chấp nhận CS là một chính đảng. Ngày 29/4, có 46 Dân biểu công kích chánh phủ Nguyễn Văn Lộc chưa có hành động thích ứng với thời cuộc.

Ngày 13/5, tình hình chung Đô thành yên tĩnh hơn, cảnh sát tiếp tục các cuộc hành quân kiểm soát. Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc cùng nhiều Tổng trưởng điều trần về tình hình và hoạt động trước Thượng viện và Hạ viện. Ngày 14/5, nhiều Dân biểu Hạ Nghị viện công kích sự hiện diện của phái đoàn quan sát VNCH tại Ba Lê, rằng VNCH không thể chỉ giữ vai trò quan sát; phái đoàn đó cần được triệu hồi. Đại sứ Bùi Diểm xác nhận tại Ba Lê, mọi sự dàn xếp về vấn đề VN phải được sự thỏa hiệp của chánh phủ VNCH. Không nên thắc mắc về sự vắng mặt của VNCH trong cuộc gặp gỡ hiện nay của Mỹ và BV vì chưa có bàn cãi về trọng tâm vấn đề VN. Ngày 15/5, Thượng viện và Hạ viện VNCH, trong một bản tuyên ngôn chung lên án cuộc tấn công đơt 2 của VC. Và tố giác Tổ chức Liên minh Dân tộc Dân chủ Hòa bình; kêu gọi thế-giới tự do đừng mắc mưu hòa bình của Cộng sản, hô hào toàn dân chống Cộng.

Ngày 18/5, Chánh phủ Nguyễn Văn Lộc từ chức. Cựu Thủ tướng Trần Văn Hương được TT Nguyễn Văn Thiệu mời lập chánh phủ mới. Thượng viện biểu quyết chấp thuận dự luật mới về Tổng động viên. Ngày 19/5, từ quá nửa đêm tới rạng sáng nay, 9 địa điểm Đô thành, trong những khu đông dân, bị pháo kích: bến Vân Đồn, đường Hàm Nghi, vườn Tao Đàn, đường Phan Thanh Giản…nhiều nhẩt là khu Phạm Ngũ Lão, Bùi Viện. Ngày 19/5, Đại sứ Bùi Diễm, cải chinh tin đồn tiếp xúc với cựu Quốc trưởng Bảo Đại; phái đoàn VNCH chỉ liên lạc với Đại sứ Mỹ Harriman về cuộc hòa đàm hiện nay.

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1968. Ngày 4/3, Theo Tổng nha Cảnh sát, Thượng tọa Thích Đôn Hậu đã theo VC và kêu gọi dân chúng theo MTGPMN từ 28-2 trên Đài phát thanh VC. Ngày 10/3, Đại hội thành lập Mặt trận Cứu nguy Dân tộc nhóm họp tại Sài Gòn do Thượng nghị sĩ Trần Văn Đôn chủ tọa gồm 2.100 đại diện các Đoàn thể. Ngày 5/4, Mặt trận Cứu Nguy Dân tộc minh xác: phản đối mọi cuộc tiếp xúc với Cộng sản; kêu gọi HK đừng để Cộng sản lợi dụng thiện chí hòa bình; yêu cầu các quốc gia bạn giúp đỡ và chánh quyền cấp phương tiện bảo vệ đất nước. Ngày 28/4, Luật sư Trương Đình Dzu, vì chủ trương Liên hiệp với MTGPMN, bị quản thúc tại nơi dưỡng bịnh, Sài Gòn. Ngày 1/5, Lực lượng Hành động Lao động miền Nam, gồm 15 nghiệp đoàn công nhân trong Đô thành, công bố bản tuyên ngôn ra mắt: chống sự nhân danh Đồng minh lũng đoạn chủ quyền quốc gia; chống sự chánh trị hóa nghiệp đoàn; hạn chế số công nhân ngoại quốc vv.

NẠN NHÂN-TỴ NẠN CS: NĂM 1968. Ngày 11/3, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trên đài Truyền hình, cuộc Tổng tấn công của VC đã khiến 7.721 thường dân chết, 18.516 bị thương, 71.986 căn nhà cháy, và 674.273 nguời tị nạn. Ngày 24/3, một hầm chôn 50 xác công chức, cán bộ được khám phá tại khu Long Thọ, ngoại ô Huế. NĂM 1968. Ngày 11/4, theo các tài liệu chính thức Việt và Mỹ, tổng số thiệt hại về nhà cửa trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân được ước lượng gần 4,5 tỷ bạc: 81.983 nhà bị hư hại từ 50 đến 100%: 30.343 nhà dưới 50%. Theo Trung tâm Khuyếch trương Kỹ nghệ, sự thiệt hại trong khu vực kỹ nghệ lên tới 4.541.800.000$ đối với 84 cơ xưởng. Riêng về ngành dệt, 2.985.400.000$. Ngày 9/5, Số người bị thương tại các bệnh viện từ 5-5 lên tới 1.738.

Sydney ngày 21 tháng 4 năm 2024

 

Bài 113: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 5-8/1968.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1968. Ngày 27/5, khai mạc tại Sài Gòn hội nghị Liên minh Thế giới chống Cộng và Liên minh Á Châu chống Cộng, với sự tham gia của 14 Quốc gia. Ngày 28/5, Thông cáo của Liên minh Thế giới chống Cộng: (1) cuộc hòa đàm tại Ba-Lê phải tôn trọng yêu sách chánh đáng của VNCH là không nhìn nhận MTGPMN; (2) trong cuộc hòa đàm VNCH phải giữ vai chính. Cùng ngày 28/5, Thông cáo chung Mỹ-Úc, sau cuộc thăm viểng HK của Thủ tướng Úc John Gorton: các quốc gia tham chỉến tại VN đều phải được tham gia cuộc hòa đàm về VN. Ngày 29/5, theo tin quân sự Mỹ, 2 sư đoàn VC và BV chuẩn bị đánh mạnh vào Cao nguyên để cắt miền Nam làm 2 phần. Ngày 31/5, Đại sứ Mỹ Bunker trao cho Chánh phủ VNCH chi phỉếu 25.000 Mỹ kim viện trợ nạn nhân các cuộc tấn công vào thành thị.

Cùng ngày 5/6, tại Los Angeles, Thượng Nghị sĩ Robert Kennedy 42 tuổi, bị kẻ lạ mặt bắn trúng 4 phát đạn súng lục, 1 tình nghi bị bắt. Tình trạng nạn nhân rẩt trầm trọng. Ngày 6/6, Thượng Nghị sĩ Robert Kennedy từ trần, viên đạn bắn vào đầu đã xuyên tới óc. TT Johnson tuyên bố ngày chủ nhật 9/6 sẽ là ngày quốc tang. Thanh niên bắn Thượng Nghị sĩ Robert Kennedy, là Sirhan Bechara Sirhan, một người xứ Jordan sang trú ngụ tại HK từ 1957. Ngày 9/6, sau 3 ngày thăm viếng của Thủ tướng Úc John Gorton, một Thông cáo chung Viêt-Úc với nội dung: (1) VNCH phải giữ vai trò chính trong cuộc đàm phán; (2) Đồng minh phải tham dự vào mọi dàn xếp để giải quyết vấn đề VN; (3) VNCH phải có quyền tự chọn chính thể và nếp sống. Ngày 10/6,Theo tướng Westmoreland, VC và BV đã tổn thất 113.000 người từ đầu năm nay. Ngày 11/6, Tướng Westmoreland, Tổng tư lịnh Mỹ tại VN, rời Sài Gòn về Mỹ nhậm chức Tham mưu trưởng Lục quân.

Ngày 17/6, Đại sứ Mỹ Bunker tuyên bố: không bao giờ HK tìm kiểm hoặc chấp nhận một sự liên hiệp cưỡng bách giữa VNCH và MTGPMN. Ngày 20/6, Phó TT Mỹ Humphrey tuyên bố: không hề thay đôi lập trường về vấn đề VN. Ngày21/6, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tuyên bố: nếu VC ngưng pháo kích Sài Gòn, thì sự kiện đó cũng có thể coi là một sự xuống thang chiến tranh. Ngày 22/6, theo tin quân sự Mỹ, mặc dầu bị tổn thất nặng, VC vẫn tiếp tục tụ quân trong các tỉnh quanh Sài Gòn và có thể mở cuộc tấn công đợt III vào cuối tháng 6 hoặc đầu tháng 7. Ngày 23/6, Phó TT Mỹ Humphrey chủ trương: ngừng bắn ngay để tạo không khí thuận lợi cho cuộc hòa đàm tại Ba LêNgày 27/6, theo phát ngôn viên tòa Bạch ốc, việc rời bỏ căn cứ Khe Sanh do chính TT Johnson quyết định. Ngày 2/7, Tướng Westmoreland hy vọng rằng cuối 1969 hoặc đầu 1970, quân đội HK có thể bắt đầu rút khỏi VN, vì khi đó quân đội VNGH sẽ đủ sức bảo vệ lãnh thổ.

Cùng ngày 2/7, theo tạp chí US News and World Report: Phí tổn chiến tranh hàng ngày của HK là 77 triệu Mỹ kim trong đó có 18 triệu tiền bom đạn. Ngày 3/7, Thượng Nghị sĩ McCarthy tuyên bố: không chủ trương rằng quân đội Mỹ sẽ đơn phương rút khỏi VN. Theo Đại sứ Harriman, trong tháng 5 vừa qua, BV đã đưa thêm 29.000 quân vào miền Nam. Ngày 7/7, cho tới nay, đã có hơn 4.000 trực thăng và phi cơ rớt ở miền Nam. Ngày 8/7, ký kết tại Sài Gòn thỏa ước Việt-Mỹ, theo đó Mỹ tài trợ chương trình cải cách điền địa, để cấp phát 25.000 chứng khoán và 70.000 mẫu ruộng trong số 175.000 mẫu mua lại của Pháp kiều từ 1959. Ngày 9/7, theo tin từ Hoa Thịnh Đốn, TT Johnson sẽ gặp TT Nguyễn Văn Thiệu tại Honolulu vào ngày 20-7 sắp tới để thảo luận về tình hình VN. Ngày 11/7, Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford tuyên bố: khi chiến tranh chấm dứt, quân đội Mỹ cũng sẽ chỉ rút dần dần; phải bổ túc số quân cụ bị hao mòn vì chiến sự; phải tiếp tục những công tác xây dựng bị ngưng trệ. giữa hai dân tộc Việt và Mỹ. 

Ngày 13/7, Thống đốc Rockefeller, tuyên bố: nếu được đảng Cộng hòa chỉ định làm ứng cử viên Tổng thống, thì sẽ đề nghị áp dụng một chương trinh rút quân cho cả hai bên BV và HK; giao việc kiểm soát triệt thoái cho một lực lượng quổc tế; và tố chức tổng tuyển cử tại VN dưới quyền kiểm soát quốc tế; rồi để hai miền Nam và Bắc thỏa hiệp về sự thổng nhất hay biệt lập. Ngày 15/7, Bộ trưởng Quốc phòng HK Clark Clifford cùng tướng Earl Wheeler, và một pháỉ đoàn sang VN duyệt lại tình hình quân sự. Ngày 19/7, TT Nguyễn Văn Thiệu hội đàm với TT Johnson tại Honolulu. Tổng thống HK tuyên bố vẫn ủng hộ VNCH chống xâm lăng và bảo vệ tự do. Ngày 20/7, Thông cáo chung Việt-Mỹ sau 2 ngày hội đàm tại Hono­lulu: (1) chiến thắng mọi nổ lực quân sự và khủng bố do Hà Nội chủ mưu; (2) tăng cường quân đội VNCH; (3) tiếp tục tìm kiếm biện pháp xuống thang chiến tranh và tạo một hòa bình vững chắc trong danh dự theo căn bản Hiệp định Genève 1954; (4) trang bị quân lực VNCH bằng trung liên cá nhân M.16; (5) HK không ép buộc VNCH chấp nhận chánh phủ Liên hiệp; (6) phải đi tới sự ngưng xung đột, nhưng chỉ có thể như vậy khi nào BV thực sự nghiên cứu các biện pháp dẫn tới mục đích đó.

Cùng ngày 20/7, TT Nguyễn Văn Thiệu họp báo tại Honolulu tuyên bố: Hai Tổng thống HK và VNCH đồng ý rằng ngưng pháo kích Sài Gòn không phải là xuống thang chiến tranh. Ngày 21/7, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William Bundy trình với Hạ viện Mỹ: HK từ bỏ giải pháp nhằm chiến thắng tại VN, và sẽ trút dần gánh nặng chiến tranh cho VNCH.Ngày 23/7, TT Johnson tuyên bố tại hội nghị 50 Thống đốc HK: BV chưa muốn hòa bình; HK đã cố tỏ thiện chí tới mức mà danh dự và an ninh cho phép; không thể ép buộc chánh quyền miền Nam VN liên hiệp với Cộng sản. Bộ Quốc phòng HK xác nhận phi cơ F 4 Phantom chở tướng Robert F. Worley, Tư lịnh Phó Phi đoàn 7, bị bắn rớt cách Huế 4 cây số. Tướng Worley bị tử thương. Ngày 25/7, theo báo Nhân Dân, Hà Nội, các cuộc oanh tạc BV đã tăng nhiều từ 31-3-68: 2.500 lần trong tháng ba; 3.500 lần trong tháng tư; 4.700 lần trong tháng năm; 5.200 lần trong tháng sáu; và 3.500 lần trong nửa tháng bảy.

Ngày 31/7, TT Johnson tuyên bố: BV đưa quân và vũ khí vào Miền Nam VN nhiều hơn bao giờ hết; Mỹ chờ đợi một cuộc tân công lớn, nhưng mong rằng việc đó không xẫy ra; Mỹ sẵn sàng ngưng hẳn oanh tạc nếu chắc rằng sẽ không có tổn thất lớn cho quân đội Mỹ. Ngày 2/8, có 3 phi công Mỹ được BV phóng thích, rời khỏi Hà Nội qua Vạn Tượng đề về HK. Ngày 5/8, Đảng Cộng hòa HK nhóm họp đại hội lần thứ 29 lại Miami đề chọn ứng cử viên Tổng thống trong 3 chính khách: cựu Phó TT Richard Nixon; Thống đốc Nelson Rockefeller và Thống đốc Ronald Reagan. Ngày 6/8, theo Bộ Quốc phòng HK, tổng số thiệt hại của Không lực Mỹ: 877 phi cơ và 9 trực thăng bị hạ trên BV; 292 phi cơ và 807 trực thăng bị hạ trên miền Nam; 1.122 phi cơ và 1.102 trực thăng bi phá huy trên mặt đất hoặc bị hư bại vì tai nạn. Ngày 8/8, gần nửa đêm nay, tại Đại hội Cộng hòa Mỹ, cựu Phó T.T. Nixon được chỉ định làm ứng cử viên chánh thức của dảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử TT tháng 11 tới. 

Cùng ngày 8/8, Ứng cử viên Nixon tuyên bố: mục tiêu thứ nhất của chánh phủ HK nếu ông đắc cử, là chấm dứt chiến tranh tại VN; nhưng chỉ có thể điều đình ở một vị trí mạnh. Ngày 11/8, Hà Nội đính chính, rằng Phạm Văn Đồng không hề tuyên bố quân BV đang chiến đấu tại miền Nam, nhưng chỉ xác nhận quyền của toàn thể nhân dân VN tự vệ chống xâm lăng. Ngày 11/8, Thượng Nghị sĩ McGovern tuyên bố muốn được đảng Dân chủ chỉ định làm ứng cử viên TT, với chương trình theo đúng đường lối của anh em Kennedy: ngưng oanh tạc, chấp nhận giải pháp Liên hiệp tại VN. Cùng ngày 13/8, Theo giới quân sự Mỹ, Cộng quân mở 18 trận tấn công hôm nay tại 3 Vùng Chiến thuật, mở đầu cuộc Tổng công kích đợt 3. Ngày 15/8, Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford tuyên bố: từ đầu năm, BV đưa vô Nam 150.000 quân. Ngày 19/8, TT Johnson tuyên bố 5 điều kiện tái lập hoà bình: (1) lập lại vùng Phi quân sự; (2) đề cho dân 2 miền VN có thể quyết định về sự thống nhất; (3) quân lực ngoại quốc rút khỏi Lào; (4) quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam theo các điều kiện đã vạch rõ từ 1965; (5) khuyến khích dân miền Nam tự quyết về số phận bằng cách bầu cử tự do.

Ngày 21/8, TT Johnson tán dương công đức của cựu TT Eisen­hower hiện đương đau tim nặng: đã tranh đấu để bảo vệ Tự do tại chỉến trường cũng như chính trường tại HK. Ngày 25/8, hơn 12.000 cảnh sát, 6.000 Vệ binh, và 7.500 quân chính qui HK được huy động để giữ trật tự tại Chicago cho đảng Dân Chủ họp đại hội chỉ định ứng cử viên Tổng thống. Cùng ngày 25/8, Đại sứ Phạm Đăng Lâm tới Ba Lê thay Đại sứ Bùi Diễm làm Trưởng phái đoàn liên lạc về cuộc hòa đàm HK và BV. Ngày 26/8, số phi cơ C-123 chuyên việc khai quang vùng Quảng Trị-Thừa Thiên, được tăng từ 4 lên 8 chiếc, mỗi chiếc chở 5 tấn thuốc khai quang. Ngày 27/8, khai mạc tại Chicago Đại hội đảng Dân chủ, với 2.091 đại biểu. Ngày 28/8, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 19 tại Ba Lê. Vẫn chỉ có công kích và đối lập về lập trường và thái độ hai bên. Ngày 29/8, TT Mỹ Humphrey được chỉ định làm ứng cử viên Dân chủ với 1.761 phiếu. McCarthy được 601, McGovern 145, Edward Kennedy 12. Cựu Thống đốc Edmund Muskie, được chọn làm ứng cử viên Phó TT của đảng Dân chủ. Ngày 29/8 Tổng số thiệt hại của quân lực Mỹ tại VN từ đầu 1961 là 27.101 từ trận, 169.296 bị thương. 

HOÀ ĐÀM MỸ-BẮC VIỆT. NĂM 1968. Ngày 27/5, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 5, trong hơn 4 giờ. Xuân Thủy vẫn nhắc yêu sách cũ và lên án HK. Harriman đòi tái lập vùng Phi quân sự và tăng cường Ủy hội Quốc tế Kiểm soát đình chiến. Ngày 31/5, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ sáu trong 3 giờ 45 phút. Hai bên vẫn giữ nguyên lập trường cũ. Xuân Thủy phủ nhận chánh quyền miền Nam, và chỉ coi MTGPMN là đại diện chánh thức của dân chúng miền Nam. Harriman tuyên bố Mỹ sẵn sàng rút quân, nhưng đặt câu hỏi: bao giờ BV chịu rút khỏi miền Nam? Ngày 2/6, Lê Đức Thọ, yếu nhân đảng Lao động BV sang Mạc Tư Khoa hội đàm với Kossyguine trước khi qua Ba Lê tăng cường phái đoàn BV. Ngày 3/6, Lê Đức Thọ tới Ba Lê tuyên bố: nếu HK chịu chấm dứt các cuộc oanh tạc và các hành động chiến tranh, hai bên Mỹ và BV có thể bắt đầu thảo luận ngay về các vấn đề khác. Ngày 5/6, hai phái đoàn HK và BV nhóm họp lần thứ 7, trong 3 giờ 40 phút. Không có kết quả nào. 

Ngày 12/6, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 8 tại Ba Lê, Lê Đức Thọ tham dự. Harriman phản kháng về các vụ pháo kích vào dân chúng Sài Gòn và các tỉnh lỵ. Xuân Thủy đòi HK định rõ ngày nào ngưng hẳn oanh tạc. Ngày 19/6, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 9 tại Ba Lê. Har­riman muốn bàn về việc rút quân hai bên, theo tinh thần hiệp định Genève. Xuân Thủy vẫn giữ lập trường cũ. Từ nay, sẽ họp mỗi tuần 1 lần, vào ngày thứ tư. Ngày 26/6, tai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 10 tại Ba-Lê, trong 4 giờ. Không có tiến bộ nào. Ngày 30/6, Lê Đức Thọ, Cố vấn Phái đoàn BV tại Ba Lê trên đường về Hà Nội qua Mạc Tư Khoa hội kiến với Thủ tướng Kossyguine và các lãnh đạo Liên Xô. Harriman về Mỹ. Ngày 3/7, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 11, tại Ba-Lê, trong 3 giờ. Lập-trưởng hai bên vẫn như cũ. Ngày 10/7, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 12 tại Ba Lê. Không kết quả. Ngày 17/7, Phái đoàn HK và BV họp lần thứ 13 tại Ba Lê trong 4 giờ 25 phút. Lập trường hai bên vẫn không thay đổi. 

Ngày 24/7, Hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 14 tại Ba Lê trong 3 giờ. Lập trường hai bên không thay đổiNgày 27/7,Xuân Thủy Trưởng đoàn đàm phán BV tuyên bố: nếu Mỹ ngưng hẳn oanh tạc BV và các hành động chiến tranh khác, tất cả tù binh Mỹ có thể được phóng thích. Ngày 31/7, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 15 tại Ba LêHà Văn Lâu lại bác bỏ mọi điều kiện để ngưng oanh tạc BV. Harriman trách BV lợi dụng lãnh thổ Lào để chuyển quân và võ khí vô Nam. Ngày 7/8, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 16 tại Ba Lê, Harriman tuyên bố: HK dự định phóng thích 14 thuỷ thủ BV bị bắt từ 1966. Ngày 13/8, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 17 tại Ba Lê. Không có tiến bộ nào. Ngày 21/8, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 18 tại Ba Lê trọng 3 giờ 30 phút. Không có chi lạ. Ngày 28/8, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 19 tại Ba Lê. Chỉ có công-kích và đối đáp về lập trường và thái độ hai bên.

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1968. Ngày 25/5, một số VC xâm nhập tỉnh lỵ Gia Định. Giao tranh từ sáng sớm đến chiều tại khu Bình Hòa, Gia Định. Hành quân Cảnh sát trong khu Nguyễn Văn Học, Phan Văn Trị... Một phần tỉnh lỵ bị giới nghiêm suốt ngày đêm. Cũng tại ven Đô, VC tấn công một đơn vị TQLC tại Cát Lái. Ngày 26/5, có tin nhiều toán VC mới vào đang hoạt động vùng ven đô. Các lực lượng cảnh sát và TQLC tiếp tục hành quân lục soát, lùng bắt được khá nhiều VC mới xâm nhập tại Ngã Tư Bình-Hòa, cầu Băng Ky .v.v. Một tiểu đoàn VC khác toan xâm nhập Đô thành, bị Nhảy Dù ngăn chặn đánh tại Gò Vấp, Gia Định. Ngày 27/5, đêm qua, 1 tiểu đoàn VC tấn công các đơn vị Mỹ tại Gia Định. Một số VC lọt vào khu chợ Bà Chiểu, Lò Heo chiếm đóng nhiều cao ốc bắn xuống. Nhiều cuộc chạm súng tại Bình Thới, cầu Dơi, khu Minh Phụng, Chợ Lớn. 1 trung đội VC xâm nhập Chợ Lớn, bị TQLC chặn đánh. Cùng ngày 27/5, nhiều phi tuần Mỹ dội bom xuống vùng ven Đô, khu Nam Bình Thạnh, Tân Phú và Bà Quẹo. 1 đại đội VC toan xâm nhập thị xã Đà Lạt, bị đẩy lui. 

Ngày 28/5, có 7 nơi thuộc khu dân cư Sài Gòn và Gia Định pháo bị pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly. An ninh được tái lập tại khu Bình Hòa, Nguyễn Văn Thoại Lê Văn Duyệt. TQLC ngăn chặn các toán VC xâm nhập Chợ Lớn, chạm súng dữ dội từ 3 giờ sáng tới chiều tại Phú Định và Phú Lâm. Nhiều nhà bị cháy. Ngày 29/5, TQLC và BĐQ tảo thanh vùng Phú Lâm, Phú Định tại ven Đô. Kịch chiến vùng ranh giới Lái Thiêu và Thủ Đức. Ngày 30/5, từ 3 giờ sáng, 4 địa điểm dân cư Đô thành lại bị pháo kích. 2 tiểu đoàn VC cố tiến vào Phú Lâm ven Đô, giao tranh tiếp tục sang ngày thứ tư. Dân chúng lại chạy đi lánh nạn. Các tỉnh lỵ An Xuyên và Kiến Phong bị pháo kích. Kịch chiến tại Dakto, quanh ngọn đồi 900 do Mỹ chiếm đóng. Ngày 29/5, chừng 1 trung đoàn BV chiếm đóng 2 làng gần Đông Hà kịch chiến với TQLC Mỹ từ chiều hôm qua. Ngày 31/5, giao tranh sang ngày thứ 5 tại khu Phủ Lâm. Nhiều toán VC xâm nhập khu Khổng Tử, Tổng Đốc Phương, Phạm Đình Hồ. Nhiều đám cháy trong khu Chợ Lớn mới.

Cùng ngày 31/5, vài toán VC xâm nhập quận 5 và Ngã Sáu, Kịch chiến tại khu Hậu Giang, Phạm Đình Hồ. Nhiều nhà bị cháy. 1 tiểu đoàn VC tiến tới cầu Băng Ky bị TQLC ngăn chặn. Khu Nhà Bè bị pháo kích. Tại Tân Uyên, Biên Hòa, VC giao tranh với 1 đại đội Úc 3 giờ liền. Tại Phú Cường, VC giao tranh với Bộ binh Mỹ. Tại Đà Lạt, 1 tiểu đoàn VC giao tranh với BĐQ. Tại Hội An, VC phục kích một đoàn quân xa Mỹ. Tại Thừa Thiên, VC giao tranh suốt ngày với các lực lượng Việt Mỹ. Tại Khe Sanh, VC và TQLC Mỹ kịch chiến 4 giờ liền. Ngày 1/6, tới hôm nay là ngày thứ 6, TQLC đã hạ hơn 200 VC trong khu Phú Lâm, Phú Định, Hậu Giang. Nhiều toán VC xâm nhập quận 5 và quận 6 Đô thành trên cảc đường Khổng Tử, Phùng Hưng, Nguyễn Trãi, Đống Khánh, Mạnh Tử, Lý Thành Nguyên, Phạm Đình Hổ; nhiều lần chạm súng với BĐQ và Cảnh sát. Nhiều cuộc giao tranh gần cầu Bình Lợi và cầu Băng Ky giữa chiến đoàn TQLC và hơn một trung đoàn VC từ 3 hôm nay.

Ngày 2/6, tại Gia Định, giao tranh tiếp tục tại cầu Băng Ky và khu chùa Tập Thành. Tại Chợ Lớn, khu Khổng Tử, Mạnh Tử, Hồng Bàng, đường Lục tỉnh, và vài địa điểm Đô thành bị pháo kích. Lúc 18 giờ hơn cùng ngày 2/6, một trực thăng Mỹ bắn lầm vào Bộ chỉ huy hành quân tại đường Khổng Tử Chợ Lớn làm 6 sĩ quan VNCH tử thương: các Trung tá Nguyễn Văn Luận, Lê Ngọc Trụ, Phó Quốc Chư, Đào Bá Phước, và cảc Thiếu tá Nguyễn Bảo Thùy và Nguyễn Ngọc Sinh. Đại tá Văn Văn Của, Đô trưởng Sài Gòn, cùng Trung tá Trần Văn Phấn cũng bị thương. Cùng ngày 2/6, ba (3) Sư đoàn 5, 7 và 9 VC luân phiên tấn công vào Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Ngày 3/6, tại Chợ Lớn, VC còn len lỏi và cầm cự tại các đường Mạnh Tử, Nguyễn Trãi, Lý Thành Nguyên, Phùng Hưng. Tại Gia Định, cuộc giao tranh tiẽp tục tại đồng ông Cộ sát tỉnh lỵ, gần cầu Băng Ky, và Xóm Thơm, Gò Vấp. 

Ngày 4/6, quá nửa đêm, 5 nơi dân cư Đô thành bị pháo kích. Giao tranh nhiều nơi trong khu vực Sài Gòn và Gia Định: tại Gia Định, khu Xóm Thơm, Đông Ông Cộ, Cây Quéo, Hoàng Hoa Thám, Ngộ Tùng Châu; tại Chợ Lớn, khu Khổng Tử, Trần Thanh Cần, Hồng Bàng, Nguyễn Trãi, Phùng Hưng, Lý Thành Nguyên. Ngày 5/6, vài khu dân cư Chợ Lớn và Khánh Hộỉ bị pháo kích. Giao tranh tiếp tục tại Chợ Lớn, khu Trần Thanh Cần, Lý Thành Nguyên, Hoà Lạc. Tại Gia Định, giao tranh nhiều nơi ở Gò Vấp, khu Cầu Sơn và Đồng Ông Cộ. Ngày 6/6, Vài toán VC giao tranh với TQLC khu Cầu Kinh, Gia Định. Chừng 1 đại đội VC phân tán ra nhiều toán nhỏ cố thủ trong một số cao ốc đường Học Lạc, Mạnh Tử tại Chợ Lớn. Ngày 7/6, tại Gia Định, khu Hoàng Hoa Thám, Ngô Tòng Châu và Lê Quang Định vẫn còn chừng 3 đại đội VC lẫn quẩn. 

Ngày 8/6, một số VC còn lẫn quẩn tại Gia Định và Chợ Lớn, như ngã tư Cây Quéo, khu Khổng Tử, Hồng Bàng, cầu Ba cẳng Chợ Lớn.v.v. Ngày 10/6, Nhảy Dù và TQLG truy kích những toán VC còn lẩn quẩn tại Gia Định, trong khu Hoàng Hoa Thám, Ngô Tùng Châu, và Xóm Mới Gò Vấp. Ngày 11/6, Đô thành lại bị pháo kích lúc 6 giờ 30 sáng bằng đạn 122 ly. Các nơi bị trúng: đường Gia Long, Công Lý, Tự Do, Nguyễn Du, Thống Nhất, Cường Để, Lê Thánh Tôn, Phan Đình Phùng, bến Bạch Đằng v.v. Ngày 12/6, lúc 3 giờ sáng, khu Tân Sơn Nhất bị pháo kích bằng hoả tiễn 122. Ngày 13/6,chừng 150 VC còn lẩn quất gần Cây Thị. Ngày 15/6, nhiều toán Biệt Kích và Nhảy Dù bao vây VC tại Gia Định, trong khu Phan Văn Trị, Ngô Tùng Châu, và Cây Thị. Kịch chiến tại An Phủ Đông gần phi trường Tân Sơn Nhứt. Các khu dân cư quận 4, quận 7 và quận 8 Đô thành bị pháo kích. 

Ngày 16/6, chừng một tiểu đoàn VC tấn công một vị trí Mỹ tại Gia Định. Giao tranh tiếp tục tại Ngã Ba Cây Thị. Ngày 17/6, một trung đoàn phó qui chánh và kêu gọi các đồng đội rời bỏ hàng ngũ VC. Ngày 18/6, từng toán 5 hay 10 người, hơn 110 VC ra qui chánh tại mặt trận Gia Định. Vẫn chạm súng tại vùng Ngã Ba Cây Thị, Gia Định. TQLC Mỹ truy kích một đơn vị BV đã tấn công vào căn cứ Khe Sanh. Ngày 21/6 quá nửa đêm qua và gần sáng nay, một số hỏa tiễn bắn vào Đô thành, đường Cách Mạng, Trương Tẩn Bửu, Chu Mạnh Trinh, và khu Tân Sơn Nhứt. Ngày 23/6, lại giao tranh tại ấp Đông Hưng, Tân Sơn Nhứt. Ngày 24/6, từ đêm qua đến sáng nay, 68 chiếc B-52 đã dội hom quanh Sài Gòn. Ngày 25/6, theo tin quân sự Mỹ, vẫn còn chừng 25 tiểu đoàn VC ở các vùng quanh thủ đô. 6.000 TQLC Mỹ bắt đầu rời bỏ căn cứ Khe Sanh.

Ngày 27/6, trong tuần qua, B-52 đã thực hiện 100 phi vụ trên các địa hạt phụ cận Sài Gòn, để xua đuổi 26 tiểu đoàn VC lẩn quất quanh thủ đô. 30 trọng pháo HK và 6 trọng pháo VNCH được đặt tại vài địa điểm ven Đô để phản công các vụ pháo kích của VC. Một số VC vẫn lác đác xuất hiện tại Gia Định, vùng Bình Lợi, Ngã Ba Cây Thị, xỏm Thơm v.v... Đường Thủ Đức - Biên Hòa được khai thông, sau 9 tháng bị cản trở vì chiến sự. Ngày 28/6, cầu Bến Lức, Long An sụp đổ từ mìn của một chiếc bè trôi sông. Ngày 30/6, cầu Bến Lức, Long An được công binh tạm thay bằng cầu nổi. Việc tiếp tế từ các tỉnh miền Tây không bị gián đoạn.    

Ngày 1/7, B52 vẫn oanh tạc nhiều mục tiêu VC tại Tây Ninh, Bình Dương, Long Khánh, Hậu Nghĩa. Ngày 4/7, trong 4 ngày qua, có 28 phi vụ của pháo đài bay B-52 trong vùng giới tuyến. Ngày 5/7, khám phá 1 hầm chứa 5 hỏa tiễn 122 ly và một số võ khí khác tại Hậu Nghĩa. Ngày 6/7, theo tướng Abrams, từ 1-3-68 tới nay, quân đội Mỹ đã tìm thấy 560 hỏa tiễn trong các vùng phụ cận Sài Gòn. Ngày 7/7, TQLC Mỹ rút hết khỏi căn cứ Khe Sanh, và mở cuộc hành quân Scotland II gần Gio Linh. Hai đại đội BV tấn công TQLC Mỹ trên một ngọn đồi gần Khe Sanh. Ngày 8/7, Khu Nhà Bè, Gia Định bị pháo kích. Ngày 11/7, theo các nguồn tin quân sự Việt và Mỹ, VC vẫn tập trung hàng chục tiểu đoàn quanh Sài Gòn và chờ dịp mở cuộc tẩn công đợt 3 vào thủ đô. 15 tiểu đoàn VNCH và 100.000 quân Việt Mỹ án ngữ và tảo thanh quanh Sài Gòn trong vòng 25 cây số.

Ngày 12/7, các lực lượng phòng vệ thủ đô được đặt trong tình trạng báo động vì có tin VC sắp tấn công Tổng nha Cảnh sát. Ngày 14/7, B 52 tiếp tục dội bom xuống xuống nhiều địa điềm VC gần Đà Nẵng, Khe Sanh và Tây Ninh. Phi cơ Mỹ tiếp tục oanh tạc vùng Đồng Hới. Ngày 15/7, B52 tiếp tục dội bom xuống các nơi tụ quân của VC tại Tây Ninh, Ban Mê Thuôt, Khe Sanh. Ngày 16/7, Khám phá một hầm vũ khí, đạn súng lớn tại Thủ Đức. Kể từ đầu tháng này, các phóng pháo B-52 dội bom 38 lần xuống BV dưới vỹ tuyến 19. Ngày 21/7, một tiểu đoàn BV tấn công TQLC Mỹ gần Khe Sanh. Mìn nổ gần một quản ăn đường Võ Tánh, Gia Định. Mìn nổ trong một rạp hát tại Kiến Hòa. Ngày 25/7, đêm qua phi trường Đà Nằng bị pháo kích; sáng nay trung tâm huấn luyện Hòa Cầm bị tấn công. B 52 dội bom xuống nhiều địa điểm VC thuộc Bình Long, Bình Định, Thừa Thiên. 

Ngày 22/7, Quá nửa đêm qua, tỉnh lỵ Quảng Ngãi cùng 9 quận lỵ trong tỉnh bị pháo kích dữ dội suốt 3 giờ. Tòa Tỉnh trưởng và Bộ Tư lịnh Sư đoàn 2 bị trúng đạn. Cũng quá nửa đêm qua, nhiều cơ sở Mỹ tại Đà Nẵng bị pháo kích. Ngày 29/7, sân bay Tuy Hòa bị pháo kích và đột nhập. Ngày 30/7, B 52 dội bom xuống 3 địa điểm VC trong địa phận Tây Ninh. Giao tranh tại Vị Thanh.

Ngày 2/8, hai (2) thanh niên cưởi xe gắn máy, ném lựu đạn trước nhà Tổng trưởng tại Phủ Thủ tướng. Ngày 3/8, Tổng trưởng Phát triển Sắc tộc Paul Nur hội thảo với lãnh tụ nhóm Fuiro, Y B’Ham, về các điều kiện trở về hợp tác của nhóm này. Ngày 4/8, quá nửa đêm qua, chạm súng gần trường đua Phú Thọ. Một hầm võ khí bị khám phán gần Sài Gòn. Giao tranh suốt ngày tại Cần Đước, Long An. Ngày 7/8, cầu nổi Bến Lức bị 1 bè mìn làm sập. Ngày 8/8, cầu phao Bến Lức đã được Công binh VNCH chữa lại sau vụ bè mìn phá hủy. Ngày 9/8, nhiều tiểu đoàn Việt Mỹ lại tiến vào khu thung lũng A Shau (An Hậu), Thừa Thiên. Lựu đạn nổ tại góc đường Yersin và Nguyễn Công Trứ, Sài Gòn. Mìn nổ tại văn phòng phường Khổng tử, Chợ Lớn. Ngày 10/8, Liên quân Việt Mỹ mở cuộc tảo thanh Bến Cát tìm thấy nhiều kho thực phẩm. B-52 dội bom 3 lần xuống các tụ điểm VC quanh Bến Cát, và Vũng Tàu. Ngày 12/8, B-52 dội bom xuống các địa điểm tụ quân VC ở Hậu Nghĩa. 

Ngày 13/8, Cảnh sát khám phá 2 hầm chứa 11 súng AK, 38 đạn B.40, 100 kg thuốc nổ, và 2 bao bố đựng giấy bạc 500$ tại một tiệm chạp phô Tàu đường Nguyên Huỳnh Đức, Phú Nhuận. Ngày 14/8, B-52 dội bom xuống các tụ điểm VC tại Tây Ninh, Hậu Nghĩa, và Quảng Ngãi. Ngày 16/8, một tiểu đoàn bộ binh VNCH bị phục kích tại Long Khánh. 1 đơn vị Mỹ bị phục kích tại Pleiku. B-52 dội bom 5 lần xuống Dakto, và Củ Chi. Ngày 18/8, lúc 1 giờ 30 tỉnh lỵ Tây Ninh bị pháo kích và đột nhập. Những trận đánh kịch liệt cũng xảy ra tại căn cứ Katum và núi Bà Đen. Ngày 19/8, sau 36 giờ giao tranh, Cộng quân bị đẩy lui khỏi các khu phố Tây Ninh. Một số căn cứ Việt và Mỹ tại Bình Long và Tây Ninh vẫn bị pháo kích dữ dội. Theo phát ngôn viên quân sự Mỹ tại Sài Gòn, Cộng quân tụ tập chừng 50 tiểu đoàn hoặc 30.000 quân cách Thủ đô 3 ngày đường, và chuẩn bị tấn công 75 tiểu đoàn Việt Mỹ. Giao tranh kịch liệt tại Long An. Hành quân Toàn Thắng 269/B/IKB tại Bình Dương. Nhiều trận đụng độ gần Hội An. Giao tranh dữ dội tại Quảng Trị. Có 126 phi vụ oanh tạc BV.

Ngày 20/8, sau 4 ngày giao tranh, trận Lộc Ninh vẫn còn tiếp tục. B-52 dội bom dữ dội xuống các điểm tụ quân VC cách Tây Ninh, Long An và Hậu Nghĩa. Giao tranh kịch liệt tại Pleiku. Buổi tối, các căn cứ Mỹ tại Dầu Tiếng và Lộc Ninh bị pháo kích. Ngày 21/8, các nơi bị tấn công hôm nay: Mộc Hoá, Bến Tre, Tri Tôn, Cao Lãnh, Cầu Kè, Phong Điền. Những nơi bị pháo kích: Trà Vinh, Sóc Trăng, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cái Bè, Tam Bình, Cần Thơ, Phan Thiết. Cu An Hữu bị mìn làm sập, giao thông trên Quổc lộ 4 bị gián đoạn. Ngày 22/8, lúc 3 giờ 15 và 4 giờ 40 đêm qua, VC bắn hỏa tiễn 122 ly vào trụ sở Quốc hội, bến Chương Dương, đường Hàm Nghi.v.v… Phi trường Biên Hòa cũng bị pháo kích. Tỉnh lỵ Kiến Hoà, tỉnh lỵ Mỹ Tho, tỉnh lỵ Cần Thơ bị pháo kích. Giao tranh tại tại Quảng Ngãi, tại Quảng Nam, và tại Quảng Trị. Tại góc đường Công Lý-Ngô Thời Nhiệm, Sài Gòn, 1 Thiếu tá Mỹ đi xe xích lô máy, bị 2 thanh niên cưởi xe Honda bắn chết. 

Ngày 23/8, khu vực Cát Lái, Chi khu Bình Chánh, Gia Định bị pháo kích. Các cơ sở Mỹ tại Đà Nẵng bị pháo kích. Thị xã Quảng Trị, Huế, Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi đều bị pháo kích. Trại quân Đức Lập, Quảng Đức bị tấn công ồ ạt. Một đoàn quân xa Mỹ bị phục kích tại Pleiku. Có113 phi vụ oanh tạc BVNgày 24/8, Đoàn quân xa Mỹ bị phục kích trước xã Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức. Giao tranh tiếp tục suốt ngày tại Đức Lập. Giao tranh tại Bình Long, tại Phước Long, tại Pleiku. Giao tranh suổt 8 giờ liền tại Tam Kỳ. Hành quân truy kích tại Hòa Vang. Tỉnh lỵ Quảng Ngãi bị pháo kích. Tỉnh lỵ Cần Thơ bị pháo kích ban ngày. Hành quân Quyết Chiến 7/14 tại Định Tường. Trong 24 giờ qua, B-52 dội bom 9 lần xuổng vùng tụ quân của VC tại Khe Sanh, Kontum, Hậu Nghĩa, Định Tường. Tại Thừa Thiên, TQLC và Nhảy Dù HK tấn công vào căn cứ Trung đoàn 22 cách Huế 30 cây số về phía Nam. 

Ngày 25/8, vài ngàn Cộng quân Sư đoàn 325 BV, tràn vào tiểu khu Đức Lập chiếm được một phần trại, bị phi cơ và viện binh đẩy lui. Kịch chiến tiếp tục tại Tam Kỳ. Tại Quảng Nam, giao tranh suốt 11 giờ gần quận lỵ Điện Bàn. Phi trường Biên Hòa, phi trường Trà Nóc bị pháo kich. Bị phục kích trên Quốc lộ 1, kịch chiến suốt ngày gần Tây Ninh. Ngày 26/8 Cần Thơ và Vĩnh Long bị pháo kích. Tiểu khu Đức Lập được giải tỏa, nhưng các lực lượng VNCH và HK tiếp tục hành quân tảo thanh quanh vùng. Ngày 27/8, ba (3) vị trí quân sự tại Hậu Nghĩa bị pháo kích. Các căn cứ TQLC Mỹ tại Cửa Việt và Cam Lộ bị pháo kích. Ngày 28/8, tại Quảng Nam, quận lỵ Đại Lộc bị pháo kích. B-52 đội bom xuống các nơi tụ quân CS cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 12 cây số. Hành quân Quyết Chiến 16/9 tại Vĩnh Long. Hành quân Toàn Thắng 199/690 tại Long An. Giao tranh tiếp tục quanh Đức Lập, Quảng Đức.

Ngày 29/8, giao tranh kịch liệt gần Trảng Bàng. Giao tranh kịch liệt tại Quảng Nam. Hai làng An Lâp, An Lão cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 7 cây số bị đột nhậpB-52 dội bom xuống vùng VC ở Dakto và Quảng Ngãi. Đại uý Harold Aron, một chỉ huy Lực lượng Bặc biệt, cho biết có 6 xe thiết giáp lội nước Nga, kiêu PT 76, tiến vào vùng Tây Bắc Quảng Ngãi cùng với bộ binh BV. Ngày 30/8, đêm qua, đài Phát thanh Cần Thơ và phi trường Trà Nóc bị pháo kích. Hành quân Quyết Chiến 32/27 tại An Xuyên. Hành quân Quyết Chién 56 tại Chương Thiện. Tại Quảng Đức, vẫn giao tranh quanh quận lỵ Đức Lập. Hành quân Hưng Quảng 1/65 tại Quảng Nam. TQLC Mỹ phá hủy các cơ sở của bộ chỉ huy 1 trung đoàn BV cách Huế 17 cây số về phía Nam. Ngày 31/8, Gần nửa đêm qua, phi trường Biên Hòa bị pháo kích. Sớm nay, phi trường Đà Nẵng và cơ sở Mỹ tại Núi Thành bị pháo kích.  Thị xã Pleiku, Thị xã Tam Kỳ bị pháo kích. Cảnh sát Quốc gia khám phá bắt 2 đặc công tại đường Cao Thắng và Nguyễn Thông cùng một số súng đạn và chất nổ.    

VIÊC ĐÃ LÀM. NĂM 1968. Ngày 25/5, Nội các chánh phủ Trần Văn Hương trình diện tại dinh Độc Lập. Ngày 26/5, theo Chỉ huy Trung tâm 3 Tuyển mộ và Nhập ngũ, kể từ đầu năm 1968, đã có 109.549 thanh niên trình diện nhập ngũ; 92.000 người đã đươc thâu nhận so với 77.237 người cho cả năm 1967. Ngày 28/5, Hạ viện biểu quyết 109/110 bác bỏ dự luật Tổng động viên của Thượng viện chuyển xuống, giữ nguyên dự luật Hạ viện đã chấp thuận trước đó. Ngày 3/6, các Thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng và Nguyễn Văn Là thăng Trung tướng; Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan và Ngô Quang Trưởng thăng Thiếu tướng. Ngày 4/6, Thiếu tướng Nguyễn Văn Minh, nguyên Tư lịnh Sư đoàn 21 Bộ binh, được cử làm Tư lịnh Biệt khu Thủ đô thay tướng Lê Nguyên Khang. 

Cùng ngày 4/6, theo tin UPI, BS Phan Quang Đán, Quốc vụ khanh kiêm Tổng trưởng Chiêu hồi, hiện đang ở HK tuyên bố: VNCH phải bắt đầu nói chuyện với MTGPMN, bởi vì hoặc phải giết hết VC, hoặc phải nói chuyên với họ, nhưng giết hết họ là việc rất khó. Bộ Thông tin VNCH cho biết: phải đợi BS Đán về nước mới biết rõ thực hư, song chánh sách của VNCH là không điều đình với MTGPMN và không thừa nhận Mặt trận này. Ngày 6/6, Thủ tướng Trần Văn Hương đã cho gửi điện văn yêu cầu Quốc vụ khanh Phan Quang Đán, hiện ở HK, xác nhận hoặc cải chính lời tuyên bố về sự điều đình với MTGPMN. Bộ Ngoại giao xác nhận: Tổng thống VNCH và hai Viện đã minh định là không thừa nhận MTGPMN, không điều đình liên hiệp với Mặt trận này. Ngày 6/7, Đại tá Đỗ Kiến Nhiễu được cử làm Đô trưởng Sài Gòn thay Đại tá Văn Văn Của. Đại tá Trần Văn Hai được cử làm Tổng Giám đốc Cảnh sát, thay Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan. 

Ngày 10/6, tại Đô thành các khu đông dân, đường Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Đình Chiểu, Trương Minh Giảng, Hòa Hưng, Lê Văn Duyệt, Tô Hiến Thành v,v. bị pháo kích. Dân chúng Đô thành đổ xô mua bao cát làm hầm để phòng pháo kích. Ngày 14/6, Thông cáo của Phủ Thủ tướng: Quổc vụ khanh Phan Quang Đán bị giải nhiệm vì đã tỏ lập trường đối với MTGPMN trái Hiến pháp, trái chánh sách của Tổng thống, và 2 Viện Quốc hội. Ngày 16/6, hai Viện Quốc hội chấp thuận 5 khoản phúc nghị của Hành pháp về đự luật Tổng động viên. Ngày 19/6, nhân Ngày Quân lực VNCH, 11 Đại tá được thăng Chuẩn tướng, và 9 Chuẩn tướng thăng Thiếu tướng. Tại Huế, TT Nguyễn Văn Thiệu ký ban hành luật Tổng động viên trước Phu Văn Lâu. 

Ngày 20/6, cựu thiếu tướng Lâm Văn Phát, liên can tới các vụ biến cố 13-9-64 và 19-2-65, ra trình diện Bộ Nội vụ. Ngày24/6, Thủ tướng Trần Văn Hương ra trước Hạ Nghị viện giải thích về tình hình và trả lời một số câu hỏi: chưa để các Tướng lãnh đã xuất ngoại trở về nước vì hoàn cảnh chưa thuận tiện.v.v... Ngày 25/6, tại Hoa Thịnh Đốn, BS Phan Quang Đán cải chính lời tuyên bố do các báo HK thuật lại, và nhấn mạnh: không chủ trương thừa nhận MTGPMN và liên hiệp với VC. Ngày 26/6, Hạ Nghị viện biểu quyết tuyên ngôn, gửi Hành pháp và Quốc hội HK, yêu cầu xác định lập trường đối với chiến cuộc, hòa đàm và liên hiệp. Ngày 28/6, tại mỗi quận Đô thành, từ nay, sẽ có một Đặc khu trưởng phụ trách về các cuộc hành quân, tiếp tế cứu trợ trong trường hợp mất an ninh. Ngày 29/6, thành lập một bộ chỉ huy Việt-Mỹ lo việc bảo vệ thủ đô, đặt dưới quyền Tổng trấn Nguyễn Văn Minh, và tướng Hay, chỉ huy quân Mỹ tại Sài Gòn. 

Ngày 1/7, Thủ tướng Trần Văn Hương tuyên bố với ký giả bảo II Resto Del Carlino không thể thoả hiệp với Cộng sản; cuộc hòa đàm tại Ba Lê chỉ là một dịp cho Cộng sản tuyên truyền; không có cách nào khác là chiến đấu. Ngày 11/7, có 23 sĩ quan tốt nghiệp khóa Quân Chánh I được bổ nhiệm Quận trưởng. Ngày 17/7, chừng 2.500 cán bộ Xây dựng Nông thôn thực tập củng cố vòng đai bảo vệ Thủ đô, kiểm tra dân chúng và tồ chức Nhân dân Tự vệ tại Gia Định. Theo Trung tướng Tổng trưởng Quốc phòng, quân lực VNCH có thể tăng 135.000 người trong năm nay và được HK trang bị đầy đủ.

Ngày 18/7, TT Nguyễn Văn Thiệu lên đường sang hội kiến với Tổng thống Johnson tại Honolulu, để duyệt lại các vấn đề liên quan đến chiến cuộc và hòa đàm. Ông Thiệu tuyên bố: “Tôi không đi Hạ Uy Di để bán đứng đất nước; để nhượng thêm đất đai; hoặc để chọn một giảỉ pháp liên hiệp với Cộng sản”. Hạ Nghị viện VNCH gửi đến TT Nguyễn Văn Thiệu một bản khuyến cáo và lưu ý chánh phủ Hoa Kỳ về những điềm sau: (1) không chấp nhận Liên hiệp, Trung lập, trái độn; (2) quyền tự quyết của dân tộc VN và Hiến pháp 1-4-67 phải được tôn trọng; (3) VN phải đóng vai trò chính trong các cuộc hội đàm về tương lai xử sở; (4) mọi thỏa hiệp phải được sự chấp thuận của VNCH; (5) cuộc hội đàm không thể kéo dài mãi nếu Cộng sản vẫn pháo kích và xâm nhập miền Nam. Ngày 28/7, khánh thành cầu Trường Tiền Huế vừa được tái thiết. Cầu Bạch Hổ bị phá Tết Mậu Thân, cũng đã được sửa chữa.

Ngày 1/8/68, Theo Viện Thống kê giá sinh hoạt tại Sài Gòn trong tháng 7 vừa qua, đã tăng 3,5% cho giới trung lưu; và 3,8% cho giới lao động. Ngày 5/8, Trung tướng Đỗ Cao Trí nhậm chức Tư lịnh Quân đoàn III và Vùng III Chiến thuật thay Trung tướng Lê Nguyên Khang. Ngày 16/8, Trung tâm 3 Tuyển mộ và Nhập ngũ, từ đầu năm 1968 đã tiểp nhận 92.249 tân binh, so với 77.223 năm 1967. Ngày 17/8, cựu Thiếu tướng Lâm Văn Phát và 4 sĩ quan khác liên can tới vụ biến cố ngày 19-2-65, được Tòa án Quân sự Mặt trận Vùng 3 Chiến thuật xét lại tha bổng. Ngày 26/8, Bộ Quốc phòng gọi nhập ngũ các học sinh thi rớt Tú tài I có tuổi từ 18, 19, 20 và 21. Ngày 27/8, Thượng viện cử 4 phái đoàn Nghị sĩ đi Mỹ châu, Âu châu, Á châu và Phi châu để giải thích về tình hình VN lập trường của VNCH.

Ngày 28/8, TT Nguyễn Văn Thiệu đi thăm mặt trận Quảng Đức, từ trực thăng liên lạc bằng vô tuyến với Trung uý Quận trưởng Đức Lập và thăng cấp cho vị sĩ quan này lên Đại úy vì chiến côngCùng ngày 28/8, có 88 thiếu nhi VN nạn nhân chiến tranh, được điều trị tại các bệnh viện Tây Đức, rồi gửi vào một Làng Hòa Bình vùng Wesphalie học theo chương trình Việt trong khi chờ ngày về nước. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1968. Ngày 18/6, từ sau Tết Mậu Thân tới nay, số tiền quyên cho cáo nạn nhân chiến cuộc lên tới 388.380.530$ và một số ngoại tệ bẳng 7.630.577$ VN. Ngày 12/7, Tòa án Quân sự Mặt trận Vùng III xử tại Sài Gòn 10 người thuộc tổ chức Liên minh Dân tộc Dân chủ Hòa bình xuất hiện từ 20-4-68 tại thủ đô: tất cả đều bị án tử hình và tịch thu tàỉ sản. Ngày 26/7, Tòa án Lưu động Mặt trận Vùng III Chiến thuật phạt Luật sư Trương Đinh Dzu ứng cử viên về nhì trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1967, 5 năm khổ sai vì phạm tội làm suy giảm ý chí chống Cộng của nhân dân và quân đội. Ngày 2/8, tòa án Lưu động Mặt trận Vùng III kết án khiếm diện 10 năm khổ sai Chủ tịch ban Chấp hành Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, về tội làm suy giảm ý chí chống Cộng của nhân dân và quân đội trên tờ báo có chủ trương thân Cộng. 

Ngày 7/8, hơn 90 Dân biểu yêu cầu Hạ viện can thiệp cho các phần tử quốc gia hiện ở hải ngoại, được trở về nước phục vụ. Ngày 12/8, ba (3) Dân biểu tới trụ sở Sinh viên Sài Gòn thăm 15 sinh viên và học sinh tuyệt thực đòi trả tự do cho các sinh viên bị cảnh sát bắt giữ, vì giữ tài liệu Cộng sản. Các sinh viên học sinh này thuộc Uỷ ban Cứu trợ đồng bào tị nạn. 

NẠN NHÂN, TỴ NẠN CS. NĂM 1968. Ngày 15/6, theo tòa Đô chánh, số nạn nhân trong cuộc tấn công đợt 2 vào Đô thành, là 123.711 người. 

Sydney ngày 22 tháng 4 năm 2024

 

Bài 114: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 9-10/1968.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1968. Ngày 4/9, hai tiểu đoàn hoả tiễn Hawk được rút khỏi VN để giảm bớt những lực lượng không thiết yếu và tăng cường những lực Iượng chiến đấu. Ngày 9/9, TT Johnson xác nhận lần nữa lập trường của Mỹ: 1) không gây chiến tranh toàn diện tổng tấn công BV; 2) không bỏ rơi miền Nam; 3) ngưng oanh tạc một phần và sẽ ngưng bắn khi BV chịu xuống thang quân sự. Ngày 9/9, tại Pnom Penh, trong khuôn khổ kế hoạch phát triển lưu vực sông Cửu Long, đại diện 10 nước họp bàn về chương trình viện trợ 17.600.000 Mỹ kim để xây hệ thống tri thủy Prek Thuot tại Cao Mên. Ngày 10/9, Phó TT Humphrey, ửng cử viên Tổng thống, tán thành giải pháp Trung lập hóa VN như đối với Áo sau Thế chiến II. Ngày 13/9, Trung tướng My Keith L. Ware, Tư lịnh Sư đoàn I Bộ binh bị tử nạn vì trực thăng rớt tại Bình Long.  

Ngày 16/9, theo Phái đoàn VN Giao dịch với Uỷ hội Quốc tế, từ 30-8-68 tới hôm nay, quân đội VNCH và Đồng minh đã khám phá 17 hầm võ khí, riêng 2 kho tại Phước Long và Bình Long chứa 50 tấn súng đạn. Tổng số võ khí tìm thấy có thể trang bị cho 50 tiểu đoàn. Ngày 17/9, Thiếu tướng William C. Chip, tư lịnh một chiến đoàn TQLC, bị tử nạn vì trực thăng gần Đồng Hà. Ngày 23/9, Chánh phủ Tây Đức viên trợ đề xây cất tại hải cảng Đà Nẳng một bệnh viện với 170 giường cùng dụng cụ trang bị tối tân, tất cả trị giá 300 triệu bạc VN để thay tàu bịnh viện Helgoland hiện đậu tại Đà Nẵng. Ngày 25/9, Ứng cử viên Cộng hòa Nixon tuyên bố: sự giảm quân số tại VN sẽ có ảnh hưởng bất lợi đến cuộc hòa đàm tại Ba Lê, khi đối phương chưa tỏ rỏ là muốn điều đình. Ngày 28/9, Bộ trưởng Quốc phòng HK, Clark Clifford tuyên bố: hy vọng sẽ rút được một số quân về Mỹ trước tháng 6 năm 1969. Ngày 30/9, Đại diện mới của HK tại Liên hiệp Quốc, J. R. Wiggins, chủ bút báo Washington Post, tuyên bố: cần ủng hộ chánh sách Johnson tại VN dù Hồ Chí Minh không phải là Cộng sản.

Cùng ngày 30/9, Ngoại trưởng HK Dean Rusk hội kiến Tổng thư ký LHQ U-Thant. Ngày 1/10, Tướng Cao Văn Viên ký kết bản Kế hoạch hỗn hợp quân sự Đồng minh với các Tổng tư lịnh Creighton Abrams (UK), Shin Myung Chae (Đại Hàn), Chalard (Thái Lan), MacDonald (Úc), Fcnten (Tán Tây Lan). Ngày 4/10, theo Bộ Tư lịnh HK, tới nay, có 904 phi cơ cùng 9 trực thăng bị rớt trên BV, và chừng 300 phi công bị bắt giữ; Trên miền Nam, có 311 phi cơ và 883 trực thăng bị bắn rớt. Ngày 10/10, Ứng cử viên Humphrey tuyên bố: sẽ ngưng hẳn oanh tạc BV khi Hà Nội tỏ thiện chí chấm dứt chiến tranh. Ngày 13/10, Báo Nhân Dân Hà Nội hô hào dân chúng BV chuẩn bị nghênh chiến vì Mỹ sẽ mở rộng chiến cuộc. Cùng ngày 13/10, tại Vọng Các, Đô đốc McCain, tân Tổng tư lịnh Mỹ tại Thái Bình Dương, tuyên bố không tán thành đề nghị ngưng oanh tạc BV. Ngày 15/10, theo Bộ Quốc phòng HK, chưa có triệu chứng về sự xuống thang chiến tranh của BV. 

Ngày 16/10, Ứng cử viên Humphrey tuyên bố lại Nữu Ước: nếu đắc cử, sẽ xét lại tất cả các cam kết của HK từ trước đến nay, và triệt thoái quân đội khỏi VN, vì HK cũng cần đến nhiều thanh niên ngay ở trong nước. Ngày 17/10, Đại sứ HK Bunker hội đàm lần thứ 3 trong 2 ngày qua với TT Nguyễn Văn Thiệu về tình hình VNCH. Nhiều báo chí Âu Mỹ nhắc lại những tin đồn về dự định của HK ngưng hẳn oanh tạc BV trong ngày sắp tới. Ngày 18/10, theo tạp chí Editor and Publisher có 493 tờ báo tại HK ủng hộ Nixon; 93 tờ ủng hộ Humphrey; 10 tờ ủng hộ Wallace. Theo tài liệu của Liên hiệp Quốc dân số hoàn cầu: 3 tỷ 420 triệu. Ngày 19/10, theo tin báo chí ngoại quốc và các hãng thông tẩn Âu Mỹ, 7 sư đoàn BV đã rút khỏi VNCH qua Lào và Mên. Theo Bộ Ngoại giao HK, Ngoại trưởng Dean Rusk đã tiếp kiến Đại sứ Nga lần thứ 2 trong 3 ngày qua, và có bàn tới vấn đề VN. Chiếc xe mới của Tổng thổng HK: bọc sắt, nặng 6 tấn, với các dụng cụ truyền tin và thu hình, dài 6 thước rưỡi: giá 500.000 Mỹ-kim.

Cùng ngày 21/10, Đồng đô la đỏ MPC của quân đội HK tại VN, bất thần được thay thế bằng một thứ chứng chỉ chi phó mới, và chỉ được đổi trong ngày hôm nay mà thôi. Ngày 22/10, Đại sứ Bunker hội đàm lần thứ 5 với TT Nguyễn Văn Thiệu về vấn đề ngưng oanh tạc BV. Thông cáo của Văn phòng phủ Tổng thống: TT Nguyễn Văn Thiệu xác nhận VNCH và HK hoàn toàn đồng lý tưởng và theo đuổi những mục tiêu tương tự để vãn hồi hòa bình; không chống sự ngưng oanh tạc BV, nếu BV xuống thang chiến tranh và tiến tới cuộc nói chuyện trực tiếp với VNCH. Đô đốc John McCain Jr., Tổng tư lịnh HK tại Thái Bình Dương, lại tuyên bố không tán thành sự ngưng oanh tạc BV trong lúc này. Ngày 24/10, Đại sứ Bunker yết kiến TT Nguyễn Văn Thiệu lần thứ 6 trong 8 ngày qua. Ngày 27/10, Ứng cử viên tổng thống Nixon tuyên bố tại Nữu Ước: cho CS liên hiệp tại miền Nam, là một sự đầu hàng trá hình. Ngày 28/10, các liên danh ứng cử Tống thống HK đều có văn phòng liên lạc cổ động tại Sài Gòn. 

Ngày 29/10, Tướng Creighton Abrams, Tổng tư lịnh HK tại VN, mật đàm với TT Johnson tại Hoa Thịnh Đốn. Cùng ngày 29/10, Báo Nhân dân tại Hà Nội cải chính tin đồn BV đang điều đình ngầm với HK về sự ngưng oanh tạc BVNgày 31/10, TT Johnson mật đàm với Harriman và Cyrus Vance về các điều kiện ngưng oanh tạc BV: Cộng quân không được tấn công vào các thành phố; mở cuộc hòa đàm nghỉêm chỉnh ngay, với sự tham dự của VNCH.

HOÀ ĐÀM MỸ-BẮC VIỆT. NĂM 1968. Ngày 4/9, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 20 tại Ba Lê. Không có gì mới. Ngày 11/9, hai phái đoàn BV và HK họp lần thử 21 tại Ba Lê. Không có gì mới. Ngày 17/9, hai phái đoàn UK và BV họp lần thứ 22 tại Ba Lê. Không có thông tin gì mới. Cùng ngày 17/9, Đại sứ Phạm Đăng Lâm, trưởng phái đoàn liên lạc tại Ba Lê, hội kiến với Ngoại trưởng Pháp Michel Debré nhằm cải thiện bang giao với Pháp-VNCH. Ngày 25/9, hai phái đoàn HK và BV họp lần thứ 23 lại Ba Lê. Phát ngôn viên của phái đoàn BV, Nguyễn Thành Lê tuyên bố: vấn đề VN không thuộc thẩm quyền Liên Hiệp Quốc. Ngày 2/10, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 24 tại Ba Lê. Xuân Thủy công kích Humphrey, vị ứng cử viên Tổng thống cũng chỉ hứa ngưng oanh tạc với điều kiện có sự đáp ứng của BV. Ngày 9/10, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 25 tại Ba-Lê. Ngày 14/10, Lê Đức Thọ, cố vấn phái đoàn BV tại Ba Lê, qua Moscou hội đàm với Kossyguine, lần thứ ba từ đầu năm. 

Ngày 16/10, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 26 tại Ba Lê. Ngày 19/10, Phát ngôn viên của phái đoàn BV tại Ba Lê cho biết: Chánh phủ BV đã có công hàm trả lời đề nghị của HK liên quan đến việc ngưng oanh tạc. Ngày 21/10, hai phái đoàn BV và HK tại Ba Lê đều bãi bỏ cuộc họp báo hàng tuần. Có nhiều tin đồn “hai bên đang mật đàm”. Cùng ngày 24/10, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 27 tại Ba Lê trong 2 giờ rưởi. Không có kết quả gì. Ngày 26/10, Phát ngôn viên của phái đoàn HK tại Ba Lê tuyên bố: lập trường của HK về VN không thay đổi. Ngày 30/10, hai phái đoàn BV và HK họp lần thứ 28 tại Ba Lê, trong 1 giờ 30 phút. Đại sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố tại Ba Lê: VNCH sẽ không chịu dự cuộc hòa đàm với tư cách một thành phần trong phái đoàn HK. Mọi vấn đề liên quan đến tương lai miền Nam phải được thảo luận trực tiếp giữa Sài Gòn và Hà Nộỉ. 

Lúc 22g15 giờ quốc tế ngày 31/10, TT Johnson tuyên bố trên đài truyền hình và phát thanh: ngưng tất cả các cuộc oanh tạc và pháo kích trên toàn thề lãnh thổ BV; cuộc hòa đàm nghiêm chỉnh sẽ tiếp tục ngày 6-11-63; chánh phủ VNCH có thể tham dự. MTGPMN sẽ tham dự, nhưng không vì thế mà được nhìn nhận. Lịnh ngưng oanh tạc và pháo kích có hiệu lực kể từ 8 giờ sáng thứ Sáu, tức 13 giờ quổc tế hoặc 21 giờ VN. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1968. Ngày 1/9/68, sáng nay tỉnh lỵ Tây Ninh bị pháo kích. Quá nửa đêm qua, thị xã Pleiku bị pháo kích. Mìn nổ tại bến xe Trúc Giang, Kiên Hòa. Ngày 2/9, quá nửa đêm qua, thị xã Đà Nẵng bị pháo kích. B-52 dội bom xuống các tụ điểm VC ở Hậu Nghĩa và Quảng Đức. Giao tranh tại Khe Sanh. Hành quân Q11 tại Cà Mâu. Mìn nổ trên tỉnh lộ 7 Vĩnh Long. Mìn nổ trên tỉnh lộ Phan Thiết. Lúc 20 giờ 15, chi khu Long Thành bị pháo kích. Ngày 3/9, hành quân Hưng Quảng 1/67 tại Quảng Nam. Giao tranh tại Quang Đức. Hành quân Lam Sơn 258 tại Quảng Tri. 2 Đặc công VC đi xe Honda ném lựu đạn vào một trụ sở thuộc Viện trợ Mỹ đường Lê Văn Duyệt. Ngày 4/9, Nha Trang bị pháo kích. B-52 dội bom xuống vài tụ điềm VC tại Vĩnh Long. Một đoàn xe Mỹ bị phục kích và tấn công gần Tây Ninh. Hành quân Toàn Thắng 20/24 tại Bình Chánh. Hành quân Champaign Grove tại Quảng Ngãi.

Ngày 5/9, sớm nay, B-52 dội bom vùng Dakto và vùng phụ cận Tây Ninh. 3 tiểu đoàn VNCH mở cuộc hành quân Quyết Chiến 9/11 tại Sa Đéc. Giao tranh tại Trảng Bàng. Hành quân Quyết Chiến 32/31 tại An Xuyên. Giao tranh tại Long An. Quá nửa đêm qua, phi trường và thị xã Nha Trang bị pháo kích. Thị xã Tuy Hòa bị pháo kích. Ngày 6/9, Cảnh sát khám phá 50 bánh thuốc nổ đặt tại trụ sở Ty Thuế vụ quận V, Chợ Lớn. Mìn nổ tại phòng Thông tin, đường Đồng Khánh, Chợ Lớn. Một khu gia cư trong quân 7 Chợ Lớn bị pháo kích. Giao tranh tiếp tục tại Trảng Bàng. B-52 dội bom nhiều lần xuống vùng VC ở Tây Ninh. Ngày 7/9, Chi khu Giáo Đức, Bịnh Tường bi pháo kích. Ngày 8/9, giao tranh tại Quảng Đức. Các tỉnh lỵ Vĩnh Long, Định Tường, Kiến Hòa bị pháo kích. Hành quân Việt-Mỹ Bình Tây-Mac Arthur tai Ban Mê Thuột. Có 123 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 9/9, giao tranh tại Quảng Trị. Trại định cư Thạnh Tây, thị xã Hội An, bị pháo kích.

Ngày 10/9, giao tranh lại Long An. Hành quân Quyết Chiến tại Vĩnh Long. Ngày 11/9, hơn 3 tiểu đoàn VNCH tảo thanh vùng phụ cận Tây Ninh. Giao tranh lại Vĩnh Bình. Ngày 12/9, đêm qua 5 căn cứ quân sự Mỹ gần tỉnh lỵ Tây Ninh bị pháo kích. Kịch chiến suổt ngày tại Bình Long. Giao tranh trong vùng phụ cận Tây Ninh. Hành quân Quyết Chiến SD 21/17 tại Phong Dinh. Khám phá một hầm võ khí với nhiều hỏa tiển 122 ly tại xã Vĩnh Lộc gần phi trường Tân Sơn Nhứt. Có 107 phi vụ oanh tạc BV. Ngày 13/9 quá nửa đêm qua, Đà Nẵng bị pháo kích. B 52 dội bom xuống nhiều địa điểm VC gần Bến Cảt, Kontum, Pleiku, Gio Linh. Hành quân Lam Sơn 263 tại Quảng Trị. TQLC Mỹ cũng đồ bộ lên vùng Phi quân sự. Kịch chiến tại xã Thành Phước, Tây NinhNgày 14/9, giao tranh tại Quảng Ngãi. TQLC Mỹ khám phá 1 hầm võ khí lớn tại vùng Phi quân sự. Giao tranh kịch liệt ngày thứ 3 giữa các đơn vị Mỹ và 2 Trung đoàn Cộng quân 302 và 165 tại Lộc Ninh. Hành quân Hưng Quảng 1/70 tại Quảng Nam. Cảnh sát Đô thành bắt được cờ và nhiều truyền đơn cùa MTGPMN tại trụ sở sinh viên Sài Gòn. 

Ngày 15/9, hành quân Quyết Chiến 9/C/21 KG/41 tại Kiên Giang. Hành quân Hưng Quảng tại Quảng Nam. Kịch chiến suốt ngày tại Quảng Đức. Hành quân Phú Bồn 144 tại Phú Thiện. Giao tranh từ sáng đến chiều tại Bến Tre. Hành quân Quyết Chiến SĐ/9/13 tại Sa Đéc. Giao tranh tại Quảng Ngãi. Ngày 16/9, đồn Trảng Bom bị 1 tiểu đoàn Cộng quân pháo kích và tấn công. Quá nửa đêm qua, tỉnh lỵ Kiến Hòa bị pháo kích. 2.000 TQLC Mỹ vừa đổ bộ hành quân tảo thanh vùng Phi quân sự bị pháo kích dữ dội. Ngày 17/9, một đoàn quân xa Mỹ bị phục kích trên đường Sài Gòn-Tây Ninh. Giao tranh tại Cồn Tiên, Quảng Trị. 3 xe đò trên đường Tam Kỳ đi Đà Nẵng bị trúng mìn.  Ngày 17/9, Phi cơ Mỹ tiếp tục thám thính trên vùng trời Hà Nội sau 15 ngày đình chỉ vì thời tiết. Ngày 18/9, giao tranh tại Tam Kỳ. Hành quân Lam Sơn 261 tại Thừa Thiên. Một đại đội Mỹ bị tấn công tại Quảng Trị.

Ngày 19/9, sau 3 ngày hành quân lục soát, liên quân Việt-Mỹ rút lui khỏi vùng Phi quân sự. Hành quân Quyết Chiến SD/38 tại Sa Đéc. Hành-quân Úc/Tân Tày Lan Hawkesbury tại Núi Đất, Phưởc Tuy. Cùng ngày 19/9, theo Bộ Chiêu hồi, từ đầu năm nay, đã có 10.454 cán binh CS hồi chánh trong đó có 4 sĩ quan, 1 bí thư huyện ủy, 1 bác-sĩ. Ngày 20/9, một (1) đại đội Cộng quân đột nhập chợ Lộc Ninh. Giao tranh trên đường Tày Ninh-Sài Gòn. Từ 4 hôm nay, B-52 liên tiếp oanh tạc vùng Phi quân sự và bên trên vĩ tuyến 17. Ngày 21/9, theo Thiếu tướng Tư lịnh Quân đoàn II, từ 23/8/68 tới nay tại mặt trận Đức Lập, Quảng Đức, Cộng quân đã thiệt 1.091 người, 205 súng; phia VNCH: 123 tử thương, 18 mất tích. Ngày 22/9, phi trường Nha Trang bị pháo kích. Hành quân Lam Sơn 266 tại Gio Linh. B-52 dội bom xuống các tụ điểm của Cộng quân gần Đà Nẵng và Bình Long. Hành quân Quyết Chiến SB/9/15 tại Sa Đéc. Hành quân Dân Sinh tại Bình Định. Tại Quảng Tín, quận lỵ Thăng Bình, thị xã Tam Kỳ và chi khu Hậu Đức bị pháo kích và tấn công. 

Ngày 23/9, một hầm võ khí bị quân đội Mỹ khám phá tại Quảng Trị. Giao tranh tại Cái Nước. Hành quân Lam Sơn 266 tại Quảng Trị. Hành quân Quyết Chiến 32/42 tại Bạc Liêu. Theo tướng Đỗ Cao Tri, tư lịnh Vùng III, Cộng quân có 3 sư đoàn 5, 7 và 9 quanh Tây Ninh. Ngày 24/9, quận lỵ Phong Phú, Phong Dinh bị pháo kích. B-52 dội bom xuống tụ điểm VC tại Tây Ninh và Pleiku. Giao tranh suốt ngày tại Quảng Tín. Hành quân tảo thanh tại Kiến Phong. Trụ sở Sinh viên Sài Gòn bị cảnh sát khám xét. Ngày 25/9, hành quân Toàn Thắng 199/815 tại Hậu Nghĩa. Giao tranh tại Quảng Đức. Kịch chiến tiếp tục tại Quảng Tín. Ngày 26/9, từ 3 giờ đốn 6 giờ sáng nay, trại Lực lượng Đặc biệt Katum, Tây Ninh bị pháo kích và tấn công ồ ạt. Trại định cư Đại An, Quảng Ngài bị tấn công, đốt cháy 26 căn nhà bắt đi theo hơn 10 phụ nữ và nhi đồng. Một khủng bố ném lựu đạn vào chợ Bến Thành. 

Ngày 27/9, gần sáng hôm nay, trại Thiện Ngôn, đồn Phước Tân ở Tây Ninh bi tấn công. Hồi 3 giờ 30, đường Nguyễn Tiểu La, Đô thành, bị pháo kích. Giao tranh tại Quảng Đức. Ngày 28/9, đêm qua, lúc gần 3 giờ sáng, đồn An Đức và Chi khu Thượng Đức bị pháo kích và tấn công. Hơn 6.000 TQLC và Bộ binh Mỹ chận đánh một sư đoàn BV tại vùng Phi quân sự. Ngày 29/9, lúc 5 giờ sáng nay, hỏa tiễn bắn vào Đô thành ở khu Nguyễn Khoái, Nguyễn Văn Sâm, Trần Hưng Đạo. Hành quân Quyết Thắng 69/CT tại Quảng Ngãi. Hành quân tảo thanh Việt-Mỹ tại Thừa Thiên. Phi cơ Mỹ vẫn tiếp tục oanh tạc BV hàng ngày vùng Vinh, Đồng Hới, v.v. Ngày 30/9, quá nửa đêm qua, tỉnh lỵ Vĩnh Long bị pháo kích. Giao tranh tại Quảng Nam. 

Ngày 3/10 Hành quân Quyết Thắng 500/B-23 tại Tây Ninh. Hành quân Quyết Chiến 21/31 tại Chương Thiện. Hành quân Toàn Thắng 199/885, tại Hậu Nghĩa. B-52 dội bom xuống các tụ điểm VC trong vùng Bình Dương, Kontum, và 5 địa điểm quanh Đà Nẵng. Ngày 4/10, phi trường Ban Mê Thuột bị pháo kích. Một đại đội Cộng quân bị bao vây, giao tranh suốt ngày tại Gia Định. Ngày 5/10, lúc 6 giờ sáng nay, mìn nổ tại trụ sở Hành chánh Quận 5 đường Hùng Vương, Chợ Lớn. Hành quân Quyết Chiến SB/7/21 tại Định Tường. Hành quân Quyết Chiến 21/28 tại Phong Dinh. Hành quân Lam Sơn 261 tại Quảng TrịNgày 6/10, mìn nổ tại đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Ngày 7/10, B-52 dội 2.000 tấn bom xăng đặc xuống quanh Khe Sanh. Chi khu Bình Chánh bị pháo kích. 

Ngày 8/10, hành quân Lancaster II gần vùng Phi quân sự giao tranh suốt buổi chiều. Ngày 9/10, hành quân Mani Peak tiếp tục tại Quảng Nam, đề giải vây khu Thường Đức. Ngày 14/10 quá nửa đêm qua, nhà máy lọc nước Thủ Đức bị pháo kích. Ngày 20/10, phi cơ Mỹ vẫn oanh tạc vùng Đồng Hới. Ngày 23/10, phóng pháo cơ B-52 dội bom nhiều lần xuổng vùng VC ở Hậu Nghĩa, Quảng Tín, Thừa Thiên, và Quảng Nam. Ngày 25/10, B-52 dội bom xuống các nơi tụ quân VC tại Tây Ninh, Bình Dương, Quảng Nam, và Quảng Ngãi.     

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1968. Ngày 1/9, theo Viên Thống kê VN, giá sinh hoạt trong tháng 8 vừa qua so với tháng 7 đã tăng 2,4% đối với giới trung lưu và 2,5% đối với lao dộng, và nếu so với mức lương 8-1967, thì tỷ lệ tăng là 22.9% và 23,1 %. Ngày 3/9, ban hành Luật 007/68 tổ chức Tối cao Pháp viện. Cùng ngày 3/9, khánh thành một trung tâm giải phân thần kinh với trang bị tối tân, đáng 1.300.000 Mỹ-kim do chánh phủ Nhật viện trợ tại Bịnh viện Chợ Rãy Chợ Lớn. Ngày 5/9, tổng số người VN xuất ngoại năm 1966: 17.941; năm 1967: 25.170 người. Trong số ra đi 6.137 qua Lào, 6.117 qua Hòng Kông, 1,122 qua Hoa Kỳ, và 1.152 qua Pháp. Ngày 6/9, có 3 Trung tá Tỉnh trưởng bị cách chức, giao hoàn Bộ Quốc Phòng đề truy tố. Ngày 7/9, trong khuôn khổ kế hoạch bài trừ gian thương, cảnh sát Đô thành, từ 9-8 đến hôm nay, đã lập biên bản 1.083 vu vi phạm luậl lệ kinh tế; 248 vụ bán hàng quá giá; 34 vụ đầu cơ tích trữ; 723 vụ không niêm yết giá; 78 vụ linh tinh. 

Ngày 7/9, hơn 10 Viện trưởng, khoa trưởng và giáo sư Đại học nhóm họp hội thảo tại Nha Trang, về kế hoạch cải tiển Đại học. Giám đốc nha Khảo thí Bộ Giáo dục bị huyền chức để chờ cuộc điều tra về sự gian lận trong các kỳ thi Tú tài vừa qua. Ngày 8/9, Chuẩn tướng Trương Quang Ân, Tư lịnh Sư đoàn 23 Bộ binh, cùng vợ và 3 quân nhân Mỹ, bị tử nạn vì trực thăng rớt và bốc cháy tại Đức Lập. Ngày 11/9, kết quả tổ chức Nhân dân Tự vệ trong 52 phường và 567 khóm tại Đô thành: 156.751 nam đoàn viên, 41.109 nữ đoàn viên, 22.852 nam đã huấn luyện quân sự, 1.695 nữ đã huấn luyện cứu thương. Ngày 21/9, Quỹ Tái thiết đã cho vay hơn 700 triệu đồng để trang bị lại, và 300 triệu để xây dựng lại nhưng cơ sở sản xuất bị phá hủy trong các cuộc Tổng công kích Tết Mậu thân và hồi tháng 5 vừa qua. Ngày 29/9, Bộ Ngoại giao họp báo và công bố cuốn bạch thư về cuộc xâm lăng miền Nam và đường lối hòa bình của VNCH.

Ngày 2/10, Ngoại trưởng Trần Chánh Thành tuyên bố: thái độ vô tư của chánh phủ Pháp từ khi có cuộc hòa đàm tại Ba Lê, là một triệu chứng tốt cho phép hy vọng cải thiện bang giao Việt-Pháp. Ngày 6/10, TT Nguyễn Văn Thiệu chủ tọa tại vườn Tao Đàn lễ xuất phát 810 cán bộ Tân Sinh của Liên minh Dân tộc Cách mạng Xã hội. Ngày 7/10, số thí sinh dự thí vào Dược-khoa, Y-khoa và Nha-khoa lên tới 12.123 giành 370 chỗ hoc. Ngày 9/10, kỷ niệm 17 năm thành lập trường Bộ binh Thủ Đức. Tới nay, trường đã đào tạo được 37.000 sĩ quan sau 28 khóa trừ bị, và 7 khóa Trừ bị đặc biệt. Ngày 11/10, Dân biểu Nguyễn Bá Lương lại đắc cử Chủ-tịch Hạ Viện; và nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền lại đắc cử Chủ tịch Thượng viện. Ngày 12/10, Chánh phủ VNCH tuyên cáo: không hài lòng về quyết định của Chánh phủ Pháp cho phép “cái gọi là MTGPMN” lập phòng Thông tin tại Ba Lê. 

Ngày 17/10, hai Viện Quốc hội bầu xong 9 Thẩm phán Tối cao Pháp viện. Ngày 19/10, Bổ nhiệm 9 Thẩm phán Tối cao Pháp viện: Trần Văn Linh, Trần Minh Tiết, Mai Văn An, Nguyễn Văn Biện, Nguyễn Văn Sĩ, Trinh Xuân Ngạn, Nguyễn Mộng Bích, Nguyễn An Thông, Trần Văn Liêm. TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố tại Vũng Tàu: lập trường của VNCH không thay đổi đối với vấn đề ngưng oanh tạc BV. VNCH không nhìn nhận MTGPMN; BV phải xuống thang chiến tranh và tỏ thiện chí. Ngày 24/10, ban hành Luật ấn định tổ chức và điều hành Viện Giám Sát. Ngày 30/10, Lễ tuyên thệ 18 Giám sát viên tại Hội trường Diên Hồng trước 2 Viện Quốc hội và Tổng thống VNCH. TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: nểu BV không tỏ thiện chí, thì sẽ không có sự ngưng oanh tạc. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1968. Ngày 20/9, trong cuộc họp báo tại quận lỵ Ba Tri, Kiến Hòa, TT Nguyễn Văn Thiệu cho biết: sẽ cử đại diện sang Vọng Các tiếp xúc với Đại tướng Dương Văn Minh; nhưng không tin rằng tướng Minh đặt những điều kiện để trở về nước như một số báo ngoại quốc đã loan truyền. NĂM 1968. Ngày 5/10, Đại tướng Dương Văn Minh từ Vọng Các trở về Sài Gòn. Ngày 8/10, Đại tướng Dương Văn Minh hội đàm với TT Nguyễn Văn Thiệu và tiếp kiến nhiều chính khách và cựu tướng lãnh. Ngày 10/10, Văn phòng Tổng thống cải chính những tin đồn có biến loạn và bắt giữ một số người trong hai ngày qua. 

NẠN NHÂN, TỴ NẠN CS. NĂM 1968.    

Sydney ngày 23 tháng 4 năm 2024

 

Bài 115: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 11-12/1968.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1968. Ngày 1/11, Đô đốc John McCain, Tổng tư lịnh Mỹ tại Thái Bình Dương, phổ biến huấn lệnh áp dụng lịnh của TT Johnson, chấm dứt các cuộc oanh tạc và pháo kích kể từ 21 giờ địa phương ngày hôm nay 1-11-68. Theo Ngũ Giác Đài Hoa Thịnh Đốn, Tướng Abrams đựợc TT Johnson cho phép mở lại các cuộc oanh tạc và pháo kích mà không cần phải hỏi trước Hoa Thịnh Đốn, nếu BV lợi dụng sự ngưng oanh tạc tấn công vùng Phi quân sự và các thành phố. Chính giới Hoa Kỳ và chính giới các nước Âu châu hoan nghênh quyết định của TT Johnson. Nga Sô loan tin ngưng oanh lạc, nhưng không bình luận. Tổng thư ký LHQ U-Thant tỏ ý hoan hỷ. Ngày 2/11, Chiến-hạm New Jersey rút khỏi Vịnh BV. Các hàng không mẩu hạm và chiến hạm khác cũng rút về phương Nam.

Cùng ngày 2/11, Tuyên bố của chánh phủ BV, trên đài phát thanh Hà Nội nghe được tại Tân Gia Ba và theo tin Reuter: BV tiếp tục chiến đẩu chống Mỹ cho tới thắng lợi cuổi cùng, sự ngưng oanh tạc và pháo kích là một thắng lợi lớn của nhân dân và quân đội VNDCCH. Cũng ngày 2/11, Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố: Mỹ đơn phương ngưng oanh tạc là chuyện đáng tiếc. Thủ tướng Úc L. G. Gorton tuyên bố: có được HK cho biết về sự ngưng oanh tạc và pháo kích; Úc mong rằng quyết định này sẽ có kết quả tốt. Thủ tướng Mã Lai Abdul Rahman đề nghị cắt đôi miền Nam thành vùng CS và vùng không CS để đi tới hòa bình. Chánh phủ Nga Sô thông cáo: sự ngưng oanh tac và pháo kich BV cho phép hòa đàm để giải quyết vấn đề VN, đó là một quyết định thiết thực. Chưa thấy Trung Cộng lên tiếng về quyết định của HK.

Ngày 3/11, theo Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield, HK phải nghĩ đến quyền lợi của HK trước hết. TT Phi Luật Tân, Marcos, nêu ý kiến nên nhóm họp hội nghị thượng đỉnh Đồng minh để san bằng mọi sự bất đồng giữa VNCH và HK. Cùng ngày 3/11, báo Nhân Dân tại Bắc Kinh đăng các bản tuyên bố của HK và BV về việc ngưng oanh tạc, nhưng không hình luận. Sihanouk tuyên bố: không muốn HK rời khỏi Á Đông, vì cần duy trì thế quân bình tại đây. MTGPMN ra thông cáo dài nhấn mạnh đến sự thắng lợi của CS khiến Mỹ phải ngưng oanh tạc. Hồ Chí Minh hiệu triệu: phải chiến đấu đến cùng để diệt trừ xâm lăng và cần nổ lực hơn bao giờ để chiến thắng. Ngày 5/11, hơn 75 triệu cử tri HK trên 120 triệu cử tri đi bỏ phiếu bầu Tống thống, Phó tổng thổng, 31 Thượng Nghị sĩ, 435 Dân biểu, 21 Thống đốc tiểu bang và nhiều công chức địa phương. Đại sứ Mỹ Bunker tuyên bổ xác nhận: HK không thừa nhận MTGPMN dưới bất cứ hình thức nào; và không ép buộc chánh phủ VNCH chấp nhận giải pháp liên hiệp với CS.

Ngày 6/11, Cựu phó TT Richard Nixon đắc cử Tổng thống HK thứ 37, với 287/538 phiếu của các đại biểu cử tri. Chính sách của tân Tổng thống HK Nixon đối với vấn đề VN: (1) thuận ngưng oanh tạc BV, nhưng chống một sự triệt thoái không vẽ vang của quân lực Mỹ; (2) ước mong chiến cuộc sẽ thuộc trách nhiệm quân đội VNCH hơn là trách nhiệm quân đội Mỹ; (3) sẽ xử dụng quân lực đúng mức hơn; (4) chủ trương tuyển cử tự do để lập chánh phủ tương lai của VNCH.Ngày 5/11, báo động tại Hà Nội. Ngày 13/11, lại báo động tại Hà Nội và Hải Phòng. Ngày 17/11, theo nguồn tin quân sự Mỹ, từ ngày ngưng oanh tạc, hàng trăm quân xa chuyển quân nhu và võ khí dồn dập từ vĩ tuyến 19 đến vĩ tuyến 17; hoạt động tiếp tế của BV đã tăng gấp 4 lần. Ngày 23/11, nhà cầm quyền BV vẫn không trả lời Uỷ hội Quổc tế về sự tiếp nhận 140 tù binh do quan lực VNCH dự định giao trả. 

Ngày 24/11, Bộ trưởng Quốc phòng HK Clark Clifford lại tuyên bố: các vụ xâm phạm vùng Phi quân sự chưa nghiêm trọng, nhưng nếu BV không tỏ thiện chí, HK sẽ phải thay đổi thái độ và oanh tạc trở lại nếu cần. Ngày 5/12, Phát ngôn viên của TT đắc cử Nixon cho biết sẽ thay thế tất cả phái đoàn hòa đàm tại Ba Lê sau khi tân Tổng thống nhậm chức. Ngày 11/12, TT đắc cử Nixon cử nhân viên chánh phủ tương lai. Ngoại trưởng: William Rogers, Bộ trưởng Quốc phòng: Melvin Laird. Ngày 29/12, TT đắc cử Nixon thảo luận với các Cố Vấn tại Floride đề tìm giải pháp cho vấn đề hòa đàm tại Ba Lê. Ngày 30/12, Bộ trưởng Quốc phòng Tổng thống đắc cử Nixon, Melvin R. Laird, tuyên bố: kinh phí chiến tranh tại VN, được dự trù là 26 tỷ 300 triệu trong tài khóa 1968- 69 còn thiếu chừng 3 tỷ 800 triệu nữa.  

HOÀ ĐÀM BA LÊ. NĂM 1968. Ngày 1/11, tại Ba Lê, sau 28 phiên họp giữa hai Phái đoàn Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hôm nay, phái đoàn BV ra thông báo cuộc hội đàm tới sẽ qui tụ cả các đại diện của MTGPMN và VNCH. Ngày 3/11, các đại diện HK và BV mật đàm để ấn định thể lệ phiên họp dự đinh vào 6-11 và tìm biện pháp ra khỏi bế tắc nếu VNCH không tham dự. Ngày 4/11, một phái đoàn của tổ chức gọi là MTGPMN gồm 6 người, do Nguyễn Thị Bình hướng dẫn tới Ba Lê chuẩn bị dự cuộc hòa đàm. Đài VOA xác nhân: phái đoàn MTGPMN chỉ là một phần của phài đoàn BV mà thôi. Nhưng Xuân Thủy tuyên bố MTGPMN tham dự cuộc hội nghị tay tư, và nếu đủ cả 4 phái đoàn thì sẽ có phiên họp ngày 6-11. Ngày 5/11, Phái đoàn HK cho biết: cuộc hội họp dự định vào ngày mai 6-11 được hoãn lại. Ngày 7/11, hai phái đoàn BV và HK trao đổi quan điểm về thủ tục hòa đàm. 

Ngày 8/11, tại Ba Lê, Xuân Thủy Trưởng phái đoàn BV tuyên bố bác bỏ đề nghị của TT Nguyễn Văn Thiêu: không chấp nhân cuộc nói chuyện tay đôi, nếu HK và nhà cầm quyền miền Nam muốn lập chung một phái đoàn, thì có thể nói chuyện tay ba. Ngày 12/11, Bộ trưởng Quốc phòng HK, Clítík Cliffbrd, tuyên bố: những vụ pháo kích hiện nay không làm thay đổi quyết định ngưng oanh tạc BV; TT Johnson có trách nhiệm hòa đàm và không để cho chánh phủ VNCH có quyền phủ quyết về việc này. Cùng ngày 12/11, phái đoàn BV và MTGPMN đòi hỏi HK cứ hội họp dù VNCH vắng mặt. Ngày 13/11, hai phái đoàn BV và HK tại Ba Lê không họp hôm nay. Ngày 13/11, Bộ Ngoại giao HK thông cáo: phái đoàn Mỹ tại Ba Lê coi là nghiêm trọng nhưng vụ pháo kích tấn công của BV vào vùng Phi quân sự; không thể có hội đàm nghiêm chỉnh nếu vùng này bị lợi dụng. Ngày 15/11, TT Johnson tuyên bố: cố gắng đi tới hòa đàm với sự tham gia của VNCH. 

Cùng ngày 15/11, Bộ Ngoại giao HK xác nhận với chánh phủ VNCH: (1) HK sẽ không hòa đàm trực tiếp với BV nếu không có phái đoàn VNCH; (2) sự tham dự của MTGPMN không có nghĩa là tổ chức này được thừa nhận; (3) cuộc thương thuyết có thể tan vỡ nếu vùng Phi quân sự vẫn bị pháo kích. Cũng ngày 15/11, Phái đoàn BV tại Ba Lê cho rằng, quân du kích VC có quyền tiếp tục tấn công khi quân đội Mỹ còn có mặt tại vùng Phi quân sự. Ngày 17/11, Cyrus Vance xác nhận: HK không công nhận MTGPMN, và bác bỏ chủ trương hội đàm tay tư. Ngày 18/11, Xuân Thủy tuyên bố những cuộc hội đàm mở rộng sẽ không thành, nếu MTQPMN không được cử một phái đoàn riêng biệt. Ngày 19/11, theo báo Washington Post, một phái đoàn chung Việt-Mỹ sẽ tham dự cuộc hôi đàm Ba Lê, và có thể do Việt và Mỹ luân phiên chủ tọa. Ngày 28/11, tại Ba Lê, pháỉ đoàn BV thông cáo: cuộc hội đàm sẽ mở với sự tham gia của 4 phe. MTGPMN sẽ có một phái đoàn riêng biệt. Trần Bửu Kiếm làm đại dỉện cho MTGPMN. 

Ngày 2/12, tại Ba Lê, mật đàm giữa Cyrus Vance và Hà Văn Lâu, về thủ tục áp dụng trong cuộc hòa đàm sắp tới. Cùng ngày 2/12, theo tin giới ngoại giao quốc tế, BV có thể chịu để HK triệt thoái dần quân lực trong vòng 3 năm. Ngày 3/12, Phát ngôn viên của phái đơàn BV cho biết, BV vẫn chủ trương hòa đàm 4 phe riêng biệt. Ngày 4/12, hai phái đoàn HK và BV tiếp tục bàn về thủ tục cuộc hội đàm sắp mở: Anh ngữ và Việt ngữ sẽ là tiếng chánh thức, song có thề dùng cả Pháp ngữ. Ngày 8/12, Phái đoàn VNCH do Phó TT Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn tới Pháp tuyên bố: VNCH không đòi một ưu thế nào, cũng chẳng đòi một sự đầu hàng, chỉ đòi chấm dứt xâm lăng. VNCH không chịu một áp lực nào hết, chỉ hòa đàm vì muổn hòa bình và tự do. Ngày 9/12, Đại sứ Phạm Đăng Lâm hội đàm với Cyrus Vance, phó Trưởng phái đoàn HK về thủ tục và nghi thức cuộc hòa đàm Ba Lê. Ngày 10/12, hai phái đoàn HK và BV lại họp bàn về thủ tục hòa đàm. BV đề nghị rút 4 thăm xem ai nói trước, HK đề nghị rút 2 thăm.

Ngày 12/12, Xuân Thủy báo cho Harriman: tù binh HK tại BV có thế nhận bưu thiếp và quà nhân dịp lễ Giáng sinh. Ngày 15/12, Bộ trưởng Quốc phòng HK Clifford lại lên tiếng: tại VN, vấn đề quân sự cần được tách rời vấn đề chánh trị. Vấn đề quân sự phải được giải quyết trước, giữa HK và BV. Vấn đề chính trị sẽ được giải quyết giữa các bên VN với nhau. Ngày 16/12, tại Ba Lê, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: không hiểu Bộ trưởng Clifford muốn gì, Clifford quả có biệt tài đưa những lời tuyên bố không đúng lúc và không nên nói; rằng muốn ngưng bắn phải biết rõ cách thức giải quyết vấn đề chánh trị, bộ đội BV phải rút khỏi VNCH, phải có những biện pháp đảm bảo rằng Cộng sản không tái xâm lăng. Không có sự bất đồng ý kiến giữa 2 phái đoàn HK và VNCH. Cùng ngày 16/12, Xuân Thủy tuyên bố: vấn đề quân sự sẽ được nêu ra khi nào hội nghị khai mạc. HK phải rút quân khỏi VN. Trần Bửu Kiếm cùng một phái đoàn MTGPMN tới Ba Lê.

Ngày 17/12, theo tin Reuter, và UPI: qua lời tuyên bố của Bộ trưởng Clifford, chánh phủ HK tỏ ra sốt ruột muốn rút quân càng sớm càng hay, và để mặc VNCH dàn xếp với CS về mặt chánh trị. Ngày 17/12, Đại sứ Pham Đăng Lâm tuyên bố: Thông cáo chung ngỳ 27-11-68 là căn bản lập trường Việt-Mỹ: không thể chấp nhận một cuộc hội đàm riêng rẽ giữa HK và BV; chỉ có thể có hội nghị 2 phe. Ngày 18/12, theo tạp chí Foreign Affairs, Cố vấn An ninh Quốc gia của TT Nixon, giáo sư Henry A. Kissinger đề nghị: HK nói chuyện với BV về vấn đề quân sự, VNCH nói chuyện với MTGPMN về vấn đề chánh trị, tuy vậy, không thể dùng áp lực ép buộc VNCH chấp nhận giải pháp liên hiệp. Ngày 18/12, Phái đoàn VNCH tại Ba Lê cực lực phản kháng đề nghị của giáo sư Kissinger về điểm VNCH phải nói chuyện trực tiếp với MTGPMN. Ngày 19/12, Cyrus Vance hội đàm với Hà Văn Lâu, tại Ba Lê. Theo đại diện HK, nếu Sài Gòn lại bị tấn công, thì cuộc hòa đàm sẽ bị đình chỉ, và các vụ oanh tạc BV có thể tiếp tục. BV và MTGPMN sẽ chịu hậu quả nếu lại tấn công các thành phố VNCH.

Ngày 20/12, tại Ba Lê, Đại sứ Harriman hội đàm với Phó TT Nguyễn Cao Kỳ. Hai bên không tuyên bố gì hết. Cùng ngày 20/12, Lê Đức Thọ, cố vấn của phái đoàn BV tuyên bố: HK phải thay đổi chánh quyền Nguỵễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ vì chánh quyền này cản trở cuộc hòa đàm. Ngày 26/12, Trần Bửu Kiếm, đại diện MTGPMN, yết kiến ngoại trưởng Pháp Michel Debré. Phái đoàn BV ra thông cáo chung với MTGPMN, kêu gọi HK và VNCH nhóm họp ngay quanh một bàn tròn. Ngày 27/12, Phái đoàn VNCH họp báo và xác nhận: không thể chấp thuận một hội nghị tay tư; phải căn cứ vào bản thông cáo Việt-Mỹ ngày 27-11-68. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1968. Ngày 3/11, Chi khu Lộc Ninh tỉnh Bình Long, phi trường Trúc Giang tỉnh Kiến Hòa, và đồn Hậu Vinh tỉnh Định Tường bị pháo kích. B-52 tiếp tục dội bom xuống những địa điểm thuộc Tây Ninh, Bình Long, và Kontum. Ngày 5/11, B-52 dội bom xuống các vị tri Cộng quân trên địa hạt Tây Ninh. Giao tranh gần tỉnh lỵ An Xuyên. Trong 24 giờ qua, quân đội VNCH thực hiện 39 cuộc hành quân từ cấp tiều đoàn trở lên; Không quân thực hiện 79 phi xuất. Hải quân 15 hải xuất, 117 giang xuất và 198 duyên xuất. Ngày 6/11, B-52 dội bom xuống các vị trí Cộng quân trên địa hạt Tây Ninh, Sa Déc và Kontum. Kịch chiến suốt ngày đến đêm khuya gần Hội An. Ngày 9/11, theo Bộ Chiêu hồi, trong 3 tuần lễ vừa qua, có 1.500 cán binh CS hồi chánh. Tại Sa Đéc, một hồi chánh viên được thưởng 560.000$ vì đã 2 lần hưởng dẫn quân đội khám phá 2 hầm võ khí. Ngày 10/11, quận lỵ Mang Thít, Vĩnh Long bị pháo kích. Thị xã Gia Nghĩa, trại Lực lượng Đặc biệt Long Hải, quân lỵ Đất Đỏ cũng bị pháo kích. 

Ngày 11/11, kịch chiến tại Bình Long. Có tới 3 tiền đồn của Mỹ tại phía Nam vùng Phi quân sự bị pháo kích. Hành quân Quyết Chiến 44/10 tại Kiến Phong. Ngày 12/11, B-52 dội bom xuổng các địa điểm tụ quân VC tại Phước Vinh, Bình Dương và Tây Ninh. Thị trấn An Khê bị pháo kích. Một căn cứ Mỹ tại Đakto, phi tnrờng Ban Mê Thuột cũng bị pháo kích. Ngày 13/11, đêm qua, căn cứ Radcliff của HK gần An Khê, phi trường Halloway tại Pleiku bi pháo kích dữ dội. Sớm nay, tỉnh lỵ Long Khánh bị pháo kích. Giao tranh tại Bình Long. Ngày 16/11, lựu đạn ném vô trụ sở phường Cây Bàng quận 4 Đô thành. Lúc 19 giờ phi trường Đà Nẵng, căn cứ Hải quân và một số căn cứ khác tại Đà Nẵng bị pháo kích, và đột nhập. Ngày 17/11, quá nửa đêm qua, 9 quận lỵ bị pháo kích: Mang Thít tỉnh Vĩnh Long; Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long; Phong Thuận tỉnh Phong Dinh; Quế Sơn tỉnh Kiên Giang; An Phú tỉnh Châu Đốc; Đầm Dơi tỉnh An Xuyên. Riêng 3 quận lỵ Điện Bàn, Quế Sơn, và Hiếu Đức tỉnh Quảng Nam vừa bị pháo kích và tấn công. 

Ngày 19/11, theo tin quân-sự VNCH, từ ngày ngưng oanh tạc BV, các tỉnh lỵ và thị trấn VNCH bị pháo kích 72 lần. Có 37 cán binh CS hồi chánh tập thể tại quận Tri Tôn, Châu Đốc. Ngày 23/11, trong ngày hôm nay, quân lực VNCH thực hiện 46 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn. Ngày 26/11, một đơn vị TQLC Mỹ tiến vào vùng Phi quân sự để truy kích một toán Cộng quân. Giao tranh bên ngoài căn cứ Cồn Tiên 4. Tại Sài Gòn, mìn nổ tại Học viện Quốc gia Hành chánh, Viện trưởng và một sinh viên bị thương. Ngày 27/11, một số căn cứ bị pháo kích trong đêm qua: Thủ Thừa, Củ Chi, Trảng Bàng, Hiếu Thiện, Phú Cường, Long Định, Tam Bình. Giao tranh tại Kiến Phong, Kịch chiến tại Bình Long. Hành quân Quyết Chiến tại Biệt Khu 44/42. Ngày 30/11, phóng thích lại Pleiku 30 tù binh CS; 13 tù binh BV cũng được phóng thích tại Đà Nẵng; và 90 tù binh CS khác được phóng thích tại Sài Gòn. 

Ngày 20/12, Trung tướng Đỗ Cao Trí, Tư lịnh Vùng III Chiến thuật chấp thuận cho các đại diện Cộng sản gặp các đại diện HK lúc 15 giờ ngày 25-12 sắp tới, để bàn về việc phóng thích tù binh. Ngày 25/12, có 5 sĩ quan đại diện quân đội HK đáp trực thăng xuống một nơi giữa đồng trên địa hạt Tây Ninh gần sông Vàm Cỏ.. để nhận lãnh 3 tù binh Mỹ; sau 2 giờ nói chuyên, đại diện Cộng quân cho biết: không có tù binh nàọ để trả, và cũng chưa nhận được lịnh gì về việc này.    

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1968. Ngày 2/11, tại hội trường Diên Hồng, trước hai Viện Quốc hội, TT. Nguyễn Văn Thiệu chánh thức báo tin: (1) HK đơn phương ngưng oanh tạc và pháo kích, song BV phải tỏ thiện chí xuống thang chiến tranh; (2) phải nói chuyện trực tiếp và nghiêm chỉnh với chánh phủ VNCH để đi tới hòa bình; (3) không nhìn nhận MTGPMN và không chấp nhận giải pháp liên hiệp. VNCH sẽ không tham dự cuộc hội họp tại Ba Lê ngày 6-11-68, vì chưa có cuộc nói chuyên trực tiếp nghiêm chỉnh giữa BV và VNCH. (Các Nghị sĩ và Dân biểu vổ tay nhiều lần). Buổi trưa, hơn 140 Nghị sĩ và Dân biểu mang cờ đi bộ từ hội trường Diên Hồng tới dinh Độc lập để hội kiến với TT. Nguyễn Văn Thiệu về vấn đề ngưng oanh tạc và pháo kích. Cùng ngày 2/11, Khối Độc Lập Hạ Nghị viện ra thông cáo cực lực lên án quyết định đơn phương ngưng oanh tạc và pháo kích. 

Cũng ngày 2/11, Thông cáo của Chánh phủ VNCH: trong những tuần qua, chánh phủ HK đã trao đối ý kiến với chánh phủ VNCH về vấn đề ngưng oanh tạc và pháo kích, song chánh phủ VNCH không thấy những lý do đầy đủ và vững chắc để quyết định chung với chánh phủ HK về việc đó. Ngày 3/11, Thượng viện họp phiên khoáng đại để thảo luận các biện pháp đối phó với tình thế sau quyết định của HK ngưng oanh tạc và pháo kích BV. Ngày 4/11, trên đài truyền hình và phát thanh, TT Nguyễn Văn Thiệu kêu gọi dân chúng tiếp tục chiến đấu và xây dựng theo đường lối của chánh phủ. Hạ Nghi viện VNCH thông cáo: không chống sự ngưng oanh tạc BV, nhưng đòi BV rút quân và nói chuyện trực  tiếp với chánh phủ VNCH. Thượng Nghị viện xác nhận ủng hộ lập trường của TT Nguyễn Văn Thiệu đối với việc ngưng oanh tạc và hòa đàm. Ngày 5/11, ban hành Luật 10/68 bổ túc Dụ số 01 ngày 24-6-65 về tình trạng chiến tranh bổ sung những biện pháp ngăn ngừa CS lợi dụng thể chế tự do để phá hoại

Cũng ngày 5/11, theo Chuẩn tướng Tư lịnh Sư đoàn 5, hiện nay 4 sư đoàn Cộng quân còn đóng tại vùng biên giới Miên-Việt gần Bình Dương, đề chờ dịp tấn công về phía Sài Gòn. Ngày 8/11, TT Nguyễn Văn Thiệu, trên đài truyền hình và phát thanh, công bố một công thức mới về cuộc hòa đàm: nói chuyện song phưong, mỗi bên chỉ có 1 phái đoàn duy nhất; phía bên này, phái đoàn VNCH lãnh đạo, với sự tham gia của HK và nếu cần, của các Đồng minh; phía bên kia, có đại diện của MTGPMN. Cùng ngày 8/11, Chủ tiệm Phở Bình, đường Yên Đỗ, Sài Gòn cùng 3 đồng phạm bị Tòa án Mặt trận Vùng III kết án khổ sai vì đã dùng tiệm làm trụ sở hội họp của Bộ chỉ huy CS trong cuộc tấn công Đô thành Tết Mậu Thân. Ngày 13/11, Tổng trưởng Thông Tin họp báo cho biết: TT Nguyễn Văn Thiệu không hề hứa với chánh phủ HK là sẽ nói chuyện tay tư tại Ba Lê; chính thực HK đã thỏa hiệp với BV về điểm đó từ 5 tháng trước đây.

Ngày 14/11, có tới 14 Thượng Nghị sĩ Quốc hội VNCH công bố một tuyên ngôn yêu cầu Tổng thống ra lịnh chấm dứt những hình thức khẩu chiến với các cấp hữu trách HK, để tránh mội sự hiểu lầm, và để cho HK cùng VNCH có một lập trường chung minh bạch trong vấn đề chấm dứt chiến tranhNgày 20/11, nhiều tin đồn ở Sài Gòn, và báo chí ngoại quốc, VNCH sẽ tham dự hội đàm Ba Lê, phái đoàn do Phó TT Nguyễn Cao Kỳ hướng dẫn. Ngày 21/11, Giám sát Viện họp bầu: Ngô Xuân Tích làm chủ tich; Phó chủ tịch, Trần Tác Lâm; Tổng thơ ký, Nguyễn Đình Hưng. Ngày 22/11, trước Hạ Nghị viện, tướng Nguyễn Văn Vỹ, Tổng trưởng Quốc phòng cho biết: quân lực VNCH sẽ cải tổ và chia ra: Lục quân là Lực lượng xung kích; Địa phương quân và Nghĩa quân là Lực lượng Diện địa; Lực lượng Đặc biệt hoạt động trong vùng địch. Cùng ngày 22/1, Hội đồng Tối cao Pháp viện chỉ định Thẩm phán Trần Văn Linh làm chủ tịch, và 3 Phó chủ tịch: Nguyễn Văn Vỹ, Trần Minh Triết, Nguyễn Văn Biện. 

Ngày 25/11, Thủ tướng Trần Văn Hương xác nhận: MTGPMN phải từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản, từ bỏ vũ khí trước khi có thể nói chuyện với chính phủ VNCH. Ngày 27/11, hai chánh phủ VNCH và HK cùng đưa ra một lúc tại Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn hai bản tuyên bố về cuộc hòa đàm: Bản tuyên bố của chánh phủ VNCH tại Sài Gòn: 1) lập trường đã công bố ngày 2-11 và ngày 8-11-68 đã được HK ủng hộ; 2) chủ quyền VNCH được tôn trọng; 3) VNCH tham dự cuộc hòa đàm. Bản tuyên bố của chánh phủ HK tại Hoa Thịnh Đốn: 1) cuộc hội đàm sẽ có tính cách song phương: một bên là BV với những người thuộc tổ chức gọi là MTGPMN, một bên gồm hai phái đoàn riêng biệt của HK và của VNCH; 2) HK không công nhận MTGPMN và không công nhận VNDCCH; 3) phái đoàn BV phải nói chuyện trực tiếp và nghiêm chỉnh với phái đoàn VNCH; 4) VNCH sẽ giữ vai trò lãnh đạo và làm phát ngôn viên trong mọi vấn đề liên hệ chính yếu đến miền Nam VN; 5) cuộc hội đàm này là cuộc hội đàm mới khác với cuộc hội đàm trước có mục đích tham dò và chỉ liên quan đến sự ngưng oanh tạc; 6) HK sẽ liên lạc chặt chẽ với VNCH và các chánh phủ Đồng Minh; 7) không chủ trương liên hiệp với CS, và không thừa nhận một chánh phủ nào không do nhân dân miền Nam VN tự do lựa chọn. 

Cùng ngày 27/11, Ngoại trưởng Trần Chánh Thành họp báo và cho biết: chánh phủ VNCNCH quyết định cử một phái đoàn tham dự cuộc hộì đàm Ba Lê. Ngày 7/12, hai Viện Quốc hội nhóm họp phiên khoáng đại để quyết định về việc gởi phái đoàn VNCH qua Ba Lê hòa đàm. Phó TT Nguyễn Cao Kỳ cùng một phái đoàn gồm 6 nhân viên và 10 chuyên viên rời Sài Gòn qua Ba Lê phó hội. TT Nguyễn Văn Thiệu ra tiễn tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Thành phần phái đoàn VNCH: Đại sứ Phạm Đăng Lâm, Trưởng phái đoàn, cựu Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phong, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, các luật sư Vương Văn Bắc, Nguyễn Thị Vui, và trưởng phái đoàn giao dịch với Ủy hội Quốc tế Nguyễn Triệu Ban. Ngày 10/12, Quốc vụ khanh Vũ Quốc Thúc, Trưởng phái đoàn Kinh tế hậu chiến tới Đông Kinh tiếp xúc với Bộ Ngoại giao Nhật về nhu cầu của VNCH trong công cuộc tái thiết và phát triển. 

Ngày 21/12, TT Nguyên Văn Thiệu tuyên bố tại Vũng Tàu: nếu Cộng quân tấn công Sài Gòn và các thành phố, VNCH sẽ thôi không dự hội nghị Ba Lê. Cùng ngày 21/12, theo Tổng nha Thanh niên, kể từ 6-1-1969, các sinh viên Đại học sẽ thụ huấn quân sự 8 giờ một tuần, và 1 tháng trong vụ nghỉ hè. Sau 1 năm và nếu đủ số điểm, sinh viên sẽ chỉ cần tu nghiệp 1 tháng để mang cấp bậc Chuẫn úy. Ngày 31/12, theo Tổng cuộc Chiến tranh Chánh trị, tổng số thiệt hại trong năm 1968 như sau: Cộng quân: 191.387 chết, 21.050 bị bắt, thu 10.895 súng cộng đồng, 58.299 súng cá nhân. VNCH: 17.486 chết, 2.269 mất tích, mất 596 súng cộng đồng và 6.108 cá nhân. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1968. Cũng ngày 3/11, Lực lượng công giáo Đại Đoàn Kết chuẩn bị xuống đường tỏ thái độ chống Cộng và chống quyết định đơn phương của Mỹ. Ngày 5/11, Lực lượng Đại Đoàn Kết tổ chức hội thảo về thời cuộc tại rạp Thống Nhất Sầi Gòn, đòi mở cuộc hòa đàm trực tiếp giữa Hà Nội và Sài Gòn. Ngày 8/11, Lập trường của Phật giáo khối Ấn Quang: hoan nghênh sự xuống thang chiến tranh cua cả hai bên; VNGH phải tiến ngay tới cuộc hòa đàm với các phe lâm chiến; phái đoàn VNCH phải là phản ảnh trung thực của dân nguyện và được sự hậu thuẩn của nhân dân; VNCH cần thực hiện ngay chính sách đại đoàn kết. Cùng ngày 18/11, Đại hội Phật giáo, khối Việt Nam Quổc tự nhóm họp từ 3 hôm nay quyết nghị đòi hỏi chấm dứt chiến cuôc, tiến tới hòa bình trong tự do, nhân phẩm, không chấp nhận giải pháp hoà bình phi quốc gia, phi dân tộc, phi tôn giáo.    

NẠN NHÂN, TỴ NẠN, HỒI CHÁNH. NĂM 1968. Ngày 31/12, Bộ Chiêu hồi cho biết trong năm 1968, đã có 17.836 cán binh CS hồi chánh. 

Sydney ngày 24 tháng 4 năm 2024

 

Bài 116: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 1-2/1969.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1969. Ngày 4/1, quân số Mỹ tại VN là 537.000 gồm: 360.000 Lục quân; 81.000 TQLC; 59.900 Không quân; 37.000 Hải quân; và 500 Tuần duyên. Thiệt hại từ 1-1-61 tới nay: Phía Mỹ: 30.644 chết; 1.238 mất tích; 192.926 bị thương, trong đó có 99.980 phải nằm viện. Phía Cộng quân: 53.349 chếtNgày 6/1Không lực HK đã bị thiệt hại: Tại miền Nam từ 1-1-61 tới hôm nay: 1.306 phi cơ và 978 trực thăng; Tại miền Bắc từ 5-8-64 tới hôm nay: 929 phi cơ và 10 trực thăng. Ngày 10/1, Hãng AFP loan tin: Mỹ sẽ rút đợt đầu 20.000 quân tại VN trong những tháng tới. Ngày 11/1, quân số HK tại VN: 532.500 người. Các nước Đồng minh: 66.000. Ngày 15/1, tân ngoại trưởng HK, William Rogers tuyên bố: mong có một giải pháp hòa bình trên một căn bản danh dự cho phép HK đáp ứng những cam kết chính đáng về VN. Thượng Viện HK tăng lương cho Tổng thống Mỹ: 200.000 Mỹ-kim mỗi năm thay vì 100.000 nhưng trừ thuế rồỉ chỉ còn 78.000 Mỹ-kim. 

Ngày 15/2, theo tướng Westmoreland, sự triệt thoái quân đội HK tại VN phải do cuộc hội đàm Ba Lê quyết định. Cùng ngày 15/2, Lần đầu tiên, các nhà bác học Anh thí nghiệm thành công một cuộc thụ thai nhân tạo trong lọ thuỷ tinh bởi các bác-sĩ Edward, Bavister và Steptoe. Tinh trùng gặp buồng trứng trong lọ. Ngày 23/2, TT Nixon lên đường qua thăm 5 quổc gia Âu châu: Bỉ, Anh, Tây Đức, Pháp, Ý, tuyên bố cho điều tra về các vụ tấn công mới của Cộng quân rồi sẽ quyết định sau. Ngày 28/2, Bộ Ngoại giao HK xác nhận: không có văn kiện nào ký kết về sự ngưng oanh tạc BV. Song Bộ này vẫn từ chối, không cho biết thái độ đối với các cuộc pháo kích vào thành thị VNCH.                    

HOÀ ĐÀM BA LÊ. NĂM 1969. Ngày 1/1, tại Ba Lê, Đại sứ Harriman xác nhận: không tán thành đề nghị của Cố vấn Kissinger về hội đàm song song BV-HK và VNCH-MTGPMN; phải họp chung thay vì thương thuyểt riêng rẽ. Ngày 2/1, hai phái đoàn BV và HK lại nhóm họp trong hơn 4 giờ về thủ tục hòa đàm: không kết quả. Ngày 5/1, Phái đoàn VNCH tại Ba Lê lên án Hà Nội đã cố ý trì hoãn cuộc hội đàm bằng cách đòi cho VC một qui chế phái đoàn bỉệt lập và bình đẳng.Ngày 6/1, Đại sứ Henri Cabot-Lodge, hiện là đại diện HK tại Tây Đức, được TT Nixon cử làm Trưởng phái đoàn HK tại Ba Lê, thay Harriman; luật sư Laurence E. Walsh, làm phó Trưởng phải đoàn thay Cyrus Vance. Cùng ngày 6/1, Phát ngôn viên của Phái đoàn BV tại Ba Lê tuyên bố: sẽ khộng dự cuộc hòa đàm nếu MTGPMN không được hưởng quy chế biệt lập và binh đẳng.

Ngày 7/1 Phái đoàn HK tại Ba Lê cho biết: sẽ cố gắng cho cuộc hòa đàm mở trước ngày 20-1-69. Ngày 9/1, thông cáo của Phái đoàn VNCH tại Ba Lê: VNCH sẽ không chấp thuận, nếu MTGPMN được coi là ngang hàng vớỉ các Chánh phủ tham dự cuộc hòa đàm. Ngày 16/1, tại Ba Lê, phái đoàn VNCH thông báo: BV đã thỏa thuận về kiểu bàn thứ 14: hình tròn, hai bên kê hai bàn dài cách bàn tròn 45 phân để dành cho ban thư ký; không trưng cờ và tên phái đoàn; sẽ nhóm họp buồi đầu ngày 18/1. Phiên đầu, đại diện VNCH sẽ nói trước, phiên sau, bên kia sẽ nói trước và cứ luân phiên như vậy. Ngày 18/1, tại Ba Lê, nhóm họp phiên hòa đàm đầu tiên. Phía Đồng minh: 8 đại biểu và 4 thư ký. Phía Cộng sản: 8 đại  biểu và 4 thư ký. Đại biểu chánh thức của phái đoàn VNCH: cựu Tổng trưởng Nguyễn Xuân Phong. Đại biểu chánh thức của HK: Cyrus Vance. Đại biểu chánh thức của phái đoàn VNDCCH: Hà Văn Lâu, Nguyễn Thị Bình. Đại biểu Nguyễn Xuân Phong nói trước trong 3 phút, kế đến Cyrus Vance, rồi Nguyễn Thị Bình, Hà Văn Lâu. Sau 5 giờ trao đổi quan điểm, hai bên thỏa thuận về thủ tục các phiên họp sau. Mỗi bên sẽ có 30 nhân viên tham dự. 

Ngày 20/1, một thỏa hiệp mới về thủ tục họp báo tại Ba Lê: các phái đoàn Việt-Mỹ họp trước, sau đến BV và MTGPMN, và sẽ luân phiên như vậy. Ngày 21/1, Đại sứ Cabot-Lodge tới Ba Lê cầm đầu phái đoàn HK cùng các ông Laurence Walsh, Phó trưởng phái đoàn, Marcell Green và William Jorden. Ngày 23/1, tại Ba Lê, Đại sứ Cabot Lodge cho biết: sẽ không có nghị trình rõ rệt, có thể đề cập bất cứ vấn đề nào. Ngày 25/1, tại Ba Lê, Hội đàm họp phiên khoáng đại đầu tiên, mỗi bên 30 nhân viên. Các đại diện Việt Nam và Mỹ vô phòng họp bằng một cửa. Các đại diện BV và MTGPMN vô bằng một cửa khác. Không bắt tay, không nhìn nhau. Các trưởng phái đoàn đọc diễn văn: Cabot Lodge đòi: tái lập vùng Phi quân sự, rút những quân đội BV và HK ra khỏi VNCH, canh gác các biên giới Lào Miên bằng một lực lượng quốc tế. Phạm Đăng Lâm nói trong 2 giờ 30 phút; Xuân Thủy: 65 phút; Trần Bửu Kiếm: 90 phút. Buổi họp kéo dài 6 giờ rưỡi. 

Ngày 27/1, TT Nixon tuyên bố: đã đưa ra vài biện pháp cụ thể tại Ba Lê: tái lập vùng Phi quân sự, hai bên cùng rút quân, CS nên nhận và có thể nhận, về các vấn đề khác sẽ liệu sau. Không nêu vấn đề ngừng bắn, vì vô nghĩa trong chiến tranh du kíchCùng ngày 27/1, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố tại Ba Lê: sẵn sàng gặp các đại diện BV hay VC ở Ba Lê hoặc nơi khác. Ngày 30/1, tại Ba Lê, phiên họp khoáng đại thứ 2: HK và VNCH xác nhận: phải tái lập vùng Phi quân sự. BV và MTGPMN bác bỏ đề nghị này, và đòi giải quyết cả các vấn đề chánh trị lẫn quân sự, theo 4 điểm của BV và 5 điểm của MTGPMN. Ngày 3/2, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: sẵn sàng nhượng bộ hơn nữa để cuộc hòa đàm đi tới kết quả, nếu BV chịu rút quân, và đang chờ đợi bên kia trả lời về ý kiến họp riêng, nói chuyện riêng. Ngày 6/2, Phiên họp khoáng đại thứ 3 cuộc hòa đàm Ba Lê, đến lượt phe CS nói trước. Đại sứ Phạm Đăng Lâm lại nêu vấn đề tái lập vùng Phi quân sự. Đại sứ Cabot-Lodge cũng vậy. Trần Bửu Kiểm vẫn đòi lập Chánh phủ Hòa bình.

Ngày 7/2, theo tin UPI và nhiều nguồn tin khác tại Ba Lê, HK và BV tiếp xúc mật để khai thông bế tắc tại Hòa hộiNgày 13/2, tại Ba Lê, phiên họp khoáng đại thứ 4 cuộc hòa đàm về VN: mỗi bên vẫn giữ nguyên lập trường củ. Cabot Lodge tuyên bố: BV và MTGPMN không có hy vọng gì phá huỷ chế độ hiện hữu của VNCH. Buổi họp kéo dài trong 6 giờ 20 phút. Ngày 14/2, tại Ba Lê, các giới chức liên hệ không cải chính mà cũng không xác nhận tin đồn có những cuộc hội đàm mật giữa các phái đoàn Đồng minh và Cộng sản. Ngày 4/2, tại Ba Lê, Đại sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố: sau 4 phiên họp khoáng đại, cuộc hội đàm không đưa lại kểt quả nào, và phe Cộng sản phải chịu trách nhiệm. Ngày 16/2, Tướng Vĩnh Lộc tới Ba Lê để tham gia phái đoàn hòa đàm của VNCH. Cùng ngày 16/1Lê Đức Thọ trở về Hà Nội thảo luận sau khi qua Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh. 

Ngày 20/2, tại Ba Lê, phiên họp khoáng đại thứ 5, Phạm Đăng Lâm đòi phe CS thảo luận về các đề nghị của phe Đồng Minh. Cabot-Lodge yêu cầu giải quyết các vấn đề trên căn bản hiệp định Genève. Trần Bửu Kiếm và Xuân Thủy vẫn nhắc lại các luận điệu cũ. Ngày 27/2, Phiên họp khoáng đại thứ 6 cuộc hòa đàm Ba Lê. Đại sử Phạm Đăng Lâm phản kháng các vụ pháo kích của Cộng quân. Cabot Lodge yêu cầu thảo luận về vấn đề quân sự. Xuân Thủy và Trần Bửu Kiếm nhắc lại các quan điểm cũ. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1969. Ngày 3/1/69, các đơn vị VNCH tiến sâu vào rừng U Minh, nơi đặt bản doanh của Đặc khu ủy CS miền Tây. Ngày 6/1, tại Sài Gòn, 3 kẻ lạ mặt cưỡi Honda ném lựu đạn vào xe Tổng trưởng Giảo Dục Lê Minh Trí trên đường Hai Bà Trưng. Ngày 20/1, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân Biên Hòa, Kontum, Thừa Thiên. Ngày 21/1, theo tin quân sự Mỹ, 3 sư đoàn BV đã rút qua Ai Lao lên miền Bắc, lại di chuyên dần xuống miền Nam. Ngày 29/1, B 52 dội bom xuống các địa điểm tụ quân tại Đà Nẵng, và Phước Long. Ngày 2/2, B 52 dội bom nhiều lần xuống các tụ điểm Cộng quân tại Quảng Trị, Thừa Thiên, Tây Ninh, nhiều nhất vùng chiến khu C. Ngày 3/2, B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tại Quảng Trị, Kontum, và Bình Long. 

Ngày 5/2, B 52 dội bom 4 lần xuống các tụ điểm Cộng quân tại Thừa Thiên, Kontum và Bình Dương. Ngày 8/2, thị xã Phan Thiết, thị xã Rạch Giá bị pháo kích. Kịch chiến suốt buổi trưa đến chiều tại Bình Dương. Ngày 11/2, B 52 vẫn tiếp tục những vụ ọanh tạc hàng ngày; hôm nay, dội bom xuống các vị trí Cộng quân tại Bình Dương. Ngày 12/2, đêm qua, Đại đội ĐPQ canh giữ cầu Bình Điền bị pháo kích và tấn công. Ngày 16/2, ngày hôm nay, Bộ binh VNCH thực hiện 46 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên; Không quân thực hiện 71 phi xuất; Hải-quân 54 hải xuất, 177 giang xuất và 201 duyên xuất. Ngày 18/2, hưu chiến 24 giờ qua VC đã bị vi phạm 117 lần. Kịch chiến tại vùng A Shau Thừa Thiên. Ngày 21/2, giao tranh tại Chương Thiện. Hành quân Quyết Thắng tai Vĩnh Bình. 

Ngày 23/2, trong đêm qua và ngày hôm nay, 104 vụ pháo kích và xâm nhập 18 tỉnh lỵ và 28 quận lỵ, cùng nhiều vị trí quân sự VNCH và Đồng Minh. 2 trực thăng Mỹ bị bắn rớt và bốc cháy trên địa hạt Tam Kỳ và Quảng Trị. Ngày 24/2, theo thông cáo của Văn phòng Tổng thống, trong 35 giờ qua, đã có 136 vụ pháo kích trong đó có 57 vụ vào các thị xã, tỉnh Iỵ, quận lỵ. Ngoài ra, còn có 28 vụ đột nhập. Đêm qua, còn có nhiều toán võ trang tuyên truyền CS xuẩt hiện trong Đô thành như khu Phú Thọ Hòa, Bình Thới, Phạm Thế Hiển… Các tỉnh lỵ Kiến Phong, Kiến Tường, Châu Đốc, Chương Thiện bị pháo kích đêm qua rạng sáng nay. Các tỉnh lỵ Hậu Nghĩa và Quảng Ngãi cùng thị xã Kontum và 4 đồn ở Tây Ninh cũng bị pháo kích.

Ngày 25/2, theo Tổng cuộc Chiến tranh Chánh trị, trong 48 giờ qua Cộng quân đã bắn 3.779 trái đạn súng cối và hỏa tiễn vào 24 thành thị và 30 quận lỵ. Không quân VNCH thực hiện 97 phi xuất; Hải quân thực hiện 36 hải xuất, 172 giang xuất, 185 duyên xuất, khám 1.916 ghe thuyền. Đêm qua rạng sáng nay, các phi trường Đà Nẵng và Vĩnh Bình bị pháo kich. 2 vị trí Mỹ tại vùng Rockpile Quảng Trị bị tấn côngNgày 28/2, trong tuần qua, từ ngày 22/2, đã có 25 tỉnh lỵ và 30 quận lỵ bị pháo kích.     

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1969. Ngày 8/1, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: sẽ không nhường cho Cộng sản một tấc đất, một người dân. Ngày 12/1, theo bộ Tư lịnh HK tại VN, thì VNCH kiểm soát 76,3% lãnh thổ; 11% là vùng xôi đậu, và 12,3% do MTGPMN kiểm soát. Ngày 13/1, ký kết tại Bộ Ngoại giao thỏa ước viện trợ Việt Mỹ, Mỹ cung cấp thêm 100.000 tấn gạo Mỹ trị giá 18.500.000$ Mỹ-kim. Từ 1958 tới nay, HK đã viện trợ về nông phẩm 572.920.000$ Mỹ kim cho VNCH. Ngày 14/1, hai viện Quốc hội nhóm họp xét phúc nghị của Tổng thống về ngân sách quốc gia. 22 nghị sĩ yêu cầu Tối cao Pháp viện cho ý kiến, rằng về ngân sách, Hành pháp không có quyền phúc nghị. Ngày 15/1, đường xe lửa Huế-Đà Nẵng chạy lại, sau 6 tháng sửa chữa tốn 40 triệu đồng. Ngày 17/1, Bộ Kinh Tế ký kết hợp đồng với hãng Nhật Tokyo Monka Kaisha, Nhật Bản để xây dựng nhà máy đường tại khu kỹ nghệ Biên Hòa. 

Ngày 23/1, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ cùng tùy tùng lên đường qua Ba Lê. Ngày 27/1, Căn cứ Dakto do Lữ đoàn 1, Sư đoàn 4 Bộ binh Mỹ chiếm đóng được chuyển giao cho quân đội VNCH. Ngày 28/1, Phái đoàn Kinh tế Nhật thuộc tổ chức Keidaren tới Sài Gòn để xem xét tình hình kinh tế VN. Ngày 30/1khởi công xây cất bịnh viên Tùng Nghĩa, Tuyên Đức do Chương trình Project Concern của hội từ thiện thành phố Worcester HK trị giá 100.000 Mỹ-kim. Ngày 31/1, Tối Cao Pháp Viện phán quyết: Tổng Thống có quyền yêu cầu Quốc Hội phúc nghị dự luật ngân sách, đối với một hay nhiều chương trình thuộc Hành Pháp. Cùng ngày 31/1, theo liên Ủy ban Nội vụ và Xây dựng Hạ Viện, hiện có 8.000 tù nhân tại Côn Sơn, và 34.000 can phạm bị giam trên toàn quốc, kễ cả tù Cộng Sản.

Ngày 1/2, tại Ban Mê Thuột, TT Nguyền Văn Thiệu chủ tọa lễ tiếp nhận nhóm người Thượng Fulro trở về tuyên thệ hợp tác với chánh quyền. Cùng ngày 1/2, chuyển giao 25 giang đĩnh trên sông Cửu Long, Định Tường. Trước đó, từ tháng 6-1968, HK đã chuyển 6 tàu đổ bộ, 10 khinh tốc đĩnh 12 tiểu đĩnh và 1 cơ xưởng nổi. Ngày 5/2, ký kết tại Bộ Ngoại Giao thỏa hiệp Việt-Mỹ về viện trợ nông phẩm năm 1969: nhập cảng 100.000 tấn gạo, 50.000 tấn bột mì, 7.900 tấn sữa đặc, 2.600 tấn sữa bột, 37.500 kiện bông, và 4.350 tấn thuốc lá. Ngày 7/2, tại Qui Nhơn, tới nay đã phát 22 máy truyền hình cho 22 ấp mới bình định thuộc 6 quận. Ngày 10/2, Bộ Tư lịnh Biệt khu Thủ đô và Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định cấm quân nhân, cảnh sát.v.v. bắn súng thay pháo trong dịp Tết. Ngày 11/2, Lần đầu tiên tại VNCH, các văn sĩ, thi sĩ và nghệ sĩ các ngành được mời tới dự buổi tiếp tân tại dinh Độc Lập nhân dịp tất niên. Thi sĩ Đông Hồ cầm cưa, cưa cành đào ngâm thơ mừng TT Nguyễn Văn Thiệu. 

Ngày 16/2, giá hàng chợ Tết tại Sài Gòn: bánh chưng 300$-600$ một cặp; cam Mỹ Tho 1.000$ một chục, quít 700$ một chục, nho Mỹ 400$ một kí; Hoa cúc 300-350$ một cặp, thủy tiên 700$ -1.000$.v.v. Ngày 17/2/69 (Tết Nguyên Đán Kỷ Dậu) chỉ nghe thấy nổ vàỉ bánh pháo ngắn trong Đô thành. Vì có giới nghiêm, các chùa không mở cửa, người đi lễ đêm Giao thừa rất ít. Đường xá không bị kẹt. Các rạp hát và phòng trà đông nghẹt. Ngày 18/2, TT Nguyễn Văn Thiệu đi thăm một số tỉền đồn tại Quảng Trị, Thừa Thiên. Và, 16 phái đoàn do các Quốc vụ khanh và Tổng, Bộ trưởng cũng đi thăm chiến sĩ và tặng quà tại các Vùng Chiến thuật. Ngày 22/2, ba phái đoàn Dân biều, 21 vị, lại được cử đi thăm nhiều quốc gia Á châu, Phi châu và Âu châu để giải thích về tình hình và vấn đề VN. Ngày 24/2, Chánh phủ VNCH chỉ thị cho các Đại sứ Bùi Diễm và Phạm Đăng Lâm yêu cầu HK có thái độ cứng rắn nếu Cộng quân tiếp tục tấn công và pháo kích.

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1969. NĂM 1969. Ngày 24/1, tại trụ sở Thanh niên Phật tử đường Công Lý, Sài Gòn Thượng Tọa Thích Thiện Minh thuyết pháp nêu ra nhiều vấn đề chánh trị liên quan đến hiện tình VNNgày 4/2, Bộ Nội Vụ ra thông cáo cảnh cáo Thượng Tọa Thích Thiện Minh lần thứ nhất, về nội dụng bài thuyết pháp ngày 24/1/69 tại trụ sở đường Công Lý: mạ lỵ và vu khống chánh quyền; gây chia rẽ; phủ nhận cơ cấu dân chủ; xách động quần chúng lật đổ chế độ. Ngày 10/2, những bản nhạc của Trịnh Công Sơn, được giới trẻ tuổi ưa chuộng, bị cấm vì lý do “có tinh cách phản chiến”. Ngày 25/2, Tổng nha cảnh sát họp báo và cho biết: đã tìm thấy nhiều tài liệu CS và võ khí tại cư xá Quảng Đức do Thượng tọa Thích Thiện Minh quản trị. Thượng tọa Minh bị giữ, 66 sinh vỉên cư trú tại cư xá trên bị bắt để điều tra.

NẠN NHÂN, TỴ NẠN CS. NĂM 1969. Ngày 26/1, tình hình dân tị nạn: 837.889 người trong các trại tạm trú. Cùng ngày 26/1, theo tin Việt Tấn Xã, 57 trẻ em dưởi 15 tuổi tại Quảng Ngãi và Quảng Trị đã bị đưa ra Bắc theo chủ trương “Gửi cháu ra Bắc”. Ngày 14/2, có 10 trẻ em bị bịnh tê liệt được đưa sang Ba Lê điều trị, dưới sự bảo trợ của hội Appel thuộc Liên hiệp các gia đình Associations familiales.

Sydney ngày 25 tháng 4 năm 2024

 

Bài 117: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 3-4/1969.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1969. Ngày 1/3, TT Nixon tới Ba Lê hội đàm với De Gaulle. Ngày 2/3, tại Ba Lê, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ hội đàm 45 phút với TT Nixon về vấn đề VN: chi tiết chưa được công bố. Ngày 4/3, TT Nixon họp báo và tuyên bố: sẽ phải có đối phó thích ứng nếu Cộng quân tiếp tục tấn công và pháo kích; không thể chịu đựng những hành động có thể gây thiệt hại lớn cho quân đội HK giữa lúc Mỹ đang thực tâm tìm hòa bình tại hòa hội. Cùng ngày 4/3, trong 2 ngày qua, lại có thực tập báo động tại Hà Nội. Ngày 7/3, Bộ trưởng Quốc phòng HK Melvin Laird tới Sài Gòn và tuyên bố: nếu CS tiếp tuc tấn công, HK sẽ có biện pháp thích đáng để đối phó. Lúc này chưa thể bàn tới sự rút quân, HK vẫn cương quyết giúp đỡ VNCH. Ngày 10/3, Bộ trưởng Quốc phòng HK Melvin Lạird trở về HK sau 4 ngày viếng thăm VN tuyên bố: không rút quân lúc này vì CS đang tấn công mạnh; sẽ cung cấp cho quân lực VNCH các phương tiện cần thiết; cuộc tấn công hiện nay không mang lại kết quả gì cho CS. 

Cùng ngày 10/3, Thượng nghị sĩ Mansfield tuyên bố: HK chẳng có lợi gì trong việc đảm nhận những trọng trách tại Á Đông, nên để mặc các quốc gia phát triển theo đường lối thích hợp với họ. Ngày 14/3, TT Nixon họp báo và tuyên bố: sẽ có phản ứng thích đáng nếu số thương vong của quân đội HK lên quá cao. Cùng ngày 15/3, Hội đồng An ninh Quốc gia HK nhóm họp về vấn đề chiến tranh tại VN. Chưa thấy quyết định gì về sự trả đũa Cộng quân.. Ngày 19/3, trước Quốc hội Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng Laird tuyên bố: chưa có chương trình triệt thoái quân lực Mỹ tại VN; phải chờ cho quân đội VNCH có thể thay thế quân đội Mỹ; cần cấp thêm 156 triệu Mỹ-kim để canh tân trang bị cho quân đội VNCH. Ngày 23/3, TT Nixon hội đàm với nhiều yếu nhân trong chánh phủ và Đại sứ Bunker về vấn đề VN. Vẫn chưa có quyết định gì hoặc tuyên bố nào dứt khoát

Ngày 28/3, Ngoại trưởng William Rogers tuyên bố: HK không tìm chiến thắng quân sự, không leo thang chiến tranh; cần tái lập vùng Phi quân sự; không xen vào việc nội bộ của hai miền VN; tôn trọng hiệp định Genève 1962 về Lào; tôn trọng trung lập và lãnh thổ Cao Mên… Nguyên Tổng thống Mỹ, tướng Dwight David Eisenhower, từ trần tại bịnh viện Walter Reed sau 11 tháng đau tim, thọ 79 tuổi. Ngày 31/3, TT Nixon tiếp kiến 12 quốc khách tham dự đám táng cựu TT Eisenhower, trong đó có Phó TT Nguyễn Cao Kỳ. Có tin vấn đề VN đã được gợi ra nhân dịp này. Ngày 6/4, Tướng Westmoreland, cựu tổng tư lệnh Mỹ tại VN, và Đô đốc Sharp, cựu tổng tư lệnh Mỹ tại Thái Bình Dương, công bố bản phúc trình 347 trang về chiến cuộc tại VN trong 4 năm chỉ huy. Theo Westmoreland và Sharp, nếu HK không đưa quân sang VN năm 1965, thì VNCH chắc đã mất trong thời gian 6 tháng; ngoài ra, hai ông nhấn mạnh đến sự bó tay của Bộ tư lệnh Mỹ, trước chính sách hạn chế chiến tranh của TT. Johnson và sự cấm đoán đánh qua Mên và Lào. 

Ngày 7/4, Ngoại trưởng HK William Rogers tuyên bố: sự triệt binh tại VNCH phải có tính cách song phương; rất có thể sẽ đi tới kết qủa này trong năm nay; HK đã có kế hoạch giải quyết vấn đề VN, nhưng chưa tiết lộ, cũng như đối với tin mật đàm. Cùng ngày 11/4, hơn 2.300 nhà kinh doanh HK yêu cầu chánh phủ Nixon rút quân khỏi VNCH trong vòng 12 hoặc 18 tháng, và giải quyết vấn đề VN theo hiệp định Genève 1954. Ngày 12/4, tại Nữu Ước và 32 thành phố HK, hàng vạn người đủ các giới biểu tình đòi chấm dứt ngay chỉến tranh tại VN. Tại Philadelphia, một nhóm người xông vào Phòng Tuyển Mộ quân nhân, đọc danh sách 31.379 chiến sĩ tử thương. Cùng ngày 12/4, theo đài phát thanh của MTGPMN, thì đảng Nhân Dân Cách Mạng trong Mặt Trận tuyên bố giải tán. MTGPMN đưa ra kế hoạch hòa bình gồm 3 điểm: 1) HK chấm dứt chiến tranh; 2) HK rút hết quân khỏi VN; 3) chánh phủ VNCH chấm dứt vai trò lãnh đạo chính trị. 

Ngày 16/4, theo thông cáo của tòa Đại sứ Mỹ Sài Gòn: chánh phủ HK vừa cậy tòa Đại sử Úc tại Nam Vang chuyển tới chánh phủ Mên bản tuyên ngôn thừa nhận chủ quyền độc lập và Trung-lập, sự toàn vẹn lãnh thổ Mên trong biên giới hiện tại. Sihanouk tuyên bố: sẽ tái lập bang giao với HK ở cấp Đại lý Đại sứ; vấn đề tái lập bang giao với VNCH đã đặt ra quá muộn, BV và MTGPMN đã công nhận từ lâu biên giới của Mên nên họ đã có đại diện tại Nam Vang. Ngày 18/4, TT Nixon họp báo và tuỵên bố: vấn đề triệt thoái quân đội HK tại VN chỉ được giải quyết khi nào quân đội VNCH đủ súc bảo vệ xứ sở, khi nào chiến cuộc xuống thang, và khi nào cuộc hộỉ đàm Ba Lê tiến triễn khả quan. Ngày 20/4, Bộ trưởng Quốc phòng HK, Melvin Laird xác nhận: không có vấn đề đơn phương triệt thoái quân đội Mỹ; không thể có áp lực nào để VNCH chấp nhận một chánh phủ Liên hiệp. 

HOÀ ĐÀM BA LÊ. NĂM 1969. Ngày 3/3, Bộ Ngoại giao HK cảnh cáo: BV không thành thực trong cuộc hội đàm Ba Lê, và phải chịu hậu quả của những vụ pháo kích vào các thành thị VNCH. Ngày 6/3, tại Ba Lê, phiên họp thứ 7 cuộc hội đàm. Sau khi đọc diễn văn phản đối các vụ pháo kích và tấn công mởi đây của Cộng quân, Đại sứ Phạm Đăng Lâm ra về. Phó TT Nguyễn Cao Kỳ rời Ba Lê về Sài Gòn. Ngày 10/4, tại Ba Lê, phái đoàn HK yêu cầu phái đoàn BV mật đàm để khai thông bế tắc. Ngày 11/3, tại Ba Lê, phát ngôn viên Phái đọàn BV cho biết: BV không muốn nói chuyên riêng với Mỹ khi vắng MTGPMN, nếu HK muốn đề nghị gì, thi cứ đưa ra bàn hội nghị. Ngày 13/3, Phiên họp thứ 8 cuộc hòa đàm Ba Lê, Đại sứ Phạm Đăng Lâm lại phản đối các vụ pháo kích của Cộng quân. Buổi họp kéo dài hơn 4 giờ rưỡi, không đưa tới kết quả nào. Ngày 19/3, theo Thượng nghị sĩ Mỹ Stephen Young, HK và BV đang mật đàm để ngừng bắn nếu HK chịu rút ngay 100.000 quân tại VN. 

Ngày 20/3, Tại Ba Lê, phiên họp thứ 9 cuộc hội đàm về VN. vẫn chỉ có những luận điệu lên án lẫn nhau. Ngày 27/3, tại Ba Lê, phiên họp thứ 10 cuộc hội đàm về VN. Trần Bửu Kiếm bác bỏ ý kiến nói chuyện riêng với VNCH. Ngày 3/4, Phiên họp thứ 11 cuộc hội đàm Ba Lê. Không có chi lạ. Bộ trưởng Quốc phòng HK Melvin Laird đang có mật đàm tại Ba Lê, cho biết: gỉữa HK và BV, và đã có it nhiều kết quả. Ngày 5/4, theo giới ngoại giao tại Luân Đôn, BV và MTGPMN đặt điều kiện thành lập chánh phủ Liên hiệp tại miền Nam VN, rồi mới nói chuyện với HK về các vấn đề khác. Báo chí Âu Mỹ vẫn loan tin các cuộc mật đàm giữa HK và BV đã  đưa tới một số kết quả. Ngày 8/4, theo nhiều nguồn tin ngoại quốc, chánh phủ Nixon có thể đơn phương triệt thoái một phần quân lực tại VN, và như vậy sẽ trái với những điều cam kết tại Hội nghị Manille dướỉ thời Johnson. Ngày 9/4, Tại Ba Lê, Trần Bửu Kiếm tuyên bố: sẵn sàng ủng hộ một chánh phủ hòa bình, dù không có MTGPMN tham gia. 

Cùng ngày 9/4, Phát ngôn viên của phải đoàn VNCH tại Ba Lê tuyên bố: VNCH và MTGPMN vẫn có nói chuyện riêng bên ngoài các phiên họp chánh thức. Ngày 10/4, Phiên họp thứ 12, cuộc hội đàm Ba Lê, Phái đoàn BV tuyên bố không biết gì về kế hoạch giải hòa của TT Nixon. Cùng ngày 10/4, theo nhiều tin do các hãng thông tin quốc tế, HK có thể đơn phương rút một phần quân số tại VN từ 50.000 đến 100.000 trong 60 ngày sắp tới. Ngày 17/4, tại Ba Lê, phiên họp khoáng đại thứ 13 cuộc hội đàm về VN: Xuân Thủy bác bỏ đề nghị hai bên cùng rủt quân, và đòi HK phải cho biết kế hoạch hòa bình của TT Nixon. Ngày 23/4, tại Ba Lê, trong các cuộc hội đàm về vấn đề VN, BV và MTGPMN không chịu bàn về sự rút quân khỏi Lào và Mên. Cùng ngày 23/4, Hội nghị Ba-Lê họp phiên thứ 14, Phái đoàn Mỹ và Phái đoàn VNCH đòi rút quân song phương. Phái đoàn BV và MTGPMN bác bỏ. Ngày 30/4, Tại Ba Lê, phiên họp thử 15 cuộc hội đàm về VN. Không có gì mới. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1969. Ngày 3/3, tại Đô thành, lúc 5 giờ sáng, Cộng quân bắn hỏa tiễn vào bịnh viện Grall, bến Bạch Đẳng và Khánh Hội. Ngày 5/3, tại góc đường Nguyễn Du-Cường Để, gần phủ Thủ tướng, lúc 12 giờ 45, 2 khủng bố cưỡi Honda nhắm bắn súng lục vào xe Thủ tướng Trần Văn Hương nhưng không trúng. Ngày 16/3, lúc 2 giờ 30 sáng nay Cộng quân lại bắn hỏa tiễn 122 ly vào Đô thành. Ngày 17/3, trường Bộ binh Thủ Đức, quận lỵ Hòa Long, quận lỵ Đức Dục, và trại định cư Thanh Mỹ bị pháo kích. Giao tranh ác liệt buổi trưa đến chiều tại Trảng Bàng. Ngày 18/3, có tới 12.000 Cộng quân tụ tập với mục đích tấn công thủ đô. Mỹ mở cuộc hành quân đại quy mô với 10.000 quân tiến vào đồn điền Michelin để xua đuổi. Ngày 19/3, Trung tâm Huấn luyện Quang Trung bị pháo kích. 

Ngày 21/3, đêm qua, 5 tỉnh lỵ và 4 quận lỵ bị pháo kích. B 52 dội bom xuống các tụ điểm Cộng quân tại Bình Dương, Kontum, Tây Ninh. Ngày 22/3, quá nửa đêm qua, trường Bộ Binh Thủ Đức, và 25 nơi khác bị pháo kích, trong đó kho dầu Mỹ ở Qui Nhơn bị bốc cháy 18 giờ liền. Cũng tại Bình Định, Ấp An Dương, xã Hoài Tân, quận Hoài Nhơn bị đột nhập, 460 căn nhà của người tị nạn bị thiêu hủy. Ngày 25/3, B-52 dội bom xuống các điểm tụ quân tại Kontum, Bình Long và Hậu Nghĩa. Ngày 30/3, tại Đô thành, buổi sáng sớm Cộng quân bắn B-40 bắn vào chi cảnh sát Nguyễn Tri Phương, Lúc 10 giờ, Ty Bưu Điện Chợ Lớn bị mìn làm sập đổ. Theo Bộ Chiêu Hồi, thì trong tuần qua, trên toàn quốc có 1.013 cán binh CS hồi chánh. 

Ngày 3/4, Lúc 2 giờ 45, một đồn Nhảy Dù tại Tây Ninh bi pháo kích, và tấn công ồ ạt. Cùng lúc, đồn Nhảy Dù Bến Sỏi cũng bị tấn công. Ngày 4/4, Giao tranh dữ dội tại Định Tường. Ngày 14/4, B 52 vẫn dội bom hàng ngày. Hôm nay oanh tạc các vị trí Cộng quân tại Long Khánh và Hậu Nghĩa. Ngày 22/4, giao tranh dữ dội tại Ban Mê Thuột. Ngày 26/4, có 571 phi xuất của Không lực Mỹ trên cảc vùng chiến thuật. Ngày 27/4, đêm qua 9 căn cứ quân sự Mỹ bị pháo kích tại Trảng Bàng, Cam Lộ, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đà Nẵng.v.v.. Tại Đà Nẵng, một kho đạn HK chừng 400 tấn đạn bị cháy nổ, hơn 10.000 dân quanh khu vực phải di tản. 2.012 căn nhà bị thiệt hại.  

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1969. Ngày 1/3, Cầu Bạch Hổ tại Huế được tái thiết xong. Ngày 8/3, sau nhiều ngày khảo sát, và trao đổi với các giới chức liên quan, Phái đoàn kinh tế Nhật gồm 23 công ty; lập một Ủy ban liên lạc giúp đở VNCH phát triển về canh nông và ngư nghiệp. Ngày 9/3, tại Đà Nẵng, lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất 1 bịnh viện 170 giường do chánh phủ Tây Đức viện trợ, trị giả 600 triệu bạc VN. Ngày 12/3, Hội VN Dân Trí được phép mở tại Long Xuyên một Viện Đại học tư thục với các Phân khoa Ngư, Nông và Kỹ thuật. Cùng ngày 12/3, có 21 nữ và 34 nam sinh viên cỏ bằng Tủ Tài II, thuộc thành phần Quốc gia Nghĩa tử, được học bổng lên đường qua HK du học.  Ngày 13/3, có 12 Tỉnh trưởng được hoán chuyển hoặc thay thế. Và, 79 sĩ quan cấp Tá và cấp Úy tốt nghiệp khóa quân chính được cử làm phụ tá cho Tỉnh hoặc Quận trưởng. 

Ngày 24/3, thiết lập một Uỷ Ban Đặc trách Chương trình Nguyễn Công Trứ nhằm vấn đề phát triển các Xã, chủ tịch là Phó Thủ tướng kiêm Nội vụ đặc trách Bình định và Xây dựng Trần Thiện Khiêm. Ngày 25/3, TT Nguyễn Văn Thiệu họp báo tuyên bố: VNCH sẵn sàng nói chuyện riêng với MTGPMN đề tìm biện pháp hòa giải cho xứ sở. Ngày 29/3, một bịnh xá 24 giường do Công binh Sư đoàn 3 TQLC Mỹ xây cất từ 2 tháng nay, trị giá 5 triệu đồng, trao tặng cư dân thị trấn Đông Hà, Quảng Trị. Ngày 1/4, Ấn định lai thành phần và nhiệm vụ cơ quan hành chánh Xã và Ấp. Xã thuộc quyền Xã Trưởng. Hội đồng Xã thay Hội đồng Nhân dân Xã. Phó Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm họp báo và cho biết: đã bầu xong 4.598 Hội viên trong 589 xã, và 3.143 Trưởng Ấp và Phó trưởng Ấp trong 3.041 ấp. Từ nay đến cuối năm, sẽ bằu thêm cho 130 xã và 889 ấp. 

Ngày 2/4, Chiến dịch Phụng Hoàng của cảnh sát khám phá nhiều cơ sở kinh tài CS tại Bình Thuận. Ngày 7/4, TT Nguyễn Văn Thiêu đọc thông điệp trước Quốc Hội, xác nhận lập trường 6 điểm: (1) Cộng sản phải chấm dứt xâm lăng; (2) Cộng sản phải triệt thoái cán binh khỏi miền Nam; (3) Không được xâm phạm các xứ láng giềng để xâm nhập VNCH; (4) VNCH sẽ áp dụng chính sách hòa giải và đại đoàn kết; (5) Sự thống nhất quốc gia sẽ do toàn dân VN quyết định; (6) Phải có hệ thống kiểm soát quốc tế hữu hiệu chống xâm lăng CS. Cùng ngày 7/4, theo Trung Tâm Khuếch Trương Kỹ Nghệ, từ 1963 tới nay, số vốn đầu tư vào các ngành kỹ nghệ đã lên tới 17 tỷ bạc: 53% của tư nhân VN, 35% của chánh phủ, 12% của ngoại quốc. Ngày 19/4, tại Nha Trang, Không lực Mỹ chuyển giao cho Không Quân VNCH 1 phi đoàn phản lực HK A-37.

Ngày 21/4, trong lễ mãn khóa của 1.145 viên chức Xã, Ấp tại TTHL Cán bộ Quốc gia Vũng Tàu. TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: không lập đảng để làm đảng trưởng, chỉ lãnh đạo tổng quát các đảng phái chống Cộng mà thôi, không độc tài đảng trị. Cùng ngày 21/4, phi cơ C-47 chở quan khách dự lễ trên, khi cất cánh về Sài Gòn bị rớt xuống phi đạo và bốc cháy. Một số nhân vật bị thương. Ngày 25/4, tiểu đoàn 6  thuộc Trung đoàn 77 pháo binh HK chuyển giao trang bị cho quân đội VNCH, trước khi rút về Mỹ. Ngày 29/4, Hạ Viện biểu quyết khiển trách và ngưng trả lương cho Dân Biều Hồ Hữu Tường đã qua Pháp mà không trở về. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1969. Ngày 12/3, thông cáo của Bộ Nội Vụ: Thượng tọa Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hồng bị truy tố trước tòa án Quân sự Mặt trận Vùng III về tội: chứa chấp phản nghịch, oa trữ võ khí và tài liệu bất hơp pháp, tán trợ đào binh và bất phục tòng. Ngày 15/3, Tòa án Quân sự lưu động vùng III tuyên phạt Thượng tọa Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng 10 năm khổ sai, từ 3 năm tù ở đến 20 năm khổ sai 8 sinh viên bị bắt tại cư xá Quảng Đức đường Công Lý, Sài Gòn. Cư xá này bị tịch thu.Ngày 16/3, Lễ cầu nguyện tại chùa Ấn Quang cho Thượng tọa Thích Thiện Minh. Sau lễ buổi họp báo, Thượng tọa Thích Trí Quang tuyên bố: người Mỹ phải chịu trách nhiệm về vụ án Thích Thiện Minh. Cùng ngày 1/3, Đoàn Sinh viên Phật tử gửi thư lên TT Nguyễn Văn Thiệu, các Chủ tịch Thượng và Hạ Viện, cùng Thủ tướng Trần Văn Hương, phản đối vụ khám xét trụ sở Thanh niên Phật tử và bắt giữ Thượng tọa Thích Thiện Minh cùng nhiều sinh viên cư ngụ tại nơi đây.

Ngày 17/4, Lực Lượng Đại Đoàn Kết tuyên bố: chấp nhận kế sách hòa bình 6 điểm của TT Nguyễn Văn Thiệụ, và sẵn sàng đáp ứng sự tập hợp chánh đảng do Tổng Thống đề xướng. Ngày 19/4, tại Viện Đại học Cần Thơ, hội thảo về hiện tình đất nước. Hơn 200 người thuộc giới trí thức tham dự. Ngày 28/4, sau 3 ngày hội thảo, 10 đảng phái và đoàn thể thỏa hiệp lập một Mặt trận đứng về phe cầm quyền: Đại Việt Cách Mạng của Hà Thúc Ký; Dân Chủ Xã Hội của Trình Quốc Khánh; VN Phục Quốc Hội của Nguyền Thành Phương; Quốc Dân  Liên Hiệp của Huỳnh Kim Niên; Liên Minh Dân Tộc Xã Hội Cách Mạng của Ngô Ứng Tài; Cư sĩ Phật Tử VN của Phạm Ngọc Thanh; Hiệp Hội Công Nông của Trần Quổc Bửu; Nhân Xã Đảng của Trương Công Cừu; Hội Cựu Chiến Sĩ Địa Phương Quân và Nghĩa Quân; Hội Phụ Lão chống Cộng.  

NẠN NHÂN, TỴ NẠN CS. NĂM 1969. Ngày 28/3, Tại Huế, Địa phương quân tìm thấy tại Phú Thứ hầm chôn 135 xác nạn nhân bị trói trong cuọc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968. Ngày 31/3, đám táng tập thể hơn 100 nạn nhân cuộc tấn công Tết Mậu Thân tại nghĩa địa Dưỡng Mong, Thừa Thiên. Ngày 10/4, tại Thừa Thiên, lại tìm thấy 43 tử thi nạn nhân vụ tấn công Tết Mậu Thân ở ấp Diên Đại quận Phú Thứ. Ngày 15/4, tại Thừa Thiên, đám tang tập thể 219 nạn nhân bi sát hại trong dịp Tết Mậu Thân thi thễ được tìm thấy ở Phú Thứ, Phú Vang v.v... được đưa đến cải táng tại chân núi Thiên Thai, quận Nam Hòa. 

Sydney ngày 26 tháng 4 năm 2024

 

Bài 118: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 5-6/1969.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1969. Ngày 3/5, Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ tuyên bố: HK sẽ có thể bắt đầu rút quân nếu có một trong 3 điều kiện sau: thỏa hiệp về sự triệt thoái song phương; quân lực VNCH tăng cường để tiếp tục chiến đấu; BV và VC xuống thang chiển tranh. Ngày 4/5, TT Nixon mong ước: Quốc hội và quốc-dân HK hãy để cho chánh phủ rộng tay tìm cách mềm dẻo giải quyết vấn đề chiến tranh tại VN, đừng gây áp lực khiến cho tình thế khó khăn hơn. Ngày 6/5, nhiều nhân vật thuộc chánh quyền Nixon thuyết phục những gỉớỉ đang nóng lòng muốn HK rút quân ngay khỏỉ VN là cần để Tổng Thống HK theo đuổi chánh sách mềm dẻo và thích ứng. Ngày 9/5, Bộ Ngoại giao VNCH thông cáo: 10 điểm của phe CS đưa ra tại Ba Lê trong phiên họp thứ 16, chỉ là 4 điểm của BV cộng vởi 5 điểm cũ của MTGPMN. Như vậy, vẫn trái ngược quan điểm của VNCH. Ngoại trưởng HK William Rogers tuyên bố: trong 10 điểm của phe CS có những điểm không thể chấp nhận, song cũng có những điểm có thể cứu xét.

Ngày 12/5, Tướng Abrams đột ngột về Mỹ trình bày với TT Nixon tình hình quân sự tại VN, rồi lại trở về Sài Gòn cấp tốc. Ngày 13/5, TT Nixon đọc diễn văn công bố kế hoạch hòa bình 8 điểm: (1) BV và Đồng Minh sẽ bắt đầu rút quân ngay sau khi có thỏa hiệp; (2) nếu 12 tháng sau chưa rút hết, sẽ tới đóng ở những địa điểm được chỉ định và không tác chiến; (3) sẽ rút song phương tất cả và cùng lúc, khỏi cả Mên Lào; (4) sẽ có cơ quan kiểm soát quốc tế; (5) Cơ quan này sẽ hoạt động theo chương trình được 2 bên thỏa hiệp; (6) bắt đầu tổ chức tổng tuyển cử với kiểm soát quốc tế; (7) trao đổi tù-binh; (8) hai bên cam kết tôn trọng các hiệp định Genève về VN và Mên Lào. Cùng ngày 13/5, Ngoại trưởng HK Wiliam Rogers, tới Sài Gòn để hội đàm với chánh giới VNCH tuyên bố tại Tân Sơn Nhất sẽ không nhượng bộ về các mục tiêu căn bản. Ngày 15/5, Quân số HK tại VN: 542.500. Ngày 16/5, TT Nixon cứu xét kế hoạch phát triển kinh tế hậu chiến tại VN, do nhóm Lilienthal-Vũ Quốc Thúc soạn thảo.

Ngày 19/5, Ngoại trưởng HK William Rogers, sau 4 ngày thăm VNCH, rời Sài Gòn đi Vọng Các họp hội nghị Liên Phòng Đông Nam Á SEATO. Bộ trưởng Quốc phòng HK Melvin Laird kêu gọi BV và MTGPMN thả các tù binh Mỹ hoặc ít nhất hãy dành cho họ một sự đối đãi nhân đạo. Hiện có 1.300 quân nhân Mỹ mất tích hoặc bị bắt, trong số đó 800 là phi công. Ngày 20/5, Tòa Bạch ốc loan báo: TT Nixon sẽ tới gặp TT Nguyên Văn Thiệu ngày 8-6-69 tại đảo Midway trên Thải Bình Dương. Cùng ngày 21/4, Thông cáo chung của 14 nước họp hội nghị Liên Phòng Đông Nam Á tại Vọng Các: ủng hộ chánh sách của HK tại VN; Mỹ và Đồng Minh sẽ chỉ triệt binh nếu Cộng quân cũng triệt thoái theo một lịch trình thỏa hiệp. Ngày 23/5, Hội nghị Tổng trưởng 7 quốc gia Đồng minh tham chiến tại VN, nhóm họp tại Vọng Các. Cùng ngày 23/5, MTGPMN hội họp mật để thành lập một Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời.  

Ngày 23/5, Phát ngôn viên Mỹ tuyên bố về 9 điểm thuộc chính sách HK: (1) việc giao trả Okinawa cho Nhật sẽ do hại chánh phủ Mỹ-Nhật thỏa hiệp; (2) không chánh phủ liên hiệp nào phải thành lập tại VN trước khi có hòa bình; (3) sau khi có hòa bình, Mỹ tán thành cuộc tổng tuyên cử tại miền Nam VN với sự kỉểm soát quốc tế; (4) lập trường của Mỹ về sự tham gia tuyển cử của MTGPMN sẽ co giãn, và vấn đề này tùy người miền Nam VN giải quyết; (5) sự triệt thoái của BV phải được thu xếp một cách rõ ràng hơn là thỏa hiệp ngầm về sự ngựng oanh tạc BV; (6) HK không có ý cản trở Thủ tướng Lào tái lập chánh phủ liên-hiệp; (7) HK sẽ tham khảo ý kiến Đồng minh ở mọi giai đoạn hội đàm tại Ba Lê; (8) HK sẽ tiếp tục giữ lời cam kết đối với tổ chức Liên phòng Đông Nam Á, Thái Lan, và các nước Á Đông trong công cuộc chống phiến loạn; (9) HK nhận rằng sẽ có lơi, nếu một vài quốc gia Á Đông như Thái và Phi cải thiện được bang giao với Trung Cộng. 

Cùng ngày 24/5, Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Melvin Laird tuyên bố: địch nói đến hòa bình mà vẫn tăng các vụ tấn công. HK xúc tiến nhanh Việt hóa chiến tranh, phòng trường hợp cuộc hội đàm tại Ba Lê không đem lại kết quả. Cũng ngày 24/5, Hội nghị Tổng trưởng các Đồng minh tham chiến tại VN, nhóm họp tại Vọng Các, bác bỏ mọi mưu toan cưỡng bách VNCH chấp nhận một chánh phủ lỉên-hiệp với CS, và hỗ trợ nhân dân VNCH định đoạt số phận của mình. Ngày 26/5, Bộ trưởng Quốc phòng HK, Melvin Laird tuyên bố để trả lời những chính khách chỉ trích chiến lược Mỹ: nếu giảm hơn nữa các cuộc hành quân, số thương vong Mỹ sẽ còn tăng, phải giữ áp lực tối đa đối với Cộng quân. Tòa Bạch ốc xác nhận: từ ngày TT Nixon nhậm chức, các cuộc hành quân HK không gia tăng, trái lại, phe CS vẫn tiễp tục leo thang chiến tranh. Cùng ngày 27/5, Bộ trưởng Quốc phòng Úc tuyên bố: từ 1963 tới hết 1968, Úc đã phải chi về sự tham chiến tại VN 76.354.000 Mỹ-kim. 

Ngày 28/5, Tướng Maxwell Taylor, cựu Đại sứ HK tại VN, tuyên bố: rút quân, là làm yếu thế HK tại Hội nghị Ba Lê; không hiểu vì sao muốn rút quân giữa lúc đang còn có thế mạnh. Ngày 30/5, Phó TT Mỹ Agnew đọc diễn văn tại nghĩa trang Arling­ton xác nhận: quân Mỹ ở Đông Nam Á bảo vệ tự do cho VN và cho cả HK. “Obligation to freedom extends beyond our consciences, our communities and I he border of our country. Thus, when our citizens question why we defend the integrity of free nations in Southeast Asia, the answer is that we are defending not only their integrity, but ours”. Ngày 31/5, theo phát ngôn viên tòa Bạch ốc, không có sự bất đồng ý kiến giữa TT Nixon và TT Nguyễn Văn Thiệu, và 8 điếm đề nghị của TT Nixon đã được thỏa hiệp ngay trong khi soạn thảo diễn văn 14-5. Ngày 1/6, có 9 Thượng nghị sĩ và 36 Dân biểu HK lập bản kíến nghị yêu cầu chánh phủ Nỉxon triệt binh sớm khỏi VNCH, dù là đơn phương, hoặc phải chấp nhận sự liên hiêp của VNCH với MTGPMN.

Ngày 4/6, TT Nixon đọc diễn văn tại trường Không quân Colorado Springs chống thuyết cô lập, rằng HK phải tiếp tục là nguồn gốc sự lãnh đạo thế giới và của sức mạnh để bảo vệ hòa bình và tự do. HK phải khỏe và sẵn sàng chấp nhận nguy cơ. Ngày 4/6, Thượng nghị sĩ Mỹ Fulbright công kích kịch liệt chủ trương của TT Nixon, rằng HK vẫn muốn đóng vai trò cảnh sát của thế giới, và không chịu từ bỏ sự can thiệp vào miền Nam VN. Ngày 5/6, Ngoại trưởng HK William Rogers kêu gọi MTGPMN thảo luận cùng chánh phủ VNCH về vấn đề tuyển cử; rằng HK sẽ thừa nhận bất cứ chánh quyền nào do dân miền Nam tự ý bầu lên. Ngày 6/6, TT Nixon hội họp với các Tổng trưởng và Cố vấn về các vấn đề cần thảo luận tại Midway với TT. Nguyên Văn Thiệu. Báo chí ngoại quốc và VN tiếp tục bàn tán về vấn đề rút sớm 50.000 hay 100.000 quân HK khỏi VN, vẫn chưa giới chức Mỹ xác nhận hay phủ nhận. 

Ngày 9/6, Tại Midway, TT Nguyễn Văn Thiệu hội đàm riêng với TT Nixon từ 10 giờ 30 địa phương tới 13 giờ 30, hiện diện Cố vấn Kissinger và Phụ tá Nguyên Phú Đức. Từ 14 giờ 30 mới nhóm họp cả 2 phái đoàn Việt và Mỹ. TT Nixon tuyên bố: vì quân đội VNCH có thể thay thế quân đội Mỹ, bắt đầu cho rút 25.000 quân HK trước tháng 8, rồi sẽ liệu sau về sự triệt thoái nhiều hơn, tùy theo sự biến chuyển của 3 sự kiện đã vạch rõ: sự tiến bộ về huấn luyện và trang bị quân lực VNCH; về cuộc hội đàm Ba Lê; mức độ chiến cuộc. Dù sao, không hề quyềt định gì nguy hại đến an ninh của quân lực HK và Đồng Minh, và đến các mục tiêu chung tại VNCH, là thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam (I want to emphasize to fundamental principles : no action will be taken which threatens the safety of our troops and the troops of our Allies) and second, no action will be taken which endangers the attainment of our objectives, the right of self determination for the people of South Viet Nam). 

Cùng ngày 9/6, Thông cáo chung Việt Mỹ sau hội nghị Midway: (1) bác bỏ mưu toan ép buộc VNCH chấp nhận một thể chế nào không đếm xĩa đến nguyện vọng của dân tộc VN, tỉ như một chảnh phủ liên hiệp với CS; (2)  bác bỏ mưu toan của CS nhằm ấn định kết quả của những cuộc tuyển cử trong tương lai, trước khi những cuộc tuyển cử này thực hiện; (3) xác nhận lập trường của 7 Quốc gia họp tại Vọng Các về sự triệt thoái song phương, và sự triệt thoái của CS khỏi cả Mên Lào. Ngày 10/6, Bộ trưởng Quốc Phòng HK, Melvin Laird, cho biết: chánh phủ Mỹ dự trù 1,25 tỷ Mỹ-kim để tối tân hóa quân  lực VNCH: quân lực này từ 650.000 (1968) lên tới 857.000 hiện nay và có thể lên 875.000 người vào cuối năm nay.Melvin Laird còn cho biết: một phần 25.000 quân rút khỏi VN sẽ về Mỹ, một phần sẽ ở lại các căn cử Mỹ tại Thái Bình Dương. Ngày 11/6, TT Nixon tuyên bố nhân dịp từ Midway về Hoa Thịnh Đốn: vừa rút dần quân vừa nói chuyện tại Ba Lê, chúng ta đã mở rộng cửa đi tới hòa bình, bây giờ đến lượt BV đáp ứng. Nếu không, BV sẽ chịu trách nhiệm. 

Cùng ngày 11/6, Nha Báo chí phủ Tổng Thống cho biết: MTGPMN loan tin thành lập một chánh phủ Cách mạng Lâm thời, vớỉ một Hội đồng Cố vấn. Theo tin đăng trên báo Tiền Tuyến, Chánh phủ CMLT kia gồm có: Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Ưng Ngọc Kỷ, Hồ Thu, Lê Văn Phả, Nguyễn Ngọc Thương, và một sổ người thuộc Lỉên minh Trịnh Đinh Thảo: Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết, Tôn Thất Dương Kỵ, Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị, Lê Hiếu Đằng, Lê Văn Giáp, Trương Như Toản. Cùng ngày 11/6, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao HK tuyên bố: Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời chỉ là rượu cũ trong bình mới (a ca­se of old wine in a new bottle) không ảnh hưởng gì đến cuộc hội đàm Ba Lê. Ngày 17/6, theo Bộ Quốc Phòng HK, 16.000 quân rút khỏi VN sẽ được phân phối đi đóng tại Hawa'i, Okinawa, và Nhật Bản, 8.000 được đưạ về Mỹ giải ngũ, một phần võ khí trang bị để lại cho quân đội VNCH. 

Ngày 19/6, TT Nixon họp báo và tuyên bố: chưa có tiến bộ nào về cuộc hội đàm Ba Lê, nhưng sẽ có trong vòng 2, 3 tháng tới; HK ủng hộ chánh quyền hiện hữu của VNCH, và sẽ không vì áp lực nào mà rút sự ủng hộ đó; MTGPMN nên chấp nhận nguyên tắc bầu cử với sự kiểm soát quốc tế; HK còn có thể rút nhiều và mau hơn, nhưng còn tùy sự tiến triền của tinh hình hội đàm, canh tân quân lực VNCH và mức độ chiến cuộc. Ngày 22/6, theo Bộ Quốc Phòng HK, hiện nay HK có 2.170 căn cứ rải rác trên 29 quốc gia, với kinh phí 13,5 tỷ Mỹ kim năm 1968, và quân số đồn trú ở nước ngoài 1.074.983 người. 

HOÀ ĐÀM BA LÊ. NĂM 1969. Ngày 8/5, tại Ba Lê, phiên họp thử 16 hội đàm về VN. Cabot Lodge nhắc lại: triệt binh song phương; thảo luận về cả chánh trị lẫn quân sự; kiểm soát quốc tế. Nguyễn Xuân Phong xác nhận: giảm mức chiến tranh; tôn trọng vùng phi quân sự và biên giới; chấm dứt xâm lăng VNCH; thảo luận về sự triệt thoái song phương các lực lượng ngoại lai. Trần Bửu Kiếm đưa ra chương trình 10 điềm: (1) tôn trọng chủ quyền độc lập, thống nhất và sự toàn vẹn lãnh thổ đúng theo Hiệp định Genève 1954; (2) Mỹ phải triệt thoái vô điều kỉện tất cả quân đội, kể cả Đồng minh, các căn cứ quân sự đều phải gỡ bỏ; (3) vấn đề quân lực VN tại miền Nam phải được giải quyết giữa người VN với nhau; (4) nhân dân VN tự quyết về chế độ, bằng tuyển cử tự do, một Quốc hội Lập-hiến sẽ được thiết lập, một Hiến pháp được soạn thảo, một Chánh phủ Liên hiệp sẽ thành lập; (5) giữa ngày tái lập hòa bình và ngày tổng tuyển cử, không bên nào được cưỡng ép nhân dân miền Nam theo chế độ của mình; (6) Miền Nam phải theo chính sách đối ngoại trên nguyên tắc trung lập; (7) sự thống nhất sẽ thực hiện theo giai đoạn bằng những phương tiện hòa bình, thảo luận và thỏa thuận giữa hai miền, không có sự can thiệp của bên ngoài; (8) Nam và Bắc sẽ cam kết khước từ liên minh quân sự với nước ngoài; (9) vấn đề tù binh sẽ được thảo luận; (10) sự triêt thoái quân lực Mỹ phải được kiểm soát, sự kiểm soát này phải được thỏa thuận của các phe liên hệ. 

Ngày 11/5, Đại Sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố tại Ba Lê: sẵn sàng bàn về 10 điểm của phe CS, nếu họ chịu thảo luận về 6 điểm của TT Nguyễn Văn Thiệu. Hai bên thường dùng những chữ giống nhau nhưng hiểu theo nghĩa khác nhau. Ngày 16/5, tại Ba Lê, phiên họp thứ 17 cuộc hội đàm về VN, Đại sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố: không bác bỏ hẳn 9 điểm của MTGPMN, song có những điểm không thể chấp nhận. Trần Bửu Kiểm tuyên bố: 10 điểm là căn bản đàm thoại, nhưng có thể bàn cãi trên căn bản đó. Cùng ngày 20/5, tại Ba Lê, Xuân Thủy vẫn tuyên bố bác bỏ đề nghị rút quân song phương của HK. Ngày 24/5, tại Ba Lê, phiên họp thứ 18 cuộc hội đàm về VN. Cabot Lodge tuyên bố: 10 điểm của MTGPMN và 8 điểm của HK có nhiều chỗ tương đồng, có thể đem ra thảo luận. Xuân Thủy bác bỏ đề nghị triệt thoái song-phương, và chỉ trích kế hoạch Nixon, vì không nói đến thời hạn rút số quân còn lại sau 12 tháng, và không đả động đến độc lập và chủ quyền của VN. Ngày 26/5, Phát ngôn viên BV tại Ba Lê tuyên bố: Xuân Thủy không hề nhận rằng có những điểm tương đồng giữa các đề nghị của TT Nixon và của MTGPMN.

Ngày 27/5, Đại Sứ Phạm Đăng Lâm tuyên bố tại Ba Lê: sự đòi hỏi xóa bỏ một Hiến Pháp được nhân dân chấp thuận, là sự rất phi lý, phản dân chủ, không thể chấp nhận. Hiến Pháp VNCH không thể là một đề tài thương thuyết. Ngày 29/5, tại Ba Lê, phiên họp thứ 19 cuộc hội đàm về VN, Đại sứ Phạm Đăng Lâm bác bỏ yêu sách triệt binh đơn phương và thay thế chánh thể VNCH. Cabot-Lodge lại đòi BV rút quân khỏi VNCH, Lào và Mên cùng sự kiểm soát quốc tế về điểm này; đồng thời xác nhận HK vẫn ủng hộ chánh quyền hợp pháp của VNCH. Đại-diện BV và MTGPMN giữ quan điểm cũ.Ngày 5/6, Tại Ba Lê, phiên họp thứ 20 cuộc hội đàm về VN không có tiến triển tích cực. Ngày 12/6, Phiên họp thứ 21 cuộc hội đàm Ba Lê, Nguyễn Thị Bình vẫn đòi lập Chánh phủ hòa bình, và triệt thoái quân đội HK vô điều kiện. Không có tiến bộ nào. Ngày 18/6, Phiên họp thứ 22, cuộc hội đàm Ba Lê về VN kéo dài trong 6 giờ 15 phút. Mỗi bên giữ lập trường quen thuộc. Ngày 26/6, Phiên họp thứ 23 cuộc hội đàm Ba Lê về VN. Lập trường hai bên vẫn cứng rắn.     

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1969. Ngày 7/5, có 2 vụ ném lựu đạn vào phi trường Tân Sơn Nhửt và đường Trần Hưng Đạo Sài Gòn. Ngày 8/5, tại Đô thành, mìn nổ ở Bưu Điện; ném chất nổ vào quân xa trên đường Duy Tân; mìn nổ trong một quán giải khát đường Nguyễn Văn Thoại, một xe hơi của tòa Đại sứ Hòa Lan bị đốt trên đường Phan Đình Phùng. Ngày 9/5, tại Thiên Thiên, 10.000 liên quân Việt-Mỹ hành quân về phía Tây-Nam, các đơn vị Nhảy Dù Mỹ vây đánh 3 tiểu đoàn BV và VC tại thung lũng A Shau (An Hậu). Ngày 12/5, đêm qua, 106 vụ phá hoại, tấn công, pháo kích của Cộng quân trên các Vùng Chiến Thuật. Riêng tại Sài Gòn-Gia Định: 10 vụ. Từ 21 giờ đêm qua, đến 5 giờ sáng nay, một toán VC xâm nhập trường học Bàn Cờ, mưu toan tấn công Chi cảnh sát gần đó. 3 giờ sáng Cộng quân bắn hỏa tỉễn vào bến Vân Đồn. Lúc 6 giờ cầu sắt trước chợ Bến Thành bị giật sập… 

Ngày 13/5, đêm qua, có 3 vụ ném lựu đạn, và 1 vụ pháo kích vào Sài Gòn-Gia Định. Giao tranh tại Dakto. Ngày 14/5, Lúc gần 17 giờ, tại đường Khổng Tử Chợ Lớn, 2 hành khách chết cháy và 3 người bị thương trên 1 xe buýt bị đốt cháy bởi 2 nữ đặc công võ trang đốt. Ngày 15/5, tại Thừa Thiên, giao tranh dữ dội giữa Liên quân Việt-Mỹ và 3 tiểu đoàn BV ở A Shau biên giới Lào Việt. Ngày 16/5, tại Sài Gòn một ổ đặc công bị bắt với 1 súng cối ở Cư xá Đô thành. Ngày 17/5, hành quân Toàn Thắng C/48 tại Long Khánh. Hành quân Liên Kểt 63 tại Quảng Ngãi. Các đơn vị thuộc Sư đoàn Bạch Mã Đại Hàn hành quân tảo thanh vùng phu cận Cam Ranh. Ngày 18/5, tại Thừa Thiên, giao tranh suốt ngày vùng A Shau biên giới Lào Việt. Theo Thiếu tướng Tư lịnh Sư đoàn 18BB, trong 12 ngày qua, từ 2 đến 3 Trung đoàn Cộng quân đã mở một loạt tấn công vào Túc Trung, La Ngà nhắm vào tỉnh lỵ Long Khánh.

Ngày 19/5, kịch chiến tiểp tục tại khu A Shau, Thừa Thiên. Ngày 20/5, giao tranh dữ đội tại Qụảng Nam. Có 8 phi-vụ B25 oanh tạc các địa điểm Cộng quân tại Kontum, Tây Ninh, Biên Hòa, Long Khánh, Bình Long. Giao tranh tại Bình Dương. Giao tranh dữ dội tiếp tục tại khu A Shau, Thừa Thiên. Theo Trung tướng Đỗ Cao Trí, Tư lịnh Vùng III Chiến thuật, thì trong vùng có chừng 45.000 quân BV do tưởng Song Hào chỉ huy, và có cả cố vấn Trung Cộng. Ngày 21/5, hành quân Toàn Thắng 14/C-18 tại Long Khánh. B 52 thực hiện 6 phi vụ oanh tạc các nơi tụ quân VC tại Kontum và Tây Ninh. Giao tranh tại Bến Tre. Ngày 24/5, theo nguồn tin quân sự VN, hiện nay ở địa hạt Tây Ninh có 2 sư-đoàn VC; các Công trường 1 và 9, cùng 1 tiểu đoàn cơ động và 1 đơn vị pháo binh. Ngày 27/5/, giao tranh từ 17 giờ đến nửa đêm tại Long An. 

Ngày 28/5, giao tranh từ trưa đến chiều tối tại Long An. Hành quân Dân Quyền 38-A quanh Dakto. Giao tranh tại Kontum. Ngày 29/5, Giao tranh suốt từ trưa đến chiều tại Xuân Lộc. Hành quân Toàn Thắng 3 và Speedy Express tại 3 tỉnh Long An, Kiến Hòa, Định Tường. Giao tranh suốt ngày tại Hậu Nghĩa. Hành quân Cameron Falls tại Quảng Trị. Ngày 30/5, B52 thực hiện 10 phi vụ oanh tạc các vùng tụ quân VC trong địa hạt Tây Ninh, Long Khánh, Phước Long, Kontum, Quảng Nam. Ngày 31/5, một đơn vị Cộng quân lọt vô ổ phục kích của Bộ binh HK tại Pleiku. Giao tranh tại Kiên Giang.

Ngày 3/6, Đại tá Josep. Conmy Jr, chỉ huy cuộc hành quân Liên quân Mỹ-Việt Apache Show (10.000 người) tại A Shau cho biết, tới nay đã có 825 Cộng quân tử thương, rằng phải tiêu diệt 5.000 Cộng quân tại vùng này, và ngăn chặn sự xâm nhập từ Bẳc Lào. Ngày 26/6, theo Đại Tá tỉnh trưởng Tây Ninh, trong các cuộc tấn công 6/6 và 18/6 nhằm chiếm tỉnh lỵ để trình diện Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời. Các sư đoàn 1 và 9 VC vẫn còn lẩn quất quanh Tây Ninh. Ngày 27/6, tại Tây Ninh, giao tranh gần tỉnh lỵ, trận đánh kẻo dài suốt buồi sảng tới quá trưa. Ngày 30/6, trong 24 giờ qua, B52 thực hiện 8 phi xuất oanh tạc các vị trí Cộng quân tại Bình Long, Tây Ninh, Kontum.     

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1969. Ngày 2/5, Phi đoàn 211 của Không đoàn 74 Chiến thuật tiếp nhận những trực thăng phản lực UH-1 chở được 10 người, bay nhanh 224 cây số mỗi giờ, bay cao 3.700 thước, tầm hoạt động 320 cây số. Ngày 3/5, tại Đà Lạt, lễ mãn khóa Sĩ quan Chiến tranh Chính tri: 182 sĩ-quan tổt nghiệp sau 2 năm thụ huấn. Ngày 4/5, tại Vũng Tàu, lễ mãn khóa sau 13 tuần thụ huấn của 3.316 cán bộ Xây Dựng Nông thôn. Ngày 5/5, Phụ cấp hàng tháng cho các viên chức Xã và Ấp: Chủ tịch Hội đồng Xã 4.000$, Phó Chủ tịch 3.000$, Tồng thư ký 2.700$. Phụ cấp đặc biệt từ 500$ đến 1.500$ cho nhân viên Ủy Ban. Mỗi phiên họp 300$ mỗi ngày cho mỗi người. Ngày 6/5, tại Quảng Trị, khánh thành hệ thống dẫn thủy nhập điền Cam Lộ tưới tiêu khoảng 400 mẫu ruộng; kinh phí xây dựng 14 triệu đồng. Ngày 10/5, khánh thành tại Cam Ranh, khu cư xá công nhân bán trả góp gồm 1.500 căn nhà, trị giá gần 1 tỷ bạc do viện trợ Mỹ.

Ngày 16/5, Văn phòng phủ Tồng Thống cho biết, những điềm mà TT Nixon đề ra không trái ngược với tinh thần 6 điểm căn bản của VNCH, và chánh phủ VNCH sẽ nghiên cứu kỹ càng với chánh phủ HK để thảo luận với phía bên kia. Ngày 21/5, Khánh thành cầu Thị Nghè, xây lại và mở rộng, dài 250 thước, rộng 20 thước, tốn 60 triệu bạc. Ngày 23/5, Quân lực VNCH, theo số tròn : 910.000 người gồm: 420.000 Chính qui Bộ binh; 20.000 Hải quân; 20.000 Không quân; 480.000 Địa phương quân. Ngoài ra, có 90.000 cảnh sát, 40.000 Dân sự Chiến đấu; 75.000 cán bộ võ trang. Ngày 27/5, TT Nguyễn Văn Thiệu hướng dẫn một phái đoàn 28 người qua thăm Đại Hàn và Đài Loan. Theo Ngày 28/5, TT Nguyễn Văn Thiệu, nhận học vị Tiến Sĩ danh dự Luật Khoa Đại Học Hán Thành. 

Ngày 29/5, Bộ Ngoại Giao cho biết: không bao giờ VNCH chấp nhận một chánh phủ liên hiệp với CS hoặc một nội các Hòa bình theo yêu sách của CS. Ngày 30/5, Thông cáo chung Hàn-Việt: vấn đề VN phải được giải quyết trên căn bản thông cáo chung Manille 1966 và chương trình 8 điểm của TT Nixon, không thể có sự cưởng bách dân tộc VN chấp nhận một sự liên hiệp với CS. Trong cuộc họp báo trước khi rời Hán Thành, TT Nguyên Văn Thiệu tuyên bố: không thể liên hiệp với CS, không chấp nhận việc triệt binh đơn phương của Đồng Minh. Ngày 31/5, TT Nguyễn Văn Thiệu hội đàm với TT Tưởng Giới Thạch. Ngày 1/6, kể từ hôm nay, Hải quân VNCH thay thế Hải quân HK trách nhiệm hải tuần và giang tuần 700 cây số miền duyên hảỉ thuộc Vùng IV Chiến thuật. Tổ hợp Công Ty Mỹ RMK-BRJ hiện dùng 4.000 công nhân ngoại quốc, và 24.000 công nhân VN sẽ thay dần người từ nay đến 1971. 

Cùng ngày 3/6, trên đài truyền hình VN, TT Nguyễn Văn Thiệu tường trình với quốc dân kết quả hai cuộc công du Đại Hàn và Đài Loan, rằng Hai Tổng thống Phác Chinh Hy và Tưởng Giới Thạch đều thấy không thể liên hiệp với CS, và Đồng Minh không thê rút quân đơn phương. Cùng ngày 7/6, TT Nguyễn Văn Thiệu nhóm họp với nhiều Tổng trưởng và Cố vấn để chuẩn bị cuộc hội đàm Midway với TT Nixon. Ngày 8/6, TT Nguyễn Văn Thiệu lên đường phó hội Midway, cùng một số Tổng trưởng. Cũng ngày 9/6, Họp báo truyền hình tại dinh Độc Lập, TT Nguyễn Văn Thiệu cho biết: (1) đã thỏa thuận với TT Nivon về sự rút 25.000 quân HK trước thảng 8; (2) quân đội VNCH sẽ được tăng cường để thay thế; (3) không có vấn đề liên hiệp với CS; (4) Hiến pháp VNCH được tôn trọng; (5) HK sẽ giúp đỡ về mọi mặt quân sự và xây dựng nông thôn cùng phát triên kinh tế. 

Ngày 13/6, Tối cao Pháp Viện phán quyết về phúc nghị Ngân Sách Quốc Gia 1969: Về hình thức: Quốc Hội khộng họp được quá bán nghị sĩ để bác lời yêu cầu của Hành Pháp; Về nội dung: thì đáng lẽ phải tiếp tục và biểu quyết… Nhưng Tổng Thống đã ban hành dự luật khi chưa được Quốc Hội biểu quyết. Như vậy, điều 45-2e của Hiến Pháp đã không được theo đúng. Ngày 16/6, thiết lập một Trung Tâm Nghiên cứu Luật Pháp thuộc Bộ Tư Pháp, với nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến luật pháp, tương tự như Trung Tâm Luật Pháp thuộc Tổi Cao Pháp Viện (ND 386-BTP7ND). Cùng ngày 20/6, theo Tổng trưởng Cải cách Điền Địa, từ nay đến cuối năm 1969, chánh phủ sẽ hoàn tất việc cấp phát 147.211 mẫu ruộng truất hữu cho nộng dân. Chánh phủ còn có dự án mua một triệu mẫu của chủ điền, giá 45.000$ một mẫu, để phát không cho người cày cấy, tổn 46,8 tỷ bạc. Ngày 24/6, Hải quân VNCH vừa tiếp nhận 64 tàu tuần giang HK gồm 35 quân vận đĩnh, 16 kinh tốc đĩnh, 2 hỏa vận-đĩnh. 

Từ tháng 6-1968 đến nay, Hải quân VNCH đã tiếp nhận 167 tàu đủ loại của HK. Ngày 25/6, tại Đô thành, mìn nổ sau Ty Bưu Điện đường Hai Bà Trưng. Khánh thành xa lộ vòng đai Sài Gòn, đoạn từ An Lạc tới Quang Trung, dài 14 cây số 300, phí tốn 400 triệu. Ngày 27/6, ký kết tại Bộ Ngoại giao phụ ước viện trợ gạo: 150.000 tấn trị giá 25,5 triệu Mỹ-kim. Như vậy, tổng số gạo do HK viện trợ từ 1965 lên tới 1.800.000 tấn. Đồng thời, cũng ký kết thỏa hiệp viện trợ 10 triệu Mỹ-kim để thi hành chương trình cấp phát ruộng đất. Ngày 28/6, theo Tổng Liên Đoàn Lao Động, 2.000 xe 3 bánh Dai­hatsu được nhập cảng để hữu sản hóa, theo chương trình của Tổng Liên Đoàn. Ngày 29/6, một Dương vận hạm HK/(LST603) trọng tải 3.700 tấn tại Guam được chuyển giao cho Hải quân VNCH, đặt tên Vũng Tàu 503. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1969. Cùng ngày 23/5, Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội chánh thức thành lập, và gồm các đảng Đại Việt Cách Mạng, VN Nhân Xã, Lực Lượng Đại Đoàn Kết, VN Quốc Dân Đảng, Liên Minh Dân Tộc Cách Mạng Xã Hội, VN Dân Chủ Xã HộiNgày 24/5, Hoán giảm còn 3 năm tù hình phạt 10 năm khồ sai và 5 năm cấm cố cho Đỗ Xuân Hàng, pháp danh Thích Thiện Minh sinh năm 1921 tại Quảng Trị. Ngày 25/5, tại rạp Rex Sài Gòn, lễ trình diện Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội gồm 6 chính đảng: TT Nguyễn Văn Thiệu là chủ tịch Hội Đồng Mặt Trận. Chủ trương: 1) tôn trọng quyền đối lập; 2) chiến thắng Cộng sản. Mặt Trận có Hiến chương Hiệu kỳ: cờ nền vàng, 6 sao đỏ ở giữa. Cùng ngày 28/5, Luật sư Trương Đình Dzu, bị giam tại Côn Sơn, được phép di chuyển về Sài Gòn để chữa bịnh tim.

Ngày 2/6, Phái đoàn Liên tôn Mỹ đi thăm cảc trại cải huấn, tiếp xúc với Thượng tọa Thich Thiện Minh, Luật sư Trương Đình Dzu… Bộ Nội Vụ giải thích với Phái đoàn về chánh sách bắt giữ người…. Ngày 15/6, Phong Trào Tân Dân, Mặt Trận Dân Chủ Cứu Nguy Dân Tộc, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến, Mặt Trận Công Dân cảc Tôn Giáo, Lực Lượng Dân Tộc Việt, hội thảo tại Sài Gòn về tình hình xử sở và lập Liên minh đối lập. Ngày 6/6, Thượng Viện VNCH ra Tuyên cáo xác nhận lập trường: triệt thoái song phương các quân lực không phải của miền Nam; tái lập vùng phi quân sự; áp dụng hiệp định Genè­ve về Mên và Lào; bác bỏ liên hiệp với CS; hợp nhất Nam Bắc theo tổng tuyển cử với sự giám sát quốc tế. 

Ngày 7/6, Hạ Viện VNCH ra tuyên cáo: bác bỏ giải pháp liên hiệp vởi CS, chống sự triêt thoái đơn phương của quân đội Đồng minh; bảo vệ Hiến Pháp VNCH; phản đối mọi cuộc tuyển cử tồ chức ngoài phạm vi Hiến Pháp. Ngày 21/6, Tuần báo Newsweek, sổ đề ngày 25/6 bị cấm bán tại Sài Gòn, có đăng bài VN Expdux, trong đó kể việc bà Nguyên Văn Thiệu tậu nhà tại Thụy Sĩ và cho 3 đứa con lánh nạn tại La Mã. Văn phòng bà Nguyễn Văn Thiệu cải chính. 

NẠN NHÂN, TỴ NẠN CS. NĂM 1969. Ngày 1/5, tại Thừa Thiên, trong 10 ngày qua, nhà chức trách địa phương tìm thấy thêm 349 xác nạn nhân vụ tấn công Tết Mậu Thân. Ngày 5/5, đám tang tập thể 298 nạn nhân vụ tấn công dịp Tết Mậu Thân, cử hành tại nghĩa trang Ba Đồn, Huế. Ngày 27/5, Bộ Xã Hội và Cứu trợ, hiện còn 862.037 đồng bào tị nạn trong các trại tạm trú. Đã cấp phát 547.966.750$ trợ cấp trong 4 tháng đầu năm 1969. Ngày 31/5, kết thúc chiến dịch Xuân Quê Hương mở từ 7-2-69 có trên 9.945 hồi chánh gồm: 6.568 quân nhân, 2.231 cán bộ. Ngày 8/6, hiện có 10.792 hồi chánh được định cư trong 38 làng chiêu hồi. Mỗi gia đình được cấp nhà ở, gia súc, hạt giống, phân bón và 15.750$ tiền ăn trong 6 tháng. Ngày 20/6, Lễ cải táng tập thể 60 nạn nhân bị sát hại trong vụ tổng công kích Tết Mậu Thân tại xã Triệu Thạch, quận Triệu Phong, Quảng Trị.

Sydney ngày 27 tháng 4 năm 2024

 

Bài 119: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HƯƠNG: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 7-8/1969.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1969. Ngày 3/7, Bộ Tư lịnh HK tại VN xác nhận: đã cho lịnh phá hủy những căn cứ trọng pháo của Cộng quân đặt trên đất Mên thường yểm trợ cho trại Ben Hét cách biên giới 11 cây số. Ngày 8/7, tại Tận Sơn Nhứt, tiểu đoàn 3/60 Sư đoàn 9 HK lên đường về nước. Dự lễ tiễn đưa, có TT Nguyễn Văn Thiệu, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ và nhiều nhân vật Việt Mỹ. Ngày 9/7, trong hai tuần qua, chính giới, báo giới HK bàn tán nhiều song chưa đi tới kết luận nào chắc chắn BV đã rút quân thật chưa? Sự giảm thiểu các vụ tấn công có phải là triệu chứng BV muốn hòa thiệt không? Ngày 11/7, TT Nixon ca ngợi: sáng kiến của TT Nguyễn Văn Thiệu thiệt đầy đủ, xứng đáng là của một chính khách và rất thích ứng với sự giải quyết vấn đề VN bẳng biện pháp chánh trị. Ngày 12/7, Bộ Ngoại giao BV gửi giác thư cho các tòa Đại sứ tại Hà Nội: quân đội Mỹ phải rút hết, phải lập một chánh phủ lâm thời liên hiệp để tổ chức tuyển cử tại miền Nam VN. 

Ngày 13/7, Đài phát thanh VC và đài Hà Nội không chấp nhận 6 điểm của TT Nguyễn Văn Thiệu. Đài Hà Nội vẫn đòi quân Mỹ rút hết và lập chánh phủ Hòa bình tại miền Nam VN. Ngày 15/7, Chủ tịch Hội đồng Tham Mưu Mỹ, tướng Earl Wheeler lại qua VN xem xét tình hình hiện được coi như lắng dịu, để kết luận về vấn đề rút thêm quân Mỹ khỏi VN. Ngày 16/7, Lúc 21 giờ 25, trên Đài truyền hình Mỹ tại VN, giữa phim Mission Impossible, thấy tin báo: phi thuyền Apollo 11 đã được phóng lên không gian lúc 13 giờ 32 Quốc tế tức 9 giờ 32 HK, Phi hành gia Neil Armstrong, Michael Collins và Edwin E. Aldrin. Hơn 1 triệu người tới dự tại Cape Kennedy. Các bộ phận chính của phi thuyền: bộ phận chỉ huy Command Ship gọi là Columbia; và bộ phận phải đáp xuống mặt trăng Lunar Module mang tên Eagle. Chuyến bay dài 8 ngày, 3 giờ, 19 phút; ngày chủ nhật 20-7 Arms­trong và Adrin sẽ xuống nguyệt cầu, và trong 2 giờ 30 phút sẽ đi trên mặt trăng, và ngày thứ năm 24-7 hồi 16 giờ 51 sẽ trở về trái đất trên Thái Bình Dương bằng Co­lumbia, còn Eagle sẽ bị phóng lên quĩ đạo mặt trời.

Ngày 18/7, Phi thuyền Apollo-11 ra khỏi vùng hấp lực của trái đất, cách địa cầu 345.045 cây số, và cách mặt trăng 69.997 cây số. Tốc độ bay chỉ còn 3.278 cây số mỗi giờ. Cùng ngày 18/7, U-Thant quyết định: Liên Hiệp Quốc nghỉ việc ngày thứ hai 21-7 để chào mừng cuộc đổ bộ xuống mặt trăngCũng ngày 18/7, Thượng nghị sĩ Edward Kennedy lái xe đâm xuống ao gần nữa đêm. Cô Mary Jo Kopechne, 29 tuồi, cựu thư ký của Bob Kennedy, ngồi ghế sau, bị chết đuối. Theo tin, Reuter Thượng nghị sĩ Edward Kennedy chỉ báo cho cảnh sát tai nạn chết người 9 giờ sau khi xảy ra vụ xe đâm xuống ao. Ngày 20/7, Lúc 16 giờ 23 GMT, bộ phận Eagle của phi thuyền Apollo mở bốn chân để chuẩn bị đổ bộ xuống mặt trăng. Lúc 17 giờ 47, Eagle tách khỏi bộ phận chỉ huy Columbia để bay từ từ xuống Biển Yên Lặng trên nguyệt cầu vào lúc 20 giờ 17 phủt GMT. Luna-15 của Nga Sô bay tới sát mặt trăng, chỉ cách 16 cây số. Cùng ngày 20/7, Tướng Wheeler trở về HK sau 5 ngày quan sát tại VN. Theo ông, chưa thể giao phó hết gánh nặng chỉến tranh cho quân lực VNCH trong năm 1970. 

Ngày 21/7, Cảnh sát trưởng Dominik Arena yêu cầu truy tố Edward Kennedy. Toà án thị trấn Edgarwoot chờ kết quả điểu tra, nếu quả Edward Kennedy đã bỏ mặc không cứu cô Kopechne thì sẽ bị án tù khó lòng ra tranh cử tổng thống. Cùng ngày 21/7, Đại tá Robert B. Rheault, chỉ huy Lực lượng Đặc biệt Mũ Xanh Special Forces, bị cất chức vì liên can đến vụ sát hại một nhân viên VN chuyên việc tình báo, tại Nha Trang. Hôm nay, 21-7-69, tức 8 tháng 6 Kỷ Dậu, bộ phận Eagle của phi thuyền Apollo 11 từ từ đáp xuống mặt trăng và đổ bộ lúc 20 giờ 17 phút quốc tế GMT ngày 20-7. Lúc 2 giờ 56 phút 20 giây GMT, tức 10 giờ 56 phút 20 giây tại Sài Gòn, Neil Armstrong ra khỏi Eagle và bước xuống mặt trăng đi bộ, nhặt đất, nói chuyện với đài kiểm soát ở địa cầu, đáp lời ca ngợi của TT Nixon và đứng nghiêm chào. Đến 3 giờ 15 phút GMT, tức 11 giờ 15 phút tại Sài Gòn, Aldrin cũng bước xuống. Họ chập chững đi lại quanh chân Eagle, lượm đá, cắm cờ Hoa Kỳ, hình ảnh họ ần hiện lấp loáng như bóng ma, trên một vùng coi như sa mạc, với lỗ và đá mấp mô: đó là cảnh thấy trên máy truyền hình tại Sài Gòn từ 21 đến gần 23 giờ. Lúc 5 giờ quốc tế, 13 giờ Sài gòn, Aldrin rồi kể đó Armstrong bước vô Eagle, sau khi đi trên mặt trăng 2 giờ 18 phút 16 giây. Brejnev và Kossyguỉne khen ngợi sự thành công của Apollo-11. Dân chúng Nga Sô đua nhau theo đổi chuyến bay. Báo chí Trung Cộng không loan tin gì hết về cuộc đổ bộ xuống nguyệt cầu này.

Ngày 22/7, các phi hành gia Mỹ để lại trên mặt trăng: 1 cờ Hoa Kỳ, 1 đĩa thâu thanh thông điệp của 76 lãnh đạo quốc gia, trong đó có thông điệp của Tống Thống VNCH; bảng kỷ niệm 3 phi hành gia Mỹ và 2 phi hành gia Nga hy sinh vì công cuộc thám hiểm không gian; một tấm bảng thép ghi câu: đến đây với thiện chí hòa bình của nhân loại; một số dụng cụ không cần nữa như máy ảnh, máy truyền hình, các dây đai buộc phi hành gia, túi đồ linh tinh đáng giả 1 triệu Mỹ-kim, kể cả túi đựng nước tiểu của hai người. Đáng kể nhất là một máy đo địa chấn có thể nghe từ dưới đất những chuyên động trên nguyệt cầu. Lúc 17 giờ 54 phút quốc tế, tức 1 giờ 54 Sài Gòn ngày hôm nay 22/7, bộ phận Eagle được khai hỏa để bay khỏi mặt trăng, sau khi ở trên nguyệt cầu vùng Biển Thầm Lặng 21 giờ 36 phút 41 giây. Đến 21 giờ 33 Quốc tế, 5 giờ 33 phút Sài Gòn, Eagle ráp nối lại với bộ phận chỉ huy Columbia. Lúc 23 giờ 37 quốc tế, Armstrong chui vào Columbia, và đến 0 giờ 15, Aldrin cũng chui qua. Lúc 4 giờ 57 quốc tế, 12 giờ 57 ngày 22/7 tại Sài Gòn, phi thuyền ra khỏi quĩ đạo mặt trăng. 

Ngày 23/7, TT Nixon lên đường ra đón phi thuyền Apollo-11 trên Thái Bình Dương, và bắt đầu cuộc hành trình thăm viếng Phi Luật Tân, Nam Dương, Thái Lan, Ấn Độ, Hồi Quốc, Lỗ Ma Ni và Anh quốc. Lúc 4 giờ 57 quốc tế, Columbia bay về trái đất, bỏ Eagle bay trên quĩ đạo mặt trăng.. Tốc-độ trở về: 4.800 cây sổ mỗi giờ, vẫn truyền hình về trái đất qua 7 đài tiếp vận ở Mỹ, Úc, Nhật và Anh. Các đài này nhận hình nhờ 3 vệ tinh viễn thông bay trên quĩ đạo địa cầu cách đường xích đạo 35.000 cây số. Giáo sư Lev Sedoc, thuộc Hàn Lâm Viện Khoa Học Nga Sô, ca ngợi trên báo Pravda sự thành công của Apollo -11 được coi như một việc quan trọng nhất của thế kỷ 20. Cơ quan Không gian HK, NASA, cho biết từ nay đến 1972, sẽ có 9 chuyến bay Apollo khác. Ngày 24/7, Phi thuyền Apollo-11 đáp xuống Thái Bình Dương lúc 16 giờ 50 phút quốc tế, ngày 24-7 tức  là 0 giờ 50 đối với VN. 

Ngày 25/7, lúc 16 giờ 50 quốc tế, tức 0 giờ 50 ngày 25-7 tại Sài Gòn, Apollo-11 trở về trái đất, trên Thái Bình Dương. Chỉ sớm 2 giây so với dự tính. Các phi hành gia khỏe mạnh, và được TT Nixon đón trên mẫu hạm Hornet. Họ phải bận đồ riêng, đưa vô phòng kín và biệt lập trong 21 ngày, đề phòng ngừa vi trùng có thể mang từ mặt trăng về. Chủ tịch Nga Sô Podgorny gửi điện văn cho TT Nixon chúc mừng về sự thảnh công của Apollo-11. Chủ tịch viện Hàn lâm Khoa học và các phi hành gia Nga cũng gửỉ điện khen ngợi cho Cơ quan Khồng gian Mỹ. Ngày 26/7, TT Nixon tới Manille hội đàm với TT Marcos, và tuyên bố: Các quốc gia Á Châu phải giải quyết lấy các vấn đề nội bộ của mình, không cần ngoại viện, trừ sự giúp đỡ phương tiện vật chất; HK sẽ không còn can thiệp bằng nhân lực nữa. (“The countries of Asia must handle their own internal problems without outside assistance, except that kind of assistance which is limited to material support, and, we of course, will therefore exclude the kind of support which would involve a commitment of manpower”.) 

Ngày 28/7, theo tin AP, đã có một cuộc trưng cầu dân ý do tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn làm kín đáo, 100 người được hỏi: (1) có tin tưởng vào HK không? 52% có tin tưởng; 20% không; 28% không có ý kiến. (2) có thể giải quyết vấn  đề VN bằng giải pháp thương thuyết không? 51% trả lời có thể và nên; 28% ưa giải pháp quân sự hơn; số còn lại, không có ý kiến. Cùng ngày 29/7, Tướng Abrams xác nhân: chiến cuộc đã lắng dịu trong 6 tuần qua. Ngày 30/7, TT Nixon từ Thái Lan sang Sài Gòn hội đàm với TT Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập, và tuyên bố: (1) không chấp nhận một cuộc bại trận; (2) luôn luôn tìm hòa bình trong danh dự; (3) tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc VN. TT Nixon tới dinh Độc Lập bằng trực thăng, lủc 12 giờ 15 và rời khỏi lúc 18 giờ 30. TT Nixon từ Sài Gòn, lại qua Vọng Các lần nữa. Ngày 31/7,quân số HK tại VN, tính đến ngày hôm nay: 537.000 người gồm: 361.500 Lục quân; 79.009 TQLC; 60.500 Không quân; 35.500 Hải quân; 500 Tuần duyên. Ngoài ra, còn 32.000 Thủy quân thuộc hạm đội 7, 600 Hải-tuần. Lực lượng Đồng Minh tại VN: 70.500 người. 

Ngày 3/8, TT Nixon qua Anh quốc hội đàm với Thủ Tướng Wilson. Cùng ngày 3/8, sau khi tiếp xúc với các nhà cầm quyền Đại Hàn, Đài Loan, và Nhật Bản, ngoại trưởng HK William Rogers cho biết: chánh sách của Mỹ đối với các quốc gia kể trên không thay đổi. Okinawa sẽ được trả lại cho Nhật. Ngày 4/8, TT Nixon tiếp kiến các lãnh tụ hai đảng Quốc hội HK để trình bày về kết quả chuyến công du. Theo Thượng nghị sĩ Dirksen, sẽ có thể rút thêm quân khỏi VN. Ngày 5/8, theo nguồn tin chánh giới Hoa Thịnh Đốn, HK đã thảo luận với Đồng minh về vấn đề rút bớt quân đội Đồng Minh khỏi VN. Thái Lan ngỏ ý triệt thoái một phần 12.000 hiện tham chiến tại VN. Ngoài ra, số quân HK sẽ rút trong năm 1969 có thể lên tới 125 000. Ngày 11/8, Đồng đô la đỏ MPC của quân đội HK lại bị thay thế đột ngột bằng một thứ chứng chi chi phó khác. Quân nhân Mỹ chỉ được đổi tiền đó trong ngày hôm nay. 

Ngày 13/8, Phát ngôn viên tòa Bạch ốc cho biết, giới quân sự Mỹ ước lượng: quân số BV tại miền Nam lên tới 100.000, và còn từ 30 đến 40.000 tại vùng biên giới Việt Mên. Ngày 20/8, Ngoại trưởng HK William Rogers tuyên bố, Mỹ sẽ rút thêm quân dù chiến sự tăng hay giảm. Ngày 21/8, quân số HK tại VN 526.500 người. Và, quân các nước Đồng Minh khác: 69.900 người. Ngày 24/8, Theo báo Times, Bộ trưởng Quốc Phòng HK Melvin Laird cho biết kế hoạch mới: sẽ để lại VN 250.000 quân tình nguyện, không chiến đấu, chỉ tự vệ nếu bị tấn công. Ngày 27/8, theo McCloskey, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao HK, thì mức xâm nhập của quân BV vào miền Nam đã giảm xuống rõ rệt. Nhưng theo Ngũ Giác Đài, thì từ đầu 1969, BV đã đưa 100.000 quân nữa vào miền Nam. Ngày 31/8, Ngũ Giác Đài HK cho biết: quân số Mỹ tại VN tới hôm nay, còn 509.800 người.

HOÀ ĐÀM BA LÊ. NĂM 1969. Cùng ngày 3/7, Phiên họp thứ 24 cuộc hội đàm Ba Lê. Cabot-Lodge tỏ ý hài lòng vì BV loan tin sẽ thả 3 quân nhân Mỹ bị bắt trước đây. Bộ Ngoại Giao HK không xác nhận tin đồn BV đã rút khỏi miền Nam 7.500 quân. Ngày 5/7, Xuân Thuỷ từ Hà Nội trở lại Ba Lê tuyên bố, HK chẳng chịu xuống thang chiến tranh, rút lui 25.000 quân không có ý nghĩa gì khác là lừa dối dư luận. Ngày 10/7, Phiên họp thứ 25 cuộc hội đàm Ba Lê vẫn các lập trường cũ, các luận điệu cũ. Ngày 13/7, Phiên họp thứ 26 cuộc hội đàm Ba Lê, Đại sứ Phạm Đăng Lâm đưa ra đề nghị 6 điểm của TT Nguyễn Văn Thiệu về tuyển cử tại VN. Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy bác bỏ, và giữ nguyên lập trường: quân Mỹ phải rút hết, vấn đề VN sẽ phải giải quyết theo kế hoạch 10 điểm của MTGPMN. 

Ngày 24/7, Phiên họp thứ 27 cuộc hội đàm Ba Lê. Lập trường các bên không thay đổi. Ngày 31/7, Phiên họp thứ 28 cuộc hội đàm Ba Lê. Mỗi phe cùng trách nhau kéo dài hoặc gia tăng chiến cuộc. Ngày 7/8, Phiên họp thứ 29 cuộc hội đàm Ba Lê. Không có gì mới lạ, hai bên giữ lập trường cũ. Ngày 14/8, Phiên họp thứ 30 cuộc hội đàm tại Ba Lê. Các lập trường mỗi bên không thay đồi. Cabot-Lodge lên án các cuộc tấn công hiện nay của Cộng quân. Ngày 21/8, Phiên họp thứ 31 cuộc hội đàm Ba Lê, không có thông tin nào được đưa ra. Ngày 28/8, Phiên họp thử 32 cuộc hội đàm Ba Lê. Lập trường hai bên không thay đổi. Các thái độ vẫn cứng rắn. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1969. Ngày 1/7, tại Gia Định, hành quân Úc-Mỹ-Thái tảo thanh Đặc khu Rừng Sác. Ngày 2/7, theo Bộ tư lịnh vùng II, sau 57 ngày giao tranh với 3 Trung Đoàn 66, 28 và 24 Cộng quân, cùng với Trung đoàn trọng pháo 40, và 7 tiểu đoàn cơ động yểm trợ từ bên kia biên giới QGP trên đất Lào. Phía QĐVNCH gồm: Liên đoàn 2 BĐQ, Chiến đoàn 53, Trung Đoàn 47, Trung Đoàn 3 Thiết giáp, Tiểu Đoàn 63 Pháo binh, Đội trọng pháo 203 ly HK, và lực lượng đồn trú tại Ben Hét (Kontum) các đại đội Dân sự Chiến đấu Thượng, 1 trung đội Lực Lượng Đặc Biệt Kinh. Kết quả trận đánh, Cộng quân bỏ lại 1.882 xác đếm được. Ngày 7/7, lúc 1 giờ 30 sáng, một căn cứ Mỹ tại Bình Thuận bị pháo kích và tấn công ồ ạt. Ngày 26/8, giao tranh tại Long Khánh. Hành quân qui mô Quyết Thắng BK/44/40 với 10.000 quân VNCH phối hợp cùng các lực lượng HK Black Hawk tại vùng núi Thất Sơn, Châu Đốc

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1969. Ngày 1/7, Lễ kỷ niệm 9 năm thành lập BĐQ, thành tích đáng kể như chiến thắng Pleime, Đồng Xoài, Thạch Trụ, Cầu Kè, Cờ đỏ, U Minh Hạ. Ngày 6/7/69, khánh thành cầu Phan Thiết trên sông Mường Mán, dài 300 thước do Công binh Mỹ xây dựng. Ngày 11/7, TT Nguyễn Văn Thiệu họp báo và công bố sáng kiến 6 điểm để tiến tới hòa bình: (1) bầu cử tự do, với sự tham gia của các lực lượng chánh trị, kể cả MTGPMN; (2) lập một ủy ban bầu cử trong đó có cả MTGPMN; (3) lập một ban giám sát quốc tế; (4) sẵn sàng nói chuyện với phía bên kia về lịch trình và phương thức bầu cử; (5) sau bầu cử sẽ không trả thù và kỳ thị; (6) Chánh phủ cam đoan tôn trọng kết quả bầu cử, và thách phía bên kia cam đoan như vậy. Ngày 14/7, Theo Trung Tướng Đỗ Cao Trí, tư lịnh Vùng III, từ nay đến cuối năm, quân đội VNCH sẽ thay hết quân độỉ Mỹ tại Biệt khu Thủ đô. 

Ngày 19/7, TT Nguyễn Văn Thiệu họp báo và xác định lập trường: giải pháp hòa bình 6 điểm là thiện chí tối đa; nếu phía bên kia không chấp nhận, VNGH sẽ tiếp tục chiến đấu; trách Tổng Thống vi hiến là quá sớm; sẽ cải tổ sâu rộng nội các. Ngày 22/7, Căn cứ Moor của Lữ đoàn 1 Sư đoàn 9 Bộ binh Mỹ, gần quốc lộ 4, cách Cai Lậy 5 cây số, được chuyển giao cho quân đội VN. Trước đây, 2 căn cứ khác ở Kiến Hòa cũng đã được giao lại. Cùng ngày 23/7, Giám Sát Viện tuyên bố, thực hiện chức năng, quyền hạn của mình, từ kết quả điều tra liên quan đến những tướng, tá phạm lỗi, Viện đã đề nghị bãi chức một chuẩn tướng và thuyên chuyên một đại tá. Ngày 26/7, TT Nguyễn Văn Thiệu giải thích về tình hình trước 1.200 công chức cao cấp tại rạp Thống Nhất Sài Gòn: (1) chiến cuộc có phần lắng dịu chỉ vì CS suy yếu; (2) không rút khỏi hội nghị Ba Lê; (3) nếu bầu cử có đảm bảo và kiểm soát quốc tế, CS sẽ chỉ thâu được 4% sổ phiếu là cùng.

Cùng ngày 26/7, khánh thành đường Đà Nẵng-Huế mở rộng và lát nhựa bê tông dài 106 cây số do Công Binh HK thực hiện. Cũng ngày 26/7, theo Bộ Lao động, hiện có 150.000 công nhân VN làm việc cho các cơ quan quân sự và các hãng thầu HK; ngoài ra, còn có 33.000 công nhân HK và ngoại quốc đang làm việc tại VN. Ngày 5/8, có 21 sĩ quan cấp tướng được thăng cấp, từ nhiệm chức lên thực thụ. Ngày 8/8, TT Nguyễn Văn Thiệu tiếp kiến một số nhân vật thuộc các đảng phái và đoàn thể. Ngày 12/8, tại Rolla, Hoa Kỳ ký kết thỏa ước viện trợ giữạ Đại Học Missouri và Cơ quan Ngoại viện giúp VNCH mở mang Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, với ngân khoản 300.000 Mỹ kim, nhằm đào tạo 300 kỹ sư mỗi năm. Ngày 14/8, trên toàn quốc 27.570 thí sinh Tú Tải II, có 7.386 thi đậu, tỷ số 26,78%. 

Ngày 16/8, Bộ Giáo dục ra thông cáo cho biêt có một tổ chức làm bằng Tú Tài I giả mạo bán, và khuyên mọi người không nên mua: hiện đang điều tra về vụ này. Ngày 17/8, khánh thành tại quận Lạc Dương, Tuyên Đức, một ký túc xá cho học sinh Thượng, chứa được 200 người, kinh phí xây cất 2.700.000$. Ngày 19/8, theo Nha cảnh sát Đô Thành, từ cuối năm ngoái tới đầu năm nay, đã phá vỡ 16 cơ sở CS tại thủ đô, bắt 143 cán bộ CS trong một tổ chức binh vận, có 2 nữ sinh đệ nhị trường Marie Curie. Ngày 23/8/69, Đại tướng Trần Thiện Khiêm được TT Nguyễn Văn Thiệu chỉ định thành lập nội các mới. Kể từ 1-7-69, công chức và quân nhân được hưởng một phụ cấp hàng tháng 1.000$, kế cả người đã hưu trí (SL 091/Th.T.) Ngày 30/8, Hai Viên Quốc hội nhóm họp để xét bản phúc nghị của Hành Pháp yêu cầu bỏ các chữ “Việt gổc Mên” trong dự luật tổ chức Hội đồng các Sắc Tộc. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1969. Ngày 4/7, vụ án nhóm người liên lạc với Nguyễn Lâu, Trần Ngọc Hiền, Võ Đình Cường, Đoàn Ẩn vv...của MTGPMN, 5 người được Tòa án Mặt trận tha bổng, số còn lại bị phạt từ 2 năm tù treo đến 20 năm khổ sai. Ngày 13/7, Ủy Ban Vận động Thành lập Lực lượng Quốc Gia Tiến bộ do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu, công bố bản nhận định: phải lập một chánh phủ Hòa giải gồm người của hai bên để tồ chức bầu cử dưới sự giám sát quốc tế. Cùng ngày 13/7, Lực lượng Đại Đoàn kết (ĐĐK) hội thảo tại Sài Gòn và ra tuyên ngôn, rằng 6 điểm củạ TT Nguyễn Văn Thiệu mâu thuẩn với lập trường chống Cộng trong thông điệp đọc trước Quổc Hội ngày 7-4-69; Quốc Hội phải xét định, nhưng Lực lượng ĐĐK chống sự sửa đổi Hiến pháp và tiếp tục tranh đấu chống Cộng. 

Ngày 15/7, tại trường Cao Đẳng Quốc Phòng, phó TT Nguyễn Cao Kỳ đọc diễn văn dài về thời cuộc: (1) Không thể lùi hơn và nhường nhịn Cộng Sản hơn nữa; (2) Các cuộc oanh tạc BV không đúng mức nên vô hiệu, quân lực VNCH chưa được canh tân; (3) Vì lý do tranh cử, HK vội nói chuyện với CS; (4) Cần xét lại viện trợ HK cho thích hợp hơn; (5) VNCH phải quyết chiến thắng. Ngày 14/7, Khối Độc Lập Hạ Viện ra tuyên ngôn yêu cầu TT Nguyễn Văn Thiệu giữ vững lập trường 6 điểm đã trình bày trước Quốc Hội ngày 7-4-69. Ngày 17/7, trên Truyền hình VN, chủ tịch Thượng viện đọc bản quyết nghị: Sáng kiến hòa bình của Tổng Thống trái với lập trường căn bản đã xác nhận trong thông điệp ngày 2-11-68 và 7-4-69 cũng như những tuyên cáo liên hệ của Quốc hội lưỡng viện; MTGPMN bất cứ trong trường hợp nào cũng chỉ là Cộng Sản đội lốt Dân tộc và Dân chủ. 

Cùng ngày 17/7, Mặt Trận Quốc Gia Dân chủ Xã hội gồm 6 chính đảng, với TT Nguyễn Văn Thiệu là Chủ-tịch, hôm nay bầu xong Văn phòng 12 ủy viên, và thiết lập 12 ủy ban chuyên môn. Ngày 23/7, Hạ nghị viện nhóm họp phiên bất thường, và ra quyết nghị với 92/136 Dân biểu khuyến cáo Hành Pháp: (1) cần trấn an dư luận về thái độ đối với CS; (2) không nên cho tham gia chánh phủ những người cho là MTGPMN không phải là CS; (3) Tổng Thống cần xác nhận là không nhân nhượng thêm nữa; (4) không chịu đựng áp lực nào; (5) phải cố bài trừ tham nhũng. Ngày 28/7, theo quản đốc Trung tâm Quốc gia Báo chí, Phụ tá chánh trị phủ Tổng Thống, ông Huỳnh Văn Trọng, được mời ra khai tại Tổng Nha Cảnh sát về một vụ “Cộng sản móc nối”. 

Cùng ngày 5/8, Bộ Chiêu hồi đính chánh không có nhân viên cao cấp nào thuộc Bộ dinh líu tới vụ tình báo gián điệp A.52 của phụ tá đặc biệt phủ Tổng Thống, Huỳnh Văn Trọng. Ngày 8/8, theo dư luận trên nhiều báo, vấn đề cải tổ chánh phủ vẫn gặp khó khăn. Ngày 9/8, báo chí chú trọng tới việc TT Nguyễn Văn Thiệu đích thân tới nhà tướng Dương Văn Minh, và nói chuyên với tướng Minh buổi trưa từ 11 giờ tớì 13 giờ. Ngày 18/8, vài hôm nay, báo chí Mỹ và Việt bàn tán khá nhiều về vụ sát hại một tình báo viên VN, và sự bắt giữ Đại tá mũ xanh Robert B. Rhéault cùng 2 Thiếu tá, 3 đại úy, 2 hạ sĩ quan HK thuộc Lực Lượng Đặc Biệt. Chưa ai hiểu vì lý do gì vụ này được Bộ Tư lịnh HK cho loan báo. Xin lưu ý rằng, vì vụ trên mà ngày 21-7-69, Đại tá Robert B. Rheault, chỉ huy Lực lượng Đặc biệt Mũ Xanh Special Forces bị cất chức.

NẠN NHÂN, TỴ NẠN CS. NĂM 1969. Cùng ngày 14/7, theo Bộ Xã Hội Y Tế, tổng số người tị nạn hiện nay: 1.012.025. Ngày 15/7, trong 1 tháng qua, chiến dịch Chiêu hồi “Nguyễn Trãi” đã có 3.180 hồi chánh gốm 116 chính qui BV, 99 cán binh VC, 2.204 du kích, 761 cán bộ chánh trị. Ngày 24/7, theo Trung tâm Báo chí, tới hôm nay, đã tìm thấy 578 xác nạn nhân vụ tấn công Tết Mậu Thân tại Huế, và 93 xác tại Quảng Trị.

Sydney ngày 28 tháng 4 năm 2024

 

Bài 120: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CHÍNH PHỦ TRẦN THIỆN KHIÊM: SỰ KIỆN CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 9-10/1969.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1969. Ngày 3/9, Thông cáo do phái đoàn BV tại Ba Lê phổ biến: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bị đau nặng từ mấy tuần nay từ trần tại Hà Nội lúc 9 giở 47 phút, giờ Hà Nội. Ngày 4/9, Đài Phát thanh Hà Nội, và Phái đoàn BV tại Ba Lê loan tin Chủ tịch BV Hồ Chỉ Minh từ trần, sau một cơn đau tim rất nặng, thọ 79 tuổi. Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình về Hà Nội chịu tang Hồ Chí Minh. Ngày 6/9, Thông tấn xã BV loan báo: các phi công Mỹ bị bắt trên địa hạt BV không được hưởng qui chế tù binh vì họ chỉ là những kẻ phạm tội ác chiến tranh. Ngày 9/9, Phó Chủ tịch BV Tôn Đức Thắng, 81 tuổi, nhậm chức quyền Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Di chúc của Hồ Chí Minh do Lê Duẩn đọc: “ân hận không thể phụng sự lâu hơn nhiều hơn; nên tránh làm ma lớn và bắt dân chịu quốc tang; sẽ thắng lợi cuối cùng, và phải chịu nhiều khó khăn, phải duy trì đoàn kết lao động; buồn vì có sự chia rẽ trong khối Cộng sản”. Di chúc này do Lê Duẩn đọc sau điếu văn.

Ngày 11/9, Kossyguine sau khi dự tang lễ Hồ Chí Minh trên đường về Nga, sang Bắc Kinh và hội đàm với Chu Ân Lai từ 4 năm qua. Ngày 14/9, Quốc hội Đại Hàn chấp thuận tu chính Hiến Pháp cho phép ứng cử Tổng thống 3 nhiệm kỳ. Ngày 15/9, sinh viên Đại Hàn tiếp tục biểu tình phản đối sự tu chính Hiến Pháp, nhiều trường Đại Học vẫn bị đóng cửa. Ngày 16/9, TT Nixon tuyên bố: đã thỏa hiệp với VNCH để rút thêm 35.000 quân trước 15 tháng 12 sắp tới; đồng thời, nhắc lại lập trường của HK, sẵn sàng chấp nhận thảo luận về 10 điểm của đối phương, và một giải pháp chánh trị cho miền Nam VN. Ngày 17/9, Báo Washington Post loan tin: HK sẽ rút 200.000 quân từ nay đến 1972. Ngày 18/9, tại Đại hội Liên Hiệp Quốc, TT Nixon tuyên bố: sẵn sàng rút hết quân đội khỏi VN, và yêu cầu 126 quốc gia có chân trong Liên Hiệp Quốc can thiệp để BV chịu điều đình nghiêm chỉnh. Ngày 19/9, Hạ Viện HK với 339 phiếu thuận và 70 phiếu nghịch chấp thuận dự luật bãi bỏ cử tri đoàn và để công dân Mỹ trực tiếp bầu cử Tổng Thống. 

Ngày 20/9, thiệt hại của Hoa Kỳ từ 1-1-1961: 38.728 tử thương, 252.059 bị thương, 1.332 bị bắt mất tích. Cùng ngày 20/9, tại New York, hội nghị 7 quốc gia tham chiến tại VN, ra Theo thông cáo chung, về vấn đề tăng cựờng quân lực VNCH và sắp đặt lại các lực lượng Đồng Minh. Ngày 21/9, Cựu Thứ trưởng Cyrus Vance, nguyên phó Trưởng phái đoàn HK tại hội đàm Ba Lê, đề nghị trên báo NewYork Times: nên ngừng bắn ngay tại VN, và chia lãnh thổ miền Nam ra nhiều khu theo vết da beo. Cùng ngày 21/9, Chánh quyền BV và MTGPMN lên tiếng bác bỏ đề nghị rút quân song phương của TT Nixon. Ngày 24/9, Bộ Ngoại giao HK trả lời Thượng nghị sĩ Fulbright: HK đã gửi quân sang VN năm 1965 sau khi thỏa hiệp với chánh phủ VNCH. Sự thỏa hiệp này được coi như lời yêu cầu. Ngày 26/9, TT Nixon họp báo, và tuyên bố: (1) không có quân đội HK tham chiến tại Lào; Mỹ chỉ giúp Lào về huấn luyện và tiếp vận, và tiếp tục các chuyến bay thám thính trên đường mòn Hồ Chí Minh; (2) không chấp nhận ý kiến định rõ ngày rút hết quân Mỹ khỏi VN; (3) tiếp tục ủng hộ chánh quyền Nguyễn Văn Thiệu cho tới khi có cuộc tuyển cử khác; (4) không ngại áp lực của nhiều giới HK. 

Ngày 27/9, Phó TT Mỹ Spiro Agnew tuyên bố: việc rút quân khỏi VN là vấn đề của HK, người miền Nam VN muốn nói sao thì nói, HK phải tìm hết cách triệt thoái. Ngày 29/9, Thứ trưởng Lục quân HK Stanley Resor ra quyết định không truy tố 8 quân nhân Mũ Xanh liên can vụ hạ sát nhân viên tình báo Thái Khắc Chuyên. Ngày 30/9, TT Nixon kêu gọi dân chúng HK: hãy giúp chánh phủ đi tới hòa bình tại VN, đừng cho đối phương cảm tưởng là HK bị chia rẽ. Ngày 1/10, Phát ngôn viên tòa Bạch Ốc lại cho biết: chính TT Nixon đã chấp thuận việc miễn tố quân nhân trong vụ Thái Khắc Chuyên. Ngày 2/10, Thượng nghị sĩ Mansfield lại đòi TT Nixon mau đi tới thỏa hiệp ngừng bắn. Ngày 3/10/1969, theo Phó Tổng Tham mưu Trung Cộng, từ nay MTGPMN sẽ được nhận súng tối tân do TC chế tạo. Ngày 4/10, Tướng Wheeler, chủ tịch Hội đồng Tham Mưụ HK, tới Sài Gòn xét lại tình hình và cho biết: Cộng quân chỉ rút tạm thời để sửa soạn cuộc tấn công mới. 

Ngày 4/10, các nhóm phản chiến tại Quốc Hội Mỹ chuẩn bị ráo riết cuộc biểu tình 15-10-69 đòi chấm dứt chiến tranh. Ngược lại, phe diều hâu đòi đánh mạnh và oanh tạc trở lại BV. Ngày 4/10, theo tin UPI, chánh phủ HK lại tiếp xúc mật với BV ở một địa điểm không phải là Ba Lê. Ngày 7/10, các giáo sư Khoa học và Kỹ thuật Đại học Harvard đưa kiến nghị yêu cầu chánh phủ Mỹ rút hết quân khỏi VN. Kiến nghị được 81 phiếu thuận; bị 255 phiếu chống, có 150 phiếu trắng. Cùng ngày 9/10, tại Hoa Kỳ, nhiều Dân biểu phản chiến dự định sẽ diễn thuyết suốt đêm 14-10 đòi chấm dứt chiến tranh VN. Ngày 11/10, các nghị sĩ HK Charles Godeii, Frank Church, Frank E. Moss, George Aiken lên tiếng phản đối TT Nixon và đòi chấm dứt ngay chiến tranh VN. Nghi sĩ Vance Hartke đòi lập chính phủ liên hiệp do luật sư Trương Đinh Dzu cầm đầu. Ngày 13/10, Ngoại trưởng William Rogers cho biết: mức xâm nhập của BV đã giảm 2/3 từ đầu năm lực lượng BV tại miền Nam chỉ còn chừng 25 hoặc 35 ngàn người. 

Ngày 13/10, Phạm Văn Đồng, Thủ Tưởng BV, ký tại Moscou thỏa ước viện trợ kinh tế và quân sự cho BV. Cùng ngày 14/10, các Dân bỉểu đảng Cộng Hòa quyết nghị ủng hộ chánh sách Nixon. Ngày 15/10, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird tuyên bố: sẽ có thể rút 300.000 quân khỏi VN trong 2 năm tới. Cùng ngày 16/10, các nhóm phản chiến tại HK dự định tiếp tục biểu tình, và nếu cần, thì hàng tháng, cho tới khi nào chánh phủ rút hết quân khỏi VN. Ngày 17/10, Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch đoàn Cố Vấn MTGPMN, rời Bắc Kinh sau khi hội đàm với một số lãnh đạo Trung Cộng. Ngày 18/10, tại Đại Hàn, kết quả trưng cầu dân ý về đạo luật sửa đổi Hiến Pháp cho TT Phác Chánh Hy tái ứng cử nhiệm kỳ thứ ba là 7.553.655 phiếu trong 11.604.038 phiếu, tức 65,1% đồng ý. Ngày 19/10, theo các giới hữu quyền HK, thì Nga Sô đã viện trợ cho BV: 700 triệu MK năm 1967, 300 triệu năm 1968 (quân sự) 250 triệu năm 1969 (kinh-tế). Số viện trợ của Trung Cộng chừng 200 triệu MK, một nửa về quân sự, một nửa về kinh tế.

Ngày 20/10, Phát ngôn viên tòa Bạch Ốc không cải chính tin loan truyền do báo Newsweek và hãng truyền tin National Broadcasting Company: TT Nixon sẽ đơn phương tuyên bố ngưng bắn, để mặc lãnh thổ VNCH chia ra 2 vùng trong thực tế, vùng Cộng sản và vùng Quốc gia. Ngày 24/10, theo nhiều nguồn tin quốc-tế, TT Nixon dự định rút 300.000 quân khỏi VNCH, từ nay tới cuối 1970, và TT Nguyễn Văn Thiệu đã được thông báo. Ngày 26/10, Kết quả thăm dò dư luận Mỹ của viện Louis Harris: 4/5 số dân được hỏi chán ghét chiến tranh; 1/2 không đồng ý rằng HK nên rút cấp tốc khỏi VN; hơn 1/2 thấy rút theo nhịp độ hiện nay là phải, hoặc còn quá nhanh. Cùng ngày 26/10, Bộ trưởng Quốc Phòng Melvin Laird tuyên bố: HK đang xét lại mọi cam kết quân sự để rút bớt kinh phí: 130 tỷ trong năm 1970, kể cả chiến phí tại VN. Ngày 29/10, giới quân sự HK theo dõi sự di chuyển và tập trung 4 sư đoàn Cộng quân tại vùng biên giới Việt Mên.

HOÀ ĐÀM BA LÊ. NĂM 1969. Ngày 2/9, tại Ba Lê, Xuân Thủy tuyên bố: hội đàm Ba Lê sẽ được khai thông nếu HK chiu rút thêm độ 100.000 quân. Ngày 13/9, Phiên họp thứ 33 cuộc hội đàm Ba Lê. Tranh luận gắt gao về vấn đề tù binh Mỹ. Cùng ngày 18/9, Phiên họp thứ 34 cuộc hội đàm Ba Lê. Ngày 25/9, Phiên họp thứ 35 cuộc hội đàm Ba Lê. Cùng ngày 2/10, Phiên họp thứ 36 cuộc hội đàm Ba Lê. Không có gì mới. Ngày 9/10, Phiên họp thứ 37 cuộc hội đàm Ba Lê, Đại sứ Phạm Đăng Lâm đề nghị thảo luận về các điều kiện ngừng bắn. Phái đoàn BV bác bỏ. Ngày 16/10, Phiên họp thứ 38 cuộc hội đàm Ba Lê, BV đề nghị HK nói chuyện thẳng với Chánh phủ lâm thời của MTGPMN, HK bác bỏ chỉ nói chuyện nếu có mặt VNCH. Ngày 23/10, Phiên họp thứ 39 cuộc hội đàm Ba Lê. Không có gì mới. Ngày 30/10, Phiên họp thứ 40 cuộc hội đàm Ba Lê. Cabot Lodge đề nghị họp kín, mỗi bên chỉ có 3 cố vấn. BV bác bỏ. 

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1969Ngày 23/9, không lực HK thực hiện 268 phi xuất nhắm vào các vị trí Cộng quân tại 4 Vùng Chiến thuật. Ngày 5/10, trong 24 giờ qua, B52 oanh tạc 8 lần các vị trí Cộng quân tại Pleiku, Bình Long, Tây Ninh, Phước Long.

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1969. Ngày 1/9/1969. Nội các Trần Thiện Khiêm trình diện. Thành phần: Ngoài Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Nội các có 1 Phó Thủ tướng, 4 Quốc Vụ Khanh, 16 Tổng trưởng, 2 Bộ trưởng, 7 Thứ trưởng. Cùng ngày 1/9, Căn cứ Mỹ tại Đồng Tâm, Mỹ Tho, được chuyển giao cho quân lực VNCH. Cùng ngày 1/9, Cầu Trường Tiền Huế được Công binh HK sửa chữa hẳn lại nhịp giữa đã do Công-Ty Eiffel chữa tạm. Xe cộ được lưu thông 2 chiều như xưa. Ngày 16/9, Văn phòng Tồng Thống VNCH loan báo: VNCH đồng ý với HK về đợt 2 thay thế quân đội Mỹ, sẽ là 60.000 người. Ngày 19/9, Đài Truyền hình Việt Nam mở đầu chương trình hàng tuần NGƯỜI DÂN MUỐN BIẾT, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời nhiều câu hỏi của vài nhà báo, Tổng thống cho biết: chỉ ngừng bắn khi có giải pháp chánh trị toàn diện. 

Ngày 27/9, TT Nguyễn Văn Thiệụ tuyên bố trong cuộc phỏng vấn của tuần báo Times: (1) nếu HK rút hết quân, VNCH cũng sẽ chiến đấu đến khi thắng lợi hoặc thất bại; (2) dân chúng HK nên kiên tâm. Ngày 30/9, Trại Hải quân Tân Mỹ, một căn cứ lớn của HK tại Thừa Thiên, được chuyển giao cho quân lực VNCH. Ngày 2/10, Bộ Tư pháp VNCH yêu cầu bộ Tư lịnh HK cho biểt hồ sơ về vụ Thái Khắc Chuyên. Ngày 6/10, khai mạc khóa họp Quốc hội, TT Nguyễn Văn Thiệu đọc thông điệp dài 38 trang, nói về chính sách và chương trình của chánh phủ: không liên hiệp với Cộng sản; sẵn sàng thay thế quân đội HK; tiến tới tự tủc tự cường. Ngày 8/10, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố với bảo US News and World Report: đã chủ trương tấn công BV phía Bắc vùng Phi quân sự; Và oanh tạc BV cùng Hải Phòng bằng phi cơ của Không quân VNCH, nếu HK cung cấp đầy đủ dụng cụ và trang bị. Ngày 10/10, Nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền tái đắc cử Chủ tịch Thượng Viện niên khóa 1969-1970. 

Ngày 24/10, Chính phủ ban hành Thuế kiệm ước mới, được áp dụng từ 0 giờ hôm nay (Nghị định số 1569/BKT/BTC/NDHB). Cùng ngày 24/10, Căn cứ Black Horse của quân đội Mỹ tại Long Khánh, được chuyển giao cho quân lực VNCH. Ngày 25/10, giá hàng tăng nhiều sau khi ban hành nghị định về thuế kiệm ước. Giá dầu xăng, từ 11$50 lên 22$. Vàng từ 11.300$ lên 16.5008. Một bó rau muống, từ 10$ lên 16$, thịt heo ba rọi từ 250$ lên 350$ một ký... Họp báo tại Bộ Kinh tế. Giải thích về các biện pháp tăng thuế để chống lạm phát. Ngày 27/10, Thượng Viện họp với 32 nghị sĩ hiện diện. Quyết nghị được 24/32 nghị sĩ chấp thuận: xét lại ngân sách quốc phòng, nhân dân hóa quân đội, cấp phát gạo cho quân nhân và công chức, kiểm soảt thị trường. Ngày 28/10, Thiết lập một Ủy ban Liên bộ ổn định thị trường với nhiệm vu: tiếp tế nhu yếu phầm, bài trừ gỉan thương, định giá chuyên chở, giúp đỡ quân nhân công chức. 

Cùng ngày 28/10, tại Hạ viện 81/84 Dân biểu đồng ý đưa vụ thuế kiệm ước mới ra trước Tối cao Pháp viện. 75/76 Dân biểu yêu cầu Hành Pháp thu hồi nghị định về thuế này. Cùng ngày 28/10, Công nhân Sicovina đình công. Hàng ngàn nhà nhập cảng tởi phòng Thương Mại xé đơn xin nhập cảng. Hàng tăng giá: bột mì từ 31$ lên 37$ một kí; sắt từ 35$ lên 70$, vải từ 75$ lên 105$ một thước, Honda từ 33.000$ lên 70.000$, tủ lạnh lừ 50.000$ lên 80.000$, truyền hình từ 33.000$ lên 43.000$... Ngày 30/10, Tổng cuộc Tiếp tế bán chịu gạo cho quân nhân và công chức Đô thành, cuối tháng trả tiền, qua các ban Tiếp liệu. Hạ viện phê chuẩn thỏa ước viện trợ tài chánh Tây Đức ký ngày 28-6-66: 20 triệu Đức Mã để xây lò sát sinh Đô Thành. Ngày 31/10, TT Nguyễn Văn Thiệu hiệu triệu quốc dân trên đài Truyền hình, giải thích về các biện phảp thuế vụ và kêu gọi mọi người gánh vác trách nhiệm.  

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1969. Ngày 8/9, tại Long An, một binh sĩ VNCH bắn chết 2 sĩ quan cấp tá HK, khi 2 người này vừa ra khỏi trại. Ngày 10/9, Ông Đạo Dừa tức Nguyễn Thành Nam tổ chức lễ truy điệu Hồ Chí Minh tại một cù lao tỉnh Kiến Hòa, với sự tham dự của chừng 1.000 thanh niên trốn quân dịch phía VC cũng như phía VNCH. Ngày 15/9, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố: HK sẽ rút thêm 40.500 quân trước tháng 11; có thể sẽ rút đến 200.000 quân tới cuối 1970; nếu chánh phủ định liên hiệp với CS, sẽ có đảo chánh trong vòng 10 ngày. Ngày 30/9, Quả phụ Thái Khắc Chuyên cho biết: sẽ cùng 2 con tự thiêu trước tòa Đại Sứ HK để phản đối sự miễn tố đối với 8 quân nhân Mũ Xanh đã sát hại chồng bà. 

Ngày 4/10, Thượng Nghị Sĩ Nguyễn Gia Hiến, chủ tịch Lực lượng Đại Đoàn kết tuyên bố: sẽ có đảo chánh nếu có quyết định thành lập một chánh phủ Liên Hiệp với Cộng sản. Ngày 23/10, Hạ viện ra biểu quyết 61/95 phiếu thuận quyết nghị: (1) yêu cầu Hành pháp giữ vững lập trường cố hữu của VNCH; (2) phải Việt Nam hóa chánh trị song song với vấn đề quân sự; (3) phải có sách lược chiến đấu tự lực, thực thi những cam kết với quốc dân; (4) xét lại chánh sách ngoại giao và thông tin ngoại quốc; (5) công bố và làm sáng tỏ việc người Mỹ tham chiến tại VNCH dựa trên căn bản nào; (6) thiết lập qui ước tạm thời về việc Mỹ đóng quân hay rút quân. Ngày 29/10, Thượng tọa Thích Thiện Minh tức Đỗ Xuân Hàng được ân xá và phóng thích cùng 310 phạm nhân, nhân dịp Quốc Khánh. 

NẠN NHÂN, TỴ NẠN CS. NĂM 1969. Ngày 25/9, tại Thừa Thiên, thêm một mồ chôn 200 nạn nhân vụ biến cố Tết Mậu Thân được tìm thấy phía Nam lăng Gia Long. Ngày 28/9, Theo Bộ Xã Hội, hiện có 99.533 trẻ mồ côi, trong đó 15.862 được nuôi trong 93 cô nhi viên công và tư, còn 83.671 trẻ nuôi tại gia trong 31 tỉnh. Ngày 12/10, Tại Thừa Thiên, lễ tẩm liệm 250 hài cốt nạn nhân cuộc tấn công Tết Mậu Thân, tổ chức tại trường học Bảng Lãng. Ngày 14/10, TT Nguyễn Văn Thiệu chủ tọa lễ an táng tập thể 250 hài cốt nạn nhân bị sát hại trong dịp Tết Mậu Thân, tại núi Ngự Binh, Huế, tuyên bố “chống giải pháp liên hiệp và sự rút quân không điều kiện của Đồng minh”.

Sydney ngày 29 tháng 4 năm 2024

 

Bài 121: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CHÍNH PHỦ TRẦN THIỆN KHIÊM: SỰ KIỆN CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM THÁNG 11-12/1969.

SỰ KIỆN LIÊN QUAN. NĂM 1969. Ngày 2/11, theo Thủ tướng Cao Mên, tướng Lọn Nol, quân VC đã tăng từ 32.000 đến 40.000 ở các tỉnh vùng biên giới Việt-Mên. Cùng ngày 2/11, Thượng Nghị Sĩ McCarthy đề nghị: TT Nixon cần cho biết chánh sách tại VN và giải pháp chánh trị trước khi rút quân; hiện nay chỉ thấy nói đến rút quân mà không nói đến chánh sách. Ngày 3/11, TT Nixon đọc diễn văn đã hứa hẹn: không rút quân vội vàng khỏi VN; không ấn định trước một hạn rút quân, BV đừng tưởng lầm có thể dùng bạo lực để chiến thắng, sẽ gặp phản ứng của Mỹ, HK không thể chấp nhận một sự triệt thoái hấp tấp với hậu quả rất tai hại trên khắp thế giới. Theo phát ngôn viên tòa Bạch ốc, dự thảo diễn văn của TT Nixon đọc hôm nay, đã được thỏa hiệp của chánh phủ VNCH. Ngày 4/11, có 50 Dân Chủ ra quyết nghị ủng hộ chánh sách Nixon, 10 Dân biểu khác chống đối lập trường xác định trong diễn văn của TT Nixon ngày 3-11. 

Ngày 9/11, Cựu Thống Đốc Wallace, một người chủ chiến và ủng hộ TT Nixon, qua VN xem xét tình hình. Cùng ngày 13/11, Wallace trước khi rời Sài Gòn, tuyên bố: nếu hòa đàm không xong, VNCH và HK sẽ phải chiến đấu mạnh hơn. Cùng ngày 14/11, tại Hoa Thịnh Đốn, 45.000 người phản chiến biểu tình diễn hành “chống tử thần”. Vài ngàn người kéo tới trước tòa Đại sứ VNCH, nhưng bị Cảnh sát giải tán bằng lựu đạn cay. Nhiều cuộc biểu tình cũng xảy ra trên nhiều thành phố khác. Ngày 16/11, Phát ngôn viên tòa Bạch Ốc báo tin: TT Nixon không thay đổi chánh sách về VN, chánh sách này được đa số nhân dân Mỹ ủng hộ. Ngày 18/11, Ngoại trưởng Mỹ William Rogers cho biết từ hôm 3/11, sau khi TT Nixon xác định lập trường về VN, chánh phủ Mỹ đã nhiều lần tiếp xúc mật với BV nhưng không có kết quả gì. Cùng ngày 20/11, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird cho biết: trong 2 tuần qua, mức xâm nhập của BV vào miền Nam VN lại lên cao. 

Ngày 21/11, Thông cáo chung Mỹ Nhật sau cuộc hội đàm 3 ngày tại Hoa Thịnh Đốn: đảo Okinawa sẽ được trả cho Nhật năm 1972, các võ khí nguyên tử sẽ được chuyển đi, nhưng HK sẽ được tiếp tục dùng các căn cứ. Ngày 23/11, Cựu Thống Đốc Mỹ George Wallace thăm Lào về tuyên bố phải tận diệt BV bất cứ ở đâu, dù trên đất Lào. Quân đội Mỹ không thể rút khỏỉ VN trước khi người VN nắm vững tình thế. Ngày 24/11, theo tin quân sự Mỹ, Sư đoàn số 4 Bộ binh HK được điều động trở lại vùng Cao Nguyên, vì những cuộc tấn công của Cộng quân gia tăng tại Quảng Đức. Ngày 24/11, do hai quân nhân Mỹ tố giác trên đài phát thanh Nữu Ước, Trung úy Mỹ William Calley bị điều tra về tội ra lịnh hạ sát chừng 370 người xã Sơn Mỹ, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Ngày 24/11, Phát ngôn viên tòa Bạch ốc cho biết: đã có 11 lần hội đàm mật với BV, và bao giờ cũng muốn hội đàm mật nếu chấm dứt được chiến tranhNgày 25/11, Bộ Quốc Phòng Mỹ thông cáo: vịệc triệt thoái quân Mỹ khỏi VN vẫn tiếp tục, mặc dầu TT Nixon không định rõ thời hạn. 

Ngày 5/12, theo thứ trưởng Quốc phòng HK, David Packard, BV đã lại gia tăng xâm nhập miền Nam VN. Mỹ có thể rút nữa cho tới mức 150.000 quân. Ngày 7/12, vụ Mỹ Lai có thể là vụ thảm sát, song chỉ là trường hợp lẻ loi; sẽ rút thêm quân trong ngày gần; chiến tranh có thể tắt dần, dù kết quả hội đàm Ba Lê ra sao. Ngày 10/12, các Ủy viên chánh phủ Mỹ và luật sư của trung úy Wil­liam L. Calley sang VN điều tra về vụ Mỹ Lai. Ngày 15/12, TT Nỉxon đọc diễn văn, từ nay tới 15-4-1970, sẽ có 50.000 quân Mỹ nữa rút khỏi VN, đưa số triệt thoái lên 115.500 người kể từ ngày ông lên cầm quyền. Ngày 17/12, theo Bộ Quốc phòng HK, có 240.000 quân BV tại miền Nam VN, và 40.000 đến 50.000 tại Lào và Mên.Ngày 17/12, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc kết thúc khoá họp thử 24. Chủ tịch Angie Brooks kêu gọi chấm dứt chiến tranh tại Nigeria, Trung Đông và Việt Nam.

Ngày 18/12, theo viện Gallup, hiện nay 64% người lớn tán thành chánh sách Nixon về VN, 25% không tán thành 11% không có ý kiến. Ngoài ra, 50% sinh viên tán thành, 44% chống đối. Cùng ngày 18/12, Thượng nghị sĩ Goldwater lại khuyến cảo TT Nixon tái oanh tạc BV và triệt hạ hải cảng Hải Phòng. Ngày 19/12, một vụ cháy lớn tại trụ sở MACV, Ban Mê Thuột, thiệt hại chừng 5 triệu Mỹ kim. Ngày 23/12, theo Ngọại trưởng Mỹ W. Rogers, mức xâm nhập cùa BV vào VNCH đã giảm 60% so với năm ngoái. Ngày 24/12, đêm nay, trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn, 10 Mỹ kiều, nhân viên các cơ quan dân sự Mỹ, phát truyền đơn kêu gọi các phe lâm chiến và các cường quốc tìm cách chấm dứt chiến tranh tại VN.Ngày 29/12, Phó TT Mỹ Agnew tới Manille, bắt đầu cuộc thăm viếng 10 quốc gia Á châu đề giải thích về chánh sách Nixon. 

HOÀ ĐÀM BA LÊ. NĂM 1969. Ngày 6/11, Phiên họp thứ 41 cuộc hội đàm Ba Lê các bên tiếp tục chỉ trích lên án lẫn nhau. Ngày 13/11, Phiên họp thứ 42 cuộc hội đàm Ba Lê. VNCH đề nghị thả 62 tù binh, BV không nhận. Ngày 14/11, tại Ba Lê, tòa Tổng lãnh sự VNCH bị một nhóm 50 sinh viên phản chỉến tới treo cờ VC và ném đá, cảnh sát Pháp giải tán. Cùng ngày 15/11, tại Ba Lê, Nguyễn Thị Bình tán thành đề nghị của tướng Dương Văn Minh, tồ chức Trưng cầu dân ý, sẵn sàng thương thuyết với một nội các hoà bình gồm những người chống sự hiện diện quân sự của Mỹ tại VN. Ngày 20/11, Trưởng và Phó trưởng phái đoàn HK tại Ba Lê, Cabot-Lodge và Lawrence Walsh đều từ chức, vì BV và MTGPMN không chịu đảp ứng và nói chuyện nghiêm chỉnh. Cũng ngày 20/11, Phiên họp thứ 43 cuộc hội đàm Ba Lê, BV vẫn từ chối không nhận 62 tù binh do VNCH muốn giao trả. Ngày 21/11, theo tin ngoại giao từ Hoa Thịnh Đốn, TT Nixon sẽ không cử người thay Cabot Lodge và Lawrence Walsh tại Ba Lê

Ngày 25/11, Phiên họp thứ 44 cuộc hội đàm Ba Lê. Cabot-Lodge còn tham dự. Xuân Thủy vẫn đòi bàn việc lập chánh phủ Liên Hiệp và triệt thoái quân Mỹ không đỉều kiện, dù họp kín và riêng với HK. Ngày 7/12, tại Ba Lê, phát ngôn viên của VC tuyên bố: nếu HK và Đồng minh chịu rút quân không điều kiện trong vòng 6 tháng, thì phe Cộng sản sẽ bàn về các bảo đảm an ninh trong thời gian triệt thoái. Cùng ngày 7/12, TT Nixon họp báo và tuyên bố: không chấp nhận đề nghị về sự rút quân trong 6 tháng. Ngày 11/12, Phiên họp thứ 46 cuộc hội đàm Ba Lê. Các trưởng phái đoàn Xuân Thủy và Phạm Đăng Lâm không tới dự. Ngày 18/12, Phiên họp thứ 47 cuộc hội đàm Ba Lê. Theo Nguyễn Thị Bình, việc rút thêm 50.000 quân Mỹ chẳng có gì đáng kể. Ngày 23/12, tại Ba Lê, Xuân Thủy lên án việc tỉ phú Mỹ Perot thuê máy bay chở 150 phụ nữ, nhi đồng vợ con tù binh Mỹ tớỉ Paris biểu tình đòi tin tức thân nhân. Ngày 30/12, Phiên họp thứ 48 cuộc hội đàm Ba Lê. Vắng mặt Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình. Không có gì mới.   

CHIẾN SỰ CÁC NƠI. NĂM 1969. Ngày 3/11, Đồn Bu Prang biên giớỉ Việt-Mên cách Ban Mê Thuột 65 cây số về Tây Nam có 500 người Thượng thuộc Lực lượng Đặc biệt cùng với 50 cố vấn Mỹ. Đồn vừa  chuyển giao cho quân đội VNCH ngày hôm qua, bị nhiều trung đoàn BV bao vây... Ngày 5/11, Công quân siết chặt vòng vây Đồn Bu Prang. Phi cơ không đáp xuống được vì bị pháo kich. 2 cỗ trọng pháo 105 trong đồn đã bị phá hủy. Ngày 8/11, vẫn giao tranh tại vùng Đức Lập, Quảng Đức và vùng Budop, Phước Long. Ngày 9/11, theo bộ Tư lịnh Quân đoàn II có 2 phi cơ Mig 21 của BV xuất hiện trên vùng Bu-Prang, Quảng ĐứcNgày 12/11, trong 24 giờ qua, quân lực VNCH thực hiện 60 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên. 364 phi xuất của phi cơ chiến đấu HK, và 10 lần B-52 dội bom xuống các vị trí Cộng quân trên các Vùng Chiến thuật. Ngày 14/11, giao tranh dữ dội gần trại Lực lượng Đặc biệt Bu Prang.

Ngày 15/11, Giao tranh tiếp tục tại Bu Prang có cả 30 chiến xa BV. Phóng pháo cơ B52 dội hơn 180 tấn bom xuống vùng này. Ngày 16/11, hơn 200 đạn trọng pháo nã từ Cao Mên sang đồn Bu Prang. Phi cơ Việt Mỹ oanh tạc các vị trí pháo binh Cộng quân trên đất Mên cách biên giới gần 1 cây số. Ngày 17/11, với sự trợ lực của pháo binh và không quân, 2 tiểu đoàn VNCH hành quân gần Bu Prang và Đức Lập. Ngày 18/11, có 60 cuộc hành quân của VNCH từ cấp tiểu đoàn trở lên trong 24 giờ qua. Ngày 19/11, từ chiều qua đến sớm nay, B52 dội dom 10 lần với 900 tấn bom xuống các địa đỉểm tụ quân của Cộng quân vùng phụ cận Bu Prang, Đức Lập, Bố Đức, tỉnh Quảng Đức. Trong 24 giờ qua, quân lực VNCH thực hiện 65 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn, Không quân cũng thực hiện 93 phi xuất, Hải quân 60 hải xuất, 299 giang xuất, 159/duyên xuất. 

Ngày 22/11, các vị trí VNCH tại Đức Lập và Bu Prang vẫn bị pháo kích và tấn công liên miên. Ngày 23/11, giao tranh tiếp tục tại Bu Prang, Quảng Đức, giao tranh tại Dầu Tiếng, Bình Dương. Ngày 1/12, trại Lực lượng Đặc biệt Bu Prang, Quảng Đức, vẫn bị bao vây và pháo kích dữ dội trong 48 giờ qua. Ngày 3/12, B52 dội bom 7 lần từ đêm qua đến sáng nay, thả hơn 1.000 tấn bom vào những khu rừng quanh trại Bu Prang, Đức Lập, Quảng Đức. Ngày 6/12, một trực thăng chở đại tá Tự lịnh Biệt khu 24 và đại tá Cố vấn Mỹ, 2 thiếu tá VN và 5 quân nhân VN bị bắn rớt gần Dakto cả đoàn tử thương.

VIỆC ĐÃ LÀM. NĂM 1969. Ngày 1/11, trong tháng 10 vừa qua, giá sinh hoạt tại Đô thành so với giá tháng 10-1968, tăng 25% đối với giới trung lưu, và 29,1% đối với giới lao động. Theo chỉ số 100 năm 1963, thì chỉ số hiện nay là 430 và 475 đối với 2 giới này. Ngày 5/11, đến nay, quân đội HK đã chuyên giao cho quân đội VNCH: 750.000 súng cá nhân và cộng đồng, 25.000 quân xa, hơn 100 phi cơ và trực thăng, hơn 1.000 đại bác và thiết giáp, 30.000 máy vô tuyến, 250 tàu chỉến, 1 phi đoàn phi cơ, 2 tiểu đoàn pháo binh, đồ trang bị cho nhiều đơn vị .v,v. Cũng ngày 5/11, với 63/98 phiếu thuận, Hạ Viện biểu quyết một dự luật sửa đổi sắc luật 20-61 ngày 29-12-61 về thuế kiệm ưởc, và huỷ bỏ nghị định liên bộ ngày 23-10-69 tăng thuế kiệm ước.

Ngày 14/11, Bộ Kinh tế và Bộ Tài chánh giảm thuế kiệm ước mới cho 13 thứ hàng: dầu hôi, xăng .v.v… Ngày 21/11, tổng số Xã có chánh quyền bầu cử: 2.006, tức 94,/1%; tổng số Ấp có chánh quyền bầu cử: 9.600, tức 89,3%. Ngày 29/11, Căn cứ hải quân Mỹ tại Mỹ Tho được chuyển giao cho Hải quân VNCH. Ngày 2/12, Thiết lập Ủy ban An ninh Trung ương và các Ủy ban Đô thành, Thị xã và Tỉnh, để tái thẩm và chung quyết về trường hợp các nghi can bị bắt giữ trong các cuộc hành quân. Ngày 5/12, Ngoại trưởng Trần Văn Lắm đã trình trước Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện, rằng Đại sứ VNCH tại Nhật bị chấm dứt nhiệm vụ và gọi về nước trong 10 ngày, sau vụ báo chí Nhật loan tin dan díu với một chiêu đãi viên Nhật. Một cố vấn tòa đại sứ cũng bị sa thải vì lang chạ với một nữ thương gia VN từ Sài Gòn qua Đông Kinh. 

Ngày 11/12, tới nay, Quỹ Tái thiết đã cho 40 xí nghiệp bị hư hại do vụ tấn công Tết Mậu Thân, vay dài hạn 980 triệu của Quỹ, và 1 tỷ 180 triệu trích trong 10 triệu Mỹ kim viện trợ Mỹ. Ngày 13/12, Lệ phí xuất ngoại ấn định lại từ 50.000$ đến 100.000$ cho mỗi người, mỗi xứ xin đi, và từ 1 đến 3 tháng. Ngày 16/12, Văn phòng phủ Tổng thống loan báo, TT Nguyễn Văn Thiệu đã đồng ý với chánh phủ HK về việc rút quân đợt 3. Quân số Mỹ sau đó sẽ còn lại 434.000 người. Ngày 20/12, Hải quân VNCH hạ thủy chiếc tuần duyên đĩnh và 1 tuần giang đĩnh đầu tiên chế bằng xi măng cốt sắt. Ngày 22/12, theo tin AP, Lục quân HK đã chuyển cho quân lực VNCH: 600 đại bác; 700.000 súng M-16; 30.000 phóng lựu đạn; 10.000 liên thanh; 10.000 súng cối; 200 chiến xa; 1.000 thiết vận xa; 20.000 máy truyền tin. Không quân Mỹ đã chuyển: 150 trực thăng, một số khu trục cơ A.37 và phi cơ AC.47. Hải quân Mỹ đã chuyển: 242 giang đĩnh.

Ngày 22/12, Quân lực VNCH hiện nay gồm có: 1.095.000 người gồm: 374.000 Lục quân; 33.000 Không quân; 28.000 Hải quân; 11.000 TQLC; 430.000 Địa phương quân, Nghĩa quân; 215.000 cảnh sát và cán bộ võ trang. Ngày 25/12, quân lực VNCH hưu chiến từ 18 giờ chiều qua đến 18 giờ chiều nay. Ngày 26/12, TT Nguyễn Văn Thiệu cho báo Tây Đức Der Spiegel biết: không khi nào liên hiệp với Cộng sản. Ngày 28/12, theo Tổng nha Thanh niên, thì trong năm 1969, đã đoàn ngũ hoá 931.503 thanh thiếu niên trên toàn quốc, và huấn luyện quân sự học đường cho 13.000 sinh viên. Ngày 31/12, giá vàng chánh thức tại Sài Gòn hôm nay: bán ra, 15.200$ một lạng.. Cũng ngày 31/12, theo thông điệp của TT Nguyễn Văn Thiệu ngày 8-1-70, trong năm 1969, đã có 170.105 Cộng quân tử thương, 16.411 bị bắt với 70.757 sủng đủ loại. Phía VNCH: 15.184 tử thương, 10.842 Đồng minh tử thương. Kết quả của chiến dịch Phượng Hoàng: 33.185 địch bị loại trừ. 

NỘI TÌNH VNCH. NĂM 1969. Ngày 5/11, tại Đà lat, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: một số người định tổ chức một Lực Lượng đứng giữa, đó chỉ là Liên hiệp trá hình với Cộng sản. Ngày 7/11, giữa lễ bế giảng một khóa huấn chính tại Trung Tâm Chiêu hồi Thị Nghè một hồi chánh viên ném lựu đạn vào Tổng trưởng Chiêu hồi Hồ Văn Châm, nhưng không nổ. Đây là vụ bạo động thứ 303 của người hồi chánh. Ngày 13/11, Đại tướng Dương Văn Minh xác định lập trường: không thân Cộng, không đồng ý với chánh quyền hiện nay; muốn trưng cầu dân ý hoặc triệu tập Quốc dân Đại hội để hiểu biết ý đa số dân chúng; ông không thiên về khối nào nhóm nào; sẽ ra tranh cử Tổng thống 1971. Ngày 15/11, Luật sư Trần Ngọc Lỉễng, chủ tịch “Lực lương Quốc gia tiến bộ” phổ biến bản tuyên ngôn kêu gọi: lập chánh phủ hòa giải, chống sự hiện diện của Đồng Minh, chống thuế kiệm ước. 

Ngày 17/11, TT Nguyễn Văn Thiệu chuyển qua Hạ Viện hồ sơ về 2 Dận biểu liên lạc với VC. Ngày 20/11, Hồ sơ về việc 1 Dân biểu thứ ba liên lạc với VC được Hành pháp chuyển qua Hạ viện. Ngày 26/11, Dân biểu Trần Ngọc Châu họp báo thanh minh về chuyện bị tố là liên lạc với VC, và trách Hành pháp vu oan. Ngày 28/11, Tòa án Mặt trận Biệt khu Thủ đô và Vùng III Chiến thuật xử vụ gián điệp Huỳnh Văn Trọng, nguyên phụ tá Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cùng 42 người liên lạc với tổ chức điệp báo CS. Ngày 29/11, vụ án Huỳnh Văn Trọng, Toà án Mặt trận tuyên án: 4 án khổ sai chung thân; 8 án khổ sai 20 năm; 5 án khồ sai từ 5 đến 7 năm. Số bị can khác bị phạt tù ở từ 3 tháng đến 3 năm, và 11 án treo ; 2 ký giả được tại ngoại hậu tra. Ngày 30/11, Lực Lượng Đại Đoàn kết nhóm họp Đại hội tại rạp Thống Nhất Sàí Gòn, lên án các nhóm đề nghị tổ chức Quốc dân Đại hội, Trưng cầu Dân ý, lực lượng thứ ba, giải pháp liên hiệp. 

Ngày 9/12, tại Trung tâm Huấn luyện Cán bộ Quốc gia Chí Linh, Vũng Tàu, TT Nguyễn Văn Thiệu lên án nhóm “đứng giữa”, và tuyên bố: nếu Quốc hội bênh Cộng sản, thì quân đội và nhân đân sẽ không đễ yên. Ngày 20/12, Chừng năm bảy trăm người biểu tình trước tòa Đô chánh và trụ sở Hạ Viện, đòi có biện pháp dứt khoát đối với 3 Dân biểu coi như thân Cộng. Một số xông vào Hạ Viện đập phá. Ngày 22/12, Chủ tịch Hạ viện cho biết: sẽ truy tố 3 hội viên Hội đồng Đô thành đã tổ chức biểu tình tràn vô Hạ Viện. Ngày 24/12, trong 3 ngày qua, vẫn có những cuộc biểu tình phản đối 3 Dân biểu thân Cộng tại Phú Bổn, Ban Mê Thuột, Dalat, Phước Tuy vv... Ngày 27/12, một số sinh viên nhóm họp tại trường Nông Lâm súc Sài Gòn hát nhiều bài ca phản chiến. Cảnh sát bắt 15 người thuộc ban Chấp hành Tổng hội Sinh viên. 

Ngày 29/12, ba (3) Nghị viện Đô thành trong ban tổ chức biểu tình ngày 20-12 xông vào Hạ viện, không chịu ra trước Ủy Ban Điều tra của Thượng viện. Ngày 30/12, Hạ viện nhóm họp về vụ 3 Dân biểu bị tố là thân Cộng, Ủy ban điều tra sau 3 tuần làm việc, kết luận là 3 Dân biểu đều có tội. Cùng ngày 30/12, có 6 sinh viên du học không chịu về nước, bất chấp có lịnh gọi của Bộ Quổc phòng, bị tòa án quân sự Vùng 3 Chiến thuật kết án 6 năm tù ở và 20 năm mất quyền công dân và gia tộc. Ngày 31/12, Hạ viện nhóm họp để xét vụ 3 Dân biểu bị coi là thân Cộng. 70/101 hiện diện phiếu kết tội DB Trần Ngọc Châu liên hệ đến các hoạt động của cán bộ Cộng sản; DB Phạm Thế Trúc: 69/101 phiếu kết tội; DB Hoàng Hồ: 68/101 phiếu kết tội.. 

NẠN NHÂN, TỴ NẠN CS. NĂM 1969. Ngày 6/11, tại Thừa Thiên, phát hiện thêm một hầm 300 xác nạn nhân vụ tấn công Tết Mậu Thân cách Huế 12 cây số. Ngày 9/11, số liệu từ Bộ Chiêu hồi 39.578 người hồi chánh trong 10 tháng qua. Ngày 22/11, Bộ Quốc phòng VNCH ra thông cáo cải chánh tin đồn có 567 thường dân VN do sư đoàn bộ binh số 23 Mỹ sát hại tại Quảng Ngãi, rằng ngày 19-3-1968, chỉ có 20 người bị thiệt mạng lây trong trận đánh dữ dội vào làng chiến đấu CS tại xã Sơn Mỹ, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi (sau này gọi là vụ thảm sát Mỹ Lai)Ngày 30/11, Bộ Ngoại giao phản kháng với Ủy Hội Quốc tế, từ đầu năm tới nay đã có 4.309 thường dân thiệt mạng, 13.474 bị thương, và 1.791 bị bắt cóc trong các vụ khủng bố phá hoại của VC. 

Ngày 12/12, có 796.701 người tị nạn trong 803 trại định cư gồm: 386.504 tại Vùng I;  227.220 tại Vùng II; 21.712 tại Vùng III; và 161.265 tại Vùng IV. Ngày 30/12, Số hồi chánh viên được thâu dụng là 15.032, gồm: trong ngành Chiêu hồi: 6.743; trong các binh chủng: 6.657; trong các cơ quan dân sự: 1.632. Cùng ngày 31/12, trong năm 1969, đã có 47.023 ngườỉ hồi chánh trên toàn quốc gồm: 28.466 quân nhân, 12.635 cán bộ, 5.922 thuộc thành phần khác.

Sydney ngày 30 tháng 4 năm 2024

(Hết chương 7 gồm 16 bài: 106– 121)


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương VIII: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 3 CHÍNH QUYỀN VÀ 5 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1970-1975.

(24 bài viết, 46 trang và 30.995 chữ).

Ba chính quyền từ 1970 đến 1975: (1) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Phạm Văn Đồng tại Bắc Việt Nam; (2) Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam, và Chính phủ Huỳnh Tấn Phát; (3) Chính quyền Đệ Nhị Việt Nam Cộng hoà và chính phủ Trần Thiên Khiêm, chính phủ Nguyễn Bá Cẩn, chính phủ Vũ Văn Mẫu.   

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

Bài 122: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1970-1974. 

Giai đoạn sau Mậu Thân, tình hình miền Nam tương đối yên tĩnh trong các năm 1969–1971. Lực lượng vũ trang của QGP tích cực dự trữ lương thực, đạn dược tại các căn cứ ở Lào, Campuchia và các vùng rừng núi mà quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa chưa với tới được. QGP sử dụng vùng biên giới Lào và Campuchia, làm bàn đạp tấn công vào lực lượng Mỹ-Việt Nam Cộng hòa, sau đó rút lui trở lại bên kia biên giới. Chính quyền Sihanouk đã thỏa thuận với Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho phép các căn cứ QGP ở sát biên giới Việt Nam-Campuchia nhận viện trợ từ Trung Quốc thông qua các cảng Campuchia. Đổi lại Campuchia được đền bù bằng cách Trung Quốc mua gạo của Campuchia với giá cao.

Tháng 3 năm 1970, Tổng thống Mỹ Nixon muốn chấm dứt tình trạng đó, nên ủng hộ Thủ tướng chính phủ Campuchia là Lon Nol triệu tập Quốc hội bỏ phiếu phế truất hoàng thân Norodom Sihanouk khỏi vị trí Quốc trưởng, sau đó phát động chiến tranh chống Cộng tại Campuchia. Tháng 4 năm 1970, khoảng 40.000 lính Việt Nam Cộng hòa và 31.000 lính Mỹ được huy động mở chiến dịch tấn công vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại biên giới Tây Ninh giáp ranh Campuchia. Do được chuẩn bị trước, ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam và phần lớn lực lượng QGP đã di chuyển sâu vào lãnh thổ Campuchia và tiến hành các trận phản công, gây cho đối phương những thiệt hại đáng kể. 

Ngày 30 tháng 6 năm 1970 cuộc hành quân chấm dứt, Mỹ tuyên bố tiêu diệt khoảng 2.000 QGP, nhưng họ đã không tiêu diệt được ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam. Sau đó, lực lượng QGP gồm các sư đoàn 5, 7, 9 cùng quân Khmer Đỏ đánh lui các đội quân của chính phủ Lon Nol, và quân đồn trú của Việt Nam Cộng hòa giành kiểm soát các tỉnh Đông và Đông Bắc Campuchia mở rộng căn cứ nối thông với Lào. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng cung cấp vũ khí, quân trang quân dụng giúp Khmer Đỏ xây dựng nhiều đơn vị quân sự mới. Vùng lãnh thổ do QGP và Khmer Đỏ kiểm soát tại Campuchia trở thành hậu cứ lớn, QGP đã có thể thu mua nhu yếu phẩm, thuốc men ngay trên đất Campuchia không phải chờ vào chi viện của miền Bắc cách xa hàng ngàn cây số. 

Tiến trình Việt Nam hoá chiến tranh diễn ra tương đối thuận lợi. Quân lực Việt Nam Cộng hoà sau Mậu Thân được trang bị hiện đại đã tỏ ra tự tin hơn và đã nắm thế chủ động trên phần lớn chiến trường miền Nam từ năm 1969 đến tận cuối năm 1971. Nhưng điều đó chưa nói lên điều gì lớn, vì QGP trong thời kỳ này vẫn chưa hồi phục sau Mậu Thân và không chủ trương đánh lớn. Sự yên tĩnh trên chiến trường cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút quân Mỹ mà không gây ra một sự xấu đi trầm trọng nào. Tranh thủ thời gian yên tĩnh, Việt Nam Cộng hòa đổ công sức vào tiến hành bình định nông thôn. Một chương trình lớn tái thiết nông thôn được thi hành với viện trợ kinh tế lớn của Mỹ. 

Chiến dịch Phượng Hoàng được triển khai, nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Các toán nhân viên Phượng hoàng áo đen được tình báo Mỹ huấn luyện phái xuống các xóm ấp, họ ở cùng trong dân nghe ngóng thu thập tình báo, bắt các phần tử nghi ngờ là cộng sản hoặc thân cộng sản tra khảo để phanh ra tổ chức, nếu không khai thác được và vẫn nghi là Cộng sản thì sẽ bị thủ tiêu. Tính tới năm 1972, Mỹ tuyên bố đã "loại bỏ" 81.740 người ủng hộ QGP, trong đó 26.000 tới 41.000 đã bị giết. Số người bị thủ tiêu lên đến hàng ngàn người. Các biện pháp này đã có hiệu quả tốt về an ninh, tình hình nông thôn trở nên an toàn hơn. 

Việc QGP cùng quân Khmer Đõ giành kiểm soát các tỉnh Đông Bắc Campuchia đã mở rộng căn cứ nối thông với Lào giúp QGP thiết lập một hệ thống kho tàng tại Hạ Lào nhận quân dụng từ miền Bắc, rồi chuyển đến các tỉnh Đông Bắc Campuchia, đổ vào các căn cứ Tây Ninh và nhiều nơi khác. Tháng 2 năm 1971, hơn 21.000 binh lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa, dưới sự yểm trợ của không quân Mỹ mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, từ căn cứ Khe Sanh, Quảng Trị đánh vào Hạ Lào nhằm phá hủy hệ thống kho tàng, cắt đứt nguồn tiếp tế của Bắc Việt cho Quân Giải phóng miền Nam. Quân Giải phóng đã dự đoán và chuẩn bị đón đánh từ trước. 

Kết quả cuộc hành quân Liên quân Việt-Mỹ bị thiệt hại nặng nề, hơn nữa các lực lượng hành quân Lam Sơn 719 bị tiêu diệt là các đơn vị dự bị chiến lược tốt nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH). Riêng tại Cứ điểm 31, Đại tá Nguyễn Văn Thọ Lữ đoàn trưởng Dù, cùng Bộ tham mưu và gần 100 binh sĩ Lữ đoàn 3 Dù bị bắt, trên 100 người chết. Cuộc hành quân hành quân Lam Sơn 719 còn thất bại ở chỗ tuy có phá được một số kho tàng hậu cần, nhưng về cơ bản đã không làm hại gì cho hệ thống tiếp tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) cho Quân Giải phóng (QGP) miền Nam. 

Sydney ngày 1 tháng 5 năm 2024

 

Bài 123: CHIẾN DỊCH HÈ-XUÂN NĂM 1972, TRẬN  ĐỐI ĐẦU VỚI QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ TẠI CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ THÁNG 6-9/1972.

Đến đầu năm 1972, QGP đã chuẩn bị xong lực lượng và mở một cuộc tổng tiến công có quy mô lớn mang tên Chiến dịch Xuân-Hè 1972, còn được biết đến với tên gọi Mùa hè đỏ lửa, diễn ra từ ngày 30 tháng 3 năm 1972 đến ngày 31 tháng 1 năm 1973. Đây là cuộc tổng tấn công chiến lược bằng các chiến dịch tiến công quy mô lớn, hiệp đồng binh chủng, tiến công sâu vào hệ thống phòng ngự tại những hướng chiến lược quan trọng: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; Bắc Tây Nguyên; Đông Nam Bộ, và đồng bằng Khu V, và Khu VIII (Nam Bộ). Tuy rằng, tên và kế hoạch như vậy nhưng rút kinh nghiệm từ năm 1968, quân du kích và cán bộ nằm vùng sẽ không "nổi dậy" tại vùng địch hậu mà chỉ đóng vai trò chỉ đường và tải đạn, họ sẽ chỉ ra mặt tại những nơi chủ lực QGP đã kiểm soát vững chắc. 

Trong 2 tháng đầu, QGP liên tiếp chọc thủng cả ba tuyến phòng ngự, tiêu diệt hoặc làm tan rã nhiều sinh lực đối phương, gây kinh ngạc cho cả Mỹ lẫn Việt Nam Cộng hòa. Tại Bắc Tây Nguyên, sau các thắng lợi ban đầu của QGP tại trận Đắc Tô - Tân Cảnh chiến sự mau chóng êm dịu trở lại sau khi đội quân này bị chặn lại trong Trận Kon Tum. Tại Đông Nam Bộ, ở tỉnh Bình Long sau khi thắng lợi tại trận Lộc Ninh, QGP tiến công theo đường 13 để giành quyền kiểm soát thị xã An Lộc. Không quân Mỹ dùng B 52  đánh phá ác liệt các khu vực tập kết gây thiệt hại lớn cho QGP. Cuối cùng, QGP không thể lấy nổi thị xã phải rút đi. Và, sau 3 tháng đánh nhau, chiến sự đi vào ổn định. 

Chiến trường chính của năm 1972 là tại tỉnh Quảng Trị. Tại đây có tập đoàn phòng ngự dày đặc của QLVNCH, nơi tuyến đầu giáp với miền Bắc. Cuộc tiến công của QGP tại Quảng Trị đã thành công to lớn, 40.000 quân cua VNCH phòng ngự tại đây đã hoảng loạn và tan vỡ, thậm chí Trung tá Phạm Văn Đính, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 đã đầu hàng mà không chiến đấu. Chỉ sau một tháng và qua 2 đợt tấn công, QGP đã giành quyền kiểm soát toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế. Mỹ phản ứng bằng việc ném bom trở lại miền Bắc, đưa hải quân vào thả thuỷ lôi phong tỏa các hải cảng tại miền Bắc Việt Nam.

Ngày 25 tháng 5 năm 1972, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố sẽ tái chiếm Quảng Trị. Từ ngày 26 tháng 6 năm 1972, Không quân Hoa Kỳ bắt đầu ném bom rải thảm xuống Quảng Trị. Ngày 28 tháng 6 năm 1972, tướng Ngô Quang Trưởng phát lệnh khởi binh Chiến dịch Lam Sơn 72, với các đại đơn vị Lữ đoàn Dù 1, 2, 3; Liên đoàn 81/Biệt kích dù; Thiết đoàn 7, 18 kị binh; 3 Lữ đoàn Thuỷ quân lục chiến và các tiểu đoàn pháo, công binh trực tiếp tham chiến. Chiều 28 tháng 6, sau khi vượt sông Mỹ Chánh, QLVNCH đã cô lập được một bộ phận của các Sư đoàn 304 và 308 của QGP ở hướng Nam Sông Mỹ Chánh. 

Ngày 29 tháng 6, về phía Đông các Lữ TQLC 147 và 258 tấn công các khu vực Diên Khanh, Xuân Viện, Kim Giao, Lữ TQLC 369 từ Mỹ Thủy và Cổ Lũy đánh ra. Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 7, sau khi nhổ từng chốt chặn của QGP trên khoảng cách từng hecta một, bất chấp các thương vong lớn, Lữ dù 1 và Liên đoàn 1 Biệt động quân đã có mặt ở ngoại vi thị xã Quảng Trị, nhưng không lọt vào được. Ngay lập tức, QGP điều động Sư đoàn 325 và Sư đoàn 312 vào tham chiến cùng với các lực lượng tại chỗ giữ vững được Quảng Trị. 

Ngày 7 tháng 7, Tiểu đoàn 3 QGP sử dụng Đại đội 9, tăng cường 1 trung đội của Đại đội 10, với một trung đội địa phương và 3 xe tăng được Trung đoàn pháo 45 chi viện tiến hành phản kích đối phương ở phía Đông La Vang Hữu. Kết quả hàng trăm binh lính VNCH bị thương vong, hai xe tăng bị bắn cháy phải rút ra khỏi khu vực La Vang Hữu. Phía QGP bị hỏng hai xe tăng một chiếc do bắn nhầm và một chiếc bị phá do bom. Quân Mỹ lại tăng cường hỏa lực, nâng tổng số đạn pháo đánh phá thị xã từ 8.000 viên/ngày lên 15.000 viên/ngày, cao điểm có ngày lên tới 30.000 viên/ngày, và từ 40 đến 60 lần/ngày máy bay phản lực, dùng bom khoan đánh phá hầm hào tường thành. 

Ngày 13 tháng 7, máy bay trực thăng chở đại tá Nguyễn Trọng Bảo, tham mưu phó Sư dù bị bắn hạ tại thị xã Quảng Trị. Rạng sáng 14 tháng 7, một đội biệt kích quân VNCH đột nhập vào phía đông Thành cổ định cắm cờ, thì bị đại đội 14 trung đoàn 48 QGP phát hiện bị tiêu diệt một số, số còn rút chạy bỏ lại lá cờ. Cùng ngày 14 tháng 7 nầy, Sư dù và Sư TQLC tổ chức tấn công đợt 2 đánh chiếm thị xã. Lữ dù 1 đánh Quy Thiện, Trì Bưu, Lữ dù 2 đánh Tích Tường, Như Lệ. Các lữ TQLC 147 và 369 tiến sát sông Vĩnh Định, chiếm An Tiêm, Nại Cửu và Bích La Đông. Đến ngày 16 tháng 7, Lữ dù 1 đã chiếm được các làng Tri Bưu, Cổ Thành.

Trung đoàn 18 QGP (Sư 325) bị tổn thất nặng phải rút ra Ái Tử - Đông Hà, Bộ tư lệnh B5 điều Trung đoàn 95 (Sư 325) vào thay. Quân VNCH đã hình thành thế bao vây ba mặt quanh thị xã Quảng Trị. Ngày 22 tháng 7, quân VNCH ồ ạt sử dụng xe tăng và pháo binh tấn công chính diện kết hợp máy bay ném bom để chọc thủng tuyến phòng thủ này của QGP. Từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 7, tướng Lê Quang Lưởng tung Liên đoàn biệt kích dù 81 vào chiến đấu. Tiểu đoàn biệt kích dù 27 tiến sát góc Đông Nam Thành cổ định cắm cờ trên tường thành Cổ, nhưng đều bị Trung đoàn 48 QGP đẩy lùi.

Lúc này, trận chiến diễn ra trong mùa mưa khiến cho các chiến sỹ quân Giải phóng phải chiến đấu trong điều kiện cực kỳ khó khăn khi bên ngoài là bóng đêm và hỏa lực của đối phương, bên trong là những căn hầm ngập nước, khiến cho nguy cơ các vết thương bị nhiễm trùng tăng lên. Giao tranh diễn ra dữ dội, có nơi trên trận địa có ba lớp người chết, có cả lính QGP, lính VNCH và cả cố vấn Mỹ. Hai bên giao tranh với tinh thần không khoan nhượng. Không khí chiến trường trở nên ngột ngạt và căng thẳng.

Trung tuần tháng 8 năm 1972, Bộ Tư lệnh B5 quyết định giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 325 QGP chỉ huy lực lượng phòng thủ Thành cổ Quảng Trị. Lúc này, Sở chỉ huy Thành cổ ở ngay sát mép sông, dưới một căn hầm rượu của dinh tỉnh trưởng Quảng Trị đã bị bom đạn làm đổ nát, QGP cải tạo khu hầm thành ba ngăn, có giao thông hào chạy ra bên ngoài. Một ngăn cho chỉ huy và trực ban tác chiến; một ngăn cho thông tin trinh sát; và một ngăn làm khu phẫu thuật. Thương binh QGP tập trung về đây, trước khi vận chuyển khỏi chiến trường. 

Tại bến Vượt, nơi chuyển quân giữa hai bờ Thạch Hãn cũng là nơi QGP hứng chịu nhiều bom đạn nhất. Nhiều thương binh QGP đã bị thiệt mạng bởi bom và pháo kích khi đang vận chuyển khỏi chiến trường. Khúc sông ở bến Vượt cũng chính là nguồn tiếp vận duy nhất cho QGP trong Thành cổ. Bom và đạn pháo có ngày đã gây thương vong cho cả một Đại đội Quân Giải phóng ở bến sông. Thế trận thực sự nghiêng về Hoa Kỳ và VNCH khi họ kiểm soát được cả ba mặt của Thành cổ lẫn kiểm soát trên không, nhưng QGP vẫn giữ được Thành cổ trong suốt ba tháng.

Sydney ngày 2 tháng 5 năm 2024

 

Bài 124: CUỘC RÚT LUI CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG SAU 81 NGÀY ĐÊM CỐ THỦ THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ ĐÊM 15 THÁNG 9 NĂM 1972.

Quân Giải phóng được bổ sung vào Thành đều đặn theo kế hoạch. Mỗi đêm vào trung bình được 40-50 người. Tân binh được tăng cường cho các đơn vị phòng thủ chỉ đủ để bù đắp số thương vong trong chiến đấu. Từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 9 năm 1972, trời mưa to, nước sông Thạch Hãn lên nhanh, chảy xiết, ảnh hưởng đến tăng cường cung cấp tiếp tế và quân số. Có đêm trôi dạt hàng chục chiến sĩ vượt sông. Công sự chốt hầu hết bị sụt lở khiến QGP phải chiến đấu trong điều kiện cực kỳ tồi tệ. 

Ngày 7 tháng 9 năm 1972, quân VNCH tiến công đợt 6, mở đầu bằng trận tập kích hỏa lực "Phong lôi 2". Không quân, hải quân Hoa Kỳ, pháo binh VNCH bắn suốt 48 giờ liền vào tất cả các trận địa QGP và vực khu Thành cổ, các bến vượt sông, đường cơ động. Oanh tạc cơ B-52 liên tục rải thảm tả ngạn sông Thạch Hãn khu Nhan Biều-Ai Tử. Đêm 7 tháng 9, tiểu đoàn K2  Trung đoàn 48 QGP tập kích khu Hành Hoa, chiếm một số công sự, cải thiện thế phòng thủ ở Tri Bưu. Tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 5 trung đoàn 95 bị tử thương trong khi tập kích khu nhà thờ Tin Lành. 

Sáng ngày 9 tháng 9 năm 1972, Lữ đoàn 147 và 259 Thủy quân Lục chiến bắt đầu cuộc tấn công lớn: hai lữ đoàn TQLC với năm mũi, tiến công từ ba hướng vào thị xã, để tái chiếm thành cổ, cùng lúc tiến công khu La Vang-Tích Tường-Như Lệ để chặn sư đoàn 308 QGP phản kích từ hướng này. Liên đoàn 1 Biệt động quân tiến công hướng Bích Khê-Nại Cửu để chặn sư đoàn 320 QGP từ bắc sông Vĩnh Định. Nhiều trận phản kích ác liệt của bộ đội ở ngay sát chân Thành cổ.

Ngày 10, tháng 9 năm 1972, quân VNCH được tăng cường thêm 2 sư đoàn từ Huế, tổ chức tấn công trực diện Thành cổ, lấn dũi mạnh từ hướng Nam-Đông-nam. Nhiều toán nhảy vào thành nhưng đều bị QGP tiêu diệt. Quanh Thành cổ, dưới hào nước, xác chết nằm rải rác. Dưới sự yểm trợ của xe tăng, quân VNCH tấn công lấn dũi phía khu Mỹ Tây, Trường Nữ, Trại giam, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95, QGP đánh trả ác liệt, bắn hỏng một xe tăng, nhưng cũng bị chết 6, bị thương 49. Ngày 10-9, cả ở hướng Nam-Đông Nam, Bắc-Đông Bắc, trên toàn khu vực Thị xã, QGP diệt hơn 200 binh lính đối phương, bắn cháy 1 xe tăng, nhưng cũng bị thương vong 126 người và để mất khu trại giam và Mỹ Tây. 

Đêm 12/9, QGP tăng cường vào thành tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 (201 người) và 70 tân binh giữa lúc trời mưa to, lũ lớn. Quân VNCH sau 4 ngày liên tục tiến công lấn dũi, vẫn chưa chiếm được Thành, nhưng 6 tiểu đoàn thuộc 2 lữ đoàn Thủy quân lục chiến đã áp sát ba góc Thành cổ: Nam, Đông Nam, Đông Bắc. Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 QGP chiến đấu quyết liệt, giằng co với đối phương từng khu vực, góc tường, mảnh vườn. Kết quả trong ngày, QGP diệt 123 lính, bắn cháy 1 xe tăng, QGP bị thương vong 34 chiến sĩ.

Rạng sáng ngày 13 tháng 9/1972, đại đội 5 tiểu đoàn 2 QLVNCH từ ngã tư Quang Trung-Trần Hưng Đạo mở cuộc tấn công vào khu vực chợ Quảng Trị. Trận chiến đã diễn ra quanh khu vực chợ, dọc theo đường Trần Hưng Đạo ra đến bờ sông. Hai bên đã quần thảo nhau quanh các đống bê tông đổ nát mà QGP đã biến thành các điểm kháng cự. Cuối cùng tiểu đoàn TQLC đã chiếm được mục tiêu, sau đó khai triển thanh toán các chốt phòng ngự dọc hai bên đường Phan Đình Phùng, cơ quan USOM và Tòa án tỉnh Quảng Trị. Mục tiêu sau cùng trong ngày 13/9 của tiểu đoàn 2 TQLC là tòa Hành chánh tỉnh Quảng Trị nơi 1 Trung đoàn Quân Giải phóng đặt bộ chỉ huy. 

Do các chốt bảo vệ xung quanh đã bị TQLC triệt hạ, nên bộ chỉ huy QGP tại đây đã phải dời ra hướng sông. Khoảng 23 giờ ngày 13 tháng 9, Bộ Tư lệnh B5 QGP lệnh cho trung đoàn phó trung đoàn 48, và sau đó 1 giờ sáng 14 tháng 9 lệnh cho Đại tá Nguyễn Việt chỉ huy trưởng Thành cổ ra ngay Nhan Biều để cùng Sư phó sư đoàn 325 tổ chức lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 18 QGP vào thành phản kích. Ngày 14 tháng 9 năm 1972, từ hướng Đông-nam, quân VNCH tiến sát khu chùa Bà Năm, khu trại giam, chợ. Từ hướng Nam, họ vào khu Mỹ Tây, Trường Nữ. QGP chống trả quyết liệt bị thương vong nhiều nhưng vẫn giữ vững các chốt,. 

Khoảng 4 giờ sáng ngày 15 tháng 9, được yểm trợ tối đa hỏa lực từ không quân, pháo binh, xe tăng, súng phun lữa các loại, Lữ đoàn TQLC 258 và 147 tập trung lực lượng tổng công kích từ ba hướng vào Cổ thành: Ở hướng Đông, 4 đại đội của tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 6 TQLC đã dàn hàng ngang đồng loạt xung phong đánh vào Sở chỉ huy K1, Trung đoàn 48 QGP chiếm được một góc khu đông bắc Thành cổ. Các chốt của QGP còn lại tiếp tục chiến đấu mặc dù sức chiến đấu đã giảm, quân số bị thương vong nhiều. Tiểu đoàn địa phương K8, tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 mới vào cũng đã bị tổn thất nặng. 

Trung đoàn bộ binh 18 Sư đoàn 325 QGP vẫn chưa đến được nơi quy định để vượt sông vào Thành cổ. Đêm 15 tháng 9 năm 1972, các chỉ huy của QGP trong thành nắm lại tình hình, thấy QLVNCH đã chiếm một số góc thành cổ, nên thống nhất ra lệnh rút khỏi thị xã, và thành cổ từ 22 giờ ngày 15 tháng 9. QGP pháo kích vào cánh quân của tiểu đoàn 3 và 6 TQLC, yểm trợ cho QGP đang cố thủ ở đây chuẩn bị rút lui. Gần rạng sáng, các đơn vị TQLC đồng loạt xung phong, những tổ kháng cự của QGP chống trả mãnh liệt, nhằm giữ chân QLVCH cho đồng đội rút lui.

Sau 81 ngày đêm cố thủ tại Cổ Thành và thị xã Quảng Trị, 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, QGP rút lui khỏi Thành cổ. Riêng trung đoàn Triệu Hải (Trung đoàn 27 QGP), Trung đoàn trưởng sau này là thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, người gắn bó với Trung đoàn 27 lúc mới thành lập, từ lính nghĩa vụ, chỉ huy tổ 3 người, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, rồi Trung đoàn trưởng với 1.500 quân đưa vào thành cố thủ là đơn vị tổn thất nặng nhất. Các chốt chiến đấu vòng ngoài đều bị xóa sổ, trung đoàn 48B thuộc sư đoàn 390 QGP, đơn vị chiếm giữ trung tâm thị xã, cũng đã bị thiệt hại hơn 80% quân số. 

Trong một hồi ký phổ biến vào năm 1997, trung tướng Lê Tự Đồng nguyên tư lệnh lực lượng QGP tại mặt trận tỉnh Quảng Trị ghi nhận là các sư đoàn và trung đoàn QGP tham chiến đã bị tổn thất quá nửa quân số. Tướng Lê Phi Long của QGP nói: "Chiến dịch Quảng Trị kéo dài, thương vong rất lớn, có thể nói là lớn nhất so với tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến. Mỗi lần nghĩ lại tôi rất đau lòng. Mãi đến bây giờ (2008), tôi và nhiều đồng nghiệp vẫn chưa hiểu vì sao ta phải cố thủ Cổ thành với một giá đắt như vậy? Có cán bộ cấp trên giải thích rằng do “yêu cầu của đấu tranh ngoại giao, cần giữ vững Cổ thành để phối hợp với cuộc đàm phán tại hội nghị Paris...".

Lê Bá Dương một chiến binh tham gia trận đánh Quảng Trị có Bài thơ “Lời gọi bên sông” viết:

Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ. 
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm. 
Có tuổi hai mươi thành sóng nước.
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.

Sydney ngày 3 tháng 5 năm 2024

 

Bài 125: HOÀ HỘI PARIS VÀ QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN TỪ NGÀY 3/5/1968 ĐẾN NGÀY 27/1/1973.

Sau Mậu Thân, các bên đã ngồi vào thương lượng cho tương lai chiến tranh Việt Nam. Đó là việc phải xảy ra khi chẳng ai dứt điểm được ai bằng quân sự. Hội đàm bắt đầu tại Paris kéo dài từ ngày 3 tháng 5 năm 1968 đến ngày 27 tháng 1 năm 1973  ký Hiệp đinh, mang tên Hiệp định Paris về Việt Nam. Hội đàm ban đầu chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ;  sau mở rộng ra thành hội nghị bốn bên, thêm Việt Nam Cộng hoà và Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Về mặt công khai có 4 bên tham gia đàm phán, nhưng thực chất chỉ có 2 bên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ tiến hành đàm phán bí mật với nhau để giải quyết các bất đồng giữa hai bên.

Khi một bên đang thắng thế trên chiến trường thì đàm phán thường bế tắc và đó là những gì diễn ra Hội nghị Paris suốt thời kỳ từ năm 1968 đến năm 1972. Các bên dùng hội nghị như diễn đàn đấu tranh chính trị. Trong suốt quá trình hội nghị các cuộc họp chính thức chỉ mang tính tố cáo nhau, tranh luận vài điều mà không thể giải quyết được rồi kết thúc mà không đi vào thực chất. Chỉ có các cuộc tiếp xúc bí mật giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn của tổng thống Mỹ, là đi vào thảo luận thực chất nhưng không đi được đến thỏa hiệp.

Mục đích của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) khi tham gia đàm phán là buộc Mỹ rút quân và buộc chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) dù do bất kỳ ai lãnh đạo cũng phải giải tán thay thế bằng một chính phủ Liên hiệp. Vì VNDCCH cho rằng chính phủ VNCH không muốn độc lập và hòa bình, mà chỉ muốn nắm quyền vì lợi ích của họ. Phía Mỹ cho rằng phía VNDCCH làm ra vẻ muốn hoà bình và độc lập, nhưng thực tế chẳng khác nào ép Mỹ phải làm mọi cách để lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa từ chức rồi lập ra chính quyền Liên hiệp để đàm phán và kết quả là một Liên minh mà thực chất người cộng sản nắm toàn quyền.

Lập trường ban đầu của các Mỹ: quân đội Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam phải đồng thời với việc Quân đội Miền Bắc cũng rút khỏi miền Nam Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hòa bình. Tổng tuyển cử trước, ngừng bắn sau. Lập trường ban đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam, không đả động tới sự có mặt tại miền Nam của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu không được tồn tại trong giải pháp hòa bình. Thành lập Chính phủ liên hiệp tại miền Nam thông qua Tổng tuyển cử. Ngừng bắn trước, Tổng tuyển cử sau.

Cho đến cuối năm 1972, trận Thành cổ Quảng Trị kéo dài, tổn thất lớn, mỗi bên đều nhận ra rằng không thể khuất phục đối phương bằng vũ lực cũng như không đủ nguồn lực để duy trì chiến tranh nên buộc phải chấp nhận xuống thang trên bàn đàm phán. Hai bên đã đi đến thỏa hiệp chung: Quân Mỹ và các đồng minh nước ngoài rút khỏi Việt Nam chấm dứt mọi can thiệp quân sự vào vấn đề Việt Nam; không đả động tới việc có hay không Quân đội Nhân dân Việt Nam ở chiến trường Nam Việt Nam; và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu được phép tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hòa bình.

Sau khi văn kiện hiệp định đã được ký tắt, Henry Kissinger đi Sài Gòn để thông báo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu văn bản đã đạt được. Phía Việt Nam Cộng hòa phản đối dự thảo này và tuyên bố sẽ không ký kết hiệp định như dự thảo. Sau đó, chính phủ Mỹ tuyên bố chưa thể ký được hiệp định và đòi thay đổi lại nội dung chính liên quan đến vấn đề quy chế về Quân đội Nhân dân Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ sửa đổi của Mỹ. Mỹ tiến hành ném bom lại miền Bắc Việt Nam để buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam chấp nhận ký theo phương án Mỹ đề nghị.

Tháng 12 năm 1972, Mỹ mở Chiến dịch Linebacker II cho máy bay ném bom chiến lược B 52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác ở miền Bắc Việt Nam trong 12 ngày. Trong chiến dịch này, Mỹ đã huy động cả không quân chiến lược với gần 200 chiếc máy bay B 52 để ném bom rải thảm xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên trong 12 ngày đêm. Đây chỉ là cách để Mỹ thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ đối với đồng minh. Bởi dự thảo hiệp định ký tắt với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị chính phủ Việt Nam Cộng hòa phản đối kịch liệt và không chấp nhận, Mỹ quyết định dùng bước này để chứng tỏ họ đã cố gắng đến mức cuối cùng cho quyền lợi của Việt Nam Cộng hòa rồi.

Mục tiêu mà Mỹ đặt ra trong chiến dịch Linebacker II là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng, ngoại trừ cố gắng để "giảm thiểu nguy hiểm cho dân thường tới mức có thể cho phép mà không ảnh hưởng hiệu quả" và "tránh các khu giam giữ tù binh, bệnh viện và khu vực tôn giáo". Ở Hà Nội, tại phố Khâm Thiên bom trải thảm đã phá sập cả dãy phố và sát hại hàng trăm dân thường. Tại bệnh viện Bạch Mai, nhiều tòa nhà đã bị phá hủy, cùng với các bệnh nhân và bác sĩ, y tá bên trong. Nhiều cơ sở vật chất, kinh tế, giao thông, công nghiệp và quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng bị phá huỷ.

Không lực Mỹ quá tin tưởng vào các biện pháp kỹ thuật gây nhiễu điện tử để vô hiệu hóa radar và tên lửa phòng không của đối phương. Nhưng, các lực lượng tên lửa phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giải quyết vấn đề bằng những biện pháp chiến thuật sáng tạo, họ đã bắn các máy bay B-52 theo các chiến thuật mới và đã thành công vượt xa mức trông đợi, hàng chục chiếc pháo đài bay B 52 đã bị bắn hạ. Lần đầu  pháo đài bay B 52 bị bắn hạ bởi một máy bay tiêm kích do Phạm Tuân điều khiển. 

Ngày 30 tháng 12, chấm dứt ném bom, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quay lại đàm phán, sau một số sửa đổi, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý ký kết Hiệp định Paris, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không tán thành hiệp định nhưng vì áp lực nếu không chấp nhận thì Mỹ sẽ đơn phương ký với Hà Nội và cắt đứt viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa nên phải chấp nhận ký. Ngày 27/1/1973, tại Paris, bốn bên tham chiến Mỹ, Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký kết Hiệp định Paris là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Sydney ngày 4 tháng 5 năm 2024

 

Bài 126: HAI TRẬN ĐÁNH CHIẾM QUẬN LỴ THƯỢNG ĐỨC THÁNG 6/1974, VÀ TRẬN ĐÁNH CHIẾM TỈNH LỴ PHƯỚC LONG THÁNG 1/1975.

TRẬN THƯỢNG ĐỨC: Chi khu, quận lỵ Thượng Đức ở phía Tây tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 40 km. Các năm 1968, 1969, rồi năm 1970, Quân Giải phóng Khu 5 đã 3 lần tiến công Thượng Đức đều bất thành, cứ sau mỗi lần bị đánh, QLVNCH lại rút kinh nghiệm và tăng cường, hệ thống phòng thủ kiên cố, liên hoàn hơn. Tại Chi khu Thượng Đức, quân bố phòng gồm: Tiểu đoàn 79 biệt động; 1 đồn biên phòng; 1 đại đội bảo an; 17 trung đội dân vệ; 1 trung đội pháo binh 105mm; 1 trung đội cảnh sát dã chiến và 1 trung đội thám báo. Toàn bộ lực lượng là 950 lính, do Thiếu tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng chỉ huy. 

Diễn tiến trận đánh: Đêm 28, rạng sáng 29/07/1974, QGP bắt đầu triển khai trận địa pháo, và tấn công vào Chi khu Thượng Đức. Đồng thời, QGP cũng tiến hành sơ tán dân thường để tránh gây thương vong dân sự, hạn chế khả năng QLVNCH sử dụng dân thường làm lá chắn. Do thực lực của QLVNCH còn mạnh, hệ thống lô cốt rất kiên cố nên đợt tấn công đầu tiên của Quân Giải phóng không có hiệu quả dù kéo dài trong 3 ngày. Rạng sáng 7-8-1974, QGP tiếp tục nã pháo vào các mục tiêu từ các điểm cao trên đồi, và gia tăng cường độ tấn công cuối cùng chiếm được căn cứ Thượng Đức. Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng bị trúng đạn, biết không thể thoát nên đã tự sát tại chỗ. Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng 79 biệt động quân Hà Văn Lầu và quận phó Vũ Trung Tín bị bắt. 

Để tái chiếm Thượng Đức, QLVNCH tiến đánh cao điểm 1062. Lực lượng lính dù VNCH được huy động để tham chiến. QGP và QLVNCH giằng co từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 năm 1974, đặc biệt tại các cao điểm 700, 383 và 1062. Để hỗ trợ bộ binh, QLVNCH điều máy bay cường kích và pháo binh yểm hộ. Đầu tháng 10, QLVNCH chiếm được cao điểm 1062, nhưng tới cuối tháng 11 thì QGP đã tái chiếm thành công cao điểm 1062. Cuối năm 1974, sau 3 đợt giao tranh, QGP làm chủ hoàn toàn căn cứ Thượng Đức còn sư đoàn dù VNCH đã bị đánh quỵ và phải rút khỏi mặt trận Thượng Đức.

TRẬN PHƯỚC LONG: Phước Long là một trong số 11 tỉnh bao quanh Biệt khu thủ đô Sài Gòn-Gia Định, cách Sài Gòn khoảng 120 km về phía Bắc. Tiểu khu Phước Long gồm các chi khu Đôn Luân ở Đồng Xoài, Bố Đức, Đức Phong, có 5 tiểu đoàn bảo an và 48 trung đội dân vệ, trong đó: Các tiểu đoàn 341 và 352 giữ Đồng Xoài và kiểm soát đoạn đường 14 từ Đồng Xoài đến cầu số 12; tiểu đoàn 363 giữ Bù Na và kiểm soát đường 14 từ cầu 11 đến ngã ba Liễu Đức; tiểu đoàn 362 giữ Vĩnh Thuận và kiểm soát đường 1 từ ngã ba Liễu Đức đến Bù Đăng; tiểu đoàn 340 là lực lượng dự bị cơ động đóng trong thị xã Phước Long. 

Tiểu khu Phước Long cũng có một tiểu đoàn pháo binh riêng với tám khẩu HM-2 105 mm và bốn khẩu HM-3 155 mm với trận địa chính bố trí trong trung tâm thị xã. Đơn vị lớn hơn có khả năng tiếp cận giải tỏa cho Phước Long nhanh nhất khi bị tấn công từ Quân đoàn III là sư đoàn 18 đóng ở Biên Hòa, Liên đoàn biệt kích dù 81 cũng đóng tại Biên Hòa. Máy bay của các sư đoàn không quân số 3 và số 5 tại các sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa có thể yểm hộ cho các lực lượng phòng thủ ở Phước Long chỉ sau hơn chục phút bay.

Diễn biến trận đánh. Ngày 12 tháng 12 năm 1974, tiểu đoàn 4 của trung đoàn 165, sư đoàn 7 QGP đánh chiếm một tiền đồn của QLVNCH tại cây số 19 - đường 14 do một đại đội bảo an đóng giữ. Đêm 12 tháng 12, đại đội đặc công QGP của tỉnh đội Phước Bình tấn công chi khu Bù Đốp. Ngày 13 tháng 12, đại tá Nguyễn Thống Thành, tiểu khu trưởng Phước Long đến thị sát Bù Đăng và ra lệnh nâng mức báo động từ "vàng" lên "da cam" đối với tất cả các đồn bốt của QLVNCH trong tỉnh. Rạng ngày 14 tháng 12, trung đoàn 271 của sư đoàn 302 QGP tấn công tiểu đoàn bảo an 362 đóng tại chi khu Bù Đăng. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, đã tràn ngập chi khu Bù Đăng. 

Ngày 15 tháng 12, hai tiểu đoàn đặc công thuộc trung đoàn 429 QGP tấn công yếu khu Bù Na. Trận chiến diễn ra quyết liệt từ sáng đến chiều thì yếu khu Bù Na thất thủ. Ngày 16 tháng 12, tướng Dư Quốc Đống bay lên thị sát Phước Long và tăng phái cho khu phòng thủ này tiểu đoàn bộ binh số 2 rút từ trung đoàn 7, sư đoàn 5 BB. Cùng ngày, đại tá Đỗ Công Thành tổ chức phản kích khai thông đường 14 nối với Bố Đức nhưng đều bị các lực lượng mạnh hơn của QGP đẩy lùi. 

Ngày 22 tháng 12, chi khu và quận lỵ Bố Đức do tiểu đoàn bảo an 341 đóng giữ bị tấn công và đánh chiếm lần thứ hai. Cùng ngày các đồn quan trọng trên đường 14 như Phước Tín, Phước Quả, Phước Lộc thất thủ. Đại tá Thành điều tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 7, và 2 đại đội thám báo phản kích nhưng bị tiểu đoàn 6, trung đoàn 165 QGP đẩy lùi, phải rút về núi Bà Rá. Ngày 24 tháng 12, Tướng Dư Quốc Đống dự định điều 1 chiến đoàn của sư đoàn 18 lên giữ Phước Long nhưng không được Nguyễn Văn Thiệu chấp thuận. Tướng Đống lệnh cho chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ dùng trực thăng đưa 1 tiểu đoàn đổ quân xuống Đồng Xoài, nhưng chỉ đổ được 1 đại đội xuống Đồng Xoài. 

5 giờ 37 phút sáng 26 tháng 12, chi khu Đôn Luân bị các đơn vị của trung đoàn 141, sư đoàn 7 QGP tấn công từ bốn hướng. Đến 10 giờ 30 phút, chi khu Đôn Luân thất thủ. Thiếu tá Đặng Vũ Khoái, chỉ huy chi khu Đôn Luân bị bắt làm tù binh. Từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 12, các đơn vị của Quân đoàn 4 QGP đã hành quân đến các tuyến xuất quanh Phước Long và Phước Bình. Rạng sáng ngày 31 tháng 12 năm 1974, các trung đoàn 165, 141 và tiểu đoàn 3, bộ đội địa phương Phước Long nổ súng tấn công quận lỵ Phước Bình. Chiến chiến đoàn 7, sư đoàn 5 QLVNCH điều tiểu đoàn 1 từ chân núi Bà Rá đánh vào sườn tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 6 QGP. 13 giờ chiều ngày 31 tháng 12, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 điều 4 xe tăng T-54 yểm hộ cuộc tiến công. 15 giờ chiều cùng ngày, quận lỵ, chi khu Phước Bình thất thủ.

Sở chỉ huy nhẹ của tiểu khu Phước Long được chuyển về trại Lê Lợi. Tiểu đoàn bảo an 340 và đại đội thám báo số 5 giữ cầu Suối Dung và chốt Vân Kiều. Trong ngày 1 tháng 1 năm 1975, Không lực Việt Nam cộng hòa đã tổ chức 53 phi vụ oanh tạc vào tuyến tấn công của QGP. Sáng ngày 2 tháng 1, trung đoàn 165 QGP chiếm trại Đoàn Văn Kiều, trung đoàn 141 giằng co với tiểu đoàn 1 chiến đoàn 9 QLVNCH, hai bên đều tổn thất nặng. Sáng ngày 3 tháng 1, các đơn vị đi đầu của trung đoàn 141 QGP đã lọt vào thị xã nhưng bị cô lập. Trưa ngày 3 tháng 1, tướng Dư Quốc Đống điều động chiến đoàn 8, sư đoàn 5 QLVNCH sử dụng trực thăng định đổ bộ xuống thị xã nhưng bị pháo binh của QGP bắn chặn. Tại Sở chỉ huy tiểu khu Phước Long phó chỉ huy trưởng tiểu khu tử thương, chỉ huy trưởng chi khu Phước Bình bị thương nặng cũng do đạn pháo của QGP.  

10 giờ ngày 4 tháng 1, trong nỗ lực cuối cùng để ứng cứu Phước Long, tướng Dư Quốc Đống điều động liên đoàn biệt kích dù số 81 bằng không vận lên Phước Long, liên lạc và hội quân với các lực lượng đang phòng thủ trong thị xã. Dù vậy, tình hình đã quá muộn. Hai phần ba thị xã đã rơi vào tay QGP. Ngày 5 tháng 1, các đơn vị của trung đoàn 201 và trung đoàn 165 QGP tiếp tục vây ép các lực lượng phòng thủ còn lại của QLVNCH trong khu hành chính tỉnh. 10 giờ 30 phút sáng ngày 6 tháng 1, dinh tỉnh trưởng Phước Long bị các đơn vị QGP đánh chiếm. Trong số 5.400 sĩ quan và bình sĩ QLVNCH phòng thủ Phước Long, chỉ có 850 thoát được về trình diện tại Quân đoàn III.   

Sydney ngày 5 tháng 5 năm 2024

 

Bài 127: CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN, VÀ CHIẾN DỊCH HUẾ-ĐÀ NẲNG THÁNG 3 NĂM 1975.

Nhận thấy tương quan lực lượng thay đổi theo hướng có lợi, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (CPCMLT/CHMNVN) tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nhằm buộc chính quyền VNCH thành lập chính phủ Liên hiệp 3 thành phần. Cuộc tấn công diễn ra trong 55 ngày đêm bắt đầu từ ngày 5 tháng 3 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nó còn được gọi là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Cơ quan tham mưu của VNDCCH lập kế hoạch tiến công đã phân cuộc tiến công này thành các chiến dịch nối tiếp nhau. Họ gọi là chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẳng, và cuối cùng chiến dịch Hồ Chí Minh.

CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN: với mục tiêu là giành quyền kiểm soát Tây nguyên mà trận mở đầu then chốt là thị xã Ban Mê Thuột tại Nam Tây Nguyên. Tại đây có hậu cứ của sư đoàn 23 Bộ binh của QLVNCH. Ngày 10 tháng 3 QGP tiến công Ban Mê Thuột. Sau hơn một ngày tiến công rất ác liệt, quân đồn trú đã kháng cự rất quyết liệt nhưng với ưu thế áp đảo QGP đã giành quyền kiểm soát được thị xã. Liên tiếp trong các ngày sau đó họ đã chủ động tiến công quân phản kích, tái chiếm. Quân của Quân đoàn II của QLVNCH vừa đổ xuống chưa kịp đứng chân đã bị đánh tiêu diệt, không thực hiện được việc tái chiếm. 

Mất Ban Mê Thuột, chính quyền VNCH không có đủ lực lượng cơ động dự bị phản kích tái chiếm, các lực lượng phòng thủ Bắc Tây Nguyên cũng đang bị uy hiếp nặng nề, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu  đã ra lệnh bỏ Tây Nguyên rút các lực lượng còn lại về cố thủ giải đồng bằng ven biển miền Trung. Đường rút lui sẽ là theo đường 14 từ Pleiku đi xuống phía nam sau đó đi vào đường số 7 đã bị bỏ từ lâu không sử dụng để xuống thị xã Tuy Hoà tỉnh Phú Yên. Đây là một thảm họa chết người cho QLVNCH. 

Cuộc rút lui đã không bảo toàn được số quân mà trái lại nó làm thành làn sóng hoảng loạn lan khắp các vùng lại còn làm rệu rã hết tinh thần binh sĩ VNCH trên toàn quốc. Việc rút một số lượng quân lớn như thế trong một thời gian chuẩn bị gấp gáp 2–3 ngày đã diễn ra trên đoạn đường dài hàng trăm cây số không có kế hoạch tương ứng, không chỉ trong quân sĩ VNCH mà còn cả gia đình chạy thoát theo cùng. Tất cả những cái đó đã biến dòng người cùng xe cộ khổng lồ ùn tắc thành một dòng náo loạn không thể chỉ huy và chiến đấu, lại bị đối phương chặn tại Cheo Reo - Phú Bổn, khi về đến Tuy Hoà, không còn tập hợp lại được nữa. 

CHIẾN DỊCH HUẾ-ĐÀ NẲNG: Kể từ sau cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên tin thất bại đã bay khắp miền Nam, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa mất hết tinh thần, quân đội gần như không chiến đấu mà bỏ chạy. Các nhà lãnh đạo chiến tranh của Mặt Trận Giải Phóng nhận định, quân đội VNCH đã không còn chiến đấu có tổ chức chặt chẽ được nữa, họ liền tiến hành phương án thời cơ tung ngay Quân đoàn 2 (hay Binh đoàn Hương Giang được thành lập từ các đơn vị của quân khu Trị – Thiên và khu 5) nhanh chóng tiến công giành quyền kiểm soát cố đô Huế và thành phố lớn thứ hai của Việt Nam Cộng hoà, Đà Nẳng.  

Trước sức ép của đối phương, Quân đội VNCH vội vã rút lui khỏi Quảng Trị về Huế họ lại quyết định bỏ Huế, nhưng đường núi về phía nam đã bị QGP cắt đứt, họ chỉ còn một con đường chạy ra biển để chờ tàu hải quân vào cứu. Cũng giống như cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên, cuộc rút chạy khỏi Huế đã trở thành một cuộc tranh cướp hỗn loạn. Số nào được cứu lên tàu hải quân thì khi lên đến bờ cũng không thể tập hợp lại thành đơn vị chiến đấu được nữa, số còn lại bỏ vũ khí tự tan vỡ. Ngày 26 tháng 3  QGP vào tới Huế không gặp sự chống cự nào. Thừa thắng xông lên, QGP tiếp tục tiến về Đà Nẵng. 

Khi quân đoàn 2 của QGP tiến đến Đà Nẵng, cảnh hỗn loạn tại đây cũng lại tái hiện như đã diễn ra tại Huế, quân lính VNCH cùng với dân chúng tranh nhau thoát khỏi thành phố bằng tàu hải quân, quân lính VNCH vòng ngoài không còn tinh thần chiến đấu nữa, thế là QGP bỏ qua vòng ngoài thọc sâu vào giành quyền kiểm soát thành phố mà không có kháng cự nào đáng kể. Tại đây 10 vạn binh lính và sĩ quan QĐVNCH đã ra hàng (ngày 29 tháng 3). Quân khu 1 VNCH đã bị xoá bỏ. 

Trong hai tuần đầu tháng 4 các tỉnh thành phố miền trung lần lượt rơi vào tay QGP. Họ từ phía Bắc tràn vào và từ Tây nguyên tràn xuống. Bây giờ thì không còn sức mạnh nào có thể ngăn nổi sự sụp đổ của VNCH. Quân lực VNCH dồn hết các toán quân còn sót lại của Quân đoàn 2 chuyển sang cho Quân đoàn 3 chỉ huy, để cố lập một phòng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang, nhưng cũng không chặn được QGP, trong đó tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3 của VNCH tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị bắt. Bây giờ quân Giải phóng đã tấn công xuống đồng bằng Đông Nam Bộ của Quân đoàn và quân khu 3 của VNCH, chỉ còn hơn 100 km là đến Sài Gòn.

Sydney ngày 6 tháng 5 năm 2024

 

Bài 128: PHÒNG TUYẾN XUÂN LỘC THẤT THỦ, TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU TỪ CHỨC, VÀ CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH THÁNG 4/1975.

Nỗ lực cuối cùng của VNCH là tuyến phòng thủ từ xa của Sư đoàn 18 tại thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Quân đoàn 4 của QGP được thành lập từ các Sư đoàn và đơn vị tại miền Đông Nam Bộ dự định giành quyền kiểm soát Xuân Lộc trên đường tiến quân. Nhưng Sư đoàn 18 của QLVNCH đã chống cự có tổ chức, đây là nỗ lực chiến đấu có tổ chức dài ngày cuối cùng của quân đội VNCH. Quân đoàn 4 của QGP không vượt qua được Xuân Lộc, họ cũng không phải để mất thì giờ với Xuân Lộc, nên đi vòng qua vòng vây tiến về phía Biên Hoà.  

Ngày 21/4/75, sau 12 ngày cầm cự, Sư đoàn 18 của QLVNCH bỏ Xuân Lộc rút lui có tổ chức về bên kia sông Đồng Nai cố thủ. Vậy là tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng bảo vệ Sài Gòn không còn. Tối ngày 21 tháng 4 năm 1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trong diễn văn từ chức, Nguyễn Văn Thiệu chỉ trích nước  Mỹ là "một đồng minh thất hứa, thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo, trốn tránh trách nhiệm". Phó tổng thống Trần văn Hương kế nhiệm, tân Tổng thống tuyên bố sẽ ở lại Việt Nam chiến đấu đến cùng. Tối 25/4/75, Nguyễn Văn Thiệu, rời Việt Nam với “lý do” là đặc sứ của Việt Nam Cộng hoà đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch. 

CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINHNgày 26/4/75, sau khi tập hợp đủ lực lượng gồm 15 sư đoàn và rất nhiều trung đoàn, lữ đoàn độc lập khác để đảm bảo áp đảo chắc thắng, QGP tổ chức 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232 tương đương 1 quân đoàn, đánh 5 mũi từ 5 hướng vào Sài Gòn. Quân lực VNCH vẫn còn hơn 400.000 quân đã kháng cự ác liệt trên một số hướng. Giữa lúc đó, sĩ quan, binh lính, quan chức, chính trị gia VNCH cùng dân chúng đang hoảng loạn tranh nhau di tản ra nước ngoài. Đến cuối ngày 28 tháng 4 thì QGP đã đến được cửa ngõ Sài Gòn và có thể đi thẳng vào thành phố. Để tránh mọi rắc rối với Mỹ, QGP dừng lại bên ngoài thành phố 1 ngày để người Mỹ tổ chức di tản. 

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, với sự dàn xếp của các lực lượng thứ ba, Tổng thống Trần Văn Hương từ chức, và Quốc hội trao quyền Tổng thống cho Đại tướng Dương Văn Minh đứng ra thương thuyết trên căn bản vãn hồi hòa bình theo tinh thần Hiệp định Paris 1973 để tránh việc Sài Gòn sẽ bị tàn phá. Tướng Dương Văn Minh tuyên bố, ông chủ trương hòa giải với đối phương, đó không những là đòi hỏi của nhân dân, mà còn là điều kiện thiết yếu để tránh dự tàn phá cho đất nước, không thể lấy hận thù đáp trả lại hận thù mà phải thực hiện ngưng bắn, mở lại đàm phán nhằm đạt đến một giải pháp chính trị trong khuôn khổ hiệp định Paris.

Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào.

Đối với hoàn cảnh chiến sự và chính trị lúc đó có lẽ đây là một giải pháp đúng đắn. Cùng với việc ra mệnh lệnh đơn phương ngừng chiến, thực tế từ sáng sớm 30 tháng 4, QLVNCH đã ngừng kháng cự và QGP vào Sài Gòn mà không gặp kháng cự có tổ chức nào. Việc làm chủ Sài Gòn kết thúc chiến tranh của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã diễn ra khá ôn hòa, không có đổ máu và thành phố nguyên lành, quả có đóng góp nhiều của lực lượng thứ ba và vai trò không nhỏ của Dương Văn Minh và các phụ tá, tại bối cảnh đó, với cách nhìn thực tế và không cực đoan. 

Ông Dương Văn Minh được các lực lượng chính trị thứ ba đưa lên làm tổng thống để đảm bảo một cuộc chuyển giao chế độ êm thấm không đổ máu và không trả thù là việc làm mang tính dân tộc sâu sắc. Tất nhiên sự đầu hàng của VNCH là kết quả của sức mạnh quân sự áp đảo của QGP, nhưng việc kết thúc chiến tranh ôn hòa, với trang thiết bị quân sự không bị phá huỷ, dân chúng không đổ máu, và cả bên thắng cuộc không tốn thêm xương máu, đó là điều không ai có thể phủ nhận được. Thế nhưng, Bên Thắng cuộc đã không nghĩ tới điều đó, không chấp nhận làm lễ bàn giao mà buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 

Với tư cách Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn, Thượng tướng Trần Văn Trà nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh "giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà dân tộc Việt Nam chúng ta thắng đế quốc Mỹ" cơ mà!. Tom Polgar nhân viên cao cấp tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản, đã ghi lại ngày hôm ấy: “Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Nhưng... Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử”./.

Sydney ngày 7 tháng 5 năm 2023

 

CHÍNH QUYỀN HAI

Bài 129: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM, CHÍNH PHỦ HUỲNH TẤN PHÁT: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1970-1975. 

Hiệp định Genève 1954,  quy định Việt Nam tạm thời phân chia thành hai vùng tập kết quân sự. Phía Bắc vỹ tuyến 17 là nơi tập kết của Quân đội Nhân dân Việt Nam; Và phía Nam vỹ tuyến 17 là nơi tập kết của Quân đội Pháp cùng quân đội Quốc gia Việt Nam. Với sự hổ trợ của người Mỹ, chỉ trong một thời gian ngắn Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã làm được nhiều việc hơn cả mong đợi, lên nắm quyền trong vòng 10 tháng vượt qua các cuộc chính biến, ổn định tình hình, thành lập một nhà nước mới Việt Nam Cộng hoà vào năm 1955 được 36 quốc gia công nhận, soạn thảo một hiến pháp, và mở rộng kiểm soát tới các khu vực do Giáo phái, hoặc Việt Minh kiểm soát trong Chiến tranh Đông Dương... 

Tháng 1-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố không có Tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp  định Genève  với lý do là tại miền Bắc được cai trị bởi "nhà nước cảnh sát". Tháng 6 năm 1956, Ngô Đình Diệm hủy bỏ cuộc bầu cử hội đồng làng, xã. Năm 1956, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiết lộ rằng khoảng 15.000-20.000 người cộng sản đang được học tập trong các "trại cải huấn". Tháng 4 năm 1960, một nhóm các nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa không Cộng sản  ra Tuyên ngôn Caravelle biểu lộ sự bất bình đối với quyền Ngô Đình Diệm. Tháng 11 năm 1960, một cuộc đảo chánh quân sự lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm bất thành những người cầm đầu đảo chánh phải đào thoát sang Cao Mên.

Ngày 20 tháng 12 năm 1960,  tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) chính thức thành lập, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là  Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương. Đồng thời, Mặt trận đưa ra Chương trình 10 điểm. Các phương tiện truyền thông miền Bắc ban đầu không nhắc đến vai trò của Đảng Lao động và chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chỉ hoan nghênh Mặt trận được thành lập.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một Liên minh của các đảng phái, tổ chức chính trị - xã hội tại miền Nam và có lập trường, chủ quyền kiểm soát riêng. Từ khi ra đời, Mặt trận DTGPMN đã thu hút được nhiều nhà hoạt động chính trị chống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, bao gồm cả những người theo và không theo chủ nghĩa cộng sản, với mục tiêu kết nối tất cả những người đối nghịch với "Mỹ Diệm". Theo ước tính của Mỹ, trong vòng vài tháng thành lập, số thành viên của Mặt trận tăng gấp đôi, gấp đôi một lần nữa vào mùa thu năm 1961, và sau đó tăng gấp đôi vào đầu năm 1962, ước tính khoảng 300.000 người.

Ngày 15-2-1961 (mồng một Tết Tân Sửu), tại vùng giải phóng Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập Quân Giải phóng, bằng cách thống nhất các lực lượng du kích là những người từng tham gia Việt Minh, và cả những người từng là thành viên Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên. Quân Giải phóng được kết nạp làm thành viên chính thức của Mặt trận DTGPMN. Hàng chục ngàn thanh thiếu niên tại miền Nam đã gia nhập Giải phóng quân mỗi năm. Trong suốt thời gian chiến tranh Miền Bắc luôn khẳng định chỉ chi viện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chứ không can thiệp trực tiếp vào chính sách đối nội, đối ngoại của Mặt trận.

Quân Giải phóng (QGP) phát triển dần bao gồm cả lực lượng tình nguyện ngoài Bắc vào, và lực lượng được tuyển mộ tại chỗ ở miền Nam, tất cả đều do sự chỉ đạo từ Tổng quân ủy ngoài Bắc thông qua Trung ương Cục miền Nam, tiền thân là Xứ uỷ Nam Bộ. Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam, một bộ phận của đảng Lao động Hà Nội trực tiếp chỉ huy, nắm giữ các vị trí quan trọng trong QGP, giám sát tất cả các hoạt động đến cấp thôn, bản. Đảng Lao động Việt Nam chia chiến trường miền Nam thành 5 khu vực: B-5: Quảng Trị; B4: Bình Trị Thiên - Huế; B3: Tây Nguyên, B1: Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. B2: Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, và Khu VI, VII, VIII, IX, X, Sài Gòn - Gia Định. 

Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang QGP nhận chỉ đạo từ Trung ương Cục miền Nam, chỉ huy QGP trên toàn miền Nam (B2). Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Hà Nội chỉ đạo, giám sát trên toàn chiến trường miền Nam từ Vỹ tuyến 17 đến mủi Cà Mâu; Và trực tiếp chỉ huy các khu Quảng Trị, Trị Thiên, Khu V và Tây Nguyên, tức B 5, B4, B3 và B1. Tại mỗi Khu, Khu ủy thực hiện chỉ đạo đối với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn Khu. Trên thực tế cơ cấu tổ chức của phía cách mạng phức tạp và linh động, uyển chuyển hơn các tin tức từ phía đối phương khai thác được. 

Ngày 16 tháng 2  năm 1962, Đại hội lần thứ nhất khai mạc tại Tân Biên, Tây Ninh chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Huỳnh Tấn Phát, Ybil Aleo, Đại đức Sơn Vọng, Trần Nam Trung, và Nguyễn Văn Hiếu Tổng thư ký Mặt trận. Ủy viên Đoàn Chủ tịch gồm có: Trần Bạch Đằng, Phan Văn Đáng, Nguyễn Hữu Thế, Trần Bửu Kiếm, bà Nguyễn Thị Định, Hoà thượng Thích Thiện Hào, Ngọc đầu sư Nguyễn Văn Ngợi, Lê Quang Thành, và ông Đặng Trần Thi. Mặt trận đã ra "Tuyên ngôn" và "Chương trình hành động 10 điểm". Mặt trận cũng quyết định lấy lá cờ nửa đỏ, nửa xanh có ngôi sao vàng năm cánh và bài "Giải phóng miền Nam" làm cờ và bài hát chính thức của Mặt trận...

Ngày 1-11-1964, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam họp Đại hội lần thứ 2, với 150 đại biểu tham dự. Đoàn Chủ tịch Mặt trận: Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ, đại diện liên minh các đảng yêu nước; Các Phó chủ tịch: Abil Aleo, đại diện dân tộc Êđê, chủ tịch Phong trào tự trị các dân tộc Tây Nguyên; Phùng Văn Cung, đại diện liên minh các đảng yêu nước; Võ Chí Công, chủ tịch Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam!; Huỳnh Tấn Phát, Tổng thư ký Đảng Dân chủ; Thích Thơm Mê Thế Nhêm,  đại diện người Khmer yêu nước; Trần Nam Trung, đại diện Quân giải phóng Miền Nam; Các ủy viên: Nguyễn Thị Định, Trần Bạch Đằng, Thích Thiện Hào, Trần Bửu Kiếm… Ban Thư ký:  Huỳnh Tấn Phát (TTK), Lê Văn Huân, Hồ Thu, Ung Ngọc Kỳ, Hồ Xuân Sơn (phó TTK). 

Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam, mà nòng cốt là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch, đã bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam do Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ do Luật sư Nguyễn Hữi Thọ làm Chủ tịch. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) có quyền lực hành pháp. Hội đồng Cố vấn ban đầu có nhiệm vụ góp ý kiến với Chính phủ. 

Chính phủ CMLTCHMNVN không công khai chịu sự chỉ đạo từ ngoài Bắc hay của cấp ủy Đảng trong Nam, chỉ xem miền Bắc là "hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn" miền Nam. Các chỉ đạo chính sách trong Nam của Đảng Lao động Việt Nam là bí mật. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là 1 trong 4 bên tham gia hòa đàm tại Paris và ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973. Sau Hiệp định Paris, thị xã Đông Hà trở thành nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. 

Ngày 30/4/1975, sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà, Ủy ban Quân quản, nhân danh Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra Mệnh lệnh số 1: yêu cầu quân cán chính Việt Nam Cộng hòa ra trình diện chính quyền mới, đăng ký và nộp vũ khí bắt đầu từ ngày 8/5 đến 31/5, quân nhân cấp Tướng và Tá phải trình diện ở địa chỉ 213 Đại lộ Hồng Bàng, Sài Gòn. Cấp Úy thì trình diện ở quận. Cảnh sát, tình báo thì phải đến Ủy ban An ninh Nội chính ở Sài Gòn. Hạ sĩ và binh lính thì đến Ủy ban phường. Sang tháng 6 thì mở đợt bắt giam các đối tượng trên trong các trại học tập cải tạo.  

Sydney ngày 8 tháng 5 năm 2023

 

CHÍNH QUYỀN BA

Bài 130: CHÍNH QUYỀN ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ TRẦN THIỆN KHIÊM: SỰ KIỆN, CHIẾN SỰ, VIỆC ĐÃ LÀM 1970-1975: 

Ngày 18 tháng 3, 1970, lúc Sihanouk đang ở nước ngoài, Thủ tướng Lon Nol triệu tập Quốc hội Campuchia bỏ phiếu phế truất Norodom Sihanouk và trao quyền khẩn cấp cho Thủ tướng Lon Nol. Sau đó Lon Nol, phát động chiến tranh chống Cộng tại Campuchia. Một thoả thuận nhanh chóng đạt được giữa Lon Nol và chính quyền Mỹ. Cuối tháng 4 năm 1970, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân tấn công vào căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại biên giới Campuchia giáp Tây Ninh, tập trung vào các hướng đông và đông nam Sway Rieng, Memot-Snoul, Taheo-đông Kam pốt trọng tâm là căn cứ Ba Thu (Bến Lức-Long An) và vùng Lưởi Câu ở Kampong Cham. 

Việt Cộng rút ngay khi Liên quân Viêt-Mỹ tiến vào, nhưng họ lại kháng cự quyết liệt ở Thị trấn Snoul. Hơn 90% thị trấn bị xóa sổ sau hai ngày bị oanh tạc bằng bom na-pan và pháo. Liên quân Viêt-Mỹ tiến hành lục soát, thấy có hơn 400 lán trại, nhà kho và boong ke, chứa đầy lương thực, quần áo, và thuốc men, 182 hầm vũ khí và đạn dược. Có hầm chứa tới 480 khẩu súng, và một hầm khác có hơn 6 triệu rưởi viên đạn các loại, hàng ngàn rốc két, và súng tiểu liên, một số xe vận tải và cả 1 Tổng đại điện thoại. Chỉ tại đây, Liên quân Việt-Mỹ đã thu được 4.793 vũ khí cá nhân, 730 súng cối, hơn 3 triệu viên đạn dành cho vũ khí cá nhân, 7.285 rốc két, 124 xe tải và 2 triệu pound gạo. 

Người Mỹ cho rằng đây chính là trung tâm đầu não của Trung ương Cục miền Nam. Cuộc hành quân kết thúc ngày 30/6/1970, Liên quân Việt-Mỹ triệt phá được phần lớn căn cứ, kho tàng, bệnh viện và các tuyến tiếp tế hậu cần của Việt Cộng, nhưng không tiêu diệt các cơ quan đầu nảo của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Miền. Liên quân Việt-Mỹ để lại 20 tiểu đoàn, trợ giúp cho quân đội bạn. Các Tiểu đoàn Việt-Mỹ thường là những đơn vị hoạt động lưu động nhắm vào các nơi nghi ngờ là điểm xuất phát để thâm nhập vào Việt Nam Cộng hoà.

Tại thời điểm này, QLVNCH gia tăng quân số đều đặn từ 50.000 đến 100.000 mỗi năm theo đà rút quân của quân đội Hoa Kỳ. Đến cuối năm 1971 QLVNCH đã lên tới trên dưới 1 triệu quân, gồm ba quân chủng: Lục quân, Hải quân và Không quân. Lục quân tổ chức thành Lực lượng lưu động và Lực lượng diện địa. “Lực lượng lưu động” làm nhiệm vụ an ninh lãnh thổ và biên giới, thường xuyên đánh phá các căn cứ, hệ thống tiếp vận của Cộng sản từ Bắc vào Nam, săn lùng đẩy lùi, ngăn chặn không cho quân Việt Cộng hoạt động trở lại; Còn "Lực lượng diện địa” làm nhiệm vụ an ninh nội địa, bảo đảm công tác bình định nông thôn. 

Các đơn vị biệt kích (do Mỹ tổ chức, chỉ huy) được cải tổ thành các tiểu đoàn Biệt động quân biên phòng (37 tiểu đoàn). Ngày 01 tháng 10 năm 1971, thành lập thêm Sư đoàn 3 Bộ binh, trách nhiệm an ninh khu vực giới tuyến, địa bàn tỉnh Quảng Trị. Các sư đoàn Bộ binh được bổ sung quân số, hoàn thiện biên chế. Quân dụng, vũ khí trang bị cho Lục quân cũng được tăng lên: 1.300 khẩu pháo và 10.000 súng cối các loại, 30.000 súng phóng lựu, 10.000 đại liên, 700.000 súng M 16 là loại súng trường hiện đại nhất của quân Mỹ lúc bấy giờ. 

Khối bộ binh cơ động như Nhày dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân năm 1968 mới có 50 tiểu đoàn, đến cuối năm 1970 tăng lên 90 tiểu đoàn. Tăng-thiết giáp từ 1.037 chiếc năm 1968 lên 1.879 chiếc năm 1972. Với sự phát triển Lục quân như trên, đến tháng 6 năm 1970, theo Mỹ, quân VNCH có thể đảm nhiệm hầu hết nhiệm vụ chiến đấu trên bộ. Cuối năm 1971, đầu năm 1972 lực lượng Hải quân đã lên đến gần 50.000 quân, với 1.600 tàu các loại hoạt động trên biển và trên sông. Không quân Việt Vam Cộng hoà cũng được củng cố và kiện toàn, tăng nhanh quân số từ 35.000 năm 1968 lên hơn 50.000 năm 1971. 

Năm 1970, không quân Việt Nam Cộng hòa được tổ chức lại thành 6 sư đoàn, 1 phi đoàn liên lạc, 1 phi đoàn vận tải, 5 phi đoàn trực thăng, 3 phi đoàn khu trục, tổng cộng gần 1.500 máy bay các loại. Từ năm 1968 đến năm 1972, quân số Việt Nam Cộng hòa tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1,05 triệu quân. Trong đó, Không quân tăng quân số tới 163%, Hải quân tăng 110%, Lục quân tăng gần 8% quân số.

Sydney ngày 9 tháng 5 năm 2024

 

Bài 131: SAU HÀNH QUÂN VÀO BIÊN GIỚI VIỆT-MIÊN THÁNG 4/1970 LÀ CUỘC HÀNH QUÂN LAM SƠN 719 VÀO HẠ LÀO THÁNG 2/1971.

Hành quân Lam Sơn 719 vào Hạ Lào. Tháng 2 năm 1971, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, từ căn cứ Khe Sanh, Quảng Trị tiến vào Hạ Lào nhằm cắt đứt đường nối thông từ Lào vào Campuchia, và phá hủy hệ thống kho tàng trung tâm hậu cần của Việt Cộng tại Tchepone (Xê-pôn) Lào. Sau các đợt pháo kích của hàng trăm khẩu pháo từ 105 mm tới 175 mm, và các phi vụ ném bom B 52 dọc hai bên Đường 9 - Nam Lào, ngày 8 tháng 2, cánh quân chính của VNCH, gồm Lữ đoàn 3 Thiết giáp cùng các Tiểu đoàn 1 và 8 Nhảy dù, theo đường 9 tiến về phía Bản Đông.

Ngày 10 tháng 2, quân Việt Nam Cộng hòa đã đến Bản Đông, nằm sâu 20 km trong địa phận Lào và ở khoảng giữa đường tới Tchepone. Bản Đông trở thành căn cứ, và là trung tâm chỉ huy cuộc hành quân. Ngày 11 tháng 2, Tướng Abrams và Sutherland bay đến sở chỉ huy tiền phương của Hoàng Xuân Lãm tại Đông Hà, sau trao đổi, họ quyết định đưa Sư đoàn 1 Bộ binh ở phía Nam đường 9 về phía Tây để bảo vệ sườn phía tây cho hướng tiến quân vào Tchepone. Từ ngày 16-21 tháng 2, ở phía bắc Đường 9, Cộng quân tấn công vào Tiểu đoàn 39 Biệt động quân chiếm giữ Điểm cao 500, Tiểu đoàn nầy phải rút về cứ điểm Ranger South cách đó 6 km. 

Từ ngày 21 tháng 2, Lữ đoàn 3 Dù tại Căn cứ 31 (điểm cao 543), bị bao vây, đường bộ từ Bản Đông lên căn cứ 31 cũng bị cắt đứt. Trưa 25 tháng 2, Cộng quân có xe tăng PT 76 yểm trợ tấn công vào căn cứ, cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Cuối cùng, Cứ điểm 31 thất thủ, Đại tá Nguyễn Văn Thọ Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù bị bắt. Phía Việt Cộng Mỹ ước tính là 250 người chết, 11 xe tăng PT-76 và T-54 bị cháy. Trong 5 ngày tiếp theo từ 25 tháng 2 đến 1 tháng 3, có 3 trận đánh lớn, quân Việt Cộng đã phải chịu thương vong nhiều từ bom, pháo, và cả từ trực thăng trang võ trang, có 17 xe tăng hạng nhẹ PT 76 và 6 xe T 54 bị bắn cháy. Phía quân VNCH mất 5 xe tăng M 41 và 25 xe bọc théo chở quân (APC). 

Ngày 3/3/1971, Bộ Tư lệnh hành quân VNCH quyết định sử dụng Sư đoàn 1 Bộ binh đang ở phía nam Đường 9 làm nổ lực chính đánh chiếm Thị trấn Tchepone, thay vì giao cho Lữ đoàn Dù số 1, và 2 thiết đoàn đang đóng ở Bản Đông như dự tính ban đầu. Bộ Tư lệnh QLVNCH cũng quyết định đưa thêm Lữ đoàn Dù số 2, Lữ đoàn TQLC số 147 và 258 cùng tham chiến. Cuộc tấn công bắt đầu khi các đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ binh được không vận tới 2 căn cứ hỏa lực Lolo, Sophia, và bãi đổ bộ Liz. Tất cả đều ở phía Nam Đường 9. Ba ngày sau, 276 trực thăng UH-1 được bảo vệ bởi các máy bay AH-1 Cobra mang rocket và máy bay tiêm kích đưa các tiểu đoàn 2 và 3 của Trung đoàn 2 từ Khe Sanh tới Tchepone. 

Đây là cuộc đổ quân bằng trực thăng lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Chỉ có 1 trực thăng bị hỏa lực phòng không bắn rơi khi quân đổ xuống bãi đổ bộ Hope, cách Tchepone 4 km về phía đông bắc. Trong những ngày kế tiếp, các đội trinh sát của hai tiểu đoàn này lùng soát Tchepone và khu vực xung quanh trung tâm hậu cần của Việt Cộng, phá hủy được nhiều kho tàng, cơ sở vật chất, và khá nhiều xác chết Việt Cộng do trúng bom, đạn pháo quân Cộng sản chưa kịp mang đi. Cắt đứt đường nối thông từ Lào vào Campuchia, và phá hủy hệ thống kho tàng trung tâm hậu cần của Việt Cộng tại Tchepone (Xê-pôn) Lào, mục đích của cuộc hành quân Lam sơn 719 đã đạt. 

Ngày 9/3/71, Bộ Tư lệnh hành quân VNCH ra lệnh rút quân. Ngay khi thấy dấu hiệu quân bộ chiến VNCH bắt đầu rút lui, Cộng quân tổ chức các ổ phục kích dọc Đường 9, có xe tăng yểm trợ, hỏa lực phòng không cũng được tăng cường để ngăn chặn, hoặc làm chậm các nỗ lực yểm trợ của trực thăng, nhằm gây thiệt hại lớn cho đoàn quân rút lui. Sáng 16/3/71, Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 QLVNCH đang rút khỏi điểm cao 723 đi về hướng Đông Bắc thì bị Sư đoàn 2 Cộng quân chận đánh gây thiệt hại nặng. Từ ngày 18-20 tháng 3, tất cả các đợn vị của QLVNCH tham dự hành quân Lam Sơn 719 đã hoàn toàn rút khỏi khu vực Bản Đông. 

Trên đường rút quân, đoạn từ Bản Đông về Lao Bảo, bị Việt Cộng phục kích, chận đánh nhiều nơi, với cường độ cao, khốc liệt, khiến một số tăng, thiết giáp, pháo 105 mm và pháo 155 mm của VNCH đã phải bỏ lại. Máy bay Mỹ đến ném bom phá hủy số xe pháo này, để không cho đối phương chiếm và tái sử dụng. Lữ đoàn 1 Thiết giáp được giao nhiệm vụ bọc hậu Đường 9 bảo vệ cho cuộc rút quân. Khi được tù binh khai báo trước mặt có 2 trung đoàn Việt Cộng đang mai phục, Lữ đoàn trưởng, Đại tá Nguyễn Trọng Luật lệnh cho đội hình bỏ đường chính, chỉ còn cách biên giới 5 km để đi vào đường mòn trong rừng, lại dẫn đến ngõ cụt bên bờ dốc của sông Tchepone, đội hình bị tắc lại. 

Hai xe ủi đất được trực thăng cẩu vào, tạo ra một đoạn sông cạn để QLVNCH lội qua. Những binh lính cuối cùng về được Đông Hà vào ngày 23/3/1971. Kết quả, Hành quân 719, QLVNCH chiếm được Tchepone, phá hủy được nhiều kho tàng và cơ sở vật chất của Cộng quân. Nhưng, không cắt được tuyến tiếp vận từ Bắc vào Nam là đường mòn Hồ Chí Minh. Thiệt hại của QLVNCH lại rất lớn. Trong quá trình rút lui, gần một nửa số xe tăng, xe bọc thép chở quân (APC), cùng với 54 khẩu pháo 105mm và 28 khẩu 155mm đã bị phá hủy. Sư đoàn nhảy dù, Biệt động quân đã bị thiệt hại nặng. 

Sydney ngày 10 tháng 5 năm 2024

 

Bài 132: CHIẾN SỰ NĂM 1972 VÀ TRẬN ĐÁNH TÁI CHIẾM CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ THÁNG 6-9/1972.

Ngày 17/2/72, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đến thăm Trung Quốc. Sau đó Trung Quốc và Mỹ ra Thông cáo chung Thượng Hải. Cuối tháng 3 năm 1972, Cộng quân tung ra một cuộc tiến công chiến lược với quy mô lớn, tiến sâu vào hệ thống phòng ngự của VNCH trên ba hướng: Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Trong những ngày đầu, Cộng quân liên tiếp chọc thủng cả ba tuyến phòng ngự của Quân lực VNCH. TẠI BẮC TÂY NGUYÊN, ngày 24/3/1972, Cộng quân đánh chiếm được Đắc Tô - Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự của Quân lực VNCH ở Bắc Tây Nguyên. Nhưng, bị chặn lại trong trận Kon Tum bởi quân Phòng thủ VNCH. Chiến sự mau chóng êm dịu trở lại. 

Ngày 6/4/72, Tổng thống Mỹ Richard Nixon hạ lệnh ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam. TẠI ĐÔNG NAM BỘ, ngày 7 tháng 4 năm 1972, Cộng quân đánh chiếm được Lộc Ninh. Các tiền đồn Thiện Ngôn, Katum, Bổ Túc, Bù Gia Mập lần lượt bị bức rút trước áp lực của đối phương. Trên đà thắng thế Cộng quân bao vây và tấn công thị xã An Lộc. Tại đây, gặp phải sức kháng cự quyết liệt của quân VNCH phòng thủ thị xã. Không quân Mỹ sử dụng B 52 liện tục ném bom rãi thảm vào các khu vực tập kết, gây thiệt hại lớn cho đối phương. Cuối cùng, Cộng quân phải rút lui. 

TẠI CHIẾN TRƯỜNG TRỊ THIÊN, Cộng quân đánh chiếm được nhiều cứ điểm phòng thủ từ xa của Quảng Trị kể cả Cứ điểm Tân Lâm, nơi Bộ Chỉ huy Trung đoàn 56, Sư đoàn 3 Bộ binh do Trúng tá Phạm Văn Đính làm Trung đoàn trưởng đã phải buông súng đầu hàng. Cộng quân từng bước lấn chiếm, và cuối cùng phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng thủ Quảng Trị. Đến ngày 2/5/72, chỉ sau hơn một tháng tiến đánh, Cộng quân đã vào Thị xã chiếm Toà Hành chánh Tỉnh, Thành cổ Quảng Trị (nơi Sư đoàn 3 Bộ binh di chuyển từ Căn cứ Ái Tử vào, đặt Sở Chỉ huy) giành được quyền kiểm soát toàn bộ tỉnh Quảng Trị, uy hiếp tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế. 

Ngày 8 tháng 5 năm 1972, Không lực Hoa Kỳ, ném bom đánh phá miền Bắc trên diện rộng, bằng lực lượng không quân chiến lược, thả mìn ngư lôi phong toả cảng Hải Phòng cùng các cửa sông, lạch, trên vùng biển miền Bắc Việt Nam. Ngày 28/6/1972, Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) mở cuộc hành quân Lam Sơn 72, tái chiếm thị xã và thành cổ Quảng Trị. Với sự hỗ trợ máy bay B 52 của Mỹ, các Sư đoàn Dù, và Thuỷ quân Lục chiến quyết tâm tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Cộng quân cũng quyết tâm cố thủ Cổ thành. Chiến sự diễn ra cực kỳ ác liệt, thương vong hai bên rất lớn để tranh chấp từng mẩu đất nhỏ, không dân đã bị tàn phá hoàn toàn. 

Sau 12 tuần lễ (81 ngày) liên tục tổng công kích với sự hỗ trợ hỏa lực tối đa của quân đội Hoa Kỳ, đến giữa đêm ngày 15 rạng ngày 16 tháng 9 năm 1972, lực lượng Thủy quân Lục chiến đã tiến vào thị xã Quảng Trị và kiểm soát toàn bộ khu vực Cổ Thành. Rạng sáng ngày 16 tháng 9 năm 1972, hai tiểu đoàn 3 và 6 Thủy quân Lục chiến từ các vị trí vừa chiếm được trong Cổ Thành, đã bung ra lục soát và đánh các chốt còn lại của quân Cộng sản. Đến 8 giờ sáng ngày 16 tháng 9 năm 1972, một toán Cọp Biển của tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến đã dựng cờ của Việt Nam Cộng hòa trên cổng tường phía Tây Cổ Thành Quảng Trị, biểu tượng cho việc Quân lực VNCH đã hoàn tất cuộc tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị. 

Trong trận chiến này, Hoa Kỳ đã ném xuống Quảng Trị khoảng 328 nghìn tấn bom, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) năm 1945 và đã phá hủy hoàn toàn 1 vạn ngôi nhà và tòa Thành cổ. Báo Quân đội Nhân dân miền Bắc số ra ngày (18-8?)1972 viết: “Mỗi mét vuông đất tại Thành cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngày đêm, từ ngày 28-6 đến 16-9-1972, Thành cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn bom đạn. Trung bình mỗi chiến sĩ phải hứng lấy 100 quả bom, 200 quả đạn pháo. Mỗi ngày có 1 đại đội vượt dòng Thạch Hãn để tiếp viện quân số, nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn lại vài người sống sót”.

Từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 7 năm 2005, tại một cuộc Hội thảo “Hoài niệm về Chiến trường xưa và đồng đội” ở Quảng Trị, trong một Tham luận, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị viết: “Quảng Trị chính là hình ảnh thu nhỏ của cuộc kháng chiến đầy hy sinh gian khổ của cả dân tộc. Từ bãi biển Cửa Tùng đến tận biên giới Việt - Lào không nơi nào không có vết tích của bom đạn Mỹ tàn phá. Máu của hàng vạn người đã đổ trên quê hương Quảng Trị. Chỉ tính số liệt sĩ đã hy sinh và đang yên nghỉ ở 72 nghĩa trang liệt sĩ trong tỉnh Quảng Trị, đã lên tới gần 60 nghìn người. Trong 72 nghĩa trang liệt sĩ thì có hai nghĩa trang Quốc gia: Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, hơn 10 nghìn mộ liệt sĩ, và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường 9 cũng hơn 10 nghìn mộ. Có đến 18.484 liệt sĩ là con em của tỉnh Quảng Trị. 

Chỉ trong cuộc chiến đấu 81 ngày đêm để giữ Thành Cổ Quảng Trị, 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, nhiều người mãi mãi nằm lại dưới đáy sông Thạch Hãn. Tính bình quân cứ 8 người dân Quảng Trị, lo một phần mộ liệt sĩ. Nói cách khác cứ 8 người dân Quảng Trị được sống trong thanh bình hôm nay, phải đổi bằng sinh mạng của một chiến sĩ. Ngày xưa Quảng Trị là “vùng đất lữa”, ngày nay Quảng Trị là vùng của “đất tâm linh”… ( Hết trích) 

Sydney ngày 11 tháng 5 năm 2024

 

Bài 133: BẢN NHÁP HIỆP ĐỊNH 9 ĐIỂM, NGUYỄN VĂN THIỆU PHẢN ĐỐI, NIXON RA TỐI HẬU THƯ NÉM BOM RẢI THẢM HÀ NỘI-HẢI PHÒNG, VÀ KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH PARIS 27/1/1973.

Ngày 31/5/1971, tại cuộc họp riêng giữa Bộ trưởng Xuân Thủy và Kissinger ở Paris, phía Mỹ đưa ra đề nghị “Bảy điểm”, giải pháp cho toàn Đông Dương, tách hai vấn đề quân sự và vấn đề chính trị riêng ra. Ngày 26/6/71, Phái đoàn VNDCCH đưa ra đề nghị “Chín điểm”. Ngày 16-8-1971, phía Mỹ đưa ra đề nghị “Tám điểm”. Về cơ bản Mỹ vẫn giữ lập trường cũ: Không muốn giải quyết toàn bộ vấn đề mà chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự, lấy được tù binh. Ngày 25/1/72, Tổng thống Mỹ Nixon đơn phương công bố nội dung các cuộc gặp riêng và đề nghị “Tám điểm” đưa ra ngày 16 tháng 8 năm 1971. 

Ngày 31/1/72, Phái đoàn VNDCCH công bố đề nghị “Chín điểm” đã trao cho ông Kissinger ngày 26 tháng 6 năm 1971 tố cáo Nhà Trắng vi phạm thỏa thuận giữa hai bên không công bố các nội dung cuộc họp riêng. Ngày 24/3/1972, Tổng thống Nixon tuyên bố hoãn vô thời hạn các phiên họp công khai Hội nghị Paris về Việt Nam. Ngày 13/7/72, Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể bốn bên tại Paris. Ngày 11/9/72, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gợi ý rằng họ có thể sẽ chấp nhận một cuộc ngừng bắn tại Nam Việt Nam. Ngày 12/10/72, Kissinger và Lê Đức Thọ  đi đến một bản nháp hiệp định gồm 9 điểm, đã tạo được một bước đột phá lớn. 

Bản nháp hiệp định đã tách các vấn đề quân sự khỏi các vấn đề chính trị. Nó cho phép một cuộc ngừng bắn tại chỗ, sự rút quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài về nước, sự trao trả tù binh Mỹ trong vòng 60 ngày, và thiết lập một quy trình mơ hồ mà người Việt Nam sau đó sẽ tự quyết định tương lai của mình. Theo đó, chính quyền Việt Nam Cộng hoà của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tồn tại như một chính phủ có liên quan đến giải pháp hoà bình; Cộng sản miền Nam có một vị thế chính thức tại Nam Việt Nam. Dự thảo này đáp ứng được yêu cầu của Hoa Kỳ là ra đi trong danh dự. 

Ngày 13-16/10/72, Tổng thống thống Rechard Nixon cử Kissinger đến Sài Gòn thuyết phục Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 18-23/10/72, Kissinger đến Sài Gòn gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tổng thống Thiệu không tỏ thái độ mà chỉ yêu cầu làm rõ và so sánh giữa hai bản tiếng Việt và tiếng Anh. Ngày 23/10/72, tại cuộc gặp lần thứ năm, Tổng thống Thiệu đã tuyên bố chính thức các đánh giá của mình: ông phản đối kịch liệt bản dự thảo 9 điểm coi đây là hiệp định hy sinh quyền lợi của Việt Nam Cộng hoà, ông đòi quân đội Bắc Việt Nam phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, thiết lập vùng phi quân sự làm biên giới với miền Bắc. 

Ông Thiệu coi giải pháp Hội đồng hiệp thương là một hình thức chính phủ Liên bang trá hình. Tổng thống Thiệu lên đài truyền hình tuyên bố bác bỏ nguyên tắc một nước Việt Nam thống nhất: "Bắc Việt Nam là Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam là Nam Việt Nam, mọi người phải chấp nhận thực tế là tồn tại hai nước Việt Nam, không bên nào được xâm lược bên nào". Nixon gửi thông điệp cho Hà Nội nói rằng do các khó khăn với Sài Gòn, việc ký kết vào ngày 31 là không thể thực hiện, và đề nghị một vòng đàm phán mới. Ngày 25/10/72, Hà Nội công bố tóm tắt nội dung bản dự thảo và cảnh báo về các hậu quả nghiêm trọng nếu Mỹ không ký kết vào ngày 31 tháng 10. 

Ngày 2/11/72, Nixon tuyên bố trên truyền hình rằng dự thảo còn có những phần "mập mờ" cần làm rõ trước khi ký kết bản hiệp định cuối cùng. Ông quyết định sẽ thỏa mãn mọi ngờ vực của Thiệu về vấn đề chủ quyền, và chỉ thị Kissinger tìm kiếm một nhượng bộ về khu phi quân sự, và nếu đạt được điều đó thì họ sẽ ép Thiệu ký. Ngày 20-25/11/72, Kissinger quay lại Paris. Hai bên đạt được đồng thuận khẳng định rằng khu vực phi quân sự là đường phân chia chính trị khu vực. Ngày 29/11/72, Nguyễn Phú Đức, đặc phái viên của Thiệu, bay đến Washington D.C. báo với Nixon rằng nhượng bộ của Hà Nội là chưa đủ. 

Và, Tổng thống Nixon vẫn chưa yên tâm về vấn đề quân đội Bắc Việt, và khu phi quân sự, và yêu cầu Kissinger đưa vấn đề này ra bàn lại tại Paris. Ngày 4-13/12/72, đàm phán tiếp tục tại Paris suôn sẻ cho đến khi phía Mỹ một lần nữa lật lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ thể là vấn đề quân đội Bắc Việt hiện diện tại Nam Việt Nam, và nêu vấn đề khu phi quân sự. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản ứng, bằng cách thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước trong đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đồng ý trao trả tù binh Mỹ vô điều kiện trong vòng 60 ngày.  và đưa ra đòi hỏi mới. lật lại vấn đề về trao trả tù binh với việc thả hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam. 

Tổng thống Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán. Ngày 14/12/72, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: trong 72 giờ đồng hồ để quay lại ký theo phương án Hoa Kỳ đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam. Không được Hà Nội phản hồi. Ngày 18/12/72, Hoa Kỳ bắt đầu cho máy bay B 52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác. Ngày 22 tháng 12, Hoa Kỳ gửi công hàm yêu cầu họp lại. Ngày 26/12, Việt Nam yêu cầu Mỹ trở lại tình hình trước ngày 18/12, tức ngưng ném bom, mới trở lại đàm phán. 

Ngày 30/12/72,  Không lực Hoa Kỳ ngưng ném bom Hà Nội, Hải Phòng. Ngày 8/1/1973, nối lại đàm phán lúc 11 giờ trưa tại ngôi nhà ở Gif-sur-Yvette. Ngày 13/1/1973, trong cuộc gặp riêng lần cuối cùng hoàn thành hiệp định. Ngày 16/1/1973, Nixon cử Đại tướng Haig phụ tá Kissinger đến Sài Gòn gặp Tổng thống Thiệu, và trao cho Nguyễn Văn Thiệu bức thư của Nixon, trong thư có đoạn: "Vì vậy chúng tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt Hiệp định ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần thiết, chúng tôi sẽ làm như thế một mình. Trong trường hợp đó, tôi phải giải thích công khai rằng Chính phủ của ông cản trở hoà bình. Kết quả là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức của viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ - và một sự sắp xếp lại Chính quyền của ông cũng chẳng thay đổi được tình hình"

Trước sức ép của Mỹ, Việt Nam Cộng hòa cuối cùng phải chấp nhận ký kết hiệp định Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973, tại Khách sạn Majestic, Paris, trước sự hiện diện của Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc. Hiệp định được ký bởi: Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, William P. Rogers, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà Trần Văn Lắm; Và, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nguyễn Duy Trinh,  Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà hoà miền Nam Việt Nam, Nguyễn Thị Bình.

Nội dung Hiệp định có 9 Chương, và 23 Điều: Chương 1: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam (Điều 1); Chương 2: Chấm dứt chiến sự, rút quân, (Điều 2, 3, 4, 5, 6 và 7); Chương 3: Việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt, và nhân viên dân sự và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ (Điều 8); Chương 4: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam (Điều 9, 10, 11, 12, 13, và 14); Chương 5: Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam (Điều 15); Chương 6: Các Ban Liên hợp Quân sự, Uỷ ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát, Hội nghị Quốc tế (Điều 16, 17, 18, và 19); Chương 7: Đối với Campuchia và Lào (Điều 20); Chương 8: Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ (Điều 21, và 22); Chương 9: Những điều khoản khác (Điều 23).

Sydney ngày 12 tháng 5 năm 2024

 

Bài 134: NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ CHÍNH SÁCH BỐN KHÔNG, TRUNG CỘNG CHIẾM HOÀNG SA, CỘNG QUÂN ĐÁNH CHIẾM THƯỢNG ĐỨC 1974, PHƯỚC LONG VÀ BAN MÊ THUỘT NĂM 1975 .

Dù Hiệp định Paris đã được ký kết, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn kiên trì chính sách “4 không”: không chấp nhận; không thương lượng; không liên hiệp; không nhượng đất cho Cộng sản. Ông chủ trương "tràn ngập lãnh thổ" bằng cờ Việt Nam Cộng hòa để lấn thêm lãnh thổ, giành thêm dân. Việt Nam Cộng hòa đều cho vẽ cờ trên tường nhà dân, mặt tiền đình chợ, quán xá, để "đánh dấu" vùng "quốc gia kiểm soát". Chỉ một vài tháng đầu sau ngày 27/1/1973 binh sĩ hai bên được phép tiếp xúc, gặp mặt với nhau, nhưng sau đó là thời gian hai bên liên tục lên án nhau phá hoại hiệp định và đánh lấn chiếm vùng kiểm soát của nhau ở quy mô nhỏ. 

Quân đội Việt Nam Cộng hoà, không đủ sức để đánh lớn và quân Giải phóng cũng không đánh lớn vào thời điểm nầy. Tháng 1 năm 1974, sau một trận hải chiến ngắn ngủi Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa, Hạm đội 7 của Đồng minh Mỹ cũng không có động thái nào trợ giúp Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa khi được đề nghị. Sau đó, Quân đội Việt Nam Cộng hoà cũng không có kế hoạch phản công nhằm chiếm lại đảo.

Những năm 1973-1975, là giai đoạn kết thúc chiến tranh, cũng là lúc quân Mỹ rút hết ra khỏi Việt Nam, cùng với viện trợ Mỹ từng bước bị cắt giảm. Viện trợ cho Việt Nam Cộng hoà  trong tài khóa 1974-1975 dù được Tổng thống Nixon đề xuất 1 tỷ đôla nhưng khi đưa ra Quốc hội xét duyệt, khoản viện trợ này bị cắt giảm chỉ còn 700 triệu. Quốc hội Mỹ còn đưa ra điều kiện Việt Nam Cộng hòa không được dùng Quỹ đối giá (tiền thu Viện Trợ Nhập Cảng (CIP) bù cho chi ngân sách) cho ngân sách Quốc phòng. 

Với một đội quân có thói quen chiến đấu theo kiểu Mỹ, tác chiến không tiếc bom đạn thì số tiền này là quá thiếu. Quân đội Việt Nam Cộng hoà ngày càng gặp khó khăn, tuy phương tiện chiến tranh còn nhiều trong kho, nhưng họ hạn chế về tài chính nên không thể duy trì được trang thiết bị trong tư thế sẵn sàng sử dụng. Tuy hơn hẳn đối phương về không quân, nhưng vì thiếu kinh phí nên chỉ phát huy non một nửa uy lực. So với đối thủ là Quân Giải phóng về quân số, trang bị hạng nặng như xe tăng, máy bay..., thì Việt Nam Cộng hòa vẫn có ưu thế 2 lần về quân số, 4 lần về xe tăng và pháo binh hơn hàng chục lần về Không quân và Hải quân.

Nhưng về sức chiến đấu trên thực tế của hai bên trên chiến trường, thì ưu thế đã nghiêng dần sang phía Quân Giải phóng. Việc họ nhanh chóng đè bẹp quân đội Việt Nam Cộng hòa trong những tháng cuối năm 1974, và chiến dịch mùa Xuân năm 1975 là phản ánh đúng cán cân lực lượng thực tế giữa hai bên. Tháng 5 năm 1974, tại Vùng 1, Quân khu I, Quân Giải phóng đưa một Sư đoàn đến đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng Nam. Quân lực Việt Nam Cộng hoà liền điều Sư đoàn Dù tổng trù bị chiến lược đến tái chiếm. Hai bên đánh nhau ác liệt trong vòng 3 tháng. Kết quả quân Giải phóng vẫn giữ vững và kiểm soát hoàn toàn chi khu Thượng Đức và Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị buộc phải rút lui. 

Ngày 13 tháng 12 năm 1974, tại Vùng III, Quân khu III, Cộng quân tấn công quận lỵ Đôn Luân, bị quân trú phòng đẩy lui. Nhưng cuộc tấn công kế tiếp thì Đôn Luân thất thủ, tiếp theo là quận Bố Đức và các nơi khác trong tỉnh Phước Long và đường 14 đồng loạt bị tấn công. Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III/Quân Khu III, xin Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tăng cường lực lượng tổng trừ bị để giải toả Phước Long, nhưng Thổng thống Thiệu không chấp thuận, Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức. Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Tướng Nguyễn Văn Toàn được cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn III thay thế tướng Đống. Ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long kể cả Tỉnh lỵ đều rơi vào tay Cộng quân. 

Khoảng 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, Cộng quân tấn công vào Thị xã Ban Mê Thuột, sân bay Hòa Bình, khu kho đạn Mai Hắc Đế, hậu cứ của trung đoàn 53. Đến cuối ngày 10/3/75, thì toàn bộ Thị xã, Bộ chỉ huy Tiểu khu Darlac, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 BB đều bị thất thủ, Đại tá Nguyễn Trọng Luật Tỉnh trưởng và Tiểu khu trưởng Darlac, Đại tá Vũ Thế Quang, Sư đoàn phó Sư đoàn 23, thoát được ra ngoài nhưng sau đó bị Cộng quân bắt. Những nỗ lực tái chiếm Buôn Ma Thuột của Quân lực Việt Nam Cộng hoà (QLVNCH) trong các trận phản công ngày 11 và 12 tháng 3 đều thất bại. 

Sydney ngày 13 tháng 5 năm 2024

 

Bài 135: HỌP TẠI DINH ĐỘC LẬP, TẠI CAM RANH, RÚT QUÂN KHỎI PLEIKU, KHỎI ĐÀ NẴNG THÁNG 3/75, TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.

SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết: Ngày 12 tháng 03 năm 1975, vì có tin đồn bỏ Huế, Tướng Ngô Quang Trưởng ra Huế họp Hội Đồng Thành Phố, tuyên bố cương quyết giữ Huế. Ngày 13 tháng 03 năm 1975, Tướng Trưởng vào Sài Gòn gặp Tổng Thống Thiệu, và trong phiên họp tại Phòng Hành Quân ở dinh Độc Lập, gồm Đại Tướng Trần Thiện Khiêm Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng, Đại Tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng và Trung Tướng Đặng Văn Quang Phụ Tá Quân sự của Tổng Thống. Tổng thống Thiệu lấy cây viết gạch trên bản đồ Việt Nam xóa vùng Cao Nguyên và vùng Miền Trung.

Rồi, vẽ một đường từ Ban Mê Thuột đến Nha Trang, và nói, chúng mình sẽ giữ phần đất dưới đường nầy. Còn từ Đèo Cả trở ra Quảng Trị là phần đất dành cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông Thiệu nói với Ông Trưởng: Đây là chỉ thị của tôi, phải thi hành nhưng đừng có nói lại cho ai! Xong hội nghị, Trung Tướng Trưởng theo Đại Tướng Cao Văn Viên về văn phòng để trình bày thêm về vấn đề vừa rồi. Tai đây ông Trưởng nói: Tôi không thể thi hành lệnh vừa rồi của Tổng Thống vì tôi đã hứa với đồng bào Huế  tôi sẽ giữ Huế. Tôi xin Đại Tướng chỉ định một tướng khác để làm việc đó.

Đại Tướng Viên nói việc đó ngoài thẩm quyền của ông ta, và đề nghị ông Trưởng nên trình lại cho Tổng Thống vào ngày sau, là 14 tháng 03 năm 1975, tại cuộc họp ở Cam Ranh. Trung Tướng Trưởng điện thoại cho Đại Tá Cầm, Chánh Văn Phòng Tổng Thống xin được đến Cam Ranh sáng hôm sau để gặp Tổng Thống. Trước khi từ giã Đại Tướng Cao Văn Viên, ông Trưởng nói: Nếu được, xin Đại Tướng trình lên Tổng Thống rằng tôi không thể thi hành vì tôi coi như ruột thịt với đồng bào xứ Huế sau tám năm sống với họ. Tôi không thể bỏ người Huế, nhất là gia đình quân nhân. 

Ông Trưởng trở ra Huế chờ điện thoại của Đại Tá Cầm nhưng không có, nên ngày 14/3  không thể vào Cam Ranh gặp ông Thiệu. Ngày 14 tháng 03 năm 1975, ông Thiệu họp với Tư Lệnh Quân Đoàn II, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Thủ Tướng Trần Thiện khiêm, Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Tướng Đặng Văn Quang cùng các sĩ quan tùy viên tại Nhà Trắng ở Cam Ranh. Tôi phối kiểm lại thì trong phiên họp nầy ông Thiệu ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải lấy lại Ban Mê Thuột. Tướng Phú xin thêm quân thì ông Viên nói: Tôi hết quân trừ bị để cấp cho anh. Tôi chỉ có phương tiện để yểm trợ hành quân mà thôi. Vậy thì lấy quân ở đâuHọ bàn nhau chỉnh đốn lại quân ngũ của Quân Đoàn II, và lập một đoàn quân đặc nhiệm chiếm lại Ban Mê Thuột.

Đi vô chi tiết ông Thiệu hỏi Tướng Phú: Anh sẽ đi đường nào để đánh lấy lại Ban Mê Thuột? Ông Phú nói: Đường 14 đi thẳng từ Pleiku lên Ban Mê Thuột chắc chắn sẽ bị phục kích, đường 19 từ Pleiku đi Qui Nhơn cũng không được. Chỉ còn đường số 7 từ Củng Sơn đi Tuy Hòa và Nha Trang rồi đánh lên Ban Mê Thuột, nhưng đường số 7 là đường xấu ít khi sử dụng nên cần có phương tiện phá mìn và vượt sông. Tướng Viên chấp thuận: Tôi sẽ cấp công binh vượt sông, có máy bay yểm trợ để di chuyển quân, ngoài ra không còn gì hết. Tướng Phú xin thăng cấp cho Đại Tá Hoàng Văn Tất lên Chuẩn Tướng để chỉ huy đoàn quân đó. 

Ông Thiệu xoay qua hỏi ý kiến ông Viên, ông Viên đồng ý: Được, không có gì trở ngại. Ông Thiệu nói: Cho mang một sao để đủ uy tín chỉ huy đoàn quân. Sau đó, Tướng Phú bay về Pleiku, họp lại các sĩ quan tham mưu gồm có các Đại Tá Lý, Tất, Sang, Tường, Cẩm và cho biết: Tổng Thống Thiệu ra lịnh rút khỏi Pleiku, đem tất cả lực lượng về Nha Trang để từ đó đánh lên Ban Mê Thuột. Tướng Phú ra lịnh cho Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II nội trong ba ngày phải chuyển mọi cơ cấu về Nha Trang để Tướng Phú  tổ chức, chỉ huy tái chiếm Ban Mê Thuột. Bộ chỉ huy nhẹ đi trước, bộ tham mưu đi sau. 

Tất cả mọi cơ cấu của Quân Đoàn rất qui mô không thể nào thu xếp trong ba ngày mà rút hết được. Việc làm gấp rút hối hả nầy làm náo động dân chúng Pleiku vì vợ con quân nhân vội vàng rút theo chồng thì dân chúng cũng thu xếp ít vật dụng của cải để chạy theo đoàn quân di tản. Trên đường từ Pleiku rút về Nha Trang cũng bị Việt Cộng phục kích. Thật ra các cuộc phục kích nầy không qui mô, nhưng vì binh sĩ mất tinh thần, phần thì gia đình bận bịu nên bỏ chạy nhiều hơn là chiến đấu. Đến Tuy Hòa thì đoàn quân đã tan rã nhiều, vào đến Nha Trang chẳng còn quân ngũ nữa! Kế hoạch tái chiếm Ba Mê Thuột trở thành bất khả thi. 

Ngày 15 tháng 03 năm 1975, Trung Tướng Trưởng vô Sài Gòn gặp lại Tổng Thống và xin từ chức hoặc xin giữ Huế vì có đủ phương tiện giữ Huế. Ông Thiệu trả lời: Thôi thì giữ Huế! Trung Tướng Trưởng qua gặp Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Trưởng Quốc Phòng và cho biết quyết định chót của Tổng Thống về Huế và sẵn hỏi: Phải chăng có lệnh rút Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra khỏi Miền Trung? Đại Tướng Khiêm nói: Thằng Trưởng Phòng 3 Tổng Tham Mưu leak rồi! Đúng! Nhưng, chiều tối có một phái viên của Đại Tướng Cao Văn Viên trao cho Trung Tướng Trưởng một văn thư khẩn đại ý thừa lệnh Tổng Thống bỏ Huế.

Trung Tướng Trưởng điên đầu vì trong một ngày tại Sài Gòn Tổng Thống đồng ý giữ Huế, tại Đà Nẵng thì có văn thư ra lệnh phải bỏ Huế! Ông Trưởng điện thoại vô Sài Gòn để hỏi lại chỉ thị đó là của Tổng Thống hay của Đại Tướng Thủ Tướng, nhưng chỉ gặp Thủ Tướng, ông xin Đại Tướng Khiêm ra Đà Nẵng để giải quyết vụ này. Ngày 16 tháng 03 năm 1975, Đài BBC loan tin quân đội Việt Nam Cộng Hòa bỏ Cao Nguyên. Ngày 18 tháng 03 năm 1975, Thủ Tướng và phái đoàn chính phủ ra Đà Nẵng cho phép gia đình công chức được tản cư vào Nam. Chỉ thị nầy được lan ra ngoài làm cho tất cả dân Miền Trung hoảng hốt.

Chiều ngày 18/3 đó ông Thiệu điện thoại cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: Tôi đã suy nghĩ kỹ, Cụ Hương là người không rành về quân sự mà cũng nói nếu chúng ta quyết giữ Huế thì phải hy sinh 30.000 quân. Thôi bỏ Huế, đừng có đánh! Tướng Trưởng chưa ra lệnh rút lui, nhưng Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Tiền Phương phụ trách phía Bắc đèo Hải Vân đã di tản rồi. Quân đội bỏ Huế. Thủy Quân Lục Chiến rút lui. Ngày 26 tháng 3 Cộng quân tiến vào thành phố Huế. Sư đoàn I Bộ binh thu quân về Đà Nẳng. Những ngày nầy, sườn phía Tây do Sư doàn 3 Bộ binh trấn giữ cũng đang bị chọc thủng. Về phía Nam hai tỉnh Quảng Ngải và Quảng Tín do Sư đoàn 2 Bộ binh cũng đang lui quân về hướng Đà Nẳng.

Quân lính và dân chúng tranh nhau để lên được tàu hải quân với mong muốn chạy khỏi thành phố. Ngày 29 tháng 3, Cộng quân tiến vào Đà Nẳng mà không có kháng cự đáng kể. Hàng ngàn binh lính và sĩ quan bị bắt. Tối 29 tháng 03 năm 1975, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tướng Bùi Thế Lân, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và một số sĩ quan còn nằm ở Sơn Trà trong khi quân Bắc Việt đã chiếm Đà Nẵng. Sĩ quan tùy viên của ông Hồ Văn Kỳ Thoại, người giữ mật mã để liên lạc với tàu, hôm ấy bị đau nên được cho đi trước, ông Thoại ở lại chờ Tướng Bùi Thế Lân cùng đi. Hai ông phải đi bộ qua rừng núi tìm tàu của Hồ Văn Kỳ Tường, chỉ huy trưởng Hải Khu Đà Nẵng đang đậu ngoài khơi. 

Nhưng hai tướng Thoại và Lân không có mật mã nên không liên lạc được với tàu. May mắn là một lúc sau có ca nô của Hồ Văn Kỳ Tường vào “chạy dọc bờ tìm” nên ghé vào vớt được hai tướng Thoại và Lân ra tàu. Trong hai tuần đầu tháng 4 kế tiếp, các tỉnh, thành phố miền trung lần lượt rơi vào tay Cộng quân. Quân lực Việt Nam Cộng hoà tập hợp số quân còn lại của Quân đoàn 2 tăng cường cho Quân đoàn 3 để lập một phòng tuyến ngăn chặn tại Phan Rang. 

Sydney ngày 14 tháng 5 năm 2024

 

Bài 136: CHIẾN TRƯỜNG VÀ CHÍNH TRƯỜNG ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ THÁNG 4/75: KHIÊM, RỒI THIỆU TỪ CHỨC: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.

SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết tiếp: Đầu tháng 4 năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu uỷ Dân biểu Nguyễn Bá Cẩn Chủ tịch Hạ viên thành lập Chính phủ thay thế Chính phủ Trần Thiện Khiêm từ chức, ông mời tôi nhận chức Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng trong chính phủ Nguyễn Bá Cẩn, tôi đề nghị phải có một chính phủ mạnh để nói chuyện với Hà Nội, rõ hơn thành lập một Nội các Liên hiệp. Tôi vừa nói đến đó thì ông Thiệu lắc đầu cho biết: một số nghị sĩ và ông Trần Văn Lắm Chủ tịch Thượng viện, vừa ký một quyết nghị yêu cầu tôi lập một chính phủ Liên hiệp. Mà liên hiệp thế nào? Bây giờ liên hiệp mình ở thế yếu. …

Ngày 14/4/1975, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn trình diện Nội các, nhờ tôi thuyết trình tình hình quân sự, tôi nhờ Chuẩn tướng Thọ, Trưởng phòng 3/ hành quân và Đại tá Lung trưởng Phòng 2/ tình báo Bộ Tổng Tham mưu thuyết trình tình hình quân sự, hai ông Thọ, Lung đã trình bày rất rõ ràng, mạch lạc. Sau đó, tôi đến Bộ Tổng Tham mưu họp tất cả các tướng lãnh. Nhiều vị tướng nói, mấy năm nay không ai mời họp để cho biết tình hình chính trị và chỉ thị phải giữ đất nào; Nếu có đình chiến thì thi hành ra sao, giữ Quân khu nào, giải pháp tương lai chính trị miền Nam ra sao… Tôi yêu cầu các Tướng cố gắng kháng cự để giữ thế, giữ đất. Sau đó tôi đi thăm các chiến trường. 

Tôi có sẵn hai phi cơ, một trực thăng và một Dakota để hàng ngày đi thăm anh em quân sĩ ở các chiến trường. Ngày 15/4/75, sau khi họp các tướng, tôi báo với Đại tướng Tổng Tham Mưu trưởng Cao Văn Viên, rằng tôi sẽ lên Bộ tư lệnh Quân đoàn III gặp Trung tướng Tư lệnh Nguyễn Văn Toàn để bàn chuyện phòng thủ Thủ đô. Được biết Tướng Toàn đang ở Phan Rang. Tôi bảo tôi sẽ ra Phan Rang gặp ông Toàn. Đến đó, bốn ông Tướng đón chúng tôi là Trung tướng Toàn, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Chuẩn tướng Sang và Chuẩn tướng Nhựt, cùng các Đại tá Nhảy dù, Biệt Động quân. Tất cả chúng tôi đến Phòng họp nghe họ thuyết trình, tôi ghi nhận vài thứ quân dụng mà họ đang rất cần. Khi rời Phan Rang, ông Toàn cùng về trên máy bay của tôi để chúng tôi cùng bàn kế hoạch phòng thủ Sài Gòn. 

Về đến Sài Gòn tôi cho mời Thiếu tướng Smith, Tuỳ viên quân sự Mỹ đến gặp tôi tại Văn phòng Bộ Quốc phòng, tôi yêu cầu ông ta cung cấp cho tôi hoả đạn CBU, và vài thứ quân dụng mà quân đội Việt Nam đang rất cần. Tướng Smith cho biết những món nầy, trong kho của Mỹ tại VN hiện không còn, ông sẽ hỏi lại BTL Thái Bình Dương, những kho bên ngoài Việt Nam. Chiều 16/4/75, tôi gặp Tư lệnh không quân Trần Văn Minh bàn cách làm sao có được CBU để giúp các đơn vị đang chiến đấu, rồi bay xuống Long An, gặp Sư đoàn 2, ra Vũng Tàu gặp các cấp chỉ huy Quân đoàn 1 và 2. Ngày 17/4/75, tôi thăm Bộ Tư lệnh Hải Quân. Ngày 18/4/75, tôi bay xuống Quân đoàn IV gặp  tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Hai, tướng Lạc, chỉ huy Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh. 

Ngày 18/4 Phan Rang mất, Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị Việt Cộng bắt. Tối 19/4 Phan Thiết bị mất. Nỗ lực cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là trông vào tuyến phòng thủ của Quân đoàn III, nhất là Sư đoàn 18 tại thị xã Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Chính Sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo đã tổ chức, chống cự có hiệu quả dài ngày gây nhiều tổn thất cho ba sư đoàn Việt Cộng, khiến họ phải điều chỉnh hướng tiến quân bằng cách đi vòng đường khác để tiến về phía Biên Hoà. Sau 12 ngày cầm cự, từ 9 tháng 4 đến 21 tháng 4, Sư đoàn 18 cũng phải bỏ Xuân Lộc rút về bên kia sông Đồng Nai cố thủ. Vậy là tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng bảo vệ Sài Gòn không còn.

Ngày 20/4/2020, lúc 10 giờ sáng Đại sứ Mỹ Martin đến gặp Tổng thống Thiệu tại dinh Độc lập báo cho ông Thiệu rõ tình hình, rằng muốn chận cuộc tiến công của Việt Cộng phải có một giải pháp chính trị cần phải nói chuyện với Hà Nội. Hai vấn đề được đưa ra trong cuộc trao đổi là viện trợ và từ chức. Ông Thiệu hỏi: Nếu tôi là trở ngại, vậy tôi từ chức, Quốc hội Hoa Kỳ có tiếp tục viện trợ cho miền Nam không? Nếu Tổng thống từ chức, Quốc hội Mỹ có thể viện trợ trở lại. Sau nầy Đại sứ Martin kể lại mẩu đối thoại giữa ông và Tổng thống Thiệu, rằng chính phủ Hoa Kỳ không đòi Tổng thống Thiệu từ chức, nhưng Tổng thống nên đề cử một ông Thủ tướng toàn quyền như Bảo Đại đã làm hồi 1954, để ông Thủ tướng đó thương thuyết với phía bên kia. 

Ông Thiệu hỏi, theo ông ai có thể làm Thủ tướng toàn quyền. Martin trả lời Đại tướng Dương Văn Minh. Ông Thiệu im lặng không đáp. Sau nói chuyện với Đại sứ Martin, ông Thiệu biết mình phải ra đi. 10 giờ sáng ngày 21/4/75, Tổng thống Thiệu triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia gồm: Phó tổng thống Trần Văn Hương; Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn; Tổng Tham mưu trưởng, tướng Cao Văn Viên; Tổng Giám đốc Cảnh sát, tướng Nguyễn Khắc Bình; Tư lệnh Quân đoàn III, tướng Nguyễn Văn Toàn; Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, tướng Nguyễn Văn Minh; Phụ tá Quân sự, tướng Đặng Văn Quang, ông Thiệu tuyên bố sẽ từ chức, vì Quân đội định đảo chánh; và vì để Mỹ viện trợ lại cho miền Nam. Ông sẽ trao quyền cho Phó tổng thống như Hiến Pháp quy định.

Lúc 19 giờ cùng ngày 21/4/75, thành viên chính phủ, Lưởng viên Quốc hội, Thẩm phán Tối cao Pháp viện được mời đến dinh Độc lập. Ông Thiệu trình bày diễn tiến từ Hiệp định Ba Lê 1973 đến chiến tranh leo thang năm 1974, việc mất tỉnh Phước Long, trận đánh Ban Mê Thuột, rồi mất miền Trung mà Quốc tế, và các siêu cường quốc ký bảo đảm Hiệp định Ba Lê vẫn im hơi lặng tiếng. Ông Thiệu lên án đồng minh Mỹ không giữ lời hứa. Sau cùng, ông Thiệu tuyên bố “Tôi đã quyết định từ chức Tổng thống”. Theo Hiến pháp, người thay thế tôi là Phó Tổng thống Trần Văn Hương lời tuyên bố của ông Hương ngắn gọn, ông “kêu gọi anh em giữ vững tay súng, ông sẽ đóng góp xương máu và chia xẽ với anh em ở chiến trường”. 

Không khí buổi lễ thật buồn tẻ, mọi người ngồi nhìn ông Thiệu lúng túng trong điều hành buổi lễ, ông Hương (71 tuổi), lọm khọm nói năng không rõ ràng, mạch lạc. Mọi người buồn không phải sự ra đi của ông Thiệu, mà ai cũng thấy ông Hương không đủ khả năng lèo lái con thuyền Quốc gia đang cơn nghiêng ngữa. Sau lễ, ông Thiệu mời ông Viên và ông Bình vào Phòng bên cạnh để trực tiếp truyền hình lời Tổng Tham mưu trưởng nhắn gởi anh em quân nhân, và lời Tổng Giám đốc Cảnh sát kêu gọi anh em cảnh sát giữ vững tinh thần chiến đấu, rằng việc ông Thiệu từ chức Tổng thống không ảnh hưởng gì đến hệ thống điều hành của quân đội và Cảnh sát Việt Nam Cộng hoà.

Sydney ngày 15 tháng 5 năm 2024

 

Bài 137: CHIẾN TRƯỜNG VÀ CHÍNH TRƯỜNG ĐỆ NHỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ NGÀY 22, 23, 24, 25 VÀ 26 THÁNG 4/1975: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.

SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết tiếp: Chiều thứ ba ngày 22/4, Cố vấn chính trị toà đại sứ Pháp Brochand đến nhà tôi. Ông ta nói với tôi là Pháp có liên lạc với Hà Nội, họ cho biết nếu có thương thuyết thì chỉ có thương thuyết với ông Dương Văn Minh mà thôi, Brochand nói tiếp, ông Dương Văn Minh cần sự hợp tác của ông Đôn. Lâu nay tôi không có gặp ông Minh, nếu ông Minh trở thành Quốc trưởng, tôi không phải là người tiếp xúc với ông ta. Trước khi ra về Brochand hỏi: Ông Minh gọi điện cho ông được không? Được. Mười phút sau ông Minh điện thoại cho tôi. Moa có thể gặp toa lúc nào, ở đâu? Tôi trả lời: Tối nay tôi dùng cơm tại nhà ông Nguyễn Văn Hảo, khoảng 10 giờ tối tôi ghé lại nhà anh.

Sau bửa cơm, tôi ra về ghé nhà ông Minh. Lâu quá không gặp nên chúng tôi bàn nhiều chuyện quốc phòng, chính trị…Tôi hỏi: Anh có thể thương thuyết với bên kia được không? Được, nhưng phải thật lẹ, nếu không chúng ta không có hy vọng. Sau nầy nhớ lại câu nói trên tôi phục ông Minh tiên liệu sự việc rất đúng. Ông Minh cho biết Hà Nội chờ ông Minh nắm quyền rồi sẽ thương thuyết. Vì ông Hương đã rất chậm chạp, lại không thích ông Minh nên kéo dài thời gian. Việc nầy rất bất lợi, nhất là vừa có tin Xuân Lộc thất thủ, Việt Cộng đang tiến vào vây thủ đô Sài Gòn. Ông Minh đề nghị, bây giờ chỉ có Mỹ nói ông Hương mới nghe. Tôi tán thành. Vậy mình phải làm cho lẹ.

Tôi đi thẳng tới nhà Đại sứ Martin, dù đã gần 12 giờ khuya tôi vẫn vào xin gặp. Đại sứ Martin mời tôi vô. Tôi xin lỗi ông Martin, vì tình hình bắt buộc nên tôi phải đến gặp ông ta khuya như vậy. Tôi cho biết, tôi vừa gặp ông Minh, nếu muốn thương thuyết với Hà Nội thì ông Minh phải có chức vụ mới được. Tôi yêu cầu ông Martin đề nghị ông Hương giao quyền cho ông Minh đứng ra thương thuyết. Martin hứa với tôi sẽ thuyết phục ông Hương. Ngày 23/4/75, Nội các Nguyễn Bá Cẩn từ chức. 10 giờ ngày 24/4/75, ông Minh gặp Tổng thống Hương tại nhà ông Khiêm trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu. 

Trưa hôm đó, tôi đến nhà ông Khiêm, tại đây Bác sĩ Viên, Phó Thủ tướng Hảo, cho tôi biết cuộc gặp giữa ông Minh và ông Hương hồi sáng thất bại, ông Minh từ chối chức Thủ tướng, ông Minh muốn ông Hương giao chức Tổng thống để có toàn quyền nói chuyện với bên kia. Ông Hương trả lời, ông không có quyền, Quốc hội mới có quyền. Tôi đến thẳng toà Đại sứ Pháp, họ lập lại ý trên và cho biết thêm rằng họ chờ đến ngày chủ nhật 27/4 nếu không có gì tiến triển thì họ sẽ pháo kích vào Sài Gòn. Sợ đổ máu cho dân chúng đang sống dày đặc trong thủ đô, tôi hứa sẽ cố gắng dàn xếp để tìm giải pháp. 

Chiều 24/4 ông Khiêm điện thoại cho tôi biết ông Hương sẽ chỉ định ông Nguyễn Ngọc Huy làm Thủ tướng. Theo ông Khiêm ông Huy là người chống Cộng triệt để nên khó có thể hoà giải được. Tôi điện thoại cho ông Minh biết tin nầy, ông Minh mời tôi lại nhà bàn tính công việc. Ông Minh tha thiết muốn“ông Hương trao chức vụ lại để ông Minh thương thuyết gấp”. Tôi nghĩ nên có áp lực từ quân đội, tôi điện thoại mời ông Khiêm, ông Viên, nhưng hai ông ấy đã vào họ dinh Độc lập. Tôi vào dinh Độc lập (lúc 5 giờ 55 phút 24/4) gặp ông Nguyễn Ngọc Huy đang nói chuyện với ông Nguyễn Xuân Phong từ Pháp mới về. 

Thoáng thấy ông Đại sứ Martin từ phòng Tổng thống ra, tôi hỏi: Có phải Tổng thống Hương chỉ định ông Nguyễn Ngọc Huy làm Thủ tướng không? Đại sứ Martin trả lời việc đó không có! Đến lượt ông Huy vào nói chuyện với ông Hương. Sau đó, tôi và Cao Văn Viên vào trình bày tình hình quân sự: Vòng đai Sài Gòn đang bị thu hẹp, đạn dược thiếu, tinh thần binh sĩ quá sa sút. Ông Hương nhìn ông Viên nói: ông sẽ là Tổng Tư lệnh, rằng ông Hương chia xẻ với số phận anh em quân nhân tại chiến trường. 

8 giờ 30 sáng thứ sáu 25 tháng 4, ông Thiệu điện thoại muốn gặp tôi tại dinh Độc lập, ông ấy nhờ tôi lấy cho bạn ông một giấy chiếu khán đi ngoại quốc. Tại đây, ông Thiệu cho biết, ông hiểu rõ những diễn biến chính trị. Nếu ông Hương mời ông Huy làm Thủ tướng thì đó là điều không tốt. Câu chuyện nữa chừng, ông Thiệu điện thoại cho ông Hương khuyên nếu có thi hành giải pháp thì đừng chỉ định ông Huy làm Thủ tướng. “Nếu ông Dương Văn Minh không chịu làm Thủ tướng toàn quyền, thì Cụ tìm một người khác có thể thương thuyết với bên kia, mà người đó theo tôi là ông Đôn”.

Đặt điện thoại xuống, ông Thiệu nói với tôi: Theo tôi, ngoài ông Minh ra, ông là người có thể nhận trách nhiệm này. Tôi đã nghĩ đến ông từ năm 1973, tôi biết ông từng tiếp xúc với nhiều giới chức, gặp nhiều nhân vật chính trị các nước Mỹ, Pháp, Nhật…Uy tín ông có nhiều trong giới chính trị, và quân đội trong nước. Nhưng vì tôi không thay đổi lập trường chống Cộng triệt để của tôi nên không thể ngồi chung với họ. Nếu chịu thương thuyết, tôi đã mời ông làm Thủ tướng từ năm 1973 rồi. Nhưng ngày nay thì tôi đề nghị với ông Hương mời ông làm việc. Tôi nói, ông có nghĩ là bây giờ đã trể không? 

Ông Thiệu im lặng không trả lời. Trước khi từ giã, tôi nói: Còn phần ông, chừng nào đi, tôi biết Mỹ không muốn xẩy ra chuyện như ông Diệm; Xung quanh ông đang bỏ ông, ông phải đi cho nhanh. Nếu tôi làm Thủ tướng, Nội các của tôi đòi bắt ông thì tôi phải làm theo thôi! Sáng hôm sau tôi được biết, tối hôm 25/4 đó, Mỹ đã giúp ông Thiệu và ông Khiêm ra khỏi nước bằng máy bay DC4 đến Taipei. 

Khoảng 10 giờ sáng ngày thứ bảy 26 tháng 4, Tổng thống Hương mời Quốc hội họp phiên đặc biệt. Tôi dự họp với tư cách Dân biểu, và Quyền Tổng trưởng Quốc phòng. Ông Hương trình bày, diễn tiến cuộc họp với ông Minh, rằng ông ta mời ông Minh làm Thủ tướng toàn quyền, nhưng ông Minh không nhận, mà yêu cầu ông Hương từ chức, giao ghế Tổng thống để ông Minh có toàn quyền nói chuyện với Việt Cộng. Ông Hương cho biết ông không thể làm như vậy được, vì đó là quyền của Quốc hội, Hiến pháp còn đó, ông chỉ có quyền mời làm Thủ tướng, còn trao ghế Tổng thống không phải là chuyện nhỏ như trao một chiếc khăn tay… 

Cuối cùng ông Hương đề nghị Quốc hội chấp nhận cho ông một trong hai biện pháp: (1) cho ông được quyền chỉ định một Thủ tướng toàn quyền; (2) bầu ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống. Nói xong ông Hương ra về, Quốc hội tiếp tục họp. 

Sydney ngày 16 tháng 5 năm 2024

 

Bài 138: CHUYỆN KỂ VỀ PHIÊN HỌP KHẨN CẤP CỦA LƯỠNG VIỆN QUỐC HỘI VNCH LÚC 7 GIỜ 30 TỐI 27/4/1975: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.

SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết tiếp: Dư luận hành lang đa số dân biểu nghị sĩ nghiêng về biện pháp một, họ cho rằng ông Minh xem thường Quốc hội. Khi tôi ra về Quốc hội tiếp tục họp, về đến nhà có điện thoại ông Hương, ông nói: Anh Đôn, tôi sẽ chỉ định anh làm Thủ tướng khi Quốc hội biểu quyết cho tôi chỉ định Thủ tướng. Tôi cám ơn, rồi mời nhóm anh em chính trị theo đường lối “Dân tộc Tự tồn” gồm Bác sĩ Trần Văn Du, Giáo sư Nguyễn Xuân Oánh, Giáo sư Bùi Anh Tuấn, Đại tá Vũ Quang thảo luận và chuẩn bị nhiều vấn đề…

Tôi điện thoại cho Nguyễn Cao Kỳ, ông Kỳ nói được vậy thì tốt, và đề nghị tôi nên mời Nguyễn Đức Thắng làm Tổng trưởng Quốc phòng. Tôi nói với ông Kỳ: Các anh em Tổng Tham mưu về miền Tây để tiếp tục tổ chức phòng thủ và kháng cự. Tôi cố gắng tìm giải pháp thương thuyết đình chiến, nếu không được tôi sẽ bay về miền Tây lo việc phòng thủ với anh em. Ông Kỳ đồng ý. Tôi điện thoại cho ông Minh cho biết tôi có thể được chỉ định làm Thủ tướng, chức vụ mà ông từ chối với ông Hương. Ông Minh cười… hơi khinh… Anh em vẫn ngồi bàn thảo lời tuyên bố với quốc dân đồng bào, thì tôi gọi điện thoại đến toà Đại sứ Pháp (4 giờ chiều) để tìm hiểu và dò ý. 

Khi biết tin Tổng thống Hương có thể chỉ định tôi làm Thủ tướng toàn quyền, ông Đại sứ Pháp ngần ngại: không thể được. Hà Nội chỉ muốn nói chuyện với ông Dương Văn Minh. Nếu người thương thuyết không phải ông Minh, thì họ sẽ pháo kích tối nay. Tại sao ông biết? Vì tôi có liên lạc với Hà Nội. Họ hạn định thời gian tối nay. Nếu sự thật như vậy thì Đại sứ nên trình bày lại cho Tổng thống Hương. Sau đó tôi điện thoại cho ông Đại sứ Mỹ, thì ông Martin cũng nói như vậy, tôi đề nghị: Nếu vậy yêu cầu ông Đại sứ trình bày lại cho Tổng thống Hương rõ. Tôi đến nhà ông Hương, vừa mở lời thì ông Hương nói hai ông Đại sứ Pháp và Mỹ vừa điện thoại tới, ông Hương nói tiếp: Qua hiểu rồi! Họ muốn Minh! Qua sẽ từ chức!  

Sáng chủ nhật 27/4/75, ông Hương họp tại nhà riêng các ông: Trần Thúc Linh, Chủ tịch Tối cao Pháp viện; Trần Văn Lắm Chủ tịch Thương viện; Phạm Văn Út, Chủ tịch Hạ viện; Phụ tá Tư pháp của ông Hương; và Trần Văn Đôn để bàn “nên làm gì” khi Quốc hội biểu quyết trao quyền Tổng thống cho người khác. Buổi họp chấm dứt lúc 12 giờ trưa. Sẵn dịp đó, Đại tướng Viên xin ông Hương ký Sắc lệnh cho ông Viên nghĩ dài hạn không lương kể từ ngày 27/4 đó, với lý do “không thể làm việc dưới quyền ông Minh”. Ông Hương chấp thuận lời yêu cầu của ông Viên. Tôi là người ra khỏi nhà ông Hương sau cùng, thấy vẻ bất bình của ông Hương khi ông nói với tôi: Họ muốn ông Minh thì có ông Minh! 

Vào lúc 3 giờ trưa hôm 27/4/75, Đại sứ Pháp điện thoại cho tôi biết: sáu giờ chiều nay nếu không có gì thay đổi thì Hà nội sẽ pháo kích vào Sài Gòn bằng súng 130 ly có tầm bắn xa 30 cây số. Tôi tìm ông Trần Văn Lắm, và ông Phạm Văn Út, Chủ tịch Thượng viện và Hạ viện yêu cầu thông báo nghị sĩ dân biểu đến họp vào buổi chiều. Theo lời yêu cầu của họ, tôi mời Đại tướng Cao Văn Viên Tổng tham mưu trưởng; Trung tướng Nguyễn Văn Minh Tư lệnh Biệt khu Thủ đô; Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không quân; Trung tướng Chung Tấn Cang Tư lệnh Hải quân; Chuẩn tướng Thọ Trưởng Phòng 3 Hành quân/Bộ TTM; Đại tá Lung Trưởng phòng 2 Tình báo/ Bộ TTM cùng đi với tôi lên họp với Quốc hội để trình bày tình hình quân sự, và vòng đai phòng thủ Sài Gòn.

7 giờ 30 (27/4) tối cuộc họp khẩn cấp Lưởng viện Quốc hội bắt đầu với số dân biểu nghị sĩ 138 vị trên tổng số dân biểu nghị sĩ 200. Phái đoàn chúng tôi trình bày tình hình quân sự: 16 Sư đoàn Việt Cộng đang bao vây Sài Gòn cùng với một số đông thiết giáp và súng pháo binh hạng nặng; Vòng đai phòng thủ của ta đang từ từ bị thu hẹp; Chúng ta chỉ còn miền Tây. Nghị sĩ Phạm Đình Ái và Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu hỏi: Tổng trừ bị của ta ở đâu? Còn hay không? Vòng đai phòng thủ Sài Gòn thế nào? Chúng tôi cho biết Tổng trừ bị đang ở vòng đai phòng thủ Sài Gòn. Trong nội đô còn có Biệt động quân và Cảnh sát Dã chiến. Các Sư đoàn tiền tuyến ở vòng đai bảo vệ Sài Gòn đang đối diện với các Sư đoàn Bắc Việt.

Phó Thủ tướng Phụ trách Kinh tế Nguyễn Văn Hảo trình bày việc các cơ quan rút tiền ở ngân hàng, đã tạo ra khủng hoảng trong dân chúng. Nghị sĩ Tôn Thất Đính đề nghị biểu quyết vụ trao quyền Tổng thống cho nhanh, tình hình kinh tế chưa thiết yếu bây giờ, nhưng ông Hảo cũng cho biết thêm “tất cả các ngân hàng đã đóng cửa, các cơ quan không còn ai lãnh đạo”. Xong phần thuyết trình chúng tôi ra về, Quốc hội tiếp tục họp. Tôi ghé lại nhà ông Hương trình bày công việc vừa rồi ở Quốc hội, thì Sĩ quan tuỳ viên đem tin 136/138 dân biểu, nghị sĩ biểu quyết định trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh, 2 người không biểu quyết là chủ tịch Thượng viện và Hạ viện. Ông Hương nhờ tôi nói với ông Minh là ông Hương sẵn sàng trao quyền bất cứ lúc nào.

Tôi và ông Nguyễn Xuân Oánh lại toà Đại sứ Pháp và Mỹ cho biết sự việc, rồi ghé qua ông Minh báo tin để ông chuẩn bị những việc cần làm sắp tới. Tôi đến nhà ông Minh thì ông đang tiếp cựu Đại tá Bùi Dinh, người rất trung thành với ông Diệm. Ông Minh nói với tôi và ông Oánh: Chính bên Thiên chúa giáo cũng yêu cầu tôi làm cho nhanh để cứu vãn tình thế phần nào. Đây, ông Bùi Dinh đây, trước kia chống đối tôi kịch liệt, nay đến nói lên ý kiến của một số anh em bên Thiên chúa giáo. Tôi sẽ cố gắng thi hành nhiệm vụ này. Chờ lâu quá, nhưng sẽ cố gắng lần cuối cùng này. 

Tôi đề nghị ông Minh, bây giờ đã quá 12 giờ khuya, sang ngày thứ hai rồi, thì giờ không cho phép kéo dài nữa. Anh nên nhận nhiệm vụ liền để bắt tay vào việc đi. Ông Minh hẹn 5 giờ chiều mai. Tôi nghĩ không phải ông ấy trì hoãn, mà ông coi ngày giờ tốt trước khi nhận việc. Đã quá khuya, chúng tôi chia tay ra về sau khi nghe ông Minh nói thêm một câu bằng tiêng Pháp Nếu có xuống âm phủ mình đi càng nhiều càng vui! Nghe ông Minh nhận chức Tổng thống, dư luận chia làm hai: một số nghĩ rằng sắp có cơ hội thương thuyết để ngưng chiến, một số khác cho rằng chúng ta đang mở cửa cho Cộng sản nuốt trọn miền Nam. 

Sydney ngày 17 tháng 5 năm 2024

 

Bài 139: CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC BÀN GIAO CHỨC TỔNG THỐNG VNCH NGÀY 28 VÀ THỦ TƯỚNG NGÀY 29/4/1975: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.

SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết tiếp: Lúc 8 giờ sáng thứ hai ngày 28 tháng 4 tôi đến Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng gặp Đại tướng Cao Văn Viên để theo dõi tình hình quân sự. Ông Viên nói, ông Hương đã ký Sắc lệnh cho ông ta nghĩ, yêu cầu tôi cho người thay thế. Ngay lúc đó, có điện thoại ông Minh muốn nói chuyện với tôi, ông Minh dặn tôi giữ ông Viên ở lại chức vụ Tổng Tham mưu trưởng, đừng cho ông Viên đi. Tôi không biết xử sự làm sao, vì ông Viên đã được ông Hương cho nghỉ. Tôi hỏi ông Viên, nếu anh đi, thì theo anh ai có thể thay thế anh được? Ông Viên không trả lời câu hỏi mà hỏi lại tôi: Còn anh sẽ làm gì? 

Tôi cũng chưa quyết định. Mấy ngày trước ông Minh và ông Mẫu muốn tôi tiếp tục giữ ghế Tổng trưởng Quốc phòng, nhưng tôi chưa trả lời, nay ông Minh cho tôi biết Hà Nội không muốn có một người nào trong Nội các củ ở lại trong Nội các mới. Về lại Văn phòng ông Minh gọi điện dặn huỷ bỏ Sắc lệnh mà ông Hương ký cho phép ông Viên nghỉ dài hạn không lương, nhưng Sắc lệnh đó ông Hương đã gởi thẳng cho ông Viên, khi ông Hương đương chức Tổng thống, một ngày trước khi bàn giao chức chưởng cho ông Minh.

5 giờ chiều thứ hai 28/4/1975, tại phòng họp, nơi ông Thiệu trao quyền cho ông Hương tuần trước, thì nay lại có cuộc lễ để ông Hương trao quyền Tổng thống lại cho ông Minh. Trong cuộc lễ nầy bên quân đội cử Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không quân và Trung tướng Đồng Văn Khuyên thay Đại tướng Cao Văn Viên đến dự lễ. Sau nghi lễ nhận chức vụ Tông thống, ông Minh giới thiệu ông Nguyễn Văn Huyền làm Phó Tổng thống và ông Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng. Ông Minh trầm tỉnh đọc bản tuyên bố đường lối của mình là chấm dứt chiến tranh bằng cách thương thuyết và hoà giải với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. 6 giờ chiều, cuộc lễ xong ông Minh tiễn ông Hương ra cổng. 

Nhà tôi ở gần dinh độc lập, nên chỉ vài phút sau đã về đến nhà, lại nghe tiếng nổ ầm ầm, súng bắn lung tung, phi cơ bay trên nóc dinh Độc lập. Tôi điện thoại đến Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Không quân hỏi, thì được biết có ba phi cơ Việt Nam Cộng hoà làm phản, bay vào liệng bom ở phi trường Tân Sơn Nhất. Hai chiếc F5 đã bay đuổi theo họ. Sau mới biết máy bay đó là của Không quân Việt Nam Cộng hoà còn lại Đà Nẳng, Việt Cộng xúi dục, móc nối phi công bay vô dội bom Sài Gòn. Tối đến Việt Cộng pháo kích vào phi trường để phá phi đạo Tân Sơn Nhất. 

8 giờ 15 sáng ngày 29 tháng 4, tôi đến Tổng Tham Mưu, nhưng vừa tới cổng, viên sĩ quan ở cổng chận tôi lại không cho vô vì bên trong đang bị pháo kích. 20 phút sau tôi vô thẳng văn phòng Tổng Tham mưu trưởng, gặp Trung tướng Đồng Văn Khuyên, người được Đại tướng Cao Văn Viên đề cử Xử lý thường vụ chức Tổng Tham mưu trưởng, tôi mới biết ông Viên đã ra khỏi nước bằng chiếc trực thăng riêng đến cơ quan DAO từ đó Mỹ chở qua Bangkok. Đến Bangkok, ông Viên lấy vé phi cơ dân sự bay thẳng đến Hoa Thịnh Đốn như một du khách, không qua thủ tục như người tỵ nạn khác.

Vậy là trong vòng hai tuần, ba ông Tướng điều khiển miền Nam, suốt 9 năm trời đã từ chức và bay ra khỏi nước: Trung tướng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại tướng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên! Tôi hỏi Tướng Đồng Văn Khuyên về tình hình… Trong khi chúng tôi nói chuyện thì có tiếng của một sĩ quan gọi máy truyền tin trực tiếp vào Bộ Tổng Tham mưu hỏi: Có nên tuân lệnh của Tướng Kỳ bắn vào các xe tăng Việt Cộng đang tiến quân không? Tôi trả lời: Phải tuân lệnh! Lúc đó, Tướng Kỳ bay quan sát tình hình, thấy Việt cộng đang tiến quân nên ra lệnh như vậy. 

Tại Bộ Tổng Tham, tôi thấy có tướng Ngô Quang Trưởng và Đỗ Kế Giai đang nói chuyện, các sĩ quan khác thì hiện vẻ lo âu. Tôi gọi điện thoại cho ông Minh biết tình hình bi đát tại Bộ Tổng Tham Mưu: Ông Viên đi rồi, ông Tướng Xử lý thường vụ không đủ thì giờ, không đủ khả năng quán xuyến mọi việc đang rối ren. Anh chỉ định gấp một Tổng Tham mưu trưởng mới, Vĩnh Lộc hay Ngô Quang Trưởng đều được. Được. Moa không muốn mời Tướng chính trị. Anh cứ tìm ông Tướng nào có khả năng, can đảm để nắm lại tình hình. 

Riêng ông Thủ tướng mới của anh, thì nên về Phủ Thủ tướng mà làm việc. Ông Nguyễn Bá Cẩn cựu Thủ tướng đã đi rồi! Tôi với tư cách Phó Thủ tướng cao niên, tôi sẽ bàn giao trao lại Phủ Thủ tướng để ông Thủ tướng mới có phương tiện làm việc. Ông Mẫu đang làm việc tại nhà tôi đây! Ông Minh hẹn 10 giờ 30 sẽ nhận bàn giao tại Phủ Thủ tướng. Nhìn đồng hồ mới 9 giờ, tôi xuống ghé phòng Ngô Quang Trưởng nói, tôi vừa điện đàm với ông Minh, yêu cầu Tổng thống chỉ định gấp một Tổng Tham mưu trưởng, tôi nghĩ anh có thể làm được. Nếu chỉ định thì tôi làm, nhưng Trung tướng đừng đề nghị tôi. Tôi báo cho ông Châu Bộ trưởng Phủ Thủ tướng chuẩn bị lập biên bản lễ bàn giao lúc 10 giờ 30. 

10 giờ sáng ngày 29 tháng 4 tôi đến Phủ Thủ tướng, khi chạy ngang qua toà Đại sứ Mỹ thấy người ra vô vẫn tấp nập như thường ngày. Tôi đến Phủ Thủ tướng cùng với sĩ quan tuỳ viên, tại đây đã có một số Tổng, Bộ trưởng mới có mặt. Nội các cũ thì có Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, Tổng trưởng Giáo dục Dương Kích Nhưỡng, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Châu. Một lúc sau, ông Châu cho biết ông Vũ Văn Mẫu muốn điện đàm với tôi. Ông Mẫu xin lỗi đến trể một giờ, vì phải qua đài phát thanh đọc lời tuyên bố quan trọng. 11 giờ 30, ông Châu cho biết, ông Thủ tướng đến, tôi ra cầu thang đón. Ông Mẫu đến đúng nghi lễ, bằng xe Mercedes dành cho Thủ tướng có xe mô tô hộ tống.

Tôi mời ông Mẫu vào văn phòng Thủ tướng và bắt đầu cuộc lễ. Ông Mẫu ngồi bên tay mặt tôi. Ông Châu đưa biên bản bàn giao để ký. Tôi ký xong trao cho ông Mẫu ký, nhưng ông Mẫu ký hoài mà viết của ông ấy không ra mực, nên tôi phải đưa viết của tôi cho ông ấy ký. Ký biên bản xong tôi nói vài lời cầu chúc, và ông Mẫu đáp từ. Sau đó, ông Mẫu nói chuyện với mấy ông Tổng trưởng, rằng ông ta vừa lên đài phát thanh tuyên bố yêu sầu Mỹ rút khỏi Việt Nam trong 24 giờ kể từ 5 giờ sáng nay. 

Nghe ông Mẫu nói, tôi dùng điện thoại màu xanh lá cây dành riêng cho Thủ tướng và Phó thủ tướng liên lạc với toà Đại sứ Mỹ. Có tiếng người bắt điện thoại tôi hỏi ngay: Có chuyện gì xảy ra đó? Tôi vừa nghe ông Tân Thủ tướng yêu cầu DAO rút khỏi Việt Nam trong 24 giờ phải không? Không phải chỉ DAO mà tất cả những người Mỹ sẽ rút. Ông muốn đi thì lên toà Đại sứ trước 12 giờ trưa nay. 

Sydney ngày 18 tháng 5 năm 2024

 

Bài 140: CHUYỆN KỂ VỀ TÌNH CẢNH TRANH NHAU LÊN TRỰC THĂNG MỸ DI TẢN KHỎI SÀI GÒN NGÀY 29/4/1975: TRẦN VĂN ĐÔN GHI LẠI.

SÁCH VIỆT NAM NHÂN CHỨNG, Trần Văn Đôn viết tiếp: Lúc đến toà Đại sứ, tôi không vào được, vì người quá đông nên mọi cửa ra vô đều đóng chặt, tôi đi vòng ngã đưởng Hồng Thập Tự cũng không vào được. Tôi trở lại Bộ Quốc phòng điện thoại cho toà Đại sứ Mỹ, sau một hồi tôi liên lạc được với ông Polgar. Ông dặn tôi đến nhà riêng của ông, rồi ông sẽ bốc tôi đi. Đến nơi tôi thấy đông nghẹt người đang chờ. Cô thư ký của ông Polgar kêu chúng tôi đến tại khách sạn Mỹ Lee Hotel gần đài Chiến sĩ Tự do, chúng tôi đến đó thấy người chờ quá đông mà cửa đóng, đành trở lại nhà ông Polgar ngồi chờ. 4 giờ chiều chúng tôi trở lại khách sạn Lee Hotel cũng không vô được.

Cô thư ký của ông Polgar đến nới với tôi: Tôi là Hà Hiếu Lang, em của Đại tá Điệp. Cô nói nhỏ với tôi: Mình đi chỗ khác! Ông lại góc đường Hai Bà Trưng chờ tôi! Xe chúng tôi chạy theo xe cô ta đến đường Gia Long gần đường Tự Do, tai một cao ốc 9 tầng, tầng dưới là Alliance Francaise của Pháp, còn 8 tầng trên là Văn phòng của CIA. Chúng tôi lên trên sân thượng tầng lầu 9. Có khoảng sáu chục người đang chờ, tôi đành phải đứng phía sau. Thấy vậy cô Lang nói to: Tôi nhường chỗ của tôi và các em tôi cho gia đình Trung tướng. 

7 giờ 30 tối ngày 29 tháng 4 năm 1975, tôi từ giã Sài Gòn, lúc Sài Gòn đã lên đèn. Trực thăng chở chúng tôi đáp xuống chiến hạm Hancock. Trần văn Đôn viết tiếp “Những điều nghe biết về sau”: Đề đốc Chung Tấn Cang, Tư lệnh Hải quân đến cho ông Minh biết, hiện tàu bè đủ chở chính phủ và binh sĩ xuống miền Tây, nhưng ông Minh cho biết còn đang thương thuyết. Vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, Cố vấn toà Đại sứ Pháp ông Brochand cho ông Minh biết là Hà Nội không muốn nói chuyện với ông Minh nữa. 5 giờ chiều ông Minh gọi ông Chung Tấn Cang đến gấp, nhưng ông Cang cử ông Phó Đề dốc Diệp Quang Thuỷ đến. 

Ông Minh nói với ông Thuỷ: Tôi trao cho Hải quân được toàn quyền hoạt động. Ông Minh nhờ Đề đốc Diệp Quang Thuỷ dẫn rể ông là Đại tá Đài, tướng Mai Hữu Xuân, Chuẩn tướng Hoàng và con gái ra khỏi nước. Biết không thể thương thuyết, nhưng ông Minh vẫn không cho tướng Vĩnh Lộc Tổng Tham mưu trưởng và Nội các hay, có lẽ sợ các ông ấy bỏ đi sẽ gây thêm xáo trộn. Tối 29/4, ông Minh nghĩ là thua rồi, nên đưa vợ và tất cả sĩ quan, bộ tham mưu chính trị vào dinh độc lập để gặp họ ngay tại đây. 

8 giờ sáng ngày 30/4/75, Tổng Tham mưu trưởng Vĩnh Lộc, điện thoại hỏi ông Minh cuộc thương thuyết đi tới đâu rồi, ông Minh vẫn chưa cho biết. Khoảng 9 giờ, đoàn xe Việt Cộng từ miệt lăng Cha Cả xuống nhà thờ Ba Chuông thẳng đường Trương Minh Giảng vào Trung tâm Sài Gòn. Lúc 10 giờ thì tại Bộ Tổng Tham mưu có các Trung tướng Lộc, Trung tướng Trung, Đại tá Huyến và một số sĩ quan cấp Tá cấp uý khác thấy tình hình quá khẩn cấp, chiến xa của Việt Cộng đã ồ ạt vào thủ đô, nên họ quyết đinh phải ra đi. Từ cổng Bộ Tổng Tham mưu, đoàn xe của Tướng Lộc ra đường Cách mạng xuống phía Thị Nghè ra Hải cảng, Đoàn xe của tướng Lộc đến Công xưởng Hải quân, chỉ còn một chiếc tàu hư đang sửa, ông Lộc cũng phải lấy ra đi… 

Ai cứu dân chúng Sài Gòn khỏi đổ máu? Không phải Kissinger. Không phải Đại sứ Mỹ. Không phải Đại sứ Pháp. Sài Gòn không đổ máu là nhờ Dương Văn Minh. Ông Minh có thể ra đi lúc đó, lúc chưa nhận chức Tổng thống, hoặc có thể ngày 29 tháng 4 với Hải quân, nhưng ông can đảm ở lại. Nếu tất cả đi hết thì Sài Gòn sẽ hổn loạn. Không có chính quyền sẽ không có an ninh, du đảng sẽ lộng hành, cướp giật, giết nhau vì oán thù.v.v.. Còn nếu ông Minh ra lệnh chiến đấu, thì mấy ai còn gan dạ cầm súng, chỉ gây thêm đổ máu mà thôi! Thua là điều không tránh khỏi!!! 

Ngày 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố: "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào.

Tuy nhiên, những sĩ quan Cộng sản không chấp nhận làm lễ bàn giao mà buộc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng… (Hết trích)

Sydney ngày 19 tháng 5 năm 2024

 

Bài 141: NGÀY 7/1/1975 TỈNH LỴ PHƯỚC LONG THẤT THỦ, VÀ NGÀY 10/3/1975 BAN MÊ THUỘT MẤT LIÊN LẠC: PHẠM BÁ HOA GHI LẠI.

Tại chương 8 SÁCH ĐÔI DÒNG GHI NHỚ, Phạm Bá Hoa viết: Ngày 13 tháng 12 năm 1974, một đơn vị Cộng sản có thể là cấp Tiểu Đoàn, tấn công quận lỵ Đôn Luân, bị quân trú phòng đẩy lui. Nhưng cuộc tấn công kế tiếp thì Đôn Luân thất thủ. Sau đó, một lực lượng Cộng sản khác đánh chiếm quận Bố Đức. Sư Đoàn 5 Bộ Binh được Bộ Tổng Tham Mưu điều động tăng cường cho tỉnh lỵ Phước Long. Ngày 24 tháng 12 năm 1974, chiếc trực thăng Chinook 47 chở chuyên viên từ Sài Gòn lên tỉnh lỵ Phước Long sửa chữa chiếc phi cơ vận tải C.130 bị hư đang nằm tại phi trường ngoại ô tỉnh lỵ. Lượt về, chiếc Chinook 47 đã bị hỏa lực phòng không của quân cộng sản bắn hạ sau khi cất cánh chưa đầy 5 phút. 

Đang trong tình hình hết sức nguy hiểm cho lực lượng trú phòng, thì sự bất đồng quan niệm hành quân giải tỏa Phước Long giữa Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III/Quân Khu III, với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong phiên họp tại Phủ Tổng Thống, Trung Tướng Đống xin tăng cường lực lượng tổng trừ bị nhưng Thổng thống Thiệu không chấp thuận. Theo lời của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu thì Trung Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức ngay trong buổi họp, nhưng Tổng Thống không chấp thuận. Ngày 6 tháng 1 năm 1975, Tướng Nguyễn Văn Toàn được cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn III thay thế tướng Đống. Ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long vào tay quân Cộng sản. 

Sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, khi tôi vào đến văn phòng thì điện thoai reo liên hồi: “Đại Tá Hoa tôi nghe”.  “Lễ (Đại tá, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy III Tiếp Vận) đây anh. Tôi mới nghe nói là Ban Mê Thuột bị mất liên lạc hữu tuyến lẫn vô tuyến từ giữa đêm qua. Đâu anh xem lại có phải vậy không? Tôi gọi khắp các cơ quan phòng sở trong Bộ Tổng Tham Mưu, không cơ quan nào liên lạc được với bất cứ cơ quan đơn vị nào ở Ban Mê Thuột cả. Chợt nhớ ra bên Sở Liên Lạc có căn cứ Lôi Hổ trên đó hoạt động dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt, có thể còn giữ liên lạc được. Và, đúng như vậy, Trung Tá Trần Đắc Trân, điện thoại gọi tôi sang để nói chuyện trực tiếp với nhân viên của Sở Liên Lạc tai Ba Mê Thuột. 

Tôi trình Đại Tá Loan xong là chạy sang anh Trân ngay. Tôi hỏi:“Chào anh. Anh đang ở đâu đó?“Em đang ẩn trú ở đầu phi trường nhỏ trong thành phố Ban Mê Thuột. Chung quanh em tiếng súng nổ dữ lắm và xe tăng của tụi nó (quân cộng sản) đã vào đến cuối sân bay rồi Đại Tá ơi!“Theo anh thì tụi nó đã vào trung tâm thành phố chưa? “Xe tăng của nó tấn công kho đạn đêm qua, và tụi nó tiến vào thành phố rồi. Khu vực Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn (23 Bộ Binh) và bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đều có tiếng súng dữ lắm. Em chưa rõ lắm, nhưng em nghĩ là bị tụi nó chiếm hết rồi. Bây giờ em phải rút ra ngoại ô. Chào Đại Tá”. “Cám ơn anh, và cầu nguyện cho anh cùng các bạn vượt thoát bình an. Chào anh và các bạn”.   

Tôi gọi lên Quân Đoàn II nói chuyện với Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn, được biết Quân Đoàn II đã cho phi cơ không thám trên không phận ngoại ô Ban Mê Thuột, chớ không vào sâu bên trong được vì hỏa lực phòng không của Cộng quân quá mạnh, tin tức ghi nhận khá ít, không đủ dữ kiện cho Quân Đoàn nhận định tình hình một cách rõ nét, để có phản ứng phù hợp. Sư Đoàn 23 Bộ Binh, có 2 Trung Đoàn hoạt động trên Kon Tum, và 1 Trung Đoàn giữ phi trường Phụng Dực, lực lượng phòng thủ Ban Mê Thuột chỉ gồm những đơn vị yểm trợ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và các đơn vị Địa Phương Quân Nghĩa Quân của Tiểu Khu nên sự chống trả yếu ớt. 

Ngày 13 tháng 3 năm 1975, Ban Mê Thuột  và toàn tỉnh Darlac vào tay quân cộng sản!  Trước đó, ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long vào tay quân cộng sản. Thế là, hai tỉnh của Việt Nam Cộng Hòa đã vào tay Cộng quân. Ngày 15/3/1975, ngay đầu giờ buổi làm chiều, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe “Có ai ngồi gần anh không? “Dạ không, thưa Đại Tướng”. Đó là Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông tiếp:“Tuyệt đối là anh không cho ai biết lệnh này ngoài những sĩ quan trách nhiệm thi hành”. “Vâng, tôi rõ thưa Đại Tướng”.

Tổng Cục Tiếp Vận có bao nhiêu phi cơ vận tải C.130 khả dụng? Thông thường thì sử dụng 2 hoặc 3 chiếc, nhưng trường hợp tối cần thiết có thể sử dụng được 8 hoặc 9 chiếc. Nhưng tôi sẽ hỏi bên Không Quân và sẽ trình lại Đại Tướng con số chính xác hơn, thưa Đại Tướng. Thôi được. Điều cần thiết là anh phải sử dụng tối đa vì đây là nhu cầu khẩn cấp. Anh liên lạc ngay với Quân Đoàn II, xem họ cần bao nhiêu chiếc thì cho họ bấy nhiêu, còn sử dụng vào công tác gì thì tùy họ. Nhiệm vụ kể từ ngày mai. Anh rõ chưa? Thưa Đại Tướng, tôi rõ.“Phần anh, anh chuyển các quân dụng đắt tiền ra khỏi Pleiku và muốn đem về đâu thì tùy anh”.“Vâng. Tôi thi hành, thưa Đại Tướng”. 

Sydney ngày 20 tháng 5 năm 2024

 

Bài 142: LỘN XỘN TẠI PHI TRƯỜNG CÙ HANH, PLEIKU NGÀY 16, 17/3/1975, VÀ THÔNG TIN TỪ ĐẠI TÁ BỬU KHƯƠNG:  PHẠM BÁ HOA GHI LẠI.

Tôi gọi lên Pleiku liên lạc với Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II: “Tôi Hoa đây anh Lý. Tôi được lệnh cấp C.130 cho anh nhưng không được biết là Quân Đoàn sử dụng vào công tác gì. Vậy anh có thể cho tôi biết để tôi tiện sắp xếp phi cơ theo đúng nhu cầu của anh không? Vì chắc anh cũng biết là số phi cơ khả dụng của chúng tôi giới hạn lắm”. Anh cứ đưa lên đây cho tôi, còn sử dụng vào công tác gì thì không thể nói được đâu. Đành vậy. Nhưng anh cần bao nhiêu chiếc?  Cần vào lúc nào? Và chuyển vận từ đâu tới đâu? “Anh có bao nhiêu chiếc thì đưa lên tôi bấy nhiêu kể từ sáng mai (16/3/1975).  Không trình có thể là từ Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sàigòn.

“Sao lại là có thể mà không rõ nơi đến?“Tôi không thể cho anh biết đâu. Vậy thì như thế này. Sáng mai tôi cho lên anh 2 chiếc, trong khi 2 chiếc kế tiếp túc trực tại phi trường Tân Sơn Nhất và anh cần là cất cánh ngay, vì một lúc anh đâu sử dụng được 4 chiếc. Được không? “Được. 8 giờ sáng mai anh cho có mặt tại phi trường Cù Hanh nghe. Xong. Mình thỏa thuận như vậy”.

Sáng ngày 16/3/1975, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Đại Tá. Trưởng phi cơ C.130 đang trên không phận phi trường Cù Hanh (Plei Ku), cho biết là không thể nào đáp xuống phi trường được, vì người ta đông không thể tưởng tượng nỗi. Chẳng biết là chuyện gì xảy ra vì không liên lạc được dưới đất. Và hai chiếc C.130 đang chờ lệnh Đại Tá. Anh chuyển đến Trưởng phi cơ là hãy chờ tôi vài phút để tôi liên lạc với Quân Đoàn II xem tình hình ra sao”.

Gọi Quân Đoàn II, và tôi nói chuyện với Đại Tá Lý: “Phi cơ tôi đang trên không phận của anh đó, nhưng không thể đáp được. Nếu anh muốn họ đáp xuống thì anh phải giải tỏa sân bay giùm đi. Nếu chậm quá thì họ sẽ về lại Sài Gòn đó. Mà chuyện gì xảy ra vậy Anh? Tại vì, người ta tranh nhau chờ lên phi cơ mới có chuyện tràn ngập đường băng như vậy. Để tôi cho Quân Cảnh giải tỏa, anh bảo phi cơ đáp xuống cho tôi đi. Thì phi hành đoàn đang chờ đường băng trống là đáp xuống, trừ khi anh không giải tỏa nỗi. Anh nhớ ưu tiên cho Liên Đoàn Trưởng Yểm Trợ Tiếp Vận của tôi ở Plei Ku, chở một số kiện hàng quan trọng xuống Qui Nhơn hoặc Nha Trang à nghe”.

Tôi lại nhờ Bộ Chỉ Huy Không Chiến chuyển đến phi hành đoàn C130. Và sau đó, phi cơ đáp xuống được tuy rất khó khăn vì đông nghẹt người là người hai bên đường băng. Theo lời thuật của Trưởng phi cơ, là cả một rừng người chen lấn xô đẩy, đạp lên nhau để tranh lên phi cơ, và hết sức khó khăn, phi hành đoàn mới cho phi cơ cất cánh được.

Sáng ngày 17/3/1975, trong lúc 2 chiếc C130 trên không phận Plei Ku thì điện thoại nhà tôi reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Đại Tá. Trưởng phi cơ cho biết là toàn thị xã Plei Ku hôm nay không có bóng một sinh vật nào cả, và bây giờ phi hành đoàn xin phép về lại căn cứ. Anh hỏi lại phi hành đoàn giùm tôi, nếu sự thực đúng như vậy, thì tôi đồng ý phi cơ quay về. Xin nhớ, đây là trách nhiệm rất quan trọng nghe anh. Tôi điện thoại qua nhà Đại Tá Phạm Kỳ Loan, và ngay sau đó Đại Tá Loan liên lạc Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ (Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu) nhưng Chuẩn Tướng Thọ vẫn không nhỏ được một giọt thông tin nào về tình hình đó cả. 

Chiều 18/3/1975, điện thoại reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe. Khương đây anh Hoa. Đó là Đại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, đồn trú tại Qui Nhơn. Anh có tin gì về anh em mình trên Plei Ku chưa? “Liên Đoàn 2 Vận Tải mới liên lạc vô tuyến với đoàn xe bị kẹt trên Plei Ku rồi anh. Đoàn xe này đang cùng với hằng ngàn quân xa và dân xa rút bỏ Plei Ku và Kon Tum, đang di chuyển trên đường liên tỉnh số 7 để xuống Tuy Hòa. Toàn bộ lực lượng gồm nhiều đơn vị chiến đấu, cùng với Pháo Binh, Thiết Giáp, bị sa lầy sau khi vượt qua Cheo Reo. Phần thì đường hư cầu sập làm nhiều chiến xa M.48 và pháo binh 175 ly cơ động xuống hố, gây tổn thất rất nặng cho cả quân đội lẫn dân sự, nhưng chưa thấy phản ứng của Quân Đoàn. Anh em mất tinh thần lắm anh ơi!

“Được rồi. Bảo vệ đoàn quân và khi nào xuống đến Tuy Hòa, chắc chắn là trách nhiệm của Quân Đoàn. Bây giờ anh nên chuẩn bị tổ chức nhiều toán do một sĩ quan của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận chỉ huy và đặt tại Tuy Hòa, mỗi toán phụ trách một  công tác, để khi đoàn quân xuống đến Tuy Hòa thì cấp phát ngay cho bất cứ đơn vị nào mà không cần theo thủ tục tiếp liệu thông thường, chỉ cần viết tay và ký nhận là đủ. Hàng mang theo cấp phát là: Lương khô đủ ăn 3 ngày, 1 bộ quần áo trận, đổ đầy xăng dầu cho xe chạy bánh và xe chạy xích. “Toán Quân Y thì cấp thuốc cho các bệnh thông thường và cấp cứu đầu tiên. Anh thấy được không? Được anh. Để tôi lo”. Anh nói Liên Đoàn 2 Vận Tải ráng giữ liên lạc và khi có bất cứ tin tức gì về đoàn quân này thì anh cho tôi biết ngay nghe anh Khương”.

Sở dĩ có đoàn xe hằng trăm chiếc bị kẹt ở Plei Ku, là vì sau khi Phước Long mất, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên ra lệnh cho tôi thực hiện kế hoạch chuyển tiếp liệu loại 1 (lương thực thực phẩm), loại 3 (nhiên liệu), loại 5 (đạn dược chất nổ), lên Plei Ku dự trữ cho 20.000 quân phòng thủ trong 30 ngày mới bổ sung. Do vậy, mà hằng ngày đoàn xe cả trăm chiếc đi đi về về giữa Qui Nhơn với Plei Ku để vận chuyển tiếp liệu từ Qui Nhơn lên Plei Ku. Tôi sang văn phòng Đại Tá Loan, và sau khi trình cho anh xong, tôi điện thoại lên văn phòng Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng: 

“Tôi Hoa đây anh Nguyện (Đại Tá Nguyễn Kỳ Nguyện, chánh văn phòng), anh cho tôi trình vấn đề gấp với Đại Tướng. Anh chờ tôi một chút. Tôi đây (Đại tướng Viên).Thưa Đại Tướng, tôi Hoa đây. Có việc gì vậy? Thưa Đại Tướng, cách đây vài phút, Đại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, cho tôi biết về đoàn quân rút bỏ Plei Ku và Kon Tum đang bị sa lầy ... (tôi thuật lại chi tiết mà tôi với Đại Tá Khương đã nói với nhau). “Anh có chắc là đúng như  vậy không? Từ chỗ đoàn xe bị kẹt đến Đại Tá Khương như thế nào thì tôi không dám chắc, nhưng từ Đại Tá Khương đến tôi là hoàn toàn chính xác, thưa Đại Tướng. Thôi được. Anh đừng nói với ai nữa nghe. Vâng”.

Sydney ngày 21 tháng 5 năm 2024

 

Bài 143: RÚT BỎ PLEIKU-KON TUM-PHÚ BỔN NHỮNG TƯỞNG ĐỂ CHIẾM LẠI BAN MÊ THUỘT NHƯNG RỒI TOÀN BỘ CAO NGUYÊN BỎ NGÕ CHO CỘNG QUÂN:  PHẠM BÁ HOA GHI LẠI.

Đại Tá Loan và tôi đều ngẩn ngơ về câu nói sau cùng của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng. Chúng tôi ngẩn ngơ vì không hiểu tại sao tình hình đến như vậy mà vẫn muốn giấu kín chúng tôi nữa! Vài phút sau đó, Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu, điện thoại cho tôi: “Cưng ơi (Chuẩn Tướng Thọ thường gọi tôi như vậy), cưng có liên lạc với đoàn xe trên đường số 7 hả?Tôi không trực tiếp liên lạc nhưng Liên Đoàn 2 Vận Tải của chúng tôi đã liên lạc được với đoàn xe chở tiếp liệu lên Plei Ku và bị kẹt trên đó, nay thì cùng trong đoàn quân sa lầy mà vừa rồi tôi đã trình Đại Tướng. Có. Đại Tướng mới gọi anh đây. Cưng cứ biết vậy thôi nghe”. Cũng lại giấu nhau! 

Chiều tối hôm sau (19/3/1975) thì Trung Tướng Đồng Văn Khuyên từ Tokyo (Nhật Bản) về đến. Sau khi nghe chúng tôi trình bày về tình hình từ ngày ông vắng mặt đến nay, ông nói sáng mai (20/3/1975) sẽ trình diện Tổng Thống với Đại Tướng, chắc là sẽ có tin tức rõ ràng hơn. Và đây là những tin tức đó: "... Sau khi mất Ban Mê Thuột, áp lực của quân cộng sản rất mạnh. Tổng Thống nhận định là không đủ khả năng bảo vệ toàn bộ Cao Nguyên trong khi Ban Mê Thuột cần giữ hơn là Plei ku với Kon Tum, vì vậy mà trong buổi họp ngày 14/3/1975 tại Cam Ranh, Tổng Thống Thiệu đã quyết định rút bỏ Plei Ku, Kon Tum, Phú Bổn, để đem lực lượng về phản công lấy lại Ban Mê Thuột.

Tổng Thống giao cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II, nhiệm vụ thực hiện cuộc hành quân triệt thoái khỏi 3 tỉnh đó, nhưng phải giữ bí mật tối đa và bảo vệ toàn vẹn lực lượng. Thiếu Tướng Phú trình kế hoạch là rút theo đường liên tỉnh số 7, dù rằng con đường này không sử dụng từ lâu nhưng đạt được yếu tố bất ngờ đối với lực lượng cộng sản. Với đề nghị của Thiếu Tướng Phú, Tổng Thống Thiệu thăng cấp Chuẩn Tướng cho Đại Tá Phạm Duy Tất. Lúc đầu, Tổng Thống không đồng ý, nhưng Thiếu Tướng Phú cố lặp lại đề nghị, và sau cùng thì Tổng Thống chấp thuận. Lúc bấy giờ, Đại Tá Phạm Duy Tất đang là Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân/Quân Đoàn II. Khi mang cấp bậc Chuẩn Tướng, ông được Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn giao phó trách nhiệm Tư Lệnh cuộc hành quân lui binh”...

Hết giờ buổi chiều khá lâu, Trung Tướng Khuyên gọi tôi lên văn phòng, và ông đưa tôi xem một xấp không ảnh đã được giải đoán đầy đủ. Toàn bộ xấp không ảnh cho thấy đoàn xe không phải theo một hình dài mà là một hình gần như tròn, vì khi phần đi đầu bị kẹt thì những chiếc sau cứ lấn qua bên trái hay bên phải với hy vọng tìm được lối đi, nhưng càng lấn vào rừng thì càng không lối thoát, và cứ như thế mà cả đoàn xe quá nhiều đó đã tạo nên dáng như vậy. Ghi chú bên cạnh những khoanh tròn bằng ngòi bút của chuyên viên giải đoán không ảnh, có gần 800 xe đã bị thiêu hủy. 

Nếu như giải đoán viên không ảnh chính xác hay ít ra cũng gần như vậy, thì chỉ mới 4 ngày dấn thân vào đường liên tỉnh số 7 mà số xe bị tổn thất trên dưới 1/3 trong tổng số xe các loại, quả là rất nặng. Trong số tổn thất đó có “Tiểu Đoàn Pháo Binh 175 ly cơ động và Trung Đoàn Chiến Xa hạng nặng M48". Đây là hai loại vũ khí mới được Hoa Kỳ viện trợ năm 1973, lúc Hoa Kỳ chỉ rút quân về nước, và toàn bộ chiến cụ để lại cho quân đội chúng ta. Khi về đến Tuy Hòa thì tổn thất đến nỗi, không còn khả năng thực hiện kế hoạch phản công chiếm lại Ban Mê Thuột được nữa.

Rút bỏ 3 tỉnh Cao Nguyên là Plei Ku, Kon Tum, và Phú Bổn, những tưởng bảo toàn được lực lượng gồm một phần của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh, Truyền Tin, và các ngành khác, để phản công chiếm lại thủ phủ Ban Mê Thuột, nhưng rồi toàn bộ Cao Nguyên miền Trung bỗng dưng rơi vào tay quân cộng sản. 

Tình trạng hỗn loạn bi đát trong cuộc hành quân lui binh trên đường liên tỉnh số 7, là khởi đầu cho sự hỗn loạn trong các cuộc hành quân lui binh của Quân Đoàn I, và các Sư đoàn 1, 2, 3, 22, 23 Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Hải Quân, Không Quân, dọc các tỉnh duyên hải từ Quảng Trị, Huế, Đà Nẳng, đến Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Cam Ranh. 

Đến cuối tháng 3/1975, từ Quảng Trị đến Cam Ranh đều bỏ ngỏ, thì tại Biên Hòa, nơi có bản doanh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn gấp rút tổ chức Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, và Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi tình nguyện nhận trách nhiệm chỉ huy Bộ Tư Lệnh này. Ngay sau đó, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương/Quân Đoàn III di chuyển ra Phan Rang, đặt bản doanh ngay trong căn cứ Sư Đoàn 6 Không Quân tại phi trường Bửu Sơn, với nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy tuyến phòng thủ tại đây. 

Lực lượng dưới quyền Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi thật là phức tạp, vì lực lượng còn lại của Sư Đoàn 2 Bộ Binh, Sư Đoàn Nhẩy Dù, và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến quá mệt mỏi, trong khi tái trang bị cũng như những nhu cầu tiếp liệu khác chưa hoàn chỉnh. Tái tổ chức và trang bị xong, Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh tức tốc chuyển quân ra Phan Rang, trong khi Chuẩn Tướng Phan Đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh chuyển quân theo quốc lộ 4 xuống trấn giữ Tân An. Quốc lộ nối liền Sài Gòn với các tỉnh đồng bằng Cửu Long.  

Và rồi tuyến đầu Phan Rang thất thủ. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh chiến trường, và Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, cùng nhiều sĩ quan trực thuộc bị bắt làm tù binh. Tiếp đó là Đà Lạt, Lâm Đồng, Bình Thuận và Bình Tuy, đều bỏ ngỏ, lui về Vũng Tàu và thủ đô Sài Gòn. Sư Đoàn 25 Bộ Binh của Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, từ Tây Ninh cũng lui về căn cứ Củ Chi, sát nách Sài Gòn. Lui xuống tuyến Xuân Lộc. Tại đây, Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo giữ chức Tư Lệnh, có khoảng 2 Sư Đoàn quân cộng sản mở cuộc tấn công vào Sư Đoàn 18 Bộ Binh tại Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh. 

Cộng quân cứ tưởng trên đường tiến quân cứ như “chẻ tre” từ sông Bến Hải xuống đến đây, nhưng chẳng may cho chúng là sức kháng cự mãnh liệt của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, cộng với quyết định sử dụng bom CBU -loại bom hút hết dưỡng khí trong một đường kính nhất định và những ai trong khu vực đó đều không có dưỡng khí để thở- và loại bom 10 tấn dùng khai phá bãi đáp cho trực thăng giữa rừng già, đã gây thiệt hại nặng nề cho quân cộng sản. Thiệt hại đến mức chúng phải rời mục tiêu Sư Đoàn 18 Bộ Binh để đi vòng xuống tấn công Biên Hòa. Sau 12 ngày chống giữ, ngày 21/4/75, Sư Đoàn 18 Bộ Binh được lệnh Quân Đoàn III rút về trấn giữ căn cứ Long Bình.

Sydney ngày 22 tháng 5 năm 2024

 

Bài 144: NGUYÊN TỔNG THỐNG THIỆU, THỦ TƯỚNG KHIÊM VÀ TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG VIÊN LẶNG LẼ RỜI VIỆT NAM TRONG ĐÊM TỐI GIỮA LÚC ĐẤT NƯỚC..: PHẠM BÁ HOA GHI LẠI.

Với những cuộc rút lui hỗn loạn của Quân Đoàn I, Quân Đoàn II, và phần lớn của Quân Đoàn III, trong khi toàn lãnh thổ Quân Đoàn IV gồm 16 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, chưa có những trận đánh quan trọng nào, và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV, đã ra lệnh báo động cho Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Sư Đoàn 9 Bộ Binh, Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Sư Đoàn 4 Không Quân, cùng với Hải Quân, và các đơn vị tác chiến khác, kể cả Địa Phương Quân Nghĩa Quân sẳn sàng chống trả các cuộc tấn công của quân cộng sản. Đến 20/4/1975, chưa thấy chỉ dấu nào về một thảm trạng rút lui hay bỏ chạy trong phạm vi Quân Đoàn IV cả. 

Những tin đồn đoán nào là Đại Tướng Dương Văn Minh đảo chánh, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh, nào là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị áp lực từ chức, ..v..v.. được truyền đi từ người này sang người khác, nhưng thật sự thì chẳng mấy ai biết những tin đó xuất phát từ đâu cả. Trong loạt tin đồn đoán lần này, có một tin xảy ra đúng như vậy, đó là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vị Tổng Thống thứ nhì của Việt Nam Cộng Hòa và là Tổng Thống thứ nhất của nền đệ nhị Cộng Hòa, tối 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức, sau khi ông mạnh mẽ cáo giác Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam. 

Và, ông cũng tuyên bố rằng: "Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu bên cạnh anh em chiến sĩ”. Trước đó, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm đã từ chức, và ngày 14/4/75 bàn giao chức vụ Thủ Tướng cho Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn đương nhiệm Chủ Tịch Hạ Nghị Viện. Bốn ngày sau khi từ chức, đêm 25/4/1975, cả hai cựu Tổng Thống Thiệu và cựu Thủ Tướng Khiêm lên phi cơ sang Đài Bắc.

Xin nhắc lại. Đại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong từ ngày 7 tháng 10 năm 1964, sau đó giữ chức Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Chuyển sang nhiệm sở tại Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) từ tháng 10 năm 1965. Đến tháng 5 năm 1968, về Việt Nam giữ chức Tổng Trưởng Nội Vụ. Đầu năm 1969, giữ chức Phó Thủ Tướng. Và đến đầu tháng 9 năm 1969, thay giáo sư Trần Văn Hương trong chức vụ Thủ Tướng. Rồi khi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ bị cách chức Tổng Trưởng Quốc Phòng năm 1972 vì vụ Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm kiêm nhiệm thêm chức Tổng trưởng Quốc phòng. 

Ngày 27/4/1975, Đại tướng Cao Văn Viên, cũng xin giải ngũ, để ngày 28/4/1975, mang theo gia đình cùng với vợ, con Tổng thống Thiệu lên phi cơ sang Đài Bắc. Trong những năm chiến tranh chưa đến hồi khốc liệt và được viện trợ đầy đủ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên đã sát cánh với quân đội và toàn dân chiến đấu chống cộng sản, nhưng khi tổ quốc lâm nguy thì ba vị lãnh đạo cao nhất nước, kế tiếp nhau chuyển giao chức vụ cho người khác, rồi âm thầm ra đi. 

Các vị đã rời bỏ tổ quốc Việt Nam, nơi mà quí vị được sinh ra và lớn lên; quí vị đã bỏ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân đội đã từng đưa quí vị lên tột đỉnh quyền uy danh vọng. Và, quí vị cũng đã bỏ gần 20 triệu đồng bào, mà chính họ đã từng hai lần bỏ phiếu bầu một trong ba vị vào chức vụ cao nhất nước: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tướng đã hai lần đặt tay lên Hiến Pháp tuyên thệ "bảo vệ quốc gia dân tộc, bảo vệ Hiến Pháp" khi nhận chức Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội; Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, hơn 5 năm trong chức vụ Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng; và Đại Tướng Cao Văn Viên, gần 10 năm trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng  Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.  

Nói chung, quí vị đã bỏ lại đằng sau tất cả, lặng lẽ rời khỏi Việt Nam trong đêm tối, trước ngày dân tộc Việt Nam bị cộng sản độc tài cai trị! Còn gì để nói đây! 

Sydney ngày 23 tháng 5 năm 2024

 

Bài 145: TRUNG TƯỚNG VĨNH LỘC NHẬN CHỨC TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG BỘ TỔNG THAM MƯU 29/4/1975: PHẠM BÁ HOA GHI LẠI.

Khoảng 11 giờ 30 phút sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên Tham Mưu trưởng và Tổng Cục trưởng Tổng cục Tiếp vận, Xử lý Thường vụ Tổng Tham mưu trưởng rời Bộ Tổng Tham mưu. Lúc 3 giờ chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung Tướng Vînh Lộc, đã một thời là Tư Lệnh Quân Đoàn II, rồi Chỉ Huy trưởng trường Cao Đẳng Quốc Phòng, vào nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Cùng lúc, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhận chức Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Và một vài Đại Tá nhận chức Trưởng Phòng. 

Đại Tá Nguyễn Khắc Tuân, chánh văn phòng Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng gọi tôi lên trình diện Trung Tướng tân Tổng Tham Mưu Trưởng. Trung tướng Vĩnh Lộc nói: Những vị Tướng cầm quyền đã chạy hết rồi. Bây giờ chúng mình hãy cùng nhau cố gắng làm nhiệm vụ trọng đại của Quốc Gia. Vào giờ phút lâm nguy này mới thấy được giá trị của mỗi người như thế nào đối với Tổ Quốc”. “Thưa Trung Tướng, giờ này tôi có mặt ở đây và đang trình diện Trung Tướng, trong khi các cấp chỉ huy trên tôi đã rời khỏi nhiệm sở, và các cấp chỉ huy dưới tôi cũng vậy, có nghĩa là tôi vẫn tiếp tục trách nhiệm của tôi, thưa Trung Tướng”. 

“Nhiệm vụ yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị phòng thủ Sài Gòn, tôi trông cậy vào anh”. Vâng. Tôi đã và đang làm tất cả những gì thuộc về trách nhiệm của tôi, và tôi vẫn tiếp tục như vậy. Và nếu không có vị nào khác thì xin Trung Tướng cử Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức vào chức vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, vì tôi được biết Chuẩn Tướng Chức sẳn sàng nhận chức vụ này, thưa Trung Tướng”.  “Anh sẽ có vị Tổng Cục Trưởng ngay hôm nay”.  “Vâng. Chào Trung Tướng”. 

Lúc 5 giờ chiều 29 tháng 4 năm 1975, Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, trước là Cục Trưởng Cục Công Binh, kế đến là biệt phái sang phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách khẩn hoang lập ấp, đến nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Tôi trình bày tình hình chung và tình hình riêng của ngành Tiếp Vận như đã cung cấp  cho các vị chỉ huy Tiếp Vận trong buổi họp ngắn ngủi lúc 2 giờ, và tình hình yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị chiến đấu. Chuẩn Tướng Chức viết tay lệnh bổ nhiệm Đại Tá Trần Văn Lễ, đang là Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp Vận trở lại chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Tiếp Vụ. Các vị Cục Trưởng đã bỏ nhiệm sở thì ông cử các vị Cục Phó giữ chức Quyền Cục Trưởng. 

Bây giờ xin phép anh tôi về nhà dùng cơm rồi trở lại ngay. Trong thời gian đó nếu có đơn vị nào xin yểm trợ thì anh bảo họ điện thoại cho tôi và tôi giải quyết”. “Được rồi, anh về đi.  

Cơm xong tôi ra xe, nhưng đến 10 giờ đêm mà vẫn chưa ra đến đường Tô Hiến Thành mặc dù chỉ cách nhà tôi hơn 100 thước. Chừng như tất cả mọi người đều đổ xô ra khỏi nhà để tìm đường sống vậy! Tôi xuống xe và chen nhau từng bước giữa khối người là người, mới trở vào được trong khu cư xá do các thanh niên trong cư xá canh gác bảo vệ, vì ngay ngoài cổng trước của cư xá đã có vài nhà bị cướp giật rồi. Tôi điện thoại sang Tổng Cục Tiếp Vận: “Chào anh Chức, Hoa đây anh. Bây giờ tôi không có cách nào ra ngoài cư xá được vì hỗn loạn đến mức không sao tưởng tượng nỗi. Anh cho phép tôi ở nhà. “Được rồi. Có gì tôi gọi anh”.

Khoảng 2 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, điện thoại (nhà tôi) reo: “Đại Tá Hoa tôi nghe”.“Trung Tướng Lộc đây anh. Lúc nảy, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh có xin tiếp tế xăng và đạn, không biết là họ liên lạc với anh chưa? “Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III có gọi tôi, và tôi đã cung cấp rồi, thưa Trung Tướng”. “Cố gắng nghe anh Hoa”. “Vâng. Tôi đã trình bày với Trung Tướng chiều qua rồi, tôi vẫn thi hành nhiệm vụ của tôi cho đến khi nào tôi không thể tiếp tục được nữa, thưa Trung Tướng”. 

Khoảng 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Thiếu Tá Ông Kim Miêng, chánh văn phòng Tổng Cục Phó, và từ chiều qua là chánh văn phòng Tổng Cục Trưởng, từ văn phòng Tổng Cục Tiếp Vận điện thoại tôi: Thưa Đại Tá, Chuẩn Tướng Chức đã lên xe đi rồi. Chuẩn Tướng đi một mình hay đi với ai vậy anh? Dạ đi một mình. Chuẩn Tướng đi mà không xách cái cặp theo, và cũng không cho xe hộ tống (xe có còi hụ mà chiều qua ông mang đến) theo nữa”. Thôi được. Sáng sáng một chút,  tôi tìm cách  đến Tổng Cục hẳn hay. Vừa mờ sáng là tôi lên xe. Hướng ngã tư Bảy Hiền, tôi cho xe chạy ngang chợ ông Tạ rồi rẽ sang Võ Tánh nối dài đến Tổng Tham Mưu, nhưng không vào được. 

Bởi Đại Tá Trần Văn Thăng, mới nhận chức Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu ra lệnh cho toán Quân Cảnh gác cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu, không cho bất cứ ai vào nếu không có thẻ an ninh do Sĩ quan an ninh Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã cấp. Tôi có thẻ, nhưng để trong cặp xách tay, và cái cặp thì tối qua tôi vẫn để trên bàn viết ở văn phòng. Đạn đại bác của quân cộng sản nổ nhiều ở Tân Sơn Nhất và bắt đầu nổ trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu trong lúc tôi đang nói chuyện với anh sĩ quan Quân Cảnh. Chúng tôi phải nép vào thân cây trước văn phòng Tổng Hành Dinh.

Vậy là, tôi sang trại Lê văn Duyệt, ngồi tạm trong văn phòng Đại Tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu Trưởng Biệt Khu Thủ Đô. Tôi báo cho Thiếu Tá Ông Kim Miêng bên Tổng Cục Tiếp Vận biết vị trí của tôi và dặn anh chuyển tất cả điện thoại sang tôi nếu có ai gọi. Tại Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh, đã bỏ chạy rồi. Thiếu Tướng Lâm Văn Phát, người đảo chánh Trung Tướng Khánh ngày 19 tháng 2 năm 1965 thất bại được Tổng Thống Dương Văn Minh được cử giữ chức Tư Lệnh Biệt Khu. Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, giữ chức Tư Lệnh Phó. Thiếu Tướng Phát từ sáng sớm đã lên trực thăng quan sát tình hình, vừa đáp xuống là ông gọi Tư Lệnh Không Quân cho các phi tuần khu trục liên tục oanh kích quân cộng sản đang quanh quẩn dọc con đường từ phía trên ngã tư Bảy Hiền lên đến Hóc Môn. 

Vị Tư Lệnh Không Quân lúc bấy giờ là Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, vì Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân đã cao bay xa chạy rồi. Và, Bộ Tư Lệnh Không Quân cùng các phi đoàn còn lại, từ căn cứ Sư Đoàn 5 Không Quân Tân Sơn Nhất và căn cứ Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, rút xuống căn cứ Sư Đoàn 4 Không Quân tại Trà Nóc, cách Cần Thơ khoảng 7 cây số. Khi trực thăng Thiếu Tướng Lâm Văn Phát vừa đáp xuống sân Bộ Tư Lệnh, Chuẩn Tướng Lê Văn Thân bảo Đại Tá Ngô Văn Minh ghi lên bản đồ mà ông đang cầm trên tay, vị trí của các đơn vị bạn để ông bay quan sát và hướng dẫn các khu trục tấn công các đơn vị địch. Khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, chiếc trực thăng trở về nhưng không có Chuẩn Tướng Thân. Tôi hỏi: Chuẩn Tướng Thân đâu rồi các bạn? Chuẩn Tướng bảo tôi đáp xuống Cần Giờ, ổng xuống đó rồi bảo tôi về đi.  Vậy là Chuẩn Tướng Thân cũng đã chạy!

Trung Tướng Vĩnh Lộc điện thoại cho tôi, ông đồng ý cho tôi ngồi ở Biệt Khu Thủ Đô điều hành công tác yểm trợ Tiếp Vận. Và ông cho biết là ông phải xuống dinh Độc Lập để dự lễ ra mắt chánh phủ lúc 9 giờ (sáng). Sau đó tôi mới biết là Trung Tướng Vĩnh Lộc cũng bỏ chạy. Nhưng nghĩ cho cùng, Trung Tướng Vĩnh Lộc chỉ ngồi ghế Tổng Tham Mưu Trưởng vỏn vẹn có 18 tiếng đồng hồ, và là 18 tiếng đồng hồ cuối cùng của cuộc chiến 20 năm 9 tháng 10 ngày. Tôi nghĩ ông không phải là vị Tổng Tham Mưu Trưởng góp phần trách nhiệm về cái chết tức tưởi của một quân đội hơn 1.000.000 người!    

Lúc 10 giờ 15 ngày 30 tháng 4 năm 1975, từ máy thu thanh trong phòng Đại Tá Ngô Văn Minh, có âm thanh "... ông nói đi...., nhanh lên,.... chờ gì nữa,....". Một giọng nói gần như quát: "Ông tuyên bố nhanh lên..."Và đại ý lời của Tổng Thống Dương Văn Minh như là một mệnh lệnh đối với quân đội".... các đơn vị không được nổ súng, ở yên tại chỗ và bàn giao cho lực lượng giải phóng...". Tôi xem đây là giây thứ 3.600, giây cuối cùng của giờ thứ 25, giờ cuối cùng của ngày thứ 7.583, và là ngày cuối cùng của một giai đoạn chiến đấu bảo vệ tự do dân chủ! Thế là hết!!! (Hết trích).

Sydney ngày 24 tháng 5 năm 2024

(Hết chương 8 gồm 14 bài: 122 – 145)


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương IX: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM CỦA 3 CHÍNH QUYỀN VÀ 3 CHÍNH PHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1975-1976.

(3 bài viết, 8 trang và 4.769 chữ).

Ba chính quyền từ 1975 đến 1976: (1) Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Phạm Văn Đồng tại Bắc Việt Nam; (2) Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam, và Chính phủ Huỳnh Tấn Phát tại Nam Việt Nam; Và (3) Chính quyền Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Phạm Văn Đồng năm 1976. 

 

CHÍNH QUYỀN MỘT

Bài 146: CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1975-1976.

Sau ngày 30/4/1975, ở hai miền Nam-Bắc tồn tại hai nhà nước với hai chính phủ, đó là Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Phạm Văn Đồng TẠI MIỀN BẮC, và Nhà nước Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Chính phủ Huỳnh Tấn Phát TẠI MIỀN NAM. Từ ngày 15 đến ngày 21-11-1975, tại thành phố Sài Gòn, đại biểu hai miền Nam-Bắc đã tổ chức Hội nghị Hiệp thương chính trị để bàn việc thống nhất nước Việt Nam về mặt Nhà nước. Hội nghị nhận định: “Cần tổ chức Tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam để bầu ra Quốc hội chung cho cả nước. Quốc hội đó sẽ xác định thể chế Nhà nước, bầu ra các cơ quan lãnh đạo Nhà nước và quy định Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất”.

Ngày 3-1-1976, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 228-CT/TW chỉ rõ, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung sẽ được tiến hành trong cả nước cùng một ngày. Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cùng thống nhất việc thành lập Hội đồng bầu cử toàn quốc với số đại biểu ngang nhau của mỗi miền gồm 22 đại biểu. Mỗi miền cử 11 đại biểu. Chủ tịch Hội đồng bầu cử, Trường Chinh; Phó Chủ tịch Hội đồng bầu cử, Phạm Hùng. Căn cứ vào điều kiện cụ thể lúc đó, ở mỗi miền đã thành lập Hội đồng bầu cử riêng. 

Ở miền Bắc, cơ quan chủ trì bầu cử là Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở miền Nam, cơ quan chủ trì bầu cử là Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngay từ tháng 2-1976, các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình đều tập trung vào việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia Tổng tuyển cử trong thời gian chuẩn bị và thực hiện bầu cử. Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về Tổng tuyển cử được tổ chức học tập rộng rãi trong nhân dân. Đối với các tỉnh, thành phố miền Nam, chính phủ có chính sách, tiêu chuẩn xác nhận quyền công dân và hướng dẫn việc lập danh sách cử tri. 

Ở các vùng mới giải phóng, giai cấp công nhân đã tỏ rõ vai trò tiên phong của mình trong cuộc vận động Tổng tuyển cử. Nhiều nơi, các công đoàn quận đã tổ chức đội tuyên truyền lưu động với sự tham gia của hàng nghìn công nhân. Mỗi công nhân phụ trách một số gia đình, đi sâu vào phường, khóm, tuyên truyền, giải thích chủ trương của Đảng, pháp luật bầu cử của Nhà nước và vận động đồng bào đi bỏ phiếu. Nhận thức rõ sự khác nhau giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản, tầng lớp trí thức nói chung đã tham gia bầu cử một cách tự nguyện, tự giác. 

Tại nhiều địa phương ở miền Nam, chính quyền cách mạng còn quan tâm tạo điều kiện cho hơn 95% số người đã từng làm việc trong bộ máy chính quyền Sài Gòn và quân đội cũ, nhưng đã được học tập, cải tạo, có sự tham gia ý kiến của quần chúng ở cơ sở được thực hiện quyền công dân, tham gia bầu cử. Việc làm này vừa thể hiện chính sách khoan hồng, độ lượng của Nhà nước, vừa nâng cao uy thế của quần chúng cách mạng, vừa có tác dụng giáo dục đối với những người được khôi phục cũng như những người chưa được khôi phục quyền công dân. 

Việc giới thiệu những người ra ứng cử đã được thực hiện dân chủ, theo Pháp lệnh bầu cử đại biểu Quốc hội ngày 20-2-1976 của Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, trong đó Mặt trận Dân tộc thống nhất cùng các đoàn thể quần chúng đóng vai trò quan trọng. Danh sách những người ra ứng cử đã được các tổ chức quần chúng ở cơ sở thảo luận để đưa lên Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Ủy ban Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thống nhất hiệp thương và chính thức giới thiệu. 

Đối với các tỉnh, thành phố miền Bắc, việc giới thiệu những người ra ứng cử được áp dụng theo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 13-1-1960. Những người ra ứng cử đều do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu. Việc niêm yết danh sách cử tri và tổ chức các cuộc tiếp xúc giữa ứng cử viên đại biểu Quốc hội với cử tri ở các khu vực bầu cử được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm công khai và dân chủ để cử tri trao đổi ý kiến, tự mình lựa chọn bầu những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội. 

Tổng số 605 người ra ứng cử đều là những người có thành tích trong chiến đấu, công tác và sản xuất, bao gồm các nhà hoạt động cách mạng lâu năm, các đại biểu công nhân, nông dân, quân nhân cách mạng, trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh, tư sản dân tộc, đại biểu các tộc người, các tôn giáo. Danh sách đó thật sự là hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên cơ sở liên minh công nông. Trước ngày bầu cử, hầu hết các thị xã, thành phố đều có mít tinh, diễu hành của quần chúng hoan nghênh Tổng tuyển cử. Riêng thành phố Sài Gòn, hàng chục vạn công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh đã xuống đường tuần hành. 

Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được tổ chức ngày 25-4-1976. Trong không khí tưng bừng, trên 23 triệu cử tri, với tư thế của người làm chủ đất nước đã nô nức làm nghĩa vụ công dân của mình bầu những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam độc lập, thống nhất. Cuộc bầu cử được tiến hành nhanh, gọn và đạt kết quả tốt. Tỷ lệ cử tri đi bầu trong cả nước đạt 98,77%, trong đó miền Bắc 99,36%, miền Nam 98,59%. Có nhiều xã, huyện, thị, đơn vị vũ trang và khu vực bỏ phiếu đạt 100% cử tri đi bầu. 

Số đại biểu trúng cử ở các tỉnh, thành phố như sau: Thành phố Hà Nội: 22 đại biểu; Thành phố Hồ Chí Minh: 35 đại biểu; Thành phố Hải Phòng: 13 đại biểu; Tỉnh Lai Châu: 3 đại biểu; Tỉnh Sơn La: 4 đại biểu; Tỉnh Hoàng Liên Sơn: 7 đại biểu; Tỉnh Hà Tuyên: 7 đại biểu; Tỉnh Cao Lạng: 9 đại biểu; Tỉnh Bắc Thái: 8 đại biểu; Tỉnh Quảng Ninh: 8 đại biểu; Tỉnh Hà Sơn Bình: 21 đại biểu; Tỉnh Hà Bắc: 15 đại biểu; Tỉnh Vĩnh Phú: 16 đại biểu; Tỉnh Hải Hưng: 20 đại biểu; Tỉnh Thái Bình: 15 đại biểu; Tỉnh Hà Nam Ninh: 26 đại biểu; Tỉnh Thanh Hóa: 23 đại biểu; Tỉnh Nghệ Tĩnh: 27 đại biểu; 

Tỉnh Bình Trị Thiên: 19 đại biểu; Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: 15 đại biểu; Tỉnh Nghĩa Bình: 18 đại biểu; Tỉnh Phú Khánh: 11 đại biểu; Tỉnh Gia Lai - Kon Tum: 6 đại biểu; Tỉnh Đắk Lắk: 5 đại biểu; Tỉnh Lâm Đồng: 4 đại biểu; Tỉnh Thuận Hải: 9 đại biểu; Tỉnh Đồng Nai: 13 đại biểu; Tỉnh Sông Bé: 6 đại biểu; Tỉnh Tây Ninh: 6 đại biểu; Tỉnh Long An: 8 đại biểu; Tỉnh Tiền Giang: 11 đại biểu; Tỉnh Bến Tre: 9 đại biểu; Tỉnh Cửu Long: 13 đại biểu; Tỉnh Đồng Tháp: 10 đại biểu; Tỉnh An Giang: 14 đại biểu; Tỉnh Hậu Giang: 19 đại biểu; Tỉnh Kiên Giang: 8 đại biểu; Tỉnh Minh Hải: 10 đại biểu. 

Trong tổng số 492 đại biểu trúng cử: công nhân 16,26%; nông dân 20,33%; thợ thủ công 1,22%; cán bộ chính trị 28,66%; quân nhân cách mạng 10,97%; tri thức 18,50%; nhân sĩ dân chủ và tôn giáo 4,06%; đại biểu nữ 26,21%; đại biểu các dân tộc thiểu số 14,28%. 

Sydney ngày 25 tháng 5 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN HAI

Bài 147: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM, CHÍNH PHỦ HUỲNH TẤN PHÁT: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM NĂM 1975-1976.

Sau ngày 30/4/1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra tuyên bố: “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam hiện nay thực hiện chủ quyền của mình trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam, là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam, có đầy đủ quyền hành giải quyết những vấn đề quốc tế của miền Nam Việt Nam”. Thông qua tuyên bố này tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, khẳng định Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức thực hiện quyền kế thừa quốc gia đối với Việt Nam Cộng hòa, đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Tất cả những kế thừa nầy của Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đều được thực hiện theo đúng thông lệ quốc tế và Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước Quốc tế năm 1978Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng đã có 1 loạt tuyên bố khẳng định quyền thừa kế đối với tài sản quốc gia của miền Nam Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ như: Tuyên bố ngày 1/5/1975, của Bộ Ngoại giao Cộng hoà miền nam Việt Nam khẳng định mọi tài sản, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ lưu trữ, tài khoản ngân hàng, trụ sở, phương tiện giao thông và tất cả những tài sản khác của các cơ quan đại diện của Việt Nam Cộng hòa ở nước ngoài (Đại sứ quán, Lãnh sứ quán, Cơ quan đại diện bên cạnh cac tổ chức quốc tế...) là tài sản của nhân dân miền Nam Việt Nam và phải do Cộng hòa Miền Nam Việt Nam quản lý... 

Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã thực hiện quyền đại diện tại hầu như tất cả các tổ chức quốc tế trong và ngoài hệ thống Liên Hợp Quốc mà trước đó Việt Nam Cộng hòa đã tham gia WHO, ILO, UNESCO, ICAO, IAEA, IMF, Ngân hàng Thế giới.... Việc Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản các cơ quan đại diện và tài sản của chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng như quy chế hội viên tại các tổ chức quốc tế diễn ra thuận lợi, không gặp 1 trở ngại nào về pháp lý vì các quốc gia và tổ chức quốc tế đều quan niệm rằng theo luật pháp quốc tế, đây chỉ là sự thay đổi chính quyền trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, không làm phát sinh chủ thể mới.

Theo họ đây là thừa kế chính phủ chứ không phải thừa kế quốc gia. Việc tuyệt đại đa số thành viên Hội đồng Bảo an, và Đại Hội đồng Liên hiệp quốc khoá XXX (1975) biểu quyết ủng hộ kết nạp Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm thành viên Liên Hợp Quốc càng chứng minh rõ việc này. Nhưng, không được kết nạp là do phiếu phủ quyết của Mỹ vào ngày 30 tháng 9. Tới cuối năm 1975, Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã có hơn 50 nước trên thế giới, có cả các nước tư bản chủ nghĩa công nhận và lập quan hệ ngoại giao. 

Trong quan hệ với Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền ở miền Nam Việt Nam. Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chính quyền hợp pháp ở miền Nam Việt Nam, do đó các văn kiện của nhà nước này có lúc khẳng định có 2 chính thể độc lập nhau, nhưng có lúc vẫn khẳng định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là của cả nước. Vấn đề này chỉ được rõ ràng khi các văn kiện tại Hội nghị hiệp thương 1975, khẳng định Cộng hoà Miền Nam Việt Nam thi hành quyền lực pháp lý ở miền Nam, còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thi hành quyền lực ở miền Bắc. Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã tổ chức các cuộc bầu cử ở cấp địa phương, và ra các văn bản pháp luật quản lý theo thẩm quyền.

Tháng 9/1975, Hội nghị Trung ương lần thứ 24 của đảng Lao động Việt Nam xác định mục tiêu thống nhất đất nước về mọi mặt. Từ ngày 15 đến ngày 21/11/1975, Hội nghị Hiệp thương Chính trị được tổ chức tại Sài Gòn, giữa đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Trường Chinh  đứng đầu, và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, do Phạm Hùng đứng đầu, đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội Thống nhất. Hội đồng Bầu cử gồm: 11 đại biểu miền Bắc: Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan, Xuân Thuỷ, Nguyễn Xiển, Trần Đăng Khoa, Chu Văn Tấn, Trần Đình Tri, Nguyễn Thị Minh Nhã, Linh mục Võ Thành Trinh, Hoà thượng Trần Quảng Dung, Trương Tấn Phát. Và, 11 đại biểu miền Nam: Phạm Hùng, Trần Lương, Bùi Dan, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, và 6 người khác hoặc nhân sĩ do Ban đại diện chỉ định. 

Tháng 1/1976,  cuộc họp liên tịch của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Việt Nam Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra quyết định: cuộc Tổng tuyển cử sẽ tiến hành vào chủ nhật 25/4/1976. Hội đồng bầu cử toàn quốc được thành lập do Trường Chinh làm Chủ tịch và Phạm Hùng làm Phó Chủ tịch. Ngày 25/4/1976, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiến hành tổ chức cuộc Tổng tuyển cử để tái thống nhất Việt Nam theo đúng các điều khoản về tiến hành các biện pháp chính trị để tái thống nhất Việt Nam trong Hiệp định Paris. Có 492 đại biểu được bầu ra của Quốc hội Việt Nam thống nhất. 

 Sydney ngày 26 tháng 5 năm 2024

 

CHÍNH QUYỀN BA

Bài 148: CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ PHẠM VĂN ĐỒNG: SỰ KIỆN LIÊN QUAN, VIỆC ĐÃ LÀM 1976.

Từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, thông qua các nội dung: Xóa bỏ Khu phi quân sự theo Vỹ tuyến 17; Quốc Kỳ, Quốc huy, và Cờ đỏ sao vàng; Lấy tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Quốc ca là bài Tiến quân ca; Thủ đô Hà Nội; Đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Với sự kiện này, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức Xoá sổ để hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam tồn tại 7 năm 1 tháng từ tháng 6 năm 1969 đến tháng 7 năm 1976.

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã trình bày trước Quốc hội Báo cáo chính trị Toàn dân đoàn kết xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất xã hội chủ nghĩa. Báo cáo nêu rõ: Xuất phát từ tình hình mới của đất nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: “Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. 

Ngày 2-7-1976, sau khi thảo luận đề nghị của Đoàn Chủ tịch kỳ họp, Quốc hội đã nhất trí thông qua các nghị quyết về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô và Quốc ca của nước Việt Nam thống nhất: 

·      Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa lấy tên là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

·      Quốc kỳ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

·      Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng cưa và dòng chữ “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

·      Thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội.

·      Quốc ca nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bài Tiến quân ca

Để thể hiện tính liên tục của Nhà nước qua các giai đoạn đấu tranh cách mạng của nhân dân ta từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, theo đề nghị của Đoàn Chủ tịch kỳ họp, Quốc hội đã thảo luận và thông qua nghị quyết về tên gọi của Quốc hội được bầu trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 25-4-1976 là Quốc hội khoá VI với ý nghĩa kế tục sự nghiệp của 5 khoá Quốc hội trước. Trong khi chờ đợi có Hiến pháp mới, Quốc hội cũng đã thông qua nghị quyết về việc quy định Nhà nước Việt Nam sẽ tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. 

Tổ chức nhà nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở Trung ương gồm có: Quốc hội; Chủ tịch nước và hai Phó Chủ tịch nước; Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Hội đồng Chính phủ; Hội đồng Quốc phòng; Toà án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội giao cho Hội đồng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xúc tiến việc dự thảo các luật, pháp lệnh cần thiết trong tình hình mới trình Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Đối với các pháp luật hiện hành của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và của Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Hội đồng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ hướng dẫn việc thi hành cho sát với tình hình thực tế. 

Tại kỳ họp ngày 2-7­-1976 này, Quốc hội đã thông qua nghị quyết đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh. Quốc hội cũng đã thông qua nghị quyết thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và các ủy ban của Quốc hội gồm:

·      Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách do ông Nguyễn Văn Trân làm Chủ nhiệm và 35 ủy viên.   

·      Ủy ban Dự án pháp luật do ông Trương Tấn Phát làm Chủ nhiệm và 17 ủy viên.

·      Ủy ban Dân tộc do ông Chu Văn Tấn làm Chủ nhiệm và 26 ủy viên. 

·      Ủy ban Văn hóa và Giáo dục do ông Lưu Hữu Phước làm Chủ nhiệm và 27 ủy viên. 

·      Ủy ban Y tế và Xã hội do ông Nguyễn Văn Thủ làm Chủ nhiệm và 21 ủy viên.   

·      Ủy ban Đối ngoại do ông Hoàng Minh Giám làm Chủ nhiệm và 11 ủy viên. 

Ngày 2-7-1976, Quốc hội bầu các vị lãnh đạo Nhà nước và thành lập Chính phủ mới để điều hành công việc của nước nhà. Chủ tịch và Phó Chủ tịch nướcChủ tịch: Tôn Đức ThắngPhó Chủ tịch: Nguyễn Lương BằngNguyễn Hữu Thọ. Ủy ban Thường vụ Quốc hộiChủ tịch: Trường Chinh; Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký: Xuân ThuỷPhó Chủ tịch: Hoàng Văn Hoan, Phan Văn Đáng, Nguyễn Thị Thập, Chu Văn Tấn, Nguyễn Xiển, Trần Đăng Khoa. Các ủy viên: Lê Thành, Nguyễn Đức Thuận, Trần Đình Tri, Trương Tấn Phát, Võ Thành Trinh, Nguyễn Công Tâm, Đào Văn Tập, Hoà thượng Thích Thiện Hào, Nguyễn Thị Như, Phan Minh Tánh, Cầm Ngoan, Huỳnh Cương, Anh hùng Núp. Ủy viên dự khuyết: Vũ Định, Nguyễn Thị Được. 

Hội đồng Chính phủThủ tướng Chính phủ: Phạm Văn Đồng. Phó Thủ tướng Phạm Hùng; Huỳnh Tấn Phát; Võ Nguyên Giáp; Nguyễn Duy Trinh; Lê Thanh Nghị; Võ Chí Công; Đỗ Mười. Bộ trưởng các bộ, Chủ nhiệm các ủy ban nhà nước và thủ trưởng các cơ quan ngang bộ: Bộ trưởng Nội vụ: Trần Quốc Hoàn; Bộ trưởng Ngoại giao: Nguyễn Duy Trinh; Bộ trưởng Quốc phòng: Võ Nguyên Giáp; Bộ trưởng Nông nghiệp: Võ Thúc Đồng; Bộ trưởng Lâm nghiệp: Hoàng Văn Kiểu; Bộ trưởng Thuỷ lợi: Nguyễn Thanh Bình; Bộ trưởng Cơ khí và Luyện kim: Nguyễn Côn; Bộ trưởng Điện và Than: Nguyễn Chấn; Bộ trưởng Xây dựng: Đỗ Mười; 

Bộ trưởng Giao thông vận tải: Phan Trọng Tuệ; Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ: Vũ Tuân; Bộ trưởng Lương thực và Thực phẩm: Ngô Minh Loan; Bộ trưởng Hải sản: Võ Chí Công; Bộ trưởng Nội thương: Hoàng Quốc Thịnh; Bộ trưởng Ngoại thương: Đặng Việt Châu; Bộ trưởng Tài chính: Đào Thiện Thi; Bộ trưởng Lao động: Nguyễn Thọ Chân; Bộ trưởng Vật tư: Trần Sâm; Bộ trưởng Văn hoá: Nguyễn Văn Hiếu; Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp: Nguyễn Đình Tứ; Bộ trưởng Giáo dục: Nguyễn Thị Bình; Bộ trưởng Y tế: Vũ Văn Cẩn; Bộ trưởng Thương binh-Xã hội: Dương Quốc Chính. 

Chủ nhiệm các ủy banChủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước: Lê Thanh Nghị; Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước: Nguyễn Hữu Mai; Bộ trưởng Phủ Thủ tướng: Đặng Thí; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng: Phan Mỹ; Bộ trưởng phụ trách công tác văn hoá, giáo dục ở Phủ Thủ tướng: Trần Quang Huy; Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí: Đinh Đức Thiện; Bộ trưởng phụ trách công trình sông Đà: Hà Kế Tấn; Bộ trưởng phụ trách công tác khoa học-kỹ thuật nông nghiệp: Nghiêm Xuân Yêm; Tổng Giám đốc Ngân hàng nhà nước: Hoàng Anh; 

Chủ nhiệm Ủy ban vật giá nhà nước: Tô Duy; Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc: Lê Quảng Ba; Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước: Trần Đại Nghĩa; Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Chính phủ: Trần Nam Trung. Hội đồng Quốc phòngChủ tịch: Tôn Đức Thắng. Phó Chủ tịch: Phạm Văn Đồng. Các ủy viên: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Phạm Văn Bạch. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Trần Hữu Dực. 

Thay mặt các vị được bầu vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, Chủ tịch Tôn Đức Thắng phát biểu và hứa với Quốc hội, với đồng bào ra sức đoàn kết, động viên toàn dân phấn đấu thực hiện đầy đủ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Thay mặt toàn thể Hội đồng Chính phủ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng bày tỏ với Quốc hội, quyết tâm phấn đấu làm tròn trách nhiệm của mình; ra sức hoàn thành việc thống nhất quản lý nhà nước về mọi mặt, nhằm thực hiện tốt kế hoạch nhà nước năm 1976 trên phạm vi cả nước, chuẩn bị cho kế hoạch nhà nước năm 1977 và kế hoạch nhà nước 5 năm (1976-1980). 

Ngày 3-7-1976, Phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá VI, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh đã nhấn mạnh: “Với thắng lợi của kỳ họp này, chúng ta đã thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Nhân dân ta vô cùng phấn khởi. Anh em bầu bạn trên thế giới chia sẻ vui mừng với chúng ta... Chúng ta cần tiếp tục phấn đấu, ra sức khắc phục những khó khăn về thanh toán những ảnh hưởng còn lại của chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ; về phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân; về khôi phục kinh tế, ổn định đời sống; về cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; về tăng cường và cải tiến quản lý nền kinh tế quốc dân”. 

Ngày 25-9-1976, Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về chính sách đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam. Đây là một chính sách lớn của Nhà nước nhằm hướng dẫn và cải tạo kinh tế tư bản tư doanh đi dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội thông qua con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa. Ngày 14-10-1976, Chính phủ Quyết định thành lập Tổng cục Khí tượng và Thuỷ văn trực thuộc Hội đồng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất Nha Khí tượng và Cục Thuỷ văn. Ngày 16-10-1976, Thủ tướng Chính phủ Quyết định huyện Côn Sơn (trên đảo Côn Sơn) thuộc tỉnh Hậu Giang.

Từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng - Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc, Đại hội đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội đã thảo luận và nhất trí quyết định những vấn đề lớn của đất nước: Quyết định đường lối Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn mới; Quyết định phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1976-1980); Quyết định đường lối xây dựng Đảng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới; đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội đã thông qua Điều lệ (sửa đổi) của Đảng và bầu Ban Chấp hành Trung ương mới do ông Lê Duẩn làm Tổng Bí thư.

Sydney ngày 27 tháng 5 năm 2024

(Hết chương 9 có 3 bài: 146-148 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHỤ BẢN: NỘI DUNG HIỆP HIỆP ĐỊNH PARIS NGÀY 27/1/1973.

 (6 trang và 4.697 chữ).

 

Ngày 27 tháng giêng năm 1973, tại Khách sạn Majestic, Paris, trước sự hiện diện của Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, Các bên tham dự Hội nghị Paris về Việt Nam, đồng thoả thuận chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, và quyền tự quyết của nhân dân miền miền Nam Việt Nam, góp phần cũng cố hoà bình ở châu Á và thế giới. Hiệp định được ký bởi: Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, William P. Rogers, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà Trần Văn Lắm; Và, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà hoà miền Nam Việt Nam, Nguyễn Thị Bình.

Hiệp định có 9 Chương, và 23 Điều: Chương 1: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam (Điều 1); Chương 2: Chấm dứt chiến sự, rút quân, (Điều 2, 3, 4, 5, 6 và 7); Chương 3: Việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt, và nhân viên dân sự và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ (Điều 8); Chương 4: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam (Điều 9, 10, 11, 12, 13, và 14); Chương 5: Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam (Điều 15); Chương 6: Các Ban Liên hợp Quân sự, Uỷ ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát, Hội nghị Quốc tế (Điều 16, 17, 18, và 19); Chương 7: Đối với Campuchia và Lào (Điều 20); Chương 8: Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ (Điều 21, và 22); Chương 9: Những điều khoản khác (Điều 23). Cụ thể:

Điều 1: Hoa kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận. Điều 2: Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ hai mươi bốn giờ (giờ GMT) ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba. Cùng ngày giờ nói trên, Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa kỳ chống lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới, và sẽ chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hoa kỳ sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam ngay sau khi Hiệp định này có hiệu lực. Việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là vững chắc và không thời hạn.

Điều 3: Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc. Bắt đầu từ khi ngừng bắn: a) Các lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa kỳ và của Việt Nam Cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều 16 sẽ quy định những thể thức. b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân. c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hoạt động tấn công nhau và triệt để tuân theo những điều quy định sau đây: - Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển; - Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên.

Điều 4: Hoa kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Điều 5: Trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a). Cố vấn của các nước nói trên cho tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát cũng sẽ rút trong thời hạn đó. Điều 6: Việc huỷ bỏ tất cả căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa kỳ và của các nước khác đã nói ở điều 3 (a) sẽ được hoàn thành trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này.

Điều 7: Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến khi thành lập chính phủ nói ở điều 9 (b) và điều 14 của Hiệp định này, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỷ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. Hai bên miền Nam Việt Nam được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự giám sát của Ban liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát.

Điều 8: a) Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài bị bắt nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này. b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và bảo quản mồ mả của những người chết, nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt và có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người còn coi là mất tích trong chiến đấu. c) Vấn đề trao trả các nhân viên quân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ so hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của điều 21 (b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày hai mươi tháng bảy năm một nghìn chín trăm năm mươi tư. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm việc đó trên tinh thần hòa giải và hoà hợp dân tộc, nhầm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắn hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực.

Điều 9: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Hoa kỳ cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam sau đây: a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế. c) Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào đối với miền Nam Việt Nam.

Điều 10: Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hoà bình ở miền Nam Việt Nam giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực. Điều 11: Ngay sau khi ngừng bắn hai bên miền Nam Việt Nam sẽ: - Thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia; - Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.

Điều 12: a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lâp Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương về việc thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ kí một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và sẽ làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hoà bình, độc lập và dân chủ. b) Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hoà giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong điều 9 (b) và quy định thủ tục và thể thức của cuộc tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thương mà thoã thuận. Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phương theo như hai bên miền Nam Việt Nam thoả thuận.

Điều 13: Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có các biện pháp giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành việc đó càng sớm càng tốt.

Điều 14: Miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỷ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói trong điều 9 (b)

Điều 15Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam Việt Nam thoả thuận. Trong khi chờ đợi thống nhất: a) Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không phải là một ranh giới về chính trị hoặc về lãnh thổ, như quy định trong đoạn 6 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ ne vơ năm 1954. b) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời. c) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lặp lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng, có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. d) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Việt Nam quy định.

Điều 16 :a) Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp định này: - Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; - Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này; - Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam; - Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và quân đội của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a); - Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a); - Điều 8 (a) về việc trao trả các nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt; - Điều 8 (b) về việc các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu. b) Ban liên hợp quân sự bốn bên sẽ làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát. c) Ban liên hợp quân sự bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký kết Hiệp định này và chấm dứt hoạt động trong thời hạn sáu mươi ngày, sau khi việc rút quân của Hoa kỳ và quân của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a) và việc trao trả nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt đã hoàn thành. d) Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về tổ chức, thể thức làm việc, phương tiện hoạt động và chi phí của Ban liên hợp quân sự bốn bên.

Điều 17a) Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban liên hợp quân sự hai bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp định này: - Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; - Điều 3 (b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam; - Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; - Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tất cả những điều khoản khác của điều này. - Điều 8 (c) về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam. - Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên số quân đã giảm. b) Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát. c) Sau khi Hiệp định này được ký kết, Ban liên hợp quân sự hai bên sẽ thoả thuận ngay những biện pháp và tổ chức nhằm thực hiện ngừng bắn và giữ gìn hoà bình ở miền Nam Việt Nam.

Điều 18a) Sau khi kí kết Hiệp định này, thành lập ngay Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát. b) Cho đến khi Hội nghị quốc tế nói ở điều 19 có những sắp xếp dứt khoát, Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với bốn bên những vấn đề kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều khoản sau đây của Hiệp định này: - Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; - Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này; - Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam; - Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa kỳ và quân đội của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a); - Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a); - Điều 8 (a) về việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt. Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát lập những tổ kiểm soát để làm những nhiệm vụ của mình. Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Các bên sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó. c) Cho đến khi Hội nghị quốc tế có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Nam những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều khoản sau đây của Hiệp định này: - Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; - Điều 3 (b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam; - Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; - Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tất cả các điều khoản khác của điều này; - Điều 8 (c) về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam; - Điều 9 (b) về tổng tuyển cử tự do và dân chủ ở miền Nam Việt Nam; - Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên số quân đã giảm. Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thoả thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó. d) Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ gồm đại diện của bốn nước: Ba lan, Canada, Hungari, Inđônêxia. Các thành viên của Uỷ ban quốc tế sẽ luân phiên làm Chủ tịch trong từng thời gian do Uỷ ban quốc tế quy định. e) Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành nhiệm vụ của mình theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam. f) Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. g) Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực ở Việt Nam. Đối với các điều khoản liên quan đến bốn bên nói trong điều 18 (b), Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình khi nhiệm vụ kiểm soát và giám sát của Ủy ban đối với các điều khoản đó đã hoàn thành. Đối với các điều khoản liên quan đến hai bên miền Nam Việt Nam nói ở điều 18 (c), Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói ở điều 9 (b). h) Bốn bên thoả thuận ngay về tổ chức, phương tiện hoạt động và chi phí của Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát. Mối quan hệ giữa Ủy ban quốc tế và Hội nghị quốc tế sẽ do Uỷ ban quốc tế và Hội nghị quốc tế thoả thuận.

Điều 19: Các bên thoả thuận về việc triệu tập một Hội nghị quốc tế trong vòng ba mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết; bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hoà bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam; góp phần vào hoà bình và bảo đảm hoà bình ở Đông dương. Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hoa kỳ, thay mặt các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam, sẽ đề nghị các bên sau đây tham gia Hội nghị quốc tế này: Cộng hòa nhân dân Trung hoa, Cộng hoà Pháp, Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa xô viết, Liên hiệp Vương quốc Anh, bốn nước trong Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát và Tổng thư ký liên hợp quốc, cùng với các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam.

Điều 20a) Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam phải triệt để tôn trọng Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Campuchia và Hiệp định Giơ ne vơ năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Campuchia và nhân dân Lào: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước đó. Các bên phải tôn trọng nền trung lập của Campuchia và Lào. Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam cam kết không dùng lãnh thổ của Campuchia và lãnh thổ của Lào để xâm phạm chủ quyền và an ninh của nhau và của các nước khác. b) Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở Campuchia và Lào, rút hết và không đưa trở lại vào hai nước đó quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. c) Công việc nội bộ của Campuchia và Lào phải do nhân dân mỗi nước này giải quyết không có sự can thiệp của nước ngoài. d) Những vấn đề liên quan giữa các nước Đông dương sẽ do các bên Đông dương giải quyết, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệt vào công việc nội bộ của nhau.

Điều 21: Hoa kỳ mong rằng Hiệp định này sẽ mang lại một thời kỳ hoà giải với Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng như với tất cả các dân tộc ở Đông dương. Theo chính sách truyền thống của mình, Hoa kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam dân chủ cộng hoà và toàn Đông dương. 

Điều 22: Việc chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam và việc thực hiện triệt để Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hoa kỳ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, những việc đó sẽ bảo đảm hoà bình vững chắc ở Việt Nam và góp phần giữ gìn hoà bình lâu dài ở Đông dương và Đông nam Á.

Điều 23: Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam sẽ có hiệu lực khi văn kiện này được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Hoa kỳ ký và khi một văn kiện cùng nội dung được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Hoa kỳ và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam cộng hoà ký. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành triệt để Hiệp định này và các Nghị định thư của Hiệp định.

Làm tại Pari ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba bằng tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh đều là những bản chính thức và có giá trị như nhau.

 

Sydney ngày 28 tháng 5 năm 2024

 


 

 

 

 

 

THAY LỜI KẾT.

Sự khốc liệt của cuộc chiến mà NGƯỜI DÂN VIỆT NAM phải hứng chịu… Chỉ 81 ngày đêm cố thủ tại Cổ Thành và thị xã Quảng Trị mà 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ QGP đã anh dũng hy sinh. Riêng Trung đoàn 27 QGP, Trung đoàn trưởng sau này là thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, người gắn bó với Trung đoàn 27 lúc mới thành lập, từ một người lính nghĩa vụ, lên chỉ huy tổ 3 người, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, rồi Trung đoàn trưởng với 1.500 quân đưa vào thành cố thủ là đơn vị tổn thất nặng nhất. Các chốt chiến đấu vòng ngoài đều bị xóa sổ. Trung đoàn 48B thuộc sư đoàn 390 QGP, đơn vị chiếm giữ trung tâm thị xã, cũng đã bị thiệt hại hơn 80% quân số. 

Trung tướng Lê Tự Đồng nguyên tư lệnh lực lượng QGP tại mặt trận tỉnh Quảng Trị, trong một hồi ký phổ biến vào năm 1997 viết: các sư đoàn và trung đoàn QGP tham chiến đã bị tổn thất quá nửa quân số. Tướng Lê Phi Long của QGP nói: "Chiến dịch Quảng Trị kéo dài, thương vong rất lớn, có thể nói là lớn nhất so với tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến. Mỗi lần nghĩ lại tôi rất đau lòng. Mãi đến bây giờ (2008), tôi và nhiều đồng nghiệp vẫn chưa hiểu vì sao ta phải cố thủ Cổ thành với một giá đắt như vậy? Có cán bộ cấp trên giải thích do “yêu cầu của đấu tranh ngoại giao, cần giữ vững Cổ thành để phối hợp với cuộc đàm phán tại hội nghị Paris...".

Báo Quân đội Nhân dân số ra ngày (18-8?)1972 viết: “Mỗi mét vuông đất tại Thành cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngày đêm, từ ngày 28-6 đến 16-9-1972, Thành cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn bom đạn. Trung bình mỗi chiến sĩ phải hứng lấy 100 quả bom, 200 quả đạn pháo. Mỗi ngày có 1 đại đội vượt dòng Thạch Hãn để tiếp viện quân số, nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn lại vài người sống sót”.

Tham luận tại Hội thảo “Hoài niệm về Chiến trường xưa và đồng đội” ở Quảng Trị từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 7 năm 2005, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị viết:“Quảng Trị chính là hình ảnh thu nhỏ của cuộc kháng chiến đầy hy sinh gian khổ của cả dân tộc. Từ bãi biển Cửa Tùng đến tận biên giới Việt - Lào không nơi nào không có vết tích của bom đạn Mỹ tàn phá. Máu của hàng vạn người đã đổ trên quê hương Quảng Trị. Chỉ tính số liệt sĩ đã hy sinh và đang yên nghỉ ở 72 nghĩa trang liệt sĩ trong tỉnh Quảng Trị, đã lên tới gần 60 nghìn người, trong đó, Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, hơn 10 nghìn mộ liệt sĩ, và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường 9 cũng hơn 10 nghìn mộ. Có đến 18.484 liệt sĩ là con em của tỉnh Quảng Trị. Cứ 8 người dân Quảng Trị được sống trong thanh bình hôm nay, phải đổi bằng sinh mạng của một chiến sĩ. Ngày xưa Quảng Trị là “vùng đất lữa”, ngày nay Quảng Trị là vùng “đất của tâm linh”…  

Chỉ với Phong trào Thanh niên “Ba Sẵn Sàng” hơn 5 triệu lượt đoàn viên thanh niên tham gia, trong đó gần 1,5 triệu người con ưu tú đã ngã xuống, hiện yên nghỉ tại 265 nghĩa trang dọc chiều dài đất nước; hàng vạn thanh niên đã để lại một phần xương máu của mình nơi chiến trường khốc liệt... (Trích Ba sẵn sàng – Bản hùng ca bất diệt. Trang Thông tin Điện tử, Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố Hà Nội, 16:15 07/08/2019.

Sydney ngày 29 tháng 5 năm 2024


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét